Ó đen

lytong.wordpress.com

Lý Tống

Phần 6

Đến Pnom Penh, Thủ Đô Kampuchia
Qua phà, lên xe, chúng tôi tiếp tục đường về Pnom Penh, tình hình yên tỉnh trên đoạn đường cuối gần thủ đô Cao Miên. Chúng tôi xuống xe, đi bộ qua cầu Sàigòn, một cái tên đậm tình anh em quốc tế Miên—Việt. Bên kia cầu ngay giữa bùng binh có một trạm kiểm soát lớn đang hoạt động. Tiếng tu huýt, tiếng lao xao rộn rịp của Đội Cảnh sát, nút chặn chính thức của Pnom Penh. Chúng tôi đi bộ tà tà và lượng định hướng đi. Ba nhánh đường lớn rẽ về ba phía tách biệt, tôi chọn đường giữa, đi thẳng. Khỏi tầm kiểm soát trạm gác, chúng tôi dừng lại bên lề hỏi thăm một cô bán hàng vặt, may mắn em là Việt kiều và chưa quên tiếng mẹ đẻ. Tôi hỏi hướng đi về nhà ga xe lửa, ôn lại một vài tiếng Miên cần thiết học lóm ở Sàigòn.

_Tâu à Tiêt plươn là đi nhà ga phải không?

Cô bé sửa lại cách phát âm và giúp chúng tôi đón xe thồ Honda, trả giá và lập lại lần chót à tiet plươn với người tài xế.

Tôi đã qua lại Pnom Penh thường xuyên trong những phi vụ biệt phái suốt ba tháng. Có lần Việt Cộng pháo kích phi trường, đám Biệt đội Quan sát nửa đêm phải chui vào bếp tránh đạn. Nhiều nhà cửa, phòng sở sụp đổ tan tành. Phòng Phi Hành đoàn lởm chởm vết đạn và hư hỏng nặng nhiều nơi. Chúng tôi hoàn toàn vô sự ngoài những đất bụi, vôi vữa tung tóe phủ đầy đầu tóc, mặt mũi. Từ đỏ giải tỏa lệnh ở lại đêm, sáng đi, chiều về thong thả. Nhờ vậy hầu hết các Phi công biệt phái Pnom Penh có dịp làm tiền. Mỗi lần rời Cần Thơ, chúng tôi thủ sẵn ít vàng hoặc tiền. Đến nơi, trong khi chờ đợi phi vụ, rảo khắp chợ mua những hàng hóa bán được giá. Hai thứ thông dụng nhất là nho tươi và đầu máy may Singer. Xe Biệt đội có gắn máy FM liên lạc, nên dù lang thang đây đó, chỉ cần nghe lệnh gọi trên máy, chúng tôi sẵn sàng phóng ra phi trường cất cánh ngay.

Nhiều lúc trên đường trở về, bất ngờ nhận được lệnh đi đánh mục tiêu khẩn cấp. Chiếc Cessna cồng kềnh giỏ xách, bao bì, mỗi lần chúi xuống bắn trái khói là mỗi lần run rẩy triệt nâng stall vì chở nặng. Buôn bán những hàng hóa nặng nề cồng kềnh thật không phù hợp với danh hiệu người lính hào hoa, nhưng không tiền làm thế nào hào hoa nổi. Tiền bạc kiếm dễ cũng gây nhiều mâu thuẫn tranh chấp. Mỗi Phi đoàn mấy chục mạng mà mỗi ngày chỉ đi biệt phái một hai chiếc sẽ không tránh được chuyện kẻ đi nhiều người đi ít. Tiền cũng làm những người vốn sợ bay, chán bay trở nên tích cực. Tiền còn khích động những tay mơ mới vào nghề L19 lại xin được check out phi cơ Cessna sớm để được biệt phái Cao Miên.

Tôi quen thuộc thành phố Pnom Penh cũng nhờ dịp đó. Những hàng phượng đỏ chạy dài từ phi trường vào thành phố. Những công viên hoa lá rực rỡ xinh tươi. Những chiếc Mercedes, D.S., Toyota… bóng lộn, nối đuôi trên đường phố, những dancing sang trọng, những cao lâu tửu quán đầy những thúc ngon vật lạ. Giờ nầy, cảnh nhộn nhịp, giàu sang đã biến mất, khu chợ bán nho, trái cây quen thuộc đã bị đốt bỏ, những dãy nhà vôi sơn bạc màu nằm lặng lẽ buồn bã, những nhà hàng, tiệm buôn lớn ngày xưa, giờ lèo bèo vài thứ hàng tồi tàn, và phần lớn đóng cửa. Xe đạp nhan nhãn khắp nơi, thế chỗ những chiếc xe hơi đắt giá đã được chuyên chở về Hà Nội. Tôi nhắm mắt một phút, mật niệm cho một Nam Vang thay ngôi đổi chủ. Lịch sử tiến hóa của loài người thật trớ trêu. Cứ đà nầy, năm hai ngàn lẻ, thế giới chắc chắn trở về sống trong hang đá, lấy vỏ cây che thân và làm người Cộng Sản nguyên thủy nếu Chủ nghĩa CS thắng lợi.

Nhà ga xe lửa vắng vẻ, tôi dọ hỏi biết hai ngày mới có một chuyên tàu đi Battambang. Tôi dẫn Sang đi về trung tâm thành phố, kiếm một rạp xi nê để qua giờ, chờ chuyên tàu ngày mai. Đi dông dài ngoài đường thật nguy hiểm, đường phố tràn ngập đồn Công an Phường. Y phục ngụy trang tốt ở thôn quê lại không phù hợp ở thành phố. Dân thành phố, dù là một thành phố nghèo nàn, cũng có những kiểu cách riêng. Không tìm được hình tài tử xi nê, quảng cáo phim đang chiếu, tôi dẫn Sang đi về phía chợ, đó đây các cửa hàng trưng bày một số hàng giá trị như đồng hồ, vải vóc…

Chen lấn trong cảnh tấp nập, có lần tôi nghe được tiếng Việt nên đến gần những chàng thanh niên trẻ, quần jean, áo thun khá bảnh chọe gợi chuyện. Buồn thay, khi thấy tôi trong bộ dạng trang phục “nhà quê,” mấy chàng chỉ đáp lấy lệ rồi đi thẳng. Tôi tìm một chỗ ăn uống vắng vẻ. Kéo ghế ngồi ở góc đối diện tiệm bán mỹ phẩm thừa dịp ngắm nhìn cô bán hàng xinh đẹp trong một phút nghỉ ngơi. Mái tóc dài đen nhánh xõa vai, đôi mắt lớn kiều diễm mơ mộng. Tôi mừng rỡ nỗi vui của kẻ tha hương gặp người đồng hương khi biết nàng là Việt kiều làm nghề buôn bán, và rành đường đi nước bước. Tôi hỏi dò về cách thức đi xe lửa. Cái ấn tượng hỗn loạn, vô trật tự, miễn phí của một nhà ga xe lửa, theo lời diễn tả của một người tài xế Việt Nam từng lái xe đường Kampuchia bị xóa tan ngay trước lời giải thích:

— Không có giấy phép đi đường, không thể nào mua vé được. Cho dù có giấy tờ mà không biết tiếng Miên cũng bị bắt ngay. Không chỉ tại cổng nhà ga mà ngay trên xe lửa, Toán An ninh vẫn thường xuyên kiểm soát gay gắt. Anh vừa từ Việt Nam sang hả? Có ai dẫn đường không?

Tôi trần tình về trường hợp của mình, cô bé tròn xoe mắt kinh ngạc.
_Anh nên trở về Việt Nam thì hơn! Tôi cam đoan trăm phần trăm anh sẽ bị bắt nếu không nghe lời tôi!

Tôi đã nhìn qua vị trí và tình hình nhà ga. Tôi đã có ý định đột nhập nhà ga ban đêm, ẩn nấp trong toa xe để đi lậu nên khi nghe nói vậy, phần bực mình vì lời nói có điềm xui xẻo, phần chạm tự ái, tôi gật gù tự tin:
—Tôi sẽ đi và sẽ thành công!

Tôi vẫn tự tin và hơi quá tự tin bởi vì tôi đã từng đột nhập Phi trường Tân Sơn Nhất như vào chốn không người. Tôi xem thường ý kiến của giới tóc dài trí ngắn. Hỡi cô bé! Em đâu biết cái anh chàng “cù lần” ngồi trước mặt em đã làm bao nhiêu chuyện động trời! Nhưng, bỗng nhiên, nỗi lo âu bức rức chợt lóe lên, cái cảm giác rất người khi sắp phải đương đầu khó khăn nguy hiểm. Nhưng rồi, tôi lại nhìn cô bé, mỉm cười ngạo nghễ như muốn nhắn nhủ: “Một ngày nào thành công, ta sẽ trở lại đất nước sẽ phải thanh bình nầy, để thăm lại em trong một hoàn cảnh, một tư thế khác, cưng ạ!” Tôi đi mua dép râu cho Sang, đánh một vòng chót nhìn ngắm những nhan sắc phụ nữ đẹp hiếm hoi đã một thời lộng lẫy giờ tàn phai trong cảnh nghèo nàn khốn khổ. Tính toán tiền bạc, trừ hai vé tàu, tôi chấp thuận yêu cầu của Sang: “Ăn một bữa ngon miệng lần chót”

Tôi áy náy cái chữ lần chót Sang dùng bởi vì cái nghĩa bi thảm và xui xẻo của nó. Khác một lần chót, để từ nay trở đi, chúng tôi bắt buộc phải ăn lương khô, uống nước ruộng trong đoạn đường cuối cùng sang đất Thái. Hai ổ bánh mì lớn, mấy khoanh thịt heo quay, thừa sức đáp ứng sự thèm khát quá độ của chú bé. Ngồi nhàn nhã bên lề đường, chúng tôi ăn uống, tiêu phí những đồng riels cuối cùng sau khi trừ tiền vé, xong lên đường trở về nhà ga xe lửa. Những dãy nhà bề thế nằm dọc theo khu vực nhà ga, những cánh cổng sắt giăng thép gai, những khoảnh vườn hẹp, những ngọn đèn điện tù mù, những yếu tố thuận tiện và thích hợp cho một cuộc đột nhập ban đêm nếu không thể nào đường đường chính chính đi vào như một hành khách hợp pháp với vé tàu trên tay. Nhiều hành khách tụ tập trước thềm nhà ga, Sang dùng tiếng Khmer dọ hỏi nhưng cuối cùng, chính tôi là người tìm ra manh mối. Tôi đến thẳng xe nước mía và dạm hỏi bằng tiếng Việt:
— Chị là người Việt Nam phải không?

May mắn, tôi chọn đúng đối tượng. Tôi nhờ chị ta mua hai vé xe lửa.
— Ờ được! Nhưng hãy coi chừng, cẩn thận. Đừng nói tiếng Việt nhiều, tụi công an chìm rình rập dữ lắm.

Chị nhờ bà Khmer bán cháo gà mua dùm, mỗi vé 35 riels gồm cả tiền tip. Mười phút sau, người đàn bà Khmer nháy mắt ra hiệu và lén lút đưa vé. Yên chí, tôi vào hàng hiên trước nhà ga và cùng Sang tìm một chỗ nằm chen chúc cùng các hành khách bình dân khác trên sàn xi măng. Chỉ tính nằm nghỉ khỏe, vô tình chúng tôi ngủ say. Đang ngủ, bỗng bị đá vào chân đánh thức, ba tên An ninh nhà ga ra dấu bảo chúng tôi dời chỗ khác.

Thật đoảng! Đám người nằm ngổn ngang biến đâu hết chỉ còn hai đứa tôi trơ trọi giữa hiên nhà trông vắng mênh mông. Tôi vươn vai đứng dậy, Sang còn ngái ngủ không chịu rời chỗ. Tệ hơn, chú bé lại xích sát vào góc tường nằm ngủ tiếp. Tôi chưa tỉnh táo để nghĩ mình nên làm gì thì Sang đã bắt đầu ngáy khò khò ngon lành. Một lát, ba người An ninh trở lại, dựng đầu Sang dậy hỏi:
— Tại sao không chịu đi?

Tôi hiểu theo sự phán đoán của mình. Sang trả lời không sành sỏi, một trong ba người nói được tiếng Việt, trọ trẹ hỏi tiếp:

— Bộ đội VC hả? Ra nằm ngoài công viên kia kìa!

Tôi lật đật kéo Sang đi sợ lộ tông tích. Bên kia đường là Đài Kỷ niệm có tường thấp bao bọc, xây trên sân rộng cao hơn mặt đường. Cảnh hoạt động về đêm ở những bến xe bến tàu ở Kampuchia cũng như ở Việt Nam lúc nào cũng náo nhiệt, rộn ràng. Kẻ nằm ngổn ngang, người ăn quà vặt, hoặc ngôi tán dóc. Tôi tránh khu vực dành riêng cho Bộ đội, chen lẫn vào đám người hành khách ở xa Pnom Penh, không có nhà cửa, thân thuộc, phương tiện, nằm bụi đời giữa trời để chờ chuyến tàu sáng mai.

Bị ám ảnh bởi ba tên An ninh, tôi tách xa Sang, mỗi đứa nằm ngủ mỗi chỗ. Cẩn thận hơn, tôi dùng khăn cà ma trùm kín mặt, lộn ngược áo phía trong ra ngoài, che dấu những sọc ca rô màu đỏ sậm dễ nhận. Về đêm, có toán tuần tiễu đi kiểm soát, có tên đá vào chân tôi đánh thức để nhìn mặt. Tôi giả vờ ngủ mê, nằm ì không dậy, toán tuần tiễu bỏ đi nơi khác.

Buổi sáng, tôi dậy sớm cùng với mọi người. Gặp Sang, dặn chú bé đứng chờ, tôi đi đổi áo vì sợ toán an ninh nhìn áo nhớ mặt. Tôi có hai áo, chiếc áo thun màu xanh quá chật, ngắn cũn cỡn, chỉ có thể mặt lót bên trong cho ấm. Tôi tìm những người chạy xe ôm, lựa những loại áo còn xài được, màu sắc ít lòe loẹt để đổi. Dù sao cái áo tôi đang mặc vẫn còn tốt hơn áo họ.

Ngôn ngữ bằng tay dễ hiểu trong một vài trường hợp thông thường. Một khi đã vào trường hợp đặc biệt, tay chân cũng đành bất lực không diễn tả được. Tôi vừa chỉ vào áo mình, vừa chỉ vào áo họ, miệng nói đổ (đổi). Tôi lựa những người đứng riêng rẽ để không làm kẻ khác chú ý. Vì bận bịu tìm mối rước khách kiếm tiền, vì không hiểu được cái lối đổi chác kỳ cục chưa từng gặp, và hơn nữa, có lẽ họ nghĩ tôi khùng, nên ý định đổi áo cuối cùng không kết quả. Tôi đành phải đổi áo cho Sang, em mặc thật vừa vặn, và tôi mặc chiếc áo trắng rộng thùng thình của em, chiếc áo trắng bị sút đường chỉ nách và rách đàng sau lưng.

Tôi vạch kế hoạch vào cổng. Có ba cửa kiểm soát, Sang và tôi sẽ đi khác cửa, ai bị bắt thì chịu một mình, người kia tiếp tục kế hoạch của mình. Sang có thể trở về Việt Nam hoặc lén lút tìm việc làm, sống bất hợp pháp tại Kampuchia chờ cơ hội. Nếu mọi sự tốt đẹp, chúng tôi sẽ chờ và gặp nhau tại chiếc xe lửa sắp khởi hành.


Bị Bắt

Tôi chen vào cổng chính cùng đám hành khách vội vã tất bật. Đứng ở phòng đợi tạm thời, tôi quan sát thể thức soát vé và cách di chuyển của hành khách. Cổng số 1 có toán tuần tiễu của Bộ đội VC đang kiểm soát, xét giấy tờ. Cổng số 2 và 3 hoạt động bình thường. Hành khách khiêng vác hành lý qua cổng, đưa vé cho nhân viên bấm lỗ và đi qua. Tôi lợi dụng giây phút hỗn độn chen chúc đi vào, chẳng biết Sang đã vào chưa. Nhân viên kiểm soát quá bận rộn, họ chỉ kịp cầm vé, bấm lỗ, trả lại và không hề nhìn mặt hành khách. Tôi lọt qua cổng dễ dàng. Hình ảnh cô bé Việt kiều ở chợ và lời đe dọa vừa lướt qua trong đầu, tôi mỉm cười với ý nghĩ chế diễu, ngạo mạn. Đi được hai mươi thước, tôi chợt nghe tiếng gọi và tiếng chân nặng nề vội vã đuổi theo:
— Xốp. Xốp.
Dù không biết tiếng Khmer, tôi cũng đoán được ý nghĩa của nó: Stop. Stop.
Trong một thoáng phân tích tôi có ngay quyết định. Dù tên Công an chạy theo hỏi giấy một người khác hay đuổi theo tôi, tôi vẫn phớt tỉnh Anglais, vẫn tiếp tục đi. Sự bình thản, sự bình tĩnh trong cuộc đời, qua những kinh nghiệm, nhiều lúc đã hóa giải sự nghi ngờ và giúp tôi qua mặt an toàn những nguy hiểm. Sự bình tĩnh, giờ phút nầy không đạt được kết quả, bởi vì tên Công an đã bắt kịp, nắm lấy cổ áo tôi, nhìn tôi trừng trừng và quát tháo, la lối bằng thứ ngôn ngữ khó hiểu. Tôi mỉm cười, nhún vai, đưa cái vé đã bấm lỗ cho anh ta xem, rồi bỏ đi không thèm nói một lời, bởi vì tôi có biết tiếng Khmer nào đâu để nói. Y lại đuổi theo tôi, móc khẩu súng Colt lận trong bụng chĩa ngay vào mặt tôi, miệng nói, tay cầm súng vẫy vẫy về phía phòng an ninh nằm bên phải. Biết không thể làm gì khác được trong một khu vực phòng thủ chặt chẽ, tôi lại mỉm cười, nhún vai và tuân theo lệnh áp giải.

Thượng đế ơi! Ngài thật trớ trêu, Ngài đã giúp tôi vượt khỏi nhà tù A30, giúp tôi ra vào an toàn trong cuộc đột nhập Phi trường Tân Sơn Nhất, giúp tôi đi qua một chặng đường gian nan vất vả… giờ nầy lại để tôi bị bắt một cách lãng nhách tại đây. Tại sao tôi đã không chọn đường đi bộ thay vì xe lửa, thật là một giải pháp nhầm lẫn. Có phải vì tôi ngại đường xa, ngại nhọc nhằn, có phải vì tôi muôn chọn con đường vượt biên nhàn hạ, nhanh chóng. Tôi chẳng thấy buồn, tôi chẳng thấy lo, tôi tự nhủ thầm: “Âu cũng là số mệnh.” Những ý nghĩ miên man chấm dứt khi văn phòng thẩm vấn xuất hiện với vẻ nghiêm trọng đặc biệt. Tên Trưởng Phòng An ninh đang ngồi chễm chệ trên ghế, sau khi trao đổi ý kiến, y hỏi tôi bằng tiếng Việt lơ lớ:
— Có biết tiếng Miên không?
Tôi lắc đầu. Y chỉ tay về phía phải, ra lệnh:
— Quay mặt vào tường, cởi hết áo quần.
Tôi mở nút, cởi áo, quần và ngần ngại lưỡng lự với chiếc quần lót cuối cùng.
— Cởi ra luôn. Y quát lớn.

Tôi đứng tồng ngồng như nhộng. Ngoài kia thiên hạ vẫn còn đi vào tấp nập, bức tường dưới cửa sổ đã che đậy phần thân thể trần tục của tôi. Tôi liếc xem coi chúng làm gì. Phải bái phục cái nghề khám xét của họ. Tất cả áo quần đều bị lộn trái, cái túi nhỏ khâu kín đáo trong ống chân quần để dấu xấp bản đồ cắt nhỏ, gọn gàng, giờ nằm tênh hênh trơ trẽn. Mấy chục đồng riels đổi tại Sàigòn được dấu kín, chỉ để sử dụng trong những trường hợp khẩn cấp nguy nan, may khéo léo trong lưng quần cũng không thoát khỏi bàn tay điêu luyện. Đồ trong túi xách đổ ra nằm ngổn ngang trên bàn.
— Đi đâu? Muốn làm gì đây?

Tên Trưởng phòng gằn từng tiếng. Trước sự thực phũ phàng, trước những bằng chứng hiển nhiên: Bản đồ, địa bàn, lương thực… tôi chẳng cần rườm rà dông dài để trần tình.
— Tôi đi vượt biên.

Tôi đáp thỏng, vắn gọn. À! Y cười một cách thông khoái, nét mặt rạng rỡ hẳn lên. Có lẽ trong cuộc đời thẩm vấn, chưa bao giờ y thành công nhanh như thế. Chưa bao giờ y gặp một người bị thẩm vấn thành thật một cách kỳ cục như thế. Đó là lý do vì sao y đối xử dễ dãi và dễ tin tôi.
— Tên tuổi?
— Hoàng Nhật Tuấn. 33 tuổi.

Từ ngày Cộng Sản xâm lược miền Nam, cuộc đời thăng trầm cứ bắt buộc, cưỡng ép tôi phải đổi và lấy nhiều tên mới. Ngoài tên cúng cơm Lý Tống, Lê VạnTống, tôi còn sử dụng các tên: Hoàng Nhật Tuân, Hoàng Tuân, Lý Tiên Sinh, anh Lý, anh Hai, nếu không kể đến các biệt danh: Công tử nhất bộ, Thiết thủ đa tình…
— Gia cảnh?
— Trước kia làm Giáo sư Anh Văn, sau đi kinh tế mới, đói khổ, bệnh tật. Hai đứa con chết, vợ bỏ đi lấy ba Tàu. Buồn quá tôi đi vượt biên để tìm một cuộc sống mới.

Tên nầy ghi chép với vẻ “cảm động” vì hoàn cảnh bi đát do tôi bịa ra.
— Tại sao lại có hai khăn cà ma? Đi với ai? (Sang bỏ quên khăn trong túi tôi).
—Tôi đi một mình. Trời lạnh phải dùng thêm một khăn cà ma đắp cho ấm.
— Khai thật đi. Ai dẫn anh đi?
— Tôi đi một minh.
— Nói láo. Làm sao đi một mình được. Có biết ai tên Tống không? Có phải ông Tống dẫn đi không?

Tôi thót giật mình. Ông Trời cũng hay thật, ông lại phái một tay tên Tống nào xuống Nam Vang nầy, chuyên môn dẫn người đi vượt biên để kiếm tiền, và người đó lại trùng tên tôi, cái tên ít người Việt Nam nào có, nhưng lại thông dụng với người Tàu. Thì ra các bố an ninh nhà ta chỉ mong tôi khai người dẫn đường để bắt họ chi tiền chuộc người ra mà thôi.
— Không, tôi đi một mình. Anh xem các đồ dừng của tôi: Bản đồ, địa bàn, lương khô, anh có thể suy luận và tin tưởng điều tôi nói.

Trong cái thật có cái giả, trong cái giả có cái thật. Nhưng lý luận như vậy là tôi đã lý luận thật và nói thật, mặc dù đã lờ chuyện Sang. Trong khi tên Trưởng thẩm vấn, tên bắt tôi lại bỏ đi ra ngoài lùng kiếm những người khả nghi khác. Hỏi cung xong, y cho tôi ngồi nghỉ ở một góc phòng, mặc lại quần áo. Một lát sau, Sang lại lù lù dẫn xác vào! Thật vỡ nợ! Sang ngạc nhiên nhìn tôi, tôi cũng ngạc nhiên nhìn Sang, dùng mắt ra hiệu “không quen biết” và tôi ngồi bình thản như chưa từng gặp Sang lần nào trong đời mình.
— Đi đâu? Làm gì?
Tên an ninh hỏi Sang, em lắp bắp trả lời bằng tiếng Miên, cái tiếng Miên học lóm chưa được sành sỏi, thông thạo. Cuối cùng tên trưởng phòng xen vào thẩm vân bằng tiếng Việt:
— Tên gì? Mấy tuổi?
— Tên Sang. 16 tuổi. (Đó là dịp đầu tiên tôi biết tên chú bé).
— Nhà ở đâu? Làm gì?
— Ở Gò Dầu Hạ. Chạy xe đạp thồ.
— Đi đâu?
— Em đi Battambang tìm thăm người anh làm Bộ đội.
— Bộ đội hả? Láo khoét. (Tên này tiếng Việt cũng ỡm ờ, tưởng Sang khai mình làm Bộ đội).
— Không, anh tôi làm Bộ đội ở Battambang.
— Thằng nầy nói láo.
Vừa nói y vừa đánh một bạt tai vào mặt Sang, em sợ quá ôm tay tên An ninh vừa khóc vùa năn nỉ:
— Em nói thật. Xin anh thương em, đừng đánh em.
Cái vẻ tội nghiệp, sợ sệt của Sang không làm y xúc động. Trái lại y càng bực bội hơn, đấm đá, tát lấy tát để. Ngồi nhìn Sang bị đánh, tôi thấy đau xót, tự trách mình đã dẫn Sang đi, đã mang họa cho chú bé. Sang quì xuống, chắp tay lạy rối rít:
— Lạy anh, lạy anh, anh thương em. Em nói thật, anh tha cho em.
Tên An ninh dộng thêm mấy đạp rồi cho Sang ngồi chung với tôi, sau khi đã hỏi thêm một vài chi tiết. Hai đứa ngồi cùng nhau, nhưng không hề nhìn nhau, nói với nhau. Cuộc đời ơi! Lắm lúc cuộc đời cứ trách con người sao hay làm mặt lạ với nhau, nhưng trong trường hợp nầy chắc chắn không ai khuyên chúng tôi nên làm mặt quen với nhau cả. Tên nói tiếng Miên lại bỏ đi, tên Trưởng phòng mặt hiền, dễ chịu, lại nói được tiếng Việt. Tôi mở lời tán tỉnh:
— Các anh hay thật. Làm sao nhìn chúng tôi, các anh đoán được chúng tôi là người phi pháp để bắt giữ?
Y cười trả lời:
— Dễ quá. Cái tướng của anh phong lưu, lại ăn mặc rách rưới tồi tàn, làm chúng tôi sinh nghi. Còn thằng nhỏ này, nó đứng lớ ngớ chờ ở toa xe lửa, nên tôi tóm luôn.

Cái bộ mã của con người cũng thật quan trọng. Vâng. Ngay chính Việt Cộng lúc nào cũng tự cho là hồng và chuyên (red and expert) là hai yếu tố chính của một cán bộ mẫu mực vẫn còn có ý nghĩ “Phi công là phải đẹp trai, hào hoa phong nhã.” Vì thế nên khi gặp Chính, một Phi công chính hiệu con nai vàng, nhưng lại xấu trai, nên mỗi lần Chính khai lý lịch lại bị họ sỉ vả và cật vấn:
— Tướng mầy mà làm Phi công gì? Đồ nói láo!

Sau nầy, khi nghe tôi xác nhận Chính đứng là Phi công cùng Không Đoàn với tôi, đám Cán bộ Trại mới chịu tin.

Những đại tài tử nổi danh, một phần nhờ khả năng diễn xuất, nhưng phần lớn, nhờ nghệ thuật hóa trang và kỹ thuật tân tiến của điện ảnh. Đóng một vai sống động ngoài đời, trước họng súng, trước những đôi mắt chuyên nghiệp của các tay điều tra, phải thật sự có bản lãnh mới hoàn tất được. Tôi gạ gẫm tên An ninh:
— Anh thông cảm hoàn cảnh tôi. Nếu anh thả tôi, một ngày nào đó, tôi sẽ đền ơn anh.

Y đáp:
— Anh đi thế nào cũng bị bắt lại. Thôi chờ đây, tôi không giao anh cho Bộ đội VC đâu, tôi sẽ cho anh ở Trại chung với người Khmer. Ở đó dễ chịu, làm việc nhẹ, ăn uống sướng, có tiền thù lao, chỗ ở thoải mái, công trường lao động chứ không phải nhà tù đâu.

Sau vài lần thuyết phục, tôi biết được lý do sự thất bại của mình. Trên tuyến đường nầy, Toán An ninh nhiều lần bắt được người vuợt biên, thông thường, người dẫn đường chi tiền để chuộc họ. Lâu lâu kiếm được một con mồng nghèo, bụi đời, họ phải giải giao để minh chứng sự hữu hiệu của công tác mình. Điều đó được xác nhận khi một người đàn ông khác bị bắt. Anh ta là một Việt kiều, nhưng nói tiếng Miên rành như người bản xứ, và có đủ giấy tờ, cũng bị lột áo quần, xét đồ. Đồ đạc đem theo là những vật dụng kỳ dị: Tượng một ông Phật gỗ lớn bằng nắm tay, một ống thuốc lào khắc chạm tỉ mỉ, cuối cùng trong ông thuốc lào và trong tượng Phật họ moi ra được một số dây chuyền bằng vàng, gói từng gói nhỏ. Hai tay An ninh thích thú nhìn nhau mỉm cười, cuối cùng người khách lại thu xếp đồ đạc, vòng vàng của mình bỏ vào túi và được thả đi sau khi đút lót một số vàng khi được dẫn ra ngoài đi tiểu.

Tôi nhìn qua cửa sổ, xe lửa bắt đầu hú một hồi còi dài chuẩn bị lên đường. Tôi liên tưởng đến các phim James Bond, các phim gián điệp. Nếu tôi có khả năng võ nghệ cao cường như họ, trong một chớp mắt, tôi hạ thủ hai tên gác, lấy hai vé trên bàn, thong dong ra cửa và lên tàu đi tiếp. Tôi tự hứa một ngày nào có dịp thuận tiện, sẽ tìm những dị nhân để luyện thêm võ công mình, để sử dụng trong những hoàn cảnh tương tự. Tàu chuyển bánh, tiếng xục xịch, xục xịch nhanh dần, những toa tàu lần lượt đi qua và tại một toa tàu cuổi, những khẩu đại liên, trung liên chĩa nòng ra ngoài, với toán lính bảo vệ tàu.

Cuộc tiễn đưa thầm lặng với những nuối tiếc, với những đau đớn. Con tàu ơi, ta chẳng có duyên đi cùng một chuyến. Vĩnh biệt. Vĩnh biệt. Tôi ngẩn ngơ nhìn theo đến lúc bóng tàu khuất sau những dãy nhà, những lùm cây. Chúng tôi được cho vào một phòng kế cận để nằm nghỉ, phòng gồm có một dãy giường, bếp nấu ăn và nhiều cánh cửa sổ. Cửa sổ bằng kính, khung gỗ, xoay lên xuống quanh một trục ngang, được gài lại và buộc dây thép chắc chắn. Tôi chọn cánh cửa sổ gần bức tường ngăn hai phòng, gần với phòng điều tra, nhưng lại che khuất an toàn. Tôi bảo Sang ngồi canh chừng và lén tháo các giây kẽm sắt. Công việc dễ nhưng tiến triển chậm vì tên gác cứ đi ra đi vào kiểm tra. Tôi tháo xong, nhưng sự canh chừng thận trọng của tên gác không cho chúng tôi đủ năm phút để tẩu thoát. Ít nhất cũng phải năm phút. Tôi tính toán, tôi cần thời gian tối thiểu để chui ra và đi trốn một đoạn đường. Tên gác thay phiên đi ăn cơm trưa.

“Nhìn mặt đặt tên,” câu nói đó nếu đúng, cũng chỉ đúng 99% và trường hợp nầy lại rơi vào 1% ngoại lệ. Tên mặt trắng mới trông, vẻ hỉền lành dễ chịu nhưng càng lâu càng thấy những nét tàn bạo hung hiểm ẩn tàng. Tên mặt đen, mọi rợ lầm lì, nhưng cuối cùng lại chân tình tốt bụng. Tôi linh cảm được tâm trạng anh ta có ý muốn thả chúng tôi nhưng dùng dằng không dám. Tôi giả vờ ra lấy thuốc hút, nhưng thực sự là gom bản đồ, địa bàn và lương khô đến gần để mang theo khi đi trốn. Thiếu những thứ thiết thân nầy, sự vượt thoát sẽ gặp nhiều khó khăn về sau. Chàng da đen nằm trên võng, ôm đàn ghi ta nắn nót tập dợt, tiếng đàn là tiếng báo hiệu tốt nhất về vị trí và hoạt động của đối tượng tôi đang theo dõi, canh chừng. Thấy y say mê với khúc nhạc, tôi khom mình thò tay kéo nhẹ túi xách đựng hành trang. Tôi hỏi lại Sang lần cuối:
— Em đã quyết định chắc chắn chưa?

Tôi đưa ra hai giải pháp: Hoặc tôi sẽ đi trốn một mình. Sang còn nhỏ tuổi, các tên An ninh có thể thương hại thả em và Sang sẽ kiếm đường trở về Việt Nam, hoặc Sang sẽ theo tôi, nếu Sang chấp nhận sự nguy hiểm và gian khổ. Sang gật đầu quả quyết:
— Em đi theo anh.

Tôi trườn mình qua ô cửa sổ hẹp vừa mới nâng lên. Khi chân vừa chạm đất, Sang vội chuyền xách tay ra cho tôi. Tôi đi rón rén qua một bãi cỏ và chui xuống gầm một xe lửa cũ, hư hỏng, bỏ hoang gần đó, ngồi lại đợi. Sang vẫn còn lưỡng lự. Tôi ra dấu bảo nhanh lên, đến lúc đó Sang mới quả quyết leo lên, chui ra ngoài. Tôi đã dặn Sang thật kỹ trước khi đi, nhất cử nhất động đều phải bắt chước tôi và làm theo ý tôi. Điều tốỉ kỵ nhất là vội vàng, hốt hoảng. Phải bình tĩnh, phải thản nhiên như một người lương thiện, như một người hợp pháp và nếu có thể, như một nhân viên có thẩm quyền. Vừa băng qua toa xe lửa, định đi về hướng bức tường vắng cây cối rậm rạp chọn sẵn, tôi chợt phát hiện một cánh cổng có người gác về phía tay phải khoảng hai trăm thước.

Tôi lặng người trong một thoáng bất ngờ, chân vẫn bước đều nhịp thong thả, chưa kịp báo động thì Sang bỗng hốt hoảng vụt bỏ chạy. Nhiều loạt súng nổ dòn dã, đạn bay vèo vèo trên đầu và trước mặt. Tôi đứng yên tại chỗ vì biết không thể thoát được. Sang cũng đứng khựng lại khi một loạt đạn vừa chém gãy những nhành cây nhỏ sát mặt.

Tên An ninh nghe tiếng súng chạy ra, bắt chúng tôi trở lại phòng. Quang cảnh nhà ga xe lửa nhốn nháo, mọi người đổ dồn ra xem mặt chúng tôi trên đoạn đường áp giải. Tên Trưởng phòng cũng vừa về tới, ra lệnh trói tay chúng tôi quặt về sau lưng, y càng lúc càng hung dữ, những nét hiểm độc gian ác lộ nguyên hình qua những nụ cười gằn, qua đôi mắt khát máu thù địch, còn tên An ninh, trái lại, vẫn đứng bình thản ngoại cuộc. Hai thanh gỗ nhỏ có gắn hai đầu múi giây điện được lấy ra. Y bắt đầu gắn điện, hai tay cầm hai cây gỗ, chập lại với nhau, hai dòng điện chạm nhau xẹt lửa, nổ đôm đốp tung tóe. Y quay lại, dí hai múi điện vào người Sang, em rú lớn, toàn thân giãy đành đạch. Sang la hét, van lạy trong sự kinh hoảng tột cùng, như một người mất trí, quay cuồng, lăn lộn, gào thét. Tên Trưởng phòng bám sát theo em, dí điện vào ngực, vào lưng, vào bụng. Tôi từng nghe kể nhiều chuyện tra tấn bằng điện, những tội nhân bị tra điện, nếu không chết, một phần lớn về sau đều bị tê liệt, mất trí hoặc bất lực. Tôi từng chứng kiến nhiều kẻ bị điện giật, cháy đen cong queo.

Sang vẫn còn la, vẫn còn van lạy, tức là chưa có gì nguy hiểm. Tôi nhìn ngọn đèn tờ mờ trên trần nhà, dòng điện thuộc loại yếu, 110 volts. Đang tra tấn Sang, thỉnh thoảng y liếc nhìn tôi xem phản ứng. Tôi vẫn ngồi bình thản như một khán giả xem tuồng mà Sang và y chỉ là hai kịch sĩ hài hước đang trình diễn.

Đã đến phiên tôi. Y lừ lừ đi lại, dợm dọa vài cái, quen với phản ứng né tránh và hoảng hốt của Sang, y thực sự ngạc nhiên khi thấy tôi vẫn ngồi bình thản bất động. Tôi nhìn ngay mặt y lượng giá địch thủ. Y bắt đầu ấn điện vào ngực tôi, một tia sáng chớp lòe trong đầu, một chút rung giật nhẹ của bắp thịt, một chút mồ hôi vả ra, và khó chịu nhất là cảm giác nhột nhạt như bị thọt lét. Tôi gồng người chịu đựng sự nhột nhạt, cái nhột làm người ta muốn cười mà không cười được. Cuộc đấu sức vẫn tiếp tục, tôi ngồi yên, chịu đựng cực hình tra tấn điện, không đau đớn, không sợ hãi.

Y ngạc nhiên, và tôi cũng ngạc nhiên. Y ngạc nhiên vì trong cuộc đời tra điện tội nhân, y chưa thấy ai lạ lùng như vậy. Tôi ngạc nhiên vì tra điện chẳng có gì ghê gớm, ngoài những cảm giác khó chịu nhột nhạt mà tôi chưa từng được hưởng. Tôi bỗng có ý nghĩ kỳ cục, biết đâu dòng điện vật lý sẽ tác động dòng nhân điện, sạt thêm cho dòng điện người, và tôi sẽ mạnh mẽ hơn, có nghị lực hơn! Sự thử thách đã đạt đủ yêu cầu của nó. Tên Trưởng phòng thấy chán và mệt với trò chơi vô vị của mình, rút nút gắn điện và treo hai cây gỗ lên tường. Tôi lắng nghe những thay đổi trong cơ thể: bình thường, chẳng có gì khác lạ, ngoài một ít mồ hôi rơm rớm trên da thịt.

Tình hình căng thẳng đã qua, một tên ngồi vẩn vơ, một tên ngồi ôm đàn gãy. Sang bỗng lên tiếng:
— Tôi biết đánh đàn!

(Có lần trước khi trốn, tên An ninh hỏi: Có ai biết đánh đàn không ?)
— Muốn đánh đàn hả? Tên An ninh hỏi vặn.

Sang gật đầu, tên gác đến mở trói cho Sang. Tôi vừa tức cười, vừa ái ngại trước sáng kiến kỳ lạ này. Sang ôm đàn, bàn tay vụng về bắt đầu mò mẫm từng sợi giây đàn, em đàn tệ như một đứa con nít đang nghịch ngợm với đồ chơi, làm y cụt hứng. Tôi càu nhàu:
— Đánh đàn như củ c… Trả lại cho nó đi.

Tên Trưởng phòng An ninh lấy lại cây đàn và bảo Sang mở trói cho tôi. Giọng y dịu xuống nghe như thật:

–  Thôi đừng đi trốn nữa. Muốn đi vượt biên ngày mốt tôi dẫn đi dùm.

Tôi ngạc nhiên vì câu nói khó hiểu, nhưng Sang quả quyết:
— Người Miên thành thật lắm. Họ nói là làm.

Tôi gợi ý:
— Nếu anh giúp tôi, hoặc nếu anh muốn đi vượt biên với tôi, qua Mỹ, tôi sẽ đền ơn anh.
— Ừ! Tôi sẽ giúp anh, nhưng anh phải hứa là không trốn nữa. Ngày mốt có chuyên tàu Battambang, Sisophone, tôi sẽ dẫn anh đi.

Biết chắc y chỉ nói xạo để giữ chân mình, nhưng trong cảnh tuyệt vọng, con người vẫn bám víu vào những chuyện phi lý để mơ mộng. Tôi tưởng tượng lúc chúng tôi cùng y lên tàu…

Một chiếc xe jeep dân sự chạy lại. Một người Miên ăn mặc lịch sự, trí thức đi vào gặp tôi, hỏi chuyện bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Rồi một chiếc xe jeep nhà binh, một Sĩ quan xuống xe và ra lệnh gom trả hết đồ cho chúng tôi.
— Đủ hết chưa?

Y hỏi, nhưng tôi chẳng còn tha thiết với những thứ đồ lỉnh kỉnh, gật đầu. Y ký giấy nhận và dẫn tôi ra xe. Tôi nhìn vào mặt tên Trưởng phòng chửi thề:
— Đồ dốì trá.

Y ngượng xấu hổ quay nhìn hướng khác. Chúng tôi được chở đến dinh thự rộng lớn, nhiều lính Khmer Heng Samrin vừa chấm dứt trận thể thao, tụ tập quanh chúng tôi với vẻ hiếu kỳ. Tôi nhìn quanh khu vườn, gian nhà dọ xét. Tôi đã tập một thói quen từ lâu: Bất cứ nhà giam nào, bất cứ phòng thẩm vân nào, vừa bước chân vào, việc đầu tiên là đưa mắt xem những sơ hở, những yếu điểm có thể chạy trốn hoặc vượt ngục.

Ó đen

lytong.wordpress.com

Lý Tống

Post by Sơn râu 20 Apr 2025

Phần 5

Một Chỗ Trú Đêm

Trời chuyển giông và mưa gió bắt đầu nổi dậy. Hướng gió mùa thường làm khó khăn giới hàng hải và giới hàng không, không ngờ, tôi giới hàng bộ, giờ nầy cũng đau khổ vì gió. Gót chân đã phồng rộp, bắp thịt và xương cốt rã rời, nhưng sự kiên trì nhẫn nại vẫn còn giữ nguyên vẹn hình thái. Tôi hồi tưởng những dốc núi cao, trơn trợt và dựng đứng, mỗi ngày phải leo lên, có lúc phải bò lên, đứt thở, trong những công tác khiêng gỗ trại tù. Những ngày gánh tranh nặng nhọc, đi ngược gió giữa nắng trưa, trên con đường dài vô tận! Bỗng dưng, tôi thấy thoải mái nhẹ nhàng. Đúng ra tôi phải được trả công trong chuyến xe nầy bởi vì tài xế bỗng hoán chuyển thành hành khách, ngồi ung dung, dùng thớt lưng tôi để che mưa gió. Một xe đạp dừng lại ghé vào nhà để báo tin về muộn, chúng tôi đứng thu mình sau gốc cây, lạnh run.

Một số ngôi nhà chung quanh bị Bộ đội Việt Cộng chiếm cứ và sử dụng, bất cứ phum nào, làng nào, tùy theo dân số, tùy theo tình hình an ninh, đều có một số Bộ đội Việt Cộng tương xứng trấn đóng. Thật dễ nhận ra vì họ luôn luôn chiếm ngụ những gian nhà lớn nhất, kiên cố nhất trong vùng vì những loại nhà đó là tài sản của những tay tư sản, địa chủ cũ, tầng lớp giai cấp được trọng vọng trong Xã hội Tư bản và là tội nhân trong Xã hội Chủ nghĩa. Người lái xe, một Việt kiều, trở ra với một đề nghị bất ngờ:

—Nếu muốn, các anh có thể vào ở lại nhà tôi, sáng mai đi tiếp. Nhà nghèo, cơm mắm bò hóc không ngon, nhưng đủ để mời khách. Tuy nhiên, theo đúng thủ tục, các anh phải trình giấy tại phòng an ninh.

Tôi mỉm cười thiện cảm, cám ơn lòng hảo tâm, nhưng từ chối vì cần đi gấp. Điều đó chứng tỏ chúng tôi vẫn chưa bị nghi ngờ. Mưa càng nặng hạt, gió càng mạnh, đường đi bắt đầu tối dần. Chúng tôi vẫn lầm lũi đạp xe trong bóng tối, trong gió mưa, đi tới đâu, về đâu, tôi không hề biết trước và quan tâm đến. Cứ mỗi tấc đất xa rời cái địa ngục trần gian của Cộng Sản, tôi lại tiến gần đến ánh sáng và hy vọng. Cuối cùng xe dừng lại, vì người lái xe cần thời gian để trở về. Lác đác những ngôi nhà tranh tiều tụy ẩn hiện trong màn đêm và màn mưa, người lái xe nói:

— Tôi biết nhà một người Việt kiều ở đây. Tôi sẽ xin dùm cho các anh ngủ lại.

Tôi mừng rỡ cám ơn, đứng chờ. Cuộc thương lượng đã khá lâu, tôi quyết định đi về hướng ngôi nhà, nghĩ rằng tiếng nói và nhân dáng của mình có thể làm chủ nhân nhận lời. Thật khó hiểu, cái nhà được gọi là của Việt kiều lại không có ai biết nói tiếng Việt, gồm một người đàn bà lớn tuổi và ba cô gái trẻ, nét sắc sảo và duyên dáng nhờ nước da nâu bóng bản xứ làm nổi bật và hấp dẫn hơn. Với tư tưởng đen tối, một dân chơi có thể nghĩ đến một cái động và những cô gái điếm tuyệt vời. Với tư tưởng trong sáng, một người đạo đức sẽ mũi lòng vì cảnh mẹ góa con côi, thiếu bàn tay đàn ông che chở đùm bọc. Nếu rơi vào trường hợp thứ nhất, chắc chắn tôi không có tiền để thỏa mãn điều kiện tiên quyết của loại dịch vụ nầy, và trường hợp thứ hai, chúng tôi ngủ đâu trong cái nhà quá nhỏ chỉ vừa đủ chỗ đặt hai chiếc giường và bốn người đàn bà nằm.

Tôi không đạo đức, cũng không quá hư hỏng nhưng vẫn chưa bỏ được tật mơ mộng. Ngày xưa tôi thường đọc truyện Liêu Trai Chí Dị với những cuộc tình rực cháy đam mê của những con hồ ly tinh cái, đang đêm hóa thành những người con gái tuyệt trần đi dụ dỗ, trao tình với những chàng thư sinh đang miệt mài kinh sử. Một thoáng ước ao phi lý chợt hiện trong trí tưởng tượng. Ước gì ba nàng là ba con hồ ly tinh hóa người, các cô sẽ ân cần mời mọc tôi ở lại và đêm nay, ta sẽ đốt cháy sinh lực dồi dào của mình cho ba tấm thân nẩy nở khêu gợi kia, dù sáng mai trên đoạn đường thăm thẳm vời vợi, ta còn phải gian nan, vất vả, tận lực với cuộc sinh tồn, với định mệnh khắc nghiệt của mình. Không cần thông dịch, tôi cũng hiểu được cái ý nghĩ và lý do từ chối của chủ nhà. Tôi cám ơn và dẫn Sang đi.

Tôi cố tìm một khoảng đồng trống sau đám nhà tranh lúp xúp để tìm chỗ ẩn náu qua đêm. Hai đứa dọn dẹp những nhành tre gai vướng víu trong một bụi rậm. Mở túi lương khô, chúng tôi nhẩn nha nhai chậm rãi. Tiêu chuẩn mỗi bữa ăn: bốn muỗng đầy, chất bột của mì sợi khô tán nhỏ không thể ăn mau vì nghẹn và sặc. Phải nhờ nước đẩy trôi cái chất vừa khô vừa dễ hóc đó xuống cổ họng, chúng tôi cảm thấy no nê nhờ uống nhiều nước. Bỗng có tiếng chân người, tôi bấm nhẹ Sang, hai đứa ngồi im không nhúc nhích. Một người đàn ông tiến xăm xăm đến gần. Cái thân thể con người càng kềnh càng thêm khi cố gắng co rút lại. Cách ba thước, y quay lưng lại, tuột quần ngồi đại tiện. Giả dụ nếu có đèn pin, giả dụ nếu có ánh trăng, chắc chắn chúng tôi đã bị bại lộ. Tôi dẫn Sang tìm chỗ khác, sau đó ngồi tựa lưng vào một gốc cây nhỏ. Bờ bụi thưa thớt phải nhờ cậy thêm bóng tối của đêm, sự mờ ảo của màn mưa rả rích để che chở hai bóng người lạnh lẽo co ro. Đường lộ chính nằm cách hai mươi thước. Tiếng nói chuyện, ánh đèn của dân chúng trở về sau một buổi hội họp đâu đó, vọng lại thật rõ ràng. Tấm vải ni lông nhỏ không đủ che kín hai thân thể. Nước mưa theo từng đợt gió tạt vào cổ, ngực, nước trên mặt đất âm thầm chảy luồn lỏi giữa các ngõ ngách của thân người. Những con muỗi đói liên tục tấn công. Như để thích nghi với hoàn cảnh sinh tồn, giông muỗi đã mài bén và nối dài thêm cái mũi kim sinh kế để có thể đâm xuyên suốt lớp da dày, thô nhám của lớp người bình dân với mớ áo quần, vải vóc không còn đủ khả năng che chở.

Sang ngoẹo đầu vào ngực tôi ngủ mê mệt, tôi vòng tay qua vai ôm chú bé. Trong cuộc đời, tôi chưa bao giờ ôm ấp ai âu yếm thân thương như vậy, ngay cả đứa em ruột thịt thâm tình độc nhất. Đứa em trai, một thanh niên trẻ chỉ có một ước mơ duy nhất là làm thế nào để bắt chước sống và được sống cuộc đời giống hệt anh mình. Sự cố gắng thái quá trong những điều kiện hoàn toàn khác biệt đã dẫn dắt đời nó vào một lối sống hư hỏng và đã chết trong trận tấn công biển người của Cộng Sản vào Chi khu Cảnh Sát thuộc Tỉnh Pleiku. Tội nghiệp những lứa tuổi thanh xuân mơ mộng của Việt Nam, biết bao em đã chết oan ức vì bom đạn thời chiến. Và hiện tại, và tương lai, còn biết bao em đang và sẽ tiếp tục chấp nhận hiểm nghèo, chết chóc để thoát khỏi cái lũ người Cộng Sản tàn bạo, mê muội đó.

Tiếng tự tình của đôi tình nhân hay của cặp vợ chồng trẻ xa nhau vừa tái ngộ, đang nỉ non thủ thỉ ở ngôi nhà lân cận. Lần đầu tiên tôi khám phá được cái chất nhạc, chất thơ trong thứ ngôn ngữ xa lạ nầy. Giọng nói của người con gái líu lo trầm bổng với những lời tình mật ngọt. Hình như ban đêm đã mất cái ý nghĩa chính là để nghỉ ngơi và ngủ mà trở thành cái nệm êm ái nuôi dưỡng cuộc tình. Tôi chợp mắt nhiều lần trong đêm, sự mệt mỏi không đủ yếu tố cho một giấc ngủ say, những ý nghĩ và toan tính giằng kéo tôi ra khỏi cơn ngủ chập chờn. Tiếng người con gái vẫn đều đặn như một cuộn băng đã bấm nút, chạy mãi. Chỉ những lúc thay băng mới có sự im tiếng, sự im tiếng không đem lại sự im lặng hoàn toàn cho không khí tĩnh mịch của đêm. Có những tiếng động lịch kịch, như tiếng cuộn băng cũ bật ra, tiếng cuộn băng mới bỏ vào, nhưng thực sự là tiếng động của giường chiếu, của thân thể, của hơi thở, của tiếng rên rỉ trong nhịp điệu yêu đương. Cái tiếng kỳ cục thúc dục anh chàng peeping Tom trong người, nhưng hình ảnh hấp dẫn chưa đủ mạnh để xâm chiếm toàn bộ cái tâm sự ngổn ngang của kẻ đang trên đường bôn tẩu. Những tiếng động khác bỗng vọng lại, không có loại đồng hồ báo thức nào thích hợp hơn tiếng rục rịch chuẩn bị cho lợn ăn, tiếng giã gạo, nấu cơm buổi sáng của những gia đình nông dân nghèo.

Tôi lựa chọn một số đồ đạc tối cần thiết và đem dấu những thứ cần thiết khác bắt buộc bị loại bỏ. Sự cồng kềnh, số lượng đồ đạc là một trong những yếu tố tự tố cáo mình tại các nuớc Cộng Sản. Tôi đã từng bị nhiều người chạy hàng chợ đen tại Sàigòn, Nha Trang níu kéo, làm phiền mỗi khi xách một túi nhỏ trên tay. Những tên Cớm rắp ranh rình rập những mục tiêu tương tự để bắt hàng chợ đen và để bắt địa. Tôi đánh thức Sang dậy, chú bé mở mắt và ngỡ ngàng trước hiện thực xa lạ của mình. Tôi nắm tay kéo Sang đứng lên, dứt khoát lôi chú bé ra khỏi cái cảnh nửa thực, nửa mơ. Lần lữa tại vị trí nầy, trong thời điểm và hoàn cảnh nầy thật nguy hiểm. Phải tranh thủ thời giờ, phải lợi dụng sự đi lại của những kẻ siêng năng tần tảo sớm nhất, để đi qua những trạm gác thường đặt đầu và cuối mỗi thôn làng kiểm soát kẻ vào ra. Trạm gác còn đặt tại các đầu cầu, những chiếc cầu nhỏ bắt qua mương dẫn nước, giờ đây được tăng cường thêm bởi hàng rào bằng tre và bằng cây để ngăn chận đặc công xâm nhập phá hoại. Nhưng thật khôi hài, chỉ với khả năng của những chú bé chăn trâu, sự đột nhập và phá hoại cầu trở thành một công tác dễ dàng.

Chúng tôi đi từ tờ mờ sáng, mặt trời đã lên cao vẫn chưa thấy bóng dáng chiếc xe đò nào trên điiờng, nông dân đã tề tựu đông đảo trên các cánh đồng. Lao động Xã hội Chủ nghĩa ở đâu cũng có cùng một sắc thái, mọi người làm việc vì công điểm, sự cưỡng bức và huê lợi thấp không đủ bảo bọc tấm thân còm cõi, nên chẳng ai tận tâm tận lực. Người ta chỉ tận tâm, tận lực trong những buổi họp phê bình, kiểm điểm bởi vì cơm gạo nhà nước cấp phát chỉ vừa đủ để vận động cái mồm, cái lưỡi nói phét, tán láo chơi. Để vận động tay chân phải cần ăn gấp ba lần tiêu chuẩn của nhà nước cấp.
Tôi nhớ tới những người nông dân Việt Nam nghèo khổ qua các chế độ và càng tồi tệ hơn khi được “giải phóng” bởi thứ Chủ nghĩa xây dựng Học thuyết trên căn bản Liên minh Giai cấp Công-Nông. Những ngày làm ruộng trong nhà tù, chúng tôi không chỉ đạp hàng đống bó mạ tốt xuống bùn bỏ đi để phá hoại sản xuất, mà trong mùa gặt, còn làm lơ cho những người dân quê đói khổ tranh cướp những bó lúa chúng tôi gánh qua trên các đoạn đường vắng. Làm sao quên được hình ảnh cô bé gái năm tuổi, mặt mày xinh xắn hiền lành, đang sợ hãi đau đớn vì bị mẹ đánh và mắng nhiếc.

—Trời ơi, con cái gì mà ngu đần hư hỏng thế nầy. Con người ta cũng chừng đó tuổi, chúng nó khôn ngoan, nhanh nhẹn, giỏi dang, chỉ nháy mát là ăn cắp được cả ôm lúa. Còn con tôi nè trời! Từ sáng đến giờ cứ đứng thập thò hoài. Tối nầy về nhà lây cứt mà ăn, cơm gạo đâu cho thứ khốn nạn như mầy!

Vâng! Những đứa bé nhà nghèo đang được giáo dục bằng một loại đạo đức, luân lý mới! Xã hội tương lai sẽ ra sao khi thế hệ hôm nay đang được tiêm nhiễm những tư tưởng hướng đạo tồi tệ nguy hiểm như vậy. Nhưng may thay vẫn còn những ông, bà cụ già nức nở cảm khái:

—Nếu còn cầm nổi khẩu súng, tôi đã bỏ lên rừng theo kháng chiến.

Hoặc nguyền rủa:

—Biết tụi nó khốn nạn thế nầy, ngày xưa tôi đã đổ nước sôi xuống hầm cho chết cha bọn nó. Cái thứ vô ân bạc nghĩa! Mình ngu, dấu diếm, bao bọc, che chở cho nó, để ngày nay xảy ra cơ sự như thế này đây. Trời ơi!

Sang giỏi đi xe đạp nhưng yếu đi bộ, nằng nặc đòi ngồi nghỉ đợi xe mà tôi thì muôn đi mãi. Cuối cùng tôi phải nhượng bộ khi chú bé không còn đi nổi. Tôi tìm một chỗ kín bên đường, vục mặt xuống vũng nước vàng quạch uống lấy uống để. Chín giờ sáng, chiếc xe đầu tiên xuất hiện, xe bình thản qua mặt không hề lưu ý đến hai khách bộ hành lẻ loi đang vẫy tay. Thật lâu, đến chiẽc xe thứ tư, tài xế mới chịu dừng lại, Sang chạy đến người tài xế làm phận sự mình. Mấy anh tài xế là chúa sành đời, thây người, thấy của, và nghe giọng nói của Sang, anh chàng nghi ngờ ngay.

— Có giấy tờ không?

Chúng tôi vội gật đầu đại để leo lên xe đã chật chội. Chuyến xe đặc biệt chở toàn đám dân nghèo khổ lao động, có một vài chú Bộ đội Việt Cộng quá giang ngồi đờ đẫn đây đó. Tôi kéo khăn cà ma trùm kín mặt, vờ ngủ như mệt mỏi. Một người “câm điếc” đi vượt biên là một người hạnh phúc nhất vì cái trở ngại khó khăn nhất là ngôn ngữ, lại không thành vấn đề đối với họ. Lắm lúc tôi cũng đóng vai câm điếc, nhưng cái lưỡi tôi quá dài, có lẽ nó cứ dài thêm sau mỗi cuộc tình vì những nỗ lực tận tụy của nó! Cái lối ú ớ ngọng nghịu thiếu điêu luyện, và cái lỗ tai 20/20 của một Phi công khó đóng trọn vẹn vai trò lơ đãng như những kẻ điếc thực sự. Tôi nhắm mắt vờ ngủ sau chiếc khăn cà ma, nhưng mọi hoạt động trên xe, tôi đều thấy, mọi tiếng động bên ngoài, tôi đều nghe.

Xe dừng lại tại nhiều trạm gác, cái mũi đánh hơi của các tay lính gác khá nhạy bén, nhưng cái mùi người của đám người dơ dáy, bần hàn, đang ngồi chen chúc trên sàn xe đã đánh lừa được sự tinh tế đó. Trạm kiểm soát cuối cùng thật đáng ngại, một dãy xe dài đậu chờ khám xét. Trong hai mươi phút, xe thỉnh thoảng xục xịch nhích về phía trước để chiếm đoạt từng khoảng trống nhỏ, tiếng gõ cửa, tiếng gọi, tiếng đối thoại. Một tên lính gác leo lên xe, thò đầu vào bên trong kiểm soát, mục tiêu của cuộc tìm xét là những chiếc vali bằng da, những bộ quần áo thanh lịch, những đối tượng có thể moi được tiền.

—Tâu! (Đi).

Tên nầy quát lớn với vẻ bực mình chán nản. Xe đi và lại dừng lại, tất cả hành khách đều bị đuổi xuống xe.

—Gì đây?

Tôi tự hỏi. À! Đã đến bến phà Nik-Lương. Nơi đây tôi đã từng theo Trung Tá Khương bay định chuẩn đánh giá phi trường, tính chiều dài, chiều ngang, tốc độ và hướng gió cho sự an toàn của loại phi cơ L19 đáp và cất cánh. Với khả năng mình, chỉ cần một con hẻm nhỏ, một thửa ruộng trống vừa gặt xong, một giải đất trơ trụi nào đó, chúng tôi cũng thừa sức đáp và cất cánh. Giám định phi trường chỉ là một thủ tục, bởi vì Phi công Việt Nam vẫn thường đáp ngoài phi trường.

Rời xe, đi vào quán cơm bên lề đường, chúng tôi ăn một bữa bồi dưỡng. Cơm nước rẻ và ngon miệng, có lẽ rẻ thì đúng hơn, vì ngon miệng, thì thứ gì đám tù tàn binh chúng tôi chẳng thấy ngon! Lính gác lục lạo đây đó nhưng chúng tôi vẫn không hề bị lưu ý. Tôi theo hành khách xuống phà qua sông. Dòng sông rộng, nước chảy xiết. Đã biết bao kẻ tội phạm, người vượt biên trên đường áp giải về Việt Nam đã thoát thân hoặc chết trên dồng sông nầy? Một tiếng “ùm” rồi những tràng đạn tới tấp. Kẻ bơi giỏi, lặn giỏi, có thể nương theo giòng nước để sông còn, kẻ thiếu khả năng, kém may mắn, chỉ còn là một đống bầy nhầy với những vết máu loang trên mặt nước.

Sống—Chết, Tự do — Nô lệ. Một biên giới không rõ ràng, ngăn chia hai thực tại đối nghịch.
Và Đạo đức — Vô luân. Nền Khổng giáo mấy ngàn năm được ca ngợi trọng vọng giờ bị kết tội là tên tay sai đắc lực của giai cấp bóc lột thống trị. Các tôn giáo cũng cùng chung số phận bi tráng trước nền đạo đức mới Xã hội Chủ nghĩa!
Và Anh hùng — Tội phạm. Hôm nay trân trọng, ngày mai lên đoạn đầu đài. Phía bên nầy ca ngợi, phía bên kia nguyền rủa, kết án.

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 20 Apr 2025

Chương mười tám

Khi nói với Eliot Ness rằng sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra, Colleen chỉ đoán

trúng một phần. Đã không có chuyện gì xảy ra cho nàng thật nhưng thằng Lumbonio, quản lý nhà hàng The Red Horse mới là kẹt. Kẹt không phải là vì nó đã để chuyện lộn xộn xảy ra tại quán, vì sống bằng cái nghề mở nhà hàng này, những chuyện đấm đá như vậy xảy ra như cơm bữa. Cũng chẳng phải vì nó đã không biết huấn luyện đàn em, để cho một thằng khách hàng vô danh quất sụm một lần hai thằng an ninh khơi khơi như vậy giữa ban ngày, làm mất uy tín của đạo quân xếp Al Capone, một đạo quân khét tiếng cả nước Mỹ thời đó. Thằng Lumbonio kẹt là bởi chiều hôm đó, nó lén bỏ tiệm đi chơi với con vợ bé …

Lâu lâu lén bỏ tiệm đi chơi một lần, Steve Lumbonio không quên trách

nhiệm. Nó cho thằng đệ tử ruột số điện thoại để nếu xếp Al Capone có đến hay phụ tá Frank Nittie ló mặt, thằng này sẽ thông báo cho nó. Chỗ nó du hí cũng đâu có xa gì nhà hàng The Red Horse. Chỉ cách hai góc phố thôi, phóng ra xe rồ máy một cái là tới liền. Nhưng số nó xúi quẩy. Sau cuộc ẩu đả, khi Eliot Ness rút cây Colt.45 bắn đứt bốn sợi dây điện, cái điện thoại duy nhất trong nhà hàng cũng bị câm luôn.

Thằng đệ tử ruột móc súng ra cầm tay, vừa la hét vừa xông xáo giữa đám rừng người gần cả mấy phút đồng hồ mới tới được cái máy điện thoại đặt sau quầy. Bốc ống nói lên, kêu khản cả cổ mà không nghe được cái giọng của con nhỏ tổng đài, thằng đệ tử biết ông chủ mình đã tới số. Đại loạn như thế này thì thế nào lát nữa phụ tá Frank Nittie hay xếp Al Capone cũng đến, biết cách nào để thông báo cho đàn anh đây? Xưa nay có ai nhận trọng trách của xếp Al Capone giao phó mà dám trốn đi khơi khơi như vậy? Kỷ luật của xếp Al Capone ai mà không biết?

Cách đó hai dãy phố, Lumbonio đang du dương với con đào lẻ bỗng nghe

nhiều tiếng còi hụ của xe cảnh sát chạy ngang qua trước nhà. Có tật thường giựt mình, Lumbonio nhảy xuống khỏi giường, vén màn cửa nhìn ra ngoài, tay kia quờ quạng tìm mớ quần áo. Đích thị là nhà hàng đang có biến rồi, ba bốn chiếc xe cảnh sát chớp đèn nhấp nháy chạy ào ào về phía The Red Horse. Nó nghĩ nhanh đến thằng đàn em trung tín? Nếu có chuyện quan trọng vậy sao nó không gọi mình? Chỉ thị của nó đã ban ra rõ ràng: “Mọi chuyện bất thường xảy ra dù có nhỏ mọn đến đâu cũng phải thông báo cho tao biết liền” mà. Hay là chẳng có chuyện gì hết, cảnh sát chỉ đi tuần “khơi khơi” thôi. Nhưng, xưa nay, có bao giờ cảnh sát đi tuần “khơi khơi”

mà lại ba bốn chiếc một lần, lại hụ còi tùm lum? Lumbonio mò mẫm trong bóng tối tìm cái điện thoại đặt ở đầu giường.

Gọi con tổng đài xin số The Red Horse, bị trả lời là không ai trả lời.

Lumbonio lại ngồi im trong bóng tối suy nghĩ một lúc nữa. Cuối cùng nó quyết định mặc đồ trở lại The Red Horse để xem động tĩnh. Có thể đã chẳng có gì xảy ra nhưng thà rằng về còn hơn nằm ở đây mà lo lắng. Nó biết kỷ luật sắt của xếp Al Capone.

Nghĩ là làm liền, Lumbonio hớt hãi đứng dậy xỏ quần vào. Gài nút xong

nó mới khám phá ra là mình quên mặc quần lót. Đù mẹ quên gì bất tử vậy,

Lumbonio vừa chửi thề vừa lột quần ra trở lại. Nhưng kiếm mãi vẫn không tìm thấy cái quần lót. Lại phải bật đèn lên, dựng đầu con nhỏ dậy rồi hai đứa lăn lộn trong cái đám mền gối hỗn độn để kiếm. Đến chừng tìm thấy nó, ăn mặc xong thì cũng mất hết gần năm phút. Dọt xe trở về đến The Red Horse là nó đã nhìn thấy phụ tá Frank Nittie đứng lù lù một đống trước cửa tiệm.

Phải chi Lumbonio lặn luôn tối hôm đó rồi ngày mai kiếm một cái cớ gì để

thanh minh thì chưa chắc ai đã biết tội của nó vì nó là quản lý nhà hàng, lâu lâu kẹt cái hẹn bất tử ai dám có ý kiến? Sợ quá hoa ngu, nó chạy ào tới năn nỉ tỉ tê với Frank Nittie.

Thực ra, từ lúc đến đây, Frank Nittie không hề để ý thằng Lumbonio giờ

này đang ở đâu hay làm gì. Nó nhận được một cú điện thoại mật của cảnh sát, báo có thằng khách hàng làm loạn ở The Red Horse liền xách mấy thằng cận vệ chạy xuống tính để tăng cường nếu có biến. Nào ngờ đến nơi chẳng thấy gì, chỉ gặp cảnh sát gác trong gác ngoài hai ba lớp. Vào trong nhà hàng, ngoài hai thằng an ninh mặt mày tím bầm đang nằm một đống và bàn ghế ly chén đổ loạn khắp nơi, Frank Nittie không tìm thấy cái … xác chết nào cả. Vậy thì đâu có gì phải lo.

Đêm nay coi như là lỗ chắc nhưng đã có sao? Làm ăn buôn bán mà, đếm

bạc một trăm đêm thì lâu lâu cũng phải nghỉ một đêm, có gì là bất thường? Mớ bàn ghế hỗn độn này sắp xếp lại mấy hồi, còn cảnh sát thì coi như “người trong nhà”, muốn gì chả được. Frank Nittie tính đến gọi điện thoại thông báo cho xếp Al Capone rồi dọt về nhà ngủ nhưng cái điện thoại mắc dịch nhất định không chịu lên tiếng. Nó đành ra trước tiệm, đứng tần ngần đấu láo với bọn thầy chú. Đã tính bỏ đi thì thằng Lumbonio dẫn xác tới, mặt cắt không còn hột máu.

Lúc ấy Frank Nittie mới nhớ ra sự vắng mặt của thằng quản lý nhà hàng

vào lúc cần kíp như thế này. Frank Nittie lạnh lùng hỏi nó:

-Mày đi đâu?

-Tôi, tôi … vừa đi qua nhà con đào chút xíu rồi tính trở lại liền. Ai có ngờ

chuyện lại đến như vậy.

Té ra là thằng này bỏ công việc làm ăn để đi ngủ với mèo. Frank Nittie đã

mường tượng ra cái cảnh xếp Al Capone sẽ nổi giận như thế nào khi nhận được tin này. Kể từ ngày có thằng Eliot Ness xuất hiện, xếp như có mối lo canh cánh bên lòng, không lúc nào đứng ngồi cho yên. Lại thêm cái bệnh giang mai lâu ngày cứ âm ỉ trong máu, không biết lên cơn lúc nào nên con người xếp đâm ra dễ cáu kỉnh, vui buồn bất chợt.

-Mày biết đám nào gởi người tới phá không?

Lumbonio chưng hững. Nó mới về, đâu biết chuyện gì. Frank Nittie tiếp:

-Không hiểu thằng nào mà ngon quá chừng. Nó tẩn hai thằng an ninh của

mày thành một đống thịt vụn.

Lumbonio không có ý kiến. Frank Nittie tiếp:

-Tao nghĩ phải có thằng khốn nào đó đứng đằng sau cái vụ này. Đù mẹ

khách làng chơi thông thường đâu có dám khơi khơi đem súng vô đây.

Frank Nittie mồi một điếu thuốc, nhìn ra xa xa:

-Tao có hỏi tụi nó. Ra tay hai lần, nó quất hai thằng của bọn mình nằm

một đống. Nó bắn bốn phát, cắt luôn bốn sợi dây điện trên trần nhà. Thằng này không phải là một tay tầm thường. Cái quan trọng là ai gởi bọn nó tới đây để phá mình. Tao nghĩ có thể bọn O’Bannon.

Vừa nghe tới O’Bannon, Lumbonio đã dảy nảy lên:

-Không, tôi bảo đảm không phải là người của tụi O’Bannon.

Frank Nittie quắc mắt nhìn thằng Lumbonio. Ủa, cái thằng caporegime

kiêm quản lý nhà hàng này, sao nó biết chuyện của bọn kia mà dám quả quyết vậy kìa? Cái giác quan bén nhậy trong đầu ông phụ tá kinh nghiệm dừng lại tại nơi đây.

Tại sao nó dám quả quyết như vậy? Nó có ăn chịu với tụi O’ Bannon hay có lý do nào khác? Hay nó ăn tiền của bọn này? Vậy là có chuyện rồi …

Chừng như thấy mình lỡ lời, Lumbonio liếm láp:

-Không, tôi nói “bảo đảm” nghĩa là “bảo đảm” kiểu … phỏng đoán mà, chớ

chuyện gì xảy ra bên đó ai biết được?

Đã có chủ đích trong đầu, Frank Nittie câm họng. Nó nhất định phải làm

cho ra lẽ cái vụ này. Trí óc nó xoay chuyển quanh cái trục Lumbonio và O’

Bannon.

Thấy ông phụ tá mặt lạnh một đống, thằng Lumbonio năn nỉ tiếp:

-Ông phụ tá thương anh em giùm, có gì tôi sẽ không quên ơn.

Frank Nittie chỉ trả lời lấy lệ, trong đầu vẫn không bỏ quên câu nói hớ

hênh hồi nãy của nó:

-Mày làm việc với xếp bao nhiêu lâu, không biết tính tình của xếp à? Hẹn

hò với đào thì trong nhà hàng thiếu gì phòng ốc, đem mẹ nó về đây mà ăn nằm có sao đâu, tại sao lại bỏ đi khơi khơi như vậy?

Mặt thằng Lumbonio méo lại:

-Đem về đây thì sợ mất mặt với đàn em, khó chỉ huy. Mà tôi mướn cái

apartment cách đây đâu có xa, chỉ lái xe năm phút là tới, ông phụ tá thông cảm dùm …

Frank Nittie thọc hai tay vào túi áo măng tô, ra dấu cho mấy thằng cận vệ

đứng gần đó chuẩn bị ra đi:

-Mày biết đó, vụ này thế nào cũng tới tai xếp. Xếp xử ra sao thì phải còn

chờ. Tính tình xếp lúc này kỳ lạ lắm, ngay cả tao bây giờ mà lạng quạng thì cũng dám bị đi luôn nữa, nói gì đến chuyện gỡ gạc cho ai. Mà mày đừng lo, dầu gì thì tụi mình cũng đã là bạn, tao sẽ không quên đâu.

Nói tới đó xong là Frank Nittie dọt lẹ, không muốn đứng lại nghe thằng

Lumbonio lải nhải thêm. Lumbonio hãi quá, nó biết tính tình xếp Al Capone hơn ai hết. Xếp thường dạy chúng nó rằng: “Tụi mày chỉ huy nhân viên, nếu muốn tụi nó lập được công lớn thì phải ráng mà khen thưởng những cái công nhỏ trước. Tâm lý của con người là vậy, luôn luôn thích được khen được thưởng. Còn nếu chúng nó phạm tội, dù nhỏ cũng phải trừng trị. Tụi mày biết sao không, nếu không trừng trị những cái tội nhỏ thì tụi nó sẽ lờn mặt, từ đó sẽ phạm những tội lớn hơn … ” Đấy, triết lý của lãnh tụ Al

Capone là vậy đó. Nghe qua đâu có thua gì kỹ cương của hoàng đế Cesar triều đại La Mã thưở nào. Nó đang giữ một chức vụ lớn trong xã hội của Al Capone. Vừa là caporegime với một trăm tay súng dưới tay vừa là quản lý nhà hàng The Red Horse đâu phải ai làm cũng được? Đã có lần báo chí đã coi The Red Horse như là đệ nhất đại tửu lầu không phải của Chicago mà của cả nước Mỹ. “All contracts can be signed at the Red Horse” mà. Tiền thu vô là mấy chục ngàn đô la mỗi ngày. Có lần, ngồi ăn bí tết tại đây, xếp Al Capone đã vỗ vai nó tâm tình “Chú mày thấy không, cả cái giang sơn mấy trăm triệu đô la của tao, tao chỉ khóai có cái nhà hàng này và cái khách sạn Lexington. Mày biết tại sao không? Tất cả những cơ sở kia như lò nấu rượu, sòng bài, động đĩ đều là những của phi pháp. Có cái cơ sở làm ăn

phi pháp nào mà sống lâu được dưới ánh mặt trời. Nó chỉ là giai đoạn, trước sau gì cũng sẽ bị hạ hay bị đào thãi. Chỉ có cái khách sạn Lexington và cái nhà hàng là có thể tồn tại được. Nói thật với mày, nếu ngày xưa, tao làm chủ được một cái nhà hàng chỉ nhỏ bằng một nửa cái The Red Horse này thôi thì tao cũng đâu thèm bước vào xã hội mafia làm gì. Mafia chỉ là một lối thoát vinh dự của những thằng nghèo, những thằng lam lũ khốn khổ quanh năm trong xã hội nhưng còn có can đảm đứng lên để xây dựng tương lai mình không theo luật lệ của xã hội … ” Xếp nói vậy thì đủ biết cái tầm mức quan trọng của nhà hàng mà nó đang làm quản lý.

Lumbonio vừa dọt vào trong nhà hàng là thằng đệ tử ruột ào tới liền:

-Khổ quá đàn anh, khi vừa có chuyện em đã gọi liền mà cái điện thoại

khốn nạn không hiểu sao gọi hoài không được.

Lumbonio hầm hầm nét mặt:

-Chuyện gì xảy ra vậy?

-Đâu có gì đâu, oánh lộn vớ vẫn với một thằng khách hàng không biết từ

đâu tới. Kẹt cái là nó móc súng ra bắn đứt mấy sợi dây đèn nên cảnh sát mới xông tới …

Lumbonio chợt nhớ đến “thằng khách hàng không biết từ đâu tới … ” và câu

nói hớ hênh của nó với phụ tá Frank Nittie. Thật sự, nó dám quả quyết thằng này không phải là người của bọn O’ Bannon gởi tới là vì con đào của nó là người của trùm O’ Bannon chớ ai? Nhưng sống trong cái nghề dao búa này, nhiều khi người ta mất mạng chỉ vì một câu nói hớ hênh, một mẫu chuyện không đâu. Lumbonio quen con nhỏ này vào thời kỳ chiến tranh còn đang tiếp diễn với bọn Antonio. Em làm bồi rượu. Trong hệ thống nhà chứa vĩ đại của xếp Al Capone, gái được chia làm nhiều hạng. Tận cùng là điếm. Cao hơn chút nữa là vũ nữ, kiếm được nhiều tiền hơn và thỉnh thoảng cũng xé lẻ đi làm điếm. Hạng cao nhất, cuối cùng là … bồi. Đây là những em làm bồi chuyên nghiệp được mướn vào chỉ để lo bưng và dọn thức ăn cho khách. Đa số các em làm ăn lương thiện đàng hoàng. Thằng Lumbonio làm quản lý một đệ nhất tửu lầu của xếp Al Capone, có bao nhiêu em gái sẵn sàng quỳ xuống để chết dưới chân nó mà nó đâu có thèm, lại đi mê con

nhỏ bồi này. Mới đầu là tán tỉnh. Nhưng con nhỏ này gấu quá, nó đâu có chịu. Thằng Lumbonio uy quyền như vậy mà con nhỏ có coi nó ra gì đâu. Nó nhất định cự tuyệt thằng chủ dê xồm.

Thói đời có nhiều chuyện kỳ lạ. Hàng càng hiếm thì càng quý, của càng

cấm thì người ta càng thích coi, Lumbonio nhất định phải chiếm đoạt em cho bằng được. Chiếm đoạt, hiểu theo nghĩa giang hồ của nó là phải … ngủ với em. Lần nào cũng vậy, nói chuyện với em thì bao lâu cũng được, nhưng hễ đưa tay ra sờ em thì em cự tuyệt liền:

-Anh Steve, em có chồng rồi, anh nên đúng đắn …

Thằng Lumbonio có bao giờ chịu thua ai? Đàn bà con gái đối với nó chỉ là

món đồ chơi. Đã có nhiều lần nó ngồi gần những em còn đẹp hơn con nhỏ khó tính này, mới đầu em cũng từ chối ghê lắm, nhưng Lumbonio cứ đè đại em xuống. Dĩ nhiên, năm phút đầu tiên là năm phút khó khăn nhất, sau đó là mọi chuyện đều êm ả. Có khi em còn nấc lên những tiếng kêu cực kỳ sãng khoái là đàng khác.

Lumbonio đã thử “tiến tới” với em bằng phương cách thông thường, nhưng

em khó chịu quá thì nó đành áp dụng luật rừng vậy. Mững cũ soạn lại, một chiều nó mời em lên văn phòng nói chuyện. Em vừa vào là nó nháy mắt, hai thằng cận vệ khóa trái cửa phòng. Thế là Lumbonio đè em xuống. Em chống cự dữ lắm nhưng sức em làm sao cự lại một thằng lực sĩ nặng gần 200 cân. Chỉ trong mười phút đồng hồ, nó đã nằm lên thân thể lõa lồ của em …

Xong việc, em nói một câu mà nó không để ý:

-Em có thể quên chuyện này được nhưng chồng em sẽ không bao giờ quên.

Lumbonio là kẻ chiến thắng. Nó đâu có để ý đến những câu nói hờn mát

đó. Đàn bà nào chả vậy.

Ngày hôm sau, nó tưởng em sẽ giận nó lắm nào ngờ em lại trở nên thân

thiết hơn. Hai đứa lại bám sát vào nhau và trở thành cặp tình nhân cho đến một ngày.

Đúng hơn là một buổi tối.

Tối đó, đang du dương với em ở trên giường tại nhà em thì bỗng đèn đuốc

trong phòng bật lên sáng trưng, hai thằng cô hồn đã phục kích không biết từ lúc nào xuất hiện. Một đứa chĩa súng vào màng tang nó nghiến răng:

-Ai cho mày ngủ với vợ tao?

Lumbonio lúc ấy mới bật ngữa. Nó thò tay toan chụp cái quần mặc vào thì

bị thằng nọ giộng cho mấy cái báng súng vô đầu, máu me chảy tùm lum. Ra là con nhỏ xưa nay có yêu nó đâu, nó chỉ nghe lời chồng làm vậy để đưa thằng dâm dục này vào bẫy. Thế này thì coi như tàn một đời gian ác. Lumbonio đã đoán là cuộc đời mình chấm dứt tối hôm nay.

Hai thằng cô hồn xúm lại, trói tay nó vào cái ghế. Thằng chồng con nhỏ

rút ra con dao cạo, lướt đi lướt lại mấy vòng. Lumbonio còn lạ gì cái trò trả thù của dân nhà quê nước Ý. Mày tằng tịu với vợ tao hả, giết mày đâu có rửa nhục được. Cách rửa nhục hay nhất và đau đớn nhất là tao thiến mẹ nó cái của quý của mày.

Thẻo xong là cứ thả mày cho mày về với vợ con mày, để cho không phải mình mày mà cả gia đình mày sẽ ôm hận ngàn thu. Lumbonio nhìn thấy con dao và ánh mắt rùng rợn của người cầm nó mà run lên bần bật. Trong đời, chưa bao giờ nó bị lâm vào hoàn cảnh bi đát như vầy. Là caporegim lừng danh, nó đã xông pha trận mạc, bắn và bị bắn không biết bao nhiêu

lần nhưng có lần nào lại bị làm nhục vì một con đàn bà như thế này?

Thằng chồng con nhỏ cầm dao tiến tới gần nó:

-Mày biết tội mày không?

Hết phương cứu đỡ, Lumbonio nhăn nhó:

-Ông bạn thông cảm, làm sao tôi biết được … vợ ông có chồng?

Một cái tát bay vào mặt Lumbonio. Nhưng cái tát này so với trận đòn vừa

qua nhẹ quá, nó đâu thấy thấm thía gì:

-Nếu ông bạn tha cho tôi, tôi thề sẽ nhớ ơn ông bạn suốt đời, suốt đời …

Thằng nọ lướt một đường dao ngang qua cổ nó. Lumbonio co rúm người

lại. Nó cảm thấy mảnh kim khí lạnh ngắt đi nhẹ nhàng trên lớp da cổ mỏng dính. Thằng khốn chỉ cần mạnh tay thêm một chút xíu thôi là máu xịt ra có vòi liền.

-Tha cho mày? Mày làm quản lý nhà hàng ăn chơi, dưới tay có không biết

bao nhiêu là đàn bà con gái đẹp, tại sao lại tằng tịu với vợ tao?

Lumbonio chẳng biết làm gì hơn là lại dỡ trò năn nỉ. Cuối cùng, khi thằng

chồng sắp sửa hoa dao lên thì Lumbonio la lớn:

-Đừng, xin đừng, trong nhà hàng tôi còn 50 ngàn, để tôi xin lấy hết đem về

đưa cho quí ông.

Thằng chồng ngửi thấy mùi tiền, dừng tay lại. Lumbonio biết “con chim”

mình có hy vọng sống sót rồi. Sau nửa tiếng đồng hồ mặc cả, chúng nó cho Lumbonio mặc quần áo vào. Thực ra trong tiệm nó chỉ 10 ngàn, nhưng bọn này cũng đồng ý cho Lumbonio bốc điện thoại gọi về nhà hàng, nhắn thằng đệ tử ruột lấy tiền ra đem tới. Thằng đàn em tưởng xếp mình thua bạc bất tử, gom tiền xách tới. Xếp dặn bỏ ngoài cửa thì nó cứ bỏ ngoài rồi ra về …

Lấy tiền xong, hai thằng cô hồn và con nhỏ rút lẹ. Lumbonio bò về được

tới nhà thì cũng nằm gục luôn một đống.

Mấy ngày sau thằng Lumbonio đâu có dám đi làm. Đem cái mặt sưng húp

lên như vậy vào sở đàn em hỏi thì ăn nói làm sao đây? Không lý nói tao bị vợ đánh? Cũng càng không thể nói là tao bị ăn đòn vì ngủ với vợ người ta. Chỉ có kêu bác sĩ tới nhà, giả bệnh vài ngày là thượng sách. Đến ngày thứ tư, vết thương mới lành, Lumbonio vừa thức dậy thì nghe chuông điện thoại reo. Đầu giây đằng kia là giọng cười hềnh hệch của “thằng chồng con nhỏ”:

-Sao, lành bệnh chưa ông bạn … dê xòm?

Lumbonio cứng họng. Chicago này có ai không biết đến Caporegime lừng

danh Lumbonio với gần trăm tay súng trong tay mà sao thằng chồng này lại dám láo lếu vậy? Hôm nọ, cứ coi như là nó căm phẫn vì bị mất vợ, làm ẩu một phát đi. Nhưng Lumbonio biết là sau đó vợ chồng thằng khốn này phải bỏ nhà trốn biệt thì mới may ra bảo toàn được mạng sống, bây giờ sao nó dám cả gan gọi đến nhà mình?

-Trùm O’ Bannon có lời gởi thăm ông nhân viên mới.

Lumbonio lại như trên trời rớt xuống. Thế nghĩa là làm sao? Cái giọng

trong máy điện thoại vẫn rè rè tiếp:

-Hôm qua tụi tui về, bị ông trùm rầy quá trời, ổng biểu tụi tui trả tiền lại

cho bạn … ổng chỉ muốn sự hợp tác của ông bạn thôi mà. Ông bạn biết, tụi tôi mà xì vụ này ra thì làm sao bạn sống nổi với hung thần Al Capone?

Khỏi cần suy nghĩ thêm, Lumbonio vừa biết là mình đã bị gài bẫy. Cái trò

tống tiền kiểu này cũ mèm như trái đất, ai mà không biết? Ngày xưa, chính nó cũng đã làm thân bại danh liệt không biết bao nhiêu đứa bằng cái mững rẻ tiền này. Có gì đâu, kiếm ra được thằng nào có tiền mà dại gái rồi thì thả một em tới nhởn nhơ chung quanh nó. Gần mật thì ruồi nào lại chẳng bu, bu mau lại là đàng khác. Cứ để cho chúng nó xoắn xít với nhau, chờ một ngày đẹp trời, biểu diễn cái màn chồng đi làm về bất ngờ bắt gặp vợ mình ngủ với trai. Tẩn cho thằng dại gái một trận để dằn mặt trước rồi làm áp lực để bắt địa thì trăm lần như một, cứ gọi là ngồi đếm bạc.

Sau bao nhiêu năm lăn lộn trong nghề, không ngờ thằng bị lọt bẫy lại là nó, cái thằng xưa ngay đi giăng bẫy để gài thiên hạ. Lumbonio lại nhớ đến cái đêm nó đè con nhỏ trên lầu. Khốn nạn, nó có còn trinh tiết mẹ gì đâu mà bày đặt la lối quá cỡ, làm thằng Lumbonio tối đó cũng phải mủi lòng. Lâu lâu bị lọt bẫy … tình cũng chả sao, cái kẹt nhứt là người đưa nó vào bẫy lần đầu tiên trong đời là băng của ông trùm O’ Bannon. Chiến tranh đang ở giai đoạn quyết liệt. Một mình cánh Al Capone đang xính vính với tụi Antonio, băng O’ Bannon xưa nay vẫn đứng ngoài, bây giờ xẩy ra vụ sì căng đăng này, nó biết ăn nói làm sao với xếp Al Capone đây?

Khỏi cần suy nghĩ nhiều, Lumbonio biết tính tình của xếp. Xưa nay xếp có chịu để cho ai làm nhục bao giờ? Đàn em của xếp cũng vậy. Thằng nào để kẻ thù làm nhục thay vì chịu chết thì coi như kiếm chỗ khác mà đi. Nó bị cú này còn nặng hơn là bị làm nhục nữa, bị tống tiền. Tụi nó đã nói vậy tức đã nắm được tẩy của Lumbonio rồi. Chạy đi đâu.

Lumbonio bây giờ phải lựa chọn một trong hai điều: Hoặc là gặp xếp Al

Capone để thú thật mọi chuyện, hai là phải chịu những điều kiện của trùm O’ Bannon. Giải pháp thứ nhất coi như không ổn. Nó biết nếu nói thật là chết. Giải pháp thứ hai, dĩ nhiên, như là một chai thuốc đắng nhưng ít nhất nó còn nắm chắc được mạng sống trong tay. Lumbonio bụng bảo dạ: “Hãy cứ nhận lời đi đã, từ từ tính kế khác”

Lumbonio trả lời sau một phút suy nghĩ:

-Mấy ông muốn gì?

-Từ từ, “anh em” mình gặp nhau nói chuyện được không …

Kể từ đó, Lumbonio “bán linh hồn cho quỷ”. O’ Bannon là người Do Thái.

Tụi Do Thái không có cái màn bắn giết lạnh lùng như bọn Ý, nhưng chiến tranh gián điệp thì chúng nó là số một. Nếu không có cái sở trường này, làm sao tụi nó sống và cạnh tranh nổi trong một thế giới đầy bạo lực như Chicago. Vậy ông trùm Do Thái O’ Bannon muốn gì? Có muốn gì nhiều đâu. Thứ nhất, chỗ ăn và chỗ ở của xếp Al Capone và phụ tá Frank Nittie. Trùm Do Thái khôn lắm. Theo dõi chiến trận, lão biết cuộc chiến gần ba năm đã sắp đến hồi kết thúc mà thế nào tụi Al Capone cũng phải thắng. Nếu dẹp tụi Antonio xong, sẵn trớn, xếp Al Capone buồn tình “quay sang hướng Đông” để “làm luôn một mẻ”, dẹp sạch băng O’ Bannon thì tính sao

đây? Đã lo thì phải tính. Để chuẩn bị cho cái chữ “nếu” này, lão phải dọn đường trước. Theo ước tính của lão, giống y hệt như dự đoán của Antonio, tụi Al Capone mạnh được là nhờ có thằng phụ tá Frank Nittie. Phải nói Al Capone là cái đầu, còn Frank Nittie là lưỡi gươm. Mất gươm thì đầu có cứng đến mấy cũng bị chặt. Mà muốn hạ thằng Frank Nittie đâu có gì khó kìa. Chỉ cần biết rõ chỗ ăn chỗ ngủ, sở thích của nó rồi cho một thằng thiện xạ ôm súng ngồi rình là xong. Vì vậy, lão cần gài một người vào trong cái “inner circle” để moi cho bằng được những tin tức đó. Thứ hai, cái nhà hàng The Red Horse là cái mỏ vàng mà bất cứ thằng nào có máu … Do Thái nhìn thấy cũng phải chảy nước miếng. Một ngày nó thâu vô cả chục ngàn đô la, toàn là tiền hợp pháp không. Từ chỗ này, Al Capone đã phân tán được

không biết bao nhiêu triệu đô la tiền “không hợp pháp”. Cứ xách tiền “ăn cướp” vào nhà băng mà gởi vào trương mục của The Red Horse thì ai mà thắc mắc? Lão thèm cái “con ngựa đỏ” này lắm nhưng chưa có dịp để dắt nó về thôi ….

Vậy, lá bài Lumbonio là lá bài đẹp nhất. Mà trùm O’ Bannon đối xử với nó

cũng đẹp thiệt. Ngoài mấy cái tin “vớ vẩn” của phụ tá Frank Nittie và những việc chi thu của nhà hàng, lão có đòi hỏi gì nhiều đâu. Trong khi đó, lão lại trả lương hàng tháng rất hậu, lại tặng cho nó con đào mà nó đã mết suốt mấy tháng nay.

Ngày “hai anh chị” gặp lại nhau, con nhỏ khóc quá chừng. Không biết nó khóc thiệt hay khóc giả mà thằng Lumbonio cũng phải năn nỉ tưng bừng em mới chịu nín. Thằng này sợ vợ, lại sợ luôn cả sự dòm ngó của đàn em mình nên mới mướn cho em một cái phòng gần bên.

Xui cho nó, từ đâu lại xuất hiện một thằng cảnh sát liên bang tên Eliot

Ness về đây đập lộn một chầu làm hư hết mọi chuyện.

Vừa về đến Lexington là Frank Nittie lên trình diện xếp Al Capone liền.

Đã gần 3 giờ sáng mà xếp có chịu đi ngủ đâu. Thường thường thì mặt trời gần ló dạng xếp mới chịu leo lên giường. Lúc Frank Nittie dẫn xác vào, xếp đang ngồi coi lại hồ sơ chi thu trong ngày do thằng Zurick đệ trình vào lúc 10 giờ đêm mỗi ngày. Bên phải xếp là một con tóc vàng chỉ mặc đồ ngủ. Bên trái là con đào ruột của xếp đang chơi bài solitaire. Lúc sau này xếp thường hay lên giường ngủ với … 2 đứa cùng một lúc. Xếp có hơi lạ sao thằng phụ tá lại xuất hiện vào giờ khuya khoắc này, bèn hỏi trống không, mắt vẫn không rời mấy con số chi chít trên tờ giấy:

-Có chuyện gì không Frank? Làm một ly đi chứ hả?

Frank Nittie nhìn chung quanh như không muốn ai nghe thấy những gì nó

sắp nói. Xếp biết là có chuyện, liền ngẩng mặt lên:

-Có chuyện à?

-Yes.

Nói xong Frank Nittie vẫn đứng yên như trời trồng. Thằng phụ tá này kỹ

thiệt, không bao giờ thấy nó phát ngôn bừa bãi. Xếp đứng dậy, kéo nó vào một góc nhà:

-Chuyện gì?

-Chuyện tình cờ thôi, nhưng thằng Lumbonio, tôi nghi nó có liên lạc với tụi

Do Thái.

Xếp Al Capone nhíu mày:

-Đầu đuôi sao, kể tao nghe thử?

Frank Nittie thì thào với xếp một lúc. Nó nói xong, xếp có quyết định liền:

– Tao cũng có hơi nghi nó từ lâu. Tao còn nghi là nó thut két tiền của nhà hàng nữa nhưng nhiều chuyện quá tao chưa có thì giờ để tính. Bây giờ như thế này.

Tao biết sau khi nói với mày mấy câu hớ hênh đó xong thì chắc chắn nó phải hối hận và đề phòng. Nếu mình làm quá, nó sẽ trở mặt dọt theo bọn kia luôn thì kẹt. Tạm thời cứ để yên đi đã, ngày mai trở lại nói với nó là tao biết đã biết chuyện nó bỏ bê nhà hàng và tao giận lắm, nhưng vẫn không có ý muốn phạt nó vì không kiếm ra người giỏi bằng nó để thay thế. Nhớ nói thêm là nếu nó tái phạm tao sẽ không tha thứ. Trong khi đó, mày cho người về bám sát để điều tra thử coi nó có đi đêm với tụi Do Thái không? Nếu đúng, chính tay tao sẽ xử nó.

Khỏi cần nói nhiều, Frank Nittie nhận chỉ thị đi ra …

Vài ngày sau con đào của Lumbonio đang tà tà đi shopping thì bị một cặp

cô hồn từ trong chiếc xe đang chạy rề rề nhào ra, lôi nó vào đóng cửa lại. Chúng nó chở con nhỏ thẳng về đại bản dinh của phụ tá Frank Nittie. Khai thác ai thì khó chứ cái thứ đàn bà bán trôn nuôi miệng như thế này đâu có mất bao lăm. Frank Nittie chỉ cần rút lưỡi dao cạo ra là con nhỏ đã co rúm người lại. Thứ đàn bà này chúng nó đâu có sợ chết bằng sợ “tàn phai nhan sắc”. Biết đã bị bại lộ, có giấu cũng chẳng ích gì, cô em bèn tự động khai bằng thích. Trong vòng nửa tiếng đồng hồ, em khai ra tuốt luốt hết mọi chuyện. Nhiều khi, kẻ hỏi cung chưa kịp hỏi em cũng khai ngon lành, kể gọn ghẻ. Frank Nittie giựt mình khi nghe em nói về mục đích chính của trò

gián điệp:

-Giờ ăn giờ về, chỗ ở, ưu điểm nhược điểm của mấy ông tụi tui biết hết.

Nhà hàng The Red Horse ra vô một ngày bao nhiêu, đóng thuế cho ai bao nhiêu tụi tui cũng biết …

-Tụi nó biết gì về tao?

-Biết mấy chỗ ông hay ghé uống cà phê, biết nhà, biết giờ đi giờ về, chỗ

đậu xe của ông. Nếu chiến tranh có bùng nổ, ông là kẻ sẽ bị chúng nó quất sụm đầu tiên …

Frank Nittie nghe nói mà toát mồ hôi trán. Nó đâu có ngờ là tụi Do Thái

bề ngoài coi có vẻ yếu mà bên trong lại âm thầm chơi đòn gián điệp trí mạng như thế này. Trong một giây phút nóng nẩy, nó đã tính chất 20 chục thằng đàn em lên ba chiếc Limousine rồi xông thẳng vào sào huyệt để “bắn chết mẹ mấy thằng Do Thái bẫn thỉu”. Nhưng nghĩ lại, Frank Nittie thấy đế quốc Al Capone chưa bao giờ bị vây hãm kỹ như trong giai đoạn này. Lo đỡ đòn của thằng cớm liên bang Eliot Ness là đã mệt rồi, thì giờ đâu mà đi gây chiến với ai. Con nhỏ chỉ biết có bấy nhiêu thôi. Vặn tới vặn lui mấy lần không moi thêm được nữa, Frank Nittie bỏ vô nhà trong ngồi hút thuốc lá và suy nghĩ. Tính sao với con nhỏ này đây? Thả nó về để nó phun hết cho thằng Lumbonio nghe à? Giết nó thì hơi quá. Khó nghĩ quá, Frank Nittie bốc điện thoại gọi cho xếp thông báo kết quả cuộc điều tra và xin ý kiến. Xếp Al Capone hỏi:

-Ngoài thằng chó đẻ Lumbonio, có đứa nào khác của mình làm việc cho

bọn nó không?

-Không, tụi nó cần gì. Chỉ cần nắm được thằng Lumbonio là quá đủ.

Khỏi phải suy nghĩ lâu, xếp có chỉ thị liền.

-Mình sẽ trả con bé đó về lại cho tụi Do Thái, nhưng không cho nó đi trước

khi tao giết chết thằng Lumbonio. Bây giờ cứ giữ nó ở đó đã, tối nay đem nó xuống The Red Horse tao sẽ cho nó coi một “hoạt cảnh” mà nó và tụi Do Thái sẽ nhớ đến già.

Frank Nittie đã phần nào đoán được nhiệm vụ của nó, tính hỏi thì xếp nói

luôn:

-Chính tao sẽ lo vụ này. Tao muốn mày về The Red Horse liền bây giờ,

tạm thời giao chức Caporegime của nó cho thằng Sal. Tao sẽ có mặt vào khoảng tám giờ tối …

Một giờ trưa, như thường lệ, Sal và tên cận vệ vừa ra khỏi nhà thì nhìn

thấy ông phụ tá Frank Nittie ngồi một đống trong chiếc xe của nó. Sau một giây phút ngạc nhiên, nó toét miệng ra cười nhưng trong đầu, nó biết là thế nào cũng sắp có chuyện lớn. Ông phụ tá này đi tới chỗ nào là y như chỗ đó có thần chết lãng vãng chung quanh. Giữa trưa nắng như vậy, phụ tá sao không vô nhà mà ngồi chờ nó ngoài xe như thế này? Nó tới gần xe, thò đầu vô nói giỡn:

-Xe ông Phụ tá bữa nay hư hay sao?

Frank Nittie không có thì giờ để trả lời câu nói đùa gượng gạo, làm dấu cho

hai đứa chúng nó leo lên xe. Sal ngồi vào băng trước, liếc nhìn ra sau thấy ghế trống trơn thì có vẻ hơi yên bụng. Ông phụ tá còn để cho thằng cận vệ ruột của nó leo lên ngồi đàng sau nữa, vậy là đâu có tới đây để làm thịt mình. Frank Nittie rồ máy xe, lái ra khỏi ngõ. Xa xa từ phía sau, có hai chiếc khác quẹo ra bám cứng lấy chiếc xe của nó liền. Sal chặc lưỡi, ông phụ tá này kỹ quá, có bao giờ sơ xẩy gì đâu.

Xe quẹo ra đường lớn, Frank Nittie mồi điếu thuốc:

-Sal! Tao có chuyện quan trọng muốn hỏi ý kiến mày.

-Ông phụ tá nói đi, tôi lúc nào cũng sẵn sàng.

-Mày làm phụ tá cho Lumbonio bao nhiêu lâu rồi?

-Cỡ năm năm.

-Lúc chiến tranh, tao có nghe nói mày xử dụng bom hay lắm hả?

Sal cười:

-Hay nhưng làm sao bằng ông phụ tá được.

Frank Nittie đột ngột đi thẳng vào vấn đề:

-Mày thấy Caporegime Lumbonio lúc này thế nào?

Dù đã biết là sẽ có chuyện, Sal vẫn thấy muốn nghẹn nơi càng cổ. Ông

phụ tá hỏi vậy tức là có chuyện rồi. Nó ú ớ:

-Tôi thấy … Lumbonio cũng thường.

-Mày nghĩ sao nếu tao nói là xếp của mày đã bán đứng tao và xếp Al

Capone cho tụi Do Thái vì một con đàn bà?

Nghĩ gì nữa. Nếu Lumbonio không có làm chuyện gì thì Frank Nittie đâu

có mặt ở đây giờ này? Sal lựa chọn từng chữ của câu nói mình sắp sửa bung ra. Nó biết đời nó rồi đây sống hay chết, vinh hay nhục là tùy thuộc bởi câu nói này đây:

-Ông phụ tá! Tuy Lumbonio là xếp tôi nhưng ông và xếp Al Capone lại là

xếp của Lumbonio tôi. Nếu Lumbonio không thủ tín với xếp thì tôi cũng không thể thủ tín với hắn được.

Frank Nittie có vẻ hài lòng khi nghe câu nói. Sal nói thêm:

-Có lẽ ông phụ tá cũng biết hình phạt dành cho kẻ phản bội rồi. Tôi xin

miễn phê bình.

Lần này thì cặp môi của Frank Nittie vén lên chút xíu, để lộ một nụ cười

nhỏ. Nó hỏi:

-Mày nhắm có thể tạm thời làm Caporegime cánh này được không?

Sao không được, mộng ước của Sal xưa nay chỉ có vậy. Nó trả lời liền:

-Mọi công việc điều hành xưa nay do một tay tôi lo lấy. Lumbonio bận bù

đầu ở nhà hàng nên đâu có ngó ngàng gì đến công việc.

-Toán an ninh nhà hàng ai cắt?

-Cũng tôi luôn.

Vậy là coi như xong rồi. Frank Nittie đột ngột quẹo xe vô lề, thắng cái kít.

Hai chiếc phía sau cũng tốp theo luôn.

-Bây giờ còn kịp, mày lộn trở về tổng hành dinh lo chuyện này. Trước hết,

gọi thằng cận vệ ruột của Lumbonio tới rồi giữ luôn tại đó cho tao. Tao biết thằng này có chết nó cũng không bỏ Lumbonio, và thằng Lumbonio cũng khôn lắm, mày kêu về nó không nghi. Thứ hai, bí mật rút hết toán an ninh thường lệ ở nhà hàng về rồi tự tay mày lựa một toán an ninh mới để thay thế. Tao muốn chính tay mày chỉ huy toán này tối nay. Được không?

-Thưa phụ tá, được.

Frank Nittie mỉm cười giơ tay ra:

-Chào ông tân Caporegime.

-Chào ông phụ tá.

Frank Nittie mở cửa xe, bước xuống nhưng chưa đi vội. Nó cúi người, thò

tay lấy ra một cái cặp táp nhỏ giấu dưới ghế xe. Không hiểu cặp táp đó đựng gì, nhưng thấy có vẻ nặng lắm, và ông phụ tá lại cẩn thận đem nó ra một cách nhẹ nhàng như là đang nâng niu … trái bom vậy. Sal không dám hỏi nhưng mồ hôi trán nó toát ra.

Không nói thêm lời nào, Frank Nittie phóng lên chiếc xe do thằng cận vệ

từ phía sau rề rề chạy tới. Thằng tài xế rú ga, Frank Nittie nói nhỏ:

-Chạy từ từ, tao phải gỡ ngòi nổ trái bom này đã.

Sal cùng thằng cận vệ ngồi im nhìn theo cho đến khi xe ông phụ tá mất hút.

Nó biết, nếu lúc nãy Frank Nittie không ưa câu trả lời của nó thì trái bom

đó sẽ nổ tung sau khi Frank xuống khỏi xe. Sal cũng mang tiếng là vua bom nhưng chưa bao giờ nó nghĩ đến cách gài bom kiểu này …

Khách muốn ăn ở nhà hàng The Red Horse thường phải giữ chỗ trước cả

tuần lễ, và đích thân Lumbonio phụ trách cái mục này. Bao nhiêu năm kinh nghiệm, nó biết bàn nào dành cho khách nào. Như ông thị trưởng Chicago và các ông dân cử khác thì thích những cái bàn nào càng xa cửa càng tốt. Các vị này tuy khoái ăn chơi nhưng không muốn khoe khoang cái sự bê bối của mình. Các bác sĩ kỹ sư hay con buôn thì lại thích ngồi những chỗ nào có nhiều ánh sáng để được nhiều người khám phá ra sự có mặt của mình ở một nơi như vầy. Đặc biệt hơn hết, nhà hàng còn có một cái phòng lớn phía sau để dành cho các vị đại thượng khách gọi là “The King’s Hall.” Tên nó vậy mà quả thực mục đích nó là … như vậy, “phòng của vua”. Không phải ai hễ có tiền là cũng xử dụng được the King’s Hall. Khách hàng phải được đích

thân Lumbonio tuyển lựa và chấp nhận. Hồi chiều, phụ tá Frank Nittie gọi tới thông báo xếp Al Capone sẽ xuống ăn, kêu dọn cái bàn 4 người. Dĩ nhiên, Lumbonio lo quát tháo để chuẩn bị The King’s Hall cho xếp.

Đích thân Lumbonio lo từng cái nĩa, coi tới coi lui từng cái ly pha lê, kiểm

soát kỹ càng từ cái khăn bàn. Đây là lần đầu tiên Lumbonio gặp hay nói chuyện với xếp kể từ sau cái vụ ẩu đả vừa rồi nên nó phải lo cho kỹ. Ba bốn thằng bồi chạy lên chạy xuống học xì dầu ra mà Lumbonio vẫn còn hét nhặng lên.

-Chậm như rùa. Tao biểu cái thảm này phải hút bụi lại, xịt dầu thơm lên

mà đã có thằng nào làm chưa?

-Thưa đã.

-Đã con mẹ gì, làm lại lần nữa coi, tao chưa ngửi thấy gì hết. Còn cái đèn

này, tao đã biểu đánh bóng lại chớ có phải chùi sơ đâu. Mau mau đem dầu bóng ra đánh lại cho tao …

Nó đích thân xuống hầm rượu, loay hoay một lúc và cho đàn em bưng lên

hơn chục chai Cognac Âu Châu và mấy chai rượu vang của Ý. Vừa làm việc, Lumbonio vừa suy nghĩ: “Không biết xếp có giận mình vì cái vụ đó không kìa? Cũng may mà xếp đến đây để mình tâm sự một bữa. Mà nghĩ cho cùng cũng có gì đâu? Thằng quản lý nào lại không lâu lâu bỏ đi chơi một lần? Người chớ phải là máy đâu?” Nó lại hơi thắc mắc tại sao con đào từ sáng tới giờ chưa thèm gọi cho nó. Mẹ, con nhỏ này hễ mà vô tới shopping là quên hết mọi chuyện. Nó có thể đi shopping 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần mà không thấy mệt. Đang huýt sáo miệng bỗng Lumbonio ngưng bặt. Nó vừa nhớ đến câu nói hớ hênh ngày nào với phụ tá Frank Nittie. Thằng phụ tá này ghét ai hay tính làm gì không bao giờ để người khác biết. Nó thấy hơi rờn rợn trong người khi nghĩ đến thằng phụ tá này. Mà nó có làm gì đâu mà phải sợ nhỉ? Chuyện nó liên lạc với cánh O’  Bannon, ngoài con đào nó đâu có ai biết? Lumbonio lại bắt đầu một điệu huýt sáo mới để cố quên đi những suy nghĩ trong đầu.

Khi leo lên cầu thang, đi ngang qua mấy cái xòng ru lết để ra nhà hàng, nó

để ý mấy thằng an ninh ngày hôm nay mặt mày sao thấy lạ quá. Nhưng ý tưởng đó chỉ chạy qua đầu rồi biến đi. Từ ngày xảy ra vụ đánh lộn, thằng Sal hay thay đổi người luôn. Nghĩ cho cùng, nó đã giao chuyện an ninh cho thằng Sal coi, thì nên để thằng này chịu trách nhiệm, không nên xía vào. Mà sao chiều này đương không nó lại kéo thằng cận vệ ruột của mình về làm gì vậy kìa? Lumbonio lắc đầu. Nó định bụng ngày mai phải coi lại cách tổ chức và làm ăn của thằng này ra sao. Dù gì, mình cũng nhiều kinh nghiệm hơn nó.

Năm giờ, khách khứa bắt đầu ra vô tấp nập, Lumbonio không có thì giờ để

suy nghĩ mông lung nữa. Nó dùng hết khả năng và trí óc để tiếp khách và làm vui lòng khách …

Đúng tám giờ, 3 chiếc Limousine bóng loáng chạy rề rề tới và dừng trước

cửa nhà hàng. Nhìn từ đàng xa Lumbonio biết là xếp Al Capone tới nên phóng ra ngoài liền. Chiếc xe của xếp vừa dừng lại là Lumbonio đã thò tay ra mở cửa, cúi đầu chào đúng điệu … quản lý nhà hàng:

-Good evening xếp Al Capone.

Xếp không trả lời, chỉ cười và từ từ bước xuống xe. 14 thằng cận vệ vây

chung quanh xếp liền. Lumbonio hơi ngạc nhiên vì hôm nay xếp không đem đào cũng chẳng mang vợ theo. Thông thường xếp Al Capone đâu có chịu cô đơn như vầy. Nhưng nó không có thì giờ để thắc mắc. Xếp đi giữa, Frank Nittie bên phải, và Lumbonio bên trái, cả ba người bước vào nhà hàng giữa đám cận vệ.

Đi ngang qua nhà hàng, xếp Al Capone bắt tay vài người quen, chúc tụng

mấy câu rồi dọt thẳng lên The King Hall. Lumbonio kéo ghế, chờ cho xếp đặt đít xuống là điếu đóm đẩy ghế vô trở lại. Frank Nittie ngồi bên phải xếp. Thằng bồi rượu ào tới nhưng Lumbonio đã đỡ lấy chai rượu từ tay nó, làm dấu bảo “để tao”.

Xếp nhìn Lumbonio:

-Tối nay mày có rảnh không?

Lumbonio vừa rót rượu vừa nói:

-Dạ, xếp biết nhà hàng thì lúc nào cũng bận nhưng …

-Good. Tao muốn chú mày tối nay quên hết mọi chuyện, ngồi đây nhậu

với tao một bữa.

Xếp đã nói vậy thì làm sao từ chối được? Lumbonio ra nhắn với thằng phụ

tá mấy lời rồi trở lại ngồi đối diện với xếp. Bàn còn một cái ghế trống, Lumbonio thắc mắc không hiểu xếp để dành cho ai. Biết ý nó, xếp nói luôn:

-Cái ghế đó dành cho một người khách đặc biệt. Mình cứ bắt đầu ăn uống

như thường lệ đi, lát nữa tính chuyện đó sau. Lumbonio, nhà hàng của mày, mày biết món gì ngon kêu dùm tao vài món đi.

Lumbonio biết xếp ưa món bí tết tôm hùm, ghé đầu thằng bồi thì thầm một

thôi. Xếp Al Capone đích thân rót rượu vào ly cho nó …

Suốt bữa ăn, chỉ có mình thằng phụ tá Frank Nittie là uống toàn nước ngọt,

xếp Al Capone cứ liên tiếp rót rượu vào ly Lumbonio hết ly này đến ly khác. Ba người vừa ăn vừa nói toàn những chuyện xưa cũ. Đã mấy lần, Lumbonio tính mở miệng xin lỗi về cái vụ bỏ nhà hàng đi chơi nhưng xếp lờ đi, ý không muốn nó nhắc tới. Quái, tại sao hôm nay xếp xuống đây ăn uống để toàn nói những chuyện đời xưa như thế này. Tuy uống rượu nhiều, nhưng Lumbonio vẫn không thấy say.

Gần mười một giờ đêm tiệc mới tàn. Xếp Al Capone coi có vẻ đã hơi say,

ăn nói có chiều văng mạng rồi. Lâu lâu xin phép đi tiểu, Lumbonio để ý thấy hễ mình vào nhà cầu là y như cũng có một thằng khách lạ nào đó đi vào theo. Lỗ mũi của tay anh chị bắt đầu đánh hơi có gì hơi là lạ trong bữa tiệc hôm nay, nhưng không nghĩ ra được.

Khi chén đĩa đã được dọn đi hết, Lumbonio ngồi nán thêm chút nữa rồi

đứng dậy xin kiếu từ để lo công việc thì xếp Al Capone nói:

-Mày ngồi xuống đó đi, để tao giới thiệu với mày người khách bất ngờ!

Thì ra vậy, nãy giờ nó quên bén đi cái ghế trống. Lumbonio ngồi xuống,

xếp Al Capone búng tay một cái tách. Lumbonio xém chút nữa thì té xỉu xuống sàn nhà khi nhìn thấy hai thằng cận vệ của Frank Nittie xốc nách con đào mình đem vào. Chúng nó lịch sự kéo ghế cho con nhỏ ngồi. Lumbonio tái mặt, miệng đang còn ú ớ thì con nhỏ đã quay nhìn nó nói luôn:

-Xếp Al Capone và Frank Nittie đã biết hết mọi chuyện rồi anh Lumbonio.

I am sorry.

Không biết nó có sorry thật không nhưng vừa nói xong là nó chụp cái ly, rót

đầy rượu rồi ực cái hết liền. Lumbonio ngồi trơ người như tượng đá. Nó hết nhìn Frank Nittie rồi đến xếp Al Capone, không nói được lời nào. Hơn bốn chục năm lăn lộn trong nghề dao búa, nó biết hình phạt của kẻ phản bội. Thì chính tay nó cũng đã nhiều lần trói tay trói chân con người ta rồi thảy xuống sông mà. Lúc nó làm vậy, nó không bao giờ nghĩ là mình sẽ trở thành kẻ phản bội. Mấy ai học được chữ ngờ.

Hôm nay lại đến phiên nó bị người ta xử.

Xếp lại búng tay, một thằng cận vệ đi tới nhét vào tay xếp cây gậy baseball. Xếp đứng dậy, cây gậy baseball nơi tay, bước từng bước một tới gần chỗ

ngồi của Lumbonio, cặp mắt đang lừ đừ như người say rượu bỗng tóe lửa ra nhìn nó:

-Mày vừa ăn xong bữa ăn cuối cùng của đời mày.

Nói vừa xong là cây gậy trên tay xếp đã giáng xuống một cái mạnh hết sức

vào vai thằng Lumbonio. Nó né người qua nhưng đâu có kịp. Tiếng xương bả vai gẫy vụn kêu nghe răn rắc kia mà. Lumbonio dùng hết sức tàn, đưa hai tay lên để đỡ. Phát thứ hai xếp đâu có đánh xuống chỗ đó mà đỡ? Lần này xếp giộng vào sống lưng của nó nghe bụp một tiếng. Thằng Lumbonio vừa ưởn người ra sau thì xếp lại đổi ra phía trước, đánh xuống ngực nó. Sau cú đó là thằng Lumbonio thấy xuội lơ.

Chắc chết rồi. Mới có ba cây mà đã chết rồi sao, đâu có được. Bây giờ thì xếp vụt lên vụt xuống lia lịa vào người, đúng hơn là vào cái xác bê bết máu của thằng caporegime.

Cho đến khi chắc chắn là không có cái xương của xác chết còn nguyên

vẹn, xếp mới dừng tay, quay sang nói với con đào của Lumbonio đang ngồi chết điếng trên ghế:

-Tao cho mày về để kể lại với thằng Do Thái cách tao xử đàn em …

Thằng Frank Nittie đứng dậy, đưa mũ cho xếp Al Capone:

-Mình đi xếp ….

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 20 Apr 2025

Chương 17.

Nghe tin Oliver Randal trở về, xếp AlCapone hối hả mặc áo bước qua văn phòng, vừa đi vừa la mắng bọn đàn em:

_Nó về tối hôm qua mà sao sáng nay mới cho tao biết?

_Tại xếp đang ngủ tụi em không dám.

_Làm ăn như tụi mày ngu thấy mẹ. phải biết chuyện nào là quan trọng, chuyện nào không quan trọng mà kêu tao chớ. Đù mẹ như lửa cháy khắp nhà lúc tao đang ngủ rồi cũng phải chờ tao tỉnh dậy mới báo cáo hay sao. Đúng là một lủ ngu…mấy thằng cận vệ đi theo cứng họng, hết cãi. Làm đàn anh sướng được cái chỗ đó. Có chuyện gì không vừa ý là có quyền chửi líp ba ga, bất kể phải trái. Chuyện thằng Oliver Randal về thì làm sao đứa nào biết được là quan trọng mà đi báo cáo. Xếp có bao giờ để hở chuyện gì cho chúng nó biết đâu? Vậy mà hể có chuyện gì không vừa ý là cứ réo tên mấy thằng em ra mà chửi bới. Hình như tụi này đã quen với lối làm việc của xếp, không thấy đứa nào tỏ vẽ bất mãn. Vừa bước vào văn phòng làm việc, xếp đã nhìn thấy thằng Oliver Randal đang kiên nhẫn ngồi chờ nơi chiếc ghế bành. Nó mân mê cái mũ dạ nơi tay, ra vẻ bình thản lắm. Nhìn thấy xếp Al Capone, Oliver Randal đứng dậy, biểu diễn một nụ cười thật tươi như thường lệ:

-Chào xếp!

-Ông bạn chờ lâu chưa?

-Không lâu, mới chừng … một tiếng.

– Tụi nhỏ bậy quá, đã bảo tụi nó gặp khách quý là phải đánh thức tôi dậy liền mà có thằng nào để ý đâu. Thông cảm nghe.

Oliver Randal cười lớn:

-Không có gì đâu xếp ơi. Người trong nhà hết mà.

Thằng cận vệ bưng đưa ra khay rượu. Xếp cầm lấy một ly:

-Làm một ly cho nó tỉnh táo. Tôi sáng nào cũng phải có một ly thì mới bắt đầu công việc được.

Gì chứ rượu là sở trường của thằng Oliver Randal này. Nó làm một ly đầy ắp. Thời buổi cấm đoán này, đâu phải đi chỗ nào cũng được người ta mời uống rượu. Hết ly đầu, Oliver Randal tự tiện rót tiếp ly thứ hai. Chất rượu chạy mau trong mạch máu làm người nó lâng lâng.

Xếp Al Capone ngồi thoải mái trên ghế bành, nghe thằng Oliver Randal lượt trình công tác:

-Có, trên đó người ta ai cũng biết Eliot Ness hết. “Thằng liên bang” nổi tiếng nhất New York.

Vẻ tươi cười thoải mái trên môi xếp tắt ngúm. Cái tiếng thằng “liên bang” chỉ có dân New York mới khóai xài, (Nguyên văn tiếng Mỹ là “The Fed”) dùng để chỉ những thằng cớm của chính phủ liên bang Hoa Kỳ. Xếp nhỏm người tới trước, như để nghe cho được kỹ càng hơn.

-Eliot Ness rất nổi tiếng ở New York, báo chí gọi nó là “The number one Cop in America”. Dân giang hồ gọi nó là thằng “Untouchable”. Thằng “không mua được”.

-Number one nhờ công tác gì?

-Nhờ đã đưa khoảng gần trăm thằng anh chị vào khám trong vòng không tới một năm. Xếp biết New York dữ dội nhất là các khu bến tàu ..

Làm sao không biết. Xếp Al Capone sinh ra và lớn lên ở New York mà.

Như tất cả mọi nơi trên thế giới này, khu bến tàu của bất kỳ quốc gia nào cũng là cái nôi để sinh trưởng ra các tay anh chị, các băng đảng tội ác. Ở New York, đặc biệt hơn, nói đến bến tàu là nói đến nghiệp đoàn, đến buôn lậu, đến những vụ thanh toán và thủ tiêu đẫm máu. Chính xếp đã xém chết mấy lần tại khu bến tàu New York, chịu không nổi mới phải dọt về Chicago thì tại sao không nhớ cho được?

-Thằng cớm này dẹp được anh chị khu bến tàu New York à?

-Nó và khoảng mười thằng liên bang nữa đã dẹp tan băng đầu nậu của bến tàu New York.

-Cách đây hai năm, khu bến tàu New York được là coi là nơi bất khả xâm phạm. Xếp nhớ bọn thằng Galbery không?

-Nhớ.

Ly rượu cognac đã cạn. Xếp hất đầu cho thằng cận vệ rót đầy ly. Dĩ vãng ngày xưa trở về trong trí xếp. Thằng này đúng ra tên thật là Galverio người xứ Naples, sau đổi tên thành Galvery để nghe cho nó có vẻ Mỹ một chút. Nó nổi tiếng nhờ một chuyện như sau: Hồi đó trong một vụ làm ăn nó bị đàn anh chơi gác sao đó, cu cậu bèn giận quá mất khôn, đứng nơi bến tàu réo tên đàn anh ra chửi rủa tàn tệ. Buổi chiều, nó bị hai thằng nào không biết từ trong bóng tối nhào ra, đè cứng thằng nhỏ thẻo mẹ nó mất một cái tai. Trước khi đi, bọn này còn kề miệng vào cái lỗ tai lành lặn bên kia của Galverio nói nhỏ: “Tao cho mày 24 tiếng đi khỏi New York. Nếu còn gặp mặt, tao thẻo luôn cái lỗ tai bên kia”.

Thằng Galverio dọt liền. Không biết nó đi đâu nhưng biến mất tiêu khỏi khu bến tàu New York. Chừng sáu tháng sau, lúc mọi người tưởng chuyện cũ đã êm xuôi, có thể quên được, thì trên chiếc du thuyền lộng lẫy của đàn anh đang đóng neo ngoài khơi để du hí, nửa đêm, một cái kiện hàng có nắp ở dưới hầm nhà kho bỗng động đậy, nắp tự động mở ra. Thằng Galverio chớ ai, nó trốn trong đó từ lúc nào không ai biết. Nó lẳng lặng bò ra, tay vác theo một cây búa …

Mấy ngày sau, cảnh sát tuần duyên chận được chiếc du thuyền không người lái nổi lênh đênh trên mặt nước. Làm một vòng luc soát, họ tìm thấy 6 cái xác, có hai người là đàn bà, không xác nào còn đầy đủ tay chân. Galverio nổi tiếng từ đó. Sau đó nó trở thành vua bến tàu của New York.

-Thằng cớm này dẹp được băng Galverio à?

-Mới đầu, nó cũng gặp nhiều khó khăn. Nhiều thằng liên bang phụ tá của nó bị bỏ bao sò biển thả nổi lềnh bềnh trên mặt sông, nhưng cuối cùng, nó dẹp tan được băng bến tàu.

-Số mạng thằng Galverio ra sao?

-Hồ sơ cảnh sát quận bến tàu ghi là nó bị chết vì tai nạn, nhưng Luciano nói là nó bị tụi liên bang bỏ vô bao bố thảy xuống sông y hệt nó đã làm với bọn liên bang. Luciano còn kể rằng nó coi ngon lành vậy mà trước khi chết lại trở thành hèn hạ, năn nỉ như tế sao để xin được tha tội.

Xếp Al Capone nhổ một bãi nước miếng xuống nền nhà. Xếp biết thằng Luciano không bao giờ nói dóc. Trong đời, xếp ghét nhất là những thằng hèn, không ngờ cái thằng ghê gớm vậy mà khi chết hèn quá.

-Thằng liên bang Ness có đích thân nhúng tay vào vụ này không?

-Luciano nói mới đầu nó không cho phép, nhưng bọn kia làm dữ quá, nó đành làm lơ để đàn em trả thù.

Xếp nhíu mày, suy nghĩ để đo lường khả năng và tinh thần thượng tôn luật pháp của Eliot Ness. Với dân giang hồ thì sức mạnh của chúng không phải chỉ là dao búa, là luật rừng thôi mà còn là cả cái luật pháp nữa mới là chuyện ly kỳ. Tóm tắt, chúng có quyền bắn chết tươi mấy thằng cảnh sát bất kỳ lúc nào chúng muốn nhưng bọn cớm, nếu bắt được chúng thì phải giao cho tòa án buộc tội. Cảnh sát mà phơ bậy bạ thì cũng đi ngồi tù như thường. Sức mạnh của cảnh sát, thực ra chẳng có gì cả ngoại trừ cái bộ đồng phục và cái quyền bắt giam người trong vòng 24 tiếng đồng hồ rồi thả ra. Đó là một trong những lý do tại sao Hoa Kỳ có nhiều găng tơ như vậy. Dĩ nhiên, cũng có những thằng cảnh sát biết chơi luật rừng như Gary Malone là một.

Xếp Al Capone biết thằng Gary Malone chẳng bao giờ ngần ngại cầm dùi cui bổ thẳng thừng xuống đầu nạn nhân. Mày chết thì tao đem thả mẹ nó xuống sông, khỏi có cái màn báo cáo mất công. Thằng nào muốn tố cáo thì lên ty gặp tao. Vì vậy, dân giang hồ Chicago chỉ ngán có mình Gary Malone, và cũng vì vậy mà xếp để nó sống đến giờ này để mua chuộc nó. Nhưng còn thằng cớm liên bang này mới làm cho xếp suy nghĩ. Phải biết rõ đối phương thì mới ra tay đích đáng được. Về tầm mức nguy hiểm của thằng cớm này, xếp không còn lạ gì nữa. Kể ra cái công trình của thằng Oliver Randal và sự lo xa của xếp rất đáng của. Xếp nghĩ thằng cớm này chắc biết xếp là một tay chơi ngoại hạng nên đã chuẩn bị kỹ càng và có thể ngờ mọi chuyện, nhưng nó không bao giờ ngờ được chuyện xếp gởi người lên New York để điều tra về dĩ vảng của nó.

Xếp tự thưởng cho mình một ngụm cognac. Dù sao, có chút rượu vào tinh thần cũng đỡ căng thẳng hơn. Mấy tuần nay, từ ngày đọc được tờ báo có in hình thằng cớm mất dạy, xếp làm như bị cái khuôn mặt đó ám ảnh. Chính tay xếp, xếp đã từng giết hàng trăm người, và giết xong là quên liền, nhưng sao cái hình khổ 4×6 đen trắng của thằng cớm trong tờ báo lại lảng vảng trong đầu xếp mãi.

-Còn gì nói về thằng đó nữa không?

-Có. Nó bắn Colt.45 trăm phát như một.

-Cỡ thằng Frank Nitti không?

– Bằng hoặc hơn chứ không thua.

-Gì nữa?

-Nó bắn Shotgun cũng ác liệt lắm và quả đấm không thua vô địch quyền anh. Sở cánh sát còn hình ảnh của mấy thằng bị đấm trẹo quai hàm, bác sĩ phải giải phẩu cả đêm mới sửa được.

Xếp Al Capone cúi đầu, lại suy nghĩ. Xếp đưa hai ngón tay ra dấu muốn hút thuốc. Ngậm điếu xì gà trên môi, xếp đứng dậy đi vòng quanh phòng như để tìm thêm ý tưởng:

-Ông có hỏi thằng Luciano câu nhắn gởi đặc biệt của tôi không?

-Thưa có.

-Nó trả lời sao?

-Luciano nói nếu mua nó được thì mua, đó là thượng sách. Nhưng thằng

này xưa nay chưa ai mua được. Phe mình đã gọi nó là “untouchable” mà. Nếu không mua được thì phải cho nó đi tàu suốt càng sớm càng tốt. Và nó có thêm một lời khuyên cuối cùng …

-Gì?

-No noi “Good luck !! “

Xếp Al Capone thảy điếu xì gà ra khỏi cửa sổ. Không biết người nào đi dưới đường sẽ vô tình được hứng điếu xì gà này nhưng xếp cóc cần, xếp đang cáu. Câu hỏi quan trọng nhất mà xếp nhờ Oliver Randal hỏi thằng Lucianio, tên trùm Mafia ở New York là: “Nếu mày đang ở Chicago mà được thằng cớm Ness xuống

chiếu cố, thì phải đối phó cách nào?”. Câu trả lời “chúc may mắn” của dân Sicilian gồm nhiều nghĩa xấu hơn nghĩa tốt. Nó đại khái nói là “Nguy hiểm lắm đấy. Chết đến nơi chứ không phải giỡn đâu. Ráng mà liệu lấy thân”

Xếp lại ngồi xuống ghế bành, cảm thấy ran rát nơi phần dưới của thân thể, từ … con chim trở ra. Chỉ những khi nào xếp bối rối hay mệt mõi thì mới bị rát như vậy. Con đào đang ăn nằm với xếp cách đây mấy năm đang bị giang mai nặng. Bác sĩ Limble năm ngoái đã nghiêm trang thông báo cho biết xếp cũng bị bệnh giang mai đến thời kỳ khó chữa, nếu không lo trị sẽ hối hận về sau nhưng xếp chưa dám. Xếp chỉ hỏi bác sĩ đưa cho một mớ thuốc uống đỡ, còn cái đề nghị đem đi nhà thương thử máu và chích thuốc thì xếp lắc đầu nguầy nguậy. Không bao giờ. Trong đời xếp, xếp sợ nhất là … mũi kim. Sự sợ hãi này không phải không có căn cứ. Nó đến từ một ngày khi xếp còn rất nhỏ, chỉ là một đứa bé tí, cả gia đình di cư sống chen chút trong căn phòng nghèo hèn chật chội của khu lao động Ý di cư. Một tối nọ, ông chú của xếp bị bệnh gì không biết mà nửa đêm bỗng trổi dậy rên la chí chết. Ông già xếp hoảng quá, bèn chạy sang nhà bên cạnh gọi bà y tá vườn sang. Đúng ra bà này không phải là y tá. Tiếng Mỹ chưa đọc được mà y tá gì. Bà ta chỉ là người biết

cầm ống tim, rút thuốc vào rồi vạch quần, vỗ vỗ vào mông người ta mấy cái trước khi ấn sâu mũi kim vô. Đêm đó, sau khi rờ đầu rờ trán ông chú khốn khổ của xếp, bà bỏ đi, lát sau trở lại với cái ống tim thật bự. Chuyện xảy ra đã mấy chục năm mà xếp còn nhớ rõ như mới ngày hôm qua. “Bà Y Tá” vạch cặp mông khô đét của ông chú lên, rờ tới rờ lui mấy lần mới tìm thấy một chỗ có thịt. Bà khoan khoái vỗ vỗ mấy

cái rồi lụi mũi kim vào, y hệt như bà đã từng làm với hàng bao nhiêu người dân Ý lao động nghèo khổ tại khu này. Lúc bà rút mũi kim ra, ông chú đang la hét dữ dội bỗng từ từ dịu đi, thở phì phà. Cả nhà mừng rỡ, bu quanh bà y tá tán thưởng. Nhận 5 cents từ tay gia chủ, trước khi ra về, cho ra cái điều là nhà thuốc tận tâm với chức nghiệp, bà quay xuống hỏi han bệnh nhân. Lúc ấy, bà y tá vườn và mọi người mới khám phá ra là ông chú của xếp đã trợn mắt chết ngắt không biết từ lúc nào ….

Từ đó, xếp thề không bao giờ để cho ai đụng cây kim vào người mình. Dù cho ông bác sĩ bỏ ra mấy năm trời để năn nỉ, thuyết phục, xếp cũng nhất định không để ai làm chuyện đó. Dĩ vãng kinh hoàng của ngày xưa đã làm mất hết sự phán xét của một con người, dù con người đó là một thiên tài tổ chức, một tay anh chị lừng

danh không hề biết sợ trời đất. Cho nên, bệnh giang mai cứ âm ỉ trong máu xếp, không biết sẽ bốc lên lúc nào. Xếp trả cho cái giá này rất đắc, và sẽ còn dài dài.

Đắt nhất và đau lòng nhất là đứa con trai đầu lòng của xếp, thằng Micheal Capone. Nó sinh ra đã bị tật nguyền, vừa điếc lại vừa bị khùng khùng. Xếp biết lỗi đó là của mình nhưng đành chịu, và cũng không chịu đi chữa chạy. Xếp chỉ thề với trời đất là từ này về sau, sẽ không bao giờ thèm đẻ đứa con thứ hai nữa. Hôm nay, sự ngứa ngáy lại đến với xếp, ngay giữa lúc có nhiều vấn đề quan trọng cần phải giải quyết.

Cái gai trước mặt cần phải bứng đi là Eliot Ness. Giống như Eliot Ness có tài ngửi thấy nhân tài, xếp Al Capone cũng có tài ngửi thấy mùi cớm độc. Nếu không ai mua được thằng này ở New York, Chicago làm sao mua nổi? Tốt nhất là lợi dụng lúc nó vừa chân ướt chân ráo xuống đây, cho thằng Frank Nitti đi làm thịt nó trước là yên chuyện. Trễ một giây phút nào là nguy hiểm giây phút đó.

Quyết định xong, Xếp Al Capone thấy tâm thần nhẹ nhỏm. Mối lo trong gan ruột từ mấy ngày nay bây giờ mới biến mất. Biến mất thật sự. Xếp xoay người, bảo một đứa:

-Gọi thằng Frank Nitti lên đây gấp cho tao. Dặn nó đem hết toán cảm tử của nó lên đây.

Thằng đàn em vừa dọt ra khỏi cửa, xếp gọi giật lại:

-Bảo nó tao có chuyện rất quan trọng. Mọi chuyện khác dù quan trọng đến đâu cũng phải bỏ lại.

Xếp làm ăn thành công được xưa nay là nhờ bởi tính quyết đoán nhanh nhẹn như vầy. Rất đắn đo khi suy nghĩ, nhưng cân nhắc lợi hại xong là quyết định liền, khỏi có cà kê dê ngổng cho phí thời giờ. Suy tính thấy cần phải giết là giết, dù người đó là cảnh sát, hay là nhân vật quan trọng của nhà nước như thằng biện lý

McSwinn hay là bất kỳ ai. Kẻ nào đứng trên con đường tiến thân của xếp sẽ bị triệt hạ. Xếp muốn đóng hồ sơ của Eliot Ness lại, còn nhiều khác phải làm.

Trong lúc chờ đợi, xếp giở hộc bàn, rút ra mấy ngàn đô la thưởng cho Oliver Randal. Gã cầm lấy tiền, cám ơn lia lịa. Xếp hứng tình, rót thêm rượu, hai người uống cạn.

Nhưng rồi tự nhiên, xếp thấy mắt mình hoa lên, tay chân bủn rủn như đang bị hàng trăm ngàn con kiến bò tới cắn xé. Xếp biết cơn bệnh giang mai lại đang kéo đến hành hạ. Có gì đâu, chỉ cần tộng vào mồm một mớ thuốc là ngày mai đâu sẽ vào đó ngay. Xếp trải qua những cơn đau như vậy quá thường, cái lạ là càng ngày nó càng đến thường hơn.

Chỉ trong vài phút đồng hồ, xếp cảm thấy lưỡi mình ríu lại, nói không ra lời. Đầu óc xếp cũng tê dại, không còn suy nghĩ được nữa, không còn nhớ gì nữa, ít nhất là trong lúc này.

Xếp làm dấu cho tụi cận vệ đi lấy thuốc, và ngoắc tay kêu Oliver Randal ra về. Oliver Randal vừa nói xong lời từ giả thì xếp đã ngã người trên chiếc ghế, nằm mê man như một người ngủ say. Bọn cận vệ bèn đỡ xếp lên giường.

Oliver Randal vừa bước ra khỏi phòng thì Frank Nitti có mặt liền. Nhưng xếp đã nằm mê man trên giường, đâu còn biết gì nữa. Bọn lâu la chung quanh cũng chẳng biết xếp gọi ông phụ tá lên để làm gì? Xưa nay đâu có đứa nào đọc được những gì trong đầu xếp? Nhìn xếp Al Capone nằm mê man trên giường, Frank Nitti

biết xếp đang bị cơn bệnh giang mai hành hạ. Nó đâu còn lạ gì cái cảnh này. Những cơn bệnh nổi lên như vậy thường kéo dài một ngày, và hôm sau khi bình phục, xếp sẽ không bao giờ nhớ được chuyện gì đã xảy ra. Cái nó thắc mắc là khi xếp đã nhắn nó đem tụi cảm tử theo thì thế nào cũng có đụng lớn, thế nào cũng có thằng bị bắn chết tươi. Mà xếp định giết thằng nào mới được chớ? Nó biết nếu có hỏi bọn cận vệ của xếp cũng vô ích vì xếp có bao giờ nói cho bọn này biết những tính toán trong đầu xếp. Frank Nitti lắc đầu, thằng nào mà xếp định sai nó đi làm thịt ngày hôm nay quả là chưa tới số chết. Loanh quanh một lúc, Frank Nitti đành phải về không.

Sáng ngày hôm sau, Frank Nitti lên gặp xếp liền để hỏi xem tính nhờ nó việc gì ngày hôm qua, nhưng xếp đã quên bẵng chuyện Eliot Ness đi. Như người ta bỏ tập hồ sơ vào một cái ngăn tủ nào đó rồi quên đi, xếp không bao giờ còn nhớ đến buổi nói chuyện với Oliver Randal và những quyết định chết người đã có trong đầu ngày hôm đó.

Bệnh Giang mai quả là một căn bệnh nguy hiểm, cần được chữa trị đúng mức.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 20 Apr 2025

Chương 20.

NGƯỜI BẠN NẰM CẠNH MINH THÌ THÀO:

– Trường hợp đó anh nên bình tĩnh giải quyết, hiện nay trường hợp anh như một nắm chỉ rối, anh phải bình tĩnh lắm mới gỡ ra nổi, đừng hấp tấp đừng làm chuyện bậy bạ chỉ thiệt cho anh thôi. Còn tôi, tôi đã quyết rồi trước sau gì tôi cũng trốn nữa, dĩ nhiên tôi là kẻ bất hợp pháp, nhưng nếu tôi có tiền, tôi sẽ lo bùa phép mấy hồi, cái đó thì không bền, nhưng hoàn cảnh tôi bắt buộc tôi phải lo. Còn anh, cái gốc anh là người lương thiện, trong khi anh còn mắc kẹt trong này ở ngoài vợ anh sẽ lo chạy cho anh. Anh có một cái dại là giấy tờ hợp lệ của anh, anh không đem photocopie ra làm nhiều bản đem đi thị thực. Anh nên gặp vợ anh, nói vợ anh về phòng hành chánh đơn vị cũ của anh xin lại những giấy tờ đó hoặc hay hơn, nói họ can thiệp cho anh, anh sẽ được xuất ngũ không có gì đáng buồn hết, nếu chị nhà lo được, anh nói với chị chịu khó tốn chút ít tiền cho những người chuyên môn lo những giấy tờ này, không lâu đâu.

Minh nghe người bạn mới nói có lý chàng bình tĩnh dần lại:

– Cám ơn anh, từ chiều đến giờ tôi lo rối lên nên không bình tĩnh, nhưng tôi cũng nhờ người báo tin cho vợ tôi biết, chắc tối nay vợ tôi đã biết tin rồi.

– Ngày mai là chị tới đây, anh nên bình tĩnh nói với chị lo vụ này.

– Dạ phải lo chớ, tôi nói thiệt với anh tôi không sợ đi lính vì tôi đã từng đi lính rồi, tôi vào sinh ra tử, nhưng vụ nầy tôi thấy tức quá.

Người bạn mới cười:

– Nào ai sợ đi lính, tôi là thằng chuyên môn trốn lính. nhưng đừng nghĩ là sợ đi lính, hoàn cảnh cả, hoặc là vì bất mãn.

Anh ta không nói tiếp, anh ta chỉ hừ hừ trong miệng:

– Đù mẹ, thằng ba tàu chợ lớn, mấy thằng con ông cháu cha tôi không biết nói gì hơn.

Minh bực bội, chàng lại nghĩ tới chuyện bị bắt hồi sáng, Minh như một thằng con nít bị bắt nạt, thằng con nít bị lấy mất món đồ chơi ngay trước mặt mọi người mà không làm gì được, còn bị vu oan giá họa, một kẻ bị lép vế.

Trong căn phòng giam nhỏ bỗng có tiếng họ lên xù xụ, tiếng ho nghe tội nghiệp, nghe như xé phổi xé gan. Minh bật ngồi dậy, người bạn bên cạnh Minh cũng ngồi dậy, người đàn ông đúng tuổi nằm ở góc phòng giam ngồi xổm gò người hai tay ôm lấy ngực, người bạn nói nhỏ:

– Thằng cha này ho quá, có lẽ ho lao?

– Cũng bị bắt lính?

– Hắn bị giải vào sau tụi mình một lát…

– Coi bộ gầy gò ốm yếu quá mà bắt làm chi.

– Mày chưa thấy những thằng đui những thằng cụt giò còn bị bắt nữa kìa.

Gã có bệnh ho, ho dứt cơn rồi ôm bụng nằm xuống rên rỉ:

– Trời ơi sao tôi khổ thế này?…

Một tiếng chửi thề không biết từ góc phòng nào đó nổi lên:

– Đ.m, lộn xộn hoài không cho bố ngủ sao?

Một tiếng cười khảy mà Minh không đoán ra nó phát xuất từ đâu:

– Mãn khóa Quang Trung, đi đơn vị rồi rửa chân lên bàn thờ tha hồ mà ngủ.

Sau một lúc lộn xộn, phòng giam trở lại không khí nặng nề yên lặng, Minh nghe tiếng ngáy, Minh mệt mỏi nhưng chàng không thể ngủ được, chàng nhớ vợ nhớ con.

Bây giờ chàng đã bị đưa đến Quân Vụ Thị Trấn rồi, chàng không hy vọng gì ra ngay, chàng phải làm đơn khiếu nại, có khi hàng năm sau người ta mới xét tới trường hợp của chàng, và khi đó chàng đã là một người lính.

Càng nghĩ Minh càng thấy uất ức, mẹ tiên sư chúng nó, làm ăn như c… Minh muốn chửi thề nhưng những lời chửi thề không lọt ra khỏi miệng, chàng nuốt xuống bụng. Thế là những dự định của Minh đã tan theo mây khói, chàng sẽ không có cửa hàng vẽ quảng cáo, chàng không kiếm được tiền nữa, vợ con chàng sẽ nheo nhóc hơn, chàng phải ra khỏi nơi này, chàng đã chịu quá nhiều bất công, tại sao chàng không được sống yên lành như những người khác? Trong khi chàng đã làm tròn bổn phận, Minh sẽ ra khỏi nơi này một cách hợp pháp, chàng không trốn chạy.

Có lẽ giờ này vợ Minh cũng đang lo nghĩ về Minh, nàng chờ trời sáng để đến đây gặp chàng trước khi chàng đi Quang Trung, Minh ngủ thiếp đi lúc nào không biết…

Những tiếng ồn ào trong phòng giam đánh thức Minh dậy, Minh ngồi xóm nhìn ra ngoài, trời đã mờ mờ sáng. Minh nóng ruột, có lẽ Ngọc cũng sắp tới. Trong lúc này Minh cảm thấy chàng cần đến nàng kinh khủng.

Người sĩ quan coi phòng giam vào phòng điểm danh, Minh uể oải nói có mặt. Một người khác hỏi người hạ sĩ quan:

– Bao giờ chúng tôi đi?

– Lát nữa, có thể là buổi trưa nay.

Sau khi điểm danh xong trước khi quay đi người sĩ quan hỏi:

– Có anh nào cần ăn gì không, tôi mua giùm cho?

– Thưa xếp có cà phê không?

– Đủ cả, anh đừng ngại.

Những người bị bắt trong phòng giam nhao nhao gửi tiền, người bạn mới của Minh hỏi Minh:

– Uống gì không?

Minh định móc tiền ra đưa, anh ta chận lại:

– Tôi bao anh, uống cái cà phê sữa ăn cái dầu cháo quầy cho đỡ bụng nhé?

Minh gật đầu đại. Người bạn mới tâm sự với Minh:

– Tôi không thể nào đi được tôi phải ra.

– Ra bằng cách nào?

Đôi mắt người bạn long lanh:

– Tôi sẽ liều.

– Làm cách nào mà liều được.

– Thiếu gì cách, lát nữa anh coi tôi.

Minh đang nghĩ đến hoàn cảnh của mình, chàng cũng chẳng buồn hỏi han làm gì, chàng ngồi im lặng. Hai ly cà phê sữa đã mang vào, Minh xì xụp uống, mọi khi chàng uống cà phê mà chàng không thấy ngon như ở đây. Người bạn mời Minh một điếu thuốc lá:

– Tôi sẽ ra, lát nữa tôi ra.

– Lát nữa?

Người bạn mới bật quẹt mồi thuốc cho Minh:

– Có cách nào ra được cho tôi theo với.

Người bạn lắc đầu:

– Anh đừng theo tôi, anh vốn là người hợp pháp đừng dại dột.

– Nghĩa là anh trốn ra?

– Không trốn ra còn cách nào hơn nữa.

Trời đã sáng rõ. Minh nhìn thấy một vệt nắng chiếu vào cửa phòng giam. Ngoài có tiếng ồn ào, Minh nhìn ra, chàng thấy đám đàn bà trẻ con đang ùa vào công Quân Vụ Thị Trấn, một người trong đám bị bắt họ nhìn thấy thân nhân của mình họ đổ xô ra cửa phòng giam đứng phía trong gọi ra. Minh cũng cố nhìn xem có thấy vợ mình đâu không, chàng tuyệt vọng, trong đám đông đảo kia, Minh không nhìn thấy Ngọc đâu, Minh lại lui về chỗ ngồi, người bạn ngồi bên cạnh hỏi:

– Vợ chưa tới hả? Minh lắc đầu:

– Không biết vợ tôi có nhận được tin chưa.

– Có thể sáng nay mới nhận được tin.

– Tôi sợ vợ tôi lên không kịp quá.

Nếu lên buổi sáng hôm nay thì kịp vì trưa nay mình mới đi

Người bạn buồn buồn:

– Tôi nhất định rồi, tôi không thể đi được, tôi sẽ liều…

– Anh định làm gì?

Người bạn mới im lặng khẽ lắc đầu:

– Tôi chưa biết, nhưng tôi nhất định rồi hễ sơ hở một chút là tôi trốn liền.

Minh thoáng lo sợ cho người bạn mới:

– Trốn, đừng dại dột chớ, tôi chắc chắn rằng…

Minh bỏ lửng câu nói, chàng muốn nói rằng chắc chắn người bạn không thể trốn được, nhưng người bạn Minh nói ngay:

– Tôi biết rằng nguy hiểm lắm, dĩ nhiên là khi giải mình đi, lính tráng phải hộ tống theo, có thể nguy hiểm đến tính mạng, nhưng làm sao được, chẳng thà tôi chết, tôi chết đi cho rảnh, tôi không thể nhìn vợ con…

Giọng người bạn mới nghẹn ngào:

– Tôi biết làm sao, coi như mình đánh một canh bạc.

Anh ta gục đầu trên hai cánh tay, đôi vai rung lên. Minh không biết phải an ủi người bạn như thế nào, trong lòng chàng còn ngổn ngang bao nhiêu là tâm sự, Minh lại nhìn ra cửa, chàng hy vọng vợ chàng sẽ đến, chàng cần phải nhắn nhủ nàng một chuyện cần thiết. Minh reo lên, chàng đã nhìn thấy vợ con hiện ra ở cửa, nàng đang ngơ ngác, Minh chồm lên gọi:

– Ngọc. Ngọc, anh đây.

Ngọc ngẩng lên nhìn về phía Minh, nàng bồng con lên tất tả chạy về phía Minh, Minh hỏi dồn:

– Em nhận được tin anh tự bao giờ?

– Sáng hôm nay…

Nàng nắm lấy bàn tay Minh thò ra ngoài, nàng hỏi dồn:

– Tại sao anh lại bị bắt? Minh nhún vai:

– Nào ai biết được.

Thằng bé Dũng thò tay vào quờ quạng trên mặt bố nó, nó gọi ba ba. Minh kể lại cho Ngọc nghe nguyên nhân bị bắt, chàng lắc đầu:

– Xui quá, nhưng vẫn còn được.

– Bây giờ em phải làm gì cho anh?

– Em tìm đến đơn vị cũ cho anh, nói với người ta xác định lại rằng anh đã được giải ngũ, rồi em nộp những giấy tờ cần thiết đó lên Bộ Quốc Phòng, nhớ làm đơn khiếu nại cho anh.

Ngọc lo lắng:

– Em không biết phải làm sao bây giờ.

– Nếu em nhờ vả được người nào đó biết luật lệ lo cho anh thì tiện nhất.

Ngọc lại nghĩ đến lần chạy chọt cho Minh khi chàng bị bắt nhưng nàng không muốn nhắc lại với Minh, sợ chàng có mặc cảm. Minh móc bóp đưa cho Ngọc mấy giấy tờ:

– Còn chiếc xe gắn máy của anh bị giữ ở dưới quận, em tới lãnh về cho anh ngay.

Ngọc thở dài, nàng nắm chặt tay Minh hơn:

– Số anh thật là xui xẻo, em sẽ cố lo cho. Bây giờ chỉ có một mình em lo cho con.

Nước mắt Ngọc rơm rớm, nàng cắn chặt môi:

– Anh đừng có liều lĩnh nghe chưa?

– Anh việc gì phải liều lĩnh, anh là người hợp lệ mà, không may gặp phải một thằng cha khốn nạn, xui xẻo, số anh chưa hết xui xẻo.

Minh thò tay ra vuốt tóc con:

– Con ở nhà phải thương mẹ nghe con, ba đi ít bữa ba về.

Thằng Dũng nhìn Minh, nó thỏ thẻ:

– Ba bị bắt hả ba?

Minh lắc đầu:

– Không phải ba bị bắt, người ta lầm lẫn…

Thằng bé không hiểu nhưng nó vẫn toét miệng cười, hỏi lại:

– Ba không bị bắt hả ba?

Minh quay sang nhắn nhủ Ngọc, chàng lau giọt nước mắt vừa ứa trên khóe mắt nàng:

– Anh có làm phiền em không?

– Sao anh lại nói như thế, bổn phận em…

Nàng nghẹn ngào, nàng không thể nói nên lời.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 20 Apr 2025

Chương 19.

MINH NGỦ DẬY, HAI MẮT CAY XÈ, trời chưa sáng hẳn. Ngọc còn ngủ say. Minh để vợ ngủ, chàng nhủ thầm, nàng cũng chẳng cần đi làm chi. Minh ra sau nhà rửa mặt đánh răng, chàng mặc quần áo lẹ làng, chàng nghĩ đến những công việc mình phải làm hàng ngày, hôm nay tiệm vẽ của chàng phải giao hàng đúng hẹn.

Khi Minh mặc quần áo xong, Ngọc cũng dậy, Minh nói với vợ:

– Thôi anh đi làm trước nghe, em đưa con đi sau cho anh.

– Còn sớm mà anh.

– Hôm nay anh nhiều việc lắm.

– Dạ, anh đi trước đi, chiều về sớm đón em nghen, đến tiệm mình đi coi căn nhà ấy.

Minh cúi xuống hôn vợ, chàng nhìn con, cúi hôn trên má nó. Chàng dắt xe ra cửa, gió sớm chỗ mai mát rười rượi, Minh phóng xe ra thẳng tiệm hủ tiếu, chàng thấy trời còn quá sớm, cơn buồn ngủ chưa tan, Minh uống trước một ly cà phê nóng, tô hủ tiếu bốc khói nghi ngút, sao Minh thấy sáng nay mình ăn uống ngon thế. Chàng lại tiếp tục nghĩ đến căn nhà mình sẽ thuê, chàng tính toán đến những vật dụng mình sẽ mua, chàng mỉm cười, ít ra chàng cũng khá hơn thằng cha chủ mình đang làm bây giờ, nhiều gã chủ của chàng có biết vẽ vời gì đâu, vậy mà gã cứ việc ngồi một thu tiền. Chỉ một năm sau, chỉ một năm thôi, Minh sẽ khá không kém gì hắn, bây giờ đầu tiên Minh chỉ kiếm một thằng nhỏ phụ việc với mình, chàng sẽ dạy cho nó nghề, nếu một vài tháng cửa hàng chàng khá, chàng sẽ mướn thêm một vài người thợ nữa, điều chắc chắn chàng không bóc lột họ như gã chủ chàng đang làm. Minh tưởng tượng đến đời sống của mình sau này, thằng con trai chàng sẽ đi học đàng hoàng, vợ chàng không còn phải đi làm nữa, nàng ở nhà giúp việc nhà giúp chàng công việc nọ kia, nàng cũng là một bà chủ, nàng có người làm để sai bảo. Niềm ước mơ của Minh thật đơn sơ, nhưng chàng thực hiện được không có gì khó khăn, trong nhà chàng sẽ đầy đủ tiện nghi, hàng tuần chàng có thể đưa vợ đi chơi. Những ngày đen tối của chàng đã qua rồi.

Mặt trời đã ló dạng, Minh trả tiền, chàng ra xe, chàng chạy xe chậm chậm, chàng nghĩ bụng mình chẳng cần chạy mau làm gì, trời vẫn còn sớm, đường phố lúc này đông đảo, Minh thấy lính cảnh sát đứng đầy đường, chàng nghĩ bụng, sao hồi nầy cảnh sát bắt lính quá trời. Một số người bị xét giấy đang đứng năn nỉ, một tiếng còi thổi ré lên, người cảnh sát ra hiệu cho Minh dừng lại xét giấy tờ. Chàng có đủ giấy tờ hợp lệ nên không lo ngại.

Người cảnh sát đến bên Minh ra hiệu:

– Cho xem giấy.

– Giấy gì?

– Thẻ căn cước.

Minh mở bóp lấy thẻ căn cước đưa cho người cảnh sát, chàng quan sát những người bị xét giấy, có lẽ họ không đủ giấy tờ hợp lệ, một vài người đang năn nỉ, Minh thương hại cho họ, người cảnh sát hỏi Minh giọng chỏng lỏn:

– Còn giấy gì khác không?

Minh thấy bực tức chàng trả lời xẳng:

– Còn coi giấy gì nữa?

– Hợp lệ tình trạng quân dịch.

– Cũng có nữa.

Người cảnh sát gắt lên:

– Thì đưa đây, tôi đâu có thì giờ mà đứng nói chuyện với anh.

Minh lấy thêm giấy giải ngũ ra đưa cho người cảnh sát:

– Xin lỗi, tôi không có thì giờ đứng nói chuyện nhiều.

Minh bực mình khi thấy gã cảnh sát xem cái giấy của mình quá kỹ, gã cảnh sát thủng thẳng nói:

– Hồi này giấy giả nhiều lắm.

– Nhưng giấy giải ngũ của tôi không giả.

Người cảnh sát nhìn Minh, anh ta có vẻ bực khi thấy Minh trả lời như vậy. Thằng cha này dám trả lời với cảnh sát như vậy thì láo thật. Người cảnh sát nghĩ thật nhanh, à thằng cha này muốn khó dễ mình cho khó dễ luôn, gã gấp tờ giấy giải ngũ lại, hỏi Minh:

– Có tướng mạo quân vụ không? Minh càng bực mình:

– Có chớ sao không.

– Đưa coi.

Minh lại đưa bản tướng mạo quân vụ cho gã, mỉa mai:

– Coi thử xem có phải giả không?

Gã cảnh sát không thèm coi giấy tướng mạo quân vụ, gã gấp vào tờ giấy giải ngũ rồi cho vào túi mình:

– Giấy giả nhiều lắm, muốn chắc ăn hơn để điều tra lại.

Minh cáu kỉnh:

– Tại sao lại kỳ cục vậy?

Gã cảnh sát trả lời thẳng vào mặt Minh:

– Không có gì đáng ngạc nhiên hết.

– Tôi đưa đủ giấy tờ phải cho tôi đi chớ.

Người cảnh sát chỉ vào ngực mình:

– Nhân viên công lực có quyền nghi ngờ tất cả giấy tờ.

Minh dựng xe đứng hẳn xuống đường:

– Tôi còn phải đi làm ăn, chớ tôi đâu có thì giờ đứng đây.

Người cảnh sát lạnh lùng:

– Tôi có cấm anh đi làm đi ăn đâu?

– Vậy trả giấy tờ để tôi đi chứ?

– Tôi nghi ngờ giấy anh là giấy giả. Minh bực bội:

– Trời ơi, nếu anh nghi ngờ, thì coi đi rồi trả lại tôi đi làm chớ.

– Tồi không đủ sức coi, không đủ sức phân biệt, phải có cơ quan chuyên môn.

– Anh muốn làm khó dễ tôi phải không?

Người cảnh sát hầm hầm:

– Anh nên giữ gìn lời nói. Minh càng cáu kỉnh:

– Giữ gìn cái gì, anh ăn hiếp tôi như vậy mà bảo tôi giữ gìn.

Người cảnh sát cứng rắn hơn:

– Anh có thể bị đưa ra tòa vì tội nhục mạ nhân viên công lực trong khi thi hành nhiệm vụ.

Minh càng cãi:

– Nói cho anh biết, anh đừng nói bậy, từ nãy giờ tôi nói với anh tử tế.

– Vậy thì nên giữ sự tử tế đó.

Người cảnh sát huýt còi, anh ta lại chận một thanh niên khác, người thanh niên có vẻ biết điều, gã khúm núm trước người cảnh sát, hai tay đưa giấy tờ cần thận cho người cảnh sát chỉ coi qua rồi cho đi, người thanh niên không quên cám ơn. Minh bực bội, chàng nói:

– Tôi đã làm đủ nhiệm vụ, anh đòi coi giấy, tôi đã đưa anh coi giấy, không thiếu một thứ giấy cần thiết nào, vậy anh đừng làm phiền tôi chứ.

Người cảnh sát nhìn Minh:

– Tôi không có thời giờ để cãi lộn với anh.

– Tôi yêu cầu anh trả lại giấy cho tôi.

– Hãy giữ gìn lời nói.

– Tôi không làm điều gì trái hết.

– Muốn thắc mắc khiếu nại gì chờ lát nữa xong công việc của tôi đã.

Minh tức ứ lên cần cồ, chàng không làm gì được, chàng nhìn mấy người cảnh sát, họ cũng đang bận xét giấy tờ.

Minh đành đứng chờ. Mặt trời đã lên cao, có lẽ chàng đi làm bây giờ cũng muộn, chàng càu nhàu một mình, gần chàng có mấy người thanh niên bị xét giấy tờ không đủ nên phải đứng lại, mặt mũi người nào người nấy buồn so, Minh đến bên cạnh một người hỏi:

– Họ chưa cho cậu đi à?

– Mẹ, tôi thoát bao nhiêu lần không ngờ lần này kẹt giờ ở đây vậy chớ.

– Không có giấy hợp lệ tình trạng quân dịch?

– Trốn lính mà giấy tờ hợp lệ mẹ gì.

Gã than thở: tôi bị bắt lần này mẹ con nhà nó đói, vợ tôi thì bệnh tật liên miên con tôi còn nhỏ có biết gì đâu, biết thể hồi ấy tôi đi lính mẹ cho rồi, bây giờ được giải ngũ có phải khỏe không?

Minh nghe hắn nói vậy càng thêm bực tức:

– Tôi nè, có thiếu thốn giấy tờ gì đâu, mà họ giữ tôi ở đây, đòi giấy gì đưa giấy nấy, bây giờ họ giữ tôi ở đây không cho tôi đi.

– Anh có giấy tờ hợp lệ tình trạng quân dịch hả?

– Có chớ sao không, đi lính sáu bảy năm trời mà.

– Chuyện vô lý vậy sao?

– Vô lý thấy mẹ, họ làm khó làm dễ mình.

Người thanh niên suy nghĩ một lát rồi hỏi: Tôi hỏi thiệt anh điều này nhé:

– Cái gì?

– Khi trình giấy, anh có nói gì không?

– Nói mẹ gì, mình hợp lệ thì thôi chớ.

Người thanh niên lắc đầu:

– Như vậy đâu có đủ.

– Vậy như thế nào mới đủ?

– Khi trình giấy anh cần phải nói năng đàng hoàng với cảnh sát, anh nên nhớ rằng họ có quyền giữ giấy tờ của mình kia mà.

– Nhưng giấy tờ của tôi hoàn toàn hợp lệ.

– Hợp lệ cũng thây kệ anh.

– Sao vậy?

– Người ta cần anh lễ phép.

– Tôi có nói điều gì không lễ phép đâu.

– Anh không hiểu gì hết trơn, lễ phép đây là phải biết năn nỉ cảnh sát.

– Tại sao lại phải năn nỉ, tôi đầy đủ. Gã nhìn thẳng vào mặt Minh:

– Bởi vậy anh mới là thằng ngu.

– Tại sao là ngu?

– Anh lý sự cùn với cảnh sát anh chỉ thiệt vào thân mà thôi. Đối với cảnh sát, nhất là cảnh sát bắt lính thì lúc nào anh cũng phải ngoại giao, cho dù anh hợp lệ tình trạng quân dịch đi nữa, anh vẫn năn nỉ như thường, chẳng hạn như anh bị hỏi giấy, anh phải nhảy xuống xe, đầu tiên là nở một nụ cười thông cảm, nụ cười để cho người cảnh sát hỏi giấy anh thấy rằng anh ta quan trọng và to nhất trên cõi đời nầy, sau nghi lễ thường thức, anh đặt tay vào bốp hỏi một câu hết sức nhẹ nhàng, lễ phép: Thưa xếp còn coi những giấy gì? Gã liếm mép, lén nhìn những người cảnh sát nói tiếp:

– Người cảnh sát sẽ hỏi anh xẳng giọng: «cho coi giấy hợp lệ tình trạng quân dịch”, anh phải tỏ ra lúng túng sợ sệt một chút, cho dù anh hoàn toàn hợp lệ, anh rút bóp ra, tay run được càng tốt, nếu khéo hơn mặt anh xanh rờn, anh lóng ngóng lấy giấy tờ, hai tay trình người cảnh sát nói: “Thưa giấy em đây”, nếu anh thấy người cảnh sát còn có vẻ khó khăn, anh cứ năn nỉ tưới hạt sen, xếp xem xong trả lại cho anh, anh không quên cám ơn một câu, đó là bài con cá, những thằng không có giấy hát bài con cá còn thảm thiết hơn nữa, thằng nào quen nghề còn biết thông cảm xếp.

Hôm nay tôi lại chẳng có một xu dính túi nào, đù má, cái con vợ tôi, ngày hôm qua mình đã để một tờ căn cước Trần Hưng Đạo vào túi, vậy mà nó lấy cha của mình mất, sáng nay tôi vững bụng quá, đến lúc bị hỏi rờ đến túi không, cháng váng luôn. Đù mẹ, xui ơi là xu. Nếu có tờ căn cước Trần Hưng Đạo thì xong rồi, tôi và cảnh sát sẽ dễ thông cảm nhau hơn.

Gã thanh niên thở dài thượt một cái:

– Hồi nãy tôi nhìn thấy anh, anh thiệt là người bất lịch sự.

– Bất lịch sự ở cái chỗ nào, hỏi giấy gì thì đưa giấy đó.

– Xếp hỏi giấy anh mà anh không sợ chút nào hết, anh ngồi trên xe đưa giấy, anh lại dám to tiếng với xếp nữa.

– Bộ ông nội tôi sao mà tôi năn nỉ?

– Anh có hàng ngàn ông nội chớ không phải một ông nội đâu.

– Bộ tôi còn phải lạy sao?

– Nếu cần thì cứ lạy, có ai chê cười anh đâu mà anh sợ.

Minh im lặng, chàng xét lại thái độ của mình, chàng thấy rằng mình hơi bất lịch sự với người cảnh sát, hỏi người thanh niên:

– Bây giờ tôi phải làm gì?

– Tới năn nỉ xếp.

– Năn nỉ sao?

– Ca một bài con cá cho mùi. Minh bực bội:

– Nhưng tôi…

– Tôi biết rồi, anh hợp lệ tình trạng quân dịch chớ ai không biết, nhưng anh cứ ca một bài cho xôm trò, mất mát mẹ gì mà anh sợ.

Gã hỏi Minh:

– Ra ca lẹ lên, xếp chắc cũng nguôi giận rồi.

Minh buồn bã lắc đầu:

– Mẹ, sao lại khó quá vậy nhỉ, hiếu thảo với bố mẹ đã mệt rồi, bây giờ lại hiếu thảo với cảnh sát nữa thì sống sao nổi.

– Muốn sống thì nghe lời tôi.

– Bộ họ dám thủ tiêu giấy tờ của tôi sao?

– Anh là cái thá gì mà họ không dám, nói cho anh biết họ xé giấy của anh đi anh cũng không dám làm gì nữa kia.

Minh lo lắng, chàng nghĩ bụng, rất có thể, chàng đành vuốt giận, chàng gật đầu:

– Thôi được, tôi ra năn nỉ một phát.

– Nên ca ngay, nên ca liền tức thì.

Minh định quay ra, gã thanh niên gọi giật lại:

– Nè.

– Cái gì vậy?

– Biết ca chưa?

– Đại khái là năn nỉ chớ gì?

– Năn nỉ có cả triệu lối, ca phải có bài có bản hẳn hòi chớ đâu phải ca bậy bạ được.

– Ca sao?

Gã nhanh nhảu:

– Phải ca rằng vợ đau con ốm, tình trạng hết sức bi thảm.

– Được.

Minh tới gần người cảnh sát, người cảnh sát làm mặt lạnh:

– Đi ra kia đứng. Minh xuống nước:

– Xin xếp thông cảm cho tôi xin lại giấy tờ. Tôi đi làm giờ nầy muộn quá rồi.

Người cảnh sát chưa nguôi giận:

– Anh nói thông cảm hả?

– Dạ xin xếp thông cảm cho tôi.

– Thông cảm suông vậy sao?

– Thưa xếp tôi chỉ biết năn nỉ xếp như vậy thôi.

Người cảnh sát mặt vẫn lạnh lùng:

– Tại sao anh lại năn nỉ tôi, hồi nãy anh hung hăng lắm mà.

– Thưa xếp hồi nãy tôi hơi nóng, mong xếp thông cảm mà bỏ qua cho.

Người cảnh sát hù:

– Anh đủ giấy tờ phải không?

– Dạ, tôi đã đưa cho xếp xem.

– Vậy thì anh có điều gì lo lắng đâu.

– Nhưng thưa xếp, tôi đứng đây đã lâu quá, tôi đi làm trễ giờ chủ tôi đuổi tôi tội nghiệp cho tôi. Cả gia đình tôi có một mình tôi đi làm. bây giờ tôi thất nghiệp thì vợ con tôi đói.

Người cảnh sát vẫn lạnh lùng:

– Rất tiếc tôi không làm gì được.

– Xếp làm ơn coi lại giấy tôi, rồi cho tôi đi.

– Giấy tờ anh thật hay giả?

– Xin thề là thật hoàn toàn, tôi đâu có giấy giả.

– Đó là lời khai của anh, còn nghi ngờ vẫn là quyền của tôi, quyền của kẻ thi hành luật pháp.

Minh quýnh quá, chàng biết mình đang gặp rắc rối nặng, chàng không còn khí phách của một người hợp lệ:

– Thưa xếp, giấy tôi có chữ ký có con dấu đàng hoàng mà.

– Giấy giả cũng có con dấu chữ ký, sao anh ngu quá vậy.

– Tôi xin thề với xếp…

– Luật pháp, một là một hai là hai, không có vụ thề bồi.

Minh càng năn nỉ dữ, người cảnh sát nói:

– Ra kia đứng chờ tôi.

– Nhưng, lát xếp cho tôi đi chứ?

– Tôi cần đưa anh về quậnxét lại giấy tờ của anh, nếu là giấy thật thì anh về còn giấy giả thì anh đi lính.

– Trời ơi xếp, xếp không thông cảm cho tôi sao, tôi còn phải đi làm nữa mà.

– Ở đây còn nhiều người có nhiều lý do hơn anh, nhưng luật pháp là luật pháp tôi không thể nào thả anh về được.

Người cảnh sát lại nhìn Minh:

– Giấy tờ anh là thứ thiệt, thì anh còn sợ gì nữa, anh giấy giả mới ngán chứ.

– Vâng, nhưng tôi không muốn mất thời giờ.

– Bộ thời giờ của anh mới quí còn thời của tụi tôi là đồ bỏ sao, thôi đừng làm mất thời giờ tôi.

Minh tức nghẹn lên cần cổ, chàng tức đến tột độ không nói được một lời nào. Người cảnh sát bồi thêm một câu:

– Giấy tờ anh tôi nghi là giả quá.

– Đâu có giả.

– Không giả sao anh lại năn nỉ tôi dữ vậy, mình là người lương thiện mình sợ gì, cho dù đi đến đâu kia mà.

– Bởi vì tôi còn phải đi làm.

– Anh đã nói vậy thì anh về quận. Thôi ra đàng kia đứng đi, tôi không có thì giờ nói chuyện với anh.

Minh biết năn nỉ cũng bằng thừa, chàng lủi thủi ra chỗ bọn người bị bắt, gã hồi nãy lại hỏi Minh:

– Thế nào?

– Không ăn thua gì hết.

– Chắc mày hát không đúng bài.

– Năn nỉ vậy chớ còn năn nỉ sao nữa.

– Về đằng quận chứ sao?

– Về thì về, ngán gì.

– Hung nhỉ?

– Chớ bây giờ làm sao, có về quận người ta cũng thả tôi.

Gã thanh niên nhún vai bỏ đi.

Một lát sau Minh thấy chiếc xe cảnh sát tà tà chạy tới, người tài xế ép sát vào lề đường, anh ta cũng là một cảnh sát viên, anh ta thò cổ ra ngoài cười với người cảnh sát đứng dưới đường:

– Hôm nay nhiều thế mày?

Người cảnh sát đứng dưới đường, mặt hầm hầm, anh ta không buồn cười với người cảnh sát ngồi trên xe, anh cau có với những người bị bắt:

– Lên xe, lên xe lẹ lên mấy ông nội. Một vài người có xe gắn máy hỏi:

– Còn xe của chúng tôi?

– Khiêng luôn lên xe, có vậy cũng phải hỏi.

Minh bực tức nhưng chàng bất lực, chàng không thể làm gì được trước quyền lực của họ chàng đành nhờ một người, trong bọn bị bắt khiêng dùm chiếc xe của chàng lên xe hơi, khi tất cả mọi người ngồi yên một chỗ, người nào người nấy mặt buồn thiu, nhìn xuống đường phố đông đảo dưới kia thở dài thở ngắn. Minh thấy có người rưng rưng nước mắt. Chiếc xe chạy lắc lư trong thành phố. Minh bỗng nhớ tới vợ tới con, chàng nghĩ bụng không lẽ người ta bắt chàng phải đi lính nữa sao. Minh bồn chồn, chàng không thể giữ hoài im lặng được, chàng hỏi một người ngồi bên cạnh mình:

– Tôi có được thả không?

Người đàn ông đứng tuổi mắt đỏ hoe nhìn Minh hỏi lại:

– Bị bắt vì không có giấy tờ hợp lệ tình trạng quân dịch phải không?

Minh lắc đầu:

– Không tôi đầy đủ giấy tờ hết, hiện người cảnh sát hỏi giấy tôi giữ.

Người đàn ông ngạc nhiên:

– Đầy đủ giấy tờ mà cũng bị bắt sao?

– Đó mới là một chuyện lạ, anh ta nghi giấy tờ của tôi giả.

Người đàn ông lạ nhìn quanh rồi nói nhỏ bên tai Minh:

– Có phải giấy giả không? Chỗ anh em cùng hoàn cảnh tôi hỏi thiệt.

– Không, tôi xin thề không phải giấy giả, tôi đã đi lính sáu bảy năm trời, tôi giải ngũ có giấy tờ đàng hoàng mà.

– Vậy thì anh không có điều gì lo ngại hết, về đến quận người ta sưu tra anh rồi người ta thả anh ngay, còn như tôi đây lần này không thể thoát được. Cách đây một năm tôi có bị bắt lính, họ đưa tôi xuống Quang Trung, họ tập quân sự, nhưng mãn khóa tôi trốn luôn, chắc lần này khó trốn lắm.

Minh không mấy để ý tới những lời tâm sự của người bạn ngồi bên cạnh, chàng nghĩ đến mình, chàng tự trách mình không khéo ăn khéo nói nên mới bị bắt oan uổng như vậy, phải chi chàng hiểu tâm lý một chút ngay từ đầu thì bây giờ chàng đâu có ngồi trên chiếc xe chật chội này. Nhưng dù muốn dù không nội trong ngày này người ta cũng thả chàng ra, chàng là người hoàn toàn hợp lệ, có phải là tội “hỗn láo” với nhân viên công lực trong khi thừa hành công vụ, nhưng điều đó không có gì quan trọng, nếu cần chàng sẵn sàng xin lỗi.

Chàng tiếc là mình mất oan uổng một buổi làm, ngày hôm nay lại là ngày chàng lãnh lương hàng tuần, chàng đã tính sẵn, buổi chiều hôm nay lãnh lương xong, chàng sẽ mua cho thằng con trai của chàng một chiếc xe đạp ba bánh, chàng đã ngắm sẵn từ bao nhiêu hôm nay, chắc chắn thằng con chàng sẽ sung sướng vô cùng, nó sẽ hãnh diện với những đứa bạn cùng xóm, không một thằng con nít nào trong xóm nhiều đồ chơi như con chàng, còn Ngọc, chàng sẽ đưa Ngọc đi may một chiếc áo dài, chiếc áo dài vải nội hóa mà Ngọc thường ao ước.

Chàng không hề nghĩ đến một thứ gì riêng cho chàng, chàng sung sướng, hãnh diện, cái hãnh diện của một người chồng thương vợ thương con. Minh lại quay sang người bên cạnh:

– Cảnh sát sưu tra mình có lâu không?

– Chóng mà.

– Buổi trưa nay tôi đã ra được chưa?

– Có thể họ xét xem ai hợp lệ thì thả ra ngay lập tức, họ không quên xin lỗi mình.

Minh lắc đầu:

– Điều đó không quan trọng tôi chỉ muốn càng ra sớm càng tốt.

– Không, thủ tục là như vậy, trường huấn luyện cảnh sát có dạy cảnh sát phép lịch sự kia mà. Họ có thể bê bối gì chớ chỗ lịch sự thì không có thể tưởng tượng được.

Minh cười nhạt, chàng không có ý kiến gì về phép lịch sự của cảnh sát cả, chàng chỉ mong ra quận cảnh sát cho mau chóng, đó đã là một điều may mắn cho chàng rồi.

Lần đầu tiên trong đời, chàng nghe nói đến phép lịch sự của cảnh sát mà phép lịch sự đó lại do trường cảnh sát huấn luyện đàng hoàng, nếu quả có thật như vậy thì cũng vui.

Chiếc xe chạy vào trong một quận cảnh sát, áp tải nhảy xuống xe trước, mặt anh ta cau có bực dọc:

– Đến nơi rồi, thôi xuống đi các cha.

Bọn người bị bắt lục đục nhảy xuống, Minh nhờ người bạn mới quen, khiêng giúp cái xe gắn máy xuống cho mình. Minh nhìn quanh, chàng không thấy người cảnh sát thu giấy của chàng hồi nãy đâu, chàng thoáng lo lắng, chàng hỏi người cảnh sát áp tải:

– Thưa xếp.

Người cảnh sát cau có:

– Chuyện gì vậy? Mang xe vào đàng kia.

Anh ta chỉ cho Minh đi theo một người cảnh sát khác, nhưng Minh vẫn đứng nán lại:

– Thưa xếp, tôi muốn hỏi xếp một điều.

Người cảnh sát vẫn giữ nguyên bộ mặt cau có:

– Hỏi gì?

– Thưa hồi này tôi có bị tịch thu giấy tờ…

– Biết rồi.

– Xếp có mang theo không? Người cảnh sát trừng mắt:

– Anh hỏi làm chi vậy?

– Giấy tờ của tôi có bị thu.

Người cảnh sát bực bội về những lời ngu xuẩn của Minh, anh ta đẩy Minh:

– Mang xe ra đàng kia, chuyện giấy tờ có hết, trốn lính bị bắt rồi than trời.

– Thưa xếp, tôi không trốn lính…. Người cảnh sát hét lên:

– Đi, tôi nói anh đi ngay không tôi nhốt anh bây giờ.

Minh biết hỏi cũng vô ích, chàng đành dắt chiếc xe đi theo người hướng dẫn, chàng đau xót khi nhìn chiếc xe của mình phải chung lộn với đám xe bẩn thỉu ngoài trời. Chàng từng nâng niu chiếc xe của mình, không ngày nào chàng không chịu khó lau chùi, hàng tuần chàng tháo máy xe ra để căn lại, chiếc xe của chàng máy móc tốt, Minh từng khoái trá khi nghe máy nổ giòn tan.

Vậy mà bây giờ, nó phải nằm chung với đám xe này, có những chiếc xe hình như để lâu ngày quá mất cả máy móc lẫn đèn đuốc. Nhưng Minh tự nhủ: Chiếc xe của mình chỉ nằm đây trong chốc lát, dù muốn dù không, chiều nay khi được thả ra chàng phải mang chiếc xe ra lau chùi lại cho sạch sẽ.

Người cảnh sát cùng đứng ngắm chiếc xe với Minh, anh ta nói:

– Coi bộ anh cưng cái xe này dữ? Minh thú thật:

– Ngoài vợ con ra tôi chỉ có xe này là đáng kể.

– Tôi cũng có một chiếc xe giống như anh nhưng không được tốt bằng.

Anh cúi xuống xem máy:

– Máy anh cũ nhưng có vẻ tốt. Minh thấy hứng thú:

– Xe tôi mua lại, tôi đưa thợ làm máy lại hoàn toàn, tôi chịu khó châm dầu nhớt nên xe rất tốt, bu-gi không bao giờ tôi dùng quá ba tháng, lửa coi như tuần nào tôi cũng canh lại, bình xăng ống dẫn xăng, tôi xem hoài, xe sở dĩ hay hư là do lửa yếu, bu-gi hay chết hoặc ngộp xăng nếu mình biết săn sóc một chút thì xe chạy tốt lắm.

Người cảnh sát có vẻ thán phục cách dùng xe của Minh, nhưng anh ta nhớ ngay tới nhiệm vụ của mình:

– Thôi, bây giờ anh theo tôi đi vô phòng giam đã, nếu có dịp mình sẽ nói chuyện nhiều về cách dùng xe.

Minh còn quyến luyến nhìn chiếc xe của mình lần cuối, chàng nói nhỏ với người cảnh sát:

– Chiếc xe của tôi không thể để lâu được chỗ này, lát nữa tôi sẽ ra lãnh xe về.

Người cảnh sát có lẽ hiểu Minh, anh ta nói:

– Ừ có phải đi lính thì anh cũng nên báo cho người nhà tới lãnh cái xe về.

Minh cãi:

– Không, tôi đi lính sao được.

– Bị bắt quân dịch mà không đi lính thì đi đâu.

– Nhưng tôi đâu có bị bắt, chỉ một sự hiểu lầm thôi mà, tôi đi lính rồi, tôi có đầy đủ giấy tờ…

Người cảnh sát lại cau mặt:

– Anh nói lạ, anh có đầy đủ giấy tờ mà anh lại vào đây.

– Ông cảnh sát bắt tôi vì nghi tôi dùng giấy giả, nhưng tôi xin thề với xếp đó là giấy tờ thật, tôi tạm thời về đây để cảnh sát sưu tra, nếu tôi dùng giấy tờ thiệt thì phải thả tôi ra chứ.

Người cảnh sát gật đầu.

Minh bị đưa vào một phòng giam tạm, căn phòng chật hẹp đầy ắp người nằm ngồi ngổn ngang. Trước khi bị đẩy vào phòng giam, Minh còn ngoái lại nói với người cảnh sát:

– Bao giờ thì tôi được sưu tra? Người cảnh sát trả lời như cái máy:

– Nội nhật ngày hôm nay.

– Nếu tôi không có tội gì thì được thả ngay chớ?

– Cái đó dĩ nhiên.

Minh than phiền vì mất một buổi làm, người cảnh sát hỏi Minh:

– Có tiền không, đưa tôi mua cơm đĩa giùm cho.

– Trong này không có cơm à.

– Có nhưng mà khó nuốt lắm.

Minh đành đưa cho anh ta mấy chục bạc mua đĩa cơm sườn và một ly cà phê đen. Minh kiếm một xó ngồi, những người cùng bị bắt lính với Minh yên phận ngồi một xó, có người tìm cách nhờ liên lạc về gia đình để báo tin.

Gã cùng bị bắt với Minh tới hỏi Minh:

– Có cần liên lạc về gia đình không, có người chiều hôm nay ra đó.

Minh tự tin:

– Tôi có trốn lính đầu, lát họ sưu tra tôi họ phải thả tôi ra. Có lẽ chiều hôm nay tôi cũng về nhà, có cần nhắn nhe gì tôi tới nói cho.

Người bạn mới không mấy tin tưởng, anh ta nghi ngờ:

– Bộ chuyện đó có thật sao?

– Ai nói dối làm chi.

Minh không ngại ngùng ngồi kể lể rành rẽ trường hợp của mình. Người bạn mới chăm chú nghe, cuối cùng anh ta kết luận:

– Tôi sợ anh kẹt vụ này.

Minh trợn mắt:

– Tại sao lại kẹt.

Người bạn mới chỉ vào ngực mình:

– Tôi là người có kinh nghiệm nhiều với cảnh sát, tôi hiểu họ hơn anh.

– Vậy là làm sao?

– Không làm sao hết. nếu họ muốn chơi xấu anh thì cũng không phải chuyện khó.

– Tôi có làm gì đâu mà họ chơi xấu tôi.

– Anh có tội là làm cho cảnh sát nổi giận, anh không hiếu thảo với cảnh sát nên anh có thiệt vào thân.

Minh khinh thường:

– Anh thiệt nói lạ.

– Không lạ đâu, cứ chờ xem.

– Chờ thì chờ…

Người bạn mới không nói chuyện với Minh nữa, anh ta kiếm một chỗ nằm, quay mặt vào tường. Người cảnh sát đã mang cơm và cà phê vào cho Minh, Minh thầm khen cảnh sát ở đây nhã nhặn, chàng cám ơn người cảnh sát rối rít, còn gần một trăm bạc Minh biếu người cảnh sát nốt. Một thằng lõi có lẽ bị bắt về tội ăn cắp ăn trộm gì đó, chờ cho người cảnh sát quay đi, nó chửi thề một câu:

– Đù mẹ lớn cái đầu mà ngu. Minh có cảm tưởng thằng nhỏ chửi xéo mình, chàng vừa ăn cơm vừa hỏi thằng lỏi. ranh.

– Ê có phải mày chửi tao không nhỏ?

Thằng nhỏ nhún vai một cái:

– Thằng nào ngu thì chửi. Minh bực mình:

– Nếu mày muốn chửi tao thì chửi đi, ranh con.

Thằng nhỏ nhìn thẳng vào mặt Minh:

– Chú có thấy chú ngu không?

– Ngu cái gì?

– Cho tiền cảnh sát có ngu không?

– À cái chuyện đó có gì là lạ đâu, người ta giúp tao thì tao đền ơn.

Thằng nhỏ cười mũi một phát thật đểu:

– Chú bị bắt lần đầu phải không?

– Rồi sao?

– Bởi vậy tôi mới nói chú ngu, chú biết quái gì, thằng cha cảnh sát vừa rồi là thằng cha thầu cơm ở đây, con vợ hắn bán cơm cà phê ngoài cổng, nói thiệt nó còn mong bán được hàng… Vậy mà chú còn cho tiền nó, còn cám ơn rối rít nữa, vậy không phải ngu sao?

– Mày rành dữ.

– Không rành sao được, tôi vô đây hoài hoài mà, tôi còn lạ lùng gì mấy thằng cha cảnh sát này.

Minh không giận thằng nhỏ, chàng tò mò:

– Bộ bị bắt hoài sao?

– Bị bắt hoài.

– Tội gì?

– Đủ thứ tội, ăn trộm ăn cắp, móc túi, ối nhiều thứ lắm, hơi sức đâu mà kể cho hết được.

Thằng lỏi nói một hơi tội trạng của mình, không một chút ngượng ngập. Nó tự kể tội mình một cách trơn tru, cái miệng nó như thoa mỡ thoa dầu:

– Nói cho chú biết, hồi tôi năm tuổi tôi đã bị bắt vào quận này rồi.

– Năm tuổi mà mày cũng bị bắt?

– Chú lạ lắm sao? Có đứa bốn tuổi cũng bị bắt rồi, ăn cắp ăn trộm đâu có đợi tuổi, mà cảnh sát bắt cũng đâu có đợi tuổi làm gì.

– Thiệt chúng mày quá xá, tao đâu có ngờ vậy.

Thằng lỏi con ranh mãnh ra mặt, nó bắt đầu tán Minh:

– Nghe tôi kể chuyện vậy có cảm động không, tội nghiệp chứ?

Minh cùng đoán được phần nào lòng dạ thằng nhỏ:

– Mày muốn gì?

– Nếu ăn ngon lành một mình như vậy, chú còn cảm động được với cảnh sát, thì với tôi hoàn cảnh còn cảm động hơn nhiều.

– Mày muốn xin tao một dĩa cơm chớ gì?

Thằng lỏi nhe hàm răng sún cười:

– Nói ra thì “ngợm”, chớ thiệt vậy đó.

– Mày láu cá quá vậy?

– Bộ cảm động muốn cho tôi một đĩa cơm thật sao?

– Tao chỉ có thể cho mày một đĩa cơm tôm.

– Chỉ cần có vậy thôi, đĩa cơm tôm năm chục đồng, được vậy là tốt rồi, đưa tiền tôi hành thằng cha cảnh sát già cho coi.

Minh đưa năm chục đồng cho thằng lỏi, người cảnh sát già còm đứng ngoài song sắt, thằng lỏi đến gần lên tiếng:

– Ê ê…

Người cảnh sát quay lại:

– Cái gì vậy?

– Đĩa cơm tôm.

Người cảnh sát khinh khỉnh:

– Mày ăn?

– Chớ sao, tôi cũng có tiền chớ bộ. Người cảnh sát chìa tay ra:

– Đưa tiền đây.

Thằng lỏi liệng tiền ra ngoài:

– Đĩa cơm tôm chan nhiều nước sốt nghe?

Người cảnh sát già nhẫn nại lượm tiền lên:

– Bận sau mày không có đưa tiền kiểu đó nghe?

Thằng lỏi chối leo lẻo:

– Tôi hụt tay chớ bộ.

Người cảnh sát quay đi, thằng lỏi quay lại nhe hàm răng sún cười với Minh:

– Chú thấy chưa, tôi có tiền cũng bảnh như ai, tôi có phải cám ơn ai đâu, vậy mà có nói chú là ngu thì chú giận.

Minh không biết nói sao chàng chỉ lắc đầu.

Uống xong ly cà phê, Minh tìm một chỗ nằm đỡ lưng. Người cảnh sát đã mang cơm vào cho thằng lỏi, thằng lỏi chê bai om sòm nào là cơm nguội quá, bán mắc. Nó làm cho ông cảnh sát già nổi cáu lên, ông ta chửi thề nhoi:

– Đù mẹ, có mấy chục bạc mà mày hành tao dữ vậy.

Thằng lỏi cãi liền:

– Cơm nầy tôi mất tiền mua mà, tôi có phải ăn cơm tù đâu.

– Mày coi chừng chết mẹ bây giờ.

Người cảnh sát không còn muốn gây với thằng lỏi nữa, ông ta quay ra ngoài không quên mang những chén đũa dơ của những người đã ăn xong, thằng lỏi vừa ăn vừa ca hát om sòm. Mấy cô điếm bị giam chung bực mình chửi bới rùm lên, phòng giam lại náo loạn lên. Buổi trưa đi qua một cách chậm chạp, Minh thấy những nhân viên cảnh sát đã trở lại làm việc, chàng mừng khấp khởi, có lẽ họ đang xét trường hợp của chàng, chiều nay chàng về nhà kẻ chuyện nầy cho vợ con nghe cũng vui ra phết, ồ, lâu lâu trở lại nhà giam một lần cũng thú vị, Minh sửa soạn lại quần áo, chàng phủi một vài vết dơ trên quần áo, chàng không thề ra khỏi quận cảnh sát nhơ bẩn như thế này, cảnh sát bắt đầu gọi tên những người bị bắt giải lên tổng nha hay đưa ra tòa, có người được tự do, Minh nhẫn nại chờ, thế nào cũng đến lượt chàng, Minh khều tên bạn đứng gần cạnh:

– Chắc người ta sưu tra xong rồi.

– Mấy thằng bị bắt trốn lính như mình cũng sẽ bị giải đi Quân Vụ Thị Trấn chiều hôm nay.

– Tôi được ra.

Anh ta đã nghe tâm sự của Minh, anh ta nói một cách lửng lơ:

– Cũng có thể.

– Chắc chắn chớ cũng có thể sao được.

– Anh hợp lệ tình trạng quân dịch mà anh ở đây, anh nói sao vô lý thế…

Mồ hôi lấm tấm trên trán Minh, chàng không còn bình tĩnh nữa, chàng cảm thấy ngộp trong không khí khó thở này.

Người cảnh sát lật cuốn sổ:

– Tên anh là gì?

– Dạ thưa Minh, Hoàng Minh…

Người cảnh sát bới tìm trong đám căn cước, ném cái thẻ của Minh ra:

– Có phải cái thẻ này của anh không?

– Dạ đúng.

– Đó là giấy tờ của anh.

– Thưa còn những giấy tờ kia. Người cảnh sát lắc đầu:

– Không còn giấy tờ nào khác ngoài cái thẻ căn cước của anh.

Minh muốn kêu trời lên nhưng chàng bình tĩnh:

– Tôi còn giấy giải ngũ, tướng mạo quân vụ nữa.

Người cảnh sát không nén nổi tức giận quắc mắt, đập xuống bàn:

– Anh muốn gì, anh định đổ cho cảnh sát lấy giấy tờ của anh phải không?

– Dạ không tôi nói sự thật.

– Sự thật anh chỉ có cái thẻ căn cước này mà thôi, anh trốn lính, người ta thấy anh không đủ giấy tờ hợp lệ nên mới bắt vào đây, anh nên coi chừng lời nói của anh…

Mồ hôi Minh toát ra đầm đìa, chàng quệt tay ngang trán, chàng định nói nữa. Người cảnh sát quát ầm lên:

– Đừng có lộn xộn, anh muốn qua mặt cảnh sát phải không?

Minh cố gắng trình bày để người cảnh sát hiểu hoàn cảnh của chàng hơn, chàng cũng nói cả chuyện người cảnh sát xét giấy nghi giấy chàng giả mạo nên mang về quận sưu tra. Cuối cùng Minh nói:

– Thưa xếp có mấy anh em ở đây làm chứng, tôi không dám gian dối, tôi có đưa những giấy tờ ấy cho cảnh sát.

Người cảnh sát nhìn những đám người trốn lính bằng nữa con mắt ông ta lắc đầu:

– Anh tính mang cả mấy thằng bị bắt ra làm chứng cho anh hả? Tôi nói cho anh biết họ không đủ tư cách anh biết không? Còn ai là người giữ giấy của anh?

– Dạ ông cảnh sát.

– Ông cảnh sát nào?

– Thưa tôi làm sao biết được, tôi chỉ biết người cảnh sát ở quận này.

Người cảnh sát bực mình, chỉ vào ngực mình:

– Anh không thấy người cảnh sát nào cũng đeo số trước ngực sao, người cảnh sát nào giữ giấy của anh, anh phải nhớ số chớ, số bao nhiêu? Anh cho tôi biết, tôi sẽ kêu người ấy ra đây.

Minh chợt nhận ra hố to, chàng bực mình, không hiểu tại sao mình lại ngu đần, đến mức ấy được chớ, đưa tất cả giấy tờ quan trọng cho người ta mà không chịu nhớ số của họ, Minh thành thật lắc đầu:

– Sự thật tôi không để ý đến điều đó, nhưng nếu bây giờ tôi gặp được mặt tôi nhớ.

Người cảnh sát hít một hơi thuốc, nheo mắt với Minh hỏi một câu ngang xương:

– Giữa anh và ông có quận trưởng ở đây là thể nào?

– Thưa có gì đâu.

– Tôi tưởng anh là ông nội của ông cò, anh mới dám đề nghị bắt cảnh sát xếp hàng ra nhận diện, anh là thằng láo, hoàn toàn láo, tôi làm phước tha cho anh tội láo thì bây giờ anh đi đi, anh làm mất thời giờ của tôi nhiều rồi.

Ông ta ra hiệu cho người cảnh sát kia xô đẩy đám người bị bắt lính ra ngoài sân, Minh uất ức, chàng uất đến không nói được một lời nào cả, chàng bật khóc, giọt nước mắt lăn dài trên gò má rám nắng. Người bạn đi bên cạnh an ủi:

– Thôi coi như chuyện đã rồi. Minh cáu kỉnh:

– Chuyện đã rồi sao được họ xử ức tôi.

Người bạn thoáng nụ cười khinh mạn:

– Hãy vặt đầu gối ra mà nói chuyện.

Chiếc xe cây đã nổ máy, ngoài sân người cảnh sát áp tải xô đẩy đám người bị bắt ra xe. Minh vùng vằng không muốn lên xe. Người cảnh sát dọa:

– Nếu anh còn cứng đầu bắt buộc tôi phải dùng biện pháp mạnh với anh.

Minh đành lên xe. Vài ba người cảnh sát khác súng cầm tay cũng leo lên xe ngồi chắn cửa ra vào, chiếc xe chuyển bánh ra khỏi quận cảnh sát. Minh chợt nhìn thấy người cảnh sát hồi sáng giữ giấy tờ của mình, chàng la lên:

– Đó đó, chính thằng cha cảnh sát đó.

Mấy người cảnh sát áp tải quay lại quắt mắt:

– Cái gì vậy chú mày?

– Người cảnh sát đó lấy giấy tờ của tôi.

Người cảnh sát áp tải bực mình dùng báng súng đẩy vào bụng Minh làm chàng ngả ngồi xuống.

Chiếc xe chạy ra khỏi ty cảnh sát. Minh ôm đầu khóc như đứa trẻ.

Khi Minh ngước lên nhìn chàng bắt gặp nhiều khuôn mặt lạnh lùng như băng giá, ánh nắng gay gắt buổi trưa chiếu trên những mái đầu tóc còn xanh hoa râm, cũng có những khuôn mặt còn non choẹt, và những khuôn mặt đã có một vài vết răn răn. Minh không nhìn xuống đường nhưng chàng biết xe đang chạy trong thành phố, Minh thấy mình hoang mang như chàng tỉnh cơn ác mộng, chàng nhìn hết khuôn mặt nọ đến khuôn mặt kia, Minh chợt nhìn thấy một dòng nước mắt từ một khuôn mặt nhăn nheo, người đàn ông bỗng gục mặt xuống khóc rưng rức. Mấy người cảnh sát lạnh lùng, họ mời nhau điều thuốc.

Ó đen

Lý Tống

Post by Sơn râu 19 Apr 2025

Phần 4

Trốn Thoát Khỏi Việt Nam   

Sáng 23 tháng 9 năm 1981, ngày lễ Nam Kỳ Nổi Dậy của Việt Cộng, tôi thức dậy sớm, đeo túi hành trang lên vai, bước xuống thang gác nhẹ nhàng, thận trọng. Tôi mở cánh cửa sắt, kéo chậm và kín đáo hầu như ôm nâng cả khối sắt thép để khỏi gây tiếng động đánh thức cả nhà đang say ngủ và những nhà hàng xóm lân cận sát nách. Không khí ban mai mát lạnh ập vào xuyên suốt qua lớp áo quần mỏng và cũ. Những bóng dáng lẻ tẻ, lầm lũi của những người lao động, của những chị bán hàng thấp thoáng ẩn hiện trong ánh sáng mờ nhạt của những ngọn đèn đường. Tôi tiến về hướng đường Trần Hưng Đạo, chỗ bến xe buýt đi Xa cảng Miền Đông. Chiếc xe buýt đầu tiên trong ngày khật khưởng tiến lại trong dáng ngái ngủ. Tôi chen chúc tìm một chỗ đứng trong đám đông chật chội.

Cái làn da đen lem luốc mà tôi đã phải ngâm cả tiếng đồng hồ trong chậu chứa nước nhuộm để giả làm người Khmer trông không hoàn hảo lắm, bởi vì thuốc nhuộm không được tốt. Có một thứ hàng hóa nào sản xuất tại Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa nầy có phẩm chất tốt đâu. Tuy nhiên cái màu giả tạo đó cũng làm tôi có cái vẻ một người lao động chân chính hơn là làn da trắng của một dân chơi, một dân cậu, không phù hợp trong cái xã hội mới nầy.

Cái xách đựng mấy kí mì khô mà suốt bốn, năm tiếng đồng hồ hôm qua tôi đã phải ngồi giã cho vụn, nhuyễn ra bằng một cái chày nhỏ và một cái cối gỗ đến rã cả tay để biến cái đống mì sợi khổng lồ thành một khối tương đối nhỏ bằng một phần năm thể tích nguyên thủy vẫn còn có vẻ cồng kềnh. Cảm giác của một chuyến đi xa, của những bất trắc đang rình rập, của một hy vọng mù mờ, cháy leo lét trong những phần cảm xúc sâu xa. Xe vẫn tiếp tục dừng lại nhiều chặng đường để đón thêm khách, mặc dù khối người hỗn độn cố chèn ép nhau để tìm một chỗ đứng, đã cảm thấy khó thở vì ngột ngạt.

Những cổng trại Quân Đội Nhân Dân, những đồn bót xuất hiện lẻ tẻ khi xe bắt đầu rời khỏi thành phố, những phần đất thân thương yêu dấu của một thuở rong ruỗi ngày xưa đang ẩn náu nhiều thù địch, hiểm họa. Không hoàn toàn trông cậy vào những giấy tờ giả trong người trước những tên Công an chuyên nghiệp đang chờ chực ở từng trạm kiểm soát để lục lọi, tìm kiếm và để làm tiền, tôi vẫn chuẩn bị những phương thức khẩn cấp phòng hờ để thoát thân nếu bị bại lộ. Con đường vẫn bình yên, bởi vì những hiện thân của Xã hội Chủ nghĩa kia, có lẽ sau đêm thỏa mãn nhờ bắt địa được một chầu nhậu, một cuộc tình, đang lười biếng với giấc ngủ muộn. Tôi đến bến xe Xa cảng Miền Đông và tìm phòng bán vé sắp hàng.

Phương tiện chuyển vận đã trở thành hiếm hoi và khó khăn thêm mỗi ngày, những chiếc xe Liên Xô đã dần dần chiếm đa số trong những chiếc xe tạm sử dụng được còn sót lại từ chế độ cũ. Gọi là xe Liên Xô vì nó vừa có nghĩa Russia, vừa có nghĩa phải liên tục xô đẩymới chạy bởi vì những bình điện đã hỏng không được thay, và hành khách có nhiệm vụ thay thế demajeur để đẩy cho xe nổ máy.

Hành khách đứng sắp thành từng hàng dài. Sắp hàng là một hình thức văn minh của các nước tân tiến để giải quyết công việc nhanh chóng và công bình. Với Cộng Sản, sắp hàng là một hình thức làm trì trệ và phiền nhiễu dân chúng, bởi sự khan hiếm trầm trọng của phương tiện chuyển vận và bởi cách làm việc thiếu trách nhiệm, và tinh thần tham nhũng của Cán bộ Cộng Sản. Tôi xếp vào hàng ưu tiên của Công Nhân viên và Bộ đội, vì tôi đang sử dụng giấy đi công tác giả mạo.

Một chút lo lắng và hồi hộp. Những cặp mắt trần tục kia cuối cùng không khám phá được tung tích của tôi bởi vì cái phong thái Công nhân của tôi được đóng xuất sắc, bởi vì sự tinh xảo của những tay chuyên nghiệp làm giấy tờ giả.

Tôi lên xe ngồi đúng số ghế và liếc mắt quan sát hành khách. Một số ít Bộ đội ngồi lẫn lộn trên xe, một cô gái ngồi bên cạnh và một cụ già ngồi trước mặt. Tôi có thói quen tin cẩn phụ nữ và người già, bởi vì hai giới người đó thường tốt bụng và dễ tin người. Tôi thường giới hạn nói chuyện hoặc tiếp chuyện, và thường khi phải làm vẻ mệt mỏi buồn ngủ để khỏi tham dự hoặc trả lời những kẻ nhiều chuyện, thích cà kê dê ngỗng.

Nói là bạc, im lặng là vàng. Câu châm ngôn đó vĩnh viễn có giá trị. Nhưng im lặng không có nghĩa là cứ câm như hến trên suốt đoạn hành trình, bởi vì tôi chưa rành đường và cần phải hỏi một vài tin tức cần thiết. Chọn lựa kỹ càng đối tượng, tôi bắt chuyện một cụ già.

—     Thưa bác. Bác đi Tây Ninh hay Gò Dầu Hạ?

—     Tôi đi Tây Ninh. Ông cụ trả lời.

Tôi gợi chuyện tiếp:

—     Cháu làm việc dưới miền Tây. Nhân tiện về Sàigòn có người bạn cùng Tổ hợp nhờ cháu ghé nhà anh ấy ở Gò Dầu Hạ để gởi một ít quà. Cháu chưa từng ghé Gò Dầu Hạ. Bác có thể chỉ dùm lúc nào đến chỗ để cháu xuống xe.

—    Vậy hả, nhưng nhà bạn cháu ở đâu tại Gò Dầu Hạ?

—    Thưa bác, cạnh cái lò nấu đường ở gần cầu đó. (Đây là những tin tức tôi thăm dò được khi nói chuyện với một người tài xế ở Sài Gòn).

—    À! Tôi biết rồi. Vậy cậu xuống ở ngã ba đằng kia. Đón xe đạp thồ hai đồng đi qua chợ. Qua cầu, kiếm phía tay phải.

—    Cám ơn bác.

Tôi xuống xe đúng ngay chỗ chỉ dẫn và làm đúng lời chỉ dẫn. Những người đạp xe thồ ùa đến đám hành khách mới xuống xe để tranh mối. Sàigòn, các Tỉnh lỵ, nói chung Việt Nam, càng ngày càng phát minh ra nhiều nghề mới. Cái khó bó cái khôn đã trở thành lỗi thời. Sự khốn khó đã làm cho con người càng ngày càng khôn hơn, dù sự khôn ngoan đã trở thành khôn lỏi hoặc khôn vặt. Cả một dân tộc đang trở mình, đang quằn quại uốn mình để tìm một lối sinh tồn thích hợp trong thời buổi khó khăn, khắc nghiệt. Nhiều chú bé, cô bé đang tuổi đến trường cũng đã phải bỏ trường lớp để lăn lộn với cuộc mưu sinh. Miếng ăn, manh áo đã làm cho con người chóng trưởng thành và chóng trở thành thù địch với nhau.

Tôi đi bộ qua cầu. Một trạm xe lam, một dãy quán hàng luộm thuộm nhà tranh vách lá nằm túm tụm bên đường. Tôi kiếm một ghế ngồi, kêu món điểm tâm và giải khát. Ăn uống là một nhu cầu, nhưng chỗ ăn uống cũng là nơi để tìm hiểu nhũng điều cần biết. Tôi quan sát sự sinh hoạt và nghe ngóng, tôi đã biết trước rằng từ đây lên đến biên giới Việt—Miên đoạn đường chỉ trong vòng hơn mười cây số nhưng phương tiện nào thuận lợi nhất để đi đến đó?

Đó là điều tôi đang cần tìm hiểu, cuối cùng tôi chọn lựa giải pháp là gọi một chú bé chạy xe đạp thồ và trả giá cho cuổc xe sắp tới. Đường xấu, ngược gió và nhiều ổ gà, cái thân hình nhỏ bé phải vật lộn với từng vòng bánh xe lăn để sinh tồn. Tôi đề nghị mình thay thế khi chú bé bắt đầu mệt mỏi. Lâu ngày không đạp xe, hai chân tôi mỏi nhừ sau một đoạn đường ngắn, tôi tự nhủ:

—    Chỉ mới một chặng đầu gian lao mà ta không cố gắng được, làm sao hoàn thành được cuộc hành trình gian khổ xa vời vợi kia?

Ý nghĩ đó giúp tôi vượt thắng được những phản đối, yêu sách của đôi chân, của gân cốt, bắp thịt háng và mông đít. Tôi gợi chuyện cùng chú bé:

—    Em còn đi học không?

—    Học hành gì nữa chú! Em bé tiếp tục với giọng chán chường. Em là con ngụy, Bố em cải tạo chưa về, Mẹ em vất vả vẫn không đủ nuôi thân. Em phải phụ giúp gia đình để sinh sống và để có chút tiền thỉnh thoảng đi thăm nuôi Bố.

—    Chú nghe nói ở Gò Dầu Hạ dễ làm ăn hơn Sàigòn mà?

—    Dễ là dễ vối tụi cớm, với đám con buôn có thân nhân liên hệ với Cách Mạng, chứ với gia đình Ngụy, còn lâu! Toát mồ hôi kiếm được chút tiền, lắm lúc không đủ cho tụi nó bắt địa. Mình mà không chịu tốn kém, lại phải đi kinh tế mới, còn cực khổ trăm phần. Mà để được yên ổn, để có thể biết điều, chỉ còn cách còng lưng làm việc và còng lưng cõng các Ngài Cách Mạng mà thôi.

Biết được tâm sự của em, tìm được người đồng hội đồng thuyền, tôi bắt đầu cởi mở câu chuyện:

—    Thế tại sao em không liều qua lại biên giới buôn bán hàng lậu dễ kiếm tiền hơn không?

—    Buôn bán cũng phải có vốn, cũng phải quen biết nhiều. Kiếm tiền thấy cũng dễ, nhưng kiếm được bốn năm lần, nó chận một vố, mất cả vốn lẫn lời. Không ở tù cũng sạt nghiệp, thôi thà cứ thế nầy mà chắc ăn hơn.

—    Vậy em chưa từng đi qua biên giới lần nào sao?

—    Em thì không nhưng bạn bè em thiếu gì đứa. Tụi nó nghề lắm, thường xuyên qua lại biên giới nên biết nhiều mánh lới. Đi đường nào, đi lúc nào, dấu diếm hàng thế nào, chạy làng thế nào. Tuy nguy hiểm, nhưng một số tụi nó vẫn tiếp tục.

—    Gần đến biên giới chưa em?

—     Còn vài cây số nữa. Mà chú định đi đâu vậy? Hình như chú không phải là người ở đây hả?

—     Không. Chú ở Sàigòn. Nghe nói trên nầy đi buôn hàng lậu biên giới dễ kiếm tiền, chú định lên xem thử, coi làm ăn có được không để liệu đường.

—     Nếu chú muôn qua biên giới, cháu sẽ giới thiệu mây thằng bạn cháu.

—     Có phải trả tiền nhiều lắm không?

—     Chừng vài chục thôi à.

—     Vậy làm thế nào để chú gặp bạn cháu?

—     Đến chỗ cái gốc cây ở ngã ba đường kia, nơi có cái mả xi-măng lớn, chú đợi đó, cháu sẽ đi gọi.

Tôi xuống xe đứng quanh quẩn chờ đợi. Một người thợ hớt tóc lớn tuổi đang ngồi nhẩn nha nhổ râu mép đợi chờ những người khách hiếm hoi. Tôi châm thuốc hút, làm vẻ tự nhiên như đợi người nhà.

Tôi chọn đường Gò Dầu Hạ thay vì Tây Ninh do những kinh nghiệm bay bổng trong thời kỳ hành quân sang Kampuchia đánh vào tận căn cứ đầu não chủ lực của Cộng Sản. Tây Ninh, Đồn điền Chúp, Kampong Chàm, Snoon, Prek… bao nhiêu ngày đã miệt mài qua lại. Những con đường chết nằm trơ trọi giữa những cánh rừng ngút ngàn, những buôn làng đã bị đánh phá hoang tàn.

Này Kampong Trabek lần đi bay với Bạch Văn Thành. Bạch Văn Thành là một đại úy observateur có tiếng lì và bạt mạng. Đi bay chung với Thành là một nỗi đau khổ của các Phi công. Những anh Phi công già nặng nợ vợ con, lo kiếm tiền kiếm bạc gặp Thành là rầu thúi ruột. Còn những anh Phi công trẻ mới ra trường, nếu hăng tiết vịt, nghe Thành xúi ăn cứt gà thì có ngày bỏ mạng sa trường. Bởi vì bay với Thành là phải tìm cảm giác mạnh, phải đùa với lửa Thành mới vừa lòng. “Mỗi lần bay về mà không mang theo vài vết đạn thì chưa phải đi bay,” Thành vẫn hung hăng tuyên bố.

Ngày đầu mới về Phi đoàn 122, tôi cũng đã được vài bạn briefing về Thành nhưng có lẽ Thành còn biết tôi nhiều hơn ngay cả khi tôi chưa về đến Phi đoàn, bởi vì khi Phi đoàn vừa nhận được công điện báo sắp chuyển đến một Phi công mới tên Lý Tống là cả Phi đoàn đã xì xào về những thành tích bất hảo trong quá khứ của tôi. Thành chỉ đợi tôi được Huấn luyện Hành quân xong là ngỏ ý đi bay chung với tôi để thử sức và tôi cũng hân hoan nhận lời để xem thử Thành lì đòn đến mức nào.

Thành nghĩ tôi mới ra trường chắc còn bỡ ngỡ, chưa biết chấm tọa độ rành nên ngồi ghế sau cứ nhắc. Nào chỉnh sang trái một tí kẻo bị lệch hướng, nào còn mười dặm nữa sẽ đến target, tôi cứ im lặng mỉm cười không trả lời. Thành quên rằng, trong thời gian đó, các phi cơ quan sát ngoài nhiệm vụ hướng dẫn phi cơ khu trục do Phi công Việt Nam lái, còn phải hướng dẫn cả các phi cơ do các Phi công Mỹ từ Đệ Thất Hạm Đội vào để đánh bom. Tôi là một trong các Phi công Quan sát tương đối nói tiếng Anh thông thạo nên còn được huấn luyện đặc biệt để kềm hoặc giúp đỡ các observateur kém tiếng Anh và tôi còn có cả bằng Quan Sát viên danh dự sau khi tốt nghiệp Khóa Huấn luyện Dẫn FAC Mỹ (Forward Air Controller).

Thành cứ hối tôi, sao sắp đến mục tiêu mà không giảm cao độ đi, tôi vẫn cứ ù lì, bỗng nhiên Thành vỗ mạnh vào vai tôi và la lớn: “Phi cơ hỏng máy rồi, tôi không còn liên lạc vô tuyến được nữa.” Thành hốt hoảng vì thấy phi cơ đột nhiên rơi xuống quá nhanh mà không biết là tôi đã cố ý tắt máy chơi để dọa Thành. Nếu phi cơ L19 có nút bấm nhảy dù như các loại phi cơ phản lực khác chắc Thành đã nhảy dù ra khỏi phi cơ khi thấy phi cơ đang rơi xuống theo thế triệt nâng stall.

Chờ khi phi cơ đã gần tới đất tôi bấm nút start để mở máy lại. Cũng may là bình điện còn mạnh và phi cơ còn tốt, nên máy nổ lại ngay và đủ sức phóng lên. Tuy vậy bụng phi cơ cũng suýt chà lán các xe vận tải của Việt Cộng đang cuống quýt chạy lủi vào lề để né tránh tai nạn. Tuy thoát khỏi crash trên đường, nhưng phi cơ không thoát khỏi một tràng đạn AK bắn thủng từ dưới bụng và xuyên suốt qua chiếc ghế Thành đang ngồi, năm viên đạn chộp trật Thành trong gang tấc. Từ đó Thành bớt hung hăng, bớt dỡn mặt với các Phi công bay chung với mình.

Rồi kia là Damber, chiến trường sục sôi lửa đạn từng giờ, ban ngày thì Nhảy Dù Mũ Đỏ làm chủ trận địa, đến đêm Cộng quân tràn ngập biển người. Tôi bay L19 hướng dẫn thả bom, chui luồn dưới những quả đạn pháo giao tranh của trận địa pháo. Cũng chính vì sự liều lĩnh của mình đã gây nên một hậu quả tai hại. Sau khi tôi vừa bàn giao tình hình chiến trường, phi cơ phiên kế tiếp vì sự nói khích của phe bạn dưới đất: “Biên Hòa bay yếu quá. Phải chịu chơi như Phi công Cần Thơ thượng phiên coi nào!” nên tự ái, đã từ cao độ bình thường ba bốn ngàn bộ giảm ga lao xuống thấp. Không may, chỉ vừa làm hai vòng low pass, phi cơ bị bắn đứt đôi, đâm đầu vào một hố nước sâu, phi hành đoàn hai người đều tử nạn. Chết sống thật khôn lường, mới còn đó đã mất đó. Kẻ sống, người chết, dù cùng một cảnh ngộ, trái đạn hình như có mắt, biết tránh những người cao số và tìm đến nhũng người vắn số.

Tôi lại nhớ ngày biệt phái Phú Quốc. Vị quận trưởng mới đổi về rất quí mến Không Quân, khi có giờ rỗi thường cùng chúng tôi đi bắn cá và ăn nhậu trên bờ biển. Ông dành một phòng riêng cho Phi Hành đoàn ở Quận đường và mỗi bữa cơm đều mời đủ mặt chúng tôi. Chúng tôi bay biệt phái nửa tháng nên lúc ngủ tại Dương Đông, lúc ngủ tại An Thới, phi trường ở phía Nam Phú Quốc.

Một hôm đang tiệc nhậu, sực nhớ cái hẹn ở An Thới, vì chữ tín, tôi đành rời cuộc vui, ra phi cơ cất cánh mặc dù trời đã tối. Bay đến An Thới, phần Phi trường không có đèn, phần đêm không trăng sao, chúng tôi không tìm thấy phi đạo. Máy vô tuyến FM hỏng. Tôi bay lượn trên Tiểu khu nhiều vòng, nhờ Sĩ quan trực đem xe jeep ra chiếu sáng phi đạo nhưng Sĩ quan trực vắng mặt. Sau khi bay thấp nhiều vòng, lấy bờ biển loáng thoáng lờ mờ làm đường chuẩn để xác định vị trí phi trường, tôi liền đáp theo linh tính. Bánh phi cơ suýt móc vào dãy hàng rào thép giăng ngang đầu phi đạo trên đường cận tiến final approach. Thật là một cú đáp hú hồn nhất trong đời bay bổng, bởi vì vừa thoáng thấy phi đạo là phi cơ đã chạm bánh ngay. Nếu bay lệch, phi cơ đã đâm đầu vào các thùng phuy chứa dầu hoặc các chướng ngại vật khác nằm hỗn độn hai bên đường bay.

Đến nửa đêm nghe báo động là quận Dương Đông đang bị địch tấn công bằng B40. Bộ đội đặc công Việt Cộng tràn ngập vào Quận đường, bắn sập phòng Quận trưởng và phòng Phi Hành đoàn. Sáng sớm, chúng tôi bay trở lại Dương Đông chỉ kịp đắp tấm drap trắng phủ lên thân thể vị Quận trưởng bị bắn nát bởi hàng trăm viên đạn, một nửa khuôn mặt bị mảnh hỏa tiễn chém bay mất. Nhìn những người nằm chết, tôi thấy rùng mình. Ôi! Tối hôm qua nếu tôi không vì chữ tín mà bỏ cuộc vui, ở lại ăn chơi và ngủ tại Dương Đông, thì trong đống gạch đá vụn nát, trong ngôi phòng sụp đổ tan tành kia đã có xác thân tôi dập vùi trong đó!

Số sống không chỉ dàn xếp cho con người muốn sống còn sống được trong hoàn cảnh hiểm nghèo, mà ngay cả kẻ muốn chết vẫn còn dịp để tiếp tục sống. Những ngày cuối cùng khi phần lớn miền Trung Việt Nam đã thất thủ vào tay Cộng Sản Bắc Việt, tôi đã chuẩn bị cho mình một cái chết hữu ích. Người ta thường nghĩ tự tử là hèn nhát, thế mà kinh qua những giai đoạn sống, tôi lại cảm thây rằng: tự tử là hành động của những kẻ can đảm nhất. Những kẻ hèn nhát ít khi dám tự tử, họ có thể làm bất cứ hành động nào tồi tệ, bẩn thỉu, hèn mạt nhất để tiếp tục được sống, dù là đời sống của một con vật.

Tôi chỉ thấy được những kẻ hoặc quá can đảm mà tự tử, hoặc quá can đảm để luôn luôn sẵn sàng chấp nhận cái chết một cách hào hùng. Một Cường già thà uống thuốc độc tự tử, không chịu khai những bí mật của cơ sở và đồng đội liên hệ, những người lính Nhảy Dù rút chốt lựu đạn nổ banh xác khi Cộng sản tràn ngập khắp nơi vì không chịu đầu hàng kẻ địch. Các vị tướng Nam, tướng Hưng tự bắn vào tim, vào đầu khi Sàigòn thất thủ vì không thể tử thủ giữ miền Tây, sợ tổn thất sinh mạng của dân chứng.

Và trong lúc tinh thần vững mạnh nhất, tôi cũng đã chuẩn bị tự tử một lần mà bất thành. Số là sau khi Đà Nẵng, Cao Nguyên, và kế tiếp Nha Trang bị rơi vào tay bọn xâm lược, tôi biết rằng thế nước, vận nước đã tới hồi suy sụp không thể nào cứu vớt nổi bởi vì tinh thần hoang mang, lung lạc của quân nhân các cấp, của lòng dân mệt mỏi chán chường.

Tôi đã dự trù sẽ ném bom vào các bộ phận đầu não đã gây nên cảnh tan nát, sụp đổ của mỉền Nam Việt Nam. Bốn thế lực chính đã bằng cách nầy hoặc cách khác, góp tay vào tình trạng hỗn loạn, bi thảm của Việt Nam: Cộng Sản Bắc Việt, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Hoa Kỳ và Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu.

Tôi sẽ cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất, ném hai trái bom đầu tiên vào trại Davis nằm gần phi đạo, trong đó các thành phần đại diện của Cộng Sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trong Ủy Ban Liên Hợp bốn thành phần đang trú ngụ. Xong quẹo về phía Tòa Đại Sứ Mỹ ném hai trái. Hai trái cuối cùng sẽ ném vào Dinh Độc Lập. Sau khi bay một vòng vẫy chào Sàigòn lần cuối, xong tôi sẽ đâm máy bay vào Dinh Độc Lập để kết liễu đời mình. Trong phi vụ đó, tôi sẽ liên lạc trên tầng số Paris để báo cáo về mục đích của hành động của mình, và sẽ kêu gọi Chiến hữu mình phải có hành động quyết liệt hơn cho số phận của Đất nước, Dân tộc và bản thân mình.

Tôi đã bay trên không phận Sài Gòn nhiều lần để nghiên cứu các mục tiêu, và kế hoạch thi hành phi vụ tự vẫn đó, thế mà trước ngày thực hiện ý định mình, tôi đã bị bắn rơi tại Cam Ranh. Tôi không có dịp chết hữu ích như mình dự định, và ngay cả khi bị một trái hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 bắn trúng cắt đứt đôi chiếc tàu bay, tôi lại vẫn bình an không hề bị một vết thương nhỏ, mặc dù từ xưa đến nay, chưa từng có một Phi công nào còn sông sót khi bị trúng hỏa tiễn SA7! Số mệnh. Có ai không tin số mệnh sau những biến cố kinh hoàng như thế? 

Vượt Biên Giới Kampuchia 

Tôi đứng chờ không lâu thì chú bé dẫn đến một người bạn lớn hơn. Trông dáng dấp, tôi biết ngay chú bé bạn là một tay lỏi đời, một tay không vừa. Vâng. Cuộc sống tranh cạnh, bon chen đã dạy cho một số em bé cách sống và cách đốỉ xử đặc biệt, đã đục đẻo khắc chạm những đường nét đặc thù lên khuôn mặt và nhân dáng. Tôi không nhầm với những xét đoán đầu tiên. Tôi chỉ ngạc nhiên là hai em bé hoàn toàn khác nhau, đốỉ nghịch nhau, lại là bạn của nhau.

—     Chú cho tôi 200 đồng. Câu nói đầu tiên của chú bé mới đến.

—     Hai trăm đồng? Sao nhiều thế? Bạn cháu bảo là vài chục thôi mà?

—     Nó biết gì đâu. Đường đi lại bây giờ khó khăn lắm. Càng khó, tiền công càng phải đắt, phải cao, thế thôi.

—     Thôi 50 đồng. Tôi trả giá.

—     Phải 200 đồng vì đó là giá cả hiện tại, ai cũng vậy thôi.

Thấy đứng cò kè giữa đường có thể gây sự chú ý của kẻ qua đường và chắc chắn, có thể những tên Cớm chìm vùng biên giới dễ dàng nhận dạng, tôi dứt khoát:

-—Nếu cháu không chịu 50 đồng thì thôi vậy. Chú đi một mình cũng được.

Tôi bỏ đi nhưng vẫn không quên dò chừng phản ứng của chú bé. Ăn không được thì đập đổ. Đó là câu châm ngôn quen thuộc của giới giang hồ, sự đập đổ trong trường hợp nầy chắc chắn thập phần nguy hiểm. Bởi vì có thể, buồn buồn, chú bé lại đi kiếm một tên Công an để báo cáo trường hợp một kẻ khả nghi. Tôi không thể thỏa mãn đòi hỏi của chú, bởi vì trong túi tôi chỉ có hơn 100 đồng và lắm lúc cũng chỉ vì kẹt vài chục bạc, người ta lại có thể kẹt cho sự an toàn của bản thân. Tôi giả vờ đi tiểu để quay lại quan sát. Chú bé thứ nhất đã đạp xe trên đường về, chú bạn đang đứng lưỡng lự rồi bỗng nhiên đạp xe chạy theo tôi.

—    Anh ơi, có phải anh đi vượt biên không?

Chú bé bất thần hỏi. Tôi vội trả lời:

—    Nói bậy anh đi tính chuyện buôn bán mà!

—    Em hỏi thật đó, nếu anh đi vượt biên cho em đi theo với.

Nhìn nét mặt khẩn khoản, giọng nói cầu khẩn, tôi biết chắc em bé hỏi thật tình. Phải chăng Thượng Đế lại muốn giúp tôi một bạn đồng hành? Tôi đã từng gặp Đề, một người bạn tù, tại Sàigòn. Đề đề nghị đi chung và lo phí tổn lộ trình nhưng cuối cùng Đề đổi ý vì Đề vừa gặp được một cô nàng khá xinh đẹp và có tiền. Tâm trạng chung của nhũng người “Tù cải tạo” được thả về, ai cũng muôn yên phận. Có một chút tình, một chút tiền, họ cảm thấy tạm thỏa mãn so với những ngày tháng lao nhọc tù tội, họ sợ tù đến nỗi, có người có thừa khả năng để đi mà không dám đi. Đi vượt biên càng ngày càng trở nên khó khăn, nguy hiểm, đi mười chuyến chỉ lọt một, hai, còn nếu bị bắt thì đành sạt nghiệp và ở tù. Nếu may mắn được cứu vớt: Hình ảnh bi thảm của sự vô vọng, nhục nhằn tại các trại tị nạn Đông Dương.

Có một bạn đồng hành có tiền, biết tiếng Khmer, là một yếu tố thuận lợi, dễ thành công. Mặc dù lúc Đề rút lời, tôi đã quyết định sẽ ra đi một mình, không tiền, với một số lương thực khô và hành trang đơn giản. Tôi muốn dùng mình làm thí điểm, tôi muốn mình là kẻ tiên phong, vạch một hướng đi, một giải pháp mới, để những người bạn cùng cảnh ngộ khó khăn, có đủ niềm tin để theo vết chân tôi. Nếu thất bại thì một mình tôi chịu, nếu thành công tôi sẽ liên lạc để hướng dẫn bạn bè với những kinh nghiệm thiết thực, bằng hành động dấn thân. Nhưng nếu đây là ý muốn của Thượng Đế? Làm sao tôi tiên liệu được, trong thời điểm nầy, tại vị trí nầy, tôi gặp được em bé nầy, và chắc chắn, em là người duy nhất có ý định táo bạo và liều lĩnh bất ngờ như vậy.

—    Em có tiền không? Em biết tiếng Khmer không? Tôi hỏi.

—    Có. Biết. Em nhanh nhẩu trả lời và hỏi vặn tôi. Thế anh có rành đường không?

—    Khỏi lo. Anh có bản đồ, có địa bàn và hơn nữa, anh từng ở Miên và đi buôn bán bên Miên.

Dù sao tôi, cuối cùng, cũng phải dấu kín tông tích của mình.

—    Vậy anh đợi em tí xíu, em gởi xe đạp về nhà.

Vâng. Lại thêm một yếu tố tiền định khác. Nếu lúc đó tôi đã có sẵn một kinh nghiệm qua sự quan sát và hiểu biết như giờ nầy, biết rằng đi xe đạp là phương tiện an toàn nhất, dễ thành công nhất, thì chắc chắn chúng tôi đã dùng xe đạp để tiến hành ý định của mình, và số phận chúng tôi, hoặc riêng tôi đã chuyển sang hướng khác. Trong giờ phút đó, tôi chỉ biết gật đầu và chờ đợi.

Sự sống đã dạy cho tôi nhiều bài học cay đắng. Lần đầu tiên tôi không tin người, tôi đã bỏ lỡ một cơ hội bằng vàng và đánh đổi bằng sáu năm tù tội. Tôi sẽ tin người và yêu người, mặc dù đời nhiều dối trá và gian xảo. Phải tin người, yêu người, và người sẽ tin ta, yêu ta. Niềm tin và tình yểu có thể cải hóa những con người xấu nhưng chắc chắn không tin và yêu một cách mù quáng, bất cẩn. Tôi vẫn thận trọng, mặc dù thật tình.

Khi em bé khuất bóng ở một khúc quẹo, tôi vội kiếm một chỗ ẩn mình, ngồi trong một bụi rậm kín để có thể nhìn thấy người, quan sát người, mà người không nhìn thấy, nghi ngờ mình. Giả dụ em bé trở lại với một tên Cớm biên phòng, hay một Du kích tuần tiểu, chắc chắn họ sẽ thất vọng trong cuộc săn đuổi, tìm kiếm tôi.

Em bé trở lại, đi hối hả như chạy, và rõ ràng sự mất dạng của tôi làm em bối rối. Em sục sạo, đảo mắt tìm xuôi ngược, đi qua mặt tôi, ruồng đuổi một bóng ma vô hình đằng trước. Đến khi em tuyệt vọng, quay trở về, tôi mới chậm rãi đi ra đường đón em, sau khi tin chắc rằng, sau em, không có một ai, một toán người nào đang rình rập, hỗ trợ cho em.

—     Trời đất ơi, anh làm em muốn khóc. Em vừa bán rẻ chiếc xe cho thằng bạn quen, giá 200 đồng, vội vã chạy theo anh và tưởng anh đã bỏ rơi em.

Tôi mỉm cười:

—     Nào! Đồn phòng thủ biên giới đâu? Em định đi hướng nào đây?

—     Đó. Đó.

Em chỉ về phía lá cờ đỏ sao vàng đang bay phần phật trên đỉnh Đồn Kiểm soát Biên phòng.

—     Mình đi vòng tay phải. Băng qua đập đất cao phía trước.

Một vài ngôi nhà nằm lẻ loi, lác đác trên những cánh đồng vừa cấy lúa, những thân mạ xanh đang bén rễ, vươn những cánh tay nhỏ bé hứng giọt nắng ban mai trong giai đoạn chuyển biến mới của đời mình. Em bé đi chân không, quần xắn cao kiểu người nông dân chân chính. Tôi rảo bước theo em như hai người dân quê đi thăm đồng buổi sáng. Đâu đó, những toán người đang khom mình nhổ cỏ, một vài chú bé chạy rong chơi. Chúng tôi tránh xa những nơi có người và nhà, bỗng có ba cô gái trẻ mặc đồ bà ba đen, từ hướng bên trái đang đi về cùng một điểm với chúng tôi.

—    Con buôn đấy anh ạ. Mình đi theo họ đi.

Tôi ra dấu đi chậm lại, nhường họ đi truớc. Ba cô gái nhìn chúng tôi, có vẻ e ngại điều gì. Tôi chợt nghĩ ra. Nếu đi một hàng dọc năm người, chúng tôi sẽ tạo thành một hàng người dài, dễ gây sự chú ý của những tên gác ở trạm biên phòng cách đó không hơn một cây số. Chúng tôi chậm bước dần để tách làm hai toán riêng rẽ. Trên con đê dài, cao, nằm vắt ngang kia, có ai nằm phục kích, rình rập? Thôi, hãy để cho ba cô gái làm mồi, nếu thật sự có bẫy sập thì chúng tôi có đủ thời gian và khoảng cách để thoát thân. Sự bình yên của đoạn đường làm mất cảm giác hồi hộp và căng thẳng.

Nếu không có con đê đất kia, làm sao tôi phân biệt và nhận thức được rằng, tôi đã đứng trên phần đất thuộc lãnh thổ một quốc gia khác, làm sao tôi trút bỏ được một nửa gánh nặng nguy nan mà trọng tội của một tên tù vượt ngục đang là một bản án vô hình đeo đuổi từng bước chân tôi. Những cánh đồng cỏ xanh, những đàn trâu bò nhẩn nha ăn cỏ, những trẻ mục đồng đang chạy nhảy nô đùa. Cái không khí của cảnh vật, của con người, có phần nhẹ nhàng, thoải mái và khởi sắc bên phần lãnh thổ bạn. Tôi dặn em bé dừng chân chốc lát, vục đầu xuống con lạch nước ngòng ngoèo chảy giữa những đám lau lách để giải khát. Em bé lưỡng lự với đề nghị:

—    Tới đằng kia vào chợ uống nước mía ngon hơn.

—    Không! Mình phải tập uống những loại nước nầy để tiết kiệm tiền. Tôi nhấn mạnh.

Tôi moi một lỗ đất nhỏ, nhét những giấy tờ giả vào và lấp đất lại. Từ thời điểm nầy, nơi chôn nầy, tôi đã xử tử hình và mai táng tên Hoàng Nhật Tuấn, một công nhân dỡm của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tôi có cảm tưở ng nhẹ nhõm khi liên tưởng về những ngày nhục nhằn trốn chui trốn nhủi tại Sàigòn, có những tối vội vàng luồn lách qua các đường hẽm để tránh cuộc bố ráp, lục soát nhà, có những đêm nằm ngủ co ro trong những ngôi vườn hoang vắng, hay lăn lóc trên hè phố, lẫn lộn giữa đám người dân bần hàn bỏ trốn vùng kinh tế mới trở về thành phố. Những ngày chỉ ăn cháo qua bữa hoặc nhịn đói, hoặc phải đi bộ mười mấy cây số để kiếm một bữa ăn. Ngay cả những đứa bé lém lỉnh như thằng Cu Tí, 5 tuổi, lắm lúc cũng làm tôi nôn ruột bởi vì trò “cớm xét nhà” hú tim của nó.

Có lần đang ngồi học ở trước ban công nhà, nghe tiếng gõ cửa, tôi lủi vội vào góc bếp để ẩn nấp. Thằng bé ra mở cửa, rồi lại trở vào ra dấu:

— Có hai tên cớm, có đeo súng, đến xét nhà.

Tôi ra dấu cu Tí đừng làm gì để họ nghi có tôi ở trong nầy, và đồng thời chui sâu, sát vào góc kẹt. Một chốc chú bé lại trở vào, dùng tay, mắt để diễn tả những gì đang xảy ra bên ngoài. Tôi lại quơ tay ra hiệu cho chú bé đừng vào, đừng nói chuyện với tôi e nguy hiểm. Tôi lo lắng, hồi hộp, căng thẳng, mười lăm phút dài đăng đẳng còn cu Tí cứ thập thò ra vào hoài. Cuối cùng, khi tất cả trở lại bình thường, tôi chui ra chỗ trốn để thăm hỏi cớ sự. Thì ra, chú bé hàng xóm bạn của cu Tí qua xin hai trái ớt, thế mà cu Tí cố tình đùa giỡn thành hai tên công an với hai khẩu súng để làm tôi thót ruột, lo lắng, chưa kể mặt mày, áo quần dính tèm lem bụi than và mồ hóng. Tôi kể lại chuyện cho má chú bé, chú bé bị đập một trận nên thân, nhưng thỉnh thoảng vẫn không bỏ được trò đùa giỡn hú tim tương tự.

Tôi bắt đầu đóng vai mới: Một người Khmer giả dạng. Chúng tôi hạn chế nói chuyện, sự im lặng của ngôn ngữ tạo cho tôi thành dáng dấp của một người Khmer câm điếc. Một số xe đạp thồ và con buôn đi ngược chiều đến, tôi thấy được tình thế căng thẳng trước mặt qua câu chuyện của họ. Một toán lính Khmer đang chận bắt con buôn trên khúc đường quẹo thường được sử dụng để chuyển hàng lậu. Chúng tôi chuyển hướng, băng đồng để tránh chỗ nguy hiểm, ra đến đường lộ chính, leo lên hai chiếc xe đạp thồ sau khi ngã giá xong. Tình trạng chiếc xe đạp và tình trạng trọng lượng bất cân xứng đã tăng dần khoảng cách giữa hai xe. Tôi đập tay vào bắp vế người thanh niên Khmer, cố diễn tả bằng tay và bằng cái giọng ú ớ của kẻ câm bởi vì lưỡi và tai đã trở thành bất lực và vô dụng trước một loại ngôn ngữ lạ.

Hand language là một quốc tế ngữ. Nỗi lo ngại lạc nhau của hai người đi chung được trấn an bằng sự cố gắng nỗ lực của đôi chân đã quen thuộc với những động tác thường nhật. Tại chợ trời biên giới hai thứ tiền tệ Việt—Miên đều thông dụng, hơn thế nữa, hối suất tương đối thấp. Tôi ngồi chờ chú bé trên băng ghế đối diện chợ, những nải chuối vàng lượm và một số hàng hóa để nằm chơ vơ trên ghế. Tôi ngồi ké né một bên, phân vân nghĩ đến chủ nhân của các đồ vật kia.

Người dân Miên có một ưu điểm về sự lương thiện. Ở Miên ít có tình trạng ăn cắp ăn trộm, và luật lệ rất khắr khe với những kẻ phạm tội nầy. Vì thế ít người dân Miên ngại ngần khi để đồ đạc của mình bừa bãi đây đó. Hai lính Heng Samrin kè kè súng AK đi tuần tra dọc theo khu vực chợ búa. Tôi sốt ruột vì em bé nhỡn nhơ ngồi bên kia quán nước và thật tệ, em lại uống nước mía một mình bất chấp lời khuyên nhủ của tôi. Không chờ đợi được, tôi tà tà đi về phía chợ, kiếm một ghế ngồi bên cạnh, tôi lừ mắt nhìn em bé ra dấu hỏi.

—     Chưa đổi được tiền. Chờ chốc nữa.

Em chỉ chú bé đứng bán nước:

—     Bạn em.

Tôi gợi ý nên mua hai khăn cà ma quấn đầu cho giống phong tục người Miên. Sau khi đổi tiền chúng tôi đón xe Honda thồ đi Xoài Riêng ngay thay vì ở lại chờ chuyên bus chiều như đề nghị của em bé. Tôi phải rời xa khu vực bất trắc nầy càng sớm càng tốt. Tôi quyết định trong mọi vấn đề, trừ vấn đề thông dịch. Nhiệm vụ duy nhất của em là nói tiếng Khmer trong các dịch vụ giao thiệp. Chúng tôi đi chung xe với những người buôn gạo, xe chạy hàng tiếng đồng hồ, dừng lại, chuyển gạo xuống và tiếp tục hành trình và sau cùng đến Xoài Riêng vào buổi chiều. Bến xe đò ngổn ngang khách đứng ngồi chờ xe ngày mai, cũng như nhiều lính Bộ đội Heng Samrin. Xoài Riêng là thị trấn phong phú giàu có, ngày trước tôi vẫn thường nghiêng cánh để chiêm ngưỡng mỗi lần bay qua. 

Xoài Riêng, Kỷ Niệm Vụ Báo Động Xe Tăng Địch. 

Cơn ác mộng về sự xuất hiện xe tăng địch rầm rộ khắp nơi: Miền Trung, Cao nguyên Trung Phần, các vùng biên giới… làm một số Phi công vừng IV tự đặt mình trong tinh thần cảnh giác cao độ. Một hôm trên đường bay trở về Cần Thơ, sau phi vụ hành quân Châu Đốc, tôi nghe tiếng báo cáo khẩn trưở ng của phi cơ bạn cùng Phi đoàn trên tầng sốHành Quân chiến cuộc:

—     Paddy. Paddy. Họa mi 07 gọi.

—     Họa Mi 07, Paddy nghe.

—     Họa Mi 07 phát hiện được xe tăng địch tại tọa độ… phía Tây nam Xoài Riêng.

—     Họa Mi 07. Paddy lập lại. Tọa độ… Mười lăm xe tăng địch. Đúng không?

—Đúng. Cho phi tuần A37 cất cánh ngay và một Họa Mi khác lên thay thế, tôi phải trở về vì hết xăng.

Nhiều tiếng nhốn nháo trên tầng số Paddy. Tiếng điện thoại réo vang, mọi bên lạc bỗng trở nên khẩn trương vì một tin tức quá hấp dẫn và sốt dẻo. Tôi bấm nút vô tuyến gọi:

—     Paddy. Paddy. Họa Mi 08.

—     Họa Mi 08. Paddy nghe.

—    Họa Mi 08 trên đường từ Châu Đốc trở về. Xăng nhớt và trái khói đầy đủ. Sẽ chuyển vùng thay thế Họa Mi 07.

—    OK. Cám ơn bạn. Bạn liên lạc với 07 và cho Paddy biết thêm tin tức khi đến mục tiêu.

—    Họa Mi 07. Họa Mi 08 gọi.

—    Họa Mi 07 nghe.

—    OK. Có xe tăng thật hả? Quan sát kỹ dùm xem. Lạng quạng mà hố   vừa bị bố lại mất mặt Họa Mi nghe bạn!

—    Bảo đảm mà. Lên ngay đi. Tôi sẽ chỉ target cho bạn và phải rời vùng ngay.

Chiếc L19 vốn đã bay chậm, giờ nầy lại càng rù rờ như rùa bò, mặc dù tôi đã nôn nóng tống thêm ga, cuối cùng tôi đến vùng và bàn giao mục tiêu. Khoảng 15 chiếc xe nằm ẩn hiện trên các con đường mòn nhỏ, nòng súng dài quá khổ quay về hướng Nam. Vừa chào tạm biệt Họa Mi 07, tôi đã nghe tiếng nhiều phi tuần A37 gọi tới tấp trên tầng số.

—    Họa Mi 08. Thần Báo 03.

—    Họa Mi 08. Thần Báo 04.

Tôi vừa giữ liên lạc tầng số vừa giảm ga phóng xuống quan sát trận địa. Tôi vẫn thường check lại những tin tức và báo cáo vì thỉnh thoảng vẫn xảy ra trường hợp ngộ nhận. Một vài Phi công bạn loại già cả, hoặc lạnh cẳng nên thường bay ở độ cao, Quan Sát viên không có ống nhòm, nên ở cao độ nào đó, đôi mắt trần tục của người Quan Sát viên và Phi công thỉnh thoảng vẫn trông gà hóa cuốc. Điều nghi ngờ đó chỉ có thể kiểm nhận bằng lối bay “trên ngọn cỏ dưới ngọn cây,” mà càng ngày những con người bạt mạng càng hiếm hoi dần. Tôi lủi xuống một vị trí phía Bắc và bất ngờ bay vù về Nam, cặp theo hàng cây cao dọc bên đường. Low pass với tốc độ nhanh tạo nên một tiếng gào rú lớn và cơn lốc turbulence làm những đống rơm rạ chất nghễu nghêu trên xe bay tung tóe. Tôi buột miệng chửi thề trên tầng số vô tuyến:

—     Đù mẹ. Chán thiệt.

—     Họa Mi 08. Thần Báo 03, 04, 05 đã có mặt trên vùng. Sẵn sàng đánh bom. Cho trái khói gấp.

—     Thần Báo. Họa Mi 08 gọi. Bạn liên lạc với Paddy, xin mục tiêu khác.

—     Họa Mi 08. Thần Báo… cho biết lý do gấp.

Tôi bực bội diễn tả về nhũng chiếc xe tăng đã báo cáo, thật ra là một đoàn xe trâu chở rơm trên đường về. Xe chở tối đa nên nông dân đã nẹp thêm nhiều khúc tre dài để giữ rơm rạ khỏi đổ, những nòng súng dài quá khổ chỉ là những bó tre. Đám người kéo xe thấy phi cơ L19 quần thảo trên vùng, sợ hãi ép xe vào lề đường để tránh bị hiểu nhầm. Chính vì để tránh hiểu nhầm, họ làm cho người bạn gà mờ của tôi càng hiểu nhầm thêm. Nếu tôi cứ tà tà ghi nhận theo báo cáo mà hành động, sốphận của mấy chục con người kéo xe và đám trâu bò kia sẽ ra sao?

Chúng tôi đi quanh quẩn nghiên cứu tình hình. Một khu chợ nằm trên nền đất cao với vẻ mặt khang trang. Thấy đôi mắt thèm khát của em bé khi nhìn những ổ bánh mì, khoanh thịt treo lủng lẳng trong các hàng quán, tôi nghiêm khắc lập lại ý định đã vạch sẵn:

— Chỉ ăn lương khô mang theo và uống nước ruộng dọc đường.

Không thể ở lại một nơi nhốn nháo đông người mà không lường được những bất trắc, tôi ra lệnh em bé:

—     Mướn ngay hai xe đạp thồ đi tiếp tục.

Chúng tôi chỉ cần ra khỏi thành phố và sẽ đón xe dọc đường để vượt qua khu vực kiểm soát với nhiều cổng trạm gác chận đường đã lơ là canh gác bởi vì vào giờ nầy xe cộ qua lại rất ít. Theo kinh nghiệm thì ít tên gác nào xét hỏi xe đạp thồ bởi vì cho rằng, chỉ có dân địa phương mới sử dụng phương tiện nầy. Chúng tôi xuống xe đứng đợi trước gian nhà bỏ trống, hơn nửa giờ trôi qua, không hề có bóng xe đò chạy cùng chiều. Tôi lại biết thêm một điều hữu ích là xe đi về hướng Pnom Penh chỉ có thể đón được vào buổi sáng, còn buổi chiều xe ngược đường về biên giới Việt Nam. Chúng tôi lại đón xe đạp đi tiếp, vừa chậm lại vừa giá đắt từ bảy đến mười lần hơn giá xe đò, nhưng một đoạn đường đi về phía trước có giá trị của máu và tự do. Chắc chắn không có người chạy xe đạp thồ nào lại có tham vọng, hoặc tưởng tượng chuyện đạp xe chở người hàng trăm cây số về Pnom Penh và không thể nào nói đúng địa danh của một buôn làng phía trước vì bản đồ quá cũ và tên địa phương đã thay đổi hoặc vị trí xê dịch.

— Chở tôi đến buôn làng đằng trước.

Thường thường mỗi buôn cách nhau từ 10 đến 15 cây số. Tôi khốn khổ vì con đường ngược gió. Ôi cơn gió mùa hắc ám khốc liệt như cái thắng áp lực, không chỉ cản tốc độ xe mà còn làm tay lái ngoằn ngoèo kéo dài khoảng đường xa. Tôi ê ẩm rã rời vì phải chuyển hết thành công lực lên gót chân trên cái bàn đạp chỉ còn lại một thỏi sắt mòn bóng lộn. Chúng tôi thay phiên nhau đạp và đạp đua để cố nuốt nhanh đoạn đường. Sự khốn khổ càng dục dã đôi chân khi số tiền đi đường nhỏ bé, sau mỗi cuốc xe, càng nhẹ dần.

Xe dừng xa một trạm gác, nhiều xe đò ngược chiều đang bị chận xét kỹ. Tôi thăm dò tình hình và đón xe đi tiếp nhưng trời đã quá chiều, không còn xe thồ nào chịu chạy xa. Tôi bắt đầu ái ngại về khả năng tiếng Khmer của em bé và khám phá được sự thật là em bé thông dịch viên đã dùng tới ba thứ ngôn ngữ để diễn đạt ý nghĩ của mình: Khmer—Việt—tay chân.

Một người lái xe chịu đi, một người khác lại để ý đến sự đáng khả nghi hơn là yêu cầu của chúng tôi. Anh chàng ỡm ờ không dứt khoát, sau khi xổ một tràng xi xô mà chuyên viên thông dịch của tôi hoàn toàn mù tịt, anh ta đạp xe về hướng trạm kiểm soát. Tôi chăm chứ theo dõi từng cử động của chàng ta, chỉ cần thầy bóng một Bộ đội mang AK leo lên xe đạp về hướng mình là tôi thoát chạy ngay.

Sự nghi ngại, cuối cùng, may mắn thay, vẫn chỉ là sự nghi ngại đơn thuần vì thực tế, sau khi đứng tiếp chuyện với tên gác trạm, y lên xe rẽ vào một đường làng bên cạnh. Mọi sinh hoạt vẫn bình thường. Trong bản chất của sự bất hợp pháp đã tiềm ẩn hình bóng của sự nghi ngờ, của sự thận trọng. Tôi vẫn chưa dứt được ý nghĩ, “Biết đâu tên gác cao cờ, thay vì đến bắt tại chỗ, y lại đứng chờ tôi tại trạm gác? ”

Bánh xe càng lăn dần đến gần chỗ nguy hiểm, tôi lại càng cố gắng bình thản để trấn áp sự hồi hộp. Như một sợi dây thun, cứ mỗi lần kéo căng lại dãn dần một chút, đến một lúc, sợi dây thun không còn tính chất đàn hồi vì đã dãn tối đa. Những cảm giác hồi hộp, căng thẳng tê liệt dần và trở thành sự bình tĩnh. Sự bình tĩnh đạt đến độ lạnh lùng rồi biến dạng thành sự phẫn nộ, hung dữ. Đó là lý do, mà trong một vài trường hợp, kẻ chận người, bắt người, lại sợ người bị bắt, bị chận. Chúng tôi đi qua an toàn.

Tôi nhớ đến lần đầu tiên bay solo hành quân phản lực cơ A37. Những tràng đạn lửa phòng không 12.7 ly bắn thẳng vào mặt khi tôi chúi mũi phi cơ vào target thả bom. Bản năng sinh tồn buộc tôi phản ứng né tránh, bấm bom trong vị thế phi cơ mất quân bình. Sức ly tâm đẩy bạt những quả bom cách mục tiêu 200 thước. Quan Sát viên L19 chưa dứt câu chửi thề “Thả bom như con…” bỗng la lớn:

— Trúng kho xăng, trúng kho xăng. Hoan hô!

Tôi được thưởng một huy chương phi dũng chỉ vì mất bình tĩnh và thiếu tự chủ trong giờ phút hiểm nghèo! Thật oái oăm! Từ đó, mỗi ngày, tôi tự dùng lửa đạn chiến trường để trui luyện bản thân mình và trở thành một loại Phi công được các chiến hữu cùng đơn vị yêu mến và cảm phục.

Tình bạn và sự yêu mến đã đưa đến những đánh giá thiên vị và cường điệu đối với những thành tích tầm thường của tôi.

Với Thiếu Tá Nguyễn Phấn Chân: Lý Tống đi bay giống như đi tự tử.

Với Thiếu Tá Huỳnh Thanh Minh: Lý Tống còn liều mạng hơn Nguyễn Du. (Một Phi công lừng danh và nhiều thành tích nhất vùng I.)

Với Đại Úy Nguyễn Bảy: Nếu bốn Vùng Chiến Thuật có bốn Lý Tống, Việt Cộng không ngóc đầu lên nổi.

Tôi nhớ đến phi vụ bắn rocket đoàn xe chuyển quân Việt Cộng tại đèo Phượng Hoàng. Đoàn xe dài, xe tiếp nối xe; rocket phóng vun vút từ phi cơ, rocket nối tiếp rocket; tôi say mê săn mồi, những con mồi cháy rực tan tành dưới sức tàn phá của từng quả anti-tankrocket. Bỗng toàn thân tàu rung chuyển, sức va chạm của hàng loạt đạn phòng không gây chấn động dữ dội. Tôi lết phi cơ đang liếm sát mặt đường ra khỏi vùng giao tranh, và báo cáo tình trạng khẩn cấp. Phi trường nhôn nháo với hàng dãy xe cứu hỏa, ambulance, quân cảnh và Phi Hành đoàn chuẩn bị cứu cấp. Bụng và cánh phi cơ bị lủng mười lỗ lớn, Inlet screen trái bị bẻ quằn lại, kính windshield mẻ lỗ chỗ do bởi… đá cục và mảnh rocket của tôi bắn ra văng lên trúng! Thì ra chính vì bay quá thấp mà tôi đã tự bắn mình chứ không trúng đạn phòng không như đã tưởng nghĩ.

— Bay như chú mầy có ngày Không Quân dẹp tiệm vì hết máy bay.

Đại Tá Không Đoàn trưởng buộc lòng phải khiển trách cái tinh thần chiến đấu tích cực quá đáng của tôi.

Tôi nhớ đến một phi vụ khác: Phí vụ Tử Thần. 

Phi Vụ Tử Thần 

Những năm trước 1965, khi nói đến những chiến công hiển hách của không lực Việt Nam Cộng Hòa, người ta thường nhắc đến những phi vụ oanh tạc miền Bắc. Nhưng từ khi các mặt trận giao tranh đã dần dần bị đẩy lùi về miền Nam, và đặc biệt sau khi Phi công Hoa Kỳ và các loại máy bay hiện đại như B52, F4, F105, A7… không còn trực tiếp tham chiến sau ngày Việt Nam hóa chiến tranh, và Không Quân VNCH đã trở thành nỗ lực chính duy nhất yểm trợ các đơn vị bạn dưới đất, một trong các trận oanh kích được đánh giá cao và thường được nhắc nhở là kỳ tích đánh sập cầu Dziên Bình của không đoàn 92 chiến thuật Phan Rang. 

Cầu Dziên Bình là một chiếc cầu chiến lược quan trọng, con đường tiếp tế từ vùng ngã ba biên giới vào mặt trận Kon Tum đã được Hoa Kỳ kiến trúc bằng bê tông cốt sắt thật vững chắc trong Phi Vụ Tử Thần. 

Những năm trước 1965, khi nói đến những chiến công hiển hách của Không Lực Miền Nam, người ta thường nhắc đến những phi vụ oanh tạc miền Bắc. Nhưng từ khi các mặt trận giao tranh đã dần dần bị đẩy lùi về miền Nam, và đặc biệt sau khi Phi công Hoa Kỳ và các loại máy bay hiện đại như B52, F4, F105, A7… không còn trực tiếp tham chiến sau ngày Việt Nam hóa Chiến tranh, và Không Quân VNCH đã trở thành nỗ lực chính duy nhất yểm trợ các đơn vị bạn dưới đất, một trong các trận oanh kích được đánh giá cao và thường được nhắc nhở là kỳ tích đánh sập cầu Dziên Bình của Không đoàn 92 Chiến thuật Phan Rang.

Cầu Dziên Bình là một chiếc cầu chiến lược quan trọng, con đường tiếp tế từ vùng ngã ba biên giới vào mặt trận Kon Tum đã được Hoa Kỳ kiến trúc bằng bê tông cốt sắt thật vững chắc trong những năm trước. Theo nhận xét của các sĩ quan tình báo vùng II, chiến thắng Dziên Bình đã làm trì trệ nặng nề công việc tiến công xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Nếu không có trận Dziên Bình, chắc chắn ngày Quốc Hận được dời về một thời điểm nào đó vào cuối năm 1974 thay vì 30-4-1975.

Phi Vụ Tử Thần bắt đầu từ một buổi họp khẩn cấp do Đại Tá Không Đoàn trưởng Lê Văn Thảo triệu tập tại Phi đoàn Ó Đen 548 và mở đầu bằng những lời giận dữ:

—    Các anh biết rằng, chúng ta đã áp dụng chiến thuật đánh BOBS (Beacon Only Bombing System) suốt hơn nửa năm vẫn chưa hạ được cầu Dziên Bình. Đó không phải là lỗi của ta, mà là lỗi kỹ thuật của Trung tâm Hướng dẫn BOBS. Điều không thể chấp nhận là sáng hôm nay, buổi sáng xuất quân đầu tiên với kế hoạch tấn công mới, Phi Hành đoàn cảm tử gồm hai người của Đệ nhất Phi đoàn Phản lực A37 lại quyết định rút lui một người sau một tháng tập luyện ròng rã loại bom mới snack eye. (Một loại bom nổ dùng thả ở độ thấp, sau khi được thả, một hệ thống dù sẽ trì hoãn tốc độ rơi của bom, giúp cho Phi công có đủ thì giờ đưa phi cơ ra khỏi vùng sát hại.) Bây giờ các anh, phi đoàn A37 trẻ tuổi nhất Không Lực, các anh có tình nguyện đảm nhận trách nhiệm nặng nề này không?

—   Phi công Không Quân VNCH không thiếu gì lúc phải bốc thăm vì số tình nguyện nhiều hơn số nhu cầu. Hình như chết đến nơi vẫn cười là một đặc tính cố hữu của những người lính mặc áo liền quần. Họ sống thật hồn nhiên, không tính toán, đi vào lửa đạn như đi dạ vũ, không khoác lác, không so bì, không kèn cựa.

—   Thế nhưng, đặc biệt với cầu Dziên Bình, người cảm tử quân cầm chắc cái chết. Phi đoàn 524 có lý do chính đáng để rút lui một trong hai chiếc phi cơ, bởi vì yếu tố bất ngờ chỉ dung tha phi cơ đầu tiên, chiếc thứ hai chỉ là một con mồi thiêu thân trong chiến thuật xung kích. Trận địa phòng không với hai Trung đoàn Pháo Cao xạ danh tiếng nhất miền Bắc kết hợp với Hỏa tiễn Tầm nhiệt SA7 cùng hàng ngàn súng lớn, nhỏ khác của ba Trung đoàn Bộ binh Cộng Sản bố trí theo chiến thuật đan lưới để giữ vững một đầu cầu chiến lược quan trọng bậc nhất của vùng ba biên giới Việt Miên Lào. Thiếu Uý Bá đã ví von một cách sống động và đầy ấn tượng về sự khủng khiếp của hệ thống phòng không Dziên Bình:

— “Về đêm Dziên Bình bắt đầu khai hỏa trông giống như thành phố San Francisco vừa lên đèn!”

—   Phi đoàn Ó Đen 548 do Trung Tá Trần Mạnh Khôi (Ó Đen 01) chỉ huy là một loại hậu sinh khả úy, đã gây nhiều sóng gió khắp chiến trường. Nhưng sự hi sinh thảm khốc của sáu Phi công Phi đoàn trong một thời gian ngắn đã làm nhiều bàn tay lưỡng lự, nhiều quyết định đắn đo thận trọng. Nào Hỷ bị phòng không 57 ly bắn tử thương trên vùng trời Mộc Hóa không lấy được xác. Nào Thức bị gãy cánh bay tại Ban Mê Thuật, chết không toàn thây. Nào Kỷ rơi một cách thầm lặng khi hai trái bom vừa rời khỏi cánh trên đỉnh núi Bà Đen. Nào Anh cắm mũi phi cơ xuống một hồ nước ở trên vùng phụ cận Đà Lạt, và hai người bạn Phi công khác, đâm sầm phi cơ vào núi chết tan xác, chỉ còn lại hai nón bay, sau một phi vụ trở về trong lúc thời tiết xấu cùng cực. Sự im lặng nghiêm trọng bỗng òa vỡ như tiếng xì lớn của một quả bóng quá căng vừa bị đâm thủng khi tôi đứng dậy, xung phong tình nguyện.

—   –    Lý Tống!

—   Tôi nói gọn, đảo mắt nhìn quanh tìm kiếm những đồng minh cảm tử trong Phi vụ Kamikaze:

—    Ê!  Sư phụ chơi chứ!

—    Thiếu Tá Nguyễn Tiến Xương (Ó Đen 04) lấp bấp, ấp úng:

—     OK. Sợ gì!

—    Tôi hất mặt về phía phải:

—     Ê! Minh chù, mầy còn chờ gì nữa!

—    Trung Uý Minh (Ó Đen 08) trọ trẹ giọng Huế: 

—     Đâu có ngán. Đồ đất sét!

—    Lúng túng chưa biết phải bắt cóc thêm tay độc thân lì lợm nào nữa thì Thiếu úy Hóa, một Phi công trẻ vừa du học Hoa Kỳ về, một tay điếc không sợ súng hăng hái đưa tay tình nguyện.

—    Phi Vụ Tử Thần bắt đầu vào buổi sáng mờ sương tại phi trường Pleiku Vùng II Chiến Thuật. Bốn chiếc phi cơ cảm tử kamikaze A37 cất cánh rời phi trường Pleiku. Đến không phận Kon Tum, phi cơ xuống cao độ dưới 500 feet, bay vòng, chờ giờ hẹn.

— Black Eagle combat formation.

—Tiếng Leader Xương vang lên ngắn gọn. Bốn phi cơ theo đội hình chiến đấu bay “trên ngọn cỏ, dưới ngọn cây” hướng về cầu Dziên Bình. Trời mù tối vì thời tiết xấu. Chúng tôi bay len lỏi giữa các sườn núi thấp mây mù phủ kín bầu trời, thỉnh thoảng giật thót mình kéo mạnh cần lái vì những ngọn cây cao chợt xuất hiện trước mũi phi cơ. Sự phối hợp tác chiến khá chặt chẽ, khi 40 phi cơ do Đại Tá Thảo chỉ huy bay 20.000 feet vừa rải thảm hàng loạt bom xuống khu vực cầu Dziên Bình để đánh phủ đầu trận địa phòng không địch, và khi cột khói cuồn cuộn bốc lên, Thiếu Tá Xương cũng vừa báo cáo: “Số 1 in hot.” Chiếc phi cơ từ dưới một khe suối bất ngờ phóng lên lấy cao độ rồi đâm bổ nhào xuống thả một loạt sáu trái bom. Bom cày nát con đường nhựa rộng và chấm dứt tại mép đầu cầu.

—     Hơi ngắn. Số 2 off left.

—    “Hóa nhí” quẹo trái, lủi dài theo bờ sông tẩu thoát sau khi ném một loạt bom rơi lỏm bỏm xuống sông, cặp sát mép trái cạnh cầu. Tiếng Không Đoàn trưởng gào thét trên tầng số khi số 2 vừa nghiêng cánh vào mục tiêu:

—     Phòng không rát quá. Tất cả ra khỏi vùng, hủy bỏ phi vụ!

—    Tiếng hối thúc, tiếng la hét ngập ngụa trong nỗi kinh hoàng sợ hãi, trong nỗi cuống quýt lo âu.

—     –  Ra hết. Nhanh lên không chết hết.

—    Tinh thần trách nhiệm đối với sự an nguy của Phi công trong Không Đoàn đã buộc Đại Tá Không Đoàn Trưởng thay đổi ý định trong giờ phút hiểm nghèo nhất. Tôi mím môi, giả điếc, phải chơi đến cùng dù phải gãy cánh tại đây. Tôi ôm mối hận Dziên Bình nửa tháng qua, tôi phải rửa hận, phải phục thù. Phục thù chính bản thân mình bởi vì, trong một phi vụ đánh BOBS, phi tuần 12 chiếc A37 do Đại úy Nguyễn Bảy (Ó Đen 05) lead, trong khi đang bay 20.000 feet và thả bom theo tín hiệu radio hướng dẫn, tôi đã tự ý lén bỏ formation, một mình len lỏi qua các tầng cao độ dày đặc đạn phòng không. Đạn 23 ly rải những cánh hoa đen tử thần trên không trung như những bông sen chen chúc trên mặt hồ sen. Những hoa khói 37 ly treo lơ lửng như những chùm lan rừng. Thiếu Tá Trần Thanh Minh (Ó Đen 03) từng theo Tướng Nguyễn Cao Kỳ bay chinh phạt miền Bắc đã phải thú nhận:

—     Suốt cuộc đời bay bổng, tôi chưa từng thấy trận địa nào phòng không kinh khủng như cầu Dziên Binh.

—    Tôi len lách giữa các ngón tay bạch tuột nhám nhít độc địa đang líu quíu vồ chụp cánh chim sắt, nghiêng cánh ở turning base, cao độ 4,000 feet, đụng phải một đám mây nằm cản ở điểm quẹo in hot. Bị overshoot, tôi trượt cánh phi cơ vào mục tiêu, cố trườn tâm điểm kính nhắm vào giữa cầu và bấm bom. Vì ảnh hưởng lực ly tâm do đạp ép rudder quá mạnh, tất cả loạt bom chém trượt thành cầu rơi bỏm xuống sông. Nếu tôi đừng vội, nếu tôi bình tĩnh làm một dry pass quành lại một vòng khác rồi bấm bom, nếu tôi… Làm sao để tự thắng được cái bản ngã yếu đuối, làm sao để tự chủ trong những giờ phút cô đơn đầy hiểm nghèo đã trở thành người bạn đồng hành của người lính “chết không chiến trường” như những Phi công. Tôi đau khổ trằn trọc nhiều đêm vì chữ nếu. Phải phục hận! Tôi bổ nhào phi cơ xuống mục tiêu, khói của loạt bom “Hóa nhí” che lấp chiếc cầu, tay tôi khựng lại khi ngón cái đụng vào nút đỏ bấm bom trên cần lái:

— Số 3 dry pass. Tiếng nói khô, sắc, lạnh lùng bất chợt phát qua cổ họng tôi. Tôi gặt mạnh stick về phía phải, tiếng gào của Đại Tá Thảo trên tầng số khàn đặc và thất đảm:

– Ra ngay, ra ngay, phi vụ hủy bỏ.

—Tôi không còn thấy lưới đạn phòng không vây bọc quanh mình. Phi cơ bị chòng chành mạnh bởi những khối lửa và sức nổ của họng súng phòng không, bởi những khối không khí hỗn loạn do sức đạn phóng đi. Lưới đạn lửa giăng kín hạn chế tầm nhìn xa.

—     Số 4 in hot.

—    Nhiều tiếng la lớn trên tầng số:

—     Sập rồi! Sập rồi!

Trung úy Minh (biệt danh Minh Chù, người được Hà Thúc Sinh nhắc đến trong “Đại Học Máu” không biết đã chết hay bị di chuyển đến một trại tù đặc biệt nào sau 1975) là số 4 chót, nhưng bất ngờ dứt điểm một cú đẹp đầu tiên. Tôi quành lại, bổ nhào xuống góp những trái bom khiêm nhường đánh bồi vào chiếc cầu vĩ đại đang sụp đổ. Vừa cất mũi phi cơ lên, tôi thót giật mình vì một quả hỏa tiễn Sam phóng lướt qua đầu. Không phải! Đại Tá Võ Văn Ân, Không Đoàn phó, một sư phụ chịu chơi, vừa chơi bạo một cú low pass trên cầu Dziên Bình để tìm cảm giác. Không đoàn 92 Chiến thuật Không quân Phan Rang được tưởng thưởng gần 100 huy chương có giá trị và một số tiền lớn để tổ chức liên hoan. Trong lúc cụng ly, Thiếu Tá Nguyễn Thượng Tứ cười góp ý:

—Thằng đánh sập cầu Dziên Bình trái bom đầu tiên thật tuyệt. Nhưng thằng tình nguyện, động viên anh em tình nguyện và dám làm một go around trên cầu Dziên Bình còn đáng phục gấp bội!

Sau chiến thắng Dziên Bình, Phi đoàn 548 thừa thắng xông lên nện một vố thật mạnh làm tan tác Tiểu đoàn chủ lực của Sư Đoàn Sao Vàng Cộng Sản, trong một phi vụ vào một đêm giông gió cuồng loạn. Phi vụ thành công do một lỗi lầm của tôi vì Thiếu Tá Chấn (Ó Đen 02) leader, sau khi cross check, thấy phi đội hầu như đang bay trên vùng Phi trường Phù Cát, cho rằng đài BOBS nhầm lẫn nên không bấm bom. Tôi vì quen tay, nghe tiếng “tè…” tín hiệu dài là ấn nút nên tất cả Phi công trong đội hình bám theo phía sau đều đồng loạt thả bom theo loạt bom đầu của phi cơ tôi. Tôi bị khiển trách trên đường về thì… tin đại thắng bay đến vào sáng hôm sau, bởi Cộng Quân đã đột nhập đến sát vòng đai phi trường, và chính những trái bom tưởng thả nhầm lại tiêu diệt toàn bộ địch quân. Số tử thi địch quá nhiều không chôn kịp trong một tuần lễ đã sình thối làm nồng nặc cả vùng Phi trường Phù Cát.

Ó đen

Lý Tống

Post by Sơn râu 19 Apr 2025

Phần 3

Trở Về Nha Trang, Thành Phố Biển 

Sau khi qua khỏi Đèo Cả một đoạn, tôi xuống xe đi vòng ra bãi biển theo lời chỉ dẫn. Những người chài lưới đang bận bịu với việc vá lưới và chuẩn bị ghe tàu. Người lơ xe chạy bộ ngược trở lại để đón tôi. Tôi khỏi trả tỉền xe, lại còn được biếu đôi dép mới và mời ăn trưa tại quán. Tôi về nhà người bà con nhưng họ đi vắng, đám cháu chắt ngày trước giờ lớn lên chẳng biết ông khách lạ là ai. Tôi vào nhà ngồi nghỉ, chờ đợi. Cảnh giác và báo cáo là bài học căn bản của các cháu nhi đồng của “Bác.” Các em còn có nhiệm vụ theo dõi và báo cáo tất cả hành động của cha mẹ mình cho chính quyền huống gỉ một người khách lạ. Nếu không phát giác kịp điều đó, có lẽ tôi đã bị công an khu vực tóm tại chỗ. Tôi đành rời nhà ra bãi biển. Một người con gái đạp xe ngược chiều vẫy tay chào và gọi tên:

— Lý Tống.

Tôi cười chào lại, tiếp tục đi. Được nhiều người biết có lúc thật bất lợi. Tôi chọn những đường vắng, tránh gặp người quen. Bờ biển Nha Trang, mười lăm năm trước, mỗi sáng chúng tôi vừa ngủ gật vừa chạy từ Quân trường, Căn Cứ Huấn Luyện Không Quân Nha Trang, ra Bưu điện. Trên đường về, bị lùa xuống khối nước biển lạnh cóng là một trong những sự tập luyện và là hình phạt thuộc Thời kỳ Huấn nhục của Sinh viên Sĩ quan Không Quân.

Bao cuộc tình sôi nổi trên bãi biển thơ mộng ngày xưa.

Bãi biển ban trưa nằm phơi mình dưới nắng ấm, những dấu tích tình yêu còn phảng phất đâu đây. Nầy gốc thông nơi Hồng run rẩy trong nụ hôn đầu đời. Nầy ghế đá Mộng dựa đầu vào vai tôi thiêm thiếp ngủ.

“Tay anh em hãy gối đầu

Trăm con chim mộng bay về đầu non.

Ngủ đi em mộng bình thường.

Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ.”

Tôi thầm thì hát.

Tôi ngồi xuông cát, cơn gió nhẹ vọng lại âm vang lồng lộng của biển khơi, từng tiếng sóng xô bờ dào dạt. Tôi run rẩy trong nỗi hạnh phúc tuyệt vời. Biển ơi! Đã bao lần đi biển, có bao giờ ta cảm nhận được cái sức thu hút kỳ lạ của ngươi? Cái mặt nước mênh mông vĩ đại kia dục dã những niềm khát khao tự do tuyệt đối. Thiên nhiên hùng vĩ giải thoát tâm hồn con người ra khỏi những chật chội tù túng của cuộc sống. Tưởng tượng trong giờ phút hạnh phúc nầy, tôi bước xuống biển bơi mãi, bơi mãi… cho đến khi kiệt sức, rồi đắm chìm trong cái lòng biển êm đềm sâu thẳm kia. Khoảnh khắc tự do ngắn ngủi phù du đó đáng để đánh đổi cả một đời dài tù ngục. Năm năm trời gian khổ như một lớp bụi mỏng. Vừa ngâm người xuống nước, những vết tích nhục nhằn đã trôi đi, tôi quên hẳn mình là tù vượt ngục. Chẳng còn sự nguy hiểm, rình rập nào làm bận tâm trí mình, tôi chợt nghĩ đến một trong những người bạn gái. Những ngày tháng rực rỡ năm xưa, những mảnh bikini sắc màu sặc sỡ, những thân hình con gái dậy thì mơn mởn. Nỗi khao khát của sáu năm thiếu vắng, mùi hương da thịt năm xưa còn ngất ngây đâu đây, cảm giác đê mê của hai thân thể…

Tôi đón xe xích lô đến nhà Thu An. Sự mừng rỡ xen lẫn nỗi sợ hãi làm Thu An bối rối. Tôi hẹn gặp Thu An ngoài bãi biển. Thu An đến cùng hai em trai. Trong xã hội có quá nhiều tên mật thám, sự cẩn trọng là điều kiện an toàn cơ bản. Tôi sẽ ra đi và Thu An sẽ ở lại, những rắc rối phiền nhiễu có thể xảy ra. Chúng tôi chỉ bồi hồi ngồi nhìn nhau rồi Thu An chia tay sau khi tặng tôi một số tiền đi đường và cho người em trai đi tiễn.

Tuấn, em trai Thu An, có chút tình giao hảo cũ, lên xe đạp chở tôi đi vòng quanh để xem lại thành phố đầy dấu tích kỷ niệm. Tôi nép sát đầu vào vai Tuấn để che khuôn mặt quá quen thuộc của mình. Rạp xi nê Tân Tân vẫn còn tấp nập những cặp nhân tình. Kìa bệnh viện Nguyễn Huệ, một tháng dài nằm trị bệnh vẫn còn rõ mồn một từng nhân dáng. Thời gian đó có một số sinh viên Sĩ Quan Hải Quân nằm chung phòng với tôi. Việt Cộng pháo kích ngay Trung tâm Huấn luyện và họ, kẻ bị lãnh mảnh đạn vào chân phải đi khập khểnh, kẻ phải bị băng bó vì phỏng thân mình, tôi chỉ bị bệnh nhẹ nên thỉnh thoảng leo hàng rào bệnh viện ra phố đi chơi. Có lần tôi dẫn một cô bạn gái vào phòng và đùa giỡn tại đó, để chọc đám sinh viên Hải Quân. Chúng tôi giả vờ lấy drap trùm người lại, nằm trên giường ôm hôn và âu yếm nhau. Cả đám Hải Quân mặc dù không đứng dậy nổi vẫn ráng ngóc đầu lên, làm bộ mỗi đứa cầm một tờ báo đọc, nhưng thực sự đã lây điếu thuốc đốt xoi một lỗ nhỏ để rình theo dõi cảnh tự tình đầy hấp dẫn và gay cấn diễn ra trên giường bệnh viện trước mắt. Khi cô bạn gái ra về, tôi bị đám bạn bu lại chửi bới:

—Thằng bạn khốn nạn. Mầy cứ tái diễn cảnh nầy hoài chắc tụi tao phải cưa chân luôn quá.

Sau khi đi một vòng, Tuấn chở tôi vào một quán nhậu bình dân khá đông khách, may mắn là không gặp ai quen, chúng tôi chọn một góc kín, kêu món nhậu và rượu. Lâu ngày được ăn ngon và uống rượu, tôi ăn uống thỏa thích bù những ngày gian khổ. Tuấn nhậu vào càng nhiều lại nói ra càng dữ, khổ nỗi là anh chàng lại chỉ nói toàn tiếng Anh, cái giong mũi có accent của môt “ông Mỹ” đã làm một số khách ngồi bàn gần để ý và tôi cũng nhức tim không ít. Không lẽ bạn đang vui mà tôi lại ngăn cản, và hơn nữa đã lỡ mang tiếng lì lợm, dữ, khó lòng yêu cầu Tuấn nói nhỏ lại hay nói tiếng Việt Nam. Tôi biết là cái lì nầy sử dụng không đúng lúc, không đúng chỗ, nhưng cũng đành phải lì, hơn nữa cái bốc hứng của rượu ngà ngà làm tôi đành măng phú tất cả. Kệ mẹ nó, tới đâu thì tới, cứ vui chơi thoải mái cho một buổi nhậu tao phùng. Đến khi người ngồi bàn kế cận đột nhiên nói xen vào một câu tiếng Anh để cảnh giác chúng tôi:

_ Có mấy tên công an mới vào quán, hai ông nên cẩn thận.

Lúc đó Tuấn mới sực nhớ lại hiện trạng của tôi, một tên tù đang trên đường vượt ngục bôn tẩu, mới chịu ngưng câu chuyện và rời đi chỗ khác. Chúng tôi đến một quán cà phê nhạc để thưởng thức tiếp buổi tối phù du sắp tàn. Tôi run rẩy thưởng thức từng điếu thuốc ngon, từng ngụm cà phê nồng nàn, từng lời nhạc vàng mộng mị. Đã dễ chừng gần sáu năm tôi không hề được nghe công khai những loại nhạc tình cảm nầy. Ở trong tù bọn cán ngố cấm triệt để “nhạc ngụy,” và chúng tôi chỉ hát lén hoặc nghe lén khi có người canh chừng để báo động.

Thì ra ở ngoài phố vẫn có những quán dám chơi nhạc vàng công khai. Thật “phép vua thua lệ làng.” Bọn Cán bộ mỗi Phường đều có quyền riêng của một ông vua trong vùng cai quản của mình. Bọn họ cũng thích nghe nhạc vàng và nhất là khi được đút lót, cũng làm ngơ để cho một số quán thỉnh thoảng xen kẽ chơi nhạc vàng để câu khách. Tôi mơ màng nhìn cô chủ quán ngồi nghiêng nghiêng ở quầy hàng, trông đẹp như một bức tranh.

Thật hạnh phúc! Phải ở cảnh ngộ như tôi mới thây trân trọng những giờ phút thần thánh quí báu đó. Có được bao người khách đang ngồi cùng tôi trong đêm nay cảm nhận được cùng một nỗi hạnh phúc tuyệt vời như vậy? Trong cảm giác ngây ngất của rượu, của nhạc, của nhan sắc, tôi giã từ thành phố lên đường. Tôi phải tiếp tục ra đi vì Tuấn cho biết phi trường Nha Trang đã lâu không có hoạt động của phi cơ.

Trong khi chờ đợi tàu hỏa, Tuấn đưa tôi đến nghỉ tạm tại một lò bánh mì, chào hỏi nói chuyện với vài người thợ đang làm đêm và bảo tôi nằm chờ Tuấn. Tôi nằm đu đưa chiẽc võng đã quá cũ, tưởng chừng như không chịu đựng nổi sức nặng khiêm nhượng của thân thể gầy gò của mình. Tuấn đi quá lâu ngoài sự dự trù, tôi đang nằm mơ màng thì có tiếng hỏi:

—     Ai nằm đây?

Tôi bật người ngồi dậy.

—     Chào anh. Tôi là bạn Tuấn. Tôi nằm đợi Tuấn.

—     Tuấn nào?

Tôi cố diễn tả Tuấn là ai, nhưng người chủ tiệm bánh mì vừa đi đâu trở về vẫn không hiểu. Tôi bảo:

—     Mấy nhân công của anh cũng biết Tuấn mà. Tuấn bảo Tuấn là bạn của anh.

Người chủ lại hỏi hai người làm công về Tuấn, họ cũng có vẻ bỡ ngỡ hình như không quen biết Tuấn lắm, bảo:

—     Có một ông dẫn ông nầy lại mua bánh mì ăn. Chúng tôi bận làm bên trong nên cũng không để ý lắm.

Tôi bối rối vô cùng, người chủ tiệm nhìn tôi nghi ngờ. Tôi bâng khuâng không biết nên bỏ đi hay vẫn ngồi đây chờ Tuấn. Có lẽ tôi phải đi, bởi vì ở tại đất nước nầy, chẳng có ai dám chứa người lạ trong nhà về đêm. Tôi cố trình bày và phân trần để tìm cách rút lui. Trong cơn hoang mang, lo lắng, bỗng xe Tuấn xuất hiện đầu ngõ. Tôi mừng rỡ vội vàng chào chủ nhà và đi ra đường, trách Tuấn:

—     Bạn làm tôi nhức tim quá! Tay chủ tiệm chẳng biết bạn là ai cả.

—     Có lẽ lâu ngày tôi không ghé lại nên nó quên đó. Thôi, bỏ qua chuyện đó đi, mình lên ga xe lửa là vừa.

Nhà ga xe lửa vẫn sinh hoạt rộn ràng về đêm, hành khách nằm ngồi ngổn ngang đây đó chờ giờ lên đường. Một vài tên công an mang súng đi đi lại lại làm phận sự an ninh khu vực. Tuấn ghé vào một quán ăn mua một gói thuốc. Tôi đứng sững người trước ánh sáng ngọn đèn néon hắt ra từ trước cửa tiệm: Thằng Tuyết “cận thị” đang ngồi ăn khuya trong đó. Hắn là tù cùng Trại tù A30 vừa được phóng thích cách đó vài tháng. Ở Trại  A30 hắn nổi tiếng là một tay ăng ten đắc lực. Chết mẹ rồi! Máu ăng ten là một loại máu độc, lúc nào cũng cồn cào rạo rực trong người những tên luôn tìm cách báo cáo hãm hại kẻ khác để tìm một ân sũng, một công trạng, và năm ngàn tù binh ở Trại  A30 ai lại không biết Lý Tống huống gì Tuyết. Tôi không biết nó có kịp thấy tôi không, có lẽ đôi mắt cận thị đã không cho phép nó nhìn xa ra ngoài để nhận diện được tôi, hoặc nó đã thấy và đang tìm cách báo cáo cho bọn công an đang quanh quẩn gần đây.

Tôi quay người bước vội đi lẩn vào đám đông, hối Tuấn mau mua vé xe lửa vì tình trạng quá bất an và vẫn để mắt trông chừng xung quanh coi xem động tĩnh. Tuấn đi lòng vòng trong nhà ga để tìm cô bán vé quen biết. Giờ nầy cửa phòng bán vé chưa mở, cô bán vé không biết đã đến chưa. Tình trạng khá bi thảm và khẩn trương, bất ngờ Tuấn thấy cô ta vừa dựng xe đạp ở hành lang bên trong, bước tới chào hỏi và nói chuyện.

Phải công nhận Tuấn có tài ngoại giao thật khá. Chẳng biết làm thế nào mà Tuấn gạ gẩm mua được một vé ở ngoài phòng bán vé, khi ở cái xứ Cộng Sản nầy việc mua một cái vé phải tốn nhiều giấy tờ chứng minh, chưa kể phải đứng sắp hàng hằng tiếng đồng hồ. Chúng tôi đi vòng ra phía ngoài, rồi lợi dụng bóng tối lẩn theo đường rầy để đi vào chỗ xe lửa đậu. Chỉ có cách đi vào bất hợp pháp đó thôi, bởi vì đi qua cửa chính lại phải trình giấy tờ kiểm soát. Tôi chào Tuấn lần cuối, rồi leo lên xe lửa, trèo lên giá sắt đựng hành lý trên đầu các dãy ghế ngồi, nằm xuông nghỉ. Tôi nằm một mình trong bóng đêm và bắt đầu thiêm thiếp ngủ trong khi ngoài kia có lẽ Ty Công An Phú Khánh đã nhận được tin báo của Trại Tù A30 về trường hợp một tên tù vượt ngục và đang bủa lưới vây bắt.

Trở Về Sài Gòn, Thủ Đô VNCH. 

Trời sáng dần và hành khách bắt đầu tấp nập lên xe lửa. Một vài thanh niên có vẻ bụi đời cũng bắt chước tôi leo lên nằm trên khoang hành lý vĩ sắt vì bên dưới chật chội thiếu chỗ ngồi, dù ngồi dưới sàn. Xe lửa chạy cùng với sự nhộn nhạo, ồn ào hỗn tạp của đám hành khách. Đằng góc xe lửa có một nhóm bộ đội miền Bắc đang ngồi hút thuốc lào, có lẽ họ được chuyển vào công tác ở Sàigòn. Tôi nằm ngủ gà ngủ gật, đến gần trưa thức dậy và kêu cơm nước để ăn uống khi xe lửa đậu tại một nhà ga dọc đường. Đám con buôn bán hàng rong đang cố chen lấn lên xe lửa, gào rống, la hét để bán thức ăn.

Đã đến giờ toán kiểm soát vé trên xe lửa làm việc. Có mấy người dân không có vé đang bị mua vé phạt với giá cao; có một ông già ăn mặc dơ dáy rách rưới đang bị đẩy xuống xe lửa vì không có vé và không có tiền mua vé. Ông ta xuống xe lửa rồi lại bám leo lên khi xe lửa bắt đầu chuyển bánh. Đám soát vé lại ruồng theo bắt ông già ù lì. Nơi kia lại có những người cò kè thêm bớt, xin xỏ khi phải bị mua vé phạt. Tôi leo xuống sàn xe lửa, đứng lẫn lộn trong đám khách chờ soát vé. Tôi cũng cười, cũng chỉ chỏ, cũng bình phẩm trong bối cảnh hỗn loạn với nhiều cảnh éo le tức cười của sinh hoạt xe lửa phức tạp. Không hiểu sao hai tên soát vé lại bỏ sót tôi, vé cầm trong tay sẵn sàng đưa ra khi bị hỏi, nhưng họ cứ lấn tới, cứ nạt nộ, rồi lại đi qua. Mua được một cái vé thật nhiều gian truân thế mà cái vé giờ nầy lại không cần sử dụng tới, tôi mỉm cười tự nhủ:

— Nếu trên đời nầy có những kỷ vật quí giá cần giữ làm kỷ niệm, thì cái vé xe lửa không bị bấm lỗ nầy thật xứng đáng được giữ kỹ trong ký ức cuộc đời thăng trầm giông bão của ta.

Xe lửa, xe đò, nói chung những phương tiện chuyển vận đường xa đã trở thành những công cụ để đám viên chức nhà nước Cộng Sản hối lộ, làm tiền một cách trắng trợn nhất. Với xe đò, những con buôn nhỏ thường bắt bồ với tài xế để nhờ họ dấu diếm dùm vài chục cân thịt, hoặc thuốc tây, hoặc những sản phẩm địa phương ở những chỗ kín đáo dành riêng đặc biệt. Khi đến trạm kiểm soát, lơ xe lúc dẫn công an đi khám xe, thường ăn ý nhau để bỏ qua, đồng lõa để chia sẻ mối lợi. Vì thế mà giới buôn bán hàng lậu xe đò thường thường là phụ nữ, tương đối còn trẻ và có nhan sắc, bởi vì không những chỉ chi tiền, một số còn phải dan díu với lơ xe và tài xế, trở thành những nhân tình tạm bợ, để khi đến một tỉnh khác, trong khi bán hàng và chờ trở về, hẹn hò nhau tại những khách sạn bình dân gần các bến xe.

Tài xế, lơ xe trở thành giới đàn ông đào hoa nhất trong cái xã hội muôn mặt dưới chế độ Cộng Sản. Riêng với xe lửa, phương tiện chuyển vận hữu hiệu hơn, các con buôn có thể chở lậu hàng chục bao gạo, hàng trăm, ngàn bó củi đốt, và một khi đã thỏa thuận giá tiền và địa điểm, xe lửa chạy chậm lại, người buôn lậu, ném hàng xuống dọc theo đường rầy và các xe ba-gác đã đứng chực sẵn, chất lên và chuyển đi.

Chuyến xe lửa tôi đi về Sàigòn đã xuống hàng an toàn tại bốn địa điểm, nhưng chuyến hàng thứ năm bị đổ bể vì công an được mật báo, rình sẵn và bắt trọn, tịch thu tất cả tang vật.

Cuối cùng xe lửa về đến Sàigòn gần 10 giờ tối. Tôi không chờ xe đến ga mới xuống, bởi vì ra cổng lại còn bị chận để soát vé một lần nữa nên đứng bám người ở bậc thang lên xuống và chờ khi xe lửa đi qua một khúc quành tối vắng, phóng người nhảy xuống đúng theo kỹ thuật: quay mặt về trước rồi nhảy lùi ngược hướng chạy của xe lửa. Tôi vừa học được cách nhảy đó của vài thanh niên đi cùng chuyến. Nhảy như vậy sẽ làm giảm sức kéo nhào về trước khi chân vừa chạm đất.

Đó là bài học đầu tiên khi tôi bắt đầu dấn thân vào cuộc sống lén lút bất hợp pháp cùng đám người sống trong bóng tối như tôi, tại thành phố đầy nhũng màu sắc bí ẩn của Sàigòn sau ngày bị mất vào tay bọn Cộng Sản xâm lược.

Tôi lại nhớ đến các cô cháu hờ bạn của cô cháu trong thời gian trốn lánh ở Sài Gòn. Làm sao tôi cưỡng được bốn, năm cô cháu văn nghệ thích nghịch ngợm bông đùa. Sáu năm tù chỉ làm già dặn những kinh nghiệm của một đời người, nhưng tình cảm, tâm hồn người tù vẫn dừng lại ở mốc thời gian cũ, trẻ trung. Tôi trở thành nạn nhân, một nạn nhân hạnh phúc, vì được lọt vào trong một tổ quỉ toàn đàn bà con gái và mỗi cô cháu văn nghệ đều tự cho mình là một đối tượng duy nhất, độc tôn. Cho đến cái ngày họ khám phá được sự thật về trái tim đa tình “Tỉ Can 9 lỗ” của ông chú hàng xóm thì một phiên họp khoáng đại được triệu tập khẩn cấp nhằm ngày tôi đi vắng. Họ trách Lan.

—     Đồ gian ác. Mầy làm mai làm mối, mầy âm mưu dụ dỗ tụi tao cho chú mầy.

Sau đó, Chi đe dọa:

—     Mỗi lần đi qua đây, tao sẽ ném đá chú mầy cho bõ ghét.

Phượng giận dữ:

—     Tao sẽ đi báo công an bắt chú mầy về tội vượt ngục.

Vân góp vào:

—     Tao sẽ “thiến” chú mầy.

Đến khi Lan tiết lộ: “Chú đi vượt biên đã mấy ngày, không biết có đi lọt hay bị bắt.” Thế là cả đám sụt sùi, bù lu bù loa khóc:

—     Trời ơi! Tội nghiệp chú! Cầu Trời phù hội cho ông chú đáng thương!

Ngày vượt ngục trốn về Sài Gòn, có lần đi ngang khu vục nhà người anh ở, nghĩ cái tình cũ, tôi tạt ghé vào thăm. Anh tưởng tôi được thả về, đón tiếp một cách mừng rỡ nhưng đến khi nghe tôi tiết lộ chuyện vượt ngục, anh hoảng hồn không dám chứa chấp vì sợ bị vạ lây. Bởi cái ám ảnh, cái ảnh hưởng của chế độ yêu quái đó, nên dù là người rất tình cảm, anh cũng phải tự hạn chế và thủ thân trong một hoàn cảnh nguy hiểm.

Không những chỉ những người có óc Cộng Sản, mà ngay cả những người quốc gia bị sống dưới chế độ Cộng Sản cũng phải dứt bỏ những liên hệ ruột thịt vì an toàn bản thân. Một người anh khác cùng mẹ khác cha cũng đã trần tình: “Ở khu vực nầy anh là người có cấp bậc cao nhất được phóng thích về nhờ bị bệnh, nhưng bọn cớm vẫn thường rình rập theo dõi. Nếu nó tóm được em ở đây, anh cũng tàn đời luôn!” Vì thế mà trong đêm đột nhập phi trường Tân Sơn Nhất trong kế hoạch đánh cướp máy bay, trong lúc nằm yên ổn nghỉ ngơi tại chỗ ẩn trốn, tôi đã làm hai câu thơ để tự thương cảm mình: 

Giữa lòng đất địch, ta còn có những đêm yên ngủ,

Trong lòng người thân, ta chẳng có một chốn nương thân.

Một Long “sức” cám cảnh gào lớn: “Trời ơi! Trung Tá Long, Trưởng phòng Hành Quân Chiến Cuộc mà lại ăn cháo heo!” trong khi tay vẫn không ngừng bốc những củ khoai sùng, nát, tôi vừa liều chun vào chuồng heo múc trộm.

Một cô gái trẻ đẹp, học thức, gia đình một thời quyền quí, bỗng cau có xẳng giọng “Mẹ sao kỳ vậy! Con làm việc đủ tiêu chuẩn thì mẹ cho con ăn đủ tiêu chuẩn chứ!” Miệng vừa nói tay vừa giật lại đĩa bánh bèo, khi người mẹ hiếu khách thấy tôi vào định chia sớt một ít để mời. Tôi lặng người, kinh hoàng, đau đớn. Từng chứng kiến cảnh tù nhân đói khát tranh giành nhau từng miếng cơm cháy, những cặp mắt so đo, thèm thuồng từng chút thịt chút cá trong những bữa ăn ngày lễ, tôi không ngờ một cô gái dễ thương, thánh thiện như Trinh lại có phản ứng kinh khủng như vậy.

Tôi nhớ đến người anh khác ở Sàigòn. Ngày tôi trốn về gặp anh lần đầu, anh ôm tôi khóc lớn đầy xúc động. Tôi ít đi lại thăm anh bởi ngại rằng hoàn cảnh vượt ngục của mình sẽ đem lại hậu quả nguy hiểm cho gia đình anh, hơn nữa nhà anh con cái đông, cũng đang gặp hoàn cảnh thiếu thốn. Một lần đang ngồi trên lan can lầu — chỗ trú ẩn hàng ngày của tôi, bởi vì ngồi ở đó thì dù bà chủ nhà hay xét nét kiếm chuyện có xuống thăm hoặc nói chuyện với cô cháu cũng không thấy được tôi vì phòng và hành lang có tường ngăn và cửa khóa, hơn nữa với bức mành kín dày phủ phía ngoài, tôi có thể ngồi đó học, thỉnh thoảng nhìn dưới đường xem thiên hạ qua lại để giải buồn mà không ai thấy được mình — tôi chợt thấy dáng dấp vội vã luống cuống của người anh bên kia đường. Anh vừa tiến về hướng tôi, đôi mắt thỉnh thoảng liếc nhìn lên lan can chỗ tôi ngồi trong dáng lén lút, kín đáo. Tôi chợt cảm thấy vui mừng nghĩ rằng anh đang đến thăm tôi, nhưng vì cẩn thận sợ bị theo dõi, nên vừa đi vừa cảnh giác. Anh băng qua đường, mắt đảo láo liên, bước đi vội vã, hình như anh vẫn biết tôi thường ngồi đó.

Tôi chuẩn bị mở cửa sẵn để anh khỏi gõ cửa, khỏi phải đứng chờ đợi lâu bên ngoài nguy hiểm, rồi đứng cạnh cửa đợi chờ. Khoảng khắc chờ đợi cứ kéo dài ra mãi, tôi ngạc nhiên vì từ thang lầu bước lên chỉ cần hai phút mà mười phút trôi qua vẫn không nghe tiếng bước chân người. Đợi chừng mười lăm phút, không thấy động tĩnh, tôi mở cửa đi xuống lầu xem xét, chẳng thấy anh đâu! Có lẽ nào tôi nhìn nhầm người khác? Không! Mắt tôi không đến nỗi tệ để không nhận ra người thân trong vòng mười mấy thước. Có lẽ nào?

Tôi chợt nghĩ đến một điều mà chỉ nghĩ đến tôi đã thấy đau xót toàn thân. Có lẽ nào? Không, tôi không thể tưởng tượng là tôi có thể nghĩ như vậy, và không thể nào có chuyện như vậy. Tôi muốn xác nhận rằng tôi vừa chợt có một ý nghĩ không đúng, tôi muốn phá bỏ cái ám ảnh kỳ dị kia. Tôi khóa cửa phòng đi xuống đường, đi vòng ra phía chợ, len lén đi về phía tiệm phở mà đã một vài lần anh dẫn tôi đến đó đãi ăn. Ôi cái xứ sở nầy, dưới chế độ nầy, đãi nhau một tô phở là phải thân tình lắm, phải quí nhau lắm. Cái sự thật đau lòng không tưởng tượng được lại đang nằm sờ sờ trước mặt tôi. Anh đang ngồi tít phía trong góc tiệm và cẩn thận hơn, lại xoay lưng ra ngoài đường. Thì ra khi đi qua đường, anh lén lút vì sợ tôi thấy, chứ không phải vì sợ bọn công an theo dõi. Anh sợ lại phải mời tôi ăn một tô phở nữa, và anh phải ngồi quay lưng ra ngoài để lỡ tôi có đi ngang qua đó sẽ không nhận được anh. Tôi lẳng lặng bỏ đi, lòng quặn đau vì nhũng thực trạng kinh khủng của cuộc đời trong xã hội mới.

Tôi chợt nhớ đến H.Y., một người bạn Phi công cùng Khóa 65A. H.Y. không những cùng Khóa, bay cùng Phi đoàn 122, mà lại cùng là bạn nhậu thân thiết của những ngày tháng cũ. Nhà H. Y. ngày trước giàu có, và dù Cộng Sản tịch thu một số xe cộ, tài sản vẫn còn tương đối khá hơn những người khác cùng cảnh ngộ. Ngày trốn tù về, tôi ghé thăm, vợ bạn tôi cho biết H.Y. vẫn còn đang bị ở tù ngoài Bắc. Vài tháng sau, tôi gặp một người bạn Không Quân khác cho biết H.Y. đã về rồi (và lại về trước cả ngày tôi đến thăm!). Không tin, tôi lại đến thăm H.Y. và lần nầy, may mắn hơn, tôi bất ngờ gặp được H.Y. đang đứng nói chuyện với một người khách trên hành lang. Tôi mừng rỡ gọi, và H.Y. xuống gặp tôi sau khi người khách lạ vừa về. H.Y. tay bắt mặt mừng, ngạc nhiên vì tưởng tôi đã chết trong trận đánh bom cuối cùng tại Cam Ranh. Chúng tôi kể hết từ chuyện tù đến chuyện ngày cũ và H.Y. hẹn tôi chúa nhật tuần sau trở lại cùng nhau đi nhậu một trận để tâm tình.

Chúa nhật tôi trở lại, bấm chuông và cô con gái lớn của H.Y. thò đầu ra cửa bảo tôi:

—     Bố đi chơi từ sáng đến giờ chưa về.

—     Cháu biết hồi nào bố về không? Bố có dặn gì không?

—     Dạ không. Bố đi có lúc đến tối khuya mới về, cháu không chắc.

Tôi nói nhắn lại:

—     Bố về nói có chú Lý Tống ghé thăm. Thôi chúa nhật đến chú ghé lại.

Chúa nhật sau tôi lại ghé thăm H.Y. Tôi nghĩ có lẽ tuần trước H.Y. bận chuyện bất ngờ và tôi cũng nôn nóng vì tình nghĩa của chúng tôi ngày trước. Tôi bước lên thang lầu, lòng hớn hở vui mừng khi nghe tiếng H.Y. đang đùa giỡn với các con trong phòng.  Ôi cái giọng thân thuộc nhừa nhựa, ồm ồm của H.Y., cái giọng đặc biệt đó mà ngày xưa mỗi lần đi tìm H.Y. chưa cần vào nhà, hoặc vào quán, tôi đã biết là có H.Y. bên trong hay không. Cái giọng đó gần sáu, bảy năm vẫn không thay đổi. Cái giọng đó cùng giọng của các đứa con H.Y. đang la hét, đùa nghịch bỗng tắt ngay, im hẳn khi nghe tiếng gõ cửa của tôi. Có giọng chú bé vọng ra:

—     Ai đó?

—     Lý Tống đây. Nói với bố có chú Lý Tống đến thăm.

—     Bố đi vắng. Không có ở nhà.

Giọng chú bé lạnh lùng vẳng ra sau một giây lưỡng lự như đang hội ý bên trong. Tôi bàng hoàng thảng thốt. H.Y.! H.Y.! Tôi không tin ở tai mình, tôi không tin điều đang xảy ra trước mắt mình. Tôi nghẹn ngào không nói được tiếng nào. Bên trong cũng im lặng ngột ngạt. Tôi cũng thấy ngột ngạt muốn tức thở. Một luồng khí độc trong người chợt bốc lên trí não làm tôi chóng mặt, xây xẩm, bước đi như một xác chết. Tôi không còn đủ sức để nhấc chân lên, dù tôi đang bước xuống lầu. Tôi tựa vào thang lầu, bám vào tay cầm để cho thân mình tuột xuốhg. Cái xác cứng đờ đó cuối cùng cũng đã ra khỏi được cầu thang, kéo lê qua cái sân rộng và thoát được ra cổng. Mắt tôi như kẻ bị thắt cổ, bị giết chết, căng toét vì kinh hoàng, ngạc nhiên. Có lẽ nước mắt không còn đủ để diễn tả nỗi đau đớn chấn động đó. Những giọt máu đã ứa ra từ mắt để tôi cảm thấy bầu trời đỏ bầm trong nỗi tuyệt vọng ghê gớm.

Nỗi đau đó nổ bùng lại ngày hôm sau, khi bất ngờ đang đi trên đường Võ Tánh, tôi bỗng chợt giật minh vì một tiếng động đằng trước. Ngoài những lúc cần phải cảnh giác công an cảnh sát chận đường để tránh, đôi lúc tôi đi mơ màng như người mộng du mà không hề để ý những diễn biến chung quanh. Thì ra H.Y. và vợ vừa dẫn xe qua đường định vào tiệm ăn sáng nhưng bất ngờ thấy tôi, sợ phải mời ăn, luýnh quýnh định quẹo xe gấp vào hẻm tránh, không may bàn đạp xe đụng vào gốc cây làm H.Y. bị vấp té theo xe. Tôi lẳng lặng làm như không thấy, nhìn lơ đãng bên kia đường và tiếp tực đi thẳng.

Vâng. Chỉ mới bước sang giai đoạn ngũ niên lần thứ hai sau ngày “giải phóng” chỉ mới áp đặt chế độ khủng bố tinh thần và thể chất trong vòng sáu năm, Cộng Sản đã biến đổi được tâm lý con người vượt quá hẳn những điều ta có thể tưởng tượng được.

Những sự thật cay đắng trần truồng phơi bày lộ liễu đây đó một cách thản nhiên, những điều mà chỉ mới tượng hình trong tư tưởng cũng đủ làm ta ngượng ngùng xâu hổ không yên.

Tôi nhớ những ngày bi thảm nhất của gia đình trong thời Pháp thuộc. Những ngày nhà thiếu gạo chỉ nấu một nồi cơm nhỏ. Cơm vừa dọn ra thì người chị lớn đã vội vã xúc một chén đổ xuống đất cho con chó già. Ôi con chó già gầy còm, rụng lông, ghẻ lở, vẫn sống dai dẳng không chịu chết. Có những lần trở trời bệnh hoạn, chó không ăn hết phần cơm, chúng tôi ngồi nhìn những hạt cơm thừa bừa bãi trên đất mà thèm thuồng, tiếc rẻ. Thật vậy, thời nô lệ Pháp, tâm tính con người vẫn chưa đến nỗi tồi tệ như thời nô lệ Cộng Sản.

 Sự quan sát bị hạn chế bởi những dãy nhà cao, bởi những hàng rào kẽm gai giăng đây đó. Tôi chợt nảy ra một ý định táo bạo. Và thật đáng phàn nàn, như một kẻ thường tự nhận là day dreamer, tôi ít khi ngần ngại lưỡng lự thực hiện sáng kiến bất ngờ nào đó của mình.

Tôi leo thang lên château d’eau trước Bộ Tư Lệnh khi mọi vật đều ngái ngủ trong giấc trưa oi nồng. Tại một cao điểm lý tưởng hai phần ba chiều cao, tôi đứng tựa lưng vào thành cột bê tông như kẻ hóng mát nhàn du quan sát toàn bộ phi trường. Phía Tây Đài Kiểm soát, phía bãi đậu Air Viet Nam, những chiếc Boeing ngạo nghễ giữa đám phi cơ hành khách dân sự của Liên Xô. Dọc theo phi đạo North-South, đủ các loại vận tải cơ cũ vẫn nằm lặng lẽ trong các ụ phi cơ. Không một chiếc F5 hoặc A37 và thật bất ngờ, trên đoạn đường tôi qua lại tối hôm qua, một bãi đậu phi cơ LI9 ngay tại giao điểm đường ra cổng Huỳnh Hữu Bạc và đường nối liền Air Viet Nam. Trên 50 nàng L19 trắng tinh trong lớp sơn còn mới, mời mọc kêu gọi người tình xưa.

Nếu không có A37 với đầy đủ bom đạn để có thể ném bom gây bạo động và nổi dậy, có lẽ tôi phải chấp nhận một giải pháp yếu: Cướp một chiếc L19 bay ra biển Nam Hải đáp ép buộc trên Mẫu Hạm của Đệ Thất Hạm Đội hoặc đáp xuống biển theo những tính toán kỹ thuật chi tiết. Tôi xuống thang và sau đó leo hàng rào kẽm gai thoát ra phi trường vào lúc sẫm tối, đói khát vì không tìm được một quán ăn trong phi trường đã một thời đầy dẫy những Câu Lạc bộ sang trọng đến những Quán cóc lẹp xẹp dọc theo các Khu Gia binh. Bắt buộc phải trở ra để chuẩn bị cho cuộc đột nhập qui mô hơn với lương thực và nước uống đủ tử thủ nhiều ngày.

Ngày 13 tháng 9 năm 1981 (tôi chọn số 13 cấm kỵ) ghé lại nhà Hạnh. Lần này Hạnh phải bán cái quần jean tốt nhất để bao lại tôi một chầu linh đình. Quen thuộc đường đi, tôi hướng thẳng vào Trạm Máy đèn bỏ hoang, dỗ một giấc ngủ sớm để chuẩn bị hoạt động nửa đêm. Hai giờ sáng, tôi băng qua mấy liếp rau muống, leo lên chateau d’eau với ý định sẽ nằm lại trên bồn chứa nước suốt một ngày để nghiên cứu kỹ toàn bộ vị trí phi cơ cùng các sinh hoạt cần thiết. Hai bậc cầu thang cuối cùng ẻo lả run rẩy dưới những bước chân thận trọng, dò dẫm. Một nhà chòi nhỏ, một ngọn đèn dầu, một cái bàn với bình trà và điếu cày thuốc lào, hai đôi dép râu ở ngưỡng cửa, hai khẩu AK treo vách trong và hai tên Bộ đội nằm ngủ mê mệt dưới sàn. (Tôi đã tính sai một bước đầu của kế hoạch, mặc dù với sự quan sát tỉ mỉ lần đầu, tôi đinh ninh rằng cao điểm lý tưởng nầy không hề có sự canh gác.) Tôi liên tưởng đến một điệp vụ dễ dàng thực hiện: Đánh thuốc mê hai tên đang ngủ và bỏ thuốc độc vào bồn nước. Sinh mạng của toàn bộ Phi trường địch đang đặt dưới giá treo cổ.

Tôi đành trở xuống và tính một kế hoạch mới. Đến giấc trưa tôi lại chuẩn bị lên château d’eau. Tiếng kẻng nghỉ và kẻng cơm trưa hôm nay nghe khó phân biệt, tôi đứng tần ngần dưới chân bậc thang đầu, tính toán giờ giấc. Bầu không khí khô hanh thoi thóp trong giấc ngủ trưa. Riêng bộ phận anh nuôi sát bên là còn hoạt động. Tên gác chateau d’eau ăn cơm về chưa? Lên sớm bị lộ, lên trễ nhiều người qua lại trong giờ làm buổi chiều. Tôi nhắm mắt một giây tĩnh tâm và tự quyết định theo linh cảm riêng: Đợi mười phút nữa. Khoảng tám phút tôi đang trong tư thế chuẩn bị hành động thì có tiếng chân nguời. Tôi vội ẩn mình sau chân cột chateau d’eau bề ngang độ chừng một thước, đám cỏ tranh cằn cỗi không đủ che kín thân người.

Đường mòn tới cầu thang đi thẳng về hướng tôi và chân cầu thang cách tôi hai thước. Tôi ép mình thật sát vào lớp vôi sơn ngã màu, di chuyển khéo léo từ phải sang trái tránh sự phát hiện của tên gác đang tiến tới gần. Bước chân nặng nề bắt đầu dẫm lên những bậc thang sắt, bỗng nhiên tên gác dừng lại tại cầu thang thứ ba. Sự quan sát chăm chú một cách khác lạ càng dán thân mình tôi thật sát vào tường. Một cử động nhỏ cũng có thể lọt vào cặp mắt cú vọ kia. Tôi bất động như pho tượng đá, trừ hai con mắt. Qua tàn lá thưa thớt trên đầu, tôi thấy rõ từng biến đổi nhỏ trên khuôn mặt y. Tôi tính sẵn kế đóng vai một tay Bộ đội đi phóng uế bừa bãi vì bị Tào Tháo đuổi bất ngờ, nếu bị bại lộ vì không thể nào chạy thoát trong phi trường địch vào ban ngày mà không bị bắt hoặc hy sinh. Ba phút đằng đẵng trôi chậm chạp.

Qua những giây phút hiểm nghèo tôi chợt tự khám phá ở mình một đặc tính hiếm có: sự bình tĩnh. Sự bình tĩnh tăng dần theo mức độ nguy hiểm. Khi nòng súng chĩa vào đầu chuẩn bị bóp cò là lúc tôi đạt đến tột đỉnh của sự bình tĩnh. Sự bình tĩnh hài hòa trong sự siêu thoát, nỗi hạnh phúc kỳ lạ chợt tràn ngập như một ân huệ cuối cùng của sự sống.

Mười lăm phút sau khi tên gác có lẽ đã bắt đầu ngủ, tôi nhẹ nhàng leo lên thang. Đang quan sát, chợt một tiếng gọi lớn từ dưới đường vọng lên:

— Anh Trung!

Một chị Bộ đội dừng xe đạp bên đường, ngỡ tôi là người tình của ả. Tôi xua tay, ra dấu chỉ về hướng nhà ăn bên cạnh. “À! Thế ra chàng còn đang ở nhà ăn,” chị ta nghĩ vậy và đạp xe đi tiếp. Tôi vội vã tranh thủ tụt thang trở về chỗ ẩn núp. Hú hồn! Tôi nằm bồi dưỡng nhưng không dám ngủ vì sợ ngủ quên, tiếng ngáy, tiếng thở mạnh có thể vọng vào tai những tên Bộ đội vừa đến, đang lo chăm bón rau muống cách vài thước, và cố kềm chế những tiếng ho, tiếng tằng hắng không cưỡng được.

Trước khi rời nơi ẩn nấp, tôi lấy viết ghi thêm 13-9-1981 vào chỗ lưu bút kỷ niệm lần trước “LýTống, 1-9-1981.” (Ôi, một ngày vinh quang trở lại, ta sẽ dẫn bạn bè tới nơi chốn này để chia sẻ những giây phút hồi hộp căng thẳng của ngày hôm nay, tôi nghĩ.)

Đeo một bị xách nhỏ với mì gói và bi đông nước, tôi đảo một vòng qua Cư xá sau lưng Câu Lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc để tìm nguồn tiếp tế nước khi cần. Những thùng phi nằm ngổn ngang trước các hiên nhà. Các cháu-ngoan-của-Bác thiếu ăn lười biếng nô đùa. Tôi leo lên hàng rào B40 thuộc khu vực Hangar. Những cỏ tranh cao che khuất những hào rãnh lởm chởm, nên khi phóng mình nhảy xuống, tôi suýt què chân vì sự bất cẩn, xem thường của mình. Ánh trăng cận rằm mọc sớm, tôi bò đi lại giữa các bãi đậu phi cơ. Sự cẩn thận quá đáng làm chậm quá trình di chuyển và chóng mệt. Tôi vươn vai đứng dậy, đi mò mẫm theo các bức thành ụ đậu phi cơ với những kỹ thuật tiêm nhiễm qua sách truyện, xi-nê.

Đây chỉ là một bãi phi cơ phế thải và hư hỏng nặng. Tôi lựa chọn một chỗ tạm nghỉ chờ đợi. Nửa đêm, tôi bò chậm rãi về phía bãi đậu L19. Không hề có tuần tiễu hay những chòi gác dọc theo các ụ, nhà vòm như ngày trước. Chỉ có một dãy nhà của nhóm chuyên viên phi đạo là dám phung phí xài một ngọn đèn néon suốt đêm. Tôi tiếp cận chiếc L19 đầu tiên, hai bánh trước dán cái ruột xẹp lép xuống nền xi-măng. Kính windshield bể từng mảng lớn. Nhẹ mở cửa, quan sát bên trong, bình điện, các phi cụ, phi kế đều bị gỡ cả! Lan 19 đứng xa trông mỹ miều như một mẫu hình toàn hảo của thẩm mỹ viện, càng đến gần càng thây sự tàn phá của giai đoạn tiền giải phẫu: Những vết cắt, vết mổ, vết đục đẽo bởi những bàn tay vụng về. Sự thất vọng tăng dần, không một chiếc phi cơ nào còn toàn vẹn. Sự tháo gỡ một phần theo kế hoạch chung, một phần theo kế hoạch riêng của một số “sưu tầm viên.” Tôi trở về ụ đậu chiếc phi cơ C119 số đuôi 077 để ẩn náu nghỉ ngơi.

Bầy muỗi đói quần thảo suốt đêm lúc tôi đang trong cơn ngủ chập chờn đầy cảnh giác. Sáng hôm sau tôi leo lên phòng lái, ngồi vào ghế Trưởng Phi cơ với một chút ngụy trang che đậy để quan sát hoạt động rộn ràng trên phi đạo. Cảm giác náo nức, rạo rực theo từng tiếng gào rú của phi cơ chuẩn bị cất cánh ngày hôm trước nguội lạnh dần. Sự nhộn nhịp huyên náo tập trung vào những phi vụ huấn luyện touch and go của một loại phi cơ dân sự Liên Xô và hoạt động của các chiếc Boeing nước ngoài. Cách 150 thước, một chiếc L19 đang bị xả thịt trong Hangar. Tôi nhẩn nha nhai nhũng sợi mì gói và uống nước lấy từ các vũng nước đọng trong các bãi chứa các bộ phận máy bay hư lộ thiên.

Khoảng một giờ trưa bỗng nhiên có hai tay thợ máy xăm xăm xách túi đồ nghề đi về phía tôi. Không có chỗ ẩn nấp kịp thời, tôi đành ngồi ì tại chỗ chuẩn bị làm vẻ như một tay Bộ đội Không Quân đang cải thiện vài đồ sưu tầm vụn vặt. May thay, khi một tên chuẩn bị leo lên phi cơ, tên kia góp ý:

— Chiếc này hôm qua gỡ hết rồi, qua chiếc kia đi.

Để tránh sự nguy hiểm bất ngờ tương tự, tôi leo xuống theo lối bánh mũi phi cơ, co ro trong một khoang phòng chật hẹp ngột ngạt chứa giây điện và giây cáp bánh lái phía bên phải. Gần ba tiếng đồng hồ không trăn trở cựa quậy, tôi bò trở lên phòng khách phi cơ, làm vài động tác thể dục. Khi tiếng đục gõ chát chúa ngưng hẳn và hai tên thợ máy dọn đồ đi về, tôi chuẩn bị xách túi đồ di chuyển qua dãy thùng Connex sát hàng rào cạnh cổng phụ Air Viet Nam. Lại thêm một lần may mắn. Một chiếc xe đạp xuất hiện trên đường, xe ngừng tại cổng và những mẩu đối thoại vọng lại. Không ngờ cái chòi yên lặng vắng vẻ kia lại có lính gác. Tôi đã đánh trần, chỉ mặc quần dài, đi lại thong dong trước mắt họ nhiều lần mà chẳng ai thèm để ý!

Đêm thứ ba tôi đi thám sát các khu vực bãi đậu phi cơ lân cận. Phi cơ A37 để ném bom không có. Phi cơ L19, Cessna hoàn toàn hư hỏng. Tất cả các loại vận tải cơ C119, C47, C123, Caribou… đều bị tháo gỡ phi cụ. Họ muốn phá hỏng để một ngày quân ta trở về không còn phi cơ để sử dụng, hay di chuyển những phi cụ quí giá ra miền Bắc để chuẩn bị ngày rút lui? Một ý nghĩ chủ quan xuyên qua tình hình thực tiễn vừa khám phá được.

Chưa nản chí tôi dự trù một kế hoạch khác. Tôi sẽ nằm phục kích vài ngày, nếu có cơ may, một trong ba loại phi cơ tôi lái được, ở một nơi khác ghé phi trường trong một phi vụ bất thường, tôi sẽ chộp lấy cơ hội. Hoặc tôi liều bò qua khoảng đất trống rộng từ khu quân sự sang khu Air Viet Nam, dưới ánh sáng chói lọi của bốn ngọn đèn pha cực mạnh, đột nhập vào phòng bánh mũi của chiếc Boeing đường quốc ngoại để stowaway. (Ý nghĩ sau đành hủy bỏ khi tôi đi kiểm soát đối chiếu các kiểu bánh mũi của các vận tải cơ, và nhận thấy nhỉều loại đóng cửa phòng bánh mũi sau khi geardown nên không thể chui vào được và phi cơ Boeing thì tôi hoàn toàn mù tịt.)

Tôi nằm lại thêm hai ngày, có lúc trốn trong phi cơ, lúc nằm dưới mương cỏ tranh rậm rạp. “Một phi trường chết,” tôi tự kết luận. Trước khi quyết định từ giã Phi trường, tôi trở lại chiếc phi cơ 077 khắc tên “Lý Tống 13-9-1981” ở nose gear để kỷ niệm lần đột nhập phi trường thứ nhì, và gỡ một đồng hồ Air speed, một Cockpit light, hai oil pressures (cái món compass béo bở bán được giá lại không còn) về tặng Hạnh, Nguyễn Quang Trường (hiện ở Đan Mạch) và Lê Văn Dương (Úc Châu) cùng Phi Đoàn Ó Den 548 cũ, và Quí bầm (Cali), người bạn tù Trại A.30, những chiến hữu đã bất ngờ gặp lại trong thời vượt ngục Trại A.30 và trốn tại Sài Gòn, có đóng góp lớn về vật chất và tinh thần trong mission impossible của tôi.

Tôi xách túi đồ nặng gồm bốn đồng hồ phi kế và gần một ký mì sợi chưa ăn hết. Hàng rào B40 phía trong, bên trên giăng ngang một lớp kẽm gai quấn theo hình ống tròn, khi vào chỉ cần leo lên nhảy qua, khi ra lại phải bẻ một khoảng trống mới leo lên được. Không có tiền để sắm một loại kềm cắt kẽm gai thích hợp, tôi phải đánh vật với dụng cụ tồi tệ bẻ qua lại nhiều lần đến khi giây kẽm gãy.

Trên đường trở ra, tôi gặp lại bảy tên Bộ đội hồi sáng, cái số 7 có hình lưỡi hái tử thần đã từng làm tôi ái ngại. Tôi dấu vội túi xách cồng kềnh vào đám cỏ cao ở bùng binh nhỏ nằm giữa ngã tư đường có đèn điện sáng. Tôi vờ châm thuốc như chờ đợi một người bạn gái trễ hẹn, tiếp tục trở ra khi họ không ngờ vực bỏ đi. Đường tối không kịp nhận ra hai tên Bộ đội đang ngồi bên lề đường vắng khi đi rẽ vào đám đất bỏ hoang, tôi ngồi xuống bên cạnh một bụi cây thấp giả vờ đại tiện.

Đây củng là chỗ tạm phóng uế bừa bãi mà tôi suýt bị một tên đi cầu bắt gặp trong khi đột nhập vào phi trường lần đầu. Sau đó tôi chậm rãi bò rút lui ra đường. Đoạn hàng rào tôi leo ra vào hình như đã được sử dụng bởi những tay Bộ đội trốn trại đi chơi hoặc chuyển đồ ăn cắp, nên có mấy ngày đã được sửa sang lại thay vì ngã sập nửa vời như trước. Một con đường xâm nhập rất dễ, nhưng cũng rất nguy hiểm, bởi vì những tên an ninh thợ săn trong khi rình rập những con chồn, con cáo lại có thể bất ngờ bắt gặp một con cọp lớn là tôi.

Mặc dù cuộc đột nhập phi trường không đạt được thành quả dự định, kinh nghiệm đã giúp tôi tự khám phá những khả năng tiềm tàng của mình và sự nhận định chính xác về khả năng của kẻ địch.

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 19 Apr 2025

Chương 16.

Tính thì đễ vậy nhưng phải mất ba tuần lễ và tiêu gần ngàn đồng, Bliot Ness mới phăng ra được vài chỗ nấu bia của bọn Al Capone. Thằng ăn cướp này quả là một tay đáng sợ. Nó cần thận và đa nghi hơn chàng tưởng. Tuần lễ đầu tiên, đóng vai một khách hàng sộp trong bộ đồ cầt mới toanh, chàng đã la cà nhiều chỗ.

Rượu nốc như điên, bao gái thả dàn ra cái điều ta dây là dân ăn chơi lừng danh từ xa đến. Chẳng được sư múi gì. Mũy chùng bồi rượu, tán gẫu chuyện gì cũng được.

Miệng mồm bô bô nhưng hể động tới những cái bí mật thì đứa nào đứa nấy thủ khẩu như bình. Cà đám vũ nữ, mấy em điếm cũng vậy. Tiền cho bao nhiều cũng lẹ tuy bắt lấy nhưng đừng hòng moi được một chút tin tức gì của chúng. Kẹt hơn nữa, tiệm rượu nào cũng có ít nhất một cặp an ninh của Al Capone mặc áo bành tô kín mít ngồi lù lù trong góc. Khỏi cần phải là một cảnh sát chuyên nghiệp, ai nhìn qua cũng biết dưới lớp áo đó dấu những cái gì. Không khách hàng nào bước vào tiệm mà không qua khỏi cặp mắt cú vọ của bọn này. Tỉnh như Eliot Ness mà nhiều khi cũng cảm thấy lành lạnh sau gáy.

Có một lần, Eliot Ness vừa bước vào một tiệm rượu là giác quan bén nhậy của nghề cảnh sát cho chàng biết là chúng nó đã nhận diện được chàng. Cứ nhìn cái bàn tay của thằng bồi rót rượu là hiểu liền, khỏi cần phải suy nghĩ nhiều. Nó rót rượu mà mặt mày tái xanh, run lẩy bẩy làm như sắp sửa có nổ lớn vậy. Cho chắc ăn,

Eliot Ness giả vờ làm rơi điếu thuốc đang hút. Cúi xuống nhặt lên là chàng thấy ngay hai thằng an ninh đang nhìn về phía chàng thầm thì to nhỏ.

Có chuyện rồi, Eliot Ness thầm nghĩ, nhưng không thể rút được. Rút thì yên đấy, nhưng cả lò chúng nó sẽ báo động khấp nơi, lần sau coi như hết vào bất kỳ tiệm rượu nào. Tương kế tựu kế, mày đã là biết thì tao cũng chả thèm giấu diếm làm gì.

Chàng ngoắc thằng bồi. Tội nghiệp, từ nãy, thằng nhỏ hình như đã nhận được mật hiệu của đám an ninh nên biết là có chuyện, hơ hãi bước tới. Eliot Ness gằn giọng:

_Mày biết tao là ai không mày?

_Dạ không.

Eliot Ness móc cái mộc cảnh sát liên bang bằng bạc trắng xóa, thảy lên bàn nghe đến cành một cái:

-Elior Ness. Nhân viên liên bang. Mày có nghe tên tao chưa?

Thằng bổi rượu bảy giờ mới bật ngữa. Tưởng ông khách là tay súng nguy hiểm từ đầu mới tới nên tụi an ninh béo động tùm lum, té ra là anh chàng Elior Ness “to mồm”, cảnh sát đặc vụ của tổng nha ngân khố, người đã từng.. lỡ dại tuyên bố I come here to get Capone dạo nào. Vậy thì đâu có gì đáng sợ. Vẻ sợ hải biến mất, thẳng bồi cố gắng nhìn kỷ Eliot Nest, làm như ráng phân tích coi cha nội này mình đồng da sắt gì mà ăn nói bạo mồm bạo miệng quá cỡ.

Sự thay đổi trong ánh mắt của thằng bồi làm sao qua mặt chàng được? Đù mẹ lại phải biểu diễn một màn côn đồ như thằng Gary Malone rồi. Thực ra, Eliot Ness không phải là một típ cảnh sát như Gary Malone, Giữa chàng và hắn có nhiều điểm khác nhau. Gary Malone sinh ra trong gia đình “có máu cảnh sát trong người*, lớn lên và trường thành từ vĩa hè đẫm máu; còn chàng xuất thân từ một gia đình giáo dục và đã tốt nghiệp đại học đàng hoàng. Nhiều khi, trong cái nghề bạc bẽo này, “bạo lực” cũng là câu trả lời cho nhiều trường hợp. Chàng biết những gì mình sắp làm, không có trường cảnh sát nào dạy, và hơn nữa, trái luật.

Nhưng giây phút này, một 1à để bị lộ tẩy và hỏng kế hoạch, hai là phải nhanh trí kiếm một lối giải thoát. Thằng bồi này có thể là lối giải thoát cho kế hoạch của chàng.

Nó cúi đầu gần hơn, chưa kịp mở miệng trả lời thì Eliot Ness đã bất ngờ chồm tới trước chụp cổ áo nó kéo lại:

-Đ.M. thằng kia, mày có nghe tên tao chưa?

Giọng thẳng bồi khinh khỉnh:

-Ê ông cảnh sát, ổng không được làm vậy, tôi được pháp luật bảo vệ mà.

Eliot Ness quát lên như sấm:

-Dẹp cha nó ba cái pháp luật lại. Tao hỏi mày biết tao là ai không?

-Tôi yêu cầu ông buông tôi ra.

Buông sao được, Eliot Ness xiết cổ áo nó mạnh hơn. Thằng bồi bắt đầu la.

Như chớp, Eliot Ness vung tay phải, quai một cái như trời giáng vào quai hàm nó, rồi theo đà quay lui, bàn tay trái chụp cái mộc cảnh sát trên quầy dơ ra, tay phải thủ cây Colt.45. Hai thằng an ninh vừa xông tới, chưa kịp mở nút áo bành tô, đã bị cây Colt.45 kèm cứng, đành thúc thủ đứng yên. Thằng bồi ăn quả đấm tá hỏa mặt mày, bắn người vào vách đánh ầm một cái, ly tách rớt loảng xoảng. Lần đầu tiên kể từ khi đứng pha rượu ở tiệm này cho xếp Al Capone, nó bị một cảnh sát hành hung. Chuyện ngược đời. Xưa nay, nó là người đi đập thiên hạ, bây giờ bị người ta cho ăn đòn. Mà lại bị cảnh sát đánh mới đau.

Thằng bồi lồm cồm bò dậy, nhăn nhó đưa tay rờ má. Đau quá, không chừng dám rụng vài cái răng. Nhìn vào gương, thấy máu miệng mình chảy dòng dòng, thằng nhỏ hóa điên. Nó thò tay chụp cây xâm nước đá nhọn hoắc lủi ra ngoài, tiến về phía Eliot Ness đang đứng chĩa súng vào hai thằng an ninh.

Tới sau lưng Eliot Ness, nó tưởng phen này là chết mẹ thằng cớm liên bang. Cây xâm nước đá nhọn hoắc, dài gần cả thước như cây kiếm, đâm lút cán từ sau lưng ra tới trước ngực thì ai mà sống nỗi? Nó nghiến răng, hai tay cầm chặt cây xâm nước đá, nhắm vào lưng Eliot Ness, dùng hết sức nghiến răng nhào tới trước.

Cái chuyện cỏn con này sao Eliot Ness không biết trước được. Mắt tuy nhìn phía trước nhưng tất cả những cử động của thằng bồi không qua khỏi cặp mắt chàng. Đã chuẩn bị, Eliot Ness cứ chờ cho thằng nọ nhào tới gần sát mới xoay người né sang một bên. Thằng bồi chạy lỡ trớn, hụt đà nhào luôn tới trước. Tiện thể Eliot Ness giộng xuống đầu nó một báng súng ra gì, và bàn chân giựt ngược làm một cú lên gối vào giữa mặt thẳng đâm lén.

Trên đánh xuống, dưới thọc lên, thằng bồi chịu gì nổi, rớt một cái rầm. Bay giờ thì cả quán rượu náo động. Ai nấy cũng chạy lăng xăng mà không biết chạy đi đầu, rồi từ từ bu lại thành mộc đám chung quanh ông cảnh sắt đang cẩm súng và hai thằng an ninh.

Thật ra, hại thằng khi đột này đã nhận ra Eliot Ness từ lúc chàng mới bước vào, đang còn bàn bạc với nhau vì chưa biết phản ứng ra sao. Một đứa thì chủ trương cứ án binh bất động rổi cho người đi thông báo với cấp trên để xin chỉ thị.

Đứa kia thì nhất định đòi đợi cho thằng cớm mất dậy này một trận để dằn mặt, nếu cần thì “nổ cha nó một phất vô đầu rồi vứt xác xuống giòng sông Chicago” cho rãnh mắt. Nhưng chúng chưa kịp đi đến kết lưận thì Eliot Ness đã ra tạy trước. Mà ra tay đẹp quá, mau quá, dữ dằn quá. Đâu có thua thằng Gary Malone? Hai ông, nội bèn chùn tay.

Eliot Ness dơ cao cái mộc cảnh sát nói lớn:

_Cảnh sát liên bang đang hành sự. Mọi việc đã giải quyết xong rồi, tôi yêu cầu mọi người trở về chổ cũ.

Chàng nhìn hai thằng an ninh, mắt sắc như dao, nói vừa đủ cho chúng nghe:

-Cả tụi mày nữa. Khôn hồn thì về chỗ ngồi đi, bằng không tao còng tay lại dắt về bót bây giờ. Đù mẹ cảnh sát liên bang mà bắt thì không có ra dễ như cảnh sát Chicago đâu nghe mấy thằng khốn nạn.

Thấy thầy cảnh sát có vẻ dữ tợn quá, mọi người ríu ríu trở về chỗ cũ. Đi vào đây đã là trái luật, ai muốn dây dưa với cảnh sát làm gì? Hai thằng an ninh là dân trong nghề, mới nhìn qua là đã biết “cơ” của Eliot Ness nên chùn bước. Nó đã nói vậy thì về chỗ ngồi cho rồi, mà có muốn giở trò gì cũng chưa chắc đã thắng nổi thằng cớm dữ tợn này.

Thế là hai gã quay lui. Eliot Ness biết thân phận, cũng rút lẹ. Chuyện đang còn nhỏ, hãy để cho nó…nhỏ. Cảnh sát du côn đi “phá rối” như vậy là chuyện thường. Cái quan trọng là sau đó, không có bắt bớ, không có phạt vạ là hai bên đều cảm thấy thỏa mãn. Ở lại đây lâu quá, chàng sợ sẽ có thêm chuyện. Chúng nó mà báo động lên là thế nào cũng có cả sư đoàn găng tơ ào vô đây, chừng đó có muốn huề cũng không được. Lạng quạng còn có thể bị mất mạng luôn. Thằng bồi ăn đòn cũng hơi nặng đó, nhưng vài ngày nằm nhà thương là xong chớ gì. Mà nghĩ cho cùng, lâu lâu cũng nên gởi đi một thằng như vậy vào nhà thương để lần sau ăn nói với cảnh sát chúng biết giữ mồm giữ miệng.

Nghĩ vậy, chàng thảy tờ giấy 20 đô la lên quày rượu rồi dọc lẹ. Ra tới ngoài dường, chàng mới thở phảo nhẹ nhỏm. Phải cảm ơn cây Colt.45 và cái mộc cảnh sát đem theo trong người. Lúc mới bắt đầu kế hoạch, Eliot Ness đã tính để hai thứ “bất ly thân” này ở nhà nhưng Catherine nhất định bắt chàng mang theo. Kể ra đàn bà nhiều khi cũng sâu sắc hơn đàn ông. Cải quan trọng nhất là chúng nó chưa biết chàng đang chơi trò tình báo để tính chuyện đập một vố lớn. Bây giờ chàng mới thấy tội thằng pha rượu, đương không bị ăn đòn no nê.

Kể từ ngày đó, đi đâu Ehiot Ness cũng nguy trang cẩn thận hơn. Khi thi chơi thêm cặp râu giả, lúc khác thì làm bộ say rượu bi tỉ, hoặc đóng vại anh chàng cà thọt …Qua đến tuần lễ thứ hai khi đã quen với thế giới về đêm của Chicago cân nhắc kỹ càng, chàng mới ‘tuyển lựa” được vài tiệm rượu để tập trung việc theo dõi.

Cho đến giờ phút đó, Elot Ness cũng chưa biết rõ tụi nó chuyển rượu cách nào, vào giờ nào và ngày nào nhưng chàng chắc chắn phải là ban đêm. Thế là chàng đổi kế hoạch. Ban ngày ở nhà ngũ khì, ban đêm thay đồ đi “Làm việc”. Đầu tuần lễ thứ ba, Eliot Ness được một sự giúp đỡ bất ngờ: Nàng vũ nữ tên Collen

Người xưa có câu: “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”. Đẹp trai, khỏe mạnh và thông minh như Eliot Ness, chắc chắn phải lọt vào mắt xanh của nhiều màng.

Nhưng đúng đắn nhất, đẹp nhất và hiểu biết nhất, vượt lên trên tất cả như con thiên nga giữa bầy vịt phải nói là nàng Collen, Biệt hiệu “Collen cẳng dài”. Đối với Eliot Ness, không, những Collen có cặp giò tuyệt diệu mà còn có một khuôn mặt khả ái và quan trọng nhất, nàng rất thông minh. Không phải như đa số các vũ nữ tại đó, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến tiền, coi khách làng chơi là một mục tiêu để lợi dụng. Collen tiếp khách một cách lịch lãm, nói chuyện duyên dáng và nhiều khi, làm nhiều chuyện ngược đời. Như ngày đầu tiên gặp chàng. Thấy người đàn ông đẹp trai đang ngồi sầu thảm một xó như người thất tình, nàng đã bỏ một ông khách xộp đến ngồi bên chàng.

Quan sát Eliot Ness một lúc thật lâu làm cho chính chàng cũng thấy ngượng, nàng hỏi vu vơ:

-Khách có chuyện buồn?

Eliot Ness đóng kịch tài lắm. Chàng hớp một ngụm rượu, rầu rầu nét mặt:

-Buồn lắm!

Câu trả lời của Collen làm Eliot Ness ngạc nhiên:

-Khi nào còn biết buồn được là người còn hạnh phúc. Đừng chống cự lại. Hãy để nổi buồn kéo chàng đi đến nơi nào tùy ý… Xa, thật xa cũng được. Từ nổi buồn, chàng mới nhận được giá trị của niềm vui, cũng như càng sống trong bóng tối lâu thì càng thấy giá trị rực rõ của bình minh nhuộm ánh nắng…

Thế này thì đâu phải khẩu khí của một vũ nữ rẻ tiền ở Chicago. Eliot Ness xoay người để bắt gặp cặp mắt xanh lay láy của nàng. Thật đẹp, thật tròn. Chỉ mới nhìn nhau sau một giây đồng hồ, nàng đã đắm đuối:

-Cái hình phạt nặng nhất của con người là không được biết buồn nữa. Anh nghĩ thế giới sẽ ra sao nếu tất cả chúng ta không còn ai biết buồn? Anh gì nhỉ? Anh…

Chàng đã tính buộc miệng đáp hớ hênh “Ness, Eliot Ness” nhưng dằn được ngay. Hèn gì trường tình báo cảnh sát thường dạy là đàn bà nhiều khi nguy hiểm hơn cả chất nổ.

-Ki-la, Tom Ki-la. Còn em, em tên gì?

Lại cái tên cũ mà chàng đã sáng chế ra cách đây mấy tuần. Collen đưa tay cho chàng giáng điệu rất tự nhiên mà sang trọng:

-Collen. Người ta gọi em là “Collen cẳng dài”, anh muốn gọi gì cũng được.

Eliot Ness dịu dàng nắm lấy bàn tay nàng, nhẹ nhàng hôn lên đó, trả lời:

-Người ta gọi vậy là bất công lắm. Theo tôi, phải gọi là “Collen cẳng đẹp”

Collen cười ngất. Nàng kéo ghế sát lại gần Eliot Ness, nhìn chàng hóm hỉnh:

-Anh nịnh đầm hay lắm, lại đẹp trai nữa. Sẽ có vô số người con gái chết vì anh, tiếc rằng anh đã có vợ. Và quan trọng nhất, típ người của anh không phải là típ thích ăn vụng. Có đúng không nào?

Eliot Ness cố tình tránh câu trả lời có thể đưa đến chuyện “sưu tra lý lịch”.

-Tôi có thể mới cô một ly Cocktail?

Collen quả là người thông minh. Nàng tiếp tục nhìn thật sâu vào mắt chàng, làm như không để ý đến lời mời mọc:

-Mà nhìn lại thì anh đâu có buồn gì đâu. Anh chỉ giả vờ thôi. Cắp mắt anh sáng quắc như ánh sao, đầy vẻ quyết liệt, ít khi nào buồn lắm. Đúng không?

Eliot Ness cảm thấy lúng túng. Chàng ra đây cốt để điều tra chuyện nấu rượu của họn Al Capone, ai ngờ lại bị điều tra ngược. Nhưng Eliot Ness không thể thẳng thừng với một người đàn bà thông minh và dịu dàng như Collen, bèn giả tảng:

-Collen nói đúng. Tôi ít khi nào buồn lắm. Còn Collen, cô có bao giờ buồn không?

-Có chứ. Collen chỉ buồn khi gặp những người không thành thật với mình. Như bây giờ, tôi đang buổn.

Eliot Ness lắc đầu. Cô nàng này gớm thật, không hiểu cô ta biết gì về mình. Collen đứng lên, đôi vú nâng cao, thân hình nàng đẹp lộng lãy, bốc lửa dưới ánh đèn mờ. Năng nắm tay Eliot Ness:

-Nhưng không sao. Đàn ông không nên thành thật quá, cũng như đàn bà, không nên nói nhiều quá. Hãy giữ lại một chút gì trong lòng mình… Mà thôi, anh uống gì để Collen đi lấy? Một ly cocktail?

-Tôi muốn mời Collen một ly. Phần tôi, tôi đã uống đủ rồi.

-Không được. Nếu anh không uống, tôi cũng không uống.

-Vậy thì cho tôi…cái gì như hồi nãy.

-Blue moon in August?

-Đúng rồi.

Trước khi quay gót Collen cúi xuống sát tai chàng, nói nhỏ:

-Dân chơi chuyên nghiệp ít khi nào quên tên rượu mình vừa uống. Anh đâu có phải là dân chuyên lang bang

ở những nơi như vầy. Đúng không?

Eliot Ness giật mình. Collen nói đúng. Nàng quay gót, bước những bước chân nhún nhảy làm nhiều thẳng đàn ông phải bỏ dã câu chuyện đang nói nhìn theo…

Lúc Collen quay ra, từ một chiếc bàn, nhô ra một thằng khách hàng dơ tay kéo nàng lại. Từ đàng xa, Eliot Ness có thể nhìn thấy Collen vùng vằng cự tuyệt. Thằng nọ đâu có chịu thua dễ dàng vậy, nó tiện tay thò xuống dưới lớp váy, véo vào mông nàng một phát, miệng bật cười hô hố rất nham nhở. Phản ứng tiếp theo của Collen không thể ngờ được. Sẳn ly cocktail trên tay, nàng đổ luôn trên đầu ông khách.

Bây giờ thì cái véo mông vô tội kia đã trở thành câu chuyện lớn, không sao hàn gắn được. Ướt sũng từ đầu xuống chân thằng khách hàng đứng sững một lúc như không tin được ở cặp mắt mình. Xưa nay vũ nữ ở The Red Horse, cũng như vũ nữ ở các hộp đêm khác trên thế giới đều là một thứ đồ chơi của khách hàng, muốn véo thì véo, muốn bóp thì bóp, đâu có chuyện ngược đời vậy? Nó bỏ ra bao nhiêu tiền xuống đây là giải trí, để táy máy tay chân, đâu phải để bị dội một ly cocktail lên đầu như thế này? Tức quá hóa khùng, quên cả chuyện mình là đàn ông con trai, thằng khách hàng xông tới vung tay tát lia lịa vào mặt nàng Collen. Mà con nhỏ này cũng chẳng phải tay vừa, liền tru tréo và trả đũa ra gì.

Thế là giữa sàn nhảy, một màn ẩu đã xảy ra. Nhạc ngưng chơi, thiên hạ bu quanh níu kéo, cố can hai người ra. Không hiểu vì vô tình hay cố ý, có lẽ theo phản xạ thì đúng hơn, thóang một cái Eliot Ness nhận ra mình đã đứng sau lưng thằng khách hàng vũ phu. Khuôn mặt em Collen bây giờ đã thấy có dấu máu chảy từ một vết rách nơi khóe miệng. Mà nó có chịu buông tay đâu, cứ một hai nhào tới đòi ăn thua đủ. May quá, chàng tính ra tay thì hai thằng an ninh nhà hàng đã nhập cuộc. Một đứa kéo ông khách đi, còn đứa kia nắm tay Collen lôi ra một góc nhà. Coi như đã tạm yên, Eliot Ness lững thững bước trở về chỗ cũ. Đã giộng cho cô em vài cái rồi mà coi bộ thằng khách vẫn chưa thấy nguôi giận. Nó la lối um sùm với thằng an ninh nhà hàng. Thằng an ninh, dù là thứ cô hồn hung dữ, nhưng phải tuân theo một chỉ thị nào đó của ban giám đốc, nên cứ một mực…năn nỉ.

Chuyện của người thì mắc mớ gì tới mình, Eliot Ness vừa về đến bàn thì bỗng nghe lên mấy tiếng “bóp chát” thật lớn. Chàng xoay lại nhìn và giật bắn mình lên khi nhìn thấy người bị đòn là em Collen cẳng dài. Thằng an ninh cứ một tay nắm lấy tay em, tay kia tát vào mặt em lia lịa. Tình cảnh coi tội nghiệp và dã man quá. Trong một phần mười giây đồng hồ, Eliot Ness phải có một quyết định dứt khoát. Một là cứ ngồi im, đóng trọn vai trò của mình, hoặc là phải nhào tới can thiệp liền. Từ nhỏ đến lớn, chàng chưa bao giờ nhìn thấy cảnh đàn bà bị đánh như vậy. Chàng quyết định phải can thiệp, bất cần hậu quả.

Nhanh như một làn chớp, chàng bay tới túm lấy cổ thằng an ninh kéo ngược ra sau, bàn tay phải đẩy tới luôn một trái đấm như trời giáng vào giữa mặt. Trái đấm của ông thanh tra trong lúc nóng giận mạnh quá chừng, đẩy nạn nhân bay tuốt luốt qua tới tận bức tường, xô đổ bàn ghế vung vãi khắp nơi. Chưa hả cơn tức, Eliot Ness bay theo luôn. Chỉ nghe thêm vài tiếng bụp bụp là thằng nọ rới xuống nền nhà nằm thẳng cẳng.

Thẳng an ninh thứ hai đang năn nỉ ỉ ôi với người khách hàng, nghe tiếng động khác thường, liền thôi nói để quay lại và nhận ra bạn mình bị một thằng nào lạ hoắc đánh gục chỉ trong vòng mấy giây đồng hổ. Nó mạnh vậy thì ai dại gì đi đấu võ với nó làm gì, thằng nọ thò tay vô trong hai lần áo vét, mò tìm cây Smith &

Wesson. Nhưng vèo một cái, nó nhìn thấy nguyên chiếc ghế đang bay hết tốc lực về phía mình. Vừa cúi người né xong chiếc ghế là thấy thằng lạ mặt kia bay tới trước mặt liền. “Bốp”, cây súng chưa móc ra được đã bị một trái đấm vào quai hàm…

Nhà hàng bây giờ đại loạn. Chưa ai nghe tiếng súng, nổ hết nhưng dân Chicago đâu có lạ gì những cảnh này. Mới đầu là ly bay ghế bay, rồi đến đạn đồng bay veo véo mấy hồi? Người ta chạy nhốn nháo khắp nơi. Đám nhạc công thì lo cất kỹ những dụng cụ âm nhạc của mình trước khi rút, khách hàng đa số chạy ra ngoài vì đó là chỗ an toàn nhất. Đã đại loạn như vậy thì lát nữa thế nào cũng có cảnh sát địa phương ào tới. Đâu có ai muốn bị xúc về bót vì những chuyện lẩm cẩm như vậy.

Vừa lo được cái mạng, vừa khỏi sợ cảnh sát phỏng vấn vớ vẩn lại vừa đỡ phải trả tiền cho những cái bill mình vừa uống. Thượng sách. Đúng ra, mỗi lần hộp đêm có những chuyện lộn xộn như vậy thì kẻ bị thiệt hại nặng nhất phải nói là chủ quán.

Lát nữa cảnh sát ào tới đây lại phải mở két ra chi bằng thích. Hơn ai hết, Eliot Ness biết mình là kẻ được lợi nhất trong tình cảnh hổn loạn này. Vừa quạt xong một trái vào quai hàm thầng kia, nó vừa lui cui bò dậy là chàng đã xông tới, một tay nắm đầu, tay kia nắm đít, dùng hết sức đẩy khối thịt mấy trăm cân của nó vào cái quầy rượu trước mặt. Cái quầy rượu coi kiên cố vậy mà bị cái xác thằng an ninh nhào vô đục thủng một lổ, ly tách rớt loảng xoảng. Chịu gì nổi, thằng nhỏ nằm xụi lơ, thỉnh thoảng dựt dựt lên mấy cái.

Xong thằng thứ hai là Eliot Ness thoáng nhìn thấy một tốp an ninh khác chừng bốn năm đứa từ nhà dưới đang xông lên, tìm kiếm dáo dác. Dòm kỹ hơn chút nữa thì thấy thằng nào cũng có súng trên tay. Đã đến lúc phải chơi bạo rồi.

Eliot Ness thoáng nhìn thấy bóng dáng của Collen lẩn lộn trong đám khách:

-Phải dọt khỏi chỗ này gấp, chạy theo anh.

Vừa nói chàng vừa móc cây colt.45 lừng danh trong người ra. Collen nhìn thấy hoảng sợ:

-Anh..anh có súng?

Eliot Ness không có thì giờ trả lời. Chàng chĩa cây Colt.45 lên cao, nổ bốn phát liên tiếp, bắn đứt bốn sợi dây điện trên trần nhà. Đèn đuốc từ từ tắt ngấm. Tụi an ninh nhà hàng là những thằng chới với nhất. Làm sao chúng nó kiếm ra ai là tác giả của bốn phát súng này giữa một rừng người đang chạy loạn này. Điện lại tắt phụp khiến chúng nó càng chồn chân, bèn theo đúng quy luật nhà binh, mỗi đứa đứng bồng súng thủ một góc nhà dòm thiên hạ chạy.

Eliot Ness diu Collen ra khỏi hộp đêm trong nháy mắt. Khi cả hai người đã ngồi yên trên chiếc xe của sở đặc vụ, chàng bắt đầu nghe được tiếng còi hụ của cảnh sát từ xa vang tới.

Eliot Ness mồi cho chàng một điếu thuốc, Collen lo trang điểm lại nhan sắc của mình. Môi nàng bị rách một chút nhưng không đến đỗi nào. Sau mấy phút đồng hồ cặm cụi trang điểm nàng xoay sang hỏi Eliot Ness:

-Anh thấy dung nhan em bây giờ thế nào?

Eliot Ness liếc nhìn nàng cười:

-Giống Collen “cẳng dài”

Nàng bỏ hộp trang điểm vào bóp, giọng nói run run:

-Em, em cám ơn anh!

-Có gì đâu? Anh chỉ làm bổn phận của một người đàn ông khi thấy đàn bà bị hành hạ.

-Em không ngờ anh lại lanh lẹ như vậy.

Eliot Ness nhún vai:

-Anh quen rồi, đừng lo cho anh. Cái anh lo nhất là cm. Ngày mai sao em trở lại làm việc được?

-Chuyện đó anh khỏi phải sợ. Tại The Red Horse lâu lâu cũng có những vụ vũ nữ trở chứng làm ẩu với khách như vậy. Nhưng tụi quản lý nhà hàng chúng nó biết coi người lắm. Những đứa xấu hoặc ế khách thì sơ sơ là có thể bị đuổi liền nhưng đẹp và đắt khách như em thì còn lâu chúng nó mới đuổi.

-Khách hàng lâu lâu cũng nổi lên phá phách hoài. Bọn nó chậm chạp thì ăn no đòn là đúng rồi, đâu phải lỗi của em. Cái hay nhất là lúc nãy em đi ra với anh chúng không nhìn thấy.

Eliot Ness thấy nhẹ nhỏm trong người. Collen tiếp:

-Nhưng kể từ này về sau, anh không thể trở lại đó được đâu.

Eliot Ness gật dầu:

-Anh hiểu.

-Anh đưa em đi đâu đây?

-Mình đi kiếm gì ăn đi em.

-Ý kiến hay!

Eliot Ness lái loanh quanh thành phố, để mắt tìm một tiệm ăn thanh lịch.

-Anh Ki-la, tại sao anh đến The Red Horse?

-Thì để nhảy đẩm, để vui.

-Em để ý thấy anh chưa bao giờ nhảy với ai một bản nào cả.

-Anh không muốn khoe cái sự lố bịch của mình.

-Vậy tại sao anh thích vào dancing?

-Để nhìn người ta nhảy.

-Chỗ anh ngồi đâu có nhìn thấy ai.

-Nhìn người ta… đi ra sàn nhảy cũng thấy vui rồi.

-Xạo…

-Em từng nói là đàn ông không nên thành thật quá mà. Chính em dạy anh nói xạo…Collen ngồi thật sát vào người chàng. Eliot Ness cảm thấy hơi thở nàng dìu dịu phả vào tai chàng. Người thanh tra thượng thặng của Nha Ngân Khố có cảm giác choáng váng đê mê. Kể từ khi cưới Catherine, Eliot Ness chưa bao giờ nghĩ đến một người đàn bà khác. Hôm nay, vì công việc phải chung đụng thế này, thật là bất ngờ làm Eliot Ness không biết phải đối phó làm sao.

-Anh suy nghĩ gì vậy, kể chuyện đời anh cho em nghe đi anh Ki-la

-Đời anh hả. Chẳng có gì hay ho cả, toàn là những ngày làm việc mệt nhọc.

-Anh lấy vợ lâu chưa?

Cái này thì Eliot Ness trả lời thật:

-Gần 8 năm rồi.

-Con của anh chắc giống anh nên đẹp trai lắm.

-Anh chỉ có một đứa con gái 7 tuổi. Nó giống mẹ nó nhiều hơn anh.

Tự nhiên Collen hỏi chàng:

-Có phải anh là cảnh sát không?

-Sao em nghĩ vậy?

-Linh tính của người đàn bà. Hơn nữa, nếu không phải là cảnh sát thì tại sao lại mang súng vào những nơi như vậy?

Trời mùa Thu năm nay ở Chica go lạnh hơn thường lê, ngồi trong tiệm ăn mà vẫn còn thấy hơi lạnh. Gọi xong thức ăn, Eliot Ness cầm điếu thuốc lá nơi tay vỗ vỗ nhẹ nhàng xuống mặt bàn:

-Anh hút thuốc được?

-Được, xin anh cứ tự nhiên.

Eliot Ness cắm điếu thuốc vào môi, Collen nhanh tay bật diêm cho chàng.

– Em biết anh là cảnh sát từ lúc nào?

-Từ giây phút đầu tiên.

-Anh đóng kịch dỡ quá hả?

-Không, trái lại là đàng khác. Cả tiệm chẳng ai biết, chỉ có mình em vì em đã một thời có người yêu làm cảnh sát. Collen đã biết Eliot Ness là cớm ngay từ những giây phút đầu tiên chàng khỉ đột của Frank Nittic đang ôm súng làm an ninh trong đó, nhưng khó mà lừa được vũ nữ. Nàng không hiểu tại sao. Có thể là do bởi cái mà người ta gọi là trực giác hay là kinh nghiệm.

Thường thường, vũ nữ không thích cớm. Cái nghề cầm ca này luôn luôn bị bóc lột bởi hai loại người: Cớm và ma cô. Đằng nào cũng lợi dụng, cùng tìm mọi cách để kiếm chát lúc thì tiền bạc, lúc khác thì xác thịt.

người ta thấy các em vũ nữ hay cặp kè với cớm và ma cô. Đằng nào cũng bị nó lợi dụng, chi bằng cáp đại một thằng để tuy mất mát nhưng còn chỗ nương tựa. Sống trong thế giới về đêm mà không có người đỡ đầu sẽ gặp nhiều rắc rối và tốn tiền bằng thích. Ngay lúc nhìn thấy Eliot Ness, nàng biết mình đã gặp “người trong mộng”.

Từ trong quầy, nàng kín đáo quan sát cái anh chàng đẹp trai lì lợm trong bộ đồ may cắt rất khéo. Eliot Ness vừa bước vào, tuy cách xa cả chục thước, nàng đã ngửi thấy chất cớm trong người chàng xông lên nồng nặc. Coi, đi đứng bộ vệ thế kia, mắt tuy nhìn thẳng hiền lành vậy mà không bỏ sót bất kỳ một chi tiết nào trong nhà hàng.

Hai thằng khỉ đột của Frank Nitti cho ngồi trong hai góc cũng không qua khỏi cặp mắt sắc như dao đó.

-Tên anh là gì?

-Tên thật hay tên giả?

-Tên thật kìa.

-Ness. Eliot Ness! Anh là cớm. Cớm chính gốc, cớm từ hơn chục năm.

-Em biết. Cái quan trọng là anh giả dạng bần tăng mò vô mấy khu ăn chơi để điều tra cái gì?

-Không bao giờ. Báo chí đọc nghe buồn thảm lắm, toàn là những tin tức bi quan.

-Nếu Collen đọc báo, cách đây gần tháng em sẽ thấy hình anh trên trang nhất.

-Ái dà dà, anh lên báo để xin tiền cho máy chương trình thiện nguyện và bác ái hả? Cái mặt anh mà đi xin tiền thì ai lại không muốn cho.

-Eliot Ness cười buồn nhìn thật sâu vào mắt Collen:

-Collen nghe anh nói đây. Anh không phải là cớm địa phương ở đây, mà đến từ Hoa Thịnh Đốn. Anh xuống đây với một nhiệm vụ duy nhất: Diệt thằng Al Capone.

Nụ cười tắt ngấm trên cặp môi Colen. Nàng lập lại:

-Al Capone?

-Al Capone.

Eliot Ness đọc được vẻ kinh hãi trên mắt nàng. Kinh là phải, đất Chicago này ngoại trừ Gary Malone có ai nghe tới tên của hung thần mà dám lạng quạng. Cái ông cảnh sát ngồi trước mặt nàng lại còn nói đến chuyện “diệt Al Capone” thì quả là trời sắp xập. Nhưng Collen trấn tĩnh được ngay:

-Anh không nói đùa chứ hả?

-Không.

-Capone làm gì đóng đô ở cái nhà hàng đó mà anh phải giả dạng “bần tăng” đi vào? Nếu muốn kiếm nó anh mang súng lên đại khách sạn Lexington kìa, bộ tư lệnh của nó gần 50 thằng chiếm nguyên dãy lầu hai…

-Anh đến nhà hàng có chuyện khác.

-Tính ám sát nó hả? Làm vậy là trái luật nghe ông cớm.

Người bồi bưng thức ăn lên. Chàng trãi khăn lên đùi, cầm nĩa:

-Đúng ra chuyện này anh không nên nói cho ai biết hết, nhưng với em anh nói thật. Mục đích của anh khi đến đó là để điều tra xem tụi khốn chuyển bia và rượu lậu cách nào.

-Rồi làm gì?

-Anh sẽ đột kích, mở thùng cho bia chảy xuống cống rãnh hết.

-Anh tưởng làm vậy sẽ diệt nổi Capone à, anh biết nó có bao nhiêu tiệm rượu ở Chicago này không? Trên vài trăm cái. Hơn nửa, nếu anh dẹp cái này thì cái khác sẽ mọc lên liền. Kết quả sẽ đi về đâu?

Eliot Ness nuống một miếng bí tếch, không đến nổi tệ. Đã từ lâu, kể từ những ngày hẹn hò với Catherine lúc còn bồ bịch, đạy là lần đầu tiên sau khi chàng lấy vợ, được ngồi thưởng thức món bí tết nơi một nhà hàng thanh lịch với một người đẹp như Collen.

-Anh đồng ý là công việc rất khó khăn, nhưng anh phải bắt đầu từ một khởi điểm nào đó. Bị quật một hai tiệm sẽ không hề hấn gì, có thể vài chục tiệm cũng sẽ không hề hấn gì, nhưng biết đâu chừng anh sẽ tìm ra một tang chứng nào đó để lôi nó ra tòa.

-Lực lượng của anh có bao nhiêu người?

-Bây giờ thì chỉ có mình anh nhưng trong tương lai anh sẽ được tăng cường thêm vài người nữa.

Collen thấy nghẹn họng, không nhai được miếng ăn vừa cho vào miệng. Nếu có sống cho đến ngàn năm nữa, nàng cũng không bao giờ nghĩ rằng anh cớm liên bang ngồi trước mặt nàng là một thằng khùng. Nhưng nhìn cái bộ tịch tự tin và quả quyết  của hắn. Collen ngờ ngợ nghĩ rằng anh chàng này không được bình thường cho lắm. Một thân một mình từ đâu xuống đòi dẹp tan cả một “chế độ” đã có gốc có rễ, đã trở thành một thứ “siêu chính quyền” của Chicago. Nàng tròn mắt nhìn Eliot Ness:

-Anh.. anh có bình thường không. Anh không nói đùa em đó hả?

Eliot Ness bật cười. Chàng chả ngạc nhiên gì khi nhìn thấy phản ứng của Collen. Thật ra khi nói chuyện này với bất cứ người dân nào ở Chicago, chàng đều nhận được một phản ứng tương tự.

-Không anh rất bình bình thường, còn có thể nói là sáng suốt nữa. Anh không nói đùa. Anh hiểu tại sao em nghĩ vậy.

-Tại sao?

-Tại vì em sống ở Chicago quá lâu. Nơi này bọn thảo khấu đã lộng hành, đã khủng bố, đã thẳng tay tàn sát những người dám chống lại chúng. Một người bị hạ, hai người, ba người rồi đến cả ông biện lý cũng bị bắn gục. Thét rồi ai cũng sợ chúng nó cả. Em thấy không, cái quý nhất của đời người là sự sống.

Cách hay nhất để đối đầu với bọn này là: Nếu chúng nó đem cái mạng sống của chúng ta ra để làm giá mặc cả, chúng ta phải dám coi thường sự sống của mình thì no hết còn gì để mặc cả. Vả lại giết người trên đất Mỹ này đâu phải chuyện dễ. Anh biết có một người cảnh sát duy nhất ở Chicago này dám coi thường sự sống của mình nên được bọn nó rất nể sợ.

-Gary Malone?

Eliot Ness ngạc nhiên thật sự:

-Em cũng biết Gary Malone à?

-Chicago này nếu ai biết tên Capone thì cũng biết đến tên Gary Malone.

Eliot Ness cảm thấy thích thú, nhưng lại buồn ngay vì biết Gary Malone không chịu về làm việc với mình.

-Anh tình cờ gặp được Gary Malone trong lúc hắn hành sự. Phải công nhận anh không có được sự quyết liệt và bạo tợn của hắn. Dân Chiacgo này từ cớm cho tới gang tơ đều có lối hành động thật lạ lùng.

-Sao anh không kêu hắn về làm việc chung với anh.

-Người như Gary Malone không phải kêu một tiếng mà có được. Anh đã phạm một lỗi lầm tai hại là ngày đầu mới gặp anh đã đem cái mác “federal job” với số tiền lương hưu trí và một chổ làm việc sung sướng để nhữ hắn. Người như hắn không bao giờ them các thứ đó. Hắn là một thứ lãng tử ngoại hạng, một thứ ngựa hoang của rừng thẳm. Sau khi biết mình lầm, anh tìm gặp hắn thì hắn đã khinh bỉ anh ra mặt. I am sorry.

Nói đến đó mặt chàng chảy dài ra, buồn thật sự. Collebn nhìn thấy rõ hết. Người hầu bàn bắt đầu dọn thức ăn đem đi. Eliot Ness vào vấn đề chính:

-Anh cần em giúp anh một tay. Nếu em không muốn, cứ việc từ chối, anh sẽ coi như buổi gặp gỡ nay không có. Nhưng nếu em hứa giúp anh, xin em hết lòng và chân thật.

Collen cười hóm hỉnh:

-Anh sẽ trả lương em bằng gì?

Eliot dụi điếu thuốc lá dang hút dỡ. Chàng đưa hai tay nắm lấy tay của Collen, rất tha thiết, rất dịu dàng, rất ấm cúng, nói với nàng:

-Collen, anh chẳng có gì để cho em cả. Trong túi anh, anh chỉ còn đủ tiền để đến chổ nhà hàng em vui chơi thêm vài ngày nữa thôi. Nếu không tìm thấy gì, anh sẽ tính kế khác. Cũng có thể, như em nói, anh sẽ xách súng lên khách sạn Lexington bắn vỡ sọ thằng khôn rồi trở về để ngồi tù suốt quãng đời còn lại. Dù sao, là cảnh sát anh cũng có quyền mang súng vào nhà nó mà không sợ bị nghi kỵ. Em nghe anh đi. Chuyện này không còn phải là công tác để làm nữa, mà là một cuộc thánh chiến, một vấn đề của sinh tử, một vấn đề của cả mọi người, gtrong đó có em. Em biết quốc gia này đẹp quá, to lớn quá không thể để cho một thằng như Al Capone tàn phá miền đất America của chúng ta được. Bây giờ nó chỉ lộng hành ở Chicago, vài năm nữa đế quốc của nó sẽ lan rộng, lan rộng mãi cho đến một ngày cả Hoa Kỳ sẽ là đất riêng của nó. Nếu Eliot Ness này không diệt được nó ngày hôm nay, sẽ chẳng bao giờ có ai diệt được nó cả. Vì vậy, anh nói với em, nếu không diệt được nó một cách hợp pháp, anh sẽ chơi luật rừng. Anh nói và anh sẳn sàng làm những gì mình vừa nói. Bây giờ em có chịu giúp anh không?

Collen tái mặt. Nhìn bộ tịch và cặp mắt sắc như dao của Eliot Ness, nàng biết ông cớm này sẽ làm thật. Cái mặt này không quen nói dóc. Nghĩ đến cảnh ông cảnh sát Eliot Ness ôm tiểu liên xông vào khách sạn Lexington quạt tưới hột sen nàng hoảng sợ. Đẹp trai như vầy mà ủ tờ thì buồn biết mấy. Nàng cũng bỏ tay ra, ôm lấy tay chàng, giữ thật chặt. Hơi ấm từ bàn tay to lớn của ông cớm làm lòng nàng thoải mái lạ lùng:

-Anh Ness, em chỉ đùa với anh thôi. Em biết anh là người dám nói, dám làm. Đừng có dại vậy anh. Để em hỏi anh câu này, tại sao anh dám tin em? Anh không sợ em là ngưới của AlCapone sao?

-Không! Anh quên nói với em chuyện này là anh có một giác quan đặc biệt của trời cho. Anh biết người.

-Em là loại người nào?

-Loại người…như anh. Thủ tín và cướng quyết.

Collen cười, rồi nàng lại thở dài ngay sau đó:

-Có lẽ vì cương quyết quá nên cho đến giờ này em vẫn chưa lây chồng.

Eliot Ness cũng cười, xiết tay nàng chặt hơn.

-Em giúp anh.

Collen gật đầu:

-Em sẽ giúp anh. Sẽ đi hết đoạn đường dài với anh. Anh có thể tin em được.

Eliot Ness hân hoan rướn người tới trước, Collen cũng làm y như vậy. Hôn nhau một cách say đắm xong, Eliot Ness mới bàng hoàng nhận ra là mình…đã có vợ. Từ ngày cưới vợ chàng chưa bao giờ hôn một người đàn bà khác, nên không biết có nói với Catherine chuyện này không?

Collen đọc được vẻ bối rối trên ánh mắt chàng:

-Hối hận phải không?

_Eliot Ness cúi đầu để giấu một câu trả lời. Collen lại nắm lất tay chàng:

-Em xin lỗi.

-Lỗi gì?

-Lỗi đã làm cho anh thất tín với vợ. Em biết anh không phải là loại người dễ phản bội…

-Để anh đưa em về! Chú bồi, làm ơn cho tôi giấy tính tiền.

Eliot Ness mồi điếu thuốc, bỏ tiền vào dĩa đưa cho người bồi:

-Thường thường, chúng nó tiếp tên bia vào những lúc nào em biết không?

-Thỉnh thoảng em có gặp. Chúng nó làm việc kho6ngc ó thời khắc biểu nhất định nhưng em có thể đoán được lúc nào chúng sắp tiếp tê.

-Cách nào?

-Anh biết không, bia nếu để lâu sẽ mất chất hơi, uống như nước lã thì em biết là chúng sắp sửa thay bia mới.

À ra thế. Chuyện đơn giản như vậy mà xưa nay chàng không nghĩ ra được. Người xưa nói đúng “hai cái đầu vẫn luôn luôn hơn một cái đầu”.

-Chuyện này đơn giản lắm có khó gì. Anh cú cho em số điện thoại, khi nào bia bắt đầu hết hơi, em sẽ thông báo cho anh biết. Tối đó anh cứ đến chờ thì thế nào cũng gặp được.

-Như vậy thì tốt quá.

Eliot Ness viết thật mau số điện thoại của mình trên mặt sau của bao diêm, đưa cho nàng. Chàng thích thú khi thấy Collen lẩm nhẩm học thuộc lòng số điện thoại rồi trả nó lại cho chàng:

-Anh cất đi, em nhớ rồi.

-Nhất em!

Eliot Ness dìu Collen ra cửa:

-Cám ơn em rất nhiều, em ở xa không?

-Gần nhà hàng để đi làm cho tiện.

Trời bây giờ đã khuya lắm. Phố xá vắng tanh. Eliot Ness dừng xe trước một khu chung cư sang trọng. Hai người sóng đôi đi vào. .

-Em nghĩ anh đưa em đi như thế này thiên hạ có dị nghị không?

-Anh đừng quên em là một vũ nữ. Nghề cầm ca luôn luôn được kẻ đưa người đón. Cái đáng buồn là về đêm, chúng em là những người cô đơn nhất.

Eliot Ness không nói gì. Bước chân hai người xào xạc trên lối đi nhỏ. Collen dừng lại trước cửa nhà:

-Anh vào nhà chơi một chút?

-Cám ơn em. Anh phải về liền.

Collen cười:

-Anh sợ không chống lại được sự cám dỗ?

Eliot Ness gật đầu cười:

-Đúng! Đừng quên anh chỉ là người, mà em đẹp quá, lại hấp dẫn nữa. Anh sợ.

Collen cười. Trước khi nàng quay đầu đi thì đã cảm thấy cặp môi của Eliot Ness đặt trên môi mình. Một cái hôn tình tứ nhưng không lâu lắm. Eliot Ness hốt hoảng chấm dứt như sợ sẽ không kiểm soát được mình:

–Good bye, my dear!

-Good bye…

Ebor Neor vừa quay đi, nàng goi giật lại:

-Anh Ness!

-Gì?

-Ans có nhắc tên Gary Malone phải không?

Mắt Eliot Ness sáng lên:

-Em có quen hắn?

-Có. chỗ quen biết cũ…

Eliot Ness nắm lấy vai nàng:

-Em nói hộ anh một tiếng được không?

-Dĩ nhiên, anh Ness. Anh đừng quên là em đang còn thiếu nợ anh.

-Em thiếu nợ anh cái gì?

-Anh đã cứu em khỏi bị thằng anh chị kia làm nhục.

Eliot Ness cười, lắc đầu:

-Anh không dám nhận đâu. Nhưng để anh hỏi cái này, ngày mai cm đi làm trở lại nó sẽ đối xử với em như thế nào?

-Em đã nói với anh rồi! Vũ nữ đắt khách như em không có gì phải lo cả. Hơn nữa, những thằng an ninh ăn hại như vậy theo lệ thường thì sẽ bị khai trừ, giao cho những công tác ít nguy hiểm hơn. Anh không biết luật giang hồ nhiều bằng em đâu.

Lại thêm một cái hôn nồng cháy trước khi chia tay. Lần này Eliot Ness cắm đầu đỉ thẳng ra xe, tự nhủ với lòng mình rằng từ nay chàng sẽ không bao giờ hôn Collen nữa.

Trong bóng tối, tiếng máy xe của chàng thanh tra cảnh sát vang lên từ từ, rất ấm, rất nhẹ nhàng. Collen đứng tựa cửa nhìn theo cho đến khi không còn nghe được tiếng xe nữa. Nàng xoay người tra chìa khóa vào ổ và tự dưng uớc ao rằng Eliot Ness là một người độc thân chưa vợ…

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 19 Apr 2025

Chương 15.

Catherine dọn xong bữa tối, chờ đến hơn 9 giờ Eliot Ness mới về đến nhà. Nhìn thấy chồng, nàng tự nhiên không cầm được nước mắt, khóc òa lên. Sáng nay đọc báo, Catherine đã biết tất cả về sự thảm bại của chồng. Anh ấy đã bị lừa một vố ra gì. Nàng biết chồng mình sẽ không đầu hàng, chắc chắn chàng sẽ chiến đấu để thực hiện cho bằng được những gì chàng tuyên bố: “I come here to get Capone”, nhưng khi nhìn thấy khuôn mặt tiều tụy, đôi mắt trũng sâu xuống vì mệt mỏi, Catherine cảm thấy thương chồng quá đỗi.

Sau cái hôn, Eliot Ness mỉm cười, gỡ vòng tay nàng ra, hỏi nhẹ nhàng:

– Con đi học có gì lạ không em?

– Rất tốt. Bé đã vừa đi ngủ hồi nãy. Anh đừng lo cho con, em lo cho anh kìa.

Eliot Ness cười:

– Em đừng lo cho anh, anh lo thân anh được. Hay mình vào thăm con rồi ra ăn cũng còn kịp.

Hai người đi vào phòng ngủ con gái, đứng lặng im trong bóng tối ngắm đứa bé. Nhìn đứa bé gái thiêm thiếp môi hồng nằm ngủ trong mộng đẹp, Eliot Ness cảm thấy cuộc chiến đấu của mình, ít nhất có một điều an ủi. Chàng đang chiến đấu cho cái thế hệ trẻ thơ này của Chicago và của cả toàn quốc. Chàng muốn khi chúng lớn lên, sẽ được sống trong một xã hội Mỹ thanh bình, không có tội ác, không có cảnh đĩ điếm đầy đường, không có những cảnh bắn giết nhau rùng rợn giữa thành phố.

Chàng nhẹ nhàng đi đến gần bên con, đặt trên má đứa bé một cái hôn. Bé gái xoay người, miệng mơ màng cười thật tươi.

Khi ngồi vào bàn bắt đầu bữa ăn tối, cầm chiếc khăn trải rộng trên đùi, Eliot Ness mới cảm thấy thoải mái thật sự. Gần hai ngày qua, những biến cố dồn dập làm cho thần kinh người cảnh sát liên bang căng thẳng quá mức. Đây là lúc duy nhất mà đầu óc chàng không nghĩ đến Al Capone, đến cái chết thê thảm của Mose Stash, đến Gary Malone hay Mike Casey. Chàng dự tính sẽ quên tất cả mọi chuyện để thưởng thức món bí tết tuyệt hảo vợ chàng đã làm.

Catherine cũng cảm thấy vui trong lòng khi thấy chồng hầu như đã quên hết mọi chuyện để dùng bữa tối. Hai người nói chuyện thời tiết, gió mưa, cố tránh cái đề tài sầu thảm, Al Capone.

Tráng miệng xong, Catherine pha cho chàng một ly cà phê nóng hổi. Eliot Ness mồi điếu thuốc, nhả khói vu vơ, đã đến lúc cần phải nói cho Catherine về chuyện chàng tính làm:

– Catherine, anh muốn nói với em điều này.

Nàng đã chờ đợi giây phút từ lâu này nên rất bình tĩnh:

– Em nghe.

– Em có đọc báo sáng nay?

– Có. Em thấy hình anh!

Eliot Ness cúi đầu, giọng trầm hẳn xuống:

– Em biết anh đã tuyên bố với báo chí những gì. Và hơn ai hết, em hiểu tính anh. Những ngày sắp tới, sẽ là những ngày khó khăn cho anh và có thể cho cả em nữa.

– Em hiểu.

– Anh sẽ không bao giờ rời khỏi thành phố này nếu không nhốt được thằng khốn đó sau mấy lần song sắt nhà tù.

Lần đầu tiên, nàng tò mò về công việc của chồng:

– Em biết tính anh, anh nói là anh làm. Nhưng anh chỉ có một mình, em nói anh đừng buồn, em sợ anh khó thành công.

Eliot Ness rít một hơi thuốc lá:

– Em nói đúng. Nhưng anh sẽ không cô đơn. Anh sẽ kiếm ra người.

– Từ Hoa Thịnh Đốn?

– Có thể, nhưng anh thích tìm người ở Chicago hơn.

– Em nghĩ nếu anh chịu khó tìm chắc sẽ kiếm được. Không lẽ cả ty Cảnh sát Chicago mà không có lấy một người đáng tin cậy sao?

Eliot Ness cười:

– Có một người, nhưng hắn không thích anh.

– Tại sao vậy?

– Anh không hiểu. Anh đã đề nghị với hắn mấy lần nhưng vô hiệu quả. Ông cớm này rất giỏi, hơn hẳn anh về nhiều phương diện, nếu có được hắn, anh sẽ thành công. Nhưng anh đã dùng đủ cách mà hắn vẫn không thay đổi ý kiến.

– Hắn đang giữ chức vụ gì?

– Cảnh sát …gác đường.

– Tài vậy sao lại phải gác đường?

– Tại vì Chicago là thiên đường của tội ác. Những thằng ăn bẩn, những thằng côn đồ thì nắm giữ chức vụ quan trọng, còn người lương thiện đàng hoàng thì bị đi đày, bị giao cho những chức vụ không quan trọng như đi gác đường, v.v.

Hai người im lặng một lúc. Eliot Ness mồi một điếu thuốc lá khác:

– Em biết tại sao anh thất bại vụ đột kích vừa rồi không? Vì anh ngu si đến độ đi thông báo địa điểm tấn công cho mấy thằng cảnh sát biết trước. Từ này về sau, anh sẽ đích thân đi làm lấy. Anh đã nghĩ ra một kế hoạch tìm kiếm các lò nấu bia của chúng nó.

– Bằng cách nào?

– Em biết, bất cứ cơ sở làm ăn nào cũng vậy, có hàng bán ra tức cần phải được tiếp tế. Xưa nay, các nhân viên của sở bài rượu chưa bao giờ kiếm được các lò nấu rượu là vì những người này đã được chúng nó cho ăn ngập mặt. Anh nghĩ, nếu mình muốn tìm cũng không khó. Chỉ chịu khó theo dõi một tiệm nào đó, một ngày, hai ngày, ba ngày… cho đến khi nào chúng nó xách xe tới tiếp tế rượu. Thấy nó rồi, cứ việc bám theo thì bao nhiêu cái lò bí mật lại không kiếm ra? Đó là chuyện quan trọng anh muốn nói với em ngày hôm nay. Những ngày tới, anh sẽ đi sớm và về rất trễ, hoặc nhiều khi anh sẽ không về nhà trong mấy ngày. Anh muốn em biết để chuẩn bị.

– Em quen rồi!

Nàng nhìn Eliot Ness mỉm cười:

– Anh tính ngồi chỗ nào mà canh. Cái mặt của anh, từ đằng xa người ta đã ngửi thấy mùi cớm rồi, làm sao lừa ai được?

Eliot Ness cười theo:

-Thật à. Nhưng báo tin mừng cho em biết, anh sẽ lột xác để trở thành một dân chơi chính hiệu ở Chicago. Anh đã đi may đồ, đôi giày da cá sấu anh còn để ngoài xe, quên đem vào.

– Anh nói thật?

-Thật. Trước khi đi, ông Tổng Giám đốc có dúi vào tay anh 2000 đô để làm quỹ đen. Ông ta vơ vét hết cả Nha chỉ còn có thế, bảo anh rằng nếu tiêu hết mà chưa diệt được thằng Al Capone thì rán lấy tiền túi ra mà chi phí.

– Nha Ngân khố của anh thật là kỳ cục. Mỗi tháng in ra không biết bao nhiêu triệu đô la mà sao keo kiệt thế? Vậy anh đã may sắm hết bao nhiêu rồi?

– Chừng 500 đô!

-1/4 số tiền quỹ rồi!

– Đúng vậy. Anh tính sẽ tiêu thêm 1/4 nữa trước khi nắm vững tình hình về các lò nấu rượu của thằng Al Capone…

– Anh sẽ còn lại 1000 đô chẵn?

Eliot Ness nửa đùa nửa thật:

– Đúng, một ngàn đô để tiêu diệt một đế quốc giàu 100 triệu đô la không phải là chuyện đáng làm sao?

Catherine không cười. Nàng nắm chặt tay Eliot Ness:

– Em biết anh sẽ thành công. Eliot, em hãnh diện làm vợ của anh. Ngày nào đất nước này còn những công dân như anh, ngày đó Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ còn xứng đáng để cho cả thế giới noi gương…

Hai người ngồi nói chuyện đến khuya. Tối đó, Eliot Ness ngủ một giấc ngon lành.