lytong.wordpress.com
Lý Tống

Phần 6
Đến Pnom Penh, Thủ Đô Kampuchia
Qua phà, lên xe, chúng tôi tiếp tục đường về Pnom Penh, tình hình yên tỉnh trên đoạn đường cuối gần thủ đô Cao Miên. Chúng tôi xuống xe, đi bộ qua cầu Sàigòn, một cái tên đậm tình anh em quốc tế Miên—Việt. Bên kia cầu ngay giữa bùng binh có một trạm kiểm soát lớn đang hoạt động. Tiếng tu huýt, tiếng lao xao rộn rịp của Đội Cảnh sát, nút chặn chính thức của Pnom Penh. Chúng tôi đi bộ tà tà và lượng định hướng đi. Ba nhánh đường lớn rẽ về ba phía tách biệt, tôi chọn đường giữa, đi thẳng. Khỏi tầm kiểm soát trạm gác, chúng tôi dừng lại bên lề hỏi thăm một cô bán hàng vặt, may mắn em là Việt kiều và chưa quên tiếng mẹ đẻ. Tôi hỏi hướng đi về nhà ga xe lửa, ôn lại một vài tiếng Miên cần thiết học lóm ở Sàigòn.
_Tâu à Tiêt plươn là đi nhà ga phải không?
Cô bé sửa lại cách phát âm và giúp chúng tôi đón xe thồ Honda, trả giá và lập lại lần chót à tiet plươn với người tài xế.
Tôi đã qua lại Pnom Penh thường xuyên trong những phi vụ biệt phái suốt ba tháng. Có lần Việt Cộng pháo kích phi trường, đám Biệt đội Quan sát nửa đêm phải chui vào bếp tránh đạn. Nhiều nhà cửa, phòng sở sụp đổ tan tành. Phòng Phi Hành đoàn lởm chởm vết đạn và hư hỏng nặng nhiều nơi. Chúng tôi hoàn toàn vô sự ngoài những đất bụi, vôi vữa tung tóe phủ đầy đầu tóc, mặt mũi. Từ đỏ giải tỏa lệnh ở lại đêm, sáng đi, chiều về thong thả. Nhờ vậy hầu hết các Phi công biệt phái Pnom Penh có dịp làm tiền. Mỗi lần rời Cần Thơ, chúng tôi thủ sẵn ít vàng hoặc tiền. Đến nơi, trong khi chờ đợi phi vụ, rảo khắp chợ mua những hàng hóa bán được giá. Hai thứ thông dụng nhất là nho tươi và đầu máy may Singer. Xe Biệt đội có gắn máy FM liên lạc, nên dù lang thang đây đó, chỉ cần nghe lệnh gọi trên máy, chúng tôi sẵn sàng phóng ra phi trường cất cánh ngay.
Nhiều lúc trên đường trở về, bất ngờ nhận được lệnh đi đánh mục tiêu khẩn cấp. Chiếc Cessna cồng kềnh giỏ xách, bao bì, mỗi lần chúi xuống bắn trái khói là mỗi lần run rẩy triệt nâng stall vì chở nặng. Buôn bán những hàng hóa nặng nề cồng kềnh thật không phù hợp với danh hiệu người lính hào hoa, nhưng không tiền làm thế nào hào hoa nổi. Tiền bạc kiếm dễ cũng gây nhiều mâu thuẫn tranh chấp. Mỗi Phi đoàn mấy chục mạng mà mỗi ngày chỉ đi biệt phái một hai chiếc sẽ không tránh được chuyện kẻ đi nhiều người đi ít. Tiền cũng làm những người vốn sợ bay, chán bay trở nên tích cực. Tiền còn khích động những tay mơ mới vào nghề L19 lại xin được check out phi cơ Cessna sớm để được biệt phái Cao Miên.
Tôi quen thuộc thành phố Pnom Penh cũng nhờ dịp đó. Những hàng phượng đỏ chạy dài từ phi trường vào thành phố. Những công viên hoa lá rực rỡ xinh tươi. Những chiếc Mercedes, D.S., Toyota… bóng lộn, nối đuôi trên đường phố, những dancing sang trọng, những cao lâu tửu quán đầy những thúc ngon vật lạ. Giờ nầy, cảnh nhộn nhịp, giàu sang đã biến mất, khu chợ bán nho, trái cây quen thuộc đã bị đốt bỏ, những dãy nhà vôi sơn bạc màu nằm lặng lẽ buồn bã, những nhà hàng, tiệm buôn lớn ngày xưa, giờ lèo bèo vài thứ hàng tồi tàn, và phần lớn đóng cửa. Xe đạp nhan nhãn khắp nơi, thế chỗ những chiếc xe hơi đắt giá đã được chuyên chở về Hà Nội. Tôi nhắm mắt một phút, mật niệm cho một Nam Vang thay ngôi đổi chủ. Lịch sử tiến hóa của loài người thật trớ trêu. Cứ đà nầy, năm hai ngàn lẻ, thế giới chắc chắn trở về sống trong hang đá, lấy vỏ cây che thân và làm người Cộng Sản nguyên thủy nếu Chủ nghĩa CS thắng lợi.
Nhà ga xe lửa vắng vẻ, tôi dọ hỏi biết hai ngày mới có một chuyên tàu đi Battambang. Tôi dẫn Sang đi về trung tâm thành phố, kiếm một rạp xi nê để qua giờ, chờ chuyên tàu ngày mai. Đi dông dài ngoài đường thật nguy hiểm, đường phố tràn ngập đồn Công an Phường. Y phục ngụy trang tốt ở thôn quê lại không phù hợp ở thành phố. Dân thành phố, dù là một thành phố nghèo nàn, cũng có những kiểu cách riêng. Không tìm được hình tài tử xi nê, quảng cáo phim đang chiếu, tôi dẫn Sang đi về phía chợ, đó đây các cửa hàng trưng bày một số hàng giá trị như đồng hồ, vải vóc…
Chen lấn trong cảnh tấp nập, có lần tôi nghe được tiếng Việt nên đến gần những chàng thanh niên trẻ, quần jean, áo thun khá bảnh chọe gợi chuyện. Buồn thay, khi thấy tôi trong bộ dạng trang phục “nhà quê,” mấy chàng chỉ đáp lấy lệ rồi đi thẳng. Tôi tìm một chỗ ăn uống vắng vẻ. Kéo ghế ngồi ở góc đối diện tiệm bán mỹ phẩm thừa dịp ngắm nhìn cô bán hàng xinh đẹp trong một phút nghỉ ngơi. Mái tóc dài đen nhánh xõa vai, đôi mắt lớn kiều diễm mơ mộng. Tôi mừng rỡ nỗi vui của kẻ tha hương gặp người đồng hương khi biết nàng là Việt kiều làm nghề buôn bán, và rành đường đi nước bước. Tôi hỏi dò về cách thức đi xe lửa. Cái ấn tượng hỗn loạn, vô trật tự, miễn phí của một nhà ga xe lửa, theo lời diễn tả của một người tài xế Việt Nam từng lái xe đường Kampuchia bị xóa tan ngay trước lời giải thích:
— Không có giấy phép đi đường, không thể nào mua vé được. Cho dù có giấy tờ mà không biết tiếng Miên cũng bị bắt ngay. Không chỉ tại cổng nhà ga mà ngay trên xe lửa, Toán An ninh vẫn thường xuyên kiểm soát gay gắt. Anh vừa từ Việt Nam sang hả? Có ai dẫn đường không?
Tôi trần tình về trường hợp của mình, cô bé tròn xoe mắt kinh ngạc.
_Anh nên trở về Việt Nam thì hơn! Tôi cam đoan trăm phần trăm anh sẽ bị bắt nếu không nghe lời tôi!
Tôi đã nhìn qua vị trí và tình hình nhà ga. Tôi đã có ý định đột nhập nhà ga ban đêm, ẩn nấp trong toa xe để đi lậu nên khi nghe nói vậy, phần bực mình vì lời nói có điềm xui xẻo, phần chạm tự ái, tôi gật gù tự tin:
—Tôi sẽ đi và sẽ thành công!
Tôi vẫn tự tin và hơi quá tự tin bởi vì tôi đã từng đột nhập Phi trường Tân Sơn Nhất như vào chốn không người. Tôi xem thường ý kiến của giới tóc dài trí ngắn. Hỡi cô bé! Em đâu biết cái anh chàng “cù lần” ngồi trước mặt em đã làm bao nhiêu chuyện động trời! Nhưng, bỗng nhiên, nỗi lo âu bức rức chợt lóe lên, cái cảm giác rất người khi sắp phải đương đầu khó khăn nguy hiểm. Nhưng rồi, tôi lại nhìn cô bé, mỉm cười ngạo nghễ như muốn nhắn nhủ: “Một ngày nào thành công, ta sẽ trở lại đất nước sẽ phải thanh bình nầy, để thăm lại em trong một hoàn cảnh, một tư thế khác, cưng ạ!” Tôi đi mua dép râu cho Sang, đánh một vòng chót nhìn ngắm những nhan sắc phụ nữ đẹp hiếm hoi đã một thời lộng lẫy giờ tàn phai trong cảnh nghèo nàn khốn khổ. Tính toán tiền bạc, trừ hai vé tàu, tôi chấp thuận yêu cầu của Sang: “Ăn một bữa ngon miệng lần chót”
Tôi áy náy cái chữ lần chót Sang dùng bởi vì cái nghĩa bi thảm và xui xẻo của nó. Khác một lần chót, để từ nay trở đi, chúng tôi bắt buộc phải ăn lương khô, uống nước ruộng trong đoạn đường cuối cùng sang đất Thái. Hai ổ bánh mì lớn, mấy khoanh thịt heo quay, thừa sức đáp ứng sự thèm khát quá độ của chú bé. Ngồi nhàn nhã bên lề đường, chúng tôi ăn uống, tiêu phí những đồng riels cuối cùng sau khi trừ tiền vé, xong lên đường trở về nhà ga xe lửa. Những dãy nhà bề thế nằm dọc theo khu vực nhà ga, những cánh cổng sắt giăng thép gai, những khoảnh vườn hẹp, những ngọn đèn điện tù mù, những yếu tố thuận tiện và thích hợp cho một cuộc đột nhập ban đêm nếu không thể nào đường đường chính chính đi vào như một hành khách hợp pháp với vé tàu trên tay. Nhiều hành khách tụ tập trước thềm nhà ga, Sang dùng tiếng Khmer dọ hỏi nhưng cuối cùng, chính tôi là người tìm ra manh mối. Tôi đến thẳng xe nước mía và dạm hỏi bằng tiếng Việt:
— Chị là người Việt Nam phải không?
May mắn, tôi chọn đúng đối tượng. Tôi nhờ chị ta mua hai vé xe lửa.
— Ờ được! Nhưng hãy coi chừng, cẩn thận. Đừng nói tiếng Việt nhiều, tụi công an chìm rình rập dữ lắm.
Chị nhờ bà Khmer bán cháo gà mua dùm, mỗi vé 35 riels gồm cả tiền tip. Mười phút sau, người đàn bà Khmer nháy mắt ra hiệu và lén lút đưa vé. Yên chí, tôi vào hàng hiên trước nhà ga và cùng Sang tìm một chỗ nằm chen chúc cùng các hành khách bình dân khác trên sàn xi măng. Chỉ tính nằm nghỉ khỏe, vô tình chúng tôi ngủ say. Đang ngủ, bỗng bị đá vào chân đánh thức, ba tên An ninh nhà ga ra dấu bảo chúng tôi dời chỗ khác.
Thật đoảng! Đám người nằm ngổn ngang biến đâu hết chỉ còn hai đứa tôi trơ trọi giữa hiên nhà trông vắng mênh mông. Tôi vươn vai đứng dậy, Sang còn ngái ngủ không chịu rời chỗ. Tệ hơn, chú bé lại xích sát vào góc tường nằm ngủ tiếp. Tôi chưa tỉnh táo để nghĩ mình nên làm gì thì Sang đã bắt đầu ngáy khò khò ngon lành. Một lát, ba người An ninh trở lại, dựng đầu Sang dậy hỏi:
— Tại sao không chịu đi?
Tôi hiểu theo sự phán đoán của mình. Sang trả lời không sành sỏi, một trong ba người nói được tiếng Việt, trọ trẹ hỏi tiếp:
— Bộ đội VC hả? Ra nằm ngoài công viên kia kìa!
Tôi lật đật kéo Sang đi sợ lộ tông tích. Bên kia đường là Đài Kỷ niệm có tường thấp bao bọc, xây trên sân rộng cao hơn mặt đường. Cảnh hoạt động về đêm ở những bến xe bến tàu ở Kampuchia cũng như ở Việt Nam lúc nào cũng náo nhiệt, rộn ràng. Kẻ nằm ngổn ngang, người ăn quà vặt, hoặc ngôi tán dóc. Tôi tránh khu vực dành riêng cho Bộ đội, chen lẫn vào đám người hành khách ở xa Pnom Penh, không có nhà cửa, thân thuộc, phương tiện, nằm bụi đời giữa trời để chờ chuyến tàu sáng mai.
Bị ám ảnh bởi ba tên An ninh, tôi tách xa Sang, mỗi đứa nằm ngủ mỗi chỗ. Cẩn thận hơn, tôi dùng khăn cà ma trùm kín mặt, lộn ngược áo phía trong ra ngoài, che dấu những sọc ca rô màu đỏ sậm dễ nhận. Về đêm, có toán tuần tiễu đi kiểm soát, có tên đá vào chân tôi đánh thức để nhìn mặt. Tôi giả vờ ngủ mê, nằm ì không dậy, toán tuần tiễu bỏ đi nơi khác.
Buổi sáng, tôi dậy sớm cùng với mọi người. Gặp Sang, dặn chú bé đứng chờ, tôi đi đổi áo vì sợ toán an ninh nhìn áo nhớ mặt. Tôi có hai áo, chiếc áo thun màu xanh quá chật, ngắn cũn cỡn, chỉ có thể mặt lót bên trong cho ấm. Tôi tìm những người chạy xe ôm, lựa những loại áo còn xài được, màu sắc ít lòe loẹt để đổi. Dù sao cái áo tôi đang mặc vẫn còn tốt hơn áo họ.
Ngôn ngữ bằng tay dễ hiểu trong một vài trường hợp thông thường. Một khi đã vào trường hợp đặc biệt, tay chân cũng đành bất lực không diễn tả được. Tôi vừa chỉ vào áo mình, vừa chỉ vào áo họ, miệng nói đổ (đổi). Tôi lựa những người đứng riêng rẽ để không làm kẻ khác chú ý. Vì bận bịu tìm mối rước khách kiếm tiền, vì không hiểu được cái lối đổi chác kỳ cục chưa từng gặp, và hơn nữa, có lẽ họ nghĩ tôi khùng, nên ý định đổi áo cuối cùng không kết quả. Tôi đành phải đổi áo cho Sang, em mặc thật vừa vặn, và tôi mặc chiếc áo trắng rộng thùng thình của em, chiếc áo trắng bị sút đường chỉ nách và rách đàng sau lưng.
Tôi vạch kế hoạch vào cổng. Có ba cửa kiểm soát, Sang và tôi sẽ đi khác cửa, ai bị bắt thì chịu một mình, người kia tiếp tục kế hoạch của mình. Sang có thể trở về Việt Nam hoặc lén lút tìm việc làm, sống bất hợp pháp tại Kampuchia chờ cơ hội. Nếu mọi sự tốt đẹp, chúng tôi sẽ chờ và gặp nhau tại chiếc xe lửa sắp khởi hành.
Bị Bắt
Tôi chen vào cổng chính cùng đám hành khách vội vã tất bật. Đứng ở phòng đợi tạm thời, tôi quan sát thể thức soát vé và cách di chuyển của hành khách. Cổng số 1 có toán tuần tiễu của Bộ đội VC đang kiểm soát, xét giấy tờ. Cổng số 2 và 3 hoạt động bình thường. Hành khách khiêng vác hành lý qua cổng, đưa vé cho nhân viên bấm lỗ và đi qua. Tôi lợi dụng giây phút hỗn độn chen chúc đi vào, chẳng biết Sang đã vào chưa. Nhân viên kiểm soát quá bận rộn, họ chỉ kịp cầm vé, bấm lỗ, trả lại và không hề nhìn mặt hành khách. Tôi lọt qua cổng dễ dàng. Hình ảnh cô bé Việt kiều ở chợ và lời đe dọa vừa lướt qua trong đầu, tôi mỉm cười với ý nghĩ chế diễu, ngạo mạn. Đi được hai mươi thước, tôi chợt nghe tiếng gọi và tiếng chân nặng nề vội vã đuổi theo:
— Xốp. Xốp.
Dù không biết tiếng Khmer, tôi cũng đoán được ý nghĩa của nó: Stop. Stop.
Trong một thoáng phân tích tôi có ngay quyết định. Dù tên Công an chạy theo hỏi giấy một người khác hay đuổi theo tôi, tôi vẫn phớt tỉnh Anglais, vẫn tiếp tục đi. Sự bình thản, sự bình tĩnh trong cuộc đời, qua những kinh nghiệm, nhiều lúc đã hóa giải sự nghi ngờ và giúp tôi qua mặt an toàn những nguy hiểm. Sự bình tĩnh, giờ phút nầy không đạt được kết quả, bởi vì tên Công an đã bắt kịp, nắm lấy cổ áo tôi, nhìn tôi trừng trừng và quát tháo, la lối bằng thứ ngôn ngữ khó hiểu. Tôi mỉm cười, nhún vai, đưa cái vé đã bấm lỗ cho anh ta xem, rồi bỏ đi không thèm nói một lời, bởi vì tôi có biết tiếng Khmer nào đâu để nói. Y lại đuổi theo tôi, móc khẩu súng Colt lận trong bụng chĩa ngay vào mặt tôi, miệng nói, tay cầm súng vẫy vẫy về phía phòng an ninh nằm bên phải. Biết không thể làm gì khác được trong một khu vực phòng thủ chặt chẽ, tôi lại mỉm cười, nhún vai và tuân theo lệnh áp giải.
Thượng đế ơi! Ngài thật trớ trêu, Ngài đã giúp tôi vượt khỏi nhà tù A30, giúp tôi ra vào an toàn trong cuộc đột nhập Phi trường Tân Sơn Nhất, giúp tôi đi qua một chặng đường gian nan vất vả… giờ nầy lại để tôi bị bắt một cách lãng nhách tại đây. Tại sao tôi đã không chọn đường đi bộ thay vì xe lửa, thật là một giải pháp nhầm lẫn. Có phải vì tôi ngại đường xa, ngại nhọc nhằn, có phải vì tôi muôn chọn con đường vượt biên nhàn hạ, nhanh chóng. Tôi chẳng thấy buồn, tôi chẳng thấy lo, tôi tự nhủ thầm: “Âu cũng là số mệnh.” Những ý nghĩ miên man chấm dứt khi văn phòng thẩm vấn xuất hiện với vẻ nghiêm trọng đặc biệt. Tên Trưởng Phòng An ninh đang ngồi chễm chệ trên ghế, sau khi trao đổi ý kiến, y hỏi tôi bằng tiếng Việt lơ lớ:
— Có biết tiếng Miên không?
Tôi lắc đầu. Y chỉ tay về phía phải, ra lệnh:
— Quay mặt vào tường, cởi hết áo quần.
Tôi mở nút, cởi áo, quần và ngần ngại lưỡng lự với chiếc quần lót cuối cùng.
— Cởi ra luôn. Y quát lớn.
Tôi đứng tồng ngồng như nhộng. Ngoài kia thiên hạ vẫn còn đi vào tấp nập, bức tường dưới cửa sổ đã che đậy phần thân thể trần tục của tôi. Tôi liếc xem coi chúng làm gì. Phải bái phục cái nghề khám xét của họ. Tất cả áo quần đều bị lộn trái, cái túi nhỏ khâu kín đáo trong ống chân quần để dấu xấp bản đồ cắt nhỏ, gọn gàng, giờ nằm tênh hênh trơ trẽn. Mấy chục đồng riels đổi tại Sàigòn được dấu kín, chỉ để sử dụng trong những trường hợp khẩn cấp nguy nan, may khéo léo trong lưng quần cũng không thoát khỏi bàn tay điêu luyện. Đồ trong túi xách đổ ra nằm ngổn ngang trên bàn.
— Đi đâu? Muốn làm gì đây?
Tên Trưởng phòng gằn từng tiếng. Trước sự thực phũ phàng, trước những bằng chứng hiển nhiên: Bản đồ, địa bàn, lương thực… tôi chẳng cần rườm rà dông dài để trần tình.
— Tôi đi vượt biên.
Tôi đáp thỏng, vắn gọn. À! Y cười một cách thông khoái, nét mặt rạng rỡ hẳn lên. Có lẽ trong cuộc đời thẩm vấn, chưa bao giờ y thành công nhanh như thế. Chưa bao giờ y gặp một người bị thẩm vấn thành thật một cách kỳ cục như thế. Đó là lý do vì sao y đối xử dễ dãi và dễ tin tôi.
— Tên tuổi?
— Hoàng Nhật Tuấn. 33 tuổi.
Từ ngày Cộng Sản xâm lược miền Nam, cuộc đời thăng trầm cứ bắt buộc, cưỡng ép tôi phải đổi và lấy nhiều tên mới. Ngoài tên cúng cơm Lý Tống, Lê VạnTống, tôi còn sử dụng các tên: Hoàng Nhật Tuân, Hoàng Tuân, Lý Tiên Sinh, anh Lý, anh Hai, nếu không kể đến các biệt danh: Công tử nhất bộ, Thiết thủ đa tình…
— Gia cảnh?
— Trước kia làm Giáo sư Anh Văn, sau đi kinh tế mới, đói khổ, bệnh tật. Hai đứa con chết, vợ bỏ đi lấy ba Tàu. Buồn quá tôi đi vượt biên để tìm một cuộc sống mới.
Tên nầy ghi chép với vẻ “cảm động” vì hoàn cảnh bi đát do tôi bịa ra.
— Tại sao lại có hai khăn cà ma? Đi với ai? (Sang bỏ quên khăn trong túi tôi).
—Tôi đi một mình. Trời lạnh phải dùng thêm một khăn cà ma đắp cho ấm.
— Khai thật đi. Ai dẫn anh đi?
— Tôi đi một minh.
— Nói láo. Làm sao đi một mình được. Có biết ai tên Tống không? Có phải ông Tống dẫn đi không?
Tôi thót giật mình. Ông Trời cũng hay thật, ông lại phái một tay tên Tống nào xuống Nam Vang nầy, chuyên môn dẫn người đi vượt biên để kiếm tiền, và người đó lại trùng tên tôi, cái tên ít người Việt Nam nào có, nhưng lại thông dụng với người Tàu. Thì ra các bố an ninh nhà ta chỉ mong tôi khai người dẫn đường để bắt họ chi tiền chuộc người ra mà thôi.
— Không, tôi đi một mình. Anh xem các đồ dừng của tôi: Bản đồ, địa bàn, lương khô, anh có thể suy luận và tin tưởng điều tôi nói.
Trong cái thật có cái giả, trong cái giả có cái thật. Nhưng lý luận như vậy là tôi đã lý luận thật và nói thật, mặc dù đã lờ chuyện Sang. Trong khi tên Trưởng thẩm vấn, tên bắt tôi lại bỏ đi ra ngoài lùng kiếm những người khả nghi khác. Hỏi cung xong, y cho tôi ngồi nghỉ ở một góc phòng, mặc lại quần áo. Một lát sau, Sang lại lù lù dẫn xác vào! Thật vỡ nợ! Sang ngạc nhiên nhìn tôi, tôi cũng ngạc nhiên nhìn Sang, dùng mắt ra hiệu “không quen biết” và tôi ngồi bình thản như chưa từng gặp Sang lần nào trong đời mình.
— Đi đâu? Làm gì?
Tên an ninh hỏi Sang, em lắp bắp trả lời bằng tiếng Miên, cái tiếng Miên học lóm chưa được sành sỏi, thông thạo. Cuối cùng tên trưởng phòng xen vào thẩm vân bằng tiếng Việt:
— Tên gì? Mấy tuổi?
— Tên Sang. 16 tuổi. (Đó là dịp đầu tiên tôi biết tên chú bé).
— Nhà ở đâu? Làm gì?
— Ở Gò Dầu Hạ. Chạy xe đạp thồ.
— Đi đâu?
— Em đi Battambang tìm thăm người anh làm Bộ đội.
— Bộ đội hả? Láo khoét. (Tên này tiếng Việt cũng ỡm ờ, tưởng Sang khai mình làm Bộ đội).
— Không, anh tôi làm Bộ đội ở Battambang.
— Thằng nầy nói láo.
Vừa nói y vừa đánh một bạt tai vào mặt Sang, em sợ quá ôm tay tên An ninh vừa khóc vùa năn nỉ:
— Em nói thật. Xin anh thương em, đừng đánh em.
Cái vẻ tội nghiệp, sợ sệt của Sang không làm y xúc động. Trái lại y càng bực bội hơn, đấm đá, tát lấy tát để. Ngồi nhìn Sang bị đánh, tôi thấy đau xót, tự trách mình đã dẫn Sang đi, đã mang họa cho chú bé. Sang quì xuống, chắp tay lạy rối rít:
— Lạy anh, lạy anh, anh thương em. Em nói thật, anh tha cho em.
Tên An ninh dộng thêm mấy đạp rồi cho Sang ngồi chung với tôi, sau khi đã hỏi thêm một vài chi tiết. Hai đứa ngồi cùng nhau, nhưng không hề nhìn nhau, nói với nhau. Cuộc đời ơi! Lắm lúc cuộc đời cứ trách con người sao hay làm mặt lạ với nhau, nhưng trong trường hợp nầy chắc chắn không ai khuyên chúng tôi nên làm mặt quen với nhau cả. Tên nói tiếng Miên lại bỏ đi, tên Trưởng phòng mặt hiền, dễ chịu, lại nói được tiếng Việt. Tôi mở lời tán tỉnh:
— Các anh hay thật. Làm sao nhìn chúng tôi, các anh đoán được chúng tôi là người phi pháp để bắt giữ?
Y cười trả lời:
— Dễ quá. Cái tướng của anh phong lưu, lại ăn mặc rách rưới tồi tàn, làm chúng tôi sinh nghi. Còn thằng nhỏ này, nó đứng lớ ngớ chờ ở toa xe lửa, nên tôi tóm luôn.
Cái bộ mã của con người cũng thật quan trọng. Vâng. Ngay chính Việt Cộng lúc nào cũng tự cho là hồng và chuyên (red and expert) là hai yếu tố chính của một cán bộ mẫu mực vẫn còn có ý nghĩ “Phi công là phải đẹp trai, hào hoa phong nhã.” Vì thế nên khi gặp Chính, một Phi công chính hiệu con nai vàng, nhưng lại xấu trai, nên mỗi lần Chính khai lý lịch lại bị họ sỉ vả và cật vấn:
— Tướng mầy mà làm Phi công gì? Đồ nói láo!
Sau nầy, khi nghe tôi xác nhận Chính đứng là Phi công cùng Không Đoàn với tôi, đám Cán bộ Trại mới chịu tin.
Những đại tài tử nổi danh, một phần nhờ khả năng diễn xuất, nhưng phần lớn, nhờ nghệ thuật hóa trang và kỹ thuật tân tiến của điện ảnh. Đóng một vai sống động ngoài đời, trước họng súng, trước những đôi mắt chuyên nghiệp của các tay điều tra, phải thật sự có bản lãnh mới hoàn tất được. Tôi gạ gẫm tên An ninh:
— Anh thông cảm hoàn cảnh tôi. Nếu anh thả tôi, một ngày nào đó, tôi sẽ đền ơn anh.
Y đáp:
— Anh đi thế nào cũng bị bắt lại. Thôi chờ đây, tôi không giao anh cho Bộ đội VC đâu, tôi sẽ cho anh ở Trại chung với người Khmer. Ở đó dễ chịu, làm việc nhẹ, ăn uống sướng, có tiền thù lao, chỗ ở thoải mái, công trường lao động chứ không phải nhà tù đâu.
Sau vài lần thuyết phục, tôi biết được lý do sự thất bại của mình. Trên tuyến đường nầy, Toán An ninh nhiều lần bắt được người vuợt biên, thông thường, người dẫn đường chi tiền để chuộc họ. Lâu lâu kiếm được một con mồng nghèo, bụi đời, họ phải giải giao để minh chứng sự hữu hiệu của công tác mình. Điều đó được xác nhận khi một người đàn ông khác bị bắt. Anh ta là một Việt kiều, nhưng nói tiếng Miên rành như người bản xứ, và có đủ giấy tờ, cũng bị lột áo quần, xét đồ. Đồ đạc đem theo là những vật dụng kỳ dị: Tượng một ông Phật gỗ lớn bằng nắm tay, một ống thuốc lào khắc chạm tỉ mỉ, cuối cùng trong ông thuốc lào và trong tượng Phật họ moi ra được một số dây chuyền bằng vàng, gói từng gói nhỏ. Hai tay An ninh thích thú nhìn nhau mỉm cười, cuối cùng người khách lại thu xếp đồ đạc, vòng vàng của mình bỏ vào túi và được thả đi sau khi đút lót một số vàng khi được dẫn ra ngoài đi tiểu.
Tôi nhìn qua cửa sổ, xe lửa bắt đầu hú một hồi còi dài chuẩn bị lên đường. Tôi liên tưởng đến các phim James Bond, các phim gián điệp. Nếu tôi có khả năng võ nghệ cao cường như họ, trong một chớp mắt, tôi hạ thủ hai tên gác, lấy hai vé trên bàn, thong dong ra cửa và lên tàu đi tiếp. Tôi tự hứa một ngày nào có dịp thuận tiện, sẽ tìm những dị nhân để luyện thêm võ công mình, để sử dụng trong những hoàn cảnh tương tự. Tàu chuyển bánh, tiếng xục xịch, xục xịch nhanh dần, những toa tàu lần lượt đi qua và tại một toa tàu cuổi, những khẩu đại liên, trung liên chĩa nòng ra ngoài, với toán lính bảo vệ tàu.
Cuộc tiễn đưa thầm lặng với những nuối tiếc, với những đau đớn. Con tàu ơi, ta chẳng có duyên đi cùng một chuyến. Vĩnh biệt. Vĩnh biệt. Tôi ngẩn ngơ nhìn theo đến lúc bóng tàu khuất sau những dãy nhà, những lùm cây. Chúng tôi được cho vào một phòng kế cận để nằm nghỉ, phòng gồm có một dãy giường, bếp nấu ăn và nhiều cánh cửa sổ. Cửa sổ bằng kính, khung gỗ, xoay lên xuống quanh một trục ngang, được gài lại và buộc dây thép chắc chắn. Tôi chọn cánh cửa sổ gần bức tường ngăn hai phòng, gần với phòng điều tra, nhưng lại che khuất an toàn. Tôi bảo Sang ngồi canh chừng và lén tháo các giây kẽm sắt. Công việc dễ nhưng tiến triển chậm vì tên gác cứ đi ra đi vào kiểm tra. Tôi tháo xong, nhưng sự canh chừng thận trọng của tên gác không cho chúng tôi đủ năm phút để tẩu thoát. Ít nhất cũng phải năm phút. Tôi tính toán, tôi cần thời gian tối thiểu để chui ra và đi trốn một đoạn đường. Tên gác thay phiên đi ăn cơm trưa.
“Nhìn mặt đặt tên,” câu nói đó nếu đúng, cũng chỉ đúng 99% và trường hợp nầy lại rơi vào 1% ngoại lệ. Tên mặt trắng mới trông, vẻ hỉền lành dễ chịu nhưng càng lâu càng thấy những nét tàn bạo hung hiểm ẩn tàng. Tên mặt đen, mọi rợ lầm lì, nhưng cuối cùng lại chân tình tốt bụng. Tôi linh cảm được tâm trạng anh ta có ý muốn thả chúng tôi nhưng dùng dằng không dám. Tôi giả vờ ra lấy thuốc hút, nhưng thực sự là gom bản đồ, địa bàn và lương khô đến gần để mang theo khi đi trốn. Thiếu những thứ thiết thân nầy, sự vượt thoát sẽ gặp nhiều khó khăn về sau. Chàng da đen nằm trên võng, ôm đàn ghi ta nắn nót tập dợt, tiếng đàn là tiếng báo hiệu tốt nhất về vị trí và hoạt động của đối tượng tôi đang theo dõi, canh chừng. Thấy y say mê với khúc nhạc, tôi khom mình thò tay kéo nhẹ túi xách đựng hành trang. Tôi hỏi lại Sang lần cuối:
— Em đã quyết định chắc chắn chưa?
Tôi đưa ra hai giải pháp: Hoặc tôi sẽ đi trốn một mình. Sang còn nhỏ tuổi, các tên An ninh có thể thương hại thả em và Sang sẽ kiếm đường trở về Việt Nam, hoặc Sang sẽ theo tôi, nếu Sang chấp nhận sự nguy hiểm và gian khổ. Sang gật đầu quả quyết:
— Em đi theo anh.
Tôi trườn mình qua ô cửa sổ hẹp vừa mới nâng lên. Khi chân vừa chạm đất, Sang vội chuyền xách tay ra cho tôi. Tôi đi rón rén qua một bãi cỏ và chui xuống gầm một xe lửa cũ, hư hỏng, bỏ hoang gần đó, ngồi lại đợi. Sang vẫn còn lưỡng lự. Tôi ra dấu bảo nhanh lên, đến lúc đó Sang mới quả quyết leo lên, chui ra ngoài. Tôi đã dặn Sang thật kỹ trước khi đi, nhất cử nhất động đều phải bắt chước tôi và làm theo ý tôi. Điều tốỉ kỵ nhất là vội vàng, hốt hoảng. Phải bình tĩnh, phải thản nhiên như một người lương thiện, như một người hợp pháp và nếu có thể, như một nhân viên có thẩm quyền. Vừa băng qua toa xe lửa, định đi về hướng bức tường vắng cây cối rậm rạp chọn sẵn, tôi chợt phát hiện một cánh cổng có người gác về phía tay phải khoảng hai trăm thước.
Tôi lặng người trong một thoáng bất ngờ, chân vẫn bước đều nhịp thong thả, chưa kịp báo động thì Sang bỗng hốt hoảng vụt bỏ chạy. Nhiều loạt súng nổ dòn dã, đạn bay vèo vèo trên đầu và trước mặt. Tôi đứng yên tại chỗ vì biết không thể thoát được. Sang cũng đứng khựng lại khi một loạt đạn vừa chém gãy những nhành cây nhỏ sát mặt.
Tên An ninh nghe tiếng súng chạy ra, bắt chúng tôi trở lại phòng. Quang cảnh nhà ga xe lửa nhốn nháo, mọi người đổ dồn ra xem mặt chúng tôi trên đoạn đường áp giải. Tên Trưởng phòng cũng vừa về tới, ra lệnh trói tay chúng tôi quặt về sau lưng, y càng lúc càng hung dữ, những nét hiểm độc gian ác lộ nguyên hình qua những nụ cười gằn, qua đôi mắt khát máu thù địch, còn tên An ninh, trái lại, vẫn đứng bình thản ngoại cuộc. Hai thanh gỗ nhỏ có gắn hai đầu múi giây điện được lấy ra. Y bắt đầu gắn điện, hai tay cầm hai cây gỗ, chập lại với nhau, hai dòng điện chạm nhau xẹt lửa, nổ đôm đốp tung tóe. Y quay lại, dí hai múi điện vào người Sang, em rú lớn, toàn thân giãy đành đạch. Sang la hét, van lạy trong sự kinh hoảng tột cùng, như một người mất trí, quay cuồng, lăn lộn, gào thét. Tên Trưởng phòng bám sát theo em, dí điện vào ngực, vào lưng, vào bụng. Tôi từng nghe kể nhiều chuyện tra tấn bằng điện, những tội nhân bị tra điện, nếu không chết, một phần lớn về sau đều bị tê liệt, mất trí hoặc bất lực. Tôi từng chứng kiến nhiều kẻ bị điện giật, cháy đen cong queo.
Sang vẫn còn la, vẫn còn van lạy, tức là chưa có gì nguy hiểm. Tôi nhìn ngọn đèn tờ mờ trên trần nhà, dòng điện thuộc loại yếu, 110 volts. Đang tra tấn Sang, thỉnh thoảng y liếc nhìn tôi xem phản ứng. Tôi vẫn ngồi bình thản như một khán giả xem tuồng mà Sang và y chỉ là hai kịch sĩ hài hước đang trình diễn.
Đã đến phiên tôi. Y lừ lừ đi lại, dợm dọa vài cái, quen với phản ứng né tránh và hoảng hốt của Sang, y thực sự ngạc nhiên khi thấy tôi vẫn ngồi bình thản bất động. Tôi nhìn ngay mặt y lượng giá địch thủ. Y bắt đầu ấn điện vào ngực tôi, một tia sáng chớp lòe trong đầu, một chút rung giật nhẹ của bắp thịt, một chút mồ hôi vả ra, và khó chịu nhất là cảm giác nhột nhạt như bị thọt lét. Tôi gồng người chịu đựng sự nhột nhạt, cái nhột làm người ta muốn cười mà không cười được. Cuộc đấu sức vẫn tiếp tục, tôi ngồi yên, chịu đựng cực hình tra tấn điện, không đau đớn, không sợ hãi.
Y ngạc nhiên, và tôi cũng ngạc nhiên. Y ngạc nhiên vì trong cuộc đời tra điện tội nhân, y chưa thấy ai lạ lùng như vậy. Tôi ngạc nhiên vì tra điện chẳng có gì ghê gớm, ngoài những cảm giác khó chịu nhột nhạt mà tôi chưa từng được hưởng. Tôi bỗng có ý nghĩ kỳ cục, biết đâu dòng điện vật lý sẽ tác động dòng nhân điện, sạt thêm cho dòng điện người, và tôi sẽ mạnh mẽ hơn, có nghị lực hơn! Sự thử thách đã đạt đủ yêu cầu của nó. Tên Trưởng phòng thấy chán và mệt với trò chơi vô vị của mình, rút nút gắn điện và treo hai cây gỗ lên tường. Tôi lắng nghe những thay đổi trong cơ thể: bình thường, chẳng có gì khác lạ, ngoài một ít mồ hôi rơm rớm trên da thịt.
Tình hình căng thẳng đã qua, một tên ngồi vẩn vơ, một tên ngồi ôm đàn gãy. Sang bỗng lên tiếng:
— Tôi biết đánh đàn!
(Có lần trước khi trốn, tên An ninh hỏi: Có ai biết đánh đàn không ?)
— Muốn đánh đàn hả? Tên An ninh hỏi vặn.
Sang gật đầu, tên gác đến mở trói cho Sang. Tôi vừa tức cười, vừa ái ngại trước sáng kiến kỳ lạ này. Sang ôm đàn, bàn tay vụng về bắt đầu mò mẫm từng sợi giây đàn, em đàn tệ như một đứa con nít đang nghịch ngợm với đồ chơi, làm y cụt hứng. Tôi càu nhàu:
— Đánh đàn như củ c… Trả lại cho nó đi.
Tên Trưởng phòng An ninh lấy lại cây đàn và bảo Sang mở trói cho tôi. Giọng y dịu xuống nghe như thật:
– Thôi đừng đi trốn nữa. Muốn đi vượt biên ngày mốt tôi dẫn đi dùm.
Tôi ngạc nhiên vì câu nói khó hiểu, nhưng Sang quả quyết:
— Người Miên thành thật lắm. Họ nói là làm.
Tôi gợi ý:
— Nếu anh giúp tôi, hoặc nếu anh muốn đi vượt biên với tôi, qua Mỹ, tôi sẽ đền ơn anh.
— Ừ! Tôi sẽ giúp anh, nhưng anh phải hứa là không trốn nữa. Ngày mốt có chuyên tàu Battambang, Sisophone, tôi sẽ dẫn anh đi.
Biết chắc y chỉ nói xạo để giữ chân mình, nhưng trong cảnh tuyệt vọng, con người vẫn bám víu vào những chuyện phi lý để mơ mộng. Tôi tưởng tượng lúc chúng tôi cùng y lên tàu…
Một chiếc xe jeep dân sự chạy lại. Một người Miên ăn mặc lịch sự, trí thức đi vào gặp tôi, hỏi chuyện bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Rồi một chiếc xe jeep nhà binh, một Sĩ quan xuống xe và ra lệnh gom trả hết đồ cho chúng tôi.
— Đủ hết chưa?
Y hỏi, nhưng tôi chẳng còn tha thiết với những thứ đồ lỉnh kỉnh, gật đầu. Y ký giấy nhận và dẫn tôi ra xe. Tôi nhìn vào mặt tên Trưởng phòng chửi thề:
— Đồ dốì trá.
Y ngượng xấu hổ quay nhìn hướng khác. Chúng tôi được chở đến dinh thự rộng lớn, nhiều lính Khmer Heng Samrin vừa chấm dứt trận thể thao, tụ tập quanh chúng tôi với vẻ hiếu kỳ. Tôi nhìn quanh khu vườn, gian nhà dọ xét. Tôi đã tập một thói quen từ lâu: Bất cứ nhà giam nào, bất cứ phòng thẩm vân nào, vừa bước chân vào, việc đầu tiên là đưa mắt xem những sơ hở, những yếu điểm có thể chạy trốn hoặc vượt ngục.








