This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
MINH THOẢI MAI NẰM ƯỜN RA TRÊN GHẾ XÍCH ĐU. Vậy là một ngày nhọc nhằn đã qua, chàng nhắm mắt lại cho sự mệt mỏi trôi đi, chàng muốn quên tất cả, quên những công việc làm hàng ngày, để nhớ đến gia đình. Cái hạnh phúc nhỏ nhoi chàng đã từng ao ước bao nhiều năm nay, bây giờ chàng mới nắm được.
Không còn việc gì phải lo lắng cả, bây giờ chàng đã hoàn toàn là một người tự do, chàng đã được giải ngũ đàng hoàng, chàng có vợ, có con, có công ăn việc làm, dầu sao thì chàng cũng khá hơn thời gian ở quân đội. Minh tự nhủ: Mình ở hiền thì gặp lành, chàng không ngờ Ngọc vẫn chờ đợi tới ngày chàng đi tìm nàng. Minh cho rằng mình là người may mắn nhất trên đời, mặc dù hạnh phúc của chàng thật nhỏ nhoi, nhưng thôi, đối với Minh như vậy là đủ quá rồi.
Những năm tháng qua như một giấc mộng, sự buồn phiền nào rồi cũng phải trôi qua. Buổi tối hôm nay Minh nằm ườn trên chiếc ghế xích đu, ngửa mặt nhìn sao đầy trời, chàng thấy mình vui hơn mọi hôm. Căn nhà vợ chồng chàng thuê nằm trong một hẻm ở xóm lao động, nghèo nàn, thiếu mọi tiện nghi, nhưng điều đó không quan trọng, miễn là vợ chồng chàng hạnh phúc. Ngọc vẫn làm việc tại một tiệm uốn tóc, nàng an phận như chồng, sau giờ làm việc Minh tới đón vợ, đón con gởi ở nhà một người vú nuôi.
Dù bận bịu thế nào Ngọc cũng nhất định làm bữa cơm tối để cả nhà quây quần ăn uống. Ngọc hồi này đẹp ra, Minh không ngờ chàng lại lấy một người vợ nhan sắc như vậy, trong khi nhìn lại mình, Minh thấy mình chẳng có gì đặc sắc cho lắm. Ngọc tỏ ra là một người đàn bà biết thương chồng con, hai vợ chồng sống với nhau gần ba năm trời chưa một lần nào hàng hàng xóm thấy họ to tiếng với nhau.
Ngọc lại là một người đàn bà ít nói, nàng cũng như Minh, dồn tất cả thương yêu cho gia đình. Đứa con trai của hai người được mười tám tháng, thằng bé lành như cục đất, nó có đôi mắt giống mẹ. Minh vẫn nói đôi mắt nó đẹp, buổi tối được bố mẹ đón về nhà, nọ hết chạy đến mẹ, lại chạy đến bố nói chuyện líu lo. Ngọc vẫn lấy làm hài lòng vì Minh không phải là một người đàn ông chơi bời, chàng không rượu chè cờ bạc, không đàn đúm với bọn đàn ông cùng xóm, buổi tối khi Minh đi làm về, chàng ở nhà chơi với con.
Thỉnh thoảng chàng nể ông hàng xóm lắm mới ra đầu hẻm uống cà phê, nói dăm ba câu chuyện rồi lại về với vợ con ngay, chàng thường nói với Ngọc:
– Anh đã về đến nhà rồi anh hết muốn đi đâu, cũng không thích chơi với ai.
Ngọc cười, đôi mắt chàng chớp nhanh, nhưng nàng cũng nói:
– Thì thỉnh thoảng anh cũng đi chơi với người này người khác, không người ta nói em giữ anh.
– Mặc kệ người ta.
Buổi chiều nay đi làm về, Minh đón vợ, nàng tới đón thằng bé, nàng nói chàng cứ đi về nhà trước, nàng muốn đưa con đi sắm sửa một ít đồ. Trời đã tối hẳn, vậy mà Ngọc và con vẫn chưa thấy về, Minh thấy nóng ruột, chẳng biết hai mẹ con đi đâu mà mãi chưa về. Những con muỗi vo ve dưới chân Minh, chàng đưa tay đập muỗi. Nhưng Minh không phải chờ lâu, vợ con chàng đã về, thằng Dũng tíu tít, nó chạy lại khoe áo đẹp với bố, Ngọc đứng bên chồng:
– Anh biết không, em đưa nó đi mua áo, mua xong nó nhất định đòi bận liền tức thì.
Minh bế con lên lòng, Ngọc nói tiếp:
– Anh chơi với con nhé, em vào làm cơm.
Minh cản vợ:
– Thôi tối nay mình đi chơi em.
– Thì ăn cơm đã, rồi mình hãy đi chơi.
– Mình đi ăn luôn.
Ngọc tiếc rẻ mấy món ăn mình tính làm cho chồng con, nhưng nàng lại muốn chìu chồng, nàng gật đầu:
– Đi thì đi, chỉ có thằng Dũng là khoái thôi, được diện áo mới đi chơi liền còn gì.
Ngọc vào nhà thắp ngọn đèn lên, nàng gọi chồng:
– Nào, bây giờ đi đâu?
– Anh đưa mẹ con đi ăn mì, ra bờ sông hóng mát một lát rồi về. Chiếc xe Goebel nổ máy nghe giòn tan, đèn chiếu sáng con hẻm tối tăm. Trong xóm này gia đình Minh là một trong những gia đình tương đối mát mặt nhất, nhưng Minh chưa lấy thế làm hài lòng, chàng muốn có tiền mua hẳn một căn nhà, một căn nhà có tiện nghi hơn chút nữa, căn nhà đó chàng mặc sức trang hoàng sửa chữa, đó là mộng ước của hai vợ chồng Minh từ mấy năm nay. Chiếc xe chạy vòng vòng ra khỏi ngõ hẻm sâu, chiếc xe qua cầu Bông, sang địa phận Sài Gòn, một tốp lính cảnh sát đứng xét giấy thanh niên ngay bên đầu cầu. Minh hãnh diện vì đã làm xong nhiệm vụ công dân, chàng không phải trốn chui trốn nhủi như mấy thằng thanh niên trốn quân dịch, chàng đầy đủ giấy tờ. Thỉnh thoảng Minh bị khám giấy tờ ở cầu này, chàng được đi một cách thảnh thơi, Minh thầm nhủ trong cái rủi cũng có cái may.
Ngọc tò mò hỏi Minh:
– Lính làm gì mà đứng đông vậy nhỉ?
– Khám giấy tờ quân dịch chớ còn gì nữa.
– Không có giấy người ta bắt hả anh?
– Chớ sao.
– Anh có mang giấy đi không?
– Bùa hộ mạng không mang đi sao được.
– Sao không thấy người ta hỏi anh?
– Họ trông mặt cả, mấy thằng trốn lính trông cái mặt khác, mấy thằng đầy đủ giấy tờ hợp lệ trông cái mặt khác.
– Vậy hả?
Xe chạy ra Sài gòn, Minh quẹo sang đường Nguyễn văn Sâm, con đường ngay bên cạnh dinh cơ Chú Hỏa, ở đó có một hàng mì xào bình dân thật rẻ, thật ngon. Những chiếc bàn tròn bày dọc theo bức tường nhà Chú Hỏa, đông đảo khách ăn.
Minh dựng xe, chàng và vợ con chờ mãi mới có một bàn trống, thằng bé Dũng bí be nói chuyện. Minh hết nhìn vợ rồi lại nhìn con, chàng thấy đời mình bây giờ thật hạnh phúc, chàng nghĩ tới một món đồ chơi nào đó chàng sẽ mua cho thằng con chiều ngày mai, khi chàng được lãnh tiền cuối tuần. Minh xin được việc làm ở một nhà vẽ quảng cáo, chàng cắm cúi làm việc với sơn cọ tối ngày, sau một ngày mệt mỏi, về nhà Minh thấy tâm hồn thật thoải mái. Vợ Minh lại là một người đàn bà biết tằn tiện. Chàng thường nhủ, sau này mình dành dụm được nhiều tiền mình sẽ sang một cái nhà ngoài mặt đường mình vẽ quảng cáo, mình sẽ làm chủ lấy mình, Minh tưởng mình sẽ sống được một khi ra làm ăn riêng, vì Minh thấy mình còn khá hơn nhiều anh thợ vẽ khác.
Nhiều thằng kẻ một cái bảng hiệu không xong, vậy mà cũng kiếm được tiền nữa là chàng, chàng là một người thợ giỏi nhất trong tiệm.
Ngọc chợt nhìn chồng cười: – Anh nghĩ gì vậy anh?
Minh ngẩng lên, chàng mỉm cười với vợ, nói lãng:
– Không, anh nghĩ gì đâu, anh đang mãi ngửi mùi mì xào.
– Anh đói lắm rồi hả?
– Đói bỏ xừ đi ấy.
– Ăn ở đây là vậy, ráng chờ lâu một chút.
Một lát sau dĩa mì xào mang ra, Ngọc vừa ăn vừa đút cho con, Minh nhìn cảnh đó, chàng liên tưởng ngay đến hạnh phúc của mình, đấy chính là hạnh phúc của mình mong đợi, một hạnh phúc đơn sơ nhưng đầm ấm. Tâm hồn Minh thoải mái, chàng lại tiếp tục thả hồn theo mộng ước của mình, chàng nghĩ tới cái nhà vẽ của mình sẽ có trong tương lai, một nhà vẽ nho nhỏ nhưng là của mình, chàng sẽ không chịu bất cứ một sự ràng buộc nào với khách hàng chàng sẽ làm hài lòng từ những khách hàng khó tính nhất, chàng vừa ăn vừa cười với vợ con, chàng lại nhìn vợ nhìn con. Xong bữa ăn chàng rủ vợ:
– Mình đi ăn kem.
Ngọc dành trả tiền, nàng nói:
– Anh có mấy trăm bạc giữ lấy mà tiêu vặt, để em trả cho.
Nàng thấy chồng mình hôm nay có vẻ khác lạ, đôi mắt chàng nhìn vợ con có vẻ trìu mến hơn, nàng thầm nghi: Chắc anh chàng lại nghĩ được điều gì thú vị đây, nhưng nàng không hỏi, nàng biết chắc rằng trước sau gì anh chàng cũng nói với mình, anh chàng phổi bò khô- ng giấu được một chuyện gì hết. Nàng bằng lòng với số phận của mình. Tới tiệm kem, Minh cao hứng mua một gói thuốc lá thơm, Ngọc thấy chàng ít khi hút thuốc, đúng là anh chàng có chuyện gì thú vị lắm đây. Ngồi trong quán kem chàng phì phèo điếu thuốc lá, bất chợt chàng nói:
– Anh sống với em như vậy là gần được ba năm rồi nhỉ?
– Dạ gần ba năm rồi.
– Thật là tuyệt diệu đó em.
– Anh thấy tuyệt diệu?
– Dĩ nhiên.
Ngọc sung sướng nhìn chồng:
– Trong ba năm đó anh có điều gì buồn phiền em không?
Minh thành thật lắc đầu:
– Anh không ngờ mình lại được như thế anh tìm thấy ý nghĩa cuộc sống này sau ngày Cách Mạng, cho dù sau Cách Mạng tình hình không có gì khá hơn, sáng sủa hơn, nhưng anh, với gia đình của mình, anh thấy vậy là đầy đủ, hôm anh đi ra đường, anh thấy người ta bắt lính nhiều quá, anh chợt nghĩ rằng chiến tranh mỗi ngày một bành trướng.
Ngọc mỉm cười:
– Hôm nay anh lại bày đặt suy tư nữa.
Tâm hồn Ngọc chất phác, nàng chỉ biết nghĩ đến hạnh phúc của gia đình mình, ít khi nàng nghĩ đến những điều khác. Minh cũng hiểu như vậy, nên chàng nói chuyện với vợ về một chuyện khác ngoài chuyện gia đình. Nhưng hôm nay chàng chợt nghĩ lại, Cách Mạng chàng được nghỉ một ngày phép, chàng đi tìm Ngọc, thật tình chàng khô- ng hy vọng gì gặp được nàng, hy vọng gặp nàng lúc ấy thật là mỏng manh. em. – Anh nghĩ đến ngày anh đi tìm Mắt Ngọc chợt sáng lên:
– Anh lại nói chuyện Cách Mạng phải không?
– Sao hôm ấy em linh cảm một cách kỳ lạ, em thấy nóng ruột.
Nàng ngừng lại nhìn vào mặt chồng:
– Em cứ nghĩ là thế nào cũng có anh trong đoàn quân giải phóng thủ đô, em mới lên tiệm uốn tóc cũ nhắn bạn, thật tình em cũng không hy vọng anh nhớ đến em.
Minh cười:
– Hôm đó mà anh không tìm em thì bây giờ anh đã có vợ khác rồi.
– Cô nữ sinh phải không? Minh lắc đầu:
– Không phải, mà có lẽ cô bán bar ở nơi anh đóng quân.
Ngọc tủm tỉm:
– Sao anh không lấy cô ấy đi, bây giờ tiếc rẻ hoài.
– Nói bậy, anh tiếc rẻ hồi nào, nhưng cũng may, nếu anh lấy cô ấy rồi chắc bây giờ anh mấy đời vợ rồi, ấy chứ.
Ngọc xì một tiếng:
– Anh cứ làm như chung tình lắm không bằng.
– Chớ sao nữa, nhiều khi anh cũng khen anh nữa. Anh thấy mình thương vợ thương con ghê vậy đó.
Ngọc lườm chồng:
– Thôi đi anh, em không có khen anh đâu, đừng có ham mà lên mặt.
Buổi tối trôi qua vui vẻ, về tới nhà cho con đi ngủ xong, Minh nghĩ hoài về dự tính của mình, chàng thao thức hoài không ngủ được, Ngọc nói với chồng:
– Anh không ngủ đi, sáng mai anh còn phải đi làm sớm mà.
Minh thú thật với vợ:
– Anh không ngủ được, anh đang nghĩ đến một chuyện…
– Chuyện gì đó anh?
– Chuyện cái nhà vẽ của anh trong tương lai. Anh nói chuyện đó với em hôm nọ phải không?
– Hôm đó anh nói chưa hết, anh thấy em buồn ngủ nên anh không nói nữa.
– Tối nay anh nói đi, hôm nay em không thấy buồn ngủ.
– Em dành dụm được bao nhiêu tiền rồi?
– Có dành dụm được, nhưng không bao nhiêu anh ạ.
– Vậy chắc còn phải đi làm công hai ba năm nữa, mình may ra mới sang được một cửa hàng nho nhỏ ngoài mặt đường, anh thấy nghề này kiếm ăn được lắm.
Ngọc hiểu tâm trạng của chồng, nàng an ủi:
– Anh cứ chịu khó làm một thời gian đi, mình dành dụm tiền nong nếu thiếu thì đi vay mượn chút đỉnh đâu có sao.
Minh nghĩ đến công việc làm của mình hàng ngày, chàng bực bội:
– Anh thấy mình làm việc quá sá cho chủ mà không ăn giải gì hết, ngoài số lương cố định hàng tuần, họ bóc lột mình ra mặt, em biết không, nhiều khi anh làm việc tối mặt tối mũi.
Ngọc thấy thương chồng, nàng hiểu sự mơ ước của chồng, nàng không biết nói gì hơn, ngoài sự an ủi, nàng hỏi chồng:
– Anh đã tìm được một địa điểm nào tốt chưa?
– Anh có nhắm một căn nhà nho nhỏ ở Gia Định?
– Người ta cho thuê không?
– Nếu cho thuê thì tiện quá, đàng này người ta lại sang mới mệt chớ.
– Anh hỏi chưa?
– Có, ngày hôm trước anh có hỏi, nếu năn nỉ thì may ra cũng thuê được…
– Vậy tại sao…
– Nếu mình có tiền vào cho họ vài tháng tiền nhà trước cũng được.
– Anh tới hỏi lại đi, nếu cần chạy tiền em lo cho.
– Được không em?
– Được chớ sao không, có thể cũng chẳng cần vay mượn bao nhiêu, em sẽ hốt hụi.
– Em có chơi hụi à?
Ngọc mỉm cười, nàng gật đầu:
– Có, em có chơi hụi
– Vậy mà anh không biết gì hết trơn, em kín đáo quá vậy.
Ngọc cười nhỏ, nàng rút vào trong ngực chàng:
– Bắt buộc em phải dành dụm chớ lỡ ra có chuyện gì thì sao?
Minh bắt đầu mơ mộng:
– Ngày mai anh sẽ tới năn nỉ bà chủ nhà, nếu được như vậy đầu tháng này anh mở tiệm liền.
– Anh làm cái gì cũng nóng, gấp gấp.
– Tính anh vậy đó, nếu cái tiệm của anh khá em khỏi phải đi làm nữa, em ở nhà phụ với anh.
– Em không biết vẽ.
– Không làm việc này thì làm việc khác, làm công cho người ta khổ là rồi.
– Em làm ở tiệm uốn tóc này cũng dễ chịu đấy chứ, có chuyện gì đáng phiền hà đâu.
– Nhưng anh không thích, làm bà chủ không khoái hơn sao.
– Anh lúc nào cũng mơ mộng.
– Mỗi ngày mình chỉ cần lãnh được một mẫu vẽ là một tháng mình kiếm được cũng khá bộn tiền.
– Thôi anh ơi, tính anh mơ mộng quá em sợ rằng…
– Không sợ gì hết, anh có thể bảo đảm với em.
Ngọc thấy chồng say sưa quá, nàng càng thương chồng, nàng biết chàng nghĩ đến chuyện đó cũng vì vợ vì con. Ngọc so sánh với những con bạn của mình, nàng là đứa hạnh phúc nhất, có lần một người bạn của Ngọc nói:
– Con Ngọc như vậy mà khôn, không với cao, lấy một anh chàng nghèo khổ biết thương vợ thương con, còn hơn lấy một cha sĩ quan nay mèo mai mỡ.
Ngọc nói:
– Đâu có phải thằng cha sĩ quan nào cũng mèo mỡ đâu.
Người bạn bực mình:
– Mày thấy tao không? Tao bị mắc lừa mà, nó có vợ rồi mà còn lấy tao, bây giờ tao biết cũng đành ngậm đắng nuốt cay làm vợ bé nó, chỉ vì tao thương con chớ, không tao bỏ phứt cho rồi, vậy mà có yên đâu, nay con vợ lớn tới gây, mai thằng chồng tới làm khổ, mà thật tình tao làm việc như trâu bò để kiếm tiền nuôi con chớ có nhờ vả ai đâu.
Nhìn vào hoàn cảnh tất cả các bạn Ngọc thấy mình là người may mắn nhất, tuy nghèo khổ nhưng một vợ một chồng, làm được bao nhiêu, tiêu bấy nhiêu như vậy khỏe hơn, Ngọc không khỏi nghĩ đến mộng ước của chồng, nàng hỏi:
– Ra làm riêng như vậy có sống được không?
– Tại sao lại không, muốn thành công mình phải tin tưởng, cứ sợ cái này cái kia thì làm sao mà làm việc được.
Minh nằm nói chuyện thật khuya, chàng nói toàn chuyện căn nhà chàng sẽ thuê làm căn nhà vẽ.Cuối cùng Ngọc phải nói:
– Thôi khuya quá rồi anh, anh ngủ một giấc đi, sáng mai anh còn phải dậy sớm mà.
Ngọc quay lưng ngủ. Minh còn thao thức mãi mới ngủ được.
ĐẠI ĐỘI CỦA MINH DỪNG LẠI Ở ĐẦU ĐƯỜNG Đinh Tiên Hoàng. Minh và các bạn được lệnh xuống xe, mỗi người nấp vào một gốc cây, súng chĩa ra phía thành Cộng Hòa, nơi liên đoàn Liên Binh Phòng Vệ Tổng Thống Phủ trấn đóng, Minh cũng như các bạn đều không hiểu ý nghĩa của cuộc hành quân thủ đô này, toàn quân đội trở về giải phóng thủ đô. Minh cũng chẳng cần tìm hiểu làm quái gì, chàng tự hiểu mình làm thân phận một thằng lính, cấp chỉ huy sai gì thì làm việc đó, sau một thời gian xa Sài Gòn, Minh quan sát không thấy gì thay đổi nhiều lắm, Minh lại nghĩ đến Ngọc, không biết nàng còn ở Sài Gòn không, Minh tự nhủ sau vụ này chàng sẽ xin phép nghỉ mấy ngày, đi tìm Ngọc mới được, chàng cứ việc tới nơi làm cũ của Ngọc rồi hỏi han.
Buổi trưa hôm nay trời nhiều mây, hơi oi bức, xe cộ đi lại có vẻ vội vàng, tất cả mọi người nhìn đám lính súng ống đầy người một cách nghi ngờ. Minh gác khẩu súng vào thân cây, móc khúc bánh mì từ trong túi ra đưa lên miệng nhai, đám sĩ quan tham mưu đang ngồi ở dưới một khúc cây bàn bạc với nhau những gì đó, Minh cũng chẳng chú ý đến Phía đường Hồng thập Tự vắng hoe không một bóng người, Minh biết ở phía tường thành Cộng Hòa những họng súng đang chong ra phía đại đội của Minh, chàng quá quen thuộc với những trận hành quân nên chàng coi thường. Minh ăn xong khúc bánh mì, chàng lấy bi đông nước tu một hơi. Hạ sĩ Bình ngồi gần đó, anh ta búng tay ra hiệu cho Minh:
– Cho tao xin một điếu thuốc lá mày.
Minh liệng cho hạ sĩ Bình một điếu Ru-by, chàng cũng gắn lên môi mình một điếu, đầu óc Minh lúc này rỗng tuếch, chàng không nghĩ ngợi gì, chàng nhìn bầu trời đầy mây xám, những đám mây khó chịu. Trời không nắng nhưng oi bức. Hạ sĩ Bình rút khăn mùi-soa lau mồ hôi trên cổ, anh ta tới bên Minh, anh nhìn về phía thành Cộng Hòa:
– Đù mẹ, đánh thì đánh mẹ cho rồi.
Hạ sĩ Bình ngồi xuống bên Minh, hít điều thuốc lá từng hơi dài, ngửa cổ nhả khói thẳng lên trời. Minh hỏi:
– Bọn Phòng vệ Tổng thống phủ làm gì mà mình đánh chúng nó?
– Ai biết, nghe đâu chúng nó làm phản.
– Làm phản Tổng thống?
– Hình như vậy.
Minh nhìn ra phía thành Cộng hòa:
– Hạ sĩ thấy bọn này có dễ nuốt không?
– Đừng tưởng dễ.
– Toàn là bọn lính kèn và dàn chào không, chúng nó đánh đấm mẹ gì.
Minh vẫn không mấy phục bọn phòng vệ:
– Người ta nói văn ôn võ luyện, tôi thấy mấy cha này về đây hơi lâu chắc là chúng quên đánh đấm hết trơn rồi.
Hạ sĩ Bình trầm ngâm:
– Không nên khinh địch.
Hạ sĩ Bình lại nhìn về phía thành Cộng hòa:
– Đáng lẽ bây giờ tao đang ở trong đó.
– Vậy là làm sao?
Hồi trước tiểu đoàn trưởng có đề nghị cho tao về phục vụ tại đây, nhưng tao không chịu, nếu ngày nào đó tao bằng lòng thì bây giờ tao có mặt trong thành phải không? Và đang chong súng chia nhắm bắn chúng mày.
– Tại sao hạ sĩ không về?
– Tao muốn đi cho khuất mặt, vả lại ở Sài Gòn này thì vợ tao cứ đẻ hoài chịu gì nổi.
Hạ sĩ Bình tâm sự:
– Tao bốn đứa con rồi, mỗi lần tao về phép, chừng một tháng sau vợ tao biên thư cho tao báo tin có bầu thì chán không?
– Ai bảo ham làm chi.
– Đâu có ham, con vợ tao kỳ lắm, cứ đụng vào là có thai liền.
Minh cười, chàng thấy vui vui, chàng chợt nhìn thấy một cánh quân di chuyển lên phía thành Cộng Hòa, Minh hỏi:
– Chúng nó đi đâu kìa?
Hạ sĩ Bình theo hướng tay của Minh nheo mắt:
– Có lẽ bắt đầu tấn công.
Hạ sĩ Bình đưa tay lên xem đồng hồ:
– Mười hai giờ hơn rồi, sao đại đội mình chưa nhúc nhích cục cựa gì hết trơn thế này.
Minh không mấy quan tâm đến chuyện đó, chàng có hiểu có biết gì đâu mà quan tâm.
Hạ sĩ Bình bồn chồn, lo lắng, anh làm như chính anh ta chỉ huy vụ này. Minh vẫn ngồi nhìn trời nhìn đất, chàng khều gã hạ sĩ:
– Nè xếp.
– Chi mày?
– Hạ sĩ biết mình về đây làm gì không?
– Tao đâu biết.
– Tôi cũng không biết gì hết trơn.
– Tao có nghe mấy ông xếp của mình nói sơ sơ…
– Nói gì?
– Mấy ông, có người nói, về cứu Tổng thống vì bọn Liên binh làm phản, có ông thì nói về lật đồ Tổng thống, tao không biết nghe ông nào hết trơn.
Hạ sĩ Bình nhìn cánh quân di chuyển về bãi đá banh Hoa Lư. Ông ta chửi thề:
– Đ.M. đi khơi khơi vậy, chúng nó đặt hai khẩu đại liên ở hai cửa sổ kia phơ chéo cánh sẻ thì chết mẹ hết trơn.
– Kệ chúng nó, việc quái gì mà hạ sĩ lo quá vậy.
– Chúng nó ngu quá mà.
Hạ sĩ Bình lại có vẻ nóng ruột, anh ta nhìn đồng hồ hoài, chợt có tiếng súng nổ ở phía thành Cộng Hòa, đám lính chạy dạt sang bên đường, hạ sĩ Bình kêu lên:
– Tao nói rồi mà, hai con nhào rồi.
Hai người lính Thủy Quân lục Chiến nhào xuống đường nằm sóng soài, đám lính chạy giạt sang hai bên đường, một vài tiếng súng đáp lễ, về phía thành, tiếng súng im. Minh cũng vớ lấy súng của mình, hạ sĩ Bình vẫn bình thản:
– Chưa đến lượt mình mà, mày ngồi chơi đã, kìa, hình như người ta điều đình gì đó.
Từ phía thành Cộng Hòa, Minh nhìn thấy có người ra phía hàng rào, rồi phía Thủy Quân Lục Chiến cũng có, người đi ra, họ ở xa nên Minh khô- ng nghe họ nói gì với nhau, Minh hỏi:
– Họ nói chuyện gì với nhau kìa?
– Ai biết.
Minh đặt súng xuống gốc cây:
– Đếch còn biết họ làm gì nữa.
Bỗng có tiếng đại bác câu ầm ầm về phía thành Cộng Hòa, toán lính chạy toán loạn, Thủy Quân Lục Chiến chạy vào sân Hoa Lư, hạ sĩ Bình mắt mở to:
– Đại bác của mình câu rồi.
Tiếng đại bác câu càng lúc càng nhiều. Người sĩ quan đại đội hô lính sửa soạn.
Minh cầm súng đứng dậy:
– Mình đánh hả?
– Ai biết, chắc sau vụ pháo kích này mình tấn công.
Một chiếc máy bay oanh tạc lượn vòng trên đầu, chiếc máy bay chúc xuống bắn xối xả vào phía thành Cộng Hòa. Tiếng đạn rít lên trên đầu Minh:
– Mệt rồi, đánh lớn rồi.
Minh nghe người sĩ quan đại đội la lên:
– Đù má, bọn đi trước kia sao khơi khơi vậy cà, chúng nó nói chuyện gì với nhau rồi im luôn vậy?
Người đứng bên sĩ quan nói:
– Cho liên lạc thử coi trung úy?
Ông ta lầm lỳ, ông dùng ống nhòm nhìn về phía thành Cộng Hòa, khói bốc lên mù mịt. Ông chửi luôn miệng, Minh không biết ông chửi ai, ông buông cái ống nhòm xuống phất tay cho cánh quân tiến lên, cánh chia ra làm hai toán, lom khom tiến dọc theo hai bên lề đường Đinh Tiên Hoàng. Hạ sĩ Bình đi cạnh Minh luôn miệng nói:
– Đù mẹ, tao mới đi phép về Sài Gòn bây giờ lại đi nữa.
– Đi đánh nhau chớ bộ.
– Lát đánh xong tao nhất định tách ra về nhà một cái chơi.
Hạ sĩ Bình bỗng nhìn sang Minh:
– Ê mày đi không?
– Đi đâu?
– Đi tìm vợ mày.
Minh quệt mồ hôi trên trái, chàng lại nghĩ đến Ngọc. Ừ tại sao mình lại không đi tìm, cả bao nhiều tháng trời nay, chàng không biết gì tin tức của Ngọc hết, chàng quay sang hạ sĩ Bình:
– Tôi nhất định sẽ đi tìm Ngọc.
– Vợ mày hả? Minh gật đầu.
Bỗng Đại úy Châu, đại đội trưởng hô dừng quân lại, mỗi người lính tìm một gốc cây nấp, có tiếng xe thiết giáp chạy, trên đầu bốn chiếc máy bay vẫn lượn bắn vào thành Cộng Hòa, Minh nhìn thấy hai chiếc thiết giáp ló đầu ra khỏi đường Hồng thập Tự, một người sĩ quan đi trước, tay cầm máy phóng thanh, theo sau vị sĩ quan là hai binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến. Đại úy Châu đứng ở lề đường chờ đợi, một tay ông ta cầm trái lựu đạn, một tay cầm khẩu súng colt, mặt ông ta sắc lại, mồ hôi chảy ròng trên má.
Không khí nặng nề, Minh nghe tiếng xe thiết giáp lăn trên mặt đường, hai chiếc xe chạy chậm chậm dần lại, ngừng hẳn khi cách quân đại úy Châu chừng một trăm thước, những mũi súng của cánh Thủy Quân Lục Chiến chĩa thẳng về phía hai chiếc xe thiết giáp và vị sĩ quan dẫn đầu, đằng sau hai chiếc thiết giáp lố nhố lính Liên đoàn, người sĩ quan chỉ huy liên đoàn dõng dạc nói:
– Tất cả anh em phải quay mũi súng ra ngoài hết, không thì chết mất xác cả bây giờ.
Người sĩ quan hỏi đại úy Châu:
– Ai bảo các anh về đây?
Đôi mắt đại úy Châu cau lại, tay cầm khẩu súng của ông nổi gân, ông nhìn người chỉ huy lính Liên Đoàn, nhìn những người lính đi phía sau, ông gay gắt trả lời:
– Chúng tôi về đây để lật đổ chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm, chúng tôi không thể chịu đựng được áp bức.
Người sĩ quan bên phía Liên Đoàn gay gắt:
– Anh lại đây.
Đại úy Châu cũng gay gắt không kém:
– Anh lại đây.
Minh hồi hộp theo dõi, chàng biết bây giờ nổ một phát súng là có chuyện ngay lập tức. Đại úy Châu nhìn lại cánh quân của mình, cánh quân có vẻ sút kém hơn hai chiến xa và đám lính Liên Đoàn, nhưng ông vẫn bình tĩnh, tay cầm chặt trái lựu đạn, không khí nặng nề. Người sĩ quan Liên đoàn nói:
– Anh sang đây.
Đại úy Châu hét lên:
– Anh sang đây.
Giọng người sĩ quan bên kia dịu xuống:
– Anh muốn chết bỏ mạng à? Đại úy Châu cười khẩy:
– Anh định tự tử sao đây?
Vị sĩ quan phía bên kia chỉ tay về phía sân Hoa Lư:
– Anh có thấy đại đội của thằng Thinh không?
– Chúng nó xếp súng ngồi chơi xơi nước hết rồi.
– Mặc chúng.
Bốn chiếc máy bay vẫn xẹt qua xẹt lại, trên đầu mọi người, thả từng loạt đạn vào trong sân Cộng Hòa.
Vị sĩ quan của Liên đoàn tiếp:
– Các anh bị bao vây hết rồi, xung quanh đây toàn là lính Liên đoàn hết, đại đội của thằng Thinh đã đầu hàng, anh nên đầu hàng nốt đi.
Đại úy Châu liệu tình thế, ông thấy quả nhiên mình kém thế, nhưng ông vẫn nói cứng:
– Sức mày mà hàng.
Vị sĩ quan Liên đoàn chỉ khung cửa:
– Anh không hàng, hai khẩu đại liên đặt trên kia quạt xéo cánh sẻ, các anh không còn một mạng nào.
Vị sĩ quan nhấn mạnh:
– Tốt hơn hết các anh nên hàng đi. Đại úy Châu vẫn cứng cỏi:
– Hàng thế nào được, chúng tôi về đây để lật đồ chế độ Ngô đình Diệm.
Vị sĩ quan gay gắt:
– Bây giờ không nói chuyện gia đình mẹ gì hết, các anh muốn sống thì hàng đi.
Mồ hôi chảy ròng ròng trên má đại úy Châu, ông đưa tay áo trận lên quẹt mồ hôi, ông dịu giọng lại:
– Hàng thì tôi không hàng được, nhưng tôi cho tập trung lính lại một chỗ được không?
Người sĩ quan Liên đoàn vui vẻ:
– Vậy cũng được, các anh cho lính vào hết khu Hàng Không Việt Nam đi.
Đại úy Châu nhìn người sĩ quan Liên đoàn:
– Còn anh?
– Lính tôi sẽ rút về.
– Án binh bất động?
– Đúng vậy.
Đại úy Châu không hỏi gì hơn, ông quay đi ra hiệu cho lính theo mình vào khu Hàng Không Việt Nam, hạ sĩ Bình đứng gần đó lên tiếng hỏi:
– Bây giờ chúng tôi ngồi chơi xơi nước chớ đại úy?
– Ngồi chơi đi, bao giờ có lệnh tao chúng mày sẽ hành động, để tao liên lạc thử coi.
Ông chửi thề luôn miệng, ông hò hét lính:
– Thằng nào ở nguyên chỗ đó không có đi lộn xộn…
Đám lính của đại úy Châu buông súng, gối đầu lên ba lô nằm ngổn ngang, chúng ngửa mặt quan sát những chiếc máy bay bắn phá thành Cộng Hòa. Hạ sĩ Bình vui vẻ:
– Sướng thật, mình về Sài Gòn đánh đấm mà chẳng phải đánh đấm mẹ gì hết, chờ cho pháo binh và không quân làm cỏ xong mình vô, cóc phải nổ phát súng nào hết.
Nguồn tin Thủy Quân Lục Chiến kéo về lật đồ chế độ gia đình trị Ngô đình Diệm phút chốc được loan truyền khắp đại đội. Nhiều người nói:
– Đù mẹ, vậy mà mình chẳng biết gì hết trơn.
Có người hăng hái hơn:
– Đánh tụi bây, đánh thấy mẹ bọn Liên Binh đi mình mới có đường tiến tới dinh Gia Long chớ.
– Đại úy còn đợi lệnh.
Không khí chợt trở nên sôi nổi, mỗi người bàn một đường, không ai nghĩ đến chuyện ngủ nghê, hình như lòng quân sĩ càng lúc càng trở nên náo nức.
Đại úy Châu la hét mỏi mồm nhưng vô hiệu, bọn lính không nói to thì cũng nói xầm xì với nhau. Hạ sĩ Bình nói một cách cả quyết rằng:
– Lần này thắng, nhất định mỗi thằng mình được lên một cấp. Như tao chẳng hạn, một phát tao lên trung sĩ khỏi phải lên hạ sĩ nhất. Minh cười:
– Còn tôi lên gì?
– Mày hả? Cao lắm là binh nhất. Minh lắc đầu:
– Tôi không ham, cho tôi giải ngũ là sướng nhất rồi. Chán lính thấy mẹ.
– À, cái chuyện đó chắc cũng không khó,
– Sao không khó?
– Cách Mạng thành công, những người như mình đều được đền công, không bằng cách này thì cũng cách khác.
– Tôi muốn đi tìm con vợ tôi.
– Còn con Lan bán bar mày bỏ cho ai?
– Chuyện đùa mà.
– Vợ mày chắc bây giờ có chồng có con rồi chớ đâu còn ngồi đó chờ mày.
– Nhưng dầu sao tôi cũng phải đi tìm.
– Xong trận đánh nầy mày có thể đi tìm vợ mày được rồi.
– Hằng năm trời nay tôi không được đi phép, kỳ nầy tôi phải tự ý ký giấy cho mình đi phép một phen, tôi nghĩ cấp chỉ huy không nỡ phạt tội đâu nhỉ?
– Phạt mẹ gì.
Minh ngồi dựa gốc cây, chàng ngửa mặt nhìn khói bốc cao, đại bác câu vào thành Cộng Hòa quá nhiều, Minh nghĩ bụng nội trong đêm nay là xong mọi việc. Bỗng Minh nghe tiếng ồn ào ngoài cổng khu Hàng Không Việt Nam, học sinh dân chúng ùa vào, đại úy Châu hét nhưng không cản nỗi đoàn người kỳ lạ đó. Minh nhổm người lên, Minh thấy một người đàn bà đứng tuổi đang phân trần với đại úy Châu:
– Xin đại úy cho chúng tôi vào ủy lạo anh em chiến sĩ về giải phóng Thủ đô.
Đại úy Châu gắt gỏng:
– Không được mà, sắp sửa đánh nhau.
Tất cả những tủi hờn phút chốc đã tiêu tan, Minh mỉm cười, chàng nắm chặt lấy bàn tay người đàn bà xa lạ, chàng nhỏ nhẹ với bà:
– Bác về đi, ở đây lát nguy hiểm lắm.
Người đàn bà lắc đầu:
– Bác có chết bây giờ cũng sướng, các con sắp đánh nhau phải không?
Minh quay đi, chàng không dám nhìn thẳng vào khuôn mặt người đàn bà xa lạ ấy, những bước chân của chàng vướng víu những bàn tay, mắt Minh bỗng mờ đi. Minh nhìn vào mặt đại úy Châu, nhìn vào mặt bạn bè, những khuôn mặt xúc động. Đại úy Châu hăng hái hơn, ông ta hò hét lính, cánh quân tiến hàng một, đại úy Châu quay về phía đồng bào:
– Xin đồng bào ai về nhà nấy cho, lát nổ súng nguy hiểm.
Nhưng những lời la hét của đại úy Châu hình như vô hiệu quả, từng toán người vẫn men theo quân đội.
Đại úy Châu nhăn mặt:
– Như vậy thì còn đánh đấm mẹ gì được nữa.
Rồi ông ta bật phì cười. Tiếng đại bác nổ chát chúa trong thành Cộng Hòa, lúc ấy mọi người mới chạy dạt sang hai bên đường, tiếng đạn rít lên trên đầu mọi người.
Hàng hàng lớp lớp người ào ra đường sau khi tiếng súng ngừng. Đài phát thanh loan báo thắng lợi đã hoàn toàn về phe Cách Mạng. Chế độ gia đình trị Ngô đình Diệm đã hoàn toàn bị lật đổ, hiện thời Như Diệm đã trốn khỏi dinh Gia Long.
Nắng lên, ánh nắng rực rỡ đầu tiên trong ngày sau một đêm dài nhất, các chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến đã chiếm gọn dinh Gia Long, tất cả những ồ kháng cự của anh em Nhu Diệm đã bị quân Cách Mạng dập tắt hoàn toàn.
Tất cả những đường phố bừng dậy sau những ngày dài mệt nhọc, sau những ngày tủi hờn trong nước mắt, sinh viên học sinh bị bắt, họ được thả ra khỏi khám, họ ồ ạt ra đường.
Mặc dầu có lệnh của Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng cấm biểu tình, nhưng dân chúng không dằn nỗi sự vui sướng, một số thanh niên tự tụ tập kéo đi biểu tình hoan hô Cách Mạng thành công hoan hô quân đội.
Nhưng đồng thời cũng có một số lưu manh thừa dịp cướp bóc, số đó không đáng kể so với lòng dân đang cuồn cuộn dâng lên, như thủy triều.
Những đôi mắt ngời sáng, những đôi tay dang rộng ôm nhau, người ta muốn ôm nhau nhảy nhót ngay trên mặt đường, những chai nước ngọt, những khúc bánh mì từ tay những bà mẹ già, những cô em gái, những cậu thanh niên chuyền vào tay chiến sĩ sau một đêm đánh nhau, những giọt nước mắt hờn tủi, những bàn tay già nhăn nheo víu lấy áo trận của người chiến sĩ:
– Con ơi, mẹ cám ơn con, mẹ không bao giờ quên ơn con, những đứa con của mẹ đã được giải phóng khỏi nhà lao.
Minh đứng ngay bờ tường dinh Gia Long, chàng đứng trên cao, tại đây chàng có thể nhìn thấy những làn sóng người nhấp nhô phía dưới kia. Những làn sóng người cuồn cuộn dưới ánh nắng rặng rỡ. Cánh tay Minh quấn băng trắng, đêm qua khi Minh leo qua hàng rào nhảy vào trong dinh, chàng đã bị một phát đạn bắn sượt qua tay, vết thương không mấy nguy hiểm.
Bây giờ Minh đứng đây, chàng dựng khẩu Thompson bên bức tường, chàng tuyệt nhiên không còn thấy đau đớn vì vết thương hôm qua. Chàng đã cười, cười một cách thoải mái, sung sướng, sau một đêm nhọc nhằn, xung quanh chàng bánh mì cả đống, chàng không còn lòng dạ nào ăn cho nổi, những lớp người vẫn xô đẩy chạy về phía chàng, những tiếng hỏi thăm ríu rít:
– Vết thương anh có nặng không?
– Anh bị trúng đạn khi anh đang làm gì?
Nước mắt Minh rưng rưng, chàng nghẹn ngào, chàng không thể nào trả lời hết những câu hỏi, một cậu học sinh trả lời thay Minh những câu hỏi, cậu ta khôn khéo nói với những người bao quanh Minh:
– Suốt đêm qua anh ấy không ngủ, lại bị thương nữa, cho anh ấy nghỉ ngơi một chút đi.
Người học sinh khôn ngoan, anh ta tả lại những trận đánh thành Cộng Hòa, tả lại trận đánh dinh Gia Long như chính anh ta đã dự trận đánh đó. Một cô thiếu nữ, có lẽ là nữ sinh, đứng bên cạnh Minh, đầu cô ta đội cái mũ sắt của Minh, cô ta chuyền cho những người bạn coi chiếc mũ sắt, mỗi người đều đội thử lên đầu, le lưỡi:
– Nặng quá nhỉ?
Một em bé tẩn mẩn sờ vào khẩu súng của Minh, Minh mỉm cười với nó:
– Đừng nghịch em, súng nổ thì nguy hiểm đó.
Cậu bé nhỏng nhẻo với Minh:
– Anh bắn một băng đi.
– Không được em à, cấp trên của anh cấm.
– Anh bắn đi, các anh đằng kia có bắn cho tụi em coi mà.
– Đêm qua anh bắn nhiều rồi.
– Anh sợ đại úy của anh phạt hả? Minh gật đầu. Cậu bé nói ngay:
– Đừng sợ anh, nếu phạt chúng em xin cho.
Minh đành chìu cậu bé, chàng xách súng lên chĩa thẳng lên ngọn cây, súng nổ ầm ầm, lá cây rụng tơi tả, những cậu bé dạt ra bịt tai, khói súng mù mịt, nụ cười của Minh cũng trở nên rạng rỡ. Một người thiếu nữ bỗng nắm lấy tay Minh, cô ta nhìn vào chiếc băng quấn tay Minh:
Người thiếu nữ lấy chiếc khăn mùi- soa của mình ra:
– Để em băng cho.
Không chờ Minh đồng ý, thiếu nữ băng ngay cánh tay đang rỉ máu của Minh, nàng hỏi Minh đủ chuyện, nàng hỏi về thân thể của chàng, cuối cùng nàng nói:
– Em mới ở tù ra sáng nay, em là sinh viên tranh đấu, bị mật vụ bắt, em chưa về nhà nữa.
– Bây giờ về nhà đi.
– Em mời anh cùng về.
– Về đâu được, tôi còn bận nhiều việc mà.
Người thiếu nữ vui vẻ:
– Cách mạng thành công rồi, nhất là anh bị thương nữa, anh xin phép về nhà em chơi chiều nay đi.
Minh vẫn lắc đầu:
– Không được đâu.
– Em xin phép cho anh nhé? Minh cười:
– Nếu được.
Người thiếu nữ chạy ngay tới người sĩ quan, nàng nói gì đó với ông ta, Minh nhìn thấy ông ta cười:
– Cô có bảo đảm nó không đào ngũ không?
– Em bảo đảm.
– Tại sao cô không mời tôi?
– Sẵn sàng mời anh, chỉ sợ anh không có thì giờ.
Người sĩ quan vui vẻ:
– Thôi được.
Ông ta tới bên Minh, đặt tay lên vai Minh:
– Cho cậu nghỉ phép một ngày, chiều nay về.
Ông ta nheo mắt với Minh:
– Cậu có gia đình ở đây không? Minh gật đầu đại:
– Dạ có.
– Cho cậu đi đến sáng mai luôn. Minh mừng rỡ, nhưng chàng còn loay hoay với khẩu súng, người sĩ quan cầm lấy khẩu súng của Minh:
– Tôi giữ cho cậu, ngày mai nhớ vào sớm nhé? Chắc chắn đại đội còn ở lại đây.
Minh sung sướng, người thiếu nữ reo lên, nàng nắm luôn tay Minh:
– Thôi đi anh, đại úy anh bằng lòng rồi đó.
Minh cùng người thiếu nữ rẽ đám đông đi ra, Minh thấy lòng mình rưng rưng cảm động, suốt bao nhiêu năm lính chàng chưa bao giờ hưởng được sự sung sướng như thế nầy. Người thiếu nữ luôn miệng nói chuyện với Minh:
– Anh biết không, được thả ra em mừng quá, em nghe người ta nói quân đội mình chiếm được dinh Gia Long rồi, em quên cả về nhà, em chạy thẳng lên đây.
Minh tò mò:
– Tại sao lại bị bắt?
– Đâu có phải mình em, trường em bị bắt gần hết.
– Các cô tranh đấu?
– Phải tranh đấu chứ anh.
– Tôi nghe nói học sinh, sinh viên bị bắt nhiều lắm phải không?
– Rất nhiều, toàn dân vùng dậy mà anh, anh không biết gì sao?
– Biết quái gì đâu.
– Anh ở ngoài mặt trận nên không biết, ở Sài Gòn tụi em ngày nào cũng biểu tình hết trơn, anh có thấy không, sao buổi sáng hôm nay em thấy thương mọi người ghê đi.
Minh gật đầu:
– Tôi cũng thấy vậy.
Người thiểu nữ đi nép vào Minh, nàng ôm lấy cánh tay Minh thân mật, không một chút mặc cảm.
Tiếng người thiếu nữ trầm trầm:
– Em có cảm tưởng, em không tiếc với các anh một điều gì.
Ngày học sinh, sinh viên tranh đấu, nàng luôn miệng hỏi, bộ anh không biết gì hết trơn sao? Minh nói thật với nàng:
– Tôi đi trận hết tháng nọ tới tháng kia, ở Sài Gòn xảy ra chuyện gì tôi đâu có biết, thỉnh thoảng sau một cuộc hành quân thì chúng tôi về một quận lỵ nào đó nghỉ vài ngày. Mãi mấy hôm trước đây có người bạn đi phép ở Sài Gòn về nói chuyện mới biết chớ, kế đến chúng tôi được lệnh kéo quân về Sài Gòn.
Trời bắt đầu nắng gắt, người thiếu nữ đi cạnh Minh có vẻ mệt vì đi bộ khá xa, mồ hôi cô ta nhễ nhại, đường phố vẫn đông đảo người, hình như người ta ra đường mỗi lúc một đông. Người thiếu nữ đi chậm lại:
– Em mỏi quá, hôm nay đừng hòng mà thuê xe.
Hai người bỗng nhìn thấy một đám đông xông vào một căn nhà nguy nga, họ đập phá gì trong đó thì phải. Minh hỏi một người thanh niên bê cái quạt máy trong nhà chạy ra đường:
– Chuyện gì trong đó vậy?
– Đồng bào phá căn nhà đó.
– Tại sao lại phá?
– Nhà của họ hàng mụ Ngô đình Nhu.
Minh nhìn cái quạt máy trên tay anh ta:
– Tại sao lại lấy cái quạt máy này?
– Của con mẹ Nhu không lấy để làm gì?
Minh để ý thấy mỗi người trong nhà đi ra đều có mang một ít đồ vật, những người vô sau không có gì họ đành bê ra một cái ghế, có mấy người khiêng một cái bàn. Minh kéo người thiếu nữ đi, Minh hỏi nàng:
– Nhà có xa không?
– Ở tận Phú Nhuận kia.
Minh nghe nói đến Phú nhuận, chàng lại nhớ đến Ngọc, có lẽ lát nữa chàng phải đi tìm Ngọc, chàng chỉ đến nhà người thiếu nữ này cho có lệ vậy thôi, rồi chàng đi tìm Ngọc liền, thì giờ chàng ít quá.
Minh quay sang người thiếu nữ:
– Tôi đến nhà cô một lát rồi tôi đi nhé?
– Anh đi đâu?
– Tôi đi tìm người quen, lâu lắm tôi không được về Sài Gòn.
– Anh ở nhà em nghỉ đã, chiều rồi đi tìm cũng không muộn mà.
Người thiếu nữ nói tiếp:
– Anh về nhà em chơi, chắc chắn ba má em quí anh lắm, nhất là mấy đứa em, chúng bắt anh kể lại trận đánh đêm hôm qua.
Minh mỉm cười, chàng chợt nhớ ra từ lúc chàng đi chơi với người thiếu nữ này đến giờ chàng chưa biết tên của nàng. Cánh tay của người thiếu nữ nầy vẫn ôm lấy cánh tay bị thương của Minh, chàng tự hỏi nguyên nhân nào mà người thiếu nữ này lại xáp lại gần chàng hơn mà không một chút mặc cảm, một người thiếu nữ hoàn toàn xa lạ với Minh. Buổi sáng hôm nay Minh để ý tất cả mọi người nhìn nhau bằng những đôi mắt thương yêu, những ánh mắt thật hiếm hoi, nhưng điều đó đang có thật. nữ: Minh cúi xuống hỏi người thiếu nữ:
– Em tên gì?
– Quên mất chớ, em chưa giới thiệu tên mình với anh. Em tên em là Thu, còn anh.
– Tên Minh, binh nhì Minh.
Thu phát lên cười, Minh vui lây, lần đầu tiên trong đời chàng hãnh diện với cấp bậc của chàng. Minh không cần nghĩ tới những ngày đen tối nữa. Minh tâm sự với nàng:
– Sau vụ này tôi xin giải ngũ.
– Anh đi lính lâu chưa?
– Khá lâu rồi.
– Vậy tại sao anh không được lên chức?
– Hồi trước tôi ở Không Quân, rồi ngày Cách Mạng ông Thi tôi bị bắt ở tù, sau thời gian ở tù tôi bị đưa về đơn vị Thủy Quân Lục Chiến, tôi là một người lính có lỗi nặng nên không được lên chức, và nhất là không được đi phép.
– Sao?
Người thiếu nữ tròn mắt nhìn Minh:
– Anh có tham gia Cách Mạng ông Thi nữa sao?
Minh thành thật:
– Tôi không biết có gọi là tham gia Cách Mạng được không?
Thu nhíu mắt:
– Sao lại không, anh cũng bị tù tội như những người làm cách mạng khác.
Minh im lặng, chàng không nói gì. Nắng mỗi lúc một cao, mồ hôi chảy ròng ròng trên má Minh. Thu nhìn trước nhìn sau rồi đưa tay vẫy một chiếc taxi, chiếc xe ngừng lại, người tài xế với tay ra phía sau mở cửa, anh ta vui vẻ:
– Xếp đi đâu? Mời xếp lên.
Minh thấy hôm nay ai cũng có vẻ niềm nở với mình, Thu hãnh diện, nàng đỡ cánh tay của Minh, dìu chàng lên xe, người tài xế hỏi:
– Xếp về đâu xếp?
Minh chưa kịp nói Thu đã đỡ lời:
– Về Phú Nhuận.
Người tài xế than phiền đường đông quá, nhưng anh ta lại nói ngay:
– Tại đồng bào hôm nay vui quá, mà tôi cũng vui nữa. Ôi chao là mệt, buổi sáng hôm nay tôi chở lính khô- ng hà, xin lỗi hỏi xếp chút nhé? Xếp bị thương tối hôm qua phải không?
Minh chưa kịp nói thì Thu đã cướp lời người tài xế, nàng kể lại rành rọt, trận đánh dinh Gia Long mà Minh đã tham dự, nàng hãnh diện, nàng khoe với người tài xế:
– Tôi cũng bị tù nữa bác ạ, sáng hôm nay tôi mới được thả ra.
Người tài xế nhún vai:
– Người em tôi cũng tranh đấu, bị bắt, được thả ra hồi chiều hôm qua lận, sáng hôm nay vừa dứt tiếng súng một cái là nó ra đường liền, tuổi trẻ hăng hái thiệt…
Minh ngồi dựa đầu thoải mái trên nệm xe, suốt một đêm thức trắng, bây giờ Minh mới thấy mệt mỏi. Chàng thèm một giấc ngủ chàng biết mình vừa góp một phần nào đó trong cuộc Cách Mạng này, chàng muốn mỉm một nụ cười, chàng lại nghĩ đến Ngọc, lát nữa chàng nhất định phải đi tìm Ngọc, không biết bây giờ nàng ra sao.
Minh chợt hoang mang, rất có thể bây giờ Ngọc, không biết bây giờ nàng ra sao.
Minh chợt hoang mang, rất có thể bây giờ nàng đã có chồng có con, Minh đã bỏ đi lâu quá rồi còn gì, nhưng Minh bình tỉnh ngay, nếu nàng có chồng thì cũng đáng mừng cho nàng, Thu chợt nâng cánh tay Minh lên:
– Anh đau lắm phải không?
Minh mở bừng mắt, chàng thấy đôi mắt đen của Thu, đôi mắt nhìn chàng không chớp mắt, Minh nhép miệng cười.
Giữ vững lập trường trước sau như một, đó là kim chỉ nam của tôi. Nhớ hồi ở Trại Tù 52, trong khi chờ vệ binh dẫn đi làm, tôi đã buộc miệng chửi thề khi thấy thằng khùng xách súng lò dò lại:
— Đù mẹ, lại gặp thằng Hắc Ám khốn nạn nữa.
Thế là có tay ăng ten báo cáo ngầm lên trên, tôi bị đem cùm nhà kỷ luật, nhưng cương quyết không nhận tội. Lý do thứ nhất, tôi muốn biết đứa nào đã làm chuyện báo cáo tồi bại đó; thứ hai, tôi muôn thử thách bản thân mình, xem thử sự tra tấn có làm mình yếu đuối, đầu hàng trước những bằng chứng rõ ràng, trước họng súng đe dọa. Tôi nghĩ đến những chiến sĩ bị địch bắt vẫn cương quyết giữ kín những tin tức bí mật, quan trọng không khai. Mặc dù tên Quản giáo “Tay súng bá vàng” đã dùng áp lực bắt toàn đội công nhận rằng tôi có nói nhưng khi bị áp giải về trước buổi họp xét xử, tôi đã trừng mắt thách thức tên cán bộ:
— Ai báo cáo và làm chứng đâu? Tôi gằn giọng hỏi.
Bốn đôi mắt tóe lửa, đằng đằng sát khí, gờm gờm nhìn nhau như muốn ăn tươi nuốt sống địch thủ trong cuộc đấu nhãn lực giữa tôi và tên Quản giáo làm đám chó săn “rét” quá nín luôn. Ăng ten là một nghề tồi bại, chỉ làm lén lút, chẳng đứa nào dại tự nhận, tự xưng tên. Đám Cán bộ cũng không muốn để lộ mặt những người đã tốn công gài vào. Kẹt quá, y bèn hô mấy tên vệ binh chực sẵn trước cửa:
— Vào bắt trói nó lại. Hai tên gác chạy vào, chĩa súng, trói ngược tay tôi về sau.
— Quì xuống! Tên Quản giáo thét lớn. Tôi không tuân lệnh và dõng dạc trả lời:
— Điều 12 trong Chánh sách của Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam qui định: “Không lăng nhục, đánh đập tù binh, không làm mất danh dự tù binh.” Nếu Cán bộ không chấp hành đúng Chính sách Nhà nước, tôi không chấp hành lệnh Cán bộ.
Thế là cả bọn Vệ binh ùa vào kéo tôi đem nhốt phòng kỷ luật. Toàn bộ gian nhà chỉ có một vật duy nhất còn mới và chắc chắn, đó là cái cùm. Không cần phải hiện đại, tối tân với tường bê tông cốt sắt, với những song sắt lớn như các phòng giam tại các quốc gia tân tiến, và chính cái tồi tàn đơn giản đó, lại là một hình thức trừng trị nặng nề hơn, một hình thức bảo vệ an toàn hơn vì tên gác, hoặc bất cứ tên bộ đội nào ở từ xa cũng có thể quan sát được những hoạt động, cử động của người tù bị kỷ luật. Người tù phải nằm lạnh lẽo trên mặt đất trần trụi với hai cổ chân bị siết chặt trong cùm gỗ, và những cơn gió lạnh về đêm, những đợt nước tạt vào trong những ngày mưa gió là những đày đọa thường trực nhất mà người bị đày đọa không có lý do để buộc tội những hình thức đày đọa mình. Cùng kinh qua một cảnh cùng khổ, có người phải tự tử chết, có người vẫn sống một cách thản nhiên.
Chúng cùm tôi nằm sấp, chân hỏng cao. Chân cùm, tay trói cánh gà, sức nặng cả người dồn lên mặt đất tại một điểm tựa duy nhất ở đầu. Ngọn đèn dầu tù mù đủ soi bóng một đám người lố nhố như bầy quỷ ăn thịt người. Chúng bí mật làm hiệu và bất ngờ sáu đứa đồng loạt phóng chân đá vào người tôi. Tôi thét lên một tiếng lớn:
— Đồ hèn!
Cái âm vọng cuồng nộ của tiếng thét mà nhũng người bạn tù trong Trại cách đó trăm thước nghe vang dội, lại tưởng là tiếng thét cuối cùng của một tử tội, không ngờ lại có mãnh lực làm kinh hoảng bọn người bất nhân đó. Cả bọn đều bỏ chạy tán loạn chỉ còn lại tên gác. Tên “môi thâm” cầm khẩu súng AK có gắn lưỡi lê, rà cái mũi dao nhọn hoắt rê rê khắp cổ, mặt mũi tôi. Cảm giác ớn lạnh của dụng cụ giết người, của tử thần, làm người tôi mọc gai ốc. Tất cả sức nóng trong người đều như dồn tập trung tại cái điểm tiếp xúc lạnh lẽo của mũi lưỡi lê đang di động, nên lớp mồ hôi vã ra khắp người lại càng lạnh tanh. Y nghiến răng phát ra những tiếng gầm gừ ma quái:
— Tao thèm đâm mầy một dao lút cán. Tao thèm mổ bụng mầy. Tao thèm rạch nát mặt mầy…
Tao thèm, cái tiếng thèm rung rung, rền rĩ như tiếng gào thê thiết của loài mèo trong đêm động tình. Y gằn giọng hỏi tôi một cách chế giễu:
— Hồi nãy mầy không quì, mầy bảo quì là nhục. Thế giờ nầy bị trói và cùm như con heo, mầy có thấy nhục không?
Tôi cười lớn bảo:
— Mầy không hiểu thế nào là nhục hả? Một bọn sáu người, vừa có quyền thế, vừa có súng ống, vừa có sức mạnh, lại đi hà hiếp, bắt nạt một kẻ tay không, cô thế, vừa bị cùm, vừa bị trói, mà mầy không thấy ai nhục à? Sáu con người đối xử với tao như đối xử với một con vật. Nhưng ai là con vật, ai là con người?!
Bên ngoài bỗng rộn ràng nhiều tiếng chân người. Tiếng hối thúc, tiếng mở kho dụng cụ, tiếng hỏi lao xao:
— Định chôn nó ở suối hay cạnh sau rừng?
Tôi chẳng hiểu chúng dàn cảnh dọa dẫm hay làm thiệt. Bỗng nhiên một cảm giác thanh thoát lâng lâng tràn ngập tâm hồn. Tôi nằm tận hưởng những giờ phút tuyệt vời cuối cùng của sự sống. Hạnh phúc òa vỡ như thác nước vừa phá tung đập chắn, trùm phủ toàn thân căng lên vì xúc động.
Tôi nằm chờ chết với một nụ cười vừa thoảng qua môi.
Bỗng có tiếng lao xao của sỏi đá. Và hai tên bộ đội xuất hiện. Một tên gằn giọng hỏi:
— Đây là lần cuối cùng. Nếu mầy nhận tội sẽ tha cho về ngay.
Tôi khẳng định:
— Không.
— Vậy thì mở cùm dẫn nó đi. Một tên ra lệnh.
— Tao không đi đâu hết. Tôi nói lớn. Muốn giết tao, bọn mày cứ bắn chết tao tại đây. Đừng bày trò dẫn ra ngoài, rồi hô hoán tao vượt ngục để bắn chết, như vậy không phải là thái độ anh hùng.
Họ đứng nhìn nhau, dùng dằng, rồi bỏ đi. Ngày hôm sau, tôi bị dẫn vào gặp Trưởng trại, y ra lệnh cho tất cả vệ binh ra khỏi phòng rồi bảo tôi:
— Tôi biết anh đã từng bất tuân lệnh quỳ của Cán bộ tại các Trại. Nếu ở trong trường hợp anh, tôi cũng sẽ theo gương anh khi bị buộc phải làm chuyện mất danh dự đó trước hàng trăm Chiến hữu của mình. Nhưng tại đây không có ai cả và Hồ Chủ tịch là một anh hùng vĩ đại không chỉ đối với Nhân dân VN mà các Lãnh đạo thế giới cũng đều ngưỡng phục. Ở đây, không có ai. Nếu anh chịu quì trước ảnh Hồ Chủ Tịch, tôi sẽ bỏ qua mọi tội lỗi của anh và tha anh về Trại ngay lập tức.
Tôi lắc đầu bảo:
— Cám ơn thành ý của ông. Ở đây không có ai nhưng còn có ông, có tôi, có Trời, có Đất và có lương tâm của tôi. Tôi thà trở lại nhà kỷ luật hơn làm chuyện hèn hạ, nhục nhã đó.
Nói xong, tôi tự động bỏ về nhà cùm. Không ngờ Trưởng Trại lại hạ lệnh nhà cùm thả tôi về Trại dù chỉ mới bị nhốt 2 tuần. Vừa vào cổng, thấy bạn tù đang chơi bóng chuyền, tôi vội ném chiếu, mền xuống đất nhảy vào tham dự. Tôi nhảy lên đập biểu diễn một cú banh được nâng thật đẹp nhưng banh bị đính vào lưới.
— Đù mẹ, mang cùm nặng quá nhảy lên hết nổi rồi!
Tôi trần tình bằng một câu chửi thề. Hai tên vệ binh áp giải nhìn nhau lắc đầu bảo:
— Mẹ! Gặp thằng “Giặc lái” nầy tao cũng ớn luôn.
Đó là lần đầu tiên và duy nhất tôi bị đánh đập, ngoài lần bị rút năm ngón chân sau khi trốn trại tù Lam Sơn. Trong khi có nhiều bạn tù chỉ vì một lỗi tầm thường, cũng bị ăn đòn nặng. Có người bị đánh chết một cách thật lãng nhách như một tù binh tại Lam Sơn. Anh tù bị sốt nặng không được nghỉ lao động, trên đường đi, lên cơn làm sảng. Anh cuồng trí la hét và chạy nhào về phía mấy tên lính gác. Bộ đội hô hoán là tên tù giả vờ đóng tuồng để cướp súng! Cả bọn xúm vào, dùng súng, cây, đánh người tù bệnh một trận thẳng tay, xong đem về nhốt conex. Sáng mai, mở cửa, người tù binh chết tự lúc nào vì bị nứt sọ!
Sau nầy khi chuyển về Trại tù 53, tôi mới rõ một trong những lý do của sự may mắn của mình. Số là có một toán bộ đội miền Bắc vừa được đổi đến, toán người nầy mới đến nhưng đã gây nhiều thành tích khủng khiếp. Một tù binh trả lời ấp úng, liền bị bắt há miệng ngậm mũi súng, tên gác bất ngờ giật bá súng, đầu ruồi nòng súng móc văng mấy răng cửa. Miệng môi nạn nhân bị bể, máu phun tung tóe.
Liêu, một tù binh phụ trách canh tác đội, đang đứng tiểu tiện sau vườn. Thấy tên “tóc mai” đi qua, sợ quá nên quay lại chào, quên mất là tay đang cầm chim đang tiểu. Liêu bị “tóc mai” đánh cho một trận nhừ tử:
— Đồ bố láo! Mầy dám vừa cầm đầu bố mày vừa chào ông hả?
Lại có năm tù binh khác cắt tranh thiếu chất lượng bị phạt quì trước cổng trại. Tên Cán bộ ra lệnh phạt, bỏ đi ăn cơm trưa rồi lại ngủ quên đi. Một Cán bộ khác thấy năm người quì đã mấy tiếng đồng hồ giữa trời trưa nắng chan chan, tội nghiệp, bèn tự tiện đến cho phép họ trở về nhà. Thế mà năm người vẫn tiếp tục quì và trả lời:
— Thưa cán bộ. Ông Cán bộ C. bắt quì thì khi nào ông Cán bộ C. tha chúng tôi mới dám về. Nếu về theo lời của cán bộ, ông C. sẽ đánh chúng tôi chết!
Chuyện đánh tù xảy ra như cơm bữa, thế mà tôi vẫn bình yên. Một hôm đi đốn cây, Thư “ròm” trung úy Bộ Binh, được đám vệ binh kêu lại nói chuyện trong giờ nghỉ giải lao:
— Anh có nhận xét gì về chúng tôi?
Thấy đám hung thần ngàn năm một thuở mới có bữa dễ tính, Thư “ròm” nhẹ nhàng phát biểu:
— Dạ, toán của Cán bộ dữ quá, đánh đập nhiều quá làm anh em sợ!
Một tên trong đám cười hỏi:
— Anh biết tại sao chúng tôi đánh các anh không?
— Dạ vì chúng tôi phạm lỗi, học tập chưa tốt, lao động chưa tốt, chấp hành nội quy chưa tốt. Thư ròm nhanh nhẩu trả lời.
— Không phải. Bỏ mấy câu lải nhải như vẹt đó đi. Y nhấn mạnh. Tại vì ngày trước các anh là Đại tá, Trung tá, Đại úy, Trung úy… nói chung, các anh có quyền hành trong tay, các anh ỷ quyền, lạm quyền, hung hãng phách lối, muốn đánh ai thì đánh, giết ai thì giết, muốn bỏ tù ai thì bỏ tù. Thế mà giờ nầy vào đây, một số trong các anh hèn quá, tồi quá. Đứng trước mặt chúng tôi run rẩy, khiếp nhược, van xin, luồn cúi. Chúng tôi tởm quá, khinh bỉ quá, nên đánh cho bõ ghét. Trái lại, đối với những người khác, chẳng hạn như Lý Tống… Anh có biết Lý Tống không?
— Dạ biết chứ. Thư “ròm” hăm hở gật đầu.
— Ví dụ như Lý Tống, anh ta lúc nào cũng hiên ngang, cũng hào hùng, bất khuất, tự tin. Chúng tôi sau lần thử lửa cũng nể, cũng phục, chúng tôi đâu dám đụng đến anh ta nữa.
Mặc dù đây không phải là nguyên do thông dụng để Cộng Sản viện ra trừng trị tù binh bởi vì không thiếu gì tù binh ngoan cường bất khuất vẫn bị đánh đập hành hạ đến chết bởi những tên khát máu bẩm sinh, nhưng ít ra câu nói và ý nghĩ đó cũng diễn tả được một phần nhỏ những yếu tố quan hệ đến thế tương liên giữa người tù và cai tù cũng như bẩm chất riêng của từng con người thuộc các phe phái đối nghịch.
Một lần đi lao động, gặp một tay Cán bộ khó tính, hắc ám, y không cho phép tù binh đi tiểu, đi cầu trong giờ làm việc, ngay cả lúc đang bị tào tháo đuổi. Tôi đang đau bụng ráng nhịn và khi nghe tên vệ binh cho nghỉ, tôi phóng ngay vào bụi rậm xổ ngay “bầu tâm sự.” Xong xuôi, vừa đi ra thoải mái, tôi ngạc nhiên thấy tất cả bạn tù lại đang làm việc. Thì ra giữa tên vệ binh và tên quản giáo có sự xung khắc nhau, tên nào cũng muốn tỏ mình có uy quyền. Vì thế khi tên vệ binh tự tiện cho nghỉ, tên Quản giáo lại ra lệnh làm việc tiếp và tôi trở thành kẻ vi phạm kỷ luật do y đặt ra. Y kêu tôi lại, nạt lớn:
— Ai cho anh đi ỉa. Anh không tuân theo điều lệnh của tôi sao?
Tôi nhún vai, trả lời:
— Vệ binh cho nghỉ, và tôi đi ỉa trong giờ giải lao.
Y tức tối vừa rút súng vừa gào lớn:
— Trong nầy chỉ có tôi là có quyền cho nghỉ. Tôi sẽ bắn bỏ bất cứ tù binh nào trái lệnh tôi.
Y cầm súng, chĩa vào mặt tôi, khẩu Colt 45 còn bọc trong bao giây ni lông quên gỡ ra vì giận và mất bình tĩnh. Tất cả tù binh và bộ đội đều đứng sững nhìn một cảnh kỳ lạ, tức cười. Kẻ cầm súng, mặt tái xanh, run rẩy, thiếu tự chủ, còn kẻ bị chĩa súng vào đầu, tay không, lại thản nhiên mỉm cười coi khinh. Cuối cùng mấy tên vệ binh hiềm khích với tên Quản giáo khoái chí đến kéo tôi đi chỗ khác, mặc cho tên Quản giáo lúng túng tức tối.
Người Anh Em
Thời ở tù tại trại Lam Sơn, một số Cán bộ gốc miền Nam, cấp lớn, thỉnh thoảng cũng đến thăm con em mình. Chủ nghĩa Cộng Sản không gột rửa được những tình cảm con người, nhưng chế độ tàn bạo đã làm thay đổi, hạn chế những tình cảm ruột thịt. Họ thường trần tình:
—Cha vẫn thương con, nhưng không thể vì con mà ảnh hưởng đến Sự nghiệp Cách mạng xây dựng trong 30 năm qua.
Chính vì những hiện thực tồi tệ đó mà tôi đã tuyên bố sẽ từ chối gặp người anh nửa ruột thịt của mình nếu anh đến thăm tôi, với lối chơi chữ đồng âm dị nghĩa:
—Ngày xưa anh và tôi cùng máu mủ. Giờ đây anh đi theo Cộng Sản, anh trở thành người khát/khác máu.
Tuy vậy ông anh cũng đã lặn lội đường xa đi tìm tôi ba lần ở ba trại tù khác nhau. Lần đầu tiên năm 1975, anh đến Trại Lam Sơn thuộc địa phận Nha Trang. Anh bị Ban Chỉ huy trại tù yêu cầu trở về vì đám ăng ten đã báo cáo câu tuyên bố trên của tôi. Năm sau, anh lại đi mấy ngày đường từ Sàigòn ra Tuy Hòa, băng đồng, vượt suối tìm đến Trại 52 thuộc tỉnh Phú Khánh. Lần nầy trại tù còn có lý do chính đáng hơn để cấm thăm nuôi: Tôi bị cùm nhà kỷ luật vì lý do chửi Cán bộ và không chấp hành lệnh bắt quì. Theo nội quy thì những tù binh bị phạt kỷ luật không được thăm nuôi trong vòng từ ba tháng trở lên.
Đẩu, người tù binh phụ trách chăn bò cho Trại, sau đó gặp tôi tả lại cảnh gặp anh tôi trên đường. Anh tôi hỏi:
— Anh có phải tù binh ở trại nầy không?
— Dạ phải.
— Anh có biết Lý Tống không?
— Dạ biết. Nó đang bị kỷ luật,
— Tôi là anh nó đây. Tôi đi thăm nó mấy lần mà lần nào cũng bị đuổi về không cho gặp.
Nói đến đây anh khóc nức nở. Đẩu diễn tả dáng dấp người đàn ông cao dong dỏng, gầy, đeo kính cận, rất trí thức, rất tình cảm, và cái buổi chiều thật buồn trên con đường thật vắng lặng, heo hút, người đàn ông cúi mặt lầm lũi trên đường về, vừa đi vừa khóc tức tưởi. Đẩu kể lại với sự xúc động chân tình và tôi cũng xúc động theo. Năm sau, cùng với đứa con gái lớn, anh lại phải vượt đoạn đường xa hơn, hiểm nghèo hơn, đi đến khu vực nhà tù Trại 53 mà chung quanh chập chùng núi non và lác đác vài buôn làng nguời Thượng.
Ngày xưa Lưu Bị ba lần yết kiến Khổng Minh để cầu hiền tài, ngày nay, người anh cùng cha khác mẹ đi tìm tôi ba lần mới được gặp mặt. Gặp anh, tôi nhớ lại những câu chuyện năm xưa, những ngày khói lửa ngập tràn xóm làng, quê hương. Cha tôi là một địa chủ giàu có với hàng trăm mẫu ruộng cò bay thẳng cánh, với uy tín và khả năng kinh tế, cha tôi đã tập hợp tất cả nông dân trong làng, huyện, hướng dẫn và nuôi nấng họ để thành lập Mặt trận Kháng chiến tại Quận Hương Thủy, Thừa Thiên, Huế chống lại bọn thực dân Pháp. Nhà tôi trở thành Bộ Chỉ huy.
Ngày ngày một bộ phận nhà bếp lo phụ trách nấu từng chảo cơm lớn để cấp phát cho lực lượng thanh niên chiến đấu cũng như những người dân nghèo đói thiếu thốn. Tất cả kế hoạch phòng thủ làng xã đều được truyền đi và báo cáo tại đây. Thế rồi quân Pháp đã dùng lực lượng vũ trang mạnh bằng xe tăng, máy bay, tấn công và càn quét toàn vùng, cha tôi cùng toàn bộ tham mưu bị bắt, bị dẫn vào rùng và bị xử bắn. Chiếc đầu bị chặt đứt lìa khỏi thân thể tại một địa điểm bí mật và hẻo lánh mà sau nầy, khi những người Thượng trong toán dẫn tội nhân đi hành hình kể lại với câu nói ngắn bằng tiếng Pháp couper la tête và bàn tay làm dấu cứa ngang chiếc cần cổ đang ngửa lên. Gia đình tôi đã khổ công nhiều năm vẫn không tìm ra được địa điểm xử tử để hốt xương cốt người thân yêu về chôn cất.
Người anh đang bị giam giữ tại nhà tù nghe tin cha chết, vượt ngục trốn thoát. Lực lượng kháng chiến địa phương hoàn toàn tan rã, anh trốn vào rừng. Cuối cùng không còn đường nào khác, anh đành đi tập kết, mười mấy năm sau trở lại Sàigòn với chúc Giáo sư dạy văn và sinh ngữ khiêm nhường tại Đại học, sau khi Sàigòn bị mất vào tay Cộng Sản.
Trại Tù 53
Tại Trại 53, nhóm Quách Giang gồm bảy người, đào thoát được ba tháng. Một hôm trong công tác về nhà nhận đồ tiếp tế, Quách Giang bị bắt chỉ vì khát nước vào vườn dân bẻ trộm mía. Tệ hơn nữa, thay vì làm kế hoãn binh để nhóm trong rừng kịp thời di chuyển, Quách Giang đưa điều kiện để dẫn du kích đi tìm bắt trọn ổ đồng bọn: “Một bữa ăn ngon với một chai rượu và một con gà luộc.” Sau khi sa lưới, bốn người được chuyển giao nhốt tại nhà cùm trại 53. Một bữa trưa, sau giờ ăn cơm, cả trại tù nhớn nhác vì những tiếng la thét kinh hoàng.
Đứng dọc theo hàng rào, tù binh chứng kiến cảnh nhà kỷ luật đang bốc cháy nhưng chưa có lệnh nên không ai được ra cổng để cứu người bị nạn. Lửa gặp tranh khô, gió lớn, bốc cháy tàn bạo, tiếng kêu cứu của người bị đốt cháy chìm trong tiếng gào rú của cơn bão lửa. Đợi khi nhà cùm hoàn toàn thiêu rụi, Ban Chỉ huy Trại mới cho lệnh xuất trại cấp cứu. Chúng tôi chỉ còn kịp khiêng xác bạn bè bị cháy căng phồng, nứt nẻ từ nhà cùm đến nhà xác. Lửa đã giải phóng đôi chân họ khỏi cặp cùm bằng gỗ, lửa mở rộng khung cửa hàng ngày đóng im ỉm, giam cầm cuộc đời phạm nhân trong bóng tối miên viễn.
Quách Giang sống sót một mình nhờ nằm ở gian nhà sau, có hầm đất che chở. Tôi ở trần cõng Quách Giang vào bệnh xá, mùi thịt người cháy khét lợm giọng. Hơi thịt người cháy hít vào phổi, ngấm vào da thịt cả tuần còn tởm lợm buồn nôn. Quách Giang bị cưa hai bàn chân, hai tuần sau, cưa lên đầu gối và sau đó cưa lên tận háng, vì Việt Cộng ít khi thừa thuốc trụ sinh để chích cho tù, nhất là tù trốn trại.
Quách Giang được thả về. Việt Cộng không có tài trị bệnh, nhưng là một bậc danh sư về định bệnh: Ít có tù nào được phóng thích vì bệnh mà lại sống quá hai tháng. Quách Giang không chỉ chịu đau đớn vì vết thương thể xác, mà vết thương tinh thần còn trầm trọng hơn. Sự hối hận về hành động ngu xuẩn và hèn hạ của mình đã hãm hại đồng bạn nên tự tử chết tại nhà.
Điều trắng trợn, thô bỉ nhất là Ban Chỉ huy Trại bắt tên chó săn “Sơn khói” Khối trưởng của tù, làm bản báo cáo lên Ty Công An để chạy tội đốt nhà kỷ luật: “Toàn thể tù binh trại 53 nhận tội vô ý làm cháy nhà kỷ luật!”
Ấn tượng kinh hoàng chưa kịp phai mờ, thì chuyện khủng khiếp khác xảy ra. Một chuyên viên sát nhân từ Hà Nội được biệt phái đến điều tra. Trung uý Cường, ông già hớt tóc, cựu Trung úy An ninh Quân đội, được hỏi thăm sức khỏe đầu tiên. Cường “già” khai trương nhà kỷ luật mới. Sau khi bị cháy, nhà kỷ luật được xây cất lại theo kiểu mẫu tiêu chuẩn, gồm nhiều phòng, xây thành hầm chữ A, đắp bằng đất sét. Bề cao không đủ đứng, bề dài không đủ nằm, hai bàn chân bị cùm thò ra bên ngoài cửa.
Cùm gỗ là hai thanh gỗ ghép lại, khoét hai lỗ vừa khổ với cổ chân. Ban đêm những bàn chân nằm trơ trọi bên ngoài trông thật kinh dị, những bàn chân khốn khổ vì lạnh lẽo, vì muỗi đốt. Có lúc bị kiến, rắn cắn hoặc chó, chuột gặm và những tên gác ác độc, mỗi lần đi ngang lại đá, đạp hoặc dùng cây đập. Nhân ngày Quốc khánh 2-9, Cường già được đặc ân cho về trại một ngày. Cường già thổ lộ với người bạn thân cận nhất:
— Chúng nó muôn tôi khai toàn bộ hệ thống an ninh và các nhân viên liên hệ cũ. Tôi cương quyết giữ bí mật vì sợ nguy hiểm cho tính mạng nhiều người. Tôi cũng biết rõ, với những đòn tra tấn độc ác của tên chuyên viên, tôi sẽ không sống nổi vì vậy chỉ có tự tử là giải pháp tốt nhất để thoát khỏi đại nạn nầy.
Tối hôm đó, Cường già uống thuốc ngủ dấu sẵn, trút hơi thở cuối cùng. Chúng tôi lại thức đêm đi đào huyệt và khiêng xác chết đi chôn. Việt Cộng vẫn thơ ngây nghĩ rằng bóng đêm sẽ bao che những việc làm tàn ác mờ ám của họ.
Cường già nằm chưa ấm đất thì một tù binh khác bị nhốt thế chỗ. Người này là một tù binh bị bệnh, không được nghỉ làm việc, không được phát thuốc uống, anh ta tức giận nguyền rủa cái bệnh xá mà thuốc đỏ được xem là thuốc cấp cứu. Vì có sự hiềm khích sẵn, “Sơn khói” báo cáo mật lên Trại. Sau hai đêm bị cùm, Cán bộ Trại thông báo: “Tù binh bị kỷ luật đã thắt cổ tự tử!” và giải thích: “Anh ta dùng giây vải quân quanh cổ, rồi dùng hai tay mình tự siết cổ đến chết!” Cả Trại tù 53 xôn xao căng thẳng.
Một hôm đang cưa gỗ, tôi bỗng ngừng tay theo linh cảm. Tên chuyên viên giết người, từ hồi nào, đang đứng đó nhìn tôi, đôi mắt âm u như bóng tối thoát ra từ chín tầng địa ngục. Một dòng điện lạnh vụt chạy qua cột xương sống. Lần đầu tiên trong đời tôi bắt gặp một cặp mắt kinh dị như vậy. Cặp mắt như có oan hồn lẩn khuất, cặp mắt của kẻ thèm khát giết người và đã từng nhiều lần nhúng tay vào máu. Lần đầu tiên tôi cảm thấy rờn rợn bất an. Tôi chờ đợi. Có đêm giữa giấc ngủ giật mình thảng thốt. Tôi biết rằng, nếu chết, lần nầy chắc chắn sẽ không chết nhẹ nhàng như một phát súng nổ vào đầu, như một lưỡi cuốc đập vào óc, mà cái chết sẽ khủng khiếp và ghê rợn hơn. Nhưng số tôi vẫn chưa chết. Tên chuyên viên giết người đột nhiên biến mất khỏi trại.
Đấu Khẩu: Một Hình Thức Đấu Tranh Trong Nhà Tù Cộng Sản.
Tất cả mọi người đều có quyền ngăn tôi làm điều xấu. Nhưng không một ai có thể ngăn tôi làm điều tốt đẹp, hữu ích.
Công bằng mà nói, trong nhà tù Cộng Sản, có nhiều loại lính Cộng Sản và nhiều loại tù. Cũng có những bộ đội biết điều, chịu chơi, và cũng có nhiều anh chị em tù nhân luôn luôn hiên ngang, không khuất phục. Họ chấp nhận chết, hoặc cùm kẹp, để bảo tồn danh dự và khí phách. Không kể những người đã từng được tù binh ngưỡng mộ trong tất cả những trại tù khác trên khắp lãnh thổ Việt Nam, riêng tại Nhà tù A30, đã có những tấm gương sáng.
Một chị Hồng, Dược sĩ, bị kết tội phản động, âm mưa lật đổ chính quyền. Trước Tòa án Nhân dân, sau khi nghe kết án sáu năm khổ sai, chị Hồng đã thản nhiên đáp lại: “Tôi sợ chế độ các ông không còn tồn tại đến ngày đó để giữ tôi!” Tên chánh án tức tối điên người thét lớn: “Tăng lên 12 năm khổ sai.”
Một Khang “cụt,” vượt biên bị bắt, mấy tên bộ đội Việt Cộng nhóc con nhìn thân thể tàn phế của Khang hỏi một cách chế nhạo: “Mầy bị cụt giò làm sao đi vượt biên được?” Khang trả lời một cách ngang nhiên: “Tôi đi vượt biên bằng cái đầu!”
Một Khải đã lớn tiếng chỉ trích: “Cán bộ không đủ khả năng và đạo đức để làm Quản giáo chúng tôi” và đã vạch ngực hét lớn: “Bắn đi!” khi đám đông Cán bộ quản chế xông vào định hành hung Khải.
Một “cô bé lọ lem” 15 tuổi, bị bỏ tù vì tội “Chống phá Cách mạng.” Trong cảnh tù đày khổ hình, em lúc nào cũng vui đùa, yêu đời. Em vui đùa cho kẻ thù thấy em coi khinh những hình phạt, những tra tấn, nhưng về đêm, em vẫn thường nằm khóc một mình, những giọt nước mắt thánh thiện đã làm tôi xúc động. Tôi viết mấy dòng thơ tặng em:
Những nụ cười của ngày Đã nâng cao phẩm chất những giọt nước mắt của đêm. Ơi cô bé lọ lem!
Hãy mãi mãi xanh tươi nụ cười Và đời sẽ cùng em nâng niu những dòng nước mắt!
Và chính hình ảnh can đảm đó đã thúc dục tôi làm một bài thơ để cám cảnh phận tù và nổ vào bọn ăng ten, nhân dịp Trại bắt mỗi người viết một bài cho Bích báo Xuân. Tôi ngưng làm thơ đã mấy năm, kể từ khi bị buộc tội “Bôi nhọ nền văn hóa, văn chương của cách mạng” bởi vì tôi rêu rao quảng cáo: “Làm thơ mướn ca ngợi Bác và Đảng mỗi bài giá hai cục đường. Cam đoan hay hơn thơ Tố Hữu!”
Cuộc Hóa Thân Mùa Xuân
Mỗi dịp lễ lớn, Việt Cộng thường cho làm báo tường và bắt tù binh phải làm thơ, viết văn dể đánh giá mức độ “học tập tiến bộ” của mỗi người. Đây là bài thơ Xuân nhân dịp Tết, đã được ban giáo dục Trại Tù A30 nghiên cứu kỹ và ghi vào Hồ sơ đen của Lý Tống.
Có thể nào ca ngợi mùa Xuân Khi con tim ta không hề rung động? Có thể nào nói đến ngày mai Khi hôm nay ta quên mình đang sống? Mùa Xuân — Ngày mai
Ta — Hôm nay.
Có thể nào cứu được cây
Khi những rễ cây không tự mình vươn đi tìm mạch sống?
Và người!
Một lũ người bất nhân?
Và người
Một bọn người vong thân!
Có thể nào rửa hết được vết nhơ
Trong đầu những con-vật-người hèn hạ?
Có thể nào soi sáng được lương tri
Cho người — Kẻ mong suốt đời quì lụy?
Phải luộc vào nước sôi
Phải tắm lửa nắng, mưa dầm
Như cuộc hóa thân
Của đời hạt lúa.
Phải túm lấy cổ
Phải nhổ tróc da đầu
Phải nhận xuống bùn sâu
Như nhánh mạ non
Để đâm xanh
Những nhành lứa trổ.
Có hạnh phúc nào không vươn lên từ đau khổ? Và thăng hoa nào… không tổn thương?
Lý Tống
Chú Thích: Hạt giống lúa phải được ngâm nước nóng để mọc mầm trước khi gieo mạ, và sau đó nhổ mạ để cấy lúa. Những quá trình trong giai đoạn trồng lúa cũng khắc nghiệt như quá trình “cải tạo” để tôi luyện của một người tù.
Một thầy Thu, Giáo chủ trẻ tuổi của một Tôn giáo Hòa đồng mới, có khá nhiều tín đồ. Thầy Thu, một nhân vật được mô tả là vị cứu thế tương lai theo sách Sấm Ký. Thầy sinh tại Tuy Hòa, với các dị tướng Kim ngưu bào tạng (bao tử bò, ăn xong nhai lại), hai ngón tay cái có chữ Vương, miệng có dấu chữ Đinh đúng như lời tiên tri. Cán bộ Việt Cộng có lần lột da tay Thầy để xóa dấu chữ Vương! Thầy Thu không hề đến trường học, tất cả kiến thức thông thái đều được truyền thông trực tiếp bởi Thượng Đế bằng thứ ngôn ngữ Đại La Thiên. Những người tù nằm chung phòng kỷ luật với thầy đều xác nhận là nhiều đêm, tự nhiên họ giật mình thức giấc vì một thứ ngôn ngữ lạ lùng ríu rít giữa thinh không lúc thầy Thu đang ngồi tham thiền trong tình trạng mộng du.
Thầy Thu xây dựng học thuyết mới Chính Trị Thiên Mệnh. Tôi được nghe thầy Thu giải thích một số ít về cách vận động và hướng dẫn quần chúng, một số triết học cơ bản. Thầy có một kiến thức uyên bác, mặc dù chưa hề đọc một cuốn sách nào. Chưa học một trường nào, chưa từng đến võ đường, thầy còn dùng võ nghệ siêu đẳng bẩm sinh để thu phục các giới giang hồ hảo hớn ở Tuy Hòa. Thầy sáng tác những bài thơ, nhạc và đặc biệt bài Quốc Ca tương lai của Việt Nam nghe thật hùng tráng với một số từ ngữ mới lạ. Mặc dù có một số người đả phá, cho rằng thầy dùng ma thuật, và chỉ trích rằng đã có nhiều nữ đệ tử hiến thân làm vợ thầy, nhưng một số khác, đặc biệt là nhóm trí thúc trong Trại A30 lại hoàn toàn tin tưởng như những kẻ cuồng tín.
Họ tin rằng Triều đại Quân chủ tương lai của Việt Nam với 72 bộ sẽ có thật, và Vương quốc Việt Nam sẽ bao trùm cả khu vực Đông Nam Á. Tất cả mọi tín ngưỡng của thế giới đều sẽ qui về một mối. Tôi được thầy Thu mời đến chỗ thầy nói chuyện vài lần ngắn ngủi, kể từ khi thầy được thả ra khỏi nhà kỷ luật. Riêng cá nhân tôi, tôi chưa có đủ dữ kiện để phán xét, nhưng theo Cường, một sĩ quan trẻ có nhiều quan điểm chững chạc và ý kiến sắc bén đã phát biểu:
—Tôi chưa được chứng kiến những phép lạ đó. Tôi không xác nhận phe cuồng tín hay phe chống đối đúng, nhưng rõ ràng có thể khẳng định rằng Thầy Thu là bậc thầy siêu việt về chiến tranh tâm lý chống Cộng Sản.
Có một sự thật đau lòng chúng ta cần thú nhận. Đó là nếu tất cả tù binh biết đoàn kết, tất cả tù binh đều biết tự trọng, tự bảo vệ danh dự mình, sẵn sàng hy sinh để đấu tranh tới cùng, chắc chắn, những thảm cảnh đày đọa của kẻ thù áp đặt trong nhà tù sẽ giảm bớt.
Một số Trại tù giam giữ riêng các chiến sĩ phục quốc, có Trại Cộng Sản không những không dám đánh đập tù mà còn không ngăn cản được chuyện anh em tổ chức Chào Cờ, hát Quốc Ca trong những ngày lễ cũ của miền Nam.
Cái thời tù binh đành phải sống nhẫn nhục để được yên thân, trừ một số ít luồn cúi, bợ đỡ vì những quyền lợi nhỏ mọn, vì ích kỷ cá nhân, những lối bạo mồm bạo miệng đã tăng thêm huyền thoại cho thái độ không khuất phục trước kẻ thù ngay chính trong nhà tù Cộng Sản.
Tôi nhớ đêm sinh hoạt đọc báo. Khi nghe đoạn: “Chế độ Pôn Pốt thật dã man tàn bạo. Bọn Pôn Pốt áp búc, bóc lột đến nỗi người dân phải lánh vào rừng, bắt rắn để ăn,” tôi cười rộ nói lớn:
— Thiên đàng! Thiên đàng!
Tên Quản giáo quắc mắt nhìn tôi, hỏi:
— Anh muốn đùa hả?
– Đâu có. Bởi vì ở đây cả năm rồi không còn lấy một con rắn. Lâu lâu gặp một con, cả chục đứa giành nhau, thiếu điều đập cuốc vào đầu nhau. Kampuchia còn nhiều rắn để ăn thi đúng là thiên đàng!
Nhớ hôm một Cán bộ Việt Cộng cao cấp đến tham quan. Trước cảnh Trại tù rực rỡ những vườn hoa, hoa trước sân cổng trại, hoa giữa các sân nhà, vị nầy hứng khởi khen ngợi:
— Trại A30 đẹp lộng lẫy như một cô gái 18 tuổi dậy thì.
— Thưa ông, chừng sang năm, khi hoa xương rồng bắt đầu nở bông chen chúc cùng các hoa kẽm gai rào chung quanh Trại, ông sẽ thấy A30 đẹp đẽ gấp ngàn lần.
Cây xương rồng được trồng xen kẽ giữa hai lớp kẽm gai để tăng cường sự vững chắc và kiên cố của hàng rào bao bọc quanh nhà tù. Các Cán bộ trại đi hướng dẫn phái đoàn trừng mắt nhìn tôi và sau đó vài ngày bỗng có lệnh phá bỏ một số vườn hoa!
Hay là biện pháp nhốt tù trong rừng sâu, trong những môi trường dễ mắc bệnh lại thiếu thuốc men, tạo ra những bộ xương người gầy còm đi bằng ba chân, vì thiếu chân thứ ba, cái gậy, họ sẽ không lết tới lết lui nổi, hoặc nằm bất động tại chỗ, lâu ngày, những vết thương lở lói, sinh dòi bọ lúc nhúc. Hay áp dụng biện pháp xếp hạng tù binh theo tiêu chuẩn A, B, C, D để phân phát lương thực, nghĩa là những tù binh tiến bộ, chịu làm tay sai, làm chó săn, được lãnh cơm phần A gấp hai lần phần D, dành cho những tù lao động thiếu chất lượng, tư tưởng chưa giác ngộ, ngoan cố, bất trị. Trại tù còn ưu tiên cho các Nhà trưởng, Tổ trưởng, và các thành phần chịu cộng tác với họ được ngủ đêm với vợ mỗi lần thăm nuôi. Chính những người tù từng có ý phản đối, tẩy chay cái xảo thuật dùng mồi vợ để nhử chồng, từng quan niệm gay gắt rằng “Biện pháp nầy đã hạ giá trị của người vợ xuống mức một cô gái điếm” cuối cùng lại phải đầu hàng mọi điều kiện để được ngủ với vợ một đêm! Họ tự bào chữa: “Cần bàn chuyện gia đình với vợ.” Được một lần, họ lại muốn được những lần kế tiếp, và họ sẳn sàng làm bất cứ gì để đạt được nguyện vọng đó. Tập thể tù binh càng ngày càng phân hóa, chia rẽ, bạc nhược, bởi vì Cộng Sản là một tâm lý gia đầy kinh nghiệm, biết sử dụng đủ cách để làm cho con người cam chịu và chấp nhận: Thà sống nô lệ hơn là chết. Những tù binh phạm kỷ luật của Trại tù sẽ nhận được những biện pháp trừng trị đặc biệt.
Không kiểm soát và chi phối hoàn toàn được cái phần trong đầu của tù binh, Cộng Sản dùng biện pháp vật chất để lung lạc và biến chất những tù binh thiếu lập trường và tinh thần bạc nhược. Không những chỉ đày đọa tù nhân bằng lao động khổ sai, Việt Cộng còn kềm kẹp bằng tiêu chuẩn lương thực tồi tệ. Chuyện ăn uống làm tôi nhớ đến hôm một phái đoàn cao cấp xuống thăm Trại tù A30, có lẽ họ đến bất ngờ nên Trại chưa kịp chuẩn bị tăng thêm một ít lương thực, cái lượng lương thực họ cắt xén hàng ngày để làm của riêng, mặc dù cái tiêu chuẩn chính đã vô cùng khiêm nhường. Phái đoàn lại đến vào giờ phát cơm chiều, nên một số Cán bộ đã đi vòng vòng hỏi thăm làm vẻ như chăm sóc, chiếu cố đến anh em tù binh. Khi thấy Đạm mang một cái tô đựng cơm, cái tô được cắt ra từ cái nón nhựa lính cũ để xài cho bền, một Cán bộ chặn hỏi:
— Phần cơm Nhà nước phát như vậy chắc anh ăn đủ no chứ?
Đạm cười khẩy trả lời:
— Dạ nếu phần nầy tôi ăn một mình thì cũng tạm no. Nhưng tiếc thay phần nầy lại phát cho một tổ mười người!
Tay Cán bộ mặt ngố ra vì ngượng, bỏ đi thẳng một hơi.
Hoặc như tại Trại tù A30, Cộng Sản dùng những danh từ thật kêu để đặt tên những con đường. Chẳng hạn con đường đi vào cổng (cái cổng luôn luôn đóng kín và kiểm soát nghiêm nhặt) có tên Đường Tình Thương, và đoạn đường chính từ khu A đi khu B có tên Đường Tiến Bộ. Khôi hài thay, đường Tiến Bộ lại chấm dứt tại nghĩa trang chôn những người tù chết vì bệnh hoạn, tự tử hoặc bị xử tử. Vì thế, tôi đã đặt mấy câu thơ để châm biếm tên những con đường. Trong đó có hai câu:
Đường Tình Thương bít kín lối về
Đường Tiến Bộ hướng về nghĩa địa.
Tôi nhớ lần đột nhập vào vườn của đám vệ binh bẻ trộm bắp. Bẻ xong, nướng xong, và phân phát cho bạn bè vừa hết một bao cát, thì tên Quản giáo đi ngang bắt gặp. Y chận tôi lại hỏi:
— Bắp đâu anh có?
— Tôi lượm.
— Nói láo. Phải anh bẻ đằng vườn kia không?
Tôi tỉnh bơ không trả lời.
— À, thằng nầy láo. Tại sao tao hỏi mầy không trả lời? Mầy tên gì?
Tôi vẫn không thèm lên tiếng. Y tức quá chạy tới một bụi chuối, xé một mớ giây chuối rồi xông lại tôi nói lớn:
— Tao trói đầu mầy, dẫn mầy về Trại, cùm đầu mầy lại. Đồ phá hoại sản xuất!
Bất thình lình tôi bỏ chạy. Y vừa đuổi theo vừa la báo động để các tên vệ binh có súng rượt theo tôi. Về đến vị trí tập trung của Đội, tôi ngừng lại, y vừa thở hổn hển, vừa hỏi dồn dập:
— Tại sao mầy chạy? Tại sao tao hỏi tên mầy mà mầy khỏng trả lời. Có phải mầy là tên Lý Tống hung dữ nhất trong Trại nầy không?
— Vâng, tôi thủng thỉnh đáp. Tôi không nói tên bởi vì không chỉ một mình Cán bộ, mà tất cả các Cán bộ trong Trại đều biết tên tôi. Còn chuyện chạy thì… bởi vì tôi sợ.
Nghe chữ sợ, y khoái chí quên cả tức giận, lập lại:
— Lý Tống mà cũng biết sợ à!
— Phải sợ chứ! Cán bộ biết sao không?
— Sao? Y nhanh nhẩu hỏi.
— Tại vì cái chỗ Cán bộ bắt tôi là chỗ vắng vẻ, không có nhà, không có người, Cán bộ lại không có súng. Trong khi Cán bộ hùng hổ sỉ vả, nhào vào định đánh tôi, trói tôi, tôi sợ rằng, nếu đứng lại, tôi sẽ nổi nóng, sẽ nổi máu liều, do đó tôi sợ nguy hiểm cho tính mạng của cán bộ, và… phiền nhiễu cho bản thân tôi.
Tên vệ binh cụt hứng, chửi càn theo giọng Bắc:
— Đù mẹ. Mầy nà thằng bố náo. Núc lào mầy cũng ní nuận, chơi chữ.
Và sau đó y chẳng hề nhắc lại tội bẻ bắp của tôi.
Hoặc như lần đi cày, tên Cán bộ ngồi rình trong một bụi chuối, thấy tôi vừa cày vừa cải thiện (bắt nhái, rắn, cua, ốc…), luống cày ngoằn ngoèo không đều, giận quá y sỉ vả:
— Anh cày như con cặc!
Buổi tối, trong phần kiểm điểm, tôi khẩn khoản tự phê bình mình về tác phong lao động thiếu tiến bộ, sau đó nói thêm:
— Lời chửi mắng “Cày như con cặc” của Cán bộ không những chỉ làm tôi tự thấy lỗi lầm của mình mà còn giải phóng cho tôi khỏi điều dằn vặt ám ảnh trong nhiều năm qua. Đó là chuyện con cặc của bảy năm về trước! Số là trước kia, tôi vừa là Phi công, vừa là Quản lý Câu Lạc bộ Sĩ Quan. Một hôm chuẩn bị làm tiệc lớn đãi quan khách từ Bộ Tư Lệnh ra thăm căn cứ, tôi chỉ thị cho nhà bếp làm một số món ăn đặc biệt. Thế mà hôm đó, đầu bếp của tôi lại làm hư món ăn chính của buổi tiệc. Giận quá tôi đã chửi lớn: “Nấu ăn gì như con cặc!”
Thưa Cán bộ, thưa anh em, sau khi chửi một câu mất dạy như thế, tôi cảm thấy áy náy bức rức về thái độ tục tĩu, thiếu giáo dục, côn đồ và khốn nạn đó. Tôi đau đớn, khổ sở, dằn vặt bảy năm nay bởi vì những từ ngữ thiếu văn hóa, mọi rợ, hạ cấp đó. Thế nhưmg từ khi nghe Cán bộ Quản giáo, một Nhà Cách mạng chân chính, một người đáng kính đáng trọng vì tác phong đạo đức Xã hội Chủ nghĩa lại cũng dùng chữ con cặc, tôi thấy tâm hồn nhẹ nhàng hẳn đi, những dằn vặt, ám ảnh của bảy năm qua đã được giải phóng. Một con người đáng kính đáng trọng mà còn dùng con cặc để diễn tả tư tưởng mình, thì một kẻ tầm thường, tội lỗi như tôi, nếu có lỡ dùng chữ con cặc thì cũng chưa đáng để gọi là đồ mất dạy.
Tù binh Khang đã dùng quyền Nhà trưởng bắt tôi ngưng trò chửi xiên chửi xỏ trong lúc Cán bộ Ly giận tím mặt đành ngồi im. Có lần đi cắt tranh xa, thấy dấu chân cọp chúng tôi được lệnh tập trung tại một chỗ gần, an toàn. Vì có dấu sẵn một số tranh mấy hôm trước, tôi lén bỏ toán cắt tranh đi lấy. Qua khỏi truông rừng vắng, tôi bắt đầu ái ngại, những tiếng động lạ bất chợt chung quanh làm tôi nhiều lần giật mình đánh thót. Cảm tưởng như có cọp đang rình rập đâu đây làm mũi tôi cứ đánh hơi thấy mùi hôi thối, và đôi tai bỗng trở thành nhạy bén, khuếch đại những âm thanh trung bình thành vang dội khủng khiếp. Nghĩ đến một đầu cọp rằn rện, nhe nanh múa vuốt vồ chụp vào người, một chút ớn lạnh chạy dọc từ cột xương sống, tôi phải tự tranh đấu với sự yếu đuối của bản thân đến kỳ cùng.
Tôỉ nghĩ đến một ngày vượt ngục băng mưa, vượt gió, một mình trong đêm, qua những cánh rừng bạt ngàn bí hiểm đầy thú dữ, và sự đói lạnh, sự cô đơn… bỗng nhiên tôi bình tĩnh trở lại. Nếu không thắng được những cảm giác sợ hãi, tôi sẽ không thực hiện được ý định vượt ngục của mình. Tôi nghĩ cách dùng đòn xóc, cọp sẽ không dám nhảy phủ lên. Tôi còn khôi hài nghĩ đến chuyện dùng lưỡi liềm lẹ tay cắt bộ dái cọp về ngâm rượu uống nếu cọp phóng qua đầu, hoặc quá bất ngờ, tôi sẽ dùng nhãn lực của mình đấu lại cọp. Tôi tin rằng, như có người đã nói, những người cặp mắt có thần có thể khuất phục hoặc làm cọp sợ.
Lúc vệ binh kiểm soát thấy thiếu tôi, họ bèn đổ xô đi tìm. Họ không sợ tôi bị cọp bắt mà nghi tôi bỏ trốn. Khi tìm thấy tôi ngồi nhàn tản một mình trong khu rừng vắng vẻ nguy hiểm, Quản giáo Thu lên tiếng khiển trách:
— Tại sao tôi đã cấm đi xa mà anh không tuân lệnh? Anh lên đây lỡ gặp cọp rồi sao?
— Thì liều với nó chứ sao. Tôi trả lời.
— A! Người anh hùng mà cũng liều mạng à?
Tên Thu khoái trá bắt bẻ chữ liều mà tôi sử dụng.
— Vâng! Thưa cán bộ. Mình chỉ anh hùng với những người có lương tri, lương tâm, có hiểu biết, chứ với loài thú dữ, loài thú vật man rợ, hay cả với những con-thú-người, những loại mặt-người-dạ-thú, mất nhân tính, mình phải liều mạng với nó chứ!
Tên Cán bộ Thu giận tái mặt, bỏ đi không nói thêm một lời.
Mưu Sinh Trong Nhà Tù CS
Tôi nhớ lại những ngày mưa dầm, gió rét, đoàn tù binh cúi gập mình trên những cánh đồng bùn sình ngập tới háng, đến bụng. Tù nhân gầy gò run rẩy trong chiếc áo mưa, trong các lớp áo cũ đã được chắp vá nhiều lần đến dày cộm, riêng tôi vẫn đứng cởi trần, đầu không đội nón, nghiến răng chịu đựng những lằn roi mưa, gió quất rát buốt khắp thân thể. Hay những lần đi cày bừa, có lúc đuối sức, nằm sấp trên bùn bám vào chiếc bừa gỗ cho trâu kéo đi, đuôi trâu đập ruồi, lằn, phóng những tia bùn bắn mạnh vào mặt mũi làm mắt cay xè, buốt xót vì chất nước dơ dáy sền sệt, và đàn đỉa đói lúc nhúc, nhờn nhợt góp thêm cái vòi để cố hút những giọt máu đã khô cạn vì lao lực của cuộc sống tù đày.
Tôi đã tập quen với các loài rắn rít độc địa, tôi học cách dùng tay không để bắt rắn lục, rắn mai gầm và có lần bắt cả rắn hổ dài cả ba thước. Con rắn lớn, dài ngoằn, trườn nhanh qua đám ruộng làm dạt những đám lúa thành những lượn sóng dài khi bị đám tù binh cầm cây rượt đuổi. Tôi chạy bọc đón đầu bất ngờ, nên rắn phóng bừa vào người, tôi kịp thời chụp ngang cổ rắn rồi đập đầu rắn xuống đất đến chết. Thành tích “vua bắt rắn” của tôi bất ngờ bị cậu Lăng đoạt mất. Cậu Lăng, một Phi công, đã dùng tay bắt một con trăn lớn bằng bắp chân, nặng hơn mười lăm kí lô. Dùng hai tay đè đầu trăn, Lăng chịu toàn thân cho trăn quân siết. Một số bạn tù ở gần dùng liềm và cây nhảy vào giết trăn phụ cậu Lăng.
Sự đói khát tập cho người tù quen ăn với những thứ kinh tởm nhất và bao tử tù nhân cũng quen tiêu hóa những thứ kỳ lạ nhất. Có người than thở mơ mộng:
— Ước gì trời cho ta được cái lưỡi và bao tử trâu bò để ta ăn được cỏ.
Hoặc phân bì, ganh tị, thèm khát thân phận của trâu bò, mặc dù trâu bò dưới Chế độ Xã hội Chủ nghĩa cũng bị bóc lột tối đa đến gầy gò, còm cõi. Chúng tôi tập ăn, và ăn một cách ngon lành cả những con chuột đỏ hỏn vừa sinh, những con cá đã chết, những con gà vịt trôi sông, sắp bị vữa nát. Cóc nhái, châu chấu, rắn rít, cắc kè… nói chung những gì nhúc nhích được đều ăn được.
Chuyện ăn cóc làm tôi nhớ các chị em tù. Những người “giặc đến nhà đàn bà phải đánh,” bị kết tội phản động, chống chính quyền, và bị giam giữ tại Trại tù A30.
Nào dì Thư (em gái của Đảng Trưởng Quốc Dân Đảng) vừa thấy con cóc vội vàng chụp lấy cây chổi đuổi dồn vào góc kẹt nhà. Nào soeur Mai chạy lấy cái rổ úp con cóc và ni cô tức thời lấy gô đựng cóc của tôi, dùng cây khều cóc vào gô để tích trữ. Các chị em thấy lớp đa cóc sù sì đều ghê sợ, nhưng phải ráng bạo dạn cùng nhau bắt để ủng hộ Lý Tống.
Khi đã ăn được, người ta còn phải tập tay nghề điêu luyện để có thể tranh giành với người khác, bởi vì những sinh vật hèn mọn nầy đã bị tiêu diệt dần, càng ngày càng trở thành của quý hiếm trong các xứ sở nghèo nàn, thiếu thốn dưới chế độ Cộng Sản. Tôi còn nhớ rõ lần tranh bắt rắn với Lăng. Trên đường ra ruộng làm việc, chúng tôi cùng bất chợt thấy một con rắn hổ ngựa trườn băng mình qua bờ đất. Lăng nhanh như cắt phóng đuổi theo làm con rắn hoảng hồn phóng xuống nước và Lăng cũng vội vàng nhảy theo xuống mương, lặn hụp rượt đuổi theo rắn. Nước mương vốn đã đục, sau một hồi vùng vẫy càng đục ngầu, dơ dáy thêm, Lăng quần thảo với rắn hơn năm phút. Thấy Lăng nhào chụp chỗ nầy, lặn đuổi chỗ kia, tôi chỉ đứng trên bờ mỉm cười, chờ khi cậu mệt phờ và thất vọng vì con rắn đã biến mất, tôi chuẩn bị cách thức phổng tay trên. Tôi tính theo phương pháp: Người mệt, rắn cũng mệt và hốt hoảng, rắn lặn lâu hơn người nhưng không thể lặn mãi dưới nước được. Tôi đứng chỗ bờ ao, nhìn bao quát cả đoạn mương vì thế khi rắn vừa trồi đầu lên khỏi mặt nước, tôi thấy ngay và phóng lao xuống mương bằng một pha đẹp mắt, ra tay lẹ làng chụp ngay cổ rắn, trong khi đầu tôi cắm ngập vào lớp bùn nhão ở bờ mương bên kia. Tôi đưa cánh tay có con rắn dài quấn quanh lên trời trước khi thò cái mặt đầy bùn lên khỏi mặt nước.
Chuột cũng là một loại thức ăn thích khẩu và quí hiếm. Thiếu phương tiện, tù binh sáng chế bẫy chuột bằng lon guigoz, hoặc kiếm tre, kẽm giây thép bỏ để đan thành lồng bẫy. Bắt chuột cũng có nhiều phái: Phái cầm quyền và phái bắt lậu. Phái cầm quyền gồm các chức sắc như Nhà trưởng, Tổ trưởng, được Cán bộ cho phép và có ãn chia, nên họ có thể đem những nơm chuột đặt vào các lỗ chuột rồi hun khói cho chuột chạy ra, hoặc cuốc bờ ruộng rồi phăng lần xuống ổ chính làm chuột chạy trốn, cuối cùng lọt vào bẫy hoặc bị đập bằng cây. Phái bắt lậu lợi dụng những lúc đi phát quang các hàng rào hoặc trong mùa gặt lúa, có điều nguy hiểm là vì không có đồ nghề nến thường chỉ bắt bằng tay. Có những con chuột to bằng nắm tay, khi bị chộp trúng, bèn dùng cả bộ răng nhọn hểu cắn vào tay người tù. Những tay liều, cố đấm ăn xôi, vừa la đau, vừa ráng bóp chặt chuột, đập cho chuột chết, mặc dù bàn tay đã bị cắn tét từng lỗ lớn, máu chảy ròng ròng, buốt đến tận óc, và chắc chắn là họ coi thường cả cái bệnh dịch hạch. Những tay nhát gan thường thả chuột ngay khi bị cắn. Nhất là vào mùa gặt lúa, chuột bị động ổ chạy tán loạn, thế là kẻ liềm, người đòn xóc đập, phang, và không thiếu gì kẻ bị phang, đập trúng đầu, trúng vai vì giành nhau, sau đó, có lúc lại còn bị đám vệ binh kiểm soát đập bằng đòn xóc, bằng súng, bởi vì dám cải thiện trong giờ lao động, làm giảm năng suất.
Ngoài những thứ trời cho ngày càng hiếm hoi dần vì mức sinh sản của chúng không đáp ứng đủ nhu cầu đòi hỏi vô hạn của đám tù nhân đông đảo đói khát, chúng tôi thường cải thiện với những loại thực phẩm do chính tay mình sản xuất như bắp, sắn, đậu, chuối…
Lúc đầu chúng buộc tội tù cải thiện là ăn cắp của công, nhưng về sau, có những anh em tù lý luận rằng lương thực do tù làm ra, tù có quyền ăn, không ăn cắp của ai cả. Cái đám không làm mà lại ngồi trên ăn trước, bóc lột mồ hôi, sức lao động của tù (tức đám Cán bộ), mới là ăn cắp, nên từ đó Trại đổi tội danh thành “phá hoại sản xuất.” Tội phá hoại sản xuất nặng hơn ăn cắp của công, nhưng tù nào cũng khoái mang tội danh nầy, bởi vì phá hoại sản xuât cũng là một hình thức tích cực chống lại kẻ thù. Vừa chống kẻ thù lại vừa no bụng, thì đúng là vừa có tiếng lại vừa có miếng.
Đám tù hình sự thường bị khó khăn trong việc cải thiện bởi vì họ bị kiểm soát chặt chẽ hơn khi đi lao động và khi trở về Trại, lại bị quản thúc trong khu vực giới hạn riêng rẽ. Vì thế, họ chẳng kiếm được gì nhiều ngoài vài nắm lúa dấu diếm trong túi, rồi chờ lúc vắng lính gác lấy ra, bỏ vào ca sắt dùng chày gỗ giã cho tróc vỏ rồi ăn sống, hoặc hái rau đại rửa qua toa khi đi tắm đem về nhai ăn thêm cho đỡ đói. Đám tù binh thường làm những phần việc có quan hệ trực tiếp đến lương thực, lại được dành một dãy nhà bếp để nấu nướng, nên thỉnh thoảng vẫn lợi đụng được sơ hở để nhập nhằng đồ thăm nuôi với đồ cải thiện, tăng thêm chất độn cho đỡ đói. Tôi không có người thăm nuôi, nhưng mỗi lần đi làm vẫn mang theo một nồi lớn số 6 (sáu người ăn) để chứa những đồ bất hợp pháp kiếm được. Tùy hên xui, nhiều lúc phải xách nồi không đi, lại xách nồi không về, có lúc đồ lại nhiều chứa trong nồi không hết nên phải lận dấu trong bụng, trong quần áo, nên có thời gian, mặc dù trời nắng, tôi vẫn choàng tấm vải dầu làm áo mưa bên ngoài mỗi lần đi qua cổng Trại , tập cho đám lính gác cổng quen mắt để họ không để ý. Tấm vải dầu như tấm bùa hộ mạng che chở được nhiều lần chuyển đồ táo bạo nhờ thế mà tôi vẫn tương đối ít đói hơn một số tù đồng cảnh ngộ. Áo quần và tấm vải dầu hầu như đã trở thành phương tiện để dấu đồ hơn là mặc che mưa nắng, bởi vì ra đến vị trí làm việc, lúc nào tôi cũng chỉ mặc độc nhất một cái quần đùi để tập cho da thịt, thân thể dạn dày với nắng mưa.
Có điều khôi hài là tôi cải thiện bạo nhất nhưng chưa từng bị cùm vì tội cải thiện như một số bạn xui xẻo khác, một phần nhờ may mắn, một phần cũng vì thành tích hung dữ của mình nên đám Cán bộ cũng lơ là ít kiếm chuyện.
Có lần tôi chặt nguyên cả buồng chuối dấu trong túi bao cát khệ nệ xách về. Đi qua cầu ngang suối tắm bất ngờ túi vải cũ mục, chuôi xổ rớt ra, Khang “nhà trưởng” vừa phát giác sắp sửa hô hoán, tôi bèn đá luôn chuốỉ rớt xuống suối và nhảy ùm xuống nước để phi tang. Người khác chắc chắn là đã bị đưa ra buổi họp để sinh hoạt kiểm thảo, trong lúc tôi già miệng vừa chửi thề vừa cự lại, thế rồi Khang cũng đành chịu êm luôn.
Một lần khác xách nguyên một xoong đầy bắp giống, khi vừa qua cổng bị Tuấn trật tự Trại chận lại, mở nắp ra. Mặc dù bị bắt quả tang, nhưng khi tôi trừng mắt nhìn, Tuấn cũng ngại đành bỏ qua và chỉ cằn nhằn trách cứ:
— Ông làm vừa vừa thôi, chứ có ngày tôi bị mất chức trật tự vì ông quá!
Một lần vào lò nấu đường lấy ca múc nước đường vào guigoz đem về ăn bị tên Cán bộ phụ trách thấy được rượt bắt. Đến khi dẫn vào văn phòng của y, thay vì bị ăn mấy cây gậy như hình phạt thường lệ, tôi lại chỉ bị y khiển trách:
— Tôi chưa thấy đứa nào ngang nhiên và lì lợm như anh. Tôi tha cho anh lần nầy, lần sau tái phạm bị nhốt nhà cùm đừng trách tôi không báo trước.
Trước khi đuổi tôi trở về Đội, không biết nghĩ sao, y lại vói tay lên nóc tủ, lấy túi ni lông đựng bánh đường đen đưa cho tôi rồi xua tay đuổi:
— Anh đi cho khuất mắt tôi.
Nói vậy nhưng y lại ra lệnh cho tù phụ trách lò đường mỗi tuần dấu lon nước đường vào bụi cho tôi, tránh cảnh tôi ngang nhiên vào tự self-service một cách trắng trợn. Hồi hộp và nhức tim nhất là lần tôi lén vào nhà xay gạo, xúc luôn một nồi lớn gạo nếp thơm Trại đang chuẩn bị để đãi Cán bộ cao cấp từ Ty Công An xuống tham quan. Buổi trưa có hai tù nữ canh gạo là Trung và Lý. Trung giả vờ đắp tờ báo lên mặt làm như ngủ say còn Lý thì có thai, mang cái bụng to đang ngồi trong phòng bên hông. Lúc đi ra tôi theo cửa hông nên bất ngờ bị bắt gặp. Lý cằn nhằn bắt tôi trả lại, nhưng tôi cứ tỉnh bơ xách đi luôn. Mụ Cán bộ ngủ trưa trên gác nghe tiếng cãi cọ bên dưới, giật mình thức giấc, xuống hỏi Lý chuyện gì. Tôi đã nhanh chân biến mất về Trại, còn Lý thì sau một hồi nói chống chế dấu diếm không xong bèn khai thật. Câu chuyện tôi lấy một nồi gạo nếp thơm làm Đội tù nữ phải ngồi cả tuần để kiểm điểm. Còn tôi, cứ hồi hộp chờ đối phó nếu bị Trại gọi lên hỏi tội, không ngờ mấy tuần trôi qua vẫn chẳng nghe ai nhắc đến tên mình.
Buồn cười nhất là lần đi bẻ bắp. Tôi vừa làm việc vừa nhai bắp sống một cách ngon lành. Tên Cán bộ Thu rình rập đâu đó bỗng phát giác được, y gọi tôi lại bảo:
— Anh có biết ăn bắp của Trại phạm tội gì không?
— Tội cải thiện của công. Tôi đáp.
— Không phải chỉ riêng tội cải thiện. Làm như vậy là anh bôi xâu chế độ, anh làm cho kẻ khác nghĩ rằng Nhà nước không cho tù ăn no, để cho tù đói khát. Anh bôi nhọ Chính sách Nhân đạo của Nhà nước… Bây giờ anh cho tôi biết tội của anh đáng trừng trị như thế nào?
— Cùm nhà kỷ luật. Tôi đáp gọn lỏn.
Và trái với sự lo lắng của các bạn tù, và cả ngoài sức tưởng tượng của tôi, tên Cán bộ Thu phạt tôi như sau:
— Anh lựa cho tôi hai mươi trái bắp lớn nhất rồi đem đi nướng. Xong, anh ngồi đó, ăn trước mặt tôi, anh phải ăn cho hết. Nếu không hết tôi sẽ có biện pháp nặng với anh.
Tôi ăn được chừng mười trái thì no căng bụng, nên đành nhẫn nha ngồi gặm từ từ. Giờ làm việc vừa hết, các Đội khác trên đường đi về, ngang qua chỗ tôi ngồi, ai cũng trố mắt nhìn tôi kinh ngạc vì từ xưa đến giờ họ chưa từng thấy tù binh nào lại ngồi ăn bắp một cách thoải mái ngang nhiên giữa thanh niên bạch nhật trước mắt Cán bộ như tôi. Tôi ráng ăn thêm vài trái nữa và hết nuốt thêm nổi, nhìn Cán bộ Thu nói tỉnh:
— Cám ơn Cán bộ. Ngon quá. Đã quá. Tôi no rồi.
Tưởng y định phạt tôi bằng hình thức khác, không ngờ y bảo:
— Thôi, đứng dậy đi về. Đem theo về nhà tối ăn tiếp!
Tụi bạn tôi mừng dùm cho tôi và cũng mừng dùm cho họ. Sau đó, đứa nào cũng chen giành đi gần tôi và trên đường về tôi chia mỗi đứa mỗi ít, vừa ăn vừa cười thỏa thích vì chuyện lạ chưa từng có trong lịch sử của nhà tù A30.
Chuyện ở tù của tôi ngoài những chuyện kinh hoàng khủng khiếp, vẫn còn có những chuyện oái oăm tức cười như vậy. Những chuyện thật khó tin nếu không cùng ở chung nhà tù và không từng chứng kiến.
Tôi Học Sinh Ngữ
Tôi nghĩ đến những ngày học tiếng Anh, tiếng Pháp vất vả trong Trại tù Việt Cộng, những ngày ngồi cưa gỗ với bài học kẹp vào bắp vế, mồ hôi đầm đìa nhỏ giọt nhòe nhoẹt màu mực xanh, những ngày làm ruộng, dấu diếm tờ giấy ghi bài. Bốn đứa: Tôi, Đạm, Nhứt và một bạn trước kia dạy tại trường Sinh Ngữ Quân Đội, vừa lom khom cấy lúa hoặc đố, hoặc ôn, hoặc kể nhau nghe những đoạn sách bằng tiếng Anh vừa đọc. Nhũng buổi ăn sáng, chiếc bàn nhỏ, nửa bên chén cơm, nửa bên cuốn sách, những lúc ngồi đợi đi làm tại cổng, tay cứ kéo ra đút vô túi miếng giấy nhỏ học thêm những từ mới. Ngay cả dọc đường đi, đường về, vấp đá chảy máu chân bởi vì mắt bận nhìn bài không chú ý lối đi. Những đêm chen chúc chia sẻ ngọn đèn cùng đám đánh cờ tướng ồn ào vừa nhai chữ, vừa nhai những con mối có cánh bay vào đèn cháy sém một cách ngon lành, có lúc nhai nhầm những con kiến đen lớn có cánh lao vào lửa thiêu thân, đắng nghét phải nhổ ra. Những ca trực đêm, mắt láo liên canh chừng tên bộ đội kiểm soát, sợ bị tịch thu cuốn sách, những lúc moi móc trong đống giấy gói đồ thăm nuôi những tờ báo ngoại ngữ.
Những bữa kiểm nghiệm chạy ngược chạy xuôi vất vả để dấu cuốn tự điển quí như vàng. Có những lúc vào cầu tiêu thấy được một miếng báo bằng tiếng Anh cũng cầm để đọc cho đỡ ghiền. Hoặc ngay cả thời kỳ tị nạn chen chúc ngồi giữa đám con nít ở bãi xem Tivi, có lúc ngủ gà ngủ gật vẫn chưa chịu về, cố ráng nghe thêm vài chữ. Gặp ai cũng hỏi, cũng học. “Để làm thày tất cả mọi thầy, trước hết phải làm trò tất cả mọi trò” tôi thích nhất câu châm ngôn đó.
Học trong lúc bị cấm đoán, học trong lúc nhọc nhằn, học trong lúc đói khát. Cái học không còn chỉ để mở mang trí tuệ, không còn chỉ là niềm vui, mà còn là một sự thách đố, một chăm bón niềm tin, một kiên trì tập luyện, một ý thức lạc quan, vươn lên, một lựa chọn thái độ sống…
Muốn học được thêm nhiều từ Anh Ngữ mới, ít nhất cũng phải có một cuốn tự điển tốt vì thế tôi đã dồn tất cả áo quần tốt nhất lính Thái tặng, ngoài một số đã biếu lại các anh em từ Việt Nam mới tới, để đổi một cuốn tự điển Oxford. Nhiều kỷ niệm đáng nhớ đều có liên quan đến những cuốn tự điển. Như thời ở Trại Tù 52, tôi thuộc thành phần chuyên chính vô sản, bởi không hề có thân nhân thăm nuôi. Tôi đã chạy vạy gần đứt hơi mới kiếm được một con gà con để nuôi làm vốn. Tôi nuôi gà như một người mẹ tận tụy nhất nuôi đứa con cầu tự. Tôi đóng chuồng bằng gỗ, tối tối đi bắt thằn lằn, ngày đi làm chỉ lo kiếm châu châu cho gà ăn, ngay cả cắc kè và rắn là hai món thực phẩm khan hiếm, tôi cũng phải nhín ra để chia sẻ cùng gà.
Một tối đang ngủ ngon, tôi giật mình bật dậy chạy như cháy nhà, như đại hồng thủy, chạy bất kể mưa to, gió lớn đang ào ạt trút xuống giữa khuya bởi vì nghe tiếng gà con thân yêu kêu la inh ỏi. Tôi chạy ra chuồng để hốt hoảng thấy cô bé đang bị cả một bầy kiến lửa cồ bu đỏ khắp mình mẩy. Tôi nhúng gà vào nước, ngồi bắt từng con kiến. Những mảnh thịt nhỏ bứt ra, rớm máu, đau như cắt da xẻ thịt mình, đau như lần chính bản thân tôi bị kiến hành hạ. Bắt hết kiến, tôi đem gà xuống nhà bếp hơ lửa cho ấm. Tôi ngồi, ướt đẫm lạnh run, nhưng thấy ấm lòng biết bao khi bộ lông xơ xác tang thương của gà đang khô dần, mượt mà dần. Tôi chăm sóc gà như thế cho đến ngày gà lớn, gà mái “nổ” có bộ lông xám lốm đốm trắng như nước da bị lang beng của tôi thời tù tội. “Chủ nào gà nấy,” tôi an ủi con gà.
Thế rồi đến ngày gà đẻ, tôi ăn cái trứng đầu tiên để tưởng thưởng công lao khó nhọc của mình, những trứng kế tiếp tôi để dành cho gà ấp. Tôi tập gà như tập chim từ nhỏ, mỗi lân đem mồi về, tôi huýt gió và gà chạy lại. Mỗi buổi chiều, gà nhảy lên nóc chuồng cao mơ màng cùng tôi nhìn ngắm mặt trời đang lặn. Tôi yêu gà không những vì cái gia tài bé nhỏ sắp tới, mà vì cái nết dễ thương của gà. Thế mà khi biết Trung Tá Duy Không Quân có một cuốn tự điển Anh Việt, tôi phải sang tán tỉnh hết cách để đổi cho được. Tôi đề nghị:
— Anh mới bệnh dậy, bồi dưỡng bằng một con gà mái so, chắc chắn sẽ khỏe lại ngay. Hoặc nếu muốn nuôi, vài tháng sau anh sẽ có một bầy gà lớn. Một điều kiện nữa: Nếu tôi được thả về trước, tôi sẽ biếu lại anh cuôn tự điển.
Mất mấy ngày thương thuyết, tôi mới thành công. Một buổi chiều, tôi huýt gió và gà chạy theo tôi. Tôi đi trước, gà lúc thúc theo sau như bố với con, dẫn qua nhà anh Duy, nhiều đứa bạn đứng ngoài sân thấy tôi với gà hỏi lớn:
— Bố con mầy đi đâu đó?
— Dẫn cháu đi đổi cuốn tự điển.
Tôi trả lời nghẹn ngào, xúc động.
Bạn bè nhìn cảnh tôi dẫn gà đi, có đứa ứa nước mắt. Tụi nó biết tôi cưng, tôi yêu cô bé như thế nào và tụi nó cũng biết tôi mê thích học như thế nào.
Tình Và Tù
Sách tử vi bảo tôi có số đào hoa chiếu mệnh và có số được nữ nhân phù hộ. Tôi không tin, nhưng cuối cùng rõ ràng những biến cố quan trọng trong cuộc đời sóng gió của tôi đều có hình ảnh của những người đàn bà tham dự.
Tôi nhớ lại Thu An, ngày ở Trại tù Việt Cộng. Người con gái có khuôn mặt Tây Phương xinh đẹp, trở về thăm nhà sau sáu năm du học tại Hoa Kỳ và bị mắc kẹt lại. Ngày đầu gặp Thu An đi thăm nuôi bố, một sĩ quan tù binh ở cùng Trại Lam Sơn, tôi đã ngẩn ngơ ngồi tựa gốc cây nhìn nàng suốt buổi. Khi nàng trở về, tôi vội vã chạy theo lén đưa bức thư với hai hàng chữ nguệch ngoạc vừa sáng tác:
Giai nhân! Em là Nàng Thơ?
Hay ta chợt thấy trong mơ một lần?
Thế mà ba năm sau, tôi lại gặp nàng tại Trại tù A30 trong một hoàn cảnh bi đát, phải sửa lại hai câu thơ năm xưa, cho phù hợp với thân thế hiện tại của nàng:
Giai nhân! Em là tù nhân?
Sao ta nghe thấy bâng khuâng cả hồn!
Cuộc tình trong nhà tù đã đem lại rắc rối cho nhiều người. Có những đêm văn nghệ ngoài trời, tôi đã đánh lừa được bao nhiêu đôi mắt cú vọ của bọn ăng ten, trật tự, giả dạng len lỏi vào ngồi giữa đám tù con gái. Một lần tôi suýt bị cùm vì một chuyện bất ngờ. Tôi có một cô bạn gái hơn năm năm qua vẫn thường viết thư đòi ghé thăm, nhưng tôi vẫn khăng khăng từ chối. Tôi sợ rằng, nếu để tình cảm càng ngày càng tăng thêm với những ràng buộc, tôi không thể đáp ứng lại bằng những bổn phận, trách nhiệm phải có về sau, vì cuộc đời tôi còn biết bao nhiêu sóng gió hiểm nghèo, chính bản thân tôi, tôi còn chưa tự mình lo toan được. Nhưng lần nầy, Tết sắp đến, lại đang chuẩn bị vượt ngục, tôi đồng ý để cô bạn ghé thăm một lần, phần để hỏi thăm tin tức bên ngoài, phần báo tin về chuyện sắp ra đi của tôi, và hơn nữa, khuyên cô nên quyết định dứt khoát một hướng đi phù hợp cho tương lai bản thân mình. Chính trong lúc tôi đang bình an giữa đám tù nữ nhờ tấm lưng dềnh dàng to lớn của A Giang “mập,” một cô gái Tàu vui tính che chở, để trò chuyện với Thu An, thì Cán bộ tiếp tân vào kiếm tôi báo tin có thân nhân. Cả đội quýnh quáng vì không biết tôi đã chuồn đi ngã nào, tự lúc nào, thế là có lệnh kiểm tra, trong lúc tình hình bất ổn, máy điện bỗng trở chứng và đèn tắt phụt.
Tôi lợi dụng dịp may luồn ra khỏi khu vực bất an. Chỉ trong khoảng khắc tôi đã thoát ra ngoài, vừa lúc đèn sáng lại. Tuy nhiên trên đường trở lại đội mình tôi bị một Cán bộ Quản giáo một đội khác chận lại.
— Anh ở đội nào mà chen vào đây?
— Đội 3.
— Anh qua đây làm gì, liên lạc hả?
— Đâu có, tôi đi tiểu mà.
Tôi bị lục xét khắp người và tên Cán bộ moi ra được một tờ giấy nhỏ trong túi.
— À! Đây rồi, anh đi liên lạc với ai, giây nầy ghi chỉ thị gì đây?
— Miếng giấy tôi chép để học Pháp Văn đó.
Cán bộ Việt Cộng có người còn không đọc rành tiếng Việt, huống gì tiếng Anh, tiếng Pháp nên tôi bị dẫn về văn phòng để chờ thẩm tra về miếng giấy. May nhờ trên đường đi gặp tên tù trật tự có chút vốn liếng sinh ngữ, dịch ra tiếng Việt và giải thích thuận lợi cho tôi nên tôi được thả. Có điều lạ là tên trật tự nầy (trật tự là một thứ tù làm tay sai cho Cán bộ để kiểm soát và trừng trị các tù khác) thường rất dữ tợn, đánh tù rất hăng, thế mà bữa đó y lại làm việc thiện với tôi, chưa kể sau khi đưa tôi đến cửa, y còn hỏi nhẹ nhàng, lấy lòng:
— Chương trình văn nghệ tối nầy hay không anh? — Cũng tạm được. Tôi đáp gọn.
— Thôi anh vào nhà ngủ ngon nhé!
Thật khôi hài, hình như có một vài tên trật tự, một vài tên Nhà trưởng, vốn thường có mặc cảm vì biết rằng làm nghề nầy tức là có tội với anh em tù khác, nên thỉnh thoảng gặp tôi cũng ráng trần tình nầy nọ. Họ làm như tôi là một đại diện của tù binh, một vị quan tòa có thẩm quyền, nếu tôi thông cảm được cho họ một vài hoàn cảnh nào đó, là coi như họ được nhẹ bớt tội, và họ sẽ có dịp được tha thứ để trở lại cộng đồng tù binh của mình!
Rồi những ngày tôi và Thu An đợi nhau qua hàng rào kẽm gai trên đường ra bến tắm với những câu thơ, những bức thư tình ngắn ngủi, lén lút chuyển đưa. Đặc biệt trong những ngày Tết, Thu An đã nhờ Lý, cô bé có bụng bầu duy nhất từ cuộc tình vụng trộm trong Trại với một anh chàng tù đóng tuồng hát bội, chuyển quà cáp cho tôi. Cả hai thuộc đội tù hình sự gồm khoảng vài trăm người được giam riêng rẽ mặc dù ở cùng Trại A30 đang giữ năm ngàn tù binh chúng tôi.
Lý bị 20 năm khổ sai vì giết một đứa bé để lấy sợi dây chuyền vàng rồi vứt xác xuống giếng và anh chàng kép có án 20 năm vì mang tội giết người. Hai tội nhân bị buộc tội giết, bây giờ lại bị buộc tội yêu, bởi vì họ đã lợi dụng hoàn cảnh thuận lợi trong các công tác đặc biệt đi làm không có sự quản lý của Cán bộ để quản lý đời nhau. Nay góc suối, mai nương sắn, mốt vườn mía, họ đã tranh thủ giờ làm việc để cải thiện ái tình, vì vậy mà vụ chửa hoang trong Trại tù nổ lên như quả bom nguyên tử. Thượng cấp được tin khiển trách Ban Quản lý Trại, Cán bộ phụ trách trực tiếp chỉ còn biện pháp duy nhất là ép buộc Lý phá thai. Cô bé vốn cứng đầu giờ càng lì đòn tợn, khẳng quyết:
— Muốn giết con tôi thì cứ giết tôi trước!
Cuối cùng Trại tù đầu hàng, để đứa bé tượng hình của một cuộc tình sấm sét trong tù, mở mắt chào đời trong nhà tù, được nuôi dưỡng trong nhà tù và nhận lấy kiếp tù một cách tự nhiên. Một ngày lớn lên, chắc không ai đủ tư cách để tuyên bố câu nầy ngoại trừ đứa bé: I was born to be a prisoner!
Ngày mồng một được xả Trại nửa ngày, là ngày hạnh phúc nhất trong những ngày ở tù của tôi. Tôi được Khang, một cựu Đại úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vì mến tôi qua những huyền thoại được phổ biến trong Trại tù, mời ghé đội thủ công để nghe nhạc, ăn Tết và đặc biệt đãi một chầu nhậu! Để có một chai rượu mời khách, đàn em của Khang đã liều mình chun trốn ra khỏi Trại đi vào làng dân để mua. Buổi tiệc hào hứng khởi đầu bằng một màn kinh hoàng hồi hộp vì chú đàn em đi quá lâu ngoài dự trù và trong lúc chúng tôi lo lắng chờ đợi lại nghe có tiếng súng nổ. Thà vượt ngục bị bắn chết còn vinh quang, chứ trốn Trại để mua rượu nhậu mà chết thì thật lãng nhách và đáng trách. Cũng may, anh chàng liều lĩnh đã về tới, mặt mày áo quần lấm đầy bụi đất, vì trên đường trở về nghe tiếng súng anh chàng tưởng bị lộ chạy tìm chỗ trốn trối chết. Ngồi nhậu trong Trại tù, có đám ca sĩ Ban Văn nghệ tù đàn hát giúp vui, lại còn có Thu An ngồi bên cạnh thì chắc chắn đó là một buổi tiệc hi hữu hiếm có trong nhà tù Cộng Sản.
Cuộc tình trong tù của tôi làm tốn hết hàng chục buổi họp phê bình kiểm điểm. Một người tù như tôi thật có đủ chuyện để làm phiền các bạn tù cùng Tổ, và làm hao tốn cho anh em bạn tù khác. Bởi vì hầu như những tù binh dù thân hay chưa thân, có thăm nuôi mà gặp tôi cũng đều mời mọc tôi một chầu, mặc dù cái ăn là cái gay go quan trọng nhất của người tù.
Nội chuyện đôi dép râu Thu An tặng tôi cũng gây cảm hứng cho thi sĩ Tuấn (Phan Thiết) làm bài thơ Huyên Thoại Của Một Người Đi Chân Đất để tặng tôi. Bởi vì tôi đã thề “đầu đội trời, chân đạp đất,” nên khi nhận dép nàng, tôi không mang mà lại cột giây đeo dép vào vai mỗi lần đi làm việc. Và thi sĩ khác là Hồ Tuấn đã đe dọa:
— Một ngày đẹp trời nào đó, tôi sẽ viết một tập thơ về cuộc sống của một tù binh kỳ lạ, mà mỗi huyền thoại là một đề tài cho những bạn tù đã từng sống ở Lam Sơn, 52, 53 và A30 khi kể về Trại tù cũ của mình.
Cuộc Vượt Ngục Trại Tù A 30
Thật ra lúc đầu tôi chưa định vượt ngục, tôi đang suy tính kế hoạch thủ tiêu một tên ăng ten thứ dữ để răn đe những tên phản bội, đâm sau lưng chiến sĩ, và để củng cố tinh thần của một số tù binh đang bị giao động bởi đủ mọi hình thức đe dọa, ám ảnh họ từng ngày, từng đêm. Nhưng cuộc đào thoát của bảy tù binh có tổ chức, cướp súng bộ đội để đi trốn đã bị thất bại nặng nề, làm sự theo dõi của Trại càng chặt chẽ hơn. Cướp được súng nhưng không cướp được đạn, bảy người đã bỏ chạy tán loạn, thất lạc nhau, cuối cùng năm người bị bắt lại. Chỉ hai người trước kia là Biệt Kích nên thoát được. Ra tòa, một người bị tử hình, hai người chung thân khổ sai, hai người 15 năm cấm cố.
Tình hình chưa lắng dịu đã có toán năm người khác đào tẩu. Rút kinh nghiệm, họ chọn thêm người biết nói tiếng Miên, Lào để xuyên rừng vượt biên giới. Nhiều tin đồn miệng họ đẫ đến Thái Lan sau hai tháng nhưng thực tế toán năm người đã đi lạc vào rừng hoang, vừa vắng bóng người, vừa thiếu thực phẩm thiên nhiên và nước uống để mưu sinh. Gian khổ, đói khát, sốt rét đã đồng lõa với Việt Cộng tấn công những con người khao khát tự do. Một buổi sáng thúc giấc, một người đã nằm chết từ lúc nào trên võng, buổi sáng kế tiếp, một người khác vừa trút hơi thở cuối cùng. Ba người còn lại thay đổi ý định, rời rừng núi đi về hướng buôn làng. Họ kiệt sức nằm bất tỉnh trên đường mòn heo hút. May được một người Thượng đi rừng gặp, cứu sống và đưa họ về buôn, du kích buôn giao trả Trại tù. Họ may mắn không bị các tên trật tự, Cán bộ phụ trách nhà cùm thẳng tay trừng trị tra khảo như toán trước, bởi vì tình trạng suy kiệt sắp chết. Đặc biệt Nguyễn Bảy, Đại úy Phi công PĐ548, bị sưng gan nặng vì sốt rét kinh niên, bụng càng ngày càng phình trướng trong khi thân thể càng ngày càng teo tóp. Biết Nguyễn Bảy sắp chết, Trại thả khỏi nhà cùm để tránh tai tiếng. Không ngờ gặp hên, tôi bắt được một ổ cóc vàng gần 50 con khi dọn chuồng heo. Cóc vàng và số thuốc gia đình đem đến đã kịp thời cứu sông Nguyễn Bảy.
Vì những biến cố trốn Trại trầm trọng, Trại được lệnh tăng cường kiểm soát và thẳng tay trấn áp những thành phần ngoan cố và Đội 3 là đối tượng chính. Nhà tù Cộng Sản, nói chung, là nơi đày đọa con người tàn nhẫn nhất. Nhưng nói một cách công bằng, không phải nhà tù nào cũng tàn bạo và độc ác giống nhau. Chính sách nhà tù thay đổi theo từng địa phương, tùy theo tâm tính của từng tên Trại trưởng, và đặc biệt, tùy theo từng tên Cán bộ Quản giáo và Quản chế. Thay đổi một tên Trại trưởng là hình thức sinh hoạt của Trại đã có chiều hướng khác. Một tên Trại trưởng có chút lòng nhân từ, dễ dãi, chế độ ăn uống và làm việc của tù binh tương đối được nới rộng. Gặp tên Trại trưởng tàn ác, đầy hận thù, tù binh sẽ bị đặt trong tình trạng kinh hoàng đe dọa thường xuyên. Nhưng ngay chính trong cùng một Trại tù, mỗi Đội, mỗi Nhà, cũng có hình thái sinh hoạt không đồng đều. Nói cho cùng, số phận của tù binh chịu ảnh hưởng trực tiếp của tên Cán bộ Quản giáo của mình. Có những tên Quản giáo chịu chơi, làm lơ cho tù trong Đội mình được cải thiện dễ dãi, không gay gắt với công việc lao động hằng ngày. Nhưng trái lại, tên Quản giáo của Đội khác lại khắc nghiệt, dữ dằn, lúc nào cũng rình rập từng hành động của tù binh để kiểm điểm và trừng phạt. Ngoài ảnh hưởng của Quản giáo, tù binh còn buồn, vui từng ngày tùy theo từng tên Quản chế, đó là hai tên gác được biệt phái theo Đội và luân phiên thay đổi từ Đội nầy qua Đội khác. Gặp Quản giáo dễ, tên Quản chế dữ dằn cũng phải nương tay nhưng Quản giáo dữ lại gặp thêm Quản chế dữ, ngày lao động trở thành một ngày kinh hoàng khủng khiếp. Ngoài ra Nhà trưởng, Thư ký, Tổ trưởng, những người có nơi do tù chọn trong Đội của mình bầu ra, hay do Trại chỉ định, cũng ảnh hưởng đến số phận của người tù. Những tên Nhà trưởng, Tổ trưởng thiếu lương tâm, thường báo cáo để kiếm điểm với Trại, cũng trực tiếp tạo thêm khó khăn, đau khổ cho bạn tù của mình.
Đội 3 là đội đặc biệt, tập họp nhũng tay bất trị của các đội khác để dễ dàng kiểm soát.
Cậu Lăng, Trung úy Phi công, được chọn làm vật thí nghiệm đầu tiên. Với thân hình gân guốc, vạm vỡ (nhờ trước làm nhà bếp ăn uống đầy đủ và có thì giờ rảnh để tập thể dục), vừa được chuyển Đội, là một trong vài người hiếm hoi còn giữ được bắp thịt. Sau một hồi “tẩm quất” của sáu tên vệ binh với báng súng và đòn cây, cậu Lăng được dìu ra, lê bước khập khểnh nặng nhọc. Uống nước đái là món thần dược trị bệnh duy nhẩt để giải máu bầm của các trận tra khảo trong tù.
Rồi Nhánh, một thanh niên trẻ bạo miệng trong các lời phát ngôn chống đối, và cũng bạo tay trong mục cải thiện mưu sinh. Sau một trận đòn Nhánh nằm liệt giường mấy ngày, nói không ra tiếng. Rồi Cường, sĩ quan Biệt kích trẻ, với ý đồ tổ chức phản loạn trong Trại. Một trận đòn hội đồng đã làm con người vốn vui nhộn, hay đùa giỡn trở thành trầm lặng câm nín.
Và tiếp tục tới Điềm, và…
Cứ mỗi lần đánh xong một người, trên đường về bọn vệ binh lại vồ vập hỏi nhau:
— Đánh đến đứa nào rồi? Tới phiên tên giặc lái Lý Tống chưa?
Bạn bè ai cũng lo lắng cho tôi. Tôi biết đã đến thời điểm chúng phải hạ bệ mình. Chúng đang chơi đòn thần kinh căng thẳng, sẽ đánh tôi để hạ nhục, để bắt tôi khuất phục, cương quyết hạ thành lũy cuối cùng. Tôi là cái gai gãy nằm trong da thịt chúng, khi da thịt còn lành lặn, chúng chưa dám mạnh tay nhổ ra, sợ đau da thịt, bây giờ vết thương mưng mủ, đã chín, chúng có thể nhịn đau, dùng tay nặn gai ra. Cá tính của mỗi người Cộng Sản đều có thể dị biệt, mỗi thành phần Cộng Sản đều có thể khác nhau tuy nhiên cái chánh sách chung chẳng bao giờ thay đổi. Đối với Cộng Sản, “thối lui một bước chỉ để chuẩn bị tiến tới hai bước, đình chiến là cơ hội tiến công mà tránh được giao tranh, và các hiệp định là hình thức hợp thức hóa những tình trạng, những hoạt động bất hợp pháp.”
Đám áo xanh quân đội còn ảnh hưởng chút tinh thần mã thượng của người chiến sĩ, đám áo vàng công an sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để đạt mục đích. Đã từ lâu chúng chưa dứt khoát, còn ngại vì tôi nổi tiếng, mọi người đều biết và yêu mến. Chúng định dùng tù ngục, gông cùm, tra tấn, đói khát và thời gian bỏ tù vô hạn định để làm tôi mòn mỏi, kiệt lực. Chúng muốn tôi đầu hàng, khuất phục, chỉ cần tôi quì một lân để phá vỡ huyền thoại, để hạ bệ thần tượng, để tiêu diệt niềm tin, niềm hãnh diện của tù binh. Thay vì ngang nhiên mạng đổi mạng để giữ danh dự, tôi quyết định vượt ngục như lời tôi đã tuyên bố khi tên Cán bộ Cộng Sản bảo tôi:
— Anh đừng hy vọng được thả về, bởi vì anh được xếp vào hạng cực kỳ ngoan cố, cực kỳ phản động.
Tôi trả lời:
— Các người có quyền bắt tôi, có quyền bỏ tù tôi. Nhưng ngày nào ra khỏi nhà tù là quyền của tôi.
Tôi chuẩn bị vượt ngục với một ý đồ táo bạo: Đột nhập phi trường địch đánh cướp máy bay, thả bom gây bạo động và nổi dậy. Tôi chấp nhận hy sinh, bởi vì nếu một con én không tạo được mùa xuân, thì ít nhất, cũng báo hiệu hay gợi được cảm giác mùa xuân.
Trường hợp may mắn không bị bắn rơi, tôi sẽ bay ra biển. Tôi đã nghiên cứu cờ của các nước Cộng Sản. Nếu tìm được tàu của các nước tự do, tôi sẽ nhảy dù, nếu phi cơ có sẵn dù. Nếu không có dù, tôi sẽ đưa phi cơ vào vị thế triệt nâng stall, tức tốc độ tối thiểu phi cơ có thể đạt được trước khi rơi, để nhảy ra không cần dù. Nhưng liệu cơ thể tôi có chịu đựng nổi lực va chạm khi tôi nhảy ở tốc độ 90 miles một giờ (đối với phi cơ A37), ở cao độ khoảng 100 feet? Tốt nhất là đáp bụng phi cơ xuống mặt biển, và tìm cách thoát ra phi cơ kịp thời, trước lúc bị lực xoáy hút của nước khi phi cơ chìm, nhận tôi chết ngộp, hoặc sức nóng của nước sôi bởi đầu máy của phi cơ đang ở nhiệt độ cao sau một thời gian bay. Còn phải tính toán hướng chạy của tàu, tốc độ, khoảng cách, để khi tôi vừa ngoi lên khỏi mặt nước, thủy thủ đoàn kịp thời đến nơi cứu mình.
Theo dự tính, tôi sẽ đột nhập phi trường lúc xẩm tối, bò lại gần chỗ phi cơ thử máy lần chót để chuẩn bị cất cánh. Không biết đám cỏ ở phi trường có đủ cao để tôi ẩn nấp mà không bị những tên ngồi trên đài kiểm soát (control tower) phát giác không, vì thông thường như thời trước, cỏ cạnh phi đạo thường xuyên được cắt ngắn. Nếu phi vụ chỉ có một phi cơ, tương đối dễ dàng đánh cướp, nếu hai hoặc ba phi cơ cùng đội, tôi sẽ tấn công cách nào?
Chắc chắn cần có vũ khí để làm áp lực đe dọa Phi công địch. Trong thời gian nằm nhà tính toán, đứa cháu trai một hôm đi bắt cá bất ngờ vớt được một khẩu súng Colt 45. Khẩu súng nằm dưới nước khá lâu nên bị sét và chó lửa bị hư, khi bóp cò, lò xo yếu không đủ sức đập cho ngòi nổ của đạn phát nổ mà chỉ tạo nên một vết lõm nhẹ trên đít đạn mà thôi. Tôi ráng chùi rửa, sửa chữa nhưng vẫn không kết quả. Mang một khẩu súng thật, cồng kềnh nặng nề mà không bắn được, cũng chỉ phiền phức. Có lẽ tôi sẽ mua một khẩu súng nhựa của trẻ con chơi, lựa khẩu nào thật nhỏ, nhẹ, và có hình thức giống súng thật. Trong lúc bất ngờ và nguy hiểm, có lẽ Phi công địch không đủ bình tĩnh để nhận ra, tôi sẽ uy hiếp địch để cướp máy bay, cất cánh và dội bom nếu có sẵn sàng bom đạn. Nếu ý định nầy không thể thực hiện được vì hoàn cảnh, tôi sẽ bò vào bãi đậu phi cơ lúc nửa đêm, chọn phi cơ rồi mở máy vào lúc kiểng đánh thức, lợi dụng tiếng kiểng ồn ào che lấp tiếng động cơ nổ và vừa đủ sáng để bay ngoại quan (VFR, Visual Flight Rule).
… Và việc cần thiết nhất là gặp Đại úy Nguyễn Bảy, Trưởng phòng Huấn luyện ôn tập lại các động tác mở máy, chỉ số kính ngắm của từng loại bom theo cao độ, góc độ, tốc độ. Nguyễn Bảy nghe hỏi sinh nghi bèn càm ràm:
— Trời ơi! Ông lại định làm chuyện động trời gì nữa đây?
Nhà tù A30 gồm có hai Trại chính: Trại A và Trại B, cách nhau hơn một cây số, ngoài ra còn có những bộ phận làm việc và ở ngoài hàng rào của Trại như bộ phận mộc, bộ phận xe be, bộ phận đan, nhà tù nữ và các nhà chòi canh gác các khu sản xuất.
Trại B qui mô hơn, tường bằng bê tông và cửa sổ song sắt, Trại A tường xây bằng đất sét, bên trong lót mầm trĩ kiên cố và cửa sổ gỗ. Cả hai đều lợp ngói, chung quanh Trại tù A được rào hai lớp kẽm gai, và ở giữa trồng xương rồng để tăng cường cho kẽm gai.
Khu A được bố trí theo hình vẽ trang bên.
Riêng kếhoạch vượt ngục, Quí đã chỉ giúp đường đi nước bước ở Tuy Hòa và bồi dưỡng cho tôi ăn uống trong các ngày cuối để lấy sức dự trữ. Quí đòi đi theo nhưng tôi từ chốỉ vi Quí thiếu kinh nghiệm trong các mission impossible. Nhà vách bằng đất nhưng mầm trĩ rất kiên cố, chắc chắn, cửa sổ bằng thanh gỗ lớn, dày, chỉ có thể dùng cưa để cắt nhưng không có cưa, hoặc không thể cưa vì sẽ bị lộ tẩy. Tôi dùng đinh lớn, lợi dụng những lúc ồn ào nhất, đóng theo kẽ nứt của các đinh nẹp, để ban đêm nạy và rút ra.
Tôi chuẩn bị kế hoạch chi tiết tỉ mỉ. Từ thời điểm: ngày chủ nhật nghỉ, điểm danh muộn, đến các sinh hoạt nhỏ hàng ngày: đổi phiên trực cơm và đặc biệt tập thói quen mỗi chủ nhật đều cho Lê Ngoạn phần cơm với lý do đi ăn cơm khách (nhưng nhiều lúc phải nhịn đói) để bạn tù không lưu ý sự vắng mặt của mình vào ngày chủ nhật.
Đúng giờ N+1 tôi không rút thanh gỗ ra được vì một trục trặc kỹ thuật nhỏ. “Quí bầm” giả vờ mớ để thúc dục tôi “nhanh lên, nhanh lên” (Quí nằm xa tôi và có tật hay mớ). Cái trục trặc kỹ thuật đó là một miếng dăm gỗ do đinh bị đóng lệch nên thay vì tét rộng kẻ nức để rút ra lại ép nhỏ kẻ nức, kẹp thanh gỗ cửa sổ cứng ngắt. Hơn nữa lại bất ngờ trùng ngày có số tù binh sắp được phóng thích ngủ riêng bên ngoài. Buổi tối họ mang đèn đóm đi lại nhộn nhịp ở khu nhà cầu gần hàng rào tôi định chui qua.
Tôi đành hoãn lại kế hoạch. Bất ngờ có lệnh đổi chỗ nằm. Đổi chỗ nằm tù nhân thường xuyên là một biện pháp an ninh của nhà tù Cộng Sản. Chỗ nằm mới không có cửa sổ, tôi đành phải phá cửa sổ phòng để dụng cụ nấu ăn cùng gian với phòng vệ sinh. Tôi ít khi bị bệnh nghỉ việc, nên khi giả bệnh yêu cầu ở nhà làm việc nhẹ vài hôm, Nhà trưởng nể nang phải chấp thuận. Tù binh trực Nhà hết chùi nhà cầu, lại rửa son nồi gần kề cửa sổ. Đợi khi anh ta đi gánh nước, tôi đi vòng ra sau hè, nghiên cứu từng thanh gỗ. Cửa sổ phòng cầu đặc biệt được đóng hai đinh nẹp (B) thay vì một đinh như phòng ngủ (A). Chỉ có duy nhất thanh gỗ (C), phần dưới đóng một đinh, tôi phải đóng đinh lớn vào ba điểm 1,2,3 theo kẽ nứt sẵn để nới rộng khe hở. Sau đó chờ đêm, sẽ dùng đinh nạy khe 3 rộng ra kéo thanh gỗ xuống theo hướng mũi tên để lấy ra rồi thay thanh gỗ giả thế vào. Tên trật tự đi đại tiện nhà cầu bên ngoài vừa xong đứng dậy, cũng may y không lưu ý theo dõi.
— Làm gì thế Lý Tống? Y hỏi lấy lệ.
— Đóng đinh treo áo mưa. Tôi cười xuề xòa.
Tôi chuẩn bị một thanh gỗ giả y hệt cắt ngắn bớt lấy từ một ngôi nhà vừa bị phá bỏ. Điều trở ngại nhất là nhu cầu bài tiết của 150 người trong phòng. Phòng chứa đồ và phòng nhà cầu có chung một cửa ra vào, người ra người vào tấp nập. Công việc cứ bị gián đoạn từng chập. Có lần người đi tiểu vừa ra xong, tôi vội vã bắt tay tiếp tục, một lát sau lại có một người nữa từ trong nhà cầu lù lù đi ra làm tôi hết hồn tưởng đã bị lộ. Thì ra khi đi vào, người đi cầu đi nhờ ánh sáng hộp quẹt của một người đi tiểu, bởi vì phòng ban đêm rất tối, mỗi người thường di chuyên nhờ một hộp quẹt riêng bật sáng trên tay. Cái thanh gỗ, nếu dùng một cái đòn bẫy bẻ thật mạnh cũng có thể gãy, lại phải tốn đến ba đêm mất ngủ, cẩn thận xeo, nạy, kéo từng chút mới rút ra được. Bởi chỉ cần một tiếng động mạnh, hoặc một tù binh khác trông thấy được, chưa kể toán tuần tiễu bên ngoài phát hiện, kế hoạch sẽ bị bại lộ và phòng kỷ luật sẽ mở cửa chờ tôi.
Vượt nguc nhà tù Cộng Sản khó hơn vượt ngục nhà tù các nước tự do. Ở nhà tù tự do, trong mỗi người bạn tù còn tàng ẩn một kẻ đồng lõa, một bạn đồng minh, họ cùng liên kết, góp tay để cùng nhau vượt ngục. Tại các nhà tù Cộng Sản, trong mỗi người bạn tù còn rình rập một kẻ thù, một tên phản bội, một tên chỉ điểm, nên người tù cùng phòng còn đáng ngại hơn cả nhũng tên gác. Họ có thể báo cáo, tố giác để lấy lòng tin, để tìm một ân sủng.
“Nhà tù Cộng Sản là cái máy sàn lọc tinh vi nhất. Những thứ cặn bã, hư hỏng, mục nát lần lượt tranh nhau luồn lọt rơi xuống đáy sâu nhục nhã đê tiện. Chỉ còn lại những viên kim cương quí, rắn rỏi, lóng lánh sáng ngời trên bề mặt.”
Khuya ngày 11 rạng sáng 12 tháng 7 năm 1980, chờ lúc tù binh ngủ say, tôi cởi áo quần, gỡ thanh cửa sổ giả chun ra ngoài, bình tĩnh ngồi lại gắn vào như cũ, rồi bò chậm rãi về phía hàng rào kẽm gai. Với cái kềm nhỏ xíu, tôi bẻ kẽm gai chui lọt vào giữa hai hàng rào kẽm. Đang sửa sang hàng rào lại như cũ, bỗng ánh đèn pin lóe sáng. Một tên tuần tiễu bỗng xuất hiện. Tôi lập tức nằm đè người trên bụi xương rồng thấp lẩn tránh ánh đèn quét qua lại trên đầu, trên thân mình.
Gai xương rồng nhọn đâm xuyên suốt lớp da thịt trần truồng đau buốt. Y cẩn thận kiểm soát dãy nhà cầu, các góc tối, kín chung quanh rồi bỏ đi. Tôi bẻ loạt hàng rào kẽm gai thứ nhì, kẽm gai cũ, sét, nhưng cây kìm quá nhỏ làm tay tôi ê ẩm. Sau khi chun được ra ngoài, tôi ngồi nán nối gài lại kẽm gai gãy như cũ, tránh không để lại một dấu vết lạ. Nếu biết hướng tôi trốn, họ sẽ chận bắt dễ dàng. Trời ban đêm dày đặc sương mù, những trạm gác cao thường ngày nổi bật giữa trời, nay chìm khuất trong làn sữa trắng đục. Tôi tiếp tục ở truồng bơi qua suối. Vừa leo lên bờ lại gặp một ánh đèn pin khác. Tôi men theo bờ suối và băng ngang qua ngã ba suốỉ lớn, cây gãy mục, bùn cỏ… làm vướng víu bước chân. Nước suối ban đêm lạnh tê buốt thân thể.
Bỗng có ánh đèn bão lập lòe của một tên bộ đội khác đang đi soi cá. Tôi quành phía phải, băng qua nhiều cánh đồng mía, sắn, bạt ngàn. Đỉnh núi làm chuẩn mờ nhạt từ xa, đến gần đã biến thể. Trời không trăng sao. Tôi nhìn dãy sông Ngân Hà lờ mờ để định hướng, nhiều đoạn đường phải đi vòng tránh trạm gác, có lúc phải bò qua dưới chân các chòi canh. Trời mù tối chỉ thấy ánh đèn mà không thấy được người cầm đèn đi kiểm soát. Quá nửa đêm, chó của toán du kích đánh hơi được tôi buộc tôi phải chạy thoát thân. Đường tối, nhiều bờ bụi, tôi té chui té nhủi, phần túi xách đựng đồ vướng víu nhiều lúc muốn vuột khỏi vai. May là chó và toán du lcích lười biếng chỉ rượt theo một đoạn.
Tờ mờ sáng, tôi băng qua khỏi dãy núi với địa hình rối rắm mà có lúc lạc lối, không còn điểm chuẩn nào để dẫn đường ngoài lời cầu nguyện và niềm tin ở Thượng Đế. Tôi ra tỉnh lộ sau khi kiểm soát áo quần, mặt mũi tươm tất, hòa lẫn vào đám dân quê dậy sớm ra đồng. Vừa leo lên xe Lam chở khách trờ tới, tôi chợt thấy chiếc xe Honda chở nữ Cán bộ phụ trách quân bưu chạy tới. Nếu tôi ra đường sớm hoặc xe trễ vài phút, chắc họ nhận diện được cái bản mặt quá quen thuộc của tôi. Ngã ba Phú Lâm với trạm kiểm soát lớn nghiêm ngặt chỉ là điều bịa đặt. Ngày chủ nhật, công an Việt Cộng tại Tuy Hòa nghỉ việc, không có một bóng áo vàng lai vãng ở các ngã tư. Tôi đi vào phố chính, kẻ tôi ngại nhất không phải là công an, mà chính là những tù binh của Trại A30, hoặc đã được thả về, hoặc đang đi phép. Tên Cán bộ Thu đã không thưòng lập đi lập lại: “Tuy Hòa là cái nôi của cách mạng” đó sao? Với sự khích động về địa phương tính, cùng sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền sở tại, Việt Cộng đã qui tụ được một số tù nhân tận tụy phục vụ cho họ, dù đó chỉ là hành động “nín thở qua sông.” Tôi ghé vào một nhà quen biết, người bạn vừa mừng vừa sợ, giúp tôi một số quần áo, tiền bạc và dặn dò:
— Lỡ có ai hỏi thì cứ bảo đi phép.
Tôi có tạm đủ tiền nhờ bán cuốn tự điển, bán mấy hộ áo quần tù sọc đỏ rất hiếm chỉ được phát trong thời gian mấy năm đầu và giờ đây một số người vượt biên lại muốn mua vì họ cho rằng, bộ đồ đặc biệt nầy có thể giúp họ mạo nhận tù binh khi đến được các Trại Tị nạn. Xe cộ khan hiếm, tôi phải đổi từng chặn xe Lam, cuối cùng một xe đò chịu dừng lại đón.
Tôi lưu ý những dấu hiệu chớp đèn của các xe chạy ngược chiều. Lơ xe đò cho tôi biết “Trạm Đại Lãnh đang bị kiểm soát.” Chạy xe cho nhà nước lương bổng ít nên một số tài xế phải chở thêm khách lậu ngoài tiêu chuẩn, họ phải cho khách xuống trước trạm và đón khách đi tiếp bên kia trạm.
— Tôi quên đem theo giấy, chắc phải xuống.
Tôi nói nhỏ với lơ xe. Anh ta nhìn tôi, rồi kề sát tai bảo:
— Anh trốn Trại A30 ra phải không?
Tôi ngớ người trước câu hỏi bạo bất ngờ.
— Anh rất bình tĩnh, rất khéo léo. Nhưng những người ở tù lâu ngày vẫn có cái dáng dấp đặc biệt, tôi biết.
Anh ta rỉ tai nói tiếp:
— Tôi đã từng chở giúp tù trốn Trại một vài lần trước đây. Anh đừng ngại.
Ôi! Những người Đồng bào của tôi ơi, các anh, các chị vẫn biết tội đồng lõa, giúp đỡ tù vượt ngục là một trọng tội, thế mà vẫn liều lĩnh dù chẳng nhận được một chút lợi lộc nào. Các anh chị đã mang lại niềm hy vọng cho tôi, Đồng bào vẫn thương chúng tôi, vẫn còn kỳ vọng ở chúng tôi, những chiến sĩ sa cơ thất thế trong bàn tay Cộng Sản. Vậy chúng tôi vẫn còn có trọng trách đánh đuổi kẻ thù vì hạnh phúc và tự do của đồng bào.
Tôi viết cuốn truyện nầy với mục đích đầu tiên là để trả món nợ tinh thần đối với các bạn bè, những kẻ thường yêu cầu tôi kể đi kể lại về những giai thoại đời sống của mình, mà họ, hoặc là chứng nhân của một giai đoạn nào đó và muốn biết thêm về những giai đoạn khác, hoặc họ đã được nghe lời đồn, nhưng muốn được chính tôi xác nhận hoặc kể chi tiết hơn… mà tôi thường kiếm cớ hẹn lần lữa bởi vì tôi sẽ chán tôi nếu cứ tiếp tục làm vui lòng họ. Vâng. Không gì chán bằng cứ kể về mình và kể đi kể lại hàng trăm lần cho hàng trăm kẻ khác nhau nghe.
Mục đích kế là gợi lên một ý niệm mới cho những bạn bè gặp hoàn cảnh khó khăn đang tìm cách vượt thoát khỏi Việt Nam tìm tự do bằng chính kinh nghiệm của bản thân tôi.
Ngoài ra, tôi muốn ghi lại những kỷ niệm không thể nào quên được của quãng thời gian quan trọng đã ảnh hưởng sâu đậm đến cuộc sống, đến nhân sinh quan mình về một chế độ mà những đặc tính được nhìn ngắm dưới nhiều góc cạnh khác nhau tùy hoàn cảnh và vị trí của mỗi người. Và đặc biệt, về cuộc vượt biên đường bộ đã được một số báo chí trên thế giới đánh giá là độc nhất vô nhị trong lịch sử vượt biển tìm tự do của người tị nạn Việt Nam.
Những giai thoại, những nhân vật, những tên tuổi trong truyện đều hoàn toàn có thật, họ hiện sống tại Mỹ, Pháp, Úc, Gia Nã Đại v.v… hoặc đang bị đọa đày tại các vùng kinh tế mới hoặc bị giam cầm trong trong các nhà tù của Cộng Sản Việt Nam.
Tôi viết về tôi — cái tôi đáng ghét và đáng yêu — với những tâm trạng, xúc cảm chân thành nhất, một người đầy tật xấu nhưng biết hướng thượng, cố gắng tự đấu tranh để trau dồi tâm hồn và nghị lực, để sống đời sống do mình lựa chọn và đạt những mục đích tự mình đặt ra.
Vì không muốn bịa đặt thêm, nên câu chuyện có thể không hấp dẫn bằng những câu chuyện hoang đường, tưởng tượng. Vì không muốn tự đánh bóng mình để trở thành một nhân vật mẫu mực, nên tôi vẫn kể lại cả những khuyết điểm, nhứng điều tầm thường, trần tục đã xảy ra trong một quãng đời sống đầy biến cố và sóng gió đã qua.
Mỗi người có một cách sống và một cách suy nghĩ. Nhưng nếu cuộc sống của tôi có gợi nên những tình cảm yêu mến, những giây phút thú vị cho bạn bè, cho độc giả, thì đó là một tri ân lớn mà tôi cần phải bày tỏ, là một phần thưởng mà tôi sẽ mãi mãi trân trọng.
New Orleans, ngày 20 tháng 7 năm 1989
Lý Tống
Lý Tống là thần tượng của tuổi trẻ Nha Trang.
Đại úy Ngọc, Sĩ quan Chiến tranh Chính trị Sư Đoàn II, Không Quân.
► Nếu Bốn Vùng Chiến Thuật có bốn Lý Tống, Việt Cộng sẽ không ngóc đầu lên nổi.
Đại úy Nguyễn Bảy, Trưởng Phòng Huấn Luyện
Phi Đoàn 548.
► Lý Tống là bậc thầy của Papillon.
Julian, Trưởng Phòng Phản Gián Singapore.
► Anh là người đàn ông hướng dẫn được định mệnh đời mình.
Hạnh, người tình sinh viên Văn Khoa Sàigòn.
► Your courage is an example and inspiration to all who would know the price of Freedom.
Tổng Thống Ronald Reagan.
► He’ll probably be the mayor of Santa Ana inside ten years.
Dan Sullivan, U.S. Refugee Coordinator for Indonesia and Singapore.
► Like Eisenhower, a fighter for Freedom, a hero from another
war.
Tiến sĩ Stephen E. Ambrose, Sử gia Hoa Kỳ.
► Ly Tong is in a class by himself.
Barry Wain, Nhật báo The Wall Street Journal.
► His flight has become one of the great escape sagas of our time.
Anthony Paul, Nguyệt san Reader’s Digest.
Chương 1
Vượt Ngục Tại Việt Nam-Phi Vụ Cuối Cùng
Ngày 5 tháng 4 năm 1975, đang ngủ say trong phòng trực chiến, chúng tôi giật mình thức giấc vì những trái đạn pháo kích đầu tiên trong ngày của Việt Cộng. Có tiếng càu nhàu chửi thề vì bị phá rầy giấc ngủ ngon, có kẻ kéo lại chiếc mền xô lệch, trùm bó người như một đòn chả, tiếp tục ru cơn ngủ nướng. Pháo kích chỉ là chuyện thường tình đối với giới lính tráng. Một lịch sử bốn ngàn năm chiến tranh, từ đánh Tàu, Tây, Nhật rồi Cộng Sản, đã sinh ra trong máu người dân Việt một loại kháng tố. Bỗng tiếng chuông điện thoại reo inh ỏi. Như bị dí một điếu xì gà đang cháy đỏ vào chân, tôi nhảy chồm về phía điện thoại. Chỉ có tiếng gọi của nhiệm vụ mới đủ sức trấn áp cơn buồn ngủ và cơn giá lạnh ray rức da thịt buổi sáng.
— Allo. Lý Tống tôi nghe.
— Chào Hitler (có người lại gọi tôi là Charlot vì bộ râu của tôi). Rất tiếc đã quấy rầy bạn quá sớm, bạn cho một phi tuần cất cánh ngay. Chi tiết nhận sau trên tần số Phong Giao.
— OK. Rõ.
Tôi đánh thức Võ Nguyên Bá, người được mệnh danh “sát quân.” Các bạn đều sợ bay chung với Bá và họ có lý do chính đáng. Sau Phi vụ trở về một mình, để lại xác người “wing man” trên trận địa, Bá đã dẫn hai wing men khác bay close formation đâm đầu vào núi chết không còn tìm thấy chút thịt da. Bá thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, bay trở về Biên Hòa, phi cơ hết xăng, rớt ngoài đầu phi đạo trong một buổi chiều giông gió cuồng loạn. Phi đoàn chuyển Bá qua Phi đội bay Test, vì mọi người đều từ chối bay chung với Bá. Trận chiến càng ngày càng ác liệt, sự thiếu hụt phi công trở nên trầm trọng. Tôi tình nguyện dẫn Bá đi, tôi tự tin và tôi muốn giúp Bá vượt qua cơn khủng hoảng tinh thần.
Chúng tôi chạy vội ra phi cơ, giầy chưa kịp cột giây, áo bay còn banh ngực. Tôi quơ vội tay trên mặt cockpit lấy ít sương sớm rửa mặt cho tỉnh táo. Không còn bị ràng buộc bởi qui tắc an phi trong giờ phút khẩn cấp, phi cơ phóng nhanh trên taxi way, vừa quẹo vào runway, phi cơ gần đạt tốc độ cất cánh. Tôi nhận đủ các chi tiết khi vừa nghiêng cánh chào phi trường, phi cơ quan sát chưa cất cánh kịp. Vị trí đặt súng pháo kích im tiếng đã lâu. Công tác chuyển sang đánh sập ba chiếc cầu có tên Ba Ngòi ở Cam Ranh để chận đường tiến quân của Việt Cộng. Nha Trang thất thủ hai ngày trước và Việt Cộng chuẩn bị đánh Phan Rang. Thật lạ lùng, ngay chính những nhà khí tượng chuyên nghiệp cũng ngạc nhiên vì sự chuyển biến thời tiết quá đột ngột. Mây mù giăng khắp bầu trời làm trở ngại hoạt động Không Quân, những người duy linh nghĩ rằng Trời buồn và khóc cho số phận Nhân dân miền Nam.
Riêng tôi, tôi khẳng định, Việt Cộng đang sử dụng vũ khí hóa học để làm mây nhân tạo, thay đổi thời tiết. Chúng tôi bay trên những tầng mây trùng điệp chờ phi cơ L.19. Tôi bực mình nghe câu báo cáo đầu tiên:
— Phòng không kinh khủng quá.
Tôi buột miệng chửi thề không cưỡng được:
— Đù mẹ, các chú lạnh cẳng sớm thế.
Tôi ra lệnh cho Bá bay cover tại chỗ, rồi trượt cánh xuyên mây xuống thẳng vị trí báo cáo có nhiều phòng không. “Bay trên ngọn cỏ, dưới ngọn cây” là sở trường của tôi. Tôi làm hai low passes trên phi đạo Cam Ranh, nơi được chiếc L19 ghi nhận hiểm nghèo nhất.
— Đâu? Phòng không đâu? Bạn thấy tôi không? Ráng bình tĩnh chút xíu chứ!
Và để trừng phạt, tôi tống hết ga, bất thình lình chui từ dưới bụng chiếc L19 phóng vụt qua mặt, để hai ông phản lực với một luồng turbulance dữ dội cách windshield chừng vài thước. Trò đùa giỡn này tuyệt đối cấm vì có thể làm phi cơ bạn bị stall, một tai nạn nguy hiểm. Tôi bắt đầu trở về mục tiêu, chuẩn bị đánh bom, ra lệnh cho Bá tiếp tục ở chờ trên mây vì nếu bắt Bá xuống dưới trần mây 1,500 feet đánh bom là một điều đau khổ nhất cho Bá. Những hình ảnh chết chóc thê thảm đã đóng một dấu ấn quá sâu đậm vào đầu óc Bá, trong cặp mắt Bá, nỗi kinh hoàng vẫn còn phảng phất chưa nguôi. Sau khi đánh xong, tôi sẽ cho Bá xuống làm một pass, thế là ổn.
Đồng bào di tản chạy quá đông trên đường, trên cầu, tôi không thể vô trách nhiệm đánh bừa để gây thiệt hại cho dân chúng. Tôi làm low pass đầu tiên 50 feet để báo hiệu, tiếp tục đến low pass thứ ba mọi người mới hoàn toàn tránh xa khỏi mục tiêu. Một số phòng không 12 ly 7, 23 ly, 37 ly bắn rải rác đầy đó, tôi chẳng quan tâm vì tôi biết rõ khả năng và tinh thần của pháo thủ cao xạ Việt Cộng: Những xích sắt khóa chân không thể nâng cao được tài nghệ và sự can đảm.
Tôi lấy cao độ để biểu diễn một pha ngoạn mục đầu tiên. Thật hoàn toàn bất ngờ, tiếng nổ tàn bạo dữ dội của một trái hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 đã cắt đứt đôi phi cơ tại ống thoát phản lực. Phần thân và đuôi tan nát rơi lả tả như những chiếc lá vàng, Cockpit quay cuồng lồng lộn, những đụn khói và tiếng réo sôi giận dữ của lửa, một lực G quá lớn dán chặt thân thể tôi vào ghế ngồi. Tôi dồn hết tàn lực di chuyển bàn tay phải về chiếc cò bấm nhảy dù hình chữ D đặt dưới cạnh bàn chân. Như một lực sĩ vất vả cố ép một lò xo quá cứng ngoài khả năng mình, tôi chuyển động bàn tay. Sức nóng của trận bão lửa đã kích thích hỏa pháo trong hệ thống ghế nhảy dù tự động, đã phóng tôi ra ngoài. Chưa kịp cảm giác được lực 12 G phóng ghế lái, và sức xô bật ra khỏi ghế, bỗng nhiên tôi thấy mình lơ lửng, đong đưa giữa trời, trong tiếng gào rú của trận cuồng phong.
Đàng xa, mặt biển thấp thoáng bạt ngàn. Chưa kịp điều chỉnh thân người sau bốn, năm lượt đưa võng, tôi đáp nguyên cả cạnh sườn phải xuống bờ nấm mộ rất lớn có tên Mã Tướng vì nhảy dù ở cao độ quá thấp. Vội vã luồn tay chân ra khỏi các sợi dây an toàn thay vì mở khóa, tôi bắt đầu chạy về hướng an toàn rậm rạp. Trên đường chạy, bỗng nhiên tôi liên tưởng đến Alain Delon, đến Charles Bronson, tôi mường tượng thấy họ đang chạy trốn trong các đoạn phim săn đuổi hồi hộp. Tôi cảm thấy mình chạy khác kỹ thuật đóng phim của họ, tôi có cần phải khom mình về phía trước, trán nhăn xếp, hằn vết suy tư, mắt đảo ngược xuôi để quan sát tình hình? Tôi chợt mỉm cười vì sự so sánh liên tưởng, và vì ý nghĩ khôi hài của mình. Tôi vẫn giữ cái dáng chạy lòng khòng của mình, đóng một phim sống về cuộc trốn chạy theo kiểu riêng của mình, hoàn toàn thoải mái và hào hứng. Tôi chui vào đám rừng mía dầy đặc, nằm xuống, lười biếng nhàn nhã cắn từng khúc mía ngọt ngào. Take it easy, man! Tôi lẩm bẩm một mình, tôi nghỉ dưỡng sức và nghe ngóng tình hình. Bỗng có tiếng gọi nhỏ, vừa khẩn trương, vừa thân thiết:
— Anh Phi công ơi! Anh mới đây đâu rồi?
Tôi len lén và nhẹ nhàng bò sâu vào phía trong, rủa thầm:
— Bố mày! Bao nhiêu năm xông pha lửa đạn, ông kinh nghiệm đầy mình. Ông đâu phải là con nít mà mày dụ kiểu đó!
Tôi cứ ngờ là Việt Cộng giả dạng. Tiếng người gọi xa dần và mất hút. Bỗng một chiếc trực thăng từ Phan Rang xuất hiện, bay về hướng tôi và đảo nhiều vòng quan sát. Đến giờ phút này, tôi mới thấm nỗi đau của những kẻ hời hợt với sự an toàn của bản thân mình. Biết bao nhiêu lần tôi bị Thiếu Tá Nguyễn Tiến Xương, Trưởng phòng An Phi, cằn nhằn vì không chịu mang áo lưới. Tôi còn coi thường không thèm lãnh cả súng P38 khi đổi về Phan Rang và tự biện hộ:
— Ông thề sẽ chẳng bao giờ nhảy dù. Nếu chúng mày bắn đứt cánh, ông sẽ biểu diễn bay bằng một cánh trở về phi trường đáp đẹp!
Tôi ỷ vào cái thiên tài bay bổng của mình. Và giờ nầy! Ước gì chỉ cần có một trái khói, không cần flare, kính hiệu hay radio, tôi đã thừa phương tiện để đánh dấu vị trí của mình. Người bạn trực thăng thật tận tụy nhưng cuối cùng đành quay trở về vì không tìm thấy dâu vết tôi, hơn nữa, phòng không địch đang quăng những mẻ lưới lửa lớn vây bắt con chim lạc loài. Tôi đưa tay lên trời, vẫy chào buồn bã:
— Thôi từ giã. Bạn yêu dấu!
Xuyên qua những cụm khói tử thần, tôi lẳng lặng nhìn theo cánh chim bạn đến khi mất hút ở phương trời Phan Rang thân thương. Niềm hy vọng cuối cùng đã tan vỡ, tôi biết rằng, từ giờ phút nầy, tôi chỉ còn một mình với những hiểm nguy chồng chất. Tôi lom khom đứng dậy quan sát địa thế. Tôi đang ở giữa lưng chừng đồi thoai thoải và dưới kia là Quốc lộ nhộn nhịp đông người tranh nhau chạy loạn. Tôi nhớ đến bài học thoát hiểm đầu tiên: “Quốc lộ là hướng an toàn nhất cho những phi công bị nạn.”
Tôi vạch kế hoạch đi len lỏi giữa các bụi mía để đến gần đường rầy xe lửa, băng qua một quãng đồng trống trải và tiến về một chòi nhỏ đầu tiên nằm lẻ loi tách biệt khỏi khu xóm nhà lúc nhúc. Lại có thêm một điều để tiếc nuối. Ôi cuộc đời cứ thế mà tiếp tục để mỗi ngày ta lại khám phá ra một điều mới để tiếc nuối! Ước gì tôi có một cái quần sọt và một cái áo thun. Tôi thuộc loại người đơn giản hóa, trong chiếc áo bay đầy phù hiệu lộng lẫy hoa hòe mà chắc chắn những thiếu nữ mộng mơ đã dệt bao nhiêu huyền thoại, bao mối cảm tình thầm lặng đắm say, vâng! ở trong đó, dưới chiếc áo bay lập dị đó, tôi chỉ dành một ân sũng duy nhất cho chiếc mini xì líp được phép đèo bồng và sáng nay, lúc vội vã, tôi còn bỏ quên người bạn bé nhỏ đó! Không thể tồng ngồng đi giữa thanh thiên bạch nhật, tôi đành phải mặc bộ đồ bay đặc biệt và trở thành mục tiêu lồ lộ cho những cặp mắt rình rập theo đuổi. Người đầu tiên khám phá ra tôi, làm phiền tôi, không phải là Việt Cộng mà là các em nhỏ, bắt đầu một đứa, hai đứa, và sau đó, cả đám hội con nít chạy theo tôi reo hò: “Hoan hô anhPhi công!”
Chẳng thể nào ngăn cản được sự nồng nhiệt của các em, tôi chịu đựng sự ngưỡng mộ trong niềm hạnh phúc khốn khổ! Tôi đã lách được vào cái chòi dự trù, chớp được chiếc áo mưa tròng vào để giả dạng nhưng quá trễ! Một họng súng đã chĩa vào lưng và một tiếng quát lớn:
— Đưa tay lên!
Nguời bắt tôi là một anh du kích già, tuy vẫn còn gân guốc, nếu là bây giờ chắc tôi đã vặn cổ anh ta trong chớp mắt. Tôi quay lại và bị đánh một báng súng vào cằm. Chưa từng có Phi công nào sống sót sau khi lãnh nguyên một trái hỏa tiễn SA7, thế mà tôi xuống đất an toàn không rụng một sợi lông, giờ đây, lại chính anh già du kích làm tôi rơm rớm máu. Có tiếng phản đối của dân chúng khi họ bắt đầu tụ tập lại khá đông:
— Làm gì đánh người ta!
Lại có tiếng thì thầm:
— Hồi nãy em đi kiếm anh, kêu anh quá trời anh nghe thấy không? Vừa thấy anh, chạy tới, là anh biến mất. Nếu gặp, giờ nầy em đã đưa anh đi trốn tới đâu rồi!
Tôi lẳng lặng nghe và lẳng lặng đau đớn. Lần đầu tiên trong đời mình, tôi không tin người và nhận một hậu quả trầm trọng. Tôi đã phải trả một giá đắt cho một kinh nghiệm sống bằng sáu năm tù tội. Trong tù, tôi bắt đầu làm quen với ngôn ngữ Cộng Sản, cách sử dụng từ ngữ, cách biểu lộ ý nghĩ. Ôi! Làm sao Việt Cộng lại có được tiếng kêu tha thiết, ngọt ngào kia dù là một diễn viên thượng thặng trên sân khấu!
Tôi bị dẫn ra đường quốc lộ, vẫn một mình anh du kích già lẽo đẽo theo sau. Tôi bỗng phóng chạy khi thấy một chiếc xe lam chở đồ đạc tiến gần nhưng chụp hụt thành xe vì quá trễ. Một chiếc Honda dame vừa tới nhưng tiếc thay lốp xe sau bị xẹp! Tay du kích già bắt kịp, hăm dọa:
— Nếu chạy nữa, tôi sẽ bắn.
Cũng vừa lúc chiếc xe Dodge ngụy trang có nhiệm vụ lùng kiếm tôi vừa tới. Họ bàn giao và tôi bị trói dẫn lên xe. Bầu trời bỗng náo động vì nhiều phi cơ A37 xuất hiện. Các chiến hữu đang đi trả thù cho tôi, kẻ được báo cáo và tin tưởng đã chết. Những trái bom bắt đầu rơi vung vãi khắp nơi. Tôi ngạc nhiên thấy phi cơ tấn công cả những chiếc tàu thả neo ngoài biển xa và gần nhất, bom đang rớt trên đầu tôi. Bộ đội trên xe vội nhảy xuống núp vào hố cá nhân cạnh những gốc dừa. Tôi đứng “tương tư” giữa trời, nhìn những cánh chim thân yêu. Một Phi công được chết dưới những trái bom bè bạn mình chắc thú vị hơn chết trong tay kẻ thù. Tiếng mảnh bom xé ngang tai, vài đọt dừa trước mặt bị tiện đứt, đổ xuống. Một tên Việt Cộng chạy ra, chộp tay kéo tôi vào nơi trú ẩn. Tôi đi lừng khừng ngắm nhìn trận địa pháo nhả đạn và biết vì sao sáng nay tôi không khám phá ra họ. Điều rõ ràng là họ đang thiếu đạn kinh khủng. Cuộc tiến công quá dễ dàng, quá nhanh đã làm cho bộ phận tiếp tế không đáp ứng kịp. Tôi quan sát cách họ bắn máy bay để thấy rằng “bắt chim trời cá biển” không phải là chuyện dễ. Chỉ có hỏa tiễn tầm nhiệt là đáng ngại vì nó quá hiện đại còn khả năng con người, nhất là con người Cộng Sản, thì hạn hẹp quá. Cuối cùng là tỉ số 0-0. Huề. Những trái bom chỉ phạt đứt một số cây dừa, những quả đạn phòng không chỉ góp thêm một tí bụi ô nhiễm vào không khí.
Cuộc tranh cãi bắt đầu gay gắt, các loại pháo phòng không đang tranh công với nhau, anh 12 ly 7 khẳng định đã bắn rơi Lý Tống, anh 23 ly, 37 ly cực lực bảo vệ chiến công mình. Tôi cười thầm nghĩ đến xạ thủ SA7 nằm lăn lóc trên sườn đồi, anh ta sẽ điên tiết khi chiến công mình bị các pháo bạn tranh giành cấu xé. Tôi nghĩ đến đoạn đấu khẩu trong cuốn truyện Vùng Trời viết về Không Quân Bắc Việt do Hà Nội xuất bản, trong đó Thủ trưởng Pháo Binh nói đùa với Thủ trưởng Không Quân:
— Nếu một ngày nào biển Đông cạn, tất cả chúng ta đều vào tù ráo!
Vâng! Không có gì dễ bằng báo cáo đã hạ được nhiều phi cơ địch, và tất cả đều rơi xuống biển Đông! Trên đường đi có vài tên bộ đội hỗn láo bắt tôi cúi mặt xuống vì chúng không chịu được bản mặt nghênh nghênh kênh kiệu của tôi. Tôi quắc mắt trừng các chú bé, tên lính áp giải kịp thời hòa giải mọi xung đột. Chúng dẫn tôi ra đường, tập họp dân chúng để lập Tòa án Nhân dân.
Chúng đã từng thành công với loại luật rừng nầy: Một Nguyễn Du, Thiếu tá Phi công anh hùng Vùng I, chiếc đầu được treo giá bạc triệu, bị bắn rơi và bị ném đá đến chết; Phi công danh tiếng Trần Thế Vinh, người bạn cùng khóa 65A Không Quân với tôi và biết bao nhiêu người đã đi vào huyền sử. Nhưng rõ ràng, lịch sử không được lập lại tại đây, nơi thành phố duyên hải đầy thân thuộc nầy. Khu giải trí Cây số 9 đâu có ai lạ mặt tôi, họ thương cảm tôi, một khách chơi quen, hào phóng đang lâm nạn, một chiến sĩ đang bị sa cơ. Những tên cò mồi lăng xăng chạy đi chạy lại hò hét, khích động nhưng chẳng ai thèm hưởng ứng. Cuốỉ cùng chúng chỉ thành công trong một cuộc dàn cảnh. Vài tên nhảy vào đè tôi xuông, xỉa xói, chửi bới. Lúc đầu, tôi nhẫn nhục để làm nổi bật sự tàn bạo dã man của Cộng Sản nhưng nửa chừng đổi ý, vùng đứng dậy, quắc mắt nhìn chúng và nhổ nước miếng vào mặt tên đạo diễn thô bỉ. Khán giả khoái chí cười ồ, vì thế, thay vì ném đá tôi, họ lại ném thuốc lá, bánh ngọt và các loại quà khác.
Tôi được chở lên đèo Rù Rì, trời nửa đêm sương mù lạnh lẽo. Tầm nhìn xa không quá mười thước, tên tài xế mới ra nghề, chạy xe dục dặc như ho gà. Tôi tính lừa thế đánh cái đầu vào mặt tên ngồi bên cạnh, đứng dậy dứt một đá vào cổ tên tài xế trước mặt là xong. Thật dễ dàng trên một chiếc xe jeep mui trần, nhưng xe bỗng ngừng ở một trạm gác. Tôi ngồi ngoài xe giữa đêm sương giá, núi rừng âm u tăm tối đang chứa đựng một âm mưu sâu hiểm. Về sau, tôi được biết đó là buổi họp quan trọng, một phe muốn xử bắn tôi ngay đêm đó tại trên đèo, vì không moi được chút tin tức nào trong suốt những cuộc thẩm vấn dọc đường, một phe muốn kiên trì thuyết phục. Cuối cùng tôi được chuyển đến Trại Chi Lăng là nơi an dưỡng tạm thời của Việt Cộng. Lần đầu tiên tôi thấy được sự tác hại của các loại bom napalm và bom bi vì chất cháy lân tinh và các viên đạn nhỏ không chừa một hố nấp cá nhân nào trong tầm sát hại của nó. Tại đây, một Thủ trưởng Đặc Công và một Thủ trưởng Pháo Binh thay phiên nhau thẩm vấn, hứa hẹn và dụ dỗ tôi vẽ bản đồ phi trường Phan Rang:
—Anh sẽ được tha chết và được sử dụng phục vụ Không Quân Cách Mạng.
Tôi cương quyết từ chối:
— Một mạng sống của Lý Tống không thể đánh đổi với hàng trăm, hàng ngàn mạng của các chiến sĩ đang tử thủ trên tuyến đầu giữ nước. Xin lỗi các ông, tôi không phải là loại người tham sinh úy tử để làm một hành động phản bội ngu xuẩn như vậy!
Họ lại kiên trì đưa đề nghị khác:
— Nếu anh lên đài phát thanh, kêu gọi chiến hữu của anh đầu hàng, nhấn mạnh rằng Cách Mạng sẽ rộng lượng khoan hồng đối với tất cả ai trở về hàng ngũ dân tộc, nhấn mạnh Chính sách Đại Đoàn kết, Chính sách Nhân đạo của Cách Mạng…
Tôi ngắt lời:
— Thưa ông, có những con vật khi bị mắc bẫy còn biết đánh tín hiệu để báo cho đồng loại tránh xa nơi đánh bẫy. Là con người, không lẽ tôi lại thua loài vật, dẫn dụ bè bạn, chiến hữu vào cái bẫy nhân đạo, hòa hợp giả hiệu của các ông sao ?
Tôi chuẩn bị để chết. Nhưng số phận vẫn bắt tôi sống. Và tôi vẫn thích được mang chữ “cố,” cố Đại úy Phi công, bởi vì kỷ niệm của Phi vụ cuối cùng.
Bắt Đầu Cuộc Đời Tù Binh
Tôi được chuyển về Suối Dầu. Những tay tội phạm và du đãng Nha Trang như “Tới đen, Thi bản đồ” đều rủ rê tôi vượt nhà giam. Tôi quyết định ở lại với lý do: Tôi cần tìm hiểu Chủ nghĩa Cộng Sản. Bao năm trời chiến đâu chống Cộng, tôi chỉ biết về Cộng Sản qua các bài thuyết trình của Khối Chiến Tranh Chính Trị, hoặc thấy Cộng Sản bằng hàng thây ma la liệt dưới những trái bom tàn phá dữ dội của mình. Trừ lần gặp vài tên Việt Cộng tại Bến Cát cách hơn mười năm chưa cho tôi một khái niệm nào về Cộng Sản. Tôi muốn biết rõ bộ mặt thật của Cộng Sản. Không như một số tù binh bạn tuy thù Cộng Sản nhưng họ thề không động đến một cuốn sách nào của Cộng Sản, tôi quyết tâm sẽ ngấu nghiến kỹ lưỡng hầu hết sách thư viện có được. Phải nghiên cứu ưu khuyết điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, dùng Chủ nghĩa Cộng Sản để đả kích đệ tử của Bác và Đảng.
Tôi ngồi lặng lẽ nhìn hàng loạt người chui qua lỗ cửa sổ song sắt vừa bị bẻ gãy. Phải tự đấu tranh giữ vững lập trường tôi mới ngồi yên được, vì tiếng gọi tự do đang vang dội ngoài kia, và cuộc trốn chạy thập phần dễ dãi. Cuộc đào tẩu quá nhộn nhịp, ồn ào nên người thứ 21 bị phát giác, tất cả đều chạy thoát an toàn.
Tôi lại bị chuyển Trại. Tại đây có âm mưu “Hổ,” vượt ngục bằng cách đào sâu xuống nền nhà, xuyên qua vườn ra ngoài hàng rào. Tôi vẫn từ chối không tham gia vì tổ chức quá lộ liễu, các phòng bên cạnh quá vội vã, nên phòng chính thức của tôi chưa đào xong, họ đã đào xuyên qua tường sang ngồi đợi. Âm mưu bị bại lộ nên công tác canh gác được tăng cường tối đa. Một đêm, một tay du đãng có tiếng là “Hồng thúi” vừa bị bắt nhốt trong lúc đang phê xì ke chỉ vì đập cửa làm ồn, y bị một tên Thượng Cộng dí súng ngay vào đầu, bắn vỡ sọ chết tại chỗ.
Tôi lại bị đưa về Quân lao Nha Trang. Một đêm tôi bị bịt mắt, còng tay chở xe chạy ra bờ biển Nha Trang cùng hai người khác. Chúng tôi rỉ tai nhau: “Chắc đi mò tôm quá!” Bao nhiêu người đã được đưa ra bờ biển, một bao bố, một cục đá lớn và một con người: cột lại, ném xuống biển. Thật dễ dàng, chẳng hề tốn một viên đạn. Cộng Sản quí và tiết kiệm đạn, một viên đạn giá tương đương 3 kg củ mì, đập một cán cuốc, đánh một bá súng vào đầu, nhanh, kín, chẳng tốn kém. Đại úy Trưng ngồi bên cạnh lâm râm cầu nguyện. Cuối cùng chúng tôi bị đem nhốt vào xà lim của Nha Cảnh Sát Đặc Biệt cũ. Ban đêm, phòng hẹp lại không có đèn, mò mẫm chung quanh chỉ thấy cứt khô vung vãi, tôi cởi quần thế chổi quét tạm, ngả mình đánh một giấc thoải mái.
Xà lim thời trước chỉ nhốt một người, thời hạn tối đa là ba ngày, bây giờ chúng tôi hai người, kẻ nằm xuôi, người nằm ngược, chật như nêm, và nằm cả hàng tháng trời. Có nhũng ngày nhà cầu bị nghẹt, nước ngập gần tới chỗ nằm, đủ các loại phẩn cục cứng hoặc bầy nhầy nhão nhẹt… nổi lều bều, thối và ngột ngạt đến chóng mặt. Thế mà Cao Kỳ Sơn vẫn hát nhạc Trịnh Công Sơn, bố già Đại Tá Như vẫn đốt lốp cao su nấu cà phê khói. Có những tay cai ngục lóc nhóc khoảng 15 tuổi, có những mụ Cán bộ mập úc núc như bao gạo chỉ xanh vì bị phù thủng, bắt chúng tôi phải xưng hô: Thưa Ông, Thưa Bà. Cũng chính tại đây, tiếng xe tăng T54 hàng ngày ào ạt tiến về Nam, nghiền nát tâm sự ngổn ngang của nhũng con người thất thế. Tin Sàigòn thất thủ làm chúng tôi ngỡ ngàng, thất vọng. Thế là hết!
Trại Tù Lam Sơn
Lại di chuyển đến trại tù Lam Sơn. Lần đầu tiên sau nhiều tháng tôi được thấy nhà cửa, cây cảnh chung quanh mình và được đi lại trong một phạm vi rộng rãi. Những nắm cơm vừa sống vừa khê, vừa mốc, đầy cát, mỗi ngày được ném vào xà lim, những ngụm nước uống hạn chế, đổ vội, hắt qua lỗ cửa sắt nhỏ, vung vãi trên mặt mũi và thân người của xà lim Nha Trang đã gây ấn tượng hạnh phúc cho nơi tù đày mới. Chính sách của Cộng Sản khôn ngoan, quỉ quyệt. Họ không đẩy kẻ thù xuống địa ngục ngay, sợ rằng sự tuyệt vọng và phẫn nộ của tập thể tù binh đông đảo có thể gây nên những phản ứng bất lợi, những cuộc bạo động liều lĩnh. Họ hé cửa địa ngục cho thấy sự kinh hoàng, rồi đóng lại để đe dọa. Họ nới một chút cho nạn nhân hy vọng, rồi bóp lại từ từ. Cái bàn tay bóp cổ nhuần nhuyễn đến nỗi nạn nhân đã tắt thở mà vẫn tưởng mình còn thoi thóp. Nhà tù ngoài cái cùm, cái ách của kẻ thù đè nặng trên đầu, trên cổ, tù binh còn mang cái ách do bọn phản bội, bọn ăng ten tạo ra. Những tư tưởng tiêu cực bạc nhược của những con người tham sống sợ chết, vị kỷ cá nhân đã làm cho không khí u ám của địa ngục trần gian tăm tối bi thảm thêm.
Như một Sơn khói, hình ảnh phản bội đáng ghê tởm nhất và cũng là một biểu tượng tượng trưng nhất về những thủ đoạn gian ác của Cộng Sản trong kế hoạch chia để trị. Sơn khói đã gài bẫy đưa bạn mình đi trốn trại cho vệ binh bắn chết tại Lam Sơn, và báo cáo với ác ý làm cho một tù binh khác bị siết cổ chết tại trại tù 53.
Với ăng ten Hoàng, tên thường dọa tù binh bạn bằng câu tuyên bố: Sau lưng tôi có Bác và Đảng, ai chống tôi tức chống Bác, chống Đảng, chống nhân dân… Tôi đã dùng bài bản đã học được để ca ngợi Bác và Đảng trong một buổi học tập quan trọng, tiếp đến “móc lò”: Bác và Đảng là cái gì linh thiêng, tối cao… nhưng tiếc thay lại chỉ đứng sau lưng, sau đít của Trại Trưởng kiêm Nhà Trưởng Hoàng mà thôi. Thế là Hoàng bị hạ bệ và suýt bị ăn đòn.
Với một Đãi già, kẻ chủ trương thuyết Hàn Tín luồn trổn gây tinh thần đầu hàng, hèn nhát cho những người thiếu kiên trì, can đảm, tôi đã chửi xéo:
— Tôi rất phục, rất ngưỡng mộ cái phong thái Hàn Tín của anh. Anh đóng vai Hàn Tín còn xuất sắc hơn cả Hàn Tín. Hàn Tín chỉ luồn trôn một người, còn anh, anh luồn trôn hết những thằng mọi Cộng Sản. Tiếc rằng suốt đời, anh chỉ giống Hàn Tín giai đoạn luồn trôn, còn giai đoạn Hàn Tín làm anh hùng, chẳng bao giờ anh giống được.
Cộng Sản là một loại từ-ngữ-chủ-nghĩa. Họ sáng tạo đủ loại từ mới, áp đặt và cưỡng bức ngôn ngữ theo mục đích của họ. Với Mỹ, họ dùng chữ đế quốc xâm lược, với các nước xã hội chủ nghĩa, họ dùng chữ lớn mạnh. Nhà tù lại gọi Trại học tập cải tạo, tù binh gọi là học viên. Người dân tìm cách chống đối và giải trí qua các mẩu chuyện phiếm, tiếu lâm về các anh cán ngố về thành phố, hoặc chơi trò đảo ngược chữ để chơi xỏ. Chẳng hạn Trường xây đời mới đảo ngược thành Trầy xương đời mới, hoặc Hồ Chí Minh thành Hồ Chính Mi, chính mi đã gây bao nhiêu thảm cảnh, như một bộ đội trong cơn tức giận điên cuồng đã chỉ vào ảnh Hồ Chí Minh lên án, khi sáu anh em anh ta đều bị nhà nước bắt ra chiến trường để trở thành tử sĩ, và riêng cá nhân anh cũng thành liệt sĩ (bị trúng bom bại liệt không còn đi được).
Lần đầu tiên làm bản khai lý lịch, trong phần địa chỉ trở về khi được phóng thích, tôi đã khai: “Số 1 Mạc Đỉnh Chi.” Sau khi nghiên cứu hồ sơ và được biết số 1 Mạc Đỉnh Chi là Nghĩa Trang Qưân Đội ngay giữa thành phố Sài Gòn, tên Phó trưởng trại đã kêu tôi lên trình diện để khiển trách:
— Anh dám giỡn mặt, coi thường Cách Mạng hả? Tại sao anh khai địa chỉ tại nghĩa trang quân đội ngụy?
— Thưa cán bộ. Tôi nghĩ rằng ở tù kiểu nầy thì khi được phóng thích chỉ còn có nước đem đi chôn, chứ làm gì còn sống nổi để trở về nhà!
Đã hiểu được Cộng Sản, hiểu cái học thuyết sai nhầm từ căn bản bởi vì Cộng Sản tiêu diệt quyền sở hữu cá nhân, bởi vì muốn xây dựng Chủ nghĩa Cộng Sản, con người Cộng Sản bắt buộc phải đạt được một số đặc tính đạo đức cách mạng mà chỉ có những bậc thánh mới hội đủ, và thật sự nếu mọi người đều đạt được cái đạo đức cách mạng đó, thì thế giới chẳng cần một chế độ xã hội hoặc một chủ thuyết chính trị nào nữa cả.
Thấy được cái tính chất khôi hài của hai học thuyết đối nghịch: Chủ nghĩa Duy vật lại thường nhân danh lý tưởng và đạo đức để kềm chế con người, còn dưới ảnh hưởng của Chủ nghĩa Duy tám, những sinh hoạt xã hội lại kích thích con người sống thiên về vật chất và hưởng thụ; hiểu rõ những Cán bộ Cộng Sản, những con vẹt học nói, mà từ người lãnh đạo đến anh nông dân dốt nát đều có cùng trình độ ăn nói và nhận thức thuộc lòng giống nhau, sự nghèo nàn và cằn cỗi của trí tuệ mà những bài diễn văn từ những khoảng cách thời gian hằng chục năm vẫn không hề có một tư tưởng mới lạ, “Chủ nghĩa Cộng Sản chỉ là một đứa con tật nguyền của Chủ nghĩa Tư bản,” tôi nhận định và quyết định trốn thoát trại tù Cộng Sản để trở về chiến tuyến đấu tranh của mình.
Vượt Ngục Trại Tù Lam Sơn
Ý nghĩ vượt ngục càng thôi thúc hơn vì một biến cố mới xảy ra. Hoàng, sau khi bị tôi chơi khăm để hạ bệ, lại còn bị tôi nguyền rủa: “Đồ chó đẻ, mầy độc ác còn hơn những tên cai ngục Việt Cộng,” bèn đặt chuyện, mật báo lên Bộ Chỉ huy trại để tìm cách hại tôi. Buổi sáng hôm sau, hai tên vệ binh trang bị súng ống chạy sồng sộc vào chỗ tôi ở, trói tay tôi, chĩa súng vào lưng dẫn độ đi giữa cặp mắt ngỡ ngàng hoảng hốt của các bạn đồng tù. Trên đường đến phòng thẩm vấn, tôi bất chợt chứng kiến một cảnh khủng khiếp. Đó là buổi thăm nuôi bỏ túi, trong đó vợ con tù binh đứng chen chúc ngoài hàng rào kẽm, và bên trong tù binh sắp hàng một để được gọi tên. Một người bạn tù chợt nhận ra được vợ con mình sau nhiều ngày xa cách, mừng rỡ quá bèn gọi lớn tên và vẫy tay rối rít. Trong cơn xúc động, anh ta đã bước lệch ra khỏi hàng như kẻ mộng du không nghe tiếng quát tháo của tên Cán bộ hướng dẫn. Một loạt súng nổ và người tù ngã gục sóng soài trước những cặp mắt kinh hoàng của vợ con. Thấy cái chết bất ngờ của một người bạn vì lý do thật tầm thường, tôi chợt hồi hộp lo lắng về số phận mình. Tôi tưởng tượng mình đang đi về pháp trường và “đùng, đùng,” tôi gục xuống sau loạt đạn và thế là hết. Nhưng thật may, cái chết của người bạn tù đã thu hút tâm trí của các tên phụ trách điều tra hoàn toàn, họ bận bịu lo giải quyết chuyện xảy ra đột ngột, nên khi bị dẫn vào, tôi chỉ nhận được một tiếng quát đe dọa:
— Mầy còn cứng đầu, có ngày ông sẽ vặn gãy cổ mầy. Coi thằng kia mà làm gương.
Nói xong, y mở trói và đuổi tôi đi về.
Ngày 7 tháng 10 năm 1975, tôi và Kiên, Trung úy Pháo Binh gặp nhau tại điểm hẹn, nơi chúng tôi đã tập trung những đồ dùng cần thiết được chuyển dần ra hàng ngày, để bắt đầu cuộc trốn chạy khỏi nhà tù Cộng Sản. Chúng tôi lẩn tránh đám quản chế dẫn tù binh đi làm, băng rừng đi về hướng đèo Phượng Hoàng. Càng lúc tôi càng chiếm dần quyền quyết định mặc dù trong kế hoạch, Kiên chịu trách nhiệm dẫn đường. Tôi hủy bỏ ý đồ leo qua ngọn núi có thác nước, mà mỗi chiều đi làm về, từ trại tù Lam Sơn, chúng tôi vẫn thường ngắm nhìn như một bức tranh đẹp và là điểm chuẩn để định hướng trốn trại. Những khối đá cheo leo dốc đứng, có nơi phải mất nửa giờ chưa đi được hai mươi thước đường dốc. Viên thuốc uống ngừa sốt rét làm mặt Kiên đỏ nhừ, đầu choáng váng muốn bệnh. Kiên đã nản lòng vì thể lực yếu và đoạn đường đầy chướng ngại vật. Sau khi băng qua nhiều đám rừng khá vất vả, tôi quyết định rẽ về hướng một con suối để nghỉ chân, dùng mùng lưới ni lông bắt cá lòng tong ăn sống và ngủ lại qua đêm. Chiếc võng quá cũ trăn trở dưới lưng như muốn rách toẹt vì sức nặng. Hai đứa treo võng nằm sát nhau, mệt mỏi không đủ sức để nói chuyện, chuyền qua lại điếu thuốc rê đắng nghét, chịu đựng cơn lạnh về đêm của núi rừng.
Sáng hôm sau, chúng tôi băng qua những trảng tranh rộng, cao ngập đầu người, ra đường đón xe. Xe bộ đội nhộn nhịp qua lại, dịch vụ bán xăng nhớt lậu công khai trên đèo của giới tài xế nhà binh làm chúng tôi vỡ mộng về những lời đồn đãi: Đèo Phượng Hoàng do quân Kháng chiến kiểm soát một phần. Sau khi bị nhiều xe qua mặt từ chối không cho quá giang, chúng tôi được một người chạy xe Honda chở nhờ lên đèo, chỗ chiếc xe hàng chở gạo đang bị hư và đang sửa, để xin đi nhờ lên Ban Mê Thuột. Xe chạy giữa đèo, hai bên đồi núi trùng trùng điệp điệp. Tưởng tượng kế hoạch đi bộ băng rừng của Kiên, tôi chợt bất giác rùng mình kinh hãi. Trong những đãy rừng núi hun hút bạt ngàn kia, chúng tôi sẽ trở thành gì nếu không phải là những bộ xương khô vất vưởng đói khát. Mặc dù thất vọng về tình hình đèo Phượng Hoàng cũng như khả năng đẫn đường của Kiên, tôi vẫn cương quyết đi về hướng dự định,
Tại Ban Mê Thuột có tin đồn Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Ngô Quang Trưởng đã rời Mỹ trở về lập chiến khu. Huyền thoại! Có ai mơ mộng như tù binh chúng tôi, nếu không có những tin bịa đặt như vậy và tin tưởng như vậy, làm sao chúng tôi có thể sống và chịu đựng những ngày tháng đày đọa miên viễn, không có một chút hy vọng ở ngày mai. Những buổi chiều chuyển mùa, tiếng sấm đất nổ rền âm vang từng loạt dài, chúng tôi vẫn ngỡ là tiếng B52 đang rải thảm. Có khi ở gần những bãi tập bắn, chúng tôi vẫn ngỡ và đồn đãi là đang có giao tranh. Nếu biết rõ các ông Tướng, ông Tá của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đang đầu tắt mặt tối với cuộc mưu sinh ở Mỹ, chắc chắn tâm trạng của người tù sẽ khốn khổ biết bao. Người trong nước hy vọng người ngoài nước, người ngoài nước trông chờ người trong nước! Đó là lý do vì sao đã hàng chục năm, mặc dù bạo quyền Cộng Sản đã hoàn toàn thất bại trong các kế hoạch kinh tế, an sinh, ngoại vận… mặc dù toàn dân bất mãn, chế độ Cộng Sản vẫn còn tồn tại!
Sau khi vượt qua nhiều trạm gác tương đối dễ dàng, bởi vì mỗi lần xe sắp đến cổng gác, người lơ xe cầm giấy nhảy xuống chạy bộ đến trước, vừa trình giấy, lại vừa kẹp theo một ít tiền hối lộ trong giấy, tên gác khỏi cần xét xe, vẫy tay ra lệnh cho chạy luôn. Đang yên chí vì tình hình thuận lợi, xe chúng tôi lần nầy bất ngờ bị chận giữ lại vì gần tới giờ giới nghiêm. Hành khách được hướng dẫn đến một nhà ngủ tạm, chờ sáng mai tiếp tục lên đường.
Thấy dễ dãi, tôi bỏ ngay ý định lẻn trốn đi luồn qua rừng để thoát qua khu vực kiểm soát. Bất ngờ tốỉ đến, có toán tuần tiễu đi kiểm soát giấy tờ. Và chúng tôi bị bắt! Kiên nhát gan nên khi tên trưởng toán chĩa súng vào màng tang đe dọa là khai thật tất cả, do đó vai trò giả dạng một người dân đi làm rẫy quên đem theo giấy tờ của tôi cũng bị lộ tẩy theo. Chúng tôi bị giữ tại chỗ hai ngày, chờ xe trại tù Lam Sơn áp giải về. Khi giải lên xe, tôi bị trói quặt vào thành xe, sợi dây siết quá chặt làm những mạch máu bị bít nghẽn. Cơn đau bừng bừng như dòng nước lũ đang cuồn cuộn chảy bỗng bị bức tường thành chắn bít ngang, dội lại tung tóe lên tận óc não. Yêu cầu nới rộng dây không được đáp ứng, tôi bèn thét lớn: “Đồ quân vô nhân đạo. Tụi mầy chặt tay tao đi còn hơn.” Hai tên vệ binh nhào vào định đánh tôi, nhưng tên Cán bộ trưởng toán hiền lạnh ngăn lại và ra lệnh nới lỏng dây trói.
Trên đường đèo, ở nhiều khúc quẹo gắt, tôi định tìm cách đạp vào tay lái tên tài xế, cho cả xe lao xuống vực, chết chung một đám. Tên vệ binh linh cảm được điều tôi nghĩ nên đổi chỗ ngồi, kèm sát bên trái tôi, làm vật cản che tên lái xe.
Trở Về Địa Ngục Trần Gian
Về đến trại, tôi bị tống giam vào thùng Conex. Ngày hôm sau, hai tên gác mở cửa lôi tôi ra, chúng bắt tôi quay lưng lại rồi hô lớn.
— Quì xuống!
Tôi vẫn đứng bình thản như không hề nghe thấy.
— Quì xuống!
Tiếng hét càng lớn hơn hòa lẫn cùng tiếng cơ bẩm súng lên đạn lách cách. Đám bạn tù binh nghe ồn, ùn ùn kéo lại đứng dọc theo hàng rào theo dõi. Tên thứ hai bèn nói nhỏ:
— Thôi kệ, trói nó lại, dẫn đi.
Một Tòa án Nhân dân kiểu bỏ túi được lập lên trước văn phòng Bộ Chỉ huy Trại với nhiều khuôn mặt lạ chưa từng thấy. Đám vệ binh đứng dàn hàng ngang trong đội hình chuẩn bị bắn xử tử tại pháp trường, tên trưởng toán đến đứng nghiêm trước mặt tôi, dõng dạc hô lớn:
— Quì xuống.
Mặt tôi đanh lại cương quyết. Mệnh lệnh được lập lại đồng thời cùng những viên đạn bay chéo qua tai, qua đầu tôi. Tôi nổi giận quát lớn:
—Bắn đi! Lý Tống nầy chết đi còn có trăm ngàn Lý Tống khác.
Phản ứng dữ dội bất ngờ của tôi làm những tay súng bỗng khựng lại, những khuôn mặt bỗng ngớ ngẩn.
Tên chủ tọa bèn đổi thái độ ra lệnh:
— Dẫn nó lại đây.
Họ hỏi tôi nguyên nhân và mục đích trốn trại. Tôi trả lời:
— Mỗi người đều có một nhiệm vụ. Là Phi công tôi có nhiệm vụ chu toàn phi vụ, tận tụy với nhũng trái bom mình ném xuông. Là Tù binh tôi có nhiệm vụ vượt ngục.
Sau một hồi tra hỏi, tên chánh án nhấn mạnh:
— Nếu tiếp tục ngoan cố anh sẽ nhận lãnh một bản án tối đa.
Tôi mỉm cười khẳng quyết:
— Khi một người được ca ngợi và yêu mến ở phe bên nầy, thì chắc chắn họ sẽ bị nguyền rủa và kết án như một tay tội phạm nguy hiểm ở phe đối nghịch. Bản án các ông càng nặng càng tăng giá trị những cống hiến và hy sinh của cá nhân tôi đối với đất nước và dân tộc.
Tôi bị đem nhốt trở lại Conex. Một chuyên viên tra tấn đặc biệt đến tận Conex, dùng kềm rút từ từ những móng chân của tôi để trừng trị. Tôi cắn răng chịu đựng, thản nhiên để y rút trọn năm móng chân.
— Các người chỉ rút được móng chân ta, nhưng không bao giờ rút được ý chí sắt đá đã đúc thành khối vững chắc trong đầu ta!
Tôi nằm trong một conex nhỏ, kín mít, đặt tênh hênh giữa trời. Trời nắng như thiêu đốt, từng ngụm nước nhỏ vừa trôi qua cuống họng đã biến thành những giọt mồ hôi rơi lộp độp liên tục trên mặt đáy thùng sắt. Tôi như cái bánh trong lò hấp, thấy mình đang khô và chín dần. Cơn đày đọa của ngày được nối tiếp bằng cơn quằn quại của đêm. Ban đêm trời rét, hơi người bốc lên gặp trần sắt lạnh đông lại, nhỏ xuống, bộ quần áo duy nhất ẩm ướt suốt đêm. Hai chân đóng băng, người tê cứng như tảng thịt bỏ trong ngăn đông lạnh. Nằm trong conex gần nửa năm, tôi có đủ thì giờ để nhận xét và suy gẫm về những chuyện vụn vặt của cuộc đời nói chung và bản thân mình, nói riêng.
Tôi đặc biệt chú ý đến thành phần Bộ đội Cộng Sản. Có những tên gác, trong bữa ăn, lấy đũa xăm vào tô cơm xem nhà bếp tù có dấu đồ ăn cho tôi không? Trái lại, có những người khuyến khích và cho phép bạn tôi tiếp tế thêm trong phiên trực của họ. Con người khi sinh ra đời, Thiện-Ác vốn là tính bẩm sinh, không phải Nhân sinh tính bổn thiện. Cộng Sản là môi trường thích hợp cho những ác tính nẩy mầm và phát triển. Những người bản chất hiền lành, thương người vẫn ít bị biến thể, không biểu lộ lòng tốt ồn ào như những nhà đạo đức giả; sự tế nhị, kín đáo của một số bộ đội tốt bụng đem đến sự cảm thông giữa những con người thù địch. Nhũng kẻ xấu như bèo bọt, rác rưởi nổi lềnh bềnh trên mặt dòng nước cuốn, cái nhìn hời hợt, nông cạn sẽ đánh giá sai lầm về khối nước trong lành thầm lặng dưới sâu.
Kẻ xấu thường dùng những thủ đoạn đê tiện. Có những tên Việt Cộng lấy vải cờ vàng ba sọc đỏ để may quần lót, hoặc lấy tên các lãnh tụ thù địch để đặt tên cho chó. Những con chó Lích, Ky, Tiệu, là những tên đọc trại theo giọng Bắc của Nixon, Kỳ, Thiệu. Tôi vừa giận vừa tức cười khi có đứa lại đặt tên cho một con chó mới đem về là Ný Tống.
Cùng nằm trong nhà tù, mỗi người tù đều có những ưu tư giống nhau nhưng lại có những cách làm khuây nguôi nỗi ưu tư những cách khác nhau. Với tôi, ngoài những mưu tính để thoát củi sổ lồng mà những kế hoạch, những chi tiết đã chiếm một khoảng lớn thời gian nghiên cứu, thời gian còn lại có lẽ là những hồi tưởng về đời sống cũ với những vui, buồn, với những ưu, khuyết điểm, cần phát huy hoặc khắc phục, là những cuộc đấu khẩu với bọn điều tra cần chuẩn bị trước để đối phó, là những tập luyện cần phải chú tâm.
Sự tập luyện để giữ vững tinh thần và ý chí không chỉ diễn ra trong lúc còn tỉnh thức mà còn phải xuyên qua cả trong giấc ngủ. Có những đêm giật mình thức giấc vì cơn ác mộng mà miệng vẫn còn há lớn kinh hoàng, mồ hôi còn ướt đẫm trong thời tiết giá lạnh sau những cuộc rượt đuổi, chém giết trong giấc mơ. Trong truyện Tàu, có một nhân vật kỳ lạ, bởi vì ông ta trong một lần nằm ngủ thấy bị kẻ thù lăng nhục, nên khi tỉnh giấc, ông cắp kiếm ngồi phục ở trong vườn nhà, chờ kẻ thù trong giấc mơ trở lại để đánh trả thù. Ông ta chờ từ ngày này qua ngày nọ, đêm ngày không ngủ, đến lúc kiệt lực và chết vì một mối uất hận, vì một mục đích trả thù viển vông. Tôi thì trả thù kẻ trong mơ — hay chính ra trả thù sự hèn nhát, khiếp nhược của mình trong giấc mơ — bằng cách vừa tỉnh thức là vận dụng sự hồi tưởng và trí tập trung để nằm mơ trở lại, để tìm những khuôn mặt, những quang cảnh của giấc mơ vừa qua.
Sau một thời gian tập luyện, tôi đã thành công khi vừa thức dậy vì bị rượt đuổi thất đảm là có thể tiếp tục mơ lại, thấy lại và chiến đấu trở lại. Và thật tuyệt là trong cuộc chiến đấu trong giấc mơ kế tiếp, tôi đã một mình tả xung hữu đột giữa đám kẻ thù hung hãn, và chiến thắng những kẻ mà tôi vừa bị đại bại. Có gì hạnh phúc bằng mình lại còn điều khiển được cả mình trong cuộc chiến đấu trong giấc mơ?!
Có nhũng thời gian thừa thãi rỗi rãi, tôi nghịch ngợm, lưu tâm đến những con vật bé nhỏ quanh mình để giải trí, nhờ chút ánh sáng xuyên qua lỗ đạn nhỏ độc nhất. Tôi ngạc nhiên nhìn những con muỗi khôn khéo, lom khom đi trên hai chân, lách qua các khe hở nhỏ lắc léo để chui ra, vào conex bít kín. Những con kiến hèn mọn sống kỷ luật trong tổ chức xã hội qui củ, với sự phân biệt chủng tộc nặng nề giữa các loài vật. Những con kiến hôi nhỏ bé lù khù bị những con kiến đen nhanh nhẹn, xốc vác hiếp đáp; những con kiến lửa dữ tợn, khỏe mạnh, nghênh ngang tư thế bá chủ. Những cuộc tử chiến để giải quyết hận thù giữa loài vật.
Trận thư hùng giữa hai con kiến lửa, một heavy weight, và một light weight, kiến nhỏ cắn cổ kiến lớn, kiến lớn dùng càng siết gọng kềm ngang bụng kiến nhỏ. Cuộc chiến đấu quyết liệt kéo dài đến khi kiệt sức mà chết, như hai nhân vật trong truyện Tàu. Con kiến nhỏ chết trước, kiến lớn chiến thắng nhưng sau khi đi quờ quạng vài bước, cũng ngã xuống chết theo. Có trận đánh nhau có cả trọng tài giám sát, hai kiến đen trọng tài nằm rạp hai bên, chúi mũi theo dõi trận đấu rất nhiệt tình, tận tụy, và can thiệp khi có một võ sĩ kiến chơi không đúng luật! Chúng di chuyển và giữ khoảng cách, góc độ vuông vắn. Một kiến trọng tài sau hồi lâu theo dõi, đứng lên, vươn vai làm vài động tác cho đỡ mỏi, rồi bỏ đi như thể muốn ném lại một câu chửi thề: “Mẹ, hai chú mầy đánh nhau dằng dai quá. Tao về ngủ cho khỏe.” Chú kiến trọng tài còn lại tiếp tục điều khiển trận đấu. Khi hai chú kiến địch thủ đều chết, kiến trọng tài tha cả hai về tổ.
Cuộc sống thật kinh khủng. Hàng ngày, hàng giờ trên khắp quả địa cầu, biết bao con người, biết bao loài vật đang gây chiến, tàn sát nhau để tranh sống, để thỏa mãn tham vọng, để giải quyết những mâu thuẫn phi lý. Nhìn về bản thân, và qua các sự khám phá và nhũng kinh nghiệm đau lòng về cuộc sống người tù nhân, tôi nhận thấy sự thâm thúy của chính sách Làm chủ kinh tế sẽ làm chủ chính trị. Phải ở trong hoàn cảnh cùng khổ mới nhận chân được giá trị của từng con người và thấy hết được giá trị của từng hột cơm, chiếc xương cá. Vị giác và khứu giác của những con người đói khát trở nên tinh tế đặc biệt. Tôi phân biệt được cái vị thanh ngọt riêng biệt của từng ngụm nước lạnh lấy từ những giếng nước khác nhau, đun sôi ở những độ khác nhau. Cái vị ngọt ngào của đường, cái vị béo ngậy của mỡ gây những cảm giác chấn động cho thể xác khô héo, thiếu thốn. Tất cả cơ phận của bộ máy tiêu hóa ngây ngất đê mê khi được một chút thỏa mãn. Sự kích thích sâu xa, mãnh liệt tác động cả trong giấc ngủ. Ăn một miếng thịt nhỏ bé hiếm hoi cũng có thể tạo nên được một giấc mơ, một lần mộng tinh khoái lạc. Mộng tinh, mộng mị là những hạnh phúc tuyệt vời của những ngày tháng lao tù, đày đọa. Chưa bao giờ tôi nằm mơ nhiều như thời gian nằm conex. Hình như tối nào cũng nằm mơ, mỗi đêm mơ nhiều giấc mơ khác nhau. Đêm là một chuỗi những giấc mơ liên tiếp, và giấc mơ cứ quanh quẩn với chừng đó đề tài.
Tôi mơ thấy mình đang bay lượn trong chiếc phi cơ ngày cũ, phía dưới kia là một rừng cờ. Cờ vàng ba sọc đỏ phất phới trong những ngày hội lớn, quân và dân miền Nam đang tập họp lại và ùn ùn đứng đậy khởi nghĩa. Rồi bỗng nhiên tất cả biến mất, rừng núi bỗng xuất hiện bạt ngàn, và tôi đang bay lạn giữa trời một mình, không có cả phi cơ, hai tay chập chờn như đôi cánh chim, bay qua bao núi non, làng mạc, ruộng đồng như một chim trời thong dong vui thú, cho đến khi khả năng bay không còn nữa, tôi cứ rơi là đà xuống đất. Tôi cố vùng vẫy, cố vươn lên khi những ngọn cây càng lúc càng nhô lên, ào ào phóng lên và giật mình thức tỉnh khi tiếng la hét như vừa thoát ra khỏi cổ họng.
Có lúc tôi nằm mơ, thấy chạy xe một mình, ngược dòng thác xe cộ đang đổ tuôn rầm rộ về phía mình. Những người chạy ngược tôi hớt hãi, vội vàng, họ đội nón cối, họ mang dấu hiệu cờ đỏ sao vàng, họ tranh nhau, giành nhau chạy cho kịp giờ ấn định trong cuộc tháo lui hốt hoảng. Tôi vẫn chạy ngược chiều, quay cuồng chóng mặt vì tốc độ, vì mật độ đông đảo của xe, tôi thấy hào hứng vì mình là nhân chứng duy nhất đang chứng kiến sự tháo chạy kinh hoàng của kẻ địch bại trận.
Hoặc tôi mơ thấy những cao lâu tửu quán sang trọng, những mâm cỗ tiệc đầy ngập thức ăn ngon lành, tôi đang ngấu nghiên ăn, thèm khát ăn. Ăn từ bàn nầy đến bàn nọ, ăn từ đầu tiệc đến tàn tiệc, cái ăn trong giấc mơ đã vận động các cơ quan trong người phải cử động theo, lúc giật mình thức dậy, thấy miệng mình vẫn đang còn nhai, tay mình vẫn đang quơ quào trong không khí như đang gắp lấy món ăn thích khẩu.
Đặc biệt là những giấc mơ về đàn bà trong những đêm tôi bị sốt nặng vì năm ngón chân bị rút móng làm độc hành hạ. Hình như mỗi lần thân thể bệnh hoạn đau đớn, thần kinh cố gắng tạo ra những giấc mơ để an ủi, khuây khỏa cơn đau. Nhưng chính những giấc mơ đầy hình ảnh nữ nhân lại làm cho thân thể càng suy nhược hơn, và bệnh càng trầm trọng thêm.
Tôi thường bị kéo giật ra khỏi giấc mơ, tỉnh thức vì một tiếng động dữ dội. Tên Việt Cộng gác đã một lần vô tình ngồi dựa vào conex ban đêm và tôi đã vô tình tiểu tiện xuyên qua lỗ nhỏ trên thành conex, đái ướt cả đầu y, đã trả hận bằng cách rủ thêm vài tên bạn, mỗi lần đi ngang conex nhốt tôi, lại ném vài cục đá thật lớn để trừng trị tôi, kẻ chúng nghĩ đã cố ý đái vào đầu để chơi xỏ họ. Trong thùng sắt kín, tiếng vang dội ầm ầm như một loạt bom nổ, kéo tôi trở lại với thực tế phũ phàng, với một bên ngực quặn đau ghê gớm bởi trái tim đập mạnh hỗn loạn như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.
Hạnh phúc — Bất hạnh. Ngày tháng chậm rãi trôi qua. Có những phút giây ngẩn ngơ lầm lẫn giữa ngày và đêm, giữa mộng và thực. Tôi cảm nhận cái ý nghĩa kỳ lạ của cuộc sống và con người. Cộng Sản có nhận thức sâu sắc về con người nên dễ dàng chế ngự con người. Sự đói khát, sự đày đọa nâng cao giá trị những tiện nghi tầm thường, những chút hạnh phức hèn mọn. Khi nhu cầu bức thiết bị hạn chế, sự thỏa mãn dễ dàng đạt đến tột độ. Sự khoái lạc của một người cu ly lam lũ bên ly rượu đế, nhâm nhi trong một quán cóc tồi tàn đạt hơn gấp bội nhà tỉ phú chán chê nhìn cao lương mỹ vị bày biện trong những tửu lầu sang trọng xa xỉ. Ôi tuyệt vời thay những giây phút nghỉ tay đứng chống cuốc giữa trời nắng, hơi nóng bốc ù tai, lim dim mắt tận hưởng một thoáng gió mát thoảng qua; những vá mỡ thực vật nuốt vội vàng lén lút trong các kho tiếp liệu nghèo nàn, kiểm soát chặt chẽ. Phải chăng vì cái hạnh phúc, khoái lạc kỳ lạ đó mà những tầng lớp bị áp bức bóc lột vẫn chịu đựng được cuộc sống đày ải, vẫn cảm thấy thèm khát sống trong những hoàn cảnh bi thương? Và tồi tệ hơn, có thể hãm hại nhau để được thỏa mãn cái nhu cầu hèn mọn đó!
Tiếng cửa sắt conex mỗi lần mở ra gầm lớn như một cơn giận vừa bùng nổ. Tôi đường bệ, thong thả bước ra, tiếng động như tiếng cồng báo hiệu để các bộ đội Cộng Sản từ trong các gian nhà đổ ra chiêm ngưỡng. Vâng! Làm sao họ không hiếu kỳ cho được khi nhìn hai người tù bị kỷ luật với hai phong thái khác nhau. Ớ conex bên cạnh, Kiên ngồi chồm hổm dưới đất, đầu cúi vục xuống tô đựng cơm, vẻ tội nghiệp. Còn bên nầy, tôi ngồi đỉnh đạc trên chiếc nón sắt, lưng dựa nhàn tản vào thành conex, vừa nhẩn nha nhai cơm vừa ngắm trời đất, phong cảnh một cách an nhiên tự tại. Nhờ đóng vai tội nghiệp nên Kiên chỉ bị nhốt mười lăm ngày rồi thả về trại với các tù khác, còn tôi thì tiếp tục nằm dài dài tại conex. Từ trước đến giờ họ chỉ nghe và đọc về các nhân vật huyền thoại do Cộng Sản dựng ra, tô màu đánh bóng để ca ngợi, giờ đây được thấy một hình ảnh bất khuất bằng xương bằng thịt, dù là kẻ thù, các chú bé bộ đội vẫn theo dõi một cách kiên trì. Sự hiếu kỳ không mai một theo thời gian. Gần sáu tháng trôi qua, vẫn những cặp mắt, vẫn những cái đầu chụm vào nhau, vẫn những câu thầm thì to nhỏ. Có chú bạo miệng so sánh:
— Người nầy đối với chế độ Sàigòn cũng cỡ như Anh hùng Nguyễn Văn Trổi bên mình vậy!
Câu so sánh đã trở thành như một lời tiên tri kỳ lạ. Bởi sau khi vượt ngục thoát trại tù A30 trở về Sàigòn, tôi ẩn nấp tại một căn nhà mà chung quanh đều bao bọc bởi tên Nguyễn Văn Trổi! Trước mặt là Bưu điện Nguyễn Văn Trổi. Bên phải là cầu Nguyễn Văn Trổi. Bên trái là chợ Nguyễn Văn Trổi. Sau lưng là phường đội Nguyễn Văn Trổi, còn nhà thì nằm trên đường Nguyễn Văn Trổi!
Khi nghe nàng thư ký thông báo có Gary Malone đến trình diện, Mike Casey đã thủ sẵn một cây rouleau dưới gầm bàn. Cho chắc ăn, lão còn lựa hai thằng cảnh sát to con như khỉ đột đứng ngoài cửa văn phòng với nhiệm vụ bảo vệ lão. Mấy cái cửa văn phòng thường ngày treo màn kín mít hôm nay được kéo lên cao để nếu có chuyện gì xảy ra trong văn phòng lão, mọi người trong ty sẽ nhìn thấy.
Lão chuẩn bị tiếp đón Gary Malone rất cẩn thận bởi vì, hơn ai hết, lão biết tính tình thằng cớm già này. Nói đúng hơn, đó là một con cọp đã một thời là bạn thân thiết của lão.
Mike Casey chưa kịp nhấn chuông ra hiệu thì Gary Malone đã ào vô như một cơn gió. Trong một tích tắc, Mike Casey thấy cuộc đời của mình như sắp sửa bế mạc. Coi, cây súng rouleau để sẵn dưới gầm bàn mà sao tay lão không sao nhấc lên được. Vì uống rượu nhiều quá nên phản ứng chậm chạp hơn hồi xưa chăng?
Nhưng không, giữa lúc lão Mike Casey đang lặng người chưa biết phản ứng ra sao thì Gary Malone đã dừng bước lại ngay khi vừa qua khỏi cánh cửa, thong thả tới ngồi xuống ghế, mắt nhìn Mike Casey chờ đợi.
Hoàn hồn, Mike Casey mới thấy ngượng. ĐM thằng trung sĩ cảnh sát này đi trình diện xếp mà bộ tịch mất dạy quá chừng. Đồng ý ngày xưa hai người là bạn nhưng sau mười mấy năm, cuộc đời thay đổi, một đàng là đại úy cảnh sát trưởng phòng An ninh, đàng kia là lính gác đường hạng bét, nó vào trình diện mà bộ tịch y hệt ông lớn đi tham quan.
Mike Casey nói cộc lốc:
– Trung sĩ Gary Malone! Tôi có lệnh thuyên chuyển anh.
Nghe hết câu, Gary Malone liền xổ ra một tràng cười mất dạy:
– Bạn bè lâu ngày gặp nhau, không chào nhau được câu nào sao?
Mike Casey đáp:
– Thì ngày nào không gặp ông. Tôi biết ông vẫn khỏe luôn mà.
– Khỏe nhưng mà nghèo.
Mike Casey cầm cái lệnh thuyên chuyển, đọc lớn:
– Kể từ ngày mai. Ông sẽ được thuyên chuyển về làm việc tại văn phòng ty Cảnh sát. Anh được giữ nhiệm vụ trực …chìa khóa.
Đọc xong lệnh thuyên chuyện, Mike Casey im lặng chờ đón cơn thịnh nộ của Gary Malone bốc lên. Nhưng hắn ngạc nhiên khi thấy thằng cớm này vẫn ngồi im bất động, sắc mặt không hề thay đổi. Ủa, ra nó không biết là mình vừa đưa nó về “tử địa” hay sao?
Mike Casey còn nhớ ngày xưa, lúc lão nhận tiền của Al Capone để đưa Malone từ một thanh tra xuống ngạch trung sĩ cảnh sát, đã suýt có án mạng xảy ra ngay tại văn phòng này. Bây giờ, đưa hắn về giữ một chức trực …chìa khóa, Mike Casey đoán chắc phản ứng sẽ quyết liệt hơn, nhưng chuyện xảy ra đã hoàn toàn trái ngược.
Một cơn im lặng bao trùm lấy hai người.
Im lặng đến độ, hai thằng cận vệ của Mike Casy bất giác phải quay vào dòm cho kỹ coi xếp mình …còn sống không. Chúng cũng chẳng lạ gì Gary Malone, chỉ sợ hắn nỗi điên lên xông tới bóp cổ Mike Casey chết trong văn phòng thì kẹt. Khi nhìn thấy sắc mặt đỏ bừng của xếp, hai đứa mới thở phào. Cánh cửa vẫn để mở, chuẩn bị nếu có gì thì xông vào liền.
Gary Malone mở miệng sau một phút yên lặng:
– Quà của thằng chó đẻ Al Capone tặng cho Gary Malone này phải không?
– Ông nói gì tôi không hiểu?
Tự nhiên cặp mắt của Gary Malone long lên, bắn ra những tia lửa giết người mà đã lâu lắm Mike Casey chưa nhìn thấy. Hắn gằn từng tiếng:
– Ngày hôm qua tôi mới đập nát cái xe của thằng Frank Nitti. Nó cho ông bao nhiêu tiền để kéo tôi về đây?
Mike Casey đứng dậy, cố gắng nói bằng một giọng điềm đạm:
– Cám ơn ông bạn Gary Malone. Tôi hết chuyện nói với ông rồi. Ngày mai xin ông đến trình diện tại đây để làm việc.
Vừa nói, Mike Casey vừa đưa mắt làm hiệu cho hai thằng cận vệ. Chúng nó bước vào, đứng trước mặt Gary Malone.
Gary Malone vẫn ngồi im bất động, đầu cúi xuống.
Hai thằng cận vệ nhìn Mike Casey dò ý kiến.
Lão cảnh sát mập cũng chưa biết phải làm gì.Từ từ, Gary Malone ngẩng mặt lên. Tia mắt của hắn lại bắn ra lửa. Hắn ngó hai thầy cảnh sát, nói rất chậm chạp và rất rõ ràng, từng tiếng một:
– ĐM hai thằng nhải ranh này. Chưa biết tiếng Gary Malone hay sao mà dám bước vào đây? Tụi mày tưởng hai đứa là đủ sức kéo được tao ra khỏi chỗ này hả? Phải mười thằng như tụi mày mới đủ sức. Tao đang có chuyện cần nói với xếp Casey đây. Nói xong tao sẽ ra, hiểu chưa. Bây giờ, tao đếm tới ba mà tụi mày không bước ra khỏi căn phòng này thì tao liệng từng thằng một ra khỏi cửa sổ. Nghe rõ không? Một…
Hai thằng cảnh sát tuy to con nhưng sức khỏe không là bao, tối nào cũng là cà ở mấy cái động đĩ của Al Capone nhậu nhẹt say mèm đến sáng thì làm gì còn sức khỏe? Hơn nữa, chúng đến đây là vì chút ân tình với Mike Casey. Tưởng Mike Casey dùng chúng để dọa ai chứ đụng vào ông thần Gary Malone thì thằng nào mà dám? Vừa dòm thấy hàng râu mép của Gary Malone là đã muốn rút đi từ lúc nãy rồi, vì chút thể diện nên phải đứng lại, bây giờ đến nước này thì hai anh hoảng quá, hết nhìn Mike Casey rồi lại nhìn nhau. Đi thì kỳ quá mà ở lại thì chết. Thằng cớm cô hồn này có bao giờ dọa suông ai đâu. Nó hăm quăng là quăng thiệt, xưa nay Chicago từ xếp Al Capone xuống cho đến thằng gác động đĩ ai mà không biết…
Gary Malone đếm tiếp tục:
– Hai…
Hai thầy cảnh sát không ai bảo ai, quay lui dọt lẹ. Mike Casey nhìn theo la lối:
– Ê! Ê! Vô đây tao biểu! Làm ăn gì kỳ vậy?
Gary Malone vẫn ngồi yên trên ghế. Chưa thèm nói năng gì vội. Hắn thò chân đẩy cái cửa đóng lại nghe đến rầm một tiếng.
Mike Casey lui người vào tường, chết lặng đi, chưa biết phản ứng ra sao thì Gary Malone đã mở giọng, rất hiền từ, rất bình tĩnh:
– Mike, tao biết, cả ty Cảnh sát này biết, cả thành phố Chicago này biết mày là một thằng sai vặt của Capone. Ra ngồi xuống ghế đi, tao không làm gì đâu. Đại úy cảnh sát mà đứng nghe Trung sĩ nói chuyện coi kỳ thấy mẹ…
Mike Casey nhìn quanh quan sát. Trái với những gì lão dự đoán, nguyên cả ty Cảnh sát hầu như không có ai để ý những gì đang xảy ra trong văn phòng của lão. Mà xét cho cùng, Gary Malone có làm gì đâu ngoài chuyện ăn nói rất “phải chăng” với hai thằng cảnh sát kia. Ngay cả đến một cái đập bàn la hét hắn cũng không có thì tại sao ai phải để ý kìa? Nãy giờ chỉ có mình lão là người đứng lên ngồi xuống do bởi cái bộ thần kinh quá nhu nhược điều khiển, chớ thằng khốn kia vẫn ngồi yên như cục đá mà.
Mike Casey từ từ lấy lại bình tĩnh, ngồi xuống trở lại nơi bàn giấy.
Gary Malone đang hút thuốc, hỏi gã sau một hơi khói:
– OK, ngài đại úy, suy nghĩ kỹ chưa? Ngài có muốn thay đổi ý kiến không?
Mike Casey bây giờ mới nhận ra cái mà sáng nay hắn tưởng sẽ làm được dễ dàng, đã trở thành khó khăn vô cùng. Lão cũng chưa hỏi Al Capone cái giá để đưa thằng Gary Malone này về làm việc trong ty là bao nhiêu? Bao nhiêu không biết nhưng cái hậu quả mà lão đang gánh thật là ngoài sức chịu đựng, nhưng đã lỡ hứa với thằng Capone rồi, rút lại sao kịp. Hơn nữa, một đại úy cảnh sát sao lại không có quyền thuyên chuyển nhân viên theo nhu cầu của công việc kìa?
Mike Casey trả lời sau một lúc suy nghĩ, cân nhắc từng lời nói:
– Gary Malone, ông bạn thông cảm cho tôi. Nào tôi có muốn làm vậy đâu. Đây là chỉ thị của cấp trên.
Gary Malone biết hết ruột gan lão già này. “Cấp trên” con mẹ gì?
Đã có kế hoạch, Gary Malone dụi tắt điếu thuốc lá:
-Cấp trên hả. Được rồi. Sáng mai mấy giờ thì tôi đến nhận công việc mới?
Mike Casey thở phào như trút được gánh nặng, nói mau như sợ thằng cớm cô hồn này đổi ý vào phút chót:
– Tám giờ… trễ hơn cũng được… công việc văn phòng mà, nhàn nhã lắm… Ông tin tôi đi, lè phè lắm, không có gì đâu!
Gary Malone đứng dậy, cười cười:
– Được rồi ông đại úy. Ông đừng lo, cờ đang nằm trong tay ông thì ông cứ việc phất. Nhưng phải cẩn thận nghe ông, đừng để cờ lọt vào tay người khác…
Mike Casey nhíu mày suy nghĩ xem thằng này tính giăng bẫy gì đây. Hắn nói câu chót trước khi bước ra khỏi văn phòng:
– Cờ mà lọt vào tay tôi, tôi phẩy thì đẹp phải biết….
Mike Casey nhìn theo. Tướng thằng Trung sĩ cảnh sát cô hồn mất hút trong hành lang. Lão châm lửa điếu thuốc, để ý thấy mấy ngón tay mình run lên bần bật…
Ngồi xuống ghế, lão mập bốc điện thoại gọi ngay cho Al Capone. Đầu giây bên kia, thằng Guzick trả lời:
– Xếp đang bận. Có chuyện gì không đại úy?
– Thằng Frank Nitti có đó không?
Một thoáng im lặng rồi tiếng nói rè rè lạnh lùng của thằng Frank Nitti nghe được trong máy:
– Frank đây, có gì không?
– À, Frank đó hả. Tao muốn gọi để chia buồn với mày về việc chiếc xe đó mà. Mày có muốn tao cho điều tra để trừng trị thằng đó một mẻ không? ĐM cảnh sát gì mà mất tư cách quá. Nhiệm vụ đáng lý là phải bảo vệ thì lại đi phá hoại tài sản của dân. Nếu có người chứng đàng hoàng thì tao sẽ cho đem nó ra tòa cho nó ở tù mọt gông ra..
Lão mập nói một thôi thật dài. Frank Nitti không có ý kiến gì. Đối với nó, lão mập này còn đáng khinh bỉ hơn thằng cô hồn Gary Malone. Một thằng rượu chè be bét và lúc nào cũng chỉ nghĩ đến tiền, mở miệng ra là rặt một đường tâng bốc lố bịch, chẳng bao giờ khá được.
Frank Nitti ngắt lời:
– Không! Lệnh của xếp cho đến giờ này là cứ để yên nó đã. Mai mốt tính sau. Mà ông đã kéo nó về văn phòng chưa?
– Rồi. Xong rồi, vì vậy cho nên bây giờ tao gọi, thông báo cho anh em biết.
Frank Nitti biết lão cảnh sát gọi tới đây là để đòi tiền, quay sang hỏi Guzick:
– Có tiền cho lão mập này chưa?
Guzick gật đầu:
– 5 ngàn đô la! Tiền đã có sẵn trong phong bì.
Frank Nitti cầm lấy cái phong bì dày cộm, vẫy vẫy nhịp nhàng trong tay:
– Guzick có sẵn một món quà cho ông. Ông đến Lexington lấy được không? Xếp Al Capone có vài chuyện cần nhờ ông luôn.
– Thôi, xa quá. Tối nay tao ghé tiệm The Red Horse mày đem giùm tới đó được không?
Frank Nitti nhíu mày suy nghĩ một lúc rồi đồng ý:
– Tối nay tôi cũng có chuyện ra ngoài đó. Hẹn đúng tám giờ sẽ gặp ông nơi quầy rượu.
Mike Casey cám ơn rối rít. Frank Nitti khỏi cần nghe thêm, cúp máy cái rụp…
Lão cảnh sát xoa hai bàn tay vào nhau, dáng điệu sung sướng, thỏa mãn. Công chuyện không ngờ đã diễn ra tốt đẹp đúng như ý lão dự đoán. Lúc Gary Malone còn ở đây, đã có lần lão tưởng là việc này sẽ tan vỡ vì thằng khốn lì lợm quá. Mà công chuyện phải khó vậy mới đớp được của Capone 5 ngàn đô như lão nghe loáng thoáng tiếng thằng Guzick trong điện thoại chứ? Thằng này chi địa tuy đẹp lắm nhưng cũng biết giá biết cả lắm. Bảo lãnh mấy con đĩ của nó bị bắt ra mà nó chỉ chịu chi có 10 đô một con thì đâu phải là dân ngu, không biết giá trị đồng tiền? Nó đã hứa 5 ngàn thì công chuyện phải to lớn lắm mà không ngờ mình thành công dễ dàng đến như vậy. Hay thằng Gary Malone đã hết thời rồi chăng? Cũng có thể lắm. Con người mà, đâu có ai thoát khỏi luật thời gian.Lão tự thưởng cho mình một điếu thuốc lá, ngồi lim dim nhả khói lên trần nhà….
Chiều đó, như mọi lần, từ sở ra Mike Casey lái xe thẳng đến nhà hàng & khiêu vũ trường The Red Horse…
Ở Chicago mà chưa đến The Red Horse để thưởng thức rượu ngon gái đẹp là một thiếu sót lớn lao. The Red Horse có ba thứ mà bất kỳ thằng đàn ông …dâm dãng nào trên cõi đời này cũng mơ ước: đồ ăn ngon, rượu hạng nhất, và gái đẹp như tiên. Chốn “thiên đàng hạ giới” này là nơi gặp gỡ của các tay hào phú đến không phải chỉ từ trong nước Mỹ mà từ khắp nơi trên thế giới. Hồi đó, Chicago có một câu đùa trong giới doanh thương là: “Mọi hợp đồng dù khó đến đâu đều có thể ký được ở The Red Horse” (All the contracts can be signed at The Red Horse) thì đủ hiểu đây còn là chỗ gặp gỡ của các nhà đại tư bản, các nhà tài phiệt của Chicago.
Thời buổi luật cấm rượu đang còn áp dụng chặt chẽ, một cái tiệm sang vào hạng nhất cỡ The Red Horse không thể điều hành lạng quạng như các nơi giải trí rẻ tiền. Khách vào đây là dân chịu chi tiền để tận hưởng khoái lạc trần gian chớ không phải để bị mấy thầy chú làm khó dễ lôi thôi nên vấn đề an ninh được coi như hàng đầu. Hàng hai ba lớp an ninh. Lớp ngoài cùng là cớm thứ thiệt. Trong tiệm là người của Frank Nitti rải ra dày đặc. Tụi này xuất hiện kín đáo, dưới nhiều hình thức. Có thể là một thằng khiêng nước đá coi rất hiền lành, cũng có thể là một thằng chuyên thu dọn chén đĩa, một thằng đánh giày lịch sự, hoặc là một ông khách ăn mặc sang trọng ngồi từ sáng tới chiều mà chỉ uống vài ly cà phê.
Nhưng, cũng như mọi chốn ăn chơi trái luật pháp nào cũng vậy, lực lượng an ninh dù mạnh đến đâu mà cảnh sát địa phương không đỡ đầu thì không làm sao tồn tại được. Mike Casey bảo đảm việc này. Mỗi chiều, từ sở ra là lão mập phóng xe tới The Red Horse, vẫn nguyên bộ đồ cảnh sát với cặp lon đại úy trên cầu vai, vào ngồi chễm chệ nơi quày rượu gần chỗ ra vào để làm cảnh cho nhà hàng. Khách đi chơi thấy một đại úy cảnh sát của nhà nước ngồi chình ình giữa nhà như vậy thì đâu có lo gì chuyện hành quân bậy bạ của cánh sát. Ngay cả quân gian cũng không dám bén mãng đến nữa.
Phần lão Mike Casey, đây là cái giây phút sung sướng nhất trong ngày của lão. Đó chính là cái phần thưởng sau 30 năm phục vụ đắc lực trong nghành cảnh sát. Lão thường bắt đầu buổi chiều với một ly Whiskey nước đá. Thằng bồi rót rượu luôn luôn hiểu ý lão. Phải xài thứ hạng nặng dành đặc biệt cho khách quý, mà khỏi có nói chuyện rót lưng chừng rồi hạ cái chai xuống ngang xương đâu. Rót là phải rót cho đầy luôn, rượu gần đến miệng ly mới thôi. Đằng nào lão cũng làm hết nửa chai mới chịu ra về thì rót đầy ly đỡ mất công.
Sau ly rượu đưa đường, lão sẽ nhìn thực đơn và kêu một món ăn ngon nhất rồi làm qua ly thứ hai để chờ đợi. Làm tới hai ly Whiskey cỡ lớn như vậy thì thần kinh dù nhão cách mấy cũng bắt đầu thấy giựt giựt, máu nóng chạy khắp người. Đã đến lúc phải kêu một em vũ nữ lại, cho cô em ngồi trên đùi để tán gẫu. Dĩ nhiên, miệng nói thì đôi bàn tay to lớn cũng có dịp mạo hiểm khắp thân thể con bé…
Khi thấy thằng bồi vừa bưng mâm đồ ăn nóng hổi xuất hiện từ đàng xa là lão hất em bé xuống đất liền. Từ thuở nhỏ, lão có tật háu ăn. Hễ có đồ ăn ngon đem lên là thứ gì lão cũng quên hết. Em vũ nữ đành rút lui để thầy đại úy dùng cơm tối.
Lão bắt đầu ly Whiskey thứ ba với bữa tối. Ngoài trừ trường hợp nhà hàng có những món đặc biệt thì khác, thường thì lão chỉ khoái tôm hùm và bí tết. Y hệt như xếp Al Capone.
Sau bữa ăn, trời đã chạng vạng tối, lão thường bưng ly rượu ra ngồi nơi sàn nhảy kiếm một cái bàn gần ban nhạc mà ngồi cho ra vẻ quan trọng. Vì cái bụng bự quá, chân tay lại thô kệch nên lão không bao giờ ra pít, nhưng lão thích ngồi ngắm thiên hạ và ôm ấp mấy em vũ nữ. Nếu hứng quá, chỉ cần dắt em lên lầu, chọn lấy một cái phòng cho mình là coi như trọn cuộc vui, nhưng lúc sau này, lão thấy không còn ham muốn mấy cái chuyện đó nữa. Người ta bảo đó là dấu hiệu của tuổi già nhưng lão biết rõ hơn ai hết, đó là hậu quả của nhiều tháng năm rượu chè quá độ.Thường thường, lão về đến nhà vào lúc quá nửa đêm. Không có ai phiền cả vì lão …ở một mình, không vợ không con. Nhiều khi về nhà, lão còn lôi chai rượu dưới gầm giường ra để uống thêm cho đến khi nào ngã lăn xuống đất, thiếp đi…
Nhưng hôm nay, khi thằng bồi rót rượu vừa đến nửa ly là Mike Casey đã ra hiệu cho nó ngưng. Lão muốn tỉnh táo nói chuyện với thằng Frank Nitti, nghe nói nó có vài mối làm ăn muốn nhờ lão. Lúc bước vào, nhìn tụi an ninh hôm nay bố trí chặt chẽ hơn thường lệ, người cảnh sát già đánh hơi ra ngay là thằng Frank Nitti đã có mặt và đang lãng vãng đâu đây.
Bọn nhải, dù chúng mày có sừng sỏ tới đâu, qua mặt ai chứ sao qua mặt lão già này được? Thằng Frank Nitti làm gì cũng bí mật. Nó đi không ai biết, mà tới cũng không ai hay, có mặt cũng như không.
Có sao đâu, chừng nào nó muốn xuất hiện thì cứ việc ló mặt ra, còn bây giờ thì lão cứ ngồi nhâm nhi ly Whiskey như thường lệ.
Không bao lâu sau, một giọng nói trầm trầm vang lên sau lưng, đúng cái giọng lớ lớ tiếng Ý của thằng Frank Nitti:
– Chào đại úy!
Mike Casey khỏi cần quay lại, hất đầu chỉ chiếc ghế:
– Mời ngồi!
Frank Nitti ngồi xuống bên phải lão. Mike Casey liếc nhanh chung quanh. Tiên sư, thằng này kỹ đến vậy là cùng. Đến ngay ở giữa đại bản doanh của nó mà nó cũng cho cận vệ kèm cứng. Frank Nitti vừa ngồi xuống là đã có hai thằng em kèm cứng hai cái ghế hai bên. Ra là nó còn rét dữ sau vụ St. Valentines’s Massacre.
Mike Casey đùa nhẹ một câu:
– Đây là chỗ giang sơn của mày mà còn cẩn thận vậy không sợ thiên hạ nói Frank Nitti là thằng chết nhát à?
– Cẩn thận vẫn hơn.
Miệng nó nói mà mắt nó dòm láo liên, làm như đang ngồi ở nơi chiến địa vậy. Thằng này chắc chỉ cho nó ngồi trong xe tăng nó mới thấy an toàn.
Mike Casey gọi thêm một ly rượu. Frank Nitti kêu một ly nước ngọt. Nó mồi thuốc, thở khói lên trần nhà, vô đề liền:
– Chuyện thằng Gary Malone xong rồi hả?
Mike Casey “hà” một cái sau ngụm rượu:
– Xong.
– Nó có phản ứng gì không?
– Thằng đó già rồi. Ai cũng có một thời. Thánh kinh có nói mà: “Một thời để lên, một thời để xuống.”
Phải nhắc đến tên Gary Malone, Frank Nitti thấy nhói trong tim. Nếu nó được phép, Gary Malone đã bị bắn chết tươi từ chiều hôm qua. Nhà thằng cớm này ở đâu, ăn uống thế nào, giải trí ra sao, Frank Nitti đều có đầy đủ hồ sơ, nếu nó ra tay, làm sao kẻ thù sống nổi. Nó lại thấy xếp Al Capone có vẻ coi trọng người ngoài mà coi rẻ anh em trong nhà. Tài thằng Gary Malone thì tới đâu mà xếp có vẻ chịu nó quá. Nếu có, thì đó là của mười năm về trước, bây giờ cách chơi đã đổi khác, vũ khí đã khác, chắc gì nó còn hiệu nghiệm như xưa mà phải nhất định mua nó về cho bằng được. Mà nếu nó về chung dưới trướng Al Capone, sức mấy Frank Nitti thèm đi làm việc chung với một kẻ cựu thù?
Căm phẫn lắm nhưng Frank Nitti biết luật lệ của xếp Al Capone. Trái lệnh xếp thì dù có công trạng đến đâu cũng bị trừng phạt như thường. Mà địa vị như nó thì cái chết cầm chắc trong tay. Nó biết tính xếp, không bao giờ để cho một kẻ đã bị phạt hay có gì uất ức trong người làm việc lẩn quẩn bên mình. Hơn nữa, nó biết quá nhiều, xếp sợ bị phản thùng bất tử.
Nhìn Frank Nitti tư lự, Mike Casey biết tâm sự nó. Mà thằng này cũng là tay ngon, dám đốt nguyên chiếc Cadillac chỉ vì mấy cái cửa kính bị đập bể thì không phải là hạng người tầm thường. Có lẽ nó đốt chiếc xe vì cảm thấy bị sỉ nhục thì đúng hơn. Xưa nay ở Chicago có ai nghe đến tên Frank Nitti mà không rùng mình lạnh gáy? Lão an ủi Frank Nitti:
– Rán chờ đi Frank. Nó về làm ở văn phòng thì coi như đời nó tàn rồi.
Frank Nitti không nói gì. Ánh mắt nó chỉ rực lên một chút lửa rồi trở lại lặng lờ như cái xác chết ngay. Nó giận, nó sắp giết người, nó sắp làm gì không ai biết. Frank Nitti cúi đầu, nói nhỏ với Mike Casey:
– Xếp Al Capone muốn nhờ ông coi lại cái vụ thằng cớm liên bang vừa về đây. Xếp nói thằng đó “không phải người thường”.
Tưởng gì, lại thằng cớm dỡ ẹc hồi nào. Mike Casey thở dài lên một tiếng:
– Lại cái thằng láo khoét đó. Sao mà xếp của mày lại sợ nó đến như vậy?
Frank Nitti nhún vai ra dấu đồng tình:
– Tôi cũng nghĩ như ông. Một thằng nói nhiều sẽ không làm được cái gì hết. Tôi không hiểu sao Capone lại sợ nó đến như vậy?
– OK thôi cũng được, nhưng mà xếp mày muốn tao lo cái gì?
– Chỉ muốn ông cho biết hồ sơ chính xác của nó, những ý định của nó muốn làm. Tóm tắt, xếp Al Capone muốn ông bám cứng thằng này thật kỹ.
Mike Casey làm một hơi rượu:
– Tưởng gì chớ chỉ có vậy thôi thì tao bảo đảm. Mày cứ về nói Capone yên chí lớn.
Được trớn, lão đùa luôn:
– Mày có muốn biết nó ăn uống thế nào và đi đái đi ỉa một ngày mấy lần không? Tao cũng sẽ ghi vào hồ sơ để làm báo cáo luôn… ha…ha…
Mike Casey bật cười lên hô hố sau câu pha trò lạt lẽo.
Frank Nitti không cười. Nó thò tay, móc cái phong bì dày cộm ra vẫy nhẹ nhẹ vào đùi lão đại úy cảnh sát.
Tiếng cười của Mike Casey im bặt. Lão biết giờ lãnh lương đã đến, liền thò tay xuống dưới quầy, đỡ nhẹ cái phong bì từ tay Frank Nitti rồi từ từ đem lên đếm.Tốt, thế này là đầy đủ quá. Tay trái lão cầm lấy phong bì bỏ vào túi, tay phải lão ngoắc thằng bồi:
– Ê, cho qua thêm một ly “sec” nữa đi em.
Ủa, bàn tay lão vừa đút vào túi thì làm như có ai đang nắm chặt nó lại cứng ngắc, cựa quậy không nổi. Mà hình như cái phong bì cũng bị rút ra khỏi tay luôn liền theo đó. Thằng chó nào dám đùa dai với đại úy cảnh sát Mike Casey như vầy?
Mike Casey nổi giận, quay đầu lui lại để coi xem thằng nào dám to gan giỡn mặt với mình.
Thằng đó là Gary Malone chớ ai!
Hắn mặt đồ kẻng, áo dạ hội thắt nơ, mang giày cá sấu láng bóng, không hiểu đã đứng sau lưng lão mập và Frank Nitti hồi nào mà không ai biết.
Mike Casey muốn rú lên một tiếng ngạc nhiên khiếp đảm mà cũng không được. Bất ngờ quá, táo bạo quá. Bất ngờ vì lão không bao giờ nghĩ là Gary Malone lại mò tới đây ngay sau buổi chiều bị thuyên chuyển. Táo bạo vì chỗ này là nơi ăn chơi khét tiếng nhất Chicago và là sào huyệt của Frank Nitti, an ninh tụi nó đặt cả trong lẫn ngoài có đến gần cả trăm đứa, sao một mình thằng Gary Malone dám dẫn xác đến? Kẹt hơn nữa, kẻ tử thù của Gary Malone là thằng Frank Nitti đang ngồi đây, sát ngay mình, trước mắt nó. Nếu có cuộc đấu súng xảy ra ngay tại chỗ này, thì chắc lão khó mà đi về nhà “còn nguyên một miếng”.
Thằng Gary Malone là thứ dữ, nó đã dám vào đây tức không sợ, và đã chuẩn bị đầy đủ. Còn thằng Frank Nitti và đám đàn em thì sức mấy mà tụi nó để cho thằng cớm này tung hoành ngay giữa tại bản doanh nó như nó đã làm với thằng Weiss cách đây mười mấy năm?
Lão cảnh sát ngồi im cứng ngắc như bị trời trồng, không biết phản ứng ra sao, ăn nói cái gì.
Ngay lúc ấy, Frank Nitti đánh hơi thấy cái gì là lạ quanh đây, cũng xoay người để nhìn thấy thằng cảnh sát mà nó thề sẽ uống máu ăn gan đang đứng sừng sững sau lưng mình từ hồi nào. Ra thì nó đang cầm cái phong bì 5 ngàn đô la vừa rút gọn khỏi tay lão Mike Casey, miệng cười cười rất đểu.
Nó làm lẹ quá và êm quá, cả hai thằng cận vệ của Frank Nitti ngồi sát bên mà vẫn chưa biết gì.
Phản xạ tự nhiên không dịp suy nghĩ, Frank Nitti lẹ làng thò tay vô trong lần áo vét mò cây Colt .45 lừng danh. Nhưng bàn tay nó vừa chạm tới báng súng, chưa kịp kéo ra thì cái họng cây Smith & Wesson to tổ bố và đen thùi lùi của Gary Malone đã chỉa thẳng vào màng tang nó:
– Mày nhúc nhích tao thổi cái sọ mày ra khỏi đầu liền tức thì.
Mãi đến lúc này hai thằng cận vệ của Frank Nitti mới biết là có biến, liền phóng xuống. Chân vừa đứng vững trên sàn là đã thấy hai cây Tommy Gun như từ đâu không biết bay ra trên tay chúng, chĩa thẳng vào lưng Gary Malone.
Trong nhà hàng lúc đó, mới đầu chỉ là một vài tiếng rú. Nhưng vài tiếng này kéo thêm nhiều tiếng khác, và chỉ một thoáng sau, cả nhà hàng nhốn nháo. Khách hàng tranh nhau chạy ùa cả về một góc, đạp đổ bàn ghế ngổn ngang, la hét um xùm, làm như không chạy kịp thì sẽ chết vậy. Kể từ những ngày máu lửa giữa xếp Al Capone với cánh Colosimo đến nay là đã hơn năm, Chicago mới thấy lại những cảnh này.
Ngay lập tức, tụi an ninh nhào ra làm việc liền. Chúng nó ngạc nhiên khi thấy trên quầy rượu, một thầy đại úy cảnh sát, một thằng ăn mặc bảnh bao, xếp Frank Nitti của tụi nó cùng hai thằng cận vệ đang chỉa súng vào nhau. Chưa ai nói gì cũng như chưa có ai khai hỏa.
Vậy là không phải đại biến, đỡ lo. Ở đây thỉnh thoảng cũng có vài thằng say rượu lên cơn phá phách đôi chút để ngày hôm sau phải thức giấc trên cái giường của …nhà thương. Chúng nó tà tà bước lên quày rượu, tính coi thử thằng này uống đã bao nhiêu chai mà dám cả gan móc súng ra dọa ông phụ tá.
Đang xếp đội hình hùng hổ đi lên, thằng trưởng toán tinh mắt nhận ra Gary Malone ngay. Nó dừng lại, xua tay nhặng lên và la lối om sòm:
– Tốp. Đù mẹ tốp lại. Phụ tá Frank Nitti đang bị thằng Gary Malone chĩa súng vô màng tang. Đù mẹ lui hết, xuống lẹ. Cấm tụi mày không được lạng quạng. Đù mẹ tao biết tính thằng này, nó chĩa là nó nổ thiệt chứ không đùa dai đâu… Để mình tao lên coi thử coi…
Đám lâu la khựng người, từ từ lui lại. Khách hàng sau một phút hốt hoảng la ó, không nghe thấy tiếng súng nào và chẳng nhìn thấy ai lăn quay ra chết như mọi khi thì từ từ lấy được bình tĩnh trở lại.
Mọi người đều dán mắt nhìn lên khu quầy rượu, là chỗ hình như đang có chuyện lộn xộn đang xảy ra.Chỉ nghe một cái “soạt” là Gary Malone đã móc được cây Colt .45 của Frank Nitti ra khỏi vỏ, cầm gọn trong tay. Một cái nhấn nút thiện nghệ là băng đạn trong cây súng tuột ra ngoài. Một tay vẫn giữ cây rouleau chĩa vào màng tang Frank Nitti, tay kia với cây .45 nó hạ mau xuống, chụp được băng đạn, thảy cả hai thứ lên mặt bàn.
Hai thằng đàn em sấn tới thêm một bước nữa, chĩa mấy cái nòng cây Tommy gun gần ngay lưng của Gary Malone. Gary Malone chẳng thèm quay lui, nhìn Frank Nitti gằn từng tiếng:
– Mày muốn gì? Muốn tiếp tục chơi cạn láng hay muốn nói chuyện đàng hoàng? Muốn ngừng thì bảo hai thằng đàng sau lưng tao lui ra, tao chỉ có chuyện riêng cần nói với Mike Casey thôi. Không dính dáng gì tới mày. Còn muốn tiếp tục chơi tới nửa thì tao cũng đéo cần, có điều cái sọ của mày sẽ là cái sọ đầu tiên bị thổi nát bấy ra trước. Đù mẹ dân chơi thiện nghệ như mày thì biết sức tàn phát của cây Smith & Wesson này mà.
Nói xong là ngón tay cái của Gary Malone thò ra, kéo ngược cái cò mổ của cây súng sáu ra sau nghe đến cắc một tiếng. Ngon lành như thằng Frank Nitti mà cũng thấy muốn vải đái trong quần. Tiên sư, nó không lạ gì cái tính tình và khả năng của thằng cớm du côn nhất Chicago này, nhưng cái nó không ngờ là thằng này đã trên 40 tuổi rồi sao mà còn lanh lẹ quá chừng. Mãi đến hôm nay, Frank Nitti mới biết vì sao xếp mình từ xưa đến giờ ngán nó một mực.
Frank Nitti quay nhìn hai đứa đàn em:
– Đù mẹ hồi nãy sao không ngon lành một chút, bây giờ thì nước mẹ gì nữa mà súng với ống. Đù mẹ dẹp cha nó đi, cút xuống dưới nhà cho yên chuyện. Tao lo thân tao được rồi. Đù mẹ toàn là đồ ăn hại!
Quát tháo vậy nhưng trong lòng Frank Nitti cũng chỉ nghĩ đến cây Smith & Wesson đang kề sát màng tang nó. Nó biết Gary Malone không khùng đến độ phải nổ bậy ra đây nhưng chỉ sợ đàn em sơ xẩy, phản ứng bậy bạ thì đời nó tiêu.
Khi nhìn lui thấy đám đàn em của Frank Nitti đã rút hết, tụ tập đứng thành một nhóm phía dưới ngó lên, Gary Malone mới từ từ hạ cây súng:
– Coi được, mày cũng là thằng biết điều. Để tao lập lại, như đã nói, tao có chút chuyện “cảnh sát” muốn bàn riêng với ông đại úy Mike Casey đây thôi, không dính dáng gì đến mày, nên cứ ngồi yên. Xin lỗi vì tao phải chĩa súng vô màng tang mày. Cái …tật tao xưa nay như vậy nó quen rồi. Mày thông cảm. Tao không lanh vậy làm sao sống nổi đến ngày hôm nay?
Trước hai cặp mắt còn kinh ngạc của Frank Nitti và Mike Casey, Gary Malone đút cây rouleau vô thắt lưng, lùi bước, rồi kéo một cái ghế ngồi giữa hai người, mắt vẫn không rời cây Colt .45 đang nằm tênh hênh trên bàn:
– Bây giờ mày có thể bảo mọi người trở về chỗ để ăn uống như thường được rồi. Mày thấy không, tao cũng là dân biết điều như mày mà, đâu muốn làm tụi mày thiệt hại làm chi. Ê! Uy tín của The Red Horse ở Chicago này ai không biết? Biểu cái đám an ninh ăn hại của mày cút cha nó luôn đi. Tụi này mà làm việc dưới quyền tao là tao đuổi cổ mẹ nó đi hết. Đúng như mày nói, toàn là một thứ ăn hại.
Frank Nitti tức muốn hộc máu ra. Thằng này quả là đáng sợ. Ngang nhiên xông vào đại bản doanh của người khác như chỗ không người, chĩa súng uy hiếp gia chủ rồi bây giờ còn lớn tiếng chê đám thủ hạ không biết làm việc thì thiên hạ chỉ có một không hai. Mà nó vừa nói vừa cười cười nghe muốn lộn gan lên đầu. Frank Nitti liếc nhìn cây Colt .45 của mình còn một viên đạn trong cơ bẩm, để trên quầy rất vừa tầm tay. Nhưng nhiều kinh nghiệm như thằng cớm này chắc chắn nó phải biết dù không còn băng đạn, súng vẫn còn một viên trong cơ bẩm. Biết vậy thì chắc nó phải đề phòng. Hay nó tính âm mưu cái gì đây? Thôi thì bây giờ cứ nghe lời nó cái đã, chút nữa hẵn hay. Frank Nitti ngoắc tay gọi thằng trưởng ban nhạc tới, nhắn nhủ mấy điều:
– Không có chuyện gì đâu. Cho nhạc lên đi, bảo mấy thằng an ninh rút hết, khách khứa biểu họ về chỗ cũ, tiếp tục ăn chơi cho thoải mái đi. Lẹ lẹ lên.
Thằng nhạc trưởng rút lui. Chỉ một lúc sau là tiếng kèn, tiếng trống, tiếng đờn lại nổi lên. Khách khứa ăn nói, đùa giỡn nhộn nhịp như cũ.
Frank Nitte lại liếc nhìn cây Colt .45 nằm chình ình rất là cám dỗ. Chỉ còn một viên thôi nhưng bắn hay như nó thì đâu cần tới viên thứ hai. Chỉ một tiếng “oành” thôi là cái gáo dừa thằng cảnh sát chó đẻ này sẽ nát ra như cám.
Những ý nghĩ trong đầu Frank Nitti làm sao qua khỏi được cặp mắt tinh đời của Gary Malone. Hắn chụp cây Colt .45, kéo cơ bẩm. Viên đạn văng ra ngoài. Gary Malone ngắm nghía cây Colt .45 nơi tay:
– Đeo súng có giấy phép không mày? Đù mẹ cơ bẩm sao nhẹ quá trời, chắc là cái lò xo hoàn lực đã bị “thiến” đi mất một khúc để bóp cò cho nó chính xác phải không? Làm sao qua mắt tao được. Hỏi thiệt, mày đã bắn chết mấy thằng với cây súng này?
Frank Nitti lầm lì ngồi im. Không nói cũng không thèm ngước mặt nhìn Gary Malone. Nó chỉ sợ nếu nhìn thấy cái mặt thằng cớm này lẫn nữa, sẽ không nhịn được bèn nhào tới ăn thua đủ thì sẽ có chuyện lớn. Đụng độ có thể xảy ra bất kỳ ở đâu nhưng không thể ngay tại The Red Horse sang trọng này được. Chỉ thị của xếp Al Capone đã rõ ràng: “The Red Horse là đất bất khả xâm phạm”. Hơn nữa, xếp đã có lệnh là không được động đến lông chân nó mà.Thế này thì rút lui là thượng sách.
Frank Nitti vừa tính đứng lên thì một bàn tay của Gary Malone đã chụp cứng bắp đùi nó:
– Đi đâu giờ này? Mà ai cho mày đi? Ngồi đây lát tao có chút chuyện nhờ.
Cực chẳng đã, Frank Nitti lại ngồi xuống như cũ. Gary Malone để cây Colt .45 trên mặt bàn, đẩy về phía nó:
– Của mày đó cất đi. Tao sẽ nhờ mày một chuyện.
Frank Nitti chụp cây súng nhét vô bao, vẫn lầm lì không thèm nói một câu. Bây giờ trên quày rượu là 3 người ngồi với nhau, coi rất là an lành, không ai có thể ngờ được là một cuộc tàn sát đã suýt xảy ra chỉ cách đây mấy phút đồng hồ.
Lão Mike Casey lấy lại được bình tĩnh, nãy giờ mới nói được câu đầu tiên:
– Gary, mày vừa ăn cướp trắng trợn. Đưa cái phong bì lại cho tao.
Gary Malone mắt vẫn không rời thằng Frank Nitti, đáp trống không:
-Ông muốn lấy lại hả, được. Nhưng ông phải cho tôi biết trong cái phong bì này đựng những gì?
Mike Casey gầm lên:
– Đựng gì là chuyện riêng của tao. Mày đừng quên là mày vừa phạm tội ăn cướp, tao có thể lôi mày ra tòa…
Mọi sinh hoạt trong nhà hàng đã trở lại bình thường. Đám lâu la của Frank Nitti cũng rút đâu mất tiêu. Gary Malone vẫy tay gọi thằng bồi, kêu 3 ly “double” rồi mới từ tốn nói với Mike Casey:
– Ông cứ việc lôi tôi ra tòa. Bằng chứng còn đây. Ở tòa án, cả Chicago sẽ nhìn thấy trong cái bì thơ này đựng những gì.
Mike Casey kẹt cứng. Không thể dùng vũ lực để lấy lại cái phong bì, mà làm lớn ra thì mình là kẻ bị thiệt thòi nhất. Trong một giây suy nghĩ, lão thấy chỉ có một giải pháp hay nhất để giải quyết vụ này là …giết mẹ nó thằng cớm mất dạy đang ngồi vênh váo trước mặt mình. Nhưng ai sẽ giết? Chắc chắn lão không dám nghĩ đến chuyện chính mình sẽ làm. Chỉ có bọn Capone mới làm được chuyện này.
Thằng bồi đặt mâm lên bàn, nhấc ra 3 ly rượu. Gary Malone đưa nó tờ giấy bạc 10 đô la:
– Đây là tiền buộc boa riêng của mày. Tiền rượu tính hết cho “đại ca” Frank Nitti!
Gary Malone lịch sự đẩy cho Mike Casey một ly rượu:
– Uống đi, lát nữa còn nhiều màn ngoạn mục.
Gary Malone thò thay móc cái phong bì thảy trên mặt bàn. Mike Casey tính chụp lấy nhưng Gary Malone đã kèm cứng cánh tay hắn:
– Đâu có được. Ít nhất ông cũng phải nói tôi cho tôi biết trong phong bì này đựng cái gì.
– Tao đã nói rồi, đựng cái gì là chuyện riêng của tao, đừng có lôi thôi.
Tuy nói cứng nhưng Mike Casey cũng từ từ xuội cánh tay. Gary Malone cười gằn, làm một hơi cạn nửa ly rượu:
– Tôi có đề nghị hay hơn, khỏi kẹt ông mà cũng khỏi kẹt tôi.
– Đề nghị gì?
– Ông trả cái bì thơ này lại cho thằng Frank Nitti rồi về hủy bỏ cái lệnh thuyên chuyển của tôi đi, tôi sẽ quên chuyện này.
Mike Casey giãy nãy lên phản đối:
– Đâu có được. Cái bì thơ này không có dính dáng gì đến chuyện thuyên chuyển của mày hết, đừng có bày đặt. Mày mà dám dở giọng côn đồ với tao à?
Gary Malone nhìn lão đại úy cảnh sát:
– Thật không? Cũng xin báo cho ông biết tôi đã ngồi ngay sau lưng ông từ lúc ông mới bước vào. Những gì ông và thằng Frank Nitti nói về tôi, làm sao tôi không nghe được?
Mike Casey cứng họng ngồi im. Gary Malone bỗng nổi giận:
– Đù mẹ đã đến nước này thì khỏi cần thắc mắc làm gì, để tôi coi thử trong phong bì này chứa con mẹ gì.
Gary Malone chụp cái phong bì xé toạc ra, rồi lật ngược, để mấy xấp bạc đổ xuống nằm dài trên bàn:
– Ít nhất phải là 5 ngàn, đúng không Frank?
Không ai trả lời. Gary Malone nắm gọn số bạc trong tay:
– Tùy ý ông đại úy. Tôi cho ông hai giải pháp để chọn lựa. Một là tôi có thể đem số bạc này đến ông biện lý Morgan ngay liền bây giờ để xin cái án lệnh truy tố ông, hai là ông phải trả số tiền này lại cho thằng Frank Nitti, tôi sẽ quên hết mọi chuyện. Dĩ nhiên, ngày mai tôi cũng vẫn …đi gác đường như thường.
Mike Casey không biết ăn nói làm sao. Đối với Gary Malone, hắn ghét cái màn kèn kựa mất thì giờ, bèn đứng dậy, nhét mớ bạc vào túi:
– Tôi không có thì giờ ngồi đây kèn cựa như đàn bà. Tôi đi đây. Tới nhà ông biện lý mà trễ quá tôi sợ phá mất giấc ngủ của ổng.
Mike Casey giật mình níu tay hắn lại:
– Khoan khoan, Gary. Anh em không, làm gì mà nóng quá vậy, ngồi xuống đây chút đã.
– Ông đổi ý?
Mike Casey trả lời rất nhỏ, giọng mệt mỏi, đủ để cho Gary Malone nghe:
– Thôi quên chuyện này đi. Ngày mai anh trở về nhiệm vụ cũ.
Gary Malone gật đầu tỏ dấu hài lòng. Hắn ngồi xuống, móc xấp giấy bạc thảy lên bàn, nhìn Frank Nitti:
– Tiền của mày đây thằng chó đẻ. Cầm lấy đi.
Frank Nitti nhìn Mike Casey chờ phản ứng. Lão cảnh sát gật đầu chán nản. Đúng ra, ngay từ lúc nhìn thấy Gary Malone, Frank Nitti đã biết mọi chuyện coi như hỏng. Trông chờ gì được nơi thằng cảnh sát già khiếp nhược này. Nó bây giờ mới hiểu ra tại sao Chicago này với 5000 nhân viên cảnh sát mà bọn ăn cướp như nó vẫn tung hoành như chỗ không người. Hạng cảnh sát như Mike Casey thì mạng của mình giữ còn chưa xong, nói gì đến luật pháp. Frank Nitti thò tay gom bó bạc cất vào túi. Gary Malone nhìn nó nói luôn:
– Tao cũng quên nói cho mày biết là tao tạm giữ lại năm tờ giấy trăm để trả chi phí cho …tao đã mắc công tới đây.
Frank Nitti nhún vai. Nó lấy 5 tờ trăm chứ 10 tờ trăm thì mình cũng chỉ biết ngồi cười trừ.
Gary Malone nốc cạn ly rượu, đứng lên, vỗ vai thằng mafia lừng danh nghe đánh bốp một tiếng:
– Tao dọt nghe không thằng …chó đẻ. Đừng có giở trò này kia, đù mẹ tao trở lại là tao đốt rụi cái quán “con ngựa đỏ” này, cho nó thành ngựa rô ti luôn.
Frank Nitti tím mặt lại. Gary Malone quay sang ông cảnh sát, nói luôn:
– Ông có nhớ tôi nói chiều nay không? “Cờ vào tay ai người ấy phất.” Xem chừng cờ vừa tuột khỏi tay ông. Mà thôi, chúc ông một đêm nhậu nhẹt vui vẻ.
Mike Casey dương cặp mắt tóe lửa nhìn Gary Malone. Cứ coi như là mình thua một keo. Lần đầu tiên trong đời, lão bị thằng này phục kích ngay tại quán rượu. Mà nó phục kích đẹp quá, tang chứng rành rành, hết đường gỡ. Cái đau nhất không phải là vì lão không “giam” thằng này được trong ty mà uy tín của lão với tụi Al Capone coi như bị tiêu tan trước sự chứng kiến của thằng đầu trâu mặt ngựa.
Lão hất đầu rồi quay đi chỗ khác, tránh tia nhìn xấc xược của Gary Malone.
Trong lòng, lão suy nghĩ ráo riết để tìm một kế hoạch mới.
Gary Malone, rất đẹp trai trong bộ đồ dân sự may cắt đúng thời trang nên coi chẳng khác một tay chơi thượng thặng của Chicago, tà tà rảo bước. Frank Nitti nhìn theo, bất chợt nó cảm thấy thằng cớm này quả là một địch thủ đáng ngại, hơn xa nó về mọi phương diện. Từ cách ăn nói, cách hành động, cách đi đứng, cho đến sự lì lợm và mưu kế. Chờ cho Gary Malone khuất bóng, Mike Casey hỏi Frank Nitti:
– Chú em nghĩ sao?
– Sao mẹ gì. Kế hoạch của xếp coi như không thi hành được rồi.
– Tao có một ý kiến này.
– Gì?
– Cho nó mặc sơ mi gỗ là yên hết mọi chuyện. Nó là thằng bướng bỉnh cuối cùng còn lại của Chicago.
Frank Nitti chán nản lắc đầu, mồi một điếu thuốc:
– Lệnh của xếp phải để nó sống?
– Để nó sống? Lệnh gì kỳ quặc vậy?
– Xếp muốn xài thằng này. Xếp nghĩ một ngày nào đó nó sẽ về đầu quân với xếp.Mike Casey tuy biết rằng Gary Malone không phải là cái hạng đi bán thân cho quỷ nhưng ai biết được? Đời đổi thay mà. Suy tư và tính toán của tuổi trẻ thường ít khi giống tuổi già. Vì ở tuổi già, người ta cảm thấy mình yếu đuối hơn sau khi đã tiêu hết cái số vốn quý giá là thời gian. Thằng Gary Malone mà về với Al Capone thì không những chỉ Chicago thôi mà cả nước Mỹ này sẽ loạn. Cái tai hại gần nhất mà lão thấy là số lương tháng thứ hai mà lão đang hưởng của Al Capone có thể bị thuyên giảm hay không chừng dám mất luôn. Gary Malone và Mike Casey là hai thái cực đối chọi nhau tuy ngày xưa cả hai có thời là bạn bè thân thiết. Lão có ý định giết Gary Malone.
Mike Casey làm hết ly rượu. Tối nay uống cái gì vô cũng thấy đắng quá chừng. Lão chùi miệng:
– Mày nghĩ thằng Gary Malone sẽ có ngày cộng tác với xếp Al Capone?
– Không bao giờ.
– Tại sao?
– Không biết. Không thể giải thích được, mỗi người có một cái trực giác khác nhau. Nó sẽ không bao giờ trở thành một mafioso hết.
Mike Casey cố tố thêm một câu vớt vát:
– Đã biết nó như vậy mà không lo diệt trừ sớm, e sau này có hối cũng không kịp.
Frank Nitti lắc đầu:
– Xếp có bộ óc riêng của xếp, tôi không nói được.
– Mày đừng lo, một ngày nào đó xếp của mày sẽ nhận ra cái lỗi lầm của mình.
– Ngày đó chính tôi sẽ kề cây Colt .45 vào họng nó bóp cò.
Tối đó, lão Mike Casey ở lại The Red Horse cho đến 2 giờ sáng mới chệnh choạng bước ra. Trên đường về, lão nôn ọe tùm lum trên xe…
Ra khỏi quán nước, lòng Eliot Ness cảm thấy héo hon như một cánh hoa trước gió. Cái làm cho chàng buồn nhất là mình đã không đủ tài hay sức hấp dẫn để “kéo” được một người như Gary Malone. Điều này chứng tỏ mình cũng không ngon lành lắm như mình thường nghĩ. Chưa bao giờ có ai nói “không” được với Eliot Ness. Thường thì người ta tự tìm đến chàng trước.
Bài toán hình học trong đầu chàng lại cứ xoay quanh cái trục Gary Malone. Nếu hắn chịu nhận lời, dưới sự quan sát tinh tế của Eliot Ness, chàng sẽ đủ sức bứng Capone. Bứng bằng cách nào và mất bao nhiêu lâu thì chưa biết nhưng chàng có thể nói chắc như đinh đóng cột rằng nó sẽ bị bứng.
Nhưng, đến giờ phút này thì mọi chuyện coi như đã quá trễ. Chàng đã tuyên bố với hắn là sẽ không cần hắn nữa thì làm sao có thể sửa lời nói? Vừa bước đi Eliot Ness vừa giận mình đã không kềm được cơn nóng.
Chàng mồi một điếu thuốc, chép miệng: “Con người có sức chịu đựng của nó. Không thể nào làm khác hơn được. Nếu mất Gary Malone thì đành chịu vậy chứ biết sao!”
Trời sinh ra Eliot Ness có một cá tính hay, là buồn hoặc lo về vấn đề gì, chàng không bao giờ để nó kéo dài. Chỉ trong mười phút, hình ảnh Gary Malone biến mất trong trí chàng. Eliot Ness thọc hai tay vào túi quần, tự nói với lòng mình: “Phải tiến hành kế hoạch như đã dự trù. Dù có Gary Malone hay không”.
Eliot Ness lên xe, phóng về nơi may cắt nổi tiếng nhất của Chicago. Đậu xe xong, chàng tà tà thả bộ trên phố như dân phong lưu chính hiệu. Chọn một tiệm may cắt sang trọng, Eliot Ness bước vào. Chàng bảo thợ cắt cho chàng hai bộ đồ thật chiến, và lựa mua một đôi giày cá sấu giá trên trăm đô.
Người thợ đo quần áo cho Eliot Ness đã nhìn thấy chàng khi chàng vừa mới bước vào. Hắn nhíu mày cố nhớ xem đã gặp chàng ở đâu vì thấy quen quen. Một khách hàng cũ lâu năm chăng? Vô lý. Ăn mặc rẻ tiền kiểu này thì ông khách đâu phải là dân thường trực ở đây? Hay đã gặp chàng ở một dạ hội khiêu vũ nào đó? Có thể lắm nhưng lần cuối cùng hắn đi dạ hội khiêu vũ cách đây gần năm, còn khuôn mặt này dường như mới gặp đâu đây, có thể không tới một tuần. Mà dòm cho kỹ, tướng ông này mặt mày coi rất bảnh, cử chỉ khoan thai hoà nhã đúng điệu con nhà quí phái, chỉ kẹt là bộ quần áo và đôi giày thì …nghèo quá, chắc phải xuất thân là công chức nhà nước. Ăn mặc thế này có thể loè ai chứ sao lừa dân thợ may được?
Hắn suy nghĩ một lúc nhưng không tìm ra câu trả lời, đành lắc đầu, tự an ủi mình rằng chuyện không quan trọng thì không cần phải moi óc, nhớ cho ra.
Những thắc mắc trong đầu gã thợ may làm sao qua khỏi được cắp mắt thiện nghệ của chàng cảnh sát đặc vụ Eliot Ness? Lúc nãy vừa bước vào, chàng đã nhìn thấy tờ Chicago News với tấm hình của mình nằm trên bàn tiếp khách. Lại nằm ngửa tênh hênh ra, mới chết. Bước qua bàn, chàng lẹ tay lật úp tờ báo xuống.
Eliot Ness không sợ mắc cỡ nhưng nhiệm vụ chàng sắp làm rất bí mật, chàng muốn giữ kín hành tung càng nhiều càng tốt.
Eliot Ness nói với gã thợ may:
– Tôi bị bệnh suyễn nặng, bác sĩ bắt phải luôn luôn mang theo một hộp thuốc trong người. Ông bạn làm ơn may thêm cho tôi một cái túi lớn nơi hông trái. Phải lớn một chút và tăng cường thêm vài sợi dây bằng ka ki cho chắc ăn, để lâu ngày khỏi trệ xuống.
Có gì khó đâu, gã thợ may gật đầu sốt sắng. Khách hàng của gã, nhiều đứa găng tơ cũng đòi hỏi những cái túi kỳ cục vậy. Nhưng trường hợp này thì khác. Ra là ông khách này coi khỏe mạnh vậy mà cũng bị bệnh tật à. Gã thợ may ghi lời yêu cầu vào tờ giấy.
Đo cắt đâu đó xong, khi tới quầy tính tiền, gã thợ may gói đôi giày đưa cho Eliot Ness:
– Xin cám ơn ông, xin lỗi ông….
– Gọi tôi là Killal. Đọc là Ki La.
A, tay này chắc phải đến từ miền Trung Đông. Hèn gì. Gã thợ may rút cây viết máy:
– Xin ông Ki La cho biết địa chỉ để chúng tôi cho người mang đồ đến thử…
Eliot Ness xua tay:
– Tôi đang ở khách sạn, lại sắp sửa đổi chỗ nên không có địa chỉ nhất định. Mà khỏi thử mắc công. Tôi tin tài của ông mà. Chừng nào xong tôi đến lấy.Gần hai mươi năm trong nghề, gã thợ may đã gặp nhiều khách hàng kỳ lạ. Đây cũng là một ông khách kỳ lạ nữa. Bỏ ra gần 500 đô la để đóng mấy bộ đồ vét thượng thặng mà không thèm đến thử thì quả là hạng hoặc là gàn hoặc là không biết cách xài tiền. Nhưng chẳng sao. Càng ít công việc thì càng lời nhiều chớ có gì lỗ lã đâu.
Gã đóng nắp cây bút máy:
– Nhưng thưa ông Ki La, bổn tiệm chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm nếu ông không thử quần áo trước…
Eliot Ness nhìn gã thợ may:
– Ông khỏi lo chuyện đó. Chừng nào tôi đến lấy được?
– Khách hàng …đặc biệt như ông, tuần sau đồ sẽ may xong.
Eliot Ness trả tiền, bước ra khỏi tiệm. Gã thợ may nói với theo:
– Chúc ông ngủ ngon tối nay, ông Ki-La.
Eliot Ness tà tà thả bộ dọc theo vỉa hè, chợt thấy buồn cười cho cái tên mình vừa đặt ra. Killal là chữ ráp của “Kill Al”, nghĩa là “Giết Al”, đúng ra phải đọc là “Kiu Eo”, nhưng chàng đã sửa đi cho bớt lộ liễu.
Cái tên thật là ý nghĩa và ngộ nghĩnh. Chàng rảo bước một vài vòng quanh phố rồi lên xe ra về. Ngày hôm qua và hôm nay là hai ngày dài, chàng cảm thấy cần về sớm để nghỉ ngơi. Những ngày tới, chàng biết sẽ dài hơn nhưng chắc chắn sẽ nhiều thú vị vô cùng…
Minh nhìn những người bạn ngồi quanh mình, chàng thấy ngường ngượng khi nhắc lại chuyện chàng nhờ vả Bình một câu chuyện mà bạn bè Minh thường mang ra riễu cợt, hạ sĩ Bình bỗng vỗ đùi:
– À à tao hiểu rồi, có phải chuyện mày nhờ tao kiếm giùm con vợ mày không?
Minh ngượng nhưng chàng cũng đành gật đầu.
Hạ sĩ Bình làm mặt buồn buồn:
– Tao thương cho mày.
– Cái gì hạ sĩ?
– Đáng lẽ mày đừng hỏi tao thì phải hơn.
– Có chuyện gì đó hạ sĩ? Hạ sĩ có tìm gặp vợ tôi không?
– Vợ mày đẹp lắm phải không? Minh gật đầu:
– Trông cũng được.
– Tao đã tính giấu mày.
Minh ngó thẳng vào mặt hạ sĩ Bình:
– Hạ sĩ có nói chơi không?
Những người bạn ngồi gần Minh bắt đầu khúc khích cười, hạ sĩ Bình giọng chán nản:
– Thôi mày quên đi là hơn.
– Quên đi, nhưng làm sao vậy chớ, hạ sĩ có tới cửa tiệm vợ tôi làm việc không?
– Thôi mày đừng hỏi tao nữa mày ơi.
– Tôi van hạ sĩ đó, có chuyện gì hạ sĩ nói đi, tôi nghe đây mà, tôi nóng lòng biết tin tức của vợ tôi.
Hạ sĩ Bình hỏi lại:
– Mày xa vợ mày bao lâu rồi?
– Khoảng một năm nay.
– Tao đâu cần đến tiệm vợ mày làm việc, nhưng tao thừa biết vợ mày đã lấy chồng khác rồi, bởi vậy tao không tìm làm chi mất công, thôi tao thành thật khuyên mày nên quên đi là hơn, đừng thèm nhớ tới con đàn bà ấy làm chi.
Minh thở phào, chàng hơi yên trí, anh chàng này không hề tới nơi Ngọc làm việc, anh ta chỉ nói hươu nói vượn, mặc các bạn muốn nói gì thì nói, Minh ngồi im, chàng chỉ nghĩ đến Ngọc thật nhiều, cả năm trời nay lúc nào chàng cũng chỉ nghĩ đến Ngọc, chàng cảm thấy Ngọc cũng luôn nghĩ đến chàng. Minh uể oải đứng dậy, chàng bỏ các bạn ngồi đấu láo, chàng đi quanh sân trại, chàng nghĩ đến lời nói của bạn, Ngọc còn trẻ rất có thể nàng có chồng, chàng đi biệt tăm biệt tích từ ngày ấy, chắc gì Ngọc đã đợi chàng, vả lại Minh không thể trách Ngọc được, nàng có quyền của nàng, tốt hơn hết Minh coi mối tình của nàng và Minh là kỷ niệm đẹp, chàng chẳng nên tìm Ngọc nữa làm gì cho mất công, không quên nàng nhưng không tìm kiếm nàng nữa.
Minh đã viết cho nàng nhiều lá thơ, nếu nàng còn ở chỗ cũ, nàng phải trả lời, hoặc nếu nàng chưa có người yêu khác.
Minh nghĩ đến những cuộc biểu tình nào đó mà hạ sĩ Bình vừa kể lại, tại sao lại có những chuyện kỳ cục vậy nhỉ? Chàng không biết những ông sư kia tranh đấu cái gì, chuyện đó đối với chàng cũng không có gì quan trọng, bây giờ chàng chỉ nghĩ đến mình, chàng mong muốn mình sống yên thân, chàng không quan tâm đến việc gì khác. Minh càng ngày càng trở nên ít nói, chàng cũng chẳng chơi thân với một người bạn nào, chàng cũng hiểu rằng trong một đơn vị chiến đấu, nay sống mai chết, không nên chơi thân với ai hết, chàng chỉ hơi ngậm ngùi khi thấy một người bạn nằm xuống, sau những cuộc hành quân, khi trở về Minh có tiền uống rượu với các bạn cho đỡ sầu, nhưng nhất định chàng không tìm một người bạn thân nào cho mình, chàng thấy không ích lợi gì khi có một người bạn thân. Những người bạn vẫn ngồi quanh hạ sĩ Bình, nghe câu chuyện, chúng cười nói um sùm. Minh quan sát những người bạn đó, ngày hôm nay họ có thề ngồi quanh quẩn đây nói chuyện, nhưng cũng có thể trong lát nữa, tiểu đoàn mở cuộc hành quân sẽ có một vài người nào đó trong bọn sẽ nằm xuống, nằm xuống một cách bình thản cho cuộc chiến tranh này. Bọn lính ồn ào đứng dậy, một thằng kêu Minh:
– Cù lần, mày đi chơi với chúng tao không?
Vì Minh ít nói ít cười nên các bạn Minh gọi chàng là cù lần. Minh chấp nhận cái tên đó không hề phản đối, chàng tới bên cạnh các bạn:
– Chúng mày đi đâu?
– Nhậu không?
– Nhậu thì nhậu.
– Góp tiền với hạ sĩ Bình đi.
– Bao nhiêu?
– Năm choạc.
Minh lấy tiền đưa cho hạ sĩ Bình, hạ sĩ Bình cầm một nắm tiền trong tay, anh ta vui vẻ:
– Mình nhậu soda Vĩnh Sanh Hòa, với lươn um nghen…
– Tùy hạ sĩ.
– Nếu có thể sau đó mỗi thằng mình làm một phi vụ, tao thấy thèm rồi, mẹ, chẳng thà nhịn thèm luôn, tại về phép làm ăn quá, nên bây giờ thằng nhỏ lại đòi hỏi nữa.
– Sau đó là tự lực tự cường, chớ?
– Dĩ nhiên, không lẽ mỗi thằng bây đưa tao năm chục mà còn đòi nữa, tao lãnh đủ sao?
Bọn lính hít hà:
– Dĩ nhiên là khoái rồi nhưng kẹt tiền quá.
Hạ sĩ Bình trả lời thẳng:
– Thằng nào có tiền thì cứ tự động chơi bời, thằng nào không có thì xin lỗi cứ treo chim.
Một thằng lính tán hạ sĩ Bình:
– Hạ sĩ cho tôi vay tiền đi.
– Tao tiền đâu mà cho mày vay? Hạ sĩ Bình hỏi Minh:
– Mày chơi bời không? Minh gật đầu:
– Chơi thì chơi.
– Góp tiền đi, xong xuôi tao cầm mớ tiền đại diện cho tụi bây trả cho.
– Khôn dữ.
– Tao ăn giải gì đâu mà tụi bây nói tao khôn?
– Làm bảnh, ra cái điều ta đây bao bọn lính ghẻ mà nói không khôn?
Hạ sĩ Bình há hốc miệng cười, anh chàng có vẻ tếu không chịu được, hạ sĩ Bình nhìn mấy thằng không có tiền góp, thương hại:
– Tụi bây không có tiền thiệt sao?
– Hết mẹ nó rồi. Hạ sĩ Bình đếm:
– Hai ba thằng chúng mày không có tiền, không lẽ tụi tao chơi bời để chúng mày ngồi ngoài thì thiệt, không còn gì là tình huynh đệ chỉ binh nữa để tao tính cho.
Hạ sĩ Bình hăng hái:
– Thôi đi tụi bay.
Cả bọn ào ào kéo đi, hạ sĩ Bình hướng dẫn anh em ra chợ quận, vào quán, mấy cô chiêu đãi son phấn tà tà đi tới. Hạ sĩ Bình vòng tay ôm lấy một cô, cô ta gỡ tay hạ sĩ Bình ra:
– Thôi chớ, mấy anh nhậu gì nào?
– Khoan nhậu, anh nhớ em quá trời mà.
– Vợ con đùm đề mà bày đặt. Hạ sĩ Bình bốc hốt gỡ gạc:
– Anh đâu có vợ mà có con, em muốn làm hạ sĩ phu nhân không?
Cô chiêu đãi bĩu môi:
– Anh làm như hạ sĩ của anh bảnh lắm ấy.
– Không bảnh hơn ai nhưng khối thằng không bằng anh, mấy thằng ngồi quanh đây đều là thuộc hạ của anh hết trơn.
Bọn lính ồn ào, mỗi thằng túm lấy một cô, chúng như một bọn giặc cướp lâu ngày không thấy đàn bà. Riêng Minh ngồi im lìm, chàng không nói năng gi hết, một cô đến cạnh Minh:
– Sao anh có vẻ buồn vậy anh? Minh ngẩng lên, cô bé mũm mĩm, cô ta giống Ngọc, chàng lại nghĩ đến
Ngọc, chàng vòng tay ôm cô ta:
– Em ngồi xuống đây với anh đi.
Cô chiêu đãi ngoan ngoãn ngồi xuống bên cạnh Minh, nàng mỉm cười với chàng.
– Em đút cho, mắc cỡ cái gì? Minh vui vẻ với nàng:
– Anh đâu có phải con nít mà em đút cho anh ăn.
– Em biết mà, nhưng em phải chìu anh, vì anh cực khổ nhiều rồi, về đây không lẽ anh không hưởng sung sướng gì sao?
– Anh cực gì đâu?
– Anh đi đánh trận hoài, gối đất nằm sương mà không cực sao?
– Ăn thua gì.
Bọn lính gọi bia rầm rầm, người thiếu nữ đứng dậy:
– Thôi, cho em vô làm đồ nhậu cho các anh tí xíu nhé.
Minh thấy vui:
– Lát nhớ ra với anh nhé?
– Em ra liền mà.
Nàng nháy mắt với Minh, quay vào trong. Bọn lính vẫn đấu láo, hạ sĩ Bình nheo mắt với Minh:
– Mày chịu con nhỏ đó không? Minh chỉ mỉm cười không nói gì, hạ sĩ Bình tiếp:
– Nếu mày chịu con nhỏ đó tao làm mối cho, tao uy tín ở quán này lắm mà.
Bọn lính cười ầm ĩ, hạ sĩ Bình la lên:
– Trong tất cả tụi bây, tao thương thằng Minh nhất, cái thằng gì đâu lúc nào cũng như thằng mất hồn.
– Nó nhớ vợ nó đấy hạ sĩ.
– Sức mấy mà nhớ, nó sắp quên ngay bây giờ.
Những chai bia 33 mang ra sắp đầy bàn, bọn lính uống ồn ào, những cô chiêu đãi viên lại trở ra, cô chiêu đãi viên của Minh bị một thằng ngồi ngoài túm lại, cô ta phản đối:
– Anh kỳ không, chồng người ta ngồi sờ sờ ra đấy mà…
– Em cưới thằng cù lần đó hồi nào?
– Cưới lúc nào anh hỏi làm chi?
Hạ sĩ Bình cười:
– Thôi trả vợ cho thằng cù lần đi mày, nó khóc bây giờ đó.
Thiếu nữ lần này ngồi ngay trong lòng Minh:
– Em hỏi thiệt anh nhé?
– Hỏi gì em?
– Em nghe nói anh chưa có vợ phải không?
– Có vợ nhưng vợ bỏ đi rồi.
– Tội không, người như anh mà bị vợ bỏ…
– Bỏ là bỏ đâu có oan như ai.
– Em mà có chồng như anh em cưng phải biết.
– Chắc không?
– Chắc chớ sao không, anh dễ thương.
– Anh đen đủi xấu xí lại cù lần nữa.
– Dạn dày sương gió thì xấu xí đen đủi chớ sao, nhưng em thương.
Minh cười. Người thiếu nữ cũng cười:
– Em nói thiệt mà. Minh thấy vui vui:
– Được, để khi nào anh xin cưới em.
Hạ sĩ Bình nói chơi:
– Thôi cưới luôn bây giờ cho được việc.
Người thiếu nữ lại cười:
– Anh làm ông mai nhé?
– Sẵn sàng mà, nhưng em tên gì?
– Em tên Lan.
Cả bọn đang ngồi nói chuyện vui vẻ, bỗng thấy một thằng lính chạy vào:
– Hạ sĩ Bình ơi?
Hạ sĩ Bình ngẩng lên:
– Chuyện gì vậy mày?
Thằng lính vừa đứng vừa thở:
– Về gấp, tất cả mọi người về gấp, lệnh của tiểu đoàn trưởng.
– Chuyện gì vậy?
– Hổng biết, chắc lệnh hành quân. Bọn lính đang nhậu nhẹt chửi như:
– Đù mẹ, mới hành quân đây lại hành quân nữa.
– Ai biết, nhưng tất cả có lệnh về, chúng nó về tập họp đầy đủ rồi.
Hạ sĩ Bình ra lệnh cho tên lính:
– Mày ngồi xuống đây làm với tao một chai đã.
– Không được đâu hạ sĩ, tôi còn phải đi tìm những thằng khác.
– Hôm nay mày chê nhậu hả?
– Không phải chê, nhưng tôi phải đi lo vụ này, chúng nó đi chơi khắp nơi, mệt muốn chết.
Hạ sĩ Bình xua tay:
– Ừ! thôi mày về trước đi.
– Hạ sĩ cho anh em về ngay nhé.
– Được rồi, mày cứ đi đi.
Thằng lính lại té ù chạy đi, hạ sĩ Bình chửi thề:
– Đù mẹ, chán thấy mẹ. Hạ sĩ Bình nhìn Lan:
– Thôi, em rán chờ người yêu em đi hành quân về rồi tính nghe?
Lan cười:
– Về phải cưới liền đó.
Hạ sĩ Bình quay sang Minh:
– Mày hứa không mày?
– Hứa chớ.
– Hứa mạnh dạn lên coi nào?
– Binh nhì Minh xin hứa mà Một thằng bạn Minh nói:
– Mày coi chừng, khi mày đi khỏi vợ mày ở nhà lấy dân vệ đấy mày.
Lan lườm gã:
– Thôi đi cha nội.
– Cái gì mà thôi?
– Anh nói bậy hoài.
– Thằng này đâu có nói bậy, chuyện đó xảy ra hoài mà.
Gã chỉ Minh:
– Chính thằng nầy từng bị mà, nó đi lính, vợ nó ở nhà lấy cảnh sát.
Lan hỏi:
– Bộ thật vậy sao anh?
– Thiệt mà.
Lan nựng cằm Minh:
– Còn em không có vậy đâu, em trung thành với anh.
– Tao không biết có được việc gì hay không, tội nghiệp ảnh là người hiền lành, tạo dám chắc rằng ảnh không làm chuyện gì bậy bạ.
Thủy kẻ bút chì lên mắt:
– Thời buổi này tai bay vạ gió biết sao được.
– Tao hy vọng ảnh được ra.
– Sống bằng hy vọng mà mày, tao cũng có một ông anh trai bỏ nhà ra đi mất tăm biệt tích tao không hiểu ông đi đâu nữa, có người nói ảnh đi theo Việt Cộng.
– Cũng có thể.
– Ba má tao mong lắm, dò tin tức ảnh khắp nơi mà tìm không ra.
Ngọc nằm quay lưng vào tường, nàng muốn nằm yên một mình trên căn gác nầy nàng không muốn nói chuyện với ai hết.
Thủy bỗng hỏi:
– Tối nay mày đi làm không? Ngọc lắc đầu:
– Tao mệt quá, thôi mày đi làm một mình đi.
Thủy ra mặc áo dài:
– Lát đi làm về tao mua gì cho mày không?
Ngọc quay mặt vào tường:
– Tùy, muốn mua gì thì mua, tao cũng không thiết ăn uống gì.
Ngọc nghe tiếng bước chân của người bạn mình bước xuống khỏi cầu thang. Ngọc giơ tay che miệng ngáp, nàng khép mắt lại, Ngọc ngầy ngật trong giấc ngủ chập chờn, đầu Ngọc nóng rần rần, cổ họng nàng khát khô, nàng hắt hơi, người gây gây lạnh.
Ngày hôm sau Ngọc bị sốt li bì, tới chiều Ngọc cố gượng ăn một chén cháo, nàng ngồi dậy hỏi Thủy:
– Mấy giờ rồi?
– Mày đi đâu?
– Tao phải tới chỗ hẹn bác làm đơn thuê.
Thủy sờ trán Ngọc:
– Mày nóng quá làm sao đi được. Ngọc chống tay xuống giường:
– Không, tao phải đi, tao nóng ruột quá, bác ta hẹn tao bữa nay mà.
Thủy đề nghị:
– Thôi để tao đưa mày đi vậy.
– Mày còn bận đi làm mà? Cứ mặc tao, tao cảm sơ sơ..
Ngọc gượng ngồi dậy, mặt nàng rầu rầu, mắt hoa lên nhưng nàng vẫn cố gắng tới chỗ hẹn. Nàng gặp gã làm đơn thuê:
– Công việc tôi bác lo xong chưa?
– Hơi có một chút ánh sáng rồi. Ngọc bực bội:
– Hơi có một chút ánh sáng là thế nào?
– Tôi có gởi đơn cho cô rồi.
– Sao bác nói biết kết quả ngay mà?
– Đúng, hôm qua tôi có nói vậy!
Nhưng hôm nay hết trăm bạc bao chúng nó uống cà phê, họ hẹn một vài ngày nữa mới lục hồ sơ được.
Ngọc càng bực bội:
– Vậy là thế nào?
Gã làm đơn thuê tỉnh khô:
– Hôm nay tôi cũng tính gặp cô, tôi cần phải nói với cô, việc nầy khó quá, nhưng bắt buộc tôi phải nói, nếu cô chịu tốn thêm ít tiền nữa.
– Tốn thêm ít tiền nữa chi vậy?
– Tốn cho ông xếp trong đó, tôi phải mời chính ông đi cà phê cà pháo.
Ngọc chóng mặt, nàng cáu kỉnh:
– Anh lắm lời quá.
– Ơ hay, tại sao cô lại biểu tôi lắm lời, tôi muốn được việc cho cô…
– Hôm qua anh nói làm sao?
– Nếu hôm qua tôi biết công việc khó khăn như vậy tôi đâu có nhận, ai dè…
Ngọc gay gắt:
– Vậy việc hôm qua coi như hỏng rồi phải không?
– Hỏng thì không hỏng, nếu cô ráng chờ ít hôm nữa, cô cần biết gấp cô phải tốn thêm tiền nữa đó là lẽ đương nhiên.
Ngọc nhìn thẳng vào mặt gã:
– Anh chỉ là một thằng làm tiền. Gã trợn mắt nhìn Ngọc:
– Cô nói sao?
– Anh chỉ là một thằng làm tiền bỉ ổi.
– Tôi cấm cô không được ăn nói bậy bạ.
– Tôi không nói bậy bạ, tôi nói thẳng vào mặt anh đó.
– Này, tôi nói cho cô biết cô ăn nói phải giữ lời.
– Tôi không cần giữ gìn gì hết với cái thứ lưu manh như anh…
Từ quán cà phê, Eliot Ness trở lại ty Cảnh sát vào lúc hơn mười giờ. Chàng lầm lũi đi thẳng vào văn phòng, cố tình phe lờ những cặp mắt tò mò đang “xoáy” vào mình. Có những cặp mắt tỏa ra vẻ thương hại, cũng có những cặp mắt đầy vẻ thỏa mãn. Không sao hết, cứ việc cười vui đi, vài tuần nữa là sẽ biết tay thằng Eliot Ness này.
Ngang văn phòng của lão mập Mike Casey, Eliot Ness ngạc nhiên vì hắn ta hôm nay đến sở hơi sớm hơn thường lệ. Mới chín giờ sáng mà đã có mặt là sớm rồi, mọi khi phải quá mười giờ lão mới lù đù tới.
Lão ngồi trong văn phòng nhìn ra, mặt đầy vẻ lo lắng. Eliot Ness cứ tà tà mở cửa văn phòng, thủng thẳng bước vào, điệu bộ nhàn nhã như tối hôm qua chẳng có gì xảy ra cả.
Vở kịch chàng đang đóng đâu có khó khăn gì? Làm một anh cớm chì mới là khó còn làm thằng cảnh sát gà mờ và cù lần thì ai làm chẳng được? Biết cái tính nóng như lửa của mình, chàng hiểu chuyện quan trọng nhất là phải rán giữ cho bình tĩnh.
Chỉ cần một chút nóng giận, một hành động thừa thãi là bọn cớm này sẽ nghi ngờ ngay.
Vừa kéo ghế ngồi, đã nghe tiếng gõ cửa. Lão mập Mike Casey chứ ai? Ra là lão qua đây để dò thử phản ứng của chàng đây mà. Eliot Ness đứng dậy, mặt mày hớn hở:
– Mike, ông bạn vào chơi!
Lão cảnh sát mập chưng hửng vì thái độ thân thiện của chàng. Mới tối hôm qua còn thấy thầy đội liên bang mắt ngầu đỏ, mặt lầm lì chừng như có thể giết người bất cứ lúc nào, tưởng hắn thế nào cũng nổi sùng vào đây kiếm chuyện lung tung nhưng khi nhìn thấy khuôn mặt Ness vui vẻ thì lão Mike Casey chới với liền. Thế này là thế nào?
Từ khi Eliot Ness về đây, lão ngửi thấy trong người chàng có một chất …ghét kỳ lạ tiết ra từ ánh mắt của chàng đối với lão. Cố gắng mấy lần, lão vẫn không thể tự nhiên được trước mặt ông cảnh sát liên bang, làm y như giữa hai người có một cái gì xa cách lắm. Mike Casey cười, cái mồm như toét ra chạy tới hai lỗ tai:
– Xin thành thật chia buồn với ông.
Tiên sư thằng đểu. Chia buồn mà tại sao lại toét miệng ra cười như thế kia? Eliot Ness thấy tim mình như quặn lại, hình ảnh thằng Stash Moses chết không toàn thây trên vũng máu lại ùa vào trí chàng. Chàng rán hết sức đóng trọn vở kịch, nụ cười trên môi nở ra như một cái máy:
– Có sao đâu. Tối hôm qua, đối với tôi như vậy là thành công lắm rồi. Tuy không lấy được gì nhưng cũng hù cho tụi nó được một mẻ.
Mike Casey càng ngạc nhiên hơn. Lão qua đây chuẩn bị để nghe những lời trách móc chửi rủa kìa, đâu phải những lời tự mãn vớ vẩn như vậy. Ra là anh cớm này cũng tầm thường đến như vậy sao? Mà sao tối qua hắn hứng tình gì lại chửi bới om sòm quá cỡ? Hay chắc là quê quá nên chửi bới cho nó bớt quê?Eliot Ness tiếp luôn:
– Ít nhất, tối qua tôi đã chửi cho thằng khốn Al Capone được một trận.
Mike Casey đẩy thêm câu phụ họa:
– Tôi đồng ý. Cái thứ ăn cướp như thằng Al Capone thì phải chửi cho nó …chết mẹ.
Kinh nghiệm của ngành điều tra gần mười năm qua dạy cho chàng một nguyên tắc căn bản: Giữa nghi vấn và sự thật là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Người thanh tra cảnh sát giỏi là người đem những nghi vấn, những dữ kiện mình nhận xét được để sắp xếp lại và tìm ra sự thật. Nhưng ngoài những nguyên tắc căn bản này, trực giác của con người cũng giữ một vai trò quan trọng không kém. Chả vì thế mà có những người thanh tra, vừa mới nghe báo cáo trong điện thoại xong là có thể đoán biết được vụ đang xảy ra là gì, trong khi kẻ khác thì tới nơi phạm trường, điều tra chụp hình lấy dấu tay loạn xị xà ngầu lên mà vẫn không biết gì là gì cả.
Eliot Ness là loại người vừa có tài điều tra, và vừa có một trực giác bén nhậy kỳ lạ. Những gì chàng đã nghi là y chang thế nào nó cũng xảy ra. Nhìn thằng cảnh sát mập đứng trước mặt, Eliot Ness dám cá trăm ăn một rằng đích thị thằng này là thủ phạm vụ xì hơi tối qua. Nhưng chuyện đâu còn đó, hãy coi như đây chỉ là một giả thuyết. Muốn biết giả thuyết của mình đúng hay trật không có gì khó, chỉ cần thử vài cú là trắng đen rõ ràng liền.
Eliot Ness chỉ chiếc ghế, thân mật:
– Mời ông ngồi.
Chàng rút dưới học tủ ra tấm bản đồ, trải dài trên bàn, làm bộ mặt nghiêm trọng:
– Tôi xin thành thật cám ơn về sự giúp đỡ của ông tối hôm qua. Trong tương lai, tôi sẽ còn mở nhiều cuộc hành quân như vậy nữa. Và dĩ nhiên, tôi sẽ cần đến sự giúp đỡ của ông. Ông có thấy gì phiền hà không?
– Chỗ đồng nghiệp với nhau, ông bạn đừng khách sáo, phiền hà con khỉ gì?
Mike Casey và Eliot Ness trao đổi vài câu chuyện bâng quơ. Lão mập thì một mực thủ thế, cố ý giấu nhẹm cái đuôi càng khéo càng tốt, trong khi Eliot Ness thì làm bộ ngây thơ, ăn nói ra cái điều ta đây chỉ là một anh cớm gà mờ.
Thật ra, kể từ lúc sáng, chàng đã có một quyết định quan trọng. Một quyết định mà nghĩ lại, chàng còn thấy lạnh mình: kể từ nay, nếu không kiếm được người do chính tay mình chọn lựa, chàng sẽ phải làm một mình. Đồng thời, phải làm sao cho chúng nó tin rằng chàng không phải là một đối thủ lợi hại. Được vậy, khi tấn công, chỉ cần ra quân là ăn chắc. Muốn biết những cái lò nấu rượu của chúng nó ư, có gì khó khăn đâu, chỉ cần cải trang thành một anh đi tìm hoa, chịu khó để ý thì sao lại không phăng ra được chỗ nấu rượu của chúng nó kìa?
Chàng đã có sẵn một kế hoạch để đưa nguyên cả đám cảnh sát Chicago vào xiếc. Để coi xem, giữa Eliot Ness và cái đám cảnh sát tham nhũng Chicago, ai khôn hơn ai, ai lợi hại hơn ai?
Đạt được mục đích chính của cuộc thăm viếng là dò xét sự nghi ngờ của ông cớm liên bang, Mike Casey thấy thỏa mãn. Quả là dân có tiếng mà không có miếng, mình cho nó vào xiếc mà nào nó có hay biết gì đâu? Thật tình, sáng nay lão có hơi lo lắng vô cùng khi nhớ đến chuyện Eliot Ness đòi còng tay người cảnh sát trực vào chân bàn giấy tối hôm nọ vì một chuyện cỏn con không đâu vào đâu. Theo sự suy luận của lão, ông cớm này không phải là thứ hiền. Mike Casey đã chuẩn bị sẵn hàng tá câu trả lời nếu bị hạch hỏi. Nhưng khi thấy Eliot Ness không có một chút phản ứng nào hết thì lão đã hơi yên dạ. Chừng nói chuyện với ông cớm này xong thì Mike Casey hả hê ra mặt. Tốt, vậy là không có gì đáng lo hết. Lão nói vài câu bâng quơ rồi kiếu từ.
Trong hành lang, Mike Casey bước những bước chân nhẹ nhàng, lòng như mở hội. Tin tức của một cuộc tấn công như vậy, Frank Nitti đã hứa với lão 500 đô la. Mike Casey nhìn thấy cái biệt thự ở ngoại ô Chicago mà lão muốn xây bấy lâu nay có cơ hội để thành tựu được.
Đã mấy năm nay lão có dành dụm chút ít nhưng cả hai số lương của Al Capone và lương nhà nước cộng lại cũng không dư bao nhiêu vì cái bệnh nghiền rượu của lão đã lên đến thời kỳ trầm trọng. Số lượng rượu tiêu thụ càng ngày càng nhiều mà thời buổi cấm rượu này biết kiếm đâu ra để uống. Cho nên cứ phải tới quày rượu của đám tụi Capone mà nốc. Một ly rượu 5 đô la chứ ít gì? Đi làm về ngày nào lão không ghé vô một quán để làm dăm ba ly. Phải nói năm ly là tối thiểu mới đúng. Vào những chiều thứ sáu, có khi hứng tình lão còn làm luôn nguyên chai rồi mới chịu đi về kia mà. Bởi vậy, tiền kiếm ra nhiều nhưng toàn là thứ “của thiên trả địa”, đâu có dành dụm bao nhiêu.
Sự xuất hiện của Eliot Ness đã làm cho số lợi tức của lão tăng lên bất ngờ. Lão tính, tràn đầy sức sống và …ngố như ông Ness này thì cứ trung bình mỗi tháng phải có hai vụ đột kích. Vậy là có ngàn bạc bỏ túi ngon lành. Lão chỉ cần nửa năm như vậy là có thể yên ổn về hưu với cái biệt thự mới toanh ở ngoại ô Chicago để sống cuộc đời nhàn nhã còn lại. Số lương hưu trí cộng với số tiền nhà cho mướn của lão đang ở đủ sức trang trải cho những chi tiêu của lão. Mà lão có chi tiêu và ăn uống phí phạm gì đâu? Hai ngày một chai Whisky là lão cảm thấy đầy đủ.
Bất giác, Mike Casey cảm thấy chịu ông cớm Eliot Ness này quá cỡ. Đúng là người từ trời rớt xuống để giúp lão. Cứ việc tấn công cho mạnh vào đi ông cớm, lão sẽ giúp ông tối đa.Lúc lão Mike Casey bước ra đóng cửa văn phòng, cặp mắt của Eliot Ness vẫn dán vào tấm bản đồ nhưng chàng để ý lão không thiếu một chi tiết. Ngay cả cái bản mặt vênh váo sung sướng kia tuy đã cố che đậy nhưng làm sao thoát khỏi cặp mắt của ông đệ nhất cớm? Chàng còn bắt được những nét hả hê bắn ra từ đôi mắt của lão phệ kia mà. Hãy để lão sung sướng với những suy tưởng của lão. Chàng nhớ đến một câu đã đọc trong sách: “Tuổi già là một con tàu đắm.”
Thật là một câu nói chí lý cho lúc này.
Đã đến giờ đi kiếm Gary Malone, Eliot Ness khoá cửa văn phòng đi xuống. Lại những cặp mắt nửa thương hại nửa hả hê của đám cảnh sát làm việc xoáy vào người chàng. Eliot Ness tỉnh queo bước thẳng. Ra tới cửa, chàng còn nói một câu pha trò với cô nữ cảnh sát đang ngồi đánh móng tay nơi bàn giấy.
Ra là anh cớm liên bang này cà chớn thật, mọi người nhìn theo, suy nghĩ.Eliot Ness phóng xe ra tới khúc đường hôm qua nơi Gary Malone đã biểu diễn quyền lực trước mắt chàng, kiếm một chỗ đậu hợp pháp rồi tà tà thả bộ dọc theo con đường. Chẳng cần phải tìm kiếm lâu, chàng nhìn thấy ông cớm hung hăng nhất của Chicago đang ngồi nhâm nhi ly cà phê trong một quán nước. Thế này là tuyệt, chàng bước vào quán.
Coi, hắn ngồi uống cà phê mà điệu bộ y như một pho tượng đá của chiến sĩ Hy lạp thời xưa. Cây dùi cui bóng loáng để trên mặt bàn, vừa tầm tay. Cái lưng hắn to lớn và thẳng băng như một cái tủ. Tay chân cũng có góc độ, phối hợp với cái tướng ngồi coi thấy nhàn nhã nhưng như lúc nào cũng sẵn sàng. Có lẽ đã nhìn thấy Eliot Ness từ đàng xa, nên khi chàng bước vào, hắn ngoắc tay ra dấu mời ngồi.
Tốt, té ra hắn cũng có chút cảm tình với mình. Eliot Ness sà tới, kéo ghế.
Gary Malone vẫn không nhìn chàng, mắt hướng ra đường, lạnh lùng ngó xa xa. Eliot Ness gợi chuyện:
– Khỏe không ông bạn Gary?
– Thường.
– Trời hôm nay đẹp đấy chứ hả?
Không có tiếng trả lời. Ông cớm này khó chịu thật. Eliot Ness quay gọi một ly cà phê, cố tìm một câu để đánh tan không khí lạnh lẽo này nhưng kiếm chưa ra.
Đột nhiên, Gary Malone hỏi chàng:
– Ông có còn giữ ý định mướn tôi về làm việc với ông không?
Eliot Ness không tin được lỗ tai mình. Chàng không ngờ mình thành công quá mau. Hắn đã chịu về đầu quân với mình rồi sao? Có lẽ cú đột kích hụt tối hôm qua làm hắn đổi ý. Thật là tuyệt vời. Tối nay sẽ bắt đầu soạn thảo kế hoạch mới với hắn.
Eliot Ness mừng quá, phải mất một vài giây đồng hồ sau mới hí hửng buông được câu hỏi:
– Gary, tôi luôn luôn muốn bạn về làm việc với tôi. Bạn biết là tôi…
Không để Eliot Ness nói hết câu, Gary Malone thò tay lấy tờ báo dưới ghế thảy lên bàn trước mặt Eliot Ness. Cái hình chụp của thằng Stash Mose chết thê thảm trên vũng máu làm chàng cứng họng, tim thắt lại. Đó là ấn bản buổi chiều của tờ Chicago Daily News.
Một sự im lặng kỳ lạ bao trùm hai người. Eliot Ness chụp tờ báo. Trên cái hình máu me bê bết đó là hàng tít: “Một cái chết bí mật có dính líu đến vụ đột kích của thanh tra Eliot Ness.”
Hình ảnh đau buồn lúc sáng một lần nữa lại hiện ra trong đầu chàng. Té ra nảy giờ hắn chỉ muốn mỉa mai về sự vụng về của mình. Eliot Ness cảm thấy như hắn vừa dội vào mặt chàng một thau nước.
Gary Malone vẫn bình thản nhìn ra đường, không nói không rằng. Một lúc sau, Eliot Ness lên tiếng nói bằng một giọng trầm trầm, rất từ từ:
– Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn về cái chết này. Lỗi của tôi!
Gary Malone cũng không thèm trả lời. Hắn mồi một điếu thuốc rồi tiếp tục ngồi nhìn ra đường tỉnh queo làm như không biết ông bạn Ness đang rối bời ruột gan ngồi trước mặt. Sự im lặng khó chịu lại bao quanh hai người. Hút gần nửa điếu thuốc, Gary Malone mới lên tiếng:
– Tôi biết ông đã cố gắng rất nhiều trong khả năng của ông. Cũng như tôi nói ông ngày hôm qua, tôi chưa thấy một ai đơn thương độc mã xuống đây mà diệt nổi thằng Capone. Thường thường thì là kết quả ngược, người đi diệt lại bị diệt. Cả ty Cảnh sát với gần 5000 nhân viên, cộng thêm gần 500 nhân viên cảnh sát đủ loại khác của chính phủ liên bang trong suốt mấy năm qua đã tìm mọi cách để dứt nó. Chưa ai làm được, hoặc là bị nó mua, hoặc là bị nó cho đi mò tôm. Ông phải biết, Al Capone không phải là một thứ anh chị tầm thường. Nó là một thiên tài, một nhà quân sự lỗi lạc, một kế hoạch gia nhiều mưu mô, một thứ Cesar của thế giới tội ác. Ngay cả tôi bây giờ…
Eliot Ness cắt ngang:
– Ngay cả ông bây giờ làm sao?
Gary Malone thở dài, dụi điếu thuốc:
– Ngày xưa, xưa lắm rồi, có một thời gian, nếu tôi muốn diệt nó thì cũng chẳng khó khăn gì. Bây giờ nó mạnh quá, như con đại bàng đã lớn, đã bay quá cao, không có thứ cung tên nào bắn tới hết.
Thực sự, những gì Gary Malone nói Eliot Ness đã nghĩ tới. Chẳng phải xuống Chicago mới nghĩ đến mà ngay từ lúc chàng nhận lãnh công tác chàng đã hiểu những khó khăn mình sẽ gặp phải. Hơn ai hết, chàng biết rõ giữa lý thuyết và thực hành là hai chuyện khác nhau xa. Nhưng trời thường sinh mỗi con người với một đức tính kỳ lạ, không ai giống ai. Đối với Eliot Ness, chàng thích sự mạo hiểm, thích khó khăn, thích sự thử thách.
Thì món tiêu khiển duy nhất của Eliot Ness chẳng phải trò leo núi là gì? Chưa có đỉnh một ngọn núi nào dù cao đến đâu mà chàng không thể leo được? Có nhiều khi mất cả tháng trời. Có nhiều ngọn mất cả mấy năm để chuẩn bị. Catherine rất buồn vì công chức nhà nước bận rộn suốt năm như chàng, chỉ có một tháng nghĩ hè mà không khi nào vợ và con gái được gần chồng. Mỗi lần leo lên đỉnh một ngọn núi, xài phí hết cả tháng nghỉ hè trở về, Eliot Ness đều hứa: “Năm sau anh sẽ đi tắm biển với mình và với con” nhưng chẳng có năm nào chàng giữ được lời hứa cả.
Ở những lần công tác trước, chàng đã làm được những chuyện mà nhiều người gọi là “impossible”. Mới đầu, vì thiếu kinh nghiệm, Eliot Ness thường hay bị thất bại nhưng chàng luôn luôn thành công ở giây phút cuối. Chàng tin chắc lần này kết quả cũng sẽ đến như vậy. Nhưng, vấn đề then chốt lúc này, ngọn núi nhỏ trước mặt cần phải vượt qua là Gary Malone.
Eliot Ness hỏi:
– Ông có ý kiến gì không?
– Tôi có nhiều ý kiến hay lắm, chỉ sợ ông buồn!
– Ông bạn cứ nói, tôi hứa sẽ không …buồn.
Gary nhìn thẳng vào mắt chàng:
– Ông nên lo giữ cái mạng của ông. Bây giờ ông chưa làm nó thiệt hại gì, nó còn để ông yên. Mai mốt, ông trở thành nguy hiểm, có thể gây thiệt hại cho nó được thì nó hoặc sẽ mua ông, hai là sẽ cho ông đi mò tôm. Đừng có tưởng cái mác “liên bang” là có giá ở đây!
Eliot Ness gật gù, mồi một điếu thuốc:
– Cám ơn sự chỉ dẫn của ông. Còn ý kiến thứ hai là gì?
– Ông nhất định không đi?
– Không, tôi sẽ ở lại nên muốn nghe lời khuyên thứ hai của ông?
Gary Malone làm một ngụm cà phê, thong thả:
– Ông nên dọt về Hoa Thịnh Đốn, xin tăng cường khoảng 1000 nhân viên. Nếu có dưới 500 thì đừng nói chuyện trở về đây dẹp tụi nó.
Eliot Ness lắc đầu, giọng bình thản nhưng quyết liệt:
-Tôi không chắc xin thêm được 2 người, nói gì chuyện 500 hay 1000. Ông có ý kiến thứ ba không?
Gary Malone cười:
– Ra ông cớm này cũng lì dữ. Ý kiến thứ ba là đi năn nỉ mượn đỡ 2 chiến đoàn TQLC và chừng chục chiếc xe tăng, tụi này có thể diệt được Capone.
Gary Malone chờ đợi một tiếng cười phụ họa, nhưng Eliot Ness đáp tỉnh queo:
– Không thể sử dụng TQLC được. Chuyện đó chỉ tổng thống mới có thẩm quyền. Còn ý kiến thứ tư?
Gary Malone nhún vai lắc đầu:
– Không có ý kiến thứ tư.
– Tôi có.
– Là gì, nói nghe thử?
Eliot Ness kề gần sát mặt Gary Malone, vừa nắm tay đập lên bàn, vừa gằn mạnh từng tiếng:
– Là ông về làm việc với tôi. Tôi và ông sẽ diệt được Capone. Tôi biết chắc như vậy!
Gary Malone bật cười lớn:
– Ông bạn cho tôi can. Hồi tối này ông bạn nổi sùng vì bị bọn nó lừa, ông bạn tuyên bố nghe ghê quá: “Tôi xuống đây là để diệt thằng Al Capone, để đưa nó vào nơi mà đáng lẽ nó phải ở: nhà tù”. Ông đã hứa diệt nó thì xin cứ tự nhiên, tại sao lại kéo tôi vào làm gì? Tôi có dính dáng gì tới việc của ông đâu? Còn nếu ông cảm thấy mình dại dột ăn nói lỡ lời thì đã sao? Ông chỉ cần gọi báo chí lại lần nữa để tuyên bố sửa sai là huề cả làng chớ gì. Xưa nay các chánh khách tuyên bố trật bậy bạ là chuyện thường mà…
Eliot Ness lại có cảm giác như ai vừa tạt thêm vào mặt mình một thùng nước nữa. Lần này không phải nước lạnh mà nước sôi. Trời hỡi, ai có ngờ thằng cớm này lại láo đến như vậy? Ra là hắn đánh giá mình thấp quá. Nếu không phải là chỗ đông người thì có lẽ chàng đã xông tới tặng cho hắn một cái tát vào mặt rồi muốn ra sao thì ra, nếu cần phải đánh lộn tay đôi cũng được.
Phải dùng hết nghị lực trong người, Eliot Ness mới giữ cho mình khỏi phải đập phá một cái gì.
Chàng thò tay móc gói thuốc lá. Cặp mắt sắc như dao của Gary Malone không bỏ lỡ một cữ chỉ nào của ông cớm liên bang.
Ở trường cảnh sát, người ta dạy chàng một điều là trong những cuộc thương lượng hay nói chuyện, nếu cơn giận bốc lên tới đỉnh đầu thì không nên nói gì cả. “Không bao giờ căng buồm khi trời đang bão”.
Phải chờ từ mười đến hai mươi giây đồng hồ trước khi mở miệng …đấu tiếp. Trong trường hợp như vậy, cách hay nhất là móc ra một điếu thuốc, vừa suy nghĩ lại những gì mình tính nói và vừa vừa chậm rãi mồi lửa. Nhiều khi, chỉ cần một hoặc hai hơi thuốc lá là thế sự có thể thay đổi. Cuộc thương thuyết đang đi từ chỗ tan vỡ đến chỗ thành công cũng chỉ trong hai chục giây đồng hồ ngắn ngủi này.
Quả thật, rít xong hai hơi thuốc lá, Eliot Ness thấy thần kinh mình dễ chịu trở lại. Chàng nhả khói ra một cách thoải mái:
– Tôi rất tiếc ông bạn đã hiểu lầm tôi. Tôi không phải là cái hạng nóng quá rồi nói bậy. Những gì tôi nói, tôi sẽ giữ lời. Tôi lập lại với ông: “Tôi xuống đây để diệt Capone.” Có 1000 nhân viên thì tốt, có TQLC thì tốt, nhưng nếu không có những thứ trên, tôi cũng sẽ diệt được nó như thường. Một là nó sẽ bị diệt, hai là tôi sẽ chết. Với nhiệm vụ được giao phó, tôi không còn chọn lựa nào khác hơn.
Chàng móc túi thảy 25 xu lên mặt bàn, nhã nhặn từ biệt:
– Phần ông, ông Gary Malone. Phải thú thật là ngay từ buổi đầu gặp gỡ, tôi rất quý ông vì thấy ông là con người thẳng thắng cương cường, lại có tài. Từ chỗ quý đó, tôi mới có ý định mời ông về làm việc với tôi. Nhưng kể từ sau ngày hôm nay, tôi sẽ không còn có ý định đó nữa. Bây giờ nếu ông đến xin làm việc chung với tôi, tôi cũng không nhận. Rất tiếc, ông Gary Malone.
Chàng xô ghế đứng dậy, nói lời cuối:
– Có ông hay không, tôi vẫn diệt được thằng chó đẻ Capone như thường. Chào ông!
Kể từ lúc nói xong đâm họng hồi nãy, Gary Malone đã biết là mình vừa thảy cha nội cảnh sát liên bang này vào thùng nước sôi. Hắn không ngờ cái ý tưởng trong đầu thì không có gì mà lời nói ra lại nặng như vậy.
Khi thấy cặp mắt Eliot Ness bốc lửa, Gary Malone cũng có cảm tưởng là Eliot Ness không chừng dám xông tới ăn thua đủ với mình một trận lắm. Mà phải công nhận hắn nhịn cũng hay. Cứ nhìn cái bàn tay của hắn móc điếu thuốc lá mà run bắn lên thế kia thì cơn giận phải ghê gớm lắm.
Gary Malone lại càng ngạc nhiên hơn về ý chí cương quyết của ông nội này. Khi hắn đã quyết định làm chuyện gì rồi thì dù có chết cũng không bỏ. Cớm liên bang quả có khác. Đến khi nghe Eliot Ness nói hắn quý mình thì Gary Malone cảm thấy hơi hối hận. Dù quen hay lạ, không nên đối xử với một người có cảm tình với mình như thế. Có lẽ, trong cuộc đời của Gary Malone, vì lăn lộn quá nhiều, chiến đấu quá nhiều nên cái lịch sự tối thiểu trong con người hắn mất đi chăng?
Khi Eliot Ness đứng dậy, Gary Malone tính nói một câu gì vuốt giận nhưng nghĩ không ra, đành ngồi im. Hắn cũng khỏi thèm biểu diễn cái màn bắt tay bắt chân làm gì.
Eliot Ness xoay người bước lui. Gary Malone nhìn theo cho đến khi Eliot Ness mất hút trong đám khách bộ hành ngược xuôi. Hắn cầm cây ma trắc vỗ vỗ nhịp nhàng vào tay mình, huýt gió một điệu nhạc và vươn người đứng lên.
Gary Malone cũng thảy 25 xu lên bàn rồi đội mũ kết bước ra. Tự nhiên, hắn lẩm bẩm: “Biết đâu chừng, thằng cớm ngông nghênh này sẽ dẹp được Al Capone?”
Vừa ra khỏi quán cà phê, như thường lệ, Gary Malone đảo mắt một vòng rồi tính cúi đầu đếm bước, nhưng có tiếng nói gọi giật hắn lại:
– Gary, trưởng phòng Mike Casey kêu ông về trình diện gấp…
Al Capone ít khi nào bước ra khỏi giường trước 12 giờ trưa. Đúng ra, xếp thức giấc sớm hơn một chút, vào khoảng 11 giờ sáng, nhưng tiêu tiểu xong là xếp lại phóng tót lên giường để đọc báo và ăn sáng.
Lúc này, ngày nào cũng như ngày nấy, trên cái mâm bằng bạc sáng loáng nhập cảng từ Pháp do gã cận vệ ruột lễ mễ dâng lên, là một chồng nhật báo của Chicago.
Nhật trình là món mà xếp ghiền nhất mỗi buổi sáng. Lãnh tụ gộc như xếp, không đọc báo không được. Xếp cần biết rõ tình hình của thế giới và tình hình của Chicago để tính toán kế hoạch làm ăn. Vừa phì phà điếu xì gà, xếp Al Capone vừa đọc lướt qua những tin quan trọng trong ngày.
Sáng hôm nay, vừa lướt một vòng nhìn qua mấy tờ nhật báo là xếp tự nhiên cau mày lại như hút phải một hơi xì gà rẻ tiền. Quái lạ, xưa nay làm sao có chuyện kỳ cục như thế này? Trên trang nhất mỗi tờ nhật trình là hình chụp một thằng cớm lạ hoắc, mặt mày coi cô hồn dữ tợn đang nghiến răng chửi rủa xếp. Nó còn dám hăm đưa mình vào tù nữa chớ.Xếp lẹ tay lật thêm vài tờ khác. Mỗi nhà báo đầu có một lối viết và diễn tả khác nhau nhưng tựu trung thì dòm đi đâu cũng thấy hình của thằng cớm cô hồn đang nghiến răng chửi rủa xếp đủ điều. Chừng như nhiêu đó chưa đủ làm cho xếp tá hỏa mặt mày, những lời chửi rủa rất thô lỗ kia còn được chúng nó in ra bằng những hàng chữ thật lớn, thật đậm nét. Nào là “Eliot Ness tuyên bố: Thằng khốn nạn đó sẽ vào tù, đó là nơi mà nó đáng lẽ phải ở cách đây hơn chục năm rồi, thay vì còn ngồi ăn hút ở đại khách sạn Lexington.”
Một câu chửi khác độc hơn, không biết của tên cớm chó má này hay mấy thằng nhà báo lại bịa chuyện: “Tôi muốn quý vị ghi rõ điều này: Tôi xuống đây để tiêu diệt Al Capone. I come here to get Capone. Nó sẽ bị tiêu diệt.”
Xếp lắc đầu hai ba cái một lúc. Điếu xì gà trên tay sao hôm nay thấy đắng quá chừng. Xếp quăng cái vèo vào tường, miệng xổ luôn một tràng dài toàn những tiếng chửi thề. ĐM mới sáng sớm đã có chuyện! Xếp không nhớ rõ lần cuối cùng mình bị người ta chửi nặng như vậy là lần nào? Có lẽ đã xưa, xưa lắm, cái thời mà xếp còn là một thằng ma cô chuyên đứng kiếm khách ở West Taylor Street cho “vua nhà thổ” Weiss…
Hình ảnh ghê rợn của cái thuở nghèo túng năm nào trở về trong đầu óc xếp. Khổ thật, vào sinh ra tử suốt ngày mà vẫn không đủ ăn. Nhiều khi, hớ hênh để một thằng khách làng chơi ăn quịt là khốn nạn với chủ. Ngày nọ, tranh chấp với một em giang hồ về mấy đồng tiền lẻ, ngứa tay xếp bợp cho em một cái ra gì. Cái bợp tai của dân anh chị tưởng nhẹ ai ngờ hóa ra mạnh quá, làm mặt mày con nhỏ xưng vếu lên, môi dập lại làm mấy nhúm. Nghề buôn son bán phấn mà mặt mũi như vậy thì chỉ còn nước nằm nhà mà khóc. Ma cô dợt điếm là chuyện thường, nhưng dợt mà có thương tích thì bị cấm tuyệt vì nó đụng tới nồi cơm của tất cả. Kẹt hơn nữa em bé bị đòn lại là bồ lẻ của ông chủ.
Weiss nghe tin, nổi trận lôi đình cho hai đàn em đi “dắt thằng mặt thẹo Al Capone lên đây!”
Lúc hai đứa cận vệ dẫn xếp về thì ông chủ Weiss đang ngồi ăn mì ống, uống la de. Xếp bị đẩy tới trước bàn. Thằng Weiss nhìn xếp như ông vua nhìn một thằng nô lệ hạng bét phạm tội nặng. Hắn chỉ mặt xếp tuôn ra một tràng:
– Al Capone, mày là một thằng mất dạy, khốn nạn. Tệ hơn nữa, mày là một đứa ăn hại. Tao đã ra công bao bọc, nuôi nấng mày, nhét thực phẩm vào miệng mày, may mặc cho mày. Tưởng rằng mày sẽ nhớ ơn, ai ngờ mày lại là một thứ vô tình, một thứ ngu dốt, một thứ vô lương tâm, một thứ hèn hạ để đến nỗi đi tranh giành mấy đồng bạc lẻ với mấy con điếm….Nếu xếp cứ đứng yên mà nghe như vậy thì nói chán, ông chủ Weiss thế nào cũng ngưng. Lâu lâu biễu diễn uy quyền của ông chủ nhà thổ một chút cho nó vui vậy thôi mà. Weiss biết Al Capone là một tay đánh đấm có hạng, nên cũng quý lắm.
Chẳng ngờ con người của Al Capone, từ lúc có trí khôn đến nay, đâu để cho ai chửi mình, dù người đó là …thượng đế. Bị nghe chửi đã kẹt, còn bị sỉ vả là thằng hèn, đi tranh giành mấy đồng bạc với mấy em điếm thì xếp tự nhiên thấy trong người nóng rang lên, hai lỗ tai lùng bùng. Những gì xảy ra sau đó hình như không phải đến từ trí óc của xếp nữa, mà bằng một phản ứng không biết đến từ đâu.
Thế là xếp xông tới, chụp cái dĩa mì ống đỏ lòm ụp lên đầu ông chủ. Xếp phản ứng lẹ quá, ngay cả hai thằng cận vệ của Weiss cũng không cản nổi. Đâu có ai ngờ một thằng ma cô hạng bét lại dám hành động điên khùng như vậy với ông chủ Weiss, ông vua nhà thổ đường Taylor.Weiss cũng ngạc nhiên vô cùng, cái miệng đang chửi bới liền ngưng lại rồi há hốc ra, cặp mắt tròn xoe như muốn lòi tròng, làm như không thể tin được những gì đang xảy ra.
Hai thằng cận vệ của Weiss nhào tới liền cấp kỳ, đứa móc từ dưới lên, đứa nện từ trên xuống. Chỉ trong mấy phút đồng hồ, chúng nó đã dần con người xếp nhũn ra như một sợi …mì ống, máu me tùm lum. Hai đứa lại xốc nách xếp lên cho thằng Weiss.
Ông chủ bấy giờ mới hoàn hồn, lại chỉ mặt xếp tiếp tục mắng chửi cho một trận tơi bời. Chửi nhiều lắm nhưng xếp đâu còn tỉnh táo mà nghe nữa. Tai thì đầy những máu, môi miệng bầm dập sưng vếu lên, còn đầu óc xếp thì chỉ nghĩ đến việc băm cái xác thằng Weiss này ra làm trăm mảnh. Đâu có đứa nào làm nhục Al Capone mà thọ được lâu?
Vài tuần sau, chiếc limousine của thằng Weiss và hai đứa cận vệ đang đi ngon lành bỗng nổ ùm lên một cái, tan tành như xác pháo.
Kể từ ngày đó, cuộc đời xếp bỗng thăng thiên như diều và cũng không còn nhớ là có đứa nào còn dám kêu đích danh xếp ra mà chửi cho đến ngày hôm nay. Nhưng nhiều khi xếp tự hỏi, nếu lần đó xếp đã không bị lăng nhục thì cuộc đời xếp chưa chắc đã được vinh hiển như ngày nay, và có thể đến bây giờ cao lắm thì cũng lên được chức “chủ nhà thổ” khiêm nhường nào đó ở Chicago…
Phải, như chuyện trên trời rớt xuống, tự nhiên xếp bị một thằng cảnh sát nhải con ở đâu không biết lù lù về đây réo tên xếp ra mà chửi tơi bời hoa lá. Mà sao lại có báo chí bu đông quá cỡ vậy? Phải có cái chuyện gì xảy ra mới được. Đã lâu rồi, vì cần tập trung thì giờ và sức lực để bành trướng “đế quốc Al Capone”, mọi chuyện lặt vặt xếp đều giao khoán luôn cho thằng Frank Nitti, để nó toàn quyền quyết định. Nhất định xếp phải hỏi cho ra lẽ.
Xếp Al Capone nhảy xuống khỏi giường, quát nhặng lên:
– Gọi thằng Frank Nitti lên đây. Nói nó lên liền lập tức.Hai thằng cận vệ ruột dạ ran lên một tiếng rồi lủi nhanh. Ít khi nào chúng nó thấy xếp mới sáng sớm mà đã cáu như vậy. Lập tức, ba bốn thằng khác từ ngoài nhảy vào để trám chỗ cho hai thằng nọ để hầu hạ xếp. Chúng chia nhau đứa lấy áo khoác, đứa xách đôi giày…
Cái mâm bạc thứ hai đựng thức ăn sáng được đưa lên. Xếp chỉ nếm một miếng rồi phun ra cái “phẹt” xuống mâm, bảo đem đi gấp gấp. Đầu óc lúc này đang căng thẳng, chẳng ăn uống gì được. Xếp lại giở tới giở lui mấy tờ báo.
Mặt thằng cớm này coi kỹ thấy cũng điển trai đấy chớ. Cái hàm bành ra thế kia thì chắc phải là người dân gốc Na Uy. Mẹ kiếp, xưa nay hải tặc Viking nổi tiếng thế giới mà. Con cháu dân hải tặc có khác.
Xếp rán đọc hết một bài, càng đọc càng thấy bớt giận đi. À thì ra là tối hôm qua nó tổ chức đi đột kích một kho chứa rượu của mình và bị Frank Nitti cho vào xiếc. Thật là tuyệt. Té ra không có mình, thằng Frank Nitti giải quyết cũng hay. Hơn một triệu đô la rượu chứ ít à? Tấn công hụt, thằng cớm chó chết này quê quá, bèn họp báo chửi bới om sòm cho đã cơn tức.
Cơn giận tự dưng biến mất. Xếp bật cười lên một mình. Kể cũng lạ. Xưa nay cảnh sát đi hành quân, nếu vồ hụt con mồi thì lẳng lặng khăn gói về nhà kín đáo như mèo đi giấu cứt, đâu có cái màn chửi bới như thế này. Thằng cớm còn thú tội: “Tôi đã bị lừa như đứa con nít, cuộc hành quân này thất bại hoàn toàn do lỗi của tôi” thì quả thật Chicago xưa nay chưa bao giờ có.
Xếp mặc xong bộ đồ lớn thì thằng Frank Nitti dẫn xác vào. Ủa, thằng phụ tá mặt mày hôm nay coi sao thấy rầu rĩ quá chừng. Tối qua mới thành công lớn mà sao hôm nay mặt mày như đang đi đưa đám ma? Xếp nhìn nó thắc mắc:
– Mặt mũi của chú mày sáng nay làm sao vậy?
Frank Nitti lắc đầu:
– Chiếc Cadilac mới tinh của tôi hôm qua tôi …đốt rồi.
Xếp giật mình:
– Mày nói chuyện giỡn, tao thấy mày cưng cái xe đó hơn mọi thứ trên đời này, sao lại đốt?
– Đốt chứ để làm gì? Tôi còn đập cho thằng tài xế một trận ra gì, bẻ gãy cha nó luôn cái cánh tay, oánh bể mấy cái ba sườn, phải chở nó vô nhà thương. Thứ đàn em vô dụng như vậy chẳng thà đừng có.
– Nó làm gì?
– Hôm qua tôi dắt con đào đi shopping, giao cho nó đậu xe ở ngoài chờ. Mới vô có mấy tiếng đồng hồ, lúc trở ra thì chiếc xe bị đập nát hết năm cái cửa kiếng, lại còn móp méo tùm lum. Tôi giận quá, mở nắp thùng xăng thảy vô đó một mồi lửa. Mua chiếc khác, đẹp hơn.
Xếp Al Capone nhíu mày:
– Ngay giữa Chicago, thằng khùng nào mà dám chơi ngon vậy?
– Cảnh sát. Nhưng cả đám cảnh sát Chicago, chỉ có một thằng dám chơi như vậy thôi, xếp biết nó là ai rồi.
– Gary Malone!
Lần thứ hai kể từ khi thức giấc sáng nay, xếp muốn nhảy nhỏm người lên vì một cái tên khác: Gary Malone! Giới giang Chicago ở cuối thập niên 1910 đâu có ai lạ gì với cái tên “Bàn tay thép Malone”.
Theo xếp, thằng Gary Malone này trời sinh ra để làm …ăn cướp đúng hơn là đi làm cảnh sát. Ngày xưa, lúc xếp còn là một tay giang hồ cắc ké ở khu Cecira, hễ ngày nào thiên hạ nghe tới tên “bàn tay thép” đi tuần trong khu vực là ngày đó cả khu phố trở nên vắng lặng và hiền hòa như một cái tu viện.
Ai cũng biết thầy đội Gary Malone không thích bị giỡn mặt. Con người Gary Malone có một lố huyền thoại vây quanh, ngay cả đến xếp cũng phải kính nễ. Cái làm cho thầy đội Gary Malone nổi bậc hơn hắn các cớm khác là thầy biết và dám sử dụng luật …giang hồ với bọn ăn cướp. Nếu thấy cần tha, dù có tội giết người với tang chứng rành rành trước mặt, thầy vẫn tỉnh bơ ngó đi chỗ khác. Nếu cần phải răn dạy, thầy sẵn sàng đập cho một trận sưng vếu mặt mày lên hoặc bẻ lọi tay lọi chân để cảnh cáo. Xếp còn nghe người ta đồn là chính tay Gary Malone đã dùng dùi cui đập chết tươi mấy thằng cứng đầu rồi quẳng xác xuống sông Chicago.
Xếp nhớ có lần, một em bé con nhà đàng hoàng bị bọn ma cô của cánh Weiss dụ dỗ lên Chicago mần ăn. Sau vài tuần, em tự nhiên bị mất tích, cả nhà liên lạc thế nào cũng không được. Ông bà thân sinh là chỗ quen biết của một Thượng Nghị sĩ Chicago, liền đến khóc lóc kể lại sự tình. Ông Thượng liền gọi phôn cho ông thị trưởng. Ngài thị trưởng biết thế lực chính trị của ông này, gật đầu lia lịa, hứa đích thân sẽ lo. Gác phôn lên là ông chạy như bay qua ty cảnh sát, bắt phải “làm sao lôi con bé đó về cho được.” Trưởng ty cảnh sát của Chicago là do thị trưởng chỉ định mà, nên hễ được giao công tác nào là phải hớn hở lo thi hành cấp kỳ, đâu dám trễ nãi? Thế là ông huy động lực lượng hùng hậu của cả ty cảnh sát, ngay chiều hôm đó tiền hô hậu ủng đi bố ráp khắp nơi. Liên tiếp mấy ngày sau nữa, hành quân bố ráp hàng trăm vụ, tốn người tốn của bằng thích mà có ai tìm thấy em bé đâu? Chỉ hoài công phí của.
Ông thị trưởng xệ quá, đang ngồi tư lự trong văn phòng không biết ăn nói làm sao với ngài Thượng Nghị sĩ thì cô thư ký cưng chạy vào mách nước về ông cớm vang danh Gary Malone. Sự liên hệ giữa cô thư ký và Gary Malone không biết thế nào nhưng khi nghe cô em thề thốt long trọng và giới thiệu với ngài thị trưởng, ông ta liền cho gọi Gary Malone tới. Thị trưởng coi uy quyền vậy mà thằng cớm có biết nể nang gì đâu, ông nói gì hắn cũng lắc đầu quầy quậy. Mãi tới gần tối, sau khi để ngài thị trưởng năn nỉ sùi bọt mép, Gary Malone mới chịu gật đầu. Trước khi ra đi con đưa đẩy một câu: “Ông nên nhớ, tôi nhận lời không phải vì ông là thị trưởng đâu nhé, mà chỉ vì một việc hào hiệp cần phải làm. Khi xong việc, xin ông đừng có biễu diễn cái màn gắn huy chương hay quảng cáo rùm beng lên làm gì. Tôi là người của bóng tối. Hãy để tôi sống thầm lặng với bóng tối”.
Ngài thị trưởng đứng nhìn theo đầy vẻ cảm động. Tới phòng ngoài, khuất sau cánh cửa gỗ to lớn, Gary Malone đè cổ cô thư ký tặng cho một cái hôn nồng cháy. Buông cô em ra, chàng cớm đa tình đã đi khuất xuống cầu thang rồi mà cô thơ ký vẫn còn đứng yên như trời trồng, mặt nghệt ra như luyến tiếc giây phút thần tiên hồi nãy. Tiếng giày đinh lộp cộp và tiếng vỗ của cây ma trắc vào lòng bàn tay nghe nhỏ dần, nhỏ dần dưới toà thị chính.
Mó tay vào việc, Gary Malone cho cái đám cảnh sát ấm ớ giải tán đi về hết, một mình một cây dùi cui đến gặp “vua nhà thổ” Weiss.
Vua nhà Thổ cũng chẳng phải tay vừa, nghe tin Gary Malone tới là biết phen này lành ít dữ nhiều, bèn dắt một đám cận vệ ra nhà hàng chuẩn bị đón tiếp ông cớm hung hãn nhất của Chicago. Khỏi nói ai cũng tưởng phen này cuộc đời “bàn tay thép” sẽ ăn đạn thép tùm lum.
Chiều đó, Gary Malone tà tà bước vào sào huyệt của Weiss như bước vào chỗ không người, thảy tấm hình đứa con gái trên mặt bàn cho Weiss xem, giọng lạnh như tiền: “Tao cho mày tới trưa mai, nếu em bé không về thì mỗi ngày tao …đốt một cái nhà thổ.”
Nói ít vậy thôi, khỏi cần nghe giải thích hay phân trần gì cho mất thì giờ, Gary Malone quắc mắt nhìn quanh một vòng như ra cái điều thách thức “thằng nào muốn thử xem bàn tay thép cứng cỡ nào thì cứ nhào ra” rồi quay người lừng lững bỏ đi. Đám cận vệ mười mấy thằng toàn là dân dao búa đứng nhìn theo. Máu chúng nó dồn lên tới cổ nhưng có đứa nào dám làm gì đâu? Nó đi dám đi khơi khơi ngon lành như vậy vô hang cọp thì không phải là tay vừa. Quả đúng là “bàn tay thép.”
Nhưng thằng Weiss cũng đâu phải là hạng dễ bị hù như vậy. Nó nghe tiếng bàn tay thép đã lâu nhưng chưa có dịp đụng độ, nay phải thử một lần cho biết. Ông vua nhà thổ nhất định không giao nạp gì hết, đồng thời cho đàn em tăng cường bố trí khắp nơi. Cho chắc ăn, nó còn mướn thêm viện binh của cánh khác. Lần này, người của nó rải dài dài bắt đầu từ ngoài lộ chính, vô tới tận phòng ngủ của nó, một con con chuột chạy cũng không lọt, nói gì tới người?
Ngày hôm sau thật dài. Chính xếp Al Capone lúc ấy cũng thủ một cây shotgun đứng tuốt ngoài ngõ. Lệnh ban xuống là, hể thấy thằng Gary Malone hay bất kỳ đứa nào lạ mặt đi tới là phải tốp lại để kiểm soát. Nó chống cự là phơ liền lập tức.
Nhưng mãi đến chiều, đến tối cũng chẳng thấy cái nhà thổ nào bị đốt. Hơn nửa đêm, vua nhà thổ mệt quá, căn dặn đàn em rồi tà tà leo cầu thang đi lên cái văn phòng riêng ở lầu hai để nghỉ ngơi.
Vừa đóng ập cửa lại, xoay người ra sau thì vua nhà thổ bỗng rú lên một tiếng kinh hãi. Trong căn phòng trang trí hạng nhất của khách sạn, Gary Malone đã lù lù một đống ngồi đó không hiểu từ bao giờ và từ lúc nào. Tay bên phải là khẩu shotgun cưa nòng, tay bên trái là cây búa bửa củi. Thằng này không chừng có tài xuất quỷ nhập thần, sào huyệt được gài kín người ba bốn lớp như thế kia sao nó lẻn vào đây được? Đêm hôm khuya khoắc, hắn vác búa bửa củi và súng ống vào đây đâu phải để nói chuyện đời xưa. Weiss hãi quá, một lời nói cũng không buông ra được, thiếu điều muốn té đái trong quần.
Gary Malone chỉ mỉm cười bảo nhẹ:
– Bây giờ chúng ta đi xuống lầu trở lại. Cẩn thận từ từ và “biết điều một chút”. Dân Chicago này đâu có lạ gì tao, đừng có làm gì để phải hối hận.
Mấy thằng đàn em thấy ông chủ vừa đi lên, rồi lại quay trở xuống liền thì có hơi thắc mắc. Dòm kỹ hơn thì thấy hai bàn tay của vua nhà thổ Weiss giơ cao khỏi đầu, theo sát phía sau là bàn tay thép Malone với cây shotgun chĩa ngay vào gáy ông chủ.
Bước xuống lưng chừng cầu thang, Gary Malone ra lệnh:
– Tốp lại ngay đây. Biểu mấy thằng em của mày gom hết súng ống lại một chỗ cho tao.
Weiss ríu ríu vâng lời, dặn đám đàn em hai ba lần là phải một mực tuân lệnh của Gary Malone, chỉ sợ thằng em nào làm bậy là nó sẽ biến thành …tiên vương nhà thổ. Nhìn mớ súng ống gom thành một đống trên sàn nhà, Gary Malone tiếp tục:
– Cho tụi nó xuống nhà kho, đem hết mấy cái thùng rượu mạnh lên đây. Đừng có dại mà giở trò gì là tao thổi bay cái sọ của mày.
Mấy thằng đàn em lục đục kéo đi, Gary Malone chỉ mặt một thằng:
– Mày! Tướng tá coi được, lên đây tao biểu.
Thằng nọ chới với, vừa bước từng bước dài lên cầu thang thì bàn tay thép hỏi luôn:
– Mày …biết pha rượu không?
– Dạ biết.
– Tốt, làm cho tao một ly “Bloody Mary” rồi đem lên đây. Xài thứ ly cối cho nó tiện.
Ly rượu được kính cẩn dâng lên, bàn tay thép làm một ngụm, hà một hơi rồi để ly trên chỗ tay vịn cầu thang. Thằng kia vừa quay xuống đã bị Gary Malone gọi giật lại:
– Khoan đã, đi đâu mà sớm vậy, tao còn có việc nhờ mày.
Bàn tay thép móc cây búa đeo sau lưng nảy giờ thảy xuống:
– Cầm lấy cái búa bửa củi này, xuống dưới đó đứng chờ tao.Khi chúng nó khiêng đến thùng rượu thứ năm, Gary Malone bảo:
– Đủ rồi. Bây giờ, mày, thằng cầm búa, tới bổ hết mấy thùng rượu này ra cho tao.
Năm thùng rượu, mỗi thùng mấy chục ga lông chứ ít gì, bị búa bổ ngang hông, chảy ra có vòi. Khắp sàn nhà, đâu đâu cũng chỉ toàn rượu là rượu. Mùi whiskey bốc lên nồng nặc. Gary Malone ra lệnh tiếp:
– Tụi mày biết muốn cho lửa cháy tốt cần phải có cái gì biết không?
Không thằng nào trả lời. Gary Malone ực thêm một ngụm rượu:
– ĐM, dân du thủ du thực có khác. Hồi nhỏ không đi học nên đéo biết mẹ gì hết. Lửa cần phải có không khí, có gió thì cháy mới đẹp. Đứng đực ra đó làm gì, mau chạy ra mở hết mấy cái cửa sổ cho tao.Vua nhà thổ giật mình đánh thót một cái, bây giờ nó mới biết ra là bàn tay thép tính đốt cái nhà thổ của mình thiệt. Thằng nào thằng nấy xanh mặt hãi hùng. Gary Malone lại tà tà ra lệnh:
– Tao cho tụi mày năm phút, leo lên lầu đem hết mấy em giang hồ xuống. Đứa nào chậm chạp chết cháy rán chịu.Vừa nghe tới đó bỗng thấy cầu thang ầm ầm chuyển động. Té ra mấy em đã đứng thập thò ở cầu thang từ nãy, bây giờ được lệnh, ào ào đổ xuống chạy thụt mạng, khỏi cần ai lên nhắc nhở.
Gary Malone làm thêm ngụm “Bloody Mary”, nói với Weiss:
– Mày biết thằng Gary Malone này rồi. Tao đâu có thì giờ đi dọa non dọa già tụi mày. Tao biểu đốt mỗi ngày một cái nhà thổ là đốt thiệt. Ngày mai, tao đốt thêm một cái nữa, coi thử chừng nào mày mới lòi em bé ra.
Vua nhà thổ phân trần:
– Đàn anh chơi vậy là ép tôi quá! Coi, tôi đâu có biết gì. Chicago này bao nhiêu là động điếm, có phải mình tôi đâu. Mong đàn anh nghĩ lại giùm, tôi không quên ơn.
Bàn tay thép nhổ toẹt một bãi nước miếng sau ngụm rượu cuối cùng:
– Không cần biết, mày không giữ nó thì kiếm cho ra thằng nào đó giữ nó. Nghề của mày mà, làm sao qua mắt tao được? Hễ tới trưa mai mà không có thì tao đốt thêm một cái nữa, nghe rõ không?Khỏi cần chờ câu trả lời, Gary Malone quay xuống dưới nhà, hét to lên:
– Cho tụi mày dọt hết ra ngoài. Tao với thằng Weiss ở lại đây có chuyện chút xíu.
Một thằng đàn em của Weiss, nhân lúc hổn loạn lén mò tới gần mớ vũ khí tính vớt một cây. Nhanh như chớp, cây shotgun trên tay Gary Malone chỉa mũi xuống, nổ “oành” một phát.
Thằng nọ bật người ra sau. Bàn tay phải từ cùi chõ xuống bị đạn cày nát, lủng lẳng mấy miếng thịt coi thấy gớm. Nó ôm tay lăn lộn co quắp, máu chảy thành giòng. Giọng nói oang oang Gary Malone vang xuống dưới nhà:
– ĐM chưa biết tài bắn shotgun của Gary Malone hay sao mà dám giỡn mặt? Lần sau, thằng nào muốn thử tài bắn của tao, tao bắn vô mặt. OK, bây giờ dọt hết ra ngoài, nhớ dắt thằng đó theo.
Lúc chỉ còn lại có hai người, Gary Malone dìu vua nhà thổ bước ra gần tới cửa rồi hạ nòng cây shotgun, đưa cho Weiss cái bao diệm quẹt, hất hàm:
– Cảm phiền ông bạn cho giùm cái nhà thổ này một mồi lửa đi.
Thằng Weiss tuy hãi, nhưng còn tiếc của, cầm hộp diêm quẹt đứng chần chờ mãi. Hai bàn tay run run đưa lên mấy lần mà không sao rút ra được một cây diêm. Gary Malone hét lớn:
– ĐM có đốt không, hay tao nhét mày vô thùng rồi châm lửa cho mày đi luôn?
Weiss lùi xa xa để chuẩn bị rồi bật diêm, thảy xuống cái vèo. Rượu gặp lửa, cháy bùng lên. Chỉ trong một tích tắc, lửa bắt ra hết cả phòng, hơi nóng tỏa ra dử dội. Gary Malone đẩy Weiss ra trước rồi phóng theo. Lửa bắt quá mau trong căn nhà gỗ lâu đời, mới ra tới ngỏ mà cả căn nhà hầu như đã gần bị lửa liếm sạch. Gary Malone vẫn chỉa họng cây shotgun vào óc Weiss cho đến khi chắc chắn là cái nhà thổ bị cháy rụi.
Kéo Weiss tới một góc đường, hắn bảo:
– Bây giờ mày biểu tài xế chở tao với mày xuống đường 52. Tới đó, tao sẽ thả mày về. ĐM cảnh sát nghèo lắm, làm mẹ gì có tiền đi tắc xi!..
Ngày hôm sau, em bé bị bắt cóc hôm nào được ai lái xe chở tới tòa Thị chính thả ra, không trầy xẩy một tí da. Thử sức cú đầu như vậy cũng đủ hiểu nhau rồi.
Ngài thị trưởng giữ đúng lời hứa, không làm rềnh rang gì cả. Vua nhà thổ Weiss cay cú lắm, nhưng còn nhiều chuyện trọng đại phải lo hơn là đi ăn thua với một thằng cảnh sát …khùng nên Gary Malone vẫn được để yên.
Gary Malone ghê gớm và hung hãn vậy chẳng trách gì xếp Al Capone giật mình khi nghe đến tên hắn. Đã từ lâu, xếp muốn chiêu dụ Gary Malone về với xếp nhưng chưa bao giờ thành công. Xếp ngán nhất là những con người không có nhu cầu mà bàn tay thép là một. Dường như trên cõi đời này, Gary Malone không coi cái gì là quan trọng cả. Tiền hắn không thích, gái thì lúc nào cũng có sẵn ba bốn em, rượu thì lâu lâu hắn chỉ làm vài ly Whiskey nhưng không phải là dân ghiền nặng thì có gì mà dụ hắn được. Danh vọng thì hắn dư thừa, khỏi cần đòi hỏi cũng có: Ở Chicago này, ai nghe đến tên bàn tay thép Gary Malone mà không giựt mình rỡn gáy. Xếp cứ tưởng tượng ra cái cảnh cặp bài trùng Gary Malone và Frank Nitti đi đôi với nhau, thật trên đời này không còn hình ảnh nào đẹp bằng.
Xếp hỏi Frank Nitti:
– Tao nghe nói nó bị Mike Casey cho về vườn rồi mà?
– Cũng gần như vậy. Nó bây giờ chỉ còn là cảnh sát gác đường. Mà xui cho tôi, tôi đậu xe ngay khu vực trách nhiệm của nó.
Xếp Al suy nghĩ một lúc, vỗ về thằng em:
– Thôi, để tao cho tiền chú em mua xe mới. Mày xui xẻo rán chịu.
Xếp Al Capone thảy chồng báo cho Frank Nitti, trở lại vấn đề chính:
– Thằng chó đẻ này là thằng nào?
– Ness, Eliot Ness, cảnh sát của nha Ngân khố từ Hoa Thịnh Đốn tới.
– Tao có làm gì mà nó lại réo tên tao ra chửi tơi bời vậy.
Bây giờ mới thấy thằng Frank Nitti vén lên một nụ cười nhỏ:
– Tối qua tôi cho nó vô xiếc. Để cho nó dẫn lực lượng cảnh sát tấn công vào cái nhà kho toàn đồ nhập cảng hợp pháp của bọn mình. Quê bằng chết, thằng khốn tức quá hóa khùng bèn chửi bới bậy bạ tùm lum. Thật là như một đứa con nít. Xếp đừng kể tới nó làm gì, chó sủa là chó không cắn.
Xếp gài điếu xì gà lên môi:
– Làm sao nó biết được chỗ mình cất hàng?
– Trong đám mình có một con chó ghẻ. Tôi đã cho trừng phạt thích đáng.
– Good! Mày đánh giá con người thằng cớm này thế nào?
– Chỉ là một thằng cớm quèn. Cái hơi khác là thằng này có bằng cấp đại học, lại khoái tuyên bố rềnh rang với báo chí.
Xếp tự nhiên quên bén mất cái chuyện mình bị sỉ vả. Phải có một cái gì trong này. Sự suy nghĩ của xếp Al Capone dừng lại tại đây. “Cớm quèn”. Có thể lắm, nhưng cứ nhìn cắp mắt sáng quắc như sao trong hình thì thằng này không phải là một thứ quèn “tầm thường.” Xếp phì ra một hơi khói, xoay xoay điếu xì gà:
– Để cho nó “ngấm” thuốc mấy ngày đã rồi mày cử người tới “mua” nó cho tao.
– Thì đàn em cũng tính vậy. Giá thằng này không hơn trăm đô la một tuần.
– Đừng coi thường nó quá, tao bắt đầu bằng ba trăm một tuần, nếu nó đòi thêm tính sau.
Frank Nitti rút lui. Trước khi đóng cửa phòng, thằng phụ tá nhìn xếp hỏi chậm rãi:
– Xếp để tôi làm thịt thằng Gary Malone được không?
Âm thanh nó trầm đều mà sao nghe như tiếng gọi của tử thần. Xếp Al Capone lắc đầu:
– Không! Bây giờ không được. Tao cấm mày không được đụng tới nó. Tao đã có kế hoạch riêng cho nó. Mày biết không, đã từ lâu, tao đang tìm cách dụ nó về làm việc với mình. Mày phải hiểu, đó cũng một lý do tại sao nó còn sống được tới giờ này. Người tài như Gary Malone không phải kiếm đâu cũng được.
Frank Nitti vẫn còn ấm ức:
– Nhưng mà nó đập xe của tôi chớ có phải của xếp đâu? Thằng này nó lộng quá rồi, không trừng trị sẽ nguy hiểm về sau. Mà xếp còn chờ cho tới chừng nào, lỡ không dụ được nó thì làm sao?
– Chuyện đó để tao lo. Lúc nào thấy không thể mua được nó, tao sẽ để dành nó đặc biệt cho mày, nhưng bây giờ thì không, tuyệt đối không. Tao đang lập kế hoạch. Nghe rõ chưa?
Frank Nitti đành gật đầu, lủi thủi bước xuống cầu thang. Hai thằng cận vệ đeo cứng phía sau.
Frank Nitti vừa khuất bóng, xếp nhìn một thằng cận vệ:
– Gọi lên sở Cảnh sát, kiếm thằng Mike Casey cho tao.
Thằng đàn em đưa ống nói cho xếp khi bắt được liên lạc với Mike Casey. Xếp vô đề liền:
– Mike, có hai vụ. Vụ thứ nhất, chiếc xe của thằng Frank Nitti bị thằng cớm du đảng của ông đập cho nát bét ra…
– Có, thằng Frank Nitti có gọi cho tôi than phiền vụ này. Sở điều tra an ninh nội bộ đang cho tiến hành điều tra, nếu cần, sẽ đưa thằng cớm mất dạy đó ra hội đồng kỷ luật hay ra toà.
– Điều tra cái con c… Dẹp mẹ nó mấy cái màn thủ tục lẩm cẩm đó đi ông nội, chẳng đi tới đâu đâu. Tôi muốn ông lôi cổ nó về, cho nó một chỗ cạo giấy văn phòng. Làm sao mà kiếm cho nó công việc nào càng chán nản càng tốt. Nếu nó nản quá, làm đơn xin về hưu luôn thì công của ông lớn lắm đó.
Mike Casey cười hề hề:
– Gì chớ cái đó thì dễ. Để tôi kéo cổ nó về, cho nó một chân giữ chìa khóa hạng bét trong sở. Tôi biết tính thằng này, hễ ngồi không là sinh bệnh. Sau vài tháng, nếu nó không xin về hưu non thì chắc cũng sẽ sinh bệnh mà chết.
– Được, sẽ có phần thưởng lớn cho ông. Thằng Frank Nitti có báo cáo tôi về vụ tấn công tối hôm qua, nó nói công đầu là của ông đó.
Giọng nói của Mike Casey đầy vẻ thõa mãn:
– Thì chỗ làm ăn với nhau, phải vậy mới được chớ.
– Thằng cớm réo tên tôi ra chửi bới vung vít là thằng nào?
– Ness. Eliot Ness. Nó mới từ Hoa Thịnh Đốn xuống, phách lối và ngông cuồng lắm, coi dân Chicago này không ra cái gì cả. Nghe nói nó là một hung thần nổi tiếng nhất ở New York, đã từng tống vài chục tay tổ của mafia vào tù và dẹp tan nhiều băng đảng trên đó.
Xếp Al Capone lặp lại câu đã hỏi Frank Nitti trước đó:
– Ông nhận thấy hắn là con người thế nào, nó ngon cỡ Gary Malone không?
– Tôi chưa biết rõ, khó có thể nhận xét được nhưng cứ như cú tối hôm qua, tôi thấy khả năng thằng này rồi cũng chẳng đi đến đâu. Ông biết tụi liên bang mà, đứa nào cũng vậy, mới xuống thì hùng hùng hổ hổ nhưng vài tuần sau được ăn ngập mặt thì nín khe ngay. Sáng nay vào sở, nó vẫn tỉnh bơ, không hề thắc mắc hay nghi ngờ gì ai cả.
Vậy là đã có tới hai người đánh lầm giá trị của Ness: Frank Nitti và Mike Casey.
Xếp Al Capone tuy không tán thành hai ý kiến trên, nhưng cũng không phản đối. Cái nhìn của một con diều hâu luôn luôn khác cái nhìn của những con chim sẻ, xếp nghĩ vậy. Thằng Ness này nếu không phải là tay cớm ngoại hạng thì cũng không đến nổi quá tầm thường như mọi người lầm tưởng.
Mike Casey tiếp tục:
– Ông còn lạ gì Hoa Thạnh Đốn, tại mấy cha thượng nghị sĩ la lối quá vì cái vụ “The Saint Valentine’s Massacre” nên họ mới gởi người xuống đây để vuốt ve dư luận chút đó mà. Rồi ông sẽ thấy, đâu sẽ vào đấy hết. Văn phòng của nó gần sát ngay bên tôi, tôi kiểm soát nó được, ông đừng lo.
– Cho tôi tất cả những chi tiết về quá trình và ý định của thằng này. Nó không phải típ tầm thường đâu.
– Thú thật, nó mới từ Hoa Thịnh Đốn xuống nên tôi không biết gì về nó hết. Hơn nữa, nó là người của chánh phủ liên bang, địa phương không có quyền hành gì mà mó vào. Nếu muốn biết nhiều về nó, ông nên gởi người lên New York để điều tra. Ở New York, không ai là không biết đến tên hung thần Eliot Ness. Mà, theo ý kiến riêng của tôi, ông không nên lo nghĩ quá về nó. Ông biết cách làm việc của cảnh sát, đâu phải chỉ một người mà làm xong chuyện. Tôi nghĩ ở New York chắc nó có nhiều cộng sự viên giỏi và biết sử dụng phương tiện truyền thanh tối đa nên mới được vang danh đó thôi, chưa chắc phải là thứ đáng sợ. Nội chuyện tối hôm qua cũng đủ cho chúng ta thấy phần nào tài năng của nó…
Mỗi con người trời sinh ra hình như đều phú cho họ một khả năng riêng biệt, ít ai giống ai. Có người trời sinh ra để soạn nhạc, người khác để vẽ, hoặc có kẻ sinh ra để làm doanh thương, làm nhà chính trị tài giỏi, Xếp cũng không tránh khỏi định lệ này. Tự bẩm sinh, Al Capone có khả năng lạ lùng là tài …ngửi thấy được con người nguy hiễm và sự nguy hiễm ngay tứ khi nó chưa nguy hiểm. Trong tất cả đám anh chị thời đó, không ai qua mặt xếp được về cái tài này. Xếp còn sống đến giờ này là cũng nhờ cái khả năng lạ lùng đặc biệt này. Thoát chết nhờ cái “lỗ mũi” đặc biệt này thì nhiều lần lắm, nhưng có vài lần xếp không thể quên được…
Lúc còn trẻ, ở New York có một lần xếp và mấy anh em trong khu sắp sửa đi đến chỗ hẹn mật với một toán anh chị khác để bàn chuyện làm ăn lớn. Chỗ gặp nhau là một nhà hàng nằm trong khu vực kiểm soát của bọn xếp mà ai nấy đều thuộc lòng từng viên đá, nhớ tên từng thằng bồi. Ngàn lần hơn một, không ai ngờ là sẽ có chuyện gì xảy ra hết. Nhưng trước khi ra đi, tự nhiên xếp Al Capone cảm thấy có cái gì bất trắc của buổi họp đó. Dùng óc suy luận, xếp vẫn không thấy có gì đáng khả nghi, nhưng trực giác thì thấy có cái gì không ổn. Vậy là dù đã nai nịt gọn gàng, xếp nhất định bảo anh em hủy bỏ buổi họp. Có đứa nào thèm nghe?
Cản không được, xếp đề nghị chia thành hai toán, một toán vào trước để do thám tình hình, nếu mọi sự bình thường, toán kia mới vào sau. Nhưng ai lại chịu nghe lời một thằng oắt con mới ra nghề như xếp? Chúng nó cười vào mũi xếp rồi khoác tay nhau lên đường.
Xếp cảm thấy là sẽ có cái gì bất an nên chạy vào nhà kiếm cây shotgun xách theo phòng hờ. Chẳng ngờ cây shotgun không biết đứa nào xài, giấu ở đâu kiếm mãi không ra. Kẹt quá, xếp đành dắt vào bụng một cây Colt rồi lần mò ra chỗ anh em đang phó hội.
Ra vừa tới nơi, một cảnh tang thương diễn ra trước mặt: bàn ghế đổ ngổn ngang, máu me đầy dẫy, người chết người bị thương nằm rên la đầy trong quán.
Xếp càng ngạc nhiên khi thấy cả hai phe đều có người bị thương và bị chết. Vụ hai phe bắn nhau trong quán được gạt ra ngoài vì đi thương thuyết, không ai đem súng ống theo cả.
Xui cho xếp, đang đứng tần ngần chưa kịp hỏi han gì thì cảnh sát ập tới. Khám thấy trong người có súng, cảnh sát bèn thảy xếp lên xe bít bùng luôn.
Chiều hôm sau, đóng tiền thế chân xong đi ra, xếp mới biết là cả hai phe đã bị một nhóm thứ ba chơi cạn láng. Tất cả vừa ngồi vào bàn nói chuyện độ năm phút là có một chiếc Cadilac chạy rề tới, trên xe phóng xuống ba thằng cô hồn với 3 cây shotgun. Chúng đạp tung cửa rồi cứ “bơm” hết viên này đến viên khác vào cái bàn dài có anh em ta đang ngồi.
Luật giang hồ là đi hội họp, cấm tuyệt cái vụ mang súng ống theo nên đâu ai có cái gì để phản ứng? Súng vừa nổ là chỉ biết tranh nhau chui xuống gầm bàn để tránh đạn. Gặp thứ đạn phà của dân chơi tự tay nhồi thuốc “overboost” thì tránh gì nổi?
Cảnh sát đếm được tại chỗ 5 cái xác chết, 8 đứa còn lại vô tới nhà thương thì “đi” thêm 2 đứa nữa, vị chi là 7. Quả thật là con số 13 xui xẻo.
Mà đâu phải đó chỉ là một lần. Sau này lớn lên nơi đường phố, xếp cũng nhờ cái trực giác của mình mà thành công nhiều vụ, cũng như thoát chết nhiều lần.Hôm nay, dù thằng phụ tá khôn lanh như Frank Nitti và ông bạn cớm Mike Casy hết sức thuyết phục, cái tài đánh hơi của xếp một lần nữa lại nổi lên. Xếp nhất định phải nắm vững hồ sơ thằng cớm lạ hoắc này mới được.
Xếp trả lời sau một lúc suy nghĩ:
– Good. Thôi được để tôi coi lại coi sao. Nhớ đừng quên chuyện thằng Gary Malone.
Lúc xếp Al Capone gác phôn, đồng hồ treo tường thong thả đếm mười hai tiếng. Xếp và toán cận vệ bước sang phòng làm việc ở ngay bên cạnh. Như thường lệ, thằng “Sô Viết” Guzick đã chờ tại đó từ lúc nào, trên tay là cuốn sổ đã mở sẵn. Xếp gật đầu tỏ vẻ hài lòng, tới bàn giấy, đặt mình ngồi xuống trên cái ghế đồ sộ bằng da được đánh bóng từ đầu tới chân.
Guzick tiến tới một bước, trịnh trọng dâng sổ kế toán lên cho xếp. Cuốn sổ này được Guzick soạn thảo đặc biệt theo ý xếp vì trong vấn đề kế toán, xếp dốt đặc. Có hai chữ “Credit” và “Debit” mà xếp cứ lộn lên lộn xuống hoài, không biết cái nào là “vô” cái nào là “ra”. Xếp chỉ thị cho thằng Nga này đơn giản cái sổ thống kê lại. Ví dụ như ngày hôm nay bán được 300 ngàn thì đề “vô 300 ngàn”. Nếu chi cho thằng cớm 1 ngàn thì ghi “ra 1 ngàn”. Như vậy là khỏe, khỏi “Credit” hay “Debit” gì cho rắc rối tốn thì giờ.
Ngày nào cũng vậy, hễ dòm thấy phần “Vô” nhiều hơn phần “Ra” thì xếp cảm thấy thoải mái dễ chịu, còn ngược lại là xếp chửi bới tùm lum.
Lúc còn chiến tranh với cánh Colosimo, cây cột “Ra” ngày nào cũng đầy ắp, vượt qua phần “Vô” rất nhiều. Nhưng sau khi quất sụm Antonio rồi, phần “Vô” như được uống phép màu, con số càng ngày thấy càng to ra, vượt qua mặt thằng “Ra” thấy rõ.
Trước hết, xếp nhìn xuống cột “Ra” rồi đến cột “Vô”. Vậy là tốt, cũng như mọi ngày, “Vô” trội hẳn hơn Ra gấp mấy chục lần. Xếp lật trang thứ hai, dưới hàng chữ “Ra” là một danh sách dài của các thầy chú, cớm chìm cớm nổi ăn lương của xếp. Đủ mọi loại chi, nhỏ thì từ 20 đồng, lớn thì khoảng vài ngàn, có khi lên đến vài chục ngàn. Xếp lướt nhìn qua một loạt các danh sách, có đến gần trăm tên chứ ít sao. Mà đó là mới có một ngày, chưa nói đến những ngày khác. Trang kế tiếp là chi tiết của những chỗ xếp mua rượu. Danh sách có các công ty xa như các hãng chuyên bán Champagne của Pháp, gần hơn chút nữa và chi nặng nhất là các công ty ở Canada, và địa phương là các lò nấu rượu trong thành phố hay tiểu bang.
Trong cột “Ra”, dưới phần chi tiêu bất ngờ, Gusick viết một con số $500, đề tên Mike Casey ngay bên cạnh. Vậy là thằng mập được thưởng 500 đô cho công tác tình báo tối hôm qua.
Xếp gật đầu tỏ vẻ bằng lòng. Thằng “Sô viết” này coi vậy mà cũng được quá chứ. Chả trách công xếp đã bỏ thì giờ và tiền bạc đi vớt nó về. Bố mẹ của Guzick di cư từ Nga sang Mỹ vào cuối thập niên 1880, trong thời kỳ “Mass Immigration” của lịch sử Hoa Kỳ. Bố của Guzick là người Nga, bà mẹ là Do Thái. Như mọi công dân “thế hệ thứ hai” sau khi lập cuộc đời mới tại đây, Guzick sinh trưởng và lớn lên trong một gia đình khá giả. Tốt nghiệp đại học, Guzick được gia đình vận động cho vào làm kế toán viên của một hãng xuất nhập cảng hàng hoá tơ lụa. Nhờ có bằng cấp đại học, trẻ tuổi và tài cao, chẳng bao lâu Guzick leo lên chức vụ chóp bu của ngành này. Anh chàng đẹp trai con nhà giàu học giỏi nào mà không tột đỉnh danh vọng như vậy, chả có gì đáng nói. Đã có không biết bao nhiêu cặp mắt xanh của các kiều nữ Chicago nhìn về Guzick mỗi lần nó xuất hiện ở các buổi dạ vũ hay tiệc tùng quan trọng với vẻ thèm thuồng mơ ước nhưng Guzick nào để ý đến? Nó còn trẻ quá mà, phải lo ăn chơi cho đã đời trước, chuyện vợ con từ từ tính sau cũng chẳng muộn. Bao nhiêu lời tình tứ gió trăng hay mời mọc đều bị Guzick phe lờ.
Thừa tiền thừa bạc, lại chưa có vợ con mà ở Chicago thì tránh sao khỏi lui tới những nơi ăn chơi nhất dạ đế vương của xếp Al Capone?
Guzick là một trong những khách hàng thường xuyên của những nơi này. Thật ra, nếu nó cứ đàn đúm và ăn chơi như vậy, tuy tốn tiền nhiều nhưng cũng không đến nổi nào, vì nó lương đã cao lại con nhà giàu, của chìm của nổi cả đống, xài chừng nào mới hết? Bi kịch của đời Guzick chỉ bắt đầu vào một buổi chiều, trong lúc chờ một người tình, nó móc túi lấy mấy đồng bạc cắc tới bên cái máy kéo tiền để giết thời giờ. Nhỏ lớn Guzick chưa bao giờ cờ bạc, chưa bao giờ rờ vào mấy cái mày này, nên lần đầu tiên thử máy, nó thử luôn một lèo tới …sáng. Em bồ đến gọi đi chơi, nó cũng phe lờ, tay cứ giựt lia lịa làm như không thể nào tốp được. Từ đó trở đi, Guzick không còn là con người cũ của mình nữa. Bao nhiêu tiền bạc đều đổ vào mấy cái máy giựt tiền của xếp Al Capone.
Chuyện phải đến đã đến. Một buổi sáng, hãng khám phá ra cái trương mục công ty, theo báo cáo thì còn đầy ăm ắp mà sao các ngân phiếu bị trả về lia lịa vì không đủ tiền bảo chứng. Chỉ cần điều tra một chút là thiên hạ biết ngay sự thật: té ra bấy lâu nay, ông giữ két tuổi trẻ đẹp trai đầy uy tín cứ mượn tiền của hãng để đi gỡ cờ bạc. Số tiền thiếu hụt lên đến mấy trăm ngàn đô la.
Vậy là cậu Guzick bị cảnh sát đến còng đầu. Sau khi đóng tiền thế chân, cậu được cho tại ngoại về nằm nhà để suy nghĩ về tội lỗi mình và chờ ngày ra tòa. Một thời gian sau, Guzick cũng lóc cóc đi kiếm việc để hy vọng có chút tiền trang trải án phí nhưng ai dám mướn cậu nữa? Thành tích thụt két và tên tuổi của cậu đã lên trang nhất và là đề tài của các thiên phóng sự trong trang ruột mấy tờ nhật báo Chicago suốt mấy tuần lễ, ai mà không biết? Chẳng ai dại đi mướn cậu làm việc.
Cuộc đời, khi đã xui thì nó xui tận mạng. Gia tài của thân sinh để lại gồm mấy cái nhà và ba bốn nông trại miền quê đều bị hãng nhờ pháp luật sai áp, tịch thâu sạch. Cậu phải khăn gói đi ở nhờ người bà con. Mà đã hết đâu, các thầy kiện sau khi tính toán chia chác xong, vẫn tuyên bố là cậu còn thiếu họ đến gần 200 ngàn đô la.
Guzick buồn lắm. Chẳng ngờ ba cái máy cờ bạc vớ vẫn mà nó quất một cú mạnh đến như vậy. Chuyến này nếu không chạy đủ 200 ngàn trả nợ thì cứ coi như là tù mọt gông. Trong ba mươi sáu chước, chỉ có nước chạy là thượng sách. Lo gì, cứ việc trốn khỏi tiểu bang để tránh cái án tù đã, sau đó từ từ gây dựng lại cơ đồ mấy hồi.
Một buổi sáng, Guzick gói mớ hành lý lặng lẽ bỏ nhà ra đi. Nhưng khốn nạn, dù đã khéo léo hóa trang bằng bộ râu mép giả, Guzick vừa ngồi vào toa xe lửa là cảnh sát đã ập lại. “Chú em chạy đi đâu, cho tại ngoại mà tính trốn hả. Lần này thì cho vô tù luôn!”
Ngay trưa hôm ấy, Guzick vào tù trở lại.
Chạy không khỏi Chicago thì đành chạy khỏi cõi đời ô trọc này vậy. Thần kinh bị khủng hoảng cực độ, Guzick liền quyết định tự tử. Chỉ một sợ dây cột trên nóc xà lim là xong mọi chuyện, khỏi cần phải lo lắng, khỏi cần phải sợ bị ai hạch sách hay chửi bới gì cả. Nghĩ là làm liền, Guzick kín đáo kiếm được một sợi dây. Ban đêm, chờ lúc mọi người ngủ say, nó cột sợi dây vào cửa song sắt nhà tù, tròng cỗ vào thòng lọng rồi từ trên tầng hai của xà lim nhảy xuống.
Con người quả thật là kỳ lạ, lúc chưa thấy thần chết thì hăm hở lắm, nhưng khi đã bị sợi dây thòng lọng siết cổ lại một cái đau điếng người thì cu cậu hoảng hồn, giãy dụa lia lịa, đạp chân đập tay ầm ầm. Có thằng tù tên Franki Rio, tướng người to con như đại lực sĩ, ngồi dậy bồng cu cậu lên. Thằng khác leo lên tháo dây thừng ra. Cậu thoát chết trong đường tơ kẻ tóc.
Trong khi chờ y tá tới chở cậu vào bịnh viện, Frankie Rio nhìn cậu và biết là ai rồi nên chửi cậu liền:
– ĐM, tuổi trẻ tài cao, mới có vài ngày tù lẻ mà đã đòi hủy mình làm gì? Nếu không sống được trong cái xã hội quyền quý thượng tôn pháp luật thì kiếm xã hội khác mà sống, ra khỏi nhà thương nhớ kiếm tao, tao giải quyết cho.
Ơn cứu tử Guzick nào dám quên nhưng nó còn mệt quá, không thốt nên lời. Miệng nó mấp máy và hai hàng nước mắt ứa ra coi thảm não. Trước khi cái cáng được khiêng đi, Frankie ghé sát vào tai nó chỉ nói võn vẹn hai câu, đúng ra hai cái tên mà Guzick suốt đời không thể nào quên được: “Frankie Rio, Al Capone.”
Ở nhà thương, cảnh sát sợ Guzick lại quẩn trí lần nữa nên cho nó về nhà. Lại những ngày chờ đợi dài lê thê trước khi ra tòa. Guzick đã có chủ đích, hắn bắt liên lạc với Frankie Rio. Vài ngày sau, một chiếc limousine lộng lẫy chạy đến đón Guzick.
Đối với xếp Al Capone, Guzick quả là một phép lạ từ trời ban xuống cho xếp.
Bấy lâu nay, xếp đã bỏ không biết bao nhiêu thì giờ và tiền bạc để tìm kiếm một thằng kế toán “coi được”. Một cơ sở làm ăn lớn, với hàng trăm chi nhánh, hàng triệu đô la ra vô hàng ngày như xếp bây giờ mà không có sổ sách kế toán thì không thể nào kiểm soát hết được. Đâu còn phải cái thời kiếm năm chục là nhớ trong đầu năm chục, kiếm hai trăm là nhớ trong đầu hai trăm nữa? Bạc ngàn coi như nhớ được đi, nhưng đến bạc triệu thì nhớ sao cho nổi? Mà nhớ không kịp thì tránh sao nổi chuyện thâm thủng, bị mất cắp? Đàn em xếp, trước mặt đứa nào cũng ngon lành lắm nhưng mỗi ngày nó ẳm nhẹ vài trăm đô la sau lưng xếp thì làm sao xếp biết được. Mà xếp đâu có vài trăm thằng đàn em, phải nói là vài ngàn mới đúng. Mỗi thằng một ngày chỉ cần xé lẻ vài chục thôi là đã thấy vài chục ngàn đô la bay vào mây khói. Cho nên lúc cơ sở làm ăn vừa có mòi lên hương, xếp liền chú ý đặc biệt đến cái vụ này. Mới đầu thì xếp làm lấy. Trước khi đi ngủ, xếp cẩn thận ghi tất cả những số tiền kiếm được trong ngày, cộng lại đàng hoàng để biết rõ mức thu. Chỉ đơn giản vậy thôi mà tối nào xếp cũng phải mất đến mấy tiếng đồng hồ. Sống như vậy thì còn gì là vui thú nữa? Hóa ông vua găng tơ của Chicago cũng không hơn được mấy thằng trọc phú Do Thái mà xếp thường hay lớn tiếng chửi rủa hay sao? Mà không tự tay làm lấy thì biết giao cho ai? Thằng Frank Nitti bắn thì hay lắm nhưng nhìn đến sách vở là than nhức đầu. Những đứa khác còn tệ hơn, ngay cả cái chữ ký cũng không biết ký thì nói đến chuyện nhờ vả giấy tờ làm gì? Còn chuyện mướn những hãng kế toán chuyên môn để làm sổ sách giùm thì tuyệt nhiên xếp không dám nghĩ tới. Làm ăn phi pháp mà nhờ đến tụi này thì sẽ bể hết mọi sự. Vậy giải pháp hay nhất phải là kiếm được một thằng nào chuyên nghiệp để phụ trách chuyện này. Không những thằng này phải là dân chuyện nghiệp, có văn bằng của nhà nước hẳn hòi mà còn phải có đầu óc …tội lỗi, biết cách tổ chức, biết cách tránh né pháp luật, v.v.
Sáng hôm đó, nghe Frankie Rio kể chuyện là xếp hớn hở ra mặt, cho người đi triệu thằng Guzick về liền. Tài xế vừa thắng, xếp đã lao ra xe, tận tay mở cửa, dáng điệu quý trọng thấy rõ. Mấy thằng nhỏ nhìn thấy đều chưng hững. Ra cái dân có học nó khác. Dù ở trong hoàn cảnh nào, thế giới nào cũng được trọng vọng hơn những thằng vô học, cày sâu cuốc bẫm.
Đối với Guzick, thì xếp Al Capone cũng là phép lạ trên trời rớt xuống cho nó. Con đường trước mặt của Guzick là …cái nhà tù vĩ đại. Ít nhất cũng mười năm. Sau đó, nếu còn nguyên vẹn một khối ra khỏi khám đường thì chắc phải kiếm một nghề khác để sinh nhai, nghề cũ coi như không biết, nay tự dưng được một quới nhân từ đâu rước về làm kế toán viên thì còn gì bằng.
Buổi gặp mặt sơ khởi chuyện nổ như pháo tết. Một trùm ăn cướp, một thụt két gặp nhau coi bộ hợp quá chừng. Xếp Al Capone đề nghị một giải pháp là xếp sẽ dàn xếp ổn thỏa cái vụ thụt két cho nó, bù lại, Guzick khỏi phải trả tiền hay nợ nần gì hết, chỉ phải về làm việc với xếp là yên chuyện.
Quả thật, lúc mới bước vào đây, Guzick chỉ hy vọng là kiếm được một công việc để rồi khi có tiền, sẽ từ từ giàn xếp với hãng, xin trả góp chẳng hạn. Bây giờ nghe được cái đề nghị béo bổ như vậy, Guzick cảm động muốn run lên, không tin là phép lạ có thể xảy ra trên trái đất này. Xếp Al Capone lý luận với nó:
– Ông bạn nghe lời tôi đi. Cái hãng của ông bạn bây giờ nó muốn gì? Dĩ nhiên, mới đầu trong giây phút nóng giận là chúng nó muốn hành hạ ông bạn một trận cho đã đời. Nhưng sau đó, điều quan trọng nhất là chúng nó muốn lấy lại số tiền của chúng nó. Ông bạn có nằm nhà đá cỡ mười năm hay hai chục năm cũng đâu có ai thèm để ý. Tôi đã nói với ông bạn là tôi sẽ dàn xếp vụ này. Bảo đảm sẽ có giấy bãi nại cho ông bạn trong vòng 15 ngày.
Lúc chia tay, Guzick mừng quá không nói lên lời. Nó cứ ôm hai tay của xếp Al Capone, miệng mấp máy mãi. Xếp phải gỡ tay nó ra, vỗ về một chập thằng nhỏ mới chịu lui bước. Cửa xe vừa đóng rầm một cái là xếp Al Capone ra lệnh cho Frank Nitti:
– Ông quay giây nói cho thằng luật sư Verbatim, bảo nó đem hồ sơ thằng Guzick qua đây gấp cho tao.
Ngày hôm sau, xếp Al Capone thắng bộ đồ lớn cùng luật sư Verbatim đến gặp ông chủ tịch hội đồng quản trị của hãng xuất nhập cãng. Xếp lý luận:
– Trước sau gì việc cũng đã rồi. Tôi biết thằng Guzick dù có đi làm suốt đời cũng không đủ tiền để trả cho quý ông. Quý ông có muốn cho nó nằm nhà đá mười năm cũng là đúng lắm, cho chừa cái tội ăn cắp, nhưng ông nghĩ coi, nó có nằm mười năm hay hai chục năm mấy ông cũng chẳng moi được gì.
Ông chủ tịch trầm ngâm. Xếp tiếp luôn:
– Tôi có một đề nghị tốt cho cả hai phe, hãng của ông sẽ không thiệt mà thằng Guzick cũng có được một lối thoát.
– Xin ông cứ nói.
– Tôi đề nghị thế này, tôi đưa các ông 50 ngàn để mua đứt cái tội của nó. Nếu chịu, xin ông ký vào tờ giấy bãi nại này.
Lão chủ tịch là dân buôn bán chuyên nghiệp, khỏi cần suy nghĩ nhiều lão cũng biết đề nghị của Al Capone là hợp lý quá rồi: 50 ngàn còn đỡ hơn không có đồng nào, lại làm quen được với ông vua của giới giang hồ Chicago, sau này biết đâu chả có chuyện nhờ vả? Lão gật đầu đồng ý liền:
– Tôi đồng ý hoàn toàn, nhưng theo thủ tục, tôi phải hỏi lại Hội đồng quản trị đã. Ngày mai tôi sẽ cho ông biết kết quả.
Xếp Al gật đầu, bắt tay từ giã.
Đúng như lời xếp hứa với Guzick, hai tuần sau ngày gặp gỡ tại đại bản doanh của xếp, luật sư Verbatim chính thức nộp giấy bãi nại cho nó tại pháp đình Chicago.
Từ đó, cả hồn lẫn xác thằng Guzick thuộc về xếp Al Capone. Làm việc với xếp, nó chứng tỏ cho xếp biết 50 ngàn cứu mạng của xếp đã mang lại hàng triệu đô la tiền lãi. Đầu óc kinh doanh và tổ chức của nó phải nói không thua gì các đại thương gia, hoặc có thể nói, về địa hạt hệ thống hoá cách làm ăn của giới giang hồ, nó còn ăn đứt quí vị này.
Guzick tổ chức lại toàn bộ hệ thống điều hành của đế quốc Al Capone.
Về lãnh vực nhà thổ, khách làng chơi đến mua một cái thẻ. Thẻ này sẽ được giao cho các em điếm sau mỗi lần đi khách. Cuối ngày các em nộp thẻ lại lãnh tiền. Thẻ cũng có nhiều màu để phân biệt hạng sang, hạng rẻ. Thằng ma cô nào chịu trách nhiệm nhà thổ chịu luôn trách nhiệm tài chánh. Tiền bạc mà không sòng phẳng là mất chức ngay.
Các nhà hàng bán rượu lậu, cứ tính số lượng rượu giao mà thu tiền. Thằng nào khéo léo thì kiếm chác được chút ít, thằng nào ngu dốt để thua lỗ thì lấy tiền túi mà bù vào, khỏi canh chừng làm gì mất công.
Cờ bạc là cái khó kiểm sóat và nhiều huê lợi nhất, Guzick chú ý đặc biệt. Các sòng bạc của Al Capone không còn cho ăn thua bằng tiền nữa. Ai muốn đánh phải đem tiền tới ghi sê để lấy phích. Nếu ăn thì đem phích tới đổi tiền về, sòng phẳng và lịch sự.
Lương lậu của nhân viên cũng được chia lại đàng hoàng, có nghạch trật như công chức nhà nước. Thấp nhất là thằng gác dan, ăn lương giờ. Rồi lên đến thằng ma cô, thằng đầu nậu, thằng chủ sòng, v.v. Chẳng những phát lương không, Guzick còn nghĩ ra chuyện cho ăn hoa hồng để khuyến khích anh em. Mỗi tuần lương phát một lần vào ngày thứ hai, và người nhận phải ký giấy hẳn hỏi. Các tiền lo lót cho thầy chú cũng được Guzick theo dõi và cho vào sổ kỹ càng. Ông nào lãnh bao nhiêu, lúc nào, nhất nhất đều có hồ sơ đầy đủ.
Guzick theo chân xếp như vậy là đã hơn 5 năm, tuyệt nhiên không bao giờ phạm một lỗi lầm nào, dù rất nhỏ. Uy quyền của nó chưa chắc đã thua gì Frank Nitti nhưng nó rất khéo léo, không bao giờ lên mặt ra vẻ này kia. Quan văn bao giờ cũng lịch sự và tế nhị hơn quan võ trong triều đình mà. Xếp Al Capone không có “consigliorie” chính thức nhưng nhiều thằng trong giới giang hồ coi Guzick như là một thứ “consigliorie” bán chánh thức vậy.
Xếp ngước mặt nhìn thằng Guzick:
– Thằng Mike Casey kể từ nay cho nó thêm 20 đô một tuần.
Guzick vâng dạ, hai con mắt tuy vẫn bình lặng lờ đờ sau cặp kiếng cận nhưng không phải là nó không nhớ. Thằng này trời cho có một trí nhớ đặc biệt. Khỏi cần ghi chép làm gì cho mất công, tất cả mọi chuyện, mọi con số hễ nó đọc qua một lần rồi là cả năm sau vẫn nhớ y chang không sai một dấu phẩy.
Xếp Al Capone đóng cuốn sổ lại:
– Lát nữa ông gọi ra hãng xe, nói tôi muốn đặt mua một chiếc Cadilac mới khác cho thằng Frank Nitti. Tốn bao nhiêu cũng được, tôi cần chiếc xe đó càng sớm càng tốt.
Guzick chỉ “dạ” lên một tiếng nhỏ nhẹ. Xếp hiểu như vậy là đủ rồi, chỉ thị của mình sẽ được thi hành đúng đắn. Cho đến bây giờ xếp mới nhận ra là tuy xếp luôn luôn thích nói, thích giảng dạy và lý luận, những đàn em thân tín luôn luôn ở bên mình lại là những đứa nói rất ít, như thằng Frank Nitti và Guzick. Có cạy mồm chúng cũng chỉ nghe được vài tiếng. Có lẽ đây là luật bù trừ của tạo hóa: người nói nhiều thích người ít nói.
Chỉ thị thứ ba trong ngày của xếp:
– Ông lo chuẩn bị giấy tờ và tiền bạc cho Oliver Randal đi New York vài ngày.
Rồi bảo một thằng cận vệ:
– Kêu Oliver Randal lên gặp tao. Bảo hắn chuẩn bị hành lý để sẵn sàng đón chuyến xe lửa sớm nhất chiều nay đi New York.
Từ sáng đến giờ, sau khi đọc tờ báo, hình ảnh của thằng cớm lạ ở xa mới xuống cứ ám ảnh mãi trong đầu óc xếp. Frank Nitti và Mike Casey đều đánh giá nó quá thấp. Lăn lộn giang hồ đã lâu, cũng như tất cả những lãnh tụ giỏi trên đời, xếp có khả năng đặc biệt trời cho là đánh hơi thấy người tài hay ngửi được kẻ thù nguy hiểm. Mike Casey bảo thằng này nổi tiếng là hung thần ở New York, tại sao về tới Chicago lại thua dễ dàng như thế? Đến ngay cả một thằng cớm hèn và bẩn như Mike Casey mà cũng không coi nó ra gì thì quả là chuyện lạ. Nhưng cứ dòm bản mặt nó trong báo cũng đủ khớp. Cái mặt đó đâu phải là tay vừa. Mắt thì sáng như sao chứng tỏ một đầu óc thông minh và quyết liệt tột độ, cằm thì bạnh ra đầy nghị lực.
Xếp quyết định gởi thằng Oliver Randale lên New York điều tra. Có gì đâu, dân giang hồ nào lại không có một cái tật chung là giữ “hồ sơ” mấy anh cớm dữ. Cánh mafia ở New York nếu bị Eliot Ness dẹp thì chắc chắn “hồ sơ” của nó phải còn nằm trong …trí mấy tay giang hồ. Có thằng nào đầy đủ khả năng thâu lượm tin tức bằng thằng Oliver Randal này?
Cách đây vài năm, trước khi đại chiến bắt đầu, cũng chính nhờ thằng Oliver Randal mà xếp nắm vững được hết các khả năng tham chiến cũng như tình trạng tài chánh của kẻ thù. Điểm hay nhất của thằng khỉ này là hầu như trời sinh nó ra để cho mọi người thích, chưa thấy ai ghét nó. Cái miệng nó hầu như lúc nào cũng sẵn sàng nở lên một nụ cười. Dân miền Bắc nước Ý có khác. Gặp ai nó cũng bô bô cái miệng, cười nói huyên thuyên, làm như “tứ hải giai huynh đệ” vậy. Nghề chính của nó là nghề buôn bán nhà cửa, nên giao thiệp rất rộng với đủ mọi hạng người.
Trong giới giang hồ, Oliver Randal chơi với tất cả mọi cánh nên hiểu biết nhiều. Hắn rất thận trọng, không đứng hẳn về phe nào cả. Ai có chuyện gì nhờ vả, Oliver Randal rất sẵn lòng với một số tiền thù lao phải chăng.
Cho đến một ngày nọ, phải, đúng hơn là một buổi chiều, đang ngồi trong một khách sạn thưởng thức đĩa mì ống tự nhiên xếp nghe tiếng hụ còi tùm lum của xe chửa lửa và cảnh sát. Frank Nitti vào thông báo là có một thằng chán đời nào đó leo lên đỉnh khách sạn đòi nhảy xuống tự tử. Nhân sinh quan của xếp xưa này là hễ thằng nào chán đời muốn chết, đừng bao giờ nên ngăn cản nó, hãy để cho nó chết theo ý nó.
Xếp thản nhiên vừa tính cuộn tiếp một khoanh mì ống bỏ vô miệng thì nghe thằng phụ tá nói nhẹ một câu làm xếp hết muốn ăn: “Thằng Oliver Randal chớ ai.”
Ai chớ để thằng này chết thì không được, vì xưa nay xếp vốn thích nó. Xếp vội vàng lau miệng theo Frank Nitti bước ra ngoài.
Chót vót trên nóc của khách sạn, thằng Oliver Randal đang ngồi rầu rĩ, quần áo đầu tóc rối bù. Đúng là con nhà này chán đời thật. Một tay nó thủ chai rượu, tay kia chỉ vào cái đám lính cứu hỏa chửi loạn lên:
– ĐM tụi mày, thằng nào vác xác lên đây là tao …nhảy xuống cái một. Đừng có ép tao quá…
Nói xong nó khóc hu hu coi rất thảm não. Cảnh sát và lính chửa lửa nghe nói vậy đâu có ai dám bò lên, đành đứng dưới nhìn. Xếp ngoắc tay Frank Nitti một cái, hai thày trò lẻn ra cửa sau, bí mật leo lên tới sân thượng.
Thằng Oliver Randal chưa kịp có phản ứng gì thì Frank Nitti và xếp Al Capone đã nhào tới kèm cứng nó, kéo tuột vào. Té ra cu cậu buồn đời chỉ vì khám phá ra con vợ ngoại tình. Mà nó ngoại tình ngay với thằng hàng xóm xưa nay vốn là bạn của Oliver Randal mới đau chớ. Thay vì đi kiếm thằng hàng xóm khốn nạn tặng cho nó một phát súng vào đầu, bản tính vốn hiền lành, Oliver Randal đi uống rượu cho say mèm rồi tính chuyện tự tử.
Đối với người Ý, nhất là trong giới giang hồ, tội gì thì tha được chứ tội tằng tịu với vợ bạn là tử hình. Xếp chỉ cần nghe tới đó là nổi xung lên, đích thân dắt ba thằng cận vệ phóng xe thẳng tới nhà tên hàng xóm phản trắc chẳng nói chẳng rằng xông vào lôi cổ nó dẫn ra xe.
Đang đêm, mụ vợ thằng gian phu trông thấy hung thần Al Capone xông vào nhà thì hoảng quá, muốn té xỉu luôn, không phản ứng hay la lối gì được. Chồng bị bắt đi rồi mụ cũng không dám báo cảnh sát. Dân Ý mà, chuyện này bên nhà ngày nào cũng không xảy ra? Sáng hôm sau, có một thằng cô hồn khác mặc áo vét tới thông báo là “ảnh đã …đi luôn rồi.”
Trước khi rút lui, nó móc túi ra một xấp giấy bạc trao tận tay bà:
– Chồng bà đáng tội chết nên đã chết. Bà cầm lấy mớ tiền này để lo mai táng và chuẩn bị cho tương lai. Đừng có tiếc thương làm gì cái quân vô hậu và bạc bẽo đó.
Nó chỉ chỗ cho bà đến lượm xác chồng rồi lên xe giông thẳng. Bà muốn ngất đi vì sợ hãi nhưng thấy bó bạc lớn quá, bèn bày ra đếm thử. Đúng mười ngàn đô la chứ ít gì? Mạng của chồng bà chắc chắn là hơn số bạc này nhưng biết làm gì bây giờ? Chửi rủa bậy bạ có khi còn bị đi luôn. Bà đành gọi xe nhà đòn đi với bà để lượm xác chồng. Đến nơi, bà chợt hiểu chồng mình phạm tội gì khi nhìn thấy cái của quý của xác chết bị thẻo mất tiêu…
Được cứu tử, lại rửa được cái nhục, thằng Oliver Randal từ từ nghiêng hẳn về cánh Al Capone. Tuy nó không chính thức ở dưới trướng nhưng không có công tác nào xếp giao mà nó từ chối. Xếp lại biết cách dùng người rất khéo. Cỡ Oliver Randal mà cử đi đánh nhau thì có khác gì dùng ngựa để bắt chuột? Xếp luôn luôn sử dụng đúng sở trường của nó là thâu lượm tin tức tình báo và tìm chỗ đầu tư vào bất động sản.
Lúc Oliver Randal xuất hiện thì xếp đang ngồi tiếp chuyện với ông dân biểu đảng Cộng hòa, Thomas Krauson. Ngài Krauson sắp tái tranh cử nên cần chút tiền bạc và vây cánh đây mà. Hai thứ đó thì xếp Al Capone đâu có bao giờ thiếu cho những nhân vật quan trọng cỡ dân biểu Hạ viện Hoa Kỳ?
Oliver Randal ngồi chờ chừng mười phút thì Guzick mở cửa cho nó vào:
– Xong rồi, tới phiên ông.
Oliver Randal liền đứng lên cười hà hà thật tươi làm Guzick cũng cười theo. Thằng này thật là dễ chịu, lúc nào cũng cười toe toét và yêu đời được. Gặp ông dân biểu từ trong bước ra, nó không bỏ lỡ cơ hội liền biểu diễn cái màn bắt tay bắt chân long trọng và tặng cho ông khách quan trọng mấy cái danh thiếp rồi mới thủng thỉnh bước vào.
Gặp nó, xếp Al Capone cũng thấy yêu đời hẳn. Cái vẻ lầm lì khó chịu sáng giờ biến đâu mất tiêu, xếp chỉ vào quầy rượu:
– Ông bạn Oliver Randal làm một ly chớ hả? Có thứ Cognac ngon bên Pháp mới về.
Oliver Randal có bao giờ biết từ chối cái gì. Có lẽ vì vậy mà nó càng ngày càng trở nên phương phi quá khổ. Ngồi ung dung nhàn nhã trong chiếc ghế bành với ly rượu trên tay, trông Oliver Randal không khác gì một đại tư bản nhàn hạ.
Xếp Al Capone đưa tờ báo có hình ông cớm cô hồn đang trợn mắt la hét cho Oliver Randal coi:
– Sáng nay ông có đọc báo không?
Oliver Randal chưng hửng:
– Báo chí thì sáng nào tôi chả đọc, nhưng chỉ đọc mục …bán nhà cửa và mục thể thao. Trang một toàn chuyện chính trị, đọc nản bỏ xừ. Mà sao, có chuyện gì không xếp?
Nói đến đó, Oliver Randal cũng vừa đọc được cái hàng tít và tấm hình ở trang một, bèn liếm lấp:
– Chà, thằng nào mà ngon dữ vậy. Cảnh sát mà sao lại mồm miệng thế này?
Xếp Al Capone ngồi vào bàn, ngã người ra sau:
– Mồm miệng là cái không quan trọng. Cái đáng sợ nhất là con người của nó kìa.
Chợt nhớ ra điều gì, Oliver Randal hỏi xếp:
– Hồi nãy trong điện thoại, tụi nó bảo tôi chuẩn bị đồ đạc để đi New York, có phải về chuyện này không xếp?
– Đúng. Tôi muốn nhờ ông lên New York một chuyến, ghé qua ông bạn Luciani để dò hỏi cho tôi về tin tức của thằng cớm này. Cái tôi muốn biết nhất là coi xem nó có phải là một hung thần như lời thiên hạ đồn đãi không? Hay nó chỉ nhờ đàn em xông pha rồi ở nhà mà lãnh huy chương như đa số mấy thằng cảnh sát chết nhát khác?
– Cái đó thì dễ, nghề của tôi mà!
– Nếu quả nó ghê gớm như vậy, hỏi anh em trên đó coi …giá của nó là bao nhiêu, có ai mua nổi nó không?
– Cũng dễ luôn, nghề của tôi mà.
Xếp Al Capone cắm một điếu xì gà lên môi, quay mặt một tí sang phải cho đàn em mồi lửa:
– Chưa đã hết. Nếu không ai mua nó được, thì hỏi coi cách thức làm ăn của nó như thế nào? Nó thích cái gì, có tật xấu gì, muốn bứng nó thì phải thế nào, v.v. Tóm tắt, nếu không mua nó được thì cách nào hay nhất để giết nó?
Xếp khỏi cần nói dài dòng, Oliver Randal cũng hiểu hết ý của xếp. Chiến thuật của xếp luôn luôn là như vậy: tiên lễ hậu binh. Mới đầu là dụ dỗ, là tiền bạc. Nếu hai thứ này không xong thì đến phần hăm dọa. Phần thứ ba là chỉ còn con đường vào nghĩa địa. Cái chết của biện lý McSwiggn ngày nào máu còn ướt đẫm đường phố Chicago, mấy ai đã quên được?
Xếp Al Capone nhìn Guzick:
– Ông giao cho ông bạn Oliver Randal năm ngàn đô làm lộ phí.Oliver Randal nhận tiền, luôn miệng suýt xoa “đàn anh đưa nhiều quá, tiêu làm sao cho hết?” nhưng vẫn ẳm xấp bạc bỏ vào túi. Xếp Al Capone nhìn nó cười dễ dãi:
– Sứ giả của Al Capone phải ăn ở cho đàng hoàng, đâu có phải bạ đâu cũng ngủ được?
Oliver Randal cười lên thật lớn, hể hả. Nó biết đàn anh chi địa rất đẹp nên xưa nay, có lúc nào đàn anh nhờ gì mà nó từ chối? Như chuyến đi bất ngờ ngày hôm nay, dù đang bận rộn với bao nhiêu công chuyện nó cũng dẹp qua một bên để đi lo việc cho xếp.
Xếp Al Capone thân mật vỗ vai nó, khoác vai dìu ra cửa. Xếp khoái thằng này thật tình. Xưa nay, xếp đâu có thèm khoác vai ai bao giờ?
Chiều hôm ấy, Oliver Randal đón chuyến xe lửa sớm nhất lên New York…
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.