Đêm hương

baotreonline.com

Cổ Ngư

July 19th, 2021

Post by Sơn râu 2 Oct 2026

Lời Giới thiệu:

Tác giả Cổ Ngư sinh năm 1963, tại Sài Gòn. Hiện làm việc trong ngành Tin học tại Paris (Pháp).

Có truyện ngắn, thơ, biên khảo, tuỳ bút đăng trên các tạp chí văn học, nhật báo và báo liên mạng của cộng đồng người Việt hải ngoại tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Na Uy, Úc và Việt Nam như: Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Văn Tuyển, Phố Văn, Chủ Đề, Việt, Thế Kỷ 21, Gió Văn, Người Việt, Viễn Đông, Talawas, Da Màu… Đêm Hương là truyện đầu tiên anh góp mặt với Trẻ.

Ðêm thơm như một dòng sữa

Lũ chúng em êm đềm rủ nhau ra trước nhà

Hiu hiu hương tự ngàn xa

Bỗng quay về dạt dào trên hè ngoài trời khuya…

(Huế – 1953)

Dạ Lai Hương – Phạm Duy

Ăn chiều xong, đợi bọn đồng nghiệp ồn ào kéo nhau đi hết, Tuấn vói lấy một tập sách mỏng trên kệ, rời khu nhà nghỉ, lững thững theo những lối dạo quanh co trong vườn, đi ra hướng bờ sông. Khách sạn toạ lạc trong khu đất rộng, nghe nói trước đây là một vườn bưởi Thanh Trà mênh mông, bây giờ vẫn còn nhiều lô trồng riêng giống cây này, nhưng đã xen lẫn với các dãy nhà ngang dọc, hồ bơi, sân quần vợt và nhiều loại hoa màu, cây trái khác.

Chiều đã bảng lảng vào tối, Tuấn nghĩ bụng, cầm tập sách cho đỡ buồn tay, chứ trời nhá nhem thế này, chẳng lẽ lại soi đèn pin ra ven sông đọc sách! Tìm được một băng ghế sát mé nước, Tuấn phủi bay vài chiếc lá tre, ngả ra nằm.

Sông Hương khúc này, giờ này lặng như tờ, đò đón du khách xế cổng chùa Thiên Mụ phía bờ bên kia đã neo bến từ lâu. Ðúng là mình đang hưởng đời đây, có gì thanh bình hơn một mặt sông phẳng lặng, một chiều xuân mát dịu, ngát hương hoa, một nơi chốn có thể thoải mái nằm, ngồi chẳng vướng bận, với thiên nhiên lồng lộng chung quanh, tuyệt không bóng người.

Tuấn hài lòng khi đã từ chối lời rủ rê của lũ đồng nghiệp muốn kéo nhau ra thăm khu phố đi bộ «Huế by night» để nghe nhạc xập xình, nhìn đèn màu xanh đỏ giữa nườm nượp người, bia bọt, đàn đúm, nhảy nhót. Ðêm qua, theo chương trình của tour du lịch «Nước Việt từ Bắc chí Nam», cả đám tây đầm lố nhố lên thuyền ở bến Toà Khâm Huế, hớn hở chụp hình, quay phim cầu Tràng Tiền đổi màu như thay áo, chen nhau thả đèn giấy hoa đăng trên mặt nước thẫm đen, hít hà khen bánh lá, bánh ram, bánh nậm chan nước mắm ớt ngon mà cay, và sau đó chịu trận hơn một tiếng đồng hồ ù ù cạc cạc nghe ca Huế. Chỉ có Tuấn được hưởng trọn niềm vui, say mê với tiếng đàn cổ, tiếng hát thê thiết buồn lênh đênh giữa dòng sông đêm, ánh mắt dịu mà lẳng của cô ca sĩ khi diễn tả tâm trạng của người vợ nhớ chồng đang chinh chiến phương xa. Ừ, vậy mà hay, đêm nay, lũ chúng nó đang «phục hận» với pop, rap, rock, còn mình được yên thân tận hưởng đất trời này…

Thật lạ, cứ tưởng nằm chưa nóng ghế đá, muỗi sẽ kéo cả bầy cả lũ đến tấn công, vậy mà nãy giờ không có lấy một tiếng vo ve bên tai! Vì trời chuyển lạnh? Vì gió sông đang lên? Không hẳn thế… Hay vì hương thanh khiết như màu trắng tinh khôi của ngàn vạn hoa bưởi đang lan toả quanh đây đã làm chùn chân, chùn cánh bọn khát máu? Tuấn căng ngực hít đầy vào phổi cả một khoảng chiều và tối, trong đầu lan man nhớ đến câu hát «Ðêm thơm không phải từ hoa…» Có chứ! Hoàng hôn quanh Tuấn đang ướp đẫm hương hoa, vậy mà vẫn không ngào ngạt đến nhức đầu, chóng mặt, chỉ vừa đủ ngan ngát, thoang thoảng như chút nắng cuối ngày lúc ẩn lúc hiện giữa những tàn lá trong vườn.

Theo truyền thuyết, trên thượng nguồn sông Hương có mọc giống cỏ lạ rễ bám vào đá núi, lá xoải xuống dòng nước, từ gốc đến ngọn đều tiết ra mùi thơm dễ chịu. Chính mùi thơm ấy đã ấp ủ, đã gợi hứng để người ta đặt tên Hương cho con sông đang rì rào trước mặt. Tuấn nghĩ bụng: biết đâu chính hương hoa, nhuỵ hoa, cánh hoa bưởi Thanh Trà đang lớp lớp rụng trắng ven sông kia đã ướp thơm cho con nước, cho con người đất này? Huế, giữa Sài Gòn bon chen và Hà Nội kèn cựa, giữ riêng nét trầm mặc cho mình. Ngự Bình không cao, Hương Giang không sâu, người xứ Huế hình như không tạo nhiều kỳ tích, nhưng ẩn nhẫn sống hoà vào thiên nhiên, tĩnh lặng cùng non nước. Tuấn nghe nhắc nhiều đến Huế ngày lên 5 tuổi, trong mùa Tết đau thương, khói lửa khắp nơi. Ðứa bé ngờ nghệch vậy mà cũng hiểu thế nào là cái chết tức tưởi, trước hình ảnh người sống vật vã khóc gào bên lớp lớp xác chết được kéo lên từ hố chôn tập thể, san sát xếp cạnh nhau. Những đoạn phim đen trắng tang tóc ấy được chiếu đi chiếu lại trên truyền hình, kèm theo tiếng nhạc thê lương ảo não còn ám ảnh Tuấn đến tận ngày hôm nay.

Cứ mỗi lần bất chợt nghe lại giai điệu bài «Exodus», Tuấn thấy hiện ngay ra trước mắt Huế của Mậu Thân, Huế của chết chóc. Năm mươi năm đã trôi qua. Tròn nửa thế kỷ. Huế có liền miệng vết thương, bôi xoá ký ức, có quên đi nỗi đau ngày ấy không? Hình như không. Trên những con đường đất gập ghềnh quanh các lăng mộ, khi xe du lịch của đoàn lướt qua, Tuấn vẫn thấy thấp thoáng dăm ngôi miếu nhỏ, vài bàn thờ đơn sơ khói hương nghi ngút.

Người dân Huế cúng bái đất trời dịp Tết hay thương tưởng người đã khuất đúng vào những ngày này? Dù mười mấy năm sau, thằng bé 5 tuổi đầu ấy đã biết thế nào là «Huế đẹp và thơ», đã thấm vào đầu mấy ca khúc tẩm đậm chất Huế, đã mê mệt với giọng nói trong nhẹ như tiếng chim của nàng Tôn Nữ Thuỳ Mai học cùng lớp, nhưng những địa danh Bãi Dâu, Kim Long, Nam Giao, Nội Thành… qua giọng ca Khánh Ly, Thái Thanh vẫn hằn sâu trong trí nhớ nó như chứng tích của một thời.

Có tiếng hát khẽ, thoảng trong gió. Mình mơ ngủ chăng? Ðúng là bài hát mà mình vừa nhớ khi nãy. Không phải «Exodus», cũng không phải «Hát trên những xác người», «Cơn mê chiều» hay «Ðêm tàn bến Ngự», «Huế mù sương». Lời như ru, lãng đãng, mênh mang, gọi đêm khoác màu áo siêu thực phủ lên tiếng hát:

Lung linh

Trăng lại về nữa

Cánh gió đưa

Hương ngả đầu mây

Phất phơ

Ðêm thơm

Không phải từ hoa

Mà bởi vì ta

Thiết tha tình yêu

Thái hoà…

Tuấn nhổm dậy. Trong bóng tối loè nhoè, dáng một thiếu nữ với bộ quần áo màu sáng thấp thoáng sau rặng tre, đang lom khom cạnh mép nước, chỉ cách chiếc ghế đá Tuấn nằm chừng mươi thước. Sau khi cắm xuống mô đất nổi mấy nén nhang, không biết có người đang nhìn trộm, cô vén mấy sợi tóc mai qua tai, hồn nhiên vừa tiếp tục hát khẽ, vừa thoăn thoắt nhặt những cánh hoa rụng trắng đất vào chiếc rổ nhỏ kẹp bên hông. Mái tóc cắt ngang vai cứ rối bay theo gió, nên chốc chốc, cô gái lại ngừng tay nhặt hoa, lại vén tóc, nhưng không ngưng ngân nga khúc hát. Khi thấy cô gái càng lúc càng tiến đến gần, Tuấn đành nhổm ngồi dậy, ho khẽ một tiếng. Cô gái vụt sững lại, chiếc rổ hoa suýt rơi khỏi tay.

– Ai đó?

– Xin lỗi đã làm cô giật mình, nãy giờ tôi nằm ngủ quên trên băng ghế, nghe tiếng cô đến gần nên choàng tỉnh, tôi…

– Ông… ông làm em sợ quá, hết cả hồn, cứ tưởng ma!

Tuấn bật cười :

– Nếu tôi là cô, tôi sẽ sợ người sống hơn người chết. Chập choạng như thế này, ở cuối vườn, xa khu nhà nghỉ, nơi chẳng có ai qua lại…

Có tiếng cười khẽ :

– Dạ, em quen rồi. Mùa ni, hoa rụng nhiều, ngớt việc là em chạy ra sông mỗi chiều. Em ở ngay chỗ ni nì, khu tập thể của nữ nhân viên phục vụ cho khách sạn.

Cô gái chỉ tay về phía có ánh đèn. Tuấn nhớ đó là hướng có vài căn nhà, với vườn «rau sạch» bao quanh, nơi cung cấp rau tươi cho các bữa ăn của khách sạn, theo lời giới thiệu của người quản lý.

– Ông ghé thăm Huế hỉ?

Cô gái bước đến gần. Còn trẻ lắm, chắc chỉ ngoài đôi mươi.

– Tôi đi du lịch cùng với đoàn. Bạn bè kéo nhau đi phố Tết hết rồi. Riêng tôi muốn hưởng chút yên tĩnh. Không phải khách sạn dừng chân nào cũng có được một khung cảnh thanh bình như thế này.

Thấy cô gái cắp rổ đứng đối diện, trong khi mình vẫn còn ngồi yên trên ghế đá, Tuấn luống cuống đứng dậy:

– Cô… cô ngồi đi.

– Dạ mô có được, em là nhân viên khách sạn, ai lại vô phép ngồi trong khi khách phải đứng.

– Còn tôi, chẳng lẽ là đàn ông, lại tỉnh bơ ngồi nói chuyện trong khi cô đứng xớ rớ thế kia?

– Ông ni dùng chữ ngộ ghê, thôi, thay vì cùng đứng xớ rớ như ông nói, em nghĩ cả hai nên cùng ngồi cho công bằng hí!

Cô gái khúc khích bước đến ngồi một bên, cẩn thận để chiếc rổ xuống giữa băng ghế, như thể đó là vật phân định ranh giới giữa cô và người đàn ông lạ mặt.

– Tôi thấy hoa rụng đầy vườn, sao cô lại ra tận đây để nhặt?

– Bờ sông ít người qua lại, hoa rụng không ai đạp, lại ở gần nước nên sạch hơn hoa bên lối đi hay dưới mấy gốc cây nhiều phân bón. Ông thích hương hoa bưởi không?

– Tôi thích mùi thanh thoát, tinh khiết của hoa chanh, hoa cam. Ðây là lần đầu tiên trong đời, tôi được biết hương hoa bưởi. Mà… tôi tò mò chút xíu, cô nhặt cả rổ hoa bưởi để làm gì vậy?

– Một phần để mạ ướp trà, một phần em hoà vào nước gội đầu ướp tóc. Còn dư, đem phơi khô, độn vào túi vải làm gối…

– Ồ, tôi vô ý quá, nãy giờ nói chuyện mà lại quên… Tôi tên Tuấn.

– Em tên Hương.

– Hèn gì…

– Ông noái chi rứa, em không nghe rõ.

– À, xin lỗi cô, tôi già rồi, hay có tật nói lầm thầm một mình những điều đang nghĩ trong đầu. Tôi thấy như mình đang tham gia vào một sự việc đã được sắp đặt từ trước, một chuyện ngẫu nhiên có tiền định. Cô thấy ngộ không, tôi từ đâu xa lắc tới, tự dưng được đặt ngồi đây, giờ này, bên bờ sông Hương, nói chuyện với một người tên Hương về mùi hương hoa bưởi. Trùng hợp đến kỳ lạ, như trong một đoạn phim, hay một giấc mơ.

– Em lại thấy cái nớ như một cái duyên. Duyên lành, hay… theo câu chuyện của ông, gọi là «Hương duyên» đi!

Tuấn bật cười.

– Không ngờ cô cũng nhanh trí, lém lỉnh thật. Nhưng cẩn thận nhé, từ «Hương duyên» đến lương duyên, người lãng tai như tôi có khi nghe nhầm đấy!

– Ông mới là ngộ. Em nghĩ sao, nói thế thôi, không biết xa xôi, bóng gió đâu.

– Tôi chọc cô chút cho vui vậy mà. Nếu đã để tâm, để bụng, sẽ không nói ngay thành lời như thế đâu. À, cô Hương, lúc nãy nghe cô hát, hay lắm. Nhưng làm sao cô biết bài này? Bây giờ đâu còn ai hát nữa.

– Em nghe mạ hát từ hồi còn bé xíu xiu. Nghe hoài rồi nhập tâm, hát theo và thuộc lòng luôn. Em cũng thuộc nhiều bài mạ hay hát, nhưng thích nhất bài ni.

– Bài hát nói về hương đêm. Cô đi nhặt hoa để ướp hương, hát bài đó vào lúc này, thật hợp tình, hợp cảnh. Nhưng tôi vẫn không hiểu tại sao người nhạc sĩ lại viết «Ðêm thơm như một dòng sữa…»? Chẳng lẽ lại đem so sánh mùi hương đêm với mùi sữa tươi hay sữa đặc có đường? Hay mùi hoa sữa? Ở Hà Nội và vài thành phố nữa, tôi nghe nhiều người than phiền vì cái mùi quá nồng nàn, đậm đặc của loài hoa này. Nó khiến người ta ngầy ngật, dị ứng, váng vất vì bị overdose, xin lỗi cô, tôi quen miệng, vì gì nhỉ… vì bị ép dùng quá liều. Tôi không nghĩ người nhạc sĩ lại mở đầu một bài nhạc tuyệt đẹp như thế bằng một thứ hương phản cảm, hay dung tục như vậy.

– Em thử trả lời ông hí. Nghe mạ hát, em nghĩ ngay đến dòng sữa mẹ ngọt thơm, ấm áp. Còn nhiều bữa trời dày đặc sương, đi dọc bờ sông về nhà, em có cảm tưởng như hương bưởi quyện lẫn vào từng vạt sương đang phơ phất trong đêm. Khi ấy, màn sương như một nguồn sữa đục từ trời thong thả lan chảy khắp nơi, toả ngát, và em nghĩ mình đã hiểu hơn câu hát, theo cách riêng…

Tuấn nhìn sang. Hương đang nhoà vào đêm. Chút ánh sáng của mấy ngọn đèn giăng đây đó quanh các lối đi trong vườn không đủ để soi rõ bán diện cô gái, có phần quai hàm hiển lộ, nét đặc trưng trên khuôn mặt của nhiều cô gái đất Thần Kinh. Hương lại vừa đưa tay vén tóc qua tai, mắt vẫn ngó thẳng, hướng ra sông.

– Tôi thích bài ấy lắm, nhưng lâu chưa nghe lại. Cô hát cho tôi nghe được không?

– Dị lắm nợ! Em chỉ hát cho mình em nghe thôi, mạ còn chê em đôi khi hát lạc giọng, sai lời nữa đọ. Dạ em không dám mô!

– Cô có phải lên sân khấu, hát trước đám đông đâu mà sợ. Tôi năn nỉ đó, cô hát cho mình tôi nghe thôi. Hay… cô cứ coi như tôi không có ở đây, như cô đang đi nhặt hoa, như mọi ngày, như lúc nãy…

Hương cất giọng. Ban đầu e dè, nhưng, chỉ sau vài câu đầu, tiếng hát lấy lại được sự cân bằng, trong trẻo ngân nga theo nhịp nước sông vỗ nhẹ vào bờ và từng luồng gió đẩy xào xạc giữa khóm tre.

Ðường đêm sao yên vui

Người đi quen lối

Tình trai nở bốn phương trời

Ðàn em trong cơ ngơi

Nhờ đêm đưa tới

Những ai làm ngát hoa đời

Nhịp bàn chân hương đêm ơi!

Nhịp bàn tay hương yêu ơi!

«Tình trai nở bốn phương trời…» Mình đã đi qua bao nhiêu đất nước rồi, đã dọc ngang đủ bốn phương tám hướng chưa, đã nở hoa đơm trái được bao nhiêu mối tình ở những nơi ấy? Hay loanh quanh mãi rồi cũng sẽ như «đàn em trong cơ ngơi» cứ thong thả ra-vào chốn cũ, chỉ cần nhịp chân khoả tay là đủ làm dậy lên cả một mùa hương đằm thắm? Hương đêm ơi! Hương yêu ơi! Trái tim có bao giờ quên là nó đã già nua, là nó đã lười biếng dần với những nhịp đập rộn ràng của mùa tình? Tôi không dám yêu em, chỉ xin yêu tiếng hát ngát hương của đêm nay. Như vậy, đã quá đủ rồi, phải không Tuấn?

Ðêm đêm trước khi ngủ kỹ

Lũ chúng em ân cần cầu hương lúc tân kỳ

Ðêm thơm thêm một lần nữa

Rồi hẹn nhau thương nhớ!

Hai nốt nhạc cuối cùng quấn lấy chữ «thương nhớ», vút lên rồi vương vấn mãi như sợi tơ nhện vừa đứt, cứ lơ lửng trong gió, chưa muốn rời nhánh cây. Hương im lặng. Tuấn cũng vậy. Không ai muốn phá vỡ sự yên lặng đang kết tinh khi một bài hát tuyệt đẹp vừa dứt. Mãi một lúc sau, Tuấn đành phải lên tiếng.

– Cám ơn cô Hương. Ðây sẽ là kỷ niệm đẹp nhất của tôi trong mấy ngày viếng thăm Huế. Tôi biết, sẽ không bao giờ có lần thứ hai trong đời, được ngồi lại giữa trời đất ngát hương hoa này để nghe cô hát «Dạ Lai Hương» nữa đâu.

– Dạ. Ðây cũng là lần đầu tiên em dám hát trước một người không phải là mạ mình, và cũng là lần đầu tiên em biết, có một người chăm chú nghe em hát hết cả bài. Cũng khuya rồi. Em xin phép ông, em về.

– Tôi đưa cô một đoạn…

– Dạ thôi, em quen đường đi, không dám làm phiền ông. Chào ông, em về.

Tuấn ngoái nhìn cho đến khi chiếc bóng trắng mờ của cô gái khuất sau khúc rẽ. Ðêm xuống đậm từ khi nào. Tuấn đứng dậy, hít vào thật đầy, hít căng phổi thêm một lần nữa, như muốn níu lại chút hương thanh khiết. Của vườn đêm, hay, của người vừa rời khỏi?

Xong xuôi hành lý trước giờ rời Huế. Ăn vội bữa điểm tâm, Tuấn không la cà tán dóc bên ly cà-phê với bọn đồng nghiệp như thường khi, thoái thác đôi điều rồi xăm xăm bước về khu nhà ở của nhân viên. Tuấn muốn chào Hương một lần nữa. Nói đúng ra, Tuấn muốn nhìn rõ hơn mặt cô gái mà mình đã trò chuyện và được nghe tiếng hát đêm qua. Nhưng, không ai biết mẹ con cô gái nào tên Hương làm việc ở khách sạn và trú ngụ tại đây cả. Nhìn đồng hồ. Chỉ còn vài phút trước khi xe du lịch của đoàn chuyển bánh. Tuấn chạy vội ra hướng sông. Chiếc băng ghế anh ngồi đêm qua đã phủ một lớp mỏng hoa bưởi rã cánh. Còn mô đất nổi, chỗ cô gái cắm xuống mấy nén nhang, không còn dấu vết. Chỉ thấy nước sông Hương đang ì ọp chậm rãi dâng.

CN

(Huế – Thiais 02.2018 – 06.2021)

Đời thủy thủ

vuthat.wordpress.com

Vũ Thất

Post 23 Aug 2026

Post by Sơn râu 2 Oct 2026

Tin đồn đảo chánh được đăng đầy trên các báo từ những ngày đầu tháng mười. Đến sáng thứ hai của tuần cuối tháng, tàu vừa cặp bến là lãnh trọn cái lệnh cấm trại trăm phần trăm. Người dân thủ đô thì bị giới nghiêm sau chín giờ tối đến bốn giờ sáng. Tuy nhiên, như thường lệ, mỗi lần tàu công tác mới về, ông hạm trưởng “du di” cho một nửa nhân viên đi bờ luân phiên trong hai ngày. Riêng tôi thì bị đóng đinh vào chiến hạm suốt liền ba ngày. Cuối tháng là những ngày tôi bận rộn nhất. Tôi phải đôn đốc và kiểm soát việc thiết lập bảng lương cho thủy thủ đoàn và đồng thời kết toán chi tiêu và mượn nợ của các sĩ quan. Mãi đến trưa thứ năm ngày chót của tháng 10 tôi mới có thể trình hạm trưởng phần việc của tôi hoàn tất. Ông vui vẻ ký cho cái Lệnh công tác đặc biệt 24 giờ với lý do là liên lạc Phòng tài chánh Bộ tư lệnh Hải quân. Thực tế chỉ là tạt qua mất chừng năm phút để nộp bảng lương, sẵn sàng cho ngày mai Hạm trưởng ghé nhận tiền!

Nếu không bị ràng buộc lời hứa cưới Hồng thì chắc chắn tôi sẽ dành hai mươi bốn tiếng công tác đặc biệt này cho… Lưu Ngọc Anh, hoặc cho bà chủ, hoặc cho ai đó ở “chỗ quen biết”. Thật lòng thì tôi nhớ Hồng quay quắt trên đường từ Nha Trang về bến và hình ảnh Hồng lúc nào cũng tràn ngập trong trí não tôi, nhưng rồi hình ảnh dập dìu giai nhân của Sài Gòn gợi tôi nhớ cái thân thể của Lưu Ngọc Anh ngồn ngộn những núi cùng đồi. Một phần khác tôi cũng rất muốn biết nàng có còn “làm” ở đó không. Thế nhưng nhớ nàng thì cứ nhớ, còn thì tôi vẫn không quên tự nhắc mình phải tiến hành thực thi chính sách năm năm… thắt lưng buộc bụng. Đã hết cái thời tôi tỏ ra quan tâm một người con gái bá vơ bằng một sự phí phạm. Tôi chỉ có thể thầm cầu mong Lưu Ngọc Anh không còn phải đến cái chốn xem ra không thuộc về nàng…

Theo dự trù, sau khi ghé Bộ tư lệnh, tôi sẽ cuốc bộ qua công trường Mê Linh, đi dọc theo đường Tự Do, rẽ sang Nguyễn Văn Thinh vào Tôn Thất Thiệp. Ở đó, tôi sẽ ăn một tô hủ tiếu Thanh Xuân rồi ra Mai Hương nhâm nhi một ly cà phê. Rồi sau khi ngắm người chán chê, tôi sẽ tạt qua rạp Vĩnh Lợi để xem một phim, nếu là phim chưa xem. Coi xong, theo đường cũ, đến Pasteur ăn vài cuốn bò bía, thêm một dĩa bánh ướt rồi về tàu viết thư cho Hồng! Tôi có thể viết một thư thật dài, có thể viết suốt đêm vì ngày hôm sau tôi còn phép để ngủ bù. Một chuyến đi lành mạnh như vậy giúp tôi tiếp kiệm ít nhất tám trăm và giúp Hồng hạnh phúc với lá tình thư nồng thắm.

Tôi bắt đầu đi ngang nhà hàng Majestic. Lề đường Tự Do được lót bằng nền xi măng kẻ khối vuông nho nhỏ, bám chút rong rêu, nườm nượp bước chân. Xe hơi đậu không còn chố trống dọc theo lối tôi đi. Lòng đường rực nắng in bóng các tàng cây xuôi ngược đủ loại xe. Dù là ban ngày, tên các thương hiệu vẫn tỏa ánh màu. Hotel Saigon Palace, nhà hàng Maxim, Eden Roc restaurant. Cùng lối chơi đèn màu xanh đỏ của vũ trường Tự Do, một tấm biển nhấp nháy ngay trước mặt tôi với kiểu chữ huỳnh quang bắt mắt: “Hollywood Snackbar“. Tôi biết snackbar là gì nhờ bốn tuần thực tập hải nghiệp trên đệ thất hạm đội. Chiếc USS Procyon ghé hải cảng Sasebo của Nhật ba ngày. Một sĩ quan Mỹ rủ tôi và người bạn cùng khóa vào một snackbar. Đó là một quán rượu với nhiều chiêu đãi viên trẻ trung, xinh đẹp. Mục đích của họ là bằng mọi cách phải chài khách hàng uống càng nhiều rượu càng tốt và chính họ được khách hàng cho uống “Japanese tea” càng nhiều càng hay. Hoa hồng được chia trên số lượng rượu khách uống và tea được coi là tiền thưởng do… cọ quẹt. Dù với tiếng Anh chưa rành, tôi cũng hiểu thêm rằng những cô chiêu đãi viên này chỉ có nhiệm vụ tiếp khách chớ không… đi khách. Đi khách là thỏa thuận riêng của họ với khách hàng và đi sau giờ bar đóng cửa. Rất ít chiêu đãi viên Nhật chịu đi khách. Nếu có thì chỉ vì cảm tình. Tiền bạc tùy hảo tâm.

Tôi đứng dưới bóng mát của một thân cây cao to, sần sùi, ngắm tấm biển nhấp nháy gọi mời. Tôi nhìn đồng hồ. Mới ba giờ chiều. Bụng tôi còn lưng lửng cơm trưa trên chiến hạm. Thời điểm cho một tô hủ tiếu còn quá xa, dư sức cho việc nhâm nhi vài chai bia đủ để thỏa mãn nhu cầu tìm xem “Sài Gòn tea” có gì lạ hơn “Japanese tea”! Lại biết chừng đâu có một cô chiêu đãi dễ thương nào đó nổi hứng thương đời thủy thủ mà tặng cho một đêm không ngủ! Nếu có phải tốn vài trăm so với “chỗ quen biết’ tám trăm thì rõ ràng còn nhiều …tiết kiệm! Vả chăng, số tiền tôi mang theo là phần tồn động của lương tháng trước, nằm ngoài kế hoạch năm năm.

Tôi mạnh dạn đẩy cánh cửa bước vào quán. Thoạt tiên tôi có cảm tưởng như bước vào một căn hầm lờ mờ sáng và rười rượi mát. Mùi thuốc lá thơm ngào ngạt. Điệu nhạc rock mơ hồ như phát ra từ những chấm xanh đỏ rải đều trên trần. Chỉ dăm ba khách ngồi ở quầy được tỏa sáng hơn đang tán tỉnh cô pha rượu. Còn mọi ghế ở các dãy bàn mờ ảo dọc theo tường đều đã có chủ. Bầu không khí thì không khác các snackbar Nhật. Cũng đầy các cô chiêu đãi xinh đẹp trẻ trung má tựa vai kề, ngả ngớn cười cợt với khách hàng. Cũng những tiếng cười dòn của các cô lớn hơn tiếng đàn ông. Càng uống, men rượu càng đẩy khách… lạng quạng và các cô càng được châm nhiều tea. Tôi xề vào một chiếc ghế cao. Cô pha rượu mơn mởn nở nụ cười duyên kèm một câu chào mà tôi tưởng cô nói với người nào khác:

– Hello, my dear! What can I do for you?

Tôi bật cười:

– Do I look like an American?

Cô nhìn tôi, tỉnh bơ:

– You do!

Tôi nhăn mặt khó chịu. Cô muốn đuổi khéo mình chăng? Có thật cô hàm ý quán chỉ tiếp khách Mỹ, miễn người bản xứ yếu địa. Tôi cố nghĩ ra một lời thâm độc tặng cô nàng trước khi rời quán. Cô pha rượu lại nhoẻn miệng cười tươi:

– Không có ý gì đâu nghen. Tại em thấy anh giống tên nhái Mỹ thường vào đây tán tỉnh em.

Tôi ngắm đôi môi sơn đỏ hình trái tim trên khuôn mặt phấn son khéo léo. Có khéo léo gì thì cũng lộ ra cái số tuổi của cô lớn hơn cái tuổi hăm ba của tôi. Nhưng nghe xưng em thì cũng thấy mát lòng. Cô đứng yên cho tôi ngắm từ đầu xuống chân. Chiếc áo đầm một mảnh hở cổ màu tròng đỏ hột gà chạy tới nửa đùi. Tôi khen thầm thật đáng đồng tiền bát gạo!

Giọng nhỏ nhẹ của cô hàng rượu:

– Ông anh uống chi?

Tôi chỉ có bia là sở trường và rượu chát là sở đoản. Nhưng liệu quán này có chịu bán loại rượu giá bình dân không. Tôi ậm ừ hoãn binh:

– Bỏ tiếng ông thì mới uống!

Vừa nói tôi vừa đưa mắt lên kệ rượu. Lối trình bày cũng không khác ở Nhật. Đó là một giàn kệ bằng kính chia thành các ô hình chữ nhật đứng, nằm. Mỗi ô dành cho một loại rượu, mỗi loại có nhiều nhãn hiệu và kiểu chai khác nhau. Ô chứa bia ở cuối hàng thấp nhất. Chai “33” ưa thích nằm ngoài cùng. Bia là thứ rượu tôi quen biết từ thời trung học. Tôi chợt nhớ là sau dạ tiệc chiến hạm còn thừa nhiều “33” và quyết địnhsẽ cùng Tâm đối ẩm khi về tàu. Còn đã đến đây thì chơi bia Mỹ cho nó điệu nghệ. Cô hàng rượu hạ giọng, tuy có phần châm chọc nhưng cũng biểu lộ thói quen nhẫn nại chiều khách:

– Thưa anh, anh muốn uống gì?

Tôi thấy cần trả đũa và cần dằn mặt là nếu tôi có uống bia thì không hẵn tôi thuộc hạng bình dân:

– A Bud, please!

Cô hàng rượu kêu lên:

– Em mê tiếng please của anh quá. Nó được phát bằng âm điệu lịch sự, ngọt ngào mà em chưa từng được nghe từ khách Mỹ. Còn anh là “mít đặt” mà gọi Bud thì có cho vàng bảo gọi bằng anh, em cũng không dám! Cho em gọi… đại ca!

Tôi thầm khen cô nàng đấu láo không thua gái bán bar ở Nhật. Ở đó họ gọi Bud thay cho Budweiser. Có lẽ tiếng này còn mới mẻ với các snackbar Sài Gòn. Tôi ngây ngất ngắm cô hàng rượu. Em gọi anh là gì cũng OK, nhưng đã trót gọi đại ca thì phải tuyệt đối tuân lệnh đại ca. Tối nay đại ca ra lệnh tiểu muội cùng ngao du qua đêm với đại ca. Cãi lời là đại ca xin tý huyết! Tôi chỉ đùa thầm với mình. Thực tế thì chắc tôi còn phải mở máy tán mệt nghỉ. Tôi bắt đầu bài bản:

– Trên chốn giang hồ, chưa từng có ai được tôn làm đại ca mà lại không biết tên nghĩa muội!

Tôi thấy cô cúi xuống lấy chai bia để dưới quày, môi bậm lại như cố nín cười. Khui nắp xong, cô đẩy chai bia đến trước tôi, giọng trịnh trọng:

– Vô danh đại ca! Tiểu muội được lưu linh giang hồ đặt cho mỹ danh là… Linda sờ nách.

Cô hàng rượu nói xong cười ngất. Tôi cố nín cười, tiếp:

– Đại ca cũng từng ngao du khắp chốn giang hồ, từng lắm phen kết nghĩa đệ huynh nhưng chưa từng được kết nghĩa với một mỹ nữ có Mỹ danh ! Vạn hạnh, vạn hạnh!

Tôi đang hòa tiếng cười sảng khoái cùng Linda thì đôi mắt đang đắm đuối ngắm nghĩa muội bỗng bị hai bàn tay mềm mại bịt kín. Một giọng nói nhẹ như… truyền âm nhập mật rót vào tai bên trái:

– Biết ai hôn?

Tiếng trong trẻo nhưng không thuần miền Tây. Nó có chút gì pha trộn nhưng tôi không thể nhận ra là của ai. Tôi câu giờ:

– Nói lại lần nữa…

– Ông anh biết ai không?

Vẫn giọng rất trong nhưng không thuần âm sắc Sài Gòn. Ai nhỉ? Tôi chưa từng vào và chưa từng quen cô nào làm trong snackbar. Tôi nghĩ đến vài cô bạn của những năm trung học Sài Gòn. Giọng quen quen lại vang lên, vẫn pha chút châm chọc:

– Ông anh nhận ra ai chưa? Thân thiết lắm nghe!

Đúng là giọng của Tuyết. Nhưng đâu lẽ. Quán này đâu phải là chốn thích hợp cho một người con gái sinh trưởng từ đất thần kinh nặng phần danh giá. Tôi lắc đầu:

– Chịu thua!

Lại vẫn giọng châm chọc, đùa dai:

– Quân vương tệ thật! Chả nhớ gì đến tỳ nữ!

Hai bàn tay rời khỏi mắt tôi. Tôi quay nhanh về phía trái và giật thót người kêu lên:

– Tuyết!

Tuyết nở nụ cười tươi:

– Chính tiểu muội đây. “White Snow” của anh đây! Anh thất vọng lắm hỉ?

Tôi xoay ghế và vòng tay ôm Tuyết sát vào người. Tôi muốn biểu lộ nỗi vui mừng lẫn thương yêu đang dâng tràn. Tôi muốn hôn vào môi Tuyết nhưng ngại những cặp mắt đang đổ dồn vào chúng tôi. Một lúc, Tuyết nhích người ra và tôi mở đôi tay. Tuyết nghênh mặt, giọng hờn dỗi:

– Hôm nọ, em nhắn anh Tâm nói anh đến nhà, sao anh không đến?

– Bữa đó anh bận chút việc gấp…

– Em đã rất mong anh đến để xin trả lời một câu hỏi. Nhưng đến nay, lúc em đinh ninh rằng anh đã dứt khoát xa lánh thì bất ngờ gặp lại. Vậy nhân tiện, xin anh cho một lời minh bạch. Câu hỏi của em là… Mà thôi, chuyện dài dòng. Anh ngồi đợi một chút, em sắp xếp rồi đi chơi với anh, có thì giờ bàn bạc cặn kẽ hơn.

Nàng quay sang cô hàng rượu:

– Em đi có chút việc riêng. Chị coi như hôm nay em không đến làm.

Cô hàng xua tay, vui vẻ:

– Không sao! Chúc nhiều hạnh phúc.

Tuyết đi về chiếc bàn trong cùng ngồi lên chiếc ghế trống, xây lưng về phía tôi. Một tên Mỹ nghiêng qua nói vào tai nàng, xong cười hô hố. Nàng đập tay vào vai hắn, thân mật. Tôi quay sang cô chủ. Cô đang nhìn tôi bằng ánh mắt tò mò nhưng ngại hỏi. Tôi cầm ly bia lạnh, cười đùa:

– Old flames! Hôm nay bất ngờ gặp lại.

Cô chủ gật đầu:

– Rõ ràng là vậy. Để chúc mừng, “Holywood” rất hân hoan mở happy hours cho old flames. Thích uống gì cứ uống, bao nhiêu cũng free!

Tôi ra vẻ xông xáo, nốc cạn ly rồi rót cạn chai.Tôi dơ ngón tay trỏ. Cô chủ vui vẻ cúi xuống lấy chai budweiser khác. Tôi nhìn đôi vú căng tròn qua chiếc áo rộng cổ mà thèm thuồng. Tôi biết đó là cái bẫy để câu khách hàng. Phải chi Tuyết đừng làm ở đây thì thế nào tôi cũng sẽ nhiều lần sập bẫy. Quán này vừa có cô chủ hấp dẫn, vừa gần bến tàu đỡ tốn tắc xi, vừa khỏi phung phí bạc tiền. Đã chịu free rượu thì free tình chỉ cách vài chục chai bia! Khi chủ nhân Linda sắp khui chai mới, tôi dơ tay ra dấu bảo đừng.

Cô cười nhạo:

– Sợ say không làm ăn gì được à?

Tôi buộc phải đáp lễ với cùng lối trây trúa:

– Càng say càng dẻo càng dai, chỉ sợ hao bia Linda Sờ nách!

Linda không cười, tia mắt chiếu về phía sau tôi. Tôi quay lui. Tuyết đứng chờ từ bao giờ. Tôi lại lướt nhìn từ đầu đến chân. Nàng gọn gàng, tươi trẻ với chiếc áo dài mà dù mắt đã điều chỉnh độ sáng tôi không chắc nó có màu xanh hay đen. Nhưng chiếc quần thì chắc chắn là màu trắng mà phần lai chạm hờ hững trên các ngón chân thon ngà ngọc. Trông Tuyết như một thiếu nữ Việt Nam mẫu mực. Hèn gì bọn G.I. không mê mệt sao được. Tuyết nói với cô chủ:

– Mai gặp lại chị.

Tôi không biết Linda nói đùa hay thật:

– Giữ cho kỹ kẻo… mất đấy. “He” thuộc hàng lady killer.

Cả hai cười vang. Tôi nhảy khỏi ghế, móc bóp chọn tờ hai mươi đồng. Chưa kịp rút tiền ra, Linda lên tiếng:

– Em nói free là free. Đừng lộn xộn.

Tôi đặt tờ bạc lên quày, nhấc chiếc ly dằn lên:

– Anh đâu có trả tiền bia. Chỉ là tip.

– Tip cũng không! Người nhà cả mà.

Tôi tỉnh bơ trước lời cự nự của cô chủ, bước ra cửa. Cô chủ la to:

– Good night! Enjoy!

Tôi nhìn đồng hồ tay. Mới gần ba giờ rưởi. Chúng tôi lặng lẽ cuốc bộ về phía tòa nhà quốc hội. Được một lúc Tuyết lên tiếng:

– Anh khinh em lắm hả?

– Không!

– Nhất định là anh khinh em!

– Không! Anh yêu em!

– Dốc tổ! Ai mà thương những người làm nghề này!

Tôi không rõ là tôi có khinh Tuyết hay không nhưng có điều chắc chắn là tôi đang tự hỏi lòng mình là tôi có còn yêu Tuyết? Giọng Tuyết đều đều:

– Anh nghĩ về em thế nào cũng được vì em đã chấp nhận số phận. Em hiểu nghề của em bị chê là không đàng hoàng, nếu không muốn nói thẳng là nó hèn hạ, bẩn thỉu…

Tôi nắm chặt cánh tay Tuyết, ngắt lời:

– Tuyết! Cho anh xin. Ông bà ta có câu: “Không có nghề xấu mà chỉ có người xấu”! Nếu em tư cách đàng hoàng, mặc xác thiên hạ. Riêng anh, anh không thấy em làm điều gì xấu. Và anh đang rất hãnh diện được đi lang thang giữa phố đông người với em.

Tuyết nắm chặt cánh tay tôi như tỏ lòng biết ơn. Tôi đưa Tuyết lên lầu quán kem Brodard. Chúng tôi ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn dành cho hai người kê sát khung kính trong suốt. Tuyết gọi ly kem ba màu. Tôi chọn cà phê phin đen nóng. Gương mặt Tuyết đẹp rực rỡ mà buồn thảm. Nàng lặng lẽ nhìn về hướng nhà hàng Continental. Tôi cũng lặng thinh ngắm tấm bảng hiệu “Hollywood Snackbar” nhấp nháy xa bên dưới. Một cô gái trâm anh, học giỏi như Tuyết vẫn có thể đi vào chốn xô bồ thế này sao? Giọng Tuyết trầm buồn:

– Em không tự phụ nhưng chắc anh cũng công nhận rằng em có thừa sắc đẹp để câu một ông chồng giàu có dễ dàng? Em có dịp gặp nhiều người. Họ chỉ có thể tỏ cho em thấy sự mê si của họ nhưng không cho em thấy họ… xứng đáng là chồng em! Sống với ông chồng em không kính không yêu thì thà sống một mình! Lại có vài ông sẵn sàng tặng em xe hơi nhà lầu nhưng em không muốn bị tạt á xít! Cám ơn anh nghĩ tốt về nghề của em. Thật ra em chỉ làm tạm bợ một thời gian, cho đến khi em kiếm đủ tiền tiếp tục bậc đại học. Em tính rồi, chỉ cần một vài năm…

Tôi ngắt lời, chua xót hỏi:

– Đừng giận anh. Anh không thể không thắc mắc. Vì sao em phải đi bán bar?

Tuyết không trả lời ngay. Nàng nhìn tôi đăm đăm như đo lường sự thật thà trong ý biểu lộ cảm thông. Tôi giương mắt tiếp nhận, không tránh né. Một lúc sau, Tuyết cúi mặt, nâng muỗng múc kem. Nàng ăn có vẻ ngon lành, khuôn mặt trỏ nên thanh thản. Còn chừng nửa ly, Tuyết buông muỗng, hai tay chống cằm, lại nhìn tôi đăm đăm:

– Vì sao em phải đi bán bar? Thì anh đã biết, bỗng dưng em bị mồ côi. Em chạy trốn Nha Trang. Dù không tin tức gì về anh, em cũng cứ vào Sài Gòn với niềm hy vọng. Và trong lúc tuyệt vọng, em được một người tận tình giúp đỡ. Căn nhà anh đến chơi là do anh ấy giúp em mua, giúp em thiết trí và trang bị mọi thứ. Em sống hạnh phúc được hai tháng thì một hôm, khi em và anh ấy đang ngồi ăn tối thì có một bà gõ cửa rồi xồng xộc xông vào nhà, theo sau một đám lâu la. Anh hẳn đoán được sự việc diễn ra. Em nói với bà là em không biết anh ấy có vợ và hứa là sẽ không bao giờ gặp lại anh ấy. Từ đó, em sống một mình trong sợ hãi cho tới ngày em gặp anh Tâm. Phải em khôn một chút, đừng nôn nóng hỏi han về anh thì không chừng anh Tâm đã hỏi cưới em. Nhưng dù em tỏ ra còn thương nhớ anh, anh Tâm vẫn đến chơi, săn sóc, đùa giỡn giúp em đỡ cô đơn. Có lúc em đã quyết định tự nguyện làm vợ anh ấy, cố tạo điều kiện cho anh ấy tiến xa hơn mà không bị anh ấy coi thường, nhưng đúng lúc đó anh lại xuất hiện. Chính vì không muốn làm một người vợ gian dối, mới đây em đã từ chối thẳng thừng lời cầu hôn của anh ấy. Em biết em chưa thể quên anh.

Tuyết nói một thôi dài, gần như muốn hụt hơi mới chịu ngưng. Nàng cúi mặt, vươn bàn tay trái lạnh ngắt nắm bàn tay phải tôi để xuôi trên mặt vải màu chàm. Tiếng êm ái của Tuyết lại cất lên, đều đều, rành rọt:

– Tất nhiên em cũng có cái đầu biết suy nghĩ! Việc anh không muốn gặp lại em đã là một câu trả lời vô cùng minh bạch và em cũng đã chấp nhận. Nhưng hôm nay ông Trời dung rủi cho em gặp lại anh, em không thể không đặt ra câu em từng muốn hỏi. Em muốn nghe chính lời anh nói. Anh Bằng, có phải thực lòng anh không còn yêu em?

Thốt xong câu hỏi, Tuyếtngẩng mặt, chiếu tia mắt cực sáng vào thẳng hai con ngươi của tôi. Đến lượt tôi cúi mặt. Phải chi Tuyết hỏi tôi có muốn cưới Tuyết làm vợ không thì tôi trả lời rất dễ dàng bởi vì tôi có sẵn các lý do vững chắc. Nhưng tôi không thể nói là tôi không yêu nàng. Tình yêu của tôi nếu gọi là chia đều cho cả ba Hiền, Hồng, Tuyết thì hoàn toàn sai, cũng không thể nói là mỗi người chiếm một phầnít nhiềutrong đó. Nói cho đúng thì mỗi người khi gần tôi cũng đều được tôi dành cho trọn vẹn yêu thương. Như giờ đây tôi cảm thấy hết lòng yêu Tuyết. Tôi không mảy may nhớ Hồng, nhớ Hiền. Như tuần trước tôi hết lòng yêu Hồng và bảy tháng trước, tôi hết lòng yêu Hiền.

Tuyết lại lên tiếng:

– Sự im lặng của anh cũng là một lối trả lời minh bạch nhưng em vẫn muốn nghe anh nói. Em muốn tiếng nói của anh đánh động tâm thức của em để lúc nào cũng sẵn sàng xóa tan mọi hy vọng còn rơi rớt. Hãy nói đi anh Bằng, nói là anh không yêu em!

Tôi ngước lên, chấp nhận tia mắt nồng nàn của Tuyết. Tôi thở dài:

– Tuyết à, nếu em hỏi anh có ý định cưới em không thì anh trả lời ngay là không. Nhưng vì em hỏi anh có yêu em không, anh phải xét lại lòng mình. Anh thành thật nhận rằng anh có yêu em, yêu em bằng tình yêu đầu đời và bây giò vẫn tha thiết.

Tuyết nắm chặt bàn tay tôi, mỉm cười rạng rỡ. Nàng hăm hở nói:

– Mình ngồi cũng lâu rồi, đi đi anh!

Tôi ra dấu anh bồi bàn tính tiền. Chúng tôi lang thang chen vào dòng người trên phố Tự Do. Chúng tôi vào xem từng bức tranh trong phòng triển lãm. Rồi tha thẩn bên lề Lê Lợi. Tôi liếc nhanh các tên sách bày bán trên các sạp. Quyển “Ý thức mới trong Văn nghệ và Triết học” của Phạm Công Thiện với cái bìa màu đỏ nổi bật trên dãy sách mới phát hành. Tôi đã quá ngán với các bài vở chuyên nghề, các sách kỹ thuật, các hồ sơ, tài liệu khô khốc suốt trên hai năm qua. Xin từ giả Hải hành, thiên văn, khí tượng. Xin chia tay Điện kỹ nghệ, Động cơ nổ. Xin vĩnh biệt Sức bền vật liệu, Hải pháo, Truyền tin… Đã đến lúc tôi tự nuông chiều sở thích. Tôi ghì tay Tuyết dừng lại, nhấc quyển sách đưa cô bán hàng. Tuyết reo khẻ:

– Cuốn này coi bộ hấp dẫn và chắc em cần trong tương lai. Như em nói, vài năm nữa em sẽ vào Văn khoa.

Tôi xăng xái:

– Để anh tặng em một quyển.

– Đừng! Hai năm nữa em sẽ chôm quyển này của anh.

Chúng tôi đến rạp Vĩnh Lợi và không biết tiếp tục về hướng nào. Tuyết gợi ý:

– Mình tìm chỗ nào kín đáo nói chuyện cho đã. Mỗi đêm em vẫn thì thầm nói chuyện với chiếc gối ôm mà em tưởng tượng là anh.

Tuyết nói, ánh mắt nhìn tôi đắm đuối. Tôi hiểu vì sao Tuyết thầm thì như vậy. Trên đường từ Nha Trang về Sài Gòn, tôi cũng đã ôm gối, vừa hôn vừa thì thầm những lời thương nhớ Hồng. Tôi đề nghị:

– Hay là về nhà Tuyết?

Nàng lắc đầu:

– Không! Về nhà em để rồi khi vắng anh, em nhớ anh chịu sao thấu!

Tôi nghĩ đến cái phòng ngủ của khách sạn Lê Lai gần ga xe lửa từng qua đêm với Lưu Ngọc Anh. Không, không thể! Đưa Tuyết vào đó, tôi khó tránh cái mặc cảm đặt Tuyết ngang hàng…

– Hay là mình mướn một phòng ngủ? Em cần cả một đêm để nói hết với anh một lần tất cả những gì em từng muốn nói.

Tôi buông tiếng thở dài. Chọn lựa nào cũng bế tắt. Tôi từ chối sẽ làm tổn thương Tuyết. Tôi vừa xác nhận còn yêu Tuyết thì sao hành động ngược lại? Nếu tôi đồng ý, sẽ tự mình hổ thẹn với Hồng. Tôi đang ở thời điểm thúc bách giải tỏa mà Tuyết chơi cái trò mang mỡ dâng miệng mèo thì trời gầm không nhả chứ mười Tuyết cũng không tránh né được tôi. Mà chắc chắn là Tuyết không tránh né. Nàng đã chẳng ám chỉ qua câu “Về nhà em để rồi khi vắng anh, em nhớ anh chịu sao thấu”. Vấn đề là chính từ tôi. Mong rằng tôi đủ nghị lực chống đỡ cái bẫy sập này nếu thực Tuyết cố ý gài tôi vào chuyện đã rồi với một đứa con.

– Nếu anh không muốn thì thôi, chúng ta cứ lê la quán này sang quán khác cho tới giới nghiêm thì chia tay.

Đồng hồ của rạp Vĩnh Lợi chỉ gần sáu giờ. Còn ba tiếng nữa. Tôi nói:

– Mình kiếm cái gì dằn bụng rồi tính!

Tôi nhìn quanh tìm một nhà hàng. Xéo bên kia là Thanh Thế, cạnh đó là Kim Sơn. Thanh Thế thì không mấy sang. Kim Sơn thì chưa vô lần nào. Tuyết lại lên tiếng:

– Trở lại chỗ em làm. Có một nhà hàng tây gần đó rất ngon và ấm cúng.

Tôi bước cạnh Tuyết như một người máy. Mặt tiền nhà hàng Catina khiêm tốn mà khang trang. Người tiếp viên đưa chúng tôi đến chiếc bàn hai chỗ ngồi đặt sát khung kính nhìn ra đường. Hollywood Snack Bar nhắp nháy bên lề đối diện. Từ trang bìa tờ thực đơn tôi đọc tên nhà hàng Catina Hotel. Vẻ sang trọng, cách bày trí và cách phục vụ như rập khuôn nhà hàng La Frégate. Các món ăn cũng không khác là bao. Tự dưng tôi nhớ Hồng tha thiết và cúi mặt xấu hổ cho lòng dạ bạc tình của mình…

– Anh răng rứa?

Lâu lắm tôi mới nghe giọng Huế của Tuyết. Tôi ráng một câu nhại đùa:

– Có chi mô!

– Anh ăn chi?

Tôi ngước nhìn anh bồi, nói như máy:

– Chateaubiand, hơi chín với khoai tán. Một ly rượu chát pinot noir.

– Tôi giống như vậy.

Tuyết có vẻ hạnh phúc với việc chọn cùng món ăn thức uống. Còn tôi thì… nát cả ruột gan. Tôi nhẫn tâm với Tuyết quá. Tôi đang sống lại những phút giây lãng mạn tuyệt vời bên Hồng. Rượu chát tôi biết uống nhờ quen Hồng và chỉ uống với Hồng.

– Anh có tin rằng em đã … có chồng không?

Tôi tỉnh táo tức thời:

– Hả? Em có chồng?

Tuyết cười mỉm:

– Bộ anh tưởng em không lấy được ông chồng nào sao?

Tôi xoa tay phản đối thì nàng tiếp:

– Sau khi vớ nhầm ông có vợ, em ở hẳn trong nhà. Phần thì sợ, phần xấu hổ. Chừng dăm ba tháng em nguôi ngoai. Một hôm ra ban công, em gặp một bà đang ngồi ở ban công nhà kế. Em chào hỏi, gợi chuyện. Mỗi ngày tâm sự một ít. Khi nghe em than đang thất nghiệp thì bà cho biết chỗ con gái bà làm đang cần người. Em gặp con gái bà. Thế là chúng em đi làm chung.

– Ở Hollywood Snackbar?

– Dạ. Chính ở đó em gặp một thằng Mỹ rất tử tế. Sau vài tháng quen biết nó ngõ ý muốn cưới em mang về Mỹ. Em OK liền! Anh biết vì răng không?

Tôi cười tủm. Tuyết nâng chiếc dao giá giá:

– Nghĩ bậy, em giết anh. Vì những lý do này. Thứ nhất là em vẫn nhớ anh. Thứ hai, em vẫn sợ bị tạt á xít. Thứ ba, em muốn rời xa cái đất nước mang cho em toàn chuyện đau đớn!

Tôi không dám lên tiếng đùa cợt. Việc Tuyết còn ngồi ở đây và cái lối kể chuyện dường như sẽ đưa đến một kết cuộc không vui. Tôi buông dao nĩa, nghiêng người tới gần nàng, chờ đợi, lắng nghe. Giọng Tuyết cười cợt mà như có âm rền rĩ:

– Phải mất gần một năm thủ tục mới hoàn tất. Rồi khi chỉ còn một tuần nữa là lên đường thì nó… chết!

Có lẽ mắt tôi mở to lắm nên lại làm Tuyết hiểu lầm. Nàng lại giá giá con dao:

– Lại nghĩ bậy! Nó chết vì rớt trực thăng!

Tôi vói nắm tay Tuyết:

– Anh thành thật chia buồn.

Tuyết cười:

– Em hết buồn rồi, chỉ sợ. Những người thân yêu của em đều chết vì máy bay.

Tôi xoa tay:

– Thật may! Anh chỉ đi tàu thủy.

– Anh dị òm!

Chúng tôi lặng lẽ ăn. Rượu làm gương mặt Tuyết ửng hồng tuyệt sắc. Tôi chợt nhớ đến đôi má của Hồng khi chiều ý tôi uống cả lon bia đêm dạ hội trên tàu. Tôi đang đắm say nhìn ngắm đôi má của ai đây? Tôi hỏi Tuyết có muốn thêm rượu. Nàng lắc đầu. Tôi gọi thêm một ly cho tôi. Tuyết nói:

– Gần đây, có một thằng Mỹ khác, bạn thân của chồng em, bảo rằng nó cũng thương em từ lâu, nay muốn cưới em và đưa em về Mỹ. Em sợ quá, đành từ chối. Nó vẫn còn đang “dụ dỗ” em…

– Thì cùng lắm là thằng đó chết chứ đâu phải em! Bằng êm xuôi, em qua được xứ Mỹ, hết buồn.

Tuyết nhăn mặt, tỏ vẻ không ưa cách ăn nói của tôi. Bất chợt nàng xoay chiều đột ngột bằng giọng nôn nả:

– Đời em khi xa anh là rứa. Còn anh thì răng?

Câu hỏi bất ngờ làm tôi sựng người. Tôi tìm kế hoãn binh:

– Lần gặp lại em, em nói toàn giọng Sài Gòn. Tối nay em pha nửa Huế nửa Sài Gòn nghe hay dễ sợ! Tiếp tục…

– Đoạn cuối anh đã biết, là sau đó em gặp lại anh Tâm, rồi gặp lại anh. Mà không hiểu sao chuyện em có chồng Mỹ, em dấu không kể với anh Tâm mà bữa ni lại kể với anh. Có thể tại vì em yêu anh Tâm chưa đến cái mức em tuôn hết mọi chuyện…

Người bồi lịch sự nhắc chúng tôi là nhà hàng đóng cửa lúc tám giờ. Chúng tôi còn mười lăm phút để chấm dứt bữa ăn. Tôi nâng ly rượu chát, quét mắt nhìn quanh, chầm chậm đi một hơi cạn ly. Chỉ còn hai chúng tôi là thực khách. Ngoài đường cũng vắng bóng người, chỉ thỉnh thoảng có ánh đèn xe lướt qua. Cũng không thấy chiếc xích lô đạp nào mà mới một tiếng trước đó còn đậu vài chiếc. Trong lúc chờ tính tiền, tôi đề nghị:

– Để anh đưa Tuyết về nhà.

– Quá muộn rồi anh ạ! Em để ý, chả còn thấy chiếc xe tắc xi nào.

Nàng nghiêng mặt về quày tiếp tân:

– Nhờ anh đến mướn cho em một phòng. Rồi anh về tàu. Tàu anh đậu gần đây mà, anh đi bộ về được.

Tôi tự mắng mình thiếu cảnh giác. Tôi đã quá thơ ngây để bị Tuyết dẫn dắt ngay từ đầu. Tuyết thừa biết tôi không thể bỏ Tuyết một mình trong phòng ngủ. Tôi nói thầm với Hồng: “Anh sẽ cố hết sức để giữ thủy chung với em, Hồng thương yêu!”

Nhận phòng xong, Tuyết khóa cửa và đứng tại chỗ ôm tôi, tặng tôi chiếc hôn nồng cháy. Tôi không phản ứng và cố không hưởng ứng. Tuyết buông tôi ra, mỉm cười:

– Em đi tắm trước.

Nàng nhún nhảy về phía buồng tắm, mở toan cửa và không đóng lại. Căn phòng nhỏ, bịt bùng nhưng sạch sẽ, bày biện đẹp mắt và mát rượi. Làn hơi lạnh từ máy điều hòa gắn trên vách sát trần nhà thổi ngang qua chiếc giường đôi cỡ nhỏ trải drap trắng tinh. Hai chiếc đèn chụp ở hai bên đầu giường đang tỏa ánh sáng được tăng cường từ chiếc gương lớn gắn trên vách. Đối diện là một bức tranh hoa huệ màu vàng tươi trông như thật. Có tên tác giả ký ở góc nhưng tôi đứng xa không đọc được. Hẳn cũng phải là một họa sĩ nổi danh nên tranh mới được chụp lại bán ra thị trường. Tôi chợt nhớ tới bức Starry Night của Vincent Van Gogh treo ở căn phòng của “chỗ quen biết”. Tôi lắc đầu cố xua đuổi những động tác của Lưu Ngọc Anh hiện về mồn một…

Tiếng nước xối xả trong nhà tắm vọng ra át cả tiếng máy đều hòa. Tự dưng tôi nảy ra cái ý so sánh đáng phiền trách. Lưu Ngọc Anh và Tuyết có điểm giống nhau. Cả hai đều để cửa mở toang khi tắm. Nhưng lại có điểm trái ngược. Lưu Ngọc Anh xong việc mới tắm, còn Tuyết thì tắm rồi mới…Tôi lại lắc đầu xua đuổi các động tác tưởng tượng đầy quyến rũ của Tuyết. Có thể tôi đang thèm muốn và quá chủ quan. Không khéo tôi bị tát tai như Tâm…

Tuyết hiện ra, tóc xỏa man dại rơi trên chiếc khăn tắm choàng quanh bộ ngực nở nang. Nàng cười bảo:

– Anh đi tắm đi.

Độ mát của căn phòng khiến tôi lười tắm. Tôi đứng lặng ngắm Tuyết. Mắt tôi như nhìn thấu qua lớp khăn choàng dày. Tuyết hờn dỗi:

– Đi tắm đi. Em không chịu nổi mùi mồ hôi…

Tôi cỡi đôi giày rồi ngoan ngoãn lê bước. Tôi trút bỏ quần áo. Hy vọng độ lạnh của nước giúp tôi hạ nhiệt. Tôi đứng thật lâu mặc cho nước xối xả lên mình. Tôi cảm thấy nhớ thương Hồng vô hạn. Tôi ngạc nhiên với chính mình. Đây là lần đầu, tôi gần một người và nhớ một người…

Lau mình xong tôi ngó quanh tìm cái gì đó che thân. Chỉ có bộ đồ vừa cỡi ra, không lẽ lại mặc vào. Và chắc chắn sẽ bị phản đối mùi mồ hôi. Tôi mở tủ, kéo chiếc khăn khô choàng quanh như Tuyết. Ngọn đèn đầu giường bên Tuyết đã tắt. Căn phòng như thêm mát mẻ. Tuyết đang trùm tấm chăn lên tận cổ. Chiếc khăn tắm nằm vắt góc chân giường. Tuyết ra lệnh:

– Bỏ cái khăn đi và chui vào cạnh em.

Tôi thở dài, tuân theo lệnh của nàng. “Hồng ơi, anh sẽ cố gắng chống đỡ. Nếu anh đại bại, hãy thông cảm cho anh một lần, lần này thôi”. Tôi nằm không chạm vào thân thể trần truồng của Tuyết. Nhưng tôi không ngănđược bộóc đang mở toang thân thể nàng. Tôi từng vượt qua cơn bão tố mà giờ đành bị đắm chìm chỉ vì nhan sắc? Tuyết nghiêng người qua tôi, cười mỉm:

– Em còn trẻ quá, phải không anh, mới hơn hai mươi mốt tuổi. Anh cũng còn quá trẻ, mới hơn hăm hai. Em sẵn sàng chờ anh vài năm nữa.

Tôi lặng thinh. Có ngu lắm thì tôi cũng hiểu Tuyết đang muốn gì! Trời ơi! Phải chi ngày xưa tôi đừng ôm đại Tuyết! Ôm làm gì để bây giờ người ta đòi ôm lại không dám ôm. Giọng Tuyết nồng nàn:

– Nhưng có cần chi phải chờ đợi anh Bằng? Hãy làm chồng em, ngay từ hôm nay! Em hứa là em sẽ mang hạnh phúc cho anh. Hãy sống với em vô điều kiện. Anh không cần cưới hỏi. Nhà đã có sẵn. Em có thể tự nuôi thân với một chỗ làm khác đàng hoàng hơn. Em chỉ cần có anh. Thậm chí giả sử một ngày nào đó anh muốn ra đi, em hứa sẽ không buồn phiền. Hiện tại không có anh, đã là quá sức buồn phiền. Thà có anh một thời gian ngắn vẫn hơn!

Tôi vẫn lặng thinh. Nếu không vì lời trót hứa với Hồng, chắc chắn là tôi đã ôm ghì thân thể Tuyết và chúng tôi trở thành là một. Tôi phải nói gì cho Tuyết cảm thông? Tuyết đã rất chân tình thì sao tôi lại dối trá. Tôi phải nói sự thật. Giọng Tuyết vẫn hăm hở, nhiệt thành:

– Cho dù anh có đang yêu ai khác cũng không làm em buồn phiền hơn. Điều em cần là sự hiện diện thực sự của anh trong đời em và cho dù là sự hiện diện không thường trực.

Tôi xoay người nằm nghiêng, nhìn sâu vào đôi mắt mở to của Tuyết. Khi yêu, người ta có thể khùng đến thế sao? Bằng lòng làm vợ vô điều kiện! Nhưng với tôi, tôi không thể làm chồng kiểu này. Tôi không muốn thiếu thủy chung với Hồng. Tôi muốn sống cuộc đời chồng vợ trong sáng minh bạch và tận tình cho nhau.

– Hay là anh đã có vợ?

Tôi đã ngờ rằng Tuyết sẽ hỏi câu đó. Điều kiện làm chồng quá dễ dãi mà tôi cứ ngậm miệng ăn tiền thì không thể có kết luận khác hơn. Tôi nằm ngửa trở lại, mắt nhìn trần nhà vàng ố. Có cái gì động đậy ở cuối trần, góc bên phía Tuyết. Con thằn lằn. Phòng ngủ của Tây, lại ở ngay thủ đô mà vẫn có thằn lằn…

– Anh Bằng, anh có vợ rồi hả?

Phải nói một lần cho xong. Phải sống thật thà với chính mình. Phải tạo một bức tường giữa hai thân xác đang quá gần gụi. Tôi lựa từng chữ:

– Nói cho đúng thì chưa nhưng rồi sẽ có…

Tuyết buông một tràng cười ròn rã. Mãi một lúc Tuyết mới nói được:

– Anh đùa có duyên ghê! Sống với anh, chắc không bao giờ biết buồn…

– Sự việc không giản dị như em… cười! Hiện tại anh chưa có vợ nhưng mà như đã có…

Tuyết ngưng ngay nụ cười:

– Nghĩa là cô nào đó đang mang trong bụng đứa con của anh?

– Không! Hoàn toàn không. Mà là do một lời hứa.

Tôi thư thả kể hết cho Tuyết nghe sự việc diễn ra giữa tôi và Hồng, trường hợp nào tôi quen nàng và chuyện hứa hẹn trong chuyến công tác Nha Trang vừa rồi. Tuyết chăm chú nghe một cách say sưa. Tôi dứt lời, đúng lúc nước mắt nàng cũng bắt đầu tuôn ra. Rồi nàng khóc nức nở, mặt vùi trong gối, đôi vai rung động. Tôi lại xoay nghiêng, chồm lên hôn nhẹ lên tóc nàng, thì thầm:

– Đừng khóc! Em khóc làm anh muốn khóc theo. Anh tin mọi sự đều do định mệnh. Nếu hôm trước anh đừng tránh né em, được nghe em tỏ ý sớm hơn thì chắc anh đã không tìm gặp lại Hồng. Có thể nói, cho tới mới đây trở lại Nha Trang gặp lại Hồng, anh gần như hoàn toàn quên Hồng. Anh hứa cưới Hồng vì lúc đó anh nghĩ em đã là của Tâm, và vì cái tình của Hồng dành cho anh quá thủy chung. Anh đã hứa bằng tất cả tấm lòng…

Tuyết vẫn tức tưởi. Tôi cố tìm lời lẽ để xoa dịu nỗi đau của nàng. Tôi úp mặt tôi vào má nàng. Nhữn ngọn tóc bay vào mũi nhồn nhột. Mùi da thịt thơm lừng. Tay tôi choàng ngang lưng nàng xoa nhè nhẹ bờ vai. Sự tiếp xúc giữa hai làn da trần trụi xóa sạch mọi lời an ủi vừa hình thành trong trí. Tuyết sửa thế nằm nghiêng, mặt nàng gần chạm mặt tôi, cất giọng rầu rĩ, tủi thân:

– Cám ơn anh đã thố lộ chân tình. Đúng cái số em là số… ăn mày. Em cam phận. Chỉ xin một đặc ân cuối cùng. Nếu số mệnh đẩy đưa anh gặp lại Hồng thì số mệnh cũng đây đưa em kề cạnh anh đến mức thế này. Hồng được may mắn suốt đời có anh. Hãy cho em tận hưởng giây phút còn được bên anh như một may mắn cuối cùng.

Nói dứt, không cần tôi ừ hữ, Tuyết tung chăn, áp nguyên thân nàng lên thân tôi. Nàng hôn tôi tới tấp. Tôi trân người chịu trận. Nhưng tôi không phải là một ông thánh sống. Có là thánh sống thì cũng đầu hàng. Tôi cố nghĩ đến Hồng như một thành trì cuối cùng. Mắt tôi mở to như muốn thấy nàng hiển hiện trước mặt. Nhưng tôi chỉ thấy con thằn lằn lúc này đang rình con thiêu thân. Nó nhích tới thật chậm, nhẹ nhàng.

Tôi cảm thấy hai tay tôi đã vòng ôm lưng Tuyết. Chắc rồi tôi sẽ chẳng còn hơi sức mà chống trả cuộc tấn công đang đến hồi quyết liệt. Thôi thì hãy để cho rũi may định đoạt. Nếu con thiêu thân thoát khỏi con thằn lằn, tôi sẽ tung mình chạy khỏi Tuyết.

Con thằn lằn lại nhích tới, nhích tới. Con thiêu thân vẫn nằm yên như tôi đang nằm. Rồi con thằn lằn cũng nằm yên. Nhưng thế nằm của nó cho thấy nó sắp sửa tung đòn quyết định. Thân hình nó cong lại, cái đầu ngóc cao rình rập, thèm khát. Chợt vụt như tia chớp, con thằn lằn phóng tới. Con thiêu thân biến mất trên nền vôi ngà, chỉ còn cái đuôi ngoe ngoảy đôi lần trước khi mất dạng ở chóp mỏm con vật tấn công…

Tôi lật Tuyết nằm ngửa và đứng thẳng người nhìn chầm chập vào thân thể trần truồng. Tuyết mỉm cười, mời mọc. Người tôi hừng hực nóng. Rồi tôi như con thằn lằn phóng tới con mồi….Tuyết thật cuồng nhiệt, tuyệt dịu, tận tình buông thả. Tôi đã có lúc nghĩ rằng có được một người vợ như Tuyết thì không còn gì ngon lành hơn!

Khi cả hai chúng tôi nằm thở dốc, tôi sực nhớ cái bẫy Tuyết giăng ra. Tôi đùa cợt thăm dò:

– Nhớ ngày xưa mới ôm ấp sơ sơ, em đã hớt ha hớt hãi lo sợ có mang. Bây giờ em dữ hơn sư tử, bất kể trời đất…

Tuyết cười, tràn trề hạnh phúc:

– Xưa khác, chừ khác. Chừ có mang em càng mừng…

Tôi trợn mắt nhìn Tuyết, kêu khổ thầm. Giờ đây chính tôi lại là người lo sợ. Nhỡ ra…

– Đừng sợ mất vui, anh Bằng! Có mang, em cũng dấu cả anh lẫn Hồng. Em thừa sức nuôi con em.

Thật tình, đến thời điểm này có sợ cũng đã quá trễ tràng. Đã trót thì trét. Chúng tôi quần nhau, quấn quít nhau đến gần sáng thì cùng thiếp đi.

Khi tỉnh dậy, tay tôi quờ quạng tìm Tuyết nhưng chỗ nằm của Tuyết trống không. Tôi nhảy khỏi giường lục lạo mọi chỗ. Quả là Tuyết đã biến mất. Trên tấm gương ở bồn rửa mặt hai chữ “Vĩnh biệt” đỏ chói viết bằng thẻ son môi. Tôi nghe đắng ở miệng. Sao lại vĩnh biệt? Tuyết đã chẳng cho tôi những điều kiện dễ dãi để làm chồng nàng. Chẳng lẽ tôi chỉ được làm chồng nàng vỏn vẹn một đêm? Tôi thèm một điếu thuốc lá. Một mảnh giấy đặt đưới gói thuốc. Tôi hối hả mở đọc:

“Anh sẽ chẳng bao giờ gặp lại em và đừng tìm em vô ích. Cám ơn anh đã yêu em hết mình và đã cho em những giờ phút thần tiên. Em đành lòng trả anh về với Hồng vì quả Hồng xứng đáng được như thế. Em từ bỏ ý định tham lam chiếm giữ một phần đời của anh. Em sẽ rất hạnh phúc nhưng anh không hoàn toàn hạnh phúc. Mà nếu anh có phần nào đau khổ thì lại là điều em không muốn thấy. Em có biết Hồng và gia đình Hồng. Đó là một gia đình thế tộc, đạo đức. Bản thân Hồng cũng không có một lời ra tiếng vào từ lũ con trai trời ơi đất hởi của trường chúng mình. Hồng xứng đáng hưởng anh trọn vẹn! Và em ước mong anh cưới Hồng càng sớm càng hay. Em từng chờ đợi nên rất hiểu cái khổ đợi chờ… Một đêm với anh là đủ cho em hạnh phúc suốt đời. Một đêm với anh cũng là mở đường cho tương lai của em. Vĩnh biệt!”

Tuyết không còn khùng mà đã hóa điên. Khi yêu người ta có thể điên đến thế sao? Yêu như điên rồi hoan hỉ nhường trọn người mình yêu cho kẻ khác? Tôi đọc mảnh giấy lần nữa và thở dài. Dù còn ham hố nuối tiếc, tôi cũng đành thầm cám ơn Tuyết đã cư xử quá đẹp. Có lẽ trong đời tôi, tôi cũng không bao giờ quên được Tuyết. Tôi mặc lại quần áo rồi xuống trả phòng, vừa kịp hạn chót 10 giờ. Tôi cuốc bộ đến rã rời về đến tàu nửa giờ sau. Vì còn giờ phép, tôi chui thẳng vào giường và mê man ngủ.

Tiếng còi điện rền vang giật ngược khiến tôi thức giấc. Tôi nhìn đồng hồ trên vách: 13:30. Nhận ra còi nhiệm sở tác chiến nhịp đôi “tích tích, tích tích”, tôi tỉnh hẳn người. Rồi tiếng chân chạy rầm rập. Tôi bật khỏi giường, cùng với Hạm phó, Hải, Tâm mặc vội bộ quân phục. Chúng tôi chạy nhanh vào nhiệm sở. Nhiệm sở của tôi là hai khẩu đại bác 20 ly hữu hạm sân lái. Tôi đeo điện thoại nội bộ. Lệnh từ đài chỉ huy chỉ thị tác xạ hai chiếc phi cơ đang quần trên không trung. Tôi ra lệnh hai khẩu súng khai hỏa. Cùng lúc toàn bộ các khẩu khác của các tàu đang hiện diện nổ đồng loạt. Tiếng nổ ầm ầm dòn tan hòa cùng tiếng nổ lớn hơn nhưng thưa hơn của khẩu 40 ly đôi trước mũi. Vô số đám khói bùng vỡ quanh hai chiếc phóng pháo cơ do các đầu đạn tự hủy khi không trúng mục tiêu. Hai phi cơ càng lúc càng lên cao nhưng không rời khu vực. Các nhân viên còn lại hăng hái chuyển đạn từ hầm đạn lên các ụ súng. Sau chừng mười lăm phút tôi được lệnh ngưng tác xạ. Tất cả các chiến hạm khác cùng đồng loạt tuân hành. Từ phía thành cộng hòa và đâu đó không xa, tiếng đại liên và súng nhỏ vọng về từng loạt. Nửa giờ sau, dù súng trên bờ vẫn nổ, hạm trưởng cho lệnh giải tán, các khẩu súng được bao bọc lại cẩn thận.

Trong bữa cơm chiều ngày 1 tháng 11 năm 1963, hạm trưởng thông báo diễn tiến đảo chánh của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Hải quân thoạt tiên chống đối nhưng sau ủng hộ. Các lực lượng đảo chánh vẫn đang chạm súng với lực lượng phòng vệ phủ Tổng thống. Khoảng chín giờ tối hạm trưởng rời phòng họp sĩ quan vào buồng riêng. Tôi vội vã thót ngay lên giường tiếp tục giấc ngủ bỏ dỡ.

Khi tôi thức đậy, có tin vị Tư lệnh Hải quân đã bị hạ sát vì lòng trung thành với Tổng Thống. Sau đó tôi được thêm tin là chính Tổng Thống cũng bị giết sau khi đầu hàng.

Sau hơn sáu tháng làm người lính biển, tôi ngẩn ngơ trước sự mất mát quá bất ngờ, quá to lớn và quá lạ lùng. Tôi viết thư cho Hồng, nói lên cảm nghĩ của tôi và tôi báo cho nàng là sau lá thư này cho tới chưa biết đến bao giờ tôi không còn lòng dạ nào viết được những lời yêu thương …

Thơ lửa

Thơ Phan Nhật Nam

Tựa đề và hình ảnh trình bày: Sơn râu

Post 2 Oct 2026

1.

Mùa Thu xưa năm trước

Đảng dựng lá cờ Hồng

Xung phong khởi cách mạng

Quyết liệt lần tiến công

Nửa thế kỷ bão lửa  

Máu nhuộm đỏ suối sông

Lớp lớp thây chật đất

Thành công. Đại thành công!

Sàigòn ngập úng nước

Do tại ngọn triều cường

Bọn Mỹ – Nguỵ để lại

Thành phố mang tên Bác

Chí minh bùn không lấm

Nước cho dẫu dâng cao

Tượng Bác Ta khô ráo

Bọn phản động lếu láo

Sông tràn lũ khi nào?

Vợ chồng vua Thái Lan

Thăm nhà nước Hà Nội

Diễu binh và lễ hội

Lụt ở đâu chỉ coi?

Phú Khánh không thể lụt

Ta đưa lên cao nguyên

Quy hoạch tên núi rừng

Làm sao lũ dâng tới?

Nhỡ nhà trôi người chết

Do dân ngu không biết

Kém quán triệt tính năng

Đập thượng nguồn kinh tế

Kia kìa bọn phản động

Giết mấy cũng không chừa

Ta viết thêm nghị quyết

Quốc hội rền vỗ tay.

2.

Cô dự bắn bên sông

Tổ trao thưởng khăn hồng

Chiều về thi cuốc đất

Cụm đề nghị chấm công

Chồng đi B chết thảm

Giấy “Liệt Sĩ” ban khen

Lồng khung treo lên trần

Thầm sống không hổ thẹn

Lụt tràn theo bão tới

Nóc nhà nước cuốn trôi

Xác người chết câm lặng

Mặt đắp tờ biểu dương

3.

Sống qua mấy mươi năm

Ruột gan đau quặn thắt

Khô nước mắt để khóc

Nghiệp phận Người Việt Nam

Phan Phi Danh

Qua tuổi 83 với “Nỗi Đau VN”

Cù lao Quốc Gia

vietbao.com

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 2 Oct 2026

Từ thuở đứt phim, ‘đứng hình’, vết thương vẫn còn đang rỉ máu. Quê người tạm dung đã mấy chục năm mà tui vẫn coi là xứ lạ! Xứ lạ mà may gặp được người quen là mừng lắm đó!

Cách đây mấy bữa, trên Facebook, từ bên Sài Gòn nhỏ, quận Cam, bên Mỹ có một em gọi qua; xưng tên là ‘Chi Lan’, (cành hoa lan trắng), rồi hỏi: “Thầy còn nhớ em hông?”

Ủa, tui đã ‘giã’ trường xưa theo tiếng gọi lên đường vượt biển mấy chục năm nay; đã rời xa phấn bảng quá xá là lâu mà đột nhiên bây giờ lại có ai gọi tui là thầy; làm gợi nhớ cái thuở ‘giáo chức, dứt cháo’; ‘thầy giáo tháo giày’ vậy cà?

Vài ngàn em học trò mà đứa nào mình cũng nói nhớ hết ráo là mình nói láo. Nói láo với ai còn có thể châm chước được; chớ với học trò cũ gọi mình là ‘Thầy’, dẫu mình đã nghỉ dạy lâu, thì đâu có được hè.

Nói nào ngay, em học trò năm cũ nầy, phải kể thêm một vài kỷ niệm nào đó, tui mới nhớ được. Chẳng hạn như thầy đã từng đến nhậu rượu đế với Tía em, ăn canh chua bông sua đũa do chính tay em ‘Chi Lan’ nấu là tui nhớ liền hè. (Chu choa! Ông phụ huynh học sinh Ba Tèo (tên xấu hoắc) lại đặt tên ‘tác phẩm’ của mình một loài hoa rất đẹp?)

***

“Nhà em ở cù lao Quốc Gia đó!” Nghe tới cái địa danh nầy là kỷ niệm ngày xưa ta bé ta vui lại hiện về làm tui buồn trong kỷ niệm.

Cù lao, cái địa danh hồi xưa bà con mình xài hà rầm. Như cù lao Ông Chưởng, cù lao Rồng, cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh trên sông Tiền. Còn trên sông Hậu là cù lao Quốc Gia, cù lao Dung và biết bao cơ man cù lao khác.

Bà con mình ai cũng biết dòng sông Mekong phát xuất từ chỗ cao thiệt là cao, trên cao nguyên Tây Tạng vượt qua biết bao nhiêu ghềnh thác. Cuối cùng sông ra tới biển, nước chảy rề rề chậm lại; kết quả bùn lắng tụ lâu ngày, để sông kia bên lở bên bồi hay gom lại nổi lên thành cù lao ở giữa sông.

Cách đây khoảng 150 năm, cù lao Quốc Gia thuộc địa phận làng Kế Sách, tổng Định Khánh, tỉnh Sóc Trăng. Mặt đất rất thấp, toàn là bãi bùn, cỏ dại, dây leo, cây bần và cây tạp cùng thú hoang và chim muông sinh sống.

Rồi những người đầu tiên đến khai phá đất hoang, bao bờ, trồng rẫy trên đất cù lao phì nhiêu màu mỡ. Làm ăn khấm khá nên bà con kéo đến sinh cơ, lập nghiệp ngày một đông hơn.

Từ việc trồng rẫy lúc ban đầu, bà con bắt đầu trồng thêm các loại cây ăn trái như: chuối, dừa, cam, quýt, bưởi, rồi sau đó thêm xoài, nhãn, chôm chôm, sầu riêng, sa-pô-chê, mãng cầu, măng cụt. Bà con mình dùng ghe lớn chở trái cây lên chợ Cầu Ông Lãnh, Sài Gòn bán đắt như tôm tươi, vì trái cây miệt cồn phân phướng tự nhiên nên giòn, ngọt, thơm ngon.

***

Sau nầy cù lao Quốc Gia đổi tên thành cồn Mỹ Phước. Theo không ảnh trên cao nhìn xuống, cồn có hình trái xoan với hai đầu thắt lại, đoạn giữa phình ra với chiều rộng trên 500m, dài khoảng 5km, chỉ hơn 1000 mẫu được bao bọc bằng những thân đê vững chãi. Đường sá trên cồn đều đã được trải bê tông.

Bà con xứ khác mà muốn đến cồn Mỹ Phước nầy thăm mấy người đẹp miền sông nước chơi thì đi theo đường nào hè?

Có hai cách: đường lộ và đường sông. Đường lộ phát xuất từ Cần Thơ theo Quốc lộ 4 tới ngã ba An Trạch, quẹo trái chạy thêm 12 cây số là đến quận Kế Sách. Từ Kế Sách đi thêm 10 cây số nữa đến xã Nhơn Mỹ, rồi đi đò qua sông là đến cồn Mỹ Phước.

Bây giờ thì từ Cần Thơ theo quốc lộ Nam sông Hậu đi khoảng 40km đến Nhơn Mỹ, xuống phà khoảng 10 phút là đến cồn Mỹ Phước. Còn đường sông, hồi xưa là tui xuống đò Ngọc Diệp ở bến Ninh Kiều, theo dòng sông Hậu khoảng 50 cây số là đến cù lao Quốc Gia. Ngồi trên mui đò trời nước bao la chừng 4 tiếng đồng hồ là anh về quê em để nhậu chơi với Tía của em.

***

Sau tháng Tư, năm 75, nhiều thầy giáo của phe ta rất là chịu chơi, chơi tới cùng, dứt áo ra đi mà không hề ngoảnh lại.

Có phụ huynh hỏi thầy:“Bộ không được lưu dung hay sao mà Thầy bỏ nghề giáo?”“Không tôi tự nguyện! Tôi thà ‘mất dạy’ để giữ cái tư cách nghề giáo cao quý của mình, chớ không chỉ vì cái đồng lương chết đói, tháng được 60 đồng, gạo 13 ký, thịt mỡ nửa ký để bán rẻ cái lương tâm chức nghiệp.”

Nói nào ngay, tui cũng muốn hành xử một cách anh hùng mã thượng như bậc đàn anh đáng kính nầy nhưng không được. Thầy còn có ruộng đất để cày, còn tui một cục đất chọi chim cũng không thì nghỉ dạy rồi mình biết về đâu, làm gì mà sống? Đành chịu nhục của người thất thế, sanh bất phùng thời, gặp buổi trời ơi, đành ráng ‘đu’ được ngày nào hay ngày nấy. Dẫu vậy nhưng đâu có được yên thân; nhứt là mấy thầy giáo đã từng đi lính, là sĩ quan biệt phái hay mấy cô có chồng là sĩ quan đang bị bắt ở tù cải tạo.

Sinh viên đang học ở trường Luật hay Văn Khoa gì đó bị lùa qua Sư Phạm học sáu tháng để về thay thế các thầy cô cũ. Trong số nầy, tui biết chắc là sẽ tới phiên mình. Nó đuổi, tui đi và đi luôn!

***

“Tiệc tiễn hành anh, em thết đãi.Cá sặt rằn khô, xoài thanh ca. Rắc chút đường, thêm vài lát ớt. Uống đã đời đi lắm đắng cay!”

Khô cá sặc rằn nướng chin, gỡ bỏ xương lấy thịt xé ra từng miếng nhỏ. Trái xoài thanh ca, cà rốt, hành tím xắt mỏng trộn với, tỏi, ớt chan nước mắm với đường.

Trộn đều rồi gắp một đũa đưa vô miệng, nhai khẽ khàng, nhai nhẹ nhàng nhưng cũng nghe hai hàm răng rít lên rau ráu. Chơi thêm nửa hớp rượu nếp trong ly hột mít sủi bọt tăm em cất tại nhà. Thiệt là quá đã cái ‘tâm can tì phế thận’!

Sau ngần ấy năm tha hương, đêm nay đốt lò hương cũ, sao nhớ vô cùng cái món gỏi khô cá sặt vốn của nhà nghèo, của vùng quê xa ngai ngái, của ngày xưa ấy! Dẫu đốt đuốc mà tìm cũng không thể nào thấy đâu bán trên toàn nước Úc.

Vì biến loạn, phải bỏ xứ đi nhưng cũng như bà con mình, trên cái lưỡi vẫn mang theo cái vị quê nhà; và cái tâm cứ vấn vương hoài cái hồn cố thổ.

Thế nên: “Thầy còn nhớ em hông? Nhớ nhiều quá xá đi chớ!”

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

Cương thổ

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 5 may 2022

Post by Sơn Sơn râu 2 Oct 2026

Đàlạt nostalgia
sơn dầu trên giấy
đinhcường

Sau đám tang Mẹ, mình lên Đà Lạt do sự bàn tính và bố trí của các anh chị. Máy bay DC-3 của Air Viet Nam bay với tất cả sự dằn xóc nó có được. Thời tiết không xấu, trời xanh và nắng vàng. Con chim sắt trồi lên trụt xuống, bềnh bồng trên những đám mây, có vẻ như đùa nghịch. Mấy cây kẹo cứng nằm chung đụng với đôi ba cục bông gòn nhét lỗ tai có trên khay mà cô tiếp viên hàng không đưa tới cùng với nụ cười miễn cưỡng. Eo xèo và nghèo nàn. Đà Lạt bên dưới thì sao? Sẽ xoa tay chào đón trao tặng niềm vui hay ghẻ lạnh làm mặt lạ?
Phi trường Liên Khương nằm xa thành phố, chẳng giống Đà Nẵng, nơi chốn mình vừa tạ từ. Đường dốc, cây cối rậm rật reo hò bên suối khe và vực sâu lùi dần. Bóng mát in mặt nhựa có khi loà sáng màu nắng chan, cắt khúc. Tuy đang hè nhưng cảm nhận được thứ gì tựa gió mơn trớn chút sắt se buốt lạnh. Chưa hạp phong thổ hay tại vì cái miếng vải đen hình bình hành mãi rung động nơi ngực áo. Hành khách trên xe nếu hiếu kỳ có thể nhìn nhận đứa con trai ngồi co quắp mặt xanh như tàu lá kia đang dong duổi với thứ hành trang xếp chật thương đau. Chỉ một miếng vải đen, nhỏ xíu, lặng câm, vô tri giác; nhưng ngoại trừ những kẻ bị khuyết tật nơi đôi mắt, ai nấy nếu ngó thấy đều tường tận rằng nó biểu tượng về một điều gì bạc phước. Và thằng người nhỏ nhít ngồi góc kẹt ấy đại diện cho những ai đang thiếu hụt tình thương yêu.

Trước đây, Đà Lạt chẳng cho mình một khái niệm nào cả, về nó. Chỉ biết địa danh nọ còn có danh xưng Hoàng triều cương thổ, nằm vùng cao và thi thoảng nghe trong quán cà phê “dưới thấp” một bài hát không mấy gây xúc động: Ai lên xứ hoa đào, dừng chân… Giờ đây thì mặt đối mặt, Đà Lạt đón chào mình bằng dung mạo của một cô công chúa đã thức giấc tự rừng sâu, bước ra với hương lá ẩm, với hoa vàng, với so vai sương đổ đầy lũng mờ. Công chúa? Ừ, do bởi mình nhìn ra một vẻ đẹp mà Đà Lạt sở hữu. Thứ dung mạo thanh cao dịu dàng đầy nữ tính. Tựa chốn cố đô, nhưng Huế già cỗi hơn, mang nhan sắc một goá phụ đầy u uẩn. Huế chủ động chọn những gam màu trắng, xám, tím, đen; còn Đà Lạt tự trang trí lấy nó bằng tất cả những sắc màu còn lại trong 12 cung bậc đi từ lạnh tới nóng. Người ta đã bỏ công tìm tòi tính tình con người qua ý thích về màu sắc có nơi đồ vật họ lựa chọn và nếu thế, Đà Lạt sẽ luôn có những khúc hoan ca. Buồn, chỉ là chút gợn nhẹ ẩn mình theo khói sương. Một thoáng lay động chứ không níu kéo chân đi tựa Huế. Mình sẽ hàm hồ thêm gì khác trong khi thực chất mình chỉ là đứa con trai vừa mất Mẹ và lần đầu chính thức xa nhà với tuổi đời non dại. Lên đây giũ bỏ phiền hà, cao nguyên trôi tuột ta bà chốn xưa. Đi là tự nguyện sang trang, những tờ giấy mỏng màu tang úa vàng. Đồi Cù thông đứng thấp cao, nằm trên cỏ lạnh mây bao che giùm.

Anh mình là giáo viên, vợ dạy cùng trường. Hai người vừa có với nhau một cô con gái chỉ hai tháng tuổi vung tay đạp chân oe oe cất tiếng chào ông chú ngác ngơ trôi dạt vào “túp lều lí tưởng” ăn nhờ ở đậu. Nhà thuê trên đường Hai Bà Trưng, lớn hơn lỗ mũi chút xíu. Đơn sơ, thanh bần và lạnh lẽo là chuyện hiển nhiên. Thời nào giáo viên cũng gắng gượng đắp vào thân thứ sĩ diện của kẻ lỡ bán cháo phổi. Giấy rách phải giữ lấy lề. Một kẻ sĩ bằng lòng với hoàn cảnh khó khăn, dẫu trong túi không có tiền chiếc mũ trên đầu anh phải đội cho ngay ngắn. Thì cuộc đời này vẫn hằng ca tụng đạo đức, tuy vậy mình vẫn ái ngại, e sớm chiều thứ đạo đức ấy sẽ chóng lung lay. Một mâm cơm nhiều thịt cá chắc hẳn đẻ ra lắm tiếng cười, chuyện trò rôm rả. Hoạt cảnh ấm áp kia khó hiện hữu giữa tương rau, giữa chay tịnh. Gầm mặt nhai mà tự vỗ về: Ăn để sống chứ không phải sống để mà ăn. Uống ca nước lạnh để độ lượng tin, thứ giải khát nọ rất tốt cho sức khoẻ. Trà, cà phê, bia, rượu mà làm gì cho sinh sự nhỉ!

Mẹ mình mất, mình đã ra vườn sau cô quạnh bưng mặt khóc triền miên nhưng tuyệt chẳng có một bà tiên nào xuất hiện như truyện cổ tích hoang đường. Ta hiểu lòng con đang thủng một lỗ trống lớn, con ước xin điều gì hòng có thể lấp đầy? Nói đi, rồi ta sẽ ban cho con tròn đầy như ý một nguyện cầu.

Mình chẳng mong cầu lên Đà Lạt sống tha phương, nhưng vẫn cám ơn anh chị mình đã tạo cơ hội “đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Mình có khôn hơn chút chi, hay vẫn khù khờ ông trời độ. H. cô bạn học đã mạnh dạn nắm tay mình dắt qua những thổ ngơi kỳ thú mà người ta đặt cho tên gọi: Tình yêu. Lần đầu, H. đã chứng nghiệm cho mình hay về một cơn đau rất đỗi dịu dàng khi bạn tiếp cận bên người nữ. Họ sẽ lấy của bạn nhiều thứ, kể cả lòng bạn đang nặng trĩu nỗi nhớ nhà. Họ sẽ trao cho bạn những viên thuốc an thần, và thường thì bạn sẽ uống quá liều lượng. Bạn mất ngủ, chập chờn hình ảnh người nữ ấy hiện lên, những thái độ, cách nói cười, ánh mắt, dáng đi… Bạn thừ người ra và bạn hiểu, cơ thể bạn đang đón nhận, từ tốn, một lưỡi gươm đâm vào, êm ái, dằn vặt. Ôm giữ nó, đừng rút ra, trong muôn một, đó cũng là phương cách chứng thực, bạn đã trưởng thành.

H. ở bên đường Phan Đình Phùng. H. nói, trong toán học vẫn định nghĩa hai đường song song sẽ không bao giờ gặp nhau. H. biết mình ở đường Hai Bà Trưng và mình luôn tìm cách chứng minh với phương cách của đứa dốt toán, hai đường song song có khi chỉ là một, do bởi đã có điều vô lý chen cài ở giữa khiến nó phải tách làm đôi. Đường song song là một mệnh đề của định mệnh, giải thông định mệnh thì tự khắc nó thôi chia hai, một và chỉ một mà thôi. Đường rầy xe hoả đôi khi vẫn có một tụ điểm, một giao thoa, một chồng chéo, H. thấy không?

Giao thoa giữa lứa đôi vụng dại là quán chè trôi nước trên dốc Minh Mạng, trước rạp Ngọc Lan ăn chung một (và chỉ một mà thôi) trái bắp nướng. Đừng bẻ đôi thân nó, hãy cắn tiếp theo những vết răng mà H. vừa tước đoạt mấy hạt trân châu ra khỏi cùi bắp. Chao ôi, kiếm đâu ra hương vị ngọt sắc tựa thế. Bắp nướng hẳn không tựu thành chất đường hữu cơ nguyên trạng mà lệ thuộc toàn phần nhờ vào nước miếng của em. Hai đứa chẳng dám hôn nhau làm trò người lớn, hãy cứ trẻ thơ nhấm nháp hương vị mà người ấy cố tình để lại, rớt rơi. Nhai, liếm, cắn cho tới cuối cái sạch sành sanh. Thằng con trai đút cái cùi bắp còn hâm hấp nóng vào túi quần, nó không muốn người bạn gái hiểu giùm đó là kỷ vật một tối trở trời đi so vai bên nhau giữa một Đà-lạt bắt đầu trao cho nó những huyễn mộng.

Mình luôn tin, ngoại cảnh, khí hậu, thổ ngơi, môi trường, vùng đất chôn chân sẽ tác động mãnh liệt vào những trang viết, những bài thơ của quý vị văn thi sĩ. Đất cằn cỗi, xứ nhiệt đới sẽ cho ta đọc thấy sự chuyển tải khô khốc, giọng sật sừ, bẳn gắt. Và cao nguyên, và Đà-lạt. Ắt hẳn người ta sẽ viết xuống những gì đằm thắm, những dằn vặt đáng yêu. Nó khiến mình mềm lòng bởi đã có người đi ngợi ca về một nỗi đau thay vì nguyền rủa nó.

Chỉ là bạn, như bất kỳ một người bạn khác. H. cho hay. Trong khi mình lỡ chủ quan xem H. là người nữ đầu tiên (một và chỉ một mà thôi) bước nhẹ vào trái tim đa cảm của mình; không đủ mạnh dạn để nói: Người Yêu. Bạn, chữ ấy có khi cũng đáng trách, dùng không đúng chỗ. Hai đứa từng đi xem phim trước Giáng Sinh đôi ba hôm, một phim thuộc dạng hài hước. Chỉ biết vậy vì trong rạp nghe mọi người cười ồ. H. cũng cười, chăm chú theo dõi. Mình chẳng có lòng dạ để xem, mình loay hoay trong lòng ghế chật với những tính toan: Làm sao choàng cánh tay qua bờ vai H? Cơ hội nào để nắm tay H. lên, hôn vào cái mượt mà ấm nóng kia? Sao từ người H. luôn toả hương? Chưa khi nao được ngồi sát bên nhau như thế này, hãy chứng thực cái mê mẩn bằng động thái nào? Người mình bần thần suốt buổi. H. hồn nhiên quá, để trọn tinh thần vào thước phim vốn là sản phẩm của tưởng tượng nhiều quá. H. bỏ quên ngoại cảnh, sao em chẳng quay mặt sang ngó ta, chỉ một phút giây. Sao em chẳng đưa ra lời bình phẩm: Phim vui quá, anh nhỉ? Và rồi dựa đầu vào khối hình nhân mãi đè nén cái tức nước vỡ bờ.

Trời rét ngọt trên lối đi bộ về nhà, đi-như-đi-với-bất-kỳ-người-bạn-nào-khác. Có nghĩa là không nắm tay chẳng rờ chân, đi mà để cho gió lọt vào giữa dễ cảm mạo thương hàn rồi đổ hô tại bệnh tương tư. Đến cánh cổng có trồng hàng rào là những cột gỗ sơn trắng phân định lãnh cung, H. mới ngó mình: Thôi chết rồi! Sao lại ăn mặc phong phanh kiểu ấy? H. cởi chiếc áo len đang mặc và nói như mẹ thương con: Muốn chết hả? Tròng vào ngay đi. H. dậm chân chờ thằng người ngây dại mặc áo ngự hàn xong mới quay đầu đi vào nhà. Những viên sỏi dưới chân vặn mình nghe buồn bã.

Khuya ấy mình không ngủ xuống, cảm giác như nằm giữa một thảo cầm viên mênh mông trồng nhiều kì hoa dị thảo. Mình ôm siết chiếc áo quá đỗi thơm tho kia, vùi mặt vào những sợi len mịn màng. H. để quên ở đó đôi sợi tóc vương. Mình nhặt lấy, thử ngậm nhưng nó tuyệt không phải là liều thuốc an thần. Trằn trọc, vật vã. Thay đổi dáng nằm, thằn lằn chắc lưỡi và rồi tiếng gà gáy sáng.

Mình quen với H. chưa trọn năm, bắt đầu biết những sở thích của H., khám phá những mơ mộng về cuộc đời mà H. rắp tâm thực thi thì… cái định nghĩa về hai đường thẳng song song thực sự diễn ra. Toán học thì khô khan, sự thật thì trần trụi và con người buộc phải cúi đầu tuân thủ lẽ phải. Không ai có thể làm khác đi, chẳng có một chứng minh thuyết phục làm đảo ngược vấn nạn.

H. đón nhận đại tang. Ba H. qua đời vì căn bệnh hiểm nghèo và sau tang lễ, H. theo mẹ xuống Sài-gòn sinh sống. Họ quyết định nhanh, dễ dàng vì họ có sẵn gian hàng bán vải ở đường Tạ Thu Thâu sau lưng chợ Bến Thành. Rất buồn rầu, nhưng đó là do bởi H. không còn cha, chứ không phải vì diễn tuồng xa cách thằng bạn trai luôn cô quạnh. Mình nói, một cách cương quyết: Mình sẽ đi theo H. Mình bỏ học, mình sẽ kiếm việc làm ở chốn thành đô… H. buông dấu chấm: Và rồi sẽ bị bắt lính, vào Quang Trung, ra Đồng Đế. Muôn đời, cái việc học chữ vẫn hơn. Đừng làm nhiều người thất vọng vì một phút bốc đồng của mình.

Tuy “tang gia bối rối có điều gì sơ suất xin niệm tình tha thứ” nhưng H. đã chủ động ôm lấy mình và hôn vào đôi môi đã tập tành hút thuốc. Qua khoảng cách của “hai đường tàu” mình nghe ra tiếng dội của trái tim đập hoang mang thì thùng. Của mình hay của H?

H. sẽ viết thư thăm, kể chuyện nơi xứ lạ. Đó là lời sau cùng H. nói cho riêng mình. Ngực H. rung động. Mình đưa bàn tay run rẩy lên sờ. Làm gì vậy? Không nhúch nhích, đứng yên, nhưng nạt nộ. Mình tháo gỡ cái miếng vải đen tinh khôi ghim ở đó để điền thế cái biểu tượng niềm bất hạnh mà mình hứng chịu ở năm trước. Chỉ cũ và mới, kích cỡ thì giống nhau. Bên mất cha bên mất mẹ, hãy trao đổi để khi trông xuống còn nhìn nhớ khuôn mặt của kẻ tại thế. Mình đeo, nói dại miệng, để tang tình đầu.

Rồi H. đi, biền biệt không viết thư về như lỡ hứa. Việc học mình từ đó cứ mãi trầm trà trầm trật. Lang thang khu chợ Hoà Bình, qua cầu ông Đạo, lạc hồn lên tới nhà ga, vòng vo mãi tận vùng Thái Phiên những lũng đồi trồng xanh mướt hoa màu rau quả. Xe Honda 49 phân khối bỏng khét máy than van. Đà-lạt chẳng còn gì thơ mộng nữa.

Năm sau mình trở về Huế, người thân trong gia đình phát hiện đứa con út dại khờ kia sao thay đổi rách nát trầm kha tựa một kẻ vô gia cư. Họ chẳng biết điều hệ trọng, hắn đang sống thở với con tim tật nguyền.

Hồ Đình Nghiêm

Bè bạn gần xa

Phan Lạc Phúc

Văn Nghệ xuất bản California USA 2000

Bìa Khánh Trường

Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)

Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)

Post by Sơn râu 2 Oct 2026

Tôi là một người lính cũ của QLVNCH vừa từ Úc sang thăm nước Mỹ. Ngay khi vừa qua, tôi được anh em cùng binh chủng cũ có lòng thương cho đi tham dự một ngày họp mặt. Vừa mới chân ướt chân ráo tới đây nên lễ tiết này thật là xa lạ đối với tôi. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên và xúc động nhất là lễ chào quốc kỳ. 17 năm nay tôi mới thấy lại lá cờ này, 17 năm nay tôi mới nghe lại quốc ca này: “Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng. Đồng lòng cùng đi … ” Bản quốc ca bỗng tràn ngập tâm hồn tôi, đánh thức dậy bao nhiêu hình ảnh cũ: Anh em đồng đội người còn kẻ mất, người gục ngã ngoài chiến địa, người bỏ thân nơi chốn lao tù … và đôi mắt tôi bỗng nhạt nhòa dòng lệ. Trong 10 năm lao tù cải tạo, tôi không khóc đâu dù đời sống tù đày không thiếu gì cảnh đắng cay, chua chát. Cũng phải nói cho đúng là có khóc nhưng mà khóc thầm, khóc một mình, khóc nước mắt chảy ngược vào bên trong. Những ngày 30 tháng 4 trong trại cải tạo, ngày đớn đau khốn nạn nhất cho tù “ngụy” lại chính là ngày hội lớn của cán binh cộng sản: Ngày đại thắng miền Nam. Tiếp theo là ngày 1 tháng 5 Quốc Tế Lao Động. Ngày ấy trại tù nào cũng trống rong cờ mở. Tù được nghỉ không phải đi làm. Một vài anh em chúng tôi khẽ lén gặp nhau, im lặng, nắm chặt tay nhau. Muốn khóc quá mà không dám khóc. Nhưng mà hôm nay ở đây, đất nước Hoa Kỳ đầu năm 92, anh em trong nhà cả, xin phép cho tôi được khóc. Khóc cho những bạn bè đã chết, khóc cho những người vì nước quên mình. Trong cuộc chiến kết thúc ngày 30.4.75, có năm vị tướng của Quân lực VNCH đã tự tìm cho mình một cái chết theo vận nước; năm vị đó là các ông tướng Nguyễn Khoa Nam, ông tướng Phạm Văn Phú, ông tướng Lê Văn Hưng, ông tướng Trần Văn Hai và ông tướng Lê Nguyên Vỹ. Tôi không dám ghi danh các vị theo danh xưng chính thức của hệ thống quân giai, mà xin suy tôn các vị là ông tướng như một người nông dân thành kính gọi những vị thần – “Sinh vi tướng, tử vi thần”, các vị một phút về trời sẽ hiển linh mãi mãi trong tâm hồn đồng đội.

Các vị, với tư cách Tư lệnh quân khu, Tư lệnh phó, hoặc Sư đoàn trưởng chắc chắn sẽ dễ dàng có một chuyến trực thăng bay ra hạm đội 7 trước ngày 30.4. Nhưng các vị đã hành sử theo khuôn mẫu kẻ sĩ Đông phương, nhận lãnh trách nhiệm trước mọi người theo đúng tinh thần “tiên thiên hạ chi ưu, nhi ưu”, mỗi người mỗi cách đã tìm cái chết để tạ lỗi với quốc dân khi sứ mạng cầm quân bảo vệ quê hương đã không được thi hành trọn vẹn.

Anh em chúng tôi, những người ở lại, trong những năm tù đày cải tạo, thường cảm nhận sự tầm thường nhỏ bé của mình khi bám lấy một kiếp sống thừa. Không biết có bao nhiêu người còn nuôi chí lớn … còn phần đông còn sống là vì cha già, mẹ yếu, vợ dại, con thơ. Lũ thường nhân chúng tôi đành ngưỡng vọng về quý vị để đỡ thấy mình thấp kém. Một số anh em chúng tôi thường tự hứa với nhau rằng sau này nếu có dịp nào đến được bến bờ Tự do, sống trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài thì phải đến dâng một tuần hương, thành kính tưởng niệm các vị và bao nhiêu đồng đội khác, những anh linh đã vì nước quên mình. Các vị là những người đã đem cái chết của mình ra làm liều thuốc giải oan, tẩy độc cho cộng đồng người Việt nói chung, quân lực VNCH nói riêng trước những chiến dịch bôi tro, trát trấu của đối phương và đồng lõa. Sau thất bại nhục

nhã 30.4, ít ra chúng ta cũng có một niềm vinh dự thầm lặng và đau xót là đã có khá nhiều tướng, tá, úy, binh sĩ sẵn sàng chết theo vận nước. Cái chết của các vị và những anh linh sau ngày 30.4, đối với quốc nội và quốc ngoại là những bằng chứng sinh động nhất về lối sống của kẻ sĩ Việt Nam, là hình ảnh cụ thể nhất của văn hóa Việt Nam.

***

Trong những ngày Tết vừa qua, tôi đã cố ý đi tìm một nơi để dâng một tuần hương “bao năm chờ đợi” ấy, mà tìm mãi không có nơi nào. May mà có ngày họp mặt vừa qua. Có thể tôi chưa được hướng dẫn đầy đủ chăng? Có người lại bảo “Cứ lên chùa, chỗ cúng vãng sinh, nơi dành cho những oan hồn uổng tử”. Ở đây những nơi hội họp để tranh luận, để ca hát, để dạ vũ thì dễ kiếm, còn tìm ra một chốn thâm nghiêm, tạm dời xa những ma sát của cuộc đời phiền tạp, hướng về những giá trị đã qua thì thật là khó kiếm. Từ sự kiện này tôi mới nhận ra rằng lũ người như chúng tôi phế thải thật rồi. Một xã hội năng động là một xã hội sống với hiện tại và hướng về tương lai – không có thì giờ lẩm cẩm cho quá khứ.

(1992)

Đời thủy thủ

Vietmessenger.com

Vũ Thất

Post by Sơn râu 1 Oct 2026

Chiếc hải vận hạm ủi bãi ở khoảng giữa khúc quanh của con sông thuộc một xã thôn có tên Thành Tuy Hạ. Theo lời hạm trưởng, Thành Tuy Hạ cũng là tên củakho đạn lớn nhất miền Nam. Từ lòng tàu nhìn xuyên qua cửa đổ bộ là một bãi lài lót đá dẫn lên một con lộ. Hai bên lộ chỉ là những căn nhà gạch đất bình thường. Không một dấu vết gì cho thấy kho đạn nằm ở chốn nào. Vậy mà chỉ một thời gian rất ngắn sau khi cửa đổ bộ mở ra, các xe GMC chở đầy đạn đại bác lần lượt chạy thẳng xuống tàu. Là sĩ quan chuyển vận và đổ bộ, tôi trách nhiệm việc nhận hàng. Nhưng thật ra tôi chẳng làm gì vất vả. Việc bốc dỡ là phần việc chuyên môn của nhân viên kho đạn. Tôi chỉ để mắt xem công việc tiến triển đến đâu!

Cái tin chiến hạm đi công tác Nha Trang mang đến cho tôi một cảm giác khác hẳn những lần công tác trước. Tôi không lo lắng, băn khoăn mà nôn nao, bồi hồi. Nha Trang là nơi tôi sống nhiều năm vào cái tuổi “phá xóm phá làng” chỉ nhường thua ma quỷ. Nhờ có ông anh đi quân đội rày đây mai đó, từ một cậu bé nhà quê, tôi bắt đầu ba năm trung học ở Sài Gòn và bốn năm kế tiếp ở Nha Trang. Bốn năm làm học trò của trường Võ Tánh cũng là một thời để yêu. Yêu bằng mối tình đầu. Và thêm hai năm rèn tập thành một quân nhân Hải quân lại là một thời để nhớ. Nhớ suốt tuần để cuối tuần chỉ dám… nhìn nhau. Rồi xa nhau như tình cuối. Tuyết là tình đầu và Hồng là tình cuối…

Sáu tháng qua tôi không viết một lá thư nào cho Hồng. Tôi có nên gặp lại không? Nếu gặp thì giải thích sao đây? Thực sự, tôi có còn yêu Hồng? Dường như tôi yêu tất cả những người con gái tôi quen khi còn thường xuyên gặp gỡ và lúc xa mặt thì tự nhiên cách lòng? Tôi sắp gặp lại Hồng nên tình yêu đang trở lại? Chắc chắn tôi sẽ rất bồi hồi khi nhìn lại cảnh cũ nhưng với người xưa, nếu đã quên thì sao nôn nao?

Buổi trưa không ngủ được, tôi lang thang trên sân tàu. Nhiều lần tôi bảo nhân viên canh gác nhường việc nhắm bắn lục bình trôi cho tôi rỉ rả giết thì giờ. Lục bình trôi, có khi từng đám lớn là đối vật khả nghi địch ngụy trang cho quả mìn từ trường. Gặp vỏ sắt của chiến hạm, ngòi nổ sẽ kích hoạt và chiến hạm lãnh đủ! Cũng có thể đặc công thủy Việt cộng ẩn dưới đó đến gắn mìn thời chỉnh. Lại cộng thêm số lượng bom đạn đang nạp chứa, chắc chắn cả tàu lẫn người sẽ tan nát như tương. Cũng có bọn đặc công không cần lục bình, lặn thẳng đến tàu. Vì vậy tôi thỉnh thoảng giành thêm việc “ném chơi” một quả lựu đạn áp suất xuống lòng sông. Nhưng có làm gì thì làm, thời gian cứ chầm chậm trôi trong cái không gian im vắng, lặng lờ đến buồn chán. Tôi có nôn nao cỡ nào thì cũng ít nhất bốn mươi tám tiếng nữa mới hy vọng gặp lại Hồng. Hy vọng thôi chứ chắc gì nàng tiếp đón…

Thành Tuy Hạ cách Sài Gòn không hơn hai mươi cây số nên những lần ủi bãi trước đây, cả hạm phó lẫn hạm trưởng đều “dọt” về nhà. Các sĩ quan không trực thì đi gần hơn, qua thăm bạn bè ở Căn cứ Hải quân Cát Lái. Nhưng lần này không ai được rời tàu. Theo hạm trưởng, tình hình Sài Gòn có thể có đảo chánh. Tôi nhớ thời còn ở quân trường, mấy năm trước đã xảy ra đảo chánh hụt…

Sau cơm tối, Hạm trưởng rút vào buồng riêng. Hạm phó và ba sĩ quan Hải Được Tâm chơi bài belotte. Tôi ngồi cạnh Tâm học cách chơi. Nhưng vì đã hứa với sĩ quan trực Hải nên cứ độ mười lăm, hai mươi phút là tôi lại leo lên lòng tàu, đi một vòng coi việc trực gác rồi ra cửa đổ bộ xem xét mực nước thủy triều. Nếu nước lớn, tàu phải được tiến tới để cửa đổ bộ bám dính bờ, khi xe lên xuống cáp treo không bị đứt. Khi nước ròng, tàu phải được lùi ra, sơ suất một con nước, tàu có thể mắc cạn vài ngày. Tùy tuần trăng, không phải lúc nào nước cũng lớn như nhau.

Tôi ra đứng sau lái. Lái tàu chiếm gần đến nửa sông. Trăng chưa lên nên trời tối mịt mùng. Những con đom đóm lập lòe quanh chiến hạm. Bên kia, ban ngày là đồng ruộng thênh thang giờ trở thành vùng tối đen đầy đe dọa. Chỉ có ít ánh sáng từ một tiền đồn lẻ loi nằm chếch bên bờ. Tôi cho rằng tình trạng an ninh ban đêm ở đây có phần ít được chính quyền địa phương quan tâm, ít nhất là đối với con tàu đang nhận đạn. Tàu nằm vài ngày thật khó mà tránh khỏi bị địch điều nghiên phá hoại, tấn công…

– Thưa thiếu úy, hạm trưởng mời thiếu úy xuống phòng sĩ quan.

Tôi nói cám ơn và bước theo anh chiêu đãi. Chắc ông vừa làm xong một bài thơ và muốn nghe lời bình của mình đây. Đã vài lần, thấy tôi còn ngồi đọc sách lúc hai giờ sáng, ông mang thơ ra ngâm tôi nghe và yêu cầu góp ý. Chúng tôi xem ra tương đắc về những sáng tác của ông.

Hạm trưởng đang ngồi sẵn ở ghế dành riêng và chung quanh đông đủ sĩ quan. Tôi ngồi vào ghế của tôi trong nỗi băn khoăn chờ việc quan trọng sắp được thông báo. Nhưng hạm trưởng chỉ cười tươi với mọi người:

– Hôm nay thảnh thơi tôi xem lại hồ sơ của chiến hạm và khám phá ra rằng thứ bảy cuối tuần này là đúng một năm chiến hạm được chuyển giao. Lâu rồi chúng ta không mở tiệc tùng vì tình hình lộn xộn. Đây là một cơ hội danh chính ngôn thuận, lại ở xa “mặt trời”. Địa điểm thích hợp mà thời điểm cũng vừa khớp. Ngày mai thứ tư chúng ta khởi hành đi Nha Trang. Thứ năm tới nơi và đạn sẽ được bốc dỡ trong ngày, trễ lắm là qua sáng thứ sáu. Ngay sau đó ta làm tổng vệ sinh chiến hạm. Thứ bảy ta trang hoàng, thiết trí. Tối ta mở dạ hội, các anh thấy sao?

Các sĩ quan nhìn nhau hớn hở. Hạm phó nói:

– Quá đẹp, thưa hạm trưởng! Cũng cả năm rồi chúng ta chưa trở về mái nhà xưa. Mở một dạ tiệc vui hội ngộ là nhất rồi!

Hạm trưởng đưa mắt ưu tư nhìn mọi người:

– Vấn đề là thời gian tổ chức có phần gấp rút. Chúng ta chỉ có chưa đầy hai ngày cho bao nhiêu việc phải làm. Tôi đã thử phân công. Các anh lắng nghe. Anh nào thấy trở ngại trong phần vụ của mình, cứ nêu lên, chúng ta cùng tìm giải pháp. Trước hết là phần việc của tôi. Tôi sẽ liên lạc với Tòa đại biểu Trung phần để mời ông bà Đại biểu đến dự.

Ông chỉ cái bảng đồng treo ở vách bên tay trái:

– Các anh biết cả rồi, phu nhân của ông Đại biểu là mẹ đỡ đầu chiến hạm của chúng ta. Sau khi mời ông bà Đại biểu, tôi sẽ đến Bộ chỉ huy Vùng 2 Duyên hải và Trung tâm huấn luyện Hải quân để mời các giới chức ở đây. Luôn tiện mượn luôn ban nhạc, bàn ghế và cả xe nữa.

Còn đây là việc của Hạm phó. Hạm phó được chỉ định làm Trưởng ban tổ chức kiêm hoạt náo viên. Nghĩa là kiểm soát, đôn đốc và làm mọi việc cần thiết để dạ tiệc thành hình và thành công.

Việc của sĩ quan cơ khí, trung úy Hải: Trang hoàng đèn và bảo đảm đèn không tắt. Chỉ dùng hai loại bóng đèn xanh và vàng chạy dọc hai dây an toàn.

Sĩ quan đệ tam, trung úy Được: Trang hoàng cờ chữ, cờ số dọc theo vách lòng tàu và nơi nào anh thấy đẹp. Phụ trách luôn việc chở bàn ghế và sắp xếp. Trừ những ghế mình có sẵn trên tàu, anh cho biết mình cần mượn thêm bao nhiêu. Dự trù tổng số tham dự là chín mươi người.

Thiếu úy Tâm: Chuẩn bị thức uống, ly, khăn giấy và dĩa, muỗng, nĩa, dao nhựa mỗi thứ chừng 200. Tôi sẽ đưa tiền sau.

Thiếu úy Bằng: Chuẩn bị thực phẩm cho 90 người. Anh họp ban ẩm thực để bàn xem gồm các món ăn gì. Ít nhất cũng năm món, không kể tráng miệng. Tiền dự chi không quá ba ngàn.

Các anh nhận rõ phần vụ chưa?

Chúng tôi đồng loạt đáp:

– Thưa, nhận rõ!

– Ngày mai các sĩ quan họp ban của mình để minh định công việc. Tôi muốn bữa dạ tiệc lưu lại một kỷ niệm đẹp cho mọi người. Mọi khó khăn cho tôi biết tối mai, cũng vào giờ này.

– Nhận rõ!

– Hạm phó xem coi tôi có bỏ sót gì không?

Hào gật đầu:

– Cần gì thêm, tôi sẽ trình hạm trưởng.

– Ngày thứ năm ủi bãi Nha Trang, trong khi chờ bốc dỡ số đạn, chúng ta có một ngày thảnh thơi để đi mời thân hữu. Phân đội trực sẽ đi từ buổi sáng đến ba giờ chiều. Phân đội không trực đi từ 3 giờ đến không quá 8 giờ sáng hôm sau. Nhân viên nào vi phạm giờ giấc sẽ bị phạt nặng.

Sáng thứ sáu, Thiếu úy Tâm và Thiếu úy Bằng dẫn nhân viên nhà bếp đi mua thực phẩm, bia, nước ngọt và ly dĩa vân vân. Cho uống bia. Bất kể sĩ quan hay nhân viên nào say sưa là đem nhốt ngay xuống hầm lái tay. Ngày mai cho tôi xem tờ thực đơn đề nghị. Thứ bảy, tiệc sẽ bắt đầu từ 7 giờ tối đến nửa đêm. Từ 7 giờ, Trung úy Hải và Trung úy Được hướng dẫn khách thăm viếng chiến hạm. Tám giờ khai mạc dạ tiệc. Tôi dự trù có khoảng trên 30 khách đến tham dự. Cần nói rõ điểm này. Khách đến tham dự sẽ dùng phương tiện tự túc. Nhưng khi tiệc tan sẽ có xe đưa về tận nhà. Thiếu úy Bằng phụ trách một chiếc, Thiếu úy Tâm một. Nếu có thêm xe, hạm phó lo. Sáng mai điểm danh, hạm phó thông báo cho toàn thể nhân viên biết chương trình này.

– Thưa hạm trưởng, nhận rõ!

Cuốc bộ từ bến xe lam đến nhà Hồng tôi cứ ngẩn ngơ liệu Hồng có làm mặt lạ với tôi không. Nếu Hồng làm mặt lạ, tôi sẽ phản ứng ra sao? Cứ đứng lỳ trước cổng? Chắc phải vậy thôi để “kêu gọi” sự rủ lòng. Mà Hồng có làm ngơ luôn thì tôi cũng… đáng đời! Nhưng nếu nàng vẫn niềm nỡ, tôi phải giải thích thế nào việc im hơi lặng tiếng suốt sáu tháng? Tôi phải giải thích sao cho có lý có tình?

Mãi gần tới nhà Hồng, tôi mới chợt thấy là mình quá sơ suất. Lời xin lỗi dẫu có lý có tình đến thế nào mà không kèm một bó hoa thì vẫn là một thiếu sót lớn không thể chấp nhận! Tôi quay bước ra chợ Đầm chọn cho bằng được bó hoa hồng đúng màu hồng tươi tắn nhất. Một tay cầm túi xách đựng quà từ Sài Gòn, tay kia ôm bó hoa đi lang thang giữa phố trông rất cải lương nhưng lại khiến tôi vững bước. Tôi đi qua ngôi nhà cũ của Tuyết, thêm hai ngã tư nữa là tới nhà Hồng. Dường như những người rời bỏ xứ Huế về cư trú Nha Trang thích chọn nhà bên đường Hoàng Tử Cảnh. Đó là khu nhà cổ trông đặc thù bản sắc Huế. Và có lẽ nó còn mang thêm cái không gian yên tịnh nên thơ của cố đô chăng? Tuyết và Hồng có cùng đặc điểm gia đình: Cả hai đều là con một. Cha mẹ đều ở mức khá giả và danh giá. Ba Tuyết lúc còn sinh thời là một trưởng ty. Ba Hồng trước khi thành dân biểu thất cử kỳ hai là bác sĩ trưởng một bệnh viện. Ông thích thời sự, chính trị. Cuối tuần tôi mong gặp ông để được ngắm Hồng, còn ông thì mong tôi đến để nghe ông bàn thời cuộc. Ông có lối trình bày hấp dẫn về các đề tài mà trước khi gặp ông tôi không hề quan tâm. Nhưng dù hấp dẫn đến đâu, dáng vẻ đài cát của con gái ông vẫn lôi cuốn tôi hơn.

Tôi đặt cái túi xách xuống đất đưa tay nhấn chuông. Tay kia dấu bó hoa ra sau lưng. Chờ một lúc, không thấy động tịnh,tôi nhấn lần hai. Cánh cửa nhà hé mở. Con chó nhỏ len ra phóng nhanh đến tôi. Nó sủa gâu gâu mừng rỡ, ngoe ngoảy đuôi liên hồi. Tôi cũng nhớ tên nó. Hai chân trước và mỏm của Lucy thò ra khỏi các song sắt cố chạm vào người tôi. Tôi đưa tay vỗ lên đầu nó và nó liếm lấy liếm để. Hồng đứng yên trong khung cửa đã mở rộng như chưa nhận ra tôi. Nàng mặc nguyên bộ đồ trắng trông như hồ ly liêu trai. Chợt nàng hối hả bước, đôi môi tươi cười thành hình chữ O. Nàng kéo chốt cổng, mắt không rời mắt tôi, giọng ngạc nhiên:

– Về khi mô?

– Tàu mới ghé bến!

– Răng mà không viết thư? Hồng trông thư bắt mệt!

Tôi nhấc chiếc túi xách qua cổng. Con chó nhảy lưng tưng, vồ vập tôi. Tôi đưa Hồng bó hoa:

– Anh được đổi xuống tàu. Trăm công ngàn việc. Cho anh ngàn lần xin lỗi!

– Cám ơn anh bó hoa thật đẹp. Anh vô nhà đi.

Hồng ôm bó hoa bước vội. Tôi theo sau. Mọi vật vẫn thân thuộc, ấm cúng. Nàng nâng bó hoa, chi chút hôn lên từng đóa, đôi mắt rưng rưng. Có lẽ nàng xúc động vì gặp lại tôi hơn là vì tôi làm một cử chỉ đẹp. Tôi nhè nhẹ thở ra. Phút khó khăn qua rồi. Tôi cũng mừng gần rơi nước mắt.

Hồng chỉ chiếc ghế sofa, nói dịu dàng:

– Mời anh ngồi.

Tôi ngồi vào nơi chỉ định. Con Lucy thót lên nằm cạnh tôi. Tôi đặt chiếc túi xách lên mặt bàn khảm xà cừ. Hồng ôm bó hoa vào bếp. Tôi vuốt ve con chó. Nó lim dim tỏ vẻ hài lòng. Hồng trở ra, đặt bình bông lên bàn. Những đóa hồng như bừng nở, tươi tắn hơn sau những nụ hôn của nàng. Nàng ngồi sát tôi, đối xứng con chó. Tôi ngại ngùng hỏi:

– Hai bác đâu Hồng? Anh có quà tặng…

Tôi nghiêng người ra trước, nhấc từng gói quà khỏi túi xách:

– Đây là hộp trà tặng bác trai. Khăn quàng tặng bác gái. Còn đây là quà của Hồng.

Đó là bộ thời trang thanh nhã nhập từ Pháp mà cô bán hàng phải mất nhiều thời giờ mới chọn được. Hồng tiếp nhận, ôm vào lòng nhưng không mở. Giọng nàng nghẹn ngào:

– Tự dưng em nhớ bài thơ của Nguyễn Thị Hoàng mà anh học cùng thời chị ấy chắc phải biết. Học trò Võ Tánh ai mà không biết. Em đọc lại anh nghe vài đoạn: “Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc. Ngó chi tui đồ cỏ mọn hoa hèn. Nhìn chi tui hình đom đóm trong đêm. Cho tui tủi bên ni bờ cô tịch“… “Chi lạ rứa, răng cứ làm tui tủi? Tàn nhẫn chi với một đứa thương đau! Khối tình câm nên không sắc, không màu. Và vạn thuở chẳng nên câu luyến ái!”… “Tui không buồn răng mắt mờ lệ ứa, Bởi vì răng tui có hiểu chi mô! Vì lòng tui là mặt nước sông hồ. Chi lạ rứa, bên ni bờ tui khóc!”

Tôi nhìn nước mắt Hồng tuôn thành dòng mà hồn rung động. Hiền lau mắt bằng cánh tay áo. Sáu tháng qua tôi đã cư xử quá tệ với Hồng chỉ vì mãi mê trách cứ Hiền cư xử ác với tôi. Tôi kéo Hồng tựa đầu vào tôi, thì thầm:

– Em không là cỏ nội hoa hèn. Em là tôn nữ, là công chúa…

Hồng lắc đầu:

– Đừng nói rứa anh. Đừng làm em tủi thân thêm. Trong tình yêu, không được yêu thì khác chi cỏ mọn hoa hèn.

Tôi phản đối:

– Không yêu em mà suốt hai năm anh lại…chịu khó ngồi hầu chuyện ba em? Không yêu em mà…

Hồng bịt miệng tôi bằng nụ hôn nồng nàn. Khá lâu, khi rời môi tôi, Hồng cười bẽn lẽn, má bừng hồng. Tôi sững sờ. Một người có tánh liều mạng như tôi mà cho tới ngày chia tay, tôi chưa từng một lần dám hôn Hồng. Lúc nào nàng cũng giữ vị trí cách xa tôi hoặc có đi đâu thì nàng cũng kề vai với mẹ. Còn tôi thì luôn luôn cạnh kề ba nàng. Có khi chúng tôi được ngồi riêng hai đứa nhưng luôn luôn bị chia cách bởi một cái bàn. Tôi có thể liều mạng giả bộ đi vòng rồi bất ngờ hôn nàng nhưng vẻ đoan trang đôn hậu làm tôi dính tại chỗ. Vậy mà hôm nay Hồng lại là người liều mạng hơn cả tôi. Tôi chợt nhớ là Hồng chưa trả lời câu hỏi của tôi:

– Hai bác đi mô rồi hả Hồng?

Hồng gật đầu:

– Ba mạ em ra Huế lo vụ đất đai tranh chấp, thứ hai mới về. Anh có biết trong sáu tháng xa anh, em ao ước chi không? Em ước ba điều: Một là được gặp lại anh. Hai là phải tìm dịp hôn anh một cái hôn thật dài để đền bù. Và ba là…

Hồng im bặt, chớp mắt và má ửng hồng. Tôi cười đùa:

– Anh cũng đã mơ ước được một lần hôn em, nụ hôn dài… bất tận.

Hồng nhắm mắt chờ đợi. Tôi vòng tay xiết chặt nàng. Mãi thật lâu nàng đẩy tôi ra. Tôi cảm thấy hạnh phúc tràn trề. Tôi nói lời tha thiết:

– Cám ơn Hồng đã thương yêu và chờ đợi. Còn điều ước thứ ba là gì, nếu được, anh đền bù luôn…

Nàng đập vào vai tôi:

– Ăn nói chi lạ! Chưa biết em ước chi mà đã đòi đền bù. Thôi em không nói. Nghe dị òm.

– Anh muốn nghe. Hồng nói đi. Không dị mô!

Nghe giọng tôi trêu chọc, nàng đấm tôi túi bụi:

– Ghét anh dễ sợ!

Tôi đăm đăm ngắm Hồng. Mãi đến nay tôi mới để ý đến một nốt ruồi nằm gần giữa môi trên về phía trái. Chỉ là một chấm đen nhỏ nhưng đủ làm cho đôi môi tươi thắm thêm. Rồi thêm một nốt ruồi nhỏ ở cuối mi mắt phải tạo gương mặt thêm phần thanh thoát. Tôi lại bắt chước giọng Huế của nàng:

– Hồng đẹp dễ sợ! Mà cũng đài các dễ sợ!

Nàng nguýt, bẽn lẽn, mặt bừng đỏ. Tôi lại kéo nàng tựa vào vai tôi. Con chó ngẩng cao đầu nhìn, nghe ngóng rồi lại nằm cuộn tròn. Hồng cất giọng buồn bã:

– Nó là bạn thân thiết nhất của em từ ngày anh không đến nữa. Nếu không có nó, chắc em còn nhớ anh dễ sợ hơn!

Tôi tìm một câu đùa khác nhưng không nghĩ ra. Hồng lại tiếp:

– Em không hiểu mần răng mà em cứ nhớ anh hoài. Chúng mình mô có chi. Một nụ hôn cũng không! Gần đây, ba mạ cho em một chọn lựa. Hoặc sau trung học thì lấy chồng. Hoặc niên khóa tới vào nội trú đại học Huế. Cả hai em đều sợ. Cả hai đều cho thấy em xa anh vĩnh viễn. Ít nhất, học đại học ở Sài Gòn em còn hy vọng gần anh.

Tôi ngồi lặng thinh. Hai người con gái Nha Trang từng yêu tôi, khi vào Sài Gòn đều yêu người khác. Cứ giả sử Hồng lúc nào cũng son sắt, thì lại càng làm tôi thêm kẹt. Mỗi năm mỗi thêm tuổi, tôi đâu lẽ trốn né hoài việc cưới xin. Cho tới nhiều năm nữa, chưa chắc tôi đã có thể… dừng bước giang hồ. Tôi nói:

– Cư xá sinh viên ở Sài Gòn xô bồ lắm. Nên đi Huế. Một lý do khác, anh đi hoài, ít khi ở Sài Gòn. Mà có về bến thì cũng bị cấm trại.

Hồng cúi mặt:

– Thấy anh không viết thư, em cứ tự nhắc mình là đừng yêu anh nữa, đừng nhớ anh nữa và đừng hy vọng chi nữa. Rứa mà cứ nhớ. Tức quá nên em nói với ba mạ là em chọn… lấy chồng.

Hồng dừng lại nhìn tôi ý chừng muốn xem phản ứng. Tôi lặng thinh xem xét lòng mình. Nếu chưa muốn lấy vợ thì để người ta đi lấy chồng. Cứ nhấp nhứ cho người ta hy vọng rồi để tuyệt vọng thì không phải là một quân tử! Tôi nở nụ cười, ngâm thơ Nguyễn Bính:

– Gái lớn ai không phải lấy chồng! Cớ chi mà khóc nín đi không! Mà người em chọn làm chồng là ai vậy?

– Là ai vậy? Câu hỏi làm em chua xót. Câu em mong đợi ở anh là: “Em xem xem anh có hy vọng được em chọn làm chồng không”. Cho dù đó là một câu đùa nhưng cũng cho thấy anh hiểu điều em muốn nói! Đằng này anh nêu câu hỏi quá vô tình. Nếu em có ý muốn làm vợ người nào khác, em đã không thèm nhìn mặt anh.

Tôi thấy mình quả đã thốt ra một câu hỏi ngu si. Tôi phải nói gì để Hồng đỡ tổn thương? Nàng lại tiếp:

– Chỉ tội cho ba. Chính ba cho phép anh vào nhà…nên ba không chọn ai khác. Cái lạ là ba lại thích anh ngay từ buổi gặp lần đầu. Ba bảo trông anh hiền! Mạ cũng tán đồng. Chính em chờ anh vì đồng ý với nhận xét của ba mạ. Nhưng anh trở lại chỉ để cho thấy anh không như ba mạ em nghĩ. Em sẽ nói với ba mạ là anh không hiền mô! Em sẽ lấy chồng vào mùa hè, bất kỳ là với ai, nhưng nhất định không là anh!

Tôi khe khẻ thở dài! Khi đeo đuổi cô nào đó tôi chỉ muốn chiếm tình yêu của họ mà không nghĩ đến việc họ còn có cả một gia đình. Và cũng không nhìn thấy chính người con gái đó sẽ phải chịu lao đao vì yêu nhằm một tên lêu bêu không định hướng. Tôi không lêu bêu, chỉ có điều là chưa thể lập gia đình. Trước sau gì tôi cũng phải có vợ có con. Nếu phải chọn một trong ba người con gái tôi từng yêu để làm vợ, tôi nghiêng hẳn về Hồng. Hồng dành cho tôi một tình yêu trinh nguyên như nhất. Nàng dành cho tôi trọn vẹn tình đầu. Không lý do gì tôi lại không trao nàng luôn cả tình cuối. Tôi thấy cần nói lên một sự thật và tùy Hồng định đoạt:

– Hồng ạ, đây là một thực tế, anh thực lòng bày tỏ. Những lời anh làm em buồn chính là từ sự thật này. Anh thấy rõ ràng là bất cứ kẻ nào có được người vợ như em kẻ đó có cả một diễm phúc. Anh vô cùng khao khát nhận cái diễm phúc đó. Nhưng để được em làm vợ, anh phải bước qua lắm bước nhiêu khê. Ba bước căn bản là: Phải có tiền trang trải cho đám cưới. Lại thêm một số tiền để sắm sửa và chi tiêu cho một tổ ấm và cuối cùng phải làm sao giữ cho cái tổ luôn luôn ấm. Như em thấy đó, anh mới ra trường, những bước nhiêu khê cần thời gian để vượt qua. Thời gian là bao lâu? Anh đã làm thử con toán và thấy rằng sớm nhất cũng phải năm năm. Bắt một người con gái chờ năm năm là điều không nên không phải. Vì vậy, anh có bổn phận gợi ý cho em sớm đi lấy chồng. Nhưng em đã hiểu lầm. Sự thật là thế đấy. Em hãy cân nhắc. Riêng phần anh, dựa vào ý ba em, anh thấy có một quãng thời gian thích hợp cho cả hai. Đó là quãng thời gian em cần để tốt nghiệp đại học. Đó cũng là thời gian anh chuẩn bị tổ ấm. Không chỉ chuẩn bị tiền, mà còn chuẩn bị một chỗ trên bờ. Sau năm năm liên tục đi biển, anh nghĩ rằng anh có đủ thâm niên để về bờ. Cho nên anh chỉ có thể hứa bằng tất cả danh dự: Năm năm nữa anh sẽ cưới em…

Hồng nhìn tôi không chớp mắt. Dường như những gì tôi vừa nói là một bất ngờ đối với nàng. Nàng biểu lộ nét xúc động nhưng không tỏ vẻ hài lòng. Tôi thấy cần thêm một câu đùa cho quãng thời gian được ngắn bớt:

– Trừ phi anh trúng số, anh cưới Hồng ngay. Từ nay mỗi tuần anh sẽ mua vé số!

Hồng cười như mếu:

– Được như rứa thì nói chi! Nhưng thời hạn năm năm nghe lâu chi lạ! Cho dù em có theo đại học thì cũng chỉ bốn năm.

– Em chọn bác sĩ thì năm sáu năm.

Hồng lắc đầu:

– Cái số năm học không phải là vấn đề. Cái vấn đề là anh với em sẽ còn tệ hơn Ngưu lang Chức nữ. Một năm có chắc chi gặp nhau được một lần!

– Một năm chúng ta gặp nhau một hai tuần ở đây, hay ở Sài Gòn, trong mùa hè…

Hồng trầm ngâm:

– Cám ơn anh nói ra một sự thật. Bây giờ chúng ta đi ăn cơm, em đói rồi.

Tôi như đang bị hụt hơi nên tán thành ngay:

– Trước đây hai bác cứ cho anh đi ăn nhà hàng hoài. Mấy lần anh đòi trả nhưng hai bác chê anh là sinh viên nghèo. Giờ thì anh không giàu nhưng cũng không còn nghèo. Thực sự, hôm nay anh đến với ý định mời hai bác và Hồng dùng cơm tối. Hồng đại diện luôn hai bác, hỉ?

Hồng cười, thoăn thoắt chạy vào buồng. Khi trở ra, nàng hoàn toàn là một cô gái khác. Chiếc áo sơ mi màu xanh nước biển và chiếc quần tây màu trắng bó sát mông đùi. Một tý má hồng, một tý môi son. Trông Hồng tươi trẻ, uyển chuyển như một người mẫu. Chúng tôi đi cạnh nhau như đôi bạn học. Đường phố vừa lên đèn. Tôi không biết mình đã qua những con đường nào trước khi đến nhà hàng La Frégate. Đây là nhà hàng tôi từng được ba mẹ nàng đưa đi ăn tối.

Người tiếp viên niềm nở tiếp đón và đưa chúng tôi đến ở một bàn nhỏ với hai ghế đối diện. Một chụp đèn xinh xắn gắn trên vách tỏa vừa đủ sáng. Một cánh hoa hồng cắm vào chiếc lọ nhỏ đặt giữa bàn. Trước mỗi ghế là một đĩa trắng lớn đựng khăn. Hai ly thủy tinh một cao một thấp phía trước và muỗng nĩa dao hai bên. Người tiếp viên mở khăn ăn cho Hồng trải lên đùi trước khi bước qua chỗ tôi. Hồng tự động chọn món chúng tôi cùng thích: món thịt bò Châteaubriand nướng khá chín và khoai tán với sauce. Món này cũng là món tủ của ba Hồng. Và như thường lệ, mỗi đứa một ly rượu chát có vị pinot noir.

Trong khi thưởng thức hương vị tuyệt vời, thưởng thức cảnh trí thơ mộng và sự phục vụ tận tụy, tôi hỏi thăm sức khỏe ba mẹ Hồng, hỏi thăm Hồng gặp trở ngại gì ở lớp đệ nhất ban văn chương. Hồng bảo là các môn học đều suông sẻ trừ những khi … nhớ tôi thì phải tốn thêm thì giờ đọc đi đọc lại. Tôi hỏi Hồng đã đọc hết các sách tự lực văn đoàn chưa. Đã đọc được mấy cuốn của Francoise Sagan rồi. Tôi hỏi Hồng đã xem những phim gì trong thời gian không gặp tôi.

Hồng hỏi tôi về hải nghiệp. Tôi ba hoa chích chòe toàn chuyện đi biển và dấu biến chuyện đi bờ. Tôi nói với Hồng sáu giờ chiều ngày mốt, thứ bảy, tôi sẽ đến đón Hồng dự dạ tiệc dưới tàu. Hông reo vui: “Em sẽ được biết tàu anh, sướng dễ sợ!”. Chúng tôi kết thúc bữa ăn bằng bánh flank và cà phê đen. Tôi gọi bồi bàn tính tiền. Hồng bảo: “Ba mạ dặn cứ đến chỗ ni ăn ba mạ về trả sau”. Tôi vẫn đưa tiền nhưng người bồi không dám lấy. Tôi để lên bàn phần tiền pourboire hậu hĩ.

Chúng tôi cuốc bộ ngang qua ty bưu điện ra bãi biển, từ đó chúng tôi tay trong tay thả dọc theo ven nước, đôi lúc thì thầm, nhiều khi lặng lẽ. Đến mười giờ, Hồng đề nghị về nhà cho con chó cưng đi vệ sinh.

Mười giờ, chuyến xe chót về Chụtt nơi tàu ủi bãi đã rời bến. Tôi dự trù về lúc chín giờ nhưng vì ba mẹ Hồng đi vắng nên cứ dùng dằng. Cùng lắm thì đi bộ nếu không tìm được cyclo. Hồng dắt con Lucy vào nhà, khóa chốt và tắt bớt đèn, chỉ còn ánh sáng từ hai bóng điện dùng như ngọn lữa cho cặp nến trên bàn thờ. Hồng ngồi tựa đầu lên cánh tay tôi trên sofa và con chó nằm bên. Tôi hôn lên tóc Hồng. Mùi thơm da thịt dìu dịu mà quyến rũ. Tiếng Hồng nhẹ trôi trong không gian huyền ảo:

– Ước mơ thứ ba của em là được nằm suốt đêm trong vòng tay anh…

Tôi nghe khắp người rúng động. Tôi ngắm nét thanh tú kiêu sa trên gương mặt nàng. Tôi nhích người ra và xoay ngang để có thể hôn lên đôi mắt còn nhắm kín sau câu nói. Và tôi hôn đôi môi. Hồng đáp ứng cuồng nhiệt. Tôi vụt đứng lên và quyết định ra về. Tôi nói trong hơi thở mạnh:

– Anh phải về. Tiếc rằng ước mơ cuối cùng của Hồng anh không đủ nghị lực để hoàn thành.

– Đừng anh! Cho em sống trọn ước mơ của em.

Tôi lắc đầu:

– Thật nguy hiểm Hồng ạ!

Hồng cười:

– Anh đừng hiểu lầm! Chuyện nớ không nằm trong ước mơ của em. Em chỉ ước mơ được nằm bên anh, được hôn anh và được anh hôn! Chỉ rứa!

Với tôi, khó mà chỉ rứa! Tôi không thể giải thích với Hồng. Hồng chưa biết mùi đàn ông và mang nặng danh giá gia đình, có thể chống đỡ hết mình. Còn tôi, kẻ từng biết mùi đàn bà và bất kham khi ham muốn. Hồng có chống đỡ hết mình thì cũng không ngăn được chuyện phải xảy ra. Bây giờ tôi còn sáng suốt nhìn thấy một chuổi hậu quả mà Hồng và gia đình phải nhận lấy. Và cũng chính là lúc phải ra về. Tôi đứng bật dậy và bước về phía cửa. Tôi mở chốt khi Hồng cúi mặt buồn bã ngồi yên. Tôi nói:

– Nhớ sẵn sàng sáu giờ ngày mốt anh đến đón. Đừng giận và hãy ngủ ngon.

Chỉ có con chó tiễn tôi ra cổng.

Theo dự trù, dạ tiệc bắt đầu đúng 8 giờ. Ban nhạc bắt đầu chơi các nhạc bản êm dịu. Hồng đứng cạnh tôi gần ban nhạc, nhìn quanh. Nàng khen nghệ thuật trang hoàng trông đơn giản mà vẫn huy hoàng. Chạy dọc hai vách của lòng tàu và phần lộ thiên là các dãy đèn vàng xanh, các hàng cờ chữ và số đầy sắc màu lạ mắt. Nó còn góp phần làm nổi bật cho trên năm mươi bộ tiểu lễ màu trắng đang lăn xăn di động. Từ cửa đổ bộ đi vào là những dãy ghế đặt hàng ngang tổng cộng tám mươi chiếc. Tiếp đến, đặt sát mỗi bên vách là một dãy bàn dài bày biện nhiều món ăn hấp dẫn. Cuối mỗi dãy là hai bàn tròn lớn, một dành cho ban nhạc giải lao và một dành cho các loại thức uống. Một sàn nhảy khá rộng ngay trước ban nhạc phối trí gần sân lái.

Vào lúc 8 giờ 15, trong khi mọi người ngồi vào chỗ, Hạm trưởng và các sĩ quan tiến ra cửa đổ bộ đón chào hai vị khách quan trọng nhất của đêm dạ hội: Hải quân Trung tá Chỉ huy trưởng Vùng duyên hải và phu nhân. Đúng ra vinh dự này là dành cho ông bà Đại biểu Trung phần nhưng cả hai đều bận công vụ quan trọng hơn. Hạm phó mời Hạm trưởng tuyên bố khai mạc Dạ hội kỷ niệm đệ nhất chu niên ngày nhận lãnh chiến hạm. Ông ngỏ lời chào mừng và cám ơn quan khách. Ông cũng cám ơn quân trường Hải quân đã cung cấp phương tiện tổ chức gồm ban nhạc và ca sĩ. Ông tổng kết vắn tắt thành tích chiến hạm sau một năm tích cực hoạt động và nhiệt liệt ngợi khen toàn thể thủy thủ đoàn. Cuối cùng Hạm trưởng chúc mọi người hưởng trọn đêm vui.

Hạm phó Hào lại cầm máy giới thiệu tôi lên đọc thực đơn. Tôi mỉm cười với Hồng để tự trấn tĩnh. Hồng bóp tay tôi khích lệ. Khi đối diện mọi người, tôi đưa tay chào đúng quân cách và nhìn vào hàng ghế thượng khách:

– Kính thưa Hải quân Trung Tá chủ tọa và phu nhân. Kính thưa Hạm trưởng và quý vị thực khách. Hôm nay là thứ bảy, ngày 26 tháng 10 năm 1963, nhằm ngày mồng 10 tháng 9 Âm lịch là ngày lành tháng tốt của năm Quý Mão. Bây giờ là đúng tám giờ tối, theo đồng hồ của vị chủ tọa. Tôi, Hải quân thiếu úy Võ Bằng, xin đọc thực đơn đêm dạ tiệc. Thực đơn hôm nay gồm có:

Thứ nhất: Súp măng cua vi cá. Thứ hai:Chả giò bào ngư. Thứ ba: Kim kê nhất bửu. Thứ tư: Hải sâm dồn thịt. Thứ năm: Tôm nướng Trường Sa. Thứ sáu: Cơm chiên Tây Sa. Thứ bảy: ice cream tráng miệng. Thức uống: Nước ngọt đủ loại và cà phê.

Kính chúc Trung tá chủ tọa và phu nhân, kính chúc Hạm trưởng và tất cả quý vị một bữa ăn ngon miệng.

Tiếng vỗ tay rộ lên cùng với tiếng xì xào, cười nói. Hạm trưởng đứng lên hướng dẫn khách lấy thức ăn dãy bàn bên mặt. Hạm phó hướng dẫn bên trái. Tôi gài micro, về ghế ngồi bên Hồng. Nàng quay qua tôi:

– Thực đơn hấp dẫn quá. Chắc tốn kém lắm.

Tôi cười:

– Nghe rứa mà không phải rứa! Cốt để nghe cho kêu rứa mà! Thí dụ chỉ là gà rô ti của nhà bếp nhưng gọi kim kê nhất bửu cho nó sang!

Hồng bấu tôi:

– Anh bỏ cái giọng nhại Huế đi. Nghe chướng dễ sợ! Còn khai mạc gần chín giờ mà bảo đúng tám giờ!

Tôi xoa chỗ đau:

– Cũng truyền thống Hải quân đấy. Ông chủ tọa đến trễ ra sao cũng mặc, sĩ quan ẩm thực phải nói đúng theo giờ đã định.

– Tại răng?

Tôi lắc đầu:

– Không rõ! Có lẽ, hoặc là tỏ ra tôn trọng ông chủ tọa bằng cách cho biết đã khai mạc đúng giờ hoặc là để chọc quê ông chủ tọa đã đến trễ!

Hồng bụm miệng cười. Tôi nâng Hồng đứng lên sắp hàng lấy thức ăn. Bây giờ thì ít còn ai ngồi. Đa số vừa đứng ăn vừa tán chuyện. Các cậu lính thủy thì đưa đào lên boong ngồi trên các trụ quấn dây. Một số đứng kề nhau tựa dây an toàn. Lấy thức ăn xong tôi đưa Hồng tìm Tâm giới thiệu. Bạn gái Tâm thật duyên dáng. Hạm phó và các sĩ quan khác đều có đôi. Chỉ mình Hạm trưởng là đơn lẽ nhưng ông lại tỏ ra vui tươi nhất. Ông hết nói chuyện với đoàn viên này lại hỏi han đoàn viên kia. Ông tiếp xúc chào mừng từng quan khách. Ban nhạc chơi những bản quen thuộc, nhuyễn nhừ, âm lượng vừa đủ. Tôi đưa Hồng lên tận đài chỉ huy. Trung úy Hải và cô bạn đang chiếm một phía nhìn về thành phố. Tôi và Hồng sang phía đứng nhìn về Cầu Đá. Biệt Điện Bảo Đại vươn cao trên nền trời đen thẳm đầy sao. Cuối độ nghiêng của sườn đồi hình dạng của hai chiếc thương thuyền đang cặp kè ở cầu tàu. Hòn Tre lừng lững một khối đen.

– Trời mát và biển về đêm đẹp dễ sợ.

Tôi muốn nói đâu bằng em nhưng thấy khuôn sáo vô duyên. Ánh đèn từ dưới hắt lên tạo khuôn mặt Hồng thêm vẻ kiêu sa đài các. Hai lọn tóc đen thả ngang bộ ngực vung đầy được cái thành bệ nâng lên. Màu trắng chiếc áo pullover như trong suốt. Tôi nghĩ là nếu tôi và Hồng không đang bận nhai thì chắc chắn chúng tôi đã hôn nhau. Ngẫm nghĩ tôi thấy mình thật may mắn. Và cũng thấy mình thật lạ lùng khi suốt sáu tháng chỉ đôi lần thấp thoáng nhớ nàng. Suốt sáu tháng đầu óc ngu muội vì những nụ hôn Hiền dành cho Thanh. Từ nay, phải đền bù cho cả tôi lẫn Hồng. Tôi nói:

– Thật đáng buồn là chúng ta chỉ còn gần nhau vài tiếng nữa. Sau dạ tiệc, anh đưa Hồng vào nhà là phải trở lui ngay để nhổ neo về Sài Gòn.

Hồng lặng thinh nhìn ra biển khơi. Một lúc lâu mới vang lên giọng buồn như muốn khóc:

– Rồi anh lại không viết thư cho Hồng?

Tôi nắm cánh tay nàng:

– Lần này anh sẽ viết bù.

– Khi trước, dù chưa có kỷ niệm, Hồng cũng đã nhớ anh. Lần ni, chắc nhớ… điên luôn! Rồi cứ như ri thêm năm năm nữa. Anh ác dễ sợ.

Tiếng hạm phó Hào vang lên từ các loa:

– Mời tất cả trở lại ghế ngồi để bắt đầu chương trình văn nghệ. Bây giờ là chín giờ. Chương trình văn nghệ bốn mươi lăm phút. Sau đó là khiêu vũ. Xin mời quý bà, quý cô, quý ông, quý bạn và toàn thể thủy thủ đoàn nhiệt tình tham gia. Mời tất cả mọi người trở lại chỗ ngồi. Mời ca sĩ ban nhạc trình bày trước.

Tôi và Hồng theo sau Trung úy Hải và cô bạn gái lần xuống lòng tàu. Tôi lấy hộp bia và một ly xá xị. Giọng nữ nũng nịu cất lên bài Hoa Biển. Rồi đến giọng nam rộn ràng với bài Thủy Thủ và Biển Cả. Một cô khách trẻ tiếp nối bài Tình Ca Người Đi Biển nói là để tặng tất cả các anh thủy thủ thương yêu. “Chiều nay ra khơi. Thoáng thấy mắt em nhuốm buồn. Đời anh là gió sương. Anh đi khắp muôn phương!”

Hồng kề miệng sát tai tôi:

– Đi, đi hoài! Nhuốm buồn là còn giỏi. Em muốn khóc đây.

Tôi cười:

– Hồng lên hát một bản vui vui sẽ hết muốn khóc…

– Em không biết hát.

– Em đờn piano hay thế mà không biết hát?

– Em chỉ chơi nhạc classic. Thôi anh hát tặng em đi.

Hát là đam mê của tôi nhưng bản gì đây? Bản gì hợp với tâm hồn cổ điển của Hồng? Phạn Duy có đặt lời cho nhiều bản cổ điển ngoại quốc. Trở Về Mái Nhà Xưa. Chủ Nhật Buồn, Chiều Tà. Dạ Khúc. Dạ Khúc có vẻ hợp với không khí tối nay nhất. Nhưng dường như tôi không thuộc hết lời. Tôi hỏi Hồng:

– Em thuộc lời bản Dạ Khúc?

Hồng chầm chậm nghiêng mặt, đôi mắt u buồn nhìn tôi, khe khẻ lắc đầu. Cái dáng vẻ của Hồng gợi tôi một bản nhạc. Một bữa trong tuần tôi đi phép, Dũng bảo bản nhạc này mới xuất bản và tập tôi hát. Càng hát tôi càng thấy bản nhạc hay lạ lùng. Phải chăng từ trong tiềm thức tôi bóng dáng Hồng luôn luôn ngự trị. Khi hạm phó Hào kêu gọi người tình nguyện kế tiếp, tôi bước lên. Tôi nhìn khán giả rồi hướng vào Hồng, nói một cách thiết tha:

– Bài này tôi mới tập nhưng tôi vẫn muốn hát để riêng tặng một người: Tôn Nữ Thụy Hồng , bản Dung Nhan Mùa Hạ của Y Vân.

Nàng đắm đuối nhìn tôi. Tôi quay nói nhỏ với ban nhạc cung bậc và nhịp điệu slow rock. Tôi lắng nghe nhạc dạo và cất lời từ trái tim:

Khi em tắm nắng cho tôi xin hai thước mặt trời. Vẻ kiêu sa thần vệ nữ ngàn đời. Ôi đôi môi ấy và đôi mắt u hoài. Tôi từ bâng khuâng đến mê say.

Xin cho ngây ngất bên dung nhan đan trắng hạ này. Và cho xanh giấc ba mươi.

Vòm mây, bờ cát trắng. Trời cao, biển xanh thắm. Vàng nắng và gió êm. Nhạc đâu đó gợi buồn.

Khi em tắm nắng không bao nhiêu hai thước mặt trời. Để dung nhan thắm trong tôi.

Bản nhạc quá ngắn, tôi định hát thêm cho đã nhưng ban nhạc báo dứt ở cuối lần hai theo thông lệ và tiếng vỗ tay đã bừng rộ. Tôi cúi đầu chào, chờ hạm phó đến trao chiếc vi âm. Tiếng hô bis từ nhiều người. Có tiếng la lớn: “Yêu cầu hát bản Nha Trang!” Nhiều người la hét: “Đúng rồi, Nha Trang. Yêu cầu hát Nha Trang của Minh Kỳ”. Tôi nhận ra giọng la lớn là của trung sĩ Quân. Hai đêm trước, anh xuống khu sĩ quan tìm tôi để dạy tôi khiêu vũ như anh hứa, đúng lúc tôi đang nằm trên giường hát trọn bản này. Anh chỉ báo sự hiện diện của anh bằng lời khen giọng tôi thiệt ngọt. Tôi nói với anh có lẽ tại vì tôi đang nhớ một người bạn học, nhớ những ngày cùng nhau quậy phá Nha Trang. Dũng là người dạy tôi cầm đàn và dạy tôi hát. Dũng là học trò của nhạc sĩ Minh Kỳ, được chính tác giả tập dợt bài này trước khi xuất bản. Tôi là học tròcủa Dũng…

Hạm phó nháy mắt:

– Hát Nha Trang đi, mắc cở gì nữa!

Biết không đừng được, tôi nâng chiếc vi âm:

– Bản này xin tặng Nha Trang và… người Nha Trang.

Nha Trang là miền quê hương cát trắng. Có những đêm nghe vọng lại. Ầm ầm tiếng sóng xa đưa. Nha Trang cảnh đồng bao la bát ngát. Hương quê dâng lên ngào ngạt. Hòa cùng sức sống yên vui.

Nha Trang cảnh đẹp nên thơ khiến nhớ. Bao năm du khách hằng chờ. Một ngày ghé đến Nha Trang. Ai ơi người về cho ta nhắn với. Nha Trang quê hương dịu hiền. Ngàn đời lòng tôi mến yêu.

Còn đâu những chiều vui xưa. Còn đâu những chiều say sưa. Ngồi nơi biển buồn trông ra khơi mênh mông. Còn đâu Tháp Bà êm mơ. Còn đâu đá Chồng bơ vơ. Còn đâu bến Cầu Đá nên thơ.

Nha Trang cảnh đẹp trăng thanh gió mát. Ai qua không quên để lại. Một vài luyến tiếc xa xôi. Ai ơi người về cho ta nhắn với. Nha Trang quê hương dịu hiền. Ngàn đời lòng tôi mến yêu.

Tiếng vỗ tay lại rộ lên. Tôi cúi chào rồi xuống ngồi bên Hồng. Tôi như muốn hụt hơi. Đây là lần đầu tôi hát trước đông người. Hồng ôm xiết cánh tay tôi, nói nhỏ một cách hãnh diện:

– Anh hát hay dễ sợ. Thương anh dễ sợ! Ngàn đời lòng tôi mến yêu!

Các thủy thủ và quan khách thay nhau tiếp nối lời ca. Trong bầu không khí còn đang sôi động, Hạm phó trịnh trọng giới thiệu một màn trình diễn đặc biệt của một nghệ sĩ đặc biệt. Mọi người im phăng phắt chờ đợi Hào giới thiệu rõ hơn. Anh nói chầm chậm, nửa trịnh trọng, nửa cợt đùa:

– Để thay đổi không khí, đây là phần ngâm thơ. Tác giả đặc biệt đóng góp đêm vui bằng một bài thơ do chính ông sáng tác. Xin mời nhà thơ kiêm… hạm trưởng!

Tiếng vổ tay tưởng chừng phá vỡ con tàu. Tiếng la hét ủng hộ gà nhà. Hạm trưởng ngượng ngịu đứng lên, đến bên Hào tiếp nhận máy vi âm:

– Ông hạm phó chơi tôi sát ván! Cho máy tiến không xong mà lùi cũng không được. Thì thôi đành ngâm một bài mới sáng tác đêm qua. Đêm qua, nghĩ đến ngày mai phải rời xa Nha Trang tôi cứ trằn trọc mãi. Bài thơ có tựa Rời Bến.

Mọi người đều bất ngờ. Giọng ngâm của ông có thua gì Tô Kiều Ngân:

“Buồn sao tàu nhổ neo rồi. Trông ra chỉ thấy ngậm ngùi chấm con. Bờ lui, lui mãi… chỉ còn. Bâng khuâng nét núi, đồi thôn mập mờ. Đàn khơi dạo khúc vu vơ. Hồn trong ly cách thẩn thờ tìm nhau. Buồn sao giây phút lên neo. Tàu đi bỏ lại ngoằn ngoèo luống khơi. Tim như chìm mất cung vui. Càng xa khoảng biển càng ngùi nhớ thương. Rồi như tàu: nét chấm mòn. Nhạn bơ vơ giữa trùng dương mịt mùng.

“Chót dây buông hẵn con tàu. Mũi dần tách bến dạ cầu bơ vơ. Cố đô chiều xuống lên mưa. Triều dâng lẵng lặng, hồn ngơ ngác hồn.

“Hôm nao trông cánh thư màu. Cánh thư không lại, con tàu nhổ neo. Sóng lên trắng biển, gió vèo. Nỗi buồn hun hút đuổi theo chân trời…” (thơ Hữu Phương)

Xin cám ơn mọi người đã lắng nghe…

Tiếng vổ tay hòa tiếng la hét, tiếng hô bis vang đội. Hạm trưởng dơ cả hai tay lên thay cho lời cảm ơn rồi trở về chỗ ngồi. Đợi tiếng ồn lắng bớt, Hạm phó nói đùa:

– Thưa quý vị. Thật ra Hạm trưởng có thể ngâm tới sáng cũng chưa hết thơ của ông nhưng đã tới giờ khiêu vũ. Huấn thị điều hành căn bản có nói rằng giờ nào việc nấy! Vì vậy xin mời ông bà chủ tọa khai mạc phần dạ vũ!

Diệu nhạc Pasodoble nhộn nhịp vui tươi. Sàn nhảy đông dần và càng lúc càng sôi động. Tôi tự dưng thấy mình còn quá quê mùa trước những bước nhảy điêu luyện, quấn quít của các giai nhân và các chàng thủy thủ không còn làn ranh quan lính. Tất cả tận hưởng đêm vui. Trung sĩ Quân và người đẹp xem chừng vô cùng ăn ý. Hai người đi fantasy như đang thi đua tranh giải khiêu vũ đẹp thế giới. Tôi nhất định phải nhờ anh dạy tôi những điệu bebob, tango…

Ban nhạc và ca sĩ liên tục chơi nhạc tua. Đợi đến điệu slow, tôi rủ Hồng ra sàn. Nàng lắc đầu ngoày ngoạy. Tôi cũng chỉ mới được thầy Quân dạy cấp tốc điệu sơ đẳng này mà đã làm tàng:

– Đừng sợ! Dễ lắm. Điệu slow này, em chỉ ôm anh, đứng tại chỗ, hơi đong đưa theo nhịp, thế là ăn tiền.

Hồng vẫn lắc đầu nhưng tôi cứ nằn nì. Vào điệu slow của tua thứ ba, Hồng chiều tôi miễn cưỡng bước ra. Chúng tôi đứng ôm nhau trong tiếng nhạc dặt dìu. Không bao lâu nàng ôm chặt tôi, tựa mặt vào vai tôi, vào cổ tôi. Nàng hầu như không hay biết hai bàn chân đã bắt đầu di động tới lui qua lại. Từ đó Hồng không bỏ điệu slow nào….

***

Chúng tôi chạy từ đường này sang đường khác, thả từng người khách tận cửa nhà. Hồng là người sau cùng. Tôi dặn anh tài xế đậu chờ. Hồng mở cổng. Tôi đưa Hồng đến cửa. Hồng vặn khóa, kéo tôi vào trong và bấu cứng lấy tôi:

– Anh! Đừng về tàu. Ở lại với em. Thứ hai, trước giờ đi học, em sẽ đưa anh ra bến xe về Sài Gòn. Hãy giúp cho ba ước mơ của em được tròn vẹn. Hãy ở bên em ngày chót em cònđược tự do…

Lời mời sao quá thiết tha hấp dẫn. Theo huần thị điều hành, một ngày vắng mặt đổi hai ngày tù. Bốn ngày quân kỷ nằm ôn những phút giây diễm tuyệt vẫn là quá ngắn.

Quá rẻ Bằng ơi! Còn gì không chịu đổi? Tôi ôm chầm lấy Hồng hôn say đắm, thật lâu, như bất tận. Nhưng tôi kịp hốt hoảng buông nàng ra, dứt khoát chia tay bằng một câu nói đùa:

– Năm năm nữa, anh sẽ ở lại suốt đời…

Câu nói đùa vô duyên đến độ khiến cả con Lucy cũng không tiễn tôi ra cổng!

Thơ lửa

Thơ Phan Nhật Nam

Tựa đề và hình ảnh: Sơn râu (trích từ tranh của Họa sĩ Chóe)

Post by Sơn râu 1 Oct 2026

1.

Mùa Thu xưa năm trước

Đảng dựng lá cờ Hồng

Xung phong khởi cách mạng

Quyết liệt lần tiến công

Nửa thế kỷ bão lửa  

Máu nhuộm đỏ suối sông

Lớp lớp thây chật đất

Thành công. Đại thành công!

Sàigòn ngập úng nước

Do tại ngọn triều cường

Bọn Mỹ – Nguỵ để lại

Thành Phố Ta vĩ đại

Với tên “Bác Tối Thượng”

Nước cho dẫu dâng cao

Tượng Bác Ta khô ráo

Bọn phản động lếu láo

Sông tràn lũ khi nào?

Vợ chồng vua Thái Lan

Thăm nhà nước Hà Nội

Diễu binh và lễ hội

Lụt nơi đâu chỉ coi?

Phú Khánh không thể ngập

Ta đưa lên cao nguyên

Thay danh hiệu núi rừng

Làm sao có thể lụt?

Nhỡ nhà trôi người chết

Dân ngu dốt không biết

Kém quán triệt tính năng

Đập thượng nguồn kinh tế

Kia kìa bọn phản động

Giết mấy cũng không chừa

Ta viết thêm nghị quyết

Quốc hội rền vỗ tay.

2.

Cô dự bắn bên sông

Tổ trao thưởng khăn hồng

Chiều về thi cuốc đất

Cụm đề nghị chấm công

Chồng đi B chết thảm

Giấy “Liệt Sĩ” ban khen

Lồng khung treo lên trần

Thầm sống không hổ thẹn

Lụt tràn theo bão tới

Nóc nhà cuốn nước trôi

Xác người chết không nói

Mặt đắp tờ biểu dương

3.

Sống qua mấy mươi năm

Chập đau xót thắt ruột

Không còn sức để khóc

Nghiệp phận Người Việt Nam

Phan Phi Danh

Qua tuổi 83 với “Nỗi Đau VN”

Đại Tá Jackson T. Đoan (gốc Việt), Sĩ quan Phụ tá điều hành cho Tư lệnh phó, phụ trách các Căn cứ vật liệu và tiếp vận Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ 

dongsongcu.wordpress.com

Posted on September 29, 2026 by dongsongcu

Đà đăng ngày 18/07/2024 – Đại Tá Jackson T. Đòan (gốc Việt), Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện chiến tranh sơn cước Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (MCMWTC).

Cập nhật ngày 30 tháng 9 năm 2026 – Đại Tá Jackson T. Đoan (gốc Việt), Sĩ quan Phụ tá điều hành cho Tư lệnh phó, phụ trách các Căn cứ và tiếp vận Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 1 Oct 2026

Đại tá Jackson T. Đoan (hinh của mcmwtc.marines.mil).

Đại tá Jackson T. Đoan* được bổ nhiệm chức Sĩ quan Phụ tá điều hành cho Tư lệnh phó, phụ trách các Căn cứ vật liệu và tiếp vận Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (TQLC) tại Bridgeport, California từ tháng 9 năm 2026. Vị trí Phụ tá điều hành (EA) cho Tư lệnh Phó phụ trách các cơ sở vật liệu và tiếp vận (DC I&L) là một chức danh Sĩ quan Tham mưu cao cấp trong Bộ Tư lệnh TQLC (HQMC) tại Washington, D.C. Vị trí này thường do một Đại tá TQLC có thành tích xuất sắc đảm nhiệm, và là Cố vấn chính, kiểm soát tiếp cận và điều phối viên cho Tư lệnh Phó TQLC Hoa Kỳ.

Nhiệm kỳ vưà qua, Đại tá Jackson T. Đoan đảm nhận vị trí Tham mưu trưởng, Bộ Tư lệnh các Căn cứ Thủy quân Lục chiến tại Washington, Đặc khu Columbia, Ngũ Giác Đài. Nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh các Căn cứ TQLC (MCICOM) là cơ quan duy nhất quản lý mọi vấn đề liên quan đến các Căn cứ của TQLC; thực hiện quyền chỉ huy và kiểm soát đối với các Bộ Tư lệnh cơ sở khu vực, ban hành chính sách, thực hiện công tác giám sát và ưu tiên phân bổ nguồn lực nhằm tối ưu hóa sự hỗ trợ dành cho các Lực lượng tác chiến cũng như các đơn vị TQLC đóng quân trên toàn cầu.

Đại tá Jackson T. Doan từng đảm nhận chức Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện chiến tranh Rừng Núi TQLC Hoa Kỳ (MCMWTC) từ tháng 7 năm 2024 đến tháng 7 năm 2026. Trung tâm huấn luyện chiến tranh Rừng Núi TQLC là quân trường huấn luyện đào tạo các chiến sĩ TQLC nâng cao kỷ năng tác chiến trong rừng núi và các hoạt động trong thời tiết giá lạnh, phát triển học thuyết chiến đấu, yểm trợ nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm và đánh giá các thiết bị chuyên dụng và tiến hành các cuộc tập trận tích hợp cho Bộ Tư lệnh huấn luyện Lực lượng đặc nhiệm không vận bộ chiến TQLC (MAGTF), nhằm nâng cao khả năng sẵn sàng tác chiến của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.

Đại tá Jackson T. Doan (phải), Chỉ huy trưởng tiền nhiệm, Trung tâm huấn luyện chiến tranh sơn cước TQLC, nhận quà kỷ niệm từ Thượng sĩ I Robert Turek, Thường vụ đơn vị trong buổi Lễ bàn giao quyền chỉ huy cho Tân Chỉ huy trưởng, Đại tá Clarence E. Loomis tại Bridgeport, California, ngày 22 tháng 7 năm 2026 (hình của Hạ sĩ Enge You, TQLC/dvidshub.net)

Đại tá Jackson T. Doan được thăng cấp Đại tá ngày 1 tháng 8 năm 2021. Ông là một trong 97 Trung tá hiện dịch TQLC được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan TQLC đề cử thăng cấp Đại tá vào ngày 18 tháng 11 năm 2020, sau đó, và được Ủy ban quân vụ Thượng viện chấp thuận. Ông từng phục vụ tại Bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương trong cương vị Phụ tá Tham mưu Trưởng, kiêm Trưởng phòng G-9, Bộ Tư Lệnh Lực Lượng TQLC Thái Bình Dương Hoa Kỳ từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 6 năm 2024.

Đại tá Jackson T. Doan nguyên là Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 5 “Dark Horse” Sư đoàn 1 TQLC từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 2 năm 2018. Ông là Sĩ quan gốc Việt thứ hai đuợc bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng tác chiến TQLC Hoa Kỳ, trước ông có Trung tá** William H. Seely III (Thiếu tướng William H. Seely III, Chỉ huy trưởng Trường An ninh Quốc gia và chiến lược tài nguyên Dwight D. Eisenhower, hồi hưu tháng 5 năm 2025), nguyên Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 3 viễn thám, Sư đoàn 3 TQLC. Ngoài ra, còn có Trung tá John T Nguyễn (Đại tá trừ bị, huấn luyện Chương trình Lực lượng đặc nhiệm Không-Bộ TQLC (MAGTF) thuộc Quân đoàn III TQLC, Lực lượng TQLC Thái Bình Dương), nguyên là Chỉ huy trưởng Phi đoàn 48 Truyền tin thuộc Không đoàn 4 TQLC trừ bị***; và Trung tá Trong M. Do, nguyên là Chỉ huy trưởng Phi đoàn VMM-262, trực thăng Bell Boeing V-22 Osprey, Không đoàn 1, Không quân TQLC (1st Marine Aircraft Wing).

Trung tá** Jackson Đoan, Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 5 “Dark Horse” Sư đoàn 1 TQLC (hình của Hạ sĩ Stormy Mendyz, TQLC/nara.getarchive.net/media).

Đại tá Jackson T. Doan sinh năm 1973 tại Sàigòn, ông và gia đình rời Việt Nam vào cuối tháng 4 năm 1975 đến Hoa Kỳ tỵ nạn và định cư. Ông gia nhập TQLC và thụ huấn tại Trường Sĩ quan OCS (Officers Candidate School) vào tháng 8 năm 1997, và tốt nghiệp mang cấp bậc Thiếu úy. Sau đó Thiếu úy** Doan theo thụ huấn các khóa căn bản Sĩ quan TQLC (TBS) và khóa Sĩ quan bộ binh TQLC (IOC) trong năm 1998.

Tháng 8 năm 2002, Trung úy** Doan được thăng cấp Đại úy, làm Chỉ huy phó trạm tuyển mộ TQLC tại San Diego. Sau 22 tháng phục vụ tại đây, ông được khen thưởng với tư cách là Đại đội trưởng Đại đội K, Tiểu đoàn 3 tuyển mộ. Đến tháng 8 năm 2005. ông đã hoàn thành 11 đợt tuyển mộ binh sĩ TQLC.

Sau đó Đại úy** Doan được chọn gởi đi thụ huấn khóa Sĩ quan bộ binh cao cấp tại Fort Benning, Georgia, và tốt nghiệp ưu hạng. Ông lấy bằng nhảy dù, và tốt nghiệp hạng danh dự. Sau Khi hoàn tật chương trình huấn luyện vào tháng 6 năm 2006, Đại úy Đoàn được giao phó nhiệm vụ Cố vấn lưu động cho toán chuyển tiếp quân sự 11, nơi đây ông làm xử lý thường vụ cho một đơn vị viễn thám Lực lượng đặc biệt “Desert Protectors” để yểm trợ cuộc hành quân Operation Iraqi Freedom (OIF) tại khu vực tỉnh volatile Al Anbar.

Thiếu tá** Jackson T. Doan đoạt giải vô địch Pankration cấp Quốc gia và Thế giới năm 2013-2014 (hình của mcrdsd.marines.mil).

Sau khi hoàn thành nhiệm kỳ phục vụ chiến đấu trong năm 2007, Đại úy Doan được thuyên chuyển về Tiểu doàn 3, Trung đoàn 4 TQLC, và phục vụ tại đây 2 tháng, sau đó ông được đổi qua làm Đại đội trưởng Đại đôi B “Ridge Runners”, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 7 TQLC. Tại đây, ông trở lại với Đại đội bộ binh yễm trợ cho cuộc hành quân OIF, tại tỉnh Al Anbar, Hitt, Irac. Đến tháng 7 năm 2008, Đại úy Đoàn được chọn làm Sĩ quan huấn luyện (SGI) cho khóa học Đại úy bộ binh TQLC và được thăng cấp Thiếu tá, ông được Chỉ huy trưởng huấn luyện tuyên dương là Sĩ quan huấn luyện xuất sắc cấp Quân đội.  

Tháng 7 năm 2010, Thiếu tá** Doan được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 4 “Darkside TQLC, đơn vị ông được khai triển tới thung lũng Upper Gereshk, Helmand để yễm trợ cho cuộc hành quân Operation Enduring Freedom.

Một thời gian ngắn sau, vào tháng 3 năm 2012, trong nhiệm vụ Cố vấn chiến thuật hành quân cho toán OIC và toán 3 thuộc Phòng hành quân Sư đoàn TQLC, Thiếu tá Doan tường trình kết quả hoạt động của các toán cho TQLC. Ông đã hoàn thành xuất sắc vai trò chỉ huy và tham mưu trong nhiệm vụ Cố vấn chiến thuật hành quân.

Tháng 7 năm 2013, Thiếu tá Doan được thuyên chuyển về làm Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn huấn luyện TQLC kiêm Sĩ quan hành quân và vũ khí. Trong thời gian này, ông nhận được giải thưởng lực sĩ thể thao TQLC trong năm về môn võ thuật Pankration, ông cũng là võ sĩ Pankration đoạt giải vô địch cấp quốc gia và thế giới năm 2013-2014.

Thàng 6 năm 2015, Thiếu tá Doan được chọn làm Sĩ quan hành quân của đơn vị 13 viễn chinh TQLC-WESTPAC 13.1- (tương đương cấp Lữ đoàn). Ông được thăng cấp Trung tá và là Sĩ quan soạn thảo kế hoạch phối hợp hành quân trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho Tổng thống Hoa Kỳ đến thăm các đơn vị Hoa Kỳ đang tham chiến tại đây. Ông khai triễn đơn vị hành quân truy kích địch và cho phi cơ oanh kích các mục tiêu có quân khủng bố ISIS trú ẩn trong vùng miền Bắc Irag, khu vực này thuộc vùng trách nhiệm của Bộ tư lệnh trung ương Hoa Kỳ (CENTCOM). Sau đó đơn vị của ông được điều động đến Baghdad cùng với Chiến đoàn hổn hợp đặc biệt yễm trợ cuộc hành quân. Tháng 7 năm 2016, Trung tá Đoàn và đơn vị trở về Hoa Kỳ.

Tháng 8 năm 2016, Trung tá** Doan được bổ nhiềm làm Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 5 “Dark Horse” Sư đoàn 1 TQLC đến tháng 2 năm 2018.

Từ tháng 2 năm 2018 đến tháng 6 năm 2018, Trung tá Doan được điều động làm sĩ quan phòng hành quân (Divison G-3 Operations), Bộ tư lệnh Sư đoàn 1 TQLC.

Tháng 7 năm 2018 đến tháng năm 2019. Trung tá Doan thụ huấn ngành chiến lược cao cấp an ninh Quốc gia tại trường Đại học hải chiến (Naval War College), Rhode Island.

Từ tháng 5 năm 2020 đến tháng 6 năm 2021, Trung tá Doan được biệt phái làm Chỉ huy trưởng CJ7- điều hành và phát triển Lực lượng đặc biệt, toán liên kết yểm trợ hành quân đặc biệt, kiêm Sĩ quan liên lạc các hoạt động đặc biệt liên ngành cho Bộ an ninh nội địa/quan thuế và bảo vệ biên giới (Department of Homeland Security/Customs and Border Protection).

Tháng 7 năm 2021, Đại tá Doan được Bộ tư lệnh TQLC điều động ông về lại TQLC và bổ nhiệm ông làm Trưởng phòng G-35, Bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương Hoa Kỳ ( Director G-35 Regional Operations/Plans Development at U.S. Marine Corps Forces Pacific).

Tháng 9 năm 2022, Đại tá** Doan giữ chức phụ tá tham mưu trưởng, kiêm trưởng phòng 9 (G-9), Lực lượng TQLC Thái Bình Dương Hoa Kỳ.

Tháng 7 năm 2024, Đai tá Jackson T. Doan được bổ nhiệm chức Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện chiến tranh Rừng Núi Thủy Quân lục chiến Hoa Kỳ (MCMWTC).

Đai tá Jackson T. Doan và gia đình (hình của securefamiliesinitiative.org).

Đại tá Jackson T. Doan tốt nghiệp hạng tối ưu Văn bằng Cử nhân kỹ thuật điện toán và Văn bằng Cử nhân Kỹ sư cơ khí và thiết kế kỹ nghệ tại Đại học Southern California; Và các Văn bằng Cao học tại Đại học Phoenix và Văn bằng cao cấp chiến lược an ninh Quốc gia tại Trường Đại học hải chiên Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval War College). Ngoài ra, ông còn thụ huấn và tốt nghiệp nhiều Văn bằng chuyên nghiệp quân sự cao cấp khác v.v…

Đại tá Jackson T. Doan được thăng cấp Thiếu úy năm 1997, Trung úy năm 2001, Đại úy năm 2006, Thiếu tá năm 2010, Trung tá năm 2015, và được thăng cấp Đại tá vào tháng 8 năm 2021. Ông được ân thưởng các loại huy chương cao quý như: 1 huy chương Bronze Star, 2 huy chương Defense Meritorious Service Medal, 5 huy chương Meritorious Service Medal, 2 huy chương Navy Commendation Medal with “V” distinguishing device and star, 1 huy chương Navy Achievement Medal, 3 huy chương Army Achievement medal with 2 palms, huy chương Combat Action Ribbon with star (OIF, OEF), huy chương Humanitarian Assistance Medal, and huy chương Outstanding Volunteer Service Medal.

Đại tá Jackson T. Đoan là 1 trong 6 Đại tá TQLC Hoa Kỳ gốc Việt, danh sách 6 Đại tá TQLC Hoa Kỳ gốc Việt bao gồm: Nữ Đại tá Elizabeth Pham; Đại tá Dave Tran, Sĩ quan chỉ huy chiến lược Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ; Đại tá John T. Nguyen, Phụ tá Tham mưu trưởng, phụ trách Chương trình huấn luyện Lực lượng đặc nhiệm Không-Bộ TQLC Hoa Kỳ (MAGTF), hồi hưu tháng 4 năm 2026; Nữ Đại tá Ly T. Fecteau (hồi hưu); Đại tá William H. Seely III (thăng cấp Thiếu tướng, hồi hưu tháng 5 năm 2025) và Đại tá Jackson T. Doan, Phụ tá điều hành cho Tư lệnh phó, phụ trách các Căn cứ vật liệu và tiếp vận Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ

Nguyễn Quân

Chú thích: *Họ và tên từ tài liệu, Jackson Doan và Jackson T. Doan. Họ và tên Việt, Đoàn Trung; **Ghi theo thời gian mang cấp bậc; ***Phi đoàn truyền tin tương đương với Tiểu đoàn truyền tin bộ binh TQLC, nhưng danh xưng của Không quân TQLC gọi là Phi đoàn/Squadron.

Nguồn tài liệu tham khảo: mcmwtc.marines.mil; Navy Personnel Command; U.S. Marine Corps Forces, Pacific; The United States Marine Corps (USMC); 1st Marine Division; WFTBn major wins world championship; facebook.com/3rdBattalion5thMarines; linkedin.com; dvidshub.net; securefamiliesinitiative.org; Defense Primer: Military Officers – Updated June 4, 2024; Lão non Tuấn Marine-Quân số các đơn vị TQLC Hoa Kỳ; bienxua-Đại Tá Jackson T. Đòan (gốc Việt), Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện chiến tranh sơn cước Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (MCMWTC).

Cứ bửa tới

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 1 Oct 2026

Học thêm một ngoại ngữ ngoài tiếng Mẹ đẻ là một điều không dễ dàng là vì nó khó… (Nói huề vốn!)

Chuyện rằng: Con chuột mẹ dẫn hai chuột con đi dạo. Bỗng một con mèo đánh hơi được mùi chuột, liền nhón cẳng núp sau cánh cửa chuẩn bị vồ ba mẹ con nhà chuột, tha về về đánh chén tối nay.

Trong lúc thập phần nguy cấp, thập tử nhứt sanh, chuột mẹ vội kéo hai chuột con nấp vào phía nên nầy cánh cửa, sủa rõ to: “Gâu, gâu! gâu! Gừ! gừ! gừ! Gâu!”

Mèo ta tưởng là chó, nên vội vàng tam thập lục kế dĩ đào vi thượng, lên đường bôn tẩu .

“Đó các con thấy chưa? Biết được ngoại ngữ thật là có lợi vô cùng vì đôi khi nó cứu được mạng sống của mình!”

Chính vì vậy khi thế giới toàn cầu đã trở thành một cái làng, việc giao tiếp bằng một ngôn ngữ khác tiếng Mẹ đẻ vô cùng cần thiết… thực! Nhứt là đi cưới vợ.

Mấy thằng chuẩn rể Tây, tức da trắng nói chung, lỡ phải lòng với con gái Việt Nam là phải rán mà học tiếng Việt, (dẫu đâu có dễ), để lấy điểm với Bố Mẹ nhà em…

Bố Mẹ ngoài một mớ đô bộn bộn bù của còn phải có một chàng rể Tây dẫu mắt xanh mũi lỏ, nhưng biết húp nước mắm, và phun ra tiếng Việt… để hãnh diện với xóm làng…

Nàng là sinh viên đi Mỹ học, sau khi tốt nghiệp không muốn về nước mà muốn ở lại cái nước tư bản bóc lột nầy nên quăng chài tứ tung mới bắt được một thằng Mỹ lù khù, dễ dụ.

Em sẽ dắt chàng về Hà Nội ra mắt bố mẹ và bà con nội ngoại để chứng tỏ rằng em chẳng lấy làm chơi mà làm thiệt. Nhưng anh lại đực mặt ra đó, một câu tiếng Việt chào hỏi cũng bù trất thì thiên hạ sẽ cho rằng anh ỷ là dân đế quốc Mỹ đem cái thẻ xanh ra nhử nhử trước mặt mà gạt gẫm tiết trinh em!

Nàng dạy chàng ngôi thứ nhứt, tiếng Anh là “I”, thì tiếng Việt không “ai” gì ráo mà phải tùy người đối diện để mình xưng cho thích hợp: là con, là cháu, là anh, là tôi.. v.v…

Lúc nói chuyện với nàng, chàng xưng là anh và âu yếm gọi em. Nhưng với ông bà, cha mẹ là khác! “Nhớ chưa con bò! Cha! Khó dữ vậy hè!”

Về tới Hà Nội, gặp bố em, chàng cung kính, gật đầu chào “Anh muốn cưới con Bố. Bố có đồng ý không?”

Rồi quay sang bà già vợ tương lai khen ngợi vài câu xã giao là: “Giò Mẹ căng lắm!” Quay sang con em vợ thì: “Em đẹp, sexy lắm!”

Con vợ tương lai nghe vậy, bèn rầy: “Anh ngốc như con bò!”

Vốn có chút đỉnh rượu, (chớ bình thường là không bao giờ dám), chàng rể Tây sửa lưng vợ, để cho nhạc phụ và nhạc mẫu biết là tiếng Việt mình cũng giỏi hỏng thua ai

“Con bò không có ngốc! Em phải nói là: Anh ngốc như con ““donkey”“, con lừa, mới đúng!”

Trưởng tộc và cả nhà bên đàng gái thán phục, ồ lên cười vui vẻ.

Xong ông Bí thư xã ủy đến ăn chực để chia vui, đứng dậy giới thiệu cùng chú rể Tây của làng ta, chỉ tay vào vợ đang đứng kế bên trịnh trọng nói: “Đây là nhà tôi!”

Thằng rể Tây buộc miệng hỏi: “Rồi cái cửa ra vào, nó ở đâu?”

Thiệt là cái đồ đế quốc Mỹ mà! Toàn là dân cà chớn không hè!

Đó là Mỹ học tiếng Việt; còn Việt học tiếng Mỹ thì sao?

Mấy bữa nay, bên Little Saigon, bà con mình rôm rả bàn về cái vụ nói tiếng Mỹ giả cầy, ba rọi, nửa nạc nửa mỡ mà không chịu giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong Cộng đồng người Việt…ở nước ngoài…Nghe vui quá chừng vui đi!

Đa số ông bà, chắc bằng cấp đầy mình mẩy, xúm lại xài xể, xì nẹt bà con mình nói tiếng Việt mà cứ chêm vô tiếng Mỹ, theo giọng đọc của tự điển Lê Bá Kông, Ziên Hồng, trường dạy Anh văn từ hồi năm nẩm ở Sài Gòn!

Ối tưởng cái gì? Chớ cái vụ sính nói tiếng Tây, tiếng U hòa đồng với tiếng Việt của dân mình có gần cả thế kỷ trước lận mà.

Tuồng cải lương Tô Ánh Nguyệt của soạn giả Trần Hữu Trang kể về chuyện tình giữa Nguyệt và Minh trắc trở rồi tan vỡ trong cái biến loạn của xã hội Việt Nam chuyển từ chế độ phong kiến qua chế độ thuộc địa, sự xung đột giữ cũ và mới!

Ông Cả, (ba của Nguyệt) thì thủ cựu bài tân: “Nhân bất học bất tri lý. Học giả như hòa như đạo. Bất học giả như cảo như thảo (Người không học không biết lẽ phải. Học như lúa nếp lúa mùa. Không học như cỏ dại cỏ khô ích gì?)

Còn bên ông chủ tiệm bazar Phát Đạt (ba của Minh) thì ““đã cựu nghinh tân”: bonjour, oui, non, pardon, merci! C”est par bien? tá lả.

Xách đít ra về, chủ tiệm bazar Phát Đạt còn ““Adieu”“ (tạm biệt) (A dơ). Ông Cả đáp lại: “Ai dơ” thì biết? He he!

Ông soạn giả Tư Trang đã mượn nhân vật Tân, em của Nguyệt, để phê phán ông chủ hiệu bazar Phát Đạt rằng: “Tây phải ra Tây! Việt Nam phải ra Việt Nam! Đừng mở miệng lai căng pha trộn nửa nạc nửa mỡ nghe không lọt lỗ tai!”

Chuyện đó xưa rồi! Còn bây giờ là thế kỷ 21, mình ở nước của người ta mà chỉ nên nói toàn bằng tiếng Việt, thì là tui sẽ dốt toàn tập tiếng Anh thì làm sao kiếm ra việc làm? Làm cu li, chớ đâu phải là diễn giả trường đại học đâu mà cần tiếng Anh lưu loát?

Mấy thằng Úc nó thường khuyến khích tui, chớ nó không hề dám chê bai, dạy đời như ông Tư Trang đâu! Nó nói: một người biết hai thứ tiếng là ‘bilingual’; còn người chỉ biết một thứ tiếng là thằng Úc!

Thì việc gì mà sợ quê chớ? Muốn giỏi tiếng Anh là phải thực hành, không có cách nào khác. Từ dở mới tới giỏi, biết chữ nào chơi chữ đó, từ ít mới có nhiều, dựa vào kinh nghiệm chiến trường chớ không phải trong sách giáo khoa, toàn là phi hiện thực…tế!

Đây là bài học thực tế nè: “Cô ơi, tôi muốn khám bệnh! Vậy bác “phiu ao” (fill out) cái “phom” (form) này dùm con nha bác!”” “OK Salem!”

“Thằng chả nói tui suốt ngày chỉ lo “sốp binh” (shopping), hỏng có “khe” (care) gì cho chồng con, cho nhà cửa!

“Nô mó nì” (no money) mà sốp binh (shopping) cái gì?Ai đi chợ “khút” (cook) cho cha con ông “ít” (eat)?

Khôn hồn đừng làm tui”ghét mát” (get mad) là tui “mu” ra (move) thì đừng có mà chạy theo khóc lóc năn nỉ kêu tui “mu” vô…” Đồ sì tu pit! ((stupid)”

(Ôi tui khoái cái chữ mu (move) ra, mu (move) vô nầy quá Trời! Mà nỡ lòng nào bắt em phải nói thuần tiếng Việt, không cho chen chữ “move “ nào vô hết trơn thì làm sao mà đã chớ?)

Mạnh vì gạo bạo vì tiền, thương vợ thương con; cái tình thương bao la đó đã làm tui không sợ mất mặt (ủa tui có mặt đâu mà sợ mất?)

Không sợ các bức thức giả chê tui là đồ vọng ngoại cộng với “kém thông minh pẹc- ma- năng (permanent) (thường trực).

Mười năm, hai chục năm nữa cái đám tụi tui sẽ đem cái “xi líp” (slip), “xú chiêng” (soutien-gorge), tiếng Tây ; “no star where” (không sao đâu), no medicine (không thuốc hút), master run (thầy chạy) tiếng Mỹ… đi luôn về bên kia thế giới.

Cái tụi tui để lại là đám con cháu nói tiếng Mỹ như Hoàng gia Anh dù da nó vẫn vàng khè.

Do đó cứ chê tui là tiếng Anh… ăn đong của Phước Lộc Thọ mà hay khoe. “Ai đông khe!” (I don”t care). He he!

***

Tóm lại sĩ diện hảo mà làm gì? Ai chê tiếng Anh tui giả cầy, ba rọi thì kệ họ chớ. Tui chỉ cần biết chút đỉnh tiếng Anh đủ xài, không cần trúng giọng gì ráo, sao cho “boss” Úc hiểu, cho tui cái “job” để tui đi làm kiếm tiền về cống nạp cho con vợ, để trả tiền nhà, tiền bill, tiền con cái ăn học nữa là tui… OK rồi!

Chớ chờ tui nói tiếng Anh giỏi cỡ Donald Trump hãy nói (chắc tới Tết Congo)… thì vợ tui ai nuôi, con tui ai lo, tiền nhà tui ai trả?
Thử hỏi chê tui rậm rề thì mấy cái chữ tiếng Mỹ nầy quý ông, quý bà có xài không vậy?

Như đi ăn buffet, ăn hamburger, hot dog, pizza! Rồi OK, Cheers, Website, Cell, Ticket, IPhone, IPad, Computer… xe SUV, xe RV, xe Van…

Kêu tui nói bằng tiếng Việt thì nó ra làm sao hả? Chỉ cho tui nói với nhe bồ!

Chẳng qua, tiện là xài, tiếng Anh, tiếng Việt gì cũng được tất! Hoặc pha với nhau cũng được vì tui là một con người tha hương, đành đa văn hóa một phần mà phần khác tui học theo ông bà mình hồi xưa đấy thôi!

Có cái chuyện như vầy: Có anh bồi kia muốn báo động với ông chủ Pháp có một con cọp ngoài vườn, nhưng anh ta không biết con cọp tiếng Pháp là gì!

Không đi đường thẳng được, thì đi đường vòng, cốt cho ông chủ hiểu cái nguy hiểm cận kề, để hai người vọt cho lẹ!

“Lui non buffle, lui pas boeuf, lui “tí ti” jaune, lui “tí ti” noir, lui “gầm” lui “gừ”, lui beaucoup méchant, lui mangé monsieur, lui mangé moi!”

“Lúy nông buýp, lúy pa bớp, lúy tí ti dôn, lúy tí ti noa, lúy gầm lúy gừ, lúy bố-cu mê-xăng, luý măng giê mông-xừ, lúy măng giê cả moa!”

(Chẳng phải trâu chẳng phải bò, nó một tí vàng, nó một tí đen, nó gầm nó gừ, nó dữ lắm, nó xực ông, nó xực cả tui luôn).

Do đó, tui rất hoan nghinh bà con mình ở bên Mỹ, bên Canada, bên Úc nầy đây nên nói tiếng Anh khi có dịp. Dù nói chỉ để khoe, để nổ thôi… cũng được mà!

Vì một con người có đầu óc rộng mở, luôn luôn muốn du nhập cái mới! (Chớ không cực đoan thủ cựu, cứ bám riết vào cái cũ, không thèm học thêm cái mới vì sợ thiên hạ chê là nhà quê, dốt hay nói chữ) là tiến bộ rồi hè!

“Nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” mà!

Vậy là không cần chờ đến giỏi tiếng Anh mới nói, cứ bửa tới, bửa tưới hột sen đi bà con!

Ngay cả lúc cự nự em yêu, tui chơi tiếng Anh ba rọi không hè. Vì em không hiểu, nên tui an toàn trên xa lộ, còn xả được cơn tức… giận trong tình nghĩa vợ với chồng.

Nhưng đau đớn thay những ngày hoa mộng đó qua mau; khi đám cháu nội của tui lớn lên đi nhà trẻ, mẫu giáo rồi vào lớp “prep”.

Về nhà tụi nó líu lo tiếng Anh và con vợ tui chạy lăng xăng chạy xuống bếp lo cho tụi nhóc từng miếng ăn, thức uống…

Mới đầu thì tụi nó ra dấu, đút ngón tay trỏ vô mồm… là đòi bú tí sữa….Riết rồi em yêu học và hiểu tiếng Anh cũng kha khá!

Vậy mà tui cứ ngây thơ không biết. Cứ theo cái mửng cũ, xài xể em bằng tiếng Anh ba rọi của tui như “you sì -tu- pịt” chẳng hạn!

Ai ngờ em trừng trừng nhìn tui với đôi mắt hình viên đạn. “What? How dare you?”

“Chết Tía tui rồi bà con ơi!” Vậy mà tui cứ tưởng em yêu ù ù cạc cạc như hồi xưa chớ!

ĐXT