Thư gửi Bậu – Tiến sĩ Mai Thanh Truyết

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 16 Aug 2026

Tôi với Bậu mấy mươi năm quen biết chỉ nói với nhau những chuyện nhỏ, vui về những nơi mà không còn mấy ai nhắc tới: Gò Dầu Hạ , Vên Vên… Nhưng nay phải viết lá thư mang vẻ “nghiêm trọng” nầy vì có liên quan đến một vấn đề chung: Nghị quyết 23 của Trung ương đảng cộng sản đề cập đến thành phần Người Việt ở nước ngoài trong đó có bậu, có tôi và rất đông Người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản sau 30/4/1975; và cũng có liên quan đến số đông người Việt không (muốn) ở lại trong nước, đã ra hải ngoại bởi nhiều lý do – Những người mang căn cước nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN. Nhưng thư nầy chỉ nói rõ về thành phần thứ nhất: Thế hệ Người Việt không chấp nhận chế độ cộng sản hiện hành ở trong nước và con cháu của họ (thế hệ Người Việt Thứ 2, thứ 3)

I.

Nghị quyết Trung Ương Đảng CS/Đảng CSVN là gì? Phải xác định ngay “Nghị Quyết TƯĐCSVN” không là: 11/Một quyết định có tính cưỡng chế do một ban, nhóm đại biểu thuộc một bộ phận lập pháp ban hành trong nội bộ (Không cần phê chuẩn đồng thuận của nhóm đối lập); 12/Một biện pháp bắt buộc thuộc một tổ chức hành chánh, tài chánh, xã hội ban hành để điều hành hoạt động chung cho có hiệu quả tốt, năng suất cao; 13/Một phản ứng sinh hóa sau khi đã phối hợp các yếu tố, điều kiện cần và đủ.

Hoàn toàn không phải như trên, bởi “Nghị Quyết TƯĐCSVN” không là: 14/Một Hiến Ước/Hiến Chế/Hiến Chương/Công Ước/Sắc Luật do một cơ quan Pháp Lý cao nhất (của tổ chức quốc tế, quốc gia) ban hành, áp dụng – Act; 15/Không là một Điều Luật/Law; Dự Luật/Bill mà tổ chức quốc hội cả nước Âu Mỹ áp dụng, thực hiện; 16/Không là Sắc, Dụ của triều đình phong kiến hằng có trong lịch sử thế giới.

II.

Vậy Nghị quyết Trung Ương Đảng CS/Đảng CSVNi/Hà Nội là gì? Đấy là một tập hợp những điều khoản mang tính chất: Vô Đạo Lý-Phi Nhân Tính-Cưỡng ép Lịch Sử-Bất chấp Pháp Lý lẫn Luận Lý. Bài viết chứng minh:

21/ Hội nghị Trung ương lần thứ 15 diễn ra từ 12 đến 22/01/1959 tại Hà Nội dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm đánh giá tình hình miền Nam từ 1954-1958 và xác định nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng miền Nam. Hội nghị đề ra: Nghị Quyết 15 khẳng định con đường cách mạng bạo lực để giải phóng miền Nam … để đạt được mục tiêu thống nhất đất nước.

Nghị quyết không chỉ là chữ và khẩu hiệu suông mà được thực hiện với mỗi lóng xương, bãi máu, nghĩa trang Người Lính Miền Bắc trãi dặm dài theo chặng đường Trường Sơn xẻ dọc để vào Nam cứu nước! 

22/Để đạt được mục tiêu của Nghị Quyết 15, Hà Nội tăng cường một nghị quyết mới: Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được ký kết.. Theo triệu tập của Bộ Chính Trị đứng đầu là Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn, một đoàn lãnh đạo cấp cao của Trung ương Cục Miền Nam đã có chuyến ra Bắc bí mật vào dịp tháng 4/1973 để bàn kế hoạch hệ trọng cho một Việt Nam thống nhất. Cơ quan tham mưu của Ðảng nghiên cứu, soạn thảo và ban hành văn kiện Nghị Quyết 21 Tháng 10/1973. Nghị quyết nhất trí: “Con đường cách mạng của Miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công, thực hiện thắng lợi vĩ đại cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước… 

III.

Qua hai nghị quyết kể trên, chúng ta hẵn thấy ra chiến tranh VN đã khởi động với a lần thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (20/12/1960), là hậu quả, hệ quả của Nghị Quyết 15 (Tháng 1/1959); và lần mở đầu cuộc tổng tấn công vào Ban Mê Thuộc ngày 10/3/1975 theo kế hoạch 275 để dẫn tới Ngày 30 Tháng 4/1975 tại Sàigòn chỉ là kết quả tất nhiên của con đường bạo lực cách mạng chống Mỹ cứu nước của NQ 21. Cho dù 152 quân nhân Mỹ cuối cùng đã rời VN trong ngày 27 Tháng 3/1973 – Bản thân người viết và viên Thiếu tá Bùi Tín đứng đếm từng lính Mỹ lên máy bay – Không 30 Tháng 4 thì cũng (sẽ) có tháng 5 hay tháng 6; không 1975 thì 1976 vậy. Hai Nghị Quyết 15 và 21 kể trên có kéo dài theo vài tháng, một hai năm vẫn phải thực hiện cho đúng tinh thần và nội dung nghị quyết trung ương đảng đã đề ra. Mấy ai nơi Miền Nam, ở Dinh Độc Lập, Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sàigòn có một lần để mắt tới những hàng chữ trong hai nghị quyết 15 và 21.

Nay, qua hơn nửa thế kỷ, Nghị quyết số 23-NQ/TW ban hành Ngày 2/8/2026 mục tiêu chiến lược của Đảng CSVN cũng không có gì khác Khácchăng,  Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị ấn ký ban hành nghị quyết cốt để chỉ đạo công tác người Việt Nam ở nước ngoài thay thế con đường bạo lực cách mạng chống Mỹ cứu nước của hai Nghị Quyết 15 và 21 thượng dẫn, và sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, 26/3/2004. Phải, mục tiêu của nghị quyết trung ương đảng CSVN trước sau chỉ là vậy, cũng bởi nghị quyết trung ương đảng CHỈ để (áp dụng) cho đảng viên cộng sản VN mà thành phần gọi là “Người Việt Nam ở nước ngoài” chỉ là ĐỐI TƯỢNG CÔNG TÁC. Coi chừng, NQ 23 nầy thật sự nhắm tới du học sinh, lực lượng xuất khẩu lao động, kết hôn với ngoại kiều, đi du lịch (không chịu về nước). Thành phần gọi là “bọn phản động tay sai Mỹ Ngụy, phản bội tổ quốc, trốn ra khỏi nướcsau 30/4/1975”, tiếp biến thành “Khúc ruột ngàn dặm/Bộ phận không thể tách rời của Đại Gia Đình Dân Tộc Việt Nam” không ăn nhằm gì với nghị quyết trung ương đảng nầy. Cứ thử về VN như “Việt kiều yêu nước” Trần Trường thì biết ngay.

Kết từ:

Bậu thân,

Tự nhiên tôi với bậu dính vô câu chuyện trời ơi mà thật lòng hoàn toàn không muốn! Nhưng do bậu đã trãi lòng cầu mong cái nghị quyết mà TBT Lâm ấn ký trở thành khúc quành của một dòng sông định mệnh tốt lành cho Người Việt Hải Ngoại quay về. Không những viết bài văn mà bậu còn làm những lời thơ thắm thiết… Tôi muốn viết…Tôi viết vì tin rằng dân tộc sẽ có ngày vinh quang… Tôi sẽ về như một đứa con của Mẹ… Bởi vì tôi đang nghe tiếng gọi. Tiếng gọi của Mẹ quê hương. Đến đây, tôi cần nhắc lại lá thư Email gởi bậu Ngày 11 Tháng 8:”.. Bậu với tôi bằng tuổi, dân Miền Nam dưới Vĩ Tuyến 17, cùng viết báo, làm văn… bậu “bảnh” hơn tôi nhiều điều… Nhưng chắc chắn bậu KHÔNG THẤM ĐAU BỞI ĐÒN CS nên (tôi) có kết luận: TÔI KHÔNG NGHE RA ĐIỀU GÌ CẢ TỪ MỘT NHÂN SỰ TÊN GỌI LÀ TÔ LÂM. KHÔNG BAO GIỜ. 

Vâng, tôi đã viết như thế và thư nầy tôi muốn nhắc lại thêm một lần: Nhân sự gọi là TBT/T.Lâm và Bộ Chính Trị của ĐCSVN nơi Hà Nội là người và tổ chức đã biến danh, biến tính Sài Gòn thành một thành phố biển với Vũng Tàu; Thành Phố Cao Nguyên Ban Mê Thuột/Tỉnh Daklack thành tỉnh miền biển Phú Yên; ủi sạch ngoại ô văn hóa lịch sử ngàn năm của Thăng Long/Hà Nội để xây “đô thị văn minh”… Nhân sự BCT/ĐCSVN điễn hình với Cựu thủ tướng Phạm Minh Chính, Bộ trưởng công an Tô Lâm trong lần viếng thăm Mỹ (5/2022) đã có lời chân thật: “Mẹ…Đếch sợ!!” Vâng, họ đã nói rõ như thế tại hành lang Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ! Thế nên, khi đọc bài viết, lời thơ cầu mong tha thiết trở về quê hương của bậu họ cũng sẽ nói: ”… Mẹ… Ông đếch cần chúng về hay không về!”. Tôi không khôi hài, tiếu lâm hóa một vấn đề chính trị tâm lý nghiệm trọng (Về/Không về), cũng không thông tục hóa lời nói, thái độ chính trị của thành phần lãnh đạo cấp cao (nhất) của ĐCSVN, nhưng do tôi đã là chứng nhân, nạn nhân, ngoại (thứ) dân của chế độ CS từ 1950, 1960, 1970… 1972, 1975 và tại hôm nay – Tôi thấm  đau của đòn cộng sản hơn bậu – Thật là như vậy nên không thể nói khác.

Người Lính Pnnam.

Đất Mỹ, 13/8/2026

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Vào thời gian này chúng tôi không thể truy ra quốc tịch các phi công lái loại chiến đấu cơ do Nga Sô chế tạo. Có nhiều lý do để tin rằng có một số “phi công chí nguyện Nga” lái phi cơ vượt biên giới để giúp đỡ Trung Hoa, nhưng chúng tôi đã thất bại trong việc nhận dạng xác phi công Nga bên cạnh các phi cơ địch bị bắn hạ. Hải quân Nhật tin tưởng mạnh mẽ rằng có một nhóm phi công “Lê dương” đã gia nhập không lực Trung Hoa. Nhóm phi công này đủ quốc tịch, lái nhiều loại phi cơ khác nhau, vì chúng tôi đụng đầu không chỉ với phi cơ Nga mà còn phi cơ Mỹ, Anh, Pháp và của vài quốc gia khác. Dĩ nhiên, thỉnh thoảng các phi công Trung Hoa Dân Quốc cũng lái những phi cơ này. Có lần một phi cơ do Hoa Kỳ chế tạo rơi gần Thượng Hải, binh sĩ của chúng tôi vội vã tiến đến nơi và mang về xác của một phi công Mỹ. Giấy tờ trong xác chết đã cho biết như vậy.

Tài nghệ nghèo nàn đáng chán nản của tôi được khỏa lấp bởi việc tôi hạ được chiến đấu cơ Nga Sô Polikarpov I-16. Ngay ngày hôm sau, tôi kẻ ngay một ngôi sao xanh dương trên thân chiếc Claude mà tôi đã lái, như vậy có tất cả 6 ngôi sao. Các phi công Nhật, nhứt là các phi công mới ra trường như tôi, không thực hiện các phi vụ với cùng một phi cơ, bởi lẽ không đủ số. Cứ mỗi khi đến lượt bay, chúng tôi nhảy đại lên chiếc nào có thể sử dụng được. Ðiều này lại hỗ trợ cho các phi công thiếu kinh nghiệm, bởi lẽ phi công địch mỗi khi thấy hàng tá ngôi sao xanh, hoặc nhiều hơn nữa kẻ trên thân phi cơ của chúng tôi, hắn sẽ nể mặt ngay! Mỗi ngôi sao xanh dương là một phi cơ địch bị hạ. Cuộc chiến ở Trung Hoa là một cuộc chiến không thể tin được. Nó không bao giờ được xem là một “cuộc chiến” giữa các lực lượng của chúng tôi. Ðó chỉ là một biến cố Hoa – Nhật. Tôi phỏng đoán lúc người Mỹ tung quân vào Triều Tiên, trong khi Quốc hội của họ không tuyên chiến chánh thức, đó chỉ là một “hành động chính trị” , như chính phủ Nhật đã cảm thấy nhiều năm trước khi xảy ra cuộc xung đột hiện thời. Chúng tôi không tuyên chiến, vì vậy cuộc xung đột chỉ là một “biến cố” đối với chúng tôi. Ngay khi tình thế cho phép, chúng tôi dựng lên một chính phủ bù nhìn dưới sự lãnh đạo của Uông Tinh Vệ, công khai chống đối với Quốc Dân Ðảng của Thống chế Tưởng Giới Thạch. Tuy nhiên, viễn ảnh ngại nhất của cuộc chiến là sự xung đột ác liệt trong xứ giữa các lực lượng Tưởng và Cộng Sản Mao. Cộng Sản Trung Hoa lợi dụng mọi cơ hội chận đánh lực lượng Trung Hoa Quốc Gia khi bị quân chúng tôi đẩy lui.

Các lực lượng trên bộ và trên không của Nhật Bản ở Trung Hoa thường phải đối đầu với chiến thuật biển người. Hàng nhiều đạo quân với cả triệu binh sĩ Tàu cố gắng tràn ngập chúng tôi. Tuy cán cân quân số chênh lệch hẳn nhưng người Trung Hoa hiếm khi nắm được ưu thế, bởi vì binh sĩ của họ huấn luyện kém cỏi và trang bị nghèo nàn. Hết loạt này đến loạt khác, địch quân ùa đến các đơn vị võ trang hữu hiệu của chúng tôi, nhưng chỉ để bị đánh bật ra và rước lấy những thương vong trầm trọng. Ngay cả sự yểm trợ như thác lũ của Ðồng Minh trên phương diện tiếp tế xuyên qua Miến Ðiện, Mông Cổ, Mãn Châu, vẫn không giúp được quân của họ Tưởng hay quân Cộng sản Mao trên chân quân của chúng tôi. Các nguồn tiếp tế này tỏ ra hữu hiệu trong việc giúp họ Tưởng chạy vắt giò về Trùng Khánh, hơn là giúp ông ta tập trung một cuộc phản công xứng hợp nhằm chống lại chúng tôi. Ðúng là một cuộc chiến chỉ có một bên đánh, và tình trạng này kéo dài cho đến khi Nhật Bản đầu hàng Ðồng Minh vào tháng 8 năm 1945.

Tuy nhiên, Nhật không có ý định chinh phục, hoặc không thể chinh phục cả khối người Trung Hoa khổng lồ, và chiếm lấy lãnh thổ bao la này. Thay vào đó, lực lượng của chúng tôi chỉ chiếm lấy những thành phố then chốt tại khu vực chiến lược, cắt đứt hệ thống giao thông của địch quân và góp các sắc thuế của nhiều nông dân Trung Hoa nằm trong thẩm quyền của các lực lượng chiếm đóng Nhật Bản mà thôi. Nhưng bên ngoài các thành phố quan yếu có thành lũy bao quanh, tử thần luôn luôn chờ đợi các đơn vị Nhật Bản. Du kích của họ Tưởng, cũng như của Cộng Sản Mao, phục kích sẵn hết để chờ tiêu diệt các nhóm quân Nhật rơi vào tròng. Có nhiều viên chức Trung Hoa trong các thành phố chiếm đóng làm việc với chúng tôi. Tuy nhiên, bên ngoài họ ton hót và hợp tác rất chặt chẽ nhưng bên trong họ lại tiếp xúc với du kích quân hoạt động ở các vùng quê và miền núi. Nhiều khi các cuộc tiếp xúc như vậy lại được duy trì với sự chấp nhận của các vị chỉ huy Nhật Bản nhằm gây thuận lợi cho nhiều vấn đề cai trị trong các thành phố chiếm đóng.

Quả thật đây là một cuộc chiến kỳ lạ. Nhiều lần thực hiện các phi vụ yểm trợ bộ binh, quang cảnh phía dưới đã làm cho tôi kinh ngạc. Tôi thấy các nông dân Trung Hoa cắm cúi làm ruộng, không để ý đến các trận đánh xáp lá cà hoặc khai hoả vào nhau giữa quân Hoa – Nhật cách đó không đầy 2 cây số. Nhiều lần tôi cũng bay sà trên đường phố của các thị trấn có tường lũy xung quanh đang bị chúng tôi bao vây và pháo kích. Những dãy hiệu buôn dọc theo đường phố vẫn hoạt động, mua bán như thường lệ, mặc dù máu của quân phòng thủ Trung Hoa vung vãi trên mặt đường.

Tuy nhiên, nhiệm vụ ở Trung Hoa không có gì gay go, nếu không nói là đáng chán, đối với các đơn vị không quân Nhật. Hiển nhiên, ưu thế trên không nghiêng hẳn về phía chúng tôi. 16 tháng sau khi tôi đến Cửu Giang (Kiukiang), lực lượng bộ binh của chúng tôi tiến sâu vô lãnh thổ địch quân, đánh chiếm Hán Khẩu (Hankou) dễ dàng và chúng tôi dời đến phi trường ở đây. Lúc bấy giờ báo chí có loan tải vụ tôi hạ được chiếc chiến đấu cơ I-16 của Nga Sô. Má tôi có gởi cho tôi một bức thơ với lời lẽ tràn đầy hãnh diện. Ðiều làm tôi thích thú nhứt là bức thư của Hatsuyo Hirokawa, con gái của chú tôi, hiện thời đã 16 tuổi. Nàng viết cho tôi: “Ba em vừa được bổ nhiệm vào chức Giám đốc Chánh sở Bưu điện ở Shikoku. Em đang theo học trường nữ trung học Tokushima, và anh có thể tưởng tượng được không, là đã có sự thay đổi lớn lao nhường nào giữa Ðông Kinh với Shikoku. Bức thơ hôm trước của anh đã khiến em cực sung sướng và xúc động, và đã làm cho tất cả các bạn em trong lớp đều thích thú. Mỗi ngày tụi em đều chúi mũi trên báo để dò thêm tin tức của anh. Chúng em không muốn bỏ sót tin tức nào về chiến công của anh ở Trung Hoa. Bỗng nhiên, Saburo, em muốn giới thiệu với anh cô bạn thân nhứt của em ở Tokushima, tên là Mikiko Niori. Mikiko đẹp nhứt lớp của em, và cũng học giỏi “số dách”. Ba cô ta dạy học ở đại học Kobe. Trong số mấy cô được em cho coi qua thơ của anh, Mikiko tỏ vẻ thích anh nhứt. Nàng năn nỉ em giới thiệu anh cho nàng đó!”

Thơ có gởi kèm bức hình chụp chung của Hatsuyo và một lá thơ của cô gái mà tôi chưa từng gặp mặt. Cô ta đẹp, đúng như lời Hatsuyo đã nói, và những lời cô ta mô tả về thành phố và gia đình cô ta khiến tôi khoái chí.

Mấy bức thơ gây phấn chấn tinh thần của tôi vô cùng, làm tôi không ngớt ca hát. Tôi nhớ rõ cái ngày vui sướng tột độ ấy, ngày 3 tháng 10 năm 1939, tôi vừa đọc thơ vừa lau chùi mấy khẩu đại liên trên chiếc chiến đấu cơ của mình. Mọi người ở phi trường được nghỉ xả hơi. Còn gì đáng lo? Chúng tôi hầu như đã quét sạch bọn phi công quốc tế và Trung Hoa trong mỗi cuộc đụng độ.

Nhưng không khí an ổn thình lình bị phá vỡ. Còi báo động trên đài kiểm soát hụ vang. Ngay lúc đó, một loạt tiếng gầm thét lướt đến và mặt đất rung chuyển với những làn sóng bom đinh tai nhức óc. Có ai đó thét lớn một cách không cần thiết: “Không kích!”. Không có thời giờ để chạy vô hầm trú ẩn. Tiếng bom nổ kéo thành dây như tiếng sấm liên tục. Khói bốc cao trên phi đạo. Tôi nghe cả tiếng miểng bom lướt vèo vèo qua không khí. Nhiều phi công khác cùng với tôi chạy ra khỏi xưởng cơ khí để chui vô hầm trú ẩn. Tôi bò dưới đất để tránh miểng bom, và sau đó chúi đầu vô giữa 2 bồn chứa nước vĩ đại. Tôi cũng khá mau chân. Một kho súng gần đó nổ tung lên, bao trùm lửa và mấy trái bom như những cây gậy chọc trên mặt đất, nện vào 2 mang tai tôi, và vít tung lên hàng bụm đất vĩ đại. Bom bỗng nhiên dứt tiếng, tôi ngóc đầu dậy để nhìn những gì xảy ra. Tai tôi tràn ngập tiếng la hét, rên rỉ. Những người nằm xung quanh tôi đều bị thương trầm trọng, và khi tôi bắt đầu bò đến 1 phi công nằm gần nhất, tôi nghe ở bắp đùi và mông tôi đau nhói như dao cắt. Tôi đưa tay rờ và cảm thấy máu thấm ướt qua quần. Ðau đớn quá đỗi, nhưng cũng may vết thương không sâu. Ðầu óc choáng váng, tôi gượng đứng dậy và chạy ngược về sân bay. Tôi vừa chạy vừa ngước nhìn lên bầu trời, tôi thấy 12 oanh tạc cơ bay trong đội hình, đảo một vòng thật rộng ở độ cao ít nhất 20,000 bộ. Ðó là loại phóng pháo cơ SB Tupolev ANT-40 hai máy do Nga Sô chế tạo, oanh tạc cơ chánh của không lực Trung Hoa. Hiệu quả vượt bực của cuộc tấn cống bất thần này không thể phủ nhận được. Cho đến khi bom từ phi cơ rơi xuống và nổ tung mọi người mới biết.

Ða số 200 oanh tạc cơ và chiến đấu cơ của Hải quân và Lục quân Nhật đậu san sát dọc theo phi đạo Hán Khẩu đang bốc cháy. Những bựng lửa vĩ đại túa ra từ các bồn chứa xăng nổ tung, biến thành những cột khói trên không. Xăng từ các phi cơ chưa cháy đang thoát ra ngoài qua các lỗ hổng do miểng bom xoi thủng. Lửa bén xăng cháy lan từ phi cơ này sang phi cơ khác. Các oanh tạc cơ nổ bùng như dây pháo và các chiến đấu cơ lóe sáng như diêm quẹt. Tôi chạy quanh dãy phi cơ đang bốc cháy như điên cuồng cố tìm xem còn chiếc nào nguyên vẹn hay không. Một vài chiếc chiến đấu cơ nằm riêng rẽ thoát khỏi cuộc hủy diệt. Tôi leo lên buồng lái của một chiếc, rồ máy và cất cánh tức khắc ngay sau khi ra phi đạo.

Các oanh tạc cơ địch tăng thêm độ cao khi chiếc chiến đấu cơ Claude nhanh nhẹn hơn của tôi đuổi theo ráo riết. 20 phút sau khi cất cánh, hầu như tôi bắt kịp đối phương. Một mình trên không, nhưng tôi không để ý đến điều này. Tôi cũng biết rằng chiến đấu cơ của tôi trang bị yếu, sự đe dọa không đủ trầm trọng đối với 12 oanh tạc cơ địch. Phía dưới tôi là thành phố Nghi Xương (Ichang Shi) nằm cạnh bờ sông Dương Tử, vẫn còn nằm trong tay quân phòng ngự Trung Hoa. Bị bắn hạ ở đây, cho dù thoát chết khi rơi xuống, nhưng không thể nào thoát chết trong tay binh sĩ của họ Tưởng. Nhưng tôi phải tấn công, không thể trì hoãn.

Tôi bay sát đến từ phía sau và ở phía dưới dãy phi cơ địch đang lướt đi. Súng địch khai hoả, nhưng không trúng tôi. Tôi tiến sát hơn nữa, và tập trung hỏa lực vào chiếc oanh tạc cơ bên trái. Khi bay lảng ra và vượt lên trên tôi nhìn thấy khói từ phi cơ địch túa ra. Chiếc oanh tạc cơ rơi khỏi đội hình, bắt đầu mất hướng khi tôi đảo lại và sắp bổ nhào xuống vồ thêm một cú ân huệ. Nhưng tôi bỏ dở lợi thế. Ngay khi đẩy cần điều khiển, tôi nhớ lại Nghi Xương nằm cách phía Tây Hán Khẩu ít nhất là 150 dặm. Nếu tôi truy đuổi chiếc oanh tạc cơ què quặt thêm nữa, tôi sẽ không đủ xăng để quay về căn cứ, và như vậy nghĩa là tôi bắt buộc đáp xuống đất địch. Sự liều lĩnh chống lại một nhóm địch quân vượt trội khác hẳn với sự liều mạng. Tiếp tục tấn công là tự sát, hành động này không thể gọi là can đảm. Tôi quay về căn cứ. Dĩ nhiên tôi không biết chiếc oanh tạc cơ địch có về đến phi trường của nó được hay không. Trở lại Hán Khẩu, sự hủy diệt chỉ do 12 chiếc oanh tạc cơ địch gây ra khủng khiếp không thể tưởng. Hầu hết phi cơ của chúng tôi tan tành. Vị chỉ huy trưởng căn cứ mất cánh tay trái, nhiều sĩ quan cũng như phi công và nhân viên bảo trì lớp chết lớp què quặt. Tôi đã quên mấy vết thương của tôi, nhiệt độ của cuộc truy đuổi và sự căng thẳng của trận chiến làm cho cơn đau tạm thời biến mất. Leo xuống và rời khỏi phi cơ một vài bước, tôi ngã quỵ trên phi đạo.

Các vết thương lành lặn một cách chậm chạp. Một tuần lễ sau, trong khi vẫn còn nằm trong bệnh viện, tôi nhận được thơ của Hatsuyo, với những tin tức còn tàn phá hơn cuộc oanh tạc vừa qua. Hatsuyo viết: “Em rất buồn khổ khi phải viết thơ này, nó chứa đựng một tin tràn ngập đớn đau cho anh. Mikiko, người bạn thân thiết nhất của em, chết thình lình trong một tai nạn lưu thông vào ngày 3 tháng 10. Em không biết nói gì với anh nữa, Saburo. Em rối loạn và đau đớn. Em tức giận Thượng đế. Tại sao, tại sao một người toàn vẹn như Mikiko lại phải chết tức tưởi lúc mới 16 tuổi, trong hoàn toàn ngây thơ vô tội? Em đã tự oán ghét mình khi báo tin này cho anh, một trong những phi công đang chiến đấu cho quê hương. Nhưng không còn ai khác để em kể lể ngoài anh…”.

Bức thơ của Hatsuyo còn kèm theo mấy giòng do má của Mikiko viết: “Con Mikiko bất hạnh ngày ngày thường nói về anh với gia đình chúng tôi. Sau khi gởi thơ cho anh, nó nôn nóng trông chờ phúc đáp. Nhưng thơ của anh chỉ đến vào ngày cử hành tang lễ của nó. Ôi! nếu nó được đọc thơ của anh trước thì vui vẻ biết bao! Tại sao đấng toàn năng mang nó đi sớm như vậy? Tôi không hiểu nổi. Tôi đã kêu gào nhiều ngày. Tôi muốn anh biết rằng bức thơ của anh đã được đặt trong áo quan của con gái tôi, và bức thơ sẽ theo nó về trời. Xin anh nhận nơi đây lòng biết ơn sâu xa của chồng tôi, và của chính tôi về những giòng chữ mà anh đã viết cho con tôi. Hiện tại, chúng tôi cầu nguyện linh hồn của Mikiko sẽ che chở anh trên không trung, trước lằn tên mũi đạn của quân thù.”

Ðầu óc tôi trống rỗng. Tôi choáng váng và hụt hẫng. Nhiều giờ, sau khi nằm trên giường, tôi viết một bức thơ dài cho má của Mikiko để chia buồn với bà. Trong thơ tôi gởi kèm một số tiền để góp vào việc xây mộ cho nàng, hành động này theo đúng với tập tục của tổ tiên chúng tôi. Trải qua nhiều ngày, lòng nhớ quê hương của tôi trổi lên mạnh mẽ, tôi mong muốn gặp lại gia đình, má tôi và các anh chị tôi. Niềm mong ước này chờ đợi không mấy lâu. Hai ngày sau tôi nhận được lịnh thuyên chuyển, chỉ thị tôi trình diện Không đoàn Omura, căn cứ không quân gần nhà tôi nhứt. Viên đại úy phòng nhân viên, mặt mày lạnh lùng với hai gò má cứng như đục trong đá, cảnh cáo: “Vì lý do an ninh, khi về Nhật anh không được kể với ai về thảm họa vừa xảy ra. Anh hiểu chớ?”

“Dạ, thưa đại úy vì lý do an ninh, tôi sẽ không kể lại với ai về thảm hoạ vừa xảy ra.”

Tôi đáp rồi chào và bước ra sân bay, leo lên một vận tải cơ sẽ mang tôi về quê nhà.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 16 Aug 2026

– “Mời bạn hãy vào.

Cửa vườn tôi đã mở sau 5 năm trời khép kín.

Vườn của tôi sau khoảng thời gian giam cầm trong SUY NGHĨ, trong DẰN VẶT, trong GIẬN HỜN để tìm những cánh màu của tâm tư chắp nối lại và thêu dệt bằng TIN TƯỞNG, tạo thành một thế giới của HÌNH THỂ, của SẮC MÀU, qua bức tường vách ngăn của LÝ TRÍ và RUNG ÐỘNG…” (Tạ Tỵ – 8-8-1956)

Đó là những hàng chữ mở đầu tập sách giới thiệu về triển lãm Tạ Tỵ 1950-56 tại Sài Gòn tôi vừa tìm lại được. Tôi muốn mượn chữ nghĩa của anh để nói về anh như một khu vườn đầy kỳ hoa dị thảo vừa khép lại. Nó khép lại với anh, nhưng hương sắc của nó sẽ còn mãi mãi với thời gian, với con người. Nó chỉ có nghĩa là từ nay sẽ không còn bông hoa nào tỏa thêm sắc hương nào nữa.

Nói về Tạ Tỵ, người yêu nghệ thuật hội họa không xa lạ gì tên tuổi ấy trong nửa thế kỷ qua. Anh không chỉ là một họa sĩ mà còn viết văn, làm thơ. Nhưng tôi không gọi anh là nhà văn hay nhà thơ, bởi sự nghiệp vẽ tranh của anh lấn át hết những tài năng khác. Con người anh, tôi vẫn nhìn nguyên vẹn là một họa sĩ. Một họa sĩ rất hiếm hoi trong làng nghệ thuật hội họa Việt Nam. Tự anh đã đứng vững sừng sững với màu sắc, hình khối và tâmlinh. Nhìn tranh của anh, không thể lẫn với bất cứ tranh của một tác giả nào khác không chỉ ở Việt Nam mà với cả thế giới bên ngoài. Thời kỳ đầu mới vào nghề anh từng vẽ sơn mài, nhưng vài năm sau anh vẽ sơn dầu và có người xếp anh vào trường phái “lập thể”, cũng có người cho rằng anh thuộc trường phái “trừu tượng”. Nhưng dù trường phái nào, tranh của anh chỉ thoạt nhìn đã thấy vững vàng, khỏe mạnh, đặc sắc, riêng biệt mà chỉ có thể thấy ở Tạ Tỵ. Ðó là cái nhìn rất thường tình của một người yêu và kính phục tài năng của anh như tôi.

Vài Hàng Tiểu Sử

Vì thế ở đây tôi không nhắc lại chi tiết phần tiểu sử cùng những tác phẩm dù là trong văn chương hay hội họa của anh. Tôi chỉ xin tóm tắt rất ngắn gọn: Anh tên thật là Tạ Văn Tỵ, sinh ngày 3-5-1921, tức ngày 26 tháng 3 năm Tân Dậu tại Hà Nội. Về điểm này có nhiều nguồn tin cho rằng anh sinh năm 1922, nhưng tôi đã kiểm chứng lại với các con anh, được biết trong giấy khai sinh của anh khai muộn mất một năm, đó cũng là chuyện thường thấy ở những vùng quê hay “thói tục” ngày xưa của các cụ nhà ta, mừng sinh con mà quên làm giấy khai sinh hoặc vì thấy cũng chẳng quan trọng gì nên để đó “bao giờ tiện thì làm cũng được”. Nên chính anh đã nói đúng năm sinh của mình và đã tính thành ngày giờ Âm lịch.

Anh tạ thế lúc 10 giờ sáng 24-8-2004, tức ngày Thứ Ba, mùng 9 tháng 7 năm Giáp Thân tại nhà riêng số 18/8 đường Phan Văn Trị, Q.5, Sài Gòn. Thọ 84 tuổi.

Anh động viên Khóa 3, trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, sau đó phục vụ hầu hết tại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị Quân Lực VNCH. Anh giải ngũ trước năm 1975, nhưng năm 1975 anh vẫn bị gọi đi “cải tạo.” Khi trở về Sài Gòn, anh vượt biên, định cư tại Hoa Kỳ. Trong thời gian ở nước ngoài, anh tiếp tục sáng tác.

Năm 2003, sau khi vợ anh qua đời tại Mỹ, anh trở nên buồn chán và trở về Sài Gòn sống với người con gái út của anh vẫn còn ở lại Sài Gòn từ sau năm 1975 đến nay trong căn nhà trước kia anh cùng gia đình đã sống.

Những Ngày Tháng 8 Định Mệnh

Cuộc triển lãm năm 1956 của Tạ Tỵ cũng vào tháng 8-1956 tại Sài Gòn. Ðó là lần đầu tiên, tôi được dự triển lãm của anh và là thời kỳ tôi mới quen anh khi bắt đầu về Nha Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Quốc Phòng, hồi đó vừa được chuyển từ Nha Tác Ðộng Tinh Thần ở đường Gia Long về đường Thống Nhất. Cơ sở còn chật chội, chỉ có một dãy nhà trệt, chia ra hai dãy chính và vài căn nhà phụ nhỏ hẹp. Nha Chiến Tranh Tâm Lý cũng chỉ có vài Sở chia ra hơn 10 phòng và nhân viên chỉ có năm bảy chục người, kể cả “quan” và “lính”.

Tôi về ban Báo Chí làm việc cùng với Huy Sơn, Tô Kiều Ngân, Phy Phy tục gọi là Phi chọi, Lý Quảng, Viêm Hồng… trong hai tòa soạn báo Phụng Sự và Quân Ðội sau đổi thành bán nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa. Vài năm sau có thêm Huy Vân, Tường Linh…

Lúc đó Tạ Tỵ là trưởng phòng Hội Họa, mang cấp trung úy, nhưng so về tuổi tác và “thâm niên”, anh hơn tôi đúng một giáp – 12 năm – và ra khóa trước, nên tôi vẫn coi anh như đàn anh, cả trong nghề nghiệp và đời thường.

Cũng đến những ngày cuối tháng 8-2003, tôi được tin anh về Việt Nam và đang nằm ở bệnh viện của Ðại Học Y Dược thành phố. Tôi và Phan Nghị đến thăm anh.

Vừa gặp tôi, anh nhận ra ngay, nhưng Phan Nghị phải xưng tên anh mới nhận ra được.

Những giọt nước mắt của anh chảy dài.

Có thể nói anh là người rất “mau nước mắt”.

Còn nhớ vào năm 1970, khi anh được lệnh giải ngũ, chúng tôi làm một tiệc trà tiễn anh rời quân ngũ, khi nói vài lời giã biệt, nước mắt anh cũng chảy dài như thế.

Và đến ngày 24-8 năm nay, anh cũng bỏ chúng tôi để vĩnh viễn ra đi. Phải chăng đó là những ngày cuối tháng 8 của định mệnh?

Hai Con Người Trong Một

Vào những năm 1956-1964, hàng ngày chúng tôi ở quá gần nhau nên thường xuyên gặp mặt, liên hệ công tác về hai tờ báo quân đội mà anh là người vẽ minh họa, gần như phụ trách phần trình bày cả hai tờ báo.

Nhưng về cách sinh hoạt thì anh ít có dịp đi chung cùng với anh em. Những buổi sáng khi chúng tôi rủ nhau đi ăn bánh cuốn hoặc ra ngồi ở Givral cà phê thì anh chững chạc bên bàn làm việc.

Ngay cả những chiều Thứ Bảy, Huy Sơn, Nguyễn Ái Lữ thường rủ tôi đi ăn, đi nhảy cũng chẳng bao giờ “dám” rủ anh Tạ Tỵ, vì anh sống rất mẫu mực.

Hồi đó sở chúng tôi còn có các “chánh sở” như anh Phạm Xuân Ninh, Phạm Văn Sơn và Nguyễn Xuân Vinh tức nhà văn Toàn Phong mới du học ở Mỹ về cũng “tá túc” ở đó một thời gian ngắn trước khi về làm Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Không Quân. Bên Đài phát thanh Quân Đội có Vũ Quang Ninh, Vũ Ðức Vinh tức nhà văn Huy Quang và những ca nhạc sĩ như Ðan Thọ, Nhật Bằng, Văn Phụng, Canh Thân, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Vũ Huyến, Hoàng Hải… Tất cả hợp thành một khối, “chung sống hòa bình” và thân thiện.

Tạ Tỵ có lối sống riêng, nghiêm khắc với chính mình và cả những người xung quanh. Từ gia đình đến công sở, cái gì cũng phải ngăn nắp, sạch bóng từ chiếc xe đến bàn giấy. Việc gì cũng phải trọn vẹn từ đầu đến cuối, cẩn thận từng chi tiết theo đúng ý anh không được sai sót. Anh có nguyên tắc sống và làm việc của mình cùng thực hiện những nguyên tắc chung cũng như thế.

Nếu không hiểu anh chắc chắn có những nhân viên cảm thấy khó chịu.

Ðối với bạn bè, sự thân thiết cũng ở mức độ nào đó. Dường như sau công việc ở sở, mọi suy nghĩ và thì giờ của anh đều dành cho hội họa.

Việc viết lách làm thơ chỉ là sau những ngày giờ nhàn rỗi, cảm thấy hài lòng khi đã hoàn thành những tác phẩm hội họa. Tuy vậy anh cũng có những tác phẩm văn thơ xuất sắc, riêng tôi nhớ nhất bài thơ Thương Về Năm Cửa Ô Xưa đã phổ nhạc, một thời lừng lẫy trên các đài phát thanh và đại nhạc hội.

Tạ Tỵ có hai tính cách hoàn toàn khác biệt trong một con người. Một con người chi ly, cẩn trọng, tiết kiệm từng chút thì giờ, quý từng món đồ dùng thường ngày và áp dụng nguyên tắc luật lệ như một cỗ máy. Một con người phóng túng trong màu sắc và bay bổng với những nét bút tài hoa trong từng bức tranh.

Con người gần như khép kín ấy lại chan hòa tình yêu thương trong nghệ thuật như “tình yêu thương giữa con người với con người” mà anh đã mở lòng trong “Triển lãm Tạ Tỵ 1950-56”.

Tôi đã nhìn anh như thế suốt những ngày tháng tôi được hân hạnh quen anh và sống gần anh. Cứ cho là hơn mười năm, tôi quen anh, chỉ có vài lần cùng đi ăn với anh. Lần anh thăng chức đại úy, tôi không nhớ rõ vào năm nào, có lẽ là năm 1961-1962 gì đó, anh ôm vai tôi đưa xuống câu lạc bộ khao một chầu ăn sáng.

Và nếu tôi nhớ không lầm một lần Cao Tiêu, Phan Lạc Phúc và tôi được anh mời đến nhà ăn cơm. Ðó là sự “đãi ngộ” rất đặc biệt dành cho những người bạn mà anh thân quý. Một lần khác sau cuộc triển lãm anh đưa tôi và vài người bạn nữa vào ăn chim bồ câu quay ở nhà hàng gọi là “nhà hàng ga xe lửa cũ” trong Chợ Lớn.

Các điều đó chứng minh anh rất ít hoang phí thì giờ vào những cuộc ăn chơi. Khó lòng rủ được anh đi phòng trà nghe nhạc chứ đừng nói đến chuyện ăn chơi vô ích khác.

Chị Tạ Tỵ lại là một mẫu người đàn bà chịu đựng rất giỏi, hết lòng vì chồng con. Tôi chưa từng thấy chị đi cùng anh đến bất cứ nơi nào có hội hè đình đám. Có lần anh nói với tôi, chẳng hiểu anh nói chơi hay nói thật: “Bà ấy chỉ may có hai cái áo dài nên không thiết đi đâu hết”.

Tạ Tỵ cũng là một mẫu nghệ sĩ rất chung thủy.

Tôi chưa từng thấy anh có tình ý với bất kỳ phụ nữ nào khác, mặc dầu bên cạnh anh không thiếu những “nữ độc giả” trẻ đẹp coi anh là thần tượng.

Và trong những câu chuyện phiếm cũng rất ít khi nghe anh nói về “đàn bà”.

Con người Tạ Tỵ là như thế.

Những Ngày Cuối Cùng Của Tạ Tỵ Ở Sài Gòn

Sau gần ba mươi năm xa cách, một ngày cuối tháng 8 năm ngoái, 2003, tôi được tin anh từ Mỹ trở về Sài Gòn và có ý định ở hẳn lại đây.

Tôi chưa tin hẳn, khi điện thoại tới nhà mới biết anh hiện nằm trong bệnh viện. Tôi rủ Phan Nghị tới thăm.

Không ngờ đến hôm nay, tháng 8-2004, thì cả hai anh bạn tôi đã ra đi. Tôi có cảm tưởng như “họ” đã bỏ tôi lại một mình.

Phan Nghị kém Tạ Tỵ 4 tuổi nhưng “đi” trước hai tháng, Tạ Tỵ đi sau và cuối cùng gặp nhau ở Bình Hưng Hòa. Lúc ở bệnh viện, Tạ Tỵ bày tỏ ý định thật của mình sẽ ở lại Sài Gòn và hỏi chúng tôi: “Ở đây sống thế nào?”

Phan Nghị cười: “Người ta sống được thì mình cũng sống được, chấp nhận một số điều kiện, cuộc sống sẽ dễ dàng hơn”. Một thời gian ngắn, sau khi ở bệnh viện ra, Tạ Tỵ gọi điện thoại cho tôi hỏi chỗ nào bán màu và bút vẽ chuyên nghiệp. Tôi rất mừng, hy vọng anh đã có thể làm việc lại được. Anh nói còn một vài bức tranh để lại nhà, màu đã phai và xuống sắc hết rồi, phải làm lại.

Tôi đi tìm chỗ bán đồ dùng cho những họa sĩ chuyên nghiệp. Biết tính anh cẩn thận nên đến tiệm rồi, tôi điện thoại về nhà hỏi từng thứ màu, từng loại bút anh cần. Khi tôi mang dụng cụ đến, mắt anh sáng rỡ và gật gù: “Để đó cho tớ, khi nào hứng, tớ bắt đầu”.

Gần một tháng sau, tôi đến anh vẫn không nói gì đến chuyện sửa các bức tranh mà hỏi tôi: “Bức caricature tôi vẽ cho cậu hồi xưa còn không?”.

Tôi lắc đầu: “Đến vợ con nhà cửa còn mất, tôi chẳng còn cái gì cả”.

Anh nhỏm dậy khó nhọc, vận quần áo đàng hoàng kéo tôi ra nhà ngoài, nhờ bác Tư – người săn sóc anh từ ngày anh về cho đến ngày anh ra đi – chuẩn bị giấy và bút chì.

Anh ngồi ngắm tôi rồi bắt đầu vẽ. Nhưng tôi nhận thấy rất rõ sự chậm chạp trong tư thế và nét vẽ của anh. Nó khác hẳn với dáng vẻ phóng túng, nhanh nhẹn của anh vào năm 1957 khi anh vẽ cho tôi lần thứ nhất. Lần đó chỉ trong vài phút tôi đã thấy nét tài hoa rất Tạ Tỵ trên tờ giấy trước mặt. Trong Phụng Sự, đặc san văn nghệ ra đời năm

1957, anh vẽ cho hàng chục anh em như Phạm Văn Sơn, Diên Nghị, Mạc Ly Châu, Huy Sơn… Mỗi bức vẽ của anh như một giây phút vui chơi, hứng thú, song với tôi đó là một sáng tạo nghệ thuật. Có thể nhận định khó có ai sánh kịp với Tạ Tỵ về lối vẽ chân dung.

Nhưng bây giờ cái nhìn của anh chắc cũng khác đi và bàn tay đã không đi theo ý anh nữa. Một chút bùi ngùi xúc động dâng ngập khi tôi nhìn nét vẽ của anh trong những ngày tháng sau cùng này. Chính anh cũng không bằng lòng với mình nên ngay khi đó anh vẽ cho tôi bức caricature thứ hai. Anh ngắm nhìn rồi buông bút không nói lời nào. Làm sao mà hiểu hết được những gì anh đang nghĩ. Làm sao mà nói hết được những ẩn chứa sắc như dao trong lòng một người nghệ sĩ khi tuổi tác làm cho tài năng không phát huy hết được tinh hoa của mình.

Tôi nghĩ đó là bức vẽ caricature cuối cùng của anh.

Một Ước Mơ Không Thực Hiện Được

Có lẽ chính vì thế nên dự định làm lại những bức tranh treo trong nhà của anh cũng không bao giờ thực hiện. Bệnh già càng làm anh suy yếu thêm. Những lần sau này tôi đến thăm, anh không nói về chuyện hội họa mà nói về những cuốn sách anh đang đọc, anh đọc rất nhiều như một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống hiện tại.

Anh nói về cuộc sống ở Mỹ và những người bạn ở đó. Nhận xét của anh chín chắn, rất rõ ràng về từng con người, từng sự việc. Anh cởi mở hơn xưa nhiều và bằng lòng với đời sống hiện nay tại Sài Gòn.

Có lần anh nói với tôi: “Ở Mỹ, tớ chưa bao giờ được sống trong một căn phòng như thế này”.

Tôi cho là anh nhún mình hoặc quá bằng lòng với những gì anh đang có. Người con gái út của anh đã chăm sóc anh hết lòng, thuê hẳn một người giúp việc cho bố ngày cũng như đêm. Anh sống trên lầu ba trong hai căn phòng rất đầy đủ tiện nghi. Một bên là phòng ngủ, một bên là phòng làm việc và tiếp khách. Bác Tư là người đã săn sóc anh suốt một năm cuối trong đời.

Chỉ tiếc cho một ước mơ cuối cùng của anh không bao giờ thực hiện được. Những bức tranh cũ vẫn nằm trên tường, vàng vọt theo ngày tháng.

Anh là người rất kén ăn, không ăn thịt heo, thịt gà và cả thịt bò. Anh chỉ ăn chim bồ câu, sau này không ăn quay được thì nấu cháo nhừ, và cua lột, tôm hấp.

Hai tháng cuối cùng anh bị té từ trên giường xuống sàn nhà. Từ đó anh không đi lại được nữa và sức khỏe của anh suy sụp nhanh hơn. (Ảnh: Ông Ngoại Tạ Tỵ bên các cháu, 5 ngày trước khi vĩnh viễn ra đi)

Mới Thứ Sáu tuần trước đây thôi, 20-8-2004, anh còn điện thoại cho tôi hỏi thăm về nhà cửa và cảm ơn về chuyện tôi cho người mang cháo sang cho anh. Anh đòi cảm ơn “bà xã cậu chứ không phải cậu”.

Anh rất cẩn thận, mỗi lần mang cho anh tô canh anh cũng phải cảm ơn bằng được người đã đích thân nấu canh cho anh và dặn người nhà nhớ mang trả lại cái cà men nhựa. Cho anh mượn cuốn sách, anh xem xong gọi tôi sang nói chuyện về cuốn sách đó và gói ghém rất đàng hoàng đưa trả tận tay.

Lúc này anh rất mong được gặp bất cứ ai trong số những người quen cũ.

Nhưng hai hôm sau cùng thì anh nói gì trong điện thoại tôi nghe không rõ nữa.

Bác Tư phải “thông ngôn” lại tôi mới hiểu anh nói gì. Nhà tôi sang nhà anh rất gần chỉ cách có một cái ngã tư. Anh hứa hôm nào khỏe sẽ sang nhà tôi ngồi ăn cơm với các bạn bè cũ. Nhưng rồi chẳng bao giờ anh sang được.

Mười Phút Trước Khi Anh Ra Đi

Ðúng 6 giờ sáng ngày Thứ Ba 24-8 vừa qua, người điện thoại báo tin cho tôi anh Tạ Tỵ mất lại là Phan Diên từ Mỹ gọi về. Tôi bàng hoàng trước nguồn tin này vì không lẽ anh mất mà người nhà anh không cho tôi biết?

Tôi vội báo tin cho vài người bạn rồi phóng sang nhà anh. Lúc đó các con từ Mỹ đã về Việt Nam đầy đủ.

Nhưng anh vẫn nằm đó thở bằng bình oxy, không biết gì nữa. Chiếc máy laptop để bên đầu giường rỉ rả những câu chuyện cũ.

Hoàng Song Liêm, Nguyễn Quốc Thái rồi vợ chồng Ðằng Giao cũng đã có mặt. Lúc đó gia đình anh cũng đã lo mọi chuyện lễ tang chỉ chờ giờ phút anh ra đi mà thôi. Chúng tôi đến bên anh, ai cũng biết đó là lúc cầm tay anh và nhìn anh lần cuối.

Tôi ra về, điện thoại sang Mỹ báo tin lại cho các anh Thái Thủy, Vũ Ðức Vinh, Phan Diên về nguồn tin ở Mỹ chưa đúng hoàn toàn.

Nhưng chỉ mười phút sau đó, gia đình anh cho tôi biết đúng 10 giờ sáng anh đã ra đi. Tôi lại phải điện thoại báo tin cho các bạn ở nước ngoài.

Theo như dự định gia đình anh sẽ quàn anh một ngày tại chùa Xá Lợi, sau đó quàn linh cữu anh ở nhà. Hôm sau, hầu hết bạn bè anh còn ở lại Sài Gòn đều có mặt. Trong số hàng trăm vòng hoa của thân hữu ở Việt Nam, tôi thấy có vòng hoa của Ðinh Cường từ Virginia đưa đến và một vòng hoa của Hội Nghệ Thuật thành phố Sài Gòn.

Đến 9 giờ sáng ngày 26-8 đưa anh đi hỏa táng tại Bình Hưng Hòa.

Buổi đưa tiễn anh có rất nhiều những khuôn mặt thân quen của anh từ xa xưa.

Ông Mạnh Ðan râu bạc như cước, anh Lê Cao Phan cũng đã 82 tuổi rồi song còn khỏe mạnh, lớp người trên 70 như Hoàng Song Liêm và tôi hoặc kém một chút như Dương Nghiễm Mậu, Hoàng Vũ Ðông Sơn… trong cái “đám” này được coi là còn “trẻ”.

Vĩnh biệt Tạ Tỵ, một họa sĩ tài hoa.

Sự ra đi của anh là một mất mát lớn lao thực sự cho làng hội họa, ở Việt Nam không dễ gì có được một nghệ sĩ rất đặc biệt như Tạ Tỵ.

(Sài Gòn 26-8-2004)

Chí Phèo mắc dịch

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 Aug 2026

Tranh Bảo Huân

Như một người bán thuốc Sơn Ðông mãi võ, giới truyền thông thế giới suốt hai tháng nay cứ bên nầy chết, bên kia chết vì con coronavirus Wuhan nên em yêu cũng lo sốt vó vì sợ, bèn lên cái ‘phác đồ’ phòng dịch như vầy:

“Ngủ ít nhất bảy giờ một đêm. Sáng thức dậy, vươn vai, tập thể dục 30 phút.

Trước khi ngồi vô bàn ăn sáng thì rửa tay bằng xà bông.

Ăn xong dọn bàn thì dùng thuốc xịt khử trùng, đừng dùng khăn lau; lau cái nầy, lau cái nọ, lau tùm lum vi khuẩn sẽ lây lan từ bề mặt này sang bề mặt khác…”

Xách ‘đít’ leo lên xe ‘bus’ đi làm, em yêu còn dặn vói theo:

“Nhớ ngồi gần cửa sổ nhe, vì gió thổi vô mang không khí trong lành cho cái lỗ mũi của anh. Ðừng có xán lại ngồi gần em nào dù nó có đẹp cỡ người đẹp ưa cởi truồng Ngọc Trinh đi chăng nữa!”

“Em đừng lo! Mấy em Úc thấy anh da vàng mũi tẹt cứ nghĩ anh là Chú Ba, người về từ Vũ Hán, là ẻm đã ngồi cách anh chừng ba dãy ghế lận.”

“Xong vô Sở, đừng ôm hun con nhỏ nào hết ráo. Cũng đừng bắt tay ‘bông rua’ hay cụng tay nhau như hai võ sĩ đánh bốc lúc thượng đài. Vì bắt tay có nguy cơ lan truyền vi khuẩn gấp 10 lần so với cụng tay nhau. Bắt chưn thì được!”

Chiều về gặp lại em yêu, tui bèn cúi chào con vợ mình theo kiểu Nhựt Hoàng vừa lịch sự; vừa giữ vệ sinh cho em.

Bữa tối, em dọn ra toàn là rau rác, may mà còn được một dĩa thịt bò ‘beefsteak’ để ăn bằng dao nĩa. Em yêu hùng hồn tuyên bố:

“Cho tới hết mùa dịch (vật) nầy, nhà mình sẽ ăn theo kiểu Tây, không dùng đũa muỗng thọc tùm lum vô tô canh rồi húp rột rột như trước nữa!”

Em yêu còn dặn thêm lúc đi làm về anh đừng có vác cái mặt buồn xo, buồn nào hơn hôm nay, trong mùa ôn dịch nầy vì cái mặt hãm tài nầy gây lo lắng cho em nhiều hơn con ‘coronavirus’ thực sự.

Thứ Bảy rồi, em kêu tui đi chích ngừa để tránh nhầm lẫn cúm theo mùa với con COVID-19.

Ông bác sĩ gia đình mang khẩu trang như người dơi, tui than phiền với ổng là:

“Tối em yêu kêu tui ngủ trên lầu đi, em có bật cái máy tạo độ ẩm rồi vì vi khuẩn không thích không khí ẩm.

Em sẽ ngủ trong phòng khách dưới nhà trên ghế ‘sofa’.

Chu cha cái nầy găng nhe! Mất cái gối ôm hằng đêm thì làm sao tui ngủ cho được đây hỡi Trời?”

Thì ông bác sĩ lại binh em, nói:

“Bà cụ nói đúng quá xá đó! Mấy người bị tiểu đường, bị cao huyết áp, lại cao tuổi, sức đề kháng yếu xìu như cụ đây lỡ dính con coronavirus chưa có thuốc chữa thì dễ đi chầu ông bà ông vải lắm đó!”

Chủ Nhựt, em đi siêu thị mua kìn kìn nhu yếu phẩm đủ cho vợ chồng già ‘nhơi’ ít nhứt hai tuần lễ trong trường hợp cơn dịch bùng phát ngoài tầm kiểm soát. Tui cũng chất đầy một xe đẩy toàn là rượu đỏ.

Em yêu hỏi:

“Anh mua rượu chi mà dữ thần ôn vậy?”

“Cái nầy đâu chỉ là rượu thôi đâu mà nó còn là cồn sát trùng cái cổ họng và bao tử của anh.

Em thừa biết con vi khuẩn nầy nó tấn công vào hai buồng phổi của mình. Mà trước khi nó theo không khí đi vô thì nó phải qua cái miệng, cái lỗ mũi của anh, nó gặp chất cồn sát trùng nầy thì cha nó cũng chết!”

Ði ‘shopping’ về, chưa kịp soạn đồ ra là em yêu leo lên ‘facebook’ đọc được cái bài: ‘Dịch Thiếu Văn Hoá’. Em phùng mang trợn mắt trắng dã thấy ghê, gầm lên như Chúa Sơn lâm:

“Thằng nầy dám chửi em, chửi luôn cả người Việt mình ở hải ngoại nè anh”:

“Cha! Sao đứa nào xăm mình dữ vậy nè? Ðâu để anh đọc coi!”

Chí Phèo làng Vũ Ðại viết dại, viết dột như vầy:

“Cả ngày hôm nay tôi nhìn những hình ảnh người Việt hải ngoại đi mua đồ trữ dịch corona mà tôi thấy thật hổ thẹn.

Chen nhau, xô đẩy vì mấy két nước, mấy bao gạo cho bản thân mà quý vị để lại hình ảnh ích kỷ, xấu xa trong mắt người khác.

Quý vị ở Mỹ mà tư cách quý vị thể hiện trên miếng ăn thật tồi tàn, không thể chấp nhận.

Quý vị may mắn sống ở đất nước có tự do nhưng quý vị đã không tự ý thức được việc mình làm ảnh hưởng như thế nào cho cộng đồng người Việt và cả văn hoá gốc Á.

Quý vị đang tự phản ứng quá mức về dịch bịnh. Ðiều này chứng tỏ quý vị chỉ lo sợ mất quyền lợi của riêng mình mà thôi.

Quý vị quá ích kỷ!

Dịch corona không lan tỏa nhanh bằng hành động quý vị ngày hôm nay.

“Ê! Viết như vậy là hỗn hào quá đáng; do nhìn không quá cái lỗ mũi của mình, mà đòi làm cha để phê phán, rồi chửi bới lung tung hè!

Bộ chú mầy không thấy nhiều ông tai to mặt lớn lãnh đạo quốc gia trên thế giới nầy lo sốt vó chạy đôn, chạy đáo, chạy tới, chạy lui hay sao? Ngay cả Thủ tướng Úc Scott Morrison cũng phải xính vính, mặt rầu rầu như vừa bị em yêu xét túi.”

Thị trường chứng khoán trên toàn thế giới từ New York tới Hong Kong, London, Sydney gì gì đó đua nhau lao dốc. Nền kinh tế sẽ rơi vào suy trầm là cái chắc, làm ảnh hưởng tới túi tiền còm cõi của mọi người, trong đó có ta!

Nhà hàng Tàu bán nhẫm-xà đua nhau khánh tận! Cái nào còn ngáp ngáp cứ than dài thở vắn hổng biết chừng nào ‘ngộ’ sẽ đi đây!?

Hãng máy bay có cái đã sập tiệm rồi, du thuyền hổng còn ai dám đi, hòa nhạc, trình diễn thời trang đều dẹp hết.

Ngược lại gạo, đường, mắm, muối, xà-bông, giấy ‘toilet’  mấy người mẹ, người vợ ào ào đi mua về vì lo sợ như hồi Tết Mậu Thân năm 68 Việt Cộng vô tới tận Sài Gòn vậy. Giờ thì sợ cơn đại dịch nó có thể vượt ngoài vòng kiểm soát, thành phố sẽ giới nghiêm 24/7 cả nước như bên nước Ý.

Vậy mà chú mầy dám chửi vợ của ta sao?

Ở đất nước tự do, người ta được quyền làm cái gì mà pháp luật không cấm. Ði mua nhiều chừng nào thì nhà sản xuất và các siêu thị mừng chừng ấy. Dĩ nhiên sản xuất sẽ nhiều hơn, buôn bán ì xèo hơn. Tiền vô ào ào ngu sao mà không mừng?

Trong chế độ tư bản thị trường tự do, việc mua bán là hàng đầu, là ưu tiên số một qua cầu Bến Lức. Mua nhiều bán nhiều là kinh tế khởi sắc; nó mà tăng lên thì sẽ tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm, tốt cho người dân chớ?

Ðâu phải là cái thời lúc CS Bắc Việt mới chiếm được Sài Gòn:

“Con cắn cơm cắn cỏ, con lạy bà mậu dịch viên bán cho con 100 ‘cà gram’ thịt ‘nợn’ vì con của con đang bị ốm!”

Chắc chú mầy đã quên câu khẩu hiệu:

“Ðả đảo Thiệu Kỳ mua gì có nấy!

Hoan hô Hồ Chí Minh mua cây đinh phải xin giấy!” 

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Y tế CS Việt Nam Vũ Ðức Ðam, tai to mặt bự, tuyên bố Việt Nam sẽ hết dịch (vật) vào tuần tới.

Nghe vậy, vợ chồng, cha con dân Hà Nội ùn ùn bỏ chạy vô Sài Gòn trốn (dịch). Còn ai có gan ở lại chịu trận thì cũng đổ xô đi mua gạo, đường, mắm, muối, giấy toilet ùn ùn ra đó.

Còn trên thế giới từ Âu sang Mỹ, các sắc dân trắng, vàng, đen, đỏ, cũng làm y hịt như bà con mình, cũng ùn ùn đi siêu thị mua nhu yếu phẩm đó thấy hông?

Chú mầy chửi những người quá tham lam vét sạch hàng, không cần biết người khác cũng cần mà không có mua thì còn được. Chứ chửi lung tung thì ta e rằng chú mầy không còn một cái răng mà ăn cháo trắng!

ĐXT

Melbourne

Cây nhang chẳng đủ ấm trang thờ

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 16 Aug 2026

thương quý tặng tất thảy những người MẸ

 Hôm nay ngày đầu năm, thứ hai đầu tuần mình cũng đi làm như thiên hạ. Ra về tuyết mỏng, nhẹ rơi, câm nín. Đường tới métro trơn trợt, gió đuổi sau lưng, tự dưng buốt lạnh: Mình đang lần hồi già yếu đi, có phải? Lực vơi, dầu cạn, ngọn lửa yếu. Đèn dần lu mờ soi chẳng tỏ, ái ngại nhìn ra phận mình chẳng làm nên công trạng gì suốt tháng năm dài đầu tắt mặt tối. Sáng đi chiều về, an tâm vì có việc làm, chỉ rứa thôi. Không đòi hỏi, vui được ngày mô hay ngày nớ. Và ngày, ôi thôi, trôi rất mau. Hết xuân tới hè, qua thu lại gặp đông. Bữa ni lạnh dữ, xứ này chưa tới xuân, mùa màng xa nửa vòng trái đất kỳ khôi trái khuấy! 

Trời lạnh, mình ghé chợ mua cá về kho với thịt ba chỉ, ớt trái cùng thơm cắt lát mỏng; vô internet họ bày sao thì nghe vậy, tùy miệng lưỡi mà gia giảm muối tiêu đường nước mắm. Chuyện ăn, mình chẳng nhiêu khê cầu kỳ, mình thích ăn cá vì tình cờ đọc thấy ở đâu đó câu nói cảm động, chân tình, và mộc mạc: “Cơm với cá như mạ với con”. Bao giờ cũng vậy, trước khi ăn, mình ra trang thờ thắp cho đấng sinh thành một cây nhang. Chỉ một, không ba cây vì ngại khói dâng rồi đánh thức còi báo động đề phòng hỏa hoạn. Nó thức, nó ré kêu thảng thốt, nghe mệt tai, nghe hồi hộp, mất sướng! Dĩ nhiên trên miếng gỗ mình mua từ cửa hàng Ikea về tự đóng lấy có đặt để khuôn ảnh trắng đen người mình thờ phượng hoài tưởng. Hôm nay mồng Một, mình nói cho mình nghe, rồi tự nhiên đâm nhớ tứ tung, quàng xiên về ngày tháng cũ. 

Mạ mình thời trẻ ngó đẹp gái, chẳng biết trai làng có anh mô xao xuyến? Không nghe anh chị mình kể duyên do đâu thành hình một mối tình và rồi người lấy Ba mình làm chồng, để sau này chăm chỉ đẻ lai rai những mười đứa con. Trong “đội tuyển” của ông bà, mình khoác áo số 10 mà lại vào vai hậu vệ. (Một đội bóng đá, số 10 bao sân trên, thường là vua phá lưới). Mình là nâm-bờ ten, cú rặn cuối cùng, để mạ giã từ ngao ngán kiếp bầu bì sinh nở. Đẻ mình, nghe nói mạ không hao tổn sinh lực cho lắm, như thể ra đồng ẻ một bại, khỏe re. Cục thịt đỏ hỏn đặt lên bàn cân, kim độ lượng chỉ ngang lằn vạch 4 kí 200 gr. Bệnh viện nhỏ xớn xác, y tá nổi hứng bồng mình chạy đi khoe tứng lừng lựng: Ngó nì, ngó thằng cu con mụ tra nì. Ý nói già như rứa rồi mà đẻ thằng qúy tử bồng bắt trẹo tay, chưa kể cái khoảng nhan sắc: Ngó nì, cái mặt chộ dễ ghét chưa! 

Người quê mình có cái dở mà cũng có cái dễ thương. Nói dễ ghét là do sợ vào điều gì đó, nói trại đi kẻo ai đó quở. Vì thế, tuy là bây-bi mà mình đã lộ ra cái vấn nạn dễ thương rất mực. (Chủ quan cũng có cái “dễ ghét” của chủ quan. Hihi). Chữ hoa cũng thế, kiêng cử nên đẻ ra chữ huê. Xứ Huê-kỳ. Một vài bông huê… Tên mạ mình là một loài huê hiếm, tựa như hoa Trang, màu trắng và thường nở rộ từng cụm lớn. Mình không muốn nói tên người ra, quen rồi, như thuở học trò luôn dấu kín tên cha mẹ bởi sợ bọn bạn nhất qủy nhì ma sẽ kêu đích danh khi đứng ngoài ngõ réo gọi đi học. Chắc bạn cũng từng gặp vấn nạn như vậy, để người trong nhà nghe được rồi quở mắng: Học trò học bè chi mà mất dạy rứa bây! Thiệt ba de… Giống hoa, thân thể mạ luôn sản sinh ra mùi quyến rũ. Mình đeo bà không sợ chúng bạn cười, lớn đầu rồi mà tối ngủ phải thò tay sờ bụ mạ mới an giấc. Ba mình đánh không nương tay do bởi cái tật xấu ấy. Đánh và chửi: Đồ con hư tại mạ! Mình nghĩ, quả nhiên mình có lỗi với ông, đeo mạ như rứa thì ba mình không có cơ hội để dụ khị mạ mình làm chuyện tối lửa tắt đèn. Giáo dục có khi phát sinh từ lòng ghen tuông. Mạ thằng Yên cưng thằng Út quá làm tao chẳng được xơ múi gì! Thôi đi tiá, bộ tiá hổng sợ tui có thêm đứa em sao tiá? Tiá nơ-pa nhưng má ngán sinh con thì nên để cho bả nghỉ hưu chớ. Bệnh viện kêu là mụ tra thì phải nên hiểu là rơi vào hạng tuổi đó, người thông thường chả còn tơ vương ham muốn chuyện mần ăn. Xem ra để cho thằng út sờ bầu sữa mẹ e dễ chịu hơn là hứng đỡ cái thân xác nặng nhọc của ba thằng Yên. Yên là tên gọi nựng nịu đứa con đầu của hai người. Mình sinh sau đẻ muộn nên chả biết mặt ngang mặt dọc của tay “đầu sỏ” kia. Ổng bỏ nhà đi làm cách mạng từ đời tám hoảnh cơ. Mạ mình quay quắt thương nhớ. Gạt lệ đôi ba phen để âm thầm tìm cách đi thăm đứa trai trưởng. Nghe nói mạ mình thu vén việc nhà, cực khổ lặn lội ra tuốt ngoài Vinh, han hỏi bới xách cho kẻ bỏ nhà ăn bờ ngủ bụi ấy, chẳng biết phút giây đoàn tụ ngắn ngủi kia có làm cho bà nguôi ngoai phần nào? Có nghe được lời hứa hẹn gì không? Mình ghét thảy những đứa nổi loạn ưa đi làm cách mạng, bởi ít ra, trước mắt, cái đứa ấy vô tình hành hạ xác thân mạ mình quá lắm. Anh bất hiếu cũng chừng mực nào đó thôi, sao không lo ở cạnh người để phụng dưỡng mà dâng hết tuổi xanh cho một bọn người cuồng tín với những học thuyết xa lạ? Từ đó về sau nhà mình đoạn tuyệt hẳn với đứa con “rơi” kia. Tựa như anh bị thẻ đỏ, truất quyền thi đấu, kéo áo che mặt hổ ngươi buộc phải rời khỏi sân cỏ. Đội tuyển thưa người dần nhưng điều đó chẳng khiến ba mạ mình đỡ chật vật một mảy may. Trong sổ gia đình ghi, ba mình: công chức, mạ: nội trợ và một dọc con cái bên dưới toàn là học sinh. Ngần ấy miệng ăn nương nhờ vô hai chữ công chức, mà công chức hạng trung một đời trong sạch. Đói cho sạch rách cho thơm. Giấy rách phải giữ lấy lề. Đại loại thế, là thứ phương ngữ mà ba mình ưa nói. Thanh bần, đạm bạc, hơi bị nghèo là hoàn cảnh sống của gia đình mình thời ấy. Mình nhỏ nhít, lại ham chơi nên chẳng lưu giữ những đắng cay thuở nọ, chơi không sợ mưa rơi. Hết thả diều thì đá banh, cầm sào hái trộm trái cây vườn kẻ khác, cầm que có bôi keo để bắt ve, moi lỗ đổ nước để bắt dế, suốt ngày chạy rông ngoài đường để chiều về mạ quở: Úi chào, cái đầu hôi cứt trâu, mồ hôi mồ kê rít chìn chịt như hủ mật, có ra giếng tắm lia tắm lịa không thì nói. Ăn ở kiểu mất vệ sinh như ri đây đố họa tối ni tao cho nằm chung. 

Dĩ nhiên là mình trần như nhộng sau đó, đứng bên giếng cho mạ mình xối từng gàu nước ngộp thở. Mạ kì cọ, mạ giứt đất, mạ bôi xà phòng 72 phần dầu. Răng con cu hắn sưng ri? Con không biết, chắc bị kiến cắn mạ nờ. Con đừng ngẳng nghịch đái trước am miếu mà bị thánh thần khiển trách. Với mình, mạ có cả vạn điều răn, mạ chuyên cần nói tới điều hay lẽ phải. Và mình thuở nọ giống cái gàu bị thủng, hứng chẳng đầy những lời vàng ngọc kia. Dạ dạ cho có lệ rồi sáng mai lòng vẫn hồn nhiên theo chúng bạn bổn cũ soạn lại. Rứa đó, nhỏ nhít mà, làm sao tránh đi trên con đường “thơ mộng” ấy? Nhưng tình ngay thì mình không hề là đứa phá làng phá xóm, mình ngon cơm hơn mấy đứa khác. Chúng hả? Đi ăn cắp hương hoa quả phật trên bàn thờ người ta bày cúng ngoài trời, đi rình mấy o mấy chị tắm sông tắm giếng, chúng hoang dàng trời và chúng “sáng mắt”. Mi còn con nít ranh, tụi nó nhận xét về mình như rứa đó. Mi nỏ biết rình bụi môn mà dòm Nguyệt Nga đi ẻ chùng ẻ vụng. Ui chào, cơ thể đàn bà con gái hắn lạ lùng lắm thê, nói không ngạ. Chỗ ni thì lồi ra, chỗ nớ thì có tóc, nơi nọ thì… nơi kia thì… Chúng sa đà tả tình tả cảnh mặc dù đứa nào đứa nấy đều bị ăn hột vịt môn luận văn. Ai đời cô ra đầu đề: “Em hãy tả người mà em yêu thương nhất trong nhà” thì có đứa viết như ri: Trời ơi, ngó xuống mà coi, một lòng hy sinh không chịu ngủ để canh chừng ăn trộm, một dạ trung thành không phản bội, đeo cứng bên chưn cẳng lại còn vẫy đuôi lè lưỡi liếm. Em thương con Vện nhà em không bút mực mô noái hết. 

Tuy không đứng đầu môn luận văn nhưng bài tập của mình cũng được cô đọc cho cả lớp nghe. Cô nói, đây là một trong năm bài mà cô ưng ý, bởi khi nói về mẹ mình các em này đã biểu lộ cái thành thực dù vụng về. Công sinh thành dưỡng dục thì ngay cả cô cũng không đủ sức để viết hết ra giấy và cô thấy chúng ta chỉ cần lòng thành là đủ. Lòng thành cũng khiến người ta cảm động. Bài luận ấy mình viết khá dài, mình nói về một đêm mưa và mình ấm áp vô hạn khi có mạ mình ngủ sát bên lưng, chẳng có gì an toàn hơn khi mình ý thức đó là nơi nương tựa có một không hai; mình nói khi yêu thương mình chẳng đề ra một điều kiện nào cả, sai đi mua thuốc Cẩm lệ ngoài phố là mình cầm tiền chạy u đi ngay. Và mình kết luận, có lẽ suốt cả cuộc đời, điều mình ao ước là mạ mình mãi khỏe mạnh, mãi an vui để sống lâu, nhìn nhận ra thằng con út của bà đã trưởng thành qua bao gian khó. 

Mạ mình gặp bạo bệnh, anh chị mình đem người vào Sài-gòn để điều trị nhưng các bác sĩ trong bệnh viện nổi tiếng ấy bó tay. Bà hấp hối, tay chân lạnh ngắt, khi mang bà về lại Đà-nẵng mạ mình mới thật sự ra đi. Anh chị mình giải thích: Mạ dùng tàn hơi để mong nhìn thấy em lần cuối. Xin cho mình được cải lương ở đây, bao nhiêu lạc thú và mộng tưởng về cuộc đời của mình đều sụp đổ ở phút giây oan nghiệt ấy. Mình sẽ phải gắng gượng bước đi trên con đường hoàn toàn chẳng có ánh mặt trời. Mình ngồi bên quan tài câm lặng trong ba đêm, mình cắt giấy thành hình hoa sen và dán thành quả vụng về kia quanh áo quan sơn đỏ. Mình nói với người nằm xa hơn một đâu lưng: Con đang là kẻ mù, con tuyệt đối không nhìn ra một lối đi khi ngày mai người ta chôn mạ xuống ba tấc đất. 

Mình từng nói ở đâu đó, trong một cuộc phỏng vấn đã lâu, rằng mình luôn quý chuộng các vị phụ nữ, nghiệm lại, có thể do bởi trong tâm mình luôn tỏa sáng hình ảnh mạ mình. Hồi xưa bà là người ưa thích đọc sách truyện, điều ấy vô tình bà cấy vào người mình lòng yêu văn chương. Mình viết văn và tiếc thay mạ mình chẳng thể đọc được những thứ nhăng cuội này. Mạ ơi, ngoại trừ bài luận thuở đầu đời, con chưa hề một lần ngợi ca tấm lòng mạ dành cho con. Con đúng là đứa tệ hại, hệt như khi người ta chê bai ai, họ có sẵn câu: Đồ nâm-bơ-ten! 

Mình muôn đời là số 10, chẳng thể le lói 1, 2. Xin được ngụy biện lần cuối: Viết về một người Mẹ, mình biết dùng những từ gì để chuyên chở cho vừa đủ? Người xưa dặn dò: “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Họ ví von, đó là chuối, như mật, tợ đường miá lau… Liệu chúng ta có nguôi ngoai với thứ hình ảnh nghèo nàn kia không? Hơn một lần họ đã bất lực, và mình cũng đã bất hiếu. “Mẹ ơi xin đánh con đau, để con hiểu thấu vết thương dại khờ”. 

Mồng một, mồng hai, mồng ba. Mấy ngày tết lưu lạc mình chỉ ăn cơm với cá. Không mứt món, không bánh chưng bánh tét, chẳng “cầu dừa đủ xoài”. Không pháo nổ (đã đành) chẳng lì-xì (chuyện tất yếu). Không rượu nồng (đau gan, ăn tục nói phét). Không nhìn thấy “chỗ ni lồi ra, chỗ nớ có tóc”. Trời lạnh căm, mình co ro ngồi gõ chữ và chữ thì quá đỗi thanh bần. Các bạn thân mến, ngày đầu xuân, hãy vị tình nếu mình nói điều không vui. Xin cho mình sống lại chút hương vị ngày cũ, dẫu mỗi một hồi tưởng là mỗi một đớn đau. “Tết nhất làm chi, ai bày?” Mình ra bếp, chuẩn bị ăn “cơm với cá như mạ với con”. Rứa thôi. Đòi chi hơn?!

Hồ Đình Nghiêm

Cuộc trùng phùng bi thảm

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

May 16, 2015    

Post by Sơn râu 15 Aug 2026

Theo đoàn quân tiếp thu Sài gòn mà lòng ông Hai Chi rối như tơ vò. Ông và hầu hết các đồng chí của ông ngơ ngác tưởng như chuyện mộng mị không thể nào xảy ra. Chính đơn vị của ông bị đánh tan tác gần như phải xóa sổ trong mùa hè 1972, đến nay vẫn chưa bổ sung xong, và đám bộ đội còn sống sót cũng chưa kịp hoàn hồn. Vậy mà Ban Mê Thuột mất, Tây Nguyên, Vùng 2, đến Vùng 1 có lệnh bỏ, để rồi cả miền Nam thất thủ chỉ trong vòng bốn mươi lăm ngày. Có lẽ những người ngồi trong Bộ Chính Trị ngoài Hà Nội cũng còn bất ngờ, huống hồ Hai Chi, chỉ mang quân hàm thiếu tá, làm sĩ quan hậu cần của một sư đoàn nằm tận vùng rừng núi Tây Nguyên heo hút..

Từ ngày vào bộ đội, ông Hai Chi luôn bị điều về những đơn vị chiến đấu. Nhờ phước đức mấy đời nên còn sống cho đến ngày tàn cuộc chiến. Không chết, nhưng trên người, và có thể cả trong lòng ông còn mang nhiều thương tích. Vết thương nặng nhất khi đơn vị ông bị B.52 dội bom trong trận Hạ Lào. Tiểu đoàn do ông làm thủ trưởng chỉ còn lại dưới 50 người. Nhờ thương tích ấy ông được điều về Sư Đoàn 320 làm cán bộ hậu cần. Mùa hè năm 1972, cả sư đoàn từng mang danh là Sư Đoàn Điện Biên hay Sư Đoàn Thép này gần như bị xóa sổ, khi tướng Hoàng Minh Thảo tung vào trận địa Kontum với ý đồ chiếm lấy Tây Nguyên, làm bàn đạp tiến xuống đồng bằng. Nhờ làm việc ở hậu cần nên ông Hai Chi sống sót để cuối tháng 4/75 có mặt trong đoàn quân ngơ ngác về tiếp thu Sài gòn.

Hai Chi chỉ là bí danh. Tên thật của ông là Nguyễn Công Chính, con cả của một gia đình gốc tiểu tư sản. Quê ở Hải Phòng. Trước 54 gia đình làm chủ một tiệm bán xe đạp và sản xuất găm bánh xe. Bố mẹ sinh được năm người con, nhưng cả ba cô con gái mất sớm, chỉ còn hai cậu con trai, Hai Chi và người em út, nhỏ hơn đến mười một tuổi. Khi ông đang học Y khoa ở Đại Học Hà Nội, thì trận chiến Điện Biên Phủ kết thúc với sự thắng lợi của phe Việt Minh để Pháp phải ký Hiệp Định Genève, chia đôi đất nước. Từ vỉ tuyến 17 trở ra cả miền Bắc thuộc về Cộng Sản. Làn sóng di cư đổ xô về Hải Phòng, quê ông, nơi có những chiếc tàu há mồm chở họ vào Nam. Bị lực lượng Việt Minh tìm mọi cách ngăn chặn, nên khi ông về đến được Hải Phòng, thì nhà cửa đã bị tich thu, không tìm được bố mẹ và người em trai của mình. Ông phải bỏ Hải Phòng, bỏ cả con đường trở thành bác sĩ, lên sống với một bà dì trên Ý Yên, Nam Định.

Nhờ có trình độ học vấn và phấn đấu liên tục để giấu đi gốc gác con nhà tiểu tư sản, ông được cho theo học khóa sĩ quan. Nhưng sau này, khi hầu hết bạn bè cùng khóa lên đến cấp đại tá, thiếu tướng, giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội hay công an, có người còn lọt vào Bộ Chính Trị, thì ông Hai Chi cứ vẫn là thiếu tá tiểu đoàn trưởng và cuối cùng, sau khi bị thương, được điều về làm cán bộ hậu cần của một đơn vị bại trận, cần thời gian để “biên chế”, bổ sung.

Giữa tháng 3/75 Ban Mê Thuột mất, rồi Quân Đoàn II và Quân Đoàn I gần như xóa sổ, sau những kế hoạch triệt thoái tồi tệ nhất trong lịch sữ chiến tranh, để cuối cùng ngày 30/4/75 cả miền Nam rơi vào tay Cộng sản.

Sư Đoàn 320 từ Tây Nguyên cũng được tăng cường cho đoàn quân tiến về Sài gòn, khi Cộng quân bị các đơn vị VNCH chặn đánh tại tuyến Long Khánh gần hai tuần lễ gây tổn thất khá nặng nề. Chiến tranh kết thúc, ông Hai Chi được chỉ định bổ sung cho đoàn cán bộ tiếp thu Tổng Kho Long Bình của QLVNCH bỏ lại. Sau thời gian quân quản, ông là một trong số những cán bộ may mắn được “biên chế” ở lại miền Nam. Nhiệm vụ của ông là kiểm kê và tổ chức chuyển hàng trong các kho về miền Bắc. Từng đoàn xe liên tục từ Nam ra Bắc suốt ngày đêm, chở theo các loại chiến lợi phẩm, không những đã tịch thu được của Quân Đội hay Chính Phủ mà của cả dân chúng miền Nam, nhất là sau kế hoạch “Đánh Tư Sản”. Lúc này trong dân gian truyền miệng một câu nói khá đau lòng mà lý thú: Đất nước thống nhất để miền Nam thì nhận họ, còn miền Bắc thì nhận “hàng”. Như con chuột gầy sa hủ nếp, ông Hai Chi trở nên giàu có. Ngôi biệt thự tại thành phố Biên Hòa tịch thu từ gia đình một tư sản gốc Hoa được cấp cho ông, cũng là nơi để ông cất giấu hàng ngàn cây vàng kiếm được. Một năm sau, vợ và đứa con trai của ông cũng từ ngoài Bắc được chuyển vào ở với ông. Học đòi một chút vương giả, bà vợ muốn có người ở, phụ bà lau nhà rửa bát và để cho bà có người sai vặt. Nhưng ngại nếu thuê mướn một người lớn, chuyện “làm ăn” và cả sinh hoạt trong nhà dễ bị “tai vách mạch rừng” lọt ra ngoài, nên sau khi bàn tán kỹ lưỡng, vợ chồng Hai Chi quyết định đi xin một đứa con nuôi. Vừa có một đứa đầy tớ không mất tiền thuê, vừa được tiếng nhân từ, giữ “truyền thống đạo đức cách mạng”.

Vợ chồng ông Hai Chi tìm đến các viện cô nhi để tuyển lựa “đối tượng”. Ông bà muốn có một đứa con gái khoảng 7-8 tuổi, khỏe mạnh và mặt mày sáng sủa. Cuối cùng vợ chồng cũng được như ước muốn. Khi bà sœur “quản nhiệm” Cô nhi viện Biên Hòa dắt con bé ra giao, bà chỉ cho biết con bé tên Phượng, 8 tuổi. Bố mẹ đã chết trong trận đánh Long Khánh. Có người thấy nó ngồi khóc trên vỉa hè nên mang về nhà nuôi. Một thời gian sau “giải phóng” gia đình này trở nên túng quẩn, không có đủ cơm ăn, đúng lúc con bé lại bệnh hoạn không sai bảo gì được, nên đã mang cháu đến giao cho cô nhi viện. Lúc ấy cô nhi viện cũng lâm vào cảnh khốn khó, nhưng các sœur không nở chối từ, chia bớt phần ăn của mình, lo chữa trị và nuôi dưỡng cháu lành bệnh, ngày một khỏe mạnh, xinh xắn.
Thực ra, thì sœur quản nhiệm biết bố của Phượng là lính Cộng Hòa, qua lời kể dù không rõ ràng lắm của cháu, nhưng trong thời buổi nhá nhem còn đầy không khí hận thù lúc ấy, sœur luôn dặn dò Phượng phải giấu kín điều này không cho ai biết. Ông Hai Chi làm khai sanh cho con bé, đặt tên Nguyễn Thị Hồng Phượng, để nhớ tới thành phố “Hoa Phượng Đỏ” Hải Phòng, quê hương ông.

Những năm 1978 – 1979, bọn cầm quyền cộng sản muốn đuổi những người Viêt gốc Hoa ra khỏi nước nhằm cướp hết tài sản của họ, bày ra chiến dịch quái đản, được người ta đặt tên là “Ra đi bán chính thức”. Nhờ biết tiếng Hoa và có nhiều kinh nghiệm trong các đường giây mua bán, ông Hai Chi lại được “đồng chí” Mười Vân ( tên trên giấy tờ là Nguyễn Hữu Giộc) , Giám đốc công an tỉnh Đồng Nai móc nối vào tổ chức “đen”, vừa đi tìm những người Việt gốc Hoa giàu có (và cả những người không phải gốc Hoa nhưng chịu chi nhiều vàng để nhận hồ sơ Hoa kiều giả), vừa cho đám đàn em lập ra những toán “lâm tặc” chiếm cứ, làm chủ các khu rừng, chặt hết gỗ quý đóng tàu bán với giá rất cao cho các nhóm người Hoa “ra đi bán chính thức”. Bọn họ mở nhiều xưởng cưa, nhiều cơ sở đóng tàu. Chỉ sau một thời gian ngắn, Hai Chi đã trở thành đại gia, một nhà tư bản đỏ đầy quyền lực.

Bé Hồng Phượng lớn lên theo nhịp độ phát đạt của gia đình ông Hai Chi cùng nỗi cơ cực của một ô-sin. Điều may mắn duy nhất, cũng có thể do ông bà Hai Chi muốn tránh tiếng xấu, Phượng được cho đi học lớp đêm, và nhờ vào tính thông minh cần mẫn, Phượng học rất giỏi.

Điều may mắn khác, nhưng lại trở thành tai họa cho Phượng, là càng lớn Phượng càng xinh đẹp. Năm lên 16, nhan sắc của Phượng đã làm si mê bao cậu học trò. Và người say mê nhất lại là Diệp, thằng con trai duy nhất của ông bà Hai Chi. Diệp lớn hơn Hồng Phượng 3 tuổi và khi ấy đang là sinh viên của Trường Đại Học Bách Khoa. Mỗi lần Phượng ra ngoài, Diệp tìm mọi cách đi theo, ngăn chặn bất cứ gã con trai nào muốn tán tỉnh Phượng, lấy cớ là anh trai của Phượng. Ở nhà, Diệp thường bênh vực Phượng, trách cứ mẹ đã bắt cô em nuôi phải làm quá nhiều công việc.

Chưa bao giờ Diệp tỏ ra mình là một ông anh nhân từ tốt bụng như lúc này. Hơn nữa cậu ta cũng nể nang, tôn trọng nết na hiền thục cùng sự khôn ngoan của Phượng. Bà Hai Chi vốn nuông chiều cậu quí tử nên không dám làm Diệp buồn lòng. Điều này làm bà khó chịu, nhưng đó không phải là điều mà bà quan ngại. Điều lo âu nhất của bà chính là ông Hai Chi, mỗi lần bà bất ngờ bắt gặp đôi mắt của ông chồng say đắm nhìn cô con gái nuôi trong tuổi dậy thì xinh đẹp, cũng là con bé ô-sin của nhà bà.

Ngày xưa, sau khi kết thúc chiến tranh, ông cũng nể nang cái tình bao năm chờ đợi và thương cảm cảnh khổ của bà, nhưng kể từ ngày kiếm ra nhiều tiền, ông tỏ ra uy quyền và lơ là chăn gối với bà. Bà tìm mọi cách để giữ chồng. Nhờ người giới thiệu một số bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ tiếng tăm ở Sài gòn, chịu bỏ ra một số tiền khá lớn, bà là một trong những người Hà Nội 75 sửa sắc đẹp sớm nhất. Nhờ tài năng của mấy ông bác sĩ miền Nam còn sót lại, nhan sắc của bà có khá hơn nhiều lắm, nhưng so với những cô gái miền Nam, thì bà vẫn chỉ thuộc loại hàng phế thải được “tân trang” phần bên ngoài. Không đủ hấp dẫn ông chồng đang trên đà “đổi mới tư duy”

Vốn là con gái của một gia đình cộng sản, và sống bao nhiêu năm dưới chế độ tàn ác man rợ này, bà đã học được biết bao mưu chước và thủ đoạn để hại người. Trước mắt chồng con, bà luôn tỏ ra thương yêu nhỏ nhẹ với Phượng, nhưng trong đầu đang bày mưu tính kế để hãm hại cô bé mồ côi tội nghiệp này.
Ban đầu bà tính tạo cơ hội cho Diệp, thằng con trai duy nhất của bà cướp đi đời con gái của Phượng, để cho ông chồng già chứng kiến, bỏ cuộc, rồi lấy cớ đuổi Phượng đi, nhưng ngẫm nghĩ thấy mưu kế này có thể là con dao hai lưởi, không chừng thằng quý tử của bà mê luôn Phượng và quyết lấy Phượng làm vợ thì quả là tai họa, gậy bà lại đập đúng lưng bà! Không thể nào để con trai một của cán bô đại gia đi lấy con ô-sin. Cuối cùng bà nghĩ tới tay đàn em thân tín của ông. Bà để ý mỗi lần đến nhà, thấy Phượng là anh chàng này như kẻ mất hồn, nhìn chăm chăm vào Phượng rồi bất ngờ giật mình, sượng sùng quay đi chỗ khác. Hắn e ngại vì dù gì Phượng cũng là con gái nuôi của ông Hai Chi. Hắn tên Đạt, thượng úy công an, tay chân đắc lực của gã Mười Vân, giám đốc công an tỉnh, được “đặc phái” tới làm việc bên cạnh ông Hai Chi trong tổ chức “đen”, móc nối đưa người Hoa ra đi và phá rừng lấy gỗ.

Đạt có vợ, một con mang từ miền Bắc vào. Nghe nói cô vợ, trước kia là một “bộ đội gái”, từng mấy năm ở trạm giao liên trên miệt Trường Sơn trong thời “chống Mỹ”, phục viên khi chiến tranh kết thúc, nhưng con vi trùng bệnh sốt rét rừng vẫn còn mai phục trong máu, nên trông khá xanh xao vàng vọt.

Bà Hai Chi biết Đạt mê mệt cả nhan sắc lẫn thân hình của cô con gái nuôi đang độ dậy thì, nên đã dễ dàng dụ chàng ta vào kế hoạch. Hắn ta bất ngờ như trúng số độc đắc cặp mười, đưa tay thề xin hứa sau này sẵn sàng làm bất cứ mệnh lệnh nào của bà. Bà đích thân ra chợ trời tìm mua mấy gói thuốc ngủ. Tổ chức buổi cơm cuối tuần, gọi Đạt đến nhậu nhẹt cùng chồng như mọi khi. Trong bữa ăn, ông Hai Chi, Đạt và cả thằng Diệp thi nhau uống rượu ngoại. Chỉ có bà và Phượng uống nước cam vắt do chính tay bà làm. Trong bếp, bà đã lén bỏ vào ly nước của Phượng mấy gói thuốc ngủ mà bà đã tán nhỏ ra bột. Khuya hôm đó sau khi thấy Phượng thắm thuốc, ngủ say, bà mở cửa gọi Đạt vào để hiếp Phượng. Bà giả vờ vào phòng nằm với chồng, chờ tiếng ho, như là một ám hiệu của Đạt, sau khi đã thỏa mãn cơn dục tình thèm khát bấy lâu nay. Bà chuẩn bị lấy giọng để la lên cho cả ông Hai Chi và thằng Diệp chứng kiến cảnh Phượng đang lõa lồ sau khi ân ái với thằng đàn em thân tín của ông. Bỗng dưng bà nghe nhiều tiếng động và sau đó là một tiếng súng nổ chát chúa từ phòng của Phượng. Không cần gọi, tất cả ông Hai Chi, thằng Diệp và bà vội vàng chạy ùa vào. Một cảnh tượng kinh hoàng. Đạt nằm trần truồng trên vũng máu, còn Phượng nép vào góc phòng hai tay còn cầm chặt khẩu súng K54 sẵn sàng nhả đạn tiếp.
Ông Hai Chi năn nỉ dụ dỗ mãi, Phượng mới đưa khẩu súng cho ông. Nhưng thằng Diệp vội vàng giật lấy khẩu súng từ tay cha với ý định xử tội Đạt. Trong lúc giằng co, một phát đạn nổ, may mắn không gây thêm thương tích. Tay thượng úy Đạt bị thương rất nặng ở vùng bụng, được xe cứu thương chở vào bệnh viện Biên Hòa cứu chữa, sau khi ông bà Hai Chị vội vã mặc áo quần vào cho hắn. Thằng Diệp hò hét chạy theo đòi giết hắn ta. Bà Hai Chi thì rất đỗi ngạc nhiên, cứ nghĩ rằng mấy gói thuốc như vậy, nhất định sẽ làm Phượng say ngủ mê man tới sáng, tại sao lại có thể giật súng bắn thằng Đạt. Sau này, bà nhờ bác sĩ thử nghiệm, kết quả: bình thường. Hóa ra thuốc bán ngoài chợ trời chỉ là thuốc giả.

Tay Đạt thoát chết nhưng bị cắt đi một khúc ruột và mất khá nhiều máu. Phượng bị bắt giam. Thằng Diệp đòi ra công an làm chứng, tố cáo Đạt chủ động hiếp dâm và Phượng chỉ tự vệ. Nhưng ông bà Hai Chi vừa quyết liệt ngăn cản vừa năn nỉ. sợ mang thêm tai họa. Bà Hai Chi lo lắng bị lộ ra cái quỷ kế ác độc của bà. Còn ông Hai Chi thì nghĩ Đạt là đàn em thân tín của tay Mười Vân, giám đốc công an tỉnh, quyền uy như ông vua một cõi. Đến các “đồng chí” phó bí thư, ủy viên thành ủy còn bị hắn ta lập kế bắt giam năm ngoái. Vả lại tay Đạt cũng chưa làm gì được thì đã ăn đạn rồi. Hắn ta chủ quan, cứ tưởng là Phượng đã say thuốc ngủ. Trút bỏ hết áo quần và cả khẩu “súng ngắn” để trên giường, trước khi đưa hai bàn tay sàm sở lên người Phượng. Chưa kịp bàng hoàng khi bất ngờ bị Phượng đạp mạnh xuống giường thì một phát súng đã nổ vào bụng. Cuối cùng Phượng bị tạm giam để đưa ra tòa án nhân dân, với cái tội “phản động”đã định sẵn. Các báo Sài Gòn Giải Phóng, Thanh Niên cho đăng tải tin tức này theo chỉ thị: “tàn dư Mỹ Ngụy dùng mỹ nhân kế ám sát cán bộ cách mạng”

****

Trận chiến Long Khánh, dưới tài chỉ huy của Tướng Lê Minh Đảo, đại quân CS bị các đơn vị VNCH chặn đánh tan tác. Đặc biệt hai quả bom CBU được thả xuống địa điểm “tập kết” của địch, giết cả hai trung đoàn “sinh Bắc tử Nam”. Mang hận thù này, nên sau khi chiếm được Long Khánh, bọn chúng đã bắn giết dã man bao người dân vô tội, trong đó có mẹ của Phượng. Khi xông vào nhà, thấy tấm ảnh của bố Phượng treo trên vách, mang quân phục và cấp bậc VNCH, chúng đã bắt trói mẹ Phượng dẫn đi. Phượng chạy theo khóc kể, rồi lạc vào một nơi xa lạ đầy những xác người, sợ hãi, không còn biết đường về. Bố của Phượng là sĩ quan thuộc một Liên Đoàn Biệt Động Quân từ Vùng 3 tăng phái cho Vùng 2, bị bắt lúc bị thương trên đường di tản theo Tỉnh Lộ 7B từ Pleiku vào giữa tháng 3.75. Ông bị cầm tù qua rất nhiều trại. Nhiều năm sau không hề biết được tin tức vợ con, ông nghĩ là tất cả đã chết vì biết có những trận đánh lớn tại Long Khánh trước ngày mất nước.

Ngày 2/ 9 năm 1984, ông được thả. Ra tù, ông vội vã tìm về Long Khánh. Ngôi nhà của cha mẹ để lại, nơi vợ con ông đã sống từ ngày sinh ra Phượng, đã bị “cách mạng” tịch thu. Người chủ mới là một gã công an. Khi nghe ông hỏi thăm vợ con mình, những người chủ đích thực của căn nhà này, gã công an trợn mắt nhìn chằm chặp vào ông rồi thốt ra mấy tiếng cộc lốc, lạnh lùng: “tôi không biết, hỏi làm gì?”, bằng giọng đặc sệt Nghệ Tĩnh rất khó nghe. Khi đến trình diện công an xã, ông bị chỉ định về trình diện chính quyền trong một Khu Kinh Tế Mới nằm sâu trong núi để được tạm trú và quản chế. Một nơi ông hoàn toàn xa lạ, không có bất cứ một người thân quen nào.
Ông đón xe đi Biên Hòa, nơi có trại gia binh nằm bên cạnh doanh trại của đơn vị ngày xưa. Chắc chắn là trại gia binh đã bị tịch thu, nhưng hy vọng tìm được người tài xế và vài người lính cũ có thể còn ở lại gần đâu đó. Họ là những người thân thiết cuối cùng còn lại trong đời ông. Ông muốn đến thăm và tìm hiểu tình hình hầu tìm một con đường sống.
May mắn, anh tài xế vẫn còn ở căn nhà cũ phía ngoài trại gia binh. Căn nhà tôn mà trước kia vợ chồng anh đã hốt hai đầu hụi và mượn thêm cả một tháng lương của ông để mua với giá rẻ, mở cái quán nước nhỏ, bán cho anh em lính. Bây giờ cái quán không còn, nhưng anh hành nghề xe ôm với chiếc Honda từ đời 70 còn lại, nên cuộc sống cũng đáp đổi qua ngày. Thầy trò gặp nhau bất ngờ như từ cõi chết trở về, vừa vui mừng vừa cảm động. Anh tài xế ôm chầm lấy ông, bảo hết mình lo lắng cho ông Thầy. Anh bảo vợ và thằng con trai lớn chạy đi báo tin, gọi thêm hai anh em cùng đơn vị cũ còn ở lại trong vùng. Mỗi người góp một tay, làm mấy món nhậu uống mừng được gặp lại ông Thầy.

Men rượu ngà ngà, nước mắt ông cũng đầm đìa vì cảm kích cái tình huynh đệ, và nhớ tới những anh em đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại trên con đường 7 B oan nghiệt, tất cả đều chết trong tức tưởi. Bỗng tất cả im lặng hướng về chiếc máy truyền hình nhỏ để trên tủ thờ trước mặt, khi nghe giọng nói sắc máu của người nữ xướng ngôn viên thông báo trực tiếp phát sóng: Tòa Án Nhân Dân tỉnh Đồng Nai xét xử một cô gái mang tội “phản động, âm mưu ám sát cán bộ cách mạng”. Ông há hốc miệng, đôi mắt ráo hoảnh, khi nhìn thấy cô con gái đứng trước vành móng ngựa, hai tay bị còng, phía sau là một đám công an cả nam lẫn nữ mặt mày đằng đằng sát khí. Cô bé giống vợ ông như đúc. Khuôn mặt hiền lành xinh đẹp này ông đã gặp bao nhiêu lần trong giấc mộng, suốt hơn chín năm tù. Không kịp giải thích, ông bảo anh tài xế tìm mọi cách giúp chở ông thật nhanh đến tòa án Biên Hòa, nơi phiên xử mới bắt đầu.

Chỉ hơn 10 phút sau anh tài xế và ông đã có mặt. Phiên tòa đang tiếp tục phần “buộc tội” của một bà được gọi là đại diên Viện Kiểm Sát Nhân Dân. Ông giật mình khi nghe tên cô con gái “thủ phạm” là Nguyễn Thị Hồng Phượng. Đứa con gái duy nhất của ông có tên Nguyễn Lê Tuyết Phượng. Chưa kịp hình dung trọn vẹn hình ảnh người vợ và đứa con gái năm tuổi, khi ông được ba ngày phép về nhà đưa cháu vào bệnh viện mỗ tim rồi vội vàng chia tay lần cuối cùng để ra đơn vị, thì một điều bất ngờ khác làm ông bàng hoàng hơn: Người nhân chứng được gọi lên cung khai có tên là Nguyễn Công Chính, trùng tên với ông anh cả, đã thất lạc trên ba mươi năm, sau ngày ông cùng bố mẹ di cư vào Nam. Khi nhìn kỹ Nguyễn Công Chính bước lên vị trí nhân chứng, ông sững sờ nhận ra ngay, đó đúng là người anh ruột của mình. Dù dung mạo có đổi thay, nhưng ông không thể nào nhầm lẫn được. Với con mắt hơi lồi và hàm răng vễnh của bao năm trước. Lúc còn bé, ông anh còn có tên gọi trong nhà là cu Tun. Ông đứng bật dậy, định gọi lớn tên anh mình, nhưng kịp nhớ ra đang ở trong phiên tòa, và bản thân mình cũng là người tù chưa trình diện nơi quản chế. Lòng dạ rối bời, ông chưa kịp trấn tỉnh để nghe nhân chứng vừa nói điều gì, thì bỗng có tiếng la từ hàng ghế phía trước. Một cậu thanh niên đứng bật dậy, hét to:

-Tôi là Nguyễn Công Diệp đã đủ tuổi để xin làm nhân chứng. Tôi chứng kiến tận mắt, ông thượng úy Đạt định hiếp Phượng, cô em nuôi của tôi. Em tôi chỉ phải tự vệ bằng chính khẩu súng của ông Đạt.

Bất chấp tiếng búa gõ và phản đối ra lệnh ngồi xuống của chủ tọa phiên tòa, cậu thanh niên vẫn tiếp tục:

-Khi bị bắn, ông Đạt nằm trần truồng ngay dưới giường ngủ của em tôi, chứ không phải mặc nguyên áo quần công an như bố tôi vừa nói. Tôi phản đối.

Tất cả nhốn nháo. Có lệnh tạm ngưng phiên tòa, buổi chiều sẽ nghị án. Ông Trực vội vàng chạy tới Phượng, nhưng chưa kịp nói điều gì thì mấy gã công an đã đẩy Phượng đi. Ông chạy ra hành lang tìm gặp Hai Chi. Ông ta bỏ đi trước một mình khi vợ và đứa con trai đang còn lớn tiếng cãi nhau

Khi thấy có người đập mạnh trên vai, ông Hai Chi quay lại, nhưng chưa kịp nhận ra ai. Nước mắt ràn rụa, giọng nói dường như nghẽn lại, ông Trực cố gắng lắm mới thốt ra lời:

-Anh Cu Tun ơi! Em là Trực, Nguyễn Công Trực, em út của anh đây. Cháu Phượng là con gái của em!

Ông Hai Chi khựng lại, sững sờ, trố mắt nhìn. Trời đất như quay cuồng trước mặt khi ông vừa nhận ra đứa em thất lạc đã gọi đúng cái tên cúng cơm của mình mà cả vợ con ông cũng chưa hề biết. Ông kéo tay ông Trực ra xa, đến dưới một bóng cây bên kia đường vắng. Trời đang vần vũ một cơn mưa. Cả hai đều chưa biết tung tích của nhau, nhưng riêng ông Trực thì đã đoán ông anh của mình phải là một cán bộ cộng sản cao cấp, với cái vẽ bệ vệ của ông cùng sự sang trọng của bà vợ và đứa con trai. Một cảm giác rờn rợn lẫn một chút xót xa thoáng qua trong đầu ông Trực. Ông Hai Chi căn dặn Trực tạm thời đừng tiết lộ điều gì với vợ và con trai ông. Bởi vợ ông là một người cộng sản thực thụ, có thể gây bất lợi cho em mình. Ông sẽ bảo vợ, Trực là một đàn em thân tín nhưng hoạt động trong bí mật.
Đưa Trực về nhà. Cả một buổi trưa, ông Hai Chi tưởng mình như đang rơi xuống chín tầng địa ngục. Ngoài trời mưa tầm tã, nhưng trong lòng ông nóng còn hơn lửa đốt. Ông nhắm mắt ngữa mặt lên trần nhà khi nghe người em của mình cho biết:
-Bố mẹ đã chết trong Tết Mậu Thân do pháo kích của các anh. Em bị các anh bắt giam cầm hành hạ hơn 9 năm trời, tưởng đã bỏ xác trong tù, vợ em có lẽ cũng bị các anh giết tập thể ở Long Khánh, và cháu Phượng là đứa con duy nhất của em, mới mấy tuổi đầu mà phải bị ức hiếp tù đày.

Là một người Cộng sản “theo thời thế”, ông Chính vẫn còn ít nhiều cái gốc tiểu tư sản. Một chút lương tâm còn sót lại bỗng làm ông bật khóc. Thực ra thì ông cũng đã từng bao lần khóc thầm, khi suýt bỏ mạng ở các chiến trường Hạ Lào, Tây Nguyên, chứng kiến những cái chết kinh hoàng và vô nghĩa của hàng vạn thanh niên nam nữ từ miền Bắc bị cưỡng bách đi B. Vài lần thoáng hiện trong đầu ông hai chữ “hồi chánh”, nhưng phân vân vì khi ấy vợ con ông ở ngoài Bắc, chắc chắn sẽ phải khốn khổ với đám cường quyền. Ý tưởng chưa ngã ngũ thì chiến cuộc kết thúc nhanh chóng đến bất ngờ. Ông tiếp tục “nín thở qua sông”, cố đóng cho thật khéo vai trò “đảng viên trung kiên”, để hưởng cho tròn cái lợi danh của người “bên thắng cuộc”.

Buổi chiều, phiên tòa tái nhóm. Ông Hai Chi xin được phản cung, thay đổi lời khai nhân chứng. Là một đảng viên có chức quyền, lại là bạn thân của “đồng chí” Mười Vân giám đốc ông an tỉnh, ông cũng được mấy ông bà “quan tòa” vị nễ. Nhưng tất cả đều ngỡ ngàng khi nghe ông tuyên bố:

-Lời nói của cậu con trai tôi sáng nay là đúng. Chính đồng chí thượng úy Đỗ Hữu Đạt đang thực hiện ý đồ hiếp dâm cháu Nguyễn Thị Hồng Phượng, là con gái nuôi của chúng tôi, còn đang tuổi vị thành niên. Với tư cách là một đảng viên và cán bộ nhà nước, tôi cam kết những lời xác nhận này là hoàn toàn chính xác. Sáng nay, vì muốn giữ danh dự cho chiến sĩ ngành công an, tôi có ý che giấu cho anh Đạt, nhưng rồi tôi đã kịp nghĩ ra, làm như vậy trước tòa là phạm pháp, có tội với đảng, với nhân dân.

Bà Hai Chi tròn mắt ngạc nhiên, tức giận, trước thái độ thay đổi bất ngờ của ông chồng.Tay thượng úy Đạt được tòa gọi đứng lên đối chất. Hắn ta không phản biện, vì biết tội đã quá rõ ràng, nhưng lại trút tội lên đầu bà Hai Chi. Hắn ta khai ra tất cả kế hoạch bỉ ổi của bà. Nội vụ lại chuyển sang một hướng khác, hoàn toàn ngoài dự trù của Viện Kiểm Sát. Phiên tòa tạm ngưng để tiếp tục điều tra.

Không khí trong nhà ông Hai Chi trở nên ngột ngạt, nhưng ông Trực cố nán lại đây để mong được sớm gặp con gái của mình và cũng tránh bị xét hỏi giấy tờ. Ông Hai Chi đích thân làm đơn bảo lãnh Phượng được tại ngoại. Cha con gặp nhau trong ngỡ ngàng. Phượng không nhận ra cha mình. Nhưng huyết thống phụ tử rất nhiệm màu, hơn nữa khi nghe ông Trực bảo “phía dưới ngực bên trái của con có một vết sẹo dài khi con mỗ tim”, Phượng òa khóc và ôm chặt lấy cha. Trong lòng Phượng như vừa mới nở ra một đóa hoa tươi thắm nhất.

Giữa tháng 10/ 1984, khi phiên tòa chưa tái nhóm thì tại tỉnh Đồng Nai xảy ra một biến cố lớn, làm xôn xao cả nước, đặc biệt đối với dân chúng miền Nam, sau hơn chín năm vẫn chưa kịp nhận ra hết bộ mặt thật của những người cộng sản:

Mười Vân Nguyễn Hữu Giộc, đảng viên cao cấp, con hùm xám Nam Bộ một thời, đang là Giám đốc Công an tỉnh Đồng Nai bị bắt. Đích thân “đồng chí” bộ trưởng công an, âm thầm đưa cả một lực lượng công an chuyên nghiệp và tin cẩn từ Hà nội vào Sài gòn lập kế bắt Mười Vân ngay trong phòng họp. Lục soát tư dinh và nhiều nơi khác, công an tịch thu hơn hai ngàn cây vàng và cả trên 500 kg vàng cùng hột xoàn các loại.

Ngày 1.11.1984, một phiên tòa đặc biệt được khẩn cấp triệu tập tại thành phố Biên Hòa, dưới sự “chủ trì” và xét xử của Viện Kiểm Sát Nhân Dân và Tòa Án Nhân Dân Tối Cao. Phiên tòa đặt dưới sự chỉ đạo nghiệp vụ của “đồng chí” Trần Quyết, Bí Thư Trung Ương Đảng, Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao.

Mười Vân bị xử tử hình. Bản án sơ thẩm cũng là chung thẩm, được thi hành cấp kỳ sau một tuần tại trường bắn Long Bình.

Lần đầu tiên báo chí tại Sài gòn được đăng tải tin tức phiên tòa mà thủ phạm là một ông lớn, đảng viên cao cấp. Người ta cũng biết được có những chiếc tàu chở người Hoa đã bị bỏ đói, nhận chìm, ngoài bờ biển Cát Lái, Rạch Giá ,Phú Quốc và vài nơi khác ở miền Trung, làm chết rất nhiều người. Và khắp cả nước bàn tán về chuyện cướp bóc, tham nhũng, ăn chia không đều giữa những người cộng sản!

Sau đó nhiều phiên tòa đặc biệt khác được tiếp tục, xử những người đồng lõa, trong đó có cả mấy ông bà trong Tòa án nhân dân Đồng Nai. Nhờ đó, vụ án của Phượng bị bỏ quên, không còn ai nhắc tới. Nhưng ông Hai Chi và cả tay thượng úy công an Đỗ Hữu Đạt lại dính vào vụ án lớn. Bởi cả hai đều là cánh tay đắc lực của gã Mười Vân.

Biết không thể nào vượt qua số phận, ông Hai Chi tự động đến trình diện trưởng ban điều tra của “ban chuyên án”, và xin giao nộp 800 cây vàng, ông khai là Mười Vân nhờ giữ hộ. Và cũng nhờ ông khai thêm những đường giây làm ăn của Mười Vân, nên ủy ban bắt thêm một số đàn em, trong đó có thượng úy công an Đỗ Hữu Đạt, tịch thu thêm cả ba ngàn cây vàng, gồm cả 800 cây được giấu kỹ dưới hồ nước sau nhà một đàn em thân tín của Mười Vân, phải điều xe cần trục câu lên.

Tất nhiên với dạn dày kinh nghiệm, ông Hai Chi kịp thời tẩu tán một số vàng. Ông vội vàng móc nối một đường giây quen biết cũ, tung vàng ra để gởi cha con ông Trực, dắt theo Diệp, thằng con trai duy nhất của ông vượt biển khẩn cấp ra khỏi nước.

Nhờ tàu Cap Anamur cứu vớt trên biển, bố con ông Trực và Diệp được đến định cư tại Tây Đức.

****

Mùa Hè năm 1990, trong một dịp sang thăm người bạn thân cùng tù Hoàng Liên Sơn lúc trước, tôi được gặp anh Nguyễn Công Trực, một cựu sĩ quan Biệt Động Quân, là bạn láng giềng thân thiết với người bạn tù của tôi. Anh đã kể cho tôi nghe về những ngày cuối cùng của đơn vị anh trên Tỉnh Lộ 7B – từ Pleiku di tản xuống Tuy Hòa, và cả câu chuyện trùng phùng bi thảm này. Tôi cũng được nói chuyện với cháu Phượng, cô con gái hiền thục xinh xắn của anh, vừa mói tốt nghiệp dược sĩ. Chúng tôi cũng đến thăm cậu Diệp, con trai của ông bà Hai Chi, cũng là cháu ruột của anh. Diệp đang sống chung với cô vợ người Đức và đứa con trai hai tuổi.

Tôi cũng được biết ông Hai Chi, nhờ “thành khẩn khai báo”, nên được hưởng khoan hồng với hai mươi năm tù. Vợ ông, bà Hai Chi bị án sáu năm tù về tội đồng lõa và tàng trữ vũ khí, vàng bạc phi pháp. Bà chết trong tù sau hai năm thụ án, do chính tay công an Đỗ Hữu Đạt, người bị giam cùng trại, đánh lén bằng cuốc trong giờ lao động, để trả mối thù xưa. Hắn ta nghĩ rằng chính bà đã lập mưu để hại hắn, chứ Phượng không hề bị bà cho uống thuốc ngủ. Hắn ta cũng nghi ngờ ông Hai Chi đã khai hắn là tay chân đắc lực của Mười Vân, đã từng giết người bịt miệng, nên nhà cửa bị tịch thu cùng với bản án bốn mươi chín năm tù.
Và sở dĩ có phiên tòa và vụ án làm xôn xao cả nước thời ấy, hoàn toàn không phải chống tham nhũng mà chỉ vì bọn chúng không ăn chia đồng đều. Tay Mười Vân đã dành riêng cho mình một số vàng quá lớn, và từng làm mưa làm gió, qua mặt đám đàn anh, không còn xem trung ương ra thể thống gì.

Về sau tôi còn biết thêm: Sau khi ông Hai Chi giảm án ra tù, được con trai bảo lãnh sang Đức. Nhưng ông đã quẫn trí, thường ngồi thẫn thờ nhìn lên trời cao, lúc khóc lúc cười. Ông qua đời năm 2006.

Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 16 Aug 2026

Tôi có một người bạn nguyên là kỹ sư ở Saigon trước tháng 4-1975, sang đến Mỹ muộn màng, bạn tôi không đi học trở lại được cũng như không kiếm được một việc làm có đồng lương vừa ý. Từ đó bạn tôi sinh ra chán đời, nói những lời khinh bạc, nhất là khi thấy những người trước đây có địa vị thấp kém hơn mình nay lại thành công giàu có trên đất Mỹ, vừa than thân trách phận, vừa mỉa mai người khác bằng hai tiếng “đổi đời”.

Một ông Đại Tá nhất định không chịu làm trong một nhà hàng của một người lính dưới quyền ông thuộc đơn vị cũ đến Mỹ từ năm 1975, khi người này ngỏ ý muốn giúp đỡ cho ông trong những năm đầu mới sang đây theo chương trình H.O. Theo ý ông, “thà chết còn sướng bơn … ” và cũng than trách, thốt lên hai tiếng”đổi đời”.

Từ sau năm 1975 cho đến nay, người ta nghe nhiều tới hai tiếng “đổi đời”, hàm ý bao nhiêu nỗi chua xót, đắng cay, cũng không kém phần mỉa mai của người đời. Anh thợ bẻ ghi hỏa xa bây giờ là Tổng Bí Thư của cả nước:”đổi đời”. Cô hàng thịt lên làm Giám Đốc xuất nhập cảng: “đổi đời”. Chàng cần vụ trong kháng chiến ngày nào bây giờ là Giám Đốc Công An thành phố: “đổi đời”. Đó là thứ “đổi đời”, mà khi khinh ghét, người ta dùng thành ngữ “chó nhảy bàn độc” để ám chỉ đối thủ. Trái lại không thiếu những con người đổi đời đi xuống. Ông Tỉnh Trưởng ngày xưa đi làm thợ sơn hay security gác cổng: “đổi đời”. Vị Thẩm Phán vào xin một chân cắt chỉ trong shop may: “đổi đời”. Con sen nhà ta ngày nào, bây giờ là triệu phú trên đất Mỹ: “đổi đời”. Một trung sĩ trong đơn vị cũ bây giờ là luật sư:”đổi đời”. Theo quan niệm đắng cay này, những con người ngày trước, giàu có, học thức phải là những người có địa vị, ăn trên ngồi trốc vĩnh viễn, cha truyền con nối, còn những thằng “quần rách áo ôm”, xuất thân bần cùng sẽ phải chịu cảnh nghèo hèn từ đời nọ sang đời kia cho hết kiếp. Điều này người ta đổ cho tại, bởi, vì số mệnh, cho tiền kiếp, cho phúc đức, cho thành quả tu hành.

Đất nước nào có chiến tranh, thay đổi kẻ cầm quyền liên tục, có đàn áp, trả thù … thì đất nước đó có nhiều chuyện “đổi đời” hơn cả. Sau tháng 4-1975, ngoại trừ những viên chức, sĩ quan, tham nhũng, bóc lột thì đi tù mà gia đình vẫn giàu sang, của ăn của để, còn ra khi thất thế thì trung tá cũng đạp xích lô, luật sư cũng phải bán chợ trời, cô giáo cũng phải bán xôi trước giờ vào lớp. Đó là cái giá phải trả khi chế độ cầm quyền đã thay đổi và người của chế độ mới không cần trọng dụng chữ nghĩa và đầy lòng căm thù muốn đày đọa trả thù những người thua trận. Tuy vậy, ngày nay những chuyện “đổi đời” đã xẩy ra cho cả hai phía, người thắng và kẻ bại trận. Nếu cái anh chàng bỏ gia đình vào bưng, chịu mươi năm tù, ăn hầm ở hố, sau ngày cướp chính quyền có được bổng lộc, địa vị, hay anh hạ sĩ quan nhà nghèo ngày trước, sang đây có công ăn học trở thành kỹ sư, thì cũng không có gì là vô lý. Một người đàn bà trong thời chiến, lỡ lầm hay hoàn cảnh xô đẩy, sinh ra một đứa bé lai đã phải chịu bao nhiêu búa rìu dư luận, sống trên sự khinh khi, dè bĩu của thiên hạ và trong nỗi cay đắng, chịu đựng của gia đình. Khi Cộng Sản vào Saigon, thân phận đứa con lai càng bị khinh bạc, rẻ rúng. Nhưng đến một thời điểm “đổi đời” nào đó, người thiếu phụ đó có cơ hội mang con lên máy bay, xuất ngoại, thì chính việc này cũng ngoài tầm mơ ước của bao nhiêu cán bộ Cộng Sản và những người trước kia đã từng lên án, rẻ rúng về gia đình đứa con lai.

Một người cựu sĩ quan miền Nam vừa ra khỏi nhà tù Cộng Sản phải mưu sinh bằng nghề đạp xích lô hay chạy xe ôm trong nhiều năm, bỗng một ngày nào đó “đời đổi” mang được gia đình đi định cư tại Mỹ, làm lại cuộc đời, con cái ăn học thành đạt. Những sự “đổi đời” như thế xứng đáng biết bao nhiêu! Có người cho rằng ở Mỹ không có chuyện “đổi đời” vì quốc gia này ổn định, không có chiến tranh, giá trị các nấc thang xã hội vững chắc. Tuy nhiên chúng ta vẫn thấy nhiều người buôn bán lỗ lã, khai khánh tận, đôi khi phải vào tù. Nhiều người homeless đứng ở ngã tư đèn xanh đèn đỏ ngữa tay xin tiền, trước đây có khi cũng đã có một thời oanh liệt.

Một người nghèo túng phút chốc trúng số bỗng “đổi đời” trở thành nhà triệu phú, nhưng nhà “triệu phú” này cũng có thể phút chốc “đổi đời” trở thành một kẻ không nhà vì cờ bạc, ma túy. Qua cơn bão Katrina vừa rồi, nhiều người có cơ sở buôn bán giàu có, bỗng trở thành trắng tay, có khi phải nhờ tới trợ cấp xã hội của chính phủ nữa là khác. Vậy thì có gì đâu phải ngạc nhiên. Người ta vẫn thường nói “sông có khúc, người có lúc”, đời ai suông sẻ, tươi đẹp mãi cho những kẻ khốn cùng phải triền miên trong bất hạnh. Vậy thì thấy một người lính cũ trong đơn vị hôm nay thành đạt là điều nên mừng, vì sao lại mỉa mai.

Cũng như đời ta không lẽ mãi mãi đi lên mà không có một thời kỳ thất bại? Hiểu được chuyện đời như thế có mấy người làm được. Trong quãng đời sống dài năm bảy mươi năm, chúng ta có bao nhiêu điều bất ngờ không thể nào đoán trước được. Ngày 30 tháng 4-1975 đối với nhiều người vẫn là một chuyện bất ngờ đến tê dại. Thời gian nằm trong nhà tù Cộng Sản, mấy ai nghĩ được cỏ ngày lên máy bay đến Mỹ.

Chuyện “đổi đời” là những chuyện “sông kia rày lấp nên đồng”, là chuyện “thương hải biến vi tang điền”, để thấy cuộc đời này là vô thường, chẳng có gì vĩnh viễn.

Hắc Báo-Móng vuốt thép của Sư Đoàn 1 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Phạm Sơn Liêm

Posted on August 14, 2026 by dongsongcu

Đăng từ trang: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Post by Sơn râu 15 Aug 2026

Có những đơn vị được nhớ vì quân số đông.

Có những đơn vị được nhớ vì chiến thắng.

Riêng Hắc Báo được nhớ vì chỉ cần nghe tên, đối phương đã biết phía trước là những người lính không ngại hiểm nguy.

Họ không phải một trung đoàn, cũng không phải một tiểu đoàn. Chỉ là một đại đội hơn hai trăm quân, nhưng được tuyển chọn kỹ lưỡng từ bé những người lính tình nguyện giỏi nhất của Sư đoàn 1 Bộ binh. Họ hành quân nhẹ, đánh nhanh, rút gọn, xâm nhập sâu vào vùng kiểm soát của đối phương để trinh sát, phục kích, bắt tù binh hoặc mở đường cho các đơn vị bạn.

Khu vực hoạt động của Hắc Báo trải dài khắp Quảng Trị, Thừa Thiên, Huế, A Shau, A Lưới, Khe Sanh, Cam Lộ, Lao Bảo… những chiến trường khốc liệt nhất của Vùng I Chiến thuật.

Người lính Hắc Báo không mang theo nhiều hành trang.

Ba lô gọn. Súng luôn sẵn sàng. Mỗi toán hoạt động độc lập nhiều ngày trong rừng núi. Đi trong im lặng.

Đánh trong bất ngờ. Rút đi trước khi đối phương kịp hoàn hồn.

Điều đáng nể nhất của Hắc Báo không phải là hỏa lực.

Mà là tinh thần.

Tinh thần của những người biết rằng mình luôn là lực lượng đi trước, đối mặt nguy hiểm trước tiên và nhiều khi cũng là những người rút lui sau cùng.

Trong các cuộc hành quân lớn tại hỏa tuyến miền Trung, Hắc Báo nhiều lần đảm nhận nhiệm vụ mở đường, phát hiện lực lượng đối phương, cứu nguy cho các đơn vị bạn và cung cấp những tin tức tình báo có giá trị ngay giữa chiến trường. Chính vì vậy, danh tiếng của họ lan khắp Quân đoàn I.

Năm tháng đã trôi qua.

Chiến tranh đã lùi vào lịch sử.

Nhiều chiến hữu Hắc Báo đã nằm lại trên các sườn núi Trường Sơn. Nhiều người khác bước vào những năm dài trong các trại cải tạo.

Có người lưu lạc khắp năm châu. Nhưng mỗi khi hai tiếng Hắc Báo được nhắc đến, những người lính năm xưa vẫn nhớ về một thời tuổi trẻ sống giữa khói lửa, mang trên vai danh dự của Sư đoàn 1 Bộ binh, đơn vị được xem là một trong những sư đoàn thiện chiến nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Hắc Báo không chỉ là tên một đơn vị. Đó là biểu tượng của lòng can đảm.

Là dấu chân của những người lính âm thầm đi trước.

Là một phần không thể tách rời trong lịch sử chiến đấu của Sư đoàn 1 Bộ binh và của Vùng I Chiến thuật.

Phạm Sơn Liêm.

Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 15 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Hai mươi lăm khóa sinh của khóa 38 Hạ sĩ quan, trong đó có tôi, tốt nghiệp vào cuối năm 1937. Tôi được chọn làm khóa sinh ưu tú nhứt trong năm để nhận một chiếc đồng hồ bằng bạc, tặng phẩm của Thiên Hoàng.

Nhóm hai mươi lăm người chúng tôi là số còn lại trong 70 khóa sinh nguyên thủy tuyển chọn trong số 1,500 dự tranh trên toàn quốc. Chúng tôi đã trải qua một thời gian huấn luyện gắt gao và đôi khi quá đáng. Tuy nhiên, trước khi nhận nhiệm vụ ở Trung Hoa, nơi chiến tranh phát động vào tháng 7 năm 1937, chúng tôi được huấn luyện bổ túc. Mặc dù chúng tôi trải qua nhiều cuộc huấn luyện như vậy, nhiều người thuộc nhóm chúng tôi đã bị phi công địch bắn hạ, không kịp gặt hái một chiến thắng nào. Ngay cả tôi, với khả năng bay có hạng, tôi vẫn thấy cái chết trước mắt trong trận không chiến đầu tiên, nếu đối thủ của tôi tấn công mạnh thêm chút nữa. Quả thật, tôi đã quá vụng về trong trận không chiến đầu tiên này, không hỗ trợ nổi các phi công đồng đội. Tôi sống sót là do sự thiếu khéo léo của đối thủ.

Ðối với tôi, không chiến luôn luôn là một việc làm hóc búa, một nhiệm vụ quá gay go, với sự căng thẳng gần như không chịu đựng nổi. Ngay cả sau khi tôi đã vượt qua cuộc chiến đấu đầu tiên, và ngay cả sau khi nhiều phi cơ địch trở thành nạn nhân của tôi, mỗi lần chấm dứt một cuộc không chiến dữ dội trên không là mình mẩy tôi ướt đẫm mồ hôi. Luôn luôn có “cơ hội” để vấp phải một sai lầm nhỏ nhặt, điều này có nghĩa là sẽ biến thành bó đuốc. Xuyên qua tất cả hình thức diễn tập: đảo vòng tròn, đảo thật ngắn, lộn nửa vòng, lộn nhiều vòng, xoáy hình trôn ốc, bổ chúi xuống, bay vượt lên, rơi như chiếc lá, và nhiều hình thức khác nữa, chỉ sơ hở một đường tơ kẽ tóc là đi đời ngay. Hai mươi lăm bạn đồng khóa của tôi, cuối cùng chỉ một mình tôi sống sót. Cuộc chiến trên không kéo dài và đầy gian nan, do đó những ưu thế vào những ngày đầu của chúng tôi chìm dần vào cơn ác mộng. Trong cơn ác mộng đó, chúng tôi đã vật lộn một cách vô vọng với một dòng thủy triều đối nghịch càng lúc càng cuồng bạo.

Suốt thập niên 1930, hải quân Nhật huấn luyện trung bình 100 phi công mỗi năm. Nhưng chương trình huấn luyện khắc nghiệt đã loại bỏ gần hết, để cuối cùng trong vòng 10 năm chỉ khoảng hơn 100 phi công tốt nghiệp. Nếu hải quân được dành thêm ngân khoản huấn luyện và nếu hải quân giảm bớt thái độ cố chấp trong việc chọn lựa khóa sinh, tôi tin rằng con đường chúng tôi đi trong kỳ Ðệ Nhị Thế Chiến sẽ bớt chông gai. Chắc chắn kết quả của cuộc chiến không thể cải biến, nhưng những cú đấm chết người mà các đơn vị không quân của chúng tôi nhận lãnh trong hai năm cuối cùng của cuộc chiến sẽ nhẹ bớt đi phần nào. Chỉ sau khi cuộc chiến Thái Bình Dương bắt đầu, và những phi công đầy đủ kinh nghiệm hao mòn đến mức độ nguy ngập cần phải được thay thế ồ ạt, hải quân mới từ bỏ chính sách huấn luyện vô lý của mình. Nhưng lúc đó đã quá muộn rồi. Tài năng của các phi công tốt nghiệp trong những năm chiến tranh rất đáng nghi ngờ. Tôi biết chắc rằng 45 bạn đồng khóa với tôi đã bị loại khỏi Tsuchiura trước đây, còn tài cán gấp mấy lần những phi công đã hoàn tất huấn luyện trong thời chiến.

Sau khi tốt nghiệp, tôi được chỉ định đến nhiều không đoàn để thực tập. Thoạt đầu tôi được gởi đến căn cứ Không Quân của Hải Quân ở Oita và Omura ở miền Bắc đảo Kyushu. Cả hai căn cứ này là nơi đáp tạm của những phi vụ từ các phi trường ở đất liền, cũng như từ các hàng không mẫu hạm. Chứng kiến tài năng lão luyện của các phi công trên hàng không mẫu hạm đã khiến tôi hơi xao xuyến, nhứt là những cú bổ nhào của họ, khéo léo không thể tưởng tượng. Tôi ngờ vực khả năng của mình, ngay cả nhiều năm sau.

Ðáp xuống hàng không mẫu hạm đối với tôi khó khăn vô cùng. Suốt một tháng ròng rã tập luyện, tôi mới hết gặp rắc rối, nhưng sau công cuộc tập luyện này, tôi chưa từng cất cánh hoặc hạ cánh xuống một hàng không mẫu hạm nào trong lúc chiến đấu bao giờ. Tất cả những phi vụ chiến đấu của tôi đều thực hiện ở các phi trường trên đất liền. Tiếp theo sau 3 tháng thực tập liên tục trên đất liền và hàng không mẫu hạm, tôi được lệnh thuyên chuyển đến căn cứ không quân Cao Hùng (Kaohsiung) trên đảo Ðài Loan, bấy giờ thuộc lãnh thổ Nhật Bản. Nhịp độ của đời sống hải quân đã đổi khác. Cuộc chiến ở Trung Hoa đến hồi ác liệt, các phòng tuyến lan rộng. Thêm phi công chiến đấu cho cuộc chiến đó, ngay cả những phi công tay mơ như chúng tôi bỗng nhiên trở thành nhu cầu thúc bách.

Từ Ðài Loan, tôi được thuyên chuyển lên Cửu Giang (Kiukiang) ở miền Ðông Nam Trung Hoa, cách Vũ Hán 200 cây số và vào tháng 5 năm 1938, tôi nếm mùi chiến đấu lần đầu tiên. Vị chỉ huy trưởng Liên Phi đoàn ở Cửu Giang rất ghét sử dụng bọn phi công mới ra trường vào các phi vụ chánh yếu, ông ta cảm thấy sự thiếu kinh nghiệm của họ sẽ làm mất mặt bọn phi công kỳ cựu đang bay ở Trung Hoa. Do đó, tôi chỉ được cắt đặt thực hiện các phi vụ thấp kém: yểm trợ các cuộc hành quân của Lục Quân. Các phi vụ không có gì nguy hiểm, bộ binh đã đè bẹp tất cả những cuộc chống đối của địch quân trên mặt đất, còn chống đối trên không hầu như hoàn toàn không có. Nhiều tuần lễ trôi qua, chỉ lãnh các nhiệm vụ yểm trợ, tôi cảm thấy bực bội. Hăng hái, nhiệt tâm và kiêu hãnh trong tư cách một trung sĩ phi công hải quân, tôi quyết định thử tài với địch quân một phen. Vào ngày 21 tháng 5, tôi hớn hở khi dò thấy tên mình nằm trong danh sách 15 phi công chiến đấu được chọn thực hiện một phi vụ tuần tiễu chánh thức ở Hán Khẩu (Hankou) vào ngày hôm sau. Chuyến đi này đầy “hứa hẹn”, vì Hán Khẩu là căn cứ không quân chánh của Trung Hoa Dân Quốc lúc đó.

Vào năm 1938, loại chiến đấu cơ Zéro chưa được mang ra sử dụng trên các mặt trận. Chúng tôi bay loại chiến đấu cơ Mitsubishi A5M 96, Ðồng Minh đặt tên là Claude, tốc độ chậm, tầm hoạt động giới hạn, bộ phận hạ cánh cố định và buồng lái lộ thiên.

Sáng ngày 22 tháng 5-1938, 15 chiến đấu cơ của chúng tôi rời khỏi Cửu Giang, từng nhóm 5 chiếc trong đội hình chữ V, nhìn rất ngoạn mục. Chín mươi phút bay từ phía Ðông Bắc của căn cứ chúng tôi đến Hán Khẩu giống như một phi vụ huấn luyện nhàn nhã. Không có chiếc phi cơ nào của địch xuất hiện tấn công chúng tôi, cũng không có một khẩu phòng không nào thăm hỏi chúng tôi. Dường như khó thể tin rằng có một cuộc chiến đang diễn ra ác liệt ở bên dưới. Từ 10,000 bộ trên cao, phi trường Hán Khẩu đánh lừa chúng tôi một cách tuyệt hảo. Tiệp một màu cỏ thẫm xanh lục chiếu lấp loáng dưới ánh mặt trời buổi sớm. Căn cứ không quân quan trọng của địch quân như một sân gôn vĩ đại được chăm sóc cẩn thận. Nhưng các chiến đấu cơ địch không phải để sử dụng một cách giản dị vào môn thể thao này. Tôi nhìn thấy 3 chấm nhỏ lướt như bay trên cỏ. Ðó là 3 chiến đấu cơ địch.

Thế rồi chúng vượt lên cùng một độ cao với chúng tôi trong chớp mắt, to lớn, đen đúa và mạnh mẽ. Không một dấu hiệu cảnh báo nào, và trước sự kinh ngạc của tôi, một trong 3 chiến đấu cơ địch tách ra khỏi đội hình và đâm thẳng vô phi cơ của tôi với một tốc độ khủng khiếp. Những gì tôi sắp xếp để đối phó với cuộc không chiến đầu tiên của mình đều biến mất. Tôi cảm thấy các thớ thịt của tôi xoắn lại, và mặc dù tình trạng lúc đó không lấy gì làm vui vẻ, tôi lại thấy toàn thân run lên với nỗi kích thích lẫn xúc động, khi thấy phi cơ địch đã “chọn” tôi làm mục tiêu.

Sau này tôi vẫn nghĩ là mình đã hành động đần độn trong những giây phút quyết định này. Tuy nhiên tôi nhấn mạnh rằng các phản ứng trí não của chúng tôi ở độ cao 10,000 bộ, tức là 3,000 thước, sau 90 phút bay không có mặt nạ dưỡng khí, không còn chính xác bằng lúc chúng tôi ở mặt đất. Không khí loãng, dưỡng khí ít đã ảnh hưởng nhiều đến trí não. Hơn nữa, buồng lái lộ thiên, tiếng động nghe đinh tai nhức óc, cũng như những luồng gió lạnh cóng thổi tạt vô kiếng che gió, và không lúc nào bỏ lơi các cần kiểm soát được. Tôi xoay đầu nhìn mọi hướng một cách lo âu để xem còn bị đối thủ nào tấn công nữa hay không, cùng lúc tay chân tôi hoạt động liên tục trên cần điều khiển, bàn đạp bẻ lái, bàn đạp ga tốc độ, và các dụng cụ khác. Tóm lại, tôi hoàn toàn rối loạn.

Những thói quen trong thời gian huấn luyện lần lượt được áp dụng. Lời dặn của tất cả các bậc đàn anh: “Luôn luôn đeo dính đuôi phi cơ cầm đầu trong đội hình chữ V của anh”. Tôi mò mẫm một tay cột những sợi dây đai của chiếc mặt nạ dưỡng khí (cung cấp dưỡng khí trong vòng hai giờ và chúng tôi chỉ sử dụng mặt nạ khi lâm trận hoặc bay ở độ cao trên 10,000 bộ), nâng tốc độ lên tối đa. Tất cả các thùng chứa xăng phụ của các phi cơ Nhật khác đều đã được thả ra. Tôi quên khuấy điều này. Tay tôi run run đưa ra ấn nút. Bình chứa xăng của tôi rơi xuống. Tôi hoàn toàn bối rối. Tất cả những điều tôi làm đều vụng về, hầu như quên mất hết các quy luật không chiến căn bản. Tôi không nhìn thấy các diễn biến ở 2 bên hoặc phía sau tôi. Phi cơ địch cũng biến mất trước mắt tôi. Tôi chỉ thấy cái đuôi của chiếc phi cơ đầu nhóm mình. Tôi cứ đảo phi cơ tôi theo, và cuối cùng tôi bay bên cạnh phi cơ dẫn đầu. Tôi lấy lại bình tĩnh, tay chân không sờ soạng trong buồng lái một cách vụng về nữa. Hít một hơi thở thật dài, tôi liếc nhìn thật mau về bên trái. Hai chiến đấu cơ địch bóng loáng đang bay thẳng vô phi cơ của tôi. Ðó là 2 chiếc Polikarpov I-16  do Nga Sô chế tạo, với bộ phận hạ cánh có thể rút vào thân phi cơ. Loại I-16 nhanh nhẹn hơn và bay mau hơn loại chiến đấu cơ Claude của chúng tôi nhiều. Tôi lại ngần ngừ, tay lơ lửng trong không khí, không biết làm gì bây giờ. Thay vì đảo cánh sang một phía hoặc vượt thẳng lên cao, tôi vẫn tiếp tục bay như trước. Nhưng bất ngờ, khi cái chết của tôi đã ở trước mắt, hai chiến đấu cơ địch vượt lên và bay mất. Cả đời tôi chưa hề biết đến sự may mắn nào huyền diệu hơn sự may mắn này. Nhưng không có gì gọi là khó hiểu. Ðoán trước tôi sẽ là “gà chết” trong trận không chiến đầu tiên này, người cầm đầu phi vụ chỉ định một trong những phi công kỳ cựu bay theo phía sau để bảo vệ phi cơ tôi. Khi thấy tôi lâm nguy, viên phi công này lách ra như chớp và chĩa mũi thẳng vào hai chiến đấu cơ địch, phá vỡ ngay ý định tấn công của chúng.

Tôi vẫn bay như đui mù, không biết ngay cả việc tôi đã xê dịch vị trí và đặt phi cơ của tôi cách 500m phía sau một trong những phi cơ địch. Tôi đang “mơ mộng”… Cuối cùng tôi bừng tỉnh và phóng về phía trước. Chiếc phi cơ địch, trước mắt tôi, đã nằm trong tử điểm. Tôi ấn cò súng. Không một tiếng nổ nào nghe thấy. Tôi ấn cò súng liên hồi, miệng không ngớt nguyền rủa hai khẩu đại liên. Cuối cùng tôi mới nhận ra tôi quên mở khóa an toàn của mấy khẩu súng trước khi chạm địch. Viên hạ sĩ quan Nhật bay bên trái thấy tôi sờ soạng một cách vụng về trong buồng lái, hắn không còn kiên nhẫn được nữa đã lướt về phía trước, và khai hỏa vào chiếc chiến đấu cơ địch đang tháo chạy. Ðạn không trúng, chiếc I-16 đảo về phía phải chỉ cách tầm súng của tôi 200m. Lần này tôi đã sẵn sàng, tôi ấn tay vào cò súng. Những viên đạn bay ra thành hình vòng cung, nhưng hoang phí. Tôi lại để mất một cơ hội bằng vàng khác.

Nếu tôi tiến gần hơn, tôi sẽ hạ đối thủ dễ dàng. Tôi gia tăng hết tốc lực. Viên phi công địch lộn nhào nhiều vòng và rớt xoáy xuống theo hình trôn ốc, tránh thoát hết tất cả những viên đạn tôi vừa bắn ra. Sau đó, phi cơ địch cố xoay lại để nghinh chiến. Ðó là một lối bay nghèo nàn đáng kinh ngạc. Hiển nhiên hắn không có dịp may. Một trong những chiếc Claude đang quần trên cao bổ chúi xuống. Viên phi công địch cố chạy thoát một lần nữa thay vì cố tiêu diệt tôi. Tuy nhiên, hắn không làm được việc này. Bây giờ hắn chỉ cách trước mặt tôi có 150m, và tôi rót ngay một tràng đạn vô đầu máy chiếc phi cơ. Một luồng khói túa ra ở mũi và chiếc phi cơ chúi thẳng xuống mặt đất. Cho đến khi nó biến thành mảnh vụn trong chiếc nấm khói phía dưới, tôi mới biết các khẩu đại liên của tôi không còn một viên đạn nào. Mọi phi công chiến đấu đều phải cố duy trì một số đạn cho lượt về, nhằm chống đỡ các chiến đấu cơ tuần thám của đối phương. Tôi đã bắn xả láng!

Tôi nhìn quanh một cách đầy lo âu, và tim tôi đập thình thịch trước khi chùng xuống. Không còn một chiếc phi cơ nào khác quanh tôi. Tôi đã lạc bầy. Chiến thắng của tôi đáng buồn cười, nó đã được các đồng đội dâng lên đến tận miệng tôi trên một chiếc dĩa bằng bạc. Những hành động quờ quạng vừa qua làm tôi xấu hổ, và mắt tôi dần dần bao phủ trong màn lệ. Chắc chắn tôi đã khóc cho đến khi, đảo mắt một lần nữa, tôi nhìn thấy 14 chiếc Claude đang bay vòng tròn chầm chậm trong đội hình, kiên nhẫn chờ đợi tôi lấy lại “tinh thần” và kết hợp với họ.

Trở lại sân bay Cửu Giang, tôi kiệt sức khi leo ra khỏi buồng lái. Viên chỉ huy phi vụ hùng hổ chạy lại phi cơ tôi, mặt mày đỏ gấc vì phẫn nộ: “Sakai! Mọi việc…” ông ta giận dữ: “Anh là một thằng ngu, Sakai! Anh sống được cũng lạ! Cả đời tôi chưa bao giờ thấy một lối bay vụng về và buồn cười như vậy! Anh…” Ông ta không thể nói tiếp được nữa vì tức giận đến nghẹn. Tôi cúi gằm mặt, buồn rầu và hối hận. Tôi muốn ông ta đấm đá tôi cho hả cơn tức. Nhưng viên đại úy phi đội trưởng không làm vậy mà ban cho tôi sự sỉ nhục tệ hại nhứt: không thêm một lời, ông quay phắt  lưng và bỏ đi.

Chị Hai Chim

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Posted 5 May 2022

Post by Sơn râu 15 Aug 2026

Tranh Bảo Huân

Nhóm bạn nhậu của tui ở Footscray nầy có 3 người. Tui là một, anh Tư Hiền Triết là hai. Và anh Ba Cãi là ba. Anh Tư Hiền Triết và anh Ba Cãi viết văn. Ðời mà, hai cô ca sĩ có ưa nhau bao giờ(!?). Hai nhà văn nầy bằng mặt mà ít khi bằng lòng. Hai người chê bai nhau về tài viết văn. Tui thì dốt. Không biết viết, chỉ biết đọc, biết nghe. Nên hai thằng chả hay rủ tui nhậu để lúc xỏ xiên qua lại với nhau, tui làm trọng tài. Ðược cái là tui không phải là trọng tài “xây cá nại”. Tui rất công tâm. Ai trúng tui nói trúng; ai trật tui nói trật. Hổng chịu, giận, không ai kêu tui đó, thì tui ở nhà nhậu với con vợ của tui. Thấy tui cang cường như vậy nên hai cha đều khoái. Huỡn huỡn một chút là hú tui, nhậu hè. Ðôi khi tui cũng nhậu chực; chớ không phải không. Nhưng nói chung là tui chơi cũng đứng đắn, đàng hoàng lắm nhe! Bữa nào, vợ cho vài chục đô dằn túi là tui chi bạo hè. Anh Tư Hiền Triết xách beer, tui mua rượu đỏ đem đến garage nhà anh Ba Cãi nhậu.

***

Cái lạ là 47 năm rồi, 30 tháng Tư nào CS cũng bắn pháo bông ăn mừng vì đã giết chết khoảng 4 triệu người, kể cả hàng trăm ngàn người Việt bỏ mình khi vượt biên, vượt biển. Xương chất thành núi, máu chảy thành sông. Còn tụi tui, những người quốc gia, gọi đây là ngày Quốc hận, ngày làm đám giỗ hội cho những người đã chết. Những oan hồn đó vì Lê Duẩn quyết tâm đánh chiếm Miền Nam; đánh cho cho Liên Xô và Trung Quốc.

30 tháng Tư năm nay ở Úc nhằm ngày thứ Bảy cuối tuần, weekend, anh Ba Cãi kêu tui lại nhà chơi vì anh làm đám giỗ hội, mình ên buồn quá.

Nhân tiện anh Ba Cãi kêu tui mời anh Tư Hiền Triết với. Tui thấy hơi lạ nên hỏi lại: “Nhà anh làm đám giỗ thì anh mời, sao lại kêu tui?”. Anh Ba Cãi nói, tui có kêu nhưng thằng chả block số của tui rồi. Sao lại giận? Chẳng qua tui phê bình thằng chả viết văn mà xài tiếng tục tĩu của CS như chữ “tự sướng”. Rồi hồi xưa ông bà mình dùng từ “tham quan ô lại” để chỉ bọn ăn cắp, ăn cướp của dân. Giờ thằng cha Tư Hiền Triết lại viết “đi tham quan” là một động từ, là đi viếng một danh lam thắng cảnh nào đó. Lại tính chôm chỉa gì đó cha nội?

Theo tự điển Hán Việt, “tham quan” cũng có nghĩa là: Thăm, xem, du lãm. Như tham quan bác vật quán, xem viện bảo tàng. Nhưng bà con mình hồi xưa ít ai xài cái nghĩa nầy lắm. Tui không thấy ai xài chữ “đi tham quan” như cha Tư nầy bao giờ? Ði đã là một động từ. Tham quan cũng là một động từ. Trong tham quan đã có nghĩa là đi. Hổng đi mà chỉ nằm thì tham quan cái giống gì hè?

CS thường hay hô hào, la lối tưng bừng là hãy giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt! Tiếng Nôm mình có sẵn, nào là đi chơi, đi thăm, đi coi, sao hổng chịu xài vậy? Xài chữ Hán Việt bừa bãi, bậy bạ như thế mà hổng sợ ông bà mình hiện hồn về vả miệng cho rụng răng hết ráo, không còn một cái mà ăn cháo!

Rồi cha Tư Hiền Triết Nam Kỳ rặt mà nấu cho mau chín thì lại viết thành nhanh chín! Rồi cái chuyện nầy mới đáng rầy thằng chả nè. Chuyện hay nhe, kể nghe chơi.

Hai tuần trước cha Tư Hiền Triết có đăng một tiểu phẩm tựa là “Air China” (Hãng Hàng không Trung Quốc) trên Tuần báo Sóng Vang (tức Sáng Dông).

Bài viết như vầy nè: “Ðồng chí Tí và đồng chí Tèo thuộc Bộ Chánh trị đảng CS VN đáp máy bay của Air China đến Bắc Kinh công cán. Mọi thứ đang diễn ra suôn sẻ, nhưng sau đó một động cơ bị hỏng.

Chuông báo động vang lên trong buồng lái. Viên cơ trưởng thông báo: “Hành khách thân mến! Ðây là lời cơ trưởng của bạn. Rất tiếc chúng ta đã bị mất một động cơ, nhưng đừng lo lắng, tôi sẽ đảm bảo an toàn cho các bạn”.

Máy bay hạ cánh trên mặt nước, cơ trưởng bình tĩnh nói: “Một lần nữa xin kính chào quý hành khách. Chúng tôi đã hạ cánh thành công xuống mặt nước, tôi hy vọng tất cả các bạn đều ổn. Bây giờ, tất cả những người có thể bơi được, xin vui lòng đi về phía bên phải của máy bay. Những người không thể bơi được, xin vui lòng đi về phía bên trái”.

Ðồng chí Tí quay sang nói với đồng chí Tèo: “Ðó là điều làm tớ yêu thích hãng hàng không Air China này, là họ luôn có những phương án dự phòng cho mọi tình huống”.

Ðồng chí Tèo trả lời: “Vâng, tớ hoàn toàn đồng ý, phi hành đoàn có vẻ được đào tạo tốt cho những tình huống này. Họ lo lắng cho chúng ta vốn là những đồng chí môi hở răng lạnh không biết bơi”.

Sau khi mọi người đã được sắp xếp theo khả năng bơi, cơ trưởng nói: “Tất cả những ai có thể bơi ở phía bên phải của máy bay, hãy sơ tán ra khỏi máy bay ngay lập tức! Và xin gửi đến những người ở phía bên trái của máy bay lời chào “Vĩnh biệt”. “Cảm ơn các bạn đã bay với Air China!”.

Toàn là những chữ của CSBV như cơ trưởng, đều ổn, đảm bảo, phương án dự phòng… v.v và v.v. Ðọc mà muốn ứa gan, sôi máu hè!

Cha Tư Hiền Triết dùng chữ đã sai mà viết chánh tả cũng sai bét. Bĩu môi thì viết là biểu môiChúm chím lại viết thành chúm chiếm. Kêu thằng chả sửa lại cho trúng mà y ngoan cố đâu có chịu. Y khoe bài tui đăng có trả tiền nhuận bút nên tòa báo có tiền là nó có quyền sửa trật. Phương Tây là vậy đó. Hỏi anh có ứa gan không?

Tui nói anh phê bình cách dùng chữ của thằng cha Tư Hiền Triết như vậy là đúng, giận cái giống gì hè. Ðầu hai thứ tóc rồi đâu phải mới đẻ hôm qua. Ờ, để tui nói với thằng chả.

***

Thưa bà con, tại sao tui khoái nhậu ở nhà anh Ba Cãi? Vì nhiều lẽ. Một là nhậu ở nhà nó rẻ, ít tốn tiền. Ra nhà hàng, mình nhậu tốn phân nửa, còn phân nửa là lọt vô túi áo con vợ bé của cha chủ nhà hàng. Thiệt trùm sò, kẹo kéo thấy ớn hè. Hai là rượu vô, lời ra. Lỡ nói lớn tiếng một chút cũng không làm phiền hàng xóm đang cần sự yên lặng để nghỉ ngơi. Ý quên, cũng nhậu như mình. Ba là vợ anh Ba Cãi, nhũ danh Hai Chim, dân Rạch Giá rất giỏi nấu ăn, ngon bá chấy bù chét. Nhứt là món bún cá. Vì vậy mới có câu hát là: “Lần đầu ăn tô bún cá, chạy dìa Rạch Giá, bỏ má theo em”.

Mấy bà già Rạch Giá dạy con gái của mình là muốn đi tới cái túi tiền của đàn ông là phải đi qua cái bao tử của nó!

Thế nên, trước khi về nâng khăn móc túi anh Ba Cãi thì bà nhạc của ảnh đã dạy cho chị Hai Chim cách nấu bún cá Kiên Giang. Món gia truyền từ đời bà sở, bà sơ, tới đời bà ngoại rồi đời má như thế nầy nè: “Cá lóc trọng trọng làm sạch. Bỏ vô nồi luộc chín làm nước lèo để chan bún. Vớt cá ra và tách xương ra, lấy phần thịt. Tôm tươi có thêm gạch tôm thì hết sẩy, đem rim với một ít nước mắm đến khi cạn nước. Ăn với rau muống chẻ, rau răm, giá hoặc kẹt quá, rau đắng cũng được. Thịt cá lóc chấm nước mắm y có thêm vài lát ớt sừng trâu. Chảy nước miếng hè!

***

Sau 30 tháng Tư mất hết! Tới 8 tháng 5 Mother’s Day.

Má mình thì chết rồi, chỉ còn tiếng mẹ đẻ, mother’s tongue! Mà mình thản nhiên để tụi nó cướp luôn thì mình chết mẹ nó cho rồi.

Hồi mới quen anh Ba Cãi, tui cũng mê món bún cá Rạch Giá. Cứ tấm tắc khen ngon. Chị Ba Cãi cũng như con vợ tui, nghe khen là khoái. Móc hết ruột gan ra đãi khách cũng không từ. Chị Hai Chim rất sẵn lòng nấu bún cá cho tui nhậu nhưng chỉ yêu cầu tui là đừng có kêu bằng chị Ba Cãi nữa (chỉ không có thích bạn bè mà cãi lộn). Hãy kêu bằng nhũ danh: Hai Chim. Tôi hỏi Chim có ê không? Chị Hai Chim cười khè khè đáp lại: “Ðã gần chết nên không có ê”.