lytong.wordpress.com
Lý Tống
Post by Sơn râu 20 Apr 2025

Phần 5
Một Chỗ Trú Đêm
Trời chuyển giông và mưa gió bắt đầu nổi dậy. Hướng gió mùa thường làm khó khăn giới hàng hải và giới hàng không, không ngờ, tôi giới hàng bộ, giờ nầy cũng đau khổ vì gió. Gót chân đã phồng rộp, bắp thịt và xương cốt rã rời, nhưng sự kiên trì nhẫn nại vẫn còn giữ nguyên vẹn hình thái. Tôi hồi tưởng những dốc núi cao, trơn trợt và dựng đứng, mỗi ngày phải leo lên, có lúc phải bò lên, đứt thở, trong những công tác khiêng gỗ trại tù. Những ngày gánh tranh nặng nhọc, đi ngược gió giữa nắng trưa, trên con đường dài vô tận! Bỗng dưng, tôi thấy thoải mái nhẹ nhàng. Đúng ra tôi phải được trả công trong chuyến xe nầy bởi vì tài xế bỗng hoán chuyển thành hành khách, ngồi ung dung, dùng thớt lưng tôi để che mưa gió. Một xe đạp dừng lại ghé vào nhà để báo tin về muộn, chúng tôi đứng thu mình sau gốc cây, lạnh run.
Một số ngôi nhà chung quanh bị Bộ đội Việt Cộng chiếm cứ và sử dụng, bất cứ phum nào, làng nào, tùy theo dân số, tùy theo tình hình an ninh, đều có một số Bộ đội Việt Cộng tương xứng trấn đóng. Thật dễ nhận ra vì họ luôn luôn chiếm ngụ những gian nhà lớn nhất, kiên cố nhất trong vùng vì những loại nhà đó là tài sản của những tay tư sản, địa chủ cũ, tầng lớp giai cấp được trọng vọng trong Xã hội Tư bản và là tội nhân trong Xã hội Chủ nghĩa. Người lái xe, một Việt kiều, trở ra với một đề nghị bất ngờ:
—Nếu muốn, các anh có thể vào ở lại nhà tôi, sáng mai đi tiếp. Nhà nghèo, cơm mắm bò hóc không ngon, nhưng đủ để mời khách. Tuy nhiên, theo đúng thủ tục, các anh phải trình giấy tại phòng an ninh.
Tôi mỉm cười thiện cảm, cám ơn lòng hảo tâm, nhưng từ chối vì cần đi gấp. Điều đó chứng tỏ chúng tôi vẫn chưa bị nghi ngờ. Mưa càng nặng hạt, gió càng mạnh, đường đi bắt đầu tối dần. Chúng tôi vẫn lầm lũi đạp xe trong bóng tối, trong gió mưa, đi tới đâu, về đâu, tôi không hề biết trước và quan tâm đến. Cứ mỗi tấc đất xa rời cái địa ngục trần gian của Cộng Sản, tôi lại tiến gần đến ánh sáng và hy vọng. Cuối cùng xe dừng lại, vì người lái xe cần thời gian để trở về. Lác đác những ngôi nhà tranh tiều tụy ẩn hiện trong màn đêm và màn mưa, người lái xe nói:
— Tôi biết nhà một người Việt kiều ở đây. Tôi sẽ xin dùm cho các anh ngủ lại.
Tôi mừng rỡ cám ơn, đứng chờ. Cuộc thương lượng đã khá lâu, tôi quyết định đi về hướng ngôi nhà, nghĩ rằng tiếng nói và nhân dáng của mình có thể làm chủ nhân nhận lời. Thật khó hiểu, cái nhà được gọi là của Việt kiều lại không có ai biết nói tiếng Việt, gồm một người đàn bà lớn tuổi và ba cô gái trẻ, nét sắc sảo và duyên dáng nhờ nước da nâu bóng bản xứ làm nổi bật và hấp dẫn hơn. Với tư tưởng đen tối, một dân chơi có thể nghĩ đến một cái động và những cô gái điếm tuyệt vời. Với tư tưởng trong sáng, một người đạo đức sẽ mũi lòng vì cảnh mẹ góa con côi, thiếu bàn tay đàn ông che chở đùm bọc. Nếu rơi vào trường hợp thứ nhất, chắc chắn tôi không có tiền để thỏa mãn điều kiện tiên quyết của loại dịch vụ nầy, và trường hợp thứ hai, chúng tôi ngủ đâu trong cái nhà quá nhỏ chỉ vừa đủ chỗ đặt hai chiếc giường và bốn người đàn bà nằm.
Tôi không đạo đức, cũng không quá hư hỏng nhưng vẫn chưa bỏ được tật mơ mộng. Ngày xưa tôi thường đọc truyện Liêu Trai Chí Dị với những cuộc tình rực cháy đam mê của những con hồ ly tinh cái, đang đêm hóa thành những người con gái tuyệt trần đi dụ dỗ, trao tình với những chàng thư sinh đang miệt mài kinh sử. Một thoáng ước ao phi lý chợt hiện trong trí tưởng tượng. Ước gì ba nàng là ba con hồ ly tinh hóa người, các cô sẽ ân cần mời mọc tôi ở lại và đêm nay, ta sẽ đốt cháy sinh lực dồi dào của mình cho ba tấm thân nẩy nở khêu gợi kia, dù sáng mai trên đoạn đường thăm thẳm vời vợi, ta còn phải gian nan, vất vả, tận lực với cuộc sinh tồn, với định mệnh khắc nghiệt của mình. Không cần thông dịch, tôi cũng hiểu được cái ý nghĩ và lý do từ chối của chủ nhà. Tôi cám ơn và dẫn Sang đi.
Tôi cố tìm một khoảng đồng trống sau đám nhà tranh lúp xúp để tìm chỗ ẩn náu qua đêm. Hai đứa dọn dẹp những nhành tre gai vướng víu trong một bụi rậm. Mở túi lương khô, chúng tôi nhẩn nha nhai chậm rãi. Tiêu chuẩn mỗi bữa ăn: bốn muỗng đầy, chất bột của mì sợi khô tán nhỏ không thể ăn mau vì nghẹn và sặc. Phải nhờ nước đẩy trôi cái chất vừa khô vừa dễ hóc đó xuống cổ họng, chúng tôi cảm thấy no nê nhờ uống nhiều nước. Bỗng có tiếng chân người, tôi bấm nhẹ Sang, hai đứa ngồi im không nhúc nhích. Một người đàn ông tiến xăm xăm đến gần. Cái thân thể con người càng kềnh càng thêm khi cố gắng co rút lại. Cách ba thước, y quay lưng lại, tuột quần ngồi đại tiện. Giả dụ nếu có đèn pin, giả dụ nếu có ánh trăng, chắc chắn chúng tôi đã bị bại lộ. Tôi dẫn Sang tìm chỗ khác, sau đó ngồi tựa lưng vào một gốc cây nhỏ. Bờ bụi thưa thớt phải nhờ cậy thêm bóng tối của đêm, sự mờ ảo của màn mưa rả rích để che chở hai bóng người lạnh lẽo co ro. Đường lộ chính nằm cách hai mươi thước. Tiếng nói chuyện, ánh đèn của dân chúng trở về sau một buổi hội họp đâu đó, vọng lại thật rõ ràng. Tấm vải ni lông nhỏ không đủ che kín hai thân thể. Nước mưa theo từng đợt gió tạt vào cổ, ngực, nước trên mặt đất âm thầm chảy luồn lỏi giữa các ngõ ngách của thân người. Những con muỗi đói liên tục tấn công. Như để thích nghi với hoàn cảnh sinh tồn, giông muỗi đã mài bén và nối dài thêm cái mũi kim sinh kế để có thể đâm xuyên suốt lớp da dày, thô nhám của lớp người bình dân với mớ áo quần, vải vóc không còn đủ khả năng che chở.
Sang ngoẹo đầu vào ngực tôi ngủ mê mệt, tôi vòng tay qua vai ôm chú bé. Trong cuộc đời, tôi chưa bao giờ ôm ấp ai âu yếm thân thương như vậy, ngay cả đứa em ruột thịt thâm tình độc nhất. Đứa em trai, một thanh niên trẻ chỉ có một ước mơ duy nhất là làm thế nào để bắt chước sống và được sống cuộc đời giống hệt anh mình. Sự cố gắng thái quá trong những điều kiện hoàn toàn khác biệt đã dẫn dắt đời nó vào một lối sống hư hỏng và đã chết trong trận tấn công biển người của Cộng Sản vào Chi khu Cảnh Sát thuộc Tỉnh Pleiku. Tội nghiệp những lứa tuổi thanh xuân mơ mộng của Việt Nam, biết bao em đã chết oan ức vì bom đạn thời chiến. Và hiện tại, và tương lai, còn biết bao em đang và sẽ tiếp tục chấp nhận hiểm nghèo, chết chóc để thoát khỏi cái lũ người Cộng Sản tàn bạo, mê muội đó.
Tiếng tự tình của đôi tình nhân hay của cặp vợ chồng trẻ xa nhau vừa tái ngộ, đang nỉ non thủ thỉ ở ngôi nhà lân cận. Lần đầu tiên tôi khám phá được cái chất nhạc, chất thơ trong thứ ngôn ngữ xa lạ nầy. Giọng nói của người con gái líu lo trầm bổng với những lời tình mật ngọt. Hình như ban đêm đã mất cái ý nghĩa chính là để nghỉ ngơi và ngủ mà trở thành cái nệm êm ái nuôi dưỡng cuộc tình. Tôi chợp mắt nhiều lần trong đêm, sự mệt mỏi không đủ yếu tố cho một giấc ngủ say, những ý nghĩ và toan tính giằng kéo tôi ra khỏi cơn ngủ chập chờn. Tiếng người con gái vẫn đều đặn như một cuộn băng đã bấm nút, chạy mãi. Chỉ những lúc thay băng mới có sự im tiếng, sự im tiếng không đem lại sự im lặng hoàn toàn cho không khí tĩnh mịch của đêm. Có những tiếng động lịch kịch, như tiếng cuộn băng cũ bật ra, tiếng cuộn băng mới bỏ vào, nhưng thực sự là tiếng động của giường chiếu, của thân thể, của hơi thở, của tiếng rên rỉ trong nhịp điệu yêu đương. Cái tiếng kỳ cục thúc dục anh chàng peeping Tom trong người, nhưng hình ảnh hấp dẫn chưa đủ mạnh để xâm chiếm toàn bộ cái tâm sự ngổn ngang của kẻ đang trên đường bôn tẩu. Những tiếng động khác bỗng vọng lại, không có loại đồng hồ báo thức nào thích hợp hơn tiếng rục rịch chuẩn bị cho lợn ăn, tiếng giã gạo, nấu cơm buổi sáng của những gia đình nông dân nghèo.
Tôi lựa chọn một số đồ đạc tối cần thiết và đem dấu những thứ cần thiết khác bắt buộc bị loại bỏ. Sự cồng kềnh, số lượng đồ đạc là một trong những yếu tố tự tố cáo mình tại các nuớc Cộng Sản. Tôi đã từng bị nhiều người chạy hàng chợ đen tại Sàigòn, Nha Trang níu kéo, làm phiền mỗi khi xách một túi nhỏ trên tay. Những tên Cớm rắp ranh rình rập những mục tiêu tương tự để bắt hàng chợ đen và để bắt địa. Tôi đánh thức Sang dậy, chú bé mở mắt và ngỡ ngàng trước hiện thực xa lạ của mình. Tôi nắm tay kéo Sang đứng lên, dứt khoát lôi chú bé ra khỏi cái cảnh nửa thực, nửa mơ. Lần lữa tại vị trí nầy, trong thời điểm và hoàn cảnh nầy thật nguy hiểm. Phải tranh thủ thời giờ, phải lợi dụng sự đi lại của những kẻ siêng năng tần tảo sớm nhất, để đi qua những trạm gác thường đặt đầu và cuối mỗi thôn làng kiểm soát kẻ vào ra. Trạm gác còn đặt tại các đầu cầu, những chiếc cầu nhỏ bắt qua mương dẫn nước, giờ đây được tăng cường thêm bởi hàng rào bằng tre và bằng cây để ngăn chận đặc công xâm nhập phá hoại. Nhưng thật khôi hài, chỉ với khả năng của những chú bé chăn trâu, sự đột nhập và phá hoại cầu trở thành một công tác dễ dàng.
Chúng tôi đi từ tờ mờ sáng, mặt trời đã lên cao vẫn chưa thấy bóng dáng chiếc xe đò nào trên điiờng, nông dân đã tề tựu đông đảo trên các cánh đồng. Lao động Xã hội Chủ nghĩa ở đâu cũng có cùng một sắc thái, mọi người làm việc vì công điểm, sự cưỡng bức và huê lợi thấp không đủ bảo bọc tấm thân còm cõi, nên chẳng ai tận tâm tận lực. Người ta chỉ tận tâm, tận lực trong những buổi họp phê bình, kiểm điểm bởi vì cơm gạo nhà nước cấp phát chỉ vừa đủ để vận động cái mồm, cái lưỡi nói phét, tán láo chơi. Để vận động tay chân phải cần ăn gấp ba lần tiêu chuẩn của nhà nước cấp.
Tôi nhớ tới những người nông dân Việt Nam nghèo khổ qua các chế độ và càng tồi tệ hơn khi được “giải phóng” bởi thứ Chủ nghĩa xây dựng Học thuyết trên căn bản Liên minh Giai cấp Công-Nông. Những ngày làm ruộng trong nhà tù, chúng tôi không chỉ đạp hàng đống bó mạ tốt xuống bùn bỏ đi để phá hoại sản xuất, mà trong mùa gặt, còn làm lơ cho những người dân quê đói khổ tranh cướp những bó lúa chúng tôi gánh qua trên các đoạn đường vắng. Làm sao quên được hình ảnh cô bé gái năm tuổi, mặt mày xinh xắn hiền lành, đang sợ hãi đau đớn vì bị mẹ đánh và mắng nhiếc.
—Trời ơi, con cái gì mà ngu đần hư hỏng thế nầy. Con người ta cũng chừng đó tuổi, chúng nó khôn ngoan, nhanh nhẹn, giỏi dang, chỉ nháy mát là ăn cắp được cả ôm lúa. Còn con tôi nè trời! Từ sáng đến giờ cứ đứng thập thò hoài. Tối nầy về nhà lây cứt mà ăn, cơm gạo đâu cho thứ khốn nạn như mầy!
Vâng! Những đứa bé nhà nghèo đang được giáo dục bằng một loại đạo đức, luân lý mới! Xã hội tương lai sẽ ra sao khi thế hệ hôm nay đang được tiêm nhiễm những tư tưởng hướng đạo tồi tệ nguy hiểm như vậy. Nhưng may thay vẫn còn những ông, bà cụ già nức nở cảm khái:
—Nếu còn cầm nổi khẩu súng, tôi đã bỏ lên rừng theo kháng chiến.
Hoặc nguyền rủa:
—Biết tụi nó khốn nạn thế nầy, ngày xưa tôi đã đổ nước sôi xuống hầm cho chết cha bọn nó. Cái thứ vô ân bạc nghĩa! Mình ngu, dấu diếm, bao bọc, che chở cho nó, để ngày nay xảy ra cơ sự như thế này đây. Trời ơi!
Sang giỏi đi xe đạp nhưng yếu đi bộ, nằng nặc đòi ngồi nghỉ đợi xe mà tôi thì muôn đi mãi. Cuối cùng tôi phải nhượng bộ khi chú bé không còn đi nổi. Tôi tìm một chỗ kín bên đường, vục mặt xuống vũng nước vàng quạch uống lấy uống để. Chín giờ sáng, chiếc xe đầu tiên xuất hiện, xe bình thản qua mặt không hề lưu ý đến hai khách bộ hành lẻ loi đang vẫy tay. Thật lâu, đến chiẽc xe thứ tư, tài xế mới chịu dừng lại, Sang chạy đến người tài xế làm phận sự mình. Mấy anh tài xế là chúa sành đời, thây người, thấy của, và nghe giọng nói của Sang, anh chàng nghi ngờ ngay.
— Có giấy tờ không?
Chúng tôi vội gật đầu đại để leo lên xe đã chật chội. Chuyến xe đặc biệt chở toàn đám dân nghèo khổ lao động, có một vài chú Bộ đội Việt Cộng quá giang ngồi đờ đẫn đây đó. Tôi kéo khăn cà ma trùm kín mặt, vờ ngủ như mệt mỏi. Một người “câm điếc” đi vượt biên là một người hạnh phúc nhất vì cái trở ngại khó khăn nhất là ngôn ngữ, lại không thành vấn đề đối với họ. Lắm lúc tôi cũng đóng vai câm điếc, nhưng cái lưỡi tôi quá dài, có lẽ nó cứ dài thêm sau mỗi cuộc tình vì những nỗ lực tận tụy của nó! Cái lối ú ớ ngọng nghịu thiếu điêu luyện, và cái lỗ tai 20/20 của một Phi công khó đóng trọn vẹn vai trò lơ đãng như những kẻ điếc thực sự. Tôi nhắm mắt vờ ngủ sau chiếc khăn cà ma, nhưng mọi hoạt động trên xe, tôi đều thấy, mọi tiếng động bên ngoài, tôi đều nghe.
Xe dừng lại tại nhiều trạm gác, cái mũi đánh hơi của các tay lính gác khá nhạy bén, nhưng cái mùi người của đám người dơ dáy, bần hàn, đang ngồi chen chúc trên sàn xe đã đánh lừa được sự tinh tế đó. Trạm kiểm soát cuối cùng thật đáng ngại, một dãy xe dài đậu chờ khám xét. Trong hai mươi phút, xe thỉnh thoảng xục xịch nhích về phía trước để chiếm đoạt từng khoảng trống nhỏ, tiếng gõ cửa, tiếng gọi, tiếng đối thoại. Một tên lính gác leo lên xe, thò đầu vào bên trong kiểm soát, mục tiêu của cuộc tìm xét là những chiếc vali bằng da, những bộ quần áo thanh lịch, những đối tượng có thể moi được tiền.
—Tâu! (Đi).
Tên nầy quát lớn với vẻ bực mình chán nản. Xe đi và lại dừng lại, tất cả hành khách đều bị đuổi xuống xe.
—Gì đây?
Tôi tự hỏi. À! Đã đến bến phà Nik-Lương. Nơi đây tôi đã từng theo Trung Tá Khương bay định chuẩn đánh giá phi trường, tính chiều dài, chiều ngang, tốc độ và hướng gió cho sự an toàn của loại phi cơ L19 đáp và cất cánh. Với khả năng mình, chỉ cần một con hẻm nhỏ, một thửa ruộng trống vừa gặt xong, một giải đất trơ trụi nào đó, chúng tôi cũng thừa sức đáp và cất cánh. Giám định phi trường chỉ là một thủ tục, bởi vì Phi công Việt Nam vẫn thường đáp ngoài phi trường.
Rời xe, đi vào quán cơm bên lề đường, chúng tôi ăn một bữa bồi dưỡng. Cơm nước rẻ và ngon miệng, có lẽ rẻ thì đúng hơn, vì ngon miệng, thì thứ gì đám tù tàn binh chúng tôi chẳng thấy ngon! Lính gác lục lạo đây đó nhưng chúng tôi vẫn không hề bị lưu ý. Tôi theo hành khách xuống phà qua sông. Dòng sông rộng, nước chảy xiết. Đã biết bao kẻ tội phạm, người vượt biên trên đường áp giải về Việt Nam đã thoát thân hoặc chết trên dồng sông nầy? Một tiếng “ùm” rồi những tràng đạn tới tấp. Kẻ bơi giỏi, lặn giỏi, có thể nương theo giòng nước để sông còn, kẻ thiếu khả năng, kém may mắn, chỉ còn là một đống bầy nhầy với những vết máu loang trên mặt nước.
Sống—Chết, Tự do — Nô lệ. Một biên giới không rõ ràng, ngăn chia hai thực tại đối nghịch.
Và Đạo đức — Vô luân. Nền Khổng giáo mấy ngàn năm được ca ngợi trọng vọng giờ bị kết tội là tên tay sai đắc lực của giai cấp bóc lột thống trị. Các tôn giáo cũng cùng chung số phận bi tráng trước nền đạo đức mới Xã hội Chủ nghĩa!
Và Anh hùng — Tội phạm. Hôm nay trân trọng, ngày mai lên đoạn đầu đài. Phía bên nầy ca ngợi, phía bên kia nguyền rủa, kết án.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.