Alaska đi về xứ tuyết

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

Post on August 5th, 2022

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Kỳ cuối

Được các tạp chí du lịch đánh giá là một trong những tiểu bang đẹp nhất của nước Mỹ, Alaska vẫn đang chào đón những du khách muốn tìm thấy những vẻ đẹp hoang sơ và thô nhám của thiên nhiên. Nhưng thiên nhiên cũng không là điều vĩnh cửu và cần sự quan tâm của con người để giữ gìn trọn vẹn cái đẹp của nó. Chuyên mục xin kết thúc loạt bút ký du lịch trên số báo hôm nay qua một đôi cảm nhận về thiên nhiên mà hành trình đi về xứ tuyết Alaska đã mang lại.

Kỳ cuối

Alaska, bài học về thiên nhiên

Khi chở du khách về lại bến cảng sau chuyến dạo quanh  thành phố và công viên quốc gia, người tài xế kiêm hướng dẫn du lịch giới thiệu thêm cùng chúng tôi một vài nhà hàng quanh bến cảng và ngay khu trung tâm thành phố Juneau. Giới thiệu vài nhà hàng hải sản lẫn giá cả, ông giải thích thêm lý do tại sao cua cá Alaska đang mắc hơn. Tất nhiên ngoài việc đắt đỏ của những điểm du lịch, Jon – một nhân viên chính phủ lâu năm đã nghỉ hưu và làm thêm công việc hướng dẫn du lịch trong dịp Hè bảo rằng, bởi Alaska đang ấm hơn.

Nhiệt độ có tăng hay giảm một đôi độ có thể là chuyện thay đổi khí hậu thông thường về mặt địa lý và với con người. Nhưng chỉ cần sự thay đổi nhỏ nhiệt độ nước biển đã có thể ảnh hưởng nhiều đến hệ sinh thái trong lòng đại dương. Jon bảo nước biển Alaska ấm hơn đã làm các loài tôm cua, cá biển di chuyển lên mạn Bắc xa hơn để tìm nhiệt độ thích hợp và quen thuộc với chúng. Việc đánh bắt hải sản do vậy có phần khó khăn và khan hiếm hơn, dẫn đến việc giá cả tăng theo.

Xe bus chở du khách đến công viên băng hà quốc gia Mendenhall.

Ra vậy! Câu chuyện của ông khá tự nhiên và không hề mang ngụ ý đến vấn đề to lớn nào khác. Nhưng nó khiến tôi liên tưởng đến một vấn đề toàn cầu được nhắc đến nhiều trong những năm qua: sự biến đổi khí hậu.

Một số người có thể xem câu chuyện biến đổi khí hậu là chuyện xa xôi hay là việc muôn đời của tự nhiên nhưng thật ra nó có ảnh hưởng thật sự đến hệ sinh thái và rồi đến con người như Jon nói là điều tất nhiên.

Cảng Victoria tại Canada, điểm dừng cuối của các du thuyền Alaska.

Nếu nhìn vào những cơn hạn hán hay các trận bão lụt ngày càng dữ dội và thường xuyên hơn ở khắp mọi nơi trên quả địa cầu này thì đó không là câu chuyện giả tưởng hay bị thổi phồng. Tương ớt Sriracha tăng giá hay thậm chí thiếu hụt trong mùa Hè này được nhà sản xuất bảo rằng hạn hán đã làm mất mùa loại ớt chỉ chuyên để chế biến tương ớt này. Con người sẽ khó lòng chống chọi thiên nhiên nếu không nhìn ra nguyên do cùng vấn nạn của nó mang lại.

Tại công viên quốc gia Mendenhall, trong trung tâm đón du khách có để những hình ảnh và thước phim chạy chữ rằng, vài chục năm trước tòa nhà này nằm ngay gần sát dải băng hà. Nhưng hiện nay nó đã tan dần, cách xa bờ đất liền chúng tôi nhìn ra cũng một đôi dặm.

Cáp treo đưa du khách lên núi ngắm cảnh

Ði một ngày đàng, học thêm đôi điều ngoài lý thuyết hay sách vở. Tại khu vực Hubbard Glacier, tôi mới thật sự hiểu ra tại sao có những tảng băng trôi lững lờ giữa đại dương nhiều như vậy. Khi du thuyền tiến gần hơn ngọn núi tuyết, du khách nghe những tiếng ầm ầm như sấm nổ và có thể chứng kiến được nhiều vách băng đang sụp đổ xuống biển. Phải những tảng băng to lớn lắm mới gây nên tiếng sấm động nghe được từ xa. Các tảng băng đó trôi ra biển rồi tan dần khi gặp vùng nước ấm hơn. Tuyệt tác của thiên nhiên đang bị tan vỡ dần dần. Chúng sẽ tồn tại bao lâu nữa không ai biết được.

Vài ngày trước chuyến khởi hành của chúng tôi, báo chí đưa tin một du thuyền Alaska đã va phải một tảng băng khá lớn. Nó không gây thiệt hại cho thuyền nhưng do tuân thủ các yêu cầu an toàn nghiêm ngặt cho du khách, du thuyền phải tấp vào lại Juneau và hủy hải trình còn lại, cũng như đưa thuyền vào ụ khi về lại Seattle để thẩm định trước khi cho thuyền tái hoạt động. Nó làm lỡ dịp của các du khách trên tàu và các chuyến kế tiếp, có cả đứa cháu trai tôi lẽ ra cũng sẽ lên tàu trong chuyến đi ngay sau đó.

Câu cá hồi

Chuyện các quần đảo băng sơn Alaska và những nơi khác trên quả địa cầu này đang tan dần và tan nhanh so với vài chục năm trước thật ra có ảnh hưởng gì đến chúng ta? Nó có quan trọng hơn chuyện lạm phát, giá xăng tăng giảm hay thiếu tương ớt Sriracha?

Thưa có! Và đó là sự giải thích và mối quan tâm của khoa học, trí tuệ của loài người.

Nhà hàng giới thiệu cua Alaska sống cho du khách

Khoảng gần ba phần tư bề mặt quả địa cầu được bao phủ bởi đại dương và hơn 10% đất liền là các dải băng hà hay những ngọn băng sơn. Khi các sông băng và những ngọn núi tuyết này tan chảy, chúng làm tăng mực nước biển, xói mòn bờ biển. Sự thay đổi về áp suất, nhiệt độ, thủy triều, hải lưu… do điều này gây ra như vậy đã tạo ra những ảnh hưởng đến hệ sinh thái đại dương cũng như có thể gây nên các trận sóng thần, cuồng phong hay mưa lũ cuồng nộ nơi này và hạn hán khắc nghiệt chỗ khác trên trái đất.

Và các thiên tai này tấn công ngược lại vào chính đời sống hàng ngày của mỗi người chúng ta. Ðó là sự đình trệ trong khai thác, vận chuyển xăng dầu, tôm cá, lương thực thực phẩm hay thất bát mùa màng mỗi khi thiên tai xảy ra. Nhiều người ắt không quên hình ảnh những hàng xe dài xếp hàng đổ xăng trong những trận bão lớn.

Nhân viên một tiệm hải sản đang luộc càng cua Alaska

Phần lớn các núi tuyết nằm tại Greenland và Nam Cực, Alaska hay Bắc Cực chỉ là một phần trong nhóm này. Tuy nhiên Bắc cực là khu vực được các nhà khoa học ghi nhận là đang ấm nhanh hơn bất cứ khu vực nào trên quả địa cầu. Kỹ nghệ đánh bắt thuỷ hải sản là kỹ nghệ quan tâm đến điều này nhất nên thường lên tiếng cảnh báo về nó vì trực tiếp ảnh hưởng đến công việc của họ cùng nguồn cung ứng cho người tiêu thụ.

Môi trường thay đổi, tôm cá hay động vật hoang dã cũng thay đổi bản năng tự nhiên của mình. Các nhà khoa học bảo rằng việc thay đổi khu vực sống hay thời gian sinh sản của tôm cá cũng là hệ lụy tất nhiên. Ðó cũng là lời người hướng dẫn du lịch nhắc đến việc tôm cua chuyển dời vùng sinh sống trong câu chuyện đời thường.

Du khách xếp hàng trước một tiệm hải sản

Tôi không kết thúc bút ký du lịch của mình khi kể thêm về dăm điều thú vị nào đó trong hành trình Alaska mà chia sẻ riêng đôi điều cảm nhận được về thiên nhiên từ chuyến đi. Bởi cũng có thể có người sẽ bảo rằng, chỉ cần mở phim ra là bạn có thể thấy được vô số điều ngoạn mục khác, có cần gì phải lặn lội đi xa. Cũng xác đáng! Xét theo cách sống và suy nghĩ của mỗi người.

Nhưng cho riêng tôi, tầm mắt của mình nếu bị giới hạn chỉ đến cái màn hình chiếc máy điện toán, cái truyền hình hay màn ảnh điện thoại thì cũng khó cảm nhận hết được sự kỳ vĩ của thiên nhiên để có sự trân trọng hay ý thức bảo vệ nó, hay vô số điều khác nói chung.

Tác giả tại Ketchikan, nơi được mệnh danh là thủ phủ cá hồi của thế giới

Ngạn ngữ của những người thổ dân da đỏ bảo rằng, “Chúng ta không thừa hưởng trái đất này từ tổ tiên mà chúng ta đang vay mượn nó từ con cháu”. Bảo vệ cái đẹp của thiên nhiên, chống chọi lại những bất trắc của đất trời, chúng ta sẽ trả lại cho những thế hệ tương lai một thiên nhiên còn nguyên vẹn, không bị tàn hủy quá nhiều bởi bàn tay con người.

Xin tạm biệt Alaska! Cảm ơn những cố gắng gìn giữ cái đẹp để những du khách như tôi được một lần chiêm ngưỡng và học hỏi thêm đôi điều trong một lần đi về xứ tuyết.

Ráng chiều giữa đại dương

ĐYT

Ó đen

lytong.wordpress.com

Lý Tống

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Phần 8

Ngài Chủ Tịch
Sang 16 tuổi, da hơi đen, khuôn mặt ốm và cặp mắt, đặc biệt cặp mắt, thật sắc, trong đó tiềm ẩn một chút bóng tối, một chút hận thù, một chút toan tính, một chút lạnh lùng. Nét mặt Sang giống như đúc khuôn mặt người thanh niên Việt Nam trẻ, đứng lạc lõng giữa một buổi Hội nghị đông người, trang trọng, như là một kỹ thuật ghép hình kém tinh vi, của những thành viên Đệ nhị Quốc tế Cộng Sản tại Pháp. Rất ít người có loại khuôn mặt nầy, và đặc biệt là đôi mắt. Thật khôi hài khi những đồ đệ cuồng tín của Ngài nhìn vào phim ảnh treo dán khắp nơi lại quả quyết đôi mắt Ngài có bốn con ngươi! Đôi lúc nhìn ngắm Sang, tôi không ngăn được sự liên tưởng kỳ cục là tôi đang đi chung với Đồng chí Chủ tịch HCM và biết đâu thời Đồng chí Chủ tịch còn nhỏ, bỏ Việt Nam đi giang hồ, làm bồi bếp và đủ thứ nghề lao động khác khắp thế giới, Ngài cũng giống như Sang bây giờ, đang trên đường vượt biên đi Thái.

Tôi nhớ tới Bác, một trong những người sáng lập Đảng Cộng Sản Pháp nhưng không phân biệt được giữa Quốc tế Ba và Quốc tế Hai, phải nhờ một nữ đồng chí Pháp giải thích. Bác, một nhà thơ vĩ đại đã được đàn em bồi bút đánh bóng quá trớn thành chơi xỏ trong một bài nhận định Kiều Trong Thơ Bác. Có nghĩa là Bác đã đạo thơ của Nguyễn Du một cách trắng trợn, một cách lố bịch. Một Bác mà theo các người đồng thời đã tiết lộ, được nổi tiếng chỉ nhờ lì lợm và quỉ quyệt. Số là khi hoạt động tại Pháp, một số Nhà Ái quốc Việt Nam đã xuất bản một tờ báo để đấu tranh và dùng một bút hiệu chung là Nguyễn Ái Quốc để nói lên lòng yêu nước. Vì tờ báo thường đụng chạm đến nhà cầm quyền đô hộ Pháp nên thỉnh thoảng vẫn bị theo dõi và bắt bớ. Nhờ lì lợm và gan dạ, bác Hồ đã tình nguyện tự nhận là Nguyễn Ái Quốc để đi ở tù thế cho các Nhà Cách mạng dùng bút hiệu Nguyễn Ái Quốc khác. Không ngờ, nhờ thành tích ở tù nhiều, bác Hồ dã được Đảng Cộng Sản Pháp lưu ý và sau đó được Đảng Cộng Sản Nga thu dụng, trong khi thực sự lúc đó Bác chẳng có tài cán gì ngoài nghề tình nguyện đi ở tù thế thay vì vất vả mưu sinh.

Từ tên Nguyễn Ái Quốc bất đắc dĩ, lý do sau nầy Bác đổi sang tên Hồ Chí Minh còn ly kỳ không kém. Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc vâng lệnh quan thầy về Quảng Châu hoạt động, bị Quốc Dân Đảng Trung Hoa bắt giam. Cụ Phan Bội Châu và Nguyễn Hải Thần đứng ra can thiệp giúp trả tự do và giới thiệu cho cụ Hồ Học Lãm, bí danh Hồ Chí Minh (mất năm 1942). Sau nầy khi bị Quốc Dân Đảng Trung Hoa truy lùng, Nguyễn Ái Quốc đã dùng thông hành “Hồ Chí Minh” của cụ Hồ Học Lãm đi trốn và từ đó chính thức đổi tên thành Hồ Chí Minh. Bác đã mạo nhận tên của người chết, tự nhận là Hồ Chí Minh và thay đổi tên Đảng Cộng sản thành Việt Minh, lập lờ đánh lận con đen, nhờ thế mà nhiều đảng phái và lực lượng khác đã hậu thuẫn Bác đánh đuổi thực dân Pháp, và sau nầy Bác cướp công rồi tiêu diệt dần các thành phần khác để đưa đất nước vào quỹ đạo Cộng sản. Một Bác trong thời gian ở tù tại Thượng Hải chỉ có một niềm khoái lạc lớn nhất: Mỗi lần được kêu lên điều tra lại đi mót các đót thuốc thừa vứt dọc đường và vừa tự nguyện “khai thật, khai rõ” vừa xin xỏ để được quan thẩm vấn “bồi dưỡng” vài điếu thuốc thơm thỏa mãn cơn ghiền!

Phải phục cái tài của Bác, một người Việt Nam bình thường chỉ nhờ dùng tên tuổi của người khác và chịu khó đi ở tù thế mà sau nầy cũng có khả năng làm nên nhiều chuyện kinh hoàng đáng bị Trời tru Đất diệt và đáng bị lịch sử nguyền rủa tội rước voi dày mã tổ nhưng lại được đồ đệ vẽ vời và đánh bóng bằng những huyền thoại tưởng tượng cao tít tận trời xanh. Với tôi, thật khó mà dứt bỏ được cái ám ảnh về hình ảnh một người tù đi xin thuốc cai ngục, dù chữ xin được dùng văn vẻ thành chữ biếu, bởi những hình ảnh nghiện ngập vẫn xảy ra hàng ngày trong các nhà tù, bởi những vẻ mặt, điệu bộ thê thảm, tồi tàn, đôi khi đê tiện của những kẻ đi xin thuốc, hoặc chầu rìa để được kéo một hơi thuốc mà tôi đã thường chứng kiến. Con người có ý chí mạnh không bao giờ bị lệ thuộc bất cứ một thứ gì cả.

Và một Bác theo sự phân tích của các Nhà Tư tưởng Việt Cộng đã bị nền văn hóa thực dân kiểu mới bôi nhọ qua hình ảnh một Nhạc Bất Quần, một Đông Phương Bất Bại trong các tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung. Không biết khi viết các cuốn truyện một thời nổi tiếng kia về các giáo chủ của các môn phái tà đạo mà hầu hết đều bị bệnh đồng tính luyến ái, Kim Dung có định ám chỉ Bác hay không, nhưng rõ ràng thực sự trong con người Bác phải có một cái gì đó bất bình thường, đặc biệt mà các đệ tử của người biết rõ, nên có tật giật mình, họ cứ bị ám ảnh với ý nghĩ là Kim Dung đã cố tình vẽ chân dung của Bác trong các nhân vật chính độc đáo của mình. Hay cũng có thể như tác giả bài Kiều Trong Thơ Bác, người viết bài chỉ trích Kim Dung cũng lại là một tay chơi xỏ, giả vờ công kích Kim Dung với ý đồ hé mở một chút bí mật về đời tư của Bác để cho bàng quan thiên hạ biết chơi.

Bác có đồng tính luyến ái hay không, chỉ có Bác biết và các người thân cận Bác biết, bởi vì trong các xã hội Cộng Sản, tất cả những điều bất lợi đều được dấu kín như mèo dấu cứt. Ngay chính chuyện lãnh tụ họ còn sống hay đã chết, tình trạng súc khỏe thế nào, thì các nhà báo, các viên chức phương Tây đầy kinh nghiệm cũng chỉ có thể đoán mò qua sự vắng mặt của họ trong các dịp lễ quan trọng mà thôi.

Bác có mắc bệnh đồng tính luyến ái hay không, chuyện đó ta chưa thể hàm hồ công nhận ngay như các tin đồn hoặc các bài viết nói bóng gió về Bác. Nhưng chuyện rõ ràng nhất, có bằng chứng xác thật, đó là Bác đã một thời làm đơn xin theo học tại Pháp với ý đồ trở thành một viên chức tay sai Pháp để trở về thuộc địa Việt Nam giúp nhà cầm quyền bảo hộ Pháp cai trị dân chúng Việt Nam. Nếu thời đó chính phủ Pháp thu nhận Bác, chắc chắn lịch sử Việt Nam và Đông Dương đã hoàn toàn thay đổi hẳn. Bị từ khước, Bác nổi giận vì bất bình và trở thành người quyết liệt chống Chế độ Thực dân Pháp, rồi bỏ qua Nga Sô tầm sư Lénin học đạo.

Trong bài Một Ngôi Trường Cho Nguyễn Tất Thành (tức Hồ Chí Minh), nhà văn Nguyên Vũ đã sưu tầm được lá đơn viết tay xin đi học của Bác còn cất giữ tại thư viện Pháp để cho chúng ta thấy được một khía cạnh đặc biệt về Hồ Chí Minh. Dù Hồ đã chết, nhưng ảnh hưởng ghê gớm của đầu óc một kẻ gian hùng giờ phút nầy vẫn còn ám ảnh không chỉ Việt Nam, Đông Dương, mà còn nhiều nơi trên thế giới.

Vượt Ngục Nhà Tù 7708 

Để tránh buồn ngủ nhưng lại ru cho kẻ khác dễ ngủ, tôi kể một chuyện dài từ tác phẩm bằng tiếng Anh Jane Eyre. Câu chuyện có những tình tiết kinh dị, những tiếng gọi ma quái âm vọng qua không gian của người tình si, một mối tình đầy ngưỡng mộ và thần phục. Khi tôi ngân dài chữ Jane Eyre, Jane Eyre, Jane Eyre, đồng hồ chỉ 11 giờ tối, phần lớn mọi người đã ngủ say. Tôi lướt sang phần kết thúc để dìu số còn lại vào cơn buồn ngủ. Tôi dừng lại, tằng hắng, chẳng ai thúc giục tôi kể tiếp, thế là xong. Quen với ánh sáng chói chang của ngọn đèn điện bực bội mỗi đêm, lần đầu tiên nằm trong bóng tối, sự êm dịu, mát mẻ, thoải mái giúp giấc ngủ đến sớm và ngon lành. Hôm nay cái chỗ người bỏ trốn lại là chỗ nằm tốt nhất, sạch sẽ nhất, nên được nhiều người tranh giành. Tôi gợi ý dàn xếp:

—Người bị nằm chỗ tồi nhất sẽ được ưu tiên một. Chỗ tồi nhất là chỗ cánh cửa sổ vì hàng ngày nước canh, nước cá, nước cháo, nước uống chuyền qua đó nên thường dơ dáy và bận rộn.

Sau khi người này dời qua chỗ mới, tôi làm bộ nhân nghĩa:

—Để tao nằm chỗ cửa sổ mấy hôm xem thử có chết thằng Tây đen nào không mà tụi mầy lại chê bai, né tránh dữ vậy.
Chẳng ai can mà họ còn mừng vì được lấn một tí qua chỗ nằm sạch sẽ của tôi. Thật tiện, thật may, nhờ nằm ngay cửa sổ, tôi dễ dàng làm công tác của mình. Tôi nắm lấy thanh sắt số 1, dùng sức kéo ra. Thanh sắt chỉ rung nhẹ. Tôi tiếp tục kéo, thanh sắt chỉ chuyển dịch vài ly. Tôi leo lên cửa sổ. Dùng sức nặng của người, sức kéo của tay, sức đạp của chân để đu, nhún và kéo. Nửa tiếng đồng hồ trôi qua, thanh sắt chỉ chuyển dịch hai phân. Tay tôi đã phồng và chảy máu. Tôi quá mệt, thở dồn dập, cảm thấy bất lực. Độ dày và cứng của sắt vượt ngoài khả năng. Bỗng có ánh đèn dầu lập lòe và rõ dần. Đã đến chu kỳ hai tên gác đi tuần — khoảng nửa giờ các tên gác lại đi vòng chung quanh để kiểm soát. Trước kia Bộ đội gác dùng đèn pin, trừ những lúc cần rọi sáng một vật gì nghi ngờ để xem xét, họ thường đi yên lặng trong bóng tối, vì thế có lúc họ đến gần vẫn không hay. Mấy hôm nay, chẳng hiểu vì lý do gì họ lại dùng đèn dầu. Nhờ thế, dù không nghe tiếng động, ánh đèn dầu báo hiệu trước để tôi ngưng công tác. Trong suốt thời gian bẻ cửa sắt, tôi phải ngưng nhiều lần chờ họ.

Thể thức tuyển Công an và Cai ngục của Cộng Sản có nhiều điểm khác biệt, Cộng Sản ít chú ý đến thể lực, võ nghệ hay khả năng bắn súng, họ chỉ cần trung kiên, mặc dù khẩu hiệu cố hữu “Hồng và Chuyên” (Red and Expert) được lập đi, lập lại trong các bài diễn văn. Hai tên gác tối nay là thí dụ điển hình. Ngay từ chiều, tôi đã để ý họ. Thật tức cười khi thấy hai chú oắt con trong bộ đồ Bộ đội rộng thùng thình, mang hai khẩu AK lòng thòng kéo lê trên mặt đất. Tôi không quá tự tin, nhưng có cảm tưởng có thể dùng hai tay bóp cổ hai chú cùng một lúc. Với loại lính gác nầy, chỉ cần ra tay là hạ đo ván trong tích tắc.

Trong phút thất vọng, tôi quyết định hủy bỏ kế hoạch, leo lên cửa sổ ép thanh sắt về vị trí cũ. Khổ thay! Kéo ra đã khó, ép lại còn khó gấp nhiều lần vì lúc ép vào, tôi chỉ dùng được sức tay phải, còn tay trái dùng bám vào cửa sổ, sức ép vào bằng một phần ba sức kéo ra. Thật là tấn thối lưỡng nan, kéo ra không được, đẩy vào cũng không xong. Cứ tình trạng thế nầy, sáng mai tụi gác khám phá ra, sẽ đập cả phòng ngất ngư cho đến khi tìm ra thủ phạm và điều chắc chắn tôi không bao giờ để cho người khác bị đòn oan vì việc làm của mình.

Tưởng tượng sáng mai nằm sóng soài giữa sân, dưới những trận đòn thù, bị nhét vào phòng tắm hơi của Phòng Kỷ luật, và xa hơn, Khám Chí Hòa tại Sàigòn. Chưa ai từng vượt ngục thoát khỏi khám Chí Hòa, hoặc chưa ai từng dám nghĩ đến chuyện đó, trừ trường hợp Điền Khắc Kim, một tay anh chị nổi tiếng, mua chuộc và được bọn cai ngục lén dấu trong thùng đựng rác giúp đi trốn. Qua bao nhiêu thời đại thuộc địa, nền văn minh của các nước thực dân, đặc biệt nền văn minh về kỹ thuật xây dựng nhà tù, đã củng cố và thiết kế khám Chí Hòa thành một nhà tù bất khả vượt ngục.

Tôi nghĩ đến nhà tù Lam Sơn, nhà tù A30… Tôi nghĩ đến những Đồng bào, những Chiến hữu yêu mến và tin cậy tôi: Giữa cái chết danh dự và cái sống nhục nhã, tôi chọn cái chết, bởi vì đã từ lâu tôi không còn có thói quen sống riêng cho bản thân mình nữa. Cái tên tuổi đó đã trở thành niềm tin, niềm hãnh diện của tập thể Tù binh, của Tuổi trẻ nhiệt thành của các thị trấn vùng duyên hải.

Lý tưởng và ý chí đã động viên toàn bộ nghị lực và sức lực dự trữ tiềm tàng trong người. Tôi dùng quần đùi vải dày lót tay cho đỡ đau và bắt đầu công tác trở lại. Kỳ lạ thay, quyết tâm hy sinh, lý tưởng và ý chí đã động viên toàn bộ nghị lực và sức lực dự trữ tỉềm tàng trong người… Tôi tiếp tục nhún, đu, trì, kéo… Những hình ảnh khủng khiếp của ngày mai bi thảm đã có tác dụng hữu hiệu. Thanh sắt chuyển động, nới dần. Tôi tiếp tục nhún, đu, trì, kéo. Ước gì lúc nầy có thanh sắt lớn để làm đòn bẫy, tôi mơ mộng. Tình trạng thật khả quan. Thanh sắt đã bung ra gần một gang tay kể từ múi hàn, từ vị trí nầy tôi có thể đẩy trở lại tương đối nhẹ, kéo ra, đẩy vào, động tác càng lúc càng nhanh, càng nhẹ dần.

“Koong…” Tiếng kêu chát chúa của sắt gãy xé tan màn đêm tĩnh mịch. Tôi suýt bị té bật ngửa xuống nền nhà bởi mất điểm tựa bất thình lình. Có tiếng giày botte de saut ùng ùng chạy lại. Ngọn đèn dầu run rẩy chập chờn:

–  Cái gì đó? Cái gì đó?

Hai tên Bộ đội gác quát lớn khi vừa đến cửa chính ra vào. Tôi đã nằm xuống nền nhà, tay cầm “bi đông con rùa nước” đập mạnh xuống nền đá hoa. Nắp sắt đụng xi măng cứng kêu chan chát như búa thợ rèn đập vào đe dội lại.

–  Muỗi quá Cán bộ ơi. Tôi đáp.

–  Đù mẹ. Giờ nầy mà chưa chịu ngủ còn muỗi với mòng. Coi chừng ăn đòn đó.

Tôi còn ráng quơ thêm vài cái, nhẹ hơn như vừa nhượng bộ, như vừa phân trần, chờ hai tên gác bỏ đi, tôi tiếp tục bẻ thanh sắt thứ hai. Cuộc đời lắm lúc còn rắc rối hơn một bài toán vì bài toán dù có nhiều cách giải, những lối giải khác nhau, cũng có thể tiên đoán, dự trù trước được, nhưng cuộc đời lại có những biến chuyển không thể ngờ trước được. Một múi hàn, nói một cách khoa học, phải yếu hơn một thanh sắt còn nguyên, thế mà thay vì múi hàn A bị gãy, thanh sắt cong lại bị gãy làm đôi, ngay tại chỗ múi hàn A, đồng thời múi hàn B1 cũng gãy luôn.

Tôi nắm thanh sắt số hai bẻ tiếp. Giai đoạn nầy chỉ tốn bảy phần sức lực của giai đoạn đầu, mặc dù đã rút kinh nghiệm, tôi vẫn chưa tính được chính xác thời điểm. Bỗng tiếng “koong” rền lên, múi hàn A bị gãy lìa, hai tên gác lại hối hả chạy lại.

–  Cái gì… Cái gì đó?

Lần nầy tôi không trả lời, cứ đập cái nắp sắt xuống nền nhà như giận dữ, bực bội vì những con muỗi khốn nạn. Bỗng nhiên, có tiếng đập rầm rầm như tiếng trống, có tiếng koòng khuya leng keng như lục lạc xe ngựa từ trong buồng vọng ra.

–  Đù mẹ, ông vào vặn cổ hết tụi mầy bây giờ. Nửa đêm làm rầm rầm không cho ai ngủ cả.

Chửi xong, hai tên gác bực bội bỏ đi. Tôi ngừng một chốc nghe ngóng, thầm cám ơn những người bạn tù buồng trong đã vô tình giúp tôi đúng lúc. Cũng may hai tên gác chỉ đứng ở cửa ra vào, nếu đứng tại cửa sổ, những thanh sắt gãy sẽ nói cho họ rõ chuyện gì đang xảy ra nơi đây. Tôi cẩn thận lấy khăn cà ma che ngang cửa sổ, từ bên ngoài nhìn vào chỉ thấy khăn và bóng đêm. Những người bạn tù ở bên trong nhìn ra cũng khó nhận ra cái bóng người đứng giữa cửa sổ.

Lần nầy rút kinh nghiệm, trong thời gian bẻ, thỉnh thoảng tôi ngừng lại, đập ầm ỷ vài cái và nhất là khi sắp gãy, tôi đập nắp sắt liên tục vào tường. Tiếng gãy của múi hàn C lẫn trong tiếng đập chát chúa, tôi ngừng công tác nghỉ ngơi xem động tĩnh. Hai tên gác không thèm lưu ý đến nhũng tiếng động kỳ cục vô vị kia nữa. Yên tâm, tôi bẻ những thanh sắt kế tiếp, công việc tiến triển khả quan. Mặt trăng chợt hiện lên mập mờ sau tàn cây lớn.

–  Chết cha. Đã gần hai giờ sáng!

Tôi đã khổ công nghiên cứu mặt trăng, ngày và giờ trăng mọc, trăng lặn, để biết được giờ giấc và để tính toán kế hoạch, lợi dụng chu kỳ trăng mọc-lặn trong những trường hợp nguy hiểm như vượt hàng rào, trạm gác, vượt biên giới. Phải gấp rút lên mới được. Hai tiếng đồng hồ nỗ lực với những giây phút toát mồ hôi lạnh dài bằng cả một đời người. Chỉ còn đoạn chót là phá hủy múi hàn d1 và uốn đầu vòng tròn O trung tâm xuống thấp dưới thanh gỗ M3 M4. Bỗng người nằm cách tôi lên tiếng:

–  Đứa nào làm gì ồn quá vậy?

–  Ông Tuấn đó chứ ai!

Tên Bộ đội Bắc Kỳ trong nhóm bốn người trả lời.

Chết rồi, tụi trong phòng đã thức chăng? Có bao nhiêu đứa đang theo dõi việc tôi làm hay chỉ hai tên nầy vừa giật mình thức dậy? Tôi hơi ái ngại, nhưng thời gian không cho phép tôi đợi họ ngủ trở lại.

–  Mầy có biết cũng mặc. Tôi tự nhủ. Đứa nào muốn theo thì theo, đứa nào lộn xộn sẽ biết tay tao!

Và tôi tiếp tục. Khi bẻ xong múi hàn chót, tôi vận dụng sức uốn vòng tròn O trung tâm xuống thấp, hình thang MI M2 M3 M4 hoàn toàn trống trải. Tôi móc xách đựng đồ vào cái đinh Q và lấy cái nịt da móc choàng qua viên gạch G, để thòng ra ngoài. Kiểm điểm lại tổng quát, tôi leo lên cửa sổ chui ra. Theo kế hoạch, tôi sẽ đưa hai tay ra trước, rồi đầu, rồi vai, rồi ngực, xong lật ngửa người, nắm lấy dây nịt kéo người ra. Nhưng oái oăm thay, khi ngồi tính toán, tôi chỉ tính bề dầy của bờ vai, giờ nầy, tôi bị kẹt vì hai bắp xô và ngực. Thật khổ đời. Tôi loay hoay mãi vẫn không chèn nhét được người qua ô cửa. Bỗng nhiên, tôi rút tay phải để cặp theo thân mình, luồn tay trái, vai trái và đầu ra trước. Tôi nghiêng, lách người và may thay, cuối cùng, kéo được vai phải, rồi tay phải ra.

Khi lật ngửa người níu dây nịt, tôi lại gặp một trở ngại khác là xương hông phối hợp với mông lại rộng hơn vai. Tôi nằm kẹt cứng, nửa trong, nửa ngoài. Tưởng tượng giờ phút nầy hai tên Bộ đội gác vô tình đi ngang. Những báng súng, mũi súng đập vào đầu, vào ngực và tôi sẽ nằm chết vắt ngang ở cửa sổ.

Tôi bặm môi kéo mạnh, nghe một tiếng cộp như có miếng xương hông bị mẻ và mảng da, thịt đệm ngoài rách tướt và máu chảy. Cảm giác vừa thoát nạn đã thắng lướt những cảm giác đau đớn. Tôi đứng yên một giây bên ngoài cửa sổ, kéo bọc hành lý và đảo mắt về phía trái quan sát. Hai tên gác vẫn khuất bóng ở một vị trí chưa đầy hai mươi thước bên kia hông nhà. Yên chí, tôi nép sát vào tường và đi về phía trái, đi giữa vách và hàng rào kẽm gai.

Đến giữa hàng rào, tôi nương theo trụ sắt đu lên tường, cọc sắt và hàng rào phía trên quá yếu, rung mạnh. Tiếng kẽm gai rung rền đều, đằm thắm như những ngón tay vừa lướt nhẹ qua các phím dương cầm giữa đêm thanh vắng. Tôi đứng yên vài giây tại chỗ rồi khéo léo bước qua rào kẽm gai từng chân một và trèo xuống nhẹ nhàng. Mọi vật đều lặng im. Tôi đi luồn sau nhà bếp hàng xóm của dân, băng qua một bức tường khác và đi ra đường. Mọi động tác đều nhẹ nhàng, khoan thai, cẩn thận. Đường vắng và tối đen, nhà nhà đều ngủ say. Tôi đi khoảng hai trăm thước, rẽ vào một chỗ kín bên đường, mặc áo quần và choàng khăn cà ma tươm tất. Tôi luôn luôn trần truồng trong những missions như vậy, bởi vì quần áo, dù chỉ một quần xì líp nhỏ cũng sẽ gây trở ngại trong khi chun luồn hay trèo qua hàng rào kẽm gai.

Giờ nầy có tên nào thấy, tôi cũng phớt tỉnh Ăng lê như người dân lương thiện, hay hơn nữa, một viên chức đi tuần tiễu nào đó. Đi chừng hai cây số, tôi dừng lại, trước mặt là bãi sình lầy. Khu vực lân cận đèn đóm sáng trưng. Có tiếng chó sủa, tiếng sủa cô đơn nhưng vội vã, khẩn thiết như để tự chứng tỏ sự hữu hiệu của một loài vật cần được tồn tại để thi hành chức năng canh phòng hơn là bị tiêu diệt vì nhu cầu ăn thịt trong một xã hội thiếu thốn, nghèo đói.

Tôi ngồi nghỉ một chốc, ngắm sao định hướng rồi đi về hướng tây bắc, gặp con đường lớn nhất Nam Vang. Tại một ngã tư, nhiều xe Honda thồ ngái ngủ chờ đợi khách, tôi đi dọc lề đường, bình thản, trên đường gặp một toán gác đêm vừa tan hàng về. Hai bên đường, Doanh trại Quân đội Nhân dân nằm tiếp nối, trắng trợn và ngang nhiên. Tất cả những dinh thự, những khu nhà lớn đều có mang nhãn hiệu Cộng Sản Việt Nam. Càng đi sâu, càng thấy nhiều doanh trại, đằng cuối con đường có đèn điện sáng trưng.

Thấy bất an, tôi rẽ trái ở một con đường nhựa nhỏ, đằng xa, trước mặt lại có ánh đèn sáng. Tôi quẹo phải vào một con đường tối nhỏ khác đi chừng ba mươi thước, tôi thấy trước mặt mình một cỗng gỗ và trạm gác. Là Phi công, tôi có đôi mắt toàn hảo 20/20, nhưng sự mệt mỏi, kiệt sức và thức đêm đã làm mắt tôi không còn tinh anh nữa. Tôi nhận ra Trạm gác khi cánh cổng chỉ còn cách mười thước. Sự tối tăm của con đường, của Doanh trại hòa lẫn trong bóng đêm mờ nhạt. Tôi quay trở lại tự nhiên như người đi nhầm đường. Bỗng có tiếng hỏi lớn bằng tiếng Việt:

– Ai đó?

Tôi tỉnh bơ như người Khmer… Có tiếng chân bước vội theo và tiếng quát:

–  Đứng lại.

Tôi vùng bỏ chạy như mũi tên vừa buông khỏi cung. Tên gác ngớ người trong một giây rồi rượt đuổi theo. Đến bức tường hàng rào sắt, tôi phóng mình leo lên, nhảy lao vào, băng qua nhũng bụi cây rậm. Im lặng. Tiếp tục tìm đường lẩn trốn, băng qua một ngôi nhà tôi thấy những dụng cụ nón đồng, ống nước của một bộ phận cứu hỏa. Qua khoảng đất rộng của sân đá bóng bỏ hoang, tôi leo rào ra đường. Phía bên trái, một Cổng trại lớn đèn sáng với nhiều Bộ đội đứng gác. Tôi quay trở vào, đổi hướng. Những gian nhà lớn vẫn chìm đắm trong giấc ngủ, một vài ngọn đèn điện tù mù, một văn phòng nhiều xe đậu của Câu lạc bộ Thể thao. Tôi rẽ trái và phát hiện một Cổng gác nằm im lìm. Đứng nấp vào gốc cây, quan sát thấy Trạm gác vắng vẻ, không người, tôi dón dén đi qua cổng. Bỗng có tiếng quát:

– Ai đó?

Tôi quay người lại bước đi.

– Đứng lại.

Tiếng quát lớn hơn, và tôi vùng bỏ chạy. Tên gác đuổi theo đến khi tôi chạy quanh co mất hút. Chắc y tưởng tôi là một tay Bộ đội cùng trại dù đi chơi, hoặc chôm đồ đi bán nên chỉ đuổi theo lấy lệ. Hai lần bị rượt không nghe súng bắn, không nghe báo động, tôi thấy yên tâm hơn, nhưng sự yên tâm không kéo dài lâu vì sau thời gian chạy đảo điên trong căn cứ trùng trùng điệp bủa vây như thiên la địa võng, tôi bắt đầu hoang mang không biết nên đi hướng nào, trong khi trời bắt đầu sáng dần.

Tưởng tượng phải nằm kẹt lại một ngày trong khu vực nầy, không nước uống, không thức ăn, không chỗ ẩn nấp kín đáo và ngày mai một cuộc bố ráp để tìm tên tù vượt ngục, bao nhiêu nỗ lực, công sức trong cuộc vượt thoát nhà tù 7708 đều trở thành vô ích nếu tôi không thoát khỏi chỗ nầy.

Nhớ lại khuôn mặt của tên thẩm vấn và những lời đe dọa nguyền rủa ngay đối với Đồng chí của mình, tưởng tượng bị bắt và bị điệu về đứng trước cái cửa sổ sắt đã bị bẻ gãy và những đòn thù… Tôi phải nhanh chân, phải tranh thủ thời gian hạn hẹp, chạy vòng vòng, cuối cùng tôi gặp một hàng rào thấp. Lần nầy tôi quyết định bò qua đường, mặc dù rất gần Cổng trạm gác lớn. An toàn, tôi đi vấp té liên miên trong một khu vườn rậm, nhiều đất trũng thấp cao và nhiều chướng ngại vật. Tiếng lạc xạc, răng rắc của lá, cành khô, những đồ vật bừa bãi dọc theo vách nhà làm tôi chậm lại, ngại ngần từng bước. Gặp một con đường bằng đất nhỏ, tôi dò dẫm đi qua những dãy nhà hoang, và sau đó, những dãy nhà khang trang tề chỉnh bỗng xuất hiện.

– Đã thoát ra đường phố rồi chăng? Tôi tự hỏi.

Tôi bước lên lề đường rộng, thấy một người mặc quần sọt áo thun đứng trước hiên nhà. Bất chấp, tôi bình thản đi qua. Vừa qua mặt y được vài thước, bỗng tiếng tu huýt ré lên, tôi giật mình vì có tiếng chân rùng rùng của nhiều người dồn dập ào tới. Từ các hẻm hóc, từ các ngôi nhà, Bộ đội ùng ùng chạy ra để tập thể dục buổi sáng.

Tôi vẫn đi chậm rãi quan sát đằng trước, một cánh cổng làm bằng lưới B40 sơn trắng toát. “Có cổng là có trạm gác” tôi thầm nghĩ, và rẽ trái để tránh cổng. Một vài ngôi nhà đổ nát, một số bụi chuối mọc bừa bãi, có vài dấu hiệu của một khu vực nhà cầu, chỗ nuôi gà vịt. Một dãy nhà chắn ngang trước mặt, tôi chợt thấy một khoảng trống hẹp giữa hai ngôi nhà được rào kín bằng kẽm gai, và một tấm ván dài bắt qua lén lút. Có lẽ con đường nầy được các chú Bộ đội dùng để vượt hàng rào trốn đi chơi chăng? Tôi vừa đặt chân lên tấm ván, bỗng có tiếng hỏi lớn sau lưng:

– Ai? Đi đâu đó?

Tôi phóng nhanh qua hàng rào nhảy bừa ra ngoài, quẹo hướng trái. Đảo mắt nhìn ngược về sau, tôi không thấy ai đuổi theo nhưng cũng rẽ vào một hẻm khác tìm chỗ nấp ngay. Chờ mười phút, thấy vẫn yên tĩnh, tôi trở ra đường, hội nhập cùng đám nguời lao động vừa rời nhà đi làm sớm. Sau một đoạn đường, tôi bị một người đi xe đạp ngược chiều chận lại, y nạt nộ có vẻ giận dữ. Mười lăm ngày học tiếng Miên chưa giúp tôi hiểu hết những từ ngữ y đang nói nhưng rõ ràng, qua dáng điệu, tôi đoán được điều y muốn nói:

– Có phải mầy là cái thằng suốt đêm bị lùng đuổi trong các căn cứ Bộ đội không? Mầy đi đâu? Làm gì đây?

Chắc chắn y chính là người có nhiệm vụ đi tìm tôi, khi các khu vực doanh trại báo cáo tình hình và biến cố trong đêm. Thấy không ổn, tôi trừng mắt nhìn y, dợm tay đe dọa như sắp đấm vào mặt y và đồng thời quát lớn bằng tiếng Việt:

— Đù mẹ, mầy muốn gì? Cút đi không ông vặn cổ mầy bây giờ. Cút đi…

Tôi vừa xông tới, vừa gằn từng tiếng qua hai hàm răng nghiến chặt. Nghe nói tiếng Việt, lại thấy cái dáng diệu dữ dằn chẳng biết là thứ hung thần nào, y quýnh quáng lật đật đạp xe đi tuốt. Tôi đoán chắc y chạy đi kiếm một tên có súng trở lại bắt tôi, nên vội lách vào một nơi ẩn trốn rồi lén băng qua vườn để đến một đường khác. Tôi vứt bỏ khăn cà ma, thay áo khác và đi ra đường, chọn những con hẻm nhỏ để đi.

Trời sáng dần, mặt trời ngoi lên khỏi các hàng cây, nóc nhà, vầng thái dương rực rỡ trong vẻ chói lọi huy hoàng. Có bao nhiêu lần ta đã ngồi chờ trăng lên, có bao nhiêu đêm ta đã trông đợi mặt trời. Mặt trời. Mặt trăng. Sự thông cảm trong nỗi cô đơn, sự trở lại nồng nhiệt của niềm hy vọng và ánh sáng dẫn đạo. Mặt trời. Mặt trăng. Vẻ đẹp, vẻ thẩm mỹ được nâng lên cùng những giá trị nhân bản. Mặt trời nằm hướng tay phải, có nghĩa là tôi đang đi đúng hướng Bắc. Phố xá, xe cộ, người ngợm đông dần, tôi đã tới Trung tâm Thủ đô. Trên đường đi buổi sáng, tôi cẩn thận để ý đến những chiếc xe tuần tiễu, những toán người có nhiệm vụ săn đuổi tôi, sau khi trại tù 7708 bừng mắt thức dậy với cái tin kinh khủng động trời: “Phá nhà tù vượt ngục.”

Tôi tránh đi ngang nhà ga xe lửa và hỏi đường đi về xà tôi (chợ nhỏ). Tôi từng xem nhiều cuốn phim, từng chứng kiến nhiều cảnh chận bắt trên đường, sự hối hả vội vã, sự lo lắng hồi hộp, sự bối rối lúng túng, những động tác thừa thải… là những yếu tố để nhận dạng kẻ bị tình nghi. Tôi đã tập đi qua cổng kiểm soát nhà tù với những đồ cải thiện quốc cấm dấu trong người, tôi đã tập bẻ lén những buồng chuối ngay sau lưng những tên Cán bộ Quản chế, những hồi hộp, bối rối ban đầu dần dần trở thành tê liệt, chai cứng.

Làm sao tìm được con đường đi vào, con đường đi ra thành phố khi những đô thị lớn chằng chịt những con đường mà ta lại không có bản đồ. Tôi đi dọc theo bờ sông, so sánh đối chiếu giữa lời chỉ dẫn và thực tế bao giờ cũng có nhiều dị biệt. Sự tưởng tượng đối chiếu thực tế thường hoàn toàn sai lạc, dù là trí tưởng tượng thiên tài. Không thể đón bất cứ chiếc thuyền nào đi trên sông như lời Tại nói khi bờ bãi mênh mông, tàu bè xuôi ngược lạnh lùng. Ngay chính cái vị trí, cái khuôn mặt của vựa cá theo sự phác họa của Tại cũng gây cho tôi một ấn tượng nhầm lẫn. Vựa cá thực sự là một khu vực đông đúc náo nhiệt với tàu bè tấp nập trên sông. Nhà tranh, nhà sàn nằm rải rác với các loại “tàu đục” và ghe thuyền khác bu bám vào như một con heo nái có nhiều vú để cho một đàn con chen chúc cùng bú một lúc. Nhiều doanh trại Bộ đội VC và Khmer đóng dọc theo đường đi. Tôi hỏi thăm anh Sáu Hài như lời Tại dặn, nhưng ở đây không có ai tên đó cả. Khu vựa cá hầu hết đều do người Việt kiều làm chủ.

– Ở đây chỉ có anh Ba Hiên nhưng anh ấy đi Kampong Chanang rồi, một tháng nữa mới về.

Một thanh niên trả lời tôi một cách không sốt sắng. Tôi gặp một người đàn bà khác. Khi nghe tôi hỏi thăm về công ăn việc làm, bà không trả lời điều tôi muôn biết mà lại khuyên nhủ:

–  Cậu không biết tiếng Khmer đi tới đi lui hoài coi chừng bị bắt đó!

Thật chán, nhưng không chán như cơm nếp, bởi vì thật sự giờ nầy nếu có cơm nếp để ăn thì thật tuyệt. Tôi lủi thủi bỏ đi. Đường dài, nắng cháy, lộ phí chỉ có một gói thuốc Samit, tôi cảm thây vô vọng. Tôi chẳng trách Tại, vì dù sao, cũng chính lời bịa đặt của Tại đã gây thêm niềm tin trong thời gian chuẩn bị và thực hiện cuộc vượt ngục của mình. Đang mơ màng, tôi bỗng dẫm phải một con chuột chết nằm trên đường. Tôi lẩm bẩm nói lái từng chữ chuột, chết khi ghép chung với tên mình. Tống-chuột — Tuột chống. Sáu Hài đúng là cái chống để nâng đỡ tinh thần tôi, bây giờ không có Sáu Hài, tôi mất chỗ nương tựa, bị tuột chống. Tống-chết — Tết chống. À! Như vậy tôi có cơ hội để tết lại, cột lại hay củng cố lại cái chống của mình, tôi sẽ nhận được sự giúp đỡ khác! Tôi thích chơi chữ vẩn vơ và thỉnh thoảng cũng tin vơ vẩn. Như khi nghe Sang khai tên, tôi đã ghép hai tên và nói lái lại: Tống-Sang—Táng sông, như vậy nếu đi cùng Sang tôi dám chết sông, chết suối lắm. Trong khi bị giam ở nhà tù 7708, tôi đã nghĩ, nếu không trốn thoát được tại đây, trên đường bị áp giải về Việt Nam, tôi sẽ lợi dụng bến phà Nikluong nhảy xuống sông để lặn đi trốn và như điềm gỡ ghép tên, tôi sẽ bị chết đuối tại Nikluong. Nhưng có ai ngờ khi tôi đến Đài Côn, người thợ lặn đã chết đuối trước mắt tôi và tôi cứ nghĩ, có lẽ người nầy đã chết thế mạng cho tôi.

Tôi đã quá mệt, quá đói và khát, nhưng thiên hạ vẫn thờ ơ không ai biết, không ai cảm thông và rất buồn để nhận ra rằng trên cuộc đời nầy, ít ai có được cái giác quan thứ sáu đáng yêu đó. Trên bờ sông, một nhóm thuyền chài tụ tập ăn trưa, tôi quyết định quẹo vào chờ cơ hội vét nồi kiếm tí cơm thừa. Cặp vợ chồng Việt kiều vừa ăn trưa xong, thấy tôi trờ mặt tới đã báo cáo một cách tiếc nuối:

–  Không còn lấy một hột cơm!

Tôi đưa mắt nhìn một toán người Khmer đang ngồi ăn. Thấy ánh mắt đói khát thèm thuồng của tôi, cặp vợ chồng kia chặn ngay:

–  Không được đâu, họ không cho đâu. Coi chừng nguy hiểm đó.

Thế là tôi đành vờ xuống bờ sông rửa mặt mũi, nhưng đồng thời uống một bụng nước sông thật thỏa thích để vừa đỡ khát lại vừa đỡ đói. Tôi lại đi, nhiều lúc cảm thấy mình không còn một chút sức lực, nhưng như một cái máy tự động, chân tôi vẫn cứ bước đều và bước mãi. Tôi không dám ngồi nghỉ, sợ rằng ngồi xuống lại không còn sức đứng lên được nữa.

Hai bên đường, xe đạp của người đi câu, đi làm ruộng để rải rác lăn lóc. Tôi dập tắt ngay thoáng ý nghĩ vừa lướt qua: Đánh cắp một chiếc xe đạp. Thật tiện lợi và thật thoải mái biết bao nếu giờ nầy ngồi lên yên một chiếc xe đạp. Nhưng tôi sẽ không làm bất cứ điều gì xấu trong quá trình đi tìm tự do của mình. La fin justifie les moyens? Không, cứu cánh dù tốt đẹp bao nhiêu cũng không thể biện minh cho những phương tiện xấu. Tôi thà cam nhọc nhằn vất vả, chứ không thể làm một điều gì trái với lương tâm. Chỉ có một lần duy nhất trên đoạn đường gần biên giới Thái—Mã, đang đêm, tôi chun vào bếp một nhà bên đường ăn vụng cơm nguội. Tôi làm điều đó không chỉ vì quá đói, bởi vì đã có nhiều lần tôi nhịn đói hằng mầy ngày và cả nhịn khát, phấn đấu đi bộ liên tục và vẫn chịu đựng được. Tôi làm thử điều đó để tự chứng tỏ với mình rằng, tôi có đủ khả năng để làm những việc như vậy. Tôi đã không làm và sẽ không làm một lần nào nữa, không phải vì tôi nhát gan sợ sệt hoặc tôi kém tay nghề mà vì những ý nghĩ hướng thượng, đạo đức căn bản của một con người lương thiện.

Để tự xác nhận bản chất thực của mình, tôi đã phải đánh đổi cả một tương lai đang rực rỡ trước mặt với những gian khổ, phong trần, trong một bước ngoặc bi tráng của cuộc đời mình, khi tôi bị đuổi trở về Việt Nam trong thời gian du học Hoa Kỳ năm 1966. Tôi muốn xác định rõ rệt giữa sự nhẫn nhục và sự hèn nhát.

Sự nhẫn nhục và sự hèn nhát không có biên giới rõ rệt. Không thiếu gì kẻ lạm dụng từ ngữ nhẫn nhục để che đậy sự hèn nhát, khiếp nhược của mình. Sau khi xong phần Anh ngữ, tôi chỉ còn ba hôm để chuyển sang trường bay Pensacola của Hải Quân Mỹ tại Florida. Tôi đánh “Trọng khùng” hiện định cư tại Australia, không phải vì một hận thù cá nhân, mà vì Trọng khùng là biểu tượng, là đại diện của thế lực hà hiếp, áp bức, trong một phạm vi nào đó.

Nhịn nhục Trọng khùng cũng dễ thôi, bởi vì tôi đã nhịn nhục cả một năm rưỡi trời kể từ ngày tôi bước chân xuống chiếc tàu Hải Quân chở chúng tôi, những tân Air Cadet, đến bờ biển Nha Trang. Trọng khùng đã tình nguyện bỏ phép Tết ở lại Quân trường đày đọa, hành hạ cả khóa 65A KQ. Khi đi Mỹ, Trọng khùng cũng không bỏ được trò ác độc, thâm hiểm khi được cất nhắc làm Cán bộ Khóa sinh. Trên xứ sở văn minh mà nền tảng xã hội được xây dựng trên bình đẳng, công lý và nhân đạo (đó là ấn tượng của tôi về Mỹ Quốc ngày xưa!), hành động của Trọng khùng nổi bật như một con sói dữ điên cuồng.

Hôm thực tập báo động, anh em trùm poncho đập Trọng khùng một trận dưới basement. Nhẫn nhục với Trọng khùng thêm ba ngày nữa, tôi sẽ đi trường bay, sẽ đỗ đạt vinh quang, và trở thành một chàng Phi công Khu trục. Nhưng thật sự, tôi nhẫn nhục hay tôi sợ hãi vì Trọng khùng có quyền hành của một cấp Cán bộ và có thân thể đồ sộ và khỏe gấp hai lần tôi? Tôi muốn trắc nghiệm để tự tìm hiểu mình. Tôi bỏ lớp học trở về nhà một mình, và đến phòng Trọng khùng. Tôi dùng sức mạnh tinh thần, dùng ý chí để áp đảo một kẻ hoàn toàn thắng thế mình mọi phương diện, ngoại trừ cái đầu. Tôi đánh Trọng khùng bằng chiếc ghế sắt đến lúc Trọng khùng quì sụp xuống lạy như tế sao và năn nỉ tôi tha mạng. Ngay chính giờ phút đó, tôi cảm thấy nguôi dịu những cơn bão lửa cuồn cuộn như một hỏa diệm sơn đã bùng nổ và phun cạn tất cả những nham thạch âm ỷ réo sôi trong lòng trái đất. Tôi thấy tội nghiệp cho đối thủ và ngưng tay. Bỗng nhiên Trọng khùng vùng bỏ chạy, tri hô cầu cứu khi tôi vừa ra khỏi cửa. Hình ảnh Trọng khùng chạy băng qua khu trường học với một chiếc xì líp duy nhất trên thân thể bầm tím, đầy dấu vết của trận đòn đã gây nên một cuộc báo động toàn căn cứ Lackland. Xe cứu thương khẩn câp chở Trọng khùng đi bệnh viện và Quân cảnh bắt đầu mở cuộc lùng kiếm tìm bắt. Tôi bị đuổi về nước trong vòng 24 tiếng đồng hồ.

Vâng, nếu tôi chịu nhẫn nhục Trọng khùng trong ba ngày nữa để có một tương lai sáng lạn, thì tôi sẽ suổt đời nhẫn nhục, bởi vì cuộc đời có biết bao nhiêu Trọng khùng và bởi vì tôi cần yên thân để tiến thân! Một con người nhẫn nhục, một dân tộc nhẫn nhục. Ách nô lệ của ngoại bang, gông cùm của kẻ thù sẽ suốt đời áp đặt, đè nặng từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.

Nếu tôi không chấp nhận thiệt thòi để chống lại những áp bức, những bất công nhỏ hôm nay, làm sao tôi có thể xả thân cho những mục đích cao cả sau nầy. Tôi không hiếu chiến, tôi không tàn bạo, đó không phải là một hành động vô kỷ luật như lý do được nêu ra trong tờ giấy sa thải, nếu sự thật mục đích của kỷ luật là hướng dẫn người Quân nhân trở nên hoàn thiện, hoàn chỉnh trong ý thức phục vụ Công lý và Tổ quốc. Đó là một hành động dũng cảm, đó là một ý chí vươn lên, đó là một tinh thần hy sinh trong sáng, đó là một hành động có giá trị thể hiện sự khao khát, mong mỏi của tất cả những bè bạn cùng Khóa, cùng đi du học, của tất cả những con người biết yêu mến cuộc sống tốt đẹp và Chân lý! Tất cả Sinh viên Sĩ quan Không Quân khóa 65 A đều công nhận và minh chứng điều đó, và bạn bè tôi, những khóa đàn anh, khóa đàn em, đã thực sự yêu mến cái tên Lý Tống từ đó. Tất cả những quyết định quan trọng trong suốt đoạn đời về sau của tôi đều vươn lên từ bước đầu thử thách đó.

Một chiếc xe Honda thồ cùng chiều chạy lại… Xe trống khách, tôi đánh bạo chận lại, dùng tiếng Miên học được trong Nhà tù 7708. Người đạp xe chịu nhận lộ phí bằng gói thuốc Samít. Khi xuống xe, tôi cò kè tính toán:

— Cuốc xe 10 riels, gói Samit 14 riels, anh thối lại tôi 4 riels.

Mặc dù gói thuốc của tôi lăn lóc phong trần suốt đêm đi trốn, đã dẹp lại và gần gãy đót. Tôi không đủ chữ nghĩa để diễn tả bằng lời, nhưng bàn tay tôi, cứ chỉ, cứ ép vào cái bụng xẹp lép, cái thứ hand language đó lại còn hiệu quả hơn. Tôi bỏ túi 4 riels đi tiếp. Đang mệt mỏi, bỗng tôi thấy một lò thợ rèn nhỏ bên đường, một ông già hiền hậu đang đập búa rèn dao chung với một chú bé. Tôi tạt vào, lấy cái áo ca rô bèo nhèo của mình ra gạ bán, ra giá 15 riels.

Tôi thật bạo khi ra một giá cao như vậy vì khi ở trong tù tôi gạ bán 3 riels mà chẳng ai thèm mua. Ông già cầm áo lên, xoay qua, xoay lại ngắm nghía:

–  10 riels.

Ông trả giá. Tôi mừng húm nhưng vẫn kèo nài:

—10 riels cũng được, nhưng ông phải thêm cho tôi một tô cơm nguội!

Ông già sai chú bé chạy vào bếp lục nồi cơm nguội nhưng cơm đã hết sạch. Cuối cùng vì lòng nhân từ, ông đưa thêm 3 riels bảo tôi ra chợ mua cơm ăn. Tôi lại đi, mặc dù đói, tôi vẫn cố nhịn vì số tiền nhỏ nầy chỉ để dùng trong trường hợp khẩn cấp hoặc thật cần thiết. Tôi lại gặp một chiếc xe Honda thồ khác, tính giữa ăn cơm và đi xe thì đi xe lợi hơn vì cùng một đoạn đường, nếu đi bộ, số tiền ăn uống cho đủ sức để đi sẽ đắt hơn giá một cuốc xe lại mất thời gian tính. Tôi chận xe lại, xe đang chở hai bao gạo, một số hàng tạp hóa và hai cô gái người Miên. Tài xế xe thật lí lắc, vừa chạy vừa tán khách nhưng oái oăm thay, một trong hai cô khách lại để ý tôi. Ông Trời thật tức cười. Trong đời, biết bao nhiêu người sống cùng xóm, cùng làng, cùng thời, cả chục năm, cả đời người, cũng không chịu nhau. Thế mà kỳ cục, vừa mới leo lên xe, tôi cảm thấy ngay là tôi đang bị cô ta chịu. Người tài xế cũng nhận ra thế, nên chuyển đề tài, cặp đôi tôi với cô khách. Để biểu lộ cái chịu của mình, cô khách ỏn ẻn nhờ tôi ôm dùm bọc bánh kẹo, trong đó có ổ bánh mì. Tôi đang đói nên chịu ổ bánh mì hơn cô khách, móc tiền hỏi mua nhưng cô ta cười bảo:

– Anh đói cứ lấy ăn. Tôi biếu đó!

Đúng là đang buồn ngủ lại gặp chiếu manh, tôi ăn lấy ăn để. Thường thường người phụ nữ thích những người đàn ông lịch sự, ăn uống thanh nhã và kiểu cách nhưng cái tác phong chết đói của tôi trông lại gợi tình hơn. Cô mời tôi thêm mấy miếng bánh ngọt. Tôi ăn nốt! Cô hỏi tôi:

–  Anh đi đâu?

Tôi cũng chẳng biết mình đi đâu nữa, tôi không thể nói đi Kampong Chanang, chứ chưa nói đến đi Thái Lan bởi vì người ta chỉ đi xe đò để đến đó. Xe Honda thồ chỉ đi từ phum nầy đến phum nọ, tôi lại không biết cái phum sắp đến tên gì. Tôi không đi xe đò, vì xe đò dễ bị chận xét trên đoạn đường nầy. Chỉ đi xe Honda thồ, đi xe đạp, đi bộ là an toàn nhất. Đến ngã tư đường, xe quẹo vào một ngõ khác, tôi bắt buộc phải xuống xe. Tôi đã tính trước, nên dấu bớt một số tiền, chỉ để đủ 4 riels ở túi trên, móc tiền trả nhưng tài xế không chịu. Tôi vờ móc hết túi nầy túi nọ để chứng tỏ đã hết tiền, y đành bỏ đi. Cô gái ngồi trên xe nhìn tôi thương cảm. Qua ánh mắt hình như cô có ý muốn mời tôi ghé nhà cô ta, ăn uống, ngủ lại và… gì gì… đó, chỉ có trời hiểu, nhưng ngại cô em gái, hay ngại anh tài xế quen, lắm điều lắm mồm. Tôi gật đầu chào, bỏ đi, lòng cứ tiếc. Đi một đoạn khá xa, lại thấy chiếc xe hồi nãy lù lù xuất hiện đàng sau. Xe đã có ba khách khác, tôi lại đón xe, tài xế hỏi tôi:

–  Có tiền không?

Tôi cười đáp:

–  Có.

– 10 riels. Y ra giá.

Tôi gật đầu và leo lên xe. Xe chạy đến gần trạm gác, y chạy chậm rồi ngừng lại để đón thêm khách. Không có khách, y vẫn không chạy. Trời về chiều, xung quanh nhiều Bộ đội đang chơi bóng chuyền hoặc tản bộ vòng vòng. Tôi thấy bối rối vì người tài xế, tôi chẳng hiểu y muốn trả đũa tôi vì chỉ trả 4 riels cuốc xe trước hay sao mà cứ mỗi lần gặp Trạm gác, y lại dừng xe nghỉ một chốc. Một tên gác đến gần nhìn vào đồ đạc trên xe rồi bỏ đi. Mỗi lần như vậy, tôi lại giả vờ nhìn tảng lờ hướng khác, kéo sửa lại khăn cà ma để che bớt khuôn mặt quá trắng. Da tôi vốn trắng lại vừa ở tù ra càng trắng toát so với những thổ dân da đen sậm cùng xe. Cái lối ỡm ờ của tên lái xe đôi lúc làm tôi thót ruột. Cuối cùng, xe dừng ở một trạm chót. Tôi móc 10 riels trả và vội vàng bỏ đi, đi khuất mắt tên nầy càng sớm càng tốt. Biết đâu buồn buồn, y lại kể chuyện về một hành khách kỳ dị, nếu du kích trong làng nghe được, sẽ ngờ vực và đi tìm bắt tôi. Tôi lẩn nhanh ra khỏi phum khi trời đã nhá nhem tối, chỉ còn lẻ tẻ một vài người đi ngược chiều. Trong bóng tối nhờ nhờ, tôi chợt phát hiện hai tay Du kích Heng Samrin đi ngược hướng mình. Thấy tôi, họ dừng lại và hỏi:

–  Bòn tâu na? (Anh đi đâu?)

–  Khnhum tâu te (Tôi về nhà).

Tôi chỉ biết chừng đó chữ để trả lời nhưng khi trả lời xong, tôi biết mình bị hố. Tâu te là phải đi vào phum, tại sao tôi lại đi ra khỏi phum? Bởi vì hôm sau tôi biết ra, từ đoạn đường tôi đang đi trở ra, trên mười lăm cây số không có một te (nhà) nào cả! Tên Du kích hỏi tiếp. Tôi chưa hề học những chữ y dùng, nhưng hiểu là y đang diễn tả sự ngạc nhiên về kiểu tâu te của tôi. Y hỏi ríu rít, lẹt khẹt như tiếng bầy khỉ đang cãi nhau, và giành ăn trên cây. Bí quá, tôi bèn nạt lớn bằng tiếng Anh:

–  I’m going home. God damn it! What do you want?

Y thực sự kinh ngạc, không phải chỉ vì không hiểu tôi đang sử dụng loại ngôn ngữ gì, mà có lẽ vì sự dữ tợn của tôi. Y lúng túng. Tên thứ hai bỗng nói một tràng ríu rít với y. Tôi đoán chừng y muốn nói: “Gặp thứ dữ rồi. Nó đi đâu kệ mẹ nó. Coi chừng lại lôi thôi bây giờ,” và hai tên cùng bỏ đi. Thật hú hồn! Tôi mỉm cười, định bụng nếu hai tên nầy còn lộn xộn, muôn kiếm chuyện, lợi dụng trong đứng gần và trời tối, tôi sẽ tấn công bất thình lình, giật súng, hạ đo ván và thoát thân.

Đi chừng ba trăm thước, tôi rẽ trái vào cánh đồng lúa tìm nơi ẩn nấp, vì trước mặt tôi, lại có một cây cầu và trạm gác. Có lẽ hai tên Du kích kia vừa đổi gác ở đây về. Vào mùa nước lên, ruộng lúa đều ngập nước, chỉ còn những khoảnh đất quanh các gốc thân cây lớn nổi cao trên mặt nước làm thành những gò đất nhỏ. Tôi kiếm một gốc cây, bẻ một ít lá lót đất và nằm nghỉ.

Nằm chưa ấm đất, tôi đã nghe tiếng bàn bạc nói chuyện của một toán lính đi ngoài lộ lớn. Có lẽ khi nghe báo cáo chuyện lạ vừa gặp trên đường, cấp chỉ huy của họ đã phái toán nầy đi lùng kiếm tôi. “Mặc kệ chúng mầy!” Tôi tự nhủ, biết rằng họ chỉ đi kiếm dọc theo đường lộ chính, chẳng ai mất công lội từ ruộng nầy qua ruộng khác, săm soi từng gốc cây. Dù họ có làm như vậy, tôi chỉ cần tụt xuống những đám lúa xung quanh tìm chỗ nằm nấp. “Mầy kiếm đằng trời cũng không ra, trừ khi có chó,” nhưng ở Kampuchia nhà quê sau khi được Cộng Sản “giải phóng” thì làm gì còn có chó vì người Kampuchia và nhất là Bộ đội VC lại rất khoái món cầy tơ nầy.

Họ sục sạo lui tới nhiều lần và cuối cùng nằm phục kích trên đoạn đường ngang chỗ tôi nằm. Họ có kiểu phục kích thật lạ, vừa phục kích, vừa hút thuốc, vừa nói chuyện như khứu. Tôi phải nằm yên chịu đựng sự tra tấn của từng bầy muỗi đói. Tôi nghe nói: “Vùng Cà Mau muỗi nhiều như vãi trấu. Đêm ngủ, trâu bò cũng phải giăng mùng.” Tưởng là người ta nói quá đáng nhưng so với chỗ nầy, muỗi Cà Mau không thể so sánh được.

Tôi nằm thiêm thiếp một chốc và tỉnh dậy. Tiếng nói chuyện vẫn còn dòn dã bên ngoài. Trăng còn sáng quá, tôi phải đợi, đợi hoài không được, tôi quyết định đi tiếp. Tôi đi song song, cách đường lộ chừng hai trăm thước, có lẽ tôi đã qua khỏi khu vực cầu rồi. Tôi định trở ra đường đi tiếp nhưng làm sao chắc được sẽ không có toán Du kích, hoặc Trạm gác nào khác trên đường. Để được an toàn tối đa, tôi chấp nhận giải pháp gian khổ. Nhìn theo hướng sao đêm, tôi băng đồng, lội nước, đi mài miệt suốt đêm, đến khi trời gần sáng, tôi quẹo phải, trở lại đường lộ, tìm một gốc cây kín đáo, nằm nghỉ, bù lại cả ngày đêm mệt nhọc, định bụng nếu toán An ninh có phái xe Honda chạy đi kiếm tôi, tôi tính thừa thêm giờ trở về của họ. Hoàn toàn khỏe và an toàn, tôi theo đường lộ đi tiếp.

Tôi bắt đầu để ý đến cột mốc cây số bên đường. Cây số 70, tôi thử tính tốc độ đi bộ của mình, đếm chầm chậm 1, 2, 3, 4… như nhịp của kim giây đồng hồ. 1 giây, 2 giây… chừng đếm được 900, tôi gặp cây số 71. Tính ra 900 giây = 15 phút, mỗi 15 phút đi được một cây số, như vậy mỗi giờ đi được 4 cây số, đến khoảng trưa tôi sẽ tới Kampong Chanang. Tôi ghé vào một quán nhỏ vắng vẻ bên đường, ăn tô cháo. Tôi hỏi:

–  Có trạm gác Bộ đội VC trên đường đi Kampong Chanang không?

Người đàn bà Miên già tốt bụng cho biết:

–  Có hai trạm.

Ở trạm đầu tiên, tôi bắt đầu tách vào rừng thưa, đi vòng phum, rời đường đúng ở cây số 77. Tôi vừa trốn thoát Nhà tù 7708!  Lại số 77 định mệnh. Khoảng 3 giờ đồng hồ sau, tôi trở lại đường, gặp cột cây số 88. Lại số 88 định mệnh. Tôi thấy yên tâm. Ở vùng nầy có nhiều núi đá, một sắc thái đặc biệt nhất trên suốt lộ trình. Tôi lại ghép chữ nói lái: Tống Đá — Tá đống. Tôi tự diễn dịch vào hoàn cảnh hiện tại: “Tá tức là tá túc, đống có nghĩa là nhiều. Có nhiều chỗ tá túc ẩn thân trên đoạn đường sắp tới!”

Cổng trạm vào thành phố Kampong Chanang kiểm soát thật nghiêm nhặt. Có 3 loại cổng gác trên đường đi. Loại một, cổng kéo lên, mở thường xuyên và đi qua dễ dàng. Loại hai, thanh cài cổng hạ xuống chắn ngang đường đi, xe cộ phải dừng lại kiểm soát, nên cẩn thận. Cổng trạm Kampong Chanang thuộc loại thứ ba, vừa hạ xuống chận đường, lại vừa có thêm nhiều khung kẽm gai hình chữ A tăng cường thêm, rất nguy hiểm.Ở  đây không chỉ xét xe đò, xe lôi, xe đạp mà cả người đi bộ nữa! Tôi bọc vòng sau các dãy nhà, ruộng lúa. Khoảng đất trông trải dễ bị phát hiện.

Tôi đi thủng thẳng như người dân địa phương đi thăm đồng. Qua Trạm gác an toàn, mặc dù thỉnh thoảng gặp vài người dân nhìn tôi ngờ vực. Qua một cây cầu dài, tôi đi vào đoạn đường đô thị đầu tiên. Ở bên phải một ngôi trường lớn, nhiều Sĩ quan Bộ đội đi học về. Tại Trung tâm thành phố, tôi lưỡng lự giữa ngã ba đường. Tôi chận một cô gái Miên đi ngược chiều, hỏi:

– Thơ trẩy náu na? (Đánh cá ở đâu?)

Tôi tránh hỏi những người đứng trước nhà vì biết đâu trong nhà lại có Công an! Tôi cũng không hỏi những người đi cùng chiều vì cùng chiều, tôi phải ở trong tầm ảnh hưởng của họ một đoạn đường dài. Người đi ngược chiều, nếu có nghi ngờ, thì khoảng cách giữa họ và tôi càng lúc càng xa và chắc chắn, không phải lúc nào người ta cũng sẵn sàng chia sẻ sự nghi ngờ với những người trên đường. Cô ta chỉ:

–  Đi thẳng, hết đường quẹo phải.

Tôi gặp những dãy nhà nằm san sát dọc theo bờ sông. Bộ đội ngược xuôi tấp nập. Nghe Tại nói ở Kampong Chanang toàn người Việt kiều, xin việc đâu cũng có nhưng từ nãy giờ, tôi chưa thấy một ngườỉ dân Việt Nam nào cả, trừ các chú Bộ đội VC. Tô cháo lỏng bỏng buổi sáng đã tan thành những giọt mồ hôi.

Đang chán nản bỗng nghe giọng một người đàn bà Việt Nam dưới bờ sông. Tôi mừng rỡ quẹo xuống. Trong một mái nhà nhỏ che đậy tạm bợ, hai người đàn ông đang vá víu lại một chiếc ghe cũ bị hư.

–  Thưa dì, ở đây có ai cần mướn người làm không ạ?

– Mướn gì nổi. Ai cũng chạy ăn không đủ bỏ vào miệng tiền đâu, việc đâu mà mướn?

–  Tôi nghe nói… Tôi lắp bắp.

–  Cậu qua thử bên Cồn kia xem sao. Ở đó có những tổ đánh cá lớn, may ra…

–  Ở đâu? Làm sao qua đó?

–  Mướn ghe 2 riels. Phía đó!

Tôi có cả thảy 17 riels, đi xe và ăn tô cháo hết 15 riels. Còn đúng 2 rỉels. Vừa đủ một cách lạ lùng! Theo hướng người đàn bà chỉ, tôi đi cuối đường và quẹo trái, gặp một chợ trời nhỏ, những chiếc tàu thủy chở khách, một cổng gác bán vé. Tôi hỏi nơi đón ghe qua Cồn đất giữa sông Mê Kông, đi theo lời chỉ dẫn, tới khu vực đồn trú của Bộ đội.

Phía bên kia cổng gác, Bộ đội và dân chúng đang khiêng gạo, than, vô ra tấp nập. “Không vào hang hùm làm sao bắt được cọp?” tôi nhủ thầm và lẫn theo mọi người đi vào. Có lẽ đây là nơi xuất phát chính của những tên Bộ đội tôi gặp đi ngoài đường vì nhà nhà đều có bóng áo treillis, nón cối.

Vừa đến bến ghe đậu, đã thấy chiếc ghe sửa soạn rời bến, tôi ngoắc vội vàng và nhảy lên. Hành khách duy nhất là Việt kiều, đánh cá tại Biển Hồ, Tonle Sap. Biển Hồ là hồ chứa cá thiên nhiên vĩ đại nhất của Kampuchia. Cá biển Hồ đủ nuôi sống cả dân tộc Kampuchia và số cá thừa, theo dòng nước Cửu Long đi về hướng biển Đông, làm trù phú nhũng vùng Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ Việt Nam.

Biển Hồ lại gần Siêm Rệp, từ Siêm Rệp qua biên giới Thái khá gần, nhưng tiếc thay, người thanh niên không đem tôi theo được. – Không có giấy tờ sẽ bị bắt dọc đường. Chắc chắn không đi được. Anh ta qua Cồn để tìm một người quen nhưng không gặp nên theo ghe trở về, còn tôi ở lại. Khi nghe người đàn bà bảo qua đây xin làm gạch, trong một giây, tôi liên tưởng đến nhà tù A30, đến đội làm gạch ngói.

Có lần vài người bạn rủ tôi qua đội làm gạch ngói với họ cho vui, nhưng tiếc thay, mặc dù Trại đang cần thêm người tình nguyện, tôi lại bị từ chối dứt khoát vì tôi thuộc thành phần nguy hiểm nhất, ngoan cố nhất, phản động nhất… theo sự đánh giá của Cán bộ Quản giáo. Đội gạch ngói lại thường làm ngoài, dễ có cơ hội đi trốn. Nhưng sau sáu năm tù tội, làm đủ thứ nghề, đủ thứ công tác, giờ nầy có việc gì tôi không làm được? “Kể cả việc làm Tông Tông!” Tôi nói đùa với mình.

Tôi Đi Tìm Việc Làm 

Trước mắt tôi là một gian nhà lá đang lợp dở dang. Gần hai mươi người đang ngồi trên mái nhà làm việc. Tôi đến gần, hỏi vọng lên bằng tiếng Việt.

— Bác ơi, ở đây có cần thêm người làm không?

Nghề lợp nhà vốn là nghề ruột của tôi trong tù. Có tiếng những người Khmer đang hỏi nhau trên kia, và nhiều tiếng cười rộ. Sau đó một giọng nói tiếng Việt vọng xuống.

–  Đủ người rồi.

Và họ thản nhiên làm việc như không hề có tôi đứng dưới. Đứng hồi lâu, thấy lạc lõng, ngớ ngẩn, tôi đi về hướng một người đàn bà đang ngồi trên võng vá áo quần, tôi không lầm, vì người nầy cũng là Việt kiều. Tôi chào bà ta, ngồi xuống và trần tình tự sự.

–  Tôi ở vùng kinh tế mới…

Tôi kể lại đời tôi, một cuộc đời bi thảm tưởng tượng mặc dù không bi thảm hằng cuộc đời thực tế và cuối cùng, tôi kết luận:

–  Hai ngày nay tôi nhịn đói, dì còn cơm nguội cho tôi một ít.

Người đàn bà hòa nhã và tốt bụng. Bà có vóc dáng giống dáng người đàn bà mà thầy bói diễn tả với tôi về những nữ nhân phù hộ trong những đoạn đường gian khổ. Và chính một người đàn bà khác ở Thái Lan giúp tôi cũng có nét hao hao chị em với bà nầy. Bà kêu một trong hai cô con gái chừng 18, 19 tuổi, xinh xắn dễ thương, vào bếp dưới thuyền lấy cơm và cá khô cho tôi ăn.

–  Cơm và đồ ăn còn ít. Cậu ăn đỡ chờ chiều ăn thêm.

Cái phần ăn đỡ của bà thật vĩ đại đối với tôi trong lúc nầy.

Nó còn ngon hơn cả thời kỳ ăn ở Nhà hàng Bát Đạt, Bạch Cung, những nhà hàng sang trọng nhất Chợ Lớn. Bà có người em trai làm Giám đốc Tổ hợp đánh cá nầy và hứa sẽ giúp đỡ khi em bà đi công tác trở về ngày mai. Buổi cơm chiều thật huy hoàng. Số canh và cá thừa đổ xuông sông, nếu cho tôi trong thời kỳ trốn chui trốn nhủi ở Sàigòn, hâm đi hâm lại, ăn cũng được mấy ngày.

Trời bắt đầu chiều tối, cô con gái lại đem mùng, mền và chiếu đến cho tôi ngủ. Tôi nằm hưởng thụ những hạnh phúc ngây ngất đang tràn ngập tâm hồn. Tôi tự nhủ: “Tia sáng hy vọng cuối đường hầm đã lóe lên rồi chăng?”

Tối đó có một buổi họp của Tổ hợp đánh cá. Buổi họp kéo dài, ồn ào vì có nhiều ý kiến. Khi buổi họp chấm dứt, một người đánh cá trẻ lại gặp tôi, báo một tin như sét đánh:

– Tổ hợp có đề cập đến trường hợp của anh. Họ nghi anh là Bộ đội đào ngũ nên không dám chứa chấp. Do đó, Ban Điều hành, phần lớn là người Khmer, trừ Giám đốc Việt kiều quyết định: Anh được phép ngủ lại đây tối nay nhưng sáng mai phải đi nơi khác!

Tôi như cánh diều đang nương gió bay cao, bỗng giây bị đứt, tôi lảo đảo, quay cuồng, chóng mặt. Hy vọng càng lớn, thất vọng càng nhiều. Tôi đang đối diện với một thực tế phũ phàng. Từ sau buổi họp, người đàn bà buồn bã, né tránh tôi. Tôi nằm trăn trở suốt đêm không ngủ được. Có những lúc trên đường đi nằm bờ nằm bụi, nằm trên đất ướt, dưới mưa, tôi vẫn có được những giấc ngủ ngon, thế mà giờ nầy, mùng mền, chiếu, gối, giấc ngủ lẫn tránh, không chịu đến. Sáng sớm khi xếp dọn những đồ mượn ngủ hôm qua đem trả, tôi lại hỏi ý kiến người đàn bà, xem còn cách nào khác không.

–  Tiếc quá, cậu đến trễ có một ngày. Hôm qua Ba Hiên vừa kéo thuyền bè đi làm gạch rồi. Ba Hiên hay Sáu Hiên, gọi theo thứ tự của mình hay bên vợ, tốt và chịu chơi lắm. Tổ đánh cá của Ba Hiên là tổ tư nhân muốn mướn ai cũng được, tổ của chị thuộc Tổ hợp nhà nước, khó khăn lắm.

Chị Tư, tên người đàn bà, giải thích với vẻ tiếc nuối.

–  Chỗ làm gạch ở đâu? Tôi hỏi.

Người đàn bà chỉ về hướng thật xa, sau một rặng núi dài trùng điệp ẩn hiện:

–  Đó!

Một ngọn núi nhỏ, lẻ loi, nằm tách ra như một dấu chấm, hoàn tất bức tranh sống núi non sông hồ.

–  Sau ngọn núi đó có một ngã ba sông, có một làng đánh cá. Đến đó hỏi, người ta chỉ cho. Từ đây đến đó khoảng mười lăm cây số.

–  Tôi có thể bơi tới đó được không?

–  Đâu có được! Ở đây ai cũng đi ghe thuyền. Cậu bơi giữa sông, tàu tuần tiễu bắt ngay.

–  Có tàu đi qua đó không? Giá tiền bao nhiêu?

–  Có tàu, nhưng tôi không nhớ giá cả.

–  Chị có thể cho tôi mượn ít tiền đi tới đó. Đánh cá có tiền, tôi trở lại trả lại chị.

–  Chúng tôi cũng mới bắt đầu vụ cá đầu năm, đã làm gì ra tiền đâu?

Tuy vậy, người đàn bà cũng lần túi lấy biếu tôi 5 riels. Tôi chợt nảy ra ý kiến đi vòng vòng chung quanh bắt đầu hành khất. Đám người đông, nhưng tiền bố thí lại ít. Tôi bỏ tiền vào túi ni lông, ngậm vào miệng, cởi quần áo bơi từ ghe nầy đến ghe nọ, tiếp tục xin tiền. Tôi bơi gần ba tiếng đồng hồ, có nơi cho nửa riel, có nơi một riel, nhiều nơi từ chối, cuộc bơi lội hành khất cuối cùng chấm dứt.

Tôi kiếm được 35 riels, từ giã mọi người, đi nhờ ghe qua bến tàu để mua vé. Một Việt kiều chỉ cho tôi con tàu nhỏ sắp sửa khởi hành. Tôi vội nhảy xuống, vừa lúc lúc tàu chạy, chiếc tàu nhỏ nhưng đông người. Tất cả khách đều là dân Khmer thuần chủng, da đen sậm, có năm tên Bộ đội Heng Samrin, súng ống lựu đạn đầy người. Tôi ngồi xuống, tự nhiên, bình tĩnh, im lặng lạc lõng giữa những câu chuyện ồn ào của họ. Cũng may là không có ai hỏi chuyện tôi. Tàu cặp bến một phum bên bờ sông, mọi người lũ lượt đi xuống. Tôi tưởng tàu còn đi tiếp, ngồi lại, vì hòn núi vẫn còn cách xa. Người tài công thấy tôi còn ngồi nấn ná, đến bảo tôi xuống tàu.

Vừa bước chân lên bờ đã nghe nhiều loạt súng nổ, có tiếng chân chạy đuổi. Thì ra toán lính gác đang rượt bắt hai người buôn hàng lậu vừa xuống tàu trước tôi. Một Trạm gác nằm bên trái cách hai mươi thước, có nhiều Bộ đội đứng đó. Tôi đi vào mái hiên đợi tàu, ngồi chen chúc với hành khách, quan sát và nhận định tình hình. Người tài công lại đến bên tôi, hỏi tôi đi đâu.

–  Tôi đi đánh cá ở Chí Lức, đằng kia.

Anh ta không hiểu ngạc nhiên hỏi lại:

–  Chí Lức?

Sau nầy tôi mới biết Chí Lức là tên người Việt đặt ra. Tên Khmer là Đài Côn. Tôi hỏi:

–  Ở đây có ai biết nói tiếng Việt không?

Y dẫn tôi đến một căn nhà đối diện Trạm gác.

–  Đây là nơi duy nhất có người biết nói tiếng Việt.

Đến nơi, được biết bà ta dời nhà đi phum khác đã lâu. Tôi liếc nhìn trạm gác. Những người lính Khmer trông mặt mày dữ dằn, đang chụm nhúm thảo luận một vấn đề nào đó. Tôi đến quán bán thuốc lá của một người đàn bà da tương đối trắng duy nhất tại đây, mua hai điếu thuốc lẻ. May thay bà bán thuốc nói được ít tiếng Việt. Bà bảo tôi:

–  Muốn đi Đài Côn, phải đón ghe câu ở đằng kia, gần trưa mới có. Hoặc có thể nhờ tàu tuầu tiễu của Bộ đội VC tới đó!

Ngay lúc đó có một Bộ đội VC đi qua. Tôi đánh bạo ra hỏi chuyện. Anh ta người Nam, dễ tính và càng dễ tính hơn khi nhận điếu thuốc tôi mời. Mặt anh ta rạng rỡ hẳn lên như vừa ngủ dậy và đang thèm một điếu thuốc.

–  Cả tuần mới có một chuyến tàu đi tuần. Nhưng chẳng chắc chắn ngày nào. Anh ta bảo.

Tôi cám ơn, đi về bến ghe câu nhưng chẳng thấy chiếc ghe nào cả bèn đánh một vòng đi ngắm đường sá, nhà cửa, lội xuống một chỗ nước cạn, đến một nhà sàn có mấy người đàn bà đang ngồi nhàn rỗi, thừa mứa thì giờ. Những người đàn bà Miên vui tính, dễ dãi. Tôi nghe tiếng được tiếng mất, hiểu lờ mờ những câu trả lời, và tôi xác định thêm về việc đón ghe câu.

Tại bến ghe câu thấy một người đàn bà Miên đang đứng giã gạo dưới bóng một tàn cây, tôi đến gần hỏi chuyện. May quá, một chiếc ghe đang chèo qua, người đàn bà vẫy tay gọi lớn. Ghe cặp vào bờ, trên ghe có hai vợ chồng già và một số đồ nghề đi câu, làm chài. Họ thuận cho tôi đi nhờ. Ghe cứ chèo, chèo mãi, tôi gợi chuyện nửa Miên nửa Việt vì người đàn ông cũng biết bập bẹ tiếng Việt. Con sông rộng mênh mông, nhưng đường ghe đi càng lúc càng hẹp, bởi vì các loại cỏ nước mọc lan tràn khắp nơi. Đã tới cạnh núi vẫn chẳng thấy gì. Tôi năn nỉ:

–  Bác ráng đi chút nữa xem.

Ghe đã qua khỏi núi, đường sông đã gần bít lối bởi cỏ nước, bỗng thấy một chiếc ghe khác có hai vợ chồng già đang giăng lưới bắt cá, tôi nhờ ông ta ghé đến hỏi tin tức. Người đàn ông kia cũng biết chút ít tiếng Việt, xác nhận hôm qua có thấy tàu và bè như tôi diễn tả, đi qua phía bên kia núi. Chúng tôi đang ở bên trái núi và thuyền bè thì đi bọc bên phải, nhưng chẳng biết đi về đâu. Tôi mừng quá bảo:

— Họ đánh cá gần đó thôi, chở dùm tôi tới đó. Tôi còn 30 riels (tôi đã xài 3 riels đi tàu và 2 riels mua thuốc) tôi sẽ biếu hết các bác.

Họ lưỡng lự và từ chối. Tôi nghĩ có lẽ họ đánh cá bán được nhiều tiền hơn và nhất là cái nơi tôi muốn đến lại mù mờ quá. Tôi phải khẩn khoản, năn nỉ, đồng thời, nhét tiền vào tay họ, cuối cùng họ thông cảm, nhận lời.

Hai người đàn ông cùng tôi lên chiếc ghe tốt, để lại một ghe cho hai người vợ, bắt đầu chèo đi. Từ bên trái băng qua bên phải núi, ghe đi chen chúc giữa cỏ lác, bụi lùm như người đi bộ len lách trong rừng. Qua tới dòng sông lớn, họ dăng buồm lên và chèo tiếp, gió xuôi chiều đẩy ghe đi băng băng, ánh nắng ấm áp rực rỡ trên dòng sông rộng. Tôi thấy hứng khởi, cởi áo quần, chỉ mặc xà lỏn, với tay lấy một điếu thuốc rê của chủ ghe vấn lên và bặp bặp hút. Tôi đứng ngắm cảnh vật thiên nhiên, lòng lâng lâng vui thú như một Nhà Tỉ phú du lịch Địa Trung Hải.

Tôi huýt sáo, ngâm thơ. Hai người đàn ông nhìn tôi kinh ngạc, họ vẫn nỗ lực với mái chèo và tôi vẫn thong dong ngắm cảnh. Tôi mường tượng đến một đoạn phim trong đó một Bá tước trẻ quyền quí đứng chỉ huy trên một bong tàu và những người nô lệ nhịp nhàng mải mê đẩy mái chèo rộng. Một kẻ bần hàn lao nhọc trong suốt sáu bảy năm như tôi, một người vừa bơi ba tiếng đồng hồ đi hành khất, bỗng dưng một phút, trở thành người phong lưu nhàn nhã. Cuộc sống vốn có những trò bất ngờ kỳ lạ và tôi luôn luôn rơi vào những hoàn cảnh bất thường. Cái hào hứng, cái hạnh phúc tuyệt vời đó dần đần bị tan vữa như một bức tranh màu đang vẽ chưa khô bị một trận mưa bất ngờ trút xuốing. Người chèo thuyền nhìn tôi hỏi:

–  Ở đâu?

Ở đâu giữa dòng sông nước mênh mang ngút ngàn? Bờ bụi, cỏ cây trùng trùng xanh thẳm? Tôi đi đâu? Tôi tìm ai? Làm sao tôi biết chắc chắn được? Cơn mộng du đã đưa những bước chân tôi mơ màng về miền đất hứa không có thật. Một vài chiếc thuyền nhỏ, một nhóm người giữa trùng trùng hoang vắng? Họ ở đâu? Họ có thật không? Tôi ra đi với một niềm tin mơ hồ, với những chiếc bong bóng ảo ảnh mà trên cao kia Thượng Đế đang thổi xuống, trong một lúc cao hứng đùa cợt. Thượng Đế ơi! Nếu Ngài sinh tôi ra đời chỉ để thỉnh thoảng dùng vào trong một vài trò tiêu khiển, trong những phút giải khuây, tôi cũng đành phải làm tròn nhiệm vụ hèn mọn của một tên Hề.

Tôi nhớ lại chuyện phim cao bồi tân thời, người hùng cô độc lỗi thời bị cuộc đời hiện đại rượt đuổi khắp nơi, một người, một ngựa, một súng rouleau, tay cao bồi một thời lừng lẫy đã chạy thoát bao nhiêu cuộc truy lùng trong rừng sâu bởi các chiếc máy bay trực thăng săn đuổi. Cuối cùng, thoát nạn, người ngựa băng qua một xa lộ lớn, một chiếc xe lô bồi dài chạy băng băng dưới sự điều khiển của một tài xế đang mơ màng trong cơn ngủ gật vừa trờ tới. Con ngựa hốt hoảng cất vó lên hí một tiếng dài thất đảm, và bóng người, ngựa đổ xuống dưới tốc độ lạnh lùng của những bánh xe nghiền nát!

Vâng, cuộc đời đã, đang và sẽ xảy ra những trò oái oăm như vậy. Có gì đáng ngạc nhiên đâu, có gì đáng lo âu, thắc mắc đâu. Chính tôi, người trong cuộc, không lo âu, thắc mắc, nhưng người ngoài cuộc, hai người chèo ghe lại cứ lo âu, thắc mắc. Bởi vì họ quen sống cuộc sống bình thường, và họ quen suy nghĩ những chuyện bình thường, quấn quít họ hàng ngày trong đời sống.

– Nếu không tìm thấy thì sao? Chúng tôi không thể đi xa hơn được nữa!

Tôi biết họ còn có vợ con, còn có nghề nghiệp, còn có đủ thứ để lo toan. Làm sao họ chia sẻ, cảm thông được cái định mệnh kỳ lạ đó.

— Bác chèo dùm cho nửa giờ nữa. Nếu không gặp, thả tôi xuống bất cứ chỗ nào cũng được.

Vâng, tôi sẽ xuống bất cứ một nơi nào đó giữa nơi hoang vu không bóng người, bóng nhà, không có phương tiện để sinh tồn, và tôi… “Hãy để cho ngày mai lo chuyện ngày mai, hãy để cho người chết lo chuyện xác chết!” Tôi nhủ thầm.

Bỗng nhiên có một vật gì khác lạ vừa chợt xuất hiện. Nhập nhòa giữa những bóng xanh rừng cây hậu cảnh, hình như có một mái nhà. Tôi điều tiết mắt tối đa để nhận xét, nhiều năm tù tội đã làm cho đôi mắt tinh anh của một Phi công kém phần hiệu lực. Tôi kêu và ra dấu chỉ cho hai người chèo ghe, hai người nầy lớn tuổi, lại làm nghề chài lưới, mỗi ngày phải lặn dưới nước sâu, cái thứ nước đầy rong rêu, phù sa, mắt phải mở lớn trừng trừng để quan sát, tìm kiếm, nên mắt còn kém hơn tôi nhiều. Nhưng một chút hy vọng cũng đủ kích động những bắp thịt, những gân tay đã mỏi mệt nhịp chèo đường xa. Mắt tôi không rời mái nhà, như con mồi bị “đóng đèn” không rời khỏi ánh sáng chói lọi chiếu từ đầu người thợ săn đêm.

Rõ ràng là chuyện mò kim đáy biển, và số phận kỳ diệu đã giúp tôi tìm thấy được cái kim bé nhỏ, lạc loài kia. Trên nóc nhà, một lá cờ đuôi nheo nhỏ xíu bay phần phật. Đó là một ngôi nhà duy nhất trong vùng, nằm đối diện với hai cột xi măng cao bên kia bờ sông rộng, phần còn lại duy nhất của một ngôi chùa đã bị đốt cháy. Tất cả khu vực trù phú giàu có một thời, sau một thời gian cầm quyền của Chế độ Pôn Pốt chỉ còn lại chừng đó dấu tích. Giữa cảnh hoang tàn, lòng tôi tràn ngập bao nhiêu đợt sóng xúc cảm dạt dào. Có thể đầy là nhóm đánh cá nào khác nhóm của Ba Hiên. Không quan trọng, chỉ cần có sự sống, có sự sinh hoạt, thế là đủ. Tôi nghĩ dù bất cứ là ai, ở chốn hoang vu nầy, chắc chắn họ không nỡ từ chối một người chỉ mong làm việc để kiếm ngày hai bữa cơm, không đòi lương bổng.

Giờ phút nầy tôi chưa thể nghĩ đến vấn đề làm ra tiền, tôi đang đói khát, tôi đang bị săn đuổi, tôi chỉ cần một chỗ ẩn thân. Và chính nơi nầy, tôi đã tìm được một chỗ ẩn náu dưới đáy lòng sông Cửu Long, cùng nhóm người đánh cá Miên Việt, tự tách ra khỏi thế giới loài người, âm thầm cặm cụi với từng con nước và sự khắc nghiệt của thời tiết giá lạnh để tranh đấu với cuộc sinh tồn.

Cách xa ngôi nhà lá hai trăm thước, một số người đứng trên bè kết bằng những cây gỗ lớn, đang cùng hô lớn để giữ nhịp:

–  Lên-xuống, lên-xuống…

Họ dùng một cái vồ bằng gỗ, lớn như một cái trống thường treo ở các đình chùa, bên hông được đẽo thành những tay cầm. Tám thanh tay cầm cho tám bàn tay, bốn người đứng bốn góc, chập chờn trên làn nước, đồng loạt nâng lên và đóng xuống một cây gỗ dài chừng mười lăm thước cắm sâu vào lòng sông. Nghe tiếng Việt, tôi mừng quá vội hỏi lớn:

–  Ở đây có phải là Tổ hợp của anh Ba Hiên không?

–  Đúng rồi. Một người trả lời.

–  Cho tôi làm với được không?

–  Vào gặp các ông Chủ trong nhà kia đi.

Ghe cặp sát một ngôi nhà nổi. Tôi nhảy lên, hai người chèo thuyền vội vàng đẩy ghe đi tuốt. Tiếng lia hơi (từ giã) vừa đến tai thì bóng ghe đã xa tít. Họ chèo như chạy trốn, như sợ hãi một bóng ma. Họ mừng thoát được cái con người kỳ dị!

Tôi đứng giữa nhà, mặc quần xà lỏn, quần áo vắt trên tay, thân hình gầy, trắng xanh nổi bật giữa đám người lực lưỡng đen đúa. Cảm giác đầu tiên của họ khi nhìn thấy tôi, như lời họ nói sau nầy:

–  Một cậu Công tử hay một ông Mỹ xì ke đi lạc!

Tôi nói với họ, tôi tìm anh Ba Hiên để xin việc. Người nầy nháo nhác nhìn người kia dò hỏi và họ cùng bật cười khi một cậu thanh niên người Việt dịch lại. Nhóm trong nầy gồm toàn người Khmer, và anh chàng Việt kiều bị bệnh nằm nhà bỗng trở thành thông dịch viên bất đắc dĩ.

–  Anh Ba Hiên còn ở Nam Vang chưa về. Quen biết với anh Ba Hiên thế nào?

Tôi cố gắng giải thích cho qua chuyện:

–  Bạn tôi là anh Tại quen biết với anh Ba Hiên (thật ra anh Ba Hiên mập nầy chẳng có giây mơ rễ má gì với anh Sáu Hài ròm của Tại) giới thiệu tôi đến xin anh Ba Hiên để làm việc.

Người ta vừa tò mò, vừa ngạc nhiên, vừa lạ lùng tự hỏi: “Một anh chàng như thế nầy đến đây làm gì, làm được gì? Đây là chỗ đánh cá, người ta cần thợ nhà nghề, biết lặn lội, đánh cá. Chúng tôi đâu cần Ngài Công tử đến đây để nhảy đầm, để rong chơi. Ngài nhầm chỗ rồi!”

Sau một hồi thảo luận, họ cho biết hiện giờ không có Ba Hiên ở đây tuy nhiên các ông Chủ Khmer (Tổ hợp nầy gồm bốn ông Chủ Khmer và Ba Hiên là ông Chủ người Việt thứ năm) quyết định:

–  Anh là người lạ, không nói được tiếng Miên, ở đây không ai dám mướn. Các ông Chủ chỉ cho anh ngủ lại đây một đêm, sáng mai phải rời đi chỗ khác!

Thật là sét đánh ngang tai! Tôi ngồi ngẩn ngơ như người mất hồn. Đám thợ Việt kiều ngoài kia ùn ùn kéo vào. Họ lăng xăng lít xít hỏi chuyện, kéo tôi vào ăn cơm trưa chung với họ. Ăn xong, họ lên ghe đi làm, tôi cũng nhảy đại lên ghe đi theo họ. Họ làm gì tôi làm nấy, họ làm một tôi làm bốn năm, họ ngần ngại, tôi xung phong. Có thể nói, đây là lần đầu tiên trong đời, tôi đã đạt đến tột đỉnh của sự lao động tự giác. Họ ngạc nhiên, không ngờ tôi cũng chịu khó, cũng biết làm việc. Nếu biết tôi đã ở tù Cộng Sản sáu năm, chắc họ sẽ “ngượng” về sự đánh giá ban đầu của mình. Khánh, một thanh niên người Việt trẻ, từ Việt Nam bụi đời qua đây làm việc, bắt đầu tập sự mùa cá năm ngoái, có tiền, về Việt Nam ăn chơi rồi trở lại làm việc tiếp, góp ý:

— Anh nhờ mấy ông già Việt Nam kia xin dùm. Họ có uy tín vì họ là thợ chính, mình xin làm tạm một vài tuần kiếm ít tiền rồi đi đâu thì đi.

Chỉ có bác Tư Niên, người chịu trách nhiệm kỹ thuật toàn bộ của giai đoạn đầu là tận tụy còn những bác khác, hình như họ chỉ bàn ra, chẳng có gì khả quan. Buổi tối, tôi được mời ngủ chung mùng với một người thanh niên Việt khác còn rộng chỗ. Tôi hỏi chuyện để biết sơ tình hình người và việc ở đây.

Sáng sớm, tôi thức dậy sớm khi mọi người, vốn dĩ vẫn dậy sớm, còn đang ngủ. Tôi nhìn những chiếc thuyền nhỏ, sau một đêm, nước rỉ vào khá nhiều, bước xuống từng ghe, dùng gàu tát nước, tát hết ghe nầy đến ghe nọ. Sự mệt mỏi vì những động tác chưa quen làm cho lưng tôi mỏi nhừ, hai tay rã rời, tôi phải vận dụng ý chí để vượt qua sự yếu đuối của cơ thể. Những người Chủ dậy sớm nhất, thấy tôi đang làm việc tỏ vẻ hài lòng. Tôi lại vào ăn sáng và leo lên ghe theo các toán đi làm, chẳng ai đá động hay ngăn cản nên tôi hơi yên tâm.

Công việc làm gạch của họ không phải là làm gạch ngói như tôi tưởng nhầm mà là đóng những trụ cây lớn xuống dòng sông cách khoảng nhau chừng một thước, xong trải đăng xuống để chận cá trên đường xuôi dòng nước. Cá bị chận lại sẽ theo đăng đi tìm lỗ trống chui qua. Những lỗ trống là những cái đơm chỉ vào mà không ra được. Đơm được gắn ở rọ chứa cá. Cá rọ chim lồng như gái có chồng. Giai đoạn đầu làm gạch là giai đoạn nặng nhọc, cần nhiều thợ, tất cả cọc được xếp trên bè, làm bằng những cọc lớn ghép lại, có bộ phận đo độ sâu dòng sông để chọn cọc, có bộ phận kéo và thả cọc.

Cọc thả tới đâu, có bộ phận đóng cọc hoàn tất tại đó. Bốn người đứng trên hai tấm ván bắt chênh vênh trên mặt nước, nhịp nhàng hô lớn: Lên-xuống, lên-xuống theo từng động tác. Chỉ cần một trong bốn người yếu sức hoặc không quen nghề, vồ sẽ bị lệch đi, không đủ mạnh, hoặc trượt ra ngoài nguy hiểm. Một bộ phận khác lại nối cọc bởi cầy chỏi nằm chéo dài hơn… Những ngày đầu, chưa quen việc, tôi chỉ được phụ vào những việc đơn giản, dùng sức. Nhưng từ từ, nhờ các đồng nghiệp lười biếng, nhất là thợ Khmer chậm rãi, nhàn nhã mặc dù bị rầy rà, nên giao công chuyện cho tôi. Nhờ kiên trì, chịu khó lại có chút đầu óc toán học, khoa học, tôi dần chiếm được uy tín. Hôm hoàn tất giai đoạn đầu, ông Chủ Ba Hiên từ Nam Vang xuống, đem theo heo cúng để ăn mừng. Nghe các thợ chính báo cáo về tôi, Ba Hiên quyết định:

–  Nếu nó chịu khó và giỏi thì để cho nó làm tiếp.

Chủ Ba Hiên thích ăn nhậu thoải mái và cũng thích làm việc đâu ra đó. Tinh thần làm việc trở nên khẩn trương gấp bội, Ba Hiên vừa cười toe toét đó, lại vừa chửi như tát nước vào mặt sau đó. Khi lặn xuống kiểm soát các chân cột và nẹp chân cột, Ba Hiên khám phá có một chỗ làm dối trá không kỹ lưỡng, thế là hai người thợ lặn bị mắng như tát nước. Người thợ lặn trẻ bị bắt buộc phải sửa chữa lại ngay lập tức. Anh ta lặn hụp nhiều lần mà vẫn chưa xong. Sợ bị đuổi việc, anh ta phải cố gắng quá sức. Lần lặn cuối cùng khi trồi lên, anh ta bị hụt hơi vì thiếu dưỡng khí trầm trọng. Anh ta mất sự tỉnh táo bình thường, ngoi lên không đúng thể thức, nên đụng mạnh đầu vào cây chỏi, bất tỉnh và buông tay chìm lỉm. Một người Khmer thấy, nhưng chẳng hề nói gì, đến khi chờ lâu không lên, hỏi ra mới biết tự sự. Anh Khmer phân bua một cách ngớ ngẩn:

–  Tôi tưởng anh ta trồi lên, rồi quên cái gì đó nên lặn xuống tiếp. Tôi đâu biết!

Báo động đỏ! Tất cả thợ các nơi khác đều đổ dồn về, nhưng chẳng ai chịu nhảy xuống nước. Dân đánh cá ít khi cứu kẻ chết đuối vì sợ bị ma rà trả thù. Có bốn người thợ lặn, hai Khmer, hai Việt Nam, hai người Khmer thì im lặng như tờ, chỉ còn một thợ lặn già Việt Nam. Bác ta nói ân nghĩa, nói luân lý: “Vì tình Dân tộc, vì nghĩa Đồng bào…” một hồi lâu rồi mới chịu nhảy xuông, lặn vài hơi rồi leo lên. Tôi thấy sốt ruột và bứt rứt từ khi biết tin đó nhưng nghĩ rằng ở đây toàn thợ lặn chuyên nghiệp, mình nhảy xuống chỉ làm trở ngại cho người khác. Đến lúc nầy, tôi không còn chịu được nữa. Làm thế nào có thể đứng yên, khi có người chết đuối ngay trước mắt mình. Chỉ có những kẻ ích kỷ, thiếu lương tâm mới có thể yên lặng trong giờ phút nguy nan.

Tôi nhớ hồi 13 tuổi, một buổi tối, nghe tiếng la cầu cứu, tôi vội chạy nhào xuống bờ sông lặn tìm một cô bé lớn tuổi hơn bị chết đuối theo sự báo động của người hàng xóm. Tôi ngụp lặn một mình trong khi hàng trăm người lớn đứng tần ngần bàng quan trên bờ. Tôi mò mẫm từ bờ ra giữa dòng sông, lặn khá lâu, bất ngờ đụng được bàn tay chìa lên dưới đáy sông của cô bé. Cái cảm giác nhờn nhợt, lạnh tanh của bàn tay dưới lòng sông đen tốỉ, như dòng điện lạnh chạy suốt từ cột xương sống đến óc não, làm tôi kinh hoảng ngoi lên mặt nước kêu cứu và báo động. Chẳng ai tình nguyện xuống phụ giúp, tôi đành thu hết can đảm, lặn xuống nắm tay cô bé bơi kéo vào bờ. Xong vác hai chân cô bé lên vai, dốc ngược đầu xuống đất, tôi chạy bộ đến nhà thương vì thời đó ở địa phương nhỏ chưa có phương tiện cấp báo. Đến nơi, tôi đuối sức, té xuống bất tỉnh, trong khi cô bé bắt đầu tỉnh dậy, khi bùn nước, máu me, xổ ra hết dọc đường chạy cứu cấp. Tôi được tặng bằng khen thưởng “Em bé can đảm” nhưng nhiều đêm sau đó, tôi bị ác mộng kinh dị bởi dòng sông đêm đen thẳm. Cảm giác bàn tay nhơn nhớt, lạnh tanh mãi mãi in một dấu vết sâu đậm trong trí nhớ của cảm xúc. Tôi không dám đi gần bờ sông, và không dám tắm sông gần nửa năm.

Không lẽ giờ nầy khôn lớn, tôi lại thiếu tinh thần tương trợ, nghĩa hiệp, thua kém chú bé Lý Tống ngày xưa. Tôi nói lớn:

–  Để tôi xuống lặn thử.

Ông Chủ Ba Hiên vội ngăn ngay:

–  Mầy biết gì mà lặn.

Ông ta nói đúng, không biết mà lặn là chết ngay, bằng chứng là sáng hôm qua, tôi đã suýt chết. Nguyên tắc mỗi lần lặn xuống và lên đều phải bám theo một cây cột chuẩn, thế mà khi trồi lên, tôi lại thả tay, nên bị lạc vào bè. Tôi ngoi lên không được vì những thanh gỗ bè tạo thành một bức rào cản trên mặt nước. May quá, khi sắp ngột thở, vô tình gặp một lỗ trống nhỏ nhờ hai thân cây cong khuỳnh ra, tôi chun đầu lên thở lấy thở để. Nếu không có cái lỗ trống bất ngờ kia, chắc tôi đã chết ngộp trước người thợ lặn trẻ. Lặn phải mở mắt lớn, nếu lỡ lạc tay, cứ tìm chỗ sáng mà trồi lên, tuy nhiên vì dưới dòng sông nước dơ và rất tối, nên người thợ lặn thường dùng xúc giác nhiều hơn thị giác. Tôi cả quyết:

–  Tôi lặn được.

–  Rồi! Mầy muốn cho mầy thử.

Để chuẩn bị cho tôi lặn, người ta thả một sợi dây, đầu buộc một cục sắt, thả thòng từ ghe xuống. Ông thợ lặn già lặn lẩn quẩn ở gần, nên chỉ bám theo các chân cột, tôi lần theo giây đi xuống. Dưới độ sâu hơn tám thước, tai tôi bắt đầu đaư buốt, tôi tiếp tục lặn xuống, cảm giác đau đớn lên đến cực độ, như có kim lớn chọc thủng màng nhĩ. Tôi cắn răng chịu đựng. Sự đau đớn thể xác không thể đánh bại sự đau đớn của tinh thần, sự cắn rứt của lương tâm. Tôi xuống nữa, khi chân chạm đất, tôi ôm cục sắt một tay, tay kia quờ quạng đi tìm. Những người thợ lặn lâu năm đều có kinh nghiệm: Khi đã lặn quen, lặn xuống càng sâu càng thấy êm, thấy đằm dễ chịu và thời gian nhịn thở dưới sâu còn lâu hơn lặn cạn.

Nhưng trong giờ phút đó, tôi thấy tức thở quá, bao nhiêu áp lực của nước ở độ sâu, đang ép vào ngực tôi đến ngột thở, và nhất là cơn đau buốt trong đầu, trong tai, giữa trán. Tôi ráng lặn đi thêm vài đoạn nữa, đến lúc không chịu đựng được vì hụt hơi, tôi cuống cuồng búng nhanh người lên. Mặt nước thăm thẳm ở đâu trong giờ phút kinh hoàng nầy? Tôi há mồm nuốt luôn mấy ngụm nước thế không khí và cuối cùng ngoi lên được mặt nước. Toàn thân rùng mình mạnh, tất cả tế bào, bắp thịt trong người đồng loạt quẫy mình táp không khí cùng một lúc. Ba Hiên ngồi trên ghe la lớn:

–  Thôi lên đi, lên đi.

Tôi ngạc nhiên:

–  Tại sao?

–  Không được đâu. Máu tai, máu mũi mầy phun ra tùm lum đó không thấy sao?

À ra thế! Tôi đáp:

– Không sao đâu, tôi chịu được.

Và không đợi trả lời, tôi hụp xuống, lặn lần thứ nhì. Sự đau đớn quá độ làm cảm giác dần tê dại đi, tôi bớt thấy đau đớn, lặn mò đi quờ quạng một phạm vi thật rộng, thật xa. Nước đáy dòng sông chảy xiết, tôi cảm tưởng chỉ đi một đoạn ngắn, nhưng mỗi lần trồi lên, ghe lại chuyển dịch cả hơn trăm thước. Tìm kiếm hồi lâu không gặp, dòng sông mùa nước lớn bạt ngàn, như không còn bờ bến. Một xác chết chìm, biết trôi về đâu? Cuối cùng, tôi đành leo lên ghe, chấm dứt cuộc tìm kiếm vô vọng.

Từ hôm đó, một số người được biệt phái đi tìm xác chết. Họ chèo thuyền đi lòng vòng từ bờ nầy, bụi nọ, tìm xem xác chết tấp ở đâu. Người ta thường bảo: “Nam sấp, nữ ngửa.” Có lẽ cái quan niệm “người đàn ông quen nằm sấp, người đàn bà nằm ngửa khi làm tình” nên khi chết đuối cũng theo thế bộ quen thuộc này và đến ba ngày sau xác mới nổi lên. Không biết Anh Hai, tên chàng thợ lặn, có theo môn phái hiện đại, fantasy thường kiểu cọ trente-six modes hay không, nhưng chỉ vừa đúng hai hôm, đã nghe một chiếc ghe nhỏ đi qua báo có thấy một xác chết nằm ngửa! Tôi ở trong toán tìm xác, chở quan tài vừa đóng vội xong đến nơi. Một điều lạ khác, chúng tôi nghĩ là xác trôi theo dòng nước đi xuống nên chỉ quanh quẩn tìm ở khu vực dưới dòng, anh Hai lại nổi ở khu vực phía trên!

Xác chết bập bềnh cách trăm thước ngược chiều dòng nước, kể từ chỗ bị chìm, da thịt căng phồng như hình quảng cáo vỏ xe Michelin. Phần cổ bị cá rỉa ăn mất một mảng lớn, đôi mắt lòi tròng như hai trái nhẫn lột vỏ, máu mũi, máu mắt đóng lại, khô sẩm trên mặt, tay chân bỗng ngắn cũn cỡn bởi vì một phần co quắp lại, phần thân hình và các bộ phận khác đều nở lớn bề ngang và bề dày tối đa. Anh Hai lúc còn sống thân người ốm, nhỏ thó, dễ nhìn, lúc xác nổi lên lại trông phì nộn, lũn cũn. Tôi đảo mắt nhìn Hồng, chợt thấy lạ là vì giờ nầy anh Hai lại giống thằng Hồng như hệt! Từ đó mỗi lần thấy mặt Hồng, trong trí tôi lại hiển hiện hình ảnh anh Hai nổi lều bều trên mặt nước. Anh Hai chết để lại một vợ và hai con nhỏ. Ngày thấy xác anh Hai, chị Hai khóc la thảm thiết:

— Anh ơi là anh ơi. Anh chết đi ai nuôi tôi, ai nuôi con anh?

Vâng! Người đàn bà nầy đang than khóc cho mình chứ không khóc thương cho chồng. Chị ta khóc thương những ngày tháng nhàn nhã cũ, chỉ biết ăn rồi nằm ngửa, người chồng phải tận tụy dãi dầu để hầu hạ nuôi nâng mình. Giờ nầy, sau khi nổi lên từ đáy sông lạnh lẽo, âm u, lại được chôn vào một vùng đất cô liêu quạnh quẽ. Do đó chỉ hơn một tháng sau, người ta xầm xì về sự đi lại thân mật của chị ta và Hồng. Có lẽ khi chết, anh Hai linh cảm được điều đó, nên biến dạng của mình giống như Hồng, để chị Hai thấy khuôn mặt xác chết ghê rợn trên khuôn mặt của Hồng mà kinh hãi Hồng, nhưng trớ trêu thay, chị Hai không những không sợ Hồng, lại còn muốn yêu chồng qua hình ảnh của Hồng, một Hồng bằng xương bằng thịt, đầy đủ sức khỏe và tay nghề để thay người chồng qua đời tiếp tục phục vụ chị ta. Còn tôi được thế chân chỗ anh thợ lặn bỏ trống.

Có người chết là có cúng, có cúng là có ăn. Chuyến này bị tổ trác, sau khi ăn một bụng thịt heo, tôi bị đi tiêu chảy tận mạng. Đi tiêu chảy cả đêm, cả ngày, đến nỗi, hậu môn lòi ra ngoài, đau rát không đi lại được bình thường. Tôi được cho vào làm Tổng Khậu (đầu bếp). Bạn bè ở tù ai cũng học được nghề nấu bếp, riêng tôi, đành chịu, bởi vì ở tù chẳng có ai thăm nuôi, chẳng có đồ ăn để tập nghề nấu bếp. Tôi đành làm liều với nghề mới. Mỗi bữa ăn bốn năm chục người, tôi nấu một nồi lớn loại 70 người ăn. Nấu xong, tôi lấy lớp cơm tốt phía trên còn phần khê cháy khét bên dưới, đổ xuống dòng sông cho cá. Có bữa khê nặng, đổ nhiều, nồi 70 không đủ cho 40 người ăn. Tệ hơn, tôi lại còn chiên cháy đen số cá làm đồ nhậu mà ông Chủ rất quí, đem từ Nam Vang về.

–  Tổng Khâu cà chớn! Ngày mai cho đổi trở về làm công tác cũ.

Tôi phải đi làm dù chưa lành bịnh. Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí. Đúng là đã tới thời kỳ vận mạt, hôm qua tôi ngồi chơi bỏ thõng chân xuống nước, Ba Hiên chèo ghe ngang qua thấy vậy cau mặt, cự nự:

–  Mầy có biết trong nghề đánh cá, ngồi thõng chân kiểu nầy là tiêu tan sự nghiệp không?

Từ ngày anh Hai chết, phần thấy điềm xui, phần phải bồi thường tiền tai nạn lao động, nên các Xếp của tôi càng ngày càng khó tính. Ngồi thõng chân, huýt gió, và nói tiếng Việt là những điều tối kỵ. Người Khmer không thích nghe một thứ ngôn ngữ nào khác lạ trên đất nước mình, nhất là tiếng Việt. Đó là lý do vì sao toàn lãnh thổ Kampuchia chỉ có một ngôn ngữ Khmer, trong lúc ở Việt Nam lại có trên 60 thứ ngôn ngữ khác nhau của các dân tộc thiểu số!

Bữa nay vừa thả đăng xong, lại cúng. Làm gạch có nhiều giai đoạn và cứ xong một giai đoạn lại có cúng ăn mừng. Lần nầy cúng lớn nhất, đặc biệt nhất. Lớn và đặc biệt vì thả đăng là giai đoạn chót, bắt đầu chuẩn bị hái ra tiền. Để kịp cúng, tối hôm qua, chúng tôi đã dồn mọi nỗ lực đến hơn 10 giờ đêm mới hoàn tất. Làm nghề đánh cá khổ nhất là lạnh, và cá chỉ đợi mùa mưa, lạnh mới rời nguồn đi về xuôi. Ngày xưa, người ta uống nước mắm cho đỡ lạnh, ngày nay lại uống rượu mỗi lần lặn. Vừa lạnh, vừa ngứa, ai cũng bị ghẻ lác đầy người, lại bị bù mắt cắn thật kinh khủng. Không những thế, tối qua chúng tôi còn phải lặn đêm, thả đăng xuống, chúng tôi phải lặn theo xuống đáy sông cột đăng vào nẹp, lại ôm đá được ném xuống đặt đè lên để giữ chân đăng. Vừa bám vào đăng vừa run lập cập, cái lạnh thể xác đã vượt quá giới hạn và đạt đến cái lạnh của tâm linh. Mỗi lằn mò mẫm dưới đáy sông âm u, tôi có cảm tưởng như đang một mình đối diện với tử thần.

Dân đánh cá người Miên rất tin thần linh, ma quỷ. Cúng là một hình thức để tạ ân sự giúp đỡ hay để tạ lỗi một cơn thịnh nộ của thần linh. Và cúng là dịp để ăn nhậu, đàn địch, ca hát và nhảy múa. Chín giờ sáng, mọi công tác chuẩn bị đều xong, chúng tôi đưa những dĩa, mâm, son nồi đựng đồ cúng thịnh soạn lên tàu. Tàu chạy ngược hướng sông, cái hướng chính và duy nhất tất cả cá sẽ từ đó đổ vào rọ. Ngoài ý nghĩa đi thăm viếng đất đai, thần linh còn có mục đích tuần tra sông lần cuối. Phải ngăn chận kịp thời sự phá hoại của địch thủ hoặc sự xâm phạm quyền lợi vì dòng sông nầy trong mùa cá nầy, thuộc quyền sở hữu của Tổ hợp chúng tôi. Tàu vừa nổ máy chạy, chúng tôi đã quây quần trên boong tàu, những loại cá ngon nhất đã được nướng sẵn. Chúng tôi dùng tay bốc ăn và uống rượu đế. Tiếng đàn cò í ò í e cùng tiếng ca của người nhạc công bản xứ vang rền, một số đã đứng dậy nhảy múa điệu Lâm thôn. Rượu khiêu khích cơn khao khát cựa quậy, những bước chân rầm rập nhảy múa, những tiếng la hét náo nhiệt. Bác Ba, khi tàu ghé vào một am nhỏ, thắp nhang, cúng rượu và đồ nhắm cho thần linh đã hát một đoạn lễ nhạc trang nghiêm trong đó có một câu vừa tục vừa tức cười:

– Bà đi… có cặp lông công. Bà về… bà xách cái lồn không bà về!

Cái không khí huyên náo vui nhộn đã khích động những cuộc cụng ly thách thức và mời mọc. Tôi chỉ còn nhớ lờ mờ những tiếng vỗ tay reo hò và tôi cứ liên tiếp uống rượu, cụng ly, cạn một hơi những ly cối rượu đế lớn từ tay người nầy người nọ mời ép.

“Uống cạn ly đầy, rót đầy ly cạn” là qui luật của những tiệc rượu.

Bỗng dưng tôi thức giấc, đầu choáng váng nặng trĩu. Tôi định đứng dậy đi kiếm nước uống vì quá khát, chợt thấy đau buốt ở chân phải. Tôi nhìn xuống đầu gối, kinh hoàng vì một nùi vải lớn băng bó dơ dáy. Máu cùng những chất thuốc cầm máu (đường nhảo trộn thuốc lá) loang lỗ trên mặt vải.

–  Cái gì thế nầy? Tại sao thế nầy?

Tôi hỏi với giọng thảng thốt. Chị Hai đem lại cho tôi một ly nước, vừa kể chuyện vừa trách tôi:

–  Người Khmer rất kỵ máu đổ. Máu đổ là xui xẻo. Anh uống rượu kiểu gì say đến nỗi đi trên boong tàu lại té xuông chỗ xếp đồ cúng, đầu gối chấn vào mép nồi cháo lòng lớn, máu phun có vòi, không biết bao nhiêu lít. Xé hết cả cái áo của anh để băng, nhét bao nhiêu đường, thuốc rê vẫn không cầm máu được, chắc bị đứt mạch máu lớn rồi. Người ta khiêng anh về mà anh không biết sao? Anh Ba Hiên giận lắm, anh bảo ngày mai đuổi anh đi luôn.

Tôi bực mình và trách mình. Đã bao tiệc cúng qua, tôi giữ được lời tự nguyện và cương quyết chỉ ăn, không nhậu. Có nhiều đám nhậu chê tôi cù lần, phá mồi, bởi vì tôi biết khi đã cầm ly rượu nâng lên, tôi chẳng bao giờ từ chối sự mời mọc, thách thức. Tôi tin khả năng uống rượu của mình có thể hạ nhiều đối thủ nhưng không ngờ, tôi thường bị chơi gác, bị đòn xa luân chiến. Hôm đó có lẽ vì bài lễ cúng thần khôi hài: “Bà đi… có cặp lông công… Bà về bà xách cái lồn không bà về” đã làm tôi hào hứng đến phải phá cái lệ nghiêm khắc kia. Tôi biết giờ nầy, dù Ba Hiên có giận, có muốn đuổi, cũng không đuổi được vì dù muốn dù không, cái chân què quặt kia bắt buộc tôi phải trở thành lì lợm, cố đấm ăn xôi, phớt tỉnh Ang Lê, chẳng đi đâu cả. Tôi vẫn cứ nằm lì, ăn ngủ một thời gian, nhưng tiền đâu để tiếp tục cuộc hành trình về miền đất Tự Do?!

Vài hôm sau, tôi tập lết, đi bằng mông, bởi vì đứng dậy, máu tụ ở vết thương nhức nhối không chịu được. Khi ngủ phải có người giăng mùng, khi đi cầu thì thật là khốn khổ. Tôi xin Chủ Ba Hiên được làm việc nhẹ là ngồi vót đăng. Ngồi trong nhà, nhìn các bạn lao động ngoài trời, tôi thèm khát được khỏe mạnh và thèm làm công việc nặng nhọc. Một cái bè cá cũ được kéo về để sửa chữa lại, người ta dùng những bó tre, những thùng phuy để nâng sức nặng ngàn tấn từ dưới nước lên và dùng áp suất của nước để làm thay đòn bẫy, công tác rộn rịp cần nhiều sáng kiến.

Đã gần một tháng, vết thương vẫn còn chảy mủ vì thiếu thuốc chữa. Tôi xin đi làm bên ngoài, dùng phương pháp tự sáng chế để trị bệnh: Ngâm nước lạnh. Tôi tình nguyện công việc ít người thích làm là thường xuyên ở dưới nước để cột dây. Tôi ngâm nước suốt ngày để cho những con cá nhỏ bu lại đầu gối rỉa sạch những đống mủ rỉ ra liên tục. Nước làm cho da thịt nhăn nhúm teo lại. Cuộc đấu tranh gay gắt giữa người và vi trùng tiếp diễn nhiều ngày, cuối cùng tôi vẫn bình an, và đám vi trùng bị tiêu diệt dần.

Đã đến thời kỳ sinh lợi. Cá đẻ xong theo dòng nước về xuôi, dù cá nhiều hay ít, chúng tôi vẫn lãnh đúng số lương nhất định nhưng không người thợ nào lại không chia sẻ cái hạnh phúc kỳ lạ khi nhìn cá tràn ngập. Những buổi sáng ngồi trên rọ cá, tôi nhìn mải mê những bầy cá chen chúc đổ về, những con cá bông lớn hung hãn rượt đuổi những con mồi nhỏ. “Bập, bập” tiếng cá táp dưới sâu. Tiếng lóc chóc, lóc chóc của hàng tỉ con cá linh nhỏ, lội đặc sệt đang tớp nước, và “soẹt, soẹt” như tấm thảm màu bạc lóng lánh dưới ánh mặt trời, hàng ngàn con cá nhỏ phóng mình lên mặt nước tìm đường thoát thân khi bị săn đuổi.

Những bầy chim, cò, vạc, nông, đậu từng hàng dài giữa sông cùng với bầy vịt, ngỗng trắng để ăn cá. Bầy hải âu bay lượn từ sáng bằng những kiểu và đường bay tuyệt đẹp. Đây đó, những chú chim bói cá treo mình đứng sững giữa trời, rồi bổ nhào thẳng xuống mặt sông như một mũi tên vừa buông khỏi giây cung. Cá đã đạt đến cực đỉnh của thời kỳ nước mùng. Một buổi sáng tờ mờ, bỗng có tiếng kêu la inh ỏi, chúng tôi vội vàng chèo thuyền bơi đi. Thật kinh khủng, thật huy hoàng tráng lệ. Trong một đêm, cá đã vào đầy nghẹt rọ, những con cá mỏi mệt vì chen chúc tìm chỗ thở, há miệng táp táp nước liên hồi. Chúng tôi nhảy vào rọ, dùng tay đẩy cá, nghiêng người lấn cá, những mẻ cá quá nặng phải xả lưới bớt, chúng tôi dùng lưới hoặc dùng rọ quây để bắt cá lên.

Cái giai đoạn dồn cá vào góc rọ thật nguy hiểm và nổi gai ốc. Cá bị dồn tìm đường thoát, phóng lên cao. Cái cảm giác vùng vẫy, chen chúc cùng khối cá hung hãn tìm đường sống thật kinh rợn. Vi đuôi cá lướt trên da thịt như những lưỡi kiếm, lưỡi gươm bén liếc trên đá mài. Người bắt cá ở trong rọ trông giống như một hiệp sĩ cô đơn, không vũ khí tự vệ, giữa trừng trùng điệp điệp gươm giáo cung tên của địch thù đang khép chặt vòng vây. Bị đâm, bị húc mà không được la, không được nhăn nhó cho thỏa cơn đau đớn, bởi vì theo dị đoan, và cũng là điều có thật, càng la càng bị đâm nhiều hơn.

Thấm thoát đã đến thời điểm dự định tôi phải ra đi. Làm việc ba tháng tôi lãnh được 1,500 riels. Tết âm lịch đã kề cận, ngày Tết là dịp thuận tiện nhất để vượt biên giới vì sẽ có ngưng chiến, hoặc “vui xuân quên nhiệm vụ” là chuyện thường xảy ra hàng năm. Bây giờ khi tôi đòi nghỉ việc, thì chính những ông Chủ lại nằng nặc yêu cầu tôi ở lại làm việc như người xưa vẫn nói: “Đừng sợ người không dùng ta, chỉ sợ ta bất tài.”

Họ còn dụ tôi, nếu làm đến tháng sáu năm đến sau chuyến tàu vét cuối cùng của mùa cá, họ sẽ chia tiền lời cho nhũng thợ đã góp công từ đầu mùa đến cuối vụ. Tôi dứt khoát từ chối, nghĩ thầm: “Dù trả một tháng một lượng vàng, mình cũng từ chối” vì tôi đã có đủ tiền cho những chi phí cần thiết. Ôi tiền bạc! Mới ngày nào đây, tôi chỉ mơ ước có một riel để ăn một tô cháo lấy sức trên đoạn hành trình lao nhọc, giờ nầy, đồng tiền chẳng còn sức hấp dẫn như xưa. Tôi từ giã đám thợ bạn và cả đám lính Khmer Heng Samrin bốn người có nhiệm vụ coi an ninh khu vực. Những người mà tôi vẫn vờ vịt khờ khạo như một anh mán rừng, nhưng đồng thời đã dự tính cướp súng trốn đi trong những đêm nằm nghe súng nổ trong các trận đụng độ ác liệt giữa phe Khmer Kháng chiến và Việt Cộng dọc theo dãy núi nằm hướng Bắc cách Đài Côn mười cây số. Những người khi sống chung, tôi cố tình đóng vai kẻ bần hàn, cơ cực, đói khát, tục tĩu để họ khỏi nghi ngờ mà vẫn bị họ gọi đùa là Lục Thum Việt Nam (Ông lớn Việt Nam).

Lên Đường Đi Thái Lan 

Tôi phải trở lại Nam Vang để lãnh tiền, vì có sự tranh chấp giữa các ông Chủ, nên tiền bạc đều bị chận đứng tại chỗ vựa bán cá. Tôi theo “tàu đục” lên đường, lần đầu tiên tôi ngồi ghế tài công, bởi chú Paul đang bận rộn đùa giỡn với chị Hai đi cùng chuyến. Tôi ngạc nhiên thấy lái tàu thật dễ. Trong đoạn hành trình nầy, tôi nảy ra một ý định mới: “Nếu mọi đường bộ đều bế tắc, tôi sẽ đánh cướp một tàu thủy của Việt Cộng để lái đi vượt biên một mình.” Ở Nam Vang cả tuần vẫn chưa có tiền, tôi cứ bị làm khổ, làm phiền bởi các ông Chủ. Hồi ở Vị Thanh làm nghề thợ máy, thợ hàn, tôi cũng bị điêu đứng một dạo. Làm việc cả ngày lẫn đêm, xong việc, Chủ nhận lãnh đủ mọi khoản tiền hợp đồng, nhưng kiếm cớ chạy làng, không chịu trả lương nhân công, giận quá, tôi đem hết dụng cụ trong kho bán rẻ để phát lương cho các bạn. Còn làm nghề nầy, không lẽ tôi lại chở nguyên chiếc tàu đánh cá đi bán trừ lương? Trong khi chờ đợi, tôi phải đi gánh cá thuê để lấy tiền xài. Cuốỉ cùng, tưởng đã mất cả chì lẫn chài, bất ngờ chúng tôi nhận được tiền lương khi Tổ hợp giải quyết xong việc tranh chấp nội bộ, loại hết các ông Chủ, chỉ còn lại anh em ông Chủ Hông độc quyền. Tôi mua một chiếc xe đạp 500 riels, một số vật dụng cần thiết 250 riels, và chai rượu Hennessy hết 350 riels, còn 400 riels bỏ túi đi đường. Các tay Chủ Tổ hợp chỉ thường dám uống rượu đế, rượu thốt nốt, năm thì mười họa, gặp khách quan trọng mới dám mua ít hộp bia, thế mà một tay giang hồ cù lũ, bụi đời như tôi, lại dám bỏ gần một tháng lương để nhậu Hennessy làm mọi người ngạc nhiên. Theo kinh nghiệm tôi nghĩ chỉ cần đem theo đủ tiền để xài, để tiền dư, lỡ bị bắt, tụi nó lấy hết cũng phí thôi. Hơn nữa, quen thói cậu, lâu ngày gian khổ, tôi muốn hưởng lại cái hương vị phong lưu đài các của một thuở nào.

Ngày 19 tháng 1 năm 1982 (nhằm 24 âm lịch), tôi đưa xe đạp lên tàu đục đi nhờ về Kampong Chanang. Tôi chọn đi tàu đục vì hệ thông đường sông bảo đảm an toàn. Không hiểu thời Sihanouk và Lonnol, sự tham nhũng đạt đến mức độ nào, nhưng cũng như dưới Chế độ Cộng Sản Việt Nam, sự tham nhũng dưới thời Heng Samrin đã vượt qua cả sự tục tĩu và bần tiện. Suốt một dãi bờ sông Cửu Long dài, phum nào cũng có trạm kiểm soát đường sông, các ghe tàu đi ngang (trừ của Quân đội) đều phải ghé trạm và giây thông hành thật giản dị: Chỉ vài kí lô cá. Cũng như tại khu vực đánh cá của Tổ hợp, sự tấp nập của các Phái đoàn cao cấp thật đáng phiền nhiễu. Năm mười hôm lại có tàu ông lớn ghé lại, chỉ cần đãi ăn một bữa cá, liệng thêm một mớ cá vào khoang tàu khi ông lớn về, thế là hai đàng đều thoải mái.

Sự lận đận vẫn đeo đuổi tôi. Tàu đi được mười lăm cây số thì hỏng máy, thợ chữa không xong, tài công quyết định kéo tàu trở lại Nam Vang. Tôi đành dẫn xe đạp lên đường tiếp tục cuộc hành trình. Tôi đạp xe qua những con đường gay cấn, đầy kỷ niệm ngày nào đi bộ. Nơi đây bốn chiếc xe tăng bị bắn hư, lần trước tôi định chui vào ngủ, nơi kia, chỗ tôi nằm đợi cái đêm bị nhóm du kích lùng kiếm. Đi xe đạp là một phương tiện an toàn, thú vị. Mặc dù đã tu bổ xe trước khi lên đường, tôi đã thiếu sót một điểm trầm trọng: Quên cho dầu mỡ vào đùm xe. Đang đạp ngon trớn, bỗng nhiên nghe tiếng rắc, tôi ráng đạp thêm vài đoạn, và xe bị kẹt cứng. Xe khô dầu mỡ, ổ đạn bể nên trục bánh không xoay được. Tôi phải mở ốc hai bên cho trục lăn tự do và dẫn xe đi bộ. Khoảng xế chiều, tôi đến gần một phum làng.

Hai bên đường cây thốt nốt đã đến mùa ra bông trái, hoạt động làm rượu thốt nốt thật rộn ràng. Những thang tre buộc dọc theo thân cây để leo lên xuống gắn các ống tre chứa rượu ở đọt cây. Một toán du kích Khmer ngồi nghỉ chân bên đường, chuẩn bị phục kích ban đêm. Tôi tìm một tiệm sửa xe sửa tạm, xong lẩn vào đám đông người nhộn nhịp rộn ràng đi làm về. Tôi đạp chậm rãi quan sát cổng ra vào, rút kinh nghiệm, tôi quẹo vào một đường mòn nhỏ, tìm chỗ ngủ đêm. Tôi dựng xe nằm ngủ trong một khoảng đất trống, nhỏ, vừa đủ nằm giữa những lùm bụi. Tôi giật mình vì những tiếng la khóc của con nít trong khu vực quạnh quẽ hoang vắng. Thì ra đó là tiếng kêu của một loài chim đặc biệt. Nếu tôi quyết định đi xe đạp từ dầu, giờ nầy tôi đã nằm ngủ tại Kampong Chanang.

Sáng hôm sau, đợi khi dân chúng bắt đầu di chuyển, tôi tiếp tục lên đường. Trên những con đường đi sớm hoặc muộn, vào những lúc vắng vẻ ít người, tôi thường chờ đợi để đi theo người hoặc xe nào đó. Họ là lính trinh sát của tôi, là nhũng tấm bia đỡ đạn cho tôi, chỉ cần thấy họ đi lọt an toàn, tôi bám theo ngay. Nếu họ bị chận, tôi có đủ thì giờ đổi hướng. Tên trinh sát bất đắc dĩ của tôi bị chận tại đầu cầu, tôi thắng chậm lại, y móc túi lấy cái gì đó, giấy tờ chăng? Không phải, một hộp quẹt. May thay, nếu tôi là kẻ đầu tiên qua cầu bị chận lại để mồi thuốc, biết đâu vì không biết chữ hộp quẹt bằng tiếng Miên, tôi sẽ lúng túng và tên gác sẽ nghi ngờ, khám phá ra tôi. Cuộc đời nhiều lúc chỉ kẹt một sợi lông nhỏ, sự hên xui may rủi thật khôn lường. Một phút sớm hoặc trễ, sẽ gây bao hậu quả bi đát, và làm sao có thể biết chính xác, tại một điểm nào đó, trong một lúc nào đó, sẽ xảy ra một chuyện bất ý, hiểm nguy? Cũng không thiếu gì người tài ba, bản lãnh, đã từng vào sinh ra tử bình an, đôi khi lại phải đầu hàng trong một phút giây xui xẻo rất tầm thường nào đó đúng như câu nói: Không chết tại chiến trường lại chết lỗ chân trâu.

Gần đến Kampong Chanang, tôi ghé một tiệm hủ tiếu bên đường ăn sáng. Ăn xong khi trả tiền, người chủ tiệm Khmer ngạc nhiên nói với tôi:

— Từ nãy giờ tôi tưởng chú là người Khmer chứ.

Giả dạng làm một người Khmer, tôi đã đóng tuồng xuất sắc, nhưng bắt chước tiếng nói Khmer, tôi cần có thời gian. Ngôn ngữ là một phạm trù khó giả dạng nhất.

Tôi đạp xe qua trạm gác Kampong Chanang đúng lúc vắng xe đò, dân địa phương qua lại thoải mái. Nhìn lại trụ cây số 88, tôi giả vờ cúi xuống lượm đồ dưới đất, nhưng thật ra để hôn vội con số hộ mệnh đáng yêu. Tôi vào Kampong Chanang tìm một tiệm sửa xe đạp, vô đầu mỡ và thay trục, bi đạn mới, chuẩn bị hành trình ngày mai, đồng thời ghé chợ trời mua một số đường đậu. Tôi đến thăm ông Chủ Hông, biếu nửa số đường đậu, nhờ cúng tạ thần hoang tại Đài Côn và để chiêu đãi một bữa chè cho các bạn đánh cá cũ. Tôi ghé lại nhà chị Tư, với nửa số đường đậu còn lại, nhờ cúng tạ nơi giúp tôi bữa ăn, giấc ngủ, chỉ dẫn đường lối đầu tiên.

Nước đã rút, cái vùng nước bát ngát ngày nào giờ trở thành một bãi đất rộng với một số nhà cửa cất tạm. Hai cô bé không nhận ra tôi bởi tôi mập và đen thui như người Khmer bản xứ. Cá, nước, nắng đã hoàn toàn thay đổi nhân dạng, ngoại hình của một con người qua một quá trình lao nhọc, chịu đựng. Cảnh cũ người xưa, tình cảm có nhũng giây lát chỉ thoáng qua, nhưng vĩnh viễn nằm sâu trong ký ức, ân nghĩa buộc chặt tình người hơn quyền lợi. Trời đã sáng, tôi vẫn còn nằm ngủ nướng, bù những ngày vất vả ở Đài Côn, Nam Vang, những sáng dậy sớm cùng cơn lạnh lẽo run rẩy đầu ngày và mùi cá chết, tanh tưởi, nồng thối trong khoan tàu đục chật hẹp. Tôi giật mình vì có tiếng kêu thảng thốt:

–  Máu, máu!

Chẳng ai biết do đâu, tại sao, đây đó, những đống máu vương vải từ trong phòng ra đến sân ngoài. Tôi chui ra khỏi mùng đi xem chuyện lạ. À. Máu! Một điều báo hiệu có ý nghĩa. Máu tiếng Khmer là Xiêm, Thái Lan tiếng Khmer cũng là Xiêm, hoặc phát âm gần tương tự. Tôi thầy máu, tức là tôi sẽ thấy được Thái Lan, và phấn khởi theo sự suy luận của mình. Tôi từ giã gia đình chị Tư lên đường. Từ xa tôi quan sát trạm gác lớn cửa ngõ hướng Tây thành phố. Người đi xe đạp xuống xe, dẫn đi bộ chui qua thanh gỗ gác ngang đường. Chỉ có thế, tôi bắt chước theo họ. Nhiều lính gác đứng chờ xét hỏi các xe đò chạy liên tỉnh, có ai ngờ được một tên tội phạm đang thản nhiên đi qua mặt họ!

Ra khỏi thị xã, vùng đất sét thạch cao và con đường nhựa phủ bụi trắng toát dưới ánh mặt trời. Trên đỉnh ngọn đồi kia, ngày trước có một phi trường nhỏ, tôi vẫn còn giữ ý định đột nhập phi trường trong những hoàn cảnh thuận tiện. Khi bị giam ở nhà tù 7708, tôi vẫn để ý lắng tai nghe tiếng Boeing cất cánh rời rạc từ phi trường Pochentong. Ước gì phi trường trên đồi còn có phi cơ, tôi sẽ chờ tối bò lên tìm cách đột nhập. Từ Kampuchia đến Thái Lan con đường ngắn, chỉ cần ít xăng nhớt, ngay cả phi trường Battambang, sự vắng vẻ tiêu điều của các hoạt động Không Quân đã dập tắt niềm khao khát nóng bỏng. Đoạn đường hoàn toàn hoang vắng, trống trải, suốt gần hai mươi cây số, thỉnh thoảng có xe đò và Honda xuất hiện. Tại một khúc cua quẹo gắt đằng trước có ngôi nhà nằm lạc lõng bên đường, tôi chạy chậm lại xem xét. Thấp thoáng qua những tàn cây cổ thụ lớn, trên nóc xe đò, có hai tên gác đang lục soát. Chiếc xe qua mặt tôi đã lâu vẫn còn nằm đó, sự kiểm soát chắc chắn phải nghiêm ngặt. Tôi dẫn xe đạp đi vòng, băng rừng, nhiều nơi gai góc dày đặc, tôi phải vác xe lên vai. Xe đạp vừa mới là tên nô lệ giờ đã nghiễm nhiên trở thành ông Chủ, bắt tôi phải phục vụ. Tôi phải len lỏi xuyên rừng hết mấy tiếng đồng hồ. Qua khỏi phum, khoảng hai giờ chiều, xe bị xẹp lốp sau, cái lốp xẹp còn chút hơi thừa nên còn dẫn đi được. Đoạn đường dài dằng dặc chẳng có một chỗ sửa xe, trên đường đi, có chú bé Khmer đeo theo tôi gạ gẫm:

— Bubu, tinh xà kọ? (Chú ơi chú, mua đường không?)

Tôi phải lắc đầu nhiều lần chú mới chịu đi. Có những người Khmer tốt bụng khác đi xe đạp ngược chiều, là dân đi xe đạp, họ thông cảm được hoàn cảnh vất vả của tôi:

– Đằng trước kia có xe đò đang đậu. Nhanh chân lên để đón xe mà đi.

Rõ ràng, người dân Khmer lầm lẫn tôi với họ. Xe đò đang bị chận xét tại một trạm gác của Bộ đội VC. Lần đầu tiên tôi thấy một lá cờ đỏ sao vàng của Việt Cộng lớn quá khổ bay phần phật một cách ngạo nghễ như đe dọa người dân bản xứ. “Trên lãnh thổ nầy, ta là người làmChủ.” Lá cờ muốn nói lên điều đó!

Tôi tránh đi gần cùng lề chiếc xe đò, bọn gác bận bịu với hàng hóa và hành khách chẳng thèm lưu tâm đến tôi. Tôi sắp đến Pursat, theo lời đồn đại là trạm kiểm soát chặt chẽ nhất trên lãnh thổ Kampuchia. Hành khách phải xuống xe, xếp hàng một, bọn gác không chỉ xét đồ, túi áo, túi quần mà còn lận xem trong cổ áo, tà áo, gấu quần để kiếm đồ dấu diếm. Bao nhiêu người đi vượt biên bằng xe đò có tổ chức đều bị chộp tại đây. Giờ nầy đã xẩm tối, bọn gác đang du hí với số tiền ăn hốỉ lộ trong ngày, tôi đi bình yên như qua chỗ không người. Vào tới Pursat, tôi cho thay luôn toàn bộ vỏ, ruột cả bánh trước lẫn sau để yên tâm trong đoạn đường kế tiếp, tuy nhiên tôi lựa loại rẻ tiền nhập cảng từ Việt Nam, vì chỉ định sử dụng ngắn hạn. Trong khi chờ xe, tôi lân la vào một tiệm uống nước vắng người để giải khát và hỏi đường:

–  Tôi ở phum đằng kia và định đi Battambang. Tôi trả lời khi cô chủ quán hỏi tôi.

–  Hình như ông không phải là người ở Pursat?

Tôi lên xe đạp qua cầu ra khỏi thành phố. Trời đã tối hẳn, Pursat thật lắm cầu, cầu tiếp nối cầu. Khi đường vắng người, tôi dẫn xe vào một khu ruộng hoang vắng, trời quá tối, tôi phải đi mò mẫm. Tôi ngủ dưới một tàn lá rậm để tránh sương khuya và ngủ mê mệt đến tờ mờ sáng. Việc đầu tiên khi thức dậy là kiểm soát lốp xe. Thật khôn khổ, cái lốp xe mới lại bị xẹp hơn phân nửa, tôi chẳng hiểu lý do vì đã cho thử kỹ trước khi gắn vào. Có lẽ một lỗ mọt nhỏ nào đây? Thà lủng một lỗ lớn còn dễ tìm để vá chứ lỗ quá nhỏ, nhiều lúc phải bỏ cả ruột xe bởi vì khó tìm ra trong lúc thử. Tôi càu nhàu với chiếc xe:

–  Chú mầy công trạng lớn mà tội cũng không kém!

Tôi lại đẩy xe đi. Một cô gái Khmer vừa đạp xe ra khỏi nhà, tôi thấy một cái bơm trắng gắn ở sườn xe nổi bật lên, tôi đón lại mượn. Bơm tốt, nhưng nút vặn vào van xe lại hỏng. Do đó, sau khi bơm một hồi, bánh xe bị xẹp lép hoàn toàn. Cái vỏ xe ngoại quốc khi xẹp, niền, lốp vẫn còn bám chặt vành xe, có thể đẩy đi được, còn lốp xe nội hóa của Hà Nội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đặc biệt khác lạ. Khi xẹp, lốp bung ra ngoài. Nếu dẫn đi bộ, tôi phải khiêng bánh xe sau lên để đẩy đi. Vừa mệt vì nặng lại mệt vì cái bàn đạp cứ đụng vào chân thật vất vả. Tôi hỏi nơi sửa xe, người ta chỉ ngược hướng đàng sau trong một dãy nhà cách xa hai trăm thước! Tôi đẩy xe trở lại, chú sửa xe mấy hôm nay bị bệnh nghỉ việc. Tôi lại đẩy xe ra đường. Một tên Bộ đội Khmer đi ngược chiều cười thông cảm hỏi tôi:

–  Sao đó?

Tôi cười buồn, trả lời:

–  Xe bị hư rồi.

Tôi nói lí nhí bằng tiếng Khmer như vừa mệt vừa thở, nên y không chú ý cái lối phát âm chưa được chỉnh của mình. Tôi lại dẫn xe trở lại đoạn đường mới qua. Tôi phải đi gấp ba đoạn đường cần đi chỉ vì một lời chỉ dẫn không chính xác. Nếu hồi nãy người ta chỉ dùm chỗ nầy thì đỡ biết bao. Thợ sửa xe có vẻ kinh nghiệm, nhìn thấy lốp ruột xe còn mới tinh, y chỉ dùng kềm bẻ lại cái vòi xe, bơm thật cứng và bảo:

– Xong rồi.

Muốn chắc chắn, tôi để xe tại tiệm, đi ra ngoài ăn sáng, khi trở vào, thử lại thấy vẫn còn cứng, tôi yên tâm lên đường. Phum làng phía Tây Pursat rộn ràng không khí chiến tranh. Những đoàn xe chở lính Khmer, Bộ đội VC chuyển bánh, lính tráng đi bộ trên đường cũng mang súng ống đạn dược sẵn sàng. Đâu đây văng vẳng tiếng súng nhỏ và tiếng đại bác ì ầm. Tôi đến Battambang một cách bất ngờ. Mới ba giờ chiều, tôi đã gặp cái không khí tấp nập của một đô thị lớn, phố xá nhiều đường, thật khó chọn đúng đường. Tôi hỏi thăm một người đàn bà rồi đạp xe đến bến xe trung tâm thành phố. Tôi lại phải kiếm đường ra. Tôi đến một xe bán nước giải khát uống nước và hỏi chuyện:

— Ông đến cái cầu cao, trắng và lớn kia, quẹo phải đi về Nam Vang, quẹo trái là đường đi Xoai (tên địa phương của Sisophone).

Ó đen

lytong.wordpress.com

Lý Tống

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Phần 7

Nhà Tù 7708
Lại bị thẩm vấn, cũng chừng đó chuyện, tôi đã dự trù sẵn những câu trả lời nên vẫn chưa bị lộ tung tích. Lại tiếp tục chuyển đi nơi khác. Dọc đường, tôi chờ đợi một cơ hội tốt để nhảy xe bỏ chạy, nhưng ý định không thực hiện được. Chúng tôi được đưa đến phòng thẩm vấn Nhà tù 7708. Trong thời gian chờ đợi, tôi nằm dài thoải mái dưới đất nhai lương khô, như nhũng kẻ bụi đời. Nhiều Bộ đội được dẫn vào và cuối cùng, cuộc thẩm tra bắt đầu. Bộ đội VC bị bắt thuộc nhiều thành phần: đào ngũ, ăn cướp, ăn trộm hoặc những thành tích bất hảo khác. Tôi đã từng xem nhiều đoạn phim thẩm vấn trong trại tù Cộng Sản, những chuyện phim dựng nên những khuôn mặt gian ác, thâm độc của Công an Cảnh sát ngụy, mà các tay đạo diễn và tài tử đã cường điệu quá đáng nhưng chưa từng thây cuộn phim nào, tay tài tử nào diễn xuất đặc sắc như tên Cớm VC hiện tại. Cái bản măt vênh váo, cái đôi tay khuỳnh khuỳnh và những màn đấm đá đồng chí đồng rận tận lực.
— Đù mẹ, mầy muôn chết hả? Láo! Có phải mầy cùng băng thằng Bình không? Đù mẹ, tao mà bắt được thằng khốn nạn đó, tao sẽ phanh thây, tao sẽ bắn ngay tại chỗ.

Tên điều tra quát tháo luôn mồm. Thì ra Cộng Sản không chỉ tàn ác với kẻ thù, họ đối xử đồng chí và kẻ thù bình đẳng trong những lúc cần phải khát máu. Có phải đó là bản chất hay truyền thống cố hữu của họ? Bắt đầu đến lượt tôi, không biết vì mệt, đau tay chân, vì đấm đá quá nhiều, hay vì sắp hết giờ, họ chỉ làm lấy lệ. Thật phí, tôi đã chuẩn bị sẵn cho một trận đòn, cuối cùng vô sự.

Chúng tôi sắp hàng một dãy dài đi ra cửa, đường tối đen như mực, kẻ trước người sau không thấy rõ nhau. Đoạn đường ngắn nhưng có nhiều tên áp giải, tên Công an điều tra cầm súng chạy tới chạy lui quát tháo:
— Đứa nào ra khỏi hàng, ông bắn bỏ!

Tôi chẳng thấy được địa hình địa vật chung quanh nên chưa nắm vững tình thế, định bỏ chạy mà không thấy hướng để chạy. Hai bên có hàng rào kẽm gai không? (Sau nầy khi đã biết rõ địa thế, tôi cứ tiếc mãi.) Dịp may một lần tôi đã bỏ qua, vì đó là tối duy nhất bị cúp điện. Tôi và Sang bị phân tán qua hai phòng riêng rẽ. Vừa vào phòng, tôi đã được đón tiếp nồng hậu, những tay tù cũ bu quanh hỏi chuyện và xin gói lương khô nhỏ của tôi để liên hoan, và “Bọn bốn người” xếp sòng ra lệnh dồn chỗ lại để nhường cho tôi một chỗ thật tốt để nằm. Sau nầy khi quen với thông lệ chào phòng, tù nào mới vào phòng cũng bị đám tù cũ hù dữ lắm, tôi bèn hỏi lý do tại sao các chú tù cũ lại tương đốỉ nể nang tôi lúc đầu, họ bèn trả lời:
— Trông tướng đại ca ngầu lắm, đứa nào mà dám hù!

Nhà tù 7708 gồm ba phòng giam và một phòng kỷ luật, xây bằng bê tông, cửa sắt có gắn kính. Những thanh sắt uốn theo hình trang trí thay vì song song như những nhà tù thông thường. Thì ra đây là một căn nhà thuộc Khu Dinh thự cũ của ông Hoàng Sihanouk, chung quanh có tường bao bọc, tăng cường bằng kẽm gai và tôn. Mỗi phòng ngăn làm hai buồng, chung một cầu tiêu và một ngọn đèn.

Theo lời các tù cũ, 7708 là nhà giam kiên cố nhất so với các nhà tù khác trên lãnh thổ Kampuchia. Ở đây có nhiều cách đi trốn, trừ cách phá nhà giam vượt ngục. Chưa ai nghĩ đến và dám vượt ngục bằng cách phá nhà giam.

Hàng ngày tôi chăm chỉ học tiếng Miên, Bộ đội VC đa số đều nói được tiếng Miên, có người còn lấy vợ Miên. Những lúc nghỉ mệt, tôi lân la nói chuyện để dò đường, tìm cách trốn. Chưa có nhà tù nào gấu như 7708, Bộ đội Cộng Sản hát nhạc vàng inh ỏi suốt ngày, họ chửi Cộng Sản ngang nhiên thoải mái.

Tôi bắt đầu quen với các khuôn mặt mới. Có người đào ngũ, chuyên dùng giấy tờ giả, lận súng từ Việt Nam qua Miên ăn cướp rồi về Sàigòn ăn chơi, có người chuyên đi ăn trộm.

Ăn trộm bên này thật dễ. Người Miên họ nhát gan và quí mạng sống hơn vàng, chỉ cần đột nhập vào nhà, chĩa súng hăm dọa là biết chỗ dấu vàng. (Họ hay dấu trong bao gối, dấu dưới giường hay trong các vật dạng lỉnh kỉnh.) Đi vào chẳng ai dám la, dám chống cự, đi ra cũng yên tĩnh, an toàn. Đó là kinh nghiệm của một số Bộ đội VC.

Có Bộ đội đã từng bỏ hàng ngũ theo Kháng chiến Khmer, bị phục kích bắt lại; có người từng theo đạo quân đánh sâu vào Thái, qua những câu chuyện và những lời dọ hỏi, tôi nắm được ý niệm căn bản về con đường đi Thái. Nhà tù 7708 cũng như các cơ quan, bộ phận khác của Việt Cộng trên lãnh thổ Kampuchia đều ăn gạo của Liên Hiệp Quốc viện trợ cho dân Khmer. Và còn biết bao nhiêu thứ được chuyển đến đây vì mục đích nhân đạo lại được dùng để nuôi dưỡng một chế độ chủ trương làm những điều vô nhân đạo. Tù 7708 người nào cũng có âm mưu bỏ trốn, trừ vài người đã chạy chọt sắp sửa được thả và một chú bé 13 tuổi. Chú bé một mình lang thang từ Sàigòn qua Nam Vang, sinh sống bằng nghề đấm bóp, giác hơi quanh nhà ga. Kiếm ăn ngoài xã hội quá khó khăn, chú bé cảm thấy yên tâm khi bị bắt và được làm phụ nhà bếp. Sướng nhà kho, no nhà bếp, chưa kể các dịch vụ mua dùm đồ để kiếm lời.
Năm bảy hôm lại có một tù đi trốn, người đầu tiên ở cùng phòng tôi, bị sốt nặng, sau khi y sĩ chẩn bệnh, anh ta được chuyển xuống bệnh viện thành phố và tối hôm đó, bệnh nhân biến mất. Kế đến là hai người làm tạp dịch và gánh nước, trong vài phút lơ đễnh của tên gác, hai người tháo chạy làm lính gác báo động và tổ chức cuộc bố ráp. Kết quả một người chạy thoát và một người bị bắn chết.

Ở nhà tù 7708, tôi không được phép làm những công tác lặt vặt bên ngoài vì là tù mới. Mỗi ngày tôi tình nguyện đi đổ thùng phân vào buổi chiều. Mấy chục con người cả ngày đêm đái, ỉa trong một cái vại bằng sành (dung tích 30 lít). Mỗi lần khiêng thùng, phân đầy tràn, nước phân chảy nhểu khắp sàn nhà, văng tung tóe vào người. Chỗ đổ phân ở ngoài hàng rào hai mươi thước, đổ phân xong được tắm rửa năm, mười phút.
Trên đoạn đường ngắn có ba chỗ có thể bỏ chạy nếu gặp thời cơ: Hầm phân, giếng tắm và dãy hàng rào bên hông nhà giam. Bên kia hầm phân là khoảnh vườn cây, sau bức tường thấp là khu nhà dân chúng. Giếng tắm chung quanh có nhiều bờ bụi nhưng bị rào kín bằng kẽm gai, bên hông nhà phải leo qua một bức tường giăng giây thép gai. Tên gác luôn luôn kè súng đi sát sau lưng hoặc đứng cách năm, mười thước. Chỉ cần một dịp thuận tiện với hai phút vô ý của tên gác là phóng chạy liều, một ăn chín thua, nếu chấp nhận.
Tôi tính một cách khác, bất ngờ nhất, nguy hiểm nhất, nhưng lại bảo đảm nhất. Có đêm nằm ngủ, tôi chợt giật mình thức giấc bởi nhũng tiếng động lạ, có tiếng giống như sắt thép bị bẻ, có tiếng giống như tiếng sấm ầm ì trong cơn chuyển giông, có tiếng không giống tiếng gì. Chẳng biết những tiếng động từ đâu, bởi nguyên nhân nào, nhưng hình như ai cũng quen và xem thường những tiếng động lạ. Ngay cái tiếng đập và quạt muỗi cũng có nhiều âm thanh. Có người quạt bằng giấy kêu lạch phạch, có người đập muỗi bằng miếng cạt tông kêu bì bùng, tôi lại dùng “con rùa đựng nước” có nắp bằng sắt, tiếng kêu chát chúa như tiếng đập búa lò rèn, có tiếng khua leng keng của những kẻ bị koòng. Đêm hỗn loạn và huyên náo bởi đủ thứ tiếng động và tôi chợt khám phá một điểm yếu bất ngờ của chiếc cửa sổ sắt.
Tôi vừa trốn khỏi Trại tù A30, bao nhiêu huyền thoại được dựng lên để làm phấn khởi và khích động tinh thần tù bỉnh cùng Trại. Tưởng tượng bộ mặt vênh váo, hớn hở của bọn cai tù A30 khi nghe tin tôi bị bắt lại, và sự hoang mang tuyệt vọng của những tù binh đang hăm hở chuẩn bị vượt ngục. Tôi sẽ nói thế nào với Khảo, Đại úy Nhảy Dù, người đã có lần bày tỏ:
— Không biết hồi này bạn nghĩ gì và tính gì mà âm thầm quá. Bạn có thể cho tôi biết chút ít về dự định của bạn được không? Bạn biết rằng, đám tù binh chúng ta giờ nầy hầu như phân hóa làm hai khối, khối những người già từ tôi trở lên, vì tuổi tác, vì gia đình nên tinh thần sa sút, tiêu cực, chỉ còn hy vọng vào khối trẻ, những thanh niên vẫn còn đầy nhiệt huyết và tinh thần vững mạnh. Và trong giới trẻ, bạn là người được anh em yêu mến, trông cậy nhất…
Tôi sẽ nói thế nào với Ngọc, Đại úy Trưởng phòng Chiến Tranh Chính Trị Sư Đoàn 2 Không Quân, người đã ghé lại Nha Trang nhân đi công tác trại tù, đã chuyển lại lời của những thanh niên Nha Trang đến tôi:
— Anh cho chúng tôi gửi lời thăm Lý Tống, nói với Lý Tống là chúng tôi luôn luôn theo dõi tin tức của Lý Tống. Đối với tất cả chúng tôi, Lý Tống xứng đáng là thần tượng của tuổi trẻ Nha Trang.
Tôi xúc động đến chảy nước mắt. Tình cảm của anh em thanh niên, của những người bạn tù thật quí, chính họ đã giúp tôi giữ vững tinh thần và cũng vì họ, vì niềm tin yêu cao quí đó, tôi sẵn sàng hy sinh để luôn luôn giữ được hình ảnh trong sáng trong tâm hồn và tình cảm anh em.
Không. Tôi thà chết tại đây, dưới một tên tuổi khác, tôi không thể nào để bị áp giải về những trại tù cũ ở Việt Nam. Hình ảnh cuộc vượt ngục A30 vẫn còn rờn rợn trong từng cảm giác và hình ảnh những ngày bi đát cuối cùng.

Chuẩn Bị Vượt Ngục Trại Tù 7708
Tôi tìm được điểm yếu khác của cánh cửa sắt do sự tò mò bất ngờ, ngoài mảnh kính vỡ được thay thế bằng ba thanh gỗ đóng chéo ngang. Hàng ngày các loại canh, cháo và nước thường được chuyền qua cửa sổ bằng một máng xối, trừ cơm được đưa vào bằng đường cửa chính. Tại cánh cửa sổ đã xảy ra bao cuộc giành giựt, cãi vã, kẻ cò kè xin thêm vá cháo, người nài nỉ thêm chút nước canh, đặc biệt, những tù cựu trào lại chuyền bi đông sắt qua đó xin nước sôi.
Có một điểm mà kẻ thường chú ý những điều đặc biệt như tôi bắt buộc phải quan tâm. Ô số I và số II hoàn toàn giống nhau vì cùng xuất thân từ một lò đúc, nhưng ô số I là ô duy nhất bi đông sắt có thể đút lọt. Tôi giả vờ đứng hít thở như kẻ đang ngộp hơi cần không khí, nhưng thật ra để quan sát nguyên nhân, thật bất ngờ khi thấy hai múi hàn A3 và A4 đã bị hở. Tôi vờ cầm thanh sắt số 1 kéo mạnh vào người như đang tập thể dục thử xem có đủ sức lay chuyển không thì thanh sắt rung nhẹ. Tôi trở về chỗ ngồi, mừng rỡ vì từng học nghề thợ hàn trong hai tháng, tôi có thể lường được sức chịu đựng bền bĩ của mỗi múi hàn. Tôi tính khoảng trống của hình thang M1 M2 M3 M4 bằng cách đến cánh cửa chính ra vào (cũng làm cùng một kiểu mẫu) để đo đạc. Từ vòng sắt ở trung tâm đến điểm A, chiều cao khá rộng rãi so với đầu và bề dày của lồng ngực.
Bề ngang Ml—M2 hẹp hơn bề ngang của vai tôi nhưng cạnh chéo M2—M4 lại rộng hơn. Để xác định chắc chăn hơn, tôi đối chiếu M1—M2 với đường kẻ gạch ca rô sàn nhà, xong tôi dùng một que gỗ nhỏ đánh dấu bề rộng vai mình. Tôi ngồi tại chỗ của mình giả vờ nghịch ngợm với que gỗ để so sánh, đối chiếu thật chính xác để cuối cùng nhận ra rằng, muốn chui lọt qua khoảng trống M1 M2 M3 M4, tôi phải lách nghiêng vai và sẽ phải nén ép người lại mới hy vọng chui qua lọt sau khi đã bẻ toàn bộ những thanh sắt nằm trong diện tích của hình thang Ml M2 M3 M4. Một người thanh niên nằm bên cạnh vừa bị bắt vào mấy hôm trước về tội chở sắt thép và máy móc lậu về Việt Nam bán. Anh tên Tại, dân đánh cá, lực lưỡng khỏe mạnh. Theo lời Tại, ở Kampuchia kiếm việc làm rất dễ và nhiều tiền, hoặc làm bồi trong các tiệm ăn của người Tàu, hoặc xin giúp việc tại vựa cá phía tây bắc Nam Vang 10 cây số. Tốt nhất là xin làm nghề đánh cá tại Kampong Chanang cách Nam Vang 90 cây số về hướng Thái Lan. Tại không muốn trốn theo tôi bởi vì anh có một ông chú làm lớn ở Battambang đang can thiệp dùm hơn nữa dự định của tôi qụá táo bạo và nguy hiểm ngoài khả năng của Tại. Vốn liếng còn một gói thuốc Samit, Tại biếu tôi để làm lộ phí dọc đường. Dù Tại có muốn trốn theo tôi cũng không thể được, bởi vì khổ người lực lưỡng của Tại không thể chui lọt qua ô cửa sổ. Nếu tôi cũng vạm vỡ như Tại, chắc tôi không thoát được 7708 bằng con đường nầy.
Thiên Mệnh! Thượng Đế quả đã tính toán cẩn thận từng điều kiện sinh hoạt của mỗi con người trên trái đất. Xin đừng ngạc nhiên vì một kẻ đã từng khai trong lý lịch mình là vô tôn giáo và sau đó pensée libre, mặc dù chữ ký của tôi từ mười mấy năm qua có nghĩa là “Lạy Thượng Đế,” thay vì Lý Tống như kiểu ký tên bình thường, giờ nầy lại cứ lập đi lập lại: Số phận — Thiên mệnh — Thượng Đế. Bởi vì phải trải qua bảy, tám năm đầy hiểm nguy, sự sống và chết như chỉ mành treo chuông, cái vị trí đầu sóng ngọn gió đã liên hệ đến những sự kiện huyền nhiệm, như một đấng linh thiêng nào đó đã xếp đặt, dàn dụng. Giờ nầy, cũng không thiếu gì nhân viên lập hồ sơ phải bối rối khi hạ bút viết chữ God trong phần tôn giáo của hồ sơ lý lịch tôi. Thượng Đế, một tôn giáo riêng của tôi, với những thủ tục, nghi lễ hoàn toàn riêng biệt và đặc biệt.

Ngoài yếu tố cửa sổ, còn một yếu tố quan trọng khác: Đèn điện. Những âm mưu đen tối thường phù hợp với bóng tối. Tối ngày 6 tháng 10 năm 1981, tôi chuẩn bị phá hỏng đèn điện trong phòng. Một phòng hai buồng có một bóng điện tròn gắn ở khoảng giữa và một bức tường ngăn phòng ngủ và cầu tiêu. Tường cao hai thước, đứng trên tường đủ tầm cao để gỡ bóng đèn và phải tắt đèn mới bắt đầu bẻ cửa sắt được. Thêm một điều may mắn là bóng đèn hành lang gần cửa sổ tối nay lại bị đứt bóng. Đã 12 giờ đêm, các tù nhân buồng ngoài đã yên ngủ, tôi giả vờ đi tiểu. Buồng trong có hai người bị sốt không ngủ được, họ rên rỉ, trăn trở suốt đêm. Hai người tù nầy thuộc loại thân tín của bọn gác nên tôi cần phải cẩn thận. Một tên nằm quạt, một tên mở mắt thao láo, đờ đẫn. Thời gian cứ trôi qua, tôi cứ đi tiểu, đi dón dén sợ họ trông thấy và nghi ngờ cái bệnh đi tiểu của mình.

Gần 4 giờ sáng, hai người bệnh mới chịu ngủ, giờ này không đủ thì giờ để bẻ cửa sắt, nhưng còn đủ thì giờ để phá hỏng điện. Chỉ cần gỡ bóng điện là phòng tối ngay nhưng để gỡ một bóng điện, như tối hôm nay, tôi phải đợi gần năm tiếng đồng hồ. Nếu bây giờ gỡ bóng điện để tối mai đi trốn, thì sáng mai chuyện gì sẽ xảy ra khi bỗng nhiên mất bóng điện? Tôi bước lên tường thấp số 1 cao hơn nửa thước làm chỗ ngồi để đi vệ sinh, leo lên tường số 2, đi dọc theo tường đến chỗ bóng điện và dùng khăn tay tôi nắm bóng điện gỡ ra. Gian phòng tối sầm lại.

Tôi lấy miếng ni lông nhỏ chuẩn bị sẵn chèn vào giữa đít bóng và đui đèn, gắn vào lại. Vừa ấn vào, đèn chớp sáng, tôi lại gỡ ra. Quái lạ. Ni lông là vật cách điện, tại sao đèn vẫn cháy? Tôi đổi ý, cầm bóng đèn lắc mạnh liên tục cho đến khi nghe tiếng lạt xạt của những sợi dây tungstene bị đứt va chạm nhau trong bóng đèn. Chưa chắc bụng, tôi còn vặn cho phần đui bằng đồng và phần thủy tinh của bóng lỏng ra, lỏng đến nỗi phần thủy tinh bóng đèn suýt rời ra, rơi xuống đất khi tôi cầm đuôi đèn, miếng giấy ni lông vẫn chèn thêm vào giữa cho bảo đảm.

Tôi ấn bóng vào, đèn lại chớp sáng. Cái chớp lóe vụt tắt nhờ tôi nhanh tay, nếu không đã bị lộ, vì tôi vừa nghe tiếng hộp quẹt Zippo bật tách và một người nằm buồng ngoài vừa mồi thuốc hút và người nầy hôm sau đã khẳng định chính y thấy bóng đèn xẹt cháy! Bực mình, tôi bỏ bóng đèn vào túi áo, dùng hai tay mò mẫm tìm dây điện để bứt đứt. Sợi dây nhỏ nhưng dai, tôi bẻ qua, bẻ lại, dây nhùng nhằn một hồi lâu mới gãy. Tôi sửa lại sợi dây đứt ngay ngắn để nếu có ai có chú ý, cũng không thể nào nhận ra. Trước khi gắn vào, tôi còn nhét một cục mạng nhện dính mồ hóng đen cho yên tâm, cái tay dính mồ hóng đen vô tình làm đen một khoảng bóng đèn, cũng là một trong những yếu tố để các người tù trong phòng hôm sau giải thích và suy luận:
— Bóng đèn bị nám đen chắc là bị cháy rồi. Chán thật, sớm nhất cũng phải ba ngày mới được thay bóng.

Một người tù cũ có nhiều kinh nghiệm càm ràm.

Ngày 7 tháng 10, tôi và Sang được gọi lên thẩm vấn. Trong thời gian ở khác phòng, theo lời các người chuyển phòng, Sang cứ đổ tội là tôi đã rủ rê em đi, vì tôi mà giờ nầy em phải bị tù. Tôi hơi bực mình nhưng tội nghiệp cho em, khi gặp lại Sang tôi hỏi:
— Sinh hoạt trong phòng em thế nào? Có dễ trốn không?

Sang cho biết người trong phòng mình được tin tưởng nên được cho đi làm ngoài lai rai, nếu muốn, có thể hy vọng trốn được. Tôi khuyên Sang, nếu có dip tốt nên trốn đi, rồi kiếm phương tiện trở về Việt Nam với gia đình. Ở đây khoảng vài ba tháng lại có chuyến chuyển tù về Việt Nam. Tù Dân sự bị đưa về khám Chí Hòa, tù Bộ đội chuyển về Bùi Gia Mập, tội vượt biên hiện giờ bị kết án nặng. Tôi nói:
— Anh tiếc là chúng ta ở khác phòng nên không thể giúp gì cho em được, từ nay em ráng tự lo cho mình. Vài hôm nữa, có thể anh sẽ không còn ở đây. Sang bị kêu vào thẩm vấn trước. Tôi lại nghe tiếng khóc lóc, cầu khẩn của Sang và tiếng quát:

— Mầy đã dám đi vượt biên lại không dám chịu nhận tội còn khóc lóc van lạy gì nữa?

Trong khi ngồi đợi, tên gác vớt được một con cá phi lớn hơn bàn tay, lờ đờ sắp chết vì trời nắng gắt và trao cho tôi. Tôi nhờ người nấu bếp nướng dùm, chờ khi Sang ra, tôi trao cho Sang nguyên con cá nướng. Gần nửa tháng nay chỉ ăn muối với một chút cá bằng đót điếu thưốc mỗi bữa cơm Sang lính quýnh mừng rỡ, hai tay vồ lấy con cá như sợ tôi đổi ý. Mặt Sang cúi gầm xuống tránh những cặp mắt của những người tù ngồi cạnh đang thèm thuồng vì sợ họ xin và sợ phải bị chia phần. Em há to miệng, ngoạm lấy ngoạm để, trái táo Adam ở cần cổ hối hả lên xuống cho kịp theo nhịp nhai, nuốt ngấu nghiến cuống quýt của em. Tôi nhịn thèm, ngồi nhìn Sang ăn, tự nhiên cần cổ mình cũng nhấp nhô, bởi vì phải nuốt những dòng nước miếng cứ ứa ra vì thèm khát. Sau khi đã thanh toán hết phần thịt, Sang bắt đầu từ từ gặm mút phần đầu và xương cá. Giờ nầy chắc chắn chẳng còn sợ ai xin, mặc dù nếu Sang chìa ra cho, cũng sẽ có một đám bàn tay phóng ra tranh nhau giành giựt xương và đầu cá. Sang nhai kỹ, nhai nát ngứu từng cái xương và tận hưởng hạnh phúc quá lớn và bất ngờ đó.
Tôi vào phòng thẩm vấn, vẫn một lời khai như cũ. Chuyên viên thẩm vấn thuộc A50 được mệnh danh nhóm chuyên gia kỹ thuật hỏi tôi câu cuối:
— Nếu cách mạng khoan hồng thả anh ra, anh sẽ làm gì?
— Tôi sẽ tiếp tục đi vượt biên.

Tôi trả lời ngắn gọn, và yêu cầu trả lại gần 5 kg lương khô như lời chỉ dẫn của bạn tù.
— Chờ giải quyết.

Cán bộ thẩm tra hẹn. Nếu được nhận lại, tôi sẽ chia cho Sang một nửa, một ít cho bạn cùng phòng và một phần tôi sẽ đem theo làm lương thực. Trong hoàn cảnh thiếu thôn của nhà tù, lương khô là một món ăn quí báu, thịnh soạn và trở thành đề tài hấp dẫn nhất của mỗi ngày. Trên đường về phòng, trong khi chờ đợi tên gác mở cửa phòng cho các người khác, tôi lân la đến ô cửa nhỏ vuông vức bằng hai bàn tay nhìn vào phòng kỷ luật

Kinh khủng! Phòng kỷ luật mù mịt như một phòng tắm hơi vì hơi người và hơi nóng, các tù nhân đứng ngồi lổn ngổn, mồ hôi đầm đìa khắp người. Tiếng cửa sắt nặng nề mở ra, một loạt người đứng dậy cầm chiếu, áo quần vội vã quạt hơi khói mù mịt ra ngoài, luồng hơi bốc ra cuồn cuộn như từ một đám cháy. Tôi bước thối lui bởi sức chuyển động của không khí và bởi mùi hôi hám nồng nặc khó chịu với cảm tưởng tù nhân ở phòng kỷ luật quá một tháng, phổi phèo tim gan có thể bị hấp chín. Làm sao phá được phòng xà lim kiên cố nầy để trốn thoát?!

Vừa bước vào phòng, tôi đã nghe một tin sốt dẻo: Một người trong bọn bốn người, băng Bộ đội Bắc Kỳ xếp sòng phòng số 1, đi công tác vào rừng đốn củi đã trốn thoát. Công tác đốn củi nửa tháng mới có một lần, xe GMC chở mười người tù và năm Bộ đội nhà giam đi theo kiểm soát.

Tình hình trại giam trở nên căng thẳng. Có một điểm trùng hợp đặc biệt là mỗi lần đúng ngày tôi vượt ngục hoặc trốn trại, bao giờ cũng có một biến cố quan trọng xảy ra: Tôi rời Nong Samet ra đi cùng ngày Việt Cộng tấn công trại tị nạn Nông Chan; rời nhà tù A30 cùng hôm hai người bạn tù vượt ngục trốn đi được hai tháng bị bắt trở lại… Những biến cố khách quan đó cũng có tác dụng tương đối tiêu cực hoặc tích cực về phương diện tinh thần.

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Chương hai mươi

Sáng hôm sau, trước khi vào sở, Eliot Ness phóng xe một vòng qua vị trí

dự tính tấn công tối hôm qua. Từ phía ngoài, chàng có thể nhìn thấy dấu vết của

những sự tẩu tán vội vàng các tang vật. Coi, mấy chú lái xe vận tải lính quýnh làm sao mà ủi cả vào hàng rào. Vui bằng thích. Nước bia trong thùng bị đục chảy ra ngoài từ tối qua vẫn thấy được lênh láng khắp nơi trên mặt đất.

Đang còn đứng ngắm ngía trước hàng rào, một thằng mặt mũi cô hồn từ trong bước ra. Nó nhìn chiếc xe Ford có gắn đèn cảnh sát nơi tableau, bèn chạy tới

nhổ một bãi nước miếng vào cánh cửa rồi quay sang nhìn Eliot Ness sủa:

-Ê, đù mẹ thằng … cảnh sát kia, mày muốn gì? Muốn kiếm ai?

Eliot Ness thấy hai lỗ tai mình như bốc lửa nhưng cứ vờ đi, làm như không

nghe thấy. Thằng cô hồn nhổ thêm một bãi nước bọt, lần này xuyên qua cửa sổ,

dính vào thành ghế của chàng. Xong nó chùi miệng, từ từ tiến tới sau lưng Eliot Ness, cất giọng nạt lớn:

-Mother fuck … thằng cớm, đù mẹ mày điếc hả, tao hỏi mày muốn gì? Mày

kiếm …

Câu nói chưa dứt thì đã nghe “chát” một tiếng. Nhanh như chớp, Eliot Ness

xoay người, tung một quả đấm thôi sơn vào giữa mặt nó. Cú đấm mạnh quá làm bàn tay chàng cũng tê dại đi. Thằng cô hồn té ngữa ra sau, chưa kịp bò dậy, Eliot Ness đã phóng tới, đạp gót giày lên ngực nó:

-Mày vừa Mother Fuck ai? Ai cho mày nhổ nước bọt vào xe chính phủ?

Tao nhổ nước bọt vào mặt mày được không?

Thằng khốn ú ớ không nói nên lời vì máu từ miệng đang chảy ra. Đù mẹ

thằng này ăn cái gì mà đánh mạnh quá sức, nhức nhối không tả được, gãy có đến vài cái răng là ít. Thật tình, nếu nó biết ông cảnh sát này hung dữ vậy thì đâu nó đâu có dám biểu diễn màn nhổ nước bọt và chửi thề làm chi để bị ăn đòn. Xưa nay, dân giang hồ Chicago có cái tật là thích nhổ nước bọt bào xe cảnh sát. Đúng ra, cái trò du côn này của xếp Al Capone đem từ New York xuống. Cảnh sát là biểu tượng của pháp luật, của sự an ninh. Xe cảnh sát lại càng quan trọng hơn nữa. Thời đó, xe hơi còn ít nên chiếc xe cảnh sát sơn màu đen là một cái gì uy nghiêm cần được tôn trọng, một dấu hiệu của luật pháp. Nhổ vào xe cảnh sát nói lên hai điều. Thứ nhất nó biểu diễn một sự thách thức, một sự chứng minh về cái tính “coi luật pháp không ra gì” của mình. Thứ hai, đó là một cách thử lửa coi thày cảnh sát này ngon lành cỡ nào, phản ứng ra sao. Cảnh sát không thể khơi khơi nhốt tù một thằng vì nó nhổ vào xe của mình. Nếu gặp mấy thầy đội dữ một chút thì chỉ bợp cho nó vài bợp tai, bắt nó chùi xe rồi cho đi. Gặp mấy thầy hiền thì phe lờ luôn. Ăn thua gì chút xíu đó mà

gây oán thù? Những ngày còn trẻ, xếp Al Capone chuyên môn áp dụng cái màn này để thử lửa cảnh sát.

Đau lắm, nhưng nó cũng ráng thều thào, giọng không thành tiếng vì thiếu

mất vài cái răng cửa bất ngờ:

-Thì nói trống không vậy đó.

Eliot Ness móc cái mộc cảnh sát đặc vụ của ty ngân khố ra, cúi người dí sát

vào mặt nó:

-Mày biết đọc không? Đọc thử mấy chữ này coi.

– Tôi … không biết đọc nhưng biết đó là mộc cảnh sát … thiệt.

Eliot Ness dần từng tiếng:

-“Special Agent of the Treasury & Justice Department,” có nghĩa tao là

ông nội của cảnh sát. Tao đến từ Hoa Thịnh Đốn, nên không có quen mấy cái cách ăn nói mất dạy ngang ngược của tụi mày, hiểu không? Từ này về sau, phải ráng mà học để biết kính nể và quý trọng cảnh sát như cha mẹ mày vậy vì cảnh sát phục vụ và bảo vệ dân. Tuy bảo vệ nhưng nếu cần, cảnh sát cũng có quyền đục thấy mẹ những thằng nào ăn nói cục cần thô lỗ. Hiểu chưa?

Eliot Ness nới lỏng bàn chân, đứng lùi ra cho nạn nhân đứng dậy. Mới bị

có một quả đấm mà mặt mày thằng cô hồn đã hết chất … cô hồn, coi thấy xụi lơ.

Eliot Ness móc ra cái khăn mu soa:

-Cầm lấy cái khăn này mà chun vô xe tao chùi cho sạch bãi nước bọt của

mày đi. Lần sau mà còn ngu dại chơi cái màn này thì tao bắt mày liếm sạch bãi nước miếng của mày đó, hiểu chưa thằng mất dạy?

Thằng cô hồn làm y lời rồi lễ mễ bỏ vào trong. Hoảng quá, nó quên trả lại

cho Eliot Ness cái khăn mu soa. Chằng lắc đầu, leo lên xe lái thẳng về ty cảnh sát.

Hãy còn sớm, Mike Casey chưa tới, Eliot Ness lại trở ra đi dạo một vòng. Bước

chân tình cờ đưa đẩy, Eliot Ness thấy mình đứng trước cái ghế đá công viên ngày nào, nơi Gary Malone đã đập bể tan nát chiếc xe của thằng Frank Nitti tháng trước. Chàng mua một tờ báo, ngồi xuống ghế đá, bình thản ngồi hút thuốc, ráng tận hưởng những giây phút nhàn hạ của buổi sáng.

Có tiếng chân lóc cóc của gót giày đinh nện vào vĩa hè. Khỏi cần nhìn lên,

Eliot Ness cũng biết đó là tiếng chân của Gary Malone. Lâu rồi không gặp được cố nhân, chẳng biết có gì thay đổi? Chàng chưa kịp nhìn lên đã nghe tiếng chào:

-Chào thanh tra Ness. Trời hôm nay đẹp quá nhỉ?

Thái độ vui tươi của Gary Malone khác hẳn thường ngày làm Eliot Ness

ngạc nhiên. Chàng nhớ đến lần gặp gỡ cuối cùng với hắn tại quán cà phê. Thằng cớm khó chịu này âm mưu gì dây? Hay nó đã thay đổi? Mặc, chàng không còn có hy vọng quá nhiều vào hắn như ngày xưa nữa. Tất cả những kế hoạch để diệt Capone, Eliot Ness đều đã hoạch định lấy đặt căn bản trên nhân vật chính là mình.

-Chào ông bạn Gary Malone, trời đẹp thật. Giá có được một công việc

nhàn nhã, cứ chắp tay sau đít đi bách bộ như ông thì tuyệt.

Gary Malone cười. Giọng cười của hắn ồ ồ, sảng khoái, đúng điệu một tay

lãng tử lang bạt kỳ hồ:

-Có gì khó đâu, ông cứ việc làm đơn xin đổi về ty cảnh sát Chicago, tôi

hứa sẽ can thiệp cho ông.

-Can thiệp với ai?

-Mike Casey!

Gary Malone nhìn Eliot Ness nháy mắt cười hóm hỉnh sau câu nói. Eliot

Ness cũng cười theo. Tiếng cười của hai ông cớm vang lên trong đường phố, giữa một buổi sáng ngày đẹp trời. Gary Malone lột cái mũ két thảy lên ghế, ngồi xuống bên cạnh Eliot Ness:

-Coi vậy chớ không phải … vậy đâu, ông Ness. Ông quên một điểm là một

năm 365 ngày, chỉ có chừng vài chục ngày là đẹp như vậy thôi. Ngoài ra, toàn là những ngày hoặc là nóng như cái lò bánh hoặc là lạnh như ở miền Bắc cực. Những con người xui xẻo mới phải làm những công việc này.

-Nhưng tôi thấy hình như ông mê nó lắm.

Nụ cười trên môi Gary Malone tắt ngúm. Hắn nhìn ra xa xà, có dáng mỏi

mệt:

-Mỗi người có một tâm sự riêng, nếu ông biết được tâm sự riêng của tôi,

ông sẽ hiểu tôi.

Gary Malone móc bao thuốc lá từ túi áo trên, rút một điếu xong bỏ lại,

không quên gài nút cẩn thận trở lại:

-Này ông Ness?

-Gì?

-Ông còn cay cú tôi không?

-Không. Công việc chung, cay cú làm gì. Tôi chỉ nói là tôi sẽ không cần

ông làm việc chung với tôi nữa thôi.

Tự nhiên, Gary Malone chìa bàn tay ra:

-Xin chúc mừng sự thành công của ông tối hôm qua.

-Sao ông biết?

Gary Malone cười:

-Không có chuyện gì xảy ra trong ty mà tôi không biết. Gary Malone mà.

Eliot Ness bắt tay hắn, nhận lời chúc mừng:

-Thật ra đó chỉ là cái kế vặt. Chương trình của tôi còn dài dài.

-Được lắm, nhưng đừng tưởng là tụi Capone sẽ chịu thua. Chúng nó sẽ

nghĩ ra một kế hoạch khác để đối phó với ông. Hơn nữa, thiệt mất một vài chỗ nấu rượu như vậy không làm cho hắn suy xuyển được. Cần phải thay đổi kế hoạch luôn luôn.

-Thú thật với ông, ngay cho đến giờ phút này, tôi cũng vẫn chưa có một kế

hoạch gì đặc biệt cả. Ông có ý kiến gì không?

-Ông muốn tôi vào làm việc với ông?

-Tôi đã nói, bây giờ thì hết rồi. Gary Malone cười cười, nửa đùa nửa thật:

-Được. Nếu tôi là ông, tôi sẽ cho đặt một trái bom cở 2 ngàn cân tại đại

khách sạn Lexington.

– Thứ nhất, làm vậy là trái luật. Thứ hai, giết thằng Capone này sẽ có

thằng Capone khác nổi lên, ích lợi gì?

Gary Malone không trả lời, đứng dậy, đội mũ các két lên đầu. Hắn dùng

hai tay xoay xoay cái mũ để sửa lại cho ngay ngắn:

-Nói đùa với ông thôi ông thanh tra. Tôi chẳng có ý kiến gì cả. Chào ông.

Cũng chẳng thèm đợi trả lời, Gary Malone lặng lẻ cất bước. Đột nhiên,

hắn quay lui, trở lại đứng trước mặt Eliot Ness:

-Tôi có một câu chuyện để tặng ông.

Eliot Ness cười:

-Chuyện gì?

-Lúc tôi còn nhỏ, ba tôi có kể cho tôi nghe câu chuyện một người bạn của

ông ta, đã một mình chèo thuyền từ Canada, xuyên qua mấy ngàn dặm trên going sông Mississipi để về đến New Orleans.

– Một công tác rất khó khăn vào cái thời phôi thai đó.

-Đúng. Ông biết, sau cuộc hải trình ngoằn nghèo dài gần một năm đó, ông

ta tiết lộ cái lý do giúp ông ta thực hiện được việc làm khó khăn đó. Ông sẽ ngạc nhiên. Ông nói với cha tôi rằng sỡ dĩ tôi vượt được mấy ngàn dặm đường mà không có gì nguy hiểm và không hề nản chí là bởi vì tôi biết áp dụng đúng quy tắc này:

“Tôi chỉ để ý đến quãng đường ngay trước mặt mình thôi. Hết đoạn đó tôi lại để ý cái đoạn kế ngay trước mặt. Chính quảng đường gần nhất ngay trước mặt mình là quãng đường nguy hiểm nhất … “

Eliot Ness gật đầu ghi nhận một tư tưởng hay.

-Tôi biết ông là một người thông minh, có can đảm, có tài nên mới kể cho

ông câu chuyện đó. Tôi nghĩ ông sẽ thành công.

Nói xong Gary Malone lại quay lui toan cất bước. Eliot Ness gọi giật hắn

lại

-Gary Malone!

-Gì?

-Ông có quen người con gái nào tên Collen Parker?

Cái tên “Colleen Parker” như nói lên một chuyện gì làm Gary Malone

quay người lại, tiến tới gần Eliot Ness:

-Con bé ở nhà hàng The Red Horse?

Eliot Ness nháy mắt cười:

-Đúng, Collen cẳng dài.

Gary Malone không cười. Dĩ vãng chạy về trong trí hắn. Hắn lại lột cái

mũ kết ra rồi ngồi xuống bên cạnh Eliot Ness. Cặp mắt hắn tư lự nhìn ra xa xa:

-Đó là một chuyện tình đẹp.

Eliot Ness ngạc nhiên, lúng túng:

-Tôi xin lỗi, tôi không biết gì về chuyện tình đó. Tôi chỉ nhắc đến tình cờ

vì cô ta nói có biết ông.

Nụ cười trên môi Gary Malone méo mó:

-Đúng hơn, chúng tôi đã yêu nhau nhiều lắm.

Eliot Ness nhún vai:

-Cả hai rất xứng đôi vừa lứa, tôi thấy đâu có gì trở ngại?

-Cái trở ngại là chúng tôi. Nàng muốn tôi từ bỏ nghề cớm để cả hai sẽ đi

một nơi thật xa xây tổ uyên ương.

Eliot Ness cười:

-Cũng nên lắm chứ, nhưng ông cho đó là những đòi hỏi vớ vẫn của một em

bé?

-Ông biết, Gary Malone này mà cởi bộ đồ cảnh ra, mặc vào thứ gì đi nữa

cũng thấy mình như trần truồng. Máu cớm nó đọng trong huyết quản rồi, không dễ gì bỏ được.

Eliot Ness đột ngột hỏi:

-Năm nay ông bao nhiêu tuổi rồi?

-Gần 50!

-Ai nhìn ông cũng tưởng ông vào cỡ 40 là cùng.

-Cái hàng râu mép nó giấu dùm tôi độ 10 tuổi.

-10 năm nữa, tôi sẽ để một hàng râu mép giống ông.

Hai ông cảnh sát cùng bật cười lên một lượt. Chưa bao giờ chàng thấy thân

thiện với Gary Malone hơn lúc này. Hắn đã đổi ý rồi chăng?

-Ông còn liên lạc gì với em Collen không?

-Không! Ông biết tính tôi mà. Dứt khoát. Nếu mình không thể thay đổi

được tình hình thì ít nhất cũng đừng để tình hình nó kiểm soát mình. Giữa tôi và Collen bây giờ chỉ còn là hai người bạn.

-Bạn thân?

– Rất thân và rất kính trọng nhau nữa. Tôi coi nàng như đứa em gái.

Eliot Ness nheo mắt, cười cười:

-Có khó lắm không?

-Không bảo toàn được chuyện nhỏ, làm sao lo được chuyện lớn?

-Anh hùng thường hay bị kẹt bởi những chuyện cỏn con như vậy, ông có

biết không?

-Tôi không phải là anh hùng.

Eliot Ness suy nghĩ không biết có nên nói chuyện xảy ra tối hôm nọ cho

Gary Malone nghe? Thôi, cứ để từ từ đã, chuyện đâu còn đó.

Gary Malone lại đứng dậy, đội cái mũ két vào đầu, lấy tay sửa sửa lại cho

ngay ngắn:

-Tôi phải đi ông Ness! Chúc ông may mắn và quan trọng nhất, đừng quên

câu chuyện tôi kể với ông: “Khúc đường trước mặt là khúc đường quan trọng

nhất … “

Eliot Ness chìa tay ra, Gary Malone bắt lấy. Lần đầu tiên kể từ khi gặp

hắn, Eliot Ness cảm thấy con người hắn cũng không đến nổi khó chịu lắm.

Trên con đường trở lại ty cảnh sát, chàng cứ suy nghĩ mãi về câu nói đó

“Khúc đường trước mặt là quan trọng nhất. Chỉ để ý đến nó mà thôi … “

Phần Eliot Ness, chàng cũng không ngờ cái đòn hư hư thật thật này lại

thành công quá mức mình dự đoán. Mike Casey như người ngồi trên đống lửa. Bây giờ, thái độ thù ghét Eliot Ness của lão, lão không còn giữ trong lòng mà cứ tự nhiên để cho nó hiện ra trên nét mặt. Cả ty cảnh sát cũng chới với. Lần đầu tiên, người ta thấy bọn Al Capone trở về thế bị động. Đúng như sự lo sợ của Al Capone, Eliot Ness kéo dài cái trò chơi này luôn hai tuần lễ liên tiếp. Cứ mỗi ngày chàng đi vào, quăng ra vài cái trát toà ký sẵn với những địa chỉ vu vơ cho lão Casey coi, rồi đi lo việc khác. Riêng xếp Al Capone thì khỏi nói. Xếp gần như muốn điên. Lần nào cũng vậy, hễ mỗi lần Mike Casey gọi điện thoại tới thông báo các địa điểm sẽ bị tấn công, dù biết rằng đây chỉ có thể là những vụ hành quân ma, xếp Al Capone cũng lập tức cho ban hành lệnh báo động. Làm ăn kỹ càng lắm nên xếp quan niệm, chẳng thà bị mất bia rượu còn hơn để tụi cảnh sát liên bang khám phá ra sào huyệt.

Xếp biết số tiền lo lót cho đàn em, cho mấy ông tòa cũng không kém gì số tiền rượu bia bị mất mát kia, và có khi còn nhiều hơn. Vả lại, ở Chicago này, tiếng tăm của Xếp đã quá nổi. Xếp rất sợ đọc được những bài báo, những trang phóng sự dài lê thê về các lò nấu rượu của mình. Có lần, xếp nói thẳng với Frank Nitti:

-Nếu từ đây cho đến cuối năm nó cứ cái mững này soạn lại mỗi ngày một

lần, mình cũng phải báo động từ nay cho đến cuối năm.

-Nhưng nếu nó làm hoài như vậy, mình sẽ lỗ hoặc không còn lời nữa.

Xếp lắc đầu:

-Lỗ thì chắc chắn là không, nhưng tiền lời sẽ ít đi. Mà mày biết ai sẽ chia

phần lỗ lã với mình không? Thì bọn thấy chú ở ty cảnh sát Chicago chớ ai. Đù mẹ mình phát lương tháng cho chúng nó để được bảo vệ khỏi mấy cái vụ hành quân lẩm cẩm này. Nếu chúng không bảo vệ được, để thằng cớm khốn nạn kia đi tấn công hằng ngày thì chúng nó phải chịu chia phần sự lỗ lã. Tao đã chỉ thị thằng Guzick cắt hết một nửa phần lương trả cho bọn thầy chú. Tháng sau, nếu vụ này còn, tao sẽ cho cắt thêm nữa.

Nạn nhân đầu tiên của chiến dịch “Eliot Ness” là mấy thày chú cảnh sát.

Đương không tiền phụ trội bỗng rớt xuống một nửa. Ăn quen nhịn không quen, có thầy giận quá còn giở trò hạch sách, đòi bắt bớ vài thằng. Riêng lão Mike Casey thì cái vé uống rượu chùa mỗi tối đã bị thâu hồi. Chỉ thị mới nhất của Frank Nitti là từ nay, lão uống bao nhiêu phải trả tiền bấy nhiêu. Vì thế, Mike Casey hận Eliot Ness lắm.

Nạn nhân thứ nhì là bọn đàn em của xếp và các caporegime. Bia rượu bây

giờ ở Chicago tự nhiên trở nên khan hiếm vô cùng vì nấu được một thùng bia đâu phải là chuyện dễ dàng. Còn phải cất, phải ủ, phải chờ cho nó lên men rồi mới san qua sớt lại cả mấy tuần lễ mới xong. Công trình như vậy mà nhiều khi tiến hành được nửa chừng lại bị Caporegim gọi điện thoại tới, quát lên như sấm: “Đù mẹ tối nay nó tấn công khu mày đó. Dẹp, dẹp hết. Bao nhiêu bia rượu phải đổ xuống cống hết … ” thì thằng nào còn tinh thần làm việc? Cũng may mà xếp Al Capone còn mấy chục lò nấu vĩ đại ở ngoại ô Chicago chứ không thì chỉ còn nước đóng cửa dẹp tiệm.

Đòn phép của thằng cớm này độc quá. Vừa độc lại vừa tốn tiền nữa.

“Cái quãng đường trước mặt” xem ra hấp dẫn lắm, Eliot Ness vừa huýt gió

vừa nhảy hai tam cấp một trở lại ty cảnh sát. Cả ty cảnh sát như ngừng lại mọi sinh hoạt để chỉ chú ý đến chàng. Vài tiếng bình phẩm vang lên. Khen cũng có mà chê cũng nhiều. Eliot Ness nghe hết, thấy hết nhưng vẫn tỉnh bơ bước vào. Chàng tự nhủ: “Ít ra cũng đỡ hơn lần tấn công hụt cách đây chừng một tháng. Lúc ấy, bọn nó chỉ thương hại mình …. ” Eliot Ness lại mỉm cười, trong đầu chàng còn nhiều kế hoạch độc đáo hơn …

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Chương mười chín

Sự xuất hiện bất ngờ của Eliot Ness tại ty cảnh sát Chicago trưa hôm đó

làm mọi người chưng hửng. Mike Casey đang ngồi ngủ gà ngủ gật trong văn phòng thì Eliot Ness đẩy cửa tiến vào. Lão sững sốt quá đỗi. Ủa, sao có chuyện lạ vậy cà?

Lão đinh ninh chàng đã về Hoa Thịnh Đốn, ít nhất phải là một tháng sau

mới lên lại, hoặc có thể sẽ bị sa thải luôn. Bây giờ sao thằng cớm khùng này lại lù lù đẩy cửa bước vào đây, mặt mày coi vẫn lì lợm như dạo nào. Lão đứng lên biểu diễn một nụ cười gượng gạo. Eliot Ness không cười, giọng sắc như dao:

-Ông chuẩn bị cho tôi hai toán, mỗi toán 6 người, có mặt liền tối nay để đi

hành quân bắt rượu.

Lại có chuyện rồi, Mike Casey thầm nghĩ. Cảnh sát đâu phải muốn lấy lúc

nào là có lúc đó như thằng khó tánh này muốn được.

Lão đưa tay ra làm một cử chỉ thân thiện, muốn bắt tay:

-Từ từ đã ông thanh tra Ness. Ông đi Hoa Thịnh Đốn mới về, chưa kịp hỏi

thăm gì nhau, sao lại bắt tay vào việc sớm thế. Để đó đi, chuyện đâu còn đó mà. Hấp tấp quá chỉ hư đại sự …. ông còn nhớ đến lần đột kích hụt cách đây vài tháng trước không?

Âu cũng chỉ bởi vì ông làm việc hấp tấp quá mới ra nông nỗi …

Tiên sư, Eliot Ness chỉ muốn đẩy tới một trái đấm cho thằng cảnh sát già này té lăn xuống nền nhà. Nếu lần trước nó không báo cáo cho bọn Al Capone thì thằng Mose Stash đâu có chết thảm.

Chàng đưa tay ra bắt tay lão:

-Đó là lý do tại sao tôi đến đây sớm. Lệnh của Hoa Thịnh Đốn là phải đột

kích mỗi ngày ít nhất vài khu rượu lậu của bọn nó. Tôi đã có án lệnh của tòa đây.

Mắt Mike Casey tự nhiên đổi sắc:

-Ông có án lệnh tấn công của tòa?

-Dĩ nhiên.

-Đưa coi thử coi.

Mọi chuyện xảy ra đúng như Eliot Ness dự đoán. Chàng rút túi bên phải ra

hai cái trát tòa, thảy lên bàn. Trát của tòa án thì dĩ nhiên phải có ghi địa chỉ rõ ràng, và Mike Casey chỉ cần có vậy. Lão chụp hai cái trát, mở ra coi thật mau rồi trả lại, mặt mày hớn hở:

– Được lắm, đã có trát của tòa thì tôi phải giúp ông. Ông muốn chúng nó có

mặt vào lúc mấy giờ?

-Khoảng năm giờ chiều. Bảo tụi nó đem đồ ngủ theo, giờ tấn công sẽ từ 5

giờ đến 7 giờ sáng.

Mike Casey liếc mắt nhìn đồng hồ. Gần một giờ trưa rồi. Chỉ còn 4 tiếng

nữa là hai cái lò nấu rượu của Capone có thể bị tấn công bất cứ lúc nào, lão cần phải đi thông báo cho tụi Capone biết ngay. Một cái tin đáng giá 500 đô la, 2 cái là ngàn bạc. Ngon lành.

-Ông Ness chịu khó ngồi đây chơi, tôi phải đi điều động nhân viên cho

ông.

-Xin ông cứ tự nhiên. Tôi sẽ về làm việc ở văn phòng tôi, cần gì ông cứ

gọi.

Eliot Ness xoay người bước ra, Mike Casey cố gắng làm thân:

-Thời tiết Hoa Thịnh Đốn thế nào ông Ness, có đẹp không?

– Tôi không rõ, hình như chả khác Chicago là mấy.

Trả lời câu này, Eliot Ness nói thật. Chàng không rõ thật bởi vì có đặt chân

lên Hoa Thịnh Đốn đâu mà biết? Nhưng lão Mike Casey đâu có thèm để ý đến câu trả lời. Thật ra, nếu chàng nói Hoa Thịnh Đốn đã chìm dưới mặt biển chắc lão cũng chẳng có một phản ứng. Lão nói để mà nói, và nghe để mà nghe, không suy nghĩ. Đầu óc lão đang xoay quanh cái mục đích làm sao thông báo tin tức cho tụi Caponi càng sớm càng tốt.

Eliot Ness cũng biết vậy nên rút lui sớm. Chàng đẩy cửa bước vào văn

phòng mình. Chà, đã mấy tuần nay chơi trò gián điệp, bỏ bê cái văn phòng này để đến nỗi bụi đóng đầy bàn ghế. Thằng trung sĩ cảnh sát già đã giữ đúng chỉ thị của chàng ngày nào: “Không được cho ai vào văn phòng tôi hết.” Eliot Ness lột áo vét, phủi mấy cái trên mặt bàn, trên ghế. Bụi bắn tung

lên, ngập cả phòng. Chàng ngồi xuống ghế, mở học bàn kéo tấm bản đồ ra loáy hoay làm việc.

Bí mật gọi điện thoại thông báo vị trí hành quân cảnh sát cho Frank Nitti

xong, Mike Casey khoan khoái trở về văn phòng. Từ ngày bị thằng Gary Malone phá vỡ chuyện làm ăn, uy tín của lão bị xuống dốc nhiều. Cơn nghiền rượu xem ra càng ngày càng tăng, lão cần thêm nhiều tiền để bù vào chỗ hao hụt. Nghĩ cũng được, thằng cớm liên bang này đi đâu mất biệt đã mấy tuần bây giờ lại dẫn xác trở về đem mối cho lão làm ăn. Mike Casey mồi điếu thuốc lá, gọi gã Trung sĩ thư ký đến ra chỉ thị kêu chuẩn bị 12 người đi tăng phái cho Eliot Ness tối nay.

Xong, lão tà tà đi bộ qua phòng Eliot Ness để tán dóc.

Vừa gác điện thoại với lão Mike Casey xong, Frank Nitti quay liền cho xếp

Al Capone. Thông thường, những vụ hành quân cảnh sát lẩm cẩm như vầy nó tự giải quyết lấy, khỏi cần thông báo cho xếp, nhưng nó đã nhận được chỉ thị rõ ràng của xếp “Bất cứ chuyện gì có dính dáng đến thằng Eliot Ness, phải cho tao biết.” Thật ra, Frank Nitti thấy xếp mình lúc sau này không biết vì lý do gì mà có vẻ hơi yếu bóng vía. Xếp sợ thằng cớm liên bang đó như chuột sợ mèo. Trong đầu óc Frank Nitti, thằng Eliot Ness hay thằng gì đi nữa thì cũng chỉ một phát.45 là xong, có gì đâu mà bấn xúc xích lên đến như vậy?

Mà bấn thiệt, vừa nghe tin báo, xếp Al Capone đã ra la lối om xòm:

-Đù mẹ có chuyện lớn rồi. Mày thông báo cho hai chỗ đó biết để chúng

nó chuẩn bị. Tao muốn hai có lò đó sạch trơn, không có đến một giọt rượu, ngay cả đến mùi rượu cũng không còn. Quan trọng nhất, mày hỏi lại lão Mike Casey xem thằng khốn tính đi làm ăn mấy chỗ tất cả?

-Thằng Mike Casey nói chỉ có hai. Hai toán riêng biệt.

– Thằng Eliot Ness này quái lắm. Nếu hai toán đó đi làm luôn một lần ba

bốn chỗ hay ba bốn chục chỗ thì tính sao?

-Bắn thấy mẹ tụi nó!

-Câm họng. Mày phải gọi lại thằng Mike Casey. Tao ngửi thấy có mùi gì

hơi kỳ lạ trong vụ này. Cho tất cả lực lượng, tất cả các lò nấu, tất cả các bar rượu đặt trong tình trạng báo động. Nghe rõ không? Tao lập lại là tất cả phải ở trong tình trạng báo động.

-Rõ!

-Gọi cho thằng Mike Casey xác nhận lần chót rồi báo lại cho tao. Tao

thấy mày và lão Mike Casey có vẻ coi thường thằng cớm đó quá. Không được! Tao biết nó là một thằng ghê gớm lắm. Phải cẩn thận.

Gác điện thoại lên là xếp quay sang thằng Guzick đang ngồi gần đó:

-Ông gọi qua toà báo Chicago Tribune, nói với thằng Ferguson nếu muốn

chụp hình Eliot Ness tối nay đi đánh gió nữa thì cho nó địa chỉ trước.

Trong đầu xếp, hình ảnh của Eliot Ness trên tờ Chicago Tribune cái đêm

nào lại hiện về. Không chừng tối nay thằng khốn này sẽ lên báo lần nữa. Lần này để coi thử nó ăn nói làm sao. Riêng xếp, xếp sẽ đến lò nấu rượu trước ngồi chờ nó. Xếp muốn tận mắt coi thử thằng cớm liên bang sẽ hung dữ như thế nào khi tấn công vào một cái nhà kho trống rỗng.

Nhưng cũng cùng chung với những ý nghĩ khôi hài đó, xếp cảm thấy có cái

gì không ổn tối nay. Xếp chắc lưỡi, làm dấu ra hiệu cho đàn em rót thêm rượu vào ly.

Mike Casey đang đứng đấu láo với Eliot Ness thì cô thư ký chạy vào:

– Đại úy có điện thoại.

Mike Casey nhíu mày:

-Nhờ bà nói là tôi đang bận.

Bà thơ ký nháy mắt, ra vẻ lúng túng:

-Không, cú điện thoại này của người bạn thân của đại úy.

Nghe có vậy thôi là Mike Casey cầo từ trở về liền. Eliot Ness đi guốc

trong bụng tụi này. Làm sao qua mặt ông được? Hãy cứ để đó, Eliot Ness cười cười, tối nay sẽ có nhiều màn hấp dẫn hơn.

Mike Casey chụp điện thoại, giọng thằng Frank Nitti cất lên the thé:

-Xếp bảo tôi gọi ông để xác nhận lại. Có thật là nó chỉ đột kích ở hai chỗ

hay còn mấy chỗ nữa, xếp nhờ ông coi lại.

Mike Casey nhăn mặt, giọng pha chút bất mãn:

-Đù mẹ đại úy cảnh sát mà không nắm được tin tức thì ai nắm được đây?

-Hê, xếp bảo sao tôi nói lại. Tùy ý ông đó, xếp còn nói thêm là không

được coi thường thằng khốn đó quá. Nó rất nguy hiểm …. nhưng mà nếu ông thấy hết rồi thì thôi …

Frank Nitti cúp máy. Ở gần bên, thằng Frankie Rio và đứa đàn em, mỗi

người ôm một cái điện thoại đang gọi đi khắp nơi để loan báo lệnh báo động tối nay.

Frank Nitti bực mình về cái vụ báo động này của xếp. Có mẹ gì đâu mà cũng làm ầm ĩ lên um sùm.

Tổ chức công việc chu đáo như xếp, lệnh báo động ban ra thì tất cả các

toán an ninh phải có mặt 100%, có nghĩa là nó sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc đôn đốc cho mọi người có mặt. Chicago này, vừa nhà thổ vừa xòng bài vừa bar rượu xếp có đến gần ngàn cái nằm rãi rác khắp nơi, được phân chia thành nhiều khu vực. Mỗi khu vực giao cho một thằng Caporegime chịu trách nhiệm. Tất cả các Caporegime đều nhận lệnh trực tiếp từ xếp Al Capone, nhưng thường thường thì xếp giao cho phụ tá lãnh luôn trách vụ này. Nhiệm vụ nó chưa hết, tại đại bản doanh, khu khách sạn Lexington màu mở thì đích thân phụ tá Frank Nitti kiêm nhiệm luôn

chức vụ Caporegime của khu này. Công việc nhiều bằng thích.

Từ khi nhận được cú điện mật của Mike Casey đến giờ, nó có lúc nào rời

được cái máy điện thoại đâu? Lúc thì hò hét chỗ này, khi thì giải tán chỗ nọ. Hai mục tiêu mà Eliot Ness định tấn công tối nay chỉ là hai lò nấu rượu hạng trung của Capone. Hạng trung thôi nhưng cũng phải huy động đến gần hai chục xe cam nhông mới chở đi hết những thùng bia đang cất giỡ cùng những dụng cụ trái luật. Phải dọn đi bằng hết vì nếu chúng nó tóm được những thứ đồ nghề làm tang chứng thì lại phải mất công và mất thì giờ ra tòa mà cãi. Frank Nitti hò hét, la lối, chửi thề đến gần khan cả cổ. Gần hai tiếng đồng hồ sau, gọi kiểm soát lại, nó phải chửi thề um sùm

lần nữa. Mấy chục chiếc truck làm việc suốt mấy tiếng đồng hồ mà có một chỗ vẫn còn chưa tẩu tán được gần ngàn ga lông bia nguyên chất. Hết xe, hết thì giờ, Frank Nitti nghiến răng ra lệnh:

-Đục. Đù mẹ đục cho nó chảy xuống mương hết.

-Nhưng mà đâu có ….

-Đù mẹ câm họng. Tao biểu đục là đục, cấm cãi. Tối nay chúng nó đến

mà còn một giọt rượu nào thì chết mẹ với tao.

Nói xong là nó thẩy điện thoại lên giá cái cụp. Khốn nạn, cái ống nói vừa

úp xuống lại nghe tiếng chuông reo. Một thằng Caporegime khác gọi đến xin địa chỉ mới để tẩu tán mấy chục thùng bia khác đang còn nằm trong xe.

-Tao bảo mày đem tới khu West mà.

-Thì tôi đang ở khu West đây ông phụ tá. Ông xuống đây mà coi, tụi nó

chất bia ra tới ngoài hàng rào rồi, không còn chỗ nào hết. Tôi phải lo tẩu tán gấp, để mấy chục thùng bia nằm khơi khơi trên xe vào giờ báo động như thế này không phải là ý kiến hay.

-Chờ đó chút.

Frank Nitti quay điện thoại gọi thằng Rocco, đầu nậu khu South side, nổi

tiếng là lắm mưu nhiều kế. Thằng Caporegime này cũng bận bù đầu với đám đàn em, đang la hét om xòm có hơn gì nó, không giúp đỡ gì được. Frank Nitti cáu quá, nói luôn:

-Đù mẹ đem cha nó tới gần bờ hồ Chicago, đục mẹ nó ra cho chảy xuống

hồ hết. Bỏ hết, bỏ hết.

-Giỡn sao ông phụ tá? Một thùng bia giá vốn 30 đồng …

-Vốn con c … , đù mẹ muốn cãi thì về đây mà cãi với xếp Al Capone. Chỉ

thị của xếp đã ban ra rõ ràng: Lúc báo động không thể để một cái gì sơ hở. Nếu tình hình không có nghiêm trọng thì đã không có lệnh báo động. Hiểu không? Bỏ hết.

Nhớ dặn tụi nó canh gác cho kỹ càng, để cho tụi nó sơ sẩy là mày chết với

tao, nghe rõ không? Frank Nitti tuy hò hét hăng lắm nhưng trong lòng lại nghĩ khác. Có mẹ gì đâu mà phải bấn xúc xích lên. Là một cựu chiến sĩ TQLC, nó biết tuân hành triệt để lệnh trên, dù đó là vô lý. Và, chính bản thân nó, nó biết sỡ dĩ nó leo lên được tới chức vụ chóp bu này cũng nhờ cái tính biết thi hành lệnh trên tuyệt đối. Té ra, bỏ nhà đi lính TQLC mấy năm cũng học được nhiều điều hay.

Đúng năm giờ chiều, tám chiếc Limousine đậu dưới lầu khách sạn Lexington cùng nổ máy một lần. Lát sau, xếp Al Capone, bên phải có Frank Nitti,

bên trái có Guzik, đàng sau có thằng Mike cùng hai mươi lăm thằng cận vệ lăm lăm đi xuống lầu. Mọi người chia đều ra tám chiếc xe, trực chỉ một lò nấu rượu vừa được “làm sạch sẽ” để chờ cuộc hành quân cảnh sát của Eliot Ness.

Cũng 5 giờ chiều ngày hôm đó, tại ty cảnh sát, Eliot Ness tập họp hai toán

cảnh sát lại. Trước mặt Mike Casey, y hệt lần trước, Eliot Ness cầm cây gậy chỉ vào tấm bản đồ hành quân đang treo trên bảng. Mấy chục cặp mắt phía dưới nhìn lên đầy vẻ thương hại. Eliot Ness bình tĩnh thuyết giảng về mục đích của cuộc hành quân, cách tấn công, cách đối xử với tù binh.

Đang thao thao bất tuyệt, một thằng cảnh sát ở dưới buộc miệng nói đùa:

-Tối nay nếu có phóng viên tới chụp hình, tôi xin được đứng gần ông.

Cả phòng cười ồ lên. Eliot Ness ngừng một chút rồi cũng cười theo. Chàng

lại tiếp tục nói cho đến phần cuối:

-Nào, có ai hỏi gì không?

-Cũng câu hỏi cũ như cách đây hơn một tháng, mấy giờ chúng ta sẽ tấn

công. Tôi già rồi, cần về ngủ sớm.

Câu trả lờ của Eliot Ness làm cả bọn chưng hửng:

-Có thể chúng ta tấn công tối nay mà cũng có thể không. Anh em cứ trực tại đây. Trước khi tấn công tôi sẽ thông báo cho biết trước 30 phút. Bây giờ còn ai

hỏi gì nữa không?

12 nhân viên cảnh sát Chicago cùng ồ lên một tiếng thất vọng. Trong một

giây phút, họ nhận biết được ông Eliot Ness đang đứng trước mặt mình ngày hôm nay không phải là ông Eliot Ness cách đây hơn tháng. Té ra hắn chỉ giả vờ ngây thơ thôi.

Người có nhiều lý do để thất vọng nhất phải nói là Mike Casey. Trưa nay

lão bán cái tin rất bí mật này cho Al Capone để tụi nó chuẩn bị, bây giờ chờ mãi không thấy ai tới thì biết ăn nói thế nào? Bao nhiêu công trình, mấy ngàn ga long bia phải đem đổ đi khơi khơi xuống mương, ai trả cái tiền thiệt hại này? Nghĩ đến đây Mike Casey thấy lạnh nơi gáy. Ngày mai, nó cứ mững cũ soạn lại, thảy ra dăm ba cái trát nữa, rồi lại nằm nhà ngủ khò thì đời lão tàn. Lần đầu tiên kể từ khi gặp thằng cớm này, lão bắt đầu hiểu ra câu nói của Al Capone mà xưa nay lão vẫn xem thường: “Nó không phải là một thứ cớm thường.” Tinh mắt như Al Capone hèn gì chả sống đến giờ này và trở thành lãnh tụ. Bấc giác, mồ hôi lấm tấm trên trán lão cảnh sát già:

-Ông Ness, ông cho tôi hỏi cái này.

-Hỏi đi.

-Ông có tính tấn công thiệt hay không? Tại tối nay tôi cũng tính về sớm,

không ở đây lâu được.

Eliot Ness nói lớn cho tất cả nghe:

-Tôi xin cám ơn ông đã giúp đỡ cho tôi có được 12 nhân viên cảnh sát ưu

tú này. Tôi không cần ông nữa, nếu ông cần về xin cứ việc.

-Tại sao không tấn công?

Câu trả lời của Eliot Ness còn lớn hơn hồi nãy:

– Tôi chỉ có thể nói được khoảng nửa giờ trước khi tấn công. Rất tiếc tôi

không thể nói cho ông biết chuyện đó được.

Mike Casey nhăn mặt:

-Mình cùng là cảnh sát với nhau, tại sao ông giấu tôi?

Eliot Ness thẳng thừng:

-Vì yếu tố bảo mật. Kinh nghiệm từ lần trước cho tôi biết là những tin tức

mà tôi nói ra bọn Capone đều biết hết. Nếu ta đến một nơi nào đó để bắt rượu mà chúng nó đã chuẩn bị, tẩu tán hết không còn gì cả thì đến làm gì?

Mike Casey thấy nhói trong tim:

-Ông nói vậy tức là ông nghi ngờ cả tôi, một đại úy trưởng phòng an ninh

của ty cảnh sát Chicago?

-Tôi không nghi ngờ ai hết, tôi chỉ có phương pháp làm việc riêng của tôi.

Mong ông thông cảm.

Mike Casey cúi đầu cố dấu vẻ hậm hực, phải nói là dấu cái tức hộc máu

mới đúng, quay lui. Eliot Ness tiếp tục:

-Anh em có thể thay đồ để nghỉ ngơi tại đây. Như tôi đã nói, nếu có hành

quân, tôi sẽ cho anh em dư thời giờ để mặc quần aó vào chuẩn bị. Bây giờ tôi có công chuyện phải đi. Xin cám ơn các anh em.

Vừa bước ra khỏi phòng, chàng quay lộn trở lại liền:

-Đúng bảy giờ sáng, nếu không có lệnh tấn công, anh em có thể đi về

được.

Nhiều tiếng ồ nho nhỏ vang lên. Lần này Eliot Ness bước ra khỏi phòng và

đi luôn. Chàng lên xe phóng thẳng về nhà. Hãy còn sớm chán, chàng thay quần áo bình thản chở vợ con đi ăn tối ở một nhà hàng thanh lịch, gần nơi chỗ nấu rượu mà địa chỉ chàng có đưa cho Mike Casey coi. Tối đó, Eliot Ness lên giường ngủ sớm.

Ngủ cho bù lại những ngày thức thâu đêm suốt sáng.

Cũng đêm đó, trong lúc Eliot Ness ngủ ngon lành ở nhà với vợ con, thì tại

một nơi khác, xếp Al Capone cùng bọn đàn em khổ sở ngồi chờ … cảnh sát đến gần 4 giờ sáng. Trời lạnh mà cái lò nấu rượu thổ tả này có máy sưởi máy nóng gì đâu? Lò nấu rượu mùa lạnh được sưởi bằng mấy chục cái bếp, ai nghĩ đến chuyện đặt máy sưởi? Dù xếp đã cuộn kín người trong chiếc áo bành, hai hàm răng thỉnh thoảng vẫn đánh bò cạp lên từng chặp. Nhìn những cái bếp vừa được tàn phá vội vàng để phi tang, xếp lại càng thấy muốn ăn tươi nuốt sống thằng Eliot Ness.

Cả thằng phóng viên Ferguson đang run rẩy cầm máy hình đứng gần đó

cũng thất vọng không kém. Bặt tin Eliot Ness mấy tuần nay nên khi nghe điện thoại thông báo, trước khi đi, hắn có dặn kỹ ông chủ bút để dành nửa trang đầu cho hình cảnh của cuộc đột kích hôm nay. Điệu này thì ngay cả đến mẫu tin nhỏ cũng không viết được, nói gì đến hình. Ferguson tưởng tượng khuôn mặt giận dữ của lão chủ bút khi nghe hắn thông báo tin buồn. Lạng quạng thì cú này có thể mất việc như chơi chứ chẳng không. Trong một giây phút tuyệt vọng, Ferguson nảy ra ý nghĩ hay là mình quay máy hình, chụp đại một tấm cảnh xếp Al Capone cùng đàn em đang ngồi chờ cớm tấn công nhưng không dám. Mấy chục năm làm phóng viên, hắn biết hạng nào đùa được và hạng nào không nên đùa.

Đêm trải qua thật là dài nơi cái nhà kho trống trải này ….

Khi biết chắc là cuộc tấn công dự đoán sẽ không bao giờ xảy ra, xếp Al

Capone cau mày, nén giận nhìn thằng Frank Nitti nói một câu mà đến lúc này nó mới thấy là rất ý nghĩa:

-Mày thấy không, tao đã nói mà, thằng chó này không phải là loại cớm

thường. Nó đã cho tất cả bọn mình vào xiếc dễ ợt. Bây giờ còn thằng nào cãi tao nữa không?

8 chiếc Cadilac Limousine cùng nổ máy một lúc. Frank Nitti mở cửa, lạnh

quá, xếp Al Capone nhào lên xe để kiếm chút hơi ấm, miệng vẫn còn lẩm bẩm:

-Đù mẹ mỗi ngày nó chơi chừng hai tiệm là mình học máu.

Xếp quay sang bên cạnh, hỏi thằng kế toán:

-Guzick, mày tính thử thiệt hại hôm nay là bao nhiêu?

Gì chứ thiệt hại thì Guzick đã tính sẵn trong đầu kể từ lúc nó vừa đến đây, liền mau miệng trả lời:

-Khoảng năm chục ngàn đô. Chưa nói đến chuyện số lượng bia tồn kho tháng này sẽ không đủ bán.

Xếp Al Capone đấm mạnh tay vào thành xe:

-Đù mẹ thằng chó đẻ. Dọt đi.

Frank Nitti ngồi phía trước bên cạnh tài xế, khuôn mặt tuy có hơi mệt mỏi

nhưng vẫn lầm lì như mọi ngày. Xe chạy được một lúc, nhớ đến trách nhiệm “quân sự” nặng nề của mình, nó quay lui hỏi Al Capone:

-Xếp, nếu mỗi ngày nó chơi mình một vố như vậy thì tính sao?

Thật ra, khỏi cần thằng phụ tá mở miệng xếp cũng đã có kế hoạch cho

tương lai. Đúng ra, ngồi lạnh cóng suốt đêm trong cái nhà kho, xếp đã có nhiều thì giờ để suy nghĩ đến vấn đề này. Tính tới tính lui, quyết định dứt khoát của xếp là như thế này:

-Ngày nào cũng vậy, không cần biết giả hay thiệt, hễ cứ nhận được tin báo

là phải lo “Báo động khẩn cấp” cho tao.

Frank Nitti giựt mình. Làm tướng ngồi trong văn phòng ra lệnh rất dễ,

muốn “báo động khẩn cấp” như kiểu hồi chiều mỗi ngày vài chục lần cũng có sao đâu, chỉ cần nhấc điện thoại lên nói vài câu là xong ngày. Khổ là khổ cho những thằng ngoài “tiền tuyến” như bọn Frank Nitti và đàn em kìa. Hàng bao nhiêu chuyện phải làm, bao nhiêu chi tiết cần phải theo dõi. Frank Nitti bỗng đâm ra hãi.

Nó nhớ hồi “thời kỳ chiến tranh”, bắn nhau từng ngày với bọn Antonio, người chết và máu đổ như vậy mà có bao giờ xếp ra lệnh “Báo động” đâu? Nó biết đàn em nó, sẵn sàng chết, sẵn sàng thi hành bất cứ nhiệm vụ gì được giao phó nhưng bắt chúng nó phải ôm súng chuẩn bị kiểu này thì kẹt. Tụi nó vốn là những thằng không sống nổi trong cái xã hội có nhiều luật lệ nên mới chọn đời giang hồ, dùng súng đạn để làm kế sinh nhai. Bây giờ bắt chúng nó mỗi tối phải đứng ôm súng mà gác như lính chính phủ thì hơi kẹt. Một đêm, hai đêm thì không sao, nhưng kéo dài chừng vài tháng thì chắc chắn là không được. Mà cứ dòm cái bản mặt “láu cá” của thằng Ness này thì nó ngu gì mà không kéo dài cái vụ này ra đến vài tháng? Rồi nó cứ chờ cho mình mệt quá chịu không nổi, lơ là chỗ nào đó thì lái xe cây ủi thẳng vô lò nấu bắt trọn ổ thì tính sao đây? Đó là chưa nói đến những thiệt hại về kinh tế. Mỗi ngày 50 ngàn đô, một tháng là hơn triệu đô là đổ xuống mương chớ ít gì? Đù mẹ đúng là thằng cớm độc như xếp đã từng nói.

Hình như xếp ngửi thấy được sự khó khăn của thằng phụ tá, liền lên tiếng:

-Mày thấy sao?

-Thằng chó đẻ Ness đã đập trúng yếu huyệt của mình. Xếp biết anh em

mình đâu có quen với những vụ báo động lẩm cẩm đó? Tôi thấy báo động chừng tuần lễ là tụi nó sẽ chới với liền. Mình chỉ có thủ. Nó sẽ quần cho mình nát bấy ra rồi bất thần xuống tay là mình kẹt cứng.

-Mày có đề nghị nào khác không?

– Theo tôi, chuyện đâu có gì khó giải quyết. Để ngày mai tôi cho 2 thằng

cận vệ vô thẳng ty cảnh sát, kéo cổ nó ra bắn chết mẹ nó là yên chuyện.

Frank Nitti nói vậy và nó có thể làm vậy được vì đối với nó, ôm súng xông

vào ty cảnh sát để giết người là chuyện nó đã làm. Đúng ra, đối với Frank Nitti, nó coi cái ty cảnh sát như một cái … nhà hàng. Muốn vào thì vào, muốn ra thì ra. Hồi đó, có một đàn em của nó làm chỉ điểm cho cảnh sát bị lột mặt nạ. Thằng đó tới số chết nên ngày nọ, bất mãn vì một tranh chấp vu vơ bèn khơi khơi bước vô ty tình nguyện đi làm điểm chỉ viên cho cảnh sát Chicago. Cảnh sát Chicago trong văn phòng ngày hôm đó tính ôm bụng mà cười nhưng cũng dắt thằng nhỏ lên gặp đại úy Mike Casey. Đại úy nhận liền, còn hứa hẹn tùm lum. Thằng nhỏ đã quá, bước ra khỏi ty cảnh sát mà mặt cứ vênh vênh váo váo lên như vừa được gắn huy chương.

Nó đâu biết rằng chưa bước xuống hết mấy bậc cầu thang là xếp Al Capone đã nhận được điện thoại của ông đại úy cảnh sát. Xếp cười nham hiểm:

-Ông cứ để đó, cứ để cho nó làm điểm chỉ viên một thời gian. Tôi sẽ để

ông hành quân hốt tôi vài vụ cho nó tưởng bở. Cái tôi nhắm là những thằng đồng đảng của nó kìa, vì tôi biết thế nào nó cũng có thêm một mớ bạn bè nữa. Chừng nắm hết được đó tôi sẽ quét một mẻ trọn lứa.

Nhưng chính Mike Casey tạo nên chuyện thì cũng chính lão làm hư chuyện. Một chiều, thằng điểm chỉ viên vô tình thấy ông đại úy “xếp” của mình đi

ăn nhậu và thì thầm to nhỏ với Al Capone. Biết mình đã giao thân phận cho tướng cướp, thằng nhỏ dọt lẹ. Mà ở Chicago này, theo nó, có chỗ nào an toàn hơn là ty cảnh sát? Cu cậu nhào vô ty, tự khai vài cái tội lẩm cẩm ngày xưa, xin ở tù để được “ty nạn”. Nhưng nó là thằng biết đã nhiều, hơn nữa cái mà xếp Al Capone ghét nhất là bọn chỉ điểm cho cảnh sát. Lệnh tử hình được ban ra ngay tối hôm đó. Tội nghiệp, nữa đêm thằng nhỏ đang nằm ngủ trong xà lim cảnh sát thì có năm thằng ôm súng ống xông thẳng vào ty. Bốn thằng chĩa súng bắt mấy anh cảnh sát già đứng yên giơ tay lên trời hết, thằng còn lại vô tận xà lim bắn chết tươi thằng nhỏ. Trước khi bắn nó còn bình tĩnh đọc hết bản án tử hình của xếp Al Capone cho thằng kia nghe mà! Bắn xong chúng thủng thỉnh bước ra, lại còn nói “good night” với mấy thầy nữa mà …

Khi nói với xếp như vậy, cái đầu gian ác của Frank Nitti đã soạn thảo xong

một kế hoạch độc đáo. Đã vào được ban đêm thì sao không vào được ban ngày kìa?

Biết rành rẽ cái ty cảnh sát như nó thì có gì khó? Tuy gay go hơn một chút nhưng thay vì năm thằng ôm súng như tối nọ thì mình cứ cho hai thằng thôi. Hai thằng mặc áo bành tô đàng hoàng lịch sự đi vào giả bộ thăm đại úy Mike Casey. Chừng qua khỏi cái văn phòng chính rồi thì cứ xăm xăm đi tới văn phòng của thằng Ness. Thấy nó là cứ lôi Tommy gun ra mà quạt liền. Cái khó khăn còn lại là làm sao dọt ra khỏi ty an toàn. Nghĩ cho cùng thì cũng chẳng có gì trở ngại vì còn đại úy Mike Casey để ở đâu? Hơn nữa, cảnh sát của ty đều là người nhà, ăn lương tháng thì có ai dám chống cự kìa?

Nhưng câu trả lời của xếp làm Frank Nitti chưng hửng:

-Không. Trước tiên, mình phải thử mua nó đã. Chừng mua không được thì

tao nói cho biết.

– Nhưng nếu tình trạng này kéo dài lâu quá thì sao xếp?

-Mày tin tao đi. Không lâu đâu. Tao còn lo nhiều hơn mày. Ráng chịu

chừng vài tuần nữa là xong. Nhất định phải xong.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Chương 23 – Cuối

«ANH yêu quí,

«Lại gần tết rồi, anh đi như vậy đã gần được một năm, tết này em không hy vọng anh về được, nhưng thôi, em sẽ lên thăm anh, anh đừng lo lắng gì hết nhé, công việc dưới này xong em sẽ bế con lên thăm anh, em cùng anh sẽ ăn một cái tết ở tiền đồn.

«Em đọc báo có thấy rằng tết này có nhiều phái đoàn lên ủy lạo các chiến sĩ ở tiền đồn.

«Nhưng dù sao đi nữa em và con lên sống với anh vẫn phải hơn không anh? Những gói quà nhỏ mẹ con em bưng lên vẫn quí hơn người dưng, người ta có thương anh chắc chắn không bằng em và con thương anh. Trong thư viết cho em, anh nói rằng anh còn sung sướng hơn nhiều người khác, những người bạn đồng đội của anh, em mừng ghê, gần suốt một năm trời em thấy anh buồn bã, em lo lắng hết sức.

«Anh, ở đây, khi mẹ con em ăn một thứ gì ngon mẹ con em lại nghĩ đến anh, sau hoạn nạn của anh, em trở lại đời sống bình thường, em nghĩ, nếu mình… nhưng em không biết phải nói làm sao với anh. Thật vậy, em chỉ còn biết hết lòng thương yêu anh, buồn bã hoài có ích gì đâu, em phấn đấu, ngoài giờ làm việc ở ngoài tiệm uốn tóc, buổi tối em đi học thêm nghề may, bây giờ em đã biết luông áo, em lấy những chiếc áo dài ở tiệm may về luông để kiếm tiền thêm, mua quà bánh cho con. Anh cứ yên trí, em sẽ thay anh lo lắng cho con, và từ nay, mỗi khi em viết thư lên cho anh, anh cứ tin rằng em viết những tin mừng trong gia đình mình. Tiền lương của anh không được là bao, anh đừng gởi về cho mẹ con em nữa, anh giữ lấy mà dùng, anh cần được tẩm bổ, em muốn thấy anh mạnh khỏe cho tới ngày mãn hạn trở về với mẹ con em, khi đó chúng ta sẽ làm lại tất cả.

«Về việc giấy tờ của anh, em đã nghe lời anh, em không chạy chọt làm gì nữa, em chỉ làm một cái đơn, nhờ nhà báo đăng tải mà thôi. Anh à, em có cắt, gởi theo thư này cho anh đọc chơi. Cho dù có gởi cho nhà báo, và có đăng rồi, nhưng em cũng không mấy tin tưởng, người ta bảo những ông lớn ít khi đọc báo lắm, dễ gì mà lọt vào được mắt họ, vả lại, anh cũng đã đi lính rồi, có xét trường hợp của anh cũng kẹt, thôi thì được đến đâu hay đến đấy, mình chỉ kêu cho đỡ tức mà thôi.

«Có người chỉ em chỗ chạy chọt, nhưng em đã chán quá rồi, em không còn tin mấy thằng đó nữa, chúng chỉ tìm cách lừa gạt mình như lần trước mất mười ngàn đồng, rồi rút cuộc không đi đến đâu, biết thế tiền đó em đẻ mua món gì cho anh ăn còn sướng hơn, toàn là một lũ lưu manh xỏ lá. A anh, chiếc xe của anh em đã bán được rồi, em vay thêm tiền để mua một chiếc Honda đàn bà để em đi làm, chớ mỗi ngày em đi tốn tiền quá.

«Chiếc xe của anh vì thiếu nhiều phụ tùng quá nên em chỉ bán có trên mười ngàn, em phải đi vay thêm hai chục ngàn nữa mới mua nổi chiếc xe Hon- da cũ đó anh, nhưng chiếc Honda này còn tốt lắm, buổi chiều em đi làm về, tới đón con chở nó đi chơi một vòng, nó thích lắm, có những lúc hai mẹ con ngồi trong quán ăn uống, em lại nhớ đến anh, em muốn khóc lên được, anh còn nhớ không, lần cuối cùng vợ chồng con cái mình đưa nhau đi ăn uống, anh đã nói chuyện thật nhiều, một nhà vẽ quảng cáo, bây giờ mỗi lần em nghĩ lại, em không thể nào cầm được nước mắt, tội nghiệp anh quá, niềm ước ao của anh thật nhỏ bé, vậy mà cũng dở dang. Nhưng em xin anh, anh đừng bao giờ chán nản cả nhé, anh cứ nghĩ đến cái cửa hàng vẽ quãng cáo của anh đi, nghĩ luôn luôn, nghĩ hoài nghe anh, mình có dịp làm lại tất cả.

«Có người chỉ em một chỗ gởi tiết kiệm, khi nào dành dụm được em sẽ mang lên đó gửi, em cố cần kiệm để có dư tiền mang gởi, đã đến lúc mình phải gây dựng một cái vốn riêng, em đã nghĩ hết cách để kiếm tiền, em xin hứa với anh rằng những đồng tiền của em kiếm ra hoàn toàn lương thiện, chiếc Honda của em là một món nợ khá lớn, em cần phải có tiền trả và có tiền để dành nữa.

«Ngày hôm qua, em đã bằng lòng cho bác Sáu bên cạnh nhà mình thuê mỗi tối hai trăm đồng, bác ấy đi chở Mỹ, bác ấy là người hiền lành, tử tế, chắc anh còn nhớ, tội nghiệp bác con đông và ng- hèo quá, mỗi buổi tối có chiếc xe của em bác Sáu cũng kiếm chác được chút đỉnh, không bao lâu nữa em trả xong nợ chiếc xe, coi như em được không mà nó còn kiếm thêm tiền cho mình nữa.

«Đó, anh thấy em giỏi không? Em tin rằng trời không đóng cửa ai mãi, tất cả là do sự cố gắng của mình. Em cũng nghe lời anh, em không hề than thân trách phận, ở đời ai xấu mặc ai, mình cứ sống cho hết cái lòng của mình, tâm hồn mình được thanh thản, thanh thản trong sự bình thường, em còn nhớ anh thường nói, anh chỉ mong mỏi được sống một cuộc sống bình thường mà thôi, em đang thực hiện điều anh mong ước đây.

«Tuy rằng hôm nay là những ngày giáp tết, thiên hạ đưa nhau đi sắm tết, em nhớ anh, em buồn vì phải xa anh, nhưng em thấy tâm hồn mình thật thoải mái, vì em đã làm được những điều gì anh từng mong ước và cũng là ao ước của em.

«Buổi chiều nay em và con cũng đưa nhau đi chợ tết, em cố sắm cho con quần áo mới, đến hôm nào lên thăm anh, nó sẽ mặc quần áo mới, còn em mua cho anh nhiều quà lắm, anh nhớ rằng em và con nhất định lên ăn tết với anh, cho dù nguy hiểm em cũng đi, má con em sẽ ăn tết với anh ở dưới hầm, ôi nghĩ đến là em thấy sung sướng rồi.

«Thư em viết cho anh lôi thôi lắm phải không, nhưng vì em vui quá đó anh, chỉ một tuần lễ nữa em sẽ được gặp anh, em không vui sao được, em muốn khi anh đọc thư này anh sẽ mỉm cười, bây giờ trời khuya lắm rồi, thư em viết cho anh cũng đã dài, con mình ngủ say trong giường, em sẽ hôn nó thay anh. Cho em dừng bút ở đây nhé.

Hôn anh,

Vợ của anh.

Minh ngồi trên lô cốt, chàng nhìn xuống khu đồng bằng phía chân dưới đồi, khu đồng bằng đã được khai quang, cỏ chết vàng tía, xa hơn nữa là vùng đồi núi chập chùng, địch thường phát xuất những cuộc tấn công từ hướng này. Buổi chiều đang xuống, ánh nắng vàng chiếu trên đồng cỏ úa, càng làm cho cỏ vàng vọt hơn, chiếc đồn nhỏ như bị cô lập giữa trùng điệp của núi rừng, một miếng mồi ngon cho những cuộc tấn công, nhưng từ bao năm nay chiếc đồn này chưa bị Cộng quân tràn ngập, những trận tấn công đồn chỉ có tính cách phá hoại.

Minh nghĩ đến bức thư của vợ, chỉ còn mấy ngày nữa nàng và con sẽ lên trên này, những lời lẽ nàng viết trong thư thật chí tình. Minh hài lòng vì đã có một người vợ tốt.

Minh bỗng nghe tiếng bước chân đi trên cầu thang, chàng quay nhìn xuống, binh nhì Thạnh đang leo lên, tay cầm điếu thuốc lào. Minh hỏi:

– Có chuyện gì đó?

– Lên hút thuốc với bạn chơi.

Binh nhì Thạnh leo lên lô cốt, ngồi bệt xuống ngay, nhồi thuốc lào vào điếu, quấn một mẫu giấy làm đóm.

– Cho xin chút lửa đi.

Minh liệng cái bật lửa cho hắn, hắn hút kêu sòng sọc, nhả khói mù mịt:

– Hút một điếu không?

Minh gác khẩu súng lên thành lô cốt:

– Hút thì hút.

Minh hút một điếu thuốc, chàng thấy người say, một lát sau chàng mới nói được:

– Hút thuốc lào có nước chè tươi nữa mới ngon.

– Vậy mới đúng điệu Bắc kỳ hả?

Minh nhìn ra vùng trời núi mênh mông ngoài kia:

– Đúng, tao còn nhớ hồi nhỏ ở ngoài Bắc, mỗi buổi sáng vẫn thường nghe tiếng điếu cầy rít lên sòng sọc của bọn thợ cầy làm việc cho nhà tao.

– Tao Nam kỳ, mà cũng biết hút thuốc lào, lại nghiện nặng thuốc lào nữa mới là chuyện kỳ chớ, tao thấy mày hút thuốc lào không có vẻ thiện nghệ.

– Tao Bắc kỳ, nhưng tao đâu có biết hút.

Binh nhì Thạnh đứng nhìn ra ngoài trời:

– Gần tết rồi mày nhỉ? Con vợ tao không biết nó đi lấy Mỹ chưa?

– Mày nói chơi hoài.

– Không, thiệt mà mày, từ khi tao đi lính thì nó bán bar, cả năm trời nay nó đâu có thư từ gì cho tao, tao nghi nó lấy Mỹ rồi quá.

Minh lại nghĩ đến vợ mình, chàng hãnh diện khoe:

– Vợ tao trái lại, ngoan lắm, thương tao vô cùng, mấy hôm nữa vợ tao lên đây ăn tết với tao, viết thư lên nè.

Minh không giấu được sự vui mừng, chàng đưa cho Thạnh xem bức thư của vợ, Thạnh chăm chú đọc, đọc xong, trả lại bức thư cho Minh, buột miệng khen:

– Vợ mày thật tuyệt, cả con mày lên nữa hả?

– Dĩ nhiên.

– Mày sửa sang lại cái hầm của mày chứ?

– Để ngày mai tao sẽ bỏ ra một ngày lo cái ổ.

Thạnh cười khà khà, hắn nhìn ra ngoài trời:

– Tao nghe nói trong ngày hôm nay, có một phái đoàn học sinh, sinh viên gì đó lên ủy lạo anh em binh sĩ và tặng quà xuân, sao mãi giờ này chưa tới nhỉ.

Minh nhìn Thạnh bằng đôi mắt khinh thường, chàng vẫn hỏi tới:

– Nghĩa là những em gái hậu phương ra thăm những anh trai ngoài tiền tuyến phải không?

Thạnh vẫn vô tình:

– Thì vậy chớ sao. Minh nhún vai:

– Tao không ham trò đó.

– Có trình diễn văn nghệ nữa nghe mày.

– Lại còn văn nghệ nữa sao? Thạnh ngó bạn:

– Mày không ham? Minh lắc đầu:

– Chưa bao giờ tao nghĩ là tao ham những trò đó hết, ở Quang Trung tao đã coi quá nhiều.

Minh chợt mỉm cười, chàng vừa nghĩ tới một kỷ niệm của thời xa xưa, lần đầu tiên Minh vào lính, chàng được đưa xuống Quang Trung, tập quân sự, chàng nhớ đến những đêm văn nghệ ở khu bãi đá banh của liên đoàn, những cô ca sĩ.

– Mày nghĩ gì đó Minh?

– Tao đang nhớ lại một kỷ niệm của thời xa xưa, một đêm trình diễn văn nghệ ở Quang Trung.

– Sao?

– Mày nhớ một thời có một bài hát thịnh hành không, bài hát mà tao chỉ nhớ câu như sau: “Tôi chỉ yêu có anh binh nhì, dù rằng đồng lương anh rất ít…”

– Ừ tao nhớ, nhưng sao?

– Tao có biết một vụ hiếp dâm xảy ra hồi đó, chỉ vì một cô ca sĩ đã hát bài hát khốn nạn đó vào ngày mãn khóa.

– Ai hiếp dâm?

– Còn ai vào đó nữa ngoài những thằng…

Minh bỏ lửng câu trả lời:

– Nghĩ cũng tội nghiệp cô ca sĩ, nhưng vì cô ta ngu đần quá, hát mị lính bằng bài ca khốn nạn rẻ tiền đó, khi giới thiệu bài hát, lính đã đuổi cô ta vào rồi, nhưng cô ta vẫn cố tình hát lấy cho được.

Sau buổi hát đó cô ca sĩ đi tiểu tiện ở bờ sông gần đó, và không biết một nhóm nào đã cho cô ta yêu lính luôn, yêu một cách thực tế, yêu tơi bời hoa lá, kết cuộc cũng không tìm ra thủ phạm, một bài học quá đắt giá… Nghĩ cũng tội nhưng làm sao được, đương sự ngu đần quá.

Thạnh nhìn Minh bằng đôi mắt đểu đểu:

– Tao hỏi thiệt mày nha.

– Cái gì?

– Mày có chấm mút gì vào vụ đó không?

– Nói bậy, tao đâu có gì, tao chỉ nghe chúng nó nói lại. Nói thiệt với mày, ngày đó tao chưa đủ tu cách để đểu giả, tao ngây thơ trong trắng và lý tưởng, biết bao nhiêu là mộng ước, ngày đó tao là một người lính Không Quân có tương lai.

Minh chợt ngậm ngùi:

– Tao đã lưu lạc từ binh chủng nọ sang binh chủng kia, vì lý do không đâu, bây giờ tao bị bắt lính một cách vô lý như thế này, thiệt có trời mới hiểu, tao không còn gì để nói, phó mặc cho định mệnh vậy thôi, định mệnh chó đẻ.

Chợt Thạnh reo lên:

– Kìa máy bay trực thăng đã đến, có lẽ phái đoàn đến.

Từ cuối trời xa tít, Minh nhìn thấy hai chấm đen, nổi bật trên nền trời chiều, tiếng máy bay trực thăng nổ cành cạch.

Hai chiếc máy bay trực thăng rõ dần, Minh ngước lên nhìn chiếc trực thăng lượn vòng vòng, khói xanh từ bãi đắp đốt lên, bụi cát bay mù trời, Minh nhìn hai chiếc trực thăng bằng đôi mắt thản nhiên. Thạnh cuống lên, hắn ra vẻ mừng rỡ, hắn chặc lưỡi khi thấy những tà áo trắng trong cửa trực thăng:

– Có nữ sinh mày ơi, đêm nay có lẽ họ ở lại đây với chúng mình, họ sẽ trình diễn văn nghệ.

Minh đập vào vai bạn:

– Xuống đón tiếp đi.

– Tao phiên gác kế mày.

– Yên trí, tao gác cho.

– Mày không xem trình diễn văn nghệ?

Minh mỉm cười lắc đầu:

– Không.

Binh nhì Thạnh cảm ơn, hắn vội leo xuống, hắn bỏ quên cái điếu cầy làm bằng vỏ đạn đại liên và gói thuốc lào. Binh sĩ trong đồn chạy ùa ra đón phái đoàn, Minh nhìn thấy trong đám người đó có cả Thạnh, Minh nhìn thấy đủ sắc màu áo tung bay trong nắng chiều, những gói quà nặng trĩu do binh sĩ mang từ trong máy bay ra, tiếng nói cười ríu rít như chim, trong đó hình như có mặt của mấy cô ca sĩ. Phái đoàn đã vào đồn, những lời chào hỏi khách sáo, Minh lại đứng quay mặt ra ngoài đồi núi xa, chàng không mấy quan tâm đến những chuyện đó, chàng cũng chẳng cần nghe họ nói gì, nhưng nghe họ đang nói, được phóng thanh vào máy phóng thanh, tự nhiên chui vào tai Minh, Minh nghe tiếng ông trung úy đồn trưởng hô anh em tập họp, tiếng ông cám ơn phái đoàn, và tiếng một cô gái nào đó ngọt như mía lùi:

– Thưa các anh chiến sĩ, các em gái hậu phương đáng lẽ đến đồn này thăm các anh sớm hơn, nhưng vì còn phải đi nhiều đồn khác nên chúng em đến với các anh hơi trễ, lát nữa đây chúng em lại phải xin phép các anh trở lại hậu phương, nhưng mặc dầu tới thăm các anh trễ, chúng em vẫn làm đầy đủ bổn phận của những người em gái hậu phương, luôn luôn nhớ đến những người anh chiến sĩ ở tiền đồn hẻo lánh nầy, chúng em có mang theo quà cho từng anh, tuy quà không có gì nhưng của ít lòng nhiều, mong các anh hiểu cho chúng em, những người em gái hậu phương của các anh.

Minh thở đến phào một cái, trong khi các bạn chàng vỗ tay rào rào, thật là mệt mỏi. Sau đó Minh nghe tiếng hát nheo nhéo, những bài ca tụng lính ướt át. Minh nghe những bài ca đó, những bài ca vô tri vô vị và xa cách với chàng. Ồ không có gì ăn nhập với chàng được hết, Minh bỗng nghe tiếng bước chân đi trên cầu thang lô cốt, chàng quay nhìn lại, một người con gái tóc xõa bận áo dài trắng đang bước lên, một tay cô ta cầm một gói đồ, Minh nghĩ là gói quà cô ta dành cho chàng, cô ta mỉm cười ngỡ ngàng với Minh. Minh nhìn cô ta từ đầu đến chân, và không nói năng một lời nào hết, cô ta trông khá xinh, ở cổ áo dài cô ta Minh thấy đính tên trường học, nhìn cô ta tự nhiên Minh thấy tồi tội, chàng bắt buộc phải lên tiếng:

– Leo lên đây mệt chết, cô ở dưới đó vui đùa với các bạn tôi.

Người thiếu nữ lấy lại được bình tĩnh, đưa gói quà cho Minh:

– Phần quà của anh đây, em muốn trao tận tay cho anh.

Minh đỡ lấy gói quà:

– Cám ơn cô.

Người thiếu nữ như được trớn, nàng bắt đầu lý lắc:

– Sao anh không xuống chơi dưới sân?

– Tôi phải gác.

– Anh chịu khó quá nhỉ?

Minh rùn vai một cái không trả lời, người thiếu nữ chỉ gói quà:

– Anh không gỡ gói quà ra xem em gái anh tặng gì à?

– Chắc cũng giống các bạn tôi chớ gì?

– Dạ cũng vậy trong đó có một bức thư, gói quà này là gói quà của em bức thư đó cũng của em viết.

– Chắc trong dịp tết này cô phải viết nhiều thư lắm nhỉ?

Giọng người thiếu nữ nũng nịu:

– Nói cho anh biết, em phải viết tới năm chục bức thư đó, mệt còn hơn chép phạt ở trường, anh phải đọc đi, đọc ngay trước mặt em cho em vui lòng.

Minh mỉm cười, chàng lại nghĩ đến bức thư của vợ gởi cho mình, lời lẽ quê mùa nhưng chân thật làm sao, Minh chua chát:

– Rất tiếc tôi không biết chữ. Người thiếu nữ tròn xoe mắt:

– Anh không biết chữ?

– Ngạc nhiên lắm sao? Đó là chuyện thường.

– Anh giỡn em. Minh lắc đầu:

– Em có thể đọc cho anh nghe được không?

– Em sẵn sàng, nhưng em không có thể tin anh không biết chữ.

– Tôi con nhà nghèo, thất học từ nhỏ, lớn lên bị bắt lính và bây giờ về đây, mù chữ là một chuyện thường mà, bộ cô chưa thấy một người mù chữ bao giờ sao?

Người thiếu nữ ngỡ ngàng một lát rồi gỡ gói quà ra, bày biện quanh bờ tường lô cốt, nào bánh trái, kẹo mứt, một hộp sữa hiệu kim cương, Minh còn nhìn thấy một chiếc khăn mùi-soa thêu, một bức thư, nàng gỡ bức thư ra đọc:

«Anh thân mến,

Mùa xuân sắp về trên khắp nẻo quê hương, đêm nay em ngồi viết thư này cho anh, em đang nghĩ đến anh, một người anh chiến sĩ chưa bao giờ biết mặt biết tên.

Em là một cô bé nhỏ ở hậu phương, em xin viết thư này cho một người anh chiến sĩ ở ngoài tiền tuyến xa xôi, em, gia đình em và bạn bè em, đều mang ơn anh, người anh đã từng đêm giết giặc giữ yên từng tấc đất quê hương.»

Minh tốp lại:

– Thôi cám ơn, đủ rồi…

Đôi mắt người thiếu nữ tròn xoe nhìn chàng:

– Anh không thích em đọc thư hả?

– Đâu có phải là không thích, sự thật thì anh muốn để dành.

– Để dành, nhưng anh nói anh không biết đọc kia mà?

– Để dành lâu lâu nhờ người ta đọc một chút cho khoái cái lỗ nhĩ.

Minh đỡ lấy bức thư, chàng nhìn vào bức thư đó, nét chữ cô bé non nớt, chàng đọc qua một lượt, toàn những lời lẽ đầy sáo ngữ rẻ tiền, chàng xoay ngược bức thư, nàng vội nói:

– Không phải anh à, xoay lại. Minh xoay ngang bức thư:

– Vầy có phải không?

Người thiếu nữ xoay lại bức thư cho Minh:

– Vậy đó, vậy mới đúng. Minh thở phào:

– Chà khó quá nhỉ?

Chàng trân trọng gấp bức thư lại:

– Để bao giờ về phép tôi khoe với má bầy trẻ.

Người thiếu nữ cười?

– Anh có bà xã rồi hả?

– Có vợ chín con lận, vợ tôi đang cho phép cho tôi được lấy vợ hai.

– Trời, anh còn lấy vợ nữa sao?

– Đi lính sướng lắm, muốn lấy mấy vợ thì lấy, lần này tôi phải lấy vợ nữ sinh để cô ta viết thư tình cho mình. Nè tôi thích nhất cái câu gì đó, cái câu anh trai tiền tuyến, cái câu nghe mùi làm sao, ra-dô nói hoài đó, cái câu em gái hậu phương nghe cũng mùi.

Người thiếu nữ cười:

– Anh nói chuyện nghe vui ghê vậy đó.

– Tôi vui tánh mà.

Nắng chiều đã tắt trong thung lũng.

Minh nói với người thiếu nữ:

– Có lẽ cô cũng sắp về rồi đó.

– Dạ tụi em phải về trước khi trời tối.

– Về tận Sài Gòn?

– Dạ. tới? – Sướng nhỉ? Bay chừng bao lâu

– Chỉ nửa tiếng thôi anh ạ.

Người thiếu nữ hỏi sang chuyện khác:

– Việt Cộng thường hay tới đánh đây không anh?

– Đánh hoài chớ.

– Thấy ghê.

– Ghê gì mà ghê, quen hết, cũng có thể đêm nay chúng nó đánh đồn này.

– Anh nói mà em thấy ngán quá à.

Minh chỉ tay vào khu rừng trước mặt:

– Có thể chúng đang ở trong kia, mình đang nói chuyện ở đây, chúng nhìn thấy hết trơn.

– Thiệt sao anh?

– Thiệt mà, chúng nó có ống nhòm.

– Anh đánh nhau nhiều trận chưa?

– Đánh hoài.

– Anh giết được nhiều Việt Cộng không?

– Biết bao nhiêu mà kể.

Người thiếu nữ le lưỡi lắc đầu thán phục. Minh hỏi tiếp:

– Sắp sang năm mới rồi, cô chúc tôi gì không?

– Có chứ.

– Chúc gì?

– Chúc anh lập được nhiều chiến công.

– Chỉ vậy thôi sao?

– Chúc anh lên chức, có nhiều huy chương có thêm vợ bé nữ sinh.

– Không biết có cô nữ sinh nào thèm lấy lính không?

– Có chớ.

Minh ranh mãnh nhìn thẳng vào mặt nàng:

– Cô có lấy lính nghèo không?

– Lấy, nhưng không lấy lính có vợ con rồi, không làm vợ bé của lính.

Minh cười vui sảng khoái:

– Nói đùa đó, đừng buồn nhé?

Người thiếu nữ cũng cười, nụ cười nàng thật xinh duyên dáng, tự nhiên.

Minh thấy tội cho nàng, tội cho lòng nhiệt thành của nàng đã lặn lội tới đây, chàng nhận thấy mình nên tế nhị, chàng không nên làm buồn lòng nàng bằng những thái độ, lời nói không đẹp.

– Anh xin lỗi nhé, nếu có điều chi không phải nên bỏ qua.

– Ồ không có gì anh, nhưng em thấy có một điều này.

– Điều gì?

– Từ sáng em đi thăm nhiều tiền đồn, tiếp xúc với nhiều anh em binh sĩ, em thấy họ có thái độ khác lạ, hình như khó chịu về những chuyến viếng thăm này.

– Em nhìn thấy điều đó?

– Em nhìn thấy trong mắt họ.

Minh móc túi lấy bức thư của nàng, bức thư đầy những lời sáo ngữ, đưa ra trước mặt nàng:

– Đừng viết những bức thư loại này nữa, xin lỗi em cho phép anh nói thẳng không?

– Anh cứ nói.

– Bức thư này lời lẽ như công thức, đầy sáo ngữ rẻ tiền..

– Anh…

– Anh cần nói hết sự thật.

Người thiếu nữ lặng thinh. Minh tiếp:

– Anh đi lính lần này là lần thứ hai, anh không biết mình đã có bao nhiêu năm công vụ nữa.

Đôi mắt Minh nhìn về phía đồi núi xa:

– Lần sau cùng này anh bị bắt lính, bị bắt ngoài đường như một tên trốn lính, trong khi anh không hề trốn lính, anh từng có nhiều công trận, anh từng là lính giải phóng thủ đô, lật đổ chính quyền Ngô đình Diệm, từng bị tù oan uổng về đời binh nghiệp, thân phận anh chỉ là một thằng Tốt Đen thấp cổ bé miệng, kêu không thấu trời xanh, mà không phải chỉ mình anh, bao nhiêu người khác cũng bị bắt một cách oan uổng như anh, anh chấp nhận chống Cộng, nhưng anh muốn có một sự công bằng, không thể bắt buộc một lớp người đã hy sinh và để một thiểu số người khác được quyền thụ hưởng trên xương máu bạn bè anh, anh thù ghét những thằng ăn cắp, bạn bè anh cũng thù ghét những thằng ăn cắp. Và em, những người con gái trong trắng như em…

Chàng im lặng nhìn thẳng vào mặt nàng, một cái nhìn thật thẳng thắn, cái nhìn như thấu suốt thân phận nàng:

– Anh biết, những người con gái như em đầy nhiệt thành tội nghiệp, sự nhiệt thành đó bị ghét lây, anh nói chắc hẳn em không còn ngạc nhiên về những tia nhìn của bạn anh, em thừa thông minh để hiểu tại sao?

Người thiếu nữ cúi xuống khẽ gật đầu:

– Em hiểu.

Minh nhồi một điều thuốc lào chàng bật quẹt lên:

– Em cho phép anh được hút thuốc lào bằng bức thư công dụng này…

Bức thư cháy và điếu thuốc lào đỏ rực, rít lên kêu sòng sọc, chàng nhả khói mù mịt, người thiếu nữ thấy bức thư của mình trong phút chốc cháy ra than, nhưng tuyệt nhiên không thấy giận người lính.

Nàng nhìn khuôn mặt đen đúa của chàng thật buồn, đôi mắt u uất, đôi mắt mà nàng đã nhìn thấy ở đâu đó, nàng cố mọi trí óc của nàng, nàng cố nhớ xem. Chàng vừa đứng lên, những tia nắng quá chiều vừa rọi trên khuôn mặt của chàng, đôi mắt chàng thêm phần u uẩn, u uẩn kỳ lạ, chàng giống hình ảnh một bức tượng, một bức tượng nào đó mà nàng đã nhìn thấy.

Một buổi chiều, phải, một buổi chiều nàng đã cùng gia đình đi ăn ở tận Biên Hòa, trên đường về chiếc xe hơi của gia đình nàng đã dừng lại trước nghĩa trang Quân đội, ngay dưới bức tượng chiến sĩ trận vong, nàng đã ngắm pho tượng đó, pho tượng ngồi buồn bã trong chiều tà, và đôi mắt pho tượng đó nhìn ra một phương trời xa thẳm, đôi mắt thật buồn, rã rời mệt mỏi.

Nàng nhìn lại người lính, đôi mắt anh nhìn ra vùng đồi núi xa xa, khuôn mặt nhuộm ánh nắng vàng, tự nhiên nàng thấy lạnh cả người. Tiếng người lính trầm trầm; vẫn không quay mặt lại nhìn nàng:

– Em xuống đi, có lẽ các bạn em sắp về.

Tiếng chàng nhỏ hơn:

– Cám ơn, cám ơn tấm thịnh tình của em.

Người thiếu nữ nhìn người lính một lần cuối, nàng nắm nhẹ cánh tay của chàng:

– Em về, chúc anh gặp nhiều may mắn.

– Cám ơn, chúc em một mùa xuân đẹp.

Khi người thiếu nữ lên máy bay với các bạn, chiếc trực thăng cất bổng lên trời, nàng vẫn nhìn thấy người lính, chàng còn đứng đó, chàng như bức tượng, chiếc đồn hình tam giác nhỏ dần, nhỏ mút mắt giữa rừng núi trùng điệp. Nàng ôm lấy mặt, nàng muốn xua đuổi một hình ảnh, hình ảnh một chiếc xe dodge chở chiếc quan tài, trên chiếc quan tài phủ lá Quốc kỳ, cạnh đó người vợ trẻ ngồi gục đầu, đứa con nhỏ chít vành khăn tang. Đừng nghĩ bậy, đừng nghĩ bậy… Nhưng hình ảnh đó cứ lượn lờ trước mắt nàng, nàng thấy mình lao chao, như ngồi trong chiếc xe ấy chạy cô đơn trong thành phố một thành phố thật đông đảo.

Nàng ôm lấy mặt, gió thốc tháo, chiếc trực thăng lao chao, tiếng người xạ thủ đại liên đứng cạnh cửa máy bay la lên:

– Yêu cầu cột chặt dây thắt lưng.

Chiếc máy bay lao chao, mặt trời đã khuất bóng, trời kéo mây đen, máy bay đang lạc vào một cơn bão, người thiếu nữ nghe xung quanh nàng vang lên những tiếng khóc, gió thổi thốc tháo và trong thân tàu những giọt nước mắt quất vun vút, người xạ thủ đại liên cố gắng kéo tấm cửa ngang hông tàu.

Người thiếu nữ ngẩng lên nhìn vào những khuôn mặt bạn bè, những khuôn mặt không còn hồn, nàng không hiểu tại sao mình lại bình tĩnh một cách kỳ lạ, nàng nghĩ đến khuôn mặt buồn bã của pho tượng chiến sĩ trận vong.

Sàigòn, tháng sáu năm bảy mươi

NGUYỄN THỤY LONG

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Chương 22.

MINH NGỒI GỤC ĐẦU, NGỌC NGỒI BÊN CẠNH CHÀNG. Buổi sáng ở vườn Tao Ngộ đối với Minh không vui mấy, Ngọc chỉ khóc hình như nàng muốn nói với Minh điều gì đó, nhưng nàng còn ngại ngùng, đôi mắt nàng đỏ hoe, chiếc khăn tay nhàu nát ra trong tay nàng, giỏ đồ ăn để bên cạnh hai người, Minh cũng chẳng buồn ăn uống gì nữa, hồi nãy nể vợ Minh ăn một miếng bánh mì thịt, uống một chai nước cam. Minh hỏi vợ lần này không biết thứ bao nhiêu:

– Tại sao em không cho con lên? Ngọc hơi gắt:

– Em đã nói với anh, nếu cho nó đi em sẽ phải nghỉ luôn một ngày, bà chủ đâu có chịu như vậy, nó đi với em rồi đưa đi gửi lại nó nhất định không chịu.

Minh nắm lấy bàn tay xanh lướt của vợ:

– Thôi em cũng đừng chạy chọt gì hết cho mất công, anh thấy em khổ cực nhiều quá về anh, anh thấy áy náy làm sao ấy, cùng lắm là anh đi lính nữa, em ráng nuôi con, em cũng chẳng cần nhờ vả ông đại úy làm gì, phiền người ta, ở nhà còn chiếc xe của anh đó, em bán đi mà tiêu xài, anh chán nản lắm rồi, đời anh không may gặp toàn bất hạnh, anh biết làm sao được, cứ coi như không có anh.

Minh thở dài, chàng lại thấy vợ mình khóc nữa, chàng khổ tâm hỏi lại vợ:

– Em có nghe anh nói gì không?

Ngọc dạ thật nhỏ, nàng cũng muốn nói với chàng điều đó, nhưng nàng thấy nàng không đủ can đảm để nói, nàng không thể nói được nỗi nhục nhã này nàng phải mang mãi trong lòng, không thể nói với chàng, không thể được, không bao giờ Ngọc tự nhủ như vậy.

Nhìn làn da cháy nắng của chồng, Ngọc thấy tội nghiệp cho chàng, bây giờ Ngọc lại cho chàng biết tin đó nữa thì làm sao chàng có thể sống được.

Đêm hôm qua Ngọc đã ôm con khóc thầm suốt đêm, nàng không thề nào ngờ được đời sống nầy lại bỉ ổi đến như vậy. Buổi chiều hôm qua không thấy Minh về phép như lời hứa của ông đại úy tốt bụng, nàng chạy tới nhà ông ta, ông ta vừa đi làm về, ông ta là một người đàn ông còn sống độc thân, ở chung với một người bạn, ông ta tiếp Ngọc ở phòng khách, tỏ ra ngạc nhiên, khi nghe Ngọc nói ông ta gắt lên:

– Tại sao kỳ vậy? Hôm qua chính tôi đã lên trên đó lo cho anh ta mà, đáng lẽ chiều hôm nay anh ta phải về phép mới phải chớ.

Ngọc lễ phép:

– Thưa đại úy, em chưa thấy chồng em về, bây giờ là bảy giờ tối rồi, có lẽ nhà em bị cúp phép.

Ông đại úy tỏ ra suy nghĩ:

– Cũng có thể lắm, thôi được, hay là thế này…

– Thưa đại úy tính sao?

– Mai tôi với cô lên trên đó, tôi sẽ xin cho anh ta về nghỉ phép một hai ngày.

Ngọc mừng rỡ:

– Thưa đại úy được sao?

– Được chớ sao không, mấy ông chỉ huy trên đó đều là bạn của tôi cả mà, tôi sẽ bịa ra một chuyện gì đó đề nói với họ cho phép chồng cô về.

Nhưng ông Đại úy tỏ ra suy nghĩ một lát:

– Điều đó không khó khăn lắm nhưng, để phòng hờ tôi không gặp được mấy ông chỉ huy bạn của tôi thì cũng coi như cô lên thăm chồng cô, cô cứ mang những đồ thăm nuôi lên, sáng mai tôi sẽ tới đón cô.

Ngọc bận chiếc áo dài màu mỡ gà, chiếc áo dài may thật khéo, ôm sát lấy thân thề cân đối của nàng, người đại úy lén nhìn nàng, bỗng nhiên ông ta đề nghị:

– Muộn rồi, có lẽ cô cũng chưa ăn uống gì, cô cho phép tôi được mời cô đi dùng bữa luôn thể rồi tiện xe tôi đưa cô đi mua ít đồ cho anh ấy.

Ngọc không thể từ chối được, lòng tốt của ông ta, suốt bữa ăn cơm gà ở An Đông ông ta chỉ nói chuyện về Minh, ông ta hứa hẹn thật nhiều:

– Cô cứ yên trí, trường hợp của anh Minh không phải là trường hợp khó giải quyết, chỉ chậm trễ trong một ít ngày mà thôi, thế nào cũng xong.

Ông ta khen Ngọc là người vợ tốt, biết lo lắng cho chồng, Ngọc uống ly Côca côla, nàng bỗng nhiên thấy người rạo rực khó chịu. Ông Đại úy khéo léo, ông ta mời Ngọc vô nằm nghỉ ở căn phòng bên cạnh.

Khi Ngọc tỉnh dậy, nàng biết có đã chuyện gì đó xảy ra cho nàng. Ngọc đứng vụt dậy, nàng xấu hổ vì trên người nàng không còn một mảnh vải che thân. Ngọc vơ vội đống quần áo, nàng nhìn thẳng vào mặt người đại úy mà nàng tôn kính:

– Tôi không ngờ ông khốn nạn như vậy.

Nàng ôm mặt khóc nhục nhã, ông sĩ quan vẫn ngon ngọt dỗ dành, ông ta hứa đủ điều đủ chuyện, Ngọc la lên:

– Tôi không cần cái mặt ông, ông biết không, ông là một thằng khốn nạn, các người khốn nạn. Trời ơi là trời….

Ngọc ngồi bên cạnh chồng, bây giờ nàng lại nghĩ đến chuyện đó, nếu chàng hay biết chàng sẽ điên lên mất. Ngọc nhẫn nhịn, nàng càng thương yêu chồng. Vợ chồng nàng sống bao nhiêu năm trời nay, sống thật hiền lành, thật lương thiện vậy mà những bất hạnh cứ theo đuổi hoài. Ngọc nhìn chồng đôi mắt nhòa lệ:

– Anh đừng lo lắng gì chuyện nhà hết nhé, để em lo, em cố gắng chạy chọt một lần nữa xem may ra có thể…

Minh lắc đầu:

– Thôi kệ việc đó, để anh lo cũng được.

– Anh mà lo gì nổi, anh còn bận học hành trong này.

– Anh sẽ làm một cái đơn gởi cho nhà báo nhờ đăng khiếu nại, rồi được hay không tính sau.

Minh không muốn nghĩ đến chuyện buồn phiền đó nữa, chàng nói sang chuyện khác, chàng nhìn khu vườn Tao Ngộ, nhìn những bà mẹ xuống thăm con, những cặp tình nhân ngồi âu yếm bên nhau. Minh nói với vợ:

– Trước đây gần mười năm, anh cũng ra chơi khu vườn nầy, khi ấy anh không có ai là thân thích, anh đi chơi một mình, bây giờ có em xuống thăm anh, anh cảm thấy mình…

Chàng ngưng ngang lời nói, nhìn vợ:

– Anh đâu có còn cô đơn nữa. Ngọc rán cười cho chồng yên lòng:

– Em không giúp gì được anh, em ân hận quá.

– Em đã giúp anh quá nhiều, như vậy là đủ rồi, anh có mong mỏi gì hơn đâu.

– Số phận anh thật đen đủi.

– Thôi đừng nói nữa, anh bằng lòng với số phận của mình dù là đen đủi.

Chàng nhìn trời:

– Thôi em về đi, để con mong tội nghiệp nó, anh lo lắng cho nó, tính cho nó một tương lai khá hơn, nhưng bây giờ anh không làm gì được.

Minh nắm lấy tay vợ, chàng nén tiếng thở dài:

– Em sẽ thay anh lo cho nó.

– Nhớ về bán cái xe đi lo thuốc thang cho con.

Ngọc cúi đầu. Buổi tối Minh nằm lì trong phòng, những người bạn của Minh đã đi phép về, Thái đến cạnh Minh:

– Cậu không ra vườn Tao Ngộ nghe ca nhạc à?

Minh lắc đầu:

– Nghe ngóng quái gì, tôi không còn tâm trí nào.

– Buồn hoài ích lợi gì.

– Tôi cũng chẳng lo lắng nữa, tôi không muốn buồn.

– Bất mãn chăng?

Minh mỉm cười ngồi dậy:

– Mình ra câu lạc bộ uống cà phê.

Thái vui vẻ đi theo bạn. Ở trong trại nầy Minh không thân ai bằng với Thái. Thái nghèo nhưng rất dễ thương, Thái không có ai là thân thích. Minh có tiền thường rủ bạn đi uống cà phê sau những giờ tập, cho đỡ buồn, chàng không ngần ngại tâm sự với Thái về hoàn cảnh của mình. Thái chỉ biết an ủi bạn:

– Số phận mình là vậy, buồn làm chi.

Hai người đi dưới bóng cây bả đậu,

Minh nhớ lần bị đưa xuống đây, chàng cũng ngồi dưới bóng cây bả đậu, với những người bạn cùng hoàn cảnh.

Minh buồn bã, mười năm trôi qua rồi, mười năm chàng phải trở lại quân trường trong trường hợp một tên trốn lính. Minh nói với bạn:

– Thật tôi không ngờ, phải chi mình trốn lính thật, có bị bắt cũng không ân hận, nhưng đàng nầy tôi đã đầy đủ giấy tờ, nhiệm vụ, tôi bị đi lính lại như một thằng trốn lính. Mình thấp cổ bé miệng làm sao kêu cho thấu trời xanh.

– Chị ở nhà chạy chọt đến đâu rồi?

Minh lắc đầu:

– Không đi đến đâu hết.

– Vậy mười ngàn chị đã đưa cho ông đại úy nào đó?

– Tôi không hỏi, nhưng chắc không nước nôi gì, tôi có nói với vợ tôi đừng thèm lo nữa, muốn đến đâu thì đến.

Hai người đã tới câu lạc bộ, Minh gọi hai ly cà phê sữa, chàng tiếp tục tâm sự:

– Tôi thấy Quang Trung hồi này dở hơn hồi mười năm về trước, hồi tôi mới đi lính, xuống Quang Trung này khổ trần ai. Hồi đó có bệnh đau màng óc, cứ chiều chiều tôi ngồi chơi ở bãi đá xanh, thấy bạn bè khiêng nhau lên nhà thương, chết vì bịnh đau màng óc hơi nhiều. Hình ảnh một người lính nằm trên chiếc giường sắt, hai người bạn khiêng, hình ảnh đó không phai nhòa được trong trí nhớ của tôi.

Minh thở dài:

– Bây giờ không ngờ tôi lại phải xuống đây.

Ở những bàn gần Minh và Thái ngồi, một bọn tân binh đang ngồi nhậu nhẹt nói chuyện om sòm, chúng cười nói và chửi thề. Nhìn cảnh ăn nhậu vui vẻ ấy Minh bỗng nhớ tới hình ảnh của hồi mười năm về trước. Ở Quang Trung này, chàng cũng ăn nhậu như vậy, cũng cười đùa vui vẻ, những người bạn ngày xưa của chàng, chàng không biết bây giờ chúng làm gì, ra sao, đã lâu lắm rồi chàng không gặp chúng, cũng có thể nhiều thằng bây giờ nên ông nầy ông kia, có nhiều thằng khác mạt vận hay đã chết. Minh nói thầm: “Bây giờ tao lại vào đây chúng mày ạ”. Minh buồn buồn, chàng cảm thấy mình ít ồn ào hơn xưa, chàng thích ngồi một chỗ, nghĩ đến dĩ vãng không mấy vui vẻ, nhưng dễ thương, Thái mời Minh một điếu thuốc lá. Minh thẩn thờ hút thuốc, chàng lơ mơ nhả khói:

– Hồi mười năm trước tôi thường ra câu lạc bộ này ăn nhậu với bạn bè, ngày đó tôi thấy mình hăng hái, và thường đánh lộn, bây giờ thấy mình có vẻ già đi, và muốn ngồi một chỗ, tôi nhớ đến thằng Thục, thằng bạn thân tôi, thằng Thục là là một thằng chuyên môn đánh lộn, nó ghét ai thì kiếm cớ đánh người ta cho bằng được.

Thái nói:

– Tuổi trẻ mà, ngày xưa tôi cũng vậy, tôi cũng ồn ào như những thằng ngồi bên kia, bây giờ tôi có cảm tưởng như tôi không còn đủ sức để la hét nữa, chương trình học tập ở đây đã làm tôi kiệt sức, nói chi là la hét, tôi sợ rằng tôi không sống nổi đến ngày mãn khóa, thỉnh thoảng lại lên một cơn đau tim, có thể tôi sẽ chết trong một cơn đau tim.

Minh nhún vai:

– Chuyện đó thường quá, có gì lạ đâu, chẳng nên than phiền nữa, tất cả do số kiếp.

– Anh có vẻ bi quan. Minh lắc đầu:

– Tôi hết bị quan rồi, mặc kệ muốn đi đến đâu thì đi, hôm nọ tôi cũng nói với vợ tôi không được chạy chọt gì nữa hết, mình thật hết kiên nhẫn.

– Khiếu nại chớ?

_Việc đó tôi lo, mẹ, tôi thù thằng cha cảnh sát. Mình cũng sắp mãn khóa rồi.

Minh im lặng, chàng hít từng hơi thuốc lá dài, Minh nghĩ về căn nhà nhỏ bé của mình, nghĩ đến vợ, đứa con nhỏ, suốt đời chàng chỉ ao ước một điều nhỏ nhoi như vậy mà cũng không được. Minh nén tiếng thở dài, chàng đặt tiền ra bàn:

– Thôi mình về để sức ngày mai mà tập chớ. Hình như ngày mai mình bò hỏa lực phải không?

– Phải, có sao đâu?

Minh về phòng ngủ, các bạn chàng đã đi ngủ hết, chàng leo lên giường nằm, chàng thao thức không thể ngủ được, chàng nghe tiếng đại bác từ xa vọng lại, ánh hỏa châu thắp sáng cả một góc trời, tiếng đại bác từ Quang Trung bắn đi, yểm trợ một vùng nào đó.

Gần sáng cả phòng ngủ thức giấc vì có tiếng gù khốn khổ của một anh chàng bị bệnh suyễn. Minh ngồi nhỏm dậy, chàng sang giường bên cạnh đỡ lưng cho người bạn.

Tân ngồi gập lưng thở, hơi hắn như muốn tắc nghẹn trong cổ họng, phòng ngủ lao nhao, nhưng chỉ lao nhao trong mấy phút rồi thôi, vì cảnh đó quá quen thuộc, đêm nào Tân cũng làm một trận hen, lúc ấy trông hắn khốn khổ làm sao. Minh luôn tay vuốt ngực cho bạn, một người nằm dưới cằn nhằn:

– Đ.m, người ta bệnh hoạn như vậy mà cũng bắt người ta đi lính, đù má mấy thằng bác sĩ bất nhân.

Một tiếng khác:

– Câm mồm lại đi, muốn chết sao mày?

– Tao chửi đó, thằng gì nó làm gì tao, nếu mày muốn được giấy phép thì lên báo cáo đi, đồ chó săn.

– Ê, đ… mẹ không có nói láo nghe mày.

– Mày là an ninh hả? An ninh tao đập thấy mẹ mày luôn.

Người nằm dưới vùng dậy ra khỏi giường. Phòng ngủ lục đục, mỗi người can một câu, có người vùng dậy kéo tay gã gây gỗ:

– Thôi tao xin chúng mày, cho anh em tao ngủ với đi.

– Đù mẹ, tại sao nó lên lớp tao?

– Anh em nói đùa nhau một câu có sao đâu.

– Đù mẹ, cái thứ tư cách lính kín đó.

Gã bị xỉ vả cũng nhổm dậy phân trần:

– Tao có nói gì quá đáng đâu?

Chúng mày thấy nó sa sả chửi tao.

Cả bọn lôi kéo nhau một hồi mới yên. Minh đỡ Tân nằm xuống giường, cơn suyễn của Tân cũng chấm dứt, mồ hôi sâm sấp trên trán hắn, Minh lau trán cho bạn, chàng hỏi nhỏ:

– Đỡ mệt chưa? Tân nắm tay bạn:

– Cám ơn, thôi về ngủ đi.

– Tao sợ mày chết bất tử quá. Tân mỉm cười trong bóng tối:

– Tao mong chết đi cho rồi, chắc tao không thể chịu đựng được hơn nữa.

– Chỉ nói bậy, thôi ngủ đi, sáng mai mày nên khai bệnh.

– Không ích lợi gì, tao đã chán cái bệnh xá trong này, tao không muốn nhìn thấy cái mặt chuột con ông cháu cha mình ngồi trong đó.

– Thôi ngủ đi đừng bất mãn xằng nữa.

Minh leo lên gường nằm, chàng thấy đầu óc mình lúc này nặng nề, chàng không thể ngủ được, nỗi thống khổ đè nặng trong đầu óc chàng, chàng muốn nổi cơn điên, Minh nghĩ đến cơn điên của mình ngày trước, nếu quá sức chịu đựng của mình, mình cũng dám nổi điên lắm. Hình ảnh chiếc xe đạp xoay tít trong đầu chàng, chàng ôm lấy cái đầu mình tự nhủ, mình hãy bình tĩnh, hãy bình tĩnh lại nào, Minh, Minh, Minh.

Minh mở mắt trừng trừng nhìn vào trong bóng tối.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Chương 21.

CHIẾC XE NHÀ BINH CHUYỂN BÁNH, bỏ lại đằng sau một đám bụi mù mịt, hình ảnh những tên trốn lính bị bắt lẫn trong đám đông. Trời nắng như đồ lửa, Minh ngồi gục đầu, hai bàn tay vò rối mái tóc, Minh không muốn nghĩ ngợi gì hết, chàng cố xua đi hình ảnh tên bị bắt ra khỏi đầu mình, trong lúc này chàng chỉ nghĩ đến vợ con mình mà thôi, hình như xe chạy khỏi thành phố, Minh ngửi thấy mùi không khí trong lành của đồng quê, mùi mạ non đâu đó trộn lẫn mùi đất gay gắt, xe tăng tốc độ, bọn lính ngã bổ nhào vào nhau.

“Anh yêu quí,

Tuần lễ vừa qua, em không thể xuống thăm anh được, có lẽ anh chờ em lắm, nhưng anh có biết không, con chúng ta đau quá, nó bị nóng lạnh hoài, buổi sáng em định đưa nó đi nhưng thấy nó nóng quá em đành ở nhà với nó vậy, cũng không dám mang nó đi gởi như mọi khi vì sợ người ta săn sóc con mình không được chu đáo, tuần tới thế nào em cũng phải xuống thăm anh, và có lẽ sẽ có tin mừng cho anh.

Tiện trong thư này em cũng tin luôn cho anh rõ rằng những nơi anh bảo em đến, em đã đến rồi, ở đơn vị cũ của anh người ta hứa sẽ can thiệp cho anh, em đã tới tận nơi trình bày mọi sự, có ông đại úy, em không biết ông ta làm gì ở trong đó, đã la um lên khi nghe em trình bày mọi chuyện, và ông ta cũng hứa can thiệp cho anh. Mình ở hiền gặp lành anh ạ. Anh yêu quí, em đã tới quận cảnh sát nhận cái xe về cho anh, thật là buồn anh ạ, chiếc xe của anh bị họ tháo đồ lung tung, em có khiếu nại lên trưởng chi cảnh sát nhưng ông ta không chịu giải quyết, ông ta nói biết đâu được việc đó. Một ông cảnh sát còn hù em nữa, ông hỏi em muốn gì, muốn kiện phải không? Em hiểu anh chiếc xe gắn máy của anh, anh giữ gìn cẩn thận lắm chớ đâu có thiếu đèn, thiếu dây, thiếu nhợ lung tung, anh thay toàn đồ mới. Mấy người lãnh xe cùng với em cũng bị như vậy, họ nói rằng chính cảnh sát đã tháo những phụ tùng ấy, nhưng em nghĩ nhân viên công lực ai lại làm thế, chắc là có kẻ lưu manh nào đội lốt cảnh sát làm bậy đó thôi. Mà thôi anh, kiện tụng làm chi cho mất công, mình là kẻ thấp cổ bé miệng có kiện cũng không đi đến đâu, chiếc xe của anh em đã mang về nhà, bao giờ anh về nhà anh mang đi sửa lại vậy.

Em nói tiếp về vụ em đi chạy cho anh nghe nhé, đáng lẽ chuyện này em giấu anh sợ anh buồn, nhưng em thấy rằng cũng nên cho anh biết. Ông đại úy cho em biết rằng vụ bắt oan anh coi bộ dễ dàng, nhưng cũng thật khó khăn nếu có đồng tiền thì vẫn mạnh hơn, em cũng chạy chọt, trong tuần này em phải đưa cho ông mười ngàn đồng đề ông ta đưa cho người ta. Ông đại úy là một người thật tốt đó anh, ông ta giúp đỡ em đủ chuyện cho nên em rất tin ông ta, theo ông ta nói thì đáng lẽ anh bị đưa về Quân Vụ Thị Trấn, người ta phải sưu tra anh ở đó xem coi anh có hợp lệ hay không, nếu anh hợp lệ thì anh mới đi, còn không anh đã được thả rồi, vụ này do sự trục trặc vì lý do hành chánh sao đó, nhưng ông nói anh cứ yên trí, đừng lo lắng gì cả, trong tuần tới ông ta sẽ vào tận Quang Trung để bảo lãnh anh về phép.

Anh càng gặp nhiều hoạn nạn, em càng thương anh, em không hiểu, tại sao một người hiền lành như anh mà chỉ gặp toàn những điều bất hạnh, nhưng dù thế nào đi chăng nữa anh vẫn là chồng em, trong đời em chưa thương yêu ai bằng anh, anh đừng lo lắng cho gia đình nhiều quá mà thiệt vào thân, mình là cây ngay thì không sợ chết đứng phải không anh.

Anh đi khỏi em cố gắng làm việc nhiều hơn, trước kia em chỉ làm việc đến sáu giờ chiều rồi về, nhưng bây giờ em đón con, tội nghiệp thằng nhỏ, bà vú nuôi nó nói nó khóc, nó nhớ anh suốt ngày, nhưng em làm sao được, em chỉ biết ôm con ngủ sau một ngày mệt nhọc. Về số tiền mười ngàn đồng em đã hỏi mượn trước bà chủ tiệm, bà chủ hứa trong tuần này sẽ đưa cho em rồi trừ dần vào số lương, em nghĩ như vậy còn hơn là đi vay. Thà rằng mất tiền để anh được tự do một cách hợp pháp hơn là thấy anh khổ sở một cách vô lý. Nói thú thật với anh, hôm em xuống thăm anh ở vườn Tao Ngộ, nghe anh nói chuyện mà em sợ quá, em chỉ sợ anh nghĩ quẩn làm bậy rồi khô thôi, anh nhớ đừng có bắt chước mấy người bạn của anh nhé, họ đào ngũ thì mặc họ. Anh kể chuyện người bạn của anh nhảy xe hơi bị bắn què giò, vậy là hôm ấy em về nhà ngủ không được đó anh, em nằm mơ cứ thấy anh bị bắn què giò. Em van anh, anh cẩn thận, đừng để xảy ra chuyện gì mà khổ vợ khổ con, anh cứ bình tĩnh chuyện đâu còn có đó, em hết lòng lo cho anh, sức em bao nhiêu em sẽ lo bấy nhiêu. Ông Đại úy nói trường hợp của anh chỉ khoảng mười ngày nữa là anh ra được thôi. Khi em tới văn phòng của ông ta, ông ta gọi điện thoại đi lung tung nhờ can thiệp. Buổi tối hôm qua, ông ta lái xe đón em tại tiệm uốn tóc, mời em đi ăn để nói chuyện về anh, em ngần ngại một chút nhưng em nghĩ đến anh, em phải chiều lòng ông ta.

Ông ta thật là người đứng đắn đấy anh, trong suốt bữa ăn, ông ta đưa em về đón thằng Dũng, ông ta cũng tỏ ra thương thằng Dũng lắm anh à, ông lại cho nó ăn kem, nhưng thằng nhỏ thiệt là khó, ông đại úy dỗ thế nào nó cũng không chịu ăn.

Thôi thư đã dài, anh cho phép em dừng bút ở đây nhé, chủ nhật này thế nào em cũng lên thăm anh, anh cứ chịu khó nhé, tất cả mọi việc rồi sẽ êm đẹp hết, anh cố giữ gìn lấy sức khỏe…”

Minh gấp bức thư của vợ lại, chàng thừ mặt ra, thật tội nghiệp cho ràng, Minh nghĩ có lẽ trong bức thư đó nàng còn nhiều điểm muốn nói nữa, nhưng nàng sợ Minh buồn nên nàng giấu, Minh không muốn vợ lo lắng thái quá cho mình, Minh tự nhủ để tuần lễ tới nàng lên thăm mình rồi nói cho nàng biết, nàng không cần phải chạy chọt quá như vậy, nàng cần để sức lo cho con. Minh muốn viết cho vợ một bức thư, nhưng chàng không có thời giờ.

Lừa đảo… kêu gọi từ thiện

baotreonline.com

Nguyễn Sinh

Post on June 7th, 2024

Post by Sơn râu 20 Apr 2025

Ăn chặn tiền từ thiện của người nghèo đã là hành vi khó tha thứ, nhưng chưa dừng ở đó, hiện nay bọn lừa đảo ở Việt Nam còn bày ra nhiều trò ma mãnh. Hình thức khá phổ biến là ăn cắp thông tin người nghèo gặp hoạn nạn, những bệnh nhân không có khả năng điều trị, người chết không có tiền mai táng thậm chí những thông tin không có thật rồi dàn dựng, cắt ghép, sau đó tự lập ra những tài khoản giả trùng khớp với nhân vật chính nhằm lừa đảo chiếm đoạt tiền bạc, vật chất của người hảo tâm trong nước lẫn ngoài nước ủng hộ …

Đăng tải những sự việc không có thật lên mạng xã hội để lừa tiền từ thiện  

Những mánh lới thường thấy

Tình trạng lừa đảo bằng thủ đoạn kêu gọi quyên góp, ủng hộ trên mạng xã hội xuất hiện đã khá lâu. Theo đó, kẻ gian sẽ lập ra các trang mạng xã hội (Facebook, Zalo, Instagram…) rồi tự “sáng tác” ra những câu chuyện đau lòng về những hoàn cảnh đáng thương nào đó cần sự giúp đỡ như những bệnh nhi ung thư, người có hoàn cảnh đặc biệt thương tâm, bị tai nạn hiểm nghèo hoặc kêu gọi chi phí mai táng cho người neo đơn khó khăn, các thai nhi xấu số bị bỏ rơi…

Một số trường hợp là có thật và đã được các báo đăng từ rất lâu. Chúng lấy lại thông tin này và đăng lên mạng xã hội, kèm thêm những hình ảnh mới về bệnh nhân, giấy nhập viện, giấy báo phẫu thuật, giấy báo tử (hầu hết là photoshop). Điểm mấu chốt là bên cạnh bài viết sẽ có số tài khoản ngân hàng và số điện thoại mà chúng cho rằng “của người nhà bệnh nhân”, nhưng thực sự đều là do chúng làm giả giấy tờ để tạo ra, kêu gọi từ thiện và đề nghị nhà hảo tâm chuyển tiền thẳng vào các tài khoản này khiến không ít người sa bẫy bọn lừa đảo.

Những hoàn cảnh éo le … bịa đặt

Ngày 14/4/2024, tài khoản Facebook “Thu Quế Lê” đăng bài viết trên group “Hội gia sư dạy kèm Bình Dương” có gần 7,000 thành viên với nội dung “cầu cứu” mọi người quyên góp ủng hộ cho một trẻ sơ sinh gặp bệnh hiểm nghèo (nhưng không ghi rõ địa chỉ). Trong bài viết, tác giả ghi số tài khoản ngân hàng của Vũ Thị Ngọc Anh (26 tuổi, được cho là mẹ đứa bé) để nhận quyên góp. Tuy nhiên thông qua công cụ tìm kiếm Google, chúng tôi phát hiện một bài viết khác có nội dung, hình ảnh tương tự đăng cách đó vài ngày trên group “Hiệp hội xà lan Việt Nam”. Đáng chú ý ở bài viết này, người được cho là mẹ đứa bé có tên Nguyễn Thị Bích Thanh (26 tuổi) và số tài khoản ngân hàng để nhận quyên góp cũng mang tên Nguyễn Thị Bích Thanh (?). Tương tự gần đây, một group Facebook khác đăng bài viết, hình ảnh một đứa trẻ sơ sinh có vết thương kéo dài theo cột sống lưng với nội dung kêu gọi giúp đỡ, chuyển tiền ủng hộ vào tài khoản ngân hàng. Qua tìm kiếm trên mạng, chúng tôi biết vào năm 2022, từng có nhiều tài khoản cá nhân, hội, nhóm Facebook, Instagram…đã đăng tải, chia sẻ hình ảnh đứa trẻ sơ sinh nêu trên nhưng không vì mục đích kêu gọi giúp đỡ, chuyển tiền ủng hộ.

Trước đó ít lâu, vào cuối tháng 3/2024, em Trần Thị Hồng 20 tuổi, đang học tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu  cho biết: Hình ảnh, thông tin về em và gia đình bị một số fanpage Facebook tự ý đăng tải để kêu gọi hỗ trợ qua tài khoản của một người nào đó mà em lẫn gia đình không hề biết. Em Hồng chia sẻ: Cách nay 4 năm, em không may bị tai nạn giao thông, mất 87% sức khỏe, phải cưa bỏ một chân. Thời điểm ấy, nhờ sự giúp đỡ của cộng đồng, em và gia đình đã vượt qua khó khăn ban đầu, song sau đó gia đình em không còn kêu gọi hay nhờ cá nhân, tổ chức nào khác đứng ra kêu gọi, vận động giúp đỡ thêm nữa. Song gần đây qua lời mách của bạn bè cho biết hình ảnh, thông tin về em tại thời điểm bị tai nạn năm 2020 bị kẻ xấu đăng lên fanpage “Phật Tại Tâm – Ni Sư Phúc Lành” và một số trang mạng khác với mục đích kêu gọi quyên góp tiền bạc hỗ trợ. Em Hồng khẳng định đây hoàn toàn là hành vi lừa đảo.

Một số tên lừa đảo đã bị bắt

Trước khi “móc ví” cần tỉnh táo

Người dân Việt xưa nay nổi tiếng với tấm lòng nhân văn và bao dung. Không ít người ở trong nước lẫn nước ngoài luôn sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cho bà con ở quê nhà đang gặp hoàn cảnh éo le, khó khăn. Tuy vậy song song đó luôn có những kẻ xấu cố tình lợi dụng lòng tốt của các nhà hảo tâm nhằm trục lợi. Chính vì thế, để tránh đặt lòng tốt của mình nhầm chỗ, mọi người cần tỉnh táo, cảnh giác trước các thủ đoạn kêu gọi từ thiện, nhất là qua các trang mạng xã hội, không nên tuyệt đối tin tưởng vào chúng. Trước khi “móc ví” cần thận trọng tìm hiểu, xác minh kỹ nội dung thông tin đăng tải, bởi hiện nay có không ít cá nhân tự phát làm từ thiện dẫn đến thật giả lẫn lộn, không thể kiểm chứng. Đã từng có những nhà hảo tâm tự bỏ thời gian công sức tìm đến tận địa phương người cần giúp đỡ đang sinh sống hoặc bệnh viện nơi họ tạm thời lưu trú để tìm hiểu rõ ràng sự việc, minh bạch, chính xác thông tin. Bởi chỉ vậy họ mới có thể gặp gỡ trực tiếp các hoàn cảnh “người thật, chuyện thật” cần giúp đỡ và quyên góp tiền bạc, vật chất ủng hộ nếu có. Hành động này luôn có ý nghĩa rất tích cực, khiến cho những kẻ chuyên lợi dụng lòng tốt để trục lợi, lừa đảo qua mạng không còn đất sống.

NS

Cho Người nằm xuống

baotreonline.com

Nguyễn Sinh

Post on April 27th, 2023

Post by Sơn râu 20 Apr 2025

Ông Lý Văn Lang xưa cũng là lính Biệt động quân trong quân đội VNCH (KBC 4822). Khoảng chục năm trở lại đây, ông tìm đến Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa xin làm công việc tạp vụ, nhổ cỏ, quét dọn, hương khói…cho mộ phần các tử sĩ VNCH…

Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa xưa đã đổi tên

Căn nhà cuối cùng

Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa (cũ) thành lập ngày 17-6-1968 theo sáng kiến của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với dự trù chứa 30 nghìn mộ phần. Mộ phần đầu tiên tại nghĩa trang được ghi nhận là của một người lính vô danh ở Gò Vấp. Tiếp theo, các trận Mậu Thân 1968, mùa Hè đỏ lửa 1972 đưa về thêm trên 10 nghìn tử sĩ. Tới hết tháng 3/1975 tổng cộng có trên 16 nghìn tử sĩ chôn cất tại đây và tồn tại đến giờ. Ðược biết nghĩa trang này xưa không chỉ dành chôn cất các chiến binh, sĩ quan, tướng lãnh mà còn làm nơi yên nghỉ cho các thành viên chính phủ VNCH. Trước năm 1970, nghĩa trang đã hoàn tất một số đường nội bộ, tượng đài Thương Tiếc, cổng Tam Quan, đài Tử sĩ… Sau sự kiện “tháng 4 đen”, nghĩa trang được Cộng sản tiếp quản rồi bàn giao cho Quân khu 7. Tháng 11/2006, chính quyền Cộng sản quyết định chuyển khu nghĩa trang này sang sử dụng dân sự. Hiện nay Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa đổi tên là Nghĩa trang Nhân dân Bình An (Công ty công trình công cộng tỉnh Bình Dương quản lý). Qua hơn 47 năm “thi gan cùng tuế nguyệt”, nhiều khu mộ các tử sĩ VNCH tại đây (nhất là những ngôi mộ vô thừa nhận) đang xuống cấp trầm trọng. Nếu không được chăm sóc, tu bồi, chẳng bao lâu nữa những nấm mộ này sẽ thành đất bằng, không còn vết tích. Rất may có một người đàn ông đã tự nguyện tìm đến làm những công việc này. Ðó là ông Lý Văn Lang, năm nay 72 tuổi, hiện sống tại đường Hậu Giang (quận 6, Sài Gòn)

Ông Lang chào kính trước những mộ phần tử sĩ ở Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa

Từ một căn duyên

Ông Lý Văn Lang xưa cũng là lính Biệt động quân trong quân đội VNCH (KBC 4822). Khoảng chục năm trở lại đây, ông tìm đến Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa xin làm công việc tạp vụ, nhổ cỏ, quét dọn, hương khói…cho mộ phần các tử sĩ VNCH (dĩ nhiên không có lương!). Ông Lang tâm sự kể nguyên do: “Một lần tôi thấy người ta đưa cỗ quan tài trên đường mà không có thân nhân đi theo. Hỏi mới biết anh này vừa chết trận mà cũng không ai rõ tên tuổi là gì. Nên tôi “xung phong” làm người tiễn anh về nơi an nghỉ sau cùng. Mấy chục năm sau, tôi vẫn luôn trăn trở, băn khoăn về các mộ phần tử sĩ VNCH ở Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, nơi ngày càng xuống cấp, chẳng ai quan tâm. Tôi biết có những ngôi mộ được xây lúc đầu còn có bia ghi tên tuổi rõ ràng, song càng gần thời điểm tháng 4/1975 đa số là dựng vội, đôi khi chỉ đắp một nấm đất tạm bợ…”.

Rất nhiều mộ bia tử sĩ VNCH bị hư hỏng, nứt vỡ, cây cối mọc um tùm xâm lấn

Từ năm 2013, hàng tuần ông Lang dành ít nhất 1-2 ngày tìm tới nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, xin Ban quản trị cho làm công việc tạp dịch, chăm sóc các ngôi mộ tử sĩ VNCH và được cho phép. Bằng số tiền túi khiêm tốn của mình, ông mua nhang, những phẩm vật mang đến cúng tế các mộ phần nhất là trong những dịp tháng 7 âm lịch, ngày Chiến sĩ trận vong, ngày Giáng sinh, Tết nhất…Ông cảm thấy đau lòng khi chứng kiến những phần mộ bị cây rễ mọc xâm lấn, bị rong rêu, lá mục che phủ, những tấm mộ bia nứt vỡ, những gương mặt chiến hữu năm xưa cứ rạn vỡ, phai mờ theo năm tháng…Một lần nữa ông xin Ban quản trị nghĩa trang cho ông được phục hồi những tấm bia mộ bị hư hại, bằng tiền riêng “có nhiêu làm bấy nhiêu”.

Đồng đội không lìa

Mãi đầu năm 2022, người ta mới đồng ý “phê duyệt” công việc của ông. Ông nói thêm: “Họ cho phép mình phục hồi lại những tấm bia bị gãy vỡ. Bởi tôi nghĩ chỉ vậy tên tuổi các anh sẽ rõ ràng và gìn giữ được lâu. Ban quản trị cũng đề nghị nếu muốn phục hồi lại bia mộ nào thì chụp hình lại để họ làm theo mẫu có sẵn. Bên cạnh dựng bia mới, những tấm bia cũ vẫn giữ lại để sau này thuận tiện cho thân nhân, chiến hữu tử sĩ (nếu có) về đây tìm kiếm dễ dàng nhận diện. Ðến tháng 5/2022, Ban quản trị nghĩa trang báo thêm tin vui sẽ cho đào bỏ, cưa cắt những gốc cây to có rễ ăn sâu xuống lòng đất, xuyên qua các mộ phần cũng như sửa chữa, xây lại những mộ phần bị sập lún cũng như cho phép dán gạch men các ngôi mộ này để bảo quản lâu dài…”.

Ông Lang hàng ngày không quản công chăm sóc, hương khói cho các mộ phần

Ðược biết, nghĩa trang hiện có khoảng 8,000/16,050 ngôi mộ mất bia do nhiều nguyên nhân. Ông Lang cho biết để phục hồi những tấm bia, dán gạch các mộ phần này khá tốn kém. Cụ thể 1 tấm bia đá ghi tên tử sĩ đặt trước mộ giá 100 – 500 nghìn VNÐ (tùy loại,  dán gạch men toàn phần giá đến 2 triệu VNÐ/ngôi mộ. Trước mắt, ông Lang hợp đồng cùng Ban quản trị tiến hành phục dựng 1,000 tấm bia, dán gạch men toàn phần cho 400 ngôi mộ hư hại nặng cũng như đặt nhà thầu đào bỏ những gốc cây xâm lấn các mộ phần. Tới cuối tháng 10/2022, khoảng 75% công việc này được ông phối hợp cùng Ban quản trị đã hoàn thành xong.

Làm lễ cúng và an vị cho các mộ phần đã được sửa chữa

Món nợ nghĩa tình

Ông Lang tâm sự: “Bản thân tôi luôn hoài niệm về một thời mà bản thân mình từng dự phần trong cuộc chiến năm xưa dù đã qua gần nửa thế kỷ. Với món nợ nghĩa tình ấy, tôi nguyện đem hết sức mình làm được gì thì làm, để vong linh các tử sĩ cảm thấy ấm áp và ước sao khoảng 10% số mộ phần trong nghĩa trang được tu sửa như đang làm hiện nay là tôi quá mãn nguyện. Tôi nghĩ đây cũng là một món “quà” Xuân dành cho các anh em tử sĩ đã nằm xuống nhất là dịp Tết Quý Mão sắp đến. Tới nay tôi cũng nhận được khoảng 100 nghìn USD của các vị, phần lớn ở hải ngoại gửi về với tấm lòng nhân ái tưởng nhớ đến những người cùng thời đã nằm xuống cho một vùng miền đất nước, nay phải chịu cảnh mồ hoang mả lạnh. Thay mặt vong linh anh em tử sĩ VNCH tôi vô cùng cảm ơn.

…hương khói cho các mộ phần

Nếu quý vị quan tâm thêm về công việc của tôi,

có thể vào trang:

http://facebook.com/vanlang.ly.585

hoặc

email: lyvanlang2019gmail.com.

Về phần đóng góp (nếu được) xin gửi vào tài khoản báo Trẻ Weekly

Tre Magazine

3202 N. Shiloh Rd., Garland, TX 75044

Check xin ghi:

Tre Magazine

Memo: Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa

hoặc gởi trực tiếp cho:

Huỳnh Thị Thùy Dung

Số tài khoản: 037 100 390 2522, Ngân hàng Vietcombank, chi nhánh Tân Định, Sài Gòn.

Swift Code: BFTVVNVX.

Đây là số tài khoản cháu gái tôi, vì tôi lớn tuổi không sử dụng tài khoản ngân hàng riêng