Ó đen

Lý Tống

Post by Sơn râu 19 Apr 2025

Phần 4

Trốn Thoát Khỏi Việt Nam   

Sáng 23 tháng 9 năm 1981, ngày lễ Nam Kỳ Nổi Dậy của Việt Cộng, tôi thức dậy sớm, đeo túi hành trang lên vai, bước xuống thang gác nhẹ nhàng, thận trọng. Tôi mở cánh cửa sắt, kéo chậm và kín đáo hầu như ôm nâng cả khối sắt thép để khỏi gây tiếng động đánh thức cả nhà đang say ngủ và những nhà hàng xóm lân cận sát nách. Không khí ban mai mát lạnh ập vào xuyên suốt qua lớp áo quần mỏng và cũ. Những bóng dáng lẻ tẻ, lầm lũi của những người lao động, của những chị bán hàng thấp thoáng ẩn hiện trong ánh sáng mờ nhạt của những ngọn đèn đường. Tôi tiến về hướng đường Trần Hưng Đạo, chỗ bến xe buýt đi Xa cảng Miền Đông. Chiếc xe buýt đầu tiên trong ngày khật khưởng tiến lại trong dáng ngái ngủ. Tôi chen chúc tìm một chỗ đứng trong đám đông chật chội.

Cái làn da đen lem luốc mà tôi đã phải ngâm cả tiếng đồng hồ trong chậu chứa nước nhuộm để giả làm người Khmer trông không hoàn hảo lắm, bởi vì thuốc nhuộm không được tốt. Có một thứ hàng hóa nào sản xuất tại Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa nầy có phẩm chất tốt đâu. Tuy nhiên cái màu giả tạo đó cũng làm tôi có cái vẻ một người lao động chân chính hơn là làn da trắng của một dân chơi, một dân cậu, không phù hợp trong cái xã hội mới nầy.

Cái xách đựng mấy kí mì khô mà suốt bốn, năm tiếng đồng hồ hôm qua tôi đã phải ngồi giã cho vụn, nhuyễn ra bằng một cái chày nhỏ và một cái cối gỗ đến rã cả tay để biến cái đống mì sợi khổng lồ thành một khối tương đối nhỏ bằng một phần năm thể tích nguyên thủy vẫn còn có vẻ cồng kềnh. Cảm giác của một chuyến đi xa, của những bất trắc đang rình rập, của một hy vọng mù mờ, cháy leo lét trong những phần cảm xúc sâu xa. Xe vẫn tiếp tục dừng lại nhiều chặng đường để đón thêm khách, mặc dù khối người hỗn độn cố chèn ép nhau để tìm một chỗ đứng, đã cảm thấy khó thở vì ngột ngạt.

Những cổng trại Quân Đội Nhân Dân, những đồn bót xuất hiện lẻ tẻ khi xe bắt đầu rời khỏi thành phố, những phần đất thân thương yêu dấu của một thuở rong ruỗi ngày xưa đang ẩn náu nhiều thù địch, hiểm họa. Không hoàn toàn trông cậy vào những giấy tờ giả trong người trước những tên Công an chuyên nghiệp đang chờ chực ở từng trạm kiểm soát để lục lọi, tìm kiếm và để làm tiền, tôi vẫn chuẩn bị những phương thức khẩn cấp phòng hờ để thoát thân nếu bị bại lộ. Con đường vẫn bình yên, bởi vì những hiện thân của Xã hội Chủ nghĩa kia, có lẽ sau đêm thỏa mãn nhờ bắt địa được một chầu nhậu, một cuộc tình, đang lười biếng với giấc ngủ muộn. Tôi đến bến xe Xa cảng Miền Đông và tìm phòng bán vé sắp hàng.

Phương tiện chuyển vận đã trở thành hiếm hoi và khó khăn thêm mỗi ngày, những chiếc xe Liên Xô đã dần dần chiếm đa số trong những chiếc xe tạm sử dụng được còn sót lại từ chế độ cũ. Gọi là xe Liên Xô vì nó vừa có nghĩa Russia, vừa có nghĩa phải liên tục xô đẩymới chạy bởi vì những bình điện đã hỏng không được thay, và hành khách có nhiệm vụ thay thế demajeur để đẩy cho xe nổ máy.

Hành khách đứng sắp thành từng hàng dài. Sắp hàng là một hình thức văn minh của các nước tân tiến để giải quyết công việc nhanh chóng và công bình. Với Cộng Sản, sắp hàng là một hình thức làm trì trệ và phiền nhiễu dân chúng, bởi sự khan hiếm trầm trọng của phương tiện chuyển vận và bởi cách làm việc thiếu trách nhiệm, và tinh thần tham nhũng của Cán bộ Cộng Sản. Tôi xếp vào hàng ưu tiên của Công Nhân viên và Bộ đội, vì tôi đang sử dụng giấy đi công tác giả mạo.

Một chút lo lắng và hồi hộp. Những cặp mắt trần tục kia cuối cùng không khám phá được tung tích của tôi bởi vì cái phong thái Công nhân của tôi được đóng xuất sắc, bởi vì sự tinh xảo của những tay chuyên nghiệp làm giấy tờ giả.

Tôi lên xe ngồi đúng số ghế và liếc mắt quan sát hành khách. Một số ít Bộ đội ngồi lẫn lộn trên xe, một cô gái ngồi bên cạnh và một cụ già ngồi trước mặt. Tôi có thói quen tin cẩn phụ nữ và người già, bởi vì hai giới người đó thường tốt bụng và dễ tin người. Tôi thường giới hạn nói chuyện hoặc tiếp chuyện, và thường khi phải làm vẻ mệt mỏi buồn ngủ để khỏi tham dự hoặc trả lời những kẻ nhiều chuyện, thích cà kê dê ngỗng.

Nói là bạc, im lặng là vàng. Câu châm ngôn đó vĩnh viễn có giá trị. Nhưng im lặng không có nghĩa là cứ câm như hến trên suốt đoạn hành trình, bởi vì tôi chưa rành đường và cần phải hỏi một vài tin tức cần thiết. Chọn lựa kỹ càng đối tượng, tôi bắt chuyện một cụ già.

—     Thưa bác. Bác đi Tây Ninh hay Gò Dầu Hạ?

—     Tôi đi Tây Ninh. Ông cụ trả lời.

Tôi gợi chuyện tiếp:

—     Cháu làm việc dưới miền Tây. Nhân tiện về Sàigòn có người bạn cùng Tổ hợp nhờ cháu ghé nhà anh ấy ở Gò Dầu Hạ để gởi một ít quà. Cháu chưa từng ghé Gò Dầu Hạ. Bác có thể chỉ dùm lúc nào đến chỗ để cháu xuống xe.

—    Vậy hả, nhưng nhà bạn cháu ở đâu tại Gò Dầu Hạ?

—    Thưa bác, cạnh cái lò nấu đường ở gần cầu đó. (Đây là những tin tức tôi thăm dò được khi nói chuyện với một người tài xế ở Sài Gòn).

—    À! Tôi biết rồi. Vậy cậu xuống ở ngã ba đằng kia. Đón xe đạp thồ hai đồng đi qua chợ. Qua cầu, kiếm phía tay phải.

—    Cám ơn bác.

Tôi xuống xe đúng ngay chỗ chỉ dẫn và làm đúng lời chỉ dẫn. Những người đạp xe thồ ùa đến đám hành khách mới xuống xe để tranh mối. Sàigòn, các Tỉnh lỵ, nói chung Việt Nam, càng ngày càng phát minh ra nhiều nghề mới. Cái khó bó cái khôn đã trở thành lỗi thời. Sự khốn khó đã làm cho con người càng ngày càng khôn hơn, dù sự khôn ngoan đã trở thành khôn lỏi hoặc khôn vặt. Cả một dân tộc đang trở mình, đang quằn quại uốn mình để tìm một lối sinh tồn thích hợp trong thời buổi khó khăn, khắc nghiệt. Nhiều chú bé, cô bé đang tuổi đến trường cũng đã phải bỏ trường lớp để lăn lộn với cuộc mưu sinh. Miếng ăn, manh áo đã làm cho con người chóng trưởng thành và chóng trở thành thù địch với nhau.

Tôi đi bộ qua cầu. Một trạm xe lam, một dãy quán hàng luộm thuộm nhà tranh vách lá nằm túm tụm bên đường. Tôi kiếm một ghế ngồi, kêu món điểm tâm và giải khát. Ăn uống là một nhu cầu, nhưng chỗ ăn uống cũng là nơi để tìm hiểu nhũng điều cần biết. Tôi quan sát sự sinh hoạt và nghe ngóng, tôi đã biết trước rằng từ đây lên đến biên giới Việt—Miên đoạn đường chỉ trong vòng hơn mười cây số nhưng phương tiện nào thuận lợi nhất để đi đến đó?

Đó là điều tôi đang cần tìm hiểu, cuối cùng tôi chọn lựa giải pháp là gọi một chú bé chạy xe đạp thồ và trả giá cho cuổc xe sắp tới. Đường xấu, ngược gió và nhiều ổ gà, cái thân hình nhỏ bé phải vật lộn với từng vòng bánh xe lăn để sinh tồn. Tôi đề nghị mình thay thế khi chú bé bắt đầu mệt mỏi. Lâu ngày không đạp xe, hai chân tôi mỏi nhừ sau một đoạn đường ngắn, tôi tự nhủ:

—    Chỉ mới một chặng đầu gian lao mà ta không cố gắng được, làm sao hoàn thành được cuộc hành trình gian khổ xa vời vợi kia?

Ý nghĩ đó giúp tôi vượt thắng được những phản đối, yêu sách của đôi chân, của gân cốt, bắp thịt háng và mông đít. Tôi gợi chuyện cùng chú bé:

—    Em còn đi học không?

—    Học hành gì nữa chú! Em bé tiếp tục với giọng chán chường. Em là con ngụy, Bố em cải tạo chưa về, Mẹ em vất vả vẫn không đủ nuôi thân. Em phải phụ giúp gia đình để sinh sống và để có chút tiền thỉnh thoảng đi thăm nuôi Bố.

—    Chú nghe nói ở Gò Dầu Hạ dễ làm ăn hơn Sàigòn mà?

—    Dễ là dễ vối tụi cớm, với đám con buôn có thân nhân liên hệ với Cách Mạng, chứ với gia đình Ngụy, còn lâu! Toát mồ hôi kiếm được chút tiền, lắm lúc không đủ cho tụi nó bắt địa. Mình mà không chịu tốn kém, lại phải đi kinh tế mới, còn cực khổ trăm phần. Mà để được yên ổn, để có thể biết điều, chỉ còn cách còng lưng làm việc và còng lưng cõng các Ngài Cách Mạng mà thôi.

Biết được tâm sự của em, tìm được người đồng hội đồng thuyền, tôi bắt đầu cởi mở câu chuyện:

—    Thế tại sao em không liều qua lại biên giới buôn bán hàng lậu dễ kiếm tiền hơn không?

—    Buôn bán cũng phải có vốn, cũng phải quen biết nhiều. Kiếm tiền thấy cũng dễ, nhưng kiếm được bốn năm lần, nó chận một vố, mất cả vốn lẫn lời. Không ở tù cũng sạt nghiệp, thôi thà cứ thế nầy mà chắc ăn hơn.

—    Vậy em chưa từng đi qua biên giới lần nào sao?

—    Em thì không nhưng bạn bè em thiếu gì đứa. Tụi nó nghề lắm, thường xuyên qua lại biên giới nên biết nhiều mánh lới. Đi đường nào, đi lúc nào, dấu diếm hàng thế nào, chạy làng thế nào. Tuy nguy hiểm, nhưng một số tụi nó vẫn tiếp tục.

—    Gần đến biên giới chưa em?

—     Còn vài cây số nữa. Mà chú định đi đâu vậy? Hình như chú không phải là người ở đây hả?

—     Không. Chú ở Sàigòn. Nghe nói trên nầy đi buôn hàng lậu biên giới dễ kiếm tiền, chú định lên xem thử, coi làm ăn có được không để liệu đường.

—     Nếu chú muôn qua biên giới, cháu sẽ giới thiệu mây thằng bạn cháu.

—     Có phải trả tiền nhiều lắm không?

—     Chừng vài chục thôi à.

—     Vậy làm thế nào để chú gặp bạn cháu?

—     Đến chỗ cái gốc cây ở ngã ba đường kia, nơi có cái mả xi-măng lớn, chú đợi đó, cháu sẽ đi gọi.

Tôi xuống xe đứng quanh quẩn chờ đợi. Một người thợ hớt tóc lớn tuổi đang ngồi nhẩn nha nhổ râu mép đợi chờ những người khách hiếm hoi. Tôi châm thuốc hút, làm vẻ tự nhiên như đợi người nhà.

Tôi chọn đường Gò Dầu Hạ thay vì Tây Ninh do những kinh nghiệm bay bổng trong thời kỳ hành quân sang Kampuchia đánh vào tận căn cứ đầu não chủ lực của Cộng Sản. Tây Ninh, Đồn điền Chúp, Kampong Chàm, Snoon, Prek… bao nhiêu ngày đã miệt mài qua lại. Những con đường chết nằm trơ trọi giữa những cánh rừng ngút ngàn, những buôn làng đã bị đánh phá hoang tàn.

Này Kampong Trabek lần đi bay với Bạch Văn Thành. Bạch Văn Thành là một đại úy observateur có tiếng lì và bạt mạng. Đi bay chung với Thành là một nỗi đau khổ của các Phi công. Những anh Phi công già nặng nợ vợ con, lo kiếm tiền kiếm bạc gặp Thành là rầu thúi ruột. Còn những anh Phi công trẻ mới ra trường, nếu hăng tiết vịt, nghe Thành xúi ăn cứt gà thì có ngày bỏ mạng sa trường. Bởi vì bay với Thành là phải tìm cảm giác mạnh, phải đùa với lửa Thành mới vừa lòng. “Mỗi lần bay về mà không mang theo vài vết đạn thì chưa phải đi bay,” Thành vẫn hung hăng tuyên bố.

Ngày đầu mới về Phi đoàn 122, tôi cũng đã được vài bạn briefing về Thành nhưng có lẽ Thành còn biết tôi nhiều hơn ngay cả khi tôi chưa về đến Phi đoàn, bởi vì khi Phi đoàn vừa nhận được công điện báo sắp chuyển đến một Phi công mới tên Lý Tống là cả Phi đoàn đã xì xào về những thành tích bất hảo trong quá khứ của tôi. Thành chỉ đợi tôi được Huấn luyện Hành quân xong là ngỏ ý đi bay chung với tôi để thử sức và tôi cũng hân hoan nhận lời để xem thử Thành lì đòn đến mức nào.

Thành nghĩ tôi mới ra trường chắc còn bỡ ngỡ, chưa biết chấm tọa độ rành nên ngồi ghế sau cứ nhắc. Nào chỉnh sang trái một tí kẻo bị lệch hướng, nào còn mười dặm nữa sẽ đến target, tôi cứ im lặng mỉm cười không trả lời. Thành quên rằng, trong thời gian đó, các phi cơ quan sát ngoài nhiệm vụ hướng dẫn phi cơ khu trục do Phi công Việt Nam lái, còn phải hướng dẫn cả các phi cơ do các Phi công Mỹ từ Đệ Thất Hạm Đội vào để đánh bom. Tôi là một trong các Phi công Quan sát tương đối nói tiếng Anh thông thạo nên còn được huấn luyện đặc biệt để kềm hoặc giúp đỡ các observateur kém tiếng Anh và tôi còn có cả bằng Quan Sát viên danh dự sau khi tốt nghiệp Khóa Huấn luyện Dẫn FAC Mỹ (Forward Air Controller).

Thành cứ hối tôi, sao sắp đến mục tiêu mà không giảm cao độ đi, tôi vẫn cứ ù lì, bỗng nhiên Thành vỗ mạnh vào vai tôi và la lớn: “Phi cơ hỏng máy rồi, tôi không còn liên lạc vô tuyến được nữa.” Thành hốt hoảng vì thấy phi cơ đột nhiên rơi xuống quá nhanh mà không biết là tôi đã cố ý tắt máy chơi để dọa Thành. Nếu phi cơ L19 có nút bấm nhảy dù như các loại phi cơ phản lực khác chắc Thành đã nhảy dù ra khỏi phi cơ khi thấy phi cơ đang rơi xuống theo thế triệt nâng stall.

Chờ khi phi cơ đã gần tới đất tôi bấm nút start để mở máy lại. Cũng may là bình điện còn mạnh và phi cơ còn tốt, nên máy nổ lại ngay và đủ sức phóng lên. Tuy vậy bụng phi cơ cũng suýt chà lán các xe vận tải của Việt Cộng đang cuống quýt chạy lủi vào lề để né tránh tai nạn. Tuy thoát khỏi crash trên đường, nhưng phi cơ không thoát khỏi một tràng đạn AK bắn thủng từ dưới bụng và xuyên suốt qua chiếc ghế Thành đang ngồi, năm viên đạn chộp trật Thành trong gang tấc. Từ đó Thành bớt hung hăng, bớt dỡn mặt với các Phi công bay chung với mình.

Rồi kia là Damber, chiến trường sục sôi lửa đạn từng giờ, ban ngày thì Nhảy Dù Mũ Đỏ làm chủ trận địa, đến đêm Cộng quân tràn ngập biển người. Tôi bay L19 hướng dẫn thả bom, chui luồn dưới những quả đạn pháo giao tranh của trận địa pháo. Cũng chính vì sự liều lĩnh của mình đã gây nên một hậu quả tai hại. Sau khi tôi vừa bàn giao tình hình chiến trường, phi cơ phiên kế tiếp vì sự nói khích của phe bạn dưới đất: “Biên Hòa bay yếu quá. Phải chịu chơi như Phi công Cần Thơ thượng phiên coi nào!” nên tự ái, đã từ cao độ bình thường ba bốn ngàn bộ giảm ga lao xuống thấp. Không may, chỉ vừa làm hai vòng low pass, phi cơ bị bắn đứt đôi, đâm đầu vào một hố nước sâu, phi hành đoàn hai người đều tử nạn. Chết sống thật khôn lường, mới còn đó đã mất đó. Kẻ sống, người chết, dù cùng một cảnh ngộ, trái đạn hình như có mắt, biết tránh những người cao số và tìm đến nhũng người vắn số.

Tôi lại nhớ ngày biệt phái Phú Quốc. Vị quận trưởng mới đổi về rất quí mến Không Quân, khi có giờ rỗi thường cùng chúng tôi đi bắn cá và ăn nhậu trên bờ biển. Ông dành một phòng riêng cho Phi Hành đoàn ở Quận đường và mỗi bữa cơm đều mời đủ mặt chúng tôi. Chúng tôi bay biệt phái nửa tháng nên lúc ngủ tại Dương Đông, lúc ngủ tại An Thới, phi trường ở phía Nam Phú Quốc.

Một hôm đang tiệc nhậu, sực nhớ cái hẹn ở An Thới, vì chữ tín, tôi đành rời cuộc vui, ra phi cơ cất cánh mặc dù trời đã tối. Bay đến An Thới, phần Phi trường không có đèn, phần đêm không trăng sao, chúng tôi không tìm thấy phi đạo. Máy vô tuyến FM hỏng. Tôi bay lượn trên Tiểu khu nhiều vòng, nhờ Sĩ quan trực đem xe jeep ra chiếu sáng phi đạo nhưng Sĩ quan trực vắng mặt. Sau khi bay thấp nhiều vòng, lấy bờ biển loáng thoáng lờ mờ làm đường chuẩn để xác định vị trí phi trường, tôi liền đáp theo linh tính. Bánh phi cơ suýt móc vào dãy hàng rào thép giăng ngang đầu phi đạo trên đường cận tiến final approach. Thật là một cú đáp hú hồn nhất trong đời bay bổng, bởi vì vừa thoáng thấy phi đạo là phi cơ đã chạm bánh ngay. Nếu bay lệch, phi cơ đã đâm đầu vào các thùng phuy chứa dầu hoặc các chướng ngại vật khác nằm hỗn độn hai bên đường bay.

Đến nửa đêm nghe báo động là quận Dương Đông đang bị địch tấn công bằng B40. Bộ đội đặc công Việt Cộng tràn ngập vào Quận đường, bắn sập phòng Quận trưởng và phòng Phi Hành đoàn. Sáng sớm, chúng tôi bay trở lại Dương Đông chỉ kịp đắp tấm drap trắng phủ lên thân thể vị Quận trưởng bị bắn nát bởi hàng trăm viên đạn, một nửa khuôn mặt bị mảnh hỏa tiễn chém bay mất. Nhìn những người nằm chết, tôi thấy rùng mình. Ôi! Tối hôm qua nếu tôi không vì chữ tín mà bỏ cuộc vui, ở lại ăn chơi và ngủ tại Dương Đông, thì trong đống gạch đá vụn nát, trong ngôi phòng sụp đổ tan tành kia đã có xác thân tôi dập vùi trong đó!

Số sống không chỉ dàn xếp cho con người muốn sống còn sống được trong hoàn cảnh hiểm nghèo, mà ngay cả kẻ muốn chết vẫn còn dịp để tiếp tục sống. Những ngày cuối cùng khi phần lớn miền Trung Việt Nam đã thất thủ vào tay Cộng Sản Bắc Việt, tôi đã chuẩn bị cho mình một cái chết hữu ích. Người ta thường nghĩ tự tử là hèn nhát, thế mà kinh qua những giai đoạn sống, tôi lại cảm thây rằng: tự tử là hành động của những kẻ can đảm nhất. Những kẻ hèn nhát ít khi dám tự tử, họ có thể làm bất cứ hành động nào tồi tệ, bẩn thỉu, hèn mạt nhất để tiếp tục được sống, dù là đời sống của một con vật.

Tôi chỉ thấy được những kẻ hoặc quá can đảm mà tự tử, hoặc quá can đảm để luôn luôn sẵn sàng chấp nhận cái chết một cách hào hùng. Một Cường già thà uống thuốc độc tự tử, không chịu khai những bí mật của cơ sở và đồng đội liên hệ, những người lính Nhảy Dù rút chốt lựu đạn nổ banh xác khi Cộng sản tràn ngập khắp nơi vì không chịu đầu hàng kẻ địch. Các vị tướng Nam, tướng Hưng tự bắn vào tim, vào đầu khi Sàigòn thất thủ vì không thể tử thủ giữ miền Tây, sợ tổn thất sinh mạng của dân chứng.

Và trong lúc tinh thần vững mạnh nhất, tôi cũng đã chuẩn bị tự tử một lần mà bất thành. Số là sau khi Đà Nẵng, Cao Nguyên, và kế tiếp Nha Trang bị rơi vào tay bọn xâm lược, tôi biết rằng thế nước, vận nước đã tới hồi suy sụp không thể nào cứu vớt nổi bởi vì tinh thần hoang mang, lung lạc của quân nhân các cấp, của lòng dân mệt mỏi chán chường.

Tôi đã dự trù sẽ ném bom vào các bộ phận đầu não đã gây nên cảnh tan nát, sụp đổ của mỉền Nam Việt Nam. Bốn thế lực chính đã bằng cách nầy hoặc cách khác, góp tay vào tình trạng hỗn loạn, bi thảm của Việt Nam: Cộng Sản Bắc Việt, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Hoa Kỳ và Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu.

Tôi sẽ cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất, ném hai trái bom đầu tiên vào trại Davis nằm gần phi đạo, trong đó các thành phần đại diện của Cộng Sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trong Ủy Ban Liên Hợp bốn thành phần đang trú ngụ. Xong quẹo về phía Tòa Đại Sứ Mỹ ném hai trái. Hai trái cuối cùng sẽ ném vào Dinh Độc Lập. Sau khi bay một vòng vẫy chào Sàigòn lần cuối, xong tôi sẽ đâm máy bay vào Dinh Độc Lập để kết liễu đời mình. Trong phi vụ đó, tôi sẽ liên lạc trên tầng số Paris để báo cáo về mục đích của hành động của mình, và sẽ kêu gọi Chiến hữu mình phải có hành động quyết liệt hơn cho số phận của Đất nước, Dân tộc và bản thân mình.

Tôi đã bay trên không phận Sài Gòn nhiều lần để nghiên cứu các mục tiêu, và kế hoạch thi hành phi vụ tự vẫn đó, thế mà trước ngày thực hiện ý định mình, tôi đã bị bắn rơi tại Cam Ranh. Tôi không có dịp chết hữu ích như mình dự định, và ngay cả khi bị một trái hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 bắn trúng cắt đứt đôi chiếc tàu bay, tôi lại vẫn bình an không hề bị một vết thương nhỏ, mặc dù từ xưa đến nay, chưa từng có một Phi công nào còn sông sót khi bị trúng hỏa tiễn SA7! Số mệnh. Có ai không tin số mệnh sau những biến cố kinh hoàng như thế? 

Vượt Biên Giới Kampuchia 

Tôi đứng chờ không lâu thì chú bé dẫn đến một người bạn lớn hơn. Trông dáng dấp, tôi biết ngay chú bé bạn là một tay lỏi đời, một tay không vừa. Vâng. Cuộc sống tranh cạnh, bon chen đã dạy cho một số em bé cách sống và cách đốỉ xử đặc biệt, đã đục đẻo khắc chạm những đường nét đặc thù lên khuôn mặt và nhân dáng. Tôi không nhầm với những xét đoán đầu tiên. Tôi chỉ ngạc nhiên là hai em bé hoàn toàn khác nhau, đốỉ nghịch nhau, lại là bạn của nhau.

—     Chú cho tôi 200 đồng. Câu nói đầu tiên của chú bé mới đến.

—     Hai trăm đồng? Sao nhiều thế? Bạn cháu bảo là vài chục thôi mà?

—     Nó biết gì đâu. Đường đi lại bây giờ khó khăn lắm. Càng khó, tiền công càng phải đắt, phải cao, thế thôi.

—     Thôi 50 đồng. Tôi trả giá.

—     Phải 200 đồng vì đó là giá cả hiện tại, ai cũng vậy thôi.

Thấy đứng cò kè giữa đường có thể gây sự chú ý của kẻ qua đường và chắc chắn, có thể những tên Cớm chìm vùng biên giới dễ dàng nhận dạng, tôi dứt khoát:

-—Nếu cháu không chịu 50 đồng thì thôi vậy. Chú đi một mình cũng được.

Tôi bỏ đi nhưng vẫn không quên dò chừng phản ứng của chú bé. Ăn không được thì đập đổ. Đó là câu châm ngôn quen thuộc của giới giang hồ, sự đập đổ trong trường hợp nầy chắc chắn thập phần nguy hiểm. Bởi vì có thể, buồn buồn, chú bé lại đi kiếm một tên Công an để báo cáo trường hợp một kẻ khả nghi. Tôi không thể thỏa mãn đòi hỏi của chú, bởi vì trong túi tôi chỉ có hơn 100 đồng và lắm lúc cũng chỉ vì kẹt vài chục bạc, người ta lại có thể kẹt cho sự an toàn của bản thân. Tôi giả vờ đi tiểu để quay lại quan sát. Chú bé thứ nhất đã đạp xe trên đường về, chú bạn đang đứng lưỡng lự rồi bỗng nhiên đạp xe chạy theo tôi.

—    Anh ơi, có phải anh đi vượt biên không?

Chú bé bất thần hỏi. Tôi vội trả lời:

—    Nói bậy anh đi tính chuyện buôn bán mà!

—    Em hỏi thật đó, nếu anh đi vượt biên cho em đi theo với.

Nhìn nét mặt khẩn khoản, giọng nói cầu khẩn, tôi biết chắc em bé hỏi thật tình. Phải chăng Thượng Đế lại muốn giúp tôi một bạn đồng hành? Tôi đã từng gặp Đề, một người bạn tù, tại Sàigòn. Đề đề nghị đi chung và lo phí tổn lộ trình nhưng cuối cùng Đề đổi ý vì Đề vừa gặp được một cô nàng khá xinh đẹp và có tiền. Tâm trạng chung của nhũng người “Tù cải tạo” được thả về, ai cũng muôn yên phận. Có một chút tình, một chút tiền, họ cảm thấy tạm thỏa mãn so với những ngày tháng lao nhọc tù tội, họ sợ tù đến nỗi, có người có thừa khả năng để đi mà không dám đi. Đi vượt biên càng ngày càng trở nên khó khăn, nguy hiểm, đi mười chuyến chỉ lọt một, hai, còn nếu bị bắt thì đành sạt nghiệp và ở tù. Nếu may mắn được cứu vớt: Hình ảnh bi thảm của sự vô vọng, nhục nhằn tại các trại tị nạn Đông Dương.

Có một bạn đồng hành có tiền, biết tiếng Khmer, là một yếu tố thuận lợi, dễ thành công. Mặc dù lúc Đề rút lời, tôi đã quyết định sẽ ra đi một mình, không tiền, với một số lương thực khô và hành trang đơn giản. Tôi muốn dùng mình làm thí điểm, tôi muốn mình là kẻ tiên phong, vạch một hướng đi, một giải pháp mới, để những người bạn cùng cảnh ngộ khó khăn, có đủ niềm tin để theo vết chân tôi. Nếu thất bại thì một mình tôi chịu, nếu thành công tôi sẽ liên lạc để hướng dẫn bạn bè với những kinh nghiệm thiết thực, bằng hành động dấn thân. Nhưng nếu đây là ý muốn của Thượng Đế? Làm sao tôi tiên liệu được, trong thời điểm nầy, tại vị trí nầy, tôi gặp được em bé nầy, và chắc chắn, em là người duy nhất có ý định táo bạo và liều lĩnh bất ngờ như vậy.

—    Em có tiền không? Em biết tiếng Khmer không? Tôi hỏi.

—    Có. Biết. Em nhanh nhẩu trả lời và hỏi vặn tôi. Thế anh có rành đường không?

—    Khỏi lo. Anh có bản đồ, có địa bàn và hơn nữa, anh từng ở Miên và đi buôn bán bên Miên.

Dù sao tôi, cuối cùng, cũng phải dấu kín tông tích của mình.

—    Vậy anh đợi em tí xíu, em gởi xe đạp về nhà.

Vâng. Lại thêm một yếu tố tiền định khác. Nếu lúc đó tôi đã có sẵn một kinh nghiệm qua sự quan sát và hiểu biết như giờ nầy, biết rằng đi xe đạp là phương tiện an toàn nhất, dễ thành công nhất, thì chắc chắn chúng tôi đã dùng xe đạp để tiến hành ý định của mình, và số phận chúng tôi, hoặc riêng tôi đã chuyển sang hướng khác. Trong giờ phút đó, tôi chỉ biết gật đầu và chờ đợi.

Sự sống đã dạy cho tôi nhiều bài học cay đắng. Lần đầu tiên tôi không tin người, tôi đã bỏ lỡ một cơ hội bằng vàng và đánh đổi bằng sáu năm tù tội. Tôi sẽ tin người và yêu người, mặc dù đời nhiều dối trá và gian xảo. Phải tin người, yêu người, và người sẽ tin ta, yêu ta. Niềm tin và tình yểu có thể cải hóa những con người xấu nhưng chắc chắn không tin và yêu một cách mù quáng, bất cẩn. Tôi vẫn thận trọng, mặc dù thật tình.

Khi em bé khuất bóng ở một khúc quẹo, tôi vội kiếm một chỗ ẩn mình, ngồi trong một bụi rậm kín để có thể nhìn thấy người, quan sát người, mà người không nhìn thấy, nghi ngờ mình. Giả dụ em bé trở lại với một tên Cớm biên phòng, hay một Du kích tuần tiểu, chắc chắn họ sẽ thất vọng trong cuộc săn đuổi, tìm kiếm tôi.

Em bé trở lại, đi hối hả như chạy, và rõ ràng sự mất dạng của tôi làm em bối rối. Em sục sạo, đảo mắt tìm xuôi ngược, đi qua mặt tôi, ruồng đuổi một bóng ma vô hình đằng trước. Đến khi em tuyệt vọng, quay trở về, tôi mới chậm rãi đi ra đường đón em, sau khi tin chắc rằng, sau em, không có một ai, một toán người nào đang rình rập, hỗ trợ cho em.

—     Trời đất ơi, anh làm em muốn khóc. Em vừa bán rẻ chiếc xe cho thằng bạn quen, giá 200 đồng, vội vã chạy theo anh và tưởng anh đã bỏ rơi em.

Tôi mỉm cười:

—     Nào! Đồn phòng thủ biên giới đâu? Em định đi hướng nào đây?

—     Đó. Đó.

Em chỉ về phía lá cờ đỏ sao vàng đang bay phần phật trên đỉnh Đồn Kiểm soát Biên phòng.

—     Mình đi vòng tay phải. Băng qua đập đất cao phía trước.

Một vài ngôi nhà nằm lẻ loi, lác đác trên những cánh đồng vừa cấy lúa, những thân mạ xanh đang bén rễ, vươn những cánh tay nhỏ bé hứng giọt nắng ban mai trong giai đoạn chuyển biến mới của đời mình. Em bé đi chân không, quần xắn cao kiểu người nông dân chân chính. Tôi rảo bước theo em như hai người dân quê đi thăm đồng buổi sáng. Đâu đó, những toán người đang khom mình nhổ cỏ, một vài chú bé chạy rong chơi. Chúng tôi tránh xa những nơi có người và nhà, bỗng có ba cô gái trẻ mặc đồ bà ba đen, từ hướng bên trái đang đi về cùng một điểm với chúng tôi.

—    Con buôn đấy anh ạ. Mình đi theo họ đi.

Tôi ra dấu đi chậm lại, nhường họ đi truớc. Ba cô gái nhìn chúng tôi, có vẻ e ngại điều gì. Tôi chợt nghĩ ra. Nếu đi một hàng dọc năm người, chúng tôi sẽ tạo thành một hàng người dài, dễ gây sự chú ý của những tên gác ở trạm biên phòng cách đó không hơn một cây số. Chúng tôi chậm bước dần để tách làm hai toán riêng rẽ. Trên con đê dài, cao, nằm vắt ngang kia, có ai nằm phục kích, rình rập? Thôi, hãy để cho ba cô gái làm mồi, nếu thật sự có bẫy sập thì chúng tôi có đủ thời gian và khoảng cách để thoát thân. Sự bình yên của đoạn đường làm mất cảm giác hồi hộp và căng thẳng.

Nếu không có con đê đất kia, làm sao tôi phân biệt và nhận thức được rằng, tôi đã đứng trên phần đất thuộc lãnh thổ một quốc gia khác, làm sao tôi trút bỏ được một nửa gánh nặng nguy nan mà trọng tội của một tên tù vượt ngục đang là một bản án vô hình đeo đuổi từng bước chân tôi. Những cánh đồng cỏ xanh, những đàn trâu bò nhẩn nha ăn cỏ, những trẻ mục đồng đang chạy nhảy nô đùa. Cái không khí của cảnh vật, của con người, có phần nhẹ nhàng, thoải mái và khởi sắc bên phần lãnh thổ bạn. Tôi dặn em bé dừng chân chốc lát, vục đầu xuống con lạch nước ngòng ngoèo chảy giữa những đám lau lách để giải khát. Em bé lưỡng lự với đề nghị:

—    Tới đằng kia vào chợ uống nước mía ngon hơn.

—    Không! Mình phải tập uống những loại nước nầy để tiết kiệm tiền. Tôi nhấn mạnh.

Tôi moi một lỗ đất nhỏ, nhét những giấy tờ giả vào và lấp đất lại. Từ thời điểm nầy, nơi chôn nầy, tôi đã xử tử hình và mai táng tên Hoàng Nhật Tuấn, một công nhân dỡm của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tôi có cảm tưở ng nhẹ nhõm khi liên tưởng về những ngày nhục nhằn trốn chui trốn nhủi tại Sàigòn, có những tối vội vàng luồn lách qua các đường hẽm để tránh cuộc bố ráp, lục soát nhà, có những đêm nằm ngủ co ro trong những ngôi vườn hoang vắng, hay lăn lóc trên hè phố, lẫn lộn giữa đám người dân bần hàn bỏ trốn vùng kinh tế mới trở về thành phố. Những ngày chỉ ăn cháo qua bữa hoặc nhịn đói, hoặc phải đi bộ mười mấy cây số để kiếm một bữa ăn. Ngay cả những đứa bé lém lỉnh như thằng Cu Tí, 5 tuổi, lắm lúc cũng làm tôi nôn ruột bởi vì trò “cớm xét nhà” hú tim của nó.

Có lần đang ngồi học ở trước ban công nhà, nghe tiếng gõ cửa, tôi lủi vội vào góc bếp để ẩn nấp. Thằng bé ra mở cửa, rồi lại trở vào ra dấu:

— Có hai tên cớm, có đeo súng, đến xét nhà.

Tôi ra dấu cu Tí đừng làm gì để họ nghi có tôi ở trong nầy, và đồng thời chui sâu, sát vào góc kẹt. Một chốc chú bé lại trở vào, dùng tay, mắt để diễn tả những gì đang xảy ra bên ngoài. Tôi lại quơ tay ra hiệu cho chú bé đừng vào, đừng nói chuyện với tôi e nguy hiểm. Tôi lo lắng, hồi hộp, căng thẳng, mười lăm phút dài đăng đẳng còn cu Tí cứ thập thò ra vào hoài. Cuối cùng, khi tất cả trở lại bình thường, tôi chui ra chỗ trốn để thăm hỏi cớ sự. Thì ra, chú bé hàng xóm bạn của cu Tí qua xin hai trái ớt, thế mà cu Tí cố tình đùa giỡn thành hai tên công an với hai khẩu súng để làm tôi thót ruột, lo lắng, chưa kể mặt mày, áo quần dính tèm lem bụi than và mồ hóng. Tôi kể lại chuyện cho má chú bé, chú bé bị đập một trận nên thân, nhưng thỉnh thoảng vẫn không bỏ được trò đùa giỡn hú tim tương tự.

Tôi bắt đầu đóng vai mới: Một người Khmer giả dạng. Chúng tôi hạn chế nói chuyện, sự im lặng của ngôn ngữ tạo cho tôi thành dáng dấp của một người Khmer câm điếc. Một số xe đạp thồ và con buôn đi ngược chiều đến, tôi thấy được tình thế căng thẳng trước mặt qua câu chuyện của họ. Một toán lính Khmer đang chận bắt con buôn trên khúc đường quẹo thường được sử dụng để chuyển hàng lậu. Chúng tôi chuyển hướng, băng đồng để tránh chỗ nguy hiểm, ra đến đường lộ chính, leo lên hai chiếc xe đạp thồ sau khi ngã giá xong. Tình trạng chiếc xe đạp và tình trạng trọng lượng bất cân xứng đã tăng dần khoảng cách giữa hai xe. Tôi đập tay vào bắp vế người thanh niên Khmer, cố diễn tả bằng tay và bằng cái giọng ú ớ của kẻ câm bởi vì lưỡi và tai đã trở thành bất lực và vô dụng trước một loại ngôn ngữ lạ.

Hand language là một quốc tế ngữ. Nỗi lo ngại lạc nhau của hai người đi chung được trấn an bằng sự cố gắng nỗ lực của đôi chân đã quen thuộc với những động tác thường nhật. Tại chợ trời biên giới hai thứ tiền tệ Việt—Miên đều thông dụng, hơn thế nữa, hối suất tương đối thấp. Tôi ngồi chờ chú bé trên băng ghế đối diện chợ, những nải chuối vàng lượm và một số hàng hóa để nằm chơ vơ trên ghế. Tôi ngồi ké né một bên, phân vân nghĩ đến chủ nhân của các đồ vật kia.

Người dân Miên có một ưu điểm về sự lương thiện. Ở Miên ít có tình trạng ăn cắp ăn trộm, và luật lệ rất khắr khe với những kẻ phạm tội nầy. Vì thế ít người dân Miên ngại ngần khi để đồ đạc của mình bừa bãi đây đó. Hai lính Heng Samrin kè kè súng AK đi tuần tra dọc theo khu vực chợ búa. Tôi sốt ruột vì em bé nhỡn nhơ ngồi bên kia quán nước và thật tệ, em lại uống nước mía một mình bất chấp lời khuyên nhủ của tôi. Không chờ đợi được, tôi tà tà đi về phía chợ, kiếm một ghế ngồi bên cạnh, tôi lừ mắt nhìn em bé ra dấu hỏi.

—     Chưa đổi được tiền. Chờ chốc nữa.

Em chỉ chú bé đứng bán nước:

—     Bạn em.

Tôi gợi ý nên mua hai khăn cà ma quấn đầu cho giống phong tục người Miên. Sau khi đổi tiền chúng tôi đón xe Honda thồ đi Xoài Riêng ngay thay vì ở lại chờ chuyên bus chiều như đề nghị của em bé. Tôi phải rời xa khu vực bất trắc nầy càng sớm càng tốt. Tôi quyết định trong mọi vấn đề, trừ vấn đề thông dịch. Nhiệm vụ duy nhất của em là nói tiếng Khmer trong các dịch vụ giao thiệp. Chúng tôi đi chung xe với những người buôn gạo, xe chạy hàng tiếng đồng hồ, dừng lại, chuyển gạo xuống và tiếp tục hành trình và sau cùng đến Xoài Riêng vào buổi chiều. Bến xe đò ngổn ngang khách đứng ngồi chờ xe ngày mai, cũng như nhiều lính Bộ đội Heng Samrin. Xoài Riêng là thị trấn phong phú giàu có, ngày trước tôi vẫn thường nghiêng cánh để chiêm ngưỡng mỗi lần bay qua. 

Xoài Riêng, Kỷ Niệm Vụ Báo Động Xe Tăng Địch. 

Cơn ác mộng về sự xuất hiện xe tăng địch rầm rộ khắp nơi: Miền Trung, Cao nguyên Trung Phần, các vùng biên giới… làm một số Phi công vừng IV tự đặt mình trong tinh thần cảnh giác cao độ. Một hôm trên đường bay trở về Cần Thơ, sau phi vụ hành quân Châu Đốc, tôi nghe tiếng báo cáo khẩn trưở ng của phi cơ bạn cùng Phi đoàn trên tầng sốHành Quân chiến cuộc:

—     Paddy. Paddy. Họa mi 07 gọi.

—     Họa Mi 07, Paddy nghe.

—     Họa Mi 07 phát hiện được xe tăng địch tại tọa độ… phía Tây nam Xoài Riêng.

—     Họa Mi 07. Paddy lập lại. Tọa độ… Mười lăm xe tăng địch. Đúng không?

—Đúng. Cho phi tuần A37 cất cánh ngay và một Họa Mi khác lên thay thế, tôi phải trở về vì hết xăng.

Nhiều tiếng nhốn nháo trên tầng số Paddy. Tiếng điện thoại réo vang, mọi bên lạc bỗng trở nên khẩn trương vì một tin tức quá hấp dẫn và sốt dẻo. Tôi bấm nút vô tuyến gọi:

—     Paddy. Paddy. Họa Mi 08.

—     Họa Mi 08. Paddy nghe.

—    Họa Mi 08 trên đường từ Châu Đốc trở về. Xăng nhớt và trái khói đầy đủ. Sẽ chuyển vùng thay thế Họa Mi 07.

—    OK. Cám ơn bạn. Bạn liên lạc với 07 và cho Paddy biết thêm tin tức khi đến mục tiêu.

—    Họa Mi 07. Họa Mi 08 gọi.

—    Họa Mi 07 nghe.

—    OK. Có xe tăng thật hả? Quan sát kỹ dùm xem. Lạng quạng mà hố   vừa bị bố lại mất mặt Họa Mi nghe bạn!

—    Bảo đảm mà. Lên ngay đi. Tôi sẽ chỉ target cho bạn và phải rời vùng ngay.

Chiếc L19 vốn đã bay chậm, giờ nầy lại càng rù rờ như rùa bò, mặc dù tôi đã nôn nóng tống thêm ga, cuối cùng tôi đến vùng và bàn giao mục tiêu. Khoảng 15 chiếc xe nằm ẩn hiện trên các con đường mòn nhỏ, nòng súng dài quá khổ quay về hướng Nam. Vừa chào tạm biệt Họa Mi 07, tôi đã nghe tiếng nhiều phi tuần A37 gọi tới tấp trên tầng số.

—    Họa Mi 08. Thần Báo 03.

—    Họa Mi 08. Thần Báo 04.

Tôi vừa giữ liên lạc tầng số vừa giảm ga phóng xuống quan sát trận địa. Tôi vẫn thường check lại những tin tức và báo cáo vì thỉnh thoảng vẫn xảy ra trường hợp ngộ nhận. Một vài Phi công bạn loại già cả, hoặc lạnh cẳng nên thường bay ở độ cao, Quan Sát viên không có ống nhòm, nên ở cao độ nào đó, đôi mắt trần tục của người Quan Sát viên và Phi công thỉnh thoảng vẫn trông gà hóa cuốc. Điều nghi ngờ đó chỉ có thể kiểm nhận bằng lối bay “trên ngọn cỏ dưới ngọn cây,” mà càng ngày những con người bạt mạng càng hiếm hoi dần. Tôi lủi xuống một vị trí phía Bắc và bất ngờ bay vù về Nam, cặp theo hàng cây cao dọc bên đường. Low pass với tốc độ nhanh tạo nên một tiếng gào rú lớn và cơn lốc turbulence làm những đống rơm rạ chất nghễu nghêu trên xe bay tung tóe. Tôi buột miệng chửi thề trên tầng số vô tuyến:

—     Đù mẹ. Chán thiệt.

—     Họa Mi 08. Thần Báo 03, 04, 05 đã có mặt trên vùng. Sẵn sàng đánh bom. Cho trái khói gấp.

—     Thần Báo. Họa Mi 08 gọi. Bạn liên lạc với Paddy, xin mục tiêu khác.

—     Họa Mi 08. Thần Báo… cho biết lý do gấp.

Tôi bực bội diễn tả về nhũng chiếc xe tăng đã báo cáo, thật ra là một đoàn xe trâu chở rơm trên đường về. Xe chở tối đa nên nông dân đã nẹp thêm nhiều khúc tre dài để giữ rơm rạ khỏi đổ, những nòng súng dài quá khổ chỉ là những bó tre. Đám người kéo xe thấy phi cơ L19 quần thảo trên vùng, sợ hãi ép xe vào lề đường để tránh bị hiểu nhầm. Chính vì để tránh hiểu nhầm, họ làm cho người bạn gà mờ của tôi càng hiểu nhầm thêm. Nếu tôi cứ tà tà ghi nhận theo báo cáo mà hành động, sốphận của mấy chục con người kéo xe và đám trâu bò kia sẽ ra sao?

Chúng tôi đi quanh quẩn nghiên cứu tình hình. Một khu chợ nằm trên nền đất cao với vẻ mặt khang trang. Thấy đôi mắt thèm khát của em bé khi nhìn những ổ bánh mì, khoanh thịt treo lủng lẳng trong các hàng quán, tôi nghiêm khắc lập lại ý định đã vạch sẵn:

— Chỉ ăn lương khô mang theo và uống nước ruộng dọc đường.

Không thể ở lại một nơi nhốn nháo đông người mà không lường được những bất trắc, tôi ra lệnh em bé:

—     Mướn ngay hai xe đạp thồ đi tiếp tục.

Chúng tôi chỉ cần ra khỏi thành phố và sẽ đón xe dọc đường để vượt qua khu vực kiểm soát với nhiều cổng trạm gác chận đường đã lơ là canh gác bởi vì vào giờ nầy xe cộ qua lại rất ít. Theo kinh nghiệm thì ít tên gác nào xét hỏi xe đạp thồ bởi vì cho rằng, chỉ có dân địa phương mới sử dụng phương tiện nầy. Chúng tôi xuống xe đứng đợi trước gian nhà bỏ trống, hơn nửa giờ trôi qua, không hề có bóng xe đò chạy cùng chiều. Tôi lại biết thêm một điều hữu ích là xe đi về hướng Pnom Penh chỉ có thể đón được vào buổi sáng, còn buổi chiều xe ngược đường về biên giới Việt Nam. Chúng tôi lại đón xe đạp đi tiếp, vừa chậm lại vừa giá đắt từ bảy đến mười lần hơn giá xe đò, nhưng một đoạn đường đi về phía trước có giá trị của máu và tự do. Chắc chắn không có người chạy xe đạp thồ nào lại có tham vọng, hoặc tưởng tượng chuyện đạp xe chở người hàng trăm cây số về Pnom Penh và không thể nào nói đúng địa danh của một buôn làng phía trước vì bản đồ quá cũ và tên địa phương đã thay đổi hoặc vị trí xê dịch.

— Chở tôi đến buôn làng đằng trước.

Thường thường mỗi buôn cách nhau từ 10 đến 15 cây số. Tôi khốn khổ vì con đường ngược gió. Ôi cơn gió mùa hắc ám khốc liệt như cái thắng áp lực, không chỉ cản tốc độ xe mà còn làm tay lái ngoằn ngoèo kéo dài khoảng đường xa. Tôi ê ẩm rã rời vì phải chuyển hết thành công lực lên gót chân trên cái bàn đạp chỉ còn lại một thỏi sắt mòn bóng lộn. Chúng tôi thay phiên nhau đạp và đạp đua để cố nuốt nhanh đoạn đường. Sự khốn khổ càng dục dã đôi chân khi số tiền đi đường nhỏ bé, sau mỗi cuốc xe, càng nhẹ dần.

Xe dừng xa một trạm gác, nhiều xe đò ngược chiều đang bị chận xét kỹ. Tôi thăm dò tình hình và đón xe đi tiếp nhưng trời đã quá chiều, không còn xe thồ nào chịu chạy xa. Tôi bắt đầu ái ngại về khả năng tiếng Khmer của em bé và khám phá được sự thật là em bé thông dịch viên đã dùng tới ba thứ ngôn ngữ để diễn đạt ý nghĩ của mình: Khmer—Việt—tay chân.

Một người lái xe chịu đi, một người khác lại để ý đến sự đáng khả nghi hơn là yêu cầu của chúng tôi. Anh chàng ỡm ờ không dứt khoát, sau khi xổ một tràng xi xô mà chuyên viên thông dịch của tôi hoàn toàn mù tịt, anh ta đạp xe về hướng trạm kiểm soát. Tôi chăm chứ theo dõi từng cử động của chàng ta, chỉ cần thầy bóng một Bộ đội mang AK leo lên xe đạp về hướng mình là tôi thoát chạy ngay.

Sự nghi ngại, cuối cùng, may mắn thay, vẫn chỉ là sự nghi ngại đơn thuần vì thực tế, sau khi đứng tiếp chuyện với tên gác trạm, y lên xe rẽ vào một đường làng bên cạnh. Mọi sinh hoạt vẫn bình thường. Trong bản chất của sự bất hợp pháp đã tiềm ẩn hình bóng của sự nghi ngờ, của sự thận trọng. Tôi vẫn chưa dứt được ý nghĩ, “Biết đâu tên gác cao cờ, thay vì đến bắt tại chỗ, y lại đứng chờ tôi tại trạm gác? ”

Bánh xe càng lăn dần đến gần chỗ nguy hiểm, tôi lại càng cố gắng bình thản để trấn áp sự hồi hộp. Như một sợi dây thun, cứ mỗi lần kéo căng lại dãn dần một chút, đến một lúc, sợi dây thun không còn tính chất đàn hồi vì đã dãn tối đa. Những cảm giác hồi hộp, căng thẳng tê liệt dần và trở thành sự bình tĩnh. Sự bình tĩnh đạt đến độ lạnh lùng rồi biến dạng thành sự phẫn nộ, hung dữ. Đó là lý do, mà trong một vài trường hợp, kẻ chận người, bắt người, lại sợ người bị bắt, bị chận. Chúng tôi đi qua an toàn.

Tôi nhớ đến lần đầu tiên bay solo hành quân phản lực cơ A37. Những tràng đạn lửa phòng không 12.7 ly bắn thẳng vào mặt khi tôi chúi mũi phi cơ vào target thả bom. Bản năng sinh tồn buộc tôi phản ứng né tránh, bấm bom trong vị thế phi cơ mất quân bình. Sức ly tâm đẩy bạt những quả bom cách mục tiêu 200 thước. Quan Sát viên L19 chưa dứt câu chửi thề “Thả bom như con…” bỗng la lớn:

— Trúng kho xăng, trúng kho xăng. Hoan hô!

Tôi được thưởng một huy chương phi dũng chỉ vì mất bình tĩnh và thiếu tự chủ trong giờ phút hiểm nghèo! Thật oái oăm! Từ đó, mỗi ngày, tôi tự dùng lửa đạn chiến trường để trui luyện bản thân mình và trở thành một loại Phi công được các chiến hữu cùng đơn vị yêu mến và cảm phục.

Tình bạn và sự yêu mến đã đưa đến những đánh giá thiên vị và cường điệu đối với những thành tích tầm thường của tôi.

Với Thiếu Tá Nguyễn Phấn Chân: Lý Tống đi bay giống như đi tự tử.

Với Thiếu Tá Huỳnh Thanh Minh: Lý Tống còn liều mạng hơn Nguyễn Du. (Một Phi công lừng danh và nhiều thành tích nhất vùng I.)

Với Đại Úy Nguyễn Bảy: Nếu bốn Vùng Chiến Thuật có bốn Lý Tống, Việt Cộng không ngóc đầu lên nổi.

Tôi nhớ đến phi vụ bắn rocket đoàn xe chuyển quân Việt Cộng tại đèo Phượng Hoàng. Đoàn xe dài, xe tiếp nối xe; rocket phóng vun vút từ phi cơ, rocket nối tiếp rocket; tôi say mê săn mồi, những con mồi cháy rực tan tành dưới sức tàn phá của từng quả anti-tankrocket. Bỗng toàn thân tàu rung chuyển, sức va chạm của hàng loạt đạn phòng không gây chấn động dữ dội. Tôi lết phi cơ đang liếm sát mặt đường ra khỏi vùng giao tranh, và báo cáo tình trạng khẩn cấp. Phi trường nhôn nháo với hàng dãy xe cứu hỏa, ambulance, quân cảnh và Phi Hành đoàn chuẩn bị cứu cấp. Bụng và cánh phi cơ bị lủng mười lỗ lớn, Inlet screen trái bị bẻ quằn lại, kính windshield mẻ lỗ chỗ do bởi… đá cục và mảnh rocket của tôi bắn ra văng lên trúng! Thì ra chính vì bay quá thấp mà tôi đã tự bắn mình chứ không trúng đạn phòng không như đã tưởng nghĩ.

— Bay như chú mầy có ngày Không Quân dẹp tiệm vì hết máy bay.

Đại Tá Không Đoàn trưởng buộc lòng phải khiển trách cái tinh thần chiến đấu tích cực quá đáng của tôi.

Tôi nhớ đến một phi vụ khác: Phí vụ Tử Thần. 

Phi Vụ Tử Thần 

Những năm trước 1965, khi nói đến những chiến công hiển hách của không lực Việt Nam Cộng Hòa, người ta thường nhắc đến những phi vụ oanh tạc miền Bắc. Nhưng từ khi các mặt trận giao tranh đã dần dần bị đẩy lùi về miền Nam, và đặc biệt sau khi Phi công Hoa Kỳ và các loại máy bay hiện đại như B52, F4, F105, A7… không còn trực tiếp tham chiến sau ngày Việt Nam hóa chiến tranh, và Không Quân VNCH đã trở thành nỗ lực chính duy nhất yểm trợ các đơn vị bạn dưới đất, một trong các trận oanh kích được đánh giá cao và thường được nhắc nhở là kỳ tích đánh sập cầu Dziên Bình của không đoàn 92 chiến thuật Phan Rang. 

Cầu Dziên Bình là một chiếc cầu chiến lược quan trọng, con đường tiếp tế từ vùng ngã ba biên giới vào mặt trận Kon Tum đã được Hoa Kỳ kiến trúc bằng bê tông cốt sắt thật vững chắc trong Phi Vụ Tử Thần. 

Những năm trước 1965, khi nói đến những chiến công hiển hách của Không Lực Miền Nam, người ta thường nhắc đến những phi vụ oanh tạc miền Bắc. Nhưng từ khi các mặt trận giao tranh đã dần dần bị đẩy lùi về miền Nam, và đặc biệt sau khi Phi công Hoa Kỳ và các loại máy bay hiện đại như B52, F4, F105, A7… không còn trực tiếp tham chiến sau ngày Việt Nam hóa Chiến tranh, và Không Quân VNCH đã trở thành nỗ lực chính duy nhất yểm trợ các đơn vị bạn dưới đất, một trong các trận oanh kích được đánh giá cao và thường được nhắc nhở là kỳ tích đánh sập cầu Dziên Bình của Không đoàn 92 Chiến thuật Phan Rang.

Cầu Dziên Bình là một chiếc cầu chiến lược quan trọng, con đường tiếp tế từ vùng ngã ba biên giới vào mặt trận Kon Tum đã được Hoa Kỳ kiến trúc bằng bê tông cốt sắt thật vững chắc trong những năm trước. Theo nhận xét của các sĩ quan tình báo vùng II, chiến thắng Dziên Bình đã làm trì trệ nặng nề công việc tiến công xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Nếu không có trận Dziên Bình, chắc chắn ngày Quốc Hận được dời về một thời điểm nào đó vào cuối năm 1974 thay vì 30-4-1975.

Phi Vụ Tử Thần bắt đầu từ một buổi họp khẩn cấp do Đại Tá Không Đoàn trưởng Lê Văn Thảo triệu tập tại Phi đoàn Ó Đen 548 và mở đầu bằng những lời giận dữ:

—    Các anh biết rằng, chúng ta đã áp dụng chiến thuật đánh BOBS (Beacon Only Bombing System) suốt hơn nửa năm vẫn chưa hạ được cầu Dziên Bình. Đó không phải là lỗi của ta, mà là lỗi kỹ thuật của Trung tâm Hướng dẫn BOBS. Điều không thể chấp nhận là sáng hôm nay, buổi sáng xuất quân đầu tiên với kế hoạch tấn công mới, Phi Hành đoàn cảm tử gồm hai người của Đệ nhất Phi đoàn Phản lực A37 lại quyết định rút lui một người sau một tháng tập luyện ròng rã loại bom mới snack eye. (Một loại bom nổ dùng thả ở độ thấp, sau khi được thả, một hệ thống dù sẽ trì hoãn tốc độ rơi của bom, giúp cho Phi công có đủ thì giờ đưa phi cơ ra khỏi vùng sát hại.) Bây giờ các anh, phi đoàn A37 trẻ tuổi nhất Không Lực, các anh có tình nguyện đảm nhận trách nhiệm nặng nề này không?

—   Phi công Không Quân VNCH không thiếu gì lúc phải bốc thăm vì số tình nguyện nhiều hơn số nhu cầu. Hình như chết đến nơi vẫn cười là một đặc tính cố hữu của những người lính mặc áo liền quần. Họ sống thật hồn nhiên, không tính toán, đi vào lửa đạn như đi dạ vũ, không khoác lác, không so bì, không kèn cựa.

—   Thế nhưng, đặc biệt với cầu Dziên Bình, người cảm tử quân cầm chắc cái chết. Phi đoàn 524 có lý do chính đáng để rút lui một trong hai chiếc phi cơ, bởi vì yếu tố bất ngờ chỉ dung tha phi cơ đầu tiên, chiếc thứ hai chỉ là một con mồi thiêu thân trong chiến thuật xung kích. Trận địa phòng không với hai Trung đoàn Pháo Cao xạ danh tiếng nhất miền Bắc kết hợp với Hỏa tiễn Tầm nhiệt SA7 cùng hàng ngàn súng lớn, nhỏ khác của ba Trung đoàn Bộ binh Cộng Sản bố trí theo chiến thuật đan lưới để giữ vững một đầu cầu chiến lược quan trọng bậc nhất của vùng ba biên giới Việt Miên Lào. Thiếu Uý Bá đã ví von một cách sống động và đầy ấn tượng về sự khủng khiếp của hệ thống phòng không Dziên Bình:

— “Về đêm Dziên Bình bắt đầu khai hỏa trông giống như thành phố San Francisco vừa lên đèn!”

—   Phi đoàn Ó Đen 548 do Trung Tá Trần Mạnh Khôi (Ó Đen 01) chỉ huy là một loại hậu sinh khả úy, đã gây nhiều sóng gió khắp chiến trường. Nhưng sự hi sinh thảm khốc của sáu Phi công Phi đoàn trong một thời gian ngắn đã làm nhiều bàn tay lưỡng lự, nhiều quyết định đắn đo thận trọng. Nào Hỷ bị phòng không 57 ly bắn tử thương trên vùng trời Mộc Hóa không lấy được xác. Nào Thức bị gãy cánh bay tại Ban Mê Thuật, chết không toàn thây. Nào Kỷ rơi một cách thầm lặng khi hai trái bom vừa rời khỏi cánh trên đỉnh núi Bà Đen. Nào Anh cắm mũi phi cơ xuống một hồ nước ở trên vùng phụ cận Đà Lạt, và hai người bạn Phi công khác, đâm sầm phi cơ vào núi chết tan xác, chỉ còn lại hai nón bay, sau một phi vụ trở về trong lúc thời tiết xấu cùng cực. Sự im lặng nghiêm trọng bỗng òa vỡ như tiếng xì lớn của một quả bóng quá căng vừa bị đâm thủng khi tôi đứng dậy, xung phong tình nguyện.

—   –    Lý Tống!

—   Tôi nói gọn, đảo mắt nhìn quanh tìm kiếm những đồng minh cảm tử trong Phi vụ Kamikaze:

—    Ê!  Sư phụ chơi chứ!

—    Thiếu Tá Nguyễn Tiến Xương (Ó Đen 04) lấp bấp, ấp úng:

—     OK. Sợ gì!

—    Tôi hất mặt về phía phải:

—     Ê! Minh chù, mầy còn chờ gì nữa!

—    Trung Uý Minh (Ó Đen 08) trọ trẹ giọng Huế: 

—     Đâu có ngán. Đồ đất sét!

—    Lúng túng chưa biết phải bắt cóc thêm tay độc thân lì lợm nào nữa thì Thiếu úy Hóa, một Phi công trẻ vừa du học Hoa Kỳ về, một tay điếc không sợ súng hăng hái đưa tay tình nguyện.

—    Phi Vụ Tử Thần bắt đầu vào buổi sáng mờ sương tại phi trường Pleiku Vùng II Chiến Thuật. Bốn chiếc phi cơ cảm tử kamikaze A37 cất cánh rời phi trường Pleiku. Đến không phận Kon Tum, phi cơ xuống cao độ dưới 500 feet, bay vòng, chờ giờ hẹn.

— Black Eagle combat formation.

—Tiếng Leader Xương vang lên ngắn gọn. Bốn phi cơ theo đội hình chiến đấu bay “trên ngọn cỏ, dưới ngọn cây” hướng về cầu Dziên Bình. Trời mù tối vì thời tiết xấu. Chúng tôi bay len lỏi giữa các sườn núi thấp mây mù phủ kín bầu trời, thỉnh thoảng giật thót mình kéo mạnh cần lái vì những ngọn cây cao chợt xuất hiện trước mũi phi cơ. Sự phối hợp tác chiến khá chặt chẽ, khi 40 phi cơ do Đại Tá Thảo chỉ huy bay 20.000 feet vừa rải thảm hàng loạt bom xuống khu vực cầu Dziên Bình để đánh phủ đầu trận địa phòng không địch, và khi cột khói cuồn cuộn bốc lên, Thiếu Tá Xương cũng vừa báo cáo: “Số 1 in hot.” Chiếc phi cơ từ dưới một khe suối bất ngờ phóng lên lấy cao độ rồi đâm bổ nhào xuống thả một loạt sáu trái bom. Bom cày nát con đường nhựa rộng và chấm dứt tại mép đầu cầu.

—     Hơi ngắn. Số 2 off left.

—    “Hóa nhí” quẹo trái, lủi dài theo bờ sông tẩu thoát sau khi ném một loạt bom rơi lỏm bỏm xuống sông, cặp sát mép trái cạnh cầu. Tiếng Không Đoàn trưởng gào thét trên tầng số khi số 2 vừa nghiêng cánh vào mục tiêu:

—     Phòng không rát quá. Tất cả ra khỏi vùng, hủy bỏ phi vụ!

—    Tiếng hối thúc, tiếng la hét ngập ngụa trong nỗi kinh hoàng sợ hãi, trong nỗi cuống quýt lo âu.

—     –  Ra hết. Nhanh lên không chết hết.

—    Tinh thần trách nhiệm đối với sự an nguy của Phi công trong Không Đoàn đã buộc Đại Tá Không Đoàn Trưởng thay đổi ý định trong giờ phút hiểm nghèo nhất. Tôi mím môi, giả điếc, phải chơi đến cùng dù phải gãy cánh tại đây. Tôi ôm mối hận Dziên Bình nửa tháng qua, tôi phải rửa hận, phải phục thù. Phục thù chính bản thân mình bởi vì, trong một phi vụ đánh BOBS, phi tuần 12 chiếc A37 do Đại úy Nguyễn Bảy (Ó Đen 05) lead, trong khi đang bay 20.000 feet và thả bom theo tín hiệu radio hướng dẫn, tôi đã tự ý lén bỏ formation, một mình len lỏi qua các tầng cao độ dày đặc đạn phòng không. Đạn 23 ly rải những cánh hoa đen tử thần trên không trung như những bông sen chen chúc trên mặt hồ sen. Những hoa khói 37 ly treo lơ lửng như những chùm lan rừng. Thiếu Tá Trần Thanh Minh (Ó Đen 03) từng theo Tướng Nguyễn Cao Kỳ bay chinh phạt miền Bắc đã phải thú nhận:

—     Suốt cuộc đời bay bổng, tôi chưa từng thấy trận địa nào phòng không kinh khủng như cầu Dziên Binh.

—    Tôi len lách giữa các ngón tay bạch tuột nhám nhít độc địa đang líu quíu vồ chụp cánh chim sắt, nghiêng cánh ở turning base, cao độ 4,000 feet, đụng phải một đám mây nằm cản ở điểm quẹo in hot. Bị overshoot, tôi trượt cánh phi cơ vào mục tiêu, cố trườn tâm điểm kính nhắm vào giữa cầu và bấm bom. Vì ảnh hưởng lực ly tâm do đạp ép rudder quá mạnh, tất cả loạt bom chém trượt thành cầu rơi bỏm xuống sông. Nếu tôi đừng vội, nếu tôi bình tĩnh làm một dry pass quành lại một vòng khác rồi bấm bom, nếu tôi… Làm sao để tự thắng được cái bản ngã yếu đuối, làm sao để tự chủ trong những giờ phút cô đơn đầy hiểm nghèo đã trở thành người bạn đồng hành của người lính “chết không chiến trường” như những Phi công. Tôi đau khổ trằn trọc nhiều đêm vì chữ nếu. Phải phục hận! Tôi bổ nhào phi cơ xuống mục tiêu, khói của loạt bom “Hóa nhí” che lấp chiếc cầu, tay tôi khựng lại khi ngón cái đụng vào nút đỏ bấm bom trên cần lái:

— Số 3 dry pass. Tiếng nói khô, sắc, lạnh lùng bất chợt phát qua cổ họng tôi. Tôi gặt mạnh stick về phía phải, tiếng gào của Đại Tá Thảo trên tầng số khàn đặc và thất đảm:

– Ra ngay, ra ngay, phi vụ hủy bỏ.

—Tôi không còn thấy lưới đạn phòng không vây bọc quanh mình. Phi cơ bị chòng chành mạnh bởi những khối lửa và sức nổ của họng súng phòng không, bởi những khối không khí hỗn loạn do sức đạn phóng đi. Lưới đạn lửa giăng kín hạn chế tầm nhìn xa.

—     Số 4 in hot.

—    Nhiều tiếng la lớn trên tầng số:

—     Sập rồi! Sập rồi!

Trung úy Minh (biệt danh Minh Chù, người được Hà Thúc Sinh nhắc đến trong “Đại Học Máu” không biết đã chết hay bị di chuyển đến một trại tù đặc biệt nào sau 1975) là số 4 chót, nhưng bất ngờ dứt điểm một cú đẹp đầu tiên. Tôi quành lại, bổ nhào xuống góp những trái bom khiêm nhường đánh bồi vào chiếc cầu vĩ đại đang sụp đổ. Vừa cất mũi phi cơ lên, tôi thót giật mình vì một quả hỏa tiễn Sam phóng lướt qua đầu. Không phải! Đại Tá Võ Văn Ân, Không Đoàn phó, một sư phụ chịu chơi, vừa chơi bạo một cú low pass trên cầu Dziên Bình để tìm cảm giác. Không đoàn 92 Chiến thuật Không quân Phan Rang được tưởng thưởng gần 100 huy chương có giá trị và một số tiền lớn để tổ chức liên hoan. Trong lúc cụng ly, Thiếu Tá Nguyễn Thượng Tứ cười góp ý:

—Thằng đánh sập cầu Dziên Bình trái bom đầu tiên thật tuyệt. Nhưng thằng tình nguyện, động viên anh em tình nguyện và dám làm một go around trên cầu Dziên Bình còn đáng phục gấp bội!

Sau chiến thắng Dziên Bình, Phi đoàn 548 thừa thắng xông lên nện một vố thật mạnh làm tan tác Tiểu đoàn chủ lực của Sư Đoàn Sao Vàng Cộng Sản, trong một phi vụ vào một đêm giông gió cuồng loạn. Phi vụ thành công do một lỗi lầm của tôi vì Thiếu Tá Chấn (Ó Đen 02) leader, sau khi cross check, thấy phi đội hầu như đang bay trên vùng Phi trường Phù Cát, cho rằng đài BOBS nhầm lẫn nên không bấm bom. Tôi vì quen tay, nghe tiếng “tè…” tín hiệu dài là ấn nút nên tất cả Phi công trong đội hình bám theo phía sau đều đồng loạt thả bom theo loạt bom đầu của phi cơ tôi. Tôi bị khiển trách trên đường về thì… tin đại thắng bay đến vào sáng hôm sau, bởi Cộng Quân đã đột nhập đến sát vòng đai phi trường, và chính những trái bom tưởng thả nhầm lại tiêu diệt toàn bộ địch quân. Số tử thi địch quá nhiều không chôn kịp trong một tuần lễ đã sình thối làm nồng nặc cả vùng Phi trường Phù Cát.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply