Ó đen

Lý Tống

Post by Sơn râu 19 Apr 2025

Phần 3

Trở Về Nha Trang, Thành Phố Biển 

Sau khi qua khỏi Đèo Cả một đoạn, tôi xuống xe đi vòng ra bãi biển theo lời chỉ dẫn. Những người chài lưới đang bận bịu với việc vá lưới và chuẩn bị ghe tàu. Người lơ xe chạy bộ ngược trở lại để đón tôi. Tôi khỏi trả tỉền xe, lại còn được biếu đôi dép mới và mời ăn trưa tại quán. Tôi về nhà người bà con nhưng họ đi vắng, đám cháu chắt ngày trước giờ lớn lên chẳng biết ông khách lạ là ai. Tôi vào nhà ngồi nghỉ, chờ đợi. Cảnh giác và báo cáo là bài học căn bản của các cháu nhi đồng của “Bác.” Các em còn có nhiệm vụ theo dõi và báo cáo tất cả hành động của cha mẹ mình cho chính quyền huống gỉ một người khách lạ. Nếu không phát giác kịp điều đó, có lẽ tôi đã bị công an khu vực tóm tại chỗ. Tôi đành rời nhà ra bãi biển. Một người con gái đạp xe ngược chiều vẫy tay chào và gọi tên:

— Lý Tống.

Tôi cười chào lại, tiếp tục đi. Được nhiều người biết có lúc thật bất lợi. Tôi chọn những đường vắng, tránh gặp người quen. Bờ biển Nha Trang, mười lăm năm trước, mỗi sáng chúng tôi vừa ngủ gật vừa chạy từ Quân trường, Căn Cứ Huấn Luyện Không Quân Nha Trang, ra Bưu điện. Trên đường về, bị lùa xuống khối nước biển lạnh cóng là một trong những sự tập luyện và là hình phạt thuộc Thời kỳ Huấn nhục của Sinh viên Sĩ quan Không Quân.

Bao cuộc tình sôi nổi trên bãi biển thơ mộng ngày xưa.

Bãi biển ban trưa nằm phơi mình dưới nắng ấm, những dấu tích tình yêu còn phảng phất đâu đây. Nầy gốc thông nơi Hồng run rẩy trong nụ hôn đầu đời. Nầy ghế đá Mộng dựa đầu vào vai tôi thiêm thiếp ngủ.

“Tay anh em hãy gối đầu

Trăm con chim mộng bay về đầu non.

Ngủ đi em mộng bình thường.

Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ.”

Tôi thầm thì hát.

Tôi ngồi xuông cát, cơn gió nhẹ vọng lại âm vang lồng lộng của biển khơi, từng tiếng sóng xô bờ dào dạt. Tôi run rẩy trong nỗi hạnh phúc tuyệt vời. Biển ơi! Đã bao lần đi biển, có bao giờ ta cảm nhận được cái sức thu hút kỳ lạ của ngươi? Cái mặt nước mênh mông vĩ đại kia dục dã những niềm khát khao tự do tuyệt đối. Thiên nhiên hùng vĩ giải thoát tâm hồn con người ra khỏi những chật chội tù túng của cuộc sống. Tưởng tượng trong giờ phút hạnh phúc nầy, tôi bước xuống biển bơi mãi, bơi mãi… cho đến khi kiệt sức, rồi đắm chìm trong cái lòng biển êm đềm sâu thẳm kia. Khoảnh khắc tự do ngắn ngủi phù du đó đáng để đánh đổi cả một đời dài tù ngục. Năm năm trời gian khổ như một lớp bụi mỏng. Vừa ngâm người xuống nước, những vết tích nhục nhằn đã trôi đi, tôi quên hẳn mình là tù vượt ngục. Chẳng còn sự nguy hiểm, rình rập nào làm bận tâm trí mình, tôi chợt nghĩ đến một trong những người bạn gái. Những ngày tháng rực rỡ năm xưa, những mảnh bikini sắc màu sặc sỡ, những thân hình con gái dậy thì mơn mởn. Nỗi khao khát của sáu năm thiếu vắng, mùi hương da thịt năm xưa còn ngất ngây đâu đây, cảm giác đê mê của hai thân thể…

Tôi đón xe xích lô đến nhà Thu An. Sự mừng rỡ xen lẫn nỗi sợ hãi làm Thu An bối rối. Tôi hẹn gặp Thu An ngoài bãi biển. Thu An đến cùng hai em trai. Trong xã hội có quá nhiều tên mật thám, sự cẩn trọng là điều kiện an toàn cơ bản. Tôi sẽ ra đi và Thu An sẽ ở lại, những rắc rối phiền nhiễu có thể xảy ra. Chúng tôi chỉ bồi hồi ngồi nhìn nhau rồi Thu An chia tay sau khi tặng tôi một số tiền đi đường và cho người em trai đi tiễn.

Tuấn, em trai Thu An, có chút tình giao hảo cũ, lên xe đạp chở tôi đi vòng quanh để xem lại thành phố đầy dấu tích kỷ niệm. Tôi nép sát đầu vào vai Tuấn để che khuôn mặt quá quen thuộc của mình. Rạp xi nê Tân Tân vẫn còn tấp nập những cặp nhân tình. Kìa bệnh viện Nguyễn Huệ, một tháng dài nằm trị bệnh vẫn còn rõ mồn một từng nhân dáng. Thời gian đó có một số sinh viên Sĩ Quan Hải Quân nằm chung phòng với tôi. Việt Cộng pháo kích ngay Trung tâm Huấn luyện và họ, kẻ bị lãnh mảnh đạn vào chân phải đi khập khểnh, kẻ phải bị băng bó vì phỏng thân mình, tôi chỉ bị bệnh nhẹ nên thỉnh thoảng leo hàng rào bệnh viện ra phố đi chơi. Có lần tôi dẫn một cô bạn gái vào phòng và đùa giỡn tại đó, để chọc đám sinh viên Hải Quân. Chúng tôi giả vờ lấy drap trùm người lại, nằm trên giường ôm hôn và âu yếm nhau. Cả đám Hải Quân mặc dù không đứng dậy nổi vẫn ráng ngóc đầu lên, làm bộ mỗi đứa cầm một tờ báo đọc, nhưng thực sự đã lây điếu thuốc đốt xoi một lỗ nhỏ để rình theo dõi cảnh tự tình đầy hấp dẫn và gay cấn diễn ra trên giường bệnh viện trước mắt. Khi cô bạn gái ra về, tôi bị đám bạn bu lại chửi bới:

—Thằng bạn khốn nạn. Mầy cứ tái diễn cảnh nầy hoài chắc tụi tao phải cưa chân luôn quá.

Sau khi đi một vòng, Tuấn chở tôi vào một quán nhậu bình dân khá đông khách, may mắn là không gặp ai quen, chúng tôi chọn một góc kín, kêu món nhậu và rượu. Lâu ngày được ăn ngon và uống rượu, tôi ăn uống thỏa thích bù những ngày gian khổ. Tuấn nhậu vào càng nhiều lại nói ra càng dữ, khổ nỗi là anh chàng lại chỉ nói toàn tiếng Anh, cái giong mũi có accent của môt “ông Mỹ” đã làm một số khách ngồi bàn gần để ý và tôi cũng nhức tim không ít. Không lẽ bạn đang vui mà tôi lại ngăn cản, và hơn nữa đã lỡ mang tiếng lì lợm, dữ, khó lòng yêu cầu Tuấn nói nhỏ lại hay nói tiếng Việt Nam. Tôi biết là cái lì nầy sử dụng không đúng lúc, không đúng chỗ, nhưng cũng đành phải lì, hơn nữa cái bốc hứng của rượu ngà ngà làm tôi đành măng phú tất cả. Kệ mẹ nó, tới đâu thì tới, cứ vui chơi thoải mái cho một buổi nhậu tao phùng. Đến khi người ngồi bàn kế cận đột nhiên nói xen vào một câu tiếng Anh để cảnh giác chúng tôi:

_ Có mấy tên công an mới vào quán, hai ông nên cẩn thận.

Lúc đó Tuấn mới sực nhớ lại hiện trạng của tôi, một tên tù đang trên đường vượt ngục bôn tẩu, mới chịu ngưng câu chuyện và rời đi chỗ khác. Chúng tôi đến một quán cà phê nhạc để thưởng thức tiếp buổi tối phù du sắp tàn. Tôi run rẩy thưởng thức từng điếu thuốc ngon, từng ngụm cà phê nồng nàn, từng lời nhạc vàng mộng mị. Đã dễ chừng gần sáu năm tôi không hề được nghe công khai những loại nhạc tình cảm nầy. Ở trong tù bọn cán ngố cấm triệt để “nhạc ngụy,” và chúng tôi chỉ hát lén hoặc nghe lén khi có người canh chừng để báo động.

Thì ra ở ngoài phố vẫn có những quán dám chơi nhạc vàng công khai. Thật “phép vua thua lệ làng.” Bọn Cán bộ mỗi Phường đều có quyền riêng của một ông vua trong vùng cai quản của mình. Bọn họ cũng thích nghe nhạc vàng và nhất là khi được đút lót, cũng làm ngơ để cho một số quán thỉnh thoảng xen kẽ chơi nhạc vàng để câu khách. Tôi mơ màng nhìn cô chủ quán ngồi nghiêng nghiêng ở quầy hàng, trông đẹp như một bức tranh.

Thật hạnh phúc! Phải ở cảnh ngộ như tôi mới thây trân trọng những giờ phút thần thánh quí báu đó. Có được bao người khách đang ngồi cùng tôi trong đêm nay cảm nhận được cùng một nỗi hạnh phúc tuyệt vời như vậy? Trong cảm giác ngây ngất của rượu, của nhạc, của nhan sắc, tôi giã từ thành phố lên đường. Tôi phải tiếp tục ra đi vì Tuấn cho biết phi trường Nha Trang đã lâu không có hoạt động của phi cơ.

Trong khi chờ đợi tàu hỏa, Tuấn đưa tôi đến nghỉ tạm tại một lò bánh mì, chào hỏi nói chuyện với vài người thợ đang làm đêm và bảo tôi nằm chờ Tuấn. Tôi nằm đu đưa chiẽc võng đã quá cũ, tưởng chừng như không chịu đựng nổi sức nặng khiêm nhượng của thân thể gầy gò của mình. Tuấn đi quá lâu ngoài sự dự trù, tôi đang nằm mơ màng thì có tiếng hỏi:

—     Ai nằm đây?

Tôi bật người ngồi dậy.

—     Chào anh. Tôi là bạn Tuấn. Tôi nằm đợi Tuấn.

—     Tuấn nào?

Tôi cố diễn tả Tuấn là ai, nhưng người chủ tiệm bánh mì vừa đi đâu trở về vẫn không hiểu. Tôi bảo:

—     Mấy nhân công của anh cũng biết Tuấn mà. Tuấn bảo Tuấn là bạn của anh.

Người chủ lại hỏi hai người làm công về Tuấn, họ cũng có vẻ bỡ ngỡ hình như không quen biết Tuấn lắm, bảo:

—     Có một ông dẫn ông nầy lại mua bánh mì ăn. Chúng tôi bận làm bên trong nên cũng không để ý lắm.

Tôi bối rối vô cùng, người chủ tiệm nhìn tôi nghi ngờ. Tôi bâng khuâng không biết nên bỏ đi hay vẫn ngồi đây chờ Tuấn. Có lẽ tôi phải đi, bởi vì ở tại đất nước nầy, chẳng có ai dám chứa người lạ trong nhà về đêm. Tôi cố trình bày và phân trần để tìm cách rút lui. Trong cơn hoang mang, lo lắng, bỗng xe Tuấn xuất hiện đầu ngõ. Tôi mừng rỡ vội vàng chào chủ nhà và đi ra đường, trách Tuấn:

—     Bạn làm tôi nhức tim quá! Tay chủ tiệm chẳng biết bạn là ai cả.

—     Có lẽ lâu ngày tôi không ghé lại nên nó quên đó. Thôi, bỏ qua chuyện đó đi, mình lên ga xe lửa là vừa.

Nhà ga xe lửa vẫn sinh hoạt rộn ràng về đêm, hành khách nằm ngồi ngổn ngang đây đó chờ giờ lên đường. Một vài tên công an mang súng đi đi lại lại làm phận sự an ninh khu vực. Tuấn ghé vào một quán ăn mua một gói thuốc. Tôi đứng sững người trước ánh sáng ngọn đèn néon hắt ra từ trước cửa tiệm: Thằng Tuyết “cận thị” đang ngồi ăn khuya trong đó. Hắn là tù cùng Trại tù A30 vừa được phóng thích cách đó vài tháng. Ở Trại  A30 hắn nổi tiếng là một tay ăng ten đắc lực. Chết mẹ rồi! Máu ăng ten là một loại máu độc, lúc nào cũng cồn cào rạo rực trong người những tên luôn tìm cách báo cáo hãm hại kẻ khác để tìm một ân sũng, một công trạng, và năm ngàn tù binh ở Trại  A30 ai lại không biết Lý Tống huống gì Tuyết. Tôi không biết nó có kịp thấy tôi không, có lẽ đôi mắt cận thị đã không cho phép nó nhìn xa ra ngoài để nhận diện được tôi, hoặc nó đã thấy và đang tìm cách báo cáo cho bọn công an đang quanh quẩn gần đây.

Tôi quay người bước vội đi lẩn vào đám đông, hối Tuấn mau mua vé xe lửa vì tình trạng quá bất an và vẫn để mắt trông chừng xung quanh coi xem động tĩnh. Tuấn đi lòng vòng trong nhà ga để tìm cô bán vé quen biết. Giờ nầy cửa phòng bán vé chưa mở, cô bán vé không biết đã đến chưa. Tình trạng khá bi thảm và khẩn trương, bất ngờ Tuấn thấy cô ta vừa dựng xe đạp ở hành lang bên trong, bước tới chào hỏi và nói chuyện.

Phải công nhận Tuấn có tài ngoại giao thật khá. Chẳng biết làm thế nào mà Tuấn gạ gẩm mua được một vé ở ngoài phòng bán vé, khi ở cái xứ Cộng Sản nầy việc mua một cái vé phải tốn nhiều giấy tờ chứng minh, chưa kể phải đứng sắp hàng hằng tiếng đồng hồ. Chúng tôi đi vòng ra phía ngoài, rồi lợi dụng bóng tối lẩn theo đường rầy để đi vào chỗ xe lửa đậu. Chỉ có cách đi vào bất hợp pháp đó thôi, bởi vì đi qua cửa chính lại phải trình giấy tờ kiểm soát. Tôi chào Tuấn lần cuối, rồi leo lên xe lửa, trèo lên giá sắt đựng hành lý trên đầu các dãy ghế ngồi, nằm xuông nghỉ. Tôi nằm một mình trong bóng đêm và bắt đầu thiêm thiếp ngủ trong khi ngoài kia có lẽ Ty Công An Phú Khánh đã nhận được tin báo của Trại Tù A30 về trường hợp một tên tù vượt ngục và đang bủa lưới vây bắt.

Trở Về Sài Gòn, Thủ Đô VNCH. 

Trời sáng dần và hành khách bắt đầu tấp nập lên xe lửa. Một vài thanh niên có vẻ bụi đời cũng bắt chước tôi leo lên nằm trên khoang hành lý vĩ sắt vì bên dưới chật chội thiếu chỗ ngồi, dù ngồi dưới sàn. Xe lửa chạy cùng với sự nhộn nhạo, ồn ào hỗn tạp của đám hành khách. Đằng góc xe lửa có một nhóm bộ đội miền Bắc đang ngồi hút thuốc lào, có lẽ họ được chuyển vào công tác ở Sàigòn. Tôi nằm ngủ gà ngủ gật, đến gần trưa thức dậy và kêu cơm nước để ăn uống khi xe lửa đậu tại một nhà ga dọc đường. Đám con buôn bán hàng rong đang cố chen lấn lên xe lửa, gào rống, la hét để bán thức ăn.

Đã đến giờ toán kiểm soát vé trên xe lửa làm việc. Có mấy người dân không có vé đang bị mua vé phạt với giá cao; có một ông già ăn mặc dơ dáy rách rưới đang bị đẩy xuống xe lửa vì không có vé và không có tiền mua vé. Ông ta xuống xe lửa rồi lại bám leo lên khi xe lửa bắt đầu chuyển bánh. Đám soát vé lại ruồng theo bắt ông già ù lì. Nơi kia lại có những người cò kè thêm bớt, xin xỏ khi phải bị mua vé phạt. Tôi leo xuống sàn xe lửa, đứng lẫn lộn trong đám khách chờ soát vé. Tôi cũng cười, cũng chỉ chỏ, cũng bình phẩm trong bối cảnh hỗn loạn với nhiều cảnh éo le tức cười của sinh hoạt xe lửa phức tạp. Không hiểu sao hai tên soát vé lại bỏ sót tôi, vé cầm trong tay sẵn sàng đưa ra khi bị hỏi, nhưng họ cứ lấn tới, cứ nạt nộ, rồi lại đi qua. Mua được một cái vé thật nhiều gian truân thế mà cái vé giờ nầy lại không cần sử dụng tới, tôi mỉm cười tự nhủ:

— Nếu trên đời nầy có những kỷ vật quí giá cần giữ làm kỷ niệm, thì cái vé xe lửa không bị bấm lỗ nầy thật xứng đáng được giữ kỹ trong ký ức cuộc đời thăng trầm giông bão của ta.

Xe lửa, xe đò, nói chung những phương tiện chuyển vận đường xa đã trở thành những công cụ để đám viên chức nhà nước Cộng Sản hối lộ, làm tiền một cách trắng trợn nhất. Với xe đò, những con buôn nhỏ thường bắt bồ với tài xế để nhờ họ dấu diếm dùm vài chục cân thịt, hoặc thuốc tây, hoặc những sản phẩm địa phương ở những chỗ kín đáo dành riêng đặc biệt. Khi đến trạm kiểm soát, lơ xe lúc dẫn công an đi khám xe, thường ăn ý nhau để bỏ qua, đồng lõa để chia sẻ mối lợi. Vì thế mà giới buôn bán hàng lậu xe đò thường thường là phụ nữ, tương đối còn trẻ và có nhan sắc, bởi vì không những chỉ chi tiền, một số còn phải dan díu với lơ xe và tài xế, trở thành những nhân tình tạm bợ, để khi đến một tỉnh khác, trong khi bán hàng và chờ trở về, hẹn hò nhau tại những khách sạn bình dân gần các bến xe.

Tài xế, lơ xe trở thành giới đàn ông đào hoa nhất trong cái xã hội muôn mặt dưới chế độ Cộng Sản. Riêng với xe lửa, phương tiện chuyển vận hữu hiệu hơn, các con buôn có thể chở lậu hàng chục bao gạo, hàng trăm, ngàn bó củi đốt, và một khi đã thỏa thuận giá tiền và địa điểm, xe lửa chạy chậm lại, người buôn lậu, ném hàng xuống dọc theo đường rầy và các xe ba-gác đã đứng chực sẵn, chất lên và chuyển đi.

Chuyến xe lửa tôi đi về Sàigòn đã xuống hàng an toàn tại bốn địa điểm, nhưng chuyến hàng thứ năm bị đổ bể vì công an được mật báo, rình sẵn và bắt trọn, tịch thu tất cả tang vật.

Cuối cùng xe lửa về đến Sàigòn gần 10 giờ tối. Tôi không chờ xe đến ga mới xuống, bởi vì ra cổng lại còn bị chận để soát vé một lần nữa nên đứng bám người ở bậc thang lên xuống và chờ khi xe lửa đi qua một khúc quành tối vắng, phóng người nhảy xuống đúng theo kỹ thuật: quay mặt về trước rồi nhảy lùi ngược hướng chạy của xe lửa. Tôi vừa học được cách nhảy đó của vài thanh niên đi cùng chuyến. Nhảy như vậy sẽ làm giảm sức kéo nhào về trước khi chân vừa chạm đất.

Đó là bài học đầu tiên khi tôi bắt đầu dấn thân vào cuộc sống lén lút bất hợp pháp cùng đám người sống trong bóng tối như tôi, tại thành phố đầy nhũng màu sắc bí ẩn của Sàigòn sau ngày bị mất vào tay bọn Cộng Sản xâm lược.

Tôi lại nhớ đến các cô cháu hờ bạn của cô cháu trong thời gian trốn lánh ở Sài Gòn. Làm sao tôi cưỡng được bốn, năm cô cháu văn nghệ thích nghịch ngợm bông đùa. Sáu năm tù chỉ làm già dặn những kinh nghiệm của một đời người, nhưng tình cảm, tâm hồn người tù vẫn dừng lại ở mốc thời gian cũ, trẻ trung. Tôi trở thành nạn nhân, một nạn nhân hạnh phúc, vì được lọt vào trong một tổ quỉ toàn đàn bà con gái và mỗi cô cháu văn nghệ đều tự cho mình là một đối tượng duy nhất, độc tôn. Cho đến cái ngày họ khám phá được sự thật về trái tim đa tình “Tỉ Can 9 lỗ” của ông chú hàng xóm thì một phiên họp khoáng đại được triệu tập khẩn cấp nhằm ngày tôi đi vắng. Họ trách Lan.

—     Đồ gian ác. Mầy làm mai làm mối, mầy âm mưu dụ dỗ tụi tao cho chú mầy.

Sau đó, Chi đe dọa:

—     Mỗi lần đi qua đây, tao sẽ ném đá chú mầy cho bõ ghét.

Phượng giận dữ:

—     Tao sẽ đi báo công an bắt chú mầy về tội vượt ngục.

Vân góp vào:

—     Tao sẽ “thiến” chú mầy.

Đến khi Lan tiết lộ: “Chú đi vượt biên đã mấy ngày, không biết có đi lọt hay bị bắt.” Thế là cả đám sụt sùi, bù lu bù loa khóc:

—     Trời ơi! Tội nghiệp chú! Cầu Trời phù hội cho ông chú đáng thương!

Ngày vượt ngục trốn về Sài Gòn, có lần đi ngang khu vục nhà người anh ở, nghĩ cái tình cũ, tôi tạt ghé vào thăm. Anh tưởng tôi được thả về, đón tiếp một cách mừng rỡ nhưng đến khi nghe tôi tiết lộ chuyện vượt ngục, anh hoảng hồn không dám chứa chấp vì sợ bị vạ lây. Bởi cái ám ảnh, cái ảnh hưởng của chế độ yêu quái đó, nên dù là người rất tình cảm, anh cũng phải tự hạn chế và thủ thân trong một hoàn cảnh nguy hiểm.

Không những chỉ những người có óc Cộng Sản, mà ngay cả những người quốc gia bị sống dưới chế độ Cộng Sản cũng phải dứt bỏ những liên hệ ruột thịt vì an toàn bản thân. Một người anh khác cùng mẹ khác cha cũng đã trần tình: “Ở khu vực nầy anh là người có cấp bậc cao nhất được phóng thích về nhờ bị bệnh, nhưng bọn cớm vẫn thường rình rập theo dõi. Nếu nó tóm được em ở đây, anh cũng tàn đời luôn!” Vì thế mà trong đêm đột nhập phi trường Tân Sơn Nhất trong kế hoạch đánh cướp máy bay, trong lúc nằm yên ổn nghỉ ngơi tại chỗ ẩn trốn, tôi đã làm hai câu thơ để tự thương cảm mình: 

Giữa lòng đất địch, ta còn có những đêm yên ngủ,

Trong lòng người thân, ta chẳng có một chốn nương thân.

Một Long “sức” cám cảnh gào lớn: “Trời ơi! Trung Tá Long, Trưởng phòng Hành Quân Chiến Cuộc mà lại ăn cháo heo!” trong khi tay vẫn không ngừng bốc những củ khoai sùng, nát, tôi vừa liều chun vào chuồng heo múc trộm.

Một cô gái trẻ đẹp, học thức, gia đình một thời quyền quí, bỗng cau có xẳng giọng “Mẹ sao kỳ vậy! Con làm việc đủ tiêu chuẩn thì mẹ cho con ăn đủ tiêu chuẩn chứ!” Miệng vừa nói tay vừa giật lại đĩa bánh bèo, khi người mẹ hiếu khách thấy tôi vào định chia sớt một ít để mời. Tôi lặng người, kinh hoàng, đau đớn. Từng chứng kiến cảnh tù nhân đói khát tranh giành nhau từng miếng cơm cháy, những cặp mắt so đo, thèm thuồng từng chút thịt chút cá trong những bữa ăn ngày lễ, tôi không ngờ một cô gái dễ thương, thánh thiện như Trinh lại có phản ứng kinh khủng như vậy.

Tôi nhớ đến người anh khác ở Sàigòn. Ngày tôi trốn về gặp anh lần đầu, anh ôm tôi khóc lớn đầy xúc động. Tôi ít đi lại thăm anh bởi ngại rằng hoàn cảnh vượt ngục của mình sẽ đem lại hậu quả nguy hiểm cho gia đình anh, hơn nữa nhà anh con cái đông, cũng đang gặp hoàn cảnh thiếu thốn. Một lần đang ngồi trên lan can lầu — chỗ trú ẩn hàng ngày của tôi, bởi vì ngồi ở đó thì dù bà chủ nhà hay xét nét kiếm chuyện có xuống thăm hoặc nói chuyện với cô cháu cũng không thấy được tôi vì phòng và hành lang có tường ngăn và cửa khóa, hơn nữa với bức mành kín dày phủ phía ngoài, tôi có thể ngồi đó học, thỉnh thoảng nhìn dưới đường xem thiên hạ qua lại để giải buồn mà không ai thấy được mình — tôi chợt thấy dáng dấp vội vã luống cuống của người anh bên kia đường. Anh vừa tiến về hướng tôi, đôi mắt thỉnh thoảng liếc nhìn lên lan can chỗ tôi ngồi trong dáng lén lút, kín đáo. Tôi chợt cảm thấy vui mừng nghĩ rằng anh đang đến thăm tôi, nhưng vì cẩn thận sợ bị theo dõi, nên vừa đi vừa cảnh giác. Anh băng qua đường, mắt đảo láo liên, bước đi vội vã, hình như anh vẫn biết tôi thường ngồi đó.

Tôi chuẩn bị mở cửa sẵn để anh khỏi gõ cửa, khỏi phải đứng chờ đợi lâu bên ngoài nguy hiểm, rồi đứng cạnh cửa đợi chờ. Khoảng khắc chờ đợi cứ kéo dài ra mãi, tôi ngạc nhiên vì từ thang lầu bước lên chỉ cần hai phút mà mười phút trôi qua vẫn không nghe tiếng bước chân người. Đợi chừng mười lăm phút, không thấy động tĩnh, tôi mở cửa đi xuống lầu xem xét, chẳng thấy anh đâu! Có lẽ nào tôi nhìn nhầm người khác? Không! Mắt tôi không đến nỗi tệ để không nhận ra người thân trong vòng mười mấy thước. Có lẽ nào?

Tôi chợt nghĩ đến một điều mà chỉ nghĩ đến tôi đã thấy đau xót toàn thân. Có lẽ nào? Không, tôi không thể tưởng tượng là tôi có thể nghĩ như vậy, và không thể nào có chuyện như vậy. Tôi muốn xác nhận rằng tôi vừa chợt có một ý nghĩ không đúng, tôi muốn phá bỏ cái ám ảnh kỳ dị kia. Tôi khóa cửa phòng đi xuống đường, đi vòng ra phía chợ, len lén đi về phía tiệm phở mà đã một vài lần anh dẫn tôi đến đó đãi ăn. Ôi cái xứ sở nầy, dưới chế độ nầy, đãi nhau một tô phở là phải thân tình lắm, phải quí nhau lắm. Cái sự thật đau lòng không tưởng tượng được lại đang nằm sờ sờ trước mặt tôi. Anh đang ngồi tít phía trong góc tiệm và cẩn thận hơn, lại xoay lưng ra ngoài đường. Thì ra khi đi qua đường, anh lén lút vì sợ tôi thấy, chứ không phải vì sợ bọn công an theo dõi. Anh sợ lại phải mời tôi ăn một tô phở nữa, và anh phải ngồi quay lưng ra ngoài để lỡ tôi có đi ngang qua đó sẽ không nhận được anh. Tôi lẳng lặng bỏ đi, lòng quặn đau vì nhũng thực trạng kinh khủng của cuộc đời trong xã hội mới.

Tôi chợt nhớ đến H.Y., một người bạn Phi công cùng Khóa 65A. H.Y. không những cùng Khóa, bay cùng Phi đoàn 122, mà lại cùng là bạn nhậu thân thiết của những ngày tháng cũ. Nhà H. Y. ngày trước giàu có, và dù Cộng Sản tịch thu một số xe cộ, tài sản vẫn còn tương đối khá hơn những người khác cùng cảnh ngộ. Ngày trốn tù về, tôi ghé thăm, vợ bạn tôi cho biết H.Y. vẫn còn đang bị ở tù ngoài Bắc. Vài tháng sau, tôi gặp một người bạn Không Quân khác cho biết H.Y. đã về rồi (và lại về trước cả ngày tôi đến thăm!). Không tin, tôi lại đến thăm H.Y. và lần nầy, may mắn hơn, tôi bất ngờ gặp được H.Y. đang đứng nói chuyện với một người khách trên hành lang. Tôi mừng rỡ gọi, và H.Y. xuống gặp tôi sau khi người khách lạ vừa về. H.Y. tay bắt mặt mừng, ngạc nhiên vì tưởng tôi đã chết trong trận đánh bom cuối cùng tại Cam Ranh. Chúng tôi kể hết từ chuyện tù đến chuyện ngày cũ và H.Y. hẹn tôi chúa nhật tuần sau trở lại cùng nhau đi nhậu một trận để tâm tình.

Chúa nhật tôi trở lại, bấm chuông và cô con gái lớn của H.Y. thò đầu ra cửa bảo tôi:

—     Bố đi chơi từ sáng đến giờ chưa về.

—     Cháu biết hồi nào bố về không? Bố có dặn gì không?

—     Dạ không. Bố đi có lúc đến tối khuya mới về, cháu không chắc.

Tôi nói nhắn lại:

—     Bố về nói có chú Lý Tống ghé thăm. Thôi chúa nhật đến chú ghé lại.

Chúa nhật sau tôi lại ghé thăm H.Y. Tôi nghĩ có lẽ tuần trước H.Y. bận chuyện bất ngờ và tôi cũng nôn nóng vì tình nghĩa của chúng tôi ngày trước. Tôi bước lên thang lầu, lòng hớn hở vui mừng khi nghe tiếng H.Y. đang đùa giỡn với các con trong phòng.  Ôi cái giọng thân thuộc nhừa nhựa, ồm ồm của H.Y., cái giọng đặc biệt đó mà ngày xưa mỗi lần đi tìm H.Y. chưa cần vào nhà, hoặc vào quán, tôi đã biết là có H.Y. bên trong hay không. Cái giọng đó gần sáu, bảy năm vẫn không thay đổi. Cái giọng đó cùng giọng của các đứa con H.Y. đang la hét, đùa nghịch bỗng tắt ngay, im hẳn khi nghe tiếng gõ cửa của tôi. Có giọng chú bé vọng ra:

—     Ai đó?

—     Lý Tống đây. Nói với bố có chú Lý Tống đến thăm.

—     Bố đi vắng. Không có ở nhà.

Giọng chú bé lạnh lùng vẳng ra sau một giây lưỡng lự như đang hội ý bên trong. Tôi bàng hoàng thảng thốt. H.Y.! H.Y.! Tôi không tin ở tai mình, tôi không tin điều đang xảy ra trước mắt mình. Tôi nghẹn ngào không nói được tiếng nào. Bên trong cũng im lặng ngột ngạt. Tôi cũng thấy ngột ngạt muốn tức thở. Một luồng khí độc trong người chợt bốc lên trí não làm tôi chóng mặt, xây xẩm, bước đi như một xác chết. Tôi không còn đủ sức để nhấc chân lên, dù tôi đang bước xuống lầu. Tôi tựa vào thang lầu, bám vào tay cầm để cho thân mình tuột xuốhg. Cái xác cứng đờ đó cuối cùng cũng đã ra khỏi được cầu thang, kéo lê qua cái sân rộng và thoát được ra cổng. Mắt tôi như kẻ bị thắt cổ, bị giết chết, căng toét vì kinh hoàng, ngạc nhiên. Có lẽ nước mắt không còn đủ để diễn tả nỗi đau đớn chấn động đó. Những giọt máu đã ứa ra từ mắt để tôi cảm thấy bầu trời đỏ bầm trong nỗi tuyệt vọng ghê gớm.

Nỗi đau đó nổ bùng lại ngày hôm sau, khi bất ngờ đang đi trên đường Võ Tánh, tôi bỗng chợt giật minh vì một tiếng động đằng trước. Ngoài những lúc cần phải cảnh giác công an cảnh sát chận đường để tránh, đôi lúc tôi đi mơ màng như người mộng du mà không hề để ý những diễn biến chung quanh. Thì ra H.Y. và vợ vừa dẫn xe qua đường định vào tiệm ăn sáng nhưng bất ngờ thấy tôi, sợ phải mời ăn, luýnh quýnh định quẹo xe gấp vào hẻm tránh, không may bàn đạp xe đụng vào gốc cây làm H.Y. bị vấp té theo xe. Tôi lẳng lặng làm như không thấy, nhìn lơ đãng bên kia đường và tiếp tực đi thẳng.

Vâng. Chỉ mới bước sang giai đoạn ngũ niên lần thứ hai sau ngày “giải phóng” chỉ mới áp đặt chế độ khủng bố tinh thần và thể chất trong vòng sáu năm, Cộng Sản đã biến đổi được tâm lý con người vượt quá hẳn những điều ta có thể tưởng tượng được.

Những sự thật cay đắng trần truồng phơi bày lộ liễu đây đó một cách thản nhiên, những điều mà chỉ mới tượng hình trong tư tưởng cũng đủ làm ta ngượng ngùng xâu hổ không yên.

Tôi nhớ những ngày bi thảm nhất của gia đình trong thời Pháp thuộc. Những ngày nhà thiếu gạo chỉ nấu một nồi cơm nhỏ. Cơm vừa dọn ra thì người chị lớn đã vội vã xúc một chén đổ xuống đất cho con chó già. Ôi con chó già gầy còm, rụng lông, ghẻ lở, vẫn sống dai dẳng không chịu chết. Có những lần trở trời bệnh hoạn, chó không ăn hết phần cơm, chúng tôi ngồi nhìn những hạt cơm thừa bừa bãi trên đất mà thèm thuồng, tiếc rẻ. Thật vậy, thời nô lệ Pháp, tâm tính con người vẫn chưa đến nỗi tồi tệ như thời nô lệ Cộng Sản.

 Sự quan sát bị hạn chế bởi những dãy nhà cao, bởi những hàng rào kẽm gai giăng đây đó. Tôi chợt nảy ra một ý định táo bạo. Và thật đáng phàn nàn, như một kẻ thường tự nhận là day dreamer, tôi ít khi ngần ngại lưỡng lự thực hiện sáng kiến bất ngờ nào đó của mình.

Tôi leo thang lên château d’eau trước Bộ Tư Lệnh khi mọi vật đều ngái ngủ trong giấc trưa oi nồng. Tại một cao điểm lý tưởng hai phần ba chiều cao, tôi đứng tựa lưng vào thành cột bê tông như kẻ hóng mát nhàn du quan sát toàn bộ phi trường. Phía Tây Đài Kiểm soát, phía bãi đậu Air Viet Nam, những chiếc Boeing ngạo nghễ giữa đám phi cơ hành khách dân sự của Liên Xô. Dọc theo phi đạo North-South, đủ các loại vận tải cơ cũ vẫn nằm lặng lẽ trong các ụ phi cơ. Không một chiếc F5 hoặc A37 và thật bất ngờ, trên đoạn đường tôi qua lại tối hôm qua, một bãi đậu phi cơ LI9 ngay tại giao điểm đường ra cổng Huỳnh Hữu Bạc và đường nối liền Air Viet Nam. Trên 50 nàng L19 trắng tinh trong lớp sơn còn mới, mời mọc kêu gọi người tình xưa.

Nếu không có A37 với đầy đủ bom đạn để có thể ném bom gây bạo động và nổi dậy, có lẽ tôi phải chấp nhận một giải pháp yếu: Cướp một chiếc L19 bay ra biển Nam Hải đáp ép buộc trên Mẫu Hạm của Đệ Thất Hạm Đội hoặc đáp xuống biển theo những tính toán kỹ thuật chi tiết. Tôi xuống thang và sau đó leo hàng rào kẽm gai thoát ra phi trường vào lúc sẫm tối, đói khát vì không tìm được một quán ăn trong phi trường đã một thời đầy dẫy những Câu Lạc bộ sang trọng đến những Quán cóc lẹp xẹp dọc theo các Khu Gia binh. Bắt buộc phải trở ra để chuẩn bị cho cuộc đột nhập qui mô hơn với lương thực và nước uống đủ tử thủ nhiều ngày.

Ngày 13 tháng 9 năm 1981 (tôi chọn số 13 cấm kỵ) ghé lại nhà Hạnh. Lần này Hạnh phải bán cái quần jean tốt nhất để bao lại tôi một chầu linh đình. Quen thuộc đường đi, tôi hướng thẳng vào Trạm Máy đèn bỏ hoang, dỗ một giấc ngủ sớm để chuẩn bị hoạt động nửa đêm. Hai giờ sáng, tôi băng qua mấy liếp rau muống, leo lên chateau d’eau với ý định sẽ nằm lại trên bồn chứa nước suốt một ngày để nghiên cứu kỹ toàn bộ vị trí phi cơ cùng các sinh hoạt cần thiết. Hai bậc cầu thang cuối cùng ẻo lả run rẩy dưới những bước chân thận trọng, dò dẫm. Một nhà chòi nhỏ, một ngọn đèn dầu, một cái bàn với bình trà và điếu cày thuốc lào, hai đôi dép râu ở ngưỡng cửa, hai khẩu AK treo vách trong và hai tên Bộ đội nằm ngủ mê mệt dưới sàn. (Tôi đã tính sai một bước đầu của kế hoạch, mặc dù với sự quan sát tỉ mỉ lần đầu, tôi đinh ninh rằng cao điểm lý tưởng nầy không hề có sự canh gác.) Tôi liên tưởng đến một điệp vụ dễ dàng thực hiện: Đánh thuốc mê hai tên đang ngủ và bỏ thuốc độc vào bồn nước. Sinh mạng của toàn bộ Phi trường địch đang đặt dưới giá treo cổ.

Tôi đành trở xuống và tính một kế hoạch mới. Đến giấc trưa tôi lại chuẩn bị lên château d’eau. Tiếng kẻng nghỉ và kẻng cơm trưa hôm nay nghe khó phân biệt, tôi đứng tần ngần dưới chân bậc thang đầu, tính toán giờ giấc. Bầu không khí khô hanh thoi thóp trong giấc ngủ trưa. Riêng bộ phận anh nuôi sát bên là còn hoạt động. Tên gác chateau d’eau ăn cơm về chưa? Lên sớm bị lộ, lên trễ nhiều người qua lại trong giờ làm buổi chiều. Tôi nhắm mắt một giây tĩnh tâm và tự quyết định theo linh cảm riêng: Đợi mười phút nữa. Khoảng tám phút tôi đang trong tư thế chuẩn bị hành động thì có tiếng chân nguời. Tôi vội ẩn mình sau chân cột chateau d’eau bề ngang độ chừng một thước, đám cỏ tranh cằn cỗi không đủ che kín thân người.

Đường mòn tới cầu thang đi thẳng về hướng tôi và chân cầu thang cách tôi hai thước. Tôi ép mình thật sát vào lớp vôi sơn ngã màu, di chuyển khéo léo từ phải sang trái tránh sự phát hiện của tên gác đang tiến tới gần. Bước chân nặng nề bắt đầu dẫm lên những bậc thang sắt, bỗng nhiên tên gác dừng lại tại cầu thang thứ ba. Sự quan sát chăm chú một cách khác lạ càng dán thân mình tôi thật sát vào tường. Một cử động nhỏ cũng có thể lọt vào cặp mắt cú vọ kia. Tôi bất động như pho tượng đá, trừ hai con mắt. Qua tàn lá thưa thớt trên đầu, tôi thấy rõ từng biến đổi nhỏ trên khuôn mặt y. Tôi tính sẵn kế đóng vai một tay Bộ đội đi phóng uế bừa bãi vì bị Tào Tháo đuổi bất ngờ, nếu bị bại lộ vì không thể nào chạy thoát trong phi trường địch vào ban ngày mà không bị bắt hoặc hy sinh. Ba phút đằng đẵng trôi chậm chạp.

Qua những giây phút hiểm nghèo tôi chợt tự khám phá ở mình một đặc tính hiếm có: sự bình tĩnh. Sự bình tĩnh tăng dần theo mức độ nguy hiểm. Khi nòng súng chĩa vào đầu chuẩn bị bóp cò là lúc tôi đạt đến tột đỉnh của sự bình tĩnh. Sự bình tĩnh hài hòa trong sự siêu thoát, nỗi hạnh phúc kỳ lạ chợt tràn ngập như một ân huệ cuối cùng của sự sống.

Mười lăm phút sau khi tên gác có lẽ đã bắt đầu ngủ, tôi nhẹ nhàng leo lên thang. Đang quan sát, chợt một tiếng gọi lớn từ dưới đường vọng lên:

— Anh Trung!

Một chị Bộ đội dừng xe đạp bên đường, ngỡ tôi là người tình của ả. Tôi xua tay, ra dấu chỉ về hướng nhà ăn bên cạnh. “À! Thế ra chàng còn đang ở nhà ăn,” chị ta nghĩ vậy và đạp xe đi tiếp. Tôi vội vã tranh thủ tụt thang trở về chỗ ẩn núp. Hú hồn! Tôi nằm bồi dưỡng nhưng không dám ngủ vì sợ ngủ quên, tiếng ngáy, tiếng thở mạnh có thể vọng vào tai những tên Bộ đội vừa đến, đang lo chăm bón rau muống cách vài thước, và cố kềm chế những tiếng ho, tiếng tằng hắng không cưỡng được.

Trước khi rời nơi ẩn nấp, tôi lấy viết ghi thêm 13-9-1981 vào chỗ lưu bút kỷ niệm lần trước “LýTống, 1-9-1981.” (Ôi, một ngày vinh quang trở lại, ta sẽ dẫn bạn bè tới nơi chốn này để chia sẻ những giây phút hồi hộp căng thẳng của ngày hôm nay, tôi nghĩ.)

Đeo một bị xách nhỏ với mì gói và bi đông nước, tôi đảo một vòng qua Cư xá sau lưng Câu Lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc để tìm nguồn tiếp tế nước khi cần. Những thùng phi nằm ngổn ngang trước các hiên nhà. Các cháu-ngoan-của-Bác thiếu ăn lười biếng nô đùa. Tôi leo lên hàng rào B40 thuộc khu vực Hangar. Những cỏ tranh cao che khuất những hào rãnh lởm chởm, nên khi phóng mình nhảy xuống, tôi suýt què chân vì sự bất cẩn, xem thường của mình. Ánh trăng cận rằm mọc sớm, tôi bò đi lại giữa các bãi đậu phi cơ. Sự cẩn thận quá đáng làm chậm quá trình di chuyển và chóng mệt. Tôi vươn vai đứng dậy, đi mò mẫm theo các bức thành ụ đậu phi cơ với những kỹ thuật tiêm nhiễm qua sách truyện, xi-nê.

Đây chỉ là một bãi phi cơ phế thải và hư hỏng nặng. Tôi lựa chọn một chỗ tạm nghỉ chờ đợi. Nửa đêm, tôi bò chậm rãi về phía bãi đậu L19. Không hề có tuần tiễu hay những chòi gác dọc theo các ụ, nhà vòm như ngày trước. Chỉ có một dãy nhà của nhóm chuyên viên phi đạo là dám phung phí xài một ngọn đèn néon suốt đêm. Tôi tiếp cận chiếc L19 đầu tiên, hai bánh trước dán cái ruột xẹp lép xuống nền xi-măng. Kính windshield bể từng mảng lớn. Nhẹ mở cửa, quan sát bên trong, bình điện, các phi cụ, phi kế đều bị gỡ cả! Lan 19 đứng xa trông mỹ miều như một mẫu hình toàn hảo của thẩm mỹ viện, càng đến gần càng thây sự tàn phá của giai đoạn tiền giải phẫu: Những vết cắt, vết mổ, vết đục đẽo bởi những bàn tay vụng về. Sự thất vọng tăng dần, không một chiếc phi cơ nào còn toàn vẹn. Sự tháo gỡ một phần theo kế hoạch chung, một phần theo kế hoạch riêng của một số “sưu tầm viên.” Tôi trở về ụ đậu chiếc phi cơ C119 số đuôi 077 để ẩn náu nghỉ ngơi.

Bầy muỗi đói quần thảo suốt đêm lúc tôi đang trong cơn ngủ chập chờn đầy cảnh giác. Sáng hôm sau tôi leo lên phòng lái, ngồi vào ghế Trưởng Phi cơ với một chút ngụy trang che đậy để quan sát hoạt động rộn ràng trên phi đạo. Cảm giác náo nức, rạo rực theo từng tiếng gào rú của phi cơ chuẩn bị cất cánh ngày hôm trước nguội lạnh dần. Sự nhộn nhịp huyên náo tập trung vào những phi vụ huấn luyện touch and go của một loại phi cơ dân sự Liên Xô và hoạt động của các chiếc Boeing nước ngoài. Cách 150 thước, một chiếc L19 đang bị xả thịt trong Hangar. Tôi nhẩn nha nhai nhũng sợi mì gói và uống nước lấy từ các vũng nước đọng trong các bãi chứa các bộ phận máy bay hư lộ thiên.

Khoảng một giờ trưa bỗng nhiên có hai tay thợ máy xăm xăm xách túi đồ nghề đi về phía tôi. Không có chỗ ẩn nấp kịp thời, tôi đành ngồi ì tại chỗ chuẩn bị làm vẻ như một tay Bộ đội Không Quân đang cải thiện vài đồ sưu tầm vụn vặt. May thay, khi một tên chuẩn bị leo lên phi cơ, tên kia góp ý:

— Chiếc này hôm qua gỡ hết rồi, qua chiếc kia đi.

Để tránh sự nguy hiểm bất ngờ tương tự, tôi leo xuống theo lối bánh mũi phi cơ, co ro trong một khoang phòng chật hẹp ngột ngạt chứa giây điện và giây cáp bánh lái phía bên phải. Gần ba tiếng đồng hồ không trăn trở cựa quậy, tôi bò trở lên phòng khách phi cơ, làm vài động tác thể dục. Khi tiếng đục gõ chát chúa ngưng hẳn và hai tên thợ máy dọn đồ đi về, tôi chuẩn bị xách túi đồ di chuyển qua dãy thùng Connex sát hàng rào cạnh cổng phụ Air Viet Nam. Lại thêm một lần may mắn. Một chiếc xe đạp xuất hiện trên đường, xe ngừng tại cổng và những mẩu đối thoại vọng lại. Không ngờ cái chòi yên lặng vắng vẻ kia lại có lính gác. Tôi đã đánh trần, chỉ mặc quần dài, đi lại thong dong trước mắt họ nhiều lần mà chẳng ai thèm để ý!

Đêm thứ ba tôi đi thám sát các khu vực bãi đậu phi cơ lân cận. Phi cơ A37 để ném bom không có. Phi cơ L19, Cessna hoàn toàn hư hỏng. Tất cả các loại vận tải cơ C119, C47, C123, Caribou… đều bị tháo gỡ phi cụ. Họ muốn phá hỏng để một ngày quân ta trở về không còn phi cơ để sử dụng, hay di chuyển những phi cụ quí giá ra miền Bắc để chuẩn bị ngày rút lui? Một ý nghĩ chủ quan xuyên qua tình hình thực tiễn vừa khám phá được.

Chưa nản chí tôi dự trù một kế hoạch khác. Tôi sẽ nằm phục kích vài ngày, nếu có cơ may, một trong ba loại phi cơ tôi lái được, ở một nơi khác ghé phi trường trong một phi vụ bất thường, tôi sẽ chộp lấy cơ hội. Hoặc tôi liều bò qua khoảng đất trống rộng từ khu quân sự sang khu Air Viet Nam, dưới ánh sáng chói lọi của bốn ngọn đèn pha cực mạnh, đột nhập vào phòng bánh mũi của chiếc Boeing đường quốc ngoại để stowaway. (Ý nghĩ sau đành hủy bỏ khi tôi đi kiểm soát đối chiếu các kiểu bánh mũi của các vận tải cơ, và nhận thấy nhỉều loại đóng cửa phòng bánh mũi sau khi geardown nên không thể chui vào được và phi cơ Boeing thì tôi hoàn toàn mù tịt.)

Tôi nằm lại thêm hai ngày, có lúc trốn trong phi cơ, lúc nằm dưới mương cỏ tranh rậm rạp. “Một phi trường chết,” tôi tự kết luận. Trước khi quyết định từ giã Phi trường, tôi trở lại chiếc phi cơ 077 khắc tên “Lý Tống 13-9-1981” ở nose gear để kỷ niệm lần đột nhập phi trường thứ nhì, và gỡ một đồng hồ Air speed, một Cockpit light, hai oil pressures (cái món compass béo bở bán được giá lại không còn) về tặng Hạnh, Nguyễn Quang Trường (hiện ở Đan Mạch) và Lê Văn Dương (Úc Châu) cùng Phi Đoàn Ó Den 548 cũ, và Quí bầm (Cali), người bạn tù Trại A.30, những chiến hữu đã bất ngờ gặp lại trong thời vượt ngục Trại A.30 và trốn tại Sài Gòn, có đóng góp lớn về vật chất và tinh thần trong mission impossible của tôi.

Tôi xách túi đồ nặng gồm bốn đồng hồ phi kế và gần một ký mì sợi chưa ăn hết. Hàng rào B40 phía trong, bên trên giăng ngang một lớp kẽm gai quấn theo hình ống tròn, khi vào chỉ cần leo lên nhảy qua, khi ra lại phải bẻ một khoảng trống mới leo lên được. Không có tiền để sắm một loại kềm cắt kẽm gai thích hợp, tôi phải đánh vật với dụng cụ tồi tệ bẻ qua lại nhiều lần đến khi giây kẽm gãy.

Trên đường trở ra, tôi gặp lại bảy tên Bộ đội hồi sáng, cái số 7 có hình lưỡi hái tử thần đã từng làm tôi ái ngại. Tôi dấu vội túi xách cồng kềnh vào đám cỏ cao ở bùng binh nhỏ nằm giữa ngã tư đường có đèn điện sáng. Tôi vờ châm thuốc như chờ đợi một người bạn gái trễ hẹn, tiếp tục trở ra khi họ không ngờ vực bỏ đi. Đường tối không kịp nhận ra hai tên Bộ đội đang ngồi bên lề đường vắng khi đi rẽ vào đám đất bỏ hoang, tôi ngồi xuống bên cạnh một bụi cây thấp giả vờ đại tiện.

Đây củng là chỗ tạm phóng uế bừa bãi mà tôi suýt bị một tên đi cầu bắt gặp trong khi đột nhập vào phi trường lần đầu. Sau đó tôi chậm rãi bò rút lui ra đường. Đoạn hàng rào tôi leo ra vào hình như đã được sử dụng bởi những tay Bộ đội trốn trại đi chơi hoặc chuyển đồ ăn cắp, nên có mấy ngày đã được sửa sang lại thay vì ngã sập nửa vời như trước. Một con đường xâm nhập rất dễ, nhưng cũng rất nguy hiểm, bởi vì những tên an ninh thợ săn trong khi rình rập những con chồn, con cáo lại có thể bất ngờ bắt gặp một con cọp lớn là tôi.

Mặc dù cuộc đột nhập phi trường không đạt được thành quả dự định, kinh nghiệm đã giúp tôi tự khám phá những khả năng tiềm tàng của mình và sự nhận định chính xác về khả năng của kẻ địch.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply