Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 15 Apr 2025

Chương 14.

NGƯỜI TÙ CÔNG VỤ TRÔNG COI VIỆC XÉT đơn thăm nuôi của các phạm nhân, trả lại tấm đơn cho Ngọc:

– Đúng, trước kia có quân phạm này nhưng nay anh ta đã được trả tự do rồi.

Ngọc nhìn anh ta, nàng hồi hộp:

– Thưa tự do rồi sao, thưa được thả bao nhiêu ngày rồi?

– Phòng can nhân cho biết anh ta được trả tự do hơn nửa tháng nay.

Ngọc xách giỏ đồ thăm nuôi, nàng nghĩ đến Mình thật nhiều, nàng tưởng chừng như Minh đang đi tìm nàng từ khi được trả tự do, có lẽ Minh đã tìm đến nhà nàng nhưng không gặp, nàng nghĩ chắc chắn là chàng phải tìm Ngọc. Ngọc tự trách mình khi dọn nhà đi không để lại địa chỉ mới. Ngọc hỏi lại người công vụ:

– Thưa ông, ông có biết rằng chồng tôi được tự do, anh ấy có về lại đơn vị không?

Người tù công vụ lắc đầu: hỏi.

– Tôi không biết, bà nên làm đơn

– Thưa tôi phải hỏi ở đâu? Người tù công vụ lại lắc đầu:

– Thật tình mà nói tôi cũng không biết chuyện đó, nhưng bà có thể nhờ người sành về giấy tờ người ta lo cho.

Ngọc đứng bần thần. Người công vụ tiếp:

– Có những người chuyên môn lo về việc này, bà có thể tìm đến họ.

– Thưa ở đâu, ông có thể chỉ cho tôi biết được không?

– Bà ra tòa án có những người chuyên môn làm đơn thuê, họ có thể lo được cho bà, bà cứ ra tòa thì biết.

Ngọc mừng rỡ:

– Cám ơn ông. Nàng cúi nhìn cái giỏ đồ ăn của mình, nàng tính mang đi để tặng Minh, nhưng Minh không còn đây nữa, nàng mang về làm gì? Nàng nhìn người tù công vụ, anh ta trông gầy còm xanh xao, có lẽ anh ta cũng khổ sở như Minh. Nàng hỏi anh ta:

– Gia đình anh có hay vào thăm nuôi không?

Gã tù công vụ buồn bã:

– Không bao giờ, vì tôi không có ai là thân nhân ở đây hết.

Ngọc xúc động khi nghe anh ta nói như vậy, càng nghĩ thương Minh, nàng thương lây tới hoàn cảnh anh tù công vụ, nàng không cần biết anh ta ta tội gì, nàng thấy anh ta tù tội là nàng xúc động rồi.

Nàng nghĩ đến bức thơ nàng nhận được của Minh, nói về cảnh tù tội, những nỗi oan ức, biết đâu người này không oan ức.

Ngọc nhìn anh ta một lần nữa, mặc dầu nàng tội nghiệp anh ta, nhưng nàng thấy khó nói khi nàng tặng anh ta giỏ đồ ăn, mãi một lúc nàng mới nói được:

– Thưa anh, tôi có đọc thư của chồng tôi cho tôi biết rằng những người tù nào không được thăm nuôi thì khổ sở lắm.

– Dạ, điều đó thì dĩ nhiên, nhưng những người mồ côi còn may là còn ăn được của bạn bè, những người đó có gì cũng đều chia sớt cho chút đỉnh.

Ngọc vào đề ngay:

– Hôm nay tôi đến đây thăm nuôi chồng tôi, nhưng chồng tôi đã được trả tự do rồi, tôi cũng không cần mang giỏ đồ này về làm gì.

– Dạ.

– Tôi xin biếu lại anh, tôi mong rằng anh không nỡ từ chối.

Gã tù công vụ mặt tươi lên, hẳn lắp bắp cảm ơn. Gã nhìn Ngọc bằng đôi mắt biết ơn:

– Cám ơn bà, tôi không biết nói gì hơn.

– Không có gì nhiều, ngoài vài món đồ lặt vặt thông thường, một ít kẹo bánh.

Ngọc trao giỏ đồ cho gã, một lần nữa gã cám ơn. Nàng ra khỏi phòng thăm nuôi, Ngọc nghĩ về Minh thật nhiều, không biết bây giờ chàng ở đâu?

Nếu Minh được trả về đơn vị thì trước sau gì chàng cũng tìm nàng, Ngọc đã cẩn thận dặn mấy người bạn còn làm ở tiệm uốn tóc, mà nàng đã thôi việc, nếu thấy Minh đến, thì chỉ Minh biết ngay địa chỉ mới của Ngọc, Ngọc đã nhận được lá thư của Minh, quá chậm. Khi nàng nhận được thư nàng đã vội vàng làm đơn xin thăm nuôi Minh ngay.

Kể từ ngày Minh biệt tích đến giờ, Ngọc mới nhận được tin tức đầu tiên của chàng, thì ra chàng bị bắt, Ngọc không tin chàng lại nhúng tay vào một việc gì khác khi nhìn thấy hạnh phúc gần kề, hình ảnh Minh phóng lớn trong đầu óc Ngọc, nàng nghĩ đến khuôn mặt hiền lành đôn hậu của chàng, một khuôn mặt lúc nào cũng phảng phất nỗi buồn, những tiếng nói của chàng lúc này còn văng vẳng bên tai Ngọc:

– Anh chán lắm rồi, mệt mỏi lắm rồi, anh không còn thiết gì nữa ngoài em, tất cả hoài vọng nào anh từng ôm ấp trước kia, nay không còn gì nữa, chỉ còn lại em, anh cảm ơn trời không phụ bạc anh, như vậy đã là đủ lắm rồi.

Sau đêm Cách Mạng hụt, Ngọc không thấy Minh trở lại căn gác của nàng nữa, trong tuần lễ đầu tiên Ngọc nghĩ Minh bị cấm trại nên không thể ra với nàng được nhưng một tháng trôi qua, Ngọc không còn kiên nhẫn, nàng đi dò hỏi những người Không Quân, một người Trung sĩ bạn của người bạn Ngọc cho biết có lẽ Minh phải đổi đi xa, bất thình lình. Ngọc lại nhẫn nại chờ đợi, nàng nghĩ trước sau gì Minh cũng viết thơ cho nàng hay, làm cách nào đó báo tin cho nàng biết đơn vị mới. Nhiều người bạn Ngọc trêu nàng:

– Thôi, đúng anh chàng vồ được em nào hơn mày rồi, nếu không có thì lý gì làm lơ với mày, mày chẳng thường nói chàng yêu mày lắm sao.

Ngọc cực lực lên án những lời nói của các bạn, nàng buồn bã:

– Tao linh cảm thấy một chuyện gì đó đã xảy ra cho Minh, một chuyện không may, nhưng dù sao thì tao cũng chờ đợi ảnh.

– Mày chờ đợi đến bao giờ, thôi quên hắn đi. Tao giới thiệu cho mày một anh chàng khác bảnh hơn.

Ngọc giận dữ bỏ đi. Trời nắng chang chang. Ngọc tạt vào một quán cà phê, nàng gọi một ly cà phê đá uống cho tỉnh ngủ. Nàng buồn bã đến tột độ, nàng thấy người mình rã rời, nàng thèm một giấc ngủ nhưng nàng xua đuổi ý nghĩ đó đi ngay. Không được, bây giờ mình phải làm mọi cách lo cho Minh, nàng nghĩ đến lời nói của gã tù công vụ hồi nãy nói với nàng.

Ngọc trả tiền cà phê, nàng gọi xe lên thẳng tòa án. Những gã làm đơn thuê ngồi đầy bên hông tòa án, Ngọc không cần phải tìm kiếm lâu. Họ tới bên cạnh Ngọc hỏi:

– Cô cần làm đơn gì không?

Ngọc chọn một người đứng tuổi, trông có vẻ đứng đắn, nàng gật đầu:

– Dạ tôi muốn nhờ bác một việc. Gã làm đơn thuê mau mắn:

– Làm đơn phải không?

Mấy gã làm đơn thuê còn đứng xớ rớ, gã kia nói:

– Thôi, chúng mày đi đi, cô đây thuê tao rồi.

Ngọc thấy trường hợp của nàng khác hơn những trường hợp người khác, nàng đang phân vẫn không biết nói sao, gã làm đơn thuê hỏi ngay:

– Cô cần làm đơn gì? Về việc tòa án chúng tôi thông thạo, tôi có quen nhiều nhân viên trong tòa, tôi có thể giúp cô được, tôi cũng cần nói cho cô biết rằng, cô làm đơn khơi khơi đưa vào là không được, chỉ những đơn qua tay chúng tôi mới dễ dàng mà thôi, một cái đơn có mấy chục bạc, vừa tiện lợi cho cô vừa khỏi mất công, tôi cam đoan là được mà…

– Nhưng chuyện này của tôi…

– Có phải là một chuyện khó không?

– Vâng thật ra thì cũng như vậy, hơi có chút rắc rối.

– À chuyện khó, không sao, cô cứ giao tôi, tôi giải quyết thiếu gì chuyện khó, xong hết, ăn thua ở mình biết bắt áp-phe.

Gã chỉ sang bên vườn hoa trước cửa tòa án:

– Cô sang bên kia ngồi kể cho tôi nghe nội vụ, tôi mới biết đường mà chạy chọt chớ, ngày hôm qua tôi cũng mới lo xong một vụ, tôi nghĩ rằng vụ của cô không khó hơn vụ của tôi đã lo.

Nghe gã nói Ngọc tin tưởng, nàng theo hắn sang bên vườn hoa trước cửa tòa án. Gã mời Ngọc ngồi xuống cái ghế xi măng, gã cũng ngồi xuống cạnh, mau mắn hỏi luôn:

– Thế nào, cô có thể kể ngay cho tôi biết được không? Sau đó tôi sẽ đi lo liền tức thì.

Ngọc trao cho hắn tờ giấy thăm nuôi Minh, nàng hỏi:

– Hồi nãy tôi vô thăm nuôi ảnh thì người ta cho biết ảnh được trả tự do hơn nửa tháng nay, ảnh là quân phạm nên người ta phải đưa ảnh về đơn vị, nhưng tôi không hiểu vì sao mà không có tin tức gì hết, tôi nghĩ ảnh lại bị chuyện gì rồi, bây giờ tôi muốn biết ảnh ở đâu?

Gã làm đơn thuê đeo kiếng trắng gọng đồi mồi lên mắt, gã đọc kỹ đơn thăm nuôi, ghi tên Minh và sổ thẻ bài của Minh, gã gật gù ngẩng lên hỏi Ngọc:

– Anh Minh nầy tự do ngày nào? Ngọc lắc đầu:

– Tôi cũng sơ ý không hỏi ảnh được tự do ngày nào nữa, nhưng khoảng hơn nửa tháng nay thôi.

Gã làm đơn thở ra:

– À đó cũng là một vấn đề, nhưng thôi được, để tôi lo cho, trước hết tôi phải tới khám đường hỏi ngày mãn án của đương sự, việc nầy rắc rối như một nắm chỉ rối, mình phải biết tìm mối mới gỡ ra được; chị công nhận vậy không?

– Dạ tôi đâu có biết gì, trăm sự cũng nhờ ông.

Gã làm đơn thuê cười, gã tự quảng cáo cho mình:

– Chị tìm đến tôi là khôn ngoan lắm đó, nếu chị nhờ mấy thằng kia sẽ không đi đến đâu hết trơn, chúng nó đâu có nhiều kinh nghiệm như tôi, ngày xưa tôi là một nhân viên làm việc tại tòa án nên tôi có nhiều kinh nghiệm.

– Dạ.

Gã ngẩng lên nhìn thẳng vào mặt Ngọc:

– Chị cần lo ngay chuyện này chứ?

– Dạ càng sớm càng tốt.

– Nhưng thủ tục giấy tờ không chóng đâu, nếu có quen thuộc mình cho họ ít tiền trà nước thì cũng xong, chị đừng lo gì hết, những nhân viên làm việc tại khám Chí Hòa tôi quen hết, tôi sẽ đích thân vào trong đó hỏi họ, họ lục số cho mình là mình biết ngay mà, nhưng để hợp lệ tôi cần làm một cái đơn cho chị, tôi sẽ cầm cái đơn đó vào trong khám, thay mặt cho chị, tôi hỏi ngay ngày tự do của chồng chị, cửa thứ nhất đã mở mình lần mò tới những cửa khác.

Ngọc thấy gã nói có lý, gã tiếp:

– Theo đúng luật ra thì đơn phải gởi ra tòa án, nhờ tòa chuyển cho ông Quản đốc trung tâm cải huấn Chí Hòa, rồi chị phải chờ một thời gian sau, người ta mới trả lời chị biết, nhưng với tôi thì chuyện ấy không thành vấn đề.

Gã nhìn Ngọc với con mắt dò xét: – Tôi phải tìm cách đi tắt, mình phải đốt giai đoạn để tiết kiệm thời giờ, nếu theo thủ tục hành chánh thì còn gì là chồng chị nữa.

– Dạ trăm sự nhờ bác, tôi rối trí quá rồi không biết tính sao nữa.

– Chị cứ yên trí đi, tôi là người ngoài tôi bình tĩnh, bây giờ tôi làm cho chị một tờ đơn.

– Dạ thưa vâng.

Gã cắn môi suy nghĩ:

– Đáng lẽ ra đơn loại này người ta tính một trăm đồng, nhưng thôi, tôi thấy trường hợp của chị tôi lấy làm cảm động, tôi chỉ lấy chị năm chục bạc thôi.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 15 Apr 2025

Chương 13.

MINH THỞ PHÀO, THẾ LÀ HẾT NỢ, chàng đã ra tòa, chàng chỉ bị xử có năm tháng tù treo, chàng đã ở trong khám này tới bảy tháng, bây giờ Minh có thể trở về đơn vị, chắc chắn Minh sẽ được giải ngũ. Buổi sáng hôm nay Minh dậy thật sớm, chàng đốt lò lên, pha một ly nước trà uống, đợi trời sáng. Quang ngồi cạnh chàng, hắn uống trà với chàng. Minh nhìn qua song sắt, trời vẫn còn mờ mờ tối, đèn trong phòng giam sáng trưng, Minh nhìn những người bạn còn đang ngủ say sưa, Minh bỗng thấy thương chúng, không biết bao giờ chúng mới được tự do.

Minh nói với Quang:

– Tao được ra, nếu tao được giải ngũ tao sẽ viết thơ vào cho mày hay.

– Chắc chắn mày được giải ngũ rồi, tao nghe nói không bao giờ họ giữ lại một thằng lính có án.

– Có án cũng được, tao không còn ham nữa, giải ngũ sớm ngày nào hay ngày ấy.

– Nếu mày được giải ngũ mày sẽ làm gì đầu tiên?

– Tao đi tìm vợ tao.

Minh đã kể cho Quang nghe về Ngọc. Quang nghi ngờ:

– Có chắc Ngọc còn chờ mày không?

– Tao không biết tại sao tao vẫn tin

Ngọc còn chờ tao.

– Hy vọng thế thôi, thời buổi này… Quang ngừng ngang rồi nói:

– Xin lỗi, sở dĩ tao nói vậy vì tao nghĩ đến tao, tao có một con vợ đã bỏ tao đi lấy trai.

Minh ngó bạn, chưa bao giờ Minh nghe bạn nói về chuyện ấy. Quang tiếp:

– Mãi tới hôm nay tao mới nói cho mày nghe bởi vì tao chán con vợ tao, tao không muốn nhắc tới nó nữa, nó đã bỏ tao khi tao đổi đi xa, tao có một đứa con nó bế đứa con tao về cho mẹ tao rồi bỏ đi luôn, cho đến ngày về má tao mới nói cho tao hay.

Quang nén tiếng thở dài:

– Mẹ tao thì già yếu quá, con tao còn nhỏ, sau đó tao đã đào ngũ để về nuôi mẹ nuôi con, tao đã bị bắt mày biết đó.

Quang yên lặng một lát:

– Nếu hôm đó tao có mấy bò đút túi thông cảm cho cảnh sát thì tao đâu có bị bắt.

– Tao không hiểu mày nói gì? Quang chậm rãi kể:

– Tao có một chỗ sửa xe ở đầu đường, sáng hôm ấy tao ra sớm, có mấy đồng bạc tao đến quán cà phê uống cho tỉnh ngủ, uống xong tao trở về chỗ làm việc, trên đường về tao gặp cảnh sát hỏi giấy, tao xin cảnh sát thông cảm, gã cảnh sát hỏi tao thông cảm thế nào? Tao chỉ biết thông cảm xuông vậy thôi, vậy là tao lên xe cây, bây giờ tao ngồi đây thì mày biết rồi đó, tao chỉ còn bốn tháng nữa thì trả nợ xong cái án đào ngũ này.

– Có thể giải ngũ không?

– Tao không tin, có lẽ tao còn trở về đơn vị nữa, tao nghe nói hồi này đánh nhau dữ lắm, chính phủ mình cần lính.

Minh buồn bã:

– Có lẽ tao không được giải ngũ.

– Rất có thể, Không Quân không nhận mày nữa, người ta đày mày sang lục quân mấy hồi.

– Tao chán ngấy chuyện ấy.

– Chán cũng không được, mày đâu có phải là mày nữa.

Minh ngồi im chàng nhìn ra ngoài song sắt, trời bừng sáng, Minh nghe tiếng dép lẹp xẹp trên hành lang, Minh uống nốt hớp nước trà.

Quang nắm tay bạn:

– Chúc mày về được may mắn.

– Cám ơn.

Minh đứng dậy, chàng nghe tiếng gọi những quân phạm được trả tự do ở phòng bên cạnh, người công vụ ngó vào song sắt gọi tên Minh. Minh mỉm cười với bạn:

– Thôi về nhé.

Phòng giam bây giờ đã có người dậy, Minh mỉm cười nhìn họ, chào họ. Minh lách mình ra ngoài song sắt, tiếng khóa cửa lách cách lạnh lùng. Trời chưa sáng rõ mặt người, Minh xuống cầu thang với người công vụ, các phạm nhân được trả tự do từ các phòng giam khác đang lục tục kéo nhau xuống phòng can nhân. Minh được xếp ngồi chung với những người quân phạm. Minh nhận thấy ít người mặt mũi tươi tỉnh, Minh hỏi một người ngồi cạnh mình:

– Trả hết án chưa?

– Trên nguyên tắc thì xong.

– Thế là làm sao?

Gã ngồi cạnh Minh mời chàng một điều thuốc lá, gã chán nản ra mặt:

– Với những thường phạm thì ra khỏi khám này họ được tự do, nhưng với tôi thì khác, tôi cũng chưa biết được khi mình ở đây ra người ta sẽ đưa mình tới đâu nữa. Chắc chắn tôi có một người bạn được trả từ khám này ra, sau đó nó có viết thư gởi cho tôi biết nó bị đưa đi quân lao rồi bổ sung vào một đơn vị chiến đấu. Mặc dầu mình đã ở tù nhưng mình chưa trả hết nợ nhà binh mà.

Minh thắc mắc:

– Nhưng tôi nghĩ chuyện đó chỉ áp dụng cho bộ binh còn tôi ở Không Quân mà.

Gã quân phạm hít một hơi thuốc nhả khói mịt mù:

– Chuyện đó thì tôi không biết, nhưng tôi nghĩ thì đâu cũng vậy.

Bây giờ tiếng kèn chào cờ mới vang lên ngoài bồn nước, người bạn ngồi cạnh Minh đứng dậy:

– Thôi mình suy tôn Ngô tổng thống nốt lần cuối cùng này cho xong.

Minh và tất cả các bạn đều đứng dậy. Buổi chào cờ chấm dứt, mọi người ngồi xuống đất, người bạn ngồi cạnh Minh nói:

– Mọi ngày suy tôn Ngô tổng thống hai lần, tôi đã suy tôn Ngô tổng thống gần tới hai ngàn lần, suy tôn hơi kỹ đó, không biết ông còn sống được bao nhiêu ngày nữa, ấy cái sự chúc mừng suy tôn có khi lại chính là cái điềm gở.

Minh im lặng, chàng không muốn nghĩ gì trong lúc nầy, chàng cũng khô- ng thấy vui mừng khi biết mình được trả tự do. Minh thở dài: muốn sao cũng được, bây giờ Minh không còn là Minh nữa. Chàng không biết mình sẽ đi đến đâu. Minh không còn tưởng tượng nổi bất cứ một chuyện gì. Minh thấy mình bạc nhược sau những tháng ngày tù tội.

Bỗng một người tù công vụ chạy đến đám tù nhân gọi tên Minh. Minh lên tiếng đứng dậy:

– Tôi đây, có chuyện gì không?

Gã tù công vụ ngoắt Minh vào trong bàn giấy, người giám thị trưởng phòng:

– Có giấy tờ cho anh.

Minh xốc lại quần áo, khi chàng đứng trước mặt ông giám thị, ông ta đưa ra một tờ giấy:

– Đây là giấy tờ Không Quân gởi về cho tôi về việc anh. Trước khi anh được tự do, chúng tôi có báo cáo cho đơn vị anh biết để tới đón anh về…

Minh hồi hộp, chàng không giữ nổi bình tĩnh chàng ngắt lời ông giám thị:

– Thưa ông, vậy tôi trở về đơn vị?

Ông giám thị cúi nhìn xuống tờ giấy:

– Đơn vị anh đã xóa tên anh, giấy tờ gởi đến một cơ quan khác để định liệu, anh sẽ trở về đơn vị Quản trị, rồi ở đó người ta tính sau cho anh hoặc là anh được giải ngũ hoặc là anh phục vụ ở một đơn vị khác.

– Thưa ông, tôi muốn xin được giải ngũ vì tôi phục vụ ở quân đội đã lâu.

Ông giám thị ngẩng đầu lên:

– Không phải thầm quyền của tôi, anh nói với tôi làm gì vô ích.

Minh cúi đầu, chàng thấy mình vô lý thật, chàng vì nóng lòng quá mà quên mất, ông giám thị này không có quyền gì ngoài quyền coi tù. Minh cúi đầu:

– Cám ơn ông, ông đã cho tôi biết.

Ông giám thị đứng dậy thân mật vỗ vai Minh:

– Không biết chúc gì cho anh hơn là mong mỏi anh đừng bao giờ trở lại nơi này nữa.

– Cám ơn ông trưởng. Ông giám thị giục Minh:

– Thôi anh ra đi sắp đến giờ xe chạy rồi đó.

Minh cám ơn ông giám thị một lần nữa, chàng trở ra phòng đợi. Trời đã bắt đầu sáng, ánh nắng đầu tiên trong ngày chiếu qua song sắt trên trần nhà.

Minh nghĩ đến chuyến đi của mình, chàng không biết mình sẽ phải đi đến nơi nào, chàng thở dài, buông xuôi mặc cho số phận đưa đẩy. Người bạn ngồi cạnh Minh tò mò hỏi:

– Sao, họ kêu anh vào có chuyện gì?

Minh mệt mỏi, mệt mỏi đến độ không còn muốn trả lời người bạn mình nữa, chàng lắc đầu:

– Không có chuyện gì hết.

Chàng ngồi bệt xuống đất hai tay bó gối, chàng gục đầu trên đầu gối mình.

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 13 Apr 2025

Chương 10.

Hôm đó, như lời chàng đã dặn Catherine, mãi gần 5 giờ sáng Eliot Ness mới về đến nhà.

Catherine vẫn còn ngủ yên trong phòng. Tắm một cái rồi thay bộ quần áo khác, chàng viết mấy chữ để trên bàn cho vợ rồi phóng ra xe đi tiếp.

Eliot Ness phóng xe như bay tới nhà thằng Stash Mose để tìm sự thật. Hàng trăm nghi vấn trong đầu chàng cần phải được giải đáp, và người có thể giải đáp được là Stash Mose.

Giữa ánh sáng bình minh mờ mờ hơi sương của Chicago, dù chân ga đạp đã lút cán, tiếng máy gầm lên làm náo động cả khu phố mà Eliot Ness thấy sao chiếc xe vẫn còn chạy chậm quá. Sau nửa tiếng đồng hồ vật lộn với tay lái, xém ủi vào cột đèn mấy bận, nhà thằng Stash Mose đã bắt đầu xuất hiện xa xa.

Lần này khỏi cần giữ miếng, chạy đến gần ngay trước nhà tên mật báo viên Eliot Ness mới co giò đạp mạnh thắng. Bốn bánh xe nghiến mặt đường kêu ken két giữa một khu phố còn đang im lặng ngái ngủ.

Xe chưa kịp ngừng là chàng đã bay xuống.

Có cái gì lạ lạ trong nhà này, giác quan thứ sáu của người cảnh sát báo động. Cánh cửa ra vào hình như không được khóa, chỉ khép hờ hờ. Móc cây Colt .45 ra, chàng nhảy đến đứng sát bên cửa nghe ngóng. Im lặng.

Ước lượng chính xác tầm bắn nếu bị tấn công bất ngờ, Eliot Ness đạp tung cánh cửa, chĩa súng vào trong. Không thấy gì cả nhưng chàng ngạc nhiên vì điện bật sáng choang cả nhà.

Vậy là có chuyện rồi, thằng Stash Mose xưa nay đâu có phí điện kiểu này.

Eliot Ness nhảy vào nhà, súng cầm tay đi từ từ tới cái phòng ngủ nơi chàng và Stash Mose ngồi nói chuyện mấy hôm trước. Không thấy động tĩnh gì, Eliot Ness đẩy nhẹ cánh cửa.

Dù đã quá quen với những cảnh chết chóc suốt gần mười năm trong nghề cảnh sát, Eliot Ness bật lên một tiếng kêu nhỏ khi nhìn vào trong phòng. Xác chết của Stash Mose nằm trên giường, máu đọng từng vũng trên nệm. Không biết nó chết lúc nào.

Chàng bước vào, nhìn kỹ vào khuôn mặt. Eliot Ness bỗng cảm thấy muốn nôn oẹ, nấc lên: “Oh my god!”

Hai con mắt của Stash Mose đã bị ai móc ra khỏi, giờ chỉ còn là hai cái lỗ đỏ lòm sâu hoắm. Từ lỗ tai này sang dến lỗi tai kia, hình như có một vật gì xuyên thấu qua. Nhìn kỹ lại thì đó là một cây sắt nhọn mà người ta hay dùng để chỉa nước đá.

Eliot Ness phải lắc đầu mấy cái cho tỉnh người. Vậy ra đó là hình phạt mà thằng khốn nạn Al Capone dành cho những đứa chỉ điểm sao?

Cặp mắt lão luyện của Eliot Ness lướt một vòng quanh phòng. Không có dấu hiệu đập phá hay đánh nhau ở trong này. Vậy là tụi khốn nạn đã vào bất ngờ lắm, vào rất đông và phải làm chủ tình hình ngay lúc đầu tiên.

Chàng thò tay vơ đại lấy một cái áo trắng phủ trùm kín mặt thằng Stash Mose. Ghê rợn quá, Eliot Ness bây giờ mới nhớ đến lời ông trưởng phòng nói ngày nào về cái chết của một em điếm bị Al Capone trừng phạt: “cứng như McSwiginn mà còn muốn ngất xỉu khi nhìn thấy cái xác chết bầm dập của cô gái.”

Tạm để đó đã, chàng đi kiểm soát khắp nhà một vòng rồi mới trở về ngồi bên xác chết của Stash Mose.

Chưa lúc nào chàng cảm thấy cần một điếu thuốc như lúc này.

Ủa, gói thuốc cầm sẵn trong tay mà sao mò lấy một điếu không được. Eliot Ness chợt khám phá ra bàn tay mình đang run lên vì giận giữ đến độ không thể nào thò nổi một ngón vô miệng bao.

Chàng xé toạc bao thuốc, rút lấy một điếu. Phải cố gắng lắm mới đưa được đầu lửa vào mồi điếu thuốc.

Lật xác của thằng Stash Mose sang một bên, chàng thấy thân thể nó bầm tím khắp nơi. Không có đủ can đảm để nhìn thêm, Eliot Ness bước ra khỏi phòng, khép cửa lại sau lưng.

Nghĩ sao, chàng lại quay trở lại, cúi đầu, nắm tay cái xác chết thì thầm: “Ông bạn Stash Mose thân mến! Tôi chưa được biết ông bạn nhiều, chỉ gặp ông bạn có một lần, nhưng sự hy sinh của bạn tôi không thể nào quên được. Tôi hứa với ông bạn, tôi sẽ tìm ra thằng hèn nhát nào đã gây cái chết này. Tôi hứa với ông bạn, tôi sẽ trừng trị nó thích đáng để trả thù cho ông bạn.”

Nói hết câu, lòng Eliot Ness tự nhiên cảm thấy mình bình tĩnh hơn nhiều. Chàng quay gót, khép cửa nhẹ nhàng lại đằng sau lưng.

Nhà Stash Mose không có điện thoại, chàng ngồi bệt trước thềm nhà, mặt tư lự nhìn ra xa xăm.Vừng thái dương cũng từ từ ló dạng chiếu những ánh bình minh nhạt nhòa xuống khu phố. Đau đớn quá, Eliot Ness tự trách mình. Xưa nay nổi tiếng khắp giới giang hồ là “The best cop of America” mà vừa về tới Chicago đã bị quất cho mấy vố như thế này thì cái chữ “best” có thể sửa được lại là “stupid”. Chắc hẳn thằng Al Capone giờ này đang ngồi nhà ăn mừng chiến thắng. Sao mình lại vụng về để cho một mật báo viên đáng giá hạng nhất của Chicago, người mà ông biện lý Morgan phải mất mấy năm mới gài vào được hệ thống làm ăn của Al Capone, bị giết chết một cách thê thảm. Vì cuộc thất bại tối qua, nếu tên tuổi của chàng bị vùi dập chàng không cần đến, ngay đến cả chết cũng còn coi chẳng ra gì nhưng sự mất mát ngày hôm nay, Eliot Ness biết chàng sẽ không bao giờ tha thứ cho chàng được.

Chàng vất điếu thuốc ra đường, vừa vặn nhìn thấy một người thả bộ đi ngang qua. Eliot Ness vẫy lại, giơ cái tín bài cảnh sát cho ông già coi:

– Tôi là cảnh sát, nhờ ông tới trạm điện thoại kêu dùm …cảnh sát.

Ông cụ già chưa hiểu đầu đuôi thì Eliot Ness ngoắc đầu nói luôn:

– Gọi lẹ giùm, trong nhà có một người vừa bị giết chết.

Ông khách bộ hành chẳng dám cãi, gật đầu rồi hối hả chạy đi, không hiểu cái ông cô hồn này là cảnh sát thiệt hay là thứ vừa giết người.

Eliot Ness cũng leo lên xe, tự nhủ lòng mình rằng đây là lần cuối cùng chàng đến khu vực này…

Eliot Ness phóng xe như bay về ty Cảnh sát.

Răng chàng nghiến lại khi nghĩ đến con heo mập Mike Casey. Đích thị là nó. Nó là thằng chịu trách nhiệm về vụ này từ đầu đến đuôi. Chàng đã có ý định sẽ làm gì khi về tới ty. Thứ nhất, chàng sẽ gọi điện thoại lên biện lý Morgan thú nhận thất bại và xin một cái trát tòa để lấy hết hồ sơ của thằng Mike Casey. Từ đây, chàng hy vọng sẽ kiếm đủ bằng chứng để truy tố nó ra tòa. Thứ hai, phải áp lực để ông Trưởng ty cách chức thằng này liền lập tức. Bằng mọi giá phải làm sao cho nó bị đuổi khỏi nghành cảnh sát càng sớm càng tốt.

Nhưng về tới ty, hãy còn sớm quá, chưa ai đi làm việc cả, chàng lại vọt ra xe, phóng đi.

Không biết đi đâu, nhưng Eliot Ness phải làm một cái gì, như lái xe chẳng hạn cho tinh thần bớt căng thẳng. Cuối cùng, chàng tạt vào một quán cà phê, kiếm chỗ ngồi trong góc. Ly cà phê chưa được đem ra, chàng đã thấy có vài người tụm năm tụm ba với những tờ báo trên tay đang bàn tán về cú đột kích tối qua của “ông đệ nhất cớm”. Eliot Ness giật mình.

Mấy thằng nhà báo Chicago lẹ vậy sao? Không hiểu chúng làm ăn thế nào mà chỉ cần mấy tiếng đồng hồ là đã cho tin tức lên khuôn được ngon lành. Eliot Ness dọt ra ngoài, ngoắc thằng bé bán báo:

– Mỗi thứ một tờ, đưa hết đây.

Thằng bé vừa đưa báo vừa bô bô cái miệng:

– Tin nóng hổi, tin nóng hổi ông ơi. “The best cop of America” vồ hụt Al Capone… Thề sẽ trả thù…

Ra là Chicago này có tới bốn năm tờ báo. Tờ nào Eliot Ness cũng thấy hình của mình trên trang nhất. Kẹt cái là khuôn mặt ông “đệ nhất cớm” coi chẳng đẹp trai chút nào. Nó nhăn nhúm, đau khổ như thằng vừa thua bạc.

Tờ Chicago Tribune chơi hàng tít: “Don Quichotte tân thời đã mở cuộc tấn công.” Tiên sư, lại thằng phóng viên Ferguson chứ ai lọt vào đây.

Tờ Chicago Times chạy hàng tít dài hơn: “Chính quyền Liên Bang huy động một lực lượng hùng hậu của cảnh sát địa phương đột kích một …kho hàng lương thiện.”

Tờ Chicago Daily News xỏ ngọt: “Đệ nhất cớm xuất chiêu đầu, đánh trúng …gió.”

Những tờ khác, tờ nào cũng một luận điệu như trên. Cô hầu bàn bưng ly cà phê ra, chàng cũng chẳng thèm để ý.

Thật ra, Eliot Ness không để ý chẳng phải là vì quê hay mắc cỡ.

Nếu mắc cỡ, ngay tối hôm qua chàng đã không thèm tuyên bố những câu nảy lửa với báo chí. Người ta bảo thất bại là mẹ thành công. Cú đột kích hụt tối hôm qua dù hoàn toàn thất bại, nhưng cũng không phải là hoàn toàn uổng phí. Cứ coi như đó là một cú tập dượt. Chàng đã rút được một bài học quý giá: Lần sau, phải làm một mình và với những người hoàn toàn của mình.

Rồi bỗng một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu Eliot Ness: Thằng Mike Casey.

Người xưa thường nói “Không dương buồm khi trời đang bão quả thật đúng.”

Sáng nay trong lúc nóng giận chàng đã tính làm một chuyện không tưởng với thằng Mike Casey. Thứ nhất, nếu biện lý Morgan xin cho chàng được cái trát để niêm phong hồ sơ thằng Mike Casey, chưa chắc chàng kiếm được bằng chứng để truy tố nó ra tòa. Hơn nữa, một thân một mình, thì giờ đâu mà bới móc trong hàng núi hồ sơ để kiếm một cái lỗi khả dĩ khiêng được nó ra tòa?

Còn vấn đề xin cách chức thằng mập lại thấy còn khó hơn. Tính làm cha thiên hạ chắc? Lý do gì, quyền hành gì mà đòi cách chức một trưởng phòng lâu năm của ty Cảnh sát. Mà theo hồ sơ chàng đã đọc ở Hoa Thịnh Đốn, chúng nó từ trưởng ty trở xuống đều đã ăn ngập mặt của Al Capone, làm gì có vụ cách chức đàn em khơi khơi như vậy?

Vậy thì, khôn ngoan và tinh quái như “đệ nhất cớm” chỉ còn một giải pháp: phải tương kế tựu kế. Mình cứ giả vờ như ngây thơ lắm, hiền lành và không biết gì cả để dùng thằng Mike Casey mà chơi thằng Al Capone.

Eliot Ness bỗng mỉm cười một mình.

Chàng đã có một kế hoạch đặc biệt dành cho thằng cớm dơ bẩn này. Có gì đâu, mình sẽ dùng nó như người ta dùng một gián điệp hai mang vậy mà. Nghĩa là nó sẽ được cung cấp những tin vịt. Vịt thiệt cồ để nó trao lại cho Al Capone. Sau vài cú chết người như vậy, thằng Mike Casey còn mặt mũi nào dám nhìn Al Capone. Không chừng bị mất của nhiều quá, nó dám cho thằng này đi tàu suốt lắm. Tiền nào của nấy mà, một thằng ăn hại như vậy dễ gì sống lâu với giới giang hồ. Và nếu một thằng dơ bẩn cỡ Mike Casey bị “đi luôn” thì xã hội này bớt được một gánh nặng, có gì đáng tiếc?

Phải lập kế hoạch cho chúng nó giết nhau.

Vui bằng thích, Eliot Ness thầm nghĩ. Cái khó khăn nhất lúc này là chàng phải làm sao đóng kịch cho khéo. Chàng chỉ sợ gặp lại thằng mập, không cầm nổi cơn giận, xông tới đập cho nó một trận tơi bời hoa lá thì hư hết việc lớn.

Eliot Ness cảm thấy dễ chịu hơn sau khi nghĩ ra kế hoạch đó. Vấn đề then chốt thứ hai chàng phải lo là nhân lực. Dĩ nhiên, không thể trông chờ nơi Hoa Thịnh Đốn. Cả Nha có bao nhiêu nhân tài chàng đã biết rõ.

Cùng lắm sẽ kiếm được vài người như chàng chứ không thể hơn được.

Vậy thì tìm đâu ra người tin cẩn đây? Chàng lại nhớ đến ông cảnh sát …mất dạy hôm qua. Đúng, cái mũi chàng đã ngửi thấy nhân tài một lần rồi thì óc chàng không thể nào quên được. Đáp số của bài toán là ông nội cảnh sát mang số 982 đây.

Hắn quả thật là bén nhạy. Chàng nhớ đến cái khuôn mặt của hắn đã cau lại khi nghe nói chàng dùng người của ty để đi hành quân. Nhưng mà sao cha nội này có vẻ khó chịu quá chừng? Mình đã hai ba lần mời gọi, hắn nhất định không nghe. Phải có một dịp thuận tiện hơn mới được.

Mặt trời đã mọc lên cao từ lúc nào, Eliot Ness không biết. Đến giờ làm việc quán cà phê cũng trở thành vắng teo, chỉ còn mình Eliot Ness ngồi yên suy nghĩ với ly cà phê nguội ngắt.

Một em hầu bàn tới bên Eliot Ness, giọng nhỏ nhẹ:

– Ông dùng thêm cà phê?

– Vâng, cô cho tôi một ly nóng.

Đổi ly cà phê cho khách, cô hàng nhìn chàng với một ánh mắt rất lạ. Lạ nhưng chan chứa cảm tình:

– Cà phê còn nóng, mời ông uống cho ngon.

Eliot Ness ngước mặt lên. Cô ta vào khoảng xấp xỉ tuổi chàng, mái tóc vàng búi thắt lên cao ở phía sau.

Đôi mắt xanh nhìn chàng dịu dàng nhưng bạo dạn:

– Ông là Eliot Ness?

Eliot Ness gật đầu, cố giấu vẻ ngượng ngùng sau nụ cười:

– Vâng, cô là người duy nhất nhận ra tôi ở đây. Cô rất tinh mắt.

Cô ta không cười, tiếp tục nhìn thẳng vào mắt chàng:

– Tôi có đọc báo sáng nay. Tôi xin chia buồn với ông về vụ tối hôm qua. Nếu ông thành công, Chicago này sẽ mừng lắm.

Eliot Ness cảm thấy an ủi trong lòng. Ít ra cũng có người hiểu được chàng. Giây phút này, giây phút bị nghề nghiệp đá cho một cái té nhào xuống bùn là lúc người ta cần những câu nói như vậy nhất. Nụ cười chàng méo đi, cảm động:

– Cám ơn cô. Tôi chỉ giận là mình vụng về để hư hết mọi việc.

Khi nói “hư hết mọi việc”, chàng thấy nhói trong tim vì nhớ đến cái chết thê thảm của Stash Mose. Cô hầu bàn tự nhiên tiến tới gần chàng, thân mật đặt tay lên vai Eliot Ness:

– Ông Ness. Tôi biết ông không phải là người bỏ cuộc dễ dàng. Cứ nhìn ánh mắt của ông thì biết. Tôi cầu nguyện cho Chúa giúp ông. Ông là người can đảm, vì đã nhìn nhận lầm lỗi của mình. Cảnh sát Chicago này không có như vậy đâu. Thành công thì họ khoác lác, còn thất bại thì hoàn toàn do lỗi của người khác, không phải lỗi của họ. Tôi cám ơn Chúa vì tôi biết, chỉ nay mai, ông sẽ nhốt được con thú Al Capone vào rọ hay cho nó lên ghế điện. Xin ông đừng nản chí!

Chưa kịp nói gì đã nghe đánh “chụt” một tiếng. Ra là cô em đã cúi xuống bất ngờ tặng cho Eliot Ness một cái hôn lên má. Eliot Ness mỉm cười, lần này thật là tươi tắn:

– Cám ơn cô. Xin lỗi, cô tên gì?

-Lisa Meyer. Tôi làm ở quán này 12 tiếng mỗi ngày. Nếu tôi có thể giúp gì được cho ông, xin ông cứ tự nhiên, tôi sẵn sàng.

– Xin thành thật cám ơn nhã ý. Biết đâu chừng có một ngày.

– Phải, biết đâu chừng, ông Ness.Vậy ra ngày hôm nay cũng không đến nỗi xúi quảy lắm. Ít nhất, chàng quen được một “nhân vật địa phương”. Cứ theo cái mũi của chàng thì cô bé này vậy mà không chừng có thể giúp được chàng vài việc trong thời gian sắp tới.

Đã bảo mà, xưa nay Eliot Ness có bao giờ ngửi trật một cái gì. Suy nghĩ thêm một chút, chàng hơi ngạc nhiên khi nhận thấy một cô gái trẻ đẹp, thông minh và hình như có học thức lại đứng làm bồi bàn ở quán cà phê nhỏ này. Chắc chắn phải có việc gì bí ẩn bên trong, nhưng giây phút mới đầu gặp gỡ, chàng thấy không tiện để hỏi. Trước sau gì cũng mò ra được, vội vã làm gì?

Chàng đứng dậy trả tiền rồi bước ra khỏi quán. Em bé Lisa đứng lặng nhìn theo, dáng điệu bồi hồi thấy rõ.

Công việc đầu tiên phải làm là báo cáo về Hoa Thịnh Đốn sự thất bại tối qua. Eliot Ness kiếm một trạm điện thoại công cộng vắng vẻ, gọi về tổng nha. Ông xếp bật cười lớn khi nghe Eliot Ness báo mình đột kích …lầm một kho hàng. Nhưng tràng cười tắt ngấm ngay khi chàng báo tin Stash Mose bị chết thảm. Giọng Eliot Ness trầm trầm:

– Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn về vấn đề này.

Ông xếp vuốt ve:

– Không, phải nói rằng tôi cũng có trách nhiệm về cái chết của Stash Mose nữa. Tôi đã gởi anh xuống đó một mình, lẽ ra, tôi đã phải tăng cường thêm cho anh nhiều người…

Nghe nói đến người Eliot Ness lại sáng mắt lên, nhưng câu nói tiếp theo của ông xếp làm chàng cụt hứng:

– Nhưng anh cũng cố gắng …thông cảm, ở đâu cũng cần người hết mà khả năng tôi thì hạn hẹp. Thôi để tôi ráng thu xếp gởi xuống cho anh một vài người.

Chưa lúc nào Eliot Ness cảm thấy mình cần một chiến hữu như lúc này.

Một hay hai người cũng được, miễn là dân Hoa Thịnh Đốn để mình có thể tin cậy và hàn huyên là tốt. Chàng gật đầu:

– Xin cám ơn ông.

– Eliot Ness, tôi tin anh sẽ thành công. Xin đừng nản chí.Từ này về sau, tôi để anh tự ý quyết định lấy mọi chuyện, khỏi cần phải báo cáo về tôi những công việc của anh.

Dĩ nhiên, nếu anh cần giúp đỡ thì cứ việc gọi về, tôi sẵn sàng. Chúc anh may mắn…

Cú điện thoại thứ hai mà chàng tính gọi, khó khăn hơn.

Hình như số mạng của chàng dính liền với những cú điện thoại như vậy. Chuyên môn gọi đi để thông báo những tin buồn. Chàng nhớ trong những chuyến công tác trước, khi nhận được điện thoại của Eliot Ness, thân nhân của các người làm việc dưới quyền chàng thường co rúm người lại. Bình thường, Eliot Ness không bao giờ gọi về nhà nhân viên nếu họ không có nhà. Những cú điện thoại bất ngờ như vậy thường chỉ hẹn người ta tới hai chỗ: hoặc nhà thương hay là nhà đòn đám ma.

Stach Moses sống một mình, chàng không biết hắn có thân nhân hay không, nên phải gọi cho ông biện lý để vừa hỏi tin tức vừa làm tròn nhiệm vụ thông báo cái chết cho ông ta.

Đúng ra, Stash Mose là người của ông biện lý chứ không phải của chàng. Ông ta chỉ cho chàng “mượn” đỡ trong một vài vụ đầu, ông ta đã có những chương trình riêng cho tên “điệp viên” này. Cài một người vào hàng ngũ của Al Capone không phải là chuyện dễ.

Thường thường phải mất cả năm và rất nguy hiểm. Chàng không hiểu ông Morgan sẽ nghĩ sao khi nghe tin Stash Mose bị ám sát chết có thể vì lỗi lầm của chàng. Suy nghĩ một lúc, Eliot Ness quyết định đi đến gặp tạn mặt ông ta để báo tin buồn, thay vì nói qua điện thoại.

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 13 Apr 2025

Chương 9

Giờ “G” để tấn công, theo kế hoạch là 2 giờ sáng.

Khoảng một giờ đồng hồ trước đó, như một vị tư lệnh chiến trường tài ba, Eliot Ness đã cho bố trí lực lượng cảnh sát tăng phái một cách hoàn hảo.Tất cả diễn ra một cách âm thầm bí mật, đẹp hơn cả dự đoán của chàng. Khẩu lệnh cuối cùng trước khi tấn công là: “Thằng đội nón đỏ là “người của mình”. Cứ bắt nó lên xe như mọi người nhưng xin quý vị đừng đụng đến nó”.

Khi cho mọi người phân tán để chuẩn bị lên xe, Eliot Ness ngoắc thằng Preseusky:- Chú mày đi chung xe với tao. Nhờ chú mày vô văn phòng đem giùm mấy cái búa bửa củi theo. Tối nay mình sẽ không để một giọt rượu nào nằm yên trong thùng.

Preseusky mau mắn gật đầu.

Hai chục phút sau, chiếc xe của hai người theo đoàn công voa mấy chục chiếc của cảnh sát âm thầm tiến vào mục tiêu đã định.

Eliot Ness có vẻ hài lòng vì cảnh sát Chicago thi hành những chỉ thị của chàng không trật một chi tiết. Đâu đó bố trí và chuẩn bị sẵn sàng.

Ngồi trong xe với Preseusky, Eliot Ness thỉnh thoảng bụm tay chiếu đèn pin để nhìn đồng hồ. Bên cạnh chàng, Preseusky giữ một vẻ yên lặng kỳ lạ. Eliot Ness nghĩ đến người cảnh sát buổi chiều đã đập bể tấm kiếng của thằng sừng sỏ Frank Nitti.

Chàng để ý đến cặp mắt người cảnh sát quắc lên giận giữ khi nghe nhắc đến cái tên “Mike Casey.” Chắc chắn phải có một bí ẩn gì hoặc một liên lạc kỳ lạ gì đó giữa Mike Casey và Gary Malone.

Eliot Ness dò hỏi Preseusky:

– Anh gia nhập nghành cảnh sát lâu chưa?

– Chừng 5 năm.

– Anh quen biết Mike Casey không?

– Ông ấy là xếp tôi, nếu không quen nhiều cũng ít.

– Còn Gary Malone?

Preseusky xoay đầu nhìn Eliot Ness có vẻ ngạc nhiên:

– Ông mới ở Hoa Thịnh Đốn xuống mà cũng biết “bàn tay thép” Malone à?

– “Bàn tay thép”, tên gì nghe gớm vậy?

Preseusky chậm rãi:

– Thành thật mà nói, cảnh sát ở Chicago này chỉ còn có Gary Malone là sạch. Mà sao ông biết Gary Malone?

– Tình cờ sáng hôm nay tôi có dịp nhìn thấy Gary Malone gác đường.

Preseusky chặc lưỡi:

– Tài nghệ cỡ Gary Malone mà đi gác đường thì Chicago này đúng là hết thời. Ông biết Gary Malone có …ba đời cớm trong máu. Giòng họ của hắn từ ông nội xuống đến cha đến con đều là cớm của Chicago.

– Vậy chắc hắn phạm phải một lỗi gì lớn lắm nên mới bị “đi đày” thê thảm như vậy.

Preseusky quay khung cửa sổ cao lên một chút, dường như không muốn ai nghe những gì hắn sắp nói:

– Không, Malone không có lỗi gì cả. “Lỗi” duy nhất của hắn là hắn không chịu ăn lương của Al Capone?

– Không ăn lương của Al Capone, vậy cảnh sát Chicago ăn lương của Al Capone hết rồi sao?

Eliot Ness thấy lành lạnh nơi gáy. Nếu đúng như thằng cảnh sát này vừa nói thì kế hoạch tấn công tối hôm nay coi như huề. Không chừng mình lại còn mất mạng. Tự nhiên, chàng cảm thấy cô đơn vô cùng giữa đám người mà đáng lý ra phải gọi là “chiến hữu” của mình.

Preseusky tiếp tục:

– Cái đó khó nói chắc. Chắc chắn là có nhiều người trong ty ăn lương của Al Capone nhưng ai sạch ai trong làm sao mình biết được?

– Vậy anh, anh có “ăn” không?

Preseusky do dự một chút rồi trả lời:

– Không! Tôi không dính dáng tới Al Capone.

Nghe cũng cảm thấy hơi yên lòng nhưng Eliot Ness nghĩ, nếu nó ăn thì sức mấy nó dám nói cho mình biết. Kế hoạch tấn công đã đi đến giai đoạn không thể nào rút lại được nữa. Đã lỡ ngồi trên lưng cọp thì đành phải ngồi cho trót.

Eliot Ness mua cảm tình:

– Hỏi vậy cho vui thôi chứ tôi không nghĩ anh ăn lương của Al Capone. Này, còn ông Malone nếu không ăn lương thì thôi chớ ai có quyền đày hắn đi gác đường như vậy?

– Mike Casey.

– Mike Casey?

– Đúng. Ông chưa biết, ngày xưa cả hai là đôi bạn cảnh sát rất thân. Cả hai đều là những cảnh sát thượng thặng của Chicago.

– Rồi một người lên một người xuống phải không?

– Cũng gần đúng như vậy.Sau khi bà vợ của Mike Casey bị tai nạn xe hơi chết thì hắn thay đổi tính nết. Thứ nhất hắn trở thành nghiện rượu, thứ hai hắn thích tới thăm các ổ điếm của Al Capone.

Eliot Ness bắt đầu hiểu nhiều thêm một chút. Dĩ nhiên, cảnh sát mà đi chơi bời thì sức mấy thằng nào dám lấy tiền. Nó không lấy tiền mình thì mình cũng đâu tiện hạch sách nó khi thi hành phận sự. Sống ở đời, phải có qua có lại thì mới lâu dài.

Preseusky tiếp tục:

– Những ngày đó, tuy có đi lại với tụi Al Capone nhưng Mike Casey dù sao cũng còn chút lương tâm của một anh cớm trong người, chưa đến nỗi tệ, nhưng đến khi luật cấm rượu của chính phủ ban hành thì hắn trở thành lệ thuộc nhiều hơn vào Al Capone cho đến khi chính thức làm nô lệ cho Al Capone.

– Vì rượu hay vì tiền?

– Vì cả hai thứ thì đúng hơn. Mỗi ngày hắn phải làm cỡ 3/4 chai whiskey thì mới đứng vững được. Mà ở Chicago trong thời buổi cấm rượu này có ai đủ khả năng cung cấp cho lão mỗi ngày một chai whiskey ngoại trừ Al Capone? Còn cái này nữa, ông biết sao hắn lên được chức trưởng phòng không? Chính Al Capone mua tặng cho gã chức đó nhân sinh nhật của gã cách đây 4 năm.

Quả đúng là …Chicago. Eliot Ness không tin được tai mình, hỏi:

– Vậy người đẩy Gary Malone ra đường chính là Mike Casey?

– Chớ còn ai vào đó nữa.

Eliot Ness che tay bật đèn pin nhìn đồng hồ. Chỉ còn 15 phút nữa đến giờ tấn công.

Chàng ra dấu cho Preseusky rồi bước xuống xe.

Đi kiểm soát một vòng trong bóng tối, Eliot Ness nhận thấy tất cả mọi người đều đã chuẩn bị đầy đủ. Theo đúng chỉ thị, chiếc xe ủi đất bắt đầu nổ máy cho ấm, người tài xế mặc áo giáp đang ngồi tít trên cao, yên lặng.

Đúng 2 giờ sáng, Eliot Ness bấm đèn pin ra hiệu.

Hàng chục chiếc xe cảnh sát đồng loạt bật đèn pha, rọi sáng căn nhà kho vĩ đại. Chiếc máy cày giơ bững, từ từ tiến tới. Theo sau là hai tiểu đội cảnh sát trang bị đủ mọi loại súng ống và dùi cui.

“Ầm” một tiếng trời long đất lỡ vang lên, hai cánh cửa sắt bị chiếc máy cày ủi sập. Cả nhà kho vĩ đại rung chuyển dữ dội như sắp sụp đổ.

Lẹ như chớp, cảnh sát vừa quát tháo vừa xông vào. Trái với dự đoán của Eliot Ness, đèn đuốc trong nhà kho vẫn thắp sáng trưng, cảnh sát không gặp một sự kháng cự nào. Đúng hơn, cảnh sát chỉ bắt gặp hai thằng gác dan đang ngồi đánh bài vặt một góc nhà.Tốt, càng ít người thì nhà tù càng đỡ chật, không có gì phải bận tâm, chàng chỉ chú ý đến hàng trăm thùng gỗ mới tinh còn đóng dấu “Made in Canada” chất đầy trong kho. Hai ông gác dan bị bắt đứng dựng vào tường, lục soát. Cảnh sát báo cáo không tìm thấy súng ống gì hết.

– Đưa cây búa đây!

Eliot Ness hét lớn.

Cầm búa trong tay, lựa một kiện hàng, chàng dùng hết sức bổ xuống. Nắp thùng bung ra, Eliot Ness thò tay vô trong đám rơm đệm mò mẫm. Quái lạ, sao không thấy gì cả. Mò sâu hơn, tay chàng chạm phải vật gì nhọn nhọn. Cái gì đây? Rượu gì mà có cái đầu nhọn hoắc vậy? Kéo nó ra, Eliot Ness mới biết đó là một cây …dù.

Nổi điên, chàng cầm búa bửa tơi bời xuống một chập, mở thêm bốn thùng nữa, cũng chẳng tìm thấy một chai rượu nào hết. Lúc này bắt đầu có tiếng xì xầm của đám cảnh sát, vài tiếng cười nho nhỏ đã bốc lên.

Eliot Ness ra lệnh:

– Anh em tháo hết tất cả những cái thùng này ra cho tôi. Rượu lậu nó phải giấu đâu trong này.

Cảnh sát ra tay làm việc. Chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, họ đã làm xong phận sự.Và chuyện Eliot Ness lo sợ nhất đã tới: có tìm thấy chai rượu mẹ nào đâu, chỉ toàn là dù và một mớ đồ chơi con nít nhập cảng.Tiếng xì xầm của đám cảnh sát trở thành những câu đối thoại mỉa mai, càng lúc càng trở nên to hơn. Có người còn bật cười lên hô hố càng làm ông thanh tra liên bang chới với.

Rồi chẳng bao lâu, cả khu nhà kho biến thành một cái chợ ồn ào.

Có thể nói, tất cả những cảnh sát viên có mặt nơi đó đều không giấu được một vẻ hả hê trên nét mặt, kể cả thằng Preseusky. Eliot Ness giận tím mặt lại.Trong cuộc đời, chưa bao giờ chàng bị hố một cú đau như thế này. Phải cố gắng lắm mới giữ được vẻ bình tĩnh, Eliot Ness ra lệnh cho bọn cảnh sát đóng các nắp thùng lại và làm biên bản cuộc đột kích, rồi tà tà bước ra ngoài nhà kho.

Chàng cần kiếm một chỗ vắng vẻ để suy nghĩ về nguyên nhân của sự thất bại này. Các nhân viên cảnh sát đang tụm năm tụm ba đấu láo ngoài trời, thấy chàng bước ra liền lảng đi chỗ khác.

Trời ban đêm lồng lộng gió.

Eliot Ness rút bao thuốc lá, đốt điếu thuốc đầu tiên kể từ lúc kế hoạch tấn công bắt đầu. Hơn lúc nào hết, chàng cảm thấy thấm thía câu nói của thằng phóng viên mắc dịch Ferguson: “Ông có biết chuyện chàng hiệp sĩ Don Quichotte đi đánh nhau với cánh quạt của máy xay lúa không? Ông có phải là một Don Quichotte không?”

Một nhân viên lẫy lừng và tiếng tăm của Hoa Thịnh Đốn gởi xuống Chicago đã bị Al Capone cho vào xiếc như một thằng con nít.

Ngày mai đây, báo chí khắp nước Mỹ sẽ chạy hàng tít lớn đại khái như vầy: “Cảnh sát liên bang đột nhập bất hợp pháp một kho chứa hàng nhập cảng …hợp pháp”. Ông xếp của chàng sẽ gọi điện thoại xuống. Rồi biện lý Morgan sẽ phải thanh minh thanh nga với báo chí, thị trưởng Chicago lại lên radio để cắt nghĩa sự hành quân vô ý thức này.

Dĩ nhiên, đây là một dịp hiếm có để thằng phóng viên chó đẻ Ferguson đưa chàng lên máy chém. Nhưng đó chỉ là hậu quả của cuộc tấn công hụt ngày hôm nay. Eliot Ness biết rõ một điều: chàng không phải là Don Quichotte. Sự thất bại ngày hôm nay càng làm cho chàng trở nên quyết liệt hơn. Kể từ đây, cái tên Al Capone đối với chàng không phải là một công tác để thi hành nữa. Nó đã trở thành một vấn đề cá nhân, một mối thù, một mối nhục cần phải rửa. Chuyện quan trọng nhất Eliot Ness cần phải biết bây giờ, là tại sao kế hoạch tấn công chuẩn bị tỉ mỉ như vậy mà đã trở nên cái trò cười cho thiên hạ.

Chàng nhận định trò cười này chỉ có thể xảy ra vì một trong hai lý do. Hoặc thằng Stash Mose cho tin tức tầm bậy để gạt mình, hoặc là chính ty cảnh sát đã mật báo cho trùm Al Capone biết trước. Hai giả thuyết trên đều có thể đứng vững vì những chuyện xảy ra rõ ràng ngày hôm nay.

Eliot Ness nhìn lên bầu trời vằng vặc trăng sao, thề với lòng mình: “Sau cuộc thất bại đau đớn ngày hôm nay sẽ là những khó khăn, nhưng cuối cùng chiến thắng sẽ về ta. Nếu không diệt được Al Capone, thề nhất định không rời khỏi Chicago.” Giữa lúc chàng đang mãi mê suy nghĩ thì bỗng thấy bốn năm luồng ánh sáng đèn flash của mấy cái máy chụp hình lóe lên liên tiếp. Trước mặt chàng, lố nhố khoảng chừng chục ông phóng viên nhà báo đang hùng hổ tiến tới.

Dẫn đầu tụi này, dĩ nhiên không ai khác hơn là thằng …chó đẻ Ferguson:

– Kính chào ông Ness, xin ông cho biết cảm tưởng của cuộc hành quân ngày hôm nay.

Eliot Ness lặng người. Làm sao tụi này đánh mùi mau đến như vậy. Nhưng nổi giận giờ này cũng chả ích gì.

Nếu cuộc tấn công thành công thì chẳng nói, còn thất bại như thế này thì mặt mũi nào trả lời phỏng vấn.

Đám phóng viên tiến tới gần hơn, vừa tiến tới vừa nháy bóng loạn lên. Những cây bút và giấy viết đã chuẩn bị sẵn sàng:

– Xin ông vui lòng cho biết ông chuẩn bị lực lượng gồm bao nhiêu người để tấn công ngày hôm nay?

Ở giây phút …bi thảm này, Eliot Ness bỗng lóe lên một ý nghĩ.

Công tâm mà nhận xét, chàng chẳng có gì phải giấu giếm hay xấu hổ hết. Thua keo này bày keo khác. Là một tay chơi đúng độ, mình nên thẳng thắng nhìn nhận sự thất bại của mình một cách khách quan và can đảm. Đổ tội cho thời thế hay cho ai khác chỉ làm bản chất con người trở nên hèn đi. Một tay chơi ngoại hạng của chính phủ liên bang Hoa Kỳ không thể làm thế được. Câu trả lời của Eliot Ness làm thằng Ferguson chưng hửng:

– Tôi có vài điều muốn tuyên bố với qúy vị báo chí. Thứ nhất, tôi, Eliot Ness, cảnh sát đặc vụ của Nha Ngân khố Hoa Kỳ là người chịu trách nhiệm hoàn toàn cuộc hành quân này. Thứ hai, cuộc tấn công này thất bại hoàn toàn, và người đáng trách là tôi. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm và chấp nhận lầm lỗi của mình. Nếu mấy ông muốn, có thể ghi lên báo như vầy: “Chúng tôi, hay đúng hơn là tôi đã bị lừa dễ dàng như một đứa con nít.” Chúng tôi chẳng tịch thu được gì cả. Tất cả đồ đạc trong kho đều là những hàng nhập cảng hợp pháp.

Ferguson có vẻ khoái lời thú tội chân thành mà hắn không ngờ nghe được từ một anh cớm. Xưa nay, có ông cớm nào dám chơi ngon vậy? Hễ có chút ít chiến công thì một thổi ra làm hai, ba, đấu vang trời vang đất. Còn nếu bị người ta đưa vào xiếc thì câm như hến, giấu kỹ như mèo giấu cứt hoặc đổ lỗi quanh.Thói đời mà! Ferguson tự nhiên thấy có cảm tình với anh cớm mà mới sáng nay xém tí nữa đã quẳng mình ra khỏi cửa sổ.

Rất từ tốn, Eliot Ness tiếp:

– Xin các ông nhà báo ghi thêm rằng, tôi bị thua trận này nhưng cuộc chiến chưa kết thúc! Những kẻ nào tưởng rằng chúng tôi sẽ bỏ cuộc là lầm to. Những cuộc đột kích sắp tới sẽ được tổ chức quy cũ hơn, và lớn hơn. Tôi sẽ tấn công vào nơi mà kẻ thù của chúng ta không bao giờ ngờ đến, và sẽ đánh vào những chỗ nhược của họ. Trận đánh cuối cùng mới là trận đánh quyết định.

Một giọng nói cất lên:

– Ông muốn ám chỉ “kẻ thù” đây tức là Al Capone?

Eliot Ness trả lời thật chậm, giọng hơi run run khi nghe tới cái tên Al Capone:

– Đúng, tôi muốn nói đến Al Capone và tất cả những đàn em của hắn, những kẻ sống ngoài vòng pháp luật, những kẻ đáng lẻ phải ngồi trong nhà tù cấm cố đếm hàng trăm cuốn lịch thay vì ăn nhậu phè phỡn tại đại khách sạn Lexington…

Trong lúc đám phóng viên mãi ghi ghi chép chép, Eliot Ness phóng thêm chưởng độc:

– Tôi muốn thằng khốn nạn Al Capone biết rằng tôi xuống Chicago này để dẹp nó, để đưa nó vào nơi mà đáng lẽ nó phải ở, là nhà tù. “I come here to get Capone!” Và tôi sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để thi hành mục đích mình. Xin quí vị ghi rõ lời tuyên bố của tôi ngày hôm nay. Xin quý vị cũng ghi thêm rằng nếu không nhốt được thằng Al Capone vào đằng sau mấy cái song sắt nhà tù, tôi sẽ không bao giờ rời khỏi thành phố Chicago. Tôi lặp lại, tôi sẽ không bao giờ rời khỏi Chicago nếu thằng chó đẻ Al Capone không vào tù. I come here to get Capone. That son-of-the-bitch will go to jail.” Bây giờ tôi có chuyện phải đi, xin các ông cho phép…”I come here to get Capone.”

Đám phóng viên đi từ ngạc nhiên đến thích thú. Những lời thú nhận thất bại rất anh hùng và những lời tuyên bố nảy lửa, là chuyện ngàn năm một thuở. Xưa nay, chưa hề có cái vụ cảnh sát sỉ vả thậm tệ một công dân nào công khai và nặng nề như vậy, dù đó là công dân dao búa. Thông thường thì mấy thầy cảnh sát chỉ đóng khung cứng ngắc sau câu: “Chúng tôi đang tiến hành cuộc điều tra” hoặc “Chúng tôi đang phối kiểm tin tức rồi sẽ có kế hoạch để đối phó với tình trạng này, v.v.”

Một anh cớm trẻ dám hung hãn phát ngôn bằng những lời chửi rủa dao búa như vậy thì chắc phải có tài nghệ gì đặc biệt.

Eliot Ness trở vào nhà kho ra dấu cho bọn cảnh sát thu dọn chiến trường.

Bây giờ, những tiếng cười, những tiếng mỉa mai đã im bặt. Đám cớm Chicago vừa nghe Eliot Ness đích thân chửi rủa Al Capone bằng thứ ngôn ngữ mà chính họ cũng phải ngạc nhiên. Có thể là do tức quá hoá khùng. Nhưng nhìn ánh mắt tóe lửa của ông cớm liên bang, không ai muốn chọc cho chàng giận thêm. Đúng là típ cớm cô hồn và chịu chơi, ăn nói lạng quạng là hắn dám xông tới giộng cho một trận ra gì lắm.

Ai nấy cúi đầu lẹ làng đóng lại những kiện hàng, quét dọn mớ rơm rác dưới sàn nhà rồi lên xe rút đi.

Eliot Ness đi chiếc xe cuối cùng, mặt vẫn lầm lì và hút thuốc liên miên làm thằng Preseusky ngồi bên cạnh cũng im thin thít, không dám mở miệng hó hé lấy một câu…

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 13 Apr 2025

Chương 12.

NHỮNG MỤN GHẺ NGỨA BẮT ĐẦU MỌC LÊN những kẻ ngón tay ngón chân Minh, chàng gãi đến thế nào cũng không đã ngứa. Minh nghĩ bụng, chỉ mấy ngày nữa là ghẻ mụn sẽ mọc đầy người.

Minh ngạc nhiên vì chàng giữ gìn thật sạch sẽ mà không thoát khỏi vi trùng ghẻ ngứa. Mới đầu những mụn ghẻ nhỏ như đầu tăm, làm ngứa dữ dội, những mụn ghẻ nước vỡ ra, mấy ngày hôm sau bắt mưng mủ vàng, bây giờ Minh vừa ngứa vừa đau, những mụn vàng tấy đỏ lên. Minh chỉ muốn ngồi một chỗ, ngồi để gãi cho đã. Buổi chiều hôm nay Minh ngồi phơi nắng ở ngoài hành lang đông đảo người qua lại, mấy ông sĩ quan cùng bị giam với Minh cũng bị tống giam vào khám. Các ông ấy được giam riêng theo qui chế sĩ quan, và được đãi ngộ hơn bọn lính. Minh chỉ nhìn thấy thấp thoáng mấy ông ở bên kia song sắt. Các ông ấy có vẻ nhàn nhã, người nào cũng bận quần áo trắng ngồi chơi ở hành lang, có hai ông ngồi đánh cờ tướng.

Mình đã bị tống giam vào khám Chí Hòa như vậy đã được ba tháng mười ngày, chàng chờ đợi mãi mà không thấy được thả. Minh đã gởi đi nhiều lá đơn khiếu nại, những lá đơn không được hồi âm. Ngày hôm qua Minh lại gởi thêm một lá đơn nữa, Minh tự nhủ: mình phải hy vọng.

Minh giơ tay ra ngoài nắng, chàng mong ánh nắng sẽ làm cho chàng đỡ ngứa phần nào, bàn tay nóng lên Minh thấy dễ chịu, những mụn ghẻ mới ở bàn chân ác ôn bây giờ chúng sưng tấy đỏ lên làm Minh đau, không còn đi đứng nhanh nhẹn được nữa. Một mụn ghẻ sưng cả trên bàn chân, ngay chính một đường gân, Minh nghĩ, mình cào mủ thoát ra sẽ dễ chịu hơn.

Minh nặn mủ, dùng một cái khăn khô chấm lên, lau sạch, chàng tiếp tục nặn những mụn khác. Bỗng có tiếng dép đi lẹp xẹp bên cạnh Minh:

– Minh.

Minh ngẩng lên, Minh nhận thấy gã làm việc ở phòng can nhân, Minh hỏi: đi. đi.

– Gì đó?

– Dưới phòng can nhân kêu mày.

– Có chuyện gì đó?

– Về lá đơn của mày, xuống ngay

Minh đứng dậy:

– Vậy hả, có gì không?

– Tao không được biết rõ, cứ xuống

Minh tập tễnh đi theo hắn. Chàng lại hy vọng: hay là, người ta đã xét tới đơn của chàng. Minh cố đi nhanh hơn, chàng đi qua cầu thang xoáy trôn ốc tối mò, phòng can nhân ở tận trong cuối cùng. Tên tù công vụ đưa Minh tới trước mặt ông giám thị trưởng khu, ông ta để lá đơn của Minh trước mặt chàng, ông ta ngẩng lên hỏi:

– Chú mày là Minh phải không?

– Dạ thưa ông trưởng, phải.

– Chú gởi lá đơn này?

– Vâng.

Ông gập lá đơn lại:

– Tôi đã nhận được của chú ba lá trước, và mãi ngày hôm qua tôi mới nhận được đơn gởi trả lại.

Minh hồi hộp:

– Thưa ông trưởng…

Ông giám thị trưởng khu can phạm bình tỉnh mỉm cười:

– Trên tòa đã gởi trả lại những lá đơn chú đã gởi đi, họ cho biết rằng không thể trả tự do cho chú được, chú bị giam cứu cho tới bao giờ ra tòa, chú được xét xử một cách phân minh.

– Thưa ông trưởng, những lá đơn đó tôi không hề xin tội, tôi chỉ xét trường hợp của mình để xin tại ngoại hầu tra thôi.

Ông giám thị trưởng khu lại nhìn Minh:

– Chú xin tại ngoại hả? Đó lại là chuyện khác.

Tay ông trưởng khu cầm một cái bút chì gõ vào cạnh bàn:

– Cái chuyện đó thật xa vời với chú, chú là cái thớ gì mà dám xin tại ngoại hầu tra?

– Thưa, tôi xét rằng tội tôi không có gì.

– Sao chú biết là không có gì? Ông giám thị trưởng xoa tay:

– Chú đừng có điên, từ nay chú đừng làm đơn nữa nghe chưa? Bởi vì xin tại ngoại hầu tra chú phải có luật sư xin mới được, mà theo tôi biết chú đâu có luật sư.

– Dạ.

Ông giám thị trưởng khu mở ngăn kéo lấy những tờ đơn của Minh, đã gởi đi trước đây trả lại cho chàng. Trên mỗi lá đơn đều có ghi viết nguyên tử đỏ: “Không chấp thuận”.

Tờ đơn cuối cùng ghi một cách gay gắt hơn: “Không chấp thuận, nói cho đương sự biết đừng gởi đơn nữa”.

Ông giám thị trưởng khu nói:

– Đó, đó là lý do tôi không gởi đơn của chú đi.

Minh đứng cúi gầm mặt, chàng buồn buồn, chàng nói nho nhỏ:

– Xin cám ơn ông trưởng.

– Thôi về phòng đi.

Minh chào ông trưởng xong cất bước quay lên lầu, vậy là từ nay chàng không còn hy vọng gì nữa. Minh lên đến phòng mình, chàng lại tới chỗ cũ ngồi. Bầu trời ngoài song sắt xanh cao thăm thẳm, nắng chiều vàng óng, nhẹ nhàng vương trên nóc khám đường.

Minh nhìn thấy một con diều giấy nhà ai đang vùng vẫy trên bầu trời rộng, chiếc đuôi ngũ sắc quay lộn. Minh tưởng tượng đến một cánh đồng, một đứa trẻ nào đó đang cầm đầu dây con diều, nó sung sướng khi nhìn thấy con diều của mình mỗi lúc một bay cao, như Minh hồi nhỏ, chàng cũng chạy chơi trên cánh đồng, cũng vui đùa khi nhìn thấy con diều của mình bay cao.

Minh thở dài tựa đầu vào song sắt, Minh lơ đãng nhìn con diều giấy. Một thằng ghẻ lỡ cùng mình tới ngồi trước mặt Minh:

– Sao, xuống dưới có việc gì đó? Minh chán nản trả lời:

– Xuống nhận lại mấy lá đơn xin tại ngoại.

– Không được xét à?

Minh lười biếng không muốn nói nhiều chàng đưa cả mấy lá đơn cho hắn xem. Gã xem phớt qua rồi trả lại Minh:

– Mày ngây thơ bỏ mẹ.

– Có lẽ vậy.

Gã tù quân ghẻ chóc gãi nghe sồn sột:

– Tao thấy ở tù còn sướng hơn đếch còn muốn trở về đơn vị nữa. Mẹ tao không thể nào chịu nổi.

Minh chán nghe những mẫu tâm sự, bởi vì chàng nghe đã quá nhiều. Nhưng gã tù quân vẫn tiếp tục nói:

– Khi mãn tù có lẽ mình không được trở về đơn vị, mình sẽ bị đưa tới quân lao, nơi đó còn khổ gấp triệu lần ở đây, nơi đó mới là địa ngục của trần gian, mày đã nghe nói tới nơi đó chưa?

– Có, nhưng tao chưa tưởng tượng được nơi đó như thế nào.

– Mày không thể tưởng tượng nổi, bởi vì mày sẽ thường xuyên bị đánh, mày không còn thì giờ để ngồi khơi khơi như ở đây.

Minh lắc đầu:

– Tao chán nản. Tao thì mặc kệ, muốn đi đến đâu thì đến tao cứ coi như mình đã chết.

– Chết không dễ đâu mày ơi, nếu chết được là một điều mừng.

– Vậy biết làm sao bây giờ?

Thằng quân phạm ghẻ chóc nhìn vu vơ lên bầu trời rộng:

– Nếu tao đào ngũ được lần nữa, tao sẵn sàng đào ngũ. Rồi tao trốn luôn.

– Mày trốn đi đâu?

– Cũng chưa biết nữa, nhưng tao nhất định trốn, trốn cho qua cuộc chiến tranh này.

Minh ngồi im, chàng để mặc cho gã lính ghẻ chóc muốn nói gì thì nói. Minh đang buồn cho số phận mình, từ ngày chàng gia nhập quân đội đến giờ, chưa bao giờ chàng nhận được một sự may mắn, chàng không oán trách gì quân đội, chàng chỉ nghĩ mình không gặp may mắn mà thôi. Minh nghĩ đến những vị sĩ quan của mình, cả những vị sĩ quan từng làm khó dễ chàng, chàng không ghét họ, không thù oán họ, chàng muốn quên đi tất cả, chàng chỉ nghĩ đến những ngày giải ngũ, nếu chàng được giải ngũ, chàng biết chắc rằng sau khi ở tù về, Không Quân khô- ng còn nhận chàng. Minh lại nghĩ đến Ngọc, chàng đã viết cho Ngọc một bức thư sau khi vào khám Chí Hòa, chàng không nhớ địa chỉ của Ngọc, chàng chỉ nhớ tên tiệm uốn tóc của Ngọc làm việc, chàng ghi tên tiệm, không biết thư có tới tay Ngọc không, Minh hy vọng một tháng nay rồi, chàng không nhận được thư trả lời của Ngọc, như vậy chàng không còn hy vọng gì nữa.

Minh đứng dậy đi dọc theo hành lang, ở chỗ nào cũng có người ngồi nói chuyện gẫu, hoặc đánh cờ, có những thằng quân phạm ngồi cởi trần trùng trục, cậy mụn mủ rồi bỏ vào cái ống lon sữa bò, Minh dừng lại vịn song sắt hỏi:

– Mày làm cái trò gì vậy? Gã ngẩng lên:

– Chơi không, ngồi xuống đây chơi với tao?

– Chơi gì vậy?

– Thì ngồi đây, tao thiếu gì trò chơi.

Minh tò mò, chàng ngồi trước mặt hắn, xem hắn làm cái trò gì mà kỳ quái quá vậy. Gã thản nhiên nói:

– Mày có nhiều vảy mụn không, cậy ra cho chung vào đây.

– Tao ghẻ ít lắm.

– Đáng tiếc, thôi được mày ngồi đấy coi.

Gã quân phạm ngồi dạng háng ra, cậy những mụn ghẻ, khi thấy có vẻ hơi nhiều, gã nói:

– Thôi để dành đến mai.

Gã mở nắp một hộp sắt tròn. Minh nhìn thấy ba bốn con rệp, Minh kêu lên:

– Mày làm cái trò gì vậy? Gã bực mình gắt:

– Mẹ tiên sư hỏi hoài, ngồi đó mà coi, tao nuôi bò.

Gã gạt hết những con rệp vào lon mụn ghẻ, mấy con rệp chạy lăng quăng một hồi, bu vào mấy vảy còn dính máu, chúng hút máu đó. Gã can phạm cười sằng sặc:

– Đù mẹ, khoái nhé các con ạ…

Gã ngẩng lên nói với Minh: Cái bọn rệp nầy khoái nhậu món này lắm.

Minh lắc đầu:

– Tao thấy mày chơi cái trò nầy kỳ quái quá.

Gã quân phạm nói:

– Bản tính con người hiếu sát, dù bất cứ trong hoàn cảnh nào con người cũng tàn sát, không giết người thì giết sinh vật khác, từ ngày tao ở tù không giết ai nên giết mấy con rệp này cho đỡ khổ, mỗi ngày tao giết ít ra mười con, tao có ghi chép hết, tao thử coi tới ngày tao ra tù tao giết được bao nhiêu con.

– Mày giết nó thì mày giết đi, còn cho nó ăn cái của nợ này làm gì?

– Tao là người nhân đạo, trước khi đưa chúng vào cõi chết, tao muốn cho nó no nê một bữa.

Minh lắc đầu tủm tỉm cười:

– Trời ơi là trời…

Gã quân phạm tỉnh bơ.

– Khi tuyên án chúng, tao thấy tao là một ông tòa, cũng hách lắm chứ, một ông tòa công minh phải không mày, tao chắc rằng chúng có tội tao mới tuyên án chúng… Những con rệp này tao bắt chúng tại trận khi chúng đang hút máu tao, tuyên án tử hình, còn những con nào tao bắt được khi đi lang thang tao giam nó vào, tao giam chúng một tuần lễ không có ăn uống, con nào sống qua được một tuần thì đương nhiên tự do, tuần này tao có một nhà tù chứa hai trăm con rệp. Gã cười, nheo mắt nhìn Minh:

– Tao hách phải không mày? Tao vừa là một ông tòa vừa là một chúa ngục. Hắn nhìn vào lon quan sát mấy con rệp nói tiếp:

– Được năm phút chưa hả mày?

– Cũng tới năm phút.

– Vậy thì bọn này đến giờ đền tội ác.

Minh tò mò, chàng muốn biết gã quân phạm tốc kê nầy còn bày trò gì nữa. Gã làm dấu thánh giá trên ngực, mặt nghiêm trọng:

– Giê-su ma lạy chúa tôi, A-di-men.

Gã móc trong túi ra một bao diêm quẹt, đánh diêm châm vào một mảnh giấy bỏ vào trong lon, lửa cháy bừng lên, gã nói:

– Tao còn là một linh mục nữa, rửa tội chúng nó trước khi chúng về nước Chúa nước Phật.

Gã nghênh cổ lên, phồng mũi hít một hơi:

– Thơm đáo để đó mày, mày có ngửi thấy không?

Minh bịt mũi:

– Khiếp, sao mà mày tởm thế?

Gã hít từng hơi dài, như say sưa với mùi vảy mụn và mùi rệp cháy khét:

– Chiều nào tao cũng ngửi mùi này, tao thấy nhớ mùi bún chả.

Minh đứng dậy, chàng đi ra chỗ khác, thằng quân phạm cười khoái trá. Tiếng kèn hết giờ chơi của tù nhân vang lên từ ngoài bồn nước, tù nhân ùn ùn vào phòng, bữa cơm chiều đã ăn xong từ lúc ba giờ, phòng đã được ban vệ sinh dọn dẹp sạch sẽ, gã trưởng phòng vỗ tay đôm đốp gọi anh em:

– Tập họp chào cờ đi anh em.

Bọn quân phạm tự động tập họp theo hàng ngang mặt hướng ra cột cờ ngoài sân, không còn một thằng quân phạm nào được phép ở trần, tất cả đều phải quần áo chỉnh tề, cửa phòng giam đã được các giám thị khóa kín. Tiếng hô nghiêm chào cờ từ máy phóng thanh, tất cả tù nhân từ tám khu khám Chí hòa đều cất hát bài Quốc ca, sau đó đến bài suy tôn Ngô tổng thống, trước khi hát gã trưởng phòng đe dọa:

– Chúng mày hát cho hẳn hoi nghe chưa? Hát bậy bạ chết mẹ.

Tất cả đều hát xong. Lệnh giải tán, mọi người ai về chỗ nấy. Minh nghe nói bên phòng giam chính trị khu F các tù nhân không chịu hát bài suy tôn Ngô tổng thống mà trưởng khu không làm gì được, khi nào tới bài suy tôn các chính trị tự động tan hàng, hoặc có hát thì hát toàn những lời bậy bạ. Những chiếc chiếu trải ra ngay ngắn, sinh hoạt buổi tối bắt đầu, những chiếc lò bằng nhôm nấu đèn cầy do tù nhân tự tay chế tạo, được mang ra xếp hàng ngay ngắn, lửa sáng rực từ một góc phòng, bọn quân phạm xúm năm xúm ba ngồi đấu láo, gã tù giết rệp lui cui đi tìm rệp, gã lom khom bởi đống quần áo, moi tìm trong các góc tường, bắt được một con rệp, gã hí hởn mừng rỡ.

Minh không muốn đến chơi với gã, chàng nằm ngửa mặt nhìn lên phòng giam nghĩ ngợi vẩn vơ. Minh bỗng nghe tiếng cười ồn ào ở góc tường đàng kia, chàng ngồi nhổm dậy, một đám đông ôm bụng mà cười, không biết chúng cười gì dữ vậy. Minh tò mò chạy tới xem chúng nói chuyện gì.

Gã quân phạm Triệu chí Dũng ngồi giữa chiếu, bọn quân phạm khác ngồi chung quanh, và nước bày đầy trước mặt Triệu chí Dũng, Minh không lạ gì gã nầy, gã là một thằng lém lĩnh nhất phòng, đặc biệt có tài kể chuyện tiếu lâm, nhìn thấy Minh gã vẫy:

– Lại đây, lại đây bạn, ngồi chơi với anh em cho vui.

Minh kiếm một chỗ ngồi, gã quân phạm Triệu chí Dũng nâng ly trà lên uống một hớp, nhai miếng kẹo đậu phộng rau ráu, gã lại uống thêm một hớp nước trà nữa, gã đưa mắt nhìn mọi người:

– Chúng bây nghe chuyện ông đại úy, và cô nữ trợ tá chưa?

– Chưa.

Gã nhún vai:

– Hay lắm, nhưng khi tao kể chuyện nầy phải có thằng nào tình nguyện đám lưng cho tao ngủ tao mới kể.

Một thằng hăng hái giơ tay:

– Tao.

– Xong rồi, nhưng tao còn việc này nữa, cần thêm một thằng khỏe mạnh.

– Việc gì?

– Khiêng nước, ngày mai tới phiên tao khiêng nước.

– Vậy thì phải thêm một chuyện nữa.

– Dĩ nhiên, chuyện người phế binh mù.

– Vậy cũng tao nữa.

– Mày làm luôn hai việc hả?

– Tao làm hai việc, ngày mai có thằng khác thay tao.

– Vậy thì được rồi, tao bắt đầu kể nghe.

Hàng chục đôi mắt nhìn vào gã quân phạm Triệu chí Dũng, gã khề khà bất chợt nhìn mọi người:

– Có thằng nào ở đây ghét xếp không?

– Thằng chó nào mà không ghét xếp.

– Vậy thì chúng mày phải biết nói xấu xếp.

– Nói xấu bị nhốt thấy mẹ.

– Nói xấu mà không nhốt được mới là tài chớ, tao nghĩ ra một chuyện để nói xấu xếp, hồi tao làm việc ở đơn vị, ông xếp tao là một ông đại úy rất hách dịch với nhân viên, ông ta lại có tính lơ đãng, một hôm ông đại úy xếp tao ngồi trong bàn làm việc, ông quên cài nút quần…

Có tiếng khúc khích cười, gã quân phạm Triệu chí Dũng tỉnh khô:

– Ông đại úy làm việc trong phòng riêng có gắn máy lạnh, chỉ khi nào nhân viên có việc gì mới được phép vào, và ông chỉ chấp thuận cho nữ quân nhân làm việc tại văn phòng được vào phòng làm việc của ông mà thôi. Trước cửa phòng của ông có một cái bàn nhỏ, cái bàn đó do trung sĩ Lai ngồi gác, ông trung sĩ này làm cái thân gác cửa nhưng hách không chịu được, từ lính tráng tới nhân viên làm việc ở đây đều ghét. Nhưng ông ta đâu biết điều đó, ông ta tưởng người ta sợ ông.

Gã quân phạm Triệu chí Dũng ngừng lời, uống một hớp trà. Những đôi mắt háu háu nhìn vào gã ta, cái miệng duyên dáng dẻo quẹo của anh ta bắt đầu uốn éo:

– Thế rồi một buổi sáng kia có một cô nữ quân nhân phải mang giấy vào phòng ông trình ký…

– Gay cấn đấy nhé.

– Câm mày, rồi sao nữa?

Gã quân phạm Triệu chí Dũng nhìn mọi người:

– Hình như lúc nãy tao có nói ông đại úy có tính lơ đãng phải không?

– Đúng, đúng như vậy rồi sao nữa?

– À ông lơ đãng tới quên cả gài nút quần…

Có tiếng cười:

– Tao biết ngay mà, thế nào cũng có chuyện gay cấn.

Gã quân phạm Triệu chí Dũng tỉnh bơ:

– Bất đồ cô nữ quân nhân trông thấy.

– Hay, rồi sao?

– Cô ta mắc cỡ quá.

– Nhào đến chớ?

– Bậy nào, ông Đại úy cũng không hay biết tí gì…

– Gay cấn ở chỗ đó.

– Cô nữ quân nhân thương xếp mình vô ý quá, muốn báo cho xếp mình biết nhưng không biết nói như thế nào, cuối cùng thì cô ta đành đi ra, sau khi đã trình ký xong.

Mọi người ồ lên một tiếng, có người phản đối:

– Vậy thì có gì là ác đâu?

Gã quân phạm Triệu chí Dũng bình tĩnh:

– Chưa, chưa hết đâu mà, các bạn. Cô nữ quân nhân ra ngoài, cô ta thắc mắc hoài, cô ta không thể để cho ông xếp mình phơi “cái ấy” mãi được, cô ta sợ nó lạnh, bởi vì ông xếp ngồi ở phòng lạnh mà, cô ta muốn nói cho xếp nhốt nó lại.

– Thì đi vô nói phứt đi cho được việc.

Cô ta đi vô, nhưng con gái mà, ai lại nói tục, nói tĩu vậy. hỏi: Ông đại úy thấy cô ta trở vô, ông hỏi:

– Ủa, cô còn vô đây làm chi vậy?

Những đôi mắt bọn quân phạm sáng lên, những cái miệng như sắp sửa cười. Mặt gã quân phạm Triệu chí Dũng vẫn tỉnh bơ:

Cô ta bèn nói với ông đại úy:

– Thưa đại úy, khi em vô đây em thấy cái cửa sổ mở.

Ông đại úy hỏi lại:

– Cái cửa sổ mở rồi làm sao?

Gã quân phạm Triệu chí Dũng ngưng lời, có một vài tiếng cười xì xì, gã tiếp:

– Cô nữ quân nhân mắc cỡ quá, ông đại úy lại tiếp hỏi: “Cái cửa sổ mở rồi làm sao? Cô thấy cái gì ở đó?”

Một vài tiếng cười nhưng Triệu trí Dũng vẫn bình tĩnh, gã muốn kéo giây phút hồi hộp dài thêm ra, gã uống một hớp nước trà, nhai thêm một cái kẹo:

– Cô nữ quân nhân bèn trả lời: “Thưa đại úy, em thấy trung sĩ Lai nằm trên hai bao cát.”

Bọn tù cười phát lên, chúng cười rũ rượi, ôm nhau cười bò lăn bò lết.

– Hay, hay tuyệt.

Minh cũng không nín được cười, chàng thấy tâm hồn mình thoải mái; những buồn phiền phút chốc đã tiêu tan, bọn quân phạm cười đã đời lại nhao nhao:

– Còn chuyện phế binh mù?

Gã quân phạm Triệu chí Dũng khất lần:

– Thôi mình để dành đến mai đi, một đêm kể hai chuyện mất hay.

Bọn quân phạm năn nỉ nhưng Triệu chí Dũng vẫn ngồi tỉnh bơ uống trà.

Đêm khuya dần, bọn quân phạm có thằng bò về chỗ ngủ, tiếng kèn giới nghiêm vang lên ngoài bồn nước.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 13 Apr 2025

Chương 11.

MINH KHÔNG NHỚ MÌNH NẰM ĐÂY MẤY NGÀY RỒI, hình như là ba ngày thì phải, và chàng cũng biết mình không còn nằm ở phòng An ninh Không Quân nữa, chàng đã được đưa đi, tới một nơi điều tra khác, nơi mà phương pháp điều tra tinh vi hơn, chuyên môn hơn.

Tại đây, Minh thấy đủ bộ mặt của đủ hạng lính thuộc các binh chủng khác nhau. Quân, lính, có cả sĩ quan cấp tá nữa, họ cùng chung số phận như Minh, tù quân.

Mới buổi sáng này, Minh chứng kiến một pha đánh đập ngoạn mục, pha đánh đập đó diễn ra ngay trước mặt Minh và quân phạm.

Một ông đại úy được đưa xuống phòng, tới trước cửa phòng người hiến binh đưa tay chào ông đại úy, ông đại úy chào lại, người hiến binh nói:

– Thưa đại úy, đại úy vui lòng cho tôi được tháo bộ lon của đại úy.

Ông đại úy đứng yên cho người hiến binh tháo gỡ bộ lon, xong anh hiến binh lại nói:

– Đại úy cho tôi được tháo nốt huy chương trên ngực, để tôi làm tròn phận sự.

Ông đại úy đứng yên, sau khi tháo hết những thứ trên người ông, người hiến binh trao cho một người lính mang đi cất, người hiến binh nói với ông đại úy không cấp bậc:

– Bắt đầu từ giờ phút này ông không còn là đại úy nữa. Không, tôi nói là tạm thời ông không còn là đại úy nữa, tôi toàn quyền hành động.

Người đại úy không cấp bậc nhìn anh hiến binh, giọng ông buồn bã:

– Còn gì nữa?

– Tôi làm phận sự nhập phòng giam cho ông.

Minh và các bạn biết sẽ có chuyện gì xảy ra, nhưng ông đại úy thì hoàn toàn không biết. Tất cả mọi người chờ đợi, người hiến binh tung liền quả đấm vào mặt ông sĩ quan không cấp bậc. Ông sĩ quan ngã chúi, ông gượng đứng lên, ông liền bị một cái đá vào ngay mạng sườn, ông la lên:

Tại sao ông đánh tôi? Người hiến binh trở mặt liền:

– Tôi ra lệnh cho anh đứng nghiêm, anh không biết anh đứng trước mặt tôi, một trung sĩ hay sao?

Người đại úy không cấp bậc gượng đứng dậy, anh hiến binh túm ngực:

Anh phải hiểu, tôi muốn anh sáng mắt ra, anh không còn là một sĩ quan nữa, bây giờ anh là một quân phạm.

Người hiến bình tát lia lịa vào mặt ông ta, Xô ông ta chúi vào phòng giam rồi đóng cửa lại. Ông ta chửi thề.

Một ông thiếu tá cũng đã bị lột cấp bậc tiến lại, đỡ ông đại úy:

– Anh nên đi tìm một chỗ nằm, đừng chửi thề nữa vô ích, tôi là thiếu tá, tôi cũng bị đối xử như anh, tất cả anh em ở đây đều bị đối xử như thế, rất công bằng…

Ông đại úy nhìn vào mặt ông thiếu tá, ông ta có vẻ hiểu, ông thều thào nói:

– Cám ơn thiếu tá…

Ông đại úy lê về một góc nằm. Ông nằm như con tôm, ôm lấy đầu, dáng của ông trông thật tội nghiệp.

Bây giờ ông đại úy đã ngủ say, ông ta ngủ một hơi dài.

Minh buồn bã, chàng không bao giờ nghĩ, mình lại nằm đây, không bao giờ chàng nghĩ rằng mình bị ghép tội một cách vô lý thế được. Người an ninh điều tra hỏi đi hỏi lại:

– Tại sao mày làm việc đó, ai xúi mày làm?

– Thưa, không ai xúi tôi làm hết, tôi đứng gần chỗ đó, một người trung sĩ kêu tôi lại, đưa tôi cầm bình chữa lửa, ông ta nhờ tôi thì đúng hơn. ông ta nói mắc đi tiểu.

– Người trung sĩ đó tên gì?

– Tôi cũng không nhớ anh ta tên gì.

– Vậy là mày lãnh đủ mày biết không?

– Oan cho tôi…

Minh nhớ mình bị đánh, bây giờ nằm đây người chàng đau ê ẩm, chàng đau từng bắp thịt, từng khớp xương, chàng cũng không ngờ được mình lại có sức chịu đựng bền bỉ đến như vậy. Minh ngồi tựa lưng vào góc tường, chàng lơ đãng nhìn ra ngoài cửa sổ, ngoài ấy có một cây lớn, màu xanh của lá cây làm tâm hồn chàng dịu lại, xung quanh chàng những tiếng rên rỉ, những người vừa bị tống từ phòng điều tra về hầu hết trong phòng này là sĩ quan. Họ bị bắt trong vụ biến động vừa qua, mỗi người ngồi yên một xó, không ai nói với ai một câu, vẻ mặt họ lầm lỳ, chịu đựng.

Trời tối dần, Minh nhìn thấy bóng lá cây ngoài song sắt xẩm màu dần. Chàng nghĩ bụng, tội mình không có gì, họ bắt bớ sơ sơ rồi thả chàng ra. Minh lại nghĩ đến Ngọc, đã mấy ngày nay rồi chàng không được về với Ngọc, có lẽ nàng mong Minh lắm, mình thật là xui xẻo.

Minh nghe tiếng lục cục mở cửa, người lính an ninh mang cơm vào phòng giam, mấy người sĩ quan ngồi dậy, ông thiếu tá vỗ tay:

– Anh em ăn cơm.

Riêng ông đại úy vẫn nằm một xó không nhúc nhích. Ông Thiếu tá đến cạnh, lay vai ông đại úy:

– Dậy ăn cơm đi bạn.

Người đại úy uể oải:

– Tôi không ăn.

– Phải ăn, không ăn bạn không có sức mà chịu đựng đâu?

Ông thiếu tá cố dìu ông đại úy dậy:

– Ráng ăn một hai chén đi, mình còn sống về lâu về dài chớ đâu có sống về lúc này không.

Ông đại úy nể lời ông thiếu tá, tới mâm cơm, ông ta tâm sự:

– Thật tình tôi không biết gì hết, tôi oan hoàn toàn.

Ông thiếu tá cười:

– Ở đây nhiều người oan lắm chứ không phải mình bạn. Tôi thì không oan, họ bắt tôi rất đúng.

Ông thiếu tá ăn cơm ào ào, ông vui vẻ. Minh cũng uể oải ra mâm cơm, ông thiếu tá hỏi:

– Còn chú mày tại sao bị bắt?

– Thưa Thiếu tá tôi cũng không biết nữa.

– Chú có oan không?

– Tôi không biết có oan không, tôi là lính Không Quân, khi ông Đại tá Thi lên máy bay trốn đi, người ta có sai tôi cầm cái bình chữa lửa, đứng dưới cánh máy bay khi máy bay nổ máy, sau đó họ bắt tôi.

– Vậy là chú không oan, chủ đã mặc nhiên giúp cho loạn quân tẩu thoát.

Minh lặng yên ăn uống, chàng ăn cơm ở đây còn ngon hơn ở trại. Mặc dầu là tù, nhưng Minh được ăn theo qui chế sĩ quan. Ăn uống xong, Minh lại ra nằm một xó, chàng muốn ngủ một giấc, chàng muốn nằm mơ thấy Ngọc, trong mấy ngày nay chàng hy vọng mơ thấy Ngọc, nhưng chưa bao giờ chàng được như ý.

Chàng nghĩ đến Ngọc, bất cứ lúc nào, chàng nhớ nụ cười dễ thương của nàng, nếu không có vụ bắt bớ này xảy ra, có phải là bây giờ Minh đang sống hạnh phúc với nàng không. Minh nghĩ đến sự chiều chuộng của nàng, những lời nói tha thiết của nàng. Em không còn ai ngoài anh, em biết anh là người khá, nhưng sao anh chán đời vậy anh, anh sống với em anh sẽ tìm thấy hạnh phúc…

Những lời nói ấy bây giờ trở nên xa xôi. Minh hy vọng rằng sau khi người ta điều tra xong, người ta không thấy Minh có tội gì, họ sẽ thả Minh, lần này nhất định chàng sẽ làm đơn xin giải ngũ, bất giác Minh thở dài.

Minh đang thiu thiu ngủ, bỗng chàng tỉnh dậy vì có tiếng kẹt cửa, rồi có tiếng gọi tên chàng. Minh đứng dậy, những đôi mắt nhìn theo chàng. Người hiến binh nói:

– Đi theo tao.

Minh đi theo hiến binh, trên một hành lang dài có gắn những đèn điện vàng vọt. Tới trước cửa phòng điều tra người hiến binh xô Minh vô:

– Vô.

Minh vừa lọt vào, khung cửa phòng điều tra đóng ập lại, Minh nhìn một người ngồi ở sau bàn, ánh đèn chụp chiếu xuống mặt bàn. Minh không nhìn rõ mặt người đó, chàng chỉ nhìn thấy hai tay ông giở hồ sơ. Căn phòng im lặng đến nỗi Minh nghe rõ tiếng giở giấy sột soạt.

Người điều tra viên bận áo thun. Minh nhìn thấy bắp thịt trên cánh tay ông ta. Tập hồ sơ gấp lại bàn tay ông ta vỗ trên mặt bàn kêu thình một cái, ông ta điều chỉnh cho cái mặt đèn chiếu thẳng vào mặt Minh. Ánh sáng đèn quá sáng làm Minh chói mắt, tiếng nói từ trong bóng tối vang ra:

– Thế nào, mày có chịu khai gì thêm không?

– Thưa tôi đã khai hết cả rồi. Một tiếng cười gằng:

– Mày có hiểu mày khai như vậy chưa đủ không?

– Thưa tôi chỉ biết có thế.

Bước chân người đàn ông di chuyển, ông ta tiến ra nơi có ánh sáng, Minh nhìn rõ ông hơn, đó là một người đàn ông còn trẻ, khỏe mạnh, bàn tay hộ pháp nắm lấy vai Minh, nhìn thẳng vào mặt Minh:

– Mày có hiểu là mày khai như vậy chưa đủ không. Trong vụ này có nhiều điều bí ẩn, tao không bao giờ tin mày vô tình cầm bình chữa lửa, chuyện này phải do một tổ chức, tao muốn mày khai những người đã sai mày làm việc đó, mày thuộc phe nhóm Phan Phụng Tiên phải không?

Minh khổ sở, chàng không biết phải khai ai, sự thật chàng không thuộc một phe nhóm nào hết, chàng cầm bình chữa lửa hoàn toàn do vô tình.

Minh lắc đầu:

– Sự thật tôi vô tình, tôi không thuộc phe nhóm nào hết.

Vừa dứt lời Minh bị ngay một cái tát, cái tát quá mạnh làm chàng ù đặc một bên tai, chàng ngã ngồi bệt xuống sàn xi măng, người điều tra viên buông tiếng chửi thề. Ông ta vung chân đá mạnh một cái vào ngực chàng, một tiếng hự, Minh nằm thẳng cẳng ra sàn, chàng oằn mình, một bên tai úp xuống sàn, Minh nghe tiếng giày di chuyển, mũi giày ở ngay trước tầm mắt chàng Minh không thấy đau đớn, chàng chỉ thấy nghẹt thở, chàng có cảm tưởng một cái cối đá đang đè trên ngực chàng. Chàng nằm nghiêng thấy dễ chịu hơn, Minh mở mắt thật to nhìn mũi giày, nóng nảy giận dữ xiết trên nền xi năng, mũi giày có thể tung lên bất cứ lúc nào, nhưng không hiểu sao trước tình thế này, Minh thấy mình bình tĩnh một cách lạ, chàng nhìn mũi giày, chàng không nghĩ ngợi gì đến nó, rồi đôi mắt Minh mờ dần, chàng thấy mũi giày di động. Minh thấy ran rát một bên tai, à thì ra chiếc giày đã đặt lên một phần của đầu chàng, chiếc giày ấn càng lúc càng mạnh trên màng tang chàng. Minh thấy đầu mình nhức buốt, chàng có cảm tưởng cái đầu mình sắp sửa bể ra làm đôi, như một trái dừa. Minh hét lên một tiếng, chàng lịm đi, chàng thấy hàng trăm mũi giày đang múa trước mặt mình.

Người điều tra viên nhấc chiếc giày ra khỏi đầu Minh, anh ta cúi nhìn xuống, máu mũi máu miệng tên quân phạm đã hộc ra, anh ta khoanh tay đứng nhìn, anh đành bất lực với thằng này, anh nghĩ bụng có lẽ nó vô tội thật, đã ba ngày hôm nay anh mất công điều tra nó, nhưng vô hiệu. Nó giữ nguyên lời khai đó, nó cũng không khai bậy khai bạ cho ai để đỡ bị đòn, nó chỉ là một thằng lính khờ khạo, có lẽ nó khai đúng sự thật, anh ta cũng thấy mình mệt mỏi vì công việc của mình.

Thằng lính vẫn nằm thiêm thiếp trên sàn, người điều tra viên tới một góc phòng múc một số nước, tạt vào mặt nó. Thằng lính cử động chớp chớp mắt mấy cái, người điều tra viên vẫn đứng trước mặt nó:

– Dậy đi mày.

Minh lại nhìn mũi giày trước mặt mình, chàng nghĩ có thể mũi giày đó tung vào ngực mình, khi mình ngồi dậy. Người điều tra viên nhắc lại:

– Ngồi dậy. Minh lắp bắp:

– Thật tình tôi không biết, xếp có đánh chết tôi cũng vậy mà thôi.

Miệng người điều tra viên dịu dàng hơn:

– Ngồi xuống ghế đi.

Minh ngồi xuống ghế nhưng còn ngại ngùng, chàng sợ như lần đầu, chàng theo lệnh hắn ngồi xuống ghế, vừa đặt đít bị gã đấm một phát. Gã điều tra viên hình như hiểu Minh, gã cười:

– Tao không đập mày đâu, lau máu đi…

Gã làm ra vẻ xót xa:

– Thiệt tình tao không muốn đập mày chút nào hết, nhưng kẹt đó là lịnh của cấp trên. Thôi thì bây giờ tùy mày, mày muốn khai gì thì khai đi.

Minh mệt mỏi:

– Tôi không có gì khai hết, ngoài chuyện tôi bị oan uổng, xếp có đánh chết tôi cũng vậy thôi.

– Sao mày ngu quá vậy?

Minh ngẩng lên:

– Tôi không hiểu…

– Có đếch gì mà không hiểu, mày cứ khai đại cha nó sĩ quan nào đó mà mày ghét, ai cấm mày.

Minh lắc đầu:

– Tôi không thể làm chuyện đó, vì làm gì có chuyện đó, quả là thất đức.

– Mày còn có lòng lắm, bây giờ tao tha mày, mày tính sao?

– Đó là tùy xếp.

– Đừng nói cứng chớ, cứ năn nỉ tao thì hơn.

– Dạ tôi chỉ năn nỉ xếp đừng đánh tôi nữa, vì tôi không có tội gì hết, ngoài tội tôi đã nhận là tôi cầm bình chữa lửa, do một người khác giao lại cho tôi.

Gã điều tra viên cười:

– Tội nghiệp quá nhỉ?

Minh ngồi cúi gầm mặt, bây giờ chàng mới tin phần nào. Gã điều tra viên có ít thiện chí, gã ngồi khoanh tay trước mặt chàng:

– Lần đầu tiên tao chịu thua một thằng, nhưng nói thua thì không đúng, tao cũng xét thấy mày không có tội gì ghê gớm lắm nên bỏ qua vậy thôi.

– Cám ơn xếp.

Tuy còn đau khắp thân thể nhưng Minh cũng thấy vui vui, chàng hỏi nhỏ:

– Như vậy là tôi được tự do chớ xếp?

– À, cái chuyện đó không thuộc quyền của tao.

– Thưa xếp, tôi phải làm sao?

– Tao chỉ có thể ghi vào hồ sơ đó gởi lên tòa để tòa định đoạt.

Gã nhìn từ đầu đến chân Minh:

– Tao nói với mày cũng bằng thừa. Phải chi mày không đến nỗi tệ bạc, thì tao có thể bày cho mày một cách.

Minh hối hả hỏi:

– Dạ thưa…

– Mày rách lắm phải không?

– Dạ tôi nghèo lắm, tôi là lính…

– Đó, kẹt là vậy đó, mày rách quá mà.

Minh vẫn không hiểu gã muốn nói gì, nhưng chàng nghĩ đến tự do, chàng hối hả hỏi:

– Thưa…

– Nếu mày bảnh một chút, tao chỉ cho mày cách chạy thuốc.

– Nghĩa là được tha?

– Chớ còn gì nữa, bộ mày không muốn được tha sao?

– Dạ muốn chớ, nhưng tôi phải làm sao?

Gã điều tra viên vẫn nhìn chàng:

– Mày có thân nhân không?

– Tôi không có ai.

– Vậy thì không được, phải chi mày có thân nhân, hoặc có tiền mày có thể mướn một luật sư xin cho mày.

Minh thoáng nghĩ đến Ngọc, nhưng chàng không muốn làm phiền tới nàng, chàng nghĩ bụng rằng mình là kẻ vô tội thì trước sau gì người ta cũng sẽ tha chàng.

Người điều tra viên thất vọng:

– Thôi, mày vô tội, dù có ra tòa sẽ cũng không sao, tòa sẽ căn cứ theo hồ sơ của mày, bây giờ chúng tao tạm giam cứu, mày ra tòa cứ giữ lời khai như thể cho tao, bây giờ mày ký vào bản khẩu cung này đi, ngồi chờ một chút tao viết, đọc lại cho mày nghe rồi mày ký tên xuống dưới. Gã điều tra viên đẩy bao thuốc tới trước mặt Minh:

– Ngồi chơi chờ tao, hút thuốc đi mày.

Minh thấy gã có vẻ thành thật, chàng không ngần ngại gì, chàng nói một tiếng cám ơn nhỏ rồi rút thuốc, gã điều tra viên cắm cúi ghi chép, lâu lâu gã lại ngẩng lên hỏi Minh một vài chi tiết cần thiết, cuối cùng hắn nói:

– Xong rồi đấy.

Gã cất tiếng đọc cho Minh nghe, Minh mừng rỡ vì những lời hắn chép đúng như lời chàng đã khai, dù muốn dù không Minh cũng thầm cám ơn hắn.

Đọc xong, hắn ngẩng lên nhìn Minh:

– Được chưa mày?

– Cám ơn xếp. Rất đúng. Gã chửi thề một câu:

– Tổ cha nó, ngu gì mà ngu quá không biết, tự nhiên xớ rớ tới đó làm chi cho mang họa chớ, đơn vị mày gởi mày đến đây không lẽ tao không làm gì, tao cũng phải làm tí ti cho có chuyện, rồi kết thúc sổ sách chớ, cái bản mặt mày mà làm loạn sao được.

Gã đẩy cuốn sổ ghi chép tới trước mặt Minh:

– Ký tên vào đây đi, mai tao cho đánh máy tất cả lại những lời khai của mày, mày ký tên lại.

Minh mừng rỡ, chàng không ngần ngại gì ký tên vào dưới liền, gã điều tra viên cũng có vẻ hài lòng:

– Yên trí về đi, từ nay mày khỏi lên đây nữa và tao mong rằng đừng bao giờ mày vác mặt lên.

Minh đứng dậy, chàng náo nức trong lòng:

– Thưa xếp bao giờ thì tôi được thả?

– Mày còn phải ra tòa, còn tùy ở dự thẩm đoàn, người ta thấy mày không có tội tình gì thì người ta thả mày.

Gã điều tra viên bấm chuông, một lát người hiến binh đẩy cửa đi vào, gã điều tra viên ra lịnh cho anh hiến binh mang Minh về phòng giam, gã không quên nói với người hiến binh:

– Còn ông quan quyền nào chú mang nốt lên đây.

Minh được đi về phòng giam, chàng vui mừng, chàng muốn nói với bất cứ ai sự vui mừng của mình. Mấy ông Tá ông Úy nằm lầm lỳ không ai hỏi han gì đến Minh. Người đại úy tới hồi sáng được dựng dậy, ông ta kêu um lên:

– Trời ơi, các người kêu tôi đi đâu, tôi đã khai tôi vô tội rồi mà.

Người hiến binh lạnh lùng:

– Xin đại úy cho tôi làm phận sự, tôi chỉ có nhiệm vụ áp giải đại úy lên phòng điều tra, tôi không biết gì hơn.

Ông thiếu tá cũng nói:

– Đại úy cứ đi đi, không chết đâu mà sợ.

Ông đại úy đành đứng dậy một cách cực khổ:

– Trời ơi, tôi không ngờ được…

Tiếng rên siết của ông ta ra khỏi phòng giam khi cánh cửa sắt đóng lại, ông thiếu tá mới hỏi Minh:

– Còn mày sao?

– Thưa Thiếu tá tôi vô tội.

– Thằng nào vô đây không kêu là vô tội, nhưng tao muốn hỏi cuộc điều tra ra sao?– Tôi không nhận những tội người ta gán ép cho tôi.

– Được không?

– Dạ được, tôi có ký tên rồi.

– Thật vậy sao mày?

– Vâng, ông điều tra viên nói: Khi nào ra tòa tôi sẽ được trả tự do, được trả về đơn vị cũ.

Ông Thiếu tá gật gù:

– Ừ, có thể lắm, mày có tội dại dột.

– Dạ tôi dại thiệt.

– Nó có đánh mày không?

– Dạ có nhưng không sao, miễn là tôi vô tội.

Ông thiếu tá cười:

– Mày can đảm lắm, tao cũng mừng cho mày.

Minh vui miệng hỏi ông thiếu tá:

– Thiếu tá đã khai xong chưa?

– Tao hả, chưa đi đến đâu hết.

Ông thiếu tá nằm xoay vào tường, ông không muốn nói chuyện nhiều. Minh cũng không cần nói chuyện, lúc này chàng chỉ muốn nằm yên, để tưởng tượng đến ngày tự do của mình, mình phải làm nào báo tin cho Ngọc biết, để ngày đó nàng ra tận tòa đón chàng, chỉ nghĩ đến điều đó Minh đã thấy vui vui trong lòng.

Minh khép mắt, chàng ao ước những điều vu vơ, sau khi ra khỏi tù, chàng sẽ xin giải ngũ. Chắc chắn đơn vị chàng sẽ cho chàng giải ngũ, chàng sẽ đi làm một nơi khác hoặc giả học lấy một nghề gì đó để đời sống của chàng được sống đỡ khổ hơn. Chàng sống với Ngọc, rồi chàng có những đứa con, Minh không muốn tưởng tượng thêm nữa, chàng muốn ngủ một giấc, chàng ao ước thấy Ngọc, chắc chắn phải đẹp.

Minh bỗng nghe tiếng ông đại úy la lên ở phòng điều tra, người điều tra viên quát tháo.

Minh ngồi nhổm dậy, các người cùng phòng Minh đều ngồi nhổm dậy.

Khi người ta đưa ông đại úy về phòng, ông ngồi không nổi. Người ông ướt mèm, ông nằm một xó rên ừ ừ. Minh không muốn nhìn cảnh ấy.

Ông thiếu tá trờ dậy, ông tới bên ông đại úy an ủi.

Ba ngày sau, Minh được đưa ra tòa, ông dự thẩm cho chàng biết, Minh bị tạm giam, chờ quyết định của tòa án. Khi ra xe Minh tự an ủi: trước sau gì mình cũng được về, mình đâu có tội tình gì.

Vô hậu kế đợi

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Post on Dec. 13, 2016

Post by Sơn râu 12 Apr 2025

  “Những ngày chưa tới mùa xuân sao thấy lòng buồn vô hạn”. Anh dùng thang cuốn đi xuống hầm sâu đợi chuyến métro, gió buốt theo anh, u u ngân dài trong lòng đường tăm tối. Anh đọc thầm rồi chợt nhận ra đó là câu thơ của Đinh Cường làm khi còn ở Huế. Những bức tường bám đầy rêu xanh vây bọc lấy khối sương mù chậm loãng tan giữa một nội thành luôn giữ chặt sự u ẩn. Câu sau có thể là “có ai hát bài tình sầu, ta một mình giữa bờ thành cũ”? Anh không nhớ rõ, dường như vậy, mọi thứ chừng đã hư hao, trầy trụa, thất thoát.

Ừ, cuối năm, buồn ở phương này thật không bút mực nào tả xiết. Anh vừa từ bệnh viện trở về, vẫn đón nghe những câu hỏi quen thuộc: Có dị ứng sau khi uống thuốc không? Ban đêm đi tiểu mấy lần? Đã từng qua một lần phẫu thuật chưa? Trong nhà có ai mắc phải ung thư?.. Trước đó, khi ngồi chờ gọi tên, anh đã buồn tay vớ lấy một tờ tạp chí giở lật giết thời gian: “Theo khám phá mới của các nhà khoa học, con thông minh là do mẹ tác thành”. Và theo di truyền nếu bố mẹ bạn bị cancer, ắt bạn sẽ không tránh khỏi? Thời xưa, người ta chết đi bởi những thứ vớ vẩn. Khi nghe hỏi: Đau răng mà chết? Trả lời rằng: Bị trúng gió hoặc bất quá do bạo bệnh gây nên, chưa thể nhìn ra nguồn cội để gọi tên. Vì vậy anh đã thưa với ông bác sĩ: Dạ không ạ, gia đình tôi chẳng mắc mớ gì tới ung thư cả. Và thời đó, sống tới năm mươi tuổi đã được gọi là cụ. Thật khổ thân! Thân đèo bồng biết bao cơ man là rắc rối: Tim, phèo phổi, thận, mề, gan, cật, lòng, dạ dày, nhồi trường… thậm cắc cớ. Phật nói: Khổ đau của chúng sinh phát sinh từ cái lưỡi mà ra. Nhưng nếu chẳng có cái không xương nhiều đường lắc léo nọ thì biết khai bệnh gì cho bác sĩ nghe? Ú ớ cũng dễ gây tử vong vậy! Truyện Kiều có một câu “đắc đạo”: Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Không đi vào cầu tre hẳn chẳng nghiệm ra cái lắc lẻo gập ghềnh nó có?

Những ngày cuối năm bơ vơ đi xuống đường hầm anh thấy mình như con trẻ. Một thằng đàn ông thọ quá 50 vẫn nghe ra lòng mềm khi hắn chợt nhớ tới mạ. Tuy không thông minh anh biết là mạ anh chết bởi ung thư. Nếu có di truyền, anh tin là mình được thừa kế ở bà ở tính ham chuộng văn chương. Mạ anh đọc nhiều sách truyện và có trí nhớ dai dẳng khi thuật lại những mối tình được dựng nên qua văn phong tài hoa của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Loan thế này Dũng thế nọ Vọi thế kia. Bà có những chữ chính xác để bình phẩm anh: Đồ mạt máu! Ai khiến bà thất vọng thì đón lấy câu: Vô hậu kế đợi! Hoặc than van với thành ngữ nhiều ẩn dụ: Hết xôi rồi việc! Gom chúng lại, giờ này anh xứng đáng để nhận lãnh, không sai trật lời mạ quở. Anh từng sửa câu ca dao: Mạ ơi xin đánh con đau, để con hiểu thấu vết thương dại khờ. Ăn năn luôn đến muộn, lên tới bờ mới hay đấng sinh thành mãi còn cực lòng bơi giữa bao triều cao sóng lớn. Trong trí anh luôn hiện rõ nét vuông bếp chật, mái tranh củi ẩm và cơn gió sắt se mùa đông xứ Huế luồn thổi “tiền nhà khó như gió vào nhà trống”. Bề thế nhất là cái tủ gỗ với hai cánh cửa lưới ngăn chặn ruồi muỗi, bốn chân tủ được ngâm trong bốn cái tô luôn châm nước nhằm bảo vệ không cho kiến gián bò lên và cái tủ đựng thức ăn ấy được mọi người đồng lòng gọi theo tiếng Tây: Gạt-măng-rê. Cạnh lối vào ra kê một cái lu lớn, dung tích không dưới 60 lít đựng nước giếng gánh vào từ ngoài sân. Cũng vì vệ sinh nên cái lu bằng sành, bằng gốm, bằng đất nung kia luôn được đậy kín bởi một cái đĩa hát bằng đá với vòng quay 33 chứ không phải 45 tua. Có từ thời thuộc địa Pháp, trầy vi tróc vảy chẳng đọc ra tên hãng ghi âm cũng như bài hát hoặc người trình diễn cùng năm tháng sản xuất. Một bữa chẳng hiểu do nguồn cơn nào xúi, mạ nói với anh: Con út trút gia tài, con có ưa thích một đồ vật nào trong nhà mình không? Và anh trả lời chẳng suy tính: Cái lu đựng nước. Hình như đã có nhiều tiếng cười trỗi lên đi cùng lời nhận xét: Cái thằng thiệt dại ngỗ! Tuổi nhỏ không hề biết dệt mộng mơ, sau này anh thoáng mơ mộng để nghe bần thần, chẳng biết số phận cái lu kia đã ra sao giờ này? Cá không có nước cá chết, cái lu bị vỡ lấy gì để vo gạo thổi cơm, nấu canh, rửa mặt mũi tay chân?

Tàu điện ngầm chạy qua năm trạm thì anh đứng lên bước ra khỏi toa, đứa con anh thuê nhà ở gần đó, hắn có nhắn anh tới để nhận quà. Khi anh bằng tuổi hắn giờ này, ba mạ anh đã mất, có nghĩa là lúc kiếm được việc vàng muốn biểu lộ chút lòng thành thì thời gian đã không chịu chờ đợi anh. Con anh sinh ở đây, xong đại học và lao vào trường đời ngay. Nó có duy một khuyết điểm, nói tiếng mẹ đẻ khó khăn, tệ hơn một tội phạm bị bắt quả tang và thêm chuyện nữa nếu có thể gọi đó là khuyết điểm: Nó chưa có vợ, bạn gái cũng chẳng thấy hoặc hắn là một con mèo biết dấu cứt. Theo cách hắn trần tình rằng công việc tối mắt tắt đèn nên cũng chả màng việc học cách nấu ăn. Ăn gì cũng xong và dĩ nhiên là cúng tiền vào các hàng quán bốn bể năm châu “thực bất tri kỳ vị”.

Hắn hỏi: Ba đi khám kết quả ra răng? Anh nói: Thì cũng rứa, không bi quan chẳng khả quan, chớ nên quan hoài. Hai cha con đều thuộc loại ít nói, hơi xa cách bởi mỗi người ý thức là đã có hai thế giới khác nhau hiện hữu. Anh không tìm ra lỗi lầm hắn mang, anh thương hắn vì trong nhà có chưng hai tấm ảnh đen trắng của ba mạ anh. Bạn con nhận xét, mặt mày hơi buồn, phảng phất nhiều nét giống như bà nội. Không cứ là anh, nếu mạ còn sống hẳn bà sẽ thương đứa cháu nội mạt máu chẳng biết trau dồi tiếng Việt này. Hắn mang quà tới cho anh, một đôi giày mang trong mùa đông. Con xem trong internet quảng cáo rằng bạn có quyền hát bản “La vie en rose” khi bình thân đi trên tảng băng trơn láng. Dưới đế giày họ dùng một chất nhựa đặc biệt biết bám chặt nước đá mà không cần tới những cái đinh sắt. Anh từng đặt nghi vấn, tại sao cái xứ văn minh này chẳng thể phát minh được một sản phẩm giúp người ta bớt gặp cảnh nguy khốn, thôi té lăn chiên đổ đèn trên đường. Hắn nghe, lưu trong bộ nhớ để khi giày vừa xuất xưởng, hắn đã tiên phuông mua tặng một đôi cho anh thử nghiệm. Anh nói nhỏ: Merci. Anh từng cám ơn thằng con trai nhiều bận, năm ngoái cũng vậy, nó mang lại tận nhà trao cho anh cái MacBook Air: Quà sinh nhật của ba. Ba mạ anh đẻ anh ra ngày tháng nào anh cũng không nhớ, vậy mà hắn nhớ. Mắt hắn to, hơi buồn, rõ là hắn giống mạ anh quá. Ta thương mạ ta mười thì thương mi cũng đến chín phần vậy!

Hắn biết anh có viết truyện ngắn, hắn hỏi viết nhiều thế ba không tính in thành sách sao? Ba dọ hỏi xem phí tổn là bao nhiêu, con sẽ giúp ba làm tròn niềm vui. Phi lý. Anh trả lời. Một đứa bỏ đầu óc, bỏ công sức để lao động ra chữ, đứa ấy sẽ chẳng thể hy sinh thêm bất kỳ một thứ gì khác. Một người mẹ cấn thai rồi sinh đẻ, chuyện ấy linh thiêng và cao cả hơn bội phần. Anh nói với hắn, in một tập truyện thì được gì? Những gì ba viết thì bà nội đã không thể xem được. Còn con? Hồi nào ba viết được tiếng Pháp tiếng Anh thì hẳn hay.

Anh ôm món quà giúp đi những bước thăng bằng trên giá băng tiến về cánh cửa. Chiều bôi màu tối đen ngoài ô kính và anh cũng nên trở lại nhà đốt thắp những bóng đèn cháy đỏ giữa đêm trường. Ở vách, gần lối ra vào con anh có treo cái poster chụp khuôn mặt điển trai của tài tử Al Pacino, người từng thủ vai Michael con của bố già trong phim Godfather cùng câu nói của đương sự: “Tôi cầu xin thượng đế một chiếc xe đạp nhưng tôi hiểu ngài không sẵn lòng cho những ước muốn kiểu đó. Do vậy tôi đi ăn trộm chiếc xe và cầu xin sự tha thứ từ ngài”. Tấm poster lung lay khi cửa mở. Bye con. Dạ, ba về.

Tuyết rơi đầy trời khi anh ra khỏi cửa. Nếu đứng yên trong nửa giờ, tuyết sẽ chôn lấp anh, che phủ một linh hồn lạc lối. Tuyết xuống chuyên cần, lặng lẽ, vô tiền khoáng hậu. Không, chữ đó chẳng sánh được với vô hậu kế đợi. Ở đời này anh không tin tới sự có mặt của thượng đế nên anh chẳng cần phải cầu xin một điều gì cả. Anh thầm mong ở quê nhà, mùa mưa lũ về không làm xói mòn mộ phần ba mạ anh. Ừ, sao nghe lòng buồn vô hạn, những ngày cuối năm già cỗi, đầy thương tích.

Hồ Đình Nghiêm

Dec. 13, 2016

Việt vị (2)

sangtao.org

Posted 29/09/2017 

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 12 Apr 2025

Cách đây mấy hôm, khi bài “Việt Vị” của tôi được đi trên trang Sáng Tạo, một số người đọc đã đồng cảm và chia sẻ. Một chị, có thể vì không am tường môn football (bóng đá) đã thắc mắc: Có ý gì khi dùng chữ “mơ hồ” ấy làm tựa đề? Thưa chị, Việt vị là một lỗi lầm trong luật chơi của môn đá banh, tiếng Anh gọi là Offside, tiếng Pháp thì kêu là Hors-jeu. Tiền đạo xuống sâu hơn vị trí của hậu vệ đối phương trước khi banh được chuyền giao thì trọng tài biên sẽ phất cờ báo: Lỗi việt vị. Thời bé, bọn nhóc chúng tôi thì dùng chữ: Đồ ham ăn cơm cháy. Lớn chút nữa (có thể do thời cuộc tác động) đã gọi mấy tên ưa “lấn đất” ham ghi bàn đó là dân nằm vùng. Nếu chị thấy chưa đạt thì xin hiểu sang một nghĩa khác. Việt vị là phong vị của người Việt.

Ngỡ đã chấm hết, tưởng đã “point final” ai dè lòng này vẫn còn tham, sân, si. Đôi khi trên sân cỏ đã có những tình huống làm thủng lưới đối phương dù mắc phải lỗi việt vị. (Bôi trơn trọng tài biên? Hậu vệ hoặc thủ môn lỡ bán độ?) Phim “The Vietnam war” dài 10 tập thì đoản văn có nhảy sang hồi 2 ắt cũng xin được lượng thứ cho.

Trong cuốn Hồi ký của cựu Đại Tướng William C. Westmoreland, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam có trích dẫn một đoạn thơ của Rudyard Kipling (được phỏng dịch):

trận chiến tàn, thây vùi dưới mộ
mang tên tuổi của người xấu số:
“đây là nơi thằng khờ an nghỉ
vì đã cố lết về phương Đông”
.

Để làm rõ nghĩa, ông viết: “Theo ý kiến tôi thì một nền hoà bình sớm sủa cho Đông Dương chỉ là ảo tưởng. Tôi tin rằng một cuộc ngưng bắn có thể tồn tại được là điều không thực tế…” Trong nhiều bất lợi dẫn đến tình hình rối loạn ở quê nhà, ông không quên đổ thừa vào vai trò bọn phóng viên báo chí: “Vài cây viết bình luận dữ dằn nhất là những nhà báo ở tại Hoa Kỳ mà không bao giờ đặt chân tới Việt Nam, tiêu biểu cho số này là biên tập viên John Oakes của tờ New York Times… Một số qua Việt Nam chỉ để chui vào trong các trại lính nói chuyện nhảm với mấy tay lười biếng và lượm lặt vài tin đồn rồi về đăng báo y như chuyện có thật”. Kết luận, ông đã trích dẫn lời của Napoleon: “Chỉ ba tờ báo quá khích đã đáng sợ hơn cả ngàn lưỡi lê của địch”.

Một đoạn khác: “Tôi không nói đến những kẻ đã đốt thẻ quân dịch, đốt quốc kỳ và chiếm Ngũ Giác Đài, đi biểu tình mà cầm cờ địch tới lui dọc đường phố, xúi giục kẻ khác vi phạm pháp luật, trốn tránh trách nhiệm và vượt quá giới hạn của lý lẽ để hiểu thế nào là công bằng. Không ai chối cãi được rằng chính những kẻ ấy mới làm cho cuộc chiến kéo dài thêm”. (Nguồn: “A Soldier’s Report” của William C. Westmoreland. Duy Nguyên chuyển ngữ. Nxb Thế Giới. San Jose, CA).

Những gì Tướng Westmoreland chân tình thổ lộ trong cuốn “Bản Tường Trình Của Một Người Lính” đã thế cho giải thích, tại sao một tên nhà giàu lại đi thua một đứa nghèo rớt mồng tơi? Nhưng cuốn hồi ký giá trị nầy chẳng phải là nguyên cớ khiến tôi “mần” thêm Việt Vị 2. Tôi tiếp tục “xỏ giày ra sân” chỉ vì vừa đọc thấy trên trang Văn Việt hôm 26 tháng 9, 2017 có bài phỏng vấn của RFI dành cho nhà văn Nguyên Ngọc- nguyên là Sĩ quan trong quân đội Bắc Việt, cũng là một trong những người góp mặt trong bộ phim “The Vietnam War”. Ông chia sẻ: “Khi nói rằng nước Mỹ chưa ra khỏi chiến tranh Việt Nam, nhiều người, kể cả tôi, đã nghĩ rằng đó là một điểm yếu của nước Mỹ. Nhưng xem phim này thì tôi thấy hoá ra đó là cái mạnh của nước Mỹ. Đấy là một quốc gia luôn luôn nhìn trở lại và đặt câu hỏi về quá khứ, về cuộc chiến tranh của mình, về những gì mình đã làm trong suốt cuộc chiến tranh đó. Sức mạnh của nước Mỹ chính là luôn luôn biết tự đặt câu hỏi về quá khứ của mình… Đã hơn 40 rồi, khi mà nói về chiến tranh này, bởi vì Việt Nam là người thắng cuộc, nên ta thường nói theo chiều hướng khẳng định và ca ngợi nó. Còn cuộc chiến tranh đó đem lại những gì cho đất nước này, kể cả mặt tốt và mặt tàn phá của nó, tàn phá về cả vật chất lẫn tinh thần, thì chưa bao giờ được đặt ra một cách nghiêm túc. Riêng tôi là một người làm nghệ thuật, tôi ao ước Việt Nam có thể có một bộ phim tài liệu theo kiểu như vậy. Giá như Việt Nam cũng tự hỏi mình như thế. Theo tôi đó là điều cần thiết”.

Khi được hỏi cảm nghĩ về trận Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, đặc biệt xẩy ra ở Huế, nhà văn Nguyên Ngọc trả lời: “Trong chiến dịch Mậu Thân 1968 thì Huế là thành phố mà đánh vào được và chiếm lâu nhất. Do chiếm lâu nhất và tưởng là giải phóng hẳn rồi và đã lập chính quyền, cho nên các cơ sở bí mật trong thành phố đều xuất hiện hết, bộc lộ ra hết. Sau đó, lực lượng chiếm thành phố bị đối phương vây trở lại và phải mở đường máu mà ra. Trước đó, khi vào chiếm Huế, người ta đã bắt những người bị cho là cộng tác với Mỹ, với chính quyền miền Nam. Trong số đó có thể có những người đúng là có làm cho Mỹ và chính quyền miền Nam, và cũng có thể có những người phạm những tội ác với những cơ sở hoặc là những người theo cách mạng ở Huế. Nhưng cũng có thể có những người bị bắt nhầm và thậm chí cũng có thể có những người bị bắt chỉ vì thù hằn riêng tư. Cho đến khi bí quá, rút ra không được, nếu thả những người này ra thì tất cả những cơ sở bí mật được chuẩn bị bao nhiêu năm, bây giờ bộc lộ ra hết, nếu thả những người bị bắt ra thì họ sẽ chỉ điểm số người hoạt động bí mật. Trong tình thế như vậy, người ta đã có chủ trương giết những người đó. Tôi không trực tiếp ở đấy và cũng không biết cái lệnh đó là từ ai. Nhưng trong phim tôi có nói, đấy là một vết nhơ, một vết đen trong cuộc chiến tranh, về phía Việt Nam”.

Sự thành thật của ông Nguyên Ngọc tin được mấy phần? Với vai trò một cựu sĩ quan từng tham chiến ở địa bàn Quảng Nam, với tư cách của một người cầm bút- một nhà văn nổi tiếng- ông có thể biết thực hư về cái “vết nhơ” kia, chỉ đơn giản bằng cách gọi Nguyễn Đắc Xuân để tỉ tê tâm sự, hẳn ông cũng nắm bắt được một vài thông tin cần thiết. Nguyễn Đắc Xuân nón tai bèo mang dép râu đeo băng đỏ nắm AK-47 có mặt ngay từ đầu cuộc tổng tấn công và làm chủ khu vực Thành Nội Huế. Người đã trao tư liệu chính mình ghi chép về những người giữ cờ ở Huế cho Hoàng Phủ Ngọc Tường để viết nên bút ký “Ngôi Sao Trên Đỉnh Phu Văn Lâu” (xuất bản 1971).

Nếu ông Nguyên Ngọc không thích “đi đêm”, không muốn nhắc lại quá khứ đau thương (điểm này ông tự nhận là thua người Mỹ) thì lạ kỳ thay, nhận được chỉ thị nào từ trung ương mà Nguyễn Đắc Xuân, sau hơn 40 năm vẫn câm như thóc. Sau 1975, ông soán đoạt, cưỡng chiếm (ngoài ta dùng chữ tiếp thu) toàn bộ tủ sách quý của thầy Phan Văn Dật và nghiễm nhiên trở thành nhà Huế học (nhờ đọc thiên kinh vạn quyển?). Một nhà Huế học, tuy nói giọng Quảng Nam nhưng nặng tình với cố đô, nhất là tuổi nay đã thuộc loại cổ lai hy, tiếc gì ông không thắp nhang, dọn lòng để ghi lại bao sự việc mà thường dân vô tội ở Huế phải chịu đoạ đày trong địa ngục năm xưa. Viết hết ra giấy, bạch hoá những uẩn khúc chất chứa trong lòng bao năm mãi dằn vặt chịu tiếng thị phi, đó không phải là một cách giải thoát theo kiểu “Buông đao xuống có thể thành Phật”? (Giải phóng người ta thì mau lẹ mà tự giải phóng mình thì bất khả?). Bắt chước thằng giặc Mỹ kìa, nó mới làm bộ phim nhìn nhận hết những sai trái nó từng để tay nhúng chàm. Trong phim “The Vietnam War” kể về trận Mậu Thân- Nguyễn Đắc Xuân có xem chăng? – đã có thằng Mỹ khi đi giải toả thành phố Huế đã tức cảnh sinh tình: “Ôi thành quách nó đẹp nhường ấy, thành phố thơ mộng thế kia sao chúng ta nỡ lòng nào đi phá huỷ chúng?” (Giặc xâm lược mà cũng có đứa biết tới chuyện bảo tồn bảo tàng, ngẫm mà đau đớn lòng!)

Ông Nguyên Ngọc ao ước Việt Nam sẽ thực hiện được một cuốn phim tựa thế. Mỹ mời ông lên phi thuyền dạo chơi cung trăng một chuyến e dễ tựu thành hơn sự hoang tưởng kia.

Ngoài những bản nhạc bất hủ của ban C.C.R, lính Mỹ khi qua tham chiến ở Việt Nam vẫn thích nghe bài “We Gotta Get Out of This Place” của nhóm Animals. Cầu thủ mà cứ phạm lỗi việt vị mãi cũng xấu hổ, e tôi xin được ra khỏi chốn này. Trước khi tạm biệt, bỏ công đi sao chép lại những “danh ngôn” nghĩ là thích hợp cho những nét ngang dọc trên, dùng thế cho một phụ bản:

“Trong phim ảnh: Kẻ xấu luôn bị loại trừ. Trong đời thực: Kẻ xấu mãi chiến thắng”.

Trong truyện Bố Già, nhân vật Michael (con của bố già) nói với thuộc hạ: “Mày có hiểu thấu nỗi đớn đau về sự bội phản không? Nó không bao giờ đến từ những kẻ thù nghịch mày”.

“Hãy nhớ, những gì bạn lỡ đánh mất rồi, có khi bạn sẽ thu nhặt được thứ khác. Thiếu bóng tối, bạn chẳng thể nào trông thấy những vì sao”.

Ngạn ngữ Phi Châu: “Nếu bạn muốn đi nhanh, hãy đi một mình. Nếu bạn muốn đi xa, hãy đi cùng chúng tôi”.

Ngạn ngữ A Phú Hãn: “Bạn có đồng hồ nhưng chúng tôi có thời gian”.

“Những người nếu không cảm thông được sự câm lặng của bạn, họ sẽ chẳng bao giờ hiểu được những lời bạn nói”.

Lời của William Shakespeare: “Yêu hay ghét tôi, cả hai điều ấy đều làm tôi thích thú. Nếu bạn yêu tôi, tôi luôn nằm trong tim bạn. Ngược lại, nếu bạn ghét, thì tôi mãi dính trong trí óc bạn”.

Lời của Winston S. Churchill: “Sợ hãi là phản ứng. Can đảm là sự quyết định”.

Lời của Mark Twain: “Sự tử tế là thứ ngôn ngữ mà người điếc có thể nghe, đứa mù có thể thấy”.

Và sau cùng, bao trùm tất thảy là câu nói “danh bất hư truyền”. (Tác giả là ai, mọi người đều biết; thậm chí ai cũng có thể điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa):

“Đừng nghe những gì_______nói, mà hãy nhìn những gì_________ làm”.

Xin hẹn gặp lại ở chốn nhân gian “có thể” hiểu nhau. Có còn bom rơi đạn lạc không nhỉ? Quang Dũng thơ: “Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa?”

Hồ Đình Nghiêm

Thanh xuân của cô Chơi

damau.org

Cung Tích Biền

Bồ Đề Cốc, 9-2008

Post by Sơn râu 12 Apr 2025

Google image

Trời trở sáng. Mùa nước nổi sông Mê kông. Xóm Đầm Dơi như thấp hơn mé nước bờ kinh. Đi trong vườn đã nghe nước xấp xỉ bàn chân.

Trong một khu vườn nhỏ sình lầy có hai cái chòi lá. Hai gia đình anh em sống gần nhau. Khu vườn này là của cha mẹ để lại. Họ không muốn ngăn rào chia đôi vườn. Ở luôn tuồng vậy, chạy qua chạy về cho có tình bà con.

Có giọng một người vợ, bên chòi kia, nói với chồng:

– Sớm nay nay con Chơi đi về nhà chồng bên Hàn quốc.

Một giọng đàn ông khàn khàn hỏi lại:

– Hồi chiến tranh có lính Đại Hàn tham chiến ở miền trung. Không biết Hàn quốc này với Đại hàn hồi xưa là một phải không?

– Tui hổng biết.

– Nghe nói thằng chồng con Chơi đã ngoài năm mươi tuổi, lại tàn tật.

– Nhưng con Chơi lấy đươc mấy nghìn đô la, giúp được cha mẹ qua nợ nần.

– Tội nghệp cho cái phận con Chơi.

Ở cái chòi lá bên này, cô Chơi dậy rất sớm. Cô buồn bã sắp những áo quần, những vật tùy thân, vào một cái giỏ mây. Mẹ cô bảo sao con không dùng cái va ly chồng con tặng cho con. Cô Chơi nói cái va li con tặng lại mẹ để mẹ dùng, mà nhớ con.

Cha cô Chơi cũng thức giấc. Ông khó khăn bước lên ngồi trên cái sạp gỗ. Một chân ông cụt tới gối. Ông nói với vợ:

– Mẹ mày đi lên Sài gòn với con Chơi vài hôm kẻo tội nghiệp.

Ông châm thuốc hút. Bầu trời miền tây về sáng hãy còn dăm vì sao. Có tiếng vịt kêu phía trại vịt của Năm Cò. Có tiếng đò máy.

***

Chiếc ô tô dừng ở đầu ngỏ nhà cô Chơi. Ánh đèn quét một vùng sáng qua những lùm cây.

Đèn trong xe được bật lên. Một người đàn ông luống tuổi, mắt một mí, lông mày rậm, sống mũi dài, thoạt nhìn đã biết người Hàn quốc. Ông ta ngồi yên trong xe, trao một ít tiền cho người đàn bà mối lái. Chị mối lái còn trẻ, người mập mạp, son phấn đầy đủ.

Bà ta bước xuống xe hỏi cô Chơi chuẩn bị xong chưa, nhà có ai đi cùng em lên Sàigon không.

Chơi nói một mình em với cái giỏ mây này mà thôi.

Ngồi trong xe ông Đại Hàn nói vọng ra một vài câu.

Cô Chơi hỏi bà mối ông chồng em ổng nói cái gì vậy?

Bà mối nói ổng hỏi sao em không trang điểm, không có hành trang, không người nhà đi theo, sao không dùng va li ổng tặng mà dùng cái giỏ mây quê mùa.

Chơi bảo bà mối, chị giải thích cho ổng hiểu dùm em.

Bà mối nói khéo với ông đại hàn:

-Anh hiểu cho, đây là vùng nông thôn quê mùa, vợ anh nền nếp không muốn điểm trang lòe loẹt, lên thành phố hãy hay. Ỏ Việt nam con gái lên xe hoa về nhà chồng thì người mẹ không bao giờ đưa tiển.

Ông Đại Hàn cầm cặp nạng đặt sang một bên, ý nhường chỗ cho Chơi ngồi. Ông lại nói một thôi dài.

Cô Chơi hỏi bà mối ông chồng em ổng nói cái gì vậy?

Bà mối thông dịch là ổng nức nở khen em đẹp mà hiền.

***

Người tài xế sắp cho xe lăn bánh. Ông rể Đại Hàn bỗng cầm đôi nạng làm bằng i-nốc sáng loáng trao bà mối. Nói cái gì đó.

Trong cái chòi lá, dưới ánh đèn điện-khí-hóa-nông-thôn vàng lạnh, một người đàn ông gầy guộc, một chân thòng xuống đất, một chân cụt tới gối, đang ngồi nhìn theo con gái thu mình trong xe.

Bà mối đi thẳng tới chỗ người cụt chân. Có tiếng khóc rấm rức của mẹ cô Chơi sau bức mành tre. Bà mối nói với cha cô Chơi:

– Ông rễ Hàn quốc tặng ông cặp nạng này. Chắc ông dùng cũng vừa.

Cha cô Chơi nhìn cặp lần đầu tiên mới thấy. Sáng loáng. Nhưng ông nói với bà mối:

– Ông kia cũng tàn tật ngồi xe lăn sao cho tôi cặp nạng đang dùng.Trả

lại cho người ta.

Bà mối ôn tồn giải thích:

– Người ta có lòng tốt thì nhận đi. Cay đắng làm chi. Nhà ông có phúc đức gặp thằng chồng con Chơi tuy già cả tật nguyền nhưng rất hiền đức.

***

Xe tới Sàigon. Trước khi bước xuống xe cô Chơi kín đáo trao cho bà mối một bức thư viết tay. Cô Chơi học chưa hết bậc tiểu học. Chữ viết ngoằn ngoèo, sai rât nhiều chính tả.

Cô trần tình với bà mối:

– Chị trao dùm em lá thư này cho anh Tình. Cái anh mà đến cằn nhằn em hôm em được tuyển chọn làm vợ ông hàn quốc này. Anh Tình yêu em lắm. Mà em cũng yêu ảnh. Thế nào rồi ảnh cũng tìm gặp lại chị. Nhớ nghe.

Xe dừng trước khách sạn. Ông Đại Hàn đã tặng đôi nạng lúng túng không thể ra khỏi xe. Ông ta nói vài câu với người tài xế.

Cô Chơi hỏi bà mối chồng em ổng nói cái gì vậy?

Bà mối giải thích là ổng nhờ người vào khách sạn đẩy dùm chiếc xe lăn ra đây cho ổng.

Cô Chơi nhờ bà mối nói với chồng Đại Hàn là để cô cỏng ông ta vào. Khỏi xe lăn.

Rồi cô bước vội tới trước mặt ông chồng Đại Hàn. Hạ người thấp xuống, cô nở nụ cười với người chồng bại liệt hai chân từ lúc bé thơ. Cô Chơi chỉ vào hai vai của mình.

Bà mối và người tài xế phụ giúp ông chồng đu người trên lưng cô vợ mười chín tuổi. Hai tay ông ôm chặt cổ Chơi, nói thều thào.

Cô Chơi hỏi bà mối anh chồng em ảnh nói cái gì vậy.

Bà mối thông dịch là ông ta rất hạnh phúc, nịnh em là gái Việt nam vừa diệu hiền vừa mạnh mẽ.

Cô Chơi gái miền tây to con và mạnh mẽ thật. Ngực cô như trái dừa xiêm. Cô cõng chồng băng qua cái sân khách sạn rộng thênh, như cõng ông già đi chơi. Cô Chơi nói:

-Từ nay tới già, nếu còn sống chung, em là đôi nạng của ảnh đấy.

Cung Tích Biền

Bồ Đề Cốc, 9-2008

Một chút hồi ức

thoibao.com

Upadted on 27/04/2018

Phan Xuân Sinh

Post by Sơn râu 12 Apr 2025

Sáng 30-4-75, tôi dựng xe honda ở bờ sông Sài Gòn, đứng nhìn một chiếc tàu hải quân cuối cùng rời bến. Người ta bỏ lại xe hơi, xe honda chạy xuống tàu vội vã như một chuyến đi du lịch. Trong đầu tôi không có một chút xíu nào nghĩ rằng đó là lần đi vĩnh viễn của họ rời đất nước. Thế nhưng không hiểu sao tôi lại đứng như trời trồng, không làm theo như họ.
Làm một cuộc viễn du cũng thích thú lắm chứ. Nếu như đất nước sau nầy tốt, đối xử tử tế thì mình lại trở về, có sao đâu. Cái ân hận nầy làm cho tôi ray rứt mãi, nhất là những ngày đói khát, thất tha thất thểu ở Sài gòn…Sau này, những đêm tập trung nhân dân ra phường hội họp, ngồi dưới đất nghe những người thắng trận trong rừng mới ra, mang dép râu, đội nón tai bèo, xối xả chửi vào mặt những người ngồi nghe là thứ bán nước, theo chân đế quốc, “ngụy” tặc. Thấm đau cho cái ngu si không biết chọn lựa của mình, để bây giờ phải lỡ khóc lỡ cười.

Tôi lên xe chạy qua Khánh Hội, người ta đang mở kho vơ vét. Tôi dừng xe ngồi nhìn. Một tay thuộc loại “anh chị” khiêng bao gạo 50 kí-lô trên vai hỏi tôi có cần mua gạo không? Tôi gật đầu. Anh ta ném bao gạo trên yên sau xe honda của tôi, không cần biết tôi đưa bao nhiêu tiền, anh trở vào kho vác bao khác ra ngoài, đứng dáo dác không có ai mua, anh cho tôi thêm một bao nữa để phía trước xe của tôi mà không lấy tiền thêm. Cửa kho mở rộng ai muốn vào lấy cũng được, tội gì phải bỏ tiền ra mua. Tôi chạy xe về nhà người bạn mà tôi đang ở nhờ. Yên tâm trong bụng không sợ đói. Tôi chạy qua lại tìm mua một thùng nước mắm, hàng “hôi của” nên trả bao nhiêu tiền cũng được. Như vậy tôi vững bụng không còn sợ thiếu ăn trong những ngày sắp tới, trong những ngày tranh tối tranh sáng, vô chính phủ. Về nhà mua một lít đế, mấy miếng khô cá, tôi và thằng bạn nhâm nhi vừa mở radio nghe ông Dương Văn Minh đọc diễn văn bàn giao đất nước lại cho người thắng trận. Xem như hạ màn một cách nhanh chóng, chế độ Miền Nam cáo chung, nhường sân khấu cho Cộng Sản điều hành đất nước. Hòa bình mà  toàn dân khao khát đang thực sự “hiện thực”.

Thế nhưng lòng người tan hoang, những chính sách sắt máu ụp trên đầu dân chúng. Đốt sách, cải tạo, đánh tư sản mại bản, đổi tiền v.v… những món ăn mà dân Miền Nam không thể nuốt trôi, ói ra máu. Đường phố áo quần lính chất đống, người người đi trên phố khuôn mặt ngơ ngác, không có ai biết được mình sẽ đi về đâu. Mấy người trai trẻ hàng xóm mà tôi biết đó là những người lính Miền Nam, đi ngang qua nhà nhập vào uống rượu với tụi tôi, hết lít nầy họ chạy đi mua lít khác, tụi tôi ngồi nhậu tới chiều. Một bữa nhậu mà không có một tiếng nói to, âm thầm uống, hồn ai nấy giữ. Xong cuộc nhậu tự động ra về, chỉ chào nhau bằng cái gật đầu nhè nhẹ. Tôi thấy mọi người đều “xanh mặt”, mệt mỏi, lo sợ, như chờ đợi một cái gì không may ụp trên đầu mình.

Ngày hôm sau có những người mang băng đỏ trên tay xuất hiện trong xóm và điều khiển xe cộ trên đường phố. Trong xóm tôi ở đường Minh Mạng, Phú Nhuận, có một ông ca sĩ nổi tiếng Sài Gòn, lái chiếc xe jeep của người anh trước đây là trung tá của Miền Nam đi Mỹ để lại, trên xe ông và những người mang băng đỏ chạy khắp Phú Nhuận, hò hét như các tay “cách mạng” thứ thiệt. Có lẽ thời điểm nầy tôi đã chứng kiến được biết bao khuôn mặt tráo trở, họ không có một chút xíu ngượng ngùng, tiếp tay chỉ điểm, đắc lực làm tay sai. Quả thật tụi tôi hồi đó không sợ những người Cộng Sản mà sợ những thành phần nầy, họ làm bất cứ việc gì để lấy điểm. Nên tụi tôi thấy họ phải lo tránh xa. Không loại trừ thành phần nào trong xã hội Miền Nam, đâu cũng có thứ nầy. Qua Mỹ lại thấy ông ca sĩ nầy mặc đồ lính rằn ri hát những bài ca của lính, họ thay đổi còn hơn tắc kè. Đúng là cuộc sống đầy những nhiễu nhương.

Còn giới cầm bút thì sao? Một anh bạn kể lại cho tôi nghe những ngày sinh hoạt của giới cầm bút, nó cũng bát nháo như xã hội bên ngoài, chỉ điểm, hại nhau, đưa ra những “quan điểm” như một tay cộng sản thứ thiệt, những thành phần nầy còn “đỏ” hơn những thành phần trong bưng biền ra “tiếp thu”. Anh em thiêm thiếp nhận “khuyết điểm” rồi làm “kiểm điểm” như một cái máy, không dám hở môi hay ý kiến. Bây giờ các ông đã từng sinh hoạt ở Sài Gòn có cơ hội qua được đây, những người từng hầm hét, la ó, chắc rằng nghe những chuyện nầy thẹn mặt phải không? Trong cái giới mà thiên hạ quý trọng về cái “thiên chức nhà văn” mà còn hành xử với nhau tráo trở, coi nhau như kẻ thù, tìm cách dìm người khác xuống bùn đen, thì đừng trách chi những thành phần khác trong xã hội. Hồi đó anh em gặp nhau rỉ tai “Coi chừng thằng cha đó, mang băng đỏ đó”, vừa khinh tởm nhưng cũng vừa sợ sệt, là thứ “cách mạng ba mươi” mà anh em ai cũng đều lánh mặt.

Bây giờ kể lại những chuyện nầy như kể chuyện đời xưa, nghe lại thấy tức cười. Tội nghiệp cho những con người yếu đuối, vì tìm một chỗ yên thân mà họ phải táng tận lương tâm, làm những chuyện ruồi bu. Mấy ông có người thân đi tập kết về thì dựa hơi, bắt nạt người khác, hoặc to tiếng khẳng định lập trường của mình. Trong lúc chưa có người thì người ta để yên, mượn tay các ông để răn đe người khác. Khi có đầy đủ nhân sự thì cho các ông “chầu rìa”. Lúc đó các ông mới biết cái “lố bịch” của mình đối xử với anh em thì đã muộn. Có người phải tránh mặt anh em vì khi gặp nhau ngượng ngùng mắc cở. Có người bắt đầu ngồi quán café chửi đổng vì bị thất sủng.

Phần đông những người đi theo “cách mạng” sau nầy họ thấy được con đường của họ đeo đuổi hoàn  toàn sai lầm, thế nhưng họ vẫn gầm mặt xuống chịu đấm ăn xôi, hưởng những bỗng lộc béo bở. Họ biết dân chúng không ưa gì chế độ và chế độ không đem lại cho toàn dân ấm no, hay những đặc quyền tự do dân chủ nhưng họ vẫn tiếp tay vì nếu không họ sẽ mất tất cả. Chúng ta không trách họ, chúng ta chỉ thấy thương hại cho những con người nầy vì họ quên đi chí hướng của họ, khi tranh đấu họ mong cho người dân sau nầy an cư lạc nghiệp. Không ngờ chế độ mà họ phục vụ mang đến những trái ngược, tồi tệ hơn.

Có lẽ trong buổi giao thời, tranh tối tranh sáng, mình mới thấy được những bộ mặt “ghê tởm” nầy xuất hiện. Họ như những tên hề đứng trên sân khấu múa may mà không biết trơ trẽn, cũng may những cây bút nầy “cách mạng” không cho viết thoải mái trên  báo chí, chứ họ được cầm bút thì họ sẽ “phơ” không biết bao nhiêu đầu rụng vì họ. Không biết họ phải ăn nói thế nào với anh em bây giờ? Những người đàng hoàng họ tránh xa những loại nầy.

Vụ án “Hồ Con Rùa”, những tay “biệt kích” cầm bút, đều có thành phần nầy đứng bên trong chỉ điểm, chứ một mình Huỳnh Bá Thành không thể lập hồ sơ thanh toán các văn nghệ sĩ có máu mặt của Sài Gòn trước đây được. Nói thế để biết rằng anh em nạn nhân đều đoán biết ai hại mình, nhưng vì không có bằng chứng xác đáng nên họ lờ đi. Bây giờ có đem chuyện nầy ra tranh cãi cũng chẳng đi tới đâu, gây thêm sứt mẻ, thù oán nhau. Cái bối cảnh lúc ấy thật nhố nhăng, thật sắt máu, nghi kỵ lẫn nhau, chà đạp nhau để kiếm điểm, để vươn lên. Những người lập công cho “cách mạng” kiểu nầy dần dần bị đào thải, anh em thì xa lánh. Họ thui thủi như một bóng ma. Cho đến bây giờ thời gian quá lâu, mọi chuyện đã phôi pha, trong lòng mọi người không có ai muốn nhớ lại. Một bài học cho con người về xử thế.

Những năm đầu “giải phóng” người Miền Nam không có ai ra được Miền Bắc để trông thấy ngoài ấy ra sao? Tôi có một thằng bạn thuộc “gia đình cách mạng”, muốn đi một chuyến ra Bắc thế nhưng phải năm lần bảy lượt mới đi được, phải cái cỡ thứ trưởng bảo lãnh mới được cấp giấy cho đi. Sau khi trở về hỏi gì nó cũng không nói chỉ lắc đầu. Một bữa tôi với nó đi uống café, nó nói nhỏ vào tai tôi là trước khi nhận giấy được đi ra Bắc, người ta dặn không được nói với ai về cuộc sống ngoài đó, nên nó không dám nói chuyện nầy với ai. Sau mấy đêm suy nghĩ, nó tự thấy như vậy là không đúng, tại sao không nói cho thiên hạ biết “chiếc nôi” của Chủ Nghĩa Xã Hội, cái thiên đường nầy đã đánh đổ Miền Nam để cả nước cùng tiến lên. Nó không thể nào tưởng tượng Miền Bắc nghèo đói và lạc hậu đến thế. Phố xá cũ kỹ dơ bẩn, ngoài đường áo quần chỉ mỗi một màu ô-liu, thỉnh thoảng mới thấy màu xanh đậm hình như cho công nhân, họa hoằn lắm mới thấy chiếc áo trắng, còn xe đạp bạt ngàn, không thấy có một chiếc xe gắn máy nào, nếu có thì chắc từ Miền Nam mang ra. Hà Nội dưới mắt nó sao thấy thảm thương quá chừng. Sau đó nó nói với tôi bằng giọng mỉa mai; “Tiến lên xã hội chủ nghĩa như vậy đủ rồi, còn tiến mạnh tiến nhanh thì chắc chết quá mầy ơi”.

Mười năm sau (1985), tôi có một việc phải ra Miền Bắc vì mấy cái hợp đồng với thương nghiệp ngoài đó. Tôi đứng giữa Hà Nôi mà lòng thấy se thắt. Mấy chục năm người dân “văn vật” chịu đựng một cách dai dẳng mà không nổi loạn nghĩ cũng lạ thật. Áo quần nghèo nàn nhưng con gái Hà Nội mặt mày sáng trưng, phần đông người con gái đẹp hơn các thành phố trong Nam. Dưới con mắt của tôi, cái nét thanh lịch chỉ còn lại trên nét mặt của người con gái Hà Nội, còn bao nhiêu cái khác sau hai mươi năm Xã Hội Chủ Nghĩa đã tẩy sạch hết, tiêu tan hết.

Mấy năm trước đây có nhiều văn nghệ sĩ Hà Nội qua Boston theo chương trình của William Joiner mà tôi đã gặp. Trong lúc trà dư tửu hậu tôi có nói với họ về chuyện ra Miền Bắc của tôi năm 1985, họ đều cười và nói với tôi rằng có dip bây giờ nên ra Miền Bắc một chuyến, mọi thứ đều thay đổi một cách chóng mặt. Thế thì cái chính sách Xã Hội Chủ Nghĩa chỉ còn trên lý thuyết, mọi người dân bây giờ giàu có và không còn tiến nhanh tiến mạnh như khi xưa, mà họ chạy đua theo kịp đà tiến hóa của tư bản. Đó là một bước tiến đáng mừng cho dân chúng, để họ được hưởng những tiện nghi, những phúc lợi mà thế giới đã giành được trong những phát minh phụng sự cho con người. Đứng trên phương diện nhân bản thật đáng mừng cho những mảnh đời tưởng rằng sẽ sống trong tăm tối mãi mãi. Bây giờ ấm no hơn, thoải mái hơn tuy nhiên vẫn còn bị những rào cản về tự do, dân chủ còn siết chặt.

Tôi có dịp lên Thái Nguyên nhìn những cánh đồng chè bạt ngàn, những người hái chè buổi sáng sớm trong sương mù thật tội nghiệp, đồng lương công nhân của công ty chè quốc doanh không bao nhiêu, mà phải chịu cực khổ một cách nặng nề. Tôi cũng có dịp đi Quảng Ninh trông thấy công nhân mỏ than lam lũ trong hầm mỏ. Không biết những nhà lãnh đạo của giai cấp nầy trước đây có giống như anh chị em công nhân, mặt mày lấm lem, sống trong điều kiện kham khổ như vậy không. Chứ bây giờ nhìn họ thấy không khá nổi. Còn nhiều cảnh thật tang thương cho một chế độ xã hội chủ nghĩa mà họ ca tụng như là thiên đường. Thú thật tôi vỡ mộng.
Trước đây tôi không tin những gì mà bộ máy tuyên truyền của Miền Nam khi nói về Miền Bắc. Tôi không tin những tác phẩm của Xuân Vũ nói về chế độ Miền Bắc. Tôi cho đây chỉ là những tuyên truyền rẻ tiền để hạ nhau, chứ thực tế không đến nỗi như vậy. Sau khi ra Hà Nôi, tận mắt nhìn thấy đời sống dân chúng, chứng kiến cảnh làm việc, nhìn thấy sinh hoạt của người dân từ nông thôn đến thành thị, trật tự xã hội bị đổ nhào, đạo đức văn hóa không ai cần phải giữ gìn, những cảnh trắng trợn liệm người không cảm thấy xấu hổ. Tàu hỏa và xe buýt là nơi bọn đầu trộm đuôi cướp hoành hành trắng trợn mà cơ quan công lực không làm gì được. Dân chúng bị hà hiếp không biết kêu than nơi đâu. Phải công nhận là người dân Miền Bắc chịu đựng cái cảnh tai trời ách nước một cách cay nghiệt, mà họ không hề phản kháng, chỉ cắn răng chịu đựng. Mà phản ứng làm gì được khi mà bao tử đói meo, chỉ lo mỗi cái ăn chưa xong, hơi đâu phải ôm đồm chuyện khác.

Xe chạy đến huyện Kỳ Anh (tôi không nhớ thuộc tỉnh nào vì lâu quá, (hình như là Hà Tĩnh). Chúng tôi vào một quán cơm bên đường, người con gái bán cơm rất đẹp, nói giọng Hà Nội. Tôi nghĩ giữa một một nơi đồng không mông quạnh, lại có người nho nhã, ăn nói lễ phép và đồ ăn rất ngon. Trong lúc đó ngay tại Hà Nội chưa có quán ăn nào vừa ý. Tôi cũng xin nói thêm chỗ nầy, Hà Nội lúc đó tìm một quán café cũng rất khó. Đi ăn phở phải xếp hàng và trả tiền trước. Đặc biệt khi chúng tôi cũng xếp hàng thì người giữ trật tự mời vào ngồi bàn trước, ăn xong mới trả tiền (ưu tiên cho dân Miền Nam). Tôi hỏi người thu tiền tại sao chúng tôi được đặc ân như vậy. Thì họ trả lời là phải thu tiền trước để biết họ muốn ăn bát phở giá bao nhiêu, thì làm đúng với giá tiền, nếu không họ chỉ trả ít hơn thì mình không biết phải làm sao, hoặc ăn xong không trả tiền rồi bỏ chạy. Còn các anh ở Miền Nam đã quen với cái lối trả tiền sau, các anh nhắm mình có đủ tiền mới vào quán và nếu có bỏ chạy thì các anh không biết đường nào mà chạy thoát được. Vì vậy chúng em phải tiếp các anh như ở Sài Gòn vậy. Chính quyền cách mạng xem tụi tôi như một thứ ghẻ lở, nhưng bà con Miền Bắc thì lại xem tụi tôi rất thân tình. Sau khi ăn xong, tôi hỏi về gia đình và giọng nói của cô gái khác với những người chung quanh đây. Cô ấy cho biết là cha mẹ cô là dân Hà Nôi chính gốc, sau 54 bị tịch thu nhà cửa và đi kinh tế mới nên phải trôi giạt vào đây. Cô hiện thời là sinh viên, cuối tuần phải về để giúp đỡ cha mẹ bán cơm. Nhìn hình ảnh của cô tôi liên tưởng đến những bà con ở Sài Gòn đi kinh tế mới. Chắc chắn họ không được may mắn như gia đình cô hiện thời, cái gốc Sài Gòn của họ rồi cũng sẽ mất. Nhà to cửa lớn của họ đã được các “quan cách mạng tiếp thu”, đổi chủ một cách hà khắc.

Chưa có một cuộc sống nào cay nghiệt người dân phải chịu đựng oan ức như trong cái thời “giải phóng”. Tôi nhìn ra cánh đồng xa xa những chiếc áo tơi (chầm bằng lá buông mà vào khoảng thập niên 60 không còn thấy xuất hiện tại Miền Nam), nhấp nhô trên đồng ruộng. Tôi hỏi cô gái trời nắng như vậy mà tại sao phải mặc áo tơi. Cô ta cho biết, làm gì có áo mặc để làm ruộng, họ mặc áo tơi để thay cho áo vải. Nhìn qua cánh đồng khác tôi thấy người kéo cày thay cho trâu bò. Một cái cảnh lần đầu tiên trong đời tôi mới thấy, thân hình thiếu ăn ốm o, choàng sợi dây trên vai kéo cái cày có một đứa bé đứng phía trên, thật tội nghiệp. Những năm của Miền Bắc đi trước Xã Hội Chủ Nghĩa đã gặt hái những gì tốt hơn cho người dân? Cái cảnh trông thấy trước mắt mà tôi có dịp ra Miền Bắc, cho tôi một bài học là phải bằng mọi cách tìm đường ra nước ngoài, nếu không thì quá trễ và viễn ảnh cho thấy cuộc đời sẽ khốn nạn, thê thảm, bần cùng như bà con ruột thịt Miền Bắc đang gánh chịu.

Một chuyện buồn cười, xe của chúng tôi tới phà Bến Thủy chờ lên phà để về lại trong Nam. Đoàn xe nối đuôi nhau dài cả cây số, tôi nghĩ trong bụng ở đây chờ ít nhất phải hai ngày trời mới tới phiên mình, vì lúc ấy chiếc “phà” chỉ chở được bốn chiếc xe vừa qua lai mất cả tiếng đồng hồ. Nói là “phà” cho nó oai vậy chứ quả thật là mấy cái phao cột dính lại với nhau, một chiếc tàu nhỏ như ca-nô kéo đi. Tôi nghe các tài xế chạy trên đường xuyên Việt kể lại rằng trong mùa nước lũ, phà bị đứt dây trôi mất là chuyện thường. Tôi hỏi thế thì xe và người trên phà phải làm sao? May mắn thì được vớt, còn không thì chết thôi. Chuyện quan trọng như vậy mà người kể chuyện xem như thường và những cơ quan có trách nhiệm điều hành về phà qua lại trên sông, tỉnh bơ xem đó không quan trọng, không phải trách nhiệm của mình. Chiếc phà bao năm vẫn không thay đổi. Cho nên mấy chiếc phà bắt qua bắc Cần Thơ hay bắc Vàm Cống thấy rất an  toàn. Đang ngồi trên xe tán chuyện với nhau, thì người phu cầm cờ đỏ chạy đến xe chúng tôi hỏi có cần phải qua phà nhanh không? Người tài xế hỏi ông giá bao nhiêu. Ông trả lời muốn đi ngay thì cho nhiều một chút, muốn qua phà chậm thì ít hơn. Người phu cầm cờ đỏ đưa hai ngón tay (có ý là hai trăm đồng) chạy ngay. Hai trăm đồng lương công nhân thuở đó là năm mươi đồng một tháng. Ông ta cầm cờ đỏ giơ cao chạy trước, miệng la lớn: “Anh em Miền Nam giúp đỡ anh em Miền Bắc”. Họ xem cái chuyện đút lót nầy là bình thường, là công khai cho những chiếc xe khác noi theo. Chiếc xe của tụi tôi ưu tiên xuống trước. Đứng trên phà qua sông, thật tình tôi ngao ngán cho một xã hội mà tôi đã chứng kiến trên Miền Bắc. Rồi đây Miền Nam của chúng tôi sẽ lăn trên vết xe của đồng bào ngoài kia đã trải qua. Bây giờ chúng tôi đã thấy ngột ngạt khó thở, người ta đã bắt đầu áp dụng đường lối cứng rắn để uốn nén dân Miền Nam rập khuôn Miền Bắc.

Xe chạy đến Quảng Bình, thành phố xem như bình địa vì bị bom của Mỹ rải nát, mười năm sau vẫn còn nguyên si, không sửa chữa. Thành phố lợp tranh trên những nền nhà cũ. Nhà thờ chính Quảng Bình chỉ còn trơ lại gác chuông. Dấu tích chiến tranh vẫn chưa xóa, nhìn thành phố chúng ta đủ biết nơi đây đã nhận biết bao nhiêu bom đạn. Chúng tôi vào uống nước tại một căn nhà tranh trên quốc lộ, người chủ quán là một anh thương binh trạc tuổi tôi. Lúc đầu mới vào anh nói chuyện với chúng tôi sặc mùi Cộng Sản. Chẳng hạn như về những năm tháng chiến tranh mà Quảng Bình nhận lãnh hậu quả nặng nề nhất. Anh nói rất tự hào: “Quảng Bình quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Người dân Quảng Bình kiên cường đứng đầu cả nước chống giặc xâm lăng Mỹ”. Tụi tôi chỉ lắng nghe anh thao thao bất tuyệt về chiến tranh, về chính sách, về con người sống thế nào cho phù hợp chế độ. Luận điệu nầy tôi đã từng nghe những người thắng trận lớn lối nói ra rả vào tai tụi tôi. Anh hỏi tôi trước khi hòa bình tôi làm gì ở Miền Nam. Tôi không trả lời ngay câu hỏi của anh, tôi vén ống quần cho anh thấy cẳng chân giả làm bằng plastic của tôi. Tôi chỉ trả lời vỏn vẹn: “Tôi là người lính của Miền Nam”. Sau khi nhìn thấy sự mất mát thân thể của tôi, sau khi nghe tôi xác định một cách chắc nịch về con người thật của tôi. Con người mà đứng trên chiến tuyến là đối nghịch với anh. Tôi nói không có một chút thù hận, không tranh cãi với anh, tôi chấp nhận danh phận không may mắn của tôi. Thái độ nầy tôi làm cho anh bất ngờ lúng túng. Tôi thấy anh ngồi suy tư, nhìn tôi có chút ngậm ngùi. Anh thấy những gì anh nói với tôi đều là những câu tuyên truyền không cần thiết, mười năm “giải phóng” tôi đã hiểu rõ chân tướng của chế độ, có đánh bóng nó cách mấy cũng không thể che đậy cách trả thù hèn hạ trên đầu anh em chúng tôi. Tôi trả tiền nước rồi ra xe, anh chạy theo bắt tay tôi thật chặt, anh nói là anh cảm thấy mắc cở ăn nói quá nhiều hàm ý tuyên truyền, khi nhìn thân thể tôi, anh biết không dễ gì lay chuyển được tôi. Dù là người bại trận, đang sống dưới chế độ thù nghịch, tôi vẫn không tránh né về thân phận của mình.

Từ Quảng Bình về Quảng Trị con đường gập ghềnh, lởm chởm. Xe qua cầu Hiền Lương, chiếc cầu lịch sử ngăn chia Nam Bắc. Chiếc cầu nhỏ nhắn, dễ thương, nó đứng giữa ranh giới chứng kiến biết bao nhiêu tai ương đổ xuống trên đầu nhân dân hai miền Nam-Bắc. Nó ngăn cách không những chế độ bên nầy, bên kia, mà nó còn ngăn cách cả lòng người, xé tan tình tự của dân tộc. Bao nhiêu năm hòa bình mà ấn tượng, đố kỵ còn nặng nề quá vẫn chưa biết làm sao nối lại được. Chiến tranh chỉ trong vòng 20 năm, mà đến 35 năm sau sống trong hòa bình vẫn chưa có cách nào chung sống trong tình anh em ruột thịt. Tuy không còn cầm súng giết hại nhau, không còn ranh giới phân chia chiến tuyến, thế nhưng bức tường chắn giữa lòng người (nói theo kiểu Tưởng Năng Tiến) vẫn còn kiên cố ngăn cách đôi bên, không ai chịu phá bỏ và quên đi cái thời xa xưa nhục nhã của dân tộc.
Chút hồi ức nầy không dụng ý khơi dậy đống tro tàn, nhưng để nói lên cho chúng ta biết “có một thời như thế”, một thời mà không muốn nhớ lại, và rồi, cũng không thể nào quên được!

Houston, 30 tháng 4 để nhớ lại
Phan Xuân Sinh