Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 15 Apr 2025

Chương 11.

Al Capone ít khi nào bước ra khỏi giường trước 12 giờ trưa. Đúng ra, xếp thức giấc sớm hơn một chút, vào khoảng 11 giờ sáng, nhưng tiêu tiểu xong là xếp lại phóng tót lên giường để đọc báo và ăn sáng.

Lúc này, ngày nào cũng như ngày nấy, trên cái mâm bằng bạc sáng loáng nhập cảng từ Pháp do gã cận vệ ruột lễ mễ dâng lên, là một chồng nhật báo của Chicago.

Nhật trình là món mà xếp ghiền nhất mỗi buổi sáng. Lãnh tụ gộc như xếp, không đọc báo không được. Xếp cần biết rõ tình hình của thế giới và tình hình của Chicago để tính toán kế hoạch làm ăn. Vừa phì phà điếu xì gà, xếp Al Capone vừa đọc lướt qua những tin quan trọng trong ngày.

Sáng hôm nay, vừa lướt một vòng nhìn qua mấy tờ nhật báo là xếp tự nhiên cau mày lại như hút phải một hơi xì gà rẻ tiền. Quái lạ, xưa nay làm sao có chuyện kỳ cục như thế này? Trên trang nhất mỗi tờ nhật trình là hình chụp một thằng cớm lạ hoắc, mặt mày coi cô hồn dữ tợn đang nghiến răng chửi rủa xếp. Nó còn dám hăm đưa mình vào tù nữa chớ.Xếp lẹ tay lật thêm vài tờ khác. Mỗi nhà báo đầu có một lối viết và diễn tả khác nhau nhưng tựu trung thì dòm đi đâu cũng thấy hình của thằng cớm cô hồn đang nghiến răng chửi rủa xếp đủ điều. Chừng như nhiêu đó chưa đủ làm cho xếp tá hỏa mặt mày, những lời chửi rủa rất thô lỗ kia còn được chúng nó in ra bằng những hàng chữ thật lớn, thật đậm nét. Nào là “Eliot Ness tuyên bố: Thằng khốn nạn đó sẽ vào tù, đó là nơi mà nó đáng lẽ phải ở cách đây hơn chục năm rồi, thay vì còn ngồi ăn hút ở đại khách sạn Lexington.”

Một câu chửi khác độc hơn, không biết của tên cớm chó má này hay mấy thằng nhà báo lại bịa chuyện: “Tôi muốn quý vị ghi rõ điều này: Tôi xuống đây để tiêu diệt Al Capone. I come here to get Capone. Nó sẽ bị tiêu diệt.”

Xếp lắc đầu hai ba cái một lúc. Điếu xì gà trên tay sao hôm nay thấy đắng quá chừng. Xếp quăng cái vèo vào tường, miệng xổ luôn một tràng dài toàn những tiếng chửi thề. ĐM mới sáng sớm đã có chuyện! Xếp không nhớ rõ lần cuối cùng mình bị người ta chửi nặng như vậy là lần nào? Có lẽ đã xưa, xưa lắm, cái thời mà xếp còn là một thằng ma cô chuyên đứng kiếm khách ở West Taylor Street cho “vua nhà thổ” Weiss…

Hình ảnh ghê rợn của cái thuở nghèo túng năm nào trở về trong đầu óc xếp. Khổ thật, vào sinh ra tử suốt ngày mà vẫn không đủ ăn. Nhiều khi, hớ hênh để một thằng khách làng chơi ăn quịt là khốn nạn với chủ. Ngày nọ, tranh chấp với một em giang hồ về mấy đồng tiền lẻ, ngứa tay xếp bợp cho em một cái ra gì. Cái bợp tai của dân anh chị tưởng nhẹ ai ngờ hóa ra mạnh quá, làm mặt mày con nhỏ xưng vếu lên, môi dập lại làm mấy nhúm. Nghề buôn son bán phấn mà mặt mũi như vậy thì chỉ còn nước nằm nhà mà khóc. Ma cô dợt điếm là chuyện thường, nhưng dợt mà có thương tích thì bị cấm tuyệt vì nó đụng tới nồi cơm của tất cả. Kẹt hơn nữa em bé bị đòn lại là bồ lẻ của ông chủ.

Weiss nghe tin, nổi trận lôi đình cho hai đàn em đi “dắt thằng mặt thẹo Al Capone lên đây!”

Lúc hai đứa cận vệ dẫn xếp về thì ông chủ Weiss đang ngồi ăn mì ống, uống la de. Xếp bị đẩy tới trước bàn. Thằng Weiss nhìn xếp như ông vua nhìn một thằng nô lệ hạng bét phạm tội nặng. Hắn chỉ mặt xếp tuôn ra một tràng:

– Al Capone, mày là một thằng mất dạy, khốn nạn. Tệ hơn nữa, mày là một đứa ăn hại. Tao đã ra công bao bọc, nuôi nấng mày, nhét thực phẩm vào miệng mày, may mặc cho mày. Tưởng rằng mày sẽ nhớ ơn, ai ngờ mày lại là một thứ vô tình, một thứ ngu dốt, một thứ vô lương tâm, một thứ hèn hạ để đến nỗi đi tranh giành mấy đồng bạc lẻ với mấy con điếm….Nếu xếp cứ đứng yên mà nghe như vậy thì nói chán, ông chủ Weiss thế nào cũng ngưng. Lâu lâu biễu diễn uy quyền của ông chủ nhà thổ một chút cho nó vui vậy thôi mà. Weiss biết Al Capone là một tay đánh đấm có hạng, nên cũng quý lắm.

Chẳng ngờ con người của Al Capone, từ lúc có trí khôn đến nay, đâu để cho ai chửi mình, dù người đó là …thượng đế. Bị nghe chửi đã kẹt, còn bị sỉ vả là thằng hèn, đi tranh giành mấy đồng bạc với mấy em điếm thì xếp tự nhiên thấy trong người nóng rang lên, hai lỗ tai lùng bùng. Những gì xảy ra sau đó hình như không phải đến từ trí óc của xếp nữa, mà bằng một phản ứng không biết đến từ đâu.

Thế là xếp xông tới, chụp cái dĩa mì ống đỏ lòm ụp lên đầu ông chủ. Xếp phản ứng lẹ quá, ngay cả hai thằng cận vệ của Weiss cũng không cản nổi. Đâu có ai ngờ một thằng ma cô hạng bét lại dám hành động điên khùng như vậy với ông chủ Weiss, ông vua nhà thổ đường Taylor.Weiss cũng ngạc nhiên vô cùng, cái miệng đang chửi bới liền ngưng lại rồi há hốc ra, cặp mắt tròn xoe như muốn lòi tròng, làm như không thể tin được những gì đang xảy ra.

Hai thằng cận vệ của Weiss nhào tới liền cấp kỳ, đứa móc từ dưới lên, đứa nện từ trên xuống. Chỉ trong mấy phút đồng hồ, chúng nó đã dần con người xếp nhũn ra như một sợi …mì ống, máu me tùm lum. Hai đứa lại xốc nách xếp lên cho thằng Weiss.

Ông chủ bấy giờ mới hoàn hồn, lại chỉ mặt xếp tiếp tục mắng chửi cho một trận tơi bời. Chửi nhiều lắm nhưng xếp đâu còn tỉnh táo mà nghe nữa. Tai thì đầy những máu, môi miệng bầm dập sưng vếu lên, còn đầu óc xếp thì chỉ nghĩ đến việc băm cái xác thằng Weiss này ra làm trăm mảnh. Đâu có đứa nào làm nhục Al Capone mà thọ được lâu?

Vài tuần sau, chiếc limousine của thằng Weiss và hai đứa cận vệ đang đi ngon lành bỗng nổ ùm lên một cái, tan tành như xác pháo.

Kể từ ngày đó, cuộc đời xếp bỗng thăng thiên như diều và cũng không còn nhớ là có đứa nào còn dám kêu đích danh xếp ra mà chửi cho đến ngày hôm nay. Nhưng nhiều khi xếp tự hỏi, nếu lần đó xếp đã không bị lăng nhục thì cuộc đời xếp chưa chắc đã được vinh hiển như ngày nay, và có thể đến bây giờ cao lắm thì cũng lên được chức “chủ nhà thổ” khiêm nhường nào đó ở Chicago…

Phải, như chuyện trên trời rớt xuống, tự nhiên xếp bị một thằng cảnh sát nhải con ở đâu không biết lù lù về đây réo tên xếp ra mà chửi tơi bời hoa lá. Mà sao lại có báo chí bu đông quá cỡ vậy? Phải có cái chuyện gì xảy ra mới được. Đã lâu rồi, vì cần tập trung thì giờ và sức lực để bành trướng “đế quốc Al Capone”, mọi chuyện lặt vặt xếp đều giao khoán luôn cho thằng Frank Nitti, để nó toàn quyền quyết định. Nhất định xếp phải hỏi cho ra lẽ.

Xếp Al Capone nhảy xuống khỏi giường, quát nhặng lên:

– Gọi thằng Frank Nitti lên đây. Nói nó lên liền lập tức.Hai thằng cận vệ ruột dạ ran lên một tiếng rồi lủi nhanh. Ít khi nào chúng nó thấy xếp mới sáng sớm mà đã cáu như vậy. Lập tức, ba bốn thằng khác từ ngoài nhảy vào để trám chỗ cho hai thằng nọ để hầu hạ xếp. Chúng chia nhau đứa lấy áo khoác, đứa xách đôi giày…

Cái mâm bạc thứ hai đựng thức ăn sáng được đưa lên. Xếp chỉ nếm một miếng rồi phun ra cái “phẹt” xuống mâm, bảo đem đi gấp gấp. Đầu óc lúc này đang căng thẳng, chẳng ăn uống gì được. Xếp lại giở tới giở lui mấy tờ báo.

Mặt thằng cớm này coi kỹ thấy cũng điển trai đấy chớ. Cái hàm bành ra thế kia thì chắc phải là người dân gốc Na Uy. Mẹ kiếp, xưa nay hải tặc Viking nổi tiếng thế giới mà. Con cháu dân hải tặc có khác.

Xếp rán đọc hết một bài, càng đọc càng thấy bớt giận đi. À thì ra là tối hôm qua nó tổ chức đi đột kích một kho chứa rượu của mình và bị Frank Nitti cho vào xiếc. Thật là tuyệt. Té ra không có mình, thằng Frank Nitti giải quyết cũng hay. Hơn một triệu đô la rượu chứ ít à? Tấn công hụt, thằng cớm chó chết này quê quá, bèn họp báo chửi bới om sòm cho đã cơn tức.

Cơn giận tự dưng biến mất. Xếp bật cười lên một mình. Kể cũng lạ. Xưa nay cảnh sát đi hành quân, nếu vồ hụt con mồi thì lẳng lặng khăn gói về nhà kín đáo như mèo đi giấu cứt, đâu có cái màn chửi bới như thế này. Thằng cớm còn thú tội: “Tôi đã bị lừa như đứa con nít, cuộc hành quân này thất bại hoàn toàn do lỗi của tôi” thì quả thật Chicago xưa nay chưa bao giờ có.

Xếp mặc xong bộ đồ lớn thì thằng Frank Nitti dẫn xác vào. Ủa, thằng phụ tá mặt mày hôm nay coi sao thấy rầu rĩ quá chừng. Tối qua mới thành công lớn mà sao hôm nay mặt mày như đang đi đưa đám ma? Xếp nhìn nó thắc mắc:

– Mặt mũi của chú mày sáng nay làm sao vậy?

Frank Nitti lắc đầu:

– Chiếc Cadilac mới tinh của tôi hôm qua tôi …đốt rồi.

Xếp giật mình:

– Mày nói chuyện giỡn, tao thấy mày cưng cái xe đó hơn mọi thứ trên đời này, sao lại đốt?

– Đốt chứ để làm gì? Tôi còn đập cho thằng tài xế một trận ra gì, bẻ gãy cha nó luôn cái cánh tay, oánh bể mấy cái ba sườn, phải chở nó vô nhà thương. Thứ đàn em vô dụng như vậy chẳng thà đừng có.

– Nó làm gì?

– Hôm qua tôi dắt con đào đi shopping, giao cho nó đậu xe ở ngoài chờ. Mới vô có mấy tiếng đồng hồ, lúc trở ra thì chiếc xe bị đập nát hết năm cái cửa kiếng, lại còn móp méo tùm lum. Tôi giận quá, mở nắp thùng xăng thảy vô đó một mồi lửa. Mua chiếc khác, đẹp hơn.

Xếp Al Capone nhíu mày:

– Ngay giữa Chicago, thằng khùng nào mà dám chơi ngon vậy?

– Cảnh sát. Nhưng cả đám cảnh sát Chicago, chỉ có một thằng dám chơi như vậy thôi, xếp biết nó là ai rồi.

– Gary Malone!

Lần thứ hai kể từ khi thức giấc sáng nay, xếp muốn nhảy nhỏm người lên vì một cái tên khác: Gary Malone! Giới giang Chicago ở cuối thập niên 1910 đâu có ai lạ gì với cái tên “Bàn tay thép Malone”.

Theo xếp, thằng Gary Malone này trời sinh ra để làm …ăn cướp đúng hơn là đi làm cảnh sát. Ngày xưa, lúc xếp còn là một tay giang hồ cắc ké ở khu Cecira, hễ ngày nào thiên hạ nghe tới tên “bàn tay thép” đi tuần trong khu vực là ngày đó cả khu phố trở nên vắng lặng và hiền hòa như một cái tu viện.

Ai cũng biết thầy đội Gary Malone không thích bị giỡn mặt. Con người Gary Malone có một lố huyền thoại vây quanh, ngay cả đến xếp cũng phải kính nễ. Cái làm cho thầy đội Gary Malone nổi bậc hơn hắn các cớm khác là thầy biết và dám sử dụng luật …giang hồ với bọn ăn cướp. Nếu thấy cần tha, dù có tội giết người với tang chứng rành rành trước mặt, thầy vẫn tỉnh bơ ngó đi chỗ khác. Nếu cần phải răn dạy, thầy sẵn sàng đập cho một trận sưng vếu mặt mày lên hoặc bẻ lọi tay lọi chân để cảnh cáo. Xếp còn nghe người ta đồn là chính tay Gary Malone đã dùng dùi cui đập chết tươi mấy thằng cứng đầu rồi quẳng xác xuống sông Chicago.

Xếp nhớ có lần, một em bé con nhà đàng hoàng bị bọn ma cô của cánh Weiss dụ dỗ lên Chicago mần ăn. Sau vài tuần, em tự nhiên bị mất tích, cả nhà liên lạc thế nào cũng không được. Ông bà thân sinh là chỗ quen biết của một Thượng Nghị sĩ Chicago, liền đến khóc lóc kể lại sự tình. Ông Thượng liền gọi phôn cho ông thị trưởng. Ngài thị trưởng biết thế lực chính trị của ông này, gật đầu lia lịa, hứa đích thân sẽ lo. Gác phôn lên là ông chạy như bay qua ty cảnh sát, bắt phải “làm sao lôi con bé đó về cho được.” Trưởng ty cảnh sát của Chicago là do thị trưởng chỉ định mà, nên hễ được giao công tác nào là phải hớn hở lo thi hành cấp kỳ, đâu dám trễ nãi? Thế là ông huy động lực lượng hùng hậu của cả ty cảnh sát, ngay chiều hôm đó tiền hô hậu ủng đi bố ráp khắp nơi. Liên tiếp mấy ngày sau nữa, hành quân bố ráp hàng trăm vụ, tốn người tốn của bằng thích mà có ai tìm thấy em bé đâu? Chỉ hoài công phí của.

Ông thị trưởng xệ quá, đang ngồi tư lự trong văn phòng không biết ăn nói làm sao với ngài Thượng Nghị sĩ thì cô thư ký cưng chạy vào mách nước về ông cớm vang danh Gary Malone. Sự liên hệ giữa cô thư ký và Gary Malone không biết thế nào nhưng khi nghe cô em thề thốt long trọng và giới thiệu với ngài thị trưởng, ông ta liền cho gọi Gary Malone tới. Thị trưởng coi uy quyền vậy mà thằng cớm có biết nể nang gì đâu, ông nói gì hắn cũng lắc đầu quầy quậy. Mãi tới gần tối, sau khi để ngài thị trưởng năn nỉ sùi bọt mép, Gary Malone mới chịu gật đầu. Trước khi ra đi con đưa đẩy một câu: “Ông nên nhớ, tôi nhận lời không phải vì ông là thị trưởng đâu nhé, mà chỉ vì một việc hào hiệp cần phải làm. Khi xong việc, xin ông đừng có biễu diễn cái màn gắn huy chương hay quảng cáo rùm beng lên làm gì. Tôi là người của bóng tối. Hãy để tôi sống thầm lặng với bóng tối”.

Ngài thị trưởng đứng nhìn theo đầy vẻ cảm động. Tới phòng ngoài, khuất sau cánh cửa gỗ to lớn, Gary Malone đè cổ cô thư ký tặng cho một cái hôn nồng cháy. Buông cô em ra, chàng cớm đa tình đã đi khuất xuống cầu thang rồi mà cô thơ ký vẫn còn đứng yên như trời trồng, mặt nghệt ra như luyến tiếc giây phút thần tiên hồi nãy. Tiếng giày đinh lộp cộp và tiếng vỗ của cây ma trắc vào lòng bàn tay nghe nhỏ dần, nhỏ dần dưới toà thị chính.

Mó tay vào việc, Gary Malone cho cái đám cảnh sát ấm ớ giải tán đi về hết, một mình một cây dùi cui đến gặp “vua nhà thổ” Weiss.

Vua nhà Thổ cũng chẳng phải tay vừa, nghe tin Gary Malone tới là biết phen này lành ít dữ nhiều, bèn dắt một đám cận vệ ra nhà hàng chuẩn bị đón tiếp ông cớm hung hãn nhất của Chicago. Khỏi nói ai cũng tưởng phen này cuộc đời “bàn tay thép” sẽ ăn đạn thép tùm lum.

Chiều đó, Gary Malone tà tà bước vào sào huyệt của Weiss như bước vào chỗ không người, thảy tấm hình đứa con gái trên mặt bàn cho Weiss xem, giọng lạnh như tiền: “Tao cho mày tới trưa mai, nếu em bé không về thì mỗi ngày tao …đốt một cái nhà thổ.”

Nói ít vậy thôi, khỏi cần nghe giải thích hay phân trần gì cho mất thì giờ, Gary Malone quắc mắt nhìn quanh một vòng như ra cái điều thách thức “thằng nào muốn thử xem bàn tay thép cứng cỡ nào thì cứ nhào ra” rồi quay người lừng lững bỏ đi. Đám cận vệ mười mấy thằng toàn là dân dao búa đứng nhìn theo. Máu chúng nó dồn lên tới cổ nhưng có đứa nào dám làm gì đâu? Nó đi dám đi khơi khơi ngon lành như vậy vô hang cọp thì không phải là tay vừa. Quả đúng là “bàn tay thép.”

Nhưng thằng Weiss cũng đâu phải là hạng dễ bị hù như vậy. Nó nghe tiếng bàn tay thép đã lâu nhưng chưa có dịp đụng độ, nay phải thử một lần cho biết. Ông vua nhà thổ nhất định không giao nạp gì hết, đồng thời cho đàn em tăng cường bố trí khắp nơi. Cho chắc ăn, nó còn mướn thêm viện binh của cánh khác. Lần này, người của nó rải dài dài bắt đầu từ ngoài lộ chính, vô tới tận phòng ngủ của nó, một con con chuột chạy cũng không lọt, nói gì tới người?

Ngày hôm sau thật dài. Chính xếp Al Capone lúc ấy cũng thủ một cây shotgun đứng tuốt ngoài ngõ. Lệnh ban xuống là, hể thấy thằng Gary Malone hay bất kỳ đứa nào lạ mặt đi tới là phải tốp lại để kiểm soát. Nó chống cự là phơ liền lập tức.

Nhưng mãi đến chiều, đến tối cũng chẳng thấy cái nhà thổ nào bị đốt. Hơn nửa đêm, vua nhà thổ mệt quá, căn dặn đàn em rồi tà tà leo cầu thang đi lên cái văn phòng riêng ở lầu hai để nghỉ ngơi.

Vừa đóng ập cửa lại, xoay người ra sau thì vua nhà thổ bỗng rú lên một tiếng kinh hãi. Trong căn phòng trang trí hạng nhất của khách sạn, Gary Malone đã lù lù một đống ngồi đó không hiểu từ bao giờ và từ lúc nào. Tay bên phải là khẩu shotgun cưa nòng, tay bên trái là cây búa bửa củi. Thằng này không chừng có tài xuất quỷ nhập thần, sào huyệt được gài kín người ba bốn lớp như thế kia sao nó lẻn vào đây được? Đêm hôm khuya khoắc, hắn vác búa bửa củi và súng ống vào đây đâu phải để nói chuyện đời xưa. Weiss hãi quá, một lời nói cũng không buông ra được, thiếu điều muốn té đái trong quần.

Gary Malone chỉ mỉm cười bảo nhẹ:

– Bây giờ chúng ta đi xuống lầu trở lại. Cẩn thận từ từ và “biết điều một chút”. Dân Chicago này đâu có lạ gì tao, đừng có làm gì để phải hối hận.

Mấy thằng đàn em thấy ông chủ vừa đi lên, rồi lại quay trở xuống liền thì có hơi thắc mắc. Dòm kỹ hơn thì thấy hai bàn tay của vua nhà thổ Weiss giơ cao khỏi đầu, theo sát phía sau là bàn tay thép Malone với cây shotgun chĩa ngay vào gáy ông chủ.

Bước xuống lưng chừng cầu thang, Gary Malone ra lệnh:

– Tốp lại ngay đây. Biểu mấy thằng em của mày gom hết súng ống lại một chỗ cho tao.

Weiss ríu ríu vâng lời, dặn đám đàn em hai ba lần là phải một mực tuân lệnh của Gary Malone, chỉ sợ thằng em nào làm bậy là nó sẽ biến thành …tiên vương nhà thổ. Nhìn mớ súng ống gom thành một đống trên sàn nhà, Gary Malone tiếp tục:

– Cho tụi nó xuống nhà kho, đem hết mấy cái thùng rượu mạnh lên đây. Đừng có dại mà giở trò gì là tao thổi bay cái sọ của mày.

Mấy thằng đàn em lục đục kéo đi, Gary Malone chỉ mặt một thằng:

– Mày! Tướng tá coi được, lên đây tao biểu.

Thằng nọ chới với, vừa bước từng bước dài lên cầu thang thì bàn tay thép hỏi luôn:

– Mày …biết pha rượu không?

– Dạ biết.

– Tốt, làm cho tao một ly “Bloody Mary” rồi đem lên đây. Xài thứ ly cối cho nó tiện.

Ly rượu được kính cẩn dâng lên, bàn tay thép làm một ngụm, hà một hơi rồi để ly trên chỗ tay vịn cầu thang. Thằng kia vừa quay xuống đã bị Gary Malone gọi giật lại:

– Khoan đã, đi đâu mà sớm vậy, tao còn có việc nhờ mày.

Bàn tay thép móc cây búa đeo sau lưng nảy giờ thảy xuống:

– Cầm lấy cái búa bửa củi này, xuống dưới đó đứng chờ tao.Khi chúng nó khiêng đến thùng rượu thứ năm, Gary Malone bảo:

– Đủ rồi. Bây giờ, mày, thằng cầm búa, tới bổ hết mấy thùng rượu này ra cho tao.

Năm thùng rượu, mỗi thùng mấy chục ga lông chứ ít gì, bị búa bổ ngang hông, chảy ra có vòi. Khắp sàn nhà, đâu đâu cũng chỉ toàn rượu là rượu. Mùi whiskey bốc lên nồng nặc. Gary Malone ra lệnh tiếp:

– Tụi mày biết muốn cho lửa cháy tốt cần phải có cái gì biết không?

Không thằng nào trả lời. Gary Malone ực thêm một ngụm rượu:

– ĐM, dân du thủ du thực có khác. Hồi nhỏ không đi học nên đéo biết mẹ gì hết. Lửa cần phải có không khí, có gió thì cháy mới đẹp. Đứng đực ra đó làm gì, mau chạy ra mở hết mấy cái cửa sổ cho tao.Vua nhà thổ giật mình đánh thót một cái, bây giờ nó mới biết ra là bàn tay thép tính đốt cái nhà thổ của mình thiệt. Thằng nào thằng nấy xanh mặt hãi hùng. Gary Malone lại tà tà ra lệnh:

– Tao cho tụi mày năm phút, leo lên lầu đem hết mấy em giang hồ xuống. Đứa nào chậm chạp chết cháy rán chịu.Vừa nghe tới đó bỗng thấy cầu thang ầm ầm chuyển động. Té ra mấy em đã đứng thập thò ở cầu thang từ nãy, bây giờ được lệnh, ào ào đổ xuống chạy thụt mạng, khỏi cần ai lên nhắc nhở.

Gary Malone làm thêm ngụm “Bloody Mary”, nói với Weiss:

– Mày biết thằng Gary Malone này rồi. Tao đâu có thì giờ đi dọa non dọa già tụi mày. Tao biểu đốt mỗi ngày một cái nhà thổ là đốt thiệt. Ngày mai, tao đốt thêm một cái nữa, coi thử chừng nào mày mới lòi em bé ra.

Vua nhà thổ phân trần:

– Đàn anh chơi vậy là ép tôi quá! Coi, tôi đâu có biết gì. Chicago này bao nhiêu là động điếm, có phải mình tôi đâu. Mong đàn anh nghĩ lại giùm, tôi không quên ơn.

Bàn tay thép nhổ toẹt một bãi nước miếng sau ngụm rượu cuối cùng:

– Không cần biết, mày không giữ nó thì kiếm cho ra thằng nào đó giữ nó. Nghề của mày mà, làm sao qua mắt tao được? Hễ tới trưa mai mà không có thì tao đốt thêm một cái nữa, nghe rõ không?Khỏi cần chờ câu trả lời, Gary Malone quay xuống dưới nhà, hét to lên:

– Cho tụi mày dọt hết ra ngoài. Tao với thằng Weiss ở lại đây có chuyện chút xíu.

Một thằng đàn em của Weiss, nhân lúc hổn loạn lén mò tới gần mớ vũ khí tính vớt một cây. Nhanh như chớp, cây shotgun trên tay Gary Malone chỉa mũi xuống, nổ “oành” một phát.

Thằng nọ bật người ra sau. Bàn tay phải từ cùi chõ xuống bị đạn cày nát, lủng lẳng mấy miếng thịt coi thấy gớm. Nó ôm tay lăn lộn co quắp, máu chảy thành giòng. Giọng nói oang oang Gary Malone vang xuống dưới nhà:

– ĐM chưa biết tài bắn shotgun của Gary Malone hay sao mà dám giỡn mặt? Lần sau, thằng nào muốn thử tài bắn của tao, tao bắn vô mặt. OK, bây giờ dọt hết ra ngoài, nhớ dắt thằng đó theo.

Lúc chỉ còn lại có hai người, Gary Malone dìu vua nhà thổ bước ra gần tới cửa rồi hạ nòng cây shotgun, đưa cho Weiss cái bao diệm quẹt, hất hàm:

– Cảm phiền ông bạn cho giùm cái nhà thổ này một mồi lửa đi.

Thằng Weiss tuy hãi, nhưng còn tiếc của, cầm hộp diêm quẹt đứng chần chờ mãi. Hai bàn tay run run đưa lên mấy lần mà không sao rút ra được một cây diêm. Gary Malone hét lớn:

– ĐM có đốt không, hay tao nhét mày vô thùng rồi châm lửa cho mày đi luôn?

Weiss lùi xa xa để chuẩn bị rồi bật diêm, thảy xuống cái vèo. Rượu gặp lửa, cháy bùng lên. Chỉ trong một tích tắc, lửa bắt ra hết cả phòng, hơi nóng tỏa ra dử dội. Gary Malone đẩy Weiss ra trước rồi phóng theo. Lửa bắt quá mau trong căn nhà gỗ lâu đời, mới ra tới ngỏ mà cả căn nhà hầu như đã gần bị lửa liếm sạch. Gary Malone vẫn chỉa họng cây shotgun vào óc Weiss cho đến khi chắc chắn là cái nhà thổ bị cháy rụi.

Kéo Weiss tới một góc đường, hắn bảo:

– Bây giờ mày biểu tài xế chở tao với mày xuống đường 52. Tới đó, tao sẽ thả mày về. ĐM cảnh sát nghèo lắm, làm mẹ gì có tiền đi tắc xi!..

Ngày hôm sau, em bé bị bắt cóc hôm nào được ai lái xe chở tới tòa Thị chính thả ra, không trầy xẩy một tí da. Thử sức cú đầu như vậy cũng đủ hiểu nhau rồi.

Ngài thị trưởng giữ đúng lời hứa, không làm rềnh rang gì cả. Vua nhà thổ Weiss cay cú lắm, nhưng còn nhiều chuyện trọng đại phải lo hơn là đi ăn thua với một thằng cảnh sát …khùng nên Gary Malone vẫn được để yên.

Gary Malone ghê gớm và hung hãn vậy chẳng trách gì xếp Al Capone giật mình khi nghe đến tên hắn. Đã từ lâu, xếp muốn chiêu dụ Gary Malone về với xếp nhưng chưa bao giờ thành công. Xếp ngán nhất là những con người không có nhu cầu mà bàn tay thép là một. Dường như trên cõi đời này, Gary Malone không coi cái gì là quan trọng cả. Tiền hắn không thích, gái thì lúc nào cũng có sẵn ba bốn em, rượu thì lâu lâu hắn chỉ làm vài ly Whiskey nhưng không phải là dân ghiền nặng thì có gì mà dụ hắn được. Danh vọng thì hắn dư thừa, khỏi cần đòi hỏi cũng có: Ở Chicago này, ai nghe đến tên bàn tay thép Gary Malone mà không giựt mình rỡn gáy. Xếp cứ tưởng tượng ra cái cảnh cặp bài trùng Gary Malone và Frank Nitti đi đôi với nhau, thật trên đời này không còn hình ảnh nào đẹp bằng.

Xếp hỏi Frank Nitti:

– Tao nghe nói nó bị Mike Casey cho về vườn rồi mà?

– Cũng gần như vậy. Nó bây giờ chỉ còn là cảnh sát gác đường. Mà xui cho tôi, tôi đậu xe ngay khu vực trách nhiệm của nó.

Xếp Al suy nghĩ một lúc, vỗ về thằng em:

– Thôi, để tao cho tiền chú em mua xe mới. Mày xui xẻo rán chịu.

Xếp Al Capone thảy chồng báo cho Frank Nitti, trở lại vấn đề chính:

– Thằng chó đẻ này là thằng nào?

– Ness, Eliot Ness, cảnh sát của nha Ngân khố từ Hoa Thịnh Đốn tới.

– Tao có làm gì mà nó lại réo tên tao ra chửi tơi bời vậy.

Bây giờ mới thấy thằng Frank Nitti vén lên một nụ cười nhỏ:

– Tối qua tôi cho nó vô xiếc. Để cho nó dẫn lực lượng cảnh sát tấn công vào cái nhà kho toàn đồ nhập cảng hợp pháp của bọn mình. Quê bằng chết, thằng khốn tức quá hóa khùng bèn chửi bới bậy bạ tùm lum. Thật là như một đứa con nít. Xếp đừng kể tới nó làm gì, chó sủa là chó không cắn.

Xếp gài điếu xì gà lên môi:

– Làm sao nó biết được chỗ mình cất hàng?

– Trong đám mình có một con chó ghẻ. Tôi đã cho trừng phạt thích đáng.

– Good! Mày đánh giá con người thằng cớm này thế nào?

– Chỉ là một thằng cớm quèn. Cái hơi khác là thằng này có bằng cấp đại học, lại khoái tuyên bố rềnh rang với báo chí.

Xếp tự nhiên quên bén mất cái chuyện mình bị sỉ vả. Phải có một cái gì trong này. Sự suy nghĩ của xếp Al Capone dừng lại tại đây. “Cớm quèn”. Có thể lắm, nhưng cứ nhìn cắp mắt sáng quắc như sao trong hình thì thằng này không phải là một thứ quèn “tầm thường.” Xếp phì ra một hơi khói, xoay xoay điếu xì gà:

– Để cho nó “ngấm” thuốc mấy ngày đã rồi mày cử người tới “mua” nó cho tao.

– Thì đàn em cũng tính vậy. Giá thằng này không hơn trăm đô la một tuần.

– Đừng coi thường nó quá, tao bắt đầu bằng ba trăm một tuần, nếu nó đòi thêm tính sau.

Frank Nitti rút lui. Trước khi đóng cửa phòng, thằng phụ tá nhìn xếp hỏi chậm rãi:

– Xếp để tôi làm thịt thằng Gary Malone được không?

Âm thanh nó trầm đều mà sao nghe như tiếng gọi của tử thần. Xếp Al Capone lắc đầu:

– Không! Bây giờ không được. Tao cấm mày không được đụng tới nó. Tao đã có kế hoạch riêng cho nó. Mày biết không, đã từ lâu, tao đang tìm cách dụ nó về làm việc với mình. Mày phải hiểu, đó cũng một lý do tại sao nó còn sống được tới giờ này. Người tài như Gary Malone không phải kiếm đâu cũng được.

Frank Nitti vẫn còn ấm ức:

– Nhưng mà nó đập xe của tôi chớ có phải của xếp đâu? Thằng này nó lộng quá rồi, không trừng trị sẽ nguy hiểm về sau. Mà xếp còn chờ cho tới chừng nào, lỡ không dụ được nó thì làm sao?

– Chuyện đó để tao lo. Lúc nào thấy không thể mua được nó, tao sẽ để dành nó đặc biệt cho mày, nhưng bây giờ thì không, tuyệt đối không. Tao đang lập kế hoạch. Nghe rõ chưa?

Frank Nitti đành gật đầu, lủi thủi bước xuống cầu thang. Hai thằng cận vệ đeo cứng phía sau.

Frank Nitti vừa khuất bóng, xếp nhìn một thằng cận vệ:

– Gọi lên sở Cảnh sát, kiếm thằng Mike Casey cho tao.

Thằng đàn em đưa ống nói cho xếp khi bắt được liên lạc với Mike Casey. Xếp vô đề liền:

– Mike, có hai vụ. Vụ thứ nhất, chiếc xe của thằng Frank Nitti bị thằng cớm du đảng của ông đập cho nát bét ra…

– Có, thằng Frank Nitti có gọi cho tôi than phiền vụ này. Sở điều tra an ninh nội bộ đang cho tiến hành điều tra, nếu cần, sẽ đưa thằng cớm mất dạy đó ra hội đồng kỷ luật hay ra toà.

– Điều tra cái con c… Dẹp mẹ nó mấy cái màn thủ tục lẩm cẩm đó đi ông nội, chẳng đi tới đâu đâu. Tôi muốn ông lôi cổ nó về, cho nó một chỗ cạo giấy văn phòng. Làm sao mà kiếm cho nó công việc nào càng chán nản càng tốt. Nếu nó nản quá, làm đơn xin về hưu luôn thì công của ông lớn lắm đó.

Mike Casey cười hề hề:

– Gì chớ cái đó thì dễ. Để tôi kéo cổ nó về, cho nó một chân giữ chìa khóa hạng bét trong sở. Tôi biết tính thằng này, hễ ngồi không là sinh bệnh. Sau vài tháng, nếu nó không xin về hưu non thì chắc cũng sẽ sinh bệnh mà chết.

– Được, sẽ có phần thưởng lớn cho ông. Thằng Frank Nitti có báo cáo tôi về vụ tấn công tối hôm qua, nó nói công đầu là của ông đó.

Giọng nói của Mike Casey đầy vẻ thõa mãn:

– Thì chỗ làm ăn với nhau, phải vậy mới được chớ.

– Thằng cớm réo tên tôi ra chửi bới vung vít là thằng nào?

– Ness. Eliot Ness. Nó mới từ Hoa Thịnh Đốn xuống, phách lối và ngông cuồng lắm, coi dân Chicago này không ra cái gì cả. Nghe nói nó là một hung thần nổi tiếng nhất ở New York, đã từng tống vài chục tay tổ của mafia vào tù và dẹp tan nhiều băng đảng trên đó.

Xếp Al Capone lặp lại câu đã hỏi Frank Nitti trước đó:

– Ông nhận thấy hắn là con người thế nào, nó ngon cỡ Gary Malone không?

– Tôi chưa biết rõ, khó có thể nhận xét được nhưng cứ như cú tối hôm qua, tôi thấy khả năng thằng này rồi cũng chẳng đi đến đâu. Ông biết tụi liên bang mà, đứa nào cũng vậy, mới xuống thì hùng hùng hổ hổ nhưng vài tuần sau được ăn ngập mặt thì nín khe ngay. Sáng nay vào sở, nó vẫn tỉnh bơ, không hề thắc mắc hay nghi ngờ gì ai cả.

Vậy là đã có tới hai người đánh lầm giá trị của Ness: Frank Nitti và Mike Casey.

Xếp Al Capone tuy không tán thành hai ý kiến trên, nhưng cũng không phản đối. Cái nhìn của một con diều hâu luôn luôn khác cái nhìn của những con chim sẻ, xếp nghĩ vậy. Thằng Ness này nếu không phải là tay cớm ngoại hạng thì cũng không đến nổi quá tầm thường như mọi người lầm tưởng.

Mike Casey tiếp tục:

– Ông còn lạ gì Hoa Thạnh Đốn, tại mấy cha thượng nghị sĩ la lối quá vì cái vụ “The Saint Valentine’s Massacre” nên họ mới gởi người xuống đây để vuốt ve dư luận chút đó mà. Rồi ông sẽ thấy, đâu sẽ vào đấy hết. Văn phòng của nó gần sát ngay bên tôi, tôi kiểm soát nó được, ông đừng lo.

– Cho tôi tất cả những chi tiết về quá trình và ý định của thằng này. Nó không phải típ tầm thường đâu.

– Thú thật, nó mới từ Hoa Thịnh Đốn xuống nên tôi không biết gì về nó hết. Hơn nữa, nó là người của chánh phủ liên bang, địa phương không có quyền hành gì mà mó vào. Nếu muốn biết nhiều về nó, ông nên gởi người lên New York để điều tra. Ở New York, không ai là không biết đến tên hung thần Eliot Ness. Mà, theo ý kiến riêng của tôi, ông không nên lo nghĩ quá về nó. Ông biết cách làm việc của cảnh sát, đâu phải chỉ một người mà làm xong chuyện. Tôi nghĩ ở New York chắc nó có nhiều cộng sự viên giỏi và biết sử dụng phương tiện truyền thanh tối đa nên mới được vang danh đó thôi, chưa chắc phải là thứ đáng sợ. Nội chuyện tối hôm qua cũng đủ cho chúng ta thấy phần nào tài năng của nó…

Mỗi con người trời sinh ra hình như đều phú cho họ một khả năng riêng biệt, ít ai giống ai. Có người trời sinh ra để soạn nhạc, người khác để vẽ, hoặc có kẻ sinh ra để làm doanh thương, làm nhà chính trị tài giỏi, Xếp cũng không tránh khỏi định lệ này. Tự bẩm sinh, Al Capone có khả năng lạ lùng là tài …ngửi thấy được con người nguy hiễm và sự nguy hiễm ngay tứ khi nó chưa nguy hiểm. Trong tất cả đám anh chị thời đó, không ai qua mặt xếp được về cái tài này. Xếp còn sống đến giờ này là cũng nhờ cái khả năng lạ lùng đặc biệt này. Thoát chết nhờ cái “lỗ mũi” đặc biệt này thì nhiều lần lắm, nhưng có vài lần xếp không thể quên được…

Lúc còn trẻ, ở New York có một lần xếp và mấy anh em trong khu sắp sửa đi đến chỗ hẹn mật với một toán anh chị khác để bàn chuyện làm ăn lớn. Chỗ gặp nhau là một nhà hàng nằm trong khu vực kiểm soát của bọn xếp mà ai nấy đều thuộc lòng từng viên đá, nhớ tên từng thằng bồi. Ngàn lần hơn một, không ai ngờ là sẽ có chuyện gì xảy ra hết. Nhưng trước khi ra đi, tự nhiên xếp Al Capone cảm thấy có cái gì bất trắc của buổi họp đó. Dùng óc suy luận, xếp vẫn không thấy có gì đáng khả nghi, nhưng trực giác thì thấy có cái gì không ổn. Vậy là dù đã nai nịt gọn gàng, xếp nhất định bảo anh em hủy bỏ buổi họp. Có đứa nào thèm nghe?

Cản không được, xếp đề nghị chia thành hai toán, một toán vào trước để do thám tình hình, nếu mọi sự bình thường, toán kia mới vào sau. Nhưng ai lại chịu nghe lời một thằng oắt con mới ra nghề như xếp? Chúng nó cười vào mũi xếp rồi khoác tay nhau lên đường.

Xếp cảm thấy là sẽ có cái gì bất an nên chạy vào nhà kiếm cây shotgun xách theo phòng hờ. Chẳng ngờ cây shotgun không biết đứa nào xài, giấu ở đâu kiếm mãi không ra. Kẹt quá, xếp đành dắt vào bụng một cây Colt rồi lần mò ra chỗ anh em đang phó hội.

Ra vừa tới nơi, một cảnh tang thương diễn ra trước mặt: bàn ghế đổ ngổn ngang, máu me đầy dẫy, người chết người bị thương nằm rên la đầy trong quán.

Xếp càng ngạc nhiên khi thấy cả hai phe đều có người bị thương và bị chết. Vụ hai phe bắn nhau trong quán được gạt ra ngoài vì đi thương thuyết, không ai đem súng ống theo cả.

Xui cho xếp, đang đứng tần ngần chưa kịp hỏi han gì thì cảnh sát ập tới. Khám thấy trong người có súng, cảnh sát bèn thảy xếp lên xe bít bùng luôn.

Chiều hôm sau, đóng tiền thế chân xong đi ra, xếp mới biết là cả hai phe đã bị một nhóm thứ ba chơi cạn láng. Tất cả vừa ngồi vào bàn nói chuyện độ năm phút là có một chiếc Cadilac chạy rề tới, trên xe phóng xuống ba thằng cô hồn với 3 cây shotgun. Chúng đạp tung cửa rồi cứ “bơm” hết viên này đến viên khác vào cái bàn dài có anh em ta đang ngồi.

Luật giang hồ là đi hội họp, cấm tuyệt cái vụ mang súng ống theo nên đâu ai có cái gì để phản ứng? Súng vừa nổ là chỉ biết tranh nhau chui xuống gầm bàn để tránh đạn. Gặp thứ đạn phà của dân chơi tự tay nhồi thuốc “overboost” thì tránh gì nổi?

Cảnh sát đếm được tại chỗ 5 cái xác chết, 8 đứa còn lại vô tới nhà thương thì “đi” thêm 2 đứa nữa, vị chi là 7. Quả thật là con số 13 xui xẻo.

Mà đâu phải đó chỉ là một lần. Sau này lớn lên nơi đường phố, xếp cũng nhờ cái trực giác của mình mà thành công nhiều vụ, cũng như thoát chết nhiều lần.Hôm nay, dù thằng phụ tá khôn lanh như Frank Nitti và ông bạn cớm Mike Casy hết sức thuyết phục, cái tài đánh hơi của xếp một lần nữa lại nổi lên. Xếp nhất định phải nắm vững hồ sơ thằng cớm lạ hoắc này mới được.

Xếp trả lời sau một lúc suy nghĩ:

– Good. Thôi được để tôi coi lại coi sao. Nhớ đừng quên chuyện thằng Gary Malone.

Lúc xếp Al Capone gác phôn, đồng hồ treo tường thong thả đếm mười hai tiếng. Xếp và toán cận vệ bước sang phòng làm việc ở ngay bên cạnh. Như thường lệ, thằng “Sô Viết” Guzick đã chờ tại đó từ lúc nào, trên tay là cuốn sổ đã mở sẵn. Xếp gật đầu tỏ vẻ hài lòng, tới bàn giấy, đặt mình ngồi xuống trên cái ghế đồ sộ bằng da được đánh bóng từ đầu tới chân.

Guzick tiến tới một bước, trịnh trọng dâng sổ kế toán lên cho xếp. Cuốn sổ này được Guzick soạn thảo đặc biệt theo ý xếp vì trong vấn đề kế toán, xếp dốt đặc. Có hai chữ “Credit” và “Debit” mà xếp cứ lộn lên lộn xuống hoài, không biết cái nào là “vô” cái nào là “ra”. Xếp chỉ thị cho thằng Nga này đơn giản cái sổ thống kê lại. Ví dụ như ngày hôm nay bán được 300 ngàn thì đề “vô 300 ngàn”. Nếu chi cho thằng cớm 1 ngàn thì ghi “ra 1 ngàn”. Như vậy là khỏe, khỏi “Credit” hay “Debit” gì cho rắc rối tốn thì giờ.

Ngày nào cũng vậy, hễ dòm thấy phần “Vô” nhiều hơn phần “Ra” thì xếp cảm thấy thoải mái dễ chịu, còn ngược lại là xếp chửi bới tùm lum.

Lúc còn chiến tranh với cánh Colosimo, cây cột “Ra” ngày nào cũng đầy ắp, vượt qua phần “Vô” rất nhiều. Nhưng sau khi quất sụm Antonio rồi, phần “Vô” như được uống phép màu, con số càng ngày thấy càng to ra, vượt qua mặt thằng “Ra” thấy rõ.

Trước hết, xếp nhìn xuống cột “Ra” rồi đến cột “Vô”. Vậy là tốt, cũng như mọi ngày, “Vô” trội hẳn hơn Ra gấp mấy chục lần. Xếp lật trang thứ hai, dưới hàng chữ “Ra” là một danh sách dài của các thầy chú, cớm chìm cớm nổi ăn lương của xếp. Đủ mọi loại chi, nhỏ thì từ 20 đồng, lớn thì khoảng vài ngàn, có khi lên đến vài chục ngàn. Xếp lướt nhìn qua một loạt các danh sách, có đến gần trăm tên chứ ít sao. Mà đó là mới có một ngày, chưa nói đến những ngày khác. Trang kế tiếp là chi tiết của những chỗ xếp mua rượu. Danh sách có các công ty xa như các hãng chuyên bán Champagne của Pháp, gần hơn chút nữa và chi nặng nhất là các công ty ở Canada, và địa phương là các lò nấu rượu trong thành phố hay tiểu bang.

Trong cột “Ra”, dưới phần chi tiêu bất ngờ, Gusick viết một con số $500, đề tên Mike Casey ngay bên cạnh. Vậy là thằng mập được thưởng 500 đô cho công tác tình báo tối hôm qua.

Xếp gật đầu tỏ vẻ bằng lòng. Thằng “Sô viết” này coi vậy mà cũng được quá chứ. Chả trách công xếp đã bỏ thì giờ và tiền bạc đi vớt nó về. Bố mẹ của Guzick di cư từ Nga sang Mỹ vào cuối thập niên 1880, trong thời kỳ “Mass Immigration” của lịch sử Hoa Kỳ. Bố của Guzick là người Nga, bà mẹ là Do Thái. Như mọi công dân “thế hệ thứ hai” sau khi lập cuộc đời mới tại đây, Guzick sinh trưởng và lớn lên trong một gia đình khá giả. Tốt nghiệp đại học, Guzick được gia đình vận động cho vào làm kế toán viên của một hãng xuất nhập cảng hàng hoá tơ lụa. Nhờ có bằng cấp đại học, trẻ tuổi và tài cao, chẳng bao lâu Guzick leo lên chức vụ chóp bu của ngành này. Anh chàng đẹp trai con nhà giàu học giỏi nào mà không tột đỉnh danh vọng như vậy, chả có gì đáng nói. Đã có không biết bao nhiêu cặp mắt xanh của các kiều nữ Chicago nhìn về Guzick mỗi lần nó xuất hiện ở các buổi dạ vũ hay tiệc tùng quan trọng với vẻ thèm thuồng mơ ước nhưng Guzick nào để ý đến? Nó còn trẻ quá mà, phải lo ăn chơi cho đã đời trước, chuyện vợ con từ từ tính sau cũng chẳng muộn. Bao nhiêu lời tình tứ gió trăng hay mời mọc đều bị Guzick phe lờ.

Thừa tiền thừa bạc, lại chưa có vợ con mà ở Chicago thì tránh sao khỏi lui tới những nơi ăn chơi nhất dạ đế vương của xếp Al Capone?

Guzick là một trong những khách hàng thường xuyên của những nơi này. Thật ra, nếu nó cứ đàn đúm và ăn chơi như vậy, tuy tốn tiền nhiều nhưng cũng không đến nổi nào, vì nó lương đã cao lại con nhà giàu, của chìm của nổi cả đống, xài chừng nào mới hết? Bi kịch của đời Guzick chỉ bắt đầu vào một buổi chiều, trong lúc chờ một người tình, nó móc túi lấy mấy đồng bạc cắc tới bên cái máy kéo tiền để giết thời giờ. Nhỏ lớn Guzick chưa bao giờ cờ bạc, chưa bao giờ rờ vào mấy cái mày này, nên lần đầu tiên thử máy, nó thử luôn một lèo tới …sáng. Em bồ đến gọi đi chơi, nó cũng phe lờ, tay cứ giựt lia lịa làm như không thể nào tốp được. Từ đó trở đi, Guzick không còn là con người cũ của mình nữa. Bao nhiêu tiền bạc đều đổ vào mấy cái máy giựt tiền của xếp Al Capone.

Chuyện phải đến đã đến. Một buổi sáng, hãng khám phá ra cái trương mục công ty, theo báo cáo thì còn đầy ăm ắp mà sao các ngân phiếu bị trả về lia lịa vì không đủ tiền bảo chứng. Chỉ cần điều tra một chút là thiên hạ biết ngay sự thật: té ra bấy lâu nay, ông giữ két tuổi trẻ đẹp trai đầy uy tín cứ mượn tiền của hãng để đi gỡ cờ bạc. Số tiền thiếu hụt lên đến mấy trăm ngàn đô la.

Vậy là cậu Guzick bị cảnh sát đến còng đầu. Sau khi đóng tiền thế chân, cậu được cho tại ngoại về nằm nhà để suy nghĩ về tội lỗi mình và chờ ngày ra tòa. Một thời gian sau, Guzick cũng lóc cóc đi kiếm việc để hy vọng có chút tiền trang trải án phí nhưng ai dám mướn cậu nữa? Thành tích thụt két và tên tuổi của cậu đã lên trang nhất và là đề tài của các thiên phóng sự trong trang ruột mấy tờ nhật báo Chicago suốt mấy tuần lễ, ai mà không biết? Chẳng ai dại đi mướn cậu làm việc.

Cuộc đời, khi đã xui thì nó xui tận mạng. Gia tài của thân sinh để lại gồm mấy cái nhà và ba bốn nông trại miền quê đều bị hãng nhờ pháp luật sai áp, tịch thâu sạch. Cậu phải khăn gói đi ở nhờ người bà con. Mà đã hết đâu, các thầy kiện sau khi tính toán chia chác xong, vẫn tuyên bố là cậu còn thiếu họ đến gần 200 ngàn đô la.

Guzick buồn lắm. Chẳng ngờ ba cái máy cờ bạc vớ vẫn mà nó quất một cú mạnh đến như vậy. Chuyến này nếu không chạy đủ 200 ngàn trả nợ thì cứ coi như là tù mọt gông. Trong ba mươi sáu chước, chỉ có nước chạy là thượng sách. Lo gì, cứ việc trốn khỏi tiểu bang để tránh cái án tù đã, sau đó từ từ gây dựng lại cơ đồ mấy hồi.

Một buổi sáng, Guzick gói mớ hành lý lặng lẽ bỏ nhà ra đi. Nhưng khốn nạn, dù đã khéo léo hóa trang bằng bộ râu mép giả, Guzick vừa ngồi vào toa xe lửa là cảnh sát đã ập lại. “Chú em chạy đi đâu, cho tại ngoại mà tính trốn hả. Lần này thì cho vô tù luôn!”

Ngay trưa hôm ấy, Guzick vào tù trở lại.

Chạy không khỏi Chicago thì đành chạy khỏi cõi đời ô trọc này vậy. Thần kinh bị khủng hoảng cực độ, Guzick liền quyết định tự tử. Chỉ một sợ dây cột trên nóc xà lim là xong mọi chuyện, khỏi cần phải lo lắng, khỏi cần phải sợ bị ai hạch sách hay chửi bới gì cả. Nghĩ là làm liền, Guzick kín đáo kiếm được một sợi dây. Ban đêm, chờ lúc mọi người ngủ say, nó cột sợi dây vào cửa song sắt nhà tù, tròng cỗ vào thòng lọng rồi từ trên tầng hai của xà lim nhảy xuống.

Con người quả thật là kỳ lạ, lúc chưa thấy thần chết thì hăm hở lắm, nhưng khi đã bị sợi dây thòng lọng siết cổ lại một cái đau điếng người thì cu cậu hoảng hồn, giãy dụa lia lịa, đạp chân đập tay ầm ầm. Có thằng tù tên Franki Rio, tướng người to con như đại lực sĩ, ngồi dậy bồng cu cậu lên. Thằng khác leo lên tháo dây thừng ra. Cậu thoát chết trong đường tơ kẻ tóc.

Trong khi chờ y tá tới chở cậu vào bịnh viện, Frankie Rio nhìn cậu và biết là ai rồi nên chửi cậu liền:

– ĐM, tuổi trẻ tài cao, mới có vài ngày tù lẻ mà đã đòi hủy mình làm gì? Nếu không sống được trong cái xã hội quyền quý thượng tôn pháp luật thì kiếm xã hội khác mà sống, ra khỏi nhà thương nhớ kiếm tao, tao giải quyết cho.

Ơn cứu tử Guzick nào dám quên nhưng nó còn mệt quá, không thốt nên lời. Miệng nó mấp máy và hai hàng nước mắt ứa ra coi thảm não. Trước khi cái cáng được khiêng đi, Frankie ghé sát vào tai nó chỉ nói võn vẹn hai câu, đúng ra hai cái tên mà Guzick suốt đời không thể nào quên được: “Frankie Rio, Al Capone.”

Ở nhà thương, cảnh sát sợ Guzick lại quẩn trí lần nữa nên cho nó về nhà. Lại những ngày chờ đợi dài lê thê trước khi ra tòa. Guzick đã có chủ đích, hắn bắt liên lạc với Frankie Rio. Vài ngày sau, một chiếc limousine lộng lẫy chạy đến đón Guzick.

Đối với xếp Al Capone, Guzick quả là một phép lạ từ trời ban xuống cho xếp.

Bấy lâu nay, xếp đã bỏ không biết bao nhiêu thì giờ và tiền bạc để tìm kiếm một thằng kế toán “coi được”. Một cơ sở làm ăn lớn, với hàng trăm chi nhánh, hàng triệu đô la ra vô hàng ngày như xếp bây giờ mà không có sổ sách kế toán thì không thể nào kiểm soát hết được. Đâu còn phải cái thời kiếm năm chục là nhớ trong đầu năm chục, kiếm hai trăm là nhớ trong đầu hai trăm nữa? Bạc ngàn coi như nhớ được đi, nhưng đến bạc triệu thì nhớ sao cho nổi? Mà nhớ không kịp thì tránh sao nổi chuyện thâm thủng, bị mất cắp? Đàn em xếp, trước mặt đứa nào cũng ngon lành lắm nhưng mỗi ngày nó ẳm nhẹ vài trăm đô la sau lưng xếp thì làm sao xếp biết được. Mà xếp đâu có vài trăm thằng đàn em, phải nói là vài ngàn mới đúng. Mỗi thằng một ngày chỉ cần xé lẻ vài chục thôi là đã thấy vài chục ngàn đô la bay vào mây khói. Cho nên lúc cơ sở làm ăn vừa có mòi lên hương, xếp liền chú ý đặc biệt đến cái vụ này. Mới đầu thì xếp làm lấy. Trước khi đi ngủ, xếp cẩn thận ghi tất cả những số tiền kiếm được trong ngày, cộng lại đàng hoàng để biết rõ mức thu. Chỉ đơn giản vậy thôi mà tối nào xếp cũng phải mất đến mấy tiếng đồng hồ. Sống như vậy thì còn gì là vui thú nữa? Hóa ông vua găng tơ của Chicago cũng không hơn được mấy thằng trọc phú Do Thái mà xếp thường hay lớn tiếng chửi rủa hay sao? Mà không tự tay làm lấy thì biết giao cho ai? Thằng Frank Nitti bắn thì hay lắm nhưng nhìn đến sách vở là than nhức đầu. Những đứa khác còn tệ hơn, ngay cả cái chữ ký cũng không biết ký thì nói đến chuyện nhờ vả giấy tờ làm gì? Còn chuyện mướn những hãng kế toán chuyên môn để làm sổ sách giùm thì tuyệt nhiên xếp không dám nghĩ tới. Làm ăn phi pháp mà nhờ đến tụi này thì sẽ bể hết mọi sự. Vậy giải pháp hay nhất phải là kiếm được một thằng nào chuyên nghiệp để phụ trách chuyện này. Không những thằng này phải là dân chuyện nghiệp, có văn bằng của nhà nước hẳn hòi mà còn phải có đầu óc …tội lỗi, biết cách tổ chức, biết cách tránh né pháp luật, v.v.

Sáng hôm đó, nghe Frankie Rio kể chuyện là xếp hớn hở ra mặt, cho người đi triệu thằng Guzick về liền. Tài xế vừa thắng, xếp đã lao ra xe, tận tay mở cửa, dáng điệu quý trọng thấy rõ. Mấy thằng nhỏ nhìn thấy đều chưng hững. Ra cái dân có học nó khác. Dù ở trong hoàn cảnh nào, thế giới nào cũng được trọng vọng hơn những thằng vô học, cày sâu cuốc bẫm.

Đối với Guzick, thì xếp Al Capone cũng là phép lạ trên trời rớt xuống cho nó. Con đường trước mặt của Guzick là …cái nhà tù vĩ đại. Ít nhất cũng mười năm. Sau đó, nếu còn nguyên vẹn một khối ra khỏi khám đường thì chắc phải kiếm một nghề khác để sinh nhai, nghề cũ coi như không biết, nay tự dưng được một quới nhân từ đâu rước về làm kế toán viên thì còn gì bằng.

Buổi gặp mặt sơ khởi chuyện nổ như pháo tết. Một trùm ăn cướp, một thụt két gặp nhau coi bộ hợp quá chừng. Xếp Al Capone đề nghị một giải pháp là xếp sẽ dàn xếp ổn thỏa cái vụ thụt két cho nó, bù lại, Guzick khỏi phải trả tiền hay nợ nần gì hết, chỉ phải về làm việc với xếp là yên chuyện.

Quả thật, lúc mới bước vào đây, Guzick chỉ hy vọng là kiếm được một công việc để rồi khi có tiền, sẽ từ từ giàn xếp với hãng, xin trả góp chẳng hạn. Bây giờ nghe được cái đề nghị béo bổ như vậy, Guzick cảm động muốn run lên, không tin là phép lạ có thể xảy ra trên trái đất này. Xếp Al Capone lý luận với nó:

– Ông bạn nghe lời tôi đi. Cái hãng của ông bạn bây giờ nó muốn gì? Dĩ nhiên, mới đầu trong giây phút nóng giận là chúng nó muốn hành hạ ông bạn một trận cho đã đời. Nhưng sau đó, điều quan trọng nhất là chúng nó muốn lấy lại số tiền của chúng nó. Ông bạn có nằm nhà đá cỡ mười năm hay hai chục năm cũng đâu có ai thèm để ý. Tôi đã nói với ông bạn là tôi sẽ dàn xếp vụ này. Bảo đảm sẽ có giấy bãi nại cho ông bạn trong vòng 15 ngày.

Lúc chia tay, Guzick mừng quá không nói lên lời. Nó cứ ôm hai tay của xếp Al Capone, miệng mấp máy mãi. Xếp phải gỡ tay nó ra, vỗ về một chập thằng nhỏ mới chịu lui bước. Cửa xe vừa đóng rầm một cái là xếp Al Capone ra lệnh cho Frank Nitti:

– Ông quay giây nói cho thằng luật sư Verbatim, bảo nó đem hồ sơ thằng Guzick qua đây gấp cho tao.

Ngày hôm sau, xếp Al Capone thắng bộ đồ lớn cùng luật sư Verbatim đến gặp ông chủ tịch hội đồng quản trị của hãng xuất nhập cãng. Xếp lý luận:

– Trước sau gì việc cũng đã rồi. Tôi biết thằng Guzick dù có đi làm suốt đời cũng không đủ tiền để trả cho quý ông. Quý ông có muốn cho nó nằm nhà đá mười năm cũng là đúng lắm, cho chừa cái tội ăn cắp, nhưng ông nghĩ coi, nó có nằm mười năm hay hai chục năm mấy ông cũng chẳng moi được gì.

Ông chủ tịch trầm ngâm. Xếp tiếp luôn:

– Tôi có một đề nghị tốt cho cả hai phe, hãng của ông sẽ không thiệt mà thằng Guzick cũng có được một lối thoát.

– Xin ông cứ nói.

– Tôi đề nghị thế này, tôi đưa các ông 50 ngàn để mua đứt cái tội của nó. Nếu chịu, xin ông ký vào tờ giấy bãi nại này.

Lão chủ tịch là dân buôn bán chuyên nghiệp, khỏi cần suy nghĩ nhiều lão cũng biết đề nghị của Al Capone là hợp lý quá rồi: 50 ngàn còn đỡ hơn không có đồng nào, lại làm quen được với ông vua của giới giang hồ Chicago, sau này biết đâu chả có chuyện nhờ vả? Lão gật đầu đồng ý liền:

– Tôi đồng ý hoàn toàn, nhưng theo thủ tục, tôi phải hỏi lại Hội đồng quản trị đã. Ngày mai tôi sẽ cho ông biết kết quả.

Xếp Al gật đầu, bắt tay từ giã.

Đúng như lời xếp hứa với Guzick, hai tuần sau ngày gặp gỡ tại đại bản doanh của xếp, luật sư Verbatim chính thức nộp giấy bãi nại cho nó tại pháp đình Chicago.

Từ đó, cả hồn lẫn xác thằng Guzick thuộc về xếp Al Capone. Làm việc với xếp, nó chứng tỏ cho xếp biết 50 ngàn cứu mạng của xếp đã mang lại hàng triệu đô la tiền lãi. Đầu óc kinh doanh và tổ chức của nó phải nói không thua gì các đại thương gia, hoặc có thể nói, về địa hạt hệ thống hoá cách làm ăn của giới giang hồ, nó còn ăn đứt quí vị này.

Guzick tổ chức lại toàn bộ hệ thống điều hành của đế quốc Al Capone.

Về lãnh vực nhà thổ, khách làng chơi đến mua một cái thẻ. Thẻ này sẽ được giao cho các em điếm sau mỗi lần đi khách. Cuối ngày các em nộp thẻ lại lãnh tiền. Thẻ cũng có nhiều màu để phân biệt hạng sang, hạng rẻ. Thằng ma cô nào chịu trách nhiệm nhà thổ chịu luôn trách nhiệm tài chánh. Tiền bạc mà không sòng phẳng là mất chức ngay.

Các nhà hàng bán rượu lậu, cứ tính số lượng rượu giao mà thu tiền. Thằng nào khéo léo thì kiếm chác được chút ít, thằng nào ngu dốt để thua lỗ thì lấy tiền túi mà bù vào, khỏi canh chừng làm gì mất công.

Cờ bạc là cái khó kiểm sóat và nhiều huê lợi nhất, Guzick chú ý đặc biệt. Các sòng bạc của Al Capone không còn cho ăn thua bằng tiền nữa. Ai muốn đánh phải đem tiền tới ghi sê để lấy phích. Nếu ăn thì đem phích tới đổi tiền về, sòng phẳng và lịch sự.

Lương lậu của nhân viên cũng được chia lại đàng hoàng, có nghạch trật như công chức nhà nước. Thấp nhất là thằng gác dan, ăn lương giờ. Rồi lên đến thằng ma cô, thằng đầu nậu, thằng chủ sòng, v.v. Chẳng những phát lương không, Guzick còn nghĩ ra chuyện cho ăn hoa hồng để khuyến khích anh em. Mỗi tuần lương phát một lần vào ngày thứ hai, và người nhận phải ký giấy hẳn hỏi. Các tiền lo lót cho thầy chú cũng được Guzick theo dõi và cho vào sổ kỹ càng. Ông nào lãnh bao nhiêu, lúc nào, nhất nhất đều có hồ sơ đầy đủ.

Guzick theo chân xếp như vậy là đã hơn 5 năm, tuyệt nhiên không bao giờ phạm một lỗi lầm nào, dù rất nhỏ. Uy quyền của nó chưa chắc đã thua gì Frank Nitti nhưng nó rất khéo léo, không bao giờ lên mặt ra vẻ này kia. Quan văn bao giờ cũng lịch sự và tế nhị hơn quan võ trong triều đình mà. Xếp Al Capone không có “consigliorie” chính thức nhưng nhiều thằng trong giới giang hồ coi Guzick như là một thứ “consigliorie” bán chánh thức vậy.

Xếp ngước mặt nhìn thằng Guzick:

– Thằng Mike Casey kể từ nay cho nó thêm 20 đô một tuần.

Guzick vâng dạ, hai con mắt tuy vẫn bình lặng lờ đờ sau cặp kiếng cận nhưng không phải là nó không nhớ. Thằng này trời cho có một trí nhớ đặc biệt. Khỏi cần ghi chép làm gì cho mất công, tất cả mọi chuyện, mọi con số hễ nó đọc qua một lần rồi là cả năm sau vẫn nhớ y chang không sai một dấu phẩy.

Xếp Al Capone đóng cuốn sổ lại:

– Lát nữa ông gọi ra hãng xe, nói tôi muốn đặt mua một chiếc Cadilac mới khác cho thằng Frank Nitti. Tốn bao nhiêu cũng được, tôi cần chiếc xe đó càng sớm càng tốt.

Guzick chỉ “dạ” lên một tiếng nhỏ nhẹ. Xếp hiểu như vậy là đủ rồi, chỉ thị của mình sẽ được thi hành đúng đắn. Cho đến bây giờ xếp mới nhận ra là tuy xếp luôn luôn thích nói, thích giảng dạy và lý luận, những đàn em thân tín luôn luôn ở bên mình lại là những đứa nói rất ít, như thằng Frank Nitti và Guzick. Có cạy mồm chúng cũng chỉ nghe được vài tiếng. Có lẽ đây là luật bù trừ của tạo hóa: người nói nhiều thích người ít nói.

Chỉ thị thứ ba trong ngày của xếp:

– Ông lo chuẩn bị giấy tờ và tiền bạc cho Oliver Randal đi New York vài ngày.

Rồi bảo một thằng cận vệ:

– Kêu Oliver Randal lên gặp tao. Bảo hắn chuẩn bị hành lý để sẵn sàng đón chuyến xe lửa sớm nhất chiều nay đi New York.

Từ sáng đến giờ, sau khi đọc tờ báo, hình ảnh của thằng cớm lạ ở xa mới xuống cứ ám ảnh mãi trong đầu óc xếp. Frank Nitti và Mike Casey đều đánh giá nó quá thấp. Lăn lộn giang hồ đã lâu, cũng như tất cả những lãnh tụ giỏi trên đời, xếp có khả năng đặc biệt trời cho là đánh hơi thấy người tài hay ngửi được kẻ thù nguy hiểm. Mike Casey bảo thằng này nổi tiếng là hung thần ở New York, tại sao về tới Chicago lại thua dễ dàng như thế? Đến ngay cả một thằng cớm hèn và bẩn như Mike Casey mà cũng không coi nó ra gì thì quả là chuyện lạ. Nhưng cứ dòm bản mặt nó trong báo cũng đủ khớp. Cái mặt đó đâu phải là tay vừa. Mắt thì sáng như sao chứng tỏ một đầu óc thông minh và quyết liệt tột độ, cằm thì bạnh ra đầy nghị lực.

Xếp quyết định gởi thằng Oliver Randale lên New York điều tra. Có gì đâu, dân giang hồ nào lại không có một cái tật chung là giữ “hồ sơ” mấy anh cớm dữ. Cánh mafia ở New York nếu bị Eliot Ness dẹp thì chắc chắn “hồ sơ” của nó phải còn nằm trong …trí mấy tay giang hồ. Có thằng nào đầy đủ khả năng thâu lượm tin tức bằng thằng Oliver Randal này?

Cách đây vài năm, trước khi đại chiến bắt đầu, cũng chính nhờ thằng Oliver Randal mà xếp nắm vững được hết các khả năng tham chiến cũng như tình trạng tài chánh của kẻ thù. Điểm hay nhất của thằng khỉ này là hầu như trời sinh nó ra để cho mọi người thích, chưa thấy ai ghét nó. Cái miệng nó hầu như lúc nào cũng sẵn sàng nở lên một nụ cười. Dân miền Bắc nước Ý có khác. Gặp ai nó cũng bô bô cái miệng, cười nói huyên thuyên, làm như “tứ hải giai huynh đệ” vậy. Nghề chính của nó là nghề buôn bán nhà cửa, nên giao thiệp rất rộng với đủ mọi hạng người.

Trong giới giang hồ, Oliver Randal chơi với tất cả mọi cánh nên hiểu biết nhiều. Hắn rất thận trọng, không đứng hẳn về phe nào cả. Ai có chuyện gì nhờ vả, Oliver Randal rất sẵn lòng với một số tiền thù lao phải chăng.

Cho đến một ngày nọ, phải, đúng hơn là một buổi chiều, đang ngồi trong một khách sạn thưởng thức đĩa mì ống tự nhiên xếp nghe tiếng hụ còi tùm lum của xe chửa lửa và cảnh sát. Frank Nitti vào thông báo là có một thằng chán đời nào đó leo lên đỉnh khách sạn đòi nhảy xuống tự tử. Nhân sinh quan của xếp xưa này là hễ thằng nào chán đời muốn chết, đừng bao giờ nên ngăn cản nó, hãy để cho nó chết theo ý nó.

Xếp thản nhiên vừa tính cuộn tiếp một khoanh mì ống bỏ vô miệng thì nghe thằng phụ tá nói nhẹ một câu làm xếp hết muốn ăn: “Thằng Oliver Randal chớ ai.”

Ai chớ để thằng này chết thì không được, vì xưa nay xếp vốn thích nó. Xếp vội vàng lau miệng theo Frank Nitti bước ra ngoài.

Chót vót trên nóc của khách sạn, thằng Oliver Randal đang ngồi rầu rĩ, quần áo đầu tóc rối bù. Đúng là con nhà này chán đời thật. Một tay nó thủ chai rượu, tay kia chỉ vào cái đám lính cứu hỏa chửi loạn lên:

– ĐM tụi mày, thằng nào vác xác lên đây là tao …nhảy xuống cái một. Đừng có ép tao quá…

Nói xong nó khóc hu hu coi rất thảm não. Cảnh sát và lính chửa lửa nghe nói vậy đâu có ai dám bò lên, đành đứng dưới nhìn. Xếp ngoắc tay Frank Nitti một cái, hai thày trò lẻn ra cửa sau, bí mật leo lên tới sân thượng.

Thằng Oliver Randal chưa kịp có phản ứng gì thì Frank Nitti và xếp Al Capone đã nhào tới kèm cứng nó, kéo tuột vào. Té ra cu cậu buồn đời chỉ vì khám phá ra con vợ ngoại tình. Mà nó ngoại tình ngay với thằng hàng xóm xưa nay vốn là bạn của Oliver Randal mới đau chớ. Thay vì đi kiếm thằng hàng xóm khốn nạn tặng cho nó một phát súng vào đầu, bản tính vốn hiền lành, Oliver Randal đi uống rượu cho say mèm rồi tính chuyện tự tử.

Đối với người Ý, nhất là trong giới giang hồ, tội gì thì tha được chứ tội tằng tịu với vợ bạn là tử hình. Xếp chỉ cần nghe tới đó là nổi xung lên, đích thân dắt ba thằng cận vệ phóng xe thẳng tới nhà tên hàng xóm phản trắc chẳng nói chẳng rằng xông vào lôi cổ nó dẫn ra xe.

Đang đêm, mụ vợ thằng gian phu trông thấy hung thần Al Capone xông vào nhà thì hoảng quá, muốn té xỉu luôn, không phản ứng hay la lối gì được. Chồng bị bắt đi rồi mụ cũng không dám báo cảnh sát. Dân Ý mà, chuyện này bên nhà ngày nào cũng không xảy ra? Sáng hôm sau, có một thằng cô hồn khác mặc áo vét tới thông báo là “ảnh đã …đi luôn rồi.”

Trước khi rút lui, nó móc túi ra một xấp giấy bạc trao tận tay bà:

– Chồng bà đáng tội chết nên đã chết. Bà cầm lấy mớ tiền này để lo mai táng và chuẩn bị cho tương lai. Đừng có tiếc thương làm gì cái quân vô hậu và bạc bẽo đó.

Nó chỉ chỗ cho bà đến lượm xác chồng rồi lên xe giông thẳng. Bà muốn ngất đi vì sợ hãi nhưng thấy bó bạc lớn quá, bèn bày ra đếm thử. Đúng mười ngàn đô la chứ ít gì? Mạng của chồng bà chắc chắn là hơn số bạc này nhưng biết làm gì bây giờ? Chửi rủa bậy bạ có khi còn bị đi luôn. Bà đành gọi xe nhà đòn đi với bà để lượm xác chồng. Đến nơi, bà chợt hiểu chồng mình phạm tội gì khi nhìn thấy cái của quý của xác chết bị thẻo mất tiêu…

Được cứu tử, lại rửa được cái nhục, thằng Oliver Randal từ từ nghiêng hẳn về cánh Al Capone. Tuy nó không chính thức ở dưới trướng nhưng không có công tác nào xếp giao mà nó từ chối. Xếp lại biết cách dùng người rất khéo. Cỡ Oliver Randal mà cử đi đánh nhau thì có khác gì dùng ngựa để bắt chuột? Xếp luôn luôn sử dụng đúng sở trường của nó là thâu lượm tin tức tình báo và tìm chỗ đầu tư vào bất động sản.

Lúc Oliver Randal xuất hiện thì xếp đang ngồi tiếp chuyện với ông dân biểu đảng Cộng hòa, Thomas Krauson. Ngài Krauson sắp tái tranh cử nên cần chút tiền bạc và vây cánh đây mà. Hai thứ đó thì xếp Al Capone đâu có bao giờ thiếu cho những nhân vật quan trọng cỡ dân biểu Hạ viện Hoa Kỳ?

Oliver Randal ngồi chờ chừng mười phút thì Guzick mở cửa cho nó vào:

– Xong rồi, tới phiên ông.

Oliver Randal liền đứng lên cười hà hà thật tươi làm Guzick cũng cười theo. Thằng này thật là dễ chịu, lúc nào cũng cười toe toét và yêu đời được. Gặp ông dân biểu từ trong bước ra, nó không bỏ lỡ cơ hội liền biểu diễn cái màn bắt tay bắt chân long trọng và tặng cho ông khách quan trọng mấy cái danh thiếp rồi mới thủng thỉnh bước vào.

Gặp nó, xếp Al Capone cũng thấy yêu đời hẳn. Cái vẻ lầm lì khó chịu sáng giờ biến đâu mất tiêu, xếp chỉ vào quầy rượu:

– Ông bạn Oliver Randal làm một ly chớ hả? Có thứ Cognac ngon bên Pháp mới về.

Oliver Randal có bao giờ biết từ chối cái gì. Có lẽ vì vậy mà nó càng ngày càng trở nên phương phi quá khổ. Ngồi ung dung nhàn nhã trong chiếc ghế bành với ly rượu trên tay, trông Oliver Randal không khác gì một đại tư bản nhàn hạ.

Xếp Al Capone đưa tờ báo có hình ông cớm cô hồn đang trợn mắt la hét cho Oliver Randal coi:

– Sáng nay ông có đọc báo không?

Oliver Randal chưng hửng:

– Báo chí thì sáng nào tôi chả đọc, nhưng chỉ đọc mục …bán nhà cửa và mục thể thao. Trang một toàn chuyện chính trị, đọc nản bỏ xừ. Mà sao, có chuyện gì không xếp?

Nói đến đó, Oliver Randal cũng vừa đọc được cái hàng tít và tấm hình ở trang một, bèn liếm lấp:

– Chà, thằng nào mà ngon dữ vậy. Cảnh sát mà sao lại mồm miệng thế này?

Xếp Al Capone ngồi vào bàn, ngã người ra sau:

– Mồm miệng là cái không quan trọng. Cái đáng sợ nhất là con người của nó kìa.

Chợt nhớ ra điều gì, Oliver Randal hỏi xếp:

– Hồi nãy trong điện thoại, tụi nó bảo tôi chuẩn bị đồ đạc để đi New York, có phải về chuyện này không xếp?

– Đúng. Tôi muốn nhờ ông lên New York một chuyến, ghé qua ông bạn Luciani để dò hỏi cho tôi về tin tức của thằng cớm này. Cái tôi muốn biết nhất là coi xem nó có phải là một hung thần như lời thiên hạ đồn đãi không? Hay nó chỉ nhờ đàn em xông pha rồi ở nhà mà lãnh huy chương như đa số mấy thằng cảnh sát chết nhát khác?

– Cái đó thì dễ, nghề của tôi mà!

– Nếu quả nó ghê gớm như vậy, hỏi anh em trên đó coi …giá của nó là bao nhiêu, có ai mua nổi nó không?

– Cũng dễ luôn, nghề của tôi mà.

Xếp Al Capone cắm một điếu xì gà lên môi, quay mặt một tí sang phải cho đàn em mồi lửa:

– Chưa đã hết. Nếu không ai mua nó được, thì hỏi coi cách thức làm ăn của nó như thế nào? Nó thích cái gì, có tật xấu gì, muốn bứng nó thì phải thế nào, v.v. Tóm tắt, nếu không mua nó được thì cách nào hay nhất để giết nó?

Xếp khỏi cần nói dài dòng, Oliver Randal cũng hiểu hết ý của xếp. Chiến thuật của xếp luôn luôn là như vậy: tiên lễ hậu binh. Mới đầu là dụ dỗ, là tiền bạc. Nếu hai thứ này không xong thì đến phần hăm dọa. Phần thứ ba là chỉ còn con đường vào nghĩa địa. Cái chết của biện lý McSwiggn ngày nào máu còn ướt đẫm đường phố Chicago, mấy ai đã quên được?

Xếp Al Capone nhìn Guzick:

– Ông giao cho ông bạn Oliver Randal năm ngàn đô làm lộ phí.Oliver Randal nhận tiền, luôn miệng suýt xoa “đàn anh đưa nhiều quá, tiêu làm sao cho hết?” nhưng vẫn ẳm xấp bạc bỏ vào túi. Xếp Al Capone nhìn nó cười dễ dãi:

– Sứ giả của Al Capone phải ăn ở cho đàng hoàng, đâu có phải bạ đâu cũng ngủ được?

Oliver Randal cười lên thật lớn, hể hả. Nó biết đàn anh chi địa rất đẹp nên xưa nay, có lúc nào đàn anh nhờ gì mà nó từ chối? Như chuyến đi bất ngờ ngày hôm nay, dù đang bận rộn với bao nhiêu công chuyện nó cũng dẹp qua một bên để đi lo việc cho xếp.

Xếp Al Capone thân mật vỗ vai nó, khoác vai dìu ra cửa. Xếp khoái thằng này thật tình. Xưa nay, xếp đâu có thèm khoác vai ai bao giờ?

Chiều hôm ấy, Oliver Randal đón chuyến xe lửa sớm nhất lên New York…


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply