Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 27 Jul 2025

85. Trần Thiện Thanh

Vài tuần trước đây, đọc báo, thấy có ít dòng loan báo, ca sĩ Nhật Trường sẽ có một buổi trình diễn từ biệt khán giả sau 40 năm ca hát. Tất nhiên, Nhật Trường chỉ từ biệt khán giả với tư cách ca sĩ thôi. Chứ những sáng tác của anh, ký tên Trần Thiện Thanh thì hàng ngày người ta vẫn nghe hát trên các làn sóng điện, các sân khấu, video …

Nhật Trường hẳn có những lý do riêng khi quyết định ngừng hát. Vì tuổi tác chăng? Không. Nhật Trường đâu đã già!

Dù trong lúc trò chuyện với bạn bè thỉnh thoảng anh cũng có nói rằng mình già rồi, không muốn hát nữa. Không muốn hát nữa là vì không muốn hát nữa chứ không phải vì già. Anh Ngọc chắc chắn lớn tuổi hơn Nhật Trường. Nhưng Anh Ngọc vẫn hát, và vẫn được hoan nghênh như thường.

Hát nữa hay không hát nữa, nghĩ cho cùng, có phải cũng chỉ là một cuộc chơi? Vậy thì nói như Kim Thánh Thán xưa: “Chơi nữa là một cách chơi. Không chơi nữa lại cũng là một cách chơi”.

Vả lại, ngay phút này đây, nếu chúng ta, ai muốn nghe lại tiếng hát Anh Ngọc, tiếng hát Nhật Trường, có gì khó đâu? Nhưng cũng giống như trong một cuộc họp mặt, đã có người đứng lên, bỏ về, đó là dấu hiệu của một cuộc vui sắp tàn hay ít nhất nó cũng không còn đủ vui để lưu chân người nữa.

Nhớ lại những ngày khi cuộc chiến VN đang bước dần sang giai đoạn bi thảm nhất, nào Mùa Hè Đỏ Lửa, nào Cổ Thành, nào Bình Long anh dũng, từ cuộc hội đàm Paris thu dần về trại David với những cuộc cãi vả ba bè, bốn bên … Người ta cảm nhận sự tàn lụi sắp sửa của cuộc chiến, cảm

nhận cái chết gần kề, cái cảm nhận của những con kiến trước cơn bão lụt.

Anh không chết đâu em

Anh chỉ vừa bỏ cuộc đêm qua …

Trên khăn tang cô phụ

Còn lóng lánh dấu ái ân …

Chính trong những ngày ấy Nhật Trường đã đóng góp tiếng hát, đóng góp những sáng tác tiếp sức cho những người cầm súng, cho những người phải khóc những người cầm súng, cố đứng vững cho đến ngày cuối cùng.

Vì, nhạc của chúng ta trong những ngày ấy, nghe lại mà xem, đã báo trước rằng đó là những ngày cuối cùng:

Ngày mai đi nhận xác chồng

Anh lên lon giữa hai hàng nến chong

Anh trở về bằng chiếc băng ca

Hay trực thăng sơn màu tang trắng …

Anh Quốc ơi

Từ nay trong gió trong mây

Từ nay trong cõi xa xôi

Có hồn anh trong cõi lòng tôi …

Anh nằm xuống

Sau một lần đã đến đây …

Mùa mưa tới trong nghĩa trang này

Có loài chim thôi …

Ngay cả những bài không nói tới cái chết, thì cái nỗi bơ vơ chất chứa trong nó cũng đủ làm người ta rợn người, bởi vì, rõ ràng là người ta không biết mình sẽ đi về đâu, đúng hơn sẽ trôi giạt đến đâu, người ta sống như chỉ để chờ cái phút không còn [được] sống nữa:

Phố núi không xa nên phố tình thân

Đi dăm phút đã về chốn cũ

May mà có em đời còn dễ thương ……

Mai xa lắc trên đồn biên giới

Còn một chút gì để nhớ để quên …

Phải nói rằng nhạc của chúng ta đã chạm tới niềm tuyệt vọng. Bởi vì, dù có viện dẫn đến mùa xuân hay tình để cứu vãn chăng nữa cũng chỉ còn những dư vị đắng cay:

Đây kỷ vật viên đạn đồng đen

Em sang sông cho làm kỷ niệm

….

Bên cạnh cái toàn cảnh đen tối đó, nhạc Trần Thiện Thanh vẫn là nhạc của hy vọng, vẫn [cố] duy trì những màu sắc tươi sáng:

Đồn anh đóng bên rừng mai

Nếu mai không nở

Anh đâu biết xuân về hay chưa …

Chợt nhớ tới sắc áo hôm nào

em đến thăm gác nhỏ …

Thư của lính ba-lô làm bàn

nên nét chữ không ngay

nhưng nhớ em thật đầy

Trần Thiện Thanh viết nhiều nhạc lính đến nỗi người ta quên mất rằng ông còn là tác giả của rất nhiều bản tình ca đã có một thời làm mưa làm gió trong sinh hoạt âm nhạcViệt Nam.

Khi người yêu tôi khóc

trời cũng giăng sầu

Cho từng cơn mưa lũ xoay trong tâm hồn

Mây từ đâu trôi đến mờ dấu chân trời

Em tại sao em đến cho anh yêu vội

Cho một lần yêu cuối là những lẻ lọi

Em ơi hãy nói vạn lơi sầu đắng

như anh vừa trách anh

Những lời ca ấy, những lời tỏ tình ấy, một thời người ta có thể tìm thấy trong sổ tay, trong sách lưu niệm của nhiều nữ sinh, sinh viên. Nhiều cuộc tình nhờ nhạc của ông mà thành duyên.

Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân

Bên người yêu tật nguyền chai đá …

Thực ra thì phải nói nhạc của Trần Thiện Thanh không ai hát hay hơn Nhật Trường. Ông có một giọng ca ngọt ngào, dịu dàng, vừa đủ lãng mạn để hát những tình khúc của ông, những tình khúc luôn có một vẻ gì đó nửa thật, nửa mộng, năn nỉ, dỗ dành …

Không biết những người mới lớn lên ở đây, không biết gì về cuộc chiến tranh trên đất nước vừa qua, tìm thấy những gì trong nhạc Trần Thiện Thanh.

Nhưng những người đã chia sẻ với ông những ngày quê hương mịt mù thuốc súng, mỗi lần nghe lại nhạc của ông, nghe thấy nhạc của ông, không khỏi có lúc có cảm tưởng như nó vương vất những mảnh hồn, những mảnh đời tan nát của mình, những kỷ niệm đau đớn …

Xin cảm ơn Nhật Trường. Xin cảm ơn Trần Thiện Thanh. Cảm ơn những đóng góp của ông vào một quãng đời, dù đó là quãng đời chúng ta đã đánh mất.

Đồn Vắng Chiều Xuân

Đầu xuân năm đó anh ra đi

Mùa xuân này đến anh chưa về

Những hôm vừa xong phiên gác chiều

Ven rừng kín hoa mai vàng

Chợt nhớ tới sắc áo hôm nào em đến thăm gác nhỏ

Mùa hoa năm đó ta chung đôi

Mùa hoa này nữa xa nhau rồi

Nhớ đêm hành quân thân ướt mềm

Băng dòng sông loang trăng đầy

Lòng muốn vớt ánh trăng thề viết tên em

Đồn anh đóng ven rừng mai

Nếu mai không nở anh đâu biết

xuân về hay chưa

Chờ em một cánh thư xuân

Nhớ thương gom đầy

Cho chiến sĩ vui miền xa xôi

Hẹn em khi khắp nơi yên vui

Mùa xuân ngày đó riêng đôi mình

Phút giây mộng mơ

Nâng cánh hoa mai nhẹ rớt trên vai gầy

Hồn chới với ngỡ xuân vàng dáng em sang

Nhật Trường

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 27 Jul 2025

84. Trần Quang Lộc

Năm nay Trần Quang Lộc đã khá cao tuổi rồi. Nhưng nhớ lại những bài hát đầu tay của ông, người ta được nghe, cách đây khoảng bốn chục năm như “Về

Đây Nghe Em” hay “Em Theo Đoàn Lưu Dân” người ta phải tự hỏi, Trần Quang Lộc viết những bài hát ấy vào năm ông mấy tuổi?

Lúc ấy chưa ai biết đến cái tên Trần Quang Lộc. Một bài hát được viết ra và hát cho đám bạn bè loanh quanh nghe với nhau, cho đến lúc nó được phổ biến như một tác phẩm, đòi hỏi một thời gian. Như vậy, nếu những bài hát ấy đượcTrần Quang Lộc viết vào năm mười bảy, mười tám tuổi thì thật là lạ! Thế nhưng, những người có dịp được gặp Trần Quang Lộc và nghe ông hát, ắt còn phải ngạc nhiên hơn nữa, vì chỉ nguyên số lượng những bài ông đã viết [khi ấy] đủ để ông hát cho nghe ngày này qua ngày khác không hết! Và, hầu hết lại đều là những bài có thể xếp vào hàng các tác phẩm cả.

Về ngồi trên đồi cao

Gõ đàn hát chơi …

Ta thương thương ta lòng thật nhạt

Thương thay thương thay bọn tướng quân

Gõ đàn gõ đàn trong vách núi

Vỡ máu dâng đời những thanh tân

Hãy tưởng tượng một chàng trai mười bẩy, mười tám tuổi viết ra những câu như thế. Đây là một bài hát Trần Quang Lộc nói rằng mình viết ra để cho những người không biết đánh đàn có thể ôm đàn hát, vì chỉ việc giữ nhịp bằng cách dùng tay gõ vào thùng đàn. Quả thật, nghe và trông thấy Trần Quang Lộc “Gõ Đàn Hát Chơi” như thế, người ta không khỏi cảm thấy ngây ngất vì cái đẹp của thơ/nhạc, và nhất là cái chất người ta thường gọi là phiêu bạt, giang hồ.

Đêm nay ta dừng lại

Kể chuyện đời người nghe

Ta có hồn phiêu bạt

Sinh ra đời để đi

Được biết cái nhóm tạm gọi là “Ban Mê Thuột”, mà Trần Quang Lộc là một thành phần, trước 75 đã quy tụ được một số các bạn trẻ trong đó có rất  nhiều người có tài như:

Vũ Hữu Định, Kim Tuấn, A Khuê, Phan Ni Tấn, Nguyễn Đình Hiếu, Hoàng Quân [Khoa] Hoàng Khởi Phong. Họ không họp thành nhóm đâu. Chỉ thỉnh thoảng tụ họp đọc hay hát cho nhau nghe, những bài thơ mới, những bài hát vừa viết xong.

Sau biến cố 75, họ hầu hết còn rất trẻ, tản mát mỗi người một phương. Người đi được, kẻ lưu lạc về Sài Gòn, tiếp tục đi học tại các trường đại học, một số đi học tập cải tạo, làm lao động, làm ruộng, làm rẫy, một số khác không có công ăn việc làm gì cả, lang thang, lếch thếch, sống theo cái kiểu “ghé đâu là nhà, ngã đâu là giường”. Chính trong thời gian này Trần Quang Lộc viết được rất nhiều nhạc. Gần như mỗi dịp gặp lại nhau bạn bè đều được Lộc hát cho nghe những sáng tác mới.

Phải nói thêm Trần Quang Lộc là một “nhân vật kỳ lạ”. Có những bài ai nghe cũng thích, Trần Quang Lộc có giọng hát rất hay, chơi Tây ban cầm không có gì xuất sắc, nhưng tự đệm cho mình hát thì phải nói là tuyệt vời. Trong giọng hát của Trần Quang Lộc có cái buồn giằng dặc của những ngày tháng người ta không biết đi đâu, về đâu, cái buồn chia tay, cái buồn gặp lại. Hình như người ta không sống với nhau được nữa. Vậy mà người ta vẫn phải tồn tại, vẫn phải ăn, vẫn phải cười nói, và phải riễu cợt tất cả các điều ấy, coi nhẹ hết thẩy những điều ấy.

Cái sống và cả cái chết đều nhuốm vẻ vừa buồn thảm vừa khôi hài. Nghe nói Vũ Hữu Định trong một bữa uống rượu với bạn trên sân trời một căn gác nhà người quen, anh đã cầm ly rượu bước ra khỏi lan can rồi rớt xuống, chết. Vũ Hữu Định say không còn biết trời đất gì nữa chăng?

Trần Quang Lộc trong ngày giỗ đầu tiên của Vũ Hữu Định đã viết một bài khóc bạn. Giai điệu của bài hát có âm hưởng của một bài văn tế, nếu lại được nghe chính Trần Quang Lộc hát, người ta có thể khóc được:

Đêm không trăng mổ ngực chơi

Giữa tuyệt cùng

Sương hoa đỏ

Linh hồn, linh hồn ơi

Mệt bước chân vui

Đi ngất ngất, đi lạnh lẽo trong đêm dài

Đêm không trăng

Của phố núi cao

Em Pleiku má đỏ môi hồng

Có thật đã ngủ yên trên ngọn núi cao kia

Trong bóng tối ôi lạnh quá đôi chân trần

Người ơi! Ới hỡi người ơi!

Yêu thương thế giới tơi bời trái tim

Nào ngờ hơi thở im lìm

Tuyệt diệu đức tin …

Bài “Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội” của Trần Quang Lộc đã được hội nhạc sĩ ở trong nước tặng giải những bài hát viết về Hà Nội hay nhất. Sự thật thì Trần Quang Lộc đã viết bài ấy trước 75 và chưa nhìn thấy Hà Nội bao giờ.

Có một sự kiện cần phải nói rõ ở đây là một số bài hát của Trần Quang Lộc khi đã được phổ biến rồi, ở trong nước, có nhiều người than phiền về việc Trần Quang Lộc đã lấy thơ của họ để phổ nhạc, nhưng không đề tên họ và đã xẩy ra các vụ kiện cáo, xác minh trên báo chí.

Các người quen biết Trần Quang Lộc từ nhỏ, cùng trưởng thành với nhau, cho biết, người có thơ Trần Quang Lộc lấy phổ nhạc nhiều nhất là A Khuê, Tô Như Châu … Một số các bài hát Ngọc Chánh về Việt Nam sưu tập được và cho hát trong những CD của ban Shotgun không phải của Trần Quang Lộc.

Hiện Trần Quang Lộc và những người như A Khuê, Tô Như Châu vẫn còn sống và ở Việt Nam cả, thiết nghĩ, Trần Quang Lộc nên công khai làm sáng tỏ mọi chuyện, vì sự nghiệp của mình.

Các tác giả có thơ Trần Quang Lộc lấy phổ nhạc đều là bạn từ thời thơ ấu của Trần Quang Lộc. Những bài thơ Trần Quang Lộc lấy phổ nhạc đều hình như chưa hề được phổ biến công khai trên báo chí hay xuất bản, nên chỉ những người liên hệ biết với nhau.

Tại sao, các tác giả không cho công bố nguyên bản những bài thơ của mình, để tự nó làm sáng tỏ mọi việc?

Vì chỉ lấy bài “Về Đây Nghe Em”, thơ của A Khuê, người ta thấy có đến mấy lời ca khác nhau, nên cũng không biết sự thật bài thơ của A Khuê thế nào. Chẳng hạn có những đoạn được phổ biến ở hải ngoại, do Thái Thanh, Elvis Phương hát như sau:

Và thịt xương ta quên mang theo

Khi ngã xuống mênh mang tủi hờn

Và về đây nghe nhau thở dài trong đêm

Nhưng chính Trần Quang Lộc lại hát:

Nụ cười tươi trên môi em thơ

Đem ánh sáng hân hoan trên trời

Rọi vào đời cho ta tinh cầu yêu thương

Và đoạn cuối của bài hát thì có tới ba bốn lời ca khác nhau, và một lời ca Trần Quang Lộc thường hát như sau:

Về đây nghe em

Về đây nghe em

Về đây cùng hát trên sông nước này

Chở lòng người trở về quê hương

Chở lòng người vào dòng suối mát

Chở thật thà vào lòng dối trá

Và nhạc hoa xin tạ chút ơn

hạnh phúc khi đã gặp nhau

So sánh với cùng bài hát đã được thu thanh ở hải ngoại có rất nhiều câu, chữ, khác. Điều đáng kể là lời ca nào cũng hay. Vậy bản nào là bản chính? Cũng không thể nói có thể căn cứ vào những gì do chính Trần Quang Lộc hát. Bởi vì, cùng một bài, mỗi lần nghe Trần Quang Lộc hát, người ta lại có thể thấy vài câu khác với lần trước. Lại có cả những bài, nghe Trần Quang Lộc hát rồi, một dịp nào đó, gặp anh, xin được nghe lại, Trần Quang Lộc không nhớ được câu nào. Có nghĩa là anh quên hẳn cái bài ấy. Có thể tin được điều ấy không? Vậy mà đó là sự thật đấy!

Nhạc Trần Quang Lộc, ngoài giai điệu còn có ưu điểm về cả nhịp điệu nữa, vì dù vui hay buồn, nó luôn có một vẻ gì đó rộn rã, thúc giục. Đó cũng là điều giải thích vì sao đằng sau những bài hát có thể làm chẩy nước mắt của anh hình như lúc nào cũng còn dấu một nụ cười.

Chính nụ cười lại làm cho cái buồn, buồn hơn, và cứ thế nhân lên, lập lại, nếu người ta nghe và thuộc nhạc của Trần Quang Lộc. Nhạc của anh, ngay cả những bài tình ca cũng có hơi hướm dân ca và cả du ca nữa.

Chỉ Còn Bóng Đổ Dài

Chỉ còn bóng đổ dài

Ngày với ngày lại qua

Lang thang từng con phố

Bóng đổ ngày lại qua

Dường như ta đã lỡ

Suốt cả một kiếp người

Như em tình cơ nhỡ

Một người tình năm xưa

Chiều về đứng một mình

Chiều qua đời chẳng hay

Bơ vơ một làn khói

Bếp ấm của nhà ai

Dù đi trong bóng tối

Trong lòng anh điêu tàn

Trọng hồn anh mới đổ

[Hát lại hai đoạn trên]

Chỉ còn bóng đổ dài

Ngày với ngày lại qua

Yêu thương và tiếc nuối

Chất ngất một mình ta

Này em trong bối rối

Muốn tìm gặp bên đời

Những khi lòng tăm tối

Tìm lại ngày hôm qua

Chỉ còn bóng đổ dài

Ngày với ngày lại qua

Chỉ còn bóng mệt nhoài

Có ngọn lửa quê nhà

Không quên mình phận lá

Rời rụng từ trăm năm

Và đôi môi yên lắng

Khi vừa chớm nụ cười

Tôi và tôi bóng đổ

Ngày với ngày lại qua

Làm sao em hiểu thấu

Một bóng dài lẻ loi

Nguyễn Trọng Khôi

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 27 Jul 2025

Chương 26

Mùa xuân năm đó, con trai Vương hổ tướng được đúng 15 tuổi, một hôm chàng đang đi tản bộ một mình ở ngoài sân, võ sư dạy con chàng học đến bảo chàng:

– Thưa tướng quân, tôi đã truyền thụ cho lệnh lang tất cả sở năng, sở kiến của tôi, lúc này lệnh lang cần phải đi bổ túc binh thư đồ pháp ở một trường võ bị, ở đó cùng các bạn đồng học rèn luyện chiến thuật, binh pháp.

Vẫn hay chàng cũng nhận viên võ sư nói đúng, con chàng cũng đã đến tuổi phải thao dượt, bổ túc thêm về chiến thuật, chàng nghĩ sao thời gian đi vun vút mau quá, chốc đã mười hai năm trời, chàng cho gọi con; đứng chờ con, thấy mệt, năm đó chàng đã già, ngồi nghỉ trên chiếc ghế đá ở ngoài sân dưới gốc cây đỗ tùng. Khi cậu nhỏ ở cửa bước vào, cái cửa này thông sang hai bên sân, nom dáng điệu cậu ung dung, vững vàng, Vương hổ tướng ngước mắt nhìn con. Người cao lớn, nét mặt rắn rỏi, hai môi mím, đều đặn nom cậu là một người lớn không còn là một đứa trẻ nhỏ. Nhìn đứa con trai độc nhất, chàng hồi tưởng mới lúc nào khi nó còn nhỏ, mong sao cho nó chóng lớn, lúc đó nghĩ biết bao giờ nó mới lớn, thế mà ngoảnh đi ngoảnh lại nó lớn lúc nào. Thấy con, chàng có cảm giác như từ thời kỳ ấu trĩ, thằng bé nhảy một bước thành một người lớn. Nghĩ thời gian mau chóng quá, chàng thở dài, về vấn đề cho con đi học chàng nghĩ:

– Ý ta không muốn để cho nó học ở một trường miền Nam, cho nó bè bạn với tụi thanh niên miền đó.

Chàng ngoảnh lại viên võ sư lúc đó đang tẩn mẩn nhổ mấy sợi râu mép, chàng hỏi to:

– Ông có chắc nên cho thằng nhỏ theo học trường đó không?

Vương hổ tướng nhìn con, lòng dạ bâng khuâng hỏi con:

– Thế con nghĩ thế nào, ý có muốn đi không?

Ít khi Vương hổ tướng hỏi ý kiến con, công việc của con chàng, nhất nhất do chàng lo liệu, định đoạt, lần này chàng hỏi con, ý mong con từ chối để có cớ chàng thoái thác. Cậu nhỏ lúc đó đang mải nhìn khóm huệ mọc ở dưới gốc cây đỗ tùng nghe tiếng cha hỏi vội vàng ngửng đầu trả lời:

– Nếu có thể cho con học một trường khác, có lẽ con thích hơn.

Câu nói đó không hợp ý chàng, chàng cau mày, kéo bộ râu cằm, vẻ tức giận hỏi có vẻ xẵng:

– Nếu không phải một trường võ bị, ý mày muốn học trường nào, bao nhiêu sách vở mày học từ trước đến giờ thì để làm gì? Mày phải học bổ túc về nghề võ để sau này có đủ khả năng làm một lãnh chúa chứ?

Cậu nhỏ ngập ngừng, khẽ trả lời:

– Con nghe nói hiện nay có những trường dậy về khoa canh nông, tất cả các môn về nghề trồng trọt.

Nghe cậu nói quá nhố nhăng, Vương hổ tướng hết sức sửng sốt. Chàng chưa từng nghe nói có cái trường nào dạy làm ruộng, trồng cây, chàng gầm lên:

– Hừ, điên thật, mày nói có những trường dạy về trồng lúa, làm ruộng, ý mày định nói bây giờ những anh nhà quê phải đi học cày, học cấy, học gặt, học hái. Tao còn nhớ ngày xưa, ông cụ vẫn thường nói, học gì cứ làm ruộng không cần phải học, cứ nom người bên cạnh làm thế nào bắt chước làm thế (chàng ngừng một lát, nói tiếp với một giọng gay gắt nghe lạnh người). Nhưng, thử hoi công việc làm ruộng có can dự gì đến tao với mày không? Tao với mày là theo đuổi nghề võ, làm lãnh chúa, mày phải đi học bổ túc một trường võ bị, nếu không muốn đi thì ở nhà theo tao cầm quân.

Cậu nhỏ này thở dài, và cũng như mọi lần, khi nào thấy cha giận giữ, nói to tiếng, cậu đứng lùi lại, miễn cưỡng nói:

– Vâng, con đi học một trường võ bị.

Thấy sự miễn cưỡng trong lời nói, trong dáng điệu, Vương hổ tướng giận lắm, chàng kéo dài hai bên râu mép, nhìn con, vừa buồn vừa giận, chàng biết chàng sẽ tức đến thế nào nếu biết rõ tư tưởng của nó giấu giếm chàng, chàng hét to:

– Sửa soạn quần áo mai đi.

Cậu con giơ tay chào (kiểu chào lối nhà binh, cậu đã học được) quay gót đi ra, không nói một lời.

Đêm đến chàng ngồi một mình trong phòng nghĩ đến con, sắp đi vắng xa nhà, chàng rùng mình sợ cho con đến ở một nơi xa lạ, với bọn người có tiếng là xảo trá, bất lương, chàng cho gọi người thủ hạ tâm phúc, anh Sứt Môi. Khi anh này đến, chàng quay lại nhìn bộ mặt gớm ghiếc, nhưng trung kiên của anh lính, chàng nói như van nài, khẩn cầu, không phải như lối một ông chủ sai bảo đầy tớ:

– Đứa con trai tôi, đứa con độc nhất của tôi, mai đi học ở một trường võ bị, tuy có viên võ sư dạy hắn học cũng đi kèm, tôi chưa hiểu bụng dạ người đó, nghe nói hắn đã ở ngoại quốc lâu năm. Tôi cho anh đi cùng với con tôi vì nội tất cả ở đây, anh là người độc nhất tôi có thể tin cậy, tôi biết rõ anh

hơn ai hết. Anh đã theo tôi từ lúc tôi còn hàn vi đến ngày nay tôi được giàu mạnh, anh đi thay tôi, trông nom cho nó.

Có một điều lạ là Vương hổ tướng vừa dứt lời, anh chàng Sứt Môi cố gặn giọng nói lớn có vẻ trịnh trọng, tiếng nói phát qua hai hàm răng the thé như tiếng còi:

– Thưa tướng quân, việc này tôi không thể tuân lệnh tướng quân, tôi xét tôi cần phải ở gần tướng quân. Nếu lệnh lang cần phải đi du học xa, tôi sẽ tuyển lựa trong bọn lính 50 tên khá nhất, đứng tuổi, tôi sẽ chỉ bảo cách thức phải trông nom, bảo vệ lệnh lang, còn tôi, tướng quân ở đâu, tôi phải ở đó. Tướng quân nên biết tướng quân rất cần phải có một người thân tín tuyệt đối trung thành. Trong một đạo quân lớn như ở đây thế nào cũng có những kẻ bất mãn, những đứa tâm địa hiểm độc, những hạng ương ngạnh, nóng nảy, những hạng so bì chỗ này tốt chỗ kia xấu và hiện nay đang có những tin đồn có một thế trận lạ lùng ở miền Nam.

Vương hổ tướng nghe nói, trả lời với một thành kiến cố định:

– Anh tự quan trọng hóa quá! Ta còn có anh “Diều Hâu” và anh “Chọc Tiết Heo” nữa mà.

Anh Sứt Môi tỏ vẻ khinh người, anh nhăn mặt nói:

– Một thằng tham lam và một thằng xuẩn ngốc, nếu có việc gì quan trọng, tôi rất khả nghi sự trung thành của một người, còn một anh chỉ có tài bắt ruồi, giá bảo giết người nào, anh có thể đấm chết người ta được, chí lự ngu ngốc lắm, có bảo hắn mới biết chứ để tự ý hắn không hiểu gì hết.

Anh chàng này nhất định khăng khăng từ chối mặc dù Vương hổ tướng đã thôi thúc bao nhiêu lần, chàng chưa bao giờ phải chịu một sự bất tuân thượng lệnh như lúc này của anh lính Sứt Môi. Thấy chủ cố nói mãi, anh phát cáu nói:

– Thôi được, sẵn có kiếm con đâm cổ tự tử chết, chứ bảo con đi nhất định con không đi.

Vương hổ tướng không biết làm thế nào, rút cục phải nhượng bộ. Thấy chủ đã phải chịu, anh này tỏ vẻ vui mừng, vừa lúc nãy anh cố làm to chuyện, nếu chủ không nghe anh đâm cổ tự tử. Ngay đêm hôm đó, anh suy tính, chọn 50 tên; họ đang ngủ anh dựng cả dậy, chửi rủa phủ đầu bọn này nên

thân, anh bắt ra đứng cả ngoài sân. Tụi này không hiểu chuyện gì, ngơ ngác, vừa ngáp vừa rét run, đêm mùa xuân gió thổi lạnh. Anh hét vang, tiếng nói the thé qua chiếc môi sứt:

– Nếu trong mồm vị tướng nhỏ có một chiếc răng đau là tội ở các anh, các anh phải chết. Bổn phận các anh phải trông nom, đề phòng, bảo vệ vị tướng nhỏ, đi đâu một bước các anh phải theo sát bện cạnh. Ban đêm các anh phải ngủ ngay xung quanh giường vị tướng nhỏ đó, ban ngày không được tin ai, nghe ai, ngay cả ông tướng nhỏ bảo gì cũng không được nghe. Nếu ông ta tự ý bảo không cần các anh, các anh phải nói: “Chúng tôi tuân lệnh lão tướng thân phụ của lệnh lang, ngài nuôi chúng tôi trả lương chúng tôi, chúng tôi phải nghe lời ngài phán bảo”.

Anh Sứt môi còn nói nhiều lắm, cố ý làm cho tụi này hoảng sợ và nhận định công việc giao phó có một tính cách cực kỳ quan trọng, anh lại nói tiếp:

– Nhưng nếu công việc các anh làm chu đáo, các anh sẽ có thưởng, chủ tướng chúng ta là người quảng đại, tôi sẽ nói với chủ tướng xin thưởng cho các anh.

Bọn người đồng thanh tỏ lời trung thành, họ biết chủ tướng ngoài cậu con trai, anh chàng Sứt Môi này là chân tay tâm phúc thân tín nhất. Họ cũng thích được đi các tỉnh xa lạ, được biết thêm nhiều thứ mới lạ.

Sáng hôm sau, Vương hổ tướng dậy sớm để tiễn con đi du học, chàng lưu luyến không muốn rời con, tiễn con đi một quãng đường xa. Cuộc hành trình vì thế bị chậm lại chút ít. Chàng cưỡi ngựa đi song song bên con, đi được một quãng xa, chàng ghìm cương ngựa, bảo con:

– Con ạ, cổ nhân có nói, bạn đi xa, dù có tiễn đưa đến ba ngàn dặm, rồi cũng là cuộc phân ly, cũng như ta và con bây giờ. Thôi ta trở lại nhé.

Chàng ngồi thẳng trên mình ngựa, nhận lễ tiễn biệt của con. Chàng ngắm con nhảy nhanh nhẹn lên lưng ngựa, quất ngựa đi nhanh, có 50 tên lính và viên võ sư đi sau hộ tống. Không muốn đứng nhìn con, chàng quay phắt ngựa trở về nhà trống trải có một mình.

Trong ba hôm liền, vừa buồn và nhớ con, chàng không thiết làm gì, ngong ngóng chờ những tên lính ở các bót gác trên đường con chàng đi qua về làm báo cáo hành trình của con.

Một anh lính ở trạm thứ nhất về báo:

– Thưa tướng quân, lệnh lang được bình yên mạnh khỏe. Có ý vui vẻ hơn trước, lệnh lang có xuống ngựa, thăm một cánh đồng, nói chuyện với một nông dân.

Vương hổ tướng lạ quá hỏi:

– Có biết hắn nói chuyện gì với nông phu không?

Anh lính cố nhớ lại, thưa:

– Lệnh lang hỏi nông phu gieo hạt gì, để ý xem thứ hạt nông phu đang gieo, có hỏi cách thức đóng trâu vào cày. Bọn nông dân thấy lệnh lang một võ tướng để ý đến việc đồng áng, cười ồ lên; lệnh lang không để ý đến bọn họ, chăm chú xem bọn họ buộc trâu vào cày làm sao.

Vương hổ tướng nghe nói ghét quá, chàng lẩm bẩm:

– Ta không hiểu một vị lãnh chúa để ý, thắc mắc muốn biết cách buộc trâu làm sao, hạt giống thế nào để làm gì?

Chàng suy nghĩ một lúc, hỏi:

– Anh còn gì nói nữa không?

Anh lính nghĩ một lúc nói tiếp:

– Đêm lệnh lang vào nghỉ ở một quán trọ, ăn bánh, thịt, cơm nếp, cá, uống một chén nhỏ rượu. Con theo lệnh lang đến đó rồi vội trở về trình lên tướng quân.

Rồi đến một anh lính khác, lại một anh lính nữa đến tường trình tin tức sức khỏe, ăn uống thế nào của con chàng. Chàng nhận liên tiếp các báo cáo về tin tức con chàng mãi đến hôm cậu con xuống tàu ở một giang khẩu chạy ra biển. Chàng chỉ còn chờ thư con. Khi đến nói để biết tin tức, các liên lạc viên không thể theo xa hơn được nữa. Vương hổ tướng xét qua các lời báo cáo, không hiểu chí lự của con thế nào, con đi vắng xa, chàng bồn chồn nóng ruột, thình lình có hai việc làm chàng lãng quên không nghĩ đến con. Việc thứ nhất, có các thám tử ở xa về tường trình:

– Chúng con xin trình lên tướng quân biết, hiện nay có một thế trận rất lạ kỳ, đang tiếp diễn bành trướng suốt từ Nam chí Bắc, trận này nghe nói để lật đổ chế độ cũ, một cuộc cách mạng khởi nghĩa chứ không phải như những trận

thường của các vị lãnh chúa.

Mấy ngày nay Vương hổ tướng tính nóng nảy hay gắt gỏng, nghe thám tử báo cáo, chàng nói có vẻ khinh thị:

– Có gì là lạ. Khi xưa ta còn trẻ, ta cũng đã nghe nói có khởi nghĩa, cách mạng ta cũng có tham dự những trận như thế, tưởng là có mục tiêu nào cao cả, các lãnh chúa liên kết lật đổ Vương triều, xong lại chia rẽ xâu xé lẫn nhau.

Các thám tử lục tục kéo về đều báo cáo tương tự như thế:

– Đó là một lối chiến tranh mới, chiến tranh của dân chúng, của thường dân.

Vương hổ tướng nghe báo cáo nhún vai, cau mày hét to:

– Tụi nó có súng ống gì không? Hay đánh nau bằng gậy gộc, lưỡi liềm … Chàng nói xong nguýt dài, khinh khỉnh, bọn này sợ quá, vừa ho vừa nhìn nhau.

Một người trong bọn đánh bạo nói:

– Chúng con thấy thế nào, nghe được thế nào, trình lại như thế.

Vương hổ tướng nói:

– Phải rồi, đó là công việc, bổn phận của các anh, nhưng các anh nghe đồn những chuyện phi lý.

Chàng cho bọn này lui ra, dù không tin cho là phi lý chàng cũng thắc mắc muốn biết rõ sự thực. Chàng chưa kịp suy nghĩ thì đã xảy ra trong vùng, ngay chỗ chàng ở, một việc làm chàng hết sức bực mình, không còn nghĩ được việc gì khác nữa. Mùa hạ năm đó đẹp đẽ vô cùng, mưa nắng thuận hòa, nước đã rút hết, ruộng được lớp đất phù sa, phì nhiêu, chỉ cần rắc ít hạt giống, lúa mọc rất tốt, rất nhanh, vụ gặt sắp tới sẽ được gấp bội khi trước.

Chờ cho đến ngày được gặt, có thóc, hãy còn một số đông dân đói, năm đó trộm cướp ngay trong chỗ Vương hổ tướng đóng quân mọc lên như rươi. Có những người đói khát tuyệt vọng, kết hợp thành đoàn, cướp bóc khắp nơi, đến khi Vương hổ tướng cho lính đi tiễu trừ thì không thấy trộm cướp đâu

cả. Tụi này như ma, khi ẩn, khi hiện. Các thám tử đến trình với chàng:

– Hôm qua bọn cướp ở phía Bắc, họ đốt phá làng nhà họ Trinh

– Cách ba hôm nay có một bọn cướp giết hết bọn lái buôn, đoạt hết hàng hóa, thuốc phiện, vải vóc …

Vương hổ tướng nghe bọn cướp táo bạo hoành hành, giận quá, chàng tức là vì những mối lợi của chàng bị cưỡng đoạt, chàng đang cần tiền để trả nợ anh Hai, chàng uất hận, muốn giết ngay một người nào cho hả cơn tức. Chàng thét như sấm, gọi các đội trưởng, truyền lệnh đem hết binh đội chia ra từng toán đi tiễu trừ giặc cướp khắp vùng, treo giải thưởng một cái đầu giặc đem nộp được lĩnh thưởng một đồng bạc.

Bọn lính hăm hở đi lục soát tìm kiếm bọn cướp, chặt đầu đem về lĩnh thưởng nhưng tuyệt nhiên không thấy một tên nào. Sự thật chính bọn nông dân, khi không bị ai lùng bắt, kết hợp lại đi ăn cướp.

Nếu họ nghe thấy động, có lính đi tuần tiễu, họ vẫn là lương dân, vẫn cày vẫn bừa ở ngoài đồng. Khi bọn lính đến họ lại còn kể cho nghe họ bị bọn cướp kia, bọn cướp nọ ngược đãi họ, họ kể vanh vách các toán cướp chỉ trừ toán của họ kết hợp, nếu có nói đến bọn cướp nào vẫn ẩn nấp trong làng, họ làm bộ ngơ ngác không biết gì hết. Vì Vương hổ tướng có treo giải thưởng, bọn lính cũng muốn có tiền thưởng họ gặp người nào trước nhất họ chặt đầu, xách về lĩnh thưởng, không ai có thể biết đầu đó là đầu tên cướp hay không phải.

Có nhiều người bị giết oan, tuy nhiên không ai dám than phiền vì ai cũng biết bọn lính do Vương hổ tướng sai đi tiễu trừ giặc cướp, mà người nào tố cáo cũng sợ bọn lính thù, nó không để cho cái đầu được yên lành.

Một hôm về giữa mùa hạ, lúa miến đã lên cao hơn đầu người, giặc cướp ở đâu nổi lên tứ phía như ong vỡ tổ. Vương hổ tướng phẫn nộ đến cực điểm, chàng than chinh cầm quân diệt trừ. Đã mấy năm nay, chàng nghỉ chưa cầm quân ra trận. Chàng được mật báo có một toán cướp nhỏ ở một làng nọ, bọn thám tử đã rình biết dân làng này ban ngày là nông dân, ban đêm đi ăn cướp. Ruộng ở làng ấy thấp như ở một lòng chảo, họ chưa cấy lúa được sớm như mọi nơi khác, thóc gạo trong làng hết không có gì ăn. Dân làng này về mùa đông, mùa xuân lại có thóc nên về hai mùa đó không bị đói.

Vương hổ tướng giận lắm khi biết đích xác bọn người này giảo quyệt, bất lương đêm đêm đến các làng lân cận cướp phá, ai chống cự lại họ, họ giết chết. Chàng thân chinh đem quân lại vây làng đó không để hở một khe nào có thể người trốn ra được. Khi bọn lính đã thắt chặt vòng vây, chàng và bọn tùy tùng đi ngựa vào làng bắt hết dân đinh già trẻ được một trăm bảy mươi ba người.

Bọn người này bị trói chặt, buộc chung cả vào một chiếc dây thừng, Vương hổ tướng truyền giải cả bọn đến một cái sân phơi thóc trước nha viên lý trưởng làng đó. Chàng ngồi trên mình ngựa, đưa mắt nhìn một cách khinh khỉnh bọn người khốn nạn bị cầm tù đứng cả ở dưới sân. Người thì vừa run, vừa khóc, người thì mặt xám như chàm đổ, cũng có người can đảm, thản nhiên, người già lão cam chịu số phận, cả già, cả trẻ, ai cũng chờ tử thần đến đón đi.

Khi biết vận mệnh bọn người này ở cả trong tay, Vương hổ tướng cảm thấy lòng căm tức, định tận sát, nguôi dần. Chàng không còn tính hung hãn, cương nghị như xưa, chàng đã thấy con chàng động lòng trắc ẩn khi nhìn thấy bọn người chết đói, tính khí chàng bị ảnh hưởng nhụt đi một phần nào.

Để giấu lòng từ tâm, chàng nhíu đôi lông mày, cong môi, gầm lên:

– Tội các ngươi đáng chết cả. Bao nhiêu năm nay các ngươi chưa biết ta hay sao, ta không dung túng trộm cướp trong hạt ta cai trị hay sao? Song ta là một người có chút từ tâm, ta còn nghĩ đến cha mẹ già con cái các ngươi, ta hãy tha chết cho các ngươi lần này. Nếu lần sau còn tái phạm, ta sẽ thẳng tay giết hết. Chàng ngoảnh lại đám lính đứng vây xung quanh bọn phạm nhân, nói:

– Các anh rút hết dao ở dây lưng ra cắt hết tai bọn này để họ nhớ lời tôi nói ngày hôm nay.

Bọn lính được lệnh, tiến lên một bước rút dao liếc ở đế giày xẻo hết tai của một trăm bảy mươi ba người già trẻ. Họ xếp cả đống tai trình chủ tướng.

Vương hổ tướng nhìn bọn cướp người nào hai bên má cũng có hai dòng máu chảy ròng ròng, chàng nói:

– Hai cái tai đó là vật kỷ niệm đời đời nhớ ngày hôm nay nghe không?

Nói xong chàng ngoảnh mặt đi, quất ngựa cho đi nhanh. Chàng vừa đi vừa nghĩ đáng lẽ phải giết chết bọn này để làm gương cho bọn cướp trong vùng mới phải. Có lẽ mình đã già, quá ư nhu nhược mà đem tha bọn này. Tuy nghĩ thế chàng lại nhủ thầm:

– Cũng vì con ta, ta đã sinh phúc cho một số nhân mạng. Một ngày kia ta sẽ bảo con, vì con, ta tha chết 173 người, chắc con nghe thế sung sướng lắm.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 26 Jul 2025

83. Trần Duy Đức

Trần Duy Đức là một trong những nhạc sĩ sáng tác rất được  yêu mến ở hải ngoại kể từ thập niên 80. Phần lớn các ca khúc của Trần Duy Đức được phổ từ thơ Du Tử Lê. Thơ Du Tử Lê do Trần Duy Đức, Đăng Khánh, Anh Bằng, Phạm Đình Chương, Từ Công Phụng phổ nhạc, đã đánh dấu một giai đoạn nhạc Việt Nam sau 1975.

Đó cũng là thời điểm đất nước đất nước chúng ta trải qua một biến động lớn, vẫn còn gây chấn động trong lòng mọi người. Vì vậy, có thể nói, tình ca của chúng ta, trong giai đoạn này, cũng không còn hoàn toàn là tình ca nữa, âm nhạc và ngôn ngữ giống như những mảnh vỡ của đời sống, phản ánh sự tan nát, đau đớn. Cái đau đớn ở đây không phải là cái “thú đau thương” như người ta thường nói tới, như mặt bên kia, cái mặt thứ hai của hạnh phúc. Mà là cái đau làm người ta không thể yêu nhau được nữa. Cái tình chỉ để khám phá ra rằng, người ta không yêu nhau được nữa.

Nhà tôi đã cháy

Không còn gì ngăn cản tôi

nhìn trăng sáng

Trong cái buồn của câu thơ [Nhật Bản] đó, nhà đã cháy, nhưng [hình như] người ta vẫn còn cái nền nhà cũ để đứng ở đấy, ngồi ở đấy, nhìn trăng. Cái buồn của thơ chúng ta, nhạc chúng ta, là cái buồn không còn gì nữa. Người ta mất đến cả ngôn ngữ [lấy gì để tỏ tình đây?]

Vườn hạnh phúc

Một người đang tập nói

Cảm ơn em yêu dấu

Cho ta sống đến ngày hôm nay

Trí nhớ ta cùn nhụt

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu

Tôi với người chung một trái tim

Mọi sự hình như phải bắt đầu lại, người ta phải tập nghe một thứ ngôn ngữ mới, “bàn chân từng ngón ngưng hơi thở”, một thứ ngôn ngữ ngổn ngang, kiểu cách, phải chặt đứt ra, phải chắp nối lại, phải liên tưởng, phải biến dạng đi, để hiểu.

Trần Duy Đức đã lao mình vào dòng ngôn ngữ trúc trắc đó, đặt tên cho từng chữ của bài thơ bằng những ký hiệu âm thanh, quen được gọi là “do, si, la” để làm thành những bài hát. Và những bài hát đã được chấp nhận. Được nhiều người hát, được nhiều người nghe, nó trở thành sản phẩm [ngôn ngữ] của thời đại. Nó có sẽ tiếp tục như thế hay sẽ rẽ sang ngả khác, phải chờ thời gian mới biết được. Xin trích sau đây ý kiến của một vài người về nhạc Trần Duy Đức.

Bùi Bích Hà: “Có nỗi gì bơ vơ, vụn vỡ trong dòng nhạc của Trần Duy Đức. Cũng có những ước mơ sáng láng, đôi lúc lóe lên từ tiếng kêu gào của một niềm tuyệt vọng dịu dàng, sự mời gọi đến cùng và sẻ chia mà ông khao khát, mà ông cất giấu lửng lơ trong cái kén cô đơn của một người tự tách mình ra khỏi dòng sông đời có những điều nhân gian không hiểu.

Ngô Tịnh Yên: “Tôi thích Tan Theo Ngày Tháng Vội anh phổ từ thơ Du Tử Lê và cũng thích Khúc Mưa Sầu do anh một mình sáng tác.

Hoàng Dược Thảo: “… Mỗi bài thơ phổ nhạc phải được coi như một cái duyên, một mối cảm thông tuyệt diệu giữa người làm thơ và người viết nhạc … Tiếng nhạc Trần Duy Đức đã tạo ra được những âm vang tuyệt diệu cho những lời thơ tưởng chừng như không thể lãng mạn hơn của thi sĩ”.

Hồ Huấn Cao [Du Tử Lê]: “Họ Trần muốn đi đến những chân trời mà điểm gặp cũng là chỗ giao thoa giữa thơ và nhạc”

Chu Tất Tiến: “Người nghệ sĩ Trần Duy Đức tuy chưa thể so sánh với ‘nhà phù thủy âm thanh’ là Phạm Duy, nhưng đã làm cho người nghe bối rối, lạc đường, tuy không trữ tình như Trịnh Công Sơn, nhưng lại đặt ra những ưu tư lôi cuốn … Thêm vào đó, là lời thơ Du Tử Lê và những tên gọi của bản nhạc, chưa nghe đã thấy nồng nàn, chưa nghe đã thấy chút gì đó cuốn hút, Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi, Chỉ Nhớ Người Thôi Đủ Hết Đời, như thế, chỉ nghe nhạc Trần Duy Đức phổ thơ Du Tử Lê không cũng đủ đã đời”.

Cao Đông Khánh: “Mười ca khúc, trong chủ đề Em Hiểu Vì Sao Chim Gọi Nhau phổ từ 10 bài thơ của Du Tử Lê, nhạc sĩ ra mắt, trình diện một khuôn mặt âm nhạc phong phú, đa dạng, nhưng vẫn giữ phong cách tùy thân của chính mình.

Trần Duy Đức có tác phẩm và trở thành tác giả là do nơi cái khí phách tùy thân căn bản đó”. Nguyên Sa: “Tôi thực sự phân vân không biết phải chọn

Khi Tưởng Tới Người Vắng Mặt do Hải Lý ca trong băng nhạc Rồi Em Bỏ Tôi Đi hay chọn Chỉ Nhớ Người Thôi Đủ Hết Đời, chọn Tan Theo ngày Nắng Vội hay chọn Khúc Tháng Chín … Tôi muốn nói sáng tác của Trần Duy Đức đều tay. Bài nào trong mười bài của Em Hiểu Vì Sao Chim Gọi Nhau hòa âm rất biến chuyển, rất sang cả của Trầm Tử Thiêng, đều ngang tầm với Khi Tưởng Tới Người Vắng Mặt.

Nhất quán đến cả những khoảng cách âm vực mênh mông, cái kiểu trống báo vừa xong đã xa đỉnh núi. Tiếng hát của người ca sĩ không chậm rãi đi từ bình nguyên âm thanh, theo những bực thang âm thanh đi dần lên ngọn đỉnh và phải tới cresscendo mới tới được đỉnh cao nhất. Trần Duy Đức khởi

đầu cuộc hành trình âm thanh hơn một lần từ đỉnh cao nhất. Trống báo vừa dứt giọng hát phải bay lượn như chim ngay trên những đỉnh cao nhất đó, rừng phải thổi gió ngay trên những đỉnh cao nhất đó rồi mới như sương, như mây, như mưa … tan theo ngày nắng vội. Không phải chỉ bay một lượn cánh, chỉ thổi một hơi dài, phải nhiều vòng cánh, phải hơi tiếp hơi”.

Riêng Trần Duy Đức tự nhận định về công việc của mình như sau: “Một bài thơ hay, vốn mang sẵn trong ngôn ngữ thi tính và những giá trị đặc thù của nó. Từng chữ, từng câu, từng vần, từng âm điệu đã được chính nhà thơ xử dụng, kết hợp một cách huyền ảo, kỳ diệu theo những phương thức riêng do thi sĩ an bài. Nhạc sĩ, khi làm công việc phổ nhạc, theo tôi, trước tiên phải cố gắng tôn trọng nguyên tác của bài thơ. Cái khó khăn kế tiếp là tạo dựng thành một chủ đề chính, bằng một cấu trúc riêng, mang sẵn trong nó những

hạn chế theo khuôn khổ của một ca khúc. Hầu từ đó khai triển bằng nghệ thuật sáng tạo, dẫn dắt dòng nhạc chuyển sang những chuỗi âm thanh kết nối, phù hợp với từng ý nghĩa tâm tình của từng chữ, từng câu, từng vần của bài thơ, để biến nó thành một bản nhạc theo thể điệu riêng của nhạc”.

Khánh Ly

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 26 Jul 2025

82. Tô Vũ

Trong khoảng từ các năm 44 đến 54, ngoài các nhạc sĩ sống ở Hà Nội, viết ở Hà Nội, những người thời ấy còn được gọi là “đi theo kháng chiến” cũng có nhiều sáng tác đóng góp vào sự phồn thịnh của âm nhạc Việt Nam lúc bấy giờ.

Âm nhạc ở đây hiểu theo nghĩa vì nhạc mà làm chứ không vì lý do nào khác. Một trong những người có những sáng tác như thế là Tô Vũ. Phải nói ngay rằng nền tân nhạc của chúng ta khi ấy vẫn còn mới mẻ, các nhạc sĩ thường sáng tác theo một hình thức tương tự như nhau. Đại khái, một ca khúc gồm 32 trường canh với những ý nhạc chính được khai triển, thêm vào một điệp khúc, đoạn cuối trở lại ý nhạc chính. Bài hát có thể dài hay ngắn hơn một chút, nhưng cũng không ngoài cái khuôn mẫu ấy. Nhạc Tô Vũ đã được viết khác hẳn. Ông viết nhạc theo một phong cách riêng, không theo cái hình thức thịnh hành này.

Thêm vào đó, lời ca của Tô Vũ cũng rõ ràng không   phải là những từ ngữ đã có sẵn, ước lệ, mà nó mang ý nghĩa ông muốn, ý nghĩa sáng tạo.

Vì thế, có thể nói, Tô Vũ đã thổi một luồng gió mới vào việc viết ca khúc thời ấy. Cũng là tình ca, nhưng tình ca của Tô Vũ đã nới rộng chân trời của những lứa đôi. Ông cũng cho thấy tình yêu có nhiều cách bầy tỏ. Người ta sống cũng có nghĩa là sống trong một hoàn cảnh, và đôi khi nói tới bất cứ điều gì trong hoàn cảnh đó, cũng có thể là đang nói tới cái tình của mình.

Rồi đây khi mùa dứt chiến tranh

Gió dâng khúc đàn thanh bình

Ta đi tìm thơ muôn phương

Gót in núi rừng thâm u

Và lướt trên muôn trùng sóng …

Toàn thể bài hát toát ra một vẻ gì đó giống như một bài kinh cầu nguyện. Một hình ảnh được nhắc tới tựa một dấu vết của hạnh phúc, của ước mơ, được thắp sáng và trở thành chính đối tượng của lời cầu nguyện.

Tình yêu như thế vừa có vẻ là lễ vật được hiến dâng vừa là ân sung được thừa hưởng. Nó có thể mất, có thể còn. Nhưng mất hay còn cũng ở trong trần thế này nên nó cũng không thể mất hẳn. Vì thế, dù có đau thương, mỗi tiếng hát vẫn là một lời ngợi ca hạnh phúc.

Trong nhạc Tô Vũ cũng không bao giờ người ta thấy lảng vảng hình bóng của cái chết. Đời sống không dễ dàng lắm đâu nhưng cũng không đến nỗi quá khó khăn. Bởi vì người ta có thể tìm thấy sự dịu dàng ở khắp mọi nơi. Nghe nhạc Tô Vũ người ta có cảm tưởng ấy. Ông không nói tới nỗi nhớ nhung nào cụ thể, nhưng người ta dường vẫn nghe tiếng réo gọi âm thầm ẩn sau mỗi câu nhạc và nỗi nhớ nhung vì thế cứ tràn ngập.  Trong âm nhạc của chúng ta, tình ca của chúng ta, cókhông biết bao nhiêu trận mưa, nhưng có lẽ Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa của Tô Vũ là trận mưa hạnh phúc nhất. Trận mưa ấy có thể chia sẻ hân hoan cho những ai nghe và hát nhạc ông.

Bởi vì, chẳng cần phải là một tuyệt thế giai nhân, chỉ cần một tà áo hương nồng và một ánh mắt trìu mến, đủ để người ta trở thành người trong nhạc. Hay nói cách khác sống cái tình của mình trong nhạc. Có gì khó khăn đâu mà chúng ta không đạt được?

Ta ước mơ một chiều thêu nắng

Em đến chơi quên niềm cay đắng

Và quên đường về …

Hạnh phúc tuyệt vời và giản dị làm sao!

Chúng ta không biết rõ Tô Vũ sáng tác nhiều không, nhưng chỉ thấy 4, 5 bài được phổ biến, trong đó có một bài ít được biết là bài Làng Bến. Bài này, tự nó, hình như đã lọt ra ngoài dòng nhạc trữ tình của ông. Có lẽ vì thế nó  không được yêu thích.

Nếu phải chọn trong mấy bài còn lại Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa, Tạ Từ, Tiếng Chuông Chiều Thu, xem bài nào là kiệt tác của Tô Vũ thì có lẽ số người yêu thích mỗi bài sẽ ngang nhau. Mặc dù Tiếng Chuông Chiều Thu có lẽ là bài Tô Vũ mất nhiều công phu hơn cả. Đó chỉ là cảm tưởng, nhận định chung [bề ngoài] của người nghe. Thực ra có những tác phẩm hay chỉ một câu thơ, một câu nhạc, người nghe tưởng chừng tác giả đã viết được một cách dễ dàng lại chính là những câu, những lời, người sáng tác mất nhiều công phu nhất. Tản Đà và bài thơ Tống Biệt chẳng hạn, là một trường hợp điển hình. Nghe nói, câu cuối của bài thơ này, khi mới làm, Tản Đà đã viết là: “Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng soi”. Mười năm sau ông mới sửa được chữ “soi” bằng chữ “chơi”. Và câu thơ trở thành: “Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi”. Câu thơ hay hơn nhiều.

Và người ta gọi cái chữ “chơi” ấy của Tản Đà là “thần tự”. Trở lại với Tô Vũ. Ngoài mấy ca khúc chúng ta thường nghe, ông còn một ca khúc nữa rất được yêu mến, ký tên thật của ông là Hoàng Phú, đó là bài Ngày Xưa. Đây là một trong những bài sử ca hay nhất của Việt Nam, có thể dung cho các chương trình giáo dục.

Nói chung, qua nhạc, chúng ta biết một Tô Vũ tâm hồn nhậy cảm, phóng khoáng và rất nghệ sĩ. Có thể nói, bằng những sáng tác của mình, Tô Vũ đã

nâng nghệ thuật viết ca khúc của Việt Nam nói chung lên cao hơn một bực. Ông cũng được coi là một trong những nhạc sĩ viết lời ca hay nhất của chúng ta. Mỗi chữ, mỗi câu, ông đều viết xứng hợp với những giai điệu trau truốt của ông, hình ảnh, từ ngữ đều mới.

Nghe nhạc Tô Vũ người ta cảm thấy hình như đời đẹp hơn, tình đẹp hơn. Ông không triết lý, không khuyên răn ai điều gì. Nhưng cái đẹp, cái vẻ quý phái, trang trọng trong các ca khúc của ông, tự nó, làm thành một giới hạn. Người ta hiểu rằng người ta phải vượt qua cái giới hạn ấy mới thẩm nhập được vào cái đẹp, cái cao quý và, nhất là, nghệ sĩ luôn là một loài chim hiếm.

Tất cả các ca khúc của Tô Vũ, chúng ta được biết được nghe, đều đã được ông viết ra trước năm 1954. Sau đó, không biết ông có bao nhiêu sáng tác nữa, song không thấy được phổ biến. Nhưng chỉ với mấy bài Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa, Tạ Từ, Tiếng Chuông Chiều Thu, Ngày Xưa, cũng đủ để chúng ta gửi tới ông một bông hồng tạ ơn.

Riêng những người đã có dịp nghe nhạc hay hát nhạc Tô Vũ vào lúc đang được sống trong tình, thì chắc sẽ không phải chỉ có một bông hồng tạ ơn, phải không hỡi em yêu dấu?

Tiếng Chuông Chiều Thu

Lá thu nhẹ rơi rơi

Nắng thu vàng phai phai

Ai về âm thầm nẻo cũ

bâng khuâng tình xưa

Hiu hiu luồng hơi may

Du du làn mây bay

Ai nhắn theo mây niềm quê vấn vương

xa đó ngàn dâu thưa

Từ miền xa tiếng chuông ngân

Hồi buông lớp lớp trong nắng vàng

Từng đợt sóng mờ xóa dần

trong sương lắng

Lá thu nhẹ rơi rơi

Hồn ta chìm đắm tiếng chuông xa vời

Hồi chuông ngân nga

trong chiều thu ngợp gió

Ngàn tiếng thiết tha êm đềm ru lời thu

Ai xót ly hương mấy thu vàng úa

Nhạc say mùa sông núi

Tóc xanh bơ phờ bù rối

Mấy dây tơ huyền ngụt khói

Dạn dày đời mới

Ngọt ngào đương tơ

Hồi chuông âm vang khơi nguồn mơ ngày thắm

Đường nắng vang vang

bước chân phong trần

Hoa vàng phơi phới

Thu tràn sóng xuân tưng bừng

Người phương trời xa xôi

Gửi em lời yêu thương

Khi lòng mơ màng trầm lắng

tiếng chuông chiều thu

Ngày nào khi chiến chinh xong

Hồi chuông vang réo muôn tiếng đồng

Chuông khơi mùa nắng mới

Tình ta đẹp bao nhiêu

Hồn anh thầm nhắn

tiếng chuông ban chiều

Duy Trác

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 26 Jul 2025

Chương 25

Trong cuộc lữ hành, Vương hổ tướng nghĩ cho con đi theo là dại nhưng thực ra chàng không dám để con ở lại sợ có bọn người nào nham hiểm có ác ý gì chăng. Cho con về nhà các anh chơi, chàng băn khoăn, lo lắng không kém gì lo về tính mệnh con. Chàng sợ thằng nhỏ yếm nhiễm tính ươn hèn ủy mị của tụi trẻ con các anh, tính so kè, đê tiện, tham lam về tiền bạc của hạng con buôn. Chàng ra lệnh cho anh lính sứt môi không được rời con chàng một bước, chàng chỉ định mười anh lính già đã mãn, ngày đêm phải túc trực trông nom cậu nhỏ. Chàng dặn con phải đem sách ra học như khi ở nhà.

Chàng lưỡng lự chưa dám bảo con: “Chỗ nào có đàn bà, con gái không nên lai vãng đến” chàng không hiểu thằng nhỏ đã có những ý nghĩ về chuyện đàn bà chưa. Trong những năm chàng để con sống bên cạnh chàng ở trong tư thất, không có bóng dáng một người đàn bà, con hầu, con ở … ngoài mẹ và chị, thằng nhỏ tuyệt nhiên không biết một người đàn bà nào khác. Mấy năm gần đây sự thăm nom của mẹ cũng thưa thớt, mỗi lần cậu đến thăm mẹ cũng có vệ sĩ đi kèm theo. Chàng dùng những phương pháp độc đoán đó để bảo vệ con, cho sống riêng biệt, chàng có lòng đố kỵ muốn độc quyền sở hữu đứa con, khác nào như bọn đàn ông có máu ghen không muốn ai được dòm ngó, xâm phạm đến vợ mình. Mặc dù trong thâm tâm có sự lo ngại e dè, Vương hổ tướng cũng cảm thấy sung sướng hãnh diện lúc chàng cưỡi ngựa đến nhà anh, có thằng con cũng cưỡi ngựa đi sát bên mình. Chàng có ngông ý bảo thợ may cắt cho con một bộ quần áo đúng như của chàng, cũng cái áo bằng vải ngoại quốc có khuy đồng to, cũng gù vai, cũng đội chiếc mũ như chàng trên có gắn phù hiệu. Năm cậu nhỏ mười bốn tuổi, nhân ngày sinh nhật con, chàng cho người sang Mông Cổ sắm hai con ngựa giống nhau như hệt, chỉ khác một con lớn, một con nhỏ, hai con ngựa rất khỏe, cùng một màu da hung hung đỏ, cùng một thứ mắt trắng và lanh. Khi hai cha con đi ngoài phố, thiên hạ đứng lại ngắm xem, chàng thấy lời tán

thưởng của dân chúng, nghe rất mê ly như một bản đàn gảy bên tai:

– Kìa nhìn coi một vị lãnh chúa già, một vị lãnh chúa nhỏ sao mà giống nhau thế kia, khác nào như hai chiếc răng cửa.

Hai cha con chàng đến cổng nhà anh Cả, cậu nhỏ nhảy xuống ngựa cùng một lúc với cha, cùng một cử chỉ như cha, cũng đưa tay lên chuôi kiếm, cũng dáng điệu uy nghi lẫm liệt đi bên cạnh cha, cậu không ngờ cậu lại có thể giống cha như đúc, khác nào như bóng với hình.

Hai anh niềm nở đón tiếp chàng, các cháu nghe tin chú về lần lượt kéo nhau đến chào. Chàng liếc nhìn mọi người, nhận thấy những con mắt cảm phục nhìn con chàng, chàng khoái cảm khác nào người đang khát được chén rượu ngon. Mấy hôm sau ở nhà anh, chàng để ý xem xét các con anh, chàng không thể còn ngờ vực, có quan niệm rất chắc chắn con chàng hơn tụi trẻ này nhiều lắm; sự so sánh, suy nghiệm đó đem lại cho chàng thêm tinh thần phấn khởi, hăng hái vì đứa con độc nhất. Còn có nhiều lý do khác làm tâm thần chàng thêm phấn khởi.

Con trai lớn anh Cả bây giờ đã có vợ, chưa được đứa con nào, cả hai vợ chồng ở chung một nhà với anh chị Cả. Cậu này hao hao giống cha, đã thấy có bụng, tấm thân phì nộn, nõn nà có một lần mỡ bao phủ. Cũng như cha, cậu có vẻ uể oải, bần thần. Cậu buồn vì gia đình lủng củng, không có hòa khí, vợ đối với cha mẹ không ra thế nào, cô ả cậy là gái tân thời, có óc tự do tân tiến đối với mẹ chồng hỗn xược, khinh bỉ.

Khi không có ai cô thường hét vào tai chồng:

– Anh đừng có tưởng, dễ thường tôi là môn hạ cho con mụ già hợm ấy hở? Hắn không mở mắt ra mà xem, thời buổi này, con gái bây giờ không phải hầu mẹ chồng đâu nhớ.

Cô ả này không kiêng nể mẹ chồng một tí nào. Vẫn cái giọng hách dịch lỗi thời, chị Cả bảo con dâu:

– Khi tôi còn trẻ như cô, tôi phải hầu hạ mẹ chồng, bổn phận làm con ăn ở cho phải đạo, sáng nào tôi cũng phải bưng khay trà lên mời cụ xơi nước, ấy cũng nhờ thế tôi đã học được cách pha trà. Cô ả nghe nói hất mớ tóc ngắn ra sau gáy, đôi chân xinh xinh, không bị bó, đập xuống nền nhà thình thịch nói cong cớn, rất ngạo mạn vô lễ:

– Đàn bà chúng tôi bây giờ không phải quy lụy đứa nào hết.

Ấy những chuyện xích mích như thế, làm anh chàng rất buồn bực khổ tâm. Cậu này không còn dám quen thói như trước kia đi chơi, đánh bài đánh bạc, đĩ bợm để giài sầu; cô ả biết hết những nhà hát xướng, hồng lâu, thanh lâu những chỗ nào cậu thường hay lai vãng. Cô ả này lại bạo dạn, dám đi theo chồng ra tận ngoài phố, la hét ầm đường, nào là đàn bà ngày nay không phài cổ lỗ như ngày xưa, buồng the, không dám ló mặt ra ngoài, nào là nam nữ bình quyền tự do … Nghe tiếng the thé của cô ả, dân phố đổ xô lại xem lấy

làm thú vị. Cậu xấu hổ quá không còn dám thò đi đâu mà đi đâu cô ả cũng lẵng nhẵng theo sau. Cô này có máu ghen khiếp đảm, cận thúc thủ không dám giở một thủ đoạn nào, con hầu con ở con nào có mẽ người, cậu không dám dòm ngó. Bạn bè nào mà kéo cậu đi chơi hồng lâu, lúc trở về thì thật

khổ, cô vợ vừa kêu gào, bù lu bù loa khóc lóc làm loạn cả nhà. Một hôm anh chàng thổ lộ nỗi can tràng đau khổ cho bạn nghe, bạn xui khôn:

– Mày cứ dọa già mày phải lấy vợ lẽ đi. Tao cho thế là ăn chắc, đàn bà mà chồng phải đòi lấy vợ lẽ là ê lắm.

Nghe bùi tai, cho là đắc sách, cậu tuyên bố với cô vợ non, ý muốn tìm nàng hầu, chẳng thấy cô ả ê một tí nào, cô nổi ngay cơn tam bành, hai mắt trợn trừng, nguýt dài, thét om:

– Thời buổi như thời buổi ngày nay, đàn bà chúng tôi không thể nào tha thứ một chuyện kỳ dị quái gở ấy được. Cậu chưa kịp nghe ra sao, cô ả đã chồm chồm nhảy lên như con mèo vồ mồi, xỉa xói, hai bàn tay xinh xắn búp măng

tát lấy tát để vào hai má bánh đúc của cậu, cào trên mặt bốn vết dài đỏ ửng, cậu vừa đau vừa xấu hổ quá, năm hôm liền không dám ló mặt ra ngoài. Không dám phản công lại, đem bêu xấu bêu hổ con vợ cho bõ ghét vì há miệng mắc quai, bạn cậu chính là anh ruột cô, cha cô chính là ông Chánh Cẩm có quyền thế nhất tỉnh.

Nhưng đến đêm, anh yêu vợ đáo để, cô ả nằm thu hình nép sát bên cạnh anh, nom dễ thương quá, ỏn ẻn bên tai, làm như có vẻ hối hận lắm, cơn tức của anh chàng nguội dần rồi tiêu tan hết, cậu mê ly yêu quá, lắng tai nghe cô vợ thủ  thỉ.

Cô tán hươu tán vượn, xui chồng xin tiền cha, có tiền cả hai vợ chồng ra chơi ít lâu ở một hải cảng trên bãi biển, sống theo lối mới với bọn trai thanh gái lịch. Nghe hay quá, y kế thi hành cậu vòi tiền cha, lần đầu không được, cô xúi bắt phải năn nỉ hỏi cho bằng được. Muốn cho êm thấm cửa nhà, khỏi ỳ èo, anh Cả phải nhượng bộ; để có tiền cho con, anh chỉ còn một cách là đem đoạn mại một phần ruộng còn sót lại. Cô ả mới nghe thấy bố chồng ừ ào cho tiền, suốt ngày chỉ lắp bắp nói những chuyện đi chơi, tấp nập sửa soạn hành lý, ba hoa khoe ở ngoài bãi biền thích lắm, có nhiều thú chơi, bọn phụ nữ ăn mặc rất đài điến, lịch sự. Nàng cần phải may một chiếc áo dài mới, một áo choàng lông thú cho hợp thời trang, quần áo mặc ở nhà tồi tàn, cổ lỗ, có mặc được họa may ở xó nhà quê như ở đây. Anh chồng nghe nói thích quá nao nức muốn đi ngay để ngắm những kỳ quan, hưởng những lạc thú, cả em trai chồng cũng mơ màng muốn được như cặp uyên ương này đi thừa lương ngoài bãi biển.

Phong vị nhà anh Hai (Vương thương gia) khác hẳn, con cái ăn mặc xuềnh xoàng, nhũn nhặn, buổi chiều ở cửa hàng về, ngồi chơi trên những chiếc ghế thấp, ngắm chú và con chú. Vương hổ tướng thấy trong lòng sung sướng được tụi trẻ con nhà anh trố mắt nhìn con chàng đeo chiếc đoản kiếm mạ vàng. Thỉnh thoảng cậu nhỏ lại phải tháo chiếc đoản kiếm đặt trên đùi cho tụi trẻ nhỏ mân mê xem vỏ kiếm. Trong ngôi nhà của thân phụ chàng, hai anh vẫn được đường hoàng, sung túc tựa như nạn đói không có ở trên trái

đất này, đồng ruộng không bao giờ ngập lụt, không có ai bị đói khổ. Song anh Cả (Vương điền chủ) và anh Hai (Vương thương gia) cũng đều biết ở mạn trên có nạn lụt lội, đói kém ghê gớm. Vương hổ tướng trình bày cho hai anh những khó khăn của chàng, lý do cuộc viếng thăm nhà lần này. Chàng nói:

– Bước gian nguy này các anh cứu được tôi ra tức là các anh tự cứu. Thế lực của tôi là bùa hộ mệnh cho các anh.

Hai anh cùng thông cảm câu nói đó, rất đúng, rất chí lý. Ngay trong tỉnh có hai anh em họ Vương ở cũng có dân đói, trong bọn đó có nhiều người thâm thù anh em nhà này. Họ ghen ghét Vương điền chủ vì anh có ruộng đất, ai cày cấy ruộng anh phải chia huê lợi cho anh, thật anh ngồi mát ăn bát vàng. Bọn nông dân cày sâu cuốc bẫm, hai sương một nắng, bao nhiêu mồ hôi nước mắt tạo ra được hột thóc, họ tưởng thuộc quyền sở hữu của họ. Nhưng khi lúa chín, họ phải chia sẻ một nửa cho một người ở ngôi nhà trên tỉnh, ung dung chỉ ngồi chờ thu huê lợi, lại những năm mất mùa, đói kém cũng đòi phần thóc chia. Những năm anh Cả còn nguyên cả số ruộng cho đến năm anh phải bán một phần lớn ruộng, anh không có khả năng làm một điền chủ. Một người như anh, chí lự bạc nhược, không biết suy nghĩ, tính toán,

lúc tức chỉ biết chửi bới, cãi lộn với bọn tá điền. Anh ghét cay ghét đắng bọn tá điền, anh ghét cái nghề làm ruộng chỉ vì anh thường hay túng thiếu tiền nong ăn tiêu trong gia đình, tiền anh tiêu xài riêng, bọn tá điền cố ý không bao giờ chia phần anh đầy đủ, thế nào cũng lươn khươn chịu lại ít nhiều. Bọn tá điền cũng ghét anh ghê lắm đến nỗi mỗi lần thấy anh đến, họ ngửa mặt lên trời, lẩm bẩm:

– Có hung thần đến kia, thể nào hôm nay trời cũng mưa.

Họ còn dám thóa mạ ngay trước mặt anh:

– Đối với ông cụ, ông là một người con bất hiếu. Ông cụ khi xưa lúc trở về già ơn trời giàu có, còn biết thương người nghèo. Ngày xưa ông cụ cũng làm ăn lam lũ vất vả như chúng tôi. Ông cụ cho mướn nhà, có thúc bách tiền nong bao giờ, những năm mất mùa, một hạt thóc ông cụ cũng không thèm đòi. Còn ông, ông sướng từ trong trứng sướng ra, ông có biết khổ là cái gì, ông chẳng có một chút từ tâm hỉ xả. Họ thâm thù anh, sự phẫn uất căm thù bộc lộ trong năm lụt, đói kém. Đêm nhà anh cổng đóng thật kỹ, họ còn kéo đến gọi cửa, họ nằm lăn ngay trên bực thềm, rên rỉ:

– Ông ơi, chúng tôi sắp chết đói cả, nhà ông có gạo ăn, có gạo nấu rượu, ông ơi.

Có bọn đi rong ngoài phố đến trước cửa nhà anh Cả, giữa ban ngày ban mặt nói to cho nghe thấy:

– Bọn nhà giàu nó vơ vét của mình, nó hút máu tụi mình, nếu có thể chúng mình sẽ giết hết.

Lúc đầu hai anh em họ Vương cũng không để ý mấy, sau thấy ngày nào cũng thế; để đề phòng biến cố có thể xảy ra, hai anh em phải thuê lính ở tỉnh đến gác cổng, cấm người lạ không được vào nhà. Về cuối năm đó, nhiều nhà giàu ở tỉnh và ở quê bị cướp, trộm cướp nổi lên như rươi, ngang nhiên hoành hành táo bạo cũng như mọi năm trời làm mất mùa đói kém. Tuy nhiên hai người con Vương Long vẫn được yên ổn, vì ông chánh cẩm chỉ huy quân đội trong tỉnh, gả con gái thông gia với họ nhà này, Vương hổ tướng, một lãnh chúa cũng ở gần đó. Bọn dân nghèo đói không dám động chạm đến anh em họ Vương, họ chỉ ta thán và nguyền rủa.

Túp nhà đất thuộc về họ Vương cũng được yên ổn, không bị bọn dân nghèo đói đến cướp phá. Gian nhà này ở trên một gò cao không bị ngập, suốt cả mùa đông năm ấy có nạn thiên tai hồng thủy, Hoa Lê vẫn sống ở đó với hai người, nàng bảo trợ. Cả vùng ai cũng biết Hoa Lê là một người nhân đức, giàu lòng bác ái, ai cũng biết nàng không có gì, vẫn phải xin trợ cấp lương thực ở nhà họ Vương. Nhiều người đói khổ chèo thuyền nan đến, nàng cũng chẩn cấp, nuôi cho ăn.

Một hôm, Vương thương gia đến túp nhà đất bảo nàng:

– Lúc này tình thế nguy hiếm lắm, trộm cướp nhiều quá hay cô hãy tạm dọn lên ở ngôi nhà trên tỉnh?

Hoa Lê nét mặt lúc nào cũng điềm đạm, nàng ung dung trả lời:

– Tôi nghĩ chả có gì đáng sợ, tôi phải ở đây vì có nhiều người khác còn trông cậy vào tôi.

Cũng một khi nàng sợ lắm; đói rét năm đó mỗi ngày một khốc liệt, có nhiều người đói quá, tuyệt vọng, gió rét dữ dội, nước lạnh buốt mà phải nằm trên chiếc thuyền nan, trên mảnh xuồng gỗ, bám bíu vào các ngọn cây, họ thấy nàng vẫn nuôi thằng Bướu với con dở người tuy tay họ cầm cơm, gạo nàng chẩn cấp, họ cằn nhằn ngay trước mặt nàng:

– Lúc này cô còn phải nuôi lũ ngợm này ư? Cô không biết có hàng bao nhiêu người với một hai đứa con sống sót, đang ngắc ngoải chờ chết.

Những lời tức tối than phiền lúc đầu còn nhẹ nhàng nàng không để ý, nhưng ngày nào cũng nghe họ nói có vẻ dọa nạt, Hoa Lê hoang mang, nàng nghĩ không biết có nên dắt hai đứa nàng bảo trợ này lên tỉnh không? Để hai đứa ở đây e một ngày kia, bọn dân đói ghen tức hai đứa ăn báo cô vô ích, họ sẽ giết chết, mà những đứa này yếu đuối chống chọi làm sao nổi. Con bé dở người năm nay đã ngần ấy tuổi mà hình dáng như một con bé nhỏ, hạng này có khi chết thình lình, đột ngột, bất đắc kỳ tử. Một hôm con bé (dở người) đang ăn cơm vừa ăn vừa cuộn chơi mảnh vải, chập choạng chạy ra ngoài cổng, đến chỗ mô đất nó thường ngồi chơi, lúc đó, chỗ ấy bị ngập, nó không biết, ngã lăn xuống nước. Hoa Lê vội vàng chạy lại lôi nó lên, nước lạnh buốt, con bé bị cảm hàn. Mặc dù Hoa Lê hết lòng chạy chữa, được vài giờ sau con bé chết. Con bé lúc sống cũng dễ, đến khi chết cũng dễ. Hoa Lê nhờ người lên báo tin cho Vương điền chủ biết và nhờ mua cho một cỗ áo quan. Nhân có Vương hổ tướng về chơi dắt cả con đi theo. Ba anh em chứng kiến việc nhập quan con bé, lần đầu tiên trên đời con này, lúc chết trông mặt mũi khác hẳn lúc sống, có vẻ khôn ngoan lanh lợi; phải chăng tử thần đã đổi sắc thái con người bình sinh ngớ ngẩn, đần độn. Hoa Lê thương cảm con bé, nhưng nhìn sắc diện con bé thay đổi, nàng cũng an ủi được phần nào, nàng trấn tĩnh nói nhỏ nhẹ:

– Con bé này lúc chết, mặt mũi có vẻ khôn ngoan, khác hẳn lúc sống mặt ngớ ngẩn đần độn.

Anh em nhà họ Vương không bày vẽ ma chay, Vương hổ tướng để cậu con ở lại trong gian nhà đất, cả ba anh em chàng, Hoa Lê, vợ người tá điền, một nông phu, lên cả thuyền, chở áo quan con bé đến một mô đất cao, chỗ này có những ngôi mộ nhà họ Vương, họ tìm một miếng đất, đào huyệt chôn con bé.

Khi công việc xong xuôi, cả bọn trở về túp nhà đất, rồi sửa soạn lên tỉnh. Lần đầu Vương hổ tướng nhìn Hoa Lê với một giọng trầm tĩnh, lạnh nhạt chàng hỏi:

– Bây giờ ý bà định thế nào?

Hoa Lê ngửng đầu, lần thứ nhất, nàng nhìn tận mặt Vương hổ tướng, nàng biết tóc nàng đã bạc, da mặt nàng đã nhăn, nàng trả lời:

Mặc dù Hoa Lê hết lòng chạy chữa, được vài giờ sau con bé chết. Con bé lúc sống cũng dễ, đến khi chết cũng dễ.

Hoa Lê nhờ người lên báo tin cho Vương điền chủ biết và nhờ mua cho một cỗ áo quan. Nhân có Vương hổ tướng về chơi dắt cả con đi theo. Ba anh em chứng kiến việc nhập quan con bé, lần đầu tiên trên đời con này, lúc chết trông mặt mũi khác hẳn lúc sống, có vẻ khôn ngoan lanh lợi; phải chăng tử thần đã đổi sắc thái con người bình sinh ngớ ngẩn, đần độn. Hoa Lê thương cảm con bé, nhưng nhìn sắc diện con bé thay đổi, nàng cũng an ủi được phần nào, nàng trấn tĩnh nói nhỏ nhẹ:

– Con bé này lúc chết, mặt mũi có vẻ khôn ngoan, khác hẳn lúc sống mặt ngớ ngẩn đần độn.

Anh em nhà họ Vương không bày vẽ ma chay, Vương hổ tướng để cậu con ở lại trong gian nhà đất, cả ba anh em chàng, Hoa Lê, vợ người tá điền, một nông phu, lên cả thuyền, chở áo quan con bé đến một mô đất cao, chỗ này có những ngôi mộ nhà họ Vương, họ tìm một miếng đất, đào huyệt chôn con bé.

Khi công việc xong xuôi, cả bọn trở về túp nhà đất, rồi sửa soạn lên tỉnh. Lần đầu Vương hổ tướng nhìn Hoa Lê với một giọng trầm tĩnh, lạnh nhạt chàng hỏi:

– Bây giờ ý bà định thế nào?

Hoa Lê ngửng đầu, lần thứ nhất, nàng nhìn tận mặt Vương hổ tướng, nàng biết tóc nàng đã bạc, da mặt nàng đã nhăn, nàng trả lời:

– Từ lâu tôi đã nói, khi nào con bé qua đời, tôi sẽ vào ở chùa. Tôi quen nhiều ni cô vẫn ước ao tôi đến nhập bọn. Tôi phát nguyện quy y đã lâu, được ở chùa ăn mày Phật, là tôi sung sướng mãn nguyện (nàng quay lại phía Vương điền chủ nói tiếp): ông bà cũng nên tiên liệu cho số phận thằng nhỏ (thằng Bướu). Có một ngôi chùa gần đây tôi xin cho nó ở lại đó, tôi có thể thỉnh thoảng lại thăm nom. Thằng này ốm đau luôn, hay nóng hay sốt. Các vị tăng ni một ngày hai buổi đi hành hương lên chùa làm lễ, tôi sẽ được gặp nó tuy không được nói năng, trò chuyện.

Ba anh em nhà họ Vương nhìn thằng Bướu, nó đứng níu áo Hoa Lê, thằng bé buồn thiu, con bé kia chết, không có ai làm bạn, chơi với nó. Bây giờ nó đã lớn, nhìn hai con mắt ngơ ngác, vô thần của nó, cái miệng nửa khóc nửa cười thật não ruột đau lòng. Vương hổ tướng nhìn thằng bé, lòng bùi ngùi ái ngại, chàng lại nghĩ đến con chàng tráng kiện, vạm vỡ, lòng chàng lại vừa mừng vừa buồn. Con chàng không hiểu gốc tích câu chuyện về thằng bé bị tật nguyền, cười với nó như để an ủi. Vương hổ tướng thấy cử chỉ của con, chàng cảm động, như để vỗ về thằng Bướu, chàng nói:

– Cháu ạ, nếu cháu không tật, chú đã hết lòng, nâng đỡ cháu như người anh họ cháu. Nhưng số phận cháu bị tật bệnh chú không biết nghĩ cách nào để giúp cháu. Thôi để chú đưa thêm tiền cho cháu đến chùa (chàng quay lại phía Hoa Lê) và tôi sẽ đưa thêm tiền cả phần của bà nữa, có tiền ở đầu cũng dễ chịu hơn, tôi chắc ở chùa cũng vậy, phải không bà?

Hoa Lê nhẹ nhàng trả lời, giọng nói chắc nịch:

– Tôi xin cám ơn, tôi không dám nhận, tôi ở chùa cùng với các ni cô, ăn chung, của chung, tiền bạc tôi không cần thiết. Nếu ông cho thằng nhỏ, tôi xin nhận giùm, vì nó có khi phải dùng đến tiền.

Câu nói của Hoa Lê thật tế nhị, ngụ ý kín đáo trách vợ chồng Vương điền chủ bỏ rơi thằng con, số tiền hai vợ chồng anh bố thí cho mẹ con nó quá ít ỏi. Nếu anh Cả có nhận ra câu nói đó là ngụ ý ám chỉ mình, anh cũng lờ như không hiểu, anh thản nhiên ngồi chờ để về nhà trên tỉnh. Anh người đẫy đà, to béo, đứng lâu mệt không chịu được, anh cần phải ngồi. Vương hổ tướng, hai mắt chăm chú nhìn thằng bé, chàng lại nói:

– Thế cháu có muốn đi ở chùa thật không hay cháu muốn ở đâu?

Thằng bé thấy hai con mắt to và dữ của chú, bất giác nó sợ, cúi gằm mặt xuống, nó ngắm lại thân hình tàn phế của nó, chậm rãi trả lời:

– Vâng, thời đành vậy, không ở chùa thì còn biết ở đâu (nó nghĩ một lát nói tiếp) có lẽ cái áo tràng nhà chùa có thể che kín được cái bướu ở lưng.

Chàng lại trố mắt nhìn thằng cháu, chợt nghĩ nhìn mãi không nên, chàng quay phắt người đi thẳng ra cửa. Đêm hôm đó Vương hổ tướng ở nhà hai anh, trước khi đi ngủ chàng đến bên giường con nằm. Cậu nhỏ này hãy còn

thức, thấy cha đến cậu hỏi:

– Thưa cha, cái nhà đất đằng ấy có phải cũng của ông nội con không?

Vương hổ tướng nghe con hỏi, sửng sốt, chàng trả lời:

– Phải, khi tao nhỏ đã ở đấy, sau ông làm được ngôi nhà này mới kéo cả lên tỉnh ở.

Cậu nhỏ đưa mắt lên đình màn, hai tay chắp sau gáy gối đầu, ngoảnh cổ lại phía chàng, hai mắt hau háu, hăm hở hỏi:

– Cái nhà ấy con thích lắm, ý con muốn được ở một gian nhà như thế xung quanh đồng ruộng, cây cối, trâu bò.

Vương hổ tướng nghe nói chối tai, chàng nói, chàng không để ý có vẻ hậm hực, vì thực ra con chàng cũng không nói gì là không phải:

– Tao xem mày nói mày không hiểu gì hết. Vẫn hay lúc nhỏ tao ở đó, nhưng sống trong cảnh tối tăm, ngu muội, tao mới tìm cách thoát ly bay nhảy.

Cậu nhỏ lại cố gân cổ nói thêm:

– Thế mà con thích … Con biết ở đấy thích lắm, hợp với ý con.

Mấy câu này tỏ sự nhiệt tâm, cuồng vọng của cậu, Vương hổ tướng thấy bực mình khó chịu, hầm hầm đứng dậy đi ra.

Đêm hôm đó, cậu bé ngủ mơ màng như đã sống ở túp nhà đất, giữa cánh đồng ruộng bát ngát. Hoa Lê lên tu ở trên chùa, thăng Bướu (con anh Cả)

cũng đến ở một ngôi chùa khác gần đó, gian nhà cũ kỹ bằng đất, từ nay vắng bóng ba người đã chung sống ở đó hằng bao nhiêu năm trời. Họ nhà Vương Long, không còn ai ở gian nhà đất, bây giờ chỉ có hai vợ chồng người tá điền già ở đó.

Một đôi khi bà già vợ người tá điền dành dụm được một chiếc bắp cải đã úa hay một nắm bột, gói vào mảnh vải con, đem lên chùa dấm dúi biếu Hoa Lê. Bà này đã sống gần gũi nàng, làm cho nàng hằng bao nhiêu năm, rất mến phục nàng, một người thùy mị phúc hậu. Ngay trong năm trời gây ra thiên tai, lụt lội, đói khổ, bà già vơ vét, có được một tí gì cũng thu thu đứng ở cổng ngóng chờ Hoa Lê đi ngang. Bây giờ nàng ăn mặc nâu sòng, theo như các ni cô, một chiếc áo tràng màu xám. Gặp được nàng, bà lão níu lấy, thều thào nói:

– Còn mỗi một con gà, nó vừa đẻ được một quả trứng, tôi vẫn để phần cô.

Vừa nói bà thò tay vào bọc lôi ra một quả trứng bé tí, thu thu giấu ở tay đưa cho Hoa Lê bắt phải cầm. Bà nói thều thào như có vẻ dỗ dành:

– Ăn ngay đi, cô ạ. Tôi thề với cô tôi nói thật, có khối các ni cô đã phát nguyện rồi mà vẫn ăn mặn, cả sư nữa nhiều ông vẫn còn rượu thịt. Đi vào đây, trong này kín, không ai nom thấy, cô nghe tôi cứ mút sống, trứng mới bổ lắm … Tội nghiệp, nom cô xanh lắm.

Hoa Lê từ chối không nhận, nàng đã phát nguyện quy y Tam Bảo, nguyện theo đúng tam quy ngũ giới, nàng khẽ lắc đầu, chiếc đầu nhẵn bóng, đội chiếc mũ xám hai tay mềm mại, sẽ sàng đẩy nhẹ tay bà lão nói:

: – Không bà ạ, bà còn cần hơn tôi, dù rằng tôi ăn không phạm giới, tôi ăn mày Phật, ăn uống đầy đủ. Mà dù có thiếu thốn, tôi cũng không dám ăn, tôi đã nhất tâm phát nguyện.

Nói thế nào bà lão cũng không nghe, bà bỏ tọt quả trứng vào khe áo trên ngực nàng, áo nàng mặc, vạt trước vắt ngang sang bên thắt lưng ra ngoài phía trên áo khác nào như một cái túi lớn. Bỏ được quả trứng vào lòng nàng, bà lão vội vã nhảy xuống xuồng đẩy ra giữa dòng, bà ngoảnh lại nàng, cười có vẻ đắc chí lắm.

Độ nửa giờ sau, Hoa Lê đem quả trứng đó bố thí cho một người đàn bà hành khất trông rất tiều tụy, lội nước cố men vào bờ ở trước cửa chùa. Người này ôm một đứa nhỏ, vạch vú cho con bú, hai cái vú trông rất thiểu não như hai miếng da nhăn nheo, đeo lủng lẳng trước ngực. Người đó đến trước cửa chùa kêu xin bố thí. Hoa Lê nghe tiếng vội chạy ra:

– Bà xem hai vú con, trước kia tròn trĩnh căng sữa, thằng bé này mũm mĩm như con chút chít.

Hoa Lê nhìn thằng bé, lèo nhèo, nhợt nhạt như xác chết, hai môi cố ngoạm chiếc vú da không còn một giọt sữa. Lẳng lặng, Hoa Lê rút trong bọc lấy ra quả trứng đưa cho người đàn bà, người này được của bố thí tốt quá, hí hửng, sung sướng. Hoa Lê sống một cuộc đời mới êm đềm bình thản, trong lòng lâng lâng của một kẻ tu hành, Vương hổ tướng từ nay không có dịp nào gặp nàng. Trong năm đó, có nạn hồng thủy, nạn đói hoành hành dữ dội, Vương hổ tướng ở vào một tình cảnh thập phần nguy ngập nếu Vương thương gia có thiện chí, rất có thể dễ dàng giúp chàng ra khỏi bước nguy nan. Hiện, anh Hai (Vương thương gia) có rất nhiều kho thóc dự trữ. Trời làm tai ương, lụt lội, trong khi thiên hạ lầm than, lâm vào cảnh túng quẫn đói rét, trái lại đối với anh Hai lại là một dịp để làm giàu. Như anh có tài tiên tri, biết trước cơ trời, anh tích trữ thóc để bán một giá rất đắt cho bọn nhà giàu. Anh không ngờ tới, đã thu được những món tiền khổng lồ, nhiều quá không còn biết dùng làm gì, anh chán ruộng đất không muốn tậu, đem cho nông dân vay rất nặng lãi bắt phải bảo đảm bằng vụ gặt năm tới. Khi nước rút ra, ruộng cày cấy được, có lẽ bao nhiêu thóc lúa trong vùng này thuộc về tay anh hết.

Tuy anh giúp đỡ bọn nông dân qua cơn đói, anh cũng biết họ vẫn ngấm ngầm căm ghét anh. Anh cũng biết trong tình thế hiện tại anh cũng cần nhờ uy danh của Vương hổ tướng, một lãnh chúa, bảo trợ tính mệnh, gia sản cho anh. Vì thế anh cũng phải buộc lòng cho Vương hổ tướng vay một số thóc rất lớn và một số tiền quan trọng, lời lãi phải chăng không quá hai mươi phân một đồng. Hai bên điều đình thỏa thuận lập khế ước ở trà thất, lúc đó anh Cả cũng có ở đấy, thấy tiền nong thóc lúa anh phát ngốt, thở dài bảo Vương hổ tướng:

– Chú Ba ạ, anh cũng ước ao được giàu có như chú Hai nó, sự thật đau đớn anh mỗi ngày một sa sút. Anh không có nghề như chú hai nó, anh chỉ có một chút tiền đặt lời còn một ít ruộng của cha để lại. Nhưng thôi cũng đáng mừng trong họ nhà ta cũng còn có người giàu có.

Anh Hai (Vương thương gia) nghe thấy anh Cả (Vương điền chủ) than phiền, anh nhếch mép cười chua chát, anh này có tính nói thẳng không chịu suy nghĩ, không biết lựa lời, anh nói:

– Nếu tôi được dư chút ít là vì tôi ra công chịu khó làm ăn, con cái tôi cũng phải làm, tập buôn tập bán, không có dám đua đòi lụa là, mà tôi cũng chỉ có một vợ.

Anh Cả tuy mấy năm gần đây tính cũng xuề xòa dễ dãi nhưng anh không chịu câu nói khích bác đó, anh biết hắn móc máy xỏ ngọt mình, ruộng nương bán dần bán mòn, bán cả ruộng để cho con đi chơi đú đởn ở ngoài bãi biển. Anh tức đầy ruột, nhịn không nổi anh nói to:

– Hừ, cha phải nuôi con cái chứ sao? Phải rồi, tôi yêu con tôi quá nên đang tuổi thanh niên của chúng nó, tôi cùm hãm, bắt chúng nó tối ngày ngồi sau quầy hàng. Nếu tôi thương cháu nội của cha, dễ thường tôi để chúng chết đói hở? Bổn phận tôi phải nuôi các con tôi … À mà phải rồi, có lẽ tôi không biết bổn phận vì tôi cho nó sung sướng như con nhà quan. Hừ!

Anh không nói được nữa! Đang gào, cơn ho nổi lên; mấy năm nay anh vẫn có chứng ho, mỗi lần lên cơn, đờm kéo lên, anh ho như xé ngực. Ngồi yên được một lúc, anh ngẫm nghĩ vẫn thấy tức, hai con mắt mở tròn xoe, như gắn sâu vào hai chiếc má bánh đúc, cái cổ to núc ních dần dần đỏ ửng. Anh

Hai hơi nhếch mép cười, đôi môi mỏng quẹt xám ngoét, anh biết anh Cả tức lắm vì câu anh nói kháy, anh ngồi yên không nói gì.

Khi công việc vay mượn đã điều đình xong, điều kiện đã được hai bên đồng ý, chấp thuận, anh Hai ngỏ ý muốn lập văn tự vi bằng. Vương hổ tướng nghe nói lập văn tự, văn khế, chàng kêu lên:

– Ô hay! Thế chúng mình không phải anh em ruột thịt hay sao mà còn vẽ làm văn tự?

Vương thương gia khéo vờ vịt, như để chữa:

– À, để ghi cho nhớ, độ này tôi đãng trí, hay quên lắm.

Anh vừa nói vừa đưa cho Vương hổ tướng ngọn bút lông, chàng không thể nào từ chối, phải biên tên vào văn tự.

Anh Hai lại vừa cười vừa nói:

– À quên, chú có đem theo con dấu không nhỉ?

Vương hổ tướng muốn cho xong chuyện kéo ở giây lưng con dấu bằng đá có khắc tên chàng, cầm dấu đóng vào văn tự nợ. Vương thương gia lúc đó mới chịu cầm văn tự, gấp lại nhét cẩn thận vào hầu bao.

Trước những cử chỉ ti tiện, hiềm nghi, Vương hổ tướng tuy có được mãn nguyện những điều chàng ước vọng, chàng nghĩ giận lắm chàng thề nhất định phen này phải mở mang bờ cõi, chàng nghĩ đáng tiếc mấy năm qua bỏ phí quá vì thế bây giờ mới bị tùy thuộc một người anh. Nhưng hiện giờ nhờ có sự cứu trợ, đoàn quân của Vương hổ tướng được bảo toàn, chàng bảo con và bọn vệ binh sửa soạn trở về bản doanh.

Lúc đó đang giữa mùa xuân, nước đã rút, đất đã khô tất cả dân quê nóng lòng chờ có mạ để cấy, họ như đã quên cái rét ghê gớm vừa qua, họ đã quên những người xấu số thiệt mạng, tất cả ngưỡng vọng vào mùa xuân mới.

Vương hổ tướng cũng nóng lòng muốn có sự đổi mới, chàng xin kiếu từ hai anh về bản trại. Hai anh mở tiệc khoản đãi chàng lên đường.

Sau bữa tiệc, chàng vào gian phòng thờ tổ tiên, đốt nến, thắp nhang. Khói hương nghi ngút, chàng kính cẩn làm lễ trước bàn thờ cha, và bảo thằng con theo chàng làm lễ. Ngắm con cử chỉ nghiêm trang, dáng điệu đường hoàng,

nghiêng mình làm lễ khấu đầu, chàng cảm thấy lòng tự hào khoan khoái mãnh liệt.

Ánh nến rung rinh, khói hương thơm ngát, chàng tưởng như tiền nhân ở cả trên bàn thờ chứng kiến thằng cháu họ Vương, chàng cảm thấy như đối với tổ tiên, chàng đã làm tròn nhiệm vụ. Khi làm lễ xong, hương đã hết, hai cha con Vương hổ tướng lên ngựa, cùng bọn tùy tùng thẳng đường về bản trại,

đường đã khô ráo không lụt lội như khi đi.

Nhìn lại thế giới Vũ Khắc Khoan

baotreonline.com

Nguyễn & Bạn Hữu

August 17th, 2024

Post by Sơn râu 25 Jul 2025

Vũ Khắc Khoan 

Mai Thảo và Vũ Khắc Khoan là 2 đại thụ của văn học Miền Nam. Hai người có nhiều điểm chung.

Viết văn, viết tùy bút, làm thơ. Mai Thảo nổi tiếng về những trang tùy bút và thơ. Vũ Khắc Khoan cũng viết tùy bút nhưng xuất sắc nhất là Kịch. Giao Thừa, Thằng Cuội Ngồi Gốc Cây Đa. Thành Cát Tư Hãn… là những vở kịch nổi tiếng của Vũ. Một thời, Vũ Khắc Khoan và Mai Thảo chung lo tạp chí Vấn Đề. Hai người có những điểm chung: kỷ niệm về Hà Nội, cuộc sống nghệ sĩ phóng khoáng, trà rượu… Sau đây, mời các bạn đọc trích đọan bài viết của Mai Thảo về Vũ Khắc Khoan với giọng tùy bút độc đáo, gợi cảm. NGUYỄN & BẠN HỮU

Mai Thảo

Ðó là một cặp vợ chồng nhà văn. Một cặp vợ chồng nhà văn Việt Nam tỵ nạn, từ 7 mùa tuyết, đã định cư yên ổn ở Vạn Hồ. Cặp vợ chồng đó phải lưu vong, vì văn chương tự do và có thái độ nơi xứ sở họ, cũng như trên toàn thế giới,                                                                                                                                     toàn nhân loại, tự cổ chí kim bao giờ cũng là văn chương có kẻ thù. Và người chồng thân thế ở giữa một bàn viết như một ánh lửa tiền trường và một tấm bảng đen, còn là người thày dạy học danh tiếng của cả một thế hệ tuổi trẻ yêu thích văn chương như thày, cũng đã sống với cách mạng, chiến tranh và đổi đời trên một đất nước hoa gấm nhàu nát tan vỡ cuối cùng đều phải ra đi, mà một trò cũ bây giờ là một nhà văn nữ có bài viết cảm động về những giờ học cũ của thày là nhà văn Lê Thị Huệ. Nói thêm cho những người Mỹ ở phi trường kia đang nhìn ngó ông già Á Châu phục sức đơn giản đỏm dáng đó là một Jouvet của Việt Nam có truyền thống hát bội và tuồng chèo tuyệt vời độc đáo. Đó là Vũ, người xưng “Khoan tôi” trong truyện kể cho đời, sáng chế ra thể tùy bút lộng ngôn, người chủ tịch Hội Phật Giáo và Hội Văn Hoá ở tiểu bang các người vừa từ nhiệm. Và đừng “vấn đề” nếu thường gặp Khoan-tôi cùng các người đợi giờ cất cánh. Á Châu đó đã đi, đi cũng khủng khiếp lắm. Triệu triệu người đi. Cả đất nước đi. Cái trái đất chẳng đang chấn động tiếng chân Việt Nam trên mọi nẻo đường? Vũ được đi đã nhất. Người trưởng nữ là nhân viên một hãng hàng không lớn. Ông bố nhà văn tưới cỏ trồng hồng nhàn rỗi được hưởng giá vé người nhà đặc biệt, nên từ 7năm đã là một trong những người bay nhiều nhất ở Hoa Kỳ.

Mỗi lần Vũ Khắc Khoan từ 9441 Blaisdell Ave, South Bloomington, Minnesota điện thoại cho bọn chúng tôi, trước nhất thường cho Hoài Bắc: “Ngày ấy, tao xuống đó”. Bọn chúng tôi đều nhìn nhau cười: “Chắc tuyết nó phủ cho gần chết rồi. Xuống thì xuống làm như đi kinh lý”. Nói vậy, chúng tôi vẫn sửa soạn đón Vũ. Bởi có Vũ là thức đêm, có sinh hoạt, có Jack Daniels khai vị mạnh mẽ buổi chiều, có Hennessy đậm đà buổi tối, có Hồ Trường thắm thiết phẫn uất rót về Đông Phương, rót về Tây Phương, và từ giọt lệ lăn ra nơi câu thơ bôn tẩu thất quốc, đến cái tăm rượu họp bạn sủi lên một nền trời lữ thứ, chúng tôi có Vũ, đã cùng nhau sống lại được rất nhiều điều. Những điều đã xa. Những điều đã mất. Anatole France: “Au milieu du chemin de la vie …” Những điều ở một cuối đường cùng nhau nhìn lại, vừa như một ngậm ngùi vừa như một bâng khuâng vô tả, những điều còn như hơi thở, còn như da thịt mà lung linh hình bóng, sương phủ mênh mông, mưa đổ nhạt nhòa, ở đó mỗi chúng tôi là hình ảnh một người đi qua, cổ áo kéo, lăn vào bóng tối.

Gặp Vũ, chúng tôi cũng thấy lại được cho bạn con người ngày trước, trên cái nền vần vũ chuyển động của những biến động thời thế là lịch sử dồn dập kéo chạy như những đôi cảnh nhậm lẹ của một điều lạ lùng là Vũ tuy chẳng tham dự vào hết thảy lại như gắn liền thân thế vào những biến động ấy… Chẳng tham dự hết. Nhưng đã sống bằng một tâm thức nhà văn thắm thiết gắn chặt. Và đã viết ra từng khúc, từng đoạn có như dĩ vãng chỉ có ở Vũ những điều muốn nhớ, muốn thấy và trước hết là những con người. Con người trên đơn vị cá nhân, đơn vị thân thiết khác thường đặc biệt, con người của một định mệnh khốc liệt trong đơn độc tận cùng, bởi vì trong nhận thức Vũ, những con người làm nên lịch sử thời thế đều là những con người nghệ sĩ. Thành Cát Tư Hãn cũng là một nghệ sĩ. cõi văn, cõi kịch Vũ Khắc Khoan là gì nếu không là một hành lang chân dung nghệ sĩ nhiều thời trên từng địa hạt của tâm hồn và hành động. Đó là Lý Đông A, Trần Tử Anh, Đề Thám trong huyền thoại. Nhất Linh trong thân thế, người bạn chí thân Lê Quang Luật. Đó là anh Trương Chi trên giòng sông của giai tầng ở giữa gã Tú Uyên trong tác phẩm biến tướng, Lưu Nguyễn sau trở về, anh Trời trong Ngộ Nhận.Thảy là những thế sống  những thế sống không tưởng tượng được. Thảy là những thành tựu, vì cái thế sống không thể tưởng tượng được, dầu chung cuộc chỉ là «đốt tranh» là cát bụi, là hư không.

Gặp lại Vũ, trước lò sưởi những tối khuya Minnesota trắng tuyết, 10 ngàn phiến Động Đình Hồ đoán thấy đông lạnh dưới không độ tối đặc, hoặc ngoài một hàng hiên chiều của California tươi nắng, một lũ chúng tôi mà Vũ gọi một cách sắp chết là “đám cụ bạn vàng lác đác” mà Vũ giễu là “giới nghiêm cũng mặc, hẻm nào cũng vô”, đã thật sự tạo lại được một không khí tếu nghịch, đơn giản người nào cũng yêu thích lắm lắm. Vui nhất là thiền sư Nghiêm Xuân Hồng. Và người xưng Khoan tôi trong truyện kể cho đời lại rủ chúng tôi về với hắn. Như một bày Lưu Nguyễn nghịch ngợm.

Trở về Hà Nội trở về Sài Gòn. Trở về những mảnh tôi xưa. Trở về những phiến ta trước. Hồ Tây dưới trăng vàng. Thiếu thời ấy là một Tây Hồ lồng lộng. Thu Thuỷ công trường thiên nhất sắc. Cổ Ngư đêm mùa hè. Trúc Bạch màu cốm đậm. Cái tên học trò ngỗ ngược, tối ngày đập lộn của trường tiểu học Sinh Từ (Ngay từ đó đã: tao đánh thằng đó một cái chết). Đêm kịch Nhà Hát Lớn,nửa đêm truyền hịch đợi ngày viễn chinh. Đoản kịch đầu tay Trường Ca Mông Cổ, bản viết làm nền cho sau này Thành Cát Tư Hãn. Chiếc xe đạp ì ạch trên dốc Hàng Than, trên đó Vũ trẻ măng ngót 40 năm xưa tôi chạm mặt lần đầu. Và những nơi chốn: cái ngõ Hàng Bạc, đêm đêm Vũ Trọng Phụng, Trương Tửu đi ra, cái tiệm phở Trường Ca, tảng sáng nào cũng Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Tuân mò tới. Và những ảnh hình muôn thuở của Hà Nội chưa tiều tụy đỏ: Ánh lửa khuya dưới vòm Ô Quan Chưởng, con đường Quan Thánh và những chuyến xe điện thời sinh viên Vũ Khắc Khoan ở đó, những tà áo thiếu nữ Hàng Ngang, Hàng Đào, cái núi rác sau chợ Đồng Xuân, màu đỏ ké cây cầu Thê Húc. Và những tiếng động: gió Hồng Hà mùa nước lũ, tiếng còi tàu Long Biên, bom Nhật trên Gia Lâm, đạn lạc ở Phố Huế, chiến xa Pháp kéo về Hải Phòng, lựu đạn nổ trước trụ sở Quốc Dân Đảng, tiếng tỳ bà Ngã Tư Sở đìu hiu lau lách, tiếng phách Khâm Thiên.

Rồi Sàigòn. Tây Hồ bỏ lại, Trúc Bạch chia tay, trường Đại Học “cửa đóng thềm rêu, lớp nhớ nhung”, Điện Biên Phủ bàng hoàng, những chiếc tàu há mồm của di cư một triệu .

Chúng tôi cùng vào Nam và với Vũ làm tờ Tự Do, diễn đàn đầu tiên của Bắc Hà mới tới, Như Phong, Mặc Thu, bây giờ mới bị cầm tù ở quê nhà, Đinh Hùng đã mất. Nhóm Quan Điểm thành hình trên đất đứng của trí thức giai tầng ở giữa, bích chương dính đầy các thân cây quận Nhất: tờ báo dám nói sự thật, số ra mắt quá khích đòi mỗi tuần chặt một đầu người. Chúng tôi chia thành hai nhóm. Sáng Tạo riễu Quan Điểm đám con quan đòi làm cách mạng đổi thay thế giới. Quan Điểm cợt Sáng Tạo, lũ trẻ ngông cuồng, mỗi thằng một đôi giầy da đen. Thời kỳ đó là «những ngày vui» như một tựa đề truyện ngắn Khái Hưng, hai tòa soạn này chạy qua chạy lại trên cùng một khúc đường Phạm Ngũ Lão, tuyển tập thơ văn Đất Đứng đầu tiên do Mặc Thu thực hiện và người đạo diễn Vũ Khắc Khoan, áo vắt vai, những đêm tập dượt Thành Cát Tư Hãn trên sân khấu trường Quốc Gia Âm Nhạc. Trời Sàigòn đầy sao, dưới đó văn nghệ sống, đêm Sàigòn dịu dàng với nó văn nghệ thức, một ông sáng sao hai ông sao sáng, những bữa ăn trưa ở nhà Thanh Nam, chúng tôi bắt chước Thâm Tâm đập hết ly tách trên tường, những bữa ăn đêm trước rạp hát Kim Chung gây sự với cảnh sát, những khuya say kéo về Gác Mây Vũ Hoàng Chương, quây quần ở Gác Khói Đinh Hùng, ký bông tháng ở nhà hàng Hải Biên, chờ “bắt” tiền trước bàn giấy Khai Trí.

Vũ với chúng tôi có thật nhiều thời kỳ. Một thời kỳ, một hình thái sinh hoạt chủ nghĩa, bằng ấy thời kỳ nối liền bằng những họp mặt say. Tờ Vấn Đề, hắn “cho” Thanh Tâm Tuyền, Thái Tuấn rồi tôi thay phiên chủ bút, những buổi trưa trong Đại Học Vạn Hạnh, nơi tá túc của hai đấng thiên tài kình chống Phạm Công Thiện và Bùi Giáng, bấy giờ Phạm Thiên Thư mới là một chú tiểu quê mùa rụt rè tới xin đăng bài tùy bút đầu tay. Thời kỳ Vũ mỗi tuần đi máy bay lên dạy học ở Đại Học Đà Lạt, cứ khăn quàng cổ đỏ phơ phất ở phi trường Liên Khàng, ngôi nhà nhỏ trên đồi nhìn xuống mặt nước Hồ Xuân Hương, đêm hắn dựng trên một sân khấu lộ thiên rét cóng vở Quan Âm Thị Kính, Thanh Tâm Tuyền bấm  tôi kéo nhau lỉnh ra phố chợ uống rượu, sáng hôm sau nhà soạn kịch cho mỗi thằng chúng tôi một trận nên thân.

Sang tới Hoa Kỳ, mỗi kẻ một phương trời, một ông sao sáng hai ông sáng sao lẻ loi từng phiến trời lưu đày, chẳng còn có được với nhau ngày ngày những đêm vui như ở Sàigòn ngày trước

Chẳng còn giới nghiêm cũng mặc, hẻm nào cũng vô. Say rượu gây sự với cảnh sát Mỹ cũng phiền lắm, đại hãn cũng không dám nữa. Vũ cũng đã 70 tuổi. Những sợi tóc bạc. Tửu lượng phải giới hạn. Cái chân chớm tê thấp làm đau mỗi đổi mùa. Thơ, ngày trước là lên yên, lên đường ta say giữa trận tiền, người chớ cười. Thơ bây giờ: Dăm cụ bạn lác đác Mỗi năm tuổi hạc một cao.

Tâm thức cũng đã thay đổi. Nhìn thấy rừng phong thay lá mùa thu một mình, hư không đã là, hơi gió nửa khuya, cuộc đời hình bóng. Bây giờ là một Vũ hiền, giai tầng ở giữa đã trả lại cách mạng và thời thế cho những giai tầng khác, thôi mỗi tuần đòi chặt một đầu người, thôi tao đánh một cái nó chết. Thôi. Lâu rồi. Thôi. Đã 10 năm thôi.

Từ đứa cháu ngoại đầu, sáng sáng ra gọi ông ngoại bằng Khoan ơi. Từ Cộng Sản đốt sách Quan Điểm ở quê nhà. Từ bỏ nước ra đi, từ Lê Quang Luật mất. Những ồn động của thời thế bỏ lại cho cái bên kia một triền núi ồn động. Ánh mặt trời đã ngả về Tây là ở cái hướng khác những mặt trời lê . Vũ , 70, bạn hữu nhìn thấy ở Minnesota mùa tuyết 81, ở Cali mùa nắng 82, đúng là một mặt trời hiền, một ông chủ tịch văn hóa hiền, một ông chủ tịch Phật Giáo hiền, một tiểu đồ hiền, một ông ngoại hiền. Chuyển dáng của Vũ đi vào tuổi già đã là một chuyển dáng đẹp. Của một chuyển cảnh đẹp. Tiền trường bây giờ thôi là cát bay gió chạy, người ngựa ngập trời, thế sống chất nổ. Cánh cửa sổ sấm chớp của Lôi Vũ đã khép lại. Phồn Y đã ngủ yên. Tiền Trường bây giờ là một buổi chiều buồn rộng lớn, grande pour les êtres est la tristesse du soir, michelet, một con đường quê, một cánh đồng cỏ trong tranh Cezanne, những hoa tuyết dịu dàng, những cảnh du hiền triết. Buổi sáng. Jean Gabin lặng lẽ thức giấc, mùa đông dài, ly cà phê sớm, mặt bàn viết chụp đèn còn sáng xuống một trang lộng ngôn viết dở đêm qua. Lộng ngôn tôi, lộng ngôn bạn, lộng ngôn đời, tất cả êm đềm thỏa thuận. Những thế sống không thể tưởng tượng được, thôi hãy xếp vào lũ tượng gỗ ở với Những Người Không Chịu Chết, cho người thiếu nữ tên Thu cũng được biết đến hạnh phúc ở đời. Buổi chiều, ngôi nhà Bloomington tối xuống. Đêm nay tuyết đổ nhiều, hàn thử biểu không độ. Hâm nóng một chút rượu, Jean Gabin nhìn lửa. Kịch ở trong tâm, cái tâm đã yên. Tuyết rơi cứ rơi cành du ấm áp.

A mà bọn chúng đang làm gì ở bên Cali kìa. Chúng đang uống rượu, thiếu ta sao được. Tuyết Đông Bắc mùa này vẫn chưa chôn vùi được đại hãn. Và những người Mỹ hồng hào no ấm buổi sáng hôm sau lại nhìn thấy cặp vợ chồng Á Châu lành hiền giữa họ, trong một phòng đợi, tường gương sáng láng, chờ giờ bay lên .

MT

Cõi riêng Trần Kiêu Bạt

baotreonline.com

Nguyễn & Bạn Hữu

June 21st, 2025

Post by Sơn râu 25 Jul 2025

Trong cõi văn chương, có những tình bạn thật đẹp. Như tình bạn gắn bó giữa hai nhà thơ đồng thời là chiến hữu -Trần Văn Sơn và Trần Kiêu Bạt. Chung quanh họ còn có những nhà văn nhà thơ khác. Hôm nay, Nguyễn tôi muốn mời các bạn cùng đi vào cõi văn chương và tình bạn của một thời. NGUYỄN & BẠN HỮU

Trần Văn Sơn

Trước năm 1975 tôi chưa hề gặp Trần Kiêu Bạt, chỉ biết tên nhau qua thơ văn đăng rải rác trên các tạp chí văn nghệ tại Sàigòn. Bạn quân cảnh Cần Thơ, tôi lính trận đóng quân ở tiền đồn heo hút quận Tánh Linh, Bình Tuy, giáp ranh tỉnh Lâm Đồng. Năm 1972, nhà xuất bản Khai Phá của nhà thơ Ngô Nguyên Nghiễm ấn hành tập thơ Vườn Dĩ Vãng của tôi, có giới thiệu in thơ của Trần Kiêu Bạt. Chờ mãi không thấy, có lẽ bạn tôi đang bận coi tù ở Côn Đảo, cách xa đất liền nên không tiện liên lạc để xúc tiến công việc như dự định.

Cuối tháng 10 năm 1993 gia đình tôi qua Mỹ theo diện H.O. Hà Thúc Sinh đưa Trần Kiêu Bạt đến thăm tôi. Đó lần đầu tiên tôi và Bạt gặp mặt nhau. Nhà hai bạn gần nhau, cách một con đường ở thành phố Alhambra, nhà tôi thì ở El Monte thuộc quận Los Angeles cách nhau 15 phút lái xe. Từ đó cứ mỗi cuối tuần, nửa tháng hoặc có tiệc vui 3 gia đình bọn tôi họp mặt, bạn bè con cái vui vẻ càng ngày càng thắt chặt thêm tình thân. Khề khà bên ly rượu 3 đứa tôi bàn chuyện thế sự, nhắc chuyện quê nhà, chuyện bạn bè người mất người còn, kẻ lưu lạc xứ người. Những lúc như vậy Phạm Nhã Dự, Trần Phù Thế ở các tiểu bang khác xa tận miền Đông Hoa Kỳ cũng thường gọi điện thoại góp chuyện.

Trần Kiêu Bạt ngâm thơ rất hay, giọng sang sảng cuốn hút người nghe. Khi ngà ngà say yêu cầu mãi anh mới ngâm vài bài thơ đắc ý của bạn. Hành Phương Nam, một tuyệt tác của nhà thơ Nguyễn Bính được bạn ngâm nhiều nhất:

…Đôi ta lưu lạc phương Nam này

Trải mấy mùa qua én nhạn bay

Xuân đến khắp trời hoa rượu nở

Mà ta với người buồn vậy thay

Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu

Mà không uống cạn mà không say

Lời thề buổi ấy cầu Tư mã

Mà áo khinh cừu không ai may…

“Mà ta với người buồn vậy thay”. Bạn vừa ngâm vừa nghẹn ngào rơi nước mắt, ngâm xong uống cạn ly bia, ôm đầu gục mặt khóc. Nỗi lòng của bạn, của tôi, của những người tị nạn sống trên đất tạm dung này đều như nhau. Nỗi buồn mất nước. Niềm đau của cả một dân tộc. “Vui là vui gượng kẻo mà”. Vui chỉ thoáng qua còn buồn thì vạn cổ. “Lời thề buổi ấy cầu Tư mã”. Biết đâu…sẽ có một ngày…

Trần Kiêu Bạt tính bộc trực, hào sảng, phóng khoáng, dám sống chết với bạn bè. Hà Thúc Sinh thì bệnh hoạn triền miên vì hậu quả của những trận đòn thù trong các trại tù cộng sản. Hai khớp xương háng mục rệu được tháp lại bằng hai thanh inox. Anh em văn nghệ tặng anh biệt hiệu là “trung tâm y tế toàn khoa”. Mỗi lần trái gió trở trời, bệnh nặng hay nhẹ, Hà Thúc Sinh ới lên một tiếng là Trần Kiêu Bạt đến cạo gió, đấm lưng, bóp tay chân… Vợ tôi vốn ốm yếu, nhỏ con, cân nặng chưa đầy 80 pound, qua Mỹ mấy ngày đã lao vào may vá, làm mỗi ngày trên 14 giờ, có khi còn thức trắng đêm. Một vài lần bị xỉu ngay trên bàn máy may. Nhà không có ai, các con đi học, tôi lo sợ cuống cuồng gần như tuyệt vọng, chính Trần Kiêu Bạt đã chạy đến chở vợ tôi đi nhà thương cấp cứu.

Không những chỉ với gia đình tôi, gia đình Hà Thúc Sinh mà với tất cả mọi người, quen thân hay sơ, nếu cần bạn tôi có mặt ngay, giúp đỡ tận tình, kể cả tiền bạc. Bạn thường tâm sự với tôi: “Mình qua Mỹ trắng tay, nay thêm một lần trắng tay nữa thì có sao đâu”. Con người của Trần Kiêu Bạt là như thế. Tấm lòng nhân hậu của bạn tôi thể hiện qua sự chí thành, chí tình với tha nhân. Cung cách sống ấy khó có ai bì được. Hà Thúc Sinh thường giục chúng tôi in thơ. Trần Kiêu Bạt ậm ừ cho qua chuyện. Làm sao in thơ được hở bạn hiền? Tôi tù cộng sản 9 năm, ra tù trốn trình diện, sống chui rúc bữa đói bữa no, tìm đường vượt biên. Thân tàn sức kiệt, lo chuyện cơm áo chưa xong thì đầu óc đâu nghĩ đến văn chương chữ nghĩa. Tôi có làm một số bài thơ, học thuộc và giấu trong đầu. Thơ Tù. Thơ Đời. Thơ cho vợ con, bè bạn. Thơ cho tôi nhìn lại tôi, nghiền ngẫm về người, về đời, về một thời khốn nhục đã qua:

Đã lâu rồi ba không làm thơ nữa

bởi vì ba không nhìn thấy ba đâu

là chiếc bóng bên trời hiu quạnh

ba dật dờ như xác lá nổi trôi

Trong cuộc sống ba không là gì cả

trong gia đình ba là kẻ mộng du

nhìn bốn phía thấy mặt trời mọc khắp

nhưng mặt trời đâu phải của riêng ba

Con đừng hỏi tại sao ba im lặng

có điều gì đáng để nói đâu con

ba đã uống đắng cay trong men rượu

giết đời ba và giết cả đời con

Tình thân, sự gắn bó giữa 3 gia đình tưởng không thể rời xa. Vậy mà sau đó Hà Thúc Sinh bỏ Cali qua Charlotte với Vũ Uyên Giang, Trần Kiêu Bạt sang Arizona. Mỗi lần ra đi đều có tiệc tiễn đưa. Tửu lượng Trần Kiêu Bạt vào hạng cừ khôi, bạn chấp tôi một bạn hai chai bia, Hà Thúc Sinh thì nhấp nháp cầm chừng. Tivi mới mua. Tủ lạnh mới mua. Sopha mới mua…hai bạn năn nỉ giao cho tôi giữ giùm gọi là để nhớ nhau. Làm sao tôi có thể nhận được? Gần 40 năm thân nhau như anh em ruột thịt, vừa là bạn văn nghệ vừa là tình chiến hữu, tôi nghèo, bạn nghèo, song chúng ta bao giờ cũng bảo vệ cho đến hơi thở cuối cùng danh dự của người lính, khí tiết của kẻ sĩ; dù bị hành hạ, tra tấn trong ngục tù CS hoặc bị nhận chìm dưới đáy địa ngục CS.

Xa nhau chúng tôi vẫn thường xuyên nhận được tin nhau. Một hôm, vào khoảng 4 giờ sáng điện thoại reo vang, bên kia đầu dây Phạm Nhã Dự báo tin động trời: “Trần Kiêu Bạt chết rồi mày biết không, mày có biết không?”. Tôi không tin ở tai mình, hỏi gặng: Mày nói gì, nói lớn lên, Trần Kiêu Bạt làm sao, làm sao?”. Đúng rồi, bạn tôi, nhà thơ tốt bụng ấy đã chết năm 2005 trong một tai nạn xe cộ vào lúc nửa đêm. Tôi chết điếng người, tự nhiên mệt muốn tắt thở.

Hà Thúc Sinh lúc đó bệnh nặng, tôi xe cộ không có, lại quá gấp rút nên không có mặt tiễn bạn đến nơi an nghỉ cuối cùng, đành phải gởi vòng hoa phúng điếu.

Năm sau, vợ chồng tôi đi Arizona mang chút quà mừng 2 cháu Đường Thi, Đường Vân ra trường, thắp nén hương, đọc bài thơ khóc Trần Kiêu Bạt và đặt bài thơ trên bàn thờ bạn cùng bài thơ của Trần Phù Thế.

Hơn 3 năm nay, kể từ ngày bạn xa người xa đời, hình ảnh bạn vẫn còn ẩn hiện trong tâm trí tôi và sẽ còn mãi mãi… Tấm lòng nhân hậu của bạn. Cách thế sống của bạn. Tôi không tin là bạn đã vĩnh viễn ra đi mà bạn đang rong chơi một nơi nào đó an nhiên và thơ mộng hơn: Cõi Riêng Trần Kiêu Bạt.

TVS – Nguồn: trang Art2all.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 25 Jul 2025

81. Thu Hồ

Ông đã lấy tên mình, viết ngược, làm bút hiệu. Tên thật ông là Hồ Thu. Ông vừa mất tại Hoa Kỳ, thọ 81 tuổi. Đối với những người, ở trong khoảng tuổi 70, 80, hẳn rất nhiều người còn nhớ tới ông cùng với những tiếng hát lừng danh một thời như Mạnh Phát, Minh Diệu, Minh Tần, Mộc Lan, Châu Kỳ … ban Thần Kinh Nhạc Đoàn trên đài phát thanh Huế, rồi các chương trình tân nhạc của đài Pháp Á, Đài Sài Gòn sau đó.

Công bằng mà nói, ông không phải là người hát hay nhất thời bấy giờ, người ta vẫn nhớ tới ông với tư cách một ca sĩ, và nhất là, như một người quen biết cũ, dù chưa hề có dịp gặp nhau, nhưng đã cùng chia sẻ một quãng đời, một giai đoạn lịch sử đầy những biến động tang thương. Đó cũng là khả năng mầu nhiệm của nghệ thuật: nó có thể làm nên sự thân thiết giữa nhữnng người không quen biết nhau. Khi người ta nghe thấy tiếng hát của Thu Hồ, nghe thấy những ca khúc như Tiếng Sáo Rừng Chiều, Tiếng Sáo Chiều Quê, Sầu Ly Biệt, Quê Mẹ của ông, thì cả đất nước đã chìm ngập trong chiến tranh. Cuộc chiến tranh kéo dài, càng ngày càng thê thảm. Thu Hồ đã ngừng hát trước ngày 30 tháng 4/75 khá lâu rồi, nhưng các sáng tác của ông vẫn được các ca sĩ, có lẽ đến hai ba thế hệ sau ông, tiếp tục hát, nên  không có sự gián đoạn nào giữa ông và các thính giả của ông. Gần đây, vào những ngày lễ trọng, các cơ quan truyền thông thường có khuynh hướng thực hiện các chương trình đặc biệt, gọi là “chủ đề”: Ngày Mẹ chẳng hạn. Và, nếu có một chương trình như vậy, thế nào cũng có bản Quê Mẹ của Thu Hồ. Điều ấy chứng tỏ Quê Mẹ của Thu Hồ được coi là một trong những ca khúc viết về Mẹ hay nhất của nhạc Việt Nam.

Quê Mẹ

Đêm khuya trăng mơ

Mắt trông về trong cõi xa mờ

Nơi xa xăm kia

Tôi say tìm quê cũ dấu yêu

Ôi tình quê hương

Nơi chốn xưa có bà mẹ hiền

Tóc màu hoa bạc

Chiều chiều mắt ngấn lệ vì con

Ra đi con dâng đời cho gió mưa

Quê người ngồi nhớ đến ngày vui qua

Gió chiều thầm nhắc khúc ca biệt ly

Cố nhìn quê cũ lẫn trong sương mờ

Me ơi! Ra đi đời con sá chi

Mơ ngày ngồi dưới ánh đèn lâm ly

Bên mẹ thường hát khúc ca ngày đi

Ai ngờ rồi cũng đến lúc phân ly

Mẹ ơi! Mẹ ơi! Mẹ ơi!

Phần lớn thính giả, những người không quen biết ông, đều ngỡ Thu Hồ là người miền Nam. Sự thực ông sinh trưởng tại miền Trung, tỉnh Thừa Thiên. Ông từng làm trưởng ga xe lửa Dầu Giây. Như thế, trong giới văn nghệ của

chúng ta, trước Thu Hồ, hình như đã có tới hai người nữa làm trưởng ga xe lửa là Vũ Hoàng Chương và Xuân Diệu thì phải. Thiết lộ có chút liên quan gì với con đường nghệ thuật chăng?

Ngoài hát, sáng tác nhạc, Thu Hồ còn làm thơ, soạn nhiều kịch bản đóng kịch và dạy nhạc tại một số Trung Học Tư Thục nổi tiếng ở Sài Gòn như Nguyễn Bá Tòng, Thánh Thomas, Thiên Phước …

Ông đã cho xuất bản tập thơ Ánh Bình Minh. Nhưng thi phẩm này ít được nhắc đến.

Sau biến cố 30 tháng 4/75, Thu Hồ còn ở lại Việt Nam cho tới 1999 mới được con gái là Mỹ Hà, cựu xướng ngôn viên Anh ngữ của Đài Phát Thanh Sài Gòn, bảo lãnh qua Mỹ. Tin ông qua đời tại xứ sở xa xôi này, khiến người ta không khỏi ngậm ngùi nghĩ tới số phận chung của tất cả những người Việt, hiện đang lưu lạc tại các xứ người, xen lẫn trong nỗi niềm thương tiếc ông. Ôi cái đất nước, người ta xa nhau cũng buồn, thấy lại nhau cũng buồn!

Sao vậy hở Trời?

Sau đây là bản Khúc Ca Đồng Tháp của Thu Hồ, sáng tác khoảng năm 1954, Trọng Danh viết lời:

Đây Tháp Mười phương Nam tôi thân yêu

Sóng lúa vờn vờn trong ánh nắng chiều

Vang tiếng chày khắp chốn cô liêu

Đây Tháp Mười mênh mông này quanh năm

Có những mùa trồng dâu ta chăm tằm

Có những mùa trồng dâu hay hái cà

Tháp Mười ơi!

Đây miền Nam

Say tự do

Vui bình an

Hò hò hò ơi!

Ai vô Đồng Tháp mà nghe

Có chiều [chiều] về em bé

Em bé hát vè … về mà chơi

Đồng xanh xanh ngát chân trời

Ơ ơời … ờ ơ ờ ờ ơi!

Hò ơi!

Quanh năm đồng lúa phì nhiêu

Lúa nhiều

Nuôi dân no ấm tang tình tình tình tang

Ai đi xin nhớ xóm làng

Quanh năm cày cấy cho nhà

Nhà Việt Nam

Đây Tháp Mười phương Nam tôi thân yêu

Vang tiếng hò hòa trong những tiếng cười

Vui cấy cầy khắp chốn nơi nơi

Như luyến tình yêu anh xa xôi

Trong lúa vàng nàng thôn nữ tươi cười

Vui xóm làng hò ơi ta yêu đời

Tháp Mười ơi!

Vui xóm làng hò ơi ta yêu đời

Tháp Mười ơi!

Qua những ca khúc đã được phổ biến, người ta thấy, Thu Hồ cũng là một người nặng lòng với quê hương. Nói chung, hầu hết các nhạc sĩ của chúng ta, ai cũng dành ít nhất một đôi dòng nói về quê hương. Nghe riết người ta sẽ nhận ra cái điều buồn bã này: quê hương trong nhạc của chúng ta, và cả trên thực tế, hình như chỉ còn là nơi để tưởng nhớ chứ không còn là nơi để sống nữa.

Và, lòng thương nhớ của mọi người đối với quê hương, nhất là những kẻ luân lạc tha phương, [như chúng ta] thật sự, sẽ mỗi ngày một tăng lên hay mờ nhạt thêm đi?

Như Quỳnh

Mai Thiên Vân

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 25 Jul 2025

80. Thẩm Oánh.

Thẩm Oánh là một nhạc sĩ tiền phong đã góp phần quan trọng xây dựng nên nền tân nhạc của chúng ta.

Vào cái thời các thanh niên nam  nữ Việt Nam còn phải hát những bài hát Tây, hoặc lấy nhạc Tây viết lời Việt để hát, Thẩm Oánh đã cùng một số nhạc sĩ Việt Nam như Nguyễn Xuân Khoát, Dương Thiệu Tước, Dzoãn Mẫn, Đặng Thế Phong … tung ra những bài hát đầu tiên hoàn toàn Việt Nam, nghĩa là cả nhạc lẫn lời đều do người Việt Nam viết. Bài Tiếng Khóc Trong Phòng The của Thẩm Oánh được viết ra vào thời ấy:

Tiếng khóc trong phòng the

Vấn vít tơ lòng se

Tình hờ than khóc chi

Nát lòng người bước đi

Ca khúc này, không biết thân nhân của ông còn ai giữ được không, chứ sau giai đoạn đầu tiên đó, không thấy ông cho hát lại bao giờ. Ngoài sáng tác, ông còn chơi đàn, dạy nhạc, diễn thuyết cổ võ cho nhạc mới, ra báo Việt Nhạc, làm giám đốc Đài Phát Thanh Hà Nội và giữ nhiều chức vụ chỉ huy khác tại đài phát thanh Sài Gòn sau 1954. Và làm công việc nào, ông cũng hướng mọi nỗ lực vào mục đích truyền bá, phát triển nhạc Việt.

Dù hoạt động tích cực như vậy, nhưng sáng tác vẫn giữ vai trò chính trong sự nghiệp của ông. Có thể nói, Thẩm Oánh là một trong những nhạc sĩ có sức sáng tác phong phú nhất của chúng ta. Ông viết đủ loại nhạc: tình ca, truyện ca, hùng ca, ái quốc ca, nhạc kịch. Vở nhạc kịch Quán Giang Hồ của ông đã được giàn dựng trên các sân khấu và phát nhiều lần trên các đài phát thanh trong nước. Và nói đến nhạc Thẩm Oánh cũng không thể không nhắc tới Ngọc Bảo, người đã hát thành công rất nhiều nhạc của Thẩm Oánh: Nhớ Nhung, Thiếu Phụ Nam Xương, Chiều Tưởng Nhớ, Chim Gió Tha Phương, Gươm Thần, Tôi Bán Đường Tơ, Cô Hàng Hoa, Nhà Việt Nam, Nhạc Thu, Nhà Nông …

Nhà Việt Nam

Nam Bắc Trung sáng trưng Á Đông

Bốn nghìn năm đó

Văn hoá xây đắp bao kỳ công

Người Việt Nam cân quắc bao anh hùng

Từng phen nức danh dưới trời Á Đông

Ai ơi đừng phân chia Nam Bắc Trung

Một nhà Việt Nam

Nam Bắc Trung chung dòng …

Bài Người Trai Việt Nhớ Chăng của ông, có những lời ca thiết tha mà một người không thật sự nặng lòng với đất nước không thể viết ra được:

Anh nhớ chăng

Hỡi người trai Việt quật cường

Rằng nước anh có bốn ngàn năm văn hiến

Anh nhớ chăng máu anh hùng ở nơi anh

Muôn đời còn ghi dòng liệt oanh

Có biết bao thời nguy biến

Người trai vẫn bền lòng

Anh dũng xây đắp nhà Nam

Cao ngất trong trời Đông

Các ca khúc khác của Thẩm Oánh đôi khi cho người nghe cảm tưởng ông còn là một nhà thơ tượng trưng nữa. Không phải chỉ vì ca từ của ông, mà ngay nhạc của ông, giai điệu của ông, qua những bài như Tòa Miếu Cổ cũng cho người nghe cảm tưởng ấy. Cái trúc trắc, những quãng cách [intervale] rất khó dùng, và do đó cũng rất khó hát, đã được ông sử dụng một cách khéo léo làm cho chúng trở nên tự nhiên trong chính cái vẻ công kỹ của nó:

Lòng tôi đấy giống một toà miếu cổ

Người có thương tôi đâu dám nhờ xây

Người có thương xin nhè nhẹ gót giầy

Kẻo thềm nát mái xiêu tường cột đổ

Người có thương ban giúp một bài thơ

Nhưng có đề xin nhè nhẹ tay hoa

Tường cột đổ còn e dè vỡ lở

Thẩm Oánh cũng là người rất yêu thiên nhiên. Trong tứ đại cảnh của chúng ta, ông đã có bài ca ngợi tới ba mùa: Xuân Về, Chiều Hè, Nhạc Thu. Sao ông lại không nói gì về mùa đông nhỉ?

Thẩm Oánh cũng là một trong những nhạc sĩ viết lời ca hay của chúng ta. Ông dùng được cả những chữ đến bây giờ vẫn có thể coi là mới lạ:

Xuân về rồi muôn đóa hoa đào tươi

Cười trong ‘nắng ánh trăng’

Lời ca của bản “Chiều Hè” có cái đẹp của một bài thơ Đường:

Chiều hè vương nắng tà

Làn mây vẩn vơ thấp cao trời xa

Cây đứng in ven hồ

‘Mệt trong nắng say ánh vàng tơ

Con thuyền lẳng lơ

Mang tình vu vơ

Đi đón duyên mơ

Hình thoi soi bóng hồ

Gió xô, ngấn nhòa

Chữ “mệt” ông dùng ở đây không “đắt” sao? Nhớ Nhung, Chiều Tưởng Nhớ, Cô Hàng Hoa của Thẩm Oánh là những tình khúc thanh niên Hà Nội một thời thuộc lòng. Người ta yêu nhau và nhạc Thẩm Oánh nuôi dài thêm những tình yêu ấy. Cả sau này nữa, khi đầu đã bạc, người ta vẫn cón nhớ và thầm cảm ơn ông.

Thiếu Phụ Nam Xương

Ai đời còn nhớ chăng?

Xóm Nam Xương có một nàng

Lòng trinh muôn đời muôn kiếp

Mang xuống tuyền đài, cam ức ôm hờn

Ôi đến bao tan

Từ chồng ra đi chiến tranh phân kỳ

Rầu rầu chiếc thân tàn canh soi bóng

Ôm con nhớ thương ngập lòng

Chờ ngày khang thái tái lai

rực hồng ánh xuân

Con thơ hằng đêm hoài kêu nhớ cha

Khi ánh đăng soi mờ bóng nhòa

Chỉ bóng tường dụ dỗ dối con thơ

Rằng đây chính cha

đêm tối đã về cùng con

Rồi từ đó ánh đèn tàn đêm

Hình nàng in trên vách tường

Con rỡn đùa nô bóng cha rộn ràng

Nào ngờ đâu vì đó ly tan

Người cha sau ít lâu hồi hương

Một sớm quang vinh chim ngàn kêu đàn

Mừng mừng, tủi tủi, mang mang

Nàng bế con ra: “Đây bố đã về cùng con”

Thằng bé kêu rằng: “Không, không

Bố tôi đêm tối mới về

Không, không bố tôi đêm tối mới về

Không, không bố tôi đêm tối mới về!”

Ôi đau thương!

Ôi nghi oan!

Đau đớn cho nhau chua xót cho nhau

Chim thương lìa đàn

Ôi đau thương!

Ôi ly tan!

Cuồng ghen sôi máu phũ phàng

Dày đạp nát tan!

Trời thấu cho lòng thiếp chăng?

Trinh chuyên mang oan phụ chàng

Xin đem thân như hoa tàn trôi đi

Trôi xuôi trôi khuất

với nước dòng Hoàng giang

Bóng đêm tàn đèn khêu u uất

Chàng bồng con thơ in bóng lên tường

Thằng bé vui mừng kêu: “Đây! Đây!

Bóng cha đêm tối đã về

Đây đây bóng cha đêm tối đã về

Đây đây bóng cha đêm tối đã về!”.

Ôi đau thương!

Ôi ly tan!

Đau đớn cho nhau chua xót cho nhau

Chim thương lìa đàn

Ôi đau thương!

Ôi nghi oan!

Cuồng ghen sôi máu lỡ rồi

Tình đã nát tan

Bồng con đứng trông theo dòng

Hoàng giang

Tình oan ngập mây u ám

Muôn năm mối hờn tan nơi cửu tuyền

Cho đời còn nhớ quên

Mai Hương