vietmessenger.com
Pearl S. Buck
Nguyễn Thế Vinh dịch
(Tái bản)
Post by Sơn râu 26 Jul 2025

Chương 25
Trong cuộc lữ hành, Vương hổ tướng nghĩ cho con đi theo là dại nhưng thực ra chàng không dám để con ở lại sợ có bọn người nào nham hiểm có ác ý gì chăng. Cho con về nhà các anh chơi, chàng băn khoăn, lo lắng không kém gì lo về tính mệnh con. Chàng sợ thằng nhỏ yếm nhiễm tính ươn hèn ủy mị của tụi trẻ con các anh, tính so kè, đê tiện, tham lam về tiền bạc của hạng con buôn. Chàng ra lệnh cho anh lính sứt môi không được rời con chàng một bước, chàng chỉ định mười anh lính già đã mãn, ngày đêm phải túc trực trông nom cậu nhỏ. Chàng dặn con phải đem sách ra học như khi ở nhà.
Chàng lưỡng lự chưa dám bảo con: “Chỗ nào có đàn bà, con gái không nên lai vãng đến” chàng không hiểu thằng nhỏ đã có những ý nghĩ về chuyện đàn bà chưa. Trong những năm chàng để con sống bên cạnh chàng ở trong tư thất, không có bóng dáng một người đàn bà, con hầu, con ở … ngoài mẹ và chị, thằng nhỏ tuyệt nhiên không biết một người đàn bà nào khác. Mấy năm gần đây sự thăm nom của mẹ cũng thưa thớt, mỗi lần cậu đến thăm mẹ cũng có vệ sĩ đi kèm theo. Chàng dùng những phương pháp độc đoán đó để bảo vệ con, cho sống riêng biệt, chàng có lòng đố kỵ muốn độc quyền sở hữu đứa con, khác nào như bọn đàn ông có máu ghen không muốn ai được dòm ngó, xâm phạm đến vợ mình. Mặc dù trong thâm tâm có sự lo ngại e dè, Vương hổ tướng cũng cảm thấy sung sướng hãnh diện lúc chàng cưỡi ngựa đến nhà anh, có thằng con cũng cưỡi ngựa đi sát bên mình. Chàng có ngông ý bảo thợ may cắt cho con một bộ quần áo đúng như của chàng, cũng cái áo bằng vải ngoại quốc có khuy đồng to, cũng gù vai, cũng đội chiếc mũ như chàng trên có gắn phù hiệu. Năm cậu nhỏ mười bốn tuổi, nhân ngày sinh nhật con, chàng cho người sang Mông Cổ sắm hai con ngựa giống nhau như hệt, chỉ khác một con lớn, một con nhỏ, hai con ngựa rất khỏe, cùng một màu da hung hung đỏ, cùng một thứ mắt trắng và lanh. Khi hai cha con đi ngoài phố, thiên hạ đứng lại ngắm xem, chàng thấy lời tán
thưởng của dân chúng, nghe rất mê ly như một bản đàn gảy bên tai:
– Kìa nhìn coi một vị lãnh chúa già, một vị lãnh chúa nhỏ sao mà giống nhau thế kia, khác nào như hai chiếc răng cửa.
Hai cha con chàng đến cổng nhà anh Cả, cậu nhỏ nhảy xuống ngựa cùng một lúc với cha, cùng một cử chỉ như cha, cũng đưa tay lên chuôi kiếm, cũng dáng điệu uy nghi lẫm liệt đi bên cạnh cha, cậu không ngờ cậu lại có thể giống cha như đúc, khác nào như bóng với hình.
Hai anh niềm nở đón tiếp chàng, các cháu nghe tin chú về lần lượt kéo nhau đến chào. Chàng liếc nhìn mọi người, nhận thấy những con mắt cảm phục nhìn con chàng, chàng khoái cảm khác nào người đang khát được chén rượu ngon. Mấy hôm sau ở nhà anh, chàng để ý xem xét các con anh, chàng không thể còn ngờ vực, có quan niệm rất chắc chắn con chàng hơn tụi trẻ này nhiều lắm; sự so sánh, suy nghiệm đó đem lại cho chàng thêm tinh thần phấn khởi, hăng hái vì đứa con độc nhất. Còn có nhiều lý do khác làm tâm thần chàng thêm phấn khởi.
Con trai lớn anh Cả bây giờ đã có vợ, chưa được đứa con nào, cả hai vợ chồng ở chung một nhà với anh chị Cả. Cậu này hao hao giống cha, đã thấy có bụng, tấm thân phì nộn, nõn nà có một lần mỡ bao phủ. Cũng như cha, cậu có vẻ uể oải, bần thần. Cậu buồn vì gia đình lủng củng, không có hòa khí, vợ đối với cha mẹ không ra thế nào, cô ả cậy là gái tân thời, có óc tự do tân tiến đối với mẹ chồng hỗn xược, khinh bỉ.
Khi không có ai cô thường hét vào tai chồng:
– Anh đừng có tưởng, dễ thường tôi là môn hạ cho con mụ già hợm ấy hở? Hắn không mở mắt ra mà xem, thời buổi này, con gái bây giờ không phải hầu mẹ chồng đâu nhớ.
Cô ả này không kiêng nể mẹ chồng một tí nào. Vẫn cái giọng hách dịch lỗi thời, chị Cả bảo con dâu:
– Khi tôi còn trẻ như cô, tôi phải hầu hạ mẹ chồng, bổn phận làm con ăn ở cho phải đạo, sáng nào tôi cũng phải bưng khay trà lên mời cụ xơi nước, ấy cũng nhờ thế tôi đã học được cách pha trà. Cô ả nghe nói hất mớ tóc ngắn ra sau gáy, đôi chân xinh xinh, không bị bó, đập xuống nền nhà thình thịch nói cong cớn, rất ngạo mạn vô lễ:
– Đàn bà chúng tôi bây giờ không phải quy lụy đứa nào hết.
Ấy những chuyện xích mích như thế, làm anh chàng rất buồn bực khổ tâm. Cậu này không còn dám quen thói như trước kia đi chơi, đánh bài đánh bạc, đĩ bợm để giài sầu; cô ả biết hết những nhà hát xướng, hồng lâu, thanh lâu những chỗ nào cậu thường hay lai vãng. Cô ả này lại bạo dạn, dám đi theo chồng ra tận ngoài phố, la hét ầm đường, nào là đàn bà ngày nay không phài cổ lỗ như ngày xưa, buồng the, không dám ló mặt ra ngoài, nào là nam nữ bình quyền tự do … Nghe tiếng the thé của cô ả, dân phố đổ xô lại xem lấy
làm thú vị. Cậu xấu hổ quá không còn dám thò đi đâu mà đi đâu cô ả cũng lẵng nhẵng theo sau. Cô này có máu ghen khiếp đảm, cận thúc thủ không dám giở một thủ đoạn nào, con hầu con ở con nào có mẽ người, cậu không dám dòm ngó. Bạn bè nào mà kéo cậu đi chơi hồng lâu, lúc trở về thì thật
khổ, cô vợ vừa kêu gào, bù lu bù loa khóc lóc làm loạn cả nhà. Một hôm anh chàng thổ lộ nỗi can tràng đau khổ cho bạn nghe, bạn xui khôn:
– Mày cứ dọa già mày phải lấy vợ lẽ đi. Tao cho thế là ăn chắc, đàn bà mà chồng phải đòi lấy vợ lẽ là ê lắm.
Nghe bùi tai, cho là đắc sách, cậu tuyên bố với cô vợ non, ý muốn tìm nàng hầu, chẳng thấy cô ả ê một tí nào, cô nổi ngay cơn tam bành, hai mắt trợn trừng, nguýt dài, thét om:
– Thời buổi như thời buổi ngày nay, đàn bà chúng tôi không thể nào tha thứ một chuyện kỳ dị quái gở ấy được. Cậu chưa kịp nghe ra sao, cô ả đã chồm chồm nhảy lên như con mèo vồ mồi, xỉa xói, hai bàn tay xinh xắn búp măng
tát lấy tát để vào hai má bánh đúc của cậu, cào trên mặt bốn vết dài đỏ ửng, cậu vừa đau vừa xấu hổ quá, năm hôm liền không dám ló mặt ra ngoài. Không dám phản công lại, đem bêu xấu bêu hổ con vợ cho bõ ghét vì há miệng mắc quai, bạn cậu chính là anh ruột cô, cha cô chính là ông Chánh Cẩm có quyền thế nhất tỉnh.
Nhưng đến đêm, anh yêu vợ đáo để, cô ả nằm thu hình nép sát bên cạnh anh, nom dễ thương quá, ỏn ẻn bên tai, làm như có vẻ hối hận lắm, cơn tức của anh chàng nguội dần rồi tiêu tan hết, cậu mê ly yêu quá, lắng tai nghe cô vợ thủ thỉ.
Cô tán hươu tán vượn, xui chồng xin tiền cha, có tiền cả hai vợ chồng ra chơi ít lâu ở một hải cảng trên bãi biển, sống theo lối mới với bọn trai thanh gái lịch. Nghe hay quá, y kế thi hành cậu vòi tiền cha, lần đầu không được, cô xúi bắt phải năn nỉ hỏi cho bằng được. Muốn cho êm thấm cửa nhà, khỏi ỳ èo, anh Cả phải nhượng bộ; để có tiền cho con, anh chỉ còn một cách là đem đoạn mại một phần ruộng còn sót lại. Cô ả mới nghe thấy bố chồng ừ ào cho tiền, suốt ngày chỉ lắp bắp nói những chuyện đi chơi, tấp nập sửa soạn hành lý, ba hoa khoe ở ngoài bãi biền thích lắm, có nhiều thú chơi, bọn phụ nữ ăn mặc rất đài điến, lịch sự. Nàng cần phải may một chiếc áo dài mới, một áo choàng lông thú cho hợp thời trang, quần áo mặc ở nhà tồi tàn, cổ lỗ, có mặc được họa may ở xó nhà quê như ở đây. Anh chồng nghe nói thích quá nao nức muốn đi ngay để ngắm những kỳ quan, hưởng những lạc thú, cả em trai chồng cũng mơ màng muốn được như cặp uyên ương này đi thừa lương ngoài bãi biển.
Phong vị nhà anh Hai (Vương thương gia) khác hẳn, con cái ăn mặc xuềnh xoàng, nhũn nhặn, buổi chiều ở cửa hàng về, ngồi chơi trên những chiếc ghế thấp, ngắm chú và con chú. Vương hổ tướng thấy trong lòng sung sướng được tụi trẻ con nhà anh trố mắt nhìn con chàng đeo chiếc đoản kiếm mạ vàng. Thỉnh thoảng cậu nhỏ lại phải tháo chiếc đoản kiếm đặt trên đùi cho tụi trẻ nhỏ mân mê xem vỏ kiếm. Trong ngôi nhà của thân phụ chàng, hai anh vẫn được đường hoàng, sung túc tựa như nạn đói không có ở trên trái
đất này, đồng ruộng không bao giờ ngập lụt, không có ai bị đói khổ. Song anh Cả (Vương điền chủ) và anh Hai (Vương thương gia) cũng đều biết ở mạn trên có nạn lụt lội, đói kém ghê gớm. Vương hổ tướng trình bày cho hai anh những khó khăn của chàng, lý do cuộc viếng thăm nhà lần này. Chàng nói:
– Bước gian nguy này các anh cứu được tôi ra tức là các anh tự cứu. Thế lực của tôi là bùa hộ mệnh cho các anh.
Hai anh cùng thông cảm câu nói đó, rất đúng, rất chí lý. Ngay trong tỉnh có hai anh em họ Vương ở cũng có dân đói, trong bọn đó có nhiều người thâm thù anh em nhà này. Họ ghen ghét Vương điền chủ vì anh có ruộng đất, ai cày cấy ruộng anh phải chia huê lợi cho anh, thật anh ngồi mát ăn bát vàng. Bọn nông dân cày sâu cuốc bẫm, hai sương một nắng, bao nhiêu mồ hôi nước mắt tạo ra được hột thóc, họ tưởng thuộc quyền sở hữu của họ. Nhưng khi lúa chín, họ phải chia sẻ một nửa cho một người ở ngôi nhà trên tỉnh, ung dung chỉ ngồi chờ thu huê lợi, lại những năm mất mùa, đói kém cũng đòi phần thóc chia. Những năm anh Cả còn nguyên cả số ruộng cho đến năm anh phải bán một phần lớn ruộng, anh không có khả năng làm một điền chủ. Một người như anh, chí lự bạc nhược, không biết suy nghĩ, tính toán,
lúc tức chỉ biết chửi bới, cãi lộn với bọn tá điền. Anh ghét cay ghét đắng bọn tá điền, anh ghét cái nghề làm ruộng chỉ vì anh thường hay túng thiếu tiền nong ăn tiêu trong gia đình, tiền anh tiêu xài riêng, bọn tá điền cố ý không bao giờ chia phần anh đầy đủ, thế nào cũng lươn khươn chịu lại ít nhiều. Bọn tá điền cũng ghét anh ghê lắm đến nỗi mỗi lần thấy anh đến, họ ngửa mặt lên trời, lẩm bẩm:
– Có hung thần đến kia, thể nào hôm nay trời cũng mưa.
Họ còn dám thóa mạ ngay trước mặt anh:
– Đối với ông cụ, ông là một người con bất hiếu. Ông cụ khi xưa lúc trở về già ơn trời giàu có, còn biết thương người nghèo. Ngày xưa ông cụ cũng làm ăn lam lũ vất vả như chúng tôi. Ông cụ cho mướn nhà, có thúc bách tiền nong bao giờ, những năm mất mùa, một hạt thóc ông cụ cũng không thèm đòi. Còn ông, ông sướng từ trong trứng sướng ra, ông có biết khổ là cái gì, ông chẳng có một chút từ tâm hỉ xả. Họ thâm thù anh, sự phẫn uất căm thù bộc lộ trong năm lụt, đói kém. Đêm nhà anh cổng đóng thật kỹ, họ còn kéo đến gọi cửa, họ nằm lăn ngay trên bực thềm, rên rỉ:
– Ông ơi, chúng tôi sắp chết đói cả, nhà ông có gạo ăn, có gạo nấu rượu, ông ơi.
Có bọn đi rong ngoài phố đến trước cửa nhà anh Cả, giữa ban ngày ban mặt nói to cho nghe thấy:
– Bọn nhà giàu nó vơ vét của mình, nó hút máu tụi mình, nếu có thể chúng mình sẽ giết hết.
Lúc đầu hai anh em họ Vương cũng không để ý mấy, sau thấy ngày nào cũng thế; để đề phòng biến cố có thể xảy ra, hai anh em phải thuê lính ở tỉnh đến gác cổng, cấm người lạ không được vào nhà. Về cuối năm đó, nhiều nhà giàu ở tỉnh và ở quê bị cướp, trộm cướp nổi lên như rươi, ngang nhiên hoành hành táo bạo cũng như mọi năm trời làm mất mùa đói kém. Tuy nhiên hai người con Vương Long vẫn được yên ổn, vì ông chánh cẩm chỉ huy quân đội trong tỉnh, gả con gái thông gia với họ nhà này, Vương hổ tướng, một lãnh chúa cũng ở gần đó. Bọn dân nghèo đói không dám động chạm đến anh em họ Vương, họ chỉ ta thán và nguyền rủa.
Túp nhà đất thuộc về họ Vương cũng được yên ổn, không bị bọn dân nghèo đói đến cướp phá. Gian nhà này ở trên một gò cao không bị ngập, suốt cả mùa đông năm ấy có nạn thiên tai hồng thủy, Hoa Lê vẫn sống ở đó với hai người, nàng bảo trợ. Cả vùng ai cũng biết Hoa Lê là một người nhân đức, giàu lòng bác ái, ai cũng biết nàng không có gì, vẫn phải xin trợ cấp lương thực ở nhà họ Vương. Nhiều người đói khổ chèo thuyền nan đến, nàng cũng chẩn cấp, nuôi cho ăn.
Một hôm, Vương thương gia đến túp nhà đất bảo nàng:
– Lúc này tình thế nguy hiếm lắm, trộm cướp nhiều quá hay cô hãy tạm dọn lên ở ngôi nhà trên tỉnh?
Hoa Lê nét mặt lúc nào cũng điềm đạm, nàng ung dung trả lời:
– Tôi nghĩ chả có gì đáng sợ, tôi phải ở đây vì có nhiều người khác còn trông cậy vào tôi.
Cũng một khi nàng sợ lắm; đói rét năm đó mỗi ngày một khốc liệt, có nhiều người đói quá, tuyệt vọng, gió rét dữ dội, nước lạnh buốt mà phải nằm trên chiếc thuyền nan, trên mảnh xuồng gỗ, bám bíu vào các ngọn cây, họ thấy nàng vẫn nuôi thằng Bướu với con dở người tuy tay họ cầm cơm, gạo nàng chẩn cấp, họ cằn nhằn ngay trước mặt nàng:
– Lúc này cô còn phải nuôi lũ ngợm này ư? Cô không biết có hàng bao nhiêu người với một hai đứa con sống sót, đang ngắc ngoải chờ chết.
Những lời tức tối than phiền lúc đầu còn nhẹ nhàng nàng không để ý, nhưng ngày nào cũng nghe họ nói có vẻ dọa nạt, Hoa Lê hoang mang, nàng nghĩ không biết có nên dắt hai đứa nàng bảo trợ này lên tỉnh không? Để hai đứa ở đây e một ngày kia, bọn dân đói ghen tức hai đứa ăn báo cô vô ích, họ sẽ giết chết, mà những đứa này yếu đuối chống chọi làm sao nổi. Con bé dở người năm nay đã ngần ấy tuổi mà hình dáng như một con bé nhỏ, hạng này có khi chết thình lình, đột ngột, bất đắc kỳ tử. Một hôm con bé (dở người) đang ăn cơm vừa ăn vừa cuộn chơi mảnh vải, chập choạng chạy ra ngoài cổng, đến chỗ mô đất nó thường ngồi chơi, lúc đó, chỗ ấy bị ngập, nó không biết, ngã lăn xuống nước. Hoa Lê vội vàng chạy lại lôi nó lên, nước lạnh buốt, con bé bị cảm hàn. Mặc dù Hoa Lê hết lòng chạy chữa, được vài giờ sau con bé chết. Con bé lúc sống cũng dễ, đến khi chết cũng dễ. Hoa Lê nhờ người lên báo tin cho Vương điền chủ biết và nhờ mua cho một cỗ áo quan. Nhân có Vương hổ tướng về chơi dắt cả con đi theo. Ba anh em chứng kiến việc nhập quan con bé, lần đầu tiên trên đời con này, lúc chết trông mặt mũi khác hẳn lúc sống, có vẻ khôn ngoan lanh lợi; phải chăng tử thần đã đổi sắc thái con người bình sinh ngớ ngẩn, đần độn. Hoa Lê thương cảm con bé, nhưng nhìn sắc diện con bé thay đổi, nàng cũng an ủi được phần nào, nàng trấn tĩnh nói nhỏ nhẹ:
– Con bé này lúc chết, mặt mũi có vẻ khôn ngoan, khác hẳn lúc sống mặt ngớ ngẩn đần độn.
Anh em nhà họ Vương không bày vẽ ma chay, Vương hổ tướng để cậu con ở lại trong gian nhà đất, cả ba anh em chàng, Hoa Lê, vợ người tá điền, một nông phu, lên cả thuyền, chở áo quan con bé đến một mô đất cao, chỗ này có những ngôi mộ nhà họ Vương, họ tìm một miếng đất, đào huyệt chôn con bé.
Khi công việc xong xuôi, cả bọn trở về túp nhà đất, rồi sửa soạn lên tỉnh. Lần đầu Vương hổ tướng nhìn Hoa Lê với một giọng trầm tĩnh, lạnh nhạt chàng hỏi:
– Bây giờ ý bà định thế nào?
Hoa Lê ngửng đầu, lần thứ nhất, nàng nhìn tận mặt Vương hổ tướng, nàng biết tóc nàng đã bạc, da mặt nàng đã nhăn, nàng trả lời:
Mặc dù Hoa Lê hết lòng chạy chữa, được vài giờ sau con bé chết. Con bé lúc sống cũng dễ, đến khi chết cũng dễ.
Hoa Lê nhờ người lên báo tin cho Vương điền chủ biết và nhờ mua cho một cỗ áo quan. Nhân có Vương hổ tướng về chơi dắt cả con đi theo. Ba anh em chứng kiến việc nhập quan con bé, lần đầu tiên trên đời con này, lúc chết trông mặt mũi khác hẳn lúc sống, có vẻ khôn ngoan lanh lợi; phải chăng tử thần đã đổi sắc thái con người bình sinh ngớ ngẩn, đần độn. Hoa Lê thương cảm con bé, nhưng nhìn sắc diện con bé thay đổi, nàng cũng an ủi được phần nào, nàng trấn tĩnh nói nhỏ nhẹ:
– Con bé này lúc chết, mặt mũi có vẻ khôn ngoan, khác hẳn lúc sống mặt ngớ ngẩn đần độn.
Anh em nhà họ Vương không bày vẽ ma chay, Vương hổ tướng để cậu con ở lại trong gian nhà đất, cả ba anh em chàng, Hoa Lê, vợ người tá điền, một nông phu, lên cả thuyền, chở áo quan con bé đến một mô đất cao, chỗ này có những ngôi mộ nhà họ Vương, họ tìm một miếng đất, đào huyệt chôn con bé.
Khi công việc xong xuôi, cả bọn trở về túp nhà đất, rồi sửa soạn lên tỉnh. Lần đầu Vương hổ tướng nhìn Hoa Lê với một giọng trầm tĩnh, lạnh nhạt chàng hỏi:
– Bây giờ ý bà định thế nào?
Hoa Lê ngửng đầu, lần thứ nhất, nàng nhìn tận mặt Vương hổ tướng, nàng biết tóc nàng đã bạc, da mặt nàng đã nhăn, nàng trả lời:
– Từ lâu tôi đã nói, khi nào con bé qua đời, tôi sẽ vào ở chùa. Tôi quen nhiều ni cô vẫn ước ao tôi đến nhập bọn. Tôi phát nguyện quy y đã lâu, được ở chùa ăn mày Phật, là tôi sung sướng mãn nguyện (nàng quay lại phía Vương điền chủ nói tiếp): ông bà cũng nên tiên liệu cho số phận thằng nhỏ (thằng Bướu). Có một ngôi chùa gần đây tôi xin cho nó ở lại đó, tôi có thể thỉnh thoảng lại thăm nom. Thằng này ốm đau luôn, hay nóng hay sốt. Các vị tăng ni một ngày hai buổi đi hành hương lên chùa làm lễ, tôi sẽ được gặp nó tuy không được nói năng, trò chuyện.
Ba anh em nhà họ Vương nhìn thằng Bướu, nó đứng níu áo Hoa Lê, thằng bé buồn thiu, con bé kia chết, không có ai làm bạn, chơi với nó. Bây giờ nó đã lớn, nhìn hai con mắt ngơ ngác, vô thần của nó, cái miệng nửa khóc nửa cười thật não ruột đau lòng. Vương hổ tướng nhìn thằng bé, lòng bùi ngùi ái ngại, chàng lại nghĩ đến con chàng tráng kiện, vạm vỡ, lòng chàng lại vừa mừng vừa buồn. Con chàng không hiểu gốc tích câu chuyện về thằng bé bị tật nguyền, cười với nó như để an ủi. Vương hổ tướng thấy cử chỉ của con, chàng cảm động, như để vỗ về thằng Bướu, chàng nói:
– Cháu ạ, nếu cháu không tật, chú đã hết lòng, nâng đỡ cháu như người anh họ cháu. Nhưng số phận cháu bị tật bệnh chú không biết nghĩ cách nào để giúp cháu. Thôi để chú đưa thêm tiền cho cháu đến chùa (chàng quay lại phía Hoa Lê) và tôi sẽ đưa thêm tiền cả phần của bà nữa, có tiền ở đầu cũng dễ chịu hơn, tôi chắc ở chùa cũng vậy, phải không bà?
Hoa Lê nhẹ nhàng trả lời, giọng nói chắc nịch:
– Tôi xin cám ơn, tôi không dám nhận, tôi ở chùa cùng với các ni cô, ăn chung, của chung, tiền bạc tôi không cần thiết. Nếu ông cho thằng nhỏ, tôi xin nhận giùm, vì nó có khi phải dùng đến tiền.
Câu nói của Hoa Lê thật tế nhị, ngụ ý kín đáo trách vợ chồng Vương điền chủ bỏ rơi thằng con, số tiền hai vợ chồng anh bố thí cho mẹ con nó quá ít ỏi. Nếu anh Cả có nhận ra câu nói đó là ngụ ý ám chỉ mình, anh cũng lờ như không hiểu, anh thản nhiên ngồi chờ để về nhà trên tỉnh. Anh người đẫy đà, to béo, đứng lâu mệt không chịu được, anh cần phải ngồi. Vương hổ tướng, hai mắt chăm chú nhìn thằng bé, chàng lại nói:
– Thế cháu có muốn đi ở chùa thật không hay cháu muốn ở đâu?
Thằng bé thấy hai con mắt to và dữ của chú, bất giác nó sợ, cúi gằm mặt xuống, nó ngắm lại thân hình tàn phế của nó, chậm rãi trả lời:
– Vâng, thời đành vậy, không ở chùa thì còn biết ở đâu (nó nghĩ một lát nói tiếp) có lẽ cái áo tràng nhà chùa có thể che kín được cái bướu ở lưng.
Chàng lại trố mắt nhìn thằng cháu, chợt nghĩ nhìn mãi không nên, chàng quay phắt người đi thẳng ra cửa. Đêm hôm đó Vương hổ tướng ở nhà hai anh, trước khi đi ngủ chàng đến bên giường con nằm. Cậu nhỏ này hãy còn
thức, thấy cha đến cậu hỏi:
– Thưa cha, cái nhà đất đằng ấy có phải cũng của ông nội con không?
Vương hổ tướng nghe con hỏi, sửng sốt, chàng trả lời:
– Phải, khi tao nhỏ đã ở đấy, sau ông làm được ngôi nhà này mới kéo cả lên tỉnh ở.
Cậu nhỏ đưa mắt lên đình màn, hai tay chắp sau gáy gối đầu, ngoảnh cổ lại phía chàng, hai mắt hau háu, hăm hở hỏi:
– Cái nhà ấy con thích lắm, ý con muốn được ở một gian nhà như thế xung quanh đồng ruộng, cây cối, trâu bò.
Vương hổ tướng nghe nói chối tai, chàng nói, chàng không để ý có vẻ hậm hực, vì thực ra con chàng cũng không nói gì là không phải:
– Tao xem mày nói mày không hiểu gì hết. Vẫn hay lúc nhỏ tao ở đó, nhưng sống trong cảnh tối tăm, ngu muội, tao mới tìm cách thoát ly bay nhảy.
Cậu nhỏ lại cố gân cổ nói thêm:
– Thế mà con thích … Con biết ở đấy thích lắm, hợp với ý con.
Mấy câu này tỏ sự nhiệt tâm, cuồng vọng của cậu, Vương hổ tướng thấy bực mình khó chịu, hầm hầm đứng dậy đi ra.
Đêm hôm đó, cậu bé ngủ mơ màng như đã sống ở túp nhà đất, giữa cánh đồng ruộng bát ngát. Hoa Lê lên tu ở trên chùa, thăng Bướu (con anh Cả)
cũng đến ở một ngôi chùa khác gần đó, gian nhà cũ kỹ bằng đất, từ nay vắng bóng ba người đã chung sống ở đó hằng bao nhiêu năm trời. Họ nhà Vương Long, không còn ai ở gian nhà đất, bây giờ chỉ có hai vợ chồng người tá điền già ở đó.
Một đôi khi bà già vợ người tá điền dành dụm được một chiếc bắp cải đã úa hay một nắm bột, gói vào mảnh vải con, đem lên chùa dấm dúi biếu Hoa Lê. Bà này đã sống gần gũi nàng, làm cho nàng hằng bao nhiêu năm, rất mến phục nàng, một người thùy mị phúc hậu. Ngay trong năm trời gây ra thiên tai, lụt lội, đói khổ, bà già vơ vét, có được một tí gì cũng thu thu đứng ở cổng ngóng chờ Hoa Lê đi ngang. Bây giờ nàng ăn mặc nâu sòng, theo như các ni cô, một chiếc áo tràng màu xám. Gặp được nàng, bà lão níu lấy, thều thào nói:
– Còn mỗi một con gà, nó vừa đẻ được một quả trứng, tôi vẫn để phần cô.
Vừa nói bà thò tay vào bọc lôi ra một quả trứng bé tí, thu thu giấu ở tay đưa cho Hoa Lê bắt phải cầm. Bà nói thều thào như có vẻ dỗ dành:
– Ăn ngay đi, cô ạ. Tôi thề với cô tôi nói thật, có khối các ni cô đã phát nguyện rồi mà vẫn ăn mặn, cả sư nữa nhiều ông vẫn còn rượu thịt. Đi vào đây, trong này kín, không ai nom thấy, cô nghe tôi cứ mút sống, trứng mới bổ lắm … Tội nghiệp, nom cô xanh lắm.
Hoa Lê từ chối không nhận, nàng đã phát nguyện quy y Tam Bảo, nguyện theo đúng tam quy ngũ giới, nàng khẽ lắc đầu, chiếc đầu nhẵn bóng, đội chiếc mũ xám hai tay mềm mại, sẽ sàng đẩy nhẹ tay bà lão nói:
: – Không bà ạ, bà còn cần hơn tôi, dù rằng tôi ăn không phạm giới, tôi ăn mày Phật, ăn uống đầy đủ. Mà dù có thiếu thốn, tôi cũng không dám ăn, tôi đã nhất tâm phát nguyện.
Nói thế nào bà lão cũng không nghe, bà bỏ tọt quả trứng vào khe áo trên ngực nàng, áo nàng mặc, vạt trước vắt ngang sang bên thắt lưng ra ngoài phía trên áo khác nào như một cái túi lớn. Bỏ được quả trứng vào lòng nàng, bà lão vội vã nhảy xuống xuồng đẩy ra giữa dòng, bà ngoảnh lại nàng, cười có vẻ đắc chí lắm.
Độ nửa giờ sau, Hoa Lê đem quả trứng đó bố thí cho một người đàn bà hành khất trông rất tiều tụy, lội nước cố men vào bờ ở trước cửa chùa. Người này ôm một đứa nhỏ, vạch vú cho con bú, hai cái vú trông rất thiểu não như hai miếng da nhăn nheo, đeo lủng lẳng trước ngực. Người đó đến trước cửa chùa kêu xin bố thí. Hoa Lê nghe tiếng vội chạy ra:
– Bà xem hai vú con, trước kia tròn trĩnh căng sữa, thằng bé này mũm mĩm như con chút chít.
Hoa Lê nhìn thằng bé, lèo nhèo, nhợt nhạt như xác chết, hai môi cố ngoạm chiếc vú da không còn một giọt sữa. Lẳng lặng, Hoa Lê rút trong bọc lấy ra quả trứng đưa cho người đàn bà, người này được của bố thí tốt quá, hí hửng, sung sướng. Hoa Lê sống một cuộc đời mới êm đềm bình thản, trong lòng lâng lâng của một kẻ tu hành, Vương hổ tướng từ nay không có dịp nào gặp nàng. Trong năm đó, có nạn hồng thủy, nạn đói hoành hành dữ dội, Vương hổ tướng ở vào một tình cảnh thập phần nguy ngập nếu Vương thương gia có thiện chí, rất có thể dễ dàng giúp chàng ra khỏi bước nguy nan. Hiện, anh Hai (Vương thương gia) có rất nhiều kho thóc dự trữ. Trời làm tai ương, lụt lội, trong khi thiên hạ lầm than, lâm vào cảnh túng quẫn đói rét, trái lại đối với anh Hai lại là một dịp để làm giàu. Như anh có tài tiên tri, biết trước cơ trời, anh tích trữ thóc để bán một giá rất đắt cho bọn nhà giàu. Anh không ngờ tới, đã thu được những món tiền khổng lồ, nhiều quá không còn biết dùng làm gì, anh chán ruộng đất không muốn tậu, đem cho nông dân vay rất nặng lãi bắt phải bảo đảm bằng vụ gặt năm tới. Khi nước rút ra, ruộng cày cấy được, có lẽ bao nhiêu thóc lúa trong vùng này thuộc về tay anh hết.
Tuy anh giúp đỡ bọn nông dân qua cơn đói, anh cũng biết họ vẫn ngấm ngầm căm ghét anh. Anh cũng biết trong tình thế hiện tại anh cũng cần nhờ uy danh của Vương hổ tướng, một lãnh chúa, bảo trợ tính mệnh, gia sản cho anh. Vì thế anh cũng phải buộc lòng cho Vương hổ tướng vay một số thóc rất lớn và một số tiền quan trọng, lời lãi phải chăng không quá hai mươi phân một đồng. Hai bên điều đình thỏa thuận lập khế ước ở trà thất, lúc đó anh Cả cũng có ở đấy, thấy tiền nong thóc lúa anh phát ngốt, thở dài bảo Vương hổ tướng:
– Chú Ba ạ, anh cũng ước ao được giàu có như chú Hai nó, sự thật đau đớn anh mỗi ngày một sa sút. Anh không có nghề như chú hai nó, anh chỉ có một chút tiền đặt lời còn một ít ruộng của cha để lại. Nhưng thôi cũng đáng mừng trong họ nhà ta cũng còn có người giàu có.
Anh Hai (Vương thương gia) nghe thấy anh Cả (Vương điền chủ) than phiền, anh nhếch mép cười chua chát, anh này có tính nói thẳng không chịu suy nghĩ, không biết lựa lời, anh nói:
– Nếu tôi được dư chút ít là vì tôi ra công chịu khó làm ăn, con cái tôi cũng phải làm, tập buôn tập bán, không có dám đua đòi lụa là, mà tôi cũng chỉ có một vợ.
Anh Cả tuy mấy năm gần đây tính cũng xuề xòa dễ dãi nhưng anh không chịu câu nói khích bác đó, anh biết hắn móc máy xỏ ngọt mình, ruộng nương bán dần bán mòn, bán cả ruộng để cho con đi chơi đú đởn ở ngoài bãi biển. Anh tức đầy ruột, nhịn không nổi anh nói to:
– Hừ, cha phải nuôi con cái chứ sao? Phải rồi, tôi yêu con tôi quá nên đang tuổi thanh niên của chúng nó, tôi cùm hãm, bắt chúng nó tối ngày ngồi sau quầy hàng. Nếu tôi thương cháu nội của cha, dễ thường tôi để chúng chết đói hở? Bổn phận tôi phải nuôi các con tôi … À mà phải rồi, có lẽ tôi không biết bổn phận vì tôi cho nó sung sướng như con nhà quan. Hừ!
Anh không nói được nữa! Đang gào, cơn ho nổi lên; mấy năm nay anh vẫn có chứng ho, mỗi lần lên cơn, đờm kéo lên, anh ho như xé ngực. Ngồi yên được một lúc, anh ngẫm nghĩ vẫn thấy tức, hai con mắt mở tròn xoe, như gắn sâu vào hai chiếc má bánh đúc, cái cổ to núc ních dần dần đỏ ửng. Anh
Hai hơi nhếch mép cười, đôi môi mỏng quẹt xám ngoét, anh biết anh Cả tức lắm vì câu anh nói kháy, anh ngồi yên không nói gì.
Khi công việc vay mượn đã điều đình xong, điều kiện đã được hai bên đồng ý, chấp thuận, anh Hai ngỏ ý muốn lập văn tự vi bằng. Vương hổ tướng nghe nói lập văn tự, văn khế, chàng kêu lên:
– Ô hay! Thế chúng mình không phải anh em ruột thịt hay sao mà còn vẽ làm văn tự?
Vương thương gia khéo vờ vịt, như để chữa:
– À, để ghi cho nhớ, độ này tôi đãng trí, hay quên lắm.
Anh vừa nói vừa đưa cho Vương hổ tướng ngọn bút lông, chàng không thể nào từ chối, phải biên tên vào văn tự.
Anh Hai lại vừa cười vừa nói:
– À quên, chú có đem theo con dấu không nhỉ?
Vương hổ tướng muốn cho xong chuyện kéo ở giây lưng con dấu bằng đá có khắc tên chàng, cầm dấu đóng vào văn tự nợ. Vương thương gia lúc đó mới chịu cầm văn tự, gấp lại nhét cẩn thận vào hầu bao.
Trước những cử chỉ ti tiện, hiềm nghi, Vương hổ tướng tuy có được mãn nguyện những điều chàng ước vọng, chàng nghĩ giận lắm chàng thề nhất định phen này phải mở mang bờ cõi, chàng nghĩ đáng tiếc mấy năm qua bỏ phí quá vì thế bây giờ mới bị tùy thuộc một người anh. Nhưng hiện giờ nhờ có sự cứu trợ, đoàn quân của Vương hổ tướng được bảo toàn, chàng bảo con và bọn vệ binh sửa soạn trở về bản doanh.
Lúc đó đang giữa mùa xuân, nước đã rút, đất đã khô tất cả dân quê nóng lòng chờ có mạ để cấy, họ như đã quên cái rét ghê gớm vừa qua, họ đã quên những người xấu số thiệt mạng, tất cả ngưỡng vọng vào mùa xuân mới.
Vương hổ tướng cũng nóng lòng muốn có sự đổi mới, chàng xin kiếu từ hai anh về bản trại. Hai anh mở tiệc khoản đãi chàng lên đường.
Sau bữa tiệc, chàng vào gian phòng thờ tổ tiên, đốt nến, thắp nhang. Khói hương nghi ngút, chàng kính cẩn làm lễ trước bàn thờ cha, và bảo thằng con theo chàng làm lễ. Ngắm con cử chỉ nghiêm trang, dáng điệu đường hoàng,
nghiêng mình làm lễ khấu đầu, chàng cảm thấy lòng tự hào khoan khoái mãnh liệt.
Ánh nến rung rinh, khói hương thơm ngát, chàng tưởng như tiền nhân ở cả trên bàn thờ chứng kiến thằng cháu họ Vương, chàng cảm thấy như đối với tổ tiên, chàng đã làm tròn nhiệm vụ. Khi làm lễ xong, hương đã hết, hai cha con Vương hổ tướng lên ngựa, cùng bọn tùy tùng thẳng đường về bản trại,
đường đã khô ráo không lụt lội như khi đi.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.