Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 259 Jul 2025

88. Trịnh Công Sơn

Chúng ta vừa mất đi thêm một tài năng lớn nữa về âm nhac, đó là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Ông mất tại Sài Gòn. Hẳn quý vị và các bạn, cũng như chúng tôi, đã nghe quá nhiều về Trịnh Công Sơn. Báo chí trong nước, báo chí ngoài nước, các đài truyền thanh, truyền hình, không ngớt nhắc tới tên ông. Phải nói, Trịnh Công Sơn là một hiện tượng của âm nhạc Việt Nam. Trước ông chưa có ai. Sau ông, e cũng khó có một người thứ hai, có được cái tài năng như ông. Người ta gọi ông là thiên tài. Thậm chí có người coi ông là hiền triết nữa. Vậy thì chúng ta còn gì để nói về Trịnh Công Sơn?

Trịnh Công Sơn có một sức sáng tác phong phú. Ông nhậy cảm với tất cả những gì xẩy ra trong cuộc sống, từ xã hội, chính trị đến tâm linh. Số lượng tác phẩm của ông ít người bì kịp.

Nguyễn Xuân Khoát, qua lời kể của Văn Cao, nói rằng:

“Trịnh Công Sơn viết nhạc dễ như lấy đồ ở trong túi ra”.

Phạm Duy còn phải kêu lên ông phát ghen với Trịnh Công Sơn. Hẳn, Trịnh Công Sơn biết rõ hơn ai hết, trong những lời ấy có bao nhiêu phần sự thật. Nhưng ngần ấy thôi, cũng đã đủ chứng tỏ, ông đã đạt tới sự nể nang của những đỉnh cao nhất của âm nhạc Việt Nam rồi.

Nói chung, Trịnh Công Sơn là người viết ca khúc thuần túy. Và, đã gọi là ca khúc thì dù dài, ngắn, nói đến điều gì chăng nữa, cũng chỉ gồm hai phần: phần nhạc và phần lời ca.

Về phần nhạc, Trịnh Công Sơn viết nhạc rất giản dị. Tài hoa của ông cũng nằm trong sự giản dị này. Ngay cả những quãng cách khó hát, cũng ít khi nào ông dùng đến. Nhạc của ông tuôn chảy nhẹ nhàng như một dòng suối.

Hình như Trịnh Công Sơn nghe thấy nhạc ở khắp mọi nơi, nhìn thấy thơ ở khắp mọi chốn. Bằng ngôn ngữ, ông có thể mê hoặc người nghe đến độ người ta không biết ông nói thật hay không thật nữa:

Ta thấy em đang ngồi khóc

Khi rừng về nhiều mây

Rừng thu đã khép

Em hãy ra đi

Đôi khi ông có thể làm cho người ta choáng váng chỉ vì một hình ảnh cũ kỹ:

Trăng muôn đời thiếu nợ sông

không nhớ ra

Tóm lại, sự đóng góp của Trịnh Công Sơn đã làm cho  nền âm nhạc Việt Nam giàu có hơn nhiều. Tình ca của ônglà một kho tàng đối với tuổi trẻ, những người yêu nhau có thêm nhiều điều để nói với nhau. Nhờ ông, nhiều người nhìn thấy thêm nhiều vẻ đẹp chung quanh đời sống, từ lâu, người

ta không thấy. Cũng nhờ ông, người ta tin chắc rằng, đất trời của chúng ta dù có trải qua bao nhiêu đắng cay, vẫn tràn đầy âm nhạc, nếu người ta biết lắng nghe. Và, tiếng nói của dân tộc hàm chứa một khả năng diễn tả vô tận, nếu người ta biết vận dụng.

Nếu hiểu tác phẩm nghệ thuật là những đóng góp để nâng cao cái đẹp của đời sống, Trịnh Công Sơn có thể tự hào về những ca khúc của mình. Tình dù có đau đớn, hóa thân thành nhạc, vẫn cứ là một niềm hạnh phúc. Trịnh CôngSơn đã chia xẻ hạnh phúc với những người yêu nhạc ông. Những người yêu nhau, còn được gần nhau hay đã phải chia xa, đều có thể hát nhạc Trịnh Công Sơn, để thấy rõ, tình mình đang được hưởng hay mất đi, quý giá thế nào. Từng ngón tay, một sợi tóc, mùi phấn hương, con đường đi qua, hẹn hò để lỡ, chỉ có thể nhìn thấy, nhận ra, bằng đôi mắt tình nhân. Mọi vật chỉ thực sự hiện hữu khi người ta sống trong tình.Từ khi trăng là nguyệt cho đến khi trăng thôi là nguyệt, chỉ mình anh hay mình em biết như thế. Về phương diện nghệ thuật, chắc không ai phủ nhận sự đóng góp to lớn của Trịnh Công Sơn đối với nền âm nhạc của đất nước.

Nhưng đối với số phận của đất nước thì thái độ, cách thế sống của Trịnh Công Sơn, lại gây nhiều rắc rối. Những rắc rối người ta có thể thấy ngay trong những tin tức được loan đi về cái chết của ông. Người nói ông mất ở

thành phố Hồ Chí Minh. Người lại nói ông mất ở thành phố Sài Gòn, chẳng hạn. Chuyện không liên can gì đến văn chương, nghệ thuật nữa. Và, chắc sẽ còn mất nhiều thì giờ cho những lời qua tiếng lại.

Dầu sao, xin cảm ơn Những Cánh Vạc Bay, Ru Ta Ngậm Ngùi, Tưởng Rằng Đã Quên, Nguyệt Ca, Tình Nhớ …

Chiếc Lá Thu Phai

Về đây đứng ngồi

Đường xa quá ngại

Để lòng theo chút nắng hiên ngoài

Mùa xuân qua vội

Mười năm tắm gội

Giật mình ôi chiếc lá thu phai

Người đâu mất người

Đời tôi ngốc dại

Tự làm khô héo tôi đây

Chiều hôm thức dậy

Ngồi ôm tóc dài

Chập chờn lau trắng trong tay

Về thu xếp lại

Ngày trong nếp ngày

Vội vàng thêm những lúc yêu người

Cuồng phong cánh mỏi

Về bên núi đợi

Ngậm ngùi ôi đá cũng thương thay

Nằm nghe giữa trời

Ròn vang tiếng cười

Điệu kèn ai buốt trong tôi

Mùi hương phấn người

Một đêm nhớ lại

Hẹn ngày sau sẽ mua vui

Nguyễn Đức Đạt & Luân Vũ

Văn học miền Nam 54-75 Xuân Vũ

Xương trắng Trường Sơn

vanviet.info

Posted on 5 tháng Sáu, 2020 by Văn Việt

Post by Sơn râu 29 Jul 2025

Kỳ 2

Càng đi tôi thấy con đường càng khó khăn, hiểm trở và sức khoẻ như cái thùng không đáy, cứ rót và lại chảy tuột ra hết, đôi khi chỉ sau một cơn sốt một con người đang khoẻ bỗng trở thành bại liệt, nằm ngo ngoe như một con lươn giữa đống trấu.

Càng đi, tôi thấy con đường này là một sự vô lý, vô lý đối với từng con người một, đối với Dân tộc ta và ngay đối với cả cái mục đích mà vì đó nó được vạch ra.

Càng đi càng trông thấy đích ngắm càng xa, hy vọng càng mờ và lý tưởng càng ung thối ra như một vết thương nhiễm trùng bị những lớp băng bao bọc, cuối cùng máu mủ vẫn tuôn ra không bịt lại được nữa.

Đã hơn một tháng qua, trên con đường này tôi toàn thấy những sự kêu la, oán trách, tự gây thương tích, lủi trốn, cướp bóc, trộm cắp, thậm chí cả sự tự sát hoặc chống lệnh chỉ huy. Gương tốt người tốt ít quá, hoặc không tìm thấy ở đây.

Tôi chưa hề trông thấy một sự kiện nào chứng tỏ rằng những người có trách nhiệm xua quân vào đây, hiểu rõ hoàn cảnh của binh sĩ một khi binh sĩ đã vào con đường này. Họ không tiên đoán được, hay họ biết mà họ vẫn mặc kệ?

Ai đời đại liên, trọng pháo, cối 82 mà được dự định tải bằng xe cút kít, một thứ xe dùng để chở phân bón đồng của hợp tác xã?

Họ bắt con người phải hy sinh quá nhiều. Sự hy sinh trở thành vô bờ bến, không có thời hạn, không có điều kiện. Vì thế sự hy sinh đã trở thành những cực hình, chứ nó không mang tính chất tự nguyện của cách mạng.

Tôi nhìn đi nghĩ lại, thấy Năm Cà Dom nói đúng, không còn cách nào cấu cào ra củi bằng cách gọt gốc cây sống lấy ra từng lát. Nhưng đây không phải chỉ là một vấn đề lao lực đơn giản mà nó thuộc về ý thức tư tưởng nhiều hơn.

Tôi tự hỏi:

– Cái cảnh này sẽ tái diễn bao nhiêu lần?

Tôi cầm con dao găm mà bổ vào cái gốc cây rừng.

Chao ôi! Lưỡi dao găm của một hợp tác xã ở phố Hàng Thùng Hà Nội là một con dao trên hình thức, còn thực tế thì nó chỉ là một cái trành bằm. Mép nó dày như da trâu và không đủ thép để mài cho bén. Thành ra tôi bổ lia lịa mà chưa lấy ra được một cái dăm nào bằng lát cam thảo.

Năm Cà Dom làm cái việc gọt cây như tôi với một sự kiên nhẫn phi thường. Anh ta có kinh nghiệm nên chỉ trong giây lát anh ta lại nhìn sang tôi mà bảo:

– Nhìn sang tôi đây này.

Còn Thu thì ôi thôi! Tay này cầm con dao găm nom thật thảm khổ.

Những ngón tay búp măng móng dài và nhọn hoắc, cố nắm chắc cán dao và bổ lưới dao vào gốc cây, và cứ mỗi nhát Thu lại cau mặt.

Những ngón tay ấy xuất hiện trên sân khấu như những búp hoa ngọc lan búp trong các điệu múa Tân Cương, múa ba-lê của Nga La Tư. Mỗi cử động của ngón tay là cả một nghệ thuật… thế mà giờ đây những ngón tay ấy dùng để bổ củi.

Vâng, đảng đã dùng con người “như cái vốn quí nhất ” như thế đó! Như thế đó, những “con người vốn quí nhất ” của đảng được đem ra dùng.

Và chung quanh đây, dọc hai ven suối này, tất cả những người nằm la liệt trên phiến đá, trong hốc đá, trên võng vì bệnh tật, vì thương tật, vì đói, v.v. cũng lại là những cái “vốn quí nhất” được đảng đem ra dùng…

Năm Cà Dom cứ hét lên từng chập một:

– Cố lên anh chị ơi? Không có củi thì chết đói! Chết đói.

Tôi vừa đẽo vừa nhìn quanh quất, thấy nước đã tràn lên đến nền võng. Chỉ còn có một lõm nơi chúng tôi để ba lô. Thật ác quá, trời không ngó lại cho mình.

Một lũ kiến bò loanh quanh trên quai ba lô, rồi chuyền lên đầu võng bò lên cây. Ô chúng nó sắp bị lụt. Chúng có đường thoát, còn chúng tôi thì cam chịu, đành nhìn nước lên tấn công mình mà không có đường rút lui.

Chắc trên nguồn lại mưa cho nên nước đổ xuống hung hơn.

Tôi nói với Năm Cà Dom:

-Chỗ đâu mà bắt bếp anh? Làm sao mà nhóm lửa?

– Đừng lo! Đẽo cho ra củi cho tôi đi, rồi sẽ có bếp.

– Không, anh phải nói đi rồi tôi mới đẽo.

– Ta treo cà mèn.

– Còn lửa?

– Ờ, ờ cũng kẹt dữ he? Nhưng mà không sao… Rồi Năm hì hục bổ vào gốc cây với con dao găm bất hủ.

Bỗng Thu òa lên khóc… Thu buông con dao xuống đất gục mặt vào hai đầu gối…

– Gì thế em? Tôi cũng ngừng tay hỏi.

Thu không nói, vẫn cứ nức nở, làm cho lòng tôi càng thêm rối rắm. Tôi buông dao, đến gần bên Thu, rỉ tai nàng.

– Cái gì thế em?

Thu lắc đầu nguẩy nguậy. Chao ôi! Trông nàng khóc mà tôi não lòng. Nàng đẹp ra, thế mới chết!

Đôi vai nàng run run. Tóc nàng lòa xòa phủ xuống gương mặt tuy mang đầy dấu vết bàn tay quái ác của hung thần sốt rét, nhưng nó vẫn cứ đẹp và đáng nhìn quá!

Nàng ngước mắt nhìn tôi. Đôi mắt đẫm lệ, như đôi mắt của một con vật sắp sửa bi đem ra tế lễ, van xin tên đao phủ đừng sát hại. Đôi mắt châm chọc tim tôi.

Tôi nhìn tay nàng. Bàn tay, ôi!… Tôi cầm lấy nó, mềm mại mong manh như làm bằng bột, những ngón tay nho nhỏ như những cái búp non. Tuy đã gầy đi, và đầy vết sẹo nhưng nó vẫn còn vẻ đẹp thanh tú, quí phái.

Tôi nhìn cái vết phồng to, căng ứ nước trong lòng bàn tay. À, đây rồi nguyên nhân của những dòng nước mắt. Tôi khẽ bóp tay nàng và hỏi:

– Có đau không?

Thu lắc đầu.

-Vậy sao em khóc?

Thu lặng thinh và nhìn xuống.

Tôi sực nhớ ra rằng nàng đang trong lúc khó ở.

Chao ôi! Có kinh mà phải lội suối? Và nàng đã vượt con sông chiều hôm trước, chạy qua cả một vùng đất trắng không có một cái lá cây và còn hăng xè mùi chất độc, nàng đã lội suốt một ngày hôm qua và bây giờ lại sắp lội suối.

Tôi không biết làm sao thì bác sĩ Năm Cà Dom quay sang. Anh ta đã nói từ hôm qua. Cái anh này chuyện gì cũng biết, việc gì cũng có sự tính trước. Anh ta nói thằng vào vấn đề.

– Chốc nữa, trước khi đi phải băng lại thật kỹ. Nó mà nhiễm trùng một cái, thì ảnh hưởng tới buồng trứng là mất tương lai…

Thu nghe nói thế lại òa lên, nước mắt của nàng như đang đựng trong những bọc thật căng bỗng nhiên bị xé toạc ra tràn trề…

Tôi ngồi ngây ra. Tôi nghe như tương lai của chính tôi cũng bị đe doạ, vì đời sống của tôi hình như một phần đã là của nàng.

Năm Cà Dom nói:

– Nếu tôi biết thế, hôm vượt sông tôi đâu có cho đi. Nguy lắm. Dưới suối chưa biết chùng cũng có chất độc?

Tôi nói:

– Nhưng nếu không đi thì ai chờ mình.

– Bây giờ thì phải cố mà đi! Phải đi…!

Ngại quá! Mỗi người có một cái ngại khi nghĩ đến lúc mình đì trên một con đường như con đường đang trải ra trước mặt tôi đây. Con đường không phải như những con đường khác.

Tôi thì mới cắt cử, Thu thì đang khó ở, Năm Cà Dom thì không có bệnh gì rõ rệt nhưng sau này tôi mới biết ra là ông bác sĩ này đau bao tử mà ngâm mình dưới nước thì có lẽ cũng không thuốc gì. Còn những anh kia thì đủ một trăm thứ ngại, ngoài nòng pháo nặng như núi còn cái chân gãy báo cô kia.

Thương nhất là anh anh bị pháo đè gãy chân. Anh ta phải nằm võng để cho người ta khiêng. Người khiêng thì cực chẳng đã khiêng còn người nằm cũng cực chẳng đã phải nằm. Kìa họ đang sửa soạn để lên đường.

Thú thực rằng tôi không đến đỗi kém thông minh, nhưng tôi không nghĩ ra một cách nào có thể giúp họ đỡ lao lực đi một tí.

Dưới lòng suối có một người vừa bè bè đi, vừa quơ quơ tay.

– Đi nghe bà con! Mau lên! Mau lên!

Tôi nhìn kỹ ra thì nhận ra người đó là anh giao liên. Anh giao liên đang tập họp đám khách ly tán của anh bị trận mưa chiều qua làm tan tác.

Đã bảo “nhất trạm nhì trời” mà.

Khách có nhiệm vụ bám anh ta, đeo dính anh ta. Anh ta đi chậm thì đi chậm, đi nhanh thì phải đi nhanh, anh ta khiến gì hay nấy. Anh ta có đủ mọi thứ quyền hành, còn khách thì chỉ có nhiệm vụ là không có quyền hạn gì cả, ngoài cái quyền phải bám chặt anh ta. Khách không có quyền hỏi đây là đâu và sẽ đến đâu và đã qua những đâu. Ở đây không có địa danh, sông không có tên, suối vô danh và những kẻ đi trên con đường này cũng như con suối vô danh kia, đã thay đổi họ, lẩn trốn nhau, từ khi còn ở Hà Nội và vô đến đây thì đi đứng ăn ở đều lén lút như những tên ăn trộm.

Tại sao phải lẩn lút phải đổi thay tên họ? Phải chăng vì việc làm của mình quá ư quang minh chính đại mà mình phải che đậy như thế?

Cho nên, xin lỗi độc giả, nếu trong thiên hồi ký này độc giả không hề thấy tác giả nêu lên một địa danh nào thì đó không phải là lỗi của tác giả mà tại nó thế đó.

Anh giao liên vừa đi giữa lòng suối vừa vẫy gọi khách treo võng hoặc nằm la liệt hai bên vách đá.

Nhiều người chửi ầm lên:

– Đi cái lỗ mô giờ mới thò cái mặt mẹt ra đó?

– Quân bất lương!

Tôi thấy khổ tâm cho anh Khẩu đội trưởng: một bên là cái nòng pháo, một bên là anh lính gãy giò. Nếu tôi là Khẩu đội trưởng trong lúc này thì tôi xin đổi cái chức vụ của tôi với một thìa muối.

Tôi bảo Thu:

– Chuẩn bị đi em!

Thu đứng chết trân như một cái tượng đá hay chính Thu đã hóa đá?

Tôi cực lòng quá. Nỗi cho tôi, nỗi vì Thu. Nếu không đi nằm lại đây thì gạo đâu ăn. Cái nhúm gạo chiều qua mắc mưa không có nắng sấy, bây giờ đã thành bột rồi, nhưng tôi cũng cứ giữ nó vì dù sao nó cũng là gạo. Nếu nằm lại đây thì nằm cho đến bao giờ? Chờ cho suối cạn thì đó là điều không bao giờ có.

Cỏn đi thì làm sao? Thu ngại nước hơn ai hết. Chậm một ngày suối càng dâng lên cao một ngày.

Sự phát hiện của bác sĩ Năm Cà Dom làm tôi sợ hãi cho Thu. Đàn bà con gái mà nói tới việc không có con là họ sợ nhất. Tôi là cán bộ, còn Thu là văn công trình độ biểu diễn quốc tế. Ấy vậy mà là một đám người đi lẫn trong đám người lô nhô lúc nhúc kia, không ai biết ai. Nói thì nghe hay quá, nào kỹ sư linh hồn gì gì, nhưng thực tế trên con đường này, những điều xảy ra cho tôi đều là (chứng?) minh một định lý ngược lại.

Văn học miền Nam 54-75

Xuân Vũ

vanviet.info

Posted on 31 Tháng Năm, 2020 by Văn Việt

Post by Sơn râu 29 Jul 2025

Kỳ 1

Xuân Vũ (Tiểu sử)

Nhà văn Xuân Vũ, sinh quán tại Mỏ Cày, Bến Tre, ngày 19 tháng 3 năm 1930, lớn lên trong một gia đình nông dân, từng học tại trường Collège Mỹ Tho. Ông theo chân cậu ruột, một nhà trí thức đi kháng chiến chống Pháp lúc 15 tuổi và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu quốc dưới sự điều khiển của Trần Bạch Đằng. Được nhà thơ Tâm Điền tức nhà thơ Xuân Tước cố vấn lúc ban đầu, ông Xuân Vũ đã đăng bài thơ đầu tiên lên báo ở Hà Nội năm 1947. Năm 1950 ông làm cho báo “Tiếng Súng Kháng Địch” của khu 9 và tập kết ra Bắc vào năm 1954 sau hiệp định Genève. Ông tham gia Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1965 ông vượt Trường Sơn trở về miền Nam và đã ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1968.

Sau đó ông làm việc cho nhật báo Tiền Tuyến, và Ðài Mẹ Việt Nam trực thuộc Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn.

Xuân Vũ được trao Giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1973 với tác phẩm Ðường Ði Không Ðến, tập hồi ký vượt Trường Sơn.

Tỵ nạn sang Hoa Kỳ 1975, ông tiếp tục viết văn đến khi qua đời. Các tác phẩm gồm có hồi ký, truyện ngắn, truyện dài, truyện phim… Tổng cộng đến 90 cuốn.

Ông qua đời ngày 1 tháng 1 năm 2004 tại San Antonio, Texas.

Tác phẩm:

Đường đi không đến

Vàng mơ bông lúa

Xóm Cái Bần

Tấm lụa đào

Cô Ba Trà

(Theo Wikipedia)

Xương Trắng Trường Sơn

Lời Giới Thiệu Của Nhà Xuất Bản

Đã ngót hai mươi năm qua kể từ quyển hồi ký Đường Đi Không Đến ra mắt độc giả ở Sài gòn. Lớp thanh niên đọc quyển sách ấy nay tóc đã hoa râm, còn lứa tuổi trung niên thì nay đã ra lão. Thời gian đi nhanh, nhưng con đường mà tác giả đã trải qua mãi mãi còn đậm nét trên những trang sách và trong lòng người

Nếu chúng tôi nhớ không lầm thì quyển hồi ký Đường Đi Không Đến ra mắt độc giả trước tiên năm 1969 trên nhật báo Tiền Tuyến do nhà văn Phan Lạc Phúc làm Chủ Nhiệm và nhà báo Huy Vân làm Chủ bút. Nhà văn Phan Lạc Phúc bi bắt đi cải tạo, đến nay vẫn còn trong tù. Còn nhà báo Huy Vân thì đã hy sinh cũng trong trại cải tạo của bạo quyền.

Quyển Đường Đi Không Đến xuất bản năm 1973. Không đầy một năm, nhà xuất bản Nam Cường đã tái bản (tháng 5 năm 1974). Ra hải ngoại cũng được in lại nhiều lần.

Quyển Xương Trắng Trường Sơn mà chúng tôi hân hạnh cho ra mắt độc giả hôm nay là tập hai của bộ Đường Đi Không Đến gồm năm tập được biết như sau: Đường Đi Không Đến (I), Xương Trắng Trường Sơn (II), Mạng Người Lá Rụng (III), Đến Mà Không Đến (IV) và Đồng Bằng Gai Góc (V).

Ba quyển sau cùng, theo tác giả cho biết, thì đã mất bản thảo chạy giặc trước năm 1975. Chúng tôi đã yêu cầu – và được nhà văn Xuân Vũ nhận lời – ông viết lại để chúng tôi có dịp giúp độc giả theo dõi tiếp những chương sau cùng của con đường oan nghiệt mà mỗi tấc đất đã phủ xương trắng nhuộm máu tươi của nửa triệu thanh niên Bắc Việt và cán bộ Miền Nam hồi kết. Chính tác giả là “người khách lữ hành” trên con đường ấy.

Trân trọng.

Nhà xuất bản Xuân Thu

Mấy Dòng Tâm Tư

Hồi năm 1945 tại chợ làng tôi thường xảy ra những cuộc diễn thuyết, diễn giả là cán bộ tuyên truyền của quận bộ hay tỉnh bộ Việt Minh. Tôi rất thích nghe vì họ nói toàn là những chuyện mà một đứa bé như tôi lúc bấy giờ không thể hiểu nổi.

Tôi còn nhớ một hôm có một diễn giả đăng đàn. Ông ta chỉ là thôn bộ Việt Minh của làng tôi thôi. Ông ta là người không phải đạo cũng không phải đời, ông ta mặc nâu sồng tay lần chuỗi hạt. Người ông nhỏ thó nét mặt gân guốc có phần choắt lại và tay luôn luôn lần chuỗi hạt. Người nhà giàu thì sợ ông ta ra lệnh bắt giam hoặc giết chết, còn người thường thì lác mắt khiếp oai. Ông ta lên đăng đàn lần đó, nói những câu mà tôi nhớ mãi. Nếu tôi là sử gia tôi phải ghi trên vách đá.

Ông ta tuyên bố: “Một tay tôi lần chuỗi hạt, một tay tôi chống trời.”

Rõ thật một con người ghê gớm.

Ông ta giải thích về cách mạng cho mọi người nghe như sau:

– Ngày mai cái nơi bùn lầy nước đọng này, (tức là cái chợ làng của tôi có lão già đánh xe ngựa đã lừa chú ngựa còm bằng một mớ cỏ non suốt hàng chục năm trời), sẽ có nước phông-tên và đèn điện. Ngày mai nơi đây sẽ thành thiên đường của thế gian.

Tôi mê quá! Hồi đó tôi coi ông Chủ nhiệm thôn bộ Việt Minh là đệ nhất anh hùng – và không phải chỉ của riêng làng tôi.

Rồi về sau tôi được đọc một câu tiếng Pháp cũng na ná như thế. “Chủ nghĩa Cộng sản là mùa xuân của nhân loại!” 

Vì mê cái “thiên đường” và cái “mùa xuân” trên chót lưỡi của hai bậc “vĩ nhân” kia cho nên tôi đã tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp từ những ngày đầu.

Năm 1946 thực dân Pháp đến đóng bốt ở đầu cầu chợ, ngay trong một cái chành lúa đã chứa sẵn mười ngàn giạ (chiếc cầu có hai cái dốc thật cao đã chứng kiến con ngựa còm của lão già đứt ruột trong một lần kéo xe lên dốc).

Dân làng tôi đã cùng với bộ đội đánh cái bốt đó. Súng của bộ đội chỉ có đến trung liên là cùng, không thể phá nổi phòng tuyến bốt xây bằng lúa bao. Nhưng dân làng tôi quyết không lùi bước.

Người ở chợ thì giở nhà mang tới, kẻ ở ngoài vườn thì đội rơm vác lá đem vào chất chung quanh bốt và châm lửa. Lửa dậy ngất trời. Đồn bốt ra tro. Hai mươi tám tên pạc-ti-dăng bị quay sống trong bốt.

Vì bốt xây bằng lúa bao cho nên lửa cứ ngùn cháy hoài, như một quả núi lửa, năm năm sau chưa tắt. Những lớp tro quánh lại thành cái vỏ cứng bao bọc ruột lửa bên trong. Sau những trận mưa, người ta thấy những mẩu xương phơi lẫn trong tro than như những mẩu vôi thực sự. Và ngọn khói vẫn cứ ri rỉ bay lên như oan hồn của những tên xâm lược xấu số.

Tôi đi theo kháng chiến rồi tập kết ra Bắc. Đúng hai mươi năm thì tôi trở về làng cũ (1945 – 1965). Lão già đánh xe ngựa đã chết từ lâu. Con cháu của lão không thể nối nghiệp lão vì con đường đầy ồ gà ngày trước nay đã trở thành đường tráng nhựa. Xe hơi xe lam xe gắn máy chạy vun vút xuôi ngược suốt ngày, cho nên bóng dáng chiếc xe ngựa đã biến hút đi từ lâu. Cái chợ làng tôi đã trở thành quận lỵ với đèn điện với ăng-ten tivi tua tủa trên các dãy phố, không còn ai ngờ rằng đây là nơi bùn lầy nước đọng ngày xưa, nơi ông Chủ nhiệm Việt Minh đăng đàn diễn thuyết, tay lần chuỗi tay chống trời.

Nhiều người gánh nước mướn, những chú chệt bán kẹo đục nay trở thành chủ tiệm. Trong đám học trò đã từng nhóc mỏ cá kèo nghe diễn thuyết với tôi, nay không ít đứa làm nên sự nghiệp, có đứa là triệu phú!

Ở đây không còn ai diễn thuyết nữa.

Tôi được nghe ông chủ nhiệm thôn bộ Việt Minh cũng đi kháng chiến như tôi, nhưng ông đã bỏ nghề diễn thuyết, cũng không lần chuỗi hạt và cố nhiên tay kia cũng không dùng để chống trời nữa. Ông quay ra làm phim ảnh. Thuở đó ông lận đận nhiều. Không rõ bây giờ đời ông vui buồn ra sao?

Đứng trên mảnh đất ngày xưa, tôi nhìn quang cảnh ngày nay chợ búa, xe cộ hàng hóa và sắc diện con người. Tôi có biết bao dòng suy nghĩ. Tôi tự bảo: Phải chăng đây là một cái thiên đường con con ở một góc trời xa xôi của xứ sở tôi.

Dân làng tôi hai mươi năm xưa dỡ nhà đốt bốt Tây, nay đã an cư lạc nghiệp. Chuyện ngày qua nay hầu như đã lãng quên. Từ mảnh đất thực tế, nảy lên một chân lý:

– Người ta vẫn xây được thiên đường theo ước vọng của người ta, nhưng hà tất phải đi theo con đường của ông chủ nhiệm Việt Minh. Và dù có đi theo con đường của ông chủ nhiệm, đã chắc người ta tìm được thiên đường.

Nếu ông chủ nhiệm kiêm nhà làm phim còn sống và nếu ông trở về đây chắc ông sẽ tìm thấy hứng thú trước quang cảnh chợ làng đã đổi thành chợ quận này, để làm một cuốn phim hay hay.

Khi đi trên đường Trường Sơn, có những đêm mưa tôi nằm ôn lại chuyện xưa. Tôi có nhớ đến quả núi tro ở quê tôi rắc đầy xương của những người lính pạc-ti-dăng.

Một ý nghĩ đã chợt đến với tôi: Cái quả núi tro ấy chính là hình ảnh của Trường Sơn thu nhỏ lại. Còn lũ chúng tôi và hàng chục vạn quân binh miền Bắc – trên đường Trường Sơn này chỉ là những bộ xương biết đi – thì chẳng khác nào…

Số phận của những kẻ mang quân đi đánh nước người rồi ra có khác gì nhau?

Tiện đây tôi xin được phép thưa cùng một số độc giả của Đường Đi Không Đến” – hoặc bằng thư từ hoặc đã trực tiếp hỏi tôi: “Đường Trường Sơn cực khổ đến thế à? Bộ đội miền Bắc tang thương đến thế à?” 

Xin thưa: Đây là những chuyện xảy ra hồi 1965. Và xin lấy ý kiến của một tiểu đoàn trưởng của bộ đội chánh quy miền Bắc xâm nhập đã tìm Tự do, nay đang có mặt ở Sài Gòn, sau khi đọc quyển Đường Đi Không Đến: “Văn thì hấp dẫn nhưng chuyện khổ thì không ăn thua gì với sự chịu đựng của đơn vị tôi!”.

Ngoài ra, có một số độc giả lo lắng cho số phận của cô Thu. Tác giả xin được phép thưa: Cô Thu, sau năm năm tình duyên và công tác chìm nổi, đã mang một chứng bịnh kinh niên mà nguồn gốc phát sinh từ lúc cô vượt sông và ngâm mình dưới suối…

Do đó cô trở thành phế nhân, suốt năm năm không hề biểu diễn được một màn nào. Vì thề cô được “ân huệ” cho về Bắc, cũng bằng đường Trường Sơn, với cặp chân cô ta, như lúc cô vào Nam. Tôi sẽ xin kể tỉ mỉ trong quyền cuối cùng của thiên hồi ký “Đường Đi Không Đến”.

Sài Gòn, hè 1974

Xuân Vũ

Lại Thêm Mấy Dòng Tâm Sự

Trong một dịp bất ngờ tôi được quen với Anh Giám Đốc nhà xuất bản Xuân Thu. Trong dịp này tôi còn được biết thêm rằng thân phụ của anh là giáo sư trường Le Myre de Vilers, thầy học cũ của tôi.

Vừa rồi, anh có nhã ý muốn xuất bản tác phẩm của tôi. Tôi liền đưa ngay cho anh quyển Xương Trắng Trường Sơn là một tập trong bộ Đường Đi Không Đến của tôi. Thực ra tôi không mấy khi nghĩ đến việc in lại các tác phẩm của tôi hoặc viết lại những bản thảo đã mất. Bởi vì, cũng như các văn hữu khác, tôi luôn luôn nghĩ tới những truyện còn nằm trong bụng.

Riêng quyển Xương Trắng Trường Sơn mà tôi có đề đưa cho nhà Xuân Thu là nhờ anh bạn nối khố của tôi, ông Nguyễn Tri Sử, trưởng ban Tuyên Nghiên Huấn thuộc Tổng Liên Đoàn Lao Công của ông Trần Quốc Bửu. Cũng là một dịp bất ngờ khác. Đời tôi toàn gặp những bất ngờ… may mắn.

Trên chuyến bay lưu vong từ Guam sang Hoa Kỳ, gia đình tôi đi với gia đình anh Nguyễn Tri Sử. Hai đứa định xuống trại Sacramento ở California, nhưng khi máy bay hạ cánh ở Los Angeles thì được tin trại đã chật, bèn bay sang Fort Chaffee ở Arkansas. Lạ nước lạ cái, nên hai đứa tìm nhau luôn. Một hôm, anh đưa cho tôi một quyển sách và bảo: tôi tặng lại cho anh đấy, để làm của?

Thì ra là quyển Xương Trắng Trường Sơn tôi đã tặng cho anh ở Sài Gòn cách đây không đầy một tháng. Quyển sách này phát hành vào đầu tháng tư, nhưng tôi vẫn không đoán được những gì xảy ra vào cuối tháng tư nên gần nửa triệu bạc bản quyền tôi nhận được của ông Nam Cường (người Mỹ Tho đồng hương?) tôi đem trút cả vào cho ngôi nhà hai tằng sắp xây xong ở Hàng Xanh (với dự định sẽ xây lên thêm một tầng nữa để làm Thiên Thư Lầu). Còn một tuần nữa ăn tân gia thì lại phải chạy ra Phú Quốc để đi Guam. Tác giả Xương Trắng Trường Sơn trở thành Tay Trắng Mình Không.

Nhận quyển sách từ tay bạn cố tri trên đất Hoa Kỳ tị nạn, tôi bùi ngùi cho số phận của nó vừn ra đời vừa được độc giả biết đến hai tuần thì đã phải bay đi theo vận nước. Tôi đút nó vào chiếc cặp da cũ lưu truyền từ đời ông nội tôi đến cha tôi rồi đến tôi, món báu vật độc nhất được tôi quảy đi từ Sài gòn.

Nếu không có nhà Xuân Thu hỏi tới chắc chắn tôi chưa có dịp giải phóng nó ra khỏi cái nhà tù tí hon kia, sau mười bốn năm giam cầm nó một cách độc đoán. Trước khi đưa nó sang nhà Xuân Thu, tôi đã liếc sơ qua, và thấy rằng nó chưa mất màu mặc dù giấy trắng đã thành vàng nẫu.

Sau hai mươi lăm năm vượt con đường chết trên thực địa, ghé mắt nhìn lại con đường trên những trang sách, tôi hãy còn kinh hoàng.

Vừa rồi tôi có nghe tin Tổng Cuộc Chính Trị quân lính Việt Cộng có phát động một phong trào viết Kỷ niệm Trường Sơn. Tôi biết họ bắt những người cầm bút viết theo đường lối “phải đạo” của họ tức là gọt xén tô phết làm sao cho con đường này trở thành con đường đầy hoa thơm cỏ lạ, con đường vinh quang chớ không phải con đường lót bằng xương nhuộm bằng máu của thế hệ thanh niên Hồ chí Minh. Dù sao đi nữa, những kẻ sống sót trên con đường này cũng còn khá đông, cho nên họ không thể nói láo.

Nhân dịp nhà xuất bản Xuân Thu tái bản quyển Xương Trắng Trường Sơn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với Bác sĩ Hồ Văn Châm, người đã đề tựa cho quyển Đường Đi Không Đến của tôi (sau 1975 nó đã trở thành một trong những quyển đứng đầu bảng sách cấm). Lời tựa này ắt hẳn đã thêm một bằng chứng để bọn cai ngục hành hạ bác sĩ thêm trong mười bốn năm trời trong trại cải tạo mà bác sĩ đã trải qua.

Tôi cũng xin cảm ơn độc giả đã đón nhận nó một cách rất khích lệ cho tôi. Đặc biệt là độc giả trong nước, trước mũi súng và màng lướ dày đặc của công an mà vẫn bí mật in và phát hành quyển Đường Đi Không Đến, tuy với giá bốn mươi lăm ngàn đồng vào răm 1985 mà vẫn có người tìm mua.

Cuối cùng xin cảm ơn Anh Nguyễn Tri Sử và Anh Xuân Thu. Nếu không có hai anh giúp tôi thì quyển Xương Trắng Trường Sơn không có cơ may đến tay độc giả.

Hoa Kỳ, tháng 9 năm 1989

Xuân Vũ

Sắt và máu

hung-viet.org

Posted 8 Tháng Mười Hai 2014

Huy Phương

Post by Sơn râu 28 Jul 2025

Người ta gọi cờ của Cộng Sản Việt Nam là lá cờ máu, mà không phải chỉ Việt Nam, các nước Cộng Sản trên thế giới đều có lá cờ nền đỏ, từ Liên Bang Xô Viết, Trung Cộng, Bắc Hàn hay Cuba.

Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, nơi tưởng niệm các binh sĩ VNCH và Hoa Kỳ hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam. (Hình minh họa: David McNew/Getty Images)

Chính cái màu máu đó Hồ Chí Minh đã vác về từ Liên Xô gây thảm họa cho dân tộc Việt Nam. Tố Hữu trong bài “Hoa và Máu” đã ca tụng “Người” của ông, nhưng có kết quả ngược, khi đọc lên, người ta thấy Hồ Chí Minh quả thật là một nhân vật ngoi lên từ vũng máu:

“Ôi Việt Nam! Từ trong biển máu

Người vươn lên như một thiên thần!”

Và cả dân tộc này đang hân hoan phấn khởi được ngụp lặn, vùng vẫy trong máu:

“Ta lại về ta, những đứa con

Máu hòa trong máu, đỏ như son.”

Từ chủ trương sắt máu đó Tố Hữu cũng đã hò hét:

“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong…”

Không ai nghĩ ra vì sao phải đổ máu cho tốt ruộng đồng và thu thuế nhanh hơn, phải chăng đó là một lối cai trị bằng sắt máu và khủng bố!

Ngay trong bài quốc ca “Tiến Quân Ca” chúng ta đã phải rùng mình khi nghe những lời hát man dại của Văn Cao:

“Thề phanh thây uống máu quân thù

Tiến mau ra xa trường, tiến lên!”

Những nhà thơ khác như Xuân Diệu cũng nhập cuộc, chủ trương:

“Máu kêu máu trả thù.

Súng đâu, anh em đâu.

Bắn nó thủng yết hầu,

Bắn tỉa nó dài lâu!”

Lời kêu gọi của những con người thèm khát nhìn thấy máu này, đã đưa dân tộc đến thảm sát Mậu Thân, pháo kích trường học ở Cai Lậy, bắn pháo trên “đại lộ Kinh Hoàng,” gây biển máu trên Quốc Lộ 7B và những vụ trả thù ghê gớm trong ngày miền Nam thất thủ. Những người thèm máu trong chiến tranh, hôm nay ngày hòa bình đã có kết quả.

Ngày xưa có những bài toán trừ: “10 tên lính Mỹ giết 6 tên, còn lại mấy tên?” Nhưng ngày nay Việt Nam mon men lại gần Mỹ, “hoan nghênh việc Hạ Viện Hoa Kỳ lần đầu tiên thông qua một nghị quyết ủng hộ những nỗ lực giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, và việc xây dựng một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông,” thì bài toán có máu sẽ đổ lên đầu trẻ thơ vô tội, là, “10 ngón tay bị chặt đứt 2 ngón, tính ra còn mấy ngón tay?” Cũng là máu!

Trên những trang báo trong nước ngày nay, không có ngày nào là không có chuyện máu. Người ta giết nhau không cần đến súng, mà bằng búa bằng dao. Sư giết người yêu chôn trong vườn chùa, cha giết con, con cầm dao giết mẹ, anh em vợ chồng đoạt mạng nhau, còn phân thây, vứt bên lề đường, vùi trong bụi chuối, ao hồ. Mới đây là chuyện thiếu niên mới 15 tuổi giết cô chăn bò 52 tuổi, lột lấy bông tai và hiếp dâm thi thể, một thanh niên khác trấn nước nạn nhân cho đến chết, rồi kéo lên bờ làm chuyện tồi bại.

Bây giờ là thời buổi của ma quỷ hiện hình cũng như con người khát máu ưa chém giết nhau, chỉ vì không biết phù phép, bùa chú, yểm ma trừ tà, không chịu chôn hay thiêu đốt mà để con quỷ dâm dục, khát máu, bạo tàn sống nằm khô héo nhăn răng trong lăng.

Chúng ta thường nghĩ, chiến tranh là chuyện bất đắc dĩ, khi tiếng súng đã im trên chiến trận, dù ai chết, bên này hay bên kia, thì cũng là người, ai cũng có những người thân, cũng có một mái ấm. Phải là người lính của miền Nam ngày trước mới có được nỗi buồn xót xa, nhân bản như Tô Thùy Yên:

“Trời ơi, những xác thây la liệt

Con ai, chồng ai, anh em ai?

Hay như Trần Hoài Thư:

“Ai bạn, ai thù sao quá thảm,

Trên một dòng cuồn cuộn oan gia!”

Trong khi đó, những người Cộng Sản hả hê:

“Ném lựu đạn cho người vui vật sướng!”

Hay cầm súng giết người mà hãnh diện:

“Ôi êm ái khi tay cầm vũ khí!” (Xuân Diệu)

Ngay cái hầm chông của du kích là một vũ khí giết người, khi một con vật sa vào bẫy, dù thèm miếng thịt cũng bất nhẫn, khi thấy con vật giẫy giụa đau đớn trong máu me, nhưng Chế Lan Viên đã “yêu,” ca tụng nó, thứ vũ khí giết người:

“Hỡi cái hầm chông

Ta yêu ngươi hơn vạn đóa hoa hồng

Cái hầm chông nhọn hoắt…”

Sau khi giết người, họng súng của con người Cộng Sản “phải reo ca,” nên chế độ ấy, ngày nay sinh sản ra những con người sát nhân, hiếp dân, vứt xác xong về đi ngủ, hay ra quán ngồi nhậu tiếp.

Thời buổi cai trị bằng sắt máu, dùng bạo lực, công an là lực lượng trung thành trấn áp nhân dân, “còn đảng còn ta” nên cảnh giết người, đánh đập người dân trong các đồn công an trong khi lấy khẩu cung gây nên cảnh chết chóc, dàn cảnh tự tử không hiếm tại Việt Nam hôm nay. Cảnh cướp đất, cướp nhà đã dồn người dân lành thành dân oan, ăn đường, ngủ bụi, oán thán ngất trời.

Chúng ta trông đợi, hy vọng gì ở cái xã hội suy đồi bại hoại này, nó phát xuất từ cây đa Tân Trào, hay hang Pác Bó thì cũng đem lại cái chết cho hàng triệu thanh niên và ngày nay là đạo lý suy đồi. Hay biết mấy những câu thơ của Tố Hữu áp dụng cho hoàn cảnh hôm nay:

“…Càng tức nước, càng xui bờ vỡ

Lòng dân ta như lửa thêm dầu

Lưỡi lê, mũi súng, nhà tù

Càng đau, càng khổ, càng thù, càng căm!”

(Ba mươi năm đời ta có đảng)

Rồi đây, có lẽ sẽ không có “Cách Mạng Nhung,” “Cách Mạng Hoa Lài,” gì nữa hết. Chúng khởi đầu con đường đi bằng máu, sợ rồi đây nó sẽ tự kết thúc bằng máu như Tố Hữu đã từng kêu lên, “Máu kêu trả máu, đầu kêu trả đầu!”

Huy Phương

Sài Gòn và Hà Nội

hung-viet.org

Huy Phương

8 Tháng Chín 2014

Post by Sơn râu 28 Jul 2025

Sau khi đi tù về vài năm, khoảng 1985, tôi có mở một tiệm làm hình và tráng phim gia công trên đường Lý Thái Tổ, Sài Gòn.

Nhờ vậy, ở đây tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người đủ mọi tầng lớp xã hội và ở khắp mọi miền, nhất là dân miền Bắc, sau Tháng Tư, 1975, đổ xô vào Nam kiếm ăn rất nhiều. Vì dù miền Nam sau ngày “giải phóng” đã xuống cấp tột cùng, trông cũng còn khá giả, tươm tất hơn ở miền Bắc sau 20 năm dưới chế độ cộng sản.

Sài Gòn ngày nay. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

 Một ngày nọ, tôi gặp một người trung niên miền Bắc, trông mặt mày cũng khôi ngô, nhưng áo quần nhàu nát, làn da xanh mét như người thiếu ăn, anh vào tiệm, ngửa tay ra, nói mấy câu. Nghe giọng nói tôi biết ngay là người này ở ngoài Bắc mới vào, đang hành nghề xin ăn.

Tôi hỏi anh, “Tận ngoài Bắc, sao anh vào đây đi ăn xin?”

Không hề ngượng nghịu, anh nói rõ, “Vào đây xin 10 người cũng có được 6 người móc túi cho, lại chẳng bao giờ bị chửi bới. Ngoài Bắc, nhất là Hà Nội, thì đừng hòng! Có mà chết đói.”

Đó là điều tôi nhận ra, như vậy là có sự khác biệt nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội. Hà Nội đại diện cho miền Bắc và Sài Gòn phản ánh cho những đặc tính của miền Nam.

Cộng Sản vào không phải làm điện khí hóa cho nông thôn trở thành thành thị, nhưng thật tình đã “nông thôn hóa” thành thị, nên dân Sài Gòn thường trực bị cúp điện, nhiều nơi tìm cách đào giếng để kiếm nước và sẵn sàng bới sân gạch lên để trồng khoai lang cải thiện, hay như ông bạn tôi ở chung cư Thanh Đa, bớt chỗ sinh hoạt để nuôi hai con heo nái trên sân thượng.

Sài Gòn sau thời gian đổi tên, nguyên do chỉ vì cái bến Nhà Rồng chết tiệt, chẳng mấy chốc xuống gần bằng Hà Nội. Bằng Hà Nội hơn, nhất là sau khi họ ồ ạt “vào thành phố” như một câu hát của Trịnh Công Sơn, với những “cửa hàng thịt phụ nữ,” “cửa hàng chất đốt thanh niên” mọc ra, cái cảnh phơi áo quần trên cửa sổ, treo khăn lông trong “xe con,” nuôi heo, trồng rau ngay trong sân nhà, hay hai anh bộ đội lái xe khác chiều dừng xe ngay giữa lộ để nói chuyện với nhau, bất cần tiếng chửi của thiên hạ.

Mới thoạt nhìn, Sài Gòn bỏ ngỏ và bắt đầu nhếch nhác giống Hà Nội, nhưng sự thật trong gan ruột, hai thành phố đối cực, đối đầu này đang có những điều khác biệt, một bên là “nơi hang ổ cuối cùng và đâu cũng thấy tàn dư Mỹ Ngụy,” và Hà Nội, “thủ đô của lương tri, phẩm giá con người!” Vì vậy mà ngày nay, sau gần 40 năm “thống nhất” người ta còn đi tìm và thấy ra có quá nhiều khác biệt giữa Sài Gòn, Hà Nội. Cách biệt vì cách đối xử chính trị như vậy, trách sao Sài Gòn và Hà Nội không cách biệt về văn hóa, mặc dầu lúc nào hai bên cũng cho bên kia là “quê hương tù dày!” Tuy vậy, Hà Nội thắt lưng, buộc bụng, tẩy não, “dốc hết hạt gạo, cục muối cho miền Nam đánh Mỹ,” làm sao so được với Sài Gòn “bơ thừa sữa cặn!”

Nói về giáo dục, sau Tháng Tư, 1975, đồng bào và thầy cô giáo miền Nam hẳn đã biết loại văn hóa ăn nói vô lễ, thô tục của lũ trẻ miền Bắc mới vào Nam, vì miền Bắc không có khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” treo trong các lớp tiểu học. Ngày ra Bắc, lên tận Hoàng Liên Sơn, tôi đã trông thấy những nét văn hóa tiêu biểu, được viết bậy lên vách tường nhà trường tiểu học, chưa kịp xóa sạch, nói đến sự quan hệ của ngành công an và giáo dục: “Công An (đ.) Cô Giáo!”

Trên đường làng Cẩm Nhân, Yên Bái, chúng tôi đi ngang một nhà giữ trẻ của hợp tác xã, nghe tiếng trẻ khóc la và tiếng quát của một phụ nữ: “Bố mẹ chúng mày đéo cho lắm vào, để chúng mày làm khổ thân bà!” “Bà” đây là người giữ trẻ của hợp tác xã nông nghiệp, bà có nhiệm vụ giữ trẻ thì khỏi ra đồng như các hợp tác xã viên khác. Liệu lũ trẻ này lớn lên dưới sự chăm sóc của những người này này, ngôn ngữ của chúng sẽ ra sao?

Trên các blog và báo chí trong nước, đề tài “những sự khác biệt giữ Sài Gòn và Hà Nội” tương đối là một đề tài hấp dẫn.

Tôi dẫn một vài ví dụ:

Giao tiếp:

– Ở Sài Gòn, bạn dửng dưng khi thấy cô bán hàng cúi gập người chào bạn.

– Ở Hà Nội, bạn xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó nói lời cảm ơn.

Hàng quán:

– Tô hủ tíu mì Sài Gòn được bưng ra với tô được đặt trên chiếc đĩa.

– Bát phở gà Hà Nội được khuyến mại với ngón tay cái của con bé bưng bê!

Ca ve:

– Khi bạn vừa thanh toán xong tiền cho cave…

Cave Hà Nội: “Cho em xin thêm 10 nghìn để còn đi xe ôm về.”

Cave Sài Gòn: “Em bớt cho anh 10 ngàn, lần sau nhớ kiu em nha!”

Nhà sách:

– Hà Nội: Nhân viên hách dịch.

– Sài Gòn: Vào đọc chùa thoải mái, nhất là các em bé, có thể ngồi tại chỗ đọc mà không sợ bị đuổi!

Trong quán ăn:

– Sài Gòn: “Vâng em làm ngay đây.”

– Hà Nội: “Làm gì mà cuống lên thế! Muốn nhanh thì xéo sang hàng khác!”

Bạn bè:

– Hà Nội: Hay để bụng, ghét mà trước mặt vẫn chơi, về nhà nói xấu.

– Sài Gòn: Mau huề, ghét là biến, không chạm mặt!

Nhưng liệu những sự khác biệt này kéo dài được bao lâu nữa? Bây giờ, Sài Gòn và Hà Nội đã bắt đầu đầu giống nhau, ảnh hưởng và bị đồng hóa, vì người Nam ra Bắc thì ít mà người Bắc vô Nam càng ngày càng đông, như một người tên Jor Dan viết trên blog: “Mỗi người có một cách suy nghĩ riêng. Nhưng đa phần chỉ nói yêu Hà Nội, nhưng lại thích được sống ở Sài Gòn. Ca sĩ Hà Nội vào Sài Gòn lập nghiệp nhiều quá còn gì!”

Sau gần 40 năm bây giờ hai thành phố này đã có những chuyện giống nhau. Ở đâu cũng kẹt xe kinh khủng, và sau một trận mưa, không chỉ ở thành phố “bác” mà ở Hà… cũng lội!

Vô kỷ luật:

Sinh viên:

– Hà Nội: Nhiều em cave trông như sinh viên.

– Sài Gòn: Nhiều em sinh viên trông như cave.

Giao thông:

– Sài Gòn: Bạn có thể vượt đèn đỏ thoải mái.

– Hà Nội: Bạn có thể lượn lờ trước mũi xe hơi.

Chúng ta không hy vọng gì Hà Nội và Sài Gòn sẽ mãi mãi khác nhau. Sự đồng hóa và việc di dân ồ ạt sẽ làm cho Sài Gòn càng ngày càng gần với Hà Nội. Điều rõ nhất là Hà Nội trước năm 1954 và Hà Nội bây giờ hoàn toàn khác nhau. Năm 1954, sau Hiệp Định Geneva, một số người đã mang sự thanh lịch của Hà Thành năm xưa đi xa, để “Hà Lội” ngày nay cho những người mới vào tiếp thu, từ giọng nói đến văn hóa cư xử đã hoàn toàn khác biệt.

Người Sài Gòn hôm nay sẽ không còn là người Sài Gòn của những ngày tháng cũ, tất cả chỉ còn là chuyện thời gian.

Chỉ sợ sau ngày Sài Gòn trở lại tên cũ, chất Sài Gòn sẽ không còn nữa.

Chúng ta yêu Sài Gòn chính là yêu chính chúng ta, cái bóng của dĩ vãng. Muốn Sài Gòn không đổi thay, chính lòng mình phải không thay đổi.

Huy Phương

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 28 Jul 2025

87. Trần Văn Nhơn

Trần Văn Nhơn thuộc lớp nhạc sĩ tiền phong ở miền Nam cùng thời với những Trần Văn Lý, Võ Đức Thu. Ông ít xuất hiện trong những buổi trình diễn tại các rạp hát, các sân khấu. Ông đóng góp công sức xây dựng nền tân nhạc Việt Nam bằng những việc làm ở các đài phát thanh và các sáng tác của mình.

Ba ca khúc nổi tiếng của ông là các bài: Sài Gòn Xa Hoa, Ảo Ảnh Chiều Thu, Hà Nội 49. Giữa Trần Văn Nhơn và Lê Thương có một điều trái ngược là lạ.

Lê Thương sinh trưởng tại miền Bắc, nhưng dường như ông lại khởi nghiệp tại miền Nam. Mấy ca khúc quan trọng nhất trong trong toàn bộ tác phẩm của ông, ba bài Hòn Vọng Phu I. II & III, đều được ông sáng tác tại miền Nam. Ngôn ngữ ông dùng để viết lời cho các ca khúc Lòng Mẹ Việt Nam, Hoa Thủy Tiên, Nàng Hà Tiên, cho người ta cảm tưởng tác giả phải là người Nam mới viết được. Trần Văn Nhơn sinh trưởng ở miền Nam, nhưng không biết ông lưu lạc sao đó mà vào lúc nổi tiếng nhất ông lại đang ở miền Bắc và từng có lúc giữ chức vụ nhạc trưởng Ban Việt Nhạc của đài phát thanh Hà Nội.

Sài Gòn Xa Hoa và Hà Nội 49 có thể coi là những bài sử ca về hai thành phố lớn nhất đất nước với đầy đủ vẻ đẹp và những nỗi vui buồn, ai oán, một thời. Nó cũng mở đầu cho những bài ngợi ca các thành phố của chúng ta sau này. Chỉ khi có dịp tới Sài Gòn người ta mới nhận ra được cái nhịp sống của cả một thành phố Trần Văn Nhơn nói tới trong ca khúc của ông. Trong những thanh âm lướt lướt, nhất là nếu lại được nghe qua tiếng phong cầm, người ta tưởng chừng như thấy được cả cái nhấp nháy của muôn vàn ánh đèn qua lại. Cho đến nay, đã có không biết bao nhiêu bài hát nói về Hà Nội, ngợi ca Hà Nội. Nhưng nhiều người vẫn cho rằng Hà Nội 49 của Trần Văn Nhơn và Hướng Về Hà Nội của Hoàng Dương là những bài gợi cảm nhất.

Có một khoảng cách 4, 5 năm về việc ra đời của hai tác phẩm này. Khi Trần Văn Nhơn viết Hà Nội 49, Hà Nội là một Hà Nội ‘tề’. Tề là vùng đất quốc gia để phân biệt với các phần đất do cộng sản kiểm soát, khi ấy được gọi là hậu phương’ hay ‘kháng chiến’.

Ranh giới giữa hai vùng không rõ rệt. Vì thế khi ấy nẩy sinh một thành ngữ “ấm ớ hội tề”. Và từ hậu phương trở về vùng tề người ta gọi là “dinh tê” [rentrer tiếng Pháp]. Chiến tranh vừa lùi xa thành phố không bao lâu, Hà Nội vẫn còn nhiều đổ nát nhưng đồng thời cũng có những dấu hiệu hồi sinh. Người ta đang xây dựng lại nhà cửa, xây dựng lại đời sống. Cùng một lúc, hàng ngày người ta vẫn nghe tiếng bom đạn nổ đâu đó, các cuộc giết chóc, bắt bớ xẩy ra quanh mình. Gọi là vùng quốc gia nhưng thực tế quyền hành đều nằm trong tay người Pháp. Vì thế phần lớn người Việt khi ấy sống trong cảnh “một cổ đôi ba tròng”. Hướng Về Hà Nội được Hoàng Dương viết khi sắp xẩy ra hiệp định Genève chia đôi đất nước. Tình hình ở khắp nơi đều rất rối ren, nguy hiểm. Không có gì chắc chắn, nhưng theo các bằng hữu của ông cho biết, Hoàng Dương đã bỏ Hà Nội về Nam Định trước ngày 20 tháng 7/54 ít lâu. Ca khúc là nỗi nhớ của ông đối với Hà Nội khi ấy.

Không phải chỉ là một Hà Nội xa, mà còn là một Hà Nội sắp mất, trong ý nghĩa thật và ý nghĩa đổi thay. Một người, Trần Văn Nhơn, ở ngay trong lòng Hà Nội, yêu Hà Nội, nghĩ về Hà Nội như một du khách cùng một lúc cũng là người Việt Nam, cảm thương cho số phận của đất nước.

Một người, Hoàng Dương, là người Hà Nội, tự tách mình ra khỏi Hà Nội, nhớ về Hà Nội, như một giấc mơ, có nghĩa là có thể tan biến. Nghe Hướng Về Hà Nội người ta có thể cảm nhận nỗi lo âu tan biến đó, từa tựa một Hà Nội nhìn thấy trong giấc mơ, trong bóng nước.

Trần Văn Nhơn mất đã lâu lắm [?]. Hoàng Dương vẫn còn ở Hà Nội.

Hà Nội hiện có bao nhiêu đổi thay so với Hà Nội trong nhạc Hoàng Dương và trong nhạc Trần Văn Nhơn? Sau đây là nguyên văn bài Hà Nội 49:

Hà Nội 49

Bước men quanh hồ Hoàn Kiếm

giữa thu chiều uá

Tôi nhớ tháng ngày sống nơi thủ đô hồi qua

Hồ đẹp gương nước liễu xưa la đà bóng hồ

Đời vui thái bình trước lúc chiến tranh

Khắp chốn nay điêu tàn

Nhà xiêu đổ một cảnh nát tan

Hồ xanh nay vẫn xanh

Nhưng liễu xưa ven hồ đâu tá

Tôi đứng im lặng nhìn

Nhìn tháp cũ bóng soi hồ Gươm

Tháp kia sao lạnh lùng

Như dấu muôn e thẹn căm hờn

Nước in trên hồ bao phen gió run hồn nước

Chinh chiến hung tàn ngất cao

khói sương mờ gương

Hồ ơi mi đã từng phen chứng kiến phút qua

Ngày nào mi thấy đời sống đầy hoa

Hà Nội yêu quý! Là chốn tôi hằng mến yêu

Là nơi khi trước tôi tìm làm nơi gửi thân

Hầu quên những mối sầu khổ

đớn đau tiêu điều

Hồn tôi đã mang thầm kín sớm chiều

Hà Nội yêu quý!

Là chốn lịch sử ngàn năm

Là trái tim của Việt Nam

Là linh hồn Việt anh dũng

Là nơi đẫm thắm máu xương

biết bao anh hùng

Tổ quốc muôn đời ghi nhớ

Sử xanh thắm ghi chiến công

Hà Nội yêu quý!

Cầu chúc cho ngày ấm êm

Rày mau chấm dứt tháng ngày

tang tóc ưu phiền.

Duy Trác

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 28 Jul 2025

86. Trần Văn Lý

Nếu hiện tượng các nhạc sĩ chỉ viết có một bài duy nhất đôi khi gây thắc mắc thì trường hợp Trần Văn Lý có thể làm người ta ngạc nhiên. Bởi vì tên tuổi ông gắn liền với sinh hoạt của nền tân nhạc Việt Nam và nhất là ở miền Nam một thời. Ông là nhạc trưởng của nhiều ban nhạc cộng tác với các đài phát thanh, các hí viện, vũ trường, các hãng sản xuất đĩa hát …. và hầu hết các ca sĩ nổi danh lúc bấy giờ đều làm việc mật thiết với ông. Nghĩa là mọi điều kiện đều thuận lợi để ông sáng tác. Vậy tại sao Trần Văn Lý chỉ viết có một bài Mẹ Ơi!

Nhớ lại những buổi trình diễn tân nhạc tại các rạp ở Sài Gòn thuở ấy, khi khán giả đã đến đông đủ, các nhạc sĩ trong ban đã tề tựu đâu đó với các nhạc cụ đã chuẩn bị xong xuôi, so dây, thử tiếng rồi, người ta mới thấy vị nhạc trưởng từ ngoài cửa đi vào hoặc từ hậu trường sân khấu bước ra, ngồi xuống chiếc ghế trước dương cầm. Cây đàn, vài phút trước vừa được một người nào đó kéo tấm khăn che và mở sẵn nắp phím, sắp xếp lại những bản nhạc đặt trên giá. Nhạc trưởng Trần Văn Lý, khi mặc đồ lớn thường, khi mặc bộ đồ đuôi tôm, tùy theo các buổi trình diễn lớn nhỏ, ngồi xuống ghế và lập tức lướt tay trên hàng phím, và, các nhạc sĩ đã quen với lối làm việc, nhập vào cuộc hòa tấu ngay.

Tất cả mọi sự có một vẻ gì đó như như người ta thường nói “nặng phần trình diễn”, nhưng phải nói, dường như nó cũng góp phần làm cho thái độ thuởng ngoạn của khán giả nghiêm chỉnh hơn.

Những ca khúc duy nhất của một người hình như luôn mang trong nó một niềm bí ẩn, tựa một đám mây, một cơn gió, một lời nói chưa hết ý, một khuôn mặt người ta tình cờ bắt gặp trong đời, gần như không có liên hệ gì với mình, nhưng bỗng có lúc, không vì nguyên cớ nào cả người ta bỗng nhớ lại và chợt thấy lòng bâng khuâng.

Mẹ Ơi!

Mẹ ơi! Đau đớn thay khi lìa con

Trước giờ biệt ly

Con hiến thân vì non sông

Liều thân nơi chiến chinh trong rừng thẳm

Nước non trời mây

Yêu quốc gia đâu hà chi

Xông pha nơi muôn trùng âm u

Mưa giông gió to

Đứng trước quốc biến lòng đau xót như mối tơ vò

Lìa xa mẹ ái yêu đang sầu lo

Chiến trường nơi ấy

Lòng thương mẹ còn ghi nhớ

Hy sinh thân con đi đền nợ nước

Nước mắt ướt thắm cách biệt mẹ hiền

Người mà lòng này đầy thương mến nhiều

Đứng trước quốc biến phải đành lìa xa

Ước mong ngày kia

Cảnh vui thái bình

Nhìn con diễn binh

Rạng danh nòi giống

Mạnh Phát

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 28 Jul 2025

Chương 27 – Kết

Mấy tháng đầu, con đi du học xa vắng, trong thời gian đó Vương hổ tướng ở nhà tiễu trừ bọn giặc cướp. Khi chàng đã diệt trừ hết, kịp đến vụ lúa chín, dân đã có cơm ăn lúc đó đang giữa mùa thu, khí hậu ôn hòa, gió không lạnh lắm, nắng cũng không gắt lắm, chàng đem theo một nửa binh đoàn đi thị sát khắp vùng, ý chàng muốn khi nào con chàng đi du học về mọi việc trong ngoài đã được xếp đặt hoàn hảo. Chàng dự tính sẽ nhường chức đại tướng, tổng chỉ huy binh đội cho con, giao phó hết binh đoàn cho con, còn chàng chỉ giữ lại ít vệ binh.

Năm đó chàng đã năm mươi lăm tuổi, con chàng hai mươi, ngồi trên lưng ngựa chàng mơ màng, mộng tưởng thấy thằng con trai của chàng, nhưng sự thực với hai con mắt nhẫn nhục chàng chỉ thấy có đám nông dân với cánh

đồng lúa chín. Tuy nạn đói đã qua, song phong cảnh cũng như nhân vật hãy còn in dấu tích của hai năm thiên tai hồng thủy. Ruộng đất tuy có tốt nhờ đất phù sa, song vụ gặt năm nay muộn hơn mọi năm, nông dân người nào hai má cũng hóp, còn rất ít người già trẻ nhỏ.

Cuộc nhân sinh lại được tiếp diễn, nhiều đàn bà đã có thai, bụng đã to, chàng thấy sự phồn thịnh rồi sẽ trở lại, sự nhận xét như an ủi lòng chàng, trầm ngâm suy nghĩ, tự nhủ:

– Chắc Trời gieo tai nạn để cho ta biết cảnh khó khăn là thế nào, mấy năm gần đây ta thấy mọi việc trôi chảy dễ dàng quá. Có lẽ là một cuộc thử thách của Thượng đế kích thích cho ta còn làm lớn hơn nữa, ta đã có một đứa con nối nghiệp, nó sẽ thụ hưởng tất cả sự thành công, kết quả ta đã gom góp

được.

Trong cuộc đi kinh lý chàng đến một tỉnh mà xưa kia chàng đem quân đến vây hãm, chiếm đoạt, chàng để thằng Rỗ, cháu chàng thay chàng trông nom cai quản ở đó. Vương hổ tướng cho người vào trước báo tin chàng đến kinh lý.

Bây giờ thằng Rỗ không còn là một thanh niên, nó đã hẳn là một người lớn, lấy con gái người dệt lụa và đã sinh hạ được một hai đứa con. Khi nghe tin chú đi kinh lý, đã đến ở ngoài tỉnh, nó hết sức kinh ngạc, luống cuống. Mấy năm nay nó sống một cuộc đời êm đềm, bình thản, đến mực nó quên phứt nó là một quân nhân. Bản tính vui vẻ, dễ dãi, ham chơi, ưa mới lạ nó thích sống ở đấy, vừa sung sướng vừa có quyền thế, kẻ vì người nể. Ngoài công việc thu thuế, nó không phải bận bịu; có công việc gì khó khăn nặng nhọc đâu nên người nó mỗi ngày mỗi phát phì.

Mấy năm sau, nó trút bỏ cả quân phục, ăn mặc thường dân, trông như ông chủ nhà buôn, giàu có, trưởng giả. Nó quen thân với các nhà buôn trong tỉnh, nên mỗi lần đi thu thuế cho Vương hổ tướng, theo thói quen của các nhà buôn, có chút tiền trà nước, nên nó cũng có lợi riêng. Nó đã lấy danh hiệu Vương hổ tướng đặt thêm một vài thứ thuế nhẹ vào những món hàng mới lạ. Bọn con buôn biết cũng không ta thán, họ biết sự khuất tất đó, có lợi, ai cũng làm, họ lại còn lấy lòng nó, thỉnh thoảng biếu xén, ai cũng biết nó có quyền làm phúc trình lên chú nó nếu để mất lòng nó, có khi còn bị thiệt hại hơn.

Khi nghe tin chú đến, nó vội vàng giục vợ lấy ra một bộ quân phục. Bao nhiêu quân phục của nó, vợ nó đã cất kỹ trong rương. Nai nịt xong nó gọi hết cả tụi lính ra xếp hàng ở ngoài sân. Bọn lính cũng được ăn uống, chơi bời, nó dùng làm đầy tớ, không còn ra dáng lính tráng binh đội. Khi nó xỏ hai cái cẳng chân béo mập vào chiếc quần nhà binh cũ, nó nghĩ thật chán phải đeo bộ quần áo khổ cứng nhắc. Bụng nó bây giờ cũng to lớn, không sao kéo hai vạt áo kín bụng, nó phải đeo một chiếc dây lưng lớn để cho khỏi hở. Khoác bất đắc dĩ bộ quân phục nhá nhem cho xong, xếp bọn lính hàng ngũ qua quít cho xong, bây giờ yên chí chờ Vương hổ tướng đến thị sát.

Chỉ ở đó vài hôm, chàng hiểu rõ hết nội tình và ý nghĩa những bữa tiệc linh đình các nhà buôn trong tỉnh và ông Phủ tiếp đãi chàng. Chàng biết thằng cháu phải đeo bộ binh phục lấy làm bực bội khó chịu lắm, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, nóng quá nó nới dây lưng, chàng biết áo chật không gài được khuy để hở cả bụng, chàng mỉm cười chua chát và nghĩ thầm:

– Ta nghĩ cũng đáng mừng đứa con trai ta dáng điệu đường hoàng không như thằng này con anh ta, thật giỏ nhà ai quai nhà ấy đúng con một anh lái buôn.

Chàng đối với cháu có vẻ thờ ơ lãnh đạm, không một lời ban khen úy lạo, chàng nói vẻ lạnh nhạt:

– Mày trông nom tập luyện bọn lính thế nào mà tụi nó chưa biết cầm súng ra làm sao. Bọn này cần phải thao luyện cho ra mặt trận. Sang năm mày còn chờ gì không mở một mặt trận để cho tụi này đi cho nó quen.

Thằng Rỗ nghe chú nói toát mồ hôi, nó ấp úng mấy câu trong miệng. Kể ra thằng này nếu có ai hướng dẫn, chỉ bảo nó cũng không đến nỗi hèn kém, có thể là một quân nhân, nhưng nó không phải là hạng có đủ tư cách có thể cầm quân điều khiển, có uy phong cho kẻ dưới sợ, bây giờ nó đã sống quen cuộc đời êm đềm sung sướng. Vương hổ tướng thấy bộ dạng nó lúng túng, chàng cười thầm lấy tay lắc chuôi kiếm thét to:

– Mày ở đây quen được sung sướng, tỉnh này xem ra cũng trù phú ta cho tăng thêm thuế. Đứa con trai ta đi học ở miền Nam tốn kém nhiều lắm, ý ta muốn mở rộng bờ cõi cho nó trong khi nó đi du học xa vắng. Mày phải hy sinh chịu khó ta cho tăng thuế nhất bội nhị, mày lo liệu thu hoạch cho ta.

Thằng Rỗ đã bí mật điều đình với các lái buôn trong tỉnh nếu chú nó đòi tăng thuế, nó sẽ hết sức bênh vực, nói ở đây tuy thế làm ăn khó khăn lắm, dân tình đói khổ, nếu nó nói đắc lực, chú nó nghe, bọn lái buôn sẽ nộp cho nó món tiền thưởng. Giờ đây nó nằn nỉ cố trình bày với chú, viện nhiều lý

lẽ, không nên tăng thuế. Vương hổ tướng không một chút mủi lòng, chàng hét to:

– Mày đừng nói lôi thôi, ở đây thế nào tao biết. Không có tội nào nặng bằng bất tuân thượng lệnh, mày là cháu ta hãy ngơ cho lần này, nhưng liệu nghĩ.

Tiếc món tiền thưởng, thằng Rỗ mặt mày nhăn nhó trông rất thảm thiết, nó viết thơ loan báo cho tất cả nhà buôn biết việc tăng thuế, bọn này họp nhau làm tờ điều trần lên Vương hổ tướng.

“… Thưa tướng quân, chúng con nộp không những thuế tướng quân, còn thuế ở tỉnh, thuế của nhà nước. Tất cả các thứ thuế, thuế Tướng quân nặng hơn hết, chúng con buôn bán chẳng còn được mấy lãi”.

Vương hổ tướng nghĩ đã đến lúc phải dùng uy vũ, phải cho họ biết thanh đoản kiếm. Cắt ngang những câu khách sáo rườm rà, không nghĩ ngợi gì chàng nói:

– Nếu tôi nói tử tế không nghe, tôi bắt buộc phải dùng uy lực.

Với những thủ đoạn đó, chàng trừng phạt thằng cháu tuy chàng vẫn để cho nó tại vị. Với những thủ đoạn đó, chàng đã củng cố địa vị trong tỉnh và toàn hạt. Khi mọi việc đã xếp đặt xong xuôi chàng trở về nhà chờ hết mùa Đông

chàng cho thám tử đi dò la tin tức, chàng tính toán xếp đặt kế hoạch. Chàng mơ vọng mở những cuộc chinh lược đại quy mô vào đầu mùa xuân tới, chàng mơ ước, tuy đã có tuổi, song còn đủ sức chiếm đoạt toàn tỉnh cho con.

Suốt cả mùa đông năm đó Vương hổ tướng lúc nào cũng mơ màng ước vọng đạt được mục đích. Chưa có mùa đông năm nào mà chàng lại cảm thấy vắng vẻ, cô đơn hơn năm đó nên chàng hay lui tới thăm nom hai vợ. Tuy đến nhà hai cô vợ chàng không thấy hứng thú, vui thêm tị nào, ở đấy chỉ có cô vợ mù chữ ở với mấy đứa con gái. Chàng không biết nói năng chuyện trò gì tuy là vợ con. Lắm lúc chàng nghĩ không biết cô vợ kia bây giờ thế nào, đi vắng đã bao nhiêu năm nay chàng chỉ biết cô này ở với con gái trong một căn nhà gần trường con học.

Đã có một lần cô vợ này có gửi cho chàng tấm ảnh cô và con gái chụp chung, chàng có cầm ngắm xem một lúc. Trông ảnh đứa con chàng đã lớn, người đẹp lắm. Con bé có vẻ tự do, lãng mạn, hai con mắt đen nhánh với bộ tóc cắt ngắn. Chàng không tưởng là con chàng, con bé này vào hạng gái tân thời, hay cười, hay nói liến láu. Chàng nhìn cô vợ lâu hơn, chàng làm như chưa quen biết bao giờ, chàng quên cả những đêm chàng vẫn lại với nàng. Chàng nhìn người trong ảnh, người trong ảnh cũng nhìn chàng, chàng cảm thấy khó chịu như khi xưa đứng trước mặt nàng, nàng như muốn nói gì mà chàng không muốn nghe, như nàng muốn cầu khẩn gì mà chàng không để nàng được thỏa mãn. Không muốn nhìn lâu nữa, chàng cất ảnh đi, lẩm bẩm nói một mình:

– Trong đời một người đàn ông không có đủ thì giờ nghĩ đến việc đó. Ta còn có công việc của ta, không có thì giờ hầu các mụ. Chàng thấy phấn khởi tinh thần, chàng cho thế là một nết rất hay, trong bao nhiêu năm chàng không gần đàn bà. Những lúc chàng cảm thấy cô đơn, buồn nhất là những đêm chàng ngồi một mình một bóng ở bên lò sưởi. Ban ngày chàng còn khuây khỏa, không buồn lắm, ban đêm chàng thấy sao buồn quá, âm thầm, cô đơn, như độ nào lúc thủa xưa. Những lúc đó chàng tự hoài nghi, nghĩ mình đã già, không biết đến xuân tới, chàng có làm được việc gì hay ho mới lạ không? Những lúc đó hai con mắt chàng ngơ ngác, miệng mỉm cười chua chát đau đớn, nghĩ mình lại thương nỗi mình. Trong đêm khuya chàng lẩm bẩm:

– Con người ta ít khi đã đạt được, đã thực hiện được những ước vọng của mình.

Một lúc chàng lại nghĩ:

– Một người, khi đã có con, những mưu đồ sự nghiệp có lẽ ba đời sau mới thực hiện hết được.

Chàng có một lão bộc, một người thuộc hạ tâm phúc, anh Sứt Môi, vẫn để ý trông nom chàng. Anh này thấy chủ, đêm khuya khoắt ngồi một mình trước lò than, nghĩ vơ vẩn, ban ngày người mệt mỏi không thiết trông nom bọn lính để cho họ ăn không ngồi rồi muốn làm gì thì làm, anh này bắt chấp cả nghi thức sư đệ, đi thẳng vào buồng chàng đem theo một hũ rượu nóng và ít thịt muối mặn. Anh đon đả vồn vã chuyện trò cố ép chàng uống rượu giải khuây. Có anh lão bộc chàng thấy cũng vui vui, chàng uống một chút rượu, rồi lại uống thêm một ít nữa, trong người thấy khoan khoái dễ chịu đã thấy buồn ngủ. Trước khi đi ngủ chàng nghĩ:

– Đời cua, cua máy; đời cáy cáy đào. Cái gì đời ta chưa làm được, con ta sau này sẽ làm.

Mùa Đông năm đó, chàng đã uống rượu nhiều, chàng không nhận ra chàng chưa bao giờ uống rượu nhiều như thế. Thấy chủ bớt ưu phiền, đã ngủ được, anh lão bộc cũng sung sướng, đắc chí. Khi nào chàng từ chối không muốn uống nữa, lấy tay khẽ đẩy hũ rượu, anh lão bộc lại cố nằn nì, lựa lời khôn khéo nài ép.

– Xin tướng quân uống thêm, khi có tuổi ai cũng lấy rượu để làm thú tiêu khiển, di dưỡng tuổi già. Tướng quân chớ quá câu nệ, buộc mình khắc khổ quá.

Muốn tỏ lòng ưu ái và cho tên lão bộc được vui lòng, chàng cố uống thêm. Đêm chàng đã ngủ được, như trút được nỗi ưu sầu, cô đơn vắng vẻ. Chàng càng tin mãnh liệt vào đứa con độc nhất, chàng tưởng chừng hai cha con chàng không bao giờ có thể có tư tưởng dị đồng, chàng không bao giờ nghĩ tư tưởng, hoài bão của con lại không giống như của  chàng. Chàng mong cho chóng hết đông sang xuân để thực hiện chí nguyện.

Chợt một đêm trước xuân, Vương hổ tướng ở một mình trong phòng ấm áp, ngồi tựa lưng vào ghế, thiu thiu ngủ. Hũ rượu đặt trên bàn ngay trước mặt, thò tay với tới, chàng cởi thanh đoản kiếm đeo bên mình đặt bên cạnh hũ rượu. Thình lình giữa đêm trường tịch mịch của mùa đông tháng hạ, chàng đang mơ màng trong giấc điệp chợt có tiếng người, tiếng ngựa lao xao ngoài sân làm chàng thức giấc. Chàng chống hai tay vào thành ghế nhổm dậy, chưa biết tiếng người, ngựa nào, còn bàng hoàng, không hiểu mình

thức hay mê. Chàng chưa kịp hiểu ra sao, đã có người vội vã chạy vào

báo tin:

– Bẩm tướng quân, lệnh lang Thiếu tướng đã về.

Đêm hôm đó, cho đỡ rét, Vương hổ tướng uống rượu nhiều còn đang say chưa tỉnh, chàng đưa tay lên miệng lẩm bẩm:

– Ta đang mơ màng như gặp quân thù.

Chàng cố tỉnh giấc, đứng dậy ra ngoài sân. Ngoài sân sáng rực, dưới ánh lửa của ngọn đuốc, chàng nhận ra chính con chàng. Người tráng sĩ xuống ngựa đã lâu vẫn đứng chờ chàng.

Nhìn thấy cha, tráng sĩ nghiêng mình chào, tuy nghiêng mình chào, nhưng hai con mắt nhìn cha có vẻ lạ lắm, tựa như cừu địch. Sương gió của đêm đông lạnh lẽo, Vương hổ tướng rùng mình thấy rét, co vạt áo lại, chàng lạ

quá, do dự một lúc, hỏi con:

– Võ sư đâu ?… Sao con lại về?

Tráng sĩ trả lời, hai môi không thấy cử động:

– Võ sư với con xích mích, con đã bỏ hắn.

Vương hổ tướng – Pinterest photos/Samurai

Vương hổ tướng đã tỉnh rượu. Chàng đon chắc chắn đã xảy ra một việc gì đây, chàng không tiện hỏi trước bọn lính đứng xúm quanh, chỉ mong được nghe một cuộc đấu khẩu. Chàng quay người đi vào, bảo con theo sau. Hai cha con vào một căn phòng riêng, chàng cho hết gia đinh đầy tớ ra ngoài.

Chàng đứng không chịu ngồi, con cũng đứng. Vương hổ tướng ngắm con từ đầu đến chân, như chưa biết con bao giờ.

Chàng thủng thẳng hỏi:

– Mày mặc quần áo gì kỳ lạ vậy?

Tráng sĩ ngửng đầu, trả lời rất bình tĩnh, tự nhiên, câu trả lời đượm một vẻ ương ngạnh:

– Đây là quân trang của đạo quân cách mệnh.

Nói xong, thiếu niên thè lưỡi liếm môi, đứng ngay trước mặt cha.

Lúc đó Vương hổ tướng đã hiểu, con chàng xuống Nam đã làm gì, hiện giờ đây nó đã trở thành thế nào. Chàng đã hiểu bộ quân trang con mặc, đạo quân miền Nam, một cuộc chiến tranh lối mới mà tiếng đồn đã vang dội đến tai chàng.

Thốt nhiên chàng hét lên:

– Đạo quân đó là quân thù của tao.

Chàng ngồi phịch xuống ghế, tức quá nghẹn thở. Chàng thấy cơn uất hận, phẫn nộ, bừng bừng nổi dậy, như xưa kia đã có một lần với vợ Tám Beo. Chàng nắm thanh đoản kiếm sắc như nước, chỉ vào mặt con hét to:

– Mày là thù nghịch của tao, tao phải giết chết mày!

Nói xong chàng thở hổn hển, lần này chàng uất hận quá thấy người choáng váng, nuốt nước bọt ừng ực.

Giờ đây tráng sĩ không còn e lệ nhút nhát như xưa kia còn ấu trĩ. Vẫn đứng yên trước mặt cha, hiên ngang, bình tĩnh, tráng sĩ cởi khuy, phanh áo giơ chiếc ngực trước mặt cha, nói với một giọng bi ai, sầu thảm:

– Con đã biết cha muốn giết con, chỉ có cách đó để cha giải hận.

Nhìn thẳng vào cha nói tiếp:

– Giết con đi.

Tráng sĩ phanh ngực đứng chờ, dưới ánh nến, nét mặt cứng cỏi hiên ngang.

Vương hổ tướng không có can đảm giết con. Chàng biết chàng có quyền, chàng cũng biết bất cứ ai cũng có quyền giết được con nếu đứa con ngỗ ngược, phản bội, tuy biết vậy chàng không có đủ can đảm cầm dao giết con, chàng vứt thanh kiếm xuống nền nhà, đưa tay lên miệng lẩm bẩm:

– Ta nhu nhược quá … ta quá nhu nhược, một lãnh chúa như ta thật quá nhu nhược.

Tráng sĩ thấy cha lấy tay che miệng, vứt đoản kiếm xuống đất, chàng gài khuy áo, với một giọng rất trầm tĩnh, đứng trước mặt cha, trần thuyết, như đứng trước một lão tướng:

– Thưa cha, con biết cha không hiểu con, bất cứ người nào vào hạng tuổi cha cũng không hiểu nổi. Cha nghĩ xem cha có phải là đại diện cho tổ quốc không? Nước ta bị suy nhược và bị thế giới khinh miệt, cha có bao giờ nghĩ và hiểu không?

Vương hổ tướng rũ lên cười, chàng cố nín không cười ra tiếng, vẫn lấy tay che miệng chàng nói lớn:

– Mày không biết, trước mày đã có người nói với tao thế rồi. Khi tao còn trẻ tuổi … Mày tưởng chỉ riêng bọn trẻ chúng mày mới biết thế …

Nói xong Vương hổ tướng cố rặn ra cười, chàng cười khanh khách, con chàng chưa thấy bao giờ chàng lại có cái cười như thế. Tiếng cười chua chát của Vương hổ tướng như mũi tên nhọn đâm vào tráng sĩ, kích thích lòng phẫn nộ,

Vương hổ tướng cũng chưa bao giờ thấy thái độ con như thế.

Hắn dõng dạc nói lớn:

– Cha và con đây không cùng chung một lý tưởng. Thật ra cha chỉ là một kẻ phản nghịch, một tên trùm lâu la. Nếu bè bạn con biết cha, họ sẽ gọi là tên phản bội, nhưng họ không biết, đến tên cha họ cũng không hay; một lãnh chúa nhỏ mọn không nghĩa lý gì trong một cái quận huyện nhỏ bé.

Đó, con Vương hổ tướng đã nói với chàng, đã mạt sát chàng như thế, chàng đã suốt đời kiên nhẫn, tận tụy để gầy dựng cơ đồ.

Nói xong người thiếu niên nhìn thẳng cha, cảm thấy xấu hổ, im không nói gì, cổ và mặt ửng đỏ, mắt nhìn xuống, lấy tay cởi lần chiếc dây da, bao nhiêu đạn đeo ở người rơi loảng xoảng xuống nền gạch. Hắn đứng yên không nói một câu nào.

Vương hổ tướng không nói gì, chàng ngồi yên trong ghế vẫn lấy tay che miệng. Mấy lời con nói như thâm nhập vào trí phán đoán chàng, chàng cảm nhận một sự thoái tán của khí lực bị mất đi đã lâu. Trong tâm thức, chàng còn văng vẳng nghe mấy lời con nói. Phải, chàng chỉ là một lãnh chúa nhỏ nhen, một tiểu lãnh chúa trong một quận huyện nhỏ bé. Chàng lẩm bẩm sau bàn tay che miệng, không phải để bảo chứng nhưng do một thói quen đã lâu:

– Ta chưa hề bao giờ làm trùm bọn lâu la thảo khấu. Con chàng lúc đó cảm thấy nhục nhã xấu hổ quá nói rất nhanh:

– Không … không … không (như để che giấu sự xấu hổ) hắn nói tiếp:

– Thưa cha, con phải tìm nơi ẩn náu khi đạo quân cách mạng thành công, tiến lên mạn Bắc. Võ sư con đã dạy bảo con trong bao nhiêu năm, hắn tin ở con, hiện nay hắn là đại đội trưởng trong cơ đoàn con. Hắn không dễ dàng

tha thứ con nếu hắn biết con lựa chọn cha … chính cha …

Người thiếu niên buông câu nói lưng chừng, liếc mắt nhanh nhìn cha, trong khóe mắt có ẩn kín đáo một tình thương yêu luyến ái. Vương hổ tướng ngồi yên như không nghe thấy gì, chàng không trả lời. Thiếu niên lại nói, thỉnh

thoảng liếc mắt nhìn cha như muốn khẩn cầu một việc gì.

– Có gian nhà đất cũ kỹ, con có thể đến đó ẩn náu. Nếu họ tìm được con, họ chỉ thấy con là một nông phu tầm thường không phải con một lãnh chúa.

Nói đến đây thiếu niên mỉm cười, hy vọng với sự hài hước kín đáo đó làm xiêu lòng cha. Vương hổ tướng vẫn ngồi yên, không nói một câu nào.

Chàng không hiểu ý con trong câu “con đã lựa chọn cha”. chàng cảm nhận lòng sầu thảm, cay đắng, tiếc cả một đời tận tụy ra công xây đắp. Lúc đó chàng sực tỉnh cơn mộng ảo như người đi đã lâu trong chỗ sa mù, nhìn con trước mặt, tường chừng như một người nào xa lạ chưa quen biết bao giờ. Chàng đã cố công hun đúc, muốn nặn đúng khuôn mẫu đứa con trai độc nhất theo như mộng tưởng sự thực phũ phàng giờ đây đứa con đứng đó chàng không thể nhận được là ai.

Một nông phu tầm thường! Vương hổ tướng nhìn, ngắm đứa con, càng trông ngắm bao nhiêu chàng cảm thấy hình bóng quen thuộc xưa kia hiện lên, tràn ngập lòng chàng. Xưa kia hồi chàng còn niên thiếu, ở trong gian nhà đất chàng đã kinh tởm, bất lực đối với người cha già, người cha

đó đã chôn vùi, đi sâu vào dĩ vãng. Chàng đưa mắt nhìn con, lẩm bẩm sau lưng bàn tay như nói một mình:

– Không phải đứa con của một lãnh chúa.

Đột nhiên chàng thấy bàn tay cũng không kìm hãm được đôi môi rung chuyển, chàng nghẹn ngào muốn khóc. Chàng đã nức nở khóc nếu lúc đó người thủ túc tâm phúc, anh Sứt Môi, không vào đem theo một hũ rượu nóng, hơi bốc nghi ngút, thơm phức.

Cũng như mọi lần, khi vào phòng chàng, người lão bộc  để ý nhìn sắc diện chàng, lần này anh thấy sắc thái khác thường của chủ, vội vàng rót rượu nóng vào một cái chén bỏ không trên bàn. Vương hổ tướng rút bàn tay trên miệng, vội vàng cầm chén rượu đưa lên môi uống.

– Rượu ngon … nóng lắm … ngon thực …

Chàng đặt chén xuống bàn, sẽ nói:

– Rót nữa.

Rốt cuộc chàng không khóc.

Tây mưu sinh xứ Ta

baotreonline.com

Nguyễn Sinh

Post on May 19th, 2023

Post by Sơn râu 27 Jul 2025

Đến giữa tháng 4/2023, dân số Việt Nam chính thức đạt mốc 100 triệu người. Trong đó chưa kể số người nước ngoài đến sống và làm việc ở VN gần 105 nghìn người.

Ông Tây bán chuối chiên   

Thống kê cho thấy người ngoại quốc tại VN đến từ hơn 110 quốc gia và vùng lãnh thổ, đông nhất là người Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Ðộ, các nước Tây Á, Châu Phi, Châu Âu, Nam Mỹ… Phần lớn số người này sống tập trung ở các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Ðà Nẵng, Bình Dương, Ðồng Nai, Long An… Người nước ngoài ở VN tham gia làm nhiều ngành nghề. Ở đây chúng tôi không nói về số người nước ngoài đến VN bỏ vốn lớn đầu tư, lập công ty, doanh nghiệp, làm huấn luyện viên thể thao, vận động viên các bộ môn, các chuyên gia kinh tế, khoa học, y tế, quân sự…mà chỉ nói tới thành phần “cấp thấp” hơn và sau đó vì nhiều hoàn cảnh, không ít người trong số này buộc phải lăn lộn ra bên ngoài kiếm sống bằng đủ thứ nghề lao động tay chân, thậm chí đổ mồ hôi sôi nước mắt với mục đích kiếm tiền duy trì cuộc sống.

Vợ chồng ông Gilber Ciavaldini

Từ nhiều năm qua ở chợ đầu mối nông sản thực phẩm Hốc Môn, người bản xứ thường nhìn thấy một ông Tây già bán vé số. Ông này có tên VN là Nam (và tên Ý Gilber Ciavaldini, 65 tuổi). Ông Nam cùng vợ cũng là một phụ nữ Ý thuê nhà trọ sống gần đó. Nhiều người cho rằng ông Nam là người Ý đầu tiên đi bán vé số ở khu vực này. Ông Nam cho biết: “Hàng ngày tôi bán khoảng 200-250 tờ vé số, tiền lời tạm đủ sống và nuôi bà vợ bị chứng tai biến hầu như không làm gì. Riêng những người thích mua vé số của tôi chắc họ cảm thấy tò mò, lạ lẫm.”

Tương tự, một ông Tây khác cứ khoảng gần 5 giờ sáng hàng ngày lại lúi húi đẩy xe chuối chiên của mình tới góc vỉa hè ngã tư TÐX – Nguyễn Cư Trinh (quận 1) bày biện các thứ ra bán tới 12 giờ trưa mới đẩy xe về. Ông này tên Fabrica, 50 tuổi, người Pháp. Dù không biết nhiều tiếng Việt nhưng ông Fabrica làm món bánh chuối chiên đúng kiểu VN rất ngon. Ông tâm sự: “Tôi nhập cảnh VN từ tháng 1/2020, mục đích ban đầu đi du lịch. Thế rồi cơn đại dịch Covid-19 bất ngờ ập tới, tôi xài hết khoản tiền dành dụm không còn gì. Một thời gian dài, tôi tình nguyện theo chân các đoàn từ thiện đi phân phát thực phẩm cho người dân VN và sống nhờ cái ăn ở đấy. Sau có người quen hướng dẫn tôi làm bánh chuối chiên bán vì tôi biết không ai có thể giúp đỡ mình mãi được. Hiện hàng ngày tôi bán được từ 120-150 bánh chuối chiên, giá 10 nghìn VNÐ/chiếc. Khách hàng là những người dân chung quanh và nhiều nhất là mấy em, mấy cháu học sinh…”

Giữ xe khu chung cư

Một người nữa là anh Stephan Zvonik (36 tuổi, người Ukraina) cho biết anh đến VN để “du lịch bụi” trước cả khi Nga dùng vũ lực tấn công Ukraina. Anh không có nhiều tiền và cũng không còn gia đình. Tiếp sau, anh quan sát thấy có nhiều người kéo loa vừa đi hát vừa bán kẹo cao su, thuốc lá. Vậy là Stephan Zvonik nảy ra ý nghĩ bắt chước họ làm nghề hát rong bằng cách đi thuê bộ loa kéo giá 200 nghìn VNÐ/ngày, cứ mỗi chiều tối đem ra phố đi bộ Bùi Viện hát hò và buôn bán. Sau thời gian ngắn, do khu chung cư anh đang thuê ở đang thiếu chân nhân viên giữ xe, được người quen với thiệu, anh bèn chuyển luôn qua nghề này hơn 1 năm nay.

Gần 2 năm qua, hai anh em  người Nigeria Michael và Palinus Unachukwu nhận làm công việc nhân viên bảo vệ cho một tiệm karaoke ở quận Tân Bình. Michael cho biết: “Chúng tôi làm ở đây từ 8 giờ sáng đến 23 giờ khuya hàng ngày. Cuối năm 2021, khi đang ở Phú Nhuận, nhà thuê trọ của chúng tôi bị kẻ trộm cạy cửa, lấy mất toàn bộ giấy tờ, visa, tiền bạc đem theo. Trong thời gian chờ Ðại sứ quán hỗ trợ, vài người dân VN thấy vậy đã giới thiệu cho tôi công việc này. Từ đó chúng tôi không còn lo chuyện ăn ở nữa. Hàng tháng còn có lương để trang trải cuộc sống. Qua tháng 6 này chúng tôi được cấp lại visa, nhưng vẫn muốn ở lại Sài Gòn làm việc thêm ít lâu nữa”.

Bán hàng rong vỉa hè

Theo kết quả khảo sát, 84% số người nước ngoài được hỏi cho biết họ hài lòng với cuộc sống của mình ở VN. Ðặc biệt cảm thấy khá hạnh phúc và dễ chịu với mức chi tiêu sinh hoạt sống hàng ngày. Một điều đáng chú ý nữa là hầu hết người nước ngoài khi được hỏi đều cho rằng cư dân địa phương rất thân thiện. Có 83% số người nước ngoài cảm nhận bản thân họ “được chào đón tại quốc gia này” và 71% số người “có cảm giác nơi đây cũng giống như đang ở nhà mình”. Nói như Stephan Zvonik: “Nhiều người Việt rất tử tế, họ sẵn sàng trò chuyện vui vẻ thoải mái dù giữa tôi và họ không thể giao tiếp trọn vẹn bằng một thứ ngôn ngữ chung! Chính sự nồng hậu và dễ gần của người dân VN là những gì tôi thích nhất về cuộc sống ở đất nước này, trừ mấy ông chính quyền đôi khi làm khó dễ!”

Vui mừng khi nhận được tiền lương

NS

Hớt tóc nữ & …

baotreonline.com

Nguyễn Sinh

Post on May 5th, 2023

Post by Sơn râu 27 Jul 2025

Sài Gòn từ cuối năm 1995 đã xuất hiện dịch vụ cắt tóc thanh nữ. Thời điểm đó, các tiệm hớt tóc thanh nữ mọc lên như “nấm sau mưa” ở nhiều nơi như quận 1, 3, 4, 5, 9, 10, Tân Bình, Bình Thạnh, Gò Vấp, Thủ Đức và tồn tại mãi tới giờ.

Về sau này, các dịch vụ càng cạnh tranh nhau gay gắt. Gần như tiệm nào cũng sẵn có vài thủ pháp tuyệt chiêu độc đáo nhằm “vừa lòng khách đến” bởi nếu không “thượng đế” sẽ tìm qua những tiệm khác vui vẻ, thú vị hơn.

Một buổi trưa giữa tháng 3/2023, tôi và người bạn có mặt tại một tiệm hớt tóc thanh nữ T.N trên con đường thuộc quận 3. Ðây là ngôi tiệm khá bề thế, từ ngoài nhìn vào thấy một dãy ghế hớt tóc gần chục cái. Tuy nhiên, điều đầu tiên khiến bất kỳ “thượng đế” nào nhỡ bước chân vào nhất định phải chú ý là đội ngũ phục vụ toàn các cô gái trẻ xinh đẹp, chân dài cùng đồng phục áo hai dây, váy ngắn. Ðón chúng tôi là một cô tiếp tân, cho biết ở đây có phục vụ lấy ráy tai (30 nghìn VNÐ), cạo mặt, cạo râu (80 nghìn VNÐ), hớt tóc, gội đầu, làm móng (150 nghìn VNÐ), đắp mặt nạ, massage mặt hoặc toàn thân (150-250 nghìn VNÐ), tuy nhiên chưa tính khoản tiền “bo”… Cô tiếp tân còn hỏi tiếp chúng tôi cần nhân viên nào phục vụ cụ thể hay để cô chọn giúp. Người bạn tôi liền nêu đích danh cô gái anh muốn phục vụ, rồi quay sang chỉ vào tôi, bảo: “Còn ông này…Hai Lúa dưới quê lên, chưa biết gì, phiền em tìm cho ông một “gơ” (girl) chăm sóc!”. Cô tiếp tân cười, bảo chúng tôi ngồi vào ghế rồi hỏi muốn uống nước gì. Chừng 2 phút sau có một em bước đến, tự giới thiệu tên Giang, nói là người sẽ phục vụ tôi. Giang chừng 22-23 tuổi, dáng cao, tóc nhuộm hi-light. Nghe em nói bằng giọng miền Trung, tôi tò mò hỏi em phải người miền “ngoài” lưu lạc vào? Giang đáp: “Quê em Bình Ðịnh. Em vô 3-4 năm rồi, trước kia phụ bán quán cà phê…”. “Em làm hớt tóc lâu chưa?”. “Dạ, một năm”. Câu chuyện tạm đứt ngang tại đó khi Giang yêu cầu tôi ngồi yên để em hớt tóc.

Trong khi Giang đang hớt tóc thì có một cô gái khác bước đến tự giới thiệu là nhân viên…cắt móng tay! Hai cô làm việc rất nhẹ nhàng, nói chuyện thủ thỉ, làm tôi nghĩ nếu mình không có nghị lực riêng, ắt rất dễ… ngủ quên. Cắt tóc xong tới gội đầu, Giang mời tôi vào một phòng khác phía trong. Phòng này nhỏ hơn, đèn tối hơn. Trong phòng có 2 cái giường, lúc khách vào chỉ việc nằm ngửa ra và đầu thì thả lỏng xuống một cái bồn nước với hai loại nước nóng và lạnh. Xong xuôi, Giang bỏ mặc tôi nằm đó rồi đi ra ngoài trước khi dặn cô bạn làm móng với giọng đùa cợt: “Chị My chăm sóc giùm “ông xã” em chút nghen, em đi chuẩn bị phòng!”. Công đoạn sau cùng là massage và tôi lại được chuyển sang một phòng khác. Lần này là căn phòng trên lầu ngôi tiệm, được thiết kế khá kín đáo. Mỗi phòng chỉ có một chiếc giường có nệm dày, một khách và một nhân viên. “Công đoạn” gồm đắp mặt nạ, massage mặt và massage toàn thân. Nhân viên dùng tay vừa bắt đầu xoa bóp mặt, hút mụn. Do là chốn khá kín đáo nên khách và nhân viên có thể “đụng tay đụng chân” thoải mái với nhau. Bấy giờ Giang bắt đầu tỏ ra bạo dạn hơn. Em choàng qua người tôi nhằm cố tình cọ quẹt đôi bồng đảo đầy đặn, săn cứng và không thấy mặc áo ngực, chốc lát hai tay cô lại cố tình đụng chạm, sờ nắn vào những điểm nhạy cảm nhất trên người khách.

Hầu hết điểm hớt tóc thanh nữ quy tụ các em gái trẻ đẹp

Cũng qua Giang mà tôi biết được các tiệm hớt tóc gội đầu dạng này còn là nơi thư giãn trong một đôi giờ của những kẻ vừa máu gái vừa có chút tiền. Tôi vờ nói: “Cứ nằm vầy có gì đâu mà gọi là thư giãn nhỉ?”. Ðáp: “Anh này nói lạ? Có người nằm chung vừa massage vừa tâm sự mà anh nói “có gì đâu” là sao? Không ít người vào đây một đôi lần miết rồi “ghiền” luôn đó! Như cái anh bạn gì cùng đi chung với anh hay vào ngủ trưa với chị Thúy hoài, mà chị Thúy cũng chiều anh ấy lắm!”. “Chiều là sao em?”. “Là ví dụ như anh bo em 100 nghìn VNÐ thì anh nằm kế bên em nhưng không được sờ mó. Còn nếu bo cho em 200 nghìn VNÐ thì thoải mái, trừ mỗi “chuyện kia”!”. Tôi vờ hỏi: “Chuyện kia là gì?” “Anh khéo giả bộ! Ðàn ông các anh ai cũng biết cần gì em nói ra? Là…Oral sex đó!”. Tôi hỏi thêm: “Ủa vậy là chưa tới…Z hả?”. “Ở đây làm sao dám tới Z? Cảnh sát nó gài người là chết cả đám! Còn muốn “đi bay” em cho anh số phone riêng nhưng phải đợi sau 18 giờ khi em tan ca! Anh qua nhà nghỉ đặt phòng trước rồi nhắn tin, em tới liền!”. Khi đã đến nhà nghỉ, Giang mới lộ ra cô còn là một gái gọi.

Mồi chài khách hớt tóc hay khách… ngồi chờ?

Cô cũng cho biết tại tụ điểm hớt tóc thanh nữ nơi cô đang làm, còn gần chục nhân viên khác cũng chấp nhận “đi bay” (bán dâm) nếu khách có nhu cầu. Vẫn theo lời Giang, các cô phải “đi bay” là để kiếm thêm tiền vì số tiền làm ở tiệm thường không đủ trang trải chi phí cho cuộc sống riêng nếu chưa nói đến việc gửi về phụ giúp gia đình. Giang tiết lộ “Tụi em chỉ đồng ý “đi bay” ở ngoài khi gặp khách quen mặt thường xuyên đến tiệm hay người nào biết thông cảm, tánh tình dễ thương như…anh vậy!”.

…Tìm đến các tụ điểm này, các “thượng đế” sẽ không khó để có được số điện thoại riêng của các em và cũng tùy theo nhan sắc, tuổi tác của tiếp viên mà mức tiền cho một cuộc chơi trung bình từ 400 – 500 nghìn đồng/giờ, chưa tính tiền thuê phòng nhà nghỉ, khách sạn!

Hớt tóc, gội đầu hay mồi chài chuyện kia?

NS