This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Con trai Vương hổ tướng bây giờ đã là một thiếu niên biết lo tròn nhệm vụ, công việc giao phó cho, bảo làm gì không nề hà, tận tâm làm chu đáo. Các võ sư chỉ dẫn, dạy bảo các chiến thuật, phương pháp tác chiến, cậu cố chăm chỉ học, cưỡi ngựa giỏi không kém gì cha. Nhưng công việc học hành, tuy có làm, có chăm, mà xem ý không thích thú; miễn cưỡng, bắt phải làm thì làm, bắt phải học thì học, thực tâm không ham muốn. Vương hổ tướng hỏi các võ sư con trai chàng học hành có tấn tới không, họ đều ngập ngừng trả lời:
– Tôi không thể nói cậu em học không tấn tới, cậu học rất giỏi, bảo sao làm đúng nhưng không tự ý biết thêm. Hình như cậu không có thiện chí mấy.
Câu nói đó càng làm Vương hổ tướng thêm rối trí. Chàng biết con chàng có tính nết riêng biệt, kỳ lạ, không biết nóng giận là cái gì, không tỏ vẻ thất ý, giận dữ bao giờ, không thù hằn ai, không ưa chuộng gì, nếu phải làm việc gì
thì đem hết tâm trí nghị lực kiên nhẫn cố làm. Vương hổ tướng nghĩ một võ tướng không thể có một tâm tính như thế được. Một người làm tướng phải có nhiệt huyết, biết phẫn nộ, ngoan cường, tự khích động, nghĩ thế lo làm sao cải hóa được tính nết con. Một hôm chàng đứng ngoài sân, cạnh con, để ý xem con tập bắn bia theo sự chỉ dẫn của viên võ sư. Tuy cậu nhỏ có vẻ điềm tĩnh theo hiệu lệnh của giảng viên, giơ nhanh tay, cậu hơi ngập ngừng không mạnh bạo, bóp ngay cò súng để đạn nổ. Vương hổ tướng để ý thấy người con cứng đờ, trên nét mặt non nớt của con, chàng cảm thấy trong lòng thằng nhỏ có sự cố gắng phi thường để làm một việc mà thực ra ý hắn không muốn làm, nhưng bó buộc phải làm một việc ghê tởm.
Vương hổ tướng quay lại bảo con:
– Con phải vui vẻ để tâm vào việc làm nếu con muốn cha được hài lòng.
Cậu nhỏ giơ tay cầm súng lục nòng còn bốc khói, đưa mắt nhanh nhìn cha. Một luồng nhỡn tuyến kỳ lạ thoáng hiện trước mắt cậu, cậu định mở mồm nói lại thôi.
Vương hổ tướng không biết thay đổi sắc diện cho hiền hòa, chàng đứng sừng sững trước mặt con, đôi lông mày rậm, đôi môi cong, bộ râu đen cứng, tuy chàng không muốn nhưng nét mặt lúc nào cũng như gờm gờm; cậu con nhìn sắc thái cha đưa mắt nhìn chỗ khác, với một giọng cố gắng nhẫn nại nói:
– … Thưa cha, vâng.
Vương hổ tướng nhìn con với một vẻ buồn man mác, tuy dáng điệu cứng cỏi, chàng cũng có lòng từ tâm. Chàng thở dài, dự hết cuộc giảng võ. Tan buổi học, cậu nhỏ nhìn cha có vẻ lưỡng lự, nói:
– Con đi chơi một lát có được không cha?
Vương hổ tướng biết con chàng hay đi chơi tha thẩn một mình, có khi không xin phép, lén đi. Chàng đã chỉ định một vệ sĩ mỗi lần con chàng đi đâu phải đi theo sau coi chừng. Chiều hôm đó Vương hổ tướng nhìn con, thấy đã lớn, không phải một đứa trẻ nữa, chàng lưỡng lự không biết có nên hỏi nó đi đâu không, chỗ đó có nên đến không? Chàng cố lấy giọng ngọt ngào hỏi con:
– Hồi nãy con đi chơi đâu hở?
Cậu nhỏ ngập ngừng cúi đầu có vẻ sợ sệt, trả lời:
– Con không đi đâu, con thích ra ngoài tường thành đi rong chơi một lúc ở cánh đồng.
Giá nếu cậu nhỏ trả lời đến chỗ nào điếm đàng, chàng kinh ngạc bối rối đến thế nào.
– Ở ngoài đồng ruộng có gì lạ, bổ ích cho nhà võ không?
Cậu nhỏ mắt vẫn nhìn xuống, tay mân mê thắt lưng da, trả lời khẽ, vẫn cái giọng cố gắng nhẫn nại:
– Ra ngoài cánh đồng ngắm phong cảnh cũng thích, những cây ăn quả đã đầy hoa, con thích nói truyện hỏi han nông dân họ cày cấy thế nào.
Vương hổ tướng nghe con nói choáng váng cả người, chàng không hiểu tâm trí thằng con, chàng lẩm bẩm một mình ý muốn rèn luyện cho con thành một lãnh chúa, không ngờ thằng con tính nết kỳ lạ quá. Khi còn trẻ, chàng rất ghét việc đồng áng. Thốt nhiên chàng nói to như người thất vọng:
– Mày muốn làm gì tùy ý, tao không cần.
Chàng ngồi trầm ngâm suy nghĩ, lòng buồn rười rượi. Chàng cáu tức một lúc rồi hồi tâm nghĩ lại, đứa con không có tính nết chơi bời, đàng điếm kể cũng khá rồi, nghĩ thế chàng tự an ủi, lòng phiền muộn cũng nguôi dần.
*
Trong mấy năm liền có tin đồn dân chúng uất ức phẫn nộ, sự phẫn nộ đó đã biến thành bạo động. Thám tử của Vưởng hổ tướng trở về báo cáo các nam nữ thanh niên ở các trường miền Nam nổi lên làm loạn, cả những bọn dân cày ở vùng quê cũng nhao nhao hưởng ứng. Từ xưa tới nay chưa nghe thấy những chuyện như thế bao giờ, vì việc chinh chiến sát phạt là nghề của mấy ông lãnh chúa, đâu có phải là việc của thường dân. Vương hổ tướng lạ quá hỏi vì lẽ gì họ nổi loạn, bênh vực chủ nghĩa gì, bọn thám tử không hiểu.
Vương hổ tướng đoán đám học sinh bất mãn ở một trường nào chắc vì một giáo sư làm điều gì bất chính, còn đám dân cày chắc có một lão phủ, huyện nào dùng chính sách hà khắc, dân tình khốn đốn nổi lên giết vị tham quan.
Chờ cho biết rõ thế trận mới này xoay chiều thế nào để áp dụng có hiệu quả, Vương hổ tướng chưa mở trận tuyến mới. Chàng thu hoạch lợi tức, sắm võ khí mới. Vấn đề sắm võ khí ngoại quốc chàng không phải nhờ anh Hai, trong phạm vi thuộc quyền chàng cai trị có một giang khẩu, chàng thuê tàu ngoại quốc cho nhập nội rất dễ dàng ngoại hóa. Nếu có người nào ở địa vị cao hơn chàng, có biết cũng nhắm mắt làm ngơ vì chàng cũng là một tướng lĩnh ở cùng một phe, mỗi một khẩu súng chàng mua là mua cho đảng, sự yên ổn thái bình chỉ có tính cách tạm bợ, nhất thời không có gì là vĩnh cửu.
Vương hổ tướng nhờ thế đã tăng cường quân lực, chờ con lớn lên, con trai chàng năm đó đã mười bốn tuổi. Trong suốt mười lăm năm Vương hổ tướng ở địa vị một đại lãnhchúa chàng đã gặp may mắn đủ mọi thứ, nhất là những vùng thuộc quyền chàng cai trị, toàn hạt không bị nạn đói kém, tuy có vài vùng nhỏ thỉnh thoảng bị nạn mất mùa nhưng không đáng kể. Chỗ nào đói kém mất mùa, chàng xá thuế. Là một người có lương tâm, chàng miễn thuế những nơi nào dân tình đói khổ, không như các ông lãnh chúa khác.
Sự từ tâm khoan hồng đó dân chúng rất cảm động, đối với chàng có thâm tình, họ hết lời khen ngợi chàng, trong vùng có nhiều chỗ họ nói: “Bọn mình đã gặp nhiều tên lãnh chúa táng tận lương tâm, kể lão cọp này còn tử tế hơn nhiều. Cũng may cho bọn mình gặp được chỗ này, hắn chỉ bắt bọn
mình đóng góp để nuôi dưỡng duy trì quân đội, cha này không thích ăn uống rượu chè đĩ bợm như những bọn trước”.
Thực ra đối với dân chúng trong hạt, chàng cố giữ sao cho được công bình, chính trực. Cho đến nay chưa có ông phủ mới nào đến trọng nhậm hạt này, cũng có người được chỉ định bổ về đây, nhưng nghe nói Vương hổ tướng tính nóng nảy dữ tợn, hắn lại xin hoãn, lấy cớ cha già để bao giờ cha hắn phần mồ yên mả đẹp, lúc đó xin đảm nhiệm nơi xa. Trong lúc chưa có ông phủ mới, chàng kiêm nhiệm trông coi việc dân sự, việc hình án tố tụng. Trong những phiên tòa xử án, chàng thường bênh vực người nghèo đói trước bọn phú hào hay những người cho vay nặng lãi. Vương hổ tướng không kiêng nể bọn phú hào, nếu bọnnày trốn thuế, chàng cho vào tù, nên trong tỉnh bọn điền chủ, phú hào, những hạng cho vay nặng lãi một vốn bốn lời ghét Vương hổ tướng, họ đi lập nghiệp thật xa để khỏi phải va chạm kiện cáo. Vương hổ tướng không để ý lo ngại bọn này thù hằn, vì chàng bây giờ có một thế lực rất mạnh. Chàng phát lương rất đều đặn cho quân đội, cũng có một đôi khi chàng nghiêm phạt một người nào vì phạm lỗi, cuối tháng chàng cũng trả lương đầy đủ. Không như các ông lãnh chúa khác muốn duy trì quân đội, không có tiền, thả bọn lính đi cướp bóc trong dân chúng. Muốn duy trì quân đội, chàng không phải bó buộc mở cuộc chinh phạt, chàng muốn trì hoãn việc xuất quân tùy theo ý muốn. Địa vị chàng trong vùng, đối với dân sự, đối với quân đội rất vững vàng khả quan. Nhưng nếu người ta có thành công lập nghiệp được một phần phải nhờ ở trời, đây đúng là trường hợp của Vương hồ tướng.
Năm đó con chàng 14 tuổi, đã sửa soạn để sang năm theo học một trường võ bị, đột nhiên suốt cả vùng, giang sơn của Vương hổ tướng, bị một trận đói kinh khủng, suốt từ đầu đến cuối vùng lan tràn như một bệnh truyền nhiễm ác liệt.
Theo thường lệ mưa rả rích suốt ba tháng xuân, vừa hết mùa mưa xuân trời lại liên tiếp mưa, mưa hết ngày này sang ngày khác, tuần này sang tuần khác, mưa cho đến giữa mùa hạ. Mưa quá, lúa ngoài đồng bị ngập thối hết, những cánh đồng lúa biến thành biển cả. Con sông con lúc thường rất ôn hòa, bây giờ nước chảy ầm ầm dữ dội, xoáy hai bên bờ, đê bị vỡ, nước chảy tràn ngập ra ngoài dòng, nước chảy xiết cuốn theo hết đất phù sa ra biển.
Lúc đầu dân cư ngồi trong nhà, nước tràn lênh láng nền nhà, giường phản, bàn ghế phải kê cao khỏi mặt nước, nhưng nước dâng từ từ mỗi lúc một cao, lên tận mái, những vách tường đất bị rã rời, dân cư phải ở trên thuyền, trên
xuồng, hay cái gò, đống nào còn nhô lên khỏi mặt nước, leo lên chỗ cao, cả loài thú dữ cũng bắt chước người leo lên cao, rắn đồng bò hàng đàn lên các ngọn cây, nằm vắt lủng lẳng ở các cành, như không sợ người, chui rúc ở lẫn cả với người. Đứng trước hai tai ách: nước và rắn, dân không còn biết thứ nào nguy hơn thứ nào. Ngày này qua ngày khác, nước không chịu rút xuống, tình trạng thảm cực này kéo dài, lại thêm một nạn nguy hiểm hơn nữa là nạn chết đói.
Vương hổ tướng gặp phải bước gian nan đau khổ nhất, chàng chưa từng bị cảnh ngộ này bao giờ. Chàng phải lo gấp ngàn, gấp vạn người khác, người ta chỉ lo ăn cho một gia đình vài người, chàng phải lo cho cả một bầy toàn một hạng ngu dốt, hơi một chút là ta thán, buồn phiền, chỉ tươi tỉnh khi cơm được ăn no, tiền nong đầy đủ, có đủ cơm đủ tiền họ ở, họ làm như là thiếu nợ họ. Đã lác đác một vài chỗ không thu được thuế má gì. Nước ở suốt mùa hạ, sang thu không có thóc gặt, sang đến đông không còn lợi tức gì ngoài tiền phạt đánh vào thuốc phiện buôn lậu, mà cũng chỉ thu được rất ít, vì dân không có tiền mua, bọn con buôn đem hàng đi bán chỗ khác. Lợi tức về muối cũng không có vì bao nhiêu ruộng muối đều bị ngập nước hết. Những thợ đồ gốm, làm những vò để rượu cũng nghỉ việc, năm đó không ai cất rượu.
Vương hổ tướng ở vào một tình cảnh vô cùng nguy ngập, trong bao nhiêu năm làm lãnh chúa, lần đầu tiên một tháng cuối năm chàng không có tiền trả lương quân đội. Nhưng ít nhất chàng phải cấp lương thực cho quân đội, nếu chàng còn muốn duy trì lòng trung thành của họ. Kiếm đâu ra lương thực, một vấn đề nan giải. Quỹ dự trữ hết sạch, chàng không còn tiền để mua thực phẩm ở chỗ khác. Lại một lần nữa chàng nghĩ đến việc cầu cứu người anh Hai, buôn bán, trong lúc nguy nan, anh em phải tương trợ cứu giúp lẫn nhau. Chàng phải về quê để yêu cầu và xem sự cứu trợ thế nào.
Chàng cho quân đội biết tin chàng đi kiếm lương thực tiền nong và hứa sẽ có rất nhiều. Tất cả ai cũng hoan hỉ ngưỡng vọng phấn khởi tinh thần và tỏ lòng trung kiên với chàng. Chàng lựa những vệ binh tinh nhuệ trông nom ở nhà, sai bọn lính hầu cận sửa soạn hành lý để chàng lên đường.
Ngày khởi hành đã định, chàng cho đem mấy chiếc tàu lại đón. Hai cha con chàng, bọn lính tùy tòng, lừa ngựa xuống cả tàu. Tàu qua chỗ nước ngập rồi cả bọn lên những khúc đê còn vững, tất cả lên ngựa thẳng đường về quê, về chỗ ngôi nhà anh em họ Vương ở. Trên đường đê hẹp, ngựa đi bước một, hai bên đê nước mênh mông trắng xóa như biển. Trên đê dân ty nạn kéo dần lên ở. Không những người tránh nạn lụt lội, lên chỗ cao, cả chuột bọ, rắn rết, các loài thú dữ cũng lên chỗ cao ở lẫn với người.
Khi còn chút tàn lực, thấy rắn rết kéo lên nhiều, dân ty nạn còn đập đánh, khi sức đã kiệt, đánh mãi cũng chán, họ mặc cho rắn rết hoành hành, nó quấn tròn nằm từng đống hay chui bò khắp nơi, dân cư hết sức kinh khủng.
Trên những khúc đê đó, Vương hổ tướng đã đi qua, chàng cần có vệ sĩ súng ống hộ vệ, không bọn dân đói đã lăn xả vào chàng. Tuy nhiên thỉnh thoảng cũng có người đàn ông hay đàn bà trong lúc tuyệt vọng, liền đến ôm chân ngựa chàng cưỡi, hy vọng được chẩn cấp. Vương hổ tướng trước cảnh thương tâm, chàng bùi ngùi, cảm động ghìm cương ngựa để khỏi dẫm lên họ. Chàng chờ một vệ sĩ kéo người đó sang bên lề đường, chàng bước đi không muốn ngoảnh cổ trông lại sau. Có khi người được kéo ra để bên lề đường, nằm thẳng cẳng, có khi họ hét một tiếng nhảy ùm xuống nước phó mặc cho dòng nước trôi đi. Suốt cả quãng đường, con chàng cưỡi ngựa đi sát bên cạnh, không nói năng một lời, Vương hổ tướng nhìn con, thấy con trầm ngâm, suy nghĩ, chàng không muốn nói gì. Cậu nhỏ đi, hai mắt nhìn xuống, thỉnh thoảng liếc nhanh nhìn bọn dân đói hai bên lề đường, nét mặt tỏ vẻ hãi hung kinh sợ. Vương hổ tướng thấy thế không thể đừng bảo con:
– Đó là bọn dân thường, họ đã quen cảnh này, cứ cách một vài năm, họ bị một lần. Có hàng mấy vạn người chết về nghiệp này, nhưng độ bốn, năm năm sau dân cư lại đông như thường, họ sinh sản nhanh như mạ.
Cậu nhỏ đột nhiên nói: tiếng nói khác hẳn lúc thường như con gà trống non tập gáy, giọng nói như tiếng còi rít, cậu quá cảm động và sợ không dám khóc trước mặt cha:
– Tuy thế con tưởng tượng, nếu họ là những nhà cầm quyền như bọn mình mà có phải chết như thế cũng đau khổ lắm.
Vừa nói cậu cố lấy nghị lực, can đảm nhưng trước cảnh quá đau lòng hai môi cậu run bần bật. Vương hổ tướng cũng định tìm vài câu để trấn tĩnh tâm hồn con còn non nớt, nhưng chàng sửng sốt nghe những câu con vừa nói. Chàng chưa hề nghĩ bọn dân đau khổ như chính mình bị đau khổ, người nào là người ấy không thể lấy người này ví bằng người khác được. Chàng không thích mấy câu con nói đối với một lãnh chúa như thế là tinh thần bạc nhược, không thể có lòng trắc ẩn với bất cứ ai khi họ bị đau khổ. Chàng không tìm được ra câu gì nói khả dĩ trấn tĩnh lòng con vì thực ra mấy hôm đó không ai có một chút gì đưa lên miệng, trừ ra có mấy con quạ ăn xác chết lượn vòng
thúng trên mặt nước.
Chàng chỉ nói được câu này để an ủi con:
– Tất cả bọn chúng ta đều bị trong cảnh thiên tai.
Nói xong để mặc con suy nghĩ, chàng không hỏi han gì nữa.
Trong cuộc diễn binh mừng chiến thắng của Hồng Quân Liên Xô ở Công Trường Đỏ – Matxcơva (Moscow) hôm nay. Người ta thấy quy tụ các thủ lãnh của các quốc gia độc tài và Cộng Sản.
Rất tiếc hầu như hỏng có sự tham dự của các nước tư bản bóc lột ác ôn. Nói là thế giới Cộng Sản là thế giới đại đồng bình đẳng yêu thương, nhưng trên khán đài chúng ta thấy chủ nghĩa đỏ này cũng phân chia đẳng thứ và kỳ thị thấy mồ tổ. Hễ đến từ quốc gia đói nghèo thì kiếm một xó mà ngồi mí nhau.
Đồng chí Tô Lâm ngồi với nhà độc tài Nicolás Maduro của thiên đường xã nghĩa Venezuela. Mà Nicolás Maduro thì bọn Mỹ Đế nó ghét và cấm vận cho ngất ngư luôn. Đẹp mặt chưa nè.
Có thể ngụy biện vì Venezuela và Việt Nam cùng vần V nên được xếp ngồi bên nhau. Nhưng tại sao China và Russia là vần C và R thì ngồi bên cạnh nhau. Bởi vì đây là hai sư phụ soái ca của thiên đường đỏ nên phải ngồi chễm chệ bên nhau, còn những thành phần nhược tiểu cắc ké còn lại thì phải ngồi phía sau hay xó xỉnh nào đó.
Hồng Ngưu vào coi hình nè rồi bớt rụng tim rụng trứng vì đáng buồn và nhục quốc thể lắm lắm.
Có khi lại là may ấy!
Tại những sự kiện thượng đỉnh quốc tế, đa phương diễn ra tại Việt Nam thì Nga luôn được Việt Nam dành vị trí số 1. Còn tại Nga hôm nay, Việt Nam xa số 1 lắm.
Thấy mấy cái clip này đăng khắp nơi trên Facebook mà mắc cười, vì các bình luận kiểu bí bí mật mật bơm phồng thêu dệt như phim Hollywood.
Mình thiệt sự hỏng biết mấy cha này thuộc đơn vị nào. Nhưng đeo mấy bao súng dài thì đoán là lính bắn tỉa được phái tới giữ an ninh vì có nhiều VIP tham dự ngày diễn binh 30/4 ở thành Hồ.
Nhưng mà lính bắn tỉa leo lên bố trí trên các cao ốc hỏng nên mang giày bốt đờ sô nhé. Giày này là của bộ binh băng rừng lội suối. Mà giày bốt đờ sô của mấy cha nội này cũng rằn ri luôn, ớn thiệt. Tính núp lùm trong bụi cây hay sao mà ngụy trang từ đầu tới chưn luôn ? Mang thứ cồng kềnh nặng nề này leo lên nóc nhà trợt té gãy cổ chết toi bi giờ.
Còn cái nón chống đạn FAST bên Mỹ nó bán trên 1.000 đô la một cái. Mua nón FAST Made in China thì rẻ hơn gấp 5 lần nhưng hỏng bảo đảm nó bảo vệ được cái gáo dừa. Lính bắn tỉa hỏng cần phải đội nón FAST vì có thằng nào biết núp đâu mà bắn lại. Cũng đâu có pháo kích đâu mà đội nón này. Đội mấy thứ quỷ này càng thêm cấn, gây khó khăn khi sử dụng súng bắn tỉa.
Các toán đặc nhiệm bắn tỉa bảo vệ tổng thống Mỹ mang giày vải đế cao su để dễ leo trèo. Họ đội nón lưỡi trai vải nhẹ nhàng để che nắng mà thôi. Cấp số đạn cũng không nhiều, vì khi họ kéo cò là một thân người lăn đùng ra. Chỉ chừng đó là đủ. Nếu quánh lớn thì có bộ binh đảm trách rồi.
Còn che mặt làm gì hỏng biết nữa ? Chỉ những đơn vị bắt khủng bố mới bịt mặt vì sợ bọn khủng bố trả thù cá nhân. Chớ mấy cha đặc nhiệm Mỹ bảo vệ tổng thống Mỹ đâu có bịt mặt làm gì cho vướng và khó quan sát.
Nếu muốn giữ bí mật thì có xe bít bùng lái tới tận địa điểm, de lui đít vào tận cửa, rồi đặc nhiệm nhảy xuống biến mất sau khung cửa.
Đằng này đi cà rỏn ngoài đại lộ bày đặt bịt mặt, đeo các túi đạn chằng chịt như lính bộ binh mà lại vác súng bắn tỉa ? Kéo các hộp đựng súng rẻ tiền vì các hộp súng đúng tiêu chuẩn không khí không vào được và rớt xuống nước không vô nước như Pelican mà Mỹ và NATO hay xài, rất dày và lớn xe cán hỏng nứt hay bể.
Bịt mặt làm ra vẻ bí mật. Mặc quần áo rằn ri, giày bốt đờ sô, nón FAST chống đạn cho ngầu để hù thiên hạ. Kinh nghiệm chiến trường là con số zero. Chỉ có mấy em nhà quê thích rụng trứng mới trầm trồ chớ mình coi mấy clip này mà mắc cười.
Ở Trung Đông có lần bay đêm vào Syria, trên trực thăng Chinook có một toán người lạ mặc thường phục lè phè, mang giày vải thể thao, nhưng cầm tiểu liên có gắn ống hãm thanh. Trên đầu người nào cũng gắn kiếng hồng ngoại tuyến. Họ ngồi với nhau nói chuyện bình thường zui zẻ chớ hỏng tạo dáng bí mật táo bón, bịt mặt bịt mũi gì ráo. Nhưng mình biết đó là thứ dzữ. Chắc Biệt Kích hay CIA gì đó.
Tính đưa điện thoại lên chụp hình nhưng sợ bị tịch thu mất mẹ nó cái iPhone 14 Pro Max hic. Theo nguyên tắc thì hỏng ai được phép hỏi mình làm gì và mình không được tò mò dòm ngó người khác, vậy thôi.
Thanh Bình khởi sự là một người viết văn. Trước cuộc chia đôi đất nước 1954, ông đã có truyện đăng hàng ngày trên các báo ở Hà Nội. Khi đó, chắc Thanh Bình còn mới ở tuổi 20.
Các truyện ấy, sau khi di cư vào Nam, hình như ông cũng không cho xuất bản lại thành sách, vì không thấy ai nhắc tới. Mặc dầu vậy, những người quen biết Thanh Bình cho biết, nữ tài tử Thẩm Thúy Hằng và hãng phim của bà, đã nhiều lần điều đình với ông để đưa một vài cuốn sách của ông lên màn bạc. Việc ấy chứng tỏ các truyện của ông đã có nhiều người đọc và còn nhớ.
Sau 54, tại miền Nam, người ta biết đến Thanh Bình như một người viết ca khúc nhiều hơn viết văn. Các bài hát như Lá Thư Về Làng, Những Nẻo Đường Việt Nam của ông đã được hầu hết các ban nhạc cũng như các ca sĩ danh tiếng thời ấy trình diễn. Bài Mưa Qua Sông của ông, cả về giai điệu lẫn ca từ, rất được tán thuởng. Thanh Bình cũng có phổ nhạc một số thơ. Bài thơ ông phổ nhạc được nhiều người biết đến nhất là bài “Kẻ Ở” của Quang Dũng. Song nói chung, các ca khúc của Thanh Bình do chính ông viết cả nhạc lẫn lời vẫn là những bài được yêu thích hơn cả. Nhạc Thanh Bình giản dị. Lời ca của ông rõ ràng, trong sáng, rất gần gụi với vẻ đẹp và tính trữ tình của ca dao:
Thấy em chẳng nói
trông lên mắt hai hàng rơi
Đã không thì thôi
sao em tiếc nhớ chi hoài
“Đã không thì thôi” lối nói ấy không rất Việt Nam sao? Trong sinh hoạt âm nhạc của chúng ta, thỉnh thoảng lại thấy xẩy ra hiện tượng: không vì lý do nào cả, bỗng nhiên một ca khúc hay một tác giả nào đó, bị quên lãng, không thấy ai hát hay nhắc tới nữa. Sự việc có thể kéo dài hay chỉ trong một thời gian ngắn. Thanh Bình không hẳn ở trong trường hợp ấy. Nhưng, trong số các băng, đĩa nhạc được thu ở hải ngoại trong mấy chục năm rồi, hình như chỉ thấy có một bài, do Khánh Ly hát, đó là bài “Tình Lỡ”.
Nhớ lại những năm sau 54, bài Lá Thư Về Làng của Thanh Bình đã gây xúc động trong lòng bao người vừa rời bỏ miền Bắc trong cuộc di cư vào Nam. Càng cảm nhận ra rằng mình được bao dung, yên ổn, trong vùng đất mới, người ta càng xót xa nhớ thương quê cũ.
Chính những tác phẩm nặng tính thời sự như vậy thường lại mang trong nó nỗi oan khiên: bị thời sự bỏ rơi! Sự việc gần như tự nhiên. Chuyện xẩy ra sau xóa bỏ những gì xẩy ra trước.
Hôm nay xóa bỏ hôm qua.
Cái còn lại là kỷ niệm.
Tác phẩm là những gì thuộc về đời sống được biến thành kỷ niệm, nhờ những tác giả. Bài Lá Thư Về Làng của Thanh Bình bây giờ nghe lại, không phải người ta không còn cảm nhận ra cái hay, cái đẹp của bài hát. Nhưng biến cố 30 tháng 4/75 đã đẩy nó sâu thêm một tầng nữa vào quá khứ.
Thời thế đã thay đổi.
Cái quê hương người ta đứt ruột bỏ đi năm nào, nay đã có thể trở về, nhìn lại, cái đổi thay, cái thực tế, đã giải hoặc những ước mơ, “áo nâu tươi, gái làng còn che môi cười” [hình như] cũng không còn nữa, hay nếu có còn [sót] ở một nơi nào đấy, thì đời sống và chính những con người hiện thực đã cải chính hay xóa bỏ cái hình ảnh người ta mang theo trong kỷ niệm.
Thực tế không còn liên hệ với kỷ niệm là “kỷ niệm mất bóng” đã rất gần với ảo tưởng. Nếu mọi sự cứ diễn biến như thế, cuối cùng, chúng ta sẽ còn lại gì đây?
Ít năm sau biến cố 1975, những người miền Nam còn lại ởtrong nước, quen biết Tạ Tấn, đã có dịp gặp lại ông, khi ông vào chơi Sài Gòn. Vào thời điểm ấy, thỉnh thoảng người ta đã nghe thấy hai tiếng vào chơi thay vì hai tiếng tham quan miền Nam trong ngôn ngữ của những người từ miền Bắc.
Tạ Tấn người nhỏ nhắn, đã khá cao tuổi, nhưng còn nhanh nhẹn. Nghe nhắc tới các tác phẩm cũ của mình ông chỉ cười cười không nói gì. Nói chung, tất cả các tác giả có tác phẩm lưu hành trước 54, còn ở trong guồng máy nhà nước sau hiệp định Genève, hay ở lại Hà Nội sau khi đất nước bị chia cắt, đều không ai nhận tác phẩm của mình. Có những người công khai nói ra điều đó. Những người khác, không nói gì, nhưng có cách cư xử, để cho người đối diện hiểu rằng, ông ta [hay bà ta] không quan tâm gì tới những tác phẩm ấy nữa. Hay ít nhất, họ có thể nói như thế, khi bị hỏi lại. Đó là cách cư xử [đối phó với hoàn cảnh?] vậy thôi.
Trên thực tế, không ai bỏ qua không sưu tầm cho bằng được bất cứ tác phẩm nào đó của mình đã được phổ biến tại miền Nam, một bài thơ hay một bài hát đã được thu thanh chẳng hạn. Cũng may. Nếu người ta làm đúng như người ta nói thì có lẽ bây giờ chẳng ai còn gì cả. Tạ Tấn cho biết ông không còn viết nhạc nữa. Hiện tại ông xoay sang theo hẳn ngành điêu khắc. Ông cho xem ảnh chụp những tác phẩm điêu khắc của ông. Thực ra đó chỉ là những cụm rễ cây được uốn nắn lại, hay tỉa bớt, để tạo hình, rồi được sơn, phủ dầu hay đánh vẹc-ni. Trước 54, Tạ Tấn chỉ có vài bài hát được lưu hành: Bâng Khuâng, Hương Thanh Bình, Bên Sông Vắng … Tất cả đều có thể xếp vào hàng những bài hát hay của chúng ta. Các đài phát thanh Hà Nội, Sài Gòn, Pháp Á, Huế … đều đã đưa những ca khúc này của Tạ Tấn vào các chương trình nhạc của mình.
Và có thể nói, tất cả các danh ca của chúng ta thời ấy, đều đã hát nhạc Tạ Tấn. Người ta còn giữ trong trí nhớ giọng hát Minh Đỗ với Hương Thanh Bình:
Muôn sắc hương trong mùa tàn thu
Hoa lá quên trong bao đợi chờ
Sông nước buồn buồn dưới sương mơ …
Sau này, sau 54, người hát Bâng Khuâng của Tạ Tấn hay nhất là Khánh Ly và Bên Sông Vắng là Mai Hương.
Trăng ơi! Trăng thấu nỗi lòng
Bâng khuâng tiếc thương
khúc nhạc ái ân vấn vương
Vương vấn nhớ ai đó ngoài bốn phương
Thương ai sống đời gió sương
Rớt đôi ngấn lệ sầu thương
Ai đi trong lớp sương mờ
Hay chăng em vẫn mong chờ
Những lúc đêm tàn buông gió hoài mơ
Em vẫn âm thầm buồn nhớ năm xưa
Nhạc Tạ Tấn ngọt ngào. Lời ca của ông tuy không có gì mới lạ, từ từ ngữ cho đến hình ảnh, nhưng người nghe cảm nhận sự trân trọng của ông trong từng từ ông xử dụng.
Nghe lại nhạc, được gọi chung là nhạc tiền chiến của chúng ta, người ta có thể nhận ra điều này: sự êm ả của đời sống. Đó là thời gian lịch sử của chúng ta sắp trải qua nhiều biến động. Nhưng đâu đó vẫn còn những khoảng không gian bình yên. Cho dù đó là không gian gần gụi hay xa cách. Tâm hồn con người vẫn còn những khoảnh khắc thảnh thơi. Người ta không chỉ yêu nhau mà yêu cả cảnh, cả vật. Nên hết thẩy những gì người ta nói đến, nghĩ đến, đều đẹp. Sau 54, tình ca của chúng ta bước sang một giai đoạn
khác. Tình yêu vẫn có những vẻ đẹp của nó. Nhưng cái êm ả, bình yên, thảnh thơi, đã biến thành cái khắc khoải, bứt rứt, bất an. Lịch sử tả tơi, đất nước tả tơi, lòng người cũng chẳng thể giữ cho nguyên vẹn.
“Có lẽ hồn ta không đẹp nữa” đúng như Huy Cận viết chăng? Vâng, cái nỗi cô đơn, trống trải trong Bên Sông Vắng của Tạ Tấn chúng ta không còn thấy lại nữa:
Xa xa êm lướt trên làn sóng
Gió đưa chiếc thuyền lững lờ
trôi xuôi dưới trăng
Hỡi con đò tình trôi tới đâu
Hãy mang mối sầu ta đi tới phương xa
Nhớ người ra đi
Nay đã chầy ba thu
Chim én nào đâu thấy đưa mối tin
Hay ai đã ra ngoài phương xa
lời nguyền quên hết
Hỡi người có thấu lòng ta thương nhớ …
Buồn. Nhưng đó là cái buồn [hình như] người ta có thể thẩm nhập và chia sẻ bằng tưởng tượng. Cái buồn của tình ca sau này, luôn là tình ca của một người, đóng kín các cửa ngõ riêng, không ai có thể nhập vào, cô đơn là nỗi cô đơn bỏng rát:
Còn gì nữa đâu
Mà tưởng nhớ nhau
Vết thương đầu ngày nào
Có sống bao đời sau
Thì đã mất nhau
Còn gì nữa đâu
[Phạm Duy]
Thời gian đứt đoạn, không nối lại được. Giữa những cái rễ cây và một khúc nhạc không có sự liên hệ nào; hay có mà chúng ta không thấy hoặc thấy mà
Đông qua, xuân tới, mỗi lần xuân sang Vương hổ tướng cảm thấy lòng tham vọng những thế trận lớn lại bộc phát; mỗi lần xuân sang chàng lại đưa mắt nhìn ra bốn phương mưu tính mở rộng cương giới. Chàng đã cho thám tử dò la xem cục diện toàn thể trận mạc trong năm, rồi sẽ tùy theo thời cơ dựa vào đó mở một trận tuyến có lợi cho chàng. Chàng nghĩ hãy nên chờ bọn thám tử trở về, chờ tiết trời ấm áp, nhắm đúng lúc, chờ thời vận.
Nhưng thật ra, Vương hổ tướng đã đứng tuổi, đã có con trai, chàng như đã mãn nguyện, không sốt sắng lắm những cuộc động binh như hồi còn ít tuổi. Mỗi lần xuân sang, chàng nghĩ cũng nên nêu gương hoạt động cho con, xuất quân đi chinh phạt, thực hiện những điều dự tính mà cũng mỗi lần xuân sang chàng cũng có lý do chính đáng đình việc xuất quân để sang năm tới. Chàng nghĩ chiến trận không phải chỉ có trong tuổi hoa niên của con chàng, sau này còn rất nhiều nữa.
Trong nước có hàng biết bao nhiêu lãnh chúa sàn sàn như nhau, mỗi người giữ một mảnh đất cỏn con, không ai có một thế lực bao trùm hơn hết, xét như vậy, Vương hổ tướng nghĩ nên cố chờ, năm qua, năm tới, chàng chắc chắn một ngày kia, thời vận đến, chàng sẽ đạt được chí nguyện một trận đại thắng sẽ còn bằng gấp mấy những trận vụn vặt nhỏ nhen.
Có một mùa xuân năm nọ, năm đó con chàng được 13 tuổi, một người nhà của hai anh đến báo cho chàng biết một tin quan trọng: cậu con trai lớn anh Cả đang rũ tù trong khám đường ở tỉnh. Hai anh sai người đến cầu khẩn chàng can thiệp với tòa án trên tỉnh để người con lớn anh Cả được thả ra. Vương hổ tướng được tin, cho cũng là một dịp tốt cho chàng để đo xem thế lực mình đối với trên tỉnh ra sao, ông tướng trên ấy có nể nang mình không?
Chàng đã dự định xuất quân ra trận, được tin này, lại hoãn đến sang năm. Để tâm lo lắng công việc giúp hai anh, chàng có ý kiêu căng, hợm hĩnh, nghĩ hai anh bây giờ lại phải nhờ cậy đến mình, một người tương đối ít tuổi nhất trong nhà. Chàng cũng không khinh gì người anh phải đứa con vào tù, chuyện này tuyệt nhiên không khi nào lại có thể xảy ra cho con chàng, một quý tử nết na hoàn toàn. Dưới đây là câu chuyện phiêu lưu của cậu con lớn anh Cả đã đưa cậu vào vòng tội lỗi:
Cậu này đã 28 tuổi mà vẫn chưa vợ và cũng chưa dạm hỏi đám nào. Sự muộn mằn lạ lùng này là nguyên do khi còn niên thiếu, cậu theo học một hai năm một trường tân thời vừa mới thành lập ở trong tỉnh. Cậu đã học được nhiều môn “cấp tiến” trong đó có môn “đả phá” việc cha mẹ lựa chọn,
cưới vợ cho con, một lệ thuộc ti tiện, một cổ hủ không hợp với trào lưu tân tiến. Thanh niên đời nay phải tự chọn lấy bạn trăm năm, những người con gái đã từng quen biết, đã được trò chuyện luyến ái.
Anh Cả đã lập một bản thống kê các cô gái trong tỉnh đến tuổi cập kê, đã lựa chọn được một món anh ưng ý nhất. Con anh nghe nói rẫy nẩy, hết sức cự tuyệt. Cậu này làm dữ, tuyên bố vợ cậu, cậu sẽ lựa chọn lấy, không phải nhờ ai. Thấy ý tưởng kỳ lạ của cậu quý tử, lúc đầu vợ chồng anh Cả phát hoảng, sau anh chị liên kết để đối phó.
– Có người con gái nào, con nhà gia giáo lại để cho mày nhìn vào tận mặt người ta, mày trò chuyện với người ta, mà mày biết được mày bằng lòng hay không bằng lòng. Lấy vợ cho con, mày thử xem còn ai hơn cha mẹ, biết tính nết con, sao cho hợp với gia phong nhà mình.
Cậu con phản đối kịch liệt, vén tay áo lụa để hở hai bàn tay nhẫn thín, hắt mớ tóc đen ra sau đầu để hở trán xanh mướt, cậu cũng nói to:
-Cả má, cả ba, ngoài mấy cái tục lệ cổ hủ, cũ rích, không còn biết một tí gì nữa, ba má phải biết ở Nam những nhà giàu có học thức người ta để cho con cái tự do kén chọn, tự do kết hôn. (Thấy cha mẹ ngồi nhìn nhau, cha lấy ống tay áo quệt mồ hôi ngang trán, mẹ cong đôi môi, cậu lại càng nói già):
– Đấy ba má cứ hỏi vợ cho con đi, con đi khỏi ngay cái nhà này!
Vợ chồng anh Cả nghe cậu dọa nạt, sợ quá, anh vội vàng nói:
Thế mày nói cho tao biết người nào mày yêu, mày thích để tao thử liệu xem sao!
Sự thật, cậu này chưa gặp được cô nào cậu yêu tha thiết, định lấy làm vợ, những con gái cậu biết toàn là hạng kiếm tiền, mua về rất dễ. Cậu không chịu thú thật chưa gặp được ý trung nhân, cậu chỉ cong đôi môi hồng nhìn mấy móng tay xinh xắn.
Lần nào cũng thế, mỗi lần anh Cả nhắc đến chuyện này, cậu làm hăng lắm, nhưng sau cùng lại đấu dịu, cậu nói:
– Được … được … bây giờ hãy tạm gác chuyện đó lại.
Đã hai lần anh Cả phải xin từ hôn những nơi anh đã cho đi trầu cau, vì con anh nghe nói đến, dọa sẽ treo cổ lên xà nhà tự tử như em cậu độ nào. Anh chị Cả nghe con dọa, sợ mất mật, lại phải nhượng bộ.
Nấn ná mãi, vợ chồng sốt ruột quá, muốn con phải có vợ, vì cậu là trưởng nam, kế tự sau này, con cậu là cháu đích tôn. Anh Cả cũng biết con hay lui tới những phòng trà nào, con hay la cà chỗ này chỗ khác, nó là bệnh chung cho tất cả thanh niên không cần phải làm mới có ăn, có mặc. Anh xưa kia cũng đã miệt mài trong cuộc truy hoan, nghĩ đến con anh bây giờ, anh lo quá. Vợ chồng anh đều nghĩ nếu không sớm lo vợ cho con, rồi ra không khéo lại vơ quàng một con nào ở phòng trà, bọn hồng lâu lấy làm thứ còn tạm được, chứ lấy làm chính thất, thật điếm nhục gia phong.
Anh chị Cả có tỏ nỗi lo âu, thì cậu con trả lời không một chút e dè nào, là đời nay thanh niên nam nữ được giải phóng khỏi quyền giám hộ của cha mẹ, nam nữ bình đẳng bình quyền. Hắn còn nói lắm câu vô ý thức tương tự, vợ chồng anh chỉ còn nước ngồi nhìn nhau, không biết nói gì. Hắn nói năng liến láu nhiều câu hỗn xược, hai mắt long lên, nhìn cha nhiếc mẹ thỉnh thoảng lấy bàn tay mềm mại trắng trẻo như bàn tay đàn bà vuốt mái tóc.
Nói xong hắn đi, vì không bao giờ chịu đứng yên một chỗ. Chị nhìn anh có vẻ căm thù, oán trách, nói:
– Đó là nó học được những thói của cha nó. Chính cha nó đã truyền lại cho thằng con cái thích gái đàng điếm, con nhà tử tế thì không muốn.
Vừa nói chị vừa lấy ống tay áo lau nước mắt, chị nghĩ uất quá. Anh Cả có ý sợ lắm, anh biết câu chuyện khơi mào này rất có thể nổi ngay cơn phong ba bão táp bây giờ. Anh biết bà vợ lúc về già tuy nết hạnh nhưng tính nết hay cáu gắt lắm, anh vội vàng đứng dậy nói tỏ ý khuất phục:
– Mẹ nó cũng biết bây giờ tôi có tuổi, tính nết đổi hết không như xưa kia. Tôi cũng nghe mẹ nó khuyên bảo là rất phải. Nếu mẹ nó có nghĩ được mưu kế gì hay tôi xin nghe theo.
Thực ra chị Cả cũng chẳng nghĩ được mưu mẹo gì để khuất phục được cậu quý tử, chị cũng phải hàng nó. Anh biết vợ sắp lên cơn thịnh nộ, vội vàng rảo bước đi ra ngay ngoài. Ra sân, thấy cô vợ bé đang ngồi phơi nắng cho con bú, anh vội vàng bảo:
– Vào ngay, đem cái gì cho bà, bà sắp nổi cơn tam bành đấy. Đem vào chén nước trà, quyển kinh hay thứ gì đó, liệu tán tụng có ông sư nào khen bà thế này thế khác, liệu mà nói.
Cô vợ bé ngoan ngoãn ôm con đứng dậy. Ra ngoài phố không biết nên quay về ngả nào, anh Cả gặp được cô vợ bé thấy nhẹ cả người, nếu anh mà còn ngồi lại trong nhà thế nào cũng có chuyện lôi thôi với chị ấy. Mấy năm gần đây cô vợ bé tính nết dễ thương thùy mị, nhẫn nhục, chịu thương chịu khó. Anh Cả nghĩ cũng may quá vì thường thì hai người đàn bà chung chồng hay cãi cọ xích mích, ầm cửa ầm nhà; nhất là một trong hai người hay cả hai cùng yêu chồng nhận quyền sở hữu riêng một mình. Đằng này cô vợ bé lại biết chiều chồng, cô không nề hà quản ngại làm mọi việc lặt vặt cho chồng mà bọn đầy tớ, anh sai làm cố ý lẩn tránh. Thằng ở, con sen, tụi nó biết rõ ai là người có quyền thế nhất trong nhà. Mỗi lần anh thét gọi đầy tớ, trai hay gái, tụi nó thưa liền:
– Dạ … dạ … con lại, con lại …
Tuy thưa thế nhưng lần chần họ không tới xem anh sai bảo gì; nếu anh có gắt, tụi nó kiếm cách nói:
– Bà con sai làm cái này.
– Bà con sai làm cái kia …
Thế là anh im thin thít ngay.
Cô vợ bé lại lẳng lặng hầu anh, cô kiếm lời ngọt ngào, khuây khỏa an ủi anh. Mỗi khi anh đi thăm đồng về mệt mỏi, nếu trời rét chị pha sẵn một ấm nước trà nóng. Nếu mùa nực, chị đã ngâm một quả dưa ở đáy giếng cho mát, trong khi anh ăn, chị ngồi bên cạnh quạt phẩy, đem nước tận nơi cho anh rửa chân, lấy giày, lấy vớ … Chỉ có cô vợ này anh mới thổ lộ những nỗi bực tức, anh bực nhất với bọn tá điền, anh kể hết cho cô nghe những nỗi bực mình, anh nói:
– Hôm nay con mụ già móm, mẹ thằng tá điền nó cấy thửa ruộng phía Tây, tao biết con mụ này gian lắm, nó dấp nước thúng thóc cân cho thằng quản gia, thằng này ngu nhất hạng, nhắm mắt không biết. Tao thấy cán cân chổng
vọt lên …
Cô vợ nghe chuyện nói:
– Chắc nó cũng gian lận được ít thôi, ông tinh lắm nó che mắt sao nổi, em chưa thấy người nào tinh khôn hơn ông.
Nỗi ưu phiền về đứa con cứng đầu ngỗ nghịch anh cũng kể cho vợ bé nghe, cô này cũng tìm lời khuyên giải. Lúc này đi ra phố anh kể bà Cả nhiếc móc anh thậm tệ, anh được mấy lời êm dịu của cô vợ bé cũng mát dạ hả lòng. Cũng như mọi lần cô này nói:
– Đối với em ông là người khá nhất, thật tình em chưa thấy ai được như thế, chị ấy có nghĩ gì, biết gì đâu, thật chị ấy không biết người biết của. Em nói thật, ông còn hơn chán vạn người.
Tâm tư phiền não vì vợ vì con, lòng lo lắng còn sót lại ít ruộng chưa dám bán hết, anh còn vớt vát được cô vợ bé để an ủi nỗi lòng. Tự thâm tâm anh nghĩ tất cả đàn bà, tự nhỏ đến giờ, anh đã đi lại quen biết, cô này anh ưng ý nhất, hợp nhất, khá nhất, anh tự nhủ thầm:
– Tất cả những đứa con gái ta đã đùm bọc nuôi nấng chỉ có mỗi con này nó hiểu ta, nó biết ta!
Ngày hôm đó anh buồn phiền vì thằng con nó gây cho anh nhiều điều khó chịu, bực mình. Anh ra phố, lòng buồn bực, suy nghĩ.
Thằng con anh cũng ra phố, đến nhà một người bạn. Tình cờ gặp được một thiếu nữ kiều diễm, khả ái, hình như vừa ý hắn lắm. Người bạn là con ông cẩm ở tỉnh. Cậu con anh Cả giao du lui tới quần tụ quân bài lá bạc. Những thứ cờ bạc được thua, may rủi theo luật lệ chính phủ cấm ngặt, con ông cẩm và bè bạn nếu đánh bài lỡ ra có điều gì cũng không sao, vì con một ông tai to mặt lớn trong tỉnh, có thế lực. Hôm đó cậu định lại chơi nhà bạn đánh vài ván bài giải khuây vụ xích mích với cha mẹ về chuyện lấy vợ.
Đến nơi, nữ tỳ ra mở cửa vào phòng khách, cậu xưng danh hiệu, ngồi chờ, nét mặt trầm ngâm tư lự về những chuyện trái ý bực mình. Cậu đang ngồi chờ để được tiếp, thình lình cánh cửa trong mở, một thiếu nữ kiều diễm bước vào. Nếu là một cô gái thường, mà cậu này cũng là một thanh niên thường cô đã đi rảo bước, lấy ống tay áo che mặt. Nàng nhìn rất thản nhiên cậu con anh Cả, không một chút bẽn lẽn rụt rè, luồng nhỡn tuyến của cô gái chiếu thẳng vào mặt cậu, cậu luống cuống chớp mắt nhìn xuống. Mọi người ai cũng công nhận tuy cô này bạo dạn, nhưng là một thiếu nữ rất lịch sự, tân thời. Tóc cắt ngắn, chân không bó, cô mặc một chiếc áo dài, kiểu áo các cô gái mới, vì sắp hết xuân sang hạ, chiếc áo bằng lụa mềm màu ngỗng non.
Cậu này ăn chơi có vẻ sành sỏi lắm nhưng thực ra cậu chưa được gặp, được biết các cô gái mới. Khi không đánh bạc ăn uống chè chén chơi bời chỗ nào, suốt ngày cậu chúi đầu vào mấy quyển tiểu thuyết tình. Không thích đọc chuyện cổ, cậu ham nhất lại tiểu thuyết ái tình lãng mạn, nam nữ thanh niên tự do luyến ái. Cậu vẫn mơ ước những con gái nhà trâm anh thế phiệt, không phải hạng gái chơi, tính nết bạo dạn như đàn ông, những hạng đó cậu ước ao nhất. Tuy vậy cậu chưa biết, chưa gặp được ai, cậu nghĩ nam nữ tự do kết hôn, họ viết ở trong truyện, sự thật làm gì có. Bây giờ đột nhiên gặp được người trong mộng, cậu thấy nóng ran cả người, lòng cậu khác nào như một nắm củi khô, chỉ cần một tàn lửa là bùng cháy.
Chỉ thoáng nhìn cô gái cậu đã như mệt như mê tâm thần thác loạn. Khi cô đi ngang phòng, cậu còn choáng váng tê mê. Gặp bạn, mồm cậu khô, trái tim đập mạnh có lẽ nổ tung trong lồng ngực, cậu lắp bắp hỏi:
– Thiếu nữ vừa đi ngang đây là ai nhỉ?
– Em gái “moa” học một trường ngoại quốc ở một tỉnh miền duyên hải, nghỉ lễ về chơi.
– Chưa, kể vào hạng gái bây giờ “en” có óc tân tiến nhất, tự kỷ, tự ý, vẫn thường có chuyện cãi cọ với cha mẹ về lấy chồng, “en” từ khước tất cả những người mà cha mẹ định, liệu cho, ý muốn tự kén chọn lấy.
Nghe bạn nói khác nào như người khát nước được chén rượu ngọt đưa lên môi khô. Cậu không hỏi han gì, sà vào đám bài. Tuy ngồi vào đám “đỏ đen” nhưng óc để đâu đâu, cảm thấy tâm hồn nóng rực, lửa lòng bốc lên ngùn ngụt. Đánh được vài ván, cậu xin kiếu về nhà, vào phòng riêng đóng kín cửa lại. Ngồi một mình suy nghĩ, thiếu nữ này thật ý hợp tâm đầu quá, nghĩ cũng ái ngại cho em cùng một cảnh ngộ với mình, bị cha mẹ cổ hủ lấy quyền thế áp chế … Theo thời buổi tân tiến, nam nữ tự do phối hợp, mình phải tìm cách trực tiếp thẳng với em, không cần phải mối mai, cha mẹ hay anh nàng. Cậu vội vàng rút ở trong tủ sách lấy một quyển đã đọc, tìm xem loại thơ nào thích hợp cho khách hào hoa, phong nhã viết cho bạn má hồng đã hấp thụ được văn minh, tư tưởng tân tiến. Cậu chép được một lá thơ ý nghĩ tương tự, hợp với hoàn cảnh đôi bên.
Thảo xong thơ, ký tên đàng hoàng, mấy lời mào đầu xã giao văn vẻ, chải chuốt. Trong thơ đại ý nói: cậu có tư tưởng phóng khoáng, tình cờ hân hạnh được biết nàng có tư tưởng tương đồng. Nàng đối với chàng thư sinh khác nào như ánh sáng huy hoàng của vừng Thái dương hòa hợp cùng màu sắc, rực rỡ tươi thắm của bông mẫu đơn, tiếng tiêu hòa tấu với bản đàn phổ lên một điệu. Viết xong sai thằng ở đem thơ đi trao tận tay người ngọc.
Cậu nóng lòng sốt ruột mong thơ trả lời, bồn chồn nóng nảy như người ngộ cảm, cha mẹ cũng không hiểu cậu con làm sao.
Thằng ở trở về nói cô ta sẽ trả lời sau, anh chàng lại phải chờ đợi, nóng muốn biết thơ phúc đáp lời lẽ ra sao, cáu tức ghét tất cả mọi người trong nhà, các em lại gần là rầy la đánh đập, chửi bới đầy tớ, làm nhiều cái lố bịch vô lý, người vợ lẽ của cha cậu đã phải nói:
– Cậu làm gì như chó sắp nổi điên thế hở?
Rồi chị này cấm các con chị không được lai vãng gần cậu.
Được ba hôm có người đem thơ trả lời. Anh chàng nóng lòng sốt ruột, suốt ngày ở ngoài đường, lảng vảng trước cửa đón thơ. Thấy người đem thơ đến anh chàng vội giật lấy đem về nhà, vào buồng đóng kín cửa lại, hấp tấp bóc, vô ý xé lá thơ làm hai mảnh. Anh chàng ghép hai mảng thơ lại đọc, chữ viết rất tốt, rắn rỏi, mạnh bạo. Qua vài câu xã giao thường lệ, có mấy giòng nói lý do sự mạo muội, đường đột, cô viết: “Em cũng có tư tưởng tự do phóng khoáng, em nhất định không chịu để cha mẹ ép uổng”. Mấy câu văn vẻ kín đáo ngụ ý tỏ thiện cảm với chàng. Đọc đến chỗ này anh chàng sung sướng quá. Lá thơ đó khơi mào cuộc phiêu lưu tình ái, đôi nhân tình trao đổi thư từ chưa đủ, cần nhất được giáp mặt nhau bất cứ ở đâu, lúc nào cũng được. Có một hai lần anh chị đã hẹn hò nhau ngay cổng sau nhà cô ả. Thực ra những cuộc gặp gỡ vụng trộm, chàng và nàng sợ lắm, nhưng ngoài mặt vẫn làm ra vẻ tự nhiên. Gặp nhau hấp tấp vội vàng, thơ từ trao đổi cũng che đậy thay tên đổi họ, đút lót tiền cho bọn đầy tớ. Mối tình mỗi ngày một mặn nồng, cả anh Cả ả cùng một tư tưởng thầm kín như nhau, khó nói, ước mong được mãn nguyện tinh thần cũng như thể chất. Gặp nhau lần thứ ba, chàng tỏ lòng cuồng vọng, tha thiết nói:
– Anh không thể nào kéo dài thế này mãi được, nhất định phải xin cưới em về, để anh nói ý anh cho ông già anh biết.
Cô ả biểu đồng tình nói:
– Em cũng nói cho ba em biết, chí em nhất quyết nếu không lấy được anh, em tự tử.
Chàng và nàng về thưa chuyện cho hai ông già biết.
Anh Cả (Vương điền chủ) cũng không thích thấy sự ngông của con chòi mòi con gái nhà quyền thế, nhưng anh cũng cố lo liệu cưới xin cho xong. Còn bố cô ả thì kịch liệt phản đối, không bằng lòng cho lấy chồng đó, ông là ông Cẩm trong tỉnh, vì nhu cầu công vụ ông có rất nhiều thám tử nên ông biết hơn ai hết hạnh kiểm của anh chàng. Nghe con nói, ông lôi đình thét bảo:
– Cái thằng vô nghệ, đốn mạt, suốt ngày la cà hết nhà điếm này đến nhà điếm khác, mày định lấy nó hở?
Ông sai đầy tớ đem nhốt cô ả vào buồng khóa cửa lại, nhốt cho đến hôm đi học. Bị nhốt vào buồng cô giãy giụa la hét om sòm, van nài, ông bịt tai không thèm nghe. Ông này tính rất bình tĩnh. Cô con gái biện bạch, cãi lý lẽ, ông vừa giở sách vừa hát. Cô tức quá, nói những câu mà một người con nhà tử tế có ăn học không nên nói. Ông ngoảnh vào buồng bảo:
– Tao biết đáng lý tao để mày ở nhà, không cho mày đi học mới phải. Ai cũng bảo con gái đời nay cho đi học mất nết hư lắm. Tao mà biết thế này tao để mày ngu dốt, những tính nết tử tế thuần thục như mẹ mày tao tìm người tử tế đã gả chồng cho mày từ sớm rồi. Được, bây giờ cũng chưa muộn đâu con ạ.
Ông nói, ông gầm lên, cô ả nghe hết hồn sợ quá.
Chàng và nàng chỉ còn cách trao đổi thư từ, lời lẽ văn hoa tỏ nỗi tuyệt vọng, bọn đầy tớ no về tiền quà, thơ đi thơ về rầm rập. Chàng ở nhà buồn bực chán nản quá, không còn thiết đi chơi đánh bạc hay tập thể dục. Cha mẹ thấy con xanh xao mòn mỏi không biết nghĩ sao. Anh Cả nhờ người đem một số tiền đút lót ông Cẩm. Ông này được tiền nhận ngay, nhưng chí ông cương quyết cự tuyệt; cả nhà anh Cả tưng hửng thất vọng. Cậu con tuyệt thực, nói muốn thắt cổ tự vẫn, vợ chồng anh Cả lo sợ thất thần. Một buổi chiều chàng lảng vảng ở phía cửa sau nhà cô ả, anh thấy cái cửa nhỏ thông ra ngoài hé mở, con ở vẫn đưa thơ cho anh nom thấy anh lách người ra ngoài, vẫy anh lại. Anh chàng rụt rè sợ lắm, nhưng trong lòng thôi thúc, cũng liều mon men lại, bước vào sân trong cửa đã thấy cô ả đứng chờ ở đó rồi. Cô này cương quyết nhất trí, đã lập sẵn mưu mô chiến thuật. Mặt nhìn mặt, hai bên tâm hồn dào dạt không nói nên lời, giá viết vào giấy có lẽ đã nói được nhiều lắm.
Thực ra chẳng run lắm, vì lỡ ai mà biết được thì hết đường chối cãi, không có lý do gì, vin vào lẽ gì mà bào chữa được. Cô ả mạnh bạo hơn, cô có chút học, cô nói:
– Em không cần phải để ý đến ông già, chúng ta trốn đi một chỗ, khi các cụ biết có sợ tai tiếng thế nào cũng cho chúng mình toại nguyện lấy nhau. Em biết ông già em quý em lắm, chỉ có mình em là gái, mẹ em mất đã lâu. Còn anh, anh là con trai cả mà …
Chàng chưa kịp mở mồm thổ lộ can tràng, thì ông Cẩm ở đâu lù lù hiện lên đứng ngay trước cửa. Nguyên do có một con sen nó ghen tức về tiền quà với con sen hồi nãy, lập tâm báo thù, lên tâu với ông Cẩm.
Ông Cẩm thét bọn đầy tớ:
– Trói thằng này lại cho tao, cho nó vào tù, nó đến quyến rũ con tao.
Anh chàng vào lúc vận đen, gặp phải trường hợp rất đáng tiếc, ông thân sinh ra cô ả là ông Chánh Cẩm trong tỉnh có quyền bỏ tù bất cứ ai, nếu phải người thường muốn cho ai vào tù còn phải mất khối tiền. Thừa lệnh ông Cẩm, bọn gia nhân lôi tuột “cu cậu” vào xà lim. Cô ả kêu thất thanh, níu chặt tay “ý trung nhân” la hét om sòm, thề không lấy ai, dọa tháo chiếc nhẫn ở tay nuốt tự tử.
Ông cụ rất điềm tĩnh bảo bọn con ở:
Chúng mày phải trông cô ấy, không được để cô ấy một mình, cô ấy nói thế mà nhỡ dại dột làm thật, có chết, chúng mày phải chịu trách nhiệm nghe không?
Nói xong ông quay đi làm như không nghe thấy cô con gái kêu gào oán trách, bọn con ở sợ lôi thôi, can cữu, kèm riết cô ả, không dám rời một bước, cô này không thể dở thủ đoạn gì ra được.
Ông Cẩm cho người lại báo tin cho Vương điền chủ biết con trai y đã bị vào nhà pha vì tội quyến rũ, phạm đến danh dự con gái ông.
Nhà anh Cả được tin đó như sét đánh, cả nhà huyên náo rối loạn, anh Cả cuống cuồng không biết làm thế nào. Anh vội vàng, trong túi có bao nhiêu tiền dốc ra hết, khoác chiếc áo đẹp nhất thân chinh lại xin lỗi ông Cẩm. Nhưng ông Cẩm không phải hạng người mà công việc có thể thu xếp quá giản dị như thế được. Ông cho người ra bảo câu chuyện con anh làm ông rất phiền lòng sinh bệnh không tiếp khách. Khi đem tiền đến, ông cho đem trả và bảo như thế là có ý khinh ông, định hối lộ, lung lạc ông. Anh Cả lủi thủi trở về, thở ngắn than dài. Anh biết số tiền anh đưa vào lễ quá ít ỏi, mà thực ra độ này anh cũng túng, vì vụ lúa chưa gặt, anh nghĩ hãy mượn tạm chú Hai giúp đỡ trong lúc vận hạn. Anh đau xót thằng con khi không vào ngồi đề lao, anh cho người đem cơm nước, chăn màn vào cho cậu đỡ khổ. Anh cho người mời anh Hai lại chơi. Anh vào trong buồng ngồi chờ, chị Cả lo
quá, trong lúc tâm thần thác loạn chị quên cả kiểu cách, cũng theo chồng vào, hai tay ôm đầu chị xin quỷ thần chứng minh cho chị từ khi về nhà này chị bị bao nhiêu tai ách.
Như vào lúc khác, chị Cả dày vò đay nghiến anh bực bội khổ lắm, lần này anh không nghe thấy, lòng ruột anh bối rối, lo quá, số phận thằng con anh ở chính tay ông Chánh Cẩm. Anh Hai ung dung đến, nét mặt thản nhiên, điềm tĩnh như không hay biết một tí gì. Chính ra câu chuyện đồn ầm, đầy tớ nhao nhao, ai cũng biết hết, ở nhà chị vợ anh Hai đã kể cho chồng nghe lai lịch câu chuyện, chị nhắc đi nhắc lại có ý đắc sách lắm:
– Tôi đã biết mà, mụ vợ ấy với anh chồng ấy con cái có ra gì đâu!
Anh Hai ngồi yên nghe vợ chồng anh Cả kể chuyện xảy ra thêm bớt vào làm giảm hẳn tội cậu con. Anh Hai làm ra vẻ thông cảm như anh cũng đồng ý con anh Cả thật là vô tội, oan quá, chẳng qua là vận hạn, bây giờ tìm cách gì khôn khéo để gỡ ra. Anh cũng đoán ý vợ chồng anh Cả muốn vay mượn một số tiền lớn, anh phải tìm cách gì khéo để tránh được việc này. Khi câu chuyện vừa kể xong, chị Cả ôm mặt khóc rống lên.
Anh Hai thủng thẳng nói:
– Vẫn hay tiền cũng cần lắm khi dính líu gì với nhà chức việc. Nhưng có một thứ còn mạnh hơn tiền là binh lực. Trước khi dốc hết của cải để lo việc này, tôi nghĩ chú Ba nó bây giờ là một đại tướng có uy quyền rất mạnh, nên nhờ y can thiệp việc này với viên Tổng đốc trên tỉnh, viên Tổng đốc sẽ tư cho ông Phủ ở đây, ông Phủ sẽ chuyển lệnh cho ông Cẩm, như thế làm gì cháu chả được thả. Tiền không hết mấy mà được việc.
Kế hoạch đó tuyệt diệu, tuyệt xảo, anh Cả lạ quá, thế mà mình không nghĩ ra. Tức khắc anh phái người cấp tốc đến nói với Vương hổ tướng. Ngoài bổn phận phải giúp đỡ các anh, chàng cũng nhân cơ hội này muốn thử xem ảnh hưởng thế lực mình ra sao. Chàng viết một lá thư dài cho ông tướng ở tỉnh kèm theo phẩm vật, cho một tên thủ hạ tâm phúc đem đi, với một vệ sĩ đi hộ tống phòng trộm cướp ở dọc đường. Ông tướng tiếp được thơ và lễ vật, suy nghĩ một lúc, ông nhận thức cũng là một dịp tốt nên gây cảm tình, kết liên với Vương hổ tướng phòng khi có chiến cuộc. Vả chăng chấp nhận giúp hắn, thả một người có khó nhọc tốn kém gì mà đối với lão Cẩm, một tên tiểu tốt vô danh có nghĩa lý gì. Nghĩ thế ông cho thảo một công văn tư sang bên tỉnh đường. Viên tỉnh trưởng thể theo lời yêu cầu của viên Đại tướng tống đạt khẩn lệnh cho viên Tri phủ về địa hạt có nhà họ Vương ở.
Anh Hai (Vương thương gia) là một người linh lợi giảo quyệt, khôn ngoan. Những người chức sự có liên quan đến việc này anh đều lót tiền hết, mỗi người một chút thành ra tất cả đều bằng lòng mà không ai nghĩ có thể đục khoét được nhiều. Viên Chánh Cẩm nhận được thượng lệnh. Anh em họ Vương dò la biết đích xác hôm nào có công văn tư sang ông Cẩm, vì nếu đến kêu ông Cẩm không đúng lúc sẽ bị nhục trước công chúng. Khi biết chắc có lệnh trên truyền cho thả cậu “quý tử”, hai anh em nhà này đem tiền lại lễ, khẩn nài xin ông làm phúc, tỏ lượng khoan hồng ra ân phóng thích.
Làm như ông tự định đoạt chứ không phải đã có thượng lệnh rồi. Hai anh lạy lục xin ông rủ lòng thương, ban phúc xá tội. Ông Cẩm miễn cưỡng chấp thuận lễ vật và như một thượng quan ở ngôi cao chót vót xá tội ban ân. Ông truyền lính cho thả tên đó ra mắng cho một chập, đuổi cổ về. Hai anh em mở đại tiệc khoản đãi ông Cẩm, câu chuyện đến đó được kết liễu.
Cậu con anh Cả ngồi khám đường ít lâu cũng hối cải được phần nào. Cô con gái ông Cẩm thủy chung với mối tình đầu vẫn khăng khăng một mực, đến van nài với cha. Lần này ông nghe cũng siêu lòng, ông nghĩ nhà họ Vương này cũng có thế lực lắm. Một trong ba anh em nhà này có người làm lãnh chúa muốn chừng có uy quyền lắm. Một người buôn bán, chắc là giàu có. Kể thế anh em nhà ấy cũng vào hạng khá giả. Ông ưng lời con, cho mối lại bảo nhà anh Cả:
– Thôi cho đôi trẻ lấy nhau.
Hai họ kết chặt tình thân ái.
Thế là mọi việc được thu xếp, sau lễ vấn danh, chọn ngày lành tháng tốt làm lễ vu quy. Vợ chồng anh Cả vui vẻ hân hoan chứa chan hạnh phúc. Tân lang (cậu quý tử con anh Cả) thấy cuộc tình duyên lúc đầu gian nan trắc trở, mà kết quả rực rỡ, anh chàng hoa cả mắt, tinh thần nhuệ khí lại phục hồi như xưa. Còn cô ả như một chiến sĩ xông pha mũi tên hòn đạn, đắc thắng ca khúc khải hoàn.
Vương hổ tướng cho việc đó không có chút gì là quan hệ. Chàng chỉ để ý, nhân cơ hội nhận thức mình là một người có thế lực trong tỉnh. Viên tướng trên tỉnh cũng phải công nhận mình là người thế nào, nghĩ thế chàng có ý tự đắc tự hào. Công việc lo liệu xong xuôi thì đã hết xuân sang hạ. Vương hổ tướng nghĩ mình đã lo liệu công việc này nên cuộc xuất quân cũng đã muộn, chàng lại đình việc chinh phạt sang năm tới. Chàng cũng có lý do chính đáng khi hoãn việcxuất quân là bọn thám tử đi dò la trở về báo tin đồn có một thế trận ở xa lắm, mãi tít phương nam, chưa biết trận mạc gì, ai làm thủ lãnh. Được tin đó chàng càng hiểu thực lực, chân giá trị đạo quân của mình nên muốn tỏ thiện cảm để liên kết. Chàng lại cố chờ sang Xuân tới xem động tĩnh ra sao. Vương hổ tướng luôn luôn ở bên cạnh con, cậu nhỏ này nhiều lúc sao nhãng với phận sự, chàng lấy làm một thú tiêu khiển, lặng lẽ lấy mắt xét đoán theo dõi hành vi của con. Nhiều lúc chàng ngắm nhìn mặt con, chàng nhận thấy nét mặt có vẻ ngây thơ của một đứa trẻ, vừa sắc sảo nhanh nhẹn của một thanh niên. Thường khi chàng để ý nghiên cứu nét mặt con, những lúc cậu nhỏ cúi đầu đọc sách hay làm gì, chàng lấy làm lạ nhận sắc diện của con nom rất quen thuộc, hai má vuông hay cái mồm dáng điệu cương nghị, rắn rỏi. Cái mồm đó không đẹp nhưng so vào tuổi thơ ấu nó biểu lộ ý chí cương quyết, có nghị lực.
Một buổi chiều chàng nghĩ khuôn mặt thằng nhỏ giống như đúc khuôn mặt bà nội nó, nghĩa là mẹ chàng khi xưa. Tuy không hình dung được khuôn mặt mẫu thân khi lâm chung trên giường bệnh, nhưng chàng nhận thấy khuôn mặt thằng nhỏ y hệt, cũng cái mồm ấy, mắt ấy, tuy có khác là mặt thằng nhỏ hồng hào, mặt bà cụ lúc chết trắng nhợt. Chàng còn nhớ dáng điệu mẹ khi xưa chậm chạp, trầm lặng, thằng nhỏ cũng có dáng điệu đó, nhìn đôi môi, đôi mắt thằng nhỏ, thấy đúng như mẹ chàng thủa trước. Nhận thức như thế tâm hồn chàng thấy bừng nóng, chàng càng tha thiết yêu con thế.
Gọi là để tưởng nhớ những vì sao Không Quân. – Đào Vũ Anh Hùng.
Đó là buổi sáng trời rất đẹp của ngày 26 tháng 2, năm 1962. Tôi đạp xe từ Phú Nhuận lên nhà sách Khai Trí tìm mua vài quyển Toán, chạy ngang Dinh Độc Lập. Khi vừa qua khỏi ngã tư Hồng Thập Tự – Công Lý, bỗng giật bắn mình, nghe phủ ào qua đầu một tiếng gầm xé thinh không cực lớn và thật gần, ngay trên những ngọn cây sao cao vút bên vệ đường. Tôi thật không biết chuyện gì xảy ra, kinh hoảng đâm xe lủi vào lề, nhảy xuống. Tôi đứng dưới một gốc sao nhìn lên trời, nơi vừa giáng xuống tiếng gầm như trời sập và tim đập loạn.
Loáng thoáng qua vòm cây, tôi thấy một chiếc máy bay khu trục xé gió bay rất thấp phía sông Sài Gòn hướng về Dinh Độc Lập. Nó vút lên cao, nghiêng đôi cánh sắt, lượn gắt một vòng nữa rồi quay lại… Tôi không hiểu chuyện gì xảy ra, hết hồn quẳng vội chiếc xe, ngồi bệt xuống đất, nép vào gốc cây nhìn lên cái bụng sơn trắng của chiếc phi cơ với những trái bom thon dài sáng bạc được nhả ra, loang loáng lướt qua vòm cây, rơi xéo xuống cánh trái dinh ông Diệm. Rồi tiếng nổ, khói bụi bốc lên. Súng phòng không từ trong dinh và từ phía bến Bạch Đằng giòn giã nổ lụp bụp trên trời từng cụm khói đuổi theo con chim sắt. Tôi thấy thêm một chiếc khác bay cao và bay xa hơn, phía bến Bạch Đằng, cũng đang bị săn đuổi, chao liệng như chim hâu len lách giữa những cụm khói nở hoa đen trên nền trời xanh ngọc bích.
Buổi sáng lịch sử, hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử oanh kích Dinh Độc Lập tôi tình cờ chứng kiến từ phút giây đầu. Trước đó, năm 1960, cũng chính ngay cổng Dinh Độc Lập, tôi đã chứng kiến cuộc nổi dậy ngắn ngủi của quân Dù do các Trung tá Nguyễn Chánh Thi, Nguyễn Triệu Hồng chủ xướng và thất bại, người thì chết, người phải lưu vong.
Năm cuối cùng của chế độ nhà Ngô, tôi ở trong Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, tham gia phong trào tranh đấu Phật Giáo, bị mật vụ của Dương Văn Hiếu thuộc Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung bắt giam cho đến ngày cách mạng 1/11/63, có lẽ vì ảnh hưởng tinh thần Quốc–Cử và vì không khí đấu tranh sôi bùng nhiệt huyết tuổi hai mươi. Sau này tôi gia nhập Không Quân, không biết có phải vì hình ảnh hai chiếc khu trục sáng ngày hôm đó, cùng những cái tên tôi cho rằng rất đẹp và hùng can dự vào những biến cố làm đổi thay lịch sử – tên tuổi những phi công Nguyễn Văn Cử, Phạm Phú Quốc, Phan Phụng Tiên, Huỳnh Minh Đường… hay hình ảnh ông Kỳ trong bộ đồ bay đen với huy hiệu Thần Phong in trên bìa báo Paris Match đã ảnh hưởng sâu đậm đến quyết định tương lai của tôi. Những người danh tiếng trên, tôi chỉ không biết phi công Huỳnh Minh Đường. Còn các nhân vật Nguyễn Văn Cử, Phạm Phú Quốc, Phan Phụng Tiên, tôi biết là do chơi với Tâm, Phúc, em ông Cử, với Phạm Phú Đê, em ông Quốc, và Phó Quốc Uy, em vợ Tướng Tiên.
Tôi vốn yêu những mái tóc trung niên bạc mà đẹp, có nét giang hồ từng trải, hào hoa nghệ sĩ như mái tóc Phan Phụng Tiên, Hoàng Hải Thủy, hay Tướng Nguyễn Văn Hiếu… Nên khi gặp Tướng Tiên lần đầu, tôi thấy rất gần gũi, bởi mái tóc bạc của ông, và bởi ông là một trong những người hùng tham gia cuộc đảo chính hụt ngày nào. Lúc đó là năm 1973, ông làm tư lệnh Sư Đoàn 5 Không Quân và tôi được biệt phái về Sài Gòn, đặc trách thành lập Biệt Đội Trực Thăng Dạ Thám bảo vệ vòng đai thủ đô và các vùng phụ cận, sau mùa Hè đỏ lửa 1972.
Thời gian đó, Việt cộng mở chiến dịch vừa đánh vừa đàm song song với hòa hội Paris. Sài Gòn là mục tiêu của những cuộc pháo kích để khủng bố và gây tiếng vang. Tôi thành lập Biệt Đội Night Hawk, đêm đêm bay những phi vụ tuần thám, rọi đèn củ soát những nơi nghi ngờ có đặc công Việt cộng xâm nhập hay xạ kích vào những “trận địa pháo” do địch đặt súng cối hay hỏa tiễn nhắm vào Sài Gòn từ các vùng ven đô như Tân Bình, Vĩnh Lộc, Nhà Bè, Thủ Đức, Gia Định, Thủ Thiêm, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhơn Trạch, Gò Vấp, v.v. Tôi được chỉ định trông coi Biệt Đội Trực Thăng Dạ Thám vì trước đó, đã thành công trong nhiệm vụ thành lập Biệt Đội Trực Thăng Võ Trang yểm trợ Đặc Khu Rừng Sác, hộ tống các giang thuyền Hải Quân, áp tải tàu bè, các thương thuyền di chuyển trên sông Lòng Tàu từ Sài Gòn ra Vũng Tàu và ngược lại, can thiệp ngăn chặn các cuộc phục kích của Việt cộng…
Biệt Đội thuộc quân số Sư Đoàn 3 KQ ở Biên Hòa nhưng nhận lệnh chỉ huy và điều động của nhiều cấp bộ khác nhau: Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ đô (Chuẩn tướng Lý Bá Hỷ), Bộ Tư Lệnh Không Quân (Thiếu tướng Võ Xuân Lành, Tư lệnh phó). Phòng Đặc Trách Trực Thăng BTL/KQ. Sư Đoàn 3 KQ, và Không Đoàn 33 Chiến Thuật có nhiệm vụ yểm trợ Biệt Đội. Vị thế của tôi rất tế nhị và phức tạp giữa các cơ cấu quyền lực đó. Chiều chiều chúng tôi đem phi cơ vào Tân Sơn Nhất, đêm bay, sáng hôm sau đem tầu về trả Biên Hòa.
Cũng vì mỗi đêm phải vào Tân Sơn Nhất, chúng tôi được cho một phòng trực với đầy đủ tiện nghi, máy lạnh, giường nệm… Tôi lên gặp Chuẩn tướng Phan Phụng Tiên, xin cho Biệt Đội mỗi tháng mười ngàn đồng mua cà phê, nước ngọt để các phi hành đoàn giải khát. Ông ký giấy cho liền và hỏi, “Mười ngàn đủ không?” Rồi không đợi tôi trả lời, ông nói luôn, “Tôi biết trực thăng các cậu khổ bỏ sừ!”. Tôi cười, nói một câu cám ơn, chào rồi ra về.
Tướng Tiên lấy bà Hoàn – Phó Thị Ngọc Hoàn – chị ruột của một người bạn rất thân của tôi, Phó Quốc Uy, cũng là em cố Đại tá Phó Quốc Chụ, một trong số 9 sĩ quan bị trực thăng Mỹ “bắn lầm” ngày 1/6/1968 sau cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân, trước cửa trường Phước Đức, số 266 đường Khổng Tử, Chợ Lớn, có sáu vị Đại tá QLVNCH tử thương. Năm 1982, vợ chồng Uy vượt biển đến định cư ở Orlando, chỗ Chuẩn tướng Tiên và Trung tá Phó Quốc Dũng tự Dũng “Mù” (vì ông đeo kính cận hạng nặng), thuộc Khối Yểm Trợ Hành Quân SĐ5KQ, tôi kéo cả nhà qua thăm. Đó là lần tôi gặp lại Tướng Phan Phụng Tiên kể từ sau ngày rời Biệt Đội Night Hawk đi học khóa Chỉ Huy Tham Mưu rồi trở lại Phi Đoàn. Anh em nói chuyện xưa, nói đến những ngày cuối cùng, đến giây phút cuối cùng rời bỏ Sài Gòn. Chính lúc đó tôi mới biết chỉ chút xíu nữa tôi có thể cũng kẹt ở lại hoặc bị bắn rớt ngay sáng ngày 29/4, bên hông Câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc, khi tôi hẹn Tướng Kỳ để tôi bay về đón vợ con rồi trở lại Nhà Bè trong vòng 30 phút, rồi sẽ đưa anh em xuống Cần Thơ theo lời ông dặn…
Tướng Tiên nói:
– Sáng hôm đó, anh ngồi trong phòng Hành quân với ông Lành. Phòng Thủ gọi máy báo có chiếc trực thăng đáp sân Câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc. Ông Lành nói, đừng để pilot gây ra “panic”. Cả anh lẫn ông Lành đều nghĩ thằng quản lý Câu lạc bộ đem máy bay về đón vợ con nó. Ông Lành ra lệnh cho Phòng Thủ hãy bắt giữ phi hành đoàn lại, không cho cất cánh, nếu trái lệnh, cứ bắn hạ…
Tôi thú vị với những điều ông vừa kể:
– Anh biết không, chính em lái chiếc phi cơ đó, đáp xuống Huỳnh Hữu Bạc.
Ông cười:
– Cậu hên dấy! Anh thấy ông Lành rất serious.
– Anh ấy không cho chị nấu nướng trong nhà. Chị phải đặt một cái bếp ở garage, em thấy có khổ không?Cái nhà đó là của vợ chồng Tuấn để cho bố mẹ ở. Vợ chồng Tuấn–Vân ở Dallas vì Tuấn làm việc
tại đây. Trong lúc chuyện trò, ông kể cho tôi nghe chuyện ông bị thổ ra hàng chậu máu, phải qua Pháp tĩnh dưỡng sau khi bán cái cửa tiệm buôn vỏ xe hơi ở Cali.
– Anh già rồi, trong người không được khỏe. Không ngờ đến cái tuổi này mình xuống sức quá.
Ông bà Tiên về chơi Dallas hai lần, ở nhà Tuấn. Tôi vẫn thường qua ăn cơm với ông, đem sách truyện cho ông đọc, dẫn ông đi thăm bạn bè hoặc hai anh em tha thẩn trong khu thương xá, nói với nhau đủ thứ chuyện, nhất là chuyện Không Quân. Ông có vẻ thích Dallas, muốn về Dallas và hẹn nếu bán được cái nhà ở Orlando cho cháu Tuấn, sẽ dọn lên trên này.
Nhưng ông vĩnh viễn không bao giờ trở lại thành phố Dallas nữa. Ông bà Tiên về ở với vợ chồng ông Dũng Mù, là anh vợ và cũng là bạn thiếu thời của ông Tiên. Lần này đúng là ông “ngã” xuống, theo nghĩa bóng. Và rồi tối thứ Bảy 21/11/1995, ông “ngã xuống” thật, theo nghĩa đen, sau bữa ăn vui vẻ ở nhà cháu Uyển, con gái vợ chồng Uy–Thảo, “Bác Tiên ăn hết bát mì lớn, chuyện trò mãi với chúng cháu tới gần nửa đêm, rất vui vẻ, không có một triệu chứng gì… Bác về, vào phòng tắm, ngã, đi luôn…”
Nghe tin ông chết đường đột. Tôi điếng lặng đi một lúc… Cuối tháng 9/1995, tôi qua San Francisco, gặp Tuấn trong đám cưới con trai lớn của Uy–Thảo lấy cháu Quỳnh Anh, ái nữ của ông Hiệp Cồ, trưởng trường Quân sự ngày xưa. Tôi hỏi thăm tình trạng sức khỏe Tướng Tiên. Tuấn nói, “Bố cháu dạo này cũng khỏe.” Tôi nghe, không mấy yên tâm vì ông về Dallas lần trước, có vẻ mệt mỏi, khá mệt mỏi. Ông không còn nhậm lẹ, ngại gió máy, quấn cái khăn phu–la quanh cổ và thỉnh thoảng ho húng hắng. Ông có dáng của một người đã về già, dù rằng mắt còn sáng, gương mặt còn rắn rỏi. Dáng của một con hổ nhớ rừng, trầm mặc, u hoài tưởng tiếc thời oanh liệt.
* * *
Thời gian trông coi Biệt Đội Night Hawk, tôi gặp Tướng Tiên có vài lần. Nhưng với Tướng Võ Xuân Lành, Tư lệnh phó Không Quân thì tôi gặp thường hơn và có cơ hội hiểu tính tình ông nhiều hơn. Trước đây, tôi chỉ được nghe biết về ông qua những “huyền thoại”. Hoặc thỉnh thoảng về Bộ Tư Lệnh, ghé Câu lạc bộ uống nước với Thế Phong hay Phạm Hồ, thấy ông hay ngồi trầm ngâm một mình một bàn, gói kín, lầm lì khắc khổ trong bộ treillis với ngôi sao thêu chỉ đen trên cổ áo rất khó nhận ra cấp bậc.
Như đã nói, Tướng Lành trách nhiệm giám trợ Biệt Đội Night Hawk do tôi chỉ huy. Ông liên lạc hàng ngày với Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ đô, theo dõi hoạt động của Biệt Đội và giải quyết các vấn đề trên cấp Tư lệnh. Nhưng thực ra, ông không phải giải quyết gì vì tôi hàng tuần họp và giải quyết trực tiếp với BTL/BKTĐ hoặc với Khối Đặc Trách Trực Thăng của Đại tá Trần Minh Thiện.
Là Biệt đội trưởng, tôi có nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy và điều động hoa tiêu, hàng ngày theo dõi các phi vụ, giải quyết các trở ngại hay các vấn đề liên quan đến công tác hành quân, dự các phiên họp hoặc thuyết trình Quân báo, báo cáo phi xuất với Không Đoàn 33, với phòng Đặc trách Trực thăng, Bộ Tư Lệnh KQ, Biệt Khu Thủ đô, và Không Đoàn 43 Chiến Thuật. Cương vị tôi hết sức tế nhị và phức tạp, chắc chắn không thể tránh được những đụng chạm với các đơn vị bạn. Biết thế nào cũng có chuyện xảy ra, nên tôi hết sức giữ gìn và kêu gọi hoa tiêu phải tuyệt đối tôn trọng kỷ luật phi hành, tôn trọng các tiêu lệnh hành quân và an phi. Tôi buộc hoa tiêu phải ghi tất cả mọi sự việc, mọi biến cố xảy ra trong đêm, thật đầy đủ chi tiết và các diễn tiến trong sổ Nhật ký Hành quân, phòng khi dùng đến.
Quả nhiên, những điều lo xa không phải vô ích. Trong một cuộc họp hàng tháng tại Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ đô, dưới sự chủ tọa của Chuẩn tướng Lý Bá Hỷ, các sĩ quan đại diện đơn vị của Tiểu Khu Gia Định, các Chi Khu, các đơn vị biệt lập… Khi giải thích lý do tại sao quân bạn bị bắn lầm, tọa độ xạ kích cho sai, phi cơ cất cánh trễ giờ, bay ra ngoài địa giới, chỉ điểm pháo binh không chính xác, v.v. tất cả đều quy lỗi về phía phi hành đoàn. Những lời cáo buộc đều mang tính cách chung chung, không ai đưa ra một bằng chứng cụ thể nào, rõ ràng là muốn trút bỏ trách nhiệm lên Không Quân một cách khơi khơi, theo kiểu “khẩu thuyết vô bằng!”…
Tôi lên bục thuyết trình sau cùng, với sổ Nhật ký Hành quân trong tay. Tôi cảm ơn các sĩ quan bạn về những điều họ vừa cho biết, xin lỗi và nhận trách nhiệm tất cả những “bê bối”, những lỗi lầm lớn nhỏ đó, nếu quả thực do hoa tiêu gây ra. Tôi trình bày tất cả những sự việc được ghi nhận trên giấy trắng mực đen, những sự kiện có thật, không một lời biện minh, để mọi người dự họp toàn quyền thẩm định mức độ xác thực và giá trị mỗi biến cố.
Tôi lật từng trang giấy, đọc to và rõ ràng những vụ việc xảy ra, với tên tuổi của từng vị sĩ quan “ngồi thùng”, đi theo trực thăng dạ thám (mà chúng tôi gọi đùa là phi vụ “soi ếch”), với cấp bậc, số quân, đơn vị, tọa độ, cùng đầy đủ chi tiết sự việc xảy ra trong đêm:
– Ngày….., Trung uý….., số quân….. lên tầu yêu cầu muốn bay đi đâu thì bay, hết giờ cứ việc bay về, để ông nằm ngủ.
– Ngày….., Thiếu uý….., số quân….. không biết coi bản đồ, hỏi, được cho biết là sĩ quan Ban 1, đi thế ông sĩ quan Ban 3 “bận công việc” không đi bay được.
– Ngày….., Đại uý….., số quân….. dắt theo một cô gái, năn nỉ xin cho đi bay cùng, để xem “Sài Gòn By Night” ra thế nào?
– Ngày….., Đại uý….., số quân….. lên tầu ói mửa đầy sàn vì say rượu. Phi hành đoàn phải hủy bỏ phi vụ bởi không người thay thế.
– Ngày….., Chi Khu….., Phi cơ xuống đón sĩ quan tháp tùng, bị trong đồn bắn lên không cho đáp vì “Máy bay làm ồn không ngủ được!”, v.v. và v.v.
Sau phần thuyết trình của tôi, cử tọa im phăng phắc. Không khí ngột ngạt thấy rõ. Chuẩn tướng Lý Bá Hỷ không nói một lời. Ông cám ơn tôi và cho giải tán buổi họp ngay lập tức. Thiếu tá Phong Già, sĩ quan Liên lạc KQ tại BKTĐ chạy theo níu lấy tôi nhăn nhó:
– Ông làm mạnh quá, kẹt tôi!
Tôi cười:
– Nếu họ không đổ rác lên đầu Không Quân, tôi bao giờ đem những chuyện ấy ra nói công khai? Ông cần xăng nhớt đã đành, nhưng đây là vấn đề danh dự của Không Quân…
Các người anh em không có chuyện báo cáo trong cuộc họp, đã đem ra nói khơi khơi làm quà cho ông tướng mà không ý thức như thế là bôi bác danh dự chúng tôi, những thằng Không Quân “chân không tới đất, cật chẳng tới trời”!
Ngay sáng hôm sau, Đại tá Trần Minh Thiện gọi tôi vào Bộ Tư Lệnh Không Quân trình diện. Vừa thấy tôi, ông cười, hỏi:
– Anh biết tôi cho đòi anh vô đây có chuyện chi không?
Tôi nhìn vị chỉ huy trưởng cũ hiền như Bụt của mình ngày xưa, nói tỉnh:
– Đại tá phạt tôi vì chuyện bên Biệt Khu Thủ đô ngày hôm qua chứ gì?
– Anh làm gì mà phạt? Mấy ông Cố vấn Mỹ đi họp về khen anh lắm đó! Thôi, vào đây.
Tôi theo ông bước qua một phòng làm việc khác trong Khối Đặc trách. Đó là văn phòng của một Đại tá Cố vấn Mỹ. Tôi đứng nghiêm chào. Ông Đại tá đứng dậy, bước vòng qua bàn bắt tay tôi. Ông cho biết sáng hôm qua có dự cuộc họp ở BKTĐ, chứng kiến cuộc trần thuyết của tôi. Ông có headset nghe thông dịch nên hiểu tất cả, về, nói chuyện với Đại tá Thiện. Ông khen tôi thẳng thắn dám nói sự thật và tặng tôi mấy thùng bia Budweiser đem về cho Biệt Đội để tỏ lòng yêu mến.
Tướng Lành cũng biết chuyện này. Môt hôm gặp tôi trong Câu Lạc Bộ, ông hỏi, “Mấy thùng bia các anh uống hết chưa?” Đó là lần đầu tiên tôi thấy ông cười vui một cách rộng rãi. Vì biết ban ngày tôi không đi bay, ông yêu cầu tôi huấn luyện ông bay trực thăng một tuần vài giờ. Trong tất cả những phi vụ huấn luyện đó, lần nào cũng có đàn anh Lưu Văn Trâm thuộc phòng Đặc trách đi theo.
Tôi thường đưa Tướng Lành đi bay tập ở những nơi gần Sài Gòn và có an ninh, như vùng Thủ Đức hay Chi Khu Nhà Bè. Ông Trâm ngồi thùng, mỗi lần thấy tôi để Tướng Lành đáp vào các “confined area” – một trảng cỏ có cây cao chung quanh hoặc bãi đáp nhỏ hẹp có rào giây kẽm gai – ông Trâm có vẻ nhột, ngồi sau cứ thấp thỏm, sợ ra mặt, lén vỗ vai tôi, ra hiệu bảo tôi nắm cần lái, đỡ cho ông tướng. Tôi biết đàn anh Lưu Văn Trâm sợ là phải. Nó giống như cảm giác một người lái Honda chở một người ngồi sau. Anh ngồi lái muốn phóng lạng thế nào cũng không sợ vì mình kiểm soát dược mình, nhưng anh ngồi sau thì teo bu–di, la chói lói… Tôi cố tình muốn trêu ông Trâm, để Tướng Lành muốn bay thế nào thì bay, đáp sao thì đáp. Tôi đốt điếu thuốc, hút phì phèo và gếch chân lên thành cửa cockpit ngắm trời mây cho ông Trâm lộn ruột chơi, nhất là những lúc Tướng Lành vô cận tiến đáp rụt rè vào cái ô nhỏ xíu rào kẽm gai ở Nhà Bè.
Tướng Lành rất tỉnh. Ông bay vững hơn Đại tá Tường “Mực” và không nói nhiều, không đòi… uýnh “thầy” như ông Tường, mỗi khi bay ẩu, bị “thầy” chụp cần lái. Đi bay huấn luyện cho Đại tá Tường, ai cũng ớn. Mấy ông Staffs các Phi Đoàn Trực thăng ở Biên Hòa, từ ông Lai, Cửu, Luân, Ức, Vân, Lộc, Trọng… ông nào cũng “né”. Cuối cùng họ “bán cái”, đùn cho tôi. Ông Lai dụ tôi:
– Tôi biết ở đây chỉ có anh là Đại tá Tường không dám “uýnh” vì ổng nể anh hơn tụi tui. Trực thăng mà ổng làm như khu trục, bay ào ào ghê thấy bà. Mình chụp cần lái, ổng cung tay thúc cùi chỏ, “Bộ mày chê tao không biết bay sao mà làm tàng?”. Tụi tui thằng nào cũng rầu thúi ruột. Còn anh, tôi “bảo đảm” ông Tường không dám đụng tới anh đâu!
Chẳng hiểu tôi nghe bùi tai hay tò mò muốn biết sếp lớn dữ cỡ nào, bèn nhận lời. Buổi sáng xách nón bay ra phi đạo, check tàu xong, tôi ngồi nghe nhạc đợi sếp. Phi vụ huấn luyện ghi 8:30g cất cánh. Gần 9:00g vẫn chưa thấy sếp ra. Tôi gọi máy xin hủy bỏ phi vụ. Cậu sĩ quan trực hốt hoảng yêu cầu tôi đợi thêm vài phút.
Mười phút sau xe Jeep đưa ông Tường ra phi đạo. Thấy ông, tôi giả vờ cầm nón bay leo xuống, nói:
– Trời đất!… Sao Đại tá giờ này mới ra? Tôi gọi Đồng Nai hủy bỏ phi vụ rồi.
– Rồi!… Cái gì mà càm ràm, bày đặt làm khó tôi?
Đoạn ông cười lớn:
– Ủa, mà sao hôm nay anh bay? Bộ mấy thằng kia tụi nó ghét tôi lắm sao?
– Ghét thì không ai dám ghét nhưng ông “uýnh” đau quá, họ sợ.
– Cha! Ngon lành ha? Vậy chớ anh không sợ sao?
– Sợ chứ. Bởi thế tôi phải nói trước với Đại tá, tôi nhỏ con, ông làm ơn tha cho đừng đánh, tội nghiệp. Ông đánh là tôi bỏ bay, đi thưa cảnh sát liền một khi…!
Đại tá Tường cười khà khà:
– Thưa cảnh sát, uýnh theo cảnh sát. Mấy thằng kia khôn tổ mẹ. Tôi mà dám đánh anh? Đứa nào nói vậy?
Có lẽ tôi là người duy nhất bay huấn luyện cho ông Tường Mực mà không bị đánh. Trái lại, ông còn có vẻ thích đi bay với tôi để nói chuyện lăng nhăng.
Đại tá Nguyễn Văn Tường và Đại tá Trần Minh Thiện có lẽ là sĩ quan cao cấp Không Quân chết sớm nhất ở Mỹ, từ năm 1976, 1977. Tướng Lành chết bởi bệng ung thư xương năm 1982 ở San Jose.
* * *
San Jose, có hai ông tướng Không Quân đã ra đi. Đó là Thiếu tướng Võ Xuân Lành và rồi Chuẩn tướng Huỳnh Bá Tính. Tướng Tính là Tư lệnh Sư Đoàn 3 KQ, tôi làm việc dưới quyền ông. Phải nói, đời tôi có diễm phúc được làm việc dưới quyền hai vị sĩ quan chỉ huy ngành tác chiến mà hiền hậu dễ thương như những ông thánh. Đó là Đại tá Trần Minh Thiện, ông “Thánh Denis”, và Chuẩn tướng Huỳnh Bá Tính, người hiền trong những cấp chỉ huy hiền số một của Không Quân.
Tôi du học về, chọn Phi Đoàn 215 ở Nha Trang, lúc đó mới rời vào từ Đà Nẵng được vài tháng, do Thiếu tá Thiện làm Phi đoàn trưởng. Tôi đeo lon Chuẩn uý vào trình diện, thấy ông người Nam, có nụ cười hết sức nhân hậu, cũng yên tâm. Lúc đó Phi Đoàn còn bay H–34, to con, kềnh càng, và… bẩn phát sợ. Bên trường bay, phi cơ Mỹ sạch như lau, nên khi nhìn thấy máy bay của Việt Nam cũ kỹ già nua, dầu mỡ, bùn đất dính bệt từ càng cho tới nóc, tôi thật nản. Người bay ckeck–ride cho tôi đầu tiên là Thiếu tá Thiện. Ông dẫn tôi ra bãi đậu, thấy tôi đeo găng mà còn rón rén sợ bẩn, ông cười, leo lên làm tiền phi. Tôi leo theo ông, chỉ sợ trượt chân té gãy cổ! Ông chỉ một cái ống trên nóc phi cơ, hỏi tôi:
– Cái này tiếng Mỹ kêu bằng gì?
Hồi đó phi cơ lèo tèo mươi chiếc, hư hỏng nằm ụ đến một nửa, bay hành quân còn chưa đủ, lấy đâu mà huấn luyện, nên bỏ lâu không bay dễ quên và lựng bựng. Tôi nhìn cái ống cong cong chìa ra đằng trước, biết nó là cái ống lấy áp xuất gió cho đồng hồ phi tốc nhưng lú lẫn, bị hỏi bất chợt, không tài nào nhớ ra tiếng Mỹ là gì, ấp úng trả lời:
– Thưa, là cái “Pi–Tốt”
Nói xong tôi mới biết mình cả quỷnh. Thiếu tá Thiện cười điềm đạm:
– Nó là cái Pivot chứ, quên rồi sao?
Lúc xuống đất kiểm soát thân tàu, ông lại khảo tôi mục khác:
– Anh biết trực thăng có cái bánh đuôi dùng để làm gì không?
– Dạ, để… đáp!
Bánh xe của phi cơ là để đáp thì đúng quá rồi, ai mà không biết. Nhưng ông Thiện hỏi tôi câu đó là hỏi về một công dụng khác chứ đâu phải để nghe tôi trả lời một câu bà già trẻ con cũng biết, cần gì phải là Pilot?
Ông nói:
– Cái bánh đuôi là để mấy ông Pilot… đái!
Sau này tôi mới biết là ông không hề nói rỡn về công dụng của cái bánh đuôi! Để Pilot đái và để… chó ghếch chân lên đái!
Tôi phục vụ dưới quyền Đại tá Trần Minh Thiện một thời gian ngắn nhưng cũng đủ biết thêm về ông trên một vài phương diện khác. Thí dụ như ông còn là một nhạc sĩ chơi nhạc cho phòng trà, đầy nghệ sĩ tính. Bà Thiện rất đẹp và có dáng nét quý phái, mệnh phụ. Ông rời Phi Đoàn 215 về Bộ Tư Lệnh năm nào tôi quên nhưng kỷ niệm cuối đáng ghi nhớ với ông ở Phi Đoàn là câu chuyện thơ thẩn khiến từ đó ông để ý và khoái tôi. Chuyện thế này, một hôm họp Phi Đoàn, ông cảnh giác các hoa tiêu đi bay phải tuyệt đối tuân theo luật An Phi, trên trời cũng như dưới đất, bất cứ lúc nào. Ông nhắc lại các luật lệ và đưa ý kiến nếu làm được thơ hay vè cho dễ nhớ để làm khẩu hiệu thì tốt.
Tôi ngồi dưới, nghe ông nói tới đâu là làm một câu thơ tới đó, đầy đủ tất cả mọi điều ông nói đến. Khi chấm dứt cuộc họp, tôi đứng lên yêu cầu để tôi đọc bài thơ “An Phi Trực Thăng” đó cho Phi Đoàn nghe. Ông Thiện rất thích bài thơ này, bảo tôi đưa cho Tạ Duy Quý cho vào Bản Tin An Phi hàng tháng của Không Đoàn 62. Bài thơ lục bát dã chiến tôi còn nhớ như sau:
Trên trời dưới đất ai ơi
RPM giữ kẻo rơi thật phiền
Cân bằng là lẽ tự nhiên
Đừng bay bướm quá, đừng tin mình tài
Cánh mềm chém cũng thành hai
Mây mưa gió bão hỏi ai dám cừ?
Khi lên, lúc xuống từ từ
Bay cao vợ đợi, em chờ biết không?
* * *
Chuẩn tướng Huỳnh Bá Tính người Nam, gốc Phật Giáo Hòa Hảo. Ông là một cấp chỉ huy thật hiền, thương lính và dễ dãi với binh lính. Tôi đổi về Biên Hòa cuối năm 1971, là những ngày sôi động chiến tình mặt trận ngoại biên mà Sư Đoàn 3 KQ phải gánh vác. Sau đó là trận An Lộc, Bình Long… Cái địa thế của Vùng III, vùng đất trấn giữ những con đường bôn tập của địch nhằm xâm nhập Sài Gòn, là gánh nặng luôn luôn trĩu oằn trên đôi vai những lực lượng quân sự Quân đoàn, trong đó Sư Đoàn 3 KQ đóng vai trò quan trọng.
Tôi đã thấy cảnh Tướng Tính mất ăn mất ngủ giữa cái thời nồng độ chiến tranh lên tới mức ngặt nghèo đó. Nhiều khi tôi nhìn ông, bất giác sinh niềm ái ngại. Ông cao, gầy mảnh khảnh, nói mau và lớn giọng, bước đi thoăn thoắt, giải quyết vấn đề rột rột theo lối nhà binh nhưng không hiểu sao, nhìn ông, tôi vẫn không thể nghĩ đó là hình ảnh một ông tướng nắm quyền quân sự, điều động cả một Sư Đoàn tác chiến Không Quân. Ông giống một người điền chủ, hay một ông giáo hiền lành hơn một người lính chiến đấu.
Tôi nhớ có lần, một hạ sĩ quan kỳ cựu, cơ phi của Phi Đoàn tôi bị Quân Cảnh giam xe vì đi Honda trong căn cứ không có thẻ chủ quyền. Đương sự năn nỉ tôi xin Tướng Tính tha. Tôi tìm loanh quanh, rồi đến gặp thẳng ông tại tư thất. Tôi lên lầu. Ông đang nghỉ trưa, mặc bộ pijama sọc đỏ ra tiếp tôi ngoài hành lang. Ông hỏi:
– Gì nữa đây, ông Hùng?
– Tôi có thằng em, bị Quân Cảnh giam xe vì không có giấy tờ. Xin tướng tha cho nó, tội nghiệp.
Ông cầm lá đơn, liếc xem qua, hỏi:
– Biết xe không có giấy tờ sao còn mua cho rắc rối?
Tôi làm sao trả lời được câu hỏi của ông, nên cười trừ. Ông viết lên lá đơn mấy chữ, đưa cho tôi:
– Biểu nó chạy thì chạy ngoài đường, đừng chạy trong căn cứ, Quân Cảnh bắt nữa rán chịu!
Tôi suýt bật cười vì câu mắng nhẹ nhàng của ông.
Tướng Tính là một cấp chỉ huy có trách nhiệm đối với thuộc cấp và là con người ngay thẳng, đạo đức. Tôi đã chứng kiến ông lúc vui, buồn, hờn giận rất “người”. Như lúc ông tức giận chửi thề trong buổi trưa chinook đón những tù binh VNCH do Việt cộng trao đổi, từ Lộc Ninh về đáp Biên Hòa. Một tù binh ta bị Việt cộng từ dưới đất bắn lên, chết ngay trong lòng chiếc phi cơ khi đang bay trên Quốc lộ 13, khúc Bầu Bàng. Phi cơ bay thấp 500 bộ và theo đường do chúng thỏa thuận với Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự, cam kết bảo đảm an toàn.
Ông gọi máy kêu Quân Cảnh bảo vệ an ninh cho “mấy thằng Việt cộng chó đẻ” kẻo bị đám đông dân chúng, thanh niên học sinh đang tụ tập nơi bãi đậu đón tù binh trở về, phẫn nộ đánh trả thù. Những ngày long đong bay vào An Lộc, ông lên Lai Khê, ăn cơm gạo sấy thịt hộp với chúng tôi, đứng nơi bìa rừng cao su mong ngóng những chuyến bay từ An Lộc trở ra, như mẹ mong con. Ông căn dặn chúng tôi bay cẩn thận, rán xong phi vụ trở về an toàn. Nhiều lần tôi bắt gặp ông quay đi, che giấu những giọt nước mắt lăn trên đôi má hóp, mỗi lần có tin một phi hành đoàn hy sinh trong vùng bão lửa kinh hồn ấy.
Những ngày Phước Long bị vây hãm, ông mặc áo giáp, đội nón sắt, bay với chúng tôi qua Long Bình theo dõi cuộc hành quân, cùng với Tướng Hiếu bên Quân Đoàn. Hôm thả Biệt kích 81 vào Phước Long, ngày 4/1/1975, ông điện thoại gọi chúng tôi qua Quân Đoàn họp với Tướng Hiếu và Đại tá Công lúc nửa đêm hôm trước, đến hơn hai giờ sáng mới trở về Sư Đoàn thảo kế hoạch hành quân KQ. Tướng Tính giao cho Đại tá Lê, Tham mưu phó Hành Quân điều động khu trục yểm trợ cuộc đổ quân ngày hôm sau. Phải hiểu tầm mức quan trọng của việc giải cứu Phước Long như thế nào khi Tướng Tính quyết định dành 60 phi xuất cho mặt trận, để lại vỏn vẹn có 3 phi xuất cover cho toàn vùng.
Buổi sáng, có lẽ đêm qua không ngủ, Tướng Tính xuống Phi Đoàn tìm tôi rất sớm. Ông cầm máy Motorola gọi “Đồng Nai 3” là danh hiệu Đại tá Lê nhưng không thấy trả lời. Đại tá Lê đã lấy xe bỏ về Sài Gòn ngay sau cuộc họp đêm hôm trước! Tướng Tính giận điên lên. Ông chửi thề và bảo tôi cho anh em cất cánh. Sáng hôm đó, chúng tôi không thấy bóng một chiếc khu trục nào lên vùng. Tôi vẫn cho trực thăng xuống, đáp ngay trên đầu Việt cộng. Mỗi tổ tam tam Việt cộng bị xích chung vào một cỗ đại liên nằm chờ quân ta dưới hố, không bắn trước. Biệt Kích ngồi trên tầu dí súng vào tận mặt lính Bắc Việt nảy cò, máu óc bắn tung toé lên phi cơ. Phước Long mất, Bộ Tổng Tham Mưu cử 5 ông tướng xuống điều tra.
Tướng Tính họp các đơn vị trưởng, dặn dò:
– Trên xuống điều tra, tôi trách nhiện hoàn toàn. Nếu ra tòa Quân sự hay đi tù, tôi đi. Chỉ xin mấy ông một điều, đừng làm chuyện bạy bạ đổ lỗi lẫn cho nhau. Mấy ông nghe rõ chưa?
Đại tá Vũ Quang Triệu, xước danh “Pilot Thái Bình” mà Dương Hùng Cường mô tả là “lái máy bay trước khi biết lái xe đạp”, Không đoàn trưởng Không Đoàn 43 Chiến thuật yêu cầu tôi đại diện Không Đoàn làm “luật sư” trong buổi điều trần trước Hội đồng Tướng lãnh. Đại tá Phan Văn Huấn, Liên đoàn trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, có một Thiếu uý tùy viên đi theo, vào phòng họp sau cùng. Ông xin được nói trước và hiên ngang nói những lời khí phách:
– Mất Phước Long, lý do tại sao, quý vị cũng như chúng tôi đều biết nhưng không ai muốn nói ra. Phần Biệt Kích 81, chúng tôi vào chỗ chết đã đành, bởi nghề nghiệp chúng tôi là tìm chỗ chết để đi vào. Riêng với anh em Không Quân, các phi hành đoàn trực thăng đã làm quá bổn phận của họ, chết lây với chúng tôi thật tội nghiệp. Nay đưa họ ra tòa là điều tôi cho là vô lý. Nếu có lỗi làm mất Phước Long, tôi nhận lỗi. Xin quý vị ở lại tiếp tục họp và cho tôi biết kết quả. Tôi xin phép được ra về vì còn nhiều việc phải làm.
Đại tá Huấn đứng nghiêm chào và quay ngoắt đi ra. Ông đến như cơn gió và ông đi cũng như cơn gió. Ông xuất hiện chưa đầy 5 phút, nói một lời ngắn ngủi nhưng tôi ghi nhớ mãi cái giây phút lịch sử và hình ảnh đó của ông. Hội đồng Tướng lãnh ra về, giao việc điều tra cho Đại tá Nguyễn Huy Lợi, nha Quân Pháp, ở lại làm việc. Tôi đã làm trọn vai trò “luật sư”, biện hộ cho Không Đoàn 43 Chiến Thuật. Ngày di tản, gặp lại Đại tá Nguyễn Huy Lợi trên boong tàu Mỹ, trước đông anh em, ông đã khen tôi không tiếc lời về việc tôi đã dám nói ra sự thật vụ mất Phước Long.
Vụ án Phước Long sau đó hoàn toàn chìm xuồng. Tôi nhắc lại việc trên để thấy tư cách và lòng nhân hậu của Chuẩn tướng Huỳnh Bá Tính mà ngậm ngùi tưởng nhớ đến ông. Nhớ ngày cuối ở Biên Hòa, ông họp các Phi đoàn trưởng, chỉ thị lập danh sách và cho tất cả vợ con hoa tiêu về Sài Gòn, Bộ Tư Lệnh sẽ thu xếp việc di tản. Các ông Triệu, Luân, Lộc ngày nào cũng rủ tôi qua nhà Tướng Tính xem có động tịnh gì về vấn đề đi, ở ra sao vì thấy Tướng Tính lại đem vợ con lên Biên Hòa. Ngày 26/41975, ông họp chúng tôi, nói thẳng:
– Vợ con tôi đi rồi, do Cố vấn Mỹ lo giùm. Sáng nay tôi chỉ kịp chạy vào DAO vẫy tay chào, không được hôn từ giã… Không ai lo cho ai đâu. Các anh tính liệu cách nào thì tính, nhưng đừng để tụi nhỏ chúng nó “panic”!
Tôi đem Phi Đoàn di tản về Tân Sơn Nhất tối 27/41975 khi Biên Hòa bị pháo bằng hỏa tiễn 130ly. Sáng 28, Tướng Tính gọi tôi lên Biên Hòa, nằm trong hầm TOC chịu pháo với ông. Buổi trưa, tôi lái chiếc pick–up về nhà lấy cái nồi cơm điện National cho anh em pha cà phê và lấy chiếc áo bay để thay đổi, đoạn xin ông cho tôi về Tân Sơn Nhất, e anh em tưởng tôi “doọt”, bỏ đơn vị, sẽ tan hàng hết. Sáng ngày 29, Trung tá Trọng, Phi đoàn trưởng Phi Đoàn 221 đáp xuống Nhà Bè gặp tôi. Trọng nằm vật trên vỉ sắt lót phi đạo, gửi anh em PĐ221 cho tôi dẫn bay ra biển. Anh ôm mặt khóc, nhất định quay về với vợ con. Anh bảo Trung sĩ Kiên, tài xế của Đại tá Triệu trao cho tôi một tập hồ sơ sĩ quan dầy cộm, nói Đại tá Triệu “bàn giao” Không Đoàn cho tôi và cho biết Đại tá Triệu đã theo Tướng Tính ra Vũng Tàu, di tản. Sau này tôi được biết Trung tá Trọng ở lại, đi học tập, và chết trong tù.
Đó là ngày cuối tôi chia xa Tướng Tính. Năm 1985, tôi gặp lại ông ở San Jose, tình cờ, nơi nhà Tướng Lâm Quang Thi trong ngày lễ Độc Lập Hoa kỳ. Gặp lại ông, tôi mừng và ông cũng rất vui. Ông vẫn xuề xòa, dáng dấp không khác mấy ngày xưa. Ít năm sau, ông mất.
* * *
Tôi viết những dòng này, do xúc động bởi cái chết của Chuẩn tướng Phan Phụng Tiên, nhân đó nhắc đến hai ông tướng Không Quân cùng một vài người Không Quân đã không còn hiện diện trên cõi đời này nữa… để ngậm ngùi trước nỗi nghiệt ngã của thời gian, dần dần cướp mất của chúng ta những mảnh tinh cầu làm nên khối thể Không Quân còn lại nơi hải ngoại sau cuộc bèo mây tan tác.
Hôm gặp Tướng Minh trong tiệc cưới hai cháu Quốc Đăng và Quỳnh Anh, con trai Phó Quốc Uy và ái nữ của ông Lê Trọng Hiệp tức Hiệp “Cồ” trưởng trường Quân sự ngày xưa – ở San Francisco – thấy ông sắc diện hồng hào, phương phi hơn lần gặp trước, tôi cảm động, đã nói với ông một lời có vẻ như đùa nhưng vô cùng thành thật:
– Thôi qua đây chúng tôi chỉ còn trông vào có mình Trung tướng thôi đấy. Xin ngài hãy bảo trọng mình vàng, kẻo anh em chúng tôi buồn lắm.
Ông Minh cười sảng khoái:
– Trời kêu ai nấy dạ, toa. Mình biết làm sao mà nói? Con người có số…
Vâng, tôi tin con người có số. Như Tướng Tiên chết đi, chị Hoàn gọi qua Cali hỏi chuyện thầy bói. Ông hiện hồn về nói rõ ràng là ông tới số chết thì phải chết, không có điều gì phải thắc mắc khiếu nại, coi bói phí tiền. Ông đã chuẩn bị đâu đấy cho cuộc “tử quy” của ông. Ông Dũng Mù kể:
– Lúc ông ấy còn sống, hai anh em nghiên cứu về huyền bí của con người, bao nhiêu sách vở như “Hành Trình Về Phương Đông” đều mua đọc và thảo luận. Ông ấy hiện về luôn, nói lúc chết đâu có biết là mình chết? Mãi hôm sau rước thầy về tụng kinh, mới biết nhưng không đau khổ gì cả. Ông Tiên nói rằng được bà cụ anh và anh Chụ về đón. Xuống dưới đó, ở một cái “level” rất thoải mái, gặp lại đông đủ bạn bè xưa. Gặp cả ông Đề đốc họ Hoàng nữa, họp hành chính trị chính em vui ghê lắm… Ông ấy đúng là “sinh vi tướng, tử vi thần”. Sau hôm hỏa thiêu, ông thường nhập vào cô Hoàn, nói nhiều chuyện, nhưng “điện” yếu dần đi, ông ấy bảo có lẽ phải lâu lắm mới về lại được.
* * *
Đành rằng mỗi người có một số mạng, không ai cưỡng lại được. Nhưng tôi không chịu nổi cứ ngày một vắng thưa dần những người yêu mến, hoảng kinh lên, thấy mình càng ngày càng cô đơn giữa đám nhân loại quá nhiều ma cạo. Tháng 9/1996, Không Quân mất liên tiếp một lúc ba cánh chim: Chuẩn tướng Nguyễn Đức Khánh, Đại tá Đặng Duy Lạc, và Trung tá Dàng Thiện Ngươn. Anh em đưa tiễn ông Lạc đến nơi an nghỉ cuối cùng rất đông, đầy đủ lễ nghi, quan tài phủ quốc kỳ, thôi cũng gọi là chết vui và may mắn bởi ra đi sớm còn được anh em lo chu đáo, chết muộn màng dễ gì được vậy.
Hồi trong năm nghe Nguyên Vũ từ Pháp về cho biết ông Đạo Cù Trần Tam Tiệp ở Paris, khi không chui vào nhà thương, hôn mê hàng tuần lễ, tôi sợ, cứ hồi hộp nghe ngóng… Sau đó thở phào ra trước tin ông Đạo đã hồi dương, trở về Paris “sống chung hòa bình” với hai chị em bà comtesse già độc thân. Tôi gửi cho ông tấm thiệp, thay lời chúc bằng lời năn nỉ, “Lạy ông trăm lạy, ông làm ơn sống lâu lâu một chút, đừng đi vội… Đời mà thiếu ông, tôi mất vui..!”
Chủ nhật đầu tháng 10/05, tại trụ sở báo Người Việt, Phan Ni Tấn đã tổ chức một buổi ra mắt tập tình khúc và một CD nhạc mới hoàn thành của mình. Rất nhiều thính giả và các bằng hữu của Phan Ni Tấn đã đến dự và tham gia trình
diễn giúp vui cho buổi họp mặt này.
Phan Ni Tấn đã được MC, Châu Bá Thông [giống hệt tên một nhân vật Kim Dung] giới thiệu như một người:
“Bố Nam, mẹ Trung, sinh tại Ban Mê Thuột, cưới vợ Rạch Giá” không nhớ rõ lời MC, nhưng đại ý là vậy, nghĩa là Phan Ni Tấn “gom” gần hết cái hay cái đẹp của đất nước về phần mình. Thêm vào đó, những người bạn Ban Mê
Thuột của anh đã lên sân khấu hát nhạc Phan Ni Tấn, hát một cách nhiệt tình, thuộc lòng, chứng tỏ họ đã biết và yêu nhạc Phan Ni Tấn từ lâu, với cả chút hãnh diện đã có cùng một thời thơ ấu với tác giả tại cái xứ “Buồn Muôn Thuở” xa xưa đó, làm cho buổi gặp gỡ thêm phần cảm động. Theo “tự sự” của tác giả [in trong tập nhạc] Phan Ni Tấn đã làm thơ gần 40 năm nay. Nhưng nhạc của anh gây nhiều ấn tượng trong lòng mọi người nhiều hơn:
Kính thưa thầy, đây bài chính tả của con
Bài chính tả viết về nước Mỹ
Con viết hai lần sai hai chữ: A-mê-ri-ca
Con viết hai lần sai chữ: com-muy-nít
Con viết hai lần sai hai chữ: li-bớc-ti
Làm sao được khi anh con vừa chết!
Ca khúc này, không biết có phải là sáng tác đầu tay của Phan Ni Tấn không, nhưng người ta được nghe vào khoảng trước khi cuộc chiến chấm dứt ít lâu, và nhất là, sau ngày 30 tháng 4/75 một thời gian, giới trẻ, trong những lúc
gặp mặt lén lút hát cho nhau nghe. Nỗi buồn do cuộc chiến gây ra chưa xong, đời sống lại rơi vào một thời tối tăm, mù mịt dưới chế độ mới, nghe những người trẻ hát ca khúc này, đôi lúc người ta thấy buồn hơn cả cái chết.
Đây là một bài hát hình như Phan Ni Tấn phổ từ một bài thơ của một tác giả, có lẽ cũng cùng lứa tuổi với Phan Ni Tấn khi ấy, nghĩa là trên dưới 20, đăng trên Báo Văn thì phải.
Ngoài bài thơ Phan Ni Tấn phổ nhạc đó, trong một số báo xuân của trường Trưng Vương cùng thời gian, người ta còn được đọc một bài thơ khác của Đỗ Vân Thảo, cũng cho thấy một bộ mặt bi thảm khác của tuổi trẻ Việt Nam một thời:
Chúng tôi có hai mươi năm làm tuổi trẻ
Chưa bao giờ hưởng trọn một ngày vui
Khi lớn lên quê hương trùng lửa đỏ
Tuổi thanh xuân mà lỡ mất nụ cười
Cũng lứa tuổi ấy, sau ngày 30 tháng 4/75, chưa kịp vui mừng cho đất nước thoát khỏi chiến tranh, đã cùng với các người thân bị đưa vào các trại cải tạo, bị đuổi ra khỏi các học đường, chết trong rừng, chết dưới biển, trên đường vượt biên.
Gặp nhau ở cái xứ người này, người già hơn rất nhiều cái lứa trẻ năm nào, nay nếu còn, cũng không già hơn nhau bao nhiêu nữa: tất cả tóc đều đã bạc.
Ba mươi năm sau cuộc chiến, cộng với ba mươi, bốn mươi năm tuổi đời trước đó, bây giờ người ta đã trên dưới sáu mươi, bẩy mươi, còn có sự khác biệt nào nữa đâu?
Cái nỗi đau của tuổi trẻ “chưa bao giờ hưởng trọn một ngày vui” qua những năm tù rồi cuộc chạy trốn ra khỏi đất nước, tâm sự ê chề, gặp lại nhau, cứ nhìn những vết da nhăn nhúm, những đôi mắt “nhìn không ra” sau các cặp kính lão, kính cận, chẳng cần nhắc lại chuyện cũ cũng đủ biết cái khoảng cách bấy nhiêu năm không thấy nhau, hẳn không có mấy điều vui để kể lại.
Cái nỗi đau rách da cháy thịt của bài chính tả viết sai năm nào hình như đã thành sẹo.
Nhạc của Phan Ni Tấn dường như dành hết cho tình và nỗi tư hương. Cái quê hương không còn bị đạn bom tàn phá nữa, nhưng cũng không còn hy vọng được sống lại một thuở thanh bình, vì còn chút thanh bình nào nữa đây mà ao ước? Từng căn nhà, từng thành phố, từng khóm cây, ngọn cỏ, núi rừng, sông rạch, mỗi người một kỷ niệm ràng buộc với quê hương, cái quê hương người ta không dám ở lại nữa, nhưng cũng chẳng thể ngừng yêu, thôi nhớ, đem nhập tất cả các cái tình nửa vời ấy vào một người, vào ngày sinh nhật của cây đàn, thắp lại hy vọng, thắp lại ao ước … Ôi cái quê hương người ta mong ước cho hết chiến tranh, giờ chiến tranh đã không còn nữa, người ta sợ hãi bỏ chạy, nay muốn nhìn lại đã có thể trở về nhìn lại, nhưng nhìn lại rồi lại bỏ đi một lần nữa, tình như thế mà gọi là tình yêu sao?
Vì thế, nhạc của chúng ta, thơ của chúng ta, càng gần với người, càng gần với đất, hình như càng đau xót. Và đó có lẽ cũng là cái Phan Ni Tấn gọi là cây đàn ngậm trong miệng, tình yêu ngậm trong miệng đó chăng?
Xin trích dẫn sau đây ít câu trong bài tình ca điển hình của Phan Ni Tấn, cung cách viết ca từ vừa cũ vừa mới, đôikhi mộc mạc, đôi khi kiểu cách:
Chia Áo Người Yêu Xa
Nghe những nụ tàn phai
Lăn trên vai em gầy
Vay mấy sợi đàn đau
Tôi phủ dụ lời mình
Tôi hái vội mùa thu
Sau mây nhanh phong mù
Nghe có trời mưa qua
Chia áo người yêu xa!
Thương dáng đứng chơ vơ
Em chờ ai về nối lại
Lồng ngực tình lên nhanh
Ôi lồng ngực tình mong manh
Thương mái tóc thôi bay
Em chờ ai về nối lại
Lời mặn nồng năm xưa
Ôi lời mặn nồng yêu xưa
Tôi hái vội mùa sau
Chợt nghe rơi mấy ngọn sầu
Theo cuối ngày tàn mau
Lời tôi ngủ mãi trăm năm
Tôi hái vội ngày mai
Chợt nghe rơi mấy ngọn gầy
Quên chút tình không may
Lời tôi nằm khuất trong cây
Chia xa ..trọ giữa lòng tay
Tôi về ở đậu trên mây trời buồn
Nhớ người lạc cuối mùa thương
Câu kinh chợt rụng nửa đường tình duyên
Rơi mù giọng buồn tôi lên
Ru em ngủ giữa buồn tênh mắt người
Em nay trọ giữa bờ mi
Tôi về ở đậu trong bi kịch buồn
Tay người ở với tình thương
Tim tôi về trọ giữa buồng ngực em
Nhớ ngày hạnh ngộ tôi đi
Ru em vùng nở từ bi tháng ngày
Tôi hái vội mùa sau
……………………………….
Ru em vùng nở từ bi tháng ngày
Tôi hái vội mùa thu
Sau mây nhánh phong mù
Nghe có trời mưa qua
Chia áo người yêu xa!
Khánh Ly
Bài hát học trò
Phan Ni Tấn
Kính thưa thầy đây bài chính tả của con
bài chính tả viết về nước Mỹ
con viết hai lần sai chữ America
con viết hai lần sai chữ Communist
con viết hai lần sai chữ Liberty
làm sao được, làm sao được, bởi anh con vừa chết
Kính thưa thầy, đây bài luận triết của con
Một căn nhà và một trái phá
Một đám cưới hồng bên cạnh một đám ma
Một nếp sống tàn bên cạnh người no ấm
Ôi tiếng hát nào bên lệ em tuôn mau
làm sao thuộc bài con học để vinh thân đời sau
Kính thưa thầy đây là bài toán của con
Những đường cong đường thẳng đều có gài mìn
đường vào thành phố có bar, có Mỹ, có con gái học trò
Phan Huỳnh Điểu cho biết, khi ông còn là một học sinh ở Đà Nẳng [ông sinh năm 1924] ông có dịp được xem vở kịch Tục Lụy thơ của Châu Vinh và Thế Lữ, nhạc của Lưu Hữu Phước, ông mê vở kịch và đã nuôi mộng viết một bài hát, kể lại một câu chuyện cổ tích, bằng nhạc, cũng có những tình tiết, tình cảm tương tự. Ông cũng cho biết đã tự học nhạc lý. Vào tuổi ông, phần lớn người ta đều tự học nhạc qua sách vở, trừ các tu sĩ công giáo được học trong các chủng viện, và một số ít người khác được học trực tiếp từ các nhạc sĩ chơi trong các ban nhạc đến từ nước ngoài.
Năm 1940 ước mơ của Phan Huỳnh Điểu trở thành sự thật, ca khúc Trầu Cau của ông ra đời. Phan Huỳnh Điểu nói, ông chỉ định làm bài hát đó cho đoàn Sói Con của ông hát trong những đêm lửa trại. Không ngờ khi lọt ra ngoài nó đã đem lại thành công lớn cho ông. Đến độ, như lời ông kể, năm 1975, có dịp qua Pháp để dự một buỗi trình diễn nhạc của mình, nghĩ rằng bài Trầu Cau quá cũ, ông không xếp vào chương trình, khán giả, nhất là các khán giả lớn tuổi, đã yêu cầu ông cho trình diễn bài đó.
Họ bảo, thiếu Trầu Cau thì không phải Phan Huỳnh Điểu! Nghệ thuật luôn có những sự bất ngờ. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp, Phan Huỳnh Điểu có hai bài hát rất được yêu thích là bài Đoàn Vệ Quốc Quân và Mùa Đông Binh Sĩ. Đoàn Vệ Quốc Quân là một bản hùng ca nhưng lại rất buồn. Nhất là lời ca gần như lời báo trước một thời tai ương, chết chóc.
Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi
Là có mong chi đâu ngày trở về
Khi chiến tranh đã lan tràn, bài Mùa Đông Binh Sĩ càng làm cho người ta thấm thía nỗi đau đớn của chia ly, xa cách.
Mùa đông gió lạnh lùng gió lạnh lùng
Chim thôi bay nhìn mưa gió hãi hùng
Ngoài xa ngoài biên cương
Bao chiến binh ôm súng buồn
nhớ quê hương
Sau hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc. Không rõ từ khi sống hẳn trong lòng cộng sản ông nghĩ gì, viết được những gì, nhưng trong suốt mấy chục năm người ta chỉ thấy có một bài của ông thường được mang trình diễn, coi như thuộc về số những tác phẩm tiêu biểu của mấy chục năm Xã Hội Chủ Nghĩa miền Bắc là bài Bóng Cây Kơ Nìa. Đó cũng là bài, những ai còn ở lại miền Nam sau ngày 30 tháng 4/75, hẳn còn nhớ, vì cùng với mấy bài như Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Tiếng Chầy Trên Sóc Bom Bo … người ta đã phải nghe đến phát sợ.
Kể từ sau 1975, thính giả thực sự thích một ca khúc nữa của Phan Huỳnh Điểu là bài Thuyền Và Biển, phổ thơ Xuân Quỳnh:
Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâu
Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Như thế, những bài hát được yêu, được nhớ của ông, cuối cùng đều là tình ca cả. Nhạc Phan Huỳnh Điểu, dù ông có nhắm viết những bản hùng ca hay chỉ là những tình khúc phổ thơ của người khác, vẫn luôn có vẻ gì đó mộc mạc, chân chất, rất gần với hình ảnh của chính ông trong một cuốn vidéo, có lần người ta thấy chiếu trên màn ảnh truyền hình trong nước, trong đó, có cảnh ông đeo chiếc mandoline sau lưng, đi dạo rồi tới ngồi trên một tảng đá bên bờ biển. Ông có ý nhắc nhở tới tảng đá trong truyện ca Trầu Cau và những ngày đầu sáng tác của mình chăng?
Nói tới bản Trầu Cau của Phanh Huỳnh Điểu, người ta cũng không thể không nhắc tới cặp uyên ương Mạnh Phát / Minh Diệu một thời đã trình bầy rất thành công ca khúc này [cả hai nay đều đã ra người thiên cổ].
Vương hổ tướng luôn luôn xây mộng mở mang cương giới, tăng tiến địa vị, để truyền lại cho con sau này. Thường nhật chàng vẫn mơ ước, tìm mọi cách để thực hiện mộng lớn chí cao, hoặc tham dự vào một đại chiến, khi đắc thắng chàng sẽ có phần, hoặc tiến theo dọc sông xuống Nam, thôn tính một hai miền, những năm có thiên tai hạn hán hay hồng thủy, mất mùa dân bị nạn đói kém. Nhưng suốt một năm trường không có trận nào lớn, bọn người vô tài, bất lực vẫn kế tiếp nhau, nắm giữ chính quyền, thái bình không hẳn thái bình, chiến tranh lại không có, một Lãnh chúa không dám cả gan làm một cuộc phiêu lưu táo bạo. Còn một điều nữa, hình như Vương hổ tướng không đem tâm trí mưu đồ dục vọng, mở mang bờ cõi, chàng đã có một đứa con trai, chàng lo để tâm rèn luyện, lại còn công việc quân cơ, công việc dân sự trong hạt, hiện nay một mình chàng đảm nhận nội trị, binh vụ. Đã có một hai lần có giấy tư về bổ người này, người khác, chàng tìm cách gạt hết, chàng muốn một mình ngự trị, con chàng đã hết thời kỳ ấu trĩ, đang ở vào tuổi nhi đồng. Chàng nghĩ nếu có thể kéo dài tình trạng này được một vài năm, thì rất hay cho chàng, chàng đóng vai quan Phủ cai trị dân, chàng đã đứng tuổi, cho con lớn lên trông nom, cai quản binh đội. Trong thâm tâm, chàng nghĩ thế thôi, vì nói ra e hãy còn sớm quá. Con chàng đã lên sáu, chàng nóng lòng muốn thằng nhỏ mau lớn. Có nhiều khi thời gian đi vun vút, sao nhanh thế mà cũng có khi thời gian tưởng chừng không nhúc nhích. Dưới con mắt chàng, thằng bé lên sáu là một thanh niên một chiến sĩ trẻ tuổi, chàng không suy xét ép buộc thằng bé phải học, phải biết nhiều thứ.
Khi thằng nhỏ mới lên sáu tuổi, chàng không cho ở chung với mẹ, xa hẳn bọn đàn bà con gái, bắt phải ở trong phòng với chàng.
Dùng chính sách đó, ý chàng không muốn đứa trẻ bị tinh thần suy nhược, vì sự vuốt ve, nũng nịu, nuông chiều của đàn bà. Chàng hấp tấp muốn luyện ngay thằng nhỏ thành một cộng sự viên luôn luôn túc trực bên cạnh chàng. Lúc đầu thằng nhỏ bẽn lẽn, rụt rè phải ở chung với cha, nó như lạc mất tinh thần. Nó lơ láo đưa hai con mắt lấm lét sợ sệt nhìn khắp gian phòng.
Vương hổ tướng cố mơn trớn, giơ tay kéo nó lại gần, thằng nhỏ đứng đờ người, muốn lùi xa, nó rất khổ tâm phải đứng sát vào cha. Chàng biết con nhút nhát e sợ. Chàng muốn dỗ dành cho nó quen, nhưng chàng không biết câu gì mà nói, mà dỗ, chàng lại thôi để mặc nó. Lúc đầu chàng chặt đứt hẳn những mối dây liên lạc giữa đứa trẻ và mẹ nó hay bất cứ một người đàn bà nào.
Chỗ chàng ở chỉ toàn có lính. Sau chàng nhận ra sự chia rẽ như thế đối với một tâm hồn non nớt non trẻ khó có thể chịu đựng được. Thằng bé cố nhịn không dám đòi hỏi, vòi vĩnh gì hết. Tính nết lầm lì, ít nói, bắt nó thế nào nó cũng cố chịu, nhưng không một lúc nào mặt nó được tươi tỉnh vui vẻ.
Khi nào cha nó gọi nó mới lại gần, khi cha nó vào trong phòng, nó đứng thẳng tắp, ngay người, kiểu nhà binh, nó phải học mấy quyển sách, có một ông giáo ngày nào cũng đến dạy. Có cần lắm hay bắt buộc nó mới nói, không thì ngồi lầm lì suốt ngày. Một bữa cơm chiều, Vương hổ tướng để ý nhìn con, thằng nhỏ cũng cảm thấy cha nó để ý nhìn nó, nó cúi gằm đầu xuống bát cơm, làm như đang ăn, nhưng thực ra nó không sao nuốt được.
Vương hổ tướng nghĩ giận quá, thâm tâm chàng cố hết sức tìm mọi phương pháp để rèn luyện đứa con nên người. Ngày hôm đó, chàng cho thằng nhỏ dự một cuộc duyệt binh và tập trận giả. Nó được đặt ngồi trên yên ngựa trước mặt chàng. Chàng uy nghi ngồi trên mình ngựa, tâm thần hớn hở, kiêu căng tự đắc, bọn lính hoan hô tiểu tướng (bọn lính suy tôn cậu nhỏ con chàng là tiểu tướng). Thằng nhỏ hơi mỉm cười, ngoảnh mặt nhìn chỗ khác chàng bắt ngồi nghiêm chỉnh, ngay ngắn, chàng nói:
– Con ngửng đầu cao lên … bọn người kia là của con, binh đoàn kia là binh đoàn của con … Một ngày kia, con sẽ cầm quân đưa bọn lính ra mặt trận.
Bị bắt buộc, thằng nhỏ hơi ngửng đầu lên, hai má đỏ ửng, chàng cúi xuống nhìn con, không thấy nó để ý xem xét bọn lính tập tành, mắt còn mải nhìn cánh đồng ngoài xa, Vương hổ tướng hỏi con nhìn gì, nó lấy ngón tay chỉ ở thửa ruộng gần đó có một mục đồng trần truồng, ngồi giãi nắng trên lưng trâu xem tập trận. Thằng nhỏ nói:
– Tao tưởng con tao ước vọng cái gì cao xa chứ muốn làm thằng mục đồng chăn trâu hử?
Chàng lay mạnh thằng nhỏ bắt phải để ý xem xét lính tập tành, cách thức cầm súng lắp đạn … Thằng nhỏ Ngoan ngoãn nghe theo lời cha không dám nhìn thằng chăn trâu nữa. Suốt ngày hôm đó chàng băn khoăn thắc mắc về câu nói của đứa con nên bữa cơm chiều chàng ngồi đăm đăm nhìn thằng nhỏ, thấy nó gục đầu sát bát cơm không ăn, ngồi khóc. Chàng sợ con đau ốm, đứng dậy lại gần nó nắm tay hỏi:
– Mày bị cảm nóng hay làm sao?
Tay thằng nhỏ lạnh và nhơm nhớp ướt. Nghe hỏi nó khẽ lắc đầu. Gạn hỏi thế nào nó cũng không chịu nói. Chàng gọi anh lính sứt môi bảo hắn hỏi thằng nhỏ làm sao mà không ăn lại ngồi khóc. Thấy con nhất định ngồi lì không nói năng gì, chàng vừa lo sợ mà cũng vừa tức nữa, bảo anh lính:
– Đem thằng rồ này ra ngoài sân hỏi nó đau ốm làm sao mà hỏi không nói.
Thằng bé nức nở khóc, hai tay ôm đầu ôm mặt khóc sướt mướt. Còn chàng mặt nhăn nhó, không hiểu làm sao, tức quá muốn dứt cả râu, cũng gần như muốn khóc. Chàng nóng ruột chờ xem thế nào, nhìn vào bát cơm của con vẫn còn nguyên. Khi anh lính trở vào, chàng hét to hỏi:
– Nó làm sao?
Anh lính ngập ngừng trả lời:
– Chú ấy chả làm sao, ngồi một mình buồn không ăn được khóc, ý chú ấy muốn về với bà con và các cô.
Vương hổ tướng nói:
– Tuổi nó không thể lúc nào cũng chơi đùa nũng nịu với mẹ được.
Chàng gần như hóa điên, bứt tóc bứt râu, vặn vẹo người. Anh lính đã biết tính chủ, thấy trạng thái kỳ khôi của chủ, anh không sợ, thủng thẳng nói:
– Phải để cho chú ấy thỉnh thoảng về thăm bà con, chơi đùa với các cô con; hay bà con và các cô con thỉnh thoảng lại thăm chú như thế mới được, nếu ngăn cấm con trẻ quá có khi nó sinh ra đau ốm.
Chàng ngồi yên không nói năng gì. Chàng đã bị một trận ghen dày vò ghê gớm khi nghĩ đến người đàn bà chàng đã giết; mụ này lại yêu một tên trùm lâu la, đầu trộm đuôi cướp. Bây giờ chàng lại ghen lại tức, thằng con chàng nó không yêu hẳn một mình chàng là cha nó, nó còn ước vọng được ở gần gụi với người khác. Chàng nghĩ xót xa đau đớn, chàng mừng hãnh diện vì con, thằng bé chưa hiểu thế nào là tình phụ tử vẫn tơ tưởng được ở gần với một người đàn bà. Càng nghĩ sâu nông chàng ghét cay ghét đắng tất cả đàn bà. Đang ngồi chàng đứng phắt trở dậy thét bảo anh lính:
– Cho nó về với mẹ nó cho rồi, thằng ngu ngốc ươn hèn. Tao cũng liều để mặc nó, rồi ra cũng lại như con các anh ta, cũng một tuồng cả.
Sau này cứ cách độ năm hôm thằng bé lại được phép về chơi với mẹ nó một lần, lần nào nó về chơi với mẹ, chàng cũng bực bội, tức tối khó chịu, bứt đầu bứt tai. Khi thằng nhỏ trở lại, chàng vặn hỏi nó đủ thứ, đã trông thấy gì, nghe thấy gì.
Chàng hỏi:
– Ở đằng ấy, mày thấy mấy bà làm gì?
Thằng nhỏ cũng thấy lạ, lúc nào hai con mắt cha nó cũng long lên, hầm hè tức tối, nó trả lời:
– Không làm gì, cha ạ.
Chàng lại cố gạn hỏi, giọng hơi xẵng:
– Mày thấy họ ngồi đánh bài hay làm gì? Hay khâu vá? Đàn bà không bao gờ ngồi yên, không có việc gì họ châu vào nhau nói chuyện, thế cũng gọi là làm, nghe chưa?
Thằng bé nhíu hai lông mày cố nhớ lại coi bộ vất vả, chậm chạp trả lời:
– Mẹ con cắt một chiếc áo vải hoa cho em con, chị con, mẹ chị ấy không phải mẹ con ngồi đọc sách, chị ấy muốn khoe với con chị ấy biết chữ. Con yêu chị ấy hơn các em con, con nói gì chị ấy hiểu, chị ấy không hềnh hệch lúc nào cũng cười như các chị khác. Hai con mắt chị ấy to, chị ấy chải đầu tóc dài chấm gót. Chị ấy đọc sách ít thôi, tính hay nghịch và hay nói chuyện.
Câu trả lời của thằng nhỏ chàng thấy thích thú vui vẻ nói:
– Đàn bà bao giờ cũng thế không làm gì là ngồi gẫu chuyện, đố ky, ghen tức lạ lùng oái oăm, chàng đố ky ngay với vợ con, nên sự đi lại thăm hỏi hai cô vợ mỗi ngày một lạnh nhạt thưa thớt.
Ngày tháng trôi qua, đứa con trai của chàng có lẽ là đứa con trai độc nhất. Cô vợ “sáng chữ” chỉ được một đứa con gái, cô mù chữ sinh thêm được hai gái cách mấy năm sau. Sự hiếm hoi này hoặc giả vì huyết lãnh của Vương hổ tướng hoặc giả chàng không thích gần đàn bà, hoặc giả được một đứa con trai rồi chàng đã mãn nguyện. Chàng lại còn một tính cả thẹn kỳ cục, đứa con trai ngủ chung với chàng trong phòng, chàng nghĩ tự thẹn với con nếu đêm hôm lẻn dậy đến với mẹ nó.
Thời gian đã chứng tỏ Vương hổ tướng không như các lãnh chúa khác khi đã được giàu sang phú quý chỉ lo gái đẹp, rượu ngon. Tiền bạc chàng vung ra khắp cả bằng súng đạn, bằng binh đội quân trang. Trừ ra, chàng để riêng một số tiền nhất định, mỗi ngày được tăng cường, số tiền này để phòng xa, ngộ nhỡ gặp lúc sa cơ lỡ vận. Chàng sống một cuộc đời khắc khổ độc thân chỉ có một thằng con trai làm bầu bạn. Có một cô vợ chưa bao giờ đến chỗ chàng ở. Đã có lần chàng lại dắt đứa con gái về chơi đùa với thằng nhỏ. Hai ba lần sau, mẹ dẫn con đến chơi. Cô vợ ngồi lần thần một mình trong phòng chàng. Vương hổ tướng thấy ngượng ngập khó chịu. Chàng cảm như cô vợ này có điều gì trách móc, nếu trách móc chàng không đoán ra vì lẽ gì hay định nói gì với chàng, chàng không sao đoán được tâm ý vợ. Chàng đứng dậy kiếm cách lẩn tránh, nói vài câu xã giao kiếu từ phải bận đi công
vụ. Lần nào cũng thế, cô này thấy chán không thập thò lại nữa, con ở dẫn cô gái nhỏ lại chơi, nhưng cuộc viếng thăm cũng thưa dần.
Một hai năm sau cô bé không lại nữa, mẹ cô cho người lại nói cô bận đi học. Như thế chàng cũng thấy dễ chịu chàng không muốn một đứa con gái đến một nơi nghiêm cẩn như chỗ chàng ở, vả chăng con bé ăn mặc trai lơ, chiếc áo mỏng mảnh quá, trên mái tóc gài một bông hoa lựu đỏ chói hay một bông hoa nhài trắng có hương thơm, con bé lại còn thích buộc ở đuôi sam một chùm hoa bò cạp phảng phất có mùi hương bắc lắm. Con bé này tính nết tự nhiên, lãng mạn, nghĩa là nó có đủ nết hư tật xấu của một người đàn bà. Chàng ghét nhất thằng con, thấy chị lại tươi cười hớn hở, hai mắt sáng ngời hẳn lên. Con bé này hình như có một cái thuật làm thằng bé tươi vui chạy nhảy nô đùa với chị nó ở ngoài sân. Trong tâm khảm chàng chỉ biết có đứa con trai là quyền sở hữu của chàng, còn đứa con gái chàng không cần biết đến.
Sự thờ ơ đối với đứa con gái do một quan niệm riêng của chàng, bây giờ nó nhỏ, ít năm nữa nó lớn lên là một thiếu nữ, rồi làm vợ làm mẹ. Đời một người đàn bà chỉ có thế. Khi vợ chàng sửa soạn cho con gái đi học xa, chàng rất bằng lòng. Chàng cho dấm dúi tiền, không tiếc, vì từ đây đứa con trai hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của chàng. Trước khi thằng nhỏ biết phải sống cô đơn chàng đã tiên liệu xếp đặt cho nó cả một chương trình hành động, chàng gọi con lại bảo:
– Này con, chúng ta đây, ta và con là những đấng nam nhi. Từ nay con không cần phải năng lui tới chỗ mẹ con ở, trừ một đôi khi con lại vấn an mẹ con cho phải đạơ. Con nên biết đàn ông chúng ta rất có thể lãng phí cuộc đời vì phụ nhân, ngay đến cả mẹ con, chị con, cũng đều thuộc về phái phụ nữ ngu muội, không thiết thực có ích cho đời. Ý cha muốn cho con học tất cả nghệ thuật tinh vi của một võ tướng, nghệ thuật cả kim lẫn cổ. Bọn thủ hạ tâm phúc chỉ dẫn cho con về môn võ cổ. Anh Chọc tiết heo sẽ chỉ cho con biết cách sử dụng hai tay và hai chân. Anh Sứt Môi dạy con các đường côn kiếm. Còn những môn võ thuật kim thời ta thường được nghe nói, mắt chưa thấy. Ta đã cho ra miền duyên hải triệu thỉnh một võ sư. Người này đã du học nước ngoài, thông hiểu chiến thuật ngoại quốc và cách sử dụng tất cả võ khí. Viên võ sư đó sẽ để tâm chỉ bảo cho con, còn thừa thì giờ hắn sẽ tập luyện binh đội. Thằng nhỏ không nói năng gì hết, đứng bình thân lặng yên nghe lời cha nói. Chàng âu yếm nhìn thẳng vào mặt con, không thấy thằng nhỏ biểu lộ cảm giác, tư tưởng trên khuôn mặt. Đứng một lát cố ý chờ xem con có phát biểu ý kiến gì không, chàng chỉ thấy con nói:
– Con xin phép đi ra ngoài phòng một lát, cha có bằng lòng không?
Chàng gật đầu nhìn thằng con đi ra thở dài, chàng cũng không hiểu sao chàng lại thở dài. Đó, cách thức Vương hổ tướng rèn luyện dạy bảo con, ý chàng muốn ngoài thì giờ ăn và ngủ mỗi một giờ thằng nhỏ phải học môn này hay môn khác. Chàng bắt thằng nhỏ phải dậy thật sớm, tập võ thuật côn quyền với các thủ túc tâm phúc; ăn bữa sáng xong phải ra đọc sách, xong bữa cơm sáng đến quá trưa ông võ sư dạy bảo binh thư đồ trận.
Ông võ sư này là một thanh niên, chàng chưa quen biết bao giờ. Ông mặc bộ binh phục tây phương, đeo cặp kính trắng trên xuống mũi, đi đứng ngay ngắn đường hoàng. Ông dạy tập chạy, tập nhảy, đấu gươm, đấu kiếm. Ông biết sử dụng bất cứ một loại súng nào chế tạo ở ngoại quốc. Có thứ ông cầm ở tay mà đạn nổ khói mù mịt, có thứ bắn phải bấm cò, còn rất nhiều kiểu khác nữa. Suốt cả buổi học, chàng ngồi, nghe giảng, con chàng ngồi học những phương pháp chiến thuật tối tân, tuy chàng không nói ra, chàng đã học được, đã biết được nhiều thứ chàng chưa được nghe nói, hay trông thấy bao giờ. Chàng nghĩ mình còn khờ khạo, lấy làm tự hào được hai khẩu đại bác cũ rích. Thực ra chàng không biết mấy về kỹ thuật chiến tranh, không thể tưởng tượng được nhiều thứ mới lạ, cần phải học hỏi nhiều.
Thường thường chàng ngồi đàm luận rất khuya với viên võ sư dạy con chàng học. Chàng được biết nhiều cái rất tài tình để diệt địch quân, có khi tử thần bay bổng trên không trung rồi nhào xuống sát hại quân địch, lại có khi tử thần lảng vảng, lơ lửng ở biển cả đột nhiên nổi lên tung hoành, có khi bay đi thật xa hàng bao nhiêu dặm, mắt người không thấy được, nổ đúng vào giữa đám quân thù.
– Xem như thế người các nước có thuật giết người tài tình thật, thực tình tôi cũng chưa được biết mấy.
Chàng suy nghĩ về những phương pháp tối tân, một hôm chàng bảo viên võ sư:
– Hiện nay có một vùng thuộc dưới quyền tôi cai trị rất trù phú, mười hay mười lăm năm chưa có một trận đói nào, tôi cũng có đặt một quỹ dự trữ. Trước tôi tưởng binh đội của tôi cũng được rèn luyện khá, tôi tưởng thế là đủ, đã vội mãn nguyện. Nếu con tôi được học những phương pháp tối tân về chiến thuật thì binh đội cũng phải được huấn luyện theo một phương pháp đó. Tôi sẽ mua ở ngoại quốc những chiến cụ thích hợp vào thòi buổi bây giờ. Ý tôi muốn ông rèn luyện binh đội theo phương pháp tân tiến, chỉnh đốn lại binh đoàn để kịp khi con tôi về chỉ huy. Chàng thanh niên có tật cười thoáng qua rất nhanh, nói rất tự nhiên, nghĩ sao nói vậy:
– Tôi cũng đã rèn luyện thử bọn lính, nhưng sự thật phũ phàng, chán lắm, binh lính một bọn người biếng nhát chỉ ham ăn, thích uống. Nếu tướng quân sắm những chiến cụ tối tân, tướng quân chỉ định giờ nào bọn họ phải tập tành, rèn luyện học cách sử dụng vũ khí, để tôi xem có thể rèn luyện được không?
Vương hổ tướng thấy câu nói dù là thực cũng rất khiếm nhã, chàng giận lắm, vì chàng đã để ra bao nhiêu ngày tháng uốn nắn bọn lính, chàng trả lời sống sượng:
– Trước hết ông hãy lo rèn luyện con ta.
– Vâng tôi xin lãnh ý, tôi rèn luyện cậu em đến năm 15 tuổi; xin mạn phép tướng quân tôi đệ trình ý kiến, theo thiển ý, nên để cậu em tòng học một trường võ bị ở miền Nam.
Vương hổ tướng nghe lạ tai hỏi:
– Thế nào? Học chiến thuật ở nhà trường à?
– Vâng, trường võ bị đã đào tạo rất nhiều sĩ quan trong quân đội chính phủ.
Nghe nói thế, Vương hổ tướng có vẻ kiêu hãnh đáp:
– Con tôi không cần phải tìm một chân đại đội trưởng trong quân đội chính phủ, làm như nó không có binh đoàn riêng (ngừng một lát chàng nói tiếp).
– Tôi chắc chắn, ở đâu chứ ở phương Nam không có gì hay ho cả. Lúc thiếu thời tôi đã phục vụ một tên tướng ở miền Nam, thằng cha này lười biếng, dâm đãng, bọn lính của hắn coi không ra hồn người.
Viên võ sư thấy Vương hổ tướng có ý không bằng lòng, mỉm cười cáo từ đi ra. Vương hổ tướng ngồi một mình trầm ngâm nghĩ đến thằng con, thực ra chàng đem hết tâm trí để rèn luyện, hun đúc đứa trẻ. Chàng cố moi hết tâm trí hồi tưởng lại lúc còn niên thiếu, chàng mơ ước được một con ngựa, chàng nghĩ chắc con chàng cũng một ý nghĩ đó. Ngay ngày hôm sau chàng sắm cho thằng nhỏ một con ngựa đen, tuyệt đẹp, giống ngựa Mông Cổ, chàng mua của anh lái quen. Chàng tưởng chừng thằng con được ngựa mừng đến thế nào. Chàng chỉ cho con xem con ngựa ở ngoài sân. Một cái yên mới bằng da đỏ đặt trên lưng ngựa, dây cương đỏ đóng đinh đồng sáng
loáng, mã phu dắt ngựa tay cầm một cái roi dài cũng bằng da đỏ. Chàng có ý hợm, nghĩ con ngựa thế này ngay chàng lúc còn nhỏ cũng phải mê, con ngựa đẹp quá mà là ngựa thực!… Chàng để ý nhìn thằng con chắc thế nào chàng cũng ghi nhận được nét hân hoan bộc lộ ở hai con mắt và cái mỉm cười ở môi. Thằng bé không tỏ vẻ gì sung sướng hân hoan, tính vẫn trầm lặng như thường. Nó nhìn con ngựa thản nhiên nói:
– Con cám ơn ba.
Vương hổ tướng chờ xem thái độ thằng nhỏ ra sao, không thấy hai mắt nó sáng ngời tỏ vẻ hân hoan, không thấy nó lại vồ ngay con ngựa nắm chiếc dây cương leo lên ngồi thử cái yên mới; xem ý nó chỉ chân trước chân sau chờ cha cho phép là lảng đi nơi khác. Vương hổ tướng nghĩ cáu quá, vào trong phòng đóng kín cửa lại, hai tay ôm đầu, giận thằng con vô cùng; mình thương nó, chiều nó mà nó không biết.
Chàng tức giận một lúc rồi hồi tâm lại ngay, xưa nay vẫn thế, chàng tự nhủ:
– Không biết thằng bé thích cái gì? Khi mình bằng tuổi nó, mình đã mơ ước những cái gì mà bây giờ nó có hết, mà lại có phần hơn nữa, ừ, mà mình có tiếc nó cái gì đâu, kiếm một ông thầy thật giỏi, dạy bảo, một khẩu súng ngoại quốc tuyệt đẹp, lại một con tuấn mã đen, yên cương đỏ, lại cả cái roi ngựa cũng bằng da đỏ, chuôi bạc.
Chàng tự an ủi, chàng dặn ông võ sư có môn gì phải dạy hết không được trừ môn gì. Nếu thấy nó uể oải có vẻ nhọc mệt không nên quan tâm, đó là một thứ bệnh lười cho tất cả trẻ mới lớn lên, không nên nản chí chỗ đó.
Đêm, không ngủ được, trở dậy nghe tiếng thở đều đặn của con, chàng nhận thấy một mối tình dị cảm não ruột tràn ngập lòng chàng, một mình lẩm bẩm trong đêm trường:
Nhất định ta phải chăm cho thằng này. Nhất định ta phải lo sao thằng này được rèn luyện hơn nữa.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.