Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 20 Apr 2025

Chương 20.

NGƯỜI BẠN NẰM CẠNH MINH THÌ THÀO:

– Trường hợp đó anh nên bình tĩnh giải quyết, hiện nay trường hợp anh như một nắm chỉ rối, anh phải bình tĩnh lắm mới gỡ ra nổi, đừng hấp tấp đừng làm chuyện bậy bạ chỉ thiệt cho anh thôi. Còn tôi, tôi đã quyết rồi trước sau gì tôi cũng trốn nữa, dĩ nhiên tôi là kẻ bất hợp pháp, nhưng nếu tôi có tiền, tôi sẽ lo bùa phép mấy hồi, cái đó thì không bền, nhưng hoàn cảnh tôi bắt buộc tôi phải lo. Còn anh, cái gốc anh là người lương thiện, trong khi anh còn mắc kẹt trong này ở ngoài vợ anh sẽ lo chạy cho anh. Anh có một cái dại là giấy tờ hợp lệ của anh, anh không đem photocopie ra làm nhiều bản đem đi thị thực. Anh nên gặp vợ anh, nói vợ anh về phòng hành chánh đơn vị cũ của anh xin lại những giấy tờ đó hoặc hay hơn, nói họ can thiệp cho anh, anh sẽ được xuất ngũ không có gì đáng buồn hết, nếu chị nhà lo được, anh nói với chị chịu khó tốn chút ít tiền cho những người chuyên môn lo những giấy tờ này, không lâu đâu.

Minh nghe người bạn mới nói có lý chàng bình tĩnh dần lại:

– Cám ơn anh, từ chiều đến giờ tôi lo rối lên nên không bình tĩnh, nhưng tôi cũng nhờ người báo tin cho vợ tôi biết, chắc tối nay vợ tôi đã biết tin rồi.

– Ngày mai là chị tới đây, anh nên bình tĩnh nói với chị lo vụ này.

– Dạ phải lo chớ, tôi nói thiệt với anh tôi không sợ đi lính vì tôi đã từng đi lính rồi, tôi vào sinh ra tử, nhưng vụ nầy tôi thấy tức quá.

Người bạn mới cười:

– Nào ai sợ đi lính, tôi là thằng chuyên môn trốn lính. nhưng đừng nghĩ là sợ đi lính, hoàn cảnh cả, hoặc là vì bất mãn.

Anh ta không nói tiếp, anh ta chỉ hừ hừ trong miệng:

– Đù mẹ, thằng ba tàu chợ lớn, mấy thằng con ông cháu cha tôi không biết nói gì hơn.

Minh bực bội, chàng lại nghĩ tới chuyện bị bắt hồi sáng, Minh như một thằng con nít bị bắt nạt, thằng con nít bị lấy mất món đồ chơi ngay trước mặt mọi người mà không làm gì được, còn bị vu oan giá họa, một kẻ bị lép vế.

Trong căn phòng giam nhỏ bỗng có tiếng họ lên xù xụ, tiếng ho nghe tội nghiệp, nghe như xé phổi xé gan. Minh bật ngồi dậy, người bạn bên cạnh Minh cũng ngồi dậy, người đàn ông đúng tuổi nằm ở góc phòng giam ngồi xổm gò người hai tay ôm lấy ngực, người bạn nói nhỏ:

– Thằng cha này ho quá, có lẽ ho lao?

– Cũng bị bắt lính?

– Hắn bị giải vào sau tụi mình một lát…

– Coi bộ gầy gò ốm yếu quá mà bắt làm chi.

– Mày chưa thấy những thằng đui những thằng cụt giò còn bị bắt nữa kìa.

Gã có bệnh ho, ho dứt cơn rồi ôm bụng nằm xuống rên rỉ:

– Trời ơi sao tôi khổ thế này?…

Một tiếng chửi thề không biết từ góc phòng nào đó nổi lên:

– Đ.m, lộn xộn hoài không cho bố ngủ sao?

Một tiếng cười khảy mà Minh không đoán ra nó phát xuất từ đâu:

– Mãn khóa Quang Trung, đi đơn vị rồi rửa chân lên bàn thờ tha hồ mà ngủ.

Sau một lúc lộn xộn, phòng giam trở lại không khí nặng nề yên lặng, Minh nghe tiếng ngáy, Minh mệt mỏi nhưng chàng không thể ngủ được, chàng nhớ vợ nhớ con.

Bây giờ chàng đã bị đưa đến Quân Vụ Thị Trấn rồi, chàng không hy vọng gì ra ngay, chàng phải làm đơn khiếu nại, có khi hàng năm sau người ta mới xét tới trường hợp của chàng, và khi đó chàng đã là một người lính.

Càng nghĩ Minh càng thấy uất ức, mẹ tiên sư chúng nó, làm ăn như c… Minh muốn chửi thề nhưng những lời chửi thề không lọt ra khỏi miệng, chàng nuốt xuống bụng. Thế là những dự định của Minh đã tan theo mây khói, chàng sẽ không có cửa hàng vẽ quảng cáo, chàng không kiếm được tiền nữa, vợ con chàng sẽ nheo nhóc hơn, chàng phải ra khỏi nơi này, chàng đã chịu quá nhiều bất công, tại sao chàng không được sống yên lành như những người khác? Trong khi chàng đã làm tròn bổn phận, Minh sẽ ra khỏi nơi này một cách hợp pháp, chàng không trốn chạy.

Có lẽ giờ này vợ Minh cũng đang lo nghĩ về Minh, nàng chờ trời sáng để đến đây gặp chàng trước khi chàng đi Quang Trung, Minh ngủ thiếp đi lúc nào không biết…

Những tiếng ồn ào trong phòng giam đánh thức Minh dậy, Minh ngồi xóm nhìn ra ngoài, trời đã mờ mờ sáng. Minh nóng ruột, có lẽ Ngọc cũng sắp tới. Trong lúc này Minh cảm thấy chàng cần đến nàng kinh khủng.

Người sĩ quan coi phòng giam vào phòng điểm danh, Minh uể oải nói có mặt. Một người khác hỏi người hạ sĩ quan:

– Bao giờ chúng tôi đi?

– Lát nữa, có thể là buổi trưa nay.

Sau khi điểm danh xong trước khi quay đi người sĩ quan hỏi:

– Có anh nào cần ăn gì không, tôi mua giùm cho?

– Thưa xếp có cà phê không?

– Đủ cả, anh đừng ngại.

Những người bị bắt trong phòng giam nhao nhao gửi tiền, người bạn mới của Minh hỏi Minh:

– Uống gì không?

Minh định móc tiền ra đưa, anh ta chận lại:

– Tôi bao anh, uống cái cà phê sữa ăn cái dầu cháo quầy cho đỡ bụng nhé?

Minh gật đầu đại. Người bạn mới tâm sự với Minh:

– Tôi không thể nào đi được tôi phải ra.

– Ra bằng cách nào?

Đôi mắt người bạn long lanh:

– Tôi sẽ liều.

– Làm cách nào mà liều được.

– Thiếu gì cách, lát nữa anh coi tôi.

Minh đang nghĩ đến hoàn cảnh của mình, chàng cũng chẳng buồn hỏi han làm gì, chàng ngồi im lặng. Hai ly cà phê sữa đã mang vào, Minh xì xụp uống, mọi khi chàng uống cà phê mà chàng không thấy ngon như ở đây. Người bạn mời Minh một điếu thuốc lá:

– Tôi sẽ ra, lát nữa tôi ra.

– Lát nữa?

Người bạn mới bật quẹt mồi thuốc cho Minh:

– Có cách nào ra được cho tôi theo với.

Người bạn lắc đầu:

– Anh đừng theo tôi, anh vốn là người hợp pháp đừng dại dột.

– Nghĩa là anh trốn ra?

– Không trốn ra còn cách nào hơn nữa.

Trời đã sáng rõ. Minh nhìn thấy một vệt nắng chiếu vào cửa phòng giam. Ngoài có tiếng ồn ào, Minh nhìn ra, chàng thấy đám đàn bà trẻ con đang ùa vào công Quân Vụ Thị Trấn, một người trong đám bị bắt họ nhìn thấy thân nhân của mình họ đổ xô ra cửa phòng giam đứng phía trong gọi ra. Minh cũng cố nhìn xem có thấy vợ mình đâu không, chàng tuyệt vọng, trong đám đông đảo kia, Minh không nhìn thấy Ngọc đâu, Minh lại lui về chỗ ngồi, người bạn ngồi bên cạnh hỏi:

– Vợ chưa tới hả? Minh lắc đầu:

– Không biết vợ tôi có nhận được tin chưa.

– Có thể sáng nay mới nhận được tin.

– Tôi sợ vợ tôi lên không kịp quá.

Nếu lên buổi sáng hôm nay thì kịp vì trưa nay mình mới đi

Người bạn buồn buồn:

– Tôi nhất định rồi, tôi không thể đi được, tôi sẽ liều…

– Anh định làm gì?

Người bạn mới im lặng khẽ lắc đầu:

– Tôi chưa biết, nhưng tôi nhất định rồi hễ sơ hở một chút là tôi trốn liền.

Minh thoáng lo sợ cho người bạn mới:

– Trốn, đừng dại dột chớ, tôi chắc chắn rằng…

Minh bỏ lửng câu nói, chàng muốn nói rằng chắc chắn người bạn không thể trốn được, nhưng người bạn Minh nói ngay:

– Tôi biết rằng nguy hiểm lắm, dĩ nhiên là khi giải mình đi, lính tráng phải hộ tống theo, có thể nguy hiểm đến tính mạng, nhưng làm sao được, chẳng thà tôi chết, tôi chết đi cho rảnh, tôi không thể nhìn vợ con…

Giọng người bạn mới nghẹn ngào:

– Tôi biết làm sao, coi như mình đánh một canh bạc.

Anh ta gục đầu trên hai cánh tay, đôi vai rung lên. Minh không biết phải an ủi người bạn như thế nào, trong lòng chàng còn ngổn ngang bao nhiêu là tâm sự, Minh lại nhìn ra cửa, chàng hy vọng vợ chàng sẽ đến, chàng cần phải nhắn nhủ nàng một chuyện cần thiết. Minh reo lên, chàng đã nhìn thấy vợ con hiện ra ở cửa, nàng đang ngơ ngác, Minh chồm lên gọi:

– Ngọc. Ngọc, anh đây.

Ngọc ngẩng lên nhìn về phía Minh, nàng bồng con lên tất tả chạy về phía Minh, Minh hỏi dồn:

– Em nhận được tin anh tự bao giờ?

– Sáng hôm nay…

Nàng nắm lấy bàn tay Minh thò ra ngoài, nàng hỏi dồn:

– Tại sao anh lại bị bắt? Minh nhún vai:

– Nào ai biết được.

Thằng bé Dũng thò tay vào quờ quạng trên mặt bố nó, nó gọi ba ba. Minh kể lại cho Ngọc nghe nguyên nhân bị bắt, chàng lắc đầu:

– Xui quá, nhưng vẫn còn được.

– Bây giờ em phải làm gì cho anh?

– Em tìm đến đơn vị cũ cho anh, nói với người ta xác định lại rằng anh đã được giải ngũ, rồi em nộp những giấy tờ cần thiết đó lên Bộ Quốc Phòng, nhớ làm đơn khiếu nại cho anh.

Ngọc lo lắng:

– Em không biết phải làm sao bây giờ.

– Nếu em nhờ vả được người nào đó biết luật lệ lo cho anh thì tiện nhất.

Ngọc lại nghĩ đến lần chạy chọt cho Minh khi chàng bị bắt nhưng nàng không muốn nhắc lại với Minh, sợ chàng có mặc cảm. Minh móc bóp đưa cho Ngọc mấy giấy tờ:

– Còn chiếc xe gắn máy của anh bị giữ ở dưới quận, em tới lãnh về cho anh ngay.

Ngọc thở dài, nàng nắm chặt tay Minh hơn:

– Số anh thật là xui xẻo, em sẽ cố lo cho. Bây giờ chỉ có một mình em lo cho con.

Nước mắt Ngọc rơm rớm, nàng cắn chặt môi:

– Anh đừng có liều lĩnh nghe chưa?

– Anh việc gì phải liều lĩnh, anh là người hợp lệ mà, không may gặp phải một thằng cha khốn nạn, xui xẻo, số anh chưa hết xui xẻo.

Minh thò tay ra vuốt tóc con:

– Con ở nhà phải thương mẹ nghe con, ba đi ít bữa ba về.

Thằng Dũng nhìn Minh, nó thỏ thẻ:

– Ba bị bắt hả ba?

Minh lắc đầu:

– Không phải ba bị bắt, người ta lầm lẫn…

Thằng bé không hiểu nhưng nó vẫn toét miệng cười, hỏi lại:

– Ba không bị bắt hả ba?

Minh quay sang nhắn nhủ Ngọc, chàng lau giọt nước mắt vừa ứa trên khóe mắt nàng:

– Anh có làm phiền em không?

– Sao anh lại nói như thế, bổn phận em…

Nàng nghẹn ngào, nàng không thể nói nên lời.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 20 Apr 2025

Chương 19.

MINH NGỦ DẬY, HAI MẮT CAY XÈ, trời chưa sáng hẳn. Ngọc còn ngủ say. Minh để vợ ngủ, chàng nhủ thầm, nàng cũng chẳng cần đi làm chi. Minh ra sau nhà rửa mặt đánh răng, chàng mặc quần áo lẹ làng, chàng nghĩ đến những công việc mình phải làm hàng ngày, hôm nay tiệm vẽ của chàng phải giao hàng đúng hẹn.

Khi Minh mặc quần áo xong, Ngọc cũng dậy, Minh nói với vợ:

– Thôi anh đi làm trước nghe, em đưa con đi sau cho anh.

– Còn sớm mà anh.

– Hôm nay anh nhiều việc lắm.

– Dạ, anh đi trước đi, chiều về sớm đón em nghen, đến tiệm mình đi coi căn nhà ấy.

Minh cúi xuống hôn vợ, chàng nhìn con, cúi hôn trên má nó. Chàng dắt xe ra cửa, gió sớm chỗ mai mát rười rượi, Minh phóng xe ra thẳng tiệm hủ tiếu, chàng thấy trời còn quá sớm, cơn buồn ngủ chưa tan, Minh uống trước một ly cà phê nóng, tô hủ tiếu bốc khói nghi ngút, sao Minh thấy sáng nay mình ăn uống ngon thế. Chàng lại tiếp tục nghĩ đến căn nhà mình sẽ thuê, chàng tính toán đến những vật dụng mình sẽ mua, chàng mỉm cười, ít ra chàng cũng khá hơn thằng cha chủ mình đang làm bây giờ, nhiều gã chủ của chàng có biết vẽ vời gì đâu, vậy mà gã cứ việc ngồi một thu tiền. Chỉ một năm sau, chỉ một năm thôi, Minh sẽ khá không kém gì hắn, bây giờ đầu tiên Minh chỉ kiếm một thằng nhỏ phụ việc với mình, chàng sẽ dạy cho nó nghề, nếu một vài tháng cửa hàng chàng khá, chàng sẽ mướn thêm một vài người thợ nữa, điều chắc chắn chàng không bóc lột họ như gã chủ chàng đang làm. Minh tưởng tượng đến đời sống của mình sau này, thằng con trai chàng sẽ đi học đàng hoàng, vợ chàng không còn phải đi làm nữa, nàng ở nhà giúp việc nhà giúp chàng công việc nọ kia, nàng cũng là một bà chủ, nàng có người làm để sai bảo. Niềm ước mơ của Minh thật đơn sơ, nhưng chàng thực hiện được không có gì khó khăn, trong nhà chàng sẽ đầy đủ tiện nghi, hàng tuần chàng có thể đưa vợ đi chơi. Những ngày đen tối của chàng đã qua rồi.

Mặt trời đã ló dạng, Minh trả tiền, chàng ra xe, chàng chạy xe chậm chậm, chàng nghĩ bụng mình chẳng cần chạy mau làm gì, trời vẫn còn sớm, đường phố lúc này đông đảo, Minh thấy lính cảnh sát đứng đầy đường, chàng nghĩ bụng, sao hồi nầy cảnh sát bắt lính quá trời. Một số người bị xét giấy đang đứng năn nỉ, một tiếng còi thổi ré lên, người cảnh sát ra hiệu cho Minh dừng lại xét giấy tờ. Chàng có đủ giấy tờ hợp lệ nên không lo ngại.

Người cảnh sát đến bên Minh ra hiệu:

– Cho xem giấy.

– Giấy gì?

– Thẻ căn cước.

Minh mở bóp lấy thẻ căn cước đưa cho người cảnh sát, chàng quan sát những người bị xét giấy, có lẽ họ không đủ giấy tờ hợp lệ, một vài người đang năn nỉ, Minh thương hại cho họ, người cảnh sát hỏi Minh giọng chỏng lỏn:

– Còn giấy gì khác không?

Minh thấy bực tức chàng trả lời xẳng:

– Còn coi giấy gì nữa?

– Hợp lệ tình trạng quân dịch.

– Cũng có nữa.

Người cảnh sát gắt lên:

– Thì đưa đây, tôi đâu có thì giờ mà đứng nói chuyện với anh.

Minh lấy thêm giấy giải ngũ ra đưa cho người cảnh sát:

– Xin lỗi, tôi không có thì giờ đứng nói chuyện nhiều.

Minh bực mình khi thấy gã cảnh sát xem cái giấy của mình quá kỹ, gã cảnh sát thủng thẳng nói:

– Hồi này giấy giả nhiều lắm.

– Nhưng giấy giải ngũ của tôi không giả.

Người cảnh sát nhìn Minh, anh ta có vẻ bực khi thấy Minh trả lời như vậy. Thằng cha này dám trả lời với cảnh sát như vậy thì láo thật. Người cảnh sát nghĩ thật nhanh, à thằng cha này muốn khó dễ mình cho khó dễ luôn, gã gấp tờ giấy giải ngũ lại, hỏi Minh:

– Có tướng mạo quân vụ không? Minh càng bực mình:

– Có chớ sao không.

– Đưa coi.

Minh lại đưa bản tướng mạo quân vụ cho gã, mỉa mai:

– Coi thử xem có phải giả không?

Gã cảnh sát không thèm coi giấy tướng mạo quân vụ, gã gấp vào tờ giấy giải ngũ rồi cho vào túi mình:

– Giấy giả nhiều lắm, muốn chắc ăn hơn để điều tra lại.

Minh cáu kỉnh:

– Tại sao lại kỳ cục vậy?

Gã cảnh sát trả lời thẳng vào mặt Minh:

– Không có gì đáng ngạc nhiên hết.

– Tôi đưa đủ giấy tờ phải cho tôi đi chớ.

Người cảnh sát chỉ vào ngực mình:

– Nhân viên công lực có quyền nghi ngờ tất cả giấy tờ.

Minh dựng xe đứng hẳn xuống đường:

– Tôi còn phải đi làm ăn, chớ tôi đâu có thì giờ đứng đây.

Người cảnh sát lạnh lùng:

– Tôi có cấm anh đi làm đi ăn đâu?

– Vậy trả giấy tờ để tôi đi chứ?

– Tôi nghi ngờ giấy anh là giấy giả. Minh bực bội:

– Trời ơi, nếu anh nghi ngờ, thì coi đi rồi trả lại tôi đi làm chớ.

– Tồi không đủ sức coi, không đủ sức phân biệt, phải có cơ quan chuyên môn.

– Anh muốn làm khó dễ tôi phải không?

Người cảnh sát hầm hầm:

– Anh nên giữ gìn lời nói. Minh càng cáu kỉnh:

– Giữ gìn cái gì, anh ăn hiếp tôi như vậy mà bảo tôi giữ gìn.

Người cảnh sát cứng rắn hơn:

– Anh có thể bị đưa ra tòa vì tội nhục mạ nhân viên công lực trong khi thi hành nhiệm vụ.

Minh càng cãi:

– Nói cho anh biết, anh đừng nói bậy, từ nãy giờ tôi nói với anh tử tế.

– Vậy thì nên giữ sự tử tế đó.

Người cảnh sát huýt còi, anh ta lại chận một thanh niên khác, người thanh niên có vẻ biết điều, gã khúm núm trước người cảnh sát, hai tay đưa giấy tờ cần thận cho người cảnh sát chỉ coi qua rồi cho đi, người thanh niên không quên cám ơn. Minh bực bội, chàng nói:

– Tôi đã làm đủ nhiệm vụ, anh đòi coi giấy, tôi đã đưa anh coi giấy, không thiếu một thứ giấy cần thiết nào, vậy anh đừng làm phiền tôi chứ.

Người cảnh sát nhìn Minh:

– Tôi không có thời giờ để cãi lộn với anh.

– Tôi yêu cầu anh trả lại giấy cho tôi.

– Hãy giữ gìn lời nói.

– Tôi không làm điều gì trái hết.

– Muốn thắc mắc khiếu nại gì chờ lát nữa xong công việc của tôi đã.

Minh tức ứ lên cần cồ, chàng không làm gì được, chàng nhìn mấy người cảnh sát, họ cũng đang bận xét giấy tờ.

Minh đành đứng chờ. Mặt trời đã lên cao, có lẽ chàng đi làm bây giờ cũng muộn, chàng càu nhàu một mình, gần chàng có mấy người thanh niên bị xét giấy tờ không đủ nên phải đứng lại, mặt mũi người nào người nấy buồn so, Minh đến bên cạnh một người hỏi:

– Họ chưa cho cậu đi à?

– Mẹ, tôi thoát bao nhiêu lần không ngờ lần này kẹt giờ ở đây vậy chớ.

– Không có giấy hợp lệ tình trạng quân dịch?

– Trốn lính mà giấy tờ hợp lệ mẹ gì.

Gã than thở: tôi bị bắt lần này mẹ con nhà nó đói, vợ tôi thì bệnh tật liên miên con tôi còn nhỏ có biết gì đâu, biết thể hồi ấy tôi đi lính mẹ cho rồi, bây giờ được giải ngũ có phải khỏe không?

Minh nghe hắn nói vậy càng thêm bực tức:

– Tôi nè, có thiếu thốn giấy tờ gì đâu, mà họ giữ tôi ở đây, đòi giấy gì đưa giấy nấy, bây giờ họ giữ tôi ở đây không cho tôi đi.

– Anh có giấy tờ hợp lệ tình trạng quân dịch hả?

– Có chớ sao không, đi lính sáu bảy năm trời mà.

– Chuyện vô lý vậy sao?

– Vô lý thấy mẹ, họ làm khó làm dễ mình.

Người thanh niên suy nghĩ một lát rồi hỏi: Tôi hỏi thiệt anh điều này nhé:

– Cái gì?

– Khi trình giấy, anh có nói gì không?

– Nói mẹ gì, mình hợp lệ thì thôi chớ.

Người thanh niên lắc đầu:

– Như vậy đâu có đủ.

– Vậy như thế nào mới đủ?

– Khi trình giấy anh cần phải nói năng đàng hoàng với cảnh sát, anh nên nhớ rằng họ có quyền giữ giấy tờ của mình kia mà.

– Nhưng giấy tờ của tôi hoàn toàn hợp lệ.

– Hợp lệ cũng thây kệ anh.

– Sao vậy?

– Người ta cần anh lễ phép.

– Tôi có nói điều gì không lễ phép đâu.

– Anh không hiểu gì hết trơn, lễ phép đây là phải biết năn nỉ cảnh sát.

– Tại sao lại phải năn nỉ, tôi đầy đủ. Gã nhìn thẳng vào mặt Minh:

– Bởi vậy anh mới là thằng ngu.

– Tại sao là ngu?

– Anh lý sự cùn với cảnh sát anh chỉ thiệt vào thân mà thôi. Đối với cảnh sát, nhất là cảnh sát bắt lính thì lúc nào anh cũng phải ngoại giao, cho dù anh hợp lệ tình trạng quân dịch đi nữa, anh vẫn năn nỉ như thường, chẳng hạn như anh bị hỏi giấy, anh phải nhảy xuống xe, đầu tiên là nở một nụ cười thông cảm, nụ cười để cho người cảnh sát hỏi giấy anh thấy rằng anh ta quan trọng và to nhất trên cõi đời nầy, sau nghi lễ thường thức, anh đặt tay vào bốp hỏi một câu hết sức nhẹ nhàng, lễ phép: Thưa xếp còn coi những giấy gì? Gã liếm mép, lén nhìn những người cảnh sát nói tiếp:

– Người cảnh sát sẽ hỏi anh xẳng giọng: «cho coi giấy hợp lệ tình trạng quân dịch”, anh phải tỏ ra lúng túng sợ sệt một chút, cho dù anh hoàn toàn hợp lệ, anh rút bóp ra, tay run được càng tốt, nếu khéo hơn mặt anh xanh rờn, anh lóng ngóng lấy giấy tờ, hai tay trình người cảnh sát nói: “Thưa giấy em đây”, nếu anh thấy người cảnh sát còn có vẻ khó khăn, anh cứ năn nỉ tưới hạt sen, xếp xem xong trả lại cho anh, anh không quên cám ơn một câu, đó là bài con cá, những thằng không có giấy hát bài con cá còn thảm thiết hơn nữa, thằng nào quen nghề còn biết thông cảm xếp.

Hôm nay tôi lại chẳng có một xu dính túi nào, đù má, cái con vợ tôi, ngày hôm qua mình đã để một tờ căn cước Trần Hưng Đạo vào túi, vậy mà nó lấy cha của mình mất, sáng nay tôi vững bụng quá, đến lúc bị hỏi rờ đến túi không, cháng váng luôn. Đù mẹ, xui ơi là xu. Nếu có tờ căn cước Trần Hưng Đạo thì xong rồi, tôi và cảnh sát sẽ dễ thông cảm nhau hơn.

Gã thanh niên thở dài thượt một cái:

– Hồi nãy tôi nhìn thấy anh, anh thiệt là người bất lịch sự.

– Bất lịch sự ở cái chỗ nào, hỏi giấy gì thì đưa giấy đó.

– Xếp hỏi giấy anh mà anh không sợ chút nào hết, anh ngồi trên xe đưa giấy, anh lại dám to tiếng với xếp nữa.

– Bộ ông nội tôi sao mà tôi năn nỉ?

– Anh có hàng ngàn ông nội chớ không phải một ông nội đâu.

– Bộ tôi còn phải lạy sao?

– Nếu cần thì cứ lạy, có ai chê cười anh đâu mà anh sợ.

Minh im lặng, chàng xét lại thái độ của mình, chàng thấy rằng mình hơi bất lịch sự với người cảnh sát, hỏi người thanh niên:

– Bây giờ tôi phải làm gì?

– Tới năn nỉ xếp.

– Năn nỉ sao?

– Ca một bài con cá cho mùi. Minh bực bội:

– Nhưng tôi…

– Tôi biết rồi, anh hợp lệ tình trạng quân dịch chớ ai không biết, nhưng anh cứ ca một bài cho xôm trò, mất mát mẹ gì mà anh sợ.

Gã hỏi Minh:

– Ra ca lẹ lên, xếp chắc cũng nguôi giận rồi.

Minh buồn bã lắc đầu:

– Mẹ, sao lại khó quá vậy nhỉ, hiếu thảo với bố mẹ đã mệt rồi, bây giờ lại hiếu thảo với cảnh sát nữa thì sống sao nổi.

– Muốn sống thì nghe lời tôi.

– Bộ họ dám thủ tiêu giấy tờ của tôi sao?

– Anh là cái thá gì mà họ không dám, nói cho anh biết họ xé giấy của anh đi anh cũng không dám làm gì nữa kia.

Minh lo lắng, chàng nghĩ bụng, rất có thể, chàng đành vuốt giận, chàng gật đầu:

– Thôi được, tôi ra năn nỉ một phát.

– Nên ca ngay, nên ca liền tức thì.

Minh định quay ra, gã thanh niên gọi giật lại:

– Nè.

– Cái gì vậy?

– Biết ca chưa?

– Đại khái là năn nỉ chớ gì?

– Năn nỉ có cả triệu lối, ca phải có bài có bản hẳn hòi chớ đâu phải ca bậy bạ được.

– Ca sao?

Gã nhanh nhảu:

– Phải ca rằng vợ đau con ốm, tình trạng hết sức bi thảm.

– Được.

Minh tới gần người cảnh sát, người cảnh sát làm mặt lạnh:

– Đi ra kia đứng. Minh xuống nước:

– Xin xếp thông cảm cho tôi xin lại giấy tờ. Tôi đi làm giờ nầy muộn quá rồi.

Người cảnh sát chưa nguôi giận:

– Anh nói thông cảm hả?

– Dạ xin xếp thông cảm cho tôi.

– Thông cảm suông vậy sao?

– Thưa xếp tôi chỉ biết năn nỉ xếp như vậy thôi.

Người cảnh sát mặt vẫn lạnh lùng:

– Tại sao anh lại năn nỉ tôi, hồi nãy anh hung hăng lắm mà.

– Thưa xếp hồi nãy tôi hơi nóng, mong xếp thông cảm mà bỏ qua cho.

Người cảnh sát hù:

– Anh đủ giấy tờ phải không?

– Dạ, tôi đã đưa cho xếp xem.

– Vậy thì anh có điều gì lo lắng đâu.

– Nhưng thưa xếp, tôi đứng đây đã lâu quá, tôi đi làm trễ giờ chủ tôi đuổi tôi tội nghiệp cho tôi. Cả gia đình tôi có một mình tôi đi làm. bây giờ tôi thất nghiệp thì vợ con tôi đói.

Người cảnh sát vẫn lạnh lùng:

– Rất tiếc tôi không làm gì được.

– Xếp làm ơn coi lại giấy tôi, rồi cho tôi đi.

– Giấy tờ anh thật hay giả?

– Xin thề là thật hoàn toàn, tôi đâu có giấy giả.

– Đó là lời khai của anh, còn nghi ngờ vẫn là quyền của tôi, quyền của kẻ thi hành luật pháp.

Minh quýnh quá, chàng biết mình đang gặp rắc rối nặng, chàng không còn khí phách của một người hợp lệ:

– Thưa xếp, giấy tôi có chữ ký có con dấu đàng hoàng mà.

– Giấy giả cũng có con dấu chữ ký, sao anh ngu quá vậy.

– Tôi xin thề với xếp…

– Luật pháp, một là một hai là hai, không có vụ thề bồi.

Minh càng năn nỉ dữ, người cảnh sát nói:

– Ra kia đứng chờ tôi.

– Nhưng, lát xếp cho tôi đi chứ?

– Tôi cần đưa anh về quậnxét lại giấy tờ của anh, nếu là giấy thật thì anh về còn giấy giả thì anh đi lính.

– Trời ơi xếp, xếp không thông cảm cho tôi sao, tôi còn phải đi làm nữa mà.

– Ở đây còn nhiều người có nhiều lý do hơn anh, nhưng luật pháp là luật pháp tôi không thể nào thả anh về được.

Người cảnh sát lại nhìn Minh:

– Giấy tờ anh là thứ thiệt, thì anh còn sợ gì nữa, anh giấy giả mới ngán chứ.

– Vâng, nhưng tôi không muốn mất thời giờ.

– Bộ thời giờ của anh mới quí còn thời của tụi tôi là đồ bỏ sao, thôi đừng làm mất thời giờ tôi.

Minh tức nghẹn lên cần cổ, chàng tức đến tột độ không nói được một lời nào. Người cảnh sát bồi thêm một câu:

– Giấy tờ anh tôi nghi là giả quá.

– Đâu có giả.

– Không giả sao anh lại năn nỉ tôi dữ vậy, mình là người lương thiện mình sợ gì, cho dù đi đến đâu kia mà.

– Bởi vì tôi còn phải đi làm.

– Anh đã nói vậy thì anh về quận. Thôi ra đàng kia đứng đi, tôi không có thì giờ nói chuyện với anh.

Minh biết năn nỉ cũng bằng thừa, chàng lủi thủi ra chỗ bọn người bị bắt, gã hồi nãy lại hỏi Minh:

– Thế nào?

– Không ăn thua gì hết.

– Chắc mày hát không đúng bài.

– Năn nỉ vậy chớ còn năn nỉ sao nữa.

– Về đằng quận chứ sao?

– Về thì về, ngán gì.

– Hung nhỉ?

– Chớ bây giờ làm sao, có về quận người ta cũng thả tôi.

Gã thanh niên nhún vai bỏ đi.

Một lát sau Minh thấy chiếc xe cảnh sát tà tà chạy tới, người tài xế ép sát vào lề đường, anh ta cũng là một cảnh sát viên, anh ta thò cổ ra ngoài cười với người cảnh sát đứng dưới đường:

– Hôm nay nhiều thế mày?

Người cảnh sát đứng dưới đường, mặt hầm hầm, anh ta không buồn cười với người cảnh sát ngồi trên xe, anh cau có với những người bị bắt:

– Lên xe, lên xe lẹ lên mấy ông nội. Một vài người có xe gắn máy hỏi:

– Còn xe của chúng tôi?

– Khiêng luôn lên xe, có vậy cũng phải hỏi.

Minh bực tức nhưng chàng bất lực, chàng không thể làm gì được trước quyền lực của họ chàng đành nhờ một người, trong bọn bị bắt khiêng dùm chiếc xe của chàng lên xe hơi, khi tất cả mọi người ngồi yên một chỗ, người nào người nấy mặt buồn thiu, nhìn xuống đường phố đông đảo dưới kia thở dài thở ngắn. Minh thấy có người rưng rưng nước mắt. Chiếc xe chạy lắc lư trong thành phố. Minh bỗng nhớ tới vợ tới con, chàng nghĩ bụng không lẽ người ta bắt chàng phải đi lính nữa sao. Minh bồn chồn, chàng không thể giữ hoài im lặng được, chàng hỏi một người ngồi bên cạnh mình:

– Tôi có được thả không?

Người đàn ông đứng tuổi mắt đỏ hoe nhìn Minh hỏi lại:

– Bị bắt vì không có giấy tờ hợp lệ tình trạng quân dịch phải không?

Minh lắc đầu:

– Không tôi đầy đủ giấy tờ hết, hiện người cảnh sát hỏi giấy tôi giữ.

Người đàn ông ngạc nhiên:

– Đầy đủ giấy tờ mà cũng bị bắt sao?

– Đó mới là một chuyện lạ, anh ta nghi giấy tờ của tôi giả.

Người đàn ông lạ nhìn quanh rồi nói nhỏ bên tai Minh:

– Có phải giấy giả không? Chỗ anh em cùng hoàn cảnh tôi hỏi thiệt.

– Không, tôi xin thề không phải giấy giả, tôi đã đi lính sáu bảy năm trời, tôi giải ngũ có giấy tờ đàng hoàng mà.

– Vậy thì anh không có điều gì lo ngại hết, về đến quận người ta sưu tra anh rồi người ta thả anh ngay, còn như tôi đây lần này không thể thoát được. Cách đây một năm tôi có bị bắt lính, họ đưa tôi xuống Quang Trung, họ tập quân sự, nhưng mãn khóa tôi trốn luôn, chắc lần này khó trốn lắm.

Minh không mấy để ý tới những lời tâm sự của người bạn ngồi bên cạnh, chàng nghĩ đến mình, chàng tự trách mình không khéo ăn khéo nói nên mới bị bắt oan uổng như vậy, phải chi chàng hiểu tâm lý một chút ngay từ đầu thì bây giờ chàng đâu có ngồi trên chiếc xe chật chội này. Nhưng dù muốn dù không nội trong ngày này người ta cũng thả chàng ra, chàng là người hoàn toàn hợp lệ, có phải là tội “hỗn láo” với nhân viên công lực trong khi thừa hành công vụ, nhưng điều đó không có gì quan trọng, nếu cần chàng sẵn sàng xin lỗi.

Chàng tiếc là mình mất oan uổng một buổi làm, ngày hôm nay lại là ngày chàng lãnh lương hàng tuần, chàng đã tính sẵn, buổi chiều hôm nay lãnh lương xong, chàng sẽ mua cho thằng con trai của chàng một chiếc xe đạp ba bánh, chàng đã ngắm sẵn từ bao nhiêu hôm nay, chắc chắn thằng con chàng sẽ sung sướng vô cùng, nó sẽ hãnh diện với những đứa bạn cùng xóm, không một thằng con nít nào trong xóm nhiều đồ chơi như con chàng, còn Ngọc, chàng sẽ đưa Ngọc đi may một chiếc áo dài, chiếc áo dài vải nội hóa mà Ngọc thường ao ước.

Chàng không hề nghĩ đến một thứ gì riêng cho chàng, chàng sung sướng, hãnh diện, cái hãnh diện của một người chồng thương vợ thương con. Minh lại quay sang người bên cạnh:

– Cảnh sát sưu tra mình có lâu không?

– Chóng mà.

– Buổi trưa nay tôi đã ra được chưa?

– Có thể họ xét xem ai hợp lệ thì thả ra ngay lập tức, họ không quên xin lỗi mình.

Minh lắc đầu:

– Điều đó không quan trọng tôi chỉ muốn càng ra sớm càng tốt.

– Không, thủ tục là như vậy, trường huấn luyện cảnh sát có dạy cảnh sát phép lịch sự kia mà. Họ có thể bê bối gì chớ chỗ lịch sự thì không có thể tưởng tượng được.

Minh cười nhạt, chàng không có ý kiến gì về phép lịch sự của cảnh sát cả, chàng chỉ mong ra quận cảnh sát cho mau chóng, đó đã là một điều may mắn cho chàng rồi.

Lần đầu tiên trong đời, chàng nghe nói đến phép lịch sự của cảnh sát mà phép lịch sự đó lại do trường cảnh sát huấn luyện đàng hoàng, nếu quả có thật như vậy thì cũng vui.

Chiếc xe chạy vào trong một quận cảnh sát, áp tải nhảy xuống xe trước, mặt anh ta cau có bực dọc:

– Đến nơi rồi, thôi xuống đi các cha.

Bọn người bị bắt lục đục nhảy xuống, Minh nhờ người bạn mới quen, khiêng giúp cái xe gắn máy xuống cho mình. Minh nhìn quanh, chàng không thấy người cảnh sát thu giấy của chàng hồi nãy đâu, chàng thoáng lo lắng, chàng hỏi người cảnh sát áp tải:

– Thưa xếp.

Người cảnh sát cau có:

– Chuyện gì vậy? Mang xe vào đàng kia.

Anh ta chỉ cho Minh đi theo một người cảnh sát khác, nhưng Minh vẫn đứng nán lại:

– Thưa xếp, tôi muốn hỏi xếp một điều.

Người cảnh sát vẫn giữ nguyên bộ mặt cau có:

– Hỏi gì?

– Thưa hồi này tôi có bị tịch thu giấy tờ…

– Biết rồi.

– Xếp có mang theo không? Người cảnh sát trừng mắt:

– Anh hỏi làm chi vậy?

– Giấy tờ của tôi có bị thu.

Người cảnh sát bực bội về những lời ngu xuẩn của Minh, anh ta đẩy Minh:

– Mang xe ra đàng kia, chuyện giấy tờ có hết, trốn lính bị bắt rồi than trời.

– Thưa xếp, tôi không trốn lính…. Người cảnh sát hét lên:

– Đi, tôi nói anh đi ngay không tôi nhốt anh bây giờ.

Minh biết hỏi cũng vô ích, chàng đành dắt chiếc xe đi theo người hướng dẫn, chàng đau xót khi nhìn chiếc xe của mình phải chung lộn với đám xe bẩn thỉu ngoài trời. Chàng từng nâng niu chiếc xe của mình, không ngày nào chàng không chịu khó lau chùi, hàng tuần chàng tháo máy xe ra để căn lại, chiếc xe của chàng máy móc tốt, Minh từng khoái trá khi nghe máy nổ giòn tan.

Vậy mà bây giờ, nó phải nằm chung với đám xe này, có những chiếc xe hình như để lâu ngày quá mất cả máy móc lẫn đèn đuốc. Nhưng Minh tự nhủ: Chiếc xe của mình chỉ nằm đây trong chốc lát, dù muốn dù không, chiều nay khi được thả ra chàng phải mang chiếc xe ra lau chùi lại cho sạch sẽ.

Người cảnh sát cùng đứng ngắm chiếc xe với Minh, anh ta nói:

– Coi bộ anh cưng cái xe này dữ? Minh thú thật:

– Ngoài vợ con ra tôi chỉ có xe này là đáng kể.

– Tôi cũng có một chiếc xe giống như anh nhưng không được tốt bằng.

Anh cúi xuống xem máy:

– Máy anh cũ nhưng có vẻ tốt. Minh thấy hứng thú:

– Xe tôi mua lại, tôi đưa thợ làm máy lại hoàn toàn, tôi chịu khó châm dầu nhớt nên xe rất tốt, bu-gi không bao giờ tôi dùng quá ba tháng, lửa coi như tuần nào tôi cũng canh lại, bình xăng ống dẫn xăng, tôi xem hoài, xe sở dĩ hay hư là do lửa yếu, bu-gi hay chết hoặc ngộp xăng nếu mình biết săn sóc một chút thì xe chạy tốt lắm.

Người cảnh sát có vẻ thán phục cách dùng xe của Minh, nhưng anh ta nhớ ngay tới nhiệm vụ của mình:

– Thôi, bây giờ anh theo tôi đi vô phòng giam đã, nếu có dịp mình sẽ nói chuyện nhiều về cách dùng xe.

Minh còn quyến luyến nhìn chiếc xe của mình lần cuối, chàng nói nhỏ với người cảnh sát:

– Chiếc xe của tôi không thể để lâu được chỗ này, lát nữa tôi sẽ ra lãnh xe về.

Người cảnh sát có lẽ hiểu Minh, anh ta nói:

– Ừ có phải đi lính thì anh cũng nên báo cho người nhà tới lãnh cái xe về.

Minh cãi:

– Không, tôi đi lính sao được.

– Bị bắt quân dịch mà không đi lính thì đi đâu.

– Nhưng tôi đâu có bị bắt, chỉ một sự hiểu lầm thôi mà, tôi đi lính rồi, tôi có đầy đủ giấy tờ…

Người cảnh sát lại cau mặt:

– Anh nói lạ, anh có đầy đủ giấy tờ mà anh lại vào đây.

– Ông cảnh sát bắt tôi vì nghi tôi dùng giấy giả, nhưng tôi xin thề với xếp đó là giấy tờ thật, tôi tạm thời về đây để cảnh sát sưu tra, nếu tôi dùng giấy tờ thiệt thì phải thả tôi ra chứ.

Người cảnh sát gật đầu.

Minh bị đưa vào một phòng giam tạm, căn phòng chật hẹp đầy ắp người nằm ngồi ngổn ngang. Trước khi bị đẩy vào phòng giam, Minh còn ngoái lại nói với người cảnh sát:

– Bao giờ thì tôi được sưu tra? Người cảnh sát trả lời như cái máy:

– Nội nhật ngày hôm nay.

– Nếu tôi không có tội gì thì được thả ngay chớ?

– Cái đó dĩ nhiên.

Minh than phiền vì mất một buổi làm, người cảnh sát hỏi Minh:

– Có tiền không, đưa tôi mua cơm đĩa giùm cho.

– Trong này không có cơm à.

– Có nhưng mà khó nuốt lắm.

Minh đành đưa cho anh ta mấy chục bạc mua đĩa cơm sườn và một ly cà phê đen. Minh kiếm một xó ngồi, những người cùng bị bắt lính với Minh yên phận ngồi một xó, có người tìm cách nhờ liên lạc về gia đình để báo tin.

Gã cùng bị bắt với Minh tới hỏi Minh:

– Có cần liên lạc về gia đình không, có người chiều hôm nay ra đó.

Minh tự tin:

– Tôi có trốn lính đầu, lát họ sưu tra tôi họ phải thả tôi ra. Có lẽ chiều hôm nay tôi cũng về nhà, có cần nhắn nhe gì tôi tới nói cho.

Người bạn mới không mấy tin tưởng, anh ta nghi ngờ:

– Bộ chuyện đó có thật sao?

– Ai nói dối làm chi.

Minh không ngại ngùng ngồi kể lể rành rẽ trường hợp của mình. Người bạn mới chăm chú nghe, cuối cùng anh ta kết luận:

– Tôi sợ anh kẹt vụ này.

Minh trợn mắt:

– Tại sao lại kẹt.

Người bạn mới chỉ vào ngực mình:

– Tôi là người có kinh nghiệm nhiều với cảnh sát, tôi hiểu họ hơn anh.

– Vậy là làm sao?

– Không làm sao hết. nếu họ muốn chơi xấu anh thì cũng không phải chuyện khó.

– Tôi có làm gì đâu mà họ chơi xấu tôi.

– Anh có tội là làm cho cảnh sát nổi giận, anh không hiếu thảo với cảnh sát nên anh có thiệt vào thân.

Minh khinh thường:

– Anh thiệt nói lạ.

– Không lạ đâu, cứ chờ xem.

– Chờ thì chờ…

Người bạn mới không nói chuyện với Minh nữa, anh ta kiếm một chỗ nằm, quay mặt vào tường. Người cảnh sát đã mang cơm và cà phê vào cho Minh, Minh thầm khen cảnh sát ở đây nhã nhặn, chàng cám ơn người cảnh sát rối rít, còn gần một trăm bạc Minh biếu người cảnh sát nốt. Một thằng lõi có lẽ bị bắt về tội ăn cắp ăn trộm gì đó, chờ cho người cảnh sát quay đi, nó chửi thề một câu:

– Đù mẹ lớn cái đầu mà ngu. Minh có cảm tưởng thằng nhỏ chửi xéo mình, chàng vừa ăn cơm vừa hỏi thằng lỏi. ranh.

– Ê có phải mày chửi tao không nhỏ?

Thằng nhỏ nhún vai một cái:

– Thằng nào ngu thì chửi. Minh bực mình:

– Nếu mày muốn chửi tao thì chửi đi, ranh con.

Thằng nhỏ nhìn thẳng vào mặt Minh:

– Chú có thấy chú ngu không?

– Ngu cái gì?

– Cho tiền cảnh sát có ngu không?

– À cái chuyện đó có gì là lạ đâu, người ta giúp tao thì tao đền ơn.

Thằng nhỏ cười mũi một phát thật đểu:

– Chú bị bắt lần đầu phải không?

– Rồi sao?

– Bởi vậy tôi mới nói chú ngu, chú biết quái gì, thằng cha cảnh sát vừa rồi là thằng cha thầu cơm ở đây, con vợ hắn bán cơm cà phê ngoài cổng, nói thiệt nó còn mong bán được hàng… Vậy mà chú còn cho tiền nó, còn cám ơn rối rít nữa, vậy không phải ngu sao?

– Mày rành dữ.

– Không rành sao được, tôi vô đây hoài hoài mà, tôi còn lạ lùng gì mấy thằng cha cảnh sát này.

Minh không giận thằng nhỏ, chàng tò mò:

– Bộ bị bắt hoài sao?

– Bị bắt hoài.

– Tội gì?

– Đủ thứ tội, ăn trộm ăn cắp, móc túi, ối nhiều thứ lắm, hơi sức đâu mà kể cho hết được.

Thằng lỏi nói một hơi tội trạng của mình, không một chút ngượng ngập. Nó tự kể tội mình một cách trơn tru, cái miệng nó như thoa mỡ thoa dầu:

– Nói cho chú biết, hồi tôi năm tuổi tôi đã bị bắt vào quận này rồi.

– Năm tuổi mà mày cũng bị bắt?

– Chú lạ lắm sao? Có đứa bốn tuổi cũng bị bắt rồi, ăn cắp ăn trộm đâu có đợi tuổi, mà cảnh sát bắt cũng đâu có đợi tuổi làm gì.

– Thiệt chúng mày quá xá, tao đâu có ngờ vậy.

Thằng lỏi con ranh mãnh ra mặt, nó bắt đầu tán Minh:

– Nghe tôi kể chuyện vậy có cảm động không, tội nghiệp chứ?

Minh cùng đoán được phần nào lòng dạ thằng nhỏ:

– Mày muốn gì?

– Nếu ăn ngon lành một mình như vậy, chú còn cảm động được với cảnh sát, thì với tôi hoàn cảnh còn cảm động hơn nhiều.

– Mày muốn xin tao một dĩa cơm chớ gì?

Thằng lỏi nhe hàm răng sún cười:

– Nói ra thì “ngợm”, chớ thiệt vậy đó.

– Mày láu cá quá vậy?

– Bộ cảm động muốn cho tôi một đĩa cơm thật sao?

– Tao chỉ có thể cho mày một đĩa cơm tôm.

– Chỉ cần có vậy thôi, đĩa cơm tôm năm chục đồng, được vậy là tốt rồi, đưa tiền tôi hành thằng cha cảnh sát già cho coi.

Minh đưa năm chục đồng cho thằng lỏi, người cảnh sát già còm đứng ngoài song sắt, thằng lỏi đến gần lên tiếng:

– Ê ê…

Người cảnh sát quay lại:

– Cái gì vậy?

– Đĩa cơm tôm.

Người cảnh sát khinh khỉnh:

– Mày ăn?

– Chớ sao, tôi cũng có tiền chớ bộ. Người cảnh sát chìa tay ra:

– Đưa tiền đây.

Thằng lỏi liệng tiền ra ngoài:

– Đĩa cơm tôm chan nhiều nước sốt nghe?

Người cảnh sát già nhẫn nại lượm tiền lên:

– Bận sau mày không có đưa tiền kiểu đó nghe?

Thằng lỏi chối leo lẻo:

– Tôi hụt tay chớ bộ.

Người cảnh sát quay đi, thằng lỏi quay lại nhe hàm răng sún cười với Minh:

– Chú thấy chưa, tôi có tiền cũng bảnh như ai, tôi có phải cám ơn ai đâu, vậy mà có nói chú là ngu thì chú giận.

Minh không biết nói sao chàng chỉ lắc đầu.

Uống xong ly cà phê, Minh tìm một chỗ nằm đỡ lưng. Người cảnh sát đã mang cơm vào cho thằng lỏi, thằng lỏi chê bai om sòm nào là cơm nguội quá, bán mắc. Nó làm cho ông cảnh sát già nổi cáu lên, ông ta chửi thề nhoi:

– Đù mẹ, có mấy chục bạc mà mày hành tao dữ vậy.

Thằng lỏi cãi liền:

– Cơm nầy tôi mất tiền mua mà, tôi có phải ăn cơm tù đâu.

– Mày coi chừng chết mẹ bây giờ.

Người cảnh sát không còn muốn gây với thằng lỏi nữa, ông ta quay ra ngoài không quên mang những chén đũa dơ của những người đã ăn xong, thằng lỏi vừa ăn vừa ca hát om sòm. Mấy cô điếm bị giam chung bực mình chửi bới rùm lên, phòng giam lại náo loạn lên. Buổi trưa đi qua một cách chậm chạp, Minh thấy những nhân viên cảnh sát đã trở lại làm việc, chàng mừng khấp khởi, có lẽ họ đang xét trường hợp của chàng, chiều nay chàng về nhà kẻ chuyện nầy cho vợ con nghe cũng vui ra phết, ồ, lâu lâu trở lại nhà giam một lần cũng thú vị, Minh sửa soạn lại quần áo, chàng phủi một vài vết dơ trên quần áo, chàng không thề ra khỏi quận cảnh sát nhơ bẩn như thế này, cảnh sát bắt đầu gọi tên những người bị bắt giải lên tổng nha hay đưa ra tòa, có người được tự do, Minh nhẫn nại chờ, thế nào cũng đến lượt chàng, Minh khều tên bạn đứng gần cạnh:

– Chắc người ta sưu tra xong rồi.

– Mấy thằng bị bắt trốn lính như mình cũng sẽ bị giải đi Quân Vụ Thị Trấn chiều hôm nay.

– Tôi được ra.

Anh ta đã nghe tâm sự của Minh, anh ta nói một cách lửng lơ:

– Cũng có thể.

– Chắc chắn chớ cũng có thể sao được.

– Anh hợp lệ tình trạng quân dịch mà anh ở đây, anh nói sao vô lý thế…

Mồ hôi lấm tấm trên trán Minh, chàng không còn bình tĩnh nữa, chàng cảm thấy ngộp trong không khí khó thở này.

Người cảnh sát lật cuốn sổ:

– Tên anh là gì?

– Dạ thưa Minh, Hoàng Minh…

Người cảnh sát bới tìm trong đám căn cước, ném cái thẻ của Minh ra:

– Có phải cái thẻ này của anh không?

– Dạ đúng.

– Đó là giấy tờ của anh.

– Thưa còn những giấy tờ kia. Người cảnh sát lắc đầu:

– Không còn giấy tờ nào khác ngoài cái thẻ căn cước của anh.

Minh muốn kêu trời lên nhưng chàng bình tĩnh:

– Tôi còn giấy giải ngũ, tướng mạo quân vụ nữa.

Người cảnh sát không nén nổi tức giận quắc mắt, đập xuống bàn:

– Anh muốn gì, anh định đổ cho cảnh sát lấy giấy tờ của anh phải không?

– Dạ không tôi nói sự thật.

– Sự thật anh chỉ có cái thẻ căn cước này mà thôi, anh trốn lính, người ta thấy anh không đủ giấy tờ hợp lệ nên mới bắt vào đây, anh nên coi chừng lời nói của anh…

Mồ hôi Minh toát ra đầm đìa, chàng quệt tay ngang trán, chàng định nói nữa. Người cảnh sát quát ầm lên:

– Đừng có lộn xộn, anh muốn qua mặt cảnh sát phải không?

Minh cố gắng trình bày để người cảnh sát hiểu hoàn cảnh của chàng hơn, chàng cũng nói cả chuyện người cảnh sát xét giấy nghi giấy chàng giả mạo nên mang về quận sưu tra. Cuối cùng Minh nói:

– Thưa xếp có mấy anh em ở đây làm chứng, tôi không dám gian dối, tôi có đưa những giấy tờ ấy cho cảnh sát.

Người cảnh sát nhìn những đám người trốn lính bằng nữa con mắt ông ta lắc đầu:

– Anh tính mang cả mấy thằng bị bắt ra làm chứng cho anh hả? Tôi nói cho anh biết họ không đủ tư cách anh biết không? Còn ai là người giữ giấy của anh?

– Dạ ông cảnh sát.

– Ông cảnh sát nào?

– Thưa tôi làm sao biết được, tôi chỉ biết người cảnh sát ở quận này.

Người cảnh sát bực mình, chỉ vào ngực mình:

– Anh không thấy người cảnh sát nào cũng đeo số trước ngực sao, người cảnh sát nào giữ giấy của anh, anh phải nhớ số chớ, số bao nhiêu? Anh cho tôi biết, tôi sẽ kêu người ấy ra đây.

Minh chợt nhận ra hố to, chàng bực mình, không hiểu tại sao mình lại ngu đần, đến mức ấy được chớ, đưa tất cả giấy tờ quan trọng cho người ta mà không chịu nhớ số của họ, Minh thành thật lắc đầu:

– Sự thật tôi không để ý đến điều đó, nhưng nếu bây giờ tôi gặp được mặt tôi nhớ.

Người cảnh sát hít một hơi thuốc, nheo mắt với Minh hỏi một câu ngang xương:

– Giữa anh và ông có quận trưởng ở đây là thể nào?

– Thưa có gì đâu.

– Tôi tưởng anh là ông nội của ông cò, anh mới dám đề nghị bắt cảnh sát xếp hàng ra nhận diện, anh là thằng láo, hoàn toàn láo, tôi làm phước tha cho anh tội láo thì bây giờ anh đi đi, anh làm mất thời giờ của tôi nhiều rồi.

Ông ta ra hiệu cho người cảnh sát kia xô đẩy đám người bị bắt lính ra ngoài sân, Minh uất ức, chàng uất đến không nói được một lời nào cả, chàng bật khóc, giọt nước mắt lăn dài trên gò má rám nắng. Người bạn đi bên cạnh an ủi:

– Thôi coi như chuyện đã rồi. Minh cáu kỉnh:

– Chuyện đã rồi sao được họ xử ức tôi.

Người bạn thoáng nụ cười khinh mạn:

– Hãy vặt đầu gối ra mà nói chuyện.

Chiếc xe cây đã nổ máy, ngoài sân người cảnh sát áp tải xô đẩy đám người bị bắt ra xe. Minh vùng vằng không muốn lên xe. Người cảnh sát dọa:

– Nếu anh còn cứng đầu bắt buộc tôi phải dùng biện pháp mạnh với anh.

Minh đành lên xe. Vài ba người cảnh sát khác súng cầm tay cũng leo lên xe ngồi chắn cửa ra vào, chiếc xe chuyển bánh ra khỏi quận cảnh sát. Minh chợt nhìn thấy người cảnh sát hồi sáng giữ giấy tờ của mình, chàng la lên:

– Đó đó, chính thằng cha cảnh sát đó.

Mấy người cảnh sát áp tải quay lại quắt mắt:

– Cái gì vậy chú mày?

– Người cảnh sát đó lấy giấy tờ của tôi.

Người cảnh sát áp tải bực mình dùng báng súng đẩy vào bụng Minh làm chàng ngả ngồi xuống.

Chiếc xe chạy ra khỏi ty cảnh sát. Minh ôm đầu khóc như đứa trẻ.

Khi Minh ngước lên nhìn chàng bắt gặp nhiều khuôn mặt lạnh lùng như băng giá, ánh nắng gay gắt buổi trưa chiếu trên những mái đầu tóc còn xanh hoa râm, cũng có những khuôn mặt còn non choẹt, và những khuôn mặt đã có một vài vết răn răn. Minh không nhìn xuống đường nhưng chàng biết xe đang chạy trong thành phố, Minh thấy mình hoang mang như chàng tỉnh cơn ác mộng, chàng nhìn hết khuôn mặt nọ đến khuôn mặt kia, Minh chợt nhìn thấy một dòng nước mắt từ một khuôn mặt nhăn nheo, người đàn ông bỗng gục mặt xuống khóc rưng rức. Mấy người cảnh sát lạnh lùng, họ mời nhau điều thuốc.

Ó đen

Lý Tống

Post by Sơn râu 19 Apr 2025

Phần 4

Trốn Thoát Khỏi Việt Nam   

Sáng 23 tháng 9 năm 1981, ngày lễ Nam Kỳ Nổi Dậy của Việt Cộng, tôi thức dậy sớm, đeo túi hành trang lên vai, bước xuống thang gác nhẹ nhàng, thận trọng. Tôi mở cánh cửa sắt, kéo chậm và kín đáo hầu như ôm nâng cả khối sắt thép để khỏi gây tiếng động đánh thức cả nhà đang say ngủ và những nhà hàng xóm lân cận sát nách. Không khí ban mai mát lạnh ập vào xuyên suốt qua lớp áo quần mỏng và cũ. Những bóng dáng lẻ tẻ, lầm lũi của những người lao động, của những chị bán hàng thấp thoáng ẩn hiện trong ánh sáng mờ nhạt của những ngọn đèn đường. Tôi tiến về hướng đường Trần Hưng Đạo, chỗ bến xe buýt đi Xa cảng Miền Đông. Chiếc xe buýt đầu tiên trong ngày khật khưởng tiến lại trong dáng ngái ngủ. Tôi chen chúc tìm một chỗ đứng trong đám đông chật chội.

Cái làn da đen lem luốc mà tôi đã phải ngâm cả tiếng đồng hồ trong chậu chứa nước nhuộm để giả làm người Khmer trông không hoàn hảo lắm, bởi vì thuốc nhuộm không được tốt. Có một thứ hàng hóa nào sản xuất tại Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa nầy có phẩm chất tốt đâu. Tuy nhiên cái màu giả tạo đó cũng làm tôi có cái vẻ một người lao động chân chính hơn là làn da trắng của một dân chơi, một dân cậu, không phù hợp trong cái xã hội mới nầy.

Cái xách đựng mấy kí mì khô mà suốt bốn, năm tiếng đồng hồ hôm qua tôi đã phải ngồi giã cho vụn, nhuyễn ra bằng một cái chày nhỏ và một cái cối gỗ đến rã cả tay để biến cái đống mì sợi khổng lồ thành một khối tương đối nhỏ bằng một phần năm thể tích nguyên thủy vẫn còn có vẻ cồng kềnh. Cảm giác của một chuyến đi xa, của những bất trắc đang rình rập, của một hy vọng mù mờ, cháy leo lét trong những phần cảm xúc sâu xa. Xe vẫn tiếp tục dừng lại nhiều chặng đường để đón thêm khách, mặc dù khối người hỗn độn cố chèn ép nhau để tìm một chỗ đứng, đã cảm thấy khó thở vì ngột ngạt.

Những cổng trại Quân Đội Nhân Dân, những đồn bót xuất hiện lẻ tẻ khi xe bắt đầu rời khỏi thành phố, những phần đất thân thương yêu dấu của một thuở rong ruỗi ngày xưa đang ẩn náu nhiều thù địch, hiểm họa. Không hoàn toàn trông cậy vào những giấy tờ giả trong người trước những tên Công an chuyên nghiệp đang chờ chực ở từng trạm kiểm soát để lục lọi, tìm kiếm và để làm tiền, tôi vẫn chuẩn bị những phương thức khẩn cấp phòng hờ để thoát thân nếu bị bại lộ. Con đường vẫn bình yên, bởi vì những hiện thân của Xã hội Chủ nghĩa kia, có lẽ sau đêm thỏa mãn nhờ bắt địa được một chầu nhậu, một cuộc tình, đang lười biếng với giấc ngủ muộn. Tôi đến bến xe Xa cảng Miền Đông và tìm phòng bán vé sắp hàng.

Phương tiện chuyển vận đã trở thành hiếm hoi và khó khăn thêm mỗi ngày, những chiếc xe Liên Xô đã dần dần chiếm đa số trong những chiếc xe tạm sử dụng được còn sót lại từ chế độ cũ. Gọi là xe Liên Xô vì nó vừa có nghĩa Russia, vừa có nghĩa phải liên tục xô đẩymới chạy bởi vì những bình điện đã hỏng không được thay, và hành khách có nhiệm vụ thay thế demajeur để đẩy cho xe nổ máy.

Hành khách đứng sắp thành từng hàng dài. Sắp hàng là một hình thức văn minh của các nước tân tiến để giải quyết công việc nhanh chóng và công bình. Với Cộng Sản, sắp hàng là một hình thức làm trì trệ và phiền nhiễu dân chúng, bởi sự khan hiếm trầm trọng của phương tiện chuyển vận và bởi cách làm việc thiếu trách nhiệm, và tinh thần tham nhũng của Cán bộ Cộng Sản. Tôi xếp vào hàng ưu tiên của Công Nhân viên và Bộ đội, vì tôi đang sử dụng giấy đi công tác giả mạo.

Một chút lo lắng và hồi hộp. Những cặp mắt trần tục kia cuối cùng không khám phá được tung tích của tôi bởi vì cái phong thái Công nhân của tôi được đóng xuất sắc, bởi vì sự tinh xảo của những tay chuyên nghiệp làm giấy tờ giả.

Tôi lên xe ngồi đúng số ghế và liếc mắt quan sát hành khách. Một số ít Bộ đội ngồi lẫn lộn trên xe, một cô gái ngồi bên cạnh và một cụ già ngồi trước mặt. Tôi có thói quen tin cẩn phụ nữ và người già, bởi vì hai giới người đó thường tốt bụng và dễ tin người. Tôi thường giới hạn nói chuyện hoặc tiếp chuyện, và thường khi phải làm vẻ mệt mỏi buồn ngủ để khỏi tham dự hoặc trả lời những kẻ nhiều chuyện, thích cà kê dê ngỗng.

Nói là bạc, im lặng là vàng. Câu châm ngôn đó vĩnh viễn có giá trị. Nhưng im lặng không có nghĩa là cứ câm như hến trên suốt đoạn hành trình, bởi vì tôi chưa rành đường và cần phải hỏi một vài tin tức cần thiết. Chọn lựa kỹ càng đối tượng, tôi bắt chuyện một cụ già.

—     Thưa bác. Bác đi Tây Ninh hay Gò Dầu Hạ?

—     Tôi đi Tây Ninh. Ông cụ trả lời.

Tôi gợi chuyện tiếp:

—     Cháu làm việc dưới miền Tây. Nhân tiện về Sàigòn có người bạn cùng Tổ hợp nhờ cháu ghé nhà anh ấy ở Gò Dầu Hạ để gởi một ít quà. Cháu chưa từng ghé Gò Dầu Hạ. Bác có thể chỉ dùm lúc nào đến chỗ để cháu xuống xe.

—    Vậy hả, nhưng nhà bạn cháu ở đâu tại Gò Dầu Hạ?

—    Thưa bác, cạnh cái lò nấu đường ở gần cầu đó. (Đây là những tin tức tôi thăm dò được khi nói chuyện với một người tài xế ở Sài Gòn).

—    À! Tôi biết rồi. Vậy cậu xuống ở ngã ba đằng kia. Đón xe đạp thồ hai đồng đi qua chợ. Qua cầu, kiếm phía tay phải.

—    Cám ơn bác.

Tôi xuống xe đúng ngay chỗ chỉ dẫn và làm đúng lời chỉ dẫn. Những người đạp xe thồ ùa đến đám hành khách mới xuống xe để tranh mối. Sàigòn, các Tỉnh lỵ, nói chung Việt Nam, càng ngày càng phát minh ra nhiều nghề mới. Cái khó bó cái khôn đã trở thành lỗi thời. Sự khốn khó đã làm cho con người càng ngày càng khôn hơn, dù sự khôn ngoan đã trở thành khôn lỏi hoặc khôn vặt. Cả một dân tộc đang trở mình, đang quằn quại uốn mình để tìm một lối sinh tồn thích hợp trong thời buổi khó khăn, khắc nghiệt. Nhiều chú bé, cô bé đang tuổi đến trường cũng đã phải bỏ trường lớp để lăn lộn với cuộc mưu sinh. Miếng ăn, manh áo đã làm cho con người chóng trưởng thành và chóng trở thành thù địch với nhau.

Tôi đi bộ qua cầu. Một trạm xe lam, một dãy quán hàng luộm thuộm nhà tranh vách lá nằm túm tụm bên đường. Tôi kiếm một ghế ngồi, kêu món điểm tâm và giải khát. Ăn uống là một nhu cầu, nhưng chỗ ăn uống cũng là nơi để tìm hiểu nhũng điều cần biết. Tôi quan sát sự sinh hoạt và nghe ngóng, tôi đã biết trước rằng từ đây lên đến biên giới Việt—Miên đoạn đường chỉ trong vòng hơn mười cây số nhưng phương tiện nào thuận lợi nhất để đi đến đó?

Đó là điều tôi đang cần tìm hiểu, cuối cùng tôi chọn lựa giải pháp là gọi một chú bé chạy xe đạp thồ và trả giá cho cuổc xe sắp tới. Đường xấu, ngược gió và nhiều ổ gà, cái thân hình nhỏ bé phải vật lộn với từng vòng bánh xe lăn để sinh tồn. Tôi đề nghị mình thay thế khi chú bé bắt đầu mệt mỏi. Lâu ngày không đạp xe, hai chân tôi mỏi nhừ sau một đoạn đường ngắn, tôi tự nhủ:

—    Chỉ mới một chặng đầu gian lao mà ta không cố gắng được, làm sao hoàn thành được cuộc hành trình gian khổ xa vời vợi kia?

Ý nghĩ đó giúp tôi vượt thắng được những phản đối, yêu sách của đôi chân, của gân cốt, bắp thịt háng và mông đít. Tôi gợi chuyện cùng chú bé:

—    Em còn đi học không?

—    Học hành gì nữa chú! Em bé tiếp tục với giọng chán chường. Em là con ngụy, Bố em cải tạo chưa về, Mẹ em vất vả vẫn không đủ nuôi thân. Em phải phụ giúp gia đình để sinh sống và để có chút tiền thỉnh thoảng đi thăm nuôi Bố.

—    Chú nghe nói ở Gò Dầu Hạ dễ làm ăn hơn Sàigòn mà?

—    Dễ là dễ vối tụi cớm, với đám con buôn có thân nhân liên hệ với Cách Mạng, chứ với gia đình Ngụy, còn lâu! Toát mồ hôi kiếm được chút tiền, lắm lúc không đủ cho tụi nó bắt địa. Mình mà không chịu tốn kém, lại phải đi kinh tế mới, còn cực khổ trăm phần. Mà để được yên ổn, để có thể biết điều, chỉ còn cách còng lưng làm việc và còng lưng cõng các Ngài Cách Mạng mà thôi.

Biết được tâm sự của em, tìm được người đồng hội đồng thuyền, tôi bắt đầu cởi mở câu chuyện:

—    Thế tại sao em không liều qua lại biên giới buôn bán hàng lậu dễ kiếm tiền hơn không?

—    Buôn bán cũng phải có vốn, cũng phải quen biết nhiều. Kiếm tiền thấy cũng dễ, nhưng kiếm được bốn năm lần, nó chận một vố, mất cả vốn lẫn lời. Không ở tù cũng sạt nghiệp, thôi thà cứ thế nầy mà chắc ăn hơn.

—    Vậy em chưa từng đi qua biên giới lần nào sao?

—    Em thì không nhưng bạn bè em thiếu gì đứa. Tụi nó nghề lắm, thường xuyên qua lại biên giới nên biết nhiều mánh lới. Đi đường nào, đi lúc nào, dấu diếm hàng thế nào, chạy làng thế nào. Tuy nguy hiểm, nhưng một số tụi nó vẫn tiếp tục.

—    Gần đến biên giới chưa em?

—     Còn vài cây số nữa. Mà chú định đi đâu vậy? Hình như chú không phải là người ở đây hả?

—     Không. Chú ở Sàigòn. Nghe nói trên nầy đi buôn hàng lậu biên giới dễ kiếm tiền, chú định lên xem thử, coi làm ăn có được không để liệu đường.

—     Nếu chú muôn qua biên giới, cháu sẽ giới thiệu mây thằng bạn cháu.

—     Có phải trả tiền nhiều lắm không?

—     Chừng vài chục thôi à.

—     Vậy làm thế nào để chú gặp bạn cháu?

—     Đến chỗ cái gốc cây ở ngã ba đường kia, nơi có cái mả xi-măng lớn, chú đợi đó, cháu sẽ đi gọi.

Tôi xuống xe đứng quanh quẩn chờ đợi. Một người thợ hớt tóc lớn tuổi đang ngồi nhẩn nha nhổ râu mép đợi chờ những người khách hiếm hoi. Tôi châm thuốc hút, làm vẻ tự nhiên như đợi người nhà.

Tôi chọn đường Gò Dầu Hạ thay vì Tây Ninh do những kinh nghiệm bay bổng trong thời kỳ hành quân sang Kampuchia đánh vào tận căn cứ đầu não chủ lực của Cộng Sản. Tây Ninh, Đồn điền Chúp, Kampong Chàm, Snoon, Prek… bao nhiêu ngày đã miệt mài qua lại. Những con đường chết nằm trơ trọi giữa những cánh rừng ngút ngàn, những buôn làng đã bị đánh phá hoang tàn.

Này Kampong Trabek lần đi bay với Bạch Văn Thành. Bạch Văn Thành là một đại úy observateur có tiếng lì và bạt mạng. Đi bay chung với Thành là một nỗi đau khổ của các Phi công. Những anh Phi công già nặng nợ vợ con, lo kiếm tiền kiếm bạc gặp Thành là rầu thúi ruột. Còn những anh Phi công trẻ mới ra trường, nếu hăng tiết vịt, nghe Thành xúi ăn cứt gà thì có ngày bỏ mạng sa trường. Bởi vì bay với Thành là phải tìm cảm giác mạnh, phải đùa với lửa Thành mới vừa lòng. “Mỗi lần bay về mà không mang theo vài vết đạn thì chưa phải đi bay,” Thành vẫn hung hăng tuyên bố.

Ngày đầu mới về Phi đoàn 122, tôi cũng đã được vài bạn briefing về Thành nhưng có lẽ Thành còn biết tôi nhiều hơn ngay cả khi tôi chưa về đến Phi đoàn, bởi vì khi Phi đoàn vừa nhận được công điện báo sắp chuyển đến một Phi công mới tên Lý Tống là cả Phi đoàn đã xì xào về những thành tích bất hảo trong quá khứ của tôi. Thành chỉ đợi tôi được Huấn luyện Hành quân xong là ngỏ ý đi bay chung với tôi để thử sức và tôi cũng hân hoan nhận lời để xem thử Thành lì đòn đến mức nào.

Thành nghĩ tôi mới ra trường chắc còn bỡ ngỡ, chưa biết chấm tọa độ rành nên ngồi ghế sau cứ nhắc. Nào chỉnh sang trái một tí kẻo bị lệch hướng, nào còn mười dặm nữa sẽ đến target, tôi cứ im lặng mỉm cười không trả lời. Thành quên rằng, trong thời gian đó, các phi cơ quan sát ngoài nhiệm vụ hướng dẫn phi cơ khu trục do Phi công Việt Nam lái, còn phải hướng dẫn cả các phi cơ do các Phi công Mỹ từ Đệ Thất Hạm Đội vào để đánh bom. Tôi là một trong các Phi công Quan sát tương đối nói tiếng Anh thông thạo nên còn được huấn luyện đặc biệt để kềm hoặc giúp đỡ các observateur kém tiếng Anh và tôi còn có cả bằng Quan Sát viên danh dự sau khi tốt nghiệp Khóa Huấn luyện Dẫn FAC Mỹ (Forward Air Controller).

Thành cứ hối tôi, sao sắp đến mục tiêu mà không giảm cao độ đi, tôi vẫn cứ ù lì, bỗng nhiên Thành vỗ mạnh vào vai tôi và la lớn: “Phi cơ hỏng máy rồi, tôi không còn liên lạc vô tuyến được nữa.” Thành hốt hoảng vì thấy phi cơ đột nhiên rơi xuống quá nhanh mà không biết là tôi đã cố ý tắt máy chơi để dọa Thành. Nếu phi cơ L19 có nút bấm nhảy dù như các loại phi cơ phản lực khác chắc Thành đã nhảy dù ra khỏi phi cơ khi thấy phi cơ đang rơi xuống theo thế triệt nâng stall.

Chờ khi phi cơ đã gần tới đất tôi bấm nút start để mở máy lại. Cũng may là bình điện còn mạnh và phi cơ còn tốt, nên máy nổ lại ngay và đủ sức phóng lên. Tuy vậy bụng phi cơ cũng suýt chà lán các xe vận tải của Việt Cộng đang cuống quýt chạy lủi vào lề để né tránh tai nạn. Tuy thoát khỏi crash trên đường, nhưng phi cơ không thoát khỏi một tràng đạn AK bắn thủng từ dưới bụng và xuyên suốt qua chiếc ghế Thành đang ngồi, năm viên đạn chộp trật Thành trong gang tấc. Từ đó Thành bớt hung hăng, bớt dỡn mặt với các Phi công bay chung với mình.

Rồi kia là Damber, chiến trường sục sôi lửa đạn từng giờ, ban ngày thì Nhảy Dù Mũ Đỏ làm chủ trận địa, đến đêm Cộng quân tràn ngập biển người. Tôi bay L19 hướng dẫn thả bom, chui luồn dưới những quả đạn pháo giao tranh của trận địa pháo. Cũng chính vì sự liều lĩnh của mình đã gây nên một hậu quả tai hại. Sau khi tôi vừa bàn giao tình hình chiến trường, phi cơ phiên kế tiếp vì sự nói khích của phe bạn dưới đất: “Biên Hòa bay yếu quá. Phải chịu chơi như Phi công Cần Thơ thượng phiên coi nào!” nên tự ái, đã từ cao độ bình thường ba bốn ngàn bộ giảm ga lao xuống thấp. Không may, chỉ vừa làm hai vòng low pass, phi cơ bị bắn đứt đôi, đâm đầu vào một hố nước sâu, phi hành đoàn hai người đều tử nạn. Chết sống thật khôn lường, mới còn đó đã mất đó. Kẻ sống, người chết, dù cùng một cảnh ngộ, trái đạn hình như có mắt, biết tránh những người cao số và tìm đến nhũng người vắn số.

Tôi lại nhớ ngày biệt phái Phú Quốc. Vị quận trưởng mới đổi về rất quí mến Không Quân, khi có giờ rỗi thường cùng chúng tôi đi bắn cá và ăn nhậu trên bờ biển. Ông dành một phòng riêng cho Phi Hành đoàn ở Quận đường và mỗi bữa cơm đều mời đủ mặt chúng tôi. Chúng tôi bay biệt phái nửa tháng nên lúc ngủ tại Dương Đông, lúc ngủ tại An Thới, phi trường ở phía Nam Phú Quốc.

Một hôm đang tiệc nhậu, sực nhớ cái hẹn ở An Thới, vì chữ tín, tôi đành rời cuộc vui, ra phi cơ cất cánh mặc dù trời đã tối. Bay đến An Thới, phần Phi trường không có đèn, phần đêm không trăng sao, chúng tôi không tìm thấy phi đạo. Máy vô tuyến FM hỏng. Tôi bay lượn trên Tiểu khu nhiều vòng, nhờ Sĩ quan trực đem xe jeep ra chiếu sáng phi đạo nhưng Sĩ quan trực vắng mặt. Sau khi bay thấp nhiều vòng, lấy bờ biển loáng thoáng lờ mờ làm đường chuẩn để xác định vị trí phi trường, tôi liền đáp theo linh tính. Bánh phi cơ suýt móc vào dãy hàng rào thép giăng ngang đầu phi đạo trên đường cận tiến final approach. Thật là một cú đáp hú hồn nhất trong đời bay bổng, bởi vì vừa thoáng thấy phi đạo là phi cơ đã chạm bánh ngay. Nếu bay lệch, phi cơ đã đâm đầu vào các thùng phuy chứa dầu hoặc các chướng ngại vật khác nằm hỗn độn hai bên đường bay.

Đến nửa đêm nghe báo động là quận Dương Đông đang bị địch tấn công bằng B40. Bộ đội đặc công Việt Cộng tràn ngập vào Quận đường, bắn sập phòng Quận trưởng và phòng Phi Hành đoàn. Sáng sớm, chúng tôi bay trở lại Dương Đông chỉ kịp đắp tấm drap trắng phủ lên thân thể vị Quận trưởng bị bắn nát bởi hàng trăm viên đạn, một nửa khuôn mặt bị mảnh hỏa tiễn chém bay mất. Nhìn những người nằm chết, tôi thấy rùng mình. Ôi! Tối hôm qua nếu tôi không vì chữ tín mà bỏ cuộc vui, ở lại ăn chơi và ngủ tại Dương Đông, thì trong đống gạch đá vụn nát, trong ngôi phòng sụp đổ tan tành kia đã có xác thân tôi dập vùi trong đó!

Số sống không chỉ dàn xếp cho con người muốn sống còn sống được trong hoàn cảnh hiểm nghèo, mà ngay cả kẻ muốn chết vẫn còn dịp để tiếp tục sống. Những ngày cuối cùng khi phần lớn miền Trung Việt Nam đã thất thủ vào tay Cộng Sản Bắc Việt, tôi đã chuẩn bị cho mình một cái chết hữu ích. Người ta thường nghĩ tự tử là hèn nhát, thế mà kinh qua những giai đoạn sống, tôi lại cảm thây rằng: tự tử là hành động của những kẻ can đảm nhất. Những kẻ hèn nhát ít khi dám tự tử, họ có thể làm bất cứ hành động nào tồi tệ, bẩn thỉu, hèn mạt nhất để tiếp tục được sống, dù là đời sống của một con vật.

Tôi chỉ thấy được những kẻ hoặc quá can đảm mà tự tử, hoặc quá can đảm để luôn luôn sẵn sàng chấp nhận cái chết một cách hào hùng. Một Cường già thà uống thuốc độc tự tử, không chịu khai những bí mật của cơ sở và đồng đội liên hệ, những người lính Nhảy Dù rút chốt lựu đạn nổ banh xác khi Cộng sản tràn ngập khắp nơi vì không chịu đầu hàng kẻ địch. Các vị tướng Nam, tướng Hưng tự bắn vào tim, vào đầu khi Sàigòn thất thủ vì không thể tử thủ giữ miền Tây, sợ tổn thất sinh mạng của dân chứng.

Và trong lúc tinh thần vững mạnh nhất, tôi cũng đã chuẩn bị tự tử một lần mà bất thành. Số là sau khi Đà Nẵng, Cao Nguyên, và kế tiếp Nha Trang bị rơi vào tay bọn xâm lược, tôi biết rằng thế nước, vận nước đã tới hồi suy sụp không thể nào cứu vớt nổi bởi vì tinh thần hoang mang, lung lạc của quân nhân các cấp, của lòng dân mệt mỏi chán chường.

Tôi đã dự trù sẽ ném bom vào các bộ phận đầu não đã gây nên cảnh tan nát, sụp đổ của mỉền Nam Việt Nam. Bốn thế lực chính đã bằng cách nầy hoặc cách khác, góp tay vào tình trạng hỗn loạn, bi thảm của Việt Nam: Cộng Sản Bắc Việt, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Hoa Kỳ và Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu.

Tôi sẽ cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất, ném hai trái bom đầu tiên vào trại Davis nằm gần phi đạo, trong đó các thành phần đại diện của Cộng Sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trong Ủy Ban Liên Hợp bốn thành phần đang trú ngụ. Xong quẹo về phía Tòa Đại Sứ Mỹ ném hai trái. Hai trái cuối cùng sẽ ném vào Dinh Độc Lập. Sau khi bay một vòng vẫy chào Sàigòn lần cuối, xong tôi sẽ đâm máy bay vào Dinh Độc Lập để kết liễu đời mình. Trong phi vụ đó, tôi sẽ liên lạc trên tầng số Paris để báo cáo về mục đích của hành động của mình, và sẽ kêu gọi Chiến hữu mình phải có hành động quyết liệt hơn cho số phận của Đất nước, Dân tộc và bản thân mình.

Tôi đã bay trên không phận Sài Gòn nhiều lần để nghiên cứu các mục tiêu, và kế hoạch thi hành phi vụ tự vẫn đó, thế mà trước ngày thực hiện ý định mình, tôi đã bị bắn rơi tại Cam Ranh. Tôi không có dịp chết hữu ích như mình dự định, và ngay cả khi bị một trái hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 bắn trúng cắt đứt đôi chiếc tàu bay, tôi lại vẫn bình an không hề bị một vết thương nhỏ, mặc dù từ xưa đến nay, chưa từng có một Phi công nào còn sông sót khi bị trúng hỏa tiễn SA7! Số mệnh. Có ai không tin số mệnh sau những biến cố kinh hoàng như thế? 

Vượt Biên Giới Kampuchia 

Tôi đứng chờ không lâu thì chú bé dẫn đến một người bạn lớn hơn. Trông dáng dấp, tôi biết ngay chú bé bạn là một tay lỏi đời, một tay không vừa. Vâng. Cuộc sống tranh cạnh, bon chen đã dạy cho một số em bé cách sống và cách đốỉ xử đặc biệt, đã đục đẻo khắc chạm những đường nét đặc thù lên khuôn mặt và nhân dáng. Tôi không nhầm với những xét đoán đầu tiên. Tôi chỉ ngạc nhiên là hai em bé hoàn toàn khác nhau, đốỉ nghịch nhau, lại là bạn của nhau.

—     Chú cho tôi 200 đồng. Câu nói đầu tiên của chú bé mới đến.

—     Hai trăm đồng? Sao nhiều thế? Bạn cháu bảo là vài chục thôi mà?

—     Nó biết gì đâu. Đường đi lại bây giờ khó khăn lắm. Càng khó, tiền công càng phải đắt, phải cao, thế thôi.

—     Thôi 50 đồng. Tôi trả giá.

—     Phải 200 đồng vì đó là giá cả hiện tại, ai cũng vậy thôi.

Thấy đứng cò kè giữa đường có thể gây sự chú ý của kẻ qua đường và chắc chắn, có thể những tên Cớm chìm vùng biên giới dễ dàng nhận dạng, tôi dứt khoát:

-—Nếu cháu không chịu 50 đồng thì thôi vậy. Chú đi một mình cũng được.

Tôi bỏ đi nhưng vẫn không quên dò chừng phản ứng của chú bé. Ăn không được thì đập đổ. Đó là câu châm ngôn quen thuộc của giới giang hồ, sự đập đổ trong trường hợp nầy chắc chắn thập phần nguy hiểm. Bởi vì có thể, buồn buồn, chú bé lại đi kiếm một tên Công an để báo cáo trường hợp một kẻ khả nghi. Tôi không thể thỏa mãn đòi hỏi của chú, bởi vì trong túi tôi chỉ có hơn 100 đồng và lắm lúc cũng chỉ vì kẹt vài chục bạc, người ta lại có thể kẹt cho sự an toàn của bản thân. Tôi giả vờ đi tiểu để quay lại quan sát. Chú bé thứ nhất đã đạp xe trên đường về, chú bạn đang đứng lưỡng lự rồi bỗng nhiên đạp xe chạy theo tôi.

—    Anh ơi, có phải anh đi vượt biên không?

Chú bé bất thần hỏi. Tôi vội trả lời:

—    Nói bậy anh đi tính chuyện buôn bán mà!

—    Em hỏi thật đó, nếu anh đi vượt biên cho em đi theo với.

Nhìn nét mặt khẩn khoản, giọng nói cầu khẩn, tôi biết chắc em bé hỏi thật tình. Phải chăng Thượng Đế lại muốn giúp tôi một bạn đồng hành? Tôi đã từng gặp Đề, một người bạn tù, tại Sàigòn. Đề đề nghị đi chung và lo phí tổn lộ trình nhưng cuối cùng Đề đổi ý vì Đề vừa gặp được một cô nàng khá xinh đẹp và có tiền. Tâm trạng chung của nhũng người “Tù cải tạo” được thả về, ai cũng muôn yên phận. Có một chút tình, một chút tiền, họ cảm thấy tạm thỏa mãn so với những ngày tháng lao nhọc tù tội, họ sợ tù đến nỗi, có người có thừa khả năng để đi mà không dám đi. Đi vượt biên càng ngày càng trở nên khó khăn, nguy hiểm, đi mười chuyến chỉ lọt một, hai, còn nếu bị bắt thì đành sạt nghiệp và ở tù. Nếu may mắn được cứu vớt: Hình ảnh bi thảm của sự vô vọng, nhục nhằn tại các trại tị nạn Đông Dương.

Có một bạn đồng hành có tiền, biết tiếng Khmer, là một yếu tố thuận lợi, dễ thành công. Mặc dù lúc Đề rút lời, tôi đã quyết định sẽ ra đi một mình, không tiền, với một số lương thực khô và hành trang đơn giản. Tôi muốn dùng mình làm thí điểm, tôi muốn mình là kẻ tiên phong, vạch một hướng đi, một giải pháp mới, để những người bạn cùng cảnh ngộ khó khăn, có đủ niềm tin để theo vết chân tôi. Nếu thất bại thì một mình tôi chịu, nếu thành công tôi sẽ liên lạc để hướng dẫn bạn bè với những kinh nghiệm thiết thực, bằng hành động dấn thân. Nhưng nếu đây là ý muốn của Thượng Đế? Làm sao tôi tiên liệu được, trong thời điểm nầy, tại vị trí nầy, tôi gặp được em bé nầy, và chắc chắn, em là người duy nhất có ý định táo bạo và liều lĩnh bất ngờ như vậy.

—    Em có tiền không? Em biết tiếng Khmer không? Tôi hỏi.

—    Có. Biết. Em nhanh nhẩu trả lời và hỏi vặn tôi. Thế anh có rành đường không?

—    Khỏi lo. Anh có bản đồ, có địa bàn và hơn nữa, anh từng ở Miên và đi buôn bán bên Miên.

Dù sao tôi, cuối cùng, cũng phải dấu kín tông tích của mình.

—    Vậy anh đợi em tí xíu, em gởi xe đạp về nhà.

Vâng. Lại thêm một yếu tố tiền định khác. Nếu lúc đó tôi đã có sẵn một kinh nghiệm qua sự quan sát và hiểu biết như giờ nầy, biết rằng đi xe đạp là phương tiện an toàn nhất, dễ thành công nhất, thì chắc chắn chúng tôi đã dùng xe đạp để tiến hành ý định của mình, và số phận chúng tôi, hoặc riêng tôi đã chuyển sang hướng khác. Trong giờ phút đó, tôi chỉ biết gật đầu và chờ đợi.

Sự sống đã dạy cho tôi nhiều bài học cay đắng. Lần đầu tiên tôi không tin người, tôi đã bỏ lỡ một cơ hội bằng vàng và đánh đổi bằng sáu năm tù tội. Tôi sẽ tin người và yêu người, mặc dù đời nhiều dối trá và gian xảo. Phải tin người, yêu người, và người sẽ tin ta, yêu ta. Niềm tin và tình yểu có thể cải hóa những con người xấu nhưng chắc chắn không tin và yêu một cách mù quáng, bất cẩn. Tôi vẫn thận trọng, mặc dù thật tình.

Khi em bé khuất bóng ở một khúc quẹo, tôi vội kiếm một chỗ ẩn mình, ngồi trong một bụi rậm kín để có thể nhìn thấy người, quan sát người, mà người không nhìn thấy, nghi ngờ mình. Giả dụ em bé trở lại với một tên Cớm biên phòng, hay một Du kích tuần tiểu, chắc chắn họ sẽ thất vọng trong cuộc săn đuổi, tìm kiếm tôi.

Em bé trở lại, đi hối hả như chạy, và rõ ràng sự mất dạng của tôi làm em bối rối. Em sục sạo, đảo mắt tìm xuôi ngược, đi qua mặt tôi, ruồng đuổi một bóng ma vô hình đằng trước. Đến khi em tuyệt vọng, quay trở về, tôi mới chậm rãi đi ra đường đón em, sau khi tin chắc rằng, sau em, không có một ai, một toán người nào đang rình rập, hỗ trợ cho em.

—     Trời đất ơi, anh làm em muốn khóc. Em vừa bán rẻ chiếc xe cho thằng bạn quen, giá 200 đồng, vội vã chạy theo anh và tưởng anh đã bỏ rơi em.

Tôi mỉm cười:

—     Nào! Đồn phòng thủ biên giới đâu? Em định đi hướng nào đây?

—     Đó. Đó.

Em chỉ về phía lá cờ đỏ sao vàng đang bay phần phật trên đỉnh Đồn Kiểm soát Biên phòng.

—     Mình đi vòng tay phải. Băng qua đập đất cao phía trước.

Một vài ngôi nhà nằm lẻ loi, lác đác trên những cánh đồng vừa cấy lúa, những thân mạ xanh đang bén rễ, vươn những cánh tay nhỏ bé hứng giọt nắng ban mai trong giai đoạn chuyển biến mới của đời mình. Em bé đi chân không, quần xắn cao kiểu người nông dân chân chính. Tôi rảo bước theo em như hai người dân quê đi thăm đồng buổi sáng. Đâu đó, những toán người đang khom mình nhổ cỏ, một vài chú bé chạy rong chơi. Chúng tôi tránh xa những nơi có người và nhà, bỗng có ba cô gái trẻ mặc đồ bà ba đen, từ hướng bên trái đang đi về cùng một điểm với chúng tôi.

—    Con buôn đấy anh ạ. Mình đi theo họ đi.

Tôi ra dấu đi chậm lại, nhường họ đi truớc. Ba cô gái nhìn chúng tôi, có vẻ e ngại điều gì. Tôi chợt nghĩ ra. Nếu đi một hàng dọc năm người, chúng tôi sẽ tạo thành một hàng người dài, dễ gây sự chú ý của những tên gác ở trạm biên phòng cách đó không hơn một cây số. Chúng tôi chậm bước dần để tách làm hai toán riêng rẽ. Trên con đê dài, cao, nằm vắt ngang kia, có ai nằm phục kích, rình rập? Thôi, hãy để cho ba cô gái làm mồi, nếu thật sự có bẫy sập thì chúng tôi có đủ thời gian và khoảng cách để thoát thân. Sự bình yên của đoạn đường làm mất cảm giác hồi hộp và căng thẳng.

Nếu không có con đê đất kia, làm sao tôi phân biệt và nhận thức được rằng, tôi đã đứng trên phần đất thuộc lãnh thổ một quốc gia khác, làm sao tôi trút bỏ được một nửa gánh nặng nguy nan mà trọng tội của một tên tù vượt ngục đang là một bản án vô hình đeo đuổi từng bước chân tôi. Những cánh đồng cỏ xanh, những đàn trâu bò nhẩn nha ăn cỏ, những trẻ mục đồng đang chạy nhảy nô đùa. Cái không khí của cảnh vật, của con người, có phần nhẹ nhàng, thoải mái và khởi sắc bên phần lãnh thổ bạn. Tôi dặn em bé dừng chân chốc lát, vục đầu xuống con lạch nước ngòng ngoèo chảy giữa những đám lau lách để giải khát. Em bé lưỡng lự với đề nghị:

—    Tới đằng kia vào chợ uống nước mía ngon hơn.

—    Không! Mình phải tập uống những loại nước nầy để tiết kiệm tiền. Tôi nhấn mạnh.

Tôi moi một lỗ đất nhỏ, nhét những giấy tờ giả vào và lấp đất lại. Từ thời điểm nầy, nơi chôn nầy, tôi đã xử tử hình và mai táng tên Hoàng Nhật Tuấn, một công nhân dỡm của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tôi có cảm tưở ng nhẹ nhõm khi liên tưởng về những ngày nhục nhằn trốn chui trốn nhủi tại Sàigòn, có những tối vội vàng luồn lách qua các đường hẽm để tránh cuộc bố ráp, lục soát nhà, có những đêm nằm ngủ co ro trong những ngôi vườn hoang vắng, hay lăn lóc trên hè phố, lẫn lộn giữa đám người dân bần hàn bỏ trốn vùng kinh tế mới trở về thành phố. Những ngày chỉ ăn cháo qua bữa hoặc nhịn đói, hoặc phải đi bộ mười mấy cây số để kiếm một bữa ăn. Ngay cả những đứa bé lém lỉnh như thằng Cu Tí, 5 tuổi, lắm lúc cũng làm tôi nôn ruột bởi vì trò “cớm xét nhà” hú tim của nó.

Có lần đang ngồi học ở trước ban công nhà, nghe tiếng gõ cửa, tôi lủi vội vào góc bếp để ẩn nấp. Thằng bé ra mở cửa, rồi lại trở vào ra dấu:

— Có hai tên cớm, có đeo súng, đến xét nhà.

Tôi ra dấu cu Tí đừng làm gì để họ nghi có tôi ở trong nầy, và đồng thời chui sâu, sát vào góc kẹt. Một chốc chú bé lại trở vào, dùng tay, mắt để diễn tả những gì đang xảy ra bên ngoài. Tôi lại quơ tay ra hiệu cho chú bé đừng vào, đừng nói chuyện với tôi e nguy hiểm. Tôi lo lắng, hồi hộp, căng thẳng, mười lăm phút dài đăng đẳng còn cu Tí cứ thập thò ra vào hoài. Cuối cùng, khi tất cả trở lại bình thường, tôi chui ra chỗ trốn để thăm hỏi cớ sự. Thì ra, chú bé hàng xóm bạn của cu Tí qua xin hai trái ớt, thế mà cu Tí cố tình đùa giỡn thành hai tên công an với hai khẩu súng để làm tôi thót ruột, lo lắng, chưa kể mặt mày, áo quần dính tèm lem bụi than và mồ hóng. Tôi kể lại chuyện cho má chú bé, chú bé bị đập một trận nên thân, nhưng thỉnh thoảng vẫn không bỏ được trò đùa giỡn hú tim tương tự.

Tôi bắt đầu đóng vai mới: Một người Khmer giả dạng. Chúng tôi hạn chế nói chuyện, sự im lặng của ngôn ngữ tạo cho tôi thành dáng dấp của một người Khmer câm điếc. Một số xe đạp thồ và con buôn đi ngược chiều đến, tôi thấy được tình thế căng thẳng trước mặt qua câu chuyện của họ. Một toán lính Khmer đang chận bắt con buôn trên khúc đường quẹo thường được sử dụng để chuyển hàng lậu. Chúng tôi chuyển hướng, băng đồng để tránh chỗ nguy hiểm, ra đến đường lộ chính, leo lên hai chiếc xe đạp thồ sau khi ngã giá xong. Tình trạng chiếc xe đạp và tình trạng trọng lượng bất cân xứng đã tăng dần khoảng cách giữa hai xe. Tôi đập tay vào bắp vế người thanh niên Khmer, cố diễn tả bằng tay và bằng cái giọng ú ớ của kẻ câm bởi vì lưỡi và tai đã trở thành bất lực và vô dụng trước một loại ngôn ngữ lạ.

Hand language là một quốc tế ngữ. Nỗi lo ngại lạc nhau của hai người đi chung được trấn an bằng sự cố gắng nỗ lực của đôi chân đã quen thuộc với những động tác thường nhật. Tại chợ trời biên giới hai thứ tiền tệ Việt—Miên đều thông dụng, hơn thế nữa, hối suất tương đối thấp. Tôi ngồi chờ chú bé trên băng ghế đối diện chợ, những nải chuối vàng lượm và một số hàng hóa để nằm chơ vơ trên ghế. Tôi ngồi ké né một bên, phân vân nghĩ đến chủ nhân của các đồ vật kia.

Người dân Miên có một ưu điểm về sự lương thiện. Ở Miên ít có tình trạng ăn cắp ăn trộm, và luật lệ rất khắr khe với những kẻ phạm tội nầy. Vì thế ít người dân Miên ngại ngần khi để đồ đạc của mình bừa bãi đây đó. Hai lính Heng Samrin kè kè súng AK đi tuần tra dọc theo khu vực chợ búa. Tôi sốt ruột vì em bé nhỡn nhơ ngồi bên kia quán nước và thật tệ, em lại uống nước mía một mình bất chấp lời khuyên nhủ của tôi. Không chờ đợi được, tôi tà tà đi về phía chợ, kiếm một ghế ngồi bên cạnh, tôi lừ mắt nhìn em bé ra dấu hỏi.

—     Chưa đổi được tiền. Chờ chốc nữa.

Em chỉ chú bé đứng bán nước:

—     Bạn em.

Tôi gợi ý nên mua hai khăn cà ma quấn đầu cho giống phong tục người Miên. Sau khi đổi tiền chúng tôi đón xe Honda thồ đi Xoài Riêng ngay thay vì ở lại chờ chuyên bus chiều như đề nghị của em bé. Tôi phải rời xa khu vực bất trắc nầy càng sớm càng tốt. Tôi quyết định trong mọi vấn đề, trừ vấn đề thông dịch. Nhiệm vụ duy nhất của em là nói tiếng Khmer trong các dịch vụ giao thiệp. Chúng tôi đi chung xe với những người buôn gạo, xe chạy hàng tiếng đồng hồ, dừng lại, chuyển gạo xuống và tiếp tục hành trình và sau cùng đến Xoài Riêng vào buổi chiều. Bến xe đò ngổn ngang khách đứng ngồi chờ xe ngày mai, cũng như nhiều lính Bộ đội Heng Samrin. Xoài Riêng là thị trấn phong phú giàu có, ngày trước tôi vẫn thường nghiêng cánh để chiêm ngưỡng mỗi lần bay qua. 

Xoài Riêng, Kỷ Niệm Vụ Báo Động Xe Tăng Địch. 

Cơn ác mộng về sự xuất hiện xe tăng địch rầm rộ khắp nơi: Miền Trung, Cao nguyên Trung Phần, các vùng biên giới… làm một số Phi công vừng IV tự đặt mình trong tinh thần cảnh giác cao độ. Một hôm trên đường bay trở về Cần Thơ, sau phi vụ hành quân Châu Đốc, tôi nghe tiếng báo cáo khẩn trưở ng của phi cơ bạn cùng Phi đoàn trên tầng sốHành Quân chiến cuộc:

—     Paddy. Paddy. Họa mi 07 gọi.

—     Họa Mi 07, Paddy nghe.

—     Họa Mi 07 phát hiện được xe tăng địch tại tọa độ… phía Tây nam Xoài Riêng.

—     Họa Mi 07. Paddy lập lại. Tọa độ… Mười lăm xe tăng địch. Đúng không?

—Đúng. Cho phi tuần A37 cất cánh ngay và một Họa Mi khác lên thay thế, tôi phải trở về vì hết xăng.

Nhiều tiếng nhốn nháo trên tầng số Paddy. Tiếng điện thoại réo vang, mọi bên lạc bỗng trở nên khẩn trương vì một tin tức quá hấp dẫn và sốt dẻo. Tôi bấm nút vô tuyến gọi:

—     Paddy. Paddy. Họa Mi 08.

—     Họa Mi 08. Paddy nghe.

—    Họa Mi 08 trên đường từ Châu Đốc trở về. Xăng nhớt và trái khói đầy đủ. Sẽ chuyển vùng thay thế Họa Mi 07.

—    OK. Cám ơn bạn. Bạn liên lạc với 07 và cho Paddy biết thêm tin tức khi đến mục tiêu.

—    Họa Mi 07. Họa Mi 08 gọi.

—    Họa Mi 07 nghe.

—    OK. Có xe tăng thật hả? Quan sát kỹ dùm xem. Lạng quạng mà hố   vừa bị bố lại mất mặt Họa Mi nghe bạn!

—    Bảo đảm mà. Lên ngay đi. Tôi sẽ chỉ target cho bạn và phải rời vùng ngay.

Chiếc L19 vốn đã bay chậm, giờ nầy lại càng rù rờ như rùa bò, mặc dù tôi đã nôn nóng tống thêm ga, cuối cùng tôi đến vùng và bàn giao mục tiêu. Khoảng 15 chiếc xe nằm ẩn hiện trên các con đường mòn nhỏ, nòng súng dài quá khổ quay về hướng Nam. Vừa chào tạm biệt Họa Mi 07, tôi đã nghe tiếng nhiều phi tuần A37 gọi tới tấp trên tầng số.

—    Họa Mi 08. Thần Báo 03.

—    Họa Mi 08. Thần Báo 04.

Tôi vừa giữ liên lạc tầng số vừa giảm ga phóng xuống quan sát trận địa. Tôi vẫn thường check lại những tin tức và báo cáo vì thỉnh thoảng vẫn xảy ra trường hợp ngộ nhận. Một vài Phi công bạn loại già cả, hoặc lạnh cẳng nên thường bay ở độ cao, Quan Sát viên không có ống nhòm, nên ở cao độ nào đó, đôi mắt trần tục của người Quan Sát viên và Phi công thỉnh thoảng vẫn trông gà hóa cuốc. Điều nghi ngờ đó chỉ có thể kiểm nhận bằng lối bay “trên ngọn cỏ dưới ngọn cây,” mà càng ngày những con người bạt mạng càng hiếm hoi dần. Tôi lủi xuống một vị trí phía Bắc và bất ngờ bay vù về Nam, cặp theo hàng cây cao dọc bên đường. Low pass với tốc độ nhanh tạo nên một tiếng gào rú lớn và cơn lốc turbulence làm những đống rơm rạ chất nghễu nghêu trên xe bay tung tóe. Tôi buột miệng chửi thề trên tầng số vô tuyến:

—     Đù mẹ. Chán thiệt.

—     Họa Mi 08. Thần Báo 03, 04, 05 đã có mặt trên vùng. Sẵn sàng đánh bom. Cho trái khói gấp.

—     Thần Báo. Họa Mi 08 gọi. Bạn liên lạc với Paddy, xin mục tiêu khác.

—     Họa Mi 08. Thần Báo… cho biết lý do gấp.

Tôi bực bội diễn tả về nhũng chiếc xe tăng đã báo cáo, thật ra là một đoàn xe trâu chở rơm trên đường về. Xe chở tối đa nên nông dân đã nẹp thêm nhiều khúc tre dài để giữ rơm rạ khỏi đổ, những nòng súng dài quá khổ chỉ là những bó tre. Đám người kéo xe thấy phi cơ L19 quần thảo trên vùng, sợ hãi ép xe vào lề đường để tránh bị hiểu nhầm. Chính vì để tránh hiểu nhầm, họ làm cho người bạn gà mờ của tôi càng hiểu nhầm thêm. Nếu tôi cứ tà tà ghi nhận theo báo cáo mà hành động, sốphận của mấy chục con người kéo xe và đám trâu bò kia sẽ ra sao?

Chúng tôi đi quanh quẩn nghiên cứu tình hình. Một khu chợ nằm trên nền đất cao với vẻ mặt khang trang. Thấy đôi mắt thèm khát của em bé khi nhìn những ổ bánh mì, khoanh thịt treo lủng lẳng trong các hàng quán, tôi nghiêm khắc lập lại ý định đã vạch sẵn:

— Chỉ ăn lương khô mang theo và uống nước ruộng dọc đường.

Không thể ở lại một nơi nhốn nháo đông người mà không lường được những bất trắc, tôi ra lệnh em bé:

—     Mướn ngay hai xe đạp thồ đi tiếp tục.

Chúng tôi chỉ cần ra khỏi thành phố và sẽ đón xe dọc đường để vượt qua khu vực kiểm soát với nhiều cổng trạm gác chận đường đã lơ là canh gác bởi vì vào giờ nầy xe cộ qua lại rất ít. Theo kinh nghiệm thì ít tên gác nào xét hỏi xe đạp thồ bởi vì cho rằng, chỉ có dân địa phương mới sử dụng phương tiện nầy. Chúng tôi xuống xe đứng đợi trước gian nhà bỏ trống, hơn nửa giờ trôi qua, không hề có bóng xe đò chạy cùng chiều. Tôi lại biết thêm một điều hữu ích là xe đi về hướng Pnom Penh chỉ có thể đón được vào buổi sáng, còn buổi chiều xe ngược đường về biên giới Việt Nam. Chúng tôi lại đón xe đạp đi tiếp, vừa chậm lại vừa giá đắt từ bảy đến mười lần hơn giá xe đò, nhưng một đoạn đường đi về phía trước có giá trị của máu và tự do. Chắc chắn không có người chạy xe đạp thồ nào lại có tham vọng, hoặc tưởng tượng chuyện đạp xe chở người hàng trăm cây số về Pnom Penh và không thể nào nói đúng địa danh của một buôn làng phía trước vì bản đồ quá cũ và tên địa phương đã thay đổi hoặc vị trí xê dịch.

— Chở tôi đến buôn làng đằng trước.

Thường thường mỗi buôn cách nhau từ 10 đến 15 cây số. Tôi khốn khổ vì con đường ngược gió. Ôi cơn gió mùa hắc ám khốc liệt như cái thắng áp lực, không chỉ cản tốc độ xe mà còn làm tay lái ngoằn ngoèo kéo dài khoảng đường xa. Tôi ê ẩm rã rời vì phải chuyển hết thành công lực lên gót chân trên cái bàn đạp chỉ còn lại một thỏi sắt mòn bóng lộn. Chúng tôi thay phiên nhau đạp và đạp đua để cố nuốt nhanh đoạn đường. Sự khốn khổ càng dục dã đôi chân khi số tiền đi đường nhỏ bé, sau mỗi cuốc xe, càng nhẹ dần.

Xe dừng xa một trạm gác, nhiều xe đò ngược chiều đang bị chận xét kỹ. Tôi thăm dò tình hình và đón xe đi tiếp nhưng trời đã quá chiều, không còn xe thồ nào chịu chạy xa. Tôi bắt đầu ái ngại về khả năng tiếng Khmer của em bé và khám phá được sự thật là em bé thông dịch viên đã dùng tới ba thứ ngôn ngữ để diễn đạt ý nghĩ của mình: Khmer—Việt—tay chân.

Một người lái xe chịu đi, một người khác lại để ý đến sự đáng khả nghi hơn là yêu cầu của chúng tôi. Anh chàng ỡm ờ không dứt khoát, sau khi xổ một tràng xi xô mà chuyên viên thông dịch của tôi hoàn toàn mù tịt, anh ta đạp xe về hướng trạm kiểm soát. Tôi chăm chứ theo dõi từng cử động của chàng ta, chỉ cần thầy bóng một Bộ đội mang AK leo lên xe đạp về hướng mình là tôi thoát chạy ngay.

Sự nghi ngại, cuối cùng, may mắn thay, vẫn chỉ là sự nghi ngại đơn thuần vì thực tế, sau khi đứng tiếp chuyện với tên gác trạm, y lên xe rẽ vào một đường làng bên cạnh. Mọi sinh hoạt vẫn bình thường. Trong bản chất của sự bất hợp pháp đã tiềm ẩn hình bóng của sự nghi ngờ, của sự thận trọng. Tôi vẫn chưa dứt được ý nghĩ, “Biết đâu tên gác cao cờ, thay vì đến bắt tại chỗ, y lại đứng chờ tôi tại trạm gác? ”

Bánh xe càng lăn dần đến gần chỗ nguy hiểm, tôi lại càng cố gắng bình thản để trấn áp sự hồi hộp. Như một sợi dây thun, cứ mỗi lần kéo căng lại dãn dần một chút, đến một lúc, sợi dây thun không còn tính chất đàn hồi vì đã dãn tối đa. Những cảm giác hồi hộp, căng thẳng tê liệt dần và trở thành sự bình tĩnh. Sự bình tĩnh đạt đến độ lạnh lùng rồi biến dạng thành sự phẫn nộ, hung dữ. Đó là lý do, mà trong một vài trường hợp, kẻ chận người, bắt người, lại sợ người bị bắt, bị chận. Chúng tôi đi qua an toàn.

Tôi nhớ đến lần đầu tiên bay solo hành quân phản lực cơ A37. Những tràng đạn lửa phòng không 12.7 ly bắn thẳng vào mặt khi tôi chúi mũi phi cơ vào target thả bom. Bản năng sinh tồn buộc tôi phản ứng né tránh, bấm bom trong vị thế phi cơ mất quân bình. Sức ly tâm đẩy bạt những quả bom cách mục tiêu 200 thước. Quan Sát viên L19 chưa dứt câu chửi thề “Thả bom như con…” bỗng la lớn:

— Trúng kho xăng, trúng kho xăng. Hoan hô!

Tôi được thưởng một huy chương phi dũng chỉ vì mất bình tĩnh và thiếu tự chủ trong giờ phút hiểm nghèo! Thật oái oăm! Từ đó, mỗi ngày, tôi tự dùng lửa đạn chiến trường để trui luyện bản thân mình và trở thành một loại Phi công được các chiến hữu cùng đơn vị yêu mến và cảm phục.

Tình bạn và sự yêu mến đã đưa đến những đánh giá thiên vị và cường điệu đối với những thành tích tầm thường của tôi.

Với Thiếu Tá Nguyễn Phấn Chân: Lý Tống đi bay giống như đi tự tử.

Với Thiếu Tá Huỳnh Thanh Minh: Lý Tống còn liều mạng hơn Nguyễn Du. (Một Phi công lừng danh và nhiều thành tích nhất vùng I.)

Với Đại Úy Nguyễn Bảy: Nếu bốn Vùng Chiến Thuật có bốn Lý Tống, Việt Cộng không ngóc đầu lên nổi.

Tôi nhớ đến phi vụ bắn rocket đoàn xe chuyển quân Việt Cộng tại đèo Phượng Hoàng. Đoàn xe dài, xe tiếp nối xe; rocket phóng vun vút từ phi cơ, rocket nối tiếp rocket; tôi say mê săn mồi, những con mồi cháy rực tan tành dưới sức tàn phá của từng quả anti-tankrocket. Bỗng toàn thân tàu rung chuyển, sức va chạm của hàng loạt đạn phòng không gây chấn động dữ dội. Tôi lết phi cơ đang liếm sát mặt đường ra khỏi vùng giao tranh, và báo cáo tình trạng khẩn cấp. Phi trường nhôn nháo với hàng dãy xe cứu hỏa, ambulance, quân cảnh và Phi Hành đoàn chuẩn bị cứu cấp. Bụng và cánh phi cơ bị lủng mười lỗ lớn, Inlet screen trái bị bẻ quằn lại, kính windshield mẻ lỗ chỗ do bởi… đá cục và mảnh rocket của tôi bắn ra văng lên trúng! Thì ra chính vì bay quá thấp mà tôi đã tự bắn mình chứ không trúng đạn phòng không như đã tưởng nghĩ.

— Bay như chú mầy có ngày Không Quân dẹp tiệm vì hết máy bay.

Đại Tá Không Đoàn trưởng buộc lòng phải khiển trách cái tinh thần chiến đấu tích cực quá đáng của tôi.

Tôi nhớ đến một phi vụ khác: Phí vụ Tử Thần. 

Phi Vụ Tử Thần 

Những năm trước 1965, khi nói đến những chiến công hiển hách của không lực Việt Nam Cộng Hòa, người ta thường nhắc đến những phi vụ oanh tạc miền Bắc. Nhưng từ khi các mặt trận giao tranh đã dần dần bị đẩy lùi về miền Nam, và đặc biệt sau khi Phi công Hoa Kỳ và các loại máy bay hiện đại như B52, F4, F105, A7… không còn trực tiếp tham chiến sau ngày Việt Nam hóa chiến tranh, và Không Quân VNCH đã trở thành nỗ lực chính duy nhất yểm trợ các đơn vị bạn dưới đất, một trong các trận oanh kích được đánh giá cao và thường được nhắc nhở là kỳ tích đánh sập cầu Dziên Bình của không đoàn 92 chiến thuật Phan Rang. 

Cầu Dziên Bình là một chiếc cầu chiến lược quan trọng, con đường tiếp tế từ vùng ngã ba biên giới vào mặt trận Kon Tum đã được Hoa Kỳ kiến trúc bằng bê tông cốt sắt thật vững chắc trong Phi Vụ Tử Thần. 

Những năm trước 1965, khi nói đến những chiến công hiển hách của Không Lực Miền Nam, người ta thường nhắc đến những phi vụ oanh tạc miền Bắc. Nhưng từ khi các mặt trận giao tranh đã dần dần bị đẩy lùi về miền Nam, và đặc biệt sau khi Phi công Hoa Kỳ và các loại máy bay hiện đại như B52, F4, F105, A7… không còn trực tiếp tham chiến sau ngày Việt Nam hóa Chiến tranh, và Không Quân VNCH đã trở thành nỗ lực chính duy nhất yểm trợ các đơn vị bạn dưới đất, một trong các trận oanh kích được đánh giá cao và thường được nhắc nhở là kỳ tích đánh sập cầu Dziên Bình của Không đoàn 92 Chiến thuật Phan Rang.

Cầu Dziên Bình là một chiếc cầu chiến lược quan trọng, con đường tiếp tế từ vùng ngã ba biên giới vào mặt trận Kon Tum đã được Hoa Kỳ kiến trúc bằng bê tông cốt sắt thật vững chắc trong những năm trước. Theo nhận xét của các sĩ quan tình báo vùng II, chiến thắng Dziên Bình đã làm trì trệ nặng nề công việc tiến công xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Nếu không có trận Dziên Bình, chắc chắn ngày Quốc Hận được dời về một thời điểm nào đó vào cuối năm 1974 thay vì 30-4-1975.

Phi Vụ Tử Thần bắt đầu từ một buổi họp khẩn cấp do Đại Tá Không Đoàn trưởng Lê Văn Thảo triệu tập tại Phi đoàn Ó Đen 548 và mở đầu bằng những lời giận dữ:

—    Các anh biết rằng, chúng ta đã áp dụng chiến thuật đánh BOBS (Beacon Only Bombing System) suốt hơn nửa năm vẫn chưa hạ được cầu Dziên Bình. Đó không phải là lỗi của ta, mà là lỗi kỹ thuật của Trung tâm Hướng dẫn BOBS. Điều không thể chấp nhận là sáng hôm nay, buổi sáng xuất quân đầu tiên với kế hoạch tấn công mới, Phi Hành đoàn cảm tử gồm hai người của Đệ nhất Phi đoàn Phản lực A37 lại quyết định rút lui một người sau một tháng tập luyện ròng rã loại bom mới snack eye. (Một loại bom nổ dùng thả ở độ thấp, sau khi được thả, một hệ thống dù sẽ trì hoãn tốc độ rơi của bom, giúp cho Phi công có đủ thì giờ đưa phi cơ ra khỏi vùng sát hại.) Bây giờ các anh, phi đoàn A37 trẻ tuổi nhất Không Lực, các anh có tình nguyện đảm nhận trách nhiệm nặng nề này không?

—   Phi công Không Quân VNCH không thiếu gì lúc phải bốc thăm vì số tình nguyện nhiều hơn số nhu cầu. Hình như chết đến nơi vẫn cười là một đặc tính cố hữu của những người lính mặc áo liền quần. Họ sống thật hồn nhiên, không tính toán, đi vào lửa đạn như đi dạ vũ, không khoác lác, không so bì, không kèn cựa.

—   Thế nhưng, đặc biệt với cầu Dziên Bình, người cảm tử quân cầm chắc cái chết. Phi đoàn 524 có lý do chính đáng để rút lui một trong hai chiếc phi cơ, bởi vì yếu tố bất ngờ chỉ dung tha phi cơ đầu tiên, chiếc thứ hai chỉ là một con mồi thiêu thân trong chiến thuật xung kích. Trận địa phòng không với hai Trung đoàn Pháo Cao xạ danh tiếng nhất miền Bắc kết hợp với Hỏa tiễn Tầm nhiệt SA7 cùng hàng ngàn súng lớn, nhỏ khác của ba Trung đoàn Bộ binh Cộng Sản bố trí theo chiến thuật đan lưới để giữ vững một đầu cầu chiến lược quan trọng bậc nhất của vùng ba biên giới Việt Miên Lào. Thiếu Uý Bá đã ví von một cách sống động và đầy ấn tượng về sự khủng khiếp của hệ thống phòng không Dziên Bình:

— “Về đêm Dziên Bình bắt đầu khai hỏa trông giống như thành phố San Francisco vừa lên đèn!”

—   Phi đoàn Ó Đen 548 do Trung Tá Trần Mạnh Khôi (Ó Đen 01) chỉ huy là một loại hậu sinh khả úy, đã gây nhiều sóng gió khắp chiến trường. Nhưng sự hi sinh thảm khốc của sáu Phi công Phi đoàn trong một thời gian ngắn đã làm nhiều bàn tay lưỡng lự, nhiều quyết định đắn đo thận trọng. Nào Hỷ bị phòng không 57 ly bắn tử thương trên vùng trời Mộc Hóa không lấy được xác. Nào Thức bị gãy cánh bay tại Ban Mê Thuật, chết không toàn thây. Nào Kỷ rơi một cách thầm lặng khi hai trái bom vừa rời khỏi cánh trên đỉnh núi Bà Đen. Nào Anh cắm mũi phi cơ xuống một hồ nước ở trên vùng phụ cận Đà Lạt, và hai người bạn Phi công khác, đâm sầm phi cơ vào núi chết tan xác, chỉ còn lại hai nón bay, sau một phi vụ trở về trong lúc thời tiết xấu cùng cực. Sự im lặng nghiêm trọng bỗng òa vỡ như tiếng xì lớn của một quả bóng quá căng vừa bị đâm thủng khi tôi đứng dậy, xung phong tình nguyện.

—   –    Lý Tống!

—   Tôi nói gọn, đảo mắt nhìn quanh tìm kiếm những đồng minh cảm tử trong Phi vụ Kamikaze:

—    Ê!  Sư phụ chơi chứ!

—    Thiếu Tá Nguyễn Tiến Xương (Ó Đen 04) lấp bấp, ấp úng:

—     OK. Sợ gì!

—    Tôi hất mặt về phía phải:

—     Ê! Minh chù, mầy còn chờ gì nữa!

—    Trung Uý Minh (Ó Đen 08) trọ trẹ giọng Huế: 

—     Đâu có ngán. Đồ đất sét!

—    Lúng túng chưa biết phải bắt cóc thêm tay độc thân lì lợm nào nữa thì Thiếu úy Hóa, một Phi công trẻ vừa du học Hoa Kỳ về, một tay điếc không sợ súng hăng hái đưa tay tình nguyện.

—    Phi Vụ Tử Thần bắt đầu vào buổi sáng mờ sương tại phi trường Pleiku Vùng II Chiến Thuật. Bốn chiếc phi cơ cảm tử kamikaze A37 cất cánh rời phi trường Pleiku. Đến không phận Kon Tum, phi cơ xuống cao độ dưới 500 feet, bay vòng, chờ giờ hẹn.

— Black Eagle combat formation.

—Tiếng Leader Xương vang lên ngắn gọn. Bốn phi cơ theo đội hình chiến đấu bay “trên ngọn cỏ, dưới ngọn cây” hướng về cầu Dziên Bình. Trời mù tối vì thời tiết xấu. Chúng tôi bay len lỏi giữa các sườn núi thấp mây mù phủ kín bầu trời, thỉnh thoảng giật thót mình kéo mạnh cần lái vì những ngọn cây cao chợt xuất hiện trước mũi phi cơ. Sự phối hợp tác chiến khá chặt chẽ, khi 40 phi cơ do Đại Tá Thảo chỉ huy bay 20.000 feet vừa rải thảm hàng loạt bom xuống khu vực cầu Dziên Bình để đánh phủ đầu trận địa phòng không địch, và khi cột khói cuồn cuộn bốc lên, Thiếu Tá Xương cũng vừa báo cáo: “Số 1 in hot.” Chiếc phi cơ từ dưới một khe suối bất ngờ phóng lên lấy cao độ rồi đâm bổ nhào xuống thả một loạt sáu trái bom. Bom cày nát con đường nhựa rộng và chấm dứt tại mép đầu cầu.

—     Hơi ngắn. Số 2 off left.

—    “Hóa nhí” quẹo trái, lủi dài theo bờ sông tẩu thoát sau khi ném một loạt bom rơi lỏm bỏm xuống sông, cặp sát mép trái cạnh cầu. Tiếng Không Đoàn trưởng gào thét trên tầng số khi số 2 vừa nghiêng cánh vào mục tiêu:

—     Phòng không rát quá. Tất cả ra khỏi vùng, hủy bỏ phi vụ!

—    Tiếng hối thúc, tiếng la hét ngập ngụa trong nỗi kinh hoàng sợ hãi, trong nỗi cuống quýt lo âu.

—     –  Ra hết. Nhanh lên không chết hết.

—    Tinh thần trách nhiệm đối với sự an nguy của Phi công trong Không Đoàn đã buộc Đại Tá Không Đoàn Trưởng thay đổi ý định trong giờ phút hiểm nghèo nhất. Tôi mím môi, giả điếc, phải chơi đến cùng dù phải gãy cánh tại đây. Tôi ôm mối hận Dziên Bình nửa tháng qua, tôi phải rửa hận, phải phục thù. Phục thù chính bản thân mình bởi vì, trong một phi vụ đánh BOBS, phi tuần 12 chiếc A37 do Đại úy Nguyễn Bảy (Ó Đen 05) lead, trong khi đang bay 20.000 feet và thả bom theo tín hiệu radio hướng dẫn, tôi đã tự ý lén bỏ formation, một mình len lỏi qua các tầng cao độ dày đặc đạn phòng không. Đạn 23 ly rải những cánh hoa đen tử thần trên không trung như những bông sen chen chúc trên mặt hồ sen. Những hoa khói 37 ly treo lơ lửng như những chùm lan rừng. Thiếu Tá Trần Thanh Minh (Ó Đen 03) từng theo Tướng Nguyễn Cao Kỳ bay chinh phạt miền Bắc đã phải thú nhận:

—     Suốt cuộc đời bay bổng, tôi chưa từng thấy trận địa nào phòng không kinh khủng như cầu Dziên Binh.

—    Tôi len lách giữa các ngón tay bạch tuột nhám nhít độc địa đang líu quíu vồ chụp cánh chim sắt, nghiêng cánh ở turning base, cao độ 4,000 feet, đụng phải một đám mây nằm cản ở điểm quẹo in hot. Bị overshoot, tôi trượt cánh phi cơ vào mục tiêu, cố trườn tâm điểm kính nhắm vào giữa cầu và bấm bom. Vì ảnh hưởng lực ly tâm do đạp ép rudder quá mạnh, tất cả loạt bom chém trượt thành cầu rơi bỏm xuống sông. Nếu tôi đừng vội, nếu tôi bình tĩnh làm một dry pass quành lại một vòng khác rồi bấm bom, nếu tôi… Làm sao để tự thắng được cái bản ngã yếu đuối, làm sao để tự chủ trong những giờ phút cô đơn đầy hiểm nghèo đã trở thành người bạn đồng hành của người lính “chết không chiến trường” như những Phi công. Tôi đau khổ trằn trọc nhiều đêm vì chữ nếu. Phải phục hận! Tôi bổ nhào phi cơ xuống mục tiêu, khói của loạt bom “Hóa nhí” che lấp chiếc cầu, tay tôi khựng lại khi ngón cái đụng vào nút đỏ bấm bom trên cần lái:

— Số 3 dry pass. Tiếng nói khô, sắc, lạnh lùng bất chợt phát qua cổ họng tôi. Tôi gặt mạnh stick về phía phải, tiếng gào của Đại Tá Thảo trên tầng số khàn đặc và thất đảm:

– Ra ngay, ra ngay, phi vụ hủy bỏ.

—Tôi không còn thấy lưới đạn phòng không vây bọc quanh mình. Phi cơ bị chòng chành mạnh bởi những khối lửa và sức nổ của họng súng phòng không, bởi những khối không khí hỗn loạn do sức đạn phóng đi. Lưới đạn lửa giăng kín hạn chế tầm nhìn xa.

—     Số 4 in hot.

—    Nhiều tiếng la lớn trên tầng số:

—     Sập rồi! Sập rồi!

Trung úy Minh (biệt danh Minh Chù, người được Hà Thúc Sinh nhắc đến trong “Đại Học Máu” không biết đã chết hay bị di chuyển đến một trại tù đặc biệt nào sau 1975) là số 4 chót, nhưng bất ngờ dứt điểm một cú đẹp đầu tiên. Tôi quành lại, bổ nhào xuống góp những trái bom khiêm nhường đánh bồi vào chiếc cầu vĩ đại đang sụp đổ. Vừa cất mũi phi cơ lên, tôi thót giật mình vì một quả hỏa tiễn Sam phóng lướt qua đầu. Không phải! Đại Tá Võ Văn Ân, Không Đoàn phó, một sư phụ chịu chơi, vừa chơi bạo một cú low pass trên cầu Dziên Bình để tìm cảm giác. Không đoàn 92 Chiến thuật Không quân Phan Rang được tưởng thưởng gần 100 huy chương có giá trị và một số tiền lớn để tổ chức liên hoan. Trong lúc cụng ly, Thiếu Tá Nguyễn Thượng Tứ cười góp ý:

—Thằng đánh sập cầu Dziên Bình trái bom đầu tiên thật tuyệt. Nhưng thằng tình nguyện, động viên anh em tình nguyện và dám làm một go around trên cầu Dziên Bình còn đáng phục gấp bội!

Sau chiến thắng Dziên Bình, Phi đoàn 548 thừa thắng xông lên nện một vố thật mạnh làm tan tác Tiểu đoàn chủ lực của Sư Đoàn Sao Vàng Cộng Sản, trong một phi vụ vào một đêm giông gió cuồng loạn. Phi vụ thành công do một lỗi lầm của tôi vì Thiếu Tá Chấn (Ó Đen 02) leader, sau khi cross check, thấy phi đội hầu như đang bay trên vùng Phi trường Phù Cát, cho rằng đài BOBS nhầm lẫn nên không bấm bom. Tôi vì quen tay, nghe tiếng “tè…” tín hiệu dài là ấn nút nên tất cả Phi công trong đội hình bám theo phía sau đều đồng loạt thả bom theo loạt bom đầu của phi cơ tôi. Tôi bị khiển trách trên đường về thì… tin đại thắng bay đến vào sáng hôm sau, bởi Cộng Quân đã đột nhập đến sát vòng đai phi trường, và chính những trái bom tưởng thả nhầm lại tiêu diệt toàn bộ địch quân. Số tử thi địch quá nhiều không chôn kịp trong một tuần lễ đã sình thối làm nồng nặc cả vùng Phi trường Phù Cát.

Ó đen

Lý Tống

Post by Sơn râu 19 Apr 2025

Phần 3

Trở Về Nha Trang, Thành Phố Biển 

Sau khi qua khỏi Đèo Cả một đoạn, tôi xuống xe đi vòng ra bãi biển theo lời chỉ dẫn. Những người chài lưới đang bận bịu với việc vá lưới và chuẩn bị ghe tàu. Người lơ xe chạy bộ ngược trở lại để đón tôi. Tôi khỏi trả tỉền xe, lại còn được biếu đôi dép mới và mời ăn trưa tại quán. Tôi về nhà người bà con nhưng họ đi vắng, đám cháu chắt ngày trước giờ lớn lên chẳng biết ông khách lạ là ai. Tôi vào nhà ngồi nghỉ, chờ đợi. Cảnh giác và báo cáo là bài học căn bản của các cháu nhi đồng của “Bác.” Các em còn có nhiệm vụ theo dõi và báo cáo tất cả hành động của cha mẹ mình cho chính quyền huống gỉ một người khách lạ. Nếu không phát giác kịp điều đó, có lẽ tôi đã bị công an khu vực tóm tại chỗ. Tôi đành rời nhà ra bãi biển. Một người con gái đạp xe ngược chiều vẫy tay chào và gọi tên:

— Lý Tống.

Tôi cười chào lại, tiếp tục đi. Được nhiều người biết có lúc thật bất lợi. Tôi chọn những đường vắng, tránh gặp người quen. Bờ biển Nha Trang, mười lăm năm trước, mỗi sáng chúng tôi vừa ngủ gật vừa chạy từ Quân trường, Căn Cứ Huấn Luyện Không Quân Nha Trang, ra Bưu điện. Trên đường về, bị lùa xuống khối nước biển lạnh cóng là một trong những sự tập luyện và là hình phạt thuộc Thời kỳ Huấn nhục của Sinh viên Sĩ quan Không Quân.

Bao cuộc tình sôi nổi trên bãi biển thơ mộng ngày xưa.

Bãi biển ban trưa nằm phơi mình dưới nắng ấm, những dấu tích tình yêu còn phảng phất đâu đây. Nầy gốc thông nơi Hồng run rẩy trong nụ hôn đầu đời. Nầy ghế đá Mộng dựa đầu vào vai tôi thiêm thiếp ngủ.

“Tay anh em hãy gối đầu

Trăm con chim mộng bay về đầu non.

Ngủ đi em mộng bình thường.

Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ.”

Tôi thầm thì hát.

Tôi ngồi xuông cát, cơn gió nhẹ vọng lại âm vang lồng lộng của biển khơi, từng tiếng sóng xô bờ dào dạt. Tôi run rẩy trong nỗi hạnh phúc tuyệt vời. Biển ơi! Đã bao lần đi biển, có bao giờ ta cảm nhận được cái sức thu hút kỳ lạ của ngươi? Cái mặt nước mênh mông vĩ đại kia dục dã những niềm khát khao tự do tuyệt đối. Thiên nhiên hùng vĩ giải thoát tâm hồn con người ra khỏi những chật chội tù túng của cuộc sống. Tưởng tượng trong giờ phút hạnh phúc nầy, tôi bước xuống biển bơi mãi, bơi mãi… cho đến khi kiệt sức, rồi đắm chìm trong cái lòng biển êm đềm sâu thẳm kia. Khoảnh khắc tự do ngắn ngủi phù du đó đáng để đánh đổi cả một đời dài tù ngục. Năm năm trời gian khổ như một lớp bụi mỏng. Vừa ngâm người xuống nước, những vết tích nhục nhằn đã trôi đi, tôi quên hẳn mình là tù vượt ngục. Chẳng còn sự nguy hiểm, rình rập nào làm bận tâm trí mình, tôi chợt nghĩ đến một trong những người bạn gái. Những ngày tháng rực rỡ năm xưa, những mảnh bikini sắc màu sặc sỡ, những thân hình con gái dậy thì mơn mởn. Nỗi khao khát của sáu năm thiếu vắng, mùi hương da thịt năm xưa còn ngất ngây đâu đây, cảm giác đê mê của hai thân thể…

Tôi đón xe xích lô đến nhà Thu An. Sự mừng rỡ xen lẫn nỗi sợ hãi làm Thu An bối rối. Tôi hẹn gặp Thu An ngoài bãi biển. Thu An đến cùng hai em trai. Trong xã hội có quá nhiều tên mật thám, sự cẩn trọng là điều kiện an toàn cơ bản. Tôi sẽ ra đi và Thu An sẽ ở lại, những rắc rối phiền nhiễu có thể xảy ra. Chúng tôi chỉ bồi hồi ngồi nhìn nhau rồi Thu An chia tay sau khi tặng tôi một số tiền đi đường và cho người em trai đi tiễn.

Tuấn, em trai Thu An, có chút tình giao hảo cũ, lên xe đạp chở tôi đi vòng quanh để xem lại thành phố đầy dấu tích kỷ niệm. Tôi nép sát đầu vào vai Tuấn để che khuôn mặt quá quen thuộc của mình. Rạp xi nê Tân Tân vẫn còn tấp nập những cặp nhân tình. Kìa bệnh viện Nguyễn Huệ, một tháng dài nằm trị bệnh vẫn còn rõ mồn một từng nhân dáng. Thời gian đó có một số sinh viên Sĩ Quan Hải Quân nằm chung phòng với tôi. Việt Cộng pháo kích ngay Trung tâm Huấn luyện và họ, kẻ bị lãnh mảnh đạn vào chân phải đi khập khểnh, kẻ phải bị băng bó vì phỏng thân mình, tôi chỉ bị bệnh nhẹ nên thỉnh thoảng leo hàng rào bệnh viện ra phố đi chơi. Có lần tôi dẫn một cô bạn gái vào phòng và đùa giỡn tại đó, để chọc đám sinh viên Hải Quân. Chúng tôi giả vờ lấy drap trùm người lại, nằm trên giường ôm hôn và âu yếm nhau. Cả đám Hải Quân mặc dù không đứng dậy nổi vẫn ráng ngóc đầu lên, làm bộ mỗi đứa cầm một tờ báo đọc, nhưng thực sự đã lây điếu thuốc đốt xoi một lỗ nhỏ để rình theo dõi cảnh tự tình đầy hấp dẫn và gay cấn diễn ra trên giường bệnh viện trước mắt. Khi cô bạn gái ra về, tôi bị đám bạn bu lại chửi bới:

—Thằng bạn khốn nạn. Mầy cứ tái diễn cảnh nầy hoài chắc tụi tao phải cưa chân luôn quá.

Sau khi đi một vòng, Tuấn chở tôi vào một quán nhậu bình dân khá đông khách, may mắn là không gặp ai quen, chúng tôi chọn một góc kín, kêu món nhậu và rượu. Lâu ngày được ăn ngon và uống rượu, tôi ăn uống thỏa thích bù những ngày gian khổ. Tuấn nhậu vào càng nhiều lại nói ra càng dữ, khổ nỗi là anh chàng lại chỉ nói toàn tiếng Anh, cái giong mũi có accent của môt “ông Mỹ” đã làm một số khách ngồi bàn gần để ý và tôi cũng nhức tim không ít. Không lẽ bạn đang vui mà tôi lại ngăn cản, và hơn nữa đã lỡ mang tiếng lì lợm, dữ, khó lòng yêu cầu Tuấn nói nhỏ lại hay nói tiếng Việt Nam. Tôi biết là cái lì nầy sử dụng không đúng lúc, không đúng chỗ, nhưng cũng đành phải lì, hơn nữa cái bốc hứng của rượu ngà ngà làm tôi đành măng phú tất cả. Kệ mẹ nó, tới đâu thì tới, cứ vui chơi thoải mái cho một buổi nhậu tao phùng. Đến khi người ngồi bàn kế cận đột nhiên nói xen vào một câu tiếng Anh để cảnh giác chúng tôi:

_ Có mấy tên công an mới vào quán, hai ông nên cẩn thận.

Lúc đó Tuấn mới sực nhớ lại hiện trạng của tôi, một tên tù đang trên đường vượt ngục bôn tẩu, mới chịu ngưng câu chuyện và rời đi chỗ khác. Chúng tôi đến một quán cà phê nhạc để thưởng thức tiếp buổi tối phù du sắp tàn. Tôi run rẩy thưởng thức từng điếu thuốc ngon, từng ngụm cà phê nồng nàn, từng lời nhạc vàng mộng mị. Đã dễ chừng gần sáu năm tôi không hề được nghe công khai những loại nhạc tình cảm nầy. Ở trong tù bọn cán ngố cấm triệt để “nhạc ngụy,” và chúng tôi chỉ hát lén hoặc nghe lén khi có người canh chừng để báo động.

Thì ra ở ngoài phố vẫn có những quán dám chơi nhạc vàng công khai. Thật “phép vua thua lệ làng.” Bọn Cán bộ mỗi Phường đều có quyền riêng của một ông vua trong vùng cai quản của mình. Bọn họ cũng thích nghe nhạc vàng và nhất là khi được đút lót, cũng làm ngơ để cho một số quán thỉnh thoảng xen kẽ chơi nhạc vàng để câu khách. Tôi mơ màng nhìn cô chủ quán ngồi nghiêng nghiêng ở quầy hàng, trông đẹp như một bức tranh.

Thật hạnh phúc! Phải ở cảnh ngộ như tôi mới thây trân trọng những giờ phút thần thánh quí báu đó. Có được bao người khách đang ngồi cùng tôi trong đêm nay cảm nhận được cùng một nỗi hạnh phúc tuyệt vời như vậy? Trong cảm giác ngây ngất của rượu, của nhạc, của nhan sắc, tôi giã từ thành phố lên đường. Tôi phải tiếp tục ra đi vì Tuấn cho biết phi trường Nha Trang đã lâu không có hoạt động của phi cơ.

Trong khi chờ đợi tàu hỏa, Tuấn đưa tôi đến nghỉ tạm tại một lò bánh mì, chào hỏi nói chuyện với vài người thợ đang làm đêm và bảo tôi nằm chờ Tuấn. Tôi nằm đu đưa chiẽc võng đã quá cũ, tưởng chừng như không chịu đựng nổi sức nặng khiêm nhượng của thân thể gầy gò của mình. Tuấn đi quá lâu ngoài sự dự trù, tôi đang nằm mơ màng thì có tiếng hỏi:

—     Ai nằm đây?

Tôi bật người ngồi dậy.

—     Chào anh. Tôi là bạn Tuấn. Tôi nằm đợi Tuấn.

—     Tuấn nào?

Tôi cố diễn tả Tuấn là ai, nhưng người chủ tiệm bánh mì vừa đi đâu trở về vẫn không hiểu. Tôi bảo:

—     Mấy nhân công của anh cũng biết Tuấn mà. Tuấn bảo Tuấn là bạn của anh.

Người chủ lại hỏi hai người làm công về Tuấn, họ cũng có vẻ bỡ ngỡ hình như không quen biết Tuấn lắm, bảo:

—     Có một ông dẫn ông nầy lại mua bánh mì ăn. Chúng tôi bận làm bên trong nên cũng không để ý lắm.

Tôi bối rối vô cùng, người chủ tiệm nhìn tôi nghi ngờ. Tôi bâng khuâng không biết nên bỏ đi hay vẫn ngồi đây chờ Tuấn. Có lẽ tôi phải đi, bởi vì ở tại đất nước nầy, chẳng có ai dám chứa người lạ trong nhà về đêm. Tôi cố trình bày và phân trần để tìm cách rút lui. Trong cơn hoang mang, lo lắng, bỗng xe Tuấn xuất hiện đầu ngõ. Tôi mừng rỡ vội vàng chào chủ nhà và đi ra đường, trách Tuấn:

—     Bạn làm tôi nhức tim quá! Tay chủ tiệm chẳng biết bạn là ai cả.

—     Có lẽ lâu ngày tôi không ghé lại nên nó quên đó. Thôi, bỏ qua chuyện đó đi, mình lên ga xe lửa là vừa.

Nhà ga xe lửa vẫn sinh hoạt rộn ràng về đêm, hành khách nằm ngồi ngổn ngang đây đó chờ giờ lên đường. Một vài tên công an mang súng đi đi lại lại làm phận sự an ninh khu vực. Tuấn ghé vào một quán ăn mua một gói thuốc. Tôi đứng sững người trước ánh sáng ngọn đèn néon hắt ra từ trước cửa tiệm: Thằng Tuyết “cận thị” đang ngồi ăn khuya trong đó. Hắn là tù cùng Trại tù A30 vừa được phóng thích cách đó vài tháng. Ở Trại  A30 hắn nổi tiếng là một tay ăng ten đắc lực. Chết mẹ rồi! Máu ăng ten là một loại máu độc, lúc nào cũng cồn cào rạo rực trong người những tên luôn tìm cách báo cáo hãm hại kẻ khác để tìm một ân sũng, một công trạng, và năm ngàn tù binh ở Trại  A30 ai lại không biết Lý Tống huống gì Tuyết. Tôi không biết nó có kịp thấy tôi không, có lẽ đôi mắt cận thị đã không cho phép nó nhìn xa ra ngoài để nhận diện được tôi, hoặc nó đã thấy và đang tìm cách báo cáo cho bọn công an đang quanh quẩn gần đây.

Tôi quay người bước vội đi lẩn vào đám đông, hối Tuấn mau mua vé xe lửa vì tình trạng quá bất an và vẫn để mắt trông chừng xung quanh coi xem động tĩnh. Tuấn đi lòng vòng trong nhà ga để tìm cô bán vé quen biết. Giờ nầy cửa phòng bán vé chưa mở, cô bán vé không biết đã đến chưa. Tình trạng khá bi thảm và khẩn trương, bất ngờ Tuấn thấy cô ta vừa dựng xe đạp ở hành lang bên trong, bước tới chào hỏi và nói chuyện.

Phải công nhận Tuấn có tài ngoại giao thật khá. Chẳng biết làm thế nào mà Tuấn gạ gẩm mua được một vé ở ngoài phòng bán vé, khi ở cái xứ Cộng Sản nầy việc mua một cái vé phải tốn nhiều giấy tờ chứng minh, chưa kể phải đứng sắp hàng hằng tiếng đồng hồ. Chúng tôi đi vòng ra phía ngoài, rồi lợi dụng bóng tối lẩn theo đường rầy để đi vào chỗ xe lửa đậu. Chỉ có cách đi vào bất hợp pháp đó thôi, bởi vì đi qua cửa chính lại phải trình giấy tờ kiểm soát. Tôi chào Tuấn lần cuối, rồi leo lên xe lửa, trèo lên giá sắt đựng hành lý trên đầu các dãy ghế ngồi, nằm xuông nghỉ. Tôi nằm một mình trong bóng đêm và bắt đầu thiêm thiếp ngủ trong khi ngoài kia có lẽ Ty Công An Phú Khánh đã nhận được tin báo của Trại Tù A30 về trường hợp một tên tù vượt ngục và đang bủa lưới vây bắt.

Trở Về Sài Gòn, Thủ Đô VNCH. 

Trời sáng dần và hành khách bắt đầu tấp nập lên xe lửa. Một vài thanh niên có vẻ bụi đời cũng bắt chước tôi leo lên nằm trên khoang hành lý vĩ sắt vì bên dưới chật chội thiếu chỗ ngồi, dù ngồi dưới sàn. Xe lửa chạy cùng với sự nhộn nhạo, ồn ào hỗn tạp của đám hành khách. Đằng góc xe lửa có một nhóm bộ đội miền Bắc đang ngồi hút thuốc lào, có lẽ họ được chuyển vào công tác ở Sàigòn. Tôi nằm ngủ gà ngủ gật, đến gần trưa thức dậy và kêu cơm nước để ăn uống khi xe lửa đậu tại một nhà ga dọc đường. Đám con buôn bán hàng rong đang cố chen lấn lên xe lửa, gào rống, la hét để bán thức ăn.

Đã đến giờ toán kiểm soát vé trên xe lửa làm việc. Có mấy người dân không có vé đang bị mua vé phạt với giá cao; có một ông già ăn mặc dơ dáy rách rưới đang bị đẩy xuống xe lửa vì không có vé và không có tiền mua vé. Ông ta xuống xe lửa rồi lại bám leo lên khi xe lửa bắt đầu chuyển bánh. Đám soát vé lại ruồng theo bắt ông già ù lì. Nơi kia lại có những người cò kè thêm bớt, xin xỏ khi phải bị mua vé phạt. Tôi leo xuống sàn xe lửa, đứng lẫn lộn trong đám khách chờ soát vé. Tôi cũng cười, cũng chỉ chỏ, cũng bình phẩm trong bối cảnh hỗn loạn với nhiều cảnh éo le tức cười của sinh hoạt xe lửa phức tạp. Không hiểu sao hai tên soát vé lại bỏ sót tôi, vé cầm trong tay sẵn sàng đưa ra khi bị hỏi, nhưng họ cứ lấn tới, cứ nạt nộ, rồi lại đi qua. Mua được một cái vé thật nhiều gian truân thế mà cái vé giờ nầy lại không cần sử dụng tới, tôi mỉm cười tự nhủ:

— Nếu trên đời nầy có những kỷ vật quí giá cần giữ làm kỷ niệm, thì cái vé xe lửa không bị bấm lỗ nầy thật xứng đáng được giữ kỹ trong ký ức cuộc đời thăng trầm giông bão của ta.

Xe lửa, xe đò, nói chung những phương tiện chuyển vận đường xa đã trở thành những công cụ để đám viên chức nhà nước Cộng Sản hối lộ, làm tiền một cách trắng trợn nhất. Với xe đò, những con buôn nhỏ thường bắt bồ với tài xế để nhờ họ dấu diếm dùm vài chục cân thịt, hoặc thuốc tây, hoặc những sản phẩm địa phương ở những chỗ kín đáo dành riêng đặc biệt. Khi đến trạm kiểm soát, lơ xe lúc dẫn công an đi khám xe, thường ăn ý nhau để bỏ qua, đồng lõa để chia sẻ mối lợi. Vì thế mà giới buôn bán hàng lậu xe đò thường thường là phụ nữ, tương đối còn trẻ và có nhan sắc, bởi vì không những chỉ chi tiền, một số còn phải dan díu với lơ xe và tài xế, trở thành những nhân tình tạm bợ, để khi đến một tỉnh khác, trong khi bán hàng và chờ trở về, hẹn hò nhau tại những khách sạn bình dân gần các bến xe.

Tài xế, lơ xe trở thành giới đàn ông đào hoa nhất trong cái xã hội muôn mặt dưới chế độ Cộng Sản. Riêng với xe lửa, phương tiện chuyển vận hữu hiệu hơn, các con buôn có thể chở lậu hàng chục bao gạo, hàng trăm, ngàn bó củi đốt, và một khi đã thỏa thuận giá tiền và địa điểm, xe lửa chạy chậm lại, người buôn lậu, ném hàng xuống dọc theo đường rầy và các xe ba-gác đã đứng chực sẵn, chất lên và chuyển đi.

Chuyến xe lửa tôi đi về Sàigòn đã xuống hàng an toàn tại bốn địa điểm, nhưng chuyến hàng thứ năm bị đổ bể vì công an được mật báo, rình sẵn và bắt trọn, tịch thu tất cả tang vật.

Cuối cùng xe lửa về đến Sàigòn gần 10 giờ tối. Tôi không chờ xe đến ga mới xuống, bởi vì ra cổng lại còn bị chận để soát vé một lần nữa nên đứng bám người ở bậc thang lên xuống và chờ khi xe lửa đi qua một khúc quành tối vắng, phóng người nhảy xuống đúng theo kỹ thuật: quay mặt về trước rồi nhảy lùi ngược hướng chạy của xe lửa. Tôi vừa học được cách nhảy đó của vài thanh niên đi cùng chuyến. Nhảy như vậy sẽ làm giảm sức kéo nhào về trước khi chân vừa chạm đất.

Đó là bài học đầu tiên khi tôi bắt đầu dấn thân vào cuộc sống lén lút bất hợp pháp cùng đám người sống trong bóng tối như tôi, tại thành phố đầy nhũng màu sắc bí ẩn của Sàigòn sau ngày bị mất vào tay bọn Cộng Sản xâm lược.

Tôi lại nhớ đến các cô cháu hờ bạn của cô cháu trong thời gian trốn lánh ở Sài Gòn. Làm sao tôi cưỡng được bốn, năm cô cháu văn nghệ thích nghịch ngợm bông đùa. Sáu năm tù chỉ làm già dặn những kinh nghiệm của một đời người, nhưng tình cảm, tâm hồn người tù vẫn dừng lại ở mốc thời gian cũ, trẻ trung. Tôi trở thành nạn nhân, một nạn nhân hạnh phúc, vì được lọt vào trong một tổ quỉ toàn đàn bà con gái và mỗi cô cháu văn nghệ đều tự cho mình là một đối tượng duy nhất, độc tôn. Cho đến cái ngày họ khám phá được sự thật về trái tim đa tình “Tỉ Can 9 lỗ” của ông chú hàng xóm thì một phiên họp khoáng đại được triệu tập khẩn cấp nhằm ngày tôi đi vắng. Họ trách Lan.

—     Đồ gian ác. Mầy làm mai làm mối, mầy âm mưu dụ dỗ tụi tao cho chú mầy.

Sau đó, Chi đe dọa:

—     Mỗi lần đi qua đây, tao sẽ ném đá chú mầy cho bõ ghét.

Phượng giận dữ:

—     Tao sẽ đi báo công an bắt chú mầy về tội vượt ngục.

Vân góp vào:

—     Tao sẽ “thiến” chú mầy.

Đến khi Lan tiết lộ: “Chú đi vượt biên đã mấy ngày, không biết có đi lọt hay bị bắt.” Thế là cả đám sụt sùi, bù lu bù loa khóc:

—     Trời ơi! Tội nghiệp chú! Cầu Trời phù hội cho ông chú đáng thương!

Ngày vượt ngục trốn về Sài Gòn, có lần đi ngang khu vục nhà người anh ở, nghĩ cái tình cũ, tôi tạt ghé vào thăm. Anh tưởng tôi được thả về, đón tiếp một cách mừng rỡ nhưng đến khi nghe tôi tiết lộ chuyện vượt ngục, anh hoảng hồn không dám chứa chấp vì sợ bị vạ lây. Bởi cái ám ảnh, cái ảnh hưởng của chế độ yêu quái đó, nên dù là người rất tình cảm, anh cũng phải tự hạn chế và thủ thân trong một hoàn cảnh nguy hiểm.

Không những chỉ những người có óc Cộng Sản, mà ngay cả những người quốc gia bị sống dưới chế độ Cộng Sản cũng phải dứt bỏ những liên hệ ruột thịt vì an toàn bản thân. Một người anh khác cùng mẹ khác cha cũng đã trần tình: “Ở khu vực nầy anh là người có cấp bậc cao nhất được phóng thích về nhờ bị bệnh, nhưng bọn cớm vẫn thường rình rập theo dõi. Nếu nó tóm được em ở đây, anh cũng tàn đời luôn!” Vì thế mà trong đêm đột nhập phi trường Tân Sơn Nhất trong kế hoạch đánh cướp máy bay, trong lúc nằm yên ổn nghỉ ngơi tại chỗ ẩn trốn, tôi đã làm hai câu thơ để tự thương cảm mình: 

Giữa lòng đất địch, ta còn có những đêm yên ngủ,

Trong lòng người thân, ta chẳng có một chốn nương thân.

Một Long “sức” cám cảnh gào lớn: “Trời ơi! Trung Tá Long, Trưởng phòng Hành Quân Chiến Cuộc mà lại ăn cháo heo!” trong khi tay vẫn không ngừng bốc những củ khoai sùng, nát, tôi vừa liều chun vào chuồng heo múc trộm.

Một cô gái trẻ đẹp, học thức, gia đình một thời quyền quí, bỗng cau có xẳng giọng “Mẹ sao kỳ vậy! Con làm việc đủ tiêu chuẩn thì mẹ cho con ăn đủ tiêu chuẩn chứ!” Miệng vừa nói tay vừa giật lại đĩa bánh bèo, khi người mẹ hiếu khách thấy tôi vào định chia sớt một ít để mời. Tôi lặng người, kinh hoàng, đau đớn. Từng chứng kiến cảnh tù nhân đói khát tranh giành nhau từng miếng cơm cháy, những cặp mắt so đo, thèm thuồng từng chút thịt chút cá trong những bữa ăn ngày lễ, tôi không ngờ một cô gái dễ thương, thánh thiện như Trinh lại có phản ứng kinh khủng như vậy.

Tôi nhớ đến người anh khác ở Sàigòn. Ngày tôi trốn về gặp anh lần đầu, anh ôm tôi khóc lớn đầy xúc động. Tôi ít đi lại thăm anh bởi ngại rằng hoàn cảnh vượt ngục của mình sẽ đem lại hậu quả nguy hiểm cho gia đình anh, hơn nữa nhà anh con cái đông, cũng đang gặp hoàn cảnh thiếu thốn. Một lần đang ngồi trên lan can lầu — chỗ trú ẩn hàng ngày của tôi, bởi vì ngồi ở đó thì dù bà chủ nhà hay xét nét kiếm chuyện có xuống thăm hoặc nói chuyện với cô cháu cũng không thấy được tôi vì phòng và hành lang có tường ngăn và cửa khóa, hơn nữa với bức mành kín dày phủ phía ngoài, tôi có thể ngồi đó học, thỉnh thoảng nhìn dưới đường xem thiên hạ qua lại để giải buồn mà không ai thấy được mình — tôi chợt thấy dáng dấp vội vã luống cuống của người anh bên kia đường. Anh vừa tiến về hướng tôi, đôi mắt thỉnh thoảng liếc nhìn lên lan can chỗ tôi ngồi trong dáng lén lút, kín đáo. Tôi chợt cảm thấy vui mừng nghĩ rằng anh đang đến thăm tôi, nhưng vì cẩn thận sợ bị theo dõi, nên vừa đi vừa cảnh giác. Anh băng qua đường, mắt đảo láo liên, bước đi vội vã, hình như anh vẫn biết tôi thường ngồi đó.

Tôi chuẩn bị mở cửa sẵn để anh khỏi gõ cửa, khỏi phải đứng chờ đợi lâu bên ngoài nguy hiểm, rồi đứng cạnh cửa đợi chờ. Khoảng khắc chờ đợi cứ kéo dài ra mãi, tôi ngạc nhiên vì từ thang lầu bước lên chỉ cần hai phút mà mười phút trôi qua vẫn không nghe tiếng bước chân người. Đợi chừng mười lăm phút, không thấy động tĩnh, tôi mở cửa đi xuống lầu xem xét, chẳng thấy anh đâu! Có lẽ nào tôi nhìn nhầm người khác? Không! Mắt tôi không đến nỗi tệ để không nhận ra người thân trong vòng mười mấy thước. Có lẽ nào?

Tôi chợt nghĩ đến một điều mà chỉ nghĩ đến tôi đã thấy đau xót toàn thân. Có lẽ nào? Không, tôi không thể tưởng tượng là tôi có thể nghĩ như vậy, và không thể nào có chuyện như vậy. Tôi muốn xác nhận rằng tôi vừa chợt có một ý nghĩ không đúng, tôi muốn phá bỏ cái ám ảnh kỳ dị kia. Tôi khóa cửa phòng đi xuống đường, đi vòng ra phía chợ, len lén đi về phía tiệm phở mà đã một vài lần anh dẫn tôi đến đó đãi ăn. Ôi cái xứ sở nầy, dưới chế độ nầy, đãi nhau một tô phở là phải thân tình lắm, phải quí nhau lắm. Cái sự thật đau lòng không tưởng tượng được lại đang nằm sờ sờ trước mặt tôi. Anh đang ngồi tít phía trong góc tiệm và cẩn thận hơn, lại xoay lưng ra ngoài đường. Thì ra khi đi qua đường, anh lén lút vì sợ tôi thấy, chứ không phải vì sợ bọn công an theo dõi. Anh sợ lại phải mời tôi ăn một tô phở nữa, và anh phải ngồi quay lưng ra ngoài để lỡ tôi có đi ngang qua đó sẽ không nhận được anh. Tôi lẳng lặng bỏ đi, lòng quặn đau vì nhũng thực trạng kinh khủng của cuộc đời trong xã hội mới.

Tôi chợt nhớ đến H.Y., một người bạn Phi công cùng Khóa 65A. H.Y. không những cùng Khóa, bay cùng Phi đoàn 122, mà lại cùng là bạn nhậu thân thiết của những ngày tháng cũ. Nhà H. Y. ngày trước giàu có, và dù Cộng Sản tịch thu một số xe cộ, tài sản vẫn còn tương đối khá hơn những người khác cùng cảnh ngộ. Ngày trốn tù về, tôi ghé thăm, vợ bạn tôi cho biết H.Y. vẫn còn đang bị ở tù ngoài Bắc. Vài tháng sau, tôi gặp một người bạn Không Quân khác cho biết H.Y. đã về rồi (và lại về trước cả ngày tôi đến thăm!). Không tin, tôi lại đến thăm H.Y. và lần nầy, may mắn hơn, tôi bất ngờ gặp được H.Y. đang đứng nói chuyện với một người khách trên hành lang. Tôi mừng rỡ gọi, và H.Y. xuống gặp tôi sau khi người khách lạ vừa về. H.Y. tay bắt mặt mừng, ngạc nhiên vì tưởng tôi đã chết trong trận đánh bom cuối cùng tại Cam Ranh. Chúng tôi kể hết từ chuyện tù đến chuyện ngày cũ và H.Y. hẹn tôi chúa nhật tuần sau trở lại cùng nhau đi nhậu một trận để tâm tình.

Chúa nhật tôi trở lại, bấm chuông và cô con gái lớn của H.Y. thò đầu ra cửa bảo tôi:

—     Bố đi chơi từ sáng đến giờ chưa về.

—     Cháu biết hồi nào bố về không? Bố có dặn gì không?

—     Dạ không. Bố đi có lúc đến tối khuya mới về, cháu không chắc.

Tôi nói nhắn lại:

—     Bố về nói có chú Lý Tống ghé thăm. Thôi chúa nhật đến chú ghé lại.

Chúa nhật sau tôi lại ghé thăm H.Y. Tôi nghĩ có lẽ tuần trước H.Y. bận chuyện bất ngờ và tôi cũng nôn nóng vì tình nghĩa của chúng tôi ngày trước. Tôi bước lên thang lầu, lòng hớn hở vui mừng khi nghe tiếng H.Y. đang đùa giỡn với các con trong phòng.  Ôi cái giọng thân thuộc nhừa nhựa, ồm ồm của H.Y., cái giọng đặc biệt đó mà ngày xưa mỗi lần đi tìm H.Y. chưa cần vào nhà, hoặc vào quán, tôi đã biết là có H.Y. bên trong hay không. Cái giọng đó gần sáu, bảy năm vẫn không thay đổi. Cái giọng đó cùng giọng của các đứa con H.Y. đang la hét, đùa nghịch bỗng tắt ngay, im hẳn khi nghe tiếng gõ cửa của tôi. Có giọng chú bé vọng ra:

—     Ai đó?

—     Lý Tống đây. Nói với bố có chú Lý Tống đến thăm.

—     Bố đi vắng. Không có ở nhà.

Giọng chú bé lạnh lùng vẳng ra sau một giây lưỡng lự như đang hội ý bên trong. Tôi bàng hoàng thảng thốt. H.Y.! H.Y.! Tôi không tin ở tai mình, tôi không tin điều đang xảy ra trước mắt mình. Tôi nghẹn ngào không nói được tiếng nào. Bên trong cũng im lặng ngột ngạt. Tôi cũng thấy ngột ngạt muốn tức thở. Một luồng khí độc trong người chợt bốc lên trí não làm tôi chóng mặt, xây xẩm, bước đi như một xác chết. Tôi không còn đủ sức để nhấc chân lên, dù tôi đang bước xuống lầu. Tôi tựa vào thang lầu, bám vào tay cầm để cho thân mình tuột xuốhg. Cái xác cứng đờ đó cuối cùng cũng đã ra khỏi được cầu thang, kéo lê qua cái sân rộng và thoát được ra cổng. Mắt tôi như kẻ bị thắt cổ, bị giết chết, căng toét vì kinh hoàng, ngạc nhiên. Có lẽ nước mắt không còn đủ để diễn tả nỗi đau đớn chấn động đó. Những giọt máu đã ứa ra từ mắt để tôi cảm thấy bầu trời đỏ bầm trong nỗi tuyệt vọng ghê gớm.

Nỗi đau đó nổ bùng lại ngày hôm sau, khi bất ngờ đang đi trên đường Võ Tánh, tôi bỗng chợt giật minh vì một tiếng động đằng trước. Ngoài những lúc cần phải cảnh giác công an cảnh sát chận đường để tránh, đôi lúc tôi đi mơ màng như người mộng du mà không hề để ý những diễn biến chung quanh. Thì ra H.Y. và vợ vừa dẫn xe qua đường định vào tiệm ăn sáng nhưng bất ngờ thấy tôi, sợ phải mời ăn, luýnh quýnh định quẹo xe gấp vào hẻm tránh, không may bàn đạp xe đụng vào gốc cây làm H.Y. bị vấp té theo xe. Tôi lẳng lặng làm như không thấy, nhìn lơ đãng bên kia đường và tiếp tực đi thẳng.

Vâng. Chỉ mới bước sang giai đoạn ngũ niên lần thứ hai sau ngày “giải phóng” chỉ mới áp đặt chế độ khủng bố tinh thần và thể chất trong vòng sáu năm, Cộng Sản đã biến đổi được tâm lý con người vượt quá hẳn những điều ta có thể tưởng tượng được.

Những sự thật cay đắng trần truồng phơi bày lộ liễu đây đó một cách thản nhiên, những điều mà chỉ mới tượng hình trong tư tưởng cũng đủ làm ta ngượng ngùng xâu hổ không yên.

Tôi nhớ những ngày bi thảm nhất của gia đình trong thời Pháp thuộc. Những ngày nhà thiếu gạo chỉ nấu một nồi cơm nhỏ. Cơm vừa dọn ra thì người chị lớn đã vội vã xúc một chén đổ xuống đất cho con chó già. Ôi con chó già gầy còm, rụng lông, ghẻ lở, vẫn sống dai dẳng không chịu chết. Có những lần trở trời bệnh hoạn, chó không ăn hết phần cơm, chúng tôi ngồi nhìn những hạt cơm thừa bừa bãi trên đất mà thèm thuồng, tiếc rẻ. Thật vậy, thời nô lệ Pháp, tâm tính con người vẫn chưa đến nỗi tồi tệ như thời nô lệ Cộng Sản.

 Sự quan sát bị hạn chế bởi những dãy nhà cao, bởi những hàng rào kẽm gai giăng đây đó. Tôi chợt nảy ra một ý định táo bạo. Và thật đáng phàn nàn, như một kẻ thường tự nhận là day dreamer, tôi ít khi ngần ngại lưỡng lự thực hiện sáng kiến bất ngờ nào đó của mình.

Tôi leo thang lên château d’eau trước Bộ Tư Lệnh khi mọi vật đều ngái ngủ trong giấc trưa oi nồng. Tại một cao điểm lý tưởng hai phần ba chiều cao, tôi đứng tựa lưng vào thành cột bê tông như kẻ hóng mát nhàn du quan sát toàn bộ phi trường. Phía Tây Đài Kiểm soát, phía bãi đậu Air Viet Nam, những chiếc Boeing ngạo nghễ giữa đám phi cơ hành khách dân sự của Liên Xô. Dọc theo phi đạo North-South, đủ các loại vận tải cơ cũ vẫn nằm lặng lẽ trong các ụ phi cơ. Không một chiếc F5 hoặc A37 và thật bất ngờ, trên đoạn đường tôi qua lại tối hôm qua, một bãi đậu phi cơ LI9 ngay tại giao điểm đường ra cổng Huỳnh Hữu Bạc và đường nối liền Air Viet Nam. Trên 50 nàng L19 trắng tinh trong lớp sơn còn mới, mời mọc kêu gọi người tình xưa.

Nếu không có A37 với đầy đủ bom đạn để có thể ném bom gây bạo động và nổi dậy, có lẽ tôi phải chấp nhận một giải pháp yếu: Cướp một chiếc L19 bay ra biển Nam Hải đáp ép buộc trên Mẫu Hạm của Đệ Thất Hạm Đội hoặc đáp xuống biển theo những tính toán kỹ thuật chi tiết. Tôi xuống thang và sau đó leo hàng rào kẽm gai thoát ra phi trường vào lúc sẫm tối, đói khát vì không tìm được một quán ăn trong phi trường đã một thời đầy dẫy những Câu Lạc bộ sang trọng đến những Quán cóc lẹp xẹp dọc theo các Khu Gia binh. Bắt buộc phải trở ra để chuẩn bị cho cuộc đột nhập qui mô hơn với lương thực và nước uống đủ tử thủ nhiều ngày.

Ngày 13 tháng 9 năm 1981 (tôi chọn số 13 cấm kỵ) ghé lại nhà Hạnh. Lần này Hạnh phải bán cái quần jean tốt nhất để bao lại tôi một chầu linh đình. Quen thuộc đường đi, tôi hướng thẳng vào Trạm Máy đèn bỏ hoang, dỗ một giấc ngủ sớm để chuẩn bị hoạt động nửa đêm. Hai giờ sáng, tôi băng qua mấy liếp rau muống, leo lên chateau d’eau với ý định sẽ nằm lại trên bồn chứa nước suốt một ngày để nghiên cứu kỹ toàn bộ vị trí phi cơ cùng các sinh hoạt cần thiết. Hai bậc cầu thang cuối cùng ẻo lả run rẩy dưới những bước chân thận trọng, dò dẫm. Một nhà chòi nhỏ, một ngọn đèn dầu, một cái bàn với bình trà và điếu cày thuốc lào, hai đôi dép râu ở ngưỡng cửa, hai khẩu AK treo vách trong và hai tên Bộ đội nằm ngủ mê mệt dưới sàn. (Tôi đã tính sai một bước đầu của kế hoạch, mặc dù với sự quan sát tỉ mỉ lần đầu, tôi đinh ninh rằng cao điểm lý tưởng nầy không hề có sự canh gác.) Tôi liên tưởng đến một điệp vụ dễ dàng thực hiện: Đánh thuốc mê hai tên đang ngủ và bỏ thuốc độc vào bồn nước. Sinh mạng của toàn bộ Phi trường địch đang đặt dưới giá treo cổ.

Tôi đành trở xuống và tính một kế hoạch mới. Đến giấc trưa tôi lại chuẩn bị lên château d’eau. Tiếng kẻng nghỉ và kẻng cơm trưa hôm nay nghe khó phân biệt, tôi đứng tần ngần dưới chân bậc thang đầu, tính toán giờ giấc. Bầu không khí khô hanh thoi thóp trong giấc ngủ trưa. Riêng bộ phận anh nuôi sát bên là còn hoạt động. Tên gác chateau d’eau ăn cơm về chưa? Lên sớm bị lộ, lên trễ nhiều người qua lại trong giờ làm buổi chiều. Tôi nhắm mắt một giây tĩnh tâm và tự quyết định theo linh cảm riêng: Đợi mười phút nữa. Khoảng tám phút tôi đang trong tư thế chuẩn bị hành động thì có tiếng chân nguời. Tôi vội ẩn mình sau chân cột chateau d’eau bề ngang độ chừng một thước, đám cỏ tranh cằn cỗi không đủ che kín thân người.

Đường mòn tới cầu thang đi thẳng về hướng tôi và chân cầu thang cách tôi hai thước. Tôi ép mình thật sát vào lớp vôi sơn ngã màu, di chuyển khéo léo từ phải sang trái tránh sự phát hiện của tên gác đang tiến tới gần. Bước chân nặng nề bắt đầu dẫm lên những bậc thang sắt, bỗng nhiên tên gác dừng lại tại cầu thang thứ ba. Sự quan sát chăm chú một cách khác lạ càng dán thân mình tôi thật sát vào tường. Một cử động nhỏ cũng có thể lọt vào cặp mắt cú vọ kia. Tôi bất động như pho tượng đá, trừ hai con mắt. Qua tàn lá thưa thớt trên đầu, tôi thấy rõ từng biến đổi nhỏ trên khuôn mặt y. Tôi tính sẵn kế đóng vai một tay Bộ đội đi phóng uế bừa bãi vì bị Tào Tháo đuổi bất ngờ, nếu bị bại lộ vì không thể nào chạy thoát trong phi trường địch vào ban ngày mà không bị bắt hoặc hy sinh. Ba phút đằng đẵng trôi chậm chạp.

Qua những giây phút hiểm nghèo tôi chợt tự khám phá ở mình một đặc tính hiếm có: sự bình tĩnh. Sự bình tĩnh tăng dần theo mức độ nguy hiểm. Khi nòng súng chĩa vào đầu chuẩn bị bóp cò là lúc tôi đạt đến tột đỉnh của sự bình tĩnh. Sự bình tĩnh hài hòa trong sự siêu thoát, nỗi hạnh phúc kỳ lạ chợt tràn ngập như một ân huệ cuối cùng của sự sống.

Mười lăm phút sau khi tên gác có lẽ đã bắt đầu ngủ, tôi nhẹ nhàng leo lên thang. Đang quan sát, chợt một tiếng gọi lớn từ dưới đường vọng lên:

— Anh Trung!

Một chị Bộ đội dừng xe đạp bên đường, ngỡ tôi là người tình của ả. Tôi xua tay, ra dấu chỉ về hướng nhà ăn bên cạnh. “À! Thế ra chàng còn đang ở nhà ăn,” chị ta nghĩ vậy và đạp xe đi tiếp. Tôi vội vã tranh thủ tụt thang trở về chỗ ẩn núp. Hú hồn! Tôi nằm bồi dưỡng nhưng không dám ngủ vì sợ ngủ quên, tiếng ngáy, tiếng thở mạnh có thể vọng vào tai những tên Bộ đội vừa đến, đang lo chăm bón rau muống cách vài thước, và cố kềm chế những tiếng ho, tiếng tằng hắng không cưỡng được.

Trước khi rời nơi ẩn nấp, tôi lấy viết ghi thêm 13-9-1981 vào chỗ lưu bút kỷ niệm lần trước “LýTống, 1-9-1981.” (Ôi, một ngày vinh quang trở lại, ta sẽ dẫn bạn bè tới nơi chốn này để chia sẻ những giây phút hồi hộp căng thẳng của ngày hôm nay, tôi nghĩ.)

Đeo một bị xách nhỏ với mì gói và bi đông nước, tôi đảo một vòng qua Cư xá sau lưng Câu Lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc để tìm nguồn tiếp tế nước khi cần. Những thùng phi nằm ngổn ngang trước các hiên nhà. Các cháu-ngoan-của-Bác thiếu ăn lười biếng nô đùa. Tôi leo lên hàng rào B40 thuộc khu vực Hangar. Những cỏ tranh cao che khuất những hào rãnh lởm chởm, nên khi phóng mình nhảy xuống, tôi suýt què chân vì sự bất cẩn, xem thường của mình. Ánh trăng cận rằm mọc sớm, tôi bò đi lại giữa các bãi đậu phi cơ. Sự cẩn thận quá đáng làm chậm quá trình di chuyển và chóng mệt. Tôi vươn vai đứng dậy, đi mò mẫm theo các bức thành ụ đậu phi cơ với những kỹ thuật tiêm nhiễm qua sách truyện, xi-nê.

Đây chỉ là một bãi phi cơ phế thải và hư hỏng nặng. Tôi lựa chọn một chỗ tạm nghỉ chờ đợi. Nửa đêm, tôi bò chậm rãi về phía bãi đậu L19. Không hề có tuần tiễu hay những chòi gác dọc theo các ụ, nhà vòm như ngày trước. Chỉ có một dãy nhà của nhóm chuyên viên phi đạo là dám phung phí xài một ngọn đèn néon suốt đêm. Tôi tiếp cận chiếc L19 đầu tiên, hai bánh trước dán cái ruột xẹp lép xuống nền xi-măng. Kính windshield bể từng mảng lớn. Nhẹ mở cửa, quan sát bên trong, bình điện, các phi cụ, phi kế đều bị gỡ cả! Lan 19 đứng xa trông mỹ miều như một mẫu hình toàn hảo của thẩm mỹ viện, càng đến gần càng thây sự tàn phá của giai đoạn tiền giải phẫu: Những vết cắt, vết mổ, vết đục đẽo bởi những bàn tay vụng về. Sự thất vọng tăng dần, không một chiếc phi cơ nào còn toàn vẹn. Sự tháo gỡ một phần theo kế hoạch chung, một phần theo kế hoạch riêng của một số “sưu tầm viên.” Tôi trở về ụ đậu chiếc phi cơ C119 số đuôi 077 để ẩn náu nghỉ ngơi.

Bầy muỗi đói quần thảo suốt đêm lúc tôi đang trong cơn ngủ chập chờn đầy cảnh giác. Sáng hôm sau tôi leo lên phòng lái, ngồi vào ghế Trưởng Phi cơ với một chút ngụy trang che đậy để quan sát hoạt động rộn ràng trên phi đạo. Cảm giác náo nức, rạo rực theo từng tiếng gào rú của phi cơ chuẩn bị cất cánh ngày hôm trước nguội lạnh dần. Sự nhộn nhịp huyên náo tập trung vào những phi vụ huấn luyện touch and go của một loại phi cơ dân sự Liên Xô và hoạt động của các chiếc Boeing nước ngoài. Cách 150 thước, một chiếc L19 đang bị xả thịt trong Hangar. Tôi nhẩn nha nhai nhũng sợi mì gói và uống nước lấy từ các vũng nước đọng trong các bãi chứa các bộ phận máy bay hư lộ thiên.

Khoảng một giờ trưa bỗng nhiên có hai tay thợ máy xăm xăm xách túi đồ nghề đi về phía tôi. Không có chỗ ẩn nấp kịp thời, tôi đành ngồi ì tại chỗ chuẩn bị làm vẻ như một tay Bộ đội Không Quân đang cải thiện vài đồ sưu tầm vụn vặt. May thay, khi một tên chuẩn bị leo lên phi cơ, tên kia góp ý:

— Chiếc này hôm qua gỡ hết rồi, qua chiếc kia đi.

Để tránh sự nguy hiểm bất ngờ tương tự, tôi leo xuống theo lối bánh mũi phi cơ, co ro trong một khoang phòng chật hẹp ngột ngạt chứa giây điện và giây cáp bánh lái phía bên phải. Gần ba tiếng đồng hồ không trăn trở cựa quậy, tôi bò trở lên phòng khách phi cơ, làm vài động tác thể dục. Khi tiếng đục gõ chát chúa ngưng hẳn và hai tên thợ máy dọn đồ đi về, tôi chuẩn bị xách túi đồ di chuyển qua dãy thùng Connex sát hàng rào cạnh cổng phụ Air Viet Nam. Lại thêm một lần may mắn. Một chiếc xe đạp xuất hiện trên đường, xe ngừng tại cổng và những mẩu đối thoại vọng lại. Không ngờ cái chòi yên lặng vắng vẻ kia lại có lính gác. Tôi đã đánh trần, chỉ mặc quần dài, đi lại thong dong trước mắt họ nhiều lần mà chẳng ai thèm để ý!

Đêm thứ ba tôi đi thám sát các khu vực bãi đậu phi cơ lân cận. Phi cơ A37 để ném bom không có. Phi cơ L19, Cessna hoàn toàn hư hỏng. Tất cả các loại vận tải cơ C119, C47, C123, Caribou… đều bị tháo gỡ phi cụ. Họ muốn phá hỏng để một ngày quân ta trở về không còn phi cơ để sử dụng, hay di chuyển những phi cụ quí giá ra miền Bắc để chuẩn bị ngày rút lui? Một ý nghĩ chủ quan xuyên qua tình hình thực tiễn vừa khám phá được.

Chưa nản chí tôi dự trù một kế hoạch khác. Tôi sẽ nằm phục kích vài ngày, nếu có cơ may, một trong ba loại phi cơ tôi lái được, ở một nơi khác ghé phi trường trong một phi vụ bất thường, tôi sẽ chộp lấy cơ hội. Hoặc tôi liều bò qua khoảng đất trống rộng từ khu quân sự sang khu Air Viet Nam, dưới ánh sáng chói lọi của bốn ngọn đèn pha cực mạnh, đột nhập vào phòng bánh mũi của chiếc Boeing đường quốc ngoại để stowaway. (Ý nghĩ sau đành hủy bỏ khi tôi đi kiểm soát đối chiếu các kiểu bánh mũi của các vận tải cơ, và nhận thấy nhỉều loại đóng cửa phòng bánh mũi sau khi geardown nên không thể chui vào được và phi cơ Boeing thì tôi hoàn toàn mù tịt.)

Tôi nằm lại thêm hai ngày, có lúc trốn trong phi cơ, lúc nằm dưới mương cỏ tranh rậm rạp. “Một phi trường chết,” tôi tự kết luận. Trước khi quyết định từ giã Phi trường, tôi trở lại chiếc phi cơ 077 khắc tên “Lý Tống 13-9-1981” ở nose gear để kỷ niệm lần đột nhập phi trường thứ nhì, và gỡ một đồng hồ Air speed, một Cockpit light, hai oil pressures (cái món compass béo bở bán được giá lại không còn) về tặng Hạnh, Nguyễn Quang Trường (hiện ở Đan Mạch) và Lê Văn Dương (Úc Châu) cùng Phi Đoàn Ó Den 548 cũ, và Quí bầm (Cali), người bạn tù Trại A.30, những chiến hữu đã bất ngờ gặp lại trong thời vượt ngục Trại A.30 và trốn tại Sài Gòn, có đóng góp lớn về vật chất và tinh thần trong mission impossible của tôi.

Tôi xách túi đồ nặng gồm bốn đồng hồ phi kế và gần một ký mì sợi chưa ăn hết. Hàng rào B40 phía trong, bên trên giăng ngang một lớp kẽm gai quấn theo hình ống tròn, khi vào chỉ cần leo lên nhảy qua, khi ra lại phải bẻ một khoảng trống mới leo lên được. Không có tiền để sắm một loại kềm cắt kẽm gai thích hợp, tôi phải đánh vật với dụng cụ tồi tệ bẻ qua lại nhiều lần đến khi giây kẽm gãy.

Trên đường trở ra, tôi gặp lại bảy tên Bộ đội hồi sáng, cái số 7 có hình lưỡi hái tử thần đã từng làm tôi ái ngại. Tôi dấu vội túi xách cồng kềnh vào đám cỏ cao ở bùng binh nhỏ nằm giữa ngã tư đường có đèn điện sáng. Tôi vờ châm thuốc như chờ đợi một người bạn gái trễ hẹn, tiếp tục trở ra khi họ không ngờ vực bỏ đi. Đường tối không kịp nhận ra hai tên Bộ đội đang ngồi bên lề đường vắng khi đi rẽ vào đám đất bỏ hoang, tôi ngồi xuống bên cạnh một bụi cây thấp giả vờ đại tiện.

Đây củng là chỗ tạm phóng uế bừa bãi mà tôi suýt bị một tên đi cầu bắt gặp trong khi đột nhập vào phi trường lần đầu. Sau đó tôi chậm rãi bò rút lui ra đường. Đoạn hàng rào tôi leo ra vào hình như đã được sử dụng bởi những tay Bộ đội trốn trại đi chơi hoặc chuyển đồ ăn cắp, nên có mấy ngày đã được sửa sang lại thay vì ngã sập nửa vời như trước. Một con đường xâm nhập rất dễ, nhưng cũng rất nguy hiểm, bởi vì những tên an ninh thợ săn trong khi rình rập những con chồn, con cáo lại có thể bất ngờ bắt gặp một con cọp lớn là tôi.

Mặc dù cuộc đột nhập phi trường không đạt được thành quả dự định, kinh nghiệm đã giúp tôi tự khám phá những khả năng tiềm tàng của mình và sự nhận định chính xác về khả năng của kẻ địch.

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 19 Apr 2025

Chương 16.

Tính thì đễ vậy nhưng phải mất ba tuần lễ và tiêu gần ngàn đồng, Bliot Ness mới phăng ra được vài chỗ nấu bia của bọn Al Capone. Thằng ăn cướp này quả là một tay đáng sợ. Nó cần thận và đa nghi hơn chàng tưởng. Tuần lễ đầu tiên, đóng vai một khách hàng sộp trong bộ đồ cầt mới toanh, chàng đã la cà nhiều chỗ.

Rượu nốc như điên, bao gái thả dàn ra cái điều ta dây là dân ăn chơi lừng danh từ xa đến. Chẳng được sư múi gì. Mũy chùng bồi rượu, tán gẫu chuyện gì cũng được.

Miệng mồm bô bô nhưng hể động tới những cái bí mật thì đứa nào đứa nấy thủ khẩu như bình. Cà đám vũ nữ, mấy em điếm cũng vậy. Tiền cho bao nhiều cũng lẹ tuy bắt lấy nhưng đừng hòng moi được một chút tin tức gì của chúng. Kẹt hơn nữa, tiệm rượu nào cũng có ít nhất một cặp an ninh của Al Capone mặc áo bành tô kín mít ngồi lù lù trong góc. Khỏi cần phải là một cảnh sát chuyên nghiệp, ai nhìn qua cũng biết dưới lớp áo đó dấu những cái gì. Không khách hàng nào bước vào tiệm mà không qua khỏi cặp mắt cú vọ của bọn này. Tỉnh như Eliot Ness mà nhiều khi cũng cảm thấy lành lạnh sau gáy.

Có một lần, Eliot Ness vừa bước vào một tiệm rượu là giác quan bén nhậy của nghề cảnh sát cho chàng biết là chúng nó đã nhận diện được chàng. Cứ nhìn cái bàn tay của thằng bồi rót rượu là hiểu liền, khỏi cần phải suy nghĩ nhiều. Nó rót rượu mà mặt mày tái xanh, run lẩy bẩy làm như sắp sửa có nổ lớn vậy. Cho chắc ăn,

Eliot Ness giả vờ làm rơi điếu thuốc đang hút. Cúi xuống nhặt lên là chàng thấy ngay hai thằng an ninh đang nhìn về phía chàng thầm thì to nhỏ.

Có chuyện rồi, Eliot Ness thầm nghĩ, nhưng không thể rút được. Rút thì yên đấy, nhưng cả lò chúng nó sẽ báo động khấp nơi, lần sau coi như hết vào bất kỳ tiệm rượu nào. Tương kế tựu kế, mày đã là biết thì tao cũng chả thèm giấu diếm làm gì.

Chàng ngoắc thằng bồi. Tội nghiệp, từ nãy, thằng nhỏ hình như đã nhận được mật hiệu của đám an ninh nên biết là có chuyện, hơ hãi bước tới. Eliot Ness gằn giọng:

_Mày biết tao là ai không mày?

_Dạ không.

Eliot Ness móc cái mộc cảnh sát liên bang bằng bạc trắng xóa, thảy lên bàn nghe đến cành một cái:

-Elior Ness. Nhân viên liên bang. Mày có nghe tên tao chưa?

Thằng bổi rượu bảy giờ mới bật ngữa. Tưởng ông khách là tay súng nguy hiểm từ đầu mới tới nên tụi an ninh béo động tùm lum, té ra là anh chàng Elior Ness “to mồm”, cảnh sát đặc vụ của tổng nha ngân khố, người đã từng.. lỡ dại tuyên bố I come here to get Capone dạo nào. Vậy thì đâu có gì đáng sợ. Vẻ sợ hải biến mất, thẳng bồi cố gắng nhìn kỷ Eliot Nest, làm như ráng phân tích coi cha nội này mình đồng da sắt gì mà ăn nói bạo mồm bạo miệng quá cỡ.

Sự thay đổi trong ánh mắt của thằng bồi làm sao qua mặt chàng được? Đù mẹ lại phải biểu diễn một màn côn đồ như thằng Gary Malone rồi. Thực ra, Eliot Ness không phải là một típ cảnh sát như Gary Malone, Giữa chàng và hắn có nhiều điểm khác nhau. Gary Malone sinh ra trong gia đình “có máu cảnh sát trong người*, lớn lên và trường thành từ vĩa hè đẫm máu; còn chàng xuất thân từ một gia đình giáo dục và đã tốt nghiệp đại học đàng hoàng. Nhiều khi, trong cái nghề bạc bẽo này, “bạo lực” cũng là câu trả lời cho nhiều trường hợp. Chàng biết những gì mình sắp làm, không có trường cảnh sát nào dạy, và hơn nữa, trái luật.

Nhưng giây phút này, một 1à để bị lộ tẩy và hỏng kế hoạch, hai là phải nhanh trí kiếm một lối giải thoát. Thằng bồi này có thể là lối giải thoát cho kế hoạch của chàng.

Nó cúi đầu gần hơn, chưa kịp mở miệng trả lời thì Eliot Ness đã bất ngờ chồm tới trước chụp cổ áo nó kéo lại:

-Đ.M. thằng kia, mày có nghe tên tao chưa?

Giọng thẳng bồi khinh khỉnh:

-Ê ông cảnh sát, ổng không được làm vậy, tôi được pháp luật bảo vệ mà.

Eliot Ness quát lên như sấm:

-Dẹp cha nó ba cái pháp luật lại. Tao hỏi mày biết tao là ai không?

-Tôi yêu cầu ông buông tôi ra.

Buông sao được, Eliot Ness xiết cổ áo nó mạnh hơn. Thằng bồi bắt đầu la.

Như chớp, Eliot Ness vung tay phải, quai một cái như trời giáng vào quai hàm nó, rồi theo đà quay lui, bàn tay trái chụp cái mộc cảnh sát trên quầy dơ ra, tay phải thủ cây Colt.45. Hai thằng an ninh vừa xông tới, chưa kịp mở nút áo bành tô, đã bị cây Colt.45 kèm cứng, đành thúc thủ đứng yên. Thằng bồi ăn quả đấm tá hỏa mặt mày, bắn người vào vách đánh ầm một cái, ly tách rớt loảng xoảng. Lần đầu tiên kể từ khi đứng pha rượu ở tiệm này cho xếp Al Capone, nó bị một cảnh sát hành hung. Chuyện ngược đời. Xưa nay, nó là người đi đập thiên hạ, bây giờ bị người ta cho ăn đòn. Mà lại bị cảnh sát đánh mới đau.

Thằng bồi lồm cồm bò dậy, nhăn nhó đưa tay rờ má. Đau quá, không chừng dám rụng vài cái răng. Nhìn vào gương, thấy máu miệng mình chảy dòng dòng, thằng nhỏ hóa điên. Nó thò tay chụp cây xâm nước đá nhọn hoắc lủi ra ngoài, tiến về phía Eliot Ness đang đứng chĩa súng vào hai thằng an ninh.

Tới sau lưng Eliot Ness, nó tưởng phen này là chết mẹ thằng cớm liên bang. Cây xâm nước đá nhọn hoắc, dài gần cả thước như cây kiếm, đâm lút cán từ sau lưng ra tới trước ngực thì ai mà sống nỗi? Nó nghiến răng, hai tay cầm chặt cây xâm nước đá, nhắm vào lưng Eliot Ness, dùng hết sức nghiến răng nhào tới trước.

Cái chuyện cỏn con này sao Eliot Ness không biết trước được. Mắt tuy nhìn phía trước nhưng tất cả những cử động của thằng bồi không qua khỏi cặp mắt chàng. Đã chuẩn bị, Eliot Ness cứ chờ cho thằng nọ nhào tới gần sát mới xoay người né sang một bên. Thằng bồi chạy lỡ trớn, hụt đà nhào luôn tới trước. Tiện thể Eliot Ness giộng xuống đầu nó một báng súng ra gì, và bàn chân giựt ngược làm một cú lên gối vào giữa mặt thẳng đâm lén.

Trên đánh xuống, dưới thọc lên, thằng bồi chịu gì nổi, rớt một cái rầm. Bay giờ thì cả quán rượu náo động. Ai nấy cũng chạy lăng xăng mà không biết chạy đi đầu, rồi từ từ bu lại thành mộc đám chung quanh ông cảnh sắt đang cẩm súng và hai thằng an ninh.

Thật ra, hại thằng khi đột này đã nhận ra Eliot Ness từ lúc chàng mới bước vào, đang còn bàn bạc với nhau vì chưa biết phản ứng ra sao. Một đứa thì chủ trương cứ án binh bất động rổi cho người đi thông báo với cấp trên để xin chỉ thị.

Đứa kia thì nhất định đòi đợi cho thằng cớm mất dậy này một trận để dằn mặt, nếu cần thì “nổ cha nó một phất vô đầu rồi vứt xác xuống giòng sông Chicago” cho rãnh mắt. Nhưng chúng chưa kịp đi đến kết lưận thì Eliot Ness đã ra tạy trước. Mà ra tay đẹp quá, mau quá, dữ dằn quá. Đâu có thua thằng Gary Malone? Hai ông, nội bèn chùn tay.

Eliot Ness dơ cao cái mộc cảnh sát nói lớn:

_Cảnh sát liên bang đang hành sự. Mọi việc đã giải quyết xong rồi, tôi yêu cầu mọi người trở về chổ cũ.

Chàng nhìn hai thằng an ninh, mắt sắc như dao, nói vừa đủ cho chúng nghe:

-Cả tụi mày nữa. Khôn hồn thì về chỗ ngồi đi, bằng không tao còng tay lại dắt về bót bây giờ. Đù mẹ cảnh sát liên bang mà bắt thì không có ra dễ như cảnh sát Chicago đâu nghe mấy thằng khốn nạn.

Thấy thầy cảnh sát có vẻ dữ tợn quá, mọi người ríu ríu trở về chỗ cũ. Đi vào đây đã là trái luật, ai muốn dây dưa với cảnh sát làm gì? Hai thằng an ninh là dân trong nghề, mới nhìn qua là đã biết “cơ” của Eliot Ness nên chùn bước. Nó đã nói vậy thì về chỗ ngồi cho rồi, mà có muốn giở trò gì cũng chưa chắc đã thắng nổi thằng cớm dữ tợn này.

Thế là hai gã quay lui. Eliot Ness biết thân phận, cũng rút lẹ. Chuyện đang còn nhỏ, hãy để cho nó…nhỏ. Cảnh sát du côn đi “phá rối” như vậy là chuyện thường. Cái quan trọng là sau đó, không có bắt bớ, không có phạt vạ là hai bên đều cảm thấy thỏa mãn. Ở lại đây lâu quá, chàng sợ sẽ có thêm chuyện. Chúng nó mà báo động lên là thế nào cũng có cả sư đoàn găng tơ ào vô đây, chừng đó có muốn huề cũng không được. Lạng quạng còn có thể bị mất mạng luôn. Thằng bồi ăn đòn cũng hơi nặng đó, nhưng vài ngày nằm nhà thương là xong chớ gì. Mà nghĩ cho cùng, lâu lâu cũng nên gởi đi một thằng như vậy vào nhà thương để lần sau ăn nói với cảnh sát chúng biết giữ mồm giữ miệng.

Nghĩ vậy, chàng thảy tờ giấy 20 đô la lên quày rượu rồi dọc lẹ. Ra tới ngoài dường, chàng mới thở phảo nhẹ nhỏm. Phải cảm ơn cây Colt.45 và cái mộc cảnh sát đem theo trong người. Lúc mới bắt đầu kế hoạch, Eliot Ness đã tính để hai thứ “bất ly thân” này ở nhà nhưng Catherine nhất định bắt chàng mang theo. Kể ra đàn bà nhiều khi cũng sâu sắc hơn đàn ông. Cải quan trọng nhất là chúng nó chưa biết chàng đang chơi trò tình báo để tính chuyện đập một vố lớn. Bây giờ chàng mới thấy tội thằng pha rượu, đương không bị ăn đòn no nê.

Kể từ ngày đó, đi đâu Ehiot Ness cũng nguy trang cẩn thận hơn. Khi thi chơi thêm cặp râu giả, lúc khác thì làm bộ say rượu bi tỉ, hoặc đóng vại anh chàng cà thọt …Qua đến tuần lễ thứ hai khi đã quen với thế giới về đêm của Chicago cân nhắc kỹ càng, chàng mới ‘tuyển lựa” được vài tiệm rượu để tập trung việc theo dõi.

Cho đến giờ phút đó, Elot Ness cũng chưa biết rõ tụi nó chuyển rượu cách nào, vào giờ nào và ngày nào nhưng chàng chắc chắn phải là ban đêm. Thế là chàng đổi kế hoạch. Ban ngày ở nhà ngũ khì, ban đêm thay đồ đi “Làm việc”. Đầu tuần lễ thứ ba, Eliot Ness được một sự giúp đỡ bất ngờ: Nàng vũ nữ tên Collen

Người xưa có câu: “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”. Đẹp trai, khỏe mạnh và thông minh như Eliot Ness, chắc chắn phải lọt vào mắt xanh của nhiều màng.

Nhưng đúng đắn nhất, đẹp nhất và hiểu biết nhất, vượt lên trên tất cả như con thiên nga giữa bầy vịt phải nói là nàng Collen, Biệt hiệu “Collen cẳng dài”. Đối với Eliot Ness, không, những Collen có cặp giò tuyệt diệu mà còn có một khuôn mặt khả ái và quan trọng nhất, nàng rất thông minh. Không phải như đa số các vũ nữ tại đó, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến tiền, coi khách làng chơi là một mục tiêu để lợi dụng. Collen tiếp khách một cách lịch lãm, nói chuyện duyên dáng và nhiều khi, làm nhiều chuyện ngược đời. Như ngày đầu tiên gặp chàng. Thấy người đàn ông đẹp trai đang ngồi sầu thảm một xó như người thất tình, nàng đã bỏ một ông khách xộp đến ngồi bên chàng.

Quan sát Eliot Ness một lúc thật lâu làm cho chính chàng cũng thấy ngượng, nàng hỏi vu vơ:

-Khách có chuyện buồn?

Eliot Ness đóng kịch tài lắm. Chàng hớp một ngụm rượu, rầu rầu nét mặt:

-Buồn lắm!

Câu trả lời của Collen làm Eliot Ness ngạc nhiên:

-Khi nào còn biết buồn được là người còn hạnh phúc. Đừng chống cự lại. Hãy để nổi buồn kéo chàng đi đến nơi nào tùy ý… Xa, thật xa cũng được. Từ nổi buồn, chàng mới nhận được giá trị của niềm vui, cũng như càng sống trong bóng tối lâu thì càng thấy giá trị rực rõ của bình minh nhuộm ánh nắng…

Thế này thì đâu phải khẩu khí của một vũ nữ rẻ tiền ở Chicago. Eliot Ness xoay người để bắt gặp cặp mắt xanh lay láy của nàng. Thật đẹp, thật tròn. Chỉ mới nhìn nhau sau một giây đồng hồ, nàng đã đắm đuối:

-Cái hình phạt nặng nhất của con người là không được biết buồn nữa. Anh nghĩ thế giới sẽ ra sao nếu tất cả chúng ta không còn ai biết buồn? Anh gì nhỉ? Anh…

Chàng đã tính buộc miệng đáp hớ hênh “Ness, Eliot Ness” nhưng dằn được ngay. Hèn gì trường tình báo cảnh sát thường dạy là đàn bà nhiều khi nguy hiểm hơn cả chất nổ.

-Ki-la, Tom Ki-la. Còn em, em tên gì?

Lại cái tên cũ mà chàng đã sáng chế ra cách đây mấy tuần. Collen đưa tay cho chàng giáng điệu rất tự nhiên mà sang trọng:

-Collen. Người ta gọi em là “Collen cẳng dài”, anh muốn gọi gì cũng được.

Eliot Ness dịu dàng nắm lấy bàn tay nàng, nhẹ nhàng hôn lên đó, trả lời:

-Người ta gọi vậy là bất công lắm. Theo tôi, phải gọi là “Collen cẳng đẹp”

Collen cười ngất. Nàng kéo ghế sát lại gần Eliot Ness, nhìn chàng hóm hỉnh:

-Anh nịnh đầm hay lắm, lại đẹp trai nữa. Sẽ có vô số người con gái chết vì anh, tiếc rằng anh đã có vợ. Và quan trọng nhất, típ người của anh không phải là típ thích ăn vụng. Có đúng không nào?

Eliot Ness cố tình tránh câu trả lời có thể đưa đến chuyện “sưu tra lý lịch”.

-Tôi có thể mới cô một ly Cocktail?

Collen quả là người thông minh. Nàng tiếp tục nhìn thật sâu vào mắt chàng, làm như không để ý đến lời mời mọc:

-Mà nhìn lại thì anh đâu có buồn gì đâu. Anh chỉ giả vờ thôi. Cắp mắt anh sáng quắc như ánh sao, đầy vẻ quyết liệt, ít khi nào buồn lắm. Đúng không?

Eliot Ness cảm thấy lúng túng. Chàng ra đây cốt để điều tra chuyện nấu rượu của họn Al Capone, ai ngờ lại bị điều tra ngược. Nhưng Eliot Ness không thể thẳng thừng với một người đàn bà thông minh và dịu dàng như Collen, bèn giả tảng:

-Collen nói đúng. Tôi ít khi nào buồn lắm. Còn Collen, cô có bao giờ buồn không?

-Có chứ. Collen chỉ buồn khi gặp những người không thành thật với mình. Như bây giờ, tôi đang buổn.

Eliot Ness lắc đầu. Cô nàng này gớm thật, không hiểu cô ta biết gì về mình. Collen đứng lên, đôi vú nâng cao, thân hình nàng đẹp lộng lãy, bốc lửa dưới ánh đèn mờ. Năng nắm tay Eliot Ness:

-Nhưng không sao. Đàn ông không nên thành thật quá, cũng như đàn bà, không nên nói nhiều quá. Hãy giữ lại một chút gì trong lòng mình… Mà thôi, anh uống gì để Collen đi lấy? Một ly cocktail?

-Tôi muốn mời Collen một ly. Phần tôi, tôi đã uống đủ rồi.

-Không được. Nếu anh không uống, tôi cũng không uống.

-Vậy thì cho tôi…cái gì như hồi nãy.

-Blue moon in August?

-Đúng rồi.

Trước khi quay gót Collen cúi xuống sát tai chàng, nói nhỏ:

-Dân chơi chuyên nghiệp ít khi nào quên tên rượu mình vừa uống. Anh đâu có phải là dân chuyên lang bang

ở những nơi như vầy. Đúng không?

Eliot Ness giật mình. Collen nói đúng. Nàng quay gót, bước những bước chân nhún nhảy làm nhiều thẳng đàn ông phải bỏ dã câu chuyện đang nói nhìn theo…

Lúc Collen quay ra, từ một chiếc bàn, nhô ra một thằng khách hàng dơ tay kéo nàng lại. Từ đàng xa, Eliot Ness có thể nhìn thấy Collen vùng vằng cự tuyệt. Thằng nọ đâu có chịu thua dễ dàng vậy, nó tiện tay thò xuống dưới lớp váy, véo vào mông nàng một phát, miệng bật cười hô hố rất nham nhở. Phản ứng tiếp theo của Collen không thể ngờ được. Sẳn ly cocktail trên tay, nàng đổ luôn trên đầu ông khách.

Bây giờ thì cái véo mông vô tội kia đã trở thành câu chuyện lớn, không sao hàn gắn được. Ướt sũng từ đầu xuống chân thằng khách hàng đứng sững một lúc như không tin được ở cặp mắt mình. Xưa nay vũ nữ ở The Red Horse, cũng như vũ nữ ở các hộp đêm khác trên thế giới đều là một thứ đồ chơi của khách hàng, muốn véo thì véo, muốn bóp thì bóp, đâu có chuyện ngược đời vậy? Nó bỏ ra bao nhiêu tiền xuống đây là giải trí, để táy máy tay chân, đâu phải để bị dội một ly cocktail lên đầu như thế này? Tức quá hóa khùng, quên cả chuyện mình là đàn ông con trai, thằng khách hàng xông tới vung tay tát lia lịa vào mặt nàng Collen. Mà con nhỏ này cũng chẳng phải tay vừa, liền tru tréo và trả đũa ra gì.

Thế là giữa sàn nhảy, một màn ẩu đã xảy ra. Nhạc ngưng chơi, thiên hạ bu quanh níu kéo, cố can hai người ra. Không hiểu vì vô tình hay cố ý, có lẽ theo phản xạ thì đúng hơn, thóang một cái Eliot Ness nhận ra mình đã đứng sau lưng thằng khách hàng vũ phu. Khuôn mặt em Collen bây giờ đã thấy có dấu máu chảy từ một vết rách nơi khóe miệng. Mà nó có chịu buông tay đâu, cứ một hai nhào tới đòi ăn thua đủ. May quá, chàng tính ra tay thì hai thằng an ninh nhà hàng đã nhập cuộc. Một đứa kéo ông khách đi, còn đứa kia nắm tay Collen lôi ra một góc nhà. Coi như đã tạm yên, Eliot Ness lững thững bước trở về chỗ cũ. Đã giộng cho cô em vài cái rồi mà coi bộ thằng khách vẫn chưa thấy nguôi giận. Nó la lối um sùm với thằng an ninh nhà hàng. Thằng an ninh, dù là thứ cô hồn hung dữ, nhưng phải tuân theo một chỉ thị nào đó của ban giám đốc, nên cứ một mực…năn nỉ.

Chuyện của người thì mắc mớ gì tới mình, Eliot Ness vừa về đến bàn thì bỗng nghe lên mấy tiếng “bóp chát” thật lớn. Chàng xoay lại nhìn và giật bắn mình lên khi nhìn thấy người bị đòn là em Collen cẳng dài. Thằng an ninh cứ một tay nắm lấy tay em, tay kia tát vào mặt em lia lịa. Tình cảnh coi tội nghiệp và dã man quá. Trong một phần mười giây đồng hồ, Eliot Ness phải có một quyết định dứt khoát. Một là cứ ngồi im, đóng trọn vai trò của mình, hoặc là phải nhào tới can thiệp liền. Từ nhỏ đến lớn, chàng chưa bao giờ nhìn thấy cảnh đàn bà bị đánh như vậy. Chàng quyết định phải can thiệp, bất cần hậu quả.

Nhanh như một làn chớp, chàng bay tới túm lấy cổ thằng an ninh kéo ngược ra sau, bàn tay phải đẩy tới luôn một trái đấm như trời giáng vào giữa mặt. Trái đấm của ông thanh tra trong lúc nóng giận mạnh quá chừng, đẩy nạn nhân bay tuốt luốt qua tới tận bức tường, xô đổ bàn ghế vung vãi khắp nơi. Chưa hả cơn tức, Eliot Ness bay theo luôn. Chỉ nghe thêm vài tiếng bụp bụp là thằng nọ rới xuống nền nhà nằm thẳng cẳng.

Thẳng an ninh thứ hai đang năn nỉ ỉ ôi với người khách hàng, nghe tiếng động khác thường, liền thôi nói để quay lại và nhận ra bạn mình bị một thằng nào lạ hoắc đánh gục chỉ trong vòng mấy giây đồng hổ. Nó mạnh vậy thì ai dại gì đi đấu võ với nó làm gì, thằng nọ thò tay vô trong hai lần áo vét, mò tìm cây Smith &

Wesson. Nhưng vèo một cái, nó nhìn thấy nguyên chiếc ghế đang bay hết tốc lực về phía mình. Vừa cúi người né xong chiếc ghế là thấy thằng lạ mặt kia bay tới trước mặt liền. “Bốp”, cây súng chưa móc ra được đã bị một trái đấm vào quai hàm…

Nhà hàng bây giờ đại loạn. Chưa ai nghe tiếng súng, nổ hết nhưng dân Chicago đâu có lạ gì những cảnh này. Mới đầu là ly bay ghế bay, rồi đến đạn đồng bay veo véo mấy hồi? Người ta chạy nhốn nháo khắp nơi. Đám nhạc công thì lo cất kỹ những dụng cụ âm nhạc của mình trước khi rút, khách hàng đa số chạy ra ngoài vì đó là chỗ an toàn nhất. Đã đại loạn như vậy thì lát nữa thế nào cũng có cảnh sát địa phương ào tới. Đâu có ai muốn bị xúc về bót vì những chuyện lẩm cẩm như vậy.

Vừa lo được cái mạng, vừa khỏi sợ cảnh sát phỏng vấn vớ vẩn lại vừa đỡ phải trả tiền cho những cái bill mình vừa uống. Thượng sách. Đúng ra, mỗi lần hộp đêm có những chuyện lộn xộn như vậy thì kẻ bị thiệt hại nặng nhất phải nói là chủ quán.

Lát nữa cảnh sát ào tới đây lại phải mở két ra chi bằng thích. Hơn ai hết, Eliot Ness biết mình là kẻ được lợi nhất trong tình cảnh hổn loạn này. Vừa quạt xong một trái vào quai hàm thầng kia, nó vừa lui cui bò dậy là chàng đã xông tới, một tay nắm đầu, tay kia nắm đít, dùng hết sức đẩy khối thịt mấy trăm cân của nó vào cái quầy rượu trước mặt. Cái quầy rượu coi kiên cố vậy mà bị cái xác thằng an ninh nhào vô đục thủng một lổ, ly tách rớt loảng xoảng. Chịu gì nổi, thằng nhỏ nằm xụi lơ, thỉnh thoảng dựt dựt lên mấy cái.

Xong thằng thứ hai là Eliot Ness thoáng nhìn thấy một tốp an ninh khác chừng bốn năm đứa từ nhà dưới đang xông lên, tìm kiếm dáo dác. Dòm kỹ hơn chút nữa thì thấy thằng nào cũng có súng trên tay. Đã đến lúc phải chơi bạo rồi.

Eliot Ness thoáng nhìn thấy bóng dáng của Collen lẩn lộn trong đám khách:

-Phải dọt khỏi chỗ này gấp, chạy theo anh.

Vừa nói chàng vừa móc cây colt.45 lừng danh trong người ra. Collen nhìn thấy hoảng sợ:

-Anh..anh có súng?

Eliot Ness không có thì giờ trả lời. Chàng chĩa cây Colt.45 lên cao, nổ bốn phát liên tiếp, bắn đứt bốn sợi dây điện trên trần nhà. Đèn đuốc từ từ tắt ngấm. Tụi an ninh nhà hàng là những thằng chới với nhất. Làm sao chúng nó kiếm ra ai là tác giả của bốn phát súng này giữa một rừng người đang chạy loạn này. Điện lại tắt phụp khiến chúng nó càng chồn chân, bèn theo đúng quy luật nhà binh, mỗi đứa đứng bồng súng thủ một góc nhà dòm thiên hạ chạy.

Eliot Ness diu Collen ra khỏi hộp đêm trong nháy mắt. Khi cả hai người đã ngồi yên trên chiếc xe của sở đặc vụ, chàng bắt đầu nghe được tiếng còi hụ của cảnh sát từ xa vang tới.

Eliot Ness mồi cho chàng một điếu thuốc, Collen lo trang điểm lại nhan sắc của mình. Môi nàng bị rách một chút nhưng không đến đỗi nào. Sau mấy phút đồng hồ cặm cụi trang điểm nàng xoay sang hỏi Eliot Ness:

-Anh thấy dung nhan em bây giờ thế nào?

Eliot Ness liếc nhìn nàng cười:

-Giống Collen “cẳng dài”

Nàng bỏ hộp trang điểm vào bóp, giọng nói run run:

-Em, em cám ơn anh!

-Có gì đâu? Anh chỉ làm bổn phận của một người đàn ông khi thấy đàn bà bị hành hạ.

-Em không ngờ anh lại lanh lẹ như vậy.

Eliot Ness nhún vai:

-Anh quen rồi, đừng lo cho anh. Cái anh lo nhất là cm. Ngày mai sao em trở lại làm việc được?

-Chuyện đó anh khỏi phải sợ. Tại The Red Horse lâu lâu cũng có những vụ vũ nữ trở chứng làm ẩu với khách như vậy. Nhưng tụi quản lý nhà hàng chúng nó biết coi người lắm. Những đứa xấu hoặc ế khách thì sơ sơ là có thể bị đuổi liền nhưng đẹp và đắt khách như em thì còn lâu chúng nó mới đuổi.

-Khách hàng lâu lâu cũng nổi lên phá phách hoài. Bọn nó chậm chạp thì ăn no đòn là đúng rồi, đâu phải lỗi của em. Cái hay nhất là lúc nãy em đi ra với anh chúng không nhìn thấy.

Eliot Ness thấy nhẹ nhỏm trong người. Collen tiếp:

-Nhưng kể từ này về sau, anh không thể trở lại đó được đâu.

Eliot Ness gật dầu:

-Anh hiểu.

-Anh đưa em đi đâu đây?

-Mình đi kiếm gì ăn đi em.

-Ý kiến hay!

Eliot Ness lái loanh quanh thành phố, để mắt tìm một tiệm ăn thanh lịch.

-Anh Ki-la, tại sao anh đến The Red Horse?

-Thì để nhảy đẩm, để vui.

-Em để ý thấy anh chưa bao giờ nhảy với ai một bản nào cả.

-Anh không muốn khoe cái sự lố bịch của mình.

-Vậy tại sao anh thích vào dancing?

-Để nhìn người ta nhảy.

-Chỗ anh ngồi đâu có nhìn thấy ai.

-Nhìn người ta… đi ra sàn nhảy cũng thấy vui rồi.

-Xạo…

-Em từng nói là đàn ông không nên thành thật quá mà. Chính em dạy anh nói xạo…Collen ngồi thật sát vào người chàng. Eliot Ness cảm thấy hơi thở nàng dìu dịu phả vào tai chàng. Người thanh tra thượng thặng của Nha Ngân Khố có cảm giác choáng váng đê mê. Kể từ khi cưới Catherine, Eliot Ness chưa bao giờ nghĩ đến một người đàn bà khác. Hôm nay, vì công việc phải chung đụng thế này, thật là bất ngờ làm Eliot Ness không biết phải đối phó làm sao.

-Anh suy nghĩ gì vậy, kể chuyện đời anh cho em nghe đi anh Ki-la

-Đời anh hả. Chẳng có gì hay ho cả, toàn là những ngày làm việc mệt nhọc.

-Anh lấy vợ lâu chưa?

Cái này thì Eliot Ness trả lời thật:

-Gần 8 năm rồi.

-Con của anh chắc giống anh nên đẹp trai lắm.

-Anh chỉ có một đứa con gái 7 tuổi. Nó giống mẹ nó nhiều hơn anh.

Tự nhiên Collen hỏi chàng:

-Có phải anh là cảnh sát không?

-Sao em nghĩ vậy?

-Linh tính của người đàn bà. Hơn nữa, nếu không phải là cảnh sát thì tại sao lại mang súng vào những nơi như vậy?

Trời mùa Thu năm nay ở Chica go lạnh hơn thường lê, ngồi trong tiệm ăn mà vẫn còn thấy hơi lạnh. Gọi xong thức ăn, Eliot Ness cầm điếu thuốc lá nơi tay vỗ vỗ nhẹ nhàng xuống mặt bàn:

-Anh hút thuốc được?

-Được, xin anh cứ tự nhiên.

Eliot Ness cắm điếu thuốc vào môi, Collen nhanh tay bật diêm cho chàng.

– Em biết anh là cảnh sát từ lúc nào?

-Từ giây phút đầu tiên.

-Anh đóng kịch dỡ quá hả?

-Không, trái lại là đàng khác. Cả tiệm chẳng ai biết, chỉ có mình em vì em đã một thời có người yêu làm cảnh sát. Collen đã biết Eliot Ness là cớm ngay từ những giây phút đầu tiên chàng khỉ đột của Frank Nittic đang ôm súng làm an ninh trong đó, nhưng khó mà lừa được vũ nữ. Nàng không hiểu tại sao. Có thể là do bởi cái mà người ta gọi là trực giác hay là kinh nghiệm.

Thường thường, vũ nữ không thích cớm. Cái nghề cầm ca này luôn luôn bị bóc lột bởi hai loại người: Cớm và ma cô. Đằng nào cũng lợi dụng, cùng tìm mọi cách để kiếm chát lúc thì tiền bạc, lúc khác thì xác thịt.

người ta thấy các em vũ nữ hay cặp kè với cớm và ma cô. Đằng nào cũng bị nó lợi dụng, chi bằng cáp đại một thằng để tuy mất mát nhưng còn chỗ nương tựa. Sống trong thế giới về đêm mà không có người đỡ đầu sẽ gặp nhiều rắc rối và tốn tiền bằng thích. Ngay lúc nhìn thấy Eliot Ness, nàng biết mình đã gặp “người trong mộng”.

Từ trong quầy, nàng kín đáo quan sát cái anh chàng đẹp trai lì lợm trong bộ đồ may cắt rất khéo. Eliot Ness vừa bước vào, tuy cách xa cả chục thước, nàng đã ngửi thấy chất cớm trong người chàng xông lên nồng nặc. Coi, đi đứng bộ vệ thế kia, mắt tuy nhìn thẳng hiền lành vậy mà không bỏ sót bất kỳ một chi tiết nào trong nhà hàng.

Hai thằng khỉ đột của Frank Nitti cho ngồi trong hai góc cũng không qua khỏi cặp mắt sắc như dao đó.

-Tên anh là gì?

-Tên thật hay tên giả?

-Tên thật kìa.

-Ness. Eliot Ness! Anh là cớm. Cớm chính gốc, cớm từ hơn chục năm.

-Em biết. Cái quan trọng là anh giả dạng bần tăng mò vô mấy khu ăn chơi để điều tra cái gì?

-Không bao giờ. Báo chí đọc nghe buồn thảm lắm, toàn là những tin tức bi quan.

-Nếu Collen đọc báo, cách đây gần tháng em sẽ thấy hình anh trên trang nhất.

-Ái dà dà, anh lên báo để xin tiền cho máy chương trình thiện nguyện và bác ái hả? Cái mặt anh mà đi xin tiền thì ai lại không muốn cho.

-Eliot Ness cười buồn nhìn thật sâu vào mắt Collen:

-Collen nghe anh nói đây. Anh không phải là cớm địa phương ở đây, mà đến từ Hoa Thịnh Đốn. Anh xuống đây với một nhiệm vụ duy nhất: Diệt thằng Al Capone.

Nụ cười tắt ngấm trên cặp môi Colen. Nàng lập lại:

-Al Capone?

-Al Capone.

Eliot Ness đọc được vẻ kinh hãi trên mắt nàng. Kinh là phải, đất Chicago này ngoại trừ Gary Malone có ai nghe tới tên của hung thần mà dám lạng quạng. Cái ông cảnh sát ngồi trước mặt nàng lại còn nói đến chuyện “diệt Al Capone” thì quả là trời sắp xập. Nhưng Collen trấn tĩnh được ngay:

-Anh không nói đùa chứ hả?

-Không.

-Capone làm gì đóng đô ở cái nhà hàng đó mà anh phải giả dạng “bần tăng” đi vào? Nếu muốn kiếm nó anh mang súng lên đại khách sạn Lexington kìa, bộ tư lệnh của nó gần 50 thằng chiếm nguyên dãy lầu hai…

-Anh đến nhà hàng có chuyện khác.

-Tính ám sát nó hả? Làm vậy là trái luật nghe ông cớm.

Người bồi bưng thức ăn lên. Chàng trãi khăn lên đùi, cầm nĩa:

-Đúng ra chuyện này anh không nên nói cho ai biết hết, nhưng với em anh nói thật. Mục đích của anh khi đến đó là để điều tra xem tụi khốn chuyển bia và rượu lậu cách nào.

-Rồi làm gì?

-Anh sẽ đột kích, mở thùng cho bia chảy xuống cống rãnh hết.

-Anh tưởng làm vậy sẽ diệt nổi Capone à, anh biết nó có bao nhiêu tiệm rượu ở Chicago này không? Trên vài trăm cái. Hơn nửa, nếu anh dẹp cái này thì cái khác sẽ mọc lên liền. Kết quả sẽ đi về đâu?

Eliot Ness nuống một miếng bí tếch, không đến nổi tệ. Đã từ lâu, kể từ những ngày hẹn hò với Catherine lúc còn bồ bịch, đạy là lần đầu tiên sau khi chàng lấy vợ, được ngồi thưởng thức món bí tết nơi một nhà hàng thanh lịch với một người đẹp như Collen.

-Anh đồng ý là công việc rất khó khăn, nhưng anh phải bắt đầu từ một khởi điểm nào đó. Bị quật một hai tiệm sẽ không hề hấn gì, có thể vài chục tiệm cũng sẽ không hề hấn gì, nhưng biết đâu chừng anh sẽ tìm ra một tang chứng nào đó để lôi nó ra tòa.

-Lực lượng của anh có bao nhiêu người?

-Bây giờ thì chỉ có mình anh nhưng trong tương lai anh sẽ được tăng cường thêm vài người nữa.

Collen thấy nghẹn họng, không nhai được miếng ăn vừa cho vào miệng. Nếu có sống cho đến ngàn năm nữa, nàng cũng không bao giờ nghĩ rằng anh cớm liên bang ngồi trước mặt nàng là một thằng khùng. Nhưng nhìn cái bộ tịch tự tin và quả quyết  của hắn. Collen ngờ ngợ nghĩ rằng anh chàng này không được bình thường cho lắm. Một thân một mình từ đâu xuống đòi dẹp tan cả một “chế độ” đã có gốc có rễ, đã trở thành một thứ “siêu chính quyền” của Chicago. Nàng tròn mắt nhìn Eliot Ness:

-Anh.. anh có bình thường không. Anh không nói đùa em đó hả?

Eliot Ness bật cười. Chàng chả ngạc nhiên gì khi nhìn thấy phản ứng của Collen. Thật ra khi nói chuyện này với bất cứ người dân nào ở Chicago, chàng đều nhận được một phản ứng tương tự.

-Không anh rất bình bình thường, còn có thể nói là sáng suốt nữa. Anh không nói đùa. Anh hiểu tại sao em nghĩ vậy.

-Tại sao?

-Tại vì em sống ở Chicago quá lâu. Nơi này bọn thảo khấu đã lộng hành, đã khủng bố, đã thẳng tay tàn sát những người dám chống lại chúng. Một người bị hạ, hai người, ba người rồi đến cả ông biện lý cũng bị bắn gục. Thét rồi ai cũng sợ chúng nó cả. Em thấy không, cái quý nhất của đời người là sự sống.

Cách hay nhất để đối đầu với bọn này là: Nếu chúng nó đem cái mạng sống của chúng ta ra để làm giá mặc cả, chúng ta phải dám coi thường sự sống của mình thì no hết còn gì để mặc cả. Vả lại giết người trên đất Mỹ này đâu phải chuyện dễ. Anh biết có một người cảnh sát duy nhất ở Chicago này dám coi thường sự sống của mình nên được bọn nó rất nể sợ.

-Gary Malone?

Eliot Ness ngạc nhiên thật sự:

-Em cũng biết Gary Malone à?

-Chicago này nếu ai biết tên Capone thì cũng biết đến tên Gary Malone.

Eliot Ness cảm thấy thích thú, nhưng lại buồn ngay vì biết Gary Malone không chịu về làm việc với mình.

-Anh tình cờ gặp được Gary Malone trong lúc hắn hành sự. Phải công nhận anh không có được sự quyết liệt và bạo tợn của hắn. Dân Chiacgo này từ cớm cho tới gang tơ đều có lối hành động thật lạ lùng.

-Sao anh không kêu hắn về làm việc chung với anh.

-Người như Gary Malone không phải kêu một tiếng mà có được. Anh đã phạm một lỗi lầm tai hại là ngày đầu mới gặp anh đã đem cái mác “federal job” với số tiền lương hưu trí và một chổ làm việc sung sướng để nhữ hắn. Người như hắn không bao giờ them các thứ đó. Hắn là một thứ lãng tử ngoại hạng, một thứ ngựa hoang của rừng thẳm. Sau khi biết mình lầm, anh tìm gặp hắn thì hắn đã khinh bỉ anh ra mặt. I am sorry.

Nói đến đó mặt chàng chảy dài ra, buồn thật sự. Collebn nhìn thấy rõ hết. Người hầu bàn bắt đầu dọn thức ăn đem đi. Eliot Ness vào vấn đề chính:

-Anh cần em giúp anh một tay. Nếu em không muốn, cứ việc từ chối, anh sẽ coi như buổi gặp gỡ nay không có. Nhưng nếu em hứa giúp anh, xin em hết lòng và chân thật.

Collen cười hóm hỉnh:

-Anh sẽ trả lương em bằng gì?

Eliot dụi điếu thuốc lá dang hút dỡ. Chàng đưa hai tay nắm lấy tay của Collen, rất tha thiết, rất dịu dàng, rất ấm cúng, nói với nàng:

-Collen, anh chẳng có gì để cho em cả. Trong túi anh, anh chỉ còn đủ tiền để đến chổ nhà hàng em vui chơi thêm vài ngày nữa thôi. Nếu không tìm thấy gì, anh sẽ tính kế khác. Cũng có thể, như em nói, anh sẽ xách súng lên khách sạn Lexington bắn vỡ sọ thằng khôn rồi trở về để ngồi tù suốt quãng đời còn lại. Dù sao, là cảnh sát anh cũng có quyền mang súng vào nhà nó mà không sợ bị nghi kỵ. Em nghe anh đi. Chuyện này không còn phải là công tác để làm nữa, mà là một cuộc thánh chiến, một vấn đề của sinh tử, một vấn đề của cả mọi người, gtrong đó có em. Em biết quốc gia này đẹp quá, to lớn quá không thể để cho một thằng như Al Capone tàn phá miền đất America của chúng ta được. Bây giờ nó chỉ lộng hành ở Chicago, vài năm nữa đế quốc của nó sẽ lan rộng, lan rộng mãi cho đến một ngày cả Hoa Kỳ sẽ là đất riêng của nó. Nếu Eliot Ness này không diệt được nó ngày hôm nay, sẽ chẳng bao giờ có ai diệt được nó cả. Vì vậy, anh nói với em, nếu không diệt được nó một cách hợp pháp, anh sẽ chơi luật rừng. Anh nói và anh sẳn sàng làm những gì mình vừa nói. Bây giờ em có chịu giúp anh không?

Collen tái mặt. Nhìn bộ tịch và cặp mắt sắc như dao của Eliot Ness, nàng biết ông cớm này sẽ làm thật. Cái mặt này không quen nói dóc. Nghĩ đến cảnh ông cảnh sát Eliot Ness ôm tiểu liên xông vào khách sạn Lexington quạt tưới hột sen nàng hoảng sợ. Đẹp trai như vầy mà ủ tờ thì buồn biết mấy. Nàng cũng bỏ tay ra, ôm lấy tay chàng, giữ thật chặt. Hơi ấm từ bàn tay to lớn của ông cớm làm lòng nàng thoải mái lạ lùng:

-Anh Ness, em chỉ đùa với anh thôi. Em biết anh là người dám nói, dám làm. Đừng có dại vậy anh. Để em hỏi anh câu này, tại sao anh dám tin em? Anh không sợ em là ngưới của AlCapone sao?

-Không! Anh quên nói với em chuyện này là anh có một giác quan đặc biệt của trời cho. Anh biết người.

-Em là loại người nào?

-Loại người…như anh. Thủ tín và cướng quyết.

Collen cười, rồi nàng lại thở dài ngay sau đó:

-Có lẽ vì cương quyết quá nên cho đến giờ này em vẫn chưa lây chồng.

Eliot Ness cũng cười, xiết tay nàng chặt hơn.

-Em giúp anh.

Collen gật đầu:

-Em sẽ giúp anh. Sẽ đi hết đoạn đường dài với anh. Anh có thể tin em được.

Eliot Ness hân hoan rướn người tới trước, Collen cũng làm y như vậy. Hôn nhau một cách say đắm xong, Eliot Ness mới bàng hoàng nhận ra là mình…đã có vợ. Từ ngày cưới vợ chàng chưa bao giờ hôn một người đàn bà khác, nên không biết có nói với Catherine chuyện này không?

Collen đọc được vẻ bối rối trên ánh mắt chàng:

-Hối hận phải không?

_Eliot Ness cúi đầu để giấu một câu trả lời. Collen lại nắm lất tay chàng:

-Em xin lỗi.

-Lỗi gì?

-Lỗi đã làm cho anh thất tín với vợ. Em biết anh không phải là loại người dễ phản bội…

-Để anh đưa em về! Chú bồi, làm ơn cho tôi giấy tính tiền.

Eliot Ness mồi điếu thuốc, bỏ tiền vào dĩa đưa cho người bồi:

-Thường thường, chúng nó tiếp tên bia vào những lúc nào em biết không?

-Thỉnh thoảng em có gặp. Chúng nó làm việc kho6ngc ó thời khắc biểu nhất định nhưng em có thể đoán được lúc nào chúng sắp tiếp tê.

-Cách nào?

-Anh biết không, bia nếu để lâu sẽ mất chất hơi, uống như nước lã thì em biết là chúng sắp sửa thay bia mới.

À ra thế. Chuyện đơn giản như vậy mà xưa nay chàng không nghĩ ra được. Người xưa nói đúng “hai cái đầu vẫn luôn luôn hơn một cái đầu”.

-Chuyện này đơn giản lắm có khó gì. Anh cú cho em số điện thoại, khi nào bia bắt đầu hết hơi, em sẽ thông báo cho anh biết. Tối đó anh cứ đến chờ thì thế nào cũng gặp được.

-Như vậy thì tốt quá.

Eliot Ness viết thật mau số điện thoại của mình trên mặt sau của bao diêm, đưa cho nàng. Chàng thích thú khi thấy Collen lẩm nhẩm học thuộc lòng số điện thoại rồi trả nó lại cho chàng:

-Anh cất đi, em nhớ rồi.

-Nhất em!

Eliot Ness dìu Collen ra cửa:

-Cám ơn em rất nhiều, em ở xa không?

-Gần nhà hàng để đi làm cho tiện.

Trời bây giờ đã khuya lắm. Phố xá vắng tanh. Eliot Ness dừng xe trước một khu chung cư sang trọng. Hai người sóng đôi đi vào. .

-Em nghĩ anh đưa em đi như thế này thiên hạ có dị nghị không?

-Anh đừng quên em là một vũ nữ. Nghề cầm ca luôn luôn được kẻ đưa người đón. Cái đáng buồn là về đêm, chúng em là những người cô đơn nhất.

Eliot Ness không nói gì. Bước chân hai người xào xạc trên lối đi nhỏ. Collen dừng lại trước cửa nhà:

-Anh vào nhà chơi một chút?

-Cám ơn em. Anh phải về liền.

Collen cười:

-Anh sợ không chống lại được sự cám dỗ?

Eliot Ness gật đầu cười:

-Đúng! Đừng quên anh chỉ là người, mà em đẹp quá, lại hấp dẫn nữa. Anh sợ.

Collen cười. Trước khi nàng quay đầu đi thì đã cảm thấy cặp môi của Eliot Ness đặt trên môi mình. Một cái hôn tình tứ nhưng không lâu lắm. Eliot Ness hốt hoảng chấm dứt như sợ sẽ không kiểm soát được mình:

–Good bye, my dear!

-Good bye…

Ebor Neor vừa quay đi, nàng goi giật lại:

-Anh Ness!

-Gì?

-Ans có nhắc tên Gary Malone phải không?

Mắt Eliot Ness sáng lên:

-Em có quen hắn?

-Có. chỗ quen biết cũ…

Eliot Ness nắm lấy vai nàng:

-Em nói hộ anh một tiếng được không?

-Dĩ nhiên, anh Ness. Anh đừng quên là em đang còn thiếu nợ anh.

-Em thiếu nợ anh cái gì?

-Anh đã cứu em khỏi bị thằng anh chị kia làm nhục.

Eliot Ness cười, lắc đầu:

-Anh không dám nhận đâu. Nhưng để anh hỏi cái này, ngày mai cm đi làm trở lại nó sẽ đối xử với em như thế nào?

-Em đã nói với anh rồi! Vũ nữ đắt khách như em không có gì phải lo cả. Hơn nữa, những thằng an ninh ăn hại như vậy theo lệ thường thì sẽ bị khai trừ, giao cho những công tác ít nguy hiểm hơn. Anh không biết luật giang hồ nhiều bằng em đâu.

Lại thêm một cái hôn nồng cháy trước khi chia tay. Lần này Eliot Ness cắm đầu đỉ thẳng ra xe, tự nhủ với lòng mình rằng từ nay chàng sẽ không bao giờ hôn Collen nữa.

Trong bóng tối, tiếng máy xe của chàng thanh tra cảnh sát vang lên từ từ, rất ấm, rất nhẹ nhàng. Collen đứng tựa cửa nhìn theo cho đến khi không còn nghe được tiếng xe nữa. Nàng xoay người tra chìa khóa vào ổ và tự dưng uớc ao rằng Eliot Ness là một người độc thân chưa vợ…

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 19 Apr 2025

Chương 15.

Catherine dọn xong bữa tối, chờ đến hơn 9 giờ Eliot Ness mới về đến nhà. Nhìn thấy chồng, nàng tự nhiên không cầm được nước mắt, khóc òa lên. Sáng nay đọc báo, Catherine đã biết tất cả về sự thảm bại của chồng. Anh ấy đã bị lừa một vố ra gì. Nàng biết chồng mình sẽ không đầu hàng, chắc chắn chàng sẽ chiến đấu để thực hiện cho bằng được những gì chàng tuyên bố: “I come here to get Capone”, nhưng khi nhìn thấy khuôn mặt tiều tụy, đôi mắt trũng sâu xuống vì mệt mỏi, Catherine cảm thấy thương chồng quá đỗi.

Sau cái hôn, Eliot Ness mỉm cười, gỡ vòng tay nàng ra, hỏi nhẹ nhàng:

– Con đi học có gì lạ không em?

– Rất tốt. Bé đã vừa đi ngủ hồi nãy. Anh đừng lo cho con, em lo cho anh kìa.

Eliot Ness cười:

– Em đừng lo cho anh, anh lo thân anh được. Hay mình vào thăm con rồi ra ăn cũng còn kịp.

Hai người đi vào phòng ngủ con gái, đứng lặng im trong bóng tối ngắm đứa bé. Nhìn đứa bé gái thiêm thiếp môi hồng nằm ngủ trong mộng đẹp, Eliot Ness cảm thấy cuộc chiến đấu của mình, ít nhất có một điều an ủi. Chàng đang chiến đấu cho cái thế hệ trẻ thơ này của Chicago và của cả toàn quốc. Chàng muốn khi chúng lớn lên, sẽ được sống trong một xã hội Mỹ thanh bình, không có tội ác, không có cảnh đĩ điếm đầy đường, không có những cảnh bắn giết nhau rùng rợn giữa thành phố.

Chàng nhẹ nhàng đi đến gần bên con, đặt trên má đứa bé một cái hôn. Bé gái xoay người, miệng mơ màng cười thật tươi.

Khi ngồi vào bàn bắt đầu bữa ăn tối, cầm chiếc khăn trải rộng trên đùi, Eliot Ness mới cảm thấy thoải mái thật sự. Gần hai ngày qua, những biến cố dồn dập làm cho thần kinh người cảnh sát liên bang căng thẳng quá mức. Đây là lúc duy nhất mà đầu óc chàng không nghĩ đến Al Capone, đến cái chết thê thảm của Mose Stash, đến Gary Malone hay Mike Casey. Chàng dự tính sẽ quên tất cả mọi chuyện để thưởng thức món bí tết tuyệt hảo vợ chàng đã làm.

Catherine cũng cảm thấy vui trong lòng khi thấy chồng hầu như đã quên hết mọi chuyện để dùng bữa tối. Hai người nói chuyện thời tiết, gió mưa, cố tránh cái đề tài sầu thảm, Al Capone.

Tráng miệng xong, Catherine pha cho chàng một ly cà phê nóng hổi. Eliot Ness mồi điếu thuốc, nhả khói vu vơ, đã đến lúc cần phải nói cho Catherine về chuyện chàng tính làm:

– Catherine, anh muốn nói với em điều này.

Nàng đã chờ đợi giây phút từ lâu này nên rất bình tĩnh:

– Em nghe.

– Em có đọc báo sáng nay?

– Có. Em thấy hình anh!

Eliot Ness cúi đầu, giọng trầm hẳn xuống:

– Em biết anh đã tuyên bố với báo chí những gì. Và hơn ai hết, em hiểu tính anh. Những ngày sắp tới, sẽ là những ngày khó khăn cho anh và có thể cho cả em nữa.

– Em hiểu.

– Anh sẽ không bao giờ rời khỏi thành phố này nếu không nhốt được thằng khốn đó sau mấy lần song sắt nhà tù.

Lần đầu tiên, nàng tò mò về công việc của chồng:

– Em biết tính anh, anh nói là anh làm. Nhưng anh chỉ có một mình, em nói anh đừng buồn, em sợ anh khó thành công.

Eliot Ness rít một hơi thuốc lá:

– Em nói đúng. Nhưng anh sẽ không cô đơn. Anh sẽ kiếm ra người.

– Từ Hoa Thịnh Đốn?

– Có thể, nhưng anh thích tìm người ở Chicago hơn.

– Em nghĩ nếu anh chịu khó tìm chắc sẽ kiếm được. Không lẽ cả ty Cảnh sát Chicago mà không có lấy một người đáng tin cậy sao?

Eliot Ness cười:

– Có một người, nhưng hắn không thích anh.

– Tại sao vậy?

– Anh không hiểu. Anh đã đề nghị với hắn mấy lần nhưng vô hiệu quả. Ông cớm này rất giỏi, hơn hẳn anh về nhiều phương diện, nếu có được hắn, anh sẽ thành công. Nhưng anh đã dùng đủ cách mà hắn vẫn không thay đổi ý kiến.

– Hắn đang giữ chức vụ gì?

– Cảnh sát …gác đường.

– Tài vậy sao lại phải gác đường?

– Tại vì Chicago là thiên đường của tội ác. Những thằng ăn bẩn, những thằng côn đồ thì nắm giữ chức vụ quan trọng, còn người lương thiện đàng hoàng thì bị đi đày, bị giao cho những chức vụ không quan trọng như đi gác đường, v.v.

Hai người im lặng một lúc. Eliot Ness mồi một điếu thuốc lá khác:

– Em biết tại sao anh thất bại vụ đột kích vừa rồi không? Vì anh ngu si đến độ đi thông báo địa điểm tấn công cho mấy thằng cảnh sát biết trước. Từ này về sau, anh sẽ đích thân đi làm lấy. Anh đã nghĩ ra một kế hoạch tìm kiếm các lò nấu bia của chúng nó.

– Bằng cách nào?

– Em biết, bất cứ cơ sở làm ăn nào cũng vậy, có hàng bán ra tức cần phải được tiếp tế. Xưa nay, các nhân viên của sở bài rượu chưa bao giờ kiếm được các lò nấu rượu là vì những người này đã được chúng nó cho ăn ngập mặt. Anh nghĩ, nếu mình muốn tìm cũng không khó. Chỉ chịu khó theo dõi một tiệm nào đó, một ngày, hai ngày, ba ngày… cho đến khi nào chúng nó xách xe tới tiếp tế rượu. Thấy nó rồi, cứ việc bám theo thì bao nhiêu cái lò bí mật lại không kiếm ra? Đó là chuyện quan trọng anh muốn nói với em ngày hôm nay. Những ngày tới, anh sẽ đi sớm và về rất trễ, hoặc nhiều khi anh sẽ không về nhà trong mấy ngày. Anh muốn em biết để chuẩn bị.

– Em quen rồi!

Nàng nhìn Eliot Ness mỉm cười:

– Anh tính ngồi chỗ nào mà canh. Cái mặt của anh, từ đằng xa người ta đã ngửi thấy mùi cớm rồi, làm sao lừa ai được?

Eliot Ness cười theo:

-Thật à. Nhưng báo tin mừng cho em biết, anh sẽ lột xác để trở thành một dân chơi chính hiệu ở Chicago. Anh đã đi may đồ, đôi giày da cá sấu anh còn để ngoài xe, quên đem vào.

– Anh nói thật?

-Thật. Trước khi đi, ông Tổng Giám đốc có dúi vào tay anh 2000 đô để làm quỹ đen. Ông ta vơ vét hết cả Nha chỉ còn có thế, bảo anh rằng nếu tiêu hết mà chưa diệt được thằng Al Capone thì rán lấy tiền túi ra mà chi phí.

– Nha Ngân khố của anh thật là kỳ cục. Mỗi tháng in ra không biết bao nhiêu triệu đô la mà sao keo kiệt thế? Vậy anh đã may sắm hết bao nhiêu rồi?

– Chừng 500 đô!

-1/4 số tiền quỹ rồi!

– Đúng vậy. Anh tính sẽ tiêu thêm 1/4 nữa trước khi nắm vững tình hình về các lò nấu rượu của thằng Al Capone…

– Anh sẽ còn lại 1000 đô chẵn?

Eliot Ness nửa đùa nửa thật:

– Đúng, một ngàn đô để tiêu diệt một đế quốc giàu 100 triệu đô la không phải là chuyện đáng làm sao?

Catherine không cười. Nàng nắm chặt tay Eliot Ness:

– Em biết anh sẽ thành công. Eliot, em hãnh diện làm vợ của anh. Ngày nào đất nước này còn những công dân như anh, ngày đó Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ còn xứng đáng để cho cả thế giới noi gương…

Hai người ngồi nói chuyện đến khuya. Tối đó, Eliot Ness ngủ một giấc ngon lành.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 19 Apr 2025

Chương 18.

MINH THOẢI MAI NẰM ƯỜN RA TRÊN GHẾ XÍCH ĐU. Vậy là một ngày nhọc nhằn đã qua, chàng nhắm mắt lại cho sự mệt mỏi trôi đi, chàng muốn quên tất cả, quên những công việc làm hàng ngày, để nhớ đến gia đình. Cái hạnh phúc nhỏ nhoi chàng đã từng ao ước bao nhiều năm nay, bây giờ chàng mới nắm được.

Không còn việc gì phải lo lắng cả, bây giờ chàng đã hoàn toàn là một người tự do, chàng đã được giải ngũ đàng hoàng, chàng có vợ, có con, có công ăn việc làm, dầu sao thì chàng cũng khá hơn thời gian ở quân đội. Minh tự nhủ: Mình ở hiền thì gặp lành, chàng không ngờ Ngọc vẫn chờ đợi tới ngày chàng đi tìm nàng. Minh cho rằng mình là người may mắn nhất trên đời, mặc dù hạnh phúc của chàng thật nhỏ nhoi, nhưng thôi, đối với Minh như vậy là đủ quá rồi.

Những năm tháng qua như một giấc mộng, sự buồn phiền nào rồi cũng phải trôi qua. Buổi tối hôm nay Minh nằm ườn trên chiếc ghế xích đu, ngửa mặt nhìn sao đầy trời, chàng thấy mình vui hơn mọi hôm. Căn nhà vợ chồng chàng thuê nằm trong một hẻm ở xóm lao động, nghèo nàn, thiếu mọi tiện nghi, nhưng điều đó không quan trọng, miễn là vợ chồng chàng hạnh phúc. Ngọc vẫn làm việc tại một tiệm uốn tóc, nàng an phận như chồng, sau giờ làm việc Minh tới đón vợ, đón con gởi ở nhà một người vú nuôi.

Dù bận bịu thế nào Ngọc cũng nhất định làm bữa cơm tối để cả nhà quây quần ăn uống. Ngọc hồi này đẹp ra, Minh không ngờ chàng lại lấy một người vợ nhan sắc như vậy, trong khi nhìn lại mình, Minh thấy mình chẳng có gì đặc sắc cho lắm. Ngọc tỏ ra là một người đàn bà biết thương chồng con, hai vợ chồng sống với nhau gần ba năm trời chưa một lần nào hàng hàng xóm thấy họ to tiếng với nhau.

Ngọc lại là một người đàn bà ít nói, nàng cũng như Minh, dồn tất cả thương yêu cho gia đình. Đứa con trai của hai người được mười tám tháng, thằng bé lành như cục đất, nó có đôi mắt giống mẹ. Minh vẫn nói đôi mắt nó đẹp, buổi tối được bố mẹ đón về nhà, nọ hết chạy đến mẹ, lại chạy đến bố nói chuyện líu lo. Ngọc vẫn lấy làm hài lòng vì Minh không phải là một người đàn ông chơi bời, chàng không rượu chè cờ bạc, không đàn đúm với bọn đàn ông cùng xóm, buổi tối khi Minh đi làm về, chàng ở nhà chơi với con.

Thỉnh thoảng chàng nể ông hàng xóm lắm mới ra đầu hẻm uống cà phê, nói dăm ba câu chuyện rồi lại về với vợ con ngay, chàng thường nói với Ngọc:

– Anh đã về đến nhà rồi anh hết muốn đi đâu, cũng không thích chơi với ai.

Ngọc cười, đôi mắt chàng chớp nhanh, nhưng nàng cũng nói:

– Thì thỉnh thoảng anh cũng đi chơi với người này người khác, không người ta nói em giữ anh.

– Mặc kệ người ta.

Buổi chiều nay đi làm về, Minh đón vợ, nàng tới đón thằng bé, nàng nói chàng cứ đi về nhà trước, nàng muốn đưa con đi sắm sửa một ít đồ. Trời đã tối hẳn, vậy mà Ngọc và con vẫn chưa thấy về, Minh thấy nóng ruột, chẳng biết hai mẹ con đi đâu mà mãi chưa về. Những con muỗi vo ve dưới chân Minh, chàng đưa tay đập muỗi. Nhưng Minh không phải chờ lâu, vợ con chàng đã về, thằng Dũng tíu tít, nó chạy lại khoe áo đẹp với bố, Ngọc đứng bên chồng:

– Anh biết không, em đưa nó đi mua áo, mua xong nó nhất định đòi bận liền tức thì.

Minh bế con lên lòng, Ngọc nói tiếp:

– Anh chơi với con nhé, em vào làm cơm.

Minh cản vợ:

– Thôi tối nay mình đi chơi em.

– Thì ăn cơm đã, rồi mình hãy đi chơi.

– Mình đi ăn luôn.

Ngọc tiếc rẻ mấy món ăn mình tính làm cho chồng con, nhưng nàng lại muốn chìu chồng, nàng gật đầu:

– Đi thì đi, chỉ có thằng Dũng là khoái thôi, được diện áo mới đi chơi liền còn gì.

Ngọc vào nhà thắp ngọn đèn lên, nàng gọi chồng:

– Nào, bây giờ đi đâu?

– Anh đưa mẹ con đi ăn mì, ra bờ sông hóng mát một lát rồi về. Chiếc xe Goebel nổ máy nghe giòn tan, đèn chiếu sáng con hẻm tối tăm. Trong xóm này gia đình Minh là một trong những gia đình tương đối mát mặt nhất, nhưng Minh chưa lấy thế làm hài lòng, chàng muốn có tiền mua hẳn một căn nhà, một căn nhà có tiện nghi hơn chút nữa, căn nhà đó chàng mặc sức trang hoàng sửa chữa, đó là mộng ước của hai vợ chồng Minh từ mấy năm nay. Chiếc xe chạy vòng vòng ra khỏi ngõ hẻm sâu, chiếc xe qua cầu Bông, sang địa phận Sài Gòn, một tốp lính cảnh sát đứng xét giấy thanh niên ngay bên đầu cầu. Minh hãnh diện vì đã làm xong nhiệm vụ công dân, chàng không phải trốn chui trốn nhủi như mấy thằng thanh niên trốn quân dịch, chàng đầy đủ giấy tờ. Thỉnh thoảng Minh bị khám giấy tờ ở cầu này, chàng được đi một cách thảnh thơi, Minh thầm nhủ trong cái rủi cũng có cái may.

Ngọc tò mò hỏi Minh:

– Lính làm gì mà đứng đông vậy nhỉ?

– Khám giấy tờ quân dịch chớ còn gì nữa.

– Không có giấy người ta bắt hả anh?

– Chớ sao.

– Anh có mang giấy đi không?

– Bùa hộ mạng không mang đi sao được.

– Sao không thấy người ta hỏi anh?

– Họ trông mặt cả, mấy thằng trốn lính trông cái mặt khác, mấy thằng đầy đủ giấy tờ hợp lệ trông cái mặt khác.

– Vậy hả?

Xe chạy ra Sài gòn, Minh quẹo sang đường Nguyễn văn Sâm, con đường ngay bên cạnh dinh cơ Chú Hỏa, ở đó có một hàng mì xào bình dân thật rẻ, thật ngon. Những chiếc bàn tròn bày dọc theo bức tường nhà Chú Hỏa, đông đảo khách ăn.

Minh dựng xe, chàng và vợ con chờ mãi mới có một bàn trống, thằng bé Dũng bí be nói chuyện. Minh hết nhìn vợ rồi lại nhìn con, chàng thấy đời mình bây giờ thật hạnh phúc, chàng nghĩ tới một món đồ chơi nào đó chàng sẽ mua cho thằng con chiều ngày mai, khi chàng được lãnh tiền cuối tuần. Minh xin được việc làm ở một nhà vẽ quảng cáo, chàng cắm cúi làm việc với sơn cọ tối ngày, sau một ngày mệt mỏi, về nhà Minh thấy tâm hồn thật thoải mái. Vợ Minh lại là một người đàn bà biết tằn tiện. Chàng thường nhủ, sau này mình dành dụm được nhiều tiền mình sẽ sang một cái nhà ngoài mặt đường mình vẽ quảng cáo, mình sẽ làm chủ lấy mình, Minh tưởng mình sẽ sống được một khi ra làm ăn riêng, vì Minh thấy mình còn khá hơn nhiều anh thợ vẽ khác.

Nhiều thằng kẻ một cái bảng hiệu không xong, vậy mà cũng kiếm được tiền nữa là chàng, chàng là một người thợ giỏi nhất trong tiệm.

Ngọc chợt nhìn chồng cười: – Anh nghĩ gì vậy anh?

Minh ngẩng lên, chàng mỉm cười với vợ, nói lãng:

– Không, anh nghĩ gì đâu, anh đang mãi ngửi mùi mì xào.

– Anh đói lắm rồi hả?

– Đói bỏ xừ đi ấy.

– Ăn ở đây là vậy, ráng chờ lâu một chút.

Một lát sau dĩa mì xào mang ra, Ngọc vừa ăn vừa đút cho con, Minh nhìn cảnh đó, chàng liên tưởng ngay đến hạnh phúc của mình, đấy chính là hạnh phúc của mình mong đợi, một hạnh phúc đơn sơ nhưng đầm ấm. Tâm hồn Minh thoải mái, chàng lại tiếp tục thả hồn theo mộng ước của mình, chàng nghĩ tới cái nhà vẽ của mình sẽ có trong tương lai, một nhà vẽ nho nhỏ nhưng là của mình, chàng sẽ không chịu bất cứ một sự ràng buộc nào với khách hàng chàng sẽ làm hài lòng từ những khách hàng khó tính nhất, chàng vừa ăn vừa cười với vợ con, chàng lại nhìn vợ nhìn con. Xong bữa ăn chàng rủ vợ:

– Mình đi ăn kem.

Ngọc dành trả tiền, nàng nói:

– Anh có mấy trăm bạc giữ lấy mà tiêu vặt, để em trả cho.

Nàng thấy chồng mình hôm nay có vẻ khác lạ, đôi mắt chàng nhìn vợ con có vẻ trìu mến hơn, nàng thầm nghi: Chắc anh chàng lại nghĩ được điều gì thú vị đây, nhưng nàng không hỏi, nàng biết chắc rằng trước sau gì anh chàng cũng nói với mình, anh chàng phổi bò khô- ng giấu được một chuyện gì hết. Nàng bằng lòng với số phận của mình. Tới tiệm kem, Minh cao hứng mua một gói thuốc lá thơm, Ngọc thấy chàng ít khi hút thuốc, đúng là anh chàng có chuyện gì thú vị lắm đây. Ngồi trong quán kem chàng phì phèo điếu thuốc lá, bất chợt chàng nói:

– Anh sống với em như vậy là gần được ba năm rồi nhỉ?

– Dạ gần ba năm rồi.

– Thật là tuyệt diệu đó em.

– Anh thấy tuyệt diệu?

– Dĩ nhiên.

Ngọc sung sướng nhìn chồng:

– Trong ba năm đó anh có điều gì buồn phiền em không?

Minh thành thật lắc đầu:

– Anh không ngờ mình lại được như thế anh tìm thấy ý nghĩa cuộc sống này sau ngày Cách Mạng, cho dù sau Cách Mạng tình hình không có gì khá hơn, sáng sủa hơn, nhưng anh, với gia đình của mình, anh thấy vậy là đầy đủ, hôm anh đi ra đường, anh thấy người ta bắt lính nhiều quá, anh chợt nghĩ rằng chiến tranh mỗi ngày một bành trướng.

Ngọc mỉm cười:

– Hôm nay anh lại bày đặt suy tư nữa.

Tâm hồn Ngọc chất phác, nàng chỉ biết nghĩ đến hạnh phúc của gia đình mình, ít khi nàng nghĩ đến những điều khác. Minh cũng hiểu như vậy, nên chàng nói chuyện với vợ về một chuyện khác ngoài chuyện gia đình. Nhưng hôm nay chàng chợt nghĩ lại, Cách Mạng chàng được nghỉ một ngày phép, chàng đi tìm Ngọc, thật tình chàng khô- ng hy vọng gì gặp được nàng, hy vọng gặp nàng lúc ấy thật là mỏng manh. em. – Anh nghĩ đến ngày anh đi tìm Mắt Ngọc chợt sáng lên:

– Anh lại nói chuyện Cách Mạng phải không?

– Sao hôm ấy em linh cảm một cách kỳ lạ, em thấy nóng ruột.

Nàng ngừng lại nhìn vào mặt chồng:

– Em cứ nghĩ là thế nào cũng có anh trong đoàn quân giải phóng thủ đô, em mới lên tiệm uốn tóc cũ nhắn bạn, thật tình em cũng không hy vọng anh nhớ đến em.

Minh cười:

– Hôm đó mà anh không tìm em thì bây giờ anh đã có vợ khác rồi.

– Cô nữ sinh phải không? Minh lắc đầu:

– Không phải, mà có lẽ cô bán bar ở nơi anh đóng quân.

Ngọc tủm tỉm:

– Sao anh không lấy cô ấy đi, bây giờ tiếc rẻ hoài.

– Nói bậy, anh tiếc rẻ hồi nào, nhưng cũng may, nếu anh lấy cô ấy rồi chắc bây giờ anh mấy đời vợ rồi, ấy chứ.

Ngọc xì một tiếng:

– Anh cứ làm như chung tình lắm không bằng.

– Chớ sao nữa, nhiều khi anh cũng khen anh nữa. Anh thấy mình thương vợ thương con ghê vậy đó.

Ngọc lườm chồng:

– Thôi đi anh, em không có khen anh đâu, đừng có ham mà lên mặt.

Buổi tối trôi qua vui vẻ, về tới nhà cho con đi ngủ xong, Minh nghĩ hoài về dự tính của mình, chàng thao thức hoài không ngủ được, Ngọc nói với chồng:

– Anh không ngủ đi, sáng mai anh còn phải đi làm sớm mà.

Minh thú thật với vợ:

– Anh không ngủ được, anh đang nghĩ đến một chuyện…

– Chuyện gì đó anh?

– Chuyện cái nhà vẽ của anh trong tương lai. Anh nói chuyện đó với em hôm nọ phải không?

– Hôm đó anh nói chưa hết, anh thấy em buồn ngủ nên anh không nói nữa.

– Tối nay anh nói đi, hôm nay em không thấy buồn ngủ.

– Em dành dụm được bao nhiêu tiền rồi?

– Có dành dụm được, nhưng không bao nhiêu anh ạ.

– Vậy chắc còn phải đi làm công hai ba năm nữa, mình may ra mới sang được một cửa hàng nho nhỏ ngoài mặt đường, anh thấy nghề này kiếm ăn được lắm.

Ngọc hiểu tâm trạng của chồng, nàng an ủi:

– Anh cứ chịu khó làm một thời gian đi, mình dành dụm tiền nong nếu thiếu thì đi vay mượn chút đỉnh đâu có sao.

Minh nghĩ đến công việc làm của mình hàng ngày, chàng bực bội:

– Anh thấy mình làm việc quá sá cho chủ mà không ăn giải gì hết, ngoài số lương cố định hàng tuần, họ bóc lột mình ra mặt, em biết không, nhiều khi anh làm việc tối mặt tối mũi.

Ngọc thấy thương chồng, nàng hiểu sự mơ ước của chồng, nàng không biết nói gì hơn, ngoài sự an ủi, nàng hỏi chồng:

– Anh đã tìm được một địa điểm nào tốt chưa?

– Anh có nhắm một căn nhà nho nhỏ ở Gia Định?

– Người ta cho thuê không?

– Nếu cho thuê thì tiện quá, đàng này người ta lại sang mới mệt chớ.

– Anh hỏi chưa?

– Có, ngày hôm trước anh có hỏi, nếu năn nỉ thì may ra cũng thuê được…

– Vậy tại sao…

– Nếu mình có tiền vào cho họ vài tháng tiền nhà trước cũng được.

– Anh tới hỏi lại đi, nếu cần chạy tiền em lo cho.

– Được không em?

– Được chớ sao không, có thể cũng chẳng cần vay mượn bao nhiêu, em sẽ hốt hụi.

– Em có chơi hụi à?

Ngọc mỉm cười, nàng gật đầu:

– Có, em có chơi hụi

– Vậy mà anh không biết gì hết trơn, em kín đáo quá vậy.

Ngọc cười nhỏ, nàng rút vào trong ngực chàng:

– Bắt buộc em phải dành dụm chớ lỡ ra có chuyện gì thì sao?

Minh bắt đầu mơ mộng:

– Ngày mai anh sẽ tới năn nỉ bà chủ nhà, nếu được như vậy đầu tháng này anh mở tiệm liền.

– Anh làm cái gì cũng nóng, gấp gấp.

– Tính anh vậy đó, nếu cái tiệm của anh khá em khỏi phải đi làm nữa, em ở nhà phụ với anh.

– Em không biết vẽ.

– Không làm việc này thì làm việc khác, làm công cho người ta khổ là rồi.

– Em làm ở tiệm uốn tóc này cũng dễ chịu đấy chứ, có chuyện gì đáng phiền hà đâu.

– Nhưng anh không thích, làm bà chủ không khoái hơn sao.

– Anh lúc nào cũng mơ mộng.

– Mỗi ngày mình chỉ cần lãnh được một mẫu vẽ là một tháng mình kiếm được cũng khá bộn tiền.

– Thôi anh ơi, tính anh mơ mộng quá em sợ rằng…

– Không sợ gì hết, anh có thể bảo đảm với em.

Ngọc thấy chồng say sưa quá, nàng càng thương chồng, nàng biết chàng nghĩ đến chuyện đó cũng vì vợ vì con. Ngọc so sánh với những con bạn của mình, nàng là đứa hạnh phúc nhất, có lần một người bạn của Ngọc nói:

– Con Ngọc như vậy mà khôn, không với cao, lấy một anh chàng nghèo khổ biết thương vợ thương con, còn hơn lấy một cha sĩ quan nay mèo mai mỡ.

Ngọc nói:

– Đâu có phải thằng cha sĩ quan nào cũng mèo mỡ đâu.

Người bạn bực mình:

– Mày thấy tao không? Tao bị mắc lừa mà, nó có vợ rồi mà còn lấy tao, bây giờ tao biết cũng đành ngậm đắng nuốt cay làm vợ bé nó, chỉ vì tao thương con chớ, không tao bỏ phứt cho rồi, vậy mà có yên đâu, nay con vợ lớn tới gây, mai thằng chồng tới làm khổ, mà thật tình tao làm việc như trâu bò để kiếm tiền nuôi con chớ có nhờ vả ai đâu.

Nhìn vào hoàn cảnh tất cả các bạn Ngọc thấy mình là người may mắn nhất, tuy nghèo khổ nhưng một vợ một chồng, làm được bao nhiêu, tiêu bấy nhiêu như vậy khỏe hơn, Ngọc không khỏi nghĩ đến mộng ước của chồng, nàng hỏi:

– Ra làm riêng như vậy có sống được không?

– Tại sao lại không, muốn thành công mình phải tin tưởng, cứ sợ cái này cái kia thì làm sao mà làm việc được.

Minh nằm nói chuyện thật khuya, chàng nói toàn chuyện căn nhà chàng sẽ thuê làm căn nhà vẽ.Cuối cùng Ngọc phải nói:

– Thôi khuya quá rồi anh, anh ngủ một giấc đi, sáng mai anh còn phải dậy sớm mà.

Ngọc quay lưng ngủ. Minh còn thao thức mãi mới ngủ được.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 19 Apr 2025

Chương 17.

ĐẠI ĐỘI CỦA MINH DỪNG LẠI Ở ĐẦU ĐƯỜNG Đinh Tiên Hoàng. Minh và các bạn được lệnh xuống xe, mỗi người nấp vào một gốc cây, súng chĩa ra phía thành Cộng Hòa, nơi liên đoàn Liên Binh Phòng Vệ Tổng Thống Phủ trấn đóng, Minh cũng như các bạn đều không hiểu ý nghĩa của cuộc hành quân thủ đô này, toàn quân đội trở về giải phóng thủ đô. Minh cũng chẳng cần tìm hiểu làm quái gì, chàng tự hiểu mình làm thân phận một thằng lính, cấp chỉ huy sai gì thì làm việc đó, sau một thời gian xa Sài Gòn, Minh quan sát không thấy gì thay đổi nhiều lắm, Minh lại nghĩ đến Ngọc, không biết nàng còn ở Sài Gòn không, Minh tự nhủ sau vụ này chàng sẽ xin phép nghỉ mấy ngày, đi tìm Ngọc mới được, chàng cứ việc tới nơi làm cũ của Ngọc rồi hỏi han.

Buổi trưa hôm nay trời nhiều mây, hơi oi bức, xe cộ đi lại có vẻ vội vàng, tất cả mọi người nhìn đám lính súng ống đầy người một cách nghi ngờ. Minh gác khẩu súng vào thân cây, móc khúc bánh mì từ trong túi ra đưa lên miệng nhai, đám sĩ quan tham mưu đang ngồi ở dưới một khúc cây bàn bạc với nhau những gì đó, Minh cũng chẳng chú ý đến Phía đường Hồng thập Tự vắng hoe không một bóng người, Minh biết ở phía tường thành Cộng Hòa những họng súng đang chong ra phía đại đội của Minh, chàng quá quen thuộc với những trận hành quân nên chàng coi thường. Minh ăn xong khúc bánh mì, chàng lấy bi đông nước tu một hơi. Hạ sĩ Bình ngồi gần đó, anh ta búng tay ra hiệu cho Minh:

– Cho tao xin một điếu thuốc lá mày.

Minh liệng cho hạ sĩ Bình một điếu Ru-by, chàng cũng gắn lên môi mình một điếu, đầu óc Minh lúc này rỗng tuếch, chàng không nghĩ ngợi gì, chàng nhìn bầu trời đầy mây xám, những đám mây khó chịu. Trời không nắng nhưng oi bức. Hạ sĩ Bình rút khăn mùi-soa lau mồ hôi trên cổ, anh ta tới bên Minh, anh nhìn về phía thành Cộng Hòa:

– Đù mẹ, đánh thì đánh mẹ cho rồi.

Hạ sĩ Bình ngồi xuống bên Minh, hít điều thuốc lá từng hơi dài, ngửa cổ nhả khói thẳng lên trời. Minh hỏi:

– Bọn Phòng vệ Tổng thống phủ làm gì mà mình đánh chúng nó?

– Ai biết, nghe đâu chúng nó làm phản.

– Làm phản Tổng thống?

– Hình như vậy.

Minh nhìn ra phía thành Cộng hòa:

– Hạ sĩ thấy bọn này có dễ nuốt không?

– Đừng tưởng dễ.

– Toàn là bọn lính kèn và dàn chào không, chúng nó đánh đấm mẹ gì.

Minh vẫn không mấy phục bọn phòng vệ:

– Người ta nói văn ôn võ luyện, tôi thấy mấy cha này về đây hơi lâu chắc là chúng quên đánh đấm hết trơn rồi.

Hạ sĩ Bình trầm ngâm:

– Không nên khinh địch.

Hạ sĩ Bình lại nhìn về phía thành Cộng hòa:

– Đáng lẽ bây giờ tao đang ở trong đó.

– Vậy là làm sao?

Hồi trước tiểu đoàn trưởng có đề nghị cho tao về phục vụ tại đây, nhưng tao không chịu, nếu ngày nào đó tao bằng lòng thì bây giờ tao có mặt trong thành phải không? Và đang chong súng chia nhắm bắn chúng mày.

– Tại sao hạ sĩ không về?

– Tao muốn đi cho khuất mặt, vả lại ở Sài Gòn này thì vợ tao cứ đẻ hoài chịu gì nổi.

Hạ sĩ Bình tâm sự:

– Tao bốn đứa con rồi, mỗi lần tao về phép, chừng một tháng sau vợ tao biên thư cho tao báo tin có bầu thì chán không?

– Ai bảo ham làm chi.

– Đâu có ham, con vợ tao kỳ lắm, cứ đụng vào là có thai liền.

Minh cười, chàng thấy vui vui, chàng chợt nhìn thấy một cánh quân di chuyển lên phía thành Cộng Hòa, Minh hỏi:

– Chúng nó đi đâu kìa?

Hạ sĩ Bình theo hướng tay của Minh nheo mắt:

– Có lẽ bắt đầu tấn công.

Hạ sĩ Bình đưa tay lên xem đồng hồ:

– Mười hai giờ hơn rồi, sao đại đội mình chưa nhúc nhích cục cựa gì hết trơn thế này.

Minh không mấy quan tâm đến chuyện đó, chàng có hiểu có biết gì đâu mà quan tâm.

Hạ sĩ Bình bồn chồn, lo lắng, anh làm như chính anh ta chỉ huy vụ này. Minh vẫn ngồi nhìn trời nhìn đất, chàng khều gã hạ sĩ:

– Nè xếp.

– Chi mày?

– Hạ sĩ biết mình về đây làm gì không?

– Tao đâu biết.

– Tôi cũng không biết gì hết trơn.

– Tao có nghe mấy ông xếp của mình nói sơ sơ…

– Nói gì?

– Mấy ông, có người nói, về cứu Tổng thống vì bọn Liên binh làm phản, có ông thì nói về lật đồ Tổng thống, tao không biết nghe ông nào hết trơn.

Hạ sĩ Bình nhìn cánh quân di chuyển về bãi đá banh Hoa Lư. Ông ta chửi thề:

– Đ.M. đi khơi khơi vậy, chúng nó đặt hai khẩu đại liên ở hai cửa sổ kia phơ chéo cánh sẻ thì chết mẹ hết trơn.

– Kệ chúng nó, việc quái gì mà hạ sĩ lo quá vậy.

– Chúng nó ngu quá mà.

Hạ sĩ Bình lại có vẻ nóng ruột, anh ta nhìn đồng hồ hoài, chợt có tiếng súng nổ ở phía thành Cộng Hòa, đám lính chạy dạt sang bên đường, hạ sĩ Bình kêu lên:

– Tao nói rồi mà, hai con nhào rồi.

Hai người lính Thủy Quân lục Chiến nhào xuống đường nằm sóng soài, đám lính chạy giạt sang hai bên đường, một vài tiếng súng đáp lễ, về phía thành, tiếng súng im. Minh cũng vớ lấy súng của mình, hạ sĩ Bình vẫn bình thản:

– Chưa đến lượt mình mà, mày ngồi chơi đã, kìa, hình như người ta điều đình gì đó.

Từ phía thành Cộng Hòa, Minh nhìn thấy có người ra phía hàng rào, rồi phía Thủy Quân Lục Chiến cũng có, người đi ra, họ ở xa nên Minh khô- ng nghe họ nói gì với nhau, Minh hỏi:

– Họ nói chuyện gì với nhau kìa?

– Ai biết.

Minh đặt súng xuống gốc cây:

– Đếch còn biết họ làm gì nữa.

Bỗng có tiếng đại bác câu ầm ầm về phía thành Cộng Hòa, toán lính chạy toán loạn, Thủy Quân Lục Chiến chạy vào sân Hoa Lư, hạ sĩ Bình mắt mở to:

– Đại bác của mình câu rồi.

Tiếng đại bác câu càng lúc càng nhiều. Người sĩ quan đại đội hô lính sửa soạn.

Minh cầm súng đứng dậy:

– Mình đánh hả?

– Ai biết, chắc sau vụ pháo kích này mình tấn công.

Một chiếc máy bay oanh tạc lượn vòng trên đầu, chiếc máy bay chúc xuống bắn xối xả vào phía thành Cộng Hòa. Tiếng đạn rít lên trên đầu Minh:

– Mệt rồi, đánh lớn rồi.

Minh nghe người sĩ quan đại đội la lên:

– Đù má, bọn đi trước kia sao khơi khơi vậy cà, chúng nó nói chuyện gì với nhau rồi im luôn vậy?

Người đứng bên sĩ quan nói:

– Cho liên lạc thử coi trung úy?

Ông ta lầm lỳ, ông dùng ống nhòm nhìn về phía thành Cộng Hòa, khói bốc lên mù mịt. Ông chửi luôn miệng, Minh không biết ông chửi ai, ông buông cái ống nhòm xuống phất tay cho cánh quân tiến lên, cánh chia ra làm hai toán, lom khom tiến dọc theo hai bên lề đường Đinh Tiên Hoàng. Hạ sĩ Bình đi cạnh Minh luôn miệng nói:

– Đù mẹ, tao mới đi phép về Sài Gòn bây giờ lại đi nữa.

– Đi đánh nhau chớ bộ.

– Lát đánh xong tao nhất định tách ra về nhà một cái chơi.

Hạ sĩ Bình bỗng nhìn sang Minh:

– Ê mày đi không?

– Đi đâu?

– Đi tìm vợ mày.

Minh quệt mồ hôi trên trái, chàng lại nghĩ đến Ngọc. Ừ tại sao mình lại không đi tìm, cả bao nhiều tháng trời nay, chàng không biết gì tin tức của Ngọc hết, chàng quay sang hạ sĩ Bình:

– Tôi nhất định sẽ đi tìm Ngọc.

– Vợ mày hả? Minh gật đầu.

Bỗng Đại úy Châu, đại đội trưởng hô dừng quân lại, mỗi người lính tìm một gốc cây nấp, có tiếng xe thiết giáp chạy, trên đầu bốn chiếc máy bay vẫn lượn bắn vào thành Cộng Hòa, Minh nhìn thấy hai chiếc thiết giáp ló đầu ra khỏi đường Hồng thập Tự, một người sĩ quan đi trước, tay cầm máy phóng thanh, theo sau vị sĩ quan là hai binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến. Đại úy Châu đứng ở lề đường chờ đợi, một tay ông ta cầm trái lựu đạn, một tay cầm khẩu súng colt, mặt ông ta sắc lại, mồ hôi chảy ròng trên má.

Không khí nặng nề, Minh nghe tiếng xe thiết giáp lăn trên mặt đường, hai chiếc xe chạy chậm chậm dần lại, ngừng hẳn khi cách quân đại úy Châu chừng một trăm thước, những mũi súng của cánh Thủy Quân Lục Chiến chĩa thẳng về phía hai chiếc xe thiết giáp và vị sĩ quan dẫn đầu, đằng sau hai chiếc thiết giáp lố nhố lính Liên đoàn, người sĩ quan chỉ huy liên đoàn dõng dạc nói:

– Tất cả anh em phải quay mũi súng ra ngoài hết, không thì chết mất xác cả bây giờ.

Người sĩ quan hỏi đại úy Châu:

– Ai bảo các anh về đây?

Đôi mắt đại úy Châu cau lại, tay cầm khẩu súng của ông nổi gân, ông nhìn người chỉ huy lính Liên Đoàn, nhìn những người lính đi phía sau, ông gay gắt trả lời:

– Chúng tôi về đây để lật đổ chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm, chúng tôi không thể chịu đựng được áp bức.

Người sĩ quan bên phía Liên Đoàn gay gắt:

– Anh lại đây.

Đại úy Châu cũng gay gắt không kém:

– Anh lại đây.

Minh hồi hộp theo dõi, chàng biết bây giờ nổ một phát súng là có chuyện ngay lập tức. Đại úy Châu nhìn lại cánh quân của mình, cánh quân có vẻ sút kém hơn hai chiến xa và đám lính Liên Đoàn, nhưng ông vẫn bình tĩnh, tay cầm chặt trái lựu đạn, không khí nặng nề. Người sĩ quan Liên đoàn nói:

– Anh sang đây.

Đại úy Châu hét lên:

– Anh sang đây.

Giọng người sĩ quan bên kia dịu xuống:

– Anh muốn chết bỏ mạng à? Đại úy Châu cười khẩy:

– Anh định tự tử sao đây?

Vị sĩ quan phía bên kia chỉ tay về phía sân Hoa Lư:

– Anh có thấy đại đội của thằng Thinh không?

– Chúng nó xếp súng ngồi chơi xơi nước hết rồi.

– Mặc chúng.

Bốn chiếc máy bay vẫn xẹt qua xẹt lại, trên đầu mọi người, thả từng loạt đạn vào trong sân Cộng Hòa.

Vị sĩ quan của Liên đoàn tiếp:

– Các anh bị bao vây hết rồi, xung quanh đây toàn là lính Liên đoàn hết, đại đội của thằng Thinh đã đầu hàng, anh nên đầu hàng nốt đi.

Đại úy Châu liệu tình thế, ông thấy quả nhiên mình kém thế, nhưng ông vẫn nói cứng:

– Sức mày mà hàng.

Vị sĩ quan Liên đoàn chỉ khung cửa:

– Anh không hàng, hai khẩu đại liên đặt trên kia quạt xéo cánh sẻ, các anh không còn một mạng nào.

Vị sĩ quan nhấn mạnh:

– Tốt hơn hết các anh nên hàng đi. Đại úy Châu vẫn cứng cỏi:

– Hàng thế nào được, chúng tôi về đây để lật đồ chế độ Ngô đình Diệm.

Vị sĩ quan gay gắt:

– Bây giờ không nói chuyện gia đình mẹ gì hết, các anh muốn sống thì hàng đi.

Mồ hôi chảy ròng ròng trên má đại úy Châu, ông đưa tay áo trận lên quẹt mồ hôi, ông dịu giọng lại:

– Hàng thì tôi không hàng được, nhưng tôi cho tập trung lính lại một chỗ được không?

Người sĩ quan Liên đoàn vui vẻ:

– Vậy cũng được, các anh cho lính vào hết khu Hàng Không Việt Nam đi.

Đại úy Châu nhìn người sĩ quan Liên đoàn:

– Còn anh?

– Lính tôi sẽ rút về.

– Án binh bất động?

– Đúng vậy.

Đại úy Châu không hỏi gì hơn, ông quay đi ra hiệu cho lính theo mình vào khu Hàng Không Việt Nam, hạ sĩ Bình đứng gần đó lên tiếng hỏi:

– Bây giờ chúng tôi ngồi chơi xơi nước chớ đại úy?

– Ngồi chơi đi, bao giờ có lệnh tao chúng mày sẽ hành động, để tao liên lạc thử coi.

Ông chửi thề luôn miệng, ông hò hét lính:

– Thằng nào ở nguyên chỗ đó không có đi lộn xộn…

Đám lính của đại úy Châu buông súng, gối đầu lên ba lô nằm ngổn ngang, chúng ngửa mặt quan sát những chiếc máy bay bắn phá thành Cộng Hòa. Hạ sĩ Bình vui vẻ:

– Sướng thật, mình về Sài Gòn đánh đấm mà chẳng phải đánh đấm mẹ gì hết, chờ cho pháo binh và không quân làm cỏ xong mình vô, cóc phải nổ phát súng nào hết.

Nguồn tin Thủy Quân Lục Chiến kéo về lật đồ chế độ gia đình trị Ngô đình Diệm phút chốc được loan truyền khắp đại đội. Nhiều người nói:

– Đù mẹ, vậy mà mình chẳng biết gì hết trơn.

Có người hăng hái hơn:

– Đánh tụi bây, đánh thấy mẹ bọn Liên Binh đi mình mới có đường tiến tới dinh Gia Long chớ.

– Đại úy còn đợi lệnh.

Không khí chợt trở nên sôi nổi, mỗi người bàn một đường, không ai nghĩ đến chuyện ngủ nghê, hình như lòng quân sĩ càng lúc càng trở nên náo nức.

Đại úy Châu la hét mỏi mồm nhưng vô hiệu, bọn lính không nói to thì cũng nói xầm xì với nhau. Hạ sĩ Bình nói một cách cả quyết rằng:

– Lần này thắng, nhất định mỗi thằng mình được lên một cấp. Như tao chẳng hạn, một phát tao lên trung sĩ khỏi phải lên hạ sĩ nhất. Minh cười:

– Còn tôi lên gì?

– Mày hả? Cao lắm là binh nhất. Minh lắc đầu:

– Tôi không ham, cho tôi giải ngũ là sướng nhất rồi. Chán lính thấy mẹ.

– À, cái chuyện đó chắc cũng không khó,

– Sao không khó?

– Cách Mạng thành công, những người như mình đều được đền công, không bằng cách này thì cũng cách khác.

– Tôi muốn đi tìm con vợ tôi.

– Còn con Lan bán bar mày bỏ cho ai?

– Chuyện đùa mà.

– Vợ mày chắc bây giờ có chồng có con rồi chớ đâu còn ngồi đó chờ mày.

– Nhưng dầu sao tôi cũng phải đi tìm.

– Xong trận đánh nầy mày có thể đi tìm vợ mày được rồi.

– Hằng năm trời nay tôi không được đi phép, kỳ nầy tôi phải tự ý ký giấy cho mình đi phép một phen, tôi nghĩ cấp chỉ huy không nỡ phạt tội đâu nhỉ?

– Phạt mẹ gì.

Minh ngồi dựa gốc cây, chàng ngửa mặt nhìn khói bốc cao, đại bác câu vào thành Cộng Hòa quá nhiều, Minh nghĩ bụng nội trong đêm nay là xong mọi việc. Bỗng Minh nghe tiếng ồn ào ngoài cổng khu Hàng Không Việt Nam, học sinh dân chúng ùa vào, đại úy Châu hét nhưng không cản nỗi đoàn người kỳ lạ đó. Minh nhổm người lên, Minh thấy một người đàn bà đứng tuổi đang phân trần với đại úy Châu:

– Xin đại úy cho chúng tôi vào ủy lạo anh em chiến sĩ về giải phóng Thủ đô.

Đại úy Châu gắt gỏng:

– Không được mà, sắp sửa đánh nhau.

Tất cả những tủi hờn phút chốc đã tiêu tan, Minh mỉm cười, chàng nắm chặt lấy bàn tay người đàn bà xa lạ, chàng nhỏ nhẹ với bà:

– Bác về đi, ở đây lát nguy hiểm lắm.

Người đàn bà lắc đầu:

– Bác có chết bây giờ cũng sướng, các con sắp đánh nhau phải không?

Minh quay đi, chàng không dám nhìn thẳng vào khuôn mặt người đàn bà xa lạ ấy, những bước chân của chàng vướng víu những bàn tay, mắt Minh bỗng mờ đi. Minh nhìn vào mặt đại úy Châu, nhìn vào mặt bạn bè, những khuôn mặt xúc động. Đại úy Châu hăng hái hơn, ông ta hò hét lính, cánh quân tiến hàng một, đại úy Châu quay về phía đồng bào:

– Xin đồng bào ai về nhà nấy cho, lát nổ súng nguy hiểm.

Nhưng những lời la hét của đại úy Châu hình như vô hiệu quả, từng toán người vẫn men theo quân đội.

Đại úy Châu nhăn mặt:

– Như vậy thì còn đánh đấm mẹ gì được nữa.

Rồi ông ta bật phì cười. Tiếng đại bác nổ chát chúa trong thành Cộng Hòa, lúc ấy mọi người mới chạy dạt sang hai bên đường, tiếng đạn rít lên trên đầu mọi người.

Hàng hàng lớp lớp người ào ra đường sau khi tiếng súng ngừng. Đài phát thanh loan báo thắng lợi đã hoàn toàn về phe Cách Mạng. Chế độ gia đình trị Ngô đình Diệm đã hoàn toàn bị lật đổ, hiện thời Như Diệm đã trốn khỏi dinh Gia Long.

Nắng lên, ánh nắng rực rỡ đầu tiên trong ngày sau một đêm dài nhất, các chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến đã chiếm gọn dinh Gia Long, tất cả những ồ kháng cự của anh em Nhu Diệm đã bị quân Cách Mạng dập tắt hoàn toàn.

Tất cả những đường phố bừng dậy sau những ngày dài mệt nhọc, sau những ngày tủi hờn trong nước mắt, sinh viên học sinh bị bắt, họ được thả ra khỏi khám, họ ồ ạt ra đường.

Mặc dầu có lệnh của Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng cấm biểu tình, nhưng dân chúng không dằn nỗi sự vui sướng, một số thanh niên tự tụ tập kéo đi biểu tình hoan hô Cách Mạng thành công hoan hô quân đội.

Nhưng đồng thời cũng có một số lưu manh thừa dịp cướp bóc, số đó không đáng kể so với lòng dân đang cuồn cuộn dâng lên, như thủy triều.

Những đôi mắt ngời sáng, những đôi tay dang rộng ôm nhau, người ta muốn ôm nhau nhảy nhót ngay trên mặt đường, những chai nước ngọt, những khúc bánh mì từ tay những bà mẹ già, những cô em gái, những cậu thanh niên chuyền vào tay chiến sĩ sau một đêm đánh nhau, những giọt nước mắt hờn tủi, những bàn tay già nhăn nheo víu lấy áo trận của người chiến sĩ:

– Con ơi, mẹ cám ơn con, mẹ không bao giờ quên ơn con, những đứa con của mẹ đã được giải phóng khỏi nhà lao.

Minh đứng ngay bờ tường dinh Gia Long, chàng đứng trên cao, tại đây chàng có thể nhìn thấy những làn sóng người nhấp nhô phía dưới kia. Những làn sóng người cuồn cuộn dưới ánh nắng rặng rỡ. Cánh tay Minh quấn băng trắng, đêm qua khi Minh leo qua hàng rào nhảy vào trong dinh, chàng đã bị một phát đạn bắn sượt qua tay, vết thương không mấy nguy hiểm.

Bây giờ Minh đứng đây, chàng dựng khẩu Thompson bên bức tường, chàng tuyệt nhiên không còn thấy đau đớn vì vết thương hôm qua. Chàng đã cười, cười một cách thoải mái, sung sướng, sau một đêm nhọc nhằn, xung quanh chàng bánh mì cả đống, chàng không còn lòng dạ nào ăn cho nổi, những lớp người vẫn xô đẩy chạy về phía chàng, những tiếng hỏi thăm ríu rít:

– Vết thương anh có nặng không?

– Anh bị trúng đạn khi anh đang làm gì?

Nước mắt Minh rưng rưng, chàng nghẹn ngào, chàng không thể nào trả lời hết những câu hỏi, một cậu học sinh trả lời thay Minh những câu hỏi, cậu ta khôn khéo nói với những người bao quanh Minh:

– Suốt đêm qua anh ấy không ngủ, lại bị thương nữa, cho anh ấy nghỉ ngơi một chút đi.

Người học sinh khôn ngoan, anh ta tả lại những trận đánh thành Cộng Hòa, tả lại trận đánh dinh Gia Long như chính anh ta đã dự trận đánh đó. Một cô thiếu nữ, có lẽ là nữ sinh, đứng bên cạnh Minh, đầu cô ta đội cái mũ sắt của Minh, cô ta chuyền cho những người bạn coi chiếc mũ sắt, mỗi người đều đội thử lên đầu, le lưỡi:

– Nặng quá nhỉ?

Một em bé tẩn mẩn sờ vào khẩu súng của Minh, Minh mỉm cười với nó:

– Đừng nghịch em, súng nổ thì nguy hiểm đó.

Cậu bé nhỏng nhẻo với Minh:

– Anh bắn một băng đi.

– Không được em à, cấp trên của anh cấm.

– Anh bắn đi, các anh đằng kia có bắn cho tụi em coi mà.

– Đêm qua anh bắn nhiều rồi.

– Anh sợ đại úy của anh phạt hả? Minh gật đầu. Cậu bé nói ngay:

– Đừng sợ anh, nếu phạt chúng em xin cho.

Minh đành chìu cậu bé, chàng xách súng lên chĩa thẳng lên ngọn cây, súng nổ ầm ầm, lá cây rụng tơi tả, những cậu bé dạt ra bịt tai, khói súng mù mịt, nụ cười của Minh cũng trở nên rạng rỡ. Một người thiếu nữ bỗng nắm lấy tay Minh, cô ta nhìn vào chiếc băng quấn tay Minh:

– Trời ơi, vết thương của anh lại chảy máu kìa.

Minh nhìn lại cánh tay mình, cánh tay rìn rịn máu, chàng cười:

– Không sao đâu.

Người thiếu nữ có vẻ săn sóc đến Minh nhiều hơn:

– Anh phải băng lại vết thương này mới được.

– Can gì đâu?

Người thiếu nữ lấy chiếc khăn mùi- soa của mình ra:

– Để em băng cho.

Không chờ Minh đồng ý, thiếu nữ băng ngay cánh tay đang rỉ máu của Minh, nàng hỏi Minh đủ chuyện, nàng hỏi về thân thể của chàng, cuối cùng nàng nói:

– Em mới ở tù ra sáng nay, em là sinh viên tranh đấu, bị mật vụ bắt, em chưa về nhà nữa.

– Bây giờ về nhà đi.

– Em mời anh cùng về.

– Về đâu được, tôi còn bận nhiều việc mà.

Người thiếu nữ vui vẻ:

– Cách mạng thành công rồi, nhất là anh bị thương nữa, anh xin phép về nhà em chơi chiều nay đi.

Minh vẫn lắc đầu:

– Không được đâu.

– Em xin phép cho anh nhé? Minh cười:

– Nếu được.

Người thiếu nữ chạy ngay tới người sĩ quan, nàng nói gì đó với ông ta, Minh nhìn thấy ông ta cười:

– Cô có bảo đảm nó không đào ngũ không?

– Em bảo đảm.

– Tại sao cô không mời tôi?

– Sẵn sàng mời anh, chỉ sợ anh không có thì giờ.

Người sĩ quan vui vẻ:

– Thôi được.

Ông ta tới bên Minh, đặt tay lên vai Minh:

– Cho cậu nghỉ phép một ngày, chiều nay về.

Ông ta nheo mắt với Minh:

– Cậu có gia đình ở đây không? Minh gật đầu đại:

– Dạ có.

– Cho cậu đi đến sáng mai luôn. Minh mừng rỡ, nhưng chàng còn loay hoay với khẩu súng, người sĩ quan cầm lấy khẩu súng của Minh:

– Tôi giữ cho cậu, ngày mai nhớ vào sớm nhé? Chắc chắn đại đội còn ở lại đây.

Minh sung sướng, người thiếu nữ reo lên, nàng nắm luôn tay Minh:

– Thôi đi anh, đại úy anh bằng lòng rồi đó.

Minh cùng người thiếu nữ rẽ đám đông đi ra, Minh thấy lòng mình rưng rưng cảm động, suốt bao nhiêu năm lính chàng chưa bao giờ hưởng được sự sung sướng như thế nầy. Người thiếu nữ luôn miệng nói chuyện với Minh:

– Anh biết không, được thả ra em mừng quá, em nghe người ta nói quân đội mình chiếm được dinh Gia Long rồi, em quên cả về nhà, em chạy thẳng lên đây.

Minh tò mò:

– Tại sao lại bị bắt?

– Đâu có phải mình em, trường em bị bắt gần hết.

– Các cô tranh đấu?

– Phải tranh đấu chứ anh.

– Tôi nghe nói học sinh, sinh viên bị bắt nhiều lắm phải không?

– Rất nhiều, toàn dân vùng dậy mà anh, anh không biết gì sao?

– Biết quái gì đâu.

– Anh ở ngoài mặt trận nên không biết, ở Sài Gòn tụi em ngày nào cũng biểu tình hết trơn, anh có thấy không, sao buổi sáng hôm nay em thấy thương mọi người ghê đi.

Minh gật đầu:

– Tôi cũng thấy vậy.

Người thiểu nữ đi nép vào Minh, nàng ôm lấy cánh tay Minh thân mật, không một chút mặc cảm.

Tiếng người thiếu nữ trầm trầm:

– Em có cảm tưởng, em không tiếc với các anh một điều gì.

Ngày học sinh, sinh viên tranh đấu, nàng luôn miệng hỏi, bộ anh không biết gì hết trơn sao? Minh nói thật với nàng:

– Tôi đi trận hết tháng nọ tới tháng kia, ở Sài Gòn xảy ra chuyện gì tôi đâu có biết, thỉnh thoảng sau một cuộc hành quân thì chúng tôi về một quận lỵ nào đó nghỉ vài ngày. Mãi mấy hôm trước đây có người bạn đi phép ở Sài Gòn về nói chuyện mới biết chớ, kế đến chúng tôi được lệnh kéo quân về Sài Gòn.

Trời bắt đầu nắng gắt, người thiếu nữ đi cạnh Minh có vẻ mệt vì đi bộ khá xa, mồ hôi cô ta nhễ nhại, đường phố vẫn đông đảo người, hình như người ta ra đường mỗi lúc một đông. Người thiếu nữ đi chậm lại:

– Em mỏi quá, hôm nay đừng hòng mà thuê xe.

Hai người bỗng nhìn thấy một đám đông xông vào một căn nhà nguy nga, họ đập phá gì trong đó thì phải. Minh hỏi một người thanh niên bê cái quạt máy trong nhà chạy ra đường:

– Chuyện gì trong đó vậy?

– Đồng bào phá căn nhà đó.

– Tại sao lại phá?

– Nhà của họ hàng mụ Ngô đình Nhu.

Minh nhìn cái quạt máy trên tay anh ta:

– Tại sao lại lấy cái quạt máy này?

– Của con mẹ Nhu không lấy để làm gì?

Minh để ý thấy mỗi người trong nhà đi ra đều có mang một ít đồ vật, những người vô sau không có gì họ đành bê ra một cái ghế, có mấy người khiêng một cái bàn. Minh kéo người thiếu nữ đi, Minh hỏi nàng:

– Nhà có xa không?

– Ở tận Phú Nhuận kia.

Minh nghe nói đến Phú nhuận, chàng lại nhớ đến Ngọc, có lẽ lát nữa chàng phải đi tìm Ngọc, chàng chỉ đến nhà người thiếu nữ này cho có lệ vậy thôi, rồi chàng đi tìm Ngọc liền, thì giờ chàng ít quá.

Minh quay sang người thiếu nữ:

– Tôi đến nhà cô một lát rồi tôi đi nhé?

– Anh đi đâu?

– Tôi đi tìm người quen, lâu lắm tôi không được về Sài Gòn.

– Anh ở nhà em nghỉ đã, chiều rồi đi tìm cũng không muộn mà.

Người thiếu nữ nói tiếp:

– Anh về nhà em chơi, chắc chắn ba má em quí anh lắm, nhất là mấy đứa em, chúng bắt anh kể lại trận đánh đêm hôm qua.

Minh mỉm cười, chàng chợt nhớ ra từ lúc chàng đi chơi với người thiếu nữ này đến giờ chàng chưa biết tên của nàng. Cánh tay của người thiếu nữ nầy vẫn ôm lấy cánh tay bị thương của Minh, chàng tự hỏi nguyên nhân nào mà người thiếu nữ này lại xáp lại gần chàng hơn mà không một chút mặc cảm, một người thiếu nữ hoàn toàn xa lạ với Minh. Buổi sáng hôm nay Minh để ý tất cả mọi người nhìn nhau bằng những đôi mắt thương yêu, những ánh mắt thật hiếm hoi, nhưng điều đó đang có thật. nữ: Minh cúi xuống hỏi người thiếu nữ:

– Em tên gì?

– Quên mất chớ, em chưa giới thiệu tên mình với anh. Em tên em là Thu, còn anh.

– Tên Minh, binh nhì Minh.

Thu phát lên cười, Minh vui lây, lần đầu tiên trong đời chàng hãnh diện với cấp bậc của chàng. Minh không cần nghĩ tới những ngày đen tối nữa. Minh tâm sự với nàng:

– Sau vụ này tôi xin giải ngũ.

– Anh đi lính lâu chưa?

– Khá lâu rồi.

– Vậy tại sao anh không được lên chức?

– Hồi trước tôi ở Không Quân, rồi ngày Cách Mạng ông Thi tôi bị bắt ở tù, sau thời gian ở tù tôi bị đưa về đơn vị Thủy Quân Lục Chiến, tôi là một người lính có lỗi nặng nên không được lên chức, và nhất là không được đi phép.

– Sao?

Người thiếu nữ tròn mắt nhìn Minh:

– Anh có tham gia Cách Mạng ông Thi nữa sao?

Minh thành thật:

– Tôi không biết có gọi là tham gia Cách Mạng được không?

Thu nhíu mắt:

– Sao lại không, anh cũng bị tù tội như những người làm cách mạng khác.

Minh im lặng, chàng không nói gì. Nắng mỗi lúc một cao, mồ hôi chảy ròng ròng trên má Minh. Thu nhìn trước nhìn sau rồi đưa tay vẫy một chiếc taxi, chiếc xe ngừng lại, người tài xế với tay ra phía sau mở cửa, anh ta vui vẻ:

– Xếp đi đâu? Mời xếp lên.

Minh thấy hôm nay ai cũng có vẻ niềm nở với mình, Thu hãnh diện, nàng đỡ cánh tay của Minh, dìu chàng lên xe, người tài xế hỏi:

– Xếp về đâu xếp?

Minh chưa kịp nói Thu đã đỡ lời:

– Về Phú Nhuận.

Người tài xế than phiền đường đông quá, nhưng anh ta lại nói ngay:

– Tại đồng bào hôm nay vui quá, mà tôi cũng vui nữa. Ôi chao là mệt, buổi sáng hôm nay tôi chở lính khô- ng hà, xin lỗi hỏi xếp chút nhé? Xếp bị thương tối hôm qua phải không?

Minh chưa kịp nói thì Thu đã cướp lời người tài xế, nàng kể lại rành rọt, trận đánh dinh Gia Long mà Minh đã tham dự, nàng hãnh diện, nàng khoe với người tài xế:

– Tôi cũng bị tù nữa bác ạ, sáng hôm nay tôi mới được thả ra.

Người tài xế nhún vai:

– Người em tôi cũng tranh đấu, bị bắt, được thả ra hồi chiều hôm qua lận, sáng hôm nay vừa dứt tiếng súng một cái là nó ra đường liền, tuổi trẻ hăng hái thiệt…

Minh ngồi dựa đầu thoải mái trên nệm xe, suốt một đêm thức trắng, bây giờ Minh mới thấy mệt mỏi. Chàng thèm một giấc ngủ chàng biết mình vừa góp một phần nào đó trong cuộc Cách Mạng này, chàng muốn mỉm một nụ cười, chàng lại nghĩ đến Ngọc, lát nữa chàng nhất định phải đi tìm Ngọc, không biết bây giờ nàng ra sao.

Minh chợt hoang mang, rất có thể bây giờ Ngọc, không biết bây giờ nàng ra sao.

Minh chợt hoang mang, rất có thể bây giờ nàng đã có chồng có con, Minh đã bỏ đi lâu quá rồi còn gì, nhưng Minh bình tỉnh ngay, nếu nàng có chồng thì cũng đáng mừng cho nàng, Thu chợt nâng cánh tay Minh lên:

– Anh đau lắm phải không?

Minh mở bừng mắt, chàng thấy đôi mắt đen của Thu, đôi mắt nhìn chàng không chớp mắt, Minh nhép miệng cười.

Ó đen

Lý Tống

Post by Sơn râu 17 Apr 2025

Phần 2

Trại Tù 52 

Giữ vững lập trường trước sau như một, đó là kim chỉ nam của tôi. Nhớ hồi ở Trại Tù 52, trong khi chờ vệ binh dẫn đi làm, tôi đã buộc miệng chửi thề khi thấy thằng khùng xách súng lò dò lại:

—     Đù mẹ, lại gặp thằng Hắc Ám khốn nạn nữa.

Thế là có tay ăng ten báo cáo ngầm lên trên, tôi bị đem cùm nhà kỷ luật, nhưng cương quyết không nhận tội. Lý do thứ nhất, tôi muốn biết đứa nào đã làm chuyện báo cáo tồi bại đó; thứ hai, tôi muôn thử thách bản thân mình, xem thử sự tra tấn có làm mình yếu đuối, đầu hàng trước những bằng chứng rõ ràng, trước họng súng đe dọa. Tôi nghĩ đến những chiến sĩ bị địch bắt vẫn cương quyết giữ kín những tin tức bí mật, quan trọng không khai. Mặc dù tên Quản giáo “Tay súng bá vàng” đã dùng áp lực bắt toàn đội công nhận rằng tôi có nói nhưng khi bị áp giải về trước buổi họp xét xử, tôi đã trừng mắt thách thức tên cán bộ:

—     Ai báo cáo và làm chứng đâu? Tôi gằn giọng hỏi.

Bốn đôi mắt tóe lửa, đằng đằng sát khí, gờm gờm nhìn nhau như muốn ăn tươi nuốt sống địch thủ trong cuộc đấu nhãn lực giữa tôi và tên Quản giáo làm đám chó săn “rét” quá nín luôn. Ăng ten là một nghề tồi bại, chỉ làm lén lút, chẳng đứa nào dại tự nhận, tự xưng tên. Đám Cán bộ cũng không muốn để lộ mặt những người đã tốn công gài vào. Kẹt quá, y bèn hô mấy tên vệ binh chực sẵn trước cửa:

—  Vào bắt trói nó lại. Hai tên gác chạy vào, chĩa súng, trói ngược tay tôi về sau.

—   Quì xuống! Tên Quản giáo thét lớn. Tôi không tuân lệnh và dõng dạc trả lời:

—   Điều 12 trong Chánh sách của Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam qui định: “Không lăng nhục, đánh đập tù binh, không làm mất danh dự tù binh.” Nếu Cán bộ không chấp hành đúng Chính sách Nhà nước, tôi không chấp hành lệnh Cán bộ.

Thế là cả bọn Vệ binh ùa vào kéo tôi đem nhốt phòng kỷ luật. Toàn bộ gian nhà chỉ có một vật duy nhất còn mới và chắc chắn, đó là cái cùm. Không cần phải hiện đại, tối tân với tường bê tông cốt sắt, với những song sắt lớn như các phòng giam tại các quốc gia tân tiến, và chính cái tồi tàn đơn giản đó, lại là một hình thức trừng trị nặng nề hơn, một hình thức bảo vệ an toàn hơn vì tên gác, hoặc bất cứ tên bộ đội nào ở từ xa cũng có thể quan sát được những hoạt động, cử động của người tù bị kỷ luật. Người tù phải nằm lạnh lẽo trên mặt đất trần trụi với hai cổ chân bị siết chặt trong cùm gỗ, và những cơn gió lạnh về đêm, những đợt nước tạt vào trong những ngày mưa gió là những đày đọa thường trực nhất mà người bị đày đọa không có lý do để buộc tội những hình thức đày đọa mình. Cùng kinh qua một cảnh cùng khổ, có người phải tự tử chết, có người vẫn sống một cách thản nhiên.

Chúng cùm tôi nằm sấp, chân hỏng cao. Chân cùm, tay trói cánh gà, sức nặng cả người dồn lên mặt đất tại một điểm tựa duy nhất ở đầu. Ngọn đèn dầu tù mù đủ soi bóng một đám người lố nhố như bầy quỷ ăn thịt người. Chúng bí mật làm hiệu và bất ngờ sáu đứa đồng loạt phóng chân đá vào người tôi. Tôi thét lên một tiếng lớn:

—   Đồ hèn!

Cái âm vọng cuồng nộ của tiếng thét mà nhũng người bạn tù trong Trại cách đó trăm thước nghe vang dội, lại tưởng là tiếng thét cuối cùng của một tử tội, không ngờ lại có mãnh lực làm kinh hoảng bọn người bất nhân đó. Cả bọn đều bỏ chạy tán loạn chỉ còn lại tên gác. Tên “môi thâm” cầm khẩu súng AK có gắn lưỡi lê, rà cái mũi dao nhọn hoắt rê rê khắp cổ, mặt mũi tôi. Cảm giác ớn lạnh của dụng cụ giết người, của tử thần, làm người tôi mọc gai ốc. Tất cả sức nóng trong người đều như dồn tập trung tại cái điểm tiếp xúc lạnh lẽo của mũi lưỡi lê đang di động, nên lớp mồ hôi vã ra khắp người lại càng lạnh tanh. Y nghiến răng phát ra những tiếng gầm gừ ma quái:

—    Tao thèm đâm mầy một dao lút cán. Tao thèm mổ bụng mầy. Tao thèm rạch nát mặt mầy…

Tao thèm, cái tiếng thèm rung rung, rền rĩ như tiếng gào thê thiết của loài mèo trong đêm động tình. Y gằn giọng hỏi tôi một cách chế giễu:

—    Hồi nãy mầy không quì, mầy bảo quì là nhục. Thế giờ nầy bị trói và cùm như con heo, mầy có thấy nhục không?

Tôi cười lớn bảo:

—   Mầy không hiểu thế nào là nhục hả? Một bọn sáu người, vừa có quyền thế, vừa có súng ống, vừa có sức mạnh, lại đi hà hiếp, bắt nạt một kẻ tay không, cô thế, vừa bị cùm, vừa bị trói, mà mầy không thấy ai nhục à? Sáu con người đối xử với tao như đối xử với một con vật. Nhưng ai là con vật, ai là con người?!

Bên ngoài bỗng rộn ràng nhiều tiếng chân người. Tiếng hối thúc, tiếng mở kho dụng cụ, tiếng hỏi lao xao:

—     Định chôn nó ở suối hay cạnh sau rừng?

Tôi chẳng hiểu chúng dàn cảnh dọa dẫm hay làm thiệt. Bỗng nhiên một cảm giác thanh thoát lâng lâng tràn ngập tâm hồn. Tôi nằm tận hưởng những giờ phút tuyệt vời cuối cùng của sự sống. Hạnh phúc òa vỡ như thác nước vừa phá tung đập chắn, trùm phủ toàn thân căng lên vì xúc động.

Tôi nằm chờ chết với một nụ cười vừa thoảng qua môi.

Bỗng có tiếng lao xao của sỏi đá. Và hai tên bộ đội xuất hiện. Một tên gằn giọng hỏi:

—     Đây là lần cuối cùng. Nếu mầy nhận tội sẽ tha cho về ngay.

Tôi khẳng định:

—     Không.

—     Vậy thì mở cùm dẫn nó đi. Một tên ra lệnh.

—     Tao không đi đâu hết. Tôi nói lớn. Muốn giết tao, bọn mày cứ bắn chết tao tại đây. Đừng bày trò dẫn ra ngoài, rồi hô hoán tao vượt ngục để bắn chết, như vậy không phải là thái độ anh hùng.

Họ đứng nhìn nhau, dùng dằng, rồi bỏ đi. Ngày hôm sau, tôi bị dẫn vào gặp Trưởng trại, y ra lệnh cho tất cả vệ binh ra khỏi phòng rồi bảo tôi:

—     Tôi biết anh đã từng bất tuân lệnh quỳ của Cán bộ tại các Trại. Nếu ở trong trường hợp anh, tôi cũng sẽ theo gương anh khi bị buộc phải làm chuyện mất danh dự đó trước hàng trăm Chiến hữu của mình. Nhưng tại đây không có ai cả và Hồ Chủ tịch là một anh hùng vĩ đại không chỉ đối với Nhân dân VN mà các Lãnh đạo thế giới cũng đều ngưỡng phục. Ở đây, không có ai. Nếu anh chịu quì trước ảnh Hồ Chủ Tịch, tôi sẽ bỏ qua mọi tội lỗi của anh và tha anh về Trại ngay lập tức.

Tôi lắc đầu bảo:

—     Cám ơn thành ý của ông. Ở đây không có ai nhưng còn có ông, có tôi, có Trời, có Đất và có lương tâm của tôi. Tôi thà trở lại nhà kỷ luật hơn làm chuyện hèn hạ, nhục nhã đó.

Nói xong, tôi tự động bỏ về nhà cùm. Không ngờ Trưởng Trại lại hạ lệnh nhà cùm thả tôi về Trại dù chỉ mới bị nhốt 2 tuần. Vừa vào cổng, thấy bạn tù đang chơi bóng chuyền, tôi vội ném chiếu, mền xuống đất nhảy vào tham dự. Tôi nhảy lên đập biểu diễn một cú banh được nâng thật đẹp nhưng banh bị đính vào lưới.

—    Đù mẹ, mang cùm nặng quá nhảy lên hết nổi rồi!

Tôi trần tình bằng một câu chửi thề. Hai tên vệ binh áp giải nhìn nhau lắc đầu bảo:

—     Mẹ! Gặp thằng “Giặc lái” nầy tao cũng ớn luôn.

Đó là lần đầu tiên và duy nhất tôi bị đánh đập, ngoài lần bị rút năm ngón chân sau khi trốn trại tù Lam Sơn. Trong khi có nhiều bạn tù chỉ vì một lỗi tầm thường, cũng bị ăn đòn nặng. Có người bị đánh chết một cách thật lãng nhách như một tù binh tại Lam Sơn. Anh tù bị sốt nặng không được nghỉ lao động, trên đường đi, lên cơn làm sảng. Anh cuồng trí la hét và chạy nhào về phía mấy tên lính gác. Bộ đội hô hoán là tên tù giả vờ đóng tuồng để cướp súng! Cả bọn xúm vào, dùng súng, cây, đánh người tù bệnh một trận thẳng tay, xong đem về nhốt conex. Sáng mai, mở cửa, người tù binh chết tự lúc nào vì bị nứt sọ!

Sau nầy khi chuyển về Trại tù 53, tôi mới rõ một trong những lý do của sự may mắn của mình. Số là có một toán bộ đội miền Bắc vừa được đổi đến, toán người nầy mới đến nhưng đã gây nhiều thành tích khủng khiếp. Một tù binh trả lời ấp úng, liền bị bắt há miệng ngậm mũi súng, tên gác bất ngờ giật bá súng, đầu ruồi nòng súng móc văng mấy răng cửa. Miệng môi nạn nhân bị bể, máu phun tung tóe.

Liêu, một tù binh phụ trách canh tác đội, đang đứng tiểu tiện sau vườn. Thấy tên “tóc mai” đi qua, sợ quá nên quay lại chào, quên mất là tay đang cầm chim đang tiểu. Liêu bị “tóc mai” đánh cho một trận nhừ tử:

—     Đồ bố láo! Mầy dám vừa cầm đầu bố mày vừa chào ông hả?

Lại có năm tù binh khác cắt tranh thiếu chất lượng bị phạt quì trước cổng trại. Tên Cán bộ ra lệnh phạt, bỏ đi ăn cơm trưa rồi lại ngủ quên đi. Một Cán bộ khác thấy năm người quì đã mấy tiếng đồng hồ giữa trời trưa nắng chan chan, tội nghiệp, bèn tự tiện đến cho phép họ trở về nhà. Thế mà năm người vẫn tiếp tục quì và trả lời:

— Thưa cán bộ. Ông Cán bộ C. bắt quì thì khi nào ông Cán bộ C. tha chúng tôi mới dám về. Nếu về theo lời của cán bộ, ông C. sẽ đánh chúng tôi chết!

Chuyện đánh tù xảy ra như cơm bữa, thế mà tôi vẫn bình yên. Một hôm đi đốn cây, Thư “ròm” trung úy Bộ Binh, được đám vệ binh kêu lại nói chuyện trong giờ nghỉ giải lao:

— Anh có nhận xét gì về chúng tôi?

Thấy đám hung thần ngàn năm một thuở mới có bữa dễ tính, Thư “ròm” nhẹ nhàng phát biểu:

—    Dạ, toán của Cán bộ dữ quá, đánh đập nhiều quá làm anh em sợ!

Một tên trong đám cười hỏi:

—    Anh biết tại sao chúng tôi đánh các anh không?

—    Dạ vì chúng tôi phạm lỗi, học tập chưa tốt, lao động chưa tốt, chấp hành nội quy chưa tốt. Thư ròm nhanh nhẩu trả lời.

—    Không phải. Bỏ mấy câu lải nhải như vẹt đó đi. Y nhấn mạnh. Tại vì ngày trước các anh là Đại tá, Trung tá, Đại úy, Trung úy… nói chung, các anh có quyền hành trong tay, các anh ỷ quyền, lạm quyền, hung hãng phách lối, muốn đánh ai thì đánh, giết ai thì giết, muốn bỏ tù ai thì bỏ tù. Thế mà giờ nầy vào đây, một số trong các anh hèn quá, tồi quá. Đứng trước mặt chúng tôi run rẩy, khiếp nhược, van xin, luồn cúi. Chúng tôi tởm quá, khinh bỉ quá, nên đánh cho bõ ghét. Trái lại, đối với những người khác, chẳng hạn như Lý Tống… Anh có biết Lý Tống không?

—    Dạ biết chứ. Thư “ròm” hăm hở gật đầu.

—    Ví dụ như Lý Tống, anh ta lúc nào cũng hiên ngang, cũng hào hùng, bất khuất, tự tin. Chúng tôi sau lần thử lửa cũng nể, cũng phục, chúng tôi đâu dám đụng đến anh ta nữa.

Mặc dù đây không phải là nguyên do thông dụng để Cộng Sản viện ra trừng trị tù binh bởi vì không thiếu gì tù binh ngoan cường bất khuất vẫn bị đánh đập hành hạ đến chết bởi những tên khát máu bẩm sinh, nhưng ít ra câu nói và ý nghĩ đó cũng diễn tả được một phần nhỏ những yếu tố quan hệ đến thế tương liên giữa người tù và cai tù cũng như bẩm chất riêng của từng con người thuộc các phe phái đối nghịch.

Một lần đi lao động, gặp một tay Cán bộ khó tính, hắc ám, y không cho phép tù binh đi tiểu, đi cầu trong giờ làm việc, ngay cả lúc đang bị tào tháo đuổi. Tôi đang đau bụng ráng nhịn và khi nghe tên vệ binh cho nghỉ, tôi phóng ngay vào bụi rậm xổ ngay “bầu tâm sự.” Xong xuôi, vừa đi ra thoải mái, tôi ngạc nhiên thấy tất cả bạn tù lại đang làm việc. Thì ra giữa tên vệ binh và tên quản giáo có sự xung khắc nhau, tên nào cũng muốn tỏ mình có uy quyền. Vì thế khi tên vệ binh tự tiện cho nghỉ, tên Quản giáo lại ra lệnh làm việc tiếp và tôi trở thành kẻ vi phạm kỷ luật do y đặt ra. Y kêu tôi lại, nạt lớn:

—  Ai cho anh đi ỉa. Anh không tuân theo điều lệnh của tôi sao?

Tôi nhún vai, trả lời:

—     Vệ binh cho nghỉ, và tôi đi ỉa trong giờ giải lao.

Y tức tối vừa rút súng vừa gào lớn:

—     Trong nầy chỉ có tôi là có quyền cho nghỉ. Tôi sẽ bắn bỏ bất cứ tù binh nào trái lệnh tôi.

Y cầm súng, chĩa vào mặt tôi, khẩu Colt 45 còn bọc trong bao giây ni lông quên gỡ ra vì giận và mất bình tĩnh. Tất cả tù binh và bộ đội đều đứng sững nhìn một cảnh kỳ lạ, tức cười. Kẻ cầm súng, mặt tái xanh, run rẩy, thiếu tự chủ, còn kẻ bị chĩa súng vào đầu, tay không, lại thản nhiên mỉm cười coi khinh. Cuối cùng mấy tên vệ binh hiềm khích với tên Quản giáo khoái chí đến kéo tôi đi chỗ khác, mặc cho tên Quản giáo lúng túng tức tối.

Người Anh Em 

Thời ở tù tại trại Lam Sơn, một số Cán bộ gốc miền Nam, cấp lớn, thỉnh thoảng cũng đến thăm con em mình. Chủ nghĩa Cộng Sản không gột rửa được những tình cảm con người, nhưng chế độ tàn bạo đã làm thay đổi, hạn chế những tình cảm ruột thịt. Họ thường trần tình:

—Cha vẫn thương con, nhưng không thể vì con mà ảnh hưởng đến Sự nghiệp Cách mạng xây dựng trong 30 năm qua.

Chính vì những hiện thực tồi tệ đó mà tôi đã tuyên bố sẽ từ chối gặp người anh nửa ruột thịt của mình nếu anh đến thăm tôi, với lối chơi chữ đồng âm dị nghĩa:

—Ngày xưa anh và tôi cùng máu mủ. Giờ đây anh đi theo Cộng Sản, anh trở thành người khát/khác máu.

Tuy vậy ông anh cũng đã lặn lội đường xa đi tìm tôi ba lần ở ba trại tù khác nhau. Lần đầu tiên năm 1975, anh đến Trại Lam Sơn thuộc địa phận Nha Trang. Anh bị Ban Chỉ huy trại tù yêu cầu trở về vì đám ăng ten đã báo cáo câu tuyên bố trên của tôi. Năm sau, anh lại đi mấy ngày đường từ Sàigòn ra Tuy Hòa, băng đồng, vượt suối tìm đến Trại 52 thuộc tỉnh Phú Khánh. Lần nầy trại tù còn có lý do chính đáng hơn để cấm thăm nuôi: Tôi bị cùm nhà kỷ luật vì lý do chửi Cán bộ và không chấp hành lệnh bắt quì. Theo nội quy thì những tù binh bị phạt kỷ luật không được thăm nuôi trong vòng từ ba tháng trở lên.

Đẩu, người tù binh phụ trách chăn bò cho Trại, sau đó gặp tôi tả lại cảnh gặp anh tôi trên đường. Anh tôi hỏi:

—    Anh có phải tù binh ở trại nầy không?

—    Dạ phải.

—    Anh có biết Lý Tống không?

—    Dạ biết. Nó đang bị kỷ luật,

—    Tôi là anh nó đây. Tôi đi thăm nó mấy lần mà lần nào cũng bị đuổi về không cho gặp.

Nói đến đây anh khóc nức nở. Đẩu diễn tả dáng dấp người đàn ông cao dong dỏng, gầy, đeo kính cận, rất trí thức, rất tình cảm, và cái buổi chiều thật buồn trên con đường thật vắng lặng, heo hút, người đàn ông cúi mặt lầm lũi trên đường về, vừa đi vừa khóc tức tưởi. Đẩu kể lại với sự xúc động chân tình và tôi cũng xúc động theo. Năm sau, cùng với đứa con gái lớn, anh lại phải vượt đoạn đường xa hơn, hiểm nghèo hơn, đi đến khu vực nhà tù Trại 53 mà chung quanh chập chùng núi non và lác đác vài buôn làng nguời Thượng.

Ngày xưa Lưu Bị ba lần yết kiến Khổng Minh để cầu hiền tài, ngày nay, người anh cùng cha khác mẹ đi tìm tôi ba lần mới được gặp mặt. Gặp anh, tôi nhớ lại những câu chuyện năm xưa, những ngày khói lửa ngập tràn xóm làng, quê hương. Cha tôi là một địa chủ giàu có với hàng trăm mẫu ruộng cò bay thẳng cánh, với uy tín và khả năng kinh tế, cha tôi đã tập hợp tất cả nông dân trong làng, huyện, hướng dẫn và nuôi nấng họ để thành lập Mặt trận Kháng chiến tại Quận Hương Thủy, Thừa Thiên, Huế chống lại bọn thực dân Pháp. Nhà tôi trở thành Bộ Chỉ huy.

Ngày ngày một bộ phận nhà bếp lo phụ trách nấu từng chảo cơm lớn để cấp phát cho lực lượng thanh niên chiến đấu cũng như những người dân nghèo đói thiếu thốn. Tất cả kế hoạch phòng thủ làng xã đều được truyền đi và báo cáo tại đây. Thế rồi quân Pháp đã dùng lực lượng vũ trang mạnh bằng xe tăng, máy bay, tấn công và càn quét toàn vùng, cha tôi cùng toàn bộ tham mưu bị bắt, bị dẫn vào rùng và bị xử bắn. Chiếc đầu bị chặt đứt lìa khỏi thân thể tại một địa điểm bí mật và hẻo lánh mà sau nầy, khi những người Thượng trong toán dẫn tội nhân đi hành hình kể lại với câu nói ngắn bằng tiếng Pháp couper la tête và bàn tay làm dấu cứa ngang chiếc cần cổ đang ngửa lên. Gia đình tôi đã khổ công nhiều năm vẫn không tìm ra được địa điểm xử tử để hốt xương cốt người thân yêu về chôn cất.

Người anh đang bị giam giữ tại nhà tù nghe tin cha chết, vượt ngục trốn thoát. Lực lượng kháng chiến địa phương hoàn toàn tan rã, anh trốn vào rừng. Cuối cùng không còn đường nào khác, anh đành đi tập kết, mười mấy năm sau trở lại Sàigòn với chúc Giáo sư dạy văn và sinh ngữ khiêm nhường tại Đại học, sau khi Sàigòn bị mất vào tay Cộng Sản.

Trại Tù 53 

Tại Trại 53, nhóm Quách Giang gồm bảy người, đào thoát được ba tháng. Một hôm trong công tác về nhà nhận đồ tiếp tế, Quách Giang bị bắt chỉ vì khát nước vào vườn dân bẻ trộm mía. Tệ hơn nữa, thay vì làm kế hoãn binh để nhóm trong rừng kịp thời di chuyển, Quách Giang đưa điều kiện để dẫn du kích đi tìm bắt trọn ổ đồng bọn: “Một bữa ăn ngon với một chai rượu và một con gà luộc.” Sau khi sa lưới, bốn người được chuyển giao nhốt tại nhà cùm trại 53. Một bữa trưa, sau giờ ăn cơm, cả trại tù nhớn nhác vì những tiếng la thét kinh hoàng.

Đứng dọc theo hàng rào, tù binh chứng kiến cảnh nhà kỷ luật đang bốc cháy nhưng chưa có lệnh nên không ai được ra cổng để cứu người bị nạn. Lửa gặp tranh khô, gió lớn, bốc cháy tàn bạo, tiếng kêu cứu của người bị đốt cháy chìm trong tiếng gào rú của cơn bão lửa. Đợi khi nhà cùm hoàn toàn thiêu rụi, Ban Chỉ huy Trại mới cho lệnh xuất trại cấp cứu. Chúng tôi chỉ còn kịp khiêng xác bạn bè bị cháy căng phồng, nứt nẻ từ nhà cùm đến nhà xác. Lửa đã giải phóng đôi chân họ khỏi cặp cùm bằng gỗ, lửa mở rộng khung cửa hàng ngày đóng im ỉm, giam cầm cuộc đời phạm nhân trong bóng tối miên viễn.

Quách Giang sống sót một mình nhờ nằm ở gian nhà sau, có hầm đất che chở. Tôi ở trần cõng Quách Giang vào bệnh xá, mùi thịt người cháy khét lợm giọng. Hơi thịt người cháy hít vào phổi, ngấm vào da thịt cả tuần còn tởm lợm buồn nôn. Quách Giang bị cưa hai bàn chân, hai tuần sau, cưa lên đầu gối và sau đó cưa lên tận háng, vì Việt Cộng ít khi thừa thuốc trụ sinh để chích cho tù, nhất là tù trốn trại.

Quách Giang được thả về. Việt Cộng không có tài trị bệnh, nhưng là một bậc danh sư về định bệnh: Ít có tù nào được phóng thích vì bệnh mà lại sống quá hai tháng. Quách Giang không chỉ chịu đau đớn vì vết thương thể xác, mà vết thương tinh thần còn trầm trọng hơn. Sự hối hận về hành động ngu xuẩn và hèn hạ của mình đã hãm hại đồng bạn nên tự tử chết tại nhà.

Điều trắng trợn, thô bỉ nhất là Ban Chỉ huy Trại bắt tên chó săn “Sơn khói” Khối trưởng của tù, làm bản báo cáo lên Ty Công An để chạy tội đốt nhà kỷ luật: “Toàn thể tù binh trại 53 nhận tội vô ý làm cháy nhà kỷ luật!”

Ấn tượng kinh hoàng chưa kịp phai mờ, thì chuyện khủng khiếp khác xảy ra. Một chuyên viên sát nhân từ Hà Nội được biệt phái đến điều tra. Trung uý Cường, ông già hớt tóc, cựu Trung úy An ninh Quân đội, được hỏi thăm sức khỏe đầu tiên. Cường “già” khai trương nhà kỷ luật mới. Sau khi bị cháy, nhà kỷ luật được xây cất lại theo kiểu mẫu tiêu chuẩn, gồm nhiều phòng, xây thành hầm chữ A, đắp bằng đất sét. Bề cao không đủ đứng, bề dài không đủ nằm, hai bàn chân bị cùm thò ra bên ngoài cửa.

Cùm gỗ là hai thanh gỗ ghép lại, khoét hai lỗ vừa khổ với cổ chân. Ban đêm những bàn chân nằm trơ trọi bên ngoài trông thật kinh dị, những bàn chân khốn khổ vì lạnh lẽo, vì muỗi đốt. Có lúc bị kiến, rắn cắn hoặc chó, chuột gặm và những tên gác ác độc, mỗi lần đi ngang lại đá, đạp hoặc dùng cây đập. Nhân ngày Quốc khánh 2-9, Cường già được đặc ân cho về trại một ngày. Cường già thổ lộ với người bạn thân cận nhất:

— Chúng nó muôn tôi khai toàn bộ hệ thống an ninh và các nhân viên liên hệ cũ. Tôi cương quyết giữ bí mật vì sợ nguy hiểm cho tính mạng nhiều người. Tôi cũng biết rõ, với những đòn tra tấn độc ác của tên chuyên viên, tôi sẽ không sống nổi vì vậy chỉ có tự tử là giải pháp tốt nhất để thoát khỏi đại nạn nầy.

Tối hôm đó, Cường già uống thuốc ngủ dấu sẵn, trút hơi thở cuối cùng. Chúng tôi lại thức đêm đi đào huyệt và khiêng xác chết đi chôn. Việt Cộng vẫn thơ ngây nghĩ rằng bóng đêm sẽ bao che những việc làm tàn ác mờ ám của họ.

Cường già nằm chưa ấm đất thì một tù binh khác bị nhốt thế chỗ. Người này là một tù binh bị bệnh, không được nghỉ làm việc, không được phát thuốc uống, anh ta tức giận nguyền rủa cái bệnh xá mà thuốc đỏ được xem là thuốc cấp cứu. Vì có sự hiềm khích sẵn, “Sơn khói” báo cáo mật lên Trại. Sau hai đêm bị cùm, Cán bộ Trại thông báo: “Tù binh bị kỷ luật đã thắt cổ tự tử!” và giải thích: “Anh ta dùng giây vải quân quanh cổ, rồi dùng hai tay mình tự siết cổ đến chết!” Cả Trại tù 53 xôn xao căng thẳng.

Một hôm đang cưa gỗ, tôi bỗng ngừng tay theo linh cảm. Tên chuyên viên giết người, từ hồi nào, đang đứng đó nhìn tôi, đôi mắt âm u như bóng tối thoát ra từ chín tầng địa ngục. Một dòng điện lạnh vụt chạy qua cột xương sống. Lần đầu tiên trong đời tôi bắt gặp một cặp mắt kinh dị như vậy. Cặp mắt như có oan hồn lẩn khuất, cặp mắt của kẻ thèm khát giết người và đã từng nhiều lần nhúng tay vào máu. Lần đầu tiên tôi cảm thấy rờn rợn bất an. Tôi chờ đợi. Có đêm giữa giấc ngủ giật mình thảng thốt. Tôi biết rằng, nếu chết, lần nầy chắc chắn sẽ không chết nhẹ nhàng như một phát súng nổ vào đầu, như một lưỡi cuốc đập vào óc, mà cái chết sẽ khủng khiếp và ghê rợn hơn. Nhưng số tôi vẫn chưa chết. Tên chuyên viên giết người đột nhiên biến mất khỏi trại.

Đấu Khẩu: Một Hình Thức Đấu Tranh Trong Nhà Tù Cộng Sản.

Tất cả mọi người đều có quyền ngăn tôi làm điều xấu. Nhưng không một ai có thể ngăn tôi làm điều tốt đẹp, hữu ích.

Công bằng mà nói, trong nhà tù Cộng Sản, có nhiều loại lính Cộng Sản và nhiều loại tù. Cũng có những bộ đội biết điều, chịu chơi, và cũng có nhiều anh chị em tù nhân luôn luôn hiên ngang, không khuất phục. Họ chấp nhận chết, hoặc cùm kẹp, để bảo tồn danh dự và khí phách. Không kể những người đã từng được tù binh ngưỡng mộ trong tất cả những trại tù khác trên khắp lãnh thổ Việt Nam, riêng tại Nhà tù A30, đã có những tấm gương sáng.

Một chị Hồng, Dược sĩ, bị kết tội phản động, âm mưa lật đổ chính quyền. Trước Tòa án Nhân dân, sau khi nghe kết án sáu năm khổ sai, chị Hồng đã thản nhiên đáp lại: “Tôi sợ chế độ các ông không còn tồn tại đến ngày đó để giữ tôi!” Tên chánh án tức tối điên người thét lớn: “Tăng lên 12 năm khổ sai.”

Một Khang “cụt,” vượt biên bị bắt, mấy tên bộ đội Việt Cộng nhóc con nhìn thân thể tàn phế của Khang hỏi một cách chế nhạo: “Mầy bị cụt giò làm sao đi vượt biên được?” Khang trả lời một cách ngang nhiên: “Tôi đi vượt biên bằng cái đầu!”

Một Khải đã lớn tiếng chỉ trích: “Cán bộ không đủ khả năng và đạo đức để làm Quản giáo chúng tôi” và đã vạch ngực hét lớn: “Bắn đi!” khi đám đông Cán bộ quản chế xông vào định hành hung Khải.

Một “cô bé lọ lem” 15 tuổi, bị bỏ tù vì tội “Chống phá Cách mạng.” Trong cảnh tù đày khổ hình, em lúc nào cũng vui đùa, yêu đời. Em vui đùa cho kẻ thù thấy em coi khinh những hình phạt, những tra tấn, nhưng về đêm, em vẫn thường nằm khóc một mình, những giọt nước mắt thánh thiện đã làm tôi xúc động. Tôi viết mấy dòng thơ tặng em:

Những nụ cười của ngày
Đã nâng cao phẩm chất những giọt nước mắt của đêm.
Ơi cô bé lọ lem!

Hãy mãi mãi xanh tươi nụ cười
Và đời sẽ cùng em nâng niu những dòng nước mắt! 

Và chính hình ảnh can đảm đó đã thúc dục tôi làm một bài thơ để cám cảnh phận tù và nổ vào bọn ăng ten, nhân dịp Trại bắt mỗi người viết một bài cho Bích báo Xuân. Tôi ngưng làm thơ đã mấy năm, kể từ khi bị buộc tội “Bôi nhọ nền văn hóa, văn chương của cách mạng” bởi vì tôi rêu rao quảng cáo: “Làm thơ mướn ca ngợi Bác và Đảng mỗi bài giá hai cục đường. Cam đoan hay hơn thơ Tố Hữu!”

Cuộc Hóa Thân Mùa Xuân

Mỗi dịp lễ lớn, Việt Cộng thường cho làm báo tường và bắt tù binh phải làm thơ, viết văn dể đánh giá mức độ “học tập tiến bộ” của mỗi người. Đây là bài thơ Xuân nhân dịp Tết, đã được ban giáo dục Trại Tù A30 nghiên cứu kỹ và ghi vào Hồ sơ đen của Lý Tống.

Có thể nào ca ngợi mùa Xuân
Khi con tim ta không hề rung động?
Có thể nào nói đến ngày mai
Khi hôm nay ta quên mình đang sống?
Mùa Xuân — Ngày mai

Ta — Hôm nay.

Có thể nào cứu được cây

Khi những rễ cây không tự mình vươn đi tìm mạch sống?

Và người!

Một lũ người bất nhân?

 Và người

Một bọn người vong thân!

Có thể nào rửa hết được vết nhơ

Trong đầu những con-vật-người hèn hạ?

Có thể nào soi sáng được lương tri

Cho người — Kẻ mong suốt đời quì lụy?

Phải luộc vào nước sôi

Phải tắm lửa nắng, mưa dầm

Như cuộc hóa thân

Của đời hạt lúa.

Phải túm lấy cổ

Phải nhổ tróc da đầu

Phải nhận xuống bùn sâu

Như nhánh mạ non

Để đâm xanh

Những nhành lứa trổ.

 Có hạnh phúc nào không vươn lên từ đau khổ? Và thăng hoa nào… không tổn thương?

Lý Tống

Chú Thích: Hạt giống lúa phải được ngâm nước nóng để mọc mầm trước khi gieo mạ, và sau đó nhổ mạ để cấy lúa. Những quá trình trong giai đoạn trồng lúa cũng khắc nghiệt như quá trình “cải tạo” để tôi luyện của một người tù. 

Một thầy Thu, Giáo chủ trẻ tuổi của một Tôn giáo Hòa đồng mới, có khá nhiều tín đồ. Thầy Thu, một nhân vật được mô tả là vị cứu thế tương lai theo sách Sấm Ký. Thầy sinh tại Tuy Hòa, với các dị tướng Kim ngưu bào tạng (bao tử bò, ăn xong nhai lại), hai ngón tay cái có chữ Vương, miệng có dấu chữ Đinh đúng như lời tiên tri. Cán bộ Việt Cộng có lần lột da tay Thầy để xóa dấu chữ Vương! Thầy Thu không hề đến trường học, tất cả kiến thức thông thái đều được truyền thông trực tiếp bởi Thượng Đế bằng thứ ngôn ngữ Đại La Thiên. Những người tù nằm chung phòng kỷ luật với thầy đều xác nhận là nhiều đêm, tự nhiên họ giật mình thức giấc vì một thứ ngôn ngữ lạ lùng ríu rít giữa thinh không lúc thầy Thu đang ngồi tham thiền trong tình trạng mộng du.

Thầy Thu xây dựng học thuyết mới Chính Trị Thiên Mệnh. Tôi được nghe thầy Thu giải thích một số ít về cách vận động và hướng dẫn quần chúng, một số triết học cơ bản. Thầy có một kiến thức uyên bác, mặc dù chưa hề đọc một cuốn sách nào. Chưa học một trường nào, chưa từng đến võ đường, thầy còn dùng võ nghệ siêu đẳng bẩm sinh để thu phục các giới giang hồ hảo hớn ở Tuy Hòa. Thầy sáng tác những bài thơ, nhạc và đặc biệt bài Quốc Ca tương lai của Việt Nam nghe thật hùng tráng với một số từ ngữ mới lạ. Mặc dù có một số người đả phá, cho rằng thầy dùng ma thuật, và chỉ trích rằng đã có nhiều nữ đệ tử hiến thân làm vợ thầy, nhưng một số khác, đặc biệt là nhóm trí thúc trong Trại A30 lại hoàn toàn tin tưởng như những kẻ cuồng tín.

Họ tin rằng Triều đại Quân chủ tương lai của Việt Nam với 72 bộ sẽ có thật, và Vương quốc Việt Nam sẽ bao trùm cả khu vực Đông Nam Á. Tất cả mọi tín ngưỡng của thế giới đều sẽ qui về một mối. Tôi được thầy Thu mời đến chỗ thầy nói chuyện vài lần ngắn ngủi, kể từ khi thầy được thả ra khỏi nhà kỷ luật. Riêng cá nhân tôi, tôi chưa có đủ dữ kiện để phán xét, nhưng theo Cường, một sĩ quan trẻ có nhiều quan điểm chững chạc và ý kiến sắc bén đã phát biểu:

—Tôi chưa được chứng kiến những phép lạ đó. Tôi không xác nhận phe cuồng tín hay phe chống đối đúng, nhưng rõ ràng có thể khẳng định rằng Thầy Thu là bậc thầy siêu việt về chiến tranh tâm lý chống Cộng Sản.

Có một sự thật đau lòng chúng ta cần thú nhận. Đó là nếu tất cả tù binh biết đoàn kết, tất cả tù binh đều biết tự trọng, tự bảo vệ danh dự mình, sẵn sàng hy sinh để đấu tranh tới cùng, chắc chắn, những thảm cảnh đày đọa của kẻ thù áp đặt trong nhà tù sẽ giảm bớt.

Một số Trại tù giam giữ riêng các chiến sĩ phục quốc, có Trại Cộng Sản không những không dám đánh đập tù mà còn không ngăn cản được chuyện anh em tổ chức Chào Cờ, hát Quốc Ca trong những ngày lễ cũ của miền Nam.

Cái thời tù binh đành phải sống nhẫn nhục để được yên thân, trừ một số ít luồn cúi, bợ đỡ vì những quyền lợi nhỏ mọn, vì ích kỷ cá nhân, những lối bạo mồm bạo miệng đã tăng thêm huyền thoại cho thái độ không khuất phục trước kẻ thù ngay chính trong nhà tù Cộng Sản.

Tôi nhớ đêm sinh hoạt đọc báo. Khi nghe đoạn: “Chế độ Pôn Pốt thật dã man tàn bạo. Bọn Pôn Pốt áp búc, bóc lột đến nỗi người dân phải lánh vào rừng, bắt rắn để ăn,” tôi cười rộ nói lớn:

—   Thiên đàng! Thiên đàng!

Tên Quản giáo quắc mắt nhìn tôi, hỏi:

—   Anh muốn đùa hả?

–   Đâu có. Bởi vì ở đây cả năm rồi không còn lấy một con rắn. Lâu lâu gặp một con, cả chục đứa giành nhau, thiếu điều đập cuốc vào đầu nhau. Kampuchia còn nhiều rắn để ăn thi đúng là thiên đàng!

Nhớ hôm một Cán bộ Việt Cộng cao cấp đến tham quan. Trước cảnh Trại tù rực rỡ những vườn hoa, hoa trước sân cổng trại, hoa giữa các sân nhà, vị nầy hứng khởi khen ngợi:

—      Trại A30 đẹp lộng lẫy như một cô gái 18 tuổi dậy thì.

Vô tình đứng gần, tôi không dằn được, buộc miệng nói móc:

—   Thưa ông, chừng sang năm, khi hoa xương rồng bắt đầu nở bông chen chúc cùng các hoa kẽm gai rào chung quanh Trại, ông sẽ thấy A30 đẹp đẽ gấp ngàn lần.

Cây xương rồng được trồng xen kẽ giữa hai lớp kẽm gai để tăng cường sự vững chắc và kiên cố của hàng rào bao bọc quanh nhà tù. Các Cán bộ trại đi hướng dẫn phái đoàn trừng mắt nhìn tôi và sau đó vài ngày bỗng có lệnh phá bỏ một số vườn hoa!

Hay là biện pháp nhốt tù trong rừng sâu, trong những môi trường dễ mắc bệnh lại thiếu thuốc men, tạo ra những bộ xương người gầy còm đi bằng ba chân, vì thiếu chân thứ ba, cái gậy, họ sẽ không lết tới lết lui nổi, hoặc nằm bất động tại chỗ, lâu ngày, những vết thương lở lói, sinh dòi bọ lúc nhúc. Hay áp dụng biện pháp xếp hạng tù binh theo tiêu chuẩn A, B, C, D để phân phát lương thực, nghĩa là những tù binh tiến bộ, chịu làm tay sai, làm chó săn, được lãnh cơm phần A gấp hai lần phần D, dành cho những tù lao động thiếu chất lượng, tư tưởng chưa giác ngộ, ngoan cố, bất trị. Trại tù còn ưu tiên cho các Nhà trưởng, Tổ trưởng, và các thành phần chịu cộng tác với họ được ngủ đêm với vợ mỗi lần thăm nuôi. Chính những người tù từng có ý phản đối, tẩy chay cái xảo thuật dùng mồi vợ để nhử chồng, từng quan niệm gay gắt rằng “Biện pháp nầy đã hạ giá trị của người vợ xuống mức một cô gái điếm” cuối cùng lại phải đầu hàng mọi điều kiện để được ngủ với vợ một đêm! Họ tự bào chữa: “Cần bàn chuyện gia đình với vợ.” Được một lần, họ lại muốn được những lần kế tiếp, và họ sẳn sàng làm bất cứ gì để đạt được nguyện vọng đó. Tập thể tù binh càng ngày càng phân hóa, chia rẽ, bạc nhược, bởi vì Cộng Sản là một tâm lý gia đầy kinh nghiệm, biết sử dụng đủ cách để làm cho con người cam chịu và chấp nhận: Thà sống nô lệ hơn là chết. Những tù binh phạm kỷ luật của Trại tù sẽ nhận được những biện pháp trừng trị đặc biệt.

Không kiểm soát và chi phối hoàn toàn được cái phần trong đầu của tù binh, Cộng Sản dùng biện pháp vật chất để lung lạc và biến chất những tù binh thiếu lập trường và tinh thần bạc nhược. Không những chỉ đày đọa tù nhân bằng lao động khổ sai, Việt Cộng còn kềm kẹp bằng tiêu chuẩn lương thực tồi tệ. Chuyện ăn uống làm tôi nhớ đến hôm một phái đoàn cao cấp xuống thăm Trại tù A30, có lẽ họ đến bất ngờ nên Trại chưa kịp chuẩn bị tăng thêm một ít lương thực, cái lượng lương thực họ cắt xén hàng ngày để làm của riêng, mặc dù cái tiêu chuẩn chính đã vô cùng khiêm nhường. Phái đoàn lại đến vào giờ phát cơm chiều, nên một số Cán bộ đã đi vòng vòng hỏi thăm làm vẻ như chăm sóc, chiếu cố đến anh em tù binh. Khi thấy Đạm mang một cái tô đựng cơm, cái tô được cắt ra từ cái nón nhựa lính cũ để xài cho bền, một Cán bộ chặn hỏi:

— Phần cơm Nhà nước phát như vậy chắc anh ăn đủ no chứ?

Đạm cười khẩy trả lời:

— Dạ nếu phần nầy tôi ăn một mình thì cũng tạm no. Nhưng tiếc thay phần nầy lại phát cho một tổ mười người!

Tay Cán bộ mặt ngố ra vì ngượng, bỏ đi thẳng một hơi.

Hoặc như tại Trại tù A30, Cộng Sản dùng những danh từ thật kêu để đặt tên những con đường. Chẳng hạn con đường đi vào cổng (cái cổng luôn luôn đóng kín và kiểm soát nghiêm nhặt) có tên Đường Tình Thương, và đoạn đường chính từ khu A đi khu B có tên Đường Tiến Bộ. Khôi hài thay, đường Tiến Bộ lại chấm dứt tại nghĩa trang chôn những người tù chết vì bệnh hoạn, tự tử hoặc bị xử tử. Vì thế, tôi đã đặt mấy câu thơ để châm biếm tên những con đường. Trong đó có hai câu:

Đường Tình Thương bít kín lối về

Đường Tiến Bộ hướng về nghĩa địa.

Tôi nhớ lần đột nhập vào vườn của đám vệ binh bẻ trộm bắp. Bẻ xong, nướng xong, và phân phát cho bạn bè vừa hết một bao cát, thì tên Quản giáo đi ngang bắt gặp. Y chận tôi lại hỏi:

—   Bắp đâu anh có?

—   Tôi lượm.

—   Nói láo. Phải anh bẻ đằng vườn kia không?

Tôi tỉnh bơ không trả lời.

—   À, thằng nầy láo. Tại sao tao hỏi mầy không trả lời? Mầy tên gì?

Tôi vẫn không thèm lên tiếng. Y tức quá chạy tới một bụi chuối, xé một mớ giây chuối rồi xông lại tôi nói lớn:

—   Tao trói đầu mầy, dẫn mầy về Trại, cùm đầu mầy lại. Đồ phá hoại sản xuất!

Bất thình lình tôi bỏ chạy. Y vừa đuổi theo vừa la báo động để các tên vệ binh có súng rượt theo tôi. Về đến vị trí tập trung của Đội, tôi ngừng lại, y vừa thở hổn hển, vừa hỏi dồn dập:

—     Tại sao mầy chạy? Tại sao tao hỏi tên mầy mà mầy khỏng trả lời. Có phải mầy là tên Lý Tống hung dữ nhất trong Trại nầy không?

—     Vâng, tôi thủng thỉnh đáp. Tôi không nói tên bởi vì không chỉ một mình Cán bộ, mà tất cả các Cán bộ trong Trại đều biết tên tôi. Còn chuyện chạy thì… bởi vì tôi sợ.

Nghe chữ sợ, y khoái chí quên cả tức giận, lập lại:

—     Lý Tống mà cũng biết sợ à!

—     Phải sợ chứ! Cán bộ biết sao không?

—     Sao? Y nhanh nhẩu hỏi.

—     Tại vì cái chỗ Cán bộ bắt tôi là chỗ vắng vẻ, không có nhà, không có người, Cán bộ lại không có súng. Trong khi Cán bộ hùng hổ sỉ vả, nhào vào định đánh tôi, trói tôi, tôi sợ rằng, nếu đứng lại, tôi sẽ nổi nóng, sẽ nổi máu liều, do đó tôi sợ nguy hiểm cho tính mạng của cán bộ, và… phiền nhiễu cho bản thân tôi.

Tên vệ binh cụt hứng, chửi càn theo giọng Bắc:

—     Đù mẹ. Mầy nà thằng bố náo. Núc lào mầy cũng ní nuận, chơi chữ.

Và sau đó y chẳng hề nhắc lại tội bẻ bắp của tôi.

Hoặc như lần đi cày, tên Cán bộ ngồi rình trong một bụi chuối, thấy tôi vừa cày vừa cải thiện (bắt nhái, rắn, cua, ốc…), luống cày ngoằn ngoèo không đều, giận quá y sỉ vả:

—     Anh cày như con cặc!

Buổi tối, trong phần kiểm điểm, tôi khẩn khoản tự phê bình mình về tác phong lao động thiếu tiến bộ, sau đó nói thêm:

— Lời chửi mắng “Cày như con cặc” của Cán bộ không những chỉ làm tôi tự thấy lỗi lầm của mình mà còn giải phóng cho tôi khỏi điều dằn vặt ám ảnh trong nhiều năm qua. Đó là chuyện con cặc của bảy năm về trước! Số là trước kia, tôi vừa là Phi công, vừa là Quản lý Câu Lạc bộ Sĩ Quan. Một hôm chuẩn bị làm tiệc lớn đãi quan khách từ Bộ Tư Lệnh ra thăm căn cứ, tôi chỉ thị cho nhà bếp làm một số món ăn đặc biệt. Thế mà hôm đó, đầu bếp của tôi lại làm hư món ăn chính của buổi tiệc. Giận quá tôi đã chửi lớn: “Nấu ăn gì như con cặc!”

Thưa Cán bộ, thưa anh em, sau khi chửi một câu mất dạy như thế, tôi cảm thấy áy náy bức rức về thái độ tục tĩu, thiếu giáo dục, côn đồ và khốn nạn đó. Tôi đau đớn, khổ sở, dằn vặt bảy năm nay bởi vì những từ ngữ thiếu văn hóa, mọi rợ, hạ cấp đó. Thế nhưmg từ khi nghe Cán bộ Quản giáo, một Nhà Cách mạng chân chính, một người đáng kính đáng trọng vì tác phong đạo đức Xã hội Chủ nghĩa lại cũng dùng chữ con cặc, tôi thấy tâm hồn nhẹ nhàng hẳn đi, những dằn vặt, ám ảnh của bảy năm qua đã được giải phóng. Một con người đáng kính đáng trọng mà còn dùng con cặc để diễn tả tư tưởng mình, thì một kẻ tầm thường, tội lỗi như tôi, nếu có lỡ dùng chữ con cặc thì cũng chưa đáng để gọi là đồ mất dạy.

Tù binh Khang đã dùng quyền Nhà trưởng bắt tôi ngưng trò chửi xiên chửi xỏ trong lúc Cán bộ Ly giận tím mặt đành ngồi im. Có lần đi cắt tranh xa, thấy dấu chân cọp chúng tôi được lệnh tập trung tại một chỗ gần, an toàn. Vì có dấu sẵn một số tranh mấy hôm trước, tôi lén bỏ toán cắt tranh đi lấy. Qua khỏi truông rừng vắng, tôi bắt đầu ái ngại, những tiếng động lạ bất chợt chung quanh làm tôi nhiều lần giật mình đánh thót. Cảm tưởng như có cọp đang rình rập đâu đây làm mũi tôi cứ đánh hơi thấy mùi hôi thối, và đôi tai bỗng trở thành nhạy bén, khuếch đại những âm thanh trung bình thành vang dội khủng khiếp. Nghĩ đến một đầu cọp rằn rện, nhe nanh múa vuốt vồ chụp vào người, một chút ớn lạnh chạy dọc từ cột xương sống, tôi phải tự tranh đấu với sự yếu đuối của bản thân đến kỳ cùng.

Tôỉ nghĩ đến một ngày vượt ngục băng mưa, vượt gió, một mình trong đêm, qua những cánh rừng bạt ngàn bí hiểm đầy thú dữ, và sự đói lạnh, sự cô đơn… bỗng nhiên tôi bình tĩnh trở lại. Nếu không thắng được những cảm giác sợ hãi, tôi sẽ không thực hiện được ý định vượt ngục của mình. Tôi nghĩ cách dùng đòn xóc, cọp sẽ không dám nhảy phủ lên. Tôi còn khôi hài nghĩ đến chuyện dùng lưỡi liềm lẹ tay cắt bộ dái cọp về ngâm rượu uống nếu cọp phóng qua đầu, hoặc quá bất ngờ, tôi sẽ dùng nhãn lực của mình đấu lại cọp. Tôi tin rằng, như có người đã nói, những người cặp mắt có thần có thể khuất phục hoặc làm cọp sợ.

Lúc vệ binh kiểm soát thấy thiếu tôi, họ bèn đổ xô đi tìm. Họ không sợ tôi bị cọp bắt mà nghi tôi bỏ trốn. Khi tìm thấy tôi ngồi nhàn tản một mình trong khu rừng vắng vẻ nguy hiểm, Quản giáo Thu lên tiếng khiển trách:

—     Tại sao tôi đã cấm đi xa mà anh không tuân lệnh? Anh lên đây lỡ gặp cọp rồi sao?

—     Thì liều với nó chứ sao. Tôi trả lời.

—     A! Người anh hùng mà cũng liều mạng à?

Tên Thu khoái trá bắt bẻ chữ liều mà tôi sử dụng.

—     Vâng! Thưa cán bộ. Mình chỉ anh hùng với những người có lương tri, lương tâm, có hiểu biết, chứ với loài thú dữ, loài thú vật man rợ, hay cả với những con-thú-người, những loại mặt-người-dạ-thú, mất nhân tính, mình phải liều mạng với nó chứ!

Tên Cán bộ Thu giận tái mặt, bỏ đi không nói thêm một lời.

Mưu Sinh Trong Nhà Tù CS 

Tôi nhớ lại những ngày mưa dầm, gió rét, đoàn tù binh cúi gập mình trên những cánh đồng bùn sình ngập tới háng, đến bụng. Tù nhân gầy gò run rẩy trong chiếc áo mưa, trong các lớp áo cũ đã được chắp vá nhiều lần đến dày cộm, riêng tôi vẫn đứng cởi trần, đầu không đội nón, nghiến răng chịu đựng những lằn roi mưa, gió quất rát buốt khắp thân thể. Hay những lần đi cày bừa, có lúc đuối sức, nằm sấp trên bùn bám vào chiếc bừa gỗ cho trâu kéo đi, đuôi trâu đập ruồi, lằn, phóng những tia bùn bắn mạnh vào mặt mũi làm mắt cay xè, buốt xót vì chất nước dơ dáy sền sệt, và đàn đỉa đói lúc nhúc, nhờn nhợt góp thêm cái vòi để cố hút những giọt máu đã khô cạn vì lao lực của cuộc sống tù đày.

Tôi đã tập quen với các loài rắn rít độc địa, tôi học cách dùng tay không để bắt rắn lục, rắn mai gầm và có lần bắt cả rắn hổ dài cả ba thước. Con rắn lớn, dài ngoằn, trườn nhanh qua đám ruộng làm dạt những đám lúa thành những lượn sóng dài khi bị đám tù binh cầm cây rượt đuổi. Tôi chạy bọc đón đầu bất ngờ, nên rắn phóng bừa vào người, tôi kịp thời chụp ngang cổ rắn rồi đập đầu rắn xuống đất đến chết. Thành tích “vua bắt rắn” của tôi bất ngờ bị cậu Lăng đoạt mất. Cậu Lăng, một Phi công, đã dùng tay bắt một con trăn lớn bằng bắp chân, nặng hơn mười lăm kí lô. Dùng hai tay đè đầu trăn, Lăng chịu toàn thân cho trăn quân siết. Một số bạn tù ở gần dùng liềm và cây nhảy vào giết trăn phụ cậu Lăng.

Sự đói khát tập cho người tù quen ăn với những thứ kinh tởm nhất và bao tử tù nhân cũng quen tiêu hóa những thứ kỳ lạ nhất. Có người than thở mơ mộng:

— Ước gì trời cho ta được cái lưỡi và bao tử trâu bò để ta ăn được cỏ.

Hoặc phân bì, ganh tị, thèm khát thân phận của trâu bò, mặc dù trâu bò dưới Chế độ Xã hội Chủ nghĩa cũng bị bóc lột tối đa đến gầy gò, còm cõi. Chúng tôi tập ăn, và ăn một cách ngon lành cả những con chuột đỏ hỏn vừa sinh, những con cá đã chết, những con gà vịt trôi sông, sắp bị vữa nát. Cóc nhái, châu chấu, rắn rít, cắc kè… nói chung những gì nhúc nhích được đều ăn được.

Chuyện ăn cóc làm tôi nhớ các chị em tù. Những người “giặc đến nhà đàn bà phải đánh,” bị kết tội phản động, chống chính quyền, và bị giam giữ tại Trại tù A30.

Nào dì Thư (em gái của Đảng Trưởng Quốc Dân Đảng) vừa thấy con cóc vội vàng chụp lấy cây chổi đuổi dồn vào góc kẹt nhà. Nào soeur Mai chạy lấy cái rổ úp con cóc và ni cô tức thời lấy gô đựng cóc của tôi, dùng cây khều cóc vào gô để tích trữ. Các chị em thấy lớp đa cóc sù sì đều ghê sợ, nhưng phải ráng bạo dạn cùng nhau bắt để ủng hộ Lý Tống.

Khi đã ăn được, người ta còn phải tập tay nghề điêu luyện để có thể tranh giành với người khác, bởi vì những sinh vật hèn mọn nầy đã bị tiêu diệt dần, càng ngày càng trở thành của quý hiếm trong các xứ sở nghèo nàn, thiếu thốn dưới chế độ Cộng Sản. Tôi còn nhớ rõ lần tranh bắt rắn với Lăng. Trên đường ra ruộng làm việc, chúng tôi cùng bất chợt thấy một con rắn hổ ngựa trườn băng mình qua bờ đất. Lăng nhanh như cắt phóng đuổi theo làm con rắn hoảng hồn phóng xuống nước và Lăng cũng vội vàng nhảy theo xuống mương, lặn hụp rượt đuổi theo rắn. Nước mương vốn đã đục, sau một hồi vùng vẫy càng đục ngầu, dơ dáy thêm, Lăng quần thảo với rắn hơn năm phút. Thấy Lăng nhào chụp chỗ nầy, lặn đuổi chỗ kia, tôi chỉ đứng trên bờ mỉm cười, chờ khi cậu mệt phờ và thất vọng vì con rắn đã biến mất, tôi chuẩn bị cách thức phổng tay trên. Tôi tính theo phương pháp: Người mệt, rắn cũng mệt và hốt hoảng, rắn lặn lâu hơn người nhưng không thể lặn mãi dưới nước được. Tôi đứng chỗ bờ ao, nhìn bao quát cả đoạn mương vì thế khi rắn vừa trồi đầu lên khỏi mặt nước, tôi thấy ngay và phóng lao xuống mương bằng một pha đẹp mắt, ra tay lẹ làng chụp ngay cổ rắn, trong khi đầu tôi cắm ngập vào lớp bùn nhão ở bờ mương bên kia. Tôi đưa cánh tay có con rắn dài quấn quanh lên trời trước khi thò cái mặt đầy bùn lên khỏi mặt nước.

Chuột cũng là một loại thức ăn thích khẩu và quí hiếm. Thiếu phương tiện, tù binh sáng chế bẫy chuột bằng lon guigoz, hoặc kiếm tre, kẽm giây thép bỏ để đan thành lồng bẫy. Bắt chuột cũng có nhiều phái: Phái cầm quyền và phái bắt lậu. Phái cầm quyền gồm các chức sắc như Nhà trưởng, Tổ trưởng, được Cán bộ cho phép và có ãn chia, nên họ có thể đem những nơm chuột đặt vào các lỗ chuột rồi hun khói cho chuột chạy ra, hoặc cuốc bờ ruộng rồi phăng lần xuống ổ chính làm chuột chạy trốn, cuối cùng lọt vào bẫy hoặc bị đập bằng cây. Phái bắt lậu lợi dụng những lúc đi phát quang các hàng rào hoặc trong mùa gặt lúa, có điều nguy hiểm là vì không có đồ nghề nến thường chỉ bắt bằng tay. Có những con chuột to bằng nắm tay, khi bị chộp trúng, bèn dùng cả bộ răng nhọn hểu cắn vào tay người tù. Những tay liều, cố đấm ăn xôi, vừa la đau, vừa ráng bóp chặt chuột, đập cho chuột chết, mặc dù bàn tay đã bị cắn tét từng lỗ lớn, máu chảy ròng ròng, buốt đến tận óc, và chắc chắn là họ coi thường cả cái bệnh dịch hạch. Những tay nhát gan thường thả chuột ngay khi bị cắn. Nhất là vào mùa gặt lúa, chuột bị động ổ chạy tán loạn, thế là kẻ liềm, người đòn xóc đập, phang, và không thiếu gì kẻ bị phang, đập trúng đầu, trúng vai vì giành nhau, sau đó, có lúc lại còn bị đám vệ binh kiểm soát đập bằng đòn xóc, bằng súng, bởi vì dám cải thiện trong giờ lao động, làm giảm năng suất.

Ngoài những thứ trời cho ngày càng hiếm hoi dần vì mức sinh sản của chúng không đáp ứng đủ nhu cầu đòi hỏi vô hạn của đám tù nhân đông đảo đói khát, chúng tôi thường cải thiện với những loại thực phẩm do chính tay mình sản xuất như bắp, sắn, đậu, chuối…

Lúc đầu chúng buộc tội tù cải thiện là ăn cắp của công, nhưng về sau, có những anh em tù lý luận rằng lương thực do tù làm ra, tù có quyền ăn, không ăn cắp của ai cả. Cái đám không làm mà lại ngồi trên ăn trước, bóc lột mồ hôi, sức lao động của tù (tức đám Cán bộ), mới là ăn cắp, nên từ đó Trại đổi tội danh thành “phá hoại sản xuất.” Tội phá hoại sản xuất nặng hơn ăn cắp của công, nhưng tù nào cũng khoái mang tội danh nầy, bởi vì phá hoại sản xuât cũng là một hình thức tích cực chống lại kẻ thù. Vừa chống kẻ thù lại vừa no bụng, thì đúng là vừa có tiếng lại vừa có miếng.

Đám tù hình sự thường bị khó khăn trong việc cải thiện bởi vì họ bị kiểm soát chặt chẽ hơn khi đi lao động và khi trở về Trại, lại bị quản thúc trong khu vực giới hạn riêng rẽ. Vì thế, họ chẳng kiếm được gì nhiều ngoài vài nắm lúa dấu diếm trong túi, rồi chờ lúc vắng lính gác lấy ra, bỏ vào ca sắt dùng chày gỗ giã cho tróc vỏ rồi ăn sống, hoặc hái rau đại rửa qua toa khi đi tắm đem về nhai ăn thêm cho đỡ đói. Đám tù binh thường làm những phần việc có quan hệ trực tiếp đến lương thực, lại được dành một dãy nhà bếp để nấu nướng, nên thỉnh thoảng vẫn lợi đụng được sơ hở để nhập nhằng đồ thăm nuôi với đồ cải thiện, tăng thêm chất độn cho đỡ đói. Tôi không có người thăm nuôi, nhưng mỗi lần đi làm vẫn mang theo một nồi lớn số 6 (sáu người ăn) để chứa những đồ bất hợp pháp kiếm được. Tùy hên xui, nhiều lúc phải xách nồi không đi, lại xách nồi không về, có lúc đồ lại nhiều chứa trong nồi không hết nên phải lận dấu trong bụng, trong quần áo, nên có thời gian, mặc dù trời nắng, tôi vẫn choàng tấm vải dầu làm áo mưa bên ngoài mỗi lần đi qua cổng Trại , tập cho đám lính gác cổng quen mắt để họ không để ý. Tấm vải dầu như tấm bùa hộ mạng che chở được nhiều lần chuyển đồ táo bạo nhờ thế mà tôi vẫn tương đối ít đói hơn một số tù đồng cảnh ngộ. Áo quần và tấm vải dầu hầu như đã trở thành phương tiện để dấu đồ hơn là mặc che mưa nắng, bởi vì ra đến vị trí làm việc, lúc nào tôi cũng chỉ mặc độc nhất một cái quần đùi để tập cho da thịt, thân thể dạn dày với nắng mưa.

Có điều khôi hài là tôi cải thiện bạo nhất nhưng chưa từng bị cùm vì tội cải thiện như một số bạn xui xẻo khác, một phần nhờ may mắn, một phần cũng vì thành tích hung dữ của mình nên đám Cán bộ cũng lơ là ít kiếm chuyện.

Có lần tôi chặt nguyên cả buồng chuối dấu trong túi bao cát khệ nệ xách về. Đi qua cầu ngang suối tắm bất ngờ túi vải cũ mục, chuôi xổ rớt ra, Khang “nhà trưởng” vừa phát giác sắp sửa hô hoán, tôi bèn đá luôn chuốỉ rớt xuống suối và nhảy ùm xuống nước để phi tang. Người khác chắc chắn là đã bị đưa ra buổi họp để sinh hoạt kiểm thảo, trong lúc tôi già miệng vừa chửi thề vừa cự lại, thế rồi Khang cũng đành chịu êm luôn.

Một lần khác xách nguyên một xoong đầy bắp giống, khi vừa qua cổng bị Tuấn trật tự Trại chận lại, mở nắp ra. Mặc dù bị bắt quả tang, nhưng khi tôi trừng mắt nhìn, Tuấn cũng ngại đành bỏ qua và chỉ cằn nhằn trách cứ:

—     Ông làm vừa vừa thôi, chứ có ngày tôi bị mất chức trật tự vì ông quá!

Một lần vào lò nấu đường lấy ca múc nước đường vào guigoz đem về ăn bị tên Cán bộ phụ trách thấy được rượt bắt. Đến khi dẫn vào văn phòng của y, thay vì bị ăn mấy cây gậy như hình phạt thường lệ, tôi lại chỉ bị y khiển trách:

—     Tôi chưa thấy đứa nào ngang nhiên và lì lợm như anh. Tôi tha cho anh lần nầy, lần sau tái phạm bị nhốt nhà cùm đừng trách tôi không báo trước.

Trước khi đuổi tôi trở về Đội, không biết nghĩ sao, y lại vói tay lên nóc tủ, lấy túi ni lông đựng bánh đường đen đưa cho tôi rồi xua tay đuổi:

—     Anh đi cho khuất mắt tôi.

Nói vậy nhưng y lại ra lệnh cho tù phụ trách lò đường mỗi tuần dấu lon nước đường vào bụi cho tôi, tránh cảnh tôi ngang nhiên vào tự self-service một cách trắng trợn. Hồi hộp và nhức tim nhất là lần tôi lén vào nhà xay gạo, xúc luôn một nồi lớn gạo nếp thơm Trại đang chuẩn bị để đãi Cán bộ cao cấp từ Ty Công An xuống tham quan. Buổi trưa có hai tù nữ canh gạo là Trung và Lý. Trung giả vờ đắp tờ báo lên mặt làm như ngủ say còn Lý thì có thai, mang cái bụng to đang ngồi trong phòng bên hông. Lúc đi ra tôi theo cửa hông nên bất ngờ bị bắt gặp. Lý cằn nhằn bắt tôi trả lại, nhưng tôi cứ tỉnh bơ xách đi luôn. Mụ Cán bộ ngủ trưa trên gác nghe tiếng cãi cọ bên dưới, giật mình thức giấc, xuống hỏi Lý chuyện gì. Tôi đã nhanh chân biến mất về Trại, còn Lý thì sau một hồi nói chống chế dấu diếm không xong bèn khai thật. Câu chuyện tôi lấy một nồi gạo nếp thơm làm Đội tù nữ phải ngồi cả tuần để kiểm điểm. Còn tôi, cứ hồi hộp chờ đối phó nếu bị Trại gọi lên hỏi tội, không ngờ mấy tuần trôi qua vẫn chẳng nghe ai nhắc đến tên mình.

Buồn cười nhất là lần đi bẻ bắp. Tôi vừa làm việc vừa nhai bắp sống một cách ngon lành. Tên Cán bộ Thu rình rập đâu đó bỗng phát giác được, y gọi tôi lại bảo:

—     Anh có biết ăn bắp của Trại phạm tội gì không?

—     Tội cải thiện của công. Tôi đáp.

—     Không phải chỉ riêng tội cải thiện. Làm như vậy là anh bôi xâu chế độ, anh làm cho kẻ khác nghĩ rằng Nhà nước không cho tù ăn no, để cho tù đói khát. Anh bôi nhọ Chính sách Nhân đạo của Nhà nước… Bây giờ anh cho tôi biết tội của anh đáng trừng trị như thế nào?

—     Cùm nhà kỷ luật. Tôi đáp gọn lỏn.

Và trái với sự lo lắng của các bạn tù, và cả ngoài sức tưởng tượng của tôi, tên Cán bộ Thu phạt tôi như sau:

—     Anh lựa cho tôi hai mươi trái bắp lớn nhất rồi đem đi nướng. Xong, anh ngồi đó, ăn trước mặt tôi, anh phải ăn cho hết. Nếu không hết tôi sẽ có biện pháp nặng với anh.

Tôi ăn được chừng mười trái thì no căng bụng, nên đành nhẫn nha ngồi gặm từ từ. Giờ làm việc vừa hết, các Đội khác trên đường đi về, ngang qua chỗ tôi ngồi, ai cũng trố mắt nhìn tôi kinh ngạc vì từ xưa đến giờ họ chưa từng thấy tù binh nào lại ngồi ăn bắp một cách thoải mái ngang nhiên giữa thanh niên bạch nhật trước mắt Cán bộ như tôi. Tôi ráng ăn thêm vài trái nữa và hết nuốt thêm nổi, nhìn Cán bộ Thu nói tỉnh:

—     Cám ơn Cán bộ. Ngon quá. Đã quá. Tôi no rồi.

Tưởng y định phạt tôi bằng hình thức khác, không ngờ y bảo:

—     Thôi, đứng dậy đi về. Đem theo về nhà tối ăn tiếp!

Tụi bạn tôi mừng dùm cho tôi và cũng mừng dùm cho họ. Sau đó, đứa nào cũng chen giành đi gần tôi và trên đường về tôi chia mỗi đứa mỗi ít, vừa ăn vừa cười thỏa thích vì chuyện lạ chưa từng có trong lịch sử của nhà tù A30.

Chuyện ở tù của tôi ngoài những chuyện kinh hoàng khủng khiếp, vẫn còn có những chuyện oái oăm tức cười như vậy. Những chuyện thật khó tin nếu không cùng ở chung nhà tù và không từng chứng kiến.

Tôi Học Sinh Ngữ 

Tôi nghĩ đến những ngày học tiếng Anh, tiếng Pháp vất vả trong Trại tù Việt Cộng, những ngày ngồi cưa gỗ với bài học kẹp vào bắp vế, mồ hôi đầm đìa nhỏ giọt nhòe nhoẹt màu mực xanh, những ngày làm ruộng, dấu diếm tờ giấy ghi bài. Bốn đứa: Tôi, Đạm, Nhứt và một bạn trước kia dạy tại trường Sinh Ngữ Quân Đội, vừa lom khom cấy lúa hoặc đố, hoặc ôn, hoặc kể nhau nghe những đoạn sách bằng tiếng Anh vừa đọc. Nhũng buổi ăn sáng, chiếc bàn nhỏ, nửa bên chén cơm, nửa bên cuốn sách, những lúc ngồi đợi đi làm tại cổng, tay cứ kéo ra đút vô túi miếng giấy nhỏ học thêm những từ mới. Ngay cả dọc đường đi, đường về, vấp đá chảy máu chân bởi vì mắt bận nhìn bài không chú ý lối đi. Những đêm chen chúc chia sẻ ngọn đèn cùng đám đánh cờ tướng ồn ào vừa nhai chữ, vừa nhai những con mối có cánh bay vào đèn cháy sém một cách ngon lành, có lúc nhai nhầm những con kiến đen lớn có cánh lao vào lửa thiêu thân, đắng nghét phải nhổ ra. Những ca trực đêm, mắt láo liên canh chừng tên bộ đội kiểm soát, sợ bị tịch thu cuốn sách, những lúc moi móc trong đống giấy gói đồ thăm nuôi những tờ báo ngoại ngữ.

Những bữa kiểm nghiệm chạy ngược chạy xuôi vất vả để dấu cuốn tự điển quí như vàng. Có những lúc vào cầu tiêu thấy được một miếng báo bằng tiếng Anh cũng cầm để đọc cho đỡ ghiền. Hoặc ngay cả thời kỳ tị nạn chen chúc ngồi giữa đám con nít ở bãi xem Tivi, có lúc ngủ gà ngủ gật vẫn chưa chịu về, cố ráng nghe thêm vài chữ. Gặp ai cũng hỏi, cũng học. “Để làm thày tất cả mọi thầy, trước hết phải làm trò tất cả mọi trò” tôi thích nhất câu châm ngôn đó.

Học trong lúc bị cấm đoán, học trong lúc nhọc nhằn, học trong lúc đói khát. Cái học không còn chỉ để mở mang trí tuệ, không còn chỉ là niềm vui, mà còn là một sự thách đố, một chăm bón niềm tin, một kiên trì tập luyện, một ý thức lạc quan, vươn lên, một lựa chọn thái độ sống…

Muốn học được thêm nhiều từ Anh Ngữ mới, ít nhất cũng phải có một cuốn tự điển tốt vì thế tôi đã dồn tất cả áo quần tốt nhất lính Thái tặng, ngoài một số đã biếu lại các anh em từ Việt Nam mới tới, để đổi một cuốn tự điển Oxford. Nhiều kỷ niệm đáng nhớ đều có liên quan đến những cuốn tự điển. Như thời ở Trại  Tù 52, tôi thuộc thành phần chuyên chính vô sản, bởi không hề có thân nhân thăm nuôi. Tôi đã chạy vạy gần đứt hơi mới kiếm được một con gà con để nuôi làm vốn. Tôi nuôi gà như một người mẹ tận tụy nhất nuôi đứa con cầu tự. Tôi đóng chuồng bằng gỗ, tối tối đi bắt thằn lằn, ngày đi làm chỉ lo kiếm châu châu cho gà ăn, ngay cả cắc kè và rắn là hai món thực phẩm khan hiếm, tôi cũng phải nhín ra để chia sẻ cùng gà.

Một tối đang ngủ ngon, tôi giật mình bật dậy chạy như cháy nhà, như đại hồng thủy, chạy bất kể mưa to, gió lớn đang ào ạt trút xuống giữa khuya bởi vì nghe tiếng gà con thân yêu kêu la inh ỏi. Tôi chạy ra chuồng để hốt hoảng thấy cô bé đang bị cả một bầy kiến lửa cồ bu đỏ khắp mình mẩy. Tôi nhúng gà vào nước, ngồi bắt từng con kiến. Những mảnh thịt nhỏ bứt ra, rớm máu, đau như cắt da xẻ thịt mình, đau như lần chính bản thân tôi bị kiến hành hạ. Bắt hết kiến, tôi đem gà xuống nhà bếp hơ lửa cho ấm. Tôi ngồi, ướt đẫm lạnh run, nhưng thấy ấm lòng biết bao khi bộ lông xơ xác tang thương của gà đang khô dần, mượt mà dần. Tôi chăm sóc gà như thế cho đến ngày gà lớn, gà mái “nổ” có bộ lông xám lốm đốm trắng như nước da bị lang beng của tôi thời tù tội. “Chủ nào gà nấy,” tôi an ủi con gà.

Thế rồi đến ngày gà đẻ, tôi ăn cái trứng đầu tiên để tưởng thưởng công lao khó nhọc của mình, những trứng kế tiếp tôi để dành cho gà ấp. Tôi tập gà như tập chim từ nhỏ, mỗi lân đem mồi về, tôi huýt gió và gà chạy lại. Mỗi buổi chiều, gà nhảy lên nóc chuồng cao mơ màng cùng tôi nhìn ngắm mặt trời đang lặn. Tôi yêu gà không những vì cái gia tài bé nhỏ sắp tới, mà vì cái nết dễ thương của gà. Thế mà khi biết Trung Tá Duy Không Quân có một cuốn tự điển Anh Việt, tôi phải sang tán tỉnh hết cách để đổi cho được. Tôi đề nghị:

—     Anh mới bệnh dậy, bồi dưỡng bằng một con gà mái so, chắc chắn sẽ khỏe lại ngay. Hoặc nếu muốn nuôi, vài tháng sau anh sẽ có một bầy gà lớn. Một điều kiện nữa: Nếu tôi được thả về trước, tôi sẽ biếu lại anh cuôn tự điển.

Mất mấy ngày thương thuyết, tôi mới thành công. Một buổi chiều, tôi huýt gió và gà chạy theo tôi. Tôi đi trước, gà lúc thúc theo sau như bố với con, dẫn qua nhà anh Duy, nhiều đứa bạn đứng ngoài sân thấy tôi với gà hỏi lớn:

—     Bố con mầy đi đâu đó?

—     Dẫn cháu đi đổi cuốn tự điển.

Tôi trả lời nghẹn ngào, xúc động.

Bạn bè nhìn cảnh tôi dẫn gà đi, có đứa ứa nước mắt. Tụi nó biết tôi cưng, tôi yêu cô bé như thế nào và tụi nó cũng biết tôi mê thích học như thế nào.

Tình Và Tù

Sách tử vi bảo tôi có số đào hoa chiếu mệnh và có số được nữ nhân phù hộ. Tôi không tin, nhưng cuối cùng rõ ràng những biến cố quan trọng trong cuộc đời sóng gió của tôi đều có hình ảnh của những người đàn bà tham dự.

Tôi nhớ lại Thu An, ngày ở Trại tù Việt Cộng. Người con gái có khuôn mặt Tây Phương xinh đẹp, trở về thăm nhà sau sáu năm du học tại Hoa Kỳ và bị mắc kẹt lại. Ngày đầu gặp Thu An đi thăm nuôi bố, một sĩ quan tù binh ở cùng Trại Lam Sơn, tôi đã ngẩn ngơ ngồi tựa gốc cây nhìn nàng suốt buổi. Khi nàng trở về, tôi vội vã chạy theo lén đưa bức thư với hai hàng chữ nguệch ngoạc vừa sáng tác:

Giai nhân! Em là Nàng Thơ?

Hay ta chợt thấy trong mơ một lần?

Thế mà ba năm sau, tôi lại gặp nàng tại Trại tù A30 trong một hoàn cảnh bi đát, phải sửa lại hai câu thơ năm xưa, cho phù hợp với thân thế hiện tại của nàng:

Giai nhân! Em là tù nhân?

Sao ta nghe thấy bâng khuâng cả hồn!

Cuộc tình trong nhà tù đã đem lại rắc rối cho nhiều người. Có những đêm văn nghệ ngoài trời, tôi đã đánh lừa được bao nhiêu đôi mắt cú vọ của bọn ăng ten, trật tự, giả dạng len lỏi vào ngồi giữa đám tù con gái. Một lần tôi suýt bị cùm vì một chuyện bất ngờ. Tôi có một cô bạn gái hơn năm năm qua vẫn thường viết thư đòi ghé thăm, nhưng tôi vẫn khăng khăng từ chối. Tôi sợ rằng, nếu để tình cảm càng ngày càng tăng thêm với những ràng buộc, tôi không thể đáp ứng lại bằng những bổn phận, trách nhiệm phải có về sau, vì cuộc đời tôi còn biết bao nhiêu sóng gió hiểm nghèo, chính bản thân tôi, tôi còn chưa tự mình lo toan được. Nhưng lần nầy, Tết sắp đến, lại đang chuẩn bị vượt ngục, tôi đồng ý để cô bạn ghé thăm một lần, phần để hỏi thăm tin tức bên ngoài, phần báo tin về chuyện sắp ra đi của tôi, và hơn nữa, khuyên cô nên quyết định dứt khoát một hướng đi phù hợp cho tương lai bản thân mình. Chính trong lúc tôi đang bình an giữa đám tù nữ nhờ tấm lưng dềnh dàng to lớn của A Giang “mập,” một cô gái Tàu vui tính che chở, để trò chuyện với Thu An, thì Cán bộ tiếp tân vào kiếm tôi báo tin có thân nhân. Cả đội quýnh quáng vì không biết tôi đã chuồn đi ngã nào, tự lúc nào, thế là có lệnh kiểm tra, trong lúc tình hình bất ổn, máy điện bỗng trở chứng và đèn tắt phụt.

Tôi lợi dụng dịp may luồn ra khỏi khu vực bất an. Chỉ trong khoảng khắc tôi đã thoát ra ngoài, vừa lúc đèn sáng lại. Tuy nhiên trên đường trở lại đội mình tôi bị một Cán bộ Quản giáo một đội khác chận lại.

—     Anh ở đội nào mà chen vào đây?

—     Đội 3.

—     Anh qua đây làm gì, liên lạc hả?

—     Đâu có, tôi đi tiểu mà.

Tôi bị lục xét khắp người và tên Cán bộ moi ra được một tờ giấy nhỏ trong túi.

—      À! Đây rồi, anh đi liên lạc với ai, giây nầy ghi chỉ thị gì đây?

—      Miếng giấy tôi chép để học Pháp Văn đó.

Cán bộ Việt Cộng có người còn không đọc rành tiếng Việt, huống gì tiếng Anh, tiếng Pháp nên tôi bị dẫn về văn phòng để chờ thẩm tra về miếng giấy. May nhờ trên đường đi gặp tên tù trật tự có chút vốn liếng sinh ngữ, dịch ra tiếng Việt và giải thích thuận lợi cho tôi nên tôi được thả. Có điều lạ là tên trật tự nầy (trật tự là một thứ tù làm tay sai cho Cán bộ để kiểm soát và trừng trị các tù khác) thường rất dữ tợn, đánh tù rất hăng, thế mà bữa đó y lại làm việc thiện với tôi, chưa kể sau khi đưa tôi đến cửa, y còn hỏi nhẹ nhàng, lấy lòng:

—      Chương trình văn nghệ tối nầy hay không anh?
—     Cũng tạm được. Tôi đáp gọn.

—     Thôi anh vào nhà ngủ ngon nhé!

Thật khôi hài, hình như có một vài tên trật tự, một vài tên Nhà trưởng, vốn thường có mặc cảm vì biết rằng làm nghề nầy tức là có tội với anh em tù khác, nên thỉnh thoảng gặp tôi cũng ráng trần tình nầy nọ. Họ làm như tôi là một đại diện của tù binh, một vị quan tòa có thẩm quyền, nếu tôi thông cảm được cho họ một vài hoàn cảnh nào đó, là coi như họ được nhẹ bớt tội, và họ sẽ có dịp được tha thứ để trở lại cộng đồng tù binh của mình!

Rồi những ngày tôi và Thu An đợi nhau qua hàng rào kẽm gai trên đường ra bến tắm với những câu thơ, những bức thư tình ngắn ngủi, lén lút chuyển đưa. Đặc biệt trong những ngày Tết, Thu An đã nhờ Lý, cô bé có bụng bầu duy nhất từ cuộc tình vụng trộm trong Trại với một anh chàng tù đóng tuồng hát bội, chuyển quà cáp cho tôi. Cả hai thuộc đội tù hình sự gồm khoảng vài trăm người được giam riêng rẽ mặc dù ở cùng Trại  A30 đang giữ năm ngàn tù binh chúng tôi.

Lý bị 20 năm khổ sai vì giết một đứa bé để lấy sợi dây chuyền vàng rồi vứt xác xuống giếng và anh chàng kép có án 20 năm vì mang tội giết người. Hai tội nhân bị buộc tội giết, bây giờ lại bị buộc tội yêu, bởi vì họ đã lợi dụng hoàn cảnh thuận lợi trong các công tác đặc biệt đi làm không có sự quản lý của Cán bộ để quản lý đời nhau. Nay góc suối, mai nương sắn, mốt vườn mía, họ đã tranh thủ giờ làm việc để cải thiện ái tình, vì vậy mà vụ chửa hoang trong Trại tù nổ lên như quả bom nguyên tử. Thượng cấp được tin khiển trách Ban Quản lý Trại, Cán bộ phụ trách trực tiếp chỉ còn biện pháp duy nhất là ép buộc Lý phá thai. Cô bé vốn cứng đầu giờ càng lì đòn tợn, khẳng quyết:

—     Muốn giết con tôi thì cứ giết tôi trước!

Cuối cùng Trại tù đầu hàng, để đứa bé tượng hình của một cuộc tình sấm sét trong tù, mở mắt chào đời trong nhà tù, được nuôi dưỡng trong nhà tù và nhận lấy kiếp tù một cách tự nhiên. Một ngày lớn lên, chắc không ai đủ tư cách để tuyên bố câu nầy ngoại trừ đứa bé: I was born to be a prisoner!

Ngày mồng một được xả Trại nửa ngày, là ngày hạnh phúc nhất trong những ngày ở tù của tôi. Tôi được Khang, một cựu Đại úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vì mến tôi qua những huyền thoại được phổ biến trong Trại tù, mời ghé đội thủ công để nghe nhạc, ăn Tết và đặc biệt đãi một chầu nhậu! Để có một chai rượu mời khách, đàn em của Khang đã liều mình chun trốn ra khỏi Trại đi vào làng dân để mua. Buổi tiệc hào hứng khởi đầu bằng một màn kinh hoàng hồi hộp vì chú đàn em đi quá lâu ngoài dự trù và trong lúc chúng tôi lo lắng chờ đợi lại nghe có tiếng súng nổ. Thà vượt ngục bị bắn chết còn vinh quang, chứ trốn Trại để mua rượu nhậu mà chết thì thật lãng nhách và đáng trách. Cũng may, anh chàng liều lĩnh đã về tới, mặt mày áo quần lấm đầy bụi đất, vì trên đường trở về nghe tiếng súng anh chàng tưởng bị lộ chạy tìm chỗ trốn trối chết. Ngồi nhậu trong Trại tù, có đám ca sĩ Ban Văn nghệ tù đàn hát giúp vui, lại còn có Thu An ngồi bên cạnh thì chắc chắn đó là một buổi tiệc hi hữu hiếm có trong nhà tù Cộng Sản.

Cuộc tình trong tù của tôi làm tốn hết hàng chục buổi họp phê bình kiểm điểm. Một người tù như tôi thật có đủ chuyện để làm phiền các bạn tù cùng Tổ, và làm hao tốn cho anh em bạn tù khác. Bởi vì hầu như những tù binh dù thân hay chưa thân, có thăm nuôi mà gặp tôi cũng đều mời mọc tôi một chầu, mặc dù cái ăn là cái gay go quan trọng nhất của người tù.

Nội chuyện đôi dép râu Thu An tặng tôi cũng gây cảm hứng cho thi sĩ Tuấn (Phan Thiết) làm bài thơ Huyên Thoại Của Một Người Đi Chân Đất để tặng tôi. Bởi vì tôi đã thề “đầu đội trời, chân đạp đất,” nên khi nhận dép nàng, tôi không mang mà lại cột giây đeo dép vào vai mỗi lần đi làm việc. Và thi sĩ khác là Hồ Tuấn đã đe dọa:

— Một ngày đẹp trời nào đó, tôi sẽ viết một tập thơ về cuộc sống của một tù binh kỳ lạ, mà mỗi huyền thoại là một đề tài cho những bạn tù đã từng sống ở Lam Sơn, 52, 53 và A30 khi kể về Trại tù cũ của mình.

Cuộc Vượt Ngục Trại Tù A 30 

Thật ra lúc đầu tôi chưa định vượt ngục, tôi đang suy tính kế hoạch thủ tiêu một tên ăng ten thứ dữ để răn đe những tên phản bội, đâm sau lưng chiến sĩ, và để củng cố tinh thần của một số tù binh đang bị giao động bởi đủ mọi hình thức đe dọa, ám ảnh họ từng ngày, từng đêm. Nhưng cuộc đào thoát của bảy tù binh có tổ chức, cướp súng bộ đội để đi trốn đã bị thất bại nặng nề, làm sự theo dõi của Trại càng chặt chẽ hơn. Cướp được súng nhưng không cướp được đạn, bảy người đã bỏ chạy tán loạn, thất lạc nhau, cuối cùng năm người bị bắt lại. Chỉ hai người trước kia là Biệt Kích nên thoát được. Ra tòa, một người bị tử hình, hai người chung thân khổ sai, hai người 15 năm cấm cố.

Tình hình chưa lắng dịu đã có toán năm người khác đào tẩu. Rút kinh nghiệm, họ chọn thêm người biết nói tiếng Miên, Lào để xuyên rừng vượt biên giới. Nhiều tin đồn miệng họ đẫ đến Thái Lan sau hai tháng nhưng thực tế toán năm người đã đi lạc vào rừng hoang, vừa vắng bóng người, vừa thiếu thực phẩm thiên nhiên và nước uống để mưu sinh. Gian khổ, đói khát, sốt rét đã đồng lõa với Việt Cộng tấn công những con người khao khát tự do. Một buổi sáng thúc giấc, một người đã nằm chết từ lúc nào trên võng, buổi sáng kế tiếp, một người khác vừa trút hơi thở cuối cùng. Ba người còn lại thay đổi ý định, rời rừng núi đi về hướng buôn làng. Họ kiệt sức nằm bất tỉnh trên đường mòn heo hút. May được một người Thượng đi rừng gặp, cứu sống và đưa họ về buôn, du kích buôn giao trả Trại tù. Họ may mắn không bị các tên trật tự, Cán bộ phụ trách nhà cùm thẳng tay trừng trị tra khảo như toán trước, bởi vì tình trạng suy kiệt sắp chết. Đặc biệt Nguyễn Bảy, Đại úy Phi công PĐ548, bị sưng gan nặng vì sốt rét kinh niên, bụng càng ngày càng phình trướng trong khi thân thể càng ngày càng teo tóp. Biết Nguyễn Bảy sắp chết, Trại thả khỏi nhà cùm để tránh tai tiếng. Không ngờ gặp hên, tôi bắt được một ổ cóc vàng gần 50 con khi dọn chuồng heo. Cóc vàng và số thuốc gia đình đem đến đã kịp thời cứu sông Nguyễn Bảy.

Vì những biến cố trốn Trại trầm trọng, Trại được lệnh tăng cường kiểm soát và thẳng tay trấn áp những thành phần ngoan cố và Đội 3 là đối tượng chính. Nhà tù Cộng Sản, nói chung, là nơi đày đọa con người tàn nhẫn nhất. Nhưng nói một cách công bằng, không phải nhà tù nào cũng tàn bạo và độc ác giống nhau. Chính sách nhà tù thay đổi theo từng địa phương, tùy theo tâm tính của từng tên Trại trưởng, và đặc biệt, tùy theo từng tên Cán bộ Quản giáo và Quản chế. Thay đổi một tên Trại trưởng là hình thức sinh hoạt của Trại đã có chiều hướng khác. Một tên Trại trưởng có chút lòng nhân từ, dễ dãi, chế độ ăn uống và làm việc của tù binh tương đối được nới rộng. Gặp tên Trại trưởng tàn ác, đầy hận thù, tù binh sẽ bị đặt trong tình trạng kinh hoàng đe dọa thường xuyên. Nhưng ngay chính trong cùng một Trại tù, mỗi Đội, mỗi Nhà, cũng có hình thái sinh hoạt không đồng đều. Nói cho cùng, số phận của tù binh chịu ảnh hưởng trực tiếp của tên Cán bộ Quản giáo của mình. Có những tên Quản giáo chịu chơi, làm lơ cho tù trong Đội mình được cải thiện dễ dãi, không gay gắt với công việc lao động hằng ngày. Nhưng trái lại, tên Quản giáo của Đội khác lại khắc nghiệt, dữ dằn, lúc nào cũng rình rập từng hành động của tù binh để kiểm điểm và trừng phạt. Ngoài ảnh hưởng của Quản giáo, tù binh còn buồn, vui từng ngày tùy theo từng tên Quản chế, đó là hai tên gác được biệt phái theo Đội và luân phiên thay đổi từ Đội nầy qua Đội khác. Gặp Quản giáo dễ, tên Quản chế dữ dằn cũng phải nương tay nhưng Quản giáo dữ lại gặp thêm Quản chế dữ, ngày lao động trở thành một ngày kinh hoàng khủng khiếp. Ngoài ra Nhà trưởng, Thư ký, Tổ trưởng, những người có nơi do tù chọn trong Đội của mình bầu ra, hay do Trại chỉ định, cũng ảnh hưởng đến số phận của người tù. Những tên Nhà trưởng, Tổ trưởng thiếu lương tâm, thường báo cáo để kiếm điểm với Trại, cũng trực tiếp tạo thêm khó khăn, đau khổ cho bạn tù của mình.

Đội 3 là đội đặc biệt, tập họp nhũng tay bất trị của các đội khác để dễ dàng kiểm soát.

Cậu Lăng, Trung úy Phi công, được chọn làm vật thí nghiệm đầu tiên. Với thân hình gân guốc, vạm vỡ (nhờ trước làm nhà bếp ăn uống đầy đủ và có thì giờ rảnh để tập thể dục), vừa được chuyển Đội, là một trong vài người hiếm hoi còn giữ được bắp thịt. Sau một hồi “tẩm quất” của sáu tên vệ binh với báng súng và đòn cây, cậu Lăng được dìu ra, lê bước khập khểnh nặng nhọc. Uống nước đái là món thần dược trị bệnh duy nhẩt để giải máu bầm của các trận tra khảo trong tù.

Rồi Nhánh, một thanh niên trẻ bạo miệng trong các lời phát ngôn chống đối, và cũng bạo tay trong mục cải thiện mưu sinh. Sau một trận đòn Nhánh nằm liệt giường mấy ngày, nói không ra tiếng. Rồi Cường, sĩ quan Biệt kích trẻ, với ý đồ tổ chức phản loạn trong Trại. Một trận đòn hội đồng đã làm con người vốn vui nhộn, hay đùa giỡn trở thành trầm lặng câm nín.

Và tiếp tục tới Điềm, và…

Cứ mỗi lần đánh xong một người, trên đường về bọn vệ binh lại vồ vập hỏi nhau:

—     Đánh đến đứa nào rồi? Tới phiên tên giặc lái Lý Tống chưa?

Bạn bè ai cũng lo lắng cho tôi. Tôi biết đã đến thời điểm chúng phải hạ bệ mình. Chúng đang chơi đòn thần kinh căng thẳng, sẽ đánh tôi để hạ nhục, để bắt tôi khuất phục, cương quyết hạ thành lũy cuối cùng. Tôi là cái gai gãy nằm trong da thịt chúng, khi da thịt còn lành lặn, chúng chưa dám mạnh tay nhổ ra, sợ đau da thịt, bây giờ vết thương mưng mủ, đã chín, chúng có thể nhịn đau, dùng tay nặn gai ra. Cá tính của mỗi người Cộng Sản đều có thể dị biệt, mỗi thành phần Cộng Sản đều có thể khác nhau tuy nhiên cái chánh sách chung chẳng bao giờ thay đổi. Đối với Cộng Sản, “thối lui một bước chỉ để chuẩn bị tiến tới hai bước, đình chiến là cơ hội tiến công mà tránh được giao tranh, và các hiệp định là hình thức hợp thức hóa những tình trạng, những hoạt động bất hợp pháp.”

Đám áo xanh quân đội còn ảnh hưởng chút tinh thần mã thượng của người chiến sĩ, đám áo vàng công an sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để đạt mục đích. Đã từ lâu chúng chưa dứt khoát, còn ngại vì tôi nổi tiếng, mọi người đều biết và yêu mến. Chúng định dùng tù ngục, gông cùm, tra tấn, đói khát và thời gian bỏ tù vô hạn định để làm tôi mòn mỏi, kiệt lực. Chúng muốn tôi đầu hàng, khuất phục, chỉ cần tôi quì một lân để phá vỡ huyền thoại, để hạ bệ thần tượng, để tiêu diệt niềm tin, niềm hãnh diện của tù binh. Thay vì ngang nhiên mạng đổi mạng để giữ danh dự, tôi quyết định vượt ngục như lời tôi đã tuyên bố khi tên Cán bộ Cộng Sản bảo tôi:

—     Anh đừng hy vọng được thả về, bởi vì anh được xếp vào hạng cực kỳ ngoan cố, cực kỳ phản động.

Tôi trả lời:

—     Các người có quyền bắt tôi, có quyền bỏ tù tôi. Nhưng ngày nào ra khỏi nhà tù là quyền của tôi.

Tôi chuẩn bị vượt ngục với một ý đồ táo bạo: Đột nhập phi trường địch đánh cướp máy bay, thả bom gây bạo động và nổi dậy. Tôi chấp nhận hy sinh, bởi vì nếu một con én không tạo được mùa xuân, thì ít nhất, cũng báo hiệu hay gợi được cảm giác mùa xuân.

Trường hợp may mắn không bị bắn rơi, tôi sẽ bay ra biển. Tôi đã nghiên cứu cờ của các nước Cộng Sản. Nếu tìm được tàu của các nước tự do, tôi sẽ nhảy dù, nếu phi cơ có sẵn dù. Nếu không có dù, tôi sẽ đưa phi cơ vào vị thế triệt nâng stall, tức tốc độ tối thiểu phi cơ có thể đạt được trước khi rơi, để nhảy ra không cần dù. Nhưng liệu cơ thể tôi có chịu đựng nổi lực va chạm khi tôi nhảy ở tốc độ 90 miles một giờ (đối với phi cơ A37), ở cao độ khoảng 100 feet? Tốt nhất là đáp bụng phi cơ xuống mặt biển, và tìm cách thoát ra phi cơ kịp thời, trước lúc bị lực xoáy hút của nước khi phi cơ chìm, nhận tôi chết ngộp, hoặc sức nóng của nước sôi bởi đầu máy của phi cơ đang ở nhiệt độ cao sau một thời gian bay. Còn phải tính toán hướng chạy của tàu, tốc độ, khoảng cách, để khi tôi vừa ngoi lên khỏi mặt nước, thủy thủ đoàn kịp thời đến nơi cứu mình.

Theo dự tính, tôi sẽ đột nhập phi trường lúc xẩm tối, bò lại gần chỗ phi cơ thử máy lần chót để chuẩn bị cất cánh. Không biết đám cỏ ở phi trường có đủ cao để tôi ẩn nấp mà không bị những tên ngồi trên đài kiểm soát (control tower) phát giác không, vì thông thường như thời trước, cỏ cạnh phi đạo thường xuyên được cắt ngắn. Nếu phi vụ chỉ có một phi cơ, tương đối dễ dàng đánh cướp, nếu hai hoặc ba phi cơ cùng đội, tôi sẽ tấn công cách nào?

Chắc chắn cần có vũ khí để làm áp lực đe dọa Phi công địch. Trong thời gian nằm nhà tính toán, đứa cháu trai một hôm đi bắt cá bất ngờ vớt được một khẩu súng Colt 45. Khẩu súng nằm dưới nước khá lâu nên bị sét và chó lửa bị hư, khi bóp cò, lò xo yếu không đủ sức đập cho ngòi nổ của đạn phát nổ mà chỉ tạo nên một vết lõm nhẹ trên đít đạn mà thôi. Tôi ráng chùi rửa, sửa chữa nhưng vẫn không kết quả. Mang một khẩu súng thật, cồng kềnh nặng nề mà không bắn được, cũng chỉ phiền phức. Có lẽ tôi sẽ mua một khẩu súng nhựa của trẻ con chơi, lựa khẩu nào thật nhỏ, nhẹ, và có hình thức giống súng thật. Trong lúc bất ngờ và nguy hiểm, có lẽ Phi công địch không đủ bình tĩnh để nhận ra, tôi sẽ uy hiếp địch để cướp máy bay, cất cánh và dội bom nếu có sẵn sàng bom đạn. Nếu ý định nầy không thể thực hiện được vì hoàn cảnh, tôi sẽ bò vào bãi đậu phi cơ lúc nửa đêm, chọn phi cơ rồi mở máy vào lúc kiểng đánh thức, lợi dụng tiếng kiểng ồn ào che lấp tiếng động cơ nổ và vừa đủ sáng để bay ngoại quan (VFR, Visual Flight Rule).

… Và việc cần thiết nhất là gặp Đại úy Nguyễn Bảy, Trưởng phòng Huấn luyện ôn tập lại các động tác mở máy, chỉ số kính ngắm của từng loại bom theo cao độ, góc độ, tốc độ. Nguyễn Bảy nghe hỏi sinh nghi bèn càm ràm:

— Trời ơi! Ông lại định làm chuyện động trời gì nữa đây?

Nhà tù A30 gồm có hai Trại chính: Trại A và Trại B, cách nhau hơn một cây số, ngoài ra còn có những bộ phận làm việc và ở ngoài hàng rào của Trại như bộ phận mộc, bộ phận xe be, bộ phận đan, nhà tù nữ và các nhà chòi canh gác các khu sản xuất.

Trại B qui mô hơn, tường bằng bê tông và cửa sổ song sắt, Trại A tường xây bằng đất sét, bên trong lót mầm trĩ kiên cố và cửa sổ gỗ. Cả hai đều lợp ngói, chung quanh Trại tù A được rào hai lớp kẽm gai, và ở giữa trồng xương rồng để tăng cường cho kẽm gai.

Khu A được bố trí theo hình vẽ trang bên.

Riêng kếhoạch vượt ngục, Quí đã chỉ giúp đường đi nước bước ở Tuy Hòa và bồi dưỡng cho tôi ăn uống trong các ngày cuối để lấy sức dự trữ. Quí đòi đi theo nhưng tôi từ chốỉ vi Quí thiếu kinh nghiệm trong các mission impossible. Nhà vách bằng đất nhưng mầm trĩ rất kiên cố, chắc chắn, cửa sổ bằng thanh gỗ lớn, dày, chỉ có thể dùng cưa để cắt nhưng không có cưa, hoặc không thể cưa vì sẽ bị lộ tẩy. Tôi dùng đinh lớn, lợi dụng những lúc ồn ào nhất, đóng theo kẽ nứt của các đinh nẹp, để ban đêm nạy và rút ra.

Tôi chuẩn bị kế hoạch chi tiết tỉ mỉ. Từ thời điểm: ngày chủ nhật nghỉ, điểm danh muộn, đến các sinh hoạt nhỏ hàng ngày: đổi phiên trực cơm và đặc biệt tập thói quen mỗi chủ nhật đều cho Lê Ngoạn phần cơm với lý do đi ăn cơm khách (nhưng nhiều lúc phải nhịn đói) để bạn tù không lưu ý sự vắng mặt của mình vào ngày chủ nhật. 

Đúng giờ N+1 tôi không rút thanh gỗ ra được vì một trục trặc kỹ thuật nhỏ. “Quí bầm” giả vờ mớ để thúc dục tôi “nhanh lên, nhanh lên” (Quí nằm xa tôi và có tật hay mớ). Cái trục trặc kỹ thuật đó là một miếng dăm gỗ do đinh bị đóng lệch nên thay vì tét rộng kẻ nức để rút ra lại ép nhỏ kẻ nức, kẹp thanh gỗ cửa sổ cứng ngắt. Hơn nữa lại bất ngờ trùng ngày có số tù binh sắp được phóng thích ngủ riêng bên ngoài. Buổi tối họ mang đèn đóm đi lại nhộn nhịp ở khu nhà cầu gần hàng rào tôi định chui qua.

Tôi đành hoãn lại kế hoạch. Bất ngờ có lệnh đổi chỗ nằm. Đổi chỗ nằm tù nhân thường xuyên là một biện pháp an ninh của nhà tù Cộng Sản. Chỗ nằm mới không có cửa sổ, tôi đành phải phá cửa sổ phòng để dụng cụ nấu ăn cùng gian với phòng vệ sinh. Tôi ít khi bị bệnh nghỉ việc, nên khi giả bệnh yêu cầu ở nhà làm việc nhẹ vài hôm, Nhà trưởng nể nang phải chấp thuận. Tù binh trực Nhà hết chùi nhà cầu, lại rửa son nồi gần kề cửa sổ. Đợi khi anh ta đi gánh nước, tôi đi vòng ra sau hè, nghiên cứu từng thanh gỗ. Cửa sổ phòng cầu đặc biệt được đóng hai đinh nẹp (B) thay vì một đinh như phòng ngủ (A). Chỉ có duy nhất thanh gỗ (C), phần dưới đóng một đinh, tôi phải đóng đinh lớn vào ba điểm 1,2,3 theo kẽ nứt sẵn để nới rộng khe hở. Sau đó chờ đêm, sẽ dùng đinh nạy khe 3 rộng ra kéo thanh gỗ xuống theo hướng mũi tên để lấy ra rồi thay thanh gỗ giả thế vào. Tên trật tự đi đại tiện nhà cầu bên ngoài vừa xong đứng dậy, cũng may y không lưu ý theo dõi.

—     Làm gì thế Lý Tống? Y hỏi lấy lệ.

—     Đóng đinh treo áo mưa. Tôi cười xuề xòa.

Tôi chuẩn bị một thanh gỗ giả y hệt cắt ngắn bớt lấy từ một ngôi nhà vừa bị phá bỏ. Điều trở ngại nhất là nhu cầu bài tiết của 150 người trong phòng. Phòng chứa đồ và phòng nhà cầu có chung một cửa ra vào, người ra người vào tấp nập. Công việc cứ bị gián đoạn từng chập. Có lần người đi tiểu vừa ra xong, tôi vội vã bắt tay tiếp tục, một lát sau lại có một người nữa từ trong nhà cầu lù lù đi ra làm tôi hết hồn tưởng đã bị lộ. Thì ra khi đi vào, người đi cầu đi nhờ ánh sáng hộp quẹt của một người đi tiểu, bởi vì phòng ban đêm rất tối, mỗi người thường di chuyên nhờ một hộp quẹt riêng bật sáng trên tay. Cái thanh gỗ, nếu dùng một cái đòn bẫy bẻ thật mạnh cũng có thể gãy, lại phải tốn đến ba đêm mất ngủ, cẩn thận xeo, nạy, kéo từng chút mới rút ra được. Bởi chỉ cần một tiếng động mạnh, hoặc một tù binh khác trông thấy được, chưa kể toán tuần tiễu bên ngoài phát hiện, kế hoạch sẽ bị bại lộ và phòng kỷ luật sẽ mở cửa chờ tôi.

Vượt nguc nhà tù Cộng Sản khó hơn vượt ngục nhà tù các nước tự do. Ở nhà tù tự do, trong mỗi người bạn tù còn tàng ẩn một kẻ đồng lõa, một bạn đồng minh, họ cùng liên kết, góp tay để cùng nhau vượt ngục. Tại các nhà tù Cộng Sản, trong mỗi người bạn tù còn rình rập một kẻ thù, một tên phản bội, một tên chỉ điểm, nên người tù cùng phòng còn đáng ngại hơn cả nhũng tên gác. Họ có thể báo cáo, tố giác để lấy lòng tin, để tìm một ân sủng.

“Nhà tù Cộng Sản là cái máy sàn lọc tinh vi nhất. Những thứ cặn bã, hư hỏng, mục nát lần lượt tranh nhau luồn lọt rơi xuống đáy sâu nhục nhã đê tiện. Chỉ còn lại những viên kim cương quí, rắn rỏi, lóng lánh sáng ngời trên bề mặt.”

Khuya ngày 11 rạng sáng 12 tháng 7 năm 1980, chờ lúc tù binh ngủ say, tôi cởi áo quần, gỡ thanh cửa sổ giả chun ra ngoài, bình tĩnh ngồi lại gắn vào như cũ, rồi bò chậm rãi về phía hàng rào kẽm gai. Với cái kềm nhỏ xíu, tôi bẻ kẽm gai chui lọt vào giữa hai hàng rào kẽm. Đang sửa sang hàng rào lại như cũ, bỗng ánh đèn pin lóe sáng. Một tên tuần tiễu bỗng xuất hiện. Tôi lập tức nằm đè người trên bụi xương rồng thấp lẩn tránh ánh đèn quét qua lại trên đầu, trên thân mình.

Gai xương rồng nhọn đâm xuyên suốt lớp da thịt trần truồng đau buốt. Y cẩn thận kiểm soát dãy nhà cầu, các góc tối, kín chung quanh rồi bỏ đi. Tôi bẻ loạt hàng rào kẽm gai thứ nhì, kẽm gai cũ, sét, nhưng cây kìm quá nhỏ làm tay tôi ê ẩm. Sau khi chun được ra ngoài, tôi ngồi nán nối gài lại kẽm gai gãy như cũ, tránh không để lại một dấu vết lạ. Nếu biết hướng tôi trốn, họ sẽ chận bắt dễ dàng. Trời ban đêm dày đặc sương mù, những trạm gác cao thường ngày nổi bật giữa trời, nay chìm khuất trong làn sữa trắng đục. Tôi tiếp tục ở truồng bơi qua suối. Vừa leo lên bờ lại gặp một ánh đèn pin khác. Tôi men theo bờ suối và băng ngang qua ngã ba suốỉ lớn, cây gãy mục, bùn cỏ… làm vướng víu bước chân. Nước suối ban đêm lạnh tê buốt thân thể.

Bỗng có ánh đèn bão lập lòe của một tên bộ đội khác đang đi soi cá. Tôi quành phía phải, băng qua nhiều cánh đồng mía, sắn, bạt ngàn. Đỉnh núi làm chuẩn mờ nhạt từ xa, đến gần đã biến thể. Trời không trăng sao. Tôi nhìn dãy sông Ngân Hà lờ mờ để định hướng, nhiều đoạn đường phải đi vòng tránh trạm gác, có lúc phải bò qua dưới chân các chòi canh. Trời mù tối chỉ thấy ánh đèn mà không thấy được người cầm đèn đi kiểm soát. Quá nửa đêm, chó của toán du kích đánh hơi được tôi buộc tôi phải chạy thoát thân. Đường tối, nhiều bờ bụi, tôi té chui té nhủi, phần túi xách đựng đồ vướng víu nhiều lúc muốn vuột khỏi vai. May là chó và toán du lcích lười biếng chỉ rượt theo một đoạn.

Tờ mờ sáng, tôi băng qua khỏi dãy núi với địa hình rối rắm mà có lúc lạc lối, không còn điểm chuẩn nào để dẫn đường ngoài lời cầu nguyện và niềm tin ở Thượng Đế. Tôi ra tỉnh lộ sau khi kiểm soát áo quần, mặt mũi tươm tất, hòa lẫn vào đám dân quê dậy sớm ra đồng. Vừa leo lên xe Lam chở khách trờ tới, tôi chợt thấy chiếc xe Honda chở nữ Cán bộ phụ trách quân bưu chạy tới. Nếu tôi ra đường sớm hoặc xe trễ vài phút, chắc họ nhận diện được cái bản mặt quá quen thuộc của tôi. Ngã ba Phú Lâm với trạm kiểm soát lớn nghiêm ngặt chỉ là điều bịa đặt. Ngày chủ nhật, công an Việt Cộng tại Tuy Hòa nghỉ việc, không có một bóng áo vàng lai vãng ở các ngã tư. Tôi đi vào phố chính, kẻ tôi ngại nhất không phải là công an, mà chính là những tù binh của Trại A30, hoặc đã được thả về, hoặc đang đi phép. Tên Cán bộ Thu đã không thưòng lập đi lập lại: “Tuy Hòa là cái nôi của cách mạng” đó sao? Với sự khích động về địa phương tính, cùng sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền sở tại, Việt Cộng đã qui tụ được một số tù nhân tận tụy phục vụ cho họ, dù đó chỉ là hành động “nín thở qua sông.” Tôi ghé vào một nhà quen biết, người bạn vừa mừng vừa sợ, giúp tôi một số quần áo, tiền bạc và dặn dò:

— Lỡ có ai hỏi thì cứ bảo đi phép.

Tôi có tạm đủ tiền nhờ bán cuốn tự điển, bán mấy hộ áo quần tù sọc đỏ rất hiếm chỉ được phát trong thời gian mấy năm đầu và giờ đây một số người vượt biên lại muốn mua vì họ cho rằng, bộ đồ đặc biệt nầy có thể giúp họ mạo nhận tù binh khi đến được các Trại Tị nạn. Xe cộ khan hiếm, tôi phải đổi từng chặn xe Lam, cuối cùng một xe đò chịu dừng lại đón.

Tôi lưu ý những dấu hiệu chớp đèn của các xe chạy ngược chiều. Lơ xe đò cho tôi biết “Trạm Đại Lãnh đang bị kiểm soát.” Chạy xe cho nhà nước lương bổng ít nên một số tài xế phải chở thêm khách lậu ngoài tiêu chuẩn, họ phải cho khách xuống trước trạm và đón khách đi tiếp bên kia trạm.

—     Tôi quên đem theo giấy, chắc phải xuống.

Tôi nói nhỏ với lơ xe. Anh ta nhìn tôi, rồi kề sát tai bảo:

—     Anh trốn Trại A30 ra phải không?

Tôi ngớ người trước câu hỏi bạo bất ngờ.

—     Anh rất bình tĩnh, rất khéo léo. Nhưng những người ở tù lâu ngày vẫn có cái dáng dấp đặc biệt, tôi biết.

Anh ta rỉ tai nói tiếp:

—     Tôi đã từng chở giúp tù trốn Trại một vài lần trước đây. Anh đừng ngại.

Ôi! Những người Đồng bào của tôi ơi, các anh, các chị vẫn biết tội đồng lõa, giúp đỡ tù vượt ngục là một trọng tội, thế mà vẫn liều lĩnh dù chẳng nhận được một chút lợi lộc nào. Các anh chị đã mang lại niềm hy vọng cho tôi, Đồng bào vẫn thương chúng tôi, vẫn còn kỳ vọng ở chúng tôi, những chiến sĩ sa cơ thất thế trong bàn tay Cộng Sản. Vậy chúng tôi vẫn còn có trọng trách đánh đuổi kẻ thù vì hạnh phúc và tự do của đồng bào.

Ó đen

Lý Tống

Post by Sơn râu 17 Apr 2025

Lời Tựa

Tôi viết cuốn truyện nầy với mục đích đầu tiên là để trả món nợ tinh thần đối với các bạn bè, những kẻ thường yêu cầu tôi kể đi kể lại về những giai thoại đời sống của mình, mà họ, hoặc là chứng nhân của một giai đoạn nào đó và muốn biết thêm về những giai đoạn khác, hoặc họ đã được nghe lời đồn, nhưng muốn được chính tôi xác nhận hoặc kể chi tiết hơn… mà tôi thường kiếm cớ hẹn lần lữa bởi vì tôi sẽ chán tôi nếu cứ tiếp tục làm vui lòng họ. Vâng. Không gì chán bằng cứ kể về mình và kể đi kể lại hàng trăm lần cho hàng trăm kẻ khác nhau nghe.

Mục đích kế là gợi lên một ý niệm mới cho những bạn bè gặp hoàn cảnh khó khăn đang tìm cách vượt thoát khỏi Việt Nam tìm tự do bằng chính kinh nghiệm của bản thân tôi.

Ngoài ra, tôi muốn ghi lại những kỷ niệm không thể nào quên được của quãng thời gian quan trọng đã ảnh hưởng sâu đậm đến cuộc sống, đến nhân sinh quan mình về một chế độ mà những đặc tính được nhìn ngắm dưới nhiều góc cạnh khác nhau tùy hoàn cảnh và vị trí của mỗi người. Và đặc biệt, về cuộc vượt biên đường bộ đã được một số báo chí trên thế giới đánh giá là độc nhất vô nhị trong lịch sử vượt biển tìm tự do của người tị nạn Việt Nam.

Những giai thoại, những nhân vật, những tên tuổi trong truyện đều hoàn toàn có thật, họ hiện sống tại Mỹ, Pháp, Úc, Gia Nã Đại v.v… hoặc đang bị đọa đày tại các vùng kinh tế mới hoặc bị giam cầm trong trong các nhà tù của Cộng Sản Việt Nam.

Tôi viết về tôi — cái tôi đáng ghét và đáng yêu — với những tâm trạng, xúc cảm chân thành nhất, một người đầy tật xấu nhưng biết hướng thượng, cố gắng tự đấu tranh để trau dồi tâm hồn và nghị lực, để sống đời sống do mình lựa chọn và đạt những mục đích tự mình đặt ra.

Vì không muốn bịa đặt thêm, nên câu chuyện có thể không hấp dẫn bằng những câu chuyện hoang đường, tưởng tượng. Vì không muốn tự đánh bóng mình để trở thành một nhân vật mẫu mực, nên tôi vẫn kể lại cả những khuyết điểm, nhứng điều tầm thường, trần tục đã xảy ra trong một quãng đời sống đầy biến cố và sóng gió đã qua.

Mỗi người có một cách sống và một cách suy nghĩ. Nhưng nếu cuộc sống của tôi có gợi nên những tình cảm yêu mến, những giây phút thú vị cho bạn bè, cho độc giả, thì đó là một tri ân lớn mà tôi cần phải bày tỏ, là một phần thưởng mà tôi sẽ mãi mãi trân trọng.

New Orleans, ngày 20 tháng 7 năm 1989

Lý Tống

Lý Tống là thần tượng của tuổi trẻ Nha Trang.

Đại úy Ngọc, Sĩ quan Chiến tranh Chính trị Sư Đoàn II, Không Quân.

►     Nếu Bốn Vùng Chiến Thuật có bốn Lý Tống, Việt Cộng sẽ không ngóc đầu lên nổi.

Đại úy Nguyễn Bảy, Trưởng Phòng Huấn Luyện

Phi Đoàn 548.

►     Lý Tống là bậc thầy của Papillon.

Julian, Trưởng Phòng Phản Gián Singapore.

►     Anh là người đàn ông hướng dẫn được định mệnh đời mình.

Hạnh, người tình sinh viên Văn Khoa Sàigòn.

►     Your courage is an example and inspiration to all who would know the price of Freedom.

Tổng Thống Ronald Reagan.

►     He’ll probably be the mayor of Santa Ana inside ten years.

Dan Sullivan, U.S. Refugee Coordinator for Indonesia and Singapore.

►     Like Eisenhower, a fighter for Freedom, a hero from another

war.

Tiến sĩ Stephen E. Ambrose, Sử gia Hoa Kỳ.

►     Ly Tong is in a class by himself.

Barry Wain, Nhật báo The Wall Street Journal.

►     His flight has become one of the great escape sagas of our time.

Anthony Paul, Nguyệt san Reader’s Digest.

Chương 1

Vượt Ngục Tại Việt Nam-Phi Vụ Cuối Cùng 

Ngày 5 tháng 4 năm 1975, đang ngủ say trong phòng trực chiến, chúng tôi giật mình thức giấc vì những trái đạn pháo kích đầu tiên trong ngày của Việt Cộng. Có tiếng càu nhàu chửi thề vì bị phá rầy giấc ngủ ngon, có kẻ kéo lại chiếc mền xô lệch, trùm bó người như một đòn chả, tiếp tục ru cơn ngủ nướng. Pháo kích chỉ là chuyện thường tình đối với giới lính tráng. Một lịch sử bốn ngàn năm chiến tranh, từ đánh Tàu, Tây, Nhật rồi Cộng Sản, đã sinh ra trong máu người dân Việt một loại kháng tố. Bỗng tiếng chuông điện thoại reo inh ỏi. Như bị dí một điếu xì gà đang cháy đỏ vào chân, tôi nhảy chồm về phía điện thoại. Chỉ có tiếng gọi của nhiệm vụ mới đủ sức trấn áp cơn buồn ngủ và cơn giá lạnh ray rức da thịt buổi sáng.

—     Allo. Lý Tống tôi nghe.

—     Chào Hitler (có người lại gọi tôi là Charlot vì bộ râu của tôi). Rất tiếc đã quấy rầy bạn quá sớm, bạn cho một phi tuần cất cánh ngay. Chi tiết nhận sau trên tần số Phong Giao.

—     OK. Rõ.

Tôi đánh thức Võ Nguyên Bá, người được mệnh danh “sát quân.” Các bạn đều sợ bay chung với Bá và họ có lý do chính đáng. Sau Phi vụ trở về một mình, để lại xác người “wing man” trên trận địa, Bá đã dẫn hai wing men khác bay close formation đâm đầu vào núi chết không còn tìm thấy chút thịt da. Bá thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, bay trở về Biên Hòa, phi cơ hết xăng, rớt ngoài đầu phi đạo trong một buổi chiều giông gió cuồng loạn. Phi đoàn chuyển Bá qua Phi đội bay Test, vì mọi người đều từ chối bay chung với Bá. Trận chiến càng ngày càng ác liệt, sự thiếu hụt phi công trở nên trầm trọng. Tôi tình nguyện dẫn Bá đi, tôi tự tin và tôi muốn giúp Bá vượt qua cơn khủng hoảng tinh thần.

Chúng tôi chạy vội ra phi cơ, giầy chưa kịp cột giây, áo bay còn banh ngực. Tôi quơ vội tay trên mặt cockpit lấy ít sương sớm rửa mặt cho tỉnh táo. Không còn bị ràng buộc bởi qui tắc an phi trong giờ phút khẩn cấp, phi cơ phóng nhanh trên taxi way, vừa quẹo vào runway, phi cơ gần đạt tốc độ cất cánh. Tôi nhận đủ các chi tiết khi vừa nghiêng cánh chào phi trường, phi cơ quan sát chưa cất cánh kịp. Vị trí đặt súng pháo kích im tiếng đã lâu. Công tác chuyển sang đánh sập ba chiếc cầu có tên Ba Ngòi ở Cam Ranh để chận đường tiến quân của Việt Cộng. Nha Trang thất thủ hai ngày trước và Việt Cộng chuẩn bị đánh Phan Rang. Thật lạ lùng, ngay chính những nhà khí tượng chuyên nghiệp cũng ngạc nhiên vì sự chuyển biến thời tiết quá đột ngột. Mây mù giăng khắp bầu trời làm trở ngại hoạt động Không Quân, những người duy linh nghĩ rằng Trời buồn và khóc cho số phận Nhân dân miền Nam.

Riêng tôi, tôi khẳng định, Việt Cộng đang sử dụng vũ khí hóa học để làm mây nhân tạo, thay đổi thời tiết. Chúng tôi bay trên những tầng mây trùng điệp chờ phi cơ L.19. Tôi bực mình nghe câu báo cáo đầu tiên:

—     Phòng không kinh khủng quá.

Tôi buột miệng chửi thề không cưỡng được:

—     Đù mẹ, các chú lạnh cẳng sớm thế.

Tôi ra lệnh cho Bá bay cover tại chỗ, rồi trượt cánh xuyên mây xuống thẳng vị trí báo cáo có nhiều phòng không. “Bay trên ngọn cỏ, dưới ngọn cây” là sở trường của tôi. Tôi làm hai low passes trên phi đạo Cam Ranh, nơi được chiếc L19 ghi nhận hiểm nghèo nhất.

— Đâu? Phòng không đâu? Bạn thấy tôi không? Ráng bình tĩnh chút xíu chứ!

Và để trừng phạt, tôi tống hết ga, bất thình lình chui từ dưới bụng chiếc L19 phóng vụt qua mặt, để hai ông phản lực với một luồng turbulance dữ dội cách windshield chừng vài thước. Trò đùa giỡn này tuyệt đối cấm vì có thể làm phi cơ bạn bị stall, một tai nạn nguy hiểm. Tôi bắt đầu trở về mục tiêu, chuẩn bị đánh bom, ra lệnh cho Bá tiếp tục ở chờ trên mây vì nếu bắt Bá xuống dưới trần mây 1,500 feet đánh bom là một điều đau khổ nhất cho Bá. Những hình ảnh chết chóc thê thảm đã đóng một dấu ấn quá sâu đậm vào đầu óc Bá, trong cặp mắt Bá, nỗi kinh hoàng vẫn còn phảng phất chưa nguôi. Sau khi đánh xong, tôi sẽ cho Bá xuống làm một pass, thế là ổn.

Đồng bào di tản chạy quá đông trên đường, trên cầu, tôi không thể vô trách nhiệm đánh bừa để gây thiệt hại cho dân chúng. Tôi làm low pass đầu tiên 50 feet để báo hiệu, tiếp tục đến low pass thứ ba mọi người mới hoàn toàn tránh xa khỏi mục tiêu. Một số phòng không 12 ly 7, 23 ly, 37 ly bắn rải rác đầy đó, tôi chẳng quan tâm vì tôi biết rõ khả năng và tinh thần của pháo thủ cao xạ Việt Cộng: Những xích sắt khóa chân không thể nâng cao được tài nghệ và sự can đảm.

Tôi lấy cao độ để biểu diễn một pha ngoạn mục đầu tiên. Thật hoàn toàn bất ngờ, tiếng nổ tàn bạo dữ dội của một trái hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 đã cắt đứt đôi phi cơ tại ống thoát phản lực. Phần thân và đuôi tan nát rơi lả tả như những chiếc lá vàng, Cockpit quay cuồng lồng lộn, những đụn khói và tiếng réo sôi giận dữ của lửa, một lực G quá lớn dán chặt thân thể tôi vào ghế ngồi. Tôi dồn hết tàn lực di chuyển bàn tay phải về chiếc cò bấm nhảy dù hình chữ D đặt dưới cạnh bàn chân. Như một lực sĩ vất vả cố ép một lò xo quá cứng ngoài khả năng mình, tôi chuyển động bàn tay. Sức nóng của trận bão lửa đã kích thích hỏa pháo trong hệ thống ghế nhảy dù tự động, đã phóng tôi ra ngoài. Chưa kịp cảm giác được lực 12 G phóng ghế lái, và sức xô bật ra khỏi ghế, bỗng nhiên tôi thấy mình lơ lửng, đong đưa giữa trời, trong tiếng gào rú của trận cuồng phong.

Đàng xa, mặt biển thấp thoáng bạt ngàn. Chưa kịp điều chỉnh thân người sau bốn, năm lượt đưa võng, tôi đáp nguyên cả cạnh sườn phải xuống bờ nấm mộ rất lớn có tên Mã Tướng vì nhảy dù ở cao độ quá thấp. Vội vã luồn tay chân ra khỏi các sợi dây an toàn thay vì mở khóa, tôi bắt đầu chạy về hướng an toàn rậm rạp. Trên đường chạy, bỗng nhiên tôi liên tưởng đến Alain Delon, đến Charles Bronson, tôi mường tượng thấy họ đang chạy trốn trong các đoạn phim săn đuổi hồi hộp. Tôi cảm thấy mình chạy khác kỹ thuật đóng phim của họ, tôi có cần phải khom mình về phía trước, trán nhăn xếp, hằn vết suy tư, mắt đảo ngược xuôi để quan sát tình hình? Tôi chợt mỉm cười vì sự so sánh liên tưởng, và vì ý nghĩ khôi hài của mình. Tôi vẫn giữ cái dáng chạy lòng khòng của mình, đóng một phim sống về cuộc trốn chạy theo kiểu riêng của mình, hoàn toàn thoải mái và hào hứng. Tôi chui vào đám rừng mía dầy đặc, nằm xuống, lười biếng nhàn nhã cắn từng khúc mía ngọt ngào. Take it easy, man! Tôi lẩm bẩm một mình, tôi nghỉ dưỡng sức và nghe ngóng tình hình. Bỗng có tiếng gọi nhỏ, vừa khẩn trương, vừa thân thiết:

—     Anh Phi công ơi! Anh mới đây đâu rồi?

Tôi len lén và nhẹ nhàng bò sâu vào phía trong, rủa thầm:

—     Bố mày! Bao nhiêu năm xông pha lửa đạn, ông kinh nghiệm đầy mình. Ông đâu phải là con nít mà mày dụ kiểu đó!

Tôi cứ ngờ là Việt Cộng giả dạng. Tiếng người gọi xa dần và mất hút. Bỗng một chiếc trực thăng từ Phan Rang xuất hiện, bay về hướng tôi và đảo nhiều vòng quan sát. Đến giờ phút này, tôi mới thấm nỗi đau của những kẻ hời hợt với sự an toàn của bản thân mình. Biết bao nhiêu lần tôi bị Thiếu Tá Nguyễn Tiến Xương, Trưởng phòng An Phi, cằn nhằn vì không chịu mang áo lưới. Tôi còn coi thường không thèm lãnh cả súng P38 khi đổi về Phan Rang và tự biện hộ:

—    Ông thề sẽ chẳng bao giờ nhảy dù. Nếu chúng mày bắn đứt cánh, ông sẽ biểu diễn bay bằng một cánh trở về phi trường đáp đẹp!

Tôi ỷ vào cái thiên tài bay bổng của mình. Và giờ nầy! Ước gì chỉ cần có một trái khói, không cần flare, kính hiệu hay radio, tôi đã thừa phương tiện để đánh dấu vị trí của mình. Người bạn trực thăng thật tận tụy nhưng cuối cùng đành quay trở về vì không tìm thấy dâu vết tôi, hơn nữa, phòng không địch đang quăng những mẻ lưới lửa lớn vây bắt con chim lạc loài. Tôi đưa tay lên trời, vẫy chào buồn bã:

—    Thôi từ giã. Bạn yêu dấu!

Xuyên qua những cụm khói tử thần, tôi lẳng lặng nhìn theo cánh chim bạn đến khi mất hút ở phương trời Phan Rang thân thương. Niềm hy vọng cuối cùng đã tan vỡ, tôi biết rằng, từ giờ phút nầy, tôi chỉ còn một mình với những hiểm nguy chồng chất. Tôi lom khom đứng dậy quan sát địa thế. Tôi đang ở giữa lưng chừng đồi thoai thoải và dưới kia là Quốc lộ nhộn nhịp đông người tranh nhau chạy loạn. Tôi nhớ đến bài học thoát hiểm đầu tiên: “Quốc lộ là hướng an toàn nhất cho những phi công bị nạn.”

Tôi vạch kế hoạch đi len lỏi giữa các bụi mía để đến gần đường rầy xe lửa, băng qua một quãng đồng trống trải và tiến về một chòi nhỏ đầu tiên nằm lẻ loi tách biệt khỏi khu xóm nhà lúc nhúc. Lại có thêm một điều để tiếc nuối. Ôi cuộc đời cứ thế mà tiếp tục để mỗi ngày ta lại khám phá ra một điều mới để tiếc nuối! Ước gì tôi có một cái quần sọt và một cái áo thun. Tôi thuộc loại người đơn giản hóa, trong chiếc áo bay đầy phù hiệu lộng lẫy hoa hòe mà chắc chắn những thiếu nữ mộng mơ đã dệt bao nhiêu huyền thoại, bao mối cảm tình thầm lặng đắm say, vâng! ở trong đó, dưới chiếc áo bay lập dị đó, tôi chỉ dành một ân sũng duy nhất cho chiếc mini xì líp được phép đèo bồng và sáng nay, lúc vội vã, tôi còn bỏ quên người bạn bé nhỏ đó! Không thể tồng ngồng đi giữa thanh thiên bạch nhật, tôi đành phải mặc bộ đồ bay đặc biệt và trở thành mục tiêu lồ lộ cho những cặp mắt rình rập theo đuổi. Người đầu tiên khám phá ra tôi, làm phiền tôi, không phải là Việt Cộng mà là các em nhỏ, bắt đầu một đứa, hai đứa, và sau đó, cả đám hội con nít chạy theo tôi reo hò: “Hoan hô anhPhi công!”

Chẳng thể nào ngăn cản được sự nồng nhiệt của các em, tôi chịu đựng sự ngưỡng mộ trong niềm hạnh phúc khốn khổ! Tôi đã lách được vào cái chòi dự trù, chớp được chiếc áo mưa tròng vào để giả dạng nhưng quá trễ! Một họng súng đã chĩa vào lưng và một tiếng quát lớn:

—     Đưa tay lên!

Nguời bắt tôi là một anh du kích già, tuy vẫn còn gân guốc, nếu là bây giờ chắc tôi đã vặn cổ anh ta trong chớp mắt. Tôi quay lại và bị đánh một báng súng vào cằm. Chưa từng có Phi công nào sống sót sau khi lãnh nguyên một trái hỏa tiễn SA7, thế mà tôi xuống đất an toàn không rụng một sợi lông, giờ đây, lại chính anh già du kích làm tôi rơm rớm máu. Có tiếng phản đối của dân chúng khi họ bắt đầu tụ tập lại khá đông:

—     Làm gì đánh người ta!

Lại có tiếng thì thầm:

—     Hồi nãy em đi kiếm anh, kêu anh quá trời anh nghe thấy không? Vừa thấy anh, chạy tới, là anh biến mất. Nếu gặp, giờ nầy em đã đưa anh đi trốn tới đâu rồi!

Tôi lẳng lặng nghe và lẳng lặng đau đớn. Lần đầu tiên trong đời mình, tôi không tin người và nhận một hậu quả trầm trọng. Tôi đã phải trả một giá đắt cho một kinh nghiệm sống bằng sáu năm tù tội. Trong tù, tôi bắt đầu làm quen với ngôn ngữ Cộng Sản, cách sử dụng từ ngữ, cách biểu lộ ý nghĩ. Ôi! Làm sao Việt Cộng lại có được tiếng kêu tha thiết, ngọt ngào kia dù là một diễn viên thượng thặng trên sân khấu!

Tôi bị dẫn ra đường quốc lộ, vẫn một mình anh du kích già lẽo đẽo theo sau. Tôi bỗng phóng chạy khi thấy một chiếc xe lam chở đồ đạc tiến gần nhưng chụp hụt thành xe vì quá trễ. Một chiếc Honda dame vừa tới nhưng tiếc thay lốp xe sau bị xẹp! Tay du kích già bắt kịp, hăm dọa:

— Nếu chạy nữa, tôi sẽ bắn.

Cũng vừa lúc chiếc xe Dodge ngụy trang có nhiệm vụ lùng kiếm tôi vừa tới. Họ bàn giao và tôi bị trói dẫn lên xe. Bầu trời bỗng náo động vì nhiều phi cơ A37 xuất hiện. Các chiến hữu đang đi trả thù cho tôi, kẻ được báo cáo và tin tưởng đã chết. Những trái bom bắt đầu rơi vung vãi khắp nơi. Tôi ngạc nhiên thấy phi cơ tấn công cả những chiếc tàu thả neo ngoài biển xa và gần nhất, bom đang rớt trên đầu tôi. Bộ đội trên xe vội nhảy xuống núp vào hố cá nhân cạnh những gốc dừa. Tôi đứng “tương tư” giữa trời, nhìn những cánh chim thân yêu. Một Phi công được chết dưới những trái bom bè bạn mình chắc thú vị hơn chết trong tay kẻ thù. Tiếng mảnh bom xé ngang tai, vài đọt dừa trước mặt bị tiện đứt, đổ xuống. Một tên Việt Cộng chạy ra, chộp tay kéo tôi vào nơi trú ẩn. Tôi đi lừng khừng ngắm nhìn trận địa pháo nhả đạn và biết vì sao sáng nay tôi không khám phá ra họ. Điều rõ ràng là họ đang thiếu đạn kinh khủng. Cuộc tiến công quá dễ dàng, quá nhanh đã làm cho bộ phận tiếp tế không đáp ứng kịp. Tôi quan sát cách họ bắn máy bay để thấy rằng “bắt chim trời cá biển” không phải là chuyện dễ. Chỉ có hỏa tiễn tầm nhiệt là đáng ngại vì nó quá hiện đại còn khả năng con người, nhất là con người Cộng Sản, thì hạn hẹp quá. Cuối cùng là tỉ số 0-0. Huề. Những trái bom chỉ phạt đứt một số cây dừa, những quả đạn phòng không chỉ góp thêm một tí bụi ô nhiễm vào không khí.

Cuộc tranh cãi bắt đầu gay gắt, các loại pháo phòng không đang tranh công với nhau, anh 12 ly 7 khẳng định đã bắn rơi Lý Tống, anh 23 ly, 37 ly cực lực bảo vệ chiến công mình. Tôi cười thầm nghĩ đến xạ thủ SA7 nằm lăn lóc trên sườn đồi, anh ta sẽ điên tiết khi chiến công mình bị các pháo bạn tranh giành cấu xé. Tôi nghĩ đến đoạn đấu khẩu trong cuốn truyện Vùng Trời viết về Không Quân Bắc Việt do Hà Nội xuất bản, trong đó Thủ trưởng Pháo Binh nói đùa với Thủ trưởng Không Quân:

— Nếu một ngày nào biển Đông cạn, tất cả chúng ta đều vào tù ráo!

Vâng! Không có gì dễ bằng báo cáo đã hạ được nhiều phi cơ địch, và tất cả đều rơi xuống biển Đông! Trên đường đi có vài tên bộ đội hỗn láo bắt tôi cúi mặt xuống vì chúng không chịu được bản mặt nghênh nghênh kênh kiệu của tôi. Tôi quắc mắt trừng các chú bé, tên lính áp giải kịp thời hòa giải mọi xung đột. Chúng dẫn tôi ra đường, tập họp dân chúng để lập Tòa án Nhân dân.

Chúng đã từng thành công với loại luật rừng nầy: Một Nguyễn Du, Thiếu tá Phi công anh hùng Vùng I, chiếc đầu được treo giá bạc triệu, bị bắn rơi và bị ném đá đến chết; Phi công danh tiếng Trần Thế Vinh, người bạn cùng khóa 65A Không Quân với tôi và biết bao nhiêu người đã đi vào huyền sử. Nhưng rõ ràng, lịch sử không được lập lại tại đây, nơi thành phố duyên hải đầy thân thuộc nầy. Khu giải trí Cây số 9 đâu có ai lạ mặt tôi, họ thương cảm tôi, một khách chơi quen, hào phóng đang lâm nạn, một chiến sĩ đang bị sa cơ. Những tên cò mồi lăng xăng chạy đi chạy lại hò hét, khích động nhưng chẳng ai thèm hưởng ứng. Cuốỉ cùng chúng chỉ thành công trong một cuộc dàn cảnh. Vài tên nhảy vào đè tôi xuông, xỉa xói, chửi bới. Lúc đầu, tôi nhẫn nhục để làm nổi bật sự tàn bạo dã man của Cộng Sản nhưng nửa chừng đổi ý, vùng đứng dậy, quắc mắt nhìn chúng và nhổ nước miếng vào mặt tên đạo diễn thô bỉ. Khán giả khoái chí cười ồ, vì thế, thay vì ném đá tôi, họ lại ném thuốc lá, bánh ngọt và các loại quà khác.

Tôi được chở lên đèo Rù Rì, trời nửa đêm sương mù lạnh lẽo. Tầm nhìn xa không quá mười thước, tên tài xế mới ra nghề, chạy xe dục dặc như ho gà. Tôi tính lừa thế đánh cái đầu vào mặt tên ngồi bên cạnh, đứng dậy dứt một đá vào cổ tên tài xế trước mặt là xong. Thật dễ dàng trên một chiếc xe jeep mui trần, nhưng xe bỗng ngừng ở một trạm gác. Tôi ngồi ngoài xe giữa đêm sương giá, núi rừng âm u tăm tối đang chứa đựng một âm mưu sâu hiểm. Về sau, tôi được biết đó là buổi họp quan trọng, một phe muốn xử bắn tôi ngay đêm đó tại trên đèo, vì không moi được chút tin tức nào trong suốt những cuộc thẩm vấn dọc đường, một phe muốn kiên trì thuyết phục. Cuối cùng tôi được chuyển đến Trại Chi Lăng là nơi an dưỡng tạm thời của Việt Cộng. Lần đầu tiên tôi thấy được sự tác hại của các loại bom napalm và bom bi vì chất cháy lân tinh và các viên đạn nhỏ không chừa một hố nấp cá nhân nào trong tầm sát hại của nó. Tại đây, một Thủ trưởng Đặc Công và một Thủ trưởng Pháo Binh thay phiên nhau thẩm vấn, hứa hẹn và dụ dỗ tôi vẽ bản đồ phi trường Phan Rang:

—Anh sẽ được tha chết và được sử dụng phục vụ Không Quân Cách Mạng.

Tôi cương quyết từ chối:

—     Một mạng sống của Lý Tống không thể đánh đổi với hàng trăm, hàng ngàn mạng của các chiến sĩ đang tử thủ trên tuyến đầu giữ nước. Xin lỗi các ông, tôi không phải là loại người tham sinh úy tử để làm một hành động phản bội ngu xuẩn như vậy!

Họ lại kiên trì đưa đề nghị khác:

—     Nếu anh lên đài phát thanh, kêu gọi chiến hữu của anh đầu hàng, nhấn mạnh rằng Cách Mạng sẽ rộng lượng khoan hồng đối với tất cả ai trở về hàng ngũ dân tộc, nhấn mạnh Chính sách Đại Đoàn kết, Chính sách Nhân đạo của Cách Mạng…

Tôi ngắt lời:

—     Thưa ông, có những con vật khi bị mắc bẫy còn biết đánh tín hiệu để báo cho đồng loại tránh xa nơi đánh bẫy. Là con người, không lẽ tôi lại thua loài vật, dẫn dụ bè bạn, chiến hữu vào cái bẫy nhân đạo, hòa hợp giả hiệu của các ông sao ?

Tôi chuẩn bị để chết. Nhưng số phận vẫn bắt tôi sống. Và tôi vẫn thích được mang chữ “cố,” cố Đại úy Phi công, bởi vì kỷ niệm của Phi vụ cuối cùng.

Bắt  Đầu Cuộc Đời Tù Binh

Tôi được chuyển về Suối Dầu. Những tay tội phạm và du đãng Nha Trang như “Tới đen, Thi bản đồ” đều rủ rê tôi vượt nhà giam. Tôi quyết định ở lại với lý do: Tôi cần tìm hiểu Chủ nghĩa Cộng Sản. Bao năm trời chiến đâu chống Cộng, tôi chỉ biết về Cộng Sản qua các bài thuyết trình của Khối Chiến Tranh Chính Trị, hoặc thấy Cộng Sản bằng hàng thây ma la liệt dưới những trái bom tàn phá dữ dội của mình. Trừ lần gặp vài tên Việt Cộng tại Bến Cát cách hơn mười năm chưa cho tôi một khái niệm nào về Cộng Sản. Tôi muốn biết rõ bộ mặt thật của Cộng Sản. Không như một số tù binh bạn tuy thù Cộng Sản nhưng họ thề không động đến một cuốn sách nào của Cộng Sản, tôi quyết tâm sẽ ngấu nghiến kỹ lưỡng hầu hết sách thư viện có được. Phải nghiên cứu ưu khuyết điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, dùng Chủ nghĩa Cộng Sản để đả kích đệ tử của Bác và Đảng.

Tôi ngồi lặng lẽ nhìn hàng loạt người chui qua lỗ cửa sổ song sắt vừa bị bẻ gãy. Phải tự đấu tranh giữ vững lập trường tôi mới ngồi yên được, vì tiếng gọi tự do đang vang dội ngoài kia, và cuộc trốn chạy thập phần dễ dãi. Cuộc đào tẩu quá nhộn nhịp, ồn ào nên người thứ 21 bị phát giác, tất cả đều chạy thoát an toàn.

Tôi lại bị chuyển Trại. Tại đây có âm mưu “Hổ,” vượt ngục bằng cách đào sâu xuống nền nhà, xuyên qua vườn ra ngoài hàng rào. Tôi vẫn từ chối không tham gia vì tổ chức quá lộ liễu, các phòng bên cạnh quá vội vã, nên phòng chính thức của tôi chưa đào xong, họ đã đào xuyên qua tường sang ngồi đợi. Âm mưu bị bại lộ nên công tác canh gác được tăng cường tối đa. Một đêm, một tay du đãng có tiếng là “Hồng thúi” vừa bị bắt nhốt trong lúc đang phê xì ke chỉ vì đập cửa làm ồn, y bị một tên Thượng Cộng dí súng ngay vào đầu, bắn vỡ sọ chết tại chỗ.

Tôi lại bị đưa về Quân lao Nha Trang. Một đêm tôi bị bịt mắt, còng tay chở xe chạy ra bờ biển Nha Trang cùng hai người khác. Chúng tôi rỉ tai nhau: “Chắc đi mò tôm quá!” Bao nhiêu người đã được đưa ra bờ biển, một bao bố, một cục đá lớn và một con người: cột lại, ném xuống biển. Thật dễ dàng, chẳng hề tốn một viên đạn. Cộng Sản quí và tiết kiệm đạn, một viên đạn giá tương đương 3 kg củ mì, đập một cán cuốc, đánh một bá súng vào đầu, nhanh, kín, chẳng tốn kém. Đại úy Trưng ngồi bên cạnh lâm râm cầu nguyện. Cuối cùng chúng tôi bị đem nhốt vào xà lim của Nha Cảnh Sát Đặc Biệt cũ. Ban đêm, phòng hẹp lại không có đèn, mò mẫm chung quanh chỉ thấy cứt khô vung vãi, tôi cởi quần thế chổi quét tạm, ngả mình đánh một giấc thoải mái.

Xà lim thời trước chỉ nhốt một người, thời hạn tối đa là ba ngày, bây giờ chúng tôi hai người, kẻ nằm xuôi, người nằm ngược, chật như nêm, và nằm cả hàng tháng trời. Có nhũng ngày nhà cầu bị nghẹt, nước ngập gần tới chỗ nằm, đủ các loại phẩn cục cứng hoặc bầy nhầy nhão nhẹt… nổi lều bều, thối và ngột ngạt đến chóng mặt. Thế mà Cao Kỳ Sơn vẫn hát nhạc Trịnh Công Sơn, bố già Đại Tá Như vẫn đốt lốp cao su nấu cà phê khói. Có những tay cai ngục lóc nhóc khoảng 15 tuổi, có những mụ Cán bộ mập úc núc như bao gạo chỉ xanh vì bị phù thủng, bắt chúng tôi phải xưng hô: Thưa Ông, Thưa Bà. Cũng chính tại đây, tiếng xe tăng T54 hàng ngày ào ạt tiến về Nam, nghiền nát tâm sự ngổn ngang của nhũng con người thất thế. Tin Sàigòn thất thủ làm chúng tôi ngỡ ngàng, thất vọng. Thế là hết!

Trại Tù Lam Sơn

Lại di chuyển đến trại tù Lam Sơn. Lần đầu tiên sau nhiều tháng tôi được thấy nhà cửa, cây cảnh chung quanh mình và được đi lại trong một phạm vi rộng rãi. Những nắm cơm vừa sống vừa khê, vừa mốc, đầy cát, mỗi ngày được ném vào xà lim, những ngụm nước uống hạn chế, đổ vội, hắt qua lỗ cửa sắt nhỏ, vung vãi trên mặt mũi và thân người của xà lim Nha Trang đã gây ấn tượng hạnh phúc cho nơi tù đày mới. Chính sách của Cộng Sản khôn ngoan, quỉ quyệt. Họ không đẩy kẻ thù xuống địa ngục ngay, sợ rằng sự tuyệt vọng và phẫn nộ của tập thể tù binh đông đảo có thể gây nên những phản ứng bất lợi, những cuộc bạo động liều lĩnh. Họ hé cửa địa ngục cho thấy sự kinh hoàng, rồi đóng lại để đe dọa. Họ nới một chút cho nạn nhân hy vọng, rồi bóp lại từ từ. Cái bàn tay bóp cổ nhuần nhuyễn đến nỗi nạn nhân đã tắt thở mà vẫn tưởng mình còn thoi thóp. Nhà tù ngoài cái cùm, cái ách của kẻ thù đè nặng trên đầu, trên cổ, tù binh còn mang cái ách do bọn phản bội, bọn ăng ten tạo ra. Những tư tưởng tiêu cực bạc nhược của những con người tham sống sợ chết, vị kỷ cá nhân đã làm cho không khí u ám của địa ngục trần gian tăm tối bi thảm thêm.

Như một Sơn khói, hình ảnh phản bội đáng ghê tởm nhất và cũng là một biểu tượng tượng trưng nhất về những thủ đoạn gian ác của Cộng Sản trong kế hoạch chia để trị. Sơn khói đã gài bẫy đưa bạn mình đi trốn trại cho vệ binh bắn chết tại Lam Sơn, và báo cáo với ác ý làm cho một tù binh khác bị siết cổ chết tại trại tù 53.

Với ăng ten Hoàng, tên thường dọa tù binh bạn bằng câu tuyên bố: Sau lưng tôi có Bác và Đảng, ai chống tôi tức chống Bác, chống Đảng, chống nhân dân… Tôi đã dùng bài bản đã học được để ca ngợi Bác và Đảng trong một buổi học tập quan trọng, tiếp đến “móc lò”: Bác và Đảng là cái gì linh thiêng, tối cao… nhưng tiếc thay lại chỉ đứng sau lưng, sau đít của Trại Trưởng kiêm Nhà Trưởng Hoàng mà thôi. Thế là Hoàng bị hạ bệ và suýt bị ăn đòn.

Với một Đãi già, kẻ chủ trương thuyết Hàn Tín luồn trổn gây tinh thần đầu hàng, hèn nhát cho những người thiếu kiên trì, can đảm, tôi đã chửi xéo:

—     Tôi rất phục, rất ngưỡng mộ cái phong thái Hàn Tín của anh. Anh đóng vai Hàn Tín còn xuất sắc hơn cả Hàn Tín. Hàn Tín chỉ luồn trôn một người, còn anh, anh luồn trôn hết những thằng mọi Cộng Sản. Tiếc rằng suốt đời, anh chỉ giống Hàn Tín giai đoạn luồn trôn, còn giai đoạn Hàn Tín làm anh hùng, chẳng bao giờ anh giống được.

Cộng Sản là một loại từ-ngữ-chủ-nghĩa. Họ sáng tạo đủ loại từ mới, áp đặt và cưỡng bức ngôn ngữ theo mục đích của họ. Với Mỹ, họ dùng chữ đế quốc xâm lược, với các nước xã hội chủ nghĩa, họ dùng chữ lớn mạnh. Nhà tù lại gọi Trại học tập cải tạo, tù binh gọi là học viên. Người dân tìm cách chống đối và giải trí qua các mẩu chuyện phiếm, tiếu lâm về các anh cán ngố về thành phố, hoặc chơi trò đảo ngược chữ để chơi xỏ. Chẳng hạn Trường xây đời mới đảo ngược thành Trầy xương đời mới, hoặc Hồ Chí Minh thành Hồ Chính Mi, chính mi đã gây bao nhiêu thảm cảnh, như một bộ đội trong cơn tức giận điên cuồng đã chỉ vào ảnh Hồ Chí Minh lên án, khi sáu anh em anh ta đều bị nhà nước bắt ra chiến trường để trở thành tử sĩ, và riêng cá nhân anh cũng thành liệt sĩ (bị trúng bom bại liệt không còn đi được).

Lần đầu tiên làm bản khai lý lịch, trong phần địa chỉ trở về khi được phóng thích, tôi đã khai: “Số 1 Mạc Đỉnh Chi.” Sau khi nghiên cứu hồ sơ và được biết số 1 Mạc Đỉnh Chi là Nghĩa Trang Qưân Đội ngay giữa thành phố Sài Gòn, tên Phó trưởng trại đã kêu tôi lên trình diện để khiển trách:

—     Anh dám giỡn mặt, coi thường Cách Mạng hả? Tại sao anh khai địa chỉ tại nghĩa trang quân đội ngụy?

— Thưa cán bộ. Tôi nghĩ rằng ở tù kiểu nầy thì khi được phóng thích chỉ còn có nước đem đi chôn, chứ làm gì còn sống nổi để trở về nhà!

Đã hiểu được Cộng Sản, hiểu cái học thuyết sai nhầm từ căn bản bởi vì Cộng Sản tiêu diệt quyền sở hữu cá nhân, bởi vì muốn xây dựng Chủ nghĩa Cộng Sản, con người Cộng Sản bắt buộc phải đạt được một số đặc tính đạo đức cách mạng mà chỉ có những bậc thánh mới hội đủ, và thật sự nếu mọi người đều đạt được cái đạo đức cách mạng đó, thì thế giới chẳng cần một chế độ xã hội hoặc một chủ thuyết chính trị nào nữa cả.

Thấy được cái tính chất khôi hài của hai học thuyết đối nghịch: Chủ nghĩa Duy vật lại thường nhân danh lý tưởng và đạo đức để kềm chế con người, còn dưới ảnh hưởng của Chủ nghĩa Duy tám, những sinh hoạt xã hội lại kích thích con người sống thiên về vật chất và hưởng thụ; hiểu rõ những Cán bộ Cộng Sản, những con vẹt học nói, mà từ người lãnh đạo đến anh nông dân dốt nát đều có cùng trình độ ăn nói và nhận thức thuộc lòng giống nhau, sự nghèo nàn và cằn cỗi của trí tuệ mà những bài diễn văn từ những khoảng cách thời gian hằng chục năm vẫn không hề có một tư tưởng mới lạ, “Chủ nghĩa Cộng Sản chỉ là một đứa con tật nguyền của Chủ nghĩa Tư bản,” tôi nhận định và quyết định trốn thoát trại tù Cộng Sản để trở về chiến tuyến đấu tranh của mình.

Vượt Ngục Trại Tù Lam Sơn 

Ý nghĩ vượt ngục càng thôi thúc hơn vì một biến cố mới xảy ra. Hoàng, sau khi bị tôi chơi khăm để hạ bệ, lại còn bị tôi nguyền rủa: “Đồ chó đẻ, mầy độc ác còn hơn những tên cai ngục Việt Cộng,” bèn đặt chuyện, mật báo lên Bộ Chỉ huy trại để tìm cách hại tôi. Buổi sáng hôm sau, hai tên vệ binh trang bị súng ống chạy sồng sộc vào chỗ tôi ở, trói tay tôi, chĩa súng vào lưng dẫn độ đi giữa cặp mắt ngỡ ngàng hoảng hốt của các bạn đồng tù. Trên đường đến phòng thẩm vấn, tôi bất chợt chứng kiến một cảnh khủng khiếp. Đó là buổi thăm nuôi bỏ túi, trong đó vợ con tù binh đứng chen chúc ngoài hàng rào kẽm, và bên trong tù binh sắp hàng một để được gọi tên. Một người bạn tù chợt nhận ra được vợ con mình sau nhiều ngày xa cách, mừng rỡ quá bèn gọi lớn tên và vẫy tay rối rít. Trong cơn xúc động, anh ta đã bước lệch ra khỏi hàng như kẻ mộng du không nghe tiếng quát tháo của tên Cán bộ hướng dẫn. Một loạt súng nổ và người tù ngã gục sóng soài trước những cặp mắt kinh hoàng của vợ con. Thấy cái chết bất ngờ của một người bạn vì lý do thật tầm thường, tôi chợt hồi hộp lo lắng về số phận mình. Tôi tưởng tượng mình đang đi về pháp trường và “đùng, đùng,” tôi gục xuống sau loạt đạn và thế là hết. Nhưng thật may, cái chết của người bạn tù đã thu hút tâm trí của các tên phụ trách điều tra hoàn toàn, họ bận bịu lo giải quyết chuyện xảy ra đột ngột, nên khi bị dẫn vào, tôi chỉ nhận được một tiếng quát đe dọa:

— Mầy còn cứng đầu, có ngày ông sẽ vặn gãy cổ mầy. Coi thằng kia mà làm gương.

Nói xong, y mở trói và đuổi tôi đi về.

Ngày 7 tháng 10 năm 1975, tôi và Kiên, Trung úy Pháo Binh gặp nhau tại điểm hẹn, nơi chúng tôi đã tập trung những đồ dùng cần thiết được chuyển dần ra hàng ngày, để bắt đầu cuộc trốn chạy khỏi nhà tù Cộng Sản. Chúng tôi lẩn tránh đám quản chế dẫn tù binh đi làm, băng rừng đi về hướng đèo Phượng Hoàng. Càng lúc tôi càng chiếm dần quyền quyết định mặc dù trong kế hoạch, Kiên chịu trách nhiệm dẫn đường. Tôi hủy bỏ ý đồ leo qua ngọn núi có thác nước, mà mỗi chiều đi làm về, từ trại tù Lam Sơn, chúng tôi vẫn thường ngắm nhìn như một bức tranh đẹp và là điểm chuẩn để định hướng trốn trại. Những khối đá cheo leo dốc đứng, có nơi phải mất nửa giờ chưa đi được hai mươi thước đường dốc. Viên thuốc uống ngừa sốt rét làm mặt Kiên đỏ nhừ, đầu choáng váng muốn bệnh. Kiên đã nản lòng vì thể lực yếu và đoạn đường đầy chướng ngại vật. Sau khi băng qua nhiều đám rừng khá vất vả, tôi quyết định rẽ về hướng một con suối để nghỉ chân, dùng mùng lưới ni lông bắt cá lòng tong ăn sống và ngủ lại qua đêm. Chiếc võng quá cũ trăn trở dưới lưng như muốn rách toẹt vì sức nặng. Hai đứa treo võng nằm sát nhau, mệt mỏi không đủ sức để nói chuyện, chuyền qua lại điếu thuốc rê đắng nghét, chịu đựng cơn lạnh về đêm của núi rừng.

Sáng hôm sau, chúng tôi băng qua những trảng tranh rộng, cao ngập đầu người, ra đường đón xe. Xe bộ đội nhộn nhịp qua lại, dịch vụ bán xăng nhớt lậu công khai trên đèo của giới tài xế nhà binh làm chúng tôi vỡ mộng về những lời đồn đãi: Đèo Phượng Hoàng do quân Kháng chiến kiểm soát một phần. Sau khi bị nhiều xe qua mặt từ chối không cho quá giang, chúng tôi được một người chạy xe Honda chở nhờ lên đèo, chỗ chiếc xe hàng chở gạo đang bị hư và đang sửa, để xin đi nhờ lên Ban Mê Thuột. Xe chạy giữa đèo, hai bên đồi núi trùng trùng điệp điệp. Tưởng tượng kế hoạch đi bộ băng rừng của Kiên, tôi chợt bất giác rùng mình kinh hãi. Trong những đãy rừng núi hun hút bạt ngàn kia, chúng tôi sẽ trở thành gì nếu không phải là những bộ xương khô vất vưởng đói khát. Mặc dù thất vọng về tình hình đèo Phượng Hoàng cũng như khả năng đẫn đường của Kiên, tôi vẫn cương quyết đi về hướng dự định,

Tại Ban Mê Thuột có tin đồn Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Ngô Quang Trưởng đã rời Mỹ trở về lập chiến khu. Huyền thoại! Có ai mơ mộng như tù binh chúng tôi, nếu không có những tin bịa đặt như vậy và tin tưởng như vậy, làm sao chúng tôi có thể sống và chịu đựng những ngày tháng đày đọa miên viễn, không có một chút hy vọng ở ngày mai. Những buổi chiều chuyển mùa, tiếng sấm đất nổ rền âm vang từng loạt dài, chúng tôi vẫn ngỡ là tiếng B52 đang rải thảm. Có khi ở gần những bãi tập bắn, chúng tôi vẫn ngỡ và đồn đãi là đang có giao tranh. Nếu biết rõ các ông Tướng, ông Tá của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đang đầu tắt mặt tối với cuộc mưu sinh ở Mỹ, chắc chắn tâm trạng của người tù sẽ khốn khổ biết bao. Người trong nước hy vọng người ngoài nước, người ngoài nước trông chờ người trong nước! Đó là lý do vì sao đã hàng chục năm, mặc dù bạo quyền Cộng Sản đã hoàn toàn thất bại trong các kế hoạch kinh tế, an sinh, ngoại vận… mặc dù toàn dân bất mãn, chế độ Cộng Sản vẫn còn tồn tại!

Sau khi vượt qua nhiều trạm gác tương đối dễ dàng, bởi vì mỗi lần xe sắp đến cổng gác, người lơ xe cầm giấy nhảy xuống chạy bộ đến trước, vừa trình giấy, lại vừa kẹp theo một ít tiền hối lộ trong giấy, tên gác khỏi cần xét xe, vẫy tay ra lệnh cho chạy luôn. Đang yên chí vì tình hình thuận lợi, xe chúng tôi lần nầy bất ngờ bị chận giữ lại vì gần tới giờ giới nghiêm. Hành khách được hướng dẫn đến một nhà ngủ tạm, chờ sáng mai tiếp tục lên đường.

Thấy dễ dãi, tôi bỏ ngay ý định lẻn trốn đi luồn qua rừng để thoát qua khu vực kiểm soát. Bất ngờ tốỉ đến, có toán tuần tiễu đi kiểm soát giấy tờ. Và chúng tôi bị bắt! Kiên nhát gan nên khi tên trưởng toán chĩa súng vào màng tang đe dọa là khai thật tất cả, do đó vai trò giả dạng một người dân đi làm rẫy quên đem theo giấy tờ của tôi cũng bị lộ tẩy theo. Chúng tôi bị giữ tại chỗ hai ngày, chờ xe trại tù Lam Sơn áp giải về. Khi giải lên xe, tôi bị trói quặt vào thành xe, sợi dây siết quá chặt làm những mạch máu bị bít nghẽn. Cơn đau bừng bừng như dòng nước lũ đang cuồn cuộn chảy bỗng bị bức tường thành chắn bít ngang, dội lại tung tóe lên tận óc não. Yêu cầu nới rộng dây không được đáp ứng, tôi bèn thét lớn: “Đồ quân vô nhân đạo. Tụi mầy chặt tay tao đi còn hơn.” Hai tên vệ binh nhào vào định đánh tôi, nhưng tên Cán bộ trưởng toán hiền lạnh ngăn lại và ra lệnh nới lỏng dây trói.

Trên đường đèo, ở nhiều khúc quẹo gắt, tôi định tìm cách đạp vào tay lái tên tài xế, cho cả xe lao xuống vực, chết chung một đám. Tên vệ binh linh cảm được điều tôi nghĩ nên đổi chỗ ngồi, kèm sát bên trái tôi, làm vật cản che tên lái xe.

Trở Về Địa Ngục Trần Gian 

Về đến trại, tôi bị tống giam vào thùng Conex. Ngày hôm sau, hai tên gác mở cửa lôi tôi ra, chúng bắt tôi quay lưng lại rồi hô lớn.

— Quì xuống!

Tôi vẫn đứng bình thản như không hề nghe thấy.

—     Quì xuống!

Tiếng hét càng lớn hơn hòa lẫn cùng tiếng cơ bẩm súng lên đạn lách cách. Đám bạn tù binh nghe ồn, ùn ùn kéo lại đứng dọc theo hàng rào theo dõi. Tên thứ hai bèn nói nhỏ:

—     Thôi kệ, trói nó lại, dẫn đi.

Một Tòa án Nhân dân kiểu bỏ túi được lập lên trước văn phòng Bộ Chỉ huy Trại với nhiều khuôn mặt lạ chưa từng thấy. Đám vệ binh đứng dàn hàng ngang trong đội hình chuẩn bị bắn xử tử tại pháp trường, tên trưởng toán đến đứng nghiêm trước mặt tôi, dõng dạc hô lớn:

—     Quì xuống.

Mặt tôi đanh lại cương quyết. Mệnh lệnh được lập lại đồng thời cùng những viên đạn bay chéo qua tai, qua đầu tôi. Tôi nổi giận quát lớn:

—Bắn đi! Lý Tống nầy chết đi còn có trăm ngàn Lý Tống khác.

Phản ứng dữ dội bất ngờ của tôi làm những tay súng bỗng khựng lại, những khuôn mặt bỗng ngớ ngẩn.

Tên chủ tọa bèn đổi thái độ ra lệnh:

— Dẫn nó lại đây.

Họ hỏi tôi nguyên nhân và mục đích trốn trại. Tôi trả lời:

—     Mỗi người đều có một nhiệm vụ. Là Phi công tôi có nhiệm vụ chu toàn phi vụ, tận tụy với nhũng trái bom mình ném xuông. Là Tù binh tôi có nhiệm vụ vượt ngục.

Sau một hồi tra hỏi, tên chánh án nhấn mạnh:

—     Nếu tiếp tục ngoan cố anh sẽ nhận lãnh một bản án tối đa.

Tôi mỉm cười khẳng quyết:

—     Khi một người được ca ngợi và yêu mến ở phe bên nầy, thì chắc chắn họ sẽ bị nguyền rủa và kết án như một tay tội phạm nguy hiểm ở phe đối nghịch. Bản án các ông càng nặng càng tăng giá trị những cống hiến và hy sinh của cá nhân tôi đối với đất nước và dân tộc.

Tôi bị đem nhốt trở lại Conex. Một chuyên viên tra tấn đặc biệt đến tận Conex, dùng kềm rút từ từ những móng chân của tôi để trừng trị. Tôi cắn răng chịu đựng, thản nhiên để y rút trọn năm móng chân.

—     Các người chỉ rút được móng chân ta, nhưng không bao giờ rút được ý chí sắt đá đã đúc thành khối vững chắc trong đầu ta!

Tôi nằm trong một conex nhỏ, kín mít, đặt tênh hênh giữa trời. Trời nắng như thiêu đốt, từng ngụm nước nhỏ vừa trôi qua cuống họng đã biến thành những giọt mồ hôi rơi lộp độp liên tục trên mặt đáy thùng sắt. Tôi như cái bánh trong lò hấp, thấy mình đang khô và chín dần. Cơn đày đọa của ngày được nối tiếp bằng cơn quằn quại của đêm. Ban đêm trời rét, hơi người bốc lên gặp trần sắt lạnh đông lại, nhỏ xuống, bộ quần áo duy nhất ẩm ướt suốt đêm. Hai chân đóng băng, người tê cứng như tảng thịt bỏ trong ngăn đông lạnh. Nằm trong conex gần nửa năm, tôi có đủ thì giờ để nhận xét và suy gẫm về những chuyện vụn vặt của cuộc đời nói chung và bản thân mình, nói riêng.

Tôi đặc biệt chú ý đến thành phần Bộ đội Cộng Sản. Có những tên gác, trong bữa ăn, lấy đũa xăm vào tô cơm xem nhà bếp tù có dấu đồ ăn cho tôi không? Trái lại, có những người khuyến khích và cho phép bạn tôi tiếp tế thêm trong phiên trực của họ. Con người khi sinh ra đời, Thiện-Ác vốn là tính bẩm sinh, không phải Nhân sinh tính bổn thiện. Cộng Sản là môi trường thích hợp cho những ác tính nẩy mầm và phát triển. Những người bản chất hiền lành, thương người vẫn ít bị biến thể, không biểu lộ lòng tốt ồn ào như những nhà đạo đức giả; sự tế nhị, kín đáo của một số bộ đội tốt bụng đem đến sự cảm thông giữa những con người thù địch. Nhũng kẻ xấu như bèo bọt, rác rưởi nổi lềnh bềnh trên mặt dòng nước cuốn, cái nhìn hời hợt, nông cạn sẽ đánh giá sai lầm về khối nước trong lành thầm lặng dưới sâu.

Kẻ xấu thường dùng những thủ đoạn đê tiện. Có những tên Việt Cộng lấy vải cờ vàng ba sọc đỏ để may quần lót, hoặc lấy tên các lãnh tụ thù địch để đặt tên cho chó. Những con chó Lích, Ky, Tiệu, là những tên đọc trại theo giọng Bắc của Nixon, Kỳ, Thiệu. Tôi vừa giận vừa tức cười khi có đứa lại đặt tên cho một con chó mới đem về là Ný Tống.

Cùng nằm trong nhà tù, mỗi người tù đều có những ưu tư giống nhau nhưng lại có những cách làm khuây nguôi nỗi ưu tư những cách khác nhau. Với tôi, ngoài những mưu tính để thoát củi sổ lồng mà những kế hoạch, những chi tiết đã chiếm một khoảng lớn thời gian nghiên cứu, thời gian còn lại có lẽ là những hồi tưởng về đời sống cũ với những vui, buồn, với những ưu, khuyết điểm, cần phát huy hoặc khắc phục, là những cuộc đấu khẩu với bọn điều tra cần chuẩn bị trước để đối phó, là những tập luyện cần phải chú tâm.

Sự tập luyện để giữ vững tinh thần và ý chí không chỉ diễn ra trong lúc còn tỉnh thức mà còn phải xuyên qua cả trong giấc ngủ. Có những đêm giật mình thức giấc vì cơn ác mộng mà miệng vẫn còn há lớn kinh hoàng, mồ hôi còn ướt đẫm trong thời tiết giá lạnh sau những cuộc rượt đuổi, chém giết trong giấc mơ. Trong truyện Tàu, có một nhân vật kỳ lạ, bởi vì ông ta trong một lần nằm ngủ thấy bị kẻ thù lăng nhục, nên khi tỉnh giấc, ông cắp kiếm ngồi phục ở trong vườn nhà, chờ kẻ thù trong giấc mơ trở lại để đánh trả thù. Ông ta chờ từ ngày này qua ngày nọ, đêm ngày không ngủ, đến lúc kiệt lực và chết vì một mối uất hận, vì một mục đích trả thù viển vông. Tôi thì trả thù kẻ trong mơ — hay chính ra trả thù sự hèn nhát, khiếp nhược của mình trong giấc mơ — bằng cách vừa tỉnh thức là vận dụng sự hồi tưởng và trí tập trung để nằm mơ trở lại, để tìm những khuôn mặt, những quang cảnh của giấc mơ vừa qua.

Sau một thời gian tập luyện, tôi đã thành công khi vừa thức dậy vì bị rượt đuổi thất đảm là có thể tiếp tục mơ lại, thấy lại và chiến đấu trở lại. Và thật tuyệt là trong cuộc chiến đấu trong giấc mơ kế tiếp, tôi đã một mình tả xung hữu đột giữa đám kẻ thù hung hãn, và chiến thắng những kẻ mà tôi vừa bị đại bại. Có gì hạnh phúc bằng mình lại còn điều khiển được cả mình trong cuộc chiến đấu trong giấc mơ?!

Có nhũng thời gian thừa thãi rỗi rãi, tôi nghịch ngợm, lưu tâm đến những con vật bé nhỏ quanh mình để giải trí, nhờ chút ánh sáng xuyên qua lỗ đạn nhỏ độc nhất. Tôi ngạc nhiên nhìn những con muỗi khôn khéo, lom khom đi trên hai chân, lách qua các khe hở nhỏ lắc léo để chui ra, vào conex bít kín. Những con kiến hèn mọn sống kỷ luật trong tổ chức xã hội qui củ, với sự phân biệt chủng tộc nặng nề giữa các loài vật. Những con kiến hôi nhỏ bé lù khù bị những con kiến đen nhanh nhẹn, xốc vác hiếp đáp; những con kiến lửa dữ tợn, khỏe mạnh, nghênh ngang tư thế bá chủ. Những cuộc tử chiến để giải quyết hận thù giữa loài vật.

Trận thư hùng giữa hai con kiến lửa, một heavy weight, và một light weight, kiến nhỏ cắn cổ kiến lớn, kiến lớn dùng càng siết gọng kềm ngang bụng kiến nhỏ. Cuộc chiến đấu quyết liệt kéo dài đến khi kiệt sức mà chết, như hai nhân vật trong truyện Tàu. Con kiến nhỏ chết trước, kiến lớn chiến thắng nhưng sau khi đi quờ quạng vài bước, cũng ngã xuống chết theo. Có trận đánh nhau có cả trọng tài giám sát, hai kiến đen trọng tài nằm rạp hai bên, chúi mũi theo dõi trận đấu rất nhiệt tình, tận tụy, và can thiệp khi có một võ sĩ kiến chơi không đúng luật! Chúng di chuyển và giữ khoảng cách, góc độ vuông vắn. Một kiến trọng tài sau hồi lâu theo dõi, đứng lên, vươn vai làm vài động tác cho đỡ mỏi, rồi bỏ đi như thể muốn ném lại một câu chửi thề: “Mẹ, hai chú mầy đánh nhau dằng dai quá. Tao về ngủ cho khỏe.” Chú kiến trọng tài còn lại tiếp tục điều khiển trận đấu. Khi hai chú kiến địch thủ đều chết, kiến trọng tài tha cả hai về tổ.

Cuộc sống thật kinh khủng. Hàng ngày, hàng giờ trên khắp quả địa cầu, biết bao con người, biết bao loài vật đang gây chiến, tàn sát nhau để tranh sống, để thỏa mãn tham vọng, để giải quyết những mâu thuẫn phi lý. Nhìn về bản thân, và qua các sự khám phá và nhũng kinh nghiệm đau lòng về cuộc sống người tù nhân, tôi nhận thấy sự thâm thúy của chính sách Làm chủ kinh tế sẽ làm chủ chính trị. Phải ở trong hoàn cảnh cùng khổ mới nhận chân được giá trị của từng con người và thấy hết được giá trị của từng hột cơm, chiếc xương cá. Vị giác và khứu giác của những con người đói khát trở nên tinh tế đặc biệt. Tôi phân biệt được cái vị thanh ngọt riêng biệt của từng ngụm nước lạnh lấy từ những giếng nước khác nhau, đun sôi ở những độ khác nhau. Cái vị ngọt ngào của đường, cái vị béo ngậy của mỡ gây những cảm giác chấn động cho thể xác khô héo, thiếu thốn. Tất cả cơ phận của bộ máy tiêu hóa ngây ngất đê mê khi được một chút thỏa mãn. Sự kích thích sâu xa, mãnh liệt tác động cả trong giấc ngủ. Ăn một miếng thịt nhỏ bé hiếm hoi cũng có thể tạo nên được một giấc mơ, một lần mộng tinh khoái lạc. Mộng tinh, mộng mị là những hạnh phúc tuyệt vời của những ngày tháng lao tù, đày đọa. Chưa bao giờ tôi nằm mơ nhiều như thời gian nằm conex. Hình như tối nào cũng nằm mơ, mỗi đêm mơ nhiều giấc mơ khác nhau. Đêm là một chuỗi những giấc mơ liên tiếp, và giấc mơ cứ quanh quẩn với chừng đó đề tài.

Tôi mơ thấy mình đang bay lượn trong chiếc phi cơ ngày cũ, phía dưới kia là một rừng cờ. Cờ vàng ba sọc đỏ phất phới trong những ngày hội lớn, quân và dân miền Nam đang tập họp lại và ùn ùn đứng đậy khởi nghĩa. Rồi bỗng nhiên tất cả biến mất, rừng núi bỗng xuất hiện bạt ngàn, và tôi đang bay lạn giữa trời một mình, không có cả phi cơ, hai tay chập chờn như đôi cánh chim, bay qua bao núi non, làng mạc, ruộng đồng như một chim trời thong dong vui thú, cho đến khi khả năng bay không còn nữa, tôi cứ rơi là đà xuống đất. Tôi cố vùng vẫy, cố vươn lên khi những ngọn cây càng lúc càng nhô lên, ào ào phóng lên và giật mình thức tỉnh khi tiếng la hét như vừa thoát ra khỏi cổ họng.

Có lúc tôi nằm mơ, thấy chạy xe một mình, ngược dòng thác xe cộ đang đổ tuôn rầm rộ về phía mình. Những người chạy ngược tôi hớt hãi, vội vàng, họ đội nón cối, họ mang dấu hiệu cờ đỏ sao vàng, họ tranh nhau, giành nhau chạy cho kịp giờ ấn định trong cuộc tháo lui hốt hoảng. Tôi vẫn chạy ngược chiều, quay cuồng chóng mặt vì tốc độ, vì mật độ đông đảo của xe, tôi thấy hào hứng vì mình là nhân chứng duy nhất đang chứng kiến sự tháo chạy kinh hoàng của kẻ địch bại trận.

Hoặc tôi mơ thấy những cao lâu tửu quán sang trọng, những mâm cỗ tiệc đầy ngập thức ăn ngon lành, tôi đang ngấu nghiên ăn, thèm khát ăn. Ăn từ bàn nầy đến bàn nọ, ăn từ đầu tiệc đến tàn tiệc, cái ăn trong giấc mơ đã vận động các cơ quan trong người phải cử động theo, lúc giật mình thức dậy, thấy miệng mình vẫn đang còn nhai, tay mình vẫn đang quơ quào trong không khí như đang gắp lấy món ăn thích khẩu.

Đặc biệt là những giấc mơ về đàn bà trong những đêm tôi bị sốt nặng vì năm ngón chân bị rút móng làm độc hành hạ. Hình như mỗi lần thân thể bệnh hoạn đau đớn, thần kinh cố gắng tạo ra những giấc mơ để an ủi, khuây khỏa cơn đau. Nhưng chính những giấc mơ đầy hình ảnh nữ nhân lại làm cho thân thể càng suy nhược hơn, và bệnh càng trầm trọng thêm.

Tôi thường bị kéo giật ra khỏi giấc mơ, tỉnh thức vì một tiếng động dữ dội. Tên Việt Cộng gác đã một lần vô tình ngồi dựa vào conex ban đêm và tôi đã vô tình tiểu tiện xuyên qua lỗ nhỏ trên thành conex, đái ướt cả đầu y, đã trả hận bằng cách rủ thêm vài tên bạn, mỗi lần đi ngang conex nhốt tôi, lại ném vài cục đá thật lớn để trừng trị tôi, kẻ chúng nghĩ đã cố ý đái vào đầu để chơi xỏ họ. Trong thùng sắt kín, tiếng vang dội ầm ầm như một loạt bom nổ, kéo tôi trở lại với thực tế phũ phàng, với một bên ngực quặn đau ghê gớm bởi trái tim đập mạnh hỗn loạn như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.

Hạnh phúc — Bất hạnh. Ngày tháng chậm rãi trôi qua. Có những phút giây ngẩn ngơ lầm lẫn giữa ngày và đêm, giữa mộng và thực. Tôi cảm nhận cái ý nghĩa kỳ lạ của cuộc sống và con người. Cộng Sản có nhận thức sâu sắc về con người nên dễ dàng chế ngự con người. Sự đói khát, sự đày đọa nâng cao giá trị những tiện nghi tầm thường, những chút hạnh phức hèn mọn. Khi nhu cầu bức thiết bị hạn chế, sự thỏa mãn dễ dàng đạt đến tột độ. Sự khoái lạc của một người cu ly lam lũ bên ly rượu đế, nhâm nhi trong một quán cóc tồi tàn đạt hơn gấp bội nhà tỉ phú chán chê nhìn cao lương mỹ vị bày biện trong những tửu lầu sang trọng xa xỉ. Ôi tuyệt vời thay những giây phút nghỉ tay đứng chống cuốc giữa trời nắng, hơi nóng bốc ù tai, lim dim mắt tận hưởng một thoáng gió mát thoảng qua; những vá mỡ thực vật nuốt vội vàng lén lút trong các kho tiếp liệu nghèo nàn, kiểm soát chặt chẽ. Phải chăng vì cái hạnh phúc, khoái lạc kỳ lạ đó mà những tầng lớp bị áp bức bóc lột vẫn chịu đựng được cuộc sống đày ải, vẫn cảm thấy thèm khát sống trong những hoàn cảnh bi thương? Và tồi tệ hơn, có thể hãm hại nhau để được thỏa mãn cái nhu cầu hèn mọn đó!

Tiếng cửa sắt conex mỗi lần mở ra gầm lớn như một cơn giận vừa bùng nổ. Tôi đường bệ, thong thả bước ra, tiếng động như tiếng cồng báo hiệu để các bộ đội Cộng Sản từ trong các gian nhà đổ ra chiêm ngưỡng. Vâng! Làm sao họ không hiếu kỳ cho được khi nhìn hai người tù bị kỷ luật với hai phong thái khác nhau. Ớ conex bên cạnh, Kiên ngồi chồm hổm dưới đất, đầu cúi vục xuống tô đựng cơm, vẻ tội nghiệp. Còn bên nầy, tôi ngồi đỉnh đạc trên chiếc nón sắt, lưng dựa nhàn tản vào thành conex, vừa nhẩn nha nhai cơm vừa ngắm trời đất, phong cảnh một cách an nhiên tự tại. Nhờ đóng vai tội nghiệp nên Kiên chỉ bị nhốt mười lăm ngày rồi thả về trại với các tù khác, còn tôi thì tiếp tục nằm dài dài tại conex. Từ trước đến giờ họ chỉ nghe và đọc về các nhân vật huyền thoại do Cộng Sản dựng ra, tô màu đánh bóng để ca ngợi, giờ đây được thấy một hình ảnh bất khuất bằng xương bằng thịt, dù là kẻ thù, các chú bé bộ đội vẫn theo dõi một cách kiên trì. Sự hiếu kỳ không mai một theo thời gian. Gần sáu tháng trôi qua, vẫn những cặp mắt, vẫn những cái đầu chụm vào nhau, vẫn những câu thầm thì to nhỏ. Có chú bạo miệng so sánh:

— Người nầy đối với chế độ Sàigòn cũng cỡ như Anh hùng Nguyễn Văn Trổi bên mình vậy!

Câu so sánh đã trở thành như một lời tiên tri kỳ lạ. Bởi sau khi vượt ngục thoát trại tù A30 trở về Sàigòn, tôi ẩn nấp tại một căn nhà mà chung quanh đều bao bọc bởi tên Nguyễn Văn Trổi! Trước mặt là Bưu điện Nguyễn Văn Trổi. Bên phải là cầu Nguyễn Văn Trổi. Bên trái là chợ Nguyễn Văn Trổi. Sau lưng là phường đội Nguyễn Văn Trổi, còn nhà thì nằm trên đường Nguyễn Văn Trổi!