Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Chương mười chín

Sự xuất hiện bất ngờ của Eliot Ness tại ty cảnh sát Chicago trưa hôm đó

làm mọi người chưng hửng. Mike Casey đang ngồi ngủ gà ngủ gật trong văn phòng thì Eliot Ness đẩy cửa tiến vào. Lão sững sốt quá đỗi. Ủa, sao có chuyện lạ vậy cà?

Lão đinh ninh chàng đã về Hoa Thịnh Đốn, ít nhất phải là một tháng sau

mới lên lại, hoặc có thể sẽ bị sa thải luôn. Bây giờ sao thằng cớm khùng này lại lù lù đẩy cửa bước vào đây, mặt mày coi vẫn lì lợm như dạo nào. Lão đứng lên biểu diễn một nụ cười gượng gạo. Eliot Ness không cười, giọng sắc như dao:

-Ông chuẩn bị cho tôi hai toán, mỗi toán 6 người, có mặt liền tối nay để đi

hành quân bắt rượu.

Lại có chuyện rồi, Mike Casey thầm nghĩ. Cảnh sát đâu phải muốn lấy lúc

nào là có lúc đó như thằng khó tánh này muốn được.

Lão đưa tay ra làm một cử chỉ thân thiện, muốn bắt tay:

-Từ từ đã ông thanh tra Ness. Ông đi Hoa Thịnh Đốn mới về, chưa kịp hỏi

thăm gì nhau, sao lại bắt tay vào việc sớm thế. Để đó đi, chuyện đâu còn đó mà. Hấp tấp quá chỉ hư đại sự …. ông còn nhớ đến lần đột kích hụt cách đây vài tháng trước không?

Âu cũng chỉ bởi vì ông làm việc hấp tấp quá mới ra nông nỗi …

Tiên sư, Eliot Ness chỉ muốn đẩy tới một trái đấm cho thằng cảnh sát già này té lăn xuống nền nhà. Nếu lần trước nó không báo cáo cho bọn Al Capone thì thằng Mose Stash đâu có chết thảm.

Chàng đưa tay ra bắt tay lão:

-Đó là lý do tại sao tôi đến đây sớm. Lệnh của Hoa Thịnh Đốn là phải đột

kích mỗi ngày ít nhất vài khu rượu lậu của bọn nó. Tôi đã có án lệnh của tòa đây.

Mắt Mike Casey tự nhiên đổi sắc:

-Ông có án lệnh tấn công của tòa?

-Dĩ nhiên.

-Đưa coi thử coi.

Mọi chuyện xảy ra đúng như Eliot Ness dự đoán. Chàng rút túi bên phải ra

hai cái trát tòa, thảy lên bàn. Trát của tòa án thì dĩ nhiên phải có ghi địa chỉ rõ ràng, và Mike Casey chỉ cần có vậy. Lão chụp hai cái trát, mở ra coi thật mau rồi trả lại, mặt mày hớn hở:

– Được lắm, đã có trát của tòa thì tôi phải giúp ông. Ông muốn chúng nó có

mặt vào lúc mấy giờ?

-Khoảng năm giờ chiều. Bảo tụi nó đem đồ ngủ theo, giờ tấn công sẽ từ 5

giờ đến 7 giờ sáng.

Mike Casey liếc mắt nhìn đồng hồ. Gần một giờ trưa rồi. Chỉ còn 4 tiếng

nữa là hai cái lò nấu rượu của Capone có thể bị tấn công bất cứ lúc nào, lão cần phải đi thông báo cho tụi Capone biết ngay. Một cái tin đáng giá 500 đô la, 2 cái là ngàn bạc. Ngon lành.

-Ông Ness chịu khó ngồi đây chơi, tôi phải đi điều động nhân viên cho

ông.

-Xin ông cứ tự nhiên. Tôi sẽ về làm việc ở văn phòng tôi, cần gì ông cứ

gọi.

Eliot Ness xoay người bước ra, Mike Casey cố gắng làm thân:

-Thời tiết Hoa Thịnh Đốn thế nào ông Ness, có đẹp không?

– Tôi không rõ, hình như chả khác Chicago là mấy.

Trả lời câu này, Eliot Ness nói thật. Chàng không rõ thật bởi vì có đặt chân

lên Hoa Thịnh Đốn đâu mà biết? Nhưng lão Mike Casey đâu có thèm để ý đến câu trả lời. Thật ra, nếu chàng nói Hoa Thịnh Đốn đã chìm dưới mặt biển chắc lão cũng chẳng có một phản ứng. Lão nói để mà nói, và nghe để mà nghe, không suy nghĩ. Đầu óc lão đang xoay quanh cái mục đích làm sao thông báo tin tức cho tụi Caponi càng sớm càng tốt.

Eliot Ness cũng biết vậy nên rút lui sớm. Chàng đẩy cửa bước vào văn

phòng mình. Chà, đã mấy tuần nay chơi trò gián điệp, bỏ bê cái văn phòng này để đến nỗi bụi đóng đầy bàn ghế. Thằng trung sĩ cảnh sát già đã giữ đúng chỉ thị của chàng ngày nào: “Không được cho ai vào văn phòng tôi hết.” Eliot Ness lột áo vét, phủi mấy cái trên mặt bàn, trên ghế. Bụi bắn tung

lên, ngập cả phòng. Chàng ngồi xuống ghế, mở học bàn kéo tấm bản đồ ra loáy hoay làm việc.

Bí mật gọi điện thoại thông báo vị trí hành quân cảnh sát cho Frank Nitti

xong, Mike Casey khoan khoái trở về văn phòng. Từ ngày bị thằng Gary Malone phá vỡ chuyện làm ăn, uy tín của lão bị xuống dốc nhiều. Cơn nghiền rượu xem ra càng ngày càng tăng, lão cần thêm nhiều tiền để bù vào chỗ hao hụt. Nghĩ cũng được, thằng cớm liên bang này đi đâu mất biệt đã mấy tuần bây giờ lại dẫn xác trở về đem mối cho lão làm ăn. Mike Casey mồi điếu thuốc lá, gọi gã Trung sĩ thư ký đến ra chỉ thị kêu chuẩn bị 12 người đi tăng phái cho Eliot Ness tối nay.

Xong, lão tà tà đi bộ qua phòng Eliot Ness để tán dóc.

Vừa gác điện thoại với lão Mike Casey xong, Frank Nitti quay liền cho xếp

Al Capone. Thông thường, những vụ hành quân cảnh sát lẩm cẩm như vầy nó tự giải quyết lấy, khỏi cần thông báo cho xếp, nhưng nó đã nhận được chỉ thị rõ ràng của xếp “Bất cứ chuyện gì có dính dáng đến thằng Eliot Ness, phải cho tao biết.” Thật ra, Frank Nitti thấy xếp mình lúc sau này không biết vì lý do gì mà có vẻ hơi yếu bóng vía. Xếp sợ thằng cớm liên bang đó như chuột sợ mèo. Trong đầu óc Frank Nitti, thằng Eliot Ness hay thằng gì đi nữa thì cũng chỉ một phát.45 là xong, có gì đâu mà bấn xúc xích lên đến như vậy?

Mà bấn thiệt, vừa nghe tin báo, xếp Al Capone đã ra la lối om xòm:

-Đù mẹ có chuyện lớn rồi. Mày thông báo cho hai chỗ đó biết để chúng

nó chuẩn bị. Tao muốn hai có lò đó sạch trơn, không có đến một giọt rượu, ngay cả đến mùi rượu cũng không còn. Quan trọng nhất, mày hỏi lại lão Mike Casey xem thằng khốn tính đi làm ăn mấy chỗ tất cả?

-Thằng Mike Casey nói chỉ có hai. Hai toán riêng biệt.

– Thằng Eliot Ness này quái lắm. Nếu hai toán đó đi làm luôn một lần ba

bốn chỗ hay ba bốn chục chỗ thì tính sao?

-Bắn thấy mẹ tụi nó!

-Câm họng. Mày phải gọi lại thằng Mike Casey. Tao ngửi thấy có mùi gì

hơi kỳ lạ trong vụ này. Cho tất cả lực lượng, tất cả các lò nấu, tất cả các bar rượu đặt trong tình trạng báo động. Nghe rõ không? Tao lập lại là tất cả phải ở trong tình trạng báo động.

-Rõ!

-Gọi cho thằng Mike Casey xác nhận lần chót rồi báo lại cho tao. Tao

thấy mày và lão Mike Casey có vẻ coi thường thằng cớm đó quá. Không được! Tao biết nó là một thằng ghê gớm lắm. Phải cẩn thận.

Gác điện thoại lên là xếp quay sang thằng Guzick đang ngồi gần đó:

-Ông gọi qua toà báo Chicago Tribune, nói với thằng Ferguson nếu muốn

chụp hình Eliot Ness tối nay đi đánh gió nữa thì cho nó địa chỉ trước.

Trong đầu xếp, hình ảnh của Eliot Ness trên tờ Chicago Tribune cái đêm

nào lại hiện về. Không chừng tối nay thằng khốn này sẽ lên báo lần nữa. Lần này để coi thử nó ăn nói làm sao. Riêng xếp, xếp sẽ đến lò nấu rượu trước ngồi chờ nó. Xếp muốn tận mắt coi thử thằng cớm liên bang sẽ hung dữ như thế nào khi tấn công vào một cái nhà kho trống rỗng.

Nhưng cũng cùng chung với những ý nghĩ khôi hài đó, xếp cảm thấy có cái

gì không ổn tối nay. Xếp chắc lưỡi, làm dấu ra hiệu cho đàn em rót thêm rượu vào ly.

Mike Casey đang đứng đấu láo với Eliot Ness thì cô thư ký chạy vào:

– Đại úy có điện thoại.

Mike Casey nhíu mày:

-Nhờ bà nói là tôi đang bận.

Bà thơ ký nháy mắt, ra vẻ lúng túng:

-Không, cú điện thoại này của người bạn thân của đại úy.

Nghe có vậy thôi là Mike Casey cầo từ trở về liền. Eliot Ness đi guốc

trong bụng tụi này. Làm sao qua mặt ông được? Hãy cứ để đó, Eliot Ness cười cười, tối nay sẽ có nhiều màn hấp dẫn hơn.

Mike Casey chụp điện thoại, giọng thằng Frank Nitti cất lên the thé:

-Xếp bảo tôi gọi ông để xác nhận lại. Có thật là nó chỉ đột kích ở hai chỗ

hay còn mấy chỗ nữa, xếp nhờ ông coi lại.

Mike Casey nhăn mặt, giọng pha chút bất mãn:

-Đù mẹ đại úy cảnh sát mà không nắm được tin tức thì ai nắm được đây?

-Hê, xếp bảo sao tôi nói lại. Tùy ý ông đó, xếp còn nói thêm là không

được coi thường thằng khốn đó quá. Nó rất nguy hiểm …. nhưng mà nếu ông thấy hết rồi thì thôi …

Frank Nitti cúp máy. Ở gần bên, thằng Frankie Rio và đứa đàn em, mỗi

người ôm một cái điện thoại đang gọi đi khắp nơi để loan báo lệnh báo động tối nay.

Frank Nitti bực mình về cái vụ báo động này của xếp. Có mẹ gì đâu mà cũng làm ầm ĩ lên um sùm.

Tổ chức công việc chu đáo như xếp, lệnh báo động ban ra thì tất cả các

toán an ninh phải có mặt 100%, có nghĩa là nó sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc đôn đốc cho mọi người có mặt. Chicago này, vừa nhà thổ vừa xòng bài vừa bar rượu xếp có đến gần ngàn cái nằm rãi rác khắp nơi, được phân chia thành nhiều khu vực. Mỗi khu vực giao cho một thằng Caporegime chịu trách nhiệm. Tất cả các Caporegime đều nhận lệnh trực tiếp từ xếp Al Capone, nhưng thường thường thì xếp giao cho phụ tá lãnh luôn trách vụ này. Nhiệm vụ nó chưa hết, tại đại bản doanh, khu khách sạn Lexington màu mở thì đích thân phụ tá Frank Nitti kiêm nhiệm luôn

chức vụ Caporegime của khu này. Công việc nhiều bằng thích.

Từ khi nhận được cú điện mật của Mike Casey đến giờ, nó có lúc nào rời

được cái máy điện thoại đâu? Lúc thì hò hét chỗ này, khi thì giải tán chỗ nọ. Hai mục tiêu mà Eliot Ness định tấn công tối nay chỉ là hai lò nấu rượu hạng trung của Capone. Hạng trung thôi nhưng cũng phải huy động đến gần hai chục xe cam nhông mới chở đi hết những thùng bia đang cất giỡ cùng những dụng cụ trái luật. Phải dọn đi bằng hết vì nếu chúng nó tóm được những thứ đồ nghề làm tang chứng thì lại phải mất công và mất thì giờ ra tòa mà cãi. Frank Nitti hò hét, la lối, chửi thề đến gần khan cả cổ. Gần hai tiếng đồng hồ sau, gọi kiểm soát lại, nó phải chửi thề um sùm

lần nữa. Mấy chục chiếc truck làm việc suốt mấy tiếng đồng hồ mà có một chỗ vẫn còn chưa tẩu tán được gần ngàn ga lông bia nguyên chất. Hết xe, hết thì giờ, Frank Nitti nghiến răng ra lệnh:

-Đục. Đù mẹ đục cho nó chảy xuống mương hết.

-Nhưng mà đâu có ….

-Đù mẹ câm họng. Tao biểu đục là đục, cấm cãi. Tối nay chúng nó đến

mà còn một giọt rượu nào thì chết mẹ với tao.

Nói xong là nó thẩy điện thoại lên giá cái cụp. Khốn nạn, cái ống nói vừa

úp xuống lại nghe tiếng chuông reo. Một thằng Caporegime khác gọi đến xin địa chỉ mới để tẩu tán mấy chục thùng bia khác đang còn nằm trong xe.

-Tao bảo mày đem tới khu West mà.

-Thì tôi đang ở khu West đây ông phụ tá. Ông xuống đây mà coi, tụi nó

chất bia ra tới ngoài hàng rào rồi, không còn chỗ nào hết. Tôi phải lo tẩu tán gấp, để mấy chục thùng bia nằm khơi khơi trên xe vào giờ báo động như thế này không phải là ý kiến hay.

-Chờ đó chút.

Frank Nitti quay điện thoại gọi thằng Rocco, đầu nậu khu South side, nổi

tiếng là lắm mưu nhiều kế. Thằng Caporegime này cũng bận bù đầu với đám đàn em, đang la hét om xòm có hơn gì nó, không giúp đỡ gì được. Frank Nitti cáu quá, nói luôn:

-Đù mẹ đem cha nó tới gần bờ hồ Chicago, đục mẹ nó ra cho chảy xuống

hồ hết. Bỏ hết, bỏ hết.

-Giỡn sao ông phụ tá? Một thùng bia giá vốn 30 đồng …

-Vốn con c … , đù mẹ muốn cãi thì về đây mà cãi với xếp Al Capone. Chỉ

thị của xếp đã ban ra rõ ràng: Lúc báo động không thể để một cái gì sơ hở. Nếu tình hình không có nghiêm trọng thì đã không có lệnh báo động. Hiểu không? Bỏ hết.

Nhớ dặn tụi nó canh gác cho kỹ càng, để cho tụi nó sơ sẩy là mày chết với

tao, nghe rõ không? Frank Nitti tuy hò hét hăng lắm nhưng trong lòng lại nghĩ khác. Có mẹ gì đâu mà phải bấn xúc xích lên. Là một cựu chiến sĩ TQLC, nó biết tuân hành triệt để lệnh trên, dù đó là vô lý. Và, chính bản thân nó, nó biết sỡ dĩ nó leo lên được tới chức vụ chóp bu này cũng nhờ cái tính biết thi hành lệnh trên tuyệt đối. Té ra, bỏ nhà đi lính TQLC mấy năm cũng học được nhiều điều hay.

Đúng năm giờ chiều, tám chiếc Limousine đậu dưới lầu khách sạn Lexington cùng nổ máy một lần. Lát sau, xếp Al Capone, bên phải có Frank Nitti,

bên trái có Guzik, đàng sau có thằng Mike cùng hai mươi lăm thằng cận vệ lăm lăm đi xuống lầu. Mọi người chia đều ra tám chiếc xe, trực chỉ một lò nấu rượu vừa được “làm sạch sẽ” để chờ cuộc hành quân cảnh sát của Eliot Ness.

Cũng 5 giờ chiều ngày hôm đó, tại ty cảnh sát, Eliot Ness tập họp hai toán

cảnh sát lại. Trước mặt Mike Casey, y hệt lần trước, Eliot Ness cầm cây gậy chỉ vào tấm bản đồ hành quân đang treo trên bảng. Mấy chục cặp mắt phía dưới nhìn lên đầy vẻ thương hại. Eliot Ness bình tĩnh thuyết giảng về mục đích của cuộc hành quân, cách tấn công, cách đối xử với tù binh.

Đang thao thao bất tuyệt, một thằng cảnh sát ở dưới buộc miệng nói đùa:

-Tối nay nếu có phóng viên tới chụp hình, tôi xin được đứng gần ông.

Cả phòng cười ồ lên. Eliot Ness ngừng một chút rồi cũng cười theo. Chàng

lại tiếp tục nói cho đến phần cuối:

-Nào, có ai hỏi gì không?

-Cũng câu hỏi cũ như cách đây hơn một tháng, mấy giờ chúng ta sẽ tấn

công. Tôi già rồi, cần về ngủ sớm.

Câu trả lờ của Eliot Ness làm cả bọn chưng hửng:

-Có thể chúng ta tấn công tối nay mà cũng có thể không. Anh em cứ trực tại đây. Trước khi tấn công tôi sẽ thông báo cho biết trước 30 phút. Bây giờ còn ai

hỏi gì nữa không?

12 nhân viên cảnh sát Chicago cùng ồ lên một tiếng thất vọng. Trong một

giây phút, họ nhận biết được ông Eliot Ness đang đứng trước mặt mình ngày hôm nay không phải là ông Eliot Ness cách đây hơn tháng. Té ra hắn chỉ giả vờ ngây thơ thôi.

Người có nhiều lý do để thất vọng nhất phải nói là Mike Casey. Trưa nay

lão bán cái tin rất bí mật này cho Al Capone để tụi nó chuẩn bị, bây giờ chờ mãi không thấy ai tới thì biết ăn nói thế nào? Bao nhiêu công trình, mấy ngàn ga long bia phải đem đổ đi khơi khơi xuống mương, ai trả cái tiền thiệt hại này? Nghĩ đến đây Mike Casey thấy lạnh nơi gáy. Ngày mai, nó cứ mững cũ soạn lại, thảy ra dăm ba cái trát nữa, rồi lại nằm nhà ngủ khò thì đời lão tàn. Lần đầu tiên kể từ khi gặp thằng cớm này, lão bắt đầu hiểu ra câu nói của Al Capone mà xưa nay lão vẫn xem thường: “Nó không phải là một thứ cớm thường.” Tinh mắt như Al Capone hèn gì chả sống đến giờ này và trở thành lãnh tụ. Bấc giác, mồ hôi lấm tấm trên trán lão cảnh sát già:

-Ông Ness, ông cho tôi hỏi cái này.

-Hỏi đi.

-Ông có tính tấn công thiệt hay không? Tại tối nay tôi cũng tính về sớm,

không ở đây lâu được.

Eliot Ness nói lớn cho tất cả nghe:

-Tôi xin cám ơn ông đã giúp đỡ cho tôi có được 12 nhân viên cảnh sát ưu

tú này. Tôi không cần ông nữa, nếu ông cần về xin cứ việc.

-Tại sao không tấn công?

Câu trả lời của Eliot Ness còn lớn hơn hồi nãy:

– Tôi chỉ có thể nói được khoảng nửa giờ trước khi tấn công. Rất tiếc tôi

không thể nói cho ông biết chuyện đó được.

Mike Casey nhăn mặt:

-Mình cùng là cảnh sát với nhau, tại sao ông giấu tôi?

Eliot Ness thẳng thừng:

-Vì yếu tố bảo mật. Kinh nghiệm từ lần trước cho tôi biết là những tin tức

mà tôi nói ra bọn Capone đều biết hết. Nếu ta đến một nơi nào đó để bắt rượu mà chúng nó đã chuẩn bị, tẩu tán hết không còn gì cả thì đến làm gì?

Mike Casey thấy nhói trong tim:

-Ông nói vậy tức là ông nghi ngờ cả tôi, một đại úy trưởng phòng an ninh

của ty cảnh sát Chicago?

-Tôi không nghi ngờ ai hết, tôi chỉ có phương pháp làm việc riêng của tôi.

Mong ông thông cảm.

Mike Casey cúi đầu cố dấu vẻ hậm hực, phải nói là dấu cái tức hộc máu

mới đúng, quay lui. Eliot Ness tiếp tục:

-Anh em có thể thay đồ để nghỉ ngơi tại đây. Như tôi đã nói, nếu có hành

quân, tôi sẽ cho anh em dư thời giờ để mặc quần aó vào chuẩn bị. Bây giờ tôi có công chuyện phải đi. Xin cám ơn các anh em.

Vừa bước ra khỏi phòng, chàng quay lộn trở lại liền:

-Đúng bảy giờ sáng, nếu không có lệnh tấn công, anh em có thể đi về

được.

Nhiều tiếng ồ nho nhỏ vang lên. Lần này Eliot Ness bước ra khỏi phòng và

đi luôn. Chàng lên xe phóng thẳng về nhà. Hãy còn sớm chán, chàng thay quần áo bình thản chở vợ con đi ăn tối ở một nhà hàng thanh lịch, gần nơi chỗ nấu rượu mà địa chỉ chàng có đưa cho Mike Casey coi. Tối đó, Eliot Ness lên giường ngủ sớm.

Ngủ cho bù lại những ngày thức thâu đêm suốt sáng.

Cũng đêm đó, trong lúc Eliot Ness ngủ ngon lành ở nhà với vợ con, thì tại

một nơi khác, xếp Al Capone cùng bọn đàn em khổ sở ngồi chờ … cảnh sát đến gần 4 giờ sáng. Trời lạnh mà cái lò nấu rượu thổ tả này có máy sưởi máy nóng gì đâu? Lò nấu rượu mùa lạnh được sưởi bằng mấy chục cái bếp, ai nghĩ đến chuyện đặt máy sưởi? Dù xếp đã cuộn kín người trong chiếc áo bành, hai hàm răng thỉnh thoảng vẫn đánh bò cạp lên từng chặp. Nhìn những cái bếp vừa được tàn phá vội vàng để phi tang, xếp lại càng thấy muốn ăn tươi nuốt sống thằng Eliot Ness.

Cả thằng phóng viên Ferguson đang run rẩy cầm máy hình đứng gần đó

cũng thất vọng không kém. Bặt tin Eliot Ness mấy tuần nay nên khi nghe điện thoại thông báo, trước khi đi, hắn có dặn kỹ ông chủ bút để dành nửa trang đầu cho hình cảnh của cuộc đột kích hôm nay. Điệu này thì ngay cả đến mẫu tin nhỏ cũng không viết được, nói gì đến hình. Ferguson tưởng tượng khuôn mặt giận dữ của lão chủ bút khi nghe hắn thông báo tin buồn. Lạng quạng thì cú này có thể mất việc như chơi chứ chẳng không. Trong một giây phút tuyệt vọng, Ferguson nảy ra ý nghĩ hay là mình quay máy hình, chụp đại một tấm cảnh xếp Al Capone cùng đàn em đang ngồi chờ cớm tấn công nhưng không dám. Mấy chục năm làm phóng viên, hắn biết hạng nào đùa được và hạng nào không nên đùa.

Đêm trải qua thật là dài nơi cái nhà kho trống trải này ….

Khi biết chắc là cuộc tấn công dự đoán sẽ không bao giờ xảy ra, xếp Al

Capone cau mày, nén giận nhìn thằng Frank Nitti nói một câu mà đến lúc này nó mới thấy là rất ý nghĩa:

-Mày thấy không, tao đã nói mà, thằng chó này không phải là loại cớm

thường. Nó đã cho tất cả bọn mình vào xiếc dễ ợt. Bây giờ còn thằng nào cãi tao nữa không?

8 chiếc Cadilac Limousine cùng nổ máy một lúc. Frank Nitti mở cửa, lạnh

quá, xếp Al Capone nhào lên xe để kiếm chút hơi ấm, miệng vẫn còn lẩm bẩm:

-Đù mẹ mỗi ngày nó chơi chừng hai tiệm là mình học máu.

Xếp quay sang bên cạnh, hỏi thằng kế toán:

-Guzick, mày tính thử thiệt hại hôm nay là bao nhiêu?

Gì chứ thiệt hại thì Guzick đã tính sẵn trong đầu kể từ lúc nó vừa đến đây, liền mau miệng trả lời:

-Khoảng năm chục ngàn đô. Chưa nói đến chuyện số lượng bia tồn kho tháng này sẽ không đủ bán.

Xếp Al Capone đấm mạnh tay vào thành xe:

-Đù mẹ thằng chó đẻ. Dọt đi.

Frank Nitti ngồi phía trước bên cạnh tài xế, khuôn mặt tuy có hơi mệt mỏi

nhưng vẫn lầm lì như mọi ngày. Xe chạy được một lúc, nhớ đến trách nhiệm “quân sự” nặng nề của mình, nó quay lui hỏi Al Capone:

-Xếp, nếu mỗi ngày nó chơi mình một vố như vậy thì tính sao?

Thật ra, khỏi cần thằng phụ tá mở miệng xếp cũng đã có kế hoạch cho

tương lai. Đúng ra, ngồi lạnh cóng suốt đêm trong cái nhà kho, xếp đã có nhiều thì giờ để suy nghĩ đến vấn đề này. Tính tới tính lui, quyết định dứt khoát của xếp là như thế này:

-Ngày nào cũng vậy, không cần biết giả hay thiệt, hễ cứ nhận được tin báo

là phải lo “Báo động khẩn cấp” cho tao.

Frank Nitti giựt mình. Làm tướng ngồi trong văn phòng ra lệnh rất dễ,

muốn “báo động khẩn cấp” như kiểu hồi chiều mỗi ngày vài chục lần cũng có sao đâu, chỉ cần nhấc điện thoại lên nói vài câu là xong ngày. Khổ là khổ cho những thằng ngoài “tiền tuyến” như bọn Frank Nitti và đàn em kìa. Hàng bao nhiêu chuyện phải làm, bao nhiêu chi tiết cần phải theo dõi. Frank Nitti bỗng đâm ra hãi.

Nó nhớ hồi “thời kỳ chiến tranh”, bắn nhau từng ngày với bọn Antonio, người chết và máu đổ như vậy mà có bao giờ xếp ra lệnh “Báo động” đâu? Nó biết đàn em nó, sẵn sàng chết, sẵn sàng thi hành bất cứ nhiệm vụ gì được giao phó nhưng bắt chúng nó phải ôm súng chuẩn bị kiểu này thì kẹt. Tụi nó vốn là những thằng không sống nổi trong cái xã hội có nhiều luật lệ nên mới chọn đời giang hồ, dùng súng đạn để làm kế sinh nhai. Bây giờ bắt chúng nó mỗi tối phải đứng ôm súng mà gác như lính chính phủ thì hơi kẹt. Một đêm, hai đêm thì không sao, nhưng kéo dài chừng vài tháng thì chắc chắn là không được. Mà cứ dòm cái bản mặt “láu cá” của thằng Ness này thì nó ngu gì mà không kéo dài cái vụ này ra đến vài tháng? Rồi nó cứ chờ cho mình mệt quá chịu không nổi, lơ là chỗ nào đó thì lái xe cây ủi thẳng vô lò nấu bắt trọn ổ thì tính sao đây? Đó là chưa nói đến những thiệt hại về kinh tế. Mỗi ngày 50 ngàn đô, một tháng là hơn triệu đô là đổ xuống mương chớ ít gì? Đù mẹ đúng là thằng cớm độc như xếp đã từng nói.

Hình như xếp ngửi thấy được sự khó khăn của thằng phụ tá, liền lên tiếng:

-Mày thấy sao?

-Thằng chó đẻ Ness đã đập trúng yếu huyệt của mình. Xếp biết anh em

mình đâu có quen với những vụ báo động lẩm cẩm đó? Tôi thấy báo động chừng tuần lễ là tụi nó sẽ chới với liền. Mình chỉ có thủ. Nó sẽ quần cho mình nát bấy ra rồi bất thần xuống tay là mình kẹt cứng.

-Mày có đề nghị nào khác không?

– Theo tôi, chuyện đâu có gì khó giải quyết. Để ngày mai tôi cho 2 thằng

cận vệ vô thẳng ty cảnh sát, kéo cổ nó ra bắn chết mẹ nó là yên chuyện.

Frank Nitti nói vậy và nó có thể làm vậy được vì đối với nó, ôm súng xông

vào ty cảnh sát để giết người là chuyện nó đã làm. Đúng ra, đối với Frank Nitti, nó coi cái ty cảnh sát như một cái … nhà hàng. Muốn vào thì vào, muốn ra thì ra. Hồi đó, có một đàn em của nó làm chỉ điểm cho cảnh sát bị lột mặt nạ. Thằng đó tới số chết nên ngày nọ, bất mãn vì một tranh chấp vu vơ bèn khơi khơi bước vô ty tình nguyện đi làm điểm chỉ viên cho cảnh sát Chicago. Cảnh sát Chicago trong văn phòng ngày hôm đó tính ôm bụng mà cười nhưng cũng dắt thằng nhỏ lên gặp đại úy Mike Casey. Đại úy nhận liền, còn hứa hẹn tùm lum. Thằng nhỏ đã quá, bước ra khỏi ty cảnh sát mà mặt cứ vênh vênh váo váo lên như vừa được gắn huy chương.

Nó đâu biết rằng chưa bước xuống hết mấy bậc cầu thang là xếp Al Capone đã nhận được điện thoại của ông đại úy cảnh sát. Xếp cười nham hiểm:

-Ông cứ để đó, cứ để cho nó làm điểm chỉ viên một thời gian. Tôi sẽ để

ông hành quân hốt tôi vài vụ cho nó tưởng bở. Cái tôi nhắm là những thằng đồng đảng của nó kìa, vì tôi biết thế nào nó cũng có thêm một mớ bạn bè nữa. Chừng nắm hết được đó tôi sẽ quét một mẻ trọn lứa.

Nhưng chính Mike Casey tạo nên chuyện thì cũng chính lão làm hư chuyện. Một chiều, thằng điểm chỉ viên vô tình thấy ông đại úy “xếp” của mình đi

ăn nhậu và thì thầm to nhỏ với Al Capone. Biết mình đã giao thân phận cho tướng cướp, thằng nhỏ dọt lẹ. Mà ở Chicago này, theo nó, có chỗ nào an toàn hơn là ty cảnh sát? Cu cậu nhào vô ty, tự khai vài cái tội lẩm cẩm ngày xưa, xin ở tù để được “ty nạn”. Nhưng nó là thằng biết đã nhiều, hơn nữa cái mà xếp Al Capone ghét nhất là bọn chỉ điểm cho cảnh sát. Lệnh tử hình được ban ra ngay tối hôm đó. Tội nghiệp, nữa đêm thằng nhỏ đang nằm ngủ trong xà lim cảnh sát thì có năm thằng ôm súng ống xông thẳng vào ty. Bốn thằng chĩa súng bắt mấy anh cảnh sát già đứng yên giơ tay lên trời hết, thằng còn lại vô tận xà lim bắn chết tươi thằng nhỏ. Trước khi bắn nó còn bình tĩnh đọc hết bản án tử hình của xếp Al Capone cho thằng kia nghe mà! Bắn xong chúng thủng thỉnh bước ra, lại còn nói “good night” với mấy thầy nữa mà …

Khi nói với xếp như vậy, cái đầu gian ác của Frank Nitti đã soạn thảo xong

một kế hoạch độc đáo. Đã vào được ban đêm thì sao không vào được ban ngày kìa?

Biết rành rẽ cái ty cảnh sát như nó thì có gì khó? Tuy gay go hơn một chút nhưng thay vì năm thằng ôm súng như tối nọ thì mình cứ cho hai thằng thôi. Hai thằng mặc áo bành tô đàng hoàng lịch sự đi vào giả bộ thăm đại úy Mike Casey. Chừng qua khỏi cái văn phòng chính rồi thì cứ xăm xăm đi tới văn phòng của thằng Ness. Thấy nó là cứ lôi Tommy gun ra mà quạt liền. Cái khó khăn còn lại là làm sao dọt ra khỏi ty an toàn. Nghĩ cho cùng thì cũng chẳng có gì trở ngại vì còn đại úy Mike Casey để ở đâu? Hơn nữa, cảnh sát của ty đều là người nhà, ăn lương tháng thì có ai dám chống cự kìa?

Nhưng câu trả lời của xếp làm Frank Nitti chưng hửng:

-Không. Trước tiên, mình phải thử mua nó đã. Chừng mua không được thì

tao nói cho biết.

– Nhưng nếu tình trạng này kéo dài lâu quá thì sao xếp?

-Mày tin tao đi. Không lâu đâu. Tao còn lo nhiều hơn mày. Ráng chịu

chừng vài tuần nữa là xong. Nhất định phải xong.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Chương 23 – Cuối

«ANH yêu quí,

«Lại gần tết rồi, anh đi như vậy đã gần được một năm, tết này em không hy vọng anh về được, nhưng thôi, em sẽ lên thăm anh, anh đừng lo lắng gì hết nhé, công việc dưới này xong em sẽ bế con lên thăm anh, em cùng anh sẽ ăn một cái tết ở tiền đồn.

«Em đọc báo có thấy rằng tết này có nhiều phái đoàn lên ủy lạo các chiến sĩ ở tiền đồn.

«Nhưng dù sao đi nữa em và con lên sống với anh vẫn phải hơn không anh? Những gói quà nhỏ mẹ con em bưng lên vẫn quí hơn người dưng, người ta có thương anh chắc chắn không bằng em và con thương anh. Trong thư viết cho em, anh nói rằng anh còn sung sướng hơn nhiều người khác, những người bạn đồng đội của anh, em mừng ghê, gần suốt một năm trời em thấy anh buồn bã, em lo lắng hết sức.

«Anh, ở đây, khi mẹ con em ăn một thứ gì ngon mẹ con em lại nghĩ đến anh, sau hoạn nạn của anh, em trở lại đời sống bình thường, em nghĩ, nếu mình… nhưng em không biết phải nói làm sao với anh. Thật vậy, em chỉ còn biết hết lòng thương yêu anh, buồn bã hoài có ích gì đâu, em phấn đấu, ngoài giờ làm việc ở ngoài tiệm uốn tóc, buổi tối em đi học thêm nghề may, bây giờ em đã biết luông áo, em lấy những chiếc áo dài ở tiệm may về luông để kiếm tiền thêm, mua quà bánh cho con. Anh cứ yên trí, em sẽ thay anh lo lắng cho con, và từ nay, mỗi khi em viết thư lên cho anh, anh cứ tin rằng em viết những tin mừng trong gia đình mình. Tiền lương của anh không được là bao, anh đừng gởi về cho mẹ con em nữa, anh giữ lấy mà dùng, anh cần được tẩm bổ, em muốn thấy anh mạnh khỏe cho tới ngày mãn hạn trở về với mẹ con em, khi đó chúng ta sẽ làm lại tất cả.

«Về việc giấy tờ của anh, em đã nghe lời anh, em không chạy chọt làm gì nữa, em chỉ làm một cái đơn, nhờ nhà báo đăng tải mà thôi. Anh à, em có cắt, gởi theo thư này cho anh đọc chơi. Cho dù có gởi cho nhà báo, và có đăng rồi, nhưng em cũng không mấy tin tưởng, người ta bảo những ông lớn ít khi đọc báo lắm, dễ gì mà lọt vào được mắt họ, vả lại, anh cũng đã đi lính rồi, có xét trường hợp của anh cũng kẹt, thôi thì được đến đâu hay đến đấy, mình chỉ kêu cho đỡ tức mà thôi.

«Có người chỉ em chỗ chạy chọt, nhưng em đã chán quá rồi, em không còn tin mấy thằng đó nữa, chúng chỉ tìm cách lừa gạt mình như lần trước mất mười ngàn đồng, rồi rút cuộc không đi đến đâu, biết thế tiền đó em đẻ mua món gì cho anh ăn còn sướng hơn, toàn là một lũ lưu manh xỏ lá. A anh, chiếc xe của anh em đã bán được rồi, em vay thêm tiền để mua một chiếc Honda đàn bà để em đi làm, chớ mỗi ngày em đi tốn tiền quá.

«Chiếc xe của anh vì thiếu nhiều phụ tùng quá nên em chỉ bán có trên mười ngàn, em phải đi vay thêm hai chục ngàn nữa mới mua nổi chiếc xe Hon- da cũ đó anh, nhưng chiếc Honda này còn tốt lắm, buổi chiều em đi làm về, tới đón con chở nó đi chơi một vòng, nó thích lắm, có những lúc hai mẹ con ngồi trong quán ăn uống, em lại nhớ đến anh, em muốn khóc lên được, anh còn nhớ không, lần cuối cùng vợ chồng con cái mình đưa nhau đi ăn uống, anh đã nói chuyện thật nhiều, một nhà vẽ quảng cáo, bây giờ mỗi lần em nghĩ lại, em không thể nào cầm được nước mắt, tội nghiệp anh quá, niềm ước ao của anh thật nhỏ bé, vậy mà cũng dở dang. Nhưng em xin anh, anh đừng bao giờ chán nản cả nhé, anh cứ nghĩ đến cái cửa hàng vẽ quãng cáo của anh đi, nghĩ luôn luôn, nghĩ hoài nghe anh, mình có dịp làm lại tất cả.

«Có người chỉ em một chỗ gởi tiết kiệm, khi nào dành dụm được em sẽ mang lên đó gửi, em cố cần kiệm để có dư tiền mang gởi, đã đến lúc mình phải gây dựng một cái vốn riêng, em đã nghĩ hết cách để kiếm tiền, em xin hứa với anh rằng những đồng tiền của em kiếm ra hoàn toàn lương thiện, chiếc Honda của em là một món nợ khá lớn, em cần phải có tiền trả và có tiền để dành nữa.

«Ngày hôm qua, em đã bằng lòng cho bác Sáu bên cạnh nhà mình thuê mỗi tối hai trăm đồng, bác ấy đi chở Mỹ, bác ấy là người hiền lành, tử tế, chắc anh còn nhớ, tội nghiệp bác con đông và ng- hèo quá, mỗi buổi tối có chiếc xe của em bác Sáu cũng kiếm chác được chút đỉnh, không bao lâu nữa em trả xong nợ chiếc xe, coi như em được không mà nó còn kiếm thêm tiền cho mình nữa.

«Đó, anh thấy em giỏi không? Em tin rằng trời không đóng cửa ai mãi, tất cả là do sự cố gắng của mình. Em cũng nghe lời anh, em không hề than thân trách phận, ở đời ai xấu mặc ai, mình cứ sống cho hết cái lòng của mình, tâm hồn mình được thanh thản, thanh thản trong sự bình thường, em còn nhớ anh thường nói, anh chỉ mong mỏi được sống một cuộc sống bình thường mà thôi, em đang thực hiện điều anh mong ước đây.

«Tuy rằng hôm nay là những ngày giáp tết, thiên hạ đưa nhau đi sắm tết, em nhớ anh, em buồn vì phải xa anh, nhưng em thấy tâm hồn mình thật thoải mái, vì em đã làm được những điều gì anh từng mong ước và cũng là ao ước của em.

«Buổi chiều nay em và con cũng đưa nhau đi chợ tết, em cố sắm cho con quần áo mới, đến hôm nào lên thăm anh, nó sẽ mặc quần áo mới, còn em mua cho anh nhiều quà lắm, anh nhớ rằng em và con nhất định lên ăn tết với anh, cho dù nguy hiểm em cũng đi, má con em sẽ ăn tết với anh ở dưới hầm, ôi nghĩ đến là em thấy sung sướng rồi.

«Thư em viết cho anh lôi thôi lắm phải không, nhưng vì em vui quá đó anh, chỉ một tuần lễ nữa em sẽ được gặp anh, em không vui sao được, em muốn khi anh đọc thư này anh sẽ mỉm cười, bây giờ trời khuya lắm rồi, thư em viết cho anh cũng đã dài, con mình ngủ say trong giường, em sẽ hôn nó thay anh. Cho em dừng bút ở đây nhé.

Hôn anh,

Vợ của anh.

Minh ngồi trên lô cốt, chàng nhìn xuống khu đồng bằng phía chân dưới đồi, khu đồng bằng đã được khai quang, cỏ chết vàng tía, xa hơn nữa là vùng đồi núi chập chùng, địch thường phát xuất những cuộc tấn công từ hướng này. Buổi chiều đang xuống, ánh nắng vàng chiếu trên đồng cỏ úa, càng làm cho cỏ vàng vọt hơn, chiếc đồn nhỏ như bị cô lập giữa trùng điệp của núi rừng, một miếng mồi ngon cho những cuộc tấn công, nhưng từ bao năm nay chiếc đồn này chưa bị Cộng quân tràn ngập, những trận tấn công đồn chỉ có tính cách phá hoại.

Minh nghĩ đến bức thư của vợ, chỉ còn mấy ngày nữa nàng và con sẽ lên trên này, những lời lẽ nàng viết trong thư thật chí tình. Minh hài lòng vì đã có một người vợ tốt.

Minh bỗng nghe tiếng bước chân đi trên cầu thang, chàng quay nhìn xuống, binh nhì Thạnh đang leo lên, tay cầm điếu thuốc lào. Minh hỏi:

– Có chuyện gì đó?

– Lên hút thuốc với bạn chơi.

Binh nhì Thạnh leo lên lô cốt, ngồi bệt xuống ngay, nhồi thuốc lào vào điếu, quấn một mẫu giấy làm đóm.

– Cho xin chút lửa đi.

Minh liệng cái bật lửa cho hắn, hắn hút kêu sòng sọc, nhả khói mù mịt:

– Hút một điếu không?

Minh gác khẩu súng lên thành lô cốt:

– Hút thì hút.

Minh hút một điếu thuốc, chàng thấy người say, một lát sau chàng mới nói được:

– Hút thuốc lào có nước chè tươi nữa mới ngon.

– Vậy mới đúng điệu Bắc kỳ hả?

Minh nhìn ra vùng trời núi mênh mông ngoài kia:

– Đúng, tao còn nhớ hồi nhỏ ở ngoài Bắc, mỗi buổi sáng vẫn thường nghe tiếng điếu cầy rít lên sòng sọc của bọn thợ cầy làm việc cho nhà tao.

– Tao Nam kỳ, mà cũng biết hút thuốc lào, lại nghiện nặng thuốc lào nữa mới là chuyện kỳ chớ, tao thấy mày hút thuốc lào không có vẻ thiện nghệ.

– Tao Bắc kỳ, nhưng tao đâu có biết hút.

Binh nhì Thạnh đứng nhìn ra ngoài trời:

– Gần tết rồi mày nhỉ? Con vợ tao không biết nó đi lấy Mỹ chưa?

– Mày nói chơi hoài.

– Không, thiệt mà mày, từ khi tao đi lính thì nó bán bar, cả năm trời nay nó đâu có thư từ gì cho tao, tao nghi nó lấy Mỹ rồi quá.

Minh lại nghĩ đến vợ mình, chàng hãnh diện khoe:

– Vợ tao trái lại, ngoan lắm, thương tao vô cùng, mấy hôm nữa vợ tao lên đây ăn tết với tao, viết thư lên nè.

Minh không giấu được sự vui mừng, chàng đưa cho Thạnh xem bức thư của vợ, Thạnh chăm chú đọc, đọc xong, trả lại bức thư cho Minh, buột miệng khen:

– Vợ mày thật tuyệt, cả con mày lên nữa hả?

– Dĩ nhiên.

– Mày sửa sang lại cái hầm của mày chứ?

– Để ngày mai tao sẽ bỏ ra một ngày lo cái ổ.

Thạnh cười khà khà, hắn nhìn ra ngoài trời:

– Tao nghe nói trong ngày hôm nay, có một phái đoàn học sinh, sinh viên gì đó lên ủy lạo anh em binh sĩ và tặng quà xuân, sao mãi giờ này chưa tới nhỉ.

Minh nhìn Thạnh bằng đôi mắt khinh thường, chàng vẫn hỏi tới:

– Nghĩa là những em gái hậu phương ra thăm những anh trai ngoài tiền tuyến phải không?

Thạnh vẫn vô tình:

– Thì vậy chớ sao. Minh nhún vai:

– Tao không ham trò đó.

– Có trình diễn văn nghệ nữa nghe mày.

– Lại còn văn nghệ nữa sao? Thạnh ngó bạn:

– Mày không ham? Minh lắc đầu:

– Chưa bao giờ tao nghĩ là tao ham những trò đó hết, ở Quang Trung tao đã coi quá nhiều.

Minh chợt mỉm cười, chàng vừa nghĩ tới một kỷ niệm của thời xa xưa, lần đầu tiên Minh vào lính, chàng được đưa xuống Quang Trung, tập quân sự, chàng nhớ đến những đêm văn nghệ ở khu bãi đá banh của liên đoàn, những cô ca sĩ.

– Mày nghĩ gì đó Minh?

– Tao đang nhớ lại một kỷ niệm của thời xa xưa, một đêm trình diễn văn nghệ ở Quang Trung.

– Sao?

– Mày nhớ một thời có một bài hát thịnh hành không, bài hát mà tao chỉ nhớ câu như sau: “Tôi chỉ yêu có anh binh nhì, dù rằng đồng lương anh rất ít…”

– Ừ tao nhớ, nhưng sao?

– Tao có biết một vụ hiếp dâm xảy ra hồi đó, chỉ vì một cô ca sĩ đã hát bài hát khốn nạn đó vào ngày mãn khóa.

– Ai hiếp dâm?

– Còn ai vào đó nữa ngoài những thằng…

Minh bỏ lửng câu trả lời:

– Nghĩ cũng tội nghiệp cô ca sĩ, nhưng vì cô ta ngu đần quá, hát mị lính bằng bài ca khốn nạn rẻ tiền đó, khi giới thiệu bài hát, lính đã đuổi cô ta vào rồi, nhưng cô ta vẫn cố tình hát lấy cho được.

Sau buổi hát đó cô ca sĩ đi tiểu tiện ở bờ sông gần đó, và không biết một nhóm nào đã cho cô ta yêu lính luôn, yêu một cách thực tế, yêu tơi bời hoa lá, kết cuộc cũng không tìm ra thủ phạm, một bài học quá đắt giá… Nghĩ cũng tội nhưng làm sao được, đương sự ngu đần quá.

Thạnh nhìn Minh bằng đôi mắt đểu đểu:

– Tao hỏi thiệt mày nha.

– Cái gì?

– Mày có chấm mút gì vào vụ đó không?

– Nói bậy, tao đâu có gì, tao chỉ nghe chúng nó nói lại. Nói thiệt với mày, ngày đó tao chưa đủ tu cách để đểu giả, tao ngây thơ trong trắng và lý tưởng, biết bao nhiêu là mộng ước, ngày đó tao là một người lính Không Quân có tương lai.

Minh chợt ngậm ngùi:

– Tao đã lưu lạc từ binh chủng nọ sang binh chủng kia, vì lý do không đâu, bây giờ tao bị bắt lính một cách vô lý như thế này, thiệt có trời mới hiểu, tao không còn gì để nói, phó mặc cho định mệnh vậy thôi, định mệnh chó đẻ.

Chợt Thạnh reo lên:

– Kìa máy bay trực thăng đã đến, có lẽ phái đoàn đến.

Từ cuối trời xa tít, Minh nhìn thấy hai chấm đen, nổi bật trên nền trời chiều, tiếng máy bay trực thăng nổ cành cạch.

Hai chiếc máy bay trực thăng rõ dần, Minh ngước lên nhìn chiếc trực thăng lượn vòng vòng, khói xanh từ bãi đắp đốt lên, bụi cát bay mù trời, Minh nhìn hai chiếc trực thăng bằng đôi mắt thản nhiên. Thạnh cuống lên, hắn ra vẻ mừng rỡ, hắn chặc lưỡi khi thấy những tà áo trắng trong cửa trực thăng:

– Có nữ sinh mày ơi, đêm nay có lẽ họ ở lại đây với chúng mình, họ sẽ trình diễn văn nghệ.

Minh đập vào vai bạn:

– Xuống đón tiếp đi.

– Tao phiên gác kế mày.

– Yên trí, tao gác cho.

– Mày không xem trình diễn văn nghệ?

Minh mỉm cười lắc đầu:

– Không.

Binh nhì Thạnh cảm ơn, hắn vội leo xuống, hắn bỏ quên cái điếu cầy làm bằng vỏ đạn đại liên và gói thuốc lào. Binh sĩ trong đồn chạy ùa ra đón phái đoàn, Minh nhìn thấy trong đám người đó có cả Thạnh, Minh nhìn thấy đủ sắc màu áo tung bay trong nắng chiều, những gói quà nặng trĩu do binh sĩ mang từ trong máy bay ra, tiếng nói cười ríu rít như chim, trong đó hình như có mặt của mấy cô ca sĩ. Phái đoàn đã vào đồn, những lời chào hỏi khách sáo, Minh lại đứng quay mặt ra ngoài đồi núi xa, chàng không mấy quan tâm đến những chuyện đó, chàng cũng chẳng cần nghe họ nói gì, nhưng nghe họ đang nói, được phóng thanh vào máy phóng thanh, tự nhiên chui vào tai Minh, Minh nghe tiếng ông trung úy đồn trưởng hô anh em tập họp, tiếng ông cám ơn phái đoàn, và tiếng một cô gái nào đó ngọt như mía lùi:

– Thưa các anh chiến sĩ, các em gái hậu phương đáng lẽ đến đồn này thăm các anh sớm hơn, nhưng vì còn phải đi nhiều đồn khác nên chúng em đến với các anh hơi trễ, lát nữa đây chúng em lại phải xin phép các anh trở lại hậu phương, nhưng mặc dầu tới thăm các anh trễ, chúng em vẫn làm đầy đủ bổn phận của những người em gái hậu phương, luôn luôn nhớ đến những người anh chiến sĩ ở tiền đồn hẻo lánh nầy, chúng em có mang theo quà cho từng anh, tuy quà không có gì nhưng của ít lòng nhiều, mong các anh hiểu cho chúng em, những người em gái hậu phương của các anh.

Minh thở đến phào một cái, trong khi các bạn chàng vỗ tay rào rào, thật là mệt mỏi. Sau đó Minh nghe tiếng hát nheo nhéo, những bài ca tụng lính ướt át. Minh nghe những bài ca đó, những bài ca vô tri vô vị và xa cách với chàng. Ồ không có gì ăn nhập với chàng được hết, Minh bỗng nghe tiếng bước chân đi trên cầu thang lô cốt, chàng quay nhìn lại, một người con gái tóc xõa bận áo dài trắng đang bước lên, một tay cô ta cầm một gói đồ, Minh nghĩ là gói quà cô ta dành cho chàng, cô ta mỉm cười ngỡ ngàng với Minh. Minh nhìn cô ta từ đầu đến chân, và không nói năng một lời nào hết, cô ta trông khá xinh, ở cổ áo dài cô ta Minh thấy đính tên trường học, nhìn cô ta tự nhiên Minh thấy tồi tội, chàng bắt buộc phải lên tiếng:

– Leo lên đây mệt chết, cô ở dưới đó vui đùa với các bạn tôi.

Người thiếu nữ lấy lại được bình tĩnh, đưa gói quà cho Minh:

– Phần quà của anh đây, em muốn trao tận tay cho anh.

Minh đỡ lấy gói quà:

– Cám ơn cô.

Người thiếu nữ như được trớn, nàng bắt đầu lý lắc:

– Sao anh không xuống chơi dưới sân?

– Tôi phải gác.

– Anh chịu khó quá nhỉ?

Minh rùn vai một cái không trả lời, người thiếu nữ chỉ gói quà:

– Anh không gỡ gói quà ra xem em gái anh tặng gì à?

– Chắc cũng giống các bạn tôi chớ gì?

– Dạ cũng vậy trong đó có một bức thư, gói quà này là gói quà của em bức thư đó cũng của em viết.

– Chắc trong dịp tết này cô phải viết nhiều thư lắm nhỉ?

Giọng người thiếu nữ nũng nịu:

– Nói cho anh biết, em phải viết tới năm chục bức thư đó, mệt còn hơn chép phạt ở trường, anh phải đọc đi, đọc ngay trước mặt em cho em vui lòng.

Minh mỉm cười, chàng lại nghĩ đến bức thư của vợ gởi cho mình, lời lẽ quê mùa nhưng chân thật làm sao, Minh chua chát:

– Rất tiếc tôi không biết chữ. Người thiếu nữ tròn xoe mắt:

– Anh không biết chữ?

– Ngạc nhiên lắm sao? Đó là chuyện thường.

– Anh giỡn em. Minh lắc đầu:

– Em có thể đọc cho anh nghe được không?

– Em sẵn sàng, nhưng em không có thể tin anh không biết chữ.

– Tôi con nhà nghèo, thất học từ nhỏ, lớn lên bị bắt lính và bây giờ về đây, mù chữ là một chuyện thường mà, bộ cô chưa thấy một người mù chữ bao giờ sao?

Người thiếu nữ ngỡ ngàng một lát rồi gỡ gói quà ra, bày biện quanh bờ tường lô cốt, nào bánh trái, kẹo mứt, một hộp sữa hiệu kim cương, Minh còn nhìn thấy một chiếc khăn mùi-soa thêu, một bức thư, nàng gỡ bức thư ra đọc:

«Anh thân mến,

Mùa xuân sắp về trên khắp nẻo quê hương, đêm nay em ngồi viết thư này cho anh, em đang nghĩ đến anh, một người anh chiến sĩ chưa bao giờ biết mặt biết tên.

Em là một cô bé nhỏ ở hậu phương, em xin viết thư này cho một người anh chiến sĩ ở ngoài tiền tuyến xa xôi, em, gia đình em và bạn bè em, đều mang ơn anh, người anh đã từng đêm giết giặc giữ yên từng tấc đất quê hương.»

Minh tốp lại:

– Thôi cám ơn, đủ rồi…

Đôi mắt người thiếu nữ tròn xoe nhìn chàng:

– Anh không thích em đọc thư hả?

– Đâu có phải là không thích, sự thật thì anh muốn để dành.

– Để dành, nhưng anh nói anh không biết đọc kia mà?

– Để dành lâu lâu nhờ người ta đọc một chút cho khoái cái lỗ nhĩ.

Minh đỡ lấy bức thư, chàng nhìn vào bức thư đó, nét chữ cô bé non nớt, chàng đọc qua một lượt, toàn những lời lẽ đầy sáo ngữ rẻ tiền, chàng xoay ngược bức thư, nàng vội nói:

– Không phải anh à, xoay lại. Minh xoay ngang bức thư:

– Vầy có phải không?

Người thiếu nữ xoay lại bức thư cho Minh:

– Vậy đó, vậy mới đúng. Minh thở phào:

– Chà khó quá nhỉ?

Chàng trân trọng gấp bức thư lại:

– Để bao giờ về phép tôi khoe với má bầy trẻ.

Người thiếu nữ cười?

– Anh có bà xã rồi hả?

– Có vợ chín con lận, vợ tôi đang cho phép cho tôi được lấy vợ hai.

– Trời, anh còn lấy vợ nữa sao?

– Đi lính sướng lắm, muốn lấy mấy vợ thì lấy, lần này tôi phải lấy vợ nữ sinh để cô ta viết thư tình cho mình. Nè tôi thích nhất cái câu gì đó, cái câu anh trai tiền tuyến, cái câu nghe mùi làm sao, ra-dô nói hoài đó, cái câu em gái hậu phương nghe cũng mùi.

Người thiếu nữ cười:

– Anh nói chuyện nghe vui ghê vậy đó.

– Tôi vui tánh mà.

Nắng chiều đã tắt trong thung lũng.

Minh nói với người thiếu nữ:

– Có lẽ cô cũng sắp về rồi đó.

– Dạ tụi em phải về trước khi trời tối.

– Về tận Sài Gòn?

– Dạ. tới? – Sướng nhỉ? Bay chừng bao lâu

– Chỉ nửa tiếng thôi anh ạ.

Người thiếu nữ hỏi sang chuyện khác:

– Việt Cộng thường hay tới đánh đây không anh?

– Đánh hoài chớ.

– Thấy ghê.

– Ghê gì mà ghê, quen hết, cũng có thể đêm nay chúng nó đánh đồn này.

– Anh nói mà em thấy ngán quá à.

Minh chỉ tay vào khu rừng trước mặt:

– Có thể chúng đang ở trong kia, mình đang nói chuyện ở đây, chúng nhìn thấy hết trơn.

– Thiệt sao anh?

– Thiệt mà, chúng nó có ống nhòm.

– Anh đánh nhau nhiều trận chưa?

– Đánh hoài.

– Anh giết được nhiều Việt Cộng không?

– Biết bao nhiêu mà kể.

Người thiếu nữ le lưỡi lắc đầu thán phục. Minh hỏi tiếp:

– Sắp sang năm mới rồi, cô chúc tôi gì không?

– Có chứ.

– Chúc gì?

– Chúc anh lập được nhiều chiến công.

– Chỉ vậy thôi sao?

– Chúc anh lên chức, có nhiều huy chương có thêm vợ bé nữ sinh.

– Không biết có cô nữ sinh nào thèm lấy lính không?

– Có chớ.

Minh ranh mãnh nhìn thẳng vào mặt nàng:

– Cô có lấy lính nghèo không?

– Lấy, nhưng không lấy lính có vợ con rồi, không làm vợ bé của lính.

Minh cười vui sảng khoái:

– Nói đùa đó, đừng buồn nhé?

Người thiếu nữ cũng cười, nụ cười nàng thật xinh duyên dáng, tự nhiên.

Minh thấy tội cho nàng, tội cho lòng nhiệt thành của nàng đã lặn lội tới đây, chàng nhận thấy mình nên tế nhị, chàng không nên làm buồn lòng nàng bằng những thái độ, lời nói không đẹp.

– Anh xin lỗi nhé, nếu có điều chi không phải nên bỏ qua.

– Ồ không có gì anh, nhưng em thấy có một điều này.

– Điều gì?

– Từ sáng em đi thăm nhiều tiền đồn, tiếp xúc với nhiều anh em binh sĩ, em thấy họ có thái độ khác lạ, hình như khó chịu về những chuyến viếng thăm này.

– Em nhìn thấy điều đó?

– Em nhìn thấy trong mắt họ.

Minh móc túi lấy bức thư của nàng, bức thư đầy những lời sáo ngữ, đưa ra trước mặt nàng:

– Đừng viết những bức thư loại này nữa, xin lỗi em cho phép anh nói thẳng không?

– Anh cứ nói.

– Bức thư này lời lẽ như công thức, đầy sáo ngữ rẻ tiền..

– Anh…

– Anh cần nói hết sự thật.

Người thiếu nữ lặng thinh. Minh tiếp:

– Anh đi lính lần này là lần thứ hai, anh không biết mình đã có bao nhiêu năm công vụ nữa.

Đôi mắt Minh nhìn về phía đồi núi xa:

– Lần sau cùng này anh bị bắt lính, bị bắt ngoài đường như một tên trốn lính, trong khi anh không hề trốn lính, anh từng có nhiều công trận, anh từng là lính giải phóng thủ đô, lật đổ chính quyền Ngô đình Diệm, từng bị tù oan uổng về đời binh nghiệp, thân phận anh chỉ là một thằng Tốt Đen thấp cổ bé miệng, kêu không thấu trời xanh, mà không phải chỉ mình anh, bao nhiêu người khác cũng bị bắt một cách oan uổng như anh, anh chấp nhận chống Cộng, nhưng anh muốn có một sự công bằng, không thể bắt buộc một lớp người đã hy sinh và để một thiểu số người khác được quyền thụ hưởng trên xương máu bạn bè anh, anh thù ghét những thằng ăn cắp, bạn bè anh cũng thù ghét những thằng ăn cắp. Và em, những người con gái trong trắng như em…

Chàng im lặng nhìn thẳng vào mặt nàng, một cái nhìn thật thẳng thắn, cái nhìn như thấu suốt thân phận nàng:

– Anh biết, những người con gái như em đầy nhiệt thành tội nghiệp, sự nhiệt thành đó bị ghét lây, anh nói chắc hẳn em không còn ngạc nhiên về những tia nhìn của bạn anh, em thừa thông minh để hiểu tại sao?

Người thiếu nữ cúi xuống khẽ gật đầu:

– Em hiểu.

Minh nhồi một điều thuốc lào chàng bật quẹt lên:

– Em cho phép anh được hút thuốc lào bằng bức thư công dụng này…

Bức thư cháy và điếu thuốc lào đỏ rực, rít lên kêu sòng sọc, chàng nhả khói mù mịt, người thiếu nữ thấy bức thư của mình trong phút chốc cháy ra than, nhưng tuyệt nhiên không thấy giận người lính.

Nàng nhìn khuôn mặt đen đúa của chàng thật buồn, đôi mắt u uất, đôi mắt mà nàng đã nhìn thấy ở đâu đó, nàng cố mọi trí óc của nàng, nàng cố nhớ xem. Chàng vừa đứng lên, những tia nắng quá chiều vừa rọi trên khuôn mặt của chàng, đôi mắt chàng thêm phần u uẩn, u uẩn kỳ lạ, chàng giống hình ảnh một bức tượng, một bức tượng nào đó mà nàng đã nhìn thấy.

Một buổi chiều, phải, một buổi chiều nàng đã cùng gia đình đi ăn ở tận Biên Hòa, trên đường về chiếc xe hơi của gia đình nàng đã dừng lại trước nghĩa trang Quân đội, ngay dưới bức tượng chiến sĩ trận vong, nàng đã ngắm pho tượng đó, pho tượng ngồi buồn bã trong chiều tà, và đôi mắt pho tượng đó nhìn ra một phương trời xa thẳm, đôi mắt thật buồn, rã rời mệt mỏi.

Nàng nhìn lại người lính, đôi mắt anh nhìn ra vùng đồi núi xa xa, khuôn mặt nhuộm ánh nắng vàng, tự nhiên nàng thấy lạnh cả người. Tiếng người lính trầm trầm; vẫn không quay mặt lại nhìn nàng:

– Em xuống đi, có lẽ các bạn em sắp về.

Tiếng chàng nhỏ hơn:

– Cám ơn, cám ơn tấm thịnh tình của em.

Người thiếu nữ nhìn người lính một lần cuối, nàng nắm nhẹ cánh tay của chàng:

– Em về, chúc anh gặp nhiều may mắn.

– Cám ơn, chúc em một mùa xuân đẹp.

Khi người thiếu nữ lên máy bay với các bạn, chiếc trực thăng cất bổng lên trời, nàng vẫn nhìn thấy người lính, chàng còn đứng đó, chàng như bức tượng, chiếc đồn hình tam giác nhỏ dần, nhỏ mút mắt giữa rừng núi trùng điệp. Nàng ôm lấy mặt, nàng muốn xua đuổi một hình ảnh, hình ảnh một chiếc xe dodge chở chiếc quan tài, trên chiếc quan tài phủ lá Quốc kỳ, cạnh đó người vợ trẻ ngồi gục đầu, đứa con nhỏ chít vành khăn tang. Đừng nghĩ bậy, đừng nghĩ bậy… Nhưng hình ảnh đó cứ lượn lờ trước mắt nàng, nàng thấy mình lao chao, như ngồi trong chiếc xe ấy chạy cô đơn trong thành phố một thành phố thật đông đảo.

Nàng ôm lấy mặt, gió thốc tháo, chiếc trực thăng lao chao, tiếng người xạ thủ đại liên đứng cạnh cửa máy bay la lên:

– Yêu cầu cột chặt dây thắt lưng.

Chiếc máy bay lao chao, mặt trời đã khuất bóng, trời kéo mây đen, máy bay đang lạc vào một cơn bão, người thiếu nữ nghe xung quanh nàng vang lên những tiếng khóc, gió thổi thốc tháo và trong thân tàu những giọt nước mắt quất vun vút, người xạ thủ đại liên cố gắng kéo tấm cửa ngang hông tàu.

Người thiếu nữ ngẩng lên nhìn vào những khuôn mặt bạn bè, những khuôn mặt không còn hồn, nàng không hiểu tại sao mình lại bình tĩnh một cách kỳ lạ, nàng nghĩ đến khuôn mặt buồn bã của pho tượng chiến sĩ trận vong.

Sàigòn, tháng sáu năm bảy mươi

NGUYỄN THỤY LONG

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Chương 22.

MINH NGỒI GỤC ĐẦU, NGỌC NGỒI BÊN CẠNH CHÀNG. Buổi sáng ở vườn Tao Ngộ đối với Minh không vui mấy, Ngọc chỉ khóc hình như nàng muốn nói với Minh điều gì đó, nhưng nàng còn ngại ngùng, đôi mắt nàng đỏ hoe, chiếc khăn tay nhàu nát ra trong tay nàng, giỏ đồ ăn để bên cạnh hai người, Minh cũng chẳng buồn ăn uống gì nữa, hồi nãy nể vợ Minh ăn một miếng bánh mì thịt, uống một chai nước cam. Minh hỏi vợ lần này không biết thứ bao nhiêu:

– Tại sao em không cho con lên? Ngọc hơi gắt:

– Em đã nói với anh, nếu cho nó đi em sẽ phải nghỉ luôn một ngày, bà chủ đâu có chịu như vậy, nó đi với em rồi đưa đi gửi lại nó nhất định không chịu.

Minh nắm lấy bàn tay xanh lướt của vợ:

– Thôi em cũng đừng chạy chọt gì hết cho mất công, anh thấy em khổ cực nhiều quá về anh, anh thấy áy náy làm sao ấy, cùng lắm là anh đi lính nữa, em ráng nuôi con, em cũng chẳng cần nhờ vả ông đại úy làm gì, phiền người ta, ở nhà còn chiếc xe của anh đó, em bán đi mà tiêu xài, anh chán nản lắm rồi, đời anh không may gặp toàn bất hạnh, anh biết làm sao được, cứ coi như không có anh.

Minh thở dài, chàng lại thấy vợ mình khóc nữa, chàng khổ tâm hỏi lại vợ:

– Em có nghe anh nói gì không?

Ngọc dạ thật nhỏ, nàng cũng muốn nói với chàng điều đó, nhưng nàng thấy nàng không đủ can đảm để nói, nàng không thể nói được nỗi nhục nhã này nàng phải mang mãi trong lòng, không thể nói với chàng, không thể được, không bao giờ Ngọc tự nhủ như vậy.

Nhìn làn da cháy nắng của chồng, Ngọc thấy tội nghiệp cho chàng, bây giờ Ngọc lại cho chàng biết tin đó nữa thì làm sao chàng có thể sống được.

Đêm hôm qua Ngọc đã ôm con khóc thầm suốt đêm, nàng không thề nào ngờ được đời sống nầy lại bỉ ổi đến như vậy. Buổi chiều hôm qua không thấy Minh về phép như lời hứa của ông đại úy tốt bụng, nàng chạy tới nhà ông ta, ông ta vừa đi làm về, ông ta là một người đàn ông còn sống độc thân, ở chung với một người bạn, ông ta tiếp Ngọc ở phòng khách, tỏ ra ngạc nhiên, khi nghe Ngọc nói ông ta gắt lên:

– Tại sao kỳ vậy? Hôm qua chính tôi đã lên trên đó lo cho anh ta mà, đáng lẽ chiều hôm nay anh ta phải về phép mới phải chớ.

Ngọc lễ phép:

– Thưa đại úy, em chưa thấy chồng em về, bây giờ là bảy giờ tối rồi, có lẽ nhà em bị cúp phép.

Ông đại úy tỏ ra suy nghĩ:

– Cũng có thể lắm, thôi được, hay là thế này…

– Thưa đại úy tính sao?

– Mai tôi với cô lên trên đó, tôi sẽ xin cho anh ta về nghỉ phép một hai ngày.

Ngọc mừng rỡ:

– Thưa đại úy được sao?

– Được chớ sao không, mấy ông chỉ huy trên đó đều là bạn của tôi cả mà, tôi sẽ bịa ra một chuyện gì đó đề nói với họ cho phép chồng cô về.

Nhưng ông Đại úy tỏ ra suy nghĩ một lát:

– Điều đó không khó khăn lắm nhưng, để phòng hờ tôi không gặp được mấy ông chỉ huy bạn của tôi thì cũng coi như cô lên thăm chồng cô, cô cứ mang những đồ thăm nuôi lên, sáng mai tôi sẽ tới đón cô.

Ngọc bận chiếc áo dài màu mỡ gà, chiếc áo dài may thật khéo, ôm sát lấy thân thề cân đối của nàng, người đại úy lén nhìn nàng, bỗng nhiên ông ta đề nghị:

– Muộn rồi, có lẽ cô cũng chưa ăn uống gì, cô cho phép tôi được mời cô đi dùng bữa luôn thể rồi tiện xe tôi đưa cô đi mua ít đồ cho anh ấy.

Ngọc không thể từ chối được, lòng tốt của ông ta, suốt bữa ăn cơm gà ở An Đông ông ta chỉ nói chuyện về Minh, ông ta hứa hẹn thật nhiều:

– Cô cứ yên trí, trường hợp của anh Minh không phải là trường hợp khó giải quyết, chỉ chậm trễ trong một ít ngày mà thôi, thế nào cũng xong.

Ông ta khen Ngọc là người vợ tốt, biết lo lắng cho chồng, Ngọc uống ly Côca côla, nàng bỗng nhiên thấy người rạo rực khó chịu. Ông Đại úy khéo léo, ông ta mời Ngọc vô nằm nghỉ ở căn phòng bên cạnh.

Khi Ngọc tỉnh dậy, nàng biết có đã chuyện gì đó xảy ra cho nàng. Ngọc đứng vụt dậy, nàng xấu hổ vì trên người nàng không còn một mảnh vải che thân. Ngọc vơ vội đống quần áo, nàng nhìn thẳng vào mặt người đại úy mà nàng tôn kính:

– Tôi không ngờ ông khốn nạn như vậy.

Nàng ôm mặt khóc nhục nhã, ông sĩ quan vẫn ngon ngọt dỗ dành, ông ta hứa đủ điều đủ chuyện, Ngọc la lên:

– Tôi không cần cái mặt ông, ông biết không, ông là một thằng khốn nạn, các người khốn nạn. Trời ơi là trời….

Ngọc ngồi bên cạnh chồng, bây giờ nàng lại nghĩ đến chuyện đó, nếu chàng hay biết chàng sẽ điên lên mất. Ngọc nhẫn nhịn, nàng càng thương yêu chồng. Vợ chồng nàng sống bao nhiêu năm trời nay, sống thật hiền lành, thật lương thiện vậy mà những bất hạnh cứ theo đuổi hoài. Ngọc nhìn chồng đôi mắt nhòa lệ:

– Anh đừng lo lắng gì chuyện nhà hết nhé, để em lo, em cố gắng chạy chọt một lần nữa xem may ra có thể…

Minh lắc đầu:

– Thôi kệ việc đó, để anh lo cũng được.

– Anh mà lo gì nổi, anh còn bận học hành trong này.

– Anh sẽ làm một cái đơn gởi cho nhà báo nhờ đăng khiếu nại, rồi được hay không tính sau.

Minh không muốn nghĩ đến chuyện buồn phiền đó nữa, chàng nói sang chuyện khác, chàng nhìn khu vườn Tao Ngộ, nhìn những bà mẹ xuống thăm con, những cặp tình nhân ngồi âu yếm bên nhau. Minh nói với vợ:

– Trước đây gần mười năm, anh cũng ra chơi khu vườn nầy, khi ấy anh không có ai là thân thích, anh đi chơi một mình, bây giờ có em xuống thăm anh, anh cảm thấy mình…

Chàng ngưng ngang lời nói, nhìn vợ:

– Anh đâu có còn cô đơn nữa. Ngọc rán cười cho chồng yên lòng:

– Em không giúp gì được anh, em ân hận quá.

– Em đã giúp anh quá nhiều, như vậy là đủ rồi, anh có mong mỏi gì hơn đâu.

– Số phận anh thật đen đủi.

– Thôi đừng nói nữa, anh bằng lòng với số phận của mình dù là đen đủi.

Chàng nhìn trời:

– Thôi em về đi, để con mong tội nghiệp nó, anh lo lắng cho nó, tính cho nó một tương lai khá hơn, nhưng bây giờ anh không làm gì được.

Minh nắm lấy tay vợ, chàng nén tiếng thở dài:

– Em sẽ thay anh lo cho nó.

– Nhớ về bán cái xe đi lo thuốc thang cho con.

Ngọc cúi đầu. Buổi tối Minh nằm lì trong phòng, những người bạn của Minh đã đi phép về, Thái đến cạnh Minh:

– Cậu không ra vườn Tao Ngộ nghe ca nhạc à?

Minh lắc đầu:

– Nghe ngóng quái gì, tôi không còn tâm trí nào.

– Buồn hoài ích lợi gì.

– Tôi cũng chẳng lo lắng nữa, tôi không muốn buồn.

– Bất mãn chăng?

Minh mỉm cười ngồi dậy:

– Mình ra câu lạc bộ uống cà phê.

Thái vui vẻ đi theo bạn. Ở trong trại nầy Minh không thân ai bằng với Thái. Thái nghèo nhưng rất dễ thương, Thái không có ai là thân thích. Minh có tiền thường rủ bạn đi uống cà phê sau những giờ tập, cho đỡ buồn, chàng không ngần ngại tâm sự với Thái về hoàn cảnh của mình. Thái chỉ biết an ủi bạn:

– Số phận mình là vậy, buồn làm chi.

Hai người đi dưới bóng cây bả đậu,

Minh nhớ lần bị đưa xuống đây, chàng cũng ngồi dưới bóng cây bả đậu, với những người bạn cùng hoàn cảnh.

Minh buồn bã, mười năm trôi qua rồi, mười năm chàng phải trở lại quân trường trong trường hợp một tên trốn lính. Minh nói với bạn:

– Thật tôi không ngờ, phải chi mình trốn lính thật, có bị bắt cũng không ân hận, nhưng đàng nầy tôi đã đầy đủ giấy tờ, nhiệm vụ, tôi bị đi lính lại như một thằng trốn lính. Mình thấp cổ bé miệng làm sao kêu cho thấu trời xanh.

– Chị ở nhà chạy chọt đến đâu rồi?

Minh lắc đầu:

– Không đi đến đâu hết.

– Vậy mười ngàn chị đã đưa cho ông đại úy nào đó?

– Tôi không hỏi, nhưng chắc không nước nôi gì, tôi có nói với vợ tôi đừng thèm lo nữa, muốn đến đâu thì đến.

Hai người đã tới câu lạc bộ, Minh gọi hai ly cà phê sữa, chàng tiếp tục tâm sự:

– Tôi thấy Quang Trung hồi này dở hơn hồi mười năm về trước, hồi tôi mới đi lính, xuống Quang Trung này khổ trần ai. Hồi đó có bệnh đau màng óc, cứ chiều chiều tôi ngồi chơi ở bãi đá xanh, thấy bạn bè khiêng nhau lên nhà thương, chết vì bịnh đau màng óc hơi nhiều. Hình ảnh một người lính nằm trên chiếc giường sắt, hai người bạn khiêng, hình ảnh đó không phai nhòa được trong trí nhớ của tôi.

Minh thở dài:

– Bây giờ không ngờ tôi lại phải xuống đây.

Ở những bàn gần Minh và Thái ngồi, một bọn tân binh đang ngồi nhậu nhẹt nói chuyện om sòm, chúng cười nói và chửi thề. Nhìn cảnh ăn nhậu vui vẻ ấy Minh bỗng nhớ tới hình ảnh của hồi mười năm về trước. Ở Quang Trung này, chàng cũng ăn nhậu như vậy, cũng cười đùa vui vẻ, những người bạn ngày xưa của chàng, chàng không biết bây giờ chúng làm gì, ra sao, đã lâu lắm rồi chàng không gặp chúng, cũng có thể nhiều thằng bây giờ nên ông nầy ông kia, có nhiều thằng khác mạt vận hay đã chết. Minh nói thầm: “Bây giờ tao lại vào đây chúng mày ạ”. Minh buồn buồn, chàng cảm thấy mình ít ồn ào hơn xưa, chàng thích ngồi một chỗ, nghĩ đến dĩ vãng không mấy vui vẻ, nhưng dễ thương, Thái mời Minh một điếu thuốc lá. Minh thẩn thờ hút thuốc, chàng lơ mơ nhả khói:

– Hồi mười năm trước tôi thường ra câu lạc bộ này ăn nhậu với bạn bè, ngày đó tôi thấy mình hăng hái, và thường đánh lộn, bây giờ thấy mình có vẻ già đi, và muốn ngồi một chỗ, tôi nhớ đến thằng Thục, thằng bạn thân tôi, thằng Thục là là một thằng chuyên môn đánh lộn, nó ghét ai thì kiếm cớ đánh người ta cho bằng được.

Thái nói:

– Tuổi trẻ mà, ngày xưa tôi cũng vậy, tôi cũng ồn ào như những thằng ngồi bên kia, bây giờ tôi có cảm tưởng như tôi không còn đủ sức để la hét nữa, chương trình học tập ở đây đã làm tôi kiệt sức, nói chi là la hét, tôi sợ rằng tôi không sống nổi đến ngày mãn khóa, thỉnh thoảng lại lên một cơn đau tim, có thể tôi sẽ chết trong một cơn đau tim.

Minh nhún vai:

– Chuyện đó thường quá, có gì lạ đâu, chẳng nên than phiền nữa, tất cả do số kiếp.

– Anh có vẻ bi quan. Minh lắc đầu:

– Tôi hết bị quan rồi, mặc kệ muốn đi đến đâu thì đi, hôm nọ tôi cũng nói với vợ tôi không được chạy chọt gì nữa hết, mình thật hết kiên nhẫn.

– Khiếu nại chớ?

_Việc đó tôi lo, mẹ, tôi thù thằng cha cảnh sát. Mình cũng sắp mãn khóa rồi.

Minh im lặng, chàng hít từng hơi thuốc lá dài, Minh nghĩ về căn nhà nhỏ bé của mình, nghĩ đến vợ, đứa con nhỏ, suốt đời chàng chỉ ao ước một điều nhỏ nhoi như vậy mà cũng không được. Minh nén tiếng thở dài, chàng đặt tiền ra bàn:

– Thôi mình về để sức ngày mai mà tập chớ. Hình như ngày mai mình bò hỏa lực phải không?

– Phải, có sao đâu?

Minh về phòng ngủ, các bạn chàng đã đi ngủ hết, chàng leo lên giường nằm, chàng thao thức không thể ngủ được, chàng nghe tiếng đại bác từ xa vọng lại, ánh hỏa châu thắp sáng cả một góc trời, tiếng đại bác từ Quang Trung bắn đi, yểm trợ một vùng nào đó.

Gần sáng cả phòng ngủ thức giấc vì có tiếng gù khốn khổ của một anh chàng bị bệnh suyễn. Minh ngồi nhỏm dậy, chàng sang giường bên cạnh đỡ lưng cho người bạn.

Tân ngồi gập lưng thở, hơi hắn như muốn tắc nghẹn trong cổ họng, phòng ngủ lao nhao, nhưng chỉ lao nhao trong mấy phút rồi thôi, vì cảnh đó quá quen thuộc, đêm nào Tân cũng làm một trận hen, lúc ấy trông hắn khốn khổ làm sao. Minh luôn tay vuốt ngực cho bạn, một người nằm dưới cằn nhằn:

– Đ.m, người ta bệnh hoạn như vậy mà cũng bắt người ta đi lính, đù má mấy thằng bác sĩ bất nhân.

Một tiếng khác:

– Câm mồm lại đi, muốn chết sao mày?

– Tao chửi đó, thằng gì nó làm gì tao, nếu mày muốn được giấy phép thì lên báo cáo đi, đồ chó săn.

– Ê, đ… mẹ không có nói láo nghe mày.

– Mày là an ninh hả? An ninh tao đập thấy mẹ mày luôn.

Người nằm dưới vùng dậy ra khỏi giường. Phòng ngủ lục đục, mỗi người can một câu, có người vùng dậy kéo tay gã gây gỗ:

– Thôi tao xin chúng mày, cho anh em tao ngủ với đi.

– Đù mẹ, tại sao nó lên lớp tao?

– Anh em nói đùa nhau một câu có sao đâu.

– Đù mẹ, cái thứ tư cách lính kín đó.

Gã bị xỉ vả cũng nhổm dậy phân trần:

– Tao có nói gì quá đáng đâu?

Chúng mày thấy nó sa sả chửi tao.

Cả bọn lôi kéo nhau một hồi mới yên. Minh đỡ Tân nằm xuống giường, cơn suyễn của Tân cũng chấm dứt, mồ hôi sâm sấp trên trán hắn, Minh lau trán cho bạn, chàng hỏi nhỏ:

– Đỡ mệt chưa? Tân nắm tay bạn:

– Cám ơn, thôi về ngủ đi.

– Tao sợ mày chết bất tử quá. Tân mỉm cười trong bóng tối:

– Tao mong chết đi cho rồi, chắc tao không thể chịu đựng được hơn nữa.

– Chỉ nói bậy, thôi ngủ đi, sáng mai mày nên khai bệnh.

– Không ích lợi gì, tao đã chán cái bệnh xá trong này, tao không muốn nhìn thấy cái mặt chuột con ông cháu cha mình ngồi trong đó.

– Thôi ngủ đi đừng bất mãn xằng nữa.

Minh leo lên gường nằm, chàng thấy đầu óc mình lúc này nặng nề, chàng không thể ngủ được, nỗi thống khổ đè nặng trong đầu óc chàng, chàng muốn nổi cơn điên, Minh nghĩ đến cơn điên của mình ngày trước, nếu quá sức chịu đựng của mình, mình cũng dám nổi điên lắm. Hình ảnh chiếc xe đạp xoay tít trong đầu chàng, chàng ôm lấy cái đầu mình tự nhủ, mình hãy bình tĩnh, hãy bình tĩnh lại nào, Minh, Minh, Minh.

Minh mở mắt trừng trừng nhìn vào trong bóng tối.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 21 Apr 2025

Chương 21.

CHIẾC XE NHÀ BINH CHUYỂN BÁNH, bỏ lại đằng sau một đám bụi mù mịt, hình ảnh những tên trốn lính bị bắt lẫn trong đám đông. Trời nắng như đồ lửa, Minh ngồi gục đầu, hai bàn tay vò rối mái tóc, Minh không muốn nghĩ ngợi gì hết, chàng cố xua đi hình ảnh tên bị bắt ra khỏi đầu mình, trong lúc này chàng chỉ nghĩ đến vợ con mình mà thôi, hình như xe chạy khỏi thành phố, Minh ngửi thấy mùi không khí trong lành của đồng quê, mùi mạ non đâu đó trộn lẫn mùi đất gay gắt, xe tăng tốc độ, bọn lính ngã bổ nhào vào nhau.

“Anh yêu quí,

Tuần lễ vừa qua, em không thể xuống thăm anh được, có lẽ anh chờ em lắm, nhưng anh có biết không, con chúng ta đau quá, nó bị nóng lạnh hoài, buổi sáng em định đưa nó đi nhưng thấy nó nóng quá em đành ở nhà với nó vậy, cũng không dám mang nó đi gởi như mọi khi vì sợ người ta săn sóc con mình không được chu đáo, tuần tới thế nào em cũng phải xuống thăm anh, và có lẽ sẽ có tin mừng cho anh.

Tiện trong thư này em cũng tin luôn cho anh rõ rằng những nơi anh bảo em đến, em đã đến rồi, ở đơn vị cũ của anh người ta hứa sẽ can thiệp cho anh, em đã tới tận nơi trình bày mọi sự, có ông đại úy, em không biết ông ta làm gì ở trong đó, đã la um lên khi nghe em trình bày mọi chuyện, và ông ta cũng hứa can thiệp cho anh. Mình ở hiền gặp lành anh ạ. Anh yêu quí, em đã tới quận cảnh sát nhận cái xe về cho anh, thật là buồn anh ạ, chiếc xe của anh bị họ tháo đồ lung tung, em có khiếu nại lên trưởng chi cảnh sát nhưng ông ta không chịu giải quyết, ông ta nói biết đâu được việc đó. Một ông cảnh sát còn hù em nữa, ông hỏi em muốn gì, muốn kiện phải không? Em hiểu anh chiếc xe gắn máy của anh, anh giữ gìn cẩn thận lắm chớ đâu có thiếu đèn, thiếu dây, thiếu nhợ lung tung, anh thay toàn đồ mới. Mấy người lãnh xe cùng với em cũng bị như vậy, họ nói rằng chính cảnh sát đã tháo những phụ tùng ấy, nhưng em nghĩ nhân viên công lực ai lại làm thế, chắc là có kẻ lưu manh nào đội lốt cảnh sát làm bậy đó thôi. Mà thôi anh, kiện tụng làm chi cho mất công, mình là kẻ thấp cổ bé miệng có kiện cũng không đi đến đâu, chiếc xe của anh em đã mang về nhà, bao giờ anh về nhà anh mang đi sửa lại vậy.

Em nói tiếp về vụ em đi chạy cho anh nghe nhé, đáng lẽ chuyện này em giấu anh sợ anh buồn, nhưng em thấy rằng cũng nên cho anh biết. Ông đại úy cho em biết rằng vụ bắt oan anh coi bộ dễ dàng, nhưng cũng thật khó khăn nếu có đồng tiền thì vẫn mạnh hơn, em cũng chạy chọt, trong tuần này em phải đưa cho ông mười ngàn đồng đề ông ta đưa cho người ta. Ông đại úy là một người thật tốt đó anh, ông ta giúp đỡ em đủ chuyện cho nên em rất tin ông ta, theo ông ta nói thì đáng lẽ anh bị đưa về Quân Vụ Thị Trấn, người ta phải sưu tra anh ở đó xem coi anh có hợp lệ hay không, nếu anh hợp lệ thì anh mới đi, còn không anh đã được thả rồi, vụ này do sự trục trặc vì lý do hành chánh sao đó, nhưng ông nói anh cứ yên trí, đừng lo lắng gì cả, trong tuần tới ông ta sẽ vào tận Quang Trung để bảo lãnh anh về phép.

Anh càng gặp nhiều hoạn nạn, em càng thương anh, em không hiểu, tại sao một người hiền lành như anh mà chỉ gặp toàn những điều bất hạnh, nhưng dù thế nào đi chăng nữa anh vẫn là chồng em, trong đời em chưa thương yêu ai bằng anh, anh đừng lo lắng cho gia đình nhiều quá mà thiệt vào thân, mình là cây ngay thì không sợ chết đứng phải không anh.

Anh đi khỏi em cố gắng làm việc nhiều hơn, trước kia em chỉ làm việc đến sáu giờ chiều rồi về, nhưng bây giờ em đón con, tội nghiệp thằng nhỏ, bà vú nuôi nó nói nó khóc, nó nhớ anh suốt ngày, nhưng em làm sao được, em chỉ biết ôm con ngủ sau một ngày mệt nhọc. Về số tiền mười ngàn đồng em đã hỏi mượn trước bà chủ tiệm, bà chủ hứa trong tuần này sẽ đưa cho em rồi trừ dần vào số lương, em nghĩ như vậy còn hơn là đi vay. Thà rằng mất tiền để anh được tự do một cách hợp pháp hơn là thấy anh khổ sở một cách vô lý. Nói thú thật với anh, hôm em xuống thăm anh ở vườn Tao Ngộ, nghe anh nói chuyện mà em sợ quá, em chỉ sợ anh nghĩ quẩn làm bậy rồi khô thôi, anh nhớ đừng có bắt chước mấy người bạn của anh nhé, họ đào ngũ thì mặc họ. Anh kể chuyện người bạn của anh nhảy xe hơi bị bắn què giò, vậy là hôm ấy em về nhà ngủ không được đó anh, em nằm mơ cứ thấy anh bị bắn què giò. Em van anh, anh cẩn thận, đừng để xảy ra chuyện gì mà khổ vợ khổ con, anh cứ bình tĩnh chuyện đâu còn có đó, em hết lòng lo cho anh, sức em bao nhiêu em sẽ lo bấy nhiêu. Ông Đại úy nói trường hợp của anh chỉ khoảng mười ngày nữa là anh ra được thôi. Khi em tới văn phòng của ông ta, ông ta gọi điện thoại đi lung tung nhờ can thiệp. Buổi tối hôm qua, ông ta lái xe đón em tại tiệm uốn tóc, mời em đi ăn để nói chuyện về anh, em ngần ngại một chút nhưng em nghĩ đến anh, em phải chiều lòng ông ta.

Ông ta thật là người đứng đắn đấy anh, trong suốt bữa ăn, ông ta đưa em về đón thằng Dũng, ông ta cũng tỏ ra thương thằng Dũng lắm anh à, ông lại cho nó ăn kem, nhưng thằng nhỏ thiệt là khó, ông đại úy dỗ thế nào nó cũng không chịu ăn.

Thôi thư đã dài, anh cho phép em dừng bút ở đây nhé, chủ nhật này thế nào em cũng lên thăm anh, anh cứ chịu khó nhé, tất cả mọi việc rồi sẽ êm đẹp hết, anh cố giữ gìn lấy sức khỏe…”

Minh gấp bức thư của vợ lại, chàng thừ mặt ra, thật tội nghiệp cho ràng, Minh nghĩ có lẽ trong bức thư đó nàng còn nhiều điểm muốn nói nữa, nhưng nàng sợ Minh buồn nên nàng giấu, Minh không muốn vợ lo lắng thái quá cho mình, Minh tự nhủ để tuần lễ tới nàng lên thăm mình rồi nói cho nàng biết, nàng không cần phải chạy chọt quá như vậy, nàng cần để sức lo cho con. Minh muốn viết cho vợ một bức thư, nhưng chàng không có thời giờ.

Lừa đảo… kêu gọi từ thiện

baotreonline.com

Nguyễn Sinh

Post on June 7th, 2024

Post by Sơn râu 20 Apr 2025

Ăn chặn tiền từ thiện của người nghèo đã là hành vi khó tha thứ, nhưng chưa dừng ở đó, hiện nay bọn lừa đảo ở Việt Nam còn bày ra nhiều trò ma mãnh. Hình thức khá phổ biến là ăn cắp thông tin người nghèo gặp hoạn nạn, những bệnh nhân không có khả năng điều trị, người chết không có tiền mai táng thậm chí những thông tin không có thật rồi dàn dựng, cắt ghép, sau đó tự lập ra những tài khoản giả trùng khớp với nhân vật chính nhằm lừa đảo chiếm đoạt tiền bạc, vật chất của người hảo tâm trong nước lẫn ngoài nước ủng hộ …

Đăng tải những sự việc không có thật lên mạng xã hội để lừa tiền từ thiện  

Những mánh lới thường thấy

Tình trạng lừa đảo bằng thủ đoạn kêu gọi quyên góp, ủng hộ trên mạng xã hội xuất hiện đã khá lâu. Theo đó, kẻ gian sẽ lập ra các trang mạng xã hội (Facebook, Zalo, Instagram…) rồi tự “sáng tác” ra những câu chuyện đau lòng về những hoàn cảnh đáng thương nào đó cần sự giúp đỡ như những bệnh nhi ung thư, người có hoàn cảnh đặc biệt thương tâm, bị tai nạn hiểm nghèo hoặc kêu gọi chi phí mai táng cho người neo đơn khó khăn, các thai nhi xấu số bị bỏ rơi…

Một số trường hợp là có thật và đã được các báo đăng từ rất lâu. Chúng lấy lại thông tin này và đăng lên mạng xã hội, kèm thêm những hình ảnh mới về bệnh nhân, giấy nhập viện, giấy báo phẫu thuật, giấy báo tử (hầu hết là photoshop). Điểm mấu chốt là bên cạnh bài viết sẽ có số tài khoản ngân hàng và số điện thoại mà chúng cho rằng “của người nhà bệnh nhân”, nhưng thực sự đều là do chúng làm giả giấy tờ để tạo ra, kêu gọi từ thiện và đề nghị nhà hảo tâm chuyển tiền thẳng vào các tài khoản này khiến không ít người sa bẫy bọn lừa đảo.

Những hoàn cảnh éo le … bịa đặt

Ngày 14/4/2024, tài khoản Facebook “Thu Quế Lê” đăng bài viết trên group “Hội gia sư dạy kèm Bình Dương” có gần 7,000 thành viên với nội dung “cầu cứu” mọi người quyên góp ủng hộ cho một trẻ sơ sinh gặp bệnh hiểm nghèo (nhưng không ghi rõ địa chỉ). Trong bài viết, tác giả ghi số tài khoản ngân hàng của Vũ Thị Ngọc Anh (26 tuổi, được cho là mẹ đứa bé) để nhận quyên góp. Tuy nhiên thông qua công cụ tìm kiếm Google, chúng tôi phát hiện một bài viết khác có nội dung, hình ảnh tương tự đăng cách đó vài ngày trên group “Hiệp hội xà lan Việt Nam”. Đáng chú ý ở bài viết này, người được cho là mẹ đứa bé có tên Nguyễn Thị Bích Thanh (26 tuổi) và số tài khoản ngân hàng để nhận quyên góp cũng mang tên Nguyễn Thị Bích Thanh (?). Tương tự gần đây, một group Facebook khác đăng bài viết, hình ảnh một đứa trẻ sơ sinh có vết thương kéo dài theo cột sống lưng với nội dung kêu gọi giúp đỡ, chuyển tiền ủng hộ vào tài khoản ngân hàng. Qua tìm kiếm trên mạng, chúng tôi biết vào năm 2022, từng có nhiều tài khoản cá nhân, hội, nhóm Facebook, Instagram…đã đăng tải, chia sẻ hình ảnh đứa trẻ sơ sinh nêu trên nhưng không vì mục đích kêu gọi giúp đỡ, chuyển tiền ủng hộ.

Trước đó ít lâu, vào cuối tháng 3/2024, em Trần Thị Hồng 20 tuổi, đang học tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu  cho biết: Hình ảnh, thông tin về em và gia đình bị một số fanpage Facebook tự ý đăng tải để kêu gọi hỗ trợ qua tài khoản của một người nào đó mà em lẫn gia đình không hề biết. Em Hồng chia sẻ: Cách nay 4 năm, em không may bị tai nạn giao thông, mất 87% sức khỏe, phải cưa bỏ một chân. Thời điểm ấy, nhờ sự giúp đỡ của cộng đồng, em và gia đình đã vượt qua khó khăn ban đầu, song sau đó gia đình em không còn kêu gọi hay nhờ cá nhân, tổ chức nào khác đứng ra kêu gọi, vận động giúp đỡ thêm nữa. Song gần đây qua lời mách của bạn bè cho biết hình ảnh, thông tin về em tại thời điểm bị tai nạn năm 2020 bị kẻ xấu đăng lên fanpage “Phật Tại Tâm – Ni Sư Phúc Lành” và một số trang mạng khác với mục đích kêu gọi quyên góp tiền bạc hỗ trợ. Em Hồng khẳng định đây hoàn toàn là hành vi lừa đảo.

Một số tên lừa đảo đã bị bắt

Trước khi “móc ví” cần tỉnh táo

Người dân Việt xưa nay nổi tiếng với tấm lòng nhân văn và bao dung. Không ít người ở trong nước lẫn nước ngoài luôn sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cho bà con ở quê nhà đang gặp hoàn cảnh éo le, khó khăn. Tuy vậy song song đó luôn có những kẻ xấu cố tình lợi dụng lòng tốt của các nhà hảo tâm nhằm trục lợi. Chính vì thế, để tránh đặt lòng tốt của mình nhầm chỗ, mọi người cần tỉnh táo, cảnh giác trước các thủ đoạn kêu gọi từ thiện, nhất là qua các trang mạng xã hội, không nên tuyệt đối tin tưởng vào chúng. Trước khi “móc ví” cần thận trọng tìm hiểu, xác minh kỹ nội dung thông tin đăng tải, bởi hiện nay có không ít cá nhân tự phát làm từ thiện dẫn đến thật giả lẫn lộn, không thể kiểm chứng. Đã từng có những nhà hảo tâm tự bỏ thời gian công sức tìm đến tận địa phương người cần giúp đỡ đang sinh sống hoặc bệnh viện nơi họ tạm thời lưu trú để tìm hiểu rõ ràng sự việc, minh bạch, chính xác thông tin. Bởi chỉ vậy họ mới có thể gặp gỡ trực tiếp các hoàn cảnh “người thật, chuyện thật” cần giúp đỡ và quyên góp tiền bạc, vật chất ủng hộ nếu có. Hành động này luôn có ý nghĩa rất tích cực, khiến cho những kẻ chuyên lợi dụng lòng tốt để trục lợi, lừa đảo qua mạng không còn đất sống.

NS

Cho Người nằm xuống

baotreonline.com

Nguyễn Sinh

Post on April 27th, 2023

Post by Sơn râu 20 Apr 2025

Ông Lý Văn Lang xưa cũng là lính Biệt động quân trong quân đội VNCH (KBC 4822). Khoảng chục năm trở lại đây, ông tìm đến Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa xin làm công việc tạp vụ, nhổ cỏ, quét dọn, hương khói…cho mộ phần các tử sĩ VNCH…

Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa xưa đã đổi tên

Căn nhà cuối cùng

Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa (cũ) thành lập ngày 17-6-1968 theo sáng kiến của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với dự trù chứa 30 nghìn mộ phần. Mộ phần đầu tiên tại nghĩa trang được ghi nhận là của một người lính vô danh ở Gò Vấp. Tiếp theo, các trận Mậu Thân 1968, mùa Hè đỏ lửa 1972 đưa về thêm trên 10 nghìn tử sĩ. Tới hết tháng 3/1975 tổng cộng có trên 16 nghìn tử sĩ chôn cất tại đây và tồn tại đến giờ. Ðược biết nghĩa trang này xưa không chỉ dành chôn cất các chiến binh, sĩ quan, tướng lãnh mà còn làm nơi yên nghỉ cho các thành viên chính phủ VNCH. Trước năm 1970, nghĩa trang đã hoàn tất một số đường nội bộ, tượng đài Thương Tiếc, cổng Tam Quan, đài Tử sĩ… Sau sự kiện “tháng 4 đen”, nghĩa trang được Cộng sản tiếp quản rồi bàn giao cho Quân khu 7. Tháng 11/2006, chính quyền Cộng sản quyết định chuyển khu nghĩa trang này sang sử dụng dân sự. Hiện nay Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa đổi tên là Nghĩa trang Nhân dân Bình An (Công ty công trình công cộng tỉnh Bình Dương quản lý). Qua hơn 47 năm “thi gan cùng tuế nguyệt”, nhiều khu mộ các tử sĩ VNCH tại đây (nhất là những ngôi mộ vô thừa nhận) đang xuống cấp trầm trọng. Nếu không được chăm sóc, tu bồi, chẳng bao lâu nữa những nấm mộ này sẽ thành đất bằng, không còn vết tích. Rất may có một người đàn ông đã tự nguyện tìm đến làm những công việc này. Ðó là ông Lý Văn Lang, năm nay 72 tuổi, hiện sống tại đường Hậu Giang (quận 6, Sài Gòn)

Ông Lang chào kính trước những mộ phần tử sĩ ở Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa

Từ một căn duyên

Ông Lý Văn Lang xưa cũng là lính Biệt động quân trong quân đội VNCH (KBC 4822). Khoảng chục năm trở lại đây, ông tìm đến Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa xin làm công việc tạp vụ, nhổ cỏ, quét dọn, hương khói…cho mộ phần các tử sĩ VNCH (dĩ nhiên không có lương!). Ông Lang tâm sự kể nguyên do: “Một lần tôi thấy người ta đưa cỗ quan tài trên đường mà không có thân nhân đi theo. Hỏi mới biết anh này vừa chết trận mà cũng không ai rõ tên tuổi là gì. Nên tôi “xung phong” làm người tiễn anh về nơi an nghỉ sau cùng. Mấy chục năm sau, tôi vẫn luôn trăn trở, băn khoăn về các mộ phần tử sĩ VNCH ở Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, nơi ngày càng xuống cấp, chẳng ai quan tâm. Tôi biết có những ngôi mộ được xây lúc đầu còn có bia ghi tên tuổi rõ ràng, song càng gần thời điểm tháng 4/1975 đa số là dựng vội, đôi khi chỉ đắp một nấm đất tạm bợ…”.

Rất nhiều mộ bia tử sĩ VNCH bị hư hỏng, nứt vỡ, cây cối mọc um tùm xâm lấn

Từ năm 2013, hàng tuần ông Lang dành ít nhất 1-2 ngày tìm tới nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, xin Ban quản trị cho làm công việc tạp dịch, chăm sóc các ngôi mộ tử sĩ VNCH và được cho phép. Bằng số tiền túi khiêm tốn của mình, ông mua nhang, những phẩm vật mang đến cúng tế các mộ phần nhất là trong những dịp tháng 7 âm lịch, ngày Chiến sĩ trận vong, ngày Giáng sinh, Tết nhất…Ông cảm thấy đau lòng khi chứng kiến những phần mộ bị cây rễ mọc xâm lấn, bị rong rêu, lá mục che phủ, những tấm mộ bia nứt vỡ, những gương mặt chiến hữu năm xưa cứ rạn vỡ, phai mờ theo năm tháng…Một lần nữa ông xin Ban quản trị nghĩa trang cho ông được phục hồi những tấm bia mộ bị hư hại, bằng tiền riêng “có nhiêu làm bấy nhiêu”.

Đồng đội không lìa

Mãi đầu năm 2022, người ta mới đồng ý “phê duyệt” công việc của ông. Ông nói thêm: “Họ cho phép mình phục hồi lại những tấm bia bị gãy vỡ. Bởi tôi nghĩ chỉ vậy tên tuổi các anh sẽ rõ ràng và gìn giữ được lâu. Ban quản trị cũng đề nghị nếu muốn phục hồi lại bia mộ nào thì chụp hình lại để họ làm theo mẫu có sẵn. Bên cạnh dựng bia mới, những tấm bia cũ vẫn giữ lại để sau này thuận tiện cho thân nhân, chiến hữu tử sĩ (nếu có) về đây tìm kiếm dễ dàng nhận diện. Ðến tháng 5/2022, Ban quản trị nghĩa trang báo thêm tin vui sẽ cho đào bỏ, cưa cắt những gốc cây to có rễ ăn sâu xuống lòng đất, xuyên qua các mộ phần cũng như sửa chữa, xây lại những mộ phần bị sập lún cũng như cho phép dán gạch men các ngôi mộ này để bảo quản lâu dài…”.

Ông Lang hàng ngày không quản công chăm sóc, hương khói cho các mộ phần

Ðược biết, nghĩa trang hiện có khoảng 8,000/16,050 ngôi mộ mất bia do nhiều nguyên nhân. Ông Lang cho biết để phục hồi những tấm bia, dán gạch các mộ phần này khá tốn kém. Cụ thể 1 tấm bia đá ghi tên tử sĩ đặt trước mộ giá 100 – 500 nghìn VNÐ (tùy loại,  dán gạch men toàn phần giá đến 2 triệu VNÐ/ngôi mộ. Trước mắt, ông Lang hợp đồng cùng Ban quản trị tiến hành phục dựng 1,000 tấm bia, dán gạch men toàn phần cho 400 ngôi mộ hư hại nặng cũng như đặt nhà thầu đào bỏ những gốc cây xâm lấn các mộ phần. Tới cuối tháng 10/2022, khoảng 75% công việc này được ông phối hợp cùng Ban quản trị đã hoàn thành xong.

Làm lễ cúng và an vị cho các mộ phần đã được sửa chữa

Món nợ nghĩa tình

Ông Lang tâm sự: “Bản thân tôi luôn hoài niệm về một thời mà bản thân mình từng dự phần trong cuộc chiến năm xưa dù đã qua gần nửa thế kỷ. Với món nợ nghĩa tình ấy, tôi nguyện đem hết sức mình làm được gì thì làm, để vong linh các tử sĩ cảm thấy ấm áp và ước sao khoảng 10% số mộ phần trong nghĩa trang được tu sửa như đang làm hiện nay là tôi quá mãn nguyện. Tôi nghĩ đây cũng là một món “quà” Xuân dành cho các anh em tử sĩ đã nằm xuống nhất là dịp Tết Quý Mão sắp đến. Tới nay tôi cũng nhận được khoảng 100 nghìn USD của các vị, phần lớn ở hải ngoại gửi về với tấm lòng nhân ái tưởng nhớ đến những người cùng thời đã nằm xuống cho một vùng miền đất nước, nay phải chịu cảnh mồ hoang mả lạnh. Thay mặt vong linh anh em tử sĩ VNCH tôi vô cùng cảm ơn.

…hương khói cho các mộ phần

Nếu quý vị quan tâm thêm về công việc của tôi,

có thể vào trang:

http://facebook.com/vanlang.ly.585

hoặc

email: lyvanlang2019gmail.com.

Về phần đóng góp (nếu được) xin gửi vào tài khoản báo Trẻ Weekly

Tre Magazine

3202 N. Shiloh Rd., Garland, TX 75044

Check xin ghi:

Tre Magazine

Memo: Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa

hoặc gởi trực tiếp cho:

Huỳnh Thị Thùy Dung

Số tài khoản: 037 100 390 2522, Ngân hàng Vietcombank, chi nhánh Tân Định, Sài Gòn.

Swift Code: BFTVVNVX.

Đây là số tài khoản cháu gái tôi, vì tôi lớn tuổi không sử dụng tài khoản ngân hàng riêng

Ó đen

lytong.wordpress.com

Lý Tống

Phần 6

Đến Pnom Penh, Thủ Đô Kampuchia
Qua phà, lên xe, chúng tôi tiếp tục đường về Pnom Penh, tình hình yên tỉnh trên đoạn đường cuối gần thủ đô Cao Miên. Chúng tôi xuống xe, đi bộ qua cầu Sàigòn, một cái tên đậm tình anh em quốc tế Miên—Việt. Bên kia cầu ngay giữa bùng binh có một trạm kiểm soát lớn đang hoạt động. Tiếng tu huýt, tiếng lao xao rộn rịp của Đội Cảnh sát, nút chặn chính thức của Pnom Penh. Chúng tôi đi bộ tà tà và lượng định hướng đi. Ba nhánh đường lớn rẽ về ba phía tách biệt, tôi chọn đường giữa, đi thẳng. Khỏi tầm kiểm soát trạm gác, chúng tôi dừng lại bên lề hỏi thăm một cô bán hàng vặt, may mắn em là Việt kiều và chưa quên tiếng mẹ đẻ. Tôi hỏi hướng đi về nhà ga xe lửa, ôn lại một vài tiếng Miên cần thiết học lóm ở Sàigòn.

_Tâu à Tiêt plươn là đi nhà ga phải không?

Cô bé sửa lại cách phát âm và giúp chúng tôi đón xe thồ Honda, trả giá và lập lại lần chót à tiet plươn với người tài xế.

Tôi đã qua lại Pnom Penh thường xuyên trong những phi vụ biệt phái suốt ba tháng. Có lần Việt Cộng pháo kích phi trường, đám Biệt đội Quan sát nửa đêm phải chui vào bếp tránh đạn. Nhiều nhà cửa, phòng sở sụp đổ tan tành. Phòng Phi Hành đoàn lởm chởm vết đạn và hư hỏng nặng nhiều nơi. Chúng tôi hoàn toàn vô sự ngoài những đất bụi, vôi vữa tung tóe phủ đầy đầu tóc, mặt mũi. Từ đỏ giải tỏa lệnh ở lại đêm, sáng đi, chiều về thong thả. Nhờ vậy hầu hết các Phi công biệt phái Pnom Penh có dịp làm tiền. Mỗi lần rời Cần Thơ, chúng tôi thủ sẵn ít vàng hoặc tiền. Đến nơi, trong khi chờ đợi phi vụ, rảo khắp chợ mua những hàng hóa bán được giá. Hai thứ thông dụng nhất là nho tươi và đầu máy may Singer. Xe Biệt đội có gắn máy FM liên lạc, nên dù lang thang đây đó, chỉ cần nghe lệnh gọi trên máy, chúng tôi sẵn sàng phóng ra phi trường cất cánh ngay.

Nhiều lúc trên đường trở về, bất ngờ nhận được lệnh đi đánh mục tiêu khẩn cấp. Chiếc Cessna cồng kềnh giỏ xách, bao bì, mỗi lần chúi xuống bắn trái khói là mỗi lần run rẩy triệt nâng stall vì chở nặng. Buôn bán những hàng hóa nặng nề cồng kềnh thật không phù hợp với danh hiệu người lính hào hoa, nhưng không tiền làm thế nào hào hoa nổi. Tiền bạc kiếm dễ cũng gây nhiều mâu thuẫn tranh chấp. Mỗi Phi đoàn mấy chục mạng mà mỗi ngày chỉ đi biệt phái một hai chiếc sẽ không tránh được chuyện kẻ đi nhiều người đi ít. Tiền cũng làm những người vốn sợ bay, chán bay trở nên tích cực. Tiền còn khích động những tay mơ mới vào nghề L19 lại xin được check out phi cơ Cessna sớm để được biệt phái Cao Miên.

Tôi quen thuộc thành phố Pnom Penh cũng nhờ dịp đó. Những hàng phượng đỏ chạy dài từ phi trường vào thành phố. Những công viên hoa lá rực rỡ xinh tươi. Những chiếc Mercedes, D.S., Toyota… bóng lộn, nối đuôi trên đường phố, những dancing sang trọng, những cao lâu tửu quán đầy những thúc ngon vật lạ. Giờ nầy, cảnh nhộn nhịp, giàu sang đã biến mất, khu chợ bán nho, trái cây quen thuộc đã bị đốt bỏ, những dãy nhà vôi sơn bạc màu nằm lặng lẽ buồn bã, những nhà hàng, tiệm buôn lớn ngày xưa, giờ lèo bèo vài thứ hàng tồi tàn, và phần lớn đóng cửa. Xe đạp nhan nhãn khắp nơi, thế chỗ những chiếc xe hơi đắt giá đã được chuyên chở về Hà Nội. Tôi nhắm mắt một phút, mật niệm cho một Nam Vang thay ngôi đổi chủ. Lịch sử tiến hóa của loài người thật trớ trêu. Cứ đà nầy, năm hai ngàn lẻ, thế giới chắc chắn trở về sống trong hang đá, lấy vỏ cây che thân và làm người Cộng Sản nguyên thủy nếu Chủ nghĩa CS thắng lợi.

Nhà ga xe lửa vắng vẻ, tôi dọ hỏi biết hai ngày mới có một chuyên tàu đi Battambang. Tôi dẫn Sang đi về trung tâm thành phố, kiếm một rạp xi nê để qua giờ, chờ chuyên tàu ngày mai. Đi dông dài ngoài đường thật nguy hiểm, đường phố tràn ngập đồn Công an Phường. Y phục ngụy trang tốt ở thôn quê lại không phù hợp ở thành phố. Dân thành phố, dù là một thành phố nghèo nàn, cũng có những kiểu cách riêng. Không tìm được hình tài tử xi nê, quảng cáo phim đang chiếu, tôi dẫn Sang đi về phía chợ, đó đây các cửa hàng trưng bày một số hàng giá trị như đồng hồ, vải vóc…

Chen lấn trong cảnh tấp nập, có lần tôi nghe được tiếng Việt nên đến gần những chàng thanh niên trẻ, quần jean, áo thun khá bảnh chọe gợi chuyện. Buồn thay, khi thấy tôi trong bộ dạng trang phục “nhà quê,” mấy chàng chỉ đáp lấy lệ rồi đi thẳng. Tôi tìm một chỗ ăn uống vắng vẻ. Kéo ghế ngồi ở góc đối diện tiệm bán mỹ phẩm thừa dịp ngắm nhìn cô bán hàng xinh đẹp trong một phút nghỉ ngơi. Mái tóc dài đen nhánh xõa vai, đôi mắt lớn kiều diễm mơ mộng. Tôi mừng rỡ nỗi vui của kẻ tha hương gặp người đồng hương khi biết nàng là Việt kiều làm nghề buôn bán, và rành đường đi nước bước. Tôi hỏi dò về cách thức đi xe lửa. Cái ấn tượng hỗn loạn, vô trật tự, miễn phí của một nhà ga xe lửa, theo lời diễn tả của một người tài xế Việt Nam từng lái xe đường Kampuchia bị xóa tan ngay trước lời giải thích:

— Không có giấy phép đi đường, không thể nào mua vé được. Cho dù có giấy tờ mà không biết tiếng Miên cũng bị bắt ngay. Không chỉ tại cổng nhà ga mà ngay trên xe lửa, Toán An ninh vẫn thường xuyên kiểm soát gay gắt. Anh vừa từ Việt Nam sang hả? Có ai dẫn đường không?

Tôi trần tình về trường hợp của mình, cô bé tròn xoe mắt kinh ngạc.
_Anh nên trở về Việt Nam thì hơn! Tôi cam đoan trăm phần trăm anh sẽ bị bắt nếu không nghe lời tôi!

Tôi đã nhìn qua vị trí và tình hình nhà ga. Tôi đã có ý định đột nhập nhà ga ban đêm, ẩn nấp trong toa xe để đi lậu nên khi nghe nói vậy, phần bực mình vì lời nói có điềm xui xẻo, phần chạm tự ái, tôi gật gù tự tin:
—Tôi sẽ đi và sẽ thành công!

Tôi vẫn tự tin và hơi quá tự tin bởi vì tôi đã từng đột nhập Phi trường Tân Sơn Nhất như vào chốn không người. Tôi xem thường ý kiến của giới tóc dài trí ngắn. Hỡi cô bé! Em đâu biết cái anh chàng “cù lần” ngồi trước mặt em đã làm bao nhiêu chuyện động trời! Nhưng, bỗng nhiên, nỗi lo âu bức rức chợt lóe lên, cái cảm giác rất người khi sắp phải đương đầu khó khăn nguy hiểm. Nhưng rồi, tôi lại nhìn cô bé, mỉm cười ngạo nghễ như muốn nhắn nhủ: “Một ngày nào thành công, ta sẽ trở lại đất nước sẽ phải thanh bình nầy, để thăm lại em trong một hoàn cảnh, một tư thế khác, cưng ạ!” Tôi đi mua dép râu cho Sang, đánh một vòng chót nhìn ngắm những nhan sắc phụ nữ đẹp hiếm hoi đã một thời lộng lẫy giờ tàn phai trong cảnh nghèo nàn khốn khổ. Tính toán tiền bạc, trừ hai vé tàu, tôi chấp thuận yêu cầu của Sang: “Ăn một bữa ngon miệng lần chót”

Tôi áy náy cái chữ lần chót Sang dùng bởi vì cái nghĩa bi thảm và xui xẻo của nó. Khác một lần chót, để từ nay trở đi, chúng tôi bắt buộc phải ăn lương khô, uống nước ruộng trong đoạn đường cuối cùng sang đất Thái. Hai ổ bánh mì lớn, mấy khoanh thịt heo quay, thừa sức đáp ứng sự thèm khát quá độ của chú bé. Ngồi nhàn nhã bên lề đường, chúng tôi ăn uống, tiêu phí những đồng riels cuối cùng sau khi trừ tiền vé, xong lên đường trở về nhà ga xe lửa. Những dãy nhà bề thế nằm dọc theo khu vực nhà ga, những cánh cổng sắt giăng thép gai, những khoảnh vườn hẹp, những ngọn đèn điện tù mù, những yếu tố thuận tiện và thích hợp cho một cuộc đột nhập ban đêm nếu không thể nào đường đường chính chính đi vào như một hành khách hợp pháp với vé tàu trên tay. Nhiều hành khách tụ tập trước thềm nhà ga, Sang dùng tiếng Khmer dọ hỏi nhưng cuối cùng, chính tôi là người tìm ra manh mối. Tôi đến thẳng xe nước mía và dạm hỏi bằng tiếng Việt:
— Chị là người Việt Nam phải không?

May mắn, tôi chọn đúng đối tượng. Tôi nhờ chị ta mua hai vé xe lửa.
— Ờ được! Nhưng hãy coi chừng, cẩn thận. Đừng nói tiếng Việt nhiều, tụi công an chìm rình rập dữ lắm.

Chị nhờ bà Khmer bán cháo gà mua dùm, mỗi vé 35 riels gồm cả tiền tip. Mười phút sau, người đàn bà Khmer nháy mắt ra hiệu và lén lút đưa vé. Yên chí, tôi vào hàng hiên trước nhà ga và cùng Sang tìm một chỗ nằm chen chúc cùng các hành khách bình dân khác trên sàn xi măng. Chỉ tính nằm nghỉ khỏe, vô tình chúng tôi ngủ say. Đang ngủ, bỗng bị đá vào chân đánh thức, ba tên An ninh nhà ga ra dấu bảo chúng tôi dời chỗ khác.

Thật đoảng! Đám người nằm ngổn ngang biến đâu hết chỉ còn hai đứa tôi trơ trọi giữa hiên nhà trông vắng mênh mông. Tôi vươn vai đứng dậy, Sang còn ngái ngủ không chịu rời chỗ. Tệ hơn, chú bé lại xích sát vào góc tường nằm ngủ tiếp. Tôi chưa tỉnh táo để nghĩ mình nên làm gì thì Sang đã bắt đầu ngáy khò khò ngon lành. Một lát, ba người An ninh trở lại, dựng đầu Sang dậy hỏi:
— Tại sao không chịu đi?

Tôi hiểu theo sự phán đoán của mình. Sang trả lời không sành sỏi, một trong ba người nói được tiếng Việt, trọ trẹ hỏi tiếp:

— Bộ đội VC hả? Ra nằm ngoài công viên kia kìa!

Tôi lật đật kéo Sang đi sợ lộ tông tích. Bên kia đường là Đài Kỷ niệm có tường thấp bao bọc, xây trên sân rộng cao hơn mặt đường. Cảnh hoạt động về đêm ở những bến xe bến tàu ở Kampuchia cũng như ở Việt Nam lúc nào cũng náo nhiệt, rộn ràng. Kẻ nằm ngổn ngang, người ăn quà vặt, hoặc ngôi tán dóc. Tôi tránh khu vực dành riêng cho Bộ đội, chen lẫn vào đám người hành khách ở xa Pnom Penh, không có nhà cửa, thân thuộc, phương tiện, nằm bụi đời giữa trời để chờ chuyến tàu sáng mai.

Bị ám ảnh bởi ba tên An ninh, tôi tách xa Sang, mỗi đứa nằm ngủ mỗi chỗ. Cẩn thận hơn, tôi dùng khăn cà ma trùm kín mặt, lộn ngược áo phía trong ra ngoài, che dấu những sọc ca rô màu đỏ sậm dễ nhận. Về đêm, có toán tuần tiễu đi kiểm soát, có tên đá vào chân tôi đánh thức để nhìn mặt. Tôi giả vờ ngủ mê, nằm ì không dậy, toán tuần tiễu bỏ đi nơi khác.

Buổi sáng, tôi dậy sớm cùng với mọi người. Gặp Sang, dặn chú bé đứng chờ, tôi đi đổi áo vì sợ toán an ninh nhìn áo nhớ mặt. Tôi có hai áo, chiếc áo thun màu xanh quá chật, ngắn cũn cỡn, chỉ có thể mặt lót bên trong cho ấm. Tôi tìm những người chạy xe ôm, lựa những loại áo còn xài được, màu sắc ít lòe loẹt để đổi. Dù sao cái áo tôi đang mặc vẫn còn tốt hơn áo họ.

Ngôn ngữ bằng tay dễ hiểu trong một vài trường hợp thông thường. Một khi đã vào trường hợp đặc biệt, tay chân cũng đành bất lực không diễn tả được. Tôi vừa chỉ vào áo mình, vừa chỉ vào áo họ, miệng nói đổ (đổi). Tôi lựa những người đứng riêng rẽ để không làm kẻ khác chú ý. Vì bận bịu tìm mối rước khách kiếm tiền, vì không hiểu được cái lối đổi chác kỳ cục chưa từng gặp, và hơn nữa, có lẽ họ nghĩ tôi khùng, nên ý định đổi áo cuối cùng không kết quả. Tôi đành phải đổi áo cho Sang, em mặc thật vừa vặn, và tôi mặc chiếc áo trắng rộng thùng thình của em, chiếc áo trắng bị sút đường chỉ nách và rách đàng sau lưng.

Tôi vạch kế hoạch vào cổng. Có ba cửa kiểm soát, Sang và tôi sẽ đi khác cửa, ai bị bắt thì chịu một mình, người kia tiếp tục kế hoạch của mình. Sang có thể trở về Việt Nam hoặc lén lút tìm việc làm, sống bất hợp pháp tại Kampuchia chờ cơ hội. Nếu mọi sự tốt đẹp, chúng tôi sẽ chờ và gặp nhau tại chiếc xe lửa sắp khởi hành.


Bị Bắt

Tôi chen vào cổng chính cùng đám hành khách vội vã tất bật. Đứng ở phòng đợi tạm thời, tôi quan sát thể thức soát vé và cách di chuyển của hành khách. Cổng số 1 có toán tuần tiễu của Bộ đội VC đang kiểm soát, xét giấy tờ. Cổng số 2 và 3 hoạt động bình thường. Hành khách khiêng vác hành lý qua cổng, đưa vé cho nhân viên bấm lỗ và đi qua. Tôi lợi dụng giây phút hỗn độn chen chúc đi vào, chẳng biết Sang đã vào chưa. Nhân viên kiểm soát quá bận rộn, họ chỉ kịp cầm vé, bấm lỗ, trả lại và không hề nhìn mặt hành khách. Tôi lọt qua cổng dễ dàng. Hình ảnh cô bé Việt kiều ở chợ và lời đe dọa vừa lướt qua trong đầu, tôi mỉm cười với ý nghĩ chế diễu, ngạo mạn. Đi được hai mươi thước, tôi chợt nghe tiếng gọi và tiếng chân nặng nề vội vã đuổi theo:
— Xốp. Xốp.
Dù không biết tiếng Khmer, tôi cũng đoán được ý nghĩa của nó: Stop. Stop.
Trong một thoáng phân tích tôi có ngay quyết định. Dù tên Công an chạy theo hỏi giấy một người khác hay đuổi theo tôi, tôi vẫn phớt tỉnh Anglais, vẫn tiếp tục đi. Sự bình thản, sự bình tĩnh trong cuộc đời, qua những kinh nghiệm, nhiều lúc đã hóa giải sự nghi ngờ và giúp tôi qua mặt an toàn những nguy hiểm. Sự bình tĩnh, giờ phút nầy không đạt được kết quả, bởi vì tên Công an đã bắt kịp, nắm lấy cổ áo tôi, nhìn tôi trừng trừng và quát tháo, la lối bằng thứ ngôn ngữ khó hiểu. Tôi mỉm cười, nhún vai, đưa cái vé đã bấm lỗ cho anh ta xem, rồi bỏ đi không thèm nói một lời, bởi vì tôi có biết tiếng Khmer nào đâu để nói. Y lại đuổi theo tôi, móc khẩu súng Colt lận trong bụng chĩa ngay vào mặt tôi, miệng nói, tay cầm súng vẫy vẫy về phía phòng an ninh nằm bên phải. Biết không thể làm gì khác được trong một khu vực phòng thủ chặt chẽ, tôi lại mỉm cười, nhún vai và tuân theo lệnh áp giải.

Thượng đế ơi! Ngài thật trớ trêu, Ngài đã giúp tôi vượt khỏi nhà tù A30, giúp tôi ra vào an toàn trong cuộc đột nhập Phi trường Tân Sơn Nhất, giúp tôi đi qua một chặng đường gian nan vất vả… giờ nầy lại để tôi bị bắt một cách lãng nhách tại đây. Tại sao tôi đã không chọn đường đi bộ thay vì xe lửa, thật là một giải pháp nhầm lẫn. Có phải vì tôi ngại đường xa, ngại nhọc nhằn, có phải vì tôi muôn chọn con đường vượt biên nhàn hạ, nhanh chóng. Tôi chẳng thấy buồn, tôi chẳng thấy lo, tôi tự nhủ thầm: “Âu cũng là số mệnh.” Những ý nghĩ miên man chấm dứt khi văn phòng thẩm vấn xuất hiện với vẻ nghiêm trọng đặc biệt. Tên Trưởng Phòng An ninh đang ngồi chễm chệ trên ghế, sau khi trao đổi ý kiến, y hỏi tôi bằng tiếng Việt lơ lớ:
— Có biết tiếng Miên không?
Tôi lắc đầu. Y chỉ tay về phía phải, ra lệnh:
— Quay mặt vào tường, cởi hết áo quần.
Tôi mở nút, cởi áo, quần và ngần ngại lưỡng lự với chiếc quần lót cuối cùng.
— Cởi ra luôn. Y quát lớn.

Tôi đứng tồng ngồng như nhộng. Ngoài kia thiên hạ vẫn còn đi vào tấp nập, bức tường dưới cửa sổ đã che đậy phần thân thể trần tục của tôi. Tôi liếc xem coi chúng làm gì. Phải bái phục cái nghề khám xét của họ. Tất cả áo quần đều bị lộn trái, cái túi nhỏ khâu kín đáo trong ống chân quần để dấu xấp bản đồ cắt nhỏ, gọn gàng, giờ nằm tênh hênh trơ trẽn. Mấy chục đồng riels đổi tại Sàigòn được dấu kín, chỉ để sử dụng trong những trường hợp khẩn cấp nguy nan, may khéo léo trong lưng quần cũng không thoát khỏi bàn tay điêu luyện. Đồ trong túi xách đổ ra nằm ngổn ngang trên bàn.
— Đi đâu? Muốn làm gì đây?

Tên Trưởng phòng gằn từng tiếng. Trước sự thực phũ phàng, trước những bằng chứng hiển nhiên: Bản đồ, địa bàn, lương thực… tôi chẳng cần rườm rà dông dài để trần tình.
— Tôi đi vượt biên.

Tôi đáp thỏng, vắn gọn. À! Y cười một cách thông khoái, nét mặt rạng rỡ hẳn lên. Có lẽ trong cuộc đời thẩm vấn, chưa bao giờ y thành công nhanh như thế. Chưa bao giờ y gặp một người bị thẩm vấn thành thật một cách kỳ cục như thế. Đó là lý do vì sao y đối xử dễ dãi và dễ tin tôi.
— Tên tuổi?
— Hoàng Nhật Tuấn. 33 tuổi.

Từ ngày Cộng Sản xâm lược miền Nam, cuộc đời thăng trầm cứ bắt buộc, cưỡng ép tôi phải đổi và lấy nhiều tên mới. Ngoài tên cúng cơm Lý Tống, Lê VạnTống, tôi còn sử dụng các tên: Hoàng Nhật Tuân, Hoàng Tuân, Lý Tiên Sinh, anh Lý, anh Hai, nếu không kể đến các biệt danh: Công tử nhất bộ, Thiết thủ đa tình…
— Gia cảnh?
— Trước kia làm Giáo sư Anh Văn, sau đi kinh tế mới, đói khổ, bệnh tật. Hai đứa con chết, vợ bỏ đi lấy ba Tàu. Buồn quá tôi đi vượt biên để tìm một cuộc sống mới.

Tên nầy ghi chép với vẻ “cảm động” vì hoàn cảnh bi đát do tôi bịa ra.
— Tại sao lại có hai khăn cà ma? Đi với ai? (Sang bỏ quên khăn trong túi tôi).
—Tôi đi một mình. Trời lạnh phải dùng thêm một khăn cà ma đắp cho ấm.
— Khai thật đi. Ai dẫn anh đi?
— Tôi đi một minh.
— Nói láo. Làm sao đi một mình được. Có biết ai tên Tống không? Có phải ông Tống dẫn đi không?

Tôi thót giật mình. Ông Trời cũng hay thật, ông lại phái một tay tên Tống nào xuống Nam Vang nầy, chuyên môn dẫn người đi vượt biên để kiếm tiền, và người đó lại trùng tên tôi, cái tên ít người Việt Nam nào có, nhưng lại thông dụng với người Tàu. Thì ra các bố an ninh nhà ta chỉ mong tôi khai người dẫn đường để bắt họ chi tiền chuộc người ra mà thôi.
— Không, tôi đi một mình. Anh xem các đồ dừng của tôi: Bản đồ, địa bàn, lương khô, anh có thể suy luận và tin tưởng điều tôi nói.

Trong cái thật có cái giả, trong cái giả có cái thật. Nhưng lý luận như vậy là tôi đã lý luận thật và nói thật, mặc dù đã lờ chuyện Sang. Trong khi tên Trưởng thẩm vấn, tên bắt tôi lại bỏ đi ra ngoài lùng kiếm những người khả nghi khác. Hỏi cung xong, y cho tôi ngồi nghỉ ở một góc phòng, mặc lại quần áo. Một lát sau, Sang lại lù lù dẫn xác vào! Thật vỡ nợ! Sang ngạc nhiên nhìn tôi, tôi cũng ngạc nhiên nhìn Sang, dùng mắt ra hiệu “không quen biết” và tôi ngồi bình thản như chưa từng gặp Sang lần nào trong đời mình.
— Đi đâu? Làm gì?
Tên an ninh hỏi Sang, em lắp bắp trả lời bằng tiếng Miên, cái tiếng Miên học lóm chưa được sành sỏi, thông thạo. Cuối cùng tên trưởng phòng xen vào thẩm vân bằng tiếng Việt:
— Tên gì? Mấy tuổi?
— Tên Sang. 16 tuổi. (Đó là dịp đầu tiên tôi biết tên chú bé).
— Nhà ở đâu? Làm gì?
— Ở Gò Dầu Hạ. Chạy xe đạp thồ.
— Đi đâu?
— Em đi Battambang tìm thăm người anh làm Bộ đội.
— Bộ đội hả? Láo khoét. (Tên này tiếng Việt cũng ỡm ờ, tưởng Sang khai mình làm Bộ đội).
— Không, anh tôi làm Bộ đội ở Battambang.
— Thằng nầy nói láo.
Vừa nói y vừa đánh một bạt tai vào mặt Sang, em sợ quá ôm tay tên An ninh vừa khóc vùa năn nỉ:
— Em nói thật. Xin anh thương em, đừng đánh em.
Cái vẻ tội nghiệp, sợ sệt của Sang không làm y xúc động. Trái lại y càng bực bội hơn, đấm đá, tát lấy tát để. Ngồi nhìn Sang bị đánh, tôi thấy đau xót, tự trách mình đã dẫn Sang đi, đã mang họa cho chú bé. Sang quì xuống, chắp tay lạy rối rít:
— Lạy anh, lạy anh, anh thương em. Em nói thật, anh tha cho em.
Tên An ninh dộng thêm mấy đạp rồi cho Sang ngồi chung với tôi, sau khi đã hỏi thêm một vài chi tiết. Hai đứa ngồi cùng nhau, nhưng không hề nhìn nhau, nói với nhau. Cuộc đời ơi! Lắm lúc cuộc đời cứ trách con người sao hay làm mặt lạ với nhau, nhưng trong trường hợp nầy chắc chắn không ai khuyên chúng tôi nên làm mặt quen với nhau cả. Tên nói tiếng Miên lại bỏ đi, tên Trưởng phòng mặt hiền, dễ chịu, lại nói được tiếng Việt. Tôi mở lời tán tỉnh:
— Các anh hay thật. Làm sao nhìn chúng tôi, các anh đoán được chúng tôi là người phi pháp để bắt giữ?
Y cười trả lời:
— Dễ quá. Cái tướng của anh phong lưu, lại ăn mặc rách rưới tồi tàn, làm chúng tôi sinh nghi. Còn thằng nhỏ này, nó đứng lớ ngớ chờ ở toa xe lửa, nên tôi tóm luôn.

Cái bộ mã của con người cũng thật quan trọng. Vâng. Ngay chính Việt Cộng lúc nào cũng tự cho là hồng và chuyên (red and expert) là hai yếu tố chính của một cán bộ mẫu mực vẫn còn có ý nghĩ “Phi công là phải đẹp trai, hào hoa phong nhã.” Vì thế nên khi gặp Chính, một Phi công chính hiệu con nai vàng, nhưng lại xấu trai, nên mỗi lần Chính khai lý lịch lại bị họ sỉ vả và cật vấn:
— Tướng mầy mà làm Phi công gì? Đồ nói láo!

Sau nầy, khi nghe tôi xác nhận Chính đứng là Phi công cùng Không Đoàn với tôi, đám Cán bộ Trại mới chịu tin.

Những đại tài tử nổi danh, một phần nhờ khả năng diễn xuất, nhưng phần lớn, nhờ nghệ thuật hóa trang và kỹ thuật tân tiến của điện ảnh. Đóng một vai sống động ngoài đời, trước họng súng, trước những đôi mắt chuyên nghiệp của các tay điều tra, phải thật sự có bản lãnh mới hoàn tất được. Tôi gạ gẫm tên An ninh:
— Anh thông cảm hoàn cảnh tôi. Nếu anh thả tôi, một ngày nào đó, tôi sẽ đền ơn anh.

Y đáp:
— Anh đi thế nào cũng bị bắt lại. Thôi chờ đây, tôi không giao anh cho Bộ đội VC đâu, tôi sẽ cho anh ở Trại chung với người Khmer. Ở đó dễ chịu, làm việc nhẹ, ăn uống sướng, có tiền thù lao, chỗ ở thoải mái, công trường lao động chứ không phải nhà tù đâu.

Sau vài lần thuyết phục, tôi biết được lý do sự thất bại của mình. Trên tuyến đường nầy, Toán An ninh nhiều lần bắt được người vuợt biên, thông thường, người dẫn đường chi tiền để chuộc họ. Lâu lâu kiếm được một con mồng nghèo, bụi đời, họ phải giải giao để minh chứng sự hữu hiệu của công tác mình. Điều đó được xác nhận khi một người đàn ông khác bị bắt. Anh ta là một Việt kiều, nhưng nói tiếng Miên rành như người bản xứ, và có đủ giấy tờ, cũng bị lột áo quần, xét đồ. Đồ đạc đem theo là những vật dụng kỳ dị: Tượng một ông Phật gỗ lớn bằng nắm tay, một ống thuốc lào khắc chạm tỉ mỉ, cuối cùng trong ông thuốc lào và trong tượng Phật họ moi ra được một số dây chuyền bằng vàng, gói từng gói nhỏ. Hai tay An ninh thích thú nhìn nhau mỉm cười, cuối cùng người khách lại thu xếp đồ đạc, vòng vàng của mình bỏ vào túi và được thả đi sau khi đút lót một số vàng khi được dẫn ra ngoài đi tiểu.

Tôi nhìn qua cửa sổ, xe lửa bắt đầu hú một hồi còi dài chuẩn bị lên đường. Tôi liên tưởng đến các phim James Bond, các phim gián điệp. Nếu tôi có khả năng võ nghệ cao cường như họ, trong một chớp mắt, tôi hạ thủ hai tên gác, lấy hai vé trên bàn, thong dong ra cửa và lên tàu đi tiếp. Tôi tự hứa một ngày nào có dịp thuận tiện, sẽ tìm những dị nhân để luyện thêm võ công mình, để sử dụng trong những hoàn cảnh tương tự. Tàu chuyển bánh, tiếng xục xịch, xục xịch nhanh dần, những toa tàu lần lượt đi qua và tại một toa tàu cuổi, những khẩu đại liên, trung liên chĩa nòng ra ngoài, với toán lính bảo vệ tàu.

Cuộc tiễn đưa thầm lặng với những nuối tiếc, với những đau đớn. Con tàu ơi, ta chẳng có duyên đi cùng một chuyến. Vĩnh biệt. Vĩnh biệt. Tôi ngẩn ngơ nhìn theo đến lúc bóng tàu khuất sau những dãy nhà, những lùm cây. Chúng tôi được cho vào một phòng kế cận để nằm nghỉ, phòng gồm có một dãy giường, bếp nấu ăn và nhiều cánh cửa sổ. Cửa sổ bằng kính, khung gỗ, xoay lên xuống quanh một trục ngang, được gài lại và buộc dây thép chắc chắn. Tôi chọn cánh cửa sổ gần bức tường ngăn hai phòng, gần với phòng điều tra, nhưng lại che khuất an toàn. Tôi bảo Sang ngồi canh chừng và lén tháo các giây kẽm sắt. Công việc dễ nhưng tiến triển chậm vì tên gác cứ đi ra đi vào kiểm tra. Tôi tháo xong, nhưng sự canh chừng thận trọng của tên gác không cho chúng tôi đủ năm phút để tẩu thoát. Ít nhất cũng phải năm phút. Tôi tính toán, tôi cần thời gian tối thiểu để chui ra và đi trốn một đoạn đường. Tên gác thay phiên đi ăn cơm trưa.

“Nhìn mặt đặt tên,” câu nói đó nếu đúng, cũng chỉ đúng 99% và trường hợp nầy lại rơi vào 1% ngoại lệ. Tên mặt trắng mới trông, vẻ hỉền lành dễ chịu nhưng càng lâu càng thấy những nét tàn bạo hung hiểm ẩn tàng. Tên mặt đen, mọi rợ lầm lì, nhưng cuối cùng lại chân tình tốt bụng. Tôi linh cảm được tâm trạng anh ta có ý muốn thả chúng tôi nhưng dùng dằng không dám. Tôi giả vờ ra lấy thuốc hút, nhưng thực sự là gom bản đồ, địa bàn và lương khô đến gần để mang theo khi đi trốn. Thiếu những thứ thiết thân nầy, sự vượt thoát sẽ gặp nhiều khó khăn về sau. Chàng da đen nằm trên võng, ôm đàn ghi ta nắn nót tập dợt, tiếng đàn là tiếng báo hiệu tốt nhất về vị trí và hoạt động của đối tượng tôi đang theo dõi, canh chừng. Thấy y say mê với khúc nhạc, tôi khom mình thò tay kéo nhẹ túi xách đựng hành trang. Tôi hỏi lại Sang lần cuối:
— Em đã quyết định chắc chắn chưa?

Tôi đưa ra hai giải pháp: Hoặc tôi sẽ đi trốn một mình. Sang còn nhỏ tuổi, các tên An ninh có thể thương hại thả em và Sang sẽ kiếm đường trở về Việt Nam, hoặc Sang sẽ theo tôi, nếu Sang chấp nhận sự nguy hiểm và gian khổ. Sang gật đầu quả quyết:
— Em đi theo anh.

Tôi trườn mình qua ô cửa sổ hẹp vừa mới nâng lên. Khi chân vừa chạm đất, Sang vội chuyền xách tay ra cho tôi. Tôi đi rón rén qua một bãi cỏ và chui xuống gầm một xe lửa cũ, hư hỏng, bỏ hoang gần đó, ngồi lại đợi. Sang vẫn còn lưỡng lự. Tôi ra dấu bảo nhanh lên, đến lúc đó Sang mới quả quyết leo lên, chui ra ngoài. Tôi đã dặn Sang thật kỹ trước khi đi, nhất cử nhất động đều phải bắt chước tôi và làm theo ý tôi. Điều tốỉ kỵ nhất là vội vàng, hốt hoảng. Phải bình tĩnh, phải thản nhiên như một người lương thiện, như một người hợp pháp và nếu có thể, như một nhân viên có thẩm quyền. Vừa băng qua toa xe lửa, định đi về hướng bức tường vắng cây cối rậm rạp chọn sẵn, tôi chợt phát hiện một cánh cổng có người gác về phía tay phải khoảng hai trăm thước.

Tôi lặng người trong một thoáng bất ngờ, chân vẫn bước đều nhịp thong thả, chưa kịp báo động thì Sang bỗng hốt hoảng vụt bỏ chạy. Nhiều loạt súng nổ dòn dã, đạn bay vèo vèo trên đầu và trước mặt. Tôi đứng yên tại chỗ vì biết không thể thoát được. Sang cũng đứng khựng lại khi một loạt đạn vừa chém gãy những nhành cây nhỏ sát mặt.

Tên An ninh nghe tiếng súng chạy ra, bắt chúng tôi trở lại phòng. Quang cảnh nhà ga xe lửa nhốn nháo, mọi người đổ dồn ra xem mặt chúng tôi trên đoạn đường áp giải. Tên Trưởng phòng cũng vừa về tới, ra lệnh trói tay chúng tôi quặt về sau lưng, y càng lúc càng hung dữ, những nét hiểm độc gian ác lộ nguyên hình qua những nụ cười gằn, qua đôi mắt khát máu thù địch, còn tên An ninh, trái lại, vẫn đứng bình thản ngoại cuộc. Hai thanh gỗ nhỏ có gắn hai đầu múi giây điện được lấy ra. Y bắt đầu gắn điện, hai tay cầm hai cây gỗ, chập lại với nhau, hai dòng điện chạm nhau xẹt lửa, nổ đôm đốp tung tóe. Y quay lại, dí hai múi điện vào người Sang, em rú lớn, toàn thân giãy đành đạch. Sang la hét, van lạy trong sự kinh hoảng tột cùng, như một người mất trí, quay cuồng, lăn lộn, gào thét. Tên Trưởng phòng bám sát theo em, dí điện vào ngực, vào lưng, vào bụng. Tôi từng nghe kể nhiều chuyện tra tấn bằng điện, những tội nhân bị tra điện, nếu không chết, một phần lớn về sau đều bị tê liệt, mất trí hoặc bất lực. Tôi từng chứng kiến nhiều kẻ bị điện giật, cháy đen cong queo.

Sang vẫn còn la, vẫn còn van lạy, tức là chưa có gì nguy hiểm. Tôi nhìn ngọn đèn tờ mờ trên trần nhà, dòng điện thuộc loại yếu, 110 volts. Đang tra tấn Sang, thỉnh thoảng y liếc nhìn tôi xem phản ứng. Tôi vẫn ngồi bình thản như một khán giả xem tuồng mà Sang và y chỉ là hai kịch sĩ hài hước đang trình diễn.

Đã đến phiên tôi. Y lừ lừ đi lại, dợm dọa vài cái, quen với phản ứng né tránh và hoảng hốt của Sang, y thực sự ngạc nhiên khi thấy tôi vẫn ngồi bình thản bất động. Tôi nhìn ngay mặt y lượng giá địch thủ. Y bắt đầu ấn điện vào ngực tôi, một tia sáng chớp lòe trong đầu, một chút rung giật nhẹ của bắp thịt, một chút mồ hôi vả ra, và khó chịu nhất là cảm giác nhột nhạt như bị thọt lét. Tôi gồng người chịu đựng sự nhột nhạt, cái nhột làm người ta muốn cười mà không cười được. Cuộc đấu sức vẫn tiếp tục, tôi ngồi yên, chịu đựng cực hình tra tấn điện, không đau đớn, không sợ hãi.

Y ngạc nhiên, và tôi cũng ngạc nhiên. Y ngạc nhiên vì trong cuộc đời tra điện tội nhân, y chưa thấy ai lạ lùng như vậy. Tôi ngạc nhiên vì tra điện chẳng có gì ghê gớm, ngoài những cảm giác khó chịu nhột nhạt mà tôi chưa từng được hưởng. Tôi bỗng có ý nghĩ kỳ cục, biết đâu dòng điện vật lý sẽ tác động dòng nhân điện, sạt thêm cho dòng điện người, và tôi sẽ mạnh mẽ hơn, có nghị lực hơn! Sự thử thách đã đạt đủ yêu cầu của nó. Tên Trưởng phòng thấy chán và mệt với trò chơi vô vị của mình, rút nút gắn điện và treo hai cây gỗ lên tường. Tôi lắng nghe những thay đổi trong cơ thể: bình thường, chẳng có gì khác lạ, ngoài một ít mồ hôi rơm rớm trên da thịt.

Tình hình căng thẳng đã qua, một tên ngồi vẩn vơ, một tên ngồi ôm đàn gãy. Sang bỗng lên tiếng:
— Tôi biết đánh đàn!

(Có lần trước khi trốn, tên An ninh hỏi: Có ai biết đánh đàn không ?)
— Muốn đánh đàn hả? Tên An ninh hỏi vặn.

Sang gật đầu, tên gác đến mở trói cho Sang. Tôi vừa tức cười, vừa ái ngại trước sáng kiến kỳ lạ này. Sang ôm đàn, bàn tay vụng về bắt đầu mò mẫm từng sợi giây đàn, em đàn tệ như một đứa con nít đang nghịch ngợm với đồ chơi, làm y cụt hứng. Tôi càu nhàu:
— Đánh đàn như củ c… Trả lại cho nó đi.

Tên Trưởng phòng An ninh lấy lại cây đàn và bảo Sang mở trói cho tôi. Giọng y dịu xuống nghe như thật:

–  Thôi đừng đi trốn nữa. Muốn đi vượt biên ngày mốt tôi dẫn đi dùm.

Tôi ngạc nhiên vì câu nói khó hiểu, nhưng Sang quả quyết:
— Người Miên thành thật lắm. Họ nói là làm.

Tôi gợi ý:
— Nếu anh giúp tôi, hoặc nếu anh muốn đi vượt biên với tôi, qua Mỹ, tôi sẽ đền ơn anh.
— Ừ! Tôi sẽ giúp anh, nhưng anh phải hứa là không trốn nữa. Ngày mốt có chuyên tàu Battambang, Sisophone, tôi sẽ dẫn anh đi.

Biết chắc y chỉ nói xạo để giữ chân mình, nhưng trong cảnh tuyệt vọng, con người vẫn bám víu vào những chuyện phi lý để mơ mộng. Tôi tưởng tượng lúc chúng tôi cùng y lên tàu…

Một chiếc xe jeep dân sự chạy lại. Một người Miên ăn mặc lịch sự, trí thức đi vào gặp tôi, hỏi chuyện bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Rồi một chiếc xe jeep nhà binh, một Sĩ quan xuống xe và ra lệnh gom trả hết đồ cho chúng tôi.
— Đủ hết chưa?

Y hỏi, nhưng tôi chẳng còn tha thiết với những thứ đồ lỉnh kỉnh, gật đầu. Y ký giấy nhận và dẫn tôi ra xe. Tôi nhìn vào mặt tên Trưởng phòng chửi thề:
— Đồ dốì trá.

Y ngượng xấu hổ quay nhìn hướng khác. Chúng tôi được chở đến dinh thự rộng lớn, nhiều lính Khmer Heng Samrin vừa chấm dứt trận thể thao, tụ tập quanh chúng tôi với vẻ hiếu kỳ. Tôi nhìn quanh khu vườn, gian nhà dọ xét. Tôi đã tập một thói quen từ lâu: Bất cứ nhà giam nào, bất cứ phòng thẩm vân nào, vừa bước chân vào, việc đầu tiên là đưa mắt xem những sơ hở, những yếu điểm có thể chạy trốn hoặc vượt ngục.

Ó đen

lytong.wordpress.com

Lý Tống

Post by Sơn râu 20 Apr 2025

Phần 5

Một Chỗ Trú Đêm

Trời chuyển giông và mưa gió bắt đầu nổi dậy. Hướng gió mùa thường làm khó khăn giới hàng hải và giới hàng không, không ngờ, tôi giới hàng bộ, giờ nầy cũng đau khổ vì gió. Gót chân đã phồng rộp, bắp thịt và xương cốt rã rời, nhưng sự kiên trì nhẫn nại vẫn còn giữ nguyên vẹn hình thái. Tôi hồi tưởng những dốc núi cao, trơn trợt và dựng đứng, mỗi ngày phải leo lên, có lúc phải bò lên, đứt thở, trong những công tác khiêng gỗ trại tù. Những ngày gánh tranh nặng nhọc, đi ngược gió giữa nắng trưa, trên con đường dài vô tận! Bỗng dưng, tôi thấy thoải mái nhẹ nhàng. Đúng ra tôi phải được trả công trong chuyến xe nầy bởi vì tài xế bỗng hoán chuyển thành hành khách, ngồi ung dung, dùng thớt lưng tôi để che mưa gió. Một xe đạp dừng lại ghé vào nhà để báo tin về muộn, chúng tôi đứng thu mình sau gốc cây, lạnh run.

Một số ngôi nhà chung quanh bị Bộ đội Việt Cộng chiếm cứ và sử dụng, bất cứ phum nào, làng nào, tùy theo dân số, tùy theo tình hình an ninh, đều có một số Bộ đội Việt Cộng tương xứng trấn đóng. Thật dễ nhận ra vì họ luôn luôn chiếm ngụ những gian nhà lớn nhất, kiên cố nhất trong vùng vì những loại nhà đó là tài sản của những tay tư sản, địa chủ cũ, tầng lớp giai cấp được trọng vọng trong Xã hội Tư bản và là tội nhân trong Xã hội Chủ nghĩa. Người lái xe, một Việt kiều, trở ra với một đề nghị bất ngờ:

—Nếu muốn, các anh có thể vào ở lại nhà tôi, sáng mai đi tiếp. Nhà nghèo, cơm mắm bò hóc không ngon, nhưng đủ để mời khách. Tuy nhiên, theo đúng thủ tục, các anh phải trình giấy tại phòng an ninh.

Tôi mỉm cười thiện cảm, cám ơn lòng hảo tâm, nhưng từ chối vì cần đi gấp. Điều đó chứng tỏ chúng tôi vẫn chưa bị nghi ngờ. Mưa càng nặng hạt, gió càng mạnh, đường đi bắt đầu tối dần. Chúng tôi vẫn lầm lũi đạp xe trong bóng tối, trong gió mưa, đi tới đâu, về đâu, tôi không hề biết trước và quan tâm đến. Cứ mỗi tấc đất xa rời cái địa ngục trần gian của Cộng Sản, tôi lại tiến gần đến ánh sáng và hy vọng. Cuối cùng xe dừng lại, vì người lái xe cần thời gian để trở về. Lác đác những ngôi nhà tranh tiều tụy ẩn hiện trong màn đêm và màn mưa, người lái xe nói:

— Tôi biết nhà một người Việt kiều ở đây. Tôi sẽ xin dùm cho các anh ngủ lại.

Tôi mừng rỡ cám ơn, đứng chờ. Cuộc thương lượng đã khá lâu, tôi quyết định đi về hướng ngôi nhà, nghĩ rằng tiếng nói và nhân dáng của mình có thể làm chủ nhân nhận lời. Thật khó hiểu, cái nhà được gọi là của Việt kiều lại không có ai biết nói tiếng Việt, gồm một người đàn bà lớn tuổi và ba cô gái trẻ, nét sắc sảo và duyên dáng nhờ nước da nâu bóng bản xứ làm nổi bật và hấp dẫn hơn. Với tư tưởng đen tối, một dân chơi có thể nghĩ đến một cái động và những cô gái điếm tuyệt vời. Với tư tưởng trong sáng, một người đạo đức sẽ mũi lòng vì cảnh mẹ góa con côi, thiếu bàn tay đàn ông che chở đùm bọc. Nếu rơi vào trường hợp thứ nhất, chắc chắn tôi không có tiền để thỏa mãn điều kiện tiên quyết của loại dịch vụ nầy, và trường hợp thứ hai, chúng tôi ngủ đâu trong cái nhà quá nhỏ chỉ vừa đủ chỗ đặt hai chiếc giường và bốn người đàn bà nằm.

Tôi không đạo đức, cũng không quá hư hỏng nhưng vẫn chưa bỏ được tật mơ mộng. Ngày xưa tôi thường đọc truyện Liêu Trai Chí Dị với những cuộc tình rực cháy đam mê của những con hồ ly tinh cái, đang đêm hóa thành những người con gái tuyệt trần đi dụ dỗ, trao tình với những chàng thư sinh đang miệt mài kinh sử. Một thoáng ước ao phi lý chợt hiện trong trí tưởng tượng. Ước gì ba nàng là ba con hồ ly tinh hóa người, các cô sẽ ân cần mời mọc tôi ở lại và đêm nay, ta sẽ đốt cháy sinh lực dồi dào của mình cho ba tấm thân nẩy nở khêu gợi kia, dù sáng mai trên đoạn đường thăm thẳm vời vợi, ta còn phải gian nan, vất vả, tận lực với cuộc sinh tồn, với định mệnh khắc nghiệt của mình. Không cần thông dịch, tôi cũng hiểu được cái ý nghĩ và lý do từ chối của chủ nhà. Tôi cám ơn và dẫn Sang đi.

Tôi cố tìm một khoảng đồng trống sau đám nhà tranh lúp xúp để tìm chỗ ẩn náu qua đêm. Hai đứa dọn dẹp những nhành tre gai vướng víu trong một bụi rậm. Mở túi lương khô, chúng tôi nhẩn nha nhai chậm rãi. Tiêu chuẩn mỗi bữa ăn: bốn muỗng đầy, chất bột của mì sợi khô tán nhỏ không thể ăn mau vì nghẹn và sặc. Phải nhờ nước đẩy trôi cái chất vừa khô vừa dễ hóc đó xuống cổ họng, chúng tôi cảm thấy no nê nhờ uống nhiều nước. Bỗng có tiếng chân người, tôi bấm nhẹ Sang, hai đứa ngồi im không nhúc nhích. Một người đàn ông tiến xăm xăm đến gần. Cái thân thể con người càng kềnh càng thêm khi cố gắng co rút lại. Cách ba thước, y quay lưng lại, tuột quần ngồi đại tiện. Giả dụ nếu có đèn pin, giả dụ nếu có ánh trăng, chắc chắn chúng tôi đã bị bại lộ. Tôi dẫn Sang tìm chỗ khác, sau đó ngồi tựa lưng vào một gốc cây nhỏ. Bờ bụi thưa thớt phải nhờ cậy thêm bóng tối của đêm, sự mờ ảo của màn mưa rả rích để che chở hai bóng người lạnh lẽo co ro. Đường lộ chính nằm cách hai mươi thước. Tiếng nói chuyện, ánh đèn của dân chúng trở về sau một buổi hội họp đâu đó, vọng lại thật rõ ràng. Tấm vải ni lông nhỏ không đủ che kín hai thân thể. Nước mưa theo từng đợt gió tạt vào cổ, ngực, nước trên mặt đất âm thầm chảy luồn lỏi giữa các ngõ ngách của thân người. Những con muỗi đói liên tục tấn công. Như để thích nghi với hoàn cảnh sinh tồn, giông muỗi đã mài bén và nối dài thêm cái mũi kim sinh kế để có thể đâm xuyên suốt lớp da dày, thô nhám của lớp người bình dân với mớ áo quần, vải vóc không còn đủ khả năng che chở.

Sang ngoẹo đầu vào ngực tôi ngủ mê mệt, tôi vòng tay qua vai ôm chú bé. Trong cuộc đời, tôi chưa bao giờ ôm ấp ai âu yếm thân thương như vậy, ngay cả đứa em ruột thịt thâm tình độc nhất. Đứa em trai, một thanh niên trẻ chỉ có một ước mơ duy nhất là làm thế nào để bắt chước sống và được sống cuộc đời giống hệt anh mình. Sự cố gắng thái quá trong những điều kiện hoàn toàn khác biệt đã dẫn dắt đời nó vào một lối sống hư hỏng và đã chết trong trận tấn công biển người của Cộng Sản vào Chi khu Cảnh Sát thuộc Tỉnh Pleiku. Tội nghiệp những lứa tuổi thanh xuân mơ mộng của Việt Nam, biết bao em đã chết oan ức vì bom đạn thời chiến. Và hiện tại, và tương lai, còn biết bao em đang và sẽ tiếp tục chấp nhận hiểm nghèo, chết chóc để thoát khỏi cái lũ người Cộng Sản tàn bạo, mê muội đó.

Tiếng tự tình của đôi tình nhân hay của cặp vợ chồng trẻ xa nhau vừa tái ngộ, đang nỉ non thủ thỉ ở ngôi nhà lân cận. Lần đầu tiên tôi khám phá được cái chất nhạc, chất thơ trong thứ ngôn ngữ xa lạ nầy. Giọng nói của người con gái líu lo trầm bổng với những lời tình mật ngọt. Hình như ban đêm đã mất cái ý nghĩa chính là để nghỉ ngơi và ngủ mà trở thành cái nệm êm ái nuôi dưỡng cuộc tình. Tôi chợp mắt nhiều lần trong đêm, sự mệt mỏi không đủ yếu tố cho một giấc ngủ say, những ý nghĩ và toan tính giằng kéo tôi ra khỏi cơn ngủ chập chờn. Tiếng người con gái vẫn đều đặn như một cuộn băng đã bấm nút, chạy mãi. Chỉ những lúc thay băng mới có sự im tiếng, sự im tiếng không đem lại sự im lặng hoàn toàn cho không khí tĩnh mịch của đêm. Có những tiếng động lịch kịch, như tiếng cuộn băng cũ bật ra, tiếng cuộn băng mới bỏ vào, nhưng thực sự là tiếng động của giường chiếu, của thân thể, của hơi thở, của tiếng rên rỉ trong nhịp điệu yêu đương. Cái tiếng kỳ cục thúc dục anh chàng peeping Tom trong người, nhưng hình ảnh hấp dẫn chưa đủ mạnh để xâm chiếm toàn bộ cái tâm sự ngổn ngang của kẻ đang trên đường bôn tẩu. Những tiếng động khác bỗng vọng lại, không có loại đồng hồ báo thức nào thích hợp hơn tiếng rục rịch chuẩn bị cho lợn ăn, tiếng giã gạo, nấu cơm buổi sáng của những gia đình nông dân nghèo.

Tôi lựa chọn một số đồ đạc tối cần thiết và đem dấu những thứ cần thiết khác bắt buộc bị loại bỏ. Sự cồng kềnh, số lượng đồ đạc là một trong những yếu tố tự tố cáo mình tại các nuớc Cộng Sản. Tôi đã từng bị nhiều người chạy hàng chợ đen tại Sàigòn, Nha Trang níu kéo, làm phiền mỗi khi xách một túi nhỏ trên tay. Những tên Cớm rắp ranh rình rập những mục tiêu tương tự để bắt hàng chợ đen và để bắt địa. Tôi đánh thức Sang dậy, chú bé mở mắt và ngỡ ngàng trước hiện thực xa lạ của mình. Tôi nắm tay kéo Sang đứng lên, dứt khoát lôi chú bé ra khỏi cái cảnh nửa thực, nửa mơ. Lần lữa tại vị trí nầy, trong thời điểm và hoàn cảnh nầy thật nguy hiểm. Phải tranh thủ thời giờ, phải lợi dụng sự đi lại của những kẻ siêng năng tần tảo sớm nhất, để đi qua những trạm gác thường đặt đầu và cuối mỗi thôn làng kiểm soát kẻ vào ra. Trạm gác còn đặt tại các đầu cầu, những chiếc cầu nhỏ bắt qua mương dẫn nước, giờ đây được tăng cường thêm bởi hàng rào bằng tre và bằng cây để ngăn chận đặc công xâm nhập phá hoại. Nhưng thật khôi hài, chỉ với khả năng của những chú bé chăn trâu, sự đột nhập và phá hoại cầu trở thành một công tác dễ dàng.

Chúng tôi đi từ tờ mờ sáng, mặt trời đã lên cao vẫn chưa thấy bóng dáng chiếc xe đò nào trên điiờng, nông dân đã tề tựu đông đảo trên các cánh đồng. Lao động Xã hội Chủ nghĩa ở đâu cũng có cùng một sắc thái, mọi người làm việc vì công điểm, sự cưỡng bức và huê lợi thấp không đủ bảo bọc tấm thân còm cõi, nên chẳng ai tận tâm tận lực. Người ta chỉ tận tâm, tận lực trong những buổi họp phê bình, kiểm điểm bởi vì cơm gạo nhà nước cấp phát chỉ vừa đủ để vận động cái mồm, cái lưỡi nói phét, tán láo chơi. Để vận động tay chân phải cần ăn gấp ba lần tiêu chuẩn của nhà nước cấp.
Tôi nhớ tới những người nông dân Việt Nam nghèo khổ qua các chế độ và càng tồi tệ hơn khi được “giải phóng” bởi thứ Chủ nghĩa xây dựng Học thuyết trên căn bản Liên minh Giai cấp Công-Nông. Những ngày làm ruộng trong nhà tù, chúng tôi không chỉ đạp hàng đống bó mạ tốt xuống bùn bỏ đi để phá hoại sản xuất, mà trong mùa gặt, còn làm lơ cho những người dân quê đói khổ tranh cướp những bó lúa chúng tôi gánh qua trên các đoạn đường vắng. Làm sao quên được hình ảnh cô bé gái năm tuổi, mặt mày xinh xắn hiền lành, đang sợ hãi đau đớn vì bị mẹ đánh và mắng nhiếc.

—Trời ơi, con cái gì mà ngu đần hư hỏng thế nầy. Con người ta cũng chừng đó tuổi, chúng nó khôn ngoan, nhanh nhẹn, giỏi dang, chỉ nháy mát là ăn cắp được cả ôm lúa. Còn con tôi nè trời! Từ sáng đến giờ cứ đứng thập thò hoài. Tối nầy về nhà lây cứt mà ăn, cơm gạo đâu cho thứ khốn nạn như mầy!

Vâng! Những đứa bé nhà nghèo đang được giáo dục bằng một loại đạo đức, luân lý mới! Xã hội tương lai sẽ ra sao khi thế hệ hôm nay đang được tiêm nhiễm những tư tưởng hướng đạo tồi tệ nguy hiểm như vậy. Nhưng may thay vẫn còn những ông, bà cụ già nức nở cảm khái:

—Nếu còn cầm nổi khẩu súng, tôi đã bỏ lên rừng theo kháng chiến.

Hoặc nguyền rủa:

—Biết tụi nó khốn nạn thế nầy, ngày xưa tôi đã đổ nước sôi xuống hầm cho chết cha bọn nó. Cái thứ vô ân bạc nghĩa! Mình ngu, dấu diếm, bao bọc, che chở cho nó, để ngày nay xảy ra cơ sự như thế này đây. Trời ơi!

Sang giỏi đi xe đạp nhưng yếu đi bộ, nằng nặc đòi ngồi nghỉ đợi xe mà tôi thì muôn đi mãi. Cuối cùng tôi phải nhượng bộ khi chú bé không còn đi nổi. Tôi tìm một chỗ kín bên đường, vục mặt xuống vũng nước vàng quạch uống lấy uống để. Chín giờ sáng, chiếc xe đầu tiên xuất hiện, xe bình thản qua mặt không hề lưu ý đến hai khách bộ hành lẻ loi đang vẫy tay. Thật lâu, đến chiẽc xe thứ tư, tài xế mới chịu dừng lại, Sang chạy đến người tài xế làm phận sự mình. Mấy anh tài xế là chúa sành đời, thây người, thấy của, và nghe giọng nói của Sang, anh chàng nghi ngờ ngay.

— Có giấy tờ không?

Chúng tôi vội gật đầu đại để leo lên xe đã chật chội. Chuyến xe đặc biệt chở toàn đám dân nghèo khổ lao động, có một vài chú Bộ đội Việt Cộng quá giang ngồi đờ đẫn đây đó. Tôi kéo khăn cà ma trùm kín mặt, vờ ngủ như mệt mỏi. Một người “câm điếc” đi vượt biên là một người hạnh phúc nhất vì cái trở ngại khó khăn nhất là ngôn ngữ, lại không thành vấn đề đối với họ. Lắm lúc tôi cũng đóng vai câm điếc, nhưng cái lưỡi tôi quá dài, có lẽ nó cứ dài thêm sau mỗi cuộc tình vì những nỗ lực tận tụy của nó! Cái lối ú ớ ngọng nghịu thiếu điêu luyện, và cái lỗ tai 20/20 của một Phi công khó đóng trọn vẹn vai trò lơ đãng như những kẻ điếc thực sự. Tôi nhắm mắt vờ ngủ sau chiếc khăn cà ma, nhưng mọi hoạt động trên xe, tôi đều thấy, mọi tiếng động bên ngoài, tôi đều nghe.

Xe dừng lại tại nhiều trạm gác, cái mũi đánh hơi của các tay lính gác khá nhạy bén, nhưng cái mùi người của đám người dơ dáy, bần hàn, đang ngồi chen chúc trên sàn xe đã đánh lừa được sự tinh tế đó. Trạm kiểm soát cuối cùng thật đáng ngại, một dãy xe dài đậu chờ khám xét. Trong hai mươi phút, xe thỉnh thoảng xục xịch nhích về phía trước để chiếm đoạt từng khoảng trống nhỏ, tiếng gõ cửa, tiếng gọi, tiếng đối thoại. Một tên lính gác leo lên xe, thò đầu vào bên trong kiểm soát, mục tiêu của cuộc tìm xét là những chiếc vali bằng da, những bộ quần áo thanh lịch, những đối tượng có thể moi được tiền.

—Tâu! (Đi).

Tên nầy quát lớn với vẻ bực mình chán nản. Xe đi và lại dừng lại, tất cả hành khách đều bị đuổi xuống xe.

—Gì đây?

Tôi tự hỏi. À! Đã đến bến phà Nik-Lương. Nơi đây tôi đã từng theo Trung Tá Khương bay định chuẩn đánh giá phi trường, tính chiều dài, chiều ngang, tốc độ và hướng gió cho sự an toàn của loại phi cơ L19 đáp và cất cánh. Với khả năng mình, chỉ cần một con hẻm nhỏ, một thửa ruộng trống vừa gặt xong, một giải đất trơ trụi nào đó, chúng tôi cũng thừa sức đáp và cất cánh. Giám định phi trường chỉ là một thủ tục, bởi vì Phi công Việt Nam vẫn thường đáp ngoài phi trường.

Rời xe, đi vào quán cơm bên lề đường, chúng tôi ăn một bữa bồi dưỡng. Cơm nước rẻ và ngon miệng, có lẽ rẻ thì đúng hơn, vì ngon miệng, thì thứ gì đám tù tàn binh chúng tôi chẳng thấy ngon! Lính gác lục lạo đây đó nhưng chúng tôi vẫn không hề bị lưu ý. Tôi theo hành khách xuống phà qua sông. Dòng sông rộng, nước chảy xiết. Đã biết bao kẻ tội phạm, người vượt biên trên đường áp giải về Việt Nam đã thoát thân hoặc chết trên dồng sông nầy? Một tiếng “ùm” rồi những tràng đạn tới tấp. Kẻ bơi giỏi, lặn giỏi, có thể nương theo giòng nước để sông còn, kẻ thiếu khả năng, kém may mắn, chỉ còn là một đống bầy nhầy với những vết máu loang trên mặt nước.

Sống—Chết, Tự do — Nô lệ. Một biên giới không rõ ràng, ngăn chia hai thực tại đối nghịch.
Và Đạo đức — Vô luân. Nền Khổng giáo mấy ngàn năm được ca ngợi trọng vọng giờ bị kết tội là tên tay sai đắc lực của giai cấp bóc lột thống trị. Các tôn giáo cũng cùng chung số phận bi tráng trước nền đạo đức mới Xã hội Chủ nghĩa!
Và Anh hùng — Tội phạm. Hôm nay trân trọng, ngày mai lên đoạn đầu đài. Phía bên nầy ca ngợi, phía bên kia nguyền rủa, kết án.

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 20 Apr 2025

Chương mười tám

Khi nói với Eliot Ness rằng sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra, Colleen chỉ đoán

trúng một phần. Đã không có chuyện gì xảy ra cho nàng thật nhưng thằng Lumbonio, quản lý nhà hàng The Red Horse mới là kẹt. Kẹt không phải là vì nó đã để chuyện lộn xộn xảy ra tại quán, vì sống bằng cái nghề mở nhà hàng này, những chuyện đấm đá như vậy xảy ra như cơm bữa. Cũng chẳng phải vì nó đã không biết huấn luyện đàn em, để cho một thằng khách hàng vô danh quất sụm một lần hai thằng an ninh khơi khơi như vậy giữa ban ngày, làm mất uy tín của đạo quân xếp Al Capone, một đạo quân khét tiếng cả nước Mỹ thời đó. Thằng Lumbonio kẹt là bởi chiều hôm đó, nó lén bỏ tiệm đi chơi với con vợ bé …

Lâu lâu lén bỏ tiệm đi chơi một lần, Steve Lumbonio không quên trách

nhiệm. Nó cho thằng đệ tử ruột số điện thoại để nếu xếp Al Capone có đến hay phụ tá Frank Nittie ló mặt, thằng này sẽ thông báo cho nó. Chỗ nó du hí cũng đâu có xa gì nhà hàng The Red Horse. Chỉ cách hai góc phố thôi, phóng ra xe rồ máy một cái là tới liền. Nhưng số nó xúi quẩy. Sau cuộc ẩu đả, khi Eliot Ness rút cây Colt.45 bắn đứt bốn sợi dây điện, cái điện thoại duy nhất trong nhà hàng cũng bị câm luôn.

Thằng đệ tử ruột móc súng ra cầm tay, vừa la hét vừa xông xáo giữa đám rừng người gần cả mấy phút đồng hồ mới tới được cái máy điện thoại đặt sau quầy. Bốc ống nói lên, kêu khản cả cổ mà không nghe được cái giọng của con nhỏ tổng đài, thằng đệ tử biết ông chủ mình đã tới số. Đại loạn như thế này thì thế nào lát nữa phụ tá Frank Nittie hay xếp Al Capone cũng đến, biết cách nào để thông báo cho đàn anh đây? Xưa nay có ai nhận trọng trách của xếp Al Capone giao phó mà dám trốn đi khơi khơi như vậy? Kỷ luật của xếp Al Capone ai mà không biết?

Cách đó hai dãy phố, Lumbonio đang du dương với con đào lẻ bỗng nghe

nhiều tiếng còi hụ của xe cảnh sát chạy ngang qua trước nhà. Có tật thường giựt mình, Lumbonio nhảy xuống khỏi giường, vén màn cửa nhìn ra ngoài, tay kia quờ quạng tìm mớ quần áo. Đích thị là nhà hàng đang có biến rồi, ba bốn chiếc xe cảnh sát chớp đèn nhấp nháy chạy ào ào về phía The Red Horse. Nó nghĩ nhanh đến thằng đàn em trung tín? Nếu có chuyện quan trọng vậy sao nó không gọi mình? Chỉ thị của nó đã ban ra rõ ràng: “Mọi chuyện bất thường xảy ra dù có nhỏ mọn đến đâu cũng phải thông báo cho tao biết liền” mà. Hay là chẳng có chuyện gì hết, cảnh sát chỉ đi tuần “khơi khơi” thôi. Nhưng, xưa nay, có bao giờ cảnh sát đi tuần “khơi khơi”

mà lại ba bốn chiếc một lần, lại hụ còi tùm lum? Lumbonio mò mẫm trong bóng tối tìm cái điện thoại đặt ở đầu giường.

Gọi con tổng đài xin số The Red Horse, bị trả lời là không ai trả lời.

Lumbonio lại ngồi im trong bóng tối suy nghĩ một lúc nữa. Cuối cùng nó quyết định mặc đồ trở lại The Red Horse để xem động tĩnh. Có thể đã chẳng có gì xảy ra nhưng thà rằng về còn hơn nằm ở đây mà lo lắng. Nó biết kỷ luật sắt của xếp Al Capone.

Nghĩ là làm liền, Lumbonio hớt hãi đứng dậy xỏ quần vào. Gài nút xong

nó mới khám phá ra là mình quên mặc quần lót. Đù mẹ quên gì bất tử vậy,

Lumbonio vừa chửi thề vừa lột quần ra trở lại. Nhưng kiếm mãi vẫn không tìm thấy cái quần lót. Lại phải bật đèn lên, dựng đầu con nhỏ dậy rồi hai đứa lăn lộn trong cái đám mền gối hỗn độn để kiếm. Đến chừng tìm thấy nó, ăn mặc xong thì cũng mất hết gần năm phút. Dọt xe trở về đến The Red Horse là nó đã nhìn thấy phụ tá Frank Nittie đứng lù lù một đống trước cửa tiệm.

Phải chi Lumbonio lặn luôn tối hôm đó rồi ngày mai kiếm một cái cớ gì để

thanh minh thì chưa chắc ai đã biết tội của nó vì nó là quản lý nhà hàng, lâu lâu kẹt cái hẹn bất tử ai dám có ý kiến? Sợ quá hoa ngu, nó chạy ào tới năn nỉ tỉ tê với Frank Nittie.

Thực ra, từ lúc đến đây, Frank Nittie không hề để ý thằng Lumbonio giờ

này đang ở đâu hay làm gì. Nó nhận được một cú điện thoại mật của cảnh sát, báo có thằng khách hàng làm loạn ở The Red Horse liền xách mấy thằng cận vệ chạy xuống tính để tăng cường nếu có biến. Nào ngờ đến nơi chẳng thấy gì, chỉ gặp cảnh sát gác trong gác ngoài hai ba lớp. Vào trong nhà hàng, ngoài hai thằng an ninh mặt mày tím bầm đang nằm một đống và bàn ghế ly chén đổ loạn khắp nơi, Frank Nittie không tìm thấy cái … xác chết nào cả. Vậy thì đâu có gì phải lo.

Đêm nay coi như là lỗ chắc nhưng đã có sao? Làm ăn buôn bán mà, đếm

bạc một trăm đêm thì lâu lâu cũng phải nghỉ một đêm, có gì là bất thường? Mớ bàn ghế hỗn độn này sắp xếp lại mấy hồi, còn cảnh sát thì coi như “người trong nhà”, muốn gì chả được. Frank Nittie tính đến gọi điện thoại thông báo cho xếp Al Capone rồi dọt về nhà ngủ nhưng cái điện thoại mắc dịch nhất định không chịu lên tiếng. Nó đành ra trước tiệm, đứng tần ngần đấu láo với bọn thầy chú. Đã tính bỏ đi thì thằng Lumbonio dẫn xác tới, mặt cắt không còn hột máu.

Lúc ấy Frank Nittie mới nhớ ra sự vắng mặt của thằng quản lý nhà hàng

vào lúc cần kíp như thế này. Frank Nittie lạnh lùng hỏi nó:

-Mày đi đâu?

-Tôi, tôi … vừa đi qua nhà con đào chút xíu rồi tính trở lại liền. Ai có ngờ

chuyện lại đến như vậy.

Té ra là thằng này bỏ công việc làm ăn để đi ngủ với mèo. Frank Nittie đã

mường tượng ra cái cảnh xếp Al Capone sẽ nổi giận như thế nào khi nhận được tin này. Kể từ ngày có thằng Eliot Ness xuất hiện, xếp như có mối lo canh cánh bên lòng, không lúc nào đứng ngồi cho yên. Lại thêm cái bệnh giang mai lâu ngày cứ âm ỉ trong máu, không biết lên cơn lúc nào nên con người xếp đâm ra dễ cáu kỉnh, vui buồn bất chợt.

-Mày biết đám nào gởi người tới phá không?

Lumbonio chưng hững. Nó mới về, đâu biết chuyện gì. Frank Nittie tiếp:

-Không hiểu thằng nào mà ngon quá chừng. Nó tẩn hai thằng an ninh của

mày thành một đống thịt vụn.

Lumbonio không có ý kiến. Frank Nittie tiếp:

-Tao nghĩ phải có thằng khốn nào đó đứng đằng sau cái vụ này. Đù mẹ

khách làng chơi thông thường đâu có dám khơi khơi đem súng vô đây.

Frank Nittie mồi một điếu thuốc, nhìn ra xa xa:

-Tao có hỏi tụi nó. Ra tay hai lần, nó quất hai thằng của bọn mình nằm

một đống. Nó bắn bốn phát, cắt luôn bốn sợi dây điện trên trần nhà. Thằng này không phải là một tay tầm thường. Cái quan trọng là ai gởi bọn nó tới đây để phá mình. Tao nghĩ có thể bọn O’Bannon.

Vừa nghe tới O’Bannon, Lumbonio đã dảy nảy lên:

-Không, tôi bảo đảm không phải là người của tụi O’Bannon.

Frank Nittie quắc mắt nhìn thằng Lumbonio. Ủa, cái thằng caporegime

kiêm quản lý nhà hàng này, sao nó biết chuyện của bọn kia mà dám quả quyết vậy kìa? Cái giác quan bén nhậy trong đầu ông phụ tá kinh nghiệm dừng lại tại nơi đây.

Tại sao nó dám quả quyết như vậy? Nó có ăn chịu với tụi O’ Bannon hay có lý do nào khác? Hay nó ăn tiền của bọn này? Vậy là có chuyện rồi …

Chừng như thấy mình lỡ lời, Lumbonio liếm láp:

-Không, tôi nói “bảo đảm” nghĩa là “bảo đảm” kiểu … phỏng đoán mà, chớ

chuyện gì xảy ra bên đó ai biết được?

Đã có chủ đích trong đầu, Frank Nittie câm họng. Nó nhất định phải làm

cho ra lẽ cái vụ này. Trí óc nó xoay chuyển quanh cái trục Lumbonio và O’

Bannon.

Thấy ông phụ tá mặt lạnh một đống, thằng Lumbonio năn nỉ tiếp:

-Ông phụ tá thương anh em giùm, có gì tôi sẽ không quên ơn.

Frank Nittie chỉ trả lời lấy lệ, trong đầu vẫn không bỏ quên câu nói hớ

hênh hồi nãy của nó:

-Mày làm việc với xếp bao nhiêu lâu, không biết tính tình của xếp à? Hẹn

hò với đào thì trong nhà hàng thiếu gì phòng ốc, đem mẹ nó về đây mà ăn nằm có sao đâu, tại sao lại bỏ đi khơi khơi như vậy?

Mặt thằng Lumbonio méo lại:

-Đem về đây thì sợ mất mặt với đàn em, khó chỉ huy. Mà tôi mướn cái

apartment cách đây đâu có xa, chỉ lái xe năm phút là tới, ông phụ tá thông cảm dùm …

Frank Nittie thọc hai tay vào túi áo măng tô, ra dấu cho mấy thằng cận vệ

đứng gần đó chuẩn bị ra đi:

-Mày biết đó, vụ này thế nào cũng tới tai xếp. Xếp xử ra sao thì phải còn

chờ. Tính tình xếp lúc này kỳ lạ lắm, ngay cả tao bây giờ mà lạng quạng thì cũng dám bị đi luôn nữa, nói gì đến chuyện gỡ gạc cho ai. Mà mày đừng lo, dầu gì thì tụi mình cũng đã là bạn, tao sẽ không quên đâu.

Nói tới đó xong là Frank Nittie dọt lẹ, không muốn đứng lại nghe thằng

Lumbonio lải nhải thêm. Lumbonio hãi quá, nó biết tính tình xếp Al Capone hơn ai hết. Xếp thường dạy chúng nó rằng: “Tụi mày chỉ huy nhân viên, nếu muốn tụi nó lập được công lớn thì phải ráng mà khen thưởng những cái công nhỏ trước. Tâm lý của con người là vậy, luôn luôn thích được khen được thưởng. Còn nếu chúng nó phạm tội, dù nhỏ cũng phải trừng trị. Tụi mày biết sao không, nếu không trừng trị những cái tội nhỏ thì tụi nó sẽ lờn mặt, từ đó sẽ phạm những tội lớn hơn … ” Đấy, triết lý của lãnh tụ Al

Capone là vậy đó. Nghe qua đâu có thua gì kỹ cương của hoàng đế Cesar triều đại La Mã thưở nào. Nó đang giữ một chức vụ lớn trong xã hội của Al Capone. Vừa là caporegime với một trăm tay súng dưới tay vừa là quản lý nhà hàng The Red Horse đâu phải ai làm cũng được? Đã có lần báo chí đã coi The Red Horse như là đệ nhất đại tửu lầu không phải của Chicago mà của cả nước Mỹ. “All contracts can be signed at the Red Horse” mà. Tiền thu vô là mấy chục ngàn đô la mỗi ngày. Có lần, ngồi ăn bí tết tại đây, xếp Al Capone đã vỗ vai nó tâm tình “Chú mày thấy không, cả cái giang sơn mấy trăm triệu đô la của tao, tao chỉ khóai có cái nhà hàng này và cái khách sạn Lexington. Mày biết tại sao không? Tất cả những cơ sở kia như lò nấu rượu, sòng bài, động đĩ đều là những của phi pháp. Có cái cơ sở làm ăn

phi pháp nào mà sống lâu được dưới ánh mặt trời. Nó chỉ là giai đoạn, trước sau gì cũng sẽ bị hạ hay bị đào thãi. Chỉ có cái khách sạn Lexington và cái nhà hàng là có thể tồn tại được. Nói thật với mày, nếu ngày xưa, tao làm chủ được một cái nhà hàng chỉ nhỏ bằng một nửa cái The Red Horse này thôi thì tao cũng đâu thèm bước vào xã hội mafia làm gì. Mafia chỉ là một lối thoát vinh dự của những thằng nghèo, những thằng lam lũ khốn khổ quanh năm trong xã hội nhưng còn có can đảm đứng lên để xây dựng tương lai mình không theo luật lệ của xã hội … ” Xếp nói vậy thì đủ biết cái tầm mức quan trọng của nhà hàng mà nó đang làm quản lý.

Lumbonio vừa dọt vào trong nhà hàng là thằng đệ tử ruột ào tới liền:

-Khổ quá đàn anh, khi vừa có chuyện em đã gọi liền mà cái điện thoại

khốn nạn không hiểu sao gọi hoài không được.

Lumbonio hầm hầm nét mặt:

-Chuyện gì xảy ra vậy?

-Đâu có gì đâu, oánh lộn vớ vẫn với một thằng khách hàng không biết từ

đâu tới. Kẹt cái là nó móc súng ra bắn đứt mấy sợi dây đèn nên cảnh sát mới xông tới …

Lumbonio chợt nhớ đến “thằng khách hàng không biết từ đâu tới … ” và câu

nói hớ hênh của nó với phụ tá Frank Nittie. Thật sự, nó dám quả quyết thằng này không phải là người của bọn O’ Bannon gởi tới là vì con đào của nó là người của trùm O’ Bannon chớ ai? Nhưng sống trong cái nghề dao búa này, nhiều khi người ta mất mạng chỉ vì một câu nói hớ hênh, một mẫu chuyện không đâu. Lumbonio quen con nhỏ này vào thời kỳ chiến tranh còn đang tiếp diễn với bọn Antonio. Em làm bồi rượu. Trong hệ thống nhà chứa vĩ đại của xếp Al Capone, gái được chia làm nhiều hạng. Tận cùng là điếm. Cao hơn chút nữa là vũ nữ, kiếm được nhiều tiền hơn và thỉnh thoảng cũng xé lẻ đi làm điếm. Hạng cao nhất, cuối cùng là … bồi. Đây là những em làm bồi chuyên nghiệp được mướn vào chỉ để lo bưng và dọn thức ăn cho khách. Đa số các em làm ăn lương thiện đàng hoàng. Thằng Lumbonio làm quản lý một đệ nhất tửu lầu của xếp Al Capone, có bao nhiêu em gái sẵn sàng quỳ xuống để chết dưới chân nó mà nó đâu có thèm, lại đi mê con

nhỏ bồi này. Mới đầu là tán tỉnh. Nhưng con nhỏ này gấu quá, nó đâu có chịu. Thằng Lumbonio uy quyền như vậy mà con nhỏ có coi nó ra gì đâu. Nó nhất định cự tuyệt thằng chủ dê xồm.

Thói đời có nhiều chuyện kỳ lạ. Hàng càng hiếm thì càng quý, của càng

cấm thì người ta càng thích coi, Lumbonio nhất định phải chiếm đoạt em cho bằng được. Chiếm đoạt, hiểu theo nghĩa giang hồ của nó là phải … ngủ với em. Lần nào cũng vậy, nói chuyện với em thì bao lâu cũng được, nhưng hễ đưa tay ra sờ em thì em cự tuyệt liền:

-Anh Steve, em có chồng rồi, anh nên đúng đắn …

Thằng Lumbonio có bao giờ chịu thua ai? Đàn bà con gái đối với nó chỉ là

món đồ chơi. Đã có nhiều lần nó ngồi gần những em còn đẹp hơn con nhỏ khó tính này, mới đầu em cũng từ chối ghê lắm, nhưng Lumbonio cứ đè đại em xuống. Dĩ nhiên, năm phút đầu tiên là năm phút khó khăn nhất, sau đó là mọi chuyện đều êm ả. Có khi em còn nấc lên những tiếng kêu cực kỳ sãng khoái là đàng khác.

Lumbonio đã thử “tiến tới” với em bằng phương cách thông thường, nhưng

em khó chịu quá thì nó đành áp dụng luật rừng vậy. Mững cũ soạn lại, một chiều nó mời em lên văn phòng nói chuyện. Em vừa vào là nó nháy mắt, hai thằng cận vệ khóa trái cửa phòng. Thế là Lumbonio đè em xuống. Em chống cự dữ lắm nhưng sức em làm sao cự lại một thằng lực sĩ nặng gần 200 cân. Chỉ trong mười phút đồng hồ, nó đã nằm lên thân thể lõa lồ của em …

Xong việc, em nói một câu mà nó không để ý:

-Em có thể quên chuyện này được nhưng chồng em sẽ không bao giờ quên.

Lumbonio là kẻ chiến thắng. Nó đâu có để ý đến những câu nói hờn mát

đó. Đàn bà nào chả vậy.

Ngày hôm sau, nó tưởng em sẽ giận nó lắm nào ngờ em lại trở nên thân

thiết hơn. Hai đứa lại bám sát vào nhau và trở thành cặp tình nhân cho đến một ngày.

Đúng hơn là một buổi tối.

Tối đó, đang du dương với em ở trên giường tại nhà em thì bỗng đèn đuốc

trong phòng bật lên sáng trưng, hai thằng cô hồn đã phục kích không biết từ lúc nào xuất hiện. Một đứa chĩa súng vào màng tang nó nghiến răng:

-Ai cho mày ngủ với vợ tao?

Lumbonio lúc ấy mới bật ngữa. Nó thò tay toan chụp cái quần mặc vào thì

bị thằng nọ giộng cho mấy cái báng súng vô đầu, máu me chảy tùm lum. Ra là con nhỏ xưa nay có yêu nó đâu, nó chỉ nghe lời chồng làm vậy để đưa thằng dâm dục này vào bẫy. Thế này thì coi như tàn một đời gian ác. Lumbonio đã đoán là cuộc đời mình chấm dứt tối hôm nay.

Hai thằng cô hồn xúm lại, trói tay nó vào cái ghế. Thằng chồng con nhỏ

rút ra con dao cạo, lướt đi lướt lại mấy vòng. Lumbonio còn lạ gì cái trò trả thù của dân nhà quê nước Ý. Mày tằng tịu với vợ tao hả, giết mày đâu có rửa nhục được. Cách rửa nhục hay nhất và đau đớn nhất là tao thiến mẹ nó cái của quý của mày.

Thẻo xong là cứ thả mày cho mày về với vợ con mày, để cho không phải mình mày mà cả gia đình mày sẽ ôm hận ngàn thu. Lumbonio nhìn thấy con dao và ánh mắt rùng rợn của người cầm nó mà run lên bần bật. Trong đời, chưa bao giờ nó bị lâm vào hoàn cảnh bi đát như vầy. Là caporegim lừng danh, nó đã xông pha trận mạc, bắn và bị bắn không biết bao nhiêu

lần nhưng có lần nào lại bị làm nhục vì một con đàn bà như thế này?

Thằng chồng con nhỏ cầm dao tiến tới gần nó:

-Mày biết tội mày không?

Hết phương cứu đỡ, Lumbonio nhăn nhó:

-Ông bạn thông cảm, làm sao tôi biết được … vợ ông có chồng?

Một cái tát bay vào mặt Lumbonio. Nhưng cái tát này so với trận đòn vừa

qua nhẹ quá, nó đâu thấy thấm thía gì:

-Nếu ông bạn tha cho tôi, tôi thề sẽ nhớ ơn ông bạn suốt đời, suốt đời …

Thằng nọ lướt một đường dao ngang qua cổ nó. Lumbonio co rúm người

lại. Nó cảm thấy mảnh kim khí lạnh ngắt đi nhẹ nhàng trên lớp da cổ mỏng dính. Thằng khốn chỉ cần mạnh tay thêm một chút xíu thôi là máu xịt ra có vòi liền.

-Tha cho mày? Mày làm quản lý nhà hàng ăn chơi, dưới tay có không biết

bao nhiêu là đàn bà con gái đẹp, tại sao lại tằng tịu với vợ tao?

Lumbonio chẳng biết làm gì hơn là lại dỡ trò năn nỉ. Cuối cùng, khi thằng

chồng sắp sửa hoa dao lên thì Lumbonio la lớn:

-Đừng, xin đừng, trong nhà hàng tôi còn 50 ngàn, để tôi xin lấy hết đem về

đưa cho quí ông.

Thằng chồng ngửi thấy mùi tiền, dừng tay lại. Lumbonio biết “con chim”

mình có hy vọng sống sót rồi. Sau nửa tiếng đồng hồ mặc cả, chúng nó cho Lumbonio mặc quần áo vào. Thực ra trong tiệm nó chỉ 10 ngàn, nhưng bọn này cũng đồng ý cho Lumbonio bốc điện thoại gọi về nhà hàng, nhắn thằng đệ tử ruột lấy tiền ra đem tới. Thằng đàn em tưởng xếp mình thua bạc bất tử, gom tiền xách tới. Xếp dặn bỏ ngoài cửa thì nó cứ bỏ ngoài rồi ra về …

Lấy tiền xong, hai thằng cô hồn và con nhỏ rút lẹ. Lumbonio bò về được

tới nhà thì cũng nằm gục luôn một đống.

Mấy ngày sau thằng Lumbonio đâu có dám đi làm. Đem cái mặt sưng húp

lên như vậy vào sở đàn em hỏi thì ăn nói làm sao đây? Không lý nói tao bị vợ đánh? Cũng càng không thể nói là tao bị ăn đòn vì ngủ với vợ người ta. Chỉ có kêu bác sĩ tới nhà, giả bệnh vài ngày là thượng sách. Đến ngày thứ tư, vết thương mới lành, Lumbonio vừa thức dậy thì nghe chuông điện thoại reo. Đầu giây đằng kia là giọng cười hềnh hệch của “thằng chồng con nhỏ”:

-Sao, lành bệnh chưa ông bạn … dê xòm?

Lumbonio cứng họng. Chicago này có ai không biết đến Caporegime lừng

danh Lumbonio với gần trăm tay súng trong tay mà sao thằng chồng này lại dám láo lếu vậy? Hôm nọ, cứ coi như là nó căm phẫn vì bị mất vợ, làm ẩu một phát đi. Nhưng Lumbonio biết là sau đó vợ chồng thằng khốn này phải bỏ nhà trốn biệt thì mới may ra bảo toàn được mạng sống, bây giờ sao nó dám cả gan gọi đến nhà mình?

-Trùm O’ Bannon có lời gởi thăm ông nhân viên mới.

Lumbonio lại như trên trời rớt xuống. Thế nghĩa là làm sao? Cái giọng

trong máy điện thoại vẫn rè rè tiếp:

-Hôm qua tụi tui về, bị ông trùm rầy quá trời, ổng biểu tụi tui trả tiền lại

cho bạn … ổng chỉ muốn sự hợp tác của ông bạn thôi mà. Ông bạn biết, tụi tôi mà xì vụ này ra thì làm sao bạn sống nổi với hung thần Al Capone?

Khỏi cần suy nghĩ thêm, Lumbonio vừa biết là mình đã bị gài bẫy. Cái trò

tống tiền kiểu này cũ mèm như trái đất, ai mà không biết? Ngày xưa, chính nó cũng đã làm thân bại danh liệt không biết bao nhiêu đứa bằng cái mững rẻ tiền này. Có gì đâu, kiếm ra được thằng nào có tiền mà dại gái rồi thì thả một em tới nhởn nhơ chung quanh nó. Gần mật thì ruồi nào lại chẳng bu, bu mau lại là đàng khác. Cứ để cho chúng nó xoắn xít với nhau, chờ một ngày đẹp trời, biểu diễn cái màn chồng đi làm về bất ngờ bắt gặp vợ mình ngủ với trai. Tẩn cho thằng dại gái một trận để dằn mặt trước rồi làm áp lực để bắt địa thì trăm lần như một, cứ gọi là ngồi đếm bạc.

Sau bao nhiêu năm lăn lộn trong nghề, không ngờ thằng bị lọt bẫy lại là nó, cái thằng xưa ngay đi giăng bẫy để gài thiên hạ. Lumbonio lại nhớ đến cái đêm nó đè con nhỏ trên lầu. Khốn nạn, nó có còn trinh tiết mẹ gì đâu mà bày đặt la lối quá cỡ, làm thằng Lumbonio tối đó cũng phải mủi lòng. Lâu lâu bị lọt bẫy … tình cũng chả sao, cái kẹt nhứt là người đưa nó vào bẫy lần đầu tiên trong đời là băng của ông trùm O’ Bannon. Chiến tranh đang ở giai đoạn quyết liệt. Một mình cánh Al Capone đang xính vính với tụi Antonio, băng O’ Bannon xưa nay vẫn đứng ngoài, bây giờ xẩy ra vụ sì căng đăng này, nó biết ăn nói làm sao với xếp Al Capone đây?

Khỏi cần suy nghĩ nhiều, Lumbonio biết tính tình của xếp. Xưa nay xếp có chịu để cho ai làm nhục bao giờ? Đàn em của xếp cũng vậy. Thằng nào để kẻ thù làm nhục thay vì chịu chết thì coi như kiếm chỗ khác mà đi. Nó bị cú này còn nặng hơn là bị làm nhục nữa, bị tống tiền. Tụi nó đã nói vậy tức đã nắm được tẩy của Lumbonio rồi. Chạy đi đâu.

Lumbonio bây giờ phải lựa chọn một trong hai điều: Hoặc là gặp xếp Al

Capone để thú thật mọi chuyện, hai là phải chịu những điều kiện của trùm O’ Bannon. Giải pháp thứ nhất coi như không ổn. Nó biết nếu nói thật là chết. Giải pháp thứ hai, dĩ nhiên, như là một chai thuốc đắng nhưng ít nhất nó còn nắm chắc được mạng sống trong tay. Lumbonio bụng bảo dạ: “Hãy cứ nhận lời đi đã, từ từ tính kế khác”

Lumbonio trả lời sau một phút suy nghĩ:

-Mấy ông muốn gì?

-Từ từ, “anh em” mình gặp nhau nói chuyện được không …

Kể từ đó, Lumbonio “bán linh hồn cho quỷ”. O’ Bannon là người Do Thái.

Tụi Do Thái không có cái màn bắn giết lạnh lùng như bọn Ý, nhưng chiến tranh gián điệp thì chúng nó là số một. Nếu không có cái sở trường này, làm sao tụi nó sống và cạnh tranh nổi trong một thế giới đầy bạo lực như Chicago. Vậy ông trùm Do Thái O’ Bannon muốn gì? Có muốn gì nhiều đâu. Thứ nhất, chỗ ăn và chỗ ở của xếp Al Capone và phụ tá Frank Nittie. Trùm Do Thái khôn lắm. Theo dõi chiến trận, lão biết cuộc chiến gần ba năm đã sắp đến hồi kết thúc mà thế nào tụi Al Capone cũng phải thắng. Nếu dẹp tụi Antonio xong, sẵn trớn, xếp Al Capone buồn tình “quay sang hướng Đông” để “làm luôn một mẻ”, dẹp sạch băng O’ Bannon thì tính sao

đây? Đã lo thì phải tính. Để chuẩn bị cho cái chữ “nếu” này, lão phải dọn đường trước. Theo ước tính của lão, giống y hệt như dự đoán của Antonio, tụi Al Capone mạnh được là nhờ có thằng phụ tá Frank Nittie. Phải nói Al Capone là cái đầu, còn Frank Nittie là lưỡi gươm. Mất gươm thì đầu có cứng đến mấy cũng bị chặt. Mà muốn hạ thằng Frank Nittie đâu có gì khó kìa. Chỉ cần biết rõ chỗ ăn chỗ ngủ, sở thích của nó rồi cho một thằng thiện xạ ôm súng ngồi rình là xong. Vì vậy, lão cần gài một người vào trong cái “inner circle” để moi cho bằng được những tin tức đó. Thứ hai, cái nhà hàng The Red Horse là cái mỏ vàng mà bất cứ thằng nào có máu … Do Thái nhìn thấy cũng phải chảy nước miếng. Một ngày nó thâu vô cả chục ngàn đô la, toàn là tiền hợp pháp không. Từ chỗ này, Al Capone đã phân tán được

không biết bao nhiêu triệu đô la tiền “không hợp pháp”. Cứ xách tiền “ăn cướp” vào nhà băng mà gởi vào trương mục của The Red Horse thì ai mà thắc mắc? Lão thèm cái “con ngựa đỏ” này lắm nhưng chưa có dịp để dắt nó về thôi ….

Vậy, lá bài Lumbonio là lá bài đẹp nhất. Mà trùm O’ Bannon đối xử với nó

cũng đẹp thiệt. Ngoài mấy cái tin “vớ vẩn” của phụ tá Frank Nittie và những việc chi thu của nhà hàng, lão có đòi hỏi gì nhiều đâu. Trong khi đó, lão lại trả lương hàng tháng rất hậu, lại tặng cho nó con đào mà nó đã mết suốt mấy tháng nay.

Ngày “hai anh chị” gặp lại nhau, con nhỏ khóc quá chừng. Không biết nó khóc thiệt hay khóc giả mà thằng Lumbonio cũng phải năn nỉ tưng bừng em mới chịu nín. Thằng này sợ vợ, lại sợ luôn cả sự dòm ngó của đàn em mình nên mới mướn cho em một cái phòng gần bên.

Xui cho nó, từ đâu lại xuất hiện một thằng cảnh sát liên bang tên Eliot

Ness về đây đập lộn một chầu làm hư hết mọi chuyện.

Vừa về đến Lexington là Frank Nittie lên trình diện xếp Al Capone liền.

Đã gần 3 giờ sáng mà xếp có chịu đi ngủ đâu. Thường thường thì mặt trời gần ló dạng xếp mới chịu leo lên giường. Lúc Frank Nittie dẫn xác vào, xếp đang ngồi coi lại hồ sơ chi thu trong ngày do thằng Zurick đệ trình vào lúc 10 giờ đêm mỗi ngày. Bên phải xếp là một con tóc vàng chỉ mặc đồ ngủ. Bên trái là con đào ruột của xếp đang chơi bài solitaire. Lúc sau này xếp thường hay lên giường ngủ với … 2 đứa cùng một lúc. Xếp có hơi lạ sao thằng phụ tá lại xuất hiện vào giờ khuya khoắc này, bèn hỏi trống không, mắt vẫn không rời mấy con số chi chít trên tờ giấy:

-Có chuyện gì không Frank? Làm một ly đi chứ hả?

Frank Nittie nhìn chung quanh như không muốn ai nghe thấy những gì nó

sắp nói. Xếp biết là có chuyện, liền ngẩng mặt lên:

-Có chuyện à?

-Yes.

Nói xong Frank Nittie vẫn đứng yên như trời trồng. Thằng phụ tá này kỹ

thiệt, không bao giờ thấy nó phát ngôn bừa bãi. Xếp đứng dậy, kéo nó vào một góc nhà:

-Chuyện gì?

-Chuyện tình cờ thôi, nhưng thằng Lumbonio, tôi nghi nó có liên lạc với tụi

Do Thái.

Xếp Al Capone nhíu mày:

-Đầu đuôi sao, kể tao nghe thử?

Frank Nittie thì thào với xếp một lúc. Nó nói xong, xếp có quyết định liền:

– Tao cũng có hơi nghi nó từ lâu. Tao còn nghi là nó thut két tiền của nhà hàng nữa nhưng nhiều chuyện quá tao chưa có thì giờ để tính. Bây giờ như thế này.

Tao biết sau khi nói với mày mấy câu hớ hênh đó xong thì chắc chắn nó phải hối hận và đề phòng. Nếu mình làm quá, nó sẽ trở mặt dọt theo bọn kia luôn thì kẹt. Tạm thời cứ để yên đi đã, ngày mai trở lại nói với nó là tao biết đã biết chuyện nó bỏ bê nhà hàng và tao giận lắm, nhưng vẫn không có ý muốn phạt nó vì không kiếm ra người giỏi bằng nó để thay thế. Nhớ nói thêm là nếu nó tái phạm tao sẽ không tha thứ. Trong khi đó, mày cho người về bám sát để điều tra thử coi nó có đi đêm với tụi Do Thái không? Nếu đúng, chính tay tao sẽ xử nó.

Khỏi cần nói nhiều, Frank Nittie nhận chỉ thị đi ra …

Vài ngày sau con đào của Lumbonio đang tà tà đi shopping thì bị một cặp

cô hồn từ trong chiếc xe đang chạy rề rề nhào ra, lôi nó vào đóng cửa lại. Chúng nó chở con nhỏ thẳng về đại bản dinh của phụ tá Frank Nittie. Khai thác ai thì khó chứ cái thứ đàn bà bán trôn nuôi miệng như thế này đâu có mất bao lăm. Frank Nittie chỉ cần rút lưỡi dao cạo ra là con nhỏ đã co rúm người lại. Thứ đàn bà này chúng nó đâu có sợ chết bằng sợ “tàn phai nhan sắc”. Biết đã bị bại lộ, có giấu cũng chẳng ích gì, cô em bèn tự động khai bằng thích. Trong vòng nửa tiếng đồng hồ, em khai ra tuốt luốt hết mọi chuyện. Nhiều khi, kẻ hỏi cung chưa kịp hỏi em cũng khai ngon lành, kể gọn ghẻ. Frank Nittie giựt mình khi nghe em nói về mục đích chính của trò

gián điệp:

-Giờ ăn giờ về, chỗ ở, ưu điểm nhược điểm của mấy ông tụi tui biết hết.

Nhà hàng The Red Horse ra vô một ngày bao nhiêu, đóng thuế cho ai bao nhiêu tụi tui cũng biết …

-Tụi nó biết gì về tao?

-Biết mấy chỗ ông hay ghé uống cà phê, biết nhà, biết giờ đi giờ về, chỗ

đậu xe của ông. Nếu chiến tranh có bùng nổ, ông là kẻ sẽ bị chúng nó quất sụm đầu tiên …

Frank Nittie nghe nói mà toát mồ hôi trán. Nó đâu có ngờ là tụi Do Thái

bề ngoài coi có vẻ yếu mà bên trong lại âm thầm chơi đòn gián điệp trí mạng như thế này. Trong một giây phút nóng nẩy, nó đã tính chất 20 chục thằng đàn em lên ba chiếc Limousine rồi xông thẳng vào sào huyệt để “bắn chết mẹ mấy thằng Do Thái bẫn thỉu”. Nhưng nghĩ lại, Frank Nittie thấy đế quốc Al Capone chưa bao giờ bị vây hãm kỹ như trong giai đoạn này. Lo đỡ đòn của thằng cớm liên bang Eliot Ness là đã mệt rồi, thì giờ đâu mà đi gây chiến với ai. Con nhỏ chỉ biết có bấy nhiêu thôi. Vặn tới vặn lui mấy lần không moi thêm được nữa, Frank Nittie bỏ vô nhà trong ngồi hút thuốc lá và suy nghĩ. Tính sao với con nhỏ này đây? Thả nó về để nó phun hết cho thằng Lumbonio nghe à? Giết nó thì hơi quá. Khó nghĩ quá, Frank Nittie bốc điện thoại gọi cho xếp thông báo kết quả cuộc điều tra và xin ý kiến. Xếp Al Capone hỏi:

-Ngoài thằng chó đẻ Lumbonio, có đứa nào khác của mình làm việc cho

bọn nó không?

-Không, tụi nó cần gì. Chỉ cần nắm được thằng Lumbonio là quá đủ.

Khỏi phải suy nghĩ lâu, xếp có chỉ thị liền.

-Mình sẽ trả con bé đó về lại cho tụi Do Thái, nhưng không cho nó đi trước

khi tao giết chết thằng Lumbonio. Bây giờ cứ giữ nó ở đó đã, tối nay đem nó xuống The Red Horse tao sẽ cho nó coi một “hoạt cảnh” mà nó và tụi Do Thái sẽ nhớ đến già.

Frank Nittie đã phần nào đoán được nhiệm vụ của nó, tính hỏi thì xếp nói

luôn:

-Chính tao sẽ lo vụ này. Tao muốn mày về The Red Horse liền bây giờ,

tạm thời giao chức Caporegime của nó cho thằng Sal. Tao sẽ có mặt vào khoảng tám giờ tối …

Một giờ trưa, như thường lệ, Sal và tên cận vệ vừa ra khỏi nhà thì nhìn

thấy ông phụ tá Frank Nittie ngồi một đống trong chiếc xe của nó. Sau một giây phút ngạc nhiên, nó toét miệng ra cười nhưng trong đầu, nó biết là thế nào cũng sắp có chuyện lớn. Ông phụ tá này đi tới chỗ nào là y như chỗ đó có thần chết lãng vãng chung quanh. Giữa trưa nắng như vậy, phụ tá sao không vô nhà mà ngồi chờ nó ngoài xe như thế này? Nó tới gần xe, thò đầu vô nói giỡn:

-Xe ông Phụ tá bữa nay hư hay sao?

Frank Nittie không có thì giờ để trả lời câu nói đùa gượng gạo, làm dấu cho

hai đứa chúng nó leo lên xe. Sal ngồi vào băng trước, liếc nhìn ra sau thấy ghế trống trơn thì có vẻ hơi yên bụng. Ông phụ tá còn để cho thằng cận vệ ruột của nó leo lên ngồi đàng sau nữa, vậy là đâu có tới đây để làm thịt mình. Frank Nittie rồ máy xe, lái ra khỏi ngõ. Xa xa từ phía sau, có hai chiếc khác quẹo ra bám cứng lấy chiếc xe của nó liền. Sal chặc lưỡi, ông phụ tá này kỹ quá, có bao giờ sơ xẩy gì đâu.

Xe quẹo ra đường lớn, Frank Nittie mồi điếu thuốc:

-Sal! Tao có chuyện quan trọng muốn hỏi ý kiến mày.

-Ông phụ tá nói đi, tôi lúc nào cũng sẵn sàng.

-Mày làm phụ tá cho Lumbonio bao nhiêu lâu rồi?

-Cỡ năm năm.

-Lúc chiến tranh, tao có nghe nói mày xử dụng bom hay lắm hả?

Sal cười:

-Hay nhưng làm sao bằng ông phụ tá được.

Frank Nittie đột ngột đi thẳng vào vấn đề:

-Mày thấy Caporegime Lumbonio lúc này thế nào?

Dù đã biết là sẽ có chuyện, Sal vẫn thấy muốn nghẹn nơi càng cổ. Ông

phụ tá hỏi vậy tức là có chuyện rồi. Nó ú ớ:

-Tôi thấy … Lumbonio cũng thường.

-Mày nghĩ sao nếu tao nói là xếp của mày đã bán đứng tao và xếp Al

Capone cho tụi Do Thái vì một con đàn bà?

Nghĩ gì nữa. Nếu Lumbonio không có làm chuyện gì thì Frank Nittie đâu

có mặt ở đây giờ này? Sal lựa chọn từng chữ của câu nói mình sắp sửa bung ra. Nó biết đời nó rồi đây sống hay chết, vinh hay nhục là tùy thuộc bởi câu nói này đây:

-Ông phụ tá! Tuy Lumbonio là xếp tôi nhưng ông và xếp Al Capone lại là

xếp của Lumbonio tôi. Nếu Lumbonio không thủ tín với xếp thì tôi cũng không thể thủ tín với hắn được.

Frank Nittie có vẻ hài lòng khi nghe câu nói. Sal nói thêm:

-Có lẽ ông phụ tá cũng biết hình phạt dành cho kẻ phản bội rồi. Tôi xin

miễn phê bình.

Lần này thì cặp môi của Frank Nittie vén lên chút xíu, để lộ một nụ cười

nhỏ. Nó hỏi:

-Mày nhắm có thể tạm thời làm Caporegime cánh này được không?

Sao không được, mộng ước của Sal xưa nay chỉ có vậy. Nó trả lời liền:

-Mọi công việc điều hành xưa nay do một tay tôi lo lấy. Lumbonio bận bù

đầu ở nhà hàng nên đâu có ngó ngàng gì đến công việc.

-Toán an ninh nhà hàng ai cắt?

-Cũng tôi luôn.

Vậy là coi như xong rồi. Frank Nittie đột ngột quẹo xe vô lề, thắng cái kít.

Hai chiếc phía sau cũng tốp theo luôn.

-Bây giờ còn kịp, mày lộn trở về tổng hành dinh lo chuyện này. Trước hết,

gọi thằng cận vệ ruột của Lumbonio tới rồi giữ luôn tại đó cho tao. Tao biết thằng này có chết nó cũng không bỏ Lumbonio, và thằng Lumbonio cũng khôn lắm, mày kêu về nó không nghi. Thứ hai, bí mật rút hết toán an ninh thường lệ ở nhà hàng về rồi tự tay mày lựa một toán an ninh mới để thay thế. Tao muốn chính tay mày chỉ huy toán này tối nay. Được không?

-Thưa phụ tá, được.

Frank Nittie mỉm cười giơ tay ra:

-Chào ông tân Caporegime.

-Chào ông phụ tá.

Frank Nittie mở cửa xe, bước xuống nhưng chưa đi vội. Nó cúi người, thò

tay lấy ra một cái cặp táp nhỏ giấu dưới ghế xe. Không hiểu cặp táp đó đựng gì, nhưng thấy có vẻ nặng lắm, và ông phụ tá lại cẩn thận đem nó ra một cách nhẹ nhàng như là đang nâng niu … trái bom vậy. Sal không dám hỏi nhưng mồ hôi trán nó toát ra.

Không nói thêm lời nào, Frank Nittie phóng lên chiếc xe do thằng cận vệ

từ phía sau rề rề chạy tới. Thằng tài xế rú ga, Frank Nittie nói nhỏ:

-Chạy từ từ, tao phải gỡ ngòi nổ trái bom này đã.

Sal cùng thằng cận vệ ngồi im nhìn theo cho đến khi xe ông phụ tá mất hút.

Nó biết, nếu lúc nãy Frank Nittie không ưa câu trả lời của nó thì trái bom

đó sẽ nổ tung sau khi Frank xuống khỏi xe. Sal cũng mang tiếng là vua bom nhưng chưa bao giờ nó nghĩ đến cách gài bom kiểu này …

Khách muốn ăn ở nhà hàng The Red Horse thường phải giữ chỗ trước cả

tuần lễ, và đích thân Lumbonio phụ trách cái mục này. Bao nhiêu năm kinh nghiệm, nó biết bàn nào dành cho khách nào. Như ông thị trưởng Chicago và các ông dân cử khác thì thích những cái bàn nào càng xa cửa càng tốt. Các vị này tuy khoái ăn chơi nhưng không muốn khoe khoang cái sự bê bối của mình. Các bác sĩ kỹ sư hay con buôn thì lại thích ngồi những chỗ nào có nhiều ánh sáng để được nhiều người khám phá ra sự có mặt của mình ở một nơi như vầy. Đặc biệt hơn hết, nhà hàng còn có một cái phòng lớn phía sau để dành cho các vị đại thượng khách gọi là “The King’s Hall.” Tên nó vậy mà quả thực mục đích nó là … như vậy, “phòng của vua”. Không phải ai hễ có tiền là cũng xử dụng được the King’s Hall. Khách hàng phải được đích

thân Lumbonio tuyển lựa và chấp nhận. Hồi chiều, phụ tá Frank Nittie gọi tới thông báo xếp Al Capone sẽ xuống ăn, kêu dọn cái bàn 4 người. Dĩ nhiên, Lumbonio lo quát tháo để chuẩn bị The King’s Hall cho xếp.

Đích thân Lumbonio lo từng cái nĩa, coi tới coi lui từng cái ly pha lê, kiểm

soát kỹ càng từ cái khăn bàn. Đây là lần đầu tiên Lumbonio gặp hay nói chuyện với xếp kể từ sau cái vụ ẩu đả vừa rồi nên nó phải lo cho kỹ. Ba bốn thằng bồi chạy lên chạy xuống học xì dầu ra mà Lumbonio vẫn còn hét nhặng lên.

-Chậm như rùa. Tao biểu cái thảm này phải hút bụi lại, xịt dầu thơm lên

mà đã có thằng nào làm chưa?

-Thưa đã.

-Đã con mẹ gì, làm lại lần nữa coi, tao chưa ngửi thấy gì hết. Còn cái đèn

này, tao đã biểu đánh bóng lại chớ có phải chùi sơ đâu. Mau mau đem dầu bóng ra đánh lại cho tao …

Nó đích thân xuống hầm rượu, loay hoay một lúc và cho đàn em bưng lên

hơn chục chai Cognac Âu Châu và mấy chai rượu vang của Ý. Vừa làm việc, Lumbonio vừa suy nghĩ: “Không biết xếp có giận mình vì cái vụ đó không kìa? Cũng may mà xếp đến đây để mình tâm sự một bữa. Mà nghĩ cho cùng cũng có gì đâu? Thằng quản lý nào lại không lâu lâu bỏ đi chơi một lần? Người chớ phải là máy đâu?” Nó lại hơi thắc mắc tại sao con đào từ sáng tới giờ chưa thèm gọi cho nó. Mẹ, con nhỏ này hễ mà vô tới shopping là quên hết mọi chuyện. Nó có thể đi shopping 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần mà không thấy mệt. Đang huýt sáo miệng bỗng Lumbonio ngưng bặt. Nó vừa nhớ đến câu nói hớ hênh ngày nào với phụ tá Frank Nittie. Thằng phụ tá này ghét ai hay tính làm gì không bao giờ để người khác biết. Nó thấy hơi rờn rợn trong người khi nghĩ đến thằng phụ tá này. Mà nó có làm gì đâu mà phải sợ nhỉ? Chuyện nó liên lạc với cánh O’  Bannon, ngoài con đào nó đâu có ai biết? Lumbonio lại bắt đầu một điệu huýt sáo mới để cố quên đi những suy nghĩ trong đầu.

Khi leo lên cầu thang, đi ngang qua mấy cái xòng ru lết để ra nhà hàng, nó

để ý mấy thằng an ninh ngày hôm nay mặt mày sao thấy lạ quá. Nhưng ý tưởng đó chỉ chạy qua đầu rồi biến đi. Từ ngày xảy ra vụ đánh lộn, thằng Sal hay thay đổi người luôn. Nghĩ cho cùng, nó đã giao chuyện an ninh cho thằng Sal coi, thì nên để thằng này chịu trách nhiệm, không nên xía vào. Mà sao chiều này đương không nó lại kéo thằng cận vệ ruột của mình về làm gì vậy kìa? Lumbonio lắc đầu. Nó định bụng ngày mai phải coi lại cách tổ chức và làm ăn của thằng này ra sao. Dù gì, mình cũng nhiều kinh nghiệm hơn nó.

Năm giờ, khách khứa bắt đầu ra vô tấp nập, Lumbonio không có thì giờ để

suy nghĩ mông lung nữa. Nó dùng hết khả năng và trí óc để tiếp khách và làm vui lòng khách …

Đúng tám giờ, 3 chiếc Limousine bóng loáng chạy rề rề tới và dừng trước

cửa nhà hàng. Nhìn từ đàng xa Lumbonio biết là xếp Al Capone tới nên phóng ra ngoài liền. Chiếc xe của xếp vừa dừng lại là Lumbonio đã thò tay ra mở cửa, cúi đầu chào đúng điệu … quản lý nhà hàng:

-Good evening xếp Al Capone.

Xếp không trả lời, chỉ cười và từ từ bước xuống xe. 14 thằng cận vệ vây

chung quanh xếp liền. Lumbonio hơi ngạc nhiên vì hôm nay xếp không đem đào cũng chẳng mang vợ theo. Thông thường xếp Al Capone đâu có chịu cô đơn như vầy. Nhưng nó không có thì giờ để thắc mắc. Xếp đi giữa, Frank Nittie bên phải, và Lumbonio bên trái, cả ba người bước vào nhà hàng giữa đám cận vệ.

Đi ngang qua nhà hàng, xếp Al Capone bắt tay vài người quen, chúc tụng

mấy câu rồi dọt thẳng lên The King Hall. Lumbonio kéo ghế, chờ cho xếp đặt đít xuống là điếu đóm đẩy ghế vô trở lại. Frank Nittie ngồi bên phải xếp. Thằng bồi rượu ào tới nhưng Lumbonio đã đỡ lấy chai rượu từ tay nó, làm dấu bảo “để tao”.

Xếp nhìn Lumbonio:

-Tối nay mày có rảnh không?

Lumbonio vừa rót rượu vừa nói:

-Dạ, xếp biết nhà hàng thì lúc nào cũng bận nhưng …

-Good. Tao muốn chú mày tối nay quên hết mọi chuyện, ngồi đây nhậu

với tao một bữa.

Xếp đã nói vậy thì làm sao từ chối được? Lumbonio ra nhắn với thằng phụ

tá mấy lời rồi trở lại ngồi đối diện với xếp. Bàn còn một cái ghế trống, Lumbonio thắc mắc không hiểu xếp để dành cho ai. Biết ý nó, xếp nói luôn:

-Cái ghế đó dành cho một người khách đặc biệt. Mình cứ bắt đầu ăn uống

như thường lệ đi, lát nữa tính chuyện đó sau. Lumbonio, nhà hàng của mày, mày biết món gì ngon kêu dùm tao vài món đi.

Lumbonio biết xếp ưa món bí tết tôm hùm, ghé đầu thằng bồi thì thầm một

thôi. Xếp Al Capone đích thân rót rượu vào ly cho nó …

Suốt bữa ăn, chỉ có mình thằng phụ tá Frank Nittie là uống toàn nước ngọt,

xếp Al Capone cứ liên tiếp rót rượu vào ly Lumbonio hết ly này đến ly khác. Ba người vừa ăn vừa nói toàn những chuyện xưa cũ. Đã mấy lần, Lumbonio tính mở miệng xin lỗi về cái vụ bỏ nhà hàng đi chơi nhưng xếp lờ đi, ý không muốn nó nhắc tới. Quái, tại sao hôm nay xếp xuống đây ăn uống để toàn nói những chuyện đời xưa như thế này. Tuy uống rượu nhiều, nhưng Lumbonio vẫn không thấy say.

Gần mười một giờ đêm tiệc mới tàn. Xếp Al Capone coi có vẻ đã hơi say,

ăn nói có chiều văng mạng rồi. Lâu lâu xin phép đi tiểu, Lumbonio để ý thấy hễ mình vào nhà cầu là y như cũng có một thằng khách lạ nào đó đi vào theo. Lỗ mũi của tay anh chị bắt đầu đánh hơi có gì hơi là lạ trong bữa tiệc hôm nay, nhưng không nghĩ ra được.

Khi chén đĩa đã được dọn đi hết, Lumbonio ngồi nán thêm chút nữa rồi

đứng dậy xin kiếu từ để lo công việc thì xếp Al Capone nói:

-Mày ngồi xuống đó đi, để tao giới thiệu với mày người khách bất ngờ!

Thì ra vậy, nãy giờ nó quên bén đi cái ghế trống. Lumbonio ngồi xuống,

xếp Al Capone búng tay một cái tách. Lumbonio xém chút nữa thì té xỉu xuống sàn nhà khi nhìn thấy hai thằng cận vệ của Frank Nittie xốc nách con đào mình đem vào. Chúng nó lịch sự kéo ghế cho con nhỏ ngồi. Lumbonio tái mặt, miệng đang còn ú ớ thì con nhỏ đã quay nhìn nó nói luôn:

-Xếp Al Capone và Frank Nittie đã biết hết mọi chuyện rồi anh Lumbonio.

I am sorry.

Không biết nó có sorry thật không nhưng vừa nói xong là nó chụp cái ly, rót

đầy rượu rồi ực cái hết liền. Lumbonio ngồi trơ người như tượng đá. Nó hết nhìn Frank Nittie rồi đến xếp Al Capone, không nói được lời nào. Hơn bốn chục năm lăn lộn trong nghề dao búa, nó biết hình phạt của kẻ phản bội. Thì chính tay nó cũng đã nhiều lần trói tay trói chân con người ta rồi thảy xuống sông mà. Lúc nó làm vậy, nó không bao giờ nghĩ là mình sẽ trở thành kẻ phản bội. Mấy ai học được chữ ngờ.

Hôm nay lại đến phiên nó bị người ta xử.

Xếp lại búng tay, một thằng cận vệ đi tới nhét vào tay xếp cây gậy baseball. Xếp đứng dậy, cây gậy baseball nơi tay, bước từng bước một tới gần chỗ

ngồi của Lumbonio, cặp mắt đang lừ đừ như người say rượu bỗng tóe lửa ra nhìn nó:

-Mày vừa ăn xong bữa ăn cuối cùng của đời mày.

Nói vừa xong là cây gậy trên tay xếp đã giáng xuống một cái mạnh hết sức

vào vai thằng Lumbonio. Nó né người qua nhưng đâu có kịp. Tiếng xương bả vai gẫy vụn kêu nghe răn rắc kia mà. Lumbonio dùng hết sức tàn, đưa hai tay lên để đỡ. Phát thứ hai xếp đâu có đánh xuống chỗ đó mà đỡ? Lần này xếp giộng vào sống lưng của nó nghe bụp một tiếng. Thằng Lumbonio vừa ưởn người ra sau thì xếp lại đổi ra phía trước, đánh xuống ngực nó. Sau cú đó là thằng Lumbonio thấy xuội lơ.

Chắc chết rồi. Mới có ba cây mà đã chết rồi sao, đâu có được. Bây giờ thì xếp vụt lên vụt xuống lia lịa vào người, đúng hơn là vào cái xác bê bết máu của thằng caporegime.

Cho đến khi chắc chắn là không có cái xương của xác chết còn nguyên

vẹn, xếp mới dừng tay, quay sang nói với con đào của Lumbonio đang ngồi chết điếng trên ghế:

-Tao cho mày về để kể lại với thằng Do Thái cách tao xử đàn em …

Thằng Frank Nittie đứng dậy, đưa mũ cho xếp Al Capone:

-Mình đi xếp ….

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 20 Apr 2025

Chương 17.

Nghe tin Oliver Randal trở về, xếp AlCapone hối hả mặc áo bước qua văn phòng, vừa đi vừa la mắng bọn đàn em:

_Nó về tối hôm qua mà sao sáng nay mới cho tao biết?

_Tại xếp đang ngủ tụi em không dám.

_Làm ăn như tụi mày ngu thấy mẹ. phải biết chuyện nào là quan trọng, chuyện nào không quan trọng mà kêu tao chớ. Đù mẹ như lửa cháy khắp nhà lúc tao đang ngủ rồi cũng phải chờ tao tỉnh dậy mới báo cáo hay sao. Đúng là một lủ ngu…mấy thằng cận vệ đi theo cứng họng, hết cãi. Làm đàn anh sướng được cái chỗ đó. Có chuyện gì không vừa ý là có quyền chửi líp ba ga, bất kể phải trái. Chuyện thằng Oliver Randal về thì làm sao đứa nào biết được là quan trọng mà đi báo cáo. Xếp có bao giờ để hở chuyện gì cho chúng nó biết đâu? Vậy mà hể có chuyện gì không vừa ý là cứ réo tên mấy thằng em ra mà chửi bới. Hình như tụi này đã quen với lối làm việc của xếp, không thấy đứa nào tỏ vẽ bất mãn. Vừa bước vào văn phòng làm việc, xếp đã nhìn thấy thằng Oliver Randal đang kiên nhẫn ngồi chờ nơi chiếc ghế bành. Nó mân mê cái mũ dạ nơi tay, ra vẻ bình thản lắm. Nhìn thấy xếp Al Capone, Oliver Randal đứng dậy, biểu diễn một nụ cười thật tươi như thường lệ:

-Chào xếp!

-Ông bạn chờ lâu chưa?

-Không lâu, mới chừng … một tiếng.

– Tụi nhỏ bậy quá, đã bảo tụi nó gặp khách quý là phải đánh thức tôi dậy liền mà có thằng nào để ý đâu. Thông cảm nghe.

Oliver Randal cười lớn:

-Không có gì đâu xếp ơi. Người trong nhà hết mà.

Thằng cận vệ bưng đưa ra khay rượu. Xếp cầm lấy một ly:

-Làm một ly cho nó tỉnh táo. Tôi sáng nào cũng phải có một ly thì mới bắt đầu công việc được.

Gì chứ rượu là sở trường của thằng Oliver Randal này. Nó làm một ly đầy ắp. Thời buổi cấm đoán này, đâu phải đi chỗ nào cũng được người ta mời uống rượu. Hết ly đầu, Oliver Randal tự tiện rót tiếp ly thứ hai. Chất rượu chạy mau trong mạch máu làm người nó lâng lâng.

Xếp Al Capone ngồi thoải mái trên ghế bành, nghe thằng Oliver Randal lượt trình công tác:

-Có, trên đó người ta ai cũng biết Eliot Ness hết. “Thằng liên bang” nổi tiếng nhất New York.

Vẻ tươi cười thoải mái trên môi xếp tắt ngúm. Cái tiếng thằng “liên bang” chỉ có dân New York mới khóai xài, (Nguyên văn tiếng Mỹ là “The Fed”) dùng để chỉ những thằng cớm của chính phủ liên bang Hoa Kỳ. Xếp nhỏm người tới trước, như để nghe cho được kỹ càng hơn.

-Eliot Ness rất nổi tiếng ở New York, báo chí gọi nó là “The number one Cop in America”. Dân giang hồ gọi nó là thằng “Untouchable”. Thằng “không mua được”.

-Number one nhờ công tác gì?

-Nhờ đã đưa khoảng gần trăm thằng anh chị vào khám trong vòng không tới một năm. Xếp biết New York dữ dội nhất là các khu bến tàu ..

Làm sao không biết. Xếp Al Capone sinh ra và lớn lên ở New York mà.

Như tất cả mọi nơi trên thế giới này, khu bến tàu của bất kỳ quốc gia nào cũng là cái nôi để sinh trưởng ra các tay anh chị, các băng đảng tội ác. Ở New York, đặc biệt hơn, nói đến bến tàu là nói đến nghiệp đoàn, đến buôn lậu, đến những vụ thanh toán và thủ tiêu đẫm máu. Chính xếp đã xém chết mấy lần tại khu bến tàu New York, chịu không nổi mới phải dọt về Chicago thì tại sao không nhớ cho được?

-Thằng cớm này dẹp được anh chị khu bến tàu New York à?

-Nó và khoảng mười thằng liên bang nữa đã dẹp tan băng đầu nậu của bến tàu New York.

-Cách đây hai năm, khu bến tàu New York được là coi là nơi bất khả xâm phạm. Xếp nhớ bọn thằng Galbery không?

-Nhớ.

Ly rượu cognac đã cạn. Xếp hất đầu cho thằng cận vệ rót đầy ly. Dĩ vãng ngày xưa trở về trong trí xếp. Thằng này đúng ra tên thật là Galverio người xứ Naples, sau đổi tên thành Galvery để nghe cho nó có vẻ Mỹ một chút. Nó nổi tiếng nhờ một chuyện như sau: Hồi đó trong một vụ làm ăn nó bị đàn anh chơi gác sao đó, cu cậu bèn giận quá mất khôn, đứng nơi bến tàu réo tên đàn anh ra chửi rủa tàn tệ. Buổi chiều, nó bị hai thằng nào không biết từ trong bóng tối nhào ra, đè cứng thằng nhỏ thẻo mẹ nó mất một cái tai. Trước khi đi, bọn này còn kề miệng vào cái lỗ tai lành lặn bên kia của Galverio nói nhỏ: “Tao cho mày 24 tiếng đi khỏi New York. Nếu còn gặp mặt, tao thẻo luôn cái lỗ tai bên kia”.

Thằng Galverio dọt liền. Không biết nó đi đâu nhưng biến mất tiêu khỏi khu bến tàu New York. Chừng sáu tháng sau, lúc mọi người tưởng chuyện cũ đã êm xuôi, có thể quên được, thì trên chiếc du thuyền lộng lẫy của đàn anh đang đóng neo ngoài khơi để du hí, nửa đêm, một cái kiện hàng có nắp ở dưới hầm nhà kho bỗng động đậy, nắp tự động mở ra. Thằng Galverio chớ ai, nó trốn trong đó từ lúc nào không ai biết. Nó lẳng lặng bò ra, tay vác theo một cây búa …

Mấy ngày sau, cảnh sát tuần duyên chận được chiếc du thuyền không người lái nổi lênh đênh trên mặt nước. Làm một vòng luc soát, họ tìm thấy 6 cái xác, có hai người là đàn bà, không xác nào còn đầy đủ tay chân. Galverio nổi tiếng từ đó. Sau đó nó trở thành vua bến tàu của New York.

-Thằng cớm này dẹp được băng Galverio à?

-Mới đầu, nó cũng gặp nhiều khó khăn. Nhiều thằng liên bang phụ tá của nó bị bỏ bao sò biển thả nổi lềnh bềnh trên mặt sông, nhưng cuối cùng, nó dẹp tan được băng bến tàu.

-Số mạng thằng Galverio ra sao?

-Hồ sơ cảnh sát quận bến tàu ghi là nó bị chết vì tai nạn, nhưng Luciano nói là nó bị tụi liên bang bỏ vô bao bố thảy xuống sông y hệt nó đã làm với bọn liên bang. Luciano còn kể rằng nó coi ngon lành vậy mà trước khi chết lại trở thành hèn hạ, năn nỉ như tế sao để xin được tha tội.

Xếp Al Capone nhổ một bãi nước miếng xuống nền nhà. Xếp biết thằng Luciano không bao giờ nói dóc. Trong đời, xếp ghét nhất là những thằng hèn, không ngờ cái thằng ghê gớm vậy mà khi chết hèn quá.

-Thằng liên bang Ness có đích thân nhúng tay vào vụ này không?

-Luciano nói mới đầu nó không cho phép, nhưng bọn kia làm dữ quá, nó đành làm lơ để đàn em trả thù.

Xếp nhíu mày, suy nghĩ để đo lường khả năng và tinh thần thượng tôn luật pháp của Eliot Ness. Với dân giang hồ thì sức mạnh của chúng không phải chỉ là dao búa, là luật rừng thôi mà còn là cả cái luật pháp nữa mới là chuyện ly kỳ. Tóm tắt, chúng có quyền bắn chết tươi mấy thằng cảnh sát bất kỳ lúc nào chúng muốn nhưng bọn cớm, nếu bắt được chúng thì phải giao cho tòa án buộc tội. Cảnh sát mà phơ bậy bạ thì cũng đi ngồi tù như thường. Sức mạnh của cảnh sát, thực ra chẳng có gì cả ngoại trừ cái bộ đồng phục và cái quyền bắt giam người trong vòng 24 tiếng đồng hồ rồi thả ra. Đó là một trong những lý do tại sao Hoa Kỳ có nhiều găng tơ như vậy. Dĩ nhiên, cũng có những thằng cảnh sát biết chơi luật rừng như Gary Malone là một.

Xếp Al Capone biết thằng Gary Malone chẳng bao giờ ngần ngại cầm dùi cui bổ thẳng thừng xuống đầu nạn nhân. Mày chết thì tao đem thả mẹ nó xuống sông, khỏi có cái màn báo cáo mất công. Thằng nào muốn tố cáo thì lên ty gặp tao. Vì vậy, dân giang hồ Chicago chỉ ngán có mình Gary Malone, và cũng vì vậy mà xếp để nó sống đến giờ này để mua chuộc nó. Nhưng còn thằng cớm liên bang này mới làm cho xếp suy nghĩ. Phải biết rõ đối phương thì mới ra tay đích đáng được. Về tầm mức nguy hiểm của thằng cớm này, xếp không còn lạ gì nữa. Kể ra cái công trình của thằng Oliver Randal và sự lo xa của xếp rất đáng của. Xếp nghĩ thằng cớm này chắc biết xếp là một tay chơi ngoại hạng nên đã chuẩn bị kỹ càng và có thể ngờ mọi chuyện, nhưng nó không bao giờ ngờ được chuyện xếp gởi người lên New York để điều tra về dĩ vảng của nó.

Xếp tự thưởng cho mình một ngụm cognac. Dù sao, có chút rượu vào tinh thần cũng đỡ căng thẳng hơn. Mấy tuần nay, từ ngày đọc được tờ báo có in hình thằng cớm mất dạy, xếp làm như bị cái khuôn mặt đó ám ảnh. Chính tay xếp, xếp đã từng giết hàng trăm người, và giết xong là quên liền, nhưng sao cái hình khổ 4×6 đen trắng của thằng cớm trong tờ báo lại lảng vảng trong đầu xếp mãi.

-Còn gì nói về thằng đó nữa không?

-Có. Nó bắn Colt.45 trăm phát như một.

-Cỡ thằng Frank Nitti không?

– Bằng hoặc hơn chứ không thua.

-Gì nữa?

-Nó bắn Shotgun cũng ác liệt lắm và quả đấm không thua vô địch quyền anh. Sở cánh sát còn hình ảnh của mấy thằng bị đấm trẹo quai hàm, bác sĩ phải giải phẩu cả đêm mới sửa được.

Xếp Al Capone cúi đầu, lại suy nghĩ. Xếp đưa hai ngón tay ra dấu muốn hút thuốc. Ngậm điếu xì gà trên môi, xếp đứng dậy đi vòng quanh phòng như để tìm thêm ý tưởng:

-Ông có hỏi thằng Luciano câu nhắn gởi đặc biệt của tôi không?

-Thưa có.

-Nó trả lời sao?

-Luciano nói nếu mua nó được thì mua, đó là thượng sách. Nhưng thằng

này xưa nay chưa ai mua được. Phe mình đã gọi nó là “untouchable” mà. Nếu không mua được thì phải cho nó đi tàu suốt càng sớm càng tốt. Và nó có thêm một lời khuyên cuối cùng …

-Gì?

-No noi “Good luck !! “

Xếp Al Capone thảy điếu xì gà ra khỏi cửa sổ. Không biết người nào đi dưới đường sẽ vô tình được hứng điếu xì gà này nhưng xếp cóc cần, xếp đang cáu. Câu hỏi quan trọng nhất mà xếp nhờ Oliver Randal hỏi thằng Lucianio, tên trùm Mafia ở New York là: “Nếu mày đang ở Chicago mà được thằng cớm Ness xuống

chiếu cố, thì phải đối phó cách nào?”. Câu trả lời “chúc may mắn” của dân Sicilian gồm nhiều nghĩa xấu hơn nghĩa tốt. Nó đại khái nói là “Nguy hiểm lắm đấy. Chết đến nơi chứ không phải giỡn đâu. Ráng mà liệu lấy thân”

Xếp lại ngồi xuống ghế bành, cảm thấy ran rát nơi phần dưới của thân thể, từ … con chim trở ra. Chỉ những khi nào xếp bối rối hay mệt mõi thì mới bị rát như vậy. Con đào đang ăn nằm với xếp cách đây mấy năm đang bị giang mai nặng. Bác sĩ Limble năm ngoái đã nghiêm trang thông báo cho biết xếp cũng bị bệnh giang mai đến thời kỳ khó chữa, nếu không lo trị sẽ hối hận về sau nhưng xếp chưa dám. Xếp chỉ hỏi bác sĩ đưa cho một mớ thuốc uống đỡ, còn cái đề nghị đem đi nhà thương thử máu và chích thuốc thì xếp lắc đầu nguầy nguậy. Không bao giờ. Trong đời xếp, xếp sợ nhất là … mũi kim. Sự sợ hãi này không phải không có căn cứ. Nó đến từ một ngày khi xếp còn rất nhỏ, chỉ là một đứa bé tí, cả gia đình di cư sống chen chút trong căn phòng nghèo hèn chật chội của khu lao động Ý di cư. Một tối nọ, ông chú của xếp bị bệnh gì không biết mà nửa đêm bỗng trổi dậy rên la chí chết. Ông già xếp hoảng quá, bèn chạy sang nhà bên cạnh gọi bà y tá vườn sang. Đúng ra bà này không phải là y tá. Tiếng Mỹ chưa đọc được mà y tá gì. Bà ta chỉ là người biết

cầm ống tim, rút thuốc vào rồi vạch quần, vỗ vỗ vào mông người ta mấy cái trước khi ấn sâu mũi kim vô. Đêm đó, sau khi rờ đầu rờ trán ông chú khốn khổ của xếp, bà bỏ đi, lát sau trở lại với cái ống tim thật bự. Chuyện xảy ra đã mấy chục năm mà xếp còn nhớ rõ như mới ngày hôm qua. “Bà Y Tá” vạch cặp mông khô đét của ông chú lên, rờ tới rờ lui mấy lần mới tìm thấy một chỗ có thịt. Bà khoan khoái vỗ vỗ mấy

cái rồi lụi mũi kim vào, y hệt như bà đã từng làm với hàng bao nhiêu người dân Ý lao động nghèo khổ tại khu này. Lúc bà rút mũi kim ra, ông chú đang la hét dữ dội bỗng từ từ dịu đi, thở phì phà. Cả nhà mừng rỡ, bu quanh bà y tá tán thưởng. Nhận 5 cents từ tay gia chủ, trước khi ra về, cho ra cái điều là nhà thuốc tận tâm với chức nghiệp, bà quay xuống hỏi han bệnh nhân. Lúc ấy, bà y tá vườn và mọi người mới khám phá ra là ông chú của xếp đã trợn mắt chết ngắt không biết từ lúc nào ….

Từ đó, xếp thề không bao giờ để cho ai đụng cây kim vào người mình. Dù cho ông bác sĩ bỏ ra mấy năm trời để năn nỉ, thuyết phục, xếp cũng nhất định không để ai làm chuyện đó. Dĩ vãng kinh hoàng của ngày xưa đã làm mất hết sự phán xét của một con người, dù con người đó là một thiên tài tổ chức, một tay anh chị lừng

danh không hề biết sợ trời đất. Cho nên, bệnh giang mai cứ âm ỉ trong máu xếp, không biết sẽ bốc lên lúc nào. Xếp trả cho cái giá này rất đắc, và sẽ còn dài dài.

Đắt nhất và đau lòng nhất là đứa con trai đầu lòng của xếp, thằng Micheal Capone. Nó sinh ra đã bị tật nguyền, vừa điếc lại vừa bị khùng khùng. Xếp biết lỗi đó là của mình nhưng đành chịu, và cũng không chịu đi chữa chạy. Xếp chỉ thề với trời đất là từ này về sau, sẽ không bao giờ thèm đẻ đứa con thứ hai nữa. Hôm nay, sự ngứa ngáy lại đến với xếp, ngay giữa lúc có nhiều vấn đề quan trọng cần phải giải quyết.

Cái gai trước mặt cần phải bứng đi là Eliot Ness. Giống như Eliot Ness có tài ngửi thấy nhân tài, xếp Al Capone cũng có tài ngửi thấy mùi cớm độc. Nếu không ai mua được thằng này ở New York, Chicago làm sao mua nổi? Tốt nhất là lợi dụng lúc nó vừa chân ướt chân ráo xuống đây, cho thằng Frank Nitti đi làm thịt nó trước là yên chuyện. Trễ một giây phút nào là nguy hiểm giây phút đó.

Quyết định xong, Xếp Al Capone thấy tâm thần nhẹ nhỏm. Mối lo trong gan ruột từ mấy ngày nay bây giờ mới biến mất. Biến mất thật sự. Xếp xoay người, bảo một đứa:

-Gọi thằng Frank Nitti lên đây gấp cho tao. Dặn nó đem hết toán cảm tử của nó lên đây.

Thằng đàn em vừa dọt ra khỏi cửa, xếp gọi giật lại:

-Bảo nó tao có chuyện rất quan trọng. Mọi chuyện khác dù quan trọng đến đâu cũng phải bỏ lại.

Xếp làm ăn thành công được xưa nay là nhờ bởi tính quyết đoán nhanh nhẹn như vầy. Rất đắn đo khi suy nghĩ, nhưng cân nhắc lợi hại xong là quyết định liền, khỏi có cà kê dê ngổng cho phí thời giờ. Suy tính thấy cần phải giết là giết, dù người đó là cảnh sát, hay là nhân vật quan trọng của nhà nước như thằng biện lý

McSwinn hay là bất kỳ ai. Kẻ nào đứng trên con đường tiến thân của xếp sẽ bị triệt hạ. Xếp muốn đóng hồ sơ của Eliot Ness lại, còn nhiều khác phải làm.

Trong lúc chờ đợi, xếp giở hộc bàn, rút ra mấy ngàn đô la thưởng cho Oliver Randal. Gã cầm lấy tiền, cám ơn lia lịa. Xếp hứng tình, rót thêm rượu, hai người uống cạn.

Nhưng rồi tự nhiên, xếp thấy mắt mình hoa lên, tay chân bủn rủn như đang bị hàng trăm ngàn con kiến bò tới cắn xé. Xếp biết cơn bệnh giang mai lại đang kéo đến hành hạ. Có gì đâu, chỉ cần tộng vào mồm một mớ thuốc là ngày mai đâu sẽ vào đó ngay. Xếp trải qua những cơn đau như vậy quá thường, cái lạ là càng ngày nó càng đến thường hơn.

Chỉ trong vài phút đồng hồ, xếp cảm thấy lưỡi mình ríu lại, nói không ra lời. Đầu óc xếp cũng tê dại, không còn suy nghĩ được nữa, không còn nhớ gì nữa, ít nhất là trong lúc này.

Xếp làm dấu cho tụi cận vệ đi lấy thuốc, và ngoắc tay kêu Oliver Randal ra về. Oliver Randal vừa nói xong lời từ giả thì xếp đã ngã người trên chiếc ghế, nằm mê man như một người ngủ say. Bọn cận vệ bèn đỡ xếp lên giường.

Oliver Randal vừa bước ra khỏi phòng thì Frank Nitti có mặt liền. Nhưng xếp đã nằm mê man trên giường, đâu còn biết gì nữa. Bọn lâu la chung quanh cũng chẳng biết xếp gọi ông phụ tá lên để làm gì? Xưa nay đâu có đứa nào đọc được những gì trong đầu xếp? Nhìn xếp Al Capone nằm mê man trên giường, Frank Nitti

biết xếp đang bị cơn bệnh giang mai hành hạ. Nó đâu còn lạ gì cái cảnh này. Những cơn bệnh nổi lên như vậy thường kéo dài một ngày, và hôm sau khi bình phục, xếp sẽ không bao giờ nhớ được chuyện gì đã xảy ra. Cái nó thắc mắc là khi xếp đã nhắn nó đem tụi cảm tử theo thì thế nào cũng có đụng lớn, thế nào cũng có thằng bị bắn chết tươi. Mà xếp định giết thằng nào mới được chớ? Nó biết nếu có hỏi bọn cận vệ của xếp cũng vô ích vì xếp có bao giờ nói cho bọn này biết những tính toán trong đầu xếp. Frank Nitti lắc đầu, thằng nào mà xếp định sai nó đi làm thịt ngày hôm nay quả là chưa tới số chết. Loanh quanh một lúc, Frank Nitti đành phải về không.

Sáng ngày hôm sau, Frank Nitti lên gặp xếp liền để hỏi xem tính nhờ nó việc gì ngày hôm qua, nhưng xếp đã quên bẵng chuyện Eliot Ness đi. Như người ta bỏ tập hồ sơ vào một cái ngăn tủ nào đó rồi quên đi, xếp không bao giờ còn nhớ đến buổi nói chuyện với Oliver Randal và những quyết định chết người đã có trong đầu ngày hôm đó.

Bệnh Giang mai quả là một căn bệnh nguy hiểm, cần được chữa trị đúng mức.