Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 17 Apr 2025

Chương 14.

Khi nghe nàng thư ký thông báo có Gary Malone đến trình diện, Mike Casey đã thủ sẵn một cây rouleau dưới gầm bàn. Cho chắc ăn, lão còn lựa hai thằng cảnh sát to con như khỉ đột đứng ngoài cửa văn phòng với nhiệm vụ bảo vệ lão. Mấy cái cửa văn phòng thường ngày treo màn kín mít hôm nay được kéo lên cao để nếu có chuyện gì xảy ra trong văn phòng lão, mọi người trong ty sẽ nhìn thấy.

Lão chuẩn bị tiếp đón Gary Malone rất cẩn thận bởi vì, hơn ai hết, lão biết tính tình thằng cớm già này. Nói đúng hơn, đó là một con cọp đã một thời là bạn thân thiết của lão.

Mike Casey chưa kịp nhấn chuông ra hiệu thì Gary Malone đã ào vô như một cơn gió. Trong một tích tắc, Mike Casey thấy cuộc đời của mình như sắp sửa bế mạc. Coi, cây súng rouleau để sẵn dưới gầm bàn mà sao tay lão không sao nhấc lên được. Vì uống rượu nhiều quá nên phản ứng chậm chạp hơn hồi xưa chăng?

Nhưng không, giữa lúc lão Mike Casey đang lặng người chưa biết phản ứng ra sao thì Gary Malone đã dừng bước lại ngay khi vừa qua khỏi cánh cửa, thong thả tới ngồi xuống ghế, mắt nhìn Mike Casey chờ đợi.

Hoàn hồn, Mike Casey mới thấy ngượng. ĐM thằng trung sĩ cảnh sát này đi trình diện xếp mà bộ tịch mất dạy quá chừng. Đồng ý ngày xưa hai người là bạn nhưng sau mười mấy năm, cuộc đời thay đổi, một đàng là đại úy cảnh sát trưởng phòng An ninh, đàng kia là lính gác đường hạng bét, nó vào trình diện mà bộ tịch y hệt ông lớn đi tham quan.

Mike Casey nói cộc lốc:

– Trung sĩ Gary Malone! Tôi có lệnh thuyên chuyển anh.

Nghe hết câu, Gary Malone liền xổ ra một tràng cười mất dạy:

– Bạn bè lâu ngày gặp nhau, không chào nhau được câu nào sao?

Mike Casey đáp:

– Thì ngày nào không gặp ông. Tôi biết ông vẫn khỏe luôn mà.

– Khỏe nhưng mà nghèo.

Mike Casey cầm cái lệnh thuyên chuyển, đọc lớn:

– Kể từ ngày mai. Ông sẽ được thuyên chuyển về làm việc tại văn phòng ty Cảnh sát. Anh được giữ nhiệm vụ trực …chìa khóa.

Đọc xong lệnh thuyên chuyện, Mike Casey im lặng chờ đón cơn thịnh nộ của Gary Malone bốc lên. Nhưng hắn ngạc nhiên khi thấy thằng cớm này vẫn ngồi im bất động, sắc mặt không hề thay đổi. Ủa, ra nó không biết là mình vừa đưa nó về “tử địa” hay sao?

Mike Casey còn nhớ ngày xưa, lúc lão nhận tiền của Al Capone để đưa Malone từ một thanh tra xuống ngạch trung sĩ cảnh sát, đã suýt có án mạng xảy ra ngay tại văn phòng này. Bây giờ, đưa hắn về giữ một chức trực …chìa khóa, Mike Casey đoán chắc phản ứng sẽ quyết liệt hơn, nhưng chuyện xảy ra đã hoàn toàn trái ngược.

Một cơn im lặng bao trùm lấy hai người.

Im lặng đến độ, hai thằng cận vệ của Mike Casy bất giác phải quay vào dòm cho kỹ coi xếp mình …còn sống không. Chúng cũng chẳng lạ gì Gary Malone, chỉ sợ hắn nỗi điên lên xông tới bóp cổ Mike Casey chết trong văn phòng thì kẹt. Khi nhìn thấy sắc mặt đỏ bừng của xếp, hai đứa mới thở phào. Cánh cửa vẫn để mở, chuẩn bị nếu có gì thì xông vào liền.

Gary Malone mở miệng sau một phút yên lặng:

– Quà của thằng chó đẻ Al Capone tặng cho Gary Malone này phải không?

– Ông nói gì tôi không hiểu?

Tự nhiên cặp mắt của Gary Malone long lên, bắn ra những tia lửa giết người mà đã lâu lắm Mike Casey chưa nhìn thấy. Hắn gằn từng tiếng:

– Ngày hôm qua tôi mới đập nát cái xe của thằng Frank Nitti. Nó cho ông bao nhiêu tiền để kéo tôi về đây?

Mike Casey đứng dậy, cố gắng nói bằng một giọng điềm đạm:

– Cám ơn ông bạn Gary Malone. Tôi hết chuyện nói với ông rồi. Ngày mai xin ông đến trình diện tại đây để làm việc.

Vừa nói, Mike Casey vừa đưa mắt làm hiệu cho hai thằng cận vệ. Chúng nó bước vào, đứng trước mặt Gary Malone.

Gary Malone vẫn ngồi im bất động, đầu cúi xuống.

Hai thằng cận vệ nhìn Mike Casey dò ý kiến.

Lão cảnh sát mập cũng chưa biết phải làm gì.Từ từ, Gary Malone ngẩng mặt lên. Tia mắt của hắn lại bắn ra lửa. Hắn ngó hai thầy cảnh sát, nói rất chậm chạp và rất rõ ràng, từng tiếng một:

– ĐM hai thằng nhải ranh này. Chưa biết tiếng Gary Malone hay sao mà dám bước vào đây? Tụi mày tưởng hai đứa là đủ sức kéo được tao ra khỏi chỗ này hả? Phải mười thằng như tụi mày mới đủ sức. Tao đang có chuyện cần nói với xếp Casey đây. Nói xong tao sẽ ra, hiểu chưa. Bây giờ, tao đếm tới ba mà tụi mày không bước ra khỏi căn phòng này thì tao liệng từng thằng một ra khỏi cửa sổ. Nghe rõ không? Một…

Hai thằng cảnh sát tuy to con nhưng sức khỏe không là bao, tối nào cũng là cà ở mấy cái động đĩ của Al Capone nhậu nhẹt say mèm đến sáng thì làm gì còn sức khỏe? Hơn nữa, chúng đến đây là vì chút ân tình với Mike Casey. Tưởng Mike Casey dùng chúng để dọa ai chứ đụng vào ông thần Gary Malone thì thằng nào mà dám? Vừa dòm thấy hàng râu mép của Gary Malone là đã muốn rút đi từ lúc nãy rồi, vì chút thể diện nên phải đứng lại, bây giờ đến nước này thì hai anh hoảng quá, hết nhìn Mike Casey rồi lại nhìn nhau. Đi thì kỳ quá mà ở lại thì chết. Thằng cớm cô hồn này có bao giờ dọa suông ai đâu. Nó hăm quăng là quăng thiệt, xưa nay Chicago từ xếp Al Capone xuống cho đến thằng gác động đĩ ai mà không biết…

Gary Malone đếm tiếp tục:

– Hai…

Hai thầy cảnh sát không ai bảo ai, quay lui dọt lẹ. Mike Casey nhìn theo la lối:

– Ê! Ê! Vô đây tao biểu! Làm ăn gì kỳ vậy?

Gary Malone vẫn ngồi yên trên ghế. Chưa thèm nói năng gì vội. Hắn thò chân đẩy cái cửa đóng lại nghe đến rầm một tiếng.

Mike Casey lui người vào tường, chết lặng đi, chưa biết phản ứng ra sao thì Gary Malone đã mở giọng, rất hiền từ, rất bình tĩnh:

– Mike, tao biết, cả ty Cảnh sát này biết, cả thành phố Chicago này biết mày là một thằng sai vặt của Capone. Ra ngồi xuống ghế đi, tao không làm gì đâu. Đại úy cảnh sát mà đứng nghe Trung sĩ nói chuyện coi kỳ thấy mẹ…

Mike Casey nhìn quanh quan sát. Trái với những gì lão dự đoán, nguyên cả ty Cảnh sát hầu như không có ai để ý những gì đang xảy ra trong văn phòng của lão. Mà xét cho cùng, Gary Malone có làm gì đâu ngoài chuyện ăn nói rất “phải chăng” với hai thằng cảnh sát kia. Ngay cả đến một cái đập bàn la hét hắn cũng không có thì tại sao ai phải để ý kìa? Nãy giờ chỉ có mình lão là người đứng lên ngồi xuống do bởi cái bộ thần kinh quá nhu nhược điều khiển, chớ thằng khốn kia vẫn ngồi yên như cục đá mà.

Mike Casey từ từ lấy lại bình tĩnh, ngồi xuống trở lại nơi bàn giấy.

Gary Malone đang hút thuốc, hỏi gã sau một hơi khói:

– OK, ngài đại úy, suy nghĩ kỹ chưa? Ngài có muốn thay đổi ý kiến không?

Mike Casey bây giờ mới nhận ra cái mà sáng nay hắn tưởng sẽ làm được dễ dàng, đã trở thành khó khăn vô cùng. Lão cũng chưa hỏi Al Capone cái giá để đưa thằng Gary Malone này về làm việc trong ty là bao nhiêu? Bao nhiêu không biết nhưng cái hậu quả mà lão đang gánh thật là ngoài sức chịu đựng, nhưng đã lỡ hứa với thằng Capone rồi, rút lại sao kịp. Hơn nữa, một đại úy cảnh sát sao lại không có quyền thuyên chuyển nhân viên theo nhu cầu của công việc kìa?

Mike Casey trả lời sau một lúc suy nghĩ, cân nhắc từng lời nói:

– Gary Malone, ông bạn thông cảm cho tôi. Nào tôi có muốn làm vậy đâu. Đây là chỉ thị của cấp trên.

Gary Malone biết hết ruột gan lão già này. “Cấp trên” con mẹ gì?

Đã có kế hoạch, Gary Malone dụi tắt điếu thuốc lá:

-Cấp trên hả. Được rồi. Sáng mai mấy giờ thì tôi đến nhận công việc mới?

Mike Casey thở phào như trút được gánh nặng, nói mau như sợ thằng cớm cô hồn này đổi ý vào phút chót:

– Tám giờ… trễ hơn cũng được… công việc văn phòng mà, nhàn nhã lắm… Ông tin tôi đi, lè phè lắm, không có gì đâu!

Gary Malone đứng dậy, cười cười:

– Được rồi ông đại úy. Ông đừng lo, cờ đang nằm trong tay ông thì ông cứ việc phất. Nhưng phải cẩn thận nghe ông, đừng để cờ lọt vào tay người khác…

Mike Casey nhíu mày suy nghĩ xem thằng này tính giăng bẫy gì đây. Hắn nói câu chót trước khi bước ra khỏi văn phòng:

– Cờ mà lọt vào tay tôi, tôi phẩy thì đẹp phải biết….

Mike Casey nhìn theo. Tướng thằng Trung sĩ cảnh sát cô hồn mất hút trong hành lang. Lão châm lửa điếu thuốc, để ý thấy mấy ngón tay mình run lên bần bật…

Ngồi xuống ghế, lão mập bốc điện thoại gọi ngay cho Al Capone. Đầu giây bên kia, thằng Guzick trả lời:

– Xếp đang bận. Có chuyện gì không đại úy?

– Thằng Frank Nitti có đó không?

Một thoáng im lặng rồi tiếng nói rè rè lạnh lùng của thằng Frank Nitti nghe được trong máy:

– Frank đây, có gì không?

– À, Frank đó hả. Tao muốn gọi để chia buồn với mày về việc chiếc xe đó mà. Mày có muốn tao cho điều tra để trừng trị thằng đó một mẻ không? ĐM cảnh sát gì mà mất tư cách quá. Nhiệm vụ đáng lý là phải bảo vệ thì lại đi phá hoại tài sản của dân. Nếu có người chứng đàng hoàng thì tao sẽ cho đem nó ra tòa cho nó ở tù mọt gông ra..

Lão mập nói một thôi thật dài. Frank Nitti không có ý kiến gì. Đối với nó, lão mập này còn đáng khinh bỉ hơn thằng cô hồn Gary Malone. Một thằng rượu chè be bét và lúc nào cũng chỉ nghĩ đến tiền, mở miệng ra là rặt một đường tâng bốc lố bịch, chẳng bao giờ khá được.

Frank Nitti ngắt lời:

– Không! Lệnh của xếp cho đến giờ này là cứ để yên nó đã. Mai mốt tính sau. Mà ông đã kéo nó về văn phòng chưa?

– Rồi. Xong rồi, vì vậy cho nên bây giờ tao gọi, thông báo cho anh em biết.

Frank Nitti biết lão cảnh sát gọi tới đây là để đòi tiền, quay sang hỏi Guzick:

– Có tiền cho lão mập này chưa?

Guzick gật đầu:

– 5 ngàn đô la! Tiền đã có sẵn trong phong bì.

Frank Nitti cầm lấy cái phong bì dày cộm, vẫy vẫy nhịp nhàng trong tay:

– Guzick có sẵn một món quà cho ông. Ông đến Lexington lấy được không? Xếp Al Capone có vài chuyện cần nhờ ông luôn.

– Thôi, xa quá. Tối nay tao ghé tiệm The Red Horse mày đem giùm tới đó được không?

Frank Nitti nhíu mày suy nghĩ một lúc rồi đồng ý:

– Tối nay tôi cũng có chuyện ra ngoài đó. Hẹn đúng tám giờ sẽ gặp ông nơi quầy rượu.

Mike Casey cám ơn rối rít. Frank Nitti khỏi cần nghe thêm, cúp máy cái rụp…

Lão cảnh sát xoa hai bàn tay vào nhau, dáng điệu sung sướng, thỏa mãn. Công chuyện không ngờ đã diễn ra tốt đẹp đúng như ý lão dự đoán. Lúc Gary Malone còn ở đây, đã có lần lão tưởng là việc này sẽ tan vỡ vì thằng khốn lì lợm quá. Mà công chuyện phải khó vậy mới đớp được của Capone 5 ngàn đô như lão nghe loáng thoáng tiếng thằng Guzick trong điện thoại chứ? Thằng này chi địa tuy đẹp lắm nhưng cũng biết giá biết cả lắm. Bảo lãnh mấy con đĩ của nó bị bắt ra mà nó chỉ chịu chi có 10 đô một con thì đâu phải là dân ngu, không biết giá trị đồng tiền? Nó đã hứa 5 ngàn thì công chuyện phải to lớn lắm mà không ngờ mình thành công dễ dàng đến như vậy. Hay thằng Gary Malone đã hết thời rồi chăng? Cũng có thể lắm. Con người mà, đâu có ai thoát khỏi luật thời gian.Lão tự thưởng cho mình một điếu thuốc lá, ngồi lim dim nhả khói lên trần nhà….

Chiều đó, như mọi lần, từ sở ra Mike Casey lái xe thẳng đến nhà hàng & khiêu vũ trường The Red Horse…

Ở Chicago mà chưa đến The Red Horse để thưởng thức rượu ngon gái đẹp là một thiếu sót lớn lao. The Red Horse có ba thứ mà bất kỳ thằng đàn ông …dâm dãng nào trên cõi đời này cũng mơ ước: đồ ăn ngon, rượu hạng nhất, và gái đẹp như tiên. Chốn “thiên đàng hạ giới” này là nơi gặp gỡ của các tay hào phú đến không phải chỉ từ trong nước Mỹ mà từ khắp nơi trên thế giới. Hồi đó, Chicago có một câu đùa trong giới doanh thương là: “Mọi hợp đồng dù khó đến đâu đều có thể ký được ở The Red Horse” (All the contracts can be signed at The Red Horse) thì đủ hiểu đây còn là chỗ gặp gỡ của các nhà đại tư bản, các nhà tài phiệt của Chicago.

Thời buổi luật cấm rượu đang còn áp dụng chặt chẽ, một cái tiệm sang vào hạng nhất cỡ The Red Horse không thể điều hành lạng quạng như các nơi giải trí rẻ tiền. Khách vào đây là dân chịu chi tiền để tận hưởng khoái lạc trần gian chớ không phải để bị mấy thầy chú làm khó dễ lôi thôi nên vấn đề an ninh được coi như hàng đầu. Hàng hai ba lớp an ninh. Lớp ngoài cùng là cớm thứ thiệt. Trong tiệm là người của Frank Nitti rải ra dày đặc. Tụi này xuất hiện kín đáo, dưới nhiều hình thức. Có thể là một thằng khiêng nước đá coi rất hiền lành, cũng có thể là một thằng chuyên thu dọn chén đĩa, một thằng đánh giày lịch sự, hoặc là một ông khách ăn mặc sang trọng ngồi từ sáng tới chiều mà chỉ uống vài ly cà phê.

Nhưng, cũng như mọi chốn ăn chơi trái luật pháp nào cũng vậy, lực lượng an ninh dù mạnh đến đâu mà cảnh sát địa phương không đỡ đầu thì không làm sao tồn tại được. Mike Casey bảo đảm việc này. Mỗi chiều, từ sở ra là lão mập phóng xe tới The Red Horse, vẫn nguyên bộ đồ cảnh sát với cặp lon đại úy trên cầu vai, vào ngồi chễm chệ nơi quày rượu gần chỗ ra vào để làm cảnh cho nhà hàng. Khách đi chơi thấy một đại úy cảnh sát của nhà nước ngồi chình ình giữa nhà như vậy thì đâu có lo gì chuyện hành quân bậy bạ của cánh sát. Ngay cả quân gian cũng không dám bén mãng đến nữa.

Phần lão Mike Casey, đây là cái giây phút sung sướng nhất trong ngày của lão. Đó chính là cái phần thưởng sau 30 năm phục vụ đắc lực trong nghành cảnh sát. Lão thường bắt đầu buổi chiều với một ly Whiskey nước đá. Thằng bồi rót rượu luôn luôn hiểu ý lão. Phải xài thứ hạng nặng dành đặc biệt cho khách quý, mà khỏi có nói chuyện rót lưng chừng rồi hạ cái chai xuống ngang xương đâu. Rót là phải rót cho đầy luôn, rượu gần đến miệng ly mới thôi. Đằng nào lão cũng làm hết nửa chai mới chịu ra về thì rót đầy ly đỡ mất công.

Sau ly rượu đưa đường, lão sẽ nhìn thực đơn và kêu một món ăn ngon nhất rồi làm qua ly thứ hai để chờ đợi. Làm tới hai ly Whiskey cỡ lớn như vậy thì thần kinh dù nhão cách mấy cũng bắt đầu thấy giựt giựt, máu nóng chạy khắp người. Đã đến lúc phải kêu một em vũ nữ lại, cho cô em ngồi trên đùi để tán gẫu. Dĩ nhiên, miệng nói thì đôi bàn tay to lớn cũng có dịp mạo hiểm khắp thân thể con bé…

Khi thấy thằng bồi vừa bưng mâm đồ ăn nóng hổi xuất hiện từ đàng xa là lão hất em bé xuống đất liền. Từ thuở nhỏ, lão có tật háu ăn. Hễ có đồ ăn ngon đem lên là thứ gì lão cũng quên hết. Em vũ nữ đành rút lui để thầy đại úy dùng cơm tối.

Lão bắt đầu ly Whiskey thứ ba với bữa tối. Ngoài trừ trường hợp nhà hàng có những món đặc biệt thì khác, thường thì lão chỉ khoái tôm hùm và bí tết. Y hệt như xếp Al Capone.

Sau bữa ăn, trời đã chạng vạng tối, lão thường bưng ly rượu ra ngồi nơi sàn nhảy kiếm một cái bàn gần ban nhạc mà ngồi cho ra vẻ quan trọng. Vì cái bụng bự quá, chân tay lại thô kệch nên lão không bao giờ ra pít, nhưng lão thích ngồi ngắm thiên hạ và ôm ấp mấy em vũ nữ. Nếu hứng quá, chỉ cần dắt em lên lầu, chọn lấy một cái phòng cho mình là coi như trọn cuộc vui, nhưng lúc sau này, lão thấy không còn ham muốn mấy cái chuyện đó nữa. Người ta bảo đó là dấu hiệu của tuổi già nhưng lão biết rõ hơn ai hết, đó là hậu quả của nhiều tháng năm rượu chè quá độ.Thường thường, lão về đến nhà vào lúc quá nửa đêm. Không có ai phiền cả vì lão …ở một mình, không vợ không con. Nhiều khi về nhà, lão còn lôi chai rượu dưới gầm giường ra để uống thêm cho đến khi nào ngã lăn xuống đất, thiếp đi…

Nhưng hôm nay, khi thằng bồi rót rượu vừa đến nửa ly là Mike Casey đã ra hiệu cho nó ngưng. Lão muốn tỉnh táo nói chuyện với thằng Frank Nitti, nghe nói nó có vài mối làm ăn muốn nhờ lão. Lúc bước vào, nhìn tụi an ninh hôm nay bố trí chặt chẽ hơn thường lệ, người cảnh sát già đánh hơi ra ngay là thằng Frank Nitti đã có mặt và đang lãng vãng đâu đây.

Bọn nhải, dù chúng mày có sừng sỏ tới đâu, qua mặt ai chứ sao qua mặt lão già này được? Thằng Frank Nitti làm gì cũng bí mật. Nó đi không ai biết, mà tới cũng không ai hay, có mặt cũng như không.

Có sao đâu, chừng nào nó muốn xuất hiện thì cứ việc ló mặt ra, còn bây giờ thì lão cứ ngồi nhâm nhi ly Whiskey như thường lệ.

Không bao lâu sau, một giọng nói trầm trầm vang lên sau lưng, đúng cái giọng lớ lớ tiếng Ý của thằng Frank Nitti:

– Chào đại úy!

Mike Casey khỏi cần quay lại, hất đầu chỉ chiếc ghế:

– Mời ngồi!

Frank Nitti ngồi xuống bên phải lão. Mike Casey liếc nhanh chung quanh. Tiên sư, thằng này kỹ đến vậy là cùng. Đến ngay ở giữa đại bản doanh của nó mà nó cũng cho cận vệ kèm cứng. Frank Nitti vừa ngồi xuống là đã có hai thằng em kèm cứng hai cái ghế hai bên. Ra là nó còn rét dữ sau vụ St. Valentines’s Massacre.

Mike Casey đùa nhẹ một câu:

– Đây là chỗ giang sơn của mày mà còn cẩn thận vậy không sợ thiên hạ nói Frank Nitti là thằng chết nhát à?

– Cẩn thận vẫn hơn.

Miệng nó nói mà mắt nó dòm láo liên, làm như đang ngồi ở nơi chiến địa vậy. Thằng này chắc chỉ cho nó ngồi trong xe tăng nó mới thấy an toàn.

Mike Casey gọi thêm một ly rượu. Frank Nitti kêu một ly nước ngọt. Nó mồi thuốc, thở khói lên trần nhà, vô đề liền:

– Chuyện thằng Gary Malone xong rồi hả?

Mike Casey “hà” một cái sau ngụm rượu:

– Xong.

– Nó có phản ứng gì không?

– Thằng đó già rồi. Ai cũng có một thời. Thánh kinh có nói mà: “Một thời để lên, một thời để xuống.”

Phải nhắc đến tên Gary Malone, Frank Nitti thấy nhói trong tim. Nếu nó được phép, Gary Malone đã bị bắn chết tươi từ chiều hôm qua. Nhà thằng cớm này ở đâu, ăn uống thế nào, giải trí ra sao, Frank Nitti đều có đầy đủ hồ sơ, nếu nó ra tay, làm sao kẻ thù sống nổi. Nó lại thấy xếp Al Capone có vẻ coi trọng người ngoài mà coi rẻ anh em trong nhà. Tài thằng Gary Malone thì tới đâu mà xếp có vẻ chịu nó quá. Nếu có, thì đó là của mười năm về trước, bây giờ cách chơi đã đổi khác, vũ khí đã khác, chắc gì nó còn hiệu nghiệm như xưa mà phải nhất định mua nó về cho bằng được. Mà nếu nó về chung dưới trướng Al Capone, sức mấy Frank Nitti thèm đi làm việc chung với một kẻ cựu thù?

Căm phẫn lắm nhưng Frank Nitti biết luật lệ của xếp Al Capone. Trái lệnh xếp thì dù có công trạng đến đâu cũng bị trừng phạt như thường. Mà địa vị như nó thì cái chết cầm chắc trong tay. Nó biết tính xếp, không bao giờ để cho một kẻ đã bị phạt hay có gì uất ức trong người làm việc lẩn quẩn bên mình. Hơn nữa, nó biết quá nhiều, xếp sợ bị phản thùng bất tử.

Nhìn Frank Nitti tư lự, Mike Casey biết tâm sự nó. Mà thằng này cũng là tay ngon, dám đốt nguyên chiếc Cadillac chỉ vì mấy cái cửa kính bị đập bể thì không phải là hạng người tầm thường. Có lẽ nó đốt chiếc xe vì cảm thấy bị sỉ nhục thì đúng hơn. Xưa nay ở Chicago có ai nghe đến tên Frank Nitti mà không rùng mình lạnh gáy? Lão an ủi Frank Nitti:

– Rán chờ đi Frank. Nó về làm ở văn phòng thì coi như đời nó tàn rồi.

Frank Nitti không nói gì. Ánh mắt nó chỉ rực lên một chút lửa rồi trở lại lặng lờ như cái xác chết ngay. Nó giận, nó sắp giết người, nó sắp làm gì không ai biết. Frank Nitti cúi đầu, nói nhỏ với Mike Casey:

– Xếp Al Capone muốn nhờ ông coi lại cái vụ thằng cớm liên bang vừa về đây. Xếp nói thằng đó “không phải người thường”.

Tưởng gì, lại thằng cớm dỡ ẹc hồi nào. Mike Casey thở dài lên một tiếng:

– Lại cái thằng láo khoét đó. Sao mà xếp của mày lại sợ nó đến như vậy?

Frank Nitti nhún vai ra dấu đồng tình:

– Tôi cũng nghĩ như ông. Một thằng nói nhiều sẽ không làm được cái gì hết. Tôi không hiểu sao Capone lại sợ nó đến như vậy?

– OK thôi cũng được, nhưng mà xếp mày muốn tao lo cái gì?

– Chỉ muốn ông cho biết hồ sơ chính xác của nó, những ý định của nó muốn làm. Tóm tắt, xếp Al Capone muốn ông bám cứng thằng này thật kỹ.

Mike Casey làm một hơi rượu:

– Tưởng gì chớ chỉ có vậy thôi thì tao bảo đảm. Mày cứ về nói Capone yên chí lớn.

Được trớn, lão đùa luôn:

– Mày có muốn biết nó ăn uống thế nào và đi đái đi ỉa một ngày mấy lần không? Tao cũng sẽ ghi vào hồ sơ để làm báo cáo luôn… ha…ha…

Mike Casey bật cười lên hô hố sau câu pha trò lạt lẽo.

Frank Nitti không cười. Nó thò tay, móc cái phong bì dày cộm ra vẫy nhẹ nhẹ vào đùi lão đại úy cảnh sát.

Tiếng cười của Mike Casey im bặt. Lão biết giờ lãnh lương đã đến, liền thò tay xuống dưới quầy, đỡ nhẹ cái phong bì từ tay Frank Nitti rồi từ từ đem lên đếm.Tốt, thế này là đầy đủ quá. Tay trái lão cầm lấy phong bì bỏ vào túi, tay phải lão ngoắc thằng bồi:

– Ê, cho qua thêm một ly “sec” nữa đi em.

Ủa, bàn tay lão vừa đút vào túi thì làm như có ai đang nắm chặt nó lại cứng ngắc, cựa quậy không nổi. Mà hình như cái phong bì cũng bị rút ra khỏi tay luôn liền theo đó. Thằng chó nào dám đùa dai với đại úy cảnh sát Mike Casey như vầy?

Mike Casey nổi giận, quay đầu lui lại để coi xem thằng nào dám to gan giỡn mặt với mình.

Thằng đó là Gary Malone chớ ai!

Hắn mặt đồ kẻng, áo dạ hội thắt nơ, mang giày cá sấu láng bóng, không hiểu đã đứng sau lưng lão mập và Frank Nitti hồi nào mà không ai biết.

Mike Casey muốn rú lên một tiếng ngạc nhiên khiếp đảm mà cũng không được. Bất ngờ quá, táo bạo quá. Bất ngờ vì lão không bao giờ nghĩ là Gary Malone lại mò tới đây ngay sau buổi chiều bị thuyên chuyển. Táo bạo vì chỗ này là nơi ăn chơi khét tiếng nhất Chicago và là sào huyệt của Frank Nitti, an ninh tụi nó đặt cả trong lẫn ngoài có đến gần cả trăm đứa, sao một mình thằng Gary Malone dám dẫn xác đến? Kẹt hơn nữa, kẻ tử thù của Gary Malone là thằng Frank Nitti đang ngồi đây, sát ngay mình, trước mắt nó. Nếu có cuộc đấu súng xảy ra ngay tại chỗ này, thì chắc lão khó mà đi về nhà “còn nguyên một miếng”.

Thằng Gary Malone là thứ dữ, nó đã dám vào đây tức không sợ, và đã chuẩn bị đầy đủ. Còn thằng Frank Nitti và đám đàn em thì sức mấy mà tụi nó để cho thằng cớm này tung hoành ngay giữa tại bản doanh nó như nó đã làm với thằng Weiss cách đây mười mấy năm?

Lão cảnh sát ngồi im cứng ngắc như bị trời trồng, không biết phản ứng ra sao, ăn nói cái gì.

Ngay lúc ấy, Frank Nitti đánh hơi thấy cái gì là lạ quanh đây, cũng xoay người để nhìn thấy thằng cảnh sát mà nó thề sẽ uống máu ăn gan đang đứng sừng sững sau lưng mình từ hồi nào. Ra thì nó đang cầm cái phong bì 5 ngàn đô la vừa rút gọn khỏi tay lão Mike Casey, miệng cười cười rất đểu.

Nó làm lẹ quá và êm quá, cả hai thằng cận vệ của Frank Nitti ngồi sát bên mà vẫn chưa biết gì.

Phản xạ tự nhiên không dịp suy nghĩ, Frank Nitti lẹ làng thò tay vô trong lần áo vét mò cây Colt .45 lừng danh. Nhưng bàn tay nó vừa chạm tới báng súng, chưa kịp kéo ra thì cái họng cây Smith & Wesson to tổ bố và đen thùi lùi của Gary Malone đã chỉa thẳng vào màng tang nó:

– Mày nhúc nhích tao thổi cái sọ mày ra khỏi đầu liền tức thì.

Mãi đến lúc này hai thằng cận vệ của Frank Nitti mới biết là có biến, liền phóng xuống. Chân vừa đứng vững trên sàn là đã thấy hai cây Tommy Gun như từ đâu không biết bay ra trên tay chúng, chĩa thẳng vào lưng Gary Malone.

Trong nhà hàng lúc đó, mới đầu chỉ là một vài tiếng rú. Nhưng vài tiếng này kéo thêm nhiều tiếng khác, và chỉ một thoáng sau, cả nhà hàng nhốn nháo. Khách hàng tranh nhau chạy ùa cả về một góc, đạp đổ bàn ghế ngổn ngang, la hét um xùm, làm như không chạy kịp thì sẽ chết vậy. Kể từ những ngày máu lửa giữa xếp Al Capone với cánh Colosimo đến nay là đã hơn năm, Chicago mới thấy lại những cảnh này.

Ngay lập tức, tụi an ninh nhào ra làm việc liền. Chúng nó ngạc nhiên khi thấy trên quầy rượu, một thầy đại úy cảnh sát, một thằng ăn mặc bảnh bao, xếp Frank Nitti của tụi nó cùng hai thằng cận vệ đang chỉa súng vào nhau. Chưa ai nói gì cũng như chưa có ai khai hỏa.

Vậy là không phải đại biến, đỡ lo. Ở đây thỉnh thoảng cũng có vài thằng say rượu lên cơn phá phách đôi chút để ngày hôm sau phải thức giấc trên cái giường của …nhà thương. Chúng nó tà tà bước lên quày rượu, tính coi thử thằng này uống đã bao nhiêu chai mà dám cả gan móc súng ra dọa ông phụ tá.

Đang xếp đội hình hùng hổ đi lên, thằng trưởng toán tinh mắt nhận ra Gary Malone ngay. Nó dừng lại, xua tay nhặng lên và la lối om sòm:

– Tốp. Đù mẹ tốp lại. Phụ tá Frank Nitti đang bị thằng Gary Malone chĩa súng vô màng tang. Đù mẹ lui hết, xuống lẹ. Cấm tụi mày không được lạng quạng. Đù mẹ tao biết tính thằng này, nó chĩa là nó nổ thiệt chứ không đùa dai đâu… Để mình tao lên coi thử coi…

Đám lâu la khựng người, từ từ lui lại. Khách hàng sau một phút hốt hoảng la ó, không nghe thấy tiếng súng nào và chẳng nhìn thấy ai lăn quay ra chết như mọi khi thì từ từ lấy được bình tĩnh trở lại.

Mọi người đều dán mắt nhìn lên khu quầy rượu, là chỗ hình như đang có chuyện lộn xộn đang xảy ra.Chỉ nghe một cái “soạt” là Gary Malone đã móc được cây Colt .45 của Frank Nitti ra khỏi vỏ, cầm gọn trong tay. Một cái nhấn nút thiện nghệ là băng đạn trong cây súng tuột ra ngoài. Một tay vẫn giữ cây rouleau chĩa vào màng tang Frank Nitti, tay kia với cây .45 nó hạ mau xuống, chụp được băng đạn, thảy cả hai thứ lên mặt bàn.

Hai thằng đàn em sấn tới thêm một bước nữa, chĩa mấy cái nòng cây Tommy gun gần ngay lưng của Gary Malone. Gary Malone chẳng thèm quay lui, nhìn Frank Nitti gằn từng tiếng:

– Mày muốn gì? Muốn tiếp tục chơi cạn láng hay muốn nói chuyện đàng hoàng? Muốn ngừng thì bảo hai thằng đàng sau lưng tao lui ra, tao chỉ có chuyện riêng cần nói với Mike Casey thôi. Không dính dáng gì tới mày. Còn muốn tiếp tục chơi tới nửa thì tao cũng đéo cần, có điều cái sọ của mày sẽ là cái sọ đầu tiên bị thổi nát bấy ra trước. Đù mẹ dân chơi thiện nghệ như mày thì biết sức tàn phát của cây Smith & Wesson này mà.

Nói xong là ngón tay cái của Gary Malone thò ra, kéo ngược cái cò mổ của cây súng sáu ra sau nghe đến cắc một tiếng. Ngon lành như thằng Frank Nitti mà cũng thấy muốn vải đái trong quần. Tiên sư, nó không lạ gì cái tính tình và khả năng của thằng cớm du côn nhất Chicago này, nhưng cái nó không ngờ là thằng này đã trên 40 tuổi rồi sao mà còn lanh lẹ quá chừng. Mãi đến hôm nay, Frank Nitti mới biết vì sao xếp mình từ xưa đến giờ ngán nó một mực.

Frank Nitti quay nhìn hai đứa đàn em:

– Đù mẹ hồi nãy sao không ngon lành một chút, bây giờ thì nước mẹ gì nữa mà súng với ống. Đù mẹ dẹp cha nó đi, cút xuống dưới nhà cho yên chuyện. Tao lo thân tao được rồi. Đù mẹ toàn là đồ ăn hại!

Quát tháo vậy nhưng trong lòng Frank Nitti cũng chỉ nghĩ đến cây Smith & Wesson đang kề sát màng tang nó. Nó biết Gary Malone không khùng đến độ phải nổ bậy ra đây nhưng chỉ sợ đàn em sơ xẩy, phản ứng bậy bạ thì đời nó tiêu.

Khi nhìn lui thấy đám đàn em của Frank Nitti đã rút hết, tụ tập đứng thành một nhóm phía dưới ngó lên, Gary Malone mới từ từ hạ cây súng:

– Coi được, mày cũng là thằng biết điều. Để tao lập lại, như đã nói, tao có chút chuyện “cảnh sát” muốn bàn riêng với ông đại úy Mike Casey đây thôi, không dính dáng gì đến mày, nên cứ ngồi yên. Xin lỗi vì tao phải chĩa súng vô màng tang mày. Cái …tật tao xưa nay như vậy nó quen rồi. Mày thông cảm. Tao không lanh vậy làm sao sống nổi đến ngày hôm nay?

Trước hai cặp mắt còn kinh ngạc của Frank Nitti và Mike Casey, Gary Malone đút cây rouleau vô thắt lưng, lùi bước, rồi kéo một cái ghế ngồi giữa hai người, mắt vẫn không rời cây Colt .45 đang nằm tênh hênh trên bàn:

– Bây giờ mày có thể bảo mọi người trở về chỗ để ăn uống như thường được rồi. Mày thấy không, tao cũng là dân biết điều như mày mà, đâu muốn làm tụi mày thiệt hại làm chi. Ê! Uy tín của The Red Horse ở Chicago này ai không biết? Biểu cái đám an ninh ăn hại của mày cút cha nó luôn đi. Tụi này mà làm việc dưới quyền tao là tao đuổi cổ mẹ nó đi hết. Đúng như mày nói, toàn là một thứ ăn hại.

Frank Nitti tức muốn hộc máu ra. Thằng này quả là đáng sợ. Ngang nhiên xông vào đại bản doanh của người khác như chỗ không người, chĩa súng uy hiếp gia chủ rồi bây giờ còn lớn tiếng chê đám thủ hạ không biết làm việc thì thiên hạ chỉ có một không hai. Mà nó vừa nói vừa cười cười nghe muốn lộn gan lên đầu. Frank Nitti liếc nhìn cây Colt .45 của mình còn một viên đạn trong cơ bẩm, để trên quầy rất vừa tầm tay. Nhưng nhiều kinh nghiệm như thằng cớm này chắc chắn nó phải biết dù không còn băng đạn, súng vẫn còn một viên trong cơ bẩm. Biết vậy thì chắc nó phải đề phòng. Hay nó tính âm mưu cái gì đây? Thôi thì bây giờ cứ nghe lời nó cái đã, chút nữa hẵn hay. Frank Nitti ngoắc tay gọi thằng trưởng ban nhạc tới, nhắn nhủ mấy điều:

– Không có chuyện gì đâu. Cho nhạc lên đi, bảo mấy thằng an ninh rút hết, khách khứa biểu họ về chỗ cũ, tiếp tục ăn chơi cho thoải mái đi. Lẹ lẹ lên.

Thằng nhạc trưởng rút lui. Chỉ một lúc sau là tiếng kèn, tiếng trống, tiếng đờn lại nổi lên. Khách khứa ăn nói, đùa giỡn nhộn nhịp như cũ.

Frank Nitte lại liếc nhìn cây Colt .45 nằm chình ình rất là cám dỗ. Chỉ còn một viên thôi nhưng bắn hay như nó thì đâu cần tới viên thứ hai. Chỉ một tiếng “oành” thôi là cái gáo dừa thằng cảnh sát chó đẻ này sẽ nát ra như cám.

Những ý nghĩ trong đầu Frank Nitti làm sao qua khỏi được cặp mắt tinh đời của Gary Malone. Hắn chụp cây Colt .45, kéo cơ bẩm. Viên đạn văng ra ngoài. Gary Malone ngắm nghía cây Colt .45 nơi tay:

– Đeo súng có giấy phép không mày? Đù mẹ cơ bẩm sao nhẹ quá trời, chắc là cái lò xo hoàn lực đã bị “thiến” đi mất một khúc để bóp cò cho nó chính xác phải không? Làm sao qua mắt tao được. Hỏi thiệt, mày đã bắn chết mấy thằng với cây súng này?

Frank Nitti lầm lì ngồi im. Không nói cũng không thèm ngước mặt nhìn Gary Malone. Nó chỉ sợ nếu nhìn thấy cái mặt thằng cớm này lẫn nữa, sẽ không nhịn được bèn nhào tới ăn thua đủ thì sẽ có chuyện lớn. Đụng độ có thể xảy ra bất kỳ ở đâu nhưng không thể ngay tại The Red Horse sang trọng này được. Chỉ thị của xếp Al Capone đã rõ ràng: “The Red Horse là đất bất khả xâm phạm”. Hơn nữa, xếp đã có lệnh là không được động đến lông chân nó mà.Thế này thì rút lui là thượng sách.

Frank Nitti vừa tính đứng lên thì một bàn tay của Gary Malone đã chụp cứng bắp đùi nó:

– Đi đâu giờ này? Mà ai cho mày đi? Ngồi đây lát tao có chút chuyện nhờ.

Cực chẳng đã, Frank Nitti lại ngồi xuống như cũ. Gary Malone để cây Colt .45 trên mặt bàn, đẩy về phía nó:

– Của mày đó cất đi. Tao sẽ nhờ mày một chuyện.

Frank Nitti chụp cây súng nhét vô bao, vẫn lầm lì không thèm nói một câu. Bây giờ trên quày rượu là 3 người ngồi với nhau, coi rất là an lành, không ai có thể ngờ được là một cuộc tàn sát đã suýt xảy ra chỉ cách đây mấy phút đồng hồ.

Lão Mike Casey lấy lại được bình tĩnh, nãy giờ mới nói được câu đầu tiên:

– Gary, mày vừa ăn cướp trắng trợn. Đưa cái phong bì lại cho tao.

Gary Malone mắt vẫn không rời thằng Frank Nitti, đáp trống không:

-Ông muốn lấy lại hả, được. Nhưng ông phải cho tôi biết trong cái phong bì này đựng những gì?

Mike Casey gầm lên:

– Đựng gì là chuyện riêng của tao. Mày đừng quên là mày vừa phạm tội ăn cướp, tao có thể lôi mày ra tòa…

Mọi sinh hoạt trong nhà hàng đã trở lại bình thường. Đám lâu la của Frank Nitti cũng rút đâu mất tiêu. Gary Malone vẫy tay gọi thằng bồi, kêu 3 ly “double” rồi mới từ tốn nói với Mike Casey:

– Ông cứ việc lôi tôi ra tòa. Bằng chứng còn đây. Ở tòa án, cả Chicago sẽ nhìn thấy trong cái bì thơ này đựng những gì.

Mike Casey kẹt cứng. Không thể dùng vũ lực để lấy lại cái phong bì, mà làm lớn ra thì mình là kẻ bị thiệt thòi nhất. Trong một giây suy nghĩ, lão thấy chỉ có một giải pháp hay nhất để giải quyết vụ này là …giết mẹ nó thằng cớm mất dạy đang ngồi vênh váo trước mặt mình. Nhưng ai sẽ giết? Chắc chắn lão không dám nghĩ đến chuyện chính mình sẽ làm. Chỉ có bọn Capone mới làm được chuyện này.

Thằng bồi đặt mâm lên bàn, nhấc ra 3 ly rượu. Gary Malone đưa nó tờ giấy bạc 10 đô la:

– Đây là tiền buộc boa riêng của mày. Tiền rượu tính hết cho “đại ca” Frank Nitti!

Gary Malone lịch sự đẩy cho Mike Casey một ly rượu:

– Uống đi, lát nữa còn nhiều màn ngoạn mục.

Gary Malone thò thay móc cái phong bì thảy trên mặt bàn. Mike Casey tính chụp lấy nhưng Gary Malone đã kèm cứng cánh tay hắn:

– Đâu có được. Ít nhất ông cũng phải nói tôi cho tôi biết trong phong bì này đựng cái gì.

– Tao đã nói rồi, đựng cái gì là chuyện riêng của tao, đừng có lôi thôi.

Tuy nói cứng nhưng Mike Casey cũng từ từ xuội cánh tay. Gary Malone cười gằn, làm một hơi cạn nửa ly rượu:

– Tôi có đề nghị hay hơn, khỏi kẹt ông mà cũng khỏi kẹt tôi.

– Đề nghị gì?

– Ông trả cái bì thơ này lại cho thằng Frank Nitti rồi về hủy bỏ cái lệnh thuyên chuyển của tôi đi, tôi sẽ quên chuyện này.

Mike Casey giãy nãy lên phản đối:

– Đâu có được. Cái bì thơ này không có dính dáng gì đến chuyện thuyên chuyển của mày hết, đừng có bày đặt. Mày mà dám dở giọng côn đồ với tao à?

Gary Malone nhìn lão đại úy cảnh sát:

– Thật không? Cũng xin báo cho ông biết tôi đã ngồi ngay sau lưng ông từ lúc ông mới bước vào. Những gì ông và thằng Frank Nitti nói về tôi, làm sao tôi không nghe được?

Mike Casey cứng họng ngồi im. Gary Malone bỗng nổi giận:

– Đù mẹ đã đến nước này thì khỏi cần thắc mắc làm gì, để tôi coi thử trong phong bì này chứa con mẹ gì.

Gary Malone chụp cái phong bì xé toạc ra, rồi lật ngược, để mấy xấp bạc đổ xuống nằm dài trên bàn:

– Ít nhất phải là 5 ngàn, đúng không Frank?

Không ai trả lời. Gary Malone nắm gọn số bạc trong tay:

– Tùy ý ông đại úy. Tôi cho ông hai giải pháp để chọn lựa. Một là tôi có thể đem số bạc này đến ông biện lý Morgan ngay liền bây giờ để xin cái án lệnh truy tố ông, hai là ông phải trả số tiền này lại cho thằng Frank Nitti, tôi sẽ quên hết mọi chuyện. Dĩ nhiên, ngày mai tôi cũng vẫn …đi gác đường như thường.

Mike Casey không biết ăn nói làm sao. Đối với Gary Malone, hắn ghét cái màn kèn kựa mất thì giờ, bèn đứng dậy, nhét mớ bạc vào túi:

– Tôi không có thì giờ ngồi đây kèn cựa như đàn bà. Tôi đi đây. Tới nhà ông biện lý mà trễ quá tôi sợ phá mất giấc ngủ của ổng.

Mike Casey giật mình níu tay hắn lại:

– Khoan khoan, Gary. Anh em không, làm gì mà nóng quá vậy, ngồi xuống đây chút đã.

– Ông đổi ý?

Mike Casey trả lời rất nhỏ, giọng mệt mỏi, đủ để cho Gary Malone nghe:

– Thôi quên chuyện này đi. Ngày mai anh trở về nhiệm vụ cũ.

Gary Malone gật đầu tỏ dấu hài lòng. Hắn ngồi xuống, móc xấp giấy bạc thảy lên bàn, nhìn Frank Nitti:

– Tiền của mày đây thằng chó đẻ. Cầm lấy đi.

Frank Nitti nhìn Mike Casey chờ phản ứng. Lão cảnh sát gật đầu chán nản. Đúng ra, ngay từ lúc nhìn thấy Gary Malone, Frank Nitti đã biết mọi chuyện coi như hỏng. Trông chờ gì được nơi thằng cảnh sát già khiếp nhược này. Nó bây giờ mới hiểu ra tại sao Chicago này với 5000 nhân viên cảnh sát mà bọn ăn cướp như nó vẫn tung hoành như chỗ không người. Hạng cảnh sát như Mike Casey thì mạng của mình giữ còn chưa xong, nói gì đến luật pháp. Frank Nitti thò tay gom bó bạc cất vào túi. Gary Malone nhìn nó nói luôn:

– Tao cũng quên nói cho mày biết là tao tạm giữ lại năm tờ giấy trăm để trả chi phí cho …tao đã mắc công tới đây.

Frank Nitti nhún vai. Nó lấy 5 tờ trăm chứ 10 tờ trăm thì mình cũng chỉ biết ngồi cười trừ.

Gary Malone nốc cạn ly rượu, đứng lên, vỗ vai thằng mafia lừng danh nghe đánh bốp một tiếng:

– Tao dọt nghe không thằng …chó đẻ. Đừng có giở trò này kia, đù mẹ tao trở lại là tao đốt rụi cái quán “con ngựa đỏ” này, cho nó thành ngựa rô ti luôn.

Frank Nitti tím mặt lại. Gary Malone quay sang ông cảnh sát, nói luôn:

– Ông có nhớ tôi nói chiều nay không? “Cờ vào tay ai người ấy phất.” Xem chừng cờ vừa tuột khỏi tay ông. Mà thôi, chúc ông một đêm nhậu nhẹt vui vẻ.

Mike Casey dương cặp mắt tóe lửa nhìn Gary Malone. Cứ coi như là mình thua một keo. Lần đầu tiên trong đời, lão bị thằng này phục kích ngay tại quán rượu. Mà nó phục kích đẹp quá, tang chứng rành rành, hết đường gỡ. Cái đau nhất không phải là vì lão không “giam” thằng này được trong ty mà uy tín của lão với tụi Al Capone coi như bị tiêu tan trước sự chứng kiến của thằng đầu trâu mặt ngựa.

Lão hất đầu rồi quay đi chỗ khác, tránh tia nhìn xấc xược của Gary Malone.

Trong lòng, lão suy nghĩ ráo riết để tìm một kế hoạch mới.

Gary Malone, rất đẹp trai trong bộ đồ dân sự may cắt đúng thời trang nên coi chẳng khác một tay chơi thượng thặng của Chicago, tà tà rảo bước. Frank Nitti nhìn theo, bất chợt nó cảm thấy thằng cớm này quả là một địch thủ đáng ngại, hơn xa nó về mọi phương diện. Từ cách ăn nói, cách hành động, cách đi đứng, cho đến sự lì lợm và mưu kế. Chờ cho Gary Malone khuất bóng, Mike Casey hỏi Frank Nitti:

– Chú em nghĩ sao?

– Sao mẹ gì. Kế hoạch của xếp coi như không thi hành được rồi.

– Tao có một ý kiến này.

– Gì?

– Cho nó mặc sơ mi gỗ là yên hết mọi chuyện. Nó là thằng bướng bỉnh cuối cùng còn lại của Chicago.

Frank Nitti chán nản lắc đầu, mồi một điếu thuốc:

– Lệnh của xếp phải để nó sống?

– Để nó sống? Lệnh gì kỳ quặc vậy?

– Xếp muốn xài thằng này. Xếp nghĩ một ngày nào đó nó sẽ về đầu quân với xếp.Mike Casey tuy biết rằng Gary Malone không phải là cái hạng đi bán thân cho quỷ nhưng ai biết được? Đời đổi thay mà. Suy tư và tính toán của tuổi trẻ thường ít khi giống tuổi già. Vì ở tuổi già, người ta cảm thấy mình yếu đuối hơn sau khi đã tiêu hết cái số vốn quý giá là thời gian. Thằng Gary Malone mà về với Al Capone thì không những chỉ Chicago thôi mà cả nước Mỹ này sẽ loạn. Cái tai hại gần nhất mà lão thấy là số lương tháng thứ hai mà lão đang hưởng của Al Capone có thể bị thuyên giảm hay không chừng dám mất luôn. Gary Malone và Mike Casey là hai thái cực đối chọi nhau tuy ngày xưa cả hai có thời là bạn bè thân thiết. Lão có ý định giết Gary Malone.

Mike Casey làm hết ly rượu. Tối nay uống cái gì vô cũng thấy đắng quá chừng. Lão chùi miệng:

– Mày nghĩ thằng Gary Malone sẽ có ngày cộng tác với xếp Al Capone?

– Không bao giờ.

– Tại sao?

– Không biết. Không thể giải thích được, mỗi người có một cái trực giác khác nhau. Nó sẽ không bao giờ trở thành một mafioso hết.

Mike Casey cố tố thêm một câu vớt vát:

– Đã biết nó như vậy mà không lo diệt trừ sớm, e sau này có hối cũng không kịp.

Frank Nitti lắc đầu:

– Xếp có bộ óc riêng của xếp, tôi không nói được.

– Mày đừng lo, một ngày nào đó xếp của mày sẽ nhận ra cái lỗi lầm của mình.

– Ngày đó chính tôi sẽ kề cây Colt .45 vào họng nó bóp cò.

Tối đó, lão Mike Casey ở lại The Red Horse cho đến 2 giờ sáng mới chệnh choạng bước ra. Trên đường về, lão nôn ọe tùm lum trên xe…

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 17 Apr 2025

Chương 13.

Ra khỏi quán nước, lòng Eliot Ness cảm thấy héo hon như một cánh hoa trước gió. Cái làm cho chàng buồn nhất là mình đã không đủ tài hay sức hấp dẫn để “kéo” được một người như Gary Malone. Điều này chứng tỏ mình cũng không ngon lành lắm như mình thường nghĩ. Chưa bao giờ có ai nói “không” được với Eliot Ness. Thường thì người ta tự tìm đến chàng trước.

Bài toán hình học trong đầu chàng lại cứ xoay quanh cái trục Gary Malone. Nếu hắn chịu nhận lời, dưới sự quan sát tinh tế của Eliot Ness, chàng sẽ đủ sức bứng Capone. Bứng bằng cách nào và mất bao nhiêu lâu thì chưa biết nhưng chàng có thể nói chắc như đinh đóng cột rằng nó sẽ bị bứng.

Nhưng, đến giờ phút này thì mọi chuyện coi như đã quá trễ. Chàng đã tuyên bố với hắn là sẽ không cần hắn nữa thì làm sao có thể sửa lời nói? Vừa bước đi Eliot Ness vừa giận mình đã không kềm được cơn nóng.

Chàng mồi một điếu thuốc, chép miệng: “Con người có sức chịu đựng của nó. Không thể nào làm khác hơn được. Nếu mất Gary Malone thì đành chịu vậy chứ biết sao!”

Trời sinh ra Eliot Ness có một cá tính hay, là buồn hoặc lo về vấn đề gì, chàng không bao giờ để nó kéo dài. Chỉ trong mười phút, hình ảnh Gary Malone biến mất trong trí chàng. Eliot Ness thọc hai tay vào túi quần, tự nói với lòng mình: “Phải tiến hành kế hoạch như đã dự trù. Dù có Gary Malone hay không”.

Eliot Ness lên xe, phóng về nơi may cắt nổi tiếng nhất của Chicago. Đậu xe xong, chàng tà tà thả bộ trên phố như dân phong lưu chính hiệu. Chọn một tiệm may cắt sang trọng, Eliot Ness bước vào. Chàng bảo thợ cắt cho chàng hai bộ đồ thật chiến, và lựa mua một đôi giày cá sấu giá trên trăm đô.

Người thợ đo quần áo cho Eliot Ness đã nhìn thấy chàng khi chàng vừa mới bước vào. Hắn nhíu mày cố nhớ xem đã gặp chàng ở đâu vì thấy quen quen. Một khách hàng cũ lâu năm chăng? Vô lý. Ăn mặc rẻ tiền kiểu này thì ông khách đâu phải là dân thường trực ở đây? Hay đã gặp chàng ở một dạ hội khiêu vũ nào đó? Có thể lắm nhưng lần cuối cùng hắn đi dạ hội khiêu vũ cách đây gần năm, còn khuôn mặt này dường như mới gặp đâu đây, có thể không tới một tuần. Mà dòm cho kỹ, tướng ông này mặt mày coi rất bảnh, cử chỉ khoan thai hoà nhã đúng điệu con nhà quí phái, chỉ kẹt là bộ quần áo và đôi giày thì …nghèo quá, chắc phải xuất thân là công chức nhà nước. Ăn mặc thế này có thể loè ai chứ sao lừa dân thợ may được?

Hắn suy nghĩ một lúc nhưng không tìm ra câu trả lời, đành lắc đầu, tự an ủi mình rằng chuyện không quan trọng thì không cần phải moi óc, nhớ cho ra.

Những thắc mắc trong đầu gã thợ may làm sao qua khỏi được cắp mắt thiện nghệ của chàng cảnh sát đặc vụ Eliot Ness? Lúc nãy vừa bước vào, chàng đã nhìn thấy tờ Chicago News với tấm hình của mình nằm trên bàn tiếp khách. Lại nằm ngửa tênh hênh ra, mới chết. Bước qua bàn, chàng lẹ tay lật úp tờ báo xuống.

Eliot Ness không sợ mắc cỡ nhưng nhiệm vụ chàng sắp làm rất bí mật, chàng muốn giữ kín hành tung càng nhiều càng tốt.

Eliot Ness nói với gã thợ may:

– Tôi bị bệnh suyễn nặng, bác sĩ bắt phải luôn luôn mang theo một hộp thuốc trong người. Ông bạn làm ơn may thêm cho tôi một cái túi lớn nơi hông trái. Phải lớn một chút và tăng cường thêm vài sợi dây bằng ka ki cho chắc ăn, để lâu ngày khỏi trệ xuống.

Có gì khó đâu, gã thợ may gật đầu sốt sắng. Khách hàng của gã, nhiều đứa găng tơ cũng đòi hỏi những cái túi kỳ cục vậy. Nhưng trường hợp này thì khác. Ra là ông khách này coi khỏe mạnh vậy mà cũng bị bệnh tật à. Gã thợ may ghi lời yêu cầu vào tờ giấy.

Đo cắt đâu đó xong, khi tới quầy tính tiền, gã thợ may gói đôi giày đưa cho Eliot Ness:

– Xin cám ơn ông, xin lỗi ông….

– Gọi tôi là Killal. Đọc là Ki La.

A, tay này chắc phải đến từ miền Trung Đông. Hèn gì. Gã thợ may rút cây viết máy:

– Xin ông Ki La cho biết địa chỉ để chúng tôi cho người mang đồ đến thử…

Eliot Ness xua tay:

– Tôi đang ở khách sạn, lại sắp sửa đổi chỗ nên không có địa chỉ nhất định. Mà khỏi thử mắc công. Tôi tin tài của ông mà. Chừng nào xong tôi đến lấy.Gần hai mươi năm trong nghề, gã thợ may đã gặp nhiều khách hàng kỳ lạ. Đây cũng là một ông khách kỳ lạ nữa. Bỏ ra gần 500 đô la để đóng mấy bộ đồ vét thượng thặng mà không thèm đến thử thì quả là hạng hoặc là gàn hoặc là không biết cách xài tiền. Nhưng chẳng sao. Càng ít công việc thì càng lời nhiều chớ có gì lỗ lã đâu.

Gã đóng nắp cây bút máy:

– Nhưng thưa ông Ki La, bổn tiệm chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm nếu ông không thử quần áo trước…

Eliot Ness nhìn gã thợ may:

– Ông khỏi lo chuyện đó. Chừng nào tôi đến lấy được?

– Khách hàng …đặc biệt như ông, tuần sau đồ sẽ may xong.

Eliot Ness trả tiền, bước ra khỏi tiệm. Gã thợ may nói với theo:

– Chúc ông ngủ ngon tối nay, ông Ki-La.

Eliot Ness tà tà thả bộ dọc theo vỉa hè, chợt thấy buồn cười cho cái tên mình vừa đặt ra. Killal là chữ ráp của “Kill Al”, nghĩa là “Giết Al”, đúng ra phải đọc là “Kiu Eo”, nhưng chàng đã sửa đi cho bớt lộ liễu.

Cái tên thật là ý nghĩa và ngộ nghĩnh. Chàng rảo bước một vài vòng quanh phố rồi lên xe ra về. Ngày hôm qua và hôm nay là hai ngày dài, chàng cảm thấy cần về sớm để nghỉ ngơi. Những ngày tới, chàng biết sẽ dài hơn nhưng chắc chắn sẽ nhiều thú vị vô cùng…

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 17 Apr 2025

Chương 16.

VIỆC TÔI NHỜ HẠ SĨ SAO?

– Việc gì?

Minh nhìn những người bạn ngồi quanh mình, chàng thấy ngường ngượng khi nhắc lại chuyện chàng nhờ vả Bình một câu chuyện mà bạn bè Minh thường mang ra riễu cợt, hạ sĩ Bình bỗng vỗ đùi:

– À à tao hiểu rồi, có phải chuyện mày nhờ tao kiếm giùm con vợ mày không?

Minh ngượng nhưng chàng cũng đành gật đầu.

Hạ sĩ Bình làm mặt buồn buồn:

– Tao thương cho mày.

– Cái gì hạ sĩ?

– Đáng lẽ mày đừng hỏi tao thì phải hơn.

– Có chuyện gì đó hạ sĩ? Hạ sĩ có tìm gặp vợ tôi không?

– Vợ mày đẹp lắm phải không? Minh gật đầu:

– Trông cũng được.

– Tao đã tính giấu mày.

Minh ngó thẳng vào mặt hạ sĩ Bình:

– Hạ sĩ có nói chơi không?

Những người bạn ngồi gần Minh bắt đầu khúc khích cười, hạ sĩ Bình giọng chán nản:

– Thôi mày quên đi là hơn.

– Quên đi, nhưng làm sao vậy chớ, hạ sĩ có tới cửa tiệm vợ tôi làm việc không?

– Thôi mày đừng hỏi tao nữa mày ơi.

– Tôi van hạ sĩ đó, có chuyện gì hạ sĩ nói đi, tôi nghe đây mà, tôi nóng lòng biết tin tức của vợ tôi.

Hạ sĩ Bình hỏi lại:

– Mày xa vợ mày bao lâu rồi?

– Khoảng một năm nay.

– Tao đâu cần đến tiệm vợ mày làm việc, nhưng tao thừa biết vợ mày đã lấy chồng khác rồi, bởi vậy tao không tìm làm chi mất công, thôi tao thành thật khuyên mày nên quên đi là hơn, đừng thèm nhớ tới con đàn bà ấy làm chi.

Minh thở phào, chàng hơi yên trí, anh chàng này không hề tới nơi Ngọc làm việc, anh ta chỉ nói hươu nói vượn, mặc các bạn muốn nói gì thì nói, Minh ngồi im, chàng chỉ nghĩ đến Ngọc thật nhiều, cả năm trời nay lúc nào chàng cũng chỉ nghĩ đến Ngọc, chàng cảm thấy Ngọc cũng luôn nghĩ đến chàng. Minh uể oải đứng dậy, chàng bỏ các bạn ngồi đấu láo, chàng đi quanh sân trại, chàng nghĩ đến lời nói của bạn, Ngọc còn trẻ rất có thể nàng có chồng, chàng đi biệt tăm biệt tích từ ngày ấy, chắc gì Ngọc đã đợi chàng, vả lại Minh không thể trách Ngọc được, nàng có quyền của nàng, tốt hơn hết Minh coi mối tình của nàng và Minh là kỷ niệm đẹp, chàng chẳng nên tìm Ngọc nữa làm gì cho mất công, không quên nàng nhưng không tìm kiếm nàng nữa.

Minh đã viết cho nàng nhiều lá thơ, nếu nàng còn ở chỗ cũ, nàng phải trả lời, hoặc nếu nàng chưa có người yêu khác.

Minh nghĩ đến những cuộc biểu tình nào đó mà hạ sĩ Bình vừa kể lại, tại sao lại có những chuyện kỳ cục vậy nhỉ? Chàng không biết những ông sư kia tranh đấu cái gì, chuyện đó đối với chàng cũng không có gì quan trọng, bây giờ chàng chỉ nghĩ đến mình, chàng mong muốn mình sống yên thân, chàng không quan tâm đến việc gì khác. Minh càng ngày càng trở nên ít nói, chàng cũng chẳng chơi thân với một người bạn nào, chàng cũng hiểu rằng trong một đơn vị chiến đấu, nay sống mai chết, không nên chơi thân với ai hết, chàng chỉ hơi ngậm ngùi khi thấy một người bạn nằm xuống, sau những cuộc hành quân, khi trở về Minh có tiền uống rượu với các bạn cho đỡ sầu, nhưng nhất định chàng không tìm một người bạn thân nào cho mình, chàng thấy không ích lợi gì khi có một người bạn thân. Những người bạn vẫn ngồi quanh hạ sĩ Bình, nghe câu chuyện, chúng cười nói um sùm. Minh quan sát những người bạn đó, ngày hôm nay họ có thề ngồi quanh quẩn đây nói chuyện, nhưng cũng có thể trong lát nữa, tiểu đoàn mở cuộc hành quân sẽ có một vài người nào đó trong bọn sẽ nằm xuống, nằm xuống một cách bình thản cho cuộc chiến tranh này. Bọn lính ồn ào đứng dậy, một thằng kêu Minh:

– Cù lần, mày đi chơi với chúng tao không?

Vì Minh ít nói ít cười nên các bạn Minh gọi chàng là cù lần. Minh chấp nhận cái tên đó không hề phản đối, chàng tới bên cạnh các bạn:

– Chúng mày đi đâu?

– Nhậu không?

– Nhậu thì nhậu.

– Góp tiền với hạ sĩ Bình đi.

– Bao nhiêu?

– Năm choạc.

Minh lấy tiền đưa cho hạ sĩ Bình, hạ sĩ Bình cầm một nắm tiền trong tay, anh ta vui vẻ:

– Mình nhậu soda Vĩnh Sanh Hòa, với lươn um nghen…

– Tùy hạ sĩ.

– Nếu có thể sau đó mỗi thằng mình làm một phi vụ, tao thấy thèm rồi, mẹ, chẳng thà nhịn thèm luôn, tại về phép làm ăn quá, nên bây giờ thằng nhỏ lại đòi hỏi nữa.

– Sau đó là tự lực tự cường, chớ?

– Dĩ nhiên, không lẽ mỗi thằng bây đưa tao năm chục mà còn đòi nữa, tao lãnh đủ sao?

Bọn lính hít hà:

– Dĩ nhiên là khoái rồi nhưng kẹt tiền quá.

Hạ sĩ Bình trả lời thẳng:

– Thằng nào có tiền thì cứ tự động chơi bời, thằng nào không có thì xin lỗi cứ treo chim.

Một thằng lính tán hạ sĩ Bình:

– Hạ sĩ cho tôi vay tiền đi.

– Tao tiền đâu mà cho mày vay? Hạ sĩ Bình hỏi Minh:

– Mày chơi bời không? Minh gật đầu:

– Chơi thì chơi.

– Góp tiền đi, xong xuôi tao cầm mớ tiền đại diện cho tụi bây trả cho.

– Khôn dữ.

– Tao ăn giải gì đâu mà tụi bây nói tao khôn?

– Làm bảnh, ra cái điều ta đây bao bọn lính ghẻ mà nói không khôn?

Hạ sĩ Bình há hốc miệng cười, anh chàng có vẻ tếu không chịu được, hạ sĩ Bình nhìn mấy thằng không có tiền góp, thương hại:

– Tụi bây không có tiền thiệt sao?

– Hết mẹ nó rồi. Hạ sĩ Bình đếm:

– Hai ba thằng chúng mày không có tiền, không lẽ tụi tao chơi bời để chúng mày ngồi ngoài thì thiệt, không còn gì là tình huynh đệ chỉ binh nữa để tao tính cho.

Hạ sĩ Bình hăng hái:

– Thôi đi tụi bay.

Cả bọn ào ào kéo đi, hạ sĩ Bình hướng dẫn anh em ra chợ quận, vào quán, mấy cô chiêu đãi son phấn tà tà đi tới. Hạ sĩ Bình vòng tay ôm lấy một cô, cô ta gỡ tay hạ sĩ Bình ra:

– Thôi chớ, mấy anh nhậu gì nào?

– Khoan nhậu, anh nhớ em quá trời mà.

– Vợ con đùm đề mà bày đặt. Hạ sĩ Bình bốc hốt gỡ gạc:

– Anh đâu có vợ mà có con, em muốn làm hạ sĩ phu nhân không?

Cô chiêu đãi bĩu môi:

– Anh làm như hạ sĩ của anh bảnh lắm ấy.

– Không bảnh hơn ai nhưng khối thằng không bằng anh, mấy thằng ngồi quanh đây đều là thuộc hạ của anh hết trơn.

Bọn lính ồn ào, mỗi thằng túm lấy một cô, chúng như một bọn giặc cướp lâu ngày không thấy đàn bà. Riêng Minh ngồi im lìm, chàng không nói năng gi hết, một cô đến cạnh Minh:

– Sao anh có vẻ buồn vậy anh? Minh ngẩng lên, cô bé mũm mĩm, cô ta giống Ngọc, chàng lại nghĩ đến

Ngọc, chàng vòng tay ôm cô ta:

– Em ngồi xuống đây với anh đi.

Cô chiêu đãi ngoan ngoãn ngồi xuống bên cạnh Minh, nàng mỉm cười với chàng.

– Em lột quít cho anh ăn?

Minh gật đầu.

Nàng vừa lột quít cho Minh, vừa liếc nhìn chàng, nàng đút múi quít vào miệng Minh. Minh giữ tay nàng lại:

– Thôi để anh.

– Em đút cho, mắc cỡ cái gì? Minh vui vẻ với nàng:

– Anh đâu có phải con nít mà em đút cho anh ăn.

– Em biết mà, nhưng em phải chìu anh, vì anh cực khổ nhiều rồi, về đây không lẽ anh không hưởng sung sướng gì sao?

– Anh cực gì đâu?

– Anh đi đánh trận hoài, gối đất nằm sương mà không cực sao?

– Ăn thua gì.

Bọn lính gọi bia rầm rầm, người thiếu nữ đứng dậy:

– Thôi, cho em vô làm đồ nhậu cho các anh tí xíu nhé.

Minh thấy vui:

– Lát nhớ ra với anh nhé?

– Em ra liền mà.

Nàng nháy mắt với Minh, quay vào trong. Bọn lính vẫn đấu láo, hạ sĩ Bình nheo mắt với Minh:

– Mày chịu con nhỏ đó không? Minh chỉ mỉm cười không nói gì, hạ sĩ Bình tiếp:

– Nếu mày chịu con nhỏ đó tao làm mối cho, tao uy tín ở quán này lắm mà.

Bọn lính cười ầm ĩ, hạ sĩ Bình la lên:

– Trong tất cả tụi bây, tao thương thằng Minh nhất, cái thằng gì đâu lúc nào cũng như thằng mất hồn.

– Nó nhớ vợ nó đấy hạ sĩ.

– Sức mấy mà nhớ, nó sắp quên ngay bây giờ.

Những chai bia 33 mang ra sắp đầy bàn, bọn lính uống ồn ào, những cô chiêu đãi viên lại trở ra, cô chiêu đãi viên của Minh bị một thằng ngồi ngoài túm lại, cô ta phản đối:

– Anh kỳ không, chồng người ta ngồi sờ sờ ra đấy mà…

– Em cưới thằng cù lần đó hồi nào?

– Cưới lúc nào anh hỏi làm chi?

Hạ sĩ Bình cười:

– Thôi trả vợ cho thằng cù lần đi mày, nó khóc bây giờ đó.

Thiếu nữ lần này ngồi ngay trong lòng Minh:

– Em hỏi thiệt anh nhé?

– Hỏi gì em?

– Em nghe nói anh chưa có vợ phải không?

– Có vợ nhưng vợ bỏ đi rồi.

– Tội không, người như anh mà bị vợ bỏ…

– Bỏ là bỏ đâu có oan như ai.

– Em mà có chồng như anh em cưng phải biết.

– Chắc không?

– Chắc chớ sao không, anh dễ thương.

– Anh đen đủi xấu xí lại cù lần nữa.

– Dạn dày sương gió thì xấu xí đen đủi chớ sao, nhưng em thương.

Minh cười. Người thiếu nữ cũng cười:

– Em nói thiệt mà. Minh thấy vui vui:

– Được, để khi nào anh xin cưới em.

Hạ sĩ Bình nói chơi:

– Thôi cưới luôn bây giờ cho được việc.

Người thiếu nữ lại cười:

– Anh làm ông mai nhé?

– Sẵn sàng mà, nhưng em tên gì?

– Em tên Lan.

Cả bọn đang ngồi nói chuyện vui vẻ, bỗng thấy một thằng lính chạy vào:

– Hạ sĩ Bình ơi?

Hạ sĩ Bình ngẩng lên:

– Chuyện gì vậy mày?

Thằng lính vừa đứng vừa thở:

– Về gấp, tất cả mọi người về gấp, lệnh của tiểu đoàn trưởng.

– Chuyện gì vậy?

– Hổng biết, chắc lệnh hành quân. Bọn lính đang nhậu nhẹt chửi như:

– Đù mẹ, mới hành quân đây lại hành quân nữa.

– Ai biết, nhưng tất cả có lệnh về, chúng nó về tập họp đầy đủ rồi.

Hạ sĩ Bình ra lệnh cho tên lính:

– Mày ngồi xuống đây làm với tao một chai đã.

– Không được đâu hạ sĩ, tôi còn phải đi tìm những thằng khác.

– Hôm nay mày chê nhậu hả?

– Không phải chê, nhưng tôi phải đi lo vụ này, chúng nó đi chơi khắp nơi, mệt muốn chết.

Hạ sĩ Bình xua tay:

– Ừ! thôi mày về trước đi.

– Hạ sĩ cho anh em về ngay nhé.

– Được rồi, mày cứ đi đi.

Thằng lính lại té ù chạy đi, hạ sĩ Bình chửi thề:

– Đù mẹ, chán thấy mẹ. Hạ sĩ Bình nhìn Lan:

– Thôi, em rán chờ người yêu em đi hành quân về rồi tính nghe?

Lan cười:

– Về phải cưới liền đó.

Hạ sĩ Bình quay sang Minh:

– Mày hứa không mày?

– Hứa chớ.

– Hứa mạnh dạn lên coi nào?

– Binh nhì Minh xin hứa mà Một thằng bạn Minh nói:

– Mày coi chừng, khi mày đi khỏi vợ mày ở nhà lấy dân vệ đấy mày.

Lan lườm gã:

– Thôi đi cha nội.

– Cái gì mà thôi?

– Anh nói bậy hoài.

– Thằng này đâu có nói bậy, chuyện đó xảy ra hoài mà.

Gã chỉ Minh:

– Chính thằng nầy từng bị mà, nó đi lính, vợ nó ở nhà lấy cảnh sát.

Lan hỏi:

– Bộ thật vậy sao anh?

– Thiệt mà.

Lan nựng cằm Minh:

– Còn em không có vậy đâu, em trung thành với anh.

Minh khẽ lắc đầu:

– Khó ai tin em quá.

– Thử tin coi.

Hạ sĩ Bình la lên:

– Thôi tụi bây uống lẹ còn về.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 17 Apr 2025

Chương 15.

CUỐI CÙNG THỦY NÓI:

– Thì cũng phải lo cho ảnh chớ biết sao.

Ngọc vẫn lo lắng:

– Tao không biết có được việc gì hay không, tội nghiệp ảnh là người hiền lành, tạo dám chắc rằng ảnh không làm chuyện gì bậy bạ.

Thủy kẻ bút chì lên mắt:

– Thời buổi này tai bay vạ gió biết sao được.

– Tao hy vọng ảnh được ra.

– Sống bằng hy vọng mà mày, tao cũng có một ông anh trai bỏ nhà ra đi mất tăm biệt tích tao không hiểu ông đi đâu nữa, có người nói ảnh đi theo Việt Cộng.

– Cũng có thể.

– Ba má tao mong lắm, dò tin tức ảnh khắp nơi mà tìm không ra.

Ngọc nằm quay lưng vào tường, nàng muốn nằm yên một mình trên căn gác nầy nàng không muốn nói chuyện với ai hết.

Thủy bỗng hỏi:

– Tối nay mày đi làm không? Ngọc lắc đầu:

– Tao mệt quá, thôi mày đi làm một mình đi.

Thủy ra mặc áo dài:

– Lát đi làm về tao mua gì cho mày không?

Ngọc quay mặt vào tường:

– Tùy, muốn mua gì thì mua, tao cũng không thiết ăn uống gì.

Ngọc nghe tiếng bước chân của người bạn mình bước xuống khỏi cầu thang. Ngọc giơ tay che miệng ngáp, nàng khép mắt lại, Ngọc ngầy ngật trong giấc ngủ chập chờn, đầu Ngọc nóng rần rần, cổ họng nàng khát khô, nàng hắt hơi, người gây gây lạnh.

Ngày hôm sau Ngọc bị sốt li bì, tới chiều Ngọc cố gượng ăn một chén cháo, nàng ngồi dậy hỏi Thủy:

– Mấy giờ rồi?

– Mày đi đâu?

– Tao phải tới chỗ hẹn bác làm đơn thuê.

Thủy sờ trán Ngọc:

– Mày nóng quá làm sao đi được. Ngọc chống tay xuống giường:

– Không, tao phải đi, tao nóng ruột quá, bác ta hẹn tao bữa nay mà.

Thủy đề nghị:

– Thôi để tao đưa mày đi vậy.

– Mày còn bận đi làm mà? Cứ mặc tao, tao cảm sơ sơ..

Ngọc gượng ngồi dậy, mặt nàng rầu rầu, mắt hoa lên nhưng nàng vẫn cố gắng tới chỗ hẹn. Nàng gặp gã làm đơn thuê:

– Công việc tôi bác lo xong chưa?

– Hơi có một chút ánh sáng rồi. Ngọc bực bội:

– Hơi có một chút ánh sáng là thế nào?

– Tôi có gởi đơn cho cô rồi.

– Sao bác nói biết kết quả ngay mà?

– Đúng, hôm qua tôi có nói vậy!

Nhưng hôm nay hết trăm bạc bao chúng nó uống cà phê, họ hẹn một vài ngày nữa mới lục hồ sơ được.

Ngọc càng bực bội:

– Vậy là thế nào?

Gã làm đơn thuê tỉnh khô:

– Hôm nay tôi cũng tính gặp cô, tôi cần phải nói với cô, việc nầy khó quá, nhưng bắt buộc tôi phải nói, nếu cô chịu tốn thêm ít tiền nữa.

– Tốn thêm ít tiền nữa chi vậy?

– Tốn cho ông xếp trong đó, tôi phải mời chính ông đi cà phê cà pháo.

Ngọc chóng mặt, nàng cáu kỉnh:

– Anh lắm lời quá.

– Ơ hay, tại sao cô lại biểu tôi lắm lời, tôi muốn được việc cho cô…

– Hôm qua anh nói làm sao?

– Nếu hôm qua tôi biết công việc khó khăn như vậy tôi đâu có nhận, ai dè…

Ngọc gay gắt:

– Vậy việc hôm qua coi như hỏng rồi phải không?

– Hỏng thì không hỏng, nếu cô ráng chờ ít hôm nữa, cô cần biết gấp cô phải tốn thêm tiền nữa đó là lẽ đương nhiên.

Ngọc nhìn thẳng vào mặt gã:

– Anh chỉ là một thằng làm tiền. Gã trợn mắt nhìn Ngọc:

– Cô nói sao?

– Anh chỉ là một thằng làm tiền bỉ ổi.

– Tôi cấm cô không được ăn nói bậy bạ.

– Tôi không nói bậy bạ, tôi nói thẳng vào mặt anh đó.

– Này, tôi nói cho cô biết cô ăn nói phải giữ lời.

– Tôi không cần giữ gìn gì hết với cái thứ lưu manh như anh…

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 15 Apr 2025

Chương 12.

Từ quán cà phê, Eliot Ness trở lại ty Cảnh sát vào lúc hơn mười giờ. Chàng lầm lũi đi thẳng vào văn phòng, cố tình phe lờ những cặp mắt tò mò đang “xoáy” vào mình. Có những cặp mắt tỏa ra vẻ thương hại, cũng có những cặp mắt đầy vẻ thỏa mãn. Không sao hết, cứ việc cười vui đi, vài tuần nữa là sẽ biết tay thằng Eliot Ness này.

Ngang văn phòng của lão mập Mike Casey, Eliot Ness ngạc nhiên vì hắn ta hôm nay đến sở hơi sớm hơn thường lệ. Mới chín giờ sáng mà đã có mặt là sớm rồi, mọi khi phải quá mười giờ lão mới lù đù tới.

Lão ngồi trong văn phòng nhìn ra, mặt đầy vẻ lo lắng. Eliot Ness cứ tà tà mở cửa văn phòng, thủng thẳng bước vào, điệu bộ nhàn nhã như tối hôm qua chẳng có gì xảy ra cả.

Vở kịch chàng đang đóng đâu có khó khăn gì? Làm một anh cớm chì mới là khó còn làm thằng cảnh sát gà mờ và cù lần thì ai làm chẳng được? Biết cái tính nóng như lửa của mình, chàng hiểu chuyện quan trọng nhất là phải rán giữ cho bình tĩnh.

Chỉ cần một chút nóng giận, một hành động thừa thãi là bọn cớm này sẽ nghi ngờ ngay.

Vừa kéo ghế ngồi, đã nghe tiếng gõ cửa. Lão mập Mike Casey chứ ai? Ra là lão qua đây để dò thử phản ứng của chàng đây mà. Eliot Ness đứng dậy, mặt mày hớn hở:

– Mike, ông bạn vào chơi!

Lão cảnh sát mập chưng hửng vì thái độ thân thiện của chàng. Mới tối hôm qua còn thấy thầy đội liên bang mắt ngầu đỏ, mặt lầm lì chừng như có thể giết người bất cứ lúc nào, tưởng hắn thế nào cũng nổi sùng vào đây kiếm chuyện lung tung nhưng khi nhìn thấy khuôn mặt Ness vui vẻ thì lão Mike Casey chới với liền. Thế này là thế nào?

Từ khi Eliot Ness về đây, lão ngửi thấy trong người chàng có một chất …ghét kỳ lạ tiết ra từ ánh mắt của chàng đối với lão. Cố gắng mấy lần, lão vẫn không thể tự nhiên được trước mặt ông cảnh sát liên bang, làm y như giữa hai người có một cái gì xa cách lắm. Mike Casey cười, cái mồm như toét ra chạy tới hai lỗ tai:

– Xin thành thật chia buồn với ông.

Tiên sư thằng đểu. Chia buồn mà tại sao lại toét miệng ra cười như thế kia? Eliot Ness thấy tim mình như quặn lại, hình ảnh thằng Stash Moses chết không toàn thây trên vũng máu lại ùa vào trí chàng. Chàng rán hết sức đóng trọn vở kịch, nụ cười trên môi nở ra như một cái máy:

– Có sao đâu. Tối hôm qua, đối với tôi như vậy là thành công lắm rồi. Tuy không lấy được gì nhưng cũng hù cho tụi nó được một mẻ.

Mike Casey càng ngạc nhiên hơn. Lão qua đây chuẩn bị để nghe những lời trách móc chửi rủa kìa, đâu phải những lời tự mãn vớ vẩn như vậy. Ra là anh cớm này cũng tầm thường đến như vậy sao? Mà sao tối qua hắn hứng tình gì lại chửi bới om sòm quá cỡ? Hay chắc là quê quá nên chửi bới cho nó bớt quê?Eliot Ness tiếp luôn:

– Ít nhất, tối qua tôi đã chửi cho thằng khốn Al Capone được một trận.

Mike Casey đẩy thêm câu phụ họa:

– Tôi đồng ý. Cái thứ ăn cướp như thằng Al Capone thì phải chửi cho nó …chết mẹ.

Kinh nghiệm của ngành điều tra gần mười năm qua dạy cho chàng một nguyên tắc căn bản: Giữa nghi vấn và sự thật là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Người thanh tra cảnh sát giỏi là người đem những nghi vấn, những dữ kiện mình nhận xét được để sắp xếp lại và tìm ra sự thật. Nhưng ngoài những nguyên tắc căn bản này, trực giác của con người cũng giữ một vai trò quan trọng không kém. Chả vì thế mà có những người thanh tra, vừa mới nghe báo cáo trong điện thoại xong là có thể đoán biết được vụ đang xảy ra là gì, trong khi kẻ khác thì tới nơi phạm trường, điều tra chụp hình lấy dấu tay loạn xị xà ngầu lên mà vẫn không biết gì là gì cả.

Eliot Ness là loại người vừa có tài điều tra, và vừa có một trực giác bén nhậy kỳ lạ. Những gì chàng đã nghi là y chang thế nào nó cũng xảy ra. Nhìn thằng cảnh sát mập đứng trước mặt, Eliot Ness dám cá trăm ăn một rằng đích thị thằng này là thủ phạm vụ xì hơi tối qua. Nhưng chuyện đâu còn đó, hãy coi như đây chỉ là một giả thuyết. Muốn biết giả thuyết của mình đúng hay trật không có gì khó, chỉ cần thử vài cú là trắng đen rõ ràng liền.

Eliot Ness chỉ chiếc ghế, thân mật:

– Mời ông ngồi.

Chàng rút dưới học tủ ra tấm bản đồ, trải dài trên bàn, làm bộ mặt nghiêm trọng:

– Tôi xin thành thật cám ơn về sự giúp đỡ của ông tối hôm qua. Trong tương lai, tôi sẽ còn mở nhiều cuộc hành quân như vậy nữa. Và dĩ nhiên, tôi sẽ cần đến sự giúp đỡ của ông. Ông có thấy gì phiền hà không?

– Chỗ đồng nghiệp với nhau, ông bạn đừng khách sáo, phiền hà con khỉ gì?

Mike Casey và Eliot Ness trao đổi vài câu chuyện bâng quơ. Lão mập thì một mực thủ thế, cố ý giấu nhẹm cái đuôi càng khéo càng tốt, trong khi Eliot Ness thì làm bộ ngây thơ, ăn nói ra cái điều ta đây chỉ là một anh cớm gà mờ.

Thật ra, kể từ lúc sáng, chàng đã có một quyết định quan trọng. Một quyết định mà nghĩ lại, chàng còn thấy lạnh mình: kể từ nay, nếu không kiếm được người do chính tay mình chọn lựa, chàng sẽ phải làm một mình. Đồng thời, phải làm sao cho chúng nó tin rằng chàng không phải là một đối thủ lợi hại. Được vậy, khi tấn công, chỉ cần ra quân là ăn chắc. Muốn biết những cái lò nấu rượu của chúng nó ư, có gì khó khăn đâu, chỉ cần cải trang thành một anh đi tìm hoa, chịu khó để ý thì sao lại không phăng ra được chỗ nấu rượu của chúng nó kìa?

Chàng đã có sẵn một kế hoạch để đưa nguyên cả đám cảnh sát Chicago vào xiếc. Để coi xem, giữa Eliot Ness và cái đám cảnh sát tham nhũng Chicago, ai khôn hơn ai, ai lợi hại hơn ai?

Đạt được mục đích chính của cuộc thăm viếng là dò xét sự nghi ngờ của ông cớm liên bang, Mike Casey thấy thỏa mãn. Quả là dân có tiếng mà không có miếng, mình cho nó vào xiếc mà nào nó có hay biết gì đâu? Thật tình, sáng nay lão có hơi lo lắng vô cùng khi nhớ đến chuyện Eliot Ness đòi còng tay người cảnh sát trực vào chân bàn giấy tối hôm nọ vì một chuyện cỏn con không đâu vào đâu. Theo sự suy luận của lão, ông cớm này không phải là thứ hiền. Mike Casey đã chuẩn bị sẵn hàng tá câu trả lời nếu bị hạch hỏi. Nhưng khi thấy Eliot Ness không có một chút phản ứng nào hết thì lão đã hơi yên dạ. Chừng nói chuyện với ông cớm này xong thì Mike Casey hả hê ra mặt. Tốt, vậy là không có gì đáng lo hết. Lão nói vài câu bâng quơ rồi kiếu từ.

Trong hành lang, Mike Casey bước những bước chân nhẹ nhàng, lòng như mở hội. Tin tức của một cuộc tấn công như vậy, Frank Nitti đã hứa với lão 500 đô la. Mike Casey nhìn thấy cái biệt thự ở ngoại ô Chicago mà lão muốn xây bấy lâu nay có cơ hội để thành tựu được.

Đã mấy năm nay lão có dành dụm chút ít nhưng cả hai số lương của Al Capone và lương nhà nước cộng lại cũng không dư bao nhiêu vì cái bệnh nghiền rượu của lão đã lên đến thời kỳ trầm trọng. Số lượng rượu tiêu thụ càng ngày càng nhiều mà thời buổi cấm rượu này biết kiếm đâu ra để uống. Cho nên cứ phải tới quày rượu của đám tụi Capone mà nốc. Một ly rượu 5 đô la chứ ít gì? Đi làm về ngày nào lão không ghé vô một quán để làm dăm ba ly. Phải nói năm ly là tối thiểu mới đúng. Vào những chiều thứ sáu, có khi hứng tình lão còn làm luôn nguyên chai rồi mới chịu đi về kia mà. Bởi vậy, tiền kiếm ra nhiều nhưng toàn là thứ “của thiên trả địa”, đâu có dành dụm bao nhiêu.

Sự xuất hiện của Eliot Ness đã làm cho số lợi tức của lão tăng lên bất ngờ. Lão tính, tràn đầy sức sống và …ngố như ông Ness này thì cứ trung bình mỗi tháng phải có hai vụ đột kích. Vậy là có ngàn bạc bỏ túi ngon lành. Lão chỉ cần nửa năm như vậy là có thể yên ổn về hưu với cái biệt thự mới toanh ở ngoại ô Chicago để sống cuộc đời nhàn nhã còn lại. Số lương hưu trí cộng với số tiền nhà cho mướn của lão đang ở đủ sức trang trải cho những chi tiêu của lão. Mà lão có chi tiêu và ăn uống phí phạm gì đâu? Hai ngày một chai Whisky là lão cảm thấy đầy đủ.

Bất giác, Mike Casey cảm thấy chịu ông cớm Eliot Ness này quá cỡ. Đúng là người từ trời rớt xuống để giúp lão. Cứ việc tấn công cho mạnh vào đi ông cớm, lão sẽ giúp ông tối đa.Lúc lão Mike Casey bước ra đóng cửa văn phòng, cặp mắt của Eliot Ness vẫn dán vào tấm bản đồ nhưng chàng để ý lão không thiếu một chi tiết. Ngay cả cái bản mặt vênh váo sung sướng kia tuy đã cố che đậy nhưng làm sao thoát khỏi cặp mắt của ông đệ nhất cớm? Chàng còn bắt được những nét hả hê bắn ra từ đôi mắt của lão phệ kia mà. Hãy để lão sung sướng với những suy tưởng của lão. Chàng nhớ đến một câu đã đọc trong sách: “Tuổi già là một con tàu đắm.”

Thật là một câu nói chí lý cho lúc này.

Đã đến giờ đi kiếm Gary Malone, Eliot Ness khoá cửa văn phòng đi xuống. Lại những cặp mắt nửa thương hại nửa hả hê của đám cảnh sát làm việc xoáy vào người chàng. Eliot Ness tỉnh queo bước thẳng. Ra tới cửa, chàng còn nói một câu pha trò với cô nữ cảnh sát đang ngồi đánh móng tay nơi bàn giấy.

Ra là anh cớm liên bang này cà chớn thật, mọi người nhìn theo, suy nghĩ.Eliot Ness phóng xe ra tới khúc đường hôm qua nơi Gary Malone đã biểu diễn quyền lực trước mắt chàng, kiếm một chỗ đậu hợp pháp rồi tà tà thả bộ dọc theo con đường. Chẳng cần phải tìm kiếm lâu, chàng nhìn thấy ông cớm hung hăng nhất của Chicago đang ngồi nhâm nhi ly cà phê trong một quán nước. Thế này là tuyệt, chàng bước vào quán.

Coi, hắn ngồi uống cà phê mà điệu bộ y như một pho tượng đá của chiến sĩ Hy lạp thời xưa. Cây dùi cui bóng loáng để trên mặt bàn, vừa tầm tay. Cái lưng hắn to lớn và thẳng băng như một cái tủ. Tay chân cũng có góc độ, phối hợp với cái tướng ngồi coi thấy nhàn nhã nhưng như lúc nào cũng sẵn sàng. Có lẽ đã nhìn thấy Eliot Ness từ đàng xa, nên khi chàng bước vào, hắn ngoắc tay ra dấu mời ngồi.

Tốt, té ra hắn cũng có chút cảm tình với mình. Eliot Ness sà tới, kéo ghế.

Gary Malone vẫn không nhìn chàng, mắt hướng ra đường, lạnh lùng ngó xa xa. Eliot Ness gợi chuyện:

– Khỏe không ông bạn Gary?

– Thường.

– Trời hôm nay đẹp đấy chứ hả?

Không có tiếng trả lời. Ông cớm này khó chịu thật. Eliot Ness quay gọi một ly cà phê, cố tìm một câu để đánh tan không khí lạnh lẽo này nhưng kiếm chưa ra.

Đột nhiên, Gary Malone hỏi chàng:

– Ông có còn giữ ý định mướn tôi về làm việc với ông không?

Eliot Ness không tin được lỗ tai mình. Chàng không ngờ mình thành công quá mau. Hắn đã chịu về đầu quân với mình rồi sao? Có lẽ cú đột kích hụt tối hôm qua làm hắn đổi ý. Thật là tuyệt vời. Tối nay sẽ bắt đầu soạn thảo kế hoạch mới với hắn.

Eliot Ness mừng quá, phải mất một vài giây đồng hồ sau mới hí hửng buông được câu hỏi:

– Gary, tôi luôn luôn muốn bạn về làm việc với tôi. Bạn biết là tôi…

Không để Eliot Ness nói hết câu, Gary Malone thò tay lấy tờ báo dưới ghế thảy lên bàn trước mặt Eliot Ness. Cái hình chụp của thằng Stash Mose chết thê thảm trên vũng máu làm chàng cứng họng, tim thắt lại. Đó là ấn bản buổi chiều của tờ Chicago Daily News.

Một sự im lặng kỳ lạ bao trùm hai người. Eliot Ness chụp tờ báo. Trên cái hình máu me bê bết đó là hàng tít: “Một cái chết bí mật có dính líu đến vụ đột kích của thanh tra Eliot Ness.”

Hình ảnh đau buồn lúc sáng một lần nữa lại hiện ra trong đầu chàng. Té ra nảy giờ hắn chỉ muốn mỉa mai về sự vụng về của mình. Eliot Ness cảm thấy như hắn vừa dội vào mặt chàng một thau nước.

Gary Malone vẫn bình thản nhìn ra đường, không nói không rằng. Một lúc sau, Eliot Ness lên tiếng nói bằng một giọng trầm trầm, rất từ từ:

– Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn về cái chết này. Lỗi của tôi!

Gary Malone cũng không thèm trả lời. Hắn mồi một điếu thuốc rồi tiếp tục ngồi nhìn ra đường tỉnh queo làm như không biết ông bạn Ness đang rối bời ruột gan ngồi trước mặt. Sự im lặng khó chịu lại bao quanh hai người. Hút gần nửa điếu thuốc, Gary Malone mới lên tiếng:

– Tôi biết ông đã cố gắng rất nhiều trong khả năng của ông. Cũng như tôi nói ông ngày hôm qua, tôi chưa thấy một ai đơn thương độc mã xuống đây mà diệt nổi thằng Capone. Thường thường thì là kết quả ngược, người đi diệt lại bị diệt. Cả ty Cảnh sát với gần 5000 nhân viên, cộng thêm gần 500 nhân viên cảnh sát đủ loại khác của chính phủ liên bang trong suốt mấy năm qua đã tìm mọi cách để dứt nó. Chưa ai làm được, hoặc là bị nó mua, hoặc là bị nó cho đi mò tôm. Ông phải biết, Al Capone không phải là một thứ anh chị tầm thường. Nó là một thiên tài, một nhà quân sự lỗi lạc, một kế hoạch gia nhiều mưu mô, một thứ Cesar của thế giới tội ác. Ngay cả tôi bây giờ…

Eliot Ness cắt ngang:

– Ngay cả ông bây giờ làm sao?

Gary Malone thở dài, dụi điếu thuốc:

– Ngày xưa, xưa lắm rồi, có một thời gian, nếu tôi muốn diệt nó thì cũng chẳng khó khăn gì. Bây giờ nó mạnh quá, như con đại bàng đã lớn, đã bay quá cao, không có thứ cung tên nào bắn tới hết.

Thực sự, những gì Gary Malone nói Eliot Ness đã nghĩ tới. Chẳng phải xuống Chicago mới nghĩ đến mà ngay từ lúc chàng nhận lãnh công tác chàng đã hiểu những khó khăn mình sẽ gặp phải. Hơn ai hết, chàng biết rõ giữa lý thuyết và thực hành là hai chuyện khác nhau xa. Nhưng trời thường sinh mỗi con người với một đức tính kỳ lạ, không ai giống ai. Đối với Eliot Ness, chàng thích sự mạo hiểm, thích khó khăn, thích sự thử thách.

Thì món tiêu khiển duy nhất của Eliot Ness chẳng phải trò leo núi là gì? Chưa có đỉnh một ngọn núi nào dù cao đến đâu mà chàng không thể leo được? Có nhiều khi mất cả tháng trời. Có nhiều ngọn mất cả mấy năm để chuẩn bị. Catherine rất buồn vì công chức nhà nước bận rộn suốt năm như chàng, chỉ có một tháng nghĩ hè mà không khi nào vợ và con gái được gần chồng. Mỗi lần leo lên đỉnh một ngọn núi, xài phí hết cả tháng nghỉ hè trở về, Eliot Ness đều hứa: “Năm sau anh sẽ đi tắm biển với mình và với con” nhưng chẳng có năm nào chàng giữ được lời hứa cả.

Ở những lần công tác trước, chàng đã làm được những chuyện mà nhiều người gọi là “impossible”. Mới đầu, vì thiếu kinh nghiệm, Eliot Ness thường hay bị thất bại nhưng chàng luôn luôn thành công ở giây phút cuối. Chàng tin chắc lần này kết quả cũng sẽ đến như vậy. Nhưng, vấn đề then chốt lúc này, ngọn núi nhỏ trước mặt cần phải vượt qua là Gary Malone.

Eliot Ness hỏi:

– Ông có ý kiến gì không?

– Tôi có nhiều ý kiến hay lắm, chỉ sợ ông buồn!

– Ông bạn cứ nói, tôi hứa sẽ không …buồn.

Gary nhìn thẳng vào mắt chàng:

– Ông nên lo giữ cái mạng của ông. Bây giờ ông chưa làm nó thiệt hại gì, nó còn để ông yên. Mai mốt, ông trở thành nguy hiểm, có thể gây thiệt hại cho nó được thì nó hoặc sẽ mua ông, hai là sẽ cho ông đi mò tôm. Đừng có tưởng cái mác “liên bang” là có giá ở đây!

Eliot Ness gật gù, mồi một điếu thuốc:

– Cám ơn sự chỉ dẫn của ông. Còn ý kiến thứ hai là gì?

– Ông nhất định không đi?

– Không, tôi sẽ ở lại nên muốn nghe lời khuyên thứ hai của ông?

Gary Malone làm một ngụm cà phê, thong thả:

– Ông nên dọt về Hoa Thịnh Đốn, xin tăng cường khoảng 1000 nhân viên. Nếu có dưới 500 thì đừng nói chuyện trở về đây dẹp tụi nó.

Eliot Ness lắc đầu, giọng bình thản nhưng quyết liệt:

-Tôi không chắc xin thêm được 2 người, nói gì chuyện 500 hay 1000. Ông có ý kiến thứ ba không?

Gary Malone cười:

– Ra ông cớm này cũng lì dữ. Ý kiến thứ ba là đi năn nỉ mượn đỡ 2 chiến đoàn TQLC và chừng chục chiếc xe tăng, tụi này có thể diệt được Capone.

Gary Malone chờ đợi một tiếng cười phụ họa, nhưng Eliot Ness đáp tỉnh queo:

– Không thể sử dụng TQLC được. Chuyện đó chỉ tổng thống mới có thẩm quyền. Còn ý kiến thứ tư?

Gary Malone nhún vai lắc đầu:

– Không có ý kiến thứ tư.

– Tôi có.

– Là gì, nói nghe thử?

Eliot Ness kề gần sát mặt Gary Malone, vừa nắm tay đập lên bàn, vừa gằn mạnh từng tiếng:

– Là ông về làm việc với tôi. Tôi và ông sẽ diệt được Capone. Tôi biết chắc như vậy!

Gary Malone bật cười lớn:

– Ông bạn cho tôi can. Hồi tối này ông bạn nổi sùng vì bị bọn nó lừa, ông bạn tuyên bố nghe ghê quá: “Tôi xuống đây là để diệt thằng Al Capone, để đưa nó vào nơi mà đáng lẽ nó phải ở: nhà tù”. Ông đã hứa diệt nó thì xin cứ tự nhiên, tại sao lại kéo tôi vào làm gì? Tôi có dính dáng gì tới việc của ông đâu? Còn nếu ông cảm thấy mình dại dột ăn nói lỡ lời thì đã sao? Ông chỉ cần gọi báo chí lại lần nữa để tuyên bố sửa sai là huề cả làng chớ gì. Xưa nay các chánh khách tuyên bố trật bậy bạ là chuyện thường mà…

Eliot Ness lại có cảm giác như ai vừa tạt thêm vào mặt mình một thùng nước nữa. Lần này không phải nước lạnh mà nước sôi. Trời hỡi, ai có ngờ thằng cớm này lại láo đến như vậy? Ra là hắn đánh giá mình thấp quá. Nếu không phải là chỗ đông người thì có lẽ chàng đã xông tới tặng cho hắn một cái tát vào mặt rồi muốn ra sao thì ra, nếu cần phải đánh lộn tay đôi cũng được.

Phải dùng hết nghị lực trong người, Eliot Ness mới giữ cho mình khỏi phải đập phá một cái gì.

Chàng thò tay móc gói thuốc lá. Cặp mắt sắc như dao của Gary Malone không bỏ lỡ một cữ chỉ nào của ông cớm liên bang.

Ở trường cảnh sát, người ta dạy chàng một điều là trong những cuộc thương lượng hay nói chuyện, nếu cơn giận bốc lên tới đỉnh đầu thì không nên nói gì cả. “Không bao giờ căng buồm khi trời đang bão”.

Phải chờ từ mười đến hai mươi giây đồng hồ trước khi mở miệng …đấu tiếp. Trong trường hợp như vậy, cách hay nhất là móc ra một điếu thuốc, vừa suy nghĩ lại những gì mình tính nói và vừa vừa chậm rãi mồi lửa. Nhiều khi, chỉ cần một hoặc hai hơi thuốc lá là thế sự có thể thay đổi. Cuộc thương thuyết đang đi từ chỗ tan vỡ đến chỗ thành công cũng chỉ trong hai chục giây đồng hồ ngắn ngủi này.

Quả thật, rít xong hai hơi thuốc lá, Eliot Ness thấy thần kinh mình dễ chịu trở lại. Chàng nhả khói ra một cách thoải mái:

– Tôi rất tiếc ông bạn đã hiểu lầm tôi. Tôi không phải là cái hạng nóng quá rồi nói bậy. Những gì tôi nói, tôi sẽ giữ lời. Tôi lập lại với ông: “Tôi xuống đây để diệt Capone.” Có 1000 nhân viên thì tốt, có TQLC thì tốt, nhưng nếu không có những thứ trên, tôi cũng sẽ diệt được nó như thường. Một là nó sẽ bị diệt, hai là tôi sẽ chết. Với nhiệm vụ được giao phó, tôi không còn chọn lựa nào khác hơn.

Chàng móc túi thảy 25 xu lên mặt bàn, nhã nhặn từ biệt:

– Phần ông, ông Gary Malone. Phải thú thật là ngay từ buổi đầu gặp gỡ, tôi rất quý ông vì thấy ông là con người thẳng thắng cương cường, lại có tài. Từ chỗ quý đó, tôi mới có ý định mời ông về làm việc với tôi. Nhưng kể từ sau ngày hôm nay, tôi sẽ không còn có ý định đó nữa. Bây giờ nếu ông đến xin làm việc chung với tôi, tôi cũng không nhận. Rất tiếc, ông Gary Malone.

Chàng xô ghế đứng dậy, nói lời cuối:

– Có ông hay không, tôi vẫn diệt được thằng chó đẻ Capone như thường. Chào ông!

Kể từ lúc nói xong đâm họng hồi nãy, Gary Malone đã biết là mình vừa thảy cha nội cảnh sát liên bang này vào thùng nước sôi. Hắn không ngờ cái ý tưởng trong đầu thì không có gì mà lời nói ra lại nặng như vậy.

Khi thấy cặp mắt Eliot Ness bốc lửa, Gary Malone cũng có cảm tưởng là Eliot Ness không chừng dám xông tới ăn thua đủ với mình một trận lắm. Mà phải công nhận hắn nhịn cũng hay. Cứ nhìn cái bàn tay của hắn móc điếu thuốc lá mà run bắn lên thế kia thì cơn giận phải ghê gớm lắm.

Gary Malone lại càng ngạc nhiên hơn về ý chí cương quyết của ông nội này. Khi hắn đã quyết định làm chuyện gì rồi thì dù có chết cũng không bỏ. Cớm liên bang quả có khác. Đến khi nghe Eliot Ness nói hắn quý mình thì Gary Malone cảm thấy hơi hối hận. Dù quen hay lạ, không nên đối xử với một người có cảm tình với mình như thế. Có lẽ, trong cuộc đời của Gary Malone, vì lăn lộn quá nhiều, chiến đấu quá nhiều nên cái lịch sự tối thiểu trong con người hắn mất đi chăng?

Khi Eliot Ness đứng dậy, Gary Malone tính nói một câu gì vuốt giận nhưng nghĩ không ra, đành ngồi im. Hắn cũng khỏi thèm biểu diễn cái màn bắt tay bắt chân làm gì.

Eliot Ness xoay người bước lui. Gary Malone nhìn theo cho đến khi Eliot Ness mất hút trong đám khách bộ hành ngược xuôi. Hắn cầm cây ma trắc vỗ vỗ nhịp nhàng vào tay mình, huýt gió một điệu nhạc và vươn người đứng lên.

Gary Malone cũng thảy 25 xu lên bàn rồi đội mũ kết bước ra. Tự nhiên, hắn lẩm bẩm: “Biết đâu chừng, thằng cớm ngông nghênh này sẽ dẹp được Al Capone?”

Vừa ra khỏi quán cà phê, như thường lệ, Gary Malone đảo mắt một vòng rồi tính cúi đầu đếm bước, nhưng có tiếng nói gọi giật hắn lại:

– Gary, trưởng phòng Mike Casey kêu ông về trình diện gấp…

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 15 Apr 2025

Chương 11.

Al Capone ít khi nào bước ra khỏi giường trước 12 giờ trưa. Đúng ra, xếp thức giấc sớm hơn một chút, vào khoảng 11 giờ sáng, nhưng tiêu tiểu xong là xếp lại phóng tót lên giường để đọc báo và ăn sáng.

Lúc này, ngày nào cũng như ngày nấy, trên cái mâm bằng bạc sáng loáng nhập cảng từ Pháp do gã cận vệ ruột lễ mễ dâng lên, là một chồng nhật báo của Chicago.

Nhật trình là món mà xếp ghiền nhất mỗi buổi sáng. Lãnh tụ gộc như xếp, không đọc báo không được. Xếp cần biết rõ tình hình của thế giới và tình hình của Chicago để tính toán kế hoạch làm ăn. Vừa phì phà điếu xì gà, xếp Al Capone vừa đọc lướt qua những tin quan trọng trong ngày.

Sáng hôm nay, vừa lướt một vòng nhìn qua mấy tờ nhật báo là xếp tự nhiên cau mày lại như hút phải một hơi xì gà rẻ tiền. Quái lạ, xưa nay làm sao có chuyện kỳ cục như thế này? Trên trang nhất mỗi tờ nhật trình là hình chụp một thằng cớm lạ hoắc, mặt mày coi cô hồn dữ tợn đang nghiến răng chửi rủa xếp. Nó còn dám hăm đưa mình vào tù nữa chớ.Xếp lẹ tay lật thêm vài tờ khác. Mỗi nhà báo đầu có một lối viết và diễn tả khác nhau nhưng tựu trung thì dòm đi đâu cũng thấy hình của thằng cớm cô hồn đang nghiến răng chửi rủa xếp đủ điều. Chừng như nhiêu đó chưa đủ làm cho xếp tá hỏa mặt mày, những lời chửi rủa rất thô lỗ kia còn được chúng nó in ra bằng những hàng chữ thật lớn, thật đậm nét. Nào là “Eliot Ness tuyên bố: Thằng khốn nạn đó sẽ vào tù, đó là nơi mà nó đáng lẽ phải ở cách đây hơn chục năm rồi, thay vì còn ngồi ăn hút ở đại khách sạn Lexington.”

Một câu chửi khác độc hơn, không biết của tên cớm chó má này hay mấy thằng nhà báo lại bịa chuyện: “Tôi muốn quý vị ghi rõ điều này: Tôi xuống đây để tiêu diệt Al Capone. I come here to get Capone. Nó sẽ bị tiêu diệt.”

Xếp lắc đầu hai ba cái một lúc. Điếu xì gà trên tay sao hôm nay thấy đắng quá chừng. Xếp quăng cái vèo vào tường, miệng xổ luôn một tràng dài toàn những tiếng chửi thề. ĐM mới sáng sớm đã có chuyện! Xếp không nhớ rõ lần cuối cùng mình bị người ta chửi nặng như vậy là lần nào? Có lẽ đã xưa, xưa lắm, cái thời mà xếp còn là một thằng ma cô chuyên đứng kiếm khách ở West Taylor Street cho “vua nhà thổ” Weiss…

Hình ảnh ghê rợn của cái thuở nghèo túng năm nào trở về trong đầu óc xếp. Khổ thật, vào sinh ra tử suốt ngày mà vẫn không đủ ăn. Nhiều khi, hớ hênh để một thằng khách làng chơi ăn quịt là khốn nạn với chủ. Ngày nọ, tranh chấp với một em giang hồ về mấy đồng tiền lẻ, ngứa tay xếp bợp cho em một cái ra gì. Cái bợp tai của dân anh chị tưởng nhẹ ai ngờ hóa ra mạnh quá, làm mặt mày con nhỏ xưng vếu lên, môi dập lại làm mấy nhúm. Nghề buôn son bán phấn mà mặt mũi như vậy thì chỉ còn nước nằm nhà mà khóc. Ma cô dợt điếm là chuyện thường, nhưng dợt mà có thương tích thì bị cấm tuyệt vì nó đụng tới nồi cơm của tất cả. Kẹt hơn nữa em bé bị đòn lại là bồ lẻ của ông chủ.

Weiss nghe tin, nổi trận lôi đình cho hai đàn em đi “dắt thằng mặt thẹo Al Capone lên đây!”

Lúc hai đứa cận vệ dẫn xếp về thì ông chủ Weiss đang ngồi ăn mì ống, uống la de. Xếp bị đẩy tới trước bàn. Thằng Weiss nhìn xếp như ông vua nhìn một thằng nô lệ hạng bét phạm tội nặng. Hắn chỉ mặt xếp tuôn ra một tràng:

– Al Capone, mày là một thằng mất dạy, khốn nạn. Tệ hơn nữa, mày là một đứa ăn hại. Tao đã ra công bao bọc, nuôi nấng mày, nhét thực phẩm vào miệng mày, may mặc cho mày. Tưởng rằng mày sẽ nhớ ơn, ai ngờ mày lại là một thứ vô tình, một thứ ngu dốt, một thứ vô lương tâm, một thứ hèn hạ để đến nỗi đi tranh giành mấy đồng bạc lẻ với mấy con điếm….Nếu xếp cứ đứng yên mà nghe như vậy thì nói chán, ông chủ Weiss thế nào cũng ngưng. Lâu lâu biễu diễn uy quyền của ông chủ nhà thổ một chút cho nó vui vậy thôi mà. Weiss biết Al Capone là một tay đánh đấm có hạng, nên cũng quý lắm.

Chẳng ngờ con người của Al Capone, từ lúc có trí khôn đến nay, đâu để cho ai chửi mình, dù người đó là …thượng đế. Bị nghe chửi đã kẹt, còn bị sỉ vả là thằng hèn, đi tranh giành mấy đồng bạc với mấy em điếm thì xếp tự nhiên thấy trong người nóng rang lên, hai lỗ tai lùng bùng. Những gì xảy ra sau đó hình như không phải đến từ trí óc của xếp nữa, mà bằng một phản ứng không biết đến từ đâu.

Thế là xếp xông tới, chụp cái dĩa mì ống đỏ lòm ụp lên đầu ông chủ. Xếp phản ứng lẹ quá, ngay cả hai thằng cận vệ của Weiss cũng không cản nổi. Đâu có ai ngờ một thằng ma cô hạng bét lại dám hành động điên khùng như vậy với ông chủ Weiss, ông vua nhà thổ đường Taylor.Weiss cũng ngạc nhiên vô cùng, cái miệng đang chửi bới liền ngưng lại rồi há hốc ra, cặp mắt tròn xoe như muốn lòi tròng, làm như không thể tin được những gì đang xảy ra.

Hai thằng cận vệ của Weiss nhào tới liền cấp kỳ, đứa móc từ dưới lên, đứa nện từ trên xuống. Chỉ trong mấy phút đồng hồ, chúng nó đã dần con người xếp nhũn ra như một sợi …mì ống, máu me tùm lum. Hai đứa lại xốc nách xếp lên cho thằng Weiss.

Ông chủ bấy giờ mới hoàn hồn, lại chỉ mặt xếp tiếp tục mắng chửi cho một trận tơi bời. Chửi nhiều lắm nhưng xếp đâu còn tỉnh táo mà nghe nữa. Tai thì đầy những máu, môi miệng bầm dập sưng vếu lên, còn đầu óc xếp thì chỉ nghĩ đến việc băm cái xác thằng Weiss này ra làm trăm mảnh. Đâu có đứa nào làm nhục Al Capone mà thọ được lâu?

Vài tuần sau, chiếc limousine của thằng Weiss và hai đứa cận vệ đang đi ngon lành bỗng nổ ùm lên một cái, tan tành như xác pháo.

Kể từ ngày đó, cuộc đời xếp bỗng thăng thiên như diều và cũng không còn nhớ là có đứa nào còn dám kêu đích danh xếp ra mà chửi cho đến ngày hôm nay. Nhưng nhiều khi xếp tự hỏi, nếu lần đó xếp đã không bị lăng nhục thì cuộc đời xếp chưa chắc đã được vinh hiển như ngày nay, và có thể đến bây giờ cao lắm thì cũng lên được chức “chủ nhà thổ” khiêm nhường nào đó ở Chicago…

Phải, như chuyện trên trời rớt xuống, tự nhiên xếp bị một thằng cảnh sát nhải con ở đâu không biết lù lù về đây réo tên xếp ra mà chửi tơi bời hoa lá. Mà sao lại có báo chí bu đông quá cỡ vậy? Phải có cái chuyện gì xảy ra mới được. Đã lâu rồi, vì cần tập trung thì giờ và sức lực để bành trướng “đế quốc Al Capone”, mọi chuyện lặt vặt xếp đều giao khoán luôn cho thằng Frank Nitti, để nó toàn quyền quyết định. Nhất định xếp phải hỏi cho ra lẽ.

Xếp Al Capone nhảy xuống khỏi giường, quát nhặng lên:

– Gọi thằng Frank Nitti lên đây. Nói nó lên liền lập tức.Hai thằng cận vệ ruột dạ ran lên một tiếng rồi lủi nhanh. Ít khi nào chúng nó thấy xếp mới sáng sớm mà đã cáu như vậy. Lập tức, ba bốn thằng khác từ ngoài nhảy vào để trám chỗ cho hai thằng nọ để hầu hạ xếp. Chúng chia nhau đứa lấy áo khoác, đứa xách đôi giày…

Cái mâm bạc thứ hai đựng thức ăn sáng được đưa lên. Xếp chỉ nếm một miếng rồi phun ra cái “phẹt” xuống mâm, bảo đem đi gấp gấp. Đầu óc lúc này đang căng thẳng, chẳng ăn uống gì được. Xếp lại giở tới giở lui mấy tờ báo.

Mặt thằng cớm này coi kỹ thấy cũng điển trai đấy chớ. Cái hàm bành ra thế kia thì chắc phải là người dân gốc Na Uy. Mẹ kiếp, xưa nay hải tặc Viking nổi tiếng thế giới mà. Con cháu dân hải tặc có khác.

Xếp rán đọc hết một bài, càng đọc càng thấy bớt giận đi. À thì ra là tối hôm qua nó tổ chức đi đột kích một kho chứa rượu của mình và bị Frank Nitti cho vào xiếc. Thật là tuyệt. Té ra không có mình, thằng Frank Nitti giải quyết cũng hay. Hơn một triệu đô la rượu chứ ít à? Tấn công hụt, thằng cớm chó chết này quê quá, bèn họp báo chửi bới om sòm cho đã cơn tức.

Cơn giận tự dưng biến mất. Xếp bật cười lên một mình. Kể cũng lạ. Xưa nay cảnh sát đi hành quân, nếu vồ hụt con mồi thì lẳng lặng khăn gói về nhà kín đáo như mèo đi giấu cứt, đâu có cái màn chửi bới như thế này. Thằng cớm còn thú tội: “Tôi đã bị lừa như đứa con nít, cuộc hành quân này thất bại hoàn toàn do lỗi của tôi” thì quả thật Chicago xưa nay chưa bao giờ có.

Xếp mặc xong bộ đồ lớn thì thằng Frank Nitti dẫn xác vào. Ủa, thằng phụ tá mặt mày hôm nay coi sao thấy rầu rĩ quá chừng. Tối qua mới thành công lớn mà sao hôm nay mặt mày như đang đi đưa đám ma? Xếp nhìn nó thắc mắc:

– Mặt mũi của chú mày sáng nay làm sao vậy?

Frank Nitti lắc đầu:

– Chiếc Cadilac mới tinh của tôi hôm qua tôi …đốt rồi.

Xếp giật mình:

– Mày nói chuyện giỡn, tao thấy mày cưng cái xe đó hơn mọi thứ trên đời này, sao lại đốt?

– Đốt chứ để làm gì? Tôi còn đập cho thằng tài xế một trận ra gì, bẻ gãy cha nó luôn cái cánh tay, oánh bể mấy cái ba sườn, phải chở nó vô nhà thương. Thứ đàn em vô dụng như vậy chẳng thà đừng có.

– Nó làm gì?

– Hôm qua tôi dắt con đào đi shopping, giao cho nó đậu xe ở ngoài chờ. Mới vô có mấy tiếng đồng hồ, lúc trở ra thì chiếc xe bị đập nát hết năm cái cửa kiếng, lại còn móp méo tùm lum. Tôi giận quá, mở nắp thùng xăng thảy vô đó một mồi lửa. Mua chiếc khác, đẹp hơn.

Xếp Al Capone nhíu mày:

– Ngay giữa Chicago, thằng khùng nào mà dám chơi ngon vậy?

– Cảnh sát. Nhưng cả đám cảnh sát Chicago, chỉ có một thằng dám chơi như vậy thôi, xếp biết nó là ai rồi.

– Gary Malone!

Lần thứ hai kể từ khi thức giấc sáng nay, xếp muốn nhảy nhỏm người lên vì một cái tên khác: Gary Malone! Giới giang Chicago ở cuối thập niên 1910 đâu có ai lạ gì với cái tên “Bàn tay thép Malone”.

Theo xếp, thằng Gary Malone này trời sinh ra để làm …ăn cướp đúng hơn là đi làm cảnh sát. Ngày xưa, lúc xếp còn là một tay giang hồ cắc ké ở khu Cecira, hễ ngày nào thiên hạ nghe tới tên “bàn tay thép” đi tuần trong khu vực là ngày đó cả khu phố trở nên vắng lặng và hiền hòa như một cái tu viện.

Ai cũng biết thầy đội Gary Malone không thích bị giỡn mặt. Con người Gary Malone có một lố huyền thoại vây quanh, ngay cả đến xếp cũng phải kính nễ. Cái làm cho thầy đội Gary Malone nổi bậc hơn hắn các cớm khác là thầy biết và dám sử dụng luật …giang hồ với bọn ăn cướp. Nếu thấy cần tha, dù có tội giết người với tang chứng rành rành trước mặt, thầy vẫn tỉnh bơ ngó đi chỗ khác. Nếu cần phải răn dạy, thầy sẵn sàng đập cho một trận sưng vếu mặt mày lên hoặc bẻ lọi tay lọi chân để cảnh cáo. Xếp còn nghe người ta đồn là chính tay Gary Malone đã dùng dùi cui đập chết tươi mấy thằng cứng đầu rồi quẳng xác xuống sông Chicago.

Xếp nhớ có lần, một em bé con nhà đàng hoàng bị bọn ma cô của cánh Weiss dụ dỗ lên Chicago mần ăn. Sau vài tuần, em tự nhiên bị mất tích, cả nhà liên lạc thế nào cũng không được. Ông bà thân sinh là chỗ quen biết của một Thượng Nghị sĩ Chicago, liền đến khóc lóc kể lại sự tình. Ông Thượng liền gọi phôn cho ông thị trưởng. Ngài thị trưởng biết thế lực chính trị của ông này, gật đầu lia lịa, hứa đích thân sẽ lo. Gác phôn lên là ông chạy như bay qua ty cảnh sát, bắt phải “làm sao lôi con bé đó về cho được.” Trưởng ty cảnh sát của Chicago là do thị trưởng chỉ định mà, nên hễ được giao công tác nào là phải hớn hở lo thi hành cấp kỳ, đâu dám trễ nãi? Thế là ông huy động lực lượng hùng hậu của cả ty cảnh sát, ngay chiều hôm đó tiền hô hậu ủng đi bố ráp khắp nơi. Liên tiếp mấy ngày sau nữa, hành quân bố ráp hàng trăm vụ, tốn người tốn của bằng thích mà có ai tìm thấy em bé đâu? Chỉ hoài công phí của.

Ông thị trưởng xệ quá, đang ngồi tư lự trong văn phòng không biết ăn nói làm sao với ngài Thượng Nghị sĩ thì cô thư ký cưng chạy vào mách nước về ông cớm vang danh Gary Malone. Sự liên hệ giữa cô thư ký và Gary Malone không biết thế nào nhưng khi nghe cô em thề thốt long trọng và giới thiệu với ngài thị trưởng, ông ta liền cho gọi Gary Malone tới. Thị trưởng coi uy quyền vậy mà thằng cớm có biết nể nang gì đâu, ông nói gì hắn cũng lắc đầu quầy quậy. Mãi tới gần tối, sau khi để ngài thị trưởng năn nỉ sùi bọt mép, Gary Malone mới chịu gật đầu. Trước khi ra đi con đưa đẩy một câu: “Ông nên nhớ, tôi nhận lời không phải vì ông là thị trưởng đâu nhé, mà chỉ vì một việc hào hiệp cần phải làm. Khi xong việc, xin ông đừng có biễu diễn cái màn gắn huy chương hay quảng cáo rùm beng lên làm gì. Tôi là người của bóng tối. Hãy để tôi sống thầm lặng với bóng tối”.

Ngài thị trưởng đứng nhìn theo đầy vẻ cảm động. Tới phòng ngoài, khuất sau cánh cửa gỗ to lớn, Gary Malone đè cổ cô thư ký tặng cho một cái hôn nồng cháy. Buông cô em ra, chàng cớm đa tình đã đi khuất xuống cầu thang rồi mà cô thơ ký vẫn còn đứng yên như trời trồng, mặt nghệt ra như luyến tiếc giây phút thần tiên hồi nãy. Tiếng giày đinh lộp cộp và tiếng vỗ của cây ma trắc vào lòng bàn tay nghe nhỏ dần, nhỏ dần dưới toà thị chính.

Mó tay vào việc, Gary Malone cho cái đám cảnh sát ấm ớ giải tán đi về hết, một mình một cây dùi cui đến gặp “vua nhà thổ” Weiss.

Vua nhà Thổ cũng chẳng phải tay vừa, nghe tin Gary Malone tới là biết phen này lành ít dữ nhiều, bèn dắt một đám cận vệ ra nhà hàng chuẩn bị đón tiếp ông cớm hung hãn nhất của Chicago. Khỏi nói ai cũng tưởng phen này cuộc đời “bàn tay thép” sẽ ăn đạn thép tùm lum.

Chiều đó, Gary Malone tà tà bước vào sào huyệt của Weiss như bước vào chỗ không người, thảy tấm hình đứa con gái trên mặt bàn cho Weiss xem, giọng lạnh như tiền: “Tao cho mày tới trưa mai, nếu em bé không về thì mỗi ngày tao …đốt một cái nhà thổ.”

Nói ít vậy thôi, khỏi cần nghe giải thích hay phân trần gì cho mất thì giờ, Gary Malone quắc mắt nhìn quanh một vòng như ra cái điều thách thức “thằng nào muốn thử xem bàn tay thép cứng cỡ nào thì cứ nhào ra” rồi quay người lừng lững bỏ đi. Đám cận vệ mười mấy thằng toàn là dân dao búa đứng nhìn theo. Máu chúng nó dồn lên tới cổ nhưng có đứa nào dám làm gì đâu? Nó đi dám đi khơi khơi ngon lành như vậy vô hang cọp thì không phải là tay vừa. Quả đúng là “bàn tay thép.”

Nhưng thằng Weiss cũng đâu phải là hạng dễ bị hù như vậy. Nó nghe tiếng bàn tay thép đã lâu nhưng chưa có dịp đụng độ, nay phải thử một lần cho biết. Ông vua nhà thổ nhất định không giao nạp gì hết, đồng thời cho đàn em tăng cường bố trí khắp nơi. Cho chắc ăn, nó còn mướn thêm viện binh của cánh khác. Lần này, người của nó rải dài dài bắt đầu từ ngoài lộ chính, vô tới tận phòng ngủ của nó, một con con chuột chạy cũng không lọt, nói gì tới người?

Ngày hôm sau thật dài. Chính xếp Al Capone lúc ấy cũng thủ một cây shotgun đứng tuốt ngoài ngõ. Lệnh ban xuống là, hể thấy thằng Gary Malone hay bất kỳ đứa nào lạ mặt đi tới là phải tốp lại để kiểm soát. Nó chống cự là phơ liền lập tức.

Nhưng mãi đến chiều, đến tối cũng chẳng thấy cái nhà thổ nào bị đốt. Hơn nửa đêm, vua nhà thổ mệt quá, căn dặn đàn em rồi tà tà leo cầu thang đi lên cái văn phòng riêng ở lầu hai để nghỉ ngơi.

Vừa đóng ập cửa lại, xoay người ra sau thì vua nhà thổ bỗng rú lên một tiếng kinh hãi. Trong căn phòng trang trí hạng nhất của khách sạn, Gary Malone đã lù lù một đống ngồi đó không hiểu từ bao giờ và từ lúc nào. Tay bên phải là khẩu shotgun cưa nòng, tay bên trái là cây búa bửa củi. Thằng này không chừng có tài xuất quỷ nhập thần, sào huyệt được gài kín người ba bốn lớp như thế kia sao nó lẻn vào đây được? Đêm hôm khuya khoắc, hắn vác búa bửa củi và súng ống vào đây đâu phải để nói chuyện đời xưa. Weiss hãi quá, một lời nói cũng không buông ra được, thiếu điều muốn té đái trong quần.

Gary Malone chỉ mỉm cười bảo nhẹ:

– Bây giờ chúng ta đi xuống lầu trở lại. Cẩn thận từ từ và “biết điều một chút”. Dân Chicago này đâu có lạ gì tao, đừng có làm gì để phải hối hận.

Mấy thằng đàn em thấy ông chủ vừa đi lên, rồi lại quay trở xuống liền thì có hơi thắc mắc. Dòm kỹ hơn thì thấy hai bàn tay của vua nhà thổ Weiss giơ cao khỏi đầu, theo sát phía sau là bàn tay thép Malone với cây shotgun chĩa ngay vào gáy ông chủ.

Bước xuống lưng chừng cầu thang, Gary Malone ra lệnh:

– Tốp lại ngay đây. Biểu mấy thằng em của mày gom hết súng ống lại một chỗ cho tao.

Weiss ríu ríu vâng lời, dặn đám đàn em hai ba lần là phải một mực tuân lệnh của Gary Malone, chỉ sợ thằng em nào làm bậy là nó sẽ biến thành …tiên vương nhà thổ. Nhìn mớ súng ống gom thành một đống trên sàn nhà, Gary Malone tiếp tục:

– Cho tụi nó xuống nhà kho, đem hết mấy cái thùng rượu mạnh lên đây. Đừng có dại mà giở trò gì là tao thổi bay cái sọ của mày.

Mấy thằng đàn em lục đục kéo đi, Gary Malone chỉ mặt một thằng:

– Mày! Tướng tá coi được, lên đây tao biểu.

Thằng nọ chới với, vừa bước từng bước dài lên cầu thang thì bàn tay thép hỏi luôn:

– Mày …biết pha rượu không?

– Dạ biết.

– Tốt, làm cho tao một ly “Bloody Mary” rồi đem lên đây. Xài thứ ly cối cho nó tiện.

Ly rượu được kính cẩn dâng lên, bàn tay thép làm một ngụm, hà một hơi rồi để ly trên chỗ tay vịn cầu thang. Thằng kia vừa quay xuống đã bị Gary Malone gọi giật lại:

– Khoan đã, đi đâu mà sớm vậy, tao còn có việc nhờ mày.

Bàn tay thép móc cây búa đeo sau lưng nảy giờ thảy xuống:

– Cầm lấy cái búa bửa củi này, xuống dưới đó đứng chờ tao.Khi chúng nó khiêng đến thùng rượu thứ năm, Gary Malone bảo:

– Đủ rồi. Bây giờ, mày, thằng cầm búa, tới bổ hết mấy thùng rượu này ra cho tao.

Năm thùng rượu, mỗi thùng mấy chục ga lông chứ ít gì, bị búa bổ ngang hông, chảy ra có vòi. Khắp sàn nhà, đâu đâu cũng chỉ toàn rượu là rượu. Mùi whiskey bốc lên nồng nặc. Gary Malone ra lệnh tiếp:

– Tụi mày biết muốn cho lửa cháy tốt cần phải có cái gì biết không?

Không thằng nào trả lời. Gary Malone ực thêm một ngụm rượu:

– ĐM, dân du thủ du thực có khác. Hồi nhỏ không đi học nên đéo biết mẹ gì hết. Lửa cần phải có không khí, có gió thì cháy mới đẹp. Đứng đực ra đó làm gì, mau chạy ra mở hết mấy cái cửa sổ cho tao.Vua nhà thổ giật mình đánh thót một cái, bây giờ nó mới biết ra là bàn tay thép tính đốt cái nhà thổ của mình thiệt. Thằng nào thằng nấy xanh mặt hãi hùng. Gary Malone lại tà tà ra lệnh:

– Tao cho tụi mày năm phút, leo lên lầu đem hết mấy em giang hồ xuống. Đứa nào chậm chạp chết cháy rán chịu.Vừa nghe tới đó bỗng thấy cầu thang ầm ầm chuyển động. Té ra mấy em đã đứng thập thò ở cầu thang từ nãy, bây giờ được lệnh, ào ào đổ xuống chạy thụt mạng, khỏi cần ai lên nhắc nhở.

Gary Malone làm thêm ngụm “Bloody Mary”, nói với Weiss:

– Mày biết thằng Gary Malone này rồi. Tao đâu có thì giờ đi dọa non dọa già tụi mày. Tao biểu đốt mỗi ngày một cái nhà thổ là đốt thiệt. Ngày mai, tao đốt thêm một cái nữa, coi thử chừng nào mày mới lòi em bé ra.

Vua nhà thổ phân trần:

– Đàn anh chơi vậy là ép tôi quá! Coi, tôi đâu có biết gì. Chicago này bao nhiêu là động điếm, có phải mình tôi đâu. Mong đàn anh nghĩ lại giùm, tôi không quên ơn.

Bàn tay thép nhổ toẹt một bãi nước miếng sau ngụm rượu cuối cùng:

– Không cần biết, mày không giữ nó thì kiếm cho ra thằng nào đó giữ nó. Nghề của mày mà, làm sao qua mắt tao được? Hễ tới trưa mai mà không có thì tao đốt thêm một cái nữa, nghe rõ không?Khỏi cần chờ câu trả lời, Gary Malone quay xuống dưới nhà, hét to lên:

– Cho tụi mày dọt hết ra ngoài. Tao với thằng Weiss ở lại đây có chuyện chút xíu.

Một thằng đàn em của Weiss, nhân lúc hổn loạn lén mò tới gần mớ vũ khí tính vớt một cây. Nhanh như chớp, cây shotgun trên tay Gary Malone chỉa mũi xuống, nổ “oành” một phát.

Thằng nọ bật người ra sau. Bàn tay phải từ cùi chõ xuống bị đạn cày nát, lủng lẳng mấy miếng thịt coi thấy gớm. Nó ôm tay lăn lộn co quắp, máu chảy thành giòng. Giọng nói oang oang Gary Malone vang xuống dưới nhà:

– ĐM chưa biết tài bắn shotgun của Gary Malone hay sao mà dám giỡn mặt? Lần sau, thằng nào muốn thử tài bắn của tao, tao bắn vô mặt. OK, bây giờ dọt hết ra ngoài, nhớ dắt thằng đó theo.

Lúc chỉ còn lại có hai người, Gary Malone dìu vua nhà thổ bước ra gần tới cửa rồi hạ nòng cây shotgun, đưa cho Weiss cái bao diệm quẹt, hất hàm:

– Cảm phiền ông bạn cho giùm cái nhà thổ này một mồi lửa đi.

Thằng Weiss tuy hãi, nhưng còn tiếc của, cầm hộp diêm quẹt đứng chần chờ mãi. Hai bàn tay run run đưa lên mấy lần mà không sao rút ra được một cây diêm. Gary Malone hét lớn:

– ĐM có đốt không, hay tao nhét mày vô thùng rồi châm lửa cho mày đi luôn?

Weiss lùi xa xa để chuẩn bị rồi bật diêm, thảy xuống cái vèo. Rượu gặp lửa, cháy bùng lên. Chỉ trong một tích tắc, lửa bắt ra hết cả phòng, hơi nóng tỏa ra dử dội. Gary Malone đẩy Weiss ra trước rồi phóng theo. Lửa bắt quá mau trong căn nhà gỗ lâu đời, mới ra tới ngỏ mà cả căn nhà hầu như đã gần bị lửa liếm sạch. Gary Malone vẫn chỉa họng cây shotgun vào óc Weiss cho đến khi chắc chắn là cái nhà thổ bị cháy rụi.

Kéo Weiss tới một góc đường, hắn bảo:

– Bây giờ mày biểu tài xế chở tao với mày xuống đường 52. Tới đó, tao sẽ thả mày về. ĐM cảnh sát nghèo lắm, làm mẹ gì có tiền đi tắc xi!..

Ngày hôm sau, em bé bị bắt cóc hôm nào được ai lái xe chở tới tòa Thị chính thả ra, không trầy xẩy một tí da. Thử sức cú đầu như vậy cũng đủ hiểu nhau rồi.

Ngài thị trưởng giữ đúng lời hứa, không làm rềnh rang gì cả. Vua nhà thổ Weiss cay cú lắm, nhưng còn nhiều chuyện trọng đại phải lo hơn là đi ăn thua với một thằng cảnh sát …khùng nên Gary Malone vẫn được để yên.

Gary Malone ghê gớm và hung hãn vậy chẳng trách gì xếp Al Capone giật mình khi nghe đến tên hắn. Đã từ lâu, xếp muốn chiêu dụ Gary Malone về với xếp nhưng chưa bao giờ thành công. Xếp ngán nhất là những con người không có nhu cầu mà bàn tay thép là một. Dường như trên cõi đời này, Gary Malone không coi cái gì là quan trọng cả. Tiền hắn không thích, gái thì lúc nào cũng có sẵn ba bốn em, rượu thì lâu lâu hắn chỉ làm vài ly Whiskey nhưng không phải là dân ghiền nặng thì có gì mà dụ hắn được. Danh vọng thì hắn dư thừa, khỏi cần đòi hỏi cũng có: Ở Chicago này, ai nghe đến tên bàn tay thép Gary Malone mà không giựt mình rỡn gáy. Xếp cứ tưởng tượng ra cái cảnh cặp bài trùng Gary Malone và Frank Nitti đi đôi với nhau, thật trên đời này không còn hình ảnh nào đẹp bằng.

Xếp hỏi Frank Nitti:

– Tao nghe nói nó bị Mike Casey cho về vườn rồi mà?

– Cũng gần như vậy. Nó bây giờ chỉ còn là cảnh sát gác đường. Mà xui cho tôi, tôi đậu xe ngay khu vực trách nhiệm của nó.

Xếp Al suy nghĩ một lúc, vỗ về thằng em:

– Thôi, để tao cho tiền chú em mua xe mới. Mày xui xẻo rán chịu.

Xếp Al Capone thảy chồng báo cho Frank Nitti, trở lại vấn đề chính:

– Thằng chó đẻ này là thằng nào?

– Ness, Eliot Ness, cảnh sát của nha Ngân khố từ Hoa Thịnh Đốn tới.

– Tao có làm gì mà nó lại réo tên tao ra chửi tơi bời vậy.

Bây giờ mới thấy thằng Frank Nitti vén lên một nụ cười nhỏ:

– Tối qua tôi cho nó vô xiếc. Để cho nó dẫn lực lượng cảnh sát tấn công vào cái nhà kho toàn đồ nhập cảng hợp pháp của bọn mình. Quê bằng chết, thằng khốn tức quá hóa khùng bèn chửi bới bậy bạ tùm lum. Thật là như một đứa con nít. Xếp đừng kể tới nó làm gì, chó sủa là chó không cắn.

Xếp gài điếu xì gà lên môi:

– Làm sao nó biết được chỗ mình cất hàng?

– Trong đám mình có một con chó ghẻ. Tôi đã cho trừng phạt thích đáng.

– Good! Mày đánh giá con người thằng cớm này thế nào?

– Chỉ là một thằng cớm quèn. Cái hơi khác là thằng này có bằng cấp đại học, lại khoái tuyên bố rềnh rang với báo chí.

Xếp tự nhiên quên bén mất cái chuyện mình bị sỉ vả. Phải có một cái gì trong này. Sự suy nghĩ của xếp Al Capone dừng lại tại đây. “Cớm quèn”. Có thể lắm, nhưng cứ nhìn cắp mắt sáng quắc như sao trong hình thì thằng này không phải là một thứ quèn “tầm thường.” Xếp phì ra một hơi khói, xoay xoay điếu xì gà:

– Để cho nó “ngấm” thuốc mấy ngày đã rồi mày cử người tới “mua” nó cho tao.

– Thì đàn em cũng tính vậy. Giá thằng này không hơn trăm đô la một tuần.

– Đừng coi thường nó quá, tao bắt đầu bằng ba trăm một tuần, nếu nó đòi thêm tính sau.

Frank Nitti rút lui. Trước khi đóng cửa phòng, thằng phụ tá nhìn xếp hỏi chậm rãi:

– Xếp để tôi làm thịt thằng Gary Malone được không?

Âm thanh nó trầm đều mà sao nghe như tiếng gọi của tử thần. Xếp Al Capone lắc đầu:

– Không! Bây giờ không được. Tao cấm mày không được đụng tới nó. Tao đã có kế hoạch riêng cho nó. Mày biết không, đã từ lâu, tao đang tìm cách dụ nó về làm việc với mình. Mày phải hiểu, đó cũng một lý do tại sao nó còn sống được tới giờ này. Người tài như Gary Malone không phải kiếm đâu cũng được.

Frank Nitti vẫn còn ấm ức:

– Nhưng mà nó đập xe của tôi chớ có phải của xếp đâu? Thằng này nó lộng quá rồi, không trừng trị sẽ nguy hiểm về sau. Mà xếp còn chờ cho tới chừng nào, lỡ không dụ được nó thì làm sao?

– Chuyện đó để tao lo. Lúc nào thấy không thể mua được nó, tao sẽ để dành nó đặc biệt cho mày, nhưng bây giờ thì không, tuyệt đối không. Tao đang lập kế hoạch. Nghe rõ chưa?

Frank Nitti đành gật đầu, lủi thủi bước xuống cầu thang. Hai thằng cận vệ đeo cứng phía sau.

Frank Nitti vừa khuất bóng, xếp nhìn một thằng cận vệ:

– Gọi lên sở Cảnh sát, kiếm thằng Mike Casey cho tao.

Thằng đàn em đưa ống nói cho xếp khi bắt được liên lạc với Mike Casey. Xếp vô đề liền:

– Mike, có hai vụ. Vụ thứ nhất, chiếc xe của thằng Frank Nitti bị thằng cớm du đảng của ông đập cho nát bét ra…

– Có, thằng Frank Nitti có gọi cho tôi than phiền vụ này. Sở điều tra an ninh nội bộ đang cho tiến hành điều tra, nếu cần, sẽ đưa thằng cớm mất dạy đó ra hội đồng kỷ luật hay ra toà.

– Điều tra cái con c… Dẹp mẹ nó mấy cái màn thủ tục lẩm cẩm đó đi ông nội, chẳng đi tới đâu đâu. Tôi muốn ông lôi cổ nó về, cho nó một chỗ cạo giấy văn phòng. Làm sao mà kiếm cho nó công việc nào càng chán nản càng tốt. Nếu nó nản quá, làm đơn xin về hưu luôn thì công của ông lớn lắm đó.

Mike Casey cười hề hề:

– Gì chớ cái đó thì dễ. Để tôi kéo cổ nó về, cho nó một chân giữ chìa khóa hạng bét trong sở. Tôi biết tính thằng này, hễ ngồi không là sinh bệnh. Sau vài tháng, nếu nó không xin về hưu non thì chắc cũng sẽ sinh bệnh mà chết.

– Được, sẽ có phần thưởng lớn cho ông. Thằng Frank Nitti có báo cáo tôi về vụ tấn công tối hôm qua, nó nói công đầu là của ông đó.

Giọng nói của Mike Casey đầy vẻ thõa mãn:

– Thì chỗ làm ăn với nhau, phải vậy mới được chớ.

– Thằng cớm réo tên tôi ra chửi bới vung vít là thằng nào?

– Ness. Eliot Ness. Nó mới từ Hoa Thịnh Đốn xuống, phách lối và ngông cuồng lắm, coi dân Chicago này không ra cái gì cả. Nghe nói nó là một hung thần nổi tiếng nhất ở New York, đã từng tống vài chục tay tổ của mafia vào tù và dẹp tan nhiều băng đảng trên đó.

Xếp Al Capone lặp lại câu đã hỏi Frank Nitti trước đó:

– Ông nhận thấy hắn là con người thế nào, nó ngon cỡ Gary Malone không?

– Tôi chưa biết rõ, khó có thể nhận xét được nhưng cứ như cú tối hôm qua, tôi thấy khả năng thằng này rồi cũng chẳng đi đến đâu. Ông biết tụi liên bang mà, đứa nào cũng vậy, mới xuống thì hùng hùng hổ hổ nhưng vài tuần sau được ăn ngập mặt thì nín khe ngay. Sáng nay vào sở, nó vẫn tỉnh bơ, không hề thắc mắc hay nghi ngờ gì ai cả.

Vậy là đã có tới hai người đánh lầm giá trị của Ness: Frank Nitti và Mike Casey.

Xếp Al Capone tuy không tán thành hai ý kiến trên, nhưng cũng không phản đối. Cái nhìn của một con diều hâu luôn luôn khác cái nhìn của những con chim sẻ, xếp nghĩ vậy. Thằng Ness này nếu không phải là tay cớm ngoại hạng thì cũng không đến nổi quá tầm thường như mọi người lầm tưởng.

Mike Casey tiếp tục:

– Ông còn lạ gì Hoa Thạnh Đốn, tại mấy cha thượng nghị sĩ la lối quá vì cái vụ “The Saint Valentine’s Massacre” nên họ mới gởi người xuống đây để vuốt ve dư luận chút đó mà. Rồi ông sẽ thấy, đâu sẽ vào đấy hết. Văn phòng của nó gần sát ngay bên tôi, tôi kiểm soát nó được, ông đừng lo.

– Cho tôi tất cả những chi tiết về quá trình và ý định của thằng này. Nó không phải típ tầm thường đâu.

– Thú thật, nó mới từ Hoa Thịnh Đốn xuống nên tôi không biết gì về nó hết. Hơn nữa, nó là người của chánh phủ liên bang, địa phương không có quyền hành gì mà mó vào. Nếu muốn biết nhiều về nó, ông nên gởi người lên New York để điều tra. Ở New York, không ai là không biết đến tên hung thần Eliot Ness. Mà, theo ý kiến riêng của tôi, ông không nên lo nghĩ quá về nó. Ông biết cách làm việc của cảnh sát, đâu phải chỉ một người mà làm xong chuyện. Tôi nghĩ ở New York chắc nó có nhiều cộng sự viên giỏi và biết sử dụng phương tiện truyền thanh tối đa nên mới được vang danh đó thôi, chưa chắc phải là thứ đáng sợ. Nội chuyện tối hôm qua cũng đủ cho chúng ta thấy phần nào tài năng của nó…

Mỗi con người trời sinh ra hình như đều phú cho họ một khả năng riêng biệt, ít ai giống ai. Có người trời sinh ra để soạn nhạc, người khác để vẽ, hoặc có kẻ sinh ra để làm doanh thương, làm nhà chính trị tài giỏi, Xếp cũng không tránh khỏi định lệ này. Tự bẩm sinh, Al Capone có khả năng lạ lùng là tài …ngửi thấy được con người nguy hiễm và sự nguy hiễm ngay tứ khi nó chưa nguy hiểm. Trong tất cả đám anh chị thời đó, không ai qua mặt xếp được về cái tài này. Xếp còn sống đến giờ này là cũng nhờ cái khả năng lạ lùng đặc biệt này. Thoát chết nhờ cái “lỗ mũi” đặc biệt này thì nhiều lần lắm, nhưng có vài lần xếp không thể quên được…

Lúc còn trẻ, ở New York có một lần xếp và mấy anh em trong khu sắp sửa đi đến chỗ hẹn mật với một toán anh chị khác để bàn chuyện làm ăn lớn. Chỗ gặp nhau là một nhà hàng nằm trong khu vực kiểm soát của bọn xếp mà ai nấy đều thuộc lòng từng viên đá, nhớ tên từng thằng bồi. Ngàn lần hơn một, không ai ngờ là sẽ có chuyện gì xảy ra hết. Nhưng trước khi ra đi, tự nhiên xếp Al Capone cảm thấy có cái gì bất trắc của buổi họp đó. Dùng óc suy luận, xếp vẫn không thấy có gì đáng khả nghi, nhưng trực giác thì thấy có cái gì không ổn. Vậy là dù đã nai nịt gọn gàng, xếp nhất định bảo anh em hủy bỏ buổi họp. Có đứa nào thèm nghe?

Cản không được, xếp đề nghị chia thành hai toán, một toán vào trước để do thám tình hình, nếu mọi sự bình thường, toán kia mới vào sau. Nhưng ai lại chịu nghe lời một thằng oắt con mới ra nghề như xếp? Chúng nó cười vào mũi xếp rồi khoác tay nhau lên đường.

Xếp cảm thấy là sẽ có cái gì bất an nên chạy vào nhà kiếm cây shotgun xách theo phòng hờ. Chẳng ngờ cây shotgun không biết đứa nào xài, giấu ở đâu kiếm mãi không ra. Kẹt quá, xếp đành dắt vào bụng một cây Colt rồi lần mò ra chỗ anh em đang phó hội.

Ra vừa tới nơi, một cảnh tang thương diễn ra trước mặt: bàn ghế đổ ngổn ngang, máu me đầy dẫy, người chết người bị thương nằm rên la đầy trong quán.

Xếp càng ngạc nhiên khi thấy cả hai phe đều có người bị thương và bị chết. Vụ hai phe bắn nhau trong quán được gạt ra ngoài vì đi thương thuyết, không ai đem súng ống theo cả.

Xui cho xếp, đang đứng tần ngần chưa kịp hỏi han gì thì cảnh sát ập tới. Khám thấy trong người có súng, cảnh sát bèn thảy xếp lên xe bít bùng luôn.

Chiều hôm sau, đóng tiền thế chân xong đi ra, xếp mới biết là cả hai phe đã bị một nhóm thứ ba chơi cạn láng. Tất cả vừa ngồi vào bàn nói chuyện độ năm phút là có một chiếc Cadilac chạy rề tới, trên xe phóng xuống ba thằng cô hồn với 3 cây shotgun. Chúng đạp tung cửa rồi cứ “bơm” hết viên này đến viên khác vào cái bàn dài có anh em ta đang ngồi.

Luật giang hồ là đi hội họp, cấm tuyệt cái vụ mang súng ống theo nên đâu ai có cái gì để phản ứng? Súng vừa nổ là chỉ biết tranh nhau chui xuống gầm bàn để tránh đạn. Gặp thứ đạn phà của dân chơi tự tay nhồi thuốc “overboost” thì tránh gì nổi?

Cảnh sát đếm được tại chỗ 5 cái xác chết, 8 đứa còn lại vô tới nhà thương thì “đi” thêm 2 đứa nữa, vị chi là 7. Quả thật là con số 13 xui xẻo.

Mà đâu phải đó chỉ là một lần. Sau này lớn lên nơi đường phố, xếp cũng nhờ cái trực giác của mình mà thành công nhiều vụ, cũng như thoát chết nhiều lần.Hôm nay, dù thằng phụ tá khôn lanh như Frank Nitti và ông bạn cớm Mike Casy hết sức thuyết phục, cái tài đánh hơi của xếp một lần nữa lại nổi lên. Xếp nhất định phải nắm vững hồ sơ thằng cớm lạ hoắc này mới được.

Xếp trả lời sau một lúc suy nghĩ:

– Good. Thôi được để tôi coi lại coi sao. Nhớ đừng quên chuyện thằng Gary Malone.

Lúc xếp Al Capone gác phôn, đồng hồ treo tường thong thả đếm mười hai tiếng. Xếp và toán cận vệ bước sang phòng làm việc ở ngay bên cạnh. Như thường lệ, thằng “Sô Viết” Guzick đã chờ tại đó từ lúc nào, trên tay là cuốn sổ đã mở sẵn. Xếp gật đầu tỏ vẻ hài lòng, tới bàn giấy, đặt mình ngồi xuống trên cái ghế đồ sộ bằng da được đánh bóng từ đầu tới chân.

Guzick tiến tới một bước, trịnh trọng dâng sổ kế toán lên cho xếp. Cuốn sổ này được Guzick soạn thảo đặc biệt theo ý xếp vì trong vấn đề kế toán, xếp dốt đặc. Có hai chữ “Credit” và “Debit” mà xếp cứ lộn lên lộn xuống hoài, không biết cái nào là “vô” cái nào là “ra”. Xếp chỉ thị cho thằng Nga này đơn giản cái sổ thống kê lại. Ví dụ như ngày hôm nay bán được 300 ngàn thì đề “vô 300 ngàn”. Nếu chi cho thằng cớm 1 ngàn thì ghi “ra 1 ngàn”. Như vậy là khỏe, khỏi “Credit” hay “Debit” gì cho rắc rối tốn thì giờ.

Ngày nào cũng vậy, hễ dòm thấy phần “Vô” nhiều hơn phần “Ra” thì xếp cảm thấy thoải mái dễ chịu, còn ngược lại là xếp chửi bới tùm lum.

Lúc còn chiến tranh với cánh Colosimo, cây cột “Ra” ngày nào cũng đầy ắp, vượt qua phần “Vô” rất nhiều. Nhưng sau khi quất sụm Antonio rồi, phần “Vô” như được uống phép màu, con số càng ngày thấy càng to ra, vượt qua mặt thằng “Ra” thấy rõ.

Trước hết, xếp nhìn xuống cột “Ra” rồi đến cột “Vô”. Vậy là tốt, cũng như mọi ngày, “Vô” trội hẳn hơn Ra gấp mấy chục lần. Xếp lật trang thứ hai, dưới hàng chữ “Ra” là một danh sách dài của các thầy chú, cớm chìm cớm nổi ăn lương của xếp. Đủ mọi loại chi, nhỏ thì từ 20 đồng, lớn thì khoảng vài ngàn, có khi lên đến vài chục ngàn. Xếp lướt nhìn qua một loạt các danh sách, có đến gần trăm tên chứ ít sao. Mà đó là mới có một ngày, chưa nói đến những ngày khác. Trang kế tiếp là chi tiết của những chỗ xếp mua rượu. Danh sách có các công ty xa như các hãng chuyên bán Champagne của Pháp, gần hơn chút nữa và chi nặng nhất là các công ty ở Canada, và địa phương là các lò nấu rượu trong thành phố hay tiểu bang.

Trong cột “Ra”, dưới phần chi tiêu bất ngờ, Gusick viết một con số $500, đề tên Mike Casey ngay bên cạnh. Vậy là thằng mập được thưởng 500 đô cho công tác tình báo tối hôm qua.

Xếp gật đầu tỏ vẻ bằng lòng. Thằng “Sô viết” này coi vậy mà cũng được quá chứ. Chả trách công xếp đã bỏ thì giờ và tiền bạc đi vớt nó về. Bố mẹ của Guzick di cư từ Nga sang Mỹ vào cuối thập niên 1880, trong thời kỳ “Mass Immigration” của lịch sử Hoa Kỳ. Bố của Guzick là người Nga, bà mẹ là Do Thái. Như mọi công dân “thế hệ thứ hai” sau khi lập cuộc đời mới tại đây, Guzick sinh trưởng và lớn lên trong một gia đình khá giả. Tốt nghiệp đại học, Guzick được gia đình vận động cho vào làm kế toán viên của một hãng xuất nhập cảng hàng hoá tơ lụa. Nhờ có bằng cấp đại học, trẻ tuổi và tài cao, chẳng bao lâu Guzick leo lên chức vụ chóp bu của ngành này. Anh chàng đẹp trai con nhà giàu học giỏi nào mà không tột đỉnh danh vọng như vậy, chả có gì đáng nói. Đã có không biết bao nhiêu cặp mắt xanh của các kiều nữ Chicago nhìn về Guzick mỗi lần nó xuất hiện ở các buổi dạ vũ hay tiệc tùng quan trọng với vẻ thèm thuồng mơ ước nhưng Guzick nào để ý đến? Nó còn trẻ quá mà, phải lo ăn chơi cho đã đời trước, chuyện vợ con từ từ tính sau cũng chẳng muộn. Bao nhiêu lời tình tứ gió trăng hay mời mọc đều bị Guzick phe lờ.

Thừa tiền thừa bạc, lại chưa có vợ con mà ở Chicago thì tránh sao khỏi lui tới những nơi ăn chơi nhất dạ đế vương của xếp Al Capone?

Guzick là một trong những khách hàng thường xuyên của những nơi này. Thật ra, nếu nó cứ đàn đúm và ăn chơi như vậy, tuy tốn tiền nhiều nhưng cũng không đến nổi nào, vì nó lương đã cao lại con nhà giàu, của chìm của nổi cả đống, xài chừng nào mới hết? Bi kịch của đời Guzick chỉ bắt đầu vào một buổi chiều, trong lúc chờ một người tình, nó móc túi lấy mấy đồng bạc cắc tới bên cái máy kéo tiền để giết thời giờ. Nhỏ lớn Guzick chưa bao giờ cờ bạc, chưa bao giờ rờ vào mấy cái mày này, nên lần đầu tiên thử máy, nó thử luôn một lèo tới …sáng. Em bồ đến gọi đi chơi, nó cũng phe lờ, tay cứ giựt lia lịa làm như không thể nào tốp được. Từ đó trở đi, Guzick không còn là con người cũ của mình nữa. Bao nhiêu tiền bạc đều đổ vào mấy cái máy giựt tiền của xếp Al Capone.

Chuyện phải đến đã đến. Một buổi sáng, hãng khám phá ra cái trương mục công ty, theo báo cáo thì còn đầy ăm ắp mà sao các ngân phiếu bị trả về lia lịa vì không đủ tiền bảo chứng. Chỉ cần điều tra một chút là thiên hạ biết ngay sự thật: té ra bấy lâu nay, ông giữ két tuổi trẻ đẹp trai đầy uy tín cứ mượn tiền của hãng để đi gỡ cờ bạc. Số tiền thiếu hụt lên đến mấy trăm ngàn đô la.

Vậy là cậu Guzick bị cảnh sát đến còng đầu. Sau khi đóng tiền thế chân, cậu được cho tại ngoại về nằm nhà để suy nghĩ về tội lỗi mình và chờ ngày ra tòa. Một thời gian sau, Guzick cũng lóc cóc đi kiếm việc để hy vọng có chút tiền trang trải án phí nhưng ai dám mướn cậu nữa? Thành tích thụt két và tên tuổi của cậu đã lên trang nhất và là đề tài của các thiên phóng sự trong trang ruột mấy tờ nhật báo Chicago suốt mấy tuần lễ, ai mà không biết? Chẳng ai dại đi mướn cậu làm việc.

Cuộc đời, khi đã xui thì nó xui tận mạng. Gia tài của thân sinh để lại gồm mấy cái nhà và ba bốn nông trại miền quê đều bị hãng nhờ pháp luật sai áp, tịch thâu sạch. Cậu phải khăn gói đi ở nhờ người bà con. Mà đã hết đâu, các thầy kiện sau khi tính toán chia chác xong, vẫn tuyên bố là cậu còn thiếu họ đến gần 200 ngàn đô la.

Guzick buồn lắm. Chẳng ngờ ba cái máy cờ bạc vớ vẫn mà nó quất một cú mạnh đến như vậy. Chuyến này nếu không chạy đủ 200 ngàn trả nợ thì cứ coi như là tù mọt gông. Trong ba mươi sáu chước, chỉ có nước chạy là thượng sách. Lo gì, cứ việc trốn khỏi tiểu bang để tránh cái án tù đã, sau đó từ từ gây dựng lại cơ đồ mấy hồi.

Một buổi sáng, Guzick gói mớ hành lý lặng lẽ bỏ nhà ra đi. Nhưng khốn nạn, dù đã khéo léo hóa trang bằng bộ râu mép giả, Guzick vừa ngồi vào toa xe lửa là cảnh sát đã ập lại. “Chú em chạy đi đâu, cho tại ngoại mà tính trốn hả. Lần này thì cho vô tù luôn!”

Ngay trưa hôm ấy, Guzick vào tù trở lại.

Chạy không khỏi Chicago thì đành chạy khỏi cõi đời ô trọc này vậy. Thần kinh bị khủng hoảng cực độ, Guzick liền quyết định tự tử. Chỉ một sợ dây cột trên nóc xà lim là xong mọi chuyện, khỏi cần phải lo lắng, khỏi cần phải sợ bị ai hạch sách hay chửi bới gì cả. Nghĩ là làm liền, Guzick kín đáo kiếm được một sợi dây. Ban đêm, chờ lúc mọi người ngủ say, nó cột sợi dây vào cửa song sắt nhà tù, tròng cỗ vào thòng lọng rồi từ trên tầng hai của xà lim nhảy xuống.

Con người quả thật là kỳ lạ, lúc chưa thấy thần chết thì hăm hở lắm, nhưng khi đã bị sợi dây thòng lọng siết cổ lại một cái đau điếng người thì cu cậu hoảng hồn, giãy dụa lia lịa, đạp chân đập tay ầm ầm. Có thằng tù tên Franki Rio, tướng người to con như đại lực sĩ, ngồi dậy bồng cu cậu lên. Thằng khác leo lên tháo dây thừng ra. Cậu thoát chết trong đường tơ kẻ tóc.

Trong khi chờ y tá tới chở cậu vào bịnh viện, Frankie Rio nhìn cậu và biết là ai rồi nên chửi cậu liền:

– ĐM, tuổi trẻ tài cao, mới có vài ngày tù lẻ mà đã đòi hủy mình làm gì? Nếu không sống được trong cái xã hội quyền quý thượng tôn pháp luật thì kiếm xã hội khác mà sống, ra khỏi nhà thương nhớ kiếm tao, tao giải quyết cho.

Ơn cứu tử Guzick nào dám quên nhưng nó còn mệt quá, không thốt nên lời. Miệng nó mấp máy và hai hàng nước mắt ứa ra coi thảm não. Trước khi cái cáng được khiêng đi, Frankie ghé sát vào tai nó chỉ nói võn vẹn hai câu, đúng ra hai cái tên mà Guzick suốt đời không thể nào quên được: “Frankie Rio, Al Capone.”

Ở nhà thương, cảnh sát sợ Guzick lại quẩn trí lần nữa nên cho nó về nhà. Lại những ngày chờ đợi dài lê thê trước khi ra tòa. Guzick đã có chủ đích, hắn bắt liên lạc với Frankie Rio. Vài ngày sau, một chiếc limousine lộng lẫy chạy đến đón Guzick.

Đối với xếp Al Capone, Guzick quả là một phép lạ từ trời ban xuống cho xếp.

Bấy lâu nay, xếp đã bỏ không biết bao nhiêu thì giờ và tiền bạc để tìm kiếm một thằng kế toán “coi được”. Một cơ sở làm ăn lớn, với hàng trăm chi nhánh, hàng triệu đô la ra vô hàng ngày như xếp bây giờ mà không có sổ sách kế toán thì không thể nào kiểm soát hết được. Đâu còn phải cái thời kiếm năm chục là nhớ trong đầu năm chục, kiếm hai trăm là nhớ trong đầu hai trăm nữa? Bạc ngàn coi như nhớ được đi, nhưng đến bạc triệu thì nhớ sao cho nổi? Mà nhớ không kịp thì tránh sao nổi chuyện thâm thủng, bị mất cắp? Đàn em xếp, trước mặt đứa nào cũng ngon lành lắm nhưng mỗi ngày nó ẳm nhẹ vài trăm đô la sau lưng xếp thì làm sao xếp biết được. Mà xếp đâu có vài trăm thằng đàn em, phải nói là vài ngàn mới đúng. Mỗi thằng một ngày chỉ cần xé lẻ vài chục thôi là đã thấy vài chục ngàn đô la bay vào mây khói. Cho nên lúc cơ sở làm ăn vừa có mòi lên hương, xếp liền chú ý đặc biệt đến cái vụ này. Mới đầu thì xếp làm lấy. Trước khi đi ngủ, xếp cẩn thận ghi tất cả những số tiền kiếm được trong ngày, cộng lại đàng hoàng để biết rõ mức thu. Chỉ đơn giản vậy thôi mà tối nào xếp cũng phải mất đến mấy tiếng đồng hồ. Sống như vậy thì còn gì là vui thú nữa? Hóa ông vua găng tơ của Chicago cũng không hơn được mấy thằng trọc phú Do Thái mà xếp thường hay lớn tiếng chửi rủa hay sao? Mà không tự tay làm lấy thì biết giao cho ai? Thằng Frank Nitti bắn thì hay lắm nhưng nhìn đến sách vở là than nhức đầu. Những đứa khác còn tệ hơn, ngay cả cái chữ ký cũng không biết ký thì nói đến chuyện nhờ vả giấy tờ làm gì? Còn chuyện mướn những hãng kế toán chuyên môn để làm sổ sách giùm thì tuyệt nhiên xếp không dám nghĩ tới. Làm ăn phi pháp mà nhờ đến tụi này thì sẽ bể hết mọi sự. Vậy giải pháp hay nhất phải là kiếm được một thằng nào chuyên nghiệp để phụ trách chuyện này. Không những thằng này phải là dân chuyện nghiệp, có văn bằng của nhà nước hẳn hòi mà còn phải có đầu óc …tội lỗi, biết cách tổ chức, biết cách tránh né pháp luật, v.v.

Sáng hôm đó, nghe Frankie Rio kể chuyện là xếp hớn hở ra mặt, cho người đi triệu thằng Guzick về liền. Tài xế vừa thắng, xếp đã lao ra xe, tận tay mở cửa, dáng điệu quý trọng thấy rõ. Mấy thằng nhỏ nhìn thấy đều chưng hững. Ra cái dân có học nó khác. Dù ở trong hoàn cảnh nào, thế giới nào cũng được trọng vọng hơn những thằng vô học, cày sâu cuốc bẫm.

Đối với Guzick, thì xếp Al Capone cũng là phép lạ trên trời rớt xuống cho nó. Con đường trước mặt của Guzick là …cái nhà tù vĩ đại. Ít nhất cũng mười năm. Sau đó, nếu còn nguyên vẹn một khối ra khỏi khám đường thì chắc phải kiếm một nghề khác để sinh nhai, nghề cũ coi như không biết, nay tự dưng được một quới nhân từ đâu rước về làm kế toán viên thì còn gì bằng.

Buổi gặp mặt sơ khởi chuyện nổ như pháo tết. Một trùm ăn cướp, một thụt két gặp nhau coi bộ hợp quá chừng. Xếp Al Capone đề nghị một giải pháp là xếp sẽ dàn xếp ổn thỏa cái vụ thụt két cho nó, bù lại, Guzick khỏi phải trả tiền hay nợ nần gì hết, chỉ phải về làm việc với xếp là yên chuyện.

Quả thật, lúc mới bước vào đây, Guzick chỉ hy vọng là kiếm được một công việc để rồi khi có tiền, sẽ từ từ giàn xếp với hãng, xin trả góp chẳng hạn. Bây giờ nghe được cái đề nghị béo bổ như vậy, Guzick cảm động muốn run lên, không tin là phép lạ có thể xảy ra trên trái đất này. Xếp Al Capone lý luận với nó:

– Ông bạn nghe lời tôi đi. Cái hãng của ông bạn bây giờ nó muốn gì? Dĩ nhiên, mới đầu trong giây phút nóng giận là chúng nó muốn hành hạ ông bạn một trận cho đã đời. Nhưng sau đó, điều quan trọng nhất là chúng nó muốn lấy lại số tiền của chúng nó. Ông bạn có nằm nhà đá cỡ mười năm hay hai chục năm cũng đâu có ai thèm để ý. Tôi đã nói với ông bạn là tôi sẽ dàn xếp vụ này. Bảo đảm sẽ có giấy bãi nại cho ông bạn trong vòng 15 ngày.

Lúc chia tay, Guzick mừng quá không nói lên lời. Nó cứ ôm hai tay của xếp Al Capone, miệng mấp máy mãi. Xếp phải gỡ tay nó ra, vỗ về một chập thằng nhỏ mới chịu lui bước. Cửa xe vừa đóng rầm một cái là xếp Al Capone ra lệnh cho Frank Nitti:

– Ông quay giây nói cho thằng luật sư Verbatim, bảo nó đem hồ sơ thằng Guzick qua đây gấp cho tao.

Ngày hôm sau, xếp Al Capone thắng bộ đồ lớn cùng luật sư Verbatim đến gặp ông chủ tịch hội đồng quản trị của hãng xuất nhập cãng. Xếp lý luận:

– Trước sau gì việc cũng đã rồi. Tôi biết thằng Guzick dù có đi làm suốt đời cũng không đủ tiền để trả cho quý ông. Quý ông có muốn cho nó nằm nhà đá mười năm cũng là đúng lắm, cho chừa cái tội ăn cắp, nhưng ông nghĩ coi, nó có nằm mười năm hay hai chục năm mấy ông cũng chẳng moi được gì.

Ông chủ tịch trầm ngâm. Xếp tiếp luôn:

– Tôi có một đề nghị tốt cho cả hai phe, hãng của ông sẽ không thiệt mà thằng Guzick cũng có được một lối thoát.

– Xin ông cứ nói.

– Tôi đề nghị thế này, tôi đưa các ông 50 ngàn để mua đứt cái tội của nó. Nếu chịu, xin ông ký vào tờ giấy bãi nại này.

Lão chủ tịch là dân buôn bán chuyên nghiệp, khỏi cần suy nghĩ nhiều lão cũng biết đề nghị của Al Capone là hợp lý quá rồi: 50 ngàn còn đỡ hơn không có đồng nào, lại làm quen được với ông vua của giới giang hồ Chicago, sau này biết đâu chả có chuyện nhờ vả? Lão gật đầu đồng ý liền:

– Tôi đồng ý hoàn toàn, nhưng theo thủ tục, tôi phải hỏi lại Hội đồng quản trị đã. Ngày mai tôi sẽ cho ông biết kết quả.

Xếp Al gật đầu, bắt tay từ giã.

Đúng như lời xếp hứa với Guzick, hai tuần sau ngày gặp gỡ tại đại bản doanh của xếp, luật sư Verbatim chính thức nộp giấy bãi nại cho nó tại pháp đình Chicago.

Từ đó, cả hồn lẫn xác thằng Guzick thuộc về xếp Al Capone. Làm việc với xếp, nó chứng tỏ cho xếp biết 50 ngàn cứu mạng của xếp đã mang lại hàng triệu đô la tiền lãi. Đầu óc kinh doanh và tổ chức của nó phải nói không thua gì các đại thương gia, hoặc có thể nói, về địa hạt hệ thống hoá cách làm ăn của giới giang hồ, nó còn ăn đứt quí vị này.

Guzick tổ chức lại toàn bộ hệ thống điều hành của đế quốc Al Capone.

Về lãnh vực nhà thổ, khách làng chơi đến mua một cái thẻ. Thẻ này sẽ được giao cho các em điếm sau mỗi lần đi khách. Cuối ngày các em nộp thẻ lại lãnh tiền. Thẻ cũng có nhiều màu để phân biệt hạng sang, hạng rẻ. Thằng ma cô nào chịu trách nhiệm nhà thổ chịu luôn trách nhiệm tài chánh. Tiền bạc mà không sòng phẳng là mất chức ngay.

Các nhà hàng bán rượu lậu, cứ tính số lượng rượu giao mà thu tiền. Thằng nào khéo léo thì kiếm chác được chút ít, thằng nào ngu dốt để thua lỗ thì lấy tiền túi mà bù vào, khỏi canh chừng làm gì mất công.

Cờ bạc là cái khó kiểm sóat và nhiều huê lợi nhất, Guzick chú ý đặc biệt. Các sòng bạc của Al Capone không còn cho ăn thua bằng tiền nữa. Ai muốn đánh phải đem tiền tới ghi sê để lấy phích. Nếu ăn thì đem phích tới đổi tiền về, sòng phẳng và lịch sự.

Lương lậu của nhân viên cũng được chia lại đàng hoàng, có nghạch trật như công chức nhà nước. Thấp nhất là thằng gác dan, ăn lương giờ. Rồi lên đến thằng ma cô, thằng đầu nậu, thằng chủ sòng, v.v. Chẳng những phát lương không, Guzick còn nghĩ ra chuyện cho ăn hoa hồng để khuyến khích anh em. Mỗi tuần lương phát một lần vào ngày thứ hai, và người nhận phải ký giấy hẳn hỏi. Các tiền lo lót cho thầy chú cũng được Guzick theo dõi và cho vào sổ kỹ càng. Ông nào lãnh bao nhiêu, lúc nào, nhất nhất đều có hồ sơ đầy đủ.

Guzick theo chân xếp như vậy là đã hơn 5 năm, tuyệt nhiên không bao giờ phạm một lỗi lầm nào, dù rất nhỏ. Uy quyền của nó chưa chắc đã thua gì Frank Nitti nhưng nó rất khéo léo, không bao giờ lên mặt ra vẻ này kia. Quan văn bao giờ cũng lịch sự và tế nhị hơn quan võ trong triều đình mà. Xếp Al Capone không có “consigliorie” chính thức nhưng nhiều thằng trong giới giang hồ coi Guzick như là một thứ “consigliorie” bán chánh thức vậy.

Xếp ngước mặt nhìn thằng Guzick:

– Thằng Mike Casey kể từ nay cho nó thêm 20 đô một tuần.

Guzick vâng dạ, hai con mắt tuy vẫn bình lặng lờ đờ sau cặp kiếng cận nhưng không phải là nó không nhớ. Thằng này trời cho có một trí nhớ đặc biệt. Khỏi cần ghi chép làm gì cho mất công, tất cả mọi chuyện, mọi con số hễ nó đọc qua một lần rồi là cả năm sau vẫn nhớ y chang không sai một dấu phẩy.

Xếp Al Capone đóng cuốn sổ lại:

– Lát nữa ông gọi ra hãng xe, nói tôi muốn đặt mua một chiếc Cadilac mới khác cho thằng Frank Nitti. Tốn bao nhiêu cũng được, tôi cần chiếc xe đó càng sớm càng tốt.

Guzick chỉ “dạ” lên một tiếng nhỏ nhẹ. Xếp hiểu như vậy là đủ rồi, chỉ thị của mình sẽ được thi hành đúng đắn. Cho đến bây giờ xếp mới nhận ra là tuy xếp luôn luôn thích nói, thích giảng dạy và lý luận, những đàn em thân tín luôn luôn ở bên mình lại là những đứa nói rất ít, như thằng Frank Nitti và Guzick. Có cạy mồm chúng cũng chỉ nghe được vài tiếng. Có lẽ đây là luật bù trừ của tạo hóa: người nói nhiều thích người ít nói.

Chỉ thị thứ ba trong ngày của xếp:

– Ông lo chuẩn bị giấy tờ và tiền bạc cho Oliver Randal đi New York vài ngày.

Rồi bảo một thằng cận vệ:

– Kêu Oliver Randal lên gặp tao. Bảo hắn chuẩn bị hành lý để sẵn sàng đón chuyến xe lửa sớm nhất chiều nay đi New York.

Từ sáng đến giờ, sau khi đọc tờ báo, hình ảnh của thằng cớm lạ ở xa mới xuống cứ ám ảnh mãi trong đầu óc xếp. Frank Nitti và Mike Casey đều đánh giá nó quá thấp. Lăn lộn giang hồ đã lâu, cũng như tất cả những lãnh tụ giỏi trên đời, xếp có khả năng đặc biệt trời cho là đánh hơi thấy người tài hay ngửi được kẻ thù nguy hiểm. Mike Casey bảo thằng này nổi tiếng là hung thần ở New York, tại sao về tới Chicago lại thua dễ dàng như thế? Đến ngay cả một thằng cớm hèn và bẩn như Mike Casey mà cũng không coi nó ra gì thì quả là chuyện lạ. Nhưng cứ dòm bản mặt nó trong báo cũng đủ khớp. Cái mặt đó đâu phải là tay vừa. Mắt thì sáng như sao chứng tỏ một đầu óc thông minh và quyết liệt tột độ, cằm thì bạnh ra đầy nghị lực.

Xếp quyết định gởi thằng Oliver Randale lên New York điều tra. Có gì đâu, dân giang hồ nào lại không có một cái tật chung là giữ “hồ sơ” mấy anh cớm dữ. Cánh mafia ở New York nếu bị Eliot Ness dẹp thì chắc chắn “hồ sơ” của nó phải còn nằm trong …trí mấy tay giang hồ. Có thằng nào đầy đủ khả năng thâu lượm tin tức bằng thằng Oliver Randal này?

Cách đây vài năm, trước khi đại chiến bắt đầu, cũng chính nhờ thằng Oliver Randal mà xếp nắm vững được hết các khả năng tham chiến cũng như tình trạng tài chánh của kẻ thù. Điểm hay nhất của thằng khỉ này là hầu như trời sinh nó ra để cho mọi người thích, chưa thấy ai ghét nó. Cái miệng nó hầu như lúc nào cũng sẵn sàng nở lên một nụ cười. Dân miền Bắc nước Ý có khác. Gặp ai nó cũng bô bô cái miệng, cười nói huyên thuyên, làm như “tứ hải giai huynh đệ” vậy. Nghề chính của nó là nghề buôn bán nhà cửa, nên giao thiệp rất rộng với đủ mọi hạng người.

Trong giới giang hồ, Oliver Randal chơi với tất cả mọi cánh nên hiểu biết nhiều. Hắn rất thận trọng, không đứng hẳn về phe nào cả. Ai có chuyện gì nhờ vả, Oliver Randal rất sẵn lòng với một số tiền thù lao phải chăng.

Cho đến một ngày nọ, phải, đúng hơn là một buổi chiều, đang ngồi trong một khách sạn thưởng thức đĩa mì ống tự nhiên xếp nghe tiếng hụ còi tùm lum của xe chửa lửa và cảnh sát. Frank Nitti vào thông báo là có một thằng chán đời nào đó leo lên đỉnh khách sạn đòi nhảy xuống tự tử. Nhân sinh quan của xếp xưa này là hễ thằng nào chán đời muốn chết, đừng bao giờ nên ngăn cản nó, hãy để cho nó chết theo ý nó.

Xếp thản nhiên vừa tính cuộn tiếp một khoanh mì ống bỏ vô miệng thì nghe thằng phụ tá nói nhẹ một câu làm xếp hết muốn ăn: “Thằng Oliver Randal chớ ai.”

Ai chớ để thằng này chết thì không được, vì xưa nay xếp vốn thích nó. Xếp vội vàng lau miệng theo Frank Nitti bước ra ngoài.

Chót vót trên nóc của khách sạn, thằng Oliver Randal đang ngồi rầu rĩ, quần áo đầu tóc rối bù. Đúng là con nhà này chán đời thật. Một tay nó thủ chai rượu, tay kia chỉ vào cái đám lính cứu hỏa chửi loạn lên:

– ĐM tụi mày, thằng nào vác xác lên đây là tao …nhảy xuống cái một. Đừng có ép tao quá…

Nói xong nó khóc hu hu coi rất thảm não. Cảnh sát và lính chửa lửa nghe nói vậy đâu có ai dám bò lên, đành đứng dưới nhìn. Xếp ngoắc tay Frank Nitti một cái, hai thày trò lẻn ra cửa sau, bí mật leo lên tới sân thượng.

Thằng Oliver Randal chưa kịp có phản ứng gì thì Frank Nitti và xếp Al Capone đã nhào tới kèm cứng nó, kéo tuột vào. Té ra cu cậu buồn đời chỉ vì khám phá ra con vợ ngoại tình. Mà nó ngoại tình ngay với thằng hàng xóm xưa nay vốn là bạn của Oliver Randal mới đau chớ. Thay vì đi kiếm thằng hàng xóm khốn nạn tặng cho nó một phát súng vào đầu, bản tính vốn hiền lành, Oliver Randal đi uống rượu cho say mèm rồi tính chuyện tự tử.

Đối với người Ý, nhất là trong giới giang hồ, tội gì thì tha được chứ tội tằng tịu với vợ bạn là tử hình. Xếp chỉ cần nghe tới đó là nổi xung lên, đích thân dắt ba thằng cận vệ phóng xe thẳng tới nhà tên hàng xóm phản trắc chẳng nói chẳng rằng xông vào lôi cổ nó dẫn ra xe.

Đang đêm, mụ vợ thằng gian phu trông thấy hung thần Al Capone xông vào nhà thì hoảng quá, muốn té xỉu luôn, không phản ứng hay la lối gì được. Chồng bị bắt đi rồi mụ cũng không dám báo cảnh sát. Dân Ý mà, chuyện này bên nhà ngày nào cũng không xảy ra? Sáng hôm sau, có một thằng cô hồn khác mặc áo vét tới thông báo là “ảnh đã …đi luôn rồi.”

Trước khi rút lui, nó móc túi ra một xấp giấy bạc trao tận tay bà:

– Chồng bà đáng tội chết nên đã chết. Bà cầm lấy mớ tiền này để lo mai táng và chuẩn bị cho tương lai. Đừng có tiếc thương làm gì cái quân vô hậu và bạc bẽo đó.

Nó chỉ chỗ cho bà đến lượm xác chồng rồi lên xe giông thẳng. Bà muốn ngất đi vì sợ hãi nhưng thấy bó bạc lớn quá, bèn bày ra đếm thử. Đúng mười ngàn đô la chứ ít gì? Mạng của chồng bà chắc chắn là hơn số bạc này nhưng biết làm gì bây giờ? Chửi rủa bậy bạ có khi còn bị đi luôn. Bà đành gọi xe nhà đòn đi với bà để lượm xác chồng. Đến nơi, bà chợt hiểu chồng mình phạm tội gì khi nhìn thấy cái của quý của xác chết bị thẻo mất tiêu…

Được cứu tử, lại rửa được cái nhục, thằng Oliver Randal từ từ nghiêng hẳn về cánh Al Capone. Tuy nó không chính thức ở dưới trướng nhưng không có công tác nào xếp giao mà nó từ chối. Xếp lại biết cách dùng người rất khéo. Cỡ Oliver Randal mà cử đi đánh nhau thì có khác gì dùng ngựa để bắt chuột? Xếp luôn luôn sử dụng đúng sở trường của nó là thâu lượm tin tức tình báo và tìm chỗ đầu tư vào bất động sản.

Lúc Oliver Randal xuất hiện thì xếp đang ngồi tiếp chuyện với ông dân biểu đảng Cộng hòa, Thomas Krauson. Ngài Krauson sắp tái tranh cử nên cần chút tiền bạc và vây cánh đây mà. Hai thứ đó thì xếp Al Capone đâu có bao giờ thiếu cho những nhân vật quan trọng cỡ dân biểu Hạ viện Hoa Kỳ?

Oliver Randal ngồi chờ chừng mười phút thì Guzick mở cửa cho nó vào:

– Xong rồi, tới phiên ông.

Oliver Randal liền đứng lên cười hà hà thật tươi làm Guzick cũng cười theo. Thằng này thật là dễ chịu, lúc nào cũng cười toe toét và yêu đời được. Gặp ông dân biểu từ trong bước ra, nó không bỏ lỡ cơ hội liền biểu diễn cái màn bắt tay bắt chân long trọng và tặng cho ông khách quan trọng mấy cái danh thiếp rồi mới thủng thỉnh bước vào.

Gặp nó, xếp Al Capone cũng thấy yêu đời hẳn. Cái vẻ lầm lì khó chịu sáng giờ biến đâu mất tiêu, xếp chỉ vào quầy rượu:

– Ông bạn Oliver Randal làm một ly chớ hả? Có thứ Cognac ngon bên Pháp mới về.

Oliver Randal có bao giờ biết từ chối cái gì. Có lẽ vì vậy mà nó càng ngày càng trở nên phương phi quá khổ. Ngồi ung dung nhàn nhã trong chiếc ghế bành với ly rượu trên tay, trông Oliver Randal không khác gì một đại tư bản nhàn hạ.

Xếp Al Capone đưa tờ báo có hình ông cớm cô hồn đang trợn mắt la hét cho Oliver Randal coi:

– Sáng nay ông có đọc báo không?

Oliver Randal chưng hửng:

– Báo chí thì sáng nào tôi chả đọc, nhưng chỉ đọc mục …bán nhà cửa và mục thể thao. Trang một toàn chuyện chính trị, đọc nản bỏ xừ. Mà sao, có chuyện gì không xếp?

Nói đến đó, Oliver Randal cũng vừa đọc được cái hàng tít và tấm hình ở trang một, bèn liếm lấp:

– Chà, thằng nào mà ngon dữ vậy. Cảnh sát mà sao lại mồm miệng thế này?

Xếp Al Capone ngồi vào bàn, ngã người ra sau:

– Mồm miệng là cái không quan trọng. Cái đáng sợ nhất là con người của nó kìa.

Chợt nhớ ra điều gì, Oliver Randal hỏi xếp:

– Hồi nãy trong điện thoại, tụi nó bảo tôi chuẩn bị đồ đạc để đi New York, có phải về chuyện này không xếp?

– Đúng. Tôi muốn nhờ ông lên New York một chuyến, ghé qua ông bạn Luciani để dò hỏi cho tôi về tin tức của thằng cớm này. Cái tôi muốn biết nhất là coi xem nó có phải là một hung thần như lời thiên hạ đồn đãi không? Hay nó chỉ nhờ đàn em xông pha rồi ở nhà mà lãnh huy chương như đa số mấy thằng cảnh sát chết nhát khác?

– Cái đó thì dễ, nghề của tôi mà!

– Nếu quả nó ghê gớm như vậy, hỏi anh em trên đó coi …giá của nó là bao nhiêu, có ai mua nổi nó không?

– Cũng dễ luôn, nghề của tôi mà.

Xếp Al Capone cắm một điếu xì gà lên môi, quay mặt một tí sang phải cho đàn em mồi lửa:

– Chưa đã hết. Nếu không ai mua nó được, thì hỏi coi cách thức làm ăn của nó như thế nào? Nó thích cái gì, có tật xấu gì, muốn bứng nó thì phải thế nào, v.v. Tóm tắt, nếu không mua nó được thì cách nào hay nhất để giết nó?

Xếp khỏi cần nói dài dòng, Oliver Randal cũng hiểu hết ý của xếp. Chiến thuật của xếp luôn luôn là như vậy: tiên lễ hậu binh. Mới đầu là dụ dỗ, là tiền bạc. Nếu hai thứ này không xong thì đến phần hăm dọa. Phần thứ ba là chỉ còn con đường vào nghĩa địa. Cái chết của biện lý McSwiggn ngày nào máu còn ướt đẫm đường phố Chicago, mấy ai đã quên được?

Xếp Al Capone nhìn Guzick:

– Ông giao cho ông bạn Oliver Randal năm ngàn đô làm lộ phí.Oliver Randal nhận tiền, luôn miệng suýt xoa “đàn anh đưa nhiều quá, tiêu làm sao cho hết?” nhưng vẫn ẳm xấp bạc bỏ vào túi. Xếp Al Capone nhìn nó cười dễ dãi:

– Sứ giả của Al Capone phải ăn ở cho đàng hoàng, đâu có phải bạ đâu cũng ngủ được?

Oliver Randal cười lên thật lớn, hể hả. Nó biết đàn anh chi địa rất đẹp nên xưa nay, có lúc nào đàn anh nhờ gì mà nó từ chối? Như chuyến đi bất ngờ ngày hôm nay, dù đang bận rộn với bao nhiêu công chuyện nó cũng dẹp qua một bên để đi lo việc cho xếp.

Xếp Al Capone thân mật vỗ vai nó, khoác vai dìu ra cửa. Xếp khoái thằng này thật tình. Xưa nay, xếp đâu có thèm khoác vai ai bao giờ?

Chiều hôm ấy, Oliver Randal đón chuyến xe lửa sớm nhất lên New York…

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 15 Apr 2025

Chương 14.

NGƯỜI TÙ CÔNG VỤ TRÔNG COI VIỆC XÉT đơn thăm nuôi của các phạm nhân, trả lại tấm đơn cho Ngọc:

– Đúng, trước kia có quân phạm này nhưng nay anh ta đã được trả tự do rồi.

Ngọc nhìn anh ta, nàng hồi hộp:

– Thưa tự do rồi sao, thưa được thả bao nhiêu ngày rồi?

– Phòng can nhân cho biết anh ta được trả tự do hơn nửa tháng nay.

Ngọc xách giỏ đồ thăm nuôi, nàng nghĩ đến Mình thật nhiều, nàng tưởng chừng như Minh đang đi tìm nàng từ khi được trả tự do, có lẽ Minh đã tìm đến nhà nàng nhưng không gặp, nàng nghĩ chắc chắn là chàng phải tìm Ngọc. Ngọc tự trách mình khi dọn nhà đi không để lại địa chỉ mới. Ngọc hỏi lại người công vụ:

– Thưa ông, ông có biết rằng chồng tôi được tự do, anh ấy có về lại đơn vị không?

Người tù công vụ lắc đầu: hỏi.

– Tôi không biết, bà nên làm đơn

– Thưa tôi phải hỏi ở đâu? Người tù công vụ lại lắc đầu:

– Thật tình mà nói tôi cũng không biết chuyện đó, nhưng bà có thể nhờ người sành về giấy tờ người ta lo cho.

Ngọc đứng bần thần. Người công vụ tiếp:

– Có những người chuyên môn lo về việc này, bà có thể tìm đến họ.

– Thưa ở đâu, ông có thể chỉ cho tôi biết được không?

– Bà ra tòa án có những người chuyên môn làm đơn thuê, họ có thể lo được cho bà, bà cứ ra tòa thì biết.

Ngọc mừng rỡ:

– Cám ơn ông. Nàng cúi nhìn cái giỏ đồ ăn của mình, nàng tính mang đi để tặng Minh, nhưng Minh không còn đây nữa, nàng mang về làm gì? Nàng nhìn người tù công vụ, anh ta trông gầy còm xanh xao, có lẽ anh ta cũng khổ sở như Minh. Nàng hỏi anh ta:

– Gia đình anh có hay vào thăm nuôi không?

Gã tù công vụ buồn bã:

– Không bao giờ, vì tôi không có ai là thân nhân ở đây hết.

Ngọc xúc động khi nghe anh ta nói như vậy, càng nghĩ thương Minh, nàng thương lây tới hoàn cảnh anh tù công vụ, nàng không cần biết anh ta ta tội gì, nàng thấy anh ta tù tội là nàng xúc động rồi.

Nàng nghĩ đến bức thơ nàng nhận được của Minh, nói về cảnh tù tội, những nỗi oan ức, biết đâu người này không oan ức.

Ngọc nhìn anh ta một lần nữa, mặc dầu nàng tội nghiệp anh ta, nhưng nàng thấy khó nói khi nàng tặng anh ta giỏ đồ ăn, mãi một lúc nàng mới nói được:

– Thưa anh, tôi có đọc thư của chồng tôi cho tôi biết rằng những người tù nào không được thăm nuôi thì khổ sở lắm.

– Dạ, điều đó thì dĩ nhiên, nhưng những người mồ côi còn may là còn ăn được của bạn bè, những người đó có gì cũng đều chia sớt cho chút đỉnh.

Ngọc vào đề ngay:

– Hôm nay tôi đến đây thăm nuôi chồng tôi, nhưng chồng tôi đã được trả tự do rồi, tôi cũng không cần mang giỏ đồ này về làm gì.

– Dạ.

– Tôi xin biếu lại anh, tôi mong rằng anh không nỡ từ chối.

Gã tù công vụ mặt tươi lên, hẳn lắp bắp cảm ơn. Gã nhìn Ngọc bằng đôi mắt biết ơn:

– Cám ơn bà, tôi không biết nói gì hơn.

– Không có gì nhiều, ngoài vài món đồ lặt vặt thông thường, một ít kẹo bánh.

Ngọc trao giỏ đồ cho gã, một lần nữa gã cám ơn. Nàng ra khỏi phòng thăm nuôi, Ngọc nghĩ về Minh thật nhiều, không biết bây giờ chàng ở đâu?

Nếu Minh được trả về đơn vị thì trước sau gì chàng cũng tìm nàng, Ngọc đã cẩn thận dặn mấy người bạn còn làm ở tiệm uốn tóc, mà nàng đã thôi việc, nếu thấy Minh đến, thì chỉ Minh biết ngay địa chỉ mới của Ngọc, Ngọc đã nhận được lá thư của Minh, quá chậm. Khi nàng nhận được thư nàng đã vội vàng làm đơn xin thăm nuôi Minh ngay.

Kể từ ngày Minh biệt tích đến giờ, Ngọc mới nhận được tin tức đầu tiên của chàng, thì ra chàng bị bắt, Ngọc không tin chàng lại nhúng tay vào một việc gì khác khi nhìn thấy hạnh phúc gần kề, hình ảnh Minh phóng lớn trong đầu óc Ngọc, nàng nghĩ đến khuôn mặt hiền lành đôn hậu của chàng, một khuôn mặt lúc nào cũng phảng phất nỗi buồn, những tiếng nói của chàng lúc này còn văng vẳng bên tai Ngọc:

– Anh chán lắm rồi, mệt mỏi lắm rồi, anh không còn thiết gì nữa ngoài em, tất cả hoài vọng nào anh từng ôm ấp trước kia, nay không còn gì nữa, chỉ còn lại em, anh cảm ơn trời không phụ bạc anh, như vậy đã là đủ lắm rồi.

Sau đêm Cách Mạng hụt, Ngọc không thấy Minh trở lại căn gác của nàng nữa, trong tuần lễ đầu tiên Ngọc nghĩ Minh bị cấm trại nên không thể ra với nàng được nhưng một tháng trôi qua, Ngọc không còn kiên nhẫn, nàng đi dò hỏi những người Không Quân, một người Trung sĩ bạn của người bạn Ngọc cho biết có lẽ Minh phải đổi đi xa, bất thình lình. Ngọc lại nhẫn nại chờ đợi, nàng nghĩ trước sau gì Minh cũng viết thơ cho nàng hay, làm cách nào đó báo tin cho nàng biết đơn vị mới. Nhiều người bạn Ngọc trêu nàng:

– Thôi, đúng anh chàng vồ được em nào hơn mày rồi, nếu không có thì lý gì làm lơ với mày, mày chẳng thường nói chàng yêu mày lắm sao.

Ngọc cực lực lên án những lời nói của các bạn, nàng buồn bã:

– Tao linh cảm thấy một chuyện gì đó đã xảy ra cho Minh, một chuyện không may, nhưng dù sao thì tao cũng chờ đợi ảnh.

– Mày chờ đợi đến bao giờ, thôi quên hắn đi. Tao giới thiệu cho mày một anh chàng khác bảnh hơn.

Ngọc giận dữ bỏ đi. Trời nắng chang chang. Ngọc tạt vào một quán cà phê, nàng gọi một ly cà phê đá uống cho tỉnh ngủ. Nàng buồn bã đến tột độ, nàng thấy người mình rã rời, nàng thèm một giấc ngủ nhưng nàng xua đuổi ý nghĩ đó đi ngay. Không được, bây giờ mình phải làm mọi cách lo cho Minh, nàng nghĩ đến lời nói của gã tù công vụ hồi nãy nói với nàng.

Ngọc trả tiền cà phê, nàng gọi xe lên thẳng tòa án. Những gã làm đơn thuê ngồi đầy bên hông tòa án, Ngọc không cần phải tìm kiếm lâu. Họ tới bên cạnh Ngọc hỏi:

– Cô cần làm đơn gì không?

Ngọc chọn một người đứng tuổi, trông có vẻ đứng đắn, nàng gật đầu:

– Dạ tôi muốn nhờ bác một việc. Gã làm đơn thuê mau mắn:

– Làm đơn phải không?

Mấy gã làm đơn thuê còn đứng xớ rớ, gã kia nói:

– Thôi, chúng mày đi đi, cô đây thuê tao rồi.

Ngọc thấy trường hợp của nàng khác hơn những trường hợp người khác, nàng đang phân vẫn không biết nói sao, gã làm đơn thuê hỏi ngay:

– Cô cần làm đơn gì? Về việc tòa án chúng tôi thông thạo, tôi có quen nhiều nhân viên trong tòa, tôi có thể giúp cô được, tôi cũng cần nói cho cô biết rằng, cô làm đơn khơi khơi đưa vào là không được, chỉ những đơn qua tay chúng tôi mới dễ dàng mà thôi, một cái đơn có mấy chục bạc, vừa tiện lợi cho cô vừa khỏi mất công, tôi cam đoan là được mà…

– Nhưng chuyện này của tôi…

– Có phải là một chuyện khó không?

– Vâng thật ra thì cũng như vậy, hơi có chút rắc rối.

– À chuyện khó, không sao, cô cứ giao tôi, tôi giải quyết thiếu gì chuyện khó, xong hết, ăn thua ở mình biết bắt áp-phe.

Gã chỉ sang bên vườn hoa trước cửa tòa án:

– Cô sang bên kia ngồi kể cho tôi nghe nội vụ, tôi mới biết đường mà chạy chọt chớ, ngày hôm qua tôi cũng mới lo xong một vụ, tôi nghĩ rằng vụ của cô không khó hơn vụ của tôi đã lo.

Nghe gã nói Ngọc tin tưởng, nàng theo hắn sang bên vườn hoa trước cửa tòa án. Gã mời Ngọc ngồi xuống cái ghế xi măng, gã cũng ngồi xuống cạnh, mau mắn hỏi luôn:

– Thế nào, cô có thể kể ngay cho tôi biết được không? Sau đó tôi sẽ đi lo liền tức thì.

Ngọc trao cho hắn tờ giấy thăm nuôi Minh, nàng hỏi:

– Hồi nãy tôi vô thăm nuôi ảnh thì người ta cho biết ảnh được trả tự do hơn nửa tháng nay, ảnh là quân phạm nên người ta phải đưa ảnh về đơn vị, nhưng tôi không hiểu vì sao mà không có tin tức gì hết, tôi nghĩ ảnh lại bị chuyện gì rồi, bây giờ tôi muốn biết ảnh ở đâu?

Gã làm đơn thuê đeo kiếng trắng gọng đồi mồi lên mắt, gã đọc kỹ đơn thăm nuôi, ghi tên Minh và sổ thẻ bài của Minh, gã gật gù ngẩng lên hỏi Ngọc:

– Anh Minh nầy tự do ngày nào? Ngọc lắc đầu:

– Tôi cũng sơ ý không hỏi ảnh được tự do ngày nào nữa, nhưng khoảng hơn nửa tháng nay thôi.

Gã làm đơn thở ra:

– À đó cũng là một vấn đề, nhưng thôi được, để tôi lo cho, trước hết tôi phải tới khám đường hỏi ngày mãn án của đương sự, việc nầy rắc rối như một nắm chỉ rối, mình phải biết tìm mối mới gỡ ra được; chị công nhận vậy không?

– Dạ tôi đâu có biết gì, trăm sự cũng nhờ ông.

Gã làm đơn thuê cười, gã tự quảng cáo cho mình:

– Chị tìm đến tôi là khôn ngoan lắm đó, nếu chị nhờ mấy thằng kia sẽ không đi đến đâu hết trơn, chúng nó đâu có nhiều kinh nghiệm như tôi, ngày xưa tôi là một nhân viên làm việc tại tòa án nên tôi có nhiều kinh nghiệm.

– Dạ.

Gã ngẩng lên nhìn thẳng vào mặt Ngọc:

– Chị cần lo ngay chuyện này chứ?

– Dạ càng sớm càng tốt.

– Nhưng thủ tục giấy tờ không chóng đâu, nếu có quen thuộc mình cho họ ít tiền trà nước thì cũng xong, chị đừng lo gì hết, những nhân viên làm việc tại khám Chí Hòa tôi quen hết, tôi sẽ đích thân vào trong đó hỏi họ, họ lục số cho mình là mình biết ngay mà, nhưng để hợp lệ tôi cần làm một cái đơn cho chị, tôi sẽ cầm cái đơn đó vào trong khám, thay mặt cho chị, tôi hỏi ngay ngày tự do của chồng chị, cửa thứ nhất đã mở mình lần mò tới những cửa khác.

Ngọc thấy gã nói có lý, gã tiếp:

– Theo đúng luật ra thì đơn phải gởi ra tòa án, nhờ tòa chuyển cho ông Quản đốc trung tâm cải huấn Chí Hòa, rồi chị phải chờ một thời gian sau, người ta mới trả lời chị biết, nhưng với tôi thì chuyện ấy không thành vấn đề.

Gã nhìn Ngọc với con mắt dò xét: – Tôi phải tìm cách đi tắt, mình phải đốt giai đoạn để tiết kiệm thời giờ, nếu theo thủ tục hành chánh thì còn gì là chồng chị nữa.

– Dạ trăm sự nhờ bác, tôi rối trí quá rồi không biết tính sao nữa.

– Chị cứ yên trí đi, tôi là người ngoài tôi bình tĩnh, bây giờ tôi làm cho chị một tờ đơn.

– Dạ thưa vâng.

Gã cắn môi suy nghĩ:

– Đáng lẽ ra đơn loại này người ta tính một trăm đồng, nhưng thôi, tôi thấy trường hợp của chị tôi lấy làm cảm động, tôi chỉ lấy chị năm chục bạc thôi.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 15 Apr 2025

Chương 13.

MINH THỞ PHÀO, THẾ LÀ HẾT NỢ, chàng đã ra tòa, chàng chỉ bị xử có năm tháng tù treo, chàng đã ở trong khám này tới bảy tháng, bây giờ Minh có thể trở về đơn vị, chắc chắn Minh sẽ được giải ngũ. Buổi sáng hôm nay Minh dậy thật sớm, chàng đốt lò lên, pha một ly nước trà uống, đợi trời sáng. Quang ngồi cạnh chàng, hắn uống trà với chàng. Minh nhìn qua song sắt, trời vẫn còn mờ mờ tối, đèn trong phòng giam sáng trưng, Minh nhìn những người bạn còn đang ngủ say sưa, Minh bỗng thấy thương chúng, không biết bao giờ chúng mới được tự do.

Minh nói với Quang:

– Tao được ra, nếu tao được giải ngũ tao sẽ viết thơ vào cho mày hay.

– Chắc chắn mày được giải ngũ rồi, tao nghe nói không bao giờ họ giữ lại một thằng lính có án.

– Có án cũng được, tao không còn ham nữa, giải ngũ sớm ngày nào hay ngày ấy.

– Nếu mày được giải ngũ mày sẽ làm gì đầu tiên?

– Tao đi tìm vợ tao.

Minh đã kể cho Quang nghe về Ngọc. Quang nghi ngờ:

– Có chắc Ngọc còn chờ mày không?

– Tao không biết tại sao tao vẫn tin

Ngọc còn chờ tao.

– Hy vọng thế thôi, thời buổi này… Quang ngừng ngang rồi nói:

– Xin lỗi, sở dĩ tao nói vậy vì tao nghĩ đến tao, tao có một con vợ đã bỏ tao đi lấy trai.

Minh ngó bạn, chưa bao giờ Minh nghe bạn nói về chuyện ấy. Quang tiếp:

– Mãi tới hôm nay tao mới nói cho mày nghe bởi vì tao chán con vợ tao, tao không muốn nhắc tới nó nữa, nó đã bỏ tao khi tao đổi đi xa, tao có một đứa con nó bế đứa con tao về cho mẹ tao rồi bỏ đi luôn, cho đến ngày về má tao mới nói cho tao hay.

Quang nén tiếng thở dài:

– Mẹ tao thì già yếu quá, con tao còn nhỏ, sau đó tao đã đào ngũ để về nuôi mẹ nuôi con, tao đã bị bắt mày biết đó.

Quang yên lặng một lát:

– Nếu hôm đó tao có mấy bò đút túi thông cảm cho cảnh sát thì tao đâu có bị bắt.

– Tao không hiểu mày nói gì? Quang chậm rãi kể:

– Tao có một chỗ sửa xe ở đầu đường, sáng hôm ấy tao ra sớm, có mấy đồng bạc tao đến quán cà phê uống cho tỉnh ngủ, uống xong tao trở về chỗ làm việc, trên đường về tao gặp cảnh sát hỏi giấy, tao xin cảnh sát thông cảm, gã cảnh sát hỏi tao thông cảm thế nào? Tao chỉ biết thông cảm xuông vậy thôi, vậy là tao lên xe cây, bây giờ tao ngồi đây thì mày biết rồi đó, tao chỉ còn bốn tháng nữa thì trả nợ xong cái án đào ngũ này.

– Có thể giải ngũ không?

– Tao không tin, có lẽ tao còn trở về đơn vị nữa, tao nghe nói hồi này đánh nhau dữ lắm, chính phủ mình cần lính.

Minh buồn bã:

– Có lẽ tao không được giải ngũ.

– Rất có thể, Không Quân không nhận mày nữa, người ta đày mày sang lục quân mấy hồi.

– Tao chán ngấy chuyện ấy.

– Chán cũng không được, mày đâu có phải là mày nữa.

Minh ngồi im chàng nhìn ra ngoài song sắt, trời bừng sáng, Minh nghe tiếng dép lẹp xẹp trên hành lang, Minh uống nốt hớp nước trà.

Quang nắm tay bạn:

– Chúc mày về được may mắn.

– Cám ơn.

Minh đứng dậy, chàng nghe tiếng gọi những quân phạm được trả tự do ở phòng bên cạnh, người công vụ ngó vào song sắt gọi tên Minh. Minh mỉm cười với bạn:

– Thôi về nhé.

Phòng giam bây giờ đã có người dậy, Minh mỉm cười nhìn họ, chào họ. Minh lách mình ra ngoài song sắt, tiếng khóa cửa lách cách lạnh lùng. Trời chưa sáng rõ mặt người, Minh xuống cầu thang với người công vụ, các phạm nhân được trả tự do từ các phòng giam khác đang lục tục kéo nhau xuống phòng can nhân. Minh được xếp ngồi chung với những người quân phạm. Minh nhận thấy ít người mặt mũi tươi tỉnh, Minh hỏi một người ngồi cạnh mình:

– Trả hết án chưa?

– Trên nguyên tắc thì xong.

– Thế là làm sao?

Gã ngồi cạnh Minh mời chàng một điều thuốc lá, gã chán nản ra mặt:

– Với những thường phạm thì ra khỏi khám này họ được tự do, nhưng với tôi thì khác, tôi cũng chưa biết được khi mình ở đây ra người ta sẽ đưa mình tới đâu nữa. Chắc chắn tôi có một người bạn được trả từ khám này ra, sau đó nó có viết thư gởi cho tôi biết nó bị đưa đi quân lao rồi bổ sung vào một đơn vị chiến đấu. Mặc dầu mình đã ở tù nhưng mình chưa trả hết nợ nhà binh mà.

Minh thắc mắc:

– Nhưng tôi nghĩ chuyện đó chỉ áp dụng cho bộ binh còn tôi ở Không Quân mà.

Gã quân phạm hít một hơi thuốc nhả khói mịt mù:

– Chuyện đó thì tôi không biết, nhưng tôi nghĩ thì đâu cũng vậy.

Bây giờ tiếng kèn chào cờ mới vang lên ngoài bồn nước, người bạn ngồi cạnh Minh đứng dậy:

– Thôi mình suy tôn Ngô tổng thống nốt lần cuối cùng này cho xong.

Minh và tất cả các bạn đều đứng dậy. Buổi chào cờ chấm dứt, mọi người ngồi xuống đất, người bạn ngồi cạnh Minh nói:

– Mọi ngày suy tôn Ngô tổng thống hai lần, tôi đã suy tôn Ngô tổng thống gần tới hai ngàn lần, suy tôn hơi kỹ đó, không biết ông còn sống được bao nhiêu ngày nữa, ấy cái sự chúc mừng suy tôn có khi lại chính là cái điềm gở.

Minh im lặng, chàng không muốn nghĩ gì trong lúc nầy, chàng cũng khô- ng thấy vui mừng khi biết mình được trả tự do. Minh thở dài: muốn sao cũng được, bây giờ Minh không còn là Minh nữa. Chàng không biết mình sẽ đi đến đâu. Minh không còn tưởng tượng nổi bất cứ một chuyện gì. Minh thấy mình bạc nhược sau những tháng ngày tù tội.

Bỗng một người tù công vụ chạy đến đám tù nhân gọi tên Minh. Minh lên tiếng đứng dậy:

– Tôi đây, có chuyện gì không?

Gã tù công vụ ngoắt Minh vào trong bàn giấy, người giám thị trưởng phòng:

– Có giấy tờ cho anh.

Minh xốc lại quần áo, khi chàng đứng trước mặt ông giám thị, ông ta đưa ra một tờ giấy:

– Đây là giấy tờ Không Quân gởi về cho tôi về việc anh. Trước khi anh được tự do, chúng tôi có báo cáo cho đơn vị anh biết để tới đón anh về…

Minh hồi hộp, chàng không giữ nổi bình tĩnh chàng ngắt lời ông giám thị:

– Thưa ông, vậy tôi trở về đơn vị?

Ông giám thị cúi nhìn xuống tờ giấy:

– Đơn vị anh đã xóa tên anh, giấy tờ gởi đến một cơ quan khác để định liệu, anh sẽ trở về đơn vị Quản trị, rồi ở đó người ta tính sau cho anh hoặc là anh được giải ngũ hoặc là anh phục vụ ở một đơn vị khác.

– Thưa ông, tôi muốn xin được giải ngũ vì tôi phục vụ ở quân đội đã lâu.

Ông giám thị ngẩng đầu lên:

– Không phải thầm quyền của tôi, anh nói với tôi làm gì vô ích.

Minh cúi đầu, chàng thấy mình vô lý thật, chàng vì nóng lòng quá mà quên mất, ông giám thị này không có quyền gì ngoài quyền coi tù. Minh cúi đầu:

– Cám ơn ông, ông đã cho tôi biết.

Ông giám thị đứng dậy thân mật vỗ vai Minh:

– Không biết chúc gì cho anh hơn là mong mỏi anh đừng bao giờ trở lại nơi này nữa.

– Cám ơn ông trưởng. Ông giám thị giục Minh:

– Thôi anh ra đi sắp đến giờ xe chạy rồi đó.

Minh cám ơn ông giám thị một lần nữa, chàng trở ra phòng đợi. Trời đã bắt đầu sáng, ánh nắng đầu tiên trong ngày chiếu qua song sắt trên trần nhà.

Minh nghĩ đến chuyến đi của mình, chàng không biết mình sẽ phải đi đến nơi nào, chàng thở dài, buông xuôi mặc cho số phận đưa đẩy. Người bạn ngồi cạnh Minh tò mò hỏi:

– Sao, họ kêu anh vào có chuyện gì?

Minh mệt mỏi, mệt mỏi đến độ không còn muốn trả lời người bạn mình nữa, chàng lắc đầu:

– Không có chuyện gì hết.

Chàng ngồi bệt xuống đất hai tay bó gối, chàng gục đầu trên đầu gối mình.

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 13 Apr 2025

Chương 10.

Hôm đó, như lời chàng đã dặn Catherine, mãi gần 5 giờ sáng Eliot Ness mới về đến nhà.

Catherine vẫn còn ngủ yên trong phòng. Tắm một cái rồi thay bộ quần áo khác, chàng viết mấy chữ để trên bàn cho vợ rồi phóng ra xe đi tiếp.

Eliot Ness phóng xe như bay tới nhà thằng Stash Mose để tìm sự thật. Hàng trăm nghi vấn trong đầu chàng cần phải được giải đáp, và người có thể giải đáp được là Stash Mose.

Giữa ánh sáng bình minh mờ mờ hơi sương của Chicago, dù chân ga đạp đã lút cán, tiếng máy gầm lên làm náo động cả khu phố mà Eliot Ness thấy sao chiếc xe vẫn còn chạy chậm quá. Sau nửa tiếng đồng hồ vật lộn với tay lái, xém ủi vào cột đèn mấy bận, nhà thằng Stash Mose đã bắt đầu xuất hiện xa xa.

Lần này khỏi cần giữ miếng, chạy đến gần ngay trước nhà tên mật báo viên Eliot Ness mới co giò đạp mạnh thắng. Bốn bánh xe nghiến mặt đường kêu ken két giữa một khu phố còn đang im lặng ngái ngủ.

Xe chưa kịp ngừng là chàng đã bay xuống.

Có cái gì lạ lạ trong nhà này, giác quan thứ sáu của người cảnh sát báo động. Cánh cửa ra vào hình như không được khóa, chỉ khép hờ hờ. Móc cây Colt .45 ra, chàng nhảy đến đứng sát bên cửa nghe ngóng. Im lặng.

Ước lượng chính xác tầm bắn nếu bị tấn công bất ngờ, Eliot Ness đạp tung cánh cửa, chĩa súng vào trong. Không thấy gì cả nhưng chàng ngạc nhiên vì điện bật sáng choang cả nhà.

Vậy là có chuyện rồi, thằng Stash Mose xưa nay đâu có phí điện kiểu này.

Eliot Ness nhảy vào nhà, súng cầm tay đi từ từ tới cái phòng ngủ nơi chàng và Stash Mose ngồi nói chuyện mấy hôm trước. Không thấy động tĩnh gì, Eliot Ness đẩy nhẹ cánh cửa.

Dù đã quá quen với những cảnh chết chóc suốt gần mười năm trong nghề cảnh sát, Eliot Ness bật lên một tiếng kêu nhỏ khi nhìn vào trong phòng. Xác chết của Stash Mose nằm trên giường, máu đọng từng vũng trên nệm. Không biết nó chết lúc nào.

Chàng bước vào, nhìn kỹ vào khuôn mặt. Eliot Ness bỗng cảm thấy muốn nôn oẹ, nấc lên: “Oh my god!”

Hai con mắt của Stash Mose đã bị ai móc ra khỏi, giờ chỉ còn là hai cái lỗ đỏ lòm sâu hoắm. Từ lỗ tai này sang dến lỗi tai kia, hình như có một vật gì xuyên thấu qua. Nhìn kỹ lại thì đó là một cây sắt nhọn mà người ta hay dùng để chỉa nước đá.

Eliot Ness phải lắc đầu mấy cái cho tỉnh người. Vậy ra đó là hình phạt mà thằng khốn nạn Al Capone dành cho những đứa chỉ điểm sao?

Cặp mắt lão luyện của Eliot Ness lướt một vòng quanh phòng. Không có dấu hiệu đập phá hay đánh nhau ở trong này. Vậy là tụi khốn nạn đã vào bất ngờ lắm, vào rất đông và phải làm chủ tình hình ngay lúc đầu tiên.

Chàng thò tay vơ đại lấy một cái áo trắng phủ trùm kín mặt thằng Stash Mose. Ghê rợn quá, Eliot Ness bây giờ mới nhớ đến lời ông trưởng phòng nói ngày nào về cái chết của một em điếm bị Al Capone trừng phạt: “cứng như McSwiginn mà còn muốn ngất xỉu khi nhìn thấy cái xác chết bầm dập của cô gái.”

Tạm để đó đã, chàng đi kiểm soát khắp nhà một vòng rồi mới trở về ngồi bên xác chết của Stash Mose.

Chưa lúc nào chàng cảm thấy cần một điếu thuốc như lúc này.

Ủa, gói thuốc cầm sẵn trong tay mà sao mò lấy một điếu không được. Eliot Ness chợt khám phá ra bàn tay mình đang run lên vì giận giữ đến độ không thể nào thò nổi một ngón vô miệng bao.

Chàng xé toạc bao thuốc, rút lấy một điếu. Phải cố gắng lắm mới đưa được đầu lửa vào mồi điếu thuốc.

Lật xác của thằng Stash Mose sang một bên, chàng thấy thân thể nó bầm tím khắp nơi. Không có đủ can đảm để nhìn thêm, Eliot Ness bước ra khỏi phòng, khép cửa lại sau lưng.

Nghĩ sao, chàng lại quay trở lại, cúi đầu, nắm tay cái xác chết thì thầm: “Ông bạn Stash Mose thân mến! Tôi chưa được biết ông bạn nhiều, chỉ gặp ông bạn có một lần, nhưng sự hy sinh của bạn tôi không thể nào quên được. Tôi hứa với ông bạn, tôi sẽ tìm ra thằng hèn nhát nào đã gây cái chết này. Tôi hứa với ông bạn, tôi sẽ trừng trị nó thích đáng để trả thù cho ông bạn.”

Nói hết câu, lòng Eliot Ness tự nhiên cảm thấy mình bình tĩnh hơn nhiều. Chàng quay gót, khép cửa nhẹ nhàng lại đằng sau lưng.

Nhà Stash Mose không có điện thoại, chàng ngồi bệt trước thềm nhà, mặt tư lự nhìn ra xa xăm.Vừng thái dương cũng từ từ ló dạng chiếu những ánh bình minh nhạt nhòa xuống khu phố. Đau đớn quá, Eliot Ness tự trách mình. Xưa nay nổi tiếng khắp giới giang hồ là “The best cop of America” mà vừa về tới Chicago đã bị quất cho mấy vố như thế này thì cái chữ “best” có thể sửa được lại là “stupid”. Chắc hẳn thằng Al Capone giờ này đang ngồi nhà ăn mừng chiến thắng. Sao mình lại vụng về để cho một mật báo viên đáng giá hạng nhất của Chicago, người mà ông biện lý Morgan phải mất mấy năm mới gài vào được hệ thống làm ăn của Al Capone, bị giết chết một cách thê thảm. Vì cuộc thất bại tối qua, nếu tên tuổi của chàng bị vùi dập chàng không cần đến, ngay đến cả chết cũng còn coi chẳng ra gì nhưng sự mất mát ngày hôm nay, Eliot Ness biết chàng sẽ không bao giờ tha thứ cho chàng được.

Chàng vất điếu thuốc ra đường, vừa vặn nhìn thấy một người thả bộ đi ngang qua. Eliot Ness vẫy lại, giơ cái tín bài cảnh sát cho ông già coi:

– Tôi là cảnh sát, nhờ ông tới trạm điện thoại kêu dùm …cảnh sát.

Ông cụ già chưa hiểu đầu đuôi thì Eliot Ness ngoắc đầu nói luôn:

– Gọi lẹ giùm, trong nhà có một người vừa bị giết chết.

Ông khách bộ hành chẳng dám cãi, gật đầu rồi hối hả chạy đi, không hiểu cái ông cô hồn này là cảnh sát thiệt hay là thứ vừa giết người.

Eliot Ness cũng leo lên xe, tự nhủ lòng mình rằng đây là lần cuối cùng chàng đến khu vực này…

Eliot Ness phóng xe như bay về ty Cảnh sát.

Răng chàng nghiến lại khi nghĩ đến con heo mập Mike Casey. Đích thị là nó. Nó là thằng chịu trách nhiệm về vụ này từ đầu đến đuôi. Chàng đã có ý định sẽ làm gì khi về tới ty. Thứ nhất, chàng sẽ gọi điện thoại lên biện lý Morgan thú nhận thất bại và xin một cái trát tòa để lấy hết hồ sơ của thằng Mike Casey. Từ đây, chàng hy vọng sẽ kiếm đủ bằng chứng để truy tố nó ra tòa. Thứ hai, phải áp lực để ông Trưởng ty cách chức thằng này liền lập tức. Bằng mọi giá phải làm sao cho nó bị đuổi khỏi nghành cảnh sát càng sớm càng tốt.

Nhưng về tới ty, hãy còn sớm quá, chưa ai đi làm việc cả, chàng lại vọt ra xe, phóng đi.

Không biết đi đâu, nhưng Eliot Ness phải làm một cái gì, như lái xe chẳng hạn cho tinh thần bớt căng thẳng. Cuối cùng, chàng tạt vào một quán cà phê, kiếm chỗ ngồi trong góc. Ly cà phê chưa được đem ra, chàng đã thấy có vài người tụm năm tụm ba với những tờ báo trên tay đang bàn tán về cú đột kích tối qua của “ông đệ nhất cớm”. Eliot Ness giật mình.

Mấy thằng nhà báo Chicago lẹ vậy sao? Không hiểu chúng làm ăn thế nào mà chỉ cần mấy tiếng đồng hồ là đã cho tin tức lên khuôn được ngon lành. Eliot Ness dọt ra ngoài, ngoắc thằng bé bán báo:

– Mỗi thứ một tờ, đưa hết đây.

Thằng bé vừa đưa báo vừa bô bô cái miệng:

– Tin nóng hổi, tin nóng hổi ông ơi. “The best cop of America” vồ hụt Al Capone… Thề sẽ trả thù…

Ra là Chicago này có tới bốn năm tờ báo. Tờ nào Eliot Ness cũng thấy hình của mình trên trang nhất. Kẹt cái là khuôn mặt ông “đệ nhất cớm” coi chẳng đẹp trai chút nào. Nó nhăn nhúm, đau khổ như thằng vừa thua bạc.

Tờ Chicago Tribune chơi hàng tít: “Don Quichotte tân thời đã mở cuộc tấn công.” Tiên sư, lại thằng phóng viên Ferguson chứ ai lọt vào đây.

Tờ Chicago Times chạy hàng tít dài hơn: “Chính quyền Liên Bang huy động một lực lượng hùng hậu của cảnh sát địa phương đột kích một …kho hàng lương thiện.”

Tờ Chicago Daily News xỏ ngọt: “Đệ nhất cớm xuất chiêu đầu, đánh trúng …gió.”

Những tờ khác, tờ nào cũng một luận điệu như trên. Cô hầu bàn bưng ly cà phê ra, chàng cũng chẳng thèm để ý.

Thật ra, Eliot Ness không để ý chẳng phải là vì quê hay mắc cỡ.

Nếu mắc cỡ, ngay tối hôm qua chàng đã không thèm tuyên bố những câu nảy lửa với báo chí. Người ta bảo thất bại là mẹ thành công. Cú đột kích hụt tối hôm qua dù hoàn toàn thất bại, nhưng cũng không phải là hoàn toàn uổng phí. Cứ coi như đó là một cú tập dượt. Chàng đã rút được một bài học quý giá: Lần sau, phải làm một mình và với những người hoàn toàn của mình.

Rồi bỗng một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu Eliot Ness: Thằng Mike Casey.

Người xưa thường nói “Không dương buồm khi trời đang bão quả thật đúng.”

Sáng nay trong lúc nóng giận chàng đã tính làm một chuyện không tưởng với thằng Mike Casey. Thứ nhất, nếu biện lý Morgan xin cho chàng được cái trát để niêm phong hồ sơ thằng Mike Casey, chưa chắc chàng kiếm được bằng chứng để truy tố nó ra tòa. Hơn nữa, một thân một mình, thì giờ đâu mà bới móc trong hàng núi hồ sơ để kiếm một cái lỗi khả dĩ khiêng được nó ra tòa?

Còn vấn đề xin cách chức thằng mập lại thấy còn khó hơn. Tính làm cha thiên hạ chắc? Lý do gì, quyền hành gì mà đòi cách chức một trưởng phòng lâu năm của ty Cảnh sát. Mà theo hồ sơ chàng đã đọc ở Hoa Thịnh Đốn, chúng nó từ trưởng ty trở xuống đều đã ăn ngập mặt của Al Capone, làm gì có vụ cách chức đàn em khơi khơi như vậy?

Vậy thì, khôn ngoan và tinh quái như “đệ nhất cớm” chỉ còn một giải pháp: phải tương kế tựu kế. Mình cứ giả vờ như ngây thơ lắm, hiền lành và không biết gì cả để dùng thằng Mike Casey mà chơi thằng Al Capone.

Eliot Ness bỗng mỉm cười một mình.

Chàng đã có một kế hoạch đặc biệt dành cho thằng cớm dơ bẩn này. Có gì đâu, mình sẽ dùng nó như người ta dùng một gián điệp hai mang vậy mà. Nghĩa là nó sẽ được cung cấp những tin vịt. Vịt thiệt cồ để nó trao lại cho Al Capone. Sau vài cú chết người như vậy, thằng Mike Casey còn mặt mũi nào dám nhìn Al Capone. Không chừng bị mất của nhiều quá, nó dám cho thằng này đi tàu suốt lắm. Tiền nào của nấy mà, một thằng ăn hại như vậy dễ gì sống lâu với giới giang hồ. Và nếu một thằng dơ bẩn cỡ Mike Casey bị “đi luôn” thì xã hội này bớt được một gánh nặng, có gì đáng tiếc?

Phải lập kế hoạch cho chúng nó giết nhau.

Vui bằng thích, Eliot Ness thầm nghĩ. Cái khó khăn nhất lúc này là chàng phải làm sao đóng kịch cho khéo. Chàng chỉ sợ gặp lại thằng mập, không cầm nổi cơn giận, xông tới đập cho nó một trận tơi bời hoa lá thì hư hết việc lớn.

Eliot Ness cảm thấy dễ chịu hơn sau khi nghĩ ra kế hoạch đó. Vấn đề then chốt thứ hai chàng phải lo là nhân lực. Dĩ nhiên, không thể trông chờ nơi Hoa Thịnh Đốn. Cả Nha có bao nhiêu nhân tài chàng đã biết rõ.

Cùng lắm sẽ kiếm được vài người như chàng chứ không thể hơn được.

Vậy thì tìm đâu ra người tin cẩn đây? Chàng lại nhớ đến ông cảnh sát …mất dạy hôm qua. Đúng, cái mũi chàng đã ngửi thấy nhân tài một lần rồi thì óc chàng không thể nào quên được. Đáp số của bài toán là ông nội cảnh sát mang số 982 đây.

Hắn quả thật là bén nhạy. Chàng nhớ đến cái khuôn mặt của hắn đã cau lại khi nghe nói chàng dùng người của ty để đi hành quân. Nhưng mà sao cha nội này có vẻ khó chịu quá chừng? Mình đã hai ba lần mời gọi, hắn nhất định không nghe. Phải có một dịp thuận tiện hơn mới được.

Mặt trời đã mọc lên cao từ lúc nào, Eliot Ness không biết. Đến giờ làm việc quán cà phê cũng trở thành vắng teo, chỉ còn mình Eliot Ness ngồi yên suy nghĩ với ly cà phê nguội ngắt.

Một em hầu bàn tới bên Eliot Ness, giọng nhỏ nhẹ:

– Ông dùng thêm cà phê?

– Vâng, cô cho tôi một ly nóng.

Đổi ly cà phê cho khách, cô hàng nhìn chàng với một ánh mắt rất lạ. Lạ nhưng chan chứa cảm tình:

– Cà phê còn nóng, mời ông uống cho ngon.

Eliot Ness ngước mặt lên. Cô ta vào khoảng xấp xỉ tuổi chàng, mái tóc vàng búi thắt lên cao ở phía sau.

Đôi mắt xanh nhìn chàng dịu dàng nhưng bạo dạn:

– Ông là Eliot Ness?

Eliot Ness gật đầu, cố giấu vẻ ngượng ngùng sau nụ cười:

– Vâng, cô là người duy nhất nhận ra tôi ở đây. Cô rất tinh mắt.

Cô ta không cười, tiếp tục nhìn thẳng vào mắt chàng:

– Tôi có đọc báo sáng nay. Tôi xin chia buồn với ông về vụ tối hôm qua. Nếu ông thành công, Chicago này sẽ mừng lắm.

Eliot Ness cảm thấy an ủi trong lòng. Ít ra cũng có người hiểu được chàng. Giây phút này, giây phút bị nghề nghiệp đá cho một cái té nhào xuống bùn là lúc người ta cần những câu nói như vậy nhất. Nụ cười chàng méo đi, cảm động:

– Cám ơn cô. Tôi chỉ giận là mình vụng về để hư hết mọi việc.

Khi nói “hư hết mọi việc”, chàng thấy nhói trong tim vì nhớ đến cái chết thê thảm của Stash Mose. Cô hầu bàn tự nhiên tiến tới gần chàng, thân mật đặt tay lên vai Eliot Ness:

– Ông Ness. Tôi biết ông không phải là người bỏ cuộc dễ dàng. Cứ nhìn ánh mắt của ông thì biết. Tôi cầu nguyện cho Chúa giúp ông. Ông là người can đảm, vì đã nhìn nhận lầm lỗi của mình. Cảnh sát Chicago này không có như vậy đâu. Thành công thì họ khoác lác, còn thất bại thì hoàn toàn do lỗi của người khác, không phải lỗi của họ. Tôi cám ơn Chúa vì tôi biết, chỉ nay mai, ông sẽ nhốt được con thú Al Capone vào rọ hay cho nó lên ghế điện. Xin ông đừng nản chí!

Chưa kịp nói gì đã nghe đánh “chụt” một tiếng. Ra là cô em đã cúi xuống bất ngờ tặng cho Eliot Ness một cái hôn lên má. Eliot Ness mỉm cười, lần này thật là tươi tắn:

– Cám ơn cô. Xin lỗi, cô tên gì?

-Lisa Meyer. Tôi làm ở quán này 12 tiếng mỗi ngày. Nếu tôi có thể giúp gì được cho ông, xin ông cứ tự nhiên, tôi sẵn sàng.

– Xin thành thật cám ơn nhã ý. Biết đâu chừng có một ngày.

– Phải, biết đâu chừng, ông Ness.Vậy ra ngày hôm nay cũng không đến nỗi xúi quảy lắm. Ít nhất, chàng quen được một “nhân vật địa phương”. Cứ theo cái mũi của chàng thì cô bé này vậy mà không chừng có thể giúp được chàng vài việc trong thời gian sắp tới.

Đã bảo mà, xưa nay Eliot Ness có bao giờ ngửi trật một cái gì. Suy nghĩ thêm một chút, chàng hơi ngạc nhiên khi nhận thấy một cô gái trẻ đẹp, thông minh và hình như có học thức lại đứng làm bồi bàn ở quán cà phê nhỏ này. Chắc chắn phải có việc gì bí ẩn bên trong, nhưng giây phút mới đầu gặp gỡ, chàng thấy không tiện để hỏi. Trước sau gì cũng mò ra được, vội vã làm gì?

Chàng đứng dậy trả tiền rồi bước ra khỏi quán. Em bé Lisa đứng lặng nhìn theo, dáng điệu bồi hồi thấy rõ.

Công việc đầu tiên phải làm là báo cáo về Hoa Thịnh Đốn sự thất bại tối qua. Eliot Ness kiếm một trạm điện thoại công cộng vắng vẻ, gọi về tổng nha. Ông xếp bật cười lớn khi nghe Eliot Ness báo mình đột kích …lầm một kho hàng. Nhưng tràng cười tắt ngấm ngay khi chàng báo tin Stash Mose bị chết thảm. Giọng Eliot Ness trầm trầm:

– Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn về vấn đề này.

Ông xếp vuốt ve:

– Không, phải nói rằng tôi cũng có trách nhiệm về cái chết của Stash Mose nữa. Tôi đã gởi anh xuống đó một mình, lẽ ra, tôi đã phải tăng cường thêm cho anh nhiều người…

Nghe nói đến người Eliot Ness lại sáng mắt lên, nhưng câu nói tiếp theo của ông xếp làm chàng cụt hứng:

– Nhưng anh cũng cố gắng …thông cảm, ở đâu cũng cần người hết mà khả năng tôi thì hạn hẹp. Thôi để tôi ráng thu xếp gởi xuống cho anh một vài người.

Chưa lúc nào Eliot Ness cảm thấy mình cần một chiến hữu như lúc này.

Một hay hai người cũng được, miễn là dân Hoa Thịnh Đốn để mình có thể tin cậy và hàn huyên là tốt. Chàng gật đầu:

– Xin cám ơn ông.

– Eliot Ness, tôi tin anh sẽ thành công. Xin đừng nản chí.Từ này về sau, tôi để anh tự ý quyết định lấy mọi chuyện, khỏi cần phải báo cáo về tôi những công việc của anh.

Dĩ nhiên, nếu anh cần giúp đỡ thì cứ việc gọi về, tôi sẵn sàng. Chúc anh may mắn…

Cú điện thoại thứ hai mà chàng tính gọi, khó khăn hơn.

Hình như số mạng của chàng dính liền với những cú điện thoại như vậy. Chuyên môn gọi đi để thông báo những tin buồn. Chàng nhớ trong những chuyến công tác trước, khi nhận được điện thoại của Eliot Ness, thân nhân của các người làm việc dưới quyền chàng thường co rúm người lại. Bình thường, Eliot Ness không bao giờ gọi về nhà nhân viên nếu họ không có nhà. Những cú điện thoại bất ngờ như vậy thường chỉ hẹn người ta tới hai chỗ: hoặc nhà thương hay là nhà đòn đám ma.

Stach Moses sống một mình, chàng không biết hắn có thân nhân hay không, nên phải gọi cho ông biện lý để vừa hỏi tin tức vừa làm tròn nhiệm vụ thông báo cái chết cho ông ta.

Đúng ra, Stash Mose là người của ông biện lý chứ không phải của chàng. Ông ta chỉ cho chàng “mượn” đỡ trong một vài vụ đầu, ông ta đã có những chương trình riêng cho tên “điệp viên” này. Cài một người vào hàng ngũ của Al Capone không phải là chuyện dễ.

Thường thường phải mất cả năm và rất nguy hiểm. Chàng không hiểu ông Morgan sẽ nghĩ sao khi nghe tin Stash Mose bị ám sát chết có thể vì lỗi lầm của chàng. Suy nghĩ một lúc, Eliot Ness quyết định đi đến gặp tạn mặt ông ta để báo tin buồn, thay vì nói qua điện thoại.

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 13 Apr 2025

Chương 9

Giờ “G” để tấn công, theo kế hoạch là 2 giờ sáng.

Khoảng một giờ đồng hồ trước đó, như một vị tư lệnh chiến trường tài ba, Eliot Ness đã cho bố trí lực lượng cảnh sát tăng phái một cách hoàn hảo.Tất cả diễn ra một cách âm thầm bí mật, đẹp hơn cả dự đoán của chàng. Khẩu lệnh cuối cùng trước khi tấn công là: “Thằng đội nón đỏ là “người của mình”. Cứ bắt nó lên xe như mọi người nhưng xin quý vị đừng đụng đến nó”.

Khi cho mọi người phân tán để chuẩn bị lên xe, Eliot Ness ngoắc thằng Preseusky:- Chú mày đi chung xe với tao. Nhờ chú mày vô văn phòng đem giùm mấy cái búa bửa củi theo. Tối nay mình sẽ không để một giọt rượu nào nằm yên trong thùng.

Preseusky mau mắn gật đầu.

Hai chục phút sau, chiếc xe của hai người theo đoàn công voa mấy chục chiếc của cảnh sát âm thầm tiến vào mục tiêu đã định.

Eliot Ness có vẻ hài lòng vì cảnh sát Chicago thi hành những chỉ thị của chàng không trật một chi tiết. Đâu đó bố trí và chuẩn bị sẵn sàng.

Ngồi trong xe với Preseusky, Eliot Ness thỉnh thoảng bụm tay chiếu đèn pin để nhìn đồng hồ. Bên cạnh chàng, Preseusky giữ một vẻ yên lặng kỳ lạ. Eliot Ness nghĩ đến người cảnh sát buổi chiều đã đập bể tấm kiếng của thằng sừng sỏ Frank Nitti.

Chàng để ý đến cặp mắt người cảnh sát quắc lên giận giữ khi nghe nhắc đến cái tên “Mike Casey.” Chắc chắn phải có một bí ẩn gì hoặc một liên lạc kỳ lạ gì đó giữa Mike Casey và Gary Malone.

Eliot Ness dò hỏi Preseusky:

– Anh gia nhập nghành cảnh sát lâu chưa?

– Chừng 5 năm.

– Anh quen biết Mike Casey không?

– Ông ấy là xếp tôi, nếu không quen nhiều cũng ít.

– Còn Gary Malone?

Preseusky xoay đầu nhìn Eliot Ness có vẻ ngạc nhiên:

– Ông mới ở Hoa Thịnh Đốn xuống mà cũng biết “bàn tay thép” Malone à?

– “Bàn tay thép”, tên gì nghe gớm vậy?

Preseusky chậm rãi:

– Thành thật mà nói, cảnh sát ở Chicago này chỉ còn có Gary Malone là sạch. Mà sao ông biết Gary Malone?

– Tình cờ sáng hôm nay tôi có dịp nhìn thấy Gary Malone gác đường.

Preseusky chặc lưỡi:

– Tài nghệ cỡ Gary Malone mà đi gác đường thì Chicago này đúng là hết thời. Ông biết Gary Malone có …ba đời cớm trong máu. Giòng họ của hắn từ ông nội xuống đến cha đến con đều là cớm của Chicago.

– Vậy chắc hắn phạm phải một lỗi gì lớn lắm nên mới bị “đi đày” thê thảm như vậy.

Preseusky quay khung cửa sổ cao lên một chút, dường như không muốn ai nghe những gì hắn sắp nói:

– Không, Malone không có lỗi gì cả. “Lỗi” duy nhất của hắn là hắn không chịu ăn lương của Al Capone?

– Không ăn lương của Al Capone, vậy cảnh sát Chicago ăn lương của Al Capone hết rồi sao?

Eliot Ness thấy lành lạnh nơi gáy. Nếu đúng như thằng cảnh sát này vừa nói thì kế hoạch tấn công tối hôm nay coi như huề. Không chừng mình lại còn mất mạng. Tự nhiên, chàng cảm thấy cô đơn vô cùng giữa đám người mà đáng lý ra phải gọi là “chiến hữu” của mình.

Preseusky tiếp tục:

– Cái đó khó nói chắc. Chắc chắn là có nhiều người trong ty ăn lương của Al Capone nhưng ai sạch ai trong làm sao mình biết được?

– Vậy anh, anh có “ăn” không?

Preseusky do dự một chút rồi trả lời:

– Không! Tôi không dính dáng tới Al Capone.

Nghe cũng cảm thấy hơi yên lòng nhưng Eliot Ness nghĩ, nếu nó ăn thì sức mấy nó dám nói cho mình biết. Kế hoạch tấn công đã đi đến giai đoạn không thể nào rút lại được nữa. Đã lỡ ngồi trên lưng cọp thì đành phải ngồi cho trót.

Eliot Ness mua cảm tình:

– Hỏi vậy cho vui thôi chứ tôi không nghĩ anh ăn lương của Al Capone. Này, còn ông Malone nếu không ăn lương thì thôi chớ ai có quyền đày hắn đi gác đường như vậy?

– Mike Casey.

– Mike Casey?

– Đúng. Ông chưa biết, ngày xưa cả hai là đôi bạn cảnh sát rất thân. Cả hai đều là những cảnh sát thượng thặng của Chicago.

– Rồi một người lên một người xuống phải không?

– Cũng gần đúng như vậy.Sau khi bà vợ của Mike Casey bị tai nạn xe hơi chết thì hắn thay đổi tính nết. Thứ nhất hắn trở thành nghiện rượu, thứ hai hắn thích tới thăm các ổ điếm của Al Capone.

Eliot Ness bắt đầu hiểu nhiều thêm một chút. Dĩ nhiên, cảnh sát mà đi chơi bời thì sức mấy thằng nào dám lấy tiền. Nó không lấy tiền mình thì mình cũng đâu tiện hạch sách nó khi thi hành phận sự. Sống ở đời, phải có qua có lại thì mới lâu dài.

Preseusky tiếp tục:

– Những ngày đó, tuy có đi lại với tụi Al Capone nhưng Mike Casey dù sao cũng còn chút lương tâm của một anh cớm trong người, chưa đến nỗi tệ, nhưng đến khi luật cấm rượu của chính phủ ban hành thì hắn trở thành lệ thuộc nhiều hơn vào Al Capone cho đến khi chính thức làm nô lệ cho Al Capone.

– Vì rượu hay vì tiền?

– Vì cả hai thứ thì đúng hơn. Mỗi ngày hắn phải làm cỡ 3/4 chai whiskey thì mới đứng vững được. Mà ở Chicago trong thời buổi cấm rượu này có ai đủ khả năng cung cấp cho lão mỗi ngày một chai whiskey ngoại trừ Al Capone? Còn cái này nữa, ông biết sao hắn lên được chức trưởng phòng không? Chính Al Capone mua tặng cho gã chức đó nhân sinh nhật của gã cách đây 4 năm.

Quả đúng là …Chicago. Eliot Ness không tin được tai mình, hỏi:

– Vậy người đẩy Gary Malone ra đường chính là Mike Casey?

– Chớ còn ai vào đó nữa.

Eliot Ness che tay bật đèn pin nhìn đồng hồ. Chỉ còn 15 phút nữa đến giờ tấn công.

Chàng ra dấu cho Preseusky rồi bước xuống xe.

Đi kiểm soát một vòng trong bóng tối, Eliot Ness nhận thấy tất cả mọi người đều đã chuẩn bị đầy đủ. Theo đúng chỉ thị, chiếc xe ủi đất bắt đầu nổ máy cho ấm, người tài xế mặc áo giáp đang ngồi tít trên cao, yên lặng.

Đúng 2 giờ sáng, Eliot Ness bấm đèn pin ra hiệu.

Hàng chục chiếc xe cảnh sát đồng loạt bật đèn pha, rọi sáng căn nhà kho vĩ đại. Chiếc máy cày giơ bững, từ từ tiến tới. Theo sau là hai tiểu đội cảnh sát trang bị đủ mọi loại súng ống và dùi cui.

“Ầm” một tiếng trời long đất lỡ vang lên, hai cánh cửa sắt bị chiếc máy cày ủi sập. Cả nhà kho vĩ đại rung chuyển dữ dội như sắp sụp đổ.

Lẹ như chớp, cảnh sát vừa quát tháo vừa xông vào. Trái với dự đoán của Eliot Ness, đèn đuốc trong nhà kho vẫn thắp sáng trưng, cảnh sát không gặp một sự kháng cự nào. Đúng hơn, cảnh sát chỉ bắt gặp hai thằng gác dan đang ngồi đánh bài vặt một góc nhà.Tốt, càng ít người thì nhà tù càng đỡ chật, không có gì phải bận tâm, chàng chỉ chú ý đến hàng trăm thùng gỗ mới tinh còn đóng dấu “Made in Canada” chất đầy trong kho. Hai ông gác dan bị bắt đứng dựng vào tường, lục soát. Cảnh sát báo cáo không tìm thấy súng ống gì hết.

– Đưa cây búa đây!

Eliot Ness hét lớn.

Cầm búa trong tay, lựa một kiện hàng, chàng dùng hết sức bổ xuống. Nắp thùng bung ra, Eliot Ness thò tay vô trong đám rơm đệm mò mẫm. Quái lạ, sao không thấy gì cả. Mò sâu hơn, tay chàng chạm phải vật gì nhọn nhọn. Cái gì đây? Rượu gì mà có cái đầu nhọn hoắc vậy? Kéo nó ra, Eliot Ness mới biết đó là một cây …dù.

Nổi điên, chàng cầm búa bửa tơi bời xuống một chập, mở thêm bốn thùng nữa, cũng chẳng tìm thấy một chai rượu nào hết. Lúc này bắt đầu có tiếng xì xầm của đám cảnh sát, vài tiếng cười nho nhỏ đã bốc lên.

Eliot Ness ra lệnh:

– Anh em tháo hết tất cả những cái thùng này ra cho tôi. Rượu lậu nó phải giấu đâu trong này.

Cảnh sát ra tay làm việc. Chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, họ đã làm xong phận sự.Và chuyện Eliot Ness lo sợ nhất đã tới: có tìm thấy chai rượu mẹ nào đâu, chỉ toàn là dù và một mớ đồ chơi con nít nhập cảng.Tiếng xì xầm của đám cảnh sát trở thành những câu đối thoại mỉa mai, càng lúc càng trở nên to hơn. Có người còn bật cười lên hô hố càng làm ông thanh tra liên bang chới với.

Rồi chẳng bao lâu, cả khu nhà kho biến thành một cái chợ ồn ào.

Có thể nói, tất cả những cảnh sát viên có mặt nơi đó đều không giấu được một vẻ hả hê trên nét mặt, kể cả thằng Preseusky. Eliot Ness giận tím mặt lại.Trong cuộc đời, chưa bao giờ chàng bị hố một cú đau như thế này. Phải cố gắng lắm mới giữ được vẻ bình tĩnh, Eliot Ness ra lệnh cho bọn cảnh sát đóng các nắp thùng lại và làm biên bản cuộc đột kích, rồi tà tà bước ra ngoài nhà kho.

Chàng cần kiếm một chỗ vắng vẻ để suy nghĩ về nguyên nhân của sự thất bại này. Các nhân viên cảnh sát đang tụm năm tụm ba đấu láo ngoài trời, thấy chàng bước ra liền lảng đi chỗ khác.

Trời ban đêm lồng lộng gió.

Eliot Ness rút bao thuốc lá, đốt điếu thuốc đầu tiên kể từ lúc kế hoạch tấn công bắt đầu. Hơn lúc nào hết, chàng cảm thấy thấm thía câu nói của thằng phóng viên mắc dịch Ferguson: “Ông có biết chuyện chàng hiệp sĩ Don Quichotte đi đánh nhau với cánh quạt của máy xay lúa không? Ông có phải là một Don Quichotte không?”

Một nhân viên lẫy lừng và tiếng tăm của Hoa Thịnh Đốn gởi xuống Chicago đã bị Al Capone cho vào xiếc như một thằng con nít.

Ngày mai đây, báo chí khắp nước Mỹ sẽ chạy hàng tít lớn đại khái như vầy: “Cảnh sát liên bang đột nhập bất hợp pháp một kho chứa hàng nhập cảng …hợp pháp”. Ông xếp của chàng sẽ gọi điện thoại xuống. Rồi biện lý Morgan sẽ phải thanh minh thanh nga với báo chí, thị trưởng Chicago lại lên radio để cắt nghĩa sự hành quân vô ý thức này.

Dĩ nhiên, đây là một dịp hiếm có để thằng phóng viên chó đẻ Ferguson đưa chàng lên máy chém. Nhưng đó chỉ là hậu quả của cuộc tấn công hụt ngày hôm nay. Eliot Ness biết rõ một điều: chàng không phải là Don Quichotte. Sự thất bại ngày hôm nay càng làm cho chàng trở nên quyết liệt hơn. Kể từ đây, cái tên Al Capone đối với chàng không phải là một công tác để thi hành nữa. Nó đã trở thành một vấn đề cá nhân, một mối thù, một mối nhục cần phải rửa. Chuyện quan trọng nhất Eliot Ness cần phải biết bây giờ, là tại sao kế hoạch tấn công chuẩn bị tỉ mỉ như vậy mà đã trở nên cái trò cười cho thiên hạ.

Chàng nhận định trò cười này chỉ có thể xảy ra vì một trong hai lý do. Hoặc thằng Stash Mose cho tin tức tầm bậy để gạt mình, hoặc là chính ty cảnh sát đã mật báo cho trùm Al Capone biết trước. Hai giả thuyết trên đều có thể đứng vững vì những chuyện xảy ra rõ ràng ngày hôm nay.

Eliot Ness nhìn lên bầu trời vằng vặc trăng sao, thề với lòng mình: “Sau cuộc thất bại đau đớn ngày hôm nay sẽ là những khó khăn, nhưng cuối cùng chiến thắng sẽ về ta. Nếu không diệt được Al Capone, thề nhất định không rời khỏi Chicago.” Giữa lúc chàng đang mãi mê suy nghĩ thì bỗng thấy bốn năm luồng ánh sáng đèn flash của mấy cái máy chụp hình lóe lên liên tiếp. Trước mặt chàng, lố nhố khoảng chừng chục ông phóng viên nhà báo đang hùng hổ tiến tới.

Dẫn đầu tụi này, dĩ nhiên không ai khác hơn là thằng …chó đẻ Ferguson:

– Kính chào ông Ness, xin ông cho biết cảm tưởng của cuộc hành quân ngày hôm nay.

Eliot Ness lặng người. Làm sao tụi này đánh mùi mau đến như vậy. Nhưng nổi giận giờ này cũng chả ích gì.

Nếu cuộc tấn công thành công thì chẳng nói, còn thất bại như thế này thì mặt mũi nào trả lời phỏng vấn.

Đám phóng viên tiến tới gần hơn, vừa tiến tới vừa nháy bóng loạn lên. Những cây bút và giấy viết đã chuẩn bị sẵn sàng:

– Xin ông vui lòng cho biết ông chuẩn bị lực lượng gồm bao nhiêu người để tấn công ngày hôm nay?

Ở giây phút …bi thảm này, Eliot Ness bỗng lóe lên một ý nghĩ.

Công tâm mà nhận xét, chàng chẳng có gì phải giấu giếm hay xấu hổ hết. Thua keo này bày keo khác. Là một tay chơi đúng độ, mình nên thẳng thắng nhìn nhận sự thất bại của mình một cách khách quan và can đảm. Đổ tội cho thời thế hay cho ai khác chỉ làm bản chất con người trở nên hèn đi. Một tay chơi ngoại hạng của chính phủ liên bang Hoa Kỳ không thể làm thế được. Câu trả lời của Eliot Ness làm thằng Ferguson chưng hửng:

– Tôi có vài điều muốn tuyên bố với qúy vị báo chí. Thứ nhất, tôi, Eliot Ness, cảnh sát đặc vụ của Nha Ngân khố Hoa Kỳ là người chịu trách nhiệm hoàn toàn cuộc hành quân này. Thứ hai, cuộc tấn công này thất bại hoàn toàn, và người đáng trách là tôi. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm và chấp nhận lầm lỗi của mình. Nếu mấy ông muốn, có thể ghi lên báo như vầy: “Chúng tôi, hay đúng hơn là tôi đã bị lừa dễ dàng như một đứa con nít.” Chúng tôi chẳng tịch thu được gì cả. Tất cả đồ đạc trong kho đều là những hàng nhập cảng hợp pháp.

Ferguson có vẻ khoái lời thú tội chân thành mà hắn không ngờ nghe được từ một anh cớm. Xưa nay, có ông cớm nào dám chơi ngon vậy? Hễ có chút ít chiến công thì một thổi ra làm hai, ba, đấu vang trời vang đất. Còn nếu bị người ta đưa vào xiếc thì câm như hến, giấu kỹ như mèo giấu cứt hoặc đổ lỗi quanh.Thói đời mà! Ferguson tự nhiên thấy có cảm tình với anh cớm mà mới sáng nay xém tí nữa đã quẳng mình ra khỏi cửa sổ.

Rất từ tốn, Eliot Ness tiếp:

– Xin các ông nhà báo ghi thêm rằng, tôi bị thua trận này nhưng cuộc chiến chưa kết thúc! Những kẻ nào tưởng rằng chúng tôi sẽ bỏ cuộc là lầm to. Những cuộc đột kích sắp tới sẽ được tổ chức quy cũ hơn, và lớn hơn. Tôi sẽ tấn công vào nơi mà kẻ thù của chúng ta không bao giờ ngờ đến, và sẽ đánh vào những chỗ nhược của họ. Trận đánh cuối cùng mới là trận đánh quyết định.

Một giọng nói cất lên:

– Ông muốn ám chỉ “kẻ thù” đây tức là Al Capone?

Eliot Ness trả lời thật chậm, giọng hơi run run khi nghe tới cái tên Al Capone:

– Đúng, tôi muốn nói đến Al Capone và tất cả những đàn em của hắn, những kẻ sống ngoài vòng pháp luật, những kẻ đáng lẻ phải ngồi trong nhà tù cấm cố đếm hàng trăm cuốn lịch thay vì ăn nhậu phè phỡn tại đại khách sạn Lexington…

Trong lúc đám phóng viên mãi ghi ghi chép chép, Eliot Ness phóng thêm chưởng độc:

– Tôi muốn thằng khốn nạn Al Capone biết rằng tôi xuống Chicago này để dẹp nó, để đưa nó vào nơi mà đáng lẽ nó phải ở, là nhà tù. “I come here to get Capone!” Và tôi sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để thi hành mục đích mình. Xin quí vị ghi rõ lời tuyên bố của tôi ngày hôm nay. Xin quý vị cũng ghi thêm rằng nếu không nhốt được thằng Al Capone vào đằng sau mấy cái song sắt nhà tù, tôi sẽ không bao giờ rời khỏi thành phố Chicago. Tôi lặp lại, tôi sẽ không bao giờ rời khỏi Chicago nếu thằng chó đẻ Al Capone không vào tù. I come here to get Capone. That son-of-the-bitch will go to jail.” Bây giờ tôi có chuyện phải đi, xin các ông cho phép…”I come here to get Capone.”

Đám phóng viên đi từ ngạc nhiên đến thích thú. Những lời thú nhận thất bại rất anh hùng và những lời tuyên bố nảy lửa, là chuyện ngàn năm một thuở. Xưa nay, chưa hề có cái vụ cảnh sát sỉ vả thậm tệ một công dân nào công khai và nặng nề như vậy, dù đó là công dân dao búa. Thông thường thì mấy thầy cảnh sát chỉ đóng khung cứng ngắc sau câu: “Chúng tôi đang tiến hành cuộc điều tra” hoặc “Chúng tôi đang phối kiểm tin tức rồi sẽ có kế hoạch để đối phó với tình trạng này, v.v.”

Một anh cớm trẻ dám hung hãn phát ngôn bằng những lời chửi rủa dao búa như vậy thì chắc phải có tài nghệ gì đặc biệt.

Eliot Ness trở vào nhà kho ra dấu cho bọn cảnh sát thu dọn chiến trường.

Bây giờ, những tiếng cười, những tiếng mỉa mai đã im bặt. Đám cớm Chicago vừa nghe Eliot Ness đích thân chửi rủa Al Capone bằng thứ ngôn ngữ mà chính họ cũng phải ngạc nhiên. Có thể là do tức quá hoá khùng. Nhưng nhìn ánh mắt tóe lửa của ông cớm liên bang, không ai muốn chọc cho chàng giận thêm. Đúng là típ cớm cô hồn và chịu chơi, ăn nói lạng quạng là hắn dám xông tới giộng cho một trận ra gì lắm.

Ai nấy cúi đầu lẹ làng đóng lại những kiện hàng, quét dọn mớ rơm rác dưới sàn nhà rồi lên xe rút đi.

Eliot Ness đi chiếc xe cuối cùng, mặt vẫn lầm lì và hút thuốc liên miên làm thằng Preseusky ngồi bên cạnh cũng im thin thít, không dám mở miệng hó hé lấy một câu…