Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 12 Apr 2025

Chương 8.

Phải mất thêm một ngày nữa Eliot Ness mới kiếm được chiếc xe máy cày chàng dự tính cho cuộc tấn công.

Sáng nay chàng dậy sớm. Trước khi ra khỏi nhà chàng ngồi trầm ngâm bên ly cà phê nóng hổi do Catherine vừa pha, duyệt lại lần chót kế hoạch tấn công trước khi thuyết trình cho toán cảnh sát biệt phái.

Giác quan thứ sáu bén nhạy của người đàn bà cho Catherine biết chồng mình sắp sửa mở cuộc đánh lớn đầu tiên vào sào huyệt của tên cướp lừng danh thế giới, Al Capone. Biết chồng đang dồn hết khả năng để suy nghĩ cho kế hoạch, Catherine không hé răng nói một câu, sợ cắt đứt đường tư tưởng của chàng.

Eliot Ness nói câu đầu tiên trong ngày:

– Tối nay mình đừng chờ anh, có thể về rất trễ, không chừng đến sáng mai mới về được.

Catherine nắm lấy hai vai Eliot Ness, dịu dàng:

– Anh rán cẩn thận. Chicago này không phải như New York hay các nơi khác. Em đọc báo nghe nhiều tin động trời lắm.

Eliot Ness không có tật thích bàn với vợ về những công chuyện ở sở, và càng không bao giờ muốn cho vợ biết về những nguy hiểm hàng ngày. Biết để làm gì? Chỉ gây thêm một sự lo lắng không cần thiết cho vợ con. Chàng nghĩ, nếu chết thì phải chết, có lo âu cũng chả đi đến đâu.

Eliot Ness đốt điếu thuốc:

– Chẳng có gì đâu em! Chicago hay New York thì cũng do mình. Mình cẩn thận thì không sao hết.

Rồi chàng khéo léo đổi đề tài, hỏi vợ về chuyện học hành của con gái. Catherine khoe trường sở rất đẹp, và bắt Eliot Ness hứa phải kiếm một ngày rảnh rỗi nào đó để đi với nàng lên thăm trường học của con. Eliot Ness gật đầu đồng ý, chàng chỉ biết …hứa. Hơn ai hết, chàng hiểu chắc có lẽ rất lâu mình mới kiếm được một ngày nghỉ như vậy. Trừ khi, phải, trừ phi thằng khốn đó nằm ngoan ngoãn sau mấy cái chấn song sắt nhà tù.

Đã đến giờ phải ra đi, Eliot Ness hôn nhẹ lên trán Catherine:

– Anh đi!Catherine đã cầm sẵn trên tay trái gói đồ ăn trưa gồm hai miếng bánh và một thanh kẹo chocolat, tay bên phải là cây Colt .45 trong bao da đưa cho Eliot Ness. Chàng đeo súng vào nách, khoác áo vét và áo bành tô vào, cầm lấy túi ăn trưa, hôn vợ thêm lần nữa rồi bước ra khỏi nhà.

Vừa ngồi vào văn phòng, chuông điện thoại reo vang. Eliot Ness nhấc ống nói, mặt chàng nhăn lại khi nghe giọng thằng phóng viên Ferguson:

– Chào ông Eliot Ness, hai hôm nay ông đi đâu mà tôi kiếm mãi không ra.

Eliot Ness rán làm ra vẻ thân thiện:

– Tôi bận chuyện riêng, chuyện gia đình.

– Chuyện “gia đình” của “Treasury Department” chớ gì? Sắp sửa làm ăn “cú lớn” mà sao lại giấu nhau?

– Xin ông cảm phiền, tôi phải cúp máy vì đang rất bận công chuyện.

– À, gần tới giờ họp cho vụ đột kích tối nay chớ gì? Tôi đã bảo ông mà, những vụ đột kích “lịch sử” như vậy sao lại giấu nhau? Nếu ông giúp tôi thì tôi sẽ giúp ông…

Eliot Ness giật mình. Kế hoạch đột kích là kế hoạch tối mật chỉ có ba người biết mà sao thằng khỉ này lại hay được? Kinh nghiệm cho chàng biết có cái gì không ổn trong vụ này. Tin này bị tiết lộ chỉ bởi ba người: Trưởng phòng Mike Casey, ông biện lý Morgan và anh cớm phụ tá chàng, Preseusky.

Morgan thì khỏi phải nói làm gì vì chàng biết ông biện lý rất “sạch”. Còn thằng Preseusky thì đâu biết gì nhiều. Nó chỉ chở chàng tới nơi đó và trở về. Chàng nhớ rõ dọc đường đã không hề hé miệng nói hở về kế hoạch một câu. Vậy chỉ còn lão trưởng phòng Morgan thôi.

Nuốt cơn giận, Eliot Ness trả lời trước khi cúp máy:

– Tôi cám ơn ông. Tôi không cần gì cả.

Chiếc đồng hồ trên tường cũng chỉ đúng 10 giờ kém 5 phút. Trưởng phòng Mike Casey bước vào, cười rất tươi:

– Tụi cảnh sát đặc biệt đã tập họp đầy đủ. Họ đang chờ ông tại phòng họp.

Eliot Ness nhớ đến cái tin tối mật vừa bị xì cho nhà báo, chỉ muốn xông tới nắm áo lão mà hỏi cho ra lẽ nhưng chàng cố nén giận. Chuyện đâu còn đó, chờ họp xong tính sau. Chàng đứng dậy theo Mike Casey đi tới phòng họp.

Đã quen với những cuộc họp hành quân cảnh sát như vầy tại các nơi khác nên dù đứng trước khoảng 50 cảnh sát viên sắc phục uy nghiêm, mặt mày bặm trợn, Eliot Ness cũng bình tĩnh cắt nghĩa cho họ biết công việc phải làm tối hôm nay.

Lần đầu tiên, Eliot Ness biểu diễn tấm bản đồ ngoại ô thành phố Chicago có mục tiêu của cuộc đột kích cho mọi người thấy. Eliot Ness chỉ vào cái hình chữ nhật có gạch chéo màu đỏ, tiếp tục:

– Toán A gồm 15 người sẽ chờ sẵn hai bên cánh cửa sắt to lớn này. Khi chiếc máy cày ủi sập cửa, các anh sẽ nhào vào. Lúc đó, ba chiếc xe đậu phía trước sẽ bật đèn lên, rọi sáng cái nhà kho như ban ngày cho tôi. Nếu bị bắn, dĩ nhiên, anh em có quyền bắn trả. Nếu bị tấn công bằng gậy gộc hay dao mác, anh em cũng có quyền tự vệ bằng mọi phương tiện mình sẵn có, kể cả súng. Toán B, 10 người nữa và 5 chiếc xe bít bùng sẽ chận ở con đường phía sau kho. Nên nhớ, phải tóm cổ hết tất cả những người ở trong hay chạy ra ngoài. Tất cả những tù phạm phải giữ tại sở Cảnh sát, chính tôi sẽ phụ trách hỏi cung và điều tra trước khi đem ta toà. Toán C là toán cuối cùng dùng để trừ bị cho hai toán trên. Các anh em sẽ bao vây rộng khu vực tấn công. Nội bất xuất, ngoại bất nhập. Nhiệm vụ của anh em sẽ là ngăn cản bất kỳ đám viện binh nào, nếu có, của tụi Al Capone. Ngoài ra, chúng ta còn có thêm hai chiếc xe cứu thương và một bác sĩ có mặt sẵn để phòng những trường hợp bất trắc.Cả phòng họp yên lặng như tờ.

Eliot Ness nhìn xuống cử toạ nói tiếp:

– Về giờ tấn công thì rất tiếc, tôi không thể cho anh em biết liền lúc này được. Các anh em nên có mặt tại đây vào lúc 8 giờ tối. Chuẩn bị đem đồ ăn theo vì có thể sáng mai công tác mới hoàn thành được. Những chi tiết khác của cuộc tấn công tôi sẽ thông báo cho các trưởng toán của anh em.

Chàng chấm dứt. Phía dưới là 50 khuôn mặt lạnh lùng đang nhìn lên như 50 pho tượng đá. Chán thật, Eliot Ness thầm nghĩ. Một cuộc đột kích “đi vào lịch sử” như vầy mà xem ra anh nào cũng tà tà, chẳng có ma nào thèm để ý đến thì khó mà thành công. Dù không phải là một nhà ngoại giao hay một chính khách, chàng cố gắng hết sức để nở một nụ cười thân thiện, rán làm sao cho nụ cười gượng ép của mình đừng biến thành cái nhăn:

– Các anh em có gì hỏi xin cứ tự nhiên.

Một cánh tay giơ lên:

– Xin ông Ness cho biết ai là người trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công này?

-Tôi. Đích thân tôi sẽ trực tiếp chỉ huy và chịu trách nhiệm. Còn ai hỏi gì nữa không?

Chờ một lúc không thấy bàn tay nào giơ lên, Eliot Ness cho giải tán buổi họp. Chàng quay sang Mike Casey:

– Nếu ông rãnh, tôi muốn nói chuyện riêng với ông một chút.

– Dĩ nhiên, ai chớ ông Ness thì có bận đến mấy tôi cũng phải có chút thì giờ cho ông. Xin mời vào văn phòng tôi.

– Không, …văn phòng tôi.

Mike Casy nhún đôi vai mập thù lù của mình ra cái vẻ “đâu cũng được, anh em cả mà”. Cả hai vừa bước ra tới hành lanh chính, Eliot Ness nhìn thấy một người đội mũ phớt với cái máy chụp hình tổ bố nơi tay đang chờ sẵn từ lúc nào. Linh tính cho Eliot Ness biết hắn phải là thằng phóng viên Ferguson. Đúng như chàng nghĩ, chỉ cái nhìn thoáng, khuôn mặt “bô trai”, cặp môi dầy và đôi mắt sáng ngời của nó cho chàng biết đây một týp cực kỳ thông minh và có nhiều tham vọng. Mà nó lẹ tay quá chừng. Eliot Ness chưa kịp mở miệng thì đã thấy cái máy hình đưa lên rồi tách một cái, ánh sáng của ngọn đèn Flash chói loà cả hành lang bé nhỏ.

Tiên sư! Chưa ra quân đã bị …chụp hình nguyên con. Cái flash vừa nháy xong là đã nghe giọng nó …đẩy tới, vừa có vẻ cầu tài vừa có vẻ đo lường phản ứng người đối diện:

– Chào ông Ness, thật là quý hoá, tôi …tình cờ được gặp ông ở đây.

Eliot Ness bắt tay Ferguson:

– Chào ông Ferguson. Tên tôi là Ness, Eliot Ness, …hân hạnh được biết ông.

– Có lẽ ông đã biết, tôi là Ferguson. Tôi xin lỗi vì đã quầy rầy ông mấy ngày qua nhưng ông thông cảm giùm.

Bắt tay xong, Eliot Ness tiếp tục rảo bước, làm như không có sự hiện diện của Ferguson trong hành lang. Nhà báo chuyên nghiệp Ferguson không lấy thế làm phật lòng, đi theo Eliot Ness, tiếp tục:

– Báo chí là cái nghề bạc bẽo nhất. Tuần trước trong khi đi phỏng vấn để kiếm đề tài viết về vấn đề giáo dục, tôi đã bị một một bà giáo trường bà sơ St. Gabriel phang nguyên cái bình mực vào người. Nếu không né kịp thì chắc là sức đầu bể trán rồi. Mà tôi có hỏi gì quá đáng đâu, tôi chỉ nói sự thực…

Mike Casey nham nhở xía vào:

– May là ông gặp bà giáo yếu sức chứ gặp tôi thì đã ăn nguyên một dùi cui vô đầu.

Ferguson không để ý đến câu đùa rẻ tiền của cớm Mike Casy, tiếp tục tấn công con mồi chính là Eliot Ness:

– Ông nghĩ gì về luật cấm rượu?

– Tôi nhớ hình như ông đã hỏi tôi câu này rồi.

– Tôi muốn ông lặp lại.

– Quốc hội đã thông qua đạo luật Voltstead năm 1920. Đó là luật. Tất cả mọi công dân đầu phải tuân theo luật của chính phủ ban hành.

Chưởng thứ hai nặng hơn:

– Ông có dám long trọng thề là từ ngày đạo luật Voltstead ra đời, ông chưa bao giờ uống một ngụm rượu hay một ly bia không?

Eliot Ness đã biết trước thế nào nó cũng gài được một câu làm mình kẹt. Mà nó gài như vậy để làm gì? Thông thường, ít có anh ký giả nào muốn đi gây chuyện với các cơ quan cảnh sát. Có thể vì muốn bài của mình có nhiều mục đặc biệt hơn đồng nghiệp, cũng có thể vì …trời sinh nó ra như vậy. Hoặc, biết đâu chừng, cũng có thể vì nó ăn lương tháng của Al Capone? Đây là một bài toán khác mà Eliot Ness phải tìm cho ra đáp số. Về câu hỏi của thằng này, quả thật chàng cũng không nhớ là gần mười năm nay, mình có bao giờ làm thử một ngụm bia hay một hớp rượu. Nếu trả lời là có thì kẹt, mà trả lời không thì có vẻ là hơi láo. Eliot Ness bước mau hơn, bình tĩnh trả lời:

– Tôi nghĩ đó là chuyện riêng tư.

– Ông là công chức nhà nước, được trả lương bởi những đồng tiền chúng tôi đóng thuế, tôi nghĩ ông nên thành thật với dân chúng.

Eliot Ness tiếp tục đi thẳng. Ferguson nhất định không chịu bỏ qua:

– Sao ông Ness? Ông có bao giờ uống rượu, nghĩa là ông có bao giờ vi phạm luật cấm rượu của chính phủ không?Tiên sư cha thằng nhà báo mất dạy, cây muốn lặng mà gió chẳng dừng. Đã đến nước này thì Eliot Ness nghĩ mình phải phản pháo, phải tốp thằng này ngay lúc nó mới bắt đầu. Mình còn ở Chicago này ít nhất là một năm nữa, không thể để nó ăn hiếp được.

Chàng dừng bước, quay nhìn Ferguson, cặp mắt như bắn ra những tia lửa:

– Ông Ferguson, ông là phóng viên, tôi là cảnh sát, cả hai chúng ta đều có công việc để làm. Ông viết tin tức phóng sự, tôi đi bắt cướp. Câu hỏi vừa rồi của ông là một câu hỏi ngu xuẩn, vi phạm đến đời tư của người khác. Tôi khuyên ông, nếu muốn biết tin tức để viết, nên đặt những câu hỏi đi thẳng vào vấn đề.

Chàng nắm lấy cái máy hình của Ferguson, nói thật chậm:

– Hợp tác với chúng tôi, ông sẽ có nhiều cái lợi. Chống đối chúng tôi, ông sẽ không được hưởng bất kỳ một ân huệ nào cả. Ông hiểu không?

Lăn lộn trong nghề báo chí đã lâu, Ferguson học được nhiều kinh nghiệm. Kinh nghiệm thứ nhất là phải biết tùy trường hợp, tùy người mà đặt câu hỏi. Ví như đi phỏng vấn Al Capone, hắn ăn nói rất ý tứ và nhiều khi lại còn đâm ra lễ độ. Đi phỏng vấn mấy ông dân cử thì hắn tự coi hắn như ông vua con. Muốn hỏi gì thì hỏi, muốn xấc láo cách gì cũng được. Mấy ông dân cử tức lắm, biết thằng này làm khó mình nhưng phải ráng uốn mình chìu chuộng hắn. Lạng quạng hắn để bậy vài câu trên báo là có thể tàn đời. Còn đối với mấy thầy cảnh sát thì khác. Vì đa số những chức vụ lớn đều do dân bầu hay được chỉ định vì có thế lực chính trị nên hễ càng ngồi cao thì càng sợ báo chí. Đối với những anh cảnh sát viên quèn thì có cho kẹo hắn cũng không dám ăn móc lò. Lần bị đấm xém bể quai hàm và máy hình bị liệng xuống sông hồi mới ra nghề còn làm hắn lạnh gáy. Còn anh chàng cớm liên bang này, Ferguson biết Eliot Ness là một tay có giáo dục, trình độ đại học, tính tình lại chưa biết rõ, nên muốn thử vài câu hỏi dò đường. Nhưng xem ra có vẻ khó ăn, đụng thứ thiệt rồi. Cái làm cho Ferguson ngán nhất là cặp mắt của Eliot Ness. Nó có vẻ thông minh, dữ tợn và quyết đoán vô cùng. Chicago này chỉ một người khác có được cặp mắt này là hung thần Al Capone.

Coi… hắn nhìn mình dữ dội như thế kia thì không chừng sủa bậy thêm một câu là hắn dám xông tới nện cho một trận ra gì lắm. Thôi để từ từ, ai dại gì đưa con cọp tới đường cùng. Ferguson xuống nước, miệng mỉm cười cầu tài:

– Ông Ness, ông hiểu lầm tôi rồi. Tôi chỉ hỏi ông để lấy tin tức cho vui thôi mà.

Eliot Ness buông tay ra, lạnh lùng:

– Tốt, nếu ông muốn biết tin tức thì cho đến giờ này tôi không có gì để cho ông hết. Những gì ông biết về tôi, tôi nghĩ đã là quá đủ. Vào một giờ phút thuận tiện, tôi sẽ mở cuộc họp báo.

Eliot Ness và Mike Casey bước vào văn phòng của chàng. Lần này Ferguson không buồn đi theo, đứng tiu nghĩu với khuôn mặt bối rối ngoài hàng lang.

Eliot Ness gài điếu thuốc vào môi, vô đề:

– Có một điều thắc mắc trong đầu nên tôi muốn gặp riêng ông để hỏi, xin ông đừng phiền.Mike Casey gác chéo chân, duỗi người thoải mái trên ghế:

– Xin tự nhiên, ông Ness.

– Cái tin đột kích vào tối ngày hôm nay ở sở cảnh sát này chỉ có ông và tôi biết, làm sao thằng phóng viên Ferguson biết được.Lão mập cười, đưa hai tay ra phân bua:

– Trời. Ông phải nhớ là trên tôi còn có ông Cảnh sát trưởng. Trong ty này có chuyện gì mà tôi không phải trình cho xếp tôi biết, dù nó có quan trọng hay không? Sau khi nói chuyện với ông là tôi có bổn phận phải trình cho xếp biết diễn tiến của kế hoạch. Cũng xin ông nhớ cho một điều là trước khi ông xuống đây, chúng tôi cũng đã trải qua gần 10 năm “chiến tranh” với tụi Mafia này. Nhiều chiến sĩ cảnh sát trong anh em chúng tôi đã ngã gục. Mà nghĩ cho cùng, làm vậy đâu có gì trái luật đâu ông Ness?

Eliot Ness thấy như mình đang đi vào một con ngõ cụt. Dĩ nhiên, chuyện lão Casey làm rất là hữu lý, không thể trách vào đâu được. Một khi tin tức đã lọt đến người thứ ba tức ông Cảnh sát trưởng thì đâu còn gì là đột kích bí mật nữa.

Eliot Ness lắc đầu đứng dậy tiễn Mike Casey ra cửa, không nói thêm một lời. Nhìn bộ tịch của Eliot Ness, lão cảnh sát biết chàng đang thất vọng lắm. Trước khi quay lui, lão chìa tay ra bắt Eliot Ness:

– Chúc ông thành công tối nay.

Sau khi trả lời hai tiếng “cám ơn” khô khan, chàng quay trở lại ngồi nơi bàn giấy thừ người suy nghĩ. Phóng viên Ferguson còn đứng lãng vãng nơi hành lang, không hiểu hai người nói gì với nhau mà mặt lão Casey khi bước ra coi thấy hí hửng và yêu đời quá chừng…

Chuông đồng hồ điểm 12 tiếng. Làm việc và suy nghĩ liên miên từ lúc 5 giờ sáng, Eliot Ness quyết định đi thả bộ một vòng ngoài trời cho thoải mái tinh thần.Trời Chicago đang vào thu. Trên không những đám mây xám giăng kín trời. Thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ kéo đến thổi tung những chiếc lá vàng, cuốn chúng bay lác đác trên con đường chàng đang thả bộ.

Với điếu thuốc lá trên môi, Eliot Ness ngây ngất tận hưởng những giây phút thoải mái cuối cùng trước cuộc tấn công tối nay. Chàng biết rõ, kể từ tối nay trở đi, công tác của chàng bước sang một khúc rẽ mới. Đó là sự xuất đầu lộ diện từ trong bóng tối để đánh thẳng vào đám Al Capone. Cái tên Eliot Ness sẽ trở thành một cái tên cho Al Capone nguyền rủa. Không chừng chàng lại được “hân hạnh” nằm trong sổ đen của nó.

Muốn ra sao thì ra, chàng dự định sẽ xuống tay không thương tiếc, không cần đếm xỉa đến cái đám cảnh sát địa phương có thật sự giúp chàng hay không. Tất cả những cơ sở làm ăn của Al Capone, theo như kế hoạch, phải bị triệt hạ. Tất cả những ai muốn cản con đường chàng đi đều sẽ bị khai trừ, dù kẻ đó là Al Capone hay là trưởng phòng Mike Casey. Cho đến ngay cả thị trưởng Thompson, nếu cần thiết, chàng sẽ không ngần ngại lôi hắn ra toà. Đất Hoa Kỳ đầy dẫy những thằng trộm cướp, nhưng cũng không thiếu những cảnh sát cương quyết và tài ba như chàng. Luật pháp Chicago sẽ được tái lập, chàng tự nhủ với lòng mình.

Đi bách bộ một lát, chàng mua tờ báo rồi kiếm một cái ghế bên vệ đường ngồi đọc. Quan sát khách bộ hành ngược xuôi trên lề đường, chàng mới để ý là mình đang ngồi trước một tiệm bán quần áo sang trọng. Gần đó, dưới cái bảng “tuyệt đối cấm đậu xe”, một chiếc Limousine láng bóng nằm chình ình như thách thức thiên hạ, với thằng tài xế mặt mũi cô hồn đang ngồi gác cẳng huýt gió.Vốn là một kẻ thượng tôn pháp luật, những chuyện gì trái luật xảy ra trước mũi dù nhỏ đến đâu cùng làm cho Eliot Ness thấy ngứa mắt nhưng hôm nay chàng phớt tỉnh, cúi đầu đọc báo tiếp.

Tối nay còn nhiều chuyện làm, chuyện giữa đàng đừng nên thắc mắc. Bỏ tờ báo xuống, Eliot Ness lơ đãng mồi điếu thuốc và bỗng nhìn thấy một anh cảnh sát mặc sắc phục đang tà tà bước tới.

Eliot Ness dư biết, cảnh sát đi tuần bằng chân là thứ cảnh sát hạng bét của Chicago, thường chỉ để cho các tay mới ra trường hay những ông già đảm trách. Thời buổi này đâu có nạn cướp giựt chạy bộ.

Tay phải của người cảnh sát ve vẫy cái cây dùi cui coi rất điệu nghệ.

Thầy cảnh sát tới gần chiếc xe, ngắm tới ngắm lui. Khi đã chắc ăn là chiếc xe đậu một cách bất hợp pháp, thầy tới bên tên tài xế, gõ nhẹ cây dùi cui vào nóc xe hắn.

Eliot Ness thích thú quan sát một cảnh sát Chicago đang hành sự trong cái thành phố …rừng này. Coi, sao thấy thằng tài xế vẫn tỉnh bơ, cái chân gác trên “tableau” cũng không chịu bỏ xuống.

Thày cảnh sát hơi giận, sẵng giọng:

– Ê chú kia, chú có thấy cái bảng cấm đậu xe không?

– Thấy chớ, bảng bự chầng dầng như vậy không thấy sao được?

– Vậy thì còn chờ gì nữa, de ra dùm, kiếm chỗ khác mà đậu!Thằng tài xế bây giờ mới quay ra ngoài, tay móc ra một tấm danh thiếp đưa cho thầy cảnh sát. Không hiểu cái tấm danh thiếp của ai và viết gì nhưng khi đọc xong là thấy thầy cảnh sát thay đổi thái độ liền. Hết cái vẻ hung hãn, thầy cười một cái rồi rút lẹ. Thằng tài xế cất tấm danh thiếp vào túi, tiếp tục ngồi huýt gió chờ chủ.

Mục kích không thiếu một chi tiết, Eliot Ness thấy muốn lộn gan. Cảnh sát Chicago nầy tệ đến vậy sao? Hoặc chiếc xe này là xe của cảnh sát chìm ngụy trang? Hay đó là xe của một ông bự nào đó. Mà nếu càng làm lớn thì càng nên giữ luật pháp chứ, có đâu mà như vậy?

Eliot Ness lắc đầu không có ý kiến. Vả lại, những tính toán, những lo âu và chi tiết của cuộc tấn công tối nay làm cho chàng chỉ một lúc sau là quên bén chuyện đó…

Một lúc lâu sau, lại có tiếng giày đinh dộng cộp cộp trên vĩa hè. Ai đi đứng mà coi bộ dữ dằn quá cỡ. Tiếng giày đinh vang lên át hẵn những bước chân khác. Eliot Ness ngước lên, vừa vặn nhìn thấy một thầy cảnh sát khác đang tà tà đi tới. To con. Hình ảnh khó hiểu vừa rồi của cảnh sát Chicago còn trong trí nên Eliot Ness chỉ nhìn phớt qua rồi lại cúi xuống.

Nhưng,.. tự nhiên có một cái gì đó làm chàng phải ngẩng đầu lên trở lại. Coi người ngợm của thầy cảnh sát này sao mà oai phong lẫm liệt quá chừng. Tướng người cao ít nhất phải là gần 6 feet với những bắp thịt cuồn cuộn như muốn phá tung lớp vải ka ki dù rất dày. Dáng đi chững chạc khoan thai như vầy thì nhất định phải là “quý tướng”. Đi đứng đã ngon vậy, cây dùi cui trong tay thầy còn xoay tít như cái chong chóng tàu bay một cách thiện nghệ.

Khi thầy tới gần hơn, Eliot Ness có vẻ thất vọng vì thấy thầy đã hơi già, xấp sỉ cỡ bốn mươi tuổi. Tướng tá coi ngon lành nhưng chắc vì cao niên nên được điều động về đây để gác đường.

Eliot Ness lắc đầu tiếc rẽ. Một tay ngon lành cỡ đó mà phải đi gác đường thật là phí của trời. Nhưng mà ai biết được, nhiều khi tướng tá coi ngon lành vậy mà lại “dở òm” nên mới được giao cho nhiệm vụ gác đường. Tuy nghĩ vậy nhưng chàng vẫn thích cái khuôn mặt sương sương đẹp hào hùng và cặp râu mép dày đậm. Khả năng thiên phú cho chàng biết đây không phải là một mẫu người tầm thường mà phải là một thứ dám làm chuyện lớn. Ngon lành vậy thì tại sao lại đi gác đường?

Eliot Ness không tìm ra câu trả lời.Thích thú hơn, Eliot Ness nhìn thấy thầy tà tà tiến tới đằng sau chiếc xe Limousine đậu ngang ngược ngay dưới bảng cấm. Thằng tài xế vẫn còn ngồi gác chân bất động nơi băng trước.Cũng như người cảnh sát lúc nãy, thầy dạo một vòng chung quanh xe quan sát rồi vòng ra phía trước, tới bên người tài xế.

Thằng ngồi trong xe tuy biết có cảnh sát đến nhưng vẫn ngồi lì, mắt nhìn thẳng, làm như mọi chuyện trên đời này kể cả chuyện đậu xe trái luật và thầy cảnh sát bên ngoài như không là gì cả.

Thầy cảnh sát đứng yên một lúc quan sát thằng tài xế, chưa thèm mở miệng và chưa thèm có phản ứng. Thầy có cái nhìn của một con mèo đứng ngắm con chuột lớn lối vì chưa biết địch thủ của mình là Thái sơn.Thầy cảnh sát giơ cây dùi cui gõ nhẹ nhẹ vào mui xe, ra dấu muốn nói chuyện với nó.Vẫn lì lợm, tên tài xế rút ra một điếu thuốc châm lửa, thở khói, mắt tỉnh queo nhìn thẳng. Dáng điệu như vậy thì rõ ràng là nó có coi cảnh sát Chicago ra cái gì đâu?Tự nhiên nghe đến “rầm” một tiếng đinh tai nhức óc, cây dùi cui của thầy cảnh sát đã dộng hết sức xuống trần xe. Chiếc xe mới tinh bị hỏm xuống một miếng hơi lớn. Tên tài xế giật nảy mình lên, điếu thuốc rớt xuống áo, hắn đưa tay ra phủi phanh phạch, miệng văng tục om sòm.

Kiếm được điếu thuốc đang cháy rớt vào bên trong áo mình không phải là chuyện dễ làm, nhưng rồi hắn cũng lôi ra được, vừa chửi rủa vừa mở cửa bước xuống, mặt mũi nhăn nhó vì bị phỏng đến mấy chỗ trong ngực. Ai yếu bóng vía nhìn thấy cảnh này cũng có thể đoán là nó sẽ bằm xác thầy cảnh sát kia ra làm trăm mãnh cho hả giận.

Eliot Ness nở một nụ cười sảng khoái. Chàng đã đoán không sai. Đã chờ đợi sẵn, thằng nọ vừa đặt chân xuống đất là thầy cảnh sát dã thọt cây dùi cui vô bụng hắn, đẩy thằng này dựa sát vào xe:

– Ai cho mày đậu xe chỗ này thằng mất dạy? Mày hiểu tiếng Mỹ không?Câu trả lời của hắn là một tiếng chửi thề. Thầy cảnh sát nới lỏng cây dùi cui, cười cười:

– Thằng chó đẻ! Đã đậu xe ẩu tả mà còn dám lăng mạ nhân viên công lực. Cảnh sát là bạn dân, tao đâu thèm đánh mày làm gì cho có thương tích. Mày có nhiệm vụ giữ xe thì tao có nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự. Mầy làm khó tao thì tao làm khó mầy. Coi nè!

Nói dứt câu là đã nghe đến xoảng một tiếng. Cây dùi cui lần này nện vào tấm kính sau của chiếc xe Limousine. Nguyên cái cửa kính vỡ nát, văng tung toé.

Thằng tài xế chưng hửng, lại gầm lên một tràng chửi rủa thô bỉ khác. Cây dùi cui trong tay thày cảnh sát lại xoay tít như chong chóng rồi …hạ xuống nơi một tấm kính khác của chiếc xe. Một rừng thủy tinh vụn lại bay lả tả xuống khắp nơi trong xe, trên đường cái.

Thằng tài xế không tin được con mắt mình. Chicago này có thằng cảnh sát khùng nào dám xử sự như vậy với chiếc xe của phụ tá Frank Nitti, chiếc Cadilac Limousine trị giá 15 ngàn đô la (năm 1930 tương đương với 150 ngàn đô la năm 1988) mà ông phụ tá cưng hơn cả cây colt .45 của ổng. Hàng ngày, dù bận rộn đến đâu, chính Frank Nitti bỏ ra nửa tiếng đồng hồ để o bế, lau chùi nó. Một vết dơ nhỏ trong xe hay ngoài xe mà ông phụ tá thấy được thì thế nào cũng bị mắng mỏ. Thằng tài xế không dám tưởng tượng ra cái cảnh ông phụ tá đi shopping ra và nhìn thấy cái xe hơi cưng của mình bị tàn phai nhan sắc tả tơi như vậy. Hắn nghĩ, nóng tánh như ông phụ tá, ông ta dám rút súng ra nổ bậy một phát vào ngực mình rồi muốn ra sao thì ra lắm.

Hoảng quá hoá liều, thằng tài xế xúi quảy thò tay vô trong áo để móc súng ra ăn thua đủ.

Nhưng cánh tay chưa kịp chạm vô báng súng thì đầu cây dùi cui oan khiên đã đẩy tới, kèm cứng dưới nách, đẩy nó té ngược một lần nữa vô chiếc Limousine. Cảm thấy nơi nách phải bị đau đớn chịu không nổi, cánh tay của tên tài xế từ từ buông ra rồi rớt xuống. Nhanh như chớp, bàn tay còn lại của thầy cảnh sát bay tới, rờ một cái là đã móc ra được cây Magnum 38 của nó.

Vẫn cái giọng khinh khỉnh, thầy hỏi:

– Ai cho mày mang súng thằng du đãng này? Có giấy phép không, đưa coi!Mục kích không thiếu một chi tiết, Eliot Ness mừng như mở cờ trong bụng. Nếu ở Chicago này còn người nào đáng tin cậy thì đây phải là một trong số những người đó.

Thằng tài xế thò tay vào túi, không móc ra cái giấy phép đeo súng mà lại móc ra tấm danh thiếp lúc nãy đưa cho thầy cảnh sát.

Thầy cầm lấy, nhìn lướt qua rồi trả lại. Eliot Ness lại càng thích thú hơn khi nghe thầy cảnh sát chửi thề:

– ĐM! Tao biểu đưa giấy phép tao coi, sao lại đưa thứ danh thiếp của thằng trưởng phòng cảnh sát tham nhũng chó chết Mike Casey cho tao làm gì?Cặp mắt của thầy cảnh sát tự dưng long lên đầy uất hận khi nhắc đến hai chữ Mike Casey. Thầy buông thằng tài xế ra, vung cây dùi cui lên một lần nữa.

Cái cửa kính thứ ba bị đánh vỡ tung. Dường như chưa hả cơn giận, thầy cảnh sát lại vung cây dùi cui lên đập lia lịa xuống cái kính trước. Những tiếng loảng xoẳng vang lên tiếp. Mới đầu nghe rõ, nhưng càng về sau thì chàng nhỏ đi. Kiếng đã vỡ hết rồi, còn đâu nữa mà đập. Cái kiếng trước quả là thứ mắc tiền, đã bị đánh vụn ra từng mãnh nhưng nó không chịu rớt xuống mà dính cứng với nhau coi như một mớ màn nhện vĩ đại, nham nhỡ. Thầy xé nát tờ danh thiếp rồi thọt mạnh cây dùi cui moi một lỗ hỗng trước mặt ghế tài xế:

– Đáng lẽ tao còn biên cho mày cái giấy phạt nhưng tính tao không thích giấy tờ lôi thôi, mất thì giờ. Từ này về sau nên nhớ là đậu xe thì đừng bao giờ đậu ở những chỗ cấm. Và nếu đã làm gì trái luật, khi gặp cảnh sát thì phải coi cảnh sát là …ông cố nội tụi mày, phải dạ thưa cho lễ phép, còn ngang ngược như cái kiễu hồi nãy thì có ngày mất mạng nghe con. Rồi, ĐM muốn lái về thì phải nhìn qua cái lỗ này để nhớ đến tao nghe không thằng khốn nạn. Đây chỉ mới là một bài học sơ khởi thôi.

Súng đã bị tước, chiếc xe đã tàn phai nhan sắc mà không làm gì được, thằng tài xế đứng yên như bị trời trồng. Nó đau khổ nhìn chiếc xe mới cách đây năm phút còn là một tác phẩm thượng thặng, một món trang sức quyền quý trị giá 15 ngàn đô của nền kỹ nghệ Hoa Kỳ mà bây giờ coi thấy thê thảm chẳng khác gì một chiếc xe thế phải của quân đội trong nghĩa địa xe hơi.

Thầy cảnh sát lật ngược cây súng, mở buồng chứa thả cho mấy viên đạn rớt xuống lòng bàn tay rồi thảy lại cho thằng tài xế:

– Súng của mày đây, giữ lấy. Tao có lấy nó về hay còng đầu mày đem về nhốt thì thằng khốn nạn Mike Casey cũng sẽ trả lại cho mầy. Mất công tao làm báo cáo để nó lại có dịp để làm khó tao và ăn thêm tiền của Al Capone. Bây giờ leo lên xe, dòm qua cái lỗ này mà lái cái xe thổ tả này ra khỏi tấm mắt tao. Mày đậu đây lâu thêm chút nữa là tao sẽ biến cái xe này thành một đống sắt vụn. Hiểu tao không thằng chó đẻ?

Kinh ngạc nhưng mừng rỡ, tên tài xế run run chụp lấy cây súng, mở cửa xe leo lên. Hắn vừa vặn công tắc xe thì thầy cảnh sát lại thò đầu vô:

– Trước khi đi, nói cho mày biết đây là khu vực trách nhiệm của tao. Tao cóc cần biết mày làm gì hay quen biết ai, trong khu vực của tao nếu có bảng cấm đậu xe thì đừng đậu, có bảng cấm đái thì đừng đái. Thằng nào trái luật là tao cứ thẳng tay. Tử tế thì tao chơi tử tế, giang hồ thì tao chơi theo luật giang hồ, muốn thứ gì có thứ đó. Trong trường hợp mày muốn khiếu nại với sở an ninh cảnh sát, số thẻ hành sự của tao là 982, và tên tao là Malone. Gary Malone, thuộc ban …gác đường. Mày cũng có quyền về nói với bọn thằng Al Capone là chính tay tao đã đập chiếc xe này, nếu thằng nào muốn kiện tụng thì lên sở Cảnh sát gặp tao. Còn thằng nào muốn ăn thua với tao thì cứ ra đây, tao không sử dụng Tommy Gun nhưng biết xài thứ khác ngon hơn, shotgun. Tao gác khúc đường này mỗi ngày từ 9 giờ sáng đến 6 giờ chiều. Hiểu chưa?

Thằng tài xế mặt mày tái mét, gật đầu rồ máy xe. Vài ba người hiếu kỳ đang đứng xem vội vàng tránh bước. Khi chiếc xe de lui ngang qua trước mặt thầy cảnh sát, Gary Malone nhổ toẹt một bãi nước miếng vào phía trong xe, xuyên qua lớp cửa kiếng vừa bị đập nát rồi tiện tay nện một phát dùi cui cuối cùng vào cái bóng đèn xe phía trước. Một tiếng “bụp” gọn ghẽ vang lên.

Đứng trên vỉa hè, gần cái ghế của Eliot Ness, Gary Malone tỉnh queo chống dùi cui nhìn chiếc Limousine bây giờ trông giống như một chiếc xe thổ mộ chở quan tài người chết từ từ lăn bánh. Hắn nói vọng theo:

– ĐM tưởng thằng Gary Malone này không biết cách trị tụi bay hả. Lần sau nhớ đậu xe cho đúng chỗ…

Gary Malone vừa tính rảo bước, Eliot Ness cất tiếng:

– Gặp tôi, tôi kiện hộc máu ông ra!

Gary Malone quay người, nhìn thấy Eliot Ness, hắn nhíu mày. A, té ra lại còn một thằng khùng muốn giỡn mặt với cảnh sát. Bộ nó chắc chưa thấy chiếc xe của Frank Nitti vừa bị đập nát chắc. Gary Malone gằn giọng:

– Hê! Ai cho chú mày xía vô chuyện làm việc của cảnh sát?

– Tôi nghĩ mỗi công dân Hoa Kỳ đều có quyền được đối xử công bằng trước pháp luật.

Gary Malone nhăn mặt như vừa đánh hơi thấy một thằng phá đám. Hắn tiến tới gần bên Eliot Ness, vỗ cây dùi cui vào tay mình nghe bóc bóc:

– Ê, chú em đa sự. Ai cho chú mày cái quyền dạy luật cho cảnh sát? Đặc biệt thứ cảnh sát như tao, gần hai mươi năm trong nghề. Đứng dậy coi thằng ông nội, đưa coi có chút giấy tờ tùy thân gì không?

Vẫn ngồi yên, Eliot Ness gài một điếu thuốc vào môi, thò tay vô trong áo vét tính móc cái hộp quẹt. Nhưng tay chàng chưa kịp đụng vào túi thì cây dùi cui đã như một lằn chớp thọt vào khoảng dưới nách chàng, y hệt như lúc nãy hắn đã làm với thằng tài xế. Cây dùi cui đụng phải vật gì cứng cứng, Gary Malone bèn đẩy mạnh hơn, dí người Eliot Ness sát vào lưng ghế công viên:

– Ê, ai cho mày đeo súng, thằng phá đám này? Đứng lên tao coi, hai tay bỏ ra ngoài đàng hoàng, đừng có dại mà giở trò, tao chỉ cần quất một cây là mày gục ngay tại chỗ bây giờ.

Không muốn cuộc gặp gỡ ban đầu đi quá trớn, Eliot Ness trả lời:

– Tôi có giấy phép đeo súng. Tôi là cảnh sát của sở Đặc vụ liên bang.

Gary Malone quả là con người tinh mắt. Chỉ chừng đó thôi đủ cho hắn biết ngay chàng là một nhân viên liên bang thứ thiệt. Cây dùi cui được rút lại. Giọng hắn trở nên hiền hậu hơn:

– Sorry ông cớm liên bang! Tại ông gây trước chớ không phải tại tôi.Nói vừa xong là Gary Malone quay người bước lui, làm như không muốn dây dưa gì đến mấy ông cớm này. Eliot Ness nói vọng theo:

– Ông cảnh sát kia, ông chưa làm hết bổn phận mình?

Gary Malone dừng bước, vẫn không thèm quay đầu nhìn lại:

– Bổn phận gì?

– Bổn phận xét giấy tờ. Ông biết tôi có súng sao lại bỏ đi trước khi kiểm soát tôi?

– Tại vì tôi biết ông là nhân viên liên bang.

– Sao ông làm cảnh sát mà lại dễ tin vậy? Bất cứ thằng ngu nào cũng có quyền xưng mình là nhân viên cảnh sát liên bang. Nếu tôi không phải là nhân viên liên bang thật thì cái mạng ông đã đi đời rồi.

Gary Malone xoay người bước trở lại gần Eliot Ness:

– Ông cớm liên bang lẩm cẩm! Để tôi dạy cho chút bài học vỡ lòng của cảnh sát. Thứ nhứt, cái bộ đồ vét …rẻ tiền của ông đang mặc chứng tỏ ông là công chức nhà nước. Dân chơi nó diện áo quần mắc gấp trăm lần ông. Thứ hai, ban ngày ban mặt, không có thằng ngu nào đeo súng trong người mà dám ngồi khơi khơi ngoài ghế công viên như ông. Thứ ba, cũng không có thằng khùng nào tự nhiên lại đi xưng mình là nhân viên liên bang với một thầy cảnh sát, ăn cái giải gì? Nhiêu đó đủ chưa?

Khỏi cần đợi câu trả lời, Gary Malone lại quay lui, gõ những bước chân chắc nịch xuống đường, tay ve vẩy cây dùi cui. Eliot Ness nói vọng theo:

– Đồng ý với ông. Ông rảnh ở lại đây tôi muốn nói chuyện với ông chút xíu.

Không thèm quay đầu lại, Gary Malone đáp tỉnh bơ:

– Chả có chuyện gì để nói hết. Ông lo chuyện của ông, tôi lo chuyện của tôi.

Người ngợm gì khó tánh và kỳ cục, Eliot Ness thầm nghĩ. Ngựa chứng thường là những con ngựa giỏi nhất nếu biết cách trị. Từ lúc mới vào nghề cách đây mười năm, Eliot Ness có một cái tài lạ là cái tài đánh hơi ra nhân tài. Trăm lần như một, những gì chàng đoán về một người nào đó luôn luôn đúng. Chính nhờ cái tài này mà những công tác của Eliot Ness dù khó khăn cách mấy cũng luôn luôn thành công.

Nhưng cái làm cho chàng buồn nhất là dường như chàng có số “sát quân”. Những cộng sự viên tài giỏi và thân tín của Eliot Ness thường bỏ mạng trong khi hành sự. Lần cuối cùng, thằng Weerison, bắn hay và lanh lẹ tưởng không ai có thể hơn được, cuối cùng bị chết banh xác vì trái bom gài trong xe của chàng. Tụi đầu trâu tính đặt bom giết chàng nhưng cu cậu Weerison sáng hôm ấy không hiểu hứng tình làm sao bèn chơi cái màn ” Xếp ngồi đây để em đi lấy xe cho xếp”. Số nó là số chết thật, xưa nay nó có bao giờ chơi cái trò điếu đóm này đâu? Xe đâu chẳng thấy, chỉ nghe một tiếng “ùm” long trời lở đất vang lên. Cả xe lẫn người không còn mảnh nào nguyên vẹn…

Bị nhiều lần như vậy nên Eliot Ness đâm ra hãi. Không phải hãi cho mình nhưng cho những cộng sự viên của mình. Sáng hôm nay, cái mùi “nhân tài” của con người Gary Malone lại toát ra làm chàng cảm thấy thèm chịu không được. Không chừng đây có thể là cái đáp số của cả bài toán Al Capone mà cả nước Mỹ chưa làm sao giải được.

Được rồi, hắn không tới với mình thì mình tới với hắn. Eliot Ness đứng dậy, rảo bước theo Gary Malone:

– Tôi đi theo ông để nói chuyện chút được không?

Gary Malone quay ngang, nhìn Eliot Ness từ đầu tới chân như đánh giá coi thử ông cớm liên bang này ngon tới cỡ nào:

– Đúng ra, theo luật thì không được, nhưng vì ông cũng là cảnh sát như tôi nên tôi …xí xóa.

Cả hai sóng đôi. Eliot Ness đưa tay ra bắt:

– Xin giới thiệu, tôi là Ness, Eliot Ness, cảnh sát đặc vụ thuộc toán đặc nhiệm của bộ Tài chánh, nha Ngân khố.

Gary Malone cười:

– Chức vụ gì mà dài quá sao nhớ hết? Còn tôi, Gary Malone, cảnh sát gác đường Chicago. Đơn giản vậy thôi.Tính tình ông cớm này thật khó chịu. Eliot Ness cười cầu tài:

– Tôi rất hân hạnh được biết ông.

Eliot Ness chờ để nghe câu trả lời “tôi cũng hân hạnh gặp ông” đáp lễ nhưng chẳng thấy gì. Tốt, vậy là tay này không thích khách sáo, loè loẹt.

Chàng bắt chuyện:

– Ông đi …gác đường lâu chưa?

Hỏi xong, Eliot Ness mới biết là mình vừa hỏi một câu …vô duyên. Gary Malone gục gặc cái đầu:

– Đủ lâu để biết những con đường nào cần phải đi thường xuyên, những con đường nào không cần đi nhiều, và lúc nào có thể bỏ về nhà ngủ được mà không bị ai quấy rầy.

– Tốt. Tôi muốn đề nghị với ông một chuyện.

– Chuyện gì?

– Nói thật với ông, tôi mới được biệt phái từ Hoa Thịnh Đốn xuống để lo dẹp rượu lậu dưới này. Tôi thấy ông là một người có khả năng, tôi muốn mời ông vào làm việc với tôi. Dĩ nhiên, ông thấy đó, làm cho chính phủ liên bang thì quyền lợi nhiều hơn. Tôi bảo đảm sẽ đưa ông vào với nha Ngân khố. Đặc biệt hơn, tôi sẽ vận động để người ta tính luôn những thời gian thâm niên của sở Cảnh sát vào nha Ngân khố, mai mốt về hưu, tiền hưu trí nhiều phải biết…

Gary Malone cười khỉnh:

– Xin thành thật cám ơn ông. Nếu ông không chấp, tôi xin phép để tôi … dạy cho ông bài học thứ hai của nghề cảnh sát. Muốn tuyển nhân viên giỏi làm việc, chỉ có hai nơi: một là ông vô trường huấn luyện cảnh sát mà móc nó ra, hai là xuống hầm văn thư của bộ Quốc phòng nghiên cứu hồ sơ rồi lựa chọn. Trong cái đám TQLC dữ dằn, thế nào ông chẳng kiếm được một thằng cớm ngoại hạng. Ở trường Cảnh sát là tốt nhất vì chúng nó còn sạch, còn lý tưởng. Ra nghề cảnh sát chừng vài năm, không ít thì nhiều, thằng nào cũng biết ăn bẩn. Kẹt lắm, nếu như ông muốn tuyển mộ người từ nhân viên cảnh sát thì cũng không bao giờ nên chọn cái đám cảnh sát gác đường mà tuyển. Tụi này, như tôi đây chẳng hạn, ông tuyển về chỉ có nước làm gác dan. Nếu có tài thì chúng tôi đã không phải cuốc bộ ngày 8 tiếng ngoài trời nắng chang chang như thế này. Điểm quan trọng khác nữa, trong vòng vài chục phút đồng hồ không đủ để cho người ta nhận xét tường tận về một người được. Công việc của ông làm rất là quan trọng và nguy hiểm, tôi tưởng Nha Ngân khố đã dạy ông kỹ vấn đề này rồi.

Đã nghe bài học thứ nhất lúc nãy, giờ nghe bài học thứ hai Eliot Ness cũng chẳng lấy gì làm khó chịu nhưng ngược lại, chàng còn thấy khoái hắn là đằng khác. Đúng là típ người sinh ra để làm chuyện lớn: không khoe khoang tự đại, không dễ bị cám dỗ với những mồi ngon tiền bạc, tương lai bảo đảm.

Cái làm chàng thắc mắc mãi từ nãy đến giờ là tại sao con người như Gary Malone lại đi làm cảnh sát gác đường? Chắc chắn phải có câu trả lời nhưng bây giờ thì hãy để đó đã. Chàng công nhận, Gary Malone đã nói rất đúng. Nhưng chỉ đúng có phần đầu thôi, phần thứ hai là hắn trật lất. Eliot Ness có thể gặp một kẻ lạ mặt, chỉ nói vài ba câu chuyện là có thể biết ngay đó là hạng người nào rồi. Quá khứ của mười năm vùng vẫy chứng minh cho chàng biết mình chưa bao giờ trật.

Eliot Ness châm lửa điếu thuốc:

– Tôi đồng ý với ông điểm đầu tiên. Nhưng điểm thứ hai về nhận xét con người thì xin lỗi ông, ông nói trật rồi. Tôi chỉ cần nói chuyện với ai một lần là có thể biết được tài năng của người đó. Vì vậy tôi mới đề nghị với ông. Tôi biết ông là người tài.

Gary Malone lại cười, hàng râu mép chĩa thẳng ra hai bên:

– Ông không sợ một ngày kia sẽ hối hận về những gì mình vừa nói à? Đúng rồi, hồi nãy ông thấy tôi đập cửa xe một thằng mafia, ông cho tôi là oai hùng lắm hả. Nếu chịu khó suy nghĩ một chút, ông sẽ thấy tôi làm vậy là thiếu khôn ngoan. Chỉ vì một chút nóng nãy mà gây oán thù vặt, tôi sẽ đón nhận hậu quả của nó. Khi làm việc vì quan trọng, không ai lựa những người nóng tánh. Ông nghĩ thế nào mà lại chọn tôi?

– Tôi biết phía sau vụ đó có nhiều uẩn khúc nên tôi không trách ông. Nhưng tôi lặp lại, tôi biết ông là người có khả năng. Xin ông giúp tôi một tay.

Một thoáng im lặng, rồi câu trả lời dứt khoát của Gary Malone:

– Tôi già rồi. Nội một khúc đường vắng gác còn chưa xong, sức lực đâu đi theo mấy ông cớm liên bang. Xin cám ơn ông về những lời khen, tôi rất tiếc là không giúp gì ông được hết.

Khi muốn câu một con cá nào, người ta thường dùng mồi để dụ nó. Nếu thả xuống mồi này mà thấy cá không cắn thì người đi câu phải nghĩ đến miếng mồi khác, to hơn, hấp dẫn hơn hay phải dời chỗ đến một giòng nước khác yên tĩnh. Con cá Gary Malone chắc phải là thứ cá hiếm. Không biết dùng mồi gì để nhữ hắn đây. Tiền bạc, hắn không ham. Danh vọng và một tương lai bảo đảm hắn cũng chê. Vậy hắn muốn gì? Muốn an nhàn chăng? Cái vụ đập bể kính xe mafia vừa rồi chứng tỏ hắn không phải là loại cớm sợ trách nhiệm, muốn an nhàn. Rắc rối quá, Eliot Ness chưa tìm ra câu trả lời. Chàng bỗng hỏi vu vơ:

– Gia đình ông thế nào, được mấy cháu rồi?

Lại một câu gọn lỏn:

– Ly dị lâu rồi. Sống độc thân.

Vừa nói, Gary Malone vừa đưa mắt quét một vòng chung quanh mình. Ánh mắt sáng quắt như điện, dòm tới đâu là hào quang toát ra tới đó. Cây gậy trong tay hắn thỉnh thoảng lại quay tít lên một vòng:

– Còn ông, gia đình thế nào?

– Tôi được một bé gái. Cháu năm nay gần 8 tuổi.

Gary Malone dòm ra xa xa:

– Cách đây 20 năm, lúc mới vào nghề, tôi cũng có một gia đình …

Eliot Ness mừng rỡ. Hắn chịu nói chuyện là còn có hy vọng. Chàng chờ đợi nghe tiếp câu chuyện 20 năm về trước. Nhưng chỉ tới đó là hết, hình như Gary Malone chợt nhớ ra là mình vừa nói hơi nhiều với ông cớm lạ này nên im bặt. Những bước chân lộp cộp của đôi giày đinh vang lên đều đều trên vĩa hè.

Nói chuyện với ai cũng thế, hễ sau vài lần bị “tạt nước lạnh” vào mặt là người đối thoại, dù có lì lợm đến đâu cũng kiếm đường rút. Nhưng Eliot Ness là một người kiên nhẫn, đâu thể bỏ cuộc dễ dàng như thế được, bèn thử cú chót:

– Có nhiều khi ở đời, cơ hội đến mà mình không bắt lấy thì sẽ mất đi. Tôi có một đề nghị lần nữa với ông, ông nên suy nghĩ lại. Nha Ngân khố cần những người hảo hạng như ông.

Gary Malone lắc đầu liền:

– Cám ơn ông bạn. Tôi chẳng bao giờ nghĩ lại hết. Không là không. Ông nên để dành thì giờ thuyết phục tôi mà về lập kế hoạch với đám các nhân viên của sở. Chắc chắn họ có nhiều tài hơn anh cảnh sát già gác đường này.

Eliot Ness nói nhỏ vừa đủ cho Gary Malone nghe:

– Tôi xuống đây một mình, chẳng có ai giúp đỡ cả.

Gary Malone tự nhiên dừng bước, quay sang nhìn Eliot Ness như ngắm một con quái vật:

– Ông Ness không nói giỡn anh em chớ! Ông xuống đây một mình? Ông tính đi nghỉ mát hay xuống đây để dẹp tụi Al Capone?

– Dẹp thằng Al Capone là công tác của tôi. Thật ra, tôi không muốn làm anh hùng hay là một thứ độc quái nào hết. Đó là chỉ thị của phòng Đặc vụ. Tôi là nhân viên nên phải thi hành.

Gary Malone vỗ mạnh cây dùi cui vô lòng bàn tay mình nghe đến “chát” một cái, chửi thề, như có vẻ không tin:

– Chỉ thị gì …ngu thấy mẹ! Tại sao mấy ông nội ở Hoa Thịnh Đốn lại làm cái việc kỳ cục như vậy nhỉ? Gởi người ta xuống đây một mình để dẹp tụi …Al Capone! Bộ mấy ông tưởng Al Capone là một thằng du đãng mới ra nghề chắc? Ra mấy cha ở trên đó không biết đọc báo à?

Eliot Ness lắc đầu:

– Báo chí thì ngày nào mấy xếp chả đọc? Ngoài mớ báo chí, còn có các tin tức tình báo, các bài sưu tra dài cả trăm trang gởi về mỗi ngày. Đâu có chuyện gì qua mặt nổi Hoa Thịnh Đốn. Cái kẹt là ngân sách điều hành chỉ có vậy. Hơn nữa, đó là phương thức làm việc của Hoa Thịnh Đốn. Mới đầu, chỉ bắt đầu bằng một người, nếu thấy khó khăn, sẽ gởi thêm.

– Lỡ người đó bị bắn chết nhăn răng thì làm sao?

Eliot Ness nhún vai:

– Xui xẻo! Gởi người khác.

Gary Malone nhìn Eliot Ness nói với giọng thuyết phục:

– Ông Ness, tôi chưa biết ông tài giỏi cỡ nào, mưu lược làm sao, nhưng tôi thành thật khen ông một câu: Ông là một người can đảm. Vừa rồi, ông đem cái “Treasury Department” ra khoe với tôi, nào là lương cao bổng lộc nhiều, v.v. Tôi nói một câu, xin ông đừng buồn: Có cho vàng tôi cũng không dám đút đầu đi làm việc cho mấy ông. Cái vốn quý nhất của con người, luôn luôn đi trước mọi thứ khác là mạng sống. Mất cái này là mất tất cả. Mấy ông làm ăn và tính toán như vậy chẳng khác nào đem con bỏ chợ. Ai dám làm việc với mấy ông?

Eliot Ness cảm thấy mệt mõi. Trong vòng chưa tới một tiếng đồng hồ, chàng học được tới ba bài học của người cảnh sát gác đường. Cơ sự như thế này thì đành tạm rút lui để tính kế khác. Chàng vận dụng sức lực để biểu diễn một nụ cười, đưa tay ra bắt Gary Malone:

– Cám ơn ông bạn Gary Malone về bài học thứ ba của ông. Ngay bây giờ tôi cảm thấy khôn ngoan hơn sau khi học thêm được ba bài học của ông. Hôm nào rảnh, chúng ta gặp nhau nữa để nói chuyện được không?

Gary Malone nhìn bàn tay chàng, ngần ngừ một lúc rồi nắm lấy siết chặt:

– Chúc ông may mắn.

– Tối nay, tôi sẽ tấn công đợt đầu, ông có bài học gì cho tôi không?

– Lấy người ở đâu mà tấn công?

– Ty cảnh sát!

Eliot Ness nhìn thấy một vẻ vừa …thương hại vừa khó chịu trên khuôn mặt Gary Malone. Hắn cau mày:

– Không có bài học nào, nhưng tôi có ý kiến này: Nếu tôi là ông, tôi sẽ đánh điện về Hoa Thịnh Đốn xin gởi lên cấp tốc vài tiểu đoàn TQLC để tăng cường cho ông trước khi tấn công. Chúc ông may mắn!

Eliot Ness quay gót, lẩm bẩm trong miệng cái số thẻ hành sự của Gary Malone: “982, 982…”

Hôm nay coi như “thua” đi. Chàng biết và tin tưởng rằng trước sau gì mình cũng máng được cái huy hiệu bằng đồng có đóng chữ “Treasury Department” trên ngực hắn. Cái khó là kiếm ra vàng, khi đã biết vàng nằm ở đâu rồi thì công việc đào xới không phải là một vấn đề…

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 12 Apr 2025

Chương 7

Ty Cảnh Sát Chicago dọn sẵn cho Eliot Ness một cái văn phòng hách nhất ty, với điện thoại, bản đồ đầy đủ. Văn phòng này đẹp chỉ thua văn phòng của ông trưởng ty. Cẩn thận hơn, trước tấm cửa kiếng ra vào được thợ sơn vẽ mấy chữ vuông vắn đậm nét:

“Eliot Ness Cảnh sát đặc vụ Tổng Nha Ngân Khố Hoa Kỳ”. Mấy ngày đầu là những thủ tục lẩm cẩm để làm quen với các nhân viên, các văn phòng trực thuộc. Theo chỉ thị của trưởng ty, tất cả văn phòng phải luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ Eliot Ness khi chàng cần đến về bất vấn đề gì, từ cây bút cho đến tin tức, hồ sơ. Về nhân lực, ông trưởng ty cho phép chàng tuyển lựa bất kỳ 6 người nào trong lực lượng cảnh sát để làm việc trực tiếp với chàng, nhưng Eliot Ness còn chần chừ vì thấy chưa cần đến. Hơn nữa, nguyên cái ty cảnh sát đã biết tin được ai mà tuyển lựa.

Eliot Ness rất hài lòng về sự hợp tác này. Mới đầu mà vậy là tốt rồi, từ từ sẽ tìm hiểu thêm. Có cái hơi lạ là các nhân viên cảnh sát ai cũng nhìn Eliot Ness với vẻ không được thân mật lắm. Dường như có cái gì ngăn cách giữa chàng và họ. Thử bắt chuyện vài người, Eliot Ness lắc đầu chán nản vì anh nào cũng ăn nói nhát gừng, trả lời cho qua chuyện rồi lãng đi chỗ khác. Quái, cớm Chicago có vẻ khó chịu thật!Hôm nay Eliot Ness ra về trễ hơn thường lệ vì chàng có cái hẹn mật. Trên bàn là tấm giấy nhỏ ghi địa chỉ của mật báo viên. Tin tức này chính ông biện lý gọi điện thoại đọc cho chàng. Dĩ nhiên đây phải là loại tin tối mật nên đích thân ông biện lý đọc, không cho đến cả thư ký của ông biết.

Eliot lẩm nhẩm học thuộc lòng địa chỉ rồi vò tờ giấy liệng vào thùng rác. Chờ cho đồng hồ chỉ đúng 7 giờ chàng tắt đèn, khoác áo bước ra khỏi văn phòng.

Leo lên xe rồ máy, chàng sực nghĩ đến mảnh giấy ghi địa chỉ.

Có cái gì là lạ lẩn quẩn trong đầu chàng về cái ty cảnh sát này. Theo báo cáo, 80% nhân viên ty cảnh sát ăn lương tháng của Al Capone; ngộ nhỡ có thằng nào tìm ra tờ giấy thì mạng thằng mật báo viên coi như đi đứt!

Eliot Ness liền tắt máy đi trở ngược lên văn phòng. Chàng khám phá ra cái thùng rác đã sạch trơn.

Một trong hai điều có thể xảy ra: hoặc là người lao công lau chùi đã dọn sạch tất cả, hoặc là tờ giấy đã bị ai đó đánh cắp. Muốn tìm ra manh mối đâu có gì.

Eliot Ness ra khỏi văn phòng hỏi người thư ký trực:

– Tụi dọn dẹp văn phòng mấy giờ thì bắt đầu làm việc.

Ông thư ký già mang lon trung sĩ cảnh sát chậm rãi mồi một điếu thuốc lá rồi mới trả lời, khói từ mồm bay ra phả vào mặt Eliot Ness:

– Ở đây chúng tôi cho tù hạng nhẹ phụ trách công việc quét dọn. Chúng nó làm việc bất thường, theo lời yêu cầu của nhân viên trực.

– Ông vừa cho nó dọn dẹp phòng tôi?

– Thưa ông Ness, vâng.

– Tốt, tôi nhờ ông kêu thằng khỉ nào đó vừa dọn dẹp phòng tôi lên đây liền lập tức. Tôi có chuyện muốn hỏi.

Lão cảnh sát già nhìn Eliot Ness một cách ngạc nhiên. Cha nội cớm liên bang này sao mà khó chịu. Chuyện dọn dẹp là chuyện riêng của người ta, làm gì phải xía vô. Lão chần chừ ngồi nhìn Eliot Ness bất động, ánh mắt bắn ra nhiều tia thách thức.

Đến nước này thì Eliot Ness nổi sùng. Tiên sư cha mấy thằng cớm địa phương ở cái thành phố tội lỗi này, tụi nó chưa biết tay “ông” Eliot Ness mà.

Eliot Ness cúi sát mặt người cảnh sát già, mắt long lên, hai hàm răng nghiến lại:

– Tôi cho ông hai phút để dắt thằng đó lên đây, ông bạn. Nếu tôi không thấy nó trong vòng hai phút đồng hồ thì chính tôi sẽ còng tay ông vô cái chân bàn trong văn phòng tôi cho đến sáng mai mình nói chuyện sau. Ông hiểu không?Miệng nói là tay chàng móc ra cái còng sắt thảy lên bàn nghe đến “cành” một phát.

Người trung sĩ già chưng hửng. Mấy chục năm trong nghề, đây là lần đầu tiên ông ta bị một anh cớm đồng nghiệp hăm dọa còng tay mình. Mắt ông thoáng một vẻ bối rối, cái điệu bộ khinh khi cứng đầu lúc nảy tự dưng bay đi đâu mất tiêu. Cứ nhìn cái bản mặt dữ tợn và giọng nói nghiêm trang của anh chàng Ness này thì hắn dám làm thiệt lắm chứ không phải dọa già đâu. Kinh nghiệm gần ba mươi năm trong nghề cảnh sát giúp cho ông biết loại nào mình có thể đùa dai, loại nào nên né. Thôi, tránh voi chẳng xấu mặt nào, ông quyết định né, mở miệng giọng ngọt xớt:

– Thưa ông Ness, thì tôi cũng định nói cho ông biết đó chớ, nhưng chưa kịp thì ông đã nổi nóng rồi. Xin ông bình tĩnh, mình dù gì cũng là cảnh sát với nhau mà. Thằng tù đó đang dọn dẹp ở phòng kia kìa.

Eliot Ness nhìn theo hướng người trung sĩ chỉ, thấy một anh Mỹ đen đang lui cui dọn dẹp. Trước khi bỏ đi, chàng còn nhắn thêm một câu:

– Kể từ nay, nếu không có phép tôi, không một ai được bước chân vào văn phòng tôi. Ông hiểu không? Và cũng nhờ ông nhắn lại với bạn bè, đừng nên làm Eliot Ness này phật ý.

– Dạ thưa hiểu.Anh tù Mỹ đen bị Eliot Ness chất vấn mấy câu. Tốt, hắn vừa làm sạch sẽ văn phòng như thường lệ. Eliot Ness tìm thấy tờ giấy của mình trong túi rác của hắn. Hú hồn. Chàng xé nát rồi vất trở lại vào thùng rác.

Khi đi trở ra, lần đầu tiên chàng nghe tiếng chào “Good night, Mr. Ness” của lão cảnh sát thư ký trực. Giọng ông ta thêm nhiều phần kính trọng. Eliot Ness gật đầu đáp lễ, có vẻ hài lòng, xuống xe rồ máy.

Nhưng… chàng sẽ thất vọng lắm nếu biết được rằng cũng như chàng, ông trung sĩ cảnh sát già đã học thuộc lòng cái địa chỉ của thằng mật báo viên ngay từ khi chàng vừa rời khỏi văn phòng lần đầu…

Đã nghiên cứu bản đồ trước, Eliot Ness chỉ quẹo vài vòng là kiếm ra cái nhà của thằng mật báo viên. Lái xe ngang nhà một lần để quan sát, chàng để ý thấy đèn đuốc tắt tối thui như không có ai ở nhà. Khu phố vắng lặng đến tiêu điều. Eliot Ness cẩn thận tìm một chỗ tối cách căn nhà chừng năm con đường rồi đậu chiếc xe, thả bộ tới.

Trời đêm gió thổi lạnh buốt nhưng Eliot Ness không gài hai nút áo trên của chiếc bành tô mình đang mặt. Phải để hở như vậy, rút súng ra mới mau.

Đến trước căn nhà tên mật báo viên, Eliot Ness vẫn lầm lủi bước thẳng thêm một quãng rồi đột nhiên quay phắt lại, đi ngược lại hướng mình vừa qua. Tốt, không có thằng nào theo cả. Chàng lẹ làng luồn ra phía sau nhà. Đứng trong bóng tối mịt mù, trước khi gõ cửa, chàng lại cẩn thận quan sát chung quanh một lần nữa. Bốn bề vắng lặng như bưng. Eliot Ness gõ cửa theo đúng nhịp đã được dặn trước: 2 tiếng mau và 3 tiếng chậm.

Vừa gõ xong độ một chút, cánh cửa nhẹ nhàng mở hé, bóng mờ của một cái đầu thò ra, lung linh mờ ảo dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn nến yếu ớt trong nhà, tiếng nói run run như rất sợ hãi:

– Ông là Ness?

– Đúng.Cánh cửa sau được mở rộng. Chờ cho Eliot Ness vừa bước vào người mật báo viên đóng lại liền cái rụp, gài hai ba lần khóa.

Chàng nhận xét thấy đèn đuốc trong nhà tắt tối om. Cả phòng khách chỉ có một ngọn nến nhỏ hắt ra chút ánh sáng leo lét.

Gia chủ bắt tay Eliot Ness:

– Hân hạnh gặp ông. Tên tôi là Stash Mose. Nhưng ông cứ gọi tôi là Mose.

– Tôi là Ness. Eliot Ness.

– Tôi biết ông rồi. Xin ông cảm phiền vì sự tối tăm này. Tai mắt bọn nó ở khắp mọi nơi, sơ xẩy một chút là mất mạng như chơi. Tôi phải tắt hết đèn đuốc làm như mình không có ở nhà mới tiếp ông được. Chúng ta đi vào phòng ngủ nói chuyện.

– Tôi thông cảm.

Vào đến phòng ngủ mới thấy có chút đèn điện mờ mờ. Các cửa sổ đều bị phủ kín bởi mấy lớp màn. Hai người ngồi bên cái bàn nhỏ. Mose moi dưới chân bàn ra một tấm bản đồ:

– Để khỏi mất thì giờ của ông, tôi xin đi thẳng vào vấn đề.Eliot Ness mồi một điếu thuốc, lắng tai nghe. Mose tiếp tục:

– Tụi nó vừa mới về một chuyến hàng rất lớn đến từ Canada. Có tới cỡ 5 xe cam nhông rượu chứ không ít đâu.

-Trị giá khoảng bao nhiêu?

– Khoảng hơn một triệu đô la.

Mắt Eliot Ness sáng lên:

– Một triệu đô la?

– Nhiệm vụ của tôi mấy năm nay là khiêng rượu từ trên xe xuống nhà kho và từ nhà kho ra xe. Al Capone tuy là tay anh chị buôn rượu lậu nhưng cách làm ăn của hắn rất có qui củ, y hệt tất cả các cơ quan xuất nhập cảng khác. Mọi thứ đi ra đi vô đều phải được ký nhận, có sổ sách hẳn hòi, mỗi lần nhận hay giao tôi đều bắt người ta ký giấy. Một cam nhông như vậy trung bình là khoảng gần 2 trăm ngàn, chưa kể tiền lo lót ở địa phương. Nếu kể hết, có thể lên đến hơn một triệu.

Mose chỉ ngón tay vào một khu nhà kho ở ngoại ô thành phố Chicago. Mới nhìn vào là trong đầu Eliot Ness đã phát hiện ra một kế hoạch tấn công ngay. Chàng lấy cuốn sổ tay, ghi chép những chi tiết quan trọng, hỏi thêm vài câu rồi đứng dậy ra về. Ở lâu không tốt cho cả hai.Đi cũng như về, thoáng cái là Eliot Ness dọt ra khỏi cửa. Chưa thèm đi vội, chàng đứng lặng trong bóng tối đúng năm phút đồng hồ để quan sát rồi mới bước mau trở lại chỗ xe đậu.

Tốt, chiếc xe còn nguyên trong bóng tối. Chàng lên xe rồ máy, nhủ thầm: “Vậy là xong một triệu đô la của thằng khốn. Chừng mười chuyến như vậy thì của núi cũng sập.”

Ngày hôm sau, Eliot Ness tới văn phòng sớm chờ gặp trưởng phòng Mike Casey.

Mãi gần 9 giờ sáng cha nội mới lò mò dẫn xác vô. Làm ăn như vầy thì thảo nào chưa bao giờ quất được thằng Al Capone. Mà coi kỹ khuôn mặt thì thấy lão lại có vẻ như đang còn say rượu chưa tỉnh. Mike Casey mời Eliot Ness ngồi.

Đúng như ý chàng đoán, mùi rượu đêm qua còn bay ra nồng nặc trong hơi thở của hắn. Thấy mà nản. Cả nước Mỹ bị cấm rượu mà một ông trưởng phòng cảnh sát lại say sưa tối ngày như thế này thì ai giữ được luật pháp đây? Hơn nữa, giữa thời đại kinh tế khủng hoảng, tiền lương của một trưởng phòng đâu có bao nhiêu mà hoang phí như vậy? Có một cái gì đó, Eliot Ness không thấy rõ nhưng cứ làm cho chàng suy nghĩ về lão này mãi. Mike Casey đốt điếu thuốc, bắt đầu:

– Ông …thanh tra mạnh giỏi. Ông cần tôi làm gì cho ông?

Eliot Ness chỉ vào cái cửa. Mike Casey hiểu ý, đứng dậy ra đóng cửa, nói luôn với cô thư ký:

– Tôi đang bận tiếp chuyện ông Ness. Ai có gọi cứ bảo chờ.

Eliot Ness chậm rãi trình bày về cái kế hoạch tấn công nhà kho chứa rượu của Al Capone. Chỉ nghe tới hai chữ “tấn công” là mắt ông trưởng phòng hiện lên một vẻ khoái trá. Eliot Ness không hiểu lão khoái trá vì có dịp đi làm thịt chỗ làm ăn của Al Capone hay là vì biết trước được một bí mật đáng giá ngàn vàng? Thế nào chàng cũng phăng ra, không có gì vội.

Mike Casey ngồi chăm chú nghe không thiếu một chữ. Lâu lâu lại điểm thêm vài câu phê bình rất là đúng chỗ. Cuối cùng hắn hỏi:

– Mà sao ông biết được cái tin đáng giá này hay vậy? Ông có tai mắt nằm trong sào huyệt bọn nó?

Eliot Ness không thích hạng người tò mò, nhưng cố gắng đáp tĩnh:

– Tạm thời ông cứ biết vậy là được rồi. Lúc nào thuận tiện có thì giờ tôi sẽ cho ông biết sau.Ông trưởng phòng “à” lên một tiếng dài, nhíu mày suy nghĩ. Eliot Ness đứng dậy:

– Tôi cần ông cung cấp gấp cho tôi ngay sáng nay một người để đi thăm dò địa điểm trước khi lập kế hoạch tấn công.

– Dĩ nhiên, ông Ness. Tôi đã nhận được chỉ thị để giúp ông tối đa. Tôi sẽ cho một người lên gặp ông ngay.Sau cái bắt tay với trưởng phòng cảnh sát Casey là Eliot Ness dọt qua văn phòng mình, có mấy cú điện thoại cần gọi gấp. Cú đầu tiêng gọi về Hoa Thịnh Đốn.

Vô ích, bên đó chả giúp được gì. Eliot Ness than thở:- Sắp sửa có đánh lớn mà ông… vậy, còn thằng phụ tá của tôi đâu?

– Phụ tá gì? Công việc trên này còn bề bộn lắm Ness ơi, để từ từ rồi qua lo cho. Mà sao không sử dụng tối đa khả năng và nhân lực của mấy ông cớm dưới đó? Phải cố gắng mà xoay sở chớ. Chuyện gì cũng nhờ đến trung ương hết thì đâu có được!Eliot Ness cúp máy, lắc đầu.

Cú thứ hai, vừa tính gọi cho ông biện lý thì chuông điện thoại reo vang làm Eliot Ness ngạc nhiên. Không lý ông Morgan hay bà xã gọi mình giờ này, vì ở đây ngoài hai người đó ra thì có ai biết được số của chàng. Cảnh sát thì khỏi nói vì họ ở sát bên nách, cần gì phải gọi cho tốn tiền.

Eliot Ness bốc máy, đầu đằng kia một giọng đàn ông nói nhanh nhẩu nghe rất sắc và gọn:

– Đó có phải là Mr. Ness, cảnh sát đặc vụ của Tổng Nha Ngân Khố?

Eliot Ness giật mình. Không phải vì cách ăn nói của thằng này mà vì làm thế nào nó biết được tên tuổi, số …quân cùng số điện thoại của mình? Mà lại canh ngay đúng cái lúc mình có mặt ở văn phòng mà gọi tới thì quả là nguy hiểm.

Khựng một lúc rồi chàng điềm tĩnh trả lời:

– Vâng Eliot Ness tôi đây, xin giới chức cho biết quí danh.

Có tiếng cười nhỏ khoái trá của kẻ nắm được bí mật của người khác:

– Gớm, ông cớm liên bang này ăn nói sao mà lịch sự quá cỡ. Thường thường mấy ông cớm đâu có dể tính và lịch sự như vậy…

Không biết thằng này thuộc loại gì nhưng Eliot Ness nghĩ nếu nó đứng trước mặt chàng mà nói vậy thì khó mà nhịn. Chàng ngồi yên kiên nhẫn nghe đầu giây nọ nói hết câu. Eliot Ness lập lại câu hỏi:

– Xin ông vui lòng cho biết tên.

– Tên hả, ờ quên, tôi là Ferguson, phóng viên của tờ Tribune. Chicago Tribune.

Eliot Ness thở dài lên một tiếng. Tưởng chỉ New York mới có phóng viên mất dạy, nào ngờ Chicago cũng không thua gì. Hèn gì. Phóng viên là những thằng rắc rối nhất trên thế giới này.

Cuộc đời lăn lộn của Eliot Ness, chàng đã đụng chạm quá nhiều với phóng viên. Chính bọn này là kẻ có đủ uy quyền để đưa những thằng công chức ăn lương nhà nước lên thiên đàng hay xuống địa ngục. Một bài báo, một tấm hình chụp vớ vẫn đều có thể là một nhát gươm chặt đứt tương lai của những ông cớm như Eliot Ness. Với chàng, một anh cớm liên bang trong sạch lại tài giỏi thì đối xử với bọn phóng viên này dễ quá. Có gì đâu, chỉ …giộng cho nó mấy bợp tai là xong ngay. Nhưng cuộc đời đâu có đơn giản như vậy, nhất là cuộc đời ở đất tự do như Hiệp Chúng Quốc này. Còn lạ gì, những chức vụ quan trọng trong chính quyền đều do dân bầu. Mà hễ dân bầu thì có ai dám làm phật lòng mấy tờ báo, lạng quạng với mấy anh phóng viên khoái nổi tiếng? Đó là cái kẹt. Xếp mình đã sợ báo như vậy thì ông nội mình cũng không dám ba gai với chúng nó. Ngay cả đến tổng thống Hoa Kỳ trước khi ăn nói còn phải uốn lưỡi năm bảy lần thì một anh cớm như mình càng phải uốn lưỡi cẩn thận hơn nữa.

Eliot Ness nhỏ nhẹ:

– Thưa ông phóng viên Ferguson, tôi có thể giúp gì được cho ông?

– Nói cho ông rõ, tôi đang làm một bài phóng sự dài về các tổ chức tội ác ở Chicago. Nghe tiếng ông là một nhân viên liên bang tài giỏi và nhiều mưu lược nên muốn xin gặp ông để phỏng vấn.

Eliot Ness mồi một điếu thuốc, vắn tắt:

– Tôi rất muốn giúp ông nhưng rất tiếc vì tôi bận việc lu bù…

Ferguson cắt ngang câu nói:

– Ông nghĩ sao về Al Capone?

Tiên sư, thằng này lanh lợi và ăn nói văng mạng thật, không thua bất kỳ một anh ký giả New York nào. Nếu chàng cúp máy điện thoại, chắc chắn nó sẽ gọi lại. Thôi thì cứ kiên nhẫn ngồi nghe thằng này muốn gì.

– Tôi không có thói quen bàn về những công tác của mình.

– Tôi hỏi về Capone kia mà, có nói gì đến công tác của ông đâu. Ông nghĩ rằng ông có thể diệt nỗi “đại đế” Al Capone không?

– Tôi không xuống đây để diệt ai hết. Tôi có bổn phận mình phải làm, thế thôi.Một tràng cười khóai trá vang lên ở đầu giây bên kia:

– Nhân viên gương mẫu. Tôi xin hỏi ông câu này trước khi chấm dứt, ông có biết chuyện chàng hiệp sĩ Don Quichotte cưỡi ngựa đánh nhau với máy xay lúa ngày xưa không?

– Tôi có đọc qua ngày còn ở đại học.

– Tốt. Ông có bao giờ nghĩ ông là một loại hiệp sĩ Don Quichotte tân thời không?

Eliot Ness dụi tắt mẩu thuốc lá vào cái gạt tàn. Coi, thuốc tắt rồi mà sao chàng vẫn cứ xoay xoay cho đến lúc nó nát bấy ra. Don Quichotte là một anh hiệp sĩ khùng thời trung cổ, ngày ngày cưỡi ngựa ra đánh nhau với cái mấy cái cánh quạt của máy xay lúa bằng gió. Dĩ nhiên, anh hiệp sĩ này chẳng bao giờ thắng được …mấy cái cánh quạt.

Eliot Ness nhận ra là mình đang nổi sùng nhưng biết rằng thằng phóng viên chỉ mong có vậy, nếu mình lộ một vẻ tức tối tức là trúng kế nó.

Chàng trả lời, giọng bình thản:

– Ông Ferguson, tôi không bao giờ tự ví mình với ai hết. Tôi xuống đây là để thi hành một công tác do chính phủ giao phó. Để tôi hỏi ông câu này, tại sao ông biết số điện thoại của tôi mà gọi?

– Mỗi người có cái sở trường của mình, ông Ness. Cũng như nghề cớm của ông, ông có những phương thức riêng để làm việc thì chúng tôi cũng có những “méo mó” riêng để lấy tin tức cho dân chúng đọc. Cái vụ này tôi xin miễn trả lời.

– No problem. Xin lỗi ông, tôi phải gác máy vì còn bận rất nhiều việc.

– Cám ơn ông Ness, ông sẽ gặp lại tôi.

Eliot Ness gác máy điện thoại. Gặp lại hắn là cái chắc, không có gì phải thắc mắc nhưng chàng vẫn chưa biết tại sao thằng chó này lại có số điện thoại và biết được đường đi nước bước của mình. Đi đâu mà vội, coi như là cứ thua nó một keo đi, từ từ rồi sẽ kiếm ra…

Nhân viên cảnh sát biệt phái cho Eliot Ness đã có mặt. Nhìn qua một cái, Eliot Ness nhận định được ngay. Trước mặt chàng là một thanh niên khoảng 30 tuổi, ăn mặc rất đẹp, tướng người to con vạm vỡ không thua gì mình. Người dòm thấy thông minh, lanh lẹ. Vậy là tốt rồi, còn cái mục tin được hay không là chuyện khác, biết làm sao bây giờ. Chàng như một con thú lạ đi lạc giữa rừng mới, không biết chỗ nào là nguy hiễm, chỗ nào là đất làm ăn. Thôi thì đành rán mà tin tưởng một cái gì hay một ai đó rồi từ từ lập kế hoạch. Kiên nhẫn, đức tính quý nhất của những người có sứ mạng như chàng.

Eliot Ness đứng dậy bắt tay viên cảnh sát:

– Chào anh, tôi là Eliot Ness.

– Chào ông, tôi là Preseusky.

Khỏi phải mất công giới thiệu gì lâu cho mất thì giờ, chàng đóng cửa văn phòng lại, thảy cho Preseusky tấm bản đồ:

– Anh biết khu này không?

Preseusky dòm xuống tấm bản đồ nơi có một vòng tròn đã khoanh sẵn:

– Biết. Đây ngày trước vốn là một khu kỹ nghệ sản xuất dụng cụ chiến tranh rất sầm uất thời đệ nhất thế chiến. Sau chiến tranh, kinh tế xuống dốc, các cơ xưởng phải đóng cửa nên nó trở thành một khu hầu như bỏ hoang.

Eliot Ness gật gù:

– Anh lái xe tới đó được không?

– Dĩ nhiên!

– Vậy thì mình đi.

Cả hai khoác áo bước ra khỏi sở, phóng lên xe lái về khu vực đã dự tính.

Không muốn để lại một dấu hiệu nào đáng nghi ngờ, khi chiếc xe chạy ngang căn nhà kho cũ kỹ phía ngoài mà người mật báo viên cho biết trong đó có chất cỡ hơn 1 triệu đô la tiền rượu, Eliot Ness bảo Preseusky:

– Cứ giữ yên tốc độ này, khỏi cần phải tốp, tôi quan sát từ phía ngoài được rồi.

Toàn thể khu vực vắng lặng đến độ tiêu điều. Không có lấy một chiếc xe, một bóng người. Gớm thật, Eliot Ness thầm nghĩ, đúng là dân anh chị bự khôn ngoan.

Nó dấu rượu ở đây thì cảnh sát nào dám mò tới để lạng quạng. Cứ nhìn máy cái cao ốc bỏ hoang chung quanh với những cánh cửa sổ tít mãi trên cao thì cũng đủ biết khả năng bố trí chiến thuật của tụi này. Chỉ cho chừng 5 thằng cô hồn với 5 cây súng trường có ống nhắm viễn vọng kính canh cứng năm cái cửa sổ thì nếu có đụng độ, bố thằng nào dám mò vào. Không chừng bây giờ lại đang có một cây đang đeo dính lấy cái phần sọ phía sau của mình cũng nên.

Eliot Ness chặc lưỡi. Mẹ, chỉ nghe “đoàng” một phát là máu óc văng bầy nhầy trong xe cho coi! Bạc triệu đô la chứ ít gì? Nhưng đã lỡ liều cho liều …lỡ luôn, Eliot Ness bảo Preseusky:

– Tốp, tốp!

Chiếc Ford thắng liền cái kít. Eliot Ness vừa mở cửa xe vừa bảo Preseusky:

– Ông cứ ngồi yên đây, đừng tắt máy xe và chịu khó móc ra dùm cây shotgun dưới gầm ra lên đạn sẵn cho tôi.

– OK Chief, nhưng mà ông đi đâu vậy?

– Đi …đái.

Tới gần bên hàng rào, Eliot Ness tay vén quần, nhưng cặp mắt thì cứ như dán vào hai cái cánh cửa đồ sộ của nhà kho. Chàng ước lượng sức nặng.

Cửa sắt mà bự như thế này thì phải hai ba thằng hì hục đẩy mới mở nỗi, nói gì đến chuyện phá. Xong rồi, phải chơi máy ủi đất thì mới húc văng hai cánh cửa này ra được. Còn những cây súng trường gắn viễn vọng kính của tụi nó ở trong mấy cái building thì tính sao đây? Eliot Ness lắc đầu, chưa kiếm ra giải pháp, để từ từ tính sau. Rồi, húc cửa văng ra xong thì dĩ nhiên cha con tụi nó phải tung cửa ra mà chạy? Chuyện này dễ, đặc hai tiểu đội khoá kín hai con lộ phía sau này là coi như xong.

Kế hoạch coi như đã xong, Eliot Ness gài lại nút quần, thong thả quay trở lại xe, dáng điệu nhà nhã y như một anh đi lạc kẹt quá phải tấp vào đây trút bầu tâm sự. Chàng vừa ngồi lên xe là Preseusky đã rồ máy, vọt đi cái rào.

Preseusky quẹo trở ra, chiếc xe mất dần trong đám bụi mù. Đúng như Eliot Ness dự đoán về sức nặng của cánh cửa nhà kho, khi chiếc xe vừa mất hút thì có ba thằng cô hồn từ trong nhà kho hì hục đẩy cánh cửa bước ra. Một thằng lách ra ngoài trước, chạy tới hàng rào nơi Eliot Ness đứng tiểu lúc nãy, ngồi xuống, đưa tay quờ quạng một lúc, hít hít ngửi ngửi rồi nói lớn:

– Có chuyện rồi anh em ơi! Thằng này nó đâu có đứng đây để đái. Nó đứng đây với mục đích khác.

Một giọng khác đáp lại:

– Thì tao cũng nghi vậy mà. Gọi gấp cho Frankie Rio, báo cáo liền…

Khi chiếc xe chở Eliot Ness ra tới con lộ chánh, chàng cũng kiếm được câu trả lời cho bài toán hóc búa của mình: Muốn tránh mấy cái họng súng trường gắn viển vọng kính kia thì chỉ có nước là đánh đêm. Đúng. Đánh đêm vừa bất ngờ và thằng chó nào thấy đường mà bắn.

Chàng tươi nét mặt, rút ra một điếu thuốc châm lửa…

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 12 Apr 2025

Chương 10.

MINH NHÌN THEO ĐOÀN XE VÀO PHI TRƯỜNG, một chiếc xe hiệu Citroēn đi đầu một đoàn xe đi theo sau, mấy chiếc xe đó phóng đi vun vút vào sân bay, lính nhảy dù đứng hàng dọc theo hai bên đường, súng gờm trên tay, họ bảo vệ cho đoàn xe hơi chạy vào Phi đoàn vận tải.

Trời nắng như thiêu đốt, Minh đứng núp dưới cồng Phi đoàn vận tải, chàng tò mò đi lần ra sân bay, chàng muốn nhìn rõ hơn, những người cầm đầu cuộc Cách Mạng, toan lật đồ chế độ độc tài Ngô đình Diệm đang chạy trốn, nguồn tin nầy Minh nghe mấy sĩ quan xầm xì từ hồi sáng, bây giờ họ chạy vào đây, chắc chắn không ngoài lý do chạy trốn.

Một chiếc máy bay vận tải đã kéo ra ngoài Phi đạo, đoàn xe hơi dừng lại, lính nhảy dù đứng đầy ngoài sân bay, súng gờm tay, quay mặt vào đám lính Không Quân đứng lố nhố bên cạnh sân bay.

Những người từ trên xe hơi bước xuống, vội vàng leo lên máy bay. Minh đoán chừng khoảng hai chục người, ngoài vị đại tá cầm đầu, Minh còn thấy một vị Tướng, mặt sưng húp, có lẽ bị đánh, Minh không biết tên ông là gì.

Cánh cửa bên hông máy bay đóng lại, lính nhảy dù túm được một trung sĩ lính Không Quân, đứng gần đó, đẩy ra cạnh chiếc máy bay sắp nổ máy, ông ta phải cầm lại cái bình chữa lửa. Minh đứng gần ông ta, ông ta vẫy Minh:

– Ê, mày lại đây tao biểu.

Minh tiến lại gần anh ta. Anh ta liền ấn cái bình chữa lửa vào tay Minh:

– Cầm giùm tao chút, tao đi đái… Minh cầm chiếc bình chữa lửa, đứng ngẩn ngơ, người trung sĩ lẩn vào trong đám đông mất dạng.

Chiếc máy bay bắt đầu nổ máy, tất cả mọi người trong đoàn xe đã lên máy bay, cánh cửa khép kín, chiếc C.47 nặng nề, lăn bánh trên phi đạo lao chao cất cánh.

Đám lính nhảy dù canh gác được lệnh giải tán, họ hạ súng xuống, xách lủng lẳng trên tay, có người còn lười biếng kéo đi lẹt xẹt. Minh cũng cảm thấy chán nản, chàng bỏ lại chiếc bình chữa lửa trên sân bay, chàng thả bộ đi ra khỏi phi đạo.

Bỗng một đoàn quân xa chở đầy lính Không Quân, võ trang từ đâu chạy lại, và dừng ngay ở sân bay, lính Không Quân ào ào nhảy xuống. Người đại úy nhảy dù hét:

– Anh em chuẩn bị.

Lính nhảy dù túa ra hai bên đường, súng cầm tay. Một sĩ quan Không Quân từ trên xe nhảy xuống cười hề hề:

– Ồ, anh em cả mà, đại úy làm khó nhau làm gì, tôi sĩ quan nè, tôi ra tước khí giới của đại úy được không? Xin giới thiệu tôi, pa-pa Sáu.

Ông giơ tay chào đại úy, vị đại úy chào lại, ông ra lệnh cho lính:

– Trao lại khí giới cho lính Không Quân, chúng ta thua rồi các anh em à.

Bọn cảnh vệ túa ra, ông thiếu úy vui vẻ:

– Theo pa-pa xong nhiệm vụ rồi các con vào đây uống nước với pa-pa…

Minh cúi đầu lầm lũi đi về phía cải hối thất, chàng lại nghĩ đến Ngọc, chiều hôm nay chàng có thể ra với Ngọc được rồi.

Bỗng một bàn tay đặt trên vai

Minh, Minh quay lại, chàng nhận ra ông thượng sĩ già cảnh vệ, chàng vội giơ tay chào. Mặt ông thượng sĩ cảnh vệ lạnh như tiền, ông ta cầm cây súng cạc-bin trên tay:

– Đi theo tao.

– Thưa thượng sĩ… Không thưa gởi gì hết.

– Nhưng tôi muốn biết…

– Mày muốn biết gì?

– Tôi có làm gì đâu mà thượng sĩ bắt tôi?

Mặt ông thượng sĩ hầm hầm:

– Về ban an ninh rồi mày biết.

Ông thượng sĩ dùng báng súng thúc vào hông Minh:

– Đi, tao không nói nhiều lời với mày, có phải chính mày đã cầm bình chữa lửa đứng coi cho bọn phiến loạn không?

– Thưa…

– Có hay không?

– Dạ có.

– Vậy thì mày không có điều gì oan ức nữa, đi theo tao.

Minh không biết làm cách nào hơn là đi theo ông thượng sĩ, ra chiếc xe hơi đang chờ sẵn, chàng chửi thề thầm: đù mẹ, xui tận mạng.

Chiếc xe chuyển bánh, nắng buổi chiều chang chang. Minh thấy mắt mình hoa lên, chàng kéo cái mũ chụp lên đầu, chiếc xe lắc lư, bên cạnh Minh người lính cảnh vệ cầm súng gờm gồm nhìn chàng, Minh phớt tỉnh chàng nhìn xuống bên đường, hàng tốp lính Không Quân nói cười vui vẻ, họ đang đi ra ngoài cổng trại, Minh thấy thèm thuồng, Minh thở dài, Minh không để ý xe vừa ngừng lại, người lính cảnh vệ cầm báng súng thúc vào cạnh sườn chàng:

– Xuống đi mày.

Minh khom người xuống xe.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 12 Apr 2025

Chương 9.

MINH TRẰN TRỌC MÃI KHÔNG NGỦ ĐƯỢC, chàng nằm trên chiếc giường nệm nhồi rơm và trở mình luôn luôn, chiếc giường cá nhân bằng sắc kêu cót két, khó chịu. Hình như đêm đã khuya lắm, gió ngoài trời thôi vì vèo, thỉnh thoảng có vài tiếng máy bay gầm lên bên phi trường, Minh về nằm đây, chàng hối hận sao không ở lại với Ngọc, khi về đến phi trường, vào căn phòng của mình, căn phòng trốn trơn, Minh lại thấy hối hận. Minh nôn nao nghĩ về Ngọc, chàng không ngờ đời mình lại có lúc hạnh phúc đến như vậy, Ngọc thật tuyệt diệu, những mộng ước của nàng thật nhỏ, Minh nghĩ miên man về nàng, chặt lưỡi, dầu ngày mai mình cũng sống với nàng, buổi tối, chàng cố gắng đi làm việc thêm, cuộc sống như vậy cũng tạm đủ. Minh chưa nghĩ mình sẽ kiếm thêm tiền bằng cách nào, nhưng chàng nghĩ mình làm việc thêm, làm bất cứ một việc gì.

Căn phòng của Minh tối om om, chàng nghe tiếng đồng hồ kêu tí tách trên đầu nằm, năm giờ rưỡi sáng mai chuông sẽ reo, Minh vùng dậy chạy thẳng ra phi trường, và Minh nghĩ rằng không cần phải đồng hồ reo, năm giờ sáng tiếng động cơ ầm ĩ cũng đủ đánh thức chàng dậy. Minh khép mắt lại cố dỗ giấc ngủ, người chàng mệt mỏi.

Minh mở bừng mắt, chàng đã nhìn thấy ánh sáng mờ mờ hiện ra trong căn phòng, chàng lắng nghe, không có một tiếng động, mà sao lạ thế nhỉ, không có cả tiếng động cơ máy bay? Minh ngoái cô nhìn lên đầu giường, đồng hồ bảy giờ kém năm. Chết cha, muộn quá rồi, Minh vùng dậy, chàng mặc vội quần áo, chạy xuống buồng tắm rửa mặt. Minh nhìn ra phía Phi đoàn, không có bóng người nào, vậy là làm sao. Minh bực mình, mình ngủ gì mà ngủ dữ. Minh chạy xuống sân bay, bỗng một tiếng quát:

– Đứng lại.

Minh dừng lại, một người lính nhảy dù phía sân bay tiến ra, anh ta mặc bộ đồ trận súng gắn lưỡi lê chĩa thẳng về phía Minh, anh ta tiến gần lại:

– Mày ở đâu ra đây?

– Tôi ở phía Phi đoàn, mà ông là… Anh ta dí lưỡi lê vào bụng Minh:

– Mày trốn đâu, cả đêm hôm qua chúng tao không thấy mày?

Minh thất sắc. Minh biết anh ta không nói đùa, ở sân bay nhiều người lính nhảy dù đang tiến ra, nhưng Minh vẫn nói:

– Tôi không hiểu gì hết.

Người lính nhìn Minh lắc đầu:

– Mày không hiểu gì thật sao?

– Tôi không hiểu gì thật.

– Đêm qua súng nổ cả đêm mày không nghe thấy?

– Không, tôi không nghe thấy gì hết.

Anh lính nhảy dù hạ mũi súng xuống:

– Ngủ say dữ.

Minh vẫn còn thắc mắc:

– Hình như các ông tới phi trường chờ máy bay đi hành quân ở đâu?

Người lính lắc đầu:

– Không đi đâu hết, Phi trường bị chiếm rồi.

– Phi trường bị chiếm, mà ai chiếm?

Người lính nhảy dù đứng chống súng ưỡn ngực:

– Nhảy dù chiếm chứ còn ai chiếm?

Người lính thấy Minh có vẻ như không hiểu gì thật, anh ta vui vẻ với Minh:

– Đứng chờ đó đi, lát nữa chờ thiếu úy đến giải quyết.

Minh nhìn quanh, chàng thấy lính nhảy dù xuất hiện khắp nơi, chàng không hiểu lý do gì, chàng cố hỏi cho ra lẽ:

– Thưa ông, tôi không hiểu gì hết, vậy là sao hở ông?

– Mày không biết gì thật sao?

– Tôi không hiểu gì thiệt, có lẽ tôi ngủ say quá.

– Đêm qua, cách mạng lật đồ chính phủ Ngô Diệm rồi. Đại tá Nguyễn chánh Thi cầm đầu cuộc cách mạng này,

Minh thoáng vui nhưng chàng nghĩ ngay tới thân phận mình hiện tại, người ta sẽ làm gì chàng? Người lính nhảy dù tiếp:

– Có lẽ chỉ trong một ngày hôm nay là xong hết.

– Còn tôi thì sao?

– Mày làm tù binh, sau này sẽ giải quyết sau.

Một chiếc xe jeep đang đi vào cồng Phi đoàn người lính nhảy dù nhìn ra:

– Kìa, thiếu úy đã đến tao giao mày cho thiếu úy giải quyết.

Minh hồi hộp chàng không biết mình sẽ ra sao? Chiếc xe jeep đậu lại ngay trước mặt Minh, vị thiếu úy ngồi trên xe còn trẻ, ông ta la lên:

– Tại sao còn thằng này? Người lính nhảy dù vội nói:

– Thưa thiếu úy, không biết thằng này trốn ở đâu bây giờ mới bò ra.

Vị thiếu úy nhảy xuống xe, ông ta nhìn thẳng vào mặt Minh:

– Mày trốn đâu từ đêm hôm qua?

– Dạ thưa, tôi ngủ ở trong phòng, tôi không biết gì hết trơn.

– Mày ngủ ở đâu?

Minh chỉ về nơi phòng mình, vị thiếu úy hình như hiểu, ông ta trầm giọng xuống:

– Thôi được mày ở tạm đây đi, lát tao đưa về bên kia.

Minh vẫn không hết lo lắng, hắn đánh bạo:

– Thưa thiếu úy…

– Cái gì?

– Thưa, tôi không làm gì hết trơn, tôi là binh nhì, tôi không biết gì hết.

– Yên chí, yên chí, không ai làm gì mày đâu mà sợ.

Người thiểu úy ra lệnh cho người lính dù:

– Mày coi nó đừng để cho nó trốn mất nghe chưa?

– Xin tuân lệnh thiếu úy.

Người thiếu úy lên xe, chiếc xe chạy vòng vòng trong sân bay. Minh nghe tiếng người thiếu úy hét những người lính gần đó, một lát xe chạy trong Bộ Tư Lệnh, Minh tò mò hỏi người lính về chuyện chiếm Phi Trường đêm qua, anh ta đầy vẻ hãnh diện:

– Nói chiếm làm chi cho nó quan trọng, lính dù sang bên này khơi khơi, không nổ một phát súng, bọn Không Quân mấy anh mà đánh đấm cái mẹ gì, thấy lính dù là rét rồi, không đầy một tiếng đồng hồ thì chiếm trọn, tao nghe nói nhiều nơi trong Đô thành này cũng vậy nữa.

– Chiếm hết Sài Gòn này rồi à?

– Coi như gần hết, hình như chỉ còn Dinh Tổng thống.

Anh lính dù nhìn ra ngoài nắng kể tiếp:

– Sự thật tao cũng cóc biết gì hết trơn, tối hôm qua tao còn ở ngả Tư Bảy Hiền nhậu nhẹt với bạn bè, đến khuya về, tất cả nhận được lệnh hành quân, rồi kế đó sang chiếm Phi trường này, trong đời tao chưa đánh một trận nào ngon lành như vậy.

– Rồi có đi đến đâu không?

– Ai biết, kệ các ông muốn làm sao thì làm, tao cũng như mày vậy, mình đâu biết gì, bắt làm cái gì thì làm cái đó.

Minh bỗng nghĩ đến Ngọc, chàng lại lo lắng hỏi:

– Ở ngoải không biết đêm qua có đánh nhau dữ không?

– Chẳng có gì, hình như có bắn nhau sơ sơ.

– Miệt Phú Nhuận có sao không?

– Có đánh đấm gì ở miệt Phú Nhuận đâu.

– Gia đình tôi ở ngoài đó.

– Không sao, tao nghe nói mấy thằng đánh ở ngoài đó được đồng bào thương lắm, người ta mang bánh mì cà phê cho lính dù ăn, quân Cách mạng mà.

Minh nghĩ ngay, có lẽ dân chúng họ cũng quá ghét chính phủ Ngô đình Diệm, họ mong chính phủ họ Ngô đồ cho rồi, với Minh, hắn cũng trở nên chán nản, hắn mong sau vụ này hắn xin giải ngũ, hắn đã quá ghét đời sống quân ngũ. Minh thấy nôn nóng, chàng hỏi:

– Chừng bao lâu nữa thì xong?

– Ai biết nhưng có lẽ chậm lắm là ở ngày mai.

– Tôi chắc là tù binh, song lính ghẻ như tôi người ta tha.

– Không tha thì bắt mày nuôi cơm à, quan trọng là mấy người sĩ quan, tao nghe nói mấy sĩ quan Không Quân đều bị bắt trọn ổ…

– Còn Trung Tá quyền Tư Lệnh?

– Cũng bị bắt luôn, hình như giam hết ở Câu Lạc Bộ Huỳnh Hữu Bạc.

Minh cũng không mấy quan tâm về chuyện đó, chàng bây giờ chỉ nghĩ về mình, nghĩ về Ngọc, nghĩ đến cái hẹn với Ngọc tối hôm nay, chắc là Ngọc lo lắng cho chàng lắm, Minh mong cho việc gì đó cho chóng kết thúc, đề chiều hôm nay chàng có thể về với Ngọc, chàng lại hối hận sao tối hôm qua chàng không nghe lời Ngọc ở lại với nàng nếu chàng ở lại với nàng thì đâu có bị bắt làm tù binh như hôm nay.

Người lính nhảy dù lại hỏi Minh:

– Nhà mày ở Phú Nhuận hả?

– Ừ.

– Ở với ba má hay với vợ?

– Vợ.

– Mấy con rồi?

– Chưa có đứa nào hết.

– Đỡ khổ nhỉ? Minh tâm sự:

– Nếu đêm qua tôi ở nhà thì đâu có bị kẹt, tại sáng hôm này đi công tác sớm nên tối hôm qua tôi không ở nhà.

– Vừa rồi mày tính chạy xuống sân bay đi đó hả?

– Tính vậy.

– Vậy ra mày không biết chuyện gì xảy ra trong đêm qua thiệt sao?

– Tôi không biết gì thiệt mà.

Người lính dù cười, nụ cười anh ta dễ thương, anh ta lúc này coi hiền lành chớ không còn có vẻ dữ dằn như hồi nãy nữa.

– Nè mày biết chỗ nào ăn uống không?

– Ở đây có Câu Lạc Bộ chắc là đã đóng cửa bởi vì chủ Câu Lạc Bộ không ở đêm trong này.

– Nhưng chắc đồ ăn còn chớ?

– Ai biết.

Người lính dù lại than thở:

– Đói, thèm cà phê thấy mẹ, đêm hôm qua thức trắng mệt muốn chết.

Hắn bỗng nhìn Minh:

– Mày chỉ Câu Lạc Bộ cho tao.

– Chi vậy, có ai bán đâu?

– Phá cửa ra mà ăn chứ còn chờ người tới bán sao.

– Tôi không dám làm chuyện đó.

– Mày không làm thì để tao làm.

Minh chỉ khu nhà đằng sau dãy nhà chỉ huy trưởng:

– Câu Lạc Bộ ở dưới đó, xuống mà phá.

– Mày muốn ăn uống không? Minh lắc đầu:

– Chuyện này không có tôi.

– Không đói sao?

– Không.

Người lính dù ra lệnh cho Minh:

– Đứng đó, chạy lộn xộn tao bắn đổ ruột nghe chưa?

Minh cười:

– Yên chí đi, tôi chạy làm cái mẹ gì.

Người lính dù chạy vào sân bay kêu thêm vài người bạn, bọn họ rủ nhau xuống Câu Lạc Bộ, một lát sau Minh nghe tiếng phá cửa rầm rầm, tiếng cười nói, chừng mười phút sau bọn họ kéo trở lại, quăng cho Minh một mẩu bánh mì:

– Cho mày đó, không ăn bây giờ thì giữ lấy để buổi trưa hôm nay ăn, báo tin cho mày biết trưa nay không có gì ăn đâu.

Minh cầm khúc bánh mì không nhét vào túi, bọn lính dù bày ngay ra bãi cỏ, ăn nhậu, la ve họ đập cổ uống ừng ực, hình như lấy được cả thuốc lá, họ hút tùm lum, có người liệng cho Minh một điếu.

Chiếc xe jeep từ bên Bộ Tư Lệnh chạy về. Ông thiếu úy hồi nảy lại la lối om sòm, bọn lính dù cười nham nhở:

– Đói quá làm sao được thiếu úy, nhào xuống đây ăn nhậu với anh em cho vui.

Ông thiếu úy càu nhàu nhưng cuối cùng cũng nhào xuống ăn nhậu như điên, ông ta nhìn Minh:

– Còn thằng tù binh này nữa, sao chúng mày không cho nó ăn?

– Dạ cho mẩu bánh mì rồi, à thưa thiếu úy tình hình ra sao?

Ông thiếu úy lắc đầu:

– Không được sáng sủa lắm, nhưng thôi. chúng mày hỏi làm chi vậy, lo canh gác đi.

Ông ta quay sang Minh:

– Còn thằng này, lát theo tao sang Bộ Tư Lệnh, ở đây chết đói đó con.

Minh đứng lơ ngơ nhìn mọi người ăn nhậu, một lát sau thiếu úy đứng dậy, đưa tay lên quẹt miệng, thúc khuỷu tay vào lưng Minh:

– Mày đi theo tao, đồ gà chết.

Minh riu ríu leo lên xe, ông thiếu úy lái xe chạy một vòng sân bay trực thăng, la hét những người lính gác một hồi mới cho xe chạy về Bộ Tư Lệnh. Tới trước một số lính Không Quân đứng đông đảo, ông ta ra lệnh cho Minh:

– Cút xuống đi mày.

Minh vội vàng nhảy xuống xe, chiếc xe jeep chạy vụt đi, bọn lính Khô- ng Quân xúm lại bên Minh:

– Mày ở đâu tới?

– Bên Phi đoàn trực thăng.

– Sao bây giờ mới bị bắt?

– Tao ngủ dậy muộn, lớ ngớ ra sân bay bị túm liền, còn chúng mày làm gì mà đứng đây nhiều thế?

– Cũng bị bắt ở các Phi đoàn, họ đưa về đây, có lẽ mày là thằng lính Không Quân cuối cùng chúng nó bắt được đó.

Minh tâm sự:

– Tao chẳng hiểu cái cứt chó khô gì hết, bừng con mắt dậy thấy mình bị bắt làm tù binh, mày có biết chúng nó sẽ làm gì mình không?

– Đếch ai biết được, mặc kệ đến đâu thì đến. Không lẽ chúng nó giết mình sao?

– Giết đếch gì, chúng nó giam lỏng mình ít hôm rồi thả ra.

– Điều kẹt là hôm nay mình không có cơm để ăn.

Minh hỏi một tên làm việc ở Bộ Tư Lệnh:

– Tao nghe bọn nhảy dù nói Trung tá quyền Tư Lệnh cũng bị bắt rồi phải không?

– Chúng nó bắt từ đêm hôm qua, còn nhiều sĩ quan khác nữa, giam hết ở trạm Không Lưu và Câu Lạc Bộ Huỳnh Hữu Bạc.

Minh lẩn thẩn, chàng không mấy quan tâm đến những vụ bàn tán, chàng nghĩ về Ngọc thật nhiều, không biết giờ này nàng đang làm gì, chiều hôm nay Minh không về chắc nàng lo lắng lắm. Nghĩ đến nàng, Minh thấy lòng mình ấm lại, Minh thầm mong ước vẩn vơ, nói ví thử như vụ này Minh được giải ngũ thì mừng biết bao nhiêu, sau mấy năm ở Không Quân, Minh quá chán nản.

Bỗng có người vỗ vào vai Minh: – Ê Minh.

Minh quay lại, chàng nhận ra Thuận, lâu lắm bây giờ Minh mới gặp lại Thuận. Thuận nắm chặt tay Minh:

– Mày biến đi đâu mà lâu quá vậy?

– Tao vẫn ở Phi đoàn trực thăng.

– Đi học khóa gì chưa?

– Chưa học gì hết, vẫn là một thằng lính không chỉ số.

– Tao thì đổi đi Biên Hòa một thời gian, mới về đây được ít hôm.

– Có gì lạ không? Thuận lắc đầu.

– Không có gì lạ hết, tao cũng vẫn là thằng lính không chỉ số như mày.

– Chán nhỉ?

– Chán bỏ mẹ, nhưng lỡ rồi làm cái quái gì được.

– Kęt.

– Mày có nghe tin tức gì về vụ đảo chánh này không?

– Tao không quan tâm đến.

– Dù chiếm căn cứ mình không nô một phát súng, đù mẹ.

– Tại sao mày chửi thề vậy?

– Tao không biết mấy thằng nhí nhố bây giờ biến đâu hết trơn.

– Chắc là bị bắt hết rồi chớ gì?

– Bắt như con chó.

Thuận bỗng thì thào:

– Này, tao nghe nói Trung Tá quyền Tư Lệnh Không Quân đã trốn thoát rồi.

– Thật không?

– Có một thằng nói chuyện với tao.

– Sao, nói lại cho tao nghe chơi. Thuận kể:

– Tao nghe nói Trung Tá bị giam ở căn nhà Không lưu khí tượng gì đó, với mấy ông sĩ quan, ổng giả vờ đau bụng, xin về nhà đi cầu, lính nhảy dù đưa ông về, ông về đến nhà ông dông luôn.

Minh nghe chuyện Trung Tá quyền Tư Lệnh Không Quân trốn thoát một cách lơ là, chàng nghĩ đến những ngày ông Trung Tá vận động cho Tổng thống Ngô đình Diệm một cách tích cực, chàng nghĩ bụng, có gì lạ đâu, ông trung thành với cụ Ngô là một điều dĩ nhiên.

Lính tù binh Không Quân được đi lại tự do, nhảy dù chỉ canh gác cho có lệ, Minh hỏi Thuận:

– Bên này còn Câu Lạc Bộ nào mở cửa không?

– Hình như Câu Lạc Bộ ông Tám Râu, nhưng không biết còn gì ăn không. Mình tới đó, tao còn chút tiền, tao kể mày nghe chuyện này.

– Chuyện gì vậy, có quan trọng không?

– Hơi quan trọng.

Minh dắt tay Thuận đến bên người lính nhảy dù đang đứng gác:

– Xếp cho hai chúng tôi sang Câu Lạc Bộ kiếm gì ăn, đói quá.

Người lính nhảy dù cau mặt, rồi gật đầu:

– Đừng trốn nghe hai cha?

– Trốn làm cái mẹ gì cho mất công, chắc xếp cũng đói, lát tụi tui về mua đồ cho xếp ăn nghe.

Người lính nhảy dù cười:

– Một khúc bánh mì thịt nghe? Minh kéo tay Thuận đi, Câu lạc bộ

Tám Râu đông người, đồ ăn hết, ông Tám Râu nói:

– Chỉ còn cà phê các cậu có uống thì uống.

Thuận gật đầu:

– Thôi, cà phê cũng được. Thuận quay lại hỏi Minh:

– Mày có chuyện gì nói với tao?

– Một tin vui.

– Tin vui hả, mà tin gì vậy?

– Tao có vợ.

– Thế hả? Đầu đuôi câu chuyện ra sao kề tao nghe.

Minh lần lượt kê cho Thuận nghe, chuyện gặp gỡ Ngọc cho đến chuyện hai đứa tính chuyện sống chung với nhau. Minh lắc đầu:

– Biết thế tối hôm qua tao không vô đây phải tốt không, nhưng không sao, yên tao nhào ra liền, tao sẽ mời mày ăn với vợ chồng tao một bữa cơm.

Thuận cười đưa tay ra bắt Minh:

– Tao mừng cho mày, phải thế mới được chứ, có một hồi nào đó tao nghe mày sống với một với một con điếm, bê bối quá đi.

– Thôi xin đừng nhắc đến chuyện đó nữa.

Minh nghĩ đến Ngọc, chàng dành cho nàng thật nhiều cảm tình, khi nói đến Ngọc chàng thấy lòng mình ấm lại:

– Lần đầu tiên trong đời tao biết thế nào là hạnh phúc, sau vụ này tao đơn xin giải ngũ nữa, tao ra ngoài, dầu sao tao cũng khá hơn phải không mày? Chứ sống mãi trong hoàn cảnh này tao nản quá đi.

– Tao cũng vậy, tao cũng chán Không Quân quá rồi. Tao có tí bằng cấp ra ngoài tao có thể xin việc làm được.

Câu Lạc Bộ mỗi lúc càng đông, cà phê cũng hết, lính vào ngồi đầy, người nào cũng kể hoàn cảnh của mình, trường hợp bị bắt của mình. Minh nghe một người nói:

– Không thằng nào ngu như tao, đêm hôm qua nổ súng, sáng nay tao lại đút đầu vào đây, tới cổng Phi Long tao thấy nhảy dù gác đầy, nó không cho vào, tao cố năn nỉ vào cho bằng được, bây giờ đâm kẹt cứng ở đây, biết thế tao về nằm nhà có phải khỏe không?

– Ai ngờ tao cũng vậy. Minh uống một hớp cà phê:

– Đếch có gì mua cho thằng nhảy dù mình đã hứa với nó.

– Không có thì thôi, bộ nó cắn mình sao?

Hai người đi bộ về Bộ Tư Lệnh, người lính nhảy dù vẫn chờ đợi, hắn hất đầu hỏi:

– Có bánh mì không? Thuận lắc đầu:

– Không có một thứ gì khả dĩ ăn được hết, chịu phiền nhịn đói đi, bọn này cũng nhịn đói mà.

Người lính nhảy dù cằn nhằn:

– Đù mẹ, đói thấy mẹ, suốt từ sáng tới giờ không có một cái gì nhét vô bụng.

Thuận nhìn quanh:

– Chúng tôi mới là kẻ lo lắng chớ các anh mà làm cái mẹ gì? Các anh sẽ được tiếp tế còn chúng tôi thì ai tiếp tế đây?

Người lính nhảy dù đứng chống súng nhìn vu vơ, phun bãi nước bọt xuống đất:

– Mẹ, đếch tin được, có lẽ phải nhịn đói…

– Bộ cấp chỉ huy của các anh không tiếp tế lương thực cho các anh à?

Đôi mắt người lính buồn bã: đó.

– Khó tin quá, tôi mới nghe nói… Thuận tò mò:

– Có tin gì?

– Bọn tôi thua đến nơi rồi.

– Thua.

Người lính dù ngập ngừng:

– Không, à gần như vậy. Minh nhún vai:

– Tôi không quan tâm đến chuyện

Chàng móc điếu thuốc mời:

– Dùng với chúng tôi một điếu. Người lính đón lấy điếu thuốc, nụ cười mệ mỏi:

– Suốt từ hôm qua tới nay mới có một điểu thuốc, đang đói bỏ mẹ, hút thuốc vào còn xỉu hơn nữa, ruột gan cồn cào.

Thuận cười:

– Nghe nói lính nhảy dù mấy anh đi trận, nhịn đói hai ba ngày là thường mà.

Người lính dù hít một một hơi thuốc, ngửa mặt nhả khói lên trời:

– Thôi chớ, chửi tui chi vậy? Thú thiệt với mấy anh, tôi mới đi lính dù độ vài ba tháng nay.

Minh và Thuận nhìn người lính mới, anh ta còn trẻ thật, Minh móc trong bao thuốc ra ba điều cho hắn:

– Giữ lấy hút đi, tụi tôi đi kiếm ăn, có gì sẽ mang về cho anh một mớ.

Người lính dù cười, nụ cười anh ta thật trẻ thơ:

– Nhớ nhé, tôi chờ, ráng kiếm, nắm cơm với muối cũng được.

Minh kéo Thuận đi:

– Trời cũng trưa rồi, chúng mình đi kiếm ăn chớ.

– Kiếm ở đâu?

– Tới nhà thằng Linh nấu cơm tháng, tao có tiền đây, tiền vợ tao đưa cho tao đi Mỹ Tho mua trái cây.

Hai người tới quán nấu cơm tháng của Linh, Minh thấy lính ngồi nghẹt hết trong nhà, Minh nói với Thuận:

– Bỏ mẹ, chúng nó kéo đến trước mình nữa.

– Không biết có còn cơm ăn khô- ng?

– Tao sẽ vào điều đình với thằng Linh.

Minh len lỏi vào trong nhà, chàng mò vào trong bếp, Linh mồ hôi mồ kê nhễ nhại, đang phụ với vợ làm cơm, Minh vỗ vai bạn:

– Có cơm cho chúng tao ăn không? Linh cáu kỉnh:

– Chúng nó đặt hết rồi.

– Ráng đi, cơm nước mắm cũng được.

– Thì chúng nó cũng ăn nước mắm.

– Tao cũng ra ngoài kia ngồi chờ nhé.

– Ừ ngồi ngoài đó đi, tao còn đang thổi cơm.

Minh và Thuận tìm mãi mới được một chỗ ngồi, một lát sau Linh mang cơm ra. Cơm chỉ có rau muống luộc, chấm nước mắm ớt, Linh nói:

– Chúng mày ăn đỡ đi, sáng ngày hôm nay tao không đi chợ được nên không có gì ăn.

Minh vui vẻ:

– Không sao mà, có cơm ăn là quí, bạn nhảy dù còn đói thấy mẹ kia kìa.

Ăn xong bữa cơm, còn chút cơm thừa Minh hốt cả vào giấy báo gói lại:

– Tao phải mang về cho thằng lính dù, tội nghiệp nó đói.

– Mày phải mang về ít gì mằn mặn chứ.

– Nó chỉ xin một dúm muối mà thôi, tao cho nó muối tiêu sướng thấy mẹ còn gì.

Minh và Thuận ra khỏi quán, trời đã về trưa.

Bốn Mươi Năm (1978-2018) Nhớ Lại Chuyến Vưọt Biển Bi Thảm Từ Phan Thiết Tới Mã Lai.

vietbao.com

Mường Giang

Post on 16 Apr 2018

Post by Sơn râu 11 Apr 2025

Từ Phan Thiết chúng tôi gồm 34 người, quyết tâm ra đi nên đã liều mạng vượt biển để tìm tự do trên một chiếc thuyền đanh cá mỏng manh cũ kỹ và thiếu thốn đủ mọi thứ. Thời gian sống với biển cả tuy ngắn ngủi nhưng thập phần nguy hiểm và đầy bất trắc. Cuối cùng, lòng can đảm đã giúp chúng tôi vượt qua tất cả trở ngại. Chúng tôi đã đến bến bờ tiểu bang Trengganu thuộc Mã Lai Á vào buổi sáng ngày 26-10-1978, chấm dứt 6 ngày hải trình bi thảm.

Tôi ghi lại đây để nhớ mãi không quên những tấm lòng vàng của các vị ân nhân Nguyễn Đức Khôi, Nguyễn Đức Long, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Mến. Quý Ông nay đã trở về cõi vĩnh hằng nhưng lòng từ tâm trên chiếc thuyền PT.M1109 hôm nào đã giúp chúng tôi vượt thoát khỏi địa ngục trần gian trong thiên đàng xã nghĩa từ sau ngày 39-4=1975. Cũng chính nghĩa cử cao đẹp trên, Quý Ông đã dạy cho tôi long thương người trong cơn hoạn nạn và tôi đã theo đuổi lý tuởng đó cho tới nay, khi đưọc may mắn định cư tại Hoa Kỳ vào tháng 4-1979.…

Câu chuyện vưọt biên của tôi cũng là một kỳ ngộ, như có một bàn tay huyền diệu nào đó luôn giúp đỡ sắo xếp..Tôi còn nhớ cái đêm trước khi vưọt biển, vì buồn đủ thứ lại thương đứa con gái nhỏ tên Duyên bệnh nặng..nên khi mấy đứa em rũ nhậu, tôi đã quên là mình từ kinh tế mới trốn về sống chui không có giấy phép. Nhưng cũng thật kỳ lạ, giữa lúc anh em đang nhậu thì tên Hùng công an khu vực vào nhà tôi nhưng hắn không bắt mà chỉ ra lệnh cho tôi ngày mai phải lên lại KTM. Sau đó ai nấy về nhà ngũ riêng tôi thì ngổn ngang tram mối nên làm sao ngủ đưọc. Giữa lúc đang trăn trở thì chủ ghe tới kêu đi biển. Rồi đến lúc ghe cập đồn Biên Phòng Thương Chánh để trình diện. Tại đây lần nữa Tôi không bị công an bắt giữ vì đi biển lậu, mà chỉ ra lệnh cho chủ ghe đuởi tôi lên bờ vì không có tên trong sổ hành nghề. Chủ ghe dạ dâ nhưng vẫn chạy thẳng ra biển. Nhờ những may mắn trên, nên thành phần bị gạt ra bên lề xã hội lúc đó như bọn tôi mới có cơ hội ra đi.

Tôi nhớ sáng hôm đó trời đẹp chi lạ, biển lặng như trên sông Cà Ty. Phương đông mặt trời đã lên cao, thả những tia vàng đỏ óng nhảy tung tăng theo triền sóng. Gió thổi nhẹ từng cơn như mơn mởn làn da thêm thoải mái. Như thường lệ, ghe tôi từ Phan Thiết chạy ra địa điểm đặt cây chà, đúng vào lúc con nước đang lên để làm nghề. Thời gian sống ngoài biển là lúc mà chúng tôi vui sướng nhất vì được tự do la hét, chửi bới, được nhìn cảnh mênh mông của trời đất bao la và hạnh phúc nhất là ai cũng có quyền hy vọng được tàu ngoại quốc đến vớt sang bên kia bờ đất tự do.

Bây giờ là 8 giờ 30 ngày 21-10-1978, mọi công tác dành cho việc lùng bắt cá đã chuẩn bị xong. Hai đường neo dài hơn 100m đã được móc cứng sau và trước thuyền, kèm vào đó là hai sợi dây khác dùng để móc giàn lưới sắp sửa bủa xuống biển đón đàn cá trắng đang nhởn nhơ bơi lội dưới làn nước trong xanh thăm thẳm. Chúng tôi đã sẵn sàng bắt một mẻ cá lớn để chốc nữa trở vào bờ dâng cho nhà nước đổi lấy từng ký gạo sống dần mòn qua ngày. Đó, đời sống của con người nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa là thế.
Bỗng một tiếng la từ sau lái: Tàu vượt biển đến, hãy kéo neo lên để chạy cho mau, kẻo chúng đến cướp dầu, cướp ghe. Nhưng đã trễ rồi, vì không thể nào trong chốc lát triệt nổi hai cuộn neo thật dài, thêm vào đó là lưới đang hứng đầy cá, mà con tàu lạ thì từ xa chạy xăm xăm đến với một tốc lực tối đa. Đấy là một loại thuyền đánh cá kiểu Bắc Việt, toàn thể sơn màu đen nên nhìn rất cũ kỹ, dài khoảng 8m, trên thuyền lố nhố những người đang hò hét vẫy gọi, trông giống cảnh ăn hàng của các phim hải tặc. Con thuyền quá mỏng manh và cổ lỗ nên không có gì bảo đảm lắm cho chuyến vượt biển xa xăm mà mọi nguy hiểm như sóng gió, giông bão đang chực chờ, hơn nữa mùa gió Bấc đã đến, biển hay động bất ngờ, chỉ cần một trận cuồng phong nhỏ cũng đủ chôn vùi tất cả bao nhiêu người trên thuyền vào bụng cá. Nhưng nhìn những khuôn mặt cương quyết, chai lì của những người đang đứng trên thuyền đối diện, tôi cảm thấy thán phục cho những tâm hồn biết chết trước mắt nhưng vẫn cứ liều lĩnh, mạo hiểm dấn thân vào biển cả muôn trùng để tìm tự do

Ôi tự do cao quý đến thế sao? Biết chết vẫn lăn xã vào, biết tù đầy khổ ải nhưng cũng cứ bền gan tranh đấu, biết địch mạnh ta yếu mà vẫn cứ âm thầm chịu đựng để chờ ngày quật khởi. Hèn chi tại Nam VN trước tháng 4-75, chỉ vì “độc lập hay là chết “mà đã có hơn một triệu thanh niên nam nữ, hơn 20 năm chịu banh thây để giữ lấy nó. Bây giờ thì một làn sóng người ồ ạt, bỏ tất cả để dấn thân vào cõi chết, chỉ mong mỏi tìm ra con đường sống để nhìn thấy tự do thật sự.
Rồi con tàu lạ cũng tới, tiếng be gỗ chạm vào nhau nghe chói óc, tiếng người la ơi ới, tiếng kéo cò lên đạn gây thành những âm thanh hỗn độn, kỳ quái nghe hay hay.
-“Cho chúng tớ xin ít dầu, gạo và nước để ra đi, chúng tớ không thể quay về với đưọc, giúp chúng tớ đi anh em ơi” . Thật là thảm thiết, thật là cay đắng, nẻo đường sống của bọn người quyết lòng tháo gỡ gông cùm của giặc thù là thế đó. Tôi nhìn kỹ từng khuôn mặt, đều là bạn bẻ cũ thuộc tỉnh/tiểu khu Bình Thuận cả. Người đứng trên mui để chỉ huy tổng quát là Ng-Đ-M, cùng tôi học Triết ở Đại Học Văn Khoa SG. Trước mũi là Thưọng sĩ Ng-Đ L phục vụ tại Chi Nhánh 2 TMNN., Tài công là Trung sĩ I ĐPQ VS và thuyền trưởng là Thiếu Uý CSQG NĐK. Tất cả đều là khách hàng đắc giá của Công An Thuận Hải cả, thảo nào họ dám dùng con thuyền nhỏ này để vượt biên. Theo lời M, họ đã khởi hành đêm 19-10-1978 sau khi ba vị chủ ghe đồng nhận được trát của công an thị xã Phan Thiết mời đến để điều tra về vụ vượt biên mới đây có liên quan đến họ. Vì tin đến quá đột ngột nên tất cả số dầu dự trữ dành cho chuyến vượt biên sắp tới không thể đem xuống ghe được, cũng không thể mang nhiều gạo, thuốc và thức ăn vì sợ đồn biên phòng số 4 kiểm soát sẽ bại lộ. Nên cuối cùng Ban Chỉ Huy thuyền PTM 1109 quyết định đi liền với số nhiên liệu và thực phẩm dành cho 1 ngày làm cá đúng theo cấp số ấn định, nhưng cương quyết mang theo hai khẩu súng cũ đã chôn giấu từ lâu cùng đồ nghề dành cho chuyến vượt biên thế thôi. Như vậy họ đã quyết định ra đi với 40 lít dầu, 10 kg gạo và lòng tin tưởng tuyệt đối vào Chúa sẽ giúp họ thành công. Đúng 5 giờ 30 ngày 20-10-1978, con thuyền trên lại quay về bờ biển Phan Thiết và đâm ngay vào bãi Thương Chánh tại Vĩnh Phú, để vớt người như chương trình dự liệu, giữa lúc tiếng chuông nhà thờ Vĩnh Phú rền vang báo hiệu đợt lễ đầu, trong khi bọn du kích và công an phường canh gác bãi tắm đã lục tục kéo nhau về ăn cơm. Sự liều lĩnh đã đem lại kết quả khả quan nhưng vì thời gian quá ngắn nên chỉ cứu thêm được một số anh em và người nhà, để rồi vĩnh viễn rời xa quê mẹ, con thuyền sẽ điên cuồng lao vào đất chết.

London, Ontario: Trong phiên tòa diễn ra vào hôm thứ ba ngày 20 tháng 8, một phụ nữ 79 tuổi, lái xe…

Đêm đó thuyền đã xông xáo khắp nơi để xin dầu, gạo, nước ngọt dành cho chuyến hải hành, thuyền suýt đụng độ với 2 chiếc mành quốc doanh có trí súng đại liên làm anh em một phen mất vía.

Tiếng của thằng bạn làm tôi bừng tỉnh: “C còn chần chờ gì mà không nhảy sang đây để đi với tụi tớ, cậu thường ao ước tìm tự do lắm mà. Hãy đi đi, trời còn đó, đất còn đó và vợ con chúng ta cũng còn đó, nếu còn sống thì lo gì không gặp lại người thân. Vâng bạn tôi nói đúng lắm, tôi phải ra đi, đây là một cơ hội bằng trời mà tôi hằng mong đợi, tôi phải đi để sống và còn sống là còn tất cả.
Tôi nhảy sang con thuyền lạ giữa tiếng la khóc của những đứa em, giữa những vòng tay thân tình cật ruột giữ lại. Nhưng tôi đã cắn răng cắt đứt tình cảm gởi gấm vợ con trên kinh tế mới cho má tôi, rồi gục mặt ra đi.
Theo chương trình dự liệu, chúng tôi còn phải đi mua thêm dầu gạo và nước uống đủ để đi thẳng đến Mã Lai Á, vì không hy vọng ra đến hải phận quốc tế sẽ được tàu vớt. Bởi thế cần phải được chuẩn bị đầy đủ, ăn ít cũng được nhưng dầu và nước thì không thể thiếu được. Do đó thay vì trực chỉ ra hải phận, chúng tôi bắt buộc phải mạo hiểm đến gặp các thuyền bạn để xin dầu và kết quả thật khả quan: Dầu được 300 lít, gạo 50 ký, nước ngọt 2 thùng lớn còn thức ăn thì không cần, tuy vậy cũng tạm sống.
Vì sợ các thuyền quốc doanh bị lấy dầu quay vào bờ báo cho đội tuần duyên nên chúng tôi đành phải ngụy trang, thay vì chạy chúng tôi neo lại trên phần chà thường đến làm cá giả vờ đang hành nghề, cho tất cả đàn bà con gái trẻ em và những người không phận sự xuống khoang thuyền, chỉ để 7 người trai tráng ở lại lo công tác, súng thì lên đạn sẵn đầy đủ để quyết tâm chống chọi nếu bất trắc ập đến . Nhưng mọi lo lắng đều qua, 4 giờ chiều ngày 20 tháng 10-1978, chúng tôi chặt đõi, vĩnh viễn xa rời quê hương để ra đi tìm tự do. Hỡi ơi, phút cuối cùng sao nghe lòng quyến luyến và hờn tủi chi lạ, biết bao giờ mới được quay về để nhìn những thâm tình đang tuyệt vọng đợi chờ.

Buồn lắm, những trở ngại và thử thách đầu tiên đã qua, các em và các cô không quen đi biển cũng bớt nôn ọe. Trời lại đẹp và biển lặng một cách đáng yêu. Đúng 20 tiếng lướt sóng chúng tôi bắt đầu cho mũi thuyền hướng về 180 ly giác, trực chỉ hướng Bornéo, ra ngay hải lộ quốc tế rồi từ đó sẽ bẻ mũi ghe về hướng 220 ly giác để về Mã Lai Á. Theo hải trình này thuyền sẽ không gặp Côn Đảo và Thái Lan. Nhưng đời đâu có bằng phẳng và dễ dàng như thế. Và đúng 3 giờ chiều ngày 23-10-78 thuyền chúng tôi bắt đầu gặp tai họa, một máy bị hỏng, dầu không bơm được, máy bơm nước cũng hư và phía trước mặt là Côn Đảo với 2 ống khói trắng toát.

Dùng ống dòm chúng tôi có thể thấy được đỉnh của ngôi giáo đường. Nguyên nhân có sự lạc hương này, chỉ vì tài công V.S trong lúc lái ghe đã nhìn hai ống khói màu trắng tưởng lầm Côn Đảo là một chiếc tàu buôn. Bởi thế đã đổi hướng chạy đến thì cũng đã lỡ rồi. Ngay lập tức buồm được kéo lên, thợ máy Hòe cố gắng sửa lại bơm dầu và tất cả thanh niên phải thay nhau tát nước

Tai họa bắt đầu giáng xuống với những trận gió lớn làm biển động mạnh với từng đợt song dữ. Bao nhiêu bi thãm dồn cùng một lúc dành cho chúng tôi. Đây là Trường Sa, nơi giao liên của hai con nước vùng biển Đông Hải và vịnh Thái Lan, nên sóng rất lớn. Nhưng việc gì đến sẽ đến, giờ thì phải chạy, kẻo đồn canh của bọn công an trên đảo thấy được thì chúng tôi một là sẽ vào bụng cá hai là vào Côn Đảo nằm thiên thu.

Mưa xối xả như trút nước, làm giảm tầm quan sát của địch, V.S cho lên ga tối đa 1500, con thuyền lao như điên giữa tiếng gió gào thét, cánh buồm căng cứng gần muốn đứt lèo, sóng bủa tứ tung trên mạn thuyền, tất cả đều ướt át như chuột lội nước, lạnh dói và run sợ. Đêm đó không ai ngủ được cả, mọi người đều lo lắng và theo dõi nhiệm vụ không ai nói với ai một tiếng nào cả. Ban chỉ huy thuyền thì mãi miết chụm đầu vào mặt chiếc địa bàn để canh lại cho được hướng đi, nước trong khoang thuyền được thay nhau tát ra ngoài, và rồi mưa lại tạnh, gió bớt thổi và chung tôi đã ra khỏi vùng biển bảo tố lúc 6 giờ sáng ngày 24.10-1978 khi mặt trời đã bắt đầu mọc, báo hiệu một ngày đẹp đẽ đang trở lại với vạn vật, chấm dứt thãm họa đã hành hạ chúng tôi suốt 15 giờ qua …
Từ giờ thuyền chúng tôi đã ra khỏi hải phận VN và đang ở trên hải lộ quốc tế. Mỗi lần nhớ lại đêm bảo tố kinh hoàng trên biển, tôi vẫn thấy sợ và càng thương ông NĐK lúc đó, cứ luôn miệng cầu nguyện Thưọng Đế giúp đỡ cho chúng tôi qua khỏi tai họa khốc liệt kinh hoàng..không ai trên thuyền lúc đó nghĩ rằng mình còn sống sót với cơn bão cấp 10.
Giờ thì tất cả mọi người đều có quyền lên boong thuyền để thở không khí, trời đất mênh mông, biển cả miên man, con thuyền không khác chi chiếc lá vàng trôi giạt vô hạn định, trôi mãi, trôi mãi, tôi bâng khuâng tự hỏi, đời tôi rồi mai này cũng sẽ như con thuyền này xuôi ngược không biết đâu là bờ bến thế thôi .

Chúng tôi đang sống ngày thứ tư trên biển, gạo sắp hết, nước cũng gần cạn và dầu chỉ còn độ 100 lit. Ban chỉ huy ra lệnh tiết kiệm để sống cầm hơi nếu thuyền không tìm được bến. Trong ngày thứ tư này, chúng tôi 3 lần thấy tàu lớn, đã làm tín hiệu S.O.S, đổi phương hướng để xin cầu cứu, nhưng các con tàu kia đã vô tình bẻ lái bỏ trả chúng tôi lại với biển nước mông mênh. Cuối cùng lúc 12 giờ khuya đêm thứ 5 thuyền chúng tôi đã cập được vào giàn khoan dầu của Anh Quốc (trong hải phận Mã Lai Á) thế là chúng tôi đã tìm được đất sống..
Hỡi ôi đã 5 ngày qua, sống lầm lũi giữa biển khơi mịt mù mây nước, hôm nay mắt lại được nhìn thấy những ngọn đèn biểu hiện của cuộc sống. Đèn bốn hướng, đèn mông mênh, cả một vùng trời trước mặt toàn đèn, chúng tôi muốn thét to lên để tỏ sự sung sướng của những con người về từ đất chết, ai cũng vui cười hồ hởi. Làm sao diễn tả cho hết từ tâm của những người làm việc trên chiếc tày dầu Anh Quốc mang số EG 8721 mà chúng tôi đã gặp. Họ đã tiếp tế cho chúng tôi đầy đủ nào dầu, nước ngọt, gạo, thuốc lá, bánh ngọt, sữa v.v..đồng thời cho chúng tôi hướng sắp đến và khuyên nên đi Tân Gia Ba đừng đi Mã Lai Á. Chúng tôi rời chiếc tàu trên mà không khỏi ngậm ngùi và cám ơn đấng tối cao đã dành mọi ưu ái cho chúng tôi trên chuyến đi này..
Những ngày sau cùng không còn gì trở ngại, đồ tiếp tế đã có, anh em lại được chia sớt để ăn uống, biển cũng rất lặng, ban đêm trăng sáng vằng vặt cộng sự thoải mái cho mọi người và rồi đúng 3 giờ sáng ngày 26-10-1978 thuyền chúng tôi bỏ neo tại bờ biển làng Merang thuộc bang Trengganu, Mã Lai Á . Sau đó chúng tôi được thuyền đánh cá Mã Lai Á hướng dẫn vào vàm sông Mérang, được phép lên bờ nghỉ ngơi, lập thủ tục, giao thuyền và vật dụng cho cơ quan chánh quyền địa phương để rồi đúng 7 giờ tối cùng ngày, một chiếc xe đến chở tất cả mọi người về thị trấn Trengganu, nhập vào cộng đồng những người tị nạn đã đến từ những nơi khác để ngày 27-10-78 xuống tàu đến tạm cư tại đảo Pulau Bidong. Thuyền chúng tôi chính thức mang số 100 tại trại này.

Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 4-2018
MƯỜNG GIANG

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 11 Apr 2025

Chương 6

Chuyến xe lửa đưa Eliot Ness và Cathenrine cùng đứa con gái 6 tuổi xuống Chicago vào một buổi chiều nhạt nắng. Chicago, như mọi thành phố lớn khác giữa thời đại kinh tế khủng hoảng, mang một vẻ ảm đạm buồn rầu. Trên đường về ngôi nhà vừa mướn được tạm thời, thỉnh thoảng chiếc xe chở Eliot Ness chạy qua những khu phát cơm xã hội của chính phủ. Thấy mà tội nghiệp. Hàng trăm người thất nghiệp lẳng lặng xếp thành từng hàng dài ngoài trời cả tiếng đồng hồ để chờ lảnh một chén xúp hay một miếng bánh xăng-uých. Đầu họ cúi gầm, hai tay thọc sâu trong túi áo bành tô với vẻ chịu đựng buồn rầu. Eliot Ness nghĩ đến sự may mắn của mình. Tuy lương của một nhân viên cảnh sát đặc vụ tổng nha Ngân Khố không có là bao nhưng so với những người thất nghiệp kia thì chàng hơn họ quá nhiều. Rồi chàng sực nghĩ đến cái thế giới giang hồ của AI Capone. Thảo nào thằng chó này không trở thành một ông vua không ngai ở đây. Có gì đâu, thời buổi gạo châu củi quế, ai nấy chỉ mong có một việc làm để nuôi vợ nuôi con, nên đang sắp hàng chờ cơm mà có vài thằng anh chị với complê nguyên bộ xuất hiện, tay phe phẩy vài tờ giấy hai chục đô thì ai mà cưởng nỗi, muốn bảo gì lại không được ? Chỉ thị nào không nghe theo ? Mới đầu chắc chỉ là chân gác xòng bạc, rồi đến đấm đá vớ vẫn, rồi đến ôm súng đi giết người. Mà cái thế giới của tội ác đâu có phải là cái thế giới tầm thường hiền hoà như người ta vẫn nghĩ. Có mấy ai dính vào mà còn thoát ra được. Theo báo cáo thì dưới trướng AI Capone có đến khoảng từ 700 đến 1000 thằng đàn em cỡ vào tù ra khám, sẵn sàng bắn bất kỳ ai và thi hành bất cứ mệnh lệnh gì được giao phó. Eliot Ness lắc đầu, quả thật là chiếc xe này đang đưa mình vào hang cọp. Một anh cớm liên bang xuống một thành phố lạ quắc để dẹp băng cướp có ngàn thằng, với đầy đủ phương tiện lại nắm cả lực lượng cảnh sát trong tay thì là chuyện đội đá vá trời. Chàng chép miệng, cố gắng giấu nỗi lo lắng để Catherine khỏi phải nhìn thấy. Cuộc chiến đấu sắp tới với Al Capone sẽ là một cuộc chiến khốc liệt. Khốc liệt cỡ nào chàng chưa biết rõ nhưng cái điều chắc chắn là hôm nay, có một anh chàng thợ săn cô đơn đang lần mò bước vào hang cọp. Ngày đầu tiên đã thấy nản.

Eliot Ness nhìn người tài xế, bắt chuyện:

– Chicago có gì lạ không bác.

Ông tài xế đáp rất lịch sự nhưng cụt ngủn:

– Thưa ông cũng thường.

Rõ thật là chán đời, đúng là típ không ham nói, Eliot Ness thầm nghĩ. Ông tài xế này không phải là dân lái xe taxi nên cách nói chuyện cũng khác. Ông làm việc với hãng cho mướn xe nên cái mục ngoại giao lẩm cẩm này coi như khỏi có đi. Lái xe chở khách từ trạm xe lửa về nhà rồi giao xe cho khách là nhiệm vụ của ông. Ông chỉ cố gắng làm sao khi giao chiếc xe, khách ký nhận đầy đủ là ông xong việc. Một điều làm ông chú ý là người khách này phải là một nhân vật quan trọng, rất quan trọng là khác. Cái gì, thơ gối xuống cho hãng để mướn xe mà đóng giấu “U.s. Treasury” đỏ chói, lại niêm phong cẩn thận làm như là tài liệu mật quí giá lắm. Đã làm ra vẻ quan trọng ngon lành như vậy thì sao trong bì thơ không kèm theo một cái check cho hãng ? Được vậy thì đỡ khổ biết mấy. Đằng này chỉ trần xì một cái đơn đặt hàng với con dấu to tổ bố phía dưới như dằn mặt thiên hạ. Nhưng thôi, thời buổi kinh tế khó khăn này có khách là vui rồi. Hơn nữa khách đó lại là “U.S. Trearury” thì có chạy đi đâu mà sợ? Ông tài xế nghĩ thêm, ủa, tổng nha Ngân khố mà lại gởi người xuống Chicago làm con khỉ gì ở đây? Chẳng lẽ Chicago sắp mở thêm một nhà máy in bạc chăng ? Làm gì có chuyện đó. Dòm kỹ tướng tá ông khách thì thấy quả là một tay lực sĩ. Tướng người cao có gần cả 5 feet 6 chứ ít đâu. Không mập, dong dỏng cao nhưng xương to như thế kia thì sức mạnh phải biết, đánh một phát dám chết tươi con bò mộng. Chừng dòm tới khuôn mặt xương xương lạnh lùng với cặp mắt sáng quắc như đèn pha xe hơi thì ai cũng phải ngán. Tuy không phải là dân anh chị nhưng ông tài xế hình như cũng ngữi được chất “cớm” trong người Eliot Ness thoát ra. Mà không phải là cái mùi cớm thường, cớm cà chớn như ông đã gặp nhiều lần ở Chicago đâu. Đây phải là thứ “đệ nhất cớm”, thứ cớm ngoại hạng, lừng lẩy nhất của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Xe chạy ra khỏi khu trung tâm thành phố, ông tài xế vẫn không hết thắc mắc. Tại sao một anh cớm ngon như vầy của Hiệp Chủng Quốc lại mò về đây làm gì? Để bắt chuột chăng? Không, chắc là phải để bắt cọp. Chicago này có con cọp nào bự hơn, ngon hơn con cọp AI Capone? Thôi thôi đích thị rồi, ông khách này về đây để săn cọp AI Capone chớ còn gì nữa. Nhưng một mình một ngựa xuống đây, ông cớm này chắc tính tự tử. Cả lực lượng cảnh sát Chicago với 5 ngàn nhân viên mà còn trị không nỗi AI Capone thì một mình ông này làm được cái gì? Đầu óc lão tài xế mường tượng ra những trận đánh đẫm máu, những thây người chết đã lâu không thấy lại sẽ được đăng lên tờ Chicago Tribunes. Ông chép miệng, trẻ tuổi đẹp trai anh chàng này mà mai mốt lại có tên xuất hiện trong mục…cáo phó thì quả là uổng đời…

Không bắt chuyện gì được, Eliot Ness ngồi im suy nghĩ đến kế hoạch bắt cọp suốt quãng đường về nhà. Theo như tổng nha thì phải đánh vào mấy cái đường giây buôn lậu, mấy cái lò nấu rượu để làm tiêu hao khả năng tài chánh của AI Capone trước. Khi nó đã bị yếu thế rồi thì sẽ xuống tay cái rụp. Nhưng cái kẹt là không biết khi nào nó mới bị yếu thế? Nhiều năm qua, tài sản của nó tích lũy được bao nhiêu triệu đô la ai mà biết? Theo Eliot Ness, mình phải nghĩ ra một cú phật thủ, cú độc, tung ra một cái thì thằng khốn phải lên ghế điện hay ôm chừng vài chục cuốn lịch. Mà cũng khỏi cần vài chục cuốn lịch, chỉ cần hai ba cuốn là cả đế quốc của nó sẽ tan tành ngay. Trước khi lên đường, Eliot Ness đã đọc kỹ hồ sơ của thằng này. Tuy ngày xưa ở Brooklin New York nó là một thằng du thử du thực bị bắt vô bót cảnh sát mây lần nhưng bây giờ nó là một đại thương gia giàu có và thế lực, hồ sơ trắng tinh không một vết nhơ. Ai chẳng biết là nó đã giết hoặc ra lệnh giết không biết bao nhiêu người nhưng có bao giờ tìm ra nhân chứng hay thủ phạm gì đâu ? Đến ngay cả cảnh sát Chicago mà nó còn cho đi mò tôm thì còn ai để buộc tội nó được ? Và nếu có ráng buộc tội thì cũng chẳng có ma nà dám đứng ra làm nhân chứng.

Người tài xế thắng xe cái kít trước một căn nhà tuy không lớn nhưng xinh đẹp. Trước nhà có vườn hoa và ghế xích đu. Catherine xuống xe, nàng tặng cho Eliot Ness cái hôn nghe đến “chụt” một phát:

– Cái nhà ngân khố của anh không đến nỗi tệ như em nghĩ.

Eliot Ness đầu óc đang rối bù với những suy nghĩ, kiếm một câu để trả lời vợ nhưng nghĩ không ra, đành gật đầu đáp bừa:

-Ừ, không đến nỗi tệ.

Đồ đạc trong nhà đã được hãng chuyên chở dọn trước đó mấy ngày nên hành lý lần này chỉ có vài cái va ly nhỏ, chàng phụ người tài xế khiêng vào. Catherine cùng con gái chạy lăng xăng trước sân, rất thích thú với cái vườn hoa.

Trao chìa khóa chiếc xe Ford lại cho Eliot, người tài xế dỡ mũ chào:

– Chìa khoá xe đây ông Ness. Mỗi tuần một lần, ông nhớ kiểm soát nhớt và nước. Xe chạy tốt lắm, chúc ông may mắn.

Eliot Ness thò tay vô túi, lấy ra 50 xu cho ông tài xế:

– Cám ơn bác nhiều lắm.

Ông tài xế bỏ 50 xu vào túi, cám ơn. Ông còn lạ gì với mấy cha công chức nhà nước này, tiền đâu mà có cái mục “típ” lớn. Ông còn nhớ lần đi giao xe cho phụ tá Frank Nitti, nó nhét vô tay ông tờ giấy bạc. Mới đầu tưởng là một đô la nhưng khi dở ra, thây tờ giây 20 đô thì ông mừng quá muốn té luôn. Nhưng không sao, 50 xu cũng là tiền, ông tài xế lững thững bước xuống đường để đi bộ ra trạm xe buýt gần đó.

Trên đường tói trạm xe búyt, ông dòm tới dòm lui trước khi tạt vào một quán cà phê còn mở cửa. Vừa bước vào là ông nhào ngay tới cái trạm điện thoại công cộng nhấc ống lên quay một số bí mật. Ở đầu giây đằng kia, một đàn em của Frankie Rio nhấc máy trả lời. Trao đổi vài câu, thằng này càu nhàu:

– Tưởng gì, có một thằng cớm liên bang xuống đây mà ông cũng làm nhặng lên. Tụi nó muốn xin đi công tác Chicago để được sờ đít mây em vũ nữ và uống rượu free của xếp AI Capone chớ gì.

– Không, tướng thằng này coi hung dữ và sắc sảo không chịu được, mà nó có đem cả vợ con theo nữa.

– Thôi được rồi, cứ ghi nhớ địa chỉ nhà nó. Mà ông nói tên nó là gì?

– Ness. Eliot Ness.

Thằng đàn em của Frankie Rio “Yes” cái rồi cúp máy làm ông tài xế chưng hửng. Cái tin sốt dẻo tưởng là quý giá thế kia mà hóa ra chẳng có sơ múi gì cả. Ông tài xế thảy 10 xu lên quày gọi ly cà phê nóng….

Tối hôm đó, Eliot Ness ngồi nơi phòng ăn của căn nhà mới hút thuốc lá và uống cà phê để suy nghĩ đến sáng.

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 11 Apr 2025

Chương 5

“I come here to get Capone…”

Eliot Ness

Elliot Ness gõ ba tiếng vào cánh cửa phòng ông trưởng phòng cảnh sát đặc vụ nha ngân khố Liên Bang Hoa Kỳ. Tiếng bà thư ký nói vọng ra:

– Xin mời vào.

Khi nhìn thấy Eliot Ness, bà thư ký nở một nụ cười tươi như hoa:

– Kính chào ông Ness. Lâu lắm rồi mới lại thấy ông.

Eliot Ness lịch sự:

– Kính chào bà.

Như mọi công chức đứng tuổi khác đã “hiến dâng trọn cuộc đời” làm việc cho chính phủ liên bang Hoa Kỳ kể từ lúc còn là một thiếu nữ, sau mấy chục năm, con người bà thư ký đã trở thành một cái đồng hồ hen rĩ. Đã từ hơn 30 năm, qua mấy triều đại tổng thống, dưới quyền hàng chục ông trưởng phòng cảnh sát đặc vụ khác nhau, cứ 8 giờ sáng là bà cắp ô vô, 5 giờ chiều là bà cắp ô về. Những ngày xa xưa, lúc bà còn là một thiếu nữ mãnh mai trẻ đẹp ở lứa tuổi hai mươi, cuộc đời còn có nhiều thú vị với những cú tán tỉnh của mấy anh chàng cùng sở hay của những nhân viên cảnh sát đặc nhiệm đẹp trai lì lợm. Rồi theo năm tháng, bà lấy chồng, sinh con đẻ cái, ngày hai buổi nhìn thời gian đi qua trước cái cửa sổ cũ kỹ của văn phòng thư ký ông trưởng phòng cảnh sát đặc vụ. Theo luật đào thải của thời gian, người cũ đi, người mới tới. Những nhân viên đặc nhiệm lừng lẫy một thời với bà bây giờ hoặc đã bỏ mình vì công tác, hoặc đã trở thành những ông già lụ khụ. Nhiều người được giao cho một chức vụ khác an nhàn ở một xó xỉnh nào đó, nhiều người khác đã về hưu. Tất cả mọi vật và mọi người đều đổi thay, chỉ có bà là không bao giờ thay đổi. Cũng cùng một công việc đó, cùng trách nhiệm đó, cùng cái bàn viết cũ kỹ đó, bà vẫn còn là bà. Cái làm cho bà nhớ nhất là những anh chàng cảnh sát đặc vụ trẻ tuổi sau này không còn ai đến đùa cợt hay tán tỉnh bà nữa. Nhiều lúc bà buồn lắm, nhưng vẫn ở lại làm việc. Không phải vì bà ham tiền hay ham danh lợi. Bà chỉ thích làm việc, thích hoạt động. Bà rất có cảm tình với những nhân viên đặc vụ trẻ tuổi đẹp trai và đầy nhựa sống như Elliot Ness.

Bà coi bọn trẻ như những đứa con trai của bà. Nó làm cho bà nhớ lại cái thời huy hoàng của mình. Đặc biệt với Eliot Ness, chẳng những thương mà bà còn kính phục chàng. Chàng là một trong những nhân viên đặc vụ trẻ tuổi tài ba nhất của tổng nha Ngân Khố toàn quốc.

Có lẽ Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất trên thế giới mà tổng nha ngân khố quốc gia có cảnh sát riêng của mình. Loại cảnh sát này, hay còn có thể gọi là nhân viên đặc vụ tổng nha ngân khố, có nghạch trật ngang hàng và được ưu đãi như bất cứ nhân viên cảnh sát liên bang nào của Mỹ. Vào thời xưa, lúc cơ quan FBI chưa ra đời, Hoa Kỳ thường bị quấy nhiễu bởi những bọn cướp xuyên bang. Vì mỗi tiểu bang có luật lệ khác nhau, và hệ thống truyền tin liên lạc chưa được thịnh hành như bây giờ, các đảng cướp với những hành động cướp bóc rồi di chuyển từ tiểu bang này sang tiểu bang khác, tiểu trừ chúng quả là một chuyện khó nhọc. Một trong những sở trường của bọn này là làm bạc giả. Bộ tài chánh phối hợp với bộ tư pháp thành lập một đội cảnh sát đặc nhiệm để lo vụ này. Hoạt động một thời gian, thấy kết quả khả quan, lực lượng đặc vụ được bành trướng, giao khoán luôn cho những nhiệm vụ khác có dính dáng tới tội ác. Từ giết người cho đến buôn lậu, đến đĩ điếm v.v.., nghĩa là bất cứ cái gì có liên quan đến tội ác mà cảnh sát địa phương không giải quyết được thì cảnh sát ngân khố nhảy vào can thiệp. Và từ đó, cảnh sát tổng nha ngân khố tồn tại qua nhiều triều đại, ngày một bành trướng cho đến hôm nay.

(Năm 1904, bộ tư pháp Hoa Kỳ thành lập ra một sở gọi là “Bureau of Investigation of the Justice Department”, tức là tiền thân của FBI. Những ngày ấy, họ chỉ chuyên lo những vụ điều tra đặc biệt và rất giới hạn. Năm 1924, ngành này được đổi tên là “Division of Investigation of the Justice Department” do “hung thần” Hoover đứng ra đảm trách. Tuy có thêm nhiều trách nhiệm nhưng cơ quan này cũng chưa dính tới những vụ tội ác về luật cấm rượu hay những trọng tội khác. Phải chờ đến năm 1935, lúc cơ quan được biến cải thành Federal Bureau of Investigation, gọi tắt là FBI thì họ mới bắt đầu làm việc như là những cớm liên bang chính hiệu cho đến ngày hôm nay.)

Ngày 27 tháng 1 năm 1920, lịch sử của Hoa Kỳ bước sang một khúc rẽ mới khi quốc hội thông qua đạo luật cấm bán rượu của ông nghị sĩ đảng Cộng Hòa tên Volstead, gọi là Volstead Act. (Prohibition Law) cấm rượu thì dĩ nhiên phải cấm nấu, cấm tàng trữ, cấm buôn lậu rượu. Không hiểu cái luật vô lý này có giúp gì được cho nước Mỹ không, nhưng kể từ hôm đó, nước Mỹ đi qua một khúc quanh mới. Các tay anh chị khắp nơi trên toàn quốc tự nhiên có một cơ hội ngàn vàng để hốt bạc: Nấu và bán rượu lậu.

Từ khắp nơi, các lò nấu rượu lậu mọc lên như nấm. Nấu công khai không được thì thiên hạ nấu lén trong nhà. Nấu trong nhà không được thì đem vô…cầu tiêu hay đem ra ngoài rừng nấu. Đã có biết bao nhiêu vụ hỏa hoạn hay tai nạn xảy ra chỉ vì cái luật quái quỷ này ? Đó là những mối làm ăn lẻ tẻ của dân nghèo hay các anh chàng nghiền rượu. Một khi các tay anh chị bự Mafia đã nhúng tay vào thì làm có gì có vụ chừng vài ba nồi rượu lậu. Đã mất công nấu là phải nấu làm sao để chất đầy từng…chục xe cam nhông một lần mới đáng. Toàn quốc chỗ nào cũng có cái nạn này, không làm sao tiểu trừ cho hết được. Nhưng mạnh nhất, tàn bạo nhất, giàu nhất, có quy cũ nhất thì phải kể đến 2 nơi là New York hay Chicago. Hai nơi này là thiên đàng của đảng bàn tay đen, của các tay anh chị bự…

Eliot Ness vừa mới đi một chuyến công tác từ New York về, và được gọi lên trình diện ông trưởng phòng cảnh sát nha ngân khố liền cấp kỳ.

Bà thư ký nhìn Eliot Ness. Nhìn mà như ngắm đứa con trai đi xa lâu ngày mới về kỹ càng từ đầu đến chân. Cũng như các công chức lương ba cộc ba đồng của chính phủ khác, Eliot Ness đóng một bộ áo vét nâu rẻ tiền. Cái áo sơ mi trắng hơi cũ được ủi rất thẳng nếp chứng tỏ vợ Eliot Ness là một người nội trợ đảm đang. Khuôn mặt chàng cương nghị với những nét rắn rỏi xương xương đẹp như nét điêu khắc của các tượng đá dân La Mã thời xưa. Nhưng cái bà thích nhất là cặp mắt của Eliot Ness. Cặp mắt trong sáng như sao, lộ vẻ thông minh và quyết liệt lạ lùng. Cái nhìn chiếu ra như bắn đi những tia hào quang sáng chói.

Eliot Ness đưa mũ cho bà thơ ký:

– Thưa bà vẫn bình thường chứ ạ?

Bà thư ký gật đầu:

– Ông trưởng phòng đang bận điện thoại, mời anh ngồi. Tôi khoẻ lắm, anh đừng có lo cho tôi. Cái thân già này ngồi trong phòng giây đâu có bao giờ chết được. Tôi chỉ lo cho những người xông pha như anh, không biết bao nhiêu là nguy hiểm đợi chờ….

– Coi vậy chứ nếu mình khéo léo thì chẳng có gì nguy hiểm lắm, thưa bà.

– Xin anh đừng có tự hạ mình quá như thế. Tôi thỉnh thoảng vẫn đọc hồ sơ của anh luôn. Lại còn báo chí nữa, anh biết báo họ gọi anh là gì không?

– Tôi có nghe nhà tôi nói mà quên rồi.

– Họ gọi anh là “The number one cop of America”.

Eliot Ness cười dễ dãi:

– Bà cứ tin mấy ông phóng viên bá láp. Để rồi bà xem, hôm nay thì vậy nhưng ngày mai thì họ lôi tôi mà ném xuống bùn cho bà coi…

Một tiếng chuông dóng lên nghe “boong” nơi bàn giấy bà thư ký. Bà ta biết ông trưởng phòng sẵn sàng tiếp Eliot Ness, liền đứng dậy tới hé mở cánh cửa văn phòng của ông ta:

– Thưa ông có thanh tra Eliot Ness đợi.

– Good, good, xin bà mời hắn vào.

Cửa mở, vừa thấy Eliot Ness, ông Trưởng phòng đã đứng hẳn dậy giơ hai tay lên trời đón mừng:

– Chào anh chàng “The Best Cop in America”.

– Kính chào ông.

Sau cái bắt tay, ông trưởng phòng vô đề liền, khỏi có trời trăng mây nước xa xôi chi cho mất công:

– Anh biết công tác mới ở đâu chưa?

– Thưa, tôi không có thói quen tập đoán những nơi mình sắp đi nên không biết.

Ông Trưởng phòng bật cười:

– Khôn ngoan, khôn ngoan. Không đoán thì mình không mong đợi, không mong đợi thì khỏi sợ bị thất vọng… Tôi phải bắt chước anh để kỳ nghỉ hè này tôi sẽ không đoán là mình sẽ đi nghỉ mát ở đâu hết. Năm ngoái tôi đoán là bà xã muốn đi chơi ở Canada thì rốt cuộc phải xuống miền Nam. Thật là thất vọng., ha..ha…

Đúng là ông già lẩm cẩm, Eliot Ness không cảm thấy tức cười chút nào trước cái câu pha trò trống trải này, nhưng cũng ráng nhe răng một chút cho ông trưởng phòng khỏi buồn.

Chờ Eliot Ness vừa ngồi xuống là ông thảy trước mặt chàng một tập hồ sơ:

– Mở ra xem thử coi Eliot Ness.

Eliot Ness dở tập hồ sơ, ngoài một mớ hình ảnh và những bài báo được cắt từ các tờ nhật trình khắp nơi trên nước Mỹ với cái tên AI Capone tổ bố, chàng nhìn thấy một xấp giấy báo cáo đóng dấu “Tối Mật” của Toà Án Liên Bang tại Chicago. Eliot Ness nhìn lướt qua mấy bản tin, gấp bìa lại:

– Nếu tôi đoán không lầm thì chuyến này sẽ là Chicago.

– Hà hà, đúng y bong. Chicago.

Ông đứng dậy, vớ cái tẩu thuốc, nhồi một nụm rồi đi đi lại lại trong phòng, ống tẩu đưa lên đưa xuống:

– Tuần trước, ông bộ trưởng mình có dịp gặp tổng thống Hoover tại toà bạch ốc. Tổng thống có nhắc đến cái tên AI Capone ở Chicago.

Ông tiến tới bàn giấy, chống hai tay lên mặt bàn, vừa nói vừa lắc đầu ra vẻ… thương hại lắm:

– Chỉ có thế thôi mà ông bộ trưởng nhà mình về đến nhà là đã bấn xúc xích lên. Ông quát tháo, ông chỉ thị, ông la lối, ông xài xể tùm lum…

– Thì công chuyện là công chuyện mà..

Ông trưởng phòng bây giờ mới chịu nhét cái ống vố vào miệng:

– Công gì? Cứ công chức như mình thì chẳng có gì phải lo. Mình chẳng có dính líu gì đến chính trị chính em gì hết nên chẳng bao giờ sợ mất việc, sợ bị sa thải. Tổng thống nào thì mình cũng là công chức nhà nước hết. Đảng Cộng Hoà thì mình là nhân viên cảnh sát, còn đảng Dân chủ thì mình là thầy đội cảnh sát… mà thôi, để tôi trở lại vấn đề: Chuyến này anh khăn gói lên Chicago dẹp thằng AI Capone cho tôi.

Eliot Ness hầu như đã đoán được kết quả buổi hội kiến hôm nay, nhưng cứ thử làm một quả phản đối… cầu may:

– Tại sao phải tôi xếp? Tôi đi New York gần năm mới vừa về mà.

– “Phi Eliot Nesss, bất thành đại sự…” Ông tổng giám đốc và tôi đã bàn qua rồi. Thằng AI Capone này không phải là loại găng tơ thông thường như những hạng khác. Nó còn là một triệu phú, là một tay doanh thương đại tài, một thiên tài về vân đề tổ chức và điều hành, một “businessman” có nhiều tài nghệ hơn cả mấy tay tài phiệt ấm ớ ở New York. Cú này không có chú mày thì không xong được.

Ông hạ ống vố, dở tập hồ sơ đọc một chút rồi tiếp tục:

– Cách đây khoảng mười lăm năm, nó xuất thân chỉ là một thằng ma cô chuyên gác động đĩ ở Brooklin, New York. Ở đó còn hồ sơ cảnh sát có ghi tên nó là “AI Mặt thẹo”. Vào tù một lần vì tội bị tình nghi dùng gậy Baseball đập vỡ sọ một thằng đã lường gạt nó 2 đô la. Nhốt nó mấy tuần, đem ra tòa, chẳng có ai ra làm chứng nên lại được thả ra. Ra khỏi tù, nó bị cánh Iatrino bên khu đường 89th cho người đi kiếm. Trốn mãi chịu không nổi, nó dọt về Chicago để làm ăn với hai bàn tay trắng. Cũng một thằng đó, nếu ở New York thì cà bơ cà bấc như chó đói mà không hiểu sao về đến Chicago thì lại ăn nên làm ra. Chỉ mấy năm thôi, nó đã trở thành một một tay anh chị khét tiếng ở vùng đất mới. Sau khi kết nạp được một thằng hung thần khác tên là Frank Nitti, cựu hạ sĩ Thủy Quân Lục Chiến…đào ngũ, thợ giết người, chuyên viên thượng thặng về vũ khí và chất nổ. Với thằng quái này dưới trướng, biết đã có đủ sức mạnh, nó mở một cuộc đại tấn công đẫm máu nhứt lịch sử Chicago, chiếm trọn tất cả 6 khu lớn thành phố. Trong vòng 5 năm, số người chết liên quan đến các cuộc tranh chấp này là gần 700 mạng, trong đó có ít nhất là vài chục cảnh sát và đặc biết nhất là có cả ông McSwiginn, một biện lý nổi tiếng là “Gang-buster” của toà án Chicago….

Eliot Ness lớn giọng cắt lời ông trưởng phòng, mắt tóe lửa ra:

– Một ông biện lý của tòa án Hoa Kỳ bị tụi AI Capone bắn gục?

– Đúng!

Eliot Ness thấy hai thái dương mình giựt giựt. Gần mười năm trong nghề, chàng đã gặp đủ thứ đầu trộm đuôi cướp, đối phó với những thằng liều có gan làm nhiều chuyện gian ác nhưng chưa bao giờ nghe nói có băng cướp nào dám đụng đến ông biện lý của chính phủ Hoa Kỳ. Theo hiến pháp, mọi công dân tại Hoa Kỳ đều được bảo vệ và đối xử ngang hàng với nhau trước mặt luật pháp. Cảnh sát không được quyền bắt ai nếu người ta không quả tang phạm pháp hoặc không có án lệnh của tòa. Tòa án lại là một nơi “chí công vô tư”. Ông biện lý là người đại diện chính phủ (đúng ra là nhân dân) để hò hét thuyết phục ông chánh án rằng cái thằng đang đứng trước mặt ông là kẻ có tội, xin hãy tặng nó một hình phạt đích đáng. Phía bên kia, ông luật sư của bị cáo cũng to tiếng không kém để ráng thanh minh với ông tòa rằng cái thằng đáng thương đó không có tội gì hết. Quan tòa, sau khi nghe hết hai bên, thấy kẻ nào có lý thì ngã theo mà tuyên bố nạn nhân có đáng ôm chiếu đi nằm tù hay không. Vì vậy, trong hệ thống tòa án, người quan trọng nhất nhiều khi không phải là ông quan tòa mà là ông biện lý. Ông muốn truy tố ai thì tòa phải xử, còn nếu ông xuề xòa bỏ qua một vụ nào đó thì ông quan tòa coi như cũng không biết.

Eliot Ness đã nghe chuyện cớm bị bắn, đã thấy cảnh nhân chứng bị cho đi mò tôm dưới đáy lòng sông, nhưng chưa bao giờ có chuyện một ông biện lý tiểu bang lại bị bắn chết khơi khơi ngay giữa thành phố. Chưa ra quân đã thây máu muốn dồn lên cổ, Eliot Ness không muốn tin những gì mình vừa nghe là một sự thật, nên gỡ gạc:

– Chúng nó bắn lầm hay cố ý?

– Lầm thế nào được mà lầm. Nếu chúng nó lầm thì Tổng Thống Hoover đâu có kêu ông bộ trưởng nhà mình lên xài xể làm gì. Tất cả mọi người ở Chicago, đến con nít cũng biết chuyện này. Chuyện đó xảy ra như sau:

Biện Lý McSvwginn sinh trưởng trong một gia đình có máu cớm ba đời. Ông nội và thân sinh của McSwiginn đều là những cảnh sát gương mẫu của Chicago. McSvwginn lớn lên, muốn theo gương cha nên ghi danh vào học luật tại đại học Chicago. Sau khi tốt nghiệp, McSvwginn âm thầm về cộng tác vđi nhóm luật sư Fabeck, là một nhóm chuyên cãi cho bọn lưu manh ăn cướp. Sau sáu năm, học hết được những mánh khóe của bọn ma đầu, ông rút lui đi đầu quân cho toà án Chicago với chức vụ phụ tá biện lý. Nhờ những mánh khóe học được của bọn bất lương trong sáu năm, bất kỳ vụ án nào mà phụ tá McSwiginn đứng ra truy tố, bọn ăn cướp luôn luôn bị kêu án rít nặng. Bao nhiêu nghề của bọn nó McSwiginn đã biết hết, chạy đi đâu? Tội sơ sơ như giựt bóp giựt đồng hồ mà gặp phải ông này thì nhẹ nhất là sáu tháng, khỏi có cái vụ án treo hay cảnh cáo làm gì cho mất công.

Còn giết người hay hiếp dâm thì khỏi nói, lên ghế điện là cái chắc. Chỉ trong vòng vài năm McSwiginn nổi tiếng trong giới pháp đình Chicago là “McSwiginn treo cổ” (Hanging McSvwginn).

Ngày bầu cử đến, thây thời cơ đã tới, ông ta ra tranh cử biện lý thành phố. AI Capone là một thằng tinh đời. Nó biết nếu cha nội McSvwginn mà làm biện lý thì có ngày không những đàn em thôi mà ngay chính nó sẽ bị lôi ra tòa nên chuẩn bị đề phòng. Theo tin tức riêng của sở thì vừa biết đươc, AI Capone đã cho người nửa hăm dọa nửa điều đình với McSvwginn. Nếu ông ta đổi ý chỉ cần không ra tranh cử thôi, sẽ được đền ơn liền lập tức 200 ngàn đô la, và còn sẽ được ăn lương tháng dài dài từ đó về sau…

Ông trưởng phòng ngưng một giây, gõ cái ống vố vào gạt tàn thuốc vài lần:

– Nhưng McSvwginn là một tay ngoại hạng. Là một phụ tá biện lý lại có máu cớm ba đời trong người thì đâu biết sợ là gì. Chẳng những không nhận tiền, tay luật sư trẻ tuổi này còn tuyên bố với báo chí là trong nhiệm kỳ của ông, ông sẽ làm sạch thành phố Chicago, hứa hẹn sẽ lôi thằng AI Capone ra tòa. Kể ra, nếu ngay sau khi McSvwginn đắc cử, tôi cử anh xuống dưới đó để hợp tác với ông ta thì có lẽ tình hình chưa đến nỗi nào. Mình phải công nhận chính quyền liên bang hơi chậm trễ trong công việc này.

Chừng vài tháng sau khi đắc cử biện lý, một hôm đang đi dạo ngoài đường thì có một em điếm trẻ tuổi chạy ào từ trong cái building ra nắm lấy áo ông ta khóc lóc ầm ĩ. Hỏi cho ra lẽ thì được biết em ở nhà quê, bị bọn đàn em của AI Capone hứa hẹn lừa cô bé lên Chicago làm việc. Công việc đâu chẳng thấy, bị chúng nhốt em vô cái nhà thổ, hảm hiếp rồi bắt em tiếp khách. Mới đầu em chống cự nhưng bị đánh đập quá chịu không nỗi đành phải vâng lời. Em khai đã bị nhót trong đó gần một năm. Thế là người hùng McSvwginn có chứng cớ để đập thằng AI Capone. Trong vòng 3 tuần lễ, gần 60 cái động điếm ở Chicago bị hành quân cảnh sát cày nát. Giới giang hồ Chicago rúng động, không làm ăn gì được với “McSvwginn treo cổ” này. Ngay cả cảnh sát dù ăn lương ngập mặt của AI Capone cũng chịu thua. Vụ hành quân nào cũng đích thân ông biện lý chỉ huy, hò hét chỉ chỏ cứ như là một ông tướng con thì cảnh sát nào mà dám không bắt, cho dù đã được ăn lương ngập mặt của bọn này? Báo chí đăng là những cuộc hành quân này đã giải thoát được gần 200 em con nhà lành khỏi địa ngục.

– Bao nhiêu đó chưa đủ bằng cớ cho McSwiginn tròng vào cổ thằng AI Capone một cái cùm nặng vài trăm cân sao?

Ông trưởng phòng đứng lên, gậm gậm cái ống tẩu không có lửa, đi đi lại trong phòng:

– Tại sao trên đường đời lại có nhiều chữ nếu. Tôi ghét nhất cái chữ này. Nếu McSwiginn sống lâu thêm chừng một năm nữa thì có thể, nhưng lúc ấy, ông ta chỉ lôi được một ít thằng đàn em của nó ra tòa. Anh còn lạ gì cái màn khủng bố hăm dọa của tụi Mafia. Có đứa nào dám đứng ra để làm chứng đâu ? Không có nhân chứng thì tòa án đâu có buộc tội được ai. Vừa được giải thoát là em nào cũng chỉ muốn xin một cái vé tàu hỏa để dọt về nhà, xa khỏi cái địa ngục mình đã sống bấy lâu càng sớm càng tốt, còn chuyện gì đã xảy ra thì các em chỉ thỏ thẻ: “Em không biết”. Thế mới chán đời. Một số ít còn lại khi nghe hỏi tới là lắc đầu nguầy nguậy, xuất khẩu đúng luật Amerto: “Em không nghe, không thấy, không biết”.

Tiếng chân của ông Tổng Thanh Tra vẫn nện cộp cộp xuống nền nhà:

– Kể ra thì không thành công được bao nhiêu nhưng McSvwginn đã đập được AI Capone một búa đẹp ra gì. Hàng bao nhiêu vốn “thịt” đã đầu tư dành dụm từ nhiều năm bỗng bị ngọn gió McSwiginn thổi một cái, cuốn đi gần sạch, cả vốn lẫn lời, AI Capone coi như bị lỗ gần triệu đô la. Được cái tinh thần phân khởi của McSwiginn, mấy ông cha nhà thờ cũng hô hào con chiên xuống đường tuần hành, đả đảo tội ác tại nhiều nơi trong thành phố. Có một lúc, người ta tưởng rằng AI Capone phải bỏ xứ mà đi. Báo chí toàn quốc lại một lần nữa quay đầu về Chicago để viết phóng sự điều tra.

Nhưng thằng AI Capone đâu có ngồi im để nhìn những con thỏ dại khờ kia biểu diễn uy quyền trước hang cọp của mình. Nó nhịn vài tuần để lập kế hoạch rồi phản công đích đáng. Mấy cái vụ biểu tình lỉnh kỉnh của cố đạo thì giải quyết quá dễ. Một ngày nọ, các cha đang ngồi giải tội thì chúng nó cho người ló đầu vào, vừa khóc vừa xưng tội như sau:

– Xin cha tha tội cho con vì con sắp sửa giết người.

Ông cố đạo giựt mình. Xưa nay thiên hạ chỉ kể tội mình đã phạm, có ai xưng tội mình sắp làm ? Chưa kịp nói gì thì thằng nọ phạng luôn một câu:

– Nếu mấy cái vụ biểu tình lẩm cẩm không chấm dứt ngày mai thì tối con sẽ trở lại vào đúng giờ này để đặt dưới cái tòa giải tội này một trái bom nặng cỡ 200 cân. Cha biết không, 200 cân bom mà nổ oành ra đây một phát thì con bảo đảm là cái tòa giải tội này sẽ bay bỗng lên tới…trời. Cha sẽ về với Chúa sớm vài chục năm. Xin cha chúc lành cho kẻ có tội này…

Thằng cô hồn nói xong bèn làm dấu thánh giá, đứng dậy, từ từ đi ra như một con chiên ngoan đạo. Trong thánh đường có cái chỗ nào im vắng hơn là tòa giải tội nên cha phải nghe rõ là cái chắc. Ngày hôm sau tất cả các vụ biểu tình tự động giải tán không lời giải thích.

Eliot Ness lắc đầu:

– Ngay cả cha cố chúng nó cũng không chừa. Tụi Ý đa số là dân công giáo mà, thằng này bộ không biết kiêng nể chút gì sao?

Ông trưởng phòng nhíu mày:

– Đã là quỷ thì nó còn sợ ai, cha cố đối với chúng đâu có nghĩa lý gì. Rồi đến con bé nọ, cái con mà chạy ra ôm McSwiginn ngày nào đó, dù đã được bảo vệ kỹ lưỡng, một buổi sáng người ta lên phòng thì thấy cô bé đã bị đập chết queo từ lúc nào. Hồ sơ chỉ ghi là trước khi chết đã bị hành hạ dã man nhưng không nói hành hạ kiểu nào và ra sao nhưng ngon lành như biện lý McSvwginn mà còn muốn ngất xỉu khi nhìn thây cái xác chết bầm dập của cô gái.

Eliot Ness rùng mình, châm điếu thuốc lá:

– Vậy coi như kế hoạch phải bắt đầu lại từ con số không?

Ông trưởng phòng lắc đầu buồn bã:

– Nếu được từ con số không là may. Chẳng bao giờ còn có con số không nào cho McSwiginn nữa. AI Capone lại cho người đến điều đình. Nó đòi mua cái ghế biện lý với giá 500 ngàn đô. Lần này, không hiểu vì lạnh cẳng hay vì một lý do bí ẩn nào đó, McSwiginn chịu đi gặp tụi khốn để bàn thêm về chi tiết. Chỉ có trời hiểu là ông ta bắt đầu mê mùi kim tiền thật hay chỉ giả vờ để âm mưu tính quét một lưới trọn ổ, nhưng dù gì đi nữa thì đó là một lỗi lầm không thể tha thứ được. Chính lỗi lầm này đã đưa ông ta đến huyệt sâu. Chuyện xé lẻ này, ngay cả nhân viên của ta cũng không ai biết. Một buổi chiều vắng vẻ, sau bữa cơm hẹn hò, chúng nó cho hai thằng mặc áo măng tô đứng chờ ông biện lý ở ngoài một tiệm ăn. Không ai thấy và hay biết gì cả. Chỉ nghe một loạt súng liên thanh vang lên như vầy “tạch..tạch…tạch..”. Vậy là xong. Khi cảnh sát kéo tới thì biện lý McSwiginn và tên cận vệ chỉ còn là hai cái xác chết lạnh cóng nơi vĩa hè. Cái đau đớn nhất là sau vụ ám sát, chính thằng AI Capone gởi nguyên xấp hình của ông biện lý nhà mình đi ăn nhậu với bọn chúng cho các báo chí Chicago. Anh còn lạ gì nữa, tất cả báo ngày hôm sau đều chạy hình ông biện lý khả kính đang chén thù chén tạc, vừa uống rượu vừa sờ vú sờ đít các em điếm và say sưa với đám quân ăn cướp mà ông hàng ngày xỉ vả trong các tòa án. Anh cứ tưởng tượng nếu mình là một công nhân lương thiện, anh sẽ nghĩ gì về những tấm hình đó?

Ông trưởng phòng đứng lại, rút cái ống vố ra khỏi mồm:

– Thằng khốn nạn AI Capone đã thắng một trận lớn. Chưa hết, nó còn tung tiền ra cho báo chí bịa đặt và viết những bài tường thuật tưởng tượng về cuộc sống bê bối của McSwiginn khi còn tại chức. Hình ảnh rờ rờ ra đó, chối cãi vào đâu được. Hơn nữa, nó “nắm” hết báo chí Chicago. Đó là cái kẹt. Cũng bởi vì vậy mà chánh quyền hầu như bị bó tay. Giả thử như McSwiginn là người lương thiện thì khác, đằng này ông ta dù sao cũng có đi giao thiệp và ăn nhậu với bọn Mafia. Chính quyền Chicago và chính phủ liên bang không dám làm mạnh, sợ bị hố. Rốt cuộc chỉ có gia đình McSwiginn là những người chịu hết mọi đau khổ và tai tiếng.

Ông trầm ngâm một chút rồi tiếp tục:

– Anh phải biết những câu chuyện đó để đề phòng và tìm cách đôi phó với nó. Anh thấy đó, nó không phải là một tiếp anh chị thông thường chỉ biết xử dụng súng ống và tiền bạc thôi giống những thằng Mafia khác. Như một nhà chính trị đại tài, nó còn biết lợi dụng báo chí, biết chơi trò “chiến tranh tâm lý”, biết mua lòng dân, biết hướng dẫn dư luận đi theo con đường nó muốn….

Ông bật một diêm quẹt. Eliot Ness mừng thầm vì cuối cùng, cái ống vố sẽ được ông chiếu cố đến. Nhưng không, ông cứ đứng yên suy nghĩ, bàn tay giữ cho cây diêm cháy đến gần đuôi rồi phẩy một cái. Que diêm tắt ngúm. Ông thay que diêm xuống sàn:

– Anh xuống đó kỳ này sẽ thấy hết được những cái kỳ lạ của Chicago. Theo lời thiên hạ đồn đãi, AI Capone mới chính là thị trưởng của Chicago.

– Thị trưởng… muôn đời?

Cái ống vố lại được ông nhét vào miệng:

– Đúng. Thị trưởng cho tới…chết, khỏi lo tranh cử hay tái ứng cử gì cả. Theo tài liệu của nhân viên ta ở Chicago gởi về, Chicago đã trở thành một thiên đàng của giới ăn chơi mà báo chí gọi là “Thiên đàng hạ giới”. Ai muốn hưởng bất cứ cái gì trên cõi đời này thì cứ việc xuống Chicago là có đủ. Từ đĩ điếm cho đến rượu chè, cờ bạc, thoát y vũ v.v… không thiếu một cái gì. Tất cả những tổ chức ngoài vòng pháp luật này đều nằm trong sự quản trị hay đều phải đóng thuế cho AI Capone. Mà thế giới làm ăn của nó có chấm dứt ở đây đâu. Nó còn là đầu não của một đường giây buôn lậu rượu quý từ Canada và Âu Châu qua để phân phôi khắp nơi trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ. Theo sự ước lượng chính xác nhất của ông biện lý liên bang gởi về thì mỗi tháng thằng khốn này chi ra cở 2 triệu đô la để mua chuộc tất cả từ anh cảnh sát cho đến mấy ông quan toà, cả luôn ông thị trưởng. Chi nhiều như vậy thì nó thu vô ít nhất cũng gấp năm lần.

Eliot Ness không nén được tiếng kêu ngạc nhiên:

– Nếu vậy thì Chicago chẳng còn ai tin được nữa sao?

– Đó là lý do tại sao tôi gỡi chú em xuống dưới đó. Người duy nhất có thể tin được lúc này là ông biện lý liên bang Morgan. Ông này đã lớn tuổi và có một hồ sơ đẹp nhất nước Mỹ. Ông ta là một thứ “bất khả xâm phạm”. Tôi bảo đảm không ai có thể mua hay làm áp lực được ông ta. Đúng là týp người mà chúng ta có thể tin được trong lúc này. Anh xuống dưới đó hợp tác với ông này. Cũng theo báo cáo, Cảnh Sát địa phương than phiền là nhân viên của họ có hạn mà những cơ sở làm ăn của AI Capone thì nhiều vô kể. Mà họ đâu phải chỉ có lo một mình thằng AI Capone thôi đâu ? Còn hàng trăm việc khác phải lo như lưu thông, tù tội, hành chánh v.v… Nhưng cái đó chưa phải là cái kẹt. Nếu thiếu người thì có thể mướn thêm người, thiếu dụng cụ thì mua thêm dụng cụ…

Eliot Ness gõ gõ ngón tay trên mặt bàn:

– Vậy thì kẹt chỗ nào?

Cái ống vố ngậm từ hồi nào giờ mới được ông trưởng phòng dí cho một dúm lửa. Eliot Ness thở phào nhẹ nhỏm. Ông thở khói bay mù mịt:

– Kẹt ở chỗ bây giờ có tiền cũng chẳng kiếm ra được người nào làm việc cho ra hồn. Mấy năm trước còn có vài vụ hành quân cảnh sát, đóng cửa được vài cái lò nấu rượu. Tuần sau, mây thằng chủ mưu vụ hành quân này có đứa tự dưng biến đâu mất tiêu, đứa khác bị thuyên chuyển. Vài lần như vậy thì thằng chó nào còn tinh thần mà làm việc nữa?

Eliot Ness lạnh mình:

– Mình đang ỡ nước Hoa Kỳ vào thế kỷ thứ 20 hay là vào thế kỷ thứ 18 lúc còn đang lập quốc nhỉ ? Sao lại có chuyện nghe như hoang đường…

– Đó mới là tin tức của ông biện lý. Nhân viên thường trực của mình dưới đó bị phê điểm bết lắm. Có nguồn tin cho biết là họ cũng đã bị tụi AI Capone mua đứt rồi.

Eliot Ness nhổm người tới trước:

– Mua đứt cảnh sát liên bang? Impossible.

– Possible. Bởi vậy vụ này, “Không có Eliot Ness thì không xong.” Anh xuống đó kỳ này đúng ra có hai công tác: Thứ nhất là tìm cách bứng thằng AI Capone, thứ hai là điều tra và tổ chức lại cơ sở của mình dưới đó.

Không biết là xếp khen mình thật hay muôn đưa mình lên, nhưng Eliot Ness vẫn cảm thây hơi khoái chí trong bụng. Mà nghĩ cho cùng, có muốn từ chối cũng chẳng được. Đời công chức mà, chỉ đâu đánh đó. Được cái chàng là típ người thích những hoạt động giật gân, nguy hiểm, thích nhận lãnh trách nhiệm và công tác quan trọng. Hơn nữa, là một nhân viên ưu hạng của sỏ cảnh sát ngân khố đã lâu năm, Eliot Ness từng tham gia nhiều cuộc bắt cướp sôi nổi. Nhiều trận đụng độ với ăn cướp nhớ lại còn thấy rợn người. Mấy thằng anh chị từ Ý di cư qua sao mà lì lợm quá cở. Chính tay chàng đã hạ tại trận ít nhứt là trên chục đứa. Còn đưa ra toà để kêu án trên mười năm cấm cố thì nhiều quá, nhớ sao cho hết. Nhưng lần này, mục tiêu của Eliot Ness lại khác: Thằng triệu phú AI Capone, tay anh chị sừng sỏ nhất không phải của Chicago, của Hoa Kỳ mà có thể nói là của cả thế giới. Theo lời tường thuật của một phóng viên tờ New York Times thì nếu bạn qua Paris, hỏi một người tài xế taxi Tổng Thống Mỹ tên gì chưa chắc ai đã biết nhưng nếu hỏi AI Capone mấy tuổi và khoái hút xì gà loại gì thì hắn ta trả lời vanh vách cho bạn ngay. Làm ăn bạc triệu như nó thì thiếu gì phương tiện, thiếu gì nhân viên? Nếu nó đã mua được hết cả Chicago, ban ngày dám quất sụm khơi khơi một ông biện lý tòa án thì một cái mạng sống bé tí teo của ông cớm liên bang có đáng giá là bao… Eliot Ness không muốn nghĩ thêm. Chàng châm lửa điếu thuốc:

– Thưa…, đi thì phải chấp nhận là đi rồi, nhưng kế hoạch của mình lần này như thế nào?

– Good question. Chú mày xuống đó kỳ này quả thật cứ như là vào hang cọp. Ông biện lý Morgan sẽ cung cấp cho mình một thằng mật báo viên. Thằng này là một đàn em hạng bét của AI Capone chuyên phụ trách việc vác rượu từ xe vào nhà kho. Bảo đảm không ai biết nó hết. Chiến thuật sẽ như thế này: Muốn đánh gục một thằng thế lực và giàu có như nó thì phải đánh vào cái túi tiền của nó trước. Chú em còn lạ gì cái đất Chicago, dù là AI Capone hay bất kỳ ai, hể hết tiền là bắt đầu đi xuống. Tiền hết thì tự nhiên thế lực cũng hết. Với sự cộng tác đắc lực của cảnh sát địa phương, chú mày sẽ tân công vào những nơi nấu rượu lậu, những kho hàng chứa rượu, những nhà thổ, những sòng bài của AI Capone. Cái quan trọng là làm sao đánh sập được đường giây buôn rượu lậu toàn quốc của nó đồng thời làm cho khả năng tài chánh càng ngày càng yếu đi. Một chuyến hàng mua rượu quý của nó có thể lên đến cả triệu đô la. Chỉ cần chừng năm bảy vụ đột kích thành công thì thằng AI Capone có của núi cũng bị suy suyển. Nó suy suyển rồi, ta sẽ bước qua giai đoạn hai là giai đoạn lôi nó lên ghế điện.

Thì vào hang cọp đã là cái chắc rồi chứ còn “cứ như” cái gì nữa. Than ôi, nghe sao mà chán đời. Đã chẳng biết binh pháp, ông trưởng phòng đặc vụ này lại còn muốn nhiều quá. Gởi một thằng cớm lạ hoắc với trần xì một cây Colt 45 xuống sào huyệt của bọn đầu trâu mặt ngựa có cả hàng ngàn tay súng đang chờ sẵn mà ông làm như gởi một sư đoàn bộ binh ra trận. Hết muốn cái này rồi muốn tới cái kia. Rồi chuyện “…với sự cộng tác đặc lực của cảnh sát địa phương” nghe còn thấy nản hơn. Tụi nó mà đã đắc lực thì đâu đến nỗi phải gởi thằng Eliot Ness này xuống đó làm gì?

Thấy Eliot Ness ngồi sụ mặt một đống, ông trưởng phòng pập pập ống vố, ra vẻ thương hại:

– Chú em đừng lo, vài tuần lễ nữa tôi sẽ tăng cường cho chú em thêm…một phụ tá. Hơn nữa, mình là cảnh sát liên bang, dù gì tụi nó cũng còn nể.

Tụi nó có thể nể cớm liên bang nhưng mấy viên đạn đồng trong cây Tommy gun của chúng có nể hay không là chuyện khác. Nếu nể sao chúng nó dám ban ngày ban nhật bắn gục biện lý McSvwginn ngay giữa thành phố. cảnh sát Chicago đếm được 12 viên chì trong thân thể ông phó biện lý kia mà. Trong cuộc đời cảnh sát của Eliot Ness, chàng chưa bao giờ gặp được loại anh chị nào dám chơi bạo như tụi AI Capone này. Ngay đến tổng thống Hoa Kỳ Hoover cũng phải bực mình thì chuyện đã trở thành nghiêm trọng lắm rồi. Chàng cũng có đọc được trong báo việc ông thượng Nghị Sĩ Brown đã mấy lần đề nghị với Tổng Thống Mỹ đem TQLC ở Nicaragua về dẹp găng tơ nhưng vì thể diện, tổng thống không đồng ý. Thật là cổ kim chưa bao giờ có chuyện hi hữu như vầy. Chàng lại nghĩ xa hơn. Tại sao một chuyện dội đá vá trời như vậy, một chuyện mà có người đã đề nghị đem nguyên một sư đoàn TQLC Mỹ để thi hành thì Nha Ngân Khố lại gửi một mình chàng xuống đó. Chàng có phần hơi hãnh diện với đề nghị này nhưng không khỏi âu lo. Vì công vụ, chàng sẩn sàng hy sinh mạng sống, nhưng chỉ sợ sự dấn thân của mình không đem lại ý nghĩa nào.

Eliot Ness ngồi suy nghĩ một lúc. Chàng biết mình có thể mượn lý do gia cảnh để từ chối không đi. Nhưng làm vậy thì chàng đâu còn phải là Eliot Ness nữa. Hơn nữa, người ta đã tin cậy mình, không thể phụ niềm tin đó. Eliot Ness không biết nói gì hơn, cũng chẳng thèm xin xỏ. Vô ích. Xin thêm người ư? Ông trưởng phòng sẽ giảng cho nghe một bài học về ngân sách, về chi thu tràng giang đại hải không chừng đến tối cũng chưa xong. Đề nghị này nọ chăng? Lại phải chuẩn bị hai lổ tai để hứng thêm một bài học khác về quản trị điều hành… Thôi thì…lệnh là lệnh, đàng nào cũng phải xuống đó cái đã, có gì rồi sẽ hạ hồi phân giải. Hơn nữa, chàng cần phải mau mau rút khỏi cái văn phòng hắc ám này. Mới ngồi có một chút mà đã thấy chóng mặt. Chả trách gì ông trưởng phòng nào của tổng nha ngân khố Hoa Kỳ cũng có tính gàn gàn.

Chàng đứng giây bắt tay ông trưởng phòng. Ông già tặng chàng một điếu xì gà và chúc chàng may mắn.

Khi Eliot Ness bước ra khỏi tổng nha ngân khố, chàng mới sực nhớ trương mục trong nhà băng chỉ còn vài trăm bạc. Phải mất một năm chàng mới dành dụm được số tiền này, tính mua cho Catherine, người vợ yêu quí chiếc áo lông vào dịp lễ giáng sinh năm nay. Cái điệu này thì chắc nàng phải chờ đến sang năm. Số tiền dành dụm trên chỉ vừa đủ để trang trải mấy mục di chuyển và mướn nhà ở Chicago. Catherine giờ này chưa biết chuyến công tác Chicago sắp tới của chàng. Chàng rảo bước vừa thầm nghĩ đến gương mặt sửng sốt của vợ khi nhận được tin này. Chắc nàng sẽ buồn lắm. Nhưng đâu có sao, nàng có lẽ đã quen với những chuyến đi bất ngờ như thế này rồi. Nhìn lên bầu trời cao, Eliot Ness cảm thấy lòng rạo rực trước một cuộc phiêu lưu mới. Eliot Ness lẩm bẩm hai chữ: AI Capone…

Lý Tống-Một thuở Kinh Kha

Sơn râu 2019

“Một nét dao bay ngàn thuở đẹp

Dù sai hay trúng củng là dư”

Hai câu trên được trích trong Bài thơ sông Dịch của Vũ Hoàng Chương nói về tráng sĩ Kinh Kha khi sang Tần với con dao Chuỷ thủ trong tay để hành thích bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng. Kinh Kha là ai và tại sao phải giết Tần Thuỷ Hoàng? xin đọc lại một chút điển tích xưa:

“Gió thổi vi vu, Dịch thủy lạnh. Tráng sĩ một đi không trở về”, đây là một câu thơ bắt nguồn từ điển cố Kinh Kha ám sát Tần Thủy Hoàng. Đằng sau câu thơ này lại ẩn chứa một câu chuyện vô cùng bi tráng vào 2.000 năm trước.

Tần Vũ Dương mang theo tấm bản đồ có giấu sẵn dao găm bên trong. (Nguồn: iFuun)

Kinh Kha là người nước Vệ, tổ tiên là người nước Tề, khi di cư sang Vệ, người Vệ gọi là Khánh Kha. Sau đó sang nước Yên, người nước Yên gọi là Kinh Kha.

Kinh Kha thích đọc sách, đánh kiếm, bàn chuyện kiếm thuật. Không được Vệ vương trọng dụng, Kinh Kha buồn chán mới tìm đến Hàm Đan chơi. Ở đây, ông kết bạn với một người bán thịt chó và một người tinh thông đàn trúc tên Cao Tiệm Ly.

Ngày ngày, cùng nhau chơi đàn, hoạ thơ, hát vui, cười khóc với nhau ở giữa chợ, xem như bên cạnh không có người. Tính tình cảm khái, thích đi đó đây, đến nước chư hầu nào Kinh Kha cũng tìm kết bạn với những bậc hiền nhân, trưởng giả ở đó. Khi sang tới nước Yên, nhân sĩ nước Yên là Điền Quang tiên sinh cũng mến mộ đãi ngộ chu đáo.

Lúc bấy giờ, thái tử nước Yên là Đan đang làm con tin ở Tần quốc trốn về. Thái tử Đan đã có lần làm con tin ở Triệu, mà vua Tần Doanh Chính lại sinh ra tại đó nên ngày nhỏ vẫn thường làm bạn với nhau. Đến khi Tần Doanh Chính được làm vua, thái tử Đan lại trở thành con tin ở Tần, lúc này vua Tần đối đãi với bạn không tử tế nên thái tử Đan giận trốn về, tìm cách báo thù.

Cùng lúc, tướng Tần là Phàn Ô Kỳ có tội với vua, chạy trốn sang Yên. Cúc Võ vốn là thầy học của thái tử Đan mới can, e sợ việc dung nạp Ô Kỳ sẽ là hành động khiêu chiến với vua Tần nhưng thái tử Đan cương quyết gạt đi.

Thấy không lay chuyển được thái tử Đan, Cúc Võ mới bàn việc mời Điền Quang đến để bàn đại sự. Thế nhưng Điền Quang lại một mực chối từ, lấy lý do tuổi cao sức yếu, mới giới thiệu Kinh Kha cho thái tử Đan. Sau khi khích lệ Kinh Kha, Điền Quang liền tự sát để tỏ rõ nghĩa khí của mình.

Thái tử Đan đón tiếp Kinh Kha rất nhiệt thành, nhờ Kinh Kha vì bá tánh trăm họ giúp trừ khử Tần Thủy Hoàng. Kinh Kha từ chối: “Tôi hèn kém, e không làm nổi việc ấy”.

Thái tử Đan dập đầu cố xin rằng: “Vì trọng tấm lòng có nghĩa của ngài, Đan này xin uỷ sinh mệnh vào ngài đó, xin chớ chối từ”.

Kinh Kha ban đầu còn từ chối, nhưng nghe thái tử Đan bàn đến chuyện an nguy của bá tánh mấy nước chư hầu mới quyết định nhận lời.

Kinh Kha nói: “Theo lời Thái tử, thần nguyện đi yết kiến vua Tần. Chuyến đi lần này nếu không có vật làm tin, thì e rằng không thể đến gần vua Tần được. Nay vua Tần muốn mua thủ cấp của Phàn tướng quân với giá nghìn vàng, vạn hộ dân. Nếu có được thủ cấp của Phàn tướng quân và bản đồ Đốc Cương dâng lên vua Tần, vua Tần ắt sẽ phải gặp thần, vậy thần mới có thể giúp Thái tử được”.

Thái tử Đan nói rằng việc trao bản đồ Đốc Cương thì hoàn toàn không tiếc, nhưng chuyện lấy thủ cấp của tướng quân Ô Kỳ e là không được.

Nghe thái tử Đan nói vậy, Kinh Kha bảo thái tử cứ chuẩn bị tấm bản đồ trước, còn mình sẽ lo việc thủ cấp của tướng quân Ô Kỳ. Nói rồi, Kinh Kha bèn đi một mạch tới bái kiến Phàn Ô Kỳ. Ông nói:

“Nước Tần đối đãi với tướng quân có thể gọi là thâm độc. Cha mẹ họ hàng đều bị giết, nay nghe nói họ mua cái đầu của tướng quân nghìn vàng, ấp vạn nhà. Nay tôi có một lời, có thể cứu nguy cho nước Yên, báo thù cho tướng quân. Chỉ có điều, muốn thực hiện được nhất thiết phải xin cái đầu của tướng quân để hiến vua Tần. Vua Tần thế nào cũng mừng rỡ tiếp kiến tôi. Nhân cơ hội đó tôi sẽ nhanh chóng hành thích ông ta”.

Tần Thủy Hoàng (Ảnh: Novesoft.com)

Phàn Ô Kỳ nghe vậy, mới ngửa cổ lên trời, vái lạy tổ tiên rồi tự sát. Thái tử Đan nghe vậy, đau xót ruổi ngựa đến, khóc rất thảm thương nhưng không làm khác được nên bỏ đầu Ô Kỳ vào hòm và niêm phong lại. Sau đó lại cho người đi tìm trong thiên hạ được cái chủy thủ sắc của Từ phu nhân nước Triệu, mua mất trăm lạng vàng, sai thợ tẩm thuốc độc, hễ đâm vào người, máu chảy ra như sợi tơ cũng đã đủ lấy mạng người đó.

Rốt cuộc vụ ám sát không thành, để lại một câu chuyện lịch sử bi tráng, đặt định cơ sở văn hóa lịch sử của nhân loại.

  Nước Yên có một võ sĩ tên Tần Vũ Dương, năm 12 tuổi đã từng sát nhân, không ai dám xem thường anh ta. Thái tử Đan liền phong Tần Vũ Dương làm phó tướng. Đến sông Dịch Thủy, mọi người bày tiệc tiễn khách. Cao Tiệm Ly gảy đàn trúc, Kinh Kha hát theo, tiếng hát chưa dứt, quân sĩ đều chảy nước mắt. Lại hát tiếp rằng: “Gió thổi vi vu, Dịch thủy lạnh. Tráng sĩ một đi không trở về!” Sau đó ông lên xe đi, không hề nhìn ngoái lại.

Trong Kinh Kha ám sát Tần Thủy Hoàng có ghi chép rằng, Kinh Kha mang theo đầu của Phàn Ô Kỳ và tấm bản đồ nước Yên, cùng với dũng sĩ Tần Vũ Dương đến gặp vua Tần.

Tần Vũ Dương mang theo tấm bản đồ có giấu sẵn dao găm bên trong, Kinh Kha bưng đầu của Phàn Ô Kỳ được đựng trong chiếc hộp. Tần Vũ Dương là dũng sĩ, nhưng trong hoàn cảnh này cũng không khỏi khiếp sợ đến biến sắc mặt.

Rốt cuộc vụ ám sát không thành, Kinh Kha và Tần Vũ Dương đều bị giết chết. Để lại một câu chuyện lịch sử bi tráng, đặt định cơ sở văn hóa lịch sử của nhân loại, câu thành ngữ “Đồ cùng chủy hiện” (Ý đồ cuối cùng đã lộ ra) cũng ra đời từ câu chuyện này.

Kinh Kha chết, vua Tần bèn cả giận ra lệnh cho Vương Tiễn đem quân đánh Yên. 5 năm sau (năm 222 trước Công nguyên) nước Tần diệt gọn nước Yên.

Tinh Hoa tổng hợp

Trên đây là câu chuyện theo truyền thuyết nói về Kinh Kha tay tráng sĩ thời xưa sang Tần để hành thích Tần bạo chúa, việc lớn không thành để phải vong mạng nơi viễn xứ với nhiều tình tiết hùng tráng, đau thương và gây cấn. Câu chuyện vửa kể trên có liên quan gì đến Lý Tống? thử nhìn lại xem các việc Lý Tống đã làm qua Bách Khoa Toàn Thư mở trên Net:

Trước 1975

Lý Tống sinh ngày 1 tháng 9 năm 1946 tại Thừa Thiên – Huế, Việt Nam và bắt đầu phục vụ trong Không lực Việt Nam Cộng hòa năm 1965.

Tháng 4 năm 1975, chiếc A-37 thuộc biên đội Ó Đen do ông lái bị bắn rơi; ông bị giam giữ cải tạo trong vòng 5 năm. Ông vượt ngục bằng đường bộ đến Thái Lan, đi qua Campuchia, rồi xin tị nạn chính trị tại Singapore. Ông đến Hoa Kỳ năm 1984. Sau đó theo học cao học tại Đại học New Orleans.

Những hoạt động sau năm 1975

  • Năm 1992, Lý Tống uy hiếp phi công chiếc A310 của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam bay qua Thành phố Hồ Chí Minh rồi thả truyền đơn xuống kêu gọi nhân dân Việt Nam nổi dậy chống lại chính quyền. Lý Tống nhảy dù xuống một ao rau muống. Thấy một anh dân phòng mặc đồ dân sự đi ngang, Lý Tống nói mình là Việt kiều mới về nước, muốn thăm nhà bạn nhưng không nhớ đường và đưa địa chỉ nhờ chở đến. Anh dân phòng đồng ý rồi chở Tống lại công an; Lý Tống bị cơ quan chức năng Việt Nam bắt và kết án 20 năm tù vì tội cướp máy bay. Tháng 9 năm 1998, chính quyền Việt Nam quyết định tha và trục xuất Lý Tống trong một đợt đặc xá.
  • Năm 1998, Lý Tống đã dùng máy bay, xâm nhập trái phép lãnh thổ Cuba để rải truyền đơn.
  • Ngày 1 tháng 1 năm 2000, Lý Tống dùng một chiếc máy bay nhỏ bay từ Florida sang La Habana, Cuba thả truyền đơn kêu gọi nhân dân Cuba nổi dậy. Khi bay trở về, ông bị thẩm vấn bởi Cục Di cư và Hải quan Hoa Kỳ nhưng được trắng án và tha bổng. Lý Tống bị Cục hàng không Liên bang rút giấy phép bay. Sau chuyến này, ông được những người Cuba chống Cộng coi như một “anh hùng”
  • Ngày 7 tháng 11 năm 2000, Lý Tống lại cướp một chiếc máy bay nhỏ tại Thái Lan bay sang Sài Gòn, thả hơn 50.000 tờ truyền đơn. Lúc trở về Thái Lan, ông bị bắt giữ và bị tòa án Thái Lan kết án 7 năm tù. Tòa án Thái Lan từ chối dẫn độ Lý Tống về Việt Nam với lý do ông không gây hại cho an ninh Thái Lan.

Giam giữ

  • Lý Tống là phạm nhân nhiều năm từ năm 1992 đến 1998 tại Trại giam Nam Hà, V26 Bộ Công an (Trại Ba Sao).
  • Tháng 3 năm 2006, Lý Tống bắt đầu tuyệt thực tại nhà tù ở Rayong.
  • Ngày 4 tháng 9 năm 2006, tòa án Thái Lan quyết định dẫn độ Lý Tống về Việt Nam. Quyết định này vấp phải sự phản đối của cộng đồng người Việt chống cộng tại Hoa Kỳ và Canada.
  • Ngày 26 tháng 9 năm 2006, tòa án Thái Lan chấp thuận kháng án từ Lý Tống. Quyết định cuối cùng sẽ được tòa án tối cao Thái Lan quyết định trong vòng 3 tháng.

Ra tù

Sau 7 năm ngồi tù ở Thái Lan, Lý Tống được ra tù. Tòa phúc thẩm tại Bangkok sáng ngày 3 tháng 4 năm 2007 đã tuyên bố hành động của Lý Tống mang tính chất chính trị chứ không phải là đe dọa an ninh, và dựa trên một điều luật của Thái Lan không cho dẫn độ những người đối diện cáo buộc chính trị, tòa phúc thẩm từ chối yêu cầu dẫn độ về Việt Nam của tòa sơ thẩm hồi tháng 9 năm 2006.

Chánh án Wisarut Sirisingh, người xét xử Lý Tống, đã viết trong phán quyết:

“Những gì ông Tống làm không gây ảnh hưởng về an ninh lãnh thổ Việt Nam. Thái Lan không dẫn độ những người đối diện các cáo buộc về chính trị.

Phần tiểu sử của Lý Tống còn nhiều tôi chỉ tóm lược một ít ở phần đầu bạn có muốn coi rõ hơn cứ vào bộ Bách Khoa Toàn Thư mở sẽ rõ. Việc làm đầu tiên của Lý Tống năm 1992 gây tiếng vang trên khắp mọi nơi trên thế giới đặc biệt ở các nơi có cộng đồng người Việt có mặt.

Theo thiển ý của tôi Lý Tống hành động có điểm tương đồng như Kinh Kha thuở xưa, có phần còn trội hơn một bậc. Kinh Kha sang Tần với sứ mạng hành thích Tần bạo chúa, việc làm quả là đội đá vá trời vì các quy luật nghiêm nhặt nơi cung điện vua Tần không dễ mà có thể đến gần Tần Thuỷ Hoàng với vũ khi trong tay để mong được chạm đến chéo áo nói chi đến việc mưu sát. Thứ nhì có phải là tay dũng sĩ biết trước việc nếu không thành mà phải táng mạng cũng không sờn chí lớn phải có gan mưu lược hơn người.

Tuy nhiên biết người biết ta, Kha tráng sĩ biết nếu đơn thân độc mã qua Tần làm việc lớn chắc chắn sẽ không đạt kết quả như mong muốn nên có đưa lời yêu cầu với Thái Tử Đan của nước Yên muốn sang Tần với một trang kiếm khách đồng chí hướng như Kinh Kha, đó là Cáp Nhiếp.

Thế nhưng muốn gặp Cáp Nhiếp phải đợi 10 ngày nửa mà với Thái tử Đan đó là khoản thời gian không cho phép nên thay vào Cáp Nhiếp là tay giang hồ Tần Vũ Dương làm sao bì cho được Cáp Nhiếp liệu có đủ bản lĩnh và thần khí khi đứng trước Tần bạo chúa hay không?

  • Mọi chuyện như định mệnh đã an bài và sắp xếp các trình tự nơi câu chuyện xưa: đãi ngộ Kinh Kha trước khi lên đường Thái Tử Đan bày yến tiệc cho vời các cung nữ vào ca múa, có một ca nhi đẹp tuyệt và điệu múa tuyệt vời làm mê mẫn Kha tráng sĩ, để phải thốt lên một câu khen cho đôi bàn tay ngà đẹp mê hồn trong buổi múa hát cho Kinh Kha thưởng lãm. Chỉ nghe qua câu nói đó mà Thái tử Đan đã cho thủ hạ cắt phăng đôi bàn tay của Ngọc Tỷ bỏ vào hộp mà dâng cho Kinh Kha, để nàng phải thác oan uổng.

“Yên thái tử

Trọng đãi ta vào bậc ân nhân

Biết làm sao gở nỗi việc sang Tần!

Ca vũ đê mê linh đình yến ẩm

Suốt ngày đêm nay còn trao tặng phẩm

Giúp cho mình tửu hứng được cao bay..

Nào thử xem tặng phẩm gì đây

(mở nắp hộp) Trời hỡi, đôi cánh tay nào đó,

Mà băng tuyết ngọc ngà hoen máu đỏ?

Thôi rồi ta đã giết nàng đây;

Một ca nhi vô tội, não nùng thay!

…Yên Thái tữ đãi mình tri kỷ thực.

Muốn vật chi củng lập tức dâng ngay!

Yêu đôi tay thì chặt hẳn đôi tay…

(Tâm sự kẻ sang Tần-Vũ Hoàng Chương)

  • Lão tướng Điền Quang của nước Yên cảm khái vì chuyện lên đường sang Tần của Kinh Kha mà tự kết liễu đời mình để mong hồn thác sẽ theo Kinh Kha sang Tần làm chuyện lớn.

“Thanh gươm cùn, tay yếu hỏi dùng chi?

Âu là dưới gót kẻ ra đi

Lão đem chút hơi tàn trao gởi..

Tần bạo chúa lòng tham như hổ đói

Cậy hùng binh toan nuốt sống Yên bang

May được tướng quân động chí ngang tang

Một mũi kiếm trỏ Hàm Dương hỏi tội

Hào khí ấy cùng trăng sao chói lọi

Bước bước đi sông tiễn, núi nghiêng đầu

Lão phu đây kỳ vọng bấy nhiêu lâu,

Nguyền một thác đưa chân người kiếm khách

Hồn thiêng sẽ theo người qua bến Dịch

Bên tai người, nhắc nhỡ chí nam nhi

Với đất trời kia phải có danh gì!..”

(Tâm sự kẻ sang Tần-Vũ Hoàng Chương)

  • Phàn Ô Kỳ là tướng của Tần Thuỷ Hoàng đã bỏ về với Thái Tử Đan của nước Yên, việc này đã làm Tần Thuỷ Hoàng vô cùng tức giận, hãy nghe lời tự thuật của tướng quân họ Phàn với Kinh Kha

“… Tần bạo chúa

Cơn sấm sét vẫn không nguôi thịnh nộ

Kể từ khi mạt tướng bỏ Hàm Dương

Huống nghe tin mạt tướng đã quy hàng

Yên Thái tử. Lòng y như lửa cháy

Lại quạt thêm và tưới dầu thêm vậy!

Nên chuyến này y tận khởi hùng binh

Để chiếm đất đai việc ấy đã đành

Nhưng củng để nổi căm hờn được thoả

Phạt Yên sau, bắt Ô Kỳ trước đã!”

Hỡi kẻ sắp sang Tần!

Phải hiểu rõ lòng ta cho xứng đáng

Chiều nay đây ta dâng ngươi tính mạng

Có phải đâu là ta đã vì ngươi

Vì Kinh Kha lưu tiếng tốt muôn đời

Củng chẳng phải ta căm hờn bạo chúa,

Mượn tay ngươi để thù riêng được thoả

Củng chẳng vì ta muốn báo ơn sâu

Của Yên triều Thái tử bấy nhiêu lâu

Đã biệt đãi một hàng thần phiêu đãng

Không, không phải! ta dâng ngươi tính mạng

Không vì ngươi mà củng chẳng vì mình,

Củng chẳng vì Yên quốc! Ta hy sinh

Chiều nay đây chỉ vì thiên hạ đó

Vì thiên hạ, đầu này ta cắt bỏ.

(Tâm sự kẻ sang Tần-Vũ Hoàng Chương)

Qua các đoạn thơ trên bạn đã thấy Kinh Kha sang tần có rất nhiều lợi điểm:

_Bản đồ của nước Yên có dấu con dao chuỷ thủ trong đó

_Hộp gỗ đựng đầu của Phàn Ô Kỳ

_Cái chết của lão tướng Điền Quang và đôi tay ngà của ca nhi Ngọc Tỷ chỉ là một trong các yếu tố thúc đẩy việc Kinh Kha sang Tần ở thế không thể quay lui, cho dù không có một kiếm thủ song hành là Cáp Nhiếp (thay vào đó là gã giang hồ Tần Vũ Dương không đáng nói tới)

* Với Lý Tống bạn thấy gì, không có tất cả các thứ trên, không có đầu của Phàn Ô Kỳ, không bản đồ nước Yên, không dao chuỷ thủ, không Cáp Nhiếp, không Tần Vũ Dương, việc làm đầu tiên năm 1992 khi anh về VN trên chuyến bay thương mại anh chỉ có một tấm lòng, đúng vậy anh chỉ có một tấm lòng, anh có thể sống sót trong chuyện uy hiếp phi hành đoàn buộc họ phải mở cửa để anh rãi truyền đơn trên bầu trời thành phố Sài Gòn. Nhưng chưa chắc anh có thể sống còn khi tung người qua cửa máy bay để nhảy dù xuống đất.

_Các năm sau đó nào là việc xâm nhập không phận Cuba để rãi truyền đơn. Tháng 11 năm 2000 cướp chiếc máy bay nhỏ của Thái Lan bay sang Việt Nam để thả 50,000 tờ truyền đơn, trả giá cho việc làm đó là 7 năm tù trên đất Thái… và vân vân. Đó là các quốc gia của Cộng Sản hung bạo như đất Tần, Lý Tống đã bao lần qua sông Dịch vào Tần để diệt Tần bạo chúa?

Các việc của anh làm được kẻ khen người chê quả là không ít, nhưng riêng tôi vô cùng đồng ý với nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã viết

“Một nét dao bay ngàn thuở đẹp

Dù sai hay trúng củng là dư”

Những ai đã từng phê bình Lý Tống cho rằng những việc anh làm vì danh lợi hay không tưởng…. xin thưa rằng có mấy ai đã từng làm được như anh hãy xét đoán và phê bình vì rằng cái dũng khí Kinh Kha không có mà bàn luận chi hỡi bạn ta?!

Nay nghe tin anh hấp hối trên giường bịnh, bên bờ tử sinh, tôi chỉ biết mượn những câu cuối trong bài thơ Tâm sự kẻ sang Tần của Vũ Hoàng Chương để gởi cho anh:

“Ngày xưa khói sóng hận chơi vơi

Những kẻ thi gan với chữ Thời

Ngàn sau khói lửa tơi bời

Sông nào Dịch Thuỷ, ai người Kinh Kha.”

Để kết thúc cho bài viết này cá nhân tôi xin chúc cho anh được qua cơn nguy kịch trên giường bịnh dần lấy lại được sức khoẻ hầu làm được nhiều việc sau này cho thoả chí lớn trong công cuộc xoá bỏ chế độ CS theo ý nguyện chung của mọi người Việt trong và ngoài nước

Viết bởi Sơn râu 2019

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 11 Apr 2025

Chương 8.

NHỮNG CON CÀ CUỐNG TỪ NHỮNG CÁNH đồng bên cạnh phi trường tới tấp bay về căn cứ sau những trận mưa đêm, chúng lượn vòng vòng dưới ánh đèn dẫn vào căn cứ, cho đến khi say ánh sáng lao xuống đường, bọn lính tráng và con nít cư ngụ trong căn cứ nhảy ra vồ, bỏ vào thùng. Đám người bắt cà cuống đem bán mỗi ngày một đông, mới đầu không có ai nghĩ đến mối lợi đó, người miền Nam ít người nghĩ đến con cà cuống, chỉ có mấy người lính Bắc, đêm đêm chịu khó ra đường bắt cà cuống mà thôi, sáng sớm họ mang từng thùng sắt tây ra Lăng Cha Cả bán cho mấy bà người Bắc, để làm mật cay, để hòa chất mật với nước mà người Bắc thường dùng để làm đồ gia vị.

Những người mua cà cuống ra giá, một con cà cuống một đồng bạc, có người trong một đêm bắt được tới hai ba trăm con, dần dần mối lợi đó nhiều người biết, số người bắt cà cuống mỗi ngày một đông, họ thức suốt đêm để bắt, cho nên một số lính trong căn cứ ban ngày đi làm mắc tật ngủ gật. Bộ Tư Lệnh tìm ra nguyên do, bèn làm một sự vụ văn thư, cấm lính không được bắt cà cuống, bây giờ những kẻ bắt cà cuống hầu hết là đàn bà trẻ con và những người thuộc gia đình quân nhân cư ngụ trong căn cứ.

Trong mấy ngày đầu mùa mưa Minh cũng bắt cà cuống đem bán kiếm tiền tiêu thêm, món nợ xanh xít đít đui của Minh trả hoài không hết, tới tháng lãnh lương Minh lại buồn, hắn không thiết gì đến lãnh lương vì hắn biết rằng mình không cầm được một món tiền nguyên vẹn trong tay lâu, Minh nghĩ bụng mình có mòn đời đi lính cũng trả không hết nợ. Tâm hồn Minh bây giờ mù mịt, hắn không còn vẻ tinh anh như ngày xưa, những hy vọng mỗi ngày thêm cùn cụt. Minh buồn bã, vậy là mình đã ở quân ngũ được ba năm trời, hình như tất cả mọi người trong Phi đoàn quên mất sự có mặt của Minh, suốt ngày hắn ở ngoài kho nhiên liệu, Đại úy chỉ huy Trưởng Phi đoàn đã đổi đi, bây giờ một vị Đại úy khác về thay ông ta, ông ta quên có Minh ngoài kho nhiên liệu, Minh có cảm tưởng mình bị bỏ quên, mỗi ngày Minh chỉ ngần ấy việc: phát xăng nhớt, nằm chán trong kho nhiên liệu lại ra bồn nước ngâm cho đỡ nóng nực. Minh ở hoài trong kho nhiên liệu đến nỗi người hắn xanh lét đi như tàu lá, một người bạn thương hại nói với Minh:

– Mày ở hoài trong này, bịnh chết, chịu khó ra ngoài trời…

Minh chỉ cái bồn nước:

– Chỉ có một cái bồn nước này, không có chỗ nào khác, mày thấy chứ? Không lẽ suốt ngày tao nằm ngâm nước.

Minh đã nhiều lần làm đơn xin đi học khóa chuyên môn nhưng những đơn của Minh đều không được chấp nhận vì lý do cần công vụ. Minh sống hoàn toàn trong tâm trạng một kẻ tuyệt vọng. Minh làm đơn xin giải ngũ, vì hắn đã ở hết thời gian khế ước, đơn cũng không được chấp thuận, với lý do lưu ngũ vì công vụ. Tất cả sự hăng hái, lòng nồng nhiệt khi mới nhập ngũ bây giờ tiêu tan như mây khói. Minh khô- ng còn một lối thoát nào. Đó là những ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh do Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam phát động, những trận đánh nhau dưới đồng quê. Phi đoàn trực thăng bắt đầu hoạt động, không ngày nào không có những chuyến bay tải thương. Chế độ Ngô đình Diệm càng ngày càng tỏ ra độc tài, thuở mà mỗi lần người ta đi coi hát đều phải chào cờ, và suy tôn Ngô tổng thống, không phải riêng Minh, mà nhiều người khác chán nản chế độ đến cùng cực.

Buổi chiều hôm nay, sau giờ làm việc, Minh đi bộ ra ngoài cổng trại, hắn xuống Phú Nhuận đón Ngọc. Ngọc làm việc tại một tiệm uốn tóc, nàng dễ thương tuy không đẹp lắm, nhưng coi được, Ngọc hiền hậu, tính nết đơn sơ, sau bao nhiêu ngày Minh săn đón, hắn mới được Ngọc để ý đến, nàng ở có một mình trên một căn gác nhỏ ở trong hẻm Phú Nhuận. Minh thường đến chơi với nàng, và có lần hắn đã ngủ lại đêm với nàng, Minh thấy mình có bổn phận có trách nhiệm với nàng.

Minh ngồi chờ Ngọc cả tiếng đồng hồ ở tiệm cà phê, trước cửa tiệm uốn tóc. Nàng ra khỏi cửa, sang thẳng quán cà phê, nàng hồn nhiên kéo ghế ngồi xuống trước mặt Minh:

– Anh chờ em có lâu không?

– Chừng một tiếng đồng hồ. Nàng đưa tay nắm lấy tay Minh:

– Xin lỗi, em hơi bận, hôm nay khách nhiều quá.

– Tiệm em làm có vẻ đắt hàng lắm nhỉ?

– Còn tùy vì những ngày này sắp tới Noël nên người ta đi làm đầu dần.

– Còn hơn một tháng nữa mới tới Noël kia mà.

– Dạ, nhưng người ta lo dần là vừa, cận ngày càng đông khách.

Ngọc thành thật hỏi:

– Anh có tiền trả tiền nước chưa?

– Có chút ít.

– Hôm nay để em trả, em được buộc-boa nhiều mà.

Minh quen thuộc với tính nết nàng, rất thành thật, Minh không hề mặc cảm trước thái độ của nàng.

– Tốt, ngày mai anh đi Mỹ… Tho.

– Anh cần thêm tiền không?

– Chắc không cần lắm.

– Em còn tiền nhiều, cần cứ lấy à, nhưng anh đi Mỹ Tho có việc gì?

– Cũng chẳng có việc gì, ngày mai có chuyến máy bay đi Mỹ Tho nên anh đi chơi vậy thôi, sáng đi chiều về mà.

Ngọc lơ đãng nhìn ra ngoài đường: – Tối nay ngủ nhà em nhé, sáng mai em đánh thức anh dậy sớm.

– Tối nay, không được, anh định ra nói với em đó, đêm nay anh về trại, sáu giờ sáng mai máy bay cất cánh rồi, anh ngủ trong trại cho tiện.

Ngọc ngồi chống tay lên cằm:

– Sao anh, anh quyết định chưa?

– Dĩ nhiên nhưng để thư thả đã.

Minh ngần ngại, Ngọc nói với hắn về ý định từ mấy hôm nay, nàng đề nghị sống chung với Minh, nhưng Minh chưa biết quyết định làm sao, dầu muốn dầu không Minh vẫn bị mặc cảm. Hắn nghĩ lại vụ sống chung với Lan hồi nào, từ đó Minh thề rằng sẽ không sống chung với một cô gái nào nữa, nếu chưa kiếm được tiền khả dĩ kha khá.

Ngọc nắm lấy tay Minh: – Sao anh?

Minh nhìn người yêu lắc đầu.

– Có gì là khó nghĩ đâu?

– Em hiểu là anh nghèo lắm chứ?

– Em biết, nhưng anh mặc cảm với em sao? Em nghĩ là anh hiểu em, em không như những người khác, em yêu anh thương anh.

– Đó mới là điều khó nghĩ cho anh.

– Bao nhiều lần em đã nói với anh, em không còn ai thân thuộc nữa, gặp anh, anh thấy em có tiếc gì đâu.

– Cám ơn em, anh cũng rất cảm động.

– Cứ về sống với em, no đói mình có nhau mà. Anh không tin cả em nữa sao?

Minh nắm bàn tay của nàng:

– Anh tin chứ, nhưng anh biết làm sao được.

– Anh không biết làm sao, anh không quyết định được cả cuộc sống của anh nữa à.

Nàng bỗng nhìn Minh chăm chú:

– Hay là… hay là anh…

– Cái gì?

– Anh có cô nào khác rồi phải không?

– Đâu có, em chỉ nghĩ bậy.

– Thế tại sao anh cứ từ chối thiện chí của em?

Minh cúi đầu lắc nhè nhẹ:

– Có lẽ anh phải cũng nói thật với em.

– Cũng vẫn chuyện anh nghèo mà thôi.

– Em thử nghĩ coi không lẽ anh sống bám vào em. Em cũng biết là anh tương lai không sáng sủa gì mấy, nếu không nói là đen tối.

– Anh nói hoài chuyện đó.

– Bắt buộc anh phải nói, anh có tự ái, nhờ vả…

Ngọc giận dỗi:

– Vậy là anh đâu có yêu em.

– Không yêu em anh săn đón mãi làm gì?

Minh ngước lên mỉm cười:

– Anh ao ước được sống chung với em, vì nghĩ như vậy cho nên anh mới thực tế.

Ngọc vùng vằng:

– Không, em muốn anh trả lời dứt khoát, anh có bằng lòng sống chung với em không?

– Mình đi chơi rồi nói chuyện. Ngọc lắc đầu:

– Em không đi đâu hết, ngồi đây anh trả lời rồi thì đi, nếu anh thấy rằng không thể sống chung với em thì đâu đi được, anh cứ tự do đứng dậy đi, em thề rằng không làm phiền anh, anh cứ đi, để mặc em, còn bây giờ em không nói gì hơn nữa, cũng không nghe anh giải thích, em… em…

Ngọc bỗng nghẹn ngào, nàng cúi mặt xuống. Minh thật khó nghĩ, hắn không biết phải làm sao, nàng cương quyết, Minh bồi hồi về sự nghẹn ngào của nàng. Minh đưa tay nắm lấy tay nàng:

– Em…

Ngọc vùng tay:

– Kệ tui.

– Sao em kỳ cục vậy chớ?

– Anh không thương tôi nữa, thì anh đi đi, đừng đụng vào tôi

– Em thấy quán nước đông người không? Mình tới một nơi nào đó nói chuyện.

– Tôi nói không có đi đâu hết, anh không thích tôi thì anh đi đi.

Minh thở dài, nàng khó tính, Minh không biết phải giải thích chuyện này ra sao.

Minh im lặng, hắn bỗng nắm tay nàng:

– Ngẩng lên nhìn anh này.

Ngọc ngẩng lên, nước mắt doanh tròng, nàng chờ đợi, Minh mỉm cười với nàng, hắn nắm chặt bàn tay nàng hơn:

– Anh bằng lòng.

– Thật không?

Lau nước mắt đi, anh không nói dối em đâu.

Ngọc đưa chiếc khăn mùi-soa lên lau nước mắt, vẻ mặt nàng trở nên tươi tỉnh, nàng cười, hàm răng trắng bóng, Minh nói nhỏ:

– Mình đi chơi, mười hai giờ đêm nay anh về trại, chiều mai anh về, anh sẽ ra với em ngay bắt đầu từ tối mai mình sống với nhau.

– Dạ.

Ngọc đặt tiền lên bàn; nàng ngước lên nhìn Minh:

– Ngày mai em sẽ không đi làm, em nghỉ một ngày…

– Để làm gì?

– Em đi mua sắm ít đồ đạc cần thiết trang hoàng cho cái phòng của mình.

– Khoan đã, đi đâu vội. Ngọc kéo Minh đứng dậy:

– Bây giờ mình về nghe anh?

– Không đi chơi hả?

– Để tối mai đi ăn với nhau một bữa, em cũng phải kiếm mua cho anh một chiếc xe đạp, có gia đình rồi em muốn anh về nhà ăn cơm.

Minh cảm động, hắn đi cạnh người yêu, trong bao nhiêu năm buồn bã, lần đầu tiên Minh thấy lòng mình ấm lại, lần đầu tiên hắn nghĩ tới một hạnh phúc đơn sơ, nghèo nàn nhưng thắm thiết. Trong thời gian sống tuyệt vọng Minh thấy mình là một người xấu số, hoàn toàn chàng không còn hy vọng gì. Minh nghĩ đến kho nhiên liệu, hắn thấy rùng mình, mình sẽ chôn đời ở đó, nơi đó là một nơi đày ải.

Minh nắm nhẹ tay người yêu, nhìn sang nàng:

– Thú thật với em, cách đây năm phút anh còn ngần ngại, nhưng bây giờ thì anh hết rồi, anh hoàn toàn tin tưởng ở em.

Giọng Ngọc ngậm ngùi:

– Như em đã nói với anh, em không còn ai là thân thiết, trong bao nhiêu năm nay, em nghĩ đến một gia đình do em tao ra, em muốn có một người yêu rồi người đó sẽ là người chồng của em, em sẽ hết lòng thương yêu người đó.

Hai người đi vào trong con hẻm nhỏ, căn lầu Ngọc thuê nằm ở cuối xóm, nhìn ra bờ sông gió mát lộng lộng, căn lầu nhỏ có cái cầu thang riêng, một cái bao lơn nhỏ đúc xi măng chắc chắn, đủ kê một chiếc ghế xích đu.

Ngọc vào nhà, nàng bật ngọn điện, ánh sáng chan hòa căn phòng nhỏ, nàng ngắm căn phòng kê chiếc giường niệm, một cái tủ áo, một cái bàn và hai cái ghế, ở góc nhà có một cái bếp nấu dầu hôi, ấm đun nước và vài thứ đồ lặt vặt. Ngọc đứng tựa vào vai Minh:

– Anh thấy không, mình còn thiếu thật nhiều thứ để tao thành một gia đình có hai vợ chồng, khi đã sống với anh rồi, bắt buộc chúng ta không thề sống đời cơm hàng cháo chợ, ngày mai em nghỉ ở nhà, em đi sắm một ít đồ đạc cần thiết, điều bắt buộc phải lo là sao anh có một chiếc xe đạp để đi làm.

Minh cảm động, gục đầu vào vai người yêu:

– Anh không biết nói gì hơn là cám ơn em.

Minh nghe hơi thở của người yêu, ngửi thấy mùi nước hoa thoang thoảng từ người nàng toát ra. giọng Ngọc ấm áp trầm trầm:

– Chiều mai anh có thể về nhà ăn cơm được rồi đó.

– Sao hồi nãy em nói mình đi tiệm.

– Nhưng bây giờ em đồi ý kiến, em muốn tự em nấu một bữa cơm cho anh ăn.

Minh không nghĩ thứ hạnh phúc này sẽ kéo dài được bao lâu, nhưng hắn cũng đã thấy rằng mình hạnh phúc lắm rồi. Minh chưa bao giờ được hưởng.

Bàn tay mềm mại của Ngọc vuốt nhẹ lên má Minh:

– Anh nghĩ gì đó?

– Anh đang nghĩ đến hạnh phúc của chúng mình.

– Anh nghĩ sao?

– Không biết những giờ phút này mình sẽ kéo dài được bao lâu?

– Anh bi quan?

– Không, thực tế thì đúng hơn.

Ngọc kéo Minh ngồi xuống giường:

– Em thì không nghĩ gì cả, ngoài những giây phút mình đang hưởng, em không lãng mạn.

Minh nói nhỏ bên tai nàng:

– Anh biết… anh biết…

Ngọc gỡ tay người yêu, nàng đứng dậy:

– Ngọn đèn này sáng quá phải không anh, em tắt đi, bật ngọn đèn khác mờ mờ nhé?

Ánh đèn mờ bật lên, căn phòng trở nên ấm cúng hơn. Minh thấy người yêu mình đẹp hơn dưới ánh đèn mờ ảo này, đôi mắt nàng long lanh, kẻ một vệt chì mỏng ở rèm mi, khuôn mặt nàng hiền hậu, đôi mắt thật bao dung, tia nhìn như bao kín tâm hồn Minh, lần đầu tiên Minh bắt gặp một tia nhìn như thế.

Nàng tiến đến gần Minh hơn, nàng ngã vào vòng tay chàng. Giường nệm êm ái, Minh nghe gió thời qua cửa sổ, tiếng đồng hồ tích tắc trên chiếc bàn nhỏ kê ở đầu giường, Minh cúi vén mái tóc xõa trên trán nàng, Minh lại nhìn thấy đôi mắt nàng, đôi mắt khẽ chớp. Vòng tay của nàng siết chặt hơn trên lưng Minh…

Ngọc mở bừng mắt, nàng nhìn Minh thắm thiết:

– Anh ở lại với em đêm nay nhé? Minh lắc đầu:

– Không, anh phải về.

– Ở lại không được sao? Sáng mai em đánh thức anh dậy sớm mà.

Minh hôn khẽ lên môi Ngọc:

– Mình còn cả tối mai, những ngày kế tiếp mà lo gì.

Ngọc thở dài:

– Em không biết em nghĩ gì nữa, nhưng em thấy mình làm sao ấy.

– Làm sao?

– Em thấy mình lo nghĩ thật là vần vơ, không hiểu tại sao, em chợt nghĩ rằng hạnh phúc của mình thật là mỏng manh.

– Chỉ nói bậy.

– Em mong rằng đang nói bậy, đang nghĩ bậy. thế.

– Anh không muốn em nghĩ như

– Anh yêu em thật chứ?

– Em nghĩ là anh nói đùa?

– Em không muốn nghĩ thế, nhưng em muốn tự miệng anh nói ra, vì từ khi mình biết nhau, có cả chuyện ăn nằm với nhau, nhưng chưa bao giờ em thấy anh nói câu đó, anh có cái vẻ gì lừng khừng.

Minh cười:

– Anh xin lỗi, anh không tể nhị chút nào hết.

Minh nhìn thẳng vào mặt nàng:

– Anh yêu em đó, chính miệng anh đã nói ra câu đó, em bằng lòng chưa?

Ngọc ôm ghì lấy cổ Minh, tiếng nói của nàng lúc này như những lời thầm thì:

– Mình sẽ sống với nhau suốt đời anh nhỉ, mình yêu nhau rồi, sau này thương yêu con cái.

Minh chợt thấy buồn buồn về đời sống quân ngũ của mình:

– Khi gần em thì anh thấy vui, nhưng cứ khi nào nghĩ đến đời sống quân ngũ của anh, anh lại buồn, anh thấy mình chẳng có chút ít tương lai nào hết, không lẽ anh cứ bám lấy em để sống sao?

– Anh có cái tự ái của anh, tự ái của một thằng con trai.

– Tình trạng hiện tại của anh thế nào?

– Không có một chút nào tương lai, anh là một người lính kém may mắn, anh đã hy vọng ba bốn năm trời rồi, bây giờ thì anh thấy cái hy vọng ấy càng xa vời.

Minh thở dài, tiếp:

– Anh không biết mình sẽ ra sao nữa, anh xin giải ngũ không được, anh chỉ mong được giải ngũ ra khỏi nhà binh thì chắc anh khá hơn.

Cả hai đều im lặng, gió ngoài sông thổi qua cửa sổ, làm căn phòng trở nên mát lạnh! Minh bỗng hỏi một câu bâng quơ:

– Đêm ở đây chắc có lẽ lạnh lắm em nhỉ?

– Lạnh và em còn sợ ma nữa.

– Có ma sao?

Ngọc cười khanh khách:

– Ma thì không có nhưng em sợ nhất là ma mãnh, em có một mình mọi khi cứ về đến nhà là em đóng kín cửa, ở dưới hẻm này có mấy thằng cứ thấy em về là chúng chọc.

– Sao anh về đây bao nhiêu lần mà không gặp?

Ngọc dí tay vào mũi Minh:

– Chúng ngán anh.

– Ngán anh, anh có làm gì đâu để chúng ngán.

– Cái mặt lầm lỳ coi khó thương.

– Vậy mà có người thương đấy, không thương mà khóc đứng khóc ngồi.

Ngọc nhéo Minh một cái đau điếng: – Nói xấu người ta nhé.

Minh nằm im lặng một hồi lâu, hắn ngửa mặt nhìn lên trần nhà, ở trên đó có hai con thạch sùng đang đuổi nhau, một lát sau Minh hỏi:

– Anh hơi lạ một điều, tại sao em lại yêu anh, sống với anh.

– Vậy mà cũng lạ!

– Lạ lắm chứ, với nhan sắc như em, với cuộc sống hiện tại, em có thề làm vợ một người bảnh hơn anh nhiều, vậy tại sao em lại bằng lòng yêu anh?

Ngọc mỉm cười, nàng nép đầu vào vai Minh:

– Vậy mới kỳ cục, mà cũng tại anh nữa.

– Tại anh?

– Chớ sao, nếu anh không chịu theo tán tỉnh người ta hoài, thì em biết anh là ai, em là người ưa cảm động.

Minh cười, chàng nhìn vào mặt nàng:

– Anh đâu biết em có tính cảm động như vậy, vậy mà hôm đầu tiên mắng người ta mất mặt mặt mũi.

– Anh còn nhớ anh nói những gì không?

Minh lắc đầu:

– Thú thật anh không nhớ mình nói những gì.

– Anh nói nham nhở, em không biết anh học cái trò tán gái đó ở đâu, chán anh ghê vậy đó, em sỉ vả anh như vậy vẫn còn nhẹ.

– Anh biết lắm chớ, bởi vậy ngày hôm sau anh phải tán gái kiểu khác.

Hai bàn tay Ngọc nắm lấy nhau, nàng bẻ cho kêu cụp cụp:

– Thôi mình bỏ chuyện đó đi, mình nói chuyện khác.

– Chuyện gì?

– Chuyện tương lai của chúng mình.

Minh thú thật:

– Anh chẳng biết chuyện gì mà nói hết. Ngọc nhổm lên, nhìn vào mặt chàng:

– Anh không biết chuyện gì nói sao?

– Thật vậy, chuyện này đến với anh bất ngờ quá, phải thú thật với em rằng anh hơi bàng hoàng, anh không hề nghĩ đến, hơn nữa, anh không đủ điều kiện nghĩ đến.

Đôi mắt mắt Ngọc tha thiết:

– Em hiểu, em hiểu anh, anh thành thật lắm, em thích có một người chồng thành thật, từ khi mến anh, kế rồi đến yêu anh, em càng yêu anh hơn vì đức tính thành thật của anh…

– Em có nghĩ rằng người chồng em có đức tính thành thật như vậy khi ra đời, sống với đời chỉ nhận được những thiệt thòi không?

– Có, em có nghĩ đến điều đó, nhưng điều đó đối với em không quan trọng, em biết chắc chắn rằng, người chồng ấy càng yêu mến em nhiều hơn, suốt đời em chỉ mong được có một người chồng thành thật. Em nói để anh hiểu rằng đời em cũng đã nhận nhiều thiệt thòi rồi, em sợ điều gì trắc trở, nhất là hạnh phúc của đời em, điều đó quan trọng nhất, thà rằng yêu và lấy một người lính như anh em yên trí hơn, em khôn chớ em không nông nổi đâu, em phải đi kiếm cơm từ hồi mười ba tuổi em tủi nhục nhiều.

Minh ôm lấy người yêu, chàng vuốt ve trên lưng nàng, chàng cảm động, chưa bao giờ Minh cảm động như vậy. Minh muốn khóc vùi trong mái tóc thơm ngát của nàng. Thế là từ nay trở đi chàng đã có một tình yêu, có một người để nghĩ đến tất cả nhọc nhằn, tất cả nỗi tủi nhục bất mãn, có thể nói với nàng.

Minh khẽ nói bên tai nàng: – Em thật tuyệt diệu.

Minh ôm chặt lấy nàng:

– Anh không ngờ đời mình có giây phút tuyệt diệu này.

Khuôn mặt nàng ngửa lên, Minh nhìn thấy nụ cười dễ thương của nàng, Minh cúi xuống, Minh bạo dạn hơn sau nụ hôn. Minh thì thầm trên môi của nàng:

– Anh cám ơn em, cám ơn em thật nhiều.

Đôi mắt của Ngọc từ từ khép lại, đôi mắt có hàng mi cong vút, vòng tay nàng siết chặt lấy vai Minh, nàng thì thầm:

– Ở lại với em nghe anh.

Minh im lặng, gió mát lồng lộng, Minh ngồi dậy, hắn hôn lên khuôn ngực đầy đặn của Ngọc. Ngọc xoay người lại, nàng ôm chiếc gối vào lòng, đôi chân dài thuôn trắng mịn, hờ hững bỏ thõng xuống giường. Minh cúi xuống nhấc chân nàng đặt lại trên giường:

– Anh phải về trại, chiều mai anh ra, chúng mình sống luôn với nhau cho đến trọn đời.

Nụ cười của Ngọc mệt mỏi:

– Muộn rồi đó, nếu anh phải về thì về đi, ngủ sớm rồi mai đi cho kịp, ừ mà tối nay anh ở đây sáng mai dậy không được đâu?

Minh cười:

– Tại sao vậy?

– Anh tham lam lắm anh không biết sao?

– Xin nhận lỗi.

Minh đã sửa soạn xong. Ngọc khoác lên người chiếc áo ngủ, nàng ngồi soi gương sửa lại mái tóc lòa xòa, nàng ra mở cửa. Minh nhìn thấy bầu trời ngoài kia lấp lánh sao đêm, dòng sông uốn khúc, trắng bạc trong đêm, tiếng chiếc ca nô nào đó tuần tiểu chạy trên sông. Minh ra đứng ngoài bao lớn nhìn xuống con hẻm nhỏ những mái nhà thấp ở bên dưới, đêm thật tuyệt diệu. Minh lưu luyến không muốn ra về, chàng đứng tựa tay trên lan can, chàng cảm thấy thèm hơi thuốc lá thơm, chàng móc túi tìm bao thuốc, bao thuốc hết, chàng vo viên bao thuốc không liệng xuống hẻm, chàng nghe tiếng bao thuốc chạm trên mặt hẻm. Đêm yên lặng. Ngọc đã đứng bên cạnh Minh, nàng nép đầu vào vai người tình, nàng hỏi bâng quơ:

– Rồi sẽ ra sao hả anh?

Minh hôn trên mái tóc nàng:

– Bây giờ anh chỉ thấy sung sướng, anh không biết rồi sẽ ra sao nữa.

Ngọc cười nhẹ, tiếng cười của nàng hồn nhiên:

– Em mong ước thật nhiều đó anh, nhưng bây giờ em không nói được gì, em cũng cảm thấy sung sướng, có lẽ như anh vậy.

Minh siết chặt lấy vai nàng, hôn trán nàng:

– Anh về, chiều mai anh cứ về thẳng nhà phải không?

– Dạ.

– Kìa, em nhét cái gì vào trong túi anh thế?

Ngọc cười:

– Tiền đó anh.

– Làm gì kỳ vậy?

– Ngày mai anh đi Mỹ Tho, nếu thấy cái gì lạ thì mua về.

– Cái gì?

– Ai biết được, à hay anh mua một ký sầu riêng, em thích sầu riêng.

– Nếu không có sầu riêng thì anh mua cái gì cũng được nhé.

– Dạ.

– Mai, em cho anh ăn món gì?

– Canh chua đầu cá lóc chịu không?

– Chắc phải ngon tuyệt.

– Ăn với bún.

– Anh đói lâu rồi, chắc phải ăn khỏe lắm.

– Còn nhiều món khác nữa.

– À, em có mời ai không?

Ngọc lắc đầu:

– Không mời ai hết trơn, vả lại em ít bạn lắm, anh có mời ai không?

Minh lắc đầu:

– Mời ai, anh không thích chơi với ai hết.

– Hai đứa mình ích kỷ dữ! Ngọc tiếp:

– Sau đó hai đứa mình đi coi hát bóng, lâu lắm em không đi coi.

Minh chợt ước:

– Nói ví thử hai đứa mình được nghỉ ít ngày đi chơi thích nhỉ, nếu anh biết trước anh sẽ xin nghỉ phép lấy vợ.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 11 Apr 2025

Chương 7.

MINH NGỒI TỰA ĐẦU VÀO TƯỜNG KHO nhiên liệu, ngửa mặt nhìn lên bầu trời xanh chói nắng, hắn nghĩ đến những lời nói của trung sĩ Hà chiều hôm qua, ông ta đã chỉ vẽ cho Minh những mánh khóe ăn cắp, những mánh khóe giản dị dễ dàng.

“Nếu mày nghe lời tao mày sẽ khá, tội quái gì, tao hỏi có ai thương mày không, mày đã thấy đó, chúng nó tìm cách hành hạ mày. Mẹ, đừng có quân tử Tàu mà thiệt vào thân.”

Minh mở cửa vào kho, hắn đi quanh kho, nhìn những thùng sơn, những thùng nhiên liệu xếp hàng ngay ngắn trên kệ. Bỗng nhiên Minh nghĩ đến vị Đại úy chỉ huy trưởng của mình, nghĩ đến đôi mắt của ông. Minh và ông thật là xa vời với nhau, nhưng Minh thấy mến ông, kính nể ông, với một người như thể Minh không thể làm việc bằng một lương tâm hèn mọn. Minh khô- ng bao giờ muốn ông nhìn Minh bằng đôi mắt khinh rẻ. Minh lan man nhớ những lời nhắn nhủ của ông với Minh, khi Minh nhận coi kho nhiên liệu, ông biết tất cả mọi sự mất mát, không, mình không thể hành động đốn mạt như vậy được, Minh thấy tâm hồn mình yên ổn hơn, hắn lấy cuốn sổ ra, kiểm soát lại mọi đồ vật còn lại trong kho.

Minh nghe tiếng bước chân người ngoài kho rồi có tiếng gõ cửa, Minh nói vọng ra:

– Cứ vào.

Cánh cửa sắt mở, trung sĩ Hà bước vào, bắt đầu ra hiệu với Minh:

– Thế nào?

Minh buông cuốn sổ xuống, nhìn thẳng vào mặt trung sĩ Hà:

– Rất tiếc tôi không làm việc đó được.

– Không nhận lời hả?

– Vâng.

Trung sĩ Hà cau mặt:

– Tại sao kỳ cục vậy chớ, mày thiệt là giết tao.

Minh nhìn lại trung sĩ Hà:

– Tại sao tôi giết trung sĩ? Tôi không nhận làm cái việc đó được.

– Tại sao hôm qua mày không trả lời tao đứt khoát.

– Trung sĩ biết rằng tối hôm qua tôi say rượu chớ? Khi tôi say tôi thường hay ẩu tả, nhưng bây giờ tôi tỉnh táo rồi, tôi không thể làm được việc đó, và không bao giờ làm hết.

Trung sĩ Hà lắc đầu:

– Mày thiệt là trẻ con, quân tử Tàu, đếch ra cái chó gì hết.

Minh lạnh lùng:

– Tôi vậy đó trung sĩ.

– Tao biểu mày không có sao hết mà, cứ nghe lời tao đi, mày đừng để tao vào thế mắc kẹt chứ.

– Tại sao lại mắc kẹt, mình không nhận lời thì thôi chứ mắc kẹt cái chó gì.

Trung sĩ Hà làm vẻ mặt khó khăn:

– Mày biểu không mắc kẹt sao, tao kẹt thấy mẹ, tao đã trót nhận lời với người ta rồi, tao hứa chiều nay mang đồ ra.

Trung sĩ Hà tấn công thêm:

– Mình không hứa thì thôi, đã hứa thì mình phải giữ lời, mình giữ uy tín, lần này còn lần khác.

Minh lắc đầu:

– Đối với tôi thì không có lần nào hết, vì tôi không buôn bán cái kiểu đó.

– Mày quên mất bữa nhậu rồi sao?

– Nhậu là nhậu, tôi không hứa hẹn gì trong bữa nhậu hết, nhưng trung sĩ đã tiếc bữa nhậu đó tôi trả lại trung sĩ, tôi mời trung sĩ lại.

– Không phải, mày đừng có nghĩ thế chứ, tao muốn nói việc mình kết nghĩa trong bữa nhậu đó.

Minh vẫn cương quyết lắc đầu:

– Rất tiếc là tôi không thể làm được.

Trung sĩ Hà lưỡng lự một lát, rồi thú nhận với Minh:

– Tao thú thật với mày điều này, sở dĩ tao năn nỉ mày vì tao kẹt quá, tao trót nhận tiền của anh Tư Vespa rồi, tao lại tiêu mất vào số đó một ít, bây giờ tao còn lại ngần này tiền, tao đưa lại hết cho mày, mày cố giúp tao để giữ uy tín với người ta.

Trung sĩ Hà móc túi lấy một nắm tiền nhét vào tay Minh. Minh giựt tay lại, nắm tiền rơi cả xuống đất, những tờ giấy một trăm nhiều gấp mấy lần tiền lương của Minh, trung sĩ Hà cúi xuống lượm lên:

– Đó, tất cả số tiền này của mày. Bây giờ tao chỉ lấy đi năm hộp sơn thôi, còn bao nhiêu mình tính lại sau.

Minh lùi lại:

– Nhưng tôi không thể làm được chuyện ấy.

– Mày có thiệt hại gì đâu, mày thấy không, tao đưa mày hết.

Minh vẫn lắc đầu:

– Xin lỗi trung sĩ, tôi rách thật đó, nhưng tôi không thể làm được.

– Trời ơi, chiều hôm qua mình nói chuyện như thế nào bây giờ mày quên hết rồi sao?

– Chiều hôm qua tôi không hề nói gì hết, cũng không hứa hẹn gì cả, tôi nhớ chắc chắn như vậy đó, trung sĩ nhận tiền của người ta thì trung sĩ lo đi, tôi thề rằng tôi không lấy ở số tiền này một cắc bạc nào hết.

Trung sĩ Hà nhăn mặt:

– Tao đã năn nỉ mày hết lời, mày không thương tao, tao nhận tiền của người ta bởi tại tao tin tưởng ở mày, nếu tao biết vậy tao nhận lời làm chi.

Minh cương quyết hơn:

– Tôi không biết chuyện đó, trung sĩ nhận của người ta, thì trung sĩ rán mà giải quyết.

Trung sĩ Hà nổi nóng:

– Mày nhất định chơi gác tao đó phải không?

– Tôi không chơi gác ai hết, nhưng tôi không thể làm cái việc ăn cắp được, nghèo thì nghèo tôi cương quyết không làm việc đó, mong trung sĩ thông cảm cho.

Trung sĩ Hà bực bội:

– Tao kęt.

Ông đi đi lại lại trong kho, cuối cùng ông đề nghị:

– Thôi, thế này vậy nghe.

– Trung sĩ cứ nói.

– Mày giúp tao một lần vậy, chỗ tiền này mày lấy hết đi, tao không lấy xu nào hết, tao chỉ muốn giữ đúng lời hứa với người ta thôi.

Minh cười lắc đầu:

– Trung sĩ hiểu lầm tôi rồi, tôi đâu có ham tiền mà bắt ép trung sĩ đâu, nhưng việc này tôi không làm được vậy thôi. Mong trung sĩ hiểu cho tôi.

Đang lúc đó bỗng có tiếng chân người đi ngoài cửa kho, Minh nói với trung sĩ Hà:

– Thôi trung sĩ mang trả lại tiền cho người ta đi, tôi không thể làm được, việc này mà người khác biết, thì phiền cho trung sĩ và từ nay tôi xin xác nhận với trung sĩ là tôi không thể làm những việc như thế được.

Tiếng đập cửa gọi Minh. Minh lên tiếng:

– Vô đi.

Hạ sĩ Thành vào trong kho, Minh hỏi:

– Có chuyện gì đó?

– Lên phòng họp, hôm nay trung tá quyền Tư Lệnh Không Quân tới nói chuyện.

– Lên ngay bây giờ hả?

– Lên ngay.

Minh cất cuốn sổ vào ngăn kéo, trung sĩ Hà bực mình chửi thề một câu rồi đi ra. Hạ sĩ Thành hỏi Minh:

– Có chuyện gì đó? Minh nói dối:

– Chẳng có gì, ông xuống đây để coi số sách chút mà.

Thành mỉm cười:

– Mày phải coi chừng thằng chả.

– Cái gì mà coi chừng?

– Tao còn lạ quái gì hắn nữa, một cây áp phe nhằng.

– Áp phe gì? Thành cười:

– Cái quái gì chả cũng áp phe được hết trơn, nhiều thứ lắm.

Hắn lại nhìn quanh kho, chỉ vào những món đồ:

– Chẳng hạn như những món đồ này không đủ cho hắn áp phe hay sao?

Minh không muốn nhắc đến những chuyện ấy nữa. Chàng hỏi bạn:

– Trung tá tới có việc gì không?

– Nghe đâu Trung tá tới để nói chuyện về việc bầu cử Tổng thống.

Minh lên trên phòng họp đúng lúc Trung tá quyền Tư Lệnh Không Quân đang nói chuyện, Trung tá đứng trên một cái bục cao, ông đang hùng hồn nói về cuộc bầu cử Tổng thống, ông ca tụng đương kim Tổng thống, ông hết lòng khen ngợi, những đức tính đáng quí của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Minh nghe một cách lơ là nhưng hắn cũng hiểu rằng Trung tá khuyên binh sĩ bỏ phiếu cho Tổng thống Ngô Đình Diệm, chỉ có Tổng thống Ngô Đình Diệm mới xứng đáng ra lãnh đạo vai trò Quốc gia. Minh chán ngắn khi nghe những lời nói đó, hắn đã từng đọc những cuốn sách của ông viết, ông là một nhà văn có chút ít tiếng tăm đương thời, tất cả những tình cảm, những kính trọng, qua những sách vở ông đã viết, trong lòng Minh bao lâu nay, qua những lời nói vừa rồi của ông, tự nhiên tiêu tan hết.

Minh hỏi một người bạn ngồi cạnh: – Mình bầu cử tự do phải không?

– Dĩ nhiên là tự do, nhưng mày nên bỏ phiếu cho ông Diệm, mày khô- ng nghe trung tá quyền Tư Lệnh nói: chỉ có ông Diệm là người xứng đáng không? Ông là người có học cao, chắc chắn những nhận định của ông không sai lầm…

Minh mỉm cười.

– Đã tự do, tao có quyền bỏ phiếu cho ứng cử viên khác chứ?

– Dĩ nhiên, nhưng tự do có giới hạn, mày phải hiểu điều đó chứ. Trung tá muốn chúng ta tự đo bỏ phiếu cho ứng cử viên Ngô Đình Diệm, vị lãnh tụ anh minh của dân tộc.

– Bỏ phiếu trong phòng kín tao muốn bỏ cho ai thì ai biết được.

Người bạn vỗ vai Minh:

– Tự do mà, nhưng bây giờ tao chưa biết cách thức ra sao, người ta sẽ chỉ bảo sau, lặng yên nghe Trung tá nói chuyện kìa, thằng này ưa thắc mắc quá.

Minh ngồi bó gối dưới sàn xi măng, hắn ngước lên nhìn vị Trung tá khả kính, ông đang hùng hồn nói chuyện, hùng hồn ca ngợi những đức tính của Ngô đình Diệm là anh minh, mồ hôi lấm tấm trên trán ông. Mình lại nghĩ đến quyển sách, những bài báo ông đã viết, ông ca tụng đời sống Không Quân, ca tụng những người phi công đi mây về gió. Khi Minh đọc những dòng chữ ấy, Minh nghĩ ông là một người có tâm hồn thật đẹp, tuyệt nhiên Minh không nghĩ ông có những giây phút này, giây phút làm cổ động viên cho Tổng thống. Bây giờ Minh thấy ông như một tên mãi võ Sơn Đông đang quảng cáo một món thuốc cao gián ở một bến xe hay một góc chợ nào đó. Cuối cùng ông thòng một câu:

– Tôi thấy đương kim Tổng Thống là một người anh minh, tôi khuyên nhủ anh em nên bỏ phiếu cho ông, nhưng đất nước chúng ta là đất nước tự do anh em có toàn quyền tự do lựa chọn vị lãnh tụ của mình.

Ông ngừng lời một lát nhìn xuống dưới đám lính nở một nụ cười, ông rút khăn ra lau mồ hôi:

– Còn hai hôm nữa anh em đi bỏ phiếu, anh em nhớ cho một điều này, ngày hôm ấy anh em phải ăn mặc cho đàng hoàng, sạch sẽ, xe của Bộ Tư Lệnh sẽ tới đón anh em tới tận nơi đầu phiếu, Bộ Tư Lệnh sẽ giúp cho anh em mọi phương tiện, kề cả phương tiện ăn uống, tôi muốn Không Quân của chúng ta sẽ được một trăm phần trăm bỏ phiếu cho đương kim Tổng Thống, anh em có dám hứa với tôi không?

Ông nhìn xuống đám đông có vài tiếng lác đác nói đồng ý. Minh không nhớ có ai thúc vào lưng mình nói:

– Nói đồng ý đi.

Trung tá quyền Tư Lệnh Không Quân cười thật tươi:

– Thôi được, cám ơn anh em. Buổi họp chấm dứt:

– Anh em nhớ tôi nói như vậy chưa, tôi nói như vậy là quá rõ ràng rồi, ai còn điều gì thắc mắc không?

Một tên lính hỏi:

– Thưa Trung tá, như vậy là không được quyền bỏ phiếu cho người khác, ngoài ứng cử viên Ngô đình Diệm?

Trung tá quay nhìn vào mặt gã lính đó, mặt ông hầm hầm:

– Anh thắc mắc?

– Dạ thưa không, tôi hỏi vậy để cho biết chắc chắn…

– Anh ngu quá, tôi nói vậy mà anh không hiểu sao?

Ông nhìn khắp mặt đám lính:

– Đây, tôi nhắc lại một lần chót nữa, các anh phải nhớ cho kỹ, sau khi nghe lại một lần này nữa không có ai được hỏi lôi thôi hiểu không? Các anh đã chia ra từng tiểu đội, tiểu đội một đi đầu, phòng phiếu trống trơn, chưa có một người nào vô bỏ phiếu hết, sau khi lãnh xong những tấm phiếu của ứng cử viên, người thứ nhất vào trong phòng kín, chọn phiếu của ứng viên Tổng thống cho vào phong bì, tất cả những phiếu còn lại cho vào sọt rát, người thứ hai vào phòng phiếu, nếu thấy phiếu của ứng cử viên Ngô đình Diệm có trong sọt rác, lập tức báo ngay với tôi, người thứ ba cũng làm như người thứ nhì, nhưng tôi tin tưởng rằng các anh là người hiểu biết, tôi nói như vậy tức khắc các anh phải hiểu, nói tóm lại, tức là người nọ kiêm soát người kia. Nếu các anh trái lời tôi, các anh đừng trách tôi nghe chưa, trước khi dứt lời, tôi cũng cần nói cho các anh rõ, Tổng Thống gởi lời cám ơn các anh trước, các anh sẽ được đền đáp xứng đáng, các anh khô- ng bị thiệt thòi đâu mà sợ. Ngay trong buổi bỏ phiếu này tiền đài thọ các anh cũng là tiền của Tổng Thống cho các anh, các anh không có quyền phụ tấm lòng tin tưởng của Tổng Thống, có hiểu không?

Một người bạn nói nhỏ vào tai Minh:

– Vậy còn quái gì là dân chủ nữa.

Minh chỉ cười nhạt, người bạn lại hỏi Minh:

– Nói ví thử có một thằng làm trái lời của ông dặn thì sao nhỉ?

– Chắc bị tù.

– Lý do gì?

– Đâu cần có lý do.

– Bộ nhất định chơi nhau đó hả?

– Hay không, tao đâu có chơi mày mà mày hỏi tao, ra hỏi ổng đó, nhưng tao nghĩ người ta đâu cần bỏ tù mày, người ta có trăm ngàn lý do để chơi mày kia mà.

– Có thể cách chức tao xuống binh ba được không?

Minh cười:

– Có lẽ còn tới binh bốn bình năm gì nữa chớ không phải binh ba đâu. Tao bây giờ là binh ba này, lính không chỉ số như tao là binh ba chớ còn gì nữa.

– Cay đắng dữ.

Gã lại thân mật vỗ vai Minh:

– Nè tao hỏi thiệt mày có làm theo lời ông nói không?

– Hỏi chi vậy, hỏi để báo cáo hả?

– Đù mẹ cái thằng đa nghi, tao đâu có khốn nạn như vậy.

– Tao đâu biết, tao đâu có hỏi mày mà mày hỏi tao?

– Hỏi chút không được sao mà làm tàng.

– Không được. Gã binh nhì tư lự:

– Nếu mày đứng sau tao, tao không bỏ phiếu cho ông Ngô đình Diệm, tao liệng phiếu ông ta vào sọt rác, mày thấy, mày có báo cáo không?

– Điều đó chưa biết, nếu tao hèn quá, tao phải giữ lấy cái mạng của tao.

Đoàn lính lên xe sắp sửa tới địa điểm bỏ phiếu, gã binh nhì vừa nói chuyện với Minh đưa tay lên:

– Tôi thắc mắc.

Trung úy Thái nhìn lại:

– Anh thắc mắc điều gì nữa? Gã binh nhì bướng bỉnh:

– Thưa trung úy, nếu tôi không làm theo đúng những lời trung úy dặn, tôi sẽ bị hình phạt gì, thưa trung úy chẳng hạn tôi không thích ứng cử viên Ngô đình Diệm làm Tổng Thống của tôi, tôi khoái một người khác trong đám ứng cử viên này, tôi có quyền bỏ phiếu cho họ không?

Mọi người nhìn gã lo lắng, thằng này uống thuốc liều rồi. Họ nhìn lại trung úy Thái, mặt ông ta trắng xanh, lúc này mét hơn, nhưng ông ta giữ ngay được bình tĩnh:

– Mình đang sống ở mảnh đất tự do mà, đó là quyền của anh, tại sao lại phạt anh, chúng tôi chỉ kêu gọi sự hiểu biết của anh, hãy chọn mặt gởi vàng.

– Thưa trung úy, vậy là không có phạt hay bỏ tù gì ráo?

Mặt trung úy Thái lúc này hầm hầm:

– Anh không phải thắc mắc nhiều vì ngay bây giờ tôi nhốt anh.

– Thưa trung úy nhốt tôi, không cho tôi làm quyền bầu cử của một công dân?

– Anh phá hoại bắt buộc tôi phải nhốt anh, anh đừng nhiều lời.

Trung úy Thái quay đi, một lát ông trở lại với hai người cảnh vệ, gã binh nhì thản nhiên:

– Chào các bạn nhé, hôm nay tôi đếch đi bỏ phiếu, nhưng như vậy càng tốt…

Trung úy Thái nhìn lại đám lính:

– Chắc không còn ai thắc mắc, thôi ta đi.

Đám lính lục đục lên ba chiếc

G.M.C xe chạy ra ngoài cổng.

Minh để ý thấy hôm nay đường sá đông hơn mọi bữa, họ tới đứng đầy ở các nơi đầu phiếu, nhiều người đã bỏ phiếu xong ra về. Trên các nẻo đường còn dán đầy những bích chương cổ động cuộc bầu cử Tổng Thống. Minh để ý thấy nhiều bích chương của ứng cử viên bị xé, không phải do sự vô tình mà hình như cố ý, Những bích chương của ứng cử viên Ngô đình Diệm còn nguyên vẹn.

Minh càng lúc càng ngán ngẩm, hắn và các bạn hắn chỉ là những viên gạch lót đường không kém. Thân phận một người lính thì ở đâu cũng vậy. Từ hôm qua lúc Trung Tá quyền Tư Lệnh Không Quân, cổ động cho ứng cử viên Ngô đình Diệm. Minh mất hết mọi sự tin tưởng vào ông. Ở xa, Minh tưởng ông là một người ghê gớm lắm, nhưng tới gần, Minh thấy ông quá sức tầm thường, ông không hơn gì Trung úy Thái, Minh nghĩ đến những cuốn sách ông đã viết, những bằng cấp ông có. Minh thấy uổng phí.

Minh nghe nhiều lời bàn tán về ông ở giới lính tráng, có người ngồi ngay câu lạc bộ nói tùm lum:

– Sau vụ này, Tông Thống Ngô Đình Diệm trúng cử, Trung tá nhà mình khá ra cho coi, nếu không lên Đại tá thì chắc chắn có tiền nhiều, nếu có phải chia chác ra thì ông cũng còn bạc triệu, nhiều thằng sẽ giàu to.

Minh thấy xót xa khi nghe những câu đó, hắn mất tất cả tin tưởng. Nếu Trung tá quyền Tư Lệnh Không Quân chỉ là một sĩ quan tầm thường khác thì Minh không thấy buồn như vậy. Mỗi thằng lính chỉ có giá trị một viên gạch lót đường cho ông ta bước lên, để tới gần danh vọng tột đỉnh hơn.

Minh không biết rằng những hành động kém văn nghệ của ông ngày kia có ai nói tới không, hay rồi chìm theo thời gian lẫn lộn với đám sâu bọ bỉ ổi và mất hút.

Minh còn được nghe có người nói là ông được Tổng Thống nhận làm con nuôi, điều đó biết có thật không, hay vì người ta ghét ông, khinh bỉ ông mà đặt điều nói xấu. Nhưng dù sao ông cũng đã mất uy tín, đã mất tất cả những niềm tin của mọi người, hành động của ông chôn vùi sự nghiệp của ông.

Xe dừng lại trước một địa điểm đầu phiếu, lính tráng ùn ùn xuống xe, trung úy Thái chạy đi chạy lại có vẻ bận rộn lắm, ông ta hò hét tới khan cả cô, lính đứng theo từng tiểu đội, trung úy Thái còn hỏi lại:

– Tôi tin rằng các anh thông minh, có gì đâu mà không nhớ phải không?

Ông điểm danh lại một lần nữa, ông lột cái mũ Kepi ra cầm trên tay:

– Các anh chắc chưa ăn sáng, có bánh mì thịt cho các anh đây, ngoan ngoãn, buổi trưa này các anh còn được ăn cơm.

Một xe chở đầy bánh mì tới, trung úy Thái lần lượt phát cho mỗi người một chiếc, mặt ông lúc này vui vẻ, lần đầu tiên Minh thấy ông không cau có. Một người bạn ngồi cạnh Minh mở miếng bánh mì ra:

– Có lẽ mình bị ăn bớt thịt?

– Tao nói mày hay, miếng bánh mì này cũng chạy theo hệ thống quân giai rồi mới đến tay mình, nhưng theo hệ thống quân giai ngược, nghĩa là từ trên xuống dưới, mới đầu Trung tá quyền Tư Lệnh Không Quân cho mỗi miếng bánh mì là mười miếng thịt, khi xuống tới tay mình chỉ còn có ba miếng thịt, đồ chua bị ăn bớt, mày cứ tin như vậy đi, mày quên rồi sao, những người anh em nhà thầu có thể làm được mọi chuyện để thủ lợi mà.

Minh cười, không ngờ thằng bạn, còn nhiều bất mãn hơn mình, tinh thần khôi hài cao, họ biết biến những bất mãn, những đau thương để cười, Minh nghĩ mình làm người không biết cười nên mới rầu rĩ suốt ngày.

Gã lính giơ mãi khúc bánh mì lên cao:

– Mày thấy hai cái bánh mì này gầy còm không? Hai cái bánh mì này vốn dĩ đẹp trai, khi nó tới tay mình nó bị hành hạ nhiều quá nên nhan sắc tàn phai như thế này.

Hắn quay sang một người bạn khác: Mày thấy hai khúc bánh mì này mang cấp bậc gì.

– Binh nhì. Gã trề môi:

– Tao e rằng cho nó mang cấp bậc binh nhì nó sẽ mắc cỡ, chỉ đáng là tân binh quân dịch thôi.

Cả mấy thằng ngồi quanh đó cười lên hô hố. Trung úy Thái đi tới:

– Các anh cười gì vậy?

– Thưa trung úy, chúng tôi đang phong chức cho mấy cái bánh mì này.

Trung úy Thái không nói gì, ông ừ ừ trong miệng rồi quay đi, bọn lính thấy thế ngồi đấu láo um sùm với nhau, Minh thấy vui vui, từng tiểu đội đang vào phòng kín bỏ phiếu, đến lượt tiểu đội của Minh, hắn đứng dậy:

– Thôi vào bỏ phiếu cho xong chúng mày, chiều hôm nay được nghỉ, tao phải ngủ một giấc cho đã,

Tới lượt Minh, hắn lãnh những phong bì và những lá phiếu có tên ứng cử viên. Minh vào phòng kín nhìn lại những lá phiếu nằm trong giỏ, quả nhiên không có một lá phiếu nào của Ngô đình Diệm. Minh nghĩ bụng: không lẽ mình lại làm như các bạn, nhưng nếu Minh liệng một lá phiếu nào có hình của Ngô đình Diệm vào sọt rác, hắn sẽ nguy ngay, người bạn đi sau chắc sẽ báo cáo. Minh suy nghĩ thật nhanh, sau khi bỏ hết những lá phiếu có hình ứng cử viên khác vào sọt rác, Minh nhét liền tấm phiếu có hình Ngô đình Diệm vào miệng nhai ngấu nghiến, nuốt chửng. Minh bình thản đi ra, tay cầm cái phong bì giơ cao rồi bỏ vào thùng phiếu.

Người bạn đứng cạnh Minh hỏi:

– Bỏ cho cụ hả?

– Dĩ nhiên cụ là một vị lãnh tụ anh minh, không bỏ cho cụ còn bỏ cho ai nữa?

Sau đợt bỏ phiếu trung úy Thái có vẻ hài lòng, ông ta đi đi lại lại, hai tay xoa vào nhau:

– Tốt lắm, các anh khá lắm, đừng có dại dột mà mang họa vào thân.

Ông quay lại mấy người lính sắp sửa lên xe hơi về trại:

– Bây giờ các anh đi ăn với tôi, chiều hôm nay chúng ta còn việc làm nữa.

– Việc gì đó trung úy?

– Chưa cần biết việc gì, nhưng như vậy là Tổng Thống hài lòng lắm rồi.

Buổi trưa hôm ấy bọn Minh được ăn uống một bữa no nê, có thằng hỏi trung úy Thái:

– Ngày mai còn đi bỏ phiếu nữa không trung úy?

Trung úy Thái ba hoa vui vẻ, ông không cau có như mọi khi:

– Thôi chớ, làm ăn như vậy là đủ quá rồi.

– Tôi mong ngày nào cũng có bỏ phiếu một lần, đất nước chúng ta có nhờ…

Trung úy Thái đỡ:

– Này, không có nói tầm bậy tầm bạ nhé, coi chừng cái miệng anh, không như thằng ban sáng thì khổ thân đó.

Trung úy Thái chạy đi đâu một lát, ông trở lại:

– Tổng thống muốn nhờ các anh một việc nữa?

– Cái chi vậy trung úy?

– Đừng có hỏi nhiều. Một thằng lính lém lĩnh:

– Thi hành trước khiếu nại sau phải không trung úy?

– Ừ, thi hành trước khiếu nại sau.

– Mình lại ăn bánh mì thịt, ăn cơm gà, uống lave nữa phải không trung úy?

– Các anh ngoan ngoãn muốn gì cũng có, trong giai đoạn này, chúng ta bắt buộc phải chọn một vị lãnh đạo của chúng ta, đừng để cộng sản lọt vào ghế Tổng Thống là chúng ta khốn khổ. Trung tá quyền Tư Lệnh Không Quân đã nói chuyện với các anh nhiều, nhưng nhân dịp này tôi cũng cần nhắc lại với các anh một lần nữa, tình thế dầu sôi lửa bỏng, chúng ta là tiền đồn chống cộng của Thế Giới tự do, vậy chúng ta bắt buộc không để đất nước này lọt vào tay cộng sản, bằng mọi cách chúng ta phải giữ gìn cho đất nước này, chúng ta phải có một vị Tổng Thống thiệt tình chống Cộng, không ai hơn đương kim Tổng Thống Ngô đình Diệm.

– Dạ đúng đó trung úy.

Trung úy Thái ngó người lính mới nói, ông tiếp tục:

– Bằng mọi cách, chúng ta phải bầu cử cho đương kim tổng thống Ngô đình Diệm, ngoài tổng thống Ngô đình Diệm ra không ai đủ tư cách chống Cộng, không một nhân vật nào cương quyết, tài ba để ngăn chận bước tiến của Cộng Sản.

Một tiếng nói nhỏ bên cạnh Minh:

– Chúng mày xê ra cho tổng thống chống Cộng, lộn xộn chúng mày chết mẹ.

Minh phì cười, trung úy Thái ngừng lời nhìn xuống:

– Thằng nào cười? Minh khẽ nói:

– Thưa tôi cười.

– Tại sao anh cười?

– Dạ thưa… thằng đứng sau tôi… Minh nghĩ thế nào mình cũng bị Trung úy Thái phạt, nhưng Trung úy Thái hôm nay dễ dãi hơn mọi khi, ông hăm:

– Nếu là hôm khác tôi nhốt anh, nhưng hôm nay tôi tha thứ cho anh.

– Dạ cám ơn Trung úy.

Trung úy Thái lại thao thao bất tuyệt nói về những đức tính của Tổng Thống Ngô đình Diệm, cuối cùng ông nói:

– Bởi vậy tôi kêu gọi anh em đi bỏ phiếu thêm một lần nữa, nếu cần chúng ta đi bỏ phiếu hai ba lần.

– Dạ thưa trung úy càng nhiều càng tốt.

– Thôi chắc cũng không cần nhiều, chỉ một lần nữa mà thôi.

– Thưa trung úy lần này bỏ tự do hay như lần trước?

– Như lần trước không có gì thay đổi hết. Dạ thưa trung úy nên dặn lại mấy người này cho kỹ, tôi thì thông hiểu rồi nhưng mấy người này tôi nghi ngờ quá, bởi vì họ không mấy thông minh, họ chỉ quen ăn chớ không có tinh thần.

Bọn lính nhao nhao:

– Ê không có nói láo nói lếu nghe mày.

– Đâu có nói láo, tao nói thiệt đấy chớ, bộ chúng mày cũng có tinh thần chống Cộng như tao sao?

– Tụi tao thừa tinh thần chống Cộng.

– Vậy thì khỏi nói nữa.

Trung úy Thái vỗ tay bộp bộp:

– Thôi đừng cãi lộn nữa, bây giờ các anh cùng đi với tôi, tôi cũng xin báo cho các anh một tin mừng, ngày mai các anh được nghỉ nửa buổi.

– Hoan hô trung úy, hoan hô Tổng Thống.

Trung úy Thái cười:

– Thôi mà, tôi xin các anh, mình đi thôi.

Bọn lính nhao nhao lên xe. Trung úy Thái không quên dặn với:

– Nè, tôi dặn các anh đừng có nói năng gì lộn xộn nghe, ai có hỏi gài, thì nói sáng nay chưa bỏ phiếu, mãi bây giờ mới đi bỏ, nói vậy nhé.

– Thưa trung úy đừng lo, nghề của tụi tui mà, một cây đánh xì bịp! Trung úy Thái làm lơ như không nghe, đoàn quân xa chở lính đi bỏ phiếu xuống tận Chợ Lớn, một thằng lính nói:

– Nếu chưa đủ phiếu cho Tổng Thống đắc cử, mình còn đi tới Cà Mau bỏ phiếu nữa không chừng.

– Dám lắm.

Trung úy Thái hò hét lính tập họp thành từng tiểu đội, bọn lính đứng lộn xộn, ông nổi cáu:

– Có xếp hàng như buổi sáng hôm nay không, tụi mày muốn phá đám hả?

Đến mười phút sau bọn lính mới xếp hàng ngay ngắn, cuộc bỏ phiếu lại diễn ra như hồi sáng, một thằng lính láu lỉnh khi đi ngang mặt Trung úy Thái nói:

– Thưa Trung úy, có được thực tập như vậy là thành rồi Trung úy.

Trung úy Thái suỵt một cái, bọn bỏ phiếu xong, đứng phất phơ ngoài phòng phiếu chơi, một thằng than:

– Mình đi bỏ phiếu chán thấy mẹ, chẳng thấy bóng người đẹp nào hết trơn.

– Sức mấy, phòng phiếu này dành riêng cho lính mà, người ta đâu có cho dân chúng bỏ. Tổng thống Ngô đình Diệm lần này sẽ trúng cử một cách vẻ vang.

– Đó là cái chắc, miễn luận bàn.

– Nghe nói sau kỳ bỏ phiếu này, mỗi một thằng lính được lên mỗi cấp.

– Cái đó còn hỏi lại, tao không dám chắc, nhưng chắc có một điều những người như Trung tá quyền Tư Lệnh Không Quân và trung úy Thái nhà mình thì tương lai thấy sáng sủa ra.

Trung úy Thái thổi còi gọi lính về, ông ta coi bộ nhọc mệt nhưng mặt mũi hân hoan, ông vui vẻ:

– Thôi cám ơn anh em chúng ta về căn cứ.

Gã lính láu lỉnh hỏi:

– Thưa trung úy, thập phần hoàn hảo?

– Cám ơn, kết quả tốt.

– Thưa trung úy, tôi nghe nói, những người trung thành với cụ Ngô sẽ được cụ Ngô tưởng thưởng xứng đáng phải không?

– Đúng.

Gã lính láu lỉnh xoa tay một cách hân hoan:

– Vậy thì tôi có mòi rồi. Thằng đứng cạnh hỏi:

– Cái gì vậy?

– Tao sẽ được tưởng thưởng một cách xứng đáng.

– Mày có công trạng gì?

– Tao bỏ phiếu cho cụ Ngô, có lòng ngưỡng mộ cụ từ lâu, vậy không phải là công trạng thì là gì?

Trung úy Thái cũng biết bọn lính đứng nói xỏ nói xiên nhưng ông ta không thể bịt mồm được bọn chúng, ông chỉ biết mình hoàn thành nhiệm vụ được tốt đẹp, làm tròn bồn phận cấp trên giao phó là ông vui rồi.

Trời đã về chiều, trung úy Thái ra hiệu cho bọn lính:

– Thôi chúng ta lên xe.

Bọn lính ào ào lên xe, chúng chọc phá con gái dưới đường, hát hỏng ầm ĩ.