vietmessenger.com
Trường Sơn Lê Xuân Nhị
Post by Sơn râu 12 Apr 2025

Chương 7
Ty Cảnh Sát Chicago dọn sẵn cho Eliot Ness một cái văn phòng hách nhất ty, với điện thoại, bản đồ đầy đủ. Văn phòng này đẹp chỉ thua văn phòng của ông trưởng ty. Cẩn thận hơn, trước tấm cửa kiếng ra vào được thợ sơn vẽ mấy chữ vuông vắn đậm nét:
“Eliot Ness Cảnh sát đặc vụ Tổng Nha Ngân Khố Hoa Kỳ”. Mấy ngày đầu là những thủ tục lẩm cẩm để làm quen với các nhân viên, các văn phòng trực thuộc. Theo chỉ thị của trưởng ty, tất cả văn phòng phải luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ Eliot Ness khi chàng cần đến về bất vấn đề gì, từ cây bút cho đến tin tức, hồ sơ. Về nhân lực, ông trưởng ty cho phép chàng tuyển lựa bất kỳ 6 người nào trong lực lượng cảnh sát để làm việc trực tiếp với chàng, nhưng Eliot Ness còn chần chừ vì thấy chưa cần đến. Hơn nữa, nguyên cái ty cảnh sát đã biết tin được ai mà tuyển lựa.
Eliot Ness rất hài lòng về sự hợp tác này. Mới đầu mà vậy là tốt rồi, từ từ sẽ tìm hiểu thêm. Có cái hơi lạ là các nhân viên cảnh sát ai cũng nhìn Eliot Ness với vẻ không được thân mật lắm. Dường như có cái gì ngăn cách giữa chàng và họ. Thử bắt chuyện vài người, Eliot Ness lắc đầu chán nản vì anh nào cũng ăn nói nhát gừng, trả lời cho qua chuyện rồi lãng đi chỗ khác. Quái, cớm Chicago có vẻ khó chịu thật!Hôm nay Eliot Ness ra về trễ hơn thường lệ vì chàng có cái hẹn mật. Trên bàn là tấm giấy nhỏ ghi địa chỉ của mật báo viên. Tin tức này chính ông biện lý gọi điện thoại đọc cho chàng. Dĩ nhiên đây phải là loại tin tối mật nên đích thân ông biện lý đọc, không cho đến cả thư ký của ông biết.
Eliot lẩm nhẩm học thuộc lòng địa chỉ rồi vò tờ giấy liệng vào thùng rác. Chờ cho đồng hồ chỉ đúng 7 giờ chàng tắt đèn, khoác áo bước ra khỏi văn phòng.
Leo lên xe rồ máy, chàng sực nghĩ đến mảnh giấy ghi địa chỉ.
Có cái gì là lạ lẩn quẩn trong đầu chàng về cái ty cảnh sát này. Theo báo cáo, 80% nhân viên ty cảnh sát ăn lương tháng của Al Capone; ngộ nhỡ có thằng nào tìm ra tờ giấy thì mạng thằng mật báo viên coi như đi đứt!
Eliot Ness liền tắt máy đi trở ngược lên văn phòng. Chàng khám phá ra cái thùng rác đã sạch trơn.
Một trong hai điều có thể xảy ra: hoặc là người lao công lau chùi đã dọn sạch tất cả, hoặc là tờ giấy đã bị ai đó đánh cắp. Muốn tìm ra manh mối đâu có gì.
Eliot Ness ra khỏi văn phòng hỏi người thư ký trực:
– Tụi dọn dẹp văn phòng mấy giờ thì bắt đầu làm việc.
Ông thư ký già mang lon trung sĩ cảnh sát chậm rãi mồi một điếu thuốc lá rồi mới trả lời, khói từ mồm bay ra phả vào mặt Eliot Ness:
– Ở đây chúng tôi cho tù hạng nhẹ phụ trách công việc quét dọn. Chúng nó làm việc bất thường, theo lời yêu cầu của nhân viên trực.
– Ông vừa cho nó dọn dẹp phòng tôi?
– Thưa ông Ness, vâng.
– Tốt, tôi nhờ ông kêu thằng khỉ nào đó vừa dọn dẹp phòng tôi lên đây liền lập tức. Tôi có chuyện muốn hỏi.
Lão cảnh sát già nhìn Eliot Ness một cách ngạc nhiên. Cha nội cớm liên bang này sao mà khó chịu. Chuyện dọn dẹp là chuyện riêng của người ta, làm gì phải xía vô. Lão chần chừ ngồi nhìn Eliot Ness bất động, ánh mắt bắn ra nhiều tia thách thức.
Đến nước này thì Eliot Ness nổi sùng. Tiên sư cha mấy thằng cớm địa phương ở cái thành phố tội lỗi này, tụi nó chưa biết tay “ông” Eliot Ness mà.
Eliot Ness cúi sát mặt người cảnh sát già, mắt long lên, hai hàm răng nghiến lại:
– Tôi cho ông hai phút để dắt thằng đó lên đây, ông bạn. Nếu tôi không thấy nó trong vòng hai phút đồng hồ thì chính tôi sẽ còng tay ông vô cái chân bàn trong văn phòng tôi cho đến sáng mai mình nói chuyện sau. Ông hiểu không?Miệng nói là tay chàng móc ra cái còng sắt thảy lên bàn nghe đến “cành” một phát.
Người trung sĩ già chưng hửng. Mấy chục năm trong nghề, đây là lần đầu tiên ông ta bị một anh cớm đồng nghiệp hăm dọa còng tay mình. Mắt ông thoáng một vẻ bối rối, cái điệu bộ khinh khi cứng đầu lúc nảy tự dưng bay đi đâu mất tiêu. Cứ nhìn cái bản mặt dữ tợn và giọng nói nghiêm trang của anh chàng Ness này thì hắn dám làm thiệt lắm chứ không phải dọa già đâu. Kinh nghiệm gần ba mươi năm trong nghề cảnh sát giúp cho ông biết loại nào mình có thể đùa dai, loại nào nên né. Thôi, tránh voi chẳng xấu mặt nào, ông quyết định né, mở miệng giọng ngọt xớt:
– Thưa ông Ness, thì tôi cũng định nói cho ông biết đó chớ, nhưng chưa kịp thì ông đã nổi nóng rồi. Xin ông bình tĩnh, mình dù gì cũng là cảnh sát với nhau mà. Thằng tù đó đang dọn dẹp ở phòng kia kìa.
Eliot Ness nhìn theo hướng người trung sĩ chỉ, thấy một anh Mỹ đen đang lui cui dọn dẹp. Trước khi bỏ đi, chàng còn nhắn thêm một câu:
– Kể từ nay, nếu không có phép tôi, không một ai được bước chân vào văn phòng tôi. Ông hiểu không? Và cũng nhờ ông nhắn lại với bạn bè, đừng nên làm Eliot Ness này phật ý.
– Dạ thưa hiểu.Anh tù Mỹ đen bị Eliot Ness chất vấn mấy câu. Tốt, hắn vừa làm sạch sẽ văn phòng như thường lệ. Eliot Ness tìm thấy tờ giấy của mình trong túi rác của hắn. Hú hồn. Chàng xé nát rồi vất trở lại vào thùng rác.
Khi đi trở ra, lần đầu tiên chàng nghe tiếng chào “Good night, Mr. Ness” của lão cảnh sát thư ký trực. Giọng ông ta thêm nhiều phần kính trọng. Eliot Ness gật đầu đáp lễ, có vẻ hài lòng, xuống xe rồ máy.
Nhưng… chàng sẽ thất vọng lắm nếu biết được rằng cũng như chàng, ông trung sĩ cảnh sát già đã học thuộc lòng cái địa chỉ của thằng mật báo viên ngay từ khi chàng vừa rời khỏi văn phòng lần đầu…
Đã nghiên cứu bản đồ trước, Eliot Ness chỉ quẹo vài vòng là kiếm ra cái nhà của thằng mật báo viên. Lái xe ngang nhà một lần để quan sát, chàng để ý thấy đèn đuốc tắt tối thui như không có ai ở nhà. Khu phố vắng lặng đến tiêu điều. Eliot Ness cẩn thận tìm một chỗ tối cách căn nhà chừng năm con đường rồi đậu chiếc xe, thả bộ tới.
Trời đêm gió thổi lạnh buốt nhưng Eliot Ness không gài hai nút áo trên của chiếc bành tô mình đang mặt. Phải để hở như vậy, rút súng ra mới mau.
Đến trước căn nhà tên mật báo viên, Eliot Ness vẫn lầm lủi bước thẳng thêm một quãng rồi đột nhiên quay phắt lại, đi ngược lại hướng mình vừa qua. Tốt, không có thằng nào theo cả. Chàng lẹ làng luồn ra phía sau nhà. Đứng trong bóng tối mịt mù, trước khi gõ cửa, chàng lại cẩn thận quan sát chung quanh một lần nữa. Bốn bề vắng lặng như bưng. Eliot Ness gõ cửa theo đúng nhịp đã được dặn trước: 2 tiếng mau và 3 tiếng chậm.
Vừa gõ xong độ một chút, cánh cửa nhẹ nhàng mở hé, bóng mờ của một cái đầu thò ra, lung linh mờ ảo dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn nến yếu ớt trong nhà, tiếng nói run run như rất sợ hãi:
– Ông là Ness?
– Đúng.Cánh cửa sau được mở rộng. Chờ cho Eliot Ness vừa bước vào người mật báo viên đóng lại liền cái rụp, gài hai ba lần khóa.
Chàng nhận xét thấy đèn đuốc trong nhà tắt tối om. Cả phòng khách chỉ có một ngọn nến nhỏ hắt ra chút ánh sáng leo lét.
Gia chủ bắt tay Eliot Ness:
– Hân hạnh gặp ông. Tên tôi là Stash Mose. Nhưng ông cứ gọi tôi là Mose.
– Tôi là Ness. Eliot Ness.
– Tôi biết ông rồi. Xin ông cảm phiền vì sự tối tăm này. Tai mắt bọn nó ở khắp mọi nơi, sơ xẩy một chút là mất mạng như chơi. Tôi phải tắt hết đèn đuốc làm như mình không có ở nhà mới tiếp ông được. Chúng ta đi vào phòng ngủ nói chuyện.
– Tôi thông cảm.
Vào đến phòng ngủ mới thấy có chút đèn điện mờ mờ. Các cửa sổ đều bị phủ kín bởi mấy lớp màn. Hai người ngồi bên cái bàn nhỏ. Mose moi dưới chân bàn ra một tấm bản đồ:
– Để khỏi mất thì giờ của ông, tôi xin đi thẳng vào vấn đề.Eliot Ness mồi một điếu thuốc, lắng tai nghe. Mose tiếp tục:
– Tụi nó vừa mới về một chuyến hàng rất lớn đến từ Canada. Có tới cỡ 5 xe cam nhông rượu chứ không ít đâu.
-Trị giá khoảng bao nhiêu?
– Khoảng hơn một triệu đô la.
Mắt Eliot Ness sáng lên:
– Một triệu đô la?
– Nhiệm vụ của tôi mấy năm nay là khiêng rượu từ trên xe xuống nhà kho và từ nhà kho ra xe. Al Capone tuy là tay anh chị buôn rượu lậu nhưng cách làm ăn của hắn rất có qui củ, y hệt tất cả các cơ quan xuất nhập cảng khác. Mọi thứ đi ra đi vô đều phải được ký nhận, có sổ sách hẳn hòi, mỗi lần nhận hay giao tôi đều bắt người ta ký giấy. Một cam nhông như vậy trung bình là khoảng gần 2 trăm ngàn, chưa kể tiền lo lót ở địa phương. Nếu kể hết, có thể lên đến hơn một triệu.
Mose chỉ ngón tay vào một khu nhà kho ở ngoại ô thành phố Chicago. Mới nhìn vào là trong đầu Eliot Ness đã phát hiện ra một kế hoạch tấn công ngay. Chàng lấy cuốn sổ tay, ghi chép những chi tiết quan trọng, hỏi thêm vài câu rồi đứng dậy ra về. Ở lâu không tốt cho cả hai.Đi cũng như về, thoáng cái là Eliot Ness dọt ra khỏi cửa. Chưa thèm đi vội, chàng đứng lặng trong bóng tối đúng năm phút đồng hồ để quan sát rồi mới bước mau trở lại chỗ xe đậu.
Tốt, chiếc xe còn nguyên trong bóng tối. Chàng lên xe rồ máy, nhủ thầm: “Vậy là xong một triệu đô la của thằng khốn. Chừng mười chuyến như vậy thì của núi cũng sập.”
Ngày hôm sau, Eliot Ness tới văn phòng sớm chờ gặp trưởng phòng Mike Casey.
Mãi gần 9 giờ sáng cha nội mới lò mò dẫn xác vô. Làm ăn như vầy thì thảo nào chưa bao giờ quất được thằng Al Capone. Mà coi kỹ khuôn mặt thì thấy lão lại có vẻ như đang còn say rượu chưa tỉnh. Mike Casey mời Eliot Ness ngồi.
Đúng như ý chàng đoán, mùi rượu đêm qua còn bay ra nồng nặc trong hơi thở của hắn. Thấy mà nản. Cả nước Mỹ bị cấm rượu mà một ông trưởng phòng cảnh sát lại say sưa tối ngày như thế này thì ai giữ được luật pháp đây? Hơn nữa, giữa thời đại kinh tế khủng hoảng, tiền lương của một trưởng phòng đâu có bao nhiêu mà hoang phí như vậy? Có một cái gì đó, Eliot Ness không thấy rõ nhưng cứ làm cho chàng suy nghĩ về lão này mãi. Mike Casey đốt điếu thuốc, bắt đầu:
– Ông …thanh tra mạnh giỏi. Ông cần tôi làm gì cho ông?
Eliot Ness chỉ vào cái cửa. Mike Casey hiểu ý, đứng dậy ra đóng cửa, nói luôn với cô thư ký:
– Tôi đang bận tiếp chuyện ông Ness. Ai có gọi cứ bảo chờ.
Eliot Ness chậm rãi trình bày về cái kế hoạch tấn công nhà kho chứa rượu của Al Capone. Chỉ nghe tới hai chữ “tấn công” là mắt ông trưởng phòng hiện lên một vẻ khoái trá. Eliot Ness không hiểu lão khoái trá vì có dịp đi làm thịt chỗ làm ăn của Al Capone hay là vì biết trước được một bí mật đáng giá ngàn vàng? Thế nào chàng cũng phăng ra, không có gì vội.
Mike Casey ngồi chăm chú nghe không thiếu một chữ. Lâu lâu lại điểm thêm vài câu phê bình rất là đúng chỗ. Cuối cùng hắn hỏi:
– Mà sao ông biết được cái tin đáng giá này hay vậy? Ông có tai mắt nằm trong sào huyệt bọn nó?
Eliot Ness không thích hạng người tò mò, nhưng cố gắng đáp tĩnh:
– Tạm thời ông cứ biết vậy là được rồi. Lúc nào thuận tiện có thì giờ tôi sẽ cho ông biết sau.Ông trưởng phòng “à” lên một tiếng dài, nhíu mày suy nghĩ. Eliot Ness đứng dậy:
– Tôi cần ông cung cấp gấp cho tôi ngay sáng nay một người để đi thăm dò địa điểm trước khi lập kế hoạch tấn công.
– Dĩ nhiên, ông Ness. Tôi đã nhận được chỉ thị để giúp ông tối đa. Tôi sẽ cho một người lên gặp ông ngay.Sau cái bắt tay với trưởng phòng cảnh sát Casey là Eliot Ness dọt qua văn phòng mình, có mấy cú điện thoại cần gọi gấp. Cú đầu tiêng gọi về Hoa Thịnh Đốn.
Vô ích, bên đó chả giúp được gì. Eliot Ness than thở:- Sắp sửa có đánh lớn mà ông… vậy, còn thằng phụ tá của tôi đâu?
– Phụ tá gì? Công việc trên này còn bề bộn lắm Ness ơi, để từ từ rồi qua lo cho. Mà sao không sử dụng tối đa khả năng và nhân lực của mấy ông cớm dưới đó? Phải cố gắng mà xoay sở chớ. Chuyện gì cũng nhờ đến trung ương hết thì đâu có được!Eliot Ness cúp máy, lắc đầu.
Cú thứ hai, vừa tính gọi cho ông biện lý thì chuông điện thoại reo vang làm Eliot Ness ngạc nhiên. Không lý ông Morgan hay bà xã gọi mình giờ này, vì ở đây ngoài hai người đó ra thì có ai biết được số của chàng. Cảnh sát thì khỏi nói vì họ ở sát bên nách, cần gì phải gọi cho tốn tiền.
Eliot Ness bốc máy, đầu đằng kia một giọng đàn ông nói nhanh nhẩu nghe rất sắc và gọn:
– Đó có phải là Mr. Ness, cảnh sát đặc vụ của Tổng Nha Ngân Khố?
Eliot Ness giật mình. Không phải vì cách ăn nói của thằng này mà vì làm thế nào nó biết được tên tuổi, số …quân cùng số điện thoại của mình? Mà lại canh ngay đúng cái lúc mình có mặt ở văn phòng mà gọi tới thì quả là nguy hiểm.
Khựng một lúc rồi chàng điềm tĩnh trả lời:
– Vâng Eliot Ness tôi đây, xin giới chức cho biết quí danh.
Có tiếng cười nhỏ khoái trá của kẻ nắm được bí mật của người khác:
– Gớm, ông cớm liên bang này ăn nói sao mà lịch sự quá cỡ. Thường thường mấy ông cớm đâu có dể tính và lịch sự như vậy…
Không biết thằng này thuộc loại gì nhưng Eliot Ness nghĩ nếu nó đứng trước mặt chàng mà nói vậy thì khó mà nhịn. Chàng ngồi yên kiên nhẫn nghe đầu giây nọ nói hết câu. Eliot Ness lập lại câu hỏi:
– Xin ông vui lòng cho biết tên.
– Tên hả, ờ quên, tôi là Ferguson, phóng viên của tờ Tribune. Chicago Tribune.
Eliot Ness thở dài lên một tiếng. Tưởng chỉ New York mới có phóng viên mất dạy, nào ngờ Chicago cũng không thua gì. Hèn gì. Phóng viên là những thằng rắc rối nhất trên thế giới này.
Cuộc đời lăn lộn của Eliot Ness, chàng đã đụng chạm quá nhiều với phóng viên. Chính bọn này là kẻ có đủ uy quyền để đưa những thằng công chức ăn lương nhà nước lên thiên đàng hay xuống địa ngục. Một bài báo, một tấm hình chụp vớ vẫn đều có thể là một nhát gươm chặt đứt tương lai của những ông cớm như Eliot Ness. Với chàng, một anh cớm liên bang trong sạch lại tài giỏi thì đối xử với bọn phóng viên này dễ quá. Có gì đâu, chỉ …giộng cho nó mấy bợp tai là xong ngay. Nhưng cuộc đời đâu có đơn giản như vậy, nhất là cuộc đời ở đất tự do như Hiệp Chúng Quốc này. Còn lạ gì, những chức vụ quan trọng trong chính quyền đều do dân bầu. Mà hễ dân bầu thì có ai dám làm phật lòng mấy tờ báo, lạng quạng với mấy anh phóng viên khoái nổi tiếng? Đó là cái kẹt. Xếp mình đã sợ báo như vậy thì ông nội mình cũng không dám ba gai với chúng nó. Ngay cả đến tổng thống Hoa Kỳ trước khi ăn nói còn phải uốn lưỡi năm bảy lần thì một anh cớm như mình càng phải uốn lưỡi cẩn thận hơn nữa.
Eliot Ness nhỏ nhẹ:
– Thưa ông phóng viên Ferguson, tôi có thể giúp gì được cho ông?
– Nói cho ông rõ, tôi đang làm một bài phóng sự dài về các tổ chức tội ác ở Chicago. Nghe tiếng ông là một nhân viên liên bang tài giỏi và nhiều mưu lược nên muốn xin gặp ông để phỏng vấn.
Eliot Ness mồi một điếu thuốc, vắn tắt:
– Tôi rất muốn giúp ông nhưng rất tiếc vì tôi bận việc lu bù…
Ferguson cắt ngang câu nói:
– Ông nghĩ sao về Al Capone?
Tiên sư, thằng này lanh lợi và ăn nói văng mạng thật, không thua bất kỳ một anh ký giả New York nào. Nếu chàng cúp máy điện thoại, chắc chắn nó sẽ gọi lại. Thôi thì cứ kiên nhẫn ngồi nghe thằng này muốn gì.
– Tôi không có thói quen bàn về những công tác của mình.
– Tôi hỏi về Capone kia mà, có nói gì đến công tác của ông đâu. Ông nghĩ rằng ông có thể diệt nỗi “đại đế” Al Capone không?
– Tôi không xuống đây để diệt ai hết. Tôi có bổn phận mình phải làm, thế thôi.Một tràng cười khóai trá vang lên ở đầu giây bên kia:
– Nhân viên gương mẫu. Tôi xin hỏi ông câu này trước khi chấm dứt, ông có biết chuyện chàng hiệp sĩ Don Quichotte cưỡi ngựa đánh nhau với máy xay lúa ngày xưa không?
– Tôi có đọc qua ngày còn ở đại học.
– Tốt. Ông có bao giờ nghĩ ông là một loại hiệp sĩ Don Quichotte tân thời không?
Eliot Ness dụi tắt mẩu thuốc lá vào cái gạt tàn. Coi, thuốc tắt rồi mà sao chàng vẫn cứ xoay xoay cho đến lúc nó nát bấy ra. Don Quichotte là một anh hiệp sĩ khùng thời trung cổ, ngày ngày cưỡi ngựa ra đánh nhau với cái mấy cái cánh quạt của máy xay lúa bằng gió. Dĩ nhiên, anh hiệp sĩ này chẳng bao giờ thắng được …mấy cái cánh quạt.
Eliot Ness nhận ra là mình đang nổi sùng nhưng biết rằng thằng phóng viên chỉ mong có vậy, nếu mình lộ một vẻ tức tối tức là trúng kế nó.
Chàng trả lời, giọng bình thản:
– Ông Ferguson, tôi không bao giờ tự ví mình với ai hết. Tôi xuống đây là để thi hành một công tác do chính phủ giao phó. Để tôi hỏi ông câu này, tại sao ông biết số điện thoại của tôi mà gọi?
– Mỗi người có cái sở trường của mình, ông Ness. Cũng như nghề cớm của ông, ông có những phương thức riêng để làm việc thì chúng tôi cũng có những “méo mó” riêng để lấy tin tức cho dân chúng đọc. Cái vụ này tôi xin miễn trả lời.
– No problem. Xin lỗi ông, tôi phải gác máy vì còn bận rất nhiều việc.
– Cám ơn ông Ness, ông sẽ gặp lại tôi.
Eliot Ness gác máy điện thoại. Gặp lại hắn là cái chắc, không có gì phải thắc mắc nhưng chàng vẫn chưa biết tại sao thằng chó này lại có số điện thoại và biết được đường đi nước bước của mình. Đi đâu mà vội, coi như là cứ thua nó một keo đi, từ từ rồi sẽ kiếm ra…
Nhân viên cảnh sát biệt phái cho Eliot Ness đã có mặt. Nhìn qua một cái, Eliot Ness nhận định được ngay. Trước mặt chàng là một thanh niên khoảng 30 tuổi, ăn mặc rất đẹp, tướng người to con vạm vỡ không thua gì mình. Người dòm thấy thông minh, lanh lẹ. Vậy là tốt rồi, còn cái mục tin được hay không là chuyện khác, biết làm sao bây giờ. Chàng như một con thú lạ đi lạc giữa rừng mới, không biết chỗ nào là nguy hiễm, chỗ nào là đất làm ăn. Thôi thì đành rán mà tin tưởng một cái gì hay một ai đó rồi từ từ lập kế hoạch. Kiên nhẫn, đức tính quý nhất của những người có sứ mạng như chàng.
Eliot Ness đứng dậy bắt tay viên cảnh sát:
– Chào anh, tôi là Eliot Ness.
– Chào ông, tôi là Preseusky.
Khỏi phải mất công giới thiệu gì lâu cho mất thì giờ, chàng đóng cửa văn phòng lại, thảy cho Preseusky tấm bản đồ:
– Anh biết khu này không?
Preseusky dòm xuống tấm bản đồ nơi có một vòng tròn đã khoanh sẵn:
– Biết. Đây ngày trước vốn là một khu kỹ nghệ sản xuất dụng cụ chiến tranh rất sầm uất thời đệ nhất thế chiến. Sau chiến tranh, kinh tế xuống dốc, các cơ xưởng phải đóng cửa nên nó trở thành một khu hầu như bỏ hoang.
Eliot Ness gật gù:
– Anh lái xe tới đó được không?
– Dĩ nhiên!
– Vậy thì mình đi.
Cả hai khoác áo bước ra khỏi sở, phóng lên xe lái về khu vực đã dự tính.
Không muốn để lại một dấu hiệu nào đáng nghi ngờ, khi chiếc xe chạy ngang căn nhà kho cũ kỹ phía ngoài mà người mật báo viên cho biết trong đó có chất cỡ hơn 1 triệu đô la tiền rượu, Eliot Ness bảo Preseusky:
– Cứ giữ yên tốc độ này, khỏi cần phải tốp, tôi quan sát từ phía ngoài được rồi.
Toàn thể khu vực vắng lặng đến độ tiêu điều. Không có lấy một chiếc xe, một bóng người. Gớm thật, Eliot Ness thầm nghĩ, đúng là dân anh chị bự khôn ngoan.
Nó dấu rượu ở đây thì cảnh sát nào dám mò tới để lạng quạng. Cứ nhìn máy cái cao ốc bỏ hoang chung quanh với những cánh cửa sổ tít mãi trên cao thì cũng đủ biết khả năng bố trí chiến thuật của tụi này. Chỉ cho chừng 5 thằng cô hồn với 5 cây súng trường có ống nhắm viễn vọng kính canh cứng năm cái cửa sổ thì nếu có đụng độ, bố thằng nào dám mò vào. Không chừng bây giờ lại đang có một cây đang đeo dính lấy cái phần sọ phía sau của mình cũng nên.
Eliot Ness chặc lưỡi. Mẹ, chỉ nghe “đoàng” một phát là máu óc văng bầy nhầy trong xe cho coi! Bạc triệu đô la chứ ít gì? Nhưng đã lỡ liều cho liều …lỡ luôn, Eliot Ness bảo Preseusky:
– Tốp, tốp!
Chiếc Ford thắng liền cái kít. Eliot Ness vừa mở cửa xe vừa bảo Preseusky:
– Ông cứ ngồi yên đây, đừng tắt máy xe và chịu khó móc ra dùm cây shotgun dưới gầm ra lên đạn sẵn cho tôi.
– OK Chief, nhưng mà ông đi đâu vậy?
– Đi …đái.
Tới gần bên hàng rào, Eliot Ness tay vén quần, nhưng cặp mắt thì cứ như dán vào hai cái cánh cửa đồ sộ của nhà kho. Chàng ước lượng sức nặng.
Cửa sắt mà bự như thế này thì phải hai ba thằng hì hục đẩy mới mở nỗi, nói gì đến chuyện phá. Xong rồi, phải chơi máy ủi đất thì mới húc văng hai cánh cửa này ra được. Còn những cây súng trường gắn viễn vọng kính của tụi nó ở trong mấy cái building thì tính sao đây? Eliot Ness lắc đầu, chưa kiếm ra giải pháp, để từ từ tính sau. Rồi, húc cửa văng ra xong thì dĩ nhiên cha con tụi nó phải tung cửa ra mà chạy? Chuyện này dễ, đặc hai tiểu đội khoá kín hai con lộ phía sau này là coi như xong.
Kế hoạch coi như đã xong, Eliot Ness gài lại nút quần, thong thả quay trở lại xe, dáng điệu nhà nhã y như một anh đi lạc kẹt quá phải tấp vào đây trút bầu tâm sự. Chàng vừa ngồi lên xe là Preseusky đã rồ máy, vọt đi cái rào.
Preseusky quẹo trở ra, chiếc xe mất dần trong đám bụi mù. Đúng như Eliot Ness dự đoán về sức nặng của cánh cửa nhà kho, khi chiếc xe vừa mất hút thì có ba thằng cô hồn từ trong nhà kho hì hục đẩy cánh cửa bước ra. Một thằng lách ra ngoài trước, chạy tới hàng rào nơi Eliot Ness đứng tiểu lúc nãy, ngồi xuống, đưa tay quờ quạng một lúc, hít hít ngửi ngửi rồi nói lớn:
– Có chuyện rồi anh em ơi! Thằng này nó đâu có đứng đây để đái. Nó đứng đây với mục đích khác.
Một giọng khác đáp lại:
– Thì tao cũng nghi vậy mà. Gọi gấp cho Frankie Rio, báo cáo liền…
Khi chiếc xe chở Eliot Ness ra tới con lộ chánh, chàng cũng kiếm được câu trả lời cho bài toán hóc búa của mình: Muốn tránh mấy cái họng súng trường gắn viển vọng kính kia thì chỉ có nước là đánh đêm. Đúng. Đánh đêm vừa bất ngờ và thằng chó nào thấy đường mà bắn.
Chàng tươi nét mặt, rút ra một điếu thuốc châm lửa…
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.