This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Lực lượng Hải thuyền ban đầu là một Lực lượng bán quân sự không thuộc Quân đội Quốc Gia Việt Nam, nhưng theo thời gian đã trở thành một thành phần quan trọng trong Hải quân VNCH.. Tổ chức Giang đoàn, của quân đội Quốc gia VN, từ lúc còn trong Liên Hiệp Pháp đến khi chuyển sang độc lập , không liên hệ đến.. hải thuyền..
“Hải sử Tuyển tập” (HSTT) đã dành một chương (trang 169-174) đề viết về Hải thuyền qua bài phỏng vấn với HQ ĐTá Nguyễn văn Thông, ‘người được coi là am hiểu nhất trong HQ về sự hình thành của Hải thuyền.
Wikipedia (Junk Force) trích nhiều đoạn viết của John Darrell Sherwood trong tập sách “War in the Shallows” , và bỏ một số chi tiết khi viết về Vùng 4 Hải trấn (Fourth Coastal District)..
Năm 1957, HQ Thiếu tá Quyền, Chỉ huy trưởng Căn cứ HQ Đà Nẵng đã nghĩ đến việc tuần phòng vùng biển phía Nam Vĩ tuyến 17, nên dùng ngân sách ‘tự trị’ mua 10 ghe đánh cá , dùng binh sĩ HQ tuần phòng ven biển.. Lực lượng này giải tán năm 1958 khi ông Quyền thuyên chuyển vế SaiGon
Đoàn viên hải thuyền vận hành ghe Kiên Giang tuần tiểu trên biển (Ảnh của LIFE).
Hải thuyền trước 1962:
Theo ĐTá Thông: “Duyên đoàn là hậu thân của các đội hải thuyền. Vào năm 1960 khi CSBV thành lập Mặt Trận GPMN, chúng bắt đầu phát động cuộc xâm lăng miền Nam và lợi dụng đường thủy để chuyển vận người và vũ khí vào Nam.. Lúc ấy Hải lực của chúng ta còn quá đơn sơ.. nói trắng ra là ta không có khả năng, phương tiện để kiểm soát toàn thể lãnh hải.. ‘’
(Đtá Thông đã nhận định thật chính xác : Trước khi xảy ra vụ Vũng Rô, CSBV đã dùng đường biển làm phương tiện chính để tiếp tế cho lực lượng của họ tại miền Nam.. Tài liệu CSBV ghi rõ : chỉ trong khoảng tháng Giêng 1964 đến tháng 2-1965, đoàn vận tải biển 125 đã chuyển 4000 tấn vũ khí vào Nam bằng 88 chuyến tàu (đoàn 125 có 3 tàu vỏ gỗ và 17 tàu vỏ sắt), tất cả đều trót lọt trừ 4 chuyến bị mắc cạn và đụng đá (đều rút êm), CSBV không kể các vụ tiếp tế cho các đơn vị tại Quảng Trị, Thừa Thiên bằng các loại thuyền nhỏ..!)
Lịch sử của Tổ chức Hải Thuyền VN được thật sự ghi chép vào tháng Tư năm 1960, khi Đô Đốc Harry Felt , Tư lệnh Quân lực Mỹ tại Khu vực Thái Bình Dương (CINCPAC) đua ra nhận xét Quân đội VNCH cần ngăn chặn việc CSBV đưa quân dụng và võ khí từ miền Bắc vào Nam qua đường biển..Một phần do khuyến cáo này nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cho lập Lực lượng bảo vệ duyên hải hay Duyên lực , gọi tạm lúc đó là Lực lượng Hải thuyền, trực thuộc Bộ Quốc Phòng (nhưng do HQ Chỉ huy qua hệ thống Duyên khu). Ý kiến tổ chức Hải thuyền như một đơn vị ‘bán quân sự’ rất phù hợp với quan niệm của Chính phủ Kennedy, tin rằng , các lực lượng tự vệ là phương tiện tốt nhất chống lại cuộc chiến tranh nổi dậy của VC… Do đó Chính phủ Kennedy đã yểm trợ cho Chương trình tổ chức một lực lượng ‘mới’ bằng chi viện một ngân khoản để đóng 501 thuyền tại các cơ sở đóng thuyền-bè đang có tại Việt Nam.. (kể cà HQ Công xưởng cùng thuê các trại đóng thuyền tư nhân)
Duyên đội Hải thuyền 15 (ảnh của Naval History and Heritage Command).
Tháng 4 năm 1960, HQ HK đã gửi đến thử nghiệm tại Việt Nam 2 loại thuyền có khả năng hoạt động trong các khu vực nước cạn, mỗi loại có hai chiếc, thử nghiệm trong khoảng tháng 12-1960 đến tháng 2 năm 1961 : một là swamp buggy 19 ft, và loại thứ nhì là một thuyền water-jet gắn máy ngoài thuyền kiểu thuyền ‘du lịch trên sông..(hai loại này là từ các Wizard của Pháp cải biến)..nhưng cả hai đều bị bỏ vì swamp buggy quá ồn ào do động cơ , còn water-jet thì bị cây cỏ cuốn.. chân vịt !
Cuối năm 1961, HK đã ‘mua’ cho VNCH 125 chiếc thuyền ‘hơi’ Zodiac của Pháp (không thấy tài liệu VN viết về việc này).
Kế hoạch ban đầu do ĐTá Hồ Tấn Quyền đề nghị là Lực lượng duyên phòng sẽ cần có 420 ghe buồm, 63 ghe gắn máy, do 2200 nhân viên bán quân sự điều hành , các nhân viên này sẽ được tuyển mộ từ các ngư phủ địa phương, và lực lượng sẽ tuần tra ven biển từ bờ ra ngoài khơi đến 8 km…ĐTá Quyền hy vọng lực lượng Hải thuyền có thể trà trộn, cùng sinh hoạt với ngư dân, giữ kín nhiệm vụ đến khi tìm được các thuyền bè nội tuyến và xâm nhập để chặn bắt : Ông định tổ chức 21 đơn vị hải thuyền, mỗi đơn vị có 23 thuyền, ghe và chịu trách nhiệm tuần phòng khoảng 30 miles (48 km) bờ biển, liên lạc với một Trung tâm Canh phòng duyên hải bằng radio, vô tuyến : Lúc này HQVN chia vùng biển thành 4 Hải trấn…
Nhân viên ‘bán quân sự’ thuộc Hải thuyền lúc này không có quân phục, chỉ trang phục áo quần ‘bà ba’ đen (có thể có thêm một mũ nồi đen) hay áo quân dân sự như ngư dân.. vừa đánh cá để sinh sống , lãnh lương và cung cấp tin tức tình báo cho chính quyền địa phương..Nhân viên còn được gọi là tuần viên.
Năm 1960, Duyên khu ‘Đà Nẵng có 6 đội hải thuyền gồm : Đội 11 (Cừa Việt); 12 (Thuận An); 13 (Tư Hiền); 14 (Hội An); 15 (Chu Lai ) và 16 (Cổ Lũy-Quảng Ngãi). Mỗi đội trang bị (trên lý thuyết) 16 ghe buồm (ghe mành)
Năm 1961 : Duyên khu Phú Quốc lập 7 đội : 41 (Hòn Khoai); 42 (An Thới-Thổ châu); 43 (Hòn Tre); 44 (Kiên An) 45 (Hà Tiên ); liên đội 46-47 (An Thới-Phú Quốc). Trang bị mỗi đội 18 ghe Kiên Giang
Năm 1962 : Duyên khu Vũng Tàu lập 7 đội: 31 (Hàm Tân); 32 (Bến Đình); 33 (Vàm Láng); liên đội 34-37 (Tiệm tôm- Ba Tri); 35 (Hưng Mỹ-Vĩnh Bình); 36 (Long Phú-Đại Ngãi ) Trang bị ghe di cư có chạy máy và buồm
Đến dầu năm 1963 Duyên khu Nha Trang lập 8 đội: 21 (Deji); 22 (Gambir); 23 (Sông Cầu; 24 (Tuy Hòa) ; 25 (Hòn Khói); 26 (Bình Ba); 27 (Ninh Chữ) và 28 (Phan Thiết)..
Các đoàn viên duyên đội hải thuyền 11 trỡ về bến sau chuyến công tác ngoài biển (ảnh của LIFE).
Hải thuyền 1962-1965:
Theo ĐTá Thông (HSTT): Ông phụ trách toàn bộ kế hoạch của Tư lệnh Quyền với sự phụ tá của các vị sĩ quan (cấp bực năm 1962) HQ Tr úy Hoàng Nam và HQ Tr úy Nguyễn Công Hội. Trung tâm huấn luyện đầu tiên đặt tại Sơn Chà (Đà Nẵng),
HSTT ghi : “ ..đoàn viên tuyển mộ đa số từ ngư phủ địa phương, căn bản học vấn coi như không có; nhưng đi biển rất giỏi, việc huấn luyện chú trọng đến cách sử dụng vũ khí , truyền tin, đội hình và nhất là kỹ thuật tình báo..’ Các đơn vị thuộc Vùng 1 ưu tiên lập năm 1960, Vùng 4 năm 1961 và sau đó Vùng 3 năm 1962 và sau cùng Vùng 4, năm 1963..” Do là lực lượng ‘bán quân sự nên phải tuyển mộ dân địa phương, tránh khỏi đi lính xa nhà mà vẫn được hành nghề cũ.. Đoàn viên không .. quân phục riêng, ăn mặc như ngư dân..”
Đến cuối năm 1963, lực lượng Hải thuyền tăng thành 632 chiến thuyền và 3700 đoàn viên (dân sự).. Tổ chức phát triển nhanh dẫn theo các vấn đề trở ngại : việc tuyển mộ nhân viên khó khăn hơn : ngư phủ sinh sống bằng nghề cá thoải mái hơn gia nhập ‘tổ chức bán quân sự’ có phần ‘bó buộc’ hơn (!) mà không hưởng được phúc lợi thực tế. HQVN buộc phải quay sang tuyển mộ đoàn viên từ dân ‘di cư’ hay dân quê buộc đi quân dịch..Do không có khả năng đi biển (như ngư phủ).. tỷ lệ bỏ ngũ tăng cao ngay sau khi thử.. thực tế lên thuyền ! (trong thời gian 1963-64 , trung bình mỗi tháng có đến 106 nhân viên.. bỏ cuộc)..
Ngoài khả năng ‘chịu sóng gió’ , điều kiện sinh hoạt và lương bổng cũng khiến các ‘nhân viên mới tuyển mộ’ bỏ việc..
Một bản phúc trình của Vùng 4 Hải trấn (Tr tá Wesley Hoch và HQ Tr úy Trần Bình Sang), tháng 2-1963 ghi lại ; ”500 trong số 657 đoàn viên Hải thuyền thuộc Vùng.. không nhận được tiền lương .. từ 6 tháng (!), chưa ai được huấn luyện căn bản.. nhiều người cũng chưa được thử bắn súng và chưa bao giờ ..đi thuyền(!) .. Tinh thần không có và mỗi tuần 50 người.. bỏ cuộc?
Cũng trong năm 1963, phúc trình y tế về tình trạng sức khỏe của đoàn viên Hải thuyền tại Duyên đội 33 ghi nhận : 50 % nhân viên mang bệnh (những loại bệnh có thể trị được), đa số do vấn đề nước uống không vệ sinh.. vì thiếu thuốc khử trùng nước (viên iodine), chỉ 30 % được chích ngừa tetanus (uốn ván) và 15 % uống chloroquine đều đặn để ngừa sốt rét ..
Thuyền bằng gỗ đòi hỏi tu bổ thường xuyên, bảo trì tốn phí..thuyền bị hà = Teredo worms (sâu biển) ăn và gỗ bị mục; mỗi ba tháng cần lên ụ, hơ lửa và trét dầu chai.. Phúc trình (5/1964) của HQVN và Ban Cố vấn ghi nhận 174 thuyển nằm ụ chờ sửa và 64 chiếc khác.. hết xài được..(Riêng Vùng 4 Hải trấn 98 trong 121 ghe cơ hữu phải ngưng hoạt động vì vấn đề bảo trì ). Vùng 4 Hải trấn phải tự lo, lập các xưởng chữa ghe tại vùng Sông Ông Đốc, thuê thợ từ nơi khác đến..nhưng sau đó thiếu thợ do bị CQ hăm dọa và lương thấp..Ghe hư hỏng đành đưa về Dương Đông (Phú Quốc) và Rạch Giá..
Doàn viên hải thuyền xâm trên ngực hai chữ Sát cộng (ảnh của LIFE).
Một trong những truyện đặc biệt của Hải thuyền là : Nhân viên của Lực lượng rất hãnh diện khi xâm trên ngực hai chữ Sát công , khi xâm bằng các phương pháp thô sơ, người được xâm có thể bị nhiễm trùng.. Cố vấn HQ đã tìm xin và đưa được hai máy xâm chạy điện tử Mỹ sang, giúp tránh nhiễm trùng, hợp vệ sinh nhưng đưa đến một thắc mắc tại Ủy ban Chuẩn chi quân viện .. là dùng máy xâm làm gì (?) mà không lời giải thích!
Sinh hoạt của Duyên đội:
Vì là một lực lượng bán quân sự , nên tổ chức và sinh hoạt của mỗi Duyên đội khác nhau: tùy điều kiện địa phương, quân số cũng tùy theo việc tuyển mộ.. Căn cứ của Duyên đội.. thiết lập như một.. đồn Địa phương quân/ Nghĩa quân..
Mac Barrow (cố vấn tại Duyên đội 26 [Bình Ba] ghi lại: (www.warboats-org/yabuta.htm)
‘’ Bình Ba trước đây là một tiền đồn của Lính Lê dương Pháp.. bỏ lại cả một doanh trại đổ nát và trống trơn.. Căn cứ (!) có khoảng 40-50 ‘quân’ do 2 Sĩ quan cấp úy HQ chỉ huy (1 Tr úy và 1 Th úy), lực lương có chừng 10 thuyền gỗ Yabuta gắn máy; thuyền ghi là dài 36 ft, có 1 súng .30 va 1 súng .50..nhưng căn cứ có thêm vài súng trung liên BAR bộ binh.. Căn cứ, vì ở ngoài đảo, nên không sợ VC tấn công, khác hơn các duyên đội khác. Căn cứ chỉ có một máy phát điện nhỏ chạy diesel, cung cấp điện đủ cho một máy vô tuyến PRC-32 liên lạc với Bộ Chỉ huy Vùng tại Nha Trang. và 2-3 ngọn đèn ban đêm. Quanh doanh trại chỉ là rào kẽm gai..Tôi tìm cách đưa được từ Nha Trang về một tủ lạnh chạy bằng dầu hôi..để uống bia lạnh ! Toán cố vấn cũng chỉ có.. hai người (khi được bổ nhiệm về đây, chúng tôi được Naval Advisory Group, MACV cấp quần áo pyjama đen, mũ beret đen.. thêm quân phục bộ binh, giày bốt, một súng Colt 45 và một Carbin M1) ..
Quân lính thuộc Duyên đội dùng súng Garant (bán tự động) lên đạn, tôi tự xoay trở mang được về Bình Ba thêm vài khẩu AR-15 (không số súng ), 2 khẩu .30 và 1 M-79.. rồi vài thùng mìn.. Quá đủ để phòng thủ (?) Căn cứ..Tuy nhiên khi Căn cứ HQ Cam Ranh bắt đầu được xây dựng.. Nhờ ngoại giao riêng nên chúng tôi có thêm vài thùng lựu đạn và nhất là..bia (ngoài cấp số)..
Các đoàn viên được phát thêm (mỗi khi tôi xin được) Ration C, thịt hộp .. cũng ngoài .. tiêu chuẩn của lực lượng ‘ bán quân sự’ không quân số này…”
Đoàn viên hải thuyền và cố vấn hải quân Hoa Kỳ (ảnh của LIFE).
Cố vấn và đoàn viên khi tuần tra, ăn cơm và cá, tôm mực.. nướng lò ngay trên thuyền, về bờ cũng cơm, cá.. có khi có thịt gà vịt, có khi có cả chó và ..rùa!
(Ghi thêm : lương tuần viên .. 300 đồng/tháng. Hối đoái chính thức 1 đô la Mỹ=35 đồng)
Hải thuyền.. chiến đấu
Phương tiện eo hẹp, đoàn viên Hải thuyền phải chiến đấu trong các điều kiện khó khăn Thuyền máy của CSBV chạy mau hơn và võ trang mạnh hơn ghe buồm Hải thuyền ! Thuyền vỏ gỗ không đủ bảo vệ cho đoàn viên chống đạn súng máy CQ.. Khi vào nhánh sông nhỏ gần cửa biển, ghe buồm không đuổi kịp.. xuồng máy CQ..
Tuy nhiên, Lực lượng Hải thuyền cũng tạo thành tích đáng kể; Năm 1963, phối hợp cùng Hải lực VNCH, khám xét được 127 ngàn ghe cá, kiểm tra 353 ngàn ngư phủ..Riêng Hải thuyền bắt giữ 2500 người tình nghi..
Đụng độ đầu tiên giữa Hải thuyền và thuyền CSBV diễn ra ngày 9 tháng 7 năm 1961: Duyên đội Hải thuyền 11 tại Cửa Việt đã chặn đánh đoàn 20 chiếc ghe BV vượt Vĩ tuyến và bắt giữ được một ghe đánh cá võ trang BV.
Theo thống kê quân số đầu năm 1965, Lực lượng có 526 chiến thuyền, phân bố trong 28 duyên đoàn hoạt động dọc duyên hải VNCH, trong đó có 81 ghe chủ lực, 90 ghe buồm gắn máy, 121 ghe máy (không buồm) và 234 ghe buồm (không máy)
Ghe buồm (không máy) là ‘gánh nặng’ cho Lực lượng vì chậm và không hữu hiệu! Ban Cố vấn HK (từ đầu năm 1964) đã khuyến cáo cần thay thế hết loại ghe này: 134 ghe.. bị loại bỏ trong năm 1965, số còn lại sẽ bỏ hết trong 1966..
Một số hoạt động của Hải thuyền được các Cố vấn ghi lại:
-Tháng 7 năm 1963, Duyên đội 33 (Vàm Láng) đột kích vào cơ sở kinh tài của CQ, của Đại đội 306/ TĐ 300 CS Địa phương tại rạch Vàm Sát (Lý Nhơn), phá hủy các trạm thu thuế..CQ rút sâu vào rạch Đồng Tranh..
-19 tháng 8-1963: Tr úy Dallas Shawkey (cố vấn) và Tr Úy Thịnh (đối tác) tại Vùng 2 Hải trấn ghi lại, ông và 8 thuyền hải hành đi Vĩnh Hy, do tin mật báo có khoảng 25 CQ đang hoạt động tại làng. Ghe chủ lực bắn 12 quả 57 ly vào làng, các chiến thuyền khác bắn thêm bằng súng đại liên .30 ly.. Khi lực lượng hải thuyền đổ bộ đã bị CQ bắn trả bằng súng M1.. Shawkey bị thương do bắn tỉa Hải thuyền rút vì không nhận định được mục tiêu và PGM (Tuần duyên hạm) Nam Du (HQ-607) đã pháo vào các vị trí nghi ngờ..Các đụng độ loại này cho thấy Hải thuyền chỉ hữu hiệu trong công tác tuần tra và chưa thể là một lực lương .. bộ chiến !
-13 tháng 12-1964: tại Duyên đội 33, Hải thuyền tiếp cứu cho đồn Nghĩa quân Hoa Thuận (Vĩnh Bình) bị CQ tấn công và bao vây. Ghe chủ lực yểm trợ bằng cối 60.. Tr úy Norman Mosher (cố vấn) cùng 12 nhân viên đổ bộ tấn công cạnh sườn CQ bằng võ khí cơ hữu.. CQ rút lui bỏ chạy!
Ghe của duyên đội 33 hải thuyền (ảnh của LIFE).
-12 tháng Giêng 1965: Hải thuyền chuyển vận 2 Đại đội bộ binh đổ bộ lên đảo Long Sơn (Phước Tuy). Toán tiền phương có nhiệm vụ an ninh bãi cho TQLCVN đổ bộ .. Mosher và SQ Chỉ huy Hải thuyền đã giúp cuộc đổ bộ hoàn thành và bắt giữ được toán cán bộ thu thuế, hậu cần của CQ..
-Trận đánh nổi tiếng nhất của Lực lượng Hải thuyền là trận tấn công vào Mật khu Bãi ngao (Ba tri) đầu năm 1965, của Liên đội hải thuyền 34-37 (Tiệm Tôm) phối hợp cùng Địa phương quân..(Trận đánh được ghi lại rất chi tiết trong HSTT trang 187-197) HQ Trung úy Nguyễn Đức Bổng , Liên đội trưởng đã hy sinh trong trận này và Tên Ông được đặt cho Trợ-Chiến hạm HQ-231.
Tổ chức Duyên đoàn:
Tháng 6 năm 1965, Lực lượng Hải thuyền gồm 28 đội, quân số trên 3000 đoàn viên, sát nhập vào HQVNCH.. đội Hải thuyền đổi tên thành Duyên đoàn, danh số và nơi đồn trú của các đơn vị không thay đổi. Các tuần viên thành chiến binh HQ hưởng quyền lợi như các quân nhân HQ..
Việc cải tuyển được thực hiện:
Thuyền trưởng tương đương với cấp bậc Hạ sĩ nhất
Tuần viên hạng nhất tương đương với Hạ sĩ
Tuần viên hạng nhì = Binh nhất hay Thủy thủ nhất
(Xin xem bài viết riêng về Duyên đoàn)
Các loại chiến thuyền…
Đtá Thông cho biết; giai đoạn đầu 1960-61: Tại Vùng Đà nẵng chúng tôi dùng loại ghe hai buồm gọi là ghe Mành.. sau này tại Vùng Phú Quốc chúng tôi dùng loại ghe Kiên Giang, đuôi vểnh lên hệt như những ghe ở vùng này. Tại Vũng Tàu và các Vùng Phan Thiết và Phan Rí chúng tôi sử dụng một số ghe buồm, có gắn máy, gọi là ghe Di Cư. những ghe này có một cột buồm như những ghe ở Vịnh Bắc Việt, do những người Trung Hoa lánh nạn CS năm 1949, sau đó lại di cư vào miền Nam năm 1954..
Xuồng Đồng Nai : Hầu như không có tài liệu nào của HQVNCH nhắc đến loại xuồng này! ( Bài duy nhất là “Lịch sử các chiến hạm và chiến đỉnh HQVNCH của Huỳnh kim Chiến trên www.denhihocap.com/ds2009 và cũng chỉ ghi “Xuồng đồng nai 33 chiếc” cùng 1 hình chụp
Xuồng Đồng Nai hay Swimmer Support Boat (SSB) có lẽ là chương trình trợ giúp đầu tiên của Chính Phủ Kennedy dành cho Hải thuyền.. Loại xuồng 14 ft này đã được Hoa Kỳ giúp đóng 20 chiếc ngay từ tháng 11-1960.
Cuối năm 1961 Hoa Kỳ đã cung cấp cho VN 222 chiếc SSB, sườn xuồng bằng ván styrofoam, bọc trong 2 lớp nhựa fiberglass. Dài 14.6 ft, ngang 6.10 ft trọng tải 400 tấn vận tốc 16 knots. Máy diesel 40 mã lực
Ghe buồm Di Cư của một đội hải thuyền tuần tiểu dọc theo bờ biển (ảnh của National Geographic)
Ghe.. Di cư và ghe Kiên Giang:
Số ghe Kiên Giang đến 1966 chì còn .. 6 chiếc sử dụng trong HQVN (?)
Các ghe này được đánh số: HQ 11104; 11112; 11121; 11173; 11237, 11238.
Gốc của ghe là từ Phú Quốc (An Thớị), loại ghe đánh cá vỏ gỗ do các thợ chuyên nghiệp đóng bằng tay qua những công đoạn rất tỉ mỉ.
Ghe di cư dùng buồm phế thải hết trong năm 1962..
Một số ghe này do các ‘nhân viên hải thuyền (bảo an) gốc công giáo di cư sử dụng tại vùng Vũng Tàu, Bà rịa..
Ghe Chủ lực: (Command junk): xem thêm trong phần ghi chú
HK đã tài trợ đóng 46 ghe này đánh số từ HQ 10000 đến 100045
Dài 16 m (54 ft), trang bị 1 đại liên .50 và 2 đại liên .30; vận tốc đến 12 mph. Động cơ Gray diesel, 3 cylinder. Có ghe còn trang bị thêm 1 cối 60
Theo Đtá Thông, ghe này lớn hơn ghe Yabuta, khi đi hành quân, Sĩ quan thâm niên thường ở trên ghe này, nên gọi là ‘command junk’
Ghe ferro-cement (còn gọi là ferro-concrete ‘Coastal Raiders’)
HQ VNCH gọi là Duyên kích đỉnh
Theo quân số HQ: 71 chiếc từ HQ 3200 đến 3270
Trong chiến tranh VN, HK đã thiết kế và cho chế tạo loại ghe này để thay loại ghe gỗ 31 ft của Hải Thuyền VN. Ghe ferrocement dùng sườn bằng ống thép hay thanh thép chịu lực cho nhiều lớp lưới đan, tạo thành vỏ thuyền, và xi măng được độ vào khung dựng sẵn. Khoảng 70 ghe đã được chế tạo tại VN.. Ghe dài 65 ft. Theo chuyên viên thiết kế Eric Baitis thì ghe ferrocement có nhiều ưu điểm :không ngấm nước, không cháy, không bị nước mặn ăn mòn, công lao động rẻ , không đòi hỏi tay nghề chuyên nghiệp, và ngay thời điểm này VN đang có xi măng thặng dư tại Đà Nẵng và việc lập xưởng đóng thuyền ferrocement tại đây ít tốn kém. Loại ghe này dựa theo kinh nghiệm của Phòng Nghiên cứu HQ HK đã thử chế tạo 3 chiếc làm tại một cơ xưởng tại Nam Hàn năm 1961: loại ghe CRABS (Cement Riverine Assault Boats) được đánh giá là đáp ứng nhu cầu hành quân.
Theo TTHS (trang 172): Ghe ferrocement do HQ Công Xưởng Sài Gòn đóng, vỏ bằng lưới thép, gắn vào sườn ghe bằng gỗ , ngoài trét xi măng (?) Trọng tài 31 tấn, dài 19.9 m, rộng 4.2 m gắn 2 động cơ diesel, 225 mã lực, vận tốc 6.5 knots, trang bị 1 đại liên .50, một súng cối 81, 1 máy truyền tin AN/PRC25, Nhân viên gồm 5 người.
Đtá Thông cho biết: Ghe ferrocement có cái hay là không dễ bị mục, nhưng xoay trở chậm chạp, ít chịu sóng vì mũi ghe khi gặp sóng ngược ngóc đầu lên rất khó. Do đó ghe này thường dùng để chuyên chở, liên lạc và ít dùng khi hành quân..
HQ Phạm Viết Khiết nhận xét về ghe ferrocement: “Khi tôi đi lãnh Duyên kích đỉnh 3207 ‘ferrocement’ tại HQ Công xưởng..phải chờ họ gắn la bàn, thử máy..’, tôi sợ.. tàu ciment mà đụng đá ngầm thì chìm rất nhanh,, tàu nặng và không nhảy sóng mà còn chúi mũi múc nước vào là khác..Tàu cũng có cửa kín nước để che hầm máy, nhưng chỉ là nắp gỗ, nước vào dễ dàng..”
Hải quân công xưởng đóng ghe Yabuta (ảnh của phái bộ cố vấn hải quân Hoa Kỳ).
Ghe Yabuta: có hai loại: vỏ gỗ sao và vỏ fiberglass
Còn gọi là Ghe Thiên Nga: 151 chiếc đánh số HQ 12000 đến 12150
Từ đầu năm 1965, HK đã tài trợ cho chương trình đóng 90 ghe Yabuta (tài khóa 65) cho Hải thuyền VNCH. Yabuta là tên một Kỹ sư Nhật đã làm việc tại Hải Quân Công Xưởng VNCH từ 1961 và là người thiết kế loại thuyền máy 57 ft này, vỏ ghe bằng fiberglass (thủy tinh-sợi) HK cung cấp nguyên liệu và động cơ cho thuyền, phía VN chi trả tiền công cho thợ..(khi đóng ghe tại các cơ xưởng tư nhân)
Tổng số ghe được đóng cho HQVN là 151 chiếc
Theo TTHS (trang 172) Ghe Yabuta vỏ gỗ dài 15m, rộng 3,3m; trọng tấn 13.9, tầm nước 0.9m, máy tàu là động cơ diesel 2 thì, sức đẩy 100 mã lực, tốc độ 6.5 mph.
Trang bị một máy vô tuyến AN/PRC 10, một đèn màu trên nóc mui và một đèn rọi. Vũ khí trang bị gồm 1 đại liên .30, 1 trung liên BAR, và các võ khí cá nhân như súng trường M1 và tiểu liên Thompson. Thủy thủ đoàn 10 người, có thể hoạt động xa bờ 5 miles..
HQ Phạm Viết Khiết trong ‘Hải Quân Chiến binh, Từ bờ đến biển’ ghi lại các kinh nghiệm trên Yabuta như sau: ..’chúng tôi lái ghe Yabuta (ghe Thiên Nga) như dân dã cào, chẳng theo hải trình gì cả, cứ nhắm song song bờ biển mà chạy.Trên ghe Yabuta đâu có dụng cụ hải hành..nếu gặp VC thì cứ nã đạn vào nó..’
Trần Lý 5/2020
Ghi thêm :
Về các chiến tích của các Duyên đoàn (sau khi chuyển đổi) xin đọc
– “HQ/Đại tá Hồ Tấn Quyền với Lực Lượng Hải Thuyền “của Nguyễn văn Ơn trên: https://hon-viet.co.uk
Bài có ghi các trận đánh tại các Duyên đoàn 35, 11, 27, 16, 34-37 và 33
– Trận ‘Căn cứ Deji và Duyên đoàn 21’ của Trần đình Triết trên
– Tại Duyên đoàn 16 (Cổ Lũy) HQ Đại úy Nguyễn Ngọc Thông, hy sinh trong trận đột kích của CQ vào Căn cứ đêm 07/08/1967.
Tập sách US Small Combatant của Norman Friedman ghi vài số liệu kỹ thuật về các Thuyền nhỏ do HQ HK cung cấp cho VNCH:
SSB (Swimmer Support Boat=Dong nai ) 14.6 ft x 6.10 ft ; Trọng tải 410. Vận tốc 40; vỏ foam gia cố .. fiberglass
Zodiac Mark 3: 15.4 x 4.4 ft.Trọng tải 320. V tốc 7; cao su bơm hơi bọc vải bên ngoài
Ghe (Sampan) 20 ft: 20.0 x 4.2 ft; Trọng tải 300. V tốc 7; Gỗ hay gia fiberglass gia cố.
Boston Whaler (Skimmer) 13.3 x 5.2; T/t 273; V tốc 9.4; Foam gia cố fiberglass
Số thuyền trong Kế hoạch Đặc biệt giao cho VN năm 1962:
210 chiếc SSB; Thuyền 524 chiếc cộng thêm 220 máy; 125 Thuyền Zodiac
12 thuyền vớt mìn (50 ft Utility Boat/Minesweeping Launch)
Ghe Chủ lực (Norman Friedman): ‘ghe Chủ lực hay 55-foot command junk do HQ Trung tá W.E Hanks . một cố vấn HQHK tại VN thiết kế dựa trên loại thuyền đánh cá và bắt sò huyết hoạt động trong Vịnh Chesapeake, trang bị động cơ American 6V71; 225 mã lực, chạy diesel, vận tốc 12 knots. Kích thước như sau 55.9 x 15.9 x 2.8 ft. Trọng tải 19 tons.. bỏ hết buồm (từ 1966)..Võ khí trang bị ca8n bản : một 0.50 và một 0.30, tuy nhiên HQVN thay 0.50 bằng các 0,30 và sau đó ghe được trang bị thêm một cối 69.
Rồi một hôm nào tim bốc men – Trên đường đơn lạnh gặp người quen – Tay không giấy bút buồn nghiêng ngữa – Nhắn hộ người xưa ta vẫn yên. (Thơ Trần Tuấn Kiệt) Đã hết nửa ngày phép rồi mà tôi chỉ loay hoay chẳng biết làm gì, đi đâu. Sáng sớm mai tôi phải lên đơn vị để Đại Úy Cẩm về nhà ăn Tết. Chiều 30 Tết sao mà buồn. Năm ngoái tôi không cô độc, nghĩa là còn có một “cô bồ” để làm tươi vui dịu mát lại đời lính mỗi khi về nhà. Tình yêu đến thật bất ngờ dù cô bồ ấy và tôi chẳng lạ gì nhau từ thuở tuổi còn tắm mưa. Và chuyện tình của hai đứa đã từng có lúc nồng nàn, tràn ngập yêu thương. Hai đứa là tình nhân đầu tiên của nhau.
Chuyện bắt đầu vào khoảng 2 tháng cuối khi tôi còn đeo “cá có đuôi”(cấp hiệu sinh viên sĩ quan) ở trường Thiết Giáp. Lúc ấy tôi gần thành “tinh” rồi, ra vào cổng Trường Bộ Binh dễ dàng. Cứ hai ba tối tôi lại “dù” về Sài Gòn chơi, bằng cách mượn chiếc mobylette cũ mèm của Hạ Sĩ Nhất Thành, thơ ký của chi đoàn khóa sinh. Anh Thành hiền lành tử tế. Anh chẳng biết gì về tôi nhiều hơn là cái tên trong danh sách, vậy mà anh tin tôi. Một bữa gặp anh quăng chiếc xe bên gốc cây phượng vỹ cạnh sân tập họp của chi đoàn khóa sinh, tôi hỏi chơi:
– Bữa nào mượn xe anh về Sài Gòn nghe?
Anh cười nói:
– Thiếu úy muốn đi lúc nào thì đi.
(Ngon chưa? Còn là “đeo cá” mà đã được gọi là thiếu úy rồi). Đi liền sợ gì. Một tối trong những lần dù đó khi đang ngồi tán dóc với thằng bạn trước nhà nó trên đường Võ Tánh, tôi thấy một cô gái lầm lủi đi về hướng nhà thờ Phú Nhuận, theo sau là một chàng trai. Nhận ra đó thằng Sáu Nổ đang theo tán tỉnh Kim Phú, cô hàng xóm, tôi quyết định làm kỳ đà cản mũi, phá chơi. Bước ra chặn đường tôi hỏi:
– Phú đi đâu đó? Tôi đưa đi được hôn?
Phú nhìn tôi mừng rỡ gật đầu. Tôi ngó Sáu Nổ như ngầm nói “quỡn không mậy, đi chỗ khác chơi” rồi sánh vai Phú bước đi. Sáu Nổ ráng nói theo mấy câu bâng quơ cho đỡ “quê” trước khi rút lui. Tôi nhìn lại chiếc mobylette đang bỏ dựa gốc cây dầu, chắt lưỡi thầm nghĩ “chắc không ai lấy đâu” rồi bước theo Phú. Trên đường đi tôi hỏi:
– Tối rồi mà Phú còn đi đâu dzậy?
Phú nói, giọng nhẹ như ru:
– Phú về thăm nhà, giờ trở lại nhà dì, ở đường Hồ Biểu Chánh.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
– Về thăm nhà? Bộ không còn ở nhà hả? Có chuyện gì dzậy?
Phú vẫn cúi đầu đi, giọng buồn buồn:
– Chuyện dài lắm. Bữa nào có rảnh Phú nói cho nghe.
Trời ơi! Có bữa nào nữa sao? Tim tôi hồi hộp vui mừng. Nhưng tôi cảm thấy mình vô tâm vô ý quá, không quan tâm chuyện của Phú, chỉ quan tâm đến chuyện “bữa nào khác”. Thật ra chuyện gì xảy ra ở nhà tôi cũng còn chưa biết, nói chi chuyện của cô hàng xóm. Từ khi đi Thủ Đức, lần nào được về phép tôi đều ghé nhà, nhưng ghé cho có, chỉ năm mười phút sau tôi dông mất.
Tôi quên ngay mọi thắc mắc vì lòng đang vui rộn rã. “Có bữa nào nữa sao? Thêm một lần nữa gặp Phú với tình cảnh êm ái dịu ngọt nầy chăng?” Tôi lặng im đi bên Phú lòng lâng lâng mơ mộng. Còn Phú vẫn cúi đầu lầm lủi đi. Qua khỏi một ngôi chùa trên một con đường nhỏ, Phú dừng lại nơi cuối đường. Bên kia đường Cách Mạng 1/11 là đường Hồ Biểu Chánh. Phú nói:
– Mình đứng đây nói chuyện đi. Dì Phú khó lắm. Thấy mình vầy dì đánh Phú chết.
“Trời ơi! Phú muốn nói chuyện với mình nữa à?” Tôi gặp lại Phú do tình cờ, nổi hứng tầm phào, ý định tán tỉnh cũng chưa bao giờ có. Một niềm vui khó tả, một nỗi sung sướng mơ hồ đến thật bất ngờ. Không biết từ thuở biết nhau đến giờ có lần nào tôi nói được hai câu với Phú chưa. Giờ biết chuyện gì mà nói. Chúng tôi đứng tựa vào tường của một biệt thự. Mùi dạ lý hương đâu đó thoang thoảng thơm. Qua ánh sáng lờ mờ từ trụ đèn đường, lay động xuyên tàn lá tôi thấy môi Phú tươi cười và đôi mắt sáng long lanh nhìn tôi. Một niềm mê đắm ngất ngây xâm chiếm lòng tôi làm tôi bất ngờ nắm lấy tay Phú và làm một chuyện mà bất cứ anh con trai nào, dù nhút nhát khù khờ đến đâu gặp tình huống này cũng làm. Đó là… hẹn đi xem ciné cuối tuần. Phú xích lại gần tôi, miệng vẫn tươi cười, mắt vẫn sáng long lanh, khẽ gật đầu. Tôi hỏi:
– Mình gặp ở đâu?
Phú nói:
– Ở nhà chứ đâu.
– Ở nhà? Sao vậy?
Tôi nhìn Phú, ngạc nhiên thầm hỏi. Rồi tự mình trả lời, “chắc Phú muốn cho cha mẹ mình biết, một cách gián tiếp, về sự quen biết gần gũi giữa nàng và tôi.” “Sợ gì chứ?” Phú đã 18 tuổi rồi. Còn tôi một hai tháng nữa sẽ là một sĩ quan, đủ sức lo liệu cho mình. Hơn nữa, hai gia đình chúng tôi chẳng xa lạ gì nhau. “Ờ! Sợ gì chứ mà không hẹn gặp ở nhà.”Tôi nói với Phú chừng 10 giờ sáng thứ bẩy tôi sẽ về tới.
– Khuya rồi. Anh về đi, để em về.
Trời ơi! Hai tiếng “anh”, “em” thốt lên từ miệng Phú sao mà ngọt ngào quá vậy! Đó là lần đầu tiên tôi nghe tiếng “em” ngọt ngào từ một người con gái như một người tình. Tôi nắm chặt bàn tay mềm mại của Phú, nói trong cơn mê ngây ngất:
– Không. Để anh đưa em về.
Phú không nói gì, chỉ nhìn tôi, miệng mỉm cười. Chúng tôi nắm chặt tay nhau băng qua đường, đi vào con đường nhỏ được chiếu sáng lờ mờ từ những ánh đèn đường và những biệt thự bên đường. Tôi muốn những giây phút đê mê này kéo dài mãi mãi thì Phú dừng lại, dịu dàng nói:
– Thôi anh về đi, tới rồi.
Tôi càng nắm tay nàng chặt hơn, không muốn rời.
– Lì quá à. Bộ anh muốn em bị đòn hả?
Phú nói vậy nhưng giọng không có ý nào trách móc. Khi tôi buông tay ra Phú nhẹ nhàng nói:
– Anh về đi. Đừng buồn. Mai mốt mình gặp nhau mà.
Phú chăm chú nhìn tôi, ánh mắt âu yếm, tay chạm nhẹ vào tay tôi rồi cương quyết quay đi. Tôi chôn chân đứng đó mãi. Phú vẫy tay hối thúc mấy lần không đuợc, bậm môi xua đuổi tôi mới chịu quay lưng đi.
Đêm ấy chiếc xe mobylette cà tàng của anh Thành chậm rãi đưa tôi về đồi Tăng Nhơn Phú, nhưng lòng tôi như bay lượn trên chín từng mây. Tôi ôn lại từ thái độ, cử chỉ của Phú. Chắc chắn Phú và tôi sẽ trở thành đôi tình nhân thôi, một cách bất ngờ, không thể nào mơ tưởng tới được.
7, 8 năm trước tôi và Phú biết nhau khi hai gia đình cùng dọn về nhà mới ở một dãy phố mới cất. Gia đình tôi đến trước gần tháng, ở căn bìa, nhà Phú căn kế. Lúc ấy Phú còn là một cô bé con mà tôi đã đến tuổi phá phách rồi. Cô có đôi mắt to, nhìn thẳng không chút nào biểu lộ sợ hãi. Ít khi nào cô ló mặt ra cửa trừ phi đi học, hoặc phải kêu gọi đứa em nào đó đang chơi ở ngoài. Cô có đông em nên sau lúc học về lúi húi trong nhà phụ giúp mẹ. Còn tôi đi học về là đi luông tuồng khắp xóm, bắn chim, hái (trộm) ổi hái xoài và chọc ghẹo người ta khi có dịp. Không biết sao mấy đứa con nít trong xóm không ưa ba của cô. Chắc tại bộ râu con kiến và cái vẻ hách xì xằng của ông. Gặp đứa nào ông cũng hỏi “phải mầy phá xe tao hôn” nên đứa nào cũng ghét. Tụi con nít ưa giả bộ cách nói năng đi đứng của ông để cười cợt với nhau. Sau cùng tụi nó khoái cái trò của tôi hơn cả: đeo kiếng làm bằng dây kẽm để “nhái” ba cô mang kiếng cận. Khi thấy tôi kéo cái mắt kiếng giả sề sệ xuống đầu mũi là chúng chịu quá, vỗ tay la vang rân. Nhiều lần Phú bắt gặp tôi làm trò đó nên cô ghét tôi ra mặt. Thấy vậy tôi càng làm tới. Canh lúc cô học về tôi đeo kiếng lên “biểu diễn” bên đường.Cô có muốn không thấy cũng không được. Có bữa tôi còn lấy lọ nghẹ kéo hàng râu con kiến lên mép nữa. “Giống hết cỡ”, tụi con nít la hét rùm trời. Phú mím môi nhìn tôi bằng đôi mắt oán hờn. Nhằm nhò gì chứ. Tôi bậm trợn mà, đã chọc phá thì phải chọc cho ghét, cho giận, giận xanh mặt mới thôi. Thế là tôi đã hủy hoại tất cả thiện cảm của cô đối với tôi từ những ngày đầu ở gần bên nhau…
Ngày dần qua, sự thân thiện (được hối lộ bằng ổi với xoài) giữa tôi và mấy đứa em của cô càng nhiều. Nhưng với cô thì không thay đổi. Chỉ ngó thấy tôi là cô quay mặt đi. Khi tôi đến tuổi biết mơ mộng thì cô đã trở thành một cô gái dậy thì xinh đẹp. Cô hay qua chơi với hai đứa em gái của tôi. Nhưng chưa cần thấy mặt, chỉ nghe tiếng tôi là cô đã vội về nhà. Em kế tôi có lần hỏi:
– Anh làm gì mà con Phú ghét anh dzữ dzậy, ghét tới không muốn thấy mặt luôn.
Tôi không biết trả lời sao. Cho tới lúc đó tôi không biết tôi đã trực tiếp nói được mấy câu với cô. Tôi biết tôi đã chọc cho cô giận bằng cách đem hình ảnh của ba cô ra làm hề với đám con nít. Có vậy thôi và chuyện đã xa xưa quá rồi. Sao mà giận dai vậy? Tôi tìm cách và bất ngờ gặp cô ngay trong nhà tôi. Tôi đứng chặn đường ra, hỏi:
– Sao Phú giận dzai dzậy?
Với vẻ mặt giận hờn, môi mím lại, cô nhìn tôi với đôi mắt sáng quắc rồi quay lưng đi vào trong. Tôi vẫn đứng chặn cửa chờ, không biết rằng cô ra cửa sau về nhà lâu rồi. Lần khác, tôi cố ý chạm mặt khi cô học về. Tôi vừa hỏi “Phú đi học về hả” thì cô bậm môi, quắc mắt nhìn tôi, quơ tay hù dọa, đuổi tôi như đuổi con nít. Sau đó cô còn “đạo diễn” cho bầy em đồng ca bài ca “làm quen”: “làm quen, con chó len keng, con chó thổi kèn, con chó làm quen,…làm quen…” Tôi giận lắm, nhủ lòng là dù có đụng mặt cũng không thèm ngó tới cô nữa.
Thời gian lại qua mau. Tôi theo lũ bạn cùng lứa, đã biết la cà quán xá, uống cà phê đen, nghe nhạc, lòng mơ mộng đến bóng dáng yêu kiều của ai đó. Lúc nầy tôi sử dụng thời gian để vòng quanh ngã tư Phú Nhuận nhiều hơn ở nhà. Tôi đã chú ý từ cô gái nầy đến cô gái khác, cặm cụi viết thư, gửi thư để rồi buồn khổ một mình. Mấy cô gái thật kỳ cục. Cô nào cũng muốn biết thư tôi viết gì trong đó nhưng không muốn nhận. Không muốn nhận nhưng mấy cô vẫn muốn tôi viết thư và gửi đến. Còn em tôi thì chán, có cho tiền cũng không thèm đưa thư giùm nữa. Lúc đó tôi ngu dại đâu biết tâm lý các cô. Dù không yêu nhưng các cô không bao muốn kẻ theo đuổi ngưng yêu mình. Những lúc đi về thỉnh thoảng tôi gặp Phú. Cô càng lớn càng đẹp, mặt trắng má hồng rực rỡ. Một lần chạm mặt, gần quá không thể nào tránh nên tôi mỉm cười thay lời chào hỏi. (Sợ bị “quê” vì quên mất lời thề nên không mở miệng.) Phú cũng vậy, gật đầu cười bẽn lẽn, ánh mắt dịu dàng hơn. Lúc đó là cơ hội cho tôi “làm quen” trở lại, nhưng (hỡi ôi!) tôi đã trót si mê một cô gái khác rồi.
Tôi cũng biết lúc ấy Phú cũng có nhiều chàng trai theo đuổi. Sáu Nổ là một. Khi nào tôi ra sau nhà thấy Sáu Nổ là biết có Phú ở đó, đang giặt hay phơi quần áo cho đám em. Sáu Nổ, khá cao ráo đẹp trai, biết tôi không phải là đối thủ – không có ý định theo đuổi Phú – nên khi nào gặp cũng chào hỏi đàng hoàng. Nhưng không những mình tôi mà cả đám nhỏ lối xóm, kể cả con gái đều không ưa anh chàng nầy. Nghe tên thì biết. Nó “nổ” điếc con ráy luôn. Chưa đi lính mà nó nổ từ liên thanh cho đến bom chùm. Nhà Sáu Nổ sau nhà Phú và tôi có mấy bước, nhưng cách một hàng rào kẽm không qua lại được. Nó thường lẩn quẩn quanh nhà chờ dịp. Như hôm nay nó không bỏ lỡ cơ hội, và đeo dai như đỉa. Không may cho nó. Nó “đeo dính” quá, miệng lại cười nói bô bô làm tôi ngứa mắt, ra tay làm “kỳ đà”. Và thật bất ngờ, tự nhiên cả Phú và tôi chuyện trò êm ái, rồi hẹn hò như mới hôm qua chúng tôi còn dịu dàng đối xử với nhau. Nhưng tôi không thể không thắc mắc. Sao tình cảm của Phú đối với tôi lại thay đổi trái ngược vậy? Lần chạm mặt nhau và dùng nụ cười thay lời chào hỏi sau cùng đến giờ chắc đã cả năm rồi. Nụ cười của tôi hôm ấy đẹp và có duyên quá chăng, nên làm cô nàng cảm mê mẩn? “Làm gì có chuyện đó. Đừng mơ, Tám ơi.” Nếu trong hai đứa có đứa phải “thầm thương trộm nhớ, đêm mơ ngày tưởng” thì đứa ấy phải là tôi. Phú đẹp, vóc dáng mảnh mai, da trắng tóc dài, mày thanh mắt sáng. Nụ cười tươi vui hiền hậu làm Phú thêm yêu kiều rạng rỡ. Nàng đẹp hơn hai đứa em gái kế được cha mẹ cho đi học ca nhạc để thành ca sĩ nữa. Vậy thì làm sao Phú đối tôi như thể là tình nhân từ lâu rồi? Không thể nói cô là một cô gái dễ dãi. Từ thuở mới lớn cô đã chững chạc, chưa bao giờ là một cô gái nhí nhảnh. Không biết ở trường học như thế nào chứ ở nhà tôi chẳng thấy cô có bạn bè, kể cả bạn gái. Ở lối xóm, cô chỉ qua lại nhà tôi với em gái tôi, nhưng rất chừng mực, ít cười đùa. Cô rất lặng lẽ, chỉ thoải mái nói cười, đùa giỡn với mấy đứa em thôi. Con trai trong xóm theo “tò vè” Phú tôi biết có hai đứa, Tám Lửa, nhà ở đầu ngõ, Sáu Nổ ở sau. Dĩ nhiên hai chàng nầy chẳng ưa nhau. Nghe nói Tám Lửa, con chủ đất, hăm rằng nếu Sáu Nổ bước qua đất nhà nó, nó sẽ “đục” cho phù mỏ. (Tên thật hai chàng nầy tôi không biết. Đám con nít đặt thêm biệt danh sau thứ tự trong nhà thôi). Tôi thật sự không biết cô có cảm tình, có trò chuyện hay trả lời câu nào với hai chàng nầy không. Chỉ biết có lúc cô nấn ná giả bộ làm gì đó trước cửa để cho Tám Lửa nói hết câu, hay chẫm rải trở quần áo phơi sau nhà để nghe Sáu Nổ nói. Chắc cô dù không ưa cũng thích nghe người ta tán tỉnh, như bao cô gái khác. Có mình tôi không tán tỉnh, hay đúng hơn cô đã không cho tôi cơ hội để nói. “Vậy sao tối nay Phú quá thân mật với mình vậy?” Hay là… “ghét của nào trời cho của ấy”? À! Coi bộ câu nầy trúng à nha. Tôi chẳng những không tán tỉnh, nói năng dịu ngọt mà còn chọc cho cô giận, làm cho cô ghét nữa. Thật vậy, tôi chỉ hơn hai anh kia ở chỗ chưa bị tụi con nít đặt thêm tên thôi. Tôi vốn đã đen, thêm 8 tháng “trui rèn” ở quân trường, nên trong bóng đêm hôm ấy chắc trông giống như cột nhà cháy, chỉ thua anh bẩy Chà có bộ răng trắng. Đã vậy lại còn bận bộ đồ trận cũ mèm sắp rách. Có cái sáng giá nhất, nếu cần phải chưng ra, thì do “giả dạng thường dân” để đi ra cổng tôi đã tháo ra khỏi áo đút túi quần mất rồi. Đó là “con cá có đuôi”.
Trên đường về quân trường biết bao câu hỏi, ý nghĩ bay lượn trong đầu tôi. Hay… “cô muốn trả thù mình cho bỏ ghét?” Chà! Cái nầy có lý nghen ta. “Ờ héng. Hẹn ở đâu không hẹn, sao lại hẹn ở nhà?” “Hẹn rồi cho “leo cây” chứ sao. Rồi ngó mặt kẻ bị cho “leo cây” coi “quê” như thế nào.” Tôi tự hỏi và trả lời một mình. “Thôi rồi. Chết chắc!” Tôi nghĩ tới cảnh cô về nhà nhưng chẳng ra cửa trước cửa sau gì hết, cứ ở lì trong nhà để bò lăn ra cười, bỏ mặc tôi đi tới đi lui chờ đợi. Chắc cô sẽ cho đứa em nào chờ ở cửa để ngó cái mặt đực ra của tôi. Không chừng khi tôi ra tới cửa sẽ có một dàn đồng ca đợi sẵn, hát lên bài “lỡ hẹn hò”. “Lỡ hẹn hò, thoa mỡ bò, cho leo cây… lỡ hẹn hò…” Dám lắm à. Cô đã từng cho tôi nghe bài “làm quen, con chó leng keng” rồi thì tại sao không thể có bài “cho leo cây” nầy? Ý nghĩ đó đưa tôi từ chín tầng mây xuống đất. Và nó cũng như một cây kim châm xì cái bong bóng mộng đẹp của tôi. Ngặt thiệt. Về mà bị cho “leo cây” thì quê xệ. Mấy đứa em Phú tha hồ la lớn: “muốn người ta người ta không muốn, xách cây dù đi xuống đi lên.” Không về lỡ Phú hẹn thật thì sao? “Không. Chết cũng phải về.” Tôi đúng là thứ mê gái mà.
Sáng thứ bẩy ấy tôi được đi phép. Từ xa, qua khoảnh sân rộng của xóm tôi thấy Phú đang chơi cùng với mấy đứa em trước cửa. Nàng mặc váy đầm bông, áo trắng, tay ngắn, vai phồng. Đang cười đùa Phú làm nghiêm quay mặt đi khi ngó thấy tôi. Cô em Phú reo lên:
– Anh Xê về phép hả? Bảnh quá ta.
Hôm nay tôi bảnh thiệt, trong bộ quân phục số 3 láng cón với mũ đen kỵ binh thay cho “kết-pi”. Tôi đứng lại định mở miệng chào thì Phú đã bậm môi lại, vẻ hù dọa như mọi lần. “Cái mặt thấy ghét.” Rồi cô nói thêm, với mấy đứa em:
– Vô nhà đi. Bữa nay chị chơi với mấy đứa nửa tiếng nữa thôi. Chị có chuyện phải đi.
À! Tôi hiểu rồi. Đằng nào Phú cũng phải về thăm nên hẹn ở nhà luôn. Lời Phú vừa rồi là lời hẹn khác. Khôn thiệt. Con gái khôn hơn con trai thiệt. Hèn chi cái cô bằng tuổi tôi kia cứ gọi tôi là “cu Chê cu Chê” miết, coi tôi như con nít. Đơn giản vậy thôi mà tôi nghĩ không ra, lại lo âu vơ vẩn suốt mấy ngày. “Vậy là hổng có màn đồng ca đồng kiết gì hết.” Tôi thở ra như trút đi được một gánh nặng, rồi chộn rộn đi ra đi vô. Vậy mà hai đứa em tôi chẳng chú ý gì, cứ lo ủi quần áo, chuẩn bị đi chơi. Lúc nầy ba tôi đi làm xa, hình như ở Pleiku, vài tháng mới về một lần, nên nhờ bà nội tôi coi chừng hai đứa. Nội tôi đi chợ chưa về. Chắc tụi nó nghĩ tôi mong nội về, đâu biết tôi đang vểnh tai chờ nghe tiếng Phú, còn mắt chăm chăm ngó đồng hồ mong thời gian qua mau. Chốc chốc tôi lại vào bàn rót nước uống. Cuộc hẹn hò đầu tiên sao mà hồi hộp quá chừng!
Tôi hết kiên nhẫn, định ra sân rồi đi trở vô để có thể nhìn vào nhà Phú thì nghe tiếng Phú dỗ ngọt mấy đứa em. Biết đến giờ nên tôi đứng dựa cột hàng hiên, giả bộ ngó đâu đâu. Phú ra cửa, mắt hơi liếc nhìn về phía tôi rồi bước đi. Chừng hơn phút sau tôi theo, đi lững thững mắt nhìn lên tàn cây, như tìm chim tìm trái gì ở đó. Ra đến đường Võ Di Nguy tôi thấy Phú đứng trước một tiệm tạp hóa nhìn tôi tươi cười. Tôi vẫy tay đón một chiếc taxi, mở cửa cho Phú lên. Ngay lúc ấy có người xô tôi ra, tay nắm váy Phú, miệng la lên:
“Chị hai hén… Anh Xê hén… Về “méc” má.”
Đó là thằng Mẫn, em trai Phú. Thiệt là cái thằng..Không biết nó ở đâu mà xuất hiện đúng lúc vậy, bắt “quả tang” tôi và chị nó hẹn hò. Tôi gỡ tay nó ra, lên xe, kêu ông tài xế chạy đi, rồi lo lắng hỏi Phú:
– Có sao hôn?
– Kệ nó. Cho nó méc. Hổng sợ.
Phú nắm tay tôi, miệng cười thật tươi, nói tiếp:
– Không sợ.
Tôi thở ra nhẹ nhỏm. Tôi chỉ sợ cho Phú thôi, quên mất rằng ba má nàng không thể đánh, phạt gì được bây giờ. Cũng chẳng sợ bị đuổi vì nàng đã đi khỏi nhà rồi. Tôi nhìn mặt Phú chăm chú. Niềm vui đang tràn ngập trên khuôn mặt rạng rỡ với đôi mắt lóng lánh sáng và môi hé cười. Và hình như tôi cảm thấy nàng có một nét gì khác nữa bên cạnh cái vẻ hiền lành, đằm thắm ấy. Một nét gì khác lạ lẩm mà tôi chưa rõ. Trên suốt quảng đường ra Sài Gòn hai đứa luôn nắm tay nhau, nhìn nhau cười hoài. Niềm vui của tình yêu thật ngọt ngào dù chỉ qua sự thố lộ đơn sơ ấy. Thỉnh thoảng Phú tựa đầu vào vai tôi, mái tóc đen mịn màng cọ vào má vào tai tôi tạo nên sự nhột nhạt rất là dễ chịu. Và trời ơi, lần đầu tiên tôi ngửi thấy một mùi hương con gái, thật lạ lùng, quyến rũ. Một mùi hương thoang thoảng lúc đây lúc đó làm tôi dụi mũi mãi vào mái tóc nàng kiếm tìm, lòng mê đắm ngất ngây.
Cuối chiều, khi tôi vừa về đến nhà thì má Phú bước qua ngay. Bà chất vấn, nhỏ tiếng nhưng cũng đủ biểu lộ sự giận dữ:
– Con đưa Phú đi đâu vậy? Con không thể làm như vậy được.
Tôi lần khân trả lời, mặt lạnh tanh:
– Con không đưa.
Giọng bà càng giận:
– Con không đưa? Hai đứa lên tắc xi đi mà còn chối nữa hả?
Tôi lừng khừng:
– Con không chối.
“Hai đứa cùng lên xe đi với nhau chứ không phải tôi đưa”, tôi nói thầm. Phú đã dặn tôi không nói gì hết. Cùng lắm là nói Phú đi nhờ xe, xuống ở Tân Định. Vậy thôi, không biết gì nữa. Thấy có vẻ không ép được tôi nói gì khác má Phú dùng đòn tình cảm. Bà vừa khóc vừa nói:
– Con như anh của Phú mà.Con đâu làm như vậy được.
Tôi yên lặng, suy nghĩ về những lời nói của bà. “Đâu làm như vậy được là sao? Không muốn cho tôi “cặp bồ” với Phú à?” “Đưa- đi- đâu, Không- được- làm- như-vậy là làm gì?” À! Tôi hiểu ý bà rồi. Bà sợ tôi đưa Phú đi nơi nào để làm chuyện… làm tầm bậy tầm bạ gì đó. Tôi đã có nghĩ đến chuyện của tôi và Phú bị phát giác và chỉ lo rằng bà gọi tôi qua bảo tôi xin ba tôi qua thưa chuyện. (Ba tôi hăm mẻ răng rằng nếu tôi học hành lôi thôi thì đừng mong ổng cưới vợ cho, mà tôi đã bỏ học đi lính). Nhưng giờ đây bà làm như tôi không đáng cặp bồ với con bà vậy. “Không sợ.” Tôi nhớ tới lời Phú nói. “Vậy thì cho bác biết luôn.” Khi bà tra vấn lần nữa tôi nói luôn rằng tôi và Phú chỉ đi xem ciné thôi. Bà lại tiếp tục:
– Đi ciné rồi đi đâu nữa? Không lẽ xem ciné từ sáng đến chiều tối?
Bà nài nỉ:
– Con đừng giấu bác. Tụi con đi đâu nữa?
– Tụi con chỉ xem ciné thôi. Hết rạp nầy sang rạp khác.
Không muốn bị tra hỏi nữa, tôi nói:
– Giờ con có hẹn. Xin lỗi bác, con phải đi.
Thật vậy. Ngày ấy hai đứa tôi chỉ xem phim thôi. Xem xong ở Casino Sài Gòn, chúng tôi nắm tay nhau qua Thanh Bạch. Ăn xong, cả hai ngược đường Lê Lợi đi một vòng thương xá Tax, ngắm nhìn những hàng hóa sang trọng lộng lẫy trong tủ kiếng, rồi chui vào Eden xem phim tiếp. Mục cuối cùng trong ngày là đến nước mía Viễn Đông ăn bò bía, bò khô của mấy chú chệt, và bánh rế bánh cay của anh Bẩy Chà. Ngày ấy tôi sung sướng như bao nhiêu chàng trai trẻ Sài Gòn khác, dắt đào đi “bát phố”, xem ciné và ăn quà vặt ở đường Lê Lợi, trung tâm Sài Gòn….
Những cuộc gặp gỡ hẹn hò giữa Phú và tôi không những của những tuần sau đó mà mãi đến sau nầy khi tôi từ đơn vị về cũng giông giống vậy thôi. Hai đứa không thể đưa nhau về nhà. Bạn bè còn trẻ cả, chẳng có đứa nào có nhà riêng để mượn chỗ nói chuyện riêng tư. Còn khách sạn, phòng ngủ không nằm trong ý nghĩ của tôi vì nó không xứng đáng cho Phú. Vả chăng lúc đó tôi cũng còn khù khờ lắm. Hôn nhau là hạnh phúc lớn nhất rồi. Có một lần, trong rạp ciné tay tôi “lỡ” chạm vào người nàng, ở chỗ không nên (mà đáng) chạm. Phú giật mình phủi tay tôi ra, “xực” liền:
– Giữa ban ngày ban mặt mà làm dzậy… anh coi có được hôn?
Nàng còn dí ngón tay vào trán tôi, nói:
– Hổng được làm dzậy nữa à nghen.
Tôi quê quá, làm “mặt nghiêm mà buồn”, khoanh tay ngồi ngó thẳng.
– Đụng có chút xi..íu mà làm gì dzữ dzậy. Trong rạp hát tối thui mà ban ngày ban mặt gì? Ừ. Ban ngày ban mặt không “đụng” được thì bữa nào tối “đụng” thử coi có la nữa không.”
Tôi lầu bầu một mình. Lát sau, Phú ngả đầu vào vai tôi. Làm bộ giận, tôi tránh ra. Nhưng không quá lần thứ hai, tôi nghiêng vai để má nàng chạm vào má tôi. Những giọt nước mắt nóng từ má nàng lăn qua má tôi.
Trời đất! Gì mà “đời mình khổ” khi hai đứa mới cặp bồ chưa được hai tháng và đang mê man trong niềm vui tình đầu? “Đời mình” gì mà khi tôi chỉ hơn 20, nàng chỉ có 18? Nhưng rồi tôi hiểu. Nàng đã biết anh em tôi lớn lên bên mấy bà dì ghẻ, hiện tại là bà thứ ba. Dì ghẻ không thương con chồng thì chẳng có gì đáng nói, nhưng bà này chẳng những không chăm sóc mà lại còn keo kiệt khi ba tôi đi làm xa. Bà chỉ lo cơm nước cho anh em chúng tôi thôi, những chuyện khác anh em tôi tự mình lo liệu. Khi nào ba tôi về nhà bà còn nói ra nói vô làm cho tôi bị đòn nữa. Còn với nàng, những chuyện xảy ra từ hơn nửa năm qua thật quá phũ phàng, quá sức tưởng tượng, quá sức chịu đựng cho một cô gái nhỏ. Nó không những chấm dứt cuộc sống êm đềm trong gia đình, làm rụi tàn những giấc mơ của tuổi thanh xuân của nàng mà còn cho nàng biết những cảnh đời chua ngoa, xảo trá, lừa lọc, những thế thái nhân tình mà nàng chỉ biết trên màn ảnh, sân khấu. Phú đã kể cho tôi nghe lý do tại sao nàng phải rời nhà đi ngay lần đầu tiên chúng tôi hò hẹn, trong rạp ciné.
——-
Một buổi sáng nào đó, ba Phú, người có râu con kiến và mang kính cận, định làm gì đó với Phú. Nàng phản đối. Ông ta đã tàn nhẫn cho Phú biết rằng nàng không phải là con ruột ông ta. Phú hỏi mẹ chỉ làm cho mẹ bị ông kia nổi cơn điên vì chuyện cũ, dở thói vũ phu đánh đập, mắng chửi. Phú bỏ nhà về với bà ngoại ở Bình Dương. Dù ngoại cố giấu nhưng nàng cũng biết chút ít về chuyện cũ của mẹ. Nàng lân la dò hỏi tung tích của cha. Qua tin tức những người bà con xa của cha ruột, cuối cùng nàng tìm đến ông. Ông nhận ra nàng ngay dù ngày ông xa mẹ nàng, nàng chỉ là một bào thai mới tượng. Nàng giống mẹ ngày xưa như đúc, lúc cha mẹ nàng xa nhau. Thế là nàng ở lại với cha cùng với các anh chị em cùng cha khác mẹ trong một tòa nhà xưa rộng lớn ở gần cuối đường Trần Hưng Đạo, cạnh một dãy phố của cha. Tuy nhiên Phú không cảm thấy thoải mái khi sống trong khung cảnh giàu sang ấy. Nàng sống xa lạ trong một thế giới khác, một nền văn hóa khác. Những người thân lại chẳng khác gì người xa lạ. Cha nàng đã trở lại “xì thẩu”, ngượng nghịu nói tiếng Việt với nàng. Các chị cũng vậy. Mấy chị thường nói rằng “giờ cha đã già rồi, công chuyện làm ăn sút kém, mọi thứ anh chị em phải lo toan chống đỡ”. Họ nói bằng thứ tiếng Việt khó khăn, cách diễn tả ngọng nghịu, cứng ngắt, thô lổ, gây cảm tưởng rằng Phú nhận cha để ăn gia tài. “Gặp được cha ruột chỉ vui mừng chút chút thôi. Làm con gái trong nhà ấy đã thấp kém rồi, huống chi là con rơi rớt như em. Rồi buồn quá, em tủi thân quá. Em đau lòng nghĩ mình thật vô phước khi được sinh ra,” Phú nói, nước mắt tuôn tràn ướt má tôi.
Cha Phú từ Sài Gòn về quê đám giỗ họ, gặp mẹ Phú là mê ngay. Ông ở lại dùng tiền bạc mua chuộc gia đình ngoại, dùng lối sống sang giàu quyến rũ mẹ Phú, dù ông đã có gia đình và lớn tuổi hơn nhiều. Trong khi đó người cha ghẻ hiện giờ cũng dùng quyền lực xin cưới. Không xin cưới được nhưng cha Phú không chịu từ bỏ, nhất là khi biết mẹ nàng đã mang thai. Ông tìm cách đưa mẹ Phú về Sài Gòn. Đối với ông, người có nhiều máu Tàu hơn trong huyết quản, thì lấy vợ hai, vợ ba là điều bình thường. Vả chăng xã hội đương thời cũng chấp nhận điều đó. Nhưng người cha ghẻ quyết tâm ngăn cản bằng mọi cách. “Sợ xấu hổ với xóm làng vì bụng má ngày càng lớn, ngoại phải gả,” Phú nói dì nàng kể cho nghe vậy. Cha nàng từ đấy không về quê nữa. Khi sống với cha, Phú biết ông còn mấy dòng con nữa. Có đám còn nhỏ tuổi hơn nàng nhiều.
“Dù cha có đi đi về về tụi nó cũng đủ mẹ đủ cha. Chỉ có em…” Tủi thân, Phú thút thít khóc. Tôi ôm siết đầu nàng vào má tôi. Thương em quá, nước mắt tôi cũng ràn rụa.
Sống ở nhà cha gần 2 tháng nhưng chưa bao giờ Phú có cảm giác sống ở nhà mình. Ánh mắt các chị em có bớt đi vẻ soi mói châm chít, lời nói cử chỉ có ít đi vẻ cọc cằn, nhưng sự thân mật của Phú với mấy chị không nảy nở được. Có khoảng cách nào đó, khi lập lờ khi lộ liễu. Mấy chị ngày này ngày kia bàn nhau rằng Phú đã đủ tuổi lấy chồng rồi, nên liệu sớm, kẻo muộn. Cho đến một ngày chính cha Phú nói sẽ gả nàng cho con một thương gia nào ở Chợ Lớn, Phú sợ hãi bỏ đi. Phú đến nhà dì, em kế của mẹ, với cái túi vải đựng quần áo cũ từ ngày rời nhà mẹ. Sau nửa năm, những niềm đau thương và nỗi khổ tâm lắng đi, Phú về thăm mẹ và mấy đứa em, quên đi lời tự hứa với lòng, quên đi nỗi niềm cay đắng.
“Má với em và mấy đứa nhỏ ôm nhau khóc một buổi. Tội nghiệp mấy đứa nhỏ sanh ra ở đây, cứ ôm chân em khóc hoài, không cho đi. Em hứa một hai tuần em về một lần tụi nó mới chịu buông ra.”
Rồi Phú nắm chặt tay tôi nói:
– Nhờ vậy tụi mình mới gặp nhau lại.
Hết buồn tôi bắt đầu bông lơn:
– Thấy chưa! Hồi đó anh thương em muốn chê..ết mà em còn làm bộ… Giờ đuổi nữa đi…
Phú háy mắt ngó tôi, nói:
– Xí! Ai biểu anh chọc em chi! Người gì đâu mặt thấy ghét.
Tôi chọc thêm:
– Theo tò tò như thằng Sáu Nổ em thương chắc?
Phú cười, nói:
– Ngộ héng. Sáu Nổ theo tò tò vậy mà em không ưa. Còn người gì đâu nhảy ra chận đường đại vậy mà em..
Tôi cười hớn hở:
– Em thương… Phải không? Sao không nói luôn đi?
Tôi tiếp, một câu chắc có trăm ngàn chàng trai đã nói:
– Người ta nói “hữu dzuyên thiên lý năng tương ngộ… vô dzuyên…
Phú ngắt lời tôi, quay mặt đi:
– Duyên gì? Nợ anh thì có…
Tôi nâng cầm Phú quay lại, nói
– Cho coi cái mặt vợ hụt của thằng tửng chút coi.
Rồi hun trộm lên môi nàng. Phú xô ra, dơ tay dọa tát, nói:
– Vô dzuyên dzậy mà cũng nói được. Anh muốn hôn? Bây giờ cũng chưa muộn mà… Em về nhà cha ngay cho coi.
Tôi bụm miệng nàng lại, vội vàng xin lỗi. Tính tôi hay giởn nhây. Cũng may ngậm miệng lại kịp thời, nếu không sẽ là “xin lỗi vợ thằng tửng.” Không giận nhau lâu được hai đứa tựa đầu nhau nhìn lên màn ảnh. Nhìn màn ảnh được một chút hai đứa quay lại ngó nhau. Và hai đứa hôn nhau say đắm. Tôi chẳng nói lời tán tỉnh yêu thương, còn Phú chẳng hỏi tại sao, hai đứa cứ lặng lẽ hôn nhau. Chuyện ấy được coi như là chuyện tự nhiên phải đến thôi. Cũng như chúng tôi được sinh ra để sống với nhau thôi.
Sau đó chúng tôi vẫn hẹn nhau cuối tuần, dĩ nhiên bắt đầu từ nhà. Dù Phú chưa được đi học lại, dì Phú cũng chỉ cho nàng về thăm nhà mỗi tuần một ngày. Ngày đó ông cha ghẻ tệ hại kia biến đi đâu mất. Ngày đó cũng là ngày thứ bẩy, ngày tôi đi phép. Lần nào tôi về, má Phú cũng bước qua liền, cũng khóc lóc năn nỉ tôi rằng “con đừng làm vậy; làm vậy coi không được…” Bà không dám làm lớn chuyện, sợ lối xóm biết. Nhưng tôi và Phú đã định với nhau rồi, tôi không làm căng thẳng, cũng không trả lời. Phú đã dặn “Cứ nói, má muốn gì cứ về nói với em đi”. Phú kể cho tôi nghe rằng má Phú nói gì thì nói, Phú không bao giờ mở miệng, nói nhiều quá thì bỏ đi chỗ khác. Dần dà má Phú đổi lời năn nỉ tôi thành dặn dò:
– Con dắt Phú đi ciné rồi về liền nghen con. Đừng về tối, bác lo, bác chờ.
Nhìn ánh mắt van lơn của bác tôi không nỡ lặng thinh nên nói:
– Tụi con chỉ đi xem ciné thôi, không đi đâu nữa đâu. Bác đừng lo.
Tôi xưng con với má Phú chắc từ hồi mới đến đây. Thằng Mẫn trưa trưa thường lén nhà ra chơi với con nít trong xóm. Giữ nó trong nhà không được bác nhờ tôi ngó chừng ở bên ngoài. Sau nầy khi tôi biết chạy xe bác hay nhờ tôi đưa đón hai đứa em gái của Phú. Bác cũng thường hay qua nhà coi anh em tôi ăn uống thế nào khi dì tôi đi thăm ba tôi, có khi cả chục ngày nửa tháng. Nhiều lần bác mang thức ăn qua vì em tôi chỉ biết luộc trứng và bắp cải. Trong xóm chỉ có gia đình tôi chơi thân với gia đình Phú mà thôi, và tình thân ấy tăng theo thời gian. Nhưng cảm tình giữa Phú và tôi lúc ấy không đổi. Nhiều lần tôi ngồi trong nhà Phú cả buổi để nghe hai em Phú tập ca. Phú không ra phòng khách. Nếu phải bước ra, Phú làm như không nhìn thấy tôi, không biết có tôi trên đời. Tôi gọi má Phú bằng bác là gọi theo chồng, chứ thật ra bác còn nhỏ tuổi hơn ba tôi, chắc chưa tới 40. Sanh đẻ nhiều có làm bác già đi nhưng nét đẹp vẫn còn phảng phất. Trừ khi đi chợ bác hầu như không ra khỏi nhà, nơi bác và Phú thu vén mọi thứ, cố gắng giữ bộ mặt giàu có, sang trọng của gia đình. Điều này được thể hiện bởi ông chồng, bằng thái độ hách dịch với lối xóm, sự ăn xài và nhất là qua chiếc Renault, rồi chiếc Simca nhỏ xíu – mục tiêu phá phách của đám con nít.
Nhìn bác ra khỏi nhà tôi không khỏi phân vân thầm hỏi “sao bác có thể chịu đựng được người chồng ấy, và sống đời lủi thủi trong nhà.” Câu trả lời cuối cùng là lòng thương con. Chắc vậy. Đã sống với nhau có đến 7,8 đứa con bà không thể làm gì khác được. Biết được điều ấy, mỗi lần nghĩ tới chuyện bác ngăn cản tôi không giận nữa. Những gì bác nói với tôi dù đúng hay sai, dù nặng hay nhẹ cũng do lòng thương yêu, lo lắng cho Phú, sợ nàng gặp đau khổ trên đời. Bác chỉ muốn tôi làm anh của mấy đứa thôi, kể cả Phú. Sao tôi không là rể được? Và lần đầu tiên tôi chợt có ý nghĩ rằng chắc bác sợ tôi sẽ giống ba tôi, có nhiều vợ.
Những cuộc hẹn hò hằng tuần giữa Phú và tôi vẫn giống cũ. Những rạp hát, tiệm kem, cà phê có thể khác nhau, luân chuyển, nhưng đại thể sự việc không khác nhau mấy. Có lần hai đứa nắm tay nhau lang thang qua chợ chó, chợ chim rồi đến cuối đường Hàm Nghi chỉ để mua một trăm gram hột điều rang. Hôm khác đứng lớ ngớ trong phòng triển lãm tranh ở góc đường Tự Do – Lê Lợi để ăn kem. Nhờ vậy tôi phát giác ra nhiều tiệm ăn, như hủ tiếu Thanh Xuân, không những thức ăn ngon hơn mà còn có chỗ ngồi thích hợp cho bồ bịch, không trống trải trơ trẽn như Thanh Bạch, chỉ thích hợp cho kẻ lẻ loi.
Cuối cùng cái ngày tôi mong đợi rồi cũng đến – ngày ra trường. Nhưng đơn vị tôi chọn, đúng ra là bị chọn vì không còn chỗ nào khác, là Trung Đoàn 4 Thiết Giáp ở xa quá, ngoài Đà Nẵng. Nén chua chát trong lòng, tôi tự bảo mình: “Mình làm mình chịu. Đi đâu cũng đi. Sợ gì.” Dù không được phép cuối khóa tôi cũng còn ở lại Sài Gòn hai ba tuần gì đó vì chờ chuyến bay. Dì Phú cũng cho nàng rời nhà mỗi tuần một lần nên hai đứa chỉ gặp nhau thêm có hai ba lần. Trong bóng tối ở rạp ciné hai đứa tựa nhau yên lặng, lâu lâu nhìn nhau thở dài. Biết làm gì hơn trong hoàn cảnh nầy. Nhưng tôi biết những gì đang chờ tôi khi tôi đến đơn vị. Trước khi tôi ra trường tin những trận lớn như Bình Giã, Đồng Xoài, Ba Gia, nơi quân ta tổn thất nặng nề, đã lan tràn. Tôi biết những trận chiến khốc liệt đang chờ tôi. Tôi hồi hộp chờ đợi nhưng không hề run sợ. Nhưng phải xa Phú. “Phải xa Phú…”, lòng tôi buồn tê tái. Bỏ Phú ở lại lẻ loi. Thương quá. Nhưng biết làm sao hơn được. Là lính tôi phải đi. Hai đứa lặng lẽ hôn nhau, thật nhiều, và đầy nước mắt.
Trung Đoàn 4 Thiết Giáp đóng trên một ngọn đồi bên ngoài vành đai phi trường Đà Nẵng, gần Cầu Đỏ trên đường vào Nam. Xung quanh là doanh trại mới của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ. Ở cuối đường băng nên ở đây đêm ngày rền rĩ âm thanh của máy bay phản lực. Muốn đi Đà Nẵng thì xuống đồi đón xe lam đi ngã ba Cây Lan, rồi đi tiếp. Nhưng xuống đồi là cả một nỗi khổ trần ai. Lúc ấy vào mùa mưa nên các con đường đã bị xe thiết giáp Mỹ làm thành bải lầy. Những người muốn rời trại thường phải chờ quá giang xe ở cổng trại Đoàn Mạnh Hoạch. Lần đầu tôi không biết nên “chụp ếch” liền ngay ngoài cổng. Dính dơ tay chân mặt mũi là chuyện nhỏ, tìm nơi giặt bộ đồ trận mới là chuyện lớn. Với tôi hơn tuần ở đấy thật buồn thúi ruột. Chỉ có vui vào giờ cơm, nhờ sự kể chuyện dí dỏm và duyên dáng của Đại Úy Hòa, sĩ quan hành chánh tài chánh. Trong giờ ăn hầu như chỉ có tiếng ông nói, còn mọi người lâu lâu chỉ rộ lên cười.Ông kể chuyện người nầy người kia, những kẻ “tai to mặt lớn”, đều có dính dáng đến đàn bà con gái, dâm dâm, tục tục, nghe hoài không chán. Nên tôi không ghét và giận “mệ” Ưng Hòa dù ông có đề nghị với Đại Úy Tôn Thất Đường, Trung Đoàn Phó, rằng “cái thứ mặt sắt đen sì như tôi phải đưa đi chi đội thám thính ở Ashau, A Lưới cho trắng mắt ra, cho biết sợ rồi mới đưa về.” Nhưng rồi tôi không được đưa lên rừng bắn khỉ mà được về Chi Đoàn 4/4 Thiết Quân Vận (tiền thân CĐ 2/4 Thiết Kỵ) ở Tam Kỳ do Đại Úy Nguyễn Hữu Lý chỉ huy. Tôi phải chờ khi nào có đoàn công voa mới đi được. Trong thời gian ở trung đoàn tôi có vị sĩ quan đỡ đầu là Trung Úy Bác Sĩ Đức, y sĩ trưởng trung đoàn, dân Sài Gòn như tôi mà sinh đẻ tuốt ngoài Hà Nội. Buổi tối tôi trùm mền nằm suy nghĩ vẩn vơ, còn ông ngồi bàn đọc lại sách y khoa. Gặp gì thích thú ông cười to khoái trá. Có một lần ông gọi tôi lại chỉ cho xem hình hai cái hạch Bar… và giải thích. Thấy tôi cấm cúi xem mãi ông cười nói:
Tối nào bác sĩ Đức cũng nấu thêm cho tôi một gói xúp vì tôi chưa quen thức ăn, nên ăn rất ít ở câu lạc bộ sĩ quan. Sống chung phòng với ông chỉ hơn chục ngày nhưng tôi nhớ mãi vị bác sĩ tốt bụng và vui tính ấy. Tôi tiếc đã không nhớ rõ tên ông lót chữ Văn hay Ý. Ít lâu sau trên một chiếc M113 bổ sung cho chi đoàn tôi vào Tam Kỳ. Liền sau đó tôi tham dự cuộc hành quân đầu đời qua những động cát đến vùng sông Trường Giang và chợ Được. Thật là một kinh nghiệm khó quên. Hơn hai tháng sau chi đoàn dời vào Quảng Ngãi. Sau nhiều cuộc hành quân, khoảng đầu năm 66 tôi được đề cử về tham dự Đại Hội Toàn Quân ở Sài Gòn cùng với Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 4 Thiết Giáp, Trung Tá Nguyễn Văn Toàn. Tôi mừng “hết lớn”. Ít nhất tôi sẽ có 10 ngày, nửa tháng ở Sài Gòn thân yêu của tôi.
Phú biết tôi về chỉ một hai hôm sau. Nàng về thăm nhà, biết tôi về nên ở lại chờ. Buổi chiều gần tối sau khi đi chơi về tôi tắt máy dựng chiếc vespa trưóc nhà thì nghe tiếng “anh” êm ái sau lưng. Phú đứng ngoài cửa nhà nàng nghiêng mình nhìn tôi, miệng mỉm cười, mắt đẫm lệ mừng. Rồi Phú biến ngay, chắc má Phú theo ra. Đêm đó thật là hạnh phúc. Hai đứa lần đầu tiên nằm cận kề nhau nói chuyện, chỉ cách có một… bức tường, có gạch thông gió. Dãy phố nhà tôi có thiết kế giống nhau. Trước hàng hiên, rộng chừng 2 thước, là một lan can thấp bằng gạch có lỗ thông gió. Hàng hiên mỗi căn cũng cách nhau một tường gạch thấp loại đó. Cửa được xây cùng một bên nên cuối hàng hiên nhà tôi là cửa nhà Phú. Nhà Phú được xây thêm phòng khách phía trước, khoảng trống bên trên được xây kín, vách ngăn bên dưới vẫn giữ nguyên để thông gió. Hai đứa nằm hai bên vách ngăn đó. Dù có miếng lưới chống muỗi tôi và Phú vẫn thấy nhau khi thầm thì nói chuyện. Nhưng Phú ít ngó về phía tôi vì phải giả vờ đọc sách và canh chừng mấy đứa em,sợ tụi nó lại gần nghe chuyện. Hai đứa cứ nói chuyện đâu đâu. Phú ít lời, còn tôi thì rất ngượng nghịu khi nói tiếng yêu thương. Tôi chỉ giỏi chuyện trêu chọc. Tôi rủ Phú:
– Tối nay hai đứa mình ngủ đây nha.
Phú nghiêng mặt, đảo đôi mắt sáng quắc về phía tôi chẳng nói gì.
– Rồi khuya mở cửa cho anh vô nha… nha…
Phú liếc tôi, mắt bén như dao:
– Nữa à… nói chuyện gì đâu không à.
Tôi van vỉ:
– Anh nhớ em quá mà. Anh muốn hun em.
– Chờ tới mai không được hả?
– Hông. Anh muốn hun em liền.
Phú quay mặt đi, giả vờ đọc sách. Tôi nài nỉ:
– Hay mình ra cửa sau đi…
– Sáu Nổ đang rình ở đó. Anh ra đó coi chừng nó đập bể đầu đó.
– Nó dám… Mình đi liền nghe.
Phú cương quyết lắc đầu:
– Hông.
Tôi cố vớt vát:
– Chừng nào má với mấy đứa ngủ hết em mở cửa nghe… Anh chỉ muốn hun em thôi.
Phú bỏ sách xuống, liếc mắt về phía tôi, ngồi dậy rồi đi vô nhà. Nằm chờ hồi lâu chẳng thấy Phú trở ra, tôi đến ngồi trên lan can phía đối diện hút thuốc. “Rồi ra đó nằm một mình đi,” tôi lầm bầm giận dỗi. Hút luôn mấy điếu thuốc mà Phú vẫn chưa quay ra tôi đành chịu thua, trở lại chỗ nằm chờ.
Phú trở ra cùng tiếng nhạc, nhỏ nhưng thánh thót. Nàng nằm xuống bỏ hộp nhạc bên gối. Âm thanh thánh thót thanh tao lững thững phát ra những âm điệu buồn vời vợi. Từ tối tới giờ má Phú không lại gần cửa. Phú kể rằng hôm qua khi biết Phú ở lại chờ tôi má Phú đã làm rầy rà rồi. Bà hăm sẽ nói cho dì Phú biết để cấm cửa không cho Phú về nhà. Phú nói:
– Anh biết hôn. Em nói nếu má và dì không cho em gặp anh nữa, em sẽ theo anh đi Quảng Ngãi luôn. Má sợ xanh mặt.
Khi tiếng nhạc trở nên nhỏ và chậm Phú vừa lên dây thiều vừa nói:
– Anh vô nhà ngủ đi.
Tôi năn nỉ:
– Không. Anh muốn ngủ đây với em. Anh không kêu em mở cửa đâu. Anh muốn ngó thấy em.
Phú cười:
– Anh nầy ngộ. Ngủ rồi làm sao ngó thấy được?
– Kệ anh. Nằm đây với anh đi.
Phú mỉm cười, cầm cuốn sách lên.
Đêm đó tiếng nhạc buồn của bản “Mắt Huyền” ru tôi vào giấc ngủ. Khuya tôi giựt mình thức giấc thì đèn trong nhà Phú đã tắt, tiếng nhạc đã im. Không biết Phú còn nằm đó hay không.
Lần về nầy ba tôi cho tôi sử dụng hẳn chiếc vespa nên hai đứa đi chơi với nhau nhiều hơn. Có lần tôi đưa Phú ra xa lộ Biên Hòa rồi đến chơi ở khu suối Lồ Ồ. Tuy nhiên Phú có vẻ không chịu được nắng gió nên chúng tôi lại quanh quẩn trong Sài Gòn như cũ. Ngồi một bên, ôm lấy hông tôi nhưng Phú còn giữ một khoảng cách. Tôi muốn Phú dựa ngực vào lưng tôi và tôi… đạt được điều ấy dễ dàng. Chạy xe nhanh một chút rồi bất ngờ đạp thắng là tôi cảm thấy được một sự va chạm êm ái đê mê từ phía sau. Lần đầu Phú xích ra, cung tay đập nhẹ lưng tôi, miệng nói:
– Anh nầy kỳ… làm chuyện tầm bậy tầm bạ không à. Hổng được “mần” dzậy nữa à nghen.
Dĩ nhiên tôi “mần” nữa. Phú nói:
– Thôi à nghen. Em không giỡn với anh à nghen.
Tôi lại mần nữa, mần hoài, để thích thú cười thầm. Lại giả ngộ nói:
– Anh bị đau lưng.Anh muốn em đấm lưng nhiều nữa đi.
Cuối cùng Phú áp má vào lưng tôi nói:
– Lì quá à. Người gì đâu mà lì quá à.
Có một lần tôi đưa Phú ra bến Bạch Đằng vào lúc chiều tối. Hai đứa ngồi ở băng đá, cạnh mấy lỗ golf cho con nít chơi, nhìn ra những chiếc tàu hàng tràn ngập ánh sáng. Gió từ ngoài sông lồng lộng đưa về mát rượi. Chợt Phú rùng mình. Tôi tưởng gió làm Phú cảm lạnh. Nhưng không phải vậy, Phú nói:
– Thôi mình về đi anh.Em sợ. Khu này bị nổ mấy lần rồi.
Hơn nữa, chỗ nầy cũng không thích hợp với chúng tôi. Rất nhiều người bán dạo đến quấy rầy, mời mua nầy mua kia. Chúng tôi về nhà.
Nhưng những ngày ấy chuyện vui ít hơn chuyện lo âu. Khi trình diện Trung Tá Toàn nhận sự vụ lệnh, ông bảo tôi xin phương tiện vào Sài Gòn trước, ông sẽ vào sau. Tôi ngu ngơ hay sợ quá không hỏi gặp ông ở đâu ở Sài Gòn. Tôi cứ tưởng đến Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh thì sẽ biết. Nhưng không, những người tôi hỏi không ai biết cả. Những sĩ quan cao cấp hơn có thể biết, nhưng sĩ quan “cắc ké” như tôi làm sao dám mò tới mấy ông đó mà hỏi. Tôi lên Trường Thiết Giáp nơi Chi Đoàn 7/4 Thiết Quân Vận đang huấn luyện sau khi thành lập. Cũng không ai biết Trung Tá Toàn ở đâu. Ngày nào tôi cũng chạy tới chạy lui hai nơi ấy để rồi thất vọng trở về, vò đầu bứt tai tự trách mình. Lúc ấy tôi biết ở Sài Gòn có Câu Lạc Bộ Sĩ Quan An Đông nhưng tôi chưa biết nơi ấy là nơi sĩ quan các nơi đi công tác Sài Gòn thường trú ngụ.Tôi không đến đó để tìm Trung Tá Toàn. Đến ngày, tôi đến sở Ba Son nơi Đại Hội được tổ chức, nhưng không được vào vì không có thẻ. Tôi đứng chờ. Nhưng Trung Tá Toàn nào có đi bộ vào cổng như tôi mà nhìn thấy tôi. Tôi áo não trở về. Hy vọng xin được một tuần phép từ Trung Tá Toàn sau Đại Hội đã trở thành ảo vọng. Chút công trận lập được mong gầy lại chút tín nhiệm với thượng cấp, xóa bớt những sai phạm cũ đã trở thành mây khói. Không những thế, sai lầm nhỏ dẫn đến sai lầm lớn hơn. Ngày đưa Phú đi chơi suối Lồ Ồ là đã hơn tuần sau Đại Hội, nhưng tôi chưa đến Phòng 4 Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh để xin phương tiện về đơn vị. Chắc tôi về trễ ít nhất phải hai tuần. Một ngày vắng mặt bất hợp pháp lãnh “hai củ”. Cứ thế mà nhân lên, chưa kể tội không tham dự Đại Hội. Mỗi ngày tôi sống với niềm vui bên người yêu và nỗi lo âu thắc thõm, không biết rồi sẽ bị phạt ra sao, ra đơn vị rồi có còn ngày trở về hay không.
Tôi không đành lòng đi được. Phú đang bị rắc rối với gia đình. Từ ngày tôi về, Phú về ở lì nhà mẹ. Dì Phú nói Phú “luông tuồng” quá, phải “cột chân” lại. Phú nói:
– Dì nói đã hứa gả em cho một người rồi.Nếu em không chịu thì đi đâu thì đi.
Tôi chọc:
– Gả cho thằng nào? Thằng Rư hay thằng Rết?
Phú ngó tôi ngạc nhiên:
– Rư Rết nào? Sao anh biết?
– Thấy bả cho thằng T., con C. học trường Tây, chơi với dân Tây nên anh tính bả muốn gả em không cho thằng Hăngrư thì cũng là thằng Hăngrết.”
Đang cười ngất vì được dịp chọc ghẹo tôi phải dừng lại vì Phú nhéo tay một cái đau điếng:
– Chuyện vậy rồi mà anh còn giỡn được? Bộ hổng thương em hả?
Phú xê ra khỏi mình tôi, giọng buồn hiu:
– Em biết mà. Em thương anh nhiều chứ anh không thương em bao nhiêu.
Kéo Phú lại gần, tôi nghiêm chỉnh nói:
– Anh thương em nhiều mà. Tại anh không biết cách nói thôi.
Tôi nói thật. Nhưng tôi vô tâm vô ý quá. Từ khi hai đứa yêu nhau tôi chỉ biết Phú sống với dì, nhưng không quan tâm đến những điều khác. Những lần hò hẹn tôi chỉ biết hạnh phúc bên nàng, hôn hít vuốt ve nhưng không bao giờ biết hỏi nàng sống thế nào, ra sao. Tôi cho rằng Phú sống trong nhà dì giàu sang danh vọng, chắc rằng dù không được thương yêu chăm sóc như mấy đứa em bạn dì nhưng sẽ không bị thiếu thốn gì. Tôi đâu biết có những nỗi khổ tâm khác Phú phải chịu đựng. Dì Phú vừa trải qua một vụ rắc rối lớn qua đó bà nổi tiếng, nhưng nó cũng hủy hoại tinh thần và thể xác của bà, cũng như hạnh phúc gia đình. Mấy đứa con oán trách mẹ, trở nên không nghe lời. Tụi nó muốn làm gì thì làm, bất chấp cha mẹ. Để che giấu sự đau khổ, xuống dốc của gia đình bà ít ra khỏi nhà. Sự giao thiệp của bà chỉ còn gói gọn lại với một số ít bạn thân.
“Tuy nhiên dì không bao giờ nặng lời, không tỏ thái độ gì khác thường với em. Gần đây nhiều lần em thấy dì ngó em thật lâu rồi quay đi, không nói gì. Em đâu biết dì đã định gả em từ đó,” Phú nói, giọng buồn muốn khóc.
Người mà dì Phú muốn gả nàng là em người bạn đã giúp bà trong lúc khó khăn. Đó là một sĩ quan mới góa vợ và đang tùng sự ở một cơ quan ở Sài Gòn. Phú kể:
– Má với dì biểu em ưng người đó, có lớn tuổi hơn em một chút nhưng chắc chắn tương lai em được sung sướng an toàn. Ai ưng cho được. Người đâu lạ quắc lạ quơ, già ngơ già ngắc mà nói lớn hơn em có chút. Mà… có trẻ hơn nữa em cũng không chịu đâu. Không thương làm sao ở với nhau được.
Nắm chặt tay Phú tôi nói:
– Hay để anh xin ba qua hỏi cưới em.
Phú giẩy nẩy nói ngay:
– Chưa được đâu. Má với dì không chịu đâu.
Tôi nói, lòng dâng lên cơn giận đột ngột:
– Biết ngay mà… Chê anh nghèo phải không? Chuẩn úy quèn chứ gì? Không cho ba anh qua..Má em là người…
Phú bịt miệng tôi, nói:
– Đừng nói bậy. Em sợ ba qua rồi xẩy ra chuyện nầy chuyện kia mích lòng, không tốt cho tụi mìmh về sau.
Phú ngừng một chút, mắt chăm chú ngó tôi, rồi giọng trở nên âu yếm:
– Anh biết mà…Anh không cưới…em cũng theo anh mà.
Tự ái được vuốt ve tôi ngừng giận:
– Ừ! Em theo anh ra Quảng Ngãi đi.
Nói xong tôi biết mình lỡ lời nên ngồi lặng thinh. Hai đứa sống với nhau ở Quảng Ngãi cũng được. Bao nhiêu tiền lương đưa hết cho nàng. Bỏ cà phê hủ tíu buổi sáng, nhịn rượu chè buổi chiều..thì hơi khó, nhưng vẫn làm được. Còn thuốc lá không bỏ được thì làm theo kiểu chàng lãng tử Lucky Luke, ngồi lưng ngựa (sắt) vừa mần một cú bốc se lăn vừa ca “một mình ta… lang thang…trên đồi…một mình ta..lang thang..trên đời”. Hút thuốc vấn như mình từng làm khi cuối tháng có sao đâu. Nhu cầu, thói quen của mình thì mình kiểm soát được mà. Nhưng than ôi! Muốn sống chung với Phú như vậy có cái tôi không vượt qua được. Là lính, nhất là lính tác chiến, tôi biết mình không kiểm soát được đời mình, không dành thời gian bên vợ thường xuyên được. Làm sao một cô gái trẻ, sinh đẻ và lớn lên ở Sài Gòn như Phú có thể sống một mình ở một nơi xa xôi, thiếu thốn mọi thứ, đêm đêm nghe tiếng đại bác, nhìn ánh sáng hỏa châu chờ chồng đi hành quân về được. Ở Quảng Ngãi Chi Đoàn 4/4 Thiết Quân Vận là đơn vị chủ lực, sau Trung Đoàn 4 Bộ Binh. Tuần nào chi đoàn cũng phải hành quân đôi ba ngày. Những ngày còn lại phải ứng trực để đi tiếp viện các đồn hay đơn vị bộ binh bị địch tấn công. Ban đêm các chi đội còn phải thay nhau đi phòng thủ phi trường, hay bảo vệ các pháo đội. Một hai tháng lại có cuộc hành quân lớn, xa, có khi kéo dài cả nửa tháng. Những cuộc hành quân như vậy thế nào cũng có tổn thất, kẻ chết người bị thương. Không! Không thế nào Phú có đủ tinh thần để chịu đựng được. Nhưng điều trở ngại lớn nhất sẽ xảy ra trước mắt là sự “trả giá” cho việc ở lại Sài Gòn, sự vô kỷ luật. Hai tội, vi phạm trước mắt cấp chỉ huy trực tiếp, người vừa tưởng thưởng mình. Bị nhốt là cái chắc, không còn nghi ngờ gì. Viễn cảnh như vậy thì làm sao tôi đem Phú theo được. Trong lúc tôi thẫn thờ suy nghĩ Phú cũng lặng thinh.Chắc nàng cũng có mối ưu tư riêng khi muốn theo tôi. Bất chợt Phú hỏi, giọng ngập ngừng như tò mò:
– Ở ngoài đó… anh có quen ai… quen cô nào không?
Được giải thoát khỏi một vấn đề mà tôi không muốn tiếp tục nên tôi mừng rỡ dắt chuyện qua hướng khác:
– Có, anh quen mấy cô luôn.
Phú nắm cánh tay tôi, chắc định ngắt:
– Đẹp hôn?
– Chưa biết được. Mấy cổ mới… 11,12 tuổi hà.
Phú vuốt ve tay tôi:
– Xạo. Anh mà quen con nít hả?
– Thật đó. Chỉ quen được con nít thôi. Mấy cô ở ngoải ngộ lắm, mới lơn lớn chút xíu đã sợ đàn ông con trai nên trốn đâu mất biệt, không thấy ló ra khỏi nhà để “bắt đèn”. Mà em đừng lo. Ở ngoải mấy cổ nói anh nói tiếng Việt gì đâu, ngọng ngọng, đớt đớt, kỳ kỳ. Không ai thèm anh đâu.
Dù tôi nói thật nhưng cũng không tránh được một cái nhéo đau điếng, đành trân mình chịu.
– Vậy mà nói hổng có quen ai. Xạo quá. Ai tin anh được. Ai không biết, thấy mặt tưởng anh khờ câm. Chứ còn em… ở gần anh từ hồi nhỏ… em biết anh quá mà.
Quá quen thuộc với bàn tay Phú lần trên tay tôi lần nầy tôi tránh được một cái nhéo khác. Nắm tay Phú tôi kéo nàng sát vào người tôi:
– Anh nói thiệt mà. Em ráng chờ anh đi. Ra ngoài đó rồi anh sẽ kiếm cách… Rồi anh sẽ báo cho em hay.
Giọng Phú bùi ngùi:
– Em không ở nhà dì được nữa đâu. Lần nầy cũng không thể về ngoại nữa. Em… em hổng biết đi đâu.
Tôi xoa má Phú, rồi xoa bàn tay đẫm nước mắt ấy vào má tôi.
– Em ráng chờ chút nữa đi. Anh sẽ tìm ra cách mà.
Tôi biết mình nói dối. Tôi trấn an nàng, nhưng tôi không trấn an được tôi. Sau cùng Phú ngập ngừng nói là Phú có quen một chị bạn ở Bàn Cờ.
– Chỉ nói nếu dì và má ép quá, đến nhà chỉ ở đỡ một thời gian rồi sẽ tính.
Phú hỏi:
– Cùng quá em tới đó. Anh chịu hôn?
Sau khi biết chị bạn ấy sống cùng cha mẹ tôi đồng ý. Không có cách nào khác. Không thể nào làm gì khác hơn được. Chiều ấy, sau buổi ciné tôi đưa Phú đến đó để tôi biết ngôi nhà mà Phú có thể ở trong tương lai. Đó là một căn phố lầu trên đường Nguyễn Thiện Thuật, gần đường Hồng Thập Tự.
Tôi lại ra đi. Tội nghiệp Phú. Nàng muốn mà không lần nào có thể tiễn tôi đi. Hai đứa chia tay sau buổi ciné hôm trước. Nước mắt chỉ rơi đầm đìa trong bóng tối.
Đến Quảng Ngãi được mấy ngày tôi theo chi đoàn đi hành quân ở Đức Phổ. Đây là lần chi đoàn đi xa nhất về phía nam, gần tới ranh Bình Định. Gần 2 tuần sau tôi được trực thăng bốc từ vùng hành quân về Đà Nẵng thọ phạt. Trước khi được gởi vào trại kỷ luật tôi may mắn gặp Răng, chi đội trưởng thám thính, bạn cùng khóa và cũng từ Nam ra như tôi. Răng tốt bụng, thấy tôi hết thuốc hút, chạy xuống Phước Tường mua cho tôi một bịch thuốc rời “Half and Half”, một bịch “Seventy Night” và mấy tập giấy quấn thuốc. Còn tiền Răng nói sau khi đưa đoàn công voa đi Quảng Ngãi về, lãnh lương rồi sẽ thăm tôi. Trong trại tôi ngóng chờ Răng để có tiền đóng tiền cơm. Tôi đâu biết rằng đoàn công voa bị phục kích, Răng phải dừng lại chiến đấu bảo vệ đoàn xe. Chi đội không bị thiệt hại nhiều nhưng hầu như toàn bộ các bánh xe đều bị bắn bể, phải ở lại Quảng Ngãi chờ tiếp liệu. Khi về Đà Nẵng Răng mang thuốc mang tiền đến thì tôi đã gần mãn hạn thọ phạt. Đúng ra sự đói ăn thiếu thuốc là do lỗi của tôi. Tôi đã không biết đến ban tài chánh trung đoàn mượn lương trước. Một lần nữa tôi bị sự khù khờ của chính mình làm khổ không ít. Hơn tháng sau tôi được hoàn trả về đơn vị.
Lúc nầy tình hình chiến sự ở Quảng Ngãi đã khả quan hơn nhiều, so với lúc chi đoàn mới đến. Các cuộc hành quân Liên Kết của ta đã đẩy địch ra khỏi các vùng chúng chiếm từ lâu, từ mũi Batangan ven biển cho đến miền cận sơn Trà Bồng, từ Thạch Trụ đến Đức Phổ. Tiếp theo những cuộc hành quân lớn đó là Hành Quân Liên Kết 36 (?) (Operation Texas?) ở vùng chân núi Trà Bồng.Chi đoàn đi với cánh quân Trung Đoàn 4 Bộ Binh. Hai cánh khác là Tiểu Đoàn 5 Dù, do Thiếu Tá Nam chỉ huy và 1 đơn vị Mỹ, tôi không nhớ danh hiệu. Tôi không nhớ hành quân đến ngày thứ mấy thì chi đoàn được lệnh đổi hướng, tăng viện cho Tiểu Đoàn 5 Dù đang bị 1 trung đoàn địch với vũ khí nặng bao vây, đang “cài răng lược”. 2 chi đội 2 và 3 của tôi và Nguyễn Tráng nôn nóng tiến nhanh, bỏ lại chi đoàn vướng lầy ở phía sau. Chúng tôi bị phục kích khi tiến qua một dãy đồi thoai thoải với những cây sim và lùm bụi nhỏ, thấp cỡ ngang ngực. 2 chi đội tiến hàng dọc nên khi bị bắn bên trái chúng tôi đổi hướng thành hàng ngang và càn luôn. Theo thường lệ 2 đứa tôi cỡi ngựa sắt, ngồi trên xe chứ không đứng trong cửa vuông ló đầu lên, xung phong. Than ôi! Tráng tử trận ngay khi cán qua phòng tuyến địch. Đạn AK bắn gần phá nát ngực của nó. Tôi cũng bị một viên cháy da đầu, bay mất cái nón vải đi rừng của người bạn học, thông dịch viên cho TQLC Mỹ, tặng. Không mang theo bộ binh để cận chiến và lục soát nên tôi cho lệnh dùng xích xe quậy nát, chà đi chà lại và tung lựu đạn xuống các vị trí địch. Phá xong tuyến phục kích mới biết phòng tuyến Dù nằm dưới chân đồi, trong 1 làng cũ. Tôi chỉ huy 2 chi đội nhào tới nữa, đến ngay chỗ “cài răng lược”, và kẹt ở đấy. Tại đây chúng tôi không thể dùng ưu thế của mình để đánh địch được, vì con cái Dù bị kẹt nằm tứ phía. Dù “chì” thiệt, dính đâu nằm đó, không lui. 2 chi đội tôi cũng nằm lì ở đấy, bắn đại liên lên cây để triệt đám bắn sẻ, để quân Dù kéo mấy đứa con bị kẹt phía trước về ngang. Trong những khoảnh khắc đó thiết giáp bị thiệt hại mấy người. Xe tôi bị hai, trưởng xa bị thương nặng, xạ thủ 30 tử trận. Đạn bắn sẻ làm bay tấm bản đồ trước mặt tôi. B40 nhiều lần nổ ở bụi tre lớn chắn trước xe tôi. Gần nửa giờ sau đại úy Lý dắt phần còn lại của chi đoàn tới, xung phong vào phòng tuyến địch bên trái tôi. Đại úy Lý bị thương trong đợt xung phong nầy. Địch bị đánh bung ra. Nương cơ hội Nhẩy Dù phía tôi cũng tấn công phá vỡ thế cài răng lược. Trước khi trời tối chúng tôi đã đẩy địch ra xa. Đêm đó cả hai cánh quân lùi lại đóng quân trên đồi.
Sáng hôm sau chúng tôi lại tấn công xuống phòng tuyến địch. Nhưng địch đã rút, chỉ để lại vài toán nhỏ để trì hoãn chiến. Địch rút vội vàng, bỏ lại nhiều vũ khí và nhiều đạn dược của vũ khí nặng rải rác trên đường “chém vè”. Chắc địch bị thiệt hại nặng nề, không còn đủ nhân sự nên bỏ lại các chiến cụ. Sau gần một ngày lục soát, thu lượm vũ khí, Dù và Thiết giáp cũng rút về Quảng Ngãi chiều đó.
Sau khi tắm rửa xong tôi đang lên phòng y tá để băng mắt phải bị sưng đỏ vì hơi thuốc súng thì nhận lệnh của Tiểu Khu đi trực xác Tráng. Cũng được thôi. Hai đứa cùng khóa, cùng đơn vị và cùng chiến đấu bên nhau sáng qua. Xác Tráng được đặt trong “Nhà vĩnh biệt” của bệnh viện tiểu khu. Không hiểu sao chỉ có một mình xác Tráng ở đấy. Và cũng chỉ có mình tôi trực. Tráng được đặt nằm trên bàn, trước đầu có bình hương và hai ngọn đèn cầy. Hai ngọn đèn cháy chập chờn, mờ ảo không xua được bóng tối của căn phòng nhỏ. Tôi ngồi ngoài cửa nhìn vào chợt giựt mình vì hình ảnh ấy tôi thấy rồi, chỉ thiếu bình hương và đèn cầy. Cái ảnh năm rồi “công tử” Trần Tấn Minh chụp Tráng ngủ trưa khi còn ở Trường Thiết Giáp. Minh không những chụp ảnh Tráng mà còn nhiều người nữa, những ai hớ hênh, hoặc đang có điệu bộ xấu xí. Minh chụp để lâu lâu mang ra chọc cười chọc tức thôi. (Minh tử trận năm 68). Trong trường tôi và Tráng không thân nhau lắm vì khóa sinh quá đông, 48 người, đông nhất từ trước đến giờ. Tội nghiệp Tráng. Khi gặp nhau ở trung đoàn Tráng dắt tôi về Đà Nẵng, đưa lại nhà anh Tráng ở sát bờ biển Thanh Bình. Anh Tráng giăng lưới bắt cá làm mồi, và đào hũ rượu bách nhật sau vườn lên đãi tụi tôi. Khi vào Tam Kỳ tối sáng gì chỉ có 2 đứa lận “côn” trong bụng lội bộ cả 2,3 cây số ra phố chơi. Mấy vị sĩ quan khác trước tụi tôi 5,7 khóa, không có huỡn đi chơi với tụi tôi. Mấy ảnh mắc ở nhà chơi với vợ. Hai đứa thường vào quán mì Quảng của chị Th., người có đôi mắt buồn rười rượi, uống bia. Hiếm khi nào có đá, nên khi đứa nầy khi đứa kia..xin chị cầm giùm ly rượu lâu lâu để bia… được lạnh, vì chị có trái tim lạnh lùng, băng tuyết. Chị Th. lớn hơn hai đứa mấy tuổi, chỉ cười cười, mắt ngó nơi xa thẳm nào đó. Vào Quảng Ngải chỉ còn 2 đứa là sĩ quan chi đội trưởng nên càng thân hơn, đi đâu cũng có nhau.Vậy mà giờ nó im lìm nằm đó, đã đền xong nợ nước. Tội nghiệp Tráng. Tráng lớn hơn tôi 1 tuổi, quê Quảng Trị, chưa vợ. Không biết có bồ bịch gì chưa, không nghe nhắc tới.
Nhắc đến vụ bồ bịch của Tráng tôi chợt nhớ đến Phú và lời hứa tìm cách đưa Phú ra đây. “Không. Không thể nào đưa Phú ra đây được.” Tôi không bao giờ muốn Phú biết cảnh thê lương này. “Dù có ham muốn sống chung, làm chồng vợ với Phú cách mấy, mình cũng không thể đưa Phú ra đây.” Trời ơi! “Nếu lỡ mình bị đạn và tử trận thì sao? Ừ. Dễ xảy ra quá mà. Như Tráng đó. Mới sáng hôm qua, sau buổi họp Tráng còn ngậm điếu thuốc xề xệ trên môi, còn đùa giỡn với mình. Vậy mà hôm nay nằm im lìm mãi mãi nơi kia. Chuyện đó cũng có thể dễ dàng xảy ra với mình chứ? Tại sao không? Mình đền xong nợ nước cũng là chuyện thường tình của người lính, nhưng tại sao mình lại đưa nàng, một thân một mình, vào cảnh khổ não bi thương đó?” Tôi dứt khoát. Không. Không bao giờ đưa thêm khổ đau vào số phận hẩm hiu của nàng.
Sau đó vài tháng tôi nhận được thư Phú, lần đầu viết cho tôi. Trong thư viết trên giấy pelure màu xanh da trời có một bài thơ ngắn kể lòng nhung nhớ chờ đợi. Ngoài ra Phú cho biết đã đến ở và đi làm chung với chị bạn. Tuy nhiên nàng dặn tôi khoan viết thư, chờ khi nào nàng báo rồi hẳn viết. Thư nàng vắn tắt, ít lời như khi nàng nói chuyện với tôi vậy. Nàng cũng không nói đến chuyện đi Quảng Ngãi nữa. Tôi rất mừng, cứ đem ra đọc hoài, nhất là bài thơ ngắn. Lúc ấy tôi ở chung với Hạ Sĩ nhất Lâm Vậy và Hạ Sĩ Lê Đức, cùng là dân Quảng Trị, ở một phòng nhỏ, cạnh cổng sau của doanh trại chi đoàn. Lâm Vậy, lớn hơn tôi 5-6 tuổi, mặt vuông càm bạnh, là dân lãng tử, đa tài, lắm tật. Khi say rượu Vậy hay làm thơ và ngâm thơ. Chỉ những lúc ấy tôi mới thấy anh buồn, mắt mờ dại hẳn đi. Tháng tháng anh gửi hết tiền lương về cho vợ nhưng không bao giờ về phép. Hỏi anh chỉ thấy mắt anh đỏ ngầu, càm bạnh ra không trả lời. Không tiền nhưng anh vẫn sống được, say đều đều. Nhiều lần giữa đêm khuya anh về với rượu và mồi bắt Đức và tôi thức dậy uống rượu với anh. Lê Đức hiền lành, có nụ cười nhỏ nhẻ như con gái. Xong bổn phận ở chi đội, 3 đứa chúng tôi không cùng chi đội, Đức về phòng học và đọc sách. Có bao nhiêu tiền Đức đều dành cho sách. Anh có nhiều sách văn chương, triết lý, hàng tháng đều mua tạp chí văn nghệ ở Sài Gòn. Cuốn sách của Đức tôi đọc lâu nhất là một quyển dầy cộm của Phạm Công Thiện, không nhớ tựa đề. Tôi bỏ qua phần triết lý vì nuốt không trôi, nhưng say sưa thích thú về phần bình luận văn chương. Tác giả thiệt là người tài hoa. Qua ông tôi cũng “lượm” được một ít hồn thơ và giai điệu của những thi sĩ mà ông hết lời tán tụng. Trong một lần say với Vậy tôi có làm một bài thơ, định riêng tặng Phú. Bài thơ nầy có số phận hẫm hiu, dù hay dù dở nó cũng không bao giờ được người được đề tặng biết đến. Làm sao gửi cho Phú được vì đoạn kết như một lời chia tay:
Trời ướt đêm thâu
giá buốt về đâu
thương em gái nhỏ
một năm chờ đỏ mắt sầu.
Trời mưa trời mưa
thôi nhé người xưa
ta còn xa mãi
chờ mong biết mấy cho vừa.
Sau khi bài thơ “Mùa Thu Paris” của Cung Trầm Tưởng, được Phạm Duy phổ nhạc trở nên quá nổi tiếng, tôi quên bài thơ của tôi luôn. Rồi tôi cũng không còn sử dụng thời giờ rảnh để đọc đọc viết viết như Đức nữa. Tôi đi với Vậy la cà quán xá, không uống cà phê nữa mà uống rượu. Tử thần đã đến gần tôi lắm rồi. Sau khi Tráng tử trận, trong vòng hai tháng tôi còn mất thêm 3 trưởng xa, có 2 là trưởng xa xe tôi. Lúc nầy đi hành quân bị 57 không giật bắn hoài mà chưa lấy được. Buồn và tức.
Sự say sưa rượu chè của tôi tăng nhiều khi Lê Thọ Lăng, cũng là dân Quảng Trị, chi đội phó cũ của tôi học xong ở Thủ Đức về.Lăng lớn hơn tôi vài tuổi, rời trường Thiết Giáp trước tôi 1-2 năm. Có thể gọi Lăng là “chàng đẹp gái” được vì anh trắng trẻo, có nụ cười tươi,đôi môi đỏ và có đeo một khuyên nhỏ bằng vàng nơi tai trái. Anh nói vì xấu háy nên cha mẹ anh cho đeo bông tai từ nhỏ để quý ông bà tiên thiên quỷ thần gì đó nhìn không ra, không “bắt” được anh. Chính anh là người đã biến tôi thành “pilot Thiết giáp”, có nghĩa là 1 cấp chỉ huy khi có lệnh hành quân chỉ thẩy ba lô lên xe rồi đi, hết hành quân xách ba lô nhẩy xuống xe dông mất, chẳng cần biết đến bảo trì tu bổ, chẳng xin bổ sung nhiên liệu đạn dược gì hết. Mọi chuyện Lăng lo hết. Mấy ông phân đội trưởng, có người lớn hơn anh cả chục tuổi, rất nể trọng anh. Khi mới vào Quảng Ngãi do không quen thuộc địa thế cả chi đoàn mắc lầy. Với kinh nghiệm học được từ lúc chi đoàn còn tăng phái cho ChiếnĐoàn 6 Thiết Quân Vận trong Nam, trong 1 đêm Lăng kéo cả chi đoàn lên. Lăng thật giỏi. Tôi chỉ hơn anh được cái liều lỉnh, chỉ biết hô “dzô… dzô…” Khi ra trường Lăng chưa về được Thiết giáp. Anh về Sư Đoàn 2 BB và được cử làm Chi Đội Trưởng Chiến Xa M24, thuộc Đại Đội Tổng Hành Dinh Sư Đoàn. Các chiến xa cũ kĩ nầy chỉ để dùng làm “kiểng” trong Bộ Tư Lệnh chứ không di chuyển xa được. Bấy giờ Lăng “ngon” hơn tôi nhiều. Là chi đội trưởng anh vẫn đội mũ đen kỵ binh, có 1 ngôi nhà gần câu lạc bộ để làm chỗ ngủ và văn phòng, có xe jeep để đi… chơi. Thêm nữa, anh có 1 cô bồ người Sài Gòn, là ca sĩ của phòng Chỉnh Huấn, chiều chiều tối tối hát riêng cho anh nghe. Từ đó tôi ít về phòng Đức đọc sách. Văn phòng của Lăng là nơi cả đám tụi tôi rượu chè ca hát hầu như mỗi chiều tối, khi không đi hành quân. Ở nơi đây lần đầu tôi được nghe bài “Hồ Trường” của Nguyễn Bá Trạc do Vậy ngâm. Cả đám lặng im nghe anh. Vậy vừa ngâm thơ vừa uống rượu, mắt đỏ ngầu đẫm lệ, lúc hào sảng, lúc thê lương, lúc cười sằng sặc như điên cuồng. Giọng Quảng Trị của anh lúc rổn rảng như suối trên ngàn đổ xuống, lúc thầm thì như sóng sông vỗ về lau lách.
Nào ai tỉnh, nào ai say?
Chí ta ta biết, lòng ta ta hay,
Nam nhi sự nghiệp ư Hồ thỉ
Hà tất cùng sầu đối cỏ cây.”
Những đêm ấy sao mà sảng khoái vậy! (Lăng và Vậy tử trận năm Mậu Thân. Cuối cùng, quý ông bà thiên tiên thần quỷ gì đó cũng nhận ra Lăng và bắt anh đi, khi vợ anh, cô ca sĩ người SàiGòn mang bầu được mấy tháng. Còn Đức không biết phiêu bạt nơi nào, số phận ra sao).
Cũng khoảng thời gian này tôi nhận được thư của Lê Văn Nghĩa, bạn cùng khóa, từ Chi Đoàn 2/1 Thiết Quân Vận. Nghĩa đề nghị hoán chuyển với tôi. Nghĩa cũng báo cho tôi biết Lê Báu, bạn thân nhất trong khóa, cũng là dân Phú Nhuận như tôi đã tử trận ở Bến Cỏ, Phú Hòa Đông, Bình Dương. Lê Báu là trưởng lớp, chỉ một ngày của khóa tôi. Nghĩa cho tôi biết đơn vị anh đồn trú tại Phú Cường, Bình Dương, cách Sài Gòn không xa. Tôi cứ tưởng tôi “lì” lắm, đi lông bông 5,7 năm chưa chắc đã thèm về. Nhưng không. Không suy nghĩ gì nhiều, 1-2 ngày sau đó tôi viết thư báo cho Nghĩa biết tôi đồng ý. Hai chúng tôi cùng làm đơn gởi đến Bộ Tổng Tham Mưu. Gần nửa năm sau mới có lệnh hoán chuyển. Thiết Đoàn 4 Kỵ Binh chờ Nghĩa trình diện rồi mới cho tôi về Đà Nẵng. (Nghĩa tử trận ở Quế Sơn, Quảng Ngãi năm 72).
Tôi nôn nóng về Nam, nhưng phải chờ ở nơi vẫn buồn thúi ruột ấy, không biết khi nào có chuyến bay về Sài Gòn. Trong một lần sốt ruột tôi xuống ban tư và gặp Phan Phụng Chương,người thay Răng. Biết chi đội anh thường yểm trợ đoàn công voa qua lại đèo Hải Vân tôi xin theo chơi. Dù mới gặp nhau lần đầu, Chương, khóa đàn em, rất tử tế với tôi. Khi nào đi anh cũng cho xe rước tôi về chờ ở ngã ba Cây Lan. Thế là 2-3 ngày tôi có 1 chuyến đi ngắm phong cảnh dọc đèo Hải Vân, rồi la cà quán xá ở Lăng Cô. Chao ôi! Lần thứ hai tôi gặp được các cô gái nói năng dịu ngọt chi lạ, dịu ngọt đến đổi không rời chân đi được. Rồi cứ vài ngày tôi lại đến LăngCô, say đủ thứ.NgàyNoel năm 66 tôi theo Chương về nhà anh ở Hội An. Chương đưa 2 người chị em ruột hay chị em họ gì đó về Đà Nẵng tham dự lễ hội Noel do quân đoàn tổ chức cho các đơn vị đóng quanh vùng.
Trong những ngày cuối cùng ở đây tôi lại đâm lòng thương mảnh đất mà tôi đã sống gần năm rưỡi qua. Tội nghiệp mảnh đất nghèo khổ nầy đã thấm máu hận thù từ bao nhiêu năm trước. Nó cũng đã và đang thấm máu những sĩ quan trẻ từ nơi khác đến như Tráng như tôi, không chỉ ở chiến địa mà còn ở những vụ mỹ nhân kế trong đó những tên trai trẻ ngu ngơ bị lừa bắt và bị cắt cổ chẳng tha. Tôi rời nó mà chẳng bỏ lại cô nào; quen lung (1) còn chưa có nói chi bồ.
Tôi cũng luyến thương mảnh đất bên kia đèo nơi tôi có một “cô em gái” thường cùng nhau trao đổi thư từ. Tôi gặp cô một lần nhưng không rõ mặt vì khi B., bạn thân tôi khi còn ở Trường Bộ Binh và là anh cô, giới thiệu cô ngồi trong bóng tối. Chúng tôi quen và thư từ cho nhau là chuyện tình cờ khác. (Về Nam sau gần năm tôi được thư cô báo đã làm đám cưới. Năm sau nữa cô báo rằng B, bạn tôi đã tử trận).
Khoảng đầu năm 67 tôi lên máy bay về Sài Gòn.
Chiều ngày thứ nhì sau khi về Sài Gòn tôi đi gặp Phú. Đến căn phố trên đường Nguyễn Thiện Thuật tôi bấm chuông rồi đứng chờ. Phút chốc sau tôi nghe có tiếng phụ nữ nói từ trên ban công, “anh chờ chút”, nhưng không thấy người. Thì ra người trong nhà từ trên ngó xem ai gọi cửa rồi mới trả lời. Tôi ra ngồi chờ trên xe vespa, dựng ở vỉa hè. Tiếng Phú mừng rỡ từ trên ban công:
– Anh! Về rồi hả?
Phú mặc áo bà ba trắng, đứng tựa lan can ngó xuống, mắt lóng lánh, nụ cười tươi rói. Trên mái tóc nàng còn dính một nụ hoa giấy.
– Anh qua bên kia đường đi. Chờ em chút xíu.
“Một chút xíu” của nàng tôi hút xong 4-5 điếu thuốc mà vẫn chưa tới. Tôi cứ ngó hoài cái ban công nơi nàng vừa xuất hiện. Cái ban công nhỏ trống trơn, chỉ có một bồn hoa giấy đỏ cạnh cửa. Tôi hút xong một điếu thuốc nữa nàng mới mở cửa bước ra lan can. Phú vẫy vẫy tay miệng vẫn cười, nói:
– Anh chờ em chút nữa nghen.
Đã kêu chờ thì phải chờ thôi, làm gì khác được. Chừng chục phút nữa Phú mới bước ra khỏi cửa. Ai đó bên trong cửa sắt vẫy chào chúng tôi. Phú, thơm lừng nước hoa, ngồi sau xe ôm hông tôi như thường lệ, hỏi:
– Anh mới về hả? Nhớ em hôn?
Không trả lời, tôi hỏi lại:
– Làm gì lâu dzữ dzậy?
Phú cười, nói:
– Có chút xíu mà lâu gì. Làm gì bộ anh hổng biết hả?
Tôi dấm dẳng:
– Biết ai hỏi làm chi!
– Muốn biết mai mốt lấy vợ rồi thì biết.
Phú đấm lưng tôi, rồi hỏi:
– Giờ mình đi đâu?
– Ciné chứ đâu nữa.
Trên đường đi tôi cho Phú biết tôi được đổi về Bình Dương. Giọng Phú có vẻ mừng:
– Vậy hả? Quê ngoại ở đó đó.
Hôm ấy chúng xem ở Casino Sài Gòn. Đến giờ thật tình tôi không còn nhớ hôm đó chúng tôi nói với nhau những gì. Sự việc xảy ra sau hầu như bao giờ cũng bắt đầu cho hồi tưởng của tôi. Chắc bên cạnh những lời chọc ghẹo của tôi là những lời yêu thương nhung nhớ như bao lần khác. Hình như hai đứa cũng chẳng nói chuyện tương lai. Bình Dương gần Sài Gòn quá mà, chúng tôi sẽ còn nhiều lần gặp nhau nữa. Xem phim xong Phú kêu tôi đưa nàng về. Hình như nàng có nói là hẹn với ai. Lấy xe từ chỗ gởi, xeo xéo cửa rạp Casino, tôi rẽ phải đưa Phú về. Vừa qua ngã tư Lê Thánh Tôn Phú kêu lên:
– Anh đưa em đi đâu vậy?
– Về chứ đi đâu.
– Về sao đi đường nầy? Sao không quẹo trái?
Tôi bực mình xẵng giọng:
– Đường nầy cũng về nhà em vậy.
Gặp đèn đỏ (cái đèn đỏ chết tiệt nầy, tôi rủa nó thậm tệ rất nhiều lần trong đời), hình như ngã tư Nguyễn Du, tôi dừng lại. Phú thình lình xuống xe. Tôi quay lại hỏi, chắc với giọng nói và bộ mặt khó coi lắm:
– Gì nữa đây…?
Giọng Phú vẫn như cũ:
– Anh định chở em đi đâu?
Trời ơi! Định… định… tôi định gì đâu chứ.
– Chở đi về chứ đi đâu.
Phú vẫn không chịu lên xe. Khi đèn xanh bật lên tôi hỏi:
– Lên hôn?
Phú trả lời:
– Hông.
– Lên hôn?
Phú trả lời, giọng càng lúc càng cao như tôi:
– Hông.
– Lên hôn?
– Hông.
Biết bao nhiêu lần rồi tôi cứ tưởng cảnh ấy mới chỉ xảy ra ngày hôm qua. Hay chỉ vừa mới đây thôi để tôi sửa lại lỗi lầm, ngăn chặn không cho nó xảy ra. Than ôi! Thời gian vô tình cứ qua, không có ai có thể làm cho nó ngừng lại. Ngày ấy tôi vô số “dọt” thẳng, bỏ Phú tại nơi nàng đứng. Tôi chỉ muốn dọa Phú thôi, nhưng vì đường Pasteur chỉ có một chiều nên tôi phải đánh một vòng mới quay lại chỗ cũ được. Phú không còn đó nữa. Nàng đã biến mất. Tôi thầm nói: “Bộ quê rồi độn thổ luôn hả?” Tôi đi nhưng lòng chợt nghĩ chắc Phú trêu ghẹo tôi, trốn đâu đó nên vòng trở lại nữa. Dựng xe bên lề, tôi xuống xe ngơ ngác tìm. Nhưng làm gì có chỗ trốn nơi ngã tư đó. Chắc Phú đã lên taxi về rồi. Tôi đến căn phố ở đường Nguyễn Thiện Thuật bấm chuông đứng chờ. Lần nầy tôi biết nên không đứng sát cửa nữa mà ra lề đường để ngó lên ban công. 5-7 phút trôi qua vẫn không có động tỉnh gì. Tôi đem xe qua vỉa hè đối diện, hút thuốc ngồi chờ. Không có ai xuất hiện. Cánh cửa có chậu hoa giấy trên lầu vẫn đóng im lìm.Tôi chờ lâu lắm. Chắc sau khi hút hết 5-10 điếu thuốc rồi mới bỏ đi.
Suốt cả 1 tuần sau ngày nào tôi cũng đến bấm chuông ngôi nhà ấy, rồi qua bên kia đường ngồi hút thuốc chờ. Không một lần có người trả lời cửa. Không một ai xuất hiện. Cuối tuần Phú cũng không về nhà như lệ thường. Nàng không muốn gặp tôi nữa. Chắc nàng giận tôi bỏ nàng lại tại ngã tư, làm nàng mắc cỡ với người qua đường. Mấy ngày đầu tôi nghĩ nàng giận vài bữa rồi thôi. Tôi hứa lòng sẽ xin lỗi nàng nhiều và sẽ không bao giờ xử sự thô lỗ như thế nữa. Đến 1 ngày tôi không còn nghi ngờ gì đến sự quyết tâm tránh mặt của nàng nữa. Tôi linh cảm cuộc tình giữa Phú và tôi sẽ không còn.
“Tan vỡ ngay lần đầu tiên gặp lại sau 1 năm xa cách ư? Vì một lý do không đâu ư? Cay đắng quá!” Tôi nuốt cay đắng vào lòng. Lỗi tại ai chứ? Nếu Phú không nghi ngờ bậy bạ thì tôi đâu lên cơn cộc cằn thô lổ? Tôi đưa Phú đi đâu chứ? Chẳng có nơi nào. Nàng biết quá mà. Năm ngoái sau khi xem ciné nàng ngồi sau xe âu yếm ôm hông tôi, tôi đi đâu thì đi nàng không dò hỏi, thắc mắc. Tại sao lần nầy nàng lại tỏ thái độ nghi ngờ tôi đưa nàng đến chỗ nào, để làm chuyện gì. Làm chuyện gì? Thực sự tôi chẳng nghĩ đến điều đó nữa. Mà tôi có nghĩ đến cũng chẳng sao. Chiều ấy chắc cách biểu lộ tình yêu của tôi có nhiều lả lơi hơn trước, nên nàng nghi ngại? Nhưng từ năm rồi hai đứa đã đoan chắc mình sẽ là vợ chồng rồi mà. Tôi giận Phú nghi ngờ không đúng lúc không đúng chuyện. Tôi giận tôi nổi cơn cộc cằn lãng xẹt. Tôi đổ thừa cái đèn đỏ khốn nạn kia bật lên không phải lúc làm tan vỡ tình tôi. Chắc rồi. Phú không muốn thấy mặt tôi nữa, không mắc mớ gì với tôi nữa. Giận hờn, nghi ngờ, than van, trách móc gì cũng chẳng đến tai nàng.
Dù biết rằng nếu không tìm gặp Phú ngay tôi có thể mất nàng vĩnh viễn tôi cũng phải đi. Là lính tôi phải đi, phải đi. Trước Tết năm ngoái, tôi trình diện đơn vị ở Gò Đậu, Bình Dương. Trễ hơn tuần.Trễ hạn ở đơn vị mới thì đâu dễ dàng gì yên được, nhất là kẻ đã từng bị phạt vì trễ phép, trễ hạn trình diện nhiều lần như tôi. Sau đó tôi được đưa đến Chi Đoàn 2/1 Thiết Quân Vận (tiền thân của Chi Đoàn 2/1 Thiết Kỵ) do Đại Úy Trương Hồng Cẩm chỉ huy, đang tăng phái cho Tiểu Khu Bình Long bằng máy bay. Đến nơi tôi nằm liệt mấy ngày nơi đóng quân, xung quanh một cái chùa nằm ngoài rìa thị xả Hớn Quản, không biết vì tâm sự não nề hay khí hậu cao nguyên khắc nghiệt.
Lúc ấy vào cuối đông trời thật lạnh, cái lạnh khác biệt với cái lạnh Quảng Ngãi, Đà Nẵng mà tôi vừa rời bỏ. Ban đêm hầu như tôi không ngủ được, dù khoác, đắp lên người mọi phương tiện chống lạnh mà tôi có được. Lạnh như lạnh trong xương bò ra, không ngăn được. Tôi nhớ đến Phú, cố ghi lại hình ảnh tươi vui của nàng trước khi chúng tôi đi xem ciné lần cuối để quên cơn lạnh. Khi chịu được lạnh cũng là lúc tôi đi lại được. Tôi lại bị khí hậu cao nguyên “hành” cách khác, mặt nổi vẩy và môi nứt toát. Vậy mà các cô gái ở đây lại đẹp ra, má đỏ môi hồng với miệng cười tươi như hoa đào ở đại lộ Hoàng Hôn. Mùa lạnh cũng là lúc các cô chưng diện, khoe những quần áo khăn nón mà các cô sắm từ Sài Gòn. Nhưng với cái mặt dị hợm tôi đâu dám ghé đâu, kể cả ghé nhà cha mẹ vợ Nghĩa. Đám cưới Nghĩa, nghe kể lại, là đám cưới rất độc đáo, một sự kiện “có một không hai” được nhắc hoài ở cái tỉnh lỵ nhỏ bằng hạt tiêu này. Đàng trai toàn mặc áo lính, chủ hôn là Đại Úy Cẩm, xe hoa là một chiếc M113. Sau một buổi tiệc nhỏ, đàng trai rước cô dâu lên chiếc M113, bửng sau đã hạ sẵn, được trang hoàng lá dừa, dây ti-gôn và hoa dại, rồi đưa nàng “dzìa dinh” ở cái chùa, nơi hiện tại chi đoàn đóng quân. Đám cưới Nghĩa được làm mới đây thôi, sau khi nhận được lệnh hoán đổi với tôi.
Tuy tăng phái cho Tiểu Khu Bình Long, nhưng thực tế chi đoàn chỉ hành quân với các đơn vị Mỹ. Các chi đội thay phiên nhau đi tuần tra dọc bìa rừng ngoài đồn điền cao su với 1 tiểu đội hay 1 trung đội Mỹ. Ban đêm 1 chi đội vào Quản Lợi phòng thủ phi trường. Mười bữa nửa tháng gì đó có một cuộc hành quân Dân Sự Vụ, chuẩn bệnh phát thuốc cho dân ở các “sóc” ở trong rừng. Dân ở đây thuộc bộ tộc Stiêng.Ở gần đồn điền, có nhiều tiếp xúc với người Việt nên họ đã “lanh” lắm rồi. Đi khám bệnh nhận thuốc, lớn nhỏ gì ai cũng mang theo một cái nỏ. Ai muốn có một kỷ vật lạ từ rừng là “dính chấu” với họ ngay. Những cái nỏ họ mang theo lúc này chỉ là “kiểng”, để trưng bày chứ không xử dụng tốt được. Dĩ nhiên tôi cũng được “ôm” một cái. Lỗi không phải tại họ, vì họ không bao giờ kêu bán hay đổi những cái nỏ đó.
Dịp nầy lính Mỹ thường góp đồ hộp, thuốc lá hay các thứ không xài tới khác để trao đổi một màn trình diễn cồng chiêng, và uống rượu cần. Khi cồng chiêng đã nổi, rượu uống đã say thì nó kéo dài cả buổi. Thỉnh thoảng chi đoàn dự hành quân lớn xuyên rừng, vào vùng hoạt động của công trường 7 của địch. Ở đây rừng le dầy đặc. Xe đi đầu ủi chừng 15-20 phút là nóng máy, phải thay xe khác, rồi chi đội khác. Loay hoay cả buổi nhưng tiến chẳng được bao nhiêu. Đóng quân đêm trong rừng với quân Mỹ là một kỷ niệm khó chịu. Ta gọi là “ngủ đêm” còn Mỹ gọi là “qua đêm”. Thực vậy ngủ gì được khi cứ 15 phút họ cho nổ 1 trái claymore, khi vị trí nầy, khi vị trí khác, 1 giờ sau đã lộ vị trí đêm. Ta gọi làm như vậy là “lạy thầy tôi ở bụi nầy”, mời Việt cộng “thẩy” pháo vô. Nhưng không, “mấy ảnh” ngán Mỹ nên im re, không cục cựa. Chắc “mấy ảnh” có kinh nghiệm rồi. Thẩy mấy trái pháo vô đơn vị cấp tiểu đoàn Mỹ thì chẳng nhằm nhò gì, nhưng sẽ nhận lại bom, bom cháy, bom nổ, bom bi rồi “bò rống” suốt đêm. Tệ lắm cũng sẽ “ăn pháo bầy”, cở “pháo đội vài trăm tràng”.
Gần 3 tháng sau chi đoàn về dưỡng quân tại hậu cứ ở Gò Đậu.Sau 1 tuần rửa xe, sửa chữa, thay đổi, lau chùi quân dụng thiết đoàn thanh tra sự sẵn sàng của đơn vị. Mọi sự tốt đẹp. Một buổi chiều, chắc là thứ sáu, tôi vào văn phòng ông Cẩm xin đi phép 24 giờ. Ông Cẩm lắc đầu cho biết về đây phép cho sĩ quan do Thiếu Tá Tỷ, Thiết Đoàn phó ký. Ông kêu tôi làm đơn, ông sẽ ký chuyển. Tôi ngần ngại lắc đầu. Chuyện mới ràng ràng đây. Trình diện trễ hạn tôi bị “Ba Lần Tư Tưởng”, cách gọi ông Tỷ của hầu hết quân nhân thiết đoàn, “quất” cho “mấy củ” và “dũa” cho một trận thê thảm te tua. Chuyện nầy tôi giấu ông Cẩm. Chừng nào ổng biết thì biết, dại gì mình nói, lộ mặt ba gai của mình ra. Ông Cẩm ngó tôi, nói:
– Có xin chắc cũng không được. Ông Tỷ khó lắm.
Tôi ngần ngừ nói:
– Tôi có chuyện cần phải về Sài Gòn; sáng mai lên cũng được.
Đại úy Cẩm không nói gì, cấm cúi xem công văn. Hồi lâu ngẩng lên thấy tôi vẫn đứng tần ngần cạnh cửa, ông nói:
– Ông làm gì thì làm. Tôi không biết.
Vậy là ông Cẩm làm ngơ tôi “dù” rồi. Tôi mừng rỡ vội vàng ra khỏi phòng kêu Hạ Sĩ Hạ,tài xế xe jeep đi ngay. Tôi nóng lòng gặp Phú. Mấy tháng qua tôi cố không nghĩ tới, mong rằng chuyện còn nguyên như vậy đến khi tôi về. Hạ Sĩ Hạ cho biết không có sự vụ lệnh xe không qua cầu Bình Lợi, không vô Sài Gòn được đâu. Tôi đành phải đến bến xe để đi xe “lô”. Vừa lên ngồi trên chiếc xe sắp chạy thì có một người tới hỏi tôi ngay:
– Tôi là tài xế xe nầy. Chú có giấy phép hôn?
Tôi ngạc nhiên chưa hiểu, chưa kịp phản ứng thì người ấy nói tiếp:
– Không có giấy phép Quân Cảnh ở cầu Bình Lợi sẽ bắt đó.
Tôi chán nản xuống xe. Thấy dáng vẻ của tôi chắc áo não lắm, ông tài xế lại gần, móc thuốc mời rồi nói:
– Muốn về Sài Gòn chú chỉ có thể trà trộn trong xe mấy cô bán bar trong Phú Lợi mà thôi.
Mừng rỡ tôi kêu Hạ đi. Người tốt bụng kia lại nói:
– Cần gì đi đâu. Chú chờ đây, lát nữa xe tụi nó về, qua cả đống. Có giang xe nào lớn, đông người, dễ trà trộn.
Chiều ấy trên chiếc xe chật cứng mấy cô gái bán bar làm tôi quên lo, quên buồn. Xe mới chạy được một quảng đã có người ghẹo tôi rồi:
– Dù chi dzậy? Cái mặt khó đăm đăm. Bộ vợ đẻ hả?
Thấy mấy cô vui tánh tôi cũng ỡm ờ:
– Tui chửa vợ.
Mấy cô cười rú lên:
– Chửa hả? Chửa mấy tháng rồi?
Có cô nói:
– Mặt chả non choẹt dzậy mà dzợ con gì. Bộ anh về xin má cưới dzợ hả?
Cô khác chêm vô:
– Ờ. Chắc dzậy. Thấy cái mặt đực ra là biết muốn dzợ lắm rồi.
– Anh cưới em đi. Em muốn chồng muốn chết nè.
Mỗi người một câu, cười giỡn ầm ĩ. Giỡn đã rồi mấy cô mời hút thuốc ăn kẹo. Qua khỏi Lái Thiêu mấy cô lột áo một chàng nhạc công “trồng” lên cho tôi. Đội cho tôi một cái nón vải, mấy cô đẩy tôi vào trong cùng, dựa lưng vào thùng xe, rồi ngồi che chắn. Thế là tôi qua trạm quân cảnh dễ dàng. Tôi xuống xe ở ngã ba Nguyễn Văn Học – Chi Lăng. Khi cám ơn từ giã mấy cô lại rộ lên cười đùa, trêu ghẹo:
– Anh về nhớ nói má đi hỏi em nha. Em chờ anh lắm đó..ó.
Thiệt là mấy cô quỷ sứ tốt bụng.
Tôi về đến nhà trời vẫn chưa tối. Sau một hồi suy nghĩ tôi quyết định không đi tìm Phú ngay. Lúc nầy đi đêm ở Sài gòn dễ gặp ma… quân cảnh. Nếu bị quân cảnh tóm lần nầy chắc tôi sẽ bị đưa xa khỏi Sài Gòn “mút- mùa- lệ- thủy, mút- chỉ- cà- tha- luôn.”
Đêm đó tôi ngủ ngoài hàng hiên, lâu lâu ngó qua lỗ thông gió. Tôi nhớ đến những lần Phú và tôi bên nhau, môi kề môi má kề má. Tôi nhớ đến mái tóc thơm, đôi mắt sáng và đôi môi mềm ướt của nàng. Tôi nhớ đến lần hai đứa nằm đây, yên lặng nghe từ hộp nhạc tiếng đàn thảnh thót gợi buồn xa xăm. Mới đó mà tưởng như xa lắm rồi. Không biết mấy tháng qua Phú có về nhà hay không. Tôi nhứt định không hỏi má nàng. Tôi không muốn tỏ ra mình là người yếu đuối. Đêm đó tôi thức rất khuya, lầm thầm những lời nói để dịu cơn giận của Phú ngày hôm sau.
Tôi ở nhà chờ suốt buổi sáng hôm sau. Phú không về. Quá trưa tôi lấy xe đi đến đường Nguyễn Thiện Thuật. Vẫn như trước, không có ai trả lời cửa, không có ai xuất hiện. Chắc trong nhà người ta nhận ra kẻ ù lì nầy. Không biết bao lâu sau tôi nổi nóng bỏ đi. “Vừa thôi chứ. Được không được thì thôi… Hành người ta dzữ dzậy…” Nhưng tôi tắt cơn giận ngay. Dù có giận hờn nguyền rủa, dù có năn nỉ van xin chi đi nữa cũng có mình tôi nghe, mình tôi biết. Rõ ràng Phú không cần biết đến tôi, không dính dáng đến tôi nữa. Nếu nàng không còn ở nơi ấy nữa, hay không muốn găp tôi chỉ cần có một người mở cửa nói rằng nàng đã không còn ở đấy thôi. Tôi sẽ không còn đến tìm. Chiều ấy tôi về Bình Dương, lòng đã quyết không tìm Phú nữa. Biết là thừa thãi vô ích nhưng tôi vẫn nói thầm một câu: “Tôi vẫn cố đi tìm đấy nhé. Mai mốt đừng đổ thừa tại tôi.” Tôi nói cho yên lòng mình.
Mấy tháng sau chi đoàn hành quân yểm trợ công binh Mỹ gần Lái Thiêu. Lúc nầy tôi rỗi rảnh nhiều. Mỗi ngày chỉ có 2 chi đội hoạt động, một theo xe ủi ủi rừng Cò Mi, một yểm trợ xa. Ông Cẩm ít đi đâu, cứ ở nhà “giữ chùa” nên tôi rất huỡn để đi chơi. Một đôi lần tôi về nhà ở Phú Nhuận. Má Phú không qua như những lần trước. Chắc bà đã biết và hài lòng việc tình Phú với tôi đã tan. Em tôi hỏi “Bộ anh với con Phú rã rồi hả?” Tôi cũng chẳng trả lời. Tôi giả vờ quên chuyện đã qua, và thường cùng đám “nghệ sĩ cầm ống tiêu”, các trưởng xa chịu chơi, đi uống rượu ở các bar Phú Lợi. Tối về say rượu, nằm võng ngoài một bụi tre miệng cứ ong ỏng rên hoài hai câu thơ của thầy Vũ Hoàng Chương:
“Đêm nay lửa tắt bình khô rượu,
Đời vắng em rồi vui với ai…”
Rồi cứ lập đi lập lại mãi câu “đời vắng em rồi vui với ai… Vắng em rồi vui với ai… vui với ai…” Vui với ai?…
Nhưng không. Tôi không đành lòng để cho mối tình của tôi chết, chết một cách tức tưởi như vậy được. Tôi tự hẹn lòng mình đó sẽ là lần cuối tôi tìm Phú. Khoảng tháng 8 tôi bị thương ngay ngày đầu tiên trong 1 cuộc hành quân trong mật khu Tam Giác sắt. Từ lộ Bến Cát vào, qua khỏi mật khu Long Nguyên thiết đoàn rẽ phải tiến về hướng bắc trong rừng cao su. Chi đoàn tôi đi cánh trái. Sau khi dừng quân ăn trưa gần Rạch Bắp, hơn giờ sau chi đoàn tiếp tục đi. Xe tôi bị mìn khi xuất phát chừng chục thước, còn trong vòng phòng thủ. Xe chi đoàn phó, thường đi theo vết xích xe trước, bị mìn là chuyện hi hữu. Tài xế tránh một chiếc chiến xa bị vướng, lách qua hàng lô cao su khác thì tôi cảm thấy đất đá, cây lá đổ rào rào định mở miệng la tài xế nhưng không biết gì nữa. Khi tỉnh dậy tôi thấy mình nằm trong xe đầu gát lên tay và xe đang cháy. Biết xe bị mìn, thấy cửa sau mở tôi tuôn ra ngay, chạy một khoảng xa theo bản năng sinh tồn. Có mấy người lính đến đỡ tôi nơi tôi hết hơi té xuống. Trưởng xa và tài xế được khiêng đến đặt nằm bên tôi. Mìn nổ ở bánh lăn đầu, dưới đít tài xế. Anh bị hất ra khỏi xe, gãy từng khớp xương, hấp hối rồi chết bên tôi. Trung Sĩ Nhất Tưởng, trưởng ban sửa chữa kiêm trưởng xa, ngồi trước tôi trên nắp cửa tài xế bị hất tung lên trời rồi rơi vào trong xe như tôi. Nhưng anh không được may mắn, khi rơi chắc bị chạm vào thành “cửa vuông” và chết trước khi được cứu ra. Hạ Sĩ nhất Tòng đỡ tôi ngồi dậy, vừa nói vừa vuốt bụi đen trên cánh tay phải của tôi: “Thẩm quyền hên quá”. Tôi cảm thấy đau và nhận thấy cánh tay bị cháy phỏng. Cái vuốt của Tòng lột luôn một mảnh da lớn. Khi y tá dùng kéo cắt hết quần áo mới biết tôi bị phỏng bên phải từ chân lên đầu. May mắn mặt tôi không bị gì, chỉ bị cháy góc đuôi chân mày (thêm chuyện tiếu lâm cho Hạ Sĩ nhất Y). Tôi nhờ ai đó trong đám “nghệ sĩ cầm ống tiêu” giữ giùm tôi cái “bóp” mà tôi luôn luôn bỏ trong túi áo bên trái ngay trái tim (vì có lần nó giữ được một mảnh miểng cối). Trong đó có vài kỷ vật của Phú. (Than ôi! Tôi quên mất tiêu luôn). Tôi được đưa về Tổng Y Viện Cộng Hòa. Chỉ vài ngày sau tôi đã “dù” ra định đi tìm Phú. Nhưng tôi kịp nghĩ lại rằng đến với Phú trong tình trạng bị thương như vậy có vẻ khêu gợi lòng thương hại nên về nhà ba tôi. Hơn 2 tháng trước sau nhiều phen lần lựa tôi lại đi đến đường Nguyễn Thiện Thuật tìm Phú, trước khi về đơn vị vì hết phép dưỡng thương. Tôi vẫn chờ như nhiều lần trước. Chỉ hoài công vô ích mà thôi.
Chiều 30 Tết ấy tôi từ bỏ ý định tìm Phú lần nữa. Chim đã xa bay, biết đâu mà tìm. Đã hơn năm rồi kể từ ngày tôi gặp Phú lần cuối. Niềm hy vọng của tôi đã cạn. Trước kia tôi vẫn ước ao không có điều này điều kia xảy ra. Phải chi tôi đi với Phú bằng taxi; phải chi tôi không đưa Phú đến rạp Casino; phải chi cái đèn không bật đỏ; phải chi Phú đừng nghi ngờ bá vơ; phải chi tôi không nổi nóng..Phải chi tôi đưa Phú đi Quảng Ngãi (để làm chuyện “ván đã đóng thuyền”)… Và với lý do nào đi nữa bao giờ tôi cũng nhận lỗi về tôi. Chiều cô đơn ấy tôi mới chua chát nhận ra rằng tôi cố nhận lỗi về mình để… không chấp nhận một ý nghĩ rằng chính tôi mới là kẻ bị tình phụ. Tại sao không chứ? Sự nổi nóng nông nổi của tôi có thể hiểu được. Phú thình lình xuống xe cũng làm tôi “quê”, giống như nàng bị bỏ lại tại ngã tư ấy. Giận vì bị “quê” thì cũng có lúc nguôi ngoai được. Không cần nàng nói tự tôi cũng biết và sẵn sàng xin lỗi mà. Tại sao trốn, không cho tôi gặp? Một trong hai đứa có kẻ cố tình làm chuyện tình mình chết. Kẻ đó không phải là tôi. Tôi biết Phú không bị cám dỗ gì khác hơn là tình yêu. Nuốt cay đắng tôi nghĩ rằng trong một năm tôi xa vắng đã có kẻ nào đó, chắc đẹp trai lắm, theo đuổi tán tỉnh và nàng đã xiêu lòng. Sao lại không chứ? Phú trẻ đẹp lại sống một mình. Nàng cũng cần có người tâm sự và yêu đương. Than ôi! Nếu chuyện xảy ra như thế thì tình nàng với tôi chỉ là những bong bóng nước trong mưa sao? Nàng đã coi nhẹ tình mình, và… tình tôi thế sao? “Không, không, khô…ông…” Tôi muốn kêu to lên cho toát máu, từ chối ý nghĩ nàng đã coi thường tình tôi. Sau này tôi mới biết rằng khi người ta có tình yêu mới thì tình cũ chỉ là bọt bèo chẳng đáng chi. Người ta muốn quên càng nhanh càng tốt, làm như nó chưa từng có, chưa từng xảy ra. Một lần nữa tôi lại nuốt cay đắng vào lòng. Nàng phải yêu kẻ kia say đắm lắm nên mới không chịu gặp tôi để nói lời cuối. Nàng sợ gặp, sợ dính dáng đến tôi sẽ làm cho tình nàng với kẻ kia sẽ mất đi chút ít lòng chung thủy. Nàng tránh mặt tôi để tôi không thể tìm tới làm hại tình nàng và người yêu của nàng. Trời ơi! Những ý nghĩ đó xé nát lòng tôi.Một niềm đau đớn, uất hận xâm chiếm đầu óc tôi. Tôi đau lòng muốn khóc. Nếu vậy sao chiều ấy khi gặp tôi nàng lại vui vẽ mừng rỡ như thường? Tôi tự hỏi, cố vùng vẫy thoát ra khỏi móng vuốt của những ý nghĩ quái ác kia. Không thể không gặp được. Hoặc là nàng chỉ mới xiêu lòng trước những lời tán tỉnh, hoặc là nàng muốn gặp lại lần nữa để so tình nàng với tôi và với kẻ kia. Có thể lắm chứ. Và sao khi đã biết lòng mình, nàng chấm dứt với tôi bằng cái cơ hội mà tôi dại khờ đem lại. Không. Không phải tôi mà chính nàng đã tìm cớ bằng cách nghi ngờ tôi sẽ đưa nàng đi đâu đó, để làm gì đó. “Phú à, vậy là anh, coi vậy mà không phải vậy, vẫn chỉ là một chàng khờ câm, phải không?” Nhưng nghĩ kỹ lại xem. Phú của tôi lại có lòng dạ và đầu óc hiểm sâu vậy sao? Không. Không phải đâu. Phú không phải là người như vậy đâu. Hay là Phú đã bị má thuyết phục rằng tôi sẽ giống ba tôi. Đời lính đưa tôi phiêu bạt nhiều nơi và tôi sẽ có vợ nầy vợ kia, vợ đây vợ đó. Trước nàng không nghe mẹ, biết đâu giờ “mưa lâu thấm đất?” Nhưng nếu chỉ như vậy cần gì phải tránh mặt. Bao nhiêu ý nghĩ trái ngược quay cuồng trong đầu, thay phiên hành hạ tôi.
“Ví dầu tình bậu muốn thôi
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.”
“Em biết em thương anh nhiều…” Thật vậy không? Hay trong lúc cô đơn tuyệt vọng nàng chỉ mượn vai tôi để khóc và mượn tai tôi nghe những lời kể lể về số phận hẩm hiu của mình? Không. Tôi biết Phú thương tôi. Nàng đã bất chấp lời mẹ và dì. Yêu lính đã là một nỗi khổ rồi. Yêu một người lính tác chiến, luôn ở phương xa, không biết khi nào về, không biết còn thân để về hay không thì còn khổ hơn bao lần nữa. Nàng vẫn chờ tôi về hy vọng có ngày sống bên nhau mà. “Nhưng Phú yêu mình vì cái gì chứ?” Tôi chưa hề hỏi, không hề biết.
Tôi nhớ đến lời Phú nói: “… mà anh không thương em bao nhiêu…” Tôi biết tôi thương Phú, thương nhiều nhưng sự biểu lộ không được như vậy. Hơn 1 năm xa vắng tôi không hỏi nàng làm thế nào để sống, và sống ra sao. Ôi! Sao cái thằng tôi vô tâm quá vậy! Bao nhiêu đó chưa đủ, tôi lại nhẫn tâm bỏ nàng giữa đường ngay sau lần đầu gặp lại. Trong một cơn giận không đáng giận tôi đã nhẫn tâm bỏ nàng giữa đường thì tại sao không có một ngày nào đó trong một cơn giận khác tôi lại không bỏ nàng giữa đời chứ? Chỉ mới là tình nhân thôi mà tôi đã vậy rồi, khi là vợ chồng tôi sẽ còn giở thói vũ phu đến đâu nữa. Làm sao Phú không nghĩ như vậy. Một sự liên tưởng dễ dàng. Ôi! Chỉ có thằng ngu như tôi mới không nghĩ đến. Một năm qua nàng đã sống xa gia đình, kiếm sống một mình. Nàng như một con chim vừa sổ lồng, tự do bay nhảy, ngắm nhìn. Trong lần gặp cuối cùng, qua những lời nói và thái độ của tôi tại ngã tư ấy chắc nàng đã đọc được trên mặt tôi dòng chữ “ăn hiếp vợ” và liên tưởng tới số phận của mẹ và dì. Nó nhắc đến viễn cảnh của cuộc sống chung sắp tới với tôi và chắc nó làm nàng sợ. Nàng như một con chim tự do đậu bên ngoài lồng đang ngắm nghía nhìn trước khi bước vào trong thì cơn giận của tôi làm nàng sợ hãi cất cánh bay. Nàng bay đi mất, không bao giờ ngoái lại. Phải mà, dì nàng ở trong cái lồng bằng vàng mà còn khổ đau. Còn cái lồng tre xấu xí của tôi nào có nghĩa lý gì. Tôi lờ mờ hiểu cái vẻ lạ trong ánh mắt sáng quắc cùng với lời nói “không sợ” của nàng trên chiếc taxi ngày nào: quả cảm và dứt khoát. Dù lỗi do ai lời hứa “đừng bỏ nhau” ngày xưa của 2 đứa đã theo nước trôi qua dưới cầu. Nỡ lòng bỏ nhau ngay sau lần gặp đầu tiên sau 1 năm xa vắng vì một lý do hết sức là vu vơ thì thật đau đớn, không làm sao hiểu được. Ngày ấy tôi không quay lại nên không biết mặt nàng lúc đó ra sao. Chưng hửng, ngẩn ngơ, uất hận, mắt đẫm lệ? Tôi nhớ đến bài thơ định tặng nàng có đoạn kết như một lời lặng lẽ chia tay. Ngày ấy tôi không cố ý làm vậy, chắc là ảnh hưởng bài thơ của Trần Tuấn Kiệt mà tôi thích từ mấy năm trước, trước khi đi lính.
Ta chẳng về đâu người biết chăng
Đi là đi trọn kiếp lang thang… (2)
Tôi còn thích hơn hai câu thơ mà Kiệt dùng làm đề từ cho bài thơ của mình:
Mã thượng tương phùng vô chỉ bút
Bằng quân truyền ngữ báo bình an. (3)
Mặc dù chữ Hán Việt, học mấy năm đầu trung học, đã trả lại cho thầy Hồng Tiêu hết rồi nhưng tôi cảm thấy hai câu thơ ấy hay quá. Hay đúng hơn, nó hợp với tâm cảm của tôi. Ngâm lên nho nhỏ, âm Hán Việt gợi lên một cảm xúc bùi ngùi. Lời nhắn gửi có vẻ bình thường ấy với tôi nó chất chứa một tâm sự gì u uất, thê lương, não nề lắm. Nghe buồn mang mang.
Tôi vẫn còn thích bài thơ ấy của Trần Tuấn Kiệt, chắc còn mãi mãi. Nhưng tôi không còn định đi lang thang nữa. Tôi đã về để lấy vợ. Thế mà… Về để rồi chia tay vĩnh viễn. Sự trùng hợp sao có vẻ định mệnh quá. Một cuộc chia tay lặng lẽ, nhưng người thực hiện là Phú.
Ước chi tôi gặp Phú một lần để nói: “Phú à, em muốn sao cũng đươc. Em cứ đi theo trái tim em đi. Nhưng anh không cố ý làm vậy đâu.”
Ước chi Phú nói: “Thôi anh quên em đi. Duyên nợ mình chỉ bấy nhiêu thôi.”
Chỉ vài câu đơn giản, có vẻ cải lương một chút, cũng đủ làm lòng tôi đỡ bị dày vò. Tôi nhớ câu Phú nói: “duyên gì, nợ anh thì có”. Câu nói đó trong tiểu thuyết chắc cũng có hàng chục cô đã nói, nhưng riêng trong chuyện tình của tôi sao nó thấm thía quá. Hai đứa ở gần nhau rất lâu mà không thân nhau được. Rồi chỉ có một lần trò chuyện đôi câu, đôi lần liếc mắt, một cái nắm tay chúng tôi đã yêu nhau đắm đuối, bất chấp mọi thứ. Để rồi vì một lý do không đâu mối tình nồng nàn, tràn ngập yêu thương của chúng tôi đứt đoạn, chết tức tưởi, một cách lãng nhách. Ôi! Chuyện tình tội nghiệp của tôi, chấm dứt do duyên hay nợ cũng làm tôi đau lòng. Thôi, hãy cứ cho là hết nợ như Phú đi. Hết nợ, nàng đã biến mất khỏi đời tôi.
Chiều 30 Tết ấy, tôi đã quyết không bao giờ đi tìm Phú nữa. Nhưng sao lòng còn mãi luyến tiếc. Luyến tiếc không nguôi.
Khi còn yêu, mắt môi còn ướt…
Làn hương, màu tóc chưa cạn hết…
Niềm yêu đầu… mà dở dang nhau… (4)
Tháng ngày trôi qua. Tôi vẫn theo đơn vị phiêu bạt khắp nơi. Chuyện về Phú tôi cố đè nén lòng mình, không hỏi, không nghe, không nhớ, không biết. Tôi không muốn hỏi lại lòng mình, không dò lòng Phú nữa.
Năm tháng trôi qua. Tôi tưởng tôi đã quên được Phú, quên luôn mối tình tội nghiệp của tôi.
——-
Mấy năm sau, ở một nơi và lúc nào đó Hạ Sĩ nhất Ngọt, một trong những “nghệ sĩ cầm ống tiêu”, bấy giờ là tài xế của tôi, đưa cho tôi một tấm hình. Tôi ngạc nhiên nhìn tấm hình, nhìn Ngọt hỏi:
– Mấy thứ kia đâu?
Ngọt trả lời xụi lơ:
– Mất tiêu hết rồi. Không biết đứa nào lấy.
Đến lúc bấy giờ tôi mới nhớ đến cái bóp mà tôi đã nhờ ai giữ giùm khi bị thương mấy năm trước. Than ôi! Vậy là tôi làm mất hết số kỷ vật nhỏ nhoi mà Phú đã trao cho tôi, giữ trong cái bóp cũ ấy. Những kỷ vật gợi biết bao nhung nhớ. Hai tấm hình, một chiếc cà rá nhỏ bằng bạc trên mặt có chữ P, và bức thư màu xanh có bài thơ ngắn, lá thư đầu tiên cũng là lá thư cuối cùng Phú viết cho tôi, và một lọn tóc. Lọn tóc đó tôi xin Phú cắt cho tôi trước khi ra Quảng Ngãi. Tôi nhớ Phú ngạc nhiên hỏi:
– Chi dzậy?
– Để anh hun mỗi khi nhớ em.
– Nhớ thì người ta hun hình, chớ ai hun tóc?
– Anh hun tóc. Tóc có mùi của em, còn hình thì không.
Phú nhoẻn miệng cười:
– Khùng. Anh nầy khùng!
Tuy vậy hôm sau Phú đưa cho tôi lọn tóc ấy, gói trong một tờ giấy pelure trắng, và thêm một tấm hình. Tôi bùi ngùi ngó tấm hình cũ. Đó là tấm hình Phú trao cho tôi trước khi tôi đi ra Trung lần đầu, cỡ 6/9, hình ảnh trong đó đơn sơ bình dị, chắc được rửa lại từ ảnh chụp cho thẻ học sinh. Một khuôn mặt đẹp, đường nét rõ ràng, mái tóc hơi quăn che góc trán, môi hơi hé cười và ánh mắt thơ ngây dưới hàng lông mày thanh tú. Tôi bồi hồi ngó hoài bức ảnh của Phú, lúc tuổi chừng 15-16. Mấy năm rồi tôi không gặp Phú, không hề biết, không hề hỏi nàng ra sao, ở đâu. Sau ảnh Phú viết ba dòng: “Tặng anh. Để nhớ em. Kim-Ph.” Tôi đọc lại những dòng: “Để nhớ em. Kim-Ph.” “Anh đã nhớ em, Ph… à. Mà anh cũng đã quên em.”
Tôi bùi ngùi muốn khóc. Bao nhiêu hờn giận đã tiêu tan lâu rồi. Đưa tấm hình lại cho Ngọt tôi nhẹ nói:
– Anh giữ giùm tôi đi.
Năm đó tôi đã cưới vợ rồi. Ngọt ngần ngừ cho tấm hình vô túi, nói:
– Tôi muốn giữ tấm hình nầy như giữ lại hình hồi nhỏ của con Ph.”
Con Ph. là con gái đầu của Ngọt mới hơn 10 tuổi. Tội nghiệp anh Ngọt. Trận chiến dai dẳng ở cầu Bình Lợi năm Mậu Thân làm cháy nhà anh, cướp mất mạng sống vợ anh, làm cháy phỏng và hư nửa mặt của con Ph. mà anh nói đẹp như Phú.
5 năm nữa trôi qua… Chiến tranh đã chấm dứt hơn một năm rồi. Tôi đã không còn là người lính chiến lâu lâu mới được về nhà nữa. Tôi trở thành người tù không biết bao giờ được về nhà. Nói nhà là nhà của ba tôi, nơi tôi gửi vợ tôi lại từ ngày cưới, chứ tôi chưa đủ tiền mua nhà cho vợ. Năm 76, tôi đang ở một trại tù cải tạo, nơi hốc gió đìu hiu nào đó bên cạnh hồ Thác Bà, Yên Bái. Thiếu thốn đủ mọi thứ. Mùa đông đầu tiên nơi đất Bắc sao mà lạnh lẽo. Gió buốt rít từng cơn xuyên qua phên vách bằng nứa trống trải làm tôi thức giấc nhiều lần trong đêm. Đó cũng những phút giây yên ổn ngắn ngủi cho tôi để lòng thương nhớ về người vợ trẻ và đứa con thơ chưa đầy 8 tháng tuổi tôi bỏ lại nhà khi đi tù. Tôi chỉ còn mong được gặp lại vợ con tôi trong giấc mơ thôi. Nhưng không bao giờ được.
Trong một đêm cái hình ảnh tôi cố quên đi gần 10 năm trước lại hiện ra bất ngờ, với miệng tươi cười, ánh mắt âu yếm. Phú đến với tôi trong mơ. Hai đứa đi bên nhau, tay trong tay, dạo phố Sài Gòn. Tự dưng tôi thèm thuốc mà trong túi chẳng còn điếu nào. Tôi nói Phú chờ tôi nơi góc phố để tôi tìm nơi mua thuốc. Tôi đi, đi mãi, tìm mãi mà chẳng thấy có sạp thuốc nào. Đến khi nhớ đến Phú tôi quay lại tìm thì không thấy nàng đâu. Tôi hốt hoảng kêu lớn “Phú ơi” để rồi nghe tiếng mình gọi và thức giấc. Trong đêm tối lạnh lẽo tôi nằm trằn trọc, ướt khóe mắt không biết sao mình nằm mơ mà không thấy vợ, lại thấy kẻ mình đã quên gần chục năm rồi. Và cũng tự trách mình ham hút một điếu thuốc để lạc mất nàng lần nữa trong giấc mơ.
Không phải đó là lần đầu vì ghiền thuốc mà tôi để mất giấc mơ đẹp, niềm vui duy nhất và nguồn hy vọng của tôi trong đời tù. Nhiều lần tôi nằm mơ được thả về nhưng không lần nào về đến nhà được.Có lần lẩn quẩn mãi trong vùng rừng núi. Có khi về đến Sài Gòn. Có lần chỉ còn một quảng nữa là tới nhà gặp lại vợ con, tôi lại lên cơn thèm thuốc. Lại đi tìm nơi mua thuốc, tìm mãi, tìm mãi mà không được, quên mất cả chuyện về nhà. Lần đầu tiên hình bóng của Phú xuất hiện trong mơ mà không tạo cho tôi cái cảm giác bị dày vò cắn rứt. Tôi mừng cho Phú. Dù đúng hay sai, dù lỗi của ai, dù hết duyên hay hết nợ, sự quyết định chia tay ngày ấy đã giúp Phú thoát khỏi thêm một cảnh đời hẩm hiu nữa: làm vợ một tên tù không biết ngày về. Nhưng rồi một cảm giác chua chát tràn ngập lòng tôi. Phú hết “nợ” thanh thản biến mất khỏi đời tôi, để trống chỗ cho kẻ khác là vợ tôi, không biết “nợ” tôi nhiều hay ít, nhào vô lãnh đủ. Tôi thương vợ tôi quá. Tội nghiệp vợ tôi. Nàng còn trẻ, có con còn thơ, chưa biết việc đời không biết có chịu đựng được nỗi tủi nhục của cảnh đổi đời hay không? Và có “tri vong quốc hận?” (5).
Nhiều năm nữa trôi qua….Rồi nhiều năm nữa trôi qua…. Chuyện cũ đã chìm theo thời gian trong bụi mù ký ức. Đời đà tơi tả. Tim đà mỏi mệt. Yêu thương, hờn giận, vui sướng, khổ đau hầu như không còn có nghĩa.
Hồi đầu năm tôi thỉnh thoảng viết vài dòng về những ngày đáng nhớ trong đời lính cũ. Thật khó khăn. Mọi thứ quên đã lâu giờ phải mài mò học lại nên tôi viết rất chậm. Đã vậy tôi còn bị Ms Word hành hạ đủ thứ. Nó cắt dấu, đảo lộn thứ tự chữ, kéo dài khoảng cách, hoặc ghi rời rạc từng chữ từng dấu đã đánh. Tệ nhất là nó làm biến mất cả câu hay cả đoạn vừa mới đánh. Tôi giận lắm, định bỏ viết. Cũng may, tôi vẫn còn ghiền thuốc nên khi nào trở ngại tôi bỏ đó đi hút thuốc, lúc khác viết tiếp. Bài viết kéo dài dù tôi viết rất chậm, có ngày được đôi câu, có ngày được một đoạn. Hơn nửa năm tôi viết được vài chục trang, không nhớ gì đến chuyện tình buồn. Bỗng một đêm hình bóng Phú lại thình lình hiện về trong giấc mơ. Vẫn với dáng trẻ trung, mắt sáng long lanh, nụ cười vui vẻ của lần gặp sau cùng, Phú nói “anh chờ em chút nữa nghen”. Những bông hoa giấy đậu trên tóc nàng dù không thắm tươi rực rỡ như loài hoa nàng mang tên nhưng cũng đủ làm cho hình ảnh tươi trẻ của nàng thêm sống động trên nền trời. Tôi mừng rỡ kêu “em ơi, xuống đây”. Phú cười, quay đi rồi biến mất. Thức giấc, tôi ngẩn ngơ trong bóng đêm quạnh quẽ.
Phú hiện về trong mơ như nhắc tôi thêm chuyện tình tội nghiệp của tôi vào những trang viết. Ban đầu tôi định viết một vài đoạn, hay 1-2 trang, nhưng rồi nó kéo dài. Tôi cắt nó khỏi thiên hồi ký kia, và nó cứ kéo dài mãi. Nó cũng kéo tôi trở lui về quảng đường đời với những nỗi đau đớn phẫn uất đã qua. Cùng với nó là hình ảnh các bạn tôi, các chiến hữu của tôi. Những kẻ cùng tôi xung trận năm xưa và đã đền xong nợ nước, giờ đây thịt xương chắc đã hòa cùng cát bụi. Tôi luyến tiếc những hình ảnh trẻ trung, vui vẻ của họ và tôi ngày nào. Tôi cũng nhớ lại nhiều lúc phẫn hận, giận mình đã kêu lên: “Sao hồi xưa xung trận không chết mẹ đi cho rồi, sống làm gì cho chật đất.” Tôi nhớ đến những ngày vui bên Phú. Rồi nhớ đến những dòng chữ sau tấm hình “Tặng Anh. Để nhớ em. Kim Ph…” Tôi buồn muốn khóc. “Ph. à, chỉ có em nỡ lòng quên thôi.” Nỗi buồn làm tôi không muốn đi trở lại con đường khổ não. Tôi không muốn nhắc lại, viết nữa. Nhưng rồi tôi không đành lòng bỏ rơi mối tình tội nghiệp của tôi một lần nữa. Vài ngày sau khi viết lại,tôi không dừng được.Trong suốt 2 tháng, ngày ngày tôi buồn vui khóc cười với những ngày tháng cũ. Tôi tưởng khi lòng tôi thấm đậm với những kỷ niệm xưa, hình bóng cũ của Phú sẽ lại hiện về trong mơ. Nhưng không một lần. Như Phú ngày xưa, hình bóng nàng bây giờ cũng biến mất. Có lẽ nó đã tìm được một chỗ nào ngóc ngách trong tim tôi và trốn ở đấy, chỉ khi nào muốn trêu ghẹo tôi nó mới hiện ra. Hồi trước tôi ao ước thấy gương mặt Phú trước lần xa nhau vĩnh viễn. Giờ tôi mừng khi đã không được vậy. Nếu không có lẽ gương mặt ngơ ngác, uất hận, mắt đẫm lệ sẽ theo tôi mãi trong mơ. Người về trong mơ ấy mãi mãi vẫn tươi vui đẹp đẽ như ngày nào. Hình ảnh cô gái Sài Gòn….. ấy trẻ mãi không già.
Đã gần 40 năm qua tôi không một lần gặp lại Phú.
Thơ Đường thầy dạy và đọc cho nghe cũng nhiều, sao chỉ nhớ chi những câu buồn.
“Nhân diện bất tri hà xứ khứ…” (6)
KỴ BINH VĂN CHI CHƯƠNG
(1) “Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được…”, Tình Già. Thơ Phan Khôi.
(2) Tiễn Đưa. Thơ Trần Tuấn Kiệt.
(3) Phùng Nhập Kinh Sứ. Thơ Sầm Tham.
(4) Giấc Mộng Đêm Hè, Nhạc. Không nhớ tên tác giả.
(5) “Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa,” Bạc Tần Hoài. Thơ Đỗ Mục.
Ngày mai đi nhận xác chồng Say đi để thấy mình không là mình.
Mùi hương cứ tưởng hơi chồng Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.
★
Sau khúc nhạc Hồn Tử Sĩ dạo đầu, cô ca sĩ vừa cất tiếng hát: “Ngày mai đi nhận xác chồng” thì người đàn ông ở tuổi 82 với 13 năm cầm súng bỗng rụng rời chân tay, mặc dù đã nghe nhiều lần khi còn là lính. Dù nghe ngoài chiến trường, nghe ở hậu phương, nghe khi còn trẻ, nghe khi đã về già, nghe ở mọi thời gian và không gian thì con tim nào mà không xúc động với lời thơ của thi sĩ Lý Thị Ý do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, xúc động cho nỗi đau mất chồng của người vợ lính, sống với hình ảnh người vợ lính khóc bên xác chồng.
Thi sĩ đã tâm sự với nhà báo Đinh Quang Anh Thái về hoàn cảnh sáng tác bài thơ:
– Lúc đó là năm 1970, tôi sống tại Pleiku, thành phố nhỏ bé này vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt, chỉ thấy lính, vợ lính, xe tăng, xe Jeep, hầu như không thấy gì khác nữa. Nhà tôi ở gần nhà xác của quân đội. Tôi chứng kiến cảnh biết bao các bà đi nhận xác chồng. Tôi thấy đàn bà, con nít đến lật cái poncho quấn xác để nhìn mặt người thân, cảnh đó khiến tôi đau đớn không chịu nổi. Rõ ràng nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của chính mình. Thành thật, tôi vô cùng xúc động và chính tôi sống bằng hình ảnh những người vợ lính, vợ sĩ quan khóc bên xác chồng. Nỗi buồn đau đó là nỗi buồn đau của mình.”
Không là vợ lính, chưa là vợ lính mà tác giả đã sống với hình ảnh người vợ lính khóc bên xác chồng thì còn nỗi đau nào hơn của người goá phụ đi nhận xác chồng.
Đi nhận xác chồng để đem về lo hậu sự thật là đau đớn, nhưng rồi thời gian sẽ xoa dịu vết thương lòng khi biết “anh” đã mồ yên mả đẹp, “em” còn biết anh ở nơi nào để đến thăm với bó hoa, nén nhang, còn được ngửi mùi hương mà nhớ tưởng hơi chồng.
Nhưng còn những bà mẹ, goá phụ không đi nhận mà phải đi tìm xác con, xác chồng thì không còn nỗi đau nào hơn. Trịnh Công Sơn rên xiết:
Khi đất nước tôi không còn chiến tranh. Mẹ già lên núi tìm xương con mình!
Khi không còn chiến tranh, đồng đội đã về đoàn tụ với gia đình mà chẳng thấy bóng dáng các anh đâu, các anh đã nằm lại nơi rừng sâu, góc biển, không manh chiếu rách phủ xác, côn trùng, mối mọt đục khoét thân xác người lính mất tích nên nỗi đau người goá phụ càng thêm chồng chất ngày đêm nên phải đi tìm, nhưng biết anh nằm ở đâu mà tìm!
Khi không còn chiến tranh, đã có biết bao goá phụ TQLC đi tìm xác chồng, trong đó có các chị goá phụ HNH, chị ĐHT, chị NXP v.v… đã vượt trăm gian ngàn khổ, liều mình tìm đến chiến trường xưa, nhưng vật đổi, sao dời, biết ai mà hỏi, biết đâu mà tìm, đứng giữa chốn hoang vu, chiến trường xưa mà khóc, ngay cả đám đất, nơi anh nằm xuống cũng không biết để thắp nén nhang.
Mà dẫu có tìm đến nơi anh tử trận, biết anh nằm chung cùng đồng đội, nhưng làm sao phân biệt xương cốt để rước anh về.
Chị quả phụ Tô Thanh Chiêu cùng người anh là Tô Hạnh*, em Tô Giao đã tìm đến thôn An Dương để tìm xác chồng, xác em, xác anh, nhưng xương cốt Đại Uý Chiêu đã trộn lẫn cùng với 132 bộ hài cốt đồng đội, nên người goá phụ chỉ còn biết khóc than:
– Anh! Xưa anh chiến đấu cùng đồng đội, thì nay xin anh tiếp tục cùng đồng đội chung một nấm mồ: “Thập Loại Cô Hồn Hiển hách Chi Mộ”.
(* Từ Mỹ và Úc, Hạnh – Giao đã đôi lần về thôn An Dương thắp nhang cho Chiêu, tháng 2/2023, Hạnh chuẩn bị về thăm em Chiêu lần nữa thì bất ngờ Hạnh mất, Hạnh không về thăm em bằng máy bay mà bay theo gió!)
“Khi đất nước tôi không còn chiến tranh, mẹ già lên núi tìm xương con mình!”
Mẹ già Tô Thị Tiếp lên núi Bá Hô tìm xương con mình là Kình Ngư Vũ Văn Tuấn.
Vũ Văn Tuấn được Tiểu Đoàn Trưởng Trần Xuân Quang TĐT/TĐ4 Kình Ngư cho làm tài xế theo lời đề nghị của mẹ Tuấn, vì em ruột là Vũ Văn Hùng, tuy chưa tới tuổi đi lính, nhưng đã dùng khai sinh của Tuấn để tình nguyên vào Cọp Biển rồi Hùng tử trận. Nhưng Tuấn nói với mẹ Tiếp: “Con không thể chết 2 lần”, thế là Tuấn xin ra tác chiến.
Năm 1972, trên đỉnh Bá Hô, VC tấn công vào cánh B TĐ4 của ông Phó Nguyễn Đăng Hoà, quân ta thiệt hại và Vũ Văn Tuấn được báo cáo là mất tích!
Khi hết chiến tranh “mẹ già lên Bá Hô tìm xương con mình” nhưng bà có biết Bá Hô là nơi mô. Núi đồi nhấp nhô trùng điệp, bà hốt nắm đất Quảng Trị, tin rằng có xương cốt con mình trong đó, rồi nhớ thương con, nắm đất con đã nằm trong quan tài mẹ!
Mẹ già Kình Ngư Hữu Dũng thở dài: “Biết tìm con nơi đâu!”
Kình Ngư Nguyễn Hữu Dũng Đại Đội Tiểu Đoàn 4 cùng đồng đội tham dự hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào. Hỏa lực của địch tàn khốc quá. Dũng bị tử thương ngày 21/3/1971, mất xác ở một ngọn đồi, mà sau nầy không ai biết ngọn đồi nằm ở toạ độ nào.
Huyền Nga – em gái Dũng viết:
“Thằng Hèn” Tô Hải trong đoàn quân của phía bên kia, đã chứng kiến và khóc lặng trước cái chết của một tiểu đoàn, của một đoàn xe, hàng trăm thây người, xác người lính Quốc Gia, xác lính bộ đội nằm lẩn lộn, chất cao như ngọn đồi, mà chẳng bên nào kịp chôn cất hoặc thắp bó hương cầu cho linh hồn họ được siêu thoát. Chiến tranh thật là tàn nhẫn!
Mẹ già đã khóc rất nhiều vì thương con trai ra đi khi chưa được 22 tuổi đời. Mẹ già đã tìm đến rừng núi Hạ Lào, “Mẹ già lên núi tìm xương con minh ” nhưng rừng núi mênh mông, mắt mờ vì mẹ giả khóc con thì còn biết tìm nơi đâu! Thôi thì đành nhờ vào thần linh, nhờ vào bói toán, nhờ nhà “ngoại cảm” v.v… nhưng không ai tìm ra được nơi nào là ngọn đồi vùi xác con nên mẹ già đành bốc nắm đất mang về.
Hoài Thanh – đồng đội Dũng, thay bạn báo mộng về cho Mẹ Già Bình Thạnh:
Hồn Gọi
Đây nắm xương tàn, đây nắm xương Nằm trơ vất vưởng ở ven rừng Qua bao niên tuế, vùi chôn mãi U uất vong linh chốn tục trần
Bao nắm xương tàn, bao nắm xương Hồn hoang đêm xuống khóc thảm thương! Mẹ ở phương trời xa có thấu? Hồn con thổn thức, bấy thu trường!
Sao mẹ không lên núi tìm con? Máu xương con hòa đất tha hương Nhưng hồn con mãi mong về mẹ Sao mẹ không về núi tìm con?
Đồng đội Dũng khóc thay cho Mẹ Già Bình Thạnh.
Mẹ Ru Hồn
Mẹ đã bao lần lên núi non Tìm con mù mịt, sức hao mòn, Đôi chân rời rã, lòng tơi tả, Nhưng mẹ không tìm đâu thấy con?
Mẹ ở chân trời, xa núi non, Nhớ con tóc mẹ nhuốm u buồn! Khóc con mắt mẹ khô dòng lệ! Mẹ nhớ con nhiều, ôi hỡi con!
Thôi nhé con ngoan ngủ thật nồng Dù trời giông bão nắng mưa chang Lời đau mẹ vẫn ru hồn ngủ Qua mấy Thu tàn, qua mấy Đông./.
☆
Nỗi đau đi nhận xác chồng! Niềm sầu thương nhớ đi tìm xác chồng.
Chúng tôi xin kết thúc câu chuyện nỗi đau mất chồng của các chị goá phụ TQLC bằng câu chuyện bi thảm hơn, sau khi đã tìm được xác chồng thì người goá phụ lại “đi” theo chồng, để lại sầu thương cho đàn con dại.
“Đi” Theo Xác Chồng.
Tôi đã đọc nhiều lần bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” của chị Trần Thị Huy Lễ, Trưởng Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC nói về người goá phụ “đi” theo xác chồng. Câu chuyện quá bi thương đậm nét “tâm linh”, khó tin nhưng có thật nên tôi cố đi tìm hiểu, nhưng ít ai biết. Tưởng chuyện đã đi vào quên lãng thì bất ngờ tháng 2/2023, TQLC Nguyễn Kha Lạt từ Dallas chuyển cho tôi bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” và hỏi tôi có biết gì về chuyện này không, các em mong ước được nghe rõ đầu đuôi.
Lời yêu cầu của các đồng đội làm tôi suy nghĩ, chỉ có một người có thể biết đầu đuôi. Nhưng tôi hơi e ngại, vì từ ngày tị nạn CS tại Hoa Kỳ, ông và tôi chưa liên lạc với nhau bao giờ, nay có người thúc dục, giúp tôi thêm can đảm nên tìm cách kiên lạc với ông.
Người đó là Trung Tá Hồ Quang Lịch, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ5/TQLC, đặc lệnh truyền tin của ông là Quang Dũng. Quang Dũng là tên con trai đầu lòng của ông, Quang Dũng luôn quấn quýt bên chú Trần Ba. Trần Ba là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó TĐ.5/TQLC- người Quang Dũng coi như em ruột. Trần Ba mất tích trong trận đánh tháng 4/1972.
Hiện nay (3/2023) Quang Dũng (Tr/Tá Hồ Quang Lịch) đã 87 hiện định cư tại North Carolina, tôi liên lạc với ông bằng cell-phôn mà cứ tưởng như đang dùng máy truyền tin C25
* * *
– Cần Thơ gọi Quang Dũng nghe không trả lời?
– Quang Dũng nghe Cần Thơ 5/5, có gì nói đi.
Giọng một ông đã 87 mà nghe sang-sảng như lão Ngoan Đồng?
– Anh khoẻ không?
– Khoẻ, nhưng đang chạy chơi với thằng cháu nội – con Quang Dũng nên hơi mệt.
– Ông mà còn được chạy vui chơi với cháu nội, ngoại là một điều hạnh phúc nhất trần đời. Tôi đọc bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” của bà Huy Lễ, xin Quang Dũng cho biết một số tin tức về Thiếu Tá Trần Ba.
– Th/Tá Trần Ba tốt nhiệp Khoá 3 Nha Trang (Đồng Đế), cùng với Th/Tá Đoàn Đức Nghi, nay thì cả hai đã tử trận rồi! Nghi tử trận khi là TĐP/TĐ1, Ba tử trận khi là TĐP/TĐ5 của tôi. Có chuyện gì mà Cần Thơ lại đi cào vào vết thương của tôi?
– Bà Huy Lễ, Trưởng Phòng Xã Hội đã viết bài “Hoạ Vô Đơn Chí”, nội dung bi thảm quá, nhưng nhiều TQLC chưa biết về Th/Tá Trần Ba, xin anh cho biết thêm chi tiết.
Hồi lâu mới nghe Quang Dũng nói:
– Quang Dũng đã đọc bài viết này rồi, nội dung đúng, ngoại trừ một vài chi tiết về thời gian ngày tháng liên quan. Đây là sự thật quá đau lòng nên Quang Dũng giữ im lặng từ đó đến nay, không muốn nói với ai cả, vì mỗi khi nhắc đến, anh đều bị nghẹn họng không nói được, anh cũng không viết ra được, nay Cần Thơ hỏi thì Quang Dũng sẽ nói rõ, có những chi tiết thuộc về tâm linh, tùy lòng tin của mỗi người. Trần Ba không chỉ là cánh tay mặt, mà còn hơn thế nữa, một nửa đời người của Quang Dũng, “niềm đau nhớ đời” nên những gì xảy ra với Trần Ba nó hằn sâu trong đầu anh, nhớ từng chi tiết cho tới chết.
Thì ra Quang Dũng biết là sẽ khó nói, vì suốt trong câu chuyện, Quang Dũng cứ nghẹn lời, có những lúc anh ngừng lại hơi lâu khiến tôi phải “a-lô” thì mới nghe tiếng xụt-xịt. Quang Dũng tiếp tục:
– Trần Ba là một trong những sĩ quan giỏi và can đảm nhất mà anh từng chỉ huy. Trước ngày TĐ.5/TQLC đi hành quân Quảng Trị, sáng 4/4/1972, anh dẫn mấy sĩ quan ra ngã ba Cái Lơn (Dĩ An, Biên Hoà) ăn sáng, gồm có Tiểu Đoàn Phó Trần Ba, các Đại Đội Trưởng Ngô Thành Hữu, Dương Công Phó, Nguyễn Văn Quang v.v.., Ngô Thành Hữu nói nhỏ với anh: “Em có bạn là cảnh sát đi theo, xin Quang Dũng cho nhập tiệc nhá”. Anh nói với Ngô Thành Hữu cứ tự nhiên, “tứ hải giai huynh đệ” mà…
– Thời gian tháng 4/72 cả Sư Đoàn TQLC đang ở tuyến đầu, Huế Quảng Trị, sao ngày 4/4/72 anh vẫn còn ở ngã ba Cái Lơn, Biên Hoà?
– Không phải cả Sư Đoàn, mà chỉ có Lữ Đoàn 147/TQLC và 258/TQLC đang ở tuyến đầu, ngày 2/4/72 Bộ Tỗng Tham Mưu mới điều động Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn và Lữ Đoàn 369 từ Sài Gòn ra Huế. Lữ Đoàn 369 của Đại Tá Phạm Văn Chung gồm có TĐ2 của anh Nguyễn Xuân Phúc, TĐ9 của Đà Lạt Nguyễn Kim Đễ và TĐ5 của Quang Dũng lần lượt được không vận ra Huế. Quang Dũng đi chót nên ngày 5/4 mới đi.
Quang Dũng nói tiếp về bữa ăn sáng:
– Ăn được chừng 10 phút thì anh bạn Cảnh Sát của Hữu xin phép nói đôi lời. Chuyện hơi lạ, hiếm khi trong bàn ăn của đàn Cọp Biển mà có người ngoài dám xen vào lên tiếng trước, Quang Dũng tò mò nên đồng ý ngay.
Anh Cảnh Sát ấp úng thưa:
– Thưa quý anh, vì quá thương mến và kính phục các anh TQLC nên em xin đi theo anh Hữu để được làm quen, không ngờ tới đây, em thấy có chuyện cần thưa, có thể điều em nói làm các anh không vui, nhưng vì em là bạn thân của anh Ngô Thành Hữu.
Thấy anh Cảnh Sát có vẻ lo âu rào đón, Quang Dũng phất tay:
– Bạn cứ nói đại đi.
Anh Cảnh Sát ngó thẳng vào Trần Ba nói:
– Thưa anh, (tức Trần Ba) “thiên cơ bất khả lậu”, nhưng vì em vô cùng quý trọng anh, nên em nghĩ rằng phải nói ra, dù sau này em gặp điều không may. Anh (tức Trần Ba) phải hết sức thận trọng, đề phòng bất trắc, nếu không thì trong vòng 10 ngày tới anh sẽ gặp đại nạn, có thể mất mạng, em báo cho anh biết trước để đề phòng.
Quang Dũng thở dài rồi nói tiếp:
– Sau khi nghe anh Cảnh Sát nói thế, không khí bữa ăn sáng không còn ồn ào, nhưng ai đã là lính đánh giặc thì cũng đôi lần gặp những lời “tiên tri” như thế này rồi, đôi khi sai, đôi khi đúng. Dù sai hay đúng, đã là lính cầm súng ra trận thì không có quyền đề phòng gì cả, mà chỉ việc tuân lệnh cấp chỉ huy, dù nhìn thấy cái chết trước mắt. Chúng ta đã từng chứng kiến trong chiến trận như: Binh Nhất A xung phong vào mục tiêu, chưa tới nơi đã gục ngã, tức thì Hã Sĩ B tiến lên, nhưng vẫn gục ngã giữa đường, trung đội trưởng ngó vào Trung Sĩ C ngoắc tay, thế là C phóng tới, không có đề phòng con mẹ gì cả. Tuy vậy để trấn an thằng em, buổi chiều hôm ấy (4/4/72), vợ chồng Quang Dũng mời vợ chồng Trần Ba qua ăn cơm, nhà hai thằng cùng trong trại gia binh TĐ5/TQLC (cạnh suối Lồ Ồ, Dĩ An), 4 con gái của Trần Ba và thằng Quang Dũng con của anh vẫn vui đùa. Sau một hớp rượu cay, Trần Ba ghé tai anh nói nhỏ:
– Đại Bàng! Em thương vợ em quá, nếu có chuyện gì thì em sẽ đem vợ em theo.
Tôi tưởng nghe lầm, nghe không rõ lời Quang Dũng nên vội ngắt lời:
– Anh Lịch, anh còn nhớ rõ không mà nói thế…
– Mày* không tin lời tao nói phải không? Tao là thằng Hồ Quang Lịch, đã 87 tuổi rồi, mày cũng đã 82, chúng ta có thế quên chuyên hôm qua, nhưng chuyện sống chết mấy chục năm về trước thì nó hằn sâu trong đầu, trong tim, vì đó là những nỗi đau vô cùng tận. Hơn nữa Trần Ba nó đang ở trên cao, đang nghe tao nhắc lại chuyện xưa, chuyện 51 năm về trước, làm sao tao dám phịa chuyện?
* Hình như Quang Dũng phật lòng về câu hỏi của tôi nên anh “mày tao”, điều này chứng tỏ anh nói là thật lòng nên tôi vội vàng xin lỗi:
– Xin lỗi anh, vì lời tâm sự của Trần Ba làm tôi phát hoảng, xin anh nói tiếp.
– Chiều ngày 5/4/72 Tiểu Đoàn tao đáp xuống Phú Bài, GMC chở tiểu đoàn tao về chỗ Cao Bằng LĐ 369 của Đại Tá Chung để hoạt động trong khu vực Mỹ Chánh.
Ngày 6/4/72 một đơn vị Địa Phương Quân bị VC tấn công, ông Cao Bằng lệnh cho tao bảo đưa cánh B đi tiếp viện. Nhớ lời của người cảnh sát, thay vì đưa cánh B của Trần Ba đi tiếp viện theo lệnh Cao Bằng, tao dẫn 3 đại đội đi tiếp viện còn Trần Ba với 1 đại đội ở lại để làm trừ bị. Chuyện tiếp viện chẳng có gì khó, VC bỏ chạy để lại 10 xác. Chắc mày hiểu quyết định của tao đề Trần Ba ở lại làm trừ bị.
Nghe giọng Quang Dũng sôi nổi như đang điều quân rồi muốn chửi thề nên tôi cần giảm “nhiệt độ” của anh xuống bằng cách nhắc lại chuyện của tôi:
– Quang Dũng, tôi hiểu quyết định của anh đầy lý và tình, tôi cũng đã có lần làm như anh. Đại Đội Phó của tôi mới cưới vợ trước khi đi hành quân, Chính than buồn, nên khi nhảy trực thăng vào kinh Cái Thia, tôi sắp xếp cho Chính nhảy sau cùng với trung đội súng nặng, nhưng Chính vẫn lên tuyến đầu và rồi tử trận, để lại mẹ già và..
Quang Dũng ngắt lời khi tôi chưa nói hết câu, anh bảo:
– Sao giống trường hợp của tao: Ngày 7/4/72, tiểu đoàn tao nhận năm ngày tiếp tế để hành quân lục soát. Mờ sáng ngày 8/4/72 xuất phát, cánh A tao tiến chiếm những mục tiêu chính, nặng, còn cánh B của Trần Ba có đại đội của Dương Công Phó và Đỗ Trung Giao tao cho tiến theo các mục tiêu phụ (nhẹ). Nhưng tao luôn nhắc Trần Ba là phải đi thật chậm, nếu cần thì dừng quân lại ngay, không cần ngang hàng với tao.
Khoảng 8 giờ 30, cánh A tao chạm địch, cùng lúc nghe súng nổ bên cánh B, tao luôn nhớ lời anh cảnh sát nói lúc ăn sáng tại ngã ba Cái Lơn nên tao thét Trần Ba dừng lại, kiếm vị trí cố thủ để tao lo điều động cánh A sang giúp nó.
Vài phút sau, tao nghe Trần Ba báo cáo tịch thu được súng cối và đại liên, tao biết tính Trần Ba khi đụng trận nên tao thét bạch văn luôn:
– Trần Ba, tao ra lệnh cho mày dừng quân lại ngay, nghe chưa Ba?
Nhưng rồi tao không nghe Trần Ba trả lời, tao gọi cho Phó, Giao cũng không nghe, mất liên lạc với cánh B! Tao liếc nhìn đồng hồ lúc đó là 8.45 sáng ngày 8/4/1972! Mất liên lạc với cánh B, mất liên lạc với Trần Ba, người tao lạnh toát, cứng đơ, tao kêu trời:
– Chưa tới 10 ngày, mới chỉ có 4 ngày thôi mà! Trần Ba ơi!
Im lặng hồi lâu, Quang Dũng nghẹn lời, tôi biết, tôi thấy anh đang khóc! Tôi cũng đã thét lên khi nghe Th/Uý Quang báo Tr/Uý Chính chết! Tiểu Đoàn Trưởng Đồ Sơn hỏi, tôi khóc không trả lời được nên ông mắng:
– Cậu đừng làm người khác mất tinh thần”. (Hiện nay Đồ Sơn đang ở San Jose, ông còn nhớ chuyện này)
Tôi cần tôn trọng những giọt nước mắt của Quang Dũng đối với Trần Ba, không được phép hỏi thêm bất cứ điều gì lúc này, nên tôi (nói dối) xin phép tạm ngưng “vì còn phải đi đón cháu ngoại”. Nghe tôi phải đi đón cháu ngoại thì anh cũng nói:
– Ừ đi đi, tao cũng đi chơi với cháu nội, nó đang ngó tao khóc, mai gọi lại.
Thiếu Tá Trần Ba “mất tích” lúc 8 giờ 45 phút sáng ngày 8/4/1972 cùng với trung đội đi đầu! Nếu có gọi lại, tôi sẽ không hỏi Quang Dũng bất cứ chi tiết nào liên quan tới trận chiến Th/Tá Trần Ba mất tích, vì anh có giải thích thế nào tôi cũng không hiểu, đơn giản là tôi không ở trong cuộc, và không muốn cào thêm vết thương đau cũ của anh.
Từ tháng 4, tháng 5/1972, và những tháng sau đó, trận chiến khốc liệt liên tiếp xảy ra ở vùng địa đầu giới tuyến Huế, Quảng Trị. Ngoài Sư Đoàn 1 và Sư Đoàn 3BB, thượng cấp còn đưa luôn toàn bộ 2 Sư Đoàn Tổng Trừ Bị là Nhảy Dù và TQLC tham dự, cho tới khi tái chiếm được Quảng Trị ngày 16/9/1 972, xương máu đổ ra, có biết bao quân tử trận, mất tích, bị thương. Trận chiến tiếp diễn ngay cả sau khi có đình chiến ngày 28/1/1973.
Cho nên ngày hôm sau tôi gọi lại Quang Dũng, tôi chỉ cần nghe anh nói về việc tìm ra hài cốt của Th/Tá Trần Ba.
– A-lô, Cần Thơ gọi Quang Dũng!
– Quang Dũng nghe đây, tao chờ chú mày.
– Anh kể vắn tắt cho nghe việc tìm thấy hài cốt anh Trần Ba.
– Mày biết là sau cái ngày gọi là “đình chiến”, TQLC vẫn hành quân “giữ đất”, trong một lần hành quân vào vùng nơi Trấn Ba mất tích, tao nhận được lệnh từ cấp trên cho tạm dừng quân. Tao không thắc mắc dừng quân để làm gì, nhưng tao sực nhớ ra đây là toạ độ, là vùng Trần Ba mất tích nên tao vội cho Thượng Sĩ Thường Vụ tên Đông cùng anh em Đại Đội Chỉ Huy đi lùng sục trong phạm vi dừng quân. Khu vực này đã bị bom đạn cày nát, chỉ còn những bụi cây nhỏ và những bãi cỏ may. Lục tìm bụi cây, bới đất, tới chiều toán của Thượng Sĩ Đông báo cáo tìm được 12 bộ hài cốt, không còn ai nữa. Tao cho lệnh Thượng Sĩ Đông dẫn anh em về vị trí đóng quân. Một lúc sau Đông gọi máy báo cáo không hiểu tại sao Đông cứ bị vấp té hoài, không đứng dậy được, kêu tao lên cứu.
Linh tính cho tao biết có chuyện., tao gọi thầm tên Trần Ba và nói Thượng Sĩ Đông khấn vái xem sao. Thượng Sĩ Đông bèn quỳ gối vái lạy:
– Lạy Đại Bàng Trần Ba, xin Đại Bàng hướng dẫn cho chúng tôi tìm được..
Thượng Sĩ Đông đứng dậy được, đi tới như có lực đẩy sau lưng, đi quanh co một hồi thì Đông trông thấy một vạt cỏ xanh, xanh hơn những chỗ khác, Đông vẹt đám cỏ xanh ra và trông thấy bộ quân phục rằn ri đã mục nát, rồi Đông hốt hoảng báo cho tao: “Tìm thấy rồi, thấy rồi Quang Dũng ơi”.
Toàn thân tao nổi gai ốc, không biết nói thế nào về cảm xúc của tao trong lúc đó. Nhớ thương thằng em cả năm nay rồi, nay tìm thấy hài cốt thì lại đau lòng, em tao chết thật rồi, không còn tia hy vọng mất tích rồi có ngày sẽ trở về!
Dưới vạt cỏ, Đông tìm thấy bộ quân phục TQLC đã mục nát, nhưng trên nắp túi áo có thêu chữ: TRAN BA. Tìm thêm được thẻ bài mang tên TRÂN BA và bộ xương.
Trần Ba đã về với đồng đội và gia đình vào tháng 4/1973 sau 1 năm “mất tích”.
Tối hôm đó, Quang Dũng cho rửa sạch hài cốt, cho binh sĩ thay nhau đứng gác bên hài cốt suốt đêm, sáng hôm sau tao xin phương tiện đưa hài cốt Trần Ba về Saigon, đồng thời lệnh hậu cứ biệt phái 1 xe Jeep cho chị Trần Ba dùng tới khi nào không cần nữa.
☆
Hoạ Vô Đơn Chí
Hậu cứ TĐ 5 báo cáo cho tao tin tức hằng ngày, và đúng như bà Huy Lễ đã viết. Hậu cứ sắp xếp quàn hài cốt Trần Ba tại chùa thì chị Trần Ba xin quàn tại nhà và chôn tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà, thay vì nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.
Đại Tá LĐQ, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn đã đến tư gia viếng hài cốt, truy thăng Cố Trung Tá và gắn Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc cho Thiếu Tá Trần Ba.
Tài xế hậu cứ lái xe Jeep đưa chị Trần Ba, bố và em trai Trần Ba là Trần Lành đến nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà để lo việc xây kim tĩnh cho Cố Trung Tá Trần Ba.
Khi gần đến nghĩa trang, một xe GMC của Mỹ đi từ Biên Hoà về hướng Saigon, bất ngờ lạc tay lái, bay qua đường ngăn đôi xa lộ, đâm trực diện vào xe Jeep!
Hậu quả là Bố và chị Trần Ba tử nạn tại chỗ, tài xế và Trần Lành bị thương nặng. Quang Dũng nghẹn lời, dù anh biết như thế nhưng vẫn tự đặt câu hỏi:
– Có phải Trần Ba đã về đón vợ đi theo như đã nói trong bữa cơm chiều tại nhà Quang Dũng ngày 4/4/1972 không?
Im lặng.
Dù độc giả cũng như tôi còn muốn biết thêm nhiều chi tiết khác liên quan tới trận chiến cuối cùng của “Người Hùng Trần Ba”, nhưng sau khi nghe Quang Dũng tự đặt câu hỏi như trên thì độc giả và tôi không nên hỏi thêm bất cứ chi tiết nào khác nữa, ngoài những chi tiết mà Quang Dũng đã bộc lộ sau hơn 50 năm chôn chặt trong long.
Tôi hỏi câu chót:
– Hiện nay anh có liên lạc được với các con của Cố Trung Tá Trần Ba không?
– Hiện nay tao còn liên lạc được với một trong bốn cháu gái con Trần Ba, cháu này ở Maryland, ba cháu kia vẫn còn ở Việt Nam./.
Đồi Bắc, K19/TVBQGVN CA 29/11/2023 (nguồn: Đa Hiệu số 127/tháng 1-2024
Trong một cái ga ra vắng nằm ở khu Near North Side thành phố Chicago, Đàn anh Antonio cùng 5 thằng đàn em thân tín nhất đang ngồi bên lò sưởi chùi lại mấy cây Tommy Gun. Lúc ấy vào khoảng 4 giờ sáng. Trời Chicago đến tháng 2 rồi mà sao còn lạnh đến khiếp. Tất cả đều im lặng lau lau chùi chùi, không ai thèm nói với ai một câu. Thỉnh thoảng có tiếng kéo cơ bẩm vang lên sột soạt. Đàn anh Antonio đích thân kiểm soát từng viên đạn một trước khi nhét vào băng. Dân giang hồ Chicago thời đó có cái tật là thích tự nhồi thuốc đạn lấy cho cây Tommy gun của mình.
Cây tiểu liên Thompson, còn được gọi là cây Tommy Gun mới có từ sau đệ nhất thế chiến. Cha đẻ của cây súng quái quỷ này là đại tá Thompson của lục quân Hoa Kỳ. Một ngày ở chiến trường, sau khi lau chùi cây súng lục Colt .45 mới tinh của mình, ông vô ý ráp nó lại thiếu một bộ phận hay làm gãy một cái gì đó mà không để ý. Lúc đụng trận, ông rút súng ra tính bóp cò một phát nhưng không ngờ cả 7 viên đạn liên tiếp theo đuôi nhau chui ra làm thành một loạt liên thanh bất ngờ không cách nào tốp lại được. Địch tưởng ông có súng nặng nên không dám tiến lên. Được trớn, ông tiếp tục lắp băng khác vào bấm cò. Ngạc nhiên trước sức công phá, ông nghĩ đến việc lắp thêm cho cây Colt .45 một cái nòng dài hơn, một băng đạn nhiều hơn và một cái khóa lựa chọn để bắn từng phát hay liên thanh. Sau khi chiến tranh kết liễu, với số tiền về hưu của một đại tá bộ binh, ông Thompson bỏ thì giờ ra nghiên cứu và cho ra đời khẩu tiểu liên Thompson đầu tiên trên thế giới. Nặng chỉ có 8 pounds rưỡi, cây súng này có thể bắn xuyên thủng một tấm ván dày 3 inches ở khoảng cách 500 thước dễ như chơi. Xách lại trong tầm nhìn, nó dư sức đốn ngã một thân cây có đường kính là 27 inches hoặc phá thủng tấm thép dày 1/4 inches. (Tài liệu của New York Corporation Auto Ordnance) Lúc nó mới ra đời, các ông cảnh sát New York cười vào mũi ông già Thompson, chê ông này lẩm cẩm, coi đó là một thứ đồ chơi con nít chỉ vì nó bắn bằng đạn súng lục. Các cơ quan an ninh liên bang (Lúc ấy FBI chưa được thành lập) cũng chê. Ai cũng chê hết, chỉ có một giới chơi súng duy nhất thời đó đánh mùi được sức công phá dữ dội và tầm quan trọng của cây Thompson là mấy tay anh chị Mafia. Giá bán rẻ rề, chỉ có 149 đô một cây nên thầy chú thi đua nhau đặt mua rào rào. Chỉ một thời gian ngắn, cán cân lực lượng giữa cảnh sát và bọn này bị thay đổi hẳn. Số cảnh sát bị Tommy Gun quất nằm chỏng gọng giữa đường càng ngày càng tăng. Nhiều vụ đấu súng, ăn cướp chỉ có vài thằng mà cảnh sát phải huy động cả đại đội đến bao vây tại vì mấy thằng khốn quạt Tommy Gun quá đẹp, không có thầy nào dám bò vô. Phải mất mấy năm sau, chính phủ Hoa Kỳ mới biết mình hố và bắt đầu đặt mua một lần mấy chục ngàn cây Tommy Gun để cấp tốc trang bị cho tất cả các nhân viên an ninh cảnh sát. Danh từ Tommy Gun nổi tiếng cũng kể từ đó.
Dĩ nhiên khi cây Tommy Gun bắn bằng đạn súng Colt .45 nên thuốc súng thường được nhồi rất ít hay giới hạn. Các tay anh chị Chicago, “bao nhiêu năm trong nghề” biết cách biến cây Tommy gun thành một cây súng lợi hại hơn. Có gì đâu, chỉ tháo đầu đạn ra, nhồi thuốc vào cho đến khi nào nó đầy ắp, không thêm được chút nào nữa thì mới nhét đầu vô trở lại. “Overboost” như vậy, bắn một phát thì sức công phá phải biết, đúng là “bắn phát nào đáng đồng tiền phát đó”. Khổ thân cái nòng súng, chỉ sau vài trăm viên đạn nhồi Mafia là đã bị nở toang hoát như cánh hoa về chiều. Không sao, cái quan trọng là người bị bắn có chết không chớ nòng súng thì rẻ rề, hai chục đồng một cái mới nguyên, tha hồ mà thay thế. Hơn nữa, đụng trận trong thành phố, có ai bắn quá vài chục viên đạn? Năm ba viên đầu là những viên quyết định, sau đó là co giò chạy thục mạng rồi… Có nhiều tay anh chị kỹ hơn, như xếp Al Capone và Đàn anh Antonio, chỉ cần bắn vài chục phát là đã cho đàn em đi thay nòng gấp gấp, mấy đồng bạc tiếc làm gì?
Từ lúc 2 giờ sáng hôm nay, Đàn anh Antonio và bọn đàn em đã tụ tập đầy đủ ở cái “trung tâm hành quân” mới tinh này để duyệt lại kế hoạch lần cuối cùng trước khi xuất trận. Cách đây vài tháng, sau khi vùng hoạt động càng ngày càng bị thu nhỏ vì áp lực tụi Al Capone, đánh hơi được cái sào huyệt mình thế nào cũng bị bại lộ, Đàn anh Antonio đã ra công tìm kiếm một địa điểm bí mật mới để dời sào huyệt. Thật không còn chỗ nào tốt hơn cái ga ra vắng vẻ ở khu North Side này. Thời đại kinh tế còn phồn thịnh, đây là trung tâm phân phối hàng hóa nhộn nhịp mỗi ngày với hàng trăm chuyến hàng lên xuống của các chiếc truck đủ loại đến từ khắp nơi trên nước Mỹ. Nhìn cái sân rộng đủ chỗ đậu cho gần trăm chiếc xe vận tải hạng nặng, cộng thêm cái building vĩ đại mà ngày xưa tài xế thường vào đây để nghỉ ngơi qua đêm, cặp mắt …gian ác của đàn anh Antonio biết ngay là dưới bàn tay nó, cái khu vực hoang vắng này sẽ trở thành một nơi hái ra tiền. Một nửa phía sau sẽ được biến cải cấp tốc thành những lò cất bia to lớn nhất thế kỷ. Vĩ đại như vậy, không chừng có thể cất đủ Bia để cung cấp cho toàn thể Chicago. Rồi nó tưởng tượng đến những chuyến xe truck hạng nặng 18 bánh chở đầy ắp rượu và bia đi vô đi ra hàng ngày. Xưa nay, rượu và bia lậu từ Canada chở về vì chưa có kho hàng nên vẫn phải cho tản mác đi nhiều chỗ, rất khó kiểm soát, và kẹt nhất là dễ bị đối phương phục kích. Đàn anh Antonio còn nhớ khi cuộc chiến lên đến thời cao độ, có ngày nó bị ăn cướp mất đến hai chiếc xe cam nhông đầy rượu. Bọn Al Capone sau này nhờ tung tiền như nước nên đã thiết lập được một đường giây tình báo vô cùng hửu hiệu. Những chiếc cam nhông chở rượu của trùm Colosimo từ Kansas City qua chưa kịp chạy hết vòng thành phố là chúng nó đã biết nên cho người sách súng đứng rình sẵn ở một khúc đường nào đó, chờ xe tạt qua là nhảy phóc lên kèm cứng thằng tài xế. Khốn nỗi, tài xế xe rượu lậu thường phải mướn những đứa lương thiện có bằng cấp và thẻ hành nghề đàng hoàng để qua mặt cảnh sát. Mấy thằng này, vì không phải là dân chơi chuyên nghiệp cho nên khi nhìn thấy cây Rouleau đen thùi lùi kê vô màng tang mình thì còn biết trời trăng gì nữa, nó biểu đi đâu mà chẳng tuân lệnh? Có thằng còn hãi quá, lính quýnh làm sao mà quẹo chiếc cam nhông vô lề đường, phải de tới de lui mấy bận mới ra nổi kia mà. Thông thường thì bọn cô hồn bắt thằng tài xế lái thẳng về kho rượu của xếp Al Capone. Đây là thượng kế. Lấy hết rượu bia xong tụi nó cho thằng tài xế xách xe không ra về kèm theo một cái thiệp cám ơn có ký tên của xếp Al Capone đàng hoàng. Đôi lần khác, nếu thấy khó ăn quá, tụi nó cho lủi mẹ chiếc xe xuống đường mương. Thế là gần nguyên cả khu phố tự nhiên có mùi bia mùi rượu bốc lên nồng nặc từ mấy ống cống. Dĩ nhiên, mày ăn cướp xe tao thì tao lại không biết cho đột kích xe của mày chăng? Antonio cũng đã cho trả đũa nhiều cú đẹp ra gì. Trả đũa đẹp lắm nhưng làm ăn kiểu này thì đứa nào sống được lâu? Một chiếc xe rượu lậu nhiều khi trị giá đến cả mấy trăm ngàn đô la, bị mất chừng hai chiếc là coi như tháng đó làm ăn chỉ mong lấy huề, tiền đâu mà ăn xài? Chiến tranh Mafia, vì ở trong thành phố nên luôn luôn bị chi phối nặng nhất bởi sức mạnh kinh tế. Kẻ chiến thắng luôn luôn là kẻ có nhiều tiền hơn đối thủ. Hết tiền là hết tất cả, kể cả mạng sống. Vì vậy, cáo già cỡ trùm Colosimo và Al Capone làm sao không biết áp dụng cái quy luật “đập túi tiền” nó trước? Cái ga ra to lớn sẽ giải quyết được nhiều vấn đề, một trong những vấn đề đó là có một kho chứa rượu vĩ đại.
Mặc cả thương lượng để mướn xong miếng đất là ông trùm Colosimo cho xây gấp một bức tường cao lớn chung quanh để biệt lập mình với thiên hạ cái đã. Trước cổng đàn anh Antonio còn cẩn thận cho đóng luôn một cái biển: “Hãng thầu Xây Cất Ferro Corporation” bằng đồng sáng chói, nhỏ thôi, nhưng coi rất là đẹp mắt. Để làm ra vẻ thương mại hiền lành, cái cổng sắt ra vô con đường lớn của hãng không bao giờ thấy người gác. Coi “sạch sẽ” vậy nhưng nếu ai để ý dòm xéo vô bên trong và …lên cao chút nữa, nơi có cái phòng kính ở đầu lầu hai, thì sẽ nhìn thấy mấy thằng cô hồn luôn luôn ôm Shotgun ngồi nhìn xuống.
Bức tường vừa dựng lên xong là cảnh sát khu North Side được đàn anh Antonio chi địa đầy đủ liền. Chi đẹp lại là đằng khác. Cảnh sát khu này tuy đã ăn lương tháng của Al Capone rồi nhưng đâu có sao, thời buổi kinh tế khó khăn, người ta làm hai ba việc là chuyện thường mà. Mới vài tháng thì làm sao gây dựng một đại bản doanh đầy đủ được, nhưng đàn anh Antonio có cái nhìn rất lạc quan. Chỉ cần năm ba tuần nữa thôi là mọi chuyện đâu sẽ vào đó. Al Capone sẽ chết. Khi thằng khốn Al Capone bị bứng rồi thì Frank Nitti sẽ như con cá bị vớt ra khỏi nước. Nó biết thằng này khéo léo, cẩn thận, có tài giết người và tài tổ chức nhưng không có bộ óc thương mại, năng khiếu tổ chức và quan trọng nhất là cái nhìn chiến lược sâu sắc của một đàn anh Mafia. Đàn anh Mafia dòm đâu cũng phải thấy …tiền ở đó, bắn giết chỉ là chuyện phụ, chuyện cực chẳng đã. Đàn anh Antonio đánh giá Frank Nitti chính xác như người thợ kim hoàn lâu năm kinh nghiệm ước lượng món trang sức mình cầm nơi tay, không sơ xẩy một chút nào: Nó sẽ chẳng bao giờ trở thành một lãnh tụ cỡ Al Capone, mà chỉ luôn luôn là một thằng đao phủ thủ tài giỏi và trung thành. Có lẽ xếp Al Capone đã biết thằng phụ tá mình rõ hơn ai hết nên mới tin dùng nó mà không sợ bị tạo phản hay bán đứng. Ai cũng ngán Frank Nittie, chỉ có đàn anh Antonio dám chắc là sẽ cho thằng này “đi luôn” một cách dễ dàng. Đám còn lại, kể cả Frankie Rio thì sẽ như rắn mất đầu, không có gì đáng lo. Tóm tắt, cái nhìn chiến lược của đàn anh Antonio là: Một khi cánh Al Capone không còn …Al Capone nữa thì lâu lắm là ba tháng tụi này sẽ bị dẹp yên, sự nghiệp lẫy lừng của Al Capone sẽ chỉ còn trong mấy đống hồ sơ dầy cộm của ty cảnh sát Chicago và sở bài rượu liên bang.
Và hôm nay là cái ngày mà Antonio quyết định cho Al Capone “đi luôn”. Với kế hoạch đột kích bất ngờ “Bộ tư lệnh Lexington” đã soạn thảo kỹ lưỡng trong đầu, nó tự lựa lấy năm tay súng sừng sỏ nhất trong đám đàn em còn lại để làm công tác này. Đứa nào cũng trên dưới mười lăm năm tung hoành trong thế giới của bàn tay đen. Dĩ nhiên, tất cả đều là những tay súng cự phách, nhưng bắn tiểu liên giỏi cũng chưa chắc là đã trở thành được một tay chơi ngon lành đáng để đàn anh Antonio để ý. Nhiều yếu tố khác cũng không kém quan trọng như lòng can đảm, sự quyết tâm, tài ứng biến v.v… Tụi nó nhất định phải nhìn thấy xác thằng Al Capone ngày hôm nay.
Antonio tự tay kiểm soát từng viên đạn một. Còn một mớ lựu đạn nữa, nó tháo ngòi từng trái, kiểm soát thuốc nổ bên trong. Trái nào cũng được nhồi thêm thuốc. Đàn anh hoan hỉ vặn kíp lại. Lựu đạn quan trọng nhất là cái kíp nổ, sơ xẩy một chút là cả phòng biến thành một cái …hộp thịt người như chơi mà đàn anh xem ra chẳng có ý tứ gì cả, cứ thong thả vặn hết trái này đến khác. Tiếng vặn nghe ken két đến lạnh người. Kiểm soát của mình xong, Antonio còn cẩn thận coi lại mấy cây khác của đám đàn em. Tất cả đều ở trong tình trạng hoàn hảo, không chê vào đâu được.
Antonio ngước nhìn đồng hồ treo tường rồi bốc điện thoại gọi tổng đài xin số của thằng Strado. Chuông reo hai tiếng, giọng ông chủ lò bánh mì vang lên bên tai, đầy sự kính cẩn:
– Lò bánh mì Naples, Strado tôi nghe.
– Antonio!
– Dạ… tôi đang ngồi chờ.
Đàn anh Antonio đáp nhẹ nhàng:
– Kế hoạch phải hủy bỏ giờ chót. Ông bạn thông cảm, tụi này không tới tối nay được…
Strado giật mình đánh thót một cái. Như vậy là hoài công phí của. Hay là Antonio đã biết được bọn Al Capone có mặt ở đây từ chập tối? Trán Strado chưa gì đã thấy lấm tấm mồ hôi, mặt tái hẳn đi. Nó chưa lấy hồn lại được sau vụ đột kích vừa rồi của Al Capone, nếu Antonio hoãn tấn công thì mọi chuyện lại sẽ bắt đầu từ con số không. Đầu óc Strado trở nên tê dại.
Sắc mặt thất thường của Stado không qua khỏi cặp mắt của xếp Al Capone đang ngồi sát bên đó. Xếp đưa hai tay ra dấu cho nó phải bình tĩnh. Strado líu ríu nói:
– Có chuyện gì không đàn anh Antonio? Tôi đã làm theo như ý của đàn anh, đâu có gì trễ nải đâu.
– Tôi biết rồi nhưng không được. Thành thật xin cảm ơn ông bạn, chắc có lẽ chúng tôi sẽ chẳng nhờ ông bạn nữa đâu?
Strado chưa biết trả lời sao, miệng méo đi một cách thảm hại:
– Thì anh em muốn sao cũng được. Muốn mượn xe tôi cho mượn xe, bây giờ nếu không cần nữa thì thôi…
– À, mà ông bạn đừng có đi đâu hết nghe, có thể lát nữa đàn em tôi cho ghé ngang qua để biếu ông bạn món đồ. Chỗ anh em với nhau mà.
Chỉ có vậy thôi là Antonio gác điện thoại cái rụp, khỏi bye bye làm gì cho mất thì giờ. Strado thẫn thờ như người mất hồn, nhìn Xếp Al Capone lắc đầu:
– Hỏng hết rồi xếp ơi! Antonio vừa gọi thông báo nó hủy bỏ cuộc tấn công tối nay. Không chừng chắc nó đã biết xếp có mặt ở đây rồi…
Xếp Al Capone lắc đầu, mồi một điếu xì gà:
– Ông bạn lầm rồi, tôi đâu có lạ gì thằng chó này. Nó còn sống đến giờ này cũng nhờ những cái vụ úp mở này. Chưa bao giờ có người nào, trừ tôi, đoán trúng được chuyện nó sắp làm. Vậy nó có dặn ông ở nán lại đây không?
– Có, nó dặn đừng đi đâu, sẽ có người ghé tặng món quà đền ơn.
Xếp Al Capone vỗ mạnh vào mặt bàn làm thằng làm Strado giựt bắn mình:
– Xong rồi. Ông cứ ngồi đó chờ điện thoại đi, lát nữa thế nào nó cũng gọi lại cho coi. Nó không hủy bỏ chương trình đâu.
Cũng vừa lúc ấy, Frank Nittie bước vào phòng, kề tai xếp nói nhỏ:
– Chuyên viên điện thoại của mình vừa thông báo là họ đã phăng ra chỗ ở của Antonio rồi: Khu Near North Side.
Xếp hất đầu một cái:
– Cho tụi nó ra xe chờ sẵn. Tao ra là mình dọt liền.
Xếp Al Capone dụi tắt điếu xì gà. Những khi sung sướng cực độ, xếp thường không làm được gì cả, chỉ muốn ngồi yên để thưởng thức. Xếp tưởng tượng cái hình của Antonio máu me be bét trên trang nhứt của tờ Chicago Tribune chiều nay. Như vậy là xong một đoạn đường.
Quả như lời xếp đoán, chỉ chừng nửa tiếng sau, chuông điện thoại của Strado lại reo vang. Ống nói vừa nhấc, đã nghe đàn anh Antonio sủa gọn lỏn:
– Từ bây giờ đến sáu giờ sáng, tụi tôi có mặt ở lò bánh.
Strado thầm kính phục sự ước đoán của xếp Al Capone, chả trách gì xếp trở thành một tay anh chị sừng sỏ nhất thế giới. Giọng nó sảng khoái như vừa trút được một gánh nặng:
– Đàn anh muốn sao cũng được. Thằng Strado này luôn luôn chiều ý đàn anh. Tất cả đều sẵn sàng, đang chờ đàn anh tới.
Antonio cẩn thận:
– Tụi trên Lexington có gọi cho ông không?
Lần đầu tiên Strado dám nói dối với đàn anh Antonio:
– Không, không thấy gì hết.
– Có đứa nào bén mảng tới đó không?
– Không, chỉ có mình tôi và thằng nướng bánh.
– Very good!
– Đàn anh có thể cho biết mấy giờ không? Tại tôi còn phải đi ngủ nữa…
Câu trả lời thoáng vẻ hơi khó chịu:
– Biết vậy đủ rồi. Rán chờ chút đi người anh em.
– Dạ dạ,.. thì phải vậy chứ sao. Đàn anh cứ tin tôi đi.
Antonio gác ông nói. Nó lại ngước nhìn đồng hồ treo tường. Bốn giờ sáng. Antonio chợt nhớ hôm nay là ngày lễ thánh Valentines, một ngày biểu tượng của tình yêu, của những trái tim nồng thắm trên thế giới. Ngày của tình yêu mà đổ máu tùm lum như thế này thì thật là uổng, Antonio chặc lưỡi. Bọn nó còn nửa giờ nữa để dợt lại kế hoạch lần chót trước khi phóng xe ra đi. Antonio đốt điếu thuốc lá, ngoắc tay cho sáu đứa đàn em quây chung quanh mình. Dưới sàn nhà, một cái họa đồ sơ khởi của khách sạn Lexington được vẽ sơ sài. Đúng ra, đó chỉ là một cái hình vuông lớn chứa nhiều …ô vuông nhỏ trên tờ giấy bằng nét vẽ nguệch ngoạc. Không hiểu sao chúng có thể định đâu là đâu được nhưng đàn anh Antonio bình thản chỉ vào cái hình vuông ở một góc:
– Tao lập lại thêm lần nữa những gì tụi mày đã biết. Khách sạn này có hai cái nhà hàng, cái lớn nhất ở từng dưới và cái kia ở từng thứ hai. Sau khi đút đít chiếc xe của lò bánh mì Naples vào cửa sau, tụi mình cứ việc bình thản chất bánh lên bốn cái xe nhỏ rồi đẩy vào. Đừng làm mau quá mà cũng không làm chậm quá, cứ đúng điệu tà tà của công nhân lương thiện là ăn tiền. Dĩ nhiên, đừng quên chất luôn mấy cây Tommy gun và mớ lựu đạn dưới những ổ bánh mì. Xong xuôi, lúc đẩy xe vào, hai thằng tài xế cứ tà tà ngồi ngoài đó mà chờ cho tao. Nhiệm vụ của tụi mày là “clear” cái bãi đậu xe từ nhà bếp ra tới ngoài lộ. Đ. M. đánh mà không có đường rút là tự sát. Nên nhớ, nhiệm vụ hai đứa này rất quan trọng, nếu bãi đậu xe có bị gì trục trặc, phải dọt vào trong thông báo cho tao biết. Nếu không thấy ai, tao sẽ coi như là bãi đậu xe an toàn. Có thằng nào thắc mắc gì không?
Antonia quét mắt một vòng chờ đợi ý kiến. Không có tiếng trả lời. Có vài tiếng nuốt nước bọt ừng ực. Antonio lại chỉ vào một ô vuông khác, tiếp:
– Từ trong bếp, một thằng đẩy chiếc xe bánh ra tới hành lang chính rồi tìm cách đứng luôn tại đó cho tao. Nhiệm vụ thằng này là chận hết những đứa nào muốn dọt lên cầu thang sau khi súng đã nổ. Chiếc xe bánh thứ hai sẽ vô thang máy để đi lên lầu 2. Đích thân tao sẽ đẩy chiếc này với ba thằng nữa. Ở trong thang máy, phải chuẩn bị súng đạn xong. Tới lầu hai, thay vì đi thẳng vào nhà hàng, mình sẽ đi vòng qua trước phòng của thằng Al Capone.
Antonio lấy cây viết chì, đưa lên miệng liếm rồi gạch chữ “X” vào một cái ô đen bên cạnh:
– Tao biết, khoảng giờ đó, thằng Frank Nitti chưa có mặt, nó chỉ có hai thằng gác hành lang là có mặt 24/24 thôi. Dĩ nhiên, tụi mày phải nhớ là cho tới lúc đó, mình vẫn còn là những thằng thợ bánh mì làm ăn chân chỉ của hãng Naples. Cứ tà tà đẩy xe qua mặt tụi nó. Qua khỏi rồi, thằng Mac Coy và Roberto, tụi mày quay trở lại bất ngờ để tặng cho mỗi đứa một đường giây lụa. Làm sao cho đẹp mắt, không được sơ hở. ĐM cứt sẽ phun ra tùm lum đầy hành lang nhưng đỡ hơn máu. Ngày lễ thánh Valentines không nên để máu chảy nhiều quá…
Một tràng cười hềnh hệch cất lên, rồi hai tràng, rồi đến cả đàn anh Antonio cũng cười:
– Gần bốn chục năm tao chưa bước vô nhà thờ nên phải tỏ lòng tôn kính một chút.
Tràng cười chấm dứt, Antonio lại trở nên nghiêm trang:
– Phải chắc chắn là tụi nó bị siết cổ chết ngắc trước khi mình tiếp tục. Lúc này, tất cả súng ống phải cầm tay, lựu đạn sẵn sàng. Phòng sát bên phòng Al Capone là “trụ sở” của đám cận vệ. Đích thân tao sẽ gõ cửa phòng thằng Al Capone. Trong lúc đó, thằng Baker sẽ trổ tài mở khóa, mày, Roberto, thủ sẵn hai trái lựu đạn. Cửa vừa mở ra là thảy vào đó hai trái cho tao. Lựu đạn tung đi rồi là phải đóng ập cửa lại liền để dọt xuống giữ an ninh cầu thang, đừng có ham máu mà hư việc lớn. Thằng Al Capone thì có lẽ lúc ấy tao cũng lo xong rồi. Thằng còn lại ở dưới khi nghe súng nổ phải dọt ra cầu thang chính để phụ cho Mac Coy và Roberto dọn đường xuống.
Bảy khuôn mặt anh chị dưới ánh đèn điện vàng coi lầm lì đến khiếp. Antonio vò nát tấm sơ đồ trong tay:
– Tầng dưới chắc chắn sẽ còn một ít cận vệ của nó nữa. Nhiệm vụ của 3 thằng ở cầu thang chính lúc đó là khóa họng tụi này. Lúc ấy không được ham máu ở lại bắn nhau với tụi nó mà phải kiếm đường rút lẹ. Kể cũng không có gì khó vì khi nghe súng nổ, mọi người trong khách sạn đều ở yên trong phòng. Chỉ có đám cận vệ mới xách súng ló mặt ra, mà chưa chắc tụi nó đã dám vì không biết mình có bao nhiêu thằng. Hễ thấy cánh cửa phòng nào hé mở là cứ quạt Tommy vào đó cho tao…
Còn một điều gì làm bận tâm Antonio, nó nhíu mày:
– Cái tao chưa tìm ra được là không biết thằng Frank Nitti giờ đó sẽ ở đâu?
Antonio ngừng một chút suy nghĩ:
– Nếu nó có mặt ở Lexington sáng nay thì mình hơi kẹt nhưng cũng không đến nỗi nào vì mình có yếu tố bất ngờ. Thằng nào bị thương không tự ý chạy được coi như …bỏ. Nếu vào nhà thương hay bị bắt, tao sẽ lo sau.
Antonio xốc lại sợi dây đeo súng:
– Có đứa nào hỏi gì không?
Hỏi mẹ gì, dân anh chị mà. Đây đâu phải là lần đầu chúng nó đi thi hành những mission như vầy. Như cơm bữa. Bọn cùng thời với chúng, thằng nào chịu không nổi thì đã giải nghệ, nhiều đứa khác đang đếm vài chục cuốn lịch trong tù hay đã nằm yên trong nghĩa địa. Những thằng còn lại toàn là dân chơi thứ thiệt, bắn rất chính xác, …chạy rất mau và sống rất đế vương. Chúng nó vô cùng hãnh diện lần đột kích này, đích thân người hùng Antonio, nổi tiếng là đệ nhất đao phủ thủ của Chicago đi với chúng.
Đàn anh Antonio bấc giác lắc đầu, cảm thấy tiếc thằng John Alario. Nó ngon thật nhưng hấp tấp quá, chưa xứng đáng là đối thủ của Frank Nitti. Nếu nó cứ bình tĩnh một chút, chờ cho đến sáng nay thì nội công ngoại kích, thằng khốn Al Capone làm sao đỡ được? Một tay súng ngon cũng quý như con tuấn mã, cần được điều khiển bởi người cưỡi giỏi. Ngựa hay mà không được dìu dắt thì có hơn gì bày ngựa thường? Đàn anh quyết chí sáng nay sẽ rửa hận cho thằng Alario.
Antonio quay người ra sau, tự tay bưng bình cà phê rót đầy bảy tách. Ít khi đàn anh thèm biểu diễn cái màn “tự do bình đẳng” như vầy. Thường thì nó chỉ ngoắc tay một cái rồi chỉ vào bình cà phê là hai thằng cận vệ ruột đã lo chạy thụt mạng để điếu đóm cho đàn anh. Nhưng hôm nay, không hiểu vì hứng tình gì, Antonio làm một nghĩa cử quá đẹp. Roberto nhìn đàn anh ngạc nhiên tự hỏi: Trước khi xung trận sao Antonio lại đổi tính bất thường? Không biết đây là điềm tốt hay điềm xấu?
Antonio dòm đồng hồ: 4 giờ 30 phút. Nó hít một hơi thở dài, nhìn đám đàn em:
– OK tụi mày, trước sau gì cũng một lần chết. Đã tới giờ lên đường.
Lại thêm một câu nói gở! Đám cô hồn lục đục đứng dậy, mặt mũi đứa nào cũng tĩnh bơ như sắp sửa lên đường đi chơi, không hề thấy một chút căng thẳng hay lo lắng. Những cây tiểu liên, shotgun được chúng xách lên kiểm soát lại lần chót. Antonio là người đầu tiên bước tới cánh cửa:
– Tao và thằng Roberto sẽ chờ tại góc đường số bốn. Tụi mình sẽ thay quần áo tại đó.
Ngay lúc ấy, bỗng có tiếng còi hụ của xe cảnh sát. Cả sáu thằng cùng nhìn nhau thắc mắc, lặng yên đứng nghe. Tiếng còi xe từ xa đưa tới, càng lúc càng gần. Ủa, tụi này chạy đi đâu mà sao nghe y như là nó quẹo vô trong khu đất của mình. Antonio lẹ làng thò tay tắt ngọn đèn ngoài cửa, vén màn nhìn xuống. Đích thị rồi, nó đang quẹo vào cổng, ánh đèn pha sáng quắc lướt một vòng ngang ga ra, đèn đỏ trên xe chớp chớp liên hồi.
Một thằng đàn em của Antonio lên đạn cây shotgun săm săm chuẩn bị đi xuống. May mà Antonio xông tới kịp túm áo thằng em, gầm vào mặt:
– Roberto, mày tính làm cái trò gì. ĐM muốn bắn lộn với cảnh sát ở đây hả? Dẹp cha cái trò ngu ngốc đó lại. Tao cấm không thằng nào được đụng đậy gì hết. Cảnh sát quận này là “người nhà” của mình, ĐM lại chắc hôm qua có thằng khốn nào ăn cướp nhà băng hay bậy bạ gì ở đâu đây nên tụi nó mới biểu diễn cái trò hành quân cảnh sát này cho dân chúng yên tâm đó mà.
Roberto hạ nòng cây shotgun. Trong đầu nó văng ra một câu hỏi kỳ lạ: cái ga ra này có mẹ gì mà cảnh sát lại hú còi xông vào đây? Thầy chú ở đây ai cũng biết mình đang trong giai đoạn gầy dựng cơ sở, làm gì có giọt rượu nào trong này. Hơn nữa, nếu có chuyện nghi ngờ thì thiếu gì cách thông tin cho nhau? Hầu hết cảnh sát ở quận này ăn lương tháng ngập mặt của mình mà? Nó gác cây shotgun trở lại kệ, lắc đầu suy nghĩ ráng tìm ra đáp số của bài toán.
Antonio quát lên như sấm:
– OK, tất cả súng đạn để hết trên đây rồi dọt xuống dưới hết với tao để coi mấy thằng khùng này muốn gì. Tao lập lại, cấm không thằng nào được lạng quạng, nếu chúng có xúc lên xe cây, cứ việc leo lên, cùng lắm mình hủy bỏ cuộc đột kích ngày hôm nay, tao sẽ lo sau. Tụi mày nghe rõ hết chưa?
Đàn anh Antonio vừa càu nhàu vừa mở cửa bước xuống. Lệnh đã ban ra rõ ràng như vậy, đứa nào dám cãi. Vả lại, cái lệnh này hợp lý: dân anh chị không bao giờ thèm đi ăn thua với …cảnh sát. Nếu muốn thịt thằng cớm nào thì cứ chờ cho nó về nhà rồi thanh toán một mình. Khi chúng nó hú còi đi khơi khơi như vậy, có cho kẹo cũng không thằng nào muốn rước họa vào thân.
Cả sáu đứa bước xuống ga ra, tiếng gõ cửa từ bên ngoài cũng bắt đầu vang lên:
-Cảnh sát, cảnh sát đây, mở cửa gấp.
Antonio cẩn thận cho đàn em khoá trái cánh cửa ăn thông lên lầu trước khi đích thân ra mở cửa chính của ga ra.
Tiếng gõ bây giờ đã trở thành những tiếng đập cửa ầm ầm:
– Cảnh sát đây. ĐM làm fuck gì trong đó mà lâu quá vậy, có mở cửa không hay tao phải cho xe ủi bể cửa ra hết?
Vặn hai ba vòng khóa, Antonio từ từ kéo cánh cửa ra để nhìn thấy hai thầy cảnh sát mặc sắc phục đang giận dữ lóe ra hai cái mộc hiệu bằng đồng lóng lánh:
– Cảnh sát, làm fuck gì trong nhà mà nãy giờ mới chịu mở cửa, bộ muốn phi tang mấy mớ đồ nghề nấu rượu hả? ĐM đi hành quân lục soát mà gặp chừng ba đám như tụi mày thì tao làm sao về kịp giờ cơm?
Chưa thèm mở rộng cánh cửa vội, Antonio quan sát hai thầy cảnh sát thêm chút nữa. Mặt mày đám cớm này coi lạ hoắc. Chắc đây chắc là cớm ở xa mới đổi về nên chưa biết mặt trời, còn hung hăng. Lo gì, cảnh sát bao giờ chả vậy, chỉ cần ở đây vài tuần lễ là chúng trở thành dễ bảo như con nít ngay.
Nó liếc mắt nhìn ra ngoài xe. Ủa, sao còn tới hai ba thằng khác ngồi lù lù trong xe không chịu đi vào. Một ý nghĩ ghê gớm lóe lên trong đầu tay anh chị từng trải, nhưng nó trấn an được ngay. Có thể tụi này là nhân viên an ninh liên bang của sở bài trừ rượu. Tụi này thường đi hành quân bắt rượu chung với cảnh sát nhưng rất kín đáo, ít khi ló mặt ra với những vụ cỏn con như vầy. Antonio nói ngọt:
– Đang ngồi bàn chuyện …làm ăn. Mấy thầy muốn gì?
Rõ là đồ cảnh sát …mất dạy. Hai thầy không thèm trả lời, cứ hùng hổ đẩy cửa vừa xông vào vừa hoa cây dùi cui loạn lên. Antonio bước lùi nhường chỗ cho hai thầy dọt vô. Vào hẳn trong ga ra, một thầy chỉ cây dùi cui vào mặt Antonio:
– Giờ này tụ họp làm con mẹ gì ở cái ga ra vắng vẻ này mà đông quá cỡ vậy? ĐM tính tổ chức đi ăn cướp nhà băng hả. Đưa chút giấy tờ ra coi coi.
Một thầy khác quát to lên vào đám còn lại:
– Mấy thằng này nữa. ĐM sao mặt mũi đứa nào coi cũng hung ác quá chừng giống như quân ăn cướp. ĐM mới dòm đã thấy muốn giộng cho mỗi đứa một cái dùi cui. OK, tất cả móc giấy tờ ra rồi đứng quay mặt hết vào tường cho tao coi. Lẹ lên!
Năm thằng đàn em của Antonio tuy nãy giờ đứng yên nhưng đâu phải là hạng thèm nghe lời cảnh sát dễ dàng như vậy? Có cây dùi cui thì nghĩa lý mẹ gì mà bày đặt lớn lối. Đúng ra, chỉ cần một cái lệnh ngầm của đàn anh là chúng nó sẽ xông tới tước vũ khí và đè cổ mấy thầy xuống thềm xi măng dợt cho một trận dễ dàng như trở bàn tay.
Không đứa nào thèm nhúc nhích, cũng không thèm trả lời, mắt tóe lửa chỉ nhìn Antonio chờ lệnh. Đúng là một lũ du côn, có đứa nào coi cái quyền uy của cảnh sát quận North Side này ra cái chó gì đâu? Hèn gì dòm mặt thằng nào cũng thấy có chất lưu manh mất dạy. Thầy cảnh sát làm như đã quen thói nạt nộ, thấy lệnh của mình đã rõ ràng vậy rồi mà thằng nào cũng lì ra một đống, liền nỗi giận túm cổ một thằng, chỉ cây ma trắc vào mặt quát lên như cọp rống:
– ĐM có đứng quay mặt vô tường không hay tao phải giộng cho một dùi cui lên đầu rồi mới chịu qùy xuống. Tụi mày muốn giỡn mặt cảnh sát à, lát nửa toán tăng cường tới đây là tao cho lên xe cây xúc hết tụi mày về bót.
Thày nói xong là dơ cao dây dùi cui lên liền, làm như sắp sửa nện xuống thật. Vậy mà thằng bị túm cổ cái mặt vẫn lầm lì trơ trơ như đá. Nó còn nhìn thầy đầy vẻ thách thức như ngầm bảo: “Có ngon thì giộng thử một cái là biết liền. Ông đụng vào người tôi là tôi cho ông nằm thẳng cẳng tại đây liền tức thì.”
Đàn anh Antonio đâu dám để cho chuyện đổ bể đến nước đó, liền quát to lên chữa lửa:
– Tụi bay không nghe lời thày nói sao? Tụi mình là dân lương thiện mà, mau lẹ lẹ đứng quay mặt vô tường đi. Có thể mấy thầy hiểu lầm… Mình là dân lương thiện mà.
Đến bây giờ năm tay anh chị mới ngoan ngoãn quay người đứng chống tay vào tường, hai chân chàng hãng. Một thầy cảnh sát xách cây dùi cui đi sửa thế đứng của từng đứa, tiện tay kiểm soát một vòng. Tốt, không tìm thấy cây súng nào hết, cả đến dao cũng không. Những đồ đạc giấy tờ trong túi bị thầy móc ra, thảy xuống nền nhà.
Kiểm soát xong, thầy cảnh sát nhìn bạn, gật đầu một cách bí mật. Antonio phân trần với thầy kia:
– Thầy, sao thầy làm khó anh em, tụi này có làm gì đâu? Chỉ tụ họp đánh chút bài xì phé chơi thôi. Đại úy Deerman là bạn thân của tôi mà. Thầy chắc ở xa mới về, tụi tôi hiểu…
Người cảnh sát thọc cây dùi cui vào bụng Antonio:
– Ai thèm bạn bè với “chú”, ĐM nãy giờ hỏi giấy tờ sao không thấy gì hết? Đưa “chút” giấy tờ coi thử coi.
Antonio ngoan ngoãn thò tay vô túi. Chưa kịp kéo ra thì thầy cảnh sát đã nhanh như chớp thọc sâu cây dùi cui vào nách nó, kèm cứng cánh tay. Đau nhức không chịu nỗi, Antonio thả bàn tay xuội lơ. Thày cảnh sát thò tay kia vô trong áo nó vừa vặn chụp được mớ giấy tờ mới rớt ra.
Antonio thầm phục thầy cảnh sát. ĐM hành xử như thế này thì đúng là dân cớm lão luyện trong nghề, không tin bất kỳ ai và không bao giờ để cho thằng nào móc cái gì trong túi ra. Nhưng Antonio lần này “sạch”, nó đâu có súng ống gì trong người. Antonio chỉ hơi khó hiểu một chút là thầy cảnh sát ngon lành vậy thì chắc phải ở xa đổi về, không phải thứ cớm mới ra trường.
Thày cảnh sát tay cầm ma trắc, tay kia lật lật xấp giấy trong tay xem xét. Thầy bỗng đổi giọng nói với Antonio:
– A, té ra đây là ông bạn Antonio. Sao nãy giờ không chịu giới thiệu? Ông chịu phiền đứng quay mặt vào tường cho tụi tôi kiểm soát một vòng rồi thôi. Thủ tục hành chánh mà, mấy ông thông cảm.
Antonio nghe nói cảm thấy thoải mái trong người. Thày vừa đọc ra cái tên của nó, cái tên mà tất cả những thày cảnh sát ở quận Near North Side này ai cũng biết nhờ chuyên môn chi địa đẹp. Phải vậy mới được. Antonio chỉ sợ gặp mấy ông cớm mới ra trường còn hăng tiết vịt, nỗi nóng bậy bạ xúc nó về bót thì công việc sáng nay coi như bỏ. Thầy đã xuống nước mềm mỏng như vậy thì chắc là yên chuyện.
Nó lững thững đi tới bức tường, ngoan ngoãn đứng nhập bọn với đám đàn em. Antonio chống tay nhìn tường chờ đợi. Chờ nửa phút, không thấy thày cảnh sát tới kiểm soát. ĐM cái giòng cảnh sát, lúc thò tay ra đớp bạc thì sao mà mau thế, còn làm việc thì chậm hơn rùa, Antonio chửi thề trong bụng. Nó đã quá quen với cái màn đứng quay mặt vào tường rồi, nên không lấy làm khó chịu lắm, chỉ cần chờ thêm một chút nữa là mọi chuyện đâu sẽ vào đó. Suốt cuộc đời anh chị, không biết đây là lần thứ mấy trăm nó bị đứng như thế này? Antonio tính ngày mai phải gặp thằng đại úy Deerman để xài xể thằng đại úy cảnh sát này một trận mới được. Nó đã dặn Deerman không biết bao nhiêu lần về cái vụ này. Người ở xa mới đổi về thì phải thông báo cho nó biết liền, hay phải cắt đi tuần ở một khu khác. Sắp đánh lớn mà còn bị cái vụ lỉnh kỉnh này xui lắm. ĐM, đã cho ăn ngập mặt mà sao làm việc bê bối quá, không chừng phải cảnh cáo nó mới được. Antonio tiếp tục suy nghĩ.
Một phút đồng hồ nữa trôi qua cũng không nghe được một tiếng nói, hay tiếng la hét quát tháo thường lệ của mấy thầy. Cái giác quan bén nhạy của bao nhiêu năm giang hồ cho Antonio biết có chuyện lạ. Đứng bên cạnh Antonio là thằng Roberto. Nó cúi đầu nói nhỏ với đàn anh:
– Antonio, đàn em nghĩ có chuyện gì bất ổn trong vụ này, nếu chúng nó không phải
là cớm thiệt thì đời tụi mình tàn…
Antonio nghe xong câu nói là giật mình đánh thót một cái, hồn vía bay lên tận chín tầng trời. Có vậy mà từ nãy giờ nó chưa nghĩ ra. “Nếu chúng nó không phải là cớm thiệt thì đời tụi mình tàn!”
Antonio muốn đập đầu vào tường. Vào sinh ra tử, sống sót sau trăm trận lớn nhỏ như nó mà sao hôm nay ngu dại thua một đứa mới ra nghề. Sao nó chưa hiểu cái định luật bất di bất dịch của chiến tranh là phải tấn công và sẵn sàng để bị tấn công ở cái chỗ, cái lúc mà mình không ngờ nhất. Nó và đàn em đã tính giả dạng nhân công bánh mì đi đột kích người ta thì chắc gì tụi này đã không mặc đồ cảnh sát để đi thanh toán nó trước. Mồ hôi trán Antonio toát ra, bàn tay đang dựa vào tường bỗng run lên bần bật. Lần đầu tiên trong cuộc đời anh chị, Antonio nhìn thấy những ngón tay mình run lên như vậy. Có thể đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng của cuộc đời anh chị.
Đằng nào cũng chết, Antonio xoay người lại để vừa vặn nhìn thấy những gì đàn em Roberto nói là đúng. Trước mặt nó là hai thằng cảnh sát và 2 đứa khác đang thủ mỗi đứa một Tommy Gun sẵn sàng nhả đạn. Antonio nhận ra ngay 2 thằng bên góc trái: hai thằng đệ nhất đao phủ thủ của Al Capone chớ ai: Frank Nitti và thằng Frankie Rio đứng sát bên nhau, mắt rạng ngời sung sướng. Cái sung sướng của kẻ thắng trận pha lẫn cái sung sướng bệnh hoạn của những thằng sắp sửa giết người.
Vậy là tàn một đời anh chị.
Đã đến nước này thì còn suy nghĩ gì nữa, Antonio thét to lên một tiếng, dùng hết sức nhào người ra phía trước, tính ôm cứng lấy thằng Frank Nitti để gỡ gạc cú chót. Nhưng làm ăn gì được với một thằng thiện nghệ như Frank Nittie? Đấu súng tay đôi chưa chắc nó đã sợ ai, bây giờ kẻ thù tay không ở trước mặt, làm sao nó để người ta thoát?
Bốn cây liên thanh cùng khạc lửa ra một lần, tiếng nổ vang lên đinh tai nhức óc. Hai thằng mặc đồ cảnh sát theo đúng chỉ thị, quạt từ trái qua phải, hai thằng kia “đi” ngược chiều, từ phải qua trái. Như lời dạy dỗ của phụ tá Frank Nittie, các loạt đạn đầu tiên đều bắn thấp. 7 cái thân người cùng bị đốn ngã một lượt, nằm la liệt trên sàn nhà. Đạn tiếp tục nổ xuống chúng nó, máu me, thịt và óc bầy nhầy văng tung toé khắp nơi. Riêng đàn anh Antonio được Frank Nitti chiếu cố đặc biệt. Khi nó vừa ưởn người lên định phóng tới thì ngón tay của Frank Nitti cũng vừa siết cò súng. Cây Tommy Gun trong tay Frank Nitti nổ dòn dã. Nổ thật chính xác như là nó đang tập bắn bia vậy. Loạt đạn đầu tiên bay thẳng vào ngực, chạy một đường lên tới mặt Antonio, làm như muốn chẻ đôi cái khối thịt nặng 200 cân ra. Kẻ thù nguy hiểm cuối cùng của xếp Al Capone bị đẩy dội ngược, rồi rớt xuống nền nhà, lăn lộn, co quắp. Frank Nitti hạ thấp mũi súng, tiếp tục tưới thêm một tràng nữa. Tiếng súng hòa lẫn với tiếng la hét của nạn nhân làm thành một thứ âm thanh kinh khủng, quyện lẫn với khói thuốc súng bay mịt mù trong cái ga ra nhỏ.
Khói súng đâu mà nhiều quá chừng, làm bọn Frank Nitti chảy cả nước mắt nước mũi. Nhưng có sao đâu, chỉ chịu khó bắn hết băng đạn là chúng nó có quyền rút. Sau mấy loạt, khi thấy ai nấy đã co quắp lăn lộn trên vũng máu rồi, Frank Nitti và đồng bọn lẹ làng bước đến trước từng cái xác một, kê súng vô đầu nạn nhân, bóp cò tiếp. Khi chắc chắn không để đứa nào “vô nhà thương còn ngáp ngáp”, Frank Nitti thét to lên: “Xong rồi tụi bây, dọt!” Bốn thằng tỉnh queo dọt ra khỏi cái ga ra đầy khói thuốc súng, leo lên xe mở máy phóng đi mất hút.
Lúc ấy vào khoảng 5 giờ rưởi sáng ngày thứ năm, 14 tháng 2 năm 1929. Ngày hôm đó, không những cả Chicago, cả nước Mỹ mà cả thế giới rúng động về vụ tàn sát này. Hình của đàn anh Antonio và 6 thuộc hạ được đăng lên trang nhất của ít nhất mấy ngàn tờ báo khắp nước Mỹ. Có cái xác nào còn nguyên vẹn đâu, chỉ là những đống thịt bầy nhầy coi phát gớm. Ngay đến tổng thống Hoover cũng phải lợm giọng, tuyên bố: “Đây là một ngày ô nhục của lịch sử tư pháp Hoa Kỳ.” Ngài tổng thống còn hứa là sẽ “cho điều tra về các tội ác của thế giới bàn tay đen ở Chicago và toàn thể nước Mỹ.”
Vụ này đã đi vào lịch sử Chicago, được báo chí Mỹ gọi là “The St. Valentine’s Day Massacre.”
Khi cảnh sát đến nơi, dù đã quen với những vụ án mạng, nhiều thầy đã nôn mửa thốc tháo khi nhìn thấy cái cảnh hãi hùng trong ga ra. Thịt, máu, óc, ngón tay ngón chân văng khắp nơi: Trên tường, dưới sàn, ngay cả trên trần nhà cũng dính đầy máu óc…
Dĩ nhiên, cũng như hàng trăm vụ thanh toán khác ở Chicago, cảnh sát không bao giờ tìm ra thủ phạm….
Cuộc đại chiến đẫm máu nhứt của hai tay anh chị lừng danh Chicago chấm dứt ngày hôm nay, sau vụ “The Saint Valentine’ s Day Massacre”. Kẻ chiến thắng, Xếp Al Capone, bắt đầu xây dựng lại những “đổ vỡ của chiến tranh”. Chicago chỉ còn lại 3 cánh mà mạnh nhất và giàu nhất là của xếp Al Capone, kiểm soát hoàn toàn trung tâm thành phố và lãnh thổ mới, khu North Side của Chicago. Hai cánh kia, một của O’Bannon (cánh Do Thái) và của Rusky yếu hơn nên chỉ nhận coi vùng phía Nam và phía Tây, nơi có nhiều người da đen và dân nghèo. Đúng ra, Xếp Al Capone biết mình có thể dẹp được hai cánh kia để “gồm thâu lục quốc” một cách dễ dàng nhưng xếp thấy giang sơn mình đã lớn quá rồi, vả lại, chinh chiến suốt mấy năm, nên nghỉ ngơi để tái tổ chức cơ sở và …đếm bạc.
Bọn O’ Bannon và Rusky biết thế lực của xếp, tuy có kiêng nễ thật đó nhưng chưa chắc chúng nó đã sợ. Biết thân phận, O’ Bannon và Rusky gặp nhau một buổi chiều để soạn thảo “mật ước tương thân”, cả hai đồng ý rằng nếu AI Capone đụng vào bất kỳ cánh nào thì chúng nó sẽ hợp lại để phản ứng. Cho kỹ hơn, hai ông trùm còn lại của Chicago còn hoàn thành xong một kế hoạch phản công để phòng trường hợp này. Trùm Rusky cho thằng phụ tá tín cẩn bay về Sicily gấp. Chỉ vài tháng sau, trên chuyên tàu di cư qua Mỹ, thằng đàn em dắt theo khoảng 50 đứa Sicilian chính gốc. Nước Ý nghèo quá, quần quật suốt năm không đủ ăn, bây giờ có người đến tuyển mộ sang “tân thế giới”, thằng nào không ham? Mà muôn đi đâu phải ai cũng đi được? Nghề làm ruộng và làm bánh mà muốn qua Mỹ thì dẹp đi, đừng hòng. Chỉ có nghề cầm súng mới được cứu xét. Nhập cảng New York, chích ngừa chích nghiếc, thủ tục vài tuần xong là tụi này leo lên xe lửa, theo chân ông chủ mới phóng tuốt về Chicago. Trùm Rusky mở tiệc đón rước linh đình.
Phải càng linh đình thì càng tốt, cố làm sao cho chuyện này tới tai xếp AI Capone thì mới có nhiều ép phê. Theo binh thư, chiến tranh chỉ xảy ra giữa một kẻ quá mạnh và một kẻ quá yếu. Nếu hai bên gần gần bằng sức nhau thì ít ai nghĩ đến tử chiến. Trùm Rusky tuy chưa bao giờ bước chân vào trường võ bị nào nhưng những quy luật này hắn đều nắm vững. Trùm mà.
Sau đó là một giai đoạn “huấn luyện quân sự” ra gì. Cho ngon lành, trùm Rusky còn mướn một thầy giáo đến tận nơi để dạy Anh Văn cho tất cả. Chỉ dạy những điều căn bản thôi nhưng với bọn nhà quê không biết đọc biết viết này cũng mất mấy tháng. Chừng chúng nó nói được câu “How do you do” hơi đúng giọng một chút thì những mánh lới, những nghề mọn của giới giang hồ ở Mỹ đều thuộc nằm lòng. Còn kỹ thuật giết người thì khỏi nói, với mớ kinh nghiệm có sẵn bên nhà, chỉ cần thêm chút ít huấn luyện bổ túc là đứa nào đứa nấy đều trở thành những chiến sĩ ưu hạng của Mafia. Đúng ra là những thợ…giết người.
Nhờ đó, trùm Rusky có vẻ an tâm. Tuy vậy, có bao giờ ông trùm dám đi đâu mà không có bốn năm thằng ôm liên thanh tiền hô hậu ủng?
Tăng cường lực lượng hùng hậu gấp hai lần ngày xưa nhưng trùm Rusky cũng né xếp AI Capone một mực. Dân giang hồ Chicago sau cuộc binh lửa dai dẵng gần mấy năm đã biết cái giá của chiến tranh. Tốn quá, tội gì mà phải gây máu lửa. Thôi thì cứ nhịn nhau một chút, miễn là đừng có ai làm quá thì coi như có thể sống hòa bình được. Khôn lanh như trùm Rusky, trong đầu hắn và mấy thằng consiglorie cũng biết câu châm ngôn ngàn đời của ngày xưa là “Muốn có hoà bình, phải chuẩn bị chiến tranh”. Ban tham mưu của Rusky luôn luôn đề phòng. Chúng tung tiền ra để “học tập” rất kỹ về xếp AI Capone. Những sở thích của xếp, giờ đi giờ về, cận vệ bao nhiêu đứa, tên gì, ở đâu, xử dụng loại vũ khí gì, ăn ngủ thế nào v.v… Và riêng Frank Nitti, đệ nhất hung thần của Chicago thì làm sao mà không được chú ý đặc biệt? Thằng phụ tá giết người không tanh máu này sau vụ thảm sát St. Valentines, hễ ra đường là có nguyên cặp cận vệ đeo cứng. Chuyện nó làm chỉ che mắt nổi cảnh sát thôi chứ làm sao qua mặt giới giang hồ được? Frank Nittie biết dân Sicilian có một bộ trí nhớ rất tốt nên cẩn thận vô cùng.
Còn cánh Do Thái thì có một kế hoạch táo bạo hơn. Chúng đã chuẩn bị sẵn một chiến lược hẳn hòi, để nếu chiến tranh bùng nổ, thằng Frank Nitti dù có tài giỏi tới đâu cũng sẽ bị bắn gục trong vòng 12 giờ đồng hồ đầu tiên. Cáo già O’ Bannon biết rõ “bộ tư lệnh Lexington” hơn cả AI Capone. Frank Nitti mà ngủm thì tụi này sẽ khốn khổ với cánh Rusky bằng thích. “Tình báo gián điệp” xưa nay vốn là sở trường của tụi Do Thái mà.
Tuy âm thầm và từ từ nhưng băng Rusky và O’ Bannon cũng tạo cho mình được cái thế mạnh. Giang hồ mà, yếu quá thì chỉ có chết hoặc phải đi làm tôi cho thiên hạ. Chỉ trong mấy tháng sau khi Antonio bị quít sụm, biết chắc lực lượng của mình và Rusky nếu họp lại có thể nghiêng ngửa được với cánh AI Capone, lão O’ Bannon bắn tiếng với giới giang hồ rằng giữa lão và xếp AI Capone chưa bao giờ có oán thù nhưng nếu xếp muốn xâm lăng lãnh thổ của lão, lão và thằng Rusky sẽ “chiến đấu đến tay súng cuối cùng.” Dĩ nhiên, khỏi cần nghe tiếng đồn, con người thương mại như xếp AI Capone chẳng dại gì đi gây với hủi. Cái thời có thể diệt được chúng thì lực lượng mình đã tơi bời sau cuộc đại chiến, còn bây giờ thì có ai hơn ai nửa mà bày cuộc can qua làm gì? Mà nghĩ cho cùng, ba cái khu phố của người da màu, nhà cờ bạc hạng bét thì có gì đáng để phải bận tâm tới. Xếp đang có một âm mưu khủng khiếp hơn: Liên lạc và mở một đại hội Cosa Nostra toàn quốc để hệ thông hoá đường giây cung cấp rượu lậu cho toàn thể nước Mỹ.
Năm sau, đúng như xếp dự tính, lần đầu tiên một Đại hội “Cosa Nostra” toàn quốc được triệu tập tại New York gồm tất cả trùm Mafia khắp nơi về dự. Luciano đại diện New York, xếp AI Capone, ngôi sao đang lên của giới giang hồ đến từ Chicago với gần 20 thằng cận vệ, Clark “cá mập” đại diện San Francisco, Joseph Marcello đại diện New Orleans v.v…, trước sau có khoảng gần 40 trự. Sau tuần lễ hội họp và ăn nhậu, đại hội đạt được sự đồng ý chung của các ông trùm, chấp nhận và tôn trọng khu vực làm ăn của mỗi phe. Kể từ nay, giang sơn nào anh hùng nấy, sẽ tuyết đối không còn cái màn qua đất người khác làm ăn lẩm cẩm. Tất cả các lãnh thổ của mọi người đều được công nhận. Ai xâm phạm sẽ bị cả hội động xúm lại làm thịt. Ai phản phé lại càng chết sớm. Một ủy ban kỷ luật cũng được bầu lên để xét xử những vụ vi phạm hay bất công xảy ra trong giới giang hồ. Nếu có kẻ nào cần bị trừng phạt, mỗi hội viên phải cung cấp người hoặc tiền bạc cho Cosa Nostra để hội đồng thi hành. Những hội viên nào bị kẹt cần giúp đỡ, cũng phải được hội đồng thông qua. Quyết định của hội đồng là quyết định tối thượng, không ai có quyền cãi. Và quan trọng nhất, chống lại hội đồng là tội nặng nhất, ngang với tội “phản quốc” trong một nước. Chừng đó, nhiệm vụ chung của mỗi hội viên là phải góp sức để tiêu diệt kẻ “phản quốc” cho bằng được. Lời hứa của các ông trùm Mafia tuy không có cắt máu ăn thề nhưng ai cũng hiểu nó quan trọng như thế nào. Thì mọi chuyện làm ăn đều dựa trên những lời hứa như thế này mà. Hứa chơi chơi mà làm thiệt, tuyệt không có cái màn “lỡ quên”.
Sau tuần lễ hội họp, xếp AI Capone cùng phụ tá Frank Nitti ra về lòng tràn ngập phấn khởi. Giang sơn của xếp từ nay coi như vững vàng. Rất vững vàng. Trừ khi, phải, trừ khi có một chuyện gì bất trắc lắm đến từ trời cao mà xếp không thể đoán trước được như chuyện động đất làm cả thành phố Chicago chìm sâu trong lòng biển chẳng hạn. Bằng không, Chicago là của xếp AI Capone….
Chỉ vài ngày sau cuộc thảm sát “The St. Valentine’s Day massacre”, bộ trưởng tư pháp Hoa Kỳ và bộ trưởng tài chánh được tổng thống Hoover mời vào tòa Bạch Cung nói chuyện. Tổng thống đưa cho ông bộ trưởng Tư Pháp coi tấm hình “The Saint Valentine’s Day Massacre” đăng lên báo, nói nhẹ nhàng:
– Ông thấy tình hình dưới Chicago như thế nào?
– Trình Tổng Thống, Chicago bây giờ là một trong những vấn đề nhức đầu nhất của tôi.
Tổng thống Hoover lắc đầu:
– Ông có nghe bài nói chuyện của Thượng Nghị Sĩ Brown mắng mỏ tôi ngày hôm qua trên diễn đàn quốc hội không? Để tôi lập lại cho ông nhớ, xin lổi ông Bộ Trưởng Tư Pháp, ông ta bảo tôi nếu không có đủ lực lượng để dẹp bọn côn đồ thì phải đem hai sư đoàn TQLC từ Nicaguara về mà…hành quân tại Chicago….
Ông bộ trưởng tư pháp không biết nói gì, chỉ gật đầu. Tổng thống tiếp:
– Ông thấy đó, đây là nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của tôi, phải làm một cái gì coi cho được. Nếu vụ thằng AI Capone gì đó mà không giải quyết trong nhiệm kỳ này thì tôi e rằng cái giá của cuộc chạy đua lần tới sẽ rất đắc.
– Trình Tổng Thống, tôi đã có một kế hoạch riêng để giải quyết vụ này, xin Tổng Thống cho tôi một ít thời gian.
– Cho tôi một con số.
– Thưa, hai năm.
Tổng thống Hoover nhíu mày tư lự. Ông nhìn ông bộ trưởng Tài Chánh:
– Còn ý ông thế nào? Tôi được biết ông có nhiều “nhân tài”.
– Thưa, chúng tôi phải phối hợp vởi nhau mới làm việc được. Thời gian hai năm rất là phải chăng.
Vẻ mặt ông Tổng thống dường như dịu lại. Đối với ông, thời gian chỉ quan trọng vào những ngày gần bầu cử tổng thống thôi. Hai năm rất là hợp lý. Ông biết rõ luật pháp Hoa Kỳ có rất nhiều kẻ hở, đúng hơn luật pháp của đất nước này được chế ra để bảo vệ…mấy thằng ăn cướp. Ông nhìn ra ngoài sân cỏ:
– Phải tìm ra một cái gì, một cái gì đó để mà lôi tụi nó ra tòa chứ. Cả thế giới đang nhìn về chúng ta như một cây đuốc dẫn đường sau thế chiến vừa rồi. Tôi hiểu là quốc gia chúng ta đa hợp, nhiều chủng tộc, nhiều khó khăn và quá to lớn, nhưng chúng ta không thể nào để tình trạng này kéo dài mãi được.
Giọng ông bộ trưởng tư pháp quả quyết:
– Trình Tổng Thống, phôi hợp với Tổng Nha Ngân Khố để làm việc tôi tin là tôi sẽ làm được. Nếu không được, tôi sẽ xin từ chức Bộ Trưởng.
Tổng thống Hoover có vẻ hài lòng với câu nói quyết liệt đó. Ông đứng dậy từ giả hai ông bộ trưởng:
– Xin Chúa giúp các ông, chúc hai ông may mắn. Tôi biết là quý vị sẽ làm được.
Ông mỉm cười nhấn mạnh:
– Hai năm có thể quá ngắn không ? Tôi cho các ông thêm một năm nữa là ba. Nhớ nhé, phải làm sao trước này bầu cử là được.
Hai ông bộ trưởng chào từ giả. Tổng Thống Hoover nhìn theo. Ông nhớ cách đây mấy năm, khi còn là một ứng cử viên Tổng Thống, trong một chuyến vận động tranh cử tại Florida, ông đã chạm mặt AI Capone trong khách sạn sang trọng nhất của thành phố. Sự ăn xài của thằng du côn này làm ông ứng cử viên Tổng Thống Hoover thấy mình thua sút. Ông có đám cận vệ bu quanh thì nó, ngồi ở bên kia phòng, cũng có nguyên một đám du thử du thực đông hơn gấp mấy lần vây quanh. Nếu ai để ý sẽ thấy tụi cận vệ của AI Capone ăn mặc lịch sự và quý phái hơn đám nhân viên đặc biệt của chính phủ. Thức ăn bàn ông dọn lên cho phái đoàn tranh cữ, món nào cũng… standard để tiết kiệm tiền trong khi dãy bên kia, chúng nó đđp hít liên miên, hết tôm hùm rồi đến bí tết, hết ngỗng quay qua tới thịt nướng v.v… Cả chục thằng bồi hầu hạ chạy vắt giò lên cỗ mà vẫn không kịp thì đủ biết là chúng ăn xài tới cỡ nào. Tối hôm đó khi lên giường ngủ, ông thấy đời quả thật bất công, và có hơi ghen tức với tụi kia. Ông chỉ nghe được lỏm bỏm đứa xếp xòng bàn đó là một thằng tên AI Capone, ở Chicago lâu lâu mới xuống nghỉ mát một lần. Sau khi đắc cử tổng thống, nhiều chuyện quốc gia quan trọng phải lo giải quyết, ông quên bén thằng AI Capone cho đến tuần trước, thấy hình ảnh ghê rợn của cuộc tàn sát đăng trên báo, cái tên AI Capone lại trở về trong trí ông. Và cho đến ngày hôm qua, khi bị thượng viện Hoa Kỳ lôi ông ra làm thịt thì ông mới giật mình, cho gọi hai ông bộ trưởng tư pháp và Tài chánh tới trình diện.
Nhìn hai ông Bộ Trưởng bước theo con đường hình cung đi ra xe, tổng thống Hoover quay sang nói với ông bộ trưởng phủ tổng thống:
– Ông nhớ để ý vụ này. Mỗi tháng một lần phúc trình cho tôi biết diễn tiên nội vụ…
Khoảng một tiếng đồng hồ sau, Xếp Al Capone và …mười bốn thằng cận vệ bước ra khỏi phòng. Dẫn đầu là Frankie Rio với toán sát thủ. Xếp Al Capone đi ở đoạn sau, bên trái là Frank Nittie và bên phải là Mike.
Đám người huyên náo bước xuống cầu thang hùng hổ như một đội binh trên đường ra quân. Mặt mũi đứa nào đứa nấy sát khí đằng đằng làm thiên hạ ai nhìn cũng phát ngán.
Ba chiếc xe Limousine do đám đàn em của thằng Mike đã nổ máy chờ sẵn. Khi đi đâu, xếp Al Capone luôn luôn cho tài xế nổ máy trước chờ mình, không khi nào thấy xếp chịu leo lên chiếc xe nào để mở công tắc. Nguy hiểm. Ngày còn trẻ, xếp đã đích thân gài vài chục trái bom vào xe của kẻ thù rồi đứng xa xa nhìn nạn nhân tỉnh queo leo lên …quan tài, bật công tắc. Ùm một cái, cả xe lẫn người không còn mảnh nào nguyên vẹn. Gài bom dưới gầm xe thiên hạ là sở trường của xếp thì xếp đâu có ngu để …thiên hạ gài bom vô xe mình. Cẩn thận hơn, xếp luôn luôn có ba chiếc xe để thay đổi. Xếp muốn đi chiếc nào thì chỉ có xếp biết, có muốn đặt bom thì cũng chẳng thằng nào biết chiếc nào mà gài.
Xếp với Frank Nittie và cùng hai tay thiện xạ ưu hạng của Frankie Rio leo lên chiếc xe thứ nhất, đám còn lại của Frankie Rio lẹ làng chia nhau hai chiếc kia. Vừa ngồi vào băng sau chiếc xe và đóng cửa xong là Frank Nittie đã thò tay xuống sàn moi ra một cây tiểu liên đưa cho xếp coi. Cầm cây súng, mùi thép lạnh lan vào tay làm xếp nhớ đến những ngày xưa còn trẻ hơn của mình. Xếp bắn tiểu liên cũng đâu có thua gì ai. Đúng ra, nếu xếp bắn dỡ hơn chút nữa thì giờ này đâu còn sống mà ngồi đây. Đã lâu, mọi chuyện đánh đấm xếp đều giao khoán cho thằng Frank Nittie. Nhưng hôm nay, xếp quyết định phải chính mình đi sắp đặt kế hoạch để làm thịt kẻ thù chót: Thằng Antonio. Xếp muốn tận mắt mình thấy thằng khốn nạn ngã gục. Xếp Al Capone lấy ngón tay mò cái khoá an toàn. Tốt, khoá an toàn đã mở sẵn, tụi này biết nghe lời xếp. Có súng mà không có đạn thì súng chỉ là một …cây sắt. Có đạn mà cứ khoá an toàn thì cũng như không có đạn. Trong lúc chiến đấu, sự khác biệt giữa việc bắn hay bị bắn chỉ trong một giây đồng hồ ngắn ngủi. Xếp luôn luôn nhắc nhở đàn em như vậy.
Ba chiếc xe nối đuôi nhau chạy ra khỏi trung tâm thành phố Chicago và dừng trước một lò bánh mì. Hãng làm bánh mì này cách đây hơn năm đã ký một giao kèo cung cấp bánh hàng ngày cho đại khách sạn Lexington. Gớm thật, xếp Al Capone suy nghĩ. Nếu không bắt được lão Mark thì chưa biết cục diện sẽ ra sao. Cú sắp tới này mới là là cú chính của nó, cú cạn láng mà nếu lão Mark không khai ra, xếp Al Capone coi như cầm chắc cái chết trong tay. Vụ tấn công của thằng John Alario chỉ là phụ và cầu may. Nếu thằng John Alrario thành công, Antonio coi như cuộc chiến chấm dứt. Nhưng nếu thất bại, nó cũng hoàn thành được một mục tiêu chiến lược là đánh lừa sự đề phòng của xếp để chuẩn bị cho cuộc tấn công ngày hôm sau. Theo kế hoạch secondary của Antonio, khoảng 6 giờ sáng nay như thường lệ, hai chiếc truck lớn khi đến giao bánh mì cho nhà hàng, sẽ mang theo 10 tay súng hạng nhất của nó, ăn mặc như dân đi giao hàng của hãng. Khi giao bánh xong xuôi, tụi này sẽ ôm súng ống lựu đạn bí mật xung phong lên bộ chỉ huy của xếp. Dù đã cho gài người kín ba bốn lớp, tụi đàn em của xếp làm sao nghi ngờ được mấy cái thằng giao bánh mì hiền lành này có vác Tommy Gun theo? Khi xếp đã bị …bắn chết tươi rồi, dĩ nhiên, sẽ có một trận thư hùng đẫm máu diễn ra nhưng …ăn cái giải gì khi mình đã thành ma? Xếp lắc đầu thầm phục kế hoạch của thằng Antonio. Chả trách gì trong giới giang hồ chỉ còn mình nó là dám ăn thua đủ với xếp.
“Máu nhiều quá không có tốt cho công chuyện làm ăn”, xếp luôn luôn nghĩ vậy. Cực chẳng đã xếp mới cho mở màn một cuộc chiến vì xếp biết luật bù trừ của tạo hóa: có mấy ai bắn mãi mà không … bị bắn? Ba năm qua, đã có quá nhiều máu đổ ở Chicago, biến cái thành phố này trở thành nổi tiếng khắp thế giới. Nếu để cho tụi nó mò lên Lexington, thật là rắc rối vô cùng. Điều thứ nhất, nếu may ra mà thoát chết được, thì cái đại khách sạn làm sao tránh khỏi những đổ nát? Điều thứ hai, mấy thằng nhà báo đói tin mắc dịch sẽ làm tùm lum vụ này lên. Rồi khắp nơi trên nước Mỹ sẽ chạy tít lớn trên trang nhất với hình của xếp, cộng thêm nhiều lời bình phẩm, chê trách chính phủ. Đồng ý là mọi chuyện sẽ êm đẹp nhưng cái tiếng của xếp Al Capone xưa nay vốn đã nổi như cồn bây giờ một lần nữa lại bị báo chí lôi ra xào nấu lại. Ngày xưa lúc chưa nổi tiếng thì xếp khoái mấy cái vụ này lắm nhưng bây giờ xếp không cần nó nữa. Xếp chỉ muốn xin hai chữ bình an để ngồi thụ hưởng và đếm bạc. Tiếng dữ nhiều quá không tốt. Điều làm cho xếp ngán nhất là tụi cảnh sát liên bang ở Hoa Thịnh Đốn. Xưa nay họ chỉ gởi những anh cớm già xuống để dòm ngó qua loa, nay nếu bị báo chí phanh phui xỉ vả, họ quyết định gởi một toán đặc nhiệm chuyên môn xuống Chicago thì phiền cho xếp lắm. Xếp còn lạ gì cái thành tích ghê gớm của mấy toán đặc nhiệm này. Các đàn anh của xếp không biết bao nhiêu người bị thân bại danh liệt vì tụi “cớm liên bang”. Làm ăn nhỏ thì chúng còn giao cho cớm địa phương trị, đến chừng nổi quá thì bằng mọi giá chúng nó sẽ cho mình chết.
Khôn ngoan và tinh quái như xếp phải cân nhắc những cái bất lợi của cuộc chiến này nên khi vừa biết được kế hoạch do lão Mark kể ra, xếp có quyết định liền tức thì. Thứ nhất, bắt cọp phải vào tận hang. Thứ hai, tiên hạ thủ vi cường, ra tay trước là thượng sách…
Chỉ năm phút đồng hồ sau khi ba chiếc xe của xếp Al Capone dừng lại trước lò bánh mì, nhanh nhẹn và thiện nghệ không thua bất cứ một toán quân cảm tử nào trên thế giới, đàn em xếp đã bao vây, đột nhập xong và tóm cổ được thằng chủ lò bánh mì, Strado, đang ngồi thở vắn than dài trong văn phòng. Mới dòm thấy bản mặt thằng Strado, linh tính cho xếp Al Capone biết thằng này cũng như lão Mark, khỏi cần phải điều tra hay hăm dọa gì cho mất công, có bao nhiêu nó sẽ nói hết.
Nhưng tội thằng này lớn quá, ở Chicago này mà ký được cái giao kèo cung cấp bánh độc quyền cho đại khách sạn Lexington đâu phải ai làm cũng được. Vậy mà nó dám liều mạng, đem cả cuộc đời, cả một cơ sở thương mại xây dựng bằng mồ hôi nước mắt mấy chục năm để âm mưu với Antonio chắc phải có nhiều bí ẩn.
Nhìn hai cặp mắt trũng sâu xuống trên khuôn mặt tái mét, xếp Al Capone biết ngay nó đã trải qua nhiều đêm mất ngủ, thần kinh căng thẳng đến tột độ. Danh tiếng của xếp Al Capone đã lừng lẫy trên thế giới, một thằng chủ lò bánh mì có giao kèo với khách sạn Lexington là nơi đặt đại bản doanh của xếp thì còn phải biết rõ xếp hơn thiên hạ là cái chắc. Chẳng những biết rõ xếp mà nó còn biết luôn cả những cánh tay phải tay trái của xếp như Frank Nittie, hay Frankie Rio. Biết nhiều vậy cho nên tối nay, khi đang ngồi trong văn phòng và nhìn thấy cái bản mặt cô hồn của thằng Frank Nittie xuất hiện với cây Colt 45 quen thuộc nơi tay, Strado biết là kế hoạch đã bất thành, và đời nó từ nay đã bước qua một khúc rẽ khác. Nó ngồi im như tượng đá, không còn có phản ứng, không dám nghĩ đến chống cự hay chạy trốn, cũng không nói năng gì được. Đến chừng trông thấy xếp Al Capone lù lù dẫn xác vô, cây tiểu liên mới tinh đong đưa nơi tay, cái thần kinh của ông chủ lò bánh mì Strado chịu không nỗi nữa, liền bứt ra cái bựt. Nó oà lên khóc hu hu như một thằng con nít. Strado khóc thật to, thật tận tình, khóc như chưa bao giờ biết khóc, nước mắt nước mũi đầy mặt.
Tự nhiên như …người trong nhà, phụ tá Frank Nittie kéo một cái ghế cho xếp mình ngồi. Xếp Al Capone ngồi bắt hai chân chàng hảng qua khỏi lưng ghế, thẩy cây tiểu liên cho một thằng cận vệ:
– Mày nói giùm với nó là tao đang bực mình lắm. Tao ra hẹn trong 10 giây, nếu nó không nín khóc thì mày chịu khó nhét dùm cái họng cây súng này vô miệng nó xuống tới …cần cổ coi thử nó còn khóc được không?
Còn lạ gì xếp Al Capone, thằng chủ lò bánh mì khỏi đợi nhắc lần thứ hai, mới nghe tới đó là nín khe. Ngay cả tiếng thút thít cũng không còn. Xếp gài một điếu xì gà trên môi, như thường lệ, Frank Nittie bật cái hộp quẹt cho xếp.
Làm một hơi thuốc, xếp Al Capone nhả khói qua đầu kẻ ngồi đối diện:
– Chuyện đâu còn đó, chú mày khóc tới sáng mai cũng đâu có rửa hết cái tội của mình. Chú mày biết tao có 2/3 phần hùn trong khách sạn Lexington mà. Ban quản trị nhà hàng với chú mày cũng quá đẹp, vậy mà oan ức nổi gì để đến nổi phải âm mưu đột kích tao?
Miệng Strado khô lại. Nước miếng chạy đi đâu không biết mà nuốt mãi không thấy trào lên một chút. Làm sao trả lời câu hỏi của xếp đây. “Oan ức nổi gì để đến nổi phải âm mưu đột kích tao.” Là dân làm ăn chân chỉ hạt bột, ông cố mấy đời sống lại phụ giúp nó cũng không dám gây oán thù với xếp Al Capone. Nhưng có thể nói, nó còn có vẻ kính mến xếp nữa kìa. Thật ra thì câu chuyện nó bắt đầu vào một ngày xa xưa lâu quá rồi, có gần hai chục năm. Lúc ấy nó mới là thằng di cư từ Ý qua, chân ướt chân ráo tới Chicago. Thời buổi kinh tế khó khăn, tiếng Mỹ lại nói ba trật ba duột nên Strado loay hoay mấy năm trời mà vẫn không kiếm được một công việc làm nuôi thân. Ăn uống thì bữa đói bữa no, áo quần suốt năm không bao giờ đủ ấm. Một hôm nọ, tình cờ gặp người bạn cùng làng bên Ý lúc ấy đang giữ chức … rửa xe cho trùm Johnny Torrier. Thở vắn than dài một chặp, thằng bạn rủ nó vào đầu quân cho ông trùm. Strado lắc đầu nguầy nguậy. Gì thì được chớ súng đạn là nhất định không có nó. Cái gương của mấy tay anh chị chết thê thảm bên nhà cộng với những cái hình ảnh máu me bê bết lâu lâu đăng trên trang nhất của tờ Chicago Tribunes làm nó đái ra quần. Chết bằng súng ghê quá, mặt mũi coi nhăn nhó ra bộ đau đớn khủng khiếp lắm. Nó chỉ muốn học một nghề gì cũng được rồi ra mở một tiệm buôn nho nhỏ, bắt một con vợ để sống nghèo nhưng an nhàn hạnh phúc. Thằng bạn ngày xưa cũng là dân tốt bụng, cho nó bài đồng bạc rồi biến mất. Ít tuần sau, nó trở lại dắt thằng Strado xin vào làm trong một xưởng chế bánh ngọt. Ông chủ nhận liền cái rụp. Mới đầu, Strado cũng tưởng thằng bạn mình có số hên, đi xin việc nhằm ngày tốt trời lại ăn nói khéo léo nên mọi chuyện suông sẻ. Làm vài ngày nó mới để ý là thiên hạ gặp nó, từ chủ cho đến công nhân hạng bét đều đối xử tử tế. Một thời gian sau, có người nói cho nó biết là nếu không có ông trùm Johnny Torrier gởi gắm thì nhà quê và vô thân bất tài như nói, còn khuya nó mới chui vào hãng này làm việc được. Strado nghe nói bấy giờ mới thấy chột dạ, không biết là mình phải rút ra bao nhiêu phần trăm số lương hàng tháng để “trả ơn” cho ông trùm. Nhưng chờ mãi chẳng thấy ai đòi hỏi gì cả. Ông bạn qúi cũng lặn mất tiêu, không thèm đến thăm nó nữa.
Cặm cụi năm ba năm, học nghề nướng bánh coi như đã khá, lại có chút tiền để dành, Strado đi kiếm một chỗ để nhảy ra làm ăn riêng. Cái thành phố Chicago này ở thập niên 1920 sao mà khó thở. Có tiền và có tài chưa có nghĩa là sẽ được có cơ sở làm ăn. Nó đi lặn lội khắp nơi, gãi đầu gãi tai đến muốn tróc cả móng tay mà chẳng có thằng chủ phố nào chịu cho nó mướn một chỗ coi tàm tạm để mở cửa hàng. Có thằng còn nói huỵch toẹt là mấy anh di cư muốn làm mưa làm gió gì ở khu lao động của Ý thì làm chứ đừng hòng vác mặt vào đây. Khu trung tâm thương mại là của người da trắng thôi. Strado buồn rầu chán nản. Mở cửa hàng đã khó vậy thì mai một ra bánh, làm sao cạnh tranh lại với thiên hạ. Nhưng đùng một cái, thằng bạn quí ngày xưa lại xuất hiện. Strado tiếp đãi nó linh đình như ông vua con. Người bạn đồng hương coi bộ chẳng quan tâm gì lắm cái vụ đền ơn lỉnh kỉnh này. Nó chỉ than nghe nói bạn hiền muốn mở tiệm sao không cho tao biết, chỗ anh em mà. Strado mới thú thật, hứa rằng nếu người bạn giúp đỡ kiếm được chỗ làm ăn, nó sẽ không bao giờ quên ơn. Ông bạn quí gật gật, đứng dậy đội mũ ra về, nói nhẹ nhàng: “Ông bạn lo lắng quá. Người đồng hương với nhau giúp nhau được thì giúp. Bây giờ tôi giúp ông bạn, mai mốt biết đâu chừng ông bạn giúp lại tôi…”
Tuần sau, Strado tự nhiên mướn được một chỗ ngon lành, giá cả rất phải chăng. Ngày nó làm tiệc khai trương, ông bạn quý đến dự, chẳng những không đòi hỏi quà cáp gì mà còn tặng nó một cái đồng hồ treo tường to tổ chảng. Strado cảm động quá đỗi, lí nhí mãi mà không kiếm đâu ra được một lời văn hay một chữ nào tốt để cám ơn. Người bạn quí vỗ vai nó thân mật: “Ông bạn khỏi phải khách sáo làm chi, chỗ anh em mình mà. Hôm nay tôi giúp ông, mai mốt tôi kẹt ông giúp lại chớ có gì mà lo? “. Ở thêm một lúc rồi người bạn quí giông thẳng.
Người bạn bí mật ấy cũng chẳng bao giờ trở lại để làm phiền Strado. Vốn con nhà lương thiện xưa nay không bao giờ muốn giây dưa tới đám Mafia, mới đầu nó còn cảm thấy lo lo nhưng dần dần quên đi. Công việc làm ăn ngày một phát đạt. Nó mở rộng lò nấu bánh, mua đứt luôn một nửa khu phố để mướn thêm cho nhân viên và mở rộng cơ sở.
Cho đến một ngày, đúng hơn là cách đây mấy ngày, người bạn quý thưở xưa đã nhiều năm không nhìn thấy bỗng lù đù xuất hiện. Người này không ai khác hơn là thằng Antonio, đệ nhất đao phủ thủ của Johnny Torrier, người mà ngay cả xếp Al Capone nghe tên còn phải kiêng nể. Thấy Antonio thò cái mặt vô với hai thằng cận vệ, Strado biết là đã đến lúc mình phải trả ơn cho người bạn. Trước gì cũng sẽ có này như hôm nay, Strado muốn trả một lần cho dứt khoát. Strado bây giờ giàu mà, nó muốn xin bao nhiêu lại chả được.
Người bạn quý lâu ngày không gặp coi cũng chả khác ngày xưa. Vẫn bộ đồ complê cắt đẹp nhất Chicago, cái mũ phớt che gần hết phần trán, tay chân đeo đầy hột soàn và kim cương. Chỉ có hai thằng cận vệ đi theo là có vẻ cô hồn khó chịu, mời ngồi nhất định không thèm, đứng nghênh ngáo nơi cửa sổ dòm dòm khắp nơi coi rất là khó chịu, còn Antonio thì vẫn lịch sự, khéo léo như dạo nào.
Trò chuyện vài câu, Antonio vô đề:
– Ông trùm Johnny Torrier hôm nay cần ông bạn giúp cho một việc. Nhỏ thôi nhưng xong việc thì ông trùm sẽ không bao giờ quên ơn ông bạn hết.
Đã tính trước, Strado lấy cuốn check book ra mở sẵn để trên bàn, hớn hở vừa thò tay lấy cây viết vừa nói:
– Gì chớ cái đó dễ mà. Thằng Strado này vẫn mong ngày nào có dịp để trả ơn cho ông trùm. Muốn bao nhiêu để tôi viết …
Lẹ như một con cọp vồ mồi, Antonio bất ngờ phóng bàn tay hộ pháp ra chụp cứng cái cánh tay cầm bút của Strado. Ông chủ lò bánh mì bị cú chụp bất ngờ, bắn người lên như bị điện giựt. Cái bàn tay thằng này không hiểu tập luyện thế nào mà cứng như sắt, nó chụp khơi khơi một cái mà như kẹp cánh tay mình giữa hai tảng đá, không nhúc nhích gì được. Antonio gằn từng tiếng:
– Ông bạn, ông bạn đừng khinh tụi tui quá chớ. Tôi đâu có thèm tiền của ông bạn. Ông chủ tôi muốn nhờ ông bạn chuyện khác kìa.
Strado run lên bần bật. Thế này thì bỏ mẹ rồi, tiền là cái mà chúng nó mê thích nhất trên đời này, giết nhau vì tiền, bắn nhau cũng vì tiền mà bây giờ lên mặt chê thì không hiểu chúng muốn gì? Không lý nó lại muốn cái …mạng của mình chăng? Mà nghĩ cho cùng, mình đâu có làm gì nên tội? Xưa nay chỉ biết chân chỉ làm ăn, kẹt thời thế phải nhờ vả một chút, đâu có ngờ hôm nay lại đến nổi này. Nếu biết có ngày hôm nay, Strado đã chẳng thèm nhờ vả cho xong. Ôi một bài học đáng giá ngàn vàng. Ai bảo chơi với lửa, bây giờ lửa bén đến tay, đến quần aó thì làm sao đây? Mồ hôi trán bắt đầu nhỏ giọt, nó đáp giọng run run, làm như hồn vía đã ra khỏi xác bay đi đâu từ hồi nào:
– Được, được chớ, chỗ anh em với nhau mà. Anh em muốn gì tôi cũng ráng chiều ý…
Antonio từ từ buông bàn tay của Strado ra, cất giọng nhẹ nhàng thân mật:
– Thì bởi vậy tụi mui mới tới đây nhờ ông bạn. Chắc ông bạn cũng biết tụi này đang đụng lớn với thằng Al Capone. Chuyện tụi này làm thì tụi này lo, ông bạn đừng ngại, tụi này không muốn ông bạn đi đỡ đạn giùm tụi này đâu…
Nghe đến đây Strado cảm thấy khỏe khắn trong người một chút. Muốn mượn cái gì cũng được, cái nhà, cái xe, ngay cả cái lò bánh nó cũng sẵn sàng, miễn sao đừng mượn cái mạng nó là được.
Antonio tiếp tục:
– Thật sự, tụi tui cũng chẳng muốn làm rầy ông bạn làm chi vì tụi này biết ông bạn là dân lương thiện. Ông trùm phái anh em tôi xuống đây là vì nói thiệt với ông bạn, chúng tôi sắp sửa kết thúc cuộc chiến. Ông bạn chắc không hiểu? Đây, chúng tôi biết ông bạn có hai cái xe bánh mì đi bỏ mối mỗi buổi sáng ở khách sạn Lexington. Ông trùm chẳng đòi hỏi gì nhiều, chỉ phiền ông bạn cho hai thằng tài xế nghỉ ngày hôm đó, chúng tôi sẽ có hai thằng khác chở bánh đi giao hàng giùm cho ông bạn. Chúng tôi bảo đảm ông bạn sẽ không có bị gì phiền toái đến pháp luật cũng như của phía thằng Al Capone hết. Đồng thời, cũng để đền chút ơn với ông bạn, xếp tôi cũng có nhả ý tặng ông bạn hai chiếc xe chở bánh mới tinh của hãng Ford vừa chế tạo.
Khuôn mặt Strado bỗng xị xuống như cái mền. Ôi cuộc đời này sao toàn những chuyện rắc rối. Chicago này ngay đến cả trưởng ty cảnh sát, mấy ông quan toà nghe đến tên xếp Al Capone còn thấy lạnh đằng sau gáy thì một thằng nướng bánh mì nhà quê như nó, làm sao dám nghĩ đến chuyện cho người ta mượn xe để đi thanh toán xếp? Nếu xếp không chết thì chắc chắn nó phải chết. Kẹt hơn nữa, nếu xếp bị bắn chết thiệt thì nó vẫn …có thể chết như thường. Đàn em của xếp đông như kiến, nhiều như lá rừng, lại có những thằng dử dội như hung thần Frank Nitti, đao phủ thủ Frankie Rio thì nó chạy trốn ở chỗ nào được? Về nghệ thuật trả thù thì trong thế giới này có ai qua mặt nỗi dân Mafia? Ngày xưa ở bên nhà, mối thù lãng nhách như cái bạt tai mà hai mươi năm sau cũng có thằng trả cho được thì nói gì đến chuyện lớn như vầy? Mà nếu dứt khoát từ chối thẳng với thằng Antonio bây giờ thì cũng …chết, còn có thể chết sớm hơn. Cứ nhìn cái bản mặt lầm lì của ông khách và hai đứa cận vệ thì biết là bọn này không đến đây để đùa. Strado không hiểu trong cõi đời này, có ai bị lâm vào cảnh “3 đường, đường nào cũng …chết” như nó không.
Ngừng một chút cho Strado “tiêu hóa” hết những lời nói của nó, Antonio tiếp tục:
– Xin ông bạn coi những lời tôi vừa nói là một đề nghị kêu gọi giúp đỡ. Chúng tôi không bao giờ ép ai làm việc gì trái ý họ. Nếu ông bạn thấy không tiện, xin cứ việc nói, tôi sẽ về thông báo cho ông trùm. Có điều, ông trùm của tôi thường coi trọng bạn bè và danh dự, nếu bị từ chối chắc ổng sẽ buồn lắm. Sao, ông bạn thấy thế nào?
Thấy cái chó gì nữa? Cũng khỏi cần phải suy nghĩ hay lý luận làm gì. Nó dám chắc là bây giờ nếu buông ra một tiếng “No” đơn giản, âm thanh chưa dứt khỏi cuống họng là đã có mấy họng súng chĩa vào người nó nổ loạn cào cào liền. Hơn mười năm qua, Strado đã chờ đợi và linh cảm sẽ có một ngày như ngày hôm nay, ngày tận thế. Thôi thì cứ coi như trả nợ một lần cho phứt, nếu còn sống, thề từ rày sắp lên nhất định không thèm gian díu hay nhờ vả mấy thằng bàn tay đen bàn tay đỏ này nữa. Vả lại, nhĩa có kỹ, cái chuyện cho mượn hai chiếc xe chở bánh xem ra không nguy hiểm lắm. Có gì cứ đổ thừa là xe bị ăn cắp hay bị cướp dọc đường là yên chuyện. Strado bèn lấy hết bình tỉnh gật đầu mấy cái, làm ra vẻ như ta đây rất là hăng hái:
– Thì tôi đã nói là tôi sẵn sàng mà. Mấy anh em sao cứ nghi ngờ thiện chí của tôi. Bạn bè nhờ vả nhau chỉ có lúc này … Vậy chừng nào ông cần xin cho tôi biết.
Antonio gật gù. Phải vậy mới được chớ. Té ra thằng này tuy dân lương thiện nhưng cũng biết tình biết nghĩa. Dân tộc Ý là dân tộc có nhiều tình nghĩa nhất, nó kết luận. Antonio búng tay cái tách và ngoắc đầu một cái, hai thằng cận vệ dọt ra ngoài, khóa trái cửa lại chỉ để mình đàn anh và Strado trong phòng. Chừng như chưa cho như vậy là đủ kín đáo, Antonio kéo ghế sát bên Strado, nói nhẹ nhàng vào tai nó:
– Tụi này sẽ cho bạn biết trước một ngày. Tất cả những chi tiết sẽ thông báo cho ông bạn sau. Đồng ý?
Đồng ý là cái chắc. Strado gật đầu. Antonio đứng dậy, ôm lấy Strado vào người, hun đánh chụt lên má nó một cái:
– Ông bạn quả là người tử tế. Ông trùm sẽ chẳng bao giờ quên ơn ông bạn đâu.
Rồi nó xách nón bước ra, cái bản mặt cô hồn lại trở thành lạnh lùng như cũ. Kể từ ngày hôm đó, Strado ăn ngủ không yên. Có tối nó nằm mơ không hiểu thấy gì mà nửa đêm la lên dữ dội. Mụ vợ vừa nắm vai tính lay cho nó tỉnh dậy thì Strado co rúm người lại, hét to lên khủng khiếp, làm như ai đang thò tay vào bóp cổ nó. Vào sở, nó cứ mơ mơ như người mất hồn, không điều khiển được nhân viên hay làm được bất cứ chuyện gì cả. Nó lại hối hận, lại mơ ước phải như ngày xưa mình biết được chuyện này thì thôi xin làm một thằng nghèo suốt đời. Nghèo khổ nhưng mà sống còn hơn giàu sang mà chết. Mới chiều nay, nó nhận được cú điện thoại của Antonio báo liền hai tin động trời: Ông trùm vừa bị bắn gục và nó cần lấy hai chiếc xe chở bánh vào sáng ngày mai.
Vừa gác điện thoại lên là thằng Strado quỳ mẹp ngay xuống đất, làm dấu thánh giá rồi đọc kinh lia lịa. Nó đọc kinh để cầu cho linh hồn ông trùm và cũng để cầu cho …mình, cho mọi việc được êm xuôi. Từ chiều tới giờ, có buôn bán hay tính toán được mẹ gì đâu. Theo lời của Antonio, nó cho nhân viên về sớm hết, chỉ giữ lại mấy thằng nướng bánh. Không những mượn xe thôi, nó còn nhắn mượn luôn 6 bộ đồng phục của lò bánh mì Strado. Ngu như nó cũng đoán ra được thằng bạn đồng hương này muốn mấy bộ đồng phục để làm gì. Thế nào cũng có đánh lớn, đánh tùm lum. Sào huyệt của xếp Al Capone đâu phải là chỗ dể tung hoành. Xưa nay xếp chuyên môn đi đột nhập sào huyệt của người ta thì sào huyệt của mình xếp phải giữ kỹ là cái chắc. Nhưng nếu có chừng năm ba thằng vô tội đẩy chiếc xe bánh mì đi lên lầu thì ai mà để ý. Không chừng tụi nó còn chơi cái màn gõ cửa phòng, chờ người ta ra mở rồi thò tay vô trong đống bánh mì, bóp cò cây liên thành dấu sẵn thì chắc khó mà đỡ. Đạn bay ra chắc dính … bánh mì tùm lum. Strado rùng mình không dám tưởng tượng thêm.
Và tối nay, đang ngồi mơ mơ màng màng chờ điện thoại của Antonio thì nó thấy thằng Frank Nittie, rồi đến xếp Al Capone dẫn xác vô, mặt mũi ai nấy coi như quỷ vương, hung ác lạ thường. Strado biết mọi chuyện đã nát bét…
– Sao, trả lời đi chớ, tại sao mày âm mưu đột kích tao? Nói không hay để tao phải thảy mày vô cái …lò bánh mì rồi mới chịu nói…
Strado giựt nảy mình. Đâu có ai lạ gì cái tính tình cương quyết của xếp Al Capone. Xếp nói là xếp làm, tuyệt nhiên khỏi có cái vụ “rung cây nhát khỉ”. Nó biết nếu nói không kịp và nói không hết, chắc chắn xếp sẽ nhét nó vào vào cái lò bánh mì để nướng thiệt. Chao ôi, chỉ nghĩ đến đó thôi là thằng Strado không còn hồn vía nào nữa. Nó mếu máo:
– Dạ, dạ, xếp đừng nóng, xếp từ từ để em kể hết cho xếp nghe…
Phải mất hết giờ đồng hồ thằng Strado mới tường thuật hết cái cuộc đời của nó và sự dính líu với Antonio cho xếp nghe. Con người có một khả năng sinh tồn mạnh lạ lùng của trời phú cho khi mình đang ở trong cơn nguy biến. Strado sau khi bắt giọng mấy câu là nó thao thao bất tuyệt về cuộc đời cực khổ của mình. Nó biết mạng sống của nó còn hay mất là tùy thuộc vào cái bài ca con cá cuối cùng này. Nó phải nói làm sao cho xếp nghe mà xếp cảm thấy mủi lòng, thấy thương thì may ra mới có chầu thoát nạn. Nó biết xếp cũng xuất thân bần hèn nghèo khổ, bị hiếp đáp, bị ăn chận ăn giựt nên mới đâm liều và đi con vào đường máu này để mưu sinh nên cố gắng đem cái quãng đời niên thiếu đầy đau khổ khốn nạn của mình ra để làm siêu lòng xếp. Nhiều lúc, tới đoạn gây cấn, nó còn biểu diễn thêm cái màn khóc lóc bi ai. Gì chớ khóc lúc này dễ quá mà, chỉ cần tưởng tượng tới cái cảnh con vợ lôi… cái thây đen sì của mình từ lò nướng bánh mì ra thì bao nhiêu nước mắt lại chả tuôn ra được…
Khi xếp Al Capone đốt xong điếu xì gà thứ ba thì lời tự thú của Strado cũng đến hồi kết thúc. Frank Nittie biết chắc là bài hùng biện vừa rồi của Strado đã cứu mạng nó. Nó còn lạ gì xếp Al Capone. Đối với kẻ thù, với ai thì xếp tàn nhẫn như vậy nhưng đối với những thằng làm ăn đàng hoàng lại kính sợ xếp như thần hay những thằng nghèo không có cơm ăn áo mặt thì xếp có một tấm lòng trắc ẩn đặc biệt. Nó đã nhiều lần nhìn thấy xếp sụt sùi khóc nức nỡ khi đi xem những tuồng cải lương Ý. Chỉ một mối tình dang dỡ của cô sơn nữ miền nam thành phố Naples diễn trân sân khấu là đủ cho xếp ôm mặt khóc hu hu, lau ướt hết mấy cái khăn mu soa. Có nhiều khi đang khóc hu hu, sực nhớ đến chuyện làm ăn, xếp bèn quay người qua hỏi thằng phụ tá mình, vừa hỏi vừa …khóc:
– Hu … hu, hít …hít, tụi mày đã lo bắn chết thằng X thằng Y gì đó chưa hu…hu.. Chuyện tình của con nhỏ này cảm động quá, sao mà nó khổ đến như vậy hít… hít….Tao không hiểu sao tụi mày đứa nào tâm hồn cũng trơ trơ như gỗ đá, tao thì không cầm được nước mắt, hu… hu…
Con người quả thực là phức tạp. Khóc hu hu với những tuồng cải lương rẻ tiền như vậy nhưng đối xử với kẻ thù, xếp hung dữ và tàn nhẫn hơn quỷ sứ. Frank Nittie còn nhớ lần xếp trói một thằng đem chôn sống trong cái khung đổ xi măng làm cột cho mấy cây cầu. Đây là cách giết người khoa học và tàn nhẫn nhất của giới anh chị chicago thời đó. Thường thì người ta chỉ chôn mấy cái xác này trong khung bê tông cốt sắt để phi tang. Nhưng xếp Al Capone có lối chơi chết người hơn. Xếp trói gô thằng nhỏ, thảy nó xuống đáy khung nghe đến rầm một tiếng. Đàng xa, cái xe khổng lồ 26 bánh đang rề rề bò lui với mấy chục tấn xi măng lỏng đã quậy nhuyễn nhừ với nước. Thằng nhỏ la hét khóc lóc năn nỉ xếp tặng nó một phát vô đầu cho chết rảnh nợ nhưng xếp cứ tỉnh bơ, mặt lầm lì đứng yên không nhúc nhích. Ngay cả cái thằng lái xe đổ xi măng cũng giựt mình kinh hãi. Nó không lạ gì với những vụ thủ tiêu kiểu này, nhưng xưa nay nó chỉ chôn người chết, có bao giờ đổ xi măng để chôn người sống như thế này đâu? Tiếng động cơ xe hơi rầm rầm như vậy mà vẫn không át được tiếng la hét khóc lóc thê thảm từ dưới đáy đưa lên. Thằng tài xế hãi quá, cứ de tới de lui mấy lần, không dám kéo cần đổ xi măng. Đến chừng nghe xếp quát: “Mày có chịu đổ không hay tao phải thảy mày xuống dưới đó luôn cho có nó bạn” thì mới hoảng kinh hồn vía kéo cần cái rụp. Xi măng đổ xuống nửa trong nửa ngoài nhưng cũng đủ phủ quá khỏi đầu nạn nhân. Tiếng kêu gào im bặt. Nghe nói thằng tài xế sau ngày đó đâm ra ngơ ngẫn như người mất trí, xin nghỉ việc luôn rồi suốt ngày cứ uống rượu lu bù. Vụ đó làm cả Chicago này thằng nào nghe nói tới cũng phải lạnh mình. Hồi nãy, nghe xếp hăm nướng sống thằng Strado trong lò bánh của nó, Frank Nittie cũng chẳng ngạc nhiên. Chẳng qua đó chỉ là một trò chơi mới của xếp. Nhưng bây giờ nhìn cặp mắt hơi rơm rớm lệ của xếp Al Capone, Frank Nittie biết thằng này có chầu sống sót rồi… Giọng của xếp như đã hoà hoãn hơn:
– Vậy thì mấy giờ nó tới?
– Dạ, xếp biết tính của thằng Antonio mà. Nó đi đâu, tính toán cái gì có ai biết trước được? Nó bảo chờ nó gọi điện thoại.
Chờ điện thoại. Vậy là mạng sống của thằng Antonio nằm gọn trong tay xếp rồi. Xếp biết rõ thằng Antonio là loại quỷ quyệt, sức mấy mà nó thèm đích thân đến lò bánh mì lấy xe. Nó sẽ lặn kỹ ở một góc nào đó và đợi cho đến giây phút cuối cùng của kế hoạch. Không chừng thằng khốn còn dám ôm tiểu liên vô ngồi trong nhà hàng, bình thản nhâm nhi cà phê, chờ đàn em lái xe tới tập họp đầy đủ rồi cả bọn xung phong lên luôn một lần cho nó tiện. Ai biết được nó? Thằng Antonio xưa nay nổi tiếng là ranh mảnh mà, xếp không thể ra quân kiểu này được. Xưa nay xếp chưa bao giờ chịu hạ thủ nếu không nắm chắc phần thắng. Bắn chết thêm được vài thằng cận vệ của nó thì ăn cái mẹ gì? Xếp nhất định nếu ra quân lần này là phải bứng cho được thằng Antonio. Muốn bứng cho được nó thì phải vào tận sào huyệt của địch thủ mà ra tay trước. Nhưng suốt 2 năm nay, đây là một vấn đề không giải quyết được. Nếu xếp biết nó ở đâu thì có đến mười thằng Antonio cũng bị ăn đạn chết queo như thường, nghĩa lý gì mình nó? Khổ cái là nó cứ đi đi về về kín đáo như cái …hồn ma, người trần mắt thịt làm sao kiếm ra? Nhưng hôm nay mọi chuyện đã thay đổi. “Chờ điện thoại” là yếu rồi. biMạng sống của thằng Antonio sẽ tùy thuộc vào cú điện thoại quyết định này. Nếu nó cứ đến bất ngờ thì sau cuộc đấu súng, chưa biết ai còn ai mất. Còn gọi điện thoại thì coi như thằng khốn chuyến này cầm chắc cái chết trong tay… Điện thoại thời ấy chưa tối tân, tất cả những cú phone đều phải qua tổng đài để nhân viên làm việc theo số quay mà nối những đường giây đi và đến. Khi cú phôn đã đi qua tổng đài để nhờ người ta “móc” dùm thì làm sao còn trốn được?
Muốn tìm vị trí thằng nào và biết nó sẽ gọi đi đâu thì chỉ cần cho người kèm cứng cái số nó sắp gọi là xong. Khi số đó reng, áp ống nghe phụ vào tai, thằng tổng đài vừa nghe vừa đi một đường “bút chì” trong sổ niên giám đặc biệt thì có khó gì mà không moi ra địa chỉ của đương sự. Bảo đảm 100% không sai xẩy, tổng đài điện thoại mà.
Quan trọng như vậy, giàu có như xếp Al Capone trong thời chiến thì làm sao lại không nuôi cỡ chục thằng ăn lương tháng nằm trong mấy cái tổng đài rãi rác khắp Chicago này? Xếp lại còn nuôi toàn cở gộc không là đằng khác. Có mất mát gì đâu? Mỗi tháng một lần cho mấy thày chú tới động chơi để làm một đêm “nhất dạ đế vương” thì sai khiến gì lại không được. Nhờ cú này mà xếp đã kiếm ra tung tích hàng bao nhiêu thằng. Nhiều tay khốn khi biết tên mình nằm trong danh sách của phụ tá Frank Nittie, đã khôn ngoan trốn biệt cả năm trời, đi không ai biết, về không ai hay, ngay cả đến vợ con cũng chẳng biết đường nào mò mà tự dưng bị thích khách xông vào tận nơi quất gục một cách rất là bí mật. Chết mà mắt không nhắm được, vẫn trợn tròng đầy vẻ ngạc nhiên kinh hoàng vì không hiểu sao thằng khốn tìm ra được chỗ mình ở. Bỗn cũ soạn lại đâu có gì khó?
Xếp Al Capone ngoắc tay. Frank Nittie cúi người kề tai gần xếp để nhận chỉ thị. Xếp nói gọn:
– Mày dọt gấp về tổng đài điện thoại, thông báo với “người nhà” canh cho tao số máy này. Kiếm được thì phải cho tao biết liền cấp kỳ. Xong việc này coi như chiến tranh chấm dứt. Ráng lên!
Frank Nitti gật đầu dắt theo 2 thằng cận vệ dọt lẹ. Nó không muốn xử dụng điện thoại ở lò bánh mì vì nó không lạ gì thằng Antonio. Biết đâu chừng nó đã cho đặt người ngồi trực đường giây của thằng Strado 24/24. Ăn nói lạng quạng, chưa kịp làm gì mà bị lộ tẩy để cha con nó vác súng ống xung phong vào đây thì phiền lắm. Frank Nittie xưa nay tính vốn cẩn thận, không dám để xẩy một chi tiết nhỏ nào có thể phá hư kế hoạch của trận đánh quyết liệt cuối cùng.
Nửa đồng hồ sau, lúc Frank Nittie trở về thì xếp Al Capone đã đặt xong kế hoạch làm thịt thằng Antonio. Nó kề tai xếp nói nhỏ:
– Xong rồi xếp. Chuông reo xong, trong vòng 10 phút mình sẽ móc ra chỗ ở của nó.
Xếp vỗ vỗ vào lưng thằng phụ tá ra dáng hài lòng rồi đứng dậy:
– Frankie Rio, mày cho một cặp anh em dắt ông chủ qua phòng bên cạnh ngồi trực điện thoại đỡ. Nhớ chăm sóc cho đầy đủ, dù gì cũng người cùng xứ sở. Tao có vài điều muốn nói chuyện với anh em.
Strado đứng dậy, rón rén theo gót hai thằng cô hồn bước ra khỏi phòng. Trước khi đi, nó cẩn thận biểu diễn một nụ cười nhưng vì hãi quá, nụ cười méo lệch sang một bên. Xếp Al Capone nhìn nó gật đầu nhẹ, như trấn an: “Yên chí đi chú mày, không ai đem mày đi bắn đâu. Nếu chết là đã chết rồi.”
Các đàn em ngồi vào đầy đủ, xếp phân tách:
– Tao khoái chơi ru lết. Tối nay mình ra quân cũng như là chơi …ru lết vậy.
Mười mấy cặp mắt nhìn nhau, chưa ai hiểu gì. Xếp tiếp tục:
-Yếu tố quan trọng nhất của ngày hôm nay là phải moi ra chỗ tập họp của thằng Antonio. Nếu tao biết được chỗ tụi nó …
Xếp dừng lại ở cuối câu nói cho ra cái điều …hùng biện, rồi búng tay nghe đến tách một cái:
– Tao sẽ thịt không còn một thằng. Bằng không…
Xếp lại bỏ lững câu nói, cúi đầu đi qua đi lại vài bước rồi mới tiếp tục:
– Thành thật mà nói, tao cũng không biết tương lai sẽ đi về đâu. Nếu nó biết mình ở đây, ngay giờ phút này, tao cá với mày là nó sẽ đem hết lực lượng nhà nó tới đây… một con chuột cũng không bò ra nỗi. Tụi mày biết tính thằng Antonio, không chừng nó còm dám ôm mìn nhảy vào đây để chết chung với tao, miễn sao trả được thù…
Để đóng trọn vở kịch, mặt xếp thoáng vẻ suy nghĩ, cặp mắt quần đỏ nhìn lên trần nhà, như kiếm một ý nghĩ. Rồi tự dưng xếp buông một câu làm ai nấy sửng sốt:
– Tao có nghĩ đến giải pháp điều đình …
Xếp quét mắt một vòng dò phản ứng đàn em. Đầu tiên là thằng Frank Nittie. Tiên sư, thằng này đúng điệu dân chơi, cái mặt tái mét của nó không lộ một chút phản ứng gì. Đến thằng Frankie Rio thì vẻ bất mản thấy rõ. Những khuôn mặt khác đều có vẻ khó chịu, bốc lửa căm hờn. Xếp thấy khoái trong bụng vô cùng. Trước khi hành quân lớn, xếp thường biểu diển cái màn thử “chí khí” đàn em như vậy nhưng có đứa nào biết ngoại trừ Frank Nitti? Tuy không tốt nghiệp một trường quân sự nào nhưng sau bao nhiêu năm xông pha lửa đạn, xếp biết tâm lý con người. Ra trận mà cứ nửa nạc nửa mỡ thì là cầm chắc cái chết. Còn nếu ai nấy đều quyết tâm một lòng thì dù đã đi vào tử lộ cũng có thể lật ngược được thế cờ như thường. Xếp mới đùa nhẹ một câu mà em út đã như thế vậy thì thằng Antonio làm sao sống nổi?
Xếp lắc đầu:
– Tụi bây phải hiểu, nếu số thằng Antonio sống dai vậy thì máu còn đổ dài dài. Trong bất cứ cuộc chiến nào cũng vậy, sau một thời gian đánh đấm là ngân khố trống rổng, nhân tài hao hụt. Tụi mình đấm đá đã gần hai năm. Tới một giai đoạn nào đó, nếu thấy chiến tranh không thể tiếp diễn được nữa thì phải điều đình.
Cả phòng im lặng. Xếp châm lửa một điếu xì gà:
– Tao đã tính rồi. Nếu ngày hôm nay không dứt được thằng Antonio, tao sẽ dọt xuống Florida lánh mặt một thời gian. Frank Nittie sẽ đại diện tao ở lại đây điều đình với nó. Chắc chắn, phải cắt đất đai của mình ra chia cho nó một ít. Mà chưa chắc vậy đã là yên. Tụi mày chắc cũng biết tính tình thằng Antonio rõ như tao, nó có thể bắt tay làm hoà với mình nhưng làm sao nó quên được cái thây ma của ông trùm? Trước sau hoặc sớm muộn gì nó cũng quất mình lại một cú. Tụi mày đừng quên còn phe Do Thái của thằng O’ Bannon xưa nay đứng trung lập để vừa hưởng lợi vừa chờ kết quả cuộc tranh hùng. Đ.M. tao lạ gì thằng chó đẻ này, nếu mình bắn tiếng cầu hoà là nó sẽ bỏ theo thằng Antonio ngay. Hai cánh nó nhập lại, dù mình có ngon tới đâu cũng khó mà cự…
Xếp lại lặng thinh một lúc để cả phòng tiêu hóa hết những lời xếp nói. Frankie Rio bất thần lên tiếng:
– Sự nghiệp của mình xây dựng mấy chục năm đâu có bỏ khơi khơi như vậy được xếp? Tụi tui nhất quyết đánh tới cùng.
Một thằng khác nói theo:
– Đàn anh Frankie nói đúng đó xếp. Mình chiến đấu sống chết bao nhiêu năm, chỉ còn một mình thằng Antonio thôi, đâu có thể bỏ được…
Chỉ có thằng Frank Nitti là không thèm mở miệng. Nó đứng sừng sửng bên cạnh xếp với vẻ mặt lầm lì cố hữu. Dù biết xếp mình đang khích tướng đàn em, nhưng Frank Nitti có nhiều lý do để sợ thằng Antonio hơn ai hết. Chính nó là người đã chỉ huy cuộc đột kích đẩm máu chiều hôm qua kia mà. Thằng Antonio có thể hoà đàm với bất kỳ ai trong cánh này, ngay cả luôn với xếp Al Capone, nhưng với Frank Nitti thì không bao giờ có chuyện đó. Nó biết rõ như vậy và xếp Al Capone cũng biết rõ như vậy. Làm gì có chuyện để Frank Nitti đi điều đình với Antonio? Dù có mệt mỏi đến đâu hay được hứa hẹn …cả thành phố Chicago, thấy cái bản mặt thằng Frank Nitti là Antonio nhất định phải nổ. Không chừng nổ xong nó còn dám moi gan thằng này ra ăn sống. Frank Nitti biết xếp chỉ đùa dai chút vậy thôi, lát nửa thế nào cái ấn tiên phong lại không về tay nó? Giọng của xếp trở nên nghiêm trọng:
– Đánh hay không là tao quyết định, dẹp mẹ nó lại mấy cái màn ý kiến lẩm cẩm của tụi mày. ĐM đây là “văn phòng làm ăn” của Al Capone chớ đâu phải là diễn đàn quốc hội mà lắm mồm lắm miệng quá cỡ… Được rồi, nếu muốn đánh tới cùng tao cũng đồng ý, nhưng thằng nào muốn …xung phong?
Mười mấy cái miệng cùng hô “tôi” to lên một lượt. Xếp quên rất mau cái sự vô lý của mình, vừa hỏi ý kiến đàn em xong là đã chửi tụi nó là đồ lắm mồm lắm miệng. Những tiếng “tôi” chắc nịch làm cho Xếp nghe thấy sao mà đã lỗ tai. Hoàng đế Cesar ngày xưa đi chinh phục thế giới quân sĩ hùng dũng cũng đến cỡ này là cùng chớ mấy. Xếp thọc hai ngón tay cái vô túi áo “gi lê”, cười cười:
– Tụi mày ngon lắm, nhưng vụ này không có Frank Nitti là không xong.
Xếp ngó luôn thằng phụ tá:
– Mày có đem “thùng đồ nghề” theo không?
“Thùng đồ nghề” xếp vừa hỏi là thùng đựng quần áo hóa trang. Frank Nitti và mấy đứa đàn em ruột trong xe lúc nào cũng có sẵn một mớ quần áo giả gói gọn gàn cất trong vali để dưới gầm xe. Đó là những bộ đồng phục của cảnh sát, y tá, bác sĩ nhà thương được may cắt rất khéo và giặt ủi sạch sẽ để phòng những khi hữu sự.
Làm ăn cẩn thận như xếp, sau khi cho đàn em đi thanh toán một kẻ thù, nếu có nghi ngờ là kẻ bị bắn chưa chết, chính Frank Nitti sẽ đích thân sách cây Colt .45 vào nhà thương để làm cú “Secondary”. Muốn vào phòng mổ hay cấp cứu của nhà thương đối với ai thì khó chứ với Frank Nitti thì dễ ẹt. Có gì đâu, nó chỉ cần lột bộ vét ra, đóng chiếc áo khóac màu trắng với cái ống nghe lòng thòng của bác sĩ vào là xong hết mọi chuyện. Cho chắc ăn, nó còn có nguyên một xấp thẻ đeo ngực với hình ảnh đàng hoàng. Cái thì là bác sĩ phòng hồi sinh, cái thì bác sĩ nhà xác, cái thì bác sĩ thần kinh… Cần đến nơi đâu chỉ móc tấm thẻ thích hợp vào ngực thì thằng nào biết đường mà cản. Vả lại, nếu xúi quẩy bị thằng ngu nào chận dọc đường thì còn cây Colt .45 để làm gì? Tại cú này mà nhiều lần, các bác sĩ bệnh viện thành phố Chicago không hiểu sao có thằng lúc khiêng từ xe hồng thập tự vào còn thoi thóp, tiếp máu và mổ xẻ xong thấy nhiều hy vọng sống lắm mà ngày hôm sau bị chết nhăn răng, chết một cách vô cùng bí mật…
Còn bộ đồ cảnh sát, nếu biết xử dụng đúng lúc thì không còn gì quý bằng. Đi vào mấy chỗ công quyền, mấy cấm địa mà không có bộ đồ này là không xong. Mộc cảnh sát thì cái nào lại chả na ná giống cái nào? Kiểu chơi độc đáo nhất vẫn là mặc đồ cảnh sát tốp xe của kẻ thù ở giữa đường.
Sống nơi nước Mỹ này, dù là tay anh chị xừng xỏ đến mấy đi nữa, khi bị cảnh sát hụ còi đằng sau đứa nào mà dám không chịu tốp? Tốp mau lại là đằng khác để làm ra vẻ ta đây là con nhà đàng hoàng, thượng tôn pháp luật. Đến khi thấy thày cảnh sát ló đầu vô thay vì đưa ra tờ giấy phạt, lại chĩa họng cây Smith & Wesson đen thùi lùi mà bóp cò bốn năm cái liên tiếp thì nạn nhân mới biết là mình lầm. Lần lầm lẫn cuối cùng của cuộc đời anh chị. Thằng Frank Nitti ít khi bắn ai mà …không chết.
Nghe xếp hỏi “thùng đồ nghề”, Frank Nitti đã đoán ra được phần nào công tác sắp phải làm. Nó gật đầu:
– Ngoài xe, lúc nào cũng sẵn sàng.
Xếp vỗ nhẹ vào lưng thằng phụ tá, ra dáng hài lòng. Cái thằng này sao mà luôn luôn được việc. Từ xưa đến giờ giao cho nó công tác gì cũng đều hoàn thành mỹ mãn, không có cái vấn đề tại cái này, tại cái kia. Xếp nhìn Frank Nittie tiếp tục:
– Mày với Frankie Rio lựa hai thằng …coi được cho tụi nó “diện” đồ cảnh sát chuẩn bị đi làm thịt Antonio cho tao. Mike, mày chỉ huy đám còn lại, cho chất hết lên ba chiếc Limousine đi tiếp ứng.
Lệnh lạc gọn lỏn như vậy thôi, khỏi dài dòng mất công. Tất cả những thằng đứng trong phòng này đều là bọn đầu trộm đuôi cướp trong nghề, đã theo xếp lâu năm nên trở thành một thứ thợ giết người chuyên nghiệp. Dĩ nhiên, giữa mấy trăm đệ tử của xếp, leo lên được tới địa vị này không phải dễ. Chính tay phụ tá Frank Nittie và Frankie Rio lựa từng đứa một. Dân giang hồ có cái giác quan riêng biệt và cái tài huấn luyện thợ giết người không có một quân trường trên thế giới bì kịp. Chúng nó được thử thách từ lòng can đảm, sự trung thành, cho đến khả năng bắn súng, khả năng chịu đựng. Muốn lọt vào bộ chỉ huy đặc biệt của “bộ tư lệnh Lexington”, thằng nào cũng phải có một hồ sơ “coi được.” Chữ “coi được” ở đây có nghĩa phải là dân có máu Ý trong người và đã từng giết người. Dân đã phạm tội giết người rồi ít khi đổi hướng bất tử để đi về đầu quân cho cảnh sát.
Frank Nittie bảo đứa cận vệ ruột:
– Mày dọt ra xe tao, lấy cho hai cây dùi cui.
Xếp Al Capone rút lui. Xếp còn có vài công chuyện làm ăn muốn bàn riêng với thằng Strado. Coi, nếu xếp mua lại một nửa cổ phần hãng bánh mì Napples của nó là một ý kiến nên làm lắm chớ có phải không đâu? Xếp đã làm bánh mì thì có cái nhà hàng nào, tiệm buôn thực phẩm nào dám từ chối mua bánh của xếp? Hơn nữa, khi chiến tranh chấm dứt rồi, tiền sẽ vào như nước, xếp sẽ cần rất nhiều cơ sở thương mại buôn bán đàng hoàng để tẩu tán tiền bạc.
Từ khi mua cổ phần của khách sạn Lexington, xếp bỗng đâm ra mê nhà hàng, mê cái nghề đếm bạc ở các tửu điếm. Tiền bỏ ra thật ít mà lời vô thì nhiều không thể nào nói được. Đó là chưa nói đến những nguồn lợi ngầm khác. Muốn gái hả, chỉ cần một cái búng tay là bao nhiêu em lại không có? Mà toàn là thứ trẻ đẹp không. Muốn một bửa nhậu linh đình để tiếp rước bạn bè hả? Cũng chỉ cần thêm một cái búng tay. Xếp đang từ từ hình dung ra cái đại thế giới của Al Capone. Một thế giới trong đó đại đế Al Capone nắm hết mọi sinh hoạt kinh tế của Hoa Kỳ. Thì tụi Do Thái chẳng nhờ vậy mà kiểm soát được nước Mỹ, nắm quyền sinh sát của cả nước Đức, làm rúng động cả Âu Châu là gì? Do Thái keo kiệt thấy mẹ mà còn làm được thì dân Ý chính tông, con cháu của Cesar đại đế sao không làm được kìa? Mãi suy nghĩ, xếp đã ra đến phòng chính từ lúc nào. Thằng Strado còn ngồi u sầu trên chiếc ghế. Xếp vỗ vai nó thân mật:
– Cười lên chút đi chớ, mọi chuyện coi như xong rồi …
Khi thằng đệ tử trở vào với mớ đồ nghề, Frank Nittie thủ thỉ điều gì với Frankie Rio một lúc rồi chọn lấy hai đứa to con, mặt mày cô hồn dắt sang một phòng bên cạnh. Nó khóa trái cửa lại, thảy hai cây dùi cui cảnh sát cho đàn em:
– Frankie Rio bảo tụi mày đã từng làm thầy đội. Tối nay tao cho hai đứa mày làm …cảnh sát trở lại. Biểu diễn tao coi chút nghề coi.
Hai ông cô hồn đứng lặng. Một đứa thắc mắc:
– Làm cảnh sát đâu có khó, nhưng ông phụ tá muốn biễu diễn cái gì?
– Trước hết, coi thử tụi bay đi đứng có giống cảnh sát không cái đã.
À ra thế, phụ tá Frank Nittie làm gì cũng cẫn thận kỹ càng. Hai ông cảnh sát giả xách dùi cui cất bước trong phòng. Frank Nitti quan sát một chút, nhắc nhở:
– Được lắm, mới dòm tao cũng tưởng cảnh sát thiệt. Có điều, tướng đi thì giống cảnh sát mà bản mặt thì giống dân …ăn cướp quá cỡ. Tụi mày phải nghếch mặt lên, ra cái vẻ trịnh trọng thêm chút nữa. ĐM cớm là cha thiên hạ mà. Cái cây dùi cui trong tay phải để sau đít, lâu lâu rút lên, nện nó vô lòng bàn tay vài cái thì mới đúng điệu. Nện xong còn phải quay tít nó năm ba vòng trong gió mới đúng là dân cớm Chicago.
Đâu có gì khó, chỉ sau mấy phút, hai thằng đàn em đã đi đứng đúng điệu. Mặt mày chúng vênh váo không thua cớm thiệt chút nào. Cây dùi cui thỉnh thoảng quay tít trong bàn tay như cái chong chóng tàu bay. Phụ tá Frank Nittie có vẻ thỏa mãn:
– Very good. Rồi bây giờ làm bộ thử tới xét giấy tờ của tao coi.
Một thằng tiến tới gần Frank Nittie, gằn giọng:
– Ê, có giấy tờ gì không, đưa coi thử coi.
Frank Nitti chưa chịu, phê bình liền:
– ĐM cảnh sát Chicago đâu có hỏi khơi khơi yếu xìu vậy. Mày phải tiến tới từ từ, cách chừng hai bước thì đứng lại. Cảnh sát Chicago nhát thấy mẹ, tụi nó có bao giờ dám tới gần bọn du côn đâu? Chúng nó sợ tụi này nhào vô ôm cứng là hết cựa quậy. Khi đứng lại phải thủ thế đàng hoàng. Còn cây dùi cui trong tay để làm gì? Phải thọc vô ngực tao, vừa chửi thề vừa hạch sách như tao vừa giết người hay hiếp dâm xong mới được… Thử lại coi.
Thằng nọ quay lui rồi trở lại. Lần này nó làm y hệt như lời ông phụ tá dạy, vừa thọc thọc cây dùi cui vô ngực kẻ đối diện vừa nạt:
– Ê, ĐM mày …ăn cái gì mà mặt mày coi hung ác quá cỡ? Có giấy tờ gì không đưa coi coi? Từ từ, ĐM không tao giộng cho một cây gục xuống bây giờ…
Frank Nittie gật đầu:
– Được lắm, được lắm. Mày chắc có máu cớm trong người, sao không đi làm cảnh sát mà nhảy qua cái nghề này? Nên nhớ, nếu thằng bị xét giấy mặc áo vét, hễ nó thò tay vô túi áo trên thì phải chuẩn bị. Bàn tay nó vừa cử động thì mày phải thọt mạnh cây dùi cui vô nách khóa cứng nó lại liền. Thọc càng mạnh và càng đau thì càng tốt, làm sao cho thằng nhỏ nhảy dựng người lên mới được. Thọc không kịp nó móc ra cây Colt là hết đời cảnh sát …giả. Đồng thời, tiến tới một bước, lẹ làng đưa bàn tay kia vô túi coi thử nó tính mò cái gì sau lần áo vét. Nếu mò thấy con chó lửa, cẩn thận, dớt liền lập tức. Hể thằng nhỏ cử động chút gì là thẳng tay nện cây dùi cui vô đầu nó cho tao, đừng lo nó chết bất tử, mấy thằng này sọ cứng lắm. Nếu rờ thấy giấy tờ không thì cây dùi cui từ từ nới lỏng ra được….
Xong mục đi đứng và hỏi giấy, phụ tá Frank Nittie dợt cho chúng luôn cách đi “hành quân lục soát” của cảnh sát. Frank Nitti dạy rõ ràng từ cách gõ cửa, rồi làm sao xông vào cho đúng điệu công chức nhà nước. Không mau quá để người ta có thể nghi ngờ mà cũng không chậm quá để vào không được. Dĩ nhiên, phần quan trọng nhất của bài học là thi hành mục đích ngày hôm nay: Bắn chết hết không chừa một mạng.
Phụ tá Frank Nitti phân tách:
– Sau khi tụi nó ngoan ngoản đứng quay lưng vào tường rồi, tao và Frankie Rio sẽ dọt vào. Để thằng Antonio cho tao. Tụi bay sẽ bắt đầu ria đạn từ hai hướng chéo ngược nhau, đứa nào đứng bên trái hết thì bắt đầu từ trái sang phải, đứa nào đứng bên phải thì làm ngược lại, từ phải sang trái. Tràng đạn đầu tiên phải bắn thấp. Bắn cao quá nó có thể hụp xuống là mình thấy phiền muộn ngay. Cứ nhắm từ đầu gối trở xuống cho tao. Sau khi cha con nó nằm tùng phèo trên thềm xi măng rồi, mình sẽ từ từ quạt từng đứa một.
Cho chắc ăn, ông phụ tá khó tánh còn bắt cả bọn đứng xếp hàng ngang tập bắn súng bằng miệng, nêu rõ từng ưu khuyết điểm. Dợt tới dợt lui mấy lần, khi cảm thấy không còn sơ xảy chỗ nào được nữa, phụ tá Frank Nittie cho đàn em tan hàng. Phụ tá trở về gặp xếp Al Capone, kề tai xếp bí mật mấy câu. Xếp gật đầu…
– Mày không mất mát gì hết, mày hiểu không? Mỗi một tháng mày được quyền lãnh hai trăm lít xăng hao hụt kia mà, mà tao biết, hao hụt đâu đến con số đó, cùng lắm là một trăm lít, mày biết áp phe mày có quyền nuốt trôi một trăm lít, sổ sách vẫn phân minh đàng hoàng, nói tóm lại mày không mất mát đi đâu hết trơn, cái sự trừ cho mày một trăm lít xăng hao hụt là lẽ đương nhiên, không có điều gì mày phải thắc mắc hết trơn, mày hiểu vậy không.
Minh vẫn lắc đầu:
– Tôi hiểu như vậy, nhưng tôi không có thể làm được, bởi vì tôi không quen làm việc ấy, không phải chỉ có mình chuẩn úy nói với tôi như vậy, mà nhiều người đã nói, tôi cám ơn chuẩn úy đã chỉ cho tôi điều đó.
– Vậy xăng thặng dư mày đem trả lại hả?
– Dĩ nhiên tôi mang lại trả.
– Đồ ngu, mày phải hiểu rằng không có một thằng trông kho nào làm việc đó.
– Dạ tôi hiểu chứ.
– Mày lương thiện dữ, mày thấy xăng hồi này ở ngoài lên giá không, bây giờ tao đề nghị mày bán năm đồng một lít thôi, mỗi tháng mày kiếm cũng khá đó.
Minh bắt đầu bực bội:
– Nhưng tôi đã thưa với chuẩn úy tôi không có thể làm được chuyện đó, có người biết tôi sẽ mang tiếng.
Chuẩn úy Thành thấy thuyết phục Minh không được, anh ta thở phào:
– Thôi được, mày không nghe tao thì thôi, tao cũng chẳng nói làm quái gì.
Anh ta cười với Minh:
– Mày là một thằng coi kho tốt.
Minh không vui vì lời khen đó, trái lại Minh thấy khó chịu, hắn đang định quay vào trong kho, chuẩn úy Thành giữ tay Minh lại:
– Đứng đây chơi một chút đã nào, trời nắng như vậy chui vào trong kho nằm cho chết ngộp.
Ông ta móc túi đưa Minh một điếu thuốc lá:
– Hút thuốc chơi.
Minh đón điếu thuốc gắn lên môi, Minh muốn biết ông ta còn muốn gì nữa. Sau khi mời Minh một điếu thuốc lá, chuẩn úy Thành bật quẹt mồi thuốc cho Minh cẩn thận:
– Hồi trước trung sĩ Thêm coi kho này, anh em trong Phi đoàn được nhờ, từ ngày mày coi thay ai cũng than hết trơn.
– Than vì tôi không ăn cắp xăng đem đi bán phải không?
– Đừng nói thế chứ, mình ở đây anh em cả.
Minh hút một hơi thuốc, hắn chưa thấy bao giờ mình bình tĩnh như hôm nay:
– Tôi biết, tôi biết đời binh nghiệp của tôi sẽ gặp nhiều khốn nạn, nếu không biết tùy thời, nhưng nói thật với chuẩn úy tôi đếch cần gì nữa, tôi chán lắm rồi, tôi cầm bằng như là đồ bỏ, muốn đi đến đâu thì đi, nhưng ăn cắp xăng bán lấy tiền, tôi không thể làm được, tôi nghèo thật đó, nhưng tôi không thể làm việc đó, lương tâm tôi không cho phép tôi làm.
Chuẩn úy Thành nhìn Minh, ông nghe Minh nói rồi bằng thái độ diễu cợt:
– Đáng khen, đáng khen, anh bằng lòng chưa?
Minh nhìn lại ông ta:
– Cám ơn chuẩn úy.
Minh thấy đầu mình nóng lên, hắn thấy muốn nổi cơn điên vì thái độ diễu cợt của ông, hắn muốn chửi thề, nhưng chuẩn úy Thành hình như không biết đến chuyện đó:
– Mình anh em, thôi bỏ qua chuyện đó, bây giờ tôi nhờ bạn một việc này được không?
– Thưa chuẩn úy chuyện gì.
– Bán xăng thì bạn không thể bán rồi, vậy vào bạn đổ cho tôi một bình xăng vào cái Vespa này, tôi kẹt hết ráo xăng nên không ra ngoài phố mua được.
– Chuẩn úy xin?
– Tôi xin.
Minh lẳng lặng vào kho, múc một lon xăng đổ vào xe cho ông chuẩn úy:
– Đổ đầy bình cho chuẩn úy thì tôi không thể đổ được, nhưng xăng dùng hết rồi, chuẩn úy đổ tiếp thì tôi giúp chuẩn úy được.
Chuẩn úy Thành không biết nói gì hơn, ông ta lắc đầu:
– Đâu có phải của nhà bạn mà giữ gìn quá vậy không biết chứ.
Minh biết có đứng cãi với ông cũng bằng thừa. Minh không thèm nói một câu nào, đổ xăng xong, Minh lẳng lặng vào trong kho, hắn nghe tiếng Ves- pa của chuẩn úy Thành nổ máy. Một lát sau Minh trở ra lại, hắn không còn muốn nhìn thấy mặt ai, hắn quá chán nản rồi, từ khi Minh về coi kho nhiên liệu này, Minh gặp hoàn toàn những chuyện lôi thôi, hắn không được yên, hết người này xin xỏ, đến người kia nhờ vả.
Chiều hôm qua sau giờ làm việc, trung sĩ Hà kho tiếp liệu đón Minh:
– Minh ra ngoài Lăng chơi không? Minh ngạc nhiên vì thái độ của trung sĩ Hà, từ trước đến giờ Minh và ông ta không hề thân thiết nhau, hồi này ông ta tỏ ra săn đón Minh nhiều hơn trước kia, ông được giữ chìa khóa kho nhiên liệu, nhưng từ khi Minh về, ông phải giao lại hoàn toàn cho Minh, ông không còn nhiệm vụ gì ở kho này hết. Minh nhận lời đi với ông ta ra ngoài Lăng cha Cả xem ông muốn gì, Trung sĩ Hà đưa Minh tới một cửa hàng sơn sửa xe Vespa giới thiệu Minh với gã chủ nhà:
– Anh Minh người thay tôi coi kho tiếp liệu.
Gã chủ nhà bắt tay Minh thật chặt:
– Hân hạnh biết anh.
Minh nghĩ bụng chắc lại có âm mưu mờ ám gì đây. Minh lẳng lặng xem hai người này muốn nói gì. Gã chủ nhà sửa xe mặc áo sơ mi, anh ta luôn luôn tỏ ra niềm nở.
– Đi dùng cơm với tôi nhé. Trung sĩ Hà:
– Chúng tôi không bao giờ từ chối. Ông ta quay sang Minh:
– Có phải không bạn Minh?
Chờ cho ông chủ nhà quay vào.
Minh bảo trung sĩ Hà:
– Chuyện gì đó trung sĩ? Trung sĩ Hà nháy mắt:
– Làm áp-phe với tao. Minh lắc đầu:
– Tôi không biết gì về áp phe hết trơn.
Ông trung sĩ nhăn mặt:
– Mày lộn xộn quá, để tao tính toán cho.
Gã chủ tiệm sửa xe cũng vừa đi ra.
Gã vui vẻ:
– Nào, chúng ta đi.
Minh lẵng lặng đi theo hai người đến một quán cơm, gã chủ tiệm vui vẻ:
– Ba đứa mình nhậu chớ? Minh lắc đầu:
– Hai ông nhậu đi, tôi không biết nhậu.
Trung sĩ Hà gạt Minh:
– Nhậu mày, làm dáng hoài.
Ông ta không chờ Minh có ý kiến gì, ông kêu liền ba chai bia, một đĩa tôm nướng. Ông không ngần ngại nói thẳng với Minh:
– Anh Tư Vespa đây, trước là bạn áp phe với tao, từ ngày mày thay tao về coi kho nhiên liệu đến giờ, công việc áp phe của tao mới tạm gián đoạn, bây giờ tao mang mày ra đây để giới thiệu với anh Tư Vespa, ba đứa mình nối lại tình nghĩa áp phe.
Tư Vespa curời:
– Nếu có thể thì ngay từ giờ phút này mình tính mọi chuyện với nhau.
Minh nhìn hai người, Minh thừa biết mục đích của hai người, nhưng hắn vẫn làm bộ hỏi:
– Tôi không hiểu chuyện gì hết. Trung sĩ Hà rót rượu ra ly cho Minh:
– Nhậu đi, mình còn ngồi đây nói chuyện với nhau lâu.
Minh bình thản uống rượu, chàng chờ đợi, chàng muốn biết hai người sẽ nói gì với chàng. Trung sĩ Hà đưa đẩy:
– Đối với anh Tư Vespa là chỗ quen biết, mình chẳng cần giới thiệu dài dòng làm chi, mình đi thẳng vào để luôn cho tiện.
Anh Tư Vespa gật đầu:
– Dạ như vậy là tiện nhất. Trung sĩ Hà ngó Minh:
– Hôm nay tôi đưa cậu ra không ngoài mục đích chuyện làm ăn. hỏi: Minh nhìn thẳng vào mặt ông ta
– Chuyện làm ăn gì đó trung sĩ?
– Hồi trước khi tôi còn giữ kho nhiên liệu, tôi nói thật với chú tôi từng áp phe áp pháo với anh Tư đây, trong kho nhiêu liệu trước của mình thường có những món mà anh Tư ở đây dùng, chẳng hạn như sơn, những hộp sơn rất tốt, thứ sơn đó dùng để sơn xe thì tuyệt diệu nhất. Theo tôi được biết mỗi tháng kho nhiêu liệu được lãnh cả trăm hộp để Phi đoàn chi dùng, nhưng Phi đoàn đâu có chi dùng đến.
Minh gật đầu:
– Vâng tôi biết.
– Anh Tư ở đây lại rất cần những hộp sơn đó, anh Tư dùng sơn đó để sơn xe vespa, cho nên tiệm sửa của anh nổi tiếng là sơn xe đẹp.
Minh thản nhiên:
– Có ăn nhậu gì tới tôi đâu?
– Sao lại nói vậy, quá cần nữa là khác, nếu cậu nghe tôi, mỗi tháng cậu cung cấp cho anh Tư chừng mươi thùng được không?
Minh toan lên tiếng, Trung sĩ Hà chặn lại:
– Khoan đã, cậu sợ bị liên lụy chớ gì?
– Dĩ nhiên tôi phải chịu trách nhiệm cả cái kho.
Trung sĩ Hà chỉ vào ngực mình:
– Tôi đã coi cái kho ấy cả năm trời, khi giao lại cho cậu, cậu có thấy mất mát cái gì không.
Minh lắc đầu. Trung sĩ Hà cười:
– Đó, và cậu thấy chưa, chỉ ăn thua về vấn đề kỹ thuật.
Minh lặng thinh, anh Tư vespa rót thêm bia vào ly và gắp thịt nướng vào chén cho Minh:
– Nhậu đi chớ, còn nhiều thì giờ mà, mình vừa nhậu vừa nói chuyện.
Trung sĩ Hà cười:
– Khi tao mới vô coi cái kho ấy tao cũng ngán lắm, nhưng khi làm việc lâu ở đó tao thấy rằng chẳng có mẹ gì hết, mình có khuân đi nửa kho nếu khéo một chút cũng không ai biết hết, hôm nay tao truyền nghề cho mày, nếu mình lương thiện quá cũng chẳng ăn cái gì, ma le một chút thì sống được.
– Ma le sao trung sĩ?
– Tao sẽ chỉ cho mày ít ngón, vấn đề sổ sách.
Minh tò mò, hắn cũng muốn xem ông trung sĩ này nói gì, Minh ngồi lặng thinh. Ông trung sĩ nói tiếp:
– Mỗi ngày mày phát bao nhiêu đồ mày phải làm gì?
– Người lãnh phải ghi bông đưa xuống, và có chữ ký của trưởng phòng.
– Đó, kỹ thuật là ở chỗ đó.
– Tôi không hiểu.
– Có quái gì không hiểu đâu, mỗi ngày, trước khi mày đóng cửa kho, mày phải vào sổ hết những gì mày xuất trong ngày, sửa chữa lúc ấy đâu có khó gì, ông trưởng ban có kiểm soát lại cũng sơ sơ vậy thôi, ông hơi sức đâu mà đi đếm từng thùng sơn, coi lại từng lít xăng lít dầu bao giờ.
Minh lắc đầu:
– Tôi ngán làm chuyện đó lắm Trung sĩ ơi.
– Thằng đếch nào không ngán, sau sẽ quen đi chớ.
– Tôi chắc không bao giờ quen được chuyện ấy.
– Tao chỉ cần mày nhận lời, còn phần kỹ thuật tao sẽ lo hết cho mày, mày chịu không?
Muốn chắc chắn hơn Trung sĩ Hà hứa hẹn:
– Tao sẽ mang đồ đi, mày khỏi lo chuyện ấy, miễn là mày nhận lời, mình sẽ chia đôi với nhau…
MINH NHÌN KHOẢNG ĐẤT TRỐNG PHÍA SAU LƯNG, sau một đêm mưa khu đất Minh đã mất công dọn sạch một tuần lễ, bây giờ cỏ non mọc lên xanh um, hắn lại phải bắt đầu làm lại từ đầu.
Cổ họng Minh khát khô, liệng cái cuốc xuống đất, lê bước tới bể nước bên cạnh kho nhiên liệu, hắn có cảm tưởng mình sắp sửa xỉu. Hắn mệt mỏi quá độ rồi, trời nắng làm mắt hắn hoa lên, sự nay rút gậm nhấm trong đầu Minh, hắn vục đầu vào cái bể nước uống một hơi, hắn uống cho căng bụng hắn mới ngẩng lên, tới bên cạnh kho nhiên liệu, ngồi tựa lưng vào tường thở, hai mắt Minh đỏ ngầu, hắn nhìn lên da tay mình, hai cánh tay nắng xạm đen.
Bỗng có tiếng chân đi tới, Minh không buồn nhìn lên, những bước chân đi tới gần Minh hơn.
Minh nhìn thấy hai mũi giày trước mắt mình:
– Lính ghẻ, sao không ra làm cỏ mà ngồi đây chi vậy?
Minh không ngẩng lên mũi giầy di chuyển, đưa lên hất cằm Minh, mặt Minh ngước lên, hai con mắt đỏ ngầu, sự uất hận tràn lên tận cổ Minh, khu- ôn mặt cười cợt của người lính nào đó, Minh không nhìn rõ, hai mắt chàng mờ đi.
Bỗng nhiên Minh túm lấy chân hắn giật mạnh, tên lính ngã vật lên người chàng, Minh như một con thủ điên, túm ngay lấy cổ hắn, đẩy mạnh một cái, Minh không biết tại sao mình lại có một sức mạnh khủng khiếp đến như vậy.
Gã lính la lên:
– Mày làm cái giống gì vậy? Minh đứng người dậy:
– Giết mày.
Gã lính lồm cồm ngồi dậy. Hắn chưa kịp đứng dậy, Minh hùng hổ phóng người tới, đạp cả hai chân vào mạng sườn, hắn không kịp né tránh, hắn lăn đi một vòng, rồi liên tiếp mấy vòng, miệng la chói lói:
– Minh, mày điên sao?
Minh lại tiếp tục nhào đến, chàng gào lên:
– Tao giết mày, tao phải giết mày, đồ khốn nạn.
Gã lính bò được dậy, hắn co giò chạy thục mạng. Minh đuôi theo, vừa đuôi vừa la, quần áo trên người hắn làm hắn bực bội, gã cởi phăng cái áo, cởi luôn quần, gã nhìn thấy một cái xe đạp, gã nhào lên, cắm cổ đạp như bay, vừa đẹp vừa la, tại hắn bỗng nhiên ù đi, gã nhìn thấp thoáng có bóng người, chiếc xe lái ra sân bay, hắn phóng thật nhanh, gã nhớ mình lái vòng quanh sân bay, lái càng lúc càng nhanh, gió mát lồng lộng, hắn thấy khỏe khoắn khi biết trong người không còn một mảnh vải nào. Minh thấy thú vị, hắn la và hắn cười, chiếc xe chạy vòng tròn hết vòng nọ tới vòng kia, càng chạy mau Minh càng thấy thú vị, bây giờ thì hắn quên tất cả, hắn không còn nhớ gì hết, hắn thấy thú vị, hắn ngửa mặt lên trời nhìn nắng cười, bỗng hắn thấy người mình lao đi như bay, rồi mặt mũi tối sầm lại, hắn lịm đi khi người hắn bỏng rát như lửa.
Vị sĩ quan chỉ huy trưởng Phi đoàn ngước lên nhìn ông trung úy trưởng phòng tiếp liệu:
– Tôi nghĩ rằng có hành hạ một thằng lính ba gai, chúng ta cũng không nên dùng một hình phạt quá đáng đối với nó, anh thấy chứ, ngoài sức chịu đựng của nó, nó đã nổi điên.
Ông trung úy lắc đầu:
– Tôi không cố ý, tôi nghĩ hình phạt đó là nhẹ nhất.
– Nó đã nổi điên vì hình phạt của anh.
– Tôi nghĩ nó có máu điên.
Đại úy chỉ huy trưởng nhìn ra ngoài trời nắng.
– Với trời nắng này người không điên cũng phải nổi điên, cái hình phạt đó quá sức chịu đựng của nó.
Ông trung úy ngồi im. Đại úy chỉ huy trưởng nói tiếp:
– Tôi thì không được rõ nó ba gai ra sao, nếu quả thật nó ba gai hỗn hào với anh, anh có toàn quyền, hãy phạt nó một cách nghiêm chỉnh, đừng bao giờ để cho lính biết rằng mình phạt nó vì ghét bỏ, hãy tránh thái độ đó.
– Tôi nghĩ tôi phạt nó như vậy là nhân đạo, trong quân bạ không ghi gì hết…
– Tôi biết, thôi chuyện đó bỏ qua đi, rất may thằng lính này nổi điên, nhưng không đến nỗi nguy hiểm lắm.
– Tôi nghĩ ở quân trường những hình phạt còn kinh khủng hơn.
Ông đại úy chống tay vào bàn có vẻ suy nghĩ, ông ra hiệu cho ông trung úy đừng nói nữa:
– Tôi nói bỏ qua chuyện ấy, hôm nay thằng lính đi làm lại, tất nhiên nó còn ở nhiệm sở của anh, anh sắp đặt việc cho nó làm.
– Tôi xin giao lại nó cho đại úy được không? Dưới kho tôi có đủ người rồi.
– Mọi khi nó làm việc gì?
– Việc vặt, lái xe tracteur chẳng hạn.
– Bây giờ nó lại làm việc đó. Ông trung úy lắc đầu:
– Không thể được, nó lại nổi điên lên thì sao?
– Ừ cũng đáng nguy, à thôi, hình như kho nhiên liệu không người trông coi phải không?
– Dạ, kho nhiên liệu không có ai trông coi hết.
– Cho nó coi kho ấy.
– Tùy đại úy.
– Thôi anh về đi để tôi lo vụ này.
Ông trung úy ra khỏi phòng ông đại úy chỉ huy trưởng. Một lát sau ông đại úy chỉ huy trưởng cho gọi Minh vào, ông ta nhìn Minh từ đầu đến chân, một bên cánh tay Minh bị sây sát, bôi thuốc đỏ lòm, ông đại úy chỉ cái ghế trước mặt ông:
– Ngồi xuống đi anh.
Minh ngồi xuống ghế, ông đại úy giọng dịu dàng hơn:
– Thế nào? anh thấy đỡ trong người chưa?
– Cám ơn đại úy tôi đã đỡ.
– Tôi muốn hỏi anh một vài câu chuyện, anh nên trả lời tôi tất cả sự thật.
– Thưa đại úy tôi sẵn sàng.
Vị đại úy nhìn thẳng vào mặt Minh:
– Anh có biết tại sao anh bị phạt không?
Minh trả lời như cái máy:
– Thưa có lẽ tôi có lỗi. Vị đại úy lắc đầu nói:
– Tôi muốn anh trả lời tôi một cách thẳng thắn, tôi không muốn nghe một cách úp mở, anh nghe kỹ này, tôi nhắc lại câu hỏi: Tại sao anh bị phạt?
– Thưa Đại úy tôi tự xét thấy tôi không có lỗi gì hết.
– Anh chắc vậy không?
– Thưa tôi nói chắc vậy.
– Vậy tại sao Trung úy Lành phạt anh?
– Tôi không vâng lời ông. Vị Đại úy khuyến khích:
– Tốt lắm anh cứ nói đi…
Minh kể cho vị Đại úy nghe tất cả đầu đuôi câu chuyện, nghe xong vị Đại úy lại nhìn thẳng vào mặt Minh:
– Anh nói sự thật đấy chứ?
– Thưa Đại úy tôi không dám nói sai, tôi không thể nghe lời ông được bởi vì tôi không thể thi hành một lệnh vô lý đó được, thật ra thì trung úy Lành không hề phạt tôi, vì sau đó ông không thèm nhờ tôi, ông sai tôi làm việc khác, như đại úy đã biết, làm cỏ vê, nhưng sức tôi có hạn tôi không thể làm nổi, rồi tôi nổi điên…
Vị đại úy chỉ huy trưởng chăm chú nghe Minh nói:
– Tôi hiểu anh, anh là một quân nhân đáng khen, thôi được, bây giờ tôi để anh về làm ở kho nhiên liệu, anh biết kho nhiên liệu chứ?
– Dạ thưa biết.
– Anh làm nơi đó, anh sẽ rất ít khi tiếp xúc với những người không thích anh, hằng ngày anh chỉ tiếp xúc với những người đến lãnh nhiên liệu.
– Nơi này tôi cần một người lương thiện, thật thà. Tôi thấy anh có đức tính ấy, và tôi cũng nói thẳng cho anh biết tôi tin anh, mỗi lần phát nhiên liệu xong, anh làm sổ sách phân minh cho tôi. Tôi được biết rằng về số xăng ở dưới bị hao hụt một cách hết sức vô lý, trong tháng đầu tiên anh hãy làm lại số sách cho tôi hết sức minh bạch.
– Xin nhận lệnh đại úy.
– Khoan, ngồi lại đã. Ông nhìn Minh:
– Tôi không hứa hẹn nhiều với anh, nhưng tôi hứa rằng cố gắng giúp đỡ anh, anh theo học ngành nhiên liệu cũng tốt.
Minh thấy mệt mỏi về những lời hứa hẹn, bây giờ Minh chỉ muốn yên thân, cầu được yên thân là may rồi, suốt một năm qua những sự thật đã làm cho Minh hết tin tưởng, bây giờ ai nói gì Minh cũng để đó, biết vậy thôi, còn tin thì không tin, Minh chỉ biết làm tròn bổn phận. Minh bỗng nghĩ đến cơn điên của mình, hắn không hiểu tại sao hắn lại nổi điên bất tử, trong đời Minh có bao giờ nổi điên. Hắn an phận nhìn ra ngoài trời nắng, Minh thấy rùng mình.
Tiếng vị đại úy đều đều:
– Anh cũng đừng bao giờ tỏ ra bướng bình đối với những người sĩ quan, anh nên hiệu rằng họ có quyền, mặc dầu tôi là chỉ huy trưởng, nhưng tôi đối với họ là bạn bè, tôi khó nói…
– Thưa đại úy tôi hiểu.
– Bây giờ anh xuống kho nhiên liệu, trung úy Lành sẽ giao cho anh nhiệm vụ mới, cố gắng nghe.
– Dạ.
Minh chào vị đại úy chỉ huy trưởng rồi trở ra, hắn để ý thấy những người trong Phi đoàn nhìn hắn với cặp mắt khác lạ, họ không có vẻ đùa cợt với Minh như mọi khi, mà họ có vẻ dòm chừng, Minh hiểu đó là hậu quả sau vụ nổi điên của hắn.
Minh tới phòng trung úy Lành, ông cũng vẫn không có vẻ thân thiện như lần gặp gỡ đầu tiên, ông không nói vui vẻ, mặt ông vẫn lạnh lùng, ông ngẩng lên nhìn Minh, ông hỏi:
– Anh đã nói gì với Đại úy chỉ huy trưởng?
Hắn hơi ngán ông, hắn biết rằng hắn khai sự thật lại với ông mình sẽ còn khốn khổ nữa, ít ra mình cũng phải khôn ngoan hơn một chút, Minh lắc đầu:
– Thưa Trung úy, Đại úy hỏi tôi tại sao lại nổi cơn điên.
– Rồi anh trả lời sao?
– Tôi trả lời rằng vì trời nắng quá nên tôi điên, tôi thường có bệnh điên.
– Anh nói thật hay nói chơi?
– Dạ thưa Trung úy tôi đâu dám nói chơi, tôi có bệnh điên thật.
– Anh có bệnh điên?
– Dạ vâng.
– Tại sao khi đi khám sức khỏe anh không khai? –
– Thưa tôi ham vào Không Quân nên khai làm chi.
Ông trung úy gật đầu, ông hỏi tiếp:
– Rồi đại úy có hỏi gì thêm anh nữa không?
– Đại úy nói cho tôi coi kho nhiên liệu.
Trung úy Lành gật đầu:
– Từ mai anh bắt đầu nhận việc mới, nhớ đừng có nổi điên nữa nghe không, khi nào trời nắng quá thì chui vào phi nước cạnh kho nhiên liệu mà ngâm; lính tráng gì mà chán quá chừng. tôi phải cai quản chừng năm tên lính như anh chắc tôi cũng điên lên mất.
Minh không ngờ lại nói láo ngon lành đến như vậy, hắn nói cho ông trung úy yên tâm:
– Thưa trung úy tôi chỉ điên có cơn, nếu không chuyện gì xảy ra thì tôi không bao giờ điên hết, chỉ khi nào có chuyện gì không chịu nổi tôi mới điên.
– Ai làm gì anh đâu?
– Thưa hôm ấy tôi làm việc mệt, không biết có ai đến chọc tôi.
– Thiệt vậy sao?
– Dạ thiệt, nhưng tôi không nhớ rõ mặt.
Ông trung úy ừ ừ trong miệng. Minh không biết ông nói thứ gì. Hắn chào ông trung úy rồi quay ra.
Ngày hôm sau, Minh tới nhận việc, người trung sĩ đưa chùm chìa khóa cho Minh, anh ta tươi cười vui vẻ:
– Ở ngoài đó thì mày yên ổn, chẳng ai chọc phá mày. Này, nếu mày biết áp phe áp pháo mày sẽ khá đó…
Minh lẳng lặng cầm chùm chìa khóa ra kho, hắn coi lại sổ sách và đồ còn lại trong kho. Minh thở phào, hắn nghĩ như vậy là mình tạm yên ổn.
Trong khi đó, tại tổng hành dinh của Xếp Al Capone, chuông điện thoại cũng reo vang. Frank Nittie nhấc ống nói, chỉ nghe được đầu giây bên kia sủa hai gọn tiếng “Xong rồi” là cúp cái cụp.
Frank Nittie quay nhìn xếp Al Capone, gật đầu một cái. Xếp hiểu ngay là thằng Frank Nittie muốn nói gì. Miệng xếp nở lên một nụ cười khoái trá, dơ tay chỉ vào cái quày rượu. Frank Nittie tới quầy lấy ra hai cái ly. Ly của xếp được nó đổ đầy bằng loại rượu Cognac thượng hảo hạng. Tiếng rượu chảy vào ly làm xếp Al Capone cảm thấy sảng khoái. Ly của nó, chỉ đổ nước ngọt. Tính thằng phụ tá này xưa nay không bao giờ thay đổi. Nó không thích rượu. Đối với nó, rượu chỉ làm người ta lu mờ lý trí, phản ứng chậm chạp, và quan trọng nhất, dễ bắn… trật.
Đưa ly rượu cho xếp Al Capone trong giây phút vinh quang chiến thắng này, cái bản mặt cô hồn của thằng phụ tá số một vẫn không lộ vẻ gì là thoả mãn hay vui sướng. Nó không thèm nói dư một câu, cũng không có một cử chỉ thừa thải. Cái mặt nó cứ xám xịt ra với mọi cử động, mọi vận chuyển đều lầm lì một cách đáng sợ. Xếp Al Capone nâng ly:
– Good job, Frank, very good job!
Xếp Al Capone xưa nay ít khi khen ai, nhưng đã khen thì đối tượng phải làm xong được chuyện gì ghê gớm lắm. Đúng thật, vì cuộc xử tử Jim Colosimo hôm nay, tuy là chỉ thị cuối cùng đến từ xếp Al Capone nhưng mọi chuyện đều do chính bàn tay của Frank Nittie xắp xếp và tổ chức. Hai thằng đao phủ thủ ôm Shotgun đột kích ông trùm là cận vệ ruột của Frank Nitti. Noi gương xếp, nó đã tính thì ít có khi nào trật. Phải nói là quá đầy đủ mới đúng. Vì ngoài hai thằng đao phủ vào đợt đầu tiên, nó đã cho chuẩn bị đợt tấn công thứ nhì để phòng trừơng hợp tụi này vào không lọt vòng lưới của địch thủ. Đợt thứ nhì chuẩn bị ồ ạt hơn, với hai chiếc xe và …20 tay súng máy chờ sẵn ở ngoài. Theo lệnh của Frank Nitti, nếu đợt tấn công bất ngờ thứ nhất không làm ăn được, lập tức tụi này phải tràn vào, mỗi đứa một cây liên thanh để biến cái nhà hàng thành một cái nhà … xác, già trẻ lớn bé có bị ăn đạn chết oan cũng không sao.
Cái quan trọng là trùm Colosimo phải bị bứng. Frank Nittie đã ra chỉ thị rõ ràng: “Nó phải chết. Nếu nó không chết, tụi bay đừng có vác mặt về đây.” Khi mọi chuyện đã xảy ra đúng như dự tính, hai chiếc xe Ford Station Wagon mới tinh mở hết tốc lực dọt thẳng về tổng hành dinh để làm phòng tuyến mới chuẩn bị cú trả đũa của thằng Antonio. Frank Nittie và xếp Al Capone biết thằng này rõ hơn ai hết. Nó đã chơi là chơi xả láng, nếu cần cho nổ tung cả thành phố, nó không một chút ngần ngại. Và điểm quan trọng làm ai cũng phải suy nghĩ là: Giống như xếp Al Capone và Frank Nitti, nó ít khi nào tính trật.
Làm hết ngụm rượu, xếp Al Capone bước ra cửa sổ, nhìn xuống đường:
– Mày nghĩ thằng Antonio chừng nào sẽ hạ thủ?
Frank Nittie nhún vai, xốc lại cây Colt .45 đeo dưới nách:
– Tụi nó phải mất vài ngày để chuẩn bị lực lượng. Nhưng với thằng cáo già này, không ai có thể ước lượng gì được. Theo lẽ thường, tôi nghĩ có lẽ tuần tới chúng mới gom đủ lực lượng để tấn công.
Al Capone châm lửa một điếu xì gà, thở khói lên trần nhà:
– Tao nghĩ khác!
Xếp cất tiếng sau một lúc suy tư:
– Có thể tụi nó sẽ đến tối nay hay ngày mai. Nó sẽ đến vào lúc bất ngờ nhất, vào lúc mình không ngờ trước được. Mày để dưới nhà bao nhiêu tay súng?
– Chừng hai chục, vẫn toán của thằng Frankie Rio.
– Có ai tìm ra tông tích thằng Antonio chưa?
Frank Nittie lắc đầu:
– Thằng này thuộc loại cáo già mà xếp, nó lặn mất tiêu. Cả thành phố Chicago không có ai biết nó ở đâu hết.
Xếp Al Capone chỉ hỏi lấy lệ, vì biết đàn em mình chưa moi ra chỗ của thằng Antonio được. Ngay từ ngày đầu tiên, kế hoạch triệt hạ Jim Colosimo của xếp gồm hai phần: Trước hết là bứng liền lập tức hai kẻ thù nguy hiểm: Jim Colosimo và Antonio. Cả hai người này, dân giang hồ đều biết là “bất khả phân ly”. Một người chết, người kia sẽ trả thù đến giọt máu cuối cùng, khỏi có cái màn dàn xếp hay thương lượng. Phần thứ hai là chiêu dụ tất cả những đàn em của Jim Colosimo về một mối. Ông trùm Jim Colosimo thì hớ hênh, dễ bị gài bẫy nhưng Antonio là một tay anh chị thuộc loại quỷ quyệt khôn lường. Ngay đến chỗ ở, nó sơ sơ có chừng bốn năm nơi. Thằng đàn em thân tín nhất cũng không biết nó sẽ ngủ ở nơi nào. Nhiều đêm, thấy nó cặp vài em điếm vào ngủ ở một nơi, nhưng sáng sớm, người ta lại thấy cái bản mặt cô hồn xuất hiện ở chỗ khác. Vì vậy, dù diệt được ông trùm Jim Colosimo, cái mối lo canh cánh bên lòng của xếp Al Capone vẫn chưa giải quyết được. Ngày nào chưa nhìn thấy được cái xác bê bết máu của Antonio, xếp Al Capone còn ngủ chưa yên.
Đi qua đi lại trong phòng, dù mới sau một chiến thắng vẻ vang, xếp Al Capone chợt nhận thấy mình đang bị đẩy vào thế thụ động. Tuy không nghiên cứu sách vở, nhưng sau mấy chục năm tranh chấp trong giới giang hồ, xếp biết cách phòng thủ hay nhất là tấn công. Kẹt cái là mình không thấy kẻ thù thì không lẽ lại đi tấn công để bắn … gió? Xếp biết sớm muộn gì thằng Antonio cũng sẽ chường mặt ra, nhưng cái quan trọng là ngày đó, ai sẽ … còn sống để nhìn thấy nó?
Chuông đồng hồ treo tường gõ chín tiếng, làm xếp Al Capone cảm thấy …đói bụng. Từ ngày dọn đại bản doanh vào chiếm cứ hết lầu của đại khách sạn Lexington đến nay mới hơn 1 năm, xếp Al Capone đang từ 220 pounds đã vọt lên 260 pounds. Không lên sao được vì xếp có cái tật khoái ăn, khoái uống. Buổi sáng, thức giậy vào lúc … 11 giờ trưa, xếp phải làm một bữa điểm tâm trên giường. Ba hay bốn giờ chiều, là một dĩa mì ống hay vài miếng bí tết với rượu Chianti. Rồi đến khoảng 7 hay 8 giờ, mới là bửa ăn chính, thịnh soạn với đầy đủ cao lương mỹ vị. Một công hai việc, xếp thường dùng những bữa ăn này để tiếp đón các nhân vật quan trọng trong chính quyền, các thương gia từ khắp các nơi trên thế giới, và dĩ nhiên, các tay anh chị trong giới giang hồ. (Hồ sơ của sở anh ninh liên bang có ghi rõ thị trưởng Thompson của Chicago là một trong những khách thường xuyên của xếp.) Những bữa tiệc này có khi kéo dài đến 1 hay 2 giờ sáng với hàng chục dĩa tôm hùm, bít tết và hàng chục chai rượu qúy. Hôm nay, vì bận với những diễn tiến việc thanh toán ông trùm Jim Colosimo, xếp quên mất phần ăn uống. Xếp vỗ vỗ vào cái bụng đang phát triển của mình, nói bằng tiếng Ý với Frank Nittie:
– Bảo tụi nó chuẩn bị một bàn, tụi mình xuống ăn.
Frank Nittie gật đầu. Tuy có vẻ không ưng ý với cái quyết định ăn uống này, nhưng như thường lệ, nó không bao giờ hỏi lại. Có một điều gì lẩn quẩn trong đầu nó về cái đại khách sạn này nhưng Frank Nittie chưa bao giờ nghĩ ra. Tuy xếp Al Capone có đến gần 50 % phần hùn trong khách sạn, tuy lão quản lý là một tay “người nhà”, dân Sicily chính gốc, nhưng làm sao hoàn toàn kiểm sóat nổi một khách sạn lớn như vầy với gần ngàn nhân viên. Lúc xếp Al Capone mới bắt đầu dọn đại bản doanh về đây, Frank Nittie đã đi một đường thanh tra lý lịch kỹ càng các nhân viên. Phải nói là quá kỹ mới đúng: Bốn cái xác của đàn em Jim Colosimo được cảnh sát tìm thấy dưới lòng sông Chicago. Ngay cả đến những thằng vô tội, không thuộc phe đảng nào và chỉ làm những việc tầm thường như lau chùi cầu tiêu rửa chén, nếu không phải là “người nhà” hay có vẻ nghi nghi là Frank Nittie cũng cho nghĩ việc liền. “Tao chỉ muốn thấy người của xếp Al Capone ở đây thôi”, lệnh của Frank Nittie đã ban ra như vậy, thằng nào dám cãi.
Cái đáng thương cho những nhân viên bị sa thải, thời buổi khủng hoảng kinh tế, đâu dễ gì kiếm được việc khác? Nhưng nhìn cái bản mặt lù đù của nó với cây Colt .45 đeo trệ dưới nách trái, thằng nào có gan mà từ chối? Thôi thì đành gật đầu, dọn quần áo về nhà mà thông báo tin buồn cho vợ con rồi tính đường khác. Nhưng mấy tháng sau, Frank Nittie khám phá một điều là “Không bao giờ nên đặt đại bản doanh ở một đại khách sạn.” Làm sao dám chắc được trong cái đám bồi mấy trăm thằng, không có đứa dại dột nghe ngóng dùm tụi FBI để kiếm tí điểm, hay nhận chút ít quà cáp của băng Jim Colosimo? Cho dù đã chuẩn bị đến mức tối đa, từ những thằng bồi hầu bàn cho đến những mụ bồi phòng của xếp được chính tay Frank Nittie tuyển lựa, nhưng, đa nghi và quỷ quyệt như thằng Frank Nitti, nó vẫn chưa thấy an tâm. Có một cái gì, cái gì đó làm nó cảm thấy bất an. Ngay sau khi nghe tin về vụ ông trùm, nó đã tính đề nghị với xếp tạm “lánh cư” đi chỗ khác một thời gian, như về thăm gia đình tại Florida hay lên New York du hí chẳng hạn, chờ đến khi nhìn được cái xác của thằng Antonio rồi mới về tiếp tục công việc nhưng nó biết tính tình của xếp Al Capone: “Chết thôi chớ làm chó gì mà phải chạy đi đâu cho tụi nó cười?”
Frank Nittie bốc điện thoại ra lệnh cho tụi Franko Rio đang làm an ninh vòng đầu ở lầu 1:
– Tụi tao sắp xuống ăn. Chuẩn bị!
Cú điện thoại thứ hai, xuống nhà hàng, với lão quản lý:
– Hai bàn cho Al Capone và tụi tui, như mọi lần.
Lão quản lý nhà hàng của đại khách sạn hiểu ý. Lão ngoắc tay, hai ba thằng bồi chạy tới rồi chỉ trong vài phút, chúng đã dọn xong hai bàn đặc biệt: Một cái kê gần cửa ra vào cho tụi cận vệ, cái thứ hai để sâu phía trong, dành cho xếp. Cái bàn đặc biệt này do chính xếp Al Capone xếp đặt và chỉ dành cho xếp. Mặt bàn một lớp gỗ quí dày cở 1 inch để khi nguy biến, chỉ cần đẩy nó nhào ra trước là có ngay một tấm bững chắn đạn an toàn. Toán an ninh của thằng Frankie Rio có mặt liền cấp kỳ. Tụi này ăn mặc sang trọng lịch sự, với complê nguyên bộ và những chiếc áo bành tô mắc tiền, hợp thời trang trông giống như một băng công tử con nhà giàu đi chơi khuya. Cái khác lạ là nếu ai đứng gần chúng, và có can đảm … nhìn kỹ vào phía dưới nách, người ta sẽ thấy cồm cộm nổi lên một vật dài hình thù giống như những cây súng liên thanh.
Một thằng đi thẳng xuống nhà bếp, canh cái cửa Emergency độc nhất dẫn ra ngoài nhà hàng. Một thằng nữa đi vào cầu tiêu, làm một đường kiểm soát cẩn thận rồi kiếm một bàn toạ trống …ngồi luôn trên đó để giữ an ninh khu vực cầu tiêu. Hai thằng khác đứng nơi cửa ra vào chính của nhà hàng, làm ra vẻ như đang chuyện trò chờ đợi ai nhưng tay thì thủ kỹ trong áo bành tô, nắm chặt cán khẩu liên thanh. Sau cùng, ba nhân vật quan trọng nhất của toán cận vệ là Frankie Rio và hai đàn em ra ngồi trấn nơi cái bàn sát cửa ra vào. Những cặp mắt cú vọ của bọn này, vừa ngồi xuống là đã quét ra khắp các bốn phía để quan sát. Không một khuôn mặt nào, một cử chỉ nào thóat ra khỏi nhãn quan của chúng. Quan sát bằng mắt, nhưng bàn tay thì luôn luôn thủ kỹ dưới chiếc áo vét, sẵn sàng rút súng ra nổ bất kỳ lúc nào.
Kiểm soát đâu đó xong, Frankie Rio nhìn lão quản lý gật đầu ra hiệu. Lão mập nhấc điện thoại, quay lên số phòng của xếp Al Capone. Frank Nittie nhấc máy, giọng lão mập rất kính cẩn:
– Mời xếp xuống, tất cả đã sẵn sàng.
Frank Nittie mở cửa, như thường lệ, thò cái đầu ra ngoài hành lang quan sát. Ở cuối mỗi hành lang là một cầu thang hình vòng cung đưa xuống lầu dưới. Tốt, thằng gác khu vực này đang đứng yên lặng nơi đó trong bóng mờ. Đã từ lâu, Frank Nittie có vẻ không vừa ý về cái hành lang hơi tối này. Nó định bụng sẽ cho bắt lại cái dàn đèn nhưng chưa có dịp. Hành lang gì mà tối quá, lỡ có thằng nào ôm súng đứng chờ thì khó mà thấy được. Cẩn trọng chút vậy thôi chứ đây là đại bản doanh, là bộ tư lệnh được trên 20 tay súng sừng sỏ nhất của giới anh chị Hoa Kỳ canh gác, một con muỗi bay còn được để ý thì làm gì có chuyện sợ thằng nào xâm nhập? Nhưng trong cái nghề …bắn và bị bắn này, cẩn thận vẫn luôn luôn là thượng sách, Frank Nittie không bao giờ coi thường bất kỳ một chi tiết nhỏ nhặt nào. Nó sửa lại cây súng đeo dưới nách, thong thả bước ra ngoài. Quan sát một vòng xong nó đứng chấn ngay cửa, quay lưng về phía thằng gác, cặp mắt dán chặt vào khoảng hành lang có chút ánh đèn gần cầu thang phía trước chờ xếp bước ra.
Nếu Frank Nittie quay lại lúc ấy, nó sẽ nhận ra thằng gác hành lang đang từ từ đưa tay gỡ từng cái nút một của chiếc áo bành tô dày cộm, rồi bình thản kéo ra một cây tiểu liên Tommy Gun. Không gây một tiếng động, John Alario khéo léo nhấn băng đạn tròn 50 viên vào súng, thò tay tắt luôn cái ngọn đèn hành lang trên đầu mình. Cái hay là thằng này nhét băng đạn vào súng mà ngay cả đến một tiếng clắc cũng không ai nghe được. Tên anh chị lầm lì tiến tới đàng sau Frank Nitti, từng bước một, rất nhẹ nhàng như một con mãnh hổ đang đi đến vồ mồi.
John Alario, còn được giới giang hồ gọi là “John Tommy gun” nhờ tài bắn tiểu liên chính xác, vốn là thuộc hạ cũ của Jim Colosimo nhưng bị xếp Al Capone mua đứt cách đây chừng hai năm sau một vụ sì căng đăng lãng nhách. Nó tằng tịu với một em điếm gốc ở New York. Mối tình rẻ tiền này mới đầu tưởng chỉ là tạm bợ, là niềm an ủi ngắn của một chiến sĩ Mafia sừng sỏ như nó. Nhưng sau sáu tháng, John Alario, người đã sống sót sau bao trận đánh lớn nhỏ khắp hang cùng ngõ hẻm của Chicago bị em điếm rẻ tiền quất sụm: Nó đâm ra mết em thật tình. Hai đứa dành dụm chút tiền rồi bỏ nghề, dọn về miền Tây buôn bán làm ăn, sống một đời lương thiện. Ngày lên đường từ giã, trùm Jim Colosimo, vốn xuất thân nghèo hèn, ôm lấy John Alario nhắn nhủ nhiều chuyện. Ông trùm chúc nó may mắn, và hẹn nếu cần gì cứ việc gọi về đây, ông sẽ giúp đỡ. Hành trang của John Alario ngày lên đường chỉ có vài ngàn đô la và một vật kỷ niệm còn lại duy nhất của những năm tháng giang hồ: Cây Tommy gun yêu quý.
Nhưng cuộc đời thường thường ít khi xảy ra như ý mình muốn. Nhảy vào nghề bán Pizza thấy không khấm khá, nó chuyển sang nghề lái xe truck chở hàng đi xa. Một ngày nọ, khi chuyến đưa hàng bị hủy bỏ, nó trở về nhà bất thần để nhìn thấy người tình yêu quý, người vợ hoàn lương của mình đang ôm ấp một tình nhân khác.
Máu giang hồ nằm trong đáy trái tim đã lâu liền nổi dậy đùng đùng. Cây Tommy gun đã cất kỹ trong rương mấy năm nay được nó lôi ra xử dụng lại. Thằng đàn ông vô phúc bị nó bắt đứng sát vào tường, rồi chĩa họng cây Tommy gun vào của quý nạn nhân bóp cò. Giết xong tình địch, nó kê cây Tommy Gun vô đầu còn vợ lăng loàn, tính phơ luôn thì nghe tiếng còi xe cảnh sát hụ lên ở đằng xa đành ra xe vọt lẹ. Lúc cảnh sát đến, ai nấy đều lạnh người khi nhìn thấy cái xác trần truồng mất hẳn phần dưới của nạn nhân. Còn con vợ nó thì hãi quá, phải đưa vô nhà thương điều trị mà cả đến mấy ngày sau vẫn chưa nói được một lời. Hồ sơ còn ghi là cảnh sát đếm được gần 15 cái vỏ đạn bay khắp nơi trong phòng ngủ.
Trở về lại Chicago, John Alario cảm thấy nhiều chuyện đã đổi thay trong cánh Jim Colosimo. Mọi quyền hành và xếp đặt đều nằm trong tay của Antonio. Ông trùm Jim Colosimo thời gian sau này ít tham dự việc làm ăn. Dĩ nhiên Antonio đón nhận lại John Alario, nhưng chỉ cho nó cái chức khiêm nhường là gác xòng bạc. Không phải vì Antonio không biết dùng người nhưng cái cáo thị tầm nã của cảnh sát liên bang về vụ sát nhân vừa rồi của John Alario bay đi khắp nơi như bươm bướm. Khôn ngoan và quỷ quyệt, Antonio không muốn dùng một thằng có án lệnh tầm nã vào những chức vụ quan trọng. Một chiến sĩ Mafia có thể giết hàng trăm mạng, giết càng nhiều càng …nổi tiếng nhưng tuyệt đối không bao giờ để lại vết tích hay một nhân chứng. Giá như nó còn thì giờ cho luôn con vợ phản trắc vài phát vào đầu thì bây giờ chắc được trọng dụng. Antonio không muốn thằng John Alario, nếu bị bắt sẽ trở thành một thứ hàng mặc cả cho cảnh sát. Dễ lắm, nếu bọn cớm liên bang tóm được thằng John Alario, họ có thể dùng cái tội sát nhân cũ rích của thằng này để mặc cả đòi nó khai cho bằng hết những gì nó biết về thế giới bàn tay đen. Một hai năm thì chưa đến nỗi nào chứ hai chục năm tù xấp lên thì dù có cứng tới cỡ nào cũng gẫy như thường. Thằng John Alario chưa chắc phải là típ phản thùng nhưng nếu phải chọn lựa giữa vài chục năm tù và một sự hợp tác với cảnh sát thì khó mà biết được nó sẽ chọn cái nào. Nên đề phòng cẩn thận vẫn hơn.
Lúc ấy là thời bình của giới giang hồ Chicago. Giang sơn và khu vực làm ăn được chia cách rõ ràng. Thủ lãnh của các phe họp nhau vài tháng một lần để xác định những ranh giới làm ăn của mình vài giải quyết các vấn đế rắc rối lặt vặt nếu có. Khi nghe tin thằng “Tommy Gun” trở về lại với giới giang hồ, xếp Al Capone lo lắm. Xếp không lạ gì thằng này, còn phải nói là chịu nó mới đúng, chỉ tiếc nó đã là người của Jim Colosimo. Đã mấy tháng nay, xếp âm thầm chuẩn bị chiến tranh với cánh của ông trùm Jim Colosimo nên đang tìm mọi cách để phân tán lực lượng kẻ thù. Bây giờ tự nhiên thằng khốn này ở đâu dẫn xác về đầu quân cho Jim Colosimo, cái gáy của xếp cảm thấy …lành lạnh. Thằng này bắn ít khi trật. Nhưng khi nghe tin nó bị “thất sủng” ở cánh Jim Colosimo, xếp như mở cờ trong bụng, gọi Frank Nittie lại giao nhiệm vụ chiêu hồi thằng này. Cũng như Antonio, Frank Nittie có vẻ sợ cái cáo thị tầm nã của tụi cảnh sát liên bang, phản đối, nhưng xếp Al Capone lắc đầu:
– Một tay súng tiểu liên cừ khôi như nó không dễ kiếm. Nếu không chiêu dụ nó được, phải tìm cách “giao” nó cho tụi công an liên bang. Mình đang chuẩn bị đánh lớn, cần nhiều nhân tài.
– Nếu nó về với mình nhưng lại bị kẹt với pháp luật?
Xếp đã có sẵn câu trả lời:
– Nếu nó bị bắt, tụi Colosimo kẹt hơn mình. Xưa nay nó là lính của Colosimo thì nó chỉ biết chuyện trong nhà của bọn kia, biết gì về tổ chức của mình mà khai? Đằng nào mình cũng lợi hơn tụi kia, mà cũng lợi cho nó nữa. Tao biết tài giỏi như nó sức mấy mà chịu ôm súng gác xòng bài mãi? Cho nó nhập toán thằng Frankie Rio, giao cho nó những công tác dữ dội nhưng ít quan trọng và cho người theo sát nó, khỏi sợ gì cả.
Một tháng sau, nhờ Frank Nittie móc nối, John Alario đào ngũ cánh Colosimo để về ăn lương của xếp Al Capone. Nhập toán của Frankie Rio, toán đao phủ lừng danh nhất của giới anh chị Chicago thời đó, John Alario chứng tỏ sự ước tính của xếp Al Capone không lầm. Nó bắn đâu trúng đó, bắn đẹp, bắn lì, càng bắn càng hay. Trong vòng sáu tháng, nó trở thành tên đàn em tín cẩn nhất của Frankie Rio.
Rồi lúc chiến tranh bắt đầu, John Alario đã trở thành một dũng tướng của xếp Al Capone. Vì nó biết rõ tất cả những sào huyệt của Jim Colosimo, nên xuất trận lần nào là thắng trận đó. Công trạng lẫy lừng như vậy, nhưng ngoài những tiếng khen của xếp Al Capone, nó chẳng được thưởng một ân huệ đặc biệt nào hơn lúc trước. Không phải thằng ngu nên lập thêm vài công trạng nữa mà chẳng thấy ăn thua gì, John Alario bắt đầu bất mãn. Nhưng nó khéo léo, không để một ai biết nỗi lòng mình. Rồi một ngày, John Alario vô tình nghe được Frank Nittie nói với Frankie Rio về nó như sau:
– John Alario là một tay súng thượng thặng nhưng đã hết thời rồi. Nó là một thứ “Expenditure” chứ không phải là một “Asset”. Giao cho nó những nhiệm vụ khó khăn nhưng đừng gần gũi nó.
Đó là những giọt nước cuối cùng làm đầy ly nước. John Alario quyết định từ giã xếp Al Capone kể từ ngày đó. Nó bắt liên lạc lại được với cánh Colosimo. Ông trùm cho biết ông rất hân hoan đón nhận đứa con hoang trở về, mọi tội lỗi sẽ được tha thứ. Nhưng ông thòng thêm một câu là ngày trở về, nếu nó đem theo tờ báo Chicago Tribune có đăng hình của xếp Al Capone … bị bắn chết tươi để làm quà cho ông trùm thì ông rất lấy làm hoan hỉ.
John Alario là một đứa dám nói và dám làm. Nó nhất định dâng món quà quí giá đó cho ông trùm Colosimo. Ở trong toán của Frankie Rio là toán “ngự lâm quân” nên nó có dịp gần gũi xếp luôn. John Alario xếp đặt kế hoạch tỉ mỉ, tính ra tay mấy lần nhưng đều phải bỏ dở vì xếp và thằng phụ tá Frank Nittie ranh mãnh hơn quỷ sứ, không có cách gì hành động kịp. Và chiều hôm nay, John Alario nghe tin ông trùm bị bắn gục một cách thê thảm. Kế hoạch này do Frank Nittie soạn thảo kín đáo, đến ngay cả Frankie Rio chỉ biết lờ mờ, làm sao John Alario biết được. Nếu John Alario “ngửi” được cái mùi này trước, thì chẳng những ông trùm Jim Colosimo đã không chết mà thằng Frank Nittie chắc chỉ còn nước mướn xe truck 18 bánh đi … chở xác đàn em mình về. Khi nhận được hung tin, John Alario làm bộ ra vẻ tươi cười, rót vài ly rượu chúc mừng Frank Nittie rồi dọt ra …cầu tiêu ngồi suy nghĩ tính toán một mình. Thành thật mà nói, ông trùm Jim Colosimo đã đối xử với nó như bát nước đầy. Làm sao nó quên được cảnh ông trùm ôm nó hôn nhắn nhủ tận tình ngày lên đường từ giã để đi xây dựng cuộc đời mới với người vợ trẻ. Dáng điệu, lời nói, nhất nhất đều là dáng điệu của một người cha đối với đứa con khi nó lên đường đi học ở miền xa. Ngày nó trở về, nghĩ cho cùng, nó đã là một người khác, đã trở thành một món nợ hơn là một thứ tài sản cho tất cả mọi người như thằng Frank Nittie đã nói. Vậy mà ông trùm vẫn bao che, cho nó một chân gác sòng bạc. Tuy chức vụ này một chức vụ hạng bét nhưng người như nó, còn mong gì hơn. John Alario cảm thấy hối hận. Nếu nó đừng nghe lời thằng Frank Nittie để đào ngũ thì trận chiến vừa qua, với cây Tommy Gun thần sầu của nó chắc gì tụi Al Capone đã làm được trò trống gì? Cơ sự đã đến nỗi này, John Alario thấy mình tiến thoái lưỡng nan. Ở lại thì trước sau gì cũng bị đào thải, còn đi thì biết đi về đâu?
Gục mặt xuống bồn để rửa cho tỉnh táo, John Alario có linh cảm nếu nó muốn làm một chuyện gì, phải quyết định sớm. Nhớ lại bản mặt của thằng Frank Nitti, nó nhận ra một điều là kể từ giây phút đầu tiên gặp gỡ, nó đã không ưa cái bản mặt điếm chảy của thằng này. Người ngợm gì coi nham hiểm và hung ác như quỷ diêm vương địa ngục. Lại thêm cái cặp môi xám xịt thô bỉ, lâu lâu mới sủa ra những câu nhát gừng, không bao giờ dám nhìn thẳng và mắt người đối thoại. John Alario có cảm tưởng rằng cái hạng thằng khốn nạn này, vì chuyện làm ăn, nếu cần phải quay súng để bắn cả vợ con mình, nó sẵn sàng ra tay không chút xót thương hay suy nghĩ. Tuy là dân giang hồ, nhưng làm đĩ mười phương thì cũng nên chừa một phương, thằng Frank Nittie này chẳng thấy nó chừa một phương nào hết.
Ra khỏi cầu tiêu, John Alario kiếm một trạm điện thoại, bắt liên lạc với “hộp thơ” của Antonio. Nhắn xong mẫu tin, nó bỏ xuống tầng dưới kiếm một chỗ trong nhà hàng ngồi. Là một trong những tay súng tín cẩn trong toán của Frankie Rio, được giao trọng trách phòng thủ đại bản doanh, nó coi như đã nắm chắc được vận mạng của xếp Al Capone trong tay mình. Nếu không có thằng Frank Nittie với cây Colt .45 theo sau đít xếp như bóng với hình thì mọi chuyện đã xong từ lâu. Như mọi dân chơi thiện nghệ khác, John Alario biết đo lường cẩn thận trước khi xuất chiêu. Phụ tá Frank Nittie xưa nay nổi tiếng trong giới giang hồ nhờ tài thiện xạ. Nó vẫy Colt chính xác như người ta để bi vào lỗ. Cái đặc biệt là mỗi lần bắn, nó luôn luôn lảy cò hai cái một lần. Đã nhiều lần, cảnh sát Chicago vô cùng ngạc nhiên và … lạnh xương sống lúc quan sát thấy hai lỗ đạn trên xác chết nạn nhân thường cách nhau chỉ có một inch. Nguyên sở cảnh sát Chicago, ngay cả bắn bia chưa có ai để đẹp như vậy. Mà đạn chỉ chịu … chui vào hai nơi: Hoặc là vô sọ hoặc là vô tim. Tuyệt đối không bao giờ nó thèm vẫy bậy bạ vô tay vô chân người ta. Bắn không chết thì bắn làm gì, Frank Nittie hay bảo đàn em như vậy. Giới giang hồ ai cũng biết chuyện này, và dĩ nhiên, xếp Al Capone biết nó hơn ai cả. Xếp ít khi đi đâu mà không đem theo thằng Frank Nitti. Chẳng những bắn hay bắn lẹ, nó còn tính toán rất mau, đã cứu tử xếp không biết bao nhiêu lần. Ngoài thằng Frank Nittie ra, chắc ăn, xếp còn tăng cường thêm một lô đàn em của Franki Rio. Tụi này tuy xử dụng tiểu liên không đẹp bằng Alario, nhưng năm họng súng cùng khạc đạn một lượt, dù có dỡ đến đâu thì cũng phải có một họng … bắn trúng mình. John Alario lắc đầu không dám nghĩ thêm…
Mãi suy nghĩ, ly cà phê nguội ngắt lúc nào không hay. Nó vẫy tay làm dấu gọi thêm cà phê. Người hầu bàn già xuất hiện, đổi cho John Alario một ly mới, rồi cúi đầu nói thật nhỏ đủ để John Alario nghe:
– Cái hình của Al Capone trên báo đáng giá 5 chục ngàn đô!
John Alario giật mình đánh thót một cái. Lão hầu bàn, mặt lạnh như tiền, quay gót trở vào trong không nói thêm một câu. Đích thị đây là người nhà của Antonio vì cái ám hiệu “hình của xếp Al Capone trên báo” chỉ có ông trùm Colosimo, Antonio và nó biết. Câu này có nghĩa: “Cái hình của xếp Al Capone bị bắn chết tươi đăng trên báo”. John Alario lại nghĩ đến 5 chục ngàn đô tiền thưởng quá lớn mà ngay cả một tay anh chị lâu năm trong nghề như nó cũng không dám mơ ước. Tự nhiên, nó thấy trong lòng tràn ngập hứng khởi. Xong cú này thì có thể giải nghệ được, thề không bao giờ rờ tới cây Tommy Gun nữa. Antonio đã gài được người vào nơi quan trọng nhất của xếp Al Capone tất phải có nhiều màn ngoạn mục sắp xảy ra. Cái nó cần biết bây giờ là ngoài lão bồi khách sạn vô dụng này, không hiểu có tay súng nào đang lẩn trốn đâu đây để giúp nó không? Thôi thì cứ tà tà ngồi đây chờ xem động tỉnh và suy nghĩ lập kế hoạch thịt xếp Al Capone.
Ngay lúc đó, Franki Rio và đám lâu la xuất hiện nơi nhà hàng. Nhìn cách đi đứng hùng hổ và bố trí nhân viên của tụi này, John Alario biết ngay rằng đã đến giờ ăn uống của xếp. Frankie Rio nhìn thấy nó liền quát lên ỏm tỏi:
– Thằng ôn dịch. Mày đang đi nghỉ hè hả? Thiên hạ “đại loạn”, bắn nhau rầm rầm mà mày ngồi làm con khỉ gì ở đây? Xếp xuống ăn bây giờ. Ông làm ơn xách cây Tommy Gun của ông ra làm an ninh vòng ngoài cho tôi nhờ. Mau, đi lẹ lẹ không tao giộng cho một đạp bây giờ!
Nghe đến dây, trong đầu John Alario bỗng lóe lên một ý tưởng …chết người. Xong rồi, kế hoạch làm thịt xếp Al Capone rặn mãi mấy tháng không ra bây giờ tự dưng lóe lên trên trí nó. Dễ quá mà sao lâu nay nghĩ không tới, xếp Al Capone đã tới giờ đền tội. Nó đứng vụt dậy bước ra khỏi nhà hàng. Frankie Rio nhìn theo, dường như đang còn tức tối về cái sự vô tư và tà tà của thằng này, than thở với thằng đàn em:
– Cái thằng “Tommy Gun” này quả là hết thời. Lúc này tao thấy sao nó ngơ ngáo như người mất hồn. Hèn gì Frank Nittie phê điểm nó tệ quá.
Với kế hoạch thịt Al Capone đã có sẵn trong đầu, John Alario mở tủ, lôi ra cây tiểu liên Tommy Gun. Nó kéo cơ bẩm, nhét một viên đạn vào nòng súng. Tay chơi súng chuyên nghiệp luôn luôn làm vậy để khi hữu sự, chỉ cần nhét băng đạn vào là bóp cò, khỏi phải mất thì giờ lên đạn hay …quên lên đạn. Nó lấy một băng đạn tròn, đưa lên đưa xuống để ước lượng sức nặng. Tốt, nặng như vầy thì băng đạn phải đầy ắp. Cho chắc ăn, nó dùng ngón tay cái ấn xuống viên đạn trong băng để đo lường sức co dãn của lò xo rồi nhét vào túi trái của cái áo bành tô. Chưa hết, nó lấy thêm một băng nữa cũng làm y như vậy, bỏ vào túi phải rồi kiểm soát cây liên thanh lại lần chót trước khi đeo vô nách. Đâu đã xong, thời buổi này biết bắn liên thanh thì phải biết xài lựu đạn. Trên đời, không thứ trái nào đẹp bằng trái …lựu đạn. Nó nghĩ mà khâm phục thằng nào đã chế ra trái lựu đạn là một thứ đồ chơi hữu dụng vô cùng. Hữu dụng cho cả người ném và bị ném. Rút chốt ra mà ném liền thì dễ bị kẻ thù chụp rồi ném trả lại. Cú này nó đã bị một lần xém chết hồi mới ra nghề, nhớ lại vẫn còn thấy lạnh gáy. Còn rút chốt mà lính quýnh để lâu quá thì cũng chết banh xác. Xừng xỏ như nó, phải canh làm sao khi trái lựu đạn ném ra vừa tới đích thì cũng vừa nghe đánh ầm một tiếng, có muốn đưa tay ra bắt hay chạy trốn cũng không kịp. John Alario moi ra hai trái lựu đạn, sửa cái khoá lại ngay ngắn một chút cho dễ rút rồi bỏ vào túi. Cái áo bành tô bây giờ xem chừng đã nặng lắm. Khóac cái áo nặng nề vào, John Alario ra đứng trước gương kiểm soát lại dung nhan mình. Ngoài trừ cái phần hơi cồm cộm lú ra một chút dưới nách mà phải là dân chuyên nghiệp mới nhận ra, nó coi thấy được lắm, đâu có thua gì một đại thương gia đi chơi đêm ở Chicago. Nó để ý sắc mặt mình xem thử có tĩnh như mọi ngày để làm cú này không. John Alario biết rõ đám đàn em của xếp Al Capone. Chúng nó không bao giờ tin ai cả và đứa nào tinh ranh như quỷ, một sắc mặt khác thường, một hành động thừa thãi là có thể bị lộ liền. Cũng không đến nổi tệ. Da mặt nó có hơi tái chút xíu nhưng dưới ánh đèn thằng nào nhận ra?
Ra khỏi phòng, John Alario hít một hơi thở dài. Trước khi làm những cú gì lớn nó tập được cái thói quen hay hít thở như vậy để giữ cho tâm hồn tĩnh táo. Vừa đi, nó vừa ôn lại kế hoạch tấn công. Để coi, nếu nó đuổi được hai thằng gác hành lang đi thì công việc coi như xong một nửa. Gì chứ đứng trong bóng tối với cây Tommy Gun mà chờ địch thủ thì đâu có kẻ nào sống sót nổi với nó, dù kẻ đó là tay Colt ngoại hạng như Frank Nittie hoặc 30 năm kinh nghiệm dao búa như xếp Al Capone. Chỉ cần một loạt thôi, tràng liên thanh đầu tiên với nhịp bắn của cây Tommy Gun thì ít nhất hơn chục viên đạn sẽ bay ra khỏi nòng trước khi thằng khốn Frank Nittie có dịp thò tay rờ vào súng. Nếu xếp Al Capone đứng gần đâu đó, loạt này sẽ kéo dài cày vào người xếp luôn. Bảo đảm nó sẽ gởi cái vào cái xác mập thù lù của xếp không dưới mười viên đạn. Như mọi viên đạn dùng trong súng của John Alario, mười viên này là loại đạn đặc biệt, đã khứa sẵn đầu, bị tống đi bởi một số thuốc đạn “overboost” do chính tay nó nhồi thì sức tàn phá phải biết. Cái ngực đầy những mỡ của xếp sẽ bị nát bấy như tương là cái chắc, không chừng lại chẳng thấy máu mà chỉ thấy mỡ người văng tung tóe tùm lum. Sau loạt đó, John Alario dự tính, toán của thằng Frankie Rio sẽ nhào lên nhưng đâu có sao, nó còn tới hai băng đạn và hai trái cà na kia mà. Hơn nữa, tụi này biết tài bắn tiểu liên như để bi vào lỗ của John Alario, sức mấy dám liều mạng ẩu? Nó chỉ cần quất sụm vài thằng ngu ngốc có máu anh hùng tàu dám “xung phong” lên đầu tiên, rồi chơi hai trái cà na xuống dưới nhà là thiên hạ sẽ đại loạn, đèn đuốc tắt tối thui. Hỗn loạn như vậy, cho kẹo cũng không có thằng nào dám rượt theo nó. Vả lại, nếu xếp Al Capone đã bị bắn chết nhăn răng ra rồi thì rượt theo để làm gì? Ăn cái giải gì mà rượt theo? Lúc đó, nó sẽ thoát khỏi khách sạn Lexington này dễ dàng như trở bàn tay…
Như một khách nhàn nhã đi ăn đêm, John Alario huýt sáo miệng, hai tay thọc sâu vào túi áo bành tô, lầm lũi tiến về phía cầu thang, nơi dẫn lên đại bản doanh của xếp Al Capone. Chỉ cần một cái liếc mắt, John Alario nhận ra hai thằng gác được Frankie bố trí: Một ở cầu thang và một ở cuối hàng lang. Đi ngang thằng gác cầu thang, John Alario dừng lại vừa nói vừa ngáp vặt, ra cái điều là đã khuya quá rồi mà Frankie Rio vẫn chưa cho đi ngủ, còn hành lên hành xuống với cái ca đổi gác bất thường này:
– Frankie biểu tao lên thế mày. Dọt đi kiếm gì ăn đi, chừng nửa đêm về lại.
Mặc dù mới đổi ca gác, nhưng đã quen với những cái lệnh lạc kỳ quái của Frankie Rio, thằng gác gật đầu bỏ đi xuống, không thèm thắc mắc một câu. Mấy ngày nay đấm đá tùm lum, mệt bở hơi, phải dọt về nhà để thăm con mèo và “bốc hốt” một chút chớ. John Alario tỉnh bơ nhắn thêm: “Nhớ đừng đi lâu quá nghe cha nội, Frankie hỏi bất tử tao không biết đường nào trả lời”. Xong một thằng, còn đứa đứng cuối hành lang nữa là có thể tính “chuyện lớn” được. Nó móc túi rút gói thuốc, cắm một điếu vào mép, tà tà leo hết mấy bậc thang. Tim nó bây giờ đập thình thịch, bàn tay thọc trong túi aó bành tô thấy đã hơi run run. Nhưng với bao nhiêu lăn lộn trong nghề, nó cố trấn tĩnh được ngay. Cứ rờ vào cái chất thép lạnh lạnh của trái lựu đạn trong túi là nó thấy… khỏe khoắn và tươi tỉnh trong người liền.
Khi thằng gác hành lang nhìn thấy John Alario, nó nhíu mày:
– Mày lên đổi tao?
John Alario càu nhàu:
– Sáng tới giờ bận hàng trăm việc, tính dọt về thì xếp bắt lên đây. ĐM cả mấy ngày nay chưa sờ được cái mông đít của con đào già, cứ cái đà này thì …vợ nó cũng bỏ mình mà đi, nói gì tới đào. Mày đứng đây lâu chưa?
– Chừng vài tiếng.
– Bố khỉ, sớm vậy tại sao Frankie biểu tao lên đổi mày?
Thằng kia làm một đường nhún vai, không biết trả lời sao. John Alario thúc nhẹ vào hông nó:
– Dọt đi, Frankie bảo tao chịu trách nhiệm hành lang này.
Thế là thằng gác hành lang rút lẹ. Nó khoái chí vì được nghỉ bất ngờ, vừa huýt sáo vừa nhảy hai nấc một xuống cầu thang.
Bây giờ, trong ánh đèn mờ của hành lang, chỉ còn lại một mình John Alario với cây Tommy gun …chết người trong áo bành tô. Thấy đăng đắng nơi miệng, John Alario nuốt nước bọt và khám phá ra là mình đã cắn nát đầu điếu thuốc lúc nào không biết. Miệng mồm nó bây giờ toàn là bã thuốc lá. Thì ra là ở những lúc thập tử nhất sinh của cuộc đời, dù đã chuẩn bị kỹ bao nhiêu vẫn không thoát khỏi những hớ hênh nhỏ. John Alario nhổ cái toẹt vào tường, đưa tay chùi miệng rồi đứng im lặng chờ Frank Nittie và xếp Al Capone bước ra.
Khi thấy phụ tá Frank Nittie mở cửa, thò cái đầu ra quan sát một vòng rồi quay đi hướng khác, John Alario biết giờ cuối cùng của hai thầy trò Al Capone đã tới. Nó tà tà tiến tới đàng sau lưng Frank Nitti…
Ở ngay cái giây phút thập tử nhất sinh đó của xếp Al Capone, Frankie Rio đang ngồi trong nhà hàng với hai đàn em bỗng giật nẩy mình lên khi nhìn thấy thằng gác hành lanh lù đù dẫn xác vô. Frankie Rio nhíu mày, cổ kim chưa có chuyện … hoang đường như vầy. Thằng này chắc muốn chết. Nhiệm vụ phòng vệ “cung điện nhà vua” là nhiệm vụ chết vẫn không được sao lãng, làm gì lại có chuyện bỏ gác đi khơi khơi như vầy? Xưa nay dưới trướng nó có thằng nào được giao bổn phận canh gác mà lại lặn xuống nhà hàng để ăn uống một cách …chết người như thế này đâu? Kỷ luật kỷ cương đi đâu hết mẹ nó rồi? Frankie Rio gầm lên:
– Thằng chết đâm chết chém này, mày làm Fuck gì mà dẫn xác xuống đây?
Thằng nọ chưng hững:
– Ủa, thì chính xếp kêu thằng John Tommy Gun lên thế tôi mà?
Chỉ nghe tới đó là Frankie Rio cảm thấy toàn thân mình như bị điện giựt, biết ngay là thằng John Alario đang làm phản. Nhanh như chớp, nó cùng hai thằng cận vệ đứng dậy, rút súng chạy ào ra khỏi quán. Có em bồi cái đang đi lang thang bị nó ủi cho một cái ngã chõng gọng trên sàn nhà, váy tốc lên lòi cái quần xì líp trắng bóc. Từ tầng dưới, nó có thể nhìn thấy John Alario với cây Tommy Gun đang tà tà tiến tới đàng sau lưng Frank Nitti. Cả ba dùng hết tất cả sức lực của mình phóng như bay lên lầu.
Nghe tiếng chân người chạy bình bịch trên cầu thang, tinh ranh như thằng John Alario, phải biết là âm mưu mình đã bị bại lộ. Nó xoay người lại để vừa vặn nhìn thấy một thằng cận vệ của Frankie Rio phóng lên hết bậc thang cuối, hai tay thủ cây tiểu liên chưa kịp bấm cò.
Thằng ngu, mày chạy lên trước thì …chết trước. John Alario nhảy lùi vào tường, họng súng nó khạc lửa. Chỉ nghe một loạt đạn vang lên là thằng cận vệ của Frankie Rio bị đẩy bật ngữa, té ngược xuống cầu thang, cây tiểu liên chưa kịp bắn viên nào quay long lóc trên sàn. Ít nhất là 4 phát vô ngực, chịu gì nỗi. Đã biết tài bắn của John Alario nên khi nhìn thấy đàn em bị ăn đạn lăn vòng vòng xuống cầu thang sau loạt súng nổ, Frankie Rio và đứa còn lại vội vàng hụp người núp theo cầu thang. Cả hai đứa, một cây tiểu liên và một Colt .45 chĩa lên lầu bóp cò lia lịa.
Bóp …cho vui để mua thì giờ chờ phụ tá Frank Nittie trả đũa, có thấy nó đâu mà bắn? Đạn bay rào rào gây đổ vỡ khắp nơi nhưng đúng y như sự ước lượng của Frankie Rio, yếu tố bất ngờ của John Alario đã mất. Kể từ đây, phần chủ động thuộc về phía bên kia.
Loạt đạn nổ chát chúa trong một đại khách sạn vào cái giờ nhộn nhịp vui vẻ này làm tất cả mọi người chới với. Các thực khách trong nhà hàng, nghe tiếng súng gần quá, như một cái máy hoảng hốt tranh nhau chui xuống gầm bàn. Mau nhất là mấy ông nhạc công và ca sĩ. Mới nhắm mắt thả hồn theo tiếng đàn như thể say mê nghệ thuật tưởng đến trời sập cũng không biết vậy mà chỉ sau vài tiếng súng là mấy thày lặn mất tiêu. Lặn mau hơn cả những khách hàng ở dưới làm ai nấy ngạc nhiên vô cùng. Có gì đâu, mấy anh nhạc công này lặn mau vậy là nhờ kinh nghiệm của bao nhiêu đêm hát xướng ở các phòng trà Chicago. Ai có lạ gì cái cảnh thanh toán nhau của giới giang hồ trong các tiệm nhậu? Nhiều khi mới chúc nhau một ly, người kia chưa kịp uống ngụm nào là đã thấy một con chó lửa lòi ra chĩa thẳng vô ngực mình. Đang còn kinh ngạc thì “oành òanh” hai tiếng, một người ngã gục, người kia tỉnh bơ làm hết ly rượu rồi tà tà bước ra…
Quang cảnh trong nhà hàng bây giờ ngỗn ngang, bàn ghế đổ tùm lum, ly tách kêu loảng xoảng vì thiên hạ tranh nhau chạy tìm chỗ nấp. Có nhiều bà sợ quá, kêu rú lên….
Nhưng những tiếng súng này cũng đã cứu tử cho Frank Nittie và xếp Al Capone. Lúc ấy xếp vừa tính bước ra ngoài thì Frank Nittie đã lẹ tay đóng ập cửa lại, đồng thời, nó xoay người lại về phía sau với khẩu Colt .45 đã nằm sẵn trong tay.
Loạt liên thanh thứ hai của John Alario quạt xuống cầu thang, vào hướng có ánh lửa lóe lên từ hai họng súng. Không bỏ lỡ một giây đồng hồ, Frank Nittie bóp cò liền hai phát. Với khoảng cách gần như vậy, nó ít khi nào bắn trật. Hai phát Colt .45 bắn vào giữa ngực John Alario vào đúng lúc thằng này cũng đương quay họng cây liên thanh trở lại tính làm thịt phụ tá Frank Nittie. Chỉ chậm hơn Frank Nittie một chút xíu, nhưng cái “chút xíu” này đã quyết định cuộc đời của tay súng giang hồ. John Alario tung cây Tommy Gun lẫy lừng của cuộc đời anh chị xuống sàn, lảo đảo ôm lấy vết thương nơi ngực. Rất bình tĩnh, Frank Nittie nhắm cây Colt .45 vào cái khoảng ngực bê bết máu của nạn nhân, nổ thêm hai phát nữa. Chỉ hai phát thôi, nhưng dân giang hồ biết tài bắn của nó mà: Hai phát vào tim, viên này cách viên kia chỉ có một inch.
Tay anh chị lỡ thời bị đẩy ngã chúi vào tường, trợt từ từ xuống rồi trở thành một xác chết bất động trên hành lang. Máu từ ngực chảy qua lớp áo vét, qua lớp áo bành tô rịn xuống nền nhà. Lúc này, Frankie Rio và thằng đệ tử cũng vừa phóng lên lầu, kịp nghe Frank Nittie dòm nháo nhát và gắt ỏm tỏi:
– Làm ăn như Fuck! Bố trí lại, cho bố trí lại hết. ĐM đóng hết mấy cái cửa ra vào cho tao, thằng này đứng chi đây, xách cây Tommy gun của mày ra thủ cái công tắc cầu chì chính. Đ. M. nó cúp điện một cái là phe mình bắn …nhau loạn xà ngầu cho coi. Thằng nào đi đứng thấy khả nghi cứ việc bắn bỏ xác. Chẳng thà bắn lầm còn hơn …chết lầm. Coi chừng cú “Secondary” của tụi nó. Làm ăn như Fuck, mày cho tụi nó đi kiếm hai thằng chịu trách nhiệm gác hành lang đem lên đây cho tao. Mother Fuck!
Tuy miệng thằng Frank Nittie quát tháo nhặng lên nhưng cặp mắt cú vọ của nó tiếp tục nhìn ngang nhìn dọc khắp nơi. Khẩu Colt .45 lăm lăm trong tay nó, cây cò mổ đã kéo ra sẵn, chỉ chực thấy có gì nghi nghi là nó không ngần ngại thổi liền hai phát nữa vô bất kỳ ai, bất cứ cái gì. Chẳng thà bắn … lộn còn hơn là bị bắn. Chân lý của nó xưa nay vẫn vậy mà. Frank Nittie có vẻ giận dữ hơn là sợ hãi.
Hầu như ngay lúc đó, xếp Al Capone cũng xuất hiện ở ngưỡng cửa, gương mặt có hơi ngạc nhiên, nhưng tuyệt nhiên không thấy một chút kinh hãi. Tay của xếp cũng không thèm thủ một cây chó lửa cho ra cái điều ta đây cũng biết bắn súng mà lại vo ve điếu xì gà đang hút dở. Xếp lớn của dân anh chị, có gì đâu phải bấn xúc xích lên cho đàn em nó cười? Đâu phải lần đầu xếp bị địch thủ chơi những cú bất ngờ như vậy. Cuộc đời xếp là những chuổi bất ngờ và nguy hiểm nối tiếp nhau, nếu chết thì đã chết rồi, còn chưa chết thì có gì mà phải lo? Xếp lững thững bước tới bên cái xác thằng John Alario, vừa đi vừa kéo những hơi thuốc dài.
Khi tới bên cái xác chết với hai con mắt trợn trừng đầy uất hận của John Alario, xếp Al Capone có cảm giác … lành lạnh nơi gáy. Quái lạ, xưa nay xếp đã giết hàng trăm đứa mà có bao giờ xếp thấy lạnh như vầy đâu? Xếp tự nghĩ hay mình già rồi chăng? Hoặc lâu quá mình chưa tự tay bắn ai nên đâm ra thấy lạ? Mãi sau này xếp mới biết mình lạnh gáy là vì nếu không nhờ một sự tình cờ may mắn mà thằng Frankie Rio khám phá ra đứa đàn em bỏ gác đi ăn uổng ẩu tả thì chính xếp là người đang nằm trợn mắt trên vũng máu chớ đâu phải là nó? Thôi, người ta giết nhau lúc sống, nay kẻ thù đã nằm chết dưới chân, cuộc chơi đã có kết quả thắng bại, chẳng cần phải nổi giận làm gì. Có giận là giận thằng …còn sống nào đã dám cả gan chơi một cú cạn láng như vầy.
Xếp ngồi xuống bên xác chết, cúi đầu làm dấu thánh giá, sì sầm một lời cầu kinh bằng tiếng Ý. Tuy theo đạo từ thưở nhỏ, có lần đã giúp lễ và ở trong ca đoàn St. Michael nhưng đã mấy chục năm chưa đi nhà thờ và chẳng bao giờ đọc kinh đọc kệ, bài cầu kinh của thưở ấu thơ xếp chỉ nhớ được lỏm bỏm mấy đoạn. Thây kệ, nhớ khúc nào đọc khúc đó, xếp lẩm bẩm một tràng cho hết bài kinh rồi làm dấu đứng dậy. Sau câu “Xin cho linh hồn thằng …khốn này được nghỉ yên trên nước Chúa … Amen” là sắc mặt của xếp liền trở lại lạnh lùng xám xịt như quỷ địa ngục, cất giọng ra lệnh cho Frank Nittie qua hai hàm răng nghiến chặt:
– Mày gọi qua sở Cảnh Sát Chicago bảo tụi nó cho mình nửa tiếng đồng hồ dọn dẹp đã trước khi tới đây. Mày nói với lão trưởng phòng Mike Casey là tao bảo vậy.
Xếp dằn mạnh ba tiếng: “Tao bảo vậy” để cho lão trưởng phòng Mike Casey hiểu được tầm mức quan trọng của cái lệnh mà xếp vừa ban ra. Xếp tiếp tục:
– Tao muốn đích thân lão đến đây mở cuộc điều tra cho chắc ăn. Tao không muốn cái đại bản doanh này bị bọn nhà báo đói tin, tụi cảnh sát liên bang … chó chết tới moi móc tùm lum. Đem xác thằng này thủ tiêu mất tích cho tao. Dặn tụi bồi bàn và tất cả nhân viên kín mồm kín miệng. Không có chuyện gì xảy ra hết, nghe rõ chưa.
Ngừng một chút, xếp nói rất nhỏ chỉ đủ cho thằng Frank Nittie nghe:
– Chắc chắn thế nào đồng đảng của nó cũng có thằng còn trong này. Nếu khéo léo có thể bắt được. Gọi thằng Franki Rio và Mike vào gặp tao liền. Đem thêm toán của thằng Mike tới tăng cường tại đây, cho tụi nó chuẩn bị sẵn sàng, chính tao sẽ đi bắt thằng Antonio tối nay.
Frank Nittie gật đầu, nó ghi nhớ rõ ràng những lệnh lạc của xếp như một cái máy đánh tốc ký tuyệt hảo, không thiếu một chi tiết.
Đám lâu la của xếp Al Capone lúc này đã có mặt đầy đủ, vây kín khu hành lang khách sạn, không để bất kỳ ai ra vào. Xác thằng John Alario và đàn em của Franki Rio được khiêng đi rất lẹ. Máu me được một tiểu đội bồi phòng lau chùi sạch sẽ trong chớp mắt. Nếu ai để ý lắm mới nhìn thấy được những dấu vết tàn phá trên tường do mấy loạt đạn tiểu liên để lại. Nhưng ở Chicago lúc này ai mà thèm để ý những thứ vặt vãnh xảy ra trong đại bản doanh của xếp Al Capone ngoại trừ mấy thầy cảnh sát. Mà cảnh sát là “người nhà” của xếp, đâu còn gì phải lo. Cái hơi ngại là mấy chú cảnh sát liên bang, nhưng phải là thứ mới tinh vừa được gởi xuống từ Hoa Thịnh Đốn mới đáng bận tâm; còn cảnh sát liên bang mà ở Chicago lâu một chút thì cũng được xếp cho ăn ngập mặt còn ai dại dột đi điều tra bậy bạ để bị cúp lương trong thời buổi kinh tế khó khăn này. Không những bị mất nguồn tài chánh phụ trội mà lạng quạng còn có thể bị đi tàu suốt lắm. Làm ăn với giới giang hồ cũng như “trao cuộc đời cho ma quỷ”, đâu có cái màn “muốn đi thì đi, muốn về thì về…”
Những người bàng quan trong khách sạn và thực khách trong nhà hàng sau khi hú hồn vì những tiếng nổ đinh tai nhức óc, thấy mình vẫn còn … sống nhăn, đã bắt đầu lấy lại bình tĩnh, từ từ chui ra khỏi những cái gầm bàn, vừa phủi quần áo cho nhau vừa đấu láo loạn cào cào. Dân lui tới thường xuyên của đại khách sạn Lexington là những bác sĩ luật sư, những triệu phú, những tay tai to mặt bự và chính khách gộc của Chicago. Sống ở đất Mỹ vào cuối thập niên 1920 này, với luật cấm bán rượu đang được chính phủ áp dụng chặt chẽ, dù ai có vô tội đến đâu cũng biết sở dĩ mình mò đến đại tửu lầu Lexington này là để nhấm nháp chút rượu. Dĩ nhiên, đi uống rượu lậu thì không có nơi đâu được bảo vệ chặt chẻ lại có đủ thứ rượu quý đến từ khắp nơi trên thế giới cho bằng đến đại bản doanh của xếp Al Capone. Nói đúng hơn, đây là một tiểu bồng lai của hạ giới. Ngoài cái mục rượu, quý khách nếu muốn đánh bạc thì chỉ chịu khó bước qua căn phòng kế bên. Muốn đánh bao nhiêu và bài loại nào cũng có, từ máy kéo tiền cho đến các loại roulette, xí ngầu v.v. Còn, nếu sau khi nhắp vài ly rượu và xem vài màn thoát y vũ, quý khách xem chừng đã ngà ngà, cơm nhà …”cái ấy” vợ mãi đã chán, muốn tìm của lạ để thử một chút thì xin mời lên lầu. Đủ thứ gái. Từ tóc nâu đến tóc vàng tóc đen hay tóc đỏ, từ gái Pháp đến gái Ăng Lê hay gái Á Đông, khách muốn cái gì có cái đó.
Nếu ai có theo dõi tin tức trên báo chí chắc phải biết giới giang hồ Chicago đang đi vào thời kỳ cuối cùng của cuộc đại chiến kéo dài gần ba năm. Vốn đã quen với những tiếng súng, những vụ thanh toán ở Chicago, người ta không coi chuyện nổ súng hôm nay là một biến cố lớn lắm. Người ta chỉ hơi ngạc nhiên một chút vì súng đã nổ ngay trong đại bản doanh của xếp, nơi mà nhiều tay anh chị công nhận là một “thánh địa”, là nơi bất khả xâm phạm. Súng đã nổ ở “cung điện nhà vua” thì hoặc là vua sẽ chết, hoặc là thời thái bình đã gần đến, lại càng nên ăn mừng lắm. Chỉ một lúc là đâu lại vào đấy. Mấy ông nhạc công, lúc xuất hiện cũng lẹ làng chẳng thua gì lúc biến mất, ai nấy trở lại vị trí mình cười nói om xòm. Dàn nhạc cho nổi những bản nhạc thời trang, đoàn vũ nữ tha thước tiến ra múa may quay cuồng khoe đít khoe vú, rượu quý được đem ra khui ầm trời để thiên hạ chúc mừng nhau thoát nạn.
Vừa chết hụt nhưng xếp Al Capone chẳng thấy sợ hãi chút nào, chỉ bực mình là đã bị mất khẩu vị của bữa ăn thịnh soạn mừng chiến thắng ngày hôm nay. Mấy ai trên đời dù gan lì đến đâu cũng còn đầy đủ khẩu vị để ngồi nhắm dĩa tôm hùm sau khi chính mình vừa chút xíu nữa thì bị …đi mò tôm. Xếp quay trở lại văn phòng, Frank Nittie theo bén gót.
Khi tiếng súng liên thanh của John Alario nổ vang loạt đầu tiên, Glenn biết là đã có chuyện. Thực sự, từ lúc nhận lệnh Franki Rio vào ngồi làm an ninh trong nhà vệ sinh này, nó đã nghĩ là đàn anh quá lo xa, thằng chó nào dám vác mặt vào hang cọp để ăn thua với Al Capone? Nhưng Franki Rio thì lo sợ cái nhà bếp và cái cầu tiêu bởi vì, suy bụng ta ra bụng người, đi thanh toán ai nó cũng cho giấu vũ khí và xuất hiện ở một trong hai chỗ này. Đó là sở trường của Franki Rio. Cứ tà tà thọc hai tay vào túi bước vô nhà cầu, lúc vào thì là một tay ăn chơi thanh lịch, lúc trở ra thì cũng vẫn là tay ăn chơi thanh lịch, chỉ khác là nó có cầm thêm …cây súng tiểu liên chết người nơi tay. Đến chừng tự nhiên nghe súng nổ dòn dã, Glenn mới thấy Franki Rio đã không lo quá xa như nó nghĩ. Trong cái nghề dao búa này, không có cái cẩn thận nào là quá đáng hết. Glenn móc cây Colt ra thủ sẵn nơi tay nhưng chưa thèm nhúc nhích. Franki Rio có ra chỉ thị rõ ràng là nếu nghe súng nổ, thằng nào phải ở nguyên vị trí đó, cấm không được nhốn nháo chạy loạn cào cào. Đi theo Franki Rio đã lâu, Glenn biết rõ những gì phải làm. Vào đây mới hơn nửa tiếng, nó thi hành đúng chỉ thị cấp trên: Kiểm sóat coi có cây súng hay trái mìn nào của ai …để quên bậy bạ trong này không và theo dõi tất cả những khách ra vào xử dụng cầu tiêu. Thực tình, ngồi bẹp dí một chỗ hơi lâu, nó có hơi buồn ngủ cho đến khi nghe loạt đạn liên thanh bất ngờ gầm lên.
Nó nghe thêm vài loạt đạn nữa, rồi đến mấy tiếng súng lục. Tiếng súng của ai bắn mà sao nghe …điệu nghệ như của phụ tá Frank Nitti. Không bao giờ bắn bừa bãi, bắn tùm lum. Cứ mỗi lần đạn nổ là người ta luôn luôn nghe hai phát đi đôi một lần. Tốt, phụ tá Frank Nittie đã rút súng ra được thì thế nào cũng êm chuyện, Glenn suy nghĩ. Sau đó là im lặng. Kinh nghiệm cho Glenn biết cuộc chiến đã kết thúc mau lẹ mà phần thắng là về phe ta. Nếu phe ta thua thì phải còn súng nổ dài dài vì người mình nhiều quá, bắn đến sáng mai vẫn còn đạn.
Glenn chờ thêm hai phút, không nghe gì thêm, bèn nhét súng vào bụng, chậm rãi mở cửa phòng vệ sinh bước ra. Đi ngang qua phòng đợi, Glenn thoáng thấy lão Mark, bồi khách sạn thâm niên và già khụ đang chăm chú vào ống nói điện thoại công cộng, điệu bộ ra vẻ hốt hoảng sợ sệt ghê lắm. Glenn cừơi thầm, đúng là dân sinh ra để làm … bồi, súng đã im tiếng, có chó gì đâu mà phải đái ra quần như thế? Nhưng đi ngang lão, Glenn nghe thóang được một câu làm nó muốn nhảy dựng người lên. Câu nói bằng tiếng Ý, đúng giọng nhà quê Sicily:
– … không xong đâu. Lực lượng phòng thủ của Al Capone đã chuẩn bị sẵn sàng, tụi nó còn đang kéo thêm người về đây …
Glenn không tin được hai lỗ tai mình. Nếu đây không phải là đàn em của Antonio gọi về báo tin cho xếp thì ai vô đây? Phóng viên báo chí đâu có giả dạng đi làm bồi mấy chục năm để săn tin tức. Còn tụi cảnh sát liên bang thì sức mấy mà thèm chơi cái trò lẩm cẩm này. Sống ở Lexington khá lâu, Glenn đâu có lạ gì lão già này, cứ tưởng lão là ngu đần, bây giờ mới vỡ lẽ. Nó bình tĩnh tiếp tục rảo bước, không chậm mà cũng không mau. Có gì đâu mà phải vội vàng, đây là đại bản doanh của Al Capone, kiếm ra chuột mới là khó, còn tìm thấy rồi thì chuột chạy đi đâu. Điều quan trọng là phải tỉnh táo, coi có thêm đồng lỏa nào trong vụ này không đã rồi làm luôn một mẻ cho tiện.
Ra tới quày rượu, Glenn thò đầu vào dặn nho nhỏ điều gì với thằng captain. Không hiểu nó nói gì mà cái ly trong tay thằng kia run lên từng đợt. Nghe hết lời nhắn nhủ, thằng bồi pha rượu hớt hãi quay lại bốc điện thoại gọi số phòng của xếp Al Capone, vâng dạ một lúc rồi nhìn Glenn gật đầu. Glenn quay gót…
Khi đám cận vệ do Franki Rio chỉ huy dẫn lão bồi khách sạn vào trình diện xếp Al Capone, lão sợ quá đến độ không còn đứng vững, hai thằng đi bên cạnh phải xốc nách lên. Vừa nhìn thấy xếp Al Capone ngồi im lặng trên cái ghế bành lót nhung đỏ, bên trái là Mike, bên phải là Frank Nitti, lão không cầm nổi sự sợ hãi, liền …té đái ra quần. Giòng nước tiểu âm ấm chạy theo quần, rịn từ từ xuống giày. Lão biết xếp Al Capone nổi tiếng là hung thần không những chỉ vì xếp đã giết hơn trăm mạng, mà vì cách giết người của xếp tàn nhẫn và khoa học hơn thiên hạ. Xếp khoái cái câu nói của người Trung Hoa mà xếp đã nghe lõm được lúc nhỏ: “Giết một thằng tức là dằn mặt một trăm thằng.” Phải, cứ kê súng vào đầu mà phơ thì dễ quá, bắn mười thằng như vậy vẫn chưa dằn mặt được một thằng. Phải giết làm sao mà những thằng còn sống khi nghe kể lại là thấy lạnh mình rởn gáy. Giết như vậy mới đáng đồng tiền. Xếp đã từng đưa kẻ bị tử hình lên sân thượng của các nhà lầu cao chót vót, rồi …thảy con người ta xuống. Giết kiểu này vừa đỡ tốn một viên đạn vừa giúp cho cảnh sát dễ điều tra. Cứ phết đại hai chữ : “Tai nạn” hay “Tự tử” vô hồ sơ là yên chuyện. Cảnh sát Chicago trước sau đã lượm được mấy chục cái xác chết vỡ sọ vì kiểu xử tử này trong trận thư hùng của các phe vừa qua. Xếp còn nhiều, nhiều mục thanh toán kẻ thù độc đáo hơn, tùy theo tội trạng nặng nhẹ của người bị thất thế. Một cách giết người độc đáo khác của xếp là xử dụng cây gậy baseball. Hồ sơ cảnh xác Chicago có ghi nhiều xác chết bị đánh bầm dập tới độ … “Không còn khúc xương nào nguyên vẹn”. Làm bồi ở Lexington gần 10 năm, lão đã nghe quá nhiều, không ngờ rằng hôm nay đến phiên mình.
Không để lộ phản ứng, Xếp Al Capone đứng dậy, tiến về phía lão, tay cầm ly rượu:
– Mark, lão đừng có lo lắng gì hết. Lão biết tại sao tụi nó bắt lão lên đây không?
Lão Mark nói không ra hơi, líu ríu gật đầu, chỉ chực đón một cú giộng như trời giáng vào mặt. Nhìn cái bàn tay hộ pháp của xếp với những bắp thịt nổi lên cuồn cuộn ở bắp thịt thì biết sức mạnh của xếp cỡ nào. Không chừng dám bay mất tiêu hàm răng lắm. Lão Mark ú ớ không nói lên lời.
Nhưng rất điềm đạm, xếp thong thả tới gần bên lão, chỉ vào cái vũng nước tiểu nhỏ dưới chân lão:
– Al Capone không phải như người ta đồn bậy bạ đâu. Lão thấy không, lão đái trong phòng tôi mà tôi có nói gì đâu?
Xếp quay nhìn Frank Nitti:
– Mày lấy cho ông Mark một ly cognac hảo hạng để ông ta tỉnh táo nói chuyện với tao.
Nhận ly rượu trong tay Frank Nitti, dù đã dùng cả hai tay và cố gắng hết sức, cái ly trong tay lão run lên bần bật, rượu văng tung tóe ra ngoài, ướt đẫm cả áo. Khi đưa lên tới miệng, ly rượu chỉ còn phân nửa. Lão làm một hơi cạn sạch. Lão cần chút men rượu để chiến đấu với nỗi sợ hãi.
Xếp Al Capone lộ vẻ hài lòng. Trận đánh cuối cùng với Antonio coi như xong một nửa. Lâu năm trong nghề, xếp biết người như lão Mark khỏi cần tra tấn cũng moi được tất cả mọi chuyện. Cái cần nhất bây giờ là phải làm cho lão bình tĩnh thêm chút nữa. Nếu sợ quá có thể lão quên nhiều chi tiết quan trọng rất cần thiết cho cuộc phản công của xếp.
Chờ cho lão Mark uống hết ly rượu thứ hai, xếp Al Capone ra dấu cho lão ngồi xuống ghế. Xếp ngồi sát bên cạnh, nói bằng một giọng đều đều nhưng âm u và lạnh lùng như tiếng vọng từ đáy vực sâu của tử thần:
– Chắc lão biết thằng Al Capone này chớ. Thằng này xưa nay đã từng giết hàng trăm mạng người rồi. Lão biết tại sao thằng này xuống tay mà không bao giờ hối hận hay sợ xuống địa ngục không? Lý do rất đơn giản, vì thằng này giết để sống còn. Lão biết nghề của thằng này sống bằng súng đạn mà. Nếu thằng này không giết người ta, thì sẽ bị người ta giết. Đơn giản lắm. Nói thật với lão, nếu không cần thiết thì một con gà thằng này cũng không nỡ làm thịt. Lão hiểu ý thằng này muốn nói gì không?
Hiểu chớ sao lại không, lão Mark im lặng lắng tai nghe. Hai ly cognac và thái độ ôn tồn của xếp Al Capone làm cho lão bớt căng thẳng thần kinh. Xếp Al Capone tuy là dân giang hồ, nhưng lại khoái lý luận. Xếp thường khoe với đàn em rằng nếu ngày xưa xếp có tiền để được ăn học đầy đủ, thì xếp đã trở thành một luật sư giỏi hay một nhà báo nổi tiếng. Trước khi giết kẻ thù, nếu có thì giờ, xếp cũng hay cắt nghĩa cái lý do tại sao xếp phải xô người ta từ sân thượng cao 30 tầng xuống đất. Khi đi hội họp với các trùm mafia khác, xếp cũng hay lý luận phải trái, luôn luôn “chính trị đi trước, súng đạn đi sau” trước khi đưa ra quyết định riêng của mình. Thiên hạ ai cũng tưởng xếp Al Capone là thằng vừa nói vừa móc súng ra chỉ chực ăn thua đủ, nhưng thật tế, xếp khoái lý luận với kẻ thù và tính toán rất kỹ càng trước khi hạ thủ. Xếp chỉ hạ thủ khi không còn phương tiện nào khác ngoài sức mạnh của cây súng để giải quyết các vấn đề trong công chuyện làm ăn. Và khi đã quyết định xuống tay là xếp dùng hết sức, hết khả năng để quật ngã đối phương. Xếp nổi tiếng nhanh trong giới giang hồ rất nhờ cái khoa ăn nói và hành động thực tế này.
Xếp cắm điếu xì gà khác lên môi, Frank Nittie lẹ tay bật lửa cho xếp. Xếp thổi một luồn khói qua khỏi đầu lão Mark:
– Để khỏi mất thì giờ lão, lão biết tụi này muốn gì rồi chớ gì?
– Dạ … có
– Tốt. Vậy lão có sẵn sàng hợp tác với tụi này để chuộc lại lỗi lầm của lão không?
– Dạ… tôi xin sẵn sàng. Chỉ mong xếp thương cho tôi còn vợ con ở nhà, tôi xin thề trên kinh thánh của đức chúa trời …
Thề thốt con mẹ gì, xếp xua tay, không để lão nói hết:
– Vậy là đủ rồi. Thằng Al Capone này không có thì giờ…
Xếp Al Capone xoay người, điếu xì gà vừa được cắm lên môi thì ba bốn bàn tay hộ pháp của đám cận vệ chung quanh đã chìa ra liền cái rụp, mỗi thằng một cái bật lửa sẵn sàng mồi thuốc cho xếp. Xếp chưa thèm châm lửa vội, gỡ điếu xì gà xoay xoay nhịp nhàng trong hai ngón tay bằng vẻ rất thỏa mãn. Phải vậy mới được. Làm cận vệ cho xếp Al Capone đâu phải là chỉ có rút súng ăn thua với kẻ thù thôi, nhưng còn phải biết điếu đóm, biết nhiều thứ chuyện khác nữa, như ở nhà thì phải biết lo ăn uống, pha rượu, kiếm gái cho xếp khi xếp đã ngà ngà say… Ra đường thì khỏi nói. Nhiệm vụ đầu tiên là xách cặp táp, rồi làm tài xế, rồi ngoại giao… Trong lúc đi hội họp, phải biết nhìn sắc mặt của xếp mà chuẩn bị để hành động. Xếp bắt tay thằng nào, ôm hôn ai cũng phải biết nhận xét cách nắm tay kiểu nào là để tỏ tình thân thiện, cái hôn nào là hôn để … vĩnh biệt người chết. Rồi đến những công tác được xếp giao phó. Xếp chỉ thị “bắn gục” là phải bắn gục, khỏi có cái màn nổ dăm ba phát đạn, thấy máu óc phọt ra bầy nhầy rồi xách súng đi về, ngày mai nghe tin nó còn sống là chỉ có chết với xếp. “Nó không chết thì chú em chết dùm”, cái luật này của Xếp Al Capone xưa nay ở Chicago ai mà không biết?
Sở dĩ xếp Al Capone biết huấn luyện cận vệ “đúng chỉ số” như vậy vì ngày xưa, chỉ mới cách đây không tới mười năm, chính xếp cũng xuất thân là cận vệ của ông trùm John Torrier kia mà. Đúng hơn, người ta gọi xếp là hung thần Al Capone, đao phủ thủ số một của Chicago. Xếp là người “định” lại cái nhiệm vụ của giới này, nên xếp tuyển chọn cận vệ rất kỹ. Cũng như mỗi ông vua phải có một viên tướng giỏi và trung thành, xếp quan niệm mỗi ông trùm phải có một thằng cận vệ cực kỳ lanh lẹ, văn võ song toàn để làm phụ tá. Cái thời ôm súng Mút cờ Tông bên nhà đã hết rồi. Đất Mỹ là đất của tiến bộ. Chiến sĩ Mafia bây giờ không những chỉ biết chơi súng, mà còn phải biết ngoại giao, biết luật pháp Hoa Kỳ, biết đút lót, biết ăn nói lịch sự, biết diện đồ thiệt kẻng…
Phụ tá của xếp bây giờ là thằng Frank Nittie. Xếp chấm thằng này từ lúc nó còn ở Brooklin New York. Chuyện của nó nếu kể hết cũng mất vài chương sách. Đại khái, Frank Nittie và xếp có nhiều điểm giống nhau. Thứ nhất, cả hai đều rất thông minh và lì lợm. Thứ hai, cũng như xếp ngày xưa, giao cho nó chuyện nào cũng vậy, trăm lần như một không bao giờ có sơ xẩy. Thứ ba, thằng này ăn nói lịch sự và kín đáo, nó giận thằng nào hay muốn làm gì không bao giờ để cho ai biết, cái mặt lúc nào cũng tái mét xám xịt, đến chừng nó móc ra cây Colt .45 chĩa thẳng vào đầu người ta bóp liền mấy phát thì kẻ xấu số mới biết là nó giận mình. Một cái sở trường khác của thằng Frank Nittie là bom. Nó đặt chỗ nào là nổ tung chỗ đó. Cái đáng nói là sự chính xác của trái bom nó gài. Nếu nó muốn cho nổ một nhà hàng, thì cái nhà hàng bị tan tành thôi, khỏi có cái màn lỡ tay cho quá nhiều thuốc để đến nỗi cả khu phố bị …bay bổng lên trời. Nhiều máu quá không tốt cho công việc làm ăn, xếp Al Capon vẫn thường bảo vậy. Dưới trướng thằng Frank Nittie là thằng Frankie Rio và Mike Cottrel. Riêng chú em Glenn Accardo, người đã có công “cứu giá” xếp ở Lexington thì được xếp quý vô cùng, luôn luôn cho đi sát bên mình.
Sau lần chết hụt ở đại bản doanh Lexington năm ngoái, xếp Al Capone đâm ra hơi …cẩn thận, bèn tuyển thêm rất nhiều cận vệ. Năm đó cuộc chiến để tranh giành đất sống tại Chicago đã đến thời quyết liệt. Lúc ấy băng của xếp và băng của ông trùm Jim Colosimo là hai băng duy nhất còn xót lại sau một cuộc chiến đẫm máu nhất Chicago, cuộc chiến đã quất sụm hàng trăm tay súng của các phe chỉ trong vòng hai năm, đã đưa thành phố Chicago vào lịch sử thế giới, được nhiều lần lên trang nhất của hàng trăm tờ báo khắp nơi trên thế giới. Giữa xếp Al Capone và trùm Jim Colosimo, ai bị gục trước thì băng đó coi như thua, cuộc chiến sẽ bế mạc…
Khi đại chiến mới bắt đầu, ông trùm Jim Colosimo biết tài nghệ của hung thần Al Capone nên nằm nhà thủ kỹ, chỉ cho đàn em đi bắn giết rồi về báo cáo. Ông trùm đinh ninh thế nào cũng hạ được Al Capone trong vòng vài tuần vì thế lực của ông quá lớn: Có cái nhà hàng nào, cái tiệm rượu lậu nào, cái động chơi nào ở Chicago này mà không phải đóng thuế cho ông? Ngay cả Thị trưởng Chicago lúc ấy cũng nằm trong sổ lương của ông trùm kia mà. Còn Cảnh Sát thì khỏi nói, từ xếp cho tới lính, ngày nào mà không được chia chát chút ít, hoặc thỉnh thoảng được tặng cho chai rượu Whiskey, thứ quý nhất trong thời buổi cấm rượu này để đem về nhà lai rai. Nhưng ông trùm Jim Colosimo đã tính lầm. Nước cờ lầm lần đầu tiên và cuối cùng của cuộc đời anh chị: Al Capone là một týp anh chị mới, khôn ngoan biết tấn công đối phương một lúc trên ba mặt trận: Quân Sự, Kinh Tế và Chánh Trị.
Về quân sự, mấy thằng em của xếp Jim Colosimo thua xa đám cận vệ cảm thử của xếp do đích thân thằng Frank Nittie chỉ huy. Bọn Colosimo đã được hưởng thái bình hơi lâu, thân thể thằng nào cũng phì nộn với cái bụng chứa la de, những bàn tay chuyên môn nặn bài và xoa rốn đĩ thì lúc đụng trận làm sao xung phong ngon lành và vẫy Colt chính xác bằng đàn em của xếp Al Capone được? Thằng Frank Nittie nổi tiếng là “vua bom”, đã từng là lính TQLC chiến Mỹ và đóng đến lon Hạ Sĩ, biết cách xử dụng khả năng của mình. Nó huấn luyện cho đàn em y hệt theo kiểu đánh giặc của TQLC Mỹ. Bọn này thường liều lĩnh ôm bom nhảy vào sào huyệt của địch, dám tổ chức đột kích đằng sau phòng tuyến đối phương. Hơn nữa, chúng được dạy dỗ thêm nhiều tài vặt, như tài …thảy lựu đạn chẳng hạn. Không bao giờ có trái lựu đạn nào chạm mục tiêu mà chưa nổ, để cho người ta có thì giờ cầm lên rồi ném trả lại. Thường thì quả lựu đạn nổ ngay trên mục tiêu, không cách gì trốn kịp.
Về kinh tế, các khu vực đóng hụi chết cho Jim Colosimo bị đàn em Capone lần lượt thu hồi hết. Có gì khó đâu, tiệm rượu lậu nào lại không được bảo vệ bởi mấy thằng an ninh do trùm Colosimo gởi tới. Trước hết, bọn Caponi (Người phe Capone) giả dạng khách chơi đến thăm viếng để xem mặt và coi giò mấy thằng này. Biết mặt rồi thì muốn giết chúng nó đâu có gì khó. Đất Chicago rộng quá, lại có nhiều hồ. Một phát súng vào đầu nạn nhân ở những nơi chúng ít ngờ nhất như là trước nhà hay trong một tiệm ăn nào đó thì thằng nào đỡ nổi? Nếu là nơi đông đúc phố thị thì bắn xong lẳng lặng chuồn êm. Còn ở những nơi vắng vẻ, không muốn cho cảnh sát đến làm thủ tục lẩm cẩm thì cứ hai ba thằng xốc nạn nhân lên, chạy tuốt ra bờ sông quăng cái ùm xuống là yên chuyện. Hết an ninh rồi, ông chủ nào nghe đến câu “Từ này về sau cái tiệm này thuộc về xếp Capone nghe chưa? Đàn em của Jim Colosimo mà tới đây là phải thông báo liền cấp kỳ, chậm trể tao cho một trái lựu đạn vào là chết mẹ hết cả lũ…” mà chẳng dám tuân lời. Tuân mau và tuân đẹp lại là đàng khác. Thế là đàn em của ông trùm Jim Colosimo đi lang thang thâu hụi đều bị thịt từ từ từng đứa một. Trong chiến tranh, ai cũng cần tiền. Tiền để trả lương nhân viên và mua nhiều thứ: Mua súng ống đạn dược, mua căn cứ, mua sự bảo vệ của Cảnh Sát, của các quan toà… Các cơ sở làm ăn bị nướng cháy mau như vậy thì trùm Jim Colosimo lấy đâu ra tiền để chi? Chỉ trong vài tuần, sự yểm trợ của Cảnh Sát yếu thấy rõ, các ông toà cũng làm việc tà tà hơn khi cho mấy thằng em của trùm Jim Colosimo ra tại ngoại hầu tra. Vậy là mặt trận cuối cùng, mặt trận Chính Trị cũng đang bị bao vây.
Chưa xong, chừng như cái thời của mình sắp hết, những năm gần đây ông trùm Jim Colosimo có thêm cái tật xấu là mê gái. Trong thời chiến, giữa lúc các chiến sĩ ngày đêm lo đánh giặc thì trùm Jim Colosimo chỉ lo nằm nhà ôm đít và o bế con đào Monique của mình, đàn em từ từ không có dịp tới gần nữa.
Nằm nhà mãi cũng chán, em Monique than phiền nhiều quá chịu không nổi, một hôm ông trùm Jim Colosimo quyết định muốn ra đường trở lại. Đàn em can gián đủ lời nhưng ông trùm đâu có thèm nghe: “Người của mình còn đầy dẫy mà, thằng khốn nạn Al Capone là cái gì mà tụi mày phải … đái ra quần như thế?”.
Tuyên bố ngon vậy nhưng ông trùm cũng chuẩn bị đầy đủ, trước khi tới nhà hàng nào thì ít nhất có hai tiểu đội võ trang tới giữ an ninh trước. Khỏi nói, gặp đứa nào có vẻ hơi nghi nghi là bọn này không ngần ngại kéo con người ta ra sau, thằng chĩa Colt vào đầu, đứa khác đi một đường kiểm soát kỹ càng từ tóc xuống đến ngón chân. Chỉ tội những thực khách vô tội, thời buổi kinh tế khủng hoảng dành dụm lâu lắm mới có tí tiền dắt đào đi ăn, đương không bị mấy thằng cô hồn chĩa súng vào đầu dẩn vô cầu tiêu lục soát, lúc được trả về bàn cũ thì không ai còn hồn vía nào mà ăn nữa, cái nĩa cầm trên tay cứ rung lên bần bật từng cơn.
Những chuyến đi du hí đầu tiên, ông trùm luôn luôn cho bố trí kỹ lưỡng như vậy. Chắc ăn hơn, chính ông trùm và con Monique mỗi người còn thủ một cây Smith & Wesson ngắn nòng. Nhưng rồi một vài lần thấy có vẻ yên, ra là cái bọn Caponi cũng đâu phải là xuất quỷ nhập thần gì như báo chí thường đăng tải, hơn nữa, đi chơi mà có nguyên tiểu đội an ninh tiền hô hậu ủng thì mất vui và tốn tiền quá, ông trùm từ từ cho giảm bớt sự đề phòng: “Chỉ cần giữ bí mật chỗ tao tới và có ba thằng chung quanh tao là đủ”. Ông trùm xuống lịnh một cách lạc quan, đâu có ngờ đó là bản án tử hình của mình.
Trong khi đó, một người có nhiều lý do để lạc quan hơn hết nhưng vẫn luôn luôn cẩn trọng từng chút một là xếp Al Capone. Các đường đi nước bước của ông trùm Jim Colosimo làm sao qua mắt nổi thằng Frank Nittie? Ngày đầu tiên ông trùm xuất hiện, Frank Nittie đã phóng xe xuống tổng hành dinh vào trình diện xếp Al Capone với một mảnh giấy chỉ vỏn vẹn có hai hàng chữ tối mật ghi địa chỉ một nhà hàng. Frank Nittie “xin” hai chục tay súng đi theo mình để làm thịt Jim Colosimo liền lập tức. Xếp Al Capone chụp mảnh giấy, vò nát trên tay trước vẻ mặt chưng hửng của đàn em:
– Làm ăn hấp tấp như chú mày coi chừng chết không có đất chôn. Mày tưởng ông trùm Jim Colosimo ngu lắm à? Nằm trong nhà đã lâu bây giờ mới xuất hiện, chắc chắn nó phải thủ kỹ. Tao dám cá, chiếc xe mày chưa tới gần nhà hàng thì đã có ít nhất hai chục họng tiểu liên bố trí sẵn dư sức cày nát cái xe mày ra như cái tổ ong…
Chừng như khoái chí về cái nhận xét khôn ngoan của mình, xếp đưa ngón tay gõ gõ vào trán, ý muốn nói cái đầu này đã tính thì không trật được:
– Mày biết tại sao tao còn sống đến giờ này không? Đâu phải hễ cứ nghe đụng là xách súng chạy loạn cào cào mà giết được kẻ thù? Mày phải nhớ là dù tài giỏi tới đâu, bắn người ta mười lần thì thế nào cũng phải bị người ta bắn lại vài lần. Tao còn sống tới giờ này là bởi tao biết bắn lúc nào cần bắn, biết chi địa lúc nào cần chi địa, và cái quan trọng nhất: Tao biết chờ. Nghe tao đi, số mạng của trùm Jim Colosimo nằm trong tay tao rồi, nhưng cái ngày đó chưa phải là hôm nay.
Quả đúng như xếp dự đoán, nếu Frank Nittie ra quân hôm ấy thì thế cờ sẽ bị lật ngược. Thằng Frank Nittie mà bị bắn chết ngắc thì mình xếp Al Capone làm sao chống nổi thằng Antonio, “tư lệnh chiến trường” của Colosimo, lúc ấy đang còn vang danh là đệ nhất đao phủ thủ của Chicago.
Và cái ngày chờ đợi đó đã đến. Một buổi chiều đang ngồi ăn mì ống ở nhà hàng của lão Giovani, ông trùm vừa nâng ly rượu lên thì nhìn thấy hai thằng cô hồn mặc áo măng tô dài tới chân bước vào quán. Dòm kỹ hơn thì thấy hai thằng này mặt mũi coi sao bặm trợn quá chừng, đâu có giống mấy khách hàng tới lui thường trực. Mà tụi nó đâu có bước, phải nói là chạy mới đúng. Chỉ thoắt một cái là hai thằng khách lạ đã đứng trước mặt bàn của ông trùm. Hai cận vệ ruột ngồi ở bàn kế bên phản ứng lẹ không kém. Nghe xoạt một tiếng là tụi nó đã đứng bật dậy, mỗi đứa một cây Colt trong tay…
Nhưng hai thằng thích khách còn mau hơn, hai cây shotgun cưa nòng đen thùi lùi đã được chúng lôi ra không biết từ lúc nào, một cây xĩa ngang qua đám cận vệ, cây kia nhắm vào ông trùm nổ liền mấy phát. Làm sao trật được. Phát đầu tiên thổi ngay vào giữa mặt ông trùm, sức ép của hàng chục hòn bi trong viên đạn phà đẩy bật ông trùm té ngữa ra sau. Con nhỏ Monique hoảng quá mà cũng đâu có kịp kêu được tiếng nào. Phát thứ hai bay theo liền, cày nát bét khoảng ngực của ông trùm ra.
Đồng thời lúc ấy, cây Shotgun kia cũng đã khạc lửa lia lịa về phía hai thằng cận vệ chưa kịp nâng nòng súng lên. Hai đứa lãnh trọn mấy phát đạn, bắn bung lên. Vừa rớt xuống sàn đá hoa thì bị bồi thêm mỗi đứa một phát nữa. Xong rồi, chưa có dọt vội, một thằng phóng tới bên cái xác còn be bét máu của ông trùm, kê họng cây ghotgun sát vào khuôn mặt không còn ai nhận ra được nữa nổ thêm phát cuối cùng. Xếp Al Capone có dặn là bắn thì phải bắn cho …chết mà! Con Monique thì nãy giờ vẫn ngồi yên như pho tượng đá.
Cảnh tượng diễn ra quá mau, trước sau chỉ có vài giây đồng hồ làm các thực khách đang ngồi trong nhà hàng không kịp có phản ứng. Có mấy cô hoảng sợ quá muốn rú lên một tiếng cũng không sao mở miệng được. Thoáng một cái chúng dọt vào, và thoáng một cái là lại biến mất dạng, để lại trong nhà hàng ba cái thây ma với máu me từng vũng coi thấy gớm.
Đến lúc này đám thực khách mới hoàn hồn, đàn bà thì kêu rú lên thảm thiết, còn đàn ông thì chạy tứ tung như một đàn vịt; không biết chạy để làm gì và chạy đi đâu…
Ông chủ nhà hàng Giovani nãy giờ đứng tại quày rượu mục kích cú thanh toán không thiếu một chi tiết. Vốn là bạn lâu đời của trùm Jim Colosimo, khi chiến tranh bắt đầu bùng nổ, ông đã lo sợ một ngày loang lổ máu như vậy sẽ xảy ra. Nhưng ông không thể ngờ ngày đó lại là ngày hôm nay, và xảy ra ngay tại quán của mình. Ông đau lòng trước cảnh người bạn bị thảm sát ngay trước mắt, nhưng cũng bối rối không biết lát nữa ông sẽ ăn nói làm sao với thằng Antonio, đệ tử ruột kiêm đao phủ thủ số một kiêm phụ tá đặc biệt của ông trùm. Ông còn lạ gì tính nết của thằng Antonio này. Cách đây vài năm, lúc Al Capone mới chân ướt chân ráo về Chicago, nó là thằng duy nhất dám xách súng đi kiếm xếp chỉ vì một chuyện không đâu. Quả thực, Al Capone lúc ấy gặp thằng Antonio ở đâu là né ở đó. Kẹt cái là nó trung thành với lão Jim Colosimo quá, trong khi lão này thì càng già càng lú đi, chẳng làm gì nên chuyện. Nhưng đã đến nước này, trước sau gì cũng sẽ có một vụ đổ máu nữa để trả thù cho ông trùm, và ông, con nhà buôn khôn lanh, chắc chắn ông không muốn tên mình sẽ đứng đầu trong danh sách bị nghi ngờ. Hơn nữa, ông không muốn cái nhà hàng xây dựng trong vòng 30 năm biến thành bãi chiến trường cho hai phía. Mồ hôi vã ra trên trán, ông chụp máy điện thoại không phải gọi cho cảnh sát mà quay một số bí mật: Số của thằng Antonio.
Điện thoại reo đến tiếng thứ năm thì có tiếng rè rè bâng quơ trong máy trả lời:
– He…lo o o..
Thằng Antonio xưa nay bao giờ vẫn vậy, điện thoại không bao giờ chuông vừa reo mà nhấc lên liền. Nó phải chờ đến tiếng thứ năm, và luôn luôn trả lời bằng một giọng ngái ngủ. Đầu giây bên kia là một giọng hốt hoảng:
– Antonio, Antonio!
– He….lo…
– Antonio, lão đây, lão Giovani đây. Lão muốn ….
Giọng thằng Antonio tự nhiên bỗng trở nên sắc như một lưỡi dao, cắt đứt giọng nói hổn hển sợ sệt của lão Giovani:
– Có chuyện rồi phải không? Có gì nói mẹ nó ra đi ông, Ông Già làm sao?
– …tụi nó 2 thằng…
– Mother F…. Ông Già có sao không?
– ồng bị rồi, chắc..chắc đi luôn.
Chỉ cần nghe tới đó, Antonio cúp phone liền cái rụp. Bao nhiêu năm lặn lội trong nghề, kinh nghiệm dạy cho nó biết hỏi thêm hay than van thêm cũng bằng thừa. Xếp đã bị bắn gục. Chết. Đơn giản có vậy. Nó không có thì giờ để khóc như một đứa con nít, ngay cả một tiếng chửi thề cũng không thèm bung ra. Vì, bung ra cũng chỉ là thừa. Giai đoạn này là giai đoạn cần phải sáng suốt để đối phó với tình hình mới. “Vua” Colosimo chết, Antonio là kẻ thân cận nhất và là kẻ có nhiều quyền uy nhất sau ông trùm, nếu nó không lẹ tay dàn xếp thì “triều đình” chắc chắn có loạn. Trong nhà mà không nắm vững được giềng mối trong lúc nguy cấp như vầy thì khó mà tồn tại được với tụi Al Capone.
Tuy suy nghĩ “cứng” lắm nhưng cái mặt của nó cứ càng ngày càng trắng bệch ra. Than ôi, sao ông già ra đi một cách thê thảm quá. Thằng Al Capone này nếu nó không trả thù được thì nhất định không phải là dân giang hồ.
Hai thằng cận vệ của Antonio bình thường ít khi thấy ai gọi đến cho đàn anh, bây giờ nghe chuông reo và nhìn thấy khuôn mặt trắng bạch như tờ giấy của Antonio thì biết ngay rằng có chuyện chẳng lành đã xảy ra. Một thằng lẹ tay rót cho đàn anh ly Whisky đầy ắp. Antonio làm một hơi cạn sạch, cất giọng từ từ giữa hai hàm răng nghiến chặt:
– Bình tĩnh nghe tao nói tin này. Ông già bị tụi nó chơi nặng ở nhà hàng lão Giovani, sống chết chưa biết sao.
Ngừng một chút, nó chỉ một thằng:
– Mày gọi qua khu Cicera bảo đem vài thằng bay tới nhà hàng lão Giovani liền lập tức cho tao. Điều quan trọng nhất là coi thử ông già còn sống không? Nếu còn phải báo cáo gấp. Coi chừng tụi nó chơi cú “Secondery”. Tao sẽ cho 2 chục thằng tới bảo vệ nhà thương liền. Nếu tới trước cảnh sát thì thủ tiêu mấy cây súng của bọn mình, dặn hai thằng cận vệ nếu đứa nào còn sống bảo tụi nó kín miệng. Sáng mai tụi nó sẽ ra hết.
Antonio quay sang đứa thứ hai:
– Mày gọi hết mấy thằng trưởng toán tới đây họp liền lập tức cho tao.
Chừng như, muốn cho cái lệnh của mình được đàn em hiểu rõ một cách tường tận hơn, nó nghiến răng lại, gằn mạnh từng tiếng:
LAN XỈA XÓI VÀO MẶT MINH: Cũng may tao không tin mày nếu tin thì đời tao còn gì, đồ đểu cáng mày với thằng Hiệu cùng một thứ lưu manh với nhau. Nếu tao nghe mày, mua xe cộ cho mày, mày vù luôn thì tao bú c… cho mày hả, tao nuôi nấng mày cả tháng trời, mày biết không? Cơm đó, nhà đó, quần áo đó, giường đó, mày coi tao đối đãi với mày như vậy mày muốn gì nữa, xí còn bày đặt kiểm chuyện này chuyện kia, tao nói thật cho mày biết, mày muốn đi đâu thì đi cút xéo đi, tao không ham đâu, đừng có tưởng bở, đừng làm tàng mất công.
Minh cúi gầm mặt, hắn không còn dám ngước lên nhìn ai, hắn nhục nhã, hắn không ngờ mình có phen khốn khổ như thế này. Trong quán lúc ấy đông người, hàng trăm con mắt đang nhìn Minh, bộ quần áo bi-da-ma mà Minh đang bận trong người là của Lan may sắm cho hắn, Minh thật đúng điệu như một thằng ma cô chở vợ đi khách. Buổi chiều nay khi đang nằm trên lầu, Minh nghe tiếng dép đi lên cầu thang, khuôn mặt phấn son của nàng ló vào cửa, nheo mắt cười với Minh:
– Nhờ bạn tí có được không?
– Cái gì vậy?
– Ra quán ngồi chơi, em có khứa. Minh cáu kỉnh:
– Sao không đi chỗ khác?
Lan vào hẳn trong nhà dựng cổ Minh đậy:
– Đi ngay, trời ơi, còn làm khó nhau chứ.
Minh đành đứng dậy, hắn không kịp thay quần áo, khi Minh xuống cầu thang thì hắn chạm mặt với một gã, hắn nhìn Minh rồi toét miệng ra cười, Minh bỗng trở nên cáu kỉnh, trừng mắt nhìn hắn, hắn vẫn cười một cách đểu giả:
– Bạn không bằng lòng cho vợ bạn đi khứa?
Minh không nói không rằng đưa tay xô hắn té xuống cầu thang, Minh quay đi, đằng sau Minh nghe tiếng Lan la lối:
– Thằng khốn nạn, cha bố thằng khốn nạn, mày sẽ biết tay tao.
Minh không quay lại, hắn đi thẳng ra quán cà phê. Hắn ngồi đây chờ Lan, lần này thì nhất định hắn sẽ bỏ nàng, hắn không thể sống mãi với một đời sống của thằng ma cô.
Minh không ngờ phản ứng của Lan lại dữ dội đến như vậy, nàng không cần biết phải trái là gì, nàng mồm loa mép giải, nàng chửi bới cho đã miệng, Minh đành ngồi im.
Nàng gầm thét như một con hổ cái:
– Mày muốn gì? đồ khốn nạn, mày đã phá công việc làm ăn của tao, chồng con gì mà không biết điều chút nào hết, tao nói cho mày biết, ăn hiếp tao không phải là chuyện dễ đâu.
Minh không còn nhịn nhục được nữa hắn quắc mắt đứng dậy:
– Câm miệng mày, tao nhịn mày nhiều rồi.
Lan nhảy chồm chồm lên:
– Tao vậy đó mày làm gì tao mày làm đi.
Thình lình Minh đưa tay tát nàng một cái, nàng ngã chúi vào góc quán, nàng la lối om sòm, Minh bỏ ra khỏi quán, nàng chạy theo, chửi bới gào khóc.
Nàng túm được Minh, nàng xé quần áo Minh tan nát, con nít chạy theo la hét, Minh nhục nhã, nàng lăn lộn ra đường như một con chó dại. Minh không làm gì được, hắn co giò chạy vào trong xóm, về nhà vội vàng lấy ít quần áo co giò chạy luôn. Hắn đến một nhà người quen thay lẹ quần áo rồi vào thẳng trong trại.
Chiều chủ nhật, trong khu nhà dành cho lính độc thân vắng hoe, Minh nằm lăn ra giường, hắn đưa tay sờ lên mặt, mặt hắn rươm rướm máu vì những dấu cào sứt của Lan, Minh nhủ thầm thôi từ nay mình tởm đĩ điếm đến già. Minh ngủ thiếp lúc nào không hay, trời xâm xầm tối mới thức dậy. Minh thấy trong bụng đói, hắn mò xuống nhà cơm vắng tanh vắng ngắt, có lẽ chiều chủ nhật chúng nó đi chơi hết, Minh ngồi ăn một mình trên cái bàn đá rộng mênh mông, bữa cơm thật nhạt nhẽo, Minh rán ăn cho xong, hắn lại trở về phòng nằm trên chiếc giường mọi khi của mình. Một người cùng phòng đi chơi về, Minh đang lơ mơ ngủ, bỗng có một người đến lay vai, Minh mở mắt ra nhìn thấy Thuận ngồi bên cạnh:
– Sao lại nằm đây? Minh mỉm cười:
– Trở về tổ ấm không được sao? Thuận nhìn mặt Minh:
– Sao mặt mũi lại sứt mẻ ra hết thế này?
– Thôi đừng nhắc tới chuyện đó nữa.
Thuận bỗng cười ré lén:
– Bị vợ đánh phải không?
– Vợ con gì. Thuận vui vẻ:
– Tao nghe nói mày có con vợ điếm ngoài Lăng Cha Cả phải không?
Minh thấy ngường ngượng khi có người nhắc đến chuyện đó. Minh ngồi dậy:
– Thôi lên câu lạc bộ uống cà phê đi, mình sẽ nói chuyện. Hai người lên Câu lạc bộ, Minh gọi cà phê đen, không chờ bạn hỏi Minh nói liền:
– Tao là thằng ngu dại nhất trên đời.
– Cái gì mà ngu dại?
– Đang khi không tao đi tằng tịu với một con điếm ngoài Lăng Cha Cả trong khi mình không biết những đòn phép mà sống với chúng nó.
– Có phải thằng Hiệu giới thiệu cho mày phải không?
– Đúng.
– Thằng Hiệu là một thằng điếm mày không biết sao?
– Biết chứ sao không, nhưng tao chán đời quá nên tao mới sống thử xem sao?
– Bây giờ cay đắng rồi hả? Minh gật đầu:
– Quá cay đắng, tao tởn đến già, mình không thể sống được với nó, nhất là những lúc ngồi chờ nó đi khách, trời ơi sao tao thấy mình nhục nhã đến thế.
– Có phải thằng nào sống với điếm cũng được nó cấp dưỡng cho đầy đủ phải không?
– Cái đó dĩ nhiên, nhưng đối với những thằng mặt chai mày đá như những thằng Hiệu kia, chớ còn tao, chắc không thể được, bằng chứng là tao hôm nay, chạy mặt đi là vừa.
Thuận nhìn những vết sứt trên mặt Minh:
– Bộ nó cào cấu mày đó hả? Minh gật đầu:
– Chiều hôm nay nó làm tao một trận, quá trời quá đất.
Thuận cười, hắn có vẻ khoái trá:
– Vậy mới đáng đời mày, ai bảo mày học điếm đàng làm chi.
Minh thành thật:
– Tao hối hận, hối hận vô cùng.
– Ngán chưa?
– Ngán đến già luôn. Thuận như chợt nhớ ra:
– A ngày mai lãnh lương rồi đó mày.
Minh càng thêm chán nản:
– Tao không ham, lãnh lương cũng vậy, mà thôi, họ trừ nợ tao có còn là bao nhiêu. Tao nghe nói thằng nào mắc vào xanh xít đít đui cũng như mắc vào ma túy, khó mà gỡ ra được.
– Tao cũng nghĩ thế, lần này lãnh lương tao còn đâu khoảng trăm bạc gì đó thôi.
– Có phải mày vay của bà đại úy Hà không?
– Mẹ đó chứ ai.
– Con mẽ giàu sang vì sự hút máu hút mũ của lính đó mày, tao nghe nói thằng chồng lãnh tiền ngân khố về trước một tháng, tiền đó con vợ mang cho lính vay lời, mỗi tháng hai vợ chồng nó kiếm chác không biết bao nhiêu mà kể. Hầu hết khách nợ trong Phi đoàn toàn là lính.
Minh buông ra một tiếng chửi thề. Minh càng ngày càng thấy khó thở, hắn như một cái mụn ghẻ trong Phi đoàn, Minh chán nản với những công việc thường ngày của mình tất cả những bản vẽ trong Phi đoàn Minh đều làm hết, chàng không còn việc gì để làm. Chỉ huy trưởng đành giao cho chàng xuống phòng tiếp liệu làm việc vặt, hắn cũng chưa có chỉ số. Trong một năm nay Minh nộp đơn xin đi học những khóa chuyên môn, Minh không hiểu tại sao đơn của mình đều bị bác, có người nói cho Minh hay, muốn tiến thân được thì cần phải có pít-tông mạnh.
Minh lắc đầu:
– Sức mấy mà tôi có pít-tông, tôi không quen ai, thôi mặc, muốn ra sao thì ra.
– Ít ra thì mày cũng phải chạy chứ. Minh mỉm cười:
– Chạy chọt, tao có gì đâu mà chạy chọt.
Hôm nay Minh xuống trình diện phòng tiếp liệu, do một trung úy chỉ huy, hai hạ sĩ quan và hai người lính làm việc vặt. Bây giờ thêm Minh nữa là ba, Minh ngồi buồn bã ở một góc phòng, người hạ sĩ quan ngửng lên:
– Mày không có việc gì làm hả? Minh lắc đầu:
– Tôi chưa biết làm việc gì.
– Ngồi chờ tao chút, tao kiếm việc cho.
Anh ta chợt nghĩ ra:
– À được rồi, mày leo lên mấy cái kệ kia, lau sạch bụi đi.
Minh theo lệnh của anh trung sĩ. Minh đang lau chùi, bỗng người trung sĩ từ phòng ông trung úy đi ra ngoắc Minh:
– Xuống mày, trung úy gọi.
Minh lại trèo xuống, người trung sĩ chỉ vào trong:
– Vô trong, trung úy đang chờ mày.
Minh vội vàng vào phòng ông trung úy, hắn đứng nghiêm. Vị trung úy tươi cười, ông ta hơi đứng tuổi, tóc cắt ngắn, quần áo giặt ủi thẳng nếp, Ông trung úy tỏ ra dễ dãi, chỉ cái ghế trước bàn ông:
– Ngồi xuống đi, chú được đưa tới phòng tôi làm việc là sướng nhất rồi đấy.
Minh ngồi xuống ghế:
– Cám ơn trung úy.
– Tôi bình dân lắm, coi nhau như anh em.
– Dạ.
– Anh có chỉ số chưa?
– Thưa trung úy chưa.
– Anh thích chỉ số tiếp liệu không?
– Dạ chỉ số nào cũng được, miễn là có nghề chuyên môn, tôi lêu bêu trong Phi đoàn này cả năm nay rồi, chẳng có nghề nghiệp gì hết.
Ông trung úy gật gù:
– Chú còn trẻ tuổi mà nghĩ đến tương lai như vậy là tốt lắm.
Minh thấy ông trung úy có vẻ dễ dãi, hắn thấy vui vui trong lòng và mạnh dạn hơn khi nói chuyện với ông ta:
– Thưa trung úy, bắt buộc tôi phải nghĩ đến, không lẽ sống như thế này mãi sao?
– Tôi nghe nói trong năm nay có nhiều khóa chuyên môn lắm, tại sao anh không làm đơn xin đi học?
– Thưa trung úy, tôi có làm đơn, nhưng đơn của tôi bị bác cả.
Ông trung úy bỗng à lên một tiếng:
– Thôi tôi hiểu rồi, theo nguyên tắc thì anh phải có trưởng phòng chứng nhận, mà từ trước đến giờ anh làm việc trong Phi đoàn này, anh không thuộc một phòng nào chính thức, như vậy thì ai là người chứng nhận cho anh, anh là thứ lính tạp dịch của Phi đoàn.
– Dạ thưa trung úy có lẽ đúng như vậy.
– Còn có lẽ gì nữa, đúng như vậy đó.
Ông trung úy ngồi xoa hai tay vào nhau, ông cúi đầu có vẻ suy nghĩ:
– Tôi thấy anh là người có trí, tôi muốn giúp đỡ anh.
Minh mừng rỡ, hắn không ngờ mình lại gặp được một vị sĩ quan tốt bụng như vậy, Minh thấy nôn nóng cả người:
– Thưa trung úy, tôi xin cám ơn trung úy.
Ông trung úy gạt đi:
– Đừng nói đến chuyện ân huệ gì hết, thôi được anh cứ ở đây một thời gian, anh có hạnh kiểm tốt tôi sẽ giúp anh, tôi cho học ngành tiếp liệu, cuối tháng này có lẽ có một khóa học tại Việt Nam, sau khi tốt nghiệp ở Việt Nam, anh sẽ du học Huê Kỳ sáu tháng nữa.
Ông ngẩng lên nhìn Minh, đôi mắt ông vui vẻ:
– Được chứ?
– Dạ thật may mắn cho tôi. Mặt ông nghiêm lại:
– Trước khi anh xuống phòng này, trên phòng hành chánh cho tôi biết anh có tính bê bối, hình như anh có bị 15 ngày tù vì tội gì đó.
– Dạ thưa trung úy, có, tôi ăn mặc bê bối.
– Nhưng cũng không sao, miễn là anh biết điệu một chút, lính mà từng ở tù mới là lính, đại tướng Lê văn Tỵ chẳng từng nói thế là gì, chính tôi là sĩ quan đây mà thỉnh thoảng cũng bị ở tù thôi, cứ yên trí đi tôi giúp được anh cái gì tôi sẽ giúp.
– Cám ơn trung úy.
– Từ nay anh ở dưới quyền tôi, anh rán làm việc đừng bê bối, anh được đi học, tương lai anh sáng sủa ngay, đừng e ngại gì hết.
Minh khấp khởi mừng, hắn không ngờ mình lại gặp được một vị sĩ quan hết lòng thương lính. Một người sĩ quan đứng đắn đàng hoàng, coi lính như em út trong nhà, quân đội chẳng mấy lúc hùng mạnh.
Vị trung úy bỗng hỏi:
– Anh biết lái xe Tracteur không?
– Dạ thưa biết.
– Ừ, tôi một lần đã thấy anh lái Tracteur ở sân bay được, có việc tôi sẽ dùng anh.
Ông im lặng một lát rồi tiếp:
– Kho tiếp liệu nhiều khi cần phải đi lãnh đồ nên rất cần người biết lái xe.
– Dạ thưa việc đó tôi làm được.
– Mọi khi có người lính bên quân xa làm việc đó, nhưng bây giờ có anh, tôi sẽ trả anh ta về. Bây giờ anh ra lấy Tracteur dợt lại cho thuần, lúc nào có việc thì anh làm.
Minh chào vị trung úy, hắn thấy mình hăng hái thêm nhiều, hắn chạy ngay ra xe Tracteur, lái chạy vòng quanh sân bay giữa buổi trưa nắng, mấy người lính làm việc tại sân bay hỏi Minh:
– Mày có điên không thằng lính ghẻ kia?
– Sức mấy tao điên.
– Mày làm cái giống gì vậy?
Minh rú ga, chiếc xe vọt đi, Minh lái một vòng bay bướm:
– Tao tu nghiệp.
Minh hùng hục lái xe suốt cả buổi trưa, khi đã thuần thuộc, hắn trở lại trình diện với vị Trung úy, ông ta cười:
– Thôi được rồi, không có việc gì thì nghỉ đi, lúc nào có việc thì làm.
Minh toan đi ra, nhưng ông Trung úy ra hiệu cho hắn ngồi lại, ông hỏi Minh:
– Còn việc gì nữa không?
– Thưa Trung úy không còn việc gì hết.
– Vậy ngồi đây chơi, tôi có việc muốn nhờ anh.
– Thưa trung úy việc gì?
– Thật ra chẳng có việc gì hết, ngồi chơi nói chuyện vặt vậy mà.
Ông nhìn Minh. Đôi mắt đầy thiện cảm:
– Anh vào lính được bao lâu rồi?
– Thưa trung úy một năm nay.
– Hồi trước khi anh đi lính anh làm nghề gì?
– Thưa, trước khi đi lính, đi học và dạy học tư gia.
Ông trung úy ngồi ngửa lưng trên ghế:
– Vậy học lực anh cũng khá phải không?
– Tôi có bằng tú tài.
– Vậy tốt lắm cố gắng lên nhé, khi nào có khóa sĩ quan anh nên nộp đơn đi học.
– Dạ tôi cũng tính vậy.
– Anh đừng nản lòng, không ai có thể nói tương lai mù mịt được. Tương lai luôn luôn chờ đợi chúng ta, tương lai không bao giờ đóng kín cửa với ai cả.
– Cám ơn trung úy.
– Nếu anh tỏ ra một quân nhân tốt, tôi sẵn sàng giúp anh, cố gắng lên nghe chưa.
Minh thấy cởi lòng cởi dạ, chàng không ngờ mình lại gặp được một vị sĩ quan thương lính như vậy, suốt từ khi vào lính đến giờ, chưa bao giờ Minh thấy vui vẻ như hôm nay. Buổi chiều sau giờ tan sở, Minh trở về phòng cơm, hắn khoe ngay với Thuận:
– Tao được đổi về sở khác rồi, kho tiếp liệu, có ông trung úy tốt ghê mày ạ.
– Ông trung úy nào vậy?
– Trung úy Lành.
Thuận làm thinh. Minh hết lòng ca tụng lòng tốt của vị sĩ quan mình, ăn xong bữa cơm Thuận từ tốn nói:
– Mình nên tin mình thì hơn, ông có tốt thì cũng chỉ giúp mình được phần nào thôi.
– Tao đâu có ỷ lại.
Buổi tối Thuận và Minh dắt nhau ra ngoài trại dạo chơi, hai người đưa nhau vào một quán cà phê, Thuận nhắc lại câu chuyện hồi chiều của Minh:
– Tao nghe chúng nó nói ông Trung úy Lành không phải là một người tốt.
– Mày nghe ai nói?
– Một vài người bạn tao.
– Nói bậy.
– Tao không biết chúng nó có bậy hay không, nhưng coi chừng thì tốt hơn.
– Mày chỉ khéo lo xa.
Minh hùng hồn bênh vực cho vị sĩ quan của mình, Thuận chỉ cười nhạt:
– Ừ biết đâu ông không phải là một người xấu đối với mày.Minh hơi bất mãn với bạn. Những ngày kể tiếp đi làm, Minh đề ý, thấy vị trung úy lúc nào cũng vui vẻ bình dân, ông thân mật với lính đến độ ông xin thuốc lá của Minh, buổi sáng nào Minh vào phòng ông, ông rất tự nhiên hỏi:
– Có thuốc lá không chú?
Minh sẵn sàng mời ông một điếu, buổi sáng nay như thường lệ, sau khi ông xin Minh một điếu thuốc lá, Minh sắp sửa quay ra, ông hỏi:
– Này chú có rảnh không?
– Dạ thưa…
Minh chưa có kịp trả lời ông nói ngay:
– Tôi nhờ chú một việc này.
– Dạ thưa Trung úy việc gì?
– Nhà tôi bên cư xá chú biết rồi chứ.
– Dạ biết.
– Sẵn xe tracteur đó không?
– Dạ sẵn.
Ông Trung úy đứng dậy, vẫy Minh:
– Chú theo tôi sang bên này.
Minh lặng lẽ đi theo ông trung úy, sang phòng bên cạnh, căn phòng này chứa tôn và xi măng, ông trung úy chỉ:
– Chú chở cho tôi mười tấm tôn và hai bao xi măng về bên nhà.
– Thưa trung úy…
Trung úy Lành khoát tay, giọng nghiêm nghị hơn:
– Anh cứ làm theo lịnh tôi.
Nói xong, ông quay gót ra khỏi phòng, không để Minh nói được một câu nào hết. Minh thật khó nghĩ, hắn không biết ông ta lãnh mười tấm tôn với tánh cách gì, công vụ hay riêng tư, muốn chắc chắn hơn Minh trở lại phòng trung úy Lành, ông cắm cúi ký các giấy tờ, ông không ngửng lên, Minh phải chờ một lát sau ông mới ngừng lên. Minh vội nói:
– Thưa trung úy.
– Sao?
– Mười tấm tôn và hai bao xi măng…
– Đúng rồi, sao?
– Thưa trung úy…
Ông cau mặt, gạt phắt đi:
– Không thưa gởi gì hết, anh cứ làm theo lịnh tôi.
– Thưa còn phải làm phiếu xuất kho.
Trung úy Lành càng cau có hơn:
– Tôi là trưởng phòng này anh hiểu chớ, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm, tôi chỉ nhờ anh chở về nhà tôi thôi.
– Thưa trung úy, trung úy ra lệnh thì dĩ nhiên tôi phải thi hành.
– Vậy anh còn chờ gì nữa?
– Xin trung úy cho tôi một tờ giấy chứng nhận.
– Tại sao vậy?
– Trong khi tôi đi đường, nếu cảnh vệ có hỏi tôi xuất trình.
Lần này trung úy Lành nhìn thẳng vào mặt Minh:
– Thôi được, tôi không nhờ anh nữa.
– Thưa trung úy…
– Không thưa gởi gì hết, anh ra khỏi phòng tôi ngay.
Minh còn đứng chần chờ, mắt ông quắc lên, gằn giọng:
– Anh có nghe tôi nói gì không?
Minh đành đưa tay chào ông trung úy rồi ra, hắn biết đời mình sắp sửa khốn nạn, nhưng Minh không thể làm việc đó. Minh chặc lưỡi, muốn đến đâu thì đến.
Người trung sĩ kho tiếp liệu đến cạnh Minh, hỏi nhỏ:
– Chuyện gì mà ông gắt um sùm vậy?
Minh càng buồn bã, hắn chỉ lắc đầu, người trung sĩ bực mình:
– Chuyện gì vậy?
Minh nhìn trước nhìn sau, không có ai Minh mới nói:
– Ổng bắt tôi chở tôn và xi măng về nhà ổng.
– Rồi mày không chở?
– Tôi xin ông tờ sự vụ lệnh, ông không cho.
Người trung sĩ cười:
– Đù mẹ, mày ngu đếch chịu được.
– Hợp lý chớ sao ngu. Cảnh vệ hỏi tôi, tôi không có gì chứng minh, khi đó ai đi tù, trung úy Lành có ra nhận tội cho tôi không?
Người trung sĩ chỉ cười, nụ cười anh ta nhiều vẻ bí mật, anh ta vỗ vai Minh:
– Tôi chỉ khen cậu là một người thẳng thẳng lương thiện như vậy thôi, nhưng hành động đó không mang lại cho cậu một cái huy chương nào hết.
Minh thấy hơi lo:
– Tôi phải làm sao trung sĩ? Người trung sĩ nhún vai:
– Ai biết, mày lớn rồi chớ đâu phải con nít con nôi gì mà hỏi ý kiến tao.
Minh thấy khó nghĩ, hắn lủi thủi đi ra hàng hiên ngồi, chắc chắn Minh không làm được điều trung úy sai bảo. Hắn càng nghĩ ngợi, hắn càng thấy mình có lý.
Minh chặc lưỡi: Thôi mặc muốn đi tới đầu thì tới, ý nghĩ phó mặc lóe sáng trong đầu Minh. Hai giờ chiều Minh tới làm việc, người trung sĩ hồi nãy ra nói với Minh:
– Trung úy bảo cậu ra phía sau kho tiếp liệu làm cỏ cho sạch sẽ.
Bãi cỏ đàng sau kho nhiên liệu ấy hả? Minh đỡ lấy cái cuốc, hắn đã hiểu thâm ý của ông Trung úy, bây giờ, hắn không thể cãi lệnh được. Người Trung sĩ cười:
– Mày không có điều gì thắc mắc khiếu nại sao?
Hoàng Minh nhún vai lắc đầu:
– Thắc mắc khiếu nại cái mẹ gì nữa.
Người Trung sĩ nhìn ra ngoài trời nắng chang chang:
– Mệt lắm đó, cả một bãi cỏ cao ngập đầu người, mày có sức voi…
Minh không nói gì, hắn lẳng lặng xách cuốc ra ngoài bãi cỏ. Trời nắng như thiêu đốt, hắn nhìn bãi cỏ rộng mênh mông, hắn chán nản bổ nhát cuốc xuống đất, hắn thấy người mình rời rả, hắn không còn thiết làm gì.
Tiếng động cơ máy bay từ phi trường bên cạnh vọng sang ầm ĩ.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.