This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Ngay từ lúc Frank Nitti kiếm hụt Eliot Ness ở ty cảnh sát, xếp Al Capone
nhận được một cú điện thoại mật báo cáo chi tiết bất lợi của vụ đột kích liền. Nghe xong mẫu tin là xếp biết mọi chuyện đã trật chìa hết. Đù mẹ năm này sao mà xếp bị xúi quẩy quá chừng, làm đâu hư đó. Mấy chục năm qua, có bao giờ xếp giao cho thằng Frank Nitti việc gì mà nó không hoàn thành nổi? Cha biện lý Mcswiginn với thằng cận vệ nổi tiếng là bắn đẹp nhất Chicago mà cũng bị nó cho cả hai về nhà trời một lượt thì phải biết tài của thằng này. Mà bắn xong nó có thèm chạy đi đâu làm chi? Lúc cảnh sát đến điều tra, thằng phụ tá gan lì còn tỉnh bơ lận Colt.45 trong quần đứng sớ rớ gần đó như là một ông khách bộ hành lương thiện mới là ly kỳ. Chơi đẹp, chơi “tới” vậy thì tại sao hôm nay, kế hoạch soạn thảo kỹ càng như thế, ra tay phải nói là bất ngờ, lại có thêm sự “hợp tác chặt chẽ” của Mike Casey mà thằng đệ nhất đao phủ thủ của mình lại để nó lọt sổ thì lạ quá. Xếp lẩm bẩm trong miệng: “Lạ quá, lạ quá … ” Hay thằng Frank Nitti đã tới tuổi già rồi chăng? Xếp suy nghĩ vớ vẩn.
Đâu có, thằng này từ lúc quen biết nó, một giọt rượu nhất định không uống, mỗi sáng bất kể thời tiết mưa nắng còn ra sau hè cử mấy trăm cân tạ lên xuống cả tiếng đồng hồ đúng như kỷ luật quân trường TQLC hồi xưa rồi mới chịu quay vô nhà mà.
Triết lý của nó luôn luôn là muốn cầm súng thì phải chịu khó tập … cầm tạ. Cầm cục tạ mấy trăm cân quen tay rồi thì khi cầm đến cây súng có vài cân thì thấy nhẹ hìu, bắn chỗ nào lại không trúng? Vậy cái thuyết “già” này phải gạt ra ngoài. Ai cũng có thể trở nên già hết nhưng thằng Frank Nitti này thì không thể. Không bao giờ. Nó có thể bị bắn chết tươi chứ không thể già được.
Hay là lão Mike Casey làm phản. Cũng không phải nữa. Dân giang hồ
biết tính tình nhau còn hơn cả vợ chồng hay cha con trong nhà. Ông nội nó đội mồ sống dậy cũng chẳng dám nghĩ tới chuyện làm phản. Hơn nữa, gặp phải một thằng lanh như Frank Nitti thì dù Mike Casey có làm phản cũng không qua mặt nó được. Xếp lại văng tục và chửi thề. Xì gà vừa đốt lên, rít một vài hơi là thấy đắng quá chừng. Tại sao chúng nó lại vồ hụt thằng Ness kìa? Xếp phì khói, nhíu mày tư lự. Bộ trường cảnh sát liên bang huấn luyện cho thằng chó đẻ này được cái lỗ mũi đặc biệt để biết đánh hơi ra mùi nguy hiểm chăng? Làm gì có chuyện hoang đường đó. Nếu chuyện hoang đường này có thật thì giờ này dưới bờ hồ Chicago đã không có vài chục cái xác bị nhét trong bao bố của một mớ cớm liên bang đủ cỡ, đủ cấp bậc. Thằng Ness này dù được huấn luyện cỡ nào, tài giỏi tới đâu cũng không bao giờ ngờ đến việc bị chúng nó vào tận ty cảnh sát để làm thịt mình. Chuyện này cổ kim chắc chỉ có mình Frank Nitti mới dám làm.
Vậy thì tại sao? Xếp lắc đầu, khó nghĩ quá.
Sau một một lúc ngồi ôm đầu bóp trán, quăng thêm mấy điếu xì gà ra khỏi
cửa sổ, xếp thấy câu trả lời có thể chấp nhận được là:… Đù mẹ tại nó chưa tới số chết. Đúng. Xếp thấy lâu lâu mình cũng cần phải tin tưởng vào số mạng một chút. Đù mẹ mạng số gì độc địa vậy, xếp lẩm bẩm trong miệng vài câu nguyền rủa cái số sống dai của thằng cớm liên bang mắc dịch. Trời hỡi trời, tại sao trời lại để cho những thằng cớm hung ác như vậy sống làm chi dai quá không biết. Nó gây nên bao nhiêu khó khăn trở ngại những người sống ngoài vòng pháp luật như xếp. Xếp đứng dậy khỏi chiếc ghế bành, bước tới bên cửa sổ nhìn xuống đường. Chicago đẹp quá, Lexington lộng lẫy quá. Chỉ mới cách đây vài tháng, thành phố này là giang sơn bất khả xâm phạm với số lợi tức mỗi ngày là mấy bao bố bạc. Vậy mà chỉ có vài tháng, số tiền nhập kho vơi đi thấy rõ. Rượu đổ xuống mương hàng ngày như nước lã. Ngay đến bọn Do Thái cũng bắt đầu trở mặt. Tuần trước thằng Guzick còn thông báo là mấy Caporegime cho biết tinh thần của nhân viên đang đi xuống trầm trọng. Có gì đâu, chung quy cũng vì cái định luật bất di bất dịch của trời đất: Lợi tức ít mà công việc nhiều. Phải nói nhiều quá là khác. Xếp nhổ một bãi nước miếng qua cửa sổ, xuống đường cái và bung ra một câu chửi thề. Đù mẹ đời sẽ đẹp biết bao nếu thằng chó đẻ Ness không đặt chân xuống mảnh đất này.
Xếp quay lui và chợt giật mình nhớ tới thằng phụ tá tín cẩn. Biết tính tình
đầy tớ không ai bằng chủ. Trước khi ra đi, chỉ thị của xếp đã rõ ràng: “Nếu không thấy nó trong ty thì ôm súng về đây, đừng có nóng nẩy mà hư chuyện, chờ đến chiều trở lại làm cú thứ hai vẫn còn kịp.” Kế hoạch nghe thì hay lắm nhưng xếp biết tính thằng Frank Nitti khi lâm trận. Hễ ngửi được chút mùi thuốc súng, nhìn thấy tí máu rồi thì không còn ai kiểm soát nó được, kể cả xếp hay thượng đế. Người ta gọi nó là “Đệ nhất Đao Phủ Thủ Chicago” mà. Hơn nữa, “Tướng ngoài biên ải có khi còn cãi mệnh vua” huống gì thằng du côn không biết sợ trời sợ đất này. Hung dữ và khát máu như nó, có căn dặn bao nhiêu cũng bằng thừa, sức mấy nó thèm nhớ đến lời xếp. Kiếm hụt ở ty cảnh sát, chắc chắn nó phải nổi khùng dắt đàn em đi lùng cho đến khi nào bắn chết tươi được thằng Eliot Ness mới chịu về mò về. Xếp cau mày khi nghĩ đến đó. Vậy là hư hết chuyện rồi. Thằng Ness đâu phải là tay vừa. Nhất định sẽ có nổ lớn, nổ tùm lum, không khéo cả Chicago lại sắp sửa bị lôi cuốn vào một cơn binh lửa mới. Tụi Do Thái O’ Bannon và trùm Rusky chỉ mong có vậy để
bao vây xếp. Không chừng chúng nó còn dám hùa theo bọn này để chặt bớt vây
cánh mình. Đời mà, có thằng nào tốt hơn thằng nào? Càng nghĩ sâu, xếp càng thấy lạnh người. Xếp đâu có muốn vậy. Chưa bao giờ xếp thấy sợ chiến tranh bằng lúc này. Tốn quá, hao quá. Mà gây chiến với bọn cớm liên bang là điều xếp không bao giờ muốn. Kế hoạch gởi thằng Frank Nitti đi là đòn tuyệt vọng cuối cùng, bất ngờ xông vào bắn chết nó rồi dọt lẹ, không để lại vết tích gì. Nếu thất bại thì khốn đốn thấy rõ. Còn nếu thành công, cũng chưa chắc là đã yên thân với Hoa Thịnh Đốn, nhưng ít nhứt còn được thong thả mà từ từ thiết kế khác.
Dĩ nhiên, những ngày đầu tiên sẽ bị cả dàn chúng nó tẩn cho bằng thích.
Nhưng xếp biết, rồi chỉ cần vài tháng là mọi chuyện đâu sẽ vào đó hết. Có gì đâu, chi địa cho thật nặng là xong. Ngày xưa chi một thì sau đó phải chi mười. Đồng tiền sẽ giải quyết được mọi thứ. Xếp vẫn còn nhớ cái ngày ra lệnh thủ tiêu thằng biện lý Mcswiginn năm nào. Trong buổi họp “đại hội đồng” ngày hôm đó, ba nhóm kia:
Colosimo, O’ Bannon và tụi thằng Rusky, vừa nghe nói đến chuyện “bắn chết mẹ thằng biện lý” một cái là đứa nào cũng xón đái trong quần, mặt cắt không còn hột máu, dơ tay phản đối và lắc đầu lia lịa. Có thằng còn mếu máo dọa sẽ rút ra khỏi “đại hội đồng Cosa Nostra,” nhất định không có dính dáng liên hệ gì đến cánh Capone nữa. Mà nghĩ chúng nó sợ cũng phải. Mình chỉ là thế hệ thứ hai của những dân di cư gốc gác từ Ý, từ Âu Châu đến đây, đối với bọn Mỹ chúng chỉ coi mình như là “thành phần thứ ba” không đáng để ý tới. Chúng mày cứ việc giết nhau đi, giết bao nhiêu cũng được, bọn ông đếch cần miễn đừng có đụng đến xã hội của ông. Sau thời kỳ “Mass Immigration” năm 1880, nước Mỹ nhiều người quá, đông dân quá, mỗi năm chúng nó chết đi chừng vài ngàn đứa thì đã sao? Hễ càng bắn nhau nhiều thì càng làm giàu cho mấy hãng chế súng đạn, càng tạo nên công ăn việc làm cho tất cả. Cho nên, dù có sống già đến trăm tuổi, bọn tướng cướp gốc gác nhà quê ngu dốt này không bao giờ nghĩ rằng có một thằng … nhà quê trong bọn chúng dám tính chuyện làm thịt một ông biện lý Hoa Kỳ. Giết một người công dân thường đã phải
đắn đo rồi nói gì đến chuyện một ông quan. Mà là quan toà thì quả là chuyện không tưởng.
Dĩ nhiên, lúc bầu phiếu, bàn tay nào cũng dơ lên nói “No” hết. Bọn chết
nhát này tưởng đồng lòng như vậy thì sẽ áp lực được xếp. Nhưng không, tụi nó chưa biết Al Capone. Chỉ mình Frank Nitti và Al Capone biết … Al Capone thôi. Đột nhiên, cả phòng họp đang nhốn nháo bỗng im phăng phắt khi nhìn thấy xếp Al Capone lù đù đứng dậy. Thằng Frank Nitti ngồi ghế sau đứng lên theo liền. Cặp mắt hai thầy trò ngầu đỏ, làm như sẵn sang lật bàn để bắn lộn liền tại chỗ vậy. Trong giây phút, không khí căng thẳng bao trùm cả phòng họp. Mấy thằng cận vệ của phe bên kia ngồi sau các ông trùm cũng bối rối không biết phải xử trí làm sao. Có thằng đã nhẹ nhàng đưa tay bật nút áo vét ra để rút súng cho dễ.
Cả phòng im lặng như tờ. Tiên sư bọn khốn nạn này. Rủ đi bắn … cảnh sát
thì chả thằng nào dám, mà đối với anh em trong nhà chưa gì đã thấy muốn ăn thua đủ với nhau. Rõ là cái đồ khôn nhà dại chợ. Xếp Al Capone mỉm một nụ cười khinh bỉ, quét cặp mắt tóe lửa quanh phòng một lượt, rồi từ từ lên tiếng:
-Làm gì nóng vậy, anh em trong nhà không, có gì đâu mà hở một chút là
thò tay vô thò tay ra như sắp sửa giết nhau vậy? Bây giờ quí vị cho phép tôi trình bày như thế này: Nếu quí vị coi cái chuyện hạ một thằng biện lý là ghê gớm quá, ngoài sự tưởng tượng của quý vị thì thôi, xin để thằng Al Capone này hy sinh làm cho. Quí vị nên nhớ đây là chuyện chung của anh em chứ không phải riêng của cánh Capone này. Tôi cũng là người như quý vị. Người với đầy đủ những lo âu, những đòi hỏi v.v … Tôi nào có muốn ôm súng đi bắn một thằng biện lý Mỹ để làm gì? Chẳng qua cũng chỉ vì miếng cơm manh áo. Qúy vị biết rõ cũng như tôi, là nếu thằng biện lý chó đẻ này còn … sống ở Chicago thêm một năm nữa, chỉ một năm nữa thôi, tôi có thể nói tất cả chúng ta một là vô nhà đá nằm hoặc là xuống nghĩa địa hết ráo. Cái luật đơn giản của đời là nếu không diệt được người thì sẽ bị người diệt.
Xếp im lặng nhìn đám tướng cướp ngồi im một đống trước mặt, cắm một
điếu xì gà vào môi cho Frank mồi lửa rồi tiếp tục:
-Vì vậy, dù không muốn, mình chẳng còn lựa chọn nào khác nữa. Nó phải
chết. Nhưng, như tôi nói hồi nảy, nếu quí vị kẹt, tôi thông cảm qúy vị. Tôi chỉ mong quý vị ngồi yên, đừng đụng đậy gì hết. Nếu thành công, tôi cho phép quý vị được chia sẽ sự chiến thắng, còn nếu thất bại và Al Capone này có bị tụi cớm xa luân chiến đánh cho tan tành thì tôi cũng chỉ xin chịu một mình tôi thôi …
Tới đó, cặp mắt xếp bỗng long lên, nói như quát vào mặt bọn kia:
-Có ai phản đối gì không?
Thằng nào dám mở miệng phản đối? Ai cũng biết Al Capone nói là Al
Capone làm, tuyệt khỏi có cái màn hăm dọa vớ vẩn đi …
Sau đó, mọi chuyện đã xảy ra y như lời xếp nói. Lúc ấy, xếp mới nhận ra
cái sự ù lì của bọn công dân da trắng Hoa Kỳ. Thực ra, trước khi xuất quân, xếp cũng … xón đái trong quần như ai nên chuẩn bị kỹ lắm. Trước hết, xếp cùng thằng phụ tá tín cẩn dọt sang New York, tìm gặp trùm Luciano, người bạn thân thiết thời thơ ấu. Cũng như mấy thằng trùm chết nhát ở Chicago, vừa nghe xếp nói chuyện “thịt thằng biện lý Mỹ” là đệ nhất hung thần New York Luciano nhảy dựng lên như người dẫm phải lửa. Hắn nhìn hai thầy trò Al Capone như nhìn mấy con quái vật từ dưới đất chun lên. Phải năn nỉ thuyết phục và chi một mớ địa kếch sù suốt cả một buổi chiều Luciano mới chịu xiêu lòng. Mà xếp đâu có nhờ vả gì nhiều. Xếp chỉ cần mướn đỡ hai dãy nhà kho gần bến tàu dùng để dùng làm nơi tị nạn cảnh sát, chờ tàu cập bến là phóng lên để dọt qua Âu Châu nếu bị tụi nó hành chịu không nổi.
Xếp chỉ lo xa như vậy thôi chứ chưa chắc đã cần dùng đến. Thằng Luciano nhận tiền đặt cọc 200 ngàn đô bỏ vào tủ xong còn lo sợ nói trước: “Dưới hai tháng tao lo được. Còn trên hai tháng, mày và … thượng đế lo lấy với nhau … “
Trở về lại Chicago, duyệt lại kế hoạch, thực tập tới thực tập lui mấy lần
cho đến khi nào thấy không còn sơ xẩy chút nào hết xếp mới dám bật đèn xanh cho thằng đệ nhất đao phủ thủ sách súng ra đi …
Sau ngày án mạng, cứng như xếp mà cũng thấy hơi chột dạ, bèn nghe lời
đề nghị của Frank Nitti dọt xuống Florida nghỉ ngơi vài tuần. Không biết đi chuyến này rồi có bao giờ nhìn thấy được Chicago không nên trước khi leo lên xe lửa, xếp kề tai thằng phụ tá dặn dò: “Nếu chúng nó làm dữ quá, chịu không nổi thì gom góp anh em lại, bỏ hết mà chạy lấy người. Dọt lên New York chờ tao trên đó. Tụi mình sẽ gặp nhau để chuẩn bị đón tàu đi Âu Châu. Tao đã có sẵn một chi nhánh bên đó.
Mình sẽ bắt đầu lại … ” Chính xếp, xếp cũng cho thằng cận vệ ruột ôm theo mấy va li đầy nhóc tiền bạc nữ trang để phòng trường hợp như vậy.
Chuyến xe lửa đi về Florida chưa bao giờ thấy dài như ngày hôm ấy.
Báo chí Mỹ và thế giới suốt mấy tuần lễ chỉ chạy cái tin “án mạng của thế
kỷ” này. Lần đầu tiên, tên Al Capone và Chicago được thế giới biết tới.
Nhưng sau đó, qua báo chí, từ từ xếp khám phá ra những phản ứng yếu xìu
của quần chúng nước Mỹ. Ngoài trừ bọn báo chí lo chạy tin tức, viết phóng sự
phóng đại cuộc đời vốn dĩ đã … vĩ đại của xếp lên, các ông dân cữ lâu lâu lên diễn đàn chửi bới lung tung, làm gì có vụ “trả thù khủng khiếp trên khắp nước Mỹ” như cả bọn đã từng lo sợ? Tại Chicago, nơi tội ác đã diễn ra thì bố ráp lớn là chuyện dĩ nhiên. Mấy tuần lễ sau đó, giới anh chị Chicago phải trốn chui trốn nhủi như chuột.
Cảnh sát tung hoành như cọp đói giữa bày dê. Mấy trăm thằng mafioso của mọi phía đi đứng lạng quạng hễ gặp cảnh sát là bị xúc lên xe cây hết. Mày vô tội hả thằng chết bầm này, ông tẩn cho mày thành có tội. Mày nói mày không biết ai bắn ngài biện lý hả, tao nhốt mày vô xà lim rồi cùm chân mày lại vài tuần coi thử mày có biết không? Thằng kia, nhà cửa gì sao mà toàn những thùng là thùng. Thùng chứa sữa bò hả? Đưa cây búa đây, tao phạng một nhát vào dưới đáy coi thử sữa chảy ra màu gì? Còn thằng chó đẻ này, mày nói mày làm ăn lương thiện hả, ông cho thử một mồi lửa vô cái nhà tối tăm này coi thử có con … đĩ nào chạy ra không cho biết …
Nhà tù nhốt không hết người, cảnh sát phải căng lều cho chúng nó nằm ngủ
ngoài sân. Các khu làm ăn, các khu ăn chơi coi như khỏi có hoạt động nổi. Mấy em giang hồ đói dài người ra. Ma cô cũng cùng chung số phận. Mấy trăm cái lò nấu bị chúng nó xông vào, chất rượu bỏ lên xe hết để đem ra ngoài chia chác với nhau rồi trở lại đập phá tan tành. Còn cách nào phi tang tội ác của cảnh sát hay bằng cách đó? Ai cũng biết cớm Chicago thừa nước đục thả câu, ăn lên đầu lên cổ của mình nhưng thằng nào dám xông ra, chỉ biết đứng … xa xa mà ngó. Ló mặt ra là bị chúng nó còng đầu lại liền. Xòng bài xòng bạc thì coi như khỏi có dám mở cửa. Ngay cả thằng trùm Do Thái O’ Bannon khôn ngoan và chi đẹp như vậy mà vẫn bị chúng xông vào nhà còng tay dắt đi trước mặt vợ con mà. Báo chí tới chụp hình nhà triệu phú bị bắt, trùm O’Bannon tưởng bở, mới xổ có vài câu bậy bạ là chúng nó dộng cho mấy cái nằm thẳng cẳng một đống trên mặt đất. Máy hình nháy loạn cào cào mà xem ra có thằng cảnh sát nào thấy sợ hãi đâu? Mặt mày chúng nó còn vênh lên, làm như hãnh diện lắm vì đã đục được một thằng trùm Mafia giữa ban ngày ban nhật, ngay trước mặt nhà báo. Hê, Hoa Kỳ là nước tự do dân chủ mà. Cướp có quyền bắn biện lý thì cảnh sát cũng có quyền dộng cho trùm ăn cướp một trận để coi thử ai hơn ai. Muốn kiện thì cứ về nhà làm đơn …
Trùm Rusky và Colosimo biết trước nên dọt đi đâu mất tiêu trước đó cả
tháng. Riêng Colosimo, kỹ hơn, đón tàu thủy đi qua tới Paris làm một quả nghỉ hè dài 3 tháng. Tóm lại, cả bốn cánh Chicago đều bị khốn đốn. Nhưng đó là luật của chiến tranh. Cuộc binh đao nào mà không có can qua phiền lụy kìa? Hình như giới giang hồ lúc ấy ai cũng phần nào đoán được chuyện như vậy sẽ xảy ra nên đã chuẩn bị tư tưởng, không lấy làm buồn lắm. Thôi thì đành im hơi lặng tiếng một thời gian, chờ cơn bão lắng xuống rồi sẽ tiếp tục gióng buồm ra khơi …
Và cơn bão tưởng đã thổi xập đế quốc bàn tay đen đó chỉ vài tuần sau là
xẹp xuống như một cái bong bóng xì, sớm hơn cả sự tiên đoán bi quan của giới anh chị. Ai cũng cần tiền hết, làm khổ nhau mãi đâu có được. Động đĩ đóng cửa, xòng bài không lợi tức, rượu bia khan hiếm thì làm gì có tiền vô. Mà không tiền vô thì lấy đâu ra để chi cho thầy chú? Cảnh sát cũng chỉ muốn dần mặt bọn khốn này một trậnthôi, làm dữ quá chúng nó bỏ đi hết thì đồng lương thứ hai coi như biến mất. Đâu có được. Thế là mọi chuyện trở lại như cũ, sinh hoạt bình thường y ngày xưa lúc ngài biện lý Mcswiginn còn sống vậy. Mà xem ra thì có vẻ phát triển mạnh hơn hồi xưa nhiều. Ngài “biện lý du côn” đã nằm sâu dưới ba thước đất rồi, đâu còn có ai hạch sách và ăn hiếp anh em nữa. Giới giang hồ Chicago, đúng hơn là xếp đã thắng một trận lớn. Lớn ngoài sự mơ ước của mọi người. Danh tiếng Al Capone vang động bốn phương trời. Thằng Luciano còn gởi người xuống Chicago để học tập ưu khuyết điểm kia mà. Nghe nói nó bị thằng quận trưởng quận Bronx làm khó sao đó không
biết. Ngày xếp Al Capone trở về, bốn phe gởi người ra đón tiếp xếp như một
anh hùng và cũng từ ngày đó, xã hội Mafia Hoa Kỳ bước qua một khúc rẽ mới …
Nhưng đó là chuyện của hơn mười năm trước. Tình hình bây giờ khó khăn
hơn xưa gấp bội. Xếp vò đầu suy nghĩ. Sự khác nhau giữa thằng Mcswiginn và
thằng Ness này là cây Colt.45 trong tay nó. Không, phải nói thêm sự may mắn và cái sọ khỉ quyền biến, tính toán nhanh hơn máy.
Xếp lại suy nghĩ và bắt đầu thấy lo cho thằng phụ tá của mình. Về tài nghệ, giữa Frank Nitti và Eliot Ness, chưa biết ai hơn ai nhưng xếp không bao giờ
gởi đàn em ra trận nếu không nắm chắc phần thắng. Đánh mà không thắng thì
chẳng thà đừng đánh. Xếp lại nghĩ đến chuyện thằng Frank Nitti bị bắn chết tươi hay bị Eliot Ness còng đầu dắt về bót. Kẹt cho xếp lắm. Phải mất mười mấy năm mới đào tạo được một thằng như phụ tá Frank Nitti, kiếm người thay thế nó không phải dễ. Có thể nói, Al Capone mà không có Frank Nitti bên cạnh thì Al Capone cũng đâu có hơn gì những cánh khác. Mỗi ngày mà không nhìn thấy mặt hay nghe tiếng nó một lần là xếp thấy đứng ngồi không yên.
Đã lâu lắm rồi, kể từ sau cuộc đại chiến với tụi Colosimo, ít khi nào thấy
xếp bồn chồn như hôm nay. Xếp Al Capone chụp điện thoại gọi cho thằng Frankie Rio.
-Mày biết gì chưa? Đù mẹ thằng Frank Nitti vồ hụt thằng Ness rồi. Mày
xách 3 chiếc xe, đem hết mấy thằng cận vệ dọt tới ty cảnh sát Chicago coi thử cha con nó đang làm gì? Nếu gặp kêu nó về đây gấp cho tao. Đi cho lẹ. Nếu nó đang đụng lớn thì mày phải nhào xuống tiếp cứu liền, làm sao đem cho được thằng phụ tá của tao về đây bằng mọi giá. Nếu không có gì thì tuyết đối cấm không được nổ bậy bạ. Mày nói với nó là tao biểu vậy, không được trái lời.
Cú điện thoại thứ hai xếp gọi cho thằng Mike, Caporegime đương lên của
khu South side:
-Có chuyện rồi, tao sai Frank Nitti đi làm thịt thằng Ness. Nó làm hụt mà
sao đã hơn tiếng đồng hồ rồi sao chưa thấy trở về. Đây đang thiếu người, mày đem hết toán của mày lên đây tăng cường cho Lexington.
-Xếp có cần tôi lên luôn không?
-Sao lại không, hỏi kỳ cục. Mày lên đây luôn, tao có chuyện cần bàn.
Sắp đặt đâu đó xong, xếp vẫn còn chưa thấy yên tâm, lại muốn đích thân đi
xuống ty cảnh sát coi nhưng thằng Guzick cản quá đi chưa được. Ngồi im một lúc cho tinh thần lắng xuống, xếp quay sang thằng cận vệ thân tín:
-Genn, mày “thay đồ sạch sẽ” dắt hai thằng nữa chạy xuống ty cảnh sát
cho tao. Có gì báo cáo liền.
Gienn gật đầu nhận chỉ thị. “Thay đồ sạch sẽ” đây có nghĩa là cắn răng lột
bỏ cái lớp aó quần đắc tiền mấy trăm đô la đi, mặc vào những cái áo vài chục cents để giả dạng làm những người công dân lương thiện thi hành bổn phận do thám. Những công tác như vậy, ngay cả dao con chó cũng không được lận theo trong người. Glenn biết rõ. Nó ngoắc hai thằng đàn em dọt đi liền. Cả ba đứa vừa cởi ca vát vừa chạy như bay xuống cầu thang.
Xếp quay sang thằng Guzick:
– Vụ thằng Ness nên giải quyết cách nào?
Ông phụ tá Do Thái nhún vai:
-Mũi tên đã bắn đi, không thể nào lấy lại được nữa. Nếu bắn hụt thì phải
bắn tiếp phát thứ hai. Và bắn càng sớm càng tốt.
Đầu óc … Do Thái quả có khác. Cái giống dân giết Chúa này tính đâu ra
đó đàng hoàng, hèn gì lưu lạc khắp nơi trên thế giới mấy ngàn năm mà không ai tiêu diệt nổi.
-Ai có thể bắn được mũi tên thứ hai, thằng Frankie Rio chăng?
Guzick trả lời liền, khỏi cần suy nghĩ:
-Không, giao cho thằng Mike Casey! Dù sao, cảnh sát vẫn dễ giết cảnh sát
hơn.
Thật là trí lớn trong thiên hạ luôn luôn gặp nhau. Xếp đã nghĩ đến chuyện
này từ lâu nhưng muốn hỏi thử thằng phụ tá coi thử trí nó tới đâu. Trong đầu, xếp còn có một ý tưởng xa hơn ý tưởng của nó một bực.
-Ông gọi vào ty cảnh sát coi thử lão Mike Casey còn đó không, tôi muốn
nói chuyện với lão một chút.
Guzick bốc điện thoại và liên lạc được với Mike Casey ngay, khỏi phải chờ
cho chuông rung đến lần thứ hai. Nghe giọng thằng Guzick là lão Mike Casey mừng lắm. Xếp còn gọi mình, còn muốn nói chuyện với mình là xếp chưa thèm gởi đao phủ thủ đến.
-Xếp Al Capone muốn nói chuyện với ông.
-Lão đây, lão sẵn sàng.
Kê sát ống nói vào miệng, xếp Al Capone hỏi rất nhẹ nhàng, bình tĩnh:
-How do you do Mike?
Mike Casey thấy ú ớ, không ngờ giọng nói của xếp lại nhẹ nhàng quá
chừng. Chính sự nhẹ nhàng này làm lão tái mặt. Xưa nay, hễ xếp còn chửi thề, còn văng tục và đấm đá tùm lum thì chuyện chưa đến nổi nào. Chửi cho đã miệng xong là thế nào xếp cũng quên đi, không có gì xảy ra hết. Còn nếu xếp ăn nói lễ độ, mặt lạnh như tiền thì người đối thoại phải nên coi chừng lắm. Tàn câu chuyện trước khi chia tay mà xếp còn biểu diễn cái màn ôm con người ta hôn đến chụt một phát thì cuộc đời của kẻ đó coi như có thể đếm từng giờ. Cái kỳ lạ của dân Sicilian là không thích hôn vợ hôn con mà chỉ khoái hôn hai loại người: Bạn bè và … xác chết.
Nói chuyện bằng điện thoại, không thấy nhau nhưng xếp Al Capone có thể
mường tượng ra khuôn mặt của đại úy Mike Casey qua những tiếng nói tắt nghẹn:
-Al, tôi xin lỗi bạn chuyện vừa qua. Nó vừa ở đây chớ đâu, không biết nó
đi đâu mà lẹ quá. Cái thằng … mắc dịch. Tôi … tôi thành thật xin lỗi bạn.
-Bỏ chuyện đó đi, dù sao thì nó cũng đã đi rồi. Tôi muốn nhờ ông chuyện
này, không biết ông có kham nổi không?
Còn được Al Capone nhờ có nghĩa là nó chưa muốn “tuyệt tình” với mình,
tức là còn có hy vọng. Mike Casey mừng rỡ:
-Xưa nay bạn nhờ tôi chuyện gì tôi đâu có dám từ chối.
-Good. Có hai chuyện: Trước hết, tôi muốn ông lục lại trong mớ hồ sơ cũ
của phòng “Hồ sơ tội ác”, lấy hết những cái phích đen của thằng Frank Nitti ra đem thủ tiêu sạch. Phải làm liền, ông nhớ đó, rất quan trọng. Xong chuyện này ông sẽ được trọng thưởng. Sau đó, tôi muốn đích thân ông xách vài chục thằng cảnh sát chạy ra kiếm coi thằng Frank Nitti ở đâu rồi? Nếu nó đang bắn nhau thì nhảy vào can thiệp làm sao đừng để cho thằng phụ tá của tôi bị chúng nó bắn chết tươi hay bị bắt. Bây giờ chắc ông đã đồng ý với tôi rằng thằng Ness nó khôn lanh cỡ nào rồi chứ gì? Nếu nó có bằng cớ gì về thằng Frank Nitti phạm pháp thì sẽ rắc rối to. Cái chồng phích đó mà lọt vào tay thằng Ness thì kẹt lắm. Đừng quên là nó có quyền nhốt thằng phụ tá tôi trong vòng 24 giờ.
Mike Casey gật gù đồng ý. Lão không ngờ thằng trùm mafia này biết luật
pháp và rành chuyện cảnh sát nhiều hơn lão tưởng. 24 giờ xộ khám không có nghĩa gì với một thằng từng vào tù ra khám cỡ Frank Nitti nhưng vào tay một anh cớm liên bang dữ dội như Eliot Ness thì nó sẽ làm to chuyện. Nghề của cảnh sát mà. Biết đâu trong cái phích cũ dày mấy trăm trang của nó, thằng Ness sẽ chẳng kiếm ra vài cái tội cũ rích và vô thưởng vô phạt như tội … đái đường chẳng hạn mà lôi nó ra tòa trở lại để xin một cái án chừng vài tháng. Đừng nói vài tháng, một tháng thôi là đế quốc Al Capone cũng thấy chấn động rồi. Hơn nữa, cái nguy hiểm nhất là xưa nay thằng Frank Nitti đã giết nhiều người quá, phạm nhiều tội ác quá. Suốt mấy chục năm nó bắn giết tùm lum, chẳng kiêng nể một ai cả, không có một hành động nào mà nó từ, nhưng chưa bị lên ghế điện là vì chưa có người dám đứng ra làm nhân chứng và tố cáo. Bây giờ, nếu thằng Ness chịu khó một chút, chộp đại một thằng yếu bóng vía nào đó trong cái đám giang hồ của Chicago, đi vài đường hứa hẹn và bảo vệ thằng đó kỹ lưỡng thì cuộc đời của thằng Frank Nitti khó mà lọt qua nổi mấy chấn song sắt nhà tù. Hoặc bi thảm hơn, con đường lên ghế điện cũng chẳng có gì xa, sát ngay bên nách.
Mike Casey chặc lưỡi. Chả trách gì AI Capone phải lo bấn xúc xích lên
như vậy. Kiếm một thằng giết người thì dễ chứ kiếm một thằng phụ tá văn võ toàn tài lại trung thành như cỡ Frank Nitti đâu phải moi đâu cũng có?
-Được, ông bạn Capone cứ yên trí, có tôi ở đây thì bạn khỏi phải lo.
Xếp Al Capone lập lại lần nữa câu nói lúc nãy:
-Ông nhớ kỹ những gì tôi nói với ông đó, không phải là chuyện đùa đâu,
chết người đấy ông Casey ạ.
Mike Casey lại thấy lạnh nơi gáy. Có bao giờ thằng trùm mafia này ăn nói
trịch thượng như vậy? Lão hiểu là nếu lần này mà lão để sơ xẩy thì cái mạng của lão coi như đi đứt. Mike Casey nói mấy lời trấn an rồi lẹ lẹ rồi cúp điện thoại, bấm chuông gọi bà thơ ký. Bà ta vừa xuất hiện là lão nói ngay:
-Nhờ bà gọi ông trưởng phòng hồ sơ tội ác, bảo đem hết mấy cái hồ sơ của
thằng Frank Nitti từ hồi “tạo thiên lập địa đến giờ” lên đây liền lập tức cho tôi. Nói giùm là chuyện này rất quan trọng.
Bà thơ ký quay lui, lão chụp điện thoại gọi người trung sĩ trưởng toán trực. Gã này đang ngồi ăn miếng bánh săn quích, bốc ống nghe lên, nhồm nhoàm nói:
-Alô, dạ Finnan, hạ sĩ quan trực tôi nghe.
-Mike Casey đây, sáng nay mình còn lại mấy toán trực trừ bị?
Người cảnh sát bỏ miếng bánh xuống bàn, nhìn xuống tấm giấy kẻ đầy ô
vuông, ghi chi chít những tên họ một lúc rồi báo cáo, giọng hơi ngạc nhiên:
-Còn được ba toán.
-Trung Sĩ cho tụi nó chuẩn bị súng ống sẵn sàng, chờ tôi xuống là đi hành
quân liền lập tức.
Finnan thắc mắc lắm nhưng không biết nói gì. Đại úy Mike Casey lúc sau
này tính tình có vẻ hơi bất thường, nhất là từ khi có sự xuất hiện của ông cớm liên bang Eliot Ness. Gã chép miệng lắc đầu rồi bốc máy gọi xuống phòng trực.
Cầm xấp hồ sơ của Frank Nitti vừa được mang lên, Mike Casey chợt nảy ra
một ý tưởng độc đáo. Biết thằng này lâu quá rồi nhưng lão chưa bao giờ để ý coi thử hồ sơ tội ác của nó ra sao. Lão lật sơ sơ, cặp mắt chuyên nghiệp của 30 năm làm nghề thầy đội chỉ cần liếc một cái là nhận ra đây là một kho tàng vô cùng quý giá.
Thằng cựu hạ sĩ TQLC của đệ nhất thế chiến đã bị rắc rối với pháp luật từ năm 1919 chớ đâu phải mới đây. Coi, từ đó tới giờ nó bị xúc vô bót cũng cỡ vài chục lần, từ những tội nhỏ như hành hung, đốt nhà người ta, đánh mướn cho đến giết người … ,có tội gì mà nó không phạm đâu kìa. Mà phạm dài dài từ New York qua tới Chicago. Vậy mà có lần nào cảnh sát giữ được nó quá hai mươi bốn tiếng? Tội dù nặng đến đâu rồi cũng bị hủy bỏ trước khi ra tới tòa vì không tìm thấy nhân chứng. Hồ sơ tội ác gì mà càng đọc càng thấy … thích thú, cứ như tiểu thuyết. Chuyện gì đã làm nó trở thành “Đệ nhất đao phủ thủ Chicago?” Lão muốn ngồi đến tối để đọc hết mấy trăm trang hồ sơ này nhưng lại nhớ đến nhiệm vụ của Al Capone vừa giao.
Nếu chậm trễ mà có chuyện gì xảy ra cho thằng Frank Nitti thì khó sống được với Al Capone.
Mike Casey đứng dậy, ôm mớ hồ sơ tính bỏ vào thùng rác nhưng bỗng dừng tay, cảm thấy ngần ngừ tiếc rẻ. Vất nó đi luôn thì uổng quá. Biết đâu chừng.
Phải, biết đâu chừng một ngày nào đó mình sẽ cần tới nó để làm khó thằng Al
Capone một mẻ. Cái mũi của người cảnh sát già lại đánh hơi thấy mùi kim tiền. Cứ để nó nằm kín tại đây, chỉ một mình mình biết thì cũng coi như là vất đi rồi. Lão suy nghĩ một lúc rồi quyết định gom mớ hồ sơ bỏ vào một cái hộp, lấy keo dán kín, mở tủ bỏ nó trong cái học quan trọng nhất rồi đội mũ bước ra. Đã đến giờ phải đi ra xem tụi nó giết nhau đến đâu rồi?
Khi đoàn xe cảnh sát 3 chiếc do Mike Casey dẫn đầu chạy đến nơi đấu súng thì mọi chuyện đã xong từ lâu. Xe cảnh sát bao vây đậu kín khu vực. Sáu cái xác chết được trùm vải trắng loang lỗ máu nằm rải rác ngoài quán. Mớ cảnh sát trực đã làm hàng rào cô lập khu nổ súng, chỉ có phóng viên nhà báo và nhân viên an ninh mới được lọt vào. Từ đàng xa, khi nhìn thấy hai thằng cớm Eliot Ness và Gary Malone đứng nói chuyện với nhau, Mike Casey tái mặt liền. Hai thằng “trời đánh” hôm nay sao thân thiện nhau quá trời. Như vầy thì Al Capone coi như chết mẹ nó hết một cửa nữa. Mike Casey thắc mắc không hiểu chúng nó có liên hệ gì đến sáu cái xác phủ khăn trắng này không. Tài xế vừa thắng, Mike Casey phóng xuống xe liền. Nếu một trong những cái xác này là thằng Frank Nitti thì tương lai của Al Capone coi như đen tối vô cùng. Lão hối hả chạy đến lật từng cái xác để nhìn mặt.
Lão mừng rỡ trong lòng khi coi đến cái xác cuối cùng. Thằng Frank Nitti đân phải là hạng dễ chết như vậy. Không hiểu thằng nào bắn mà đẹp quá. Đạn đâu có them chui bậy bạ tay chân hay chân cẳng người ta? Phát nào phát nấy thật đáng đồng tiền bát gạo “Một là vô tim hai là vô sọ … “. Mike Casey lắc đầu. Bắn đẹp vậy thì Chicago này ngoài thằng Frank Nitti ra chỉ có thằng Gary Malone.
Lão hỏi một người cảnh sát đứng gần đó đang ghi ghi chép chép vào biên
bản:
-Đầu đuôi ra sao kể tao nghe coi?
Người cảnh sát viên ngừng tay, hất đầu về phía Eliot Ness và Gary Malone:
– Không biết rõ đại úy, tôi cũng còn đang phối kiểm tin tức để làm biên bản
nhưng tóm tắt là có mấy thằng cô hồn ở đâu không biết đương không ôm súng xông vào quán này tính làm thịt ai đó. Xui cho chúng nó, hết chỗ đi làm ăn hay sao mà lại đâm sầm vào chỗ thầy đội Gary Malone đang ngồi uống cà phê với ông cớm Ness. Khu vực này thuộc trách nhiệm của Gary Malone mà. Hắn phơ trước …
Mike Casey đá nhẹ vào một cái xác, giả đò ngu ngơ:
-Chúng nó mấy đứa tất cả?
– Tụi nó hình như đi nguyên một băng lận. Hai thằng vô trước, mấy thằng
kia đi theo tiếp ứng cái kiểu TQLC xung phong ấy mà. Vậy mà cũng bị 3 ông cớm này quất sụm luôn. Đại Úy biết tài bắn của Gary Malone. Cả ông cớm liên bang Ness bắn cũng đâu có thua gì …
Mike Casey gật gù cái đầu:
-Tụi này là dân chuyên nghiệp hay dân tài tử?
– Đại úy dòm thử coi, có bộ đồ nào giá tiền dưới 200 đô la đâu. Thời buổi
gạo châu củi quế này, dân Chicago làm gì có tiền để diện bảnh vậy. Tụi nó nhất
định phải là dân … ăn cướp. Dĩ nhiên, không đứa nào có giấy tờ tùy thân hết. -Có đứa nào bị thương hay bị bắt không?
-Không! Tụi nó dọt hết.
Hỏi vài câu vậy đủ rồi, ngày mai thế nào lão cũng nhận được đầy đủ biên
bản báo cáo. Mike Casey rút mu soa bao tay, lượm một cây Tommy gun lên ngắm nghía. Lão tháo băng đạn ra nâng lên nâng xuống để đo lường sức nặng. Kẹp đạn hầu như còn đầy y nguyên. Vậy là tụi này đã bắn được phát nào đâu. Hoặc nếu có, chừng vài phát là tối đa. Lão lại nghĩ đến đến những cái xác mình vừa dỡ ra coi hồi nãy. Gớm thật, đâu có thằng nào bị quá hai viên? Bắn như vậy mới là bắn.
Mike Casey để cây tiểu liên xuống vị trí cũ rồi dắt đám cảnh sát lâu la đi
tham quan một vòng. Chẳng có gì để làm cả. Thằng Nitti đã thoát nạn. Công tác của lão đối với Al Capone coi như đã xong. Mike Casey tà tà bước tới bên Eliot Ness hỏi vài câu chuyện bâng quơ rồi ra hiệu cho đàn em lên xe ra về. Lão không muốn nhìn cái bản mặt của thằng Gary Malone lâu thêm chút nào nữa. Trên xe, Mike Casey cứ thắc mắc không biết hai đứa chúng nó bàn tính gì với nhau. Thôi, ráng chờ đến ngày mai, coi biên bản thì sẽ biết hết. Mike Casey lại nghĩ đến xấp hồ sơ của thằng Frank Nitti. Và cũng y như lúc nãy, cái mùi kim tiền lại xông lên mũi lão.
Về tới sở, Mike Casey bốc điện thoại báo cáo cho Al Capone. Đầu dây
đằng kia là tiếng nói của ông cố vấn Guzick:
-Ông khỏi phải lo nữa, Frank Nitti về tới đây rồi, xếp gởi lời cám ơn ông.
-Ồ, có gì đâu, giúp đỡ nhau là chuyện thường tình mà.
-Xếp có lời nhắn gởi cho ông.
-Nhắn gì?
-Xếp muốn mời ông sáng mai lên đây gấp. Sẽ có một cuộc họp để bàn về
những chuyện xảy ra.
-Mấy giờ?
-10 giờ sáng.
Mike Casey sốt sắng:
-No problem! Tôi sẽ có mặt.
Gác điện thoại lên giá, Mike Casey nhìn đồng hồ rồi đứng dậy. Lão mặc
áo đội mũ vào toan bỏ đi về nhưng ra tới cửa, bỗng đổi ý quay lui. Mike Casey
máng áo và cái mũ mình vừa đội vào trở lại trên kệ rồi tới bên tủ đựng hồ sơ lôi cái chồng phích của thằng Frank Nitti mà lão vừa cất kỹ ban sáng ra.
Mike Casey nói cho bà thơ ký biết mình bận việc không tiếp ai cả rồi khóa
cửa phòng, kéo màn xuống phủ kín. Lão ra ngồi nơi bàn giấy, để chồng hồ sơ có cái tên Frank Nitti to tổ bố trước mặt. Mike Casey mồi một điều xì gà, trịnh trọng bắt đầu đọc từ trang một. Trang đầu tiên của cuộc đời thằng “đệ nhất đao phủ thủ Chicago” bắt đầu từ năm 1919 tại New York, nhưng có liên hệ giây dưa từ trước năm 1889 tại một miền quê của đảo Sicili bên Ý …
Sáng hôm nay trời thật dễ chịu. Mùa thu ít khi nào lại ấm áp như thế này.
Trong văn phòng đặc biệt của Eliot Ness, chàng và cảnh sát viên Lite ngồi cúi đầu trên tấm bản đồ Chicago. Lite, người cảnh sát vô tình có mặt hôm nào trong toán hành quân của chàng, bây giờ đã chánh thức trở thành một cộng sự viên của Eliot Ness. Trước khi làm giấy tờ để tuyện mộ hắn, chàng đã đi một đường điều tra kỹ càng. Hoàn hão, không chê vào đâu được. Lite chỉ mới gia nhập nghành cảnh sát không tới hai năm. Luôn luôn là một cảnh sát viên gương mẫu. Không rượu chè, không gái ghiếc, sống rất chừng mực. Hắn đoạt giải thiện xạ súng lục của Chicago năm ngoái. Trước khi được cắt vào toán hành quân đặc biệt cho Eliot Ness, hắn làm phụ tá điều tra án mạng cho một ông trung sĩ già. Ông này rất chịu hắn.
Tối qua, nhờ Collen tiếp sức, Eliot Ness lại vừa khám phá ra được một lô 3,
4 cái lò nấu rượu khác. Bây giờ, hai người đang họp nhau để quyết định nên đánh cái nào, bỏ cái nào.
-Ông Ness, tôi nghĩ mình nên trở lại chỗ hôm nọ, cái chỗ mà mình bị mất
trát tòa đó. Những chỗ này chỉ nên ló ra cho ông đại úy biết thôi.
Eliot Ness nhíu mày:
-Chỗ đó tôi thấy có vẻ phòng vệ cẩn mật lắm.
-Đồng ý vậy nhưng xét về khả năng thì tụi nó đã mệt mỏi lắm rồi. Hơn
nữa, mình còn có 12 người cảnh sát địa phương nữa kia mà.
– Anh đánh giá tụi này ra sao?
-Dĩ nhiên, như ông biết, 80 phần trăm cớm tại đây ăn lương của Al Capone. Nhưng kể từ ngày ông tung ra chiến dịch “hành quân ma” đến nay, tôi biết
lương của tụi nó bị cắt đi nhiều. Dĩ nhiên, lương ít hơn thì tụi nó cũng làm việc ít hơn, đúng theo với đồng lương được trả. Nhiều thằng đã tỏ ra lơ là. Thậm chí, ngày hôm qua, có mấy cái động chơi bời nộp tiền trễ ra sao đó, đã bị cảnh sát hành quân dợt cho một mẻ … Hơn nữa, nếu có mình trực tiếp chỉ huy, tụi nó có muốn cãi cũng không được.
Eliot Ness chịu thằng cớm trẻ này quá. Nó ăn nói y hệt một … Eliot Ness
cách đây mười năm trước. Lý luận đâu ra đó ngon lành như vậy thì đến khi hành động nhậm lẹ phải biết.
-Được, tối nay mình ra quân.
Eliot Ness cẩn thận ghi nhớ địa hình chung quanh chỗ chung quanh rồi xếp
bản đồ lại, đưa cho Lite. Chàng cũng không quên móc túi lấy ra ba cái trát, ghé qua đưa cho người cảnh sát trực:
-Nhờ anh nói với đại úy Mike Casey. Đây là những chỗ dự định sẽ tấn
công tối nay.
Lão cảnh sát trực già lơ đãng cầm mấy tờ trát. Lão cũng chẳng lạ gì cái
màn này. Mấy tuần nay, cái bàn giấy của lão ngày nào lại không nhận ba bốn cái trát vớ vẫn như vậy. Nhiệm vụ của lão là phải ghi hết vào sổ, sau đó làm phúc trình mỗi ngày về diễn tiến của cuộc lục soát. Trăm lần như một, lão đều phải đề vào cái cột “kết quả lục soát” như sau: Hủy bỏ vì lý do kỹ thuật. Chuyện này chẳng có ăn nhằm gì tới lão, vì viết gì thì viết, đó chỉ là công việc. Điều làm lão buồn bực nhất là cái số lương phụ trội của lão càng ngày càng bị teo lại. Đã vậy, rượu bia thì lại tăng giá một cách đáng sợ. Hiếm bia quá nên cha con nó bèn nghĩ ra cái màn pha nước lã vào để bán cho khách. Lão bâng khuâng nhớ đến những ngày vàng son lúc thằng cớm này chưa đặt chân xuống Chicago …
Lite bước theo hỏi Eliot Ness:
-Bây giờ mình có gì làm không? Nếu không tôi xin phép về để lo vài công
việc, tối nay mình gặp lại.
-Muốn về thì cứ việc về đi? Mà này, uống cà phê chưa? Trời đẹp như thế
này để tôi đãi anh một chầu cà phê sáng.
-Ai chớ ông thanh tra mời thì tôi đâu dám từ chối. Để tôi vào văn phòng
lấy cây súng đã.
Eliot Ness cản hắn lại:
-Đi uống cà phê ở một tiệm gần đây thôi mà, súng ống làm gì.
Lite lắc đầu:
-Ở Chicago này, chỗ nào cũng có thể bị nguy hiễm hết.
Eliot Ness gật đầu đồng ý. Chàng cũng quay trở lại vào văn phòng, đeo
cây Colt.45 vào. Hai người tà tà vừa nói chuyện vừa sánh vai trên lề đường, đi ra quán cà phê …
Eliot Ness và Lite vừa bước ra khỏi ty chừng 10 phút thì có 3 chiếc Limousine đen bóng loáng dừng lại trước cửa ty. Từ chiếc xe giữa, Frank Nitti cùng
4 thằng cận vệ ăn mặc sang trọng khoác áo bành tô phủ kín người hùng hỗ bước xuống. Chúng lặng lẽ bước vào ty cảnh sát như những công dân lương thiện. Vào hẳn trong ty, Frank Nitti chìa ra cái tấm danh thiếp của đại úy Mike Casey:
-Tôi là bạn của đại úy Mike Casey, tôi vào gặp ông ta một chút.
Người cảnh sát trực cửa cầm lấy tấm danh thiếp. Lật thấy phía sau có ghi
hàng chữ: “Xin anh em đối xử tử tế với người cầm thiệp này. Anh ta là bạn tôi”. Ông chẳng lạ gì những tấm thiệp này. Nó có nghĩa là: “Đừng có động đến ông bạn tôi. Hãy để nó đi đâu thì đi, làm gì thì làm.” Dòm kỹ hơn một chút thì ông biết khách này là hạng người nào, bèn mở một nụ cười:
-Ông bạn khỏe không, để tôi coi có đại úy trong đó không?
Frank Nitti không thèm đáp lễ cái nụ cười của thầy cảnh sát. Giống như 4
thằng đàn em, nó đứng yên, tay thọc sâu trong áo bành tôi, nắm chặt bá súng cây Tommy gun dấu trong đó.
Người cảnh sát bỏ vào trong một chút rồi trở ra:
-Có, đại úy đang chờ anh ở trong đó.
Nói xong ông ta kéo cánh cửa nhỏ, Frank Nitti cùng một thằng đàn em
bước vào. Ba đứa kia vẫn đứng im lìm nơi phòng đợi. Thầy cảnh sát cũng khỏi them thắc mắc, các bạn muốn vào thì vào, còn không đứng lại đây cũng được? Chả ai cần để ý.
Vừa lọt vào trong là Frank Nitti cùng đứa đàn em tăng tốc độ của bước
chân. Phải nói là bây giờ chúng nó đi như chạy mới đúng. Tới hành lang chính, nếu muốn thăm đại úy Mike Casey, thì chúng phải quẹo tay phải, nhưng chúng lại quẹo trái. Quẹo trái tức là đi về phía văn phòng của thanh tra sở đặc vụ Eliot Ness.
Tới gần văn phòng Eliot Ness cả hai dừng lại, rồi từ từ thò tay mở nút áo
bành tô ra. Một hai ba, cả hai đứa đột nhiên nhảy một cái đứng sựng ngay trước văn phòng ông thanh tra. Hai cây Tommy gun dấu sẵn trong áo toan móc ra thì chúng đã cất lại kịp thời. Văn phòng trống trơn.
Frank Nitti chửi thề một tiếng. Sao lại có chuyện lạ lùng vậy cà? Chính
Mike Casey phone cho nó cách đây chừng mười phút, bảo là Eliot Ness đang ngồi làm việc trong văn phòng mà. Thằng cớm này đi đâu lẹ vậy? Đi tiểu đi đái chăng?
Có thể lắm. Nếu vậy thì nó phải ló mặt ra trong một thời gian ngắn.
Frank Nitti bảo thằng đàn em:
-Đù mẹ thằng này chưa tới số chết. Chắc nó đi … ỉa. Cứ đứng chờ đây
chừng 10 phút. Hễ nó trở về là phơ liền nghe chưa. Thấy mặt là phơ liền, không chần chờ gì cả. Đù mẹ cái thằng … chó đẻ. Bộ hết giờ đi ỉa đi đái rồi hay sao lại chọn vào cái giờ này …
Miệng càu nhàu nhưng nó vẫn đứng dựa sát người vào tường, nhường chỗ
cho người ta đi qua đi lại trong cái hành lang nhỏ. Trong ty cảnh sát, ngoại trừ lão Mike Casey là người biết sẽ có đụng lớn hôm nay, còn thì không ai biết được hai thằng khách mặc áo bành tô đứng trước văn phòng ông cớm liên bang là hai thằng anh chị lừng danh của Chicago đến đây với cái sứ mạng làm thịt ông ta.
Đúng ra, cái sứ mạng này đã được soạn thảo tỉ mỉ với sự có mặt của ba
người: Xếp Al Capone, Frank Nitti và lão Mike Casey. Sau khi Oliver Randal đem tin thất bại trở về, xếp biết đã đến lúc mình phải ra tay. Xếp suy nghĩ cả đêm trước khi quyết định vì biết rằng hết thằng Ness này, biết đâu chừng lại chẳng có thằng Ness khác xuất hiện. Mà đã bắn gục một thằng cớm lừng danh toàn quốc cỡ nó tất cả nước Mỹ phải rúng động. Nếu chuyện đó xảy ra, không chừng tổng thống Hoover dám cho TQLC từ Nicagara về hành quân trên đất Chicago thiệt. Xếp phải chọn một trong hai: Hoặc để nó sống hoặc nó phải chết. Xếp nhận thấy, nếu nó sống, cái đế quốc của mình không sớm thì muộn cũng bị tan rã. Còn nếu nó chết, tương lai chưa biết sẽ đi về đâu. Có thể họ sẽ gởi xuống một thằng hung dữ hơn, mà cũng có thể họ sẽ chẳng gởi ai xuống hết. Theo nghị sĩ Phil thì luật cấm rượu trước sau gì cũng bị bãi bỏ. Xếp chỉ cần thêm vài năm để gây một số vốn càng lớn càng tốt, khi luật đó trở thành lỗi thời, xếp sẽ đứng ra làm chủ một nhà máy cất bia vĩ đại cung cấp cho toàn thể nước Mỹ. Lúc đó thì bạc đếm phải biết. Xếp chỉ cần chừng hai năm nữa thôi, chớ đâu có nhiều. Kẹt cái thằng Ness này nó chơi bạo quá, chơi nặng tay quá. Coi, thằng Guzick báo cáo tiền thu vào tháng vừa rồi chỉ bằng ½ tháng trước. Nghĩa là vị chi vừa rượu vừa tiền mất đến gần 2 triệu đô la. 2 triệu đô la không phải là số tiền nhỏ. Cuối cùng, xếp cho gọi thằng Frank Nitti và lão Mike
Casey lên để giao sứ mạng:
-Mày bàn với lão Mike Casey, dắt đàn em vào thẳng ty cảnh sát làm thịt
thằng Ness cho tao.
Gọi là kế hoạch chứ thực ra chẳng có gì là khó khăn. Thằng Frank Nitti sẽ
cho đàn em nai nịt gọn gàng sẵn chờ cú điện thoại của Mike Casey. Khi biết thằng cớm Ness có mặt trong ty, lão sẽ gọi cho Frank Nitti để thông báo. Lúc đó, nó sẽ chất đàn em lên 3 chiếc Limousine phóng thẳng tới ty. Địa hình địa thế của ty thì tụi nó biết hết rồi, chỉ cần nói vô thăm Mike Casey rồi xông tới văn phòng thằng Ness là xong. Một trăm phần trăm là phải thành công vì đâu có ai dám ngờ rằng trên đời này có thằng khùng nào lại ôm súng ống vào ty cảnh sát để bắn … cảnh sát? Ăn tiền là ở chỗ đó, bất ngờ là ở chỗ đó. Xếp mà đã tính thì đâu có trật. Kế hoạch còn đi xa hơn một chút là kiếm đường rút cho bọn này. Có gì đâu, cái cửa sổ phòng của đại úy cảnh sát Mike Casey để không làm gì? Từ đó nhảy một cái là xuống tới đường cái, 3 chiếc xe đậu sẵn sẽ chở chúng nó dọt liền cấp kỳ.
Phải nói đây là một kế hoạch tuyệt hảo nếu thằng Ness còn ngồi trong văn
phòng. Mà nó đi đâu lâu vậy? Chờ đúng 10 phút không thấy gì, Frank Nitti bảo
thằng đàn em:
-Đù mẹ dọt tới phòng lão Mike Casey coi. Hay là chúng nó đang nói chuyện với nhau trong đó.
Trong đầu Frank Nitti lại nảy thêm một ý kiến hay. Nếu vậy thì tội gì mà
không phơ cho nó chết luôn cả hai đứa một lượt nhỉ? Ý kiến hay lắm chớ. Lão
Mike Casey mà chết thì đỡ được một cái miệng và một mớ tiền thưởng. Hơn nữa, lão đã già quá rồi, những lúc sau này cứ làm hư việc hoài. Đã đến lúc phải thay thế lão bằng một người trẻ hơn, ít uống rượu và lanh lẹ hơn một chút. Nghĩ vậy là nó có quyết định liền, quay sang thằng đàn em nói nhỏ:
-Rõ!
Thằng đàn em nó là dân chuyên nghiệp mà, đâu cần nhắc nhở đến lần thứ
hai. Khi chúng nhìn thấy chỉ có mình Mike Casey trong văn phòng, hai đứa đều chưng hửng.
Phần Mike Casey, chính lão là người ngạc nhiên hơn ai hết. Lúc bọn Frank
Nitti bước vào, lão biết. Đến khi hai thằng giết người xăm xăm đi trên hành lang, lão cũng biết. Lão đã thò tay mở thật rộng hai cánh cửa sổ đọn đường cho chúng nó dọt khi làm xong nhiệm vụ và đã chuẩn bị đưa hai tay lên để bịt tai. Nhưng chờ mãi không thấy tiếng súng nổ, lão biết là đã có trục trặc nhưng không dám đi ra, sợ ăn đạn lạc. Bây giờ, nhìn cái bản mặt tức tối của thằng Frank Nitti trước văn phòng, lão chạy ra kéo chúng nó vào, hỏi nhỏ:
-Nó đâu rồi?
-Thì chính tôi cũng muốn hỏi ông câu đó. Đù mẹ thằng chó đẻ đó đâu rồi?
Nó không có trong văn phòng.
Mike Casey nhíu mày:
-Nó đi cầu chăng?
-Đù mẹ bộ đi ỉa rồi ăn luôn cứt của mình hay sao mà lâu vậy? 15 phút rồi.
Thế này là kẹt, lão lại bị mất mặt thêm một lần nữa với bọn Caponi. Cáu
quá, lão hỏi vọng ra:
-Thằng Ness đâu rồi, có ai biết không?
Tiếng người trung sĩ cảnh sát trực nói vọng vào:
-Thưa, ông Ness ổng vừa đi uống cà phê với Lite.
Cơn giận giữ của Mike Casey đổ xuống người cảnh sát:
-Đù mẹ đồ ăn hại. Thằng Ness nó đi sao không nói cho tao biết?
Người cảnh sát già ngạc nhiên, chống chế:
-Thưa đại úy, đại úy đâu có dặn gì tôi đâu, làm sao tôi biết được? Nếu đại
úy muốn tôi theo dõi ổng, tôi sẵn sàng, nhưng phải nói cho tôi biết chớ …
Trước vẻ mặt khinh bỉ của hai thằng ăn cướp, lão Mike Casey đánh tay đến
rầm một cái xuống bàn. Dù nóng giận đến đâu, lão cũng phải công nhận một điều là mình vô lý. Có dặn gì nó đâu mà bắt nó báo cáo kìa? Đúng ra, lão giận mình. Ra cái bệnh nghiền rượu nó nguy hiểm như vậy đó. Những chi tiết quan trọng như vậy mà cũng không nhớ được.
Frank Nitti bước ra sau khi nói mát lão một câu:
-Lần sau ông nhớ cẩn thận giùm một chút. Xếp Al Capone biết được vụ
này, xếp sẽ giận ông lắm đó.
Lão tính nói vài lời xin lỗi nhưng Frank Nitti đâu có thì giờ để nghe lão.
Hôm nay nó có sứ mạng đi làm thịt Eliot Ness thì phải thịt cho được. Đù mẹ mày ở đây thì chết ở đây, còn ra quán cà phê thì sẽ chết ở quán cà phê, chẳng có gì thay đổi hết.
-Nếu gặp nó trong văn phòng lão Mike Casey, mình phơ cả hai đứa luôn.
Rõ không?
Nó dừng lại trước mặt người cảnh sát trực, hỏi nhẹ nhàng:
-Tôi là người quen của ông Ness. Trung sĩ biết ổng uống cà phê ở chỗ nào
không?
-Tôi không biết nhưng gần đây, gần khu Plaza Shopping center có cái quán
nhỏ. Ông thử ra đó kiếm coi.
Frank Nitti nhã nhặn cám ơn rồi cất bước. Tới phòng chờ đợi, nó cũng đọc
được vẻ ngạc nhiên và thất vọng trên khuôn mặt ba thằng đàn em đang đứng làm an ninh nơi đó. Tất cả theo Frank Nitti bước ra ngoài.
Việc gấp lắm rồi, đứng trước chiếc xe đậu ngay ty cảnh sát, Frank Nitti hối
nhặng lên, kêu tụi lâu la từ hai chiếc xe còn lại xuống xe vây quanh nó:
-Lẹ lẹ, xuống đây nghe tao nói việc mình sắp làm.
Mười bốn cái đầu tụm lại chung quanh Frank Nitti. Mắt nó tóe lửa:
-Đù mẹ thằng Mike Casey lại làm hư chuyện nữa rồi. Thằng Ness vừa ra
khỏi đây trước khi mình đến chừng năm phút. Nó và một thằng cảnh sát nữa đang đi uống cà phê trong cái tiệm nào đó gần đâu đây. Số thằng này lớn thiệt. Đù mẹ để coi thử xong cú này mạng nó lớn tới cỡ nào. Bây giờ mình lên xe hết, tụi mày chạy theo tao. Hễ gặp nó là thắng xe lại, dọt xuống liền. Tao không cần biết mình phải giết oan mấy người. Nghe rõ không. Thằng Ness phải chết. Nó phải chết. Nghe rõ không?
Khỏi cần trả lời. Frank Nitti gật đầu một cái là chúng nó chia nhau chất lên
mấy chiếc Limousine. Trong xe, mười mấy cây súng vừa shotgun vừa Tommy gun lên đạn nghe loạt soạt. Frank Nitti ngồi ghế hành khách, cũng thủ một cây Tommy gun như đàn em, dẫn đầu đoàn xe 3 chiếc. Nó hất đầu về phía trước, bảo thằng tài xế:
-Chạy đi. Cứ hướng trước mặt mà tới. Gặp thấy nó là kề sát vô, thắng lại liền …
Ba chiếc xe chạy chầm chậm trên đường phố ….
Khi Eliot Ness và Lite gọi xong ly cà phê thì Gary Malone lù lù dẫn xác
vào. Thày đội vừa làm xong một vòng tuần tiểu thường lệ, muốn ghé nghỉ ngơi để đọc tờ báo và thưởng thức chút cà phê sáng. Nhìn thấy Eliot Ness, Gary Malone cười liền, mắt sáng rỡ. Lúc này xem thầy đã có vẻ thân thiện hơn với Eliot Ness.
Phải nói là rất khoái là đằng khác vì thầy tự động kéo ghế ngồi giữa hai người, khỏi cần đợi mời. Eliot Ness giới thiệu Lite với Gary Malone:
-Đây là cảnh sát viên Robert Lite, đây là Gary Malone.
Gary Malone chìa tay, Lite chụp cứng lấy liền, suýt soa:
– Tôi luôn luôn ngưỡng phục ông nhưng chưa bao giờ có dịp gặp ông. Lúc
ông vào cảnh sát, tôi chỉ là một đứa con nít, nhưng đã nghe tiếng ông.
Gary Malone cười, mắt nhìn thật sâu vào mắt Lite như để đo lường chiều
sâu của câu nói:
-Mỗi người có một thời, thánh kinh đã nói vậy. Một thời để sinh ra, một
thờ để chết, một thời để lên một thời để xuống … Tôi đã sống qua những giây phút “lên” của đời mình, của tuổi trẻ. Bây giờ, anh thấy đó, tôi chỉ là một anh cảnh sát gác đường thôi. Chỉ những kẻ chống lại sự đổi thay của tạo hóa, của vạn vật mới là những bị đau khổ nhiều nhất. Phần tôi, tôi cứ nương theo chiều gió, nương theo cuộc đời …
Eliot Ness ngạc nhiên về sự lý luận của thày đội Gary Malone. Chàng đâu
ngờ “bàn tay sắt” lừng danh của Chicago này hôm nay lại ăn nói như ông thầy tu. Ai cũng tưởng hắn chỉ là một anh cớm võ biền, tối ngày chuyên lo đấm đá, ai ngờ trong lòng hắn lại còn có một chiều sâu như vậy.
-Lite, anh còn trẻ. Con đường trước mặt anh rất nhiều hứa hẹn. Tôi chúc
anh may mắn.
Lite xiết chặt tay Gary Malone cảm động. Hắn ngoắc tay gọi cô hầu bàn:
-Cô cho tôi ba ly cà phê, biên phiếu tính tiền cho tôi, hôm nay tôi đãi ông
cớm trẻ này một bữa.
Hắn quay sang Eliot Ness:
-Cuối cùng rồi ông cũng tìm được một con diều hâu giữa bày quạ?
-Tôi cần khoảng hai chục con diều hâu như vậy mới có hy vọng.
Gary Malone ghé sát người Eliot Ness, nháy mắt:
-Bia ở Chicago lúc này có vẻ hơi khó kiếm đấy ông.
Eliot Ness cười:
-Ông là cảnh sát mà cũng uống bia? Ông biết đó là trái luật không?
-Uống chớ. Uống mạnh là đàng khác. Nhà tôi lúc nào lại không có vài
thùng.
Eliot Ness lắc đầu:
-Ông không sợ sở bài rượu chúng nó xông vào nhà ông à?
-Mình đâu có bán cho ai nên khỏi có sợ đi. Hôm nào ông có rảnh ghé sang
nhà tôi, mình “đánh gục” vài thùng chơi.
Eliot Ness nhớ đến câu hỏi của thằng phóng viên Ferguson đã hỏi chàng
hôm nào: “Ông có bao giờ uống rượu không?”. Đối với Eliot Ness, luật cấm rượu Volstead là cái luật vô lý nhất của Hoa Kỳ. Thỉnh thoảng, chàng cũng nốc vài chai bia nhưng không bao giờ thèm và ghiền.
-Tôi không dám hứa nhưng nếu có dịp thì tôi sẽ ghé thăm ông. Ông thấy
sinh hoạt tụi Capone lúc này thế nào? Ông có ý kiến gì không?
-Ông đang dồn chúng nó vào một thế khó xử lắm.
-Theo ông, chúng nó sẽ làm gì?
-Nó đã gởi người tới mua ông chưa?
-Rồi.
-Ông cự tuyệt?
-Dĩ nhiên.
Gary Malone nghiêm sắc mặt:
-Phải chuẩn bị sẵn sàng. Đòn tiếp theo, chúng sẽ mua đứt cái mạng của
ông.
Eliot Ness nhìn Gary Malone:
-Mạng tôi?
Gary Malone cười nhẹ:
-Ông tưởng mạng của một ông cớm liên bang lớn lắm à? Đừng quên
chuyện ông biện lý MacSwiginn.
Tự nhiên, Eliot Ness đưa tay sờ vào nách. Tốt, cây Colt.45 nằm yên ngoan
ngoãn. Y hệt bọn dân chơi thời đó, súng của Eliot Ness luôn luôn được lên đạn, chỉ cần móc ra là nổ. Vô tình, Lite cũng có một cử chỉ tương tự. Gary Malone tiếp tục:
-Tôi khuyên hai ông phải cẩn thận. Rất cẩn thận là khác. Quý vị nghe tôi đi, thằng Al Capone nó không ngồi im nhìn mấy ông phá tan nát cái đế quốc của nó ra đâu. Nếu mình là nó, mình cũng phải làm y như vậy. Nó sẽ phá, sẽ bắn, sẽ khủng bố bừa bãi, nếu cần, nó có thể cho đốt cả cái thành phố Chicago này ra thành tro. Nếu đế quốc của nó bị sụp đổ, nhất định nó sẽ kéo cả thành phố Chicago theo …
Eliot Ness và Lite ngồi im nghe Gary Malone như học trò nghe thầy giáo
giảng bài. Eliot Ness châm lửa một điếu thuốc:
-Tôi cũng có nghĩ đến chuyện đó, nhưng tôi không nghĩ chúng nó dám có
hành động gì vào lúc ban ngày ban nhật như thế này.
Gary Malone không nói gì, miệng mĩm một nụ cười khó hiểu rồi lãng sang
chuyện khác. Sau một ngụm cà phê, giọng Gary Malone tự nhiên lại trở nên nghiêm trọng:
-Ông Ness, tôi muốn nói với ông một chuyện.
Eliot Ness hơi ngạc nhiên khi thấy “bàn tay sắt” này hôm nay ăn nói sao có
vẻ lịch sự quá cỡ. Mới giảng kinh thánh xong rồi bây giờ tính dạy dỗ gì đây?
-Ông cứ nói. Nghề của cớm là đi nghe thiên hạ kể chuyện mà.
Eliot Ness cười sau câu pha trò. Nhưng Gary Malone không cười. Hắn cúi
đầu:
-Tôi xin cám ơn ông về vụ ông đã giúp em Collen.
-Collen đã gặp ông?
-Phải. Em có gặp tôi và nói nhiều với tôi về ông. Ông là một tay chơi
thượng thặng, không phải như những bọn cớm thường tôi hay gặp. Tôi thành thật cám ơn và xin ông bỏ qua cho thái độ vô lý của tôi đối với ông. Cái tính tôi nó vậy.
Eliot Ness mừng như mở cờ trong bụng, chàng hớn hở hỏi luôn:
-Collen có muốn ông về làm việc chung với tôi không? Hai đứa mình sẽ
làm được nhiều chuyện …
Gary Malone lắc đầu, buồn bã:
-Có. Em có hỏi tôi nhưng ông biết, “mỗi người đều có một thời, một thời
để lên, một thời để xuống … ” vì vậy, tôi đã từ chối.
Eliot Ness thấy lòng mình quặn lại. Cả Lite cũng vậy. Tiên sư thằng cớm
này, nó không những ” … sắt bàn tay mà còn sắt cả tâm hồn,” không có gì lay chuyển được. Như không muốn kéo dài giây phút khó chịu này, Gary Malone chụp chiếc mũ kết, đứng dậy. Hắn nhìn vào cái phiếu tính tiền, móc hai tờ giấy một đô ra để trên bàn:
-Xin lỗi tất cả, Gary này phải đi. Lời khuyên cuối cùng của tôi là các ông
phải cẩn thận. Nhớ đấy. Tôi đánh hơi có chuyện gì lạ lạ ngày hôm nay …
Hắn bắt tay Eliot Ness, đến Lite, rồi đội cái mũ kết lên đầu. Như thường
lệ, thầy đội Gary Malone đứng thẳng người, dùng hay tay xoay xoay cái mũ cho nó ngay ngắn, vừa ngó thẳng phía trước, nhìn ra ngoài. Eliot Ness để ý thấy mắt thầy đội tự nhiên nheo lại khi nhìn ra một cái gì đó hơi là lạ ở ngoài kia, xuyên qua lớp cửa kính. Bỗng nhiên, thày đội lẹ làng thò tay xuống thắt lưng liền. Ngón tay chỉ cần ngoáy một cái là cây Smith & Wesson to tổ bố đã nằm gọn trong tay thầy đội …
Vừa vặn lúc ấy, hai thằng đàn em của Frank Nitti mặc áo bành tô cũng đẩy
cửa xông vào. Tụi nó lanh lẹ quá chừng. Vừa qua khỏi cánh cửa là đã thấy trên tay mỗi thằng một cây Tommygun mới tinh bóng loáng, chĩa về phía bàn Eliot Ness để bóp cò.
Mau hơn chúng nó một chút, đã sẵn súng trong tay, Gary Malone nổ liền
bốn phát. Làm sao trật được? Mỗi thằng lãnh hai viên vào giữa ngực, mà lại trúng xéo xéo vào phía bên trái, ngay chỗ trái tim mới là độc. Chúng nó bị đẩy ngược ra sau, làm bể luôn lớp cửa kính của quán cà phê, té nằm lăn lóc ngoài tiệm.
Nổ vừa xong là Gary Malone lẹ tay hất đổ cái bàn trước mặt mình xuống
sàn, vừa hụp người xuống vừa hét nhặng lên:
-Tất cả mọi người tìm chỗ núp …
Thầy đội chưa kịp nói hết câu đã thấy thêm 4 thằng nữa xuất hiện. Lần
này tụi nó đâu có thèm bước vào làm chi, cứ đứng ngoài chĩa bốn họng Tommy gun vào và bắt đầu nhả đạn.
Gary Malone chỉ còn hai viên đạn trong súng, mà tụi nó tới bốn thằng.
Chưa kịp phản ứng thì đã nghe mấy họng liên thanh kia khạc lửa. Gary Malone chửi thề. Loạt đạn đầu tiên của bất cứ cây liên thanh nào cũng khó mà trúng đích vì chỉ để điều chỉnh, nên đạn bay vèo vèo qua đầu thiên hạ. Loạt tiếp theo mới là loạt ăn tiền. Đang còn phân vân không biết tính sao thì tiếng thét của Eliot Ness vang lên:
-Nhắm thằng bên phải, ba đứa còn lại để tôi.
Xong rồi. Ra là anh cớm này cũng lẹ tay lanh mắt thiệt. Gary Malone chĩa
súng đẩy hết hai phát còn lại như lời Eliot Ness. Đồng thời, hắn cũng nghe được tiếng súng Colt.45 nổ sát bên tai. Không, phải nói là hai cây colt.45 mới đúng. Một của Eliot Ness và một của Lite.
Trong hai người, không hiểu ai bắn mà đẹp quá. Xa như vậy mà vẫn để
được mấy viên đạn vào giữa trán người ta thì phải nói là thiện xạ. Cả bốn thằng cô hồn quăng súng, quay vòng vòng …
Khỏi phải nói, trong tiệm cà phê lúc này là một bãi chiến trường. Bàn ghế,
ly tách đổ loảng soảng tứ tung. Cũng may là giờ này quán ít người nên không đến nỗi lộn xộn lắm. Gary Malone tiếp tục hét to lên:
-Tất cả mọi người nằm im, tụi nó còn nhiều lắm!
Miệng hét, tay thầy đội lẹ làng tháo trái khế, hất nhẹ một cái cho mấy cái
võ đạn văng ra hết rồi nhét 6 viên đạn mới vào. Lẹ làng và dễ dàng như người ta ăn cháo vậy. “Tiếng đồn quả không ngoa,” Eliot Ness thầm nghĩ.
Gary Malone nói luôn:
-Mình phải dọt ra ngoài, tụi nó còn nhiều lắm. Ở đây dân có thể bị chết oan.
Eliot Ness đồng ý ngay. Như một phản xạ tự nhiên, không cần biết Gary
Malone có đồng ý hay không, Eliot Ness trở thành tư lệnh chiến trường, dõng dạc ra lệnh:
-Mình sẽ ra khỏi đây nhưng không thể ra hết phía trước được. Lite, ông
dọt cửa hông, Gary Malone, ông chạy ra cửa sau nhà bếp, từ đó đi vòng lên để bao vây sau lưng tụi nó. Phía trước này tôi lo được …
Ra lệnh xong Eliot Ness mới thấy ngạc nhiên. Chàng không ngờ cái phản
xạ tự nhiên trong lúc khẩn cấp lại cho chàng cái phản ứng mau và tính toán đầy đủ đến như vậy. Lite tuân chỉ thị ôm súng dọt liền, trong khi Gary Malone nheo mắt cười:
-Dạ. Xếp nói sao em làm vậy.
Hắn dần mạnh chữ “xếp” với một giọng rất hứng khởi. Trước khi rút ra phía sau, hắn chìa tay ra nói với Eliot Ness:
-Ông còn muốn nhận tôi vào làm việc với ông không?
-Còn, ông đổi ý à?
-Tôi đổi ý. Tôi sẽ về với ông.
Eliot Ness cười, muốn nhẩy cẩng lên vì sung sướng:
-Được. Chúng mình sẽ làm việc với nhau.
Eliot Ness xiết chặt tay Gary Malone:
-Cám ơn ông đã cứu mạng tôi.
-Không. Tôi phải cám ơn ông đã cho tôi sống lại những giây phút như thế
này …
Khi cám ơn Gary Malone đã cứu mạng mình, Eliot Ness nói thật vì nếu
Gary Malone không nhìn thấy hai thằng mặc áo măng tô có dáng điệu khả nghi đi vào nhà hàng, chàng và Lite dù có mau lẹ đến đâu cũng không thể nào tránh khỏi loạt đạn của chúng nó. Hai thằng đàn em của Frank Nitti đã nhìn thấy và nhận ra Eliot Ness trước khi chúng bước vào. Đúng ra, nếu chúng cẩn thận hơn một chút, quay trở lại thông báo cho Frank Nitti rồi cả mười lăm đứa cùng bất ngờ ôm súng xông vào một lượt thì có ai trong quán sống sót nổi? Frank Nitti đang ngồi ngoài xe, tự nhiên thấy hai thằng em chạy như gió vào quán thì biết là chúng nó đã kiếm ra Eliot Ness, liền gởi thêm bốn thằng khác chạy theo tiếp viện. Vốn làm ăn cẩn thận nên Frank Nitti mới gởi tiếp viện vì đi đấm đá với đàn em qua trăm trận lớn nhỏ, nó biết hai thằng kia dư sức đốn ngã Eliot Ness. Nghề của chúng nó mà, đâu có thằng nào dưới mười năm kinh nghiệm? Hai thằng nhỏ vừa khuất sau lớp cửa, Frank Nitti giựt nãy mình lên khi nghe tiếng súng nổ là súng lục. Tụi nó đứa nào cũng ôm liên thanh, có thằng nào đem súng nhỏ theo đâu kìa? Đến lúc nó nhìn thấy hai cái xác bị thổi bật ra ngoài thì Frank Nitti mới biết là đàn em mình đã bị hạ. Bốn thằng tiếp viện bèn xếp hàng ngang, cứ thế mà chĩa súng quạt đạn vào. Mà chúng nó đâu có được bắn tới tràng thứ hai? Chỉ một lát sau là mỗi thằng lãnh mấy phát vào đầu, vào
ngực nằm lăn kềnh ra. Bây giờ thì phụ tá Frank Nitti mới thấy hoảng thật sự.
Cái nó sợ nhất là Eliot Ness đã gài bẫy để chờ chúng nó tới. Thì mấy tuần
qua cả bộ tư lệnh Lexington không bấn súc xích vì những cái đòn hành quân giả của thằng cớm đa mưu lắm kế này là gì? Ngay cả xếp Al Capone còn ngán nó một mực thì nó đâu phải là dân chơi thường. Càng nghĩ, Frank Nitti càng thấy lạnh nơi gáy.
Đầu óc thằng “đệ nhất đao phủ thủ” của Al Capone xoay chuyển dữ dội cố tìm đáp số của bài toán. Tại sao hai thằng vô bất ngờ như vậy mà lại bị bắn chết tươi? Tụi nó đã chuẩn bị từ lúc nào mà hay quá vậy? Hay thằng Mike Casey làm phản? Có thể lắm. Cứ căn cứ theo những gì xảy ra sáng hôm nay thì thằng chó đẻ Mike Casey này không thể tin được nữa.
Xưa nay, Frank Nitti là một thằng chuyên môn đưa thiên hạ vào bẫy nên
chính nó, nó cũng sợ vào bẫy lắm. Chúng nó bắn đẹp vậy thì đúng là thằng Ness đặt bẫy để diệt mình rồi chớ còn gì nữa?
Vừa nhìn thấy Eliot Ness ló đầu ra khỏi cửa với cây súng trong tay là Frank Nitti có quyết định liền. Sống chết hay tù tội cũng chỉ trong vài giây đồng hồ ngắn ngủi này. Nó chĩa cây Colt.45 nhắm vào Eliot Ness nổ cầu may mấy phát để mua thì giờ cho tụi đàn em và hét nhặng lên: “Đ. M. dọt. Lên xe hết .. dọt. Thằng nào chết bỏ đó … ” Bọn lâu la chỉ chờ có bấy nhiêu là chia nhau phóng hết lên mấy chiếc xe. Lúc đi thì 3 chiếc chật cứng và về thì sao trống trãi thế này? 6 đứa bỏ xác tại trận chớ ít gì.
Với khoảng cách xa vậy và thằng Frank Nitti chỉ bắn cầu may mà đạn cũng
bay veo véo ngang đầu Eliot Ness. Không biết chúng nó có bao nhiêu đứa và âm mưu những gì, Eliot Ness núp người xuống trở lại, chưa thèm bắn trả.
Khi Gary Malone vòng ra tới phía trước, trao được ám hiệu với Eliot Ness
thì 3 chiếc Limousine đã biến mất …
Tối đó, Eliot Ness trao cho Mike Casey tờ giấy bổ nhiệm của Gary Malone
đã được đánh máy sẵn:
– Nhờ ông ký vào dùm. Kể từ giây phút này, Gary Malone chính thức làm
việc dưới sự điều động của tôi.
Mike Casey tròn mắt kinh ngạc. Những gì xảy ra sáng nay hoàn toàn ngoài
dự tính của lão. Nếu mọi chuyện êm xuôi theo đúng như kế hoạch thì giờ này lão đang ăn mừng chiến thắng với xếp Al Capone tại đại khách sạn Lexington. Lão đã chắc ăn đến độ mướn sẵn một bộ đồ Tuxedo để sẵn ngoài xe, chỉ chờ đến tối là mặc vào đi dự đại yến. Chẳng ngờ, Eliot Ness không chết, sáu thằng đàn em thân cận của Frank Nitti lại bị bắn chết tươi, và bây giờ, điều đau khổ nhất là Gary Malone lại đồng ý đi cộng tác với Eliot Ness. Cơn ác mộng của Al Capone đã thực sự bắt đầu. Trong một góc nào đó của cái đầu óc phiền muộn và tê dại sau những năm tháng nghiền rượu, lão còn sáng suốt để mơ hồ nhận thấy rằng kẻ sẽ bị tiêu diệt chính là thằng Al Capone chớ không phải là anh chàng cớm lộng ngôn mà lão vẫn coi bằng nửa con mắt từ ngày hắn đặt chân đến đây. Phải, hắn đang làm đúng như lời hắn nói ngày nào: “I come here to get Capone … “
Mike Casey lắc đầu, đặt bút ký vào khoảng trống phía dưới dành cho lão …
Em hẹn tôi về thăm quê cũ Sau mấy năm lây lất xứ người Tôi cũng muốn (một lần thôi cũng đủ) Về gặp em nhắc lại chuyện lâu rồi.
Chuyện lâu rồi mà như mới hôm qua Tôi còn nhớ bàn tay em run nhẹ Trong tay tôi lạnh buốt. Không ngờ Em lí nhí nói câu gì rất nhỏ Như nói thầm với cái rét se da Của một chiều cuối đông năm ấy.
Rồi tôi đi. Sáu năm trời chưa trở lại Dòng sông xưa vẫn chảy trong hồn Bông mía trắng cả một vùng thương nhớ Gió nồm Nam thổi suốt dọc quê mình Nhà em ở cheo leo cuối xóm Hàng rào thưa cây trái rợp sau vườn Che bóng mát cho em ngày nắng.
Tôi ở đây những mùa đông trắng Lấy gì che đời vắng em xa Em đâu biết bao lần tôi muốn hỏi Ngày chia tay em nói nhỏ câu gì Trong cái rét một chiều đông năm ấy?
Nếu không phải là dân phi hành biệt phái hành quân xa xôi thì hầu hết Không Quân, cũng như người ngoài không biết ALO là ai, họ làm nghề gì.
Tôi thường thấy ở mỗi tỉnh có một phi trường nho nhỏ và có một biệt đội Quan Sát L19 đóng ở gần toà tỉnh trưởng, và vị đại diện KQ ở đó thường được gọi là SQ Không Trợ .
Thế nhưng ở những Sư Đoàn Bộ Binh hay Sư Đoàn Tổng Trừ Bị lại có một toán chừng năm sáu người gọi là toán ALO.
Hồi chúng tôi (Phi Hành Đoàn Trực Thăng) biệt phái cho Tư Lệnh TQLC đang đóng ở Hương Điền cạnh phá Tam Giang thì chúng tôi ở chung với toán ALO này . Máy bay đậu túc trực ngay tại tuyến đầu này 24/24 ngoại trừ lúc đi lấy xăng ở Phú Bài hay Cây số 17 (Phong Điền).
Nằm ở đây không bị ăn đạn pháo như hồi tôi biệt phái bên Sư Đoàn Dù trong hướng núi .
Trưởng toán ALO là Đại uý Hoàn và phó là Trung uý Thái, hai ông được sự phụ giúp của ba HSQ truyền tin và một tài xế (Diễn, Ngà, Bảng, Mào).
Vì chúng tôi ở cùng nên toán trở thành hơi đông, nhà cửa bê bối nên ông Tướng thương tình có cho hai anh lính Đại Đội Tổng Hành Dinh qua giúp mấy việc lặt vặt hằng ngày .
Mỗi khi có cuộc hành quân thì cả toán đều túc trực tại Trung Tâm Hành Quân để điều động máy bay biệt phái đổ quân hay tải thương. Khi đụng trận lớn thì họ gọi máy bay Khu Trục oanh kích, hay Hoả Long yểm trợ soi sáng hoặc xạ kích ban đêm. Khi có máy bay bị bắn rơi (Hồi năm 72, phi tuần AD6 Skyraider ra làm thịt T54 ở Quảng Trị, và phi công Trần Thế Vinh đã gẫy cánh ở chiến trường này) thì phối hợp Trực Thăng Restcue và các tiểu đoàn TQLC để cứu Pilot. Những ngày khác thì chỉ cần một người trực tại TTHQ là đủ vì thực sự ít có việc gì để làm.
Hai SQ đều mặc đồ bay vì họ từng tốt nghiệp khoá hoa tiêu, nhưng theo chỗ tôi biết thì kể như họ bỏ bay luôn mà làm nghề ALO, có thể dịch là Tiền Sát Viên KQ hay SQ LL KQ. (Trong khi toán Hải Quân có cùng quân số thì được gọi là toán Hải Yểm mà chúng tôi chọc họ cứ gọi là toán Hải Ỉa).
Thầy trò mấy anh ALO vui buồn theo kiếp lính xa nhà, họ có một chiếc xe Jeep lùn riêng, ăn uống đạm bạc trong khi chúng tôi được ưu ái hơn vì được phụ cấp ăn trưa phi hành, lại còn được Chuẩn Tướng Lân cho ăn trưa.
Những ngày mưa miền Trung dài lê thê, gió lại lạnh nên mới ăn cơm chừng vài giờ sau đã thấy đói . Tôi nhờ chị Cao nhà ở kế bên bãi đáp TT mua dùm một vài gốc khoai mì rồi luộc.
Cây khoai mì ba tháng ở đây lùn xủn, củ rất nhiều, lại trồng trên đất cát nên khi nhổ lên họ để luôn cả gốc mà bán, mỗi củ chỉ lớn bằng ngón chưn cái nhưng dài hơn ba gang. Chị Cao chỉ lột lớp vỏ nâu mỏng ở ngoài, còn lớp vỏ dầy ở trong thì để nguyên. Chị bỏ một lớp lá dứa ở dưới trước khi nấu nên khi dở nồi khoai chín ra thì mùi thơm bay lừng như mùi lúa mới.
Trời thì mưa lạnh thở ra khói, chúng tôi lột đến đâu ăn đến đó. Bữa nào có tiền thì mua mấy hộp sữa đặc khui đổ ra dĩa mà chấm. Cái món ăn đặc biệt này 30 năm qua mà tôi vẫn còn nhớ.
Quận Hương Điền là một dải đất cát hẹp dài một đầu giáp Hải Lăng Quảng Trị, một đầu là cửa Thuận An nơi giòng Hương Giang đổ ra biển, còn hai bên mịt mù sương khói của biển Đông và Phá Tam Giang.
Ruộng lúa, vườn rẫy nơi đây khá tốt. Cá đồng cũng nhiều mà cá biển cũng lắm. Trong mỗi khoảnh ruộng vuông vắn, họ đào một chỗ trũng thấp xuống, thả vô vài cành tre, một ít bèo lục bình làm như cái ổ. Khi muốn bắt cá, người ta xùa nước cho ồn ào khuấy động, mấy anh cá chạy vội về nơi trú ẩn là cái ổ đó, thế là bị nôm chụp bắt không sót một anh.
Cảnh ruộng lúa xanh đẹp đẽ nhưng phải cẩn thận vì mỗi khoảng đường quê ngập nước là bao nhiêu con đỉa đang nằm phục kích, mỗi khi có tiếng chân khua động mặt nước là tụi nó nhao lên như bánh canh.
Chung quanh nhà hay khu xóm là luỹ tre bao kín để bớt gió bão nên chúng tôi tha hồ ăn măng. Nhưng măng ra có mùa nên người dân làm món măng chua để ăn dần mà hồi khởi đầu tôi không thể ngửi được mùi này.
Cuối năm 72 thì chiến cuộc tương đối lắng dịu nên dân chúng đã lục tục hồi cư, chợ Hương Điền ngày càng đông vui.
Ngay chỗ chợ có một bến tàu nhỏ chạy hằng ngày chở hàng nông phẩm, cá tôm và hành khách đi Huế, lúc về thì mang nhu yếu phẩm và cả nước đá về nữa.
Ở đây có nhiều thứ cá mà trong Nam tôi chưa bao giờ thấy như con cá chét, nó lớn bằng cẳng cái, giống con cá chạch lại hơi giống cá trê vì có râu. Con lệch cũng khác trong Nam, nó ngắn hơn con lươn, đuôi hơi xoè ra và có bông lốm đốm. Cá đối ngoài biển lớn như cổ tay cũng có khi tràn vô Phá hằng bày, người ta bao lưới rồi gõ ống tre vào mạn thuyền mà đuổi cho nó chạy phóng dính vô lưới.
Có khi mấy tuần liền cá đồng đi đâu mất biệt mà ngoài chợ bán toàn cá nục. Chúng tôi sáng ăn cá nục kho nhừ với bánh mì, trưa ăn canh cá nục nấu măng và khóm, chiều ăn cá nục chiên. Hôm sau thực đơn đổi ngược lại và một tháng sau thì cả bọn “đờn madolin” ghê quá.
Khi tắm trên Phá, mình lội tới chỗ nước ngập ngang tới ngực, lấy chân mò tìm dưới xình sẽ thấy rất nhiều con trìa lớn bằng lòng bàn tay, vỏ nó màu xám đen. (ở Huế người ta không nói câm như hến mà lại nói trịt như trìa).
Con trìa thân đã lớn, mà thịt ở trong lại nhiều, nên luộc sơ cho nó há miệng ra, rồi gỡ thịt mà thái ra từng lát nhỏ vừa miếng, xào với hành, sốt cà chua thì nhậu ngon lắm.
Đến mùa khô, những ruộng lúa đều cạn nước được lên líp mà làm rẫy. Họ trồng bắp, ớt, nưa và dưa gang.
Cây nưa hơi giống cây môn nhưng cọng đặc và cứng hơn nhiều. Cọng nó không cần lột vỏ, thái ngang ra dùng để xào như nhiều loại rau khác, hoặc cắt khúc rồi chẻ ra để làm dưa hay kho chung với thịt ba rọi và mắm như dưa môn. Củ nó lớn hơn củ “môn lù” to bằng cái tô ông rồng. Chung quanh củ này còn có nhiều củ con lớn bằng con ốc bươu mà người ta gọi là chột nưa. Chột này luộc chín ăn ngon như củ từ vậy.
Dưa gang trồng trên đất pha cát rất tốt mà sao lạ, tôi ít thấy người Huế ăn dưa leo, họ khoái dưa gang hơn, mà ăn khi nó còn non chứ không ăn trái chín bở như người Bắc. Có lẽ nó lớn, dòn hơn dưa leo chăng. Dưa này làm gỏi trộn tôm thịt ăn ngay, hoặc làm dưa mắm từng vại lớn để đến mùa mưa bão có thức ăn dự phòng.
Dưa này trong Nam cũng làm nhiều, họ kêu là gài mắm.
Khi chiếm lại cổ thành Đinh Công Tráng rồi, TQLC đưa cả 3 Lữ Đoàn ra tuyến đầu Quảng Trị, mỗi Lữ Đoàn có 3 tiểu đoàn mà danh số xếp thành tên Lữ Đoàn luôn chứ không như bên Nhảy Dù. Đó là LĐ 147, LĐ 258 và LĐ 369 có nghĩa là Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên thuộc Lữ Đoàn 258.
Tuy ba đơn vị này giăng hàng ngang từ tiếp giáp với Dù phía trong núi và ra tới bờ biển, nhưng du kích và đặc công vẫn còn khe hở để xâm nhập. Chúng tôi tuy ở phía sau nhưng chưa hẳn là đã an toàn, bằng cớ là 5 người TQLC đi cùng với Th/s KQ Võ Văn Xôm đã bị chúng phục kích.
Hôm đưa xác Xôm về Đà Nẵng rồi trở ra, chúng tôi buồn héo hắt, cơm buổi trưa có trứng chiên và la ve con cọp mà không đứa nào nuốt trôi. Đêm hôm đó trời mưa rả rích, tiếng máy điện của BTL chạy rì rầm hoà với giọng ếch nhái ngoài ruộng thành một âm thanh thê lương.
Tôi ngồi nhìn ra màn mưa giăng qua ánh đèn vàng vọt, cái giếng chúng tôi thường kéo nước lên tắm nằm kia, hình bóng thằng Xôm vẫn mặc quần đùi vừa xối nước vừa ca lên vài câu vọng cổ.
(KQ ít người khoái vọng cổ vì cho đó là nhà quê, nhưng Xôm là người Sa Đéc nên cứ ông ổng hát mà chẳng sợ ai cười).
Căn nhà bên cạnh bỗng từng tràng tiếng chuột gáy lên:
-Te .. cực cực.. cực cực …
Tôi cũng là dân ruộng, đã từng nghe quen tiếng chuột đồng rồi, thế mà gai ốc nổi lên cùng mình. Quay nhìn nhóm KQ và hai anh TQLC nằm dãy giường bên kia thì tôi thấy cả bọn đều đã kinh hãi ngồi dậy trong mùng, anh nào anh nấy mắt tròn xoe.
Thằng Xôm thân với tôi lắm, nó coi tôi như sư phụ vừa dậy toán cho nó đi thi Tú Tài vừa chỉ vẽ cách cua đào sao cho dính.
Tôi ráng làm gan nói lớn:
-Thôi Xôm ơi, mày đừng về nhát anh em, nay đã kiếm được xác mày đưa về quê hương bên ông bà thì đã êm ấm phần mày rồi, xin mày có khôn thiêng thì phù hộ cho bạn bè qua cơn binh lửa.
Tiếng chuột lại rúc lên một hồi nữa:
-Te .. cực cực .. cực cực ..
Rồi im luôn cho tới sáng.
Hơn hai năm kể từ Mùa Hè Đỏ Lửa, tôi sống với toán ALO chia xẻ ngọt bùi nơi vùng quê xa lắc đó, mà nay không biết ai còn ai mất.
Hôm qua, anh Đạt có email cho tôi nói rằng anh Thái đã chết ngay ngày thất thủ Huế, chết uổng khi chiến trận gần tàn.
Còn bao nhiêu đồng đội của tôi ngày ấy, nay anh em trôi dạt về đâu(?).
Lật qua tờ nhật báo Người Việt ngày 5 tháng 10 năm 1997, một tin cáo phó làm tôi giật mình chú ý đọc ngay: “… Tô Phạm Liệu (1941-1997) Y Sĩ Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù…đã không còn với chúng ta kể từ 29 tháng 9 năm 1997…”
Vậy là anh Liệu đã từ giã cõi đời này! Hình ảnh của Tô Phạm Liệu trở về từ dĩ vãng xa xưa.
Lần đầu tiên tôi gặp Tô Phạm Liệu đã lâu lắm rồi, gần 28 năm trước đây. Ngày đó, vừa học xong lớp Y Khoa Năm Thứ Nhất ở trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn, tôi và một số khá đông bạn bè cùng lớp rủ nhau nộp đơn, đi thi và đỗ vào trường Quân Y.
Tháng 1, 1970, vào ngày nhập ngũ, chúng tôi rủ nhau nao nức đi trình diện ở trường Quân Y. Một đám sinh viên Y Dược Nha đến và được tập trung ở cổng trường, chỗ gần trạm kiểm soát ra vào. Chúng tôi đều là tân sinh viên quân y. Người đầu tiên ra gặp chúng tôi mặc quân phục xanh bộ binh. Ở cầu vai, anh đeo lon trung úy, hai bông mai vàng trên một nền nhung đỏ thẫm. Ở ngực áo, có dấu hiệu con rắn vàng của ngành quân y, và dấu hiệu một cánh dù màu xám, bằng nhảy dù. Thoáng gặp anh, chúng tôi phải để ý ngay, vì anh là một người có tầm vóc đáng kể, vừa to vừa cao trông như một “ông hộ pháp.”
Không cười đón niềm nở chút nào và với giọng nói to, vang vang trong buổi chiều nắng gió, anh tự giới thiệu. Rất ngắn và gọn, anh cho biết anh tên là Tô Phạm Liệu, sinh viên sĩ quan quân y năm thứ sáu, được cấp trên đề cử làm Sinh Viên Sĩ Quan Đại Đội Trưởng Đại Đội Tân Sinh Viên.
Anh Liệu dẫn khoảng bốn năm chục người chúng tôi vào một sân rộng lớn có một cột cờ với lá cờ vàng ba sọc đỏ khá cao, Vũ Đình Trường của Trường Quân Y. Và ở đó đã có thêm hai sinh viên sĩ quan quân y khác đứng chờ sẵn. Chúng tôi được lệnh xếp hàng. Rồi ba ông đàn anh dẫn chúng tôi chạy vòng quanh sân cờ, cho đến khi tất cả hầu như hết sức lực, khi một người trong hàng đã phải ngất xỉu.
Đó là kinh nghiệm đầu tiên của đa số chúng tôi đối với quân đội. Lần hành xác này để mở đầu cho Tám Tuần Lễ Huấn Nhục của Đại Đội Tân Sinh Viên Sĩ Quan Quân Y. Đối với những “thư sinh trói gà không chặt” mà còn “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”, chỉ biết việc sách đèn, đây quả là một thử thách khá lớn lao. Đó cũng là lần đầu tiên tôi gặp Tô Phạm Liệu.
Trong tám tuần lễ của “mồ hôi, nước mắt” chúng tôi được các đàn anh của các khóa trước “chỉ dậy” một cách rất tận tình bằng mọi cách. Chúng tôi học qua căn bản quân sự, căn bản thao diễn. Và mọi người được thay nhau tập hít đất, tập thở, tập chạy, tập cười… theo lệnh các huynh trưởng.
Các đàn anh chia ra làm từng toán ba người. Anh Tô Phạm Liệu đích thân làm trưởng một toán. Mỗi toán có nhiệm vụ hướng dẫn các tân sinh viên một ngày. Riêng anh Liệu, hình như ngày nào cũng có mặt để quan sát các hoạt động, tiến triển trong việc huấn luyện các tân sinh viên Quân Y. Anh Tô Phạm Liệu rất tận tâm bỏ khá nhiều thì giờ vào việc dẫn dắt đàn em mới nhập ngũ. Những người nào có vẻ lười biếng công việc tập tành thật khó qua khỏi mắt của đàn anh. Ai đau thật hay chỉ ốm giả anh cũng biết. Hình như anh biết rõ về bản chất, tính tình của từng người một. Anh là người gần gũi với chúng tôi nhất trong những ngày đầu tiên khi mới gia nhập quân ngũ.
Sinh hoạt với anh một thời gian ngắn, chúng tôi nhận thấy ngay ngoài “cái vỏ” lạnh lùng nghiêm nghị của anh còn có một bề trong khác hẳn với một tâm hồn đầy tình cảm và hiểu biết. Anh Liệu thường là người thấu hiểu gần như mọi chuyện xẩy ra trong đại đội tân sinh viên quân y và thường giải thích hay giải quyết, thường là bằng tình cảm, những vấn đề khó khăn hay khó nói nhất. Nhiệm vụ chỉ huy hướng dẫn đôi khi làm anh có vẻ khó khăn và khô khan. Nhưng những lúc nói chuyện với anh Liệu trong khi rảnh rang đã làm chúng tôi thấy anh là một người rất nhiều tình cảm, rộng lượng và rất thương mến những anh em trong gia đình Y Dược Nha trong ngành Quân Y. Một điều đặc biệt nhất là Tô Phạm Liệu nói chuyện rất hay, rất lôi cuốn người nghe, nhất là những khi anh đứng trước hàng quân. Tôi được biết anh đã là một huynh trưởng trong ngành Hướng Đạo Việt Nam. Việc anh giỏi về diễn thuyết hay chỉ huy là do đã có kinh nghiệm từ lâu.
Nhiệm vụ khó khăn của anh trong sự hướng dẫn chúng tôi có được những khái niệm ban đầu về Quân Đội rồi cũng thành công. Tất cả đám tân sinh viên Y Nha Dược đều qua khỏi tám tuần lễ huấn nhục gian lao. Chúng tôi sau lễ gắn alpha, trở thành những sinh viên Quân Y hiện dịch thực thụ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đêm hôm gắn alpha, anh có nói chuyện riêng khá cảm động với một vài người chúng tôi. Anh cho biết anh rất hài lòng với kết quả, đồng thời cũng nhắn nhủ công chuyện tương lai. Tô Phạm Liệu có nói, ngày nào đó chúng tôi sẽ hiểu rõ đàn anh hơn khi đứng ra hướng dẫn những đàn em sau này. Riêng tôi, về sau này tôi rất thông cảm anh vì chính bản thân lại “được” cử ra làm nhiệm vụ của anh, dẫn dắt các tân sinh viên quân y, khi khóa sinh viên sĩ quan của chúng tôi trở thành khóa đàn anh lớn nhất trong trường Quân Y.
Năm 1970, chúng tôi gia nhập Quân Y, cũng là năm khóa 17 Sinh Viên Sĩ Quan Hiện Dịch Quân Y của anh Liệu sắp ra trường. Năm 1971, khi chọn đơn vị, anh Liệu chọn binh chủng Nhảy Dù và nhiệm sở đầu tiên là một tiểu đoàn nhảy dù. Tô Phạm Liệu đã chính thức trở thành y sĩ của một tiểu đoàn tác chiến binh chủng nhảy dù, đúng như ý định của anh.
Những ngày tháng ngay sau đó, tôi rất ít gặp anh Liệu. Chúng tôi ở lại hậu phương hoàn tất công chuyện học hành ở những trường Y Nha Dược. Anh Liệu và các anh khác tản mác trong những đơn vị của quân đội khắp bốn vùng chiến thuật. Tôi chỉ gặp lại anh Liệu một hai lần trong một khoảng thời gian độ một năm trời khi anh về ghé thăm trường Quân Y trong những dịp nghỉ phép. Những ngày đó anh vẫn cao lớn và đội mũ đỏ, mặc quần áo rằn ri nhảy dù trông rất oai hùng. Chúng tôi chỉ có dịp nói chuyện chào hỏi chút ít và tôi được biết là anh đã trải qua khá nhiều thử thách ngoài mặt trận.
Rồi… đến một ngày tháng, vào một nơi… của định mệnh:
Thời điểm năm 1972, mùa Hè nắng cháy.
Địa điểm là Charlie, Cao Nguyên Nam Việt Nam.
Tôi được nghe đến, được biết và được hiểu Tô Phạm Liệu nhiều hơn.
Bốn năm trước đó, năm 1968, vào dịp bầu cử tổng thống ở Hoa Kỳ cũng là khi Bắc Việt cho tổng tấn công và thất bại trên các chiến địa Tết Mậu Thân. Tuy Cộng Sản thất bại nặng nề trên bình diện quân sự, nhưng phải công nhận họ đã gây ảnh hưởng khá mạnh trong việc tuyên truyền chính trị. Hình ảnh chiến tranh tại Việt Nam, một nơi xa xôi ở bên kia nửa quả địa cầu, được người dân Mỹ chứng kiến mỗi ngày, ngay tại nhà riêng, qua hệ thống vô tuyến truyền hình. Dân chúng Hoa Kỳ đã bắt đầu chán sợ cuộc chiến tranh đẫm máu và dai dẳng. Đầu óc thực tế của họ nghe nhiều đến số tiền đã và phải trang trải thêm cho cuộc chiến. Hình ảnh quan tài những quân nhân Hoa Kỳ chết ở Việt Nam đem về Mỹ được chiếu rõ trên truyền hình, làm nao núng cả quốc gia. Các phong trào phản chiến Hoa Kỳ hoạt động mạnh hơn. Các ứng cử viên Tổng Thống Mỹ đều biết rõ tầm quan trọng của việc cần phải chấm dứt cuộc chiến tại Việt Nam.
Năm 1972, cũng lại là năm bầu cử Tổng Thống Mỹ . Do đó, thêm một lần nữa, Bắc Việt muốn có tiếng vang vọng với bất cứ giá nào. Đại Tướng Bắc Việt Võ Nguyên Giáp còn nghĩ là có thể chiếm đoạt miền Nam vào lúc này.
Cũng như Trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân năm 1968, Tướng Giáp đã “thí quân”, quyết định tấn công với ba mặt trận lớn đã bùng nổ vào mùa Hè 1972.
Thứ nhất: Mặt Trận Giới Tuyến tại vùng Phi Quân Sự. Việt Cộng đã bất chấp tất cả mọi ký kết của chính họ ở Hiệp Định Genève 1954. Họ cho hai Sư Đoàn 304 và 308, tăng phái bởi bốn Trung Đoàn Đặc Công với hơn 200 chiến xa của Trung Đoàn 203 và 204 cộng thêm ba Trung Đoàn Pháo Binh, vượt khu Phi Quân Sự đánh chiếm Quảng Trị. Cùng lúc đó, Sư Đoàn 324B và hai Trung Đoàn đặc biệt 5 và 6 đến xâm nhập Huế. Còn Sư Đoàn 711 Cộng Quân thì quấy phá Đà Nẵng.
Thứ hai: Mặt Trận Biên Giới chiếm đánh Lộc Ninh, An Lộc do các Sư Đoàn Cộng Sản 5, 7 và 9 cùng với hơn 200 xe thiết giáp. Trong khi đó, Sư Đoàn 1 Bắc Việt quấy rối vùng Đồng Bằng Cửu Long để cầm bớt quân đội Việt Nam lại vùng IV chiến thuật.
Thứ ba: Mặt Trận Cao Nguyên thì có hai Sư Đoàn 2 và 320 với một trung đoàn chiến xa đánh chiếm vùng Kontum, Pleiku. Đồng thời, Sư Đoàn 3 Cộng Sản đánh vùng Bình Định. Tại Cao Nguyên, Tướng Võ Nguyên Giáp mưu định cắt miền Nam thành hai mảnh.
Thời điểm là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.
Địa điểm là Charlie của Chiến Trường Cao Nguyên.
Trong quyển sách viết về chiến tranh Việt Nam “Mùa Hè Đỏ Lửa,” Phan Nhật Nam đã viết trong đoạn đầu tiên “Charlie, tên nghe quá lạ:”
“Quả tình nếu không có trận chiến mùa hè 1972, thì cũng chẳng ai biết đến Charlie, vì đây chỉ là tên quân sự dùng để gọi một cao độ nằm trong chuỗi cao độ chập chùng vùng Tân Cảnh, Kontum. Charlie hay Cải Cách hay [C] đỉnh núi cao không quá 900 thước trông xuống thung lũng sông Poko và đường 14, Đông Bắc là Tân Cảnh, với 12 cây số đường chim bay, Đông Nam là Kontum thị trấn cực Bắc của vùng Tây Nguyên… Charlie lọt giữa bị bao vây bởi căn cứ 5, căn cứ 6, ở phía Bắc, những mục tiêu quân sự nổi tiếng, những vị trí then chốt giữ cửa ngỏ vào Tân Cảnh mà bao nhiêu năm qua, bao nhiêu mùa hè, mùa “mưa rào”, báo chí hàng ngày trong và ngoài nước phải nhắc tới khi những hạt mưa đầu mùa rơi xuống miền núi non xương sườn cực Tây của quê hương Việt Nam…
Năm nay, sau bao nhiêu lần thử thách từ mùa mưa của 1971 qua đầu xuân của 1972, Bắc quân vẫn không vượt qua hai cửa ngỏ. Căn cứ 5, Căn cứ 6… Cộng quân đổi hướng tiến lòn sâu xuống phía nam của 2 căn cứ trên để tiếp tục sự nghiệp “giải phóng” với mục tiêu cố định: Tân Cảnh, cắt đường 14…”
Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù được cử đến lập một vòng đai để giữ những yếu điểm trong vùng quanh Quốc Lộ 14 và Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù có nhiệm vụ đóng giữ Charlie. Vào ngày 2 tháng 4, Tô Phạm Liệu, người y sĩ của tiểu đoàn và cũng là một sĩ quan nhảy dù, đã được thả đến Charlie cùng với Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù. Đây là tiểu đoàn nhảy dù mới nhất của Sư Đoàn Nhảy Dù Việt Nam.
Sau đó, tại Charlie, một trận đánh oai hùng và bi thương của người lính nhảy dù Việt Nam Cộng Hòa đã xẩy ra.
Lúc bấy giờ, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù là Trung Tá Nguyễn Đình Bảo tốt nghiệp khóa 14 Trường Sinh Viên Sĩ Quan Hiện Dịch Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Trung Tá Bảo là một sĩ quan chỉ huy rất giỏi và có nhiều kinh nghiệm chiến trường. Ông gia nhập Nhảy Dù ngay sau khi ra trường võ bị, đã tham dự nhiều trận chiến khốc liệt, đã chiến thắng nhiều và đã bị thương hai lần ở mặt trận.
Tuy vậy, lần này Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù bị hơn một sư đoàn Bắc Việt bao vây. Đó là Sư Đoàn 320 có mang danh là Sư Đoàn Điện Biên và cũng được gọi là Sư Đoàn Thép tăng phái thêm Trung Đoàn 64 của Sư Đoàn Sao Vàng Cộng Sản. Trước chiến lược thí quân của Bắc Việt, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù và Trung Tá Nguyễn Đình Bảo trở nên “hổ trong lồng.”
Ngày 11 tháng 4, Cộng Sản sửa soạn tấn công. Hàng trăm quả pháo rót vào Charlie kể cả đại pháo 130 ly với đạn xuyên phá “delay” Đây là loại đạn đặc biệt nguy hiểm, không nổ ngay khi chạm đất, mà sẽ nổ sau khi đã xuống dưới mặt đất khoảng hơn một thước, để tàn phá những hầm trú ẩn.
Ngày 12 tháng 4, Cộng Quân tiến đánh. Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù kể cả Bác Sĩ Quân Y Tô Phạm Liệu đã quần thảo với lính Cộng của Sư Đoàn Điện Biên. Họ đã đổ máu để tranh thủ từng thước đất.
Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, nhiều sĩ quan và binh sĩ nhảy dù đã hy sinh tại mặt trận.
Ngày 15 tháng 4, 1972 Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù tan rã. Chính bản thân Tô Phạm Liệu cũng bị thương ở chân. Tô Phạm Liệu và Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó đã dẫn một nhóm nhỏ còn lại và các thương binh rút khỏi Charlie. Và nhóm này cuối cùng được trực thăng “bốc” đi thoát. Một số khác chạy bộ băng rừng về.
Xác chết của nhiều quân nhân và của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo đã không đem được về và đành để lại Charlie.
Nhiều chiến sĩ nhảy dù đã anh dũng “ở lại” Charlie.
Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sau đó cảm xúc sự hy sinh của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo và những chiến sĩ nhảy dù khác tại mặt trận Charlie đã sáng tác “Người Ở Lại Charlie”, một bản nhạc khá hay và cảm động:
“Anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie.
Anh! Anh! Hỡi anh giã từ vũ khí.
Vâng, chính anh là ngôi sao mới, một lần này chợt sáng trưng, là cánh dù đan bằng tiếc thương vô cùng.
Này anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie.
Anh! Vâng, chính anh là loài chim quí.
Ôi, cánh chim trùng khơi vạn lý, một lần dậy cánh bay, người để cho người nước mắt trên tay…”
Sự kiện Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù tan rã ở Charlie, khi bị hơn một Sư Đoàn Bộ Đội Bắc Việt tấn công với đại pháo và chiến xa, là chuyện dĩ nhiên phải xẩy ra. Nhưng điều quan trọng hơn là sự hy sinh dũng cảm của những người lính Việt Nam Cộng Hòa. Những chiến sĩ nhảy dù đã gây tổn thất nặng cho đối phương và làm ảnh hưởng nhiều đến tinh thần của Cán Binh Bắc Việt.
Tuy là ngay sau đó, Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù phải bỏ cả Tân Cảnh về Kontum. Tuy là các Sư Đoàn Bắc Việt kiểm soát được Quốc Lộ 14. Tuy là họ đã bao vây thành phố Cao Nguyên Kontom. Tuy là họ dốc toàn lực đánh Kontum hai lần ngày 14 tháng 5 và ngày 25 tháng 5. Nhưng họ vẫn thất bại. Cuối cùng Cộng Sản Việt Nam vẫn không đạt được mục tiêu vào năm 1972 và phải rút lui tại mặt trận miền Cao Nguyên.
Mặt Trận Biên Giới nổ lớn tại An Lộc-Bình Long. Bộ Đội Cộng Sản hàng hàng, lớp lớp, “biển người”, được yểm trợ bởi hàng trăm chiến xa tối tân và đại bác hỏa tiễn hùng hậu, tràn ngập mặt trận. Nhưng họ đã phải đứng khựng lại ở quận An Lộc, cứ điểm quan trọng ngăn cản đường tiến của Bắc Quân đến Quốc Lộ 13 để về “giải phóng” Sài Gòn. Trong khoảng 100 ngày, gần 60 ngàn quả đại bác đã bắn vào độ một cây số vuông của quận lỵ nhỏ bé An Lộc. Năm lần Việt Cộng đã mở những cuộc tấn công. Cả năm lần Bắc Quân phải chùn bước. Người hùng Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng và các lực lượng phòng thủ, với sự phụ lực của Đại Tá Lê Quang Lưỡng và Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, cùng với sự yểm trợ hữu hiệu của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa và Không Quân Hoa Kỳ, đã cho Bắc Việt một bài học cay đắng: họ cho tướng Võ Nguyên Giáp biết thế nào là “tử thủ”. Ngày 8 tháng 6, 1972 Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù tiến vào thành phố, đã “bắt tay” được với tiểu đoàn nhảy dù”bạn”, Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù là đơn vị đã được trực thăng vận đến An Lộc mấy ngày trước.
An Lộc hoang tàn. Nhưng An Lộc vẫn đứng vững…
An Lộc đẫm máu. An Lộc đầy lửa khói. Nhưng An Lộc vẫn còn…
Cuối cùng Bắc Quân phải rút lui.
Mặt Trận Vùng Hỏa Tuyến: ngay những ngày đầu tiên Việt Cộng đã tràn ngập Quảng Trị và Sư Đoàn 3 Bộ Binh Việt Nam sau đó phải tan rã chạy về phía Nam. Dân chúng Quảng Trị ghét sợ Cộng Sản chạy theo quân. Hỗn loạn! Kinh hoàng! Nơi nơi máu đổ nhiều! Quân dân chạy giặc dưới làn đạn làm hàng ngàn người chết ở Đại Lộ Kinh Hoàng.
Bắc Quân tràn lan, đánh chiếm khắp nơi, tiến sâu thêm phía Nam.
Nhưng họ đã bị chận đứng lại ở sông Mỹ Chánh. Nơi đây ngày 2 tháng 5, Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến đã bắn hạ 17 chiến xa Bắc Việt. Cùng một lúc Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng được cử ra giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn I. Thế cờ được lật ngược.
Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù tan rã ở Tân Cảnh nhưng không biến mất mà đã phối trí lại. Chẳng những vậy, chỉ độ một tháng sau ngày tan rã ở Charlie, Tô Phạm Liệu và Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù đã là có mặt chiến đấu lại ngay ở miền Hỏa Tuyến.
Tháng 6, 1972 Sư Đoàn Nhảy Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến và Sư Đoàn 1 Bộ Binh cùng với sự yểm trợ của Không Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Không Quân Hoa Kỳ đã mở chiến dịch tổng phản công tại vùng giới tuyến. Họ đã anh dũng chiến đấu, quần thảo với tổng cộng sáu Sư Đoàn Bộ Đội Bắc Việt. Hai sư đoàn Cộng Sản 304 và 308 lúc này đã thêm bốn Sư Đoàn 312, 320B, 324B và 325.
Cuộc chiến đẫm máu kéo dài đến tháng 9, 1972 khi lá cờ vàng ba sọc đỏ được những người lính Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa dựng lại tại Cổ Thành Quảng Trị và khi tàn quân Bắc Việt chạy ngược trở về bên phía Bắc dòng sông Thạch Hãn.
Giấc mơ chiếm đoạt miến Nam vào mùa Hè 1972 của tướng Võ Nguyên Giáp hóa ra “chỉ là một giấc mơ thôi.”
Có lẽ hàng nhiều ngàn hay có thể đến hàng chục ngàn người “sinh Bắc” đã “tử Nam” trong mùa Hè này.
Y Sĩ Đại Úy Tô Phạm Liệu được Sư Đoàn Nhảy Dù trao tặng danh hiệu “Quân Nhân Xuất Sắc Nhất Của Sư Đoàn Nhẩy Dù.”
Tháng ba của tôi là thời điểm đau buồn nhất cuộc đời chiến chinh. Mọi người hay hỏi sao lại tháng ba mà không tháng tư. Tôi thường trả lời, vâng, đối với mọi người thì là tháng tư đau buồn, nhưng tháng ba là tháng tôi mất nhiều bạn thời chiến của tôi. Chúng tôi di chuyển dọc theo quốc lộ 13 của tháng ba nắng cháy. Nhiều người ngã gục vào tháng ba của lệnh rút quân. Nhiều chiến sĩ QLVNCH đã ra đi không một tiễn đưa, không một nén hương cho linh hồn bình yên. Nhiều ngôi mộ chôn vội trên đường rút quân. Và cũng nhiều kẻ hèn hạ lòi mặt chuột trong tháng ba binh lửa.
Tháng ba của Đức Phong, Bảo Lộc, Đồng Xoài, những địa danh tôi đã đi qua, đã để lại những mảnh tình nho nhỏ với cô gái hậu phương.
Có tháng ba rút quân mới đưa đến tháng tư thất thủ. Những thằng lính như chúng tôi luôn tuân lệnh cấp chỉ huy. Đó là truyền thống của quân đội. Nhưng lệnh của tháng ba làm cho chúng tôi xao động và ngỡ ngàng. Chúng tôi tin tưởng mình đủ sức kháng cự với cộng quân, dư sức đối đầu với bất cứ quân đội nào của cộng sản miền Bắc.
Nhưng vào tháng ba chúng tôi phải bỏ lại những thành phố thân yêu miền Trung, bỏ lại những người dân hiền hòa đã nuôi dưỡng chúng tôi suốt đời quân ngũ. Chúng tôi phải gấp rút từ giã những người con gái thương yêu, bỏ lại những mảnh tình trong trắng, thánh thiện. Chúng tôi bị phục kích vì không có kế hoạch hành quân, để thương đau mất đi những người bạn chiến binh chết tức tưởi vì lệnh rút quân cấp tốc trong đêm.
Ôi tháng ba oan nghiệt, tháng ba của mất mát. Mỗi tháng ba tôi lại hụt hẫng trong đau buồn và tiếc nhớ, tôi lại tìm về quá khứ, để tiếc thương những người bạn đời quân ngũ. Còn đâu những đêm nhậu đứng sau những chuyến hành quân dài. Còn đâu những đêm ngồi dưới giao thông hào, chia nhau từng điếu thuốc Ruby quân tiếp vụ.
Ôi thương quá từng ngụm nước đục dưới hố bom của những ngày nắng cháy giữa vùng Tam Giác Sắt. Những bát canh măng le giữa mật khu Long Nguyên đầu mùa mưa. Những ly cà phê gạo sấy của Bầu Bàng ngồi chờ giặc tấn công.
– Minh Mạng đây Bắc Bình gọi, nghe rõ trả lời!
– Bắc Bình đây Minh Mạng tao nghe 5/5.
– Mầy cho tao điểm hẹn, đại bàng bảo tụi mình cắm trại đêm nay với nhau.
– Lên 12, phải 24, tao gặp mầy khoảng 6 con gà.
– OK, 6 con gà, hết.
Trả máy lại cho thằng truyền tin, tôi chỉ điểm hẹn cho thằng em mở đường dặn nó chuyển hướng đi. Đã bốn giờ chiều, rừng Long Nguyên dày kịt không một chút gió. Trời tháng ba có khác, nóng oi, nóng bức Tuy đi dưới bóng cây rậm nhưng vẫn nóng như ai trùm mền không cho thở. Dù có thở được thì cũng toàn mùi ẩm của lá cây mục, của côn trùng, của rừng nhiệt đới. Giây leo giăng đầy ngang dọc chận lối, thằng em mở đường phải khó nhọc lắm mới tìm được lối cho mấy thầy trò. Tôi nhìn lại bản đồ và định hướng của mình, chỉ hai cây số là sẽ ra khỏi khu rừng rậm này, đến con suối nhỏ, xong băng ngang cái trảng chiều ngang khoảng 300 mét là sẽ đến điểm hẹn với tụi thằng Mẫn.
Bốn thầy trò tôi đi chuyến công tác này đã hơn hai tuần. Toán thằng Mẫn được lịnh vào thay để toán của tôi về lại Lai Khê, chuẩn bị cho chuyến đi vào Xuân Lộc. Hai đứa cùng được biệt phái cho Sư Đoàn 5, đóng tại Lai Khê. Chúng tôi liên kết với Đại Đội Trinh Sát 5 thi hành những chuyến công tác dài khoảng một tháng cho mỗi chuyến đi. Mỗi ngày chúng tôi nhận lệnh từ bộ tư lịnh sư đoàn, di chuyển theo từng toán nhỏ, lục tìm những tin tức và di chuyển của cộng quân trong địa bàn kiểm soát của sư đoàn 5.
***
Theo tin tình báo tôi nhận được thì sư đoàn 3 sao vàng của bắc việt đã di chuyển từ Pleiku về hướng Nam. Đây là một sư đoàn thiện chiến của miền bắc, từng tham dự trận Quảng Trị, Kontum. Tôi nhìn lại bản đồ, nếu sư đoàn nầy muốn vào Sài Gòn thì phải đi dọc theo quốc lộ 13, ngang Long Nguyên, chỗ tôi đang công tác. Tôi quay ngang thằng em truyền tin bảo nó đổi tần số cho tôi gọi về tiểu đoàn 53 pháo binh.
– Đà Điểu đây Bắc Bình, nghe rõ trả lời.
– Bắc Bình đây Đà Điểu nghe 5/5.
– Mầy cho tao hai quả về lên 12, phải 24, chỉ bắn khi nào tao gọi.
– OK lên 12, phải 24, bắn khi nào mầy gọi.
Giọng thằng Đắc đề lô trong máy có vẻ hơi thắc mắc:
– Bắc Bình sao bữa nay mầy gọi yểm trợ sớm quá vậy?
Tôi chửi thề trên máy: tao gọi thì cứ làm đi, tao đang cuốc bộ mệt bỏ xừ không có thì giờ giải thích đâu.
Hình như nó linh tính một cái gì đó không tốt nên gọi lại.
– Bắc Bình, tao muốn cho mầy một điếu thuốc lào cho bảo đảm. (Trái khói).
– Bộ mầy muốn chỉ cho tụi VC biết chỗ của tao hay sao vậy.
– Tao thấy có gì không ổn nên muốn ăn chắc không dội lên đầu mầy.
– Tao tin tài của mầy, từ xưa giờ mầy gọi đâu trúng đó nên tao không sợ.
– Mầy lại nâng bi tao nữa rồi, chừng nào về hậu cứ tao thưởng mầy một chầu bia.
– Ráng để dành tiền đi em trai, tao mà uống bia thì mầy chỉ có sạt nghiệp.
***
Phải nói ngày xưa tụi tôi uống bia như uống nước lạnh. Sau mỗi chuyến công tác về là bọn tôi kéo nhau xuống câu lạc bộ sĩ quan, mỗi thằng gọi bốn két bia 33 (mỗi két 24 chai) chất sau lưng, ngồi uống cả đêm, đến sáng hết bia mới về trại ngủ. Mỗi lần bọn tôi về là ông bà chủ câu lạc bộ rầu thúi ruột, phải thức đêm lo mồi nhậu cho mấy thằng trời đánh. Nhưng hai ông bà lại khoái tôi, không phải vì cô con gái đang đến tuổi lấy chồng, mà vì tôi trả tiền sòng phẳng, không ghi sổ. Những thằng lính như tôi mà cho ghi sổ lỡ có ngày hòm gỗ cài hoa thì mất hết cả vốn lẫn lời.
Bốn thầy trò tôi đến men rừng khoảng 5 giờ 30 chiều nhưng không đi ra vội. Đó là kỹ thuật, đó là luật sinh tồn, phải thám sát chung quanh trước khi đi ngang cái trảng trống trơn, chỉ có cỏ mọc ngang đầu gối. Tôi lấy ống nhòm ra quan sát bên kia bờ rừng. Nhìn lên, nhìn xuống chẳng thấy gì nhưng linh tính tôi như báo có cái gì đó không ổn. Tôi bảo thằng em nhỏ nhất trong đám đi dọc xuống bia dưới khoảng 100 mét rồi quăng một tàn cây nhỏ ra. Trong khi nó đang di chuyển, tôi quan sát trên ống nhòm, khi thằng em quăng tàn cây, đúng như linh tính, có một vài vật di động bên kia bờ rừng. Thằng em trở lại nói nhỏ với tôi: Mình bị phục kích ông thầy ơi!
Tôi bảo thằng truyền tin đổi tần số tôi gọi thằng Mẫn:
– Minh Mạng đây Bắc Bình, nghe rõ trả lời.
– Bắc Bình đây Minh Mạng, tao nghe 5/5.
– Cho tao điểm đứng.
– Tao đang chờ mầy ở điểm hẹn.
Tôi vội vàng cảnh giác nó:
– Cách mầy nửa ống chân (cây số) bên phải (hướng Đông), dọc theo bìa rừng, tụi nó đang nằm chờ tao băng ngang để làm thịt.
– Mầy chờ tao dọn bãi rồi hãy đáp.
– Đừng, tụi nó đông lắm, mầy chỉ có 4 thằng làm gì được. Để tao gọi thằng Đắc.
_Thằng em truyền tin hiểu ý, bèn đổi máy sang tần số pháo binh:
– Đà Điều đây Bắc Bình nghe rõ trả lời.
– Bắc Bình đây Đà Điểu tao nghe.
– Mầy có tần số của tao và thằng Minh Mạng không? Đổi qua đó ngay đi, tụi tao có việc cần đến tụi mầy.
– Rồi, tao sẽ qua bên đó gặp mầy.
Thằng em truyền tin lại đổi tần số một lần nữa:
– Đà Điểu đã bay về tổ, Bắc Bình, Minh Mạng, tụi mầy nghe tao không.
– Đà Điểu đây Bắc Bình, mầy cho tao một trái lên 12, phải 24 rưởi, bắn khi nào mầy sẵn sàng.
– Lên 12, phải 24 rưởi, bắn ngay.
Chừng hai phút sao, tiếng 155 ly xé gió rớt ngay giữa trảng cỏ, đất trộn lẫn với cỏ non bay mù mịt.
– Đà Điểu đây Bắc Bình, mầy cho qua phải khoảng ¼, bắn khi nào mầy sẵn sàng.
– OK, lên 12, phải 24-3/4 có ngay.
Chỉ không đầy 30 giây, quả 155 ly thứ hai rớt ngay lên đẩu bọn chúng, vài thằng quýnh quáng chạy ra trảng cỏ.
– Đà Điểu bắn hết, bắn hết.
– Minh Mạng, coi chừng tụi nó chạy về phía mầy.
Tôi quay ngang bảo mấy thằng em chuẩn bị băng ngang trảng cỏ khi dứt pháo. Từng quả 155 ly rớt ngay trên đầu bọn phục kích. Hàng ngũ chúng bắt đầu xôn xao. Tôi gọi thằng Mẫn:
– Minh Mạng mầy chuẩn bị khi tao gọi thì tiến đến bìa rừng nhưng coi chừng có bọn tao đi từ bên trái vào (hướng Tây).
Giọng thằng Mẫn khẩn cấp trong máy:
– Tụi nó đang chạy về hướng tao, đông lắm. Đà Điểu mầy cho tao hết lên 12, phải 24, bắn hết, bắn hết.
Tôi nghe thằng Mẫn gọi tọa độ mà kinh hoảng, đó là điểm hẹn của hai đứa, thằng Mẫn đang lâm nguy. Tôi ra lịnh cho toán băng ngang trảng cỏ. Tôi vừa cầm khẩu M16 vừa chạy đến bìa rừng bên kia, từng tia đạn bay tới tấp về hướng tôi. Tôi bất chấp, gọi thằng Đắc pháo binh cho bắn hết vào điểm hẹn. Tôi thay băng đạn hai lần, không biết tôi chạy bao lâu, xác bộ đội bắc việt nằm ngổn ngang vì trúng pháo 155 ly, nét mặt còn non choẹt, tuổi chừng 14-15. Tôi cứ vừa bắn vừa chạy về phía thằng Mẫn. Mấy thằng em chạy theo cũng vừa chạy vừa la xung phong.
Bọn tôi cứ chạy và bắn cho đến khi không còn nghe tiếng bắn trả lại mới ngừng chạy. Không gian bây giờ im lìm như thần chết vừa đi qua. Thây người chết ngổn ngang, cây gãy đổ vì đạn pháo. Mùi khói súng khét lẹt giữa rừng chiều. Gió bỗng nổi lên như thần chết rảo vòng chiến địa. Mùi tanh của máu, mùi khét khói súng quyện nhau giữa những thây người nằm ngã gục. Tôi đứng như chết giữa bãi chiến trường đã chấm dứt mà phần thắng chẳng về ai. Mấy thằng em lục lọi tìm toán thằng Mẫn. Bốn thầy trò nó nằm ngửa mắt vẫn mở như trông chờ ai. Tôi vuốt mặt từng đứa rồi lấy poncho gói xác Mẫn lại.
Ngủ yên đi Mẫn, đã 34 năm rồi đấy, tao thỉnh thoảng cứ nghĩ lại buổi chiều hôm đó, nếu tao không gọi pháo binh thì mầy đâu có bị tụi nó tràn ngập sang hướng của mầy.
Để chuẩn bị vượt ngục Aran Jail, tôi bắt chước tù Thái, dùng cánh cửa gỗ lớn ra vào ép hai đầu koòng cho rộng ra. Thêm vào đó, thỉnh thoảng ra chỗ bửa củi, tôi dùng búa, lấy gỗ lót để đừng gây tiếng động, đập nới koòng ra. Làm nhiều lần, hai koòng đã đủ rộng để có thể rút chân ra được.
Vượt ngục theo đường nào? A ran Jail đặt dưới sự kiểm soát của Đồn Quân cảnh Aranyaprathet. Nhà tù là một khu đất nhỏ, trung bình, được bao bọc chung quanh bằng hàng rào tôn dựng đứng. Bên trong là một ngôi nhà gỗ hai tầng, với nhiều song sắt kiên cố. Bên dưới là phòng làm việc của quân cảnh Aran Jail một bên và một bên là bàn ăn cơm và cầu tiêư cho quân cảnh. Phía sau là nhà bếp, nhà ăn và cầu tiêu cho tù, sau vườn là một hồ nước rộng. Trên lầu, một nửa là phòng ngủ của lính gác nhà tù, một nửa chia làm ba phòng, phòng ngủ của tù Thái, phòng giam kỷ luật gồm ba phòng nhỏ và một phòng để giam tù Việt Nam tị nạn.
Trong thời gian tôi ở Aran Jail, có hai lần tù Thái bỏ trốn. Một tù Thái nạy tấm tôn hàng rào, chun qua tại một địa điểm kín đáo nhờ một đống củi che khuất với hai koòng đã được tháo rộng sẵn. Hai tháng sau, anh ta bị bắt và bị giam trở lại tại Aran. Một tù khác trong giờ trưa vắng, leo lên thanh cột chống nằm nghiêng, nhảy qua hàng rào, lội qua suối và bị bắt ngay sau đó. Ngoài ra còn có hai Khmer Heng Samrin cũng lợi dụng cơ hội tốt bỏ trốn. Hai tên lính nầy đóng vai người tín cẩn để được đi lại công tác dễ dàng, thừa lúc sẩm tối, lén đi ra cổng, trốn trở về Kampuchia. Chỉ hai ngày sau, mặc dù vừa nói rành tiếng Thái, lại giỏi tiếng Khmer, hai tay tù trốn bị chận bắt lại tại biên giới Thái—Miên. Cái đêm được dẫn giao trả lại Aran, “Quỷ báo cốt” trong lúc say rượu đã phạt và hành hạ hai tù Khmer suốt đêm. Mấy hôm sau, hai tên đi trốn vẫn còn nằm bất động như hai đống thịt, toàn thân bị lở loét không mặc được áo quần, phải nằm ở truồng nhiều tuần để chữa trị vết thương.
Mặc dù chuyện đi trốn khó thoát, tôi vẫn cương quyết giữ ý định nhưng hoạch định một kế hoạch qui mô. Trên trần phòng giam có một lỗ ô vuông có nắp đậy, ăn thông với một lỗ tương tự trong phòng ngủ lính gác. Mỗi ngày đi kiểm soát bộ phận lau nhà, tôi thường qua đó nghiên cứu cách trèo xuống.
Sát lỗ xuống, có một bóng đèn. Lỗ gần tường, có những thanh nẹp ngang leo lên xuống dễ dàng. Trong phòng lại còn có một sợi dây ni lông máng áo quần lớn và dài. Vào đêm tối, thường các lính gác hoặc say rượu hoặc ngủ say khi bắt từ Việt Nam đâm bóp xong, chưa kể có tay bắt tù thủ dâm cho mình như “thằng ăn trộm” hoặc “thằng gà mái.” Đúng ngày ra đi, nửa đêm tôi sẽ tháo koòng dấu trong mùng, canh chừng tên tù Thái trực đêm, leo theo song sắt chun lên trần nhà. Bò dọc trần nhà sang phòng lính gác ngủ, mở nắp đậy, thò tay mở bóng đèn, tắt điện, tụt xuống theo tường, xong, mở sợi dây ni lông cột vào cửa sổ và tụt xuống đất.
Tôi sẽ đi men theo vách nhà, đến hàng rào tôn, leo theo cột chống nằm nghiêng gần nhà tắm, nhảy qua hàng rào và dông!
Thoát ra rồi đi đâu? Thỉnh thoảng kiếm được một số tạp chí như Time, Newsweek, một số sách xuất bản tại Thái bằng Anh ngữ và đặc biệt tờ Bangkok Post, tôi đã có một kiến thức và nhận định tổng quát về tình hình các nước Đông Nam Á, Châu Á, Trung Đông…
Đầu tiên tôi dự định trốn qua Miến Điện, xứ này theo Chế độ Kinh tế Xã hội Chủ nghĩa nhưng có Chính sách Trung lập. Giữa biên giới Thái và Miến Điện, Lực lượng Kháng chiến chống Chính phủ tuy mạnh nhưng chỉ đủ sức để tự vệ và chống trả các cuộc tấn công. Họ kiểm soát các đường buôn lậu huyết mạch từ Thái qua Miến Điện để sinh sống. Từ Bangkok sang tới biên giới Miến chỉ khoảng ba trăm cây số, con đường ngắn nhất để thoát ra khỏi Thái Lan. Tuy nhiên theo Gabriel, trưởng đoàn ICRC tại Aran, Miến Điện không có Tòa Đại Sứ Mỹ và Văn phòng ICRC. Nếu qua Miến không được giải quyết, tôi sẽ vượt tiếp đi qua Pakistan, Ấn Độ, Iran, Iraq… đến Pháp. Tôi dự trù đi bộ trong vòng hai năm và sẽ vượt ngục nhiều nhà tù trên đường đi qua.
Dự định thứ nhì là đột nhập Cung điện nhà Vua để trình “Thỉnh nguyện thư.” Mặc dù quyền lực Quốc gia thực sự nằm trong tay Chính phủ, nhưng tôi nghĩ, nhà Vua và Hoàng hậu Thái là Chủ tịch danh dự các Hội cứu giúp người tị nạn tại Thái. Trong một phạm vi nào đó, vì công lý, hai vị có thể cứu xét những trường hợp bất công. Trong cuốn sách Thailand’s 80s viết bằng Anh ngữ, tôi đã nghiên cứu các hình ảnh liên quan đến Hoàng cung, cũng như sinh hoạt của Hoàng gia. Đã từng đột nhập Phi trường Tân Sơn Nhất, vượt ngục Nhà tù 7708, tôi nhận thấy sự đột nhập Hoàng cung là một việc dễ dàng nhưng tiếc thay có quá nhiều bạn bè đã ngăn cản tôi trong dự mưu nầy: “Mầy sẽ bị thủ tiêu ngay.”
Và kế hoạch thứ ba là đi Singapore. Ở Thái Lan việc kiếm một bản đồ du lịch từ Thái đi Singapore thật dễ dàng. Tôi chỉ nhầm lẫn về khoảng cách của eo biển Singapore. Trên tờ Bangkok Post, trong một bài viết về Quân đội Singapore và cuộc tập trận hỗn hợp với Đệ Thất Hạm Đội, eo biển Singapore rộng 60 dặm là một eo biển chiến lược, là đường thủy huyết mạch của các hạm đội và thương thuyền liên đại dương. Với 60 dặm, tôi chỉ cần dùng một ruột banh bóng chuyền thổi căng lên, đem theo ít nước uống, bơi trong ba ngày ba đêm. Tôi có thể chịu lạnh trong những đêm ngâm mình dưói biển, còn vấn đề cá mập, đó là chuyện của Thượng Đế, nếu thuốc trừ cá mập không công hiệu hoặc không kiếm được. Trong bản đồ, eo biển giữa Mã Lai và Singapore chỉ chừng vài cây số. Sau khi nghiên cứu kỹ, tôi mới phân biệt được Singapore Strait và Johore Strait. Singapore đang cần tuyển Phi công nhưng có qui chế tị nạn rất nghiêm khắc: Tàu vượt biên vào Singapore sẽ bị Hải Quân kéo ra khỏi hải phận đuổi đi nước khác, nhưng nếu được một Quốc gia nào bảo lãnh, người tị nạn chỉ được nhận cho tạm trú tối đa ba tháng. Tôi muốn đến Singapore vì tôi sẽ không phải phí thì giờ lâu dài trong các Trại Tị nạn Mã Lai. Time is killing me! Tôi khác với những người đang killing the time.
Chuẩn bị kế hoạch xong xuôi, tôi vẫn chưa dứt khoát thực hành, bởi những lời hứa hẹn của Văn phòng Tumi, Phòng Thẩm vân của Tòa Lãnh Sự Mỹ tại Aranyaprathet. Aran Jail có khả năng chứa không quá 90 người, do đó từ ba đến bốn tháng, phải có một đợt giải quyết chuyển đi trại Panat Nikhom. Trước mỗi đợt đi, lại có nguồn tin từ Tumi cho biết tôi sắp được mở koòng và sẽ lên làm việc tại phòng Tumi. Tôi chờ đợi rồi thất vọng, rồi hy vọng, rồi thất vọng. Sau cùng khi đã quyết định chuẩn bị sẵn sàng và đã nới rộng koòng để vượt ngục, Chaning, lính gác nhà tù, vì cảm tình mở koòng cho tôi. Anh Đại Tá Mập nghe tin lại phóng xuống ra lệnh đóng koòng lại. Koòng đóng chật lại như cũ, nghĩa là bao nhiêu công khó tháo koòng của tôi đều đã trôi sông trôi biển. Chaning vì thương tôi mà hại tôi. Để phản đối hành động lạm quyền, bất công của anh Đại Tá Mập, tôi bắt đầu tuyệt thực. “Ống bô,” một cai tù mới đổi tới “lớn mồm” còn bỡ ngỡ năn nỉ tôi:
– Nếu mầy không ăn nhiều thì ăn vài muỗng cũng được. Mầy không ăn cơm là kẹt cho tao lắm.
– “Ống bô” mới đến đâu biết chúng tôi vẫn thường bị cắt cơm mà vẫn chẳng kẹt cho ai cả. Tôi cương quyết không ăn. Buổi tối “Ông bô” lên phòng bảo tôi:
– Nhà tù cấm tuyệt thực. Nếu mầy không ăn, tao buộc lòng phải có biện pháp.
Nghe “Ống bô” đe dọa, tôi nổi nóng đáp: “Tôi sẽ tuyệt thực đến chừng nào được mở koòng thì thôi,” và tôi nằm lì trên phòng không thèm xuống trong giờ ăn. Sau ba ngày đêm, một buổi tối, “Ống bô” tuyển lựa sáu tù Thái tình nguyện. Thời gian nầy có một băng tù Thái ba gai và hung dữ, lại ghét Việt Nam, rồi dẫn tôi xuống nhà dưới.
– Lần cuối cùng mầy có chịu ăn cơm không?
Tôi không trả lời, thế là sáu tên nhảy vào đánh hội đồng. Nhiều cú đá bay vào cổ, vào ngực, vào lưng. Tay tôi cầm sợi dây buộc koòng đứng gồng người chịu trận. Tôi khám phá ra một điểm kỳ lạ của cơ thể: Trong tình trạng đói khát kiệt lực, cảm giác đau đớn bị giảm và khả năng chịu đựng hành hạ càng tăng.
Tôi chẳng thấy đau, chẳng thấy sợ hãi, trái lại bỗng dưng tôi bật cười gằn. Như lửa đổ thêm dầu, họ nổi xung, dùng những đòn nặng và hiểm cố tình đốn ngã tôi. Tôi bị té xuống sau một cú chặt vào cổ và một cú nốc ao vào bụng, khi lồm cồm đứng dậy lại bị đốn ngã tiếp. Trận đòn hội chợ tiếp tục đến lúc tôi bị đá trúng cánh tay cầm dây Koòng và giây tuột rơi xuống sàn. Hai tay tôi được tự do nên cung lên, đứng thủ thế. Tên Trưởng toán ẩn mặt phía ngoài tưởng tôi chuẩn bị đánh trả và tưởng nhầm tôi là một “đại cao thủ” (do sức chịu đựng kỳ lạ trong thời gian bị đánh đập) nên chạy vào ngăn lại và dẫn tôi lên phòng giam để tránh đổ máu. Biết dùng vũ lực, tra tấn không khuất phục được tôi, họ chuyển sang kế hoạch khác: Đánh tù Việt Nam.
Thật là một thời kỳ kinh hoàng. Mỗi tối, sau giờ ăn cơm chiều, tất cả Tù Việt Nam đều bị đặt trong trạng thái tinh thần căng thẳng sợ hãi. Băng côn đồ Thái được bật đèn xanh thẳng tay đánh đập. Có người bị đánh bất tỉnh nhiều lần trong đêm, rồi đổ nước lạnh cho tỉnh lại, đánh tiếp. Có đứa bị đốt râu, lông dái như thằng Nuộc. Trời vừa tối, tiếng ầm ầm, bịch bịch vang dội hỗn loạn khắp phòng. Lúc đầu bị đánh, mọi người đồng thanh la lớn kêu cứu nhưng không những không được can thiệp lại còn bị trừng trị nặng hơn. Từ những tay mập mạp khỏe mạnh, đến những kẻ ốm yếu bệnh hoạn, mỗi đêm ít nhất cũng bị bất tỉnh một lần.
Tôi bị giam ở phòng kỷ luật riêng, nghe tiếng đánh đập la hét mỗi đêm đau đớn như mình đang bị hành hạ. Mỗi lần thấy các bạn đi ngang, mặt mày thiểu não, hốc hác và bầm tím, tôi cảm thấy xúc động mãnh liệt. Cuối cùng đám Bộ đội trẻ năn nỉ lạy lục tôi:
—Tụi em lạy Đại Ca. Đại Ca ăn cơm lại dùm tụi em. Nếu Đại Ca không ăn cơm họ sẽ đánh tụi em đến chết!
Dương Bá Linh là tay ăn nói khí phách, hồi trước thỉnh thoảng thường đến luận bàn với tôi về những mẫu người và thái độ sống trong tù. Tôi kể cho Linh nghe về một vài chuyện trong Nhà tù cũ. Tôi nhắc lại một vài mẩu đối đáp với Đạm trong nhà tù 53. Đạm nói với tôi:
– Không quì trước kẻ thù, bạn đã làm một tấm gương sáng cho anh em ngưỡng mộ. Tôi sẽ học tập gương bạn. Nhưng theo tôi, nếu Việt Cộng bắt tôi quì trước đám đông, tôi sẽ không quì như bạn. Trái lại, nếu họ đem tôi vào rừng vắng một mình có lẽ tôi sẽ quì bởi vì tôi cần phải sống để dạy dỗ các con tôi nên người.
– Không. Không thể được. Tôi phản đối. Bạn không thể dạy con cái bạn sống hiên ngang, sống bất khuất, sống hào hùng, sống xứng đáng nên người bằng thái độ hèn hạ đó. Bạn trả lời với con cái thế nào khi chúng hỏi bạn: “Con nghe người ta kể lại rằng, ngày xưa có lần ba đã hèn nhát, khiếp nhược quì phục trước mặt kẻ thù, phải không ba?” Thà bạn chết đi, chết hiên ngang bất khuất. Chắc chắn con cái bạn sẽ học được bài học quí báu bằng chính tấm gương sáng của cha mình. Bạn cứ chết đi, và những bạn khác cứ chết đi một cách anh hùng, không khuất phục. Kẻ thù sẽ khủng hoảng tinh thần, sẽ điên loạn, sẽ chết, sẽ sụp đổ vì sợ hãi tinh thần, khí phách của chúng ta.
Linh sau đó cũng đã phải thú nhận:
– Tôi nghĩ tôi có thể làm được như anh. Cho dù họ đem tôi đi xử bắn, tôi vẫn không sợ. Thế mà khi tụi nó áp lại đánh tôi, chẳng biết thế nào mà tôi quýnh lên chắp tay quì lạy trối chết.
Tôi cười trả lời:
– Phải thử lửa mới biết được đá vàng. Phải thử thách quá giới hạn chịu đựng của con người, mình mới hiểu được mình, mới có thể tự xác định được mình. Từ ý nghĩ đến hành động phải qua một quá trình tôi luyện và thử thách.
Tôi có thể chịu đựng mọi sự tra tấn hành hạ dã man tàn bạo nhất, nhưng không thể chịu đựng được khi thấy những người khác bị đánh đập hành hạ vì mình. Hơn nữa, từ ngày thứ tư trở đi, cô y tá của ICRC mỗi ngày lại được phái đến để theo dõi tình trạng sức khỏe của tôi. Tôi thân với Daniel từ đó. Daniel, cô gái Thụy Sĩ, ngồi bên tôi, nhìn tôi với cặp mắt trìu mến, nói với tôi bằng những lời chân tình:
– Anh nên ăn lại đi, anh cần phải sống. Cuộc đời bên ngoài còn có bao nhiêu điều tốt đẹp, bao nhiêu xứ sở tốt đẹp để anh thưởng ngoạn. Anh còn trẻ, đời còn dài…
Tôi nhìn Daniel ráng “tán” một câu, mặc dù hơi thở đã gần thoi thóp:
– Anh đã đi nhiều nơi, từ Nhật Bản, Guam, Hawai, Texas, California, Cam Bốt… Anh đã thấy đủ và hưởng đủ. Giờ phút nầy anh chỉ còn một hạnh phúc duy nhất là nhìn em mỗi ngày ngồi cạnh anh. Vì vậy anh phải tiếp tục tuyệt thực để được hưởng cái hạnh phúc tuyệt vòi đó!
Daniel bối rối. Trong đôi mắt chơm chớp xúc động của nàng, tôi đọc được những dòng chữ sau đây: “Chàng ơi, chàng gần chết mà sao chàng còn đa tình thế? Chàng thì gần chết trong khi em đã chết vì chàng rồi, chàng biết không?”
Sau nầy khi nhận được thư của Tổng Thống Reagan, có đoạn “With Daniel, you walked through the lions’ den, sustained by your faith in God, and emerged victorious,” tôi lại càng thêm tin tưởng về sự kỳ bí của sự trùng hợp của các tên tuổi hoặc con số.
Dù sao thì tại một nước tự do, dù chỉ tự do một nửa, nhân quyền và nhân đạo cũng còn được quan tâm và tôn trọng. Tôi nằm tuyệt thực tại nhà tù Thái Lan, mỗi ngày đều được một người đẹp ngồi bên cạnh khuyên can, săn sóc, trong lúc Chiến hữu, Bạn bè tôi tại nhà tù Cộng Sản Việt Nam, chẳng hạn như tại Lam Sơn, một đứa trốn trại bị dẫm mìn đứt bàn chân, sau khi bị bỏ lơ nửa ngày mà nạn nhân chưa chịu chết, y sĩ trại đã dùng loại cưa sắt lớn, không thuốc tê, thuốc mê, không cả điều kiện vệ sinh tối thiểu, bắt các tù khác đè nạn nhân xuống, kềm chặt, cưa chân nạn nhân như cưa một khúc gỗ. Trị bệnh đã trở thành trị tội bệnh nhân. Nạn nhân quằn quại la thét đến chết bởi những “lương y như ác mẫu.”
Sau một tuần, tôi bắt đầu ăn lại vì không muốn gây đau khổ và phiền muộn đến nhiều người khác: Từ Tù Việt Nam đến ICRC. Hôm đầu tiên xuống lầu ăn cơm lại chứng kiến cảnh đau lòng mới. Giờ ăn, mỗi người cầm một cái khay đi đến vị trí phát cơm và canh. Trước khi phát thức ăn, tên tù Thái phụ trách tát mỗi Tù Việt Nam một bạt tai hoặc ký đầu một cú mạnh rồi bắt họ nói lớn:
– Khập khun, khấp! (Dạ, cám ơn!)
Chữ khấp là tiếng dạ của kẻ dưới đối với kẻ chức quyền, với người trưởng thượng. Nghe nó mất sĩ khí quá. Đến phiên tôi, tên đầu gấu không dám đánh nhưng bắt tôi nói khập khum, khấp. Tôi không lập lại bằng tiếng Thái mà nói bằng tiếng Anh: Thank you rồi đi về bàn ngồi.
Tên nầy sau khi phát cơm xong, đến chỗ tôi đầu bàn, dùng tay vỗ mạnh vào vai tôi. Y vỗ mạnh như một cú chặt Karaté rồi bắt tôi phải lập lại bằng lời quát lớn:
– Khập khum, khấp!
Tôi không thèm trả lời, đứng bật dậy, phóng một quả đấm tận lực vào mặt tên côn đồ Tù Thái. Y bật ngửa đụng bức tường cao gần một mét ngăn cách phòng ăn và nhà bếp nên lộn ngược qua phía bên kia, đập mặt xuống đất, mồm bị bể và phun máu. Tên bạn y đứng bên cạnh nhảy vào đấm tôi. Tôi vướng koòng bị ngã ngửa trên ghế, tiện chân đạp luôn đôi koòng vào ngực y một phát, rồi mất đà té lọt giữa ghế ngồi và bàn ăn đóng dính nhau. Chiếc bàn dài có ghế ghép hai bên trở thành vật cản giúp tôi tránh đòn. Đám Tù Thái đồng bọn nhảy vào ăn có, bề hội đồng nhưng nhờ trở ngại bàn ghế và phần lớn đều mang koòng như tôi, nên những cú đá, đạp và gậy phang bị vướng víu không gây ảnh hưởng nặng. Tay Trưởng toán tù Thái thấy ấu đả bèn chạy tới ngăn lại. Tay nầy mới lên thay chức nhưng có cảm tình và tốt với Tù Việt Nam. Tối hôm đó có hai Tù Thái kéo Dũng và Thơm, hai Bộ đội trẻ mới bị bắt vào, tới trước phòng giam của tôi và nói:
– Mầy đánh bạn tao. Bây giờ tao đánh đàn em mầy.
Họ chỉ ra hai đòn, chặt một phát karaté vào cổ, móc một cú nốc ao vào bụng là hai Bộ đội bị đốn ngã xuống dãy đành đạch. Họ nhảy lên ngực đạp mạnh cho tỉnh lại rồi đánh bất tỉnh một lần nữa trước khi lôi trở về phòng. Ngày hôm sau, tên bị tôi đánh gãy 3 răng mồm mang một cục băng lớn tiến về phía tôi. Tưởng y muốn gây chuyện, tôi đứng thủ thế chuẩn bị ra đòn thì y xua tay làm hòa, bảo:
– Mặc dù sau bảy ngày tuyệt thực Phú Còn (Ông lớn) tuy sức yếu lại đang bị koòng mà một mình dám đánh lại cả đám tụi tui, tôi rất phục sự can đảm và hùng tính của Phú Còn!
Nói xong y mời tôi hút thuốc. Từ đó mỗi buổi trưa, y gọi tôi đến cửa sổ, bảo thả dây xuống, kéo gói cơm chiên thịt bò y để dành chiêu đãi tôi. Tôi dễ dàng hòa hoãn thân thiện với kẻ biết điều, nhờ vậy mà không khí căng thẳng giữa Tù Việt Nam và đám Tù Thái hung dữ lắng dịu dần. Những người tù Thái mới vào thường hỏi thăm:
– Lý Tống khôn nãy? (Lý Tống là người nào?)
Và đến làm quen do nghe các câu chuyện những tù Thái cũ mến tôi kể lại.
Tôi nhớ thời kỳ ở Nhà tù Cộng Sản, mỗi lần bị chuyển đến các Trại tù mới, các Quản giáo và Vệ binh Việt Cộng thường lãng xăng háo hức hỏi nhau:
– Tên Giặc lái Lý Tống là đứa nào đâu?
Các tay Cai tù cũ có vẻ thích thú và hãnh diện khi chứng tỏ sự hiểu biết của mình về cái anh chàng Giặc lái Ngụy mặc áo quần sọc đỏ, đi chân đất với đủ loại huyền thoại. Hay những người Tù trong bộ phận chăn nuôi ở Lam Sơn, những lần thả trâu bò gần khu vực dân chúng ở Dục Mỹ, gặp những cô bé học trò, những cô gái bán hàng vẫn thường hỏi thăm:
– Anh Phi công Lý Tống còn ở nhà cùm không? Anh ấy có đẹp trai không?
Tâm lý của con người thật kỳ cục. Đối với nhiều người, đẹp trai cũng là một yếu tố để nâng phẩm chất của thái độ hào hùng! Nếu Napoléon cao thêm vài tấc, chắc chắn sẽ có thêm hằng triệu người ái mộ nhà Đại Anh hùng nước Pháp!
Cảm động nhất là những bà cụ bán hàng ngoài chợ. Có lần, một bà cụ bán cá đã nhờ các Tù nhà bếp đi chợ, gởi vào mấy con cá:
– Gởi cho thằng Phi công Lý Tống. Nói với nó, tao vẫn nhớ cái ngày nó nhảy dù, nó trốn vào trong đám mía nhà tao. Cái thằng! Giặc đuổi tới đít mà vẫn tỉnh queo cứ nằm lè phè ăn của tao hết mấy cây mía!
Đa số tù Thái ở với chúng tôi rộng rãi và thân hữu, một thiểu số xấu, hung dữ cũng biết phục thiện. Ngay cả ông Đại Tá Mập, sau nầy khi nghe tôi đến được Singapore lại là người sốt sắng nhất cung cấp các tin tức về tôi cho các phóng viên săn tin. Thật ra ông ta cũng chỉ vì tận tụy với nghề nghiệp, vì tính tự tôn Dân tộc mà tôi đã xúc phạm khi yêu cầu chuyển tôi qua Tòa Lãnh Sự Mỹ để điều tra. Người Thái, chính phủ Thái rất tự tin và hãnh diện về sự độc lập và chủ quyền của Quốc gia họ.
Trên thế giới nầy, có được bao nhiêu Quốc gia nhược tiểu, ở trong quĩ đạo của Hoa Kỳ vẫn còn giữ được tính độc lập và quyền tự quyết của mình như Thái Lan? Cũng nhờ sự mâu thuẫn giữa tôi và Đại Tá Mập mà tôi có một dịp đặc biệt để tự khám phá những khả năng, những giá trị, nhũng đức tính tiềm tàng ẩn kín trong bản chất tự nhiên của mình. Tôi cám ơn, vì anh Đại Tá Mập, như một tấm gương, mà qua đó tôi nhìn ngắm được dung mạo của mình, thấy rõ những góc cạnh, chi tiết mà bản thân trong quá khứ chỉ cảm nhận mơ hồ huyền hoặc. Tôi mong muốn tình bằng hữu khắp mọi nơi trên bước đường mình đã đi qua, mỗi một con người, mỗi một Dân tộc ngoài những khuyết điểm, đều có những ưu điểm nổi bật để mình học hỏi và ngưỡng mộ. Tôi mong mỏi phát triển về sự thông cảm, tình thân ái giữa các con người, giữa các Dân tộc: “Cộng Sản nhìn vào mỗi con người lương thiện để thấy một tội phạm. Chúng ta nhìn vào mỗi con người, ngay cả mỗi tội phạm, để thấy được cái phần bản chất người tốt đẹp.”
Thù hải tặc Thái hay thù một số tên Cai ngục Thái tàn ác ở các Trại Tị nạn dọc biên giới, không phải là thù cả Dân tộc Thái hay cả nước Thái. Chính phủ Thái trên một phương diện, có trách nhiệm về các hoạt động chống hải tặc thiếu hữu hiệu, trong lúc các thương thuyền ngoại quốc từ chối cứu thuyền nhân, trên phương diện khác, cũng có trách nhiệm nhân đạo tương đương. Mỗi Quốc gia trên mỗi khía cạnh, trong mỗi hoàn cảnh đều có mặt tích cực và tiêu cực. Và chính chúng ta, những người Việt Nam hải ngoại đã có hoạt động nào hữu hiệu để cứu người tị nạn? Và những người tị nạn đi trước, trong một số trường hợp đã góp phần tăng thêm thảm cảnh nầy. Chẳng hạn trường hợp của những người từ chối định cư tại các Quốc gia đã cứu vớt họ, chỉ khăng khăng đòi đi Hoa Kỳ, làm xúc phạm đến lòng nhân đạo của một số Nước thứ ba, làm họ thay đổi thái độ với vấn đề tị nạn.
Ta chỉ trích người mà quên tự chỉ trích mình. Những người dân di tản từ miền Trung vào Sàigòn trong những ngày đầu miền Nam thất thủ vẫn còn chưa quên hình ảnh tàn bạo khủng khiếp của những tên côn đồ, hải tặc Việt Nam đối với chính đồng bào ruột thịt của mình. Nếu ta là Thái Lan, ta có chắc hoàn toàn tránh được thảm trạng đó không? Bởi vì ngay chính trên lãnh thổ Hoa Kỳ, những tên “bộ tặc” vẫn hàng ngày gây nên những tội ác kinh khủng mà chúng ta vẫn chưa đóng góp tích cực để ngăn chận và trừng trị hữu hiệu. Con sâu làm rầu nồi canh, nhưng con sâu không phải là đại diện của nồi canh. Ngay cả với Cộng Sản, tôi cũng không hận thù theo kiểu Đạm. Với Đạm, phải lóc từng miếng thịt, phải rút từng sợi gân, lột da, moi mắt… nếu một ngày lật được thế cờ.
Không. Chúng ta ghét Cộng Sản bởi Cộng Sản tàn bạo, bất nhân. Nếu chúng ta cũng tàn bạo, bất nhân, chúng ta không có lý do để nguyền rủa Cộng Sản, chúng ta không có Chính nghĩa để thắng Cộng Sản. Một ngày nào giải phóng đất nước, chúng ta sẽ không lập lại hoặc duy trì những hình ảnh tương tự Trại Cải Tạo cho kẻ địch bại trận.
Phải rộng lượng, nhân đạo để cải hóa giáo dục những con người lầm lạc, hoặc bị cưỡng bức phải làm điều lầm lạc, bởi vì bao thanh niên trẻ, con cháu, anh em chúng ta sinh trưởng ở miền Nam hiện đang bị bắt đi lính, đẩy ra chiến trường mặc dù cha, anh họ vẫn đang bị cầm tù trong Trại Cải tạo vì tội Ngụy quân, Ngụy quyền. Và từ đó suy ra, Bộ đội miền Bắc phần lớn cũng ở trong hoàn cảnh sinh bất phùng thời, tử bất phùng nơi và họ dù muốn đào ngũ cũng khó thoát được màn lưới kiểm soát chặt chẽ của Cộng Sản.
Với những tên ngoan cố, bất trị, những tên lậm thuốc Cộng Sản quá nặng không thể chữa trị, hãy cho chúng đi tị nạn về đất thánh tổ Lenin để họ hưởng hạnh phúc trong Thỉên đàng Đại đông tại Tầy Bá Lợi Á. Và những tên đầu sỏ trong Bộ Chính Trị phải bị treo cổ để trả nợ máu với Nhân dân và Tổ quốc.
Mặt khác cũng nhờ Cộng Sản mà tôi thấy được ý nghĩa đời sống. Tôi biết hưởng hạnh phúc trong tầm tay, những hạnh phúc bình dị, đơn giản. Nhờ Cộng Sản, tôi biết sống để trở thành con người hữu fch, biết nâng cao tâm hồn mình vì những mục đích cao thượng. Tôi tiến bộ được nhờ mười mấy năm trong tù ngục Cộng Sản. Chỉ những lúc sắp chết mới thấy hết giá trị sự sống, chỉ những lúc đói khát cùng cực mới biết thưởng thức những hương vị bình thường. Tôi đã từng nói với ông Julian, Cao Ủy trưởng Cao ủy Tị nạn tại Galang trong một bữa tiệc khoản đãi tôi ngày đầu tiên tôi đến Trại:
— Nếu không sống với Cộng Sản, giờ nầy tôi cũng còn mang bản chất của một playboy. Nhờ có kinh nghiệm với Cộng Sản tôi đã có ý thức mới để trở thành một Chiến sĩ tận tụy và dũng cảm. Kẻ ác, kẻ xấu là bậc thầy vĩ đại nhất dạy tôi trở nên người tốt
Vâng, tôi học được từ những người xấu nhiều hơn từ những người tốt. Chính những cái xấu xa, đê tiện, cái độc ác, cái gian xảo, cái hèn hạ được phô bày tràn truồng trước mắt làm cho tôi cảm thấy ghê tởm, phẫn nộ, khinh bỉ… Chính những cảm giác đó đã giúp tôi tránh được những lầm lỗi mà kẻ khác đã phạm phải, cho tôi một chỗ đứng khách quan để nhìn ngắm chủ quan, giúp tôi hạnh phúc trong những lựa chọn hướng thượng… Suốt cuộc đời chiến đấu, tôi chưa bao giờ ra trận với động cơ của sự hận thù, nhưng chính vì Công lý, vì Chủ quyền lãnh thổ cần được bảo vệ và tôn trọng, và quyền tự do lựa chọn định chế chính trị của người dân. Và trong tương lai, tôi sẽ tiếp tục chiến đấu vì sinh mệnh của 50 triệu người dân Việt Nam đang quằn quại rên siết dưới gông cùm thống tri của Cộng Sản. Bởi vì hạnh phúc và quyền sống của con người, chúng ta phải tiêu diệt bất cứ thế lực nào bóp chết hạnh phúc và quyền sống của con người.
Vụ tôi tuyệt thực đã gây tiếng vang lớn. Có những Sĩ quan cấp Tướng của Thái tại Bangkok đã quan tâm đến trường hợp tôi, và Tòa Lãnh Sự Mỹ tại Aranyaprathat đã phái nguời đi điều tra về tông tích tôi. Tại Trại Sikew có Đại úy Nguyễn Bảy, Phi công cùng phi đoàn Ó Đen 548 và là tù binh cùng Trại tù A30. Ngoài ra còn có Y sĩ Ngọc, Phi công Sô, Mai, hoặc cùng Không đoàn hoặc cùng Nhà tù đã xác nhận những điều tôi khai báo. Ngoài ra còn có Hồng, đánh cá ở Đài Côn Kampuchia cùng tôi, biết rõ tôi, đang tị nạn tại trại NW82. Người ta buộc lòng phải mở koòng chuyển tôi lên Phòng Thẩm vấn của Victor (thay thế Tumi đi định cư ở HoaKỳ). Văn phòng Victor có danh hiệu Black Eagle. Tôi có cảm tưởng mình đang trở về mái gia đình Không Quân thân thương cũ, về Phi đoàn 548 Black Eagle của mình. Ngày qua Galang, Indonesia, chi hội Không Quân tại đây cũng lấy danh hiệu Eagle! Số phận cứ đưa đẩy tôi gặp hoài những con số, những tên tuổi và danh hiệu tiền định.
Tôi được thử qua máy dò sự thật. Nguyên tắc của lie detector căn cứ vào nhịp tim, mạch. Một người khi nói dối thường hồi hộp, lo lắng làm rối loạn mạch tim. Nhưng nếu uống rượu say hay uống thuốc trước khi lên máy, thần kinh tê liệt có thể làm giảm sự bối rối và máy sự thật khó dò ra. Có một điều máy sự thật và người làm ra máy sự thật không lường trước được, đó là sự nói dối có chính nghĩa. Nói dối vì mục đích cao thượng, vì lòng nhân từ, vì nghĩa khí.
Tôi cảm thây lương tâm trong sáng khi nói dối, tôi cảm thấy hạnh phúc khi nói dối bởi vì tôi chấp nhận phần thiệt thòi, phần đau khổ về mình để bảo vệ hạnh phúc và sự an toàn của những người vô tội, những ân nhân tốt bụng. Hơn nữa, tôi đã từng tập chế ngự xúc cảm của mình, tập làm chủ bản thân mình qua lửa đạn chiến trường, qua gông cùm tù ngục. Vì vậy khi chuyên viên phụ trách lie detector hỏi tôi:
– Anh có điều gì nói dối Chính quyền Thái không?
Tôi nghĩ đến số tiền 40 bahts, nghĩ đến gia đình người đàn bà Việt kiều ân nhân và tôi đáp thoải mái:
– Không.
Và máy sự thật cũng đành chấp nhận cái sự thật không thật kia. Victor đã nói đùa về máy sự thật, về sự tin tưởng tuyệt đối của người Mỹ vào máy sự thật như sau:
– Nghe Tổng Thông Mỹ vừa tuyên bố một câu thật xúc động, thật tình nghĩa, một người Mỹ vội hỏi: “Câu nói nầy đã qua máy sự thật chưa?” “Chưa.” Một thẩm quyền trả lời. “Nếu chưa qua máy sự thật thì tôi không tin những điều Tổng Thống vừa tuyên bố.” Người nầy khẳng định.
Bị đuổi trở lại biên giới
Đã có nhiều người chứng nhận về background của tôi, đã có máy sự thật chứng nhận những lời khai của tôi, Chính quyền địa phương đành phải giải quyết trường hợp tôi. Thay vì được chuyển đi Trại chuyển tiếp Panat Nikhom như thông lệ, tôi lại bị trả ngược về biên giới với một lý do thật “sáng tạo”: Theo một sắc lệnh mới, Aran Jail chỉ dành riêng cho giới Bộ đội đào ngũ tị nạn!
Bốn người dân sự khác phải gồng gánh đi theo tôi cho có vẻ hợp lý. Khi đưa lên xe, anh Đại Tá Mập còn chơi chữ nói móc với các bạn đi cùng chuyến với tôi:
– Em Khang có một có lỗ sâu sau ót làm bùa hộ mạng chắc đạn bắn không lủng. Còn Khiêm và Bằng nói tiếng Khmer rành chưa?
Các bạn tôi quá mất tinh thần, cố ráng năn nỉ, cầu khẩn vào phút chót:
– Xin Đại Tá thương tình giúp đỡ tụi con.
Tôi bực mình cự lớn tiếng:
– Đù mẹ, đi đâu thì đi. Chết là cùng chứ đếch gì mà sợ. Năn nỉ ỉ ôi làm đéo gì cho nó mệt người.
Anh mập tái mặt gườm tôi, tôi nhìn gườm lại anh mập và trong giờ phút đó, nghĩ bụng: “Thưa ngài. Ngài thật là may mắn Ngài biết không? Có những lần ngài đứng gần tôi, tôi lại đứng gần cái búa. Tôi đã có ý nghĩ… May mà còn chút sáng suốt, lạc quan nếu không tôi đã giáng cho Ngài một búa rồi.” Ngay cả có lúc, trong kế hoạch vượt ngục Aran Jail, tôi cũng có ý định tìm về nhà anh Mập “cắt bộ đồ nghề” của anh ta, bởi vì tuy già, nhưng ngài vẫn còn ham trò chơi trống bỏi.
Chuyển về biên giới, nếu được vào trại NW 82 thì chúng tôi cũng đã được giải quyết trong đợt cuối năm 1982. Nhưng thực tế, chúng tôi chỉ được đưa vào cổng trước và đuổi ra cổng sau để qua trại Nong Samet. Ôi, Nong Samet vĩnh viễn là mồ chôn của những người tị nạn bất hạnh, nếu không chết vì pháo kích, vì bị Việt Cộng tràn ngập, Nong Samet cũng sẽ là nhân chứng ngày tàn của những con người tuyệt vọng. Đã bao nhiêu Phái đoàn ghé đến chỉ biết lắc đầu để cảm thông, chia sẻ những số phận bất hạnh.
Đa số nguời Việt tị nạn tại Nong Samet thuộc thành phần Kampuchia Krom hoặc Muslim, ngoài tiếng Việt, họ còn có ngôn ngữ riêng thông dụng hơn. Buổi tối, năm đứa chúng tôi đánh vòng đi dạo mát để cảm thấy mình trở thành lạc lõng, trở thành người ngoại quốc trong Cộng đồng Tị nạn được mang danh hiệu Việt Nam. Tiêu chuẩn ăn uống của Nong Samet thật bi thảm: Gạo phát một ngày chỉ đủ để ăn một bữa. Một hộp cá mòi 114 grams một tuần, chưa kể có những hộp cá mòi hư thối, vừa mở nắp, là cá xì hơi mạnh văng bắn lên nóc nhà hôi thối cả gian nhà.
Chuyện ăn cá mòi làm tôi nhớ đến một viên chức Tòa Đại Sứ Mỹ. Trong một lần ghé thăm trại Nong Samet, ông ta hỏi han về cách sinh hoạt và ăn uống của người tị nạn. Một anh bạn sau một hồi giải thích cặn kẽ bèn kết luận:
– Tôi nghĩ ông không cần phải hỏi làm gì phí công. Cứ nhìn chúng tôi gầy ốm hốc hác thế nầy là ông đoán ra được chế độ ăn uống ở đây rồi. Người viên chức Mỹ tuổi trung niên vóc dáng mập phì, ông ta mập đến phát mệt, và mập một cách khổ sở. Nghe nói thế ông ta bèn hớn hở như vừa tìm ra một chân lý:
– Vậy hả? Thế thì tôi sẽ về bắt chước ăn giống các anh để được ốm như các anh. Tôi thích được ốm và tìm đủ cách diet mà vẫn cứ mập!
Chuyện đời thật tréo cẳng ngỗng, chỉ một thí dụ nhỏ đó cũng cho thấy sự mâu thuẫn của cuộc đời, sự khó thông cảm giữa các con người. Mỗi đất nước đều có một kiểu hạnh phúc và đau khổ trái ngược nhau. Người Việt thì nghèo nên khổ ví ốm, người Mỹ thì giàu nên khổ vì mập. Kỳ cục không kém, người Việt Nam tại Mỹ lại thèm ăn rau muống nên rau muống trở thành đắt giá. Người Việt trong nước lại chán ăn rau muống, bởi vì rau muống là món rẻ tiền họ phải ăn thường ngày, và là món duy nhất. Nhưng điều khó hiểu và tôi thường thắc mắc nhất là các cựu Quân nhân Mỹ. Hầu như cả ngàn Veterans Mỹ tôi gặp tại Mỹ đều thích thú kể lại các kỷ niệm thời chiến đấu tại Việt Nam. Người nào cũng mong có dịp trở lại Việt Nam để chiến đấu và sống lại thời huy hoàng cũ. Nhưng mỗi lần nghe báo chí, truyền hình phỏng vấn, lại chỉ nghe họ tố cáo và chống lại chiến tranh Việt Nam. Hình như mỗi lần gặp phóng viên họ lại sống và nghĩ bằng một con người khác: Một nhà chính trị, một triết gia. Nhưng sau đó họ lại trở lại con người bình thường, trần tục và những lối hưởng lạc cũ, nghĩ và nói những điều tầm thường phát xuất thực sự từ đáy lòng của họ!
Tôi phải đi dạy kèm tiếng Anh cho các người Khmer và các English Teachers cấp thấp khác, những người còn dấu diếm được chút vốn liếng vàng bạc, để có thêm gạo và cá nuôi nhóm năm người. Ngoài giờ dạy Anh văn, tôi trau dồi thêm Anh ngữ bằng cách đọc truyện tiếng Anh và đi ngồi chầu rìa nghe những người Mỹ làm việc tại Bệnh Viện tán dốc.
Ở Nong Samet, tôi làm quen với những người ngoại quốc đã từng đi du lịch qua Mã Lai, Singapore để dò đường. Miss Canada, cô gái đẹp nhất trong đám, khi nghe tôi nói về dự định đi bộ từ biên giới Kampuchia sang Singapore đã “phán” một câu lạnh lùng:
– Are you crazy?
Tôi nhún vai:
– Có thể. Bởi vì thiên tài và kẻ điên chỉ khác nhau một điểm duy nhất: Sự thành công.
Cô ta trầm trọng hóa hệ thông an ninh kiểm soát trên đường đi, tại bến xe bus, tàu hỏa, như một mạng lưới nhện kín không con ruồi nào có thể qua lọt. Cô nhấn mạnh.
— Ngay chính Thái Cộng, Mã Cộng còn dầu hàng không hoạt động được.
Miss Canada muốn dập tắt ngay tia lửa hy vọng vừa đang leo lét trong tôi. Chỉ có một người có quan điểm trái ngược với các ý kiến trên là Esther, một cô gái Phi Luật Tân.
– Tôi nghĩ khả năng anh có thể đi lọt qua các trạm kiểm soát và đến được Singapore!
Esther cho tôi biết rõ ràng và chi tiết hơn những con đường cô đã đi, những nơi cô đã đến mà tôi cần tìm hiểu. Tôi làm quen Esther bằng một cách thật kỳ cục. Esther làm Trưởng Phòng thí nghiệm, mỗi lần mệt mỏi vì học quá độ, tôi thường đi tản bộ hoặc ghé ngang qua phờng thí nghiệm. Tôi đứng ngoài cửa sổ ngắm nhìn Esther. Mỗi khi đôi mắt rời kính hiển vi ngưng quan sát nhìn ra, nàng lại thấy tôi đang tựa bóng mát địa nàng.
Ngày xưa thời sinh viên Sĩ quan Không Quân, mỗi lần vào các tiệm cà phê, tôi vẫn thường dùng đôi mắt ruồi-lửa của mình để chinh phục các cô thu ngân. Tôi có thể ngồi đồng đến lúc đóng cửa và nhìn không chớp mắt. Khí giới lửa-ruồi phối hợp đó đã làm nhiều cô bé bứt rứt da thịt, không chống nổi phải đầu hàng. Ngày nay luồng nhãn lực kênh mặt trời đã mất nhiều hiệu lực bởi bùn, sình, cứt vịt của những ngày đi cày cấy trong Trại tù hóa giải. Sự kiên trì, lợm của tôi cũng làm cô Trưởng Phòng thí nghiệm mềm lòng, mặc dù kiểu trồng cây si đó đã thất bại với Miss Canada chỉ vì Miss Canada thì quá đẹp mà nàng Phi Luật Tân thì nhan sắc trung bình.
Mỗi lần quen thói ngẩng đầu lên khỏi kính hiển vi mà không thấy tôi, nàng đảo mắt tìm. Đôi mắt rõ ràng tự biểu lộ lòng trong tuy đã mặt ngoài còn e. Một hôm tôi đánh bạo đi thẳng vào phòng thí nghiệm gặp nàng kiếm chuyện xin thử nước tiểu:
Nàng lại thử máu dùm tôi và mỉm cười cho tôi biết kết quả:
– Anh không có bệnh gì cả.
Tôi quả quyết:
– Chắc chắn là tôi bị bệnh mà. Cô có biết không? Mỗi lần đi qua đây, tôi cứ thấy trong người bứt rứt, nôn nao, nóng sốt như là đang bị bệnh. Hay là tôi đã bị nhiễm bệnh bởi con vi trùng tình yêu của cô rồi?
Esther đỏ mặt xao xuyến. Qua ánh mắt nàng, tôi biết nàng muốn nói:
— Chàng ơi. Chắc em không thoát khỏi tay chàng nổi rồi. Em sắp khổn khổ điêu đúng vì chàng đây!
Trại Tị nạn Nong Samet
Sống ở Trại biên giới, chúng tôi như lọt vào vòng vây khổn; thế lực nào cũng muốn giết người Tị nạn Việt Nam. Nước Thái như bức tường thành của giác đấu trường, chận chúng tôi để làm con vật tế thần. Việt Cộng lên án chúng tôi là kẻ phản quốc, tội chỉ đáng lăng hình. Khmer Heng Samrin chủ trương “Kẻ thù của bạn ta là kẻ thù của ta.” Khmer Kháng chiến cũng chẳng nương tay: “Việt Nam Tự Do hay Việt Nam Cộng Sản cũng đều là Việt Nam. Mà Việt Nam là kẻ thù truyền thống!” Đến nỗi cả những người Khmer tị nạn, cùng hoàn cảnh, cùng số phận bi thảm như chúng tôi, thế mà đã có người tuyên bố công khai:
– Ngày nào Việt Cộng tấn công vào đây, ông sẽ pẹt xà át bọn duôn tị nạn (giết đẹp bọn tị nạn Việt Nam).
Khmer Kháng chiến rất nể Thái. Ta phải thông cảm vì họ có nhiều lý do để nể Thái, họ nể vì phải ăn nhờ ở đậu trên đất Thái, nhờ sự bảo bọc của Thái, và ngoài ra còn là mặc cảm Dân tộc. Khi cái nể quá đáng cứ ấm ức trong lòng, họ bèn trút cái ấm ức đó xuống đầu Dân Tị nạn Việt Nam. Bao nhiêu thảm cảnh của người Việt trên đường tị nạn đi nhờ qua đất Kampuchia, bao nhiêu xác chết sình thối, dòi bọ, bao nhiêu bộ xương khô lăn lóc gió mưa, bao nhiêu người con gái bị cưỡng bức, lăng nhục, có người kiệt sức vì bị cưỡng hiếp hằng đêm, có người phải đem đi bệnh viện cứu cấp, vì vi trùng hoa liễu đã làm ung thối tử cung.
Nhỏ, một thanh niên Việt Nam nằm cạnh tôi đã kể đi kể lại nhiều lần, cho nhiều người nghe cầu chuyện: Một buổi tối bỗng nhiên có hai người lính Khmer vào bắt dẫn đi người bạn nằm cùng chiếu với anh ta. Mười lăm phút sau thấy họ xách trở về một bộ đồ lòng máu me còn chảy dòng dòng. Họ đã chiên xào để nhậu và bắt Nhỏ ăn thử một miếng gan.
Tuy nhiên từ ngày có Mặt Trận Liên Hiệp ba thành phần: Sihanouk, Son San, Khieu Samphon, những điều lệ, kỷ luật nghiêm khắc mới đã thay đổi một phần lớn những tệ hại kinh khủng đã xảy ra trong nhiều năm đẫm máu. Lực lượng Kháng chiến có quân số, có vũ khí, nhưng tinh thần chiến đâu còn bị ảnh hưởng bùa ngải và thần linh. Quân đội không có khả năng tự túc kinh tế, và ít nhận được viện trợ kinh tế. Họ sống chung với Cộng đồng Tị nạn, hưởng lương thực tiêu chuẩn của người tị nạn do Liên Hiệp Quốc cấp phát và tư lợi riêng duy nhất kiếm được là kiểm soát các đường buôn lậu Thái Miên. Mặc dù lực lượng của Sihanouk yếu nhất, nhưng ảnh hưởng của Sihanouk lại lớn nhất. Người dân Khmer từ Nam Vang đến vùng biên giới đều yêu mến và tin tưởng vào Sihanouk. Không có Sihanouk thì Mặt Trận Liên Hiệp sẽ không còn đủ uy tín và ảnh hưởng đối nội cũng như đối ngoại.
Tuy vậy nhìn chung Mặt Trận Liên Hiệp chỉ có hình thức hơn là thực chất vì Khmer Đỏ vẫn thỉnh thoảng ngoài việc tấn công lực lượng Son San bằng các trận phục kích, tấn công, còn len lỏi vào tận các làng do Son San kiểm soát để phá hoại. Ném lựu đạn, đặt mìn tại các rạp xi nê dã chiến, các chỗ giải trí của Khmer Son San tại làng Nong Samet đem lại nhiều tác hại nghiêm trọng. Bệnh viện Nong Samet là nơi thường xuyên nhận những người dân hoặc lính bị thương trong các vụ nổ mìn, lựu đạn giữa các phe Kháng chiến Khmer trước sự chứng kiến trong nỗi kinh hoàng của người Tị nạn Việt Nam.
Qua các cuộc tấn công của Việt Cộng vào Nong Chan, Nong Chak, tôi chẳng ngạc nhiên khi thấy chỉ trong một vài ngày, Việt Cộng đã hoàn toàn làm chủ các khu vực quân sự của Kháng chiến quân. Điều đáng ngạc nhiên là những Toán Đặc công, Trinh sát Việt Cộng không ám sát nổi các lãnh tụ Khmer Kháng chiến. Tôi chui khỏi Trại Tị nạn đi nghe ông Son San nói chuyện hai lần, lần nào cũng đứng gần trong vòng mươi thước. Tôi nghĩ nếu muốn, chỉ cần một trái lựu đạn, một khẩu súng hãm thanh hay một quả mìn chôn trên đường, Khmer Kháng chiến trở thành rắn mất đầu. Ôi huyền thoại của các tay ám sát quổc tế! Những công tác dễ dàng như thế mà các tay đồ tể cũng đành bó tay bất lực.
Lính Heng Samring là loại lính kiểng, một loại bù nhìn. Họ ít tham chiến và có một số, lại còn làm nội tuyến cho Khmer Kháng chiến. Đường buôn là phương tiện hoạt động mạnh nhất của các phe nhóm. Phe nào cũng gài gián điệp vào đám con buôn để lấy tin tức phe đối nghịch.
Riêng tại trại NW 82, từ ngày “ông cọp” (một cai tù Thái) bị đổi, tình hình đã khả quan nhiều. Ông cọp không chỉ là một đao phủ thủ, một con quỉ râu xanh đối với người Tị nạn Việt Nam, y còn dám cưỡng hiếp Phu nhân thứ năm của một Phum trưởng Khmer Kháng chiến vừa bị ám sát chết. Mỗi loại “thú người” đều có một nhân dáng đặc biệt. Trong nhiều năm bôn ba, tôi cũng đã thấy được nhiều khuôn mặt rùng rợn, bệnh hoạn, của những con người có sẵn bạo lực và dùng bạo lực để thỏa mãn những thú tính đê tiện của mình trên sự đau đớn, kinh hoàng và chết chóc của đồng loại. Cái nét chung của loại thú-người là cái sắc thái âm u chập chờn trên khuôn mặt họ, cái u ám của địa ngục môn. Trước ngày trốn khỏi Nong Samet, tôi có được hai chuyện vui.
Thứ nhất là được nhảy đầm. Tôi là kẻ crazy about dancing nên nhiều lần tôi khổ sở khốn đốn vì sở thích nầy. Trong thời gian vượt ngục A30 trở về Sàigòn, Nhà Văn Hóa Thanh Niên (gần Nhà Thờ Đức Bà) có tổ chức nhảy đầm tại sân quần vợt nên tôi chạy đôn chạy đáo kiếm hai đồng vào cửa mà không có, cuối cùng năn nỉ “băng kiến càng” thể dục thẩm mỹ giữ cổng xin vào. Gặp vũ sư Nguyễn Trọng (thầy dạy khiêu vũ cũ) đem theo một số nữ môn đệ, tôi chọn một partner để thi nhảy valse. Thế hệ trước 1975 có bỏ nghề lâu vẫn còn phong độ, nhờ thế mà tôi giật Cúp đêm đó. Tất cả khán giả đều cười ồ vỗ tay khi thấy kẻ đi chân đất, đôi dép quá cũ bị đứt quai khi nhảy, với quần vá đít, cái quần độc nhất, đi lên nhận Giải thưởng Valse.
Khi qua Kampuchia, tôi suýt bị bắt lại sau khi vượt ngục Nhà tù 7708 cũng vi tội mê nhảy đầm. Dân Khmer chỉ nhảy điệu Lâm Thôn, nên khi thấy tôi và một người bạn Việt Nam đánh cá khác nhảy Bebop, Cha cha cha khác lạ, họ để ý và hỏi giấy tờ. Nhờ may mắn và lanh trí, tôi đã lọt được lần đó. Ở Nong Samet, tôi phải kiếm công tác để được vào Trại NW 82 để nhảy đầm ké trong dịp tổ chức khiêu vũ Tết. Cái sân đất, bụi mù mịt như lốc xoáy khi hàng chục cặp Dân Tị nạn Việt Nam cùng Lính Thái quay cuồng khiêu vũ trên đó. Cuối cùng tôi bị hăm dọa và bị đuổi về vì nhảy quá nổi làm cho các ngài Lính gác Thái khó chịu.
Ngay cả thời kỳ ở tù Aran, Thái Lan, mặc dù mang đôi koòng khá nặng, trong những dịp lễ vui, tôi cũng không ngần ngại lót vải vào cổ chân để khỏi bị trầy, sướt chân khi nhảy biểu diễn điệu Cha cha cha theo lời yêu cầu của các bạn tù. Tiếng koòng khua rổn rảng theo từng nhịp sauter, cùng tiếng sàn gỗ kêu lầm rập là một trong những âm điệu hiếm hoi, khó quên trong ký ức của những ngày tháng đầy biến cố buồn vui của những người Tù Việt Nam tại Aran JaiL
Chuyện vui thứ hai là gặp lại Daniel, nàng mãn hợp đồng và trở về Thụy Sĩ đã mấy tháng. Không biết có phải vì “cái anh chàng gần chết mà vẫn còn đa tình” hay vì yêu mến chung tất cả người Tị nạn, Daniel đã xin trở lại phục vụ tại Thái Lan. Thật là một cuộc tái ngộ bất ngờ vì Daniel ghé Aran Jail hỏi thăm tôi, nhưng mọi người đều cố tình dấu nhẹm tin tức về tôi. Nàng ghé Nong Samet trong một công vụ đột xuất. Tôi cho nàng biết tôi sắp đi.
– Anh đi dâu? Nàng hỏi.
– Thân anh như cánh chuồn chuồn. Khi vui thì đậu, khỉ buồn thì
bay!
Tôi mượn câu ca dao diễn tả ý mình. Thông cảm hoàn cảnh tôi, nàng tặng tôi một bức hình khổ căn cước của nàng và vét hết tiền còn trong bóp để share your journey.
Mỗi ngày đứng nhìn người từ NW82 từng đợt lên đường đi Panat Nikhom, lòng tôi rối bời vì số phận cay đắng của mình. Tôi đang tính toán để chọn ngày khởi hành thuận tiện thì có hai biến cố ảnh hưởng trầm trọng đến quyết định, rút ngắn thời gian dự trù của tôi. Thứ nhất, ông Đại Tá Mập vừa ghé NW82, gặp “Long đen,” một cựu Sĩ quan, ông hỏi thăm tôi và nhắn nhủ với tôi qua Long đen:
– Thằng Phi công Lý Tống ngày đầu tiên đến Thái Lan đã chửi tôi như tát nước vào mặt. Em báo cho nó biết, nó đừng hòng rời khỏi đây để đi định cư nước thứ ba. Nó phải chết rục xương ở tại vùng biên giới heo hút nầy!
Sự kiện thứ hai là cuộc tấn công đầu mùa khô của Việt Cộng vào trại Nong Chan. Ở Aran Jail, tôi đã biết trước, qua các tin của Bộ đội đào ngũ, Việt Cộng sẽ đánh chiếm các căn cứ của Khmer Kháng chiến trong đầu mùa khô, sẽ làm hàng rào điện tử MacNamara dọc theo biên giới Khmer—Thái… Chỉ có một điều đáng ngạc nhiên là Việt Cộng mở đầu Chiến dịch trễ hơn dự trù.
Ở trại Nong Samet, hình như chỉ có những gia đình có con nít là tương đối tạm đầy đủ vì mỗi ngày bệnh viện Nong Samet đều phát riêng khẩu phần cho trẻ con mỗi đứa mỗi tô cháo thịt lớn, một quả trứng, một trái chuối hoặc trái cây khác, nhờ thế mà cha mẹ chúng có thể ăn ké vào để tạm no. Ngoài cái khổ vật chất, cái khổ tinh thần nặng nhất là không có hy vọng được giải quyết. Ngay chính một vị Linh mục phụ trách các Trại Tị nạn vùng biên giới cũng đã một lần tự thố lộ:
– Các con biết tại sao người ta không muốn giải quyết vấn đề tị nạn không? Cứ tưởng tượng ai đến được đây cũng sẽ được nhanh chóng đi Mỹ, đi Pháp… Đến nước thứ ba các con sẽ viết thư về báo tin làm phân khởi các thân nhân ở Việt Nam. Thế rồi 50 triệu dân Việt Nam đều rủ rê nhau lần lượt lên đường đi tị nạn. Vậy ai sẽ đủ sức lo hết cho các con, nước nao sẽ thu nhận hết các con đây? Vậy giữ các con ở lại đây thật lâu, hoặc sẽ không giải quyết, đó là cách hữu hiệu nhất để ngăn chận làn sóng tị nạn!
Mỗi Trại Tị nạn đều có mỗi sắc thái riêng, nhưng cái chung nhất vẫn là sự thiếu thốn, tù túng, thất vọng, nhục nhã… Môi trường của Trại Tị nạn dễ làm con người biến chất. Đó là gạch nối mong manh giữa Tự do và Nô lệ, giữa Đau khổ và Hạnh phúc, giữa Kinh tế và Chính trị. Nhiều bạn tị nạn vẫn thường than thở:
– Mình sống ở đây thua một con chó Mỹ.
Vâng! Sự thật là như vậy. Nhưng ước gì được nghe những câu
nói:
– Tôi sống ở đây khổ hơn một con chó Mỹ. Nhưng tư cách tôi thì những người Mỹ khả nhất cũng phải nể phục, yêu mến.
Vâng! Vượt biên, hãnh diện với danh xưng vượt biên, nhưng mấy ai đã vượt qua được cái biên giới tầm thường hèn mọn trong mỗi cá nhân mình. Sau mỗi cuộc vượt biên thành công, mỗi cá nhân tự thấy thỏa mãn về thành tích mình, tự xem trời bằng vung, chẳng chịu hòa hợp, nể phục ai. Vì thế mà hành trang lý tưởng, nhiệt tình của ngày đầu bước chân lên tàu đã bị Chủ nghĩa Cá nhân, Chủ nghĩa Tự mãn thui chột tất cả. Kẻ chia bè chia phái, kẻ thành lập vương quốc riêng, bất cứ mọi hành động tốt xấu của tha nhân đều bị chỉ trích, bài bác. Có kẻ còn quên bẵng kẻ thù chính là Cộng Sản, cứ rắp ranh mũi dùi thù địch về phía bạn bè, chiến hữu.
Người Tàu đi đâu cũng đoàn kết giúp đỡ nhau, người Do Thái mấy ngàn năm vẫn ôm mộng phục quốc và đã thực sự phục quốc, người Nhật mổ bụng không chịu đầu hàng, người Pháp thủy chung, tình nghĩa. Còn chúng ta, những người Việt Nam lưu vong với một lịch sử oai hùng, một truyền thông bất khuất, há lẽ nào lại xuôi tay làm kẻ vong quốc suốt đời? Cuộc sống nặng khuynh hướng vật chất làm một số người đánh mất mục đích đời sống. Có kẻ sống đời sống của những xác chết và nhận thức lầm lạc về những giá trị chân chính. Và ngay chính bài học Cộng Sản, bài học Tự Do, mỗi người còn nhận thức một cách khác nhau.
“Hùng mập,” một trong những người được hưởng tiện nghi vật chất trong một xã hội nheo nhóc lầm than, nhờ những của chìm của nổi còn dấu được và nhờ sự tài trợ của thân nhân từ ngoại quốc, đã than trách và tiếc nuối những ngày sống huy hoàng tại Sàigòn dưới Chế độ Cộng Sản: – Biết đi vượt biên khổ thế nầy, thà ở lại Việt Nam sướng hơn!
Chương III
Vượt Ngục Tại Thái Lan
Trốn Trại Tị nạn Nong Samet
Vượt Biên Giới Thái-Miên Lần Nhì
Trại Nong Samet, trại NW82, chỉ cách nhau một hàng rào tre tăng cường kẽm gai, phía Bắc và Tây là khu nhà dân Khmer tị nạn, phía Nam là con đường chạy Đông Tây thẳng qua biên giới Thái Lan. Trại Nong Samet chỉ là một phần phụ thuộc trong khu vực Bệnh Viện Nong Samet, gồm hai gian nhà lớn bằng tranh và tre, chứa hơn 150 người tị nạn phần đông gốc Khmer Krom và Muslim.
Hai giờ sáng ngày 1 tháng 2 năm 1983, căn gác tre rùng rùng chuyển động bởi sự xô đẩy, chen lấn và tiếng chân chạy rầm rập. Nhiều người không kịp theo ngõ cầu thang, nhảy bừa lên mùng kẻ đang nằm gian dưới, tiếng người đạp, đè lên nhau kêu la inh ỏi. Sự hỗn loạn tăng dần với tiếng đạn ầm ầm pháo kích, tiếng đại liên gầm rú và tiếng xích sắt xe tăng. Nghe và định vị trí, chúng tôi tiên đoán cuộc đụng độ ác liệt đang diễn ra tại Nong Chan. Tình hình căng thẳng đã lâu, và đã có lệnh chuẩn bị di tản người Tị nạn theo kế hoạch sang đất Thái Lan trong trường hợp khẩn cấp. Tôi chờ đợi thời cơ thuận tiện để dọt luôn. Điều đau khổ nhất trong buổi sáng hôm đó là sự biến mất của đôi giày ba ta. Tay bạn gian ác nào đã chôm, đã chặt đôi chân của tôi rồi. Tin từ các người Khmer chạy loạn từ Nong Chan cho biết Việt Cộng đã chiếm được Trại Tị nạn và tàn sát hết các người Việt tị nạn tại đó. Mọi người chờ đợi số phận mình trong kinh hoàng. Tôi quyết định bỏ trôn càng sớm càng tốt. Không thể chờ nước đến chân mới nhảy.
Tám giờ tối hôm đó, tôi đánh lừa người trực đêm, xách túi hành trang chui hàng rào kẽm gai đi về hướng biên giới. Một toán lính Thái đi phục kích với một cây đàn và một chai rượu. Khmer Kháng chiến rải quân khắp nơi, đặc biệt trên đoạn đường biên giới tôi sẽ băng qua. Súng khắp nơi sẽ nổ dòn khi phát hiện một kẻ lạ đang bôn tẩu trong bóng tối. Tinh hình báo động làm cuộc đi trốn của tôi càng khó khăn nguy hiểm hơn. Tôi đi về hướng mà theo những tin tức kể lại có rất nhiều con buôn người Khmer đã bị chết trong những năm tháng đầu tiên vượt bãi mìn biên giới để chuyển hàng lậu từ Thái Lan, tránh các đường mòn để khỏi lọt vào ổ phục kích, tránh các vị trí thường gài mìn theo qui tắc chung. Đã từng trải một mình với những hiểm nguy tương tự, tôi thấy bình thản, tuy vẫn cẩn thận trong các động tác di chuyển.
Đến được địa phận phân chia ranh giới, tôi lội qua khỏi con mương ngập sình, nước. Tiếng xe Jeep và xe Honda tuần tiễu râm ran bên cạnh, ánh đèn xe và tiếng động cơ giúp tôi phát hiện vị trí của Đội Tuần phòng biên giới để ẩn nấp, trốn tránh kịp thời. Tôi bò qua con đê và đặt bước chân đầu tiên xuống lãnh thổ Thái Lan. Tôi đã thuộc nằm lòng đoạn đuờng nầy qua các bản đồ di tản treo tường, qua các câu chuyện hàn huyên với các người bạn ngoại quốc.
Từ con đường dọc biên giới đến trục lộ song song chạy về Aranyaprathet khoảng cách mươi cây số. Sau khi qua biên giới, tôi sẽ cắt theo hướng Tây Nam, băng qua con đường nằm ngang nối liền hai trục lộ, len lách giữa các trạm kiểm soát dọc đường. Khoảng cách chim bay băng rừng là mười lăm cây số, rồi từ đó theo trục lộ chính bốn mươi cây số về Aranyaprathet.
Vì muốn tránh các đường mòn, nên khi qua được biên giới chừng hai cây số, tôi đi lạc vào rừng tre, trời tối tăm gây nhiều trở ngại cho cuộc hành trình. Tôi quyết định ngồi nghỉ một tiếng đồng hồ chờ trăng lên, dùng mền đem theo lau sạch bùn sình để khỏi làm dơ áo quần khi mặc vào và trải mền nằm nghỉ trong khi chờ đợi. Trăng mọc cao, ánh sáng lồng lộng khắp không gian, tôi đã nhìn rõ những bụi tre, gai góc, những chướng ngại vật trên đường. Lấy mặt trăng phối hợp sao định hướng, tôi đi tiếp. Tôi đã thức hàng đêm ở Nong Samet để nghiên cứu sự chuyển dịch của những ngôi sao chuẩn. Rừng tre lùi dần và tôi gặp năm, sáu con sông liên tiếp chận ngang đường và một lần nữa, tôi lại cởi hết đồ để tranh thủ thời gian. Tôi dùng mền gói quần áo lại để vượt sông, rồi vác trên vai đi một mình dưới ánh trăng vằng vặc. Trăng sáng đến rờn rợn da thịt. Ánh trăng làm nổi bật những đường nét, những góc cạnh hấp dẫn nhất của thân thể người đàn ông trần truồng. Tưởng tượng một thiếu nữ nào đó bỗng dưng vô tình bắt gặp tôi đang tồng ngồng như vầy, có lẽ cô ta sẽ lính quýnh thẹn thùng mắc cỡ vì cảnh tượng kỳ cục. Ánh trăng sáng nhễ nhại cùng ý nghĩ bâng khuâng đã làm tôi động tình trong một hoàn cảnh không thích hợp.
Nhiều chòi gác trên đường bị bỏ hoang. Tôi băng qua những cánh đồng trống sau mùa gặt, vượt qua con đường cắt ngang, tôi thấy nhẹ nhàng vì đã đi hết tám cây số của nửa đoạn đường đầu tiên. Từ đây tôi phải toàn đi xuyên rừng, không rậm nhưng phải đi vòng tránh né những chỗ đáng khả nghi làm mất thời gian và kéo dài khoảng cách. Những ngôi sao chuẩn Tây Nam đã chuyển dịch về Nam. Sao Nam Tào sáng lộng lẫy như một ngọn đèn treo lơ lửng. Trong suốt cuộc hành trình 2,500 cây số vượt biên tôi chưa bao giờ trông cậy được vào sao Bắc Đẩu.
Những chòi canh rải rác mà tôi đã thận trọng né tránh, không còn đáng quan tâm nữa. Quân đội Thái mấy trăm năm hòa bình nên tinh thần cảnh giác hời hợt, họ quá tin tưởng vào những lực lượng trái độn của Khmer Kháng chiến như là một bức rào cản kiên cố và hữu hiệu. Sau mười lăm cây số đi xuyên rừng và đồng ruộng, tôi ra trục lộ chính, một mình thênh thang trên đường rộng đi về hướng Nam. Qua những nơi có buôn làng, tôi lại vòng vào rừng để tránh Trạm gác, những Đội Tuần tiễu hoặc phục kích ban đêm. Một trục lộ chạy từ Bắc xuống Nam không có nghĩa là lúc nào, bất cứ đoạn đường nào cũng nằm theo hướng Bắc Nam. Tôi quên nghĩ đến điều đó, nên sau khi vừa băng rừng trở ra lộ, gặp một con đường hẹp chạy theo hướng Đông Tây, tự cho là một đường rẽ phụ nên tôi băng qua đường tiếp tục dò tìm lộ chính. Đi mãi vẫn không gặp đường và vì lỡ đi nên cứ ráng đi tiếp.
Sau khi băng qua một con đê, tôi đã đi lạc ngược về hướng lãnh thổ Kampuchia, gần trận địa chiến giữa quân Kháng chiến Khmer Nong Chan và Lực lượng Việt Cộng. Trời đêm đang yên tĩnh bỗng nổ rền tiếng súng, mở đầu cho một trận đánh mới. Tôi phải chạy ngược trở lại và cuối cùng lạc vào khu vực đám người Tị nạn Khmer chạy loạn qua đất Thái. Tiếng Khmer và tiếng Thái văng vẳng đây đó. Tôi đi suốt đêm tranh thủ tìm lại đường cũ, đến sáng, đang mò mẫm đi theo đường mòn, tôi bỗng gặp một toán người đi ngược chiều. Tôi phát giác ra họ trễ nên khi rẽ tránh đường khác, họ đã lên tiếng bắt dừng lại. Tôi liền phóng chạy, họ nổ súng rượt theo. Sau một đoạn đường, tôi bỏ rơi họ và nấp trong một bụi tranh nằm chờ tình hình yên lắng, rồi tìm cách vượt qua con đê phòng thủ. Vừa đến chân đê, tôi lại bị một tên gác trong lô cốt phòng thủ phát hiện, nổ súng. Tôi nhanh chân đào tẩu và đi bọc rừng về hướng Nam trong nhiều giờ để tránh khu vực tuần tiễu nghiêm ngặt.
Cuối cùng tôi chọn được một vị trí thuận lợi để vượt đê và băng qua nhiều đường ngang dọc thuộc hệ thoing phòng thủ. Một dãy Chòi gác được bố trí cách đều nhau từng khoảng một trăm thước, trâu bò và mục đồng thấp thoáng đó đây. Ngoài kia, trên trục lộ chính xe cộ rộn ràng. Có lúc tôi đi bình thản như một người dân địa phương, có lúc tôi phải nấp lén theo từng gốc cây, từng lùm bụi, cỏ tranh để tiến về trước. Trên đường nhiều xe chở nước uống mang nhãn hiệu ICRC. Tôi phải nấp vào lề để tránh mỗi lân gặp xe của ICRC, bởi vì ông Khôn, người Thái, nhân viên ICRC Trưởng Trại Nong Samet biết tôi quá rõ, đã từng khiển trách và ra lệnh cấm khi bắt gặp cô bạn Phi Luật Tân một lần chở tôi đi theo xe ICRC, làm như đi công tác, nhưng thật tình là để nghiên cứu ngõ ngách đường vượt biên giới. Giờ nầy ông ta đang ruồng xe đi kiếm bắt tôi.
Đường phố, thành phố là nhũng nơi chốn tương đối an toàn cho kẻ đào tẩu. Biết bao người bạn của tôi đã vượt ngục, thoát khỏi các Trại tù Cộng Sản, nhưng cuối cùng đói khác, kiệt lực, lạc lối, bệnh hoạn, chết trong rừng hoặc bị bắt chuyển giao lại cho Trại Tù, trong khi tôi ung dung trên những đường quốc lộ và đường phố an toàn. Đoạn đường càng trống trải thêm vì những bìa rừng được đốt khai quang, có nhiều cổng gác hơn sự dự trù. Tôi chỉ đem một bộ quần áo nên mỗi lần băng rừng phải lộn ngược áo quần mặc bề trái để khỏi dơ vì càn lướt các cây cỏ cháy đen. Ra đến đường tôi lộn ngược lại, mặc vào.
Gai góc, gốc tranh đâm xuyên qua đôi dép Nhật cũ mỏng dính làm bàn chân tôi rướm máu, sưng tấy. Tôi đến gần vùng có nhiều người đang câu và bắt cá quanh những vũng nước rộng. Tôi đánh bạo đi vào kiếm chỗ vắng uống nước và tắm giặt, thái độ bình tĩnh của tôi không làm họ nghi ngờ. Hưởng trọn vẹn thú vệ sinh, sạch sẽ và mát mẻ, tôi mặc quần ướt, đi phơi nắng cho khô. Từ giờ, mỗi lãn gặp trạm gác, tôi phải ở trần để băng rừng để giữ sạch áo quần. Cỏ tranh, gai góc đâm, cắt rách nát toàn thân nhưng tôi chịu đựng đau đớn, lấy da thịt để thay thế áo quần. Sau khi đi bọc qua được một trạm gác gay go, tôi ngồi nghỉ bên lề đường quan sát. Những chiếc xe ba gác chở than lóc cóc chạy cùng hướng với tôi, thấy họ đi qua trạm gác trước mặt đường hoàng chẳng bị chận hỏi. Vì quá mệt mỏi và khổ sở với những đoạn băng rừng, tôi quyết định đi theo họ để đỡ tốn sức. Khi gần đến cổng, tên gác nhìn tôi hỏi bằng tiếng Thái:
– Bai nãy? (Đi đâu?)
– Phủm cặp ban. (Tôi đi về nhà.)
Ở những khu vực xóm làng nhỏ gần biên giới hầu như người cùng địa phương đều biết mặt nhau do đó họ nghi ngờ tôi vì thấy lạ mặt. Tôi vừa trả lời vừa đi tỉnh, tên gác hỏi với theo:
– Có giấy tờ không?
Tôi nhún vai:
– Có chứ. Nhà tôi đằng kia kìa.
Và tôi cứ thản nhiên đi tiếp. Tôi cảm thây thú vị và tự phục mình khi không còn nghe tiếng hỏi nào hoặc thắc mắc nào phía sau. Tưởng đã thoát, nhưng đi được chừng năm mươi thước bỗng có xe Honda đằng sau chạy đến, chận tôi lại.
– Đi đâu đó?
– Về nhà.
– Nhà ở đâu?
– Phum Sung. Tôi trả lời theo đúng địa danh đã nghiên cứu trước.
– Mầy trở lại cổng gác để xét giấy tờ!
Nói xong tên ngồi sau nhảy xuông xe định giữ tôi lại vì thấy tôi cứ tiếp tục vừa đi vừa trả lời. Bất ngờ tôi phóng vụt chạy về phía rừng. Tiếng súng Colt .45 nổ chát chứa đầu tiên và tiếng súng AR15 tiếp sức, rồi nhiều loại súng khác nổ rền khi toán lính gác chạy theo tiếp viện. Tôi đã nắm qui luật qua các lần chạy dưới lằn đạn nên hoàn toàn yên tâm.
Giai đoạn đầu khi tôi bật vùng chạy, phản ứng bất ngờ làm tên Lính lính quýnh hốt hoảng trong động tác mở khóa an toàn và bắn viên đạn khai hỏa. Khi tôi chạy được một khoảng xa, họ vẫn còn có ý định bắn dọa dẫm để bắt sống. Khi tôi cách xa chừng một trăm thước, vì súng ống nặng nề, áo quần, giày vớ trở ngại, lại vừa chạy vừa bắn nên khả năng tác xạ mất chính xác, hữu hiệu. Do đó họ không còn làm chủ lằn đạn của mình.
Tôi chạy vì sống còn, chạy thoát hoặc chết, họ chạy vì nhiệm vụ, bắt được cũng tốt, không bắt được cũng chẳng mất mát gì. Tôi càng chạy càng yên tâm vỉ càng có hy vọng thoát, họ càng chạy càng bất an, càng lo ngại bởi vì biết đâu tôi có vũ khí tấn công lại họ. Tôi chạy nhẹ nhàng bởi vì sinh tử cũng một mình ta, họ chạy nặng nề bởi vì gánh nặng vợ con, gia đình, vì gái, rượu đang chờ họ. Tôi chạy trong những niềm tin tuyệt đối hướng về Thượng Đế, tôi chạy bằng sức mạnh của cái đầu mặc dù cơ thể tôi đã hoàn toàn kiệt lực. Có lẽ tôi đang có súc mạnh của một Hercule, cái sức mạnh tưởng tượng mà hồi trẻ tuổi, thỉnh thoảng những lúc sinh lực cuồn cuộn trong người, tôi có cảm tưởng mình đủ súc xô đổ một gốc dừa lớn hay phóng bay từ cây nầy sang cây nọ như một Tarzan. Tôi đã từng chứng kiến cảnh thằng Cứt anh, mười tuổi, nhảy qua một hàng rào thép gai cao gấp rưỡi thân mình khi nó ăn cắp đồ bị phát giác và bị rượt đuổi. Người mất đồ đứng ngẩn ngơ bất lực trước hàng rào cao và kinh ngạc nhìn nó tẩu thoát.
Tôi đã từng phóng qua một bức tường cao, gắn miểng chai, mà lúc bình thường leo trèo tận lực cũng khó qua được, khi tay không một mình đụng độ một đám đông du đãng và suýt bị thanh toán. Những súc mạnh huyền nhiệm nào đã nâng bổng con người qua nhũng trở lực quá lớn lao và tôi chỉ kịp nhận ra mình sau khi té chúi nhũi vào đám cỏ tranh cằn cỗi, còi cọt, khi bóng dáng kẻ đuổi theo mình đã mất hút. Lồng ngực khẩn cấp bơm xả tranh thủ hút lượng dưỡng khí tối cần mà cơ thể đang đòi hỏi gấp rút. Tiếng tim đập đùng đùng như tiếng trống dồn săn thú, chưa kịp lấy lại hơi đã nghe tiếng chân người chạy lại. Tiếng chần dẫm thình thịch át hẳn tiếng tim đập rộn ràng lồng lộn trong ngực, tôi cảm giác tê dại đi vì sự xúc động đang dồn nén lại.
Cách tôi năm thước, hai tên Lính dừng lại, lục tìm xung quanh một bụi rậm. Tôi đã đoán trước những chỗ thường hay bị lục soát nên đã quyết định không chun vào đó trốn. Họ đảo mắt nhìn quanh quan sát. Tôi chẳng biết y nhìn phía nào, quan sát ở đâu, bởi vì tôi đã bắt đầu nhắm mắt lại, một cảm giác âm ấm ở đôi mắt. Đã lâu lắm rồi, tuyến nước mắt của tôi đã ngưng làm việc nên cuộc đời dù có đau đớn ê chề, cũng không bao giờ làm tôi chảy nước mắt. Thế mà giờ nầy, một giọt nước mắt vùa tiết ra đủ làm ướt con ngươi. Tôi hướng về Thượng Đế cầu nguyện trong im lặng:
– Lạy Thượng Đế. Nếu tôi không còn xứng đáng để sống, nếu tôi không còn xứng đáng để phục vụ Ngài, xin Ngài hãy giết tôi bằng chính bàn tay Ngài, đừng để tôi rơi vào bàn tay tàn độc của kẻ thù.
Cầu nguyện xong, tôi cảm thấy hoàn toàn yên tâm vì đã giao trọn sinh mạng vào quyền quyết định của Đấng Tối Cao. Có tiếng nổ lép bép như tiếng cây cỏ khô đang bị đốt cháy, có lẽ họ định đốt rừng để xua đuổi tôi ra khỏi chỗ ẩn nấp? Tiếng động phát lên từng chập và cuối cùng im hẳn, hình như cỏ không chịu bén cháy và họ bỏ đi. Tôi thở phào nhẹ nhỏm, nằm nghỉ dưỡng sức đến chiều tối. Sửa lại áo quần, tôi ra chỗ hai tên lính, đứng nhìn vào chỗ mình nằm. Trời đã về chiều hẳn mà tôi còn nhìn thấy nhũng chi tiết nhỏ nhặt nhất trong đám cỏ tranh lưa thưa, xơ xác. Thật kỳ diệu, lạ lùng. Bàn tay nào đã che những đôi mắt kia cho tôi nằm tràn trụi bình yền, an toàn?
Từ giờ phút đó, tôi không còn biết e ngại lo lắng trước nhũng hiểm nghèo, tôi biết rằng tôi còn sống, bởi vì tôi xứng đáng để sống và tôi bắt đầu nghĩ đến một tín ngưỡng riêng cho mình: Thượng Đế.
Đạo Thượng Đế
Tôn giáo như một bàn tay và các Đạo như Phật, Thiên Chúa, Tin Lành, Do Thái, Hồi… là những ngón tay. Về hình thức, mỗi ngón tay đều có những đặc tính riêng, nhưng tựu trung đều bắt nguồn từ bàn tay. Nhân loại đến với Thượng Đế thông qua Giáo Chủ của các Đạo. Tôi tiếp cận trực tiếp với Thượng Đế thông qua Đạo Thượng Đế bởi tôi là tên Hề của Thượng Đế. Thượng Đế tạo ra vũ trụ và vạn vật. Người đang điều hành mọi sinh hoạt của muôn loài. Thượng Đế ở khắp mọi nơi và hiện hình trong muôn vật. Thượng Đế có trong mỗi con người và mỗi con người có trong Thượng Đế. Vậy Thượng Đế và con người là một. Thượng Đế được biểu tượng bằng hình người hành lễ qua các nghi thức. Đạo Thượng Đế có biểu tượng chính là Tình Yêu. Những biểu tượng khác gồm sự Quán thông, Sức mạnh, Vũ trụ, Trí thức và Lao động. Đạo Thượng Đế được thể hiện qua 7 Biểu tượng và 7 Nghi thức.
Biểu Tượng Đạo Thượng Đế
God: Đạo Thượng Đế
Vương miện số 7: Sự quán thông, tinh tấn.1
Tóc dài: Sức mạnh (theo huyền thoại thần Samson, khi bị cắt tóc ngắn sẽ mất thần lực).
Love: Tình Yêu. Chữ Love tạo thành các bộ phận chính trên thân thể:
L: Lỗ mũi.
O: Ngực đàn ông.
V: Ngực đàn bà.
E: Bộ phận sinh dục Nam-Nữ.
Ngôi sao ở rốn: Biểu tượng vũ trụ.
Sách: Bàn chân phải, hình cuốn sách, tượng trưng Trí thức
Đạo Thượng Đế có tính cách thần linh nhưng thực tiễn và nhập thế. Tin tưởng vào Thượng Đế để dấn thân phục vụ nhân loại, góp tay xây dựng nền tảng xã hội dựa trên hai giới: Trí thức và Lao động.
Đạo Thượng Đế chỉ quan tâm đến sự sống, con người đang sống, không quan niệm Địa ngục hay Thiên đàng sau khi chết, vì “Địa ngục trần gian” hay “Thiên đàng hạ giới” đã thực sự hiện hữu trên trần thế, trong tâm thức và ý tưởng mỗi con người đang thực tồn và hiện hữu. Nhân quả cũng có tác động trực tiếp trong cuộc sống hàng ngày.
Nghi Thức Đạo Thượng Đế
Nơi hành lễ: Trên giường ngủ, trên bãi cỏ hoặc trong một nhà thờ hình vòm bằng kính trong suốt.
Bàn thờ: Là bầu trời nơi Thượng Đế đang ngự trị.
Khăn lễ: Màu đỏ: Tượng trưng cho sự hy sinh bằng máu. Màu trắng: Tượng trưng cho sự tinh khiết, trong sạch.
Nhân sự: Người cầu nguyện hoàn toàn khỏa thân trở về nguyên trạng hình hài lúc tạo sinh. Người cầu nguyện nằm ngửa trên khăn lễ, chân tay và thân mình xếp thẳng hướng về bầu trời.
Thông tri: Đạo Thượng Đế khi cầu nguyện nhắm mắt, im lặng (nói bằng tâm thức) và tập trung tư tưởng để thông tri với Thượng Đế.
Hành lễ: Trước khi đi ngủ, Tín đồ hành lễ qua các giai đoạn:
Đối tượng Đối diện:
(1) Chấp tay trên trán: Đối diện với Thượng Đế. Bắt đầu kiểm điểm sinh hoạt và tư tưởng trong ngày, dựa trên Chân lý phục vụ tha nhân và quần chúng, hướng thiện để xây dựng một tâm hồn đẹp, một tri thức trong sáng. Kiểm điếm lại những khuyết điểm.
Cầu nguyện Thượng Đế ban cho sự sáng suốt để phân biệt chân-giả, thiện-ác, để tìm giải pháp thích ứng giải quyết những trở lực trong trong Sứ mệnh phục vụ Thượng Đế.
(2) Mở rộng vòng tay: Đối diện Tha nhân. Yêu thương tha nhân. Không thù ai. Không giận ai. Không xúc phạm làm thương tổn ai. Không ích kỷ, thiên vị, ganh tị. Cảm hóa Tha nhân cùng hướng về một cứu cánh lương hảo.
(3) Xếp tay bên hông: Đối diện Bản thân. Tự chế, tự khắc kỷ bản thân để phục vụ Chân lý, Chính nghĩa tức phục vụ Thượng Đế.
Đối tượng Tri ân:
(1) Chấp tay trên trán: Tri ân Thượng Đế.
(2) Chấp tay trên ngực: Tri ân tha nhân.
(3) Chấp tay trên bụng: Tri ân tự thân.
Chấm dứt Hành lễ: Lấy khăn lễ đắp thân thể ở trần để ngủ.
Trong các lần cầu nguyện, chỉ có thời gian sau ngày đi Penang gặp Anthony Paul, phóng viên Nguyệt san Reader’s Digest tôi cảm thấy hạnh phúc nhất vì tôi đã dùng tất cả số tiền thù lao từ cuộc phỏng vấn tặng các Hội đoàn. Nghĩ đến các trẻ vị thành niên có được một buổi picnic tắm biển, Cộng đồng Tị nạn Khmer và các Hội đoàn Việt Nam có thêm chút tài chánh sử dụng vào việc hữu ích, thiết dụng, lòng tôi êm ả, thú vị. Đây cũng là dịp để tôi kiểm nghiệm lại tâm hồn mình. Tôi không hề tiếc nuối khi làm việc tốt vì tha nhân bởi Tất cả mọi người đều có quyền ngăn tôi làm đĩều xấu. Nhưng không một ai có thể ngăn tôi làm điều tốt đẹp, hữu ích. Tôi đang thực sự biết hưởng cái Hạnh Phúc kỳ lạ mà 8 năm gian khổ, đày đọa đã mở ra trước mắt tôi một Chân Lý mới. Con người có thể lừa dối con người, nhưng con người không thể tự lừa dối Lương Tâm và Thượng Đế. Đó là yếu tố căn bản để sự Cầu Nguyện có ý nghĩa trung thực và thành khẩn.
Chú Thích:1 Sự kỳ diệu của số 7.
Đức Phật khi đản sinh, 7 bước nở 7 đóa sen tiêu biểu toàn thế giới, tam thiên đại thiên thế giới và sự thanh khiết để hóa độ chúng sinh. Số 7 còn biểu thị sức tinh tấn, siêu thoát 6 cõi sanh tử luân hồi.
Số 7 còn tượng trưng 7 tầng địa ngục, Đức Chúa Trời mất 7 ngày sáng tạo vũ trụ, Adam lấy xương sườn số 7 tạo ra Eva, tuần có 7 ngày, nghệ thuật có 7 ngành, âm nhạc có 7 nốt, văn minh nhân loại có 7 kỳ quan thế giới, 7 giai đoạn tiến hóa, 7 lỗ trên mặt người hay thất khiếu (hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, và miệng), 7 trạng thái tình cảm tức thất tình (ái, ố, hỉ, nộ, lạc, ai, dục), thứ quý báu nhất tức thất bảo (vàng bạc, ngọc, hổ phách, mã não, xà cừ, san hô và lưu ly)…
Trở lại đoạn hành trình, tôi đang đối chiếu các dữ kiện để xác định phương hướng, tôi cảm thấy bối rối trong những bài tính không có giải đáp. Tôi đang đi về phương Nam, tách vào rừng bên phải đường trong lúc chạy trốn. Thế thì tại sao mặt trời lại lặn phía bên kia đường? Và phía đổi diện là tiếng nổ của trận địa pháo binh bắt đầu khởi sự? Như vậy để tới Aran phía Nam tôi phải đi ngược về hướng mình đã đi suốt ngày hôm nay? Có lẽ nào tôi đã đi quá địa phận Aran và bây giờ tôi phải đi trở lại? Chỉ vì không xác định được điểm đứng nên giờ nầy tôi bị lạc đường mặc dù vẫn có hướng chuẩn của mặt trời và các vì sao. Cuối cùng tôi chợt nghe nhiều tiếng xe nổ dòn dã, và đặc biệt, một góc bầu trời hướng Đông rực sáng ánh đèn. Đèn điện, đô thị là điểm chuẩn quan trọng nhất, đi lạc vào đô thị an toàn hơn đi lạc vào rừng. Tôi quyết định đi về hướng ánh sáng và tiếng động, gặp một con đường nhựa, những giải lụa bạc nhỏ nằm lờ mờ bên lề đường là những vũng nước tôi đang cần để giải nhiệt cổ họng khô rát.
Sau mấy giờ lầm lũi đi, tôi đến một chiếc cầu bắc ngang sông, có đèn pha cực mạnh và nhiều lính gác. Bên trái đường, một dãy nhà nằm dọc theo bờ sông, đèn điện và các máy hát hoạt động inh ỏi từ một khu chợ búa. Tôi chuyển sang phía lề phải đường, khu vực bên nầy tương đối vắng vẻ và tối, có một con đường rẽ nằm phơi mình lõa lồ dưới ngọn đèn pha sáng rực. Tôi quyết định băng qua đường bằng cách lăn tròn. Nếu tôi trườn bò ngang đường, chiều dài của thân mình dễ làm toán lính gác chú ý và phát hiện. Nằm dọc theo đường rồi lăn tròn qua đường, chân quay về hướng trạm gác và đèn pha, tôi có thể quan sát họ và họ chỉ thây bàn chân của tôi, còn thân hình dài có thể bị nhầm là một cái bóng, chỉ là một con chồn hay một con thỏ chạy qua đường và cái bóng của nó. Chắc chắn họ sẽ nghĩ như vậy nếu bất chợt thấy tôi.
Tôi vượt qua đường và bắt đầu băng rừng đi về hướng xa hơn, có ánh đèn điện sáng hơn và tiếng nhạc vọng lại thật lớn từ một rạp chiếu bóng của một thành phố. Tôi quá mệt vì suốt một đêm, một ngày đi không ngưng nghỉ, chưa kể mấy lần bị rượt chạy hụt hơi. Tôi lại bắt đầu khát nước kinh khủng, cái thứ nước dơ bẩn uống vào làm lả người đi rồi bỗng đột nhiên bốc hơi nhanh chóng. Cái khát đạt đến mức độ có thể thông cảm được trường hợp những con người phải đổi vài nắp bi đông nước bằng một chỉ vàng hoặc đâm chém nhau tranh giành một ngụm nước. Tôi dùng một khúc cây, chống đi dò dẫm, lết từng bước một. Tôi phải tìm thêm một khúc gậy thứ hai, bởi vì phải hai gậy, tôi mới đỡ nổi thân mình kiệt sức không té quị xuống trên những đoạn đường gập ghềnh đầy chông gai.
Tôi nhớ những ngày đi rừng khiêng gỗ. Đường dốc cao hiểm hóc phải trèo hàng giờ mới đến đỉnh, những khúc gỗ nặng, lớn như những thớt voi khổng lồ mà đám Tù binh bệnh hoạn bu bám vào như một bầy kiến. Có những khúc đường trơn trợt, chúng tôi phải bám trụ vào đòn khiêng. Bước xô lệch nghiêng ngã vì sức nặng oằn vai, vì những khúc quẹo gắt, những dổc dựng đứng, hồi hộp như đi dây tử thần, bởi vì chỉ một nguời té, sẽ làm cả toán tuột vai. Khúc gỗ đổ dốc sẽ cán chết người khiêng đằng trước. Lúc dò dẫm từng bước qua những con suối cạn, đầy ghềnh đá nhọn trơn trợt, những quãng đường thăm thẳm mù khơi. Như bầy nô lệ thời Trung cổ, chúng tôi dùng sức người trong thời đại máy móc hiện đại.
Càng lúc càng quá mệt, thấy mặt mình quắc lại, nhăn nhúm, hổc hác vì kiệt lực, tôi ngừng vài phút nghỉ chân, móc túi lấy chiếc gương nhỏ soi mặt để chợt nhận ra dáng dấp thiểu não của mình. Tôi bật cười, tự nhủ với hình mình trong gương:
– Lý Tống. Bạn phải đẹp trai, phải tươi tỉnh, phải coi khinh gian khổ thì kẻ thù của bạn mới sợ bạn!
Tôi đứng bật dậy, phủi bụi áo quần, chải lại đầu tóc, lau sạch mặt mũi và tiếp tục lên đường. Nhưng chỉ một đoạn, bước đi lại khó khăn trở lại, tôi cố gắng lê bước len lách giữa các lùm bụi, hốc hố, và chướng ngại vật. Không khí nhộn nhịp đàng trước thúc dục những bước chân rời rã mệt mỏi. Mười giờ rưỡi tối, tôi đến Aranyaprathet. Sau khi chạy thoát bầy chó hùng hục đuổi theo sủa vang rền cả khu vực, tôi bước lên đường lộ chạy vòng phía ngoài thành phố. Thị trấn Aran đông vui, tấp nập về đêm nhân dịp tổ chức triển lãm. Tôi tìm điện thoại gọi Esther nhưng số lại cho sai. Tôi đi dọc theo các đường phố náo nhiệt nhất để ngắm người, ngắm cảnh, vào khu hội chợ, xem qua phòng triển lãm và kiếm chỗ ngồi ăn uống. Xong, đón xe Honda thồ đi tìm nhà Esther. Nàng cho tôi một địa chỉ không có tên đường, không có số nhà ngoại trừ nhũng check points đặc biệt trên lộ trình.
– Đưa tôi đến ngã ba đường đi Bangkok và đường đi Khao Y Đang. Tôi dùng tiếng Anh để diễn tả.
Xe chạy bon bon trên đường rộng. Nhà cửa vắng dần.
– Tới chưa? Người tài xế hỏi.
– Ngã ba đâu rồi?
Qua lâu rồi. Đây là đường đi Khao Y Đang!
Tôi lập lại chậm rãi để người lái xe biết tiếng Anh bập bẹ hiểu rõ ý định của mình. Xe chạy ngược trở lại ngã ba, quẹo phải, có trạm xăng bên đường.
– Đúng rồi. Quẹo trái ở con đường rẽ trái đầu tiên.
– Chầm chậm, quẹo phải ở đây. Stop!
Mối Tình Việt-Phi
Điều làm tôi yên tâm nhất là chiếc xe hòm chở thuốc của Bệnh viện Nong Samet đang nằm chình ình trước mặt tôi. Tôi phải trả gấp đôi giá đã đồng ý trước vì đoạn đường đi lạc. Căn nhà với phòng khách bề bộn đồ đạc, vắng người, tôi tự tiện đi vào, gõ đúng phòng số 3 nàng dặn. Cửa mở. Esther mở tròn xoe mắt kinh ngạc nhìn tôi. Tôi lách vội vào và khép cửa lại, sự kinh ngạc và sợ hãi đã xâm chiếm toàn bộ cảm giác của Esther, đánh bại nhũng xúc cảm mừng vui của đêm gặp mặt.
Esther lo lắng hỏi:
– Có ai thấy lúc anh vào không?
– Không.
– Lỡ bà Giám đốc biết, không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra đây? Esther bối rối.
Tôi cảm thấy mệt mỏi và chán nản. Trí tưởng tượng đã hoàn toàn phản bội tôi. Tôi cứ nghĩ nàng sẽ ôm chầm lấy tôi mừng rỡ khi vừa thấy mặt. Sự thật quá phũ phàng, Esther ngồi ngây người, nhìn vô hồn vào đống giấy tờ đang làm dở dang, đầu óc rối bời. Tôi dựa lưng vào tường, nhắm mắt, lẩn quẩn với những ám ảnh của cảnh tượng kinh hoàng trên đoạn đường đã qua. Thật lâu lắm, như vừa thoát ra khỏi cơn ác mộng, Esther mỉm nụ cười đầu tiên tiến về phía tôi. Nàng lấy nước, bánh mời tôi ăn, rồi lấy chăn nệm trải xuống sàn nhà và bảo tôi nằm nghỉ. Tôi nằm dưới sàn nhà, nàng ngồi trên giường, nhìn tôi. Tôi khoanh tay, nhắm mắt lại trong nỗi cô đơn lạnh lùng. Bỗng nàng bước xuống giường, tiến đến ngồi sát bên tôi. Tôi chậm rãi mở mắt, theo dõi những diễn biến trên mặt nàng.
– Em sợ quá. Nhưng không sao.
Tôi cầm lấy tay nàng để trên ngực mình, hôn nhẹ. Nàng ngã người xuống, tôi ôm siết lấy nàng.
– Ly Tong, are you a spy? Nàng hỏi.
Tôi mỉm cười:
– Có lẽ, trong tương lai. Nhưng hiện tại anh chỉ là một amateur spy, em có thể nghĩ vậy, nếu muốn!
Mùi nước hoa đặc biệt ưa thfch của nàng làm tôi ngây ngất những cảm xúc đê mê. Tôi và nàng quấn lấy nhau như đôi trăn trong cơn động tình. Nàng quên rằng tôi đang dơ dáy, bẩn thỉu sau cuộc hành trình gian nan. Tôi quên rằng, tôi đã cạn sinh lực cho những cuộc rượt đuổi, những cơn đói khát. Chúng tôi quên hết, chỉ còn tiếng thở mạnh dồn dập, chỉ còn tiếng rên rỉ trở trăn. Esther nhắc lại:
– Coi chừng anh lây bệnh hoa liễu cho em đó.
Tôi cười đáp:
– Ôi, con vi trùng tình yêu của em rỉa rói lở loét cả trái tim anh rồi.
Tôi không ngủ và không buồn ngủ, mặc dù vừa mới mấy giờ trước đây, tôi ước mơ được chợp mắt một chốc lát. Nàng không ngủ và không buồn ngả vì nàng đã ngủ thừa thãi nhiều năm nhiều tháng một mình cô đơn. Giữa khuya tôi đột nhập vào phòng tắm bên ngoài như một tên ăn trộm để tắm rửa. Cảm giác mát lạnh của nước càng tăng cường cái sinh lực vốn không bao giờ cạn của mình.
Cuộc xung đột vùng biên giới vẫn tiếp diễn. Nhân viên Bệnh viện được tiếp tục nghỉ việ. Esther kín đáo lén lút đem thức ăn, rượu vào phòng để bồi dưỡng ông khách bất hợp pháp.
Bia rượu, âm nhạc như nhũng cơn gió vần vũ, lay động những cành lá vốn đã không muôn nằm yên.
– Ta chẳng cần nói những lời phải nói. Ta chẳng cần nghe những lời muốn nghe. Bởi tuyệt đỉnh tình yêu chỉ cần một hình thức duy nhất để diễn tả… cùng nhau!
Tôi đã thực hiện đúng câu phương châm bất hủ của mình. Nơi chốn nầy là nơi chốn hạnh phúc, nhưng không phải là nơi chốn cuối cùng. Tôi phải tiếp tục lên đường đến nơi mình dự định. Esther muốn tiễn tôi một đoạn đường, vì hai đêm ngày thiêu đốt, ngọn lửa tình vẫn còn cuồn cuộn bốc cháy trong tấm thân tràn trề sinh lực kia.
– Em thuộc loại oversexed. Esther thú nhận.
– Anh thuộc loại born to make love. Em yên chí! Tôi cười bảo.
Tôi bỏ lại tất cả áo quần cũ, thay vào nhũng bộ đồ vừa mua cho phù hợp hoàn cảnh mới. Đôi dép bèo nhèo bị đứt quai và hàng chục gai nhọn bị gãy còn nằm trong đế mút cao su đã được thay bằng đôi giày ba ta mới. Nếu không có đôi giày nầy liệu đôi chân cửa tôi có còn chịu đựng nổi biết bao gai góc, bụi bờ, đá nhọn trên đoạn đường tiếp nối nữa không?
Chúng tôi rời căn phòng đầy dấu tích cuộc tình để lên đường. Khi qua Bệnh viện, nếu không nhanh mắt tôi đã bị “Tây lai” và “Vua xét mâm” (hai quân cảnh gác Aran Jail) bắt gặp. Không phải chỉ quân cảnh Aran Jail mà tất cả những Lính Thái nào đã ở Aran Jail cùng thời, đều biết mặt và biết chuyện của tôi vì vậy tôi phải thật cẩn thận trong phạm vi khu vực Aranyaprathet. Chúng tôi ngồi trong tiệm ăn kín đáo chờ giờ xe buýt khởi hành lúc 12 giờ.
Những đô thị lớn nối liền nhau bằng những cánh rừng cao su trẻ bạt ngàn. Tôi hồi tưởng lại dự định đi bộ khi chưa có tiền, nghĩ đến những ngôi chùa phải ghé trên đường để xin cơm ăn. Nhưng thực tế chẳng có bao nhiêu ngôi chùa và chẳng có ai đi bộ trên những con đường liên tỉnh. Những đường phố, dinh thự cũng giống ở Đà Nẵng, Sài Gòn của Việt Nam tuy lối kiến trúc tập trung hơn. Đến Bangkok lúc 5 giờ chiều, chúng tôi đón xe taxi về khách sạn dành riêng cho người ngoại quốc.
Bangkok thật tấp nập, rộn rịp. Những dãy phốba bốn tầng lầu trùng trùng điệp điệp không dứt, xe cộ chạy chen chúc trên đường, người Bangkok ăn mặc thật dễ thương. Trang phục hòa điệu Âu Á. Tuy nhiên vì hạn chế hàng hóa nhập cảng, nên màu sắc và chất liệu nội hóa đã làm giảm bớt sự sang trọng, đài các của họ. Những ngôi chùa dát vàng, nhũng di tích lịch sử và kia, cung điện nhà vua. Thực dễ dàng để đột nhập hơn những toan tính dự trù trước kia. Thủ đô đông đúc chuyển động trong nhịp độ nhanh, hệ thống An ninh, Cảnh sát thiếu chặt chẽ, chỉ cần một túi xách nhỏ với vài khối chất nổ, một kẻ phá hoại tầm thường cũng làm được những vụ nổ lớn tại đây. Chúng tôi mướn khách sạn sang trọng nhất, ăn những nhà hàng đắt tiền nhất. Bangkok về đêm, Bangkok buổi chiều, buổi sáng. Cứ lúc nào cần take a break để thay đổi không khí và giản gân cốt, chúng tôi lại đi ngắm cảnh, ngắm người và ăn uống. Những khu trung tâm thương mại hiện đại, tân thời, những cô bán hàng lộng lẫy, duyên dáng. Đã đi qua Bangkok, Kuala Lumpur, Singapore, tôi thấy thương cho Sài Gòn nghèo nàn của mình. Câu khen ngợi Sài Gòn là Hòn ngọc Viễn Đông đã trở thành câu châm biếm chua chát!
Chưa có ai vi phạm luật lao động trầm trọng như chúng tôi. Trong những tấm gương lớn treo quanh tường, tôi không nhận ra mình trong những hình bóng chập chờn. Vừa có cảm tưởng mình là khán giả đang xem diễn một đoạn phim sex sống vừa chợt nhận ra nhân dáng xa lạ kia là mình, một diễn viên chính của hoạt cảnh yêu đương.
Esther người Phi Luật Tân nên khi sướng nàng rên bằng tiếng Phi. Tôi lại thích nghe tiếng Việt nên dạy nàng rên bằng tiếng mẹ đẻ của mình.
Âm thanh tiếng Việt có dấu nên những người ngoại quốc khó bắt chước thật giống hoàn toàn. Cái giọng ngọng ngịu, lơ lớ của Esther lúc rên “Em suong qua” nghe vừa kích thích vừa tức cười.
Rời Bangkok
Thế rồi tôi phải lên đường. Cuộc chia ly nào cũng bịn rịn, nhưng cuộc chia tay của chúng tôi bứt rứt hơn nhiều. Sau khi đưa tôi ra nhà ga xe lửa, Esther phải sửa soạn hành trang rời Thái Lan trở về Phi Luật Tân, bởi vì hành động giúp đỡ cho một kẻ đào tẩu là trực tiếp làm hại đến nền an ninh của Thái Lan và hành động đó không thể tha thứ được.
Không hiểu cổng gác lúc thường có soát giây không, nhưng nhờ đến trễ và tàu lửa sắp sửa khởi hành, nên khi thấy tôi vội vã chạy vào, người gác cổng không chận lại còn ra dấu dục tôi chạy gấp cho kịp chuyến. Là người khách cuối cùng, nên khi vừa mua được vé, vừa bước lên bậc cửa tàu, xe lửa vừa lăn bánh.
Tôi tìm một chỗ ngồi rồi dựa mình ru giấc ngủ. Tôi phải ngủ bù cho bốn ngày đêm không ngủ, để lấy sức đối phó những gian truân, để khỏi bị quấy rầy bởi những câu chuyện nhảm nhí của người lân cận nhưng giấc ngủ vẫn khó đến mặc dù đầu óc váng vất mệt mỏi. Một người đàn bà khều tay tôi hỏi:
— Mi khôn năng? (Có ai ngồi đây không?)
Tôi lắc đầu, nhìn chỗ trống trước mặt. Người thanh niên bên trái cứ lăng xăng gợi chuyện người chung quanh. Tôi lấy miếng băng keo mua ở nhà thuốc tây dán kín hình bản đồ Việt Nam khắc trên tay. Thỉnh thoảng giả vờ giật mình tỉnh thức, tôi dụi mắt nhìn ra ngoài, nhìn cột cây số dọc theo đường để tính nhẩm đoạn đường đã qua và còn lại. Những thửa ruộng sau mùa gặt nằm trơ gốc rạ. Nước Thái chỉ có một Bangkok vĩ đại hào nhoáng, những thành phố khác thuộc loại trung bình.
Tôi ăn uống tại chỗ khi những người bồi nhà hàng chạy tới lui rao bán. Kiểm soát viên bấm vé một cách máy móc. Trời về chiều cảnh vật hoang vắng, tôi nhìn hai bên đường tàu, nghiên cứu những trở ngại gặp phải nếu mình phải đi bộ, quan sát địa thế ở nơi nầy để suy diễn địa thế những nơi sắp đến. Cảnh sinh hoạt của những thôn làng trên đường xe lửa đi qua cũng có những nét tương tự với đoạn đường đi bộ sắp phải dấn thân. Trời đã gần khuya, hành khách sửa soạn chỗ để ngủ, kẻ ngồi tựa lưng vào ghế, kẻ nằm dưới sàn tàu, tôi ngủ được một giấc ngon trong tiếng xinh xịch đều đặn của xe lửa về đêm. Sáng thức dậy sớm hơn mọi người, tôi làm thủ tục vệ sinh buổi sáng, sửa sang lại áo quần, tóc tai, mặt mũi cho vai tuồng quan trọng sắp tới. Mỗi ga xe lửa đều có viết tên theo mẫu tự La Tinh. Hành khách lần lượt xuống dọc đường, nếu không nghiên cứu kỹ bản đồ, làm sao tôi biết được mình đã đến đâu, và xuống tại đâu, lúc nào? Gần đến cây số 900, những cột ăng ten và nhà cửa lớn xuất hiện. Sắp đến Hạt Yai, hành khách chuẩn bị xuống đông đảo, tôi nhìn ra ngoài. Hatyai, cây số 900. Tại sao lại có sự sai số nầy, bởi vì theo cột cây số ghi trên bản đồ du lịch Hatyai phải là cây số 950.
Tôi định đi theo đường rầy xe lửa, nhưng trạm gác và nhân viên đang hoạt động làm tôi đổi ý. Ra cổng, tôi chọn con đường gần nhất, song song đường rầy để đi nhưng phải quay trở lại vì chợt nhận ra con đường đang hướng vào một cư xá. Tôi chọn con đường khác, rộng rãi, xe cộ tương đối tấp nập mặc dù xa đường rầy. Trên lề đường, những dãy hàng quán vắng khách, lười biếng trong ánh nắng đầu ngày. Hatyai là một trung tâm du lịch nổi tiếng, trong trí tưởng tượng, tôi thấy những villa đồ sộ, những bãi biển trữ tình và khách ngoại quốc đông đảo, nhưng thực tế, Hatyai chìm đắm trong vẻ vắng lặng của một thị trân đìu hiu ít hoạt động. Tôi gặp hai đường rầy xe lửa rẽ về hai phía, tôi chọn đường thứ nhì, bởi đường thứ nhất sẽ chạy về Songkla. Cẩn thận hơn, tôi đã vòng theo đường nhỏ bọc ra khỏi thị trấn, luồn lách giữa các cánh đồng cỏ hoang, trước khi bám theo trục lộ xe lửa.
Hai bên đường, đồn điền cao su nối liền nhau chạy xa tít về cuối chân trời. Vài trăm thước lại có một cầu xe lửa bắt qua suối cạn. Gần cạnh đó là nhà của nhân viên trông coi đồn điền cao su trú ngụ. Đường dài, vắng vẻ thỉnh thoảng mới gặp một xóm nhỏ lấp ló trong những rừng cây. Tôi nghĩ đến những missions phá hoại. Chỉ cần một số mìn nổ chậm loại đặc biệt có thể tích nhỏ, có gắn đồng hồ giờ, kẻ phá hoại có thể cho hằng chục cây cầu nổ đồng loạt. Sống với Cộng Sản nhiều năm, cái góc cạnh nhìn sự vật của con người cũng bị ảnh hưởng. Ngày xưa nhìn vào những dinh thự, đền đài, cảnh vật để thấy vẻ đẹp và nghệ thuật, bây giờ khi nhìn sự vật tôi lại ước tính số lượng chất nổ, con đường đột nhập, kế hoạch rút lui. Cái nhìn méo mó không mang Chủ đích tàn phá, bạo động nhưng bảo vệ, phòng thủ. Phải thấy được con đường kẻ thù sẽ sử dụng để chuẩn bị con đường ngăn chận.
Người đầu tiên tôi gặp và bị nghi ngờ là một thanh niên trẻ. Mặc dù đi ngược chiều đã khá xa, anh ta thỉnh thoảng vẫn quay lại dò xét tôi. Tôi càng cẩn thận khi đoạn đường thấp thoáng bóng người đi làm về. Một chiếc xe bò ệt được năm chú bé đẩy chạy trên đường rầy xe lửa, các chú bé xăm xoi, hiếu kỳ nhìn người khách đỉ một mình, lạ mặt. Tiếp sau đó bốn người đàn ông lớn tuổi đi ngang tôi, một người nhìn tôi hỏi:
– Pai nãy? (Đi đâu đó?)
– Phủm cặp ban. (Tôi về nhà.)
Có lẽ họ ngạc nhiên vì nhà cửa, người ngợm trong khu vực nầy họ đều biết và quen mặt. Mặc kệ họ, tôi thản nhiên đi tiếp. Tôi đã sẵn sàng, nếu có sự báo cáo và truy nã, tôi sẽ phóng chạy. Lần nầy thấy một người từ xa, tôi thận trọng tìm chỗ ẩn nhưng quá trễ, anh ta đã thấy tôi, nên sự mất dạng của tôi làm anh ta ngạc nhiên, nghi ngờ, vừa đi vừa đảo mắt tìm kiếm. Tôi quá chú ý đến một mục tiêu, nên vô tình bị mục tiêu khác phát hiện. Hai người đàn ông bên kia mương ruộng đang theo dõi hành động của tôi. Tôi kịp thời khám phá tình trạng nguy hiểm, bước nhanh lên đường bỏ rơi họ, đi qua chỗ một xe Honda, một xe đạp dựng ở ngã ba đường.
Yên tĩnh. Tôi tiếp tục đi, cảnh giác. Bỗng linh cảm có sự đe dọa, bèn quay người nhìn lại phía sau thì thấy một thanh niên đang chạy đuổi theo tôi. Tôi phóng người bương qua những bụi gai rậm rào kín bên đường, gai cào xướt mặt mũi, vướng víu áo quần. Tôi bước càn tới để len lách thật lẹ. Băng qua những hàng cây cao su già ngổn ngang cỏ tranh và các bụi cây nhỏ, tôi chạy hết tốc lực về hướng lùm bụi rậm rạp đằng trước. Quay lại kiểm soát trước khi chun vào chỗ ẩn tránh, tôi yên tâm thây đã bỏ rơi được anh ta. Tôi càn lướt những giây nhợ chằng chịt, những nhành gai, những chướng ngại vật, băng mình vội vã nhanh về đằng trước. Hơn một tiếng đồng hồ, tôi xa khỏi bụi bờ rậm rạp và băng qua mảnh đất cày xới xong đang chuẩn bị ươm trồng cao su.
Vài chiếc xe đạp chạy lách cách trên con đường cắt ngang mặt. Tôi cẩn thận băng qua đường rồi tiếp tục xuyên rừng, phải tranh thủ tránh xa khu vực nguy hiểm càng sớm càng tốt, khi cảm thấy an toàn, tôi đi tiệm tiến trở lại đường chuẩn. Những khoảng đất trông trải dễ đi bị người từ những ngôi nhà của nhân viên coi sóc đồn điền canh phòng trông thấy. Con đường an toàn duy nhất là xuyên rừng và tôi chọn con đường khó nhọc cho mình.
Mặt trời đã lặn, chiều tối hẳn, tôi đổi phương thức đi khi trước mặt mình chỉ còn bóng đen và những chướng ngại vật trùng trùng điệp điệp không thể nào di chuyển được. Tôi trở ra đồng trống, đường xe lửa hoàn toàn mất dạng không còn dấu vết. Tôi đi vòng sau vườn một ngôi nhà đang đốt lửa chập chờn để rút ngắn khoảng cách. Tiếng người nói chuyện nghe rõ mồn một, không tiếng chó sủa. Gặp con đường mòn và đi mài miệt gần đứt hơi qua bao nhiêu quanh co, gập ghềnh, tôi gặp lại đường xe lửa.
Phải đi rừng gay go vất vả mới thấy được sự thoải mái nhẹ nhàng của con đường rầy thân yêu. Tôi lượm mấy cục đá lớn để phòng thân. Đá là một vũ khí hữu hiệu cho những bất trắc về đêm. Tôi bỗng nghe tiếng chân người nên vội tạt nhanh vào lề, nấp sau một bụi rậm nhỏ. Điều rõ ràng là đối thủ khám phá tiếng chân tôi trước vì sự mệt nhọc đã làm giảm khả năng thính giác của tôi. Tiếng chân rón rén, sục sạo, cái đòn gánh giáng lên cao… và rầm, rầm, tôi ném bốn cục đá liên tiếp vào ngực y trước khi y kịp phang đòn gánh vào đầu mình. Tôi bỏ chạy trong khi y đang ngơ ngác, đau đớn, kêu la cầu cứu, báo động.
— Mặc mẹ chú mầy. Chú mầy tự kiếm chuyện vào thân thì ráng mà chịu. Tôi lẩm bẩm.
Thoát nạn nhưng chắc sẽ có xe hoặc người đuổi theo. Lại nghe tiếng chân người, tôi nhảy lẹ vào lề đường nấp, nghe ngóng, chuẩn bị. Lại một tên đang lớ ngớ dò tìm tôi, tên nầy hình như là Lính gác nên có súng. Tôi ném một viên đá vào bụi phía tay trái làm y quay người lại nổ súng vào chỗ có tiếng động. Tôi ném một cục đá lớn trúng lưng y rồi vụt chạy. Phần bị đau, phần trời tối, y chỉ bắn theo mấy phát báo đông chứ không dám rượt theo tôi. Tôi lại đi tiếp. An toàn trên xa lộ! Không biết những người nầy nghĩ sao về tôi nhỉ? Một thằng ăn trộm? Một tay buôn lậu? Một tội phạm? Một Thái Cộng?
Tôi đến vị trí, theo sự phỏng đoán, là khu vực phòng thủ biên giới vì những xe tuần tiễu, những ngọn đèn pha, vì trước mặt là dãy Doanh trại nằm chắn ngang, đèn điện sáng rực. Tôi mò mẫm men theo sợi dây thép lớn căng dọc theo đường rầy, nằm sát dưới mương cạn khi một xe tuần tiễu pha đèn về hướng mình. Bò qua một bãi đất rộng, tôi đi xuyên bờ bụi của những vườn tược bỏ hoang. Phải dò dẫm từng bước vì thế đất cao thấp, vì cây cối rậm rạp, tôi băng từ vườn nầy sang vườn khác, sau vườn các ngôi nhà lớn chìm đắm trong ánh lờ mờ của các ngọn đèn điện từ con đường chính chiếu hắt lại. Tôi bọc bên hông đi về hướng ánh trăng vừa mọc, băng qua một con đường lộ lớn sát ngoài Doanh trại, rồi đi sâu vào khu rừng cao su có những ánh đèn chuyển dịch chập chờn.
Đây đó dọc theo từng hàng, những người thợ đang lấy mủ cao su về đêm. Tôi nương theo từng thân cây tìm chỗ che chở và tiến bước, một vài ngồi nhà nằm thầm lặng trong đêm yên ngủ, bỗng có tiếng động rộn ràng của xe cộ và những ánh đèn xe. Sự khác biệt của hai địa thế cho tôi cảm giác đã đi an toàn qua biên giới Thái. Một bức tường chắn ngang từ Đông sang Tây như Bức Tường Ô Nhục Đông Bá Linh, tường cao, kiên cố với hàng lớp kẽm gai giăng kín bên trên, bên trong và những chòi canh vươn cao ngạo nghễ. Tôi đi dọc theo bức tường trong khoảng cách an toàn và cảm nhận bức tường cứ dài thêm ra mãi, đành quyết định chui qua.
Có thể đây là hàng rào biên giới thứ nhì thuộc lãnh thổ Mã Lai. Tôi cởi hết áo quần bỏ vào túi xách, không một mảnh vải nào có thể làm bận bịu công tác nguy hiểm sắp tới. Tôi dùng cảm giác đau đớn của da thịt để luồn lách qua những ô kẽm gai nhỏ. Khi trèo qua tường, tôi bị kẹt cứng giữa một hệ thống kẽm gai được rào xen kẽ, kẽm gai lưỡi lam cắt ngọt lớp da trần. Loay hoay xoay sở từng gang tấc, tôi vận dụng mọi kỹ thuật, mọi sáng kiến trong suốt một giờ rưỡi để lọt qua hoàn toàn hàng rào chướng ngại rắc rối, gay go. Tôi qua được nhờ hàng rào không mắc điện, và những tên gác quá tự tin vào hệ thống phòng thủ của mình. Tôi đi xuyên qua bãi đất trống rộng, nhiều hào rãnh, mô đất, đường bố phòng ngang dọc.
Mã Lai. Mã Lai. Tôi mừng rỡ như nhắc tên một người thân yêu đang chờ đợi, bỗng thấy một tấm bia đá đề tên thị trấn cuối cùng của Thái! Có lẽ đây là dấu hiệu bang giao thân hữu của hai nước láng giềng? Có lẽ nào tôi vẫn còn ở Thái Lan sau khi đã vượt qua những địa điểm bố phòng đặc biệt như vậy? Tôi đi vào một ngõ vắng và bất ngờ lạc vào một nhà ga xe lửa. Thây kệ! Trời sắp sáng, hãy nghỉ ngơi rồi tính sau.
Tôi bò vào một toa xe lửa nằm riêng rẽ, phế bỏ, nằm vật xuống và đắm chìm vào giấc ngủ vùi. Tôi giật mình thức giấc vì tiếng nhạc chào cờ Thái Lan quen thuộc nhiều lúc đã hát nhại theo bằng tiếng Việt với những lời khôi hài, diễu cợt.
Thật chán chường, thất vọng, tôi chẳng thể làm gì khác hơn ngoài việc ngủ tiếp để duỡng sức. Tôi phải ẩn nấp tại đây suốt ngày để tối lại tìm đường đi tiếp. Đang mơ mơ màng màng, tôi giật minh vì một chấn động mãnh liệt.
– Cái gì đây?
Tiếng “rầm, chảng” vừa dứt thì có tiếng chuyển động. Hình như tôi đang bồng bềnh, lắc lư trong cảm giác tốc độ. Tôi vùng đứng dậy, chỉ kịp chụp lấy xách áo quần và phóng lao xuông đất khi cái chỗ nằm của mình đang chạy vun vút về phía Bắc. Tôi té lăn một vòng và lồm cồm ngồi dậy. Hú hồn! Thì ra một đầu tầu vừa móc vào toa tôi đang ngủ, kéo đi. Áo quần lấm đầy bụi bẩn, tôi phải tìm nơi giặt giũ. Khu vực nhiều buildings, nhiều Công nhân Sở Hỏa xa, có những tia mắt nhòm ngó nghi kỵ. Tôi mặc quần đùi, khoác chiếc áo thun còn sạch, tay xách bộ áo quần dơ dáy thản nhiên đi ra như một công nhân lao động vừa bốc xếp hàng trở về. Ra phố, tôi vào một quán ăn sáng bình dân định vào cầu tiêu để giặt đồ, nhưng quán nghèo không có toilet. Một người đàn ông Thái ngồi bàn đối diện nhìn tôi chăm chẳm.
– Gì nữa đây? Tôi phân vân nghĩ ngợi.
Tôi vội ăn xong, trả tiền rời quán. Người đàn ông chận lại hỏi
tôi:
– Làm gì nơi đây?
– Ờ! Tôi làm trong nhà ga xe lửa. Dơ quá. Mệt quá. Tôi trả lời bằng tiếng Thái.
Tôi bước ra cửa, y lật đật trả tiền, vội vàng đi theo tôi. Tôi nhanh nhẹn lẩn mình qua các đường hẻm lắc léo và bỏ rơi y. Khi cảm thấy an toàn, tôi trở lại đường lộ chính bỗng thấy y vừa quẹo xe Honda ở ngã tư trước mặt, lơ láo tìm kiếm. Tôi lủi vội qua cổng một ngôi nhà, ngồi bệt xuông một gốc cầy làm vẻ ngồi nghỉ mệt. Một bà cụ già từ trong nhà đi ra nhìn tôi dò hỏi. Tôi mỉm cười, chào bà, phân bua:
— Làm về mệt quá.
Xong đứng dậy đi ra. Quanh co, tránh né nhiều đường hẻm, tôi quẹo vào một mảnh đất bỏ hoang đầy bờ bụi. Tôi tìm chỗ ẩn nấp vì không thể đi lại ngờ ngờ ngoài đường với y phục như thế nầy. Ước gì có thêm một bộ đồ sạch sẽ, tôi đã tránh được nhiều rắc rối. Đang ngủ, tôi bỗng giật mình vi tiếng rầm rập như là của hàng chục đôi giày bottes de saut đang hùng hổ chạy về phía tôi. Có lẽ có người phát giác và báo cáo nên lính gác đang chạy lùng kiếm bắt tôi chăng? May thay chỉ là một bầy bò vừa được lùa đến đang rượt nhau tranh giành đám cỏ tốt. Không có an toàn, tôi phải rời nơi đây ngay.
Mớ tóc tôi vốn đã quăn queo giờ lại bù xù, rối rắm vì đống hột cắc ké trong bụi gai tôi nằm nghỉ. Tôi ngồi gỡ vội bằng tay và bằng lược, hột ké dính đầy tóc, khó gỡ, cuối cùng tôi phải bứt đứt từng mớ tóc để nhặt sạch những bông gai kia. Lấy gương soi xem lại khuôn mặt, chùi sạch vết dơ, tôi rời bụi đi tiếp. Bất ngờ, sau khi qua khỏi hàng rào kẽm tôi bắt gặp đường rầy xe lửa và một hố nước rộng xanh thẳm có dân chúng tắm giặt và câu cá khá đông. Tôi lựa một bến vắng, cởi hết áo quần tắm giặt kỹ càng và chậm rãi. Tôi định phơi khô áo quần, nhưng vì một người đánh cá đang trên đường đi về hướng tôi, nên đành mặc đồ ướt lên đường đi tiếp.
Dọc đường rầy, những dãy nhà có trồng nhiều cột ăng ten cao làm cho tình trạng của đường có vẻ bất trắc. Đến một đường xa lộ cắt ngang qua đường rầy, tôi đổi hướng đi dọc theo xa lộ, theo bản đồ, đường rầy sẽ ở phía phải và cách xa đường xa lộ khoảng ba mươi cây số nhưng thực tế, đường rầy vẫn ở phía tay trái cho đến tận Kangar. Tại sao? Tôi chẳng hiểu.
Xa lộ chạy hun hút giữa rừng cao su mênh mông, đây đó lẻ loi vài xóm nhà nhỏ, tôi đi băng vào rừng tránh những ngôi nhà nằm gần đường. Càng về chiều, lượng xe cộ thưa thớt dần, tại một trạm gác lớn, nhiều xe Honda bị chận lại hỏi giấy nhưng họ phóng chạy luôn. Tôi đi luồn giữa những đám cây gai góc càng lúc càng rậm, bước thấp bước cao, té lên té xuống nhưng ráng đi nhanh để tránh Trạm Kiểm soát. Suốt đoạn đường, tôi vẫn phân vân không biết mình đã qua biên giới chưa hoặc bao giờ mới đến biên giới.
Trời tối hẳn, nhịp độ xe cộ đông đảo trở lại, ánh đèn xe chóa mắt phía trước và sáng lóe đằng sau. Những nơi có nhà cửa, tôi đóng vai người địa phương đi lại, còn những vùng hoàn toàn trơ trọi, hoang vắng? Một chiếc xe tuần tiễu sẽ nghĩ thế nào về một kẻ đi bộ lang thang đầy khả nghi? Vì thế, tôi phải nấp vào lề đường chờ xe ngược chiều chạy qua khỏi mới đi tiếp, hoặc khi xe cùng chiều vừa qua mặt, tôi vội vàng phóng nhanh từ chỗ nấp ra đường lợi dạng ánh đèn xe quan sát đoạn đường trước mặt. Thà chậm bình an hơn nhanh tai nạn! Nhưng cái chậm không quan trọng bằng cái mệt mỏi vì hai bên lề đâu phải chỗ nào cũng bằng phăng cả đâu, nên có lúc tôi té đau bởi vì hào sâu, đá nhọn, có lúc gai góc đâm xuốt da thịt và có lức phải bò lên lề đường thay vì nhảy ra đường.
Cẩn thận tối đa trong đoạn đường quyết định cuối cùng. Đang chạy thẳng, xa lộ bỗng bị chắn ngang bởi một con đường lớn và một dãy núi đồ sộ chễm chệ trước mặt.
– Quẹo trái hay phải? Tôi phân vân quan sát dấu kẻ giữa đường và quyết định rẽ trái. Từ đoạn đường nầy, xe cộ bắt đầu vắng hẳn, tôi đi theo đường, vừa đi vừa ngủ gật, mắt không mở nổi vì sự mệt mỏi đang đè nặng trên mi. Thỉnh thoảng tôi ráng hấp him mắt để xem mình có đi ngay ngắn trên đường không. Chỉ cần ngồi xuống là tôi có thể ngủ vùi một giấc đến ngày mai. Tôi phải thức, phải đi vì đây là đoạn đường sinh tử, vì qua khỏi đây tôi có thể trút bỏ gánh nặng tù tội, gánh nặng ưu phiền của những ngày tháng vô vọng trong các Trại Tị nạn dọc biên giới Thái Lan.
Đói quá, tôi chui vào bếp một nhà cạnh đường lục cơm nguội ăn để tỉnh táo lấy sức. Mặc dù có thể nhịn ăn như từng đã nhịn, bỗng nhiên tôi có ý định muốn thử xem mình có khả năng mưu sinh bằng cách liều lĩnh đó không. Ăn xong, đi được một đoạn đường, tôi bỗng gặp một dấu hiệu lạ: Ba ngọn đèn đỏ đặt nằm ngang thấp sát mặt đường và Toán Kiểm soát đi lại rộn ràng. Tôi linh cảm rằng chính đây mới thực sự là Trạm Canh phòng Biên giới và lần nầy tôi đã đoán trúng. Tôi lại rời đường băng rừng, trời tối đen như mực, đoạn rừng biên giới rậm rạp và gai góc quá mức bình thường.
Tôi cố gắng nhiều lần, tại nhiều vị trí khác nhau mà vẫn không tiến tới được. Không thể nào nằm chờ đợi trời sáng. Chỉ còn hai trăm thước cuối cùng. Tôi vạch kế hoạch táo bạo:
– Vượt biên giới bằng cách đi xuyên qua khu vực đồn trú của lính biên phòng.
Trước khi lên đường, tôi ghé vào một quán cơm ăn chiều, mùi cơm khê thật khó chịu. “Cơm khê là một điềm không tốt,” tôi lẩm bẩm. Cổng trạm gác phía Tây đi ra thành phố thật nghiêm ngặt, bọn gác đứng quan sát với cặp mắt cú vọ. Đây là một trong những cửa ngõ mà dân buôn lậu hàng hóa Thái Lan phải chi tiền rất đậm. Tôi lách sau lưng một tên gác vừa đi qua giữa đường chận một xe Honda. Trọng tâm kiểm soát là hướng vào thành phố. Tôi đang đi ra khỏi thành phố, chỉ một chút nhột nhạt khi có cảm tưởng đang bị chăm chú nhìn vào sau gáy. Đường Battambang đi Xoai có hơi hướm của xa lộ Biên Hòa — Sàigòn, mặc dầu đường không rộng, sự đi lại của xe cộ, nhất là xe Honda thật tấp nập. Đây là con đường độc nhất xe Honda chạy tốc độ tối đa, xe rượt đuổi nhau, lao vun vút qua mặt nhau, xe nào cũng chở nặng ăm ắp. Trời đã về chiều, hai bên đường có những đống rơm rạ lớn, những cánh đồng đang gặt hoặc đã gặt xong. Đằng xa, một ngọn núi lớn, bên kia núi, đèn sáng rực. Chẳng lẽ sắp đến Sisophone? Tôi dự trù đi trong hai ngày đoạn đường 160 cây số từ Pursat đến Sisophone, thế mà chỉ trong một ngày, tôi đã thấy cái điểm chuẩn đáng yêu đó. Tôi quyết định ngủ lại.
Tìm một chỗ ngủ ngoài đồng tại đây thật khó. Đang mùa gặt, xe bò chở lúa đi lại suốt đêm. Giữa những cánh đồng trống trải vừa gặt xong, lúa được chất lại thành những đống dài. Có người ở lại giữ lúa, có người đi tuần ban đêm, đây đó ánh lửa chiếu sáng rực những góc trời đêm. Tôi nằm ngủ trong tiếng lạch cạch, lóc cóc của những chiếc xe bò chạy qua những mặt ruộng gồ ghề, đất nứt nẻ và gốc rạ ngắn. Trời về đêm thật lạnh, sương xuống ướt hết áo quần, chẳng có một tàn cây để tránh sương đêm.
Sáng dậy sớm, tôi lên đường. Sau cái ngọn núi tôi tưởng nhầm là núi Xoai còn có những ngọn núi khác. Ánh sáng của những đống rơm rạ cháy bừng bừng cho tôi ảo tưởng ánh sáng đèn điện của đô thị. Tôi đi vào một khu làng, sự sinh hoạt khá phồn thịnh. Ăn xong một tô hủ tiếu, tôi qua hàng khác gọi thêm một tô cháo lòng. Đường bỗng rẽ làm đôi, tôi lẩn thẩn lựa chọn, và rẽ trái, bởi đường rầy xe lửa đi gần cạnh con đường bên trái. Đi được một đoạn thì đường xe lửa bỗng cắt qua phải, tôi phân vân nhưng vẫn tiếp tục đi. Bên kia, một chiếc cầu dài, có nhiều toán lính đang kiểm soát. Tôi dừng lại gần cầu, uống một ống thốt nốt chua ngâm lạnh. Thốt nốt chua là một loại rượu nhẹ. Đã ở Kampuchia là phải ghiền thốt nốt chua. Tôi đứng giải khát, nhìn người đi lại và phương thức kiểm soát. “Thấy vậy mà không phải vậy!” Lính gác thật đông nhưng lại ít chận xét người. Rượu thốt nốt làm ấm lòng và bừng bừng khí thế. Tôi thản nhiên đạp xe đi qua. Tại Xoai, những hàng tiệm tấp nập người mua bán. Tôi đạp quanh một vòng phố thị để tìm đường ra, vừa tìm xem chỗ bắt giữ người vượt biên. Hồi ở tù 7708, có người kể rằng ở Sisophone, Việt Cộng bắt người vượt biên nhốt hai bên đường, trong những phòng nhỏ như chuồng khỉ, chuồng cọp ở sở thú.
Phòng làm bằng những song sắt lớn, người vượt biên bị cạo trọc đầu, bắt ở truồng để làm nhục, bây giờ tôi chẳng thây đâu cả, thì ra chỉ là chuyện tưởng tượng.
Ở Pursat tôi hỏi đường đi Battambang, tới Battambang tôi hỏi đường đi Xoai, không lẽ ở Xoai lại hỏi đường đi Thái Lan? An ninh chìm và cớm ở Xoai dầy đặc, người đến Xoai chỉ để buôn lậu và vượt biên, vì vậy sự kiểm soát tinh vi và chặt chẽ quá độ. Tôi nhìn dãy núi chạy từ Đông sang Tây, nhìn con đường chạy song song dãy núi, con đường đông đúc tất bật nhất thị xã.
– Chắc là con đường nầy! Tôi tự nhủ.
Tôi đã không lầm. Trường đời là trường học vĩ đại nhất, phải có đau đớn khốn khổ mới có những kinh nghiệm, những nhận xét sắc bén. Lý thuyết trường học lắm lúc xa lạ với thực tế. Tôi rong ruổi theo đường và chợt thấy một trạm gác trước mặt. Tôi chưa gặp trạm gác nào gay cấn như thế trong suốt đoạn đường đã qua. Xe Honda thồ cũng bị chận, xe đạp cũng bị chận, đi bộ cũng bị chận. Tất cả hành khách đều bị xét giấy, xét hành lý và bị tra hỏi. Thế là xong! Đi qua đường nầy giống như thấy một sợi dây thòng lọng treo sẵn mà vẫn đút đầu vào, rồi hy vọng sợi dây treo cổ sẽ đứt. Tôi quay xe trở lại tìm một đường hẻm bên trái để rẽ phải nhưng gặp một đường hẻm cụt nên đành dẫn xe băng qua sân vườn của những ngôi nhà cuối ngõ, giả vờ cần tìm chỗ đi tiêu ở cánh đồng đằng sau. Có vài đứa con nít và đàn bà nhìn tôi tò mò. Tôi phải giả bộ tuột quần ngồi xuống, sau khi đã đi một đoạn xa để ngầm giải thích với họ. Một cô gái đi vệ sinh ở một bụi che khuất thấy tôi, vội vã quấn xà rông đứng dậy. Trước mắt là đường rầy xe lửa. bên kia là cánh đồng đầy bụi bờ gai góc, tôi dẫn xe băng qua hướng dự định, gặp hai chiếc cầu dài và lớn nằm song song, một chiếc cầu xe lửa và một chiếc cầu xe hơi. Ở đầu cầu xe lửa là một ngôi nhà lớn nằm tách biệt.
– Chắc đây là nơi đồn trú của bọn lính gác cầu!
Tôi nghĩ thầm, đi bọc sau lưng, vòng qua phía trái ngôi nhà. Ruộng có nơi đầy sình và nước, có nơi gai góc rậm rạp, tôi phải cẩn thận để khỏi làm lủng lốp xe và tránh để người trong nhà trông thấy rồi gặp một con sông chảy ngang. Làm sao qua con sông rộng với một chiếc xe đạp? Thấy hai chiếc ghe nhỏ đang thả chài bắt cá tôi quyết định gọi ghe nhờ chở xe sang sông, vờ keo kiệt trả giá để hỏi bị nghi ngờ.
– Cho tôi qua dùm bên kia sông, 2 riels nhé!
Người thanh niên đánh cá nhìn tôi, không trả lời, tôi tăng lên 3 riels, rồi 5 riels. Bỗng nhiên người thanh niên bơi ghe lại gần chiếc ghe ông già nhỏ to trao đổi ý kiến. Có lẽ anh ta xin phép ông già ngưng bắt cá để chở tôi qua sông kiếm vài riels xong chèo ghe vào bờ. Tôi yên chí, định đẩy xe xuống khi ghe cặp sát bờ, nhưng ngạc nhiên vì y đi qua mặt tôi, không hề nhìn tôi mà đi về hướng ngôi nhà, gọi lớn rồi nói gì với người trong đó.
– Bỏ mẹ rồi!
Tôi lẩm bẩm và lật đật đẩy xe đi, băng qua nhiều bụi gai mọc lan tràn khắp nơi rồi xách bổng xe lên chạy miết. Được một đoạn khá xa, tôi nhìn lại, chẳng thây có ai đuổi theo. Cẩn thận, tôi dấu xe vào một bụi cây, rồi ẩn mình vào một bụi cây khác. Mười lăm phút trôi qua, chẳng có gì động tĩnh, tôi trách mình: “Đúng là thần hồn nhát thần tính rồi! Mình có tật nên hay giật mình chứ có gì đâu mà vội xách xe chạy như vậy?”
Nếu không có gì trở ngại tôi lại tiếp tục đi nhưng qua sông thì không được, vì ghe không chịu chở. Tôi vẫn dấu xe tại chỗ, đi bộ thám sát đường sá, băng trở lại đường xe lửa, đi dọc theo đám ruộng giữa đường rầy và đường quốc lộ. Tôi muốín xem lại, sau cái trạm gác hồi nãy, còn có trạm gác nào ở trên cầu nữa không, nếu không có, tôi sẽ dẫn xe băng đồng rồi qua cầu. Vừa leo lên lộ đất để ra lộ chính, tôi bỗng nghe tiếng xe Honda. Tôi liếc mắt và thấy một tên lính Khmer mang khẩu A.K. choàng qua vai. Tôi vẫn thản nhiên đi.
– Bòn bòn, xốp xốp! (Anh, anh đứng lại!)
Tôi biết đã bị đổ bể, nhưng vẫn làm tỉnh đi thẳng coi như chú mầy gọi ai đó, nhưng không thoát được vì chiếc xe đã tốp trước mặt tôi.
– Bòn mi cỏn? (Anh có xe đạp phải không?)
Đúng là tên nầy đang đi kiếm tôi đây, tôi gật đầu và chỉ về hướng ruộng, vừa chỉ, vừa đi, làm như đang đi chỉ chỗ để chiếc xe. Tên gác chạy xe Honda trên đường, tôi đi bộ băng đồng, qua một khoảng bụi rậm, tôi né mình lẩn tránh. Không thấy tôi, y dựng xe, bước quành lại để tìm và y phát hiện tôi, ngoắc lại. Tôi chỉ tay về hướng trạm gác rồi tất tả bỏ đi, được chừng mươi thước, tôi nghe y kêu:
– Xốp xốp! (Dừng lại!)
Tôi bỗng vùng chạy và y bắt đầu nổ súng. Tôi chạy về hướng trạm gác và nhà dân, nên chắc chắn y chỉ bắn chỉ thiên. Được nửa đoạn đường, tôi quẹo mặt chạy dọc theo sau lưng vườn nhà dân, tên lính đã nhảy phóng từ trên đường rầy cao xuống ruộng đuổi gấp theo tôi, vừa chạy rượt theo tôi vừa bắn liên tục. Tôi chạy nước rút. Y mang giày bốt nặng, súng nặng nên không đuổi kịp tôi, khoảng cách giữa hai người xa dần. Tôi bỗng vấp và té. Tôi biết đang chạy mà té là đã quá kiệt sức, có người quá sợ còn không chạy nổi.
Hồi vượt ngục trốn về Sàigòn, tôi chứng kiến cảnh một tay xì ke bị Công an bắt và đánh, y sợ hãi bỏ chạy, được năm thước, y lả người quị xuống như một búp bê cao su bị xả xì hết hơi, oằn lại rồi té sụm, hai tay luỗi đi không nhấc lên nổi để chống đỡ người, nên cái cằm phải đỡ toàn thân mình ngã xuống. Chỉ thế mà y bị bể cằm, gãy mấy cái răng, miệng bể toét đầy máu me!
Tôi không té sụm vì sợ hãi kinh hoảng nhưng nhưng tôi biết tôi đã quá đuối sức vì chạy nước rút. Những lực sĩ chạy bộ, sau khi bức qua mức đến trong cuộc chạy đua, nếu có kiệt sức, cũng có người dìu dùm. Tôi không may mắn bằng họ, bởi tôi không có mức đến và phải chạy nước rút từ lúc mới khởi sự. Tôi nhìn lại, những bụi cây đằng sau đã che khuất cả người lẫn súng. “Chém vè!” tôi quyết định lủi đại vào một bụi rậm sát bên cạnh chỗ bị té. Vừa nằm co rút người lại, tôi đã nghe tiếng chân nặng thình thịch của y đang đuổi dồn đến, chạy qua khỏi chỗ tôi nấp nhưng chẳng thấy tôi. Vừa lúc có một người đi ngược chiều, y hỏi:
– Có thấy ai chạy ngã nầy không?
– Không. Tiếng người đàn bà trả lời vọng lại.
Y đưa súng lên trời bắn thêm hai phát báo động để huy động toàn nhân lực tìm bắt tôi. Đầu tiên là toán lính gác ngoài trạm kiểm soát tiếp viện, rồi loa phát thanh loan báo:
– Có một tên mặc áo quần đen, khăn cà ma xanh vừa chạy trốn. Ai thấy bắt lại hoặc báo cho cảnh sát!
Không phải chỉ có cảnh sát, lính du kích, mà cả dân chúng trong vùng, đặc biệt là chó, những con chó săn hiếm hoi, may mắn còn sót lại, cùng lên đường tìm tôi trong tiếng trống bùm bùm cắc cắc như một cuộc săn thú đại qui mô. Cũng may là họ bắt đầu khởi hành cách chỗ tôi một trăm thước thẳng về phía trước và đồng thời lúc đó, điều đáng quan tâm hơn hay làm tôi giảm sự quan tâm đến cuộc bố ráp bên ngoài: Kiến.
Một tổ kiến đỏ lớn đã bắt đầu tấn công tôi tự hồi nào, tôi nằm trân mình chịu đựng. Một con giun khi bị kiến cắn còn được quằn quại, lăn lộn, tôi thì không được làm như vậy, bởi vì bất cứ động tác nào của tôi trong bụi nầy cũng có thể gây sự chú ý của người đi đường lác đác qua lại trên con đường nhỏ cách bụi cây tôi nằm chừng một thước.
Tôi nhớ lúc còn nhỏ, tôi đã từng dùng kiến để rèn luyện ý chí mình. Đọc sách thấy một Nhà Bác học làm việc mỗi ngày 22 giờ, tôi bèn noi gương, rút 5 giờ ngủ còn lại 3 giờ. Tôi tập ngủ đêm 2 giờ và ban ngày 1 giờ theo kế hoạch mới. Đang say ngủ, bị đồng hồ báo thức dựng đầu dậy, tôi tung mền, rời giường, chạy ra trời làm vài động tác thể dục. Bầu trời đêm mát lạnh và trong lành làm tôi tỉnh táo hẳn nhưng khi ngồi vào bàn học, cơn buồn ngủ lại thì thầm ru dỗ tôi. Tôi vốc nước lạnh đắp vào mặt, sự mệt mỏi quá sức của cơ thể chống đối lại. Tôi vào phòng trong của gian nhà thờ cũ kỹ, ngồi thiền cầu nguyện. Những giây phút hướng về thần linh cho tôi một chút minh mẫn và tỉnh táo nhưng ngồi vào bàn học lại buồn ngủ tiếp. Tôi giận mình và tìm cách trừng trị mình. Tôi tìm một góc phòng tối tăm, nhiều muỗi và kiến, lấy cây thọc vào ổ chọc những con kiến ngái ngủ, lười biếng nổi giận thức dậy cắn tôi. Cứ mỗi lần không thắng được sự yếu đuối của cơ thể, tôi lại dùng muỗi và kiến để trợ lực cùng ý chí.
Cắn đâu cũng được, trừ mắt và mũi. Mắt sưng không thấy đường làm sao tiếp tục hành trình? Cắn vào mũi, cái mùi nồng nồng của nọc kiến làm tôi cồn cào muôn hách xì. Tôi phải bịt mồm, bóp cổ nhiều lần để chận đứng cơn buồn hách xì đã bò nhột nhạt lên tới cổ. Tôi ngồi dậy lấy khăn cà ma che bịt mặt lại, kiến bu vào khăn cà ma dày đặc không phân biệt được màu sắc của khăn. Tôi vò khăn thật mạnh để giết kiến, xong chà khăn khắp đầu tóc, mặt, cổ rồi nhanh chóng chùm bít lại, thế mà kiến vẫn bò ngổn ngang trong khăn, trên mặt. Mỗi lần tôi nhúc nhích, giết kiến ở mắt và mũi, kiến lại báo động và cắn dữ hơn, cuối cùng tôi đành nằm xuống, ghìm người thật yên để chịu đựng, nhưng sự tuân lệnh của thân thể cũng có mức độ.
Có những người lính lúc bị cấp chỉ huy chửi mắng, họ nhẫn nhục chịu đựng nhưng có lúc người lính bỗng phản ứng kịch liệt và chống lại cấp chỉ huy. Trung tâm hệ thần kinh là cấp chỉ huy tối caơ của thân thể. Thần kinh hệ ra lệnh nằm yên, cơ thể nằm yên, thế nhưng cơ thể cũng đành bất lực mặc dù đã dùng toàn bộ ý chí để kềm chế. Tay chân vẫn nằm yên chịu đựng, nhưng bắp thịt bắt đầu co giật, rồi toàn thân tôi co giật, run rẩy từng cơn, vì hàng ngàn, hàng vạn miếng thịt li ti bị cắn, bứt khỏi cơ thể. Tôi vẫn cố gắng kìm người, dùng ngón tay rê nhẹ nhàng trên mặt, thận trọng giết từng con kiến đang bu cắn ở khóe mắt, hoặc chun vào mũi.
Có tiếng chân người đi qua. Kềm chế sự đau đớn còn dễ hơn kềm chế cơn buồn nhảy mũi làm tôi cồn cào ngứa ngáy. Đôi lúc tôi lả người sắp mê đi, tôi cố phấn đấu để tỉnh táo. Tiếng trống rập rình rập rình, tiếng con nít reo hò văng vẳng như đang dự một hội vui lớn. Tiếng loa phóng thanh nhắc đi nhắc lại nhiều làn, tôi nghe mơ màng như từ một cơn mê, như từ một thế giới xa lạ. Tôi cương quyết ở lại trong bụi và một ý nghĩ bỗng nảy ra trong đầu: Thà chết dưới nọc độc, dưới sự tra tấn của loài kiến đỏ hơn là chết trong bọn quỉ đỏ. Tôi không muốn nhìn kẻ thù cười đắc thắng khi bị rơi vào tay chứng, kẻ thù sẽ thất đởm khi ta can trường chịu chết dưới nọc độc của bầy kiến vô tâm. Sáu giờ đồng hồ chậm chạp trôi qua, dài hơn cả một đời người đã sống, đã đau đớn, và cuốỉ cùng, kẻ đầu hàng là họ.
Tôi nghe mơ màng tiếng nói chuyện, tiếng thảo luận trên đường về:
— Biến mất tiêu rồi. Hay thật.
Tôi ở ngay trước mắt họ mà họ không thấy, bởi vì tôi ngồi dưới lỗ mũi họ. Lắm lúc những nơi kém an toàn nhất, ít đáng nghi nhất, lại là nơi an toàn nhất. Một lần ở Sàigòn, nửa đêm bị kiểm tra hộ khẩu, xét nhà, tôi đã ngồi yên lành nơi góc bếp trống trải, sau một cái ghế có phơi một cái mền nhỏ trong khi bọn công an cứ lục lọi trong những ngõ ngách kín đáo nhất. Chúng chui cả vào cái lỗ nhỏ trên trần nhà xem có ai nấp trong cái chỗ kiên cố kia không.
Trời về chiều, khi tất cả mọi hoạt động lùng kiếm đã chấm dứt, tôi chậm rãi bò ra khỏi bụi cây với sự cảnh giác và quan sát cẩn thận. Sau khi cởi chiếc áo đen, và lột khăn cà ma xanh để đề phòng sự nhận diện theo đúng trang phục mô tả trên loa phóng thanh, tôi đứng dậy và bước đi như một người dân thường, mặc dù mệt mỏi, đau đớn trong cơn sốt váng vất chập chờn. Băng qua đường rầy xe lửa, tôi chui vào một bụi lớn kín đáo, sau khi đã kiểm soát ngoại cảnh. Tôi cởi hết quần áo, bắt đầu giết kiến, giết hết kiến trên đầu tóc, mặt mũi, chân tay, thân mình, trên quần áo, mặt ngoài, mặt trong, kiểm soát từng chỗ thật kỹ lưỡng. Phải một giờ đồng hồ tôi mới làm xong cái công việc tỉ mỉ kia, rồi nằm duỗi người nghỉ ngơi. Bỗng có tiếng động bên ngoài, thì ra mẩy chú trâu bò trên đường về đang nhởn nhơ gặm cỏ và bứt những đọt cây ở bụi rậm tôi đang trốn nên tôi phải nằm co rút thu mình lại đến khi trâu bò lũ lượt về chuồng và sau cùng thiếp đi trong cơn mệt lả, đau đớn.
Trời sẩm tối, tôi giật mình thức dậy, bóng tối đã bao phủ khắp cảnh vật, không ai còn đủ khả năng thị giác để nhận ra kẻ đang đi lạc lõng trong bóng đêm giữa nơi quạnh vắng nầy. Tôi đi tránh xa hướng dấu xe đạp, đề phòng sự phục kích có thể có tại đó, tụt xuống sông, ngâm mình thật lâu trong nước để những vết thương khắp thân thể dịu dần, và hưởng cảm giác thống khoái của sự mát lạnh và tỉnh táo và uống nước sông đến căng bụng. Bơi qua dòng sông, tôi đi men theo những đường mòn xuyên qua một cánh rừng cây thấp, đường chạy về hướng Tây, hoàn toàn vắng người, vắng nhà. Tôi đi mải miết, đứng phân vân ở những ngã rẽ, ở những đoạn đường quanh co lệch hướng.
Sau đó tôi lại gặp một dòng sông, có phải đây là con sông mà tôi đã bơi qua? Vài ba ngôi sao lác đác trên bầu trời đen thẩm. Tôi đi dọc theo bờ sông, đường bị cắt ngang bởi những mương nhỏ dẫn nước từ sông vào. Tôi cởi quần áo lội sang, lại mặc vào đi tiếp, lại gặp mương, hoặc những đoạn sình ngập nước, lại cởi quần áo. Lần nầy để khỏi mất thì giờ, tôi không mặc quần áo vào nữa, ở truồng đi một cách thong dong. Một ý nghĩ khôi hài chợt đến: Tôi nghĩ đến hình ảnh ông Táo về chầu Trời, ông mang hia, đội mão, mặc áo nhưng không mặc quần. Tôi ngước mặt lên trời nói:
— Sư phụ! Sư phụ đi chầu Ngọc Hoàng cởi cá và sexy 50%, con đi tìm tự do, đi bộ lại phải sexy 100%. Nếu nghĩ đến tình đồng hội ở truồng, xin Sư phụ phù hộ con đi đến nơi đến chốn an toàn.
Tôi liên tưởng lần biệt phái Tây Ninh, một phi trường vắng chỉ có phi cơ của biệt đội. Giữa trưa trời nóng nực say ngủ — tôi có tật mỗi khi vào phòng riêng thì trần truồng như nhộng — bỗng nghe điện thoại gọi đi bay. Tôi chỉ mặc vội duy nhất chiếc quần lót nhỏ, rồi mang giày botte de saut, đội helmet và giây đeo súng, chạy ra phi cơ. Sau khi hướng dẫn đánh bom xong, tôi trở về làm nhiều low pass chào các người bạn Thiết Giáp. Nhiều Chiến sĩ lái xe bọc thép ngạc nhiên đến kinh dị, leo lên pháo tháp xe tăng để chiêm ngưỡng một phi công ở truồng tồng ngồng đi đánh giặc vì cái ghế chắn đạn đã che mất phần chiếc xì líp.
Trên con đường thăm thẳm hiu quạnh, bỗng dưng có chiếc mùng trắng giăng ngang giữa đường, có một người đang nằm ngủ. Phải chăng tôi đã đến vùng đất Khmer Đỏ và đây là người lính trinh sát trên tuyến đầu tiên? Tôi lén bò qua, đi tiếp, thấy một chiếc ghe chài nằm dưới dòng sông, có lẽ một người đánh cá đi làm ăn xa một mình. Sương đêm và hơi lạnh bao trùm tấm thân trần truồng. Tôi không thấy lạnh lắm vì phải bương bả đi liên tục. Có chăng là những cảm giác ngai ngái rờn rợn khi một đợt gió thoảng nhẹ lùa qua. Con đường dọc bờ sông càng về khuya càng lệch hướng nam và cuốỉ cùng dòng sông đổ vào một hồ nước mông mênh. Tôi đứng phân vân giữa ngã ba đường, những ngôi sao làm chuẩn đã lặn làm tôi mất phương hướng vì thiếu điểm chuẩn. Bỗng một đốm lửa bằng trái banh quần vợt đang lượn lờ trước mặt như có người đang mang đuốc soi ếch hoặc bắt cá ban đêm, nhưng lửa đuốc phải lập lòe, còn lửa nầy giống như một cục sắt tròn bị nung đỏ. Tôi bò lại để xem xét, ghé tai sát đất để nghe ngóng, không có tiếng chân mà cục lửa cứ lượn lờ quanh quẩn trước mặt. Một bóng ma trơi lạc loài trong đêm? Thật lâu, chẳng tìm hiểu được gì về cục lửa kỳ dị, tôi bất cần nằm xuống giữa cánh đồng hoang vắng ngủ chờ sáng. Ma trơi ơi! Hãy cùng ta chia sẻ một đêm cô đơn!
Tôi thức dậy khi nghe tiếng reo hò văng vẳng từ một khu làng xa tít phía trước, ngồi thơ thẩn đợi mặt trời lên. Bỗng có tiếng xe cộ từ phía hướng tay phải. Tôi đã ước tính chính xác, tôi biết mình hơi đi chếch về hướng Tây Nam và giờ nầy còn kịp lúc để đổi hướng. Định phương hướng không phải chỉ sử dụng thị giác, có lúc cần phải vận dụng cả thính giác và xúc giác, tôi đang nghe để đi về điểm chuẩn. Trời đã sáng tỏ, mặt trời lên cao ở phía sau lưng.
Tôi nhớ lại lúc còn nhỏ, sáng sáng ra sân đứng “kênh” mặt trời. Để chế ngự người đổi diện, mắt là phương tiện tối hữu hiệu. Muôn dùng mắt chế ngự con người, trước hết phải tập chế ngự mặt trời. Những ngày đầu, tôi nhìn mặt trời vào buổi sáng, và mắt phải nhấp nháy liên tục để chống lại những tia sáng chói lòa, nhưng về sau, tôi có thể quắc nhìn mặt trời đứng bóng mà mắt vẫn trơ trơ. Sự luyện tập mắt đưa đến một vài hậu quả khác thường. Có nhiều cô gái bảo tôi:
– Mắt anh như có lửa, có ruồi. Mỗi lần anh nhìn em, mắt anh nhìn đâu em thấy nóng như bị lửa đốt và nhột nhạt như bị ruồi bâu.
Thế mà sau nhiều năm tháng khổ hình đày đọa, nào biệt giam phòng tối, nào phải ngụp lặn trong những thửa ruộng bùn sình dơ bẩn, đôi mắt tinh anh, mạnh mẽ ngày xưa giờ đã yếu kém, mệt mỏi. Mới đây, tôi nhận được một bức thư từ một người con gái Tây Đức, đề cập đến đôi mắt mình:
– Em không phải là loại người con gái gặp ai cũng yêu. Nhưng nhìn hình anh trên Reader’s Digest, đôi mát buồn của anh đã đi vào trái tim em!
Con đường quốc lộ chạy song song với đường xe lửa. Người bên con đường nầy trông thấy người bên con đường kia và trên đường nầy chỉ còn có một mình tôi. Đi trên đường rầy xe lửa, thoải mái và nhanh nhưng tôi không thể đi lâu, bởi trên đoạn nầy chắc chẳng có ai đi như vậy. Do đó tôi phải tuột xuống bên trái đường rầy, lợi dụng cái hào sâu khô nước chạy giữa đường xe lửa và ruộng lúa để đi. Con đường trũng thuận tiện vì cây cối mọc che khuất hai bờ, tôi đã chọn một thời điểm đúng như một sự sắp đặt của Đấng Bề trên, bởi vì con đường hào vừa đúng thời kỳ khô ráo nhưng vẫn còn vài vũng nước. Nhờ khô ráo, tôi không phải lội nước, lội sình vất vả khó khăn, và nhờ vài vũng nước nên thỉnh thoảng tôi còn có chỗ giải khát dọc theo đường. Có những vũng nước khô rút lại bằng cái rỗ, những con cá nhỏ quần tụ lúc nhúc tranh nhau chút nước cuối cùng, như thể linh cảm được ngày tàn sắp tới, sau cơn nắng gắt nay mai. Tôi ngồi xuống, từ tốn lượm từng con cá nhỏ bỏ vào miệng ăn sống theo kiểu Sushi Nhật Bản.
Tôi đến đúng lúc mùa gặt lúa vừa xong, mọi người nghỉ ngơi sau những ngày rộn ràng mệt nhọc. Nếu sớm hoặc trễ hơn, bao nhiêu Nông dân, Du kích trên đồng có thản nhiên bàng quan với một kẻ lạ khả nghi đang rong ruổi trên vùng đất của họ hay không? Thỉnh thoảng một con đường đất rẽ từ quốc lộ vào buôn, cắt ngang hào, ở những chỗ nầy tôi phải cẩn thận. Con đường vắng có dâu vết lạ: Dấu chân của một con chó và một con người đã khô cứng lại. Họ đi đâu theo lối nầy suốt một quãng đường dài trên mười lăm cây số? Tuần tra chăng? Buôn lậu chăng? Hay họ cũng đi trốn như tôi?
Xe trên đường chạy tấp nập, đặc biệt không có xe đạp bởi xe đạp cũng gởi trên xe Honda thồ hoặc xe đò. Nếu đi xe đạp, tôi vẫn là người đi xe đạp duy nhất trên đoạn đường xa lạ nầy. Đường có nhiều trạm gác nhỏ. Theo các Bộ đội VC đào ngũ ở tù Aran, con buôn đi ngang mỗi trạm chỉ cần đóng một riel, nhưng đi suốt lộ trình, con số riels đã lên đến hàng trăm. Ngoài một số nằm dọc theo đường, những phum làng còn nằm cách xa trục lộ vài cây số và Doanh trại Quân đội Nhân dân Việt Cộng thường đóng đầu phum.
Có những đoạn đường xe lửa và xe hơi quá gần nhau, những cây gai dưới hào sâu mọc lan tràn bít lối, tôi phải tách ra xa, đi len lỏi giữa các lùm cây, bụi cỏ tranh cao. Đến một vị trí tưởng chừng là biên giới Miên—Thái, có một con đường đê cao và một ngôi nhà nằm chơ vơ giữa đồng trống, nhịp độ xe giảm dần. Trong thời gian trước khi đi vượt biên, thời gian ở Nhà tù 7708, tôi thường dò hỏi những đặc điểm của biên giới. Có người bảo là một con đê cao ngăn chia hai nước, có người bảo là một chiếc cầu, là một cánh rùng. Có nhiều đoạn cỏ quá thấp, tôi phải đi lum khum hoặc bò chậm chạp bởi vì thỉnh thoảng lính gác đạp xe đi tuần tiễu quanh khu vực. Trời nắng gay gắt, nước bắt đầu khó kiếm. Mỗi lần gặp vũng nước, tôi phải uống lấy uống để, uống xong, ngưng lại lấy hơi uống tiếp, uống đến lúc nào bắt đầu ói mửa mới thôi. Từ khi bỏ xe đạp, tôi chẳng còn gì để đựng nước uống. Ngoài hai tô hủ tiếu sáng hôm qua, tôi chẳng có gì để bỏ vào miệng ngoài mấy con cá sống, suốt ngày hôm sau, tôi vẫn phải nhịn đói để đi. Nhịn đói suốt ba ngày đêm để đi liên tục, lần đầu tiên tôi nhận chân được giá trị tiềm tàng của sức khỏe bản thân trong tình trạng đói khát, mệt mỏi, thần kinh luôn luôn căng thẳng.
Tôi trở lại đường xe lửa khi đoạn đường tương đối an toàn, thỉnh thoảng vài tiếng đại bác vọng lại mơ hồ. Các chú con nít vùng nầy có vẻ cảnh giác, hoặc hiếu kỳ, vì mỗi khi tôi đi ngang, chúng đều nhìn tôi chăm chú. Tôi đi tiểu liên miên, mặc dù chỉ đi tiểu khô bởi vì đi tiểu là một thế đứng tốt nhất để dò thám quan sát. Nếu có gì đáng nghi ngờ, tôi phải sẵn sàng để bôn tẩu. Những chú bé dắt trâu đi cùng một hướng, lâu lâu quay lại nhìn tôi một cách kỳ cục, tôi lại phải giả vờ đi cầu để chờ các chú đi khuất hẳn. Về chiều, trâu bò và mục đồng khắp nới lũ lượt trở về làng. Đường quốc lộ và đường xe lửa song song chạy xuyên qua làng Mimit, tôi bọc trái vòng phía ngoài phum để tránh các trạm kiểm soát đầu làng, cánh đồng trống trải thênh thang lác đác một vài bóng cây, nhuộm màu tím thẫm.
Mặt trời đang lặn. Đã lâu lắm tôi mới được chiêm ngưỡng lại một chân trời tím. Một buổi chiều thời thanh xuân mộng mị, đang đi lang thang, tôi chợt bắt gặp một bóng giai nhân. Nàng đi về hướng mặt trời, một mặt trời rực rỡ trong bầu trời chiều màu tím kiêu sa man dại, dáng nàng lồng trong bóng mặt trời. Tóc dài, mượt mà tung bay cùng tà áo trắng, bàn tay cầm nón nghiêng nghiêng.
Những đường nét, vóc dáng thanh lịch tuyệt vời, đại lộ chiều rộng thênh thang chỉ một mình nàng độc hành. Màu tím lộng lẫy của chân trời được cẩn bạc lóng lánh bằng những cụm mây tuyết. Tôi đứng ngẩn ngơ rung động nhìn nàng đắm đuối. Bóng dáng yêu kiều diễm lệ mờ dần, nhỏ đần, chìm lẫn vào bóng hoàng hôn. Tôi chưa từng gặp và chẳng bao giờ gặp lại nàng nhưng buổi chiều hoàng hôn màu tím, mấy mươi năm, vẫn sống động dạt dào trong xúc cảm đắm mê.
Màu tím thẫm dần và hòa lẫn vào bóng tối màn đêm. Một con đê thật cao chạy vắt ngang đằng trước, tôi bò chậm rãi, bờ đê vắng người, bên kia là dòng sông rộng, có một chiếc thuyền nhỏ lẻ loi. Có phải đây là biên giới Thái— Miên? Sisophone cách biên giới 45 cây số. Tôi đi suốt một đêm, một ngày với tốc độ khá nhanh, tôi suy luận như vậy, nhưng thật lạ, từ con thuyền kia, có tiếng người vọng lại, cái tiếng Bắc của lính Cộng Sản:
— Đù mẹ, hồi năm 75 tớ giết biết bao nhiêu thằng Ngụy.
Một thoáng thất vọng, bối rối lướt qua. Kẻ thù nguy hiểm hiện diện khắp nơi, tôi một mình đương đầu với một thế lực lớn như con châu chấu trong câu ca dao ưa thích nhất, có dạo đã trở thành biểu tượng riêng của mình:
– Nực cười châu chấu chống xe. Tưởng rằng chấu ngã, ai ngờ xe nghiêng.
Tôi đi về tay phải, cần đi gần đường chuẩn để khỏi lạc lối, và hơn nữa, càng về phía phải, con sông rộng mênh mông càng hẹp dần. Cứ khoảng hai mươi thước tôi lại ngồi thụp xuống, ép tai sát xuống đất nghe ngóng và quan sát đằng trước. Vào ban đêm, từ dưới thấp nhìn lên sẽ thấy rõ hơn nhìn từ cao xuống và đôi tai lúc nầy còn hữu dụng hơn đôi mắt, để phát giác sự di chuyển của đối phương. Cứ theo phương thức đó, tôi đi gần đến đập nước lớn, không thấy lính canh, tôi chống tay bò chậm qua đập. Có tiếng nhạc vọng lại từ một chiếc radio và ánh sáng của ngọn đèn bão từ một gian nhà nhỏ. Tôi đi qua nhàn rỗi như một kẻ đi hóng mát,
gặp một cổng không có lính gác, tôi thối lui và men xuống bờ sông cỏ mục rậm rạp nghiên cứu tình hình. Một lúc sau, có tiếng chân từ cổng đi lại. May quá, tôi đã ẩn nấp kịp thời trước khi tên gác trở về, tôi quyết định bơi qua sông. Cởi tất cả áo quần, tôi đội lên đầu và lấy khăn cà ma cột choàng qua cằm, bơi chậm, nhẹ nhàng cố không gây tiếng động. Đêm tĩnh mịch âm vọng những xao động nhỏ bé nhất của tiếng nước khua. Nếu lặn qua sông, sẽ ít gây tiếng động, nhưng tôi cần giữ quần áo khô để mặc. Bên kia bờ là một bến tắm vắng vẻ, tôi vẫn ở truồng cho tiện. Sau con sông nầy, có lẽ còn phải vượt nhiều sông nữa, tôi nghĩ vậy, nên bước lên bờ trần truồng. Trời tối đến nỗi khi nhận ra bốn người đang hướng về phía bến, tôi không kịp lánh mình, chỉ kịp thối lui xuống cạnh sông, ngồi xuống vờ kỳ cọ như đang tắm. Bốn tên mặc đồ Bộ đội, nhỏ người vừa tới nơi. Họ nhìn thấy tôi mập mờ, dừng lại:
– Ai đó? Một giọng hỏi.
Tôi lúng túng chưa tìm ra cách đối phó, nên vẫn im lặng. Lại có tiếng khác:
– Đứa nào tắm đó.
À! Tôi chợt nhận ra một điểm lạ trong giọng nói, cái giọng ấp úng run run như đang bị tràn ngập bởi cơn sợ hãi. Tôi nhanh trí đoán ra nguyên nhân. Giữa đêm tối đen, một con vật kỳ lạ, phần dưới là một thân người trần truồng, phần đầu là một khối đen xù xì to lớn. Tôi nhảy chồm đến tên gần nhất, vồ hù nó với tiếng rú kinh rợn ma quái:
– Whooo… ooo… ooo!
Bốn tên mặc dù có súng cũng hoảng hồn chạy tán loạn và tôi chạy biến về hướng ngược chiều. Lội qua một áo rau muống tôi ẩn mình trong một khu vườn rậm rạp. Mấy phút sau, một đám đông nhốn nháo với đèn pin, đuốc sáng rực:
– Ở đâu, ở đâu? Nhiều giọng hớt hãi hỏi lớn.
Tiếng trả lời vẫn còn run rẩy sợ hãi:
— Ở đây. Đây nầy. Rõ ràng là MA, nó vừa vồ tao. Một con ma rà trần truồng, tóc tai rũ rượi. Khiếp quá!
Tôi cố nín cười đến tức cả ngực, thật là chuyện quái đản. Chính tôi, tôi cũng không ngờ được cái phản ứng linh hoạt của mình trong một trường hợp xuất thần như vậy. Bỗng nhiên, tôi nhận ra mình đang ở giữa một Doanh trại Bộ đội rộng lớn của Việt Cộng với nhà ván hai tầng chung quanh rộn rịp bóng người. Ngày mai là Giao thừa và tối nay có đãi những món ăn Tết. Lính Cộng Sản biết rõ, nhớ rõ ngày nào và mấy ngày trong năm được ăn no, có thịt. Nhiều ngày trước lễ, họ nôn nao chờ đợi, bàn luận và tưởng tượng. Cuộc sống thiếu thôn đã tập cho họ những thói quen, lối suy nghĩ, cách sống lẩn quẩn chật hẹp. Có người suốt ngày chỉ bận bịu với ấm nước trà, với điếu thuốc lào và tự xem đó như một phong thái sống phong lưu. Có người thèm thuồng quá mức nên phải ăn hàm thụ, nghĩa là kể đi kể lại không chán những món ăn thích khẩu mà mỗi ngày họ mơ ước được ăn.
Nỗi đau nấy đâu phải của riêng ai. Không những “Mỗi lứa tuổi đều có một nỗi đau riêng,” thông thường, mọi người dân Việt Nam dưới chế độ hiện tại, giờ phút nầy, đều có cùng một nỗi đau chung. Không phải chỉ Sĩ quan, Binh lính hay Nhân viên Chính quyền cũ Sàigòn, hay Dân chúng miền Nam mới khổ, mà chính miền Bắc, những Bộ đội, Công nhân, Nông dân Xã hội Chủ nghĩa cũng cùng chung số phận. Những tên lính gác đêm đêm lén ăn cắp mì của tù để ăn, những nhân viên cấp lớn cũng phải bịa đặt những lý do có vẻ chính đáng để được tổ chức những buổi tiệc để được ăn uổng đớp hít, bởi vì đói và thiếu thốn là căn bệnh trầm kha chung của Chế độ Cộng Sản.
Tôi định chờ khuya sẽ tìm cách lọt ra ngoài nhưng nếu không ra kịp thì sao? Tôi phải nằm kẹt trong này suốt ngày và sẽ bị bại lộ! Tôi nhịn đau bương qua các bụi tranh chằng chịt dây mắc cỡ, gai móc, cào làm sướt da thịt, rách áo và vướng bước đi. Bò qua sân nhà bếp trong ánh sáng lờ mờ của một ngọn đèn dầu, tôi băng qua một con lộ bằng đất rộng và đi xuyên về hướng những cánh đồng. Theo đường mòn dọc theo mương nước, nửa giờ sau, tôi gặp xóm nhà nhỏ đầu tiên, quẹo phải tìm đường xe lửa làm chuẩn. Một hàng bóng đèn tù mù nằm cách đều trên đoạn đường vòng cung. Có phải đèn biên giới không? Tôi đi tìm đường lầy, nhưng lại gặp một con lộ lớn khác.
Những gian nhà tranh nằm dọc bên kia lề đường, thì ra chỉ là ánh đèn từ những ngôi nhà nầy. Tôi lần mò đến gần nghe ngóng, tiếng trò chuyện bằng tiếng Miên làm tôi phân vân thắc mắc. Tôi đã qua đê, qua sông, qua lộ lớn như những lời diễn tả về đặc điểm của biên giới, nhưng cuối cùng tôi vẫn còn trên đia phận Kampuchia! Tôi đi theo khoảng đất trủng cạnh đường lộ về hướng Tây và nhà cửa vắng dần, đường đi bắt đầu có chướng ngại vật, những giây kẽm gai, cọc tre, phên đăng rào ngang chận bắt cá. Tôi đành bước lên lộ lớn đi tiếp, thoải mái nhưng nguy hiểm. Tôi vừa nghĩ vậy thì bỗng phát giác một thanh gỗ chận ngang đường, có treo tấm bảng tròn vẽ dấu hiệu dừng lại. Tôi ngồi thụp xuống đất với ý định, nếu chưa bị phát hiện, tôi sẽ bò qua cổng gác và đi tiếp nhưng một tiếng quát lớn vang lên:
– Nẻ na? (Ai đó?)
Tôi đứng lên thản nhiên bước tới.
– Bòn tâu na? (Anh đi đâu?)
– Tâu te. (Về nhà.)
Tôi vừa trả lời và khom mình lách qua thanh cổng gác tiếp tục
đi.
– Xốp! (Dừng lại!)
Tôi bật chạy đồng thời với tiếng cơ bẩm lên đạn, những tràng đạn bay xối xả trên đầu. Bên trái đường, cách một trăm thước là xóm nhà nhỏ, tôi chạy nép về phía lề trái. Phần trời tối không thấy, phần sợ đạn lạc vào khu nhà dân, tên lính gác chỉ bắn những lằn đạn lửa bay vun vút bên phía phải. Tôi bèn rẽ qua trái chạy theo một đường mòn nhỏ biến mất, tiếng chửi thề của tên gác còn vọng lại rõ ràng. Đợi tình hình lắng dịu, tôi len lỏi qua khu nhà, có nơi phải đi sát vách để tránh chướng ngại vật ngổn ngang trên sân, vườn. Tôi gặp một đường xe bò đi ra khỏi làng.
No-Man’s Land, Vùng Đất Tử Thần
Đường chạy đúng hướng Tây, cỏ tranh hai bên đường cao quá vai, cỏ ở giữa hai lằn bánh xe cũng đã mọc xanh tốt vì đường không được sử dụng thường xuyên. Con đường tiến dần vào rừng, với cây thưa giữa những tàn lá cao, ánh sao đêm lập lòe nhấp nhánh, đây đó những đốm lửa sáng như những ngọn đuốc lớn. Ngày vượt ngục Trại tù A30, tôi xuyên rừng ban đêm để đi ra lộ lớn, những ánh đuốc đêm lần đầu tiên trông thấy làm tôi chùn bước ngại ngần. Phải chăng là những đống lửa sưởi ấm của bọn lính đi kích đêm hay của một trạm kiểm soát? Sự thật là, để luôn luôn có lửa sẵn dùng, người đi rừng đốt những bộng cây chết khô để giữ lửa, có lúc gió lớn, gỗ khô toàn cây bốc cháy như một cây đuốc vĩ đại. Phải đi đêm, đi rừng mới thấy cái tính chất thiết yếu của lửa, mới thấy thâm thìa hai câu thơ:
– Em ơi “lửa tắt,” bình khô rượu.
Đời vắng em rồi, vui với ai?
Tốỉ như đêm 30. Hôm nay 29 Tết, nhưng càng vào sâu, bầu trời càng đen như mực, mắt tôi không còn phân biệt được lối đi, có lúc đi lệch, chân vấp vào mu đất lấp xấp cỏ thấp giữa đường, tôi phải dùng cùi chỏ tay trái để giữ hướng. Khi cùi chỏ chạm mạnh vào tranh, có nghĩa là tôi sắp sửa lũi vào lề trái, khi cùi chỏ mất cảm giác đụng chạm, tôi sắp lệch qua phải. Đi và định hướng bằng cùi chỏ tạo nên cảm giác lềnh bềnh lều bều như đang đi trên những chiếc phao nổi trên sông bởi đường gồ ghề, thấp cao, khi hụt hẫng, khi vấp váp.
Rừng vắng ngắt, tiếng tắc kè, tiếng vượn hú nghe âm vang rờn rợn. Đường có lúc vòng vèo sang trái, lúc quanh co sang phải tùy địa thế, nhưng tính bù trừ lại, vẫn theo đúng hướng Tây. Bỗng nhiên chân tôi bị vấp mạnh, người bắn lên và rơi xuống. Cái gì đây? Tôi ngồi xuống dùng tay mò mẫm, sờ soạng tìm thấy một sợi dây thép giăng ngang đường, tầm cao nửa đầu gối, như vậy là có chận đường, có kiểm soát. Tôi quan sát chung quanh chẳng thấy bóng người, chẳng thấy bóng nhà, bóng chòi, cách chừng vài trăm thước, tôi lại bị vấp nữa. Một điềư lạ là mặc dù mệt mỏi, nhưng phản ứng cơ thể khá nhanh, chân vừa vấp vào giây, cả người tôi đã phóng bay lên như một diễn viên có cột dây kéo lên trong những pha phi thân trên sân khâu, và rơi xuống nhẹ nhàng, không bị té. Bị vấp ba lần bởi giây thép chặn đường chưa đủ, tôi lại bị vấp lần thứ tư bởi một cảm giác khác lạ. Tôi lại ngồi xuống dùng tay mò xem, thấy một cái nạng cây chẻ hai được đóng thấp giữa đường.
Quá nửa đêm, gặp một dòng suối khô cắt ngang đường, tôi chọn hướng rẽ trái, đi một đoạn, thì hoàn toàn lạc lối và lạc hướng, xung quanh tôi là rừng tre rậm. Phương hướng bây giờ chỉ là sự tính toán trong đầu, tôi cộng trừ bao nhiêu lần rẽ trái, rẽ phải để ước đoán mình đang đi về hướng nào. Cùi chỏ tay không còn hữu hiệu vì những nhành tre gai nhọn, tôi phải đi đến lúc nào gục xuống như một thân cây bị đôn đứt lìa bởi một nhát rìu bén ngọt. Tôi đang ở giai đoạn cuối của cuộc đua, thắng hay bại chỉ lệ thuộc vào nỗ lực cuối cùng.
Bị kẹt lâu trong rừng, sự đói, khát, càng ngày càng trầm trọng. Tôi lượm một nhánh cây gãy cầm ở tay phải quơ qua quơ lại dò dẫm đằng trước, đồng thời dùng tay trái gạt lên gạt xuông liên tục để bảo vệ mặt mũi khỏi những nhành tre đầy móc gai nhọn. Tôi nhắm mắt đi quờ quạng như nhân vật “Hiệp Sĩ Mù nghe gió kiếm” của điện ảnh Nhật Bản. Cây gậy trở thành cặp mắt của người đi đêm, và xúc giác giờ nầy trở thành bộ phận độc nhất để dẫn đường. Có nơi chỉ có một lỗ trống nhưng tôi phải bò sát đất để chui qua, mấy tiếng đồng hồ đi trong trạng thái mò mẫm tối tăm làm tôi chóng mặt quay cuồng. Tôi hoàn toàn không còn ước định được phương hướng, tệ hơn nữa, tôi còn không tìm được cái khoảng trống mới chui vào để thoát ra. Gai góc như kẻ thù bao vây tôi, rồi gai góc cuối cùng trở thành người bạn che chở tôi. Tôi đành nằm xuống nghỉ mệt.
Trong thời gian chạy và bương bả đi vào rừng, tất cả mọi nỗ lực đều tập trung vào một đối tượng duy nhất: Việt Cộng. Kẻ thù đã thu hút tất cả mọi ý nghĩ, ưu tư, cảm giác của kẻ trốn chạy nhưng khi nằm xuống một chỗ an toàn, ngoài tầm tay sát hại của con người, những đối tượng khác xuất hiện ngay. Tiếng chim kêu, vượn hú lạc lõng trong rừng sâu làm cho bóng tối càng thêm phần ma quái, đe dọa. Tôi nghĩ đến những loài rắn độc đang trườn bò dưới những lớp lá rừng ẩm mốc, loài hổ beo đang rón rén từng bước tính toán để vồ chụp con mồi lạc lõng. Tôi nhớ đến Xuân, một anh bạn cũ, cao lớn gần 30 tuổi, thế mà mỗi lần đi tiểu đêm ở dãy nhà vệ sinh bên ngoài lại phải năn nỉ nhờ cậy một người khác đi theo vì sợ ma! Mặt đất ẩm lạnh lẽo, rừng khuya âm u sương giá, tôi nằm co rút người, run lật bật. Cái run rẩy của thể xác không chỉ đến từ thời tiết lạnh lẽo mà còn do nỗi sợ hãi vô cớ nào đó vừa lướt qua, và sự yếu đuối chỉ đến một thoáng là biến mất. Tôi đã trấn tỉnh được tinh thần, suốt cả quá trình dấn thân tranh đấu, tôi đã trải qua bao nhiêu hiểm nghèo, bao nhiêu gian truân vất vả, sự luyện tập hàng ngày đã có ảnh hưởng tốt đẹp trong những giờ phút cần thiết!
Cơn mỏi mệt quá độ dần dần đẩy lùi tất cả nỗi lo toan, chiếm toàn bộ trí não. Tôi ngủ vùi bất kể trời đất. Trong cơn mơ màng, tôi nghe tiếng gà gáy đằng trước, như vậy tôi đã đi đúng đường, sắp đến một thôn làng thuộc địa phận Thái Lan. Lát sau lại có tiếng gà gáy bên phải, rồi bên trái. Quanh đây chắc có nhiều phum, bỗng nhiên có tiếng gà gáy hướng đàng sau tôi vừa đi qua. Tôi chợt hiểu và nhận ra sự thông minh ngớ ngẩn của mình. Gà rừng! Đúng rồi, tôi đã từng ăn bao nhiêu trứng gà rừng trong nhũng ngày lên rừng làm công tác trại tù.
Trời sáng dần, mặt trời nhô lên dưới những tàng cây cao, tôi chui ra khỏi lùm tre và thích thú khi thấy một con đường mòn hiện ra trong vòng hai mươi thước. Tôi đi thong thả như một người đi dạo để hưởng cái cảm giác hào sảng của buổi sáng đẹp trời trong một khu rừng thanh vắng. Chim bướm bay lượn chập chờn, những chú sóc nhảy nhót trên cây, cái hạnh phúc thanh thản bình yên đã gột rửa những cảm giác mệt mỏi, ưu tư. Đường đi rộng rãi, trên đường mòn vương vãi đây đó những bọc ni lông, vỏ thuốc lá, nước ngọt. Vài nơi, còn có những manh áo quần rằn ri treo lủng lẳng trên những nhánh cây thấp, những dấu vết vừa cũ vừa mới. Đây là một con đường buôn vẫn còn được sử dụng. Tôi chợt nghe tiếng xe. Trời ơi! Tôi sắp ra khỏi rừng rồi sao! Tôi bước cuống quýt, hớn hở, tiếng xe nghe đó rồi mất đó, cuối cùng, tai tôi cứ lùng bùng vì thể xác quá mệt mỏi. Có lẽ nào? Giống như một người đi bộ trên sa mạc nắng cháy, cơn khát nước, cùng những qui luật khúc chiết, phản xạ của ánh sáng đã tạo ra những hồ nước ảo ảnh và tôi đang bị ảo giác về thính giác?
Càng lúc tôi càng không còn phân biệt, nhận định được, đó là tiếng xe cộ hay tiếng động lạ của núi rừng, bởi vì tiếng động chợt vang dội rồi biến hút, có đó rồi mất đó. Vị trí cảnh sắc trước mặt có phần biến đổi, một khoảng rừng rộng bị đốt còn nham nhở, đó đây còn mùi của cỏ cây cháy khét, một vài lượn khói nhỏ leo lét vươn lên mệt mỏi. Tôi lượm vài chú ốc, nhái bị nướng chín vì không kịp thoát thân, tôi phủi sơ sài lớp tro đen, bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến. Cơn khát nước vật vã đã làm cho những miếng thịt cháy đen trở thành đắng nghét, và làm cổ họng khô rát.
Bất giác nghe tiếng nói chuyện, tôi ngồi thụp xuống đất núp và quan sát. Bốn thanh niên mặc đồ dân sự, áo sơ mi màu xanh, đỏ, vàng sặc sỡ, vai mang súng dài đang đứng chỉ trỏ về những hướng chung quanh. Không nghe rõ, tôi không đoán được họ nói tiếng gì nhưng rõ ràng là da họ không được trắng, họ bắt đầu đi ngược con đường tôi định chọn đi. Tôi mặc áo quần đen, nằm co rút sau một bụi tranh cháy sém đen thui, cách đường trong vòng năm thước mà họ không thấy. Màu tro đen và màu người lem luốt hòa lẫn nhập nhằng với nhau, tôi đợi họ đi khá xa, mất hút mới lên đường đi tiếp.
Đến Biên Giới Miên-Thái
Đi chừng vài trăm thước, tôi bỗng phát hiện hai người lính trẻ, mặc đồ treillis, mang súng, đứng ở đoạn đường trước mặt. “Nguy hiểm,” tôi tự nhủ và quyết định rời đường mòn băng xuyên rừng.
Rừng chằng chịt những cỏ tranh, bụi tre, cây gai và lác đác những tàn cổ thụ lớn. Đi theo đường mòn không có mìn bẫy nhưng có trạm gác, đi băng rừng tránh được người nhưng phải đối diện với sự rình rập của những khối sắt thép vô tri sẵn sàng hủy diệt sự sống một cách máy móc.
Thời gian đầu ở tù Lam Sơn, tôi đã tình nguyện vào Đội gỡ mìn để học nghề, trong khi những tay chuyên nghiệp lại cố tình trốn tránh. Gỡ mìn theo phương thức của Cộng Sản thật đơn giản, họ đơn giản hóa vì mạng sống của một con người, đặc biệt của một tên tù, đối với họ đơn giản, chẳng có giá trị gì, chết đứa này còn đứa khác, chết càng nhiều càng tốt. Dụng cụ gỡ mìn là những thanh tre vót nhọn dùng xăm nghiêng mặt đất chừng 30 độ hoặc dùng lưỡi liềm móc đất. Nếu đụng vật cứng, sẽ moi đất chung quanh để lấy lên, thường thường chỉ moi trúng đá, thỉnh thoảng mới moi được một trái mìn trên bãi mìn phòng thủ cũ. Sau vài ngày, coi thường nguy hiểm, tôi dùng cuốc để lật đất cho nhanh. Tôi làm sớm nghỉ sớm, đủ chỉ tiêu diện tích trong buổi, tôi kiếm chỗ ngồi nghỉ, trong khi các bạn trong toán cứ mò mẫm, xăm xoi tỉ mỉ. Có lần vừa cuốc xong miếng đất, bỗng có tiếng gọi trở lại khẩn cấp, người trưởng toán dẫn tôi đi ngược con đường, chỉ tôi xem dấu chân mình cách hai trái mìn không quá ba phân, tôi cười pha trò:
— Số moa lớn lắm. Đâu chết được!
Tôi tin mình khó chết, nhưng bạn bè lại nghĩ, bản thân họ thật dễ chết nếu để tôi làm chung toán gỡ mìn. Họ yêu cầu Quản giáo loại tôi ra khỏi Toán, hoặc họ sẽ xin rút lui khỏi Toán vì họ không muôn đùa với Tử Thần. Từ đó tôi đã có khái niệm về cách gài mìn, vị trí gài mìn và cách gỡ mìn, tránh mìn. Đi qua những nơi có mìn, điều căn bản là phải tránh những gốc cây, những ụ mối, những lùm cây rậm. Mìn thường gài ở những chỗ ẩn núp, trốn tránh tốt, kín đáo. Những nơi trống trải, thưa thớt, ít được gài, và nếu có, cũng dễ phát hiện. Biết kỹ thuật là điều cần thiết, nhưng cái vận hạn của con người lại có phần quyết định hơn. Tôi không thể ngồi xuống, cẩn thận xăm đất trên một khoảng rừng cả chục cây số, cũng không thể chú ý hết những sợi dây gài mìn trong các trảng tranh lớn bạt ngàn. Một nửa tin vào sự nhạy bén, sắc sảo có tính cách kỹ thuật khoa học của bản thân, một nửa tin vào quyền năng của Thượng Đế, với số phận mình đã được định đoạt.
Đôi dép đứt quai nhiều lần không sửa được nữa đành phải vất bỏ, bàn chân bắt đầu nhói buốt vì những gốc tranh, gai góc dưới đất. Tôi phải đi chậm dần và nhón nhén từng bước. Tôi cảm thấy tiếc nuối bàn chân trần mấy năm về trước, trong những năm tù tội, tôi đã tập luyện cái đầu và cái chân của mình cho xứng đáng với câu “Đầu đội trời, chân đạp đất.”
Gần sáu năm, bàn chân trần đã dẫm đạp biết bao nhiêu gai góc, vấp váp bao nhiêu gốc cây, đá cục trên đường. Chân tôi có thể đạp gãy nhũng loại gai bình thường và chỉ thấy “ngứa” khi dẫm phải kẽm gai. Nhiều người tặng tôi dép, kể cả các tù nữ, kể cả các cô gái đi thăm nuôi khi nghe kể chuyện về tôi, tôi chỉ giữ chơi và biếu lại những người bạn cần dùng. Những người nằm ngủ bên cạnh đã than phiền đôi chân dày, cứng, dơ dáy bụi bặm không bao giờ rửa đó. Tôi trả lời:
— Tao chỉ cần giữ cho cái đầu sạch là đủ. Chú mầy chỉ suốt ngày lo đôi chân cho sạch mà lại bỏ quên cái đầu!
Đôi chân quí, đôi chân đã tạo thành huyền thoại, sau mấy tháng ăn nằm tại Sàigòn trong thời gian trốn tránh sự săn đuổi của bọn Công an Trại tù A30, đã lột, tróc hết lớp da vàng sần sùi dày cộm. Những vết nứt nẻ cũng biến dần vì thế mà giờ nầy tôi đang chịu đau đớn với những gốc tranh tầm thường, những bụi gai hèn mọn.
Những đồi tranh trùng điệp dày đặc làm tôi nhớ những ngày đi cắt tranh với từng hàng người nhễ nhại dưới cơn nắng hừng hực bốc lửa, chen chúc giữa những cụm đế, lác ẩm mốc để mót tranh. Gai nhọn, cạnh đế sắc bén cắt, cứa, đâm nát da thịt. Đói, khát hợp đồng hành hạ làm run rẩy những đôi chân xương xóc, những cánh tay rã rời, chiếc liềm vẫn ráng liếm soèn soẹt liên tục trong cơn chấp chới mê thiếp của thần trí.
Có đoạn đường tôi phải bò qua những lỗ hổng nhỏ giữa các bụi tre, giữa những nhánh nè đầy gai nhọn. Tôi nhớ nỗi gian nan vất vả ngày đi chặt tre. Thứ nhất chặt tre, thứ nhì ve gái. Mỗi bụi tre là một trận đồ bát quái, rối rắm khó vào, muốn tấn công phải từ ngọn đánh xuống, xông vào loạn đả ở gốc chỉ đem thương tích và thất bại về mình.
Tranh cao gần khuất đầu, tôi có lợi điểm hơn địch thủ. Đoạn nầy có nhiều đường chạy cắt ngang để các toán kiểm soát đi tuần tiễu ngăn chận sự đột nhập biên giới. Tôi đảo mắt quan sát về phía xa, những đọt cây cao nằm sắp hàng ngang trên đường chân trời cho tôi cảm giác lầm lẫn về giới hạn của cánh rừng. Bỗng dưng tôi phát hiện trên cây me lớn trơ trụi lá, một cái chòi gác nằm ngất ngưởng và một tên gác mặc áo màu xanh lục nổi bật như một con két đậu lẻ loi, tôi vội lẩn mình vào dãy bụi rậm. Nếu tôi phát giác trễ, y từ trên cao nhìn xuống, chắc chắn sẽ thấy tôi rõ mồn một, súng sẽ nổ và những toán lính sẽ bao vây, lùng kiếm.
Tôi nằm xuống nghỉ và trận đòn tra tấn của kiến đã có ảnh hưởng, hành hạ tôi trở lại. Tôi lên cơn nóng sốt và nhức chân trái, khoảng từ bắp vế đến trái chân, vết kiến cắn đã sưng lên làm độc. Tôi không duỗi chân thẳng được nữa. Thật khốn khổ, đang đi yên lành thế mà vừa nằm xuống một chốc, thay vì khỏe ra, chân tôi lại trở chứng một cách nguy hại. Tôi khát nước đến cồn cào cổ họng. Hơi nóng toàn thân đang thoát qua cổ, như một máy sưởi mở độ lớn làm rát bỏng những lớp màn mỏng trong thanh quản.
Từ chiều tối hôm qua, sau khi bơi qua sông đến giờ phút nầy, đã 40 giờ liên tiếp, tôi đi không hề nghỉ, đã nhịn đói gần ba ngày đêm. Trên đường đi, tôi cố lục lọi những lon, thùng, bịch ni lông vất bừa bãi mong tìm một chút nước cặn còn thừa sót. Người đã khô nước nên đi giữa nắng và đi nhiều giờ vẫn không hề có một giọt mồ hôi. Tôi nghĩ đến giải pháp uống nước tiểu như vẫn thường nghe nói nên bẻ một ngọn lá lớn làm phễu chứa nước tiểu. Chút nước tiểu vàng sẫm, hiếm hoi như đặc lại, vừa đến cổ đã nôn ọe ra ngay. Tôi ráng nuốt xuống một ngụm nhỏ chờ xem phản ứng cơ thể. Cái mùi nồng, cái vị đắng đặc biệt đó vừa đột nhập vào trở lại đã bị chận đứng tại cổ. Hình như cơ thể đã lên tiếng phản đối “Cái đồ cặn bã dơ bẩn kia ta đã kinh tởm, đã thải ra, tại sao giờ lại trở ngược vào ngõ nầy?” Thế là gan tim, phèo phổi ùn ùn quặn mình dùng sức đẩy lên. Sức nuốt xuông và sức đẩy lên giằng co nhau tại yết hầu và bỗng dưng “ựa” nước tiểu cùng đàm giải bị bắn vọt ra. Tôi nằm ôm lây cổ, hối hận. Ước gì tôi được khát như hồi nãy, một cái khát bình yên như con cá nằm lặng lẽ trên cạn chờ chết. Cái khát hiện tại thật hung bạo, nó quằn quại, bức rức như kẻ đã uống nhầm thuốc độc và giờ nầy thuốc độc đang công phá.
Cổ quá khô, tôi muốn nuốt nước miếng, nhưng hạch nước miếng đã ngưng hoạt động vì thiếu nước. Tôi muôn nhắc chân lên, nhưng chân như đang bị một khối đá nặng đè lên, mỗi lần nhúc nhích, đá càng đè nghiến đau đớn. Nhưng tôi không thể nằm chờ chết ở đây được. Tôi phải đi, phải đi nhanh vì tên gác đã leo xuống từ hồi nào. Tôi nghe tiếng xe, và đây là trạm gác, chắc chắn sau trạm gác là biên giới Thái Lan. Tôi cũng dự trù kế hoạch thứ hai, nếu hệ thống tuần tra biên giới quá nghiêm ngặt chưa qua được, tối nay tôi sẽ bò vào dãy Doanh trại phía bên trái trạm gác đó, và tôi nghe được tiếng radio, và tiếng nói chuyện, để kiếm thức ăn và nước uống cầm cự trong vài ngày. Tôi chống tay lết lại gần một thân cây, bám tay vào đó tìm điểm tựa để kéo người lên. Khi vùa đứng thẳng, máu tụ xuống vết thương làm tôi nhói lên từng cơn đau nhức. Cuối cùng tôi cũng đi được, đi khập khểnh một đoạn rồi ráng đi với vẻ bình thường.
Có một con đường đất cắt ngang, dọc đường có giây điện thoại. Bỗng tiếng xe gắn máy rồ lên, tôi vội tụt nhanh xuống cỏ ẩn núp. Một xe Honda tuần tiễu chay vọt qua, bên trái ở một góc khuất kín có trạm gác và hai tên lính đang ngồi. Tôi bò sát đất, vừa liếc nhìn vừa tiến tới, lăn chậm xuống mương và băng trảng tranh đi tiếp. Tôi đi qua trạm gác trên cây khá lâu mà vẫn còn lạc lõng trong rừng, có lúc tôi tự hỏi, còn bao nhiêu ngày nữa tôi mới ra khỏi đây được và tôi còn đủ súc chịu đựng bao lâu, sự thất vọng trải rộng cùng ánh nắng gắt muộn màng của chiều. Chợt có tiếng xe âm vọng lại, có tiếng trẻ con la réo một cách mơ hồ, có lẽ tôi mệt quá nên tôi mê thiếp trong lúc đang đi. Nhưng không, rõ ràng những tiếng náo nức đó càng lúc càng lớn dần và đột nhiên tôi thấy mình đã ra khỏi rừng, thấy những đám ruộng gặt xong vừa đốt rạ, có nơi còn ngún khói. Trong bóng tối chập chờn, tôi lảo đảo mỗi lần vấp mạnh vào những cục đất khô cứng. Ôi những cục đất khốn nạn, mà những ngày lao động ở trại tù Cộng Sản, mà những buổi trưa nắng gay gắt, phờ phạc, tôi đã phải tưởng tượng là nhũng cái đầu của bọn Việt Cộng gian ác, mới đủ sức nâng cuốc lên, ráng sức đập một phát thật mạnh cho tan nát thành từng mảnh vụn.
Đến Aranyapathet tỉnh địa đầu Thái Lan
Ánh sáng của đèn điện rực sáng trước mắt. Tôi đến gần ngôi nhà đầu tiên, vì đã bị hố nhiều phen, nên lần nầy tôi phải kiểm tra cẩn thận, mò vào sân một ngôi nhà có các cháu nhỏ đang tập hát. Bài hát Việt Nam do các cô ca sĩ thích nuốt lời, sửa giọng nghe còn không rõ, làm sao tôi phân biệt được các em bé đang hát tiếng Miên hay tiếng Thái khi vốn liếng tiếng Miên của tôi quá sơ sài. Bỗng có tiếng chó sủa, một con sủa rồi nhiều con sủa theo, làm tôi thối lui trở ra và ẩn mình cạnh mép bờ ruộng. Hai người Du kích nghe tiếng chó chạy ra, đứng trên đường sát ngay trên đầu tôi và soi đèn pin xuống thửa ruộng, bước qua trên người tôi để xuống ruộng và đi thẳng tới trước. Tôi bò theo mép ruộng đến vị trí khác, hai người Du kích săm soi từng lùm bụi, từng nhánh cây.
Tôi tin là mình đã tới đất Thái, bởi vì sáu, bảy năm sông dưới chế độ Cộng Sản, những người dân nghèo khổ đã phải ăn tất cả những thứ gì có thể ăn được, chưa kể đến những thứ không thể ăn được để rồi ngộ độc mà chết, huống gì thịt chó? Chỉ có những nước tư bản, có dư thừa cái ăn, cái mặc mới nghĩ đến chuyện nuôi chó để làm bạn, làm cảnh không tính đến việc ăn thịt. Tuy nhiên để xác định chắc chắn, tôi lẻn vào sau vườn ngôi nhà làm bánh tráng lắng nghe kỹ các lời đối thoại và biết là không phải tiếng Miên. Tôi bèn bò theo mép đường băng qua một vị trí khả nghi, gặp một hồ nước nhỏ, tôi lội xuống tắm, mặc kệ tiếng chó sủa đuổi dồn bên kia bờ.
Tôi vục mặt xuống nước uống cho đã khát, đã thèm. Chưa bao giờ tôi uống một hộp bia, một chai nước ngọt hay cả một ly Martell, Cordon Bleu, Champagne nào ngon lành như những ngụm nước hồ vẩn đục này. Phải, hạnh phúc thật khó tìm, nhưng hạnh phúc cũng thật gần gũi. Làm thế nào để biết thưởng thức những hạnh phúc đơn giản bình dị, tôi đã học được qua những trại tù Cộng Sản.
Có hạnh phúc nào không vươn lên từ đau khổ?
Và thăng hoa nào… không tổn thương?
Tôi đi ra đường cái quan và gặp lại đường rầy xe lửa. Hai bên đường nhiều ngôi nhà xinh xắn tiện nghi với ánh đèn sáng rực đằng xa. Tôi nghĩ đến Chợ Trời biên giới và tiến bước về hướng đó, tới nơi, lại gặp một chiếc cầu và một nút chặn của Cảnh sát soát giấy.
Tôi đành quay trở lại, định kiếm Chợ Trời để ăn uống, mua một bộ áo quần, đổi ít tiền để sáng mai tìm đường đi Bangkok. Gặp con đường quốc lộ rẽ làm hai nhánh, tôi phân vân lựa chọn. Đã đến một nước tự do, tôi có thể đi bộ, đi xe buýt hoặc xe lửa, chắc chẳng ai bắt tôi, vì tôi là người vượt biên đi tìm tự do! Tôi nghĩ vậy. Tôi định tìm người để hỏi đường, tôi cứ ngỡ người Thái nào cũng nói được tiếng Anh, nhưng khi gặp một bót gác rộng đúc bằng xi măng, có cửa kính và có mặt bàn rộng vắng người, tôi leo lên nằm nghỉ. Định ngủ một giấc, bỗng có người đàn bà trong tiệm tạp hóa đi ra. Tôi vội chạy ra chận đường hỏi bằng tiếng Anh, người đàn bà bỡ ngỡ nên tôi hỏi bằng tiếng Miên.
— Ở đây Kampuchia hay Thái Lan, thưa bà?
– Thái Lan. Bà trả lời bằng tiếng Việt. Cậu là người Việt Nam hả?
– Dạ đúng rồi.
– Cậu định đi đâu?
– Tôi đi vượt biên tìm tự do.
– Trời ơi, cậu không biết gì sao? Mới cách đây mấy tháng, 16 người vượt biên qua đây bị lính Thái bắt giết sạch. Cậu trở lại Việt Nam ngay đi, nguy hiểm lắm!
Tôi há hốc mồm kinh ngạc.
– Tôi là người Việt Nam thuộc chế độ tự do mà. Chúng tôi là đồng minh của Thái Lan, của Hoa Kỳ. Có lẽ họ giết bọn Bộ đội Hồ Chí Minh đó. Hồ Chí Minh thuộc phe Liên Xô, Cộng Sản.
Tôi phải dông dài giải thích bởi vì biết rằng, những người Việt kiều lớn tuổi ở nước ngoài đã lâu năm, nhiều người đã quên tiếng Việt và chẳng hiểu tí gì về tình hình đất nước.
– Cậu không phải Việt Nam Hồ Chí Minh à? Nhưng ở đây người Thái họ ghét Việt Nam lắm, cứ Việt Nam là họ giết ráo.
– Những người vượt biên qua đây được ở trong Trại Tị Nạn, vậy những trại đó ở đâu?
– Hồi trước thì có. Giờ nầy họ dẹp hết rồi, họ không cho tị nạn nữa.
– Dì có gì cho tôi ăn với, tôi nhịn đói đã ba bốn ngày rồi.
– Cậu đi theo tôi, nhưng nhớ đi cách xa xa. Coi chừng họ thấy là phiền phức, nguy hiểm cho gia đình tôi.
– Vâng. Tôi sẽ cẩn thận.
Người đàn bà nhìn trước ngó sau, vẻ sợ sệt. Tôi vừa vào nhà, bà vội khép cửa lại ngay. Ngôi nhà nhỏ nhưng thật đẹp, mỹ thuật. Trên giường có một người đàn ông đang ngủ. Bà đánh thức ông ta dậy và nói gì đó, người đàn ông nhìn tôi bỡ ngỡ.
– Chồng tôi người Thái, tôi cũng thường đi buôn vải theo đường cậu đi qua đó. Phải đút lót nhiều tiền, nhiều trạm mới qua được. Làm sao cậu đi qua đó mà họ không phát giác được? Hay thật! Lính gác đầy dẫy khắp biên giới!
Bà dọn ra một mâm cơm với năm món thịnh soạn. Tôi hỏi:
– Đồ cúng Tết đó hả?
– Đâu có. Đồ ăn thường ngày thôi. Bữa nầy mấy Tết rồi hở cậu?
– Dạ, tối Giao thừa.
Tết nhất đối với một số người Việt ở hải ngoại lâu năm đã không còn ý nghĩa gì nữa. Họ không thể giữ những thủ tục rườm rà đó nữa, vì họ là người Việt duy nhất trong nhà, trong xóm. Tôi tưởng mình sẽ ăn thật nhiều để bù nhũng ngày đói khát vừa qua, thế mà mới hai chén, tôi không thể nào nuốt thêm được nữa. Đang ngồi nói chuyện chợt có một cô gái chừng 18 tuổi, thật xinh đẹp đi vào. Khi đi ngang tôi, cô khom người người xuống chào thật lễ độ. Sự cung kính giống như một người mộ đạo đi qua một nơi thờ kính quá trang nghiêm. Tôi phải đổi chỗ ngồi, tránh gần chỗ đường đi, bởi cô bé mỗi lần đi qua, lại phải gập mình xuống một cách quá đáng.
– Tôi có thể ngủ nhờ đêm nay không?
– Chết! Không được đâu. Ở đây tụi an ninh đông lắm. Nguy hiểm lắm.
Người đàn bà lấy cho tôi một bộ áo quần tây hãy còn mới và
đẹp.
– Cậu thay đồ đi, mặc đồ đen dơ dáy đó ra đường người ta bắt ngay. Đây, tôi biếu cậu ít tiền, tôi sẽ đưa cậu xuông một cái chùa để cậu trú đêm. Cậu phải cẩn thận, nếu không người ta sẽ nghi ngờ. Việt kiều ở đây bị kiểm soát chặt chẽ, đi đâu cũng phải xin giấy tờ.
Người con gái đẩy chiếc Honda scooter ra. Cô ta lái xe, bà mẹ ngồi giữa và tôi ngồi sau cùng. Đêm thật lạnh, đường vắng vẻ, mùi thơm con gái được ướp bằng hương hoa của các loại xà phòng, nước hoa đắt tiền từ nhỏ theo gió tràn ngập khứu giác làm tôi đê mê, ngây ngất.
Tôi nhớ những năm tháng đã qua. Sáu tháng bị nhốt conex không hề được đánh răng, rửa mặt, tắm và thay áo quần. Người dơ dáy đến nỗi, chính tôi còn ngửi thấy được cái mùi hôi thối của thân thể mình. Và ngay cả khi đã trốn về được Sàigòn, tôi chỉ đánh răng bằng muối và ngay cả xà phòng cô Ba loại rẻ tiền, cũng không có đủ dùng. Tôi quen Vân, cô bé có mái tóc dài mượt mà như một dòng suối, mê nhất là được vục mặt vào suối tóc nàng. Những sợi tóc dài mềm mại thơm ngát che khuất hình ảnh bi thảm, rùng rợn của tương lai, xóa nhòa những nhục nhằn tủi cực của quá khứ. Mùi tóc thơm đến rợn người, bởi tất cả mỹ phẩm nàng dùng thường ngày đều được gởi về từ Mỹ Quốc. Tôi vẫn thường đùa giỡn:
– Dù có ghét Mỹ, người ta cũng phải mê “mùi” Mỹ.
Mặc dù không có đủ xà phòng, cái loại xà phòng rẻ tiền để tắm mỗi ngày, tôi vẫn cố dấu một chút kem đánh răng còn lại để mỗi dịp nàng qua, tôi chui vào buồng tắm, đánh răng thật kỹ. Thêm vào đó một miếng kẹo chewing-gum tôi phải dấu kỹ như một người nhà nghèo dấu mấy chỉ vàng hồi môn, chuẩn bị cho một nụ hôn thật trang trọng. Nhờ thế, mặc dù tồi tàn, tôi vẫn được nàng khen:
– Miệng “chú” hôn thơm và ngọt quá!
Phải ở trong hoàn cảnh thiếu thốn cùng cực, thiếu vệ sinh cùng cực, người ta mới biết thưởng thức và trân trọng cái mùi kem, mùi xà phòng rất thông thường và rất tầm thường tại các nước tư bản giàu có.
Chùa ở trong một vườn cây rậm mát, tôi chờ bên ngoài rồi sau đó được đưa vào một phòng nhỏ gần cạnh chánh điện để nghỉ ngơi.
– Cậu ngủ lại đây. Sáng mai tôi sẽ tới đón.
Trời tối, tôi không nhìn được bao quát ngôi chùa. Nhưng tiếng tụng kinh và mùi hương trầm phảng phất lại, đưa hồn tôi phiêu diêu tới vùng đất thanh tịnh, yên bình, thoát tục. Tôi trùm mền phủ người và có cảm giác như mình đang nằm trong cỗ quan tài, và ngoài kia, các sư cụ đang làm lễ cầu siêu an táng mình. Tôi đang chết để rồi thoát thai và tái sinh trở lại kiếp con người sau nhiều năm bị Cộng Sản tước bỏ danh vị làm người. Tôi có cái cảm giác của một người chết, biết mình đang chết, biết mọi chuyện đang xảy ra quanh mình, biết mọi nghi lễ đang chuẩn bị cho mình, và tôi cầu nguyện và tôi tri ân Thượng Đế về những hồng phúc đã nhận được.
Tôi là một kẻ ngoại đạo, nhưng số phận tôi cứ bị ràng buộc với tôn giáo. Ngày yêu Minh Châu, tôi bắt đầu yêu mến hàng trăm bậc thang đá cao dẫn lên Nhà Thờ Núi Nha Trang, yêu những giờ lễ nhạc và tiếng hát thanh thoát, phiêu bồng. Tôi cảm thấy cần thiết trong những lúc cô đơn, phiền muộn, lặng lẽ một mình đi vào nhà thờ, quì phủ phục trước tượng ảnh Chứa Giêsu bị đóng đinh trên thánh giá. Hình ảnh Chúa lồng lộng giữa những màu sắc lộng lẫy rực rỡ của giáo đường, đưa tâm hồn tôi vào chốn thanh thoát, gột bỏ hết những phiền lụy thế nhân.
Những ngày đi học, những ngày ở trại tị nạn Galang, tôi bước độc hành lên dốc đồi, đi giữa những tàn cây lộng bóng, nghe tiếng chuông chùa vang dội choáng ngợp mọi cảm xúc. Tiếng mõ, tiếng chuông, nhịp điệu đều đặn nhưng không đơn điệu, những âm thanh đơn giản nhưng không tẻ nhạt. Không khí thiền môn nâng cao tâm hồn con người, xóa bỏ những bon chen, tị hiềm, những bận bịu tầm thường. Một người bạn thân cũ có lần nhận xét về tôi:
– Toa có một đức tính lạ lùng, mà nếu đi tu, toa có thể trở thành Phật. Đó là toa không thù ghét ai. Toa yêu thương, thân thiện với tất cả mọi người nhưng không bao giờ dành một cảm tình đặc biệt riêng cho một cá nhân nào cả.
Tôi cười đáp:
— Moa mà đi tu, chắc các ni cô phải bỏ chùa hết.
Tôi có số nhờ cậy nhà chùa. Nhớ lần đầu tiên rời Huế, quê của tôi, vào Sàigòn để tình nguyện đi lính Không Quân. Trong thời gian chờ đợi ngày khám sức khỏe, tôi đã xài phí hết số tiền nhỏ nhoi của mình vào các thú tiêu khiển xa xỉ: Nhảy đầm và thuê xích lô đi dạo ngắm cảnh sắc Sàigòn. Tôi chỉ để đủ tiền mua vé xe về Quảng Đức thăm người anh, nhưng nhiều chuyến xe đò bị hủy bỏ vì đường mất an ninh, do đó người chủ xe, vì biết được hoàn cảnh của tôi, đã phải đãi tôi ăn uống và cho phòng để ngủ trong những ngày chờ xe. Sáng ngày lên xe đi, còn nhét thêm một ổ bánh mì lớn để đỡ lòng đường xa.
Năm 1964, thời kỳ mà cuộc tranh chấp giữa Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Việt Cộng còn ở giai đoạn tương đối êm dịu. Ban tối, Việt Cộng trở về bắt dân phá đường, đắp mô để chận đường tiếp tế. Sáng hôm sau, binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu dân phá mô, sửa đường để cho xe cộ lưu thông. Ngày phe Quốc Gia, đêm Cộng Sản, Dân chúng thôn quê một cỗ hai tròng, chẳng có quyền theo ai, chống ai. Xe bị kẹt đường, tôi phải theo đám hành khách chuyển sang phương tiện khác: Xe Lam chạy băng đồng.
Vì không có tiền, nên mỗi lần đi tôi phải chờ xe bắt đầu chạy, mới bám xe, leo lên nóc xe ngồi, và đến khi xe gần tới bến, tôi lại phải phóng từ nóc xe xuống đất để khỏi trả tiền. Đường lắc, dằn, xóc mạnh, tôi chịu thân người trên hai tay, phần để khỏi té văng xuống đất, phần không gây tiếng động làm người tài xế lưu ý. Ba lần nhảy xuống xe ở tốc độ nhanh và trong tư thế không thích hợp, tôi suýt bị trật giò và toàn thân đau ê ẩm. Không may, chặn xe cuối cùng, tên Tài xế xe đò đi tới bến xe Lam để đón khách nên thấy được chuyện đi xe “cọp” của tôi. Y cương quyết từ chối không cho tôi leo lên chiếc xe đò duy nhất đi về Quảng Đức của anh ta. Chờ y chạy, tôi lại bám vào sau xe, nhiều lần ngừng lại đuổi không được tên khách lì lợm, không tiền, anh ta bèn báo cáo với một tên Du kích Việt Cộng đang gác tại Bến Cát (vùng Bến Cát thời đó là chiến khu quan trọng nhất của Việt Cộng). Đồng chí Việt Cộng “ăn có” với đám tài xế xe đò bắt tôi xuống xe. Đây là lần đầu tiên tôi thấy Việt Cộng bằng xương bằng thịt. Cảm tưởng đầu tiên là sự khôi hài bởi vì vũ khí trang bị của họ thật thô sơ so với những lời tuyên truyền khoác lác, rẻ tiền của họ.
Trời ngả về chiều, tất cả xe bắt đầu rục rịch lên đường, bởi vì chốc nữa đây, như thường lệ, sẽ có những phi vụ khu trục đến thả bom quanh vùng. Dấu tích những tàn cây gãy, những hố bom chạy song song dọc đường quốc lộ vẫn còn mới mẻ. Mùi bom đạn và mùi tử thi vẫn còn phảng phất trong không khí âm u của núi rừng. Tôi bỗng nổi hứng bảo tên Việt Cộng:
– Anh đuổi tôi xuống xe, giờ nầy anh phải kiếm xe khác cho tôi đi. Nếu không tôi sẽ ở lì lại đây và anh phải nuôi cơm tôi vì tôi không còn đồng xu nào dính túi cả.
Có thời kỳ Việt Cộng chận xe đò bắt Dân vào vùng chiến khu bắt phải học tập chính sách vài ngày rồi thả về. Tôi đến không đúng vào thời điểm đó, và chính vì tôi dọa ở lì lại, càng làm họ tìm cách đuổi tôi đi càng sớm càng tốt. Tên Du kích, dẫn tôi đến gặp người Tài xế xe đi Ban Mê Thuột, bắt phải đưa tôi ra khỏi vùng, đến một làng kế cận thuộc quyền kiểm soát của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tôi xuống xe giữa một buôn làng xa lạ. Trời về chiều hiu hắt, buồn thảm. Tôi nghĩ đến đêm tối, lạnh lẽo, sương giá và tôi chợt nghĩ đến nơi luôn luôn mở rộng vòng tay để đón những kẻ lỡ đường bất hạnh như tôi: Nhà chùa! Và như mọi ngôi chùa thân yêu trên đất nước quê hương Việt Nam, tôi được dọn một mâm cơm chay linh đình nhân ngày lễ Rằm, và được ngủ một giấc bình yên trong không khí yên lặng, tĩnh mịch và trang nghiêm của nơi thờ phượng.
Sáng hôm sau, chờ mãi không thây người ân nhân ghé lại, hơn nữa, những chú tiểu đồng và sư cụ trong chùa đã có vẻ e ngại và nghi ngờ người khách lạ vì thấy chân tôi bị thương đi lại khó khăn, tôi đành chào từ giã họ rồi đi ra đường, đón một xe Honda thồ và hỏi:
– Có Tòa Đại Sứ Mỹ hay Hồng Thập Tự Quốc Tế đâu đây không?
May quá, người tài xế biết tiếng Anh, trả lời:
– Tòa Đại Sứ Mỹ ở Bangkok, ở đây có ICRC.
Tôi hỏi giá cả và thấy mình chỉ đủ tiền đến ICRC thay vì Bangkok, nên lên xe và đến nơi không dự định trước, bởi vì vết thương kiến cắn đã nhiễm độc nặng nề.
Trong cuộc phỏng vấn, tôi khai rõ mọi chi tiết, trừ việc gặp người đàn bà và đêm ngủ lại trong chùa. Sau bữa cơm trưa thật thịnh soạn, họ khám chân tôi, cùng những vết thương kiến cắn khắp người rồi chích thuốc và chuyển tôi qua chính quyền Thái.
– Đây chỉ là thủ tục, ông đừng ngại gì cả. Chúng tôi sẽ lo vấn đề định cư cho ông, và hàng tuần sẽ đến thăm và khám bệnh.
Ông Gabriel, Trưởng Phái đoàn cho tôi biết như vậy. Tôi được thẩm vấn sơ khởi tại Bộ Chỉ Huy của Thái rồi đưa về một phòng điều tra khác, cuối cùng bị chuyển vào Nhà tù Aran.
Thế là sau bảy năm tù tội, vượt ngục gian khổ, tưởng rằng mình đã đến được ngưỡng cửa tự do, tôi lại bị nhốt vào tù. Số phận của tôi thật bi đát. Tôi bị bệnh suốt một tháng và thời gian nằm trăn trở trong tù tôi hồi tưởng lại những giờ phút hấp hối của Sàigòn khi Cộng Sản tổng tấn công xâm chiếm miền Nam.
Bị Giam Vào Trại Tù Aran
Hai chuyên viên điều tra người Thái nói tiếng Việt rất rành, thường được gọi là ông Đại Tá Mập và ông Thái Đen. Hai người tị nạn Việt Nam được tuyển lựa phụ tá cho họ. Tôi tưỏng mình sẽ được tiếp đón niềm nở, nhưng sự thật phũ phàng. Tôi chán nản đau đớn còn hơn những đêm ngày lầm lũi trong rừng. Tôi kể lại chi tiết tỉ mỉ đoạn đường đi qua, trừ việc gặp người đàn bà và đêm ở lại trong chùa. Cũng may khi bị dẫn vào phòng thẩm vấn thừa lúc họ vô ý tôi vò miếng giấy nhỏ xíu ghi địa chỉ gia đình người ân nhân, mà tôi định sau khi qua Mỹ sẽ gửi thư thăm và quà biếu, kín đáo búng xuống đất. Họ không những không tin chuyện tôi bị kiến cắn mà còn cho đó là trò khổ nhục kế. Họ không tin một người bình thường, không có tiền bạc lại có thể một mình đi bộ từ Việt Nam qua Kampuchia, vượt bao ngục tù, rồi đi lọt vào sâu đất Thái, qua mặt các trạm gác biên phòng một cách dễ dàng như vậy.
– Có ai đưa anh đi? Tiền Thái đâu anh có?
– Tôi đổi tiền Thái ở Kampuchia. Tôi đi một mình.
Nói chung họ kết luận tôi là một gián điệp Cộng Sản, định lợi dụng lòng tin của cơ quan ICRC để hoạt động gián điệp quanh vùng biên giới.
Tôi nói châm biếm:
– Thưa ông! Tôi nghĩ rằng một Sĩ quan từng ở trong Ngành Điều tra gần hai mươi năm như ông, chỉ cần thoáng nhìn qua cũng biết được người thật, người giả. Huống hồ gì tôi, một kẻ mà tên tuổi đã thành quen thuộc đến nỗi những tù binh khác, như Liêu “y tá” trong buổi phát biểu học tập đã quen miệng nói nhầm “Lịch sử Việt Nam từ ngày lập quốc, kinh qua các triều đại: Đinh, Lê, Lý Tống” làm các bạn cùng nhà cười ầm lên, phải lật đật sửa chữa “Xin lỗi, các triều đại: Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn,” mà ông lại còn nghi ngờ.
– Đồng ý là nếu thật sự có Lý Tống, nhưng Cộng Sản đã giết Lý Tống và cho một tay gián điệp đội lốt Lý Tống thì sao?
– Tôi thiết tưởng rằng Cộng Sản không ngu xuẩn như vậy. Họ có thể đội lốt tên Xoài, tên Mít, tên X, tên Y nào đó, nhưng không dại gì đội lốt Lý Tống bởi vì tôi có quá nhiều bè bạn, tôi có quá nhiều đặc điểm, bởi vì có quá nhiều người quen biết tôi.
Tôi thì vì bệnh, vì thất vọng nên bực mình. Vị Đại tá lại từng quen với sự sợ sệt, khúm núm, bây giờ lại gặp một tay ngang bướng, cãi lý, cũng bực mình, do đó không khí cuộc điều tra càng lúc càng gay gắt. Có lẽ tất cả những đày đọa, cực hình mà tôi phải gánh chịu sau nầy đều bắt nguồn và bị ảnh hưởng bởi câu nói sau đây:
– Đại tá là một Sĩ quan của Quân đội Thái Lan, tôi là một Sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nếu Đại tá không kính
trọng một Sĩ quan đồng minh cũ thì, xin lỗi, tôi cũng sẽ không kính trọng Đại tá.
Người tị nạn Việt Nam tự khai là trung úy Phi công tên Thạch Xen, người Kampuchia Krom, phụ giúp công tác điều tra, vì muốn kiếm điểm, nên về hùa phe có quyền thế. Sau khi hỏi tôi về kỹ thuật bay bổng, cái kiểu hỏi của những người nghe lóm, học lóm chứ không phải dân bay chuyên nghiệp (có người sau nầy cho biết anh ta là Không Quân giả mạo), anh ta xác nhận những hiểu biết về Không Quân của tôi là không chính xác!
– Anh đi du học Hoa Kỳ đầu năm 1966, vậy lương lãnh mỗi tháng bao nhiêu?
– 180 dollars.
– Tầm bậy, láo khoét, làm gì nhiều vậy! Tôi là sĩ quan, cũng đi Mỹ năm 1965 mà lương có 40 dollars mỗi tháng. Ông Đại Tá Mập chất vấn.
Tôi tức giận, cái giận của người bị kẻ ngu đòi làm thầy, bị thứ ấm ớ lên mặt dạy đời. Tôi bẻ lại.
– Xin lỗi. Vậy ông thuộc hàng Hạ sĩ quan, chứ không phải Sĩ quan.
Tôi còn nhớ rõ mỗi bữa ăn tại Mess hall bao nhiêu cents, và cả một short time ở A-cú-nhà, ở Mexico bao nhiêu dollars nữa. Tôi còn nhớ cái cô bé có lông chân cứng như rễ tre mà sau khi làm tình xong, da thịt tôi đỏ ửng và ê ẩm. Tôi nhớ cái thủ tục vào phòng tắm, hai người cùng cởi truồng, một cái thau nhỏ đựng nước âm ấm, một cục xà phòng thơm để cô gái rửa chim khách và luôn tiện xem khách có bị bệnh không. Có người không chịu nổi bàn tay điệu nghệ, sự cọ xát kích thích của xà phòng, nước ấm, sự khêu gợi của thân hình tuyệt mỹ của cô gái, đã “khóc ngoài quan ải” vào luôn thau nước, để rồi phải trả tiền một cách oan uổng, tiếc rẻ. Đứa bản lĩnh hơn, qua được màn saxo điêu luyện, cũng phải tả tơi với “cái máy bơm, ” bởi nàng sẽ ngồi xổm lên, quay quanh bốn hướng, để bơm tất cả máu huyết, sinh lực rạo rực của khách chơi lên đến tuyệt đỉnh. Có đứa tiếc tiền phải bôi thuốc Nhật “ông già mang kính” trước để cầm cự thêm vài phút, thế mà đến phiên tôi, không những đã coi khinh mọi thứ thủ tục, lại còn câu giờ đến nỗi cô ta phải líu quíu:
– Excuse me! Excuse me!
Tôi đang phân vân, thắc mắc, thì nàng đã với tay lấy khăn lau khô, và hăm hở trở lại trận đấu cờ người. Cô ta phải sorry đến bốn lần tôi mới hoàn tất nhiệm vụ trả thù Dân tộc.
Tôi cười hỏi cô bé:
– Làm nghề nầy mà em sorry nhiều vậy làm sao thọ cho nổi.
– Em làm nghề nầy không phải chỉ vì tiền mà còn vì em dâm quá. Những thằng kép không đứa nào chịu nổi em. Anh là tay có hạng lắm!
Tôi còn có thể chỉ cho quí vị xem cái thẹo nhỏ trên mặt, mà một lần cỡi ngựa tại San Antonio, Texas, tôi đã bị thương. Số là trong khu vườn cỡi ngựa, có một chiếc xe lửa con cóc chở khách chạy quanh ven đồi. Tôi đang cỡi con ngựa dữ nhất chuồng và mải mê chạy theo nhìn những cô gái xinh xắn lộng lẫy như những nàng tiên nữ trong thần thoại, đang vui đùa nghịch ngợm trên xe lửa. Đến một ngã rẽ, vì quen thói quẹo theo đường rẽ phải, ngựa bất ngờ bị tôi giật cương rẽ trái chạy theo xe lửa nên lỡ trớn phóng lao cả thân mình vào thân cây nằm sừng sững giữa ngã rẽ. Con ngựa bị thương một bên hông phải quị nằm một góc, tôi bị bắn vào gốc cây mê man bất tỉnh, và các cô bé trên xe lửa đã la hét báo động để toán kiểm soát đến đem tôi đi cứu cấp. Và những đêm một mình lang thang đến những phòng ca nhạc dưới tầng hầm, tiếng kèn saxo rên rỉ thê thiết làm tôi đứng chết lặng ở góc thang lầu, để rồi nửa chừng bỏ đi, mang theo cái âm hưởng ngây ngất choáng ngợp cảm giác trong bước độc hành vào đêm sâu thẳm vô cùng.
Vâng! Tất cả những kỷ niệm yêu dấu của ngày du học Hoa Kỳ sau mười mấy năm vẫn còn tươi mát trong phần ký ức. Thế mà họ dám cãi tôi, dám giỡn mặt với tôi.
Tôi nói lớn:
– Các ông chẳng biết mẹ gì cả. Nói chuyện với các ông mệt quá, mất thì giờ quá, vô ích quá.
Họ lại xoay qua chuyện vượt biên.
– Thế trên đường qua Cao Miên, anh thấy bao nhiêu căn cứ quân sự của Việt Cộng, quân số bao nhiêu, tên đơn vị là gì?
Tôi cười chán chường, gằn giọng:
– Thưa ông, đến một đứa con nít chăn trâu gặp trên đường tôi còn phải tránh. Tôi đi vượt biên chứ có phải đi thám sát đâu mà quan tâm, nghiên cứu những điều đó.
– Bây giờ anh có thể đưa tôi đi trở lại con đường đã đi qua không?
Nghe tới đó, tôi thấy bủn rủn tứ chi. Những giây phút kinh hoàng vừa trút bỏ đằng sau, chợt tái hiện.
– Tôi mệt lắm rồi. Tôi chẳng đi đâu nữa cả.
– Anh biết rằng nếu anh không giúp cho tôi tin tức tốt thì tôi không thể giúp anh đi định cư tại nước thứ ba không?
– Tôi đã khai rõ, khai chi tiết những gì tôi biết được. Nếu ông không tin, ông giao tôi cho Tòa Đại sứ Hoa Kỳ, họ sẽ xác nhận lý lịch của tôi. Có khó gì đâu?
– À, nếu anh muốn nhờ Tòa Đại sứ Mỹ, muốn nhờ ICRC, thì một ngày nào đó, tôi sẽ đưa anh trở về biên giới Kampuchia, họ sẽ tới đó giúp anh.
Câu nói tưởng vô tình, thế mà hơn một năm sau, chính vị đại tá mập đã thực hiện để trở thành hiện thực!
Tôi bị bịt mắt đẩy lên xe chở về Aran Jail. Tôi bị đóng koờng mặc đầu chân đang bị thương vì kiến cắn không đi được, và cơn sốt đang hành hạ cơ thể.
Hôm sau tôi lại bị lôi đi điều tra tiếp. Vừa được hai tù khác dìu xuông lầu dưới, tôi đã bị “Thái đen” đấm phủ đầu một cú tóe lửa, tối tăm mày mặt, tiếp đó, tôi còn bị kéo đi xềnh xệch, cùng lời đe dọa dằn mặt:
– Nếu lần nầy mầy không khai thật, tao sẽ cho đem mầy vào rừng bắn bỏ!
Vừa bị đẩy lên xe, tôi đã nghe một giọng nói phụ họa thêm:
– Đem nó đến cái bìa rừng hôm trước thủ tiêu thằng Gián điệp hay dẫn tới cái phòng chứa xác đằng kia?
– À! Súng đâu rồi? Đại tá đem theo mấy khẩu?
Tôi yên lặng mỉm cười trong bóng tối. Mẹ! Ông đã từng bị Việt Cộng nửa đêm đem cuốc xẻng đào hố để chôn mà ông còn coi khinh, bốn lần đối diện họng súng VC vẫn hiên ngang không quì, huống gì cái trò ấu trĩ nầy?
Xe giả vờ chay loằng ngoằng, quẹo đường nầy, hướng nọ nhưng khi dẫn lên thang gác, tôi nhận ra ngay cái Phòng Thẩm tra cũ qua các lối định hướng bằng trí nhớ dù không thấy đường. Những cú đấm như trời giáng vào mặt, vào ngực, vào bụng từ trái, từ phải, từ phía trước. Tôi ngã té mấy lần nhưng vẫn gượng đứng dậy. Tôi đứng dậy mà không hề thấy sự đau đớn của vết thương ở chân như thường lệ, bởi vì sự đau đớn các nơi khác đã trầm trọng hơn, và bởi sự đau đớn tinh thần của sự xúc phạm. Xong xuôi, họ ấn tôi ngồi xuống ghế và nạt lớn:
– Sao! Giờ nầy mầy đã chịu khai thật chưa?
Tôi ngồi thẳng người, mắt bị bịt kín như một tử tội trong giờ hành quyết. Những tiếng la hét của những chuyên viên điều tra như tiếng tru rống của quỉ dữ dưới chín tầng địa ngục.
– Tôi đã khai thật. Khai hết. Chẳng còn gì để nói nữa.
– Vậy thì thôi. Sửa soạn đem nó đi bắn bỏ.
– Mầy có muốn nói gì lần cuối trước khi chết không. Một giọng khác xen vào.
Tôi nghiêm giọng, chậm rãi và dõng dạc:
– Vâng! Đây là lời nói cuối cùng của tôi trước khi chết. Được nghe nói anh Thạch Xen là một Phi công, vậy tôi nhờ anh một chuyện. Một ngày nào được định cư ở Mỹ hay ở một Quốc gia thứ ba nào đó, nếu anh gặp những người bạn Phi công của tôi, những người bạn Tù của tôi, hoặc bất cứ người Việt Nam nào biết tên Lý Tống, nhờ anh nhắn lại với họ rằng: “Phi công Lý Tống đã vượt ngục thoát khỏi gômg cùm của bọn quỉ đỏ và đã hy sinh tại Thái Lan, một đất nước tự do.”
Tôi chơi chữ vì Thailand cũng có nghĩa là đất nước tự do. Thấy tôi cương quyết và khí khái, họ bèn đổi giọng bảo tôi:
— Được rồi! Vậy anh cứ khai lại từ đầu cho chúng tôi ghi chép.
Từ đó tôi không còn bị thẩm vấn lần nào nữa nhưng những tay ăng ten thân tín được chỉ định tìm cách moi tin tức bằng cách lân la đến đấm bóp phục vụ tôi hoặc chuyện trò với tôi. Tôi vẫn tiếp tục bị mang koòng chân. Khi số tiền Thái 20 bahts tịch thu của tôi được đem đi nhà băng kiểm nghiệm, chính vì tiền quá mới được phát hành cách đó mười lăm ngày, đã làm rắc rối lâu dài vấn đề của tôi mặc dù tôi đã nhấn mạnh:
– Các ông nên hỏi các tay buôn lậu đường biên giới vì đó là nghiệp vụ của họ.
Tôi vẫn nhất định giữ vững lập trường trong vấn đề đổi tiền tại Kampuchia nhưng họ vẫn tìm mọi biện pháp để chiêu dụ tôi.
– Nếu anh khai đã đổi tiền tại Thái hoặc có gặp một người Thái nào trước khi đến trình diện ICRC, tôi sẽ mở koòng và cho anh đi Trại Tị nạn chuyển tiếp.
Không! Tôi không thể nào làm điều đó được. Tôi tự khẳng định. Thà rôi chịu chết chứ không làm hại những người tốt giúp đỡ tôi.
Tôi tưởng tượng đến gia đình người đàn bà ân nhân bị xét nhà, bị thẩm cung, bị bắt bỏ tù v.v… trong khi tôi hạnh phúc đi Mỹ.
– Không! Không đời nào!
Tôi lẩm bẩm một mình mỗi lần các tay điều tra yêu cầu tôi khai lại vụ tiền bạc. Trong thời gian nầy, tôi được đọc tờ báo Bangkok Post nói về lịch sử thành phố nghỉ mát Phu Kien của Thái. Người sáng lập ra Phu Kien là một thanh niên Trung Hoa trẻ, nghèo, tên Phu Kien, đến Thái Lan lập nghiệp, làm ăn, xây dựng cơ đồ. Trong thời gian Nhật xâm lăng Thái, những người Anh bỏ chạy về nuớc có nhờ ông ta giữ một số hồ sơ bí mật. Mặc dù bị tra tấn hành hạ, ông ta thà chết không chịu phản bội người đã tin cậy mình. Sau khi Anh Quốc trở lại Thái, ông là người được nước Anh mang ân và trả ân. Nhờ đức tính đặc biệt đó, mọi người kính phục và ngưỡng mộ ông.
— Thưa ông Phu Kien, noi gương ông, làm theo gương ông, đó là hình thức biểu lộ sự kính phục và ngưỡng mộ ông cao quí nhất. Tôi sẽ làm điều đó.
Tại nhà tù Aran, ông Đại Tá người Thái thuộc phòng điều tra của Bộ Nội Vụ thất bại vì không làm cho tôi khai ra người Thái nào giúp tiền bạc, bèn yêu cầu:
– Bây giờ tôi cần anh xác nhận rằng, anh đi vượt biên tốn vàng và có người dẫn đường, tuy nhiên vì muốn tạo huyền thoại để làm bạn bè khâm phục, anh đã dựng chuyện ly kỳ rùng rợn về cuộc vượt biên tưởng tượng của mình. Nếu anh xác nhận vậy, anh sẽ được mở koòng.
Tôi lắc đầu trả lời:
– Chỉ có những kẻ đời sống quá khô khan nghèo nàn mới dùng trí tưởng tượng để tô màu cho cuộc sống. Còn tôi, cuộc đời tôi vốn phong phú và giàu có để trở thành huyền thoại.
Trại tù 7708 ở Nam Vang vẫn còn đó, chiếc phi cơ C119 số đuôi 077 tại phi trường Tân Sơn Nhất với nét khắc tên Lý Tống ở nosegear vẫn còn đó. Các ông có thể nhờ các phóng viên đang công tác tại Kampuchia, tại Sàigòn để kiểm soát lại, có khó gì đâu?
Tôi được “quỉ báo cốt” hớt tóc theo kiểu Mr. T, một trong những kiểu tóc punk quen thuộc của nhà tù Aran. Trong nhà tù của kẻ thù Cộng Sản, tôi luôn tự đấu tranh để giữ mái tóc dài và bộ râu chướng mắt. Trong ý thức về thái độ sống, sự đầu hàng từng bước sẽ đưa đến sự đầu hàng toàn diện. Tóc và râu không còn mang ý nghĩa của thẩm mỹ, đó là biểu tượng của một lập trường, của một lựa chọn: Để râu dọa Việt Cộng. Tôi vẫn thường nói đùa như vậy.
Với Việt Cộng, hoặc tuyệt đối tuân phục, hoặc chống đối đến kỳ cùng. Dở dở ương ương, lưng chừng, dễ bị ăn đòn oan mạng. Mỗi đối tượng đều đưọc trải qua một sự thử thách. Sự thử thách đến tận cùng của mỗi giới hạn: Giới hạn của đau đớn, của sợ hãi, của sống chết…
Bản năng sinh tồn thường bắt con người phải đầu hàng, nhiều người chỉ đi được nửa chặng đường thử thách. Thiểu số vượt qua được mọi thử thách hoặc sẽ bị thủ tiêu, hoặc sẽ được yên thân, tùy tình hình mỗi Trại. Sống hay chết trong trường hợp nầy thuộc vào số mạng con người.
Tôi nhớ những ngày ở Phan Rang. Tôi cạo trọc đầu nhưng vẫn để râu Hitler để phản đối sự khắt khe của Đại Tá “Phúc ròm.” Đại
Tá Phúc ròm là một trong những chỉ huy trưởng khó tính nhất, khó đến nỗi bắt nhốt cả người tài xế quân cảnh, chỉ vì người nầy dùng xe jeep quân cảnh đưa dùm thân sinh của chính Đại Tá từ cổng vào nhà, khi ông ta đi vắng. Lý do: Sử dụng quân xa vào việc tư nhân bất hợp pháp!
Đại Tá Phúc đã trách Đại Tá Thảo:
– Ai cho phép thằng Lý Tống cạo trọc đầu? Nó có giấy phép của Bác sĩ không?
Đại Tá Thảo chịu bênh vực những đàn em dám nói, dám làm, nên tỉnh bơ trả lời:
– Ông đừng chọc thằng khùng đó thì hơn!
Đại Tá Phúc ròm từ đó không những không chọc tôi mà còn đau khổ phân trần:
– Trong cuộc đời tao, chỉ có hai người có quyền bắt tao phải nhảy đầm là Tướng Nguyễn Cao Kỳ, và Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân. Mầy là người thứ ba bắt tao nhảy đầm và tao phải nhảy!
Đại Tá Ông Lợi Hồng, một Sư đoàn phó chằng ăn của Sư đoàn 4 Không Quân, đã từng bắt “Chấn Django,” Thiếu Tá, trong năm phút phải trình diện với bộ râu kẽm cạo sạch sẽ, thế mà đã tự tay ký giấy phép cho tôi để râu khi tôi chuyển đơn xin phép để râu với lý do: “Râu Hitler độc đáo! ”
Râu, tóc là một lề lối sống, cạo hay giữ lại, đều phải có một ý nghĩa nào đó.
Một số quân cảnh nhà tù Aran khá tốt bụng. Chính Chaning và Anh mập nhà bếp đã hai lần tự ý mở koòng cho tôi và hai lần, Đại Tá Mập vội vã tức tốc xuống quạt đám cai tù một trận và ra lệnh đóng Koòng lại. Tổng cộng tôi bị koờng ba lần trong mười tháng.
Tôi phá kỷ lục nhà tù Aran vì tù Thái bị giam giữ và bị koòng tại đây từ xưa đến giờ chưa ai bị quá ba tháng.
Sinh hoạt Trại tù Aran đơn giản. Buổi sáng, mở cửa “pai khang lẳng” (đi xuống lầu), để chùi rửa nhà cầu, lau sàn nhà, nhặt rác, nhổ cỏ rồi ăn sáng. Xong “pai khang bôn” (lên lầư). Nằm nhịn đói suốt buổi trưa, chiều xuống công tác như cũ, tắm, ăn cơm xong lên lầu nhốt lại. Cái thời kỳ sau cùng, khi tôi làm Trưởng toán, một Trưởng toán bất đắc dĩ vì tôi là người duy nhất còn lại nói được tiếng Thái vì ở quá lâu. Nhờ vận động ICRC cung cấp thêm gạo, đồ ăn, các dụng cụ thể thao, vì có dư dã “chấm mút” được đôi chút nên cai ngục Thái hòa hoãn và cải thiện một phần nào tiêu chuẩn ăn uống. Ngoài ra, Tù Việt Nam còn được đá banh, đánh bóng chuyền, đá cầu Thái chừng nửa giờ vào buổi chiều.
Hình phạt của Aran Jail gồm có: Đẹt khao (cắt cơm), Áp nam suôn (tắm nước cứt, ngâm người dưới hầm cầu tiêu), tể (đánh) và cấm tắm, ăn tàn thuốc lá, cùng các hình phạt thông thường khác. Lỗi thường phạm nhiều nhất là làm ồn ào. Sàn Nhà tù bằng ván, chỉ cần bước mạnh cũng đã nghe ầm ầm, thế mà các chú thanh niên trẻ, mặc dù đói, mặc dù bị đánh đập, cũng cứ đùa giỡn và nói chuyện um sùm. Lỗi khác không kém phần thông dụng: Làm tạp dịch, vệ sinh không hoàn chỉnh, sạch sẽ. Lỗi nặng nhất là đánh lộn.
Bản tính con người cũng thật lạ, gặp kẻ có quyền thế, có sức mạnh, đàn áp, lăng nhục bao nhiêu cũng chịu được, cũng nhẫn nhục được, nhưng với kẻ dưới tay, kẻ thất thế, kẻ đồng hoàn cảnh khốn nạn như mình lỡ đụng chạm chút xíu là nổi máu anh hùng ngay, là phẫn nộ ngay! Ôi cuộc đời! Tại sao các người không biết nộ khí xung thiên, không biết chơi xả láng khi bị những thế lực lớn, tàn bạo, bóc lột, hà hiếp, đàn áp, chà đạp và rộng lượng, dễ dãi, hòa thuận với những kẻ khốn cùng? Thời kỳ ở tù, tôi vẫn thường nói với một số bạn:
— Không phải moa bắt chước lời Chúa dạy, ai đánh má trái đưa má phải, nhưng nếu bạn nào giận moa, moa sẽ đưa mặt cho bạn đó tát mà không đánh lại. Ở với anh em, mà anh em không thương mình đã là một cái tội. Huống hồ làm cho người ta ghét, tức giận, khinh bỉ muốn đánh mình, thì đó là một cái tội không tha thứ được.
Tôi tập sống để thấy những ưu điểm của người khác và khuyết điểm của mình. Tập sống để rộng lượng với người và nghiêm khắc với mình. Mặc dù để đạt được đức tính đó, con người phải vượt ra ngoài tầm vóc và giới hạn bản thân. Nghĩ như vậy và tập sống như vậy, dù không đạt đến mức độ hoàn thiện, ít nhất cũng tìm thấy được sự bình an, hạnh phúc của tâm hồn.
Tôi vẫn nghĩ rằng, niềm tin và lòng kính trọng của tha nhân giúp buộc chặt con người vào vị trí đạo đức và nhân cách. Một kẻ xấu sẽ bị nhận chìm xuống đáy sâu tội lỗi nếu ta tiếp tục đả kích họ. Một kẻ xấu sẽ ngần ngại hoặc thay đổi nếu họ nhận được sự đổi xử tốt. Những kẻ vốn đã được kính trọng, ca ngợi, cũng khó lòng thực hiện được những điều xấu, dù đôi lúc, là con người, trong tư tưởng họ, có lúc lóe lên những ý nghĩ sai trái, đen tối.
Aran Jail có Tù Việt Nam và Thái. Tù Việt Nam gồm lính Bộ đội đào ngũ, cùng các thành phần khác vượt biên đường bộ bị bắt hoặc trình diện trên lãnh thổ Thái Lan. Tù Thái gồm các lính say rượu, đánh lộn, chơi bời, xì ke, ăn cướp, ăn trộm… cùng các tù hình sự khác. Khoảng 90% người Thái thích boxing và biết boxing nhưng võ sĩ và tinh thần võ sĩ đạo không phải lúc nào cũng là một thể thông nhất. Do đó mỗi lần lính gác đánh tù, cảnh tượng rùng rợn như phim võ hiệp Tàu. Tráo, một tay ngỗ ngáo đã từng tuyên bố “Tính tao nóng lắm. Tính tao không nhịn được, không dằn được. Thằng nào, kể cả ông Trời, chọc tao, tao đập bỏ mẹ ngay.” Thế mà sau một trận đòn đã rên rỉ, ỉ ôi: “Giờ nầy thằng nào leo lên đầu ông nội tao ỉa một bãi, tao cũng đéo dám giận, đéo dám đánh lộn.”
Tình hình của Aran Jail có lúc tồi tệ, một phần lớn cũng do lỗi của tù nhân. Có nhiều quân cảnh lúc đầu rất dễ dãi, tốt bụng, biết điều, thế mà sau một thời gian, trở thành khó khăn hoặc dữ dằn. “Ở để cho người đang thương mình thành ghét mình, cho người không thương, không ghét trở thành thù địch, muốn đập mình, đối xử tàn tệ với mình,” đó là nghệ thuật sống của một số các tù Việt Nam tại Aran Jail! Dần dần những ông Phật Sống, những ông Thiện, đã trở thành ông Ác, trở thành quỉ báo cốt.
Bộ đội đào ngũ qua Thái thuộc nhiều thành phần: Sĩ quan, Lính, miền Nam, miền Bắc. Một số mới ra trường từ các lò huấn luyện quân sự tại Việt Nam vừa mới đặt chân tới trình diện đơn vị ở Kampuchia hôm trước, hôm sau đã bỏ trốn vượt biên. Có trường hợp đặc biệt của nhóm 28 người, định trốn về Việt Nam lại đi lạc, bị Khmer Son San phục kích bắt được, đưa qua Thái và được chấp nhận theo qui chế tị nạn. Có số hành quân gần biên giới hay đóng gần biên giới, thừa cơ hội ôm súng trốn qua Thái. Cũng có một số lính bụi đời, đào ngũ, đi chận đường buôn, ăn cướp, giết người, đến khi không làm ăn được nữa, bị truy lùng quá, đành vượt biên.
Đúng ra, Bộ đội Việt Cộng bỏ ngũ hồi chánh xứng đáng được xếp hạng Tị nạn Chính trị, đáng đuợc giúp đỡ định cư sớm. Chính sách hiện hành đã dồn họ vào thế bi thảm, đường cùng, nếu giải quyết thỏa đáng thành phần tị nạn nầy, Quân đội Việt Cộng sẽ tan rã và suy sụp nhanh chóng.
Lính Thái đa số theo đạo Phật, nhưng đồng thời lại thờ Thần Dương Vật. Trong lớp áo nhà binh, người lính nào cũng đeo một sợi dây quanh bụng, lủng lẳng một Ông Thần. Tại một cái miếu nhỏ, bên trong trang thờ, đặt hai khúc gỗ đỏ khắc chạm hai “của quí” thật bự, đằng trước để một cây gậy, cũng khắc hình dương vật. Mỗi lính Thái bị đưa vào Aran đều phải qua hình phạt sơ khởi với sự chứng kiến của gậy Thần. Người trưởng toán cầm đầu gậy dộng xuống đất ba cái như ông Chánh án cầm búa gõ khai mạc phiên xét xử. Có điều lạ, là những đứa cộc cằn thô bạo bao nhiêu, như tên “Giàu khùng” lại giỏi và thuộc kinh Phật nhiều hơn nhũng người hiền lành khác. Ban ngày “Giàu khùng” dùng những ngôn từ thô bỉ, cộc cằn, dùng hành vi thô bạo, độc ác để hành hạ tù Việt Nam. Ban đêm, cũng con người ấy, cái giọng ấy, ngân nga lớn những câu kinh dẫn đạo, hướng dẫn các Tù khác đọc kinh, nghe thật bứt rứt khó chịu.
Điều khôi hài thứ nhì là tên của Thái Lan. Tờ Bangkok Post trong một bài có chiều hướng giáo dục và xây dựng thế hệ phụ nữ Thái tương lai đã đề cập:
— Làm thế nào để xóa bỏ được thành kiến của người phương Tây khi họ gọi Thailand,miền đất tự do thành Thigh Land, vùng… đùi non.
Gái Thái tràn ngập các khu chơi bời khắp các Quốc gia giàu có lân cận, đến tận Trung Đông, châu Âu. Thời kỳ tạm giam tại Immigration Department ỏ Singapore, hàng ngày sinh hoạt giải trí nhộn nhịp, hấp dẫn nhất của tù nhân là chen chúc ở cửa để nhìn các cô gái Thái cư ngụ bất hợp pháp và làm nghề bất hợp pháp mới bị bắt vào. Họ vào rồi ra, đến rồi đi, tấp nập, đông đảo như những hội chợ triển lãm người.
Lần đầu tiên tắm chung với lính Thái — chúng tôi vẫn tắm trần truồng như là một thông lệ của Aran Jail — tôi trố mắt kinh ngạc hỏi một lính Thái: “Trời ơi! Bạn bị bệnh bao lâu rồi? Đã chích thuốc gì chưa? ” khi thấy dương vật của anh ta nổi lên nhiều cục lớn như hạt bắp. Tôi đã thấy nhiều loại bệnh hoa liễu khác trái ngược với loại nầy, chẳng hạn một người lính Mỹ, trong khi ngồi uống bia trong một snack bar lại lôi cái của quí đùa. Cái đầu dương vật bị lõm, sứt mẻ nhiều lỗ, mà khi đi tiểu, như lời anh ta nói, nước tiểu xòe chung quanh giống như một vòi douche tắm!
Anh lính Thái cười vì sự quê mùa của tôi, giải thích cách làm và công hiệu:
– Mài các mảnh đít chai cho thật tròn lẳng, xẻ da qui đầu khâu vào. Effet vô cùng!
– À! Hèn gì hồi ở Sàigòn, con nhỏ Bé bạn cháu gái tôi vẫn thường khoe: Chồng cháu có độn ba cục kim cương trong dương vật!
Khi nhìn Bé cứ càng ngày càng xanh xao, gầy gò, nhìn Madame Giám đốc Bệnh viện Nong Samet, người Mỹ trẻ đẹp, cứ đeo anh chàng tình nhân nguời Thái tài xế như sam, tôi cũng dư đoán được công hiệu của loại kim cương nầy!
Lính Thái là lính cậu, lính bóng, khi chiều về, họ bôi son, trét phấn, xức nước hoa như là các diễn viên sắp lên sân khâu cải lương. Họ rất quí vàng vì vàng rất hiếm ở Thái. Hai Quốc gia Miên—Thái ở sát nách nhau lại có những điểm dị đồng đặc biệt. Vàng thì quá thường đối với người Khmer, những gia đình bình dân cũng có vài lượng, gia đình khá giả thì tích trữ vàng bằng kí lô. Do đó mà nhiều nữ Bộ đội Việt Cộng đã trở nên giàu có chớp nhoáng vì chỉ cần chịu chơi tí xíu với một chàng Khmer, trong chớp mắt đã có một sợi dây chuyền vàng mấy chỉ.
Người Thái trái lại hình như ít có vàng, họ xọp thỏn (thích vàng) đến nỗi, nhiều tay Cai ngục hoặc Tù Thái, hễ gặp bất cứ Bộ đội Việt Cộng đào ngũ nào có răng vàng đều gạ gẫm đòi mua. Có tay bạo hơn, đòi bẻ răng vàng nếu không chịu bán!
Trong tù Aran, lính Thái ít khi đánh lộn nhau, nếu có thì chỉ đánh tù Việt Nam mà thôi. Chẳng bù trong nhà tù Việt Nam thời chế độ cũ, những cuộc thanh toán, tranh giành ngôi vị Trưởng phòng, hoặc trừng trị đàn em thường xảy ra như cơm bữa.
Ban đêm Aranjail nhộn nhịp như một cái chợ nhỏ. Lính Thái ngồi hoặc nằm bên ngoài hành lang, tù Việt Nam thò tay qua song sắt đấm bóp. Coi chỉ tay và giặt áo quần cũng là những nghề để kiếm thuốc lá hút hoặc kiếm áo quần để mặc, vì lính Thái khi được thả khỏi tù trở về đơn vị, thường để lại một ít quà cho tù Việt Nam.
Riêng tôi lại được coi là Hủ Na (ông lớn) nên họ thích tiếp chuyện hoặc nhờ tôi chỉ dẫn Anh văn. Họ thường biếu tôi thuốc lá, bánh kẹo, trái cây và thỉnh thoảng mời nhậu. Nói chung đa số tù Thái dễ thương, thân hữu, thỉnh thoảng mới có vài tay thô lỗ, du côn.
Ở trong các nhà tù Việt Cộng, hoặc thời gian vượt ngục về Sàigòn, tôi cũng đã nghiên cứu, quan sát và đánh giá về đám Bộ đội Việt Cộng về khả năng và tinh thần chiến đấu của họ nhưng chính ở Aran Jail, tôi mới thực sự biết rõ đích xác bản chât của Quân đội Việt Cộng. Hầu hết Bộ đội Việt Cộng, trong thời gian huấn luyện quân sự, không mấy ai được tập bắn tổng cộng trên 30 viên đạn. Vì thế ngày thi bắn, Đơn vị Huấn luyện phải đưa các Huấn Luyện viên hoặc một vài tay súng giỏi hiếm hoi đi bắn thế để báo cáo về phẩm chất và thành quả của Khóa Huấn luyện.
Cũng chính vì biết rõ khả năng của các tay súng Cộng Sản và một phần tin tưởng vào số mệnh mình, mà một lần, trong lúc làm nghề cá tại Đài Côn (Kampuchia), tôi đã đánh cuộc với một tên lính Heng Samrin thuộc toán lính gác bảo vệ khu vực, với một điều kiện rẻ mạt:
— Tôi sẽ ngồi trên một trụ gỗ giữa dòng sông Cửu Long trong vòng 200 thước và cho y nhắm bắn tôi hai viên đạn. Nếu trúng, y sẽ không bị trách nhiệm gì cả. (Việc bắn chết một người dân tại Kampuchia, thực tế, cũng chẳng có gì đáng quan trọng, chưa kể, nếu biết được tôi là một tên tù vượt ngục, chắc chắn y còn được thưởng công thêm!) Còn nếu bắn trật, y thua tôi một tháng lương và tôi sẽ dùng số tiền đó để đãi các bạn Thợ lặn một chầu nhậu bình dân (lương lính Miên 60 riels chỉ bằng 3 dollars).
Khi hay được có cuộc đánh cá nguy hiểm đó, chính Chủ nhân của Công ty đã ngăn cản vì họ tin dị đoan rằng nếu lỡ có đổ máu, chết chóc, Công ty của họ sẽ xui xẻo, sập tiệm.
Có lần ông Đại Tá Mập hỏi một Bộ đội Việt Cộng:
– Tại sao có Đơn vị, khi đánh chỗ nầy thì xuất sắc, đánh chỗ kia thì dở ẹc?
Họ cười giải thích:
– Có gì đâu? Cứ chỗ nào có chợ búa, phum làng giàu có, tụi con tranh nhau chạy trước, chạy nhanh để hốt vàng, bạc, radio, vải vóc… Còn chỗ nào thâm sơn cùng cốc, thì dại gì mà xông xáo!
Một trong những mục tiêu Bộ đội Việt Cộng thèm khát và nhiệt tình nhất để tấn công là Thái Lan. Đi Thái Lan một chuyến về tiêu mấy năm chưa hết, chưa kể, buồn buồn, vượt biên luôn càng tốt. Điều đó xác nhận lời tuyên bố của một Cán bộ Cộng Sản cao cấp:
– Nếu cần, trong vòng mười ngày, Việt Cộng sẽ chiếm toàn bộ Thái Lan!
T’rừ đám Nghệ Tĩnh, quê hương của “Bác” là còn trung kiên, còn tất cả Bộ đội đều nghĩ và chuẩn bị thực hiện ý nghĩ vượt biên để tránh đói khát, bệnh tật thường trực ám ảnh họ, hoặc sự chết chóc phải trực diện hàng ngày mà phần lớn số thương vong đều do đạp mìn bẫy, hoặc bị đột kích, phục kích.
Tại nhà tù Aran Thái Lan, tôi bị koòng chân đến ba lần, tổng cộng mười tháng, và tôi thường đánh cá với các Bộ đội ở chung phòng:
– Anh cam đoan và dám cá rằng anh sẽ bị koòng ba lần và chắc chắn sẽ có ba con chó bị giết.
Ba lần koòng, ba con chó sẽ hy sinh thế mạng. Không ai tin, nhưng cuốỉ cùng đúng ba con chó bị giết cho tù ăn thịt, không hơn không kém. Nhưng có điều ngoài sức tiên tri, Aran bỗng nhiên xuất hiện ba ông đạo sĩ, chúng tôi gọi đùa ba người tù mới đến như vậy, vì khi họ bị giải giao tới Aran, họ đã bị cạo trọc đầu trước và sau đó ba ông đạo sĩ bị chuyển về Nong Samet, trốn trại rồi bị bắn chết.
Đột nhiên, Eliot Ness trở lại ty cảnh sát vào lúc 2 giờ sáng. Chàng đánh thức toán 6 người có nhiệm vụ trực hành quân dậy, mời vào phòng họp gấp. Sáu cái đầu còn ngái ngủ ngồi xoay quanh chiếc bàn dài có trải tấm bản đồ. Eliot Ness chỉ vào một góc phố:
-Tối nay chúng ta hành quân thật. Chúng ta sẽ ốp cái lò này ngay đường
số 127 và Broadway, lò nấu bia hạng trung của bọn nó.
Câu nói của Eliot Ness làm mọi người tỉnh ngủ. Đã hai tuần nay, ngày nào
Eliot Ness cũng xin lúc thì một toán, lúc thì hai toán để đi hành quân bắt rượu với chàng nhưng chẳng bao giờ đi cả. Bây giờ thì việc đó đã trở thành một thông lệ. Ai được cắt đi hành quân với Eliot Ness đều coi đó là một ngày nghỉ dưởng sức. Họ cứ việc ôm mền chiếu vào ty ngủ một giấc rồi về nhà thưởng thức 2 ngày nghỉ theo luật lệ. Tối nay, chuyện này xảy ra bất thường.
Eliot Ness đang cắt nghĩa và giảng giải về kế hoạch tấn công thì một bàn
tay đưa lên xin ý kiến:
-Xin lỗi ông thanh tra, tôi phải đi tiểu.
Eliot Ness chưa kịp trả lời thì một giọng khác cất lên luôn:
-Tôi cũng vậy, hồi nãy đi ngủ chưa kịp đi tiêu nên bây giờ nhịn không
được. Để tôi đi ra ngoài rồi trở lại ngay.
Tiên sư mấy thằng này, đi tiêu đi tiểu mà cũng dành nhau kỹ vậy sao?
Làm như hễ mặc đồ cảnh sát vào là phải đi … đái lia lịa. Eliot Ness đâu có lạ gì cái trò con nít này. Làm bộ đi tiêu đi tiểu để đi luôn một đường điện thoại thông báo tin tức cho tụi Al Capone chứ gì? Chàng làm mặt ngây thơ:
-Mấy ông này làm ăn cái gì kỳ quá, đang briefing mà mấy ông làm vậy là
tôi mất hứng. Mà thôi đi đi, đi mau lên rồi trở lại chúng ta bàn tiếp.
Hai thầy đội khoái chí đứng dậy, vọt ra liền. Một thầy cảnh sát còn rất trẻ
đá đá vào chân Eliot Ness mấy cái như ngầm ra một dấu hiệu gì đó. Eliot Ness ngạc nhiên thích thú. Thì ra cảnh sát Chicago này đâu có phải là ai cũng hư hết, ít ra cũng có một thầy đội còn lương tâm như ông thày đội vừa đá vào chân chàng ra hiệu. Từ lúc xuống Chicago đến nay, lần đầu tiên chàng thấy mình có thể tìm được một đồng minh trong cái đám cảnh sát này. Eliot Ness liếc nhìn vào cái bảng tên của người vừa đá vào chân mình. Tên của thầy đội trẻ tuổi rất ngắn: LITE, Robert Lite.
Chàng đưa mắt nhìn Lite. như ngầm bảo “Cám ơn” rồi tiếp tục bàn thảo tiếp kế
hoạch tấn công. Miệng thì nói bô bô nhưng đuôi mắt chàng kín đáo quan sát anh chàng Lite.
Típ người này có thể xài được. Vẻ bất mãn hiện lên thấy rõ trên khuôn
mặt non choẹt của hắn. Cặp mắt rực lửa của hắn như muốn xông tới quát to lên vào mặt Eliot Ness: “Sao mà ông cớm liên bang ngu quá vậy? Ông để cho hai thằng đó đi ra ngoài thế kia thì nó nói mẹ nó cái chỗ tấn công cho người ta nghe hết rồi, còn chó gì nữa? Ngu thấy mẹ hèn gì chả làm ăn gì được.”
Eliot Ness nhẹ nhàng thò chân ra, khều nhẹ vào chân hắn như ngầm bảo:
“Yên chí đi chú em, qua lo liệu hết rồi, lát nữa sẽ biết tay nhau.”
Sau phần thuyết trình, Eliot Ness chần chờ cho đến ba giờ sáng mới cho
mọi người đồn hết lên hai chiếc xe. Chàng nói với người tài xế chiếc xe thứ hai:
-Ông phải bám sát xe tôi nghe không. Tôi đi đâu ông đi theo đó.
-Thì mình cùng đi lên khu Broadway và đường số 127 mà.
Eliot Ness lắc đầu, cười:
-Không, chỗ đó mình sẽ đi tuần sau. Bây giờ mình đi chỗ khác, cứ việc
theo tôi.
Trong xe tối mù nên Eliot Ness không nhìn thấy những vẻ thất vọng hiện ra
trên khuôn mặt hai ông thầy đội ban nãy. Chàng quay lui, leo lên chiếc Ford rồ
máy. 3 giờ sáng mà thành phố Chicago cũng chưa chịu đi ngủ. Trên đường tới
mục tiêu, thỉnh thoảng chàng vẫn gặp những hàng quán còn mở cửa, những chiếc xe đi ngược đường lái lạng quạng. Đó đây vẫn còn thấy hình ảnh các cô gái ăn chơi đứng ngoài đường trong những bộ xiêm y loè loẹt quá đáng, dấu hiệu của gái giang hồ.
Chiếc xe dừng trước một toà building cũ kỹ ở khu South Side. Ông thanh
tra và 6 cảnh sát ào xuống một lượt. Eliot Ness ra dấu kêu họ bao quanh mình, ra lệnh dưới ánh đèn mập mờ của tòa nhà:
-Kể từ giờ phút này, tôi trực tiếp chỉ huy các anh em. Trước hết, tôi phải
thông báo cho anh em biết tại sao tôi lại thay đổi địa điểm tấn công vào giờ chót: Vì tôi đã học được bài học quý giá cách đây hơn một tháng. Tất cả những tin tức gì tôi nói ra tụi Caponi đều biết. Giờ phút này, tôi không muốn đánh thấp giá trị của bất cứ ai, nhưng xin anh em thông cảm, tôi có nhiệm vụ phải thi hành. Điều thứ nhì, là những cảnh sát chuyên nghiệp, tôi mong anh em hiểu chuyện chúng ta sắp làm rất nguy hiễm, anh em phải triệt để nghe lệnh tôi.
Điều thứ ba, những tin tức tôi thuyết trình với anh em về cái lò nấu rượu
hồi nãy đều dùng được. Đúng ra nó là chi tiết của toà nhà này đây, khi vào anh em sẽ thấy. Có ai còn hỏi gì không?
Không có câu hỏi.
-Chúng ta cứ theo kế hoạch hồi nãy mà thi hành được rồi.
Eliot Ness lôi một cây búa bửa củi từ dưới gầm xe ra, tới đứng sát bên cánh
cửa sắt đồ sộ. Lite đứng bên cạnh, 5 người cảnh sát khác vây quanh, súng cầm tay sẵn sàng. Chàng dơ tay nhấn chuông:
-Cảnh sát liên bang có trát đến khám nhà, xin vui lòng mở cửa.
Không có tiếng trả lời, chàng bấm thêm lần nữa. Vẫn không có tiếng trả
lời. Cái điệu này thì phải phá cửa rồi, phí thì giờ làm chi? Eliot Ness ra dấu cho tất cả chuẩn bị rồi đứng lui lại lấy thế. Sáu cây Shotgun của cảnh sát đồng loạt lên đạn, chĩa thẳng vào phía trước. Eliot Ness dơ cao cây búa bửa củi lên cao nhắm vào cái ổ khóa to tướng nằm ngang phía trước. Lúc chàng vận hết sức, sắp sửa phang xuống thì có tiếng nói từ trong vẳng ra:
-Ai đó, giờ này muốn vào đây làm gì?
Eliot Ness dừng tay lại kịp thời:
-Cảnh sát, cảnh sát liên bang có trát tòa đi lục soát nơi đây. Yêu cầu mở
cửa gấp. Ai ở chỗ nấy, không được gây nhốn nháo, không được bỏ ra khỏi building. Chỉ trong tích tắc, một loạt đèn phía ngoài cửa bật lên, chiếu sáng cả khu vực như ban ngày. Không ngờ hệ thống phòng thủ của bọn nó ghê gớm đến như vậy.
Một cánh cửa sổ nhỏ mở ra trên góc trái, kèm theo giọng nói thách thức:
-Xin vui lòng cho tôi coi trát tòa.
Đã tính trước, Eliot Ness thò tay vào túi áo bành tô móc trát ra. Ủa, không
thấy trát đâu hết. Chàng nhớ chiều nay khi ra khỏi nhà, đã kiểm soát kỹ càng rồi kia mà. Có lẽ mình bỏ quên nó trong túi khác. Eliot Ness buông cái búa, dùng cả hai tay lục mấy túi khác. Cũng chẳng thấy đâu hết. Eliot Ness tái mặt:
-Chờ đây chút, để tôi ra ngoài xe lấy trát.
Eliot Ness chạy trở ngược ra xe, Lite phóng theo. Hai người lục lọi một
hồi, cũng không thấy tờ trát đâu hết. Dù biết là vô ích, Eliot Ness chạy qua chiếc xe thứ hai, giỡ tung tất cả mọi thứ lên để kiếm cũng không có.
Sau mười phút tìm kiếm, chàng lủi thủi trở lại nhặt cây búa lên. Thật ra lúc
này, chàng muốn thẳng tay bửa cây búa này không phải vào cánh cửa sắt mà vào sọ cái thằng khốn nạn nào đã thò tay rút mất cái trát của mình. Đệ nhất cớm của Hoa Kỳ lại bị đưa vào xiếc lần thứ hai. Lần này không có phóng viên, không có rầm rộ như lần trước nhưng cũng là một vố ra gì.
Suốt hai tuần qua, chàng đang ở thế công. Ngay mới vài phút đồng hồ
trước đây, chàng cũng đang còn ở trong thế công, bây giờ, tự nhiên lọt vào thế bị động. Trong trí, chàng đã chuẩn bị sẵn sàng cách đối phó như thế nào với cái lò nấu rượu này.
Giọng nói từ cánh cửa sổ có kèm theo một nụ cười:
-Ha ha … xin lỗi ông bạn, không có trát tòa tôi không thể mở cửa cho quý vị
vô được. Quý vị muốn gì xin liên lạc với luật sư của chúng tôi ngày mai. Chúc quý vị ngủ ngon.
Không biết nói gì, Eliot Ness hất đầu ra hiệu cho đám cảnh sát rút lui. Lite
tức lắm, kề vai Eliot Ness nói rất nhỏ qua hai hàm răng nghiến lại:
– Cứ nhoà vô đại đi ông thanh tra, trát mẹ gì. Để tôi lấy đại ra một tờ giấy gì
đó rồi dí đại vào mặt nó cũng được. Tranh tối tranh sáng, nó biết đường nào mà mò?
Ý tưởng vừa mới nói qua nghe hay nhưng không thể nào thi hành được.
Thằng chó đẻ nào đã thò tay đỡ nhẹ cái trát của Eliot Ness chắc phải có kế hoạch để gây khó dễ cho chàng. Một cảnh sát liên bang không thể làm việc trái luật pháp như vậy được. Chàng lắc đầu.
Giọng nói từ trong lại vang ra, giễu cợt:
-Lần sau có đi hành quân thì nhớ mang trát theo nghe mấy cha, làm phiền
người ta quá. Đem theo cỡ mười cái càng tốt.
Eliot Ness ngạc nhiên khi nhìn thấy Lite xoay người phóng một đá vào
cánh cửa sắt nghe rầm một tiếng:
-Ngày mai tao sẽ trở lại đây với cái trát tòa. Tao nhớ giọng mày nghe
không thằng khốn, tao sẽ xúc mày lên xe cây đầu tiên. Đừng quên là tao có quyền nhốt mày 24 tiếng nghe không?
Cánh cửa sổ nhỏ đóng lại, tiếng cài then nghe đánh xọet. Eliot Ness ngạc
nhiên vì lần đầu tiên chàng nhìn thấy một anh cớm địa phương có thái độ quyết liệt như vậy. Cái mũi của Eliot Ness đã ngửi cái gì rồi thì có khi nào trật.
Trên đường về lại ty cảnh sát, Eliot Ness nhớ đến lần thất bại đầu tiên của
chàng về cái chết của thằng mật báo viên Stash Mose. Nhìn những khuôn mặt lầm lì trên xe, Eliot Ness nhủ thầm: “Được, hãy cứ coi như các chú vừa thắng một keo nữa đi. Nhưng Eliot Ness sẽ thắng keo cuối cùng.” Bấc giác, chàng nghĩ đến người cảnh sát tên Lite. Tối hôm nay chưa chắc đã thua hoàn toàn, chàng vừa gặp được một ông cớm thứ thiệt. Kể từ ngày mai, cuộc chiến đấu của chàng sẽ bớt cô đơn hơn.
Sáng hôm sau, đang ngồi trong văn phòng thì điện thoại lại reo vang. Đầu
giây bên kia là cái giọng nham nhở của thằng phóng viên Ferguson:
-Kính chào ông Eliot Ness, ông khỏe không?
-Cám ơn. Ông muốn biết tin tức của cuộc tấn công ngày hôm qua hả?
Đúng. Tôi nghe nói ông đi hành quân cảnh sát mà không có trát của tòa
án, có đúng không ông?
-Đúng. Đúng ra là có nhưng tôi làm mất …
Một tràng cười nổi lên:
-Ha .. ha … , hành nghề phóng viên mấy chục năm, hôm nay là lần đầu tiên
tôi nghe chuyện cảnh sát đi lục sóat mà bị mất trát. Ông bị móc túi à? Cảnh sát mà còn bị móc túi như vậy thì người dân chúng tôi làm sao sống được?
Eliot Ness đáp tỉnh:
-Ông muốn biết ai đã móc cái trát của tôi không?
-Xin ông cho biết, tôi sẽ đăng lên báo.
-Cảnh sát Chicago.
Giọng nói của Ferguson trở nên sững sốt:
-Ông nói chơi hay nói thiệt. Đây là chuyện tin tức, xin ông đừng đùa.
-Tôi không đùa và tôi muốn ông cho đăng chuyện này lên. Tôi muốn dân
chúng Chicago biết sự thật. Tôi muốn cho họ biết sức mạnh của bọn Al Capone ở Chicago này. Chúng đã “nắm” luôn được cả cảnh sát.
-Vậy ông tính làm gì?
-Tôi sẽ chẳng làm được gì hết vì tôi không bắt được thủ phạm. Nếu tôi bắt
được thủ phạm, tôi sẽ đưa họ ra toà. Ngoài ra, tôi sẽ tiếp tục công việc làm của tôi.
-Diệt Al Capone như lời ông hay tuyên bố.
-Đúng. Tôi sẽ diệt thằng Al Capone. Đừng quên câu “I come here to get
Capone … “
Vừa gác điện thoại, người thơ ký cảnh sát gõ nhẹ vào văn phòng Eliot
Ness:
-Thưa ông thanh tra, có một người tên Oliver Randal muốn gặp ông thanh
tra
Eliot Ness nhíu mày ngạc nhiên:
-Oliver Randal! Tên nghe lạ quá, tôi có gặp hắn bao giờ đâu?
-Không biết, hắn nói hắn có chuyện muốn trình bày với ông.
-Cho hắn vào.
Eliot Ness lịch sự đứng dậy khi người khách lạ tiến vào. Ủa, sao hắn có
xách theo cặp táp làm gì nhỉ? Cặp mắt điệu nghệ của Eliot Ness nhìn lướt qua thật nhanh để cố đoán xe thử hắn để gì trong đó. Chắc chắn là không có súng. Mà có thì đã sao? Đấu súng tay đôi thì ai qua nổi ông đệ nhất cớm Eliot Ness?
Người khách lạ bỏ mũ cười rất tươi, miệng tét ra đến tận hai bên tai, bắt tay
Eliot Ness với một vẻ rất thân thiện và chân thành:
-Kính chào ông thanh tra. Tên tôi là Oliver Randal, ông có thể gọi tôi là
Ollie. Tôi chẳng muốn phiền ông lâu, tôi chỉ có chút chuyện muốn thưa với ông.
Eliot Ness để ý thấy bàn tay hắn mềm xèo, đầy những thịt. Như vậy thằng
này không phải là dân giang hồ rồi. Tướng mạo của hắn cũng không có vẻ ác ôn nữa, để xem hắn muốn gì đây:
-Tôi là Ness. Eliot Ness! Mời ông ngồi.
Vài câu xã giao để làm quà, Oliver Randal đứng dậy, đặt cái cặp táp trên
mặt bàn Eliot Ness. Chàng đang còn ngạc nhiên thì hắn vô đề luôn:
-Kính thưa ông Ness. Tôi có một người bạn tên là … Al Capone. Xin ông
đừng nóng. Người bạn tôi có một món quà muốn nhờ tôi đem đến cho ông.
Nghe đến tên Al Capone, Eliot Ness thấy thái dương mình giựt giựt. Chàng
đâu có lạ gì cái trò dụ dỗ mua chuộc này. Từ Hoa Thịnh Đốn tới New York, rồi đến Chicago, chàng đã nhiều lần được bọn bất lương mua chuộc và gạ gẫm bằng đủ thứ: từ gái đẹp cho đến tiền bạc. Cái làm cho chàng thích thú nhất là, trong bất cứ chiến dịch nào cũng vậy, hễ chúng nó bắt đầu gởi người tới để mua chuộc là chúng nó bắt đầu lâm vào ngõ bí. Tuy mới tối hôm qua, chàng bị móc túi mất cái trát tòa nhưng chúng biết lần sau, cái trát sẽ không bị mất nữa.
Eliot Ness vẫn giữ bộ mặt bình tĩnh, coi thử xem nó đáng giá mình đáng
bao nhiêu đây rồi hạ hồi phân giải.
-Món quà đó là gì?
– Thưa ông, đang nằm trước mặt ông đó.
Eliot Ness chồm người tới trước, mở nắp cặp táp. Chàng nhìn thấy từng
xấp giấy bạc 100 đô la mới tinh nằm ngay ngắn.
-Bao nhiêu đó?
-Thưa ông 200 ngàn.
-Nếu tôi từ chối?
-Xin ông nghĩ lại, 200 ngàn không phải là ít.
-Điều kiện để nhận mớ bạc này là gì?
-Chỉ xin ông làm lơ cho người bạn tôi được làm ăn. Mỗi tháng, người bạn
tôi sẽ cung cấp đều đều thêm cho ông.
200 ngàn đô la. Vậy ra là tụi này cũng biết giá trị của chàng. Chưa bao
giờ một ông cớm được trả một giá cao như vậy ở Chicago này. Dĩ nhiên, bọn nó đem đến 200 ngàn chứ một triệu chàng cũng nhất định không thèm mó tới. Đã đến lúc chấm dứt cái màn này.
Eliot Ness đứng giậy:
-Ông bạn Oliver Randal.
Tự nhiên, Oliver Randal nhận thấy ánh mắt của ông cảnh sát liên bang như
tóe lửa ra. Hắn trả lời giọng run run:
-Dạ thưa ông Ness.
Eliot Ness thò tay đóng nắp cặp táp, thảy nó trở lại xuống người Oliver
Randal:
-Tôi xin thông báo cho ông bạn một tin buồn. Nếu ông tưởng là có thể
mua được tôi với giá 200 ngàn đô la là ông lầm to. Đừng nói 200 ngàn, ngay cả đến 200 triệu cũng không mua được. Đáng lẽ tôi còng tay ông lại và truy tố ông ra tòa về tội âm mưu hối lộ nhân viên công lực, nhưng tôi tha cho ông vì biết ông không phải là một người trong bọn nó. Ông là dân lương thiện và chỉ làm một người trung gian thôi. Tôi cho ông về và nhờ ông nói với thằng Al Capone như thế này: “I come here to get Capone”. “Tôi xuống đây để diệt Capone”. Ông nghe rõ không?
Oliver Randal chỉ nghe tới đó thôi là đứng dậy liền cấp kỳ. Từ lúc lên New
York nói chuyện với Luciano, hắn đã hiểu Eliot Ness là hạng người nào.
“UNTOUCHABLE”. “Không mua được”. Thực ra, trước khi bước vào đây, hắn có phần nào đoán trước được kết quả buổi gặp gỡ. Là một con nhà buôn lương thiện và không ngoan, hắn cũng biết sự nguy hiễm của chuyến đi này. Với tang chứng là 200 ngàn đô còn rành rành ra đó, Eliot Ness có thể còng tay hắn lại, nhốt vào xà lim để chờ ngày ra tòa về tội âm mưu hối lộ. Tội này chạy cho khéo lắm cũng còn là 2 năm. Than ôi, 2 năm nằm nhà đá thì còn gì cuộc đời của Oliver Randal?
Kẹt cái là hắn đã nhận quá nhiều ân huệ của xếp Al Capone nên đành phải
miễn cưỡng nhận lời. Bây giờ Eliot Ness đã nói vậy thì còn chờ gì nữa? Phải dọt cha nó ra khỏi cái văn phòng ghê gớm này, ở lâu thêm chút nữa thằng cớm mất dạy đổi ý là bỏ mẹ.
Oliver Randal cúi đầu một cái thật sâu, quên cả bắt tay người ân nhân đã
tha án tù cho hắn. Tự nhiên Eliot Ness gọi giật hắn lại:
-Oliver Randal.
Oliver Randal hãi quá, vừa ra khỏi cửa đã dừng bước. Nó đổi ý rồi chăng?
Eliot Ness đưa cho hắn cái mũ:
-Ông bỏ quên mũ.
-Dạ xin cám ơn ngài thanh tra. Vội quá tôi quên.
-Ông nhớ đấy nhá, lần sau mà còn mò đến đây như vậy là ông sẽ vào tù
chớ không về nhà đâu.
-Dạ, dạ tôi xin nhớ.
Xuống tới đường cái, Oliver Randal leo lên chiếc Limousine do Frank Nitti
lái đã đậu sẵn. Nhìn nét mặt tái mét của sứ giả, Frank Nitti biết là chuyện đã bất thành. Nó quay ra sau nói với thằng cận vệ:
-Lát nữa về, mày gọi thằng Racco, bảo toán của nó lo chuẩn bị. Cú này,
Sáng nay, Oliver Randal lại được xếp triệu tới để lo một chuyện. Như
thường lệ, không ai có đủ khả năng để báo cho nó biết chuyện gì. Cứ tới rồi tính sau. Ngồi chờ xếp nơi chỗ làm việc của Guzick, Oliver Randal có cảm tưởng như đang ngồi trong văn phòng của một ông tổng giám đốc nhà băng nào đó. Chễm chệ đằng sau cái bàn giấy đồ sộ đóng bằng thứ gỗ quý chở đến từ một nơi xa xăm bí hiểm ở Á Châu, Guzick như ngập người trong công việc. Thằng Guzick này quả là một thiên tài. Tay thì ngoáy lia lịa cây viết, đầu óc tính toán đến độ cả trán nhăn lại, miệng thì trả lời điện thoại một cách điệu nghệ đàng hoàng. Có những cú điện thoại đến tận nơi thật xa như ở Âu Châu, sổ toàn tiếng Ý hay tiếng Pháp làm thằng quản lý gốc Do Thái này chới với. Lại có vài cú điện thoại của các nhân vật quan trọng trong chính quyền như thị trưởng Thompson, và một vị quan tòa. Không hiểu người ta gọi đến để làm gì nhưng cứ nhìn cái vẻ mặt bình thản của thằng Guzick thì Oliver Randal biết những cú điện thoại đó gọi đến đây rất thường.
Bên cạnh Oliver Randal, cũng ngồi chờ như nó không biết đến lúc nào là
thượng nghị sĩ Phil, đảng Dân Chủ của tiểu bang Illinois. Xa hơn chút nữa, gần tuốt trong góc là một ông già mặt mày coi chững chạc nhưng không dấu được vẻ lo sợ.
Ba người khách ngồi im lặng như đang suy nghĩ lát nữa được gặp xếp mình sẽ ăn nói thế nào. Không ai nói với ai một câu. Nơi cửa ra vào, một thằng cận vệ ăn mặc complê nguyên bộ rất sang trọng đang đứng khoanh tay bất động như một pho tượng.
Oliver Randal thầm nghĩ: “Mẹ, trụ sở đảng cướp mà coi oai vệ hơn cửa nhà quan. Đồng tiền và thế lực có khác, nó làm thay đổi cả con người. Từ hèn đến sang, từ ăn cướp đến trở thành quyền lực vô biên … “
Gần mười giờ sáng, Guzick chuẩn bị đón xếp. Chương trình của xếp ra sao,
thằng Guzick này phải biết rõ nhưng nó thủ khẩu như bình. Sau lời thăm hỏi, nó làm như không biết đến những người khách ngồi trước mặt, cứ cắm đầu cắm cổ mà làm việc. Ông thượng nghị sĩ cũng có moi được một câu nào đâu? Oliver Randal nhận thấy đàn em của xếp, nhất là những đứa thân cận, thằng nào cũng kín miệng kín mồm, chả bù với xếp, chưa thấy người đã nghe giọng nói oang oang đi trước.
Khoảng hơn 10 giờ một chút, cánh cửa phòng bật mở, xếp Al Capone bước
vào, điếu xì gà nơi tay phải, ly cognac nơi tay trái. Hôm nay xếp có vẻ yêu đời chứ không gắt nhặng lên như lần trước. Xếp bắt tay ngài thượng nghị sĩ, la ầm lên:
-Guzick, lâu lâu mới có ngài thượng nghị sĩ đến thăm, sao không báo trước
cho tôi để chuẩn bị tiếp đón. Ngài khỏe không? Làm một ly cognac cho ấm bụng chớ hả? Gần trưa rồi, hay là ở đây ăn trưa luôn với tôi?
Khỏi cần chờ câu trả lời của ngài thượng nghị sĩ, xếp đưa ly rượu cho thằng
cận vệ, quay sang ông khách già lạ mặt, dùng cả hai tay bắt lấy tay ông ta:
-Dạ thưa cụ, cụ đây là …
-Dạ thưa tôi tên là Westley, hôm nay tôi đại diện hàng xóm khu Fleurd’or
đến gặp xếp tính nhờ vả xếp một chuyện …
-Quý hóa quá, quý hóa quá. Capone này có làm gì được cho cụ thì luôn
luôn sẵn sàng. Tụi bay đâu, lấy cái gì mời cụ giải khát coi. Cụ dùng gì? Cụ cần gì bảo tụi nó đem lên cho cụ, cái gì không có thì xuống dưới nhà hàng lấy đem lên.
-Qúy hóa quá …
Người cuối cùng xếp tiếp đón là Oliver Randal:
-Hello Ollie, ông bạn già của tôi. Ông chờ lâu chưa? Tụi bay đâu, làm
cho ông bạn Ollie một ly cognac tổ chảng coi. Mà nhớ phải lấy thứ thật quý mới được. Tao biết tính ông buôn bán bất động sản này, phải có chút rượu vào thì mới nói chuyện đất đai được. Tình hình thế nào, buôn bán có khá không?
Xếp vừa chào hết một vòng, Guzick lễ phép mời ông thượng nghị sĩ vào
văn phòng trước. Xếp lịch sự nhường bước cho ông nghị:
-Mời ông nghị vào, chúng ta nói chuyện.
Chờ cho Guzick và ông Thượng nghị sĩ vào xong, xếp gật đầu ra dấu cho thằng cận vệ đóng cánh cửa văn phòng lại. Guzick mở hộp xì gà Cu Ba để trên bàn
rồi vòng ra phía sau pha hai ly cognac thật lớn. Hắn chuẩn bị xong khay rượu rồi ngồi vào cái ghế xéo xéo sau lưng xếp. Xếp cầm ly rượu, chỉ vào hộp xì gà:
-Mời ông nghị một điếu. Lúc này có chuyện gì đặc biệt không?
-Cũng thường thôi Al. Công chuyện buôn bán lúc này thế nào?
Xếp đưa bàn tay ra, lật úp lại, lắc lắc:
-Mỗi cơ sở thương mại có một khó khăn riêng. Lúc này, hình như trên Hoa
Thịnh Đốn có vẻ để ý đến tôi nhiều, ngài có nghe thấy gì không?
-Thực tình mà nói, tiếng tăm của ông đã vang dội không phải chỉ trong lục
địa Hoa Kỳ mà cả đến Âu Châu nữa. Một người bạn tôi kể là tháng trước sang
Pháp, ông ta đã thử hỏi người tài xế Taxi là có biết tên của tổng thống Mỹ là gì
không? Người tài xế thành thật nói không biết tên tổng thống Mỹ nhưng có biết Al Capone ở Chicago.
Xếp Al Capone bật lên một tràng cười to và dài. Dường như xếp khoái chí
lắm. Tổng thống mà người ta không biết, lại đi biết đến tên thằng Al Capone này thì đáng cười cũng phải. Nhưng nụ cười vụt tắt ngay khi xếp nghĩ đến thằng cớm Eliot Ness:
-Ông có biết là Hoa Thịnh đốn vừa gởi xuống đây thằng cớm kỳ lạ lắm
không?
-Không.
-Còn thằng cha Thượng nghị sĩ Brown, tôi có làm gì nó mà nó lại cay cú tôi
dữ vậy?
Thượng nghị sĩ Phil châm lửa điếu xì gà, hồm hỉnh:
-Nếu tôi nghiện xì gà là ông bạn Al phải chịu trách nhiệm đó nghe … Để
tôi giải thích cho Al hiểu. Vấn đề nó như thế này: Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ, chính phủ Hoa Kỳ làm việc theo ý kiến của nhân dân, mà người đại diện nhân dân chính là các nghị sĩ. Ông Brown, theo tôi nghĩ, cũng vì cử tri của họ làm áp lực mà phải lên diễn đàn để công kích ông như vậy thôi, ông không nên để ý đến. Tôi xin nói thật, dù sự thật có hơi đau lòng: Ông biết ở Hoa Thịnh Đốn, ai nghe nhắc đến tên Al Capone cũng đều ghét.
Mới cười cười nói nói đây mà mặt Xếp Al Capone bỗng đỏ rực, ánh mắt
chiếu ra những tia hung dữ khác thường. Nhưng xếp ráng giữ giọng mình cho thật thấp:
-Bọn chánh khách khốn nạn! Tụi nó chỉ nhìn thấy những cái xấu của Al
Capone do báo chí đăng tải, còn những cái tốt, những việc hay sao không thấy thằng nào nhắc đến hết như việc Al Capone đã mở ba cái tiệm cơm xã hội cho những thằng thất nghiệp ăn uống khỏi trả tiền đã mấy năm nay, phát quà Noel cho các trẻ em nghèo ở khu lao động, đóng tiền xây mấy cái khu vườn chơi cho trẻ ở Chicago v.v … Những chuyện đó sao không có thằng nào nhắc đến hết? Và còn nhiều nữa?
Sao tụi nó bất công vậy?
-Tôi không muốn phê bình, chỉ kể lại cho bạn Al nghe những gì xảy ra ở
quốc hội. Đa số các nghị sĩ mới, nhất là những người trẻ đều cho rằng đạo luật cấm rượu là vô lý, những gì xảy ra trên đất nước Hoa Kỳ chỉ là hậu quả của đạo luật đó. Hiện nay, có một nhóm nghị sĩ đang vận động để hủy bỏ đạo luật cấm rượu vô lý này.
Câu nói cuối cùng của Thượng nghị sĩ Phil làm xấp Al Capone giựt mình.
Xếp nhỏm người tới trước, tròn mắt lại:
-Ngài thấy tụi nó có thể thành công không?
Thượng nghị sĩ Phil gật đầu:
-Hiện thời họ đang gặp phải phản ứng mạnh của các nghị sĩ ở miền Bắc và
miền Trung là nơi bị nhiều ảnh hưởng của tôn giáo, nhưng tôi nghĩ họ sẽ thuyết phục được các nghị sĩ này trong một thời gian ngắn.
Xếp dụi tắt điếu xì gà. Bực tức làm gì cho vô ích, tụi nó ở mãi Hoa Thịnh
Đốn, đâu có gởi người về đó để làm thịt cho hết được. Thượng nghị sĩ Phil nói đúng, Al Capone chỉ là … hậu quả của đạo luật cấm rượu. Nếu cách đây 10 năm không có đạo luật Volstead Act cấm dân nấu, cấm sử dụng và tàng trữ mọi loại thức uống có chất cồn thì đã không có đế quốc Al Capone. Đế quốc đang trên đà phát triễn ngày càng mạnh, người ta có thể diệt được Al Capone này nhưng sẽ có một Al Capone khác xuất hiện ra liền để tiếp tục con đường đang lên của đế quốc. Sẽ không có ai triệt hạ đế quốc này được cả ngoại trừ, phải, ngoại trừ một đạo luật cho phép người ta xử dụng rượu bia trở lại …
Xếp nhíu mày suy nghĩ. Từ lâu, xếp biết một ngày nào đó dân chúng Mỹ
sẽ cho hủy bỏ đạo luật vô lý này nhưng xếp không muốn nó xảy ra quá sớm. Xếp chỉ cần chừng 5 năm nữa, không, đúng hơn là 3 năm thôi, đế quốc Al Capone sẽ có đủ tiền và sức mạnh để trở thành một hãng sản xuất bia rượu lớn nhất trên thế giới, có đủ các chi nhánh tại mọi thủ đô để thao túng thị trường. Xếp biết ngay việc làm trước mắt nên vào đề liền:
-Ông nghị đến thăm tôi chắc có việc cần … bàn?
-Đúng. Ông biết mùa bầu cử lại sắp đến …
Xếp cười:
-Người dân Chicago chỉ cần đếm số lượng mấy ông dân cử ra vào văn
phòng tôi là có thể biết ngày đi bầu đã sắp tới … ha … ha … Mà người ta nói ở đất Mỹ này, chỉ cần trúng cử quá hai lần là từ đó về sau có trốn trong nhà cũng bị dân lôi cổ ra để bầu. Ông đã làm đến bốn nhiệm kỳ rồi, cần gì đến tôi nữa?
-Có thể đúng như vậy … nhưng lần này khác hơn mọi năm.
-Ông bị cái sì căng nào đăng?
-Ông bạn Al Capone quả thật là người cao kiến, cái gì cũng biết hết. Thật
ra, đó là một chuyện tình … buồn.
-Chuyện tình nào chả buồn, nói tiếp đi.
-Năm ngoái, con nhỏ thư ký của tôi … ông hiểu chuyện lửa gần rơm lâu
ngày cũng bén mà, hai đứa chúng tôi trở thành một cặp nhân tình, tôi vô ý nên
em … có bầu.
-Thì có sao đâu, mua cho em căn nhà, cho em vài chục ngàn để em nuôi
con. Chuyện này xảy ra hằng ngày như cơm bữa mà.
-Nếu tôi đã làm vậy thì cũng đỡ. Đàng này, tôi lại ép em đi phá thai. Con
nhỏ nhất định từ chối. Trong lúc bối rối, tôi cho người thuốc cho nó mê rồi đem đi … nạo cái bào thai mấy tháng ra …
Xếp Al Capone nhăn mặt:
-Tàn nhẫn vậy ông nghị? Ông hơn tôi ở cái khoảng này, em còn sống
không?
-Còn! Sau đó, tôi biết lỗi của mình, đã tính ly dị vợ tôi và cưới em để
chuộc lại cái lỗi lầm xưa nhưng em nhất định cự tuyệt. Em coi tôi như kẻ thù truyền kiếp và có thề rằng sẽ làm mọi cách để đưa vụ này ra ánh sáng để tôi không thể ra tranh cử lần sau nữa …
Xếp cắm điếu xì gà vào môi, Guzick lẹ tay châm lửa cho xếp. Vụ này hơi
khó nghĩ. Xếp Al Capone xưa nay chuyên đi ăn thua với dân dao búa, chưa bao giờ ăn thua với đàn bà, đặc biệt với người đàn bà trong hoàn cảnh như vậy.
-Ông muốn tôi làm gì nó?
-Tôi muốn bạn bảo đảm là nó sẽ không mở miệng hay đưa vụ đó lên báo
chí.
Xếp Al Capone ngồi im một lúc, đắm chìm trong sự suy nghĩ. Điếu xì gà
trên tay đã tắt lửa xếp vẫn không biết. Lát sau, xếp nhìn Thượng nghị sĩ Phil, nói chậm rãi từng tiếng:
-Thượng nghị sĩ Phil, ông biết đây là một chuyện rất khó khăn, nói đúng
hơn là vô cùng khó khăn đối với tôi. Giả dụ như ông muốn bắn gục cái thằng nào dám ra tranh cử chống lại ông tôi làm được, hoặc ông muốn tôi đặt một trái bom 500-pound ngay giữa Thượng Viện tôi cũng có thể làm được, nhưng đứa con gái mà ông vừa nhắc đến thật là khó. Khó nhưng không phải không làm được. Trước khi trả lời ông, để tôi hỏi ông coi ngược lại, ông sẽ làm gì cho tôi?
-Tôi sẽ bỏ phiếu chống lại đạo luật bỏ rượu.
Xếp lắc đầu:
-Chưa đủ.
– Tôi sẽ thành lập một ủy ban vận động để đạo luật cấm rượu được tồn tại.
– Khá hơn nhưng vẫn chưa đủ.
-Tôi sẽ bảo đảm với ông đạo luật cấm rượu đó sẽ tồn tại trong một thời
gian nữa …
-Ba năm. Tôi chỉ cần ba năm nữa là xây dựng xong đế quốc Al Capone
của tôi.
-Tôi sẽ cố gắng, hy vọng có thể làm được.
Xếp châm lửa điếu xì gà đã tắt ngấm:
-Còn điều này nữa, ông có thể làm áp lực gì với bên tư pháp không?
-Thời buổi này ông bạn biết, tư pháp rất mạnh, nhưng với tư cách của một
Thượng nghị sĩ, tôi cũng có thể nói chuyện được, mà phải tùy theo chuyện gì mới được.
-Tốt. Ông làm sao kiếm ra một cái cớ gì đó, nói với họ để họ triệu thằng
thanh tra tên là Eliot Ness về lại Hoa Thịnh Đốn. Tôi không ưa thằng đó.
-Eliot Ness, tên này nghe như quen quen .. à phải cái thằng đem cảnh sát
hành quân vô khu hàng của ông không?
-Đúng.
-Nó cũng là một thằng cớm liên bang thôi. Ông đừng giả vờ, xưa nay ông
đã cho bao nhiêu thằng cớm như vậy về chầu diêm chú rồi, sao lại ngán thằng này như vậy?
-Ông Thượng nghị sĩ, xin ông đừng bắt tôi cắt nghĩa. Tôi hỏi ông có thể
làm được không?
Thượng nghị sĩ xích người gần sát Al Capone:
-Ông bạn Al, hồi nãy, tôi đề nghị với ông một việc, ông cho rằng khó. Ông
biết cái chuyện mà ông vừa nói với tôi nó còn vô lý và con nít gấp mấy lần. Ông biết quốc gia Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ chứ không phải là một quốc gia độc tài. Dù là một Thượng nghị sĩ, tôi lấy tư cách gì để bắt họ kéo thằng thanh tra đó về?
-Thì ông cứ nghĩ ra một cái tội gì đó, như là tội xử dụng pháp luật quá nặng
tay hay gì gì đó mà kêu réo lên. Có thể vì sợ tai tiếng, họ có thể kéo nó về. Tôi biết ông có nhiều trò lắm mà.
Thượng nghị sĩ Phil vẫn lắc đầu:
– Không thể được. Chính phủ Hoa Kỳ đâu có làm việc như vậy. Nếu người
đó có tội, pháp luật sẽ trừng phạt họ, tôi lấy thẩm quyền gì …
Xếp Al Capone cắt ngang:
-Nếu ông nghị không đồng ý thì ông có quyền từ chối ngay liền bây giờ.
Coi như chúng ta không có ràng buộc gì với nhau hết.
Thượng nghị sĩ Phil đứng dậy, tiến tới sát bên xếp Al Capone, nói bằng một
giọng rất ân cần, rất tha thiết:
-Al, chúng ta cần nhau. Tôi mong bạn hiểu chuyện đó, bạn dư biết rằng tôi
sẵn sàng làm bất cứ mọi chuyện gì trong khả năng tôi cho bạn vừa ý. Nhưng bạn nghĩ coi, người ta sẽ nghĩ như thế nào khi thấy đương không một ông thượng nghị sĩ nhảy vào bộ tư pháp đòi họ rút một … nhân viên cảnh sát từ Chicago về. Cổ kim chưa có chuyện nào vô lý như vậy. Tôi có thể và có quyền đòi tổng thống thay thế một bộ trưởng tư pháp vì một lý do nào đó nhưng không thể nào có thể đòi bộ tư pháp rút một nhân viên của họ về. Bạn thông cảm cho tôi.
Xếp Al Capone nhìn ông Thượng nghị sĩ mặt vẫn không đổi sắc:
-Vậy thì ông nói thẳng với ông bộ trưởng tư pháp rằng nếu không rút thằng
chó đẻ Ness về thì ông sẽ đòi ông ta từ chức.
Ông Thượng nghị sĩ thở dài, ngồi phịch xuống ghế. Trong một giây phút,
ông muốn đứng dậy bước ra khỏi căn phòng trang trí loè loẹt này. Thằng du đãng này ngu quá sức. Nó cứ tưởng hễ là thượng nghị sĩ thì muốn làm gì thì làm. Nhưng ông không làm thế được. Ông biết thằng Al Capone này không bao giờ tha thứ cho ông việc đó, nó sẽ đoạn giao với ông. Và làm vậy, có nghĩa là cái ghế Thượng nghị sĩ kỳ tới coi như khó giữ vững được.
Xếp Al Capone lại đẩy tới phía ông hộp xì gà mở nắp sẵn:
-Làm một điếu đi rồi trả lời tôi.
Ông Thượng nghị sĩ châm lửa điếu xì gà thứ hai, không chừng chút khói
này sẽ làm ông sáng suốt trở lại. Giọng của xếp Al Capone vẫn đều đều:
-Tùy ông đấy ông Thượng nghị sĩ Phil. Nếu ông muốn hợp tác thì đó là điều
kiện của tôi. Cũng như khi tôi nhận điều kiện của ông, tôi đâu có ý kiến gì đâu?
Thượng nghị sĩ trả lời sau một lúc suy nghĩ:
-Tôi đồng ý là tôi sẽ cố gắng. Còn kết quả ra sao thì tôi xin chịu.
Xếp Al Capone đứng dậy tiễn ông Thượng nghị sĩ ra cửa:
-Tôi biết ông làm được mà ông Phil. Tiểu bang Illinois thường bảo ông là
“người có nhiều quyền lực nhất thượng viện Hoa Kỳ mà … “
Ông Thượng nghị sĩ bắt tay Al Capone rồi gấp rút đi ra cửa, làm như nếu
còn ở lại thêm chút xíu nào nữa thì Al Capone có thể nghĩ ra thêm vài việc khác để “nhờ cậy” vậy. Xếp xoay người nói nhỏ với Guzick đang đứng sau lưng:
-Ông theo dõi vụ này. Giao cho thằng Frank Nitti điều tra coi thử xem con
nhỏ đó ở đâu, làm nghề ngỗng gì, báo cáo gấp.
Guzick ghi trọn những điều xếp nói vào cuốn sổ xong tiến ra mời ông cụ Wt vào. Ông già đã trên 75 tuổi mà vẫn còn lanh lẹ lạ thường. Ông tiến vào phòng,
ngồi xuống cái ghế bành trước bàn giấy xếp bằng một cử chỉ khoan thai, tự tín.
Không chừng coi còn có vẻ ngon lành hơn cha Thượng nghị sĩ hồi nãy.
Cánh cửa phòng đóng lại, ông già từ chối điếu xì gà của xếp Al Capone:
-Cám ơn ông Al Capone, ở tuổi tôi, hút thuốc là tự sát.
-Cụ Wt, Al Capone có thể giúp được cho cụ gì đây?
-Tôi đại diện khu Fleur d’or đến đây, đúng hơn, tôi là chủ tịch của cộng
đồng Fleur d’or. Họ cử tôi đến để nhờ ông giúp cho chúng tôi một chuyện chúng tôi không làm nổi, mà các cơ quan pháp luật cũng chẳng giúp gì được …
-Cụ khỏi cần dông dài, cứ vào đề, tôi xem thử nếu giúp được thì sẽ sẵn sàng.
-Chuyện nó như thế này: Cộng đồng chúng tôi ở xưa nay vốn là một nơi lý
tưởng nhất Chicago. Chúng tôi không giàu, ông biết, nhưng chúng tôi sống đàng hoàng, ai lo chuyện nấy, chăm sóc nhà cửa v.v … Trong suốt hai mươi năm qua, chúng tôi chưa hề có một vụ trộm cắp, một vụ ấu đả hay tai nạn nhỏ nào cả …
Ông cụ nhìn về xa xăm như ráng nhớ lại thưở vàng son yêu dấu.
-Như ông biết, tôi năm nay tuổi đã lớn, tưởng sẽ được yên ổn sống như thế
cho đến ngay giã từ cuộc sống. Nhưng đâu được, cách đây khoảng sáu tháng, có một gia đình không hiểu từ đâu dọn về. Họ mua căn nhà đầu ngõ, của một bà góa bán để về ở với con gái. Đúng ra, tôi phải nói đây là một đảng cướp chứ không phải một gia đình. Gia chủ là một con người khó tánh, dơ dáy, gian ác và say sưa tối ngày …
-Say sưa tối ngày?
– Vâng, để tôi kể tiếp về chuyện say sưa tối ngày này. Mới đầu chúng tôi
cũng chẳng để ý, nhưng chúng nó cứ càng ngày càng lộng hành, nuôi chó nuôi mèo, nuôi luôn cả gà cả ngỗng nữa mới chết chứ. Ông coi, cái khu phố của chúng tôi đẹp như vậy mà chỉ trong vòng vài tháng sau khi bọn nó dọn về, đi ngoài đường nhìn và ông sẽ không còn nhận ra nó nữa. Nó dơ dáy, bẫn thỉu, chó mèo gà vịt chạy khắp xóm … Chúng tôi bèn ngồi lại để bàn tính và cử người đại diện đến nói phải trái cho chúng nó nghe …
Xếp Al Capone gật gù cái đầu.
-Nhưng nào chúng nó có thèm nghe. Chẳng những không nghe, nó còn lấy
súng ra hăm dọa người đại diện của chúng tôi, bảo rằng lần sau mà bước chân vào khu đất nhà nó là nó cho ăn kẹo đồng. Chúng tôi gọi cảnh sát. Họ có tới nhà ngồi nói chuyện với gia chủ nhưng lúc trở ra, thầy nào thấy nấy … uống rượu say mèm, đi đứng lạng quạng nghiêng ngã. Chúng tôi lên gặp ông cảnh sát trưởng thì ông ấy bảo cảnh sát không có thẩm quyền về vấn đề “ăn ở dơ dáy” của người khác. Tôi có đề cập tới vấn đề nấu rượu lậu của thằng này, cảnh sát bảo họ không có đủ nhà tù để nhốt hết những người nấu rượu lậu …
-Bác cho tôi địa chỉ của thằng đó đi. Ông muốn chúng tôi giết nó chết hay
làm gì?
Ông cụ già nhảy lên như người ngồi trúng một hòn than nóng:
-Không không, xin đừng giết nó, tôi chỉ muốn làm sao mà nó dọn ra khỏi
khu chúng tôi đang ở là được rồi. Chúng tôi có người sẵn sàng mua lại cái nhà nó đang ở với giá phải chăng hoặc mắc hơn cũng được. Chúng tôi chỉ muốn bảo vệ và làm đẹp cái khu phố của mình thôi.
Xếp quay sang Guzick:
-Giao chuyện này cho thằng Frankie Rio, bảo nó làm đúng như lời bác nói
đây. Nếu nó cứng đầu quá thì tùy ý mà hành động. Chicago này có chết thêm một thằng “ăn ở dơ dáy” lại biết nấu rượu lậu nữa cũng chẳng sao.
Cụ già bây giớ mới đề cập đến vấn đề khó khăn nhất:
– Thưa … thưa ông Capone, để đền ơn ông, xin ông cho biết chúng tôi phải
làm gì để đền ơn ông ạ?
Xếp xua tay:
-Ôi, ơn nghĩa gì một cái chuyện cỏn con này. Tôi nghĩ đây là một bổn
phận công dân nhỏ, một “Civic Duty” mà tất cả mọi người phải đóng góp. Nhưng trong tương lai, nếu thằng AI Capone có cần gì, chúng tôi sẽ đến nhờ bác sau. Nhé.
Ông già cầm mũ đứng dậy từ giã xếp. Bắt tay ông cụ, xếp Al Capone để ý
thấy bàn tay ông ta run lên bần bật, bèn trấn an:
-Nói vậy thôi chứ tôi cũng chẳng bao giờ dám phiền đến bác đâu. Bác lớn
tuổi rồi, nên tận hưởng cuộc đời còn lại của bác.
Ra tới cửa, xếp bảo một thằng cận vệ:
-Mày lấy cho tao hai chai Whiskey Canada để tao biếu cụ, nhớ lấy thứ
ngon nhất. Nhờ cụ gởi lời chào của Al Capone này đến cộng đoàn của cụ nhé.
Ông cụ ôm hai chai rượu quý, cám ơn hai ba lần trước khi ra về. Xếp nhìn
Oliver Randal, sắp sửa ngủ gục trên cái ghế vì chờ đợi lâu quá:
-Phần quan trọng nhất là người bạn của tôi, mời ông bạn Ollie vào đây.
Trong văn phòng, sau một tua rượu, xếp vỗ nhẹ nhẹ vài vai Oliver Randal:
– Tôi có chuyện này muốn nhờ ông.
-Xếp biết tôi luôn luôn sẵn sàng với xếp mà.
-Good! Lần này cũng là một chuyện liên quan đến thằng Ness. Tôi muốn
ông lên gặp nó cho tôi.
Oliver Randal giựt mình, suýt tí nữa thì té xuống ghế. Nó biết xếp không
nhờ nó xách súng đi săn thằng này. Dưới tay xếp có cả bao nhiêu thằng để lo những việc như vậy. Hay là xếp muốn mình ôm một cái cặp táp đầy bom để tới gặp nó?
Hay mang thuốc độc tới thuốc nó. Oliver Randal không dám nghĩ thêm.
Xếp nhìn thấy vẻ mặt hốt hoảng của Oliver Randal, cười lớn:
-Bình tĩnh lên chút xíu ông bạn. Al Capone này không có nhờ ông bạn làm
gì nguy hiễm đâu.
-Xếp muốn tôi làm gì nó?
-Tôi muốn nhờ ông xách một … va li bạc lên gặp nó.
Thì ra thế, Oliver Randal thở phào nhẹ nhõm. Gì chớ ngoại giao liên lạc là
sở trường của nó mà.
-Thì xếp muốn nhờ gì, tôi có bao giờ từ chối đâu? Nhưng báo cho xếp biết,
thằng này không thuộc vào hạng dễ mua đâu.
Xếp đứng dậy, nụ cười trên môi im bặt. Xếp tới bên cửa sổ, nhìn xuống
đường:
-Tất cả mọi người, … mọi người, ai cũng vậy, đều có thể mua được. Cái vấn
đề là ta có chịu trả đúng giá hay là không?
Xếp hỏi thằng Guzick:
-Ông định giá nó bao nhiêu?
-Lần đầu, 50 ngàn đô. Chúng ta chưa bao giờ ra mắt ai bằng cái giá đó.
Sau đó, tùy theo công việc, có thể hơn.
-Oliver Randal, ông nghĩ sao?
-Dạ xếp, tôi thấy cái giá đó có hơi quá. Theo tôi, cỡ 20 ngàn là đủ.
Xếp ngậm điếu xì gà vào miệng, đưa tay ra dấu cho thằng cận vệ đứng sát
bên cạnh vừa chìa cái hộp quẹt ra khỏi cần mồi lửa:
-Giá bắt đầu của nó phải là 200 ngàn.
-200 ngàn?
-Không thể ít hơn 200 ngàn được.
Guzick tính phát biểu một câu gì, xếp Al Capone ra dấu cho hắn:
-Quí vị có biết tại sao Al Capone này từ một thằng không ra gì, chỉ trong
mười năm mà xây dựng được một đế quốc to lớn như thế này không? Tôi đã nói nhiều lần, đã nhấn mạnh hàng trăm lần là cái bí quyết của sự thành công là biết lúc nào cần phải tiến, lúc nào cần phải lùi, biết chi đúng chỗ, và chịu chi chớ không tiếc tiền. 200 ngàn đô la, lớn thật, nhưng so với một đế quốc như đế quốc của mình thì 200 ngàn có đáng vào đâu?
Guzick cho ý kiến:
-Đồng ý rằng nó quan trọng, nhưng dù có tài giỏi đến đâu nó cũng chỉ là
người, một người như bao người khác, tại sao chúng ta lại phải trả giá nó cao quá.
Xếp biết trên Hoa thịnh Đốn họ còn thiếu gì thằng như thằng Ness này? Nếu mỗi tháng họ cứ gởi xuống đây một thằng như nó thì mình làm gì còn tiền để trả cho hết?
Xếp búng tay. Cái bật lửa trong tay thằng cận vệ mở ra nghe đến cách một
tiếng cho xếp mồi điếu xì gà. Xấp nói qua hơi khói:
– Không. Sẽ chẳng có thằng cớm nào như thằng Ness này cả. Cả Hoa
Thịnh Đốn, cả nước Mỹ này chỉ có mình nó. Nó là một thứ siêu nhân. Để tôi hỏi thiệt quý vị cái này, quý vị có bao giờ tin vào cái mà người ta gọi là linh tính không?
Không ai trả lời.
-Linh tính là một cái gì siêu phàm, là một cái gì mình biết mà khoa học
không thể cắt nghĩa được. Những nhà lãnh đạo giỏi trời đều cho một cái linh tính đặc biệt. Lăn lộn giang hồ đến nay gần ba chục năm, sỡ dĩ tôi còn sống được đến ngày hôm nay là nhờ trời phú cho một cái linh tính đặc biệt. Đã bao nhiêu lần, thằng này đã thoát chết trong đường tơ kẻ tóc, thoát một cách lạ lùng làm như có bàn tay vô hình bí mật nào giúp đỡ mà không ai hiểu hay cắt nghĩa được.
Cả phòng vẫn im lặng. Xếp đi đi lại lại, tiếng chân gõ trên nền nhà nghe cồm cộp:
-Trước khi thằng Ness xuống đây, tự nhiên tôi đã cảm thấy có một cái gì
kỳ lạ sắp sửa xảy ra. Một mối lo lắng lạ lùng, bất thường, không hiểu đến từ đâu. Một buổi sáng, khi nhìn thấy cái mặt thằng Ness trên báo, tôi biết nó chính là cái mà tôi đã lo sợ từ bao lâu nay. Coi, nó chỉ là một thằng cớm như bao thằng khác. Đời tôi, nói về cớm thì chính tay tôi đã bắn chết vài thằng, còn ra lệnh thủ tiêu thì cũng ít nhất chục thằng, có bao giờ lại thấy sợ hay lo lắng gì đâu?
Xếp tới bến quày rượu, rót một ly:
-Cái đó tôi không thể nào hiểu được. Nghe tin nó đến từ New York là tôi
gởi Oliver Randal lên đó liền để điều tra thử xem thằng này có đáng sợ không? Linh tính của tôi không lầm. Nó là thằng rất đáng sợ. Luciano có nhắn với tôi là nếu không mua được nó thì nên giết liền tức khắc, vì nó hành động rất lẹ và khôn ngoan vô cùng. Băng của thằng Galverio ngon lành như vậy mà chưa kịp ra tay đã bị nó đập cho tơi bời hoa lá, chỉ thủ chứ không có công được và cuối cùng bị dẹp tan. Ba mươi mấy đứa ra tòa với tổng số án tù là gần 500 năm chia đều cho tất cả. Nhiều thằng bị bắn gục ngay tại bến tàu, còn thằng Galverio thì bị đàn em nó còng tay lại rồi … thảy xuống sông. Nếu nó còn ở thêm New York chừng một năm thì không những thằng Luciano mà ngay cả đến “ngũ đại gia đình New York” cũng sẽ bị khốn đốn.
Oliver Randal đứng lên rót một ly cognac. Hắn tính hỏi “sao xếp không ra
tay thịt nó liền đi, để lâu làm gì” nhưng không dám. Hắn ráng giữ đúng cương vị của một người mua bán bất động sản, không xía vào chuyện người khác, nhất là những chuyện có dính dáng đến máu như vầy.
-Cách đây mấy tuần, khi Oliver Randal vừa về, tôi thấy khó mà mua nó
được nên đã tính cho thằng Frank Nitti đi làm thịt ngay ngày hôm đó. Chúa còn
thương nó. Đang tính toán thì tôi bị lên cơn bệnh nằm liệt giường mấy ngày liên tiếp, khi khỏe khoắn thì lại quên luôn ý định của mình. Vậy bây giờ, Oliver Randal, tôi muốn nhờ ông xách cái va li bạc này lên gặp nó.
-Tại đâu?
-Đâu cũng được, cái đó tôi để tùy ông.
-Theo lời xếp nói chắc khó mà mua nó nổi nhưng tôi sẽ cố gắng.
-Cố gắng và đừng nản chí. Nếu nó chê 200 ngàn, mình sẽ tăng số tiền.
-Nếu nó cũng không chịu?
Xếp Al Capone nhíu mày, nhìn ra khung cửa sổ:
-Lúc đó mình không còn cách nào cả.
Đang bước, xếp bỗng dừng chân, giơ cao cái ly đang cầm rồi thả cho nó rớt
xuống nền nhà. Cái ly vỡ tung nghe đến xoảng một cái, rượu văng tung tóe khắp nơi.
-Sự nghiệp của mình, nói đúng ra là cái đế quốc mà mình đã đổ máu ra
trong mấy chục năm để xây dựng, không thể nào để cho nó vỡ tan như ly rượu này được. Không bao giờ …
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.