This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Eliot Ness phóng lên xe, Gary Malone ngồi bên cạnh, Lite leo lên phía sau.
Chàng phóng hết ga chở cả ba người về nhà, lòng vui rộn như ngày nào còn trẻ cùng đám bạn bè đi ngao du phong cảnh. Eliot Ness tròn miệng huýt sáo một điệu nhạc, thỉnh thoảng lắc lư cái đầu ra chiều rất đắc ý. Công tác của bộ tài chánh giao không biết chừng nào mới xong, nhưng kể từ lúc chân ướt chân ráo xuống Chicago, chiều hôm nay, lần đầu tiên chàng thấy ánh sáng đã lóe lên ở cuối con đường hầm.
Gary Malone ngồi bên cạnh thấy cũng có vẻ hả hê. Lâu quá rồi, dễ chừng
đã hơn 15 năm, hắn mới tìm ra một người bạn như Eliot Ness. Cha nội cớm liên bang này coi được quá chừng. Gary Malone nhớ đến lần gặp gỡ đầu tiên với ông cớm khó chịu này. Phải rồi, cái buổi sáng mà hắn đập nát chiếc xe của thằng Frank Nitti. Thật ra sáng hôm đó, sau khi nhìn tới nhìn lui chiếc xe đậu ngang xương dưới bảng cấm, hắn đã tính bỏ đi. Trời đẹp như vậy thì nên tìm một cái ghế đá nào mà ngồi ngắm trời ngắm đất cho sướng cái thân già, ai thèm đi hạch xách ba cái màn đậu xe vớ vẫn làm chi. Nếu như thằng tài xế ngồi trên xe chỉ việc nhìn ra ngoài cười cầu tài một phát thì Gary Malone cũng chẳng thèm chấp nó làm gì. Một con cọp dữ cỡ Gary Malone đâu thèm đi chấp những con nai ngu đần làm chi. Hơn nữa, những lúc sau này, nhất là mấy năm gần đây, Gary Malone cảm thấy hơi mệt mỏi và chán nản.
Cách đó vài tuần, một hôm buồn đời quá không có chuyện gì làm hắn bèn đi thăm thầy thuốc để kể lể sự chán nản của mình và xin ý kiến. Ông Bác sĩ phân tâm học già nghe chuyện xong lắc đầu bảo cho Gary Malone biết là sức khoẻ và bộ thần kinh của hắn bình thường, không có gì lạ cả. Chẳng qua đó chỉ là một dấu hiệu của tuổi già. Ổng còn khuyên thầy đội nên tập thể tháo, ăn uống kiêng cữ, bỏ hết rượu chè, tình nguyện tham gia vào những hội đoàn địa phương để hoạt động đi làm những công tác xã hội “cho cuộc đời bớt tẻ nhạc,” và chuẩn bị đón tuổi già đến với mình một cách an lành như hằng bao nhiêu người khác.
Gary Malone ra khỏi phòng mạch mà thấy tiếc cho 3 đồng bạc đã bỏ ra để
vào đây nghe một anh thầy lang dạy đời. Tập thể tháo thì 40 chục năm qua, ngày nào Gary Malone không luyện “Lưỡng Thiết Cầu”, cái môn võ rất bí mật nhưng rất là đơn giản của người Trung Hoa mà hắn may mắn học đường từ lúc nhỏ để đến nổi có biệt danh là “bàn tay thép”. Hai ngón tay của Gary Malone có thể bẻ cong đinh, đâm thủng ván và quan trọng nhất, chặt xuống đầu ai một cái thì cũng như người ta lấy búa sắt mà giộng vậy. Máu xịt ra có vòi liền và kẻ bị đòn chắc chắn gục liền tại chỗ. Nếu xui xẻo gặp hôm thầy đội nổi cơn điên thì … chết ngắt luôn là chuyện rất thường.
Ăn uống kiêng cử và bỏ rượu thì nhất định là không có Gary Malone rồi.
Hắn đã từng thấy thương hại cho những “thằng người” coi trọng mạng sống mình đến độ một miếng thịt, một hớp rượu cũng không dám uống. Sống … hèn như vậy chẳng thà đừng sống. Đối với Gary Malone, một tay cảnh sát từng tay không bẻ cổ bọn găng tơ Chicago liệng xuống sông, từng đánh xì phé với mạng sống của mình thì có sợ gì thần chết mà phải kiêng cử? Phải thì sống, còn không phải thì “thăng thiên” nơi miền hoan lạc, thèm chó gì cái cuộc sống này kìa? Vấn đề tham gia các hội đoàn để đi làm việc thiện nguyện còn thấy tức cười hơn. Nghề của thầy đội là nghề diệt du đãng mà có hội đoàn từ thiện nào ở Chicago này cần một tay súng hay một thằng biết đấm đá đâu?
Hắn đành lủi thủi đi về nhà, và chỉ đồng ý với ông thầy thuốc một điểm:
“Đó là dấu hiệu của tuổi già.” Suốt quãng đường đó, Gary Malone cứ suy nghĩ mãi về mình. Ai biết Malone bằng chính thằng Malone này?
Nhưng sáng hôm đó, cái thái độ kênh kệu mất dậy của thằng tài xế làm máu anh hùng của một quá khứ xa xưa nổi dậy trong người hắn. Từ đằng xa, Gary
Malone đã biết chỉ có dân mafia gộc mới dám đậu xe khơi khơi trước mũi cảnh sát như vậy. Tới gần hơn chút nữa, Gary Malone nhận ra ngay chiếc xe của thằng đệ nhất đao phủ thủ Chicago.
Thằng Frank Nitti, dù tiếng tăm của nó có vang lừng tới đâu, Gary Malone
chỉ coi nó như một đứa con nít. Ngay chính xếp của nó là Al Capone mà gặp Gary Malone còn phải kính nể một mực thì nó có nghĩa lý gì. Nhưng cuộc đời thường có những cái bất ngờ lạ lùng. Đã nói cọp rừng thiêng không thèm chấp nhất bọn thỏ cáo. Nếu thằng tài xế của Frank Nitti hôm đó không cương ẩu, chỉ cần chi một phát cười cầu tài thì Gary Malone cũng bỏ đi rồi. Dĩ nhiên chiếc xe Cadillac mấy chục ngàn đô la của chủ nó đã không bị đập nát, và Eliot Ness đã không có dịp thưởng thức tài nghệ của Gary Malone …
Quẹo xe vô nhà, nhìn vào dấu hiệu trên cánh cửa gỗ của hàng rào, Eliot Ness biết là Catherine không có nhà. Vì cuộc đời của một cảnh sát như Eliot Ness
có rất nhiều kẻ thù nên gia đình chàng có một hệ thống thông tin cho nhau một cách đặc biệt. Bằng những dấu hiệu nhỏ và đơn giản nhưng họ luôn luôn thông báo cho nhau được những khi cần kíp. Như cách gài cửa sổ hàng rào. Nếu chàng trở về và nhìn thấy cái then cài được để hớ hênh nửa trong nửa ngoài, đó là mọi chuyện bình yên và nàng không có nhà. Eliot Ness chỉ sợ nhất là nhìn thấy cái then cài bị lật ngược ra sau. Đó là dấu hiệu “Nguy hiểm lắm, có kẻ thù trong nhà”. Nếu then cài vậy mà tấm rèm cửa nơi phòng khách được kéo ra một phần ba, dấu hiệu chết người hơn: “Em bị bắt làm con tin trong này, … mau vô cứu gấp.” Cách đây mấy năm, gia đình chàng đã trải qua một lần kinh khủng như vậy nhưng nhờ có dấu hiệu thông báo, Eliot Ness đã lặng lẽ đi một đường ra sau nhà, dùng “độc đạo” mà chàng sáng chế ra để từ từ mò lên phòng khách, nơi một thằng khùng đang kê súng vào đầu Catherine để chờ Eliot Ness trở về. Truyện còn lại đâu có gì đáng nói. Một cái bang súng từ đàng sau đánh tới làm thằng khốn té lăn cù, lòm còm bò dậy thì cặp còng sắt đã bay ra, mổ cứng vào hai cánh tay. Eliot Ness gọi đàn em tới để chở thằng này vào ty chờ ngày ra toà nhưng sáng hôm sau, nghe nói nó bị bắn chết dọc đường vì tính chuyện tẩu thoát. Chàng biết và mọi người đều biết có cho kẹo thằng khốn
cũng không dám bỏ chạy. Chẳng qua nó đã phạm tới cái điều tối kỵ của cảnh sát, không thể tha thứ được: Nó dám đụng đến thân nhân của cảnh sát. Mày phạm tội gì cũng có thể đem ra toà án để xét xử được hết nhưng tội này là tử hình. Dù ông Ness đã cấm không cho nhưng đàn em cũng tìm được cách để xử tử hình được như thường.
Luật là luật mà. Eliot Ness cảm thấy hơi thất vọng. Chàng muốn đem ông hung thần Gary Malone này về khoe với vợ, nhưng điệu này thì đành phải chờ đến lần khác vậy. Mở cửa bước vào, ba người cùng ngồi nơi phòng khách. Gary móc ống tẩu ra, nhồi đầy một vố, thở khói ngi ngút lên trần nhà. Eliot Ness hỏi:
-Mấy ông uống cà phê.
Lite lẹ miệng xin một ly liền:
-Dạ, anh cho tôi xin một tách cà phê. Nhớ bỏ tí đường tí sửa.
-Còn ông, Malone?
Gary Malone cười. Hắn thò tay vô trong áo kéo ra một cái ve nhỏ:
-Ông khỏi lo cho tôi. Tôi có thức uống khác quý hơn. Cà phê chỉ uống vào
buổi sáng, buổi chiều nên uống thứ khác.
Tuy chưa bao giờ làm việc chung với Gary Malone nhưng Eliot Ness biết
hắn là một “tập họp” của những cái gì kỳ lạ, khác thường. Eliot Ness nhớ ra là cái số của chàng nó như vậy. Tất cả những nhân viên làm việc cho Eliot Ness thường có những con người nổi tiếng là “bất bình thường”. Mà nghĩ thấy cũng đúng. Nếu đầu óc không bất bình thường không ai lại chịu xông pha nơi hòn tên mũi đạn, mạng sống ngày nào cũng được tính từng giờ một để đi làm cái nghề nguy hiểm này với một số lương chẳng có bao nhiêu.
Không hiểu cái “bất bình thường” của ông nội “bàn tay thép” này cỡ nào nhưng nhưng Eliot Ness đoán phải là to lắm. Đa tài đa tật mà, chàng vừa bước lui ra
phía nhà bếp vừa suy nghĩ. Trong khi đó, Gary Malone vặn nút cái ve nhỏ đen thùi lùi ra, ngữa cổ đưa lên làm một hơi rồi bỏ xuống, khà một cái ngon lành.
Lite đang còn ngạc nhiên thì thầy đội đã thẩy cái ve tới:
-Chú mày muốn thử chút không?
Từ lúc thầy đội “đàn anh” móc cái ve ra, Lite đã nghi trong đó chứa những
gì, giờ nghe nói vậy bèn hoảng vía lên, giẩy nẩy:
-Cái gì vậy Gary?
Gary Malone tỉnh bơ:
-Đù mẹ rượu chớ còn gì nữa.
-Rượu!
Gary Malone chùi miệng:
-Đù mẹ chừng này tuổi đầu rồi không lý đi đâu cũng thủ một chai sữa trong người. Không phải là rượu thì là gì? Mà thứ này là thứ đặc biệt, nhập cảng từ
Canada qua đàng hoàng, không phải thứ cà chớn của mấy thằng chết đói nấu lậu đâu.
Nghe đến đâu, Lite thấy muốn … chết trong lòng đến đó. Là một cảnh sát viên trẻ tuổi, nó gia nhập nghành này vì muốn làm đẹp xã hội, muốn tống cổ mấy
thằng găng tơ, bọn ăn cướp vào tù để đem lại no ấm và hạnh phúc cho xã hội. Chính vì vậy mà Lite mới đi tình nguyện đi theo Eliot Ness và gặp được Gary Malone. Chẳng ngờ thần tượng hằng bao nhiêu năm của hắn, con người đã làm rúng động giới giang hồ Chicago lại là một thằng nghiền rượu hay sao? Theo đầu óc non nớt của Lite, muốn bảo vệ luật pháp, thì chính mình phải giữ luật cho đàng hoàng trước đã. Mình chuyên môn đi bắt rượu mà lại uống rượu như hủ chìm như thế này thì coi không ổn chút nào cả.
Nhìn thấy vẻ chới với trong ánh mắt thằng cảnh sát trẻ, tinh đời như Gary
Malone thì hiểu liền là thằng bé này đang nghĩ gì. Té ra là nó ngạc nhiên vì thấy mình uống rượu đây mà. Gary Malone chợt nhớ đến hình ảnh của mình cách đây trên 20 năm …Ngày ấy, mới vào nghề cảnh sát, Gary Malone cũng là một cảnh sát viên gương mẫu, nhìn đời qua lăng kính màu hồng, quyết đem tuổi trẻ để phụng sự pháp luật. Sau thời gian tập sự, Gary Malone được giao trông coi một khu ghetto nghèo của dân di cư có nhiều thằng du đãng mới lớn hay phá làng phá xóm, nổi tiếng là “bất trị”. Theo sự nhận định của cảnh sát lúc ấy, con nít mới lớn thì chẳng có gì nguy hiểm, có thể giao cho một thầy đội mới ra trường cỡ Gary Malone trông coi được. Thầy có thể dạy dỗ đám con nít này vừa học thêm kinh nghiệm để sau này đảm nhận những chức vụ khó khăn hơn.
Nhưng đâu có ai ngờ chính cái bọn con nít mới lớn lại là cái bọn nguy hiểm
nhất. Chúng nó còn trẻ lại có cái lợi thế là được pháp luật của cái xứ này gìn giữ nên đâm ra ngang ngược không thể nào trị được. Tệ hơn, hồi đó thầy đội làm gì có xe hơi, đi đâu cũng cỡi ngựa và mang gươm giống y hệt một hiệp sĩ thời trung cổ. Đi đứng coi oai vệ lắm nhưng sau mấy tháng hành nghề, thầy đội Gary Malone cứ bị khiển trách hoài vì từ ngày về “trấn nhậm” khu vực, nạn trộm cắp và phá làng xóm của bọn du thử du thực chẳng những không giảm mà còn có khuynh hướng “đi lên” mới là kẹt. Thầy đã cố gắng hết sức, lúc thì dọa nạt, khi khác lại còng đầu vài thằng đem vô bót nhưng chúng nào có sợ. Vừa được thả ra là bọn côn đồ tụ tập nhau lại và phá làng xóm còn nặng hơn xưa nữa như có ý nhắn với thầy đội trẻ tuổi rằng:
“Tài của thầy chỉ có vậy là hết rồi. Tưởng thầy làm được trò gì chứ bợp tai con
người ta rồi bắt đem về bót nhốt vài giờ thì đâu có hù được ai … “
Thầy đội trẻ tuổi Gary Malone căm lắm nhưng luật pháp Hoa Kỳ chỉ cho
mình xử dụng quyền hạn đến đó là hết. Tức đến học máu ra nhưng không thể làm gì hơn được. Vốn thượng tôn luật pháp, thày tự trách hay vì mình giữ luật không đúng để đến nổi bọn nó phải ra nông nổi đó. Tối tối về nhà, thầy chong đèn thức đêm tới mấy giờ sáng để ráng tìm trong cái mớ sách của trường cảnh sát, có một phương thức nào hay không để dẹp bọn du côn mất dậy.
Nhưng tìm mãi chẳng thấy. Trong khí đó, bọn nhô con vẫn lộng hành cho
đến một ngày, xếp trực tiếp gọi thầy đội Gary Malone vào phòng, đóng cửa lại rồi …chửi thẳng vào mặt chẳng nể nang gì cả:
-Bố mày là cảnh sát tuyệt hảo, … đẻ ra mày, tao tưởng mày nếu không được
bằng một nửa của bố thì cũng trên trung bình, hoa ra mày làm việc như … cứt.
Gary Malone tái mặt, ấp úng hỏi:
-Xếp cho tôi một thời gian nữa, tôi mới ra trường …
Người Thượng sĩ cảnh sát chửi thề:
-Nếu tao không nể mặt ông già mày thì tao đã tống cổ mày đi từ khuya rồi.
Làm việc như vậy mà cứ khoái mặc đồ cảnh sát đeo gươm làm những thằng cảnh sát khác phải ngượng lây. To con và sức lực như mày làm nghề phu khuân vác chắc có lẽ hợp lý hơn, chữ thọ lại bảo đảm nữa. Bây giờ, khỏi nói nhiều, tao cho mày một tháng, nếu cái khu trách nhiệm mà còn một lá đơn hay một lời than phiền về những vụ ăn cắp vặt, đấm đá vớ vẩn thì cút cha cái thân mày đi, đừng về đây mà nhìn mặt tao nữa. Trước khi cút, đừng quên trả cái mộc cảnh sát lại để tao kiếm người khác có khả năng hơn làm việc.
Thầy đội trẻ tuổi Gary Malone đang còn tính phân biện thì gã thượng sĩ già
đã đứng dậy, phất tay đuổi hắn ra ngoài như đuổi một thằng tội phạm tầm thường.
Gary Malone giận tím mặt lại nhưng biết tính tình xếp mình, đành lủi thủi bước ra. Tối đó, nhục nhã, đau khổ, hận đời, thầy đội Gary Malone đành lò mò tới
nhà cũ của mình để vấn kế ông cụ. Giòng họ Gary Malone đã có hai đời cớm trong máu, đến đời mình là đời thứ ba, chẳng lẽ để bị đuổi ra khỏi nghành thì mặt mũi nào mà dòm mặt tổ tiên. Ông cụ thân sinh của Gary Malone tiếp đón đứa con trai niềm nở, lại biểu vợ nấu nướng linh đình để đãi con. Bữa tiệc linh đình mà Gary Malone có ăn uống gì được đâu, chỉ thở dài và thỉnh thoảng nốc rượu lia lịa. Sang phần tráng miệng, Gary Malone mới tâm sự nổi khổ của mình cho bố nghe, và kết luận:
-Bố không cho ý kiến để giúp con thì chắc con bị đuổi sở, mất hết uy tín
của gia đình mình …
Ông thân Gary Malone cười ngất. Thằng con trai của ông, nổi tiếng là ngang ngược từ lúc còn đi học, đoạt giải vô địch quyền anh của trường và của Chicago trong mấy năm mà bây giờ sợ không làm tròn nhiệm vụ của một cảnh sát viên hạng bét thì quả là chuyện khôi hài. Sao cái máu cớm hai đời còn chờ gì mà không bốc lên trong người nó kìa.
Thấy ông già cứ nhìn mình cười mãi, Gary Malone đâm ngượng bèn hỏi:
-Bố, ngày xưa bố cũng là cảnh sát, bố làm sao để giữ được an ninh một khu
vực?
Ông già hỏi lại:
-Ngày xưa đi học trong trường, mày nổi tiếng là một thằng dữ tợn ai cũng
sợ, vậy để tao hỏi mày, mày làm sao để chúng nó nể sợ mày?
Cậu con nhớ lại dĩ vãng oanh liệt, cười hề hề:
-Tại con nóng tánh, nhìn thằng nào thấy gai gai con mắt là đập cho một
trận liền …
Ông thân Gary Malone vỗ tay đánh đét một phát:
-Mày nên nhớ, trường học và trường đời đều giống y như nhau. Cái khác
biệt là ở trường đời, luật lệ gắt gao hơn gấp vạn lần và nếu mày thua, thì không phải mình mày khổ mà cả gia đình và vợ con sẽ khổ …
-Bố muốn nói là làm cảnh sát, hễ thấy thằng nào gai mắt là cứ xông tới
đập chết mẹ nó ra như lúc còn đi học?
-Đúng. Thằng nào lạng quạng nói không được thì cứ tẩn cho nó mềm xương nó ra.
-Nhưng đâu có được, con đã thề trước thần công lý ngày ra trường là sẽ
bảo vệ luật pháp đến giây phút cuối cùng … Chưa đã hết, còn luật lệ, còn hiến pháp của quốc hội đã ban hành để bảo vệ quyền lợi của mỗi người dân, con làm vậy thì xã hội còn ra cái thể thống gì nữa?
Ông thân Gary Malone mồi một ống tẩu, phà khói um lên rồi trả lời:
-Luật pháp và hiến pháp cái … đít của tao. Mày phải hiểu, luật pháp được
lập ra để bảo vệ xã hội, dành cho những thằng biết tôn trọng luật pháp thôi. Những thằng không biết tôn trọng luật pháp thì cứ thẳng tay với chúng nó …
Gary Malone vẫn chưa hết thắc mắc:
-Là một cảnh sát, tức là người bảo vệ luật pháp, con nghĩ trước hết mình
phải tôn trọng luật đã, rồi mới bắt người ta tôn trọng được …
Ông thân Gary Malone ngắt lời con trai:
-Mày cứ tôn trọng luật pháp của mày theo kiểu trường huấn luyện cảnh sát
dậy đi, cứ áp dụng đúng những gì sách vỡ dạy đi, sáu tháng nữa trở lại đây để tao coi thử mày còn mặc bộ đồ cảnh sát này không cho biết … Mà nếu mày còn mặc được bộ đồ này, tao dám chắc là chẳng bao lâu, tao sợ sẽ phải đi đưa đám mày.
Gary Malone ngồi im, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Suốt đời,
bố làm cảnh sát, ngày hai buổi sáng cầm … dùi cui đi, tối ôm dùi cui về. Trong bao nhiêu năm mặc đồ cảnh sát đó, bố có bao giờ thèm mở miệng nói một câu gì về công việc của mình? Gary Malone biết tính bố, cũng chẳng bao giờ dám thắm mắc nhưng đoán là bố mình phải là một con người thượng tôn luật pháp nhất thế giới. Mà thật, bố bắt đầu áp dụng luật ngay từ trong gia đình, khởi đầu bằng cậu con trai quý tử. Đi chung với bố, chỉ cần xả một chút rác xuống đường là bố thẳng cánh giộng cho một bợp tai liền. Ngay cả thấy rác ngoài đường mà không chịu khó lượm lên bỏ vô thùng thì cũng bị cự. Bố hay bảo: “Mày biết không, nếu mỗi thằng con nít như mày mỗi ngày liệng một tờ rác xuống đường thì nước Mỹ này sẽ thặng dư bao nhiêu tấn rác? Hoặc nếu chúng mày chịu khó cúi xuống nhặt một tờ rác khi nhìn thấy thì đất nước này sẽ sạch sẽ hơn được mấy trăm tấn rác một ngày … “
Cho đến ngày Gary Malone từ giã bố lên đường đi học cảnh sát, bố cũng chẳng nói gì. Tốt nghiệp trở về, bố cũng chẳng nói gì. Cho đến ngày hôm nay,
trong giờ phút bi đát nhất của nghề nghiệp mà được bố giáo huấn mấy câu ngược đời vậy thì cậu cả không ngạc nhiên sao được?
Ông già mồi thêm một tẩu thuốc, tiếp:
-Mày biết một người cảnh sát giỏi là gì không?
-Thưa không.
-Vễnh cái lỗ tai của mày ra mà nghe tao nói câu này. “Một người cảnh sát
giỏi Là một người dám phạm luật để trị những thằng phá luật mà không ai biết là mình phá luật.” Suốt đời mày, mày nhờ lấy giùm tao câu này. Tao đã chờ một ngày như ngày hôm nay từ lâu lắm rồi. Tao biết một ngày nào đó, mày sẽ đến đây để năn nỉ tao để truyền cho mày một ít kinh nghiệm của nghề cảnh sát. Vậy thì, lời tao vừa nói là chìa khoá, là sự khôn ngoan của giòng họ này, suốt cuộc đời còn lại của mày, mày phải ráng mà nhớ lấy. Nếu mày biết áp dụng câu này khéo léo, sẽ đem được hạnh phúc lại cho gia đình, cho xã hội. Bằng không, mày nên kiếm một nghề khác mà sinh sống.
Liếc nhìn bộ sắc phục cảnh sát lộng lẫy với mấy hàng nút vàng bóng láng
trên áo của con trai, ông ta nói tiếp:
-Nếu mày không muốn làm cảnh sát, tao nghĩ mày chỉ nên đi làm … tướng
cướp. Cái số của mày nó như vậy rồi con trai …
Tối đó, từ giã bố trên đường về nhà, Gary Malone cứ suy nghĩ mãi câu nói
của ông bố, một cựu cảnh sát viên với hơn ba chục năm trong nghề: “Một cảnh sát viên giỏi là một người dám phạm luật để trị những thằng phá luật mà không ai biết là mình phá luật … “
Câu nói gì nghe sao mà lãng quá. Phá luật để mà trị những thằng phá luật
mà vẫn không ai biết thì thật là rắc rối. Ngày hôm sau, Gary Malone lại thắng yên lên ngựa, lòng rối bời, tà tà ra khu vực trách nhiệm cũ. Vừa vào tới khu phố, thầy đội chưa dạo hết một vòng thì một bà già đã nhào ra, ôm cứng cổ con ngựa khóc ngất.
Đúng luật cảnh sát, thầy đội Gary Malone xuống ngựa, thò tay tính móc ra
cuốn sổ “biên bản” để ghi chép như mọi lần. Bàn tay vừa cho vào túi bỗng thầy
khựng lại. Câu nói hồi tối hôm qua của bố lại trở lại ám ảnh thầy: “Một cảnh sát viên giỏi là một người dám phạm luật để trị những thằng phá luật mà không ai biết là mình phá luật … ” Xưa nay mình chỉ ghi ghi chép chép hết gần cả mấy cuốn sổ mà có giải quyết được cái gì đâu. Hay là cứ thử nghe lời bố một lần để giải quyết vụ này coi đã. Thầy chắc lưỡi nghĩ tiếp: “Dù gì ổng cũng là … bố mình, lại là cựu cảnh sát, ổng không dạy mình bậy đâu.”
Suy nghĩ xong là thầy Gary Malone xoay người, ra dấu cho người đàn bà
thôi khóc:
-Bà bị cái gì, bình tỉnh nói cho tôi nghe, tôi sẽ giải quyết cho bà.
Cái giọng nói của thầy đội trẻ tuổi Gary Malone lúc ấy tự nhiên có một sức
mạnh bí mật lạ lùng, khác hẳn những lần trước làm bà già nín khóc ngay và chính thầy đội cũng phải ngạc nhiên.
-Thầy ơi, vợ chồng tôi già rồi, chỉ còn có vài sợi giây chuyền và cái đồng
hồ vàng mà chúng nó cũng vào ăn cắp cho được.
-Tuị nào lấy và lấy hồi nào, lấy cái gì, có ai thấy không?
-Hu … hu, nếu thấy được thì tôi còn tới đây nhờ thầy làm gì? Chắc cũng mới
trong vòng một tiếng đồng hồ đây thôi. Hai vợ chồng tôi vừa đi lễ về thì thấy nhà cửa mở tan hoang … hu hu .. , tôi đã nói với lão già nhà tôi mà lão cứng đầu nhứt định không chịu nghe tôi, hu … hu, bây giờ mất của thì mới sáng mắt ra .. , nhờ thầy chận bắt chúng nó giùm, mới có một tiếng đồng hồ thì chúng nó không chạy đi đâu xa được đâu …
Thầy đội Gary Malone suy nghĩ mau lắm. Trong một khu phố nghèo với
nhà cửa san sát nhau như thế này thì cần gì tới một tiếng, chỉ một phút đồng hồ thôi là chúng cũng có thể lặn mất tiêu. Không lý chỉ vì một cái đồng hồ vàng mà xét hết một lần mấy ngàn cái nhà trong khu này à? Có muốn xét hết cũng không sao xét được. Bà già này tưởng cảnh sát là … trời con sao kìa? Khó nghĩ quá. Cứ theo như thông lệ thì thầy Gary Malone sẽ vào nhà làm một màn điều
tra lấy chi tiết, hỏi dăm ba câu vớ vẩn để chép vào biên bản. Xong đưa biên bản
cho bà già ký một phát rồi biểu diễn một nụ cười kèm theo câu: “Have a nice day” trước khi từ giã ra đi. Bà già nghèo khổ kia sẽ chẳng bao giờ nhìn thầy cái đồng hồ của mình, và thầy đội Gary Malone sẽ chẳng bao giờ tìm ra thủ phạm.
Nhưng hôm nay thì khác, mắt thầy đội Gary Malone tự nhiên long lên sòng
sọc, nhìn bà nói nhẹ nhàng:
-Bác cứ đi về nhà đi. Tên tôi là Gary Malone. Số thẻ hành sự là 982, tôi
sẽ lấy lại cái đồng hồ cho bác.
Từ lúc đi lễ về, nhìn thấy cửa sổ bị mở tang hoang, hai vợ chồng bà đã quì
ngay xuống đất mà cầu nguyện. Cầu nguyện xong bà chạy ra và gặp ngày thầy đội Gary Malone đang đi tuần buổi sáng thì tin là lời cầu nguyện đã được chấp nhận, chúa gởi ông này tới giúp mình thật. Thế là bà nhào tới, khóc lóc một thôi cho đỡ ấm ức trong lòng. Bây giờ nghe thầy đội Gary Malone hứa một câu như vậy thì bà càng mừng hơn nữa, chẳng sợ mắc cỡ, liền quì ngay xuống mặt đường mà tạ ơn thiên chúa. Gary Malone thấy cảnh đó không khỏi nhịn cười được, chờ bà đứng lên, liền hỏi thăm về chi tiết của cái đồng hồ, rồi kết luận:
-Xong rồi, tôi biết nhà bác ở đâu rồi, bác cứ về nhà, vài ngày nữa tôi đem
đồng hồ lại trả cho bác.
Bà già hớn hở ôm lấy Gary Malone hun một phát nghe đến chụt rồi quay
lui, mặt mày tươi tỉnh như là bà đã cầm lấy cái đồng hồ trong tay rồi vậy.
Nhìn bà lão bước đi, Gary Malone cũng thấy vui lây trong lòng. Thầy đội
trẻ tuổi chưa biết sẽ làm cách nào để lấy lại cái đồng hồ vàng cho bà ta nhưng mới áp dụng thử đòn “phá luật để bảo vệ luật” mà đã thấy có kết quả tốt rồi. Ít nhất, hắn đã làm vui lòng một bà già nghèo khổ đã có sự tin tưởng mãnh liệt nơi thiên chúa. Gary Malone phóng tót lên ngựa. Hứa thì ai hứa cũng được, chuyện quan trọng là có giữ được lời hứa không kìa. Gary Malone bắt đầu suy nghĩ một cách … phạm pháp để tìm cách lấy lại cái đồng hồ đã mất. Ý nghĩ đầu tiên là phải túm lấy một vài thằng đầu xỏ trong khu vực này mà tẩn cho mỗi đứa một trận rồi bắt nó khai chăng? Không được. Gary Malone biết rõ khu này hổn tạp, chúng nó đâu có tổ chức đàng hoàng như bọn mafia nên làm sao có đứa nào làm đầu sỏ. Vụ này nhất định phải là sản phẩm của một thằng nào kẹt tiền quá làm liều. Gom hết chúng nó lại rồi tát cho mỗi đứa một bợp tai chăng? Cũng không được. Gary Malone biết bọn con nít khu này. Tù tội chúng nó con chưa sợ thì sợ gì một cái bợp tai của cảnh sát. Hay là
treo một giải thưởng. Mà lấy gì để làm giải thưởng kìa. Lương cảnh sát đâu có bao nhiêu, nhiều khi không bằng một cú ăn hàng của chúng nó thì làm sao hấp dẫn chúng được. Hơn nữa, không lý mỗi lần có ăn cắp là mỗi lần bỏ tiền túi ra treo giải thưởng? Chịu gì thấu?
Rẻ ngựa sang một khúc đường khác, thầy đội Gary Malone bỗng nghĩ ra
một kế. Thằng nào đó bỏ công rình mò đi ăn cấp cái đồng hồ này để làm gì kìa? Chắc chắn không phải là dân sưu tập đồ cổ. Nó phải tìm cách bán tháo bán đổ để kiếm tiền xài. Mà nó bán cho ai? Nghĩ tới đây, Gary Malone bật cười lên một phát rất là khoan khoái. Có vậy mà nãy giờ kiếm không ra. Trong cái khu phố này, có nơi nào mua đồ “thổi” mau và kín đáo cho bằng tiệm chạp phô của lão Enabel. Thằng cha Do Thái mũi quặp này có cái gì bán được mà lão không mua. Ngay cả xác chết, nếu có giá thì lão cũng sẵn sàng cất một cái nhà để chứa xác liền. Dân Do Thái xưa nay sống bằng nghề buôn bán mà. Xong một chuyện. Chuyện thứ hai là phải làm sao mà “phá luật” được với thằng cha Do Thái lưu manh này. Thầy đội Gary Malone biết Enabel giàu có và rất nhiều thế lực. Làm cái nghề của lão mà không quen biết lớn, không nuôi vài ba
thằng luật sư “trong túi” thì chỉ có nước vô tù mà … bán cà phê cho bọn cai ngục. Gary Malone lắc đầu liền mấy cái, nhíu mày tư lự. Chao ôi, ngày đầu tiên tính thử phá luật mà đã đánh mùi thấy sự rắc rối rồi.Gary Malone lại nhớ đến nụ cười của bố mình tối hôm qua và câu nói. Xưa nay có bao giờ thấy bố bày đặt triết lý đâu, đến bây giờ mới làm một câu thấy đúng quá trời.
Gary Malone dạo thêm mấy vòng phố, rồi vào một tiệm cà phê bên đường
bình tĩnh ngồi chờ cho cái kim đồng hồ quả lắc của mình bò tới con số 9. Đúng giờ, thầy đội đứng dậy, đội mũ chỉnh tề bước ra phóng lên ngựa.
Đường tới nhà lão Enabel không xa, chỉ quẹo vài vòng là thầy đội đã nhìn
thấy cửa tiệm của lão. Đã có chủ đích, Gary Malone xuống ngựa, cột nó vào một nơi vắng vẻ rồi tà tà cầm dùi cui thả bộ tới. Tiếng giày đinh nện xuống mặt đường nghe cồm cộp. Thỉnh thoảng, thầy đội trẻ tuổi phang cây dùi cui vô bàn tay trái của mình nghe đến chát một tiếng nổ to như pháo. Cả ty cảnh sát Chicago, đúng hơn, cả nước Mỹ chỉ có mình thầy là nện được cây dùi cui mạnh cỡ đó mà không sợ … gãy tay. Nếu ai biết thầy, thì họ chỉ sợ cho cây dùi cui bị gẫy làm đôi chứ bàn tay của thầy nổi tiếng xưa nay là “bàn tay thép” thì làm sao gẫy được?
Từ ngoài nhìn vào, Gary Malone phát hiện được ngay chiếc mũi quặp lại
như con két của lão Do Thái. Mũi gì đâu mà kỳ cục, thầy đội vừa suy nghĩ vừa đẩy cửa bước vào. Lão Enabel đang lom khom làm mấy con tính, nghe tiếng động nhìn lên và chút xíu nữa thì rú lên một tiếng. Làm cái nghề buôn bán này người ta kỵ cảnh sát như đàn bà kỵ rắn, mới sáng sớm chưa buôn bán gì mà thầy đội đã dẫn xác vào thì suốt ngày chắc thần tài sẽ không thèm ghé đây.
Nụ cười … Do Thái nở trên cặp môi … Do Thái liền, tuy hơi méo mó nhưng
rất nồng nhiệt, rất cầu tài, kèm theo một câu chúc tụng vui vẻ để chào mừng ông thày đội trẻ.
Ủa, thằng cảnh sát trẻ tuổi này hôm nay ăn trúng cái gì mà sao có vẻ bặm
trợn quá trời. Lão Enabel xã giao mấy câu, vẫn không thấy hắn trả lời, chỉ lầm lì thò tay ngoắc lão ra một góc nhà nói chuyện. Lão Enabel chột dạ, bỏ quầy tính tiền bước ra. To nhỏ với thầy một lúc, lão mới tá hoả mặt mày khi nghe ý định của thầy:
Một gia đình trong khu trách nhiệm của thầy bị mất cái đồng hồ vàng, thầy muốn ra ngồi phía nhà trong của lão để rình bắt nó. Làm sao được. Cái cửa tiệm này xưa nay chuyên môn mua và bán đồ ăn cắp, bây giờ dấu cho một thầy cảnh sát ngồi trong nhà chờ cho thằng ăn cắp vào để thầy thộp cổ thì còn thằng nào dám tới đây mà bán đồ cho lão nữa. Dẹp tiệm là cái chắc. Chẳng những bị bể nồi cơm, chúng nó còn nghi mình đi làm ăn ten cho cảnh sát thì có thể mất mạng như chơi. Mới nghĩ đến đó là mồ hôi … Do Thái lấm tấm trên trán. Lão tính toán liền:
Mình từ chối được không? Được chớ, xưa nay luật pháp nước Mỹ đâu có cho cảnh sát vô ngồi trong nhà của người ta. Đừng nói ngồi, chỉ cần bước vô nhà thôi là cũng phải cần có trát của toà án. Nhưng dòm lại khuôn mặt của thằng cảnh sát này thì thấy nó còn ghê gớm hơn cả mấy cái án lệnh của toà. Cặp mắt nó sắc như thế kia thì làm sao dám cản nó. Mà nếu có cản nó được đi, không cho ngồi trong nhà, nó sách ghế ra ngồi lù lù một đống ngoài cửa thì càng kẹt hơn. Lão biết dân ăn cắp là dân hèn nhát nhất thế giới. Hễ đánh hơi thấy có chút mùi cớm thôi là chúng nó đã dọt rồi, nói gì tới chuyện có cảnh sát gác cửa?
Tiến thoái lưỡng nan, lão Enabel đứng thừ người ra suy nghĩ. Nhưng thầy
đội Gary Malone đâu có thì giờ để chờ, bèn gõ mạnh cái dùi cui vào tay mình nghe đến “póc” một tiếng, ra dấu là thầy đã mất kiên nhẫn rồi đấy. Cái gõ của thầy mạnh quá, tiếng “póc” vang lên nghe chẳng khác nào tiếng sét đánh ngang tai làm lão Do Thái giật nẩy mình lên. Nó ăn cái gì mà tay chân như cứng như sắt. Tay chân như vậy thì linh hồn chắc cũng chẳng mềm hơn, nó không đến đâu để đùa. Lão suy nghĩ
thật mau và đi đến quyết định liền:
– Thầy đội đừng nóng, để tôi sẽ lấy lại cho thầy cái đồng hồ vàng đó.
Gary Malone mừng rỡ như người rớt xuống mỏ vàng. Không ngờ cái triết
lý của bố dạy nghe thì thấy khó nhưng áp dụng lại dễ dàng đạt đến kết quả như vậy.
Mừng lắm trong lòng nhưng bộ mặt thầy đội vẫn tỉnh bơ:
-Chừng nào?
Câu trả lời của lão Do Thái làm thầy đội trẻ tuổi muốn nhẩy lên:
-Nội trong ngày hôm nay.
-Ông không có dỡn mặt với chính quyền đó hả.
Lão Enabel nhăn nhó, đưa hai tay ra phân trần:
-Tui có khùng cũng không dám dỡn mặt mấy thầy.
Rồi lão kéo tay Gary Malone:
– Thầy đi theo tôi vào nhà, tôi có chuyện này muốn trình bày với thầy …
Ngồi phía trong nhà, khuất sau tấm cửa, lão mới tâm sự với thầy cảnh sát
trẻ, nói giọng rất nhỏ làm như sợ một kẻ thứ ba nghe thấy:
-Thầy biết không, tụi tôi luôn luôn ủng hộ chính quyền mà. Kỳ tranh cử
nào tôi lại không bỏ ra hàng chục nghìn bạc để vận động cho ….
Gary Malone không muốn nghe chuyện chính trị, xua tay:
-Ông muốn nói gì nói đi, tôi còn bận nhiều việc.
Câu trả lời tiếp theo của lão Do Thái đã làm thay đổi không những triết lý
mà cả cuộc đời của thầy cảnh sát trẻ Gary Malone:
-Nói thật với thầy, bọn ăn cắp ở đây thì đứa nào tôi chẳng biết. Tôi mà
làm cảnh sát thì khu phố này sẽ không còn một thằng ăn cướp …
Nói xong câu đó, lão bật cười, tự cho là mình đã nói một câu pha trò hay.
– Khu phố này, nếu chúng nó không đem đồ tới đây bán cho tôi thì bán cho
ai? Tôi tin thầy nên mới nói vậy, chứ nếu thầy đem luật pháp ra để làm khó tôi thì cũng khó lắm. Thầy hiểu luật pháp mà, trong khi đó, hội của chúng tôi có nuôi tới mấy chục thằng luật sư trong tay. Ngay cả thị trưởng còn phải xin tiền của chúng tôi mỗi khi tranh cử kia mà …
Ghê thay cái thế lực tiền bạc của bọn Do Thái này. Ra là chúng nó còn có
băng có đảng để bênh vực lẫn nhau. Vậy mà mình cứ tưởng ăn hiếp một thằng lái buôn Do Thái là dễ lắm. Nhưng tại sao đương không nó lại chịu hợp tác với mình kìa? Thầy đội mồi điếu thuốc:
-Nếu ông có thế lực mạnh ngon lành cỡ đó, tại sao lại chịu thua tôi một
cách dễ dàng vậy?
-Không ai thua ai hết, chỉ là vấn đề làm ăn thôi. Bây giờ tôi giúp thầy, vài hôm nữa thầy sẽ giúp tôi lại.
Gary Malone quắc mắt lên liền, sẵn giọng đáp lại:
– Vậy ra là ông tính làm áp lực tôi à?
-Không, tôi, một thằng Do Thái “cô đơn” làm gì lại dám có ý tưởng làm áp
lực với cảnh sát? Tôi dùng chữ “giúp nhau” thôi mà. Thầy cứ tính đi, nói thật với thầy, nếu tôi không giúp thầy, chắc cũng còn lâu thầy mới lấy lại được cái đồng hồ.
Gary Malone cười:
-Và dĩ nhiên cái cửa tiệm của ông cũng khó mà mở cửa lâu được?
Lão Enabel vỗ hai tay vào nhau nghe đánh đét một phát:
-Đúng lắm. Thầy thấy không, nếu hở ra một chút là cứ đem pháp luật và
nguyên tắc ra để chơi nhau thì làm sao mà con người sống với nhau được? Trong cuộc đời, người ta thường quên là luật pháp, dù muốn nói gì đi nữa, thì cũng do con người làm nên. Mà hễ con người làm được thì con người bỏ được.
-Nhưng làm vậy thì chừng nào mới diệt hết nạn ăn cướp được? Hơn nữa,
luật pháp đặt ra để làm gì?
Lão Enabel ngã người ra sau, ngắm thầy cảnh sát. Tướng thầy coi dữ dội
thật, lúc nãy thầy mới bước vào, lão tưởng là thầy “biết điều” lắm nhưng không ngờ thầy còn ngây thơ quá. Chắc thầy bị xếp rầy quá cho nên mới nổi khùng làm bậy một chuyến đây mà. Lão Enabel tinh mắt thật và phần nào biết mình đã đoán đúng. Đã vậy thì nên tặng cho thầy một bài học, biết đâu chừng thầy nhờ bài học này mà sẽ trở nên một cảnh sát lừng danh của Chicago?
-Thầy cảnh sát, thầy ngây thơ quá. Từ khi có con người trên mặt đất, hễ
ngày nào người ta còn biết … đói bụng, thì ngày đó xã hội còn có người phạm tội ác. Nếu đổ mồ hôi mà không kiếm được miếng cơm để ăn thì người ta sẽ không chịu ngồi không để chờ thần chết tới đón đi. Người ta sẽ đổ máu, sẽ làm mọi chuyện, sẽ đổi tự do để tranh lấy miếng cơm mà ăn. Thầy còn trẻ mới ra nghề, tưởng rằng hễ cứ giữ được luật pháp là sẽ hết nạn trộm cắp, nạn ăn cướp chăng? Thầy lầm rồi. Từ thuở tạo thiên lập địa đến bây giờ, chưa bao giờ loài người sống được trong một xã hội tuyệt đối “phi tội ác”. Nó luôn luôn hiện diện với chúng ta, dù chúng ta không thích nó, dưới một hính thức nay hình thức khác. Đặc biệt, hễ xã hội càng nghèo đói, càng bất công thì càng nhiều trộm cắp và tội ác.
Lão Do Thái nói một thôi, thầy đội trẻ tuổi nghe đến đâu thấm đến đó.
Không ngờ hôm nay lại học được một bài học quý giá vô cùng từ một tên lái buôn Do Thái hạng bét mà mình thường khinh bỉ hằng ngày.
Thấy thầy cảnh sát có dáng bối rối, lão Enabel mĩm cười, lấy từ trong học
bàn ra một cuốn sổ tay, xé một trang đưa cho thầy:
-“Anh hùng trong thiên hạ” nằm hết trong cuốn sổ này của tôi. Mà chúng
nó đâu có nhiều, chỉ chừng năm ba thằng thôi.
Gary Malone đón nhận tờ giấy. Lão Do Thái hỏi luôn:
-Cái đồng hồ bị mất là khu nào?
-Khu Nam Ciceria!
Lão Enabel cười liền:
-Chém tôi chết nhất định là thằng Dusty phải có dính líu tới vụ này. Thầy
đội cứ chờ đi, tối nay tôi sẽ có cái đồng hồ vàng đem trả lại thầy.
-Sao ông biết rõ quá vậy?
-Nghề mà thầy. Buôn bán với bọn này mà không rành chúng nó thì chỉ
còn nước kiếm nghề khác mà sống …
Khỏi cần nói nhiều, Gary Malone đứng dậy kiếu từ liền. Ra tới cửa, thầy
quay lui bắt tay lão Enabel, giọng có vẻ thân thiện:
-Cám ơn ông. Buổi gặp gỡ hôm nay dạy cho tôi nhiều điều mà không có
trường cảnh sát nào dạy được.
Lão Enabel khoái chí cười:
-Thầy có tướng … cô hồn, nhất định thầy sẽ là một cảnh sát thượng thặng.
Mai mốt lên voi, thầy đừng có quên ngày hôm nay và thằng Do Thái nghèo hèn này.
Gary Malone cười, lắc đầu:
Chừng nào ông mua hết cả Chicago, mong ông cũng đừng quên thằng
cảnh sát … hiền lành này.
Cả hai cùng bật cười lên thật lớn.
Ra khỏi tiệm, Gary Malone lên ngựa, vừa đi vừa suy nghĩ những gì lão Do Thái vừa nói ….
Sáng sớm ngày hôm sau, các nhật báo Nữu Ước chạy trang đầu hình ảnh và
chi tiết của cuộc thảm sát chiều qua với con số thương vong chưa hề có trong lịch sử tội ác: 13 người chết, 7 người bị thương. Báo New York Times chạy tít: Trùm Mecca bị bắn gục: đại chiến không thể tránh được: Báo New York Daily News: Cái chết của Mecca chỉ là phần mở đầu, nhiều trận thư hùng sắp tới … Tờ New York Evening News: Máu sẽ tràn ngập khắp New York …
Thức giấc từ lúc sáng sớm, việc đầu tiên Frank Nitti làm là dọt ra đường
kiếm tờ báo. Đúng như nó đoán, tờ nào cũng thấy hình ông trùm Mecca nằm chết trên đường, máu me be bét coi thấy gớm. Nhưng nó đâu phải đọc báo để coi hình trùm Mecca. Cái nó muốn kiếm là coi có hình của anh Russo không kìa. Tối qua đến giờ, không nghe tiếng tăm của đàn anh, Frank Nitti đâm rét. Lật thêm vài tờ nữa vẫn không thấy hình của Russo, mặt mày Frank Nitti thấy có vẻ dễ chịu. Hễ chưa nhìn thấy hình thì còn hy vọng, người như Russo dễ gì chết nổi, chắc ảnh đang còn bị kẹt ở đâu đây mà. Frank Nitti lẹ tay lật thêm mấy tờ nữa. Nhưng khi dở tới tờ New York Evenings News thì nó muốn thét lên một tiếng kinh hoàng. Dưới cái hình của trùm Mecca là tấm ảnh chụp chiếc Cadillac của thằng Bob Laysten nằm thù lù một đống. Trong xe là một cái xác bị cháy đen thui. Frank Nitti nắm chặt tay, kéo tờ báo sát mắt mình, nhìn kỹ hơn nữa. Đúng là ảnh rồi, không trật vào đâu được. Dù mặt mày đã bị cháy nám, quần áo không còn nhìn được nhưng nó nhận ra sợi dây chuyền có đeo cây thánh giá thiệt bự trên cổ đàn anh. Cây thánh giá bị sức nóng uốn cong đi nhưng Frank Nitti vẫn nhận ra được. Vậy là Russo đi luôn rồi. Frank Nitti tự nhiên thấy muốn đập phá một cái gì, muốn giết chết một ai đó. Hai bàn tay nó nắm lại thật chặt. Chặt đến độ tờ báo bị bấm thủng mà nó đâu có biết.
Đứng yên lặng một lúc, hút xong vài điếu thuốc, Frank Nitti từ từ cảm thấy
mình nguội lại. Nó suy nghĩ thật mau. Từ nay, không còn Russo nữa thì mình phải quyết định lấy mọi chuyện. Chuyện quan trọng nhất, bây giờ không phải là lúc khóc than. Đúng ra, đối với Frank Nitti, không phải lúc này mà suốt cuộc đời nó, chẳng bao giờ là lúc để khóc than. Nó chỉ biết có một cách sống, đó là luôn luôn đi tới. Frank Nitti nhớ đến lời mơ ước cuối cùng của đàn anh Russo. “Mày làm sao xin cho tao được chôn ở trong đất thánh nhà thờ … ” Frank Nitti suy nghĩ và có quyết định liền. Chuyện trả thù cha hãy để sang một bên đã. Nó phải làm sao giữ lời với anh Russo.
Người duy nhất có thể lên nhà xác để lãnh cái xác đen thùi lùi này trở về là
mẹ nó, bà Albert Nitti. Frank Nitti phóng lên xe trở về nhà gặp mẹ, đưa cho bà một mớ bạc và trình bày mọi chuyện. Mẹ Frank Nitti nói: “Lên nhà xác lãnh nó ra để đem về nhà đòn đám ma thì mẹ lo được, nhưng chuyện xin làm phép xác trong nhà thờ không thì mẹ không biết. Chuyện này con phải đích thân lên gặp cha xứ.”
Frank Nitti chào mẹ và ra xe đi liền. Ai nói chuyện với cha xứ thì khó chứ
với Frank Nitti thì nó thấy dễ ợt. Có gì đâu, nếu nói chuyện phải trái không được thì nó sẽ kê cây Colt.45 vào đầu cha coi thử cha có chịu làm phép không cho biết. Cha cũng là người mà.
Frank Nitti dừng xe trước cửa nhà thờ vào khoảng 10 giờ sáng. Khu giáo
đường vắng tanh không một bóng người. Đứng loanh quanh một lúc, Frank Nitti lấy hết can đảm, dở mũ cầm tay … rón rén bước vào nhà thờ.
Không khí trang nghiêm trầm mặc trong giáo đường làm Frank Nitti thấy
bồi hồi trong dạ. Ánh sáng lung linh mờ ảo từ những khung kính màu trên cao chập chờn càng làm tăng thêm sự tôn nghiêm của nơi thờ phượng. Frank Nitti nhớ đến thuở ấu thơ thường theo bố mẹ đi lễ vào những ngày chủ nhật. Ôi cuộc đời sao sớm nắng chiều mưa, thay đổi mau như gió thoảng, như mây bay, không thể nào lường trước được. Mới ngày nào còn là một thằng bé con mà bây giờ đã là một tên giết mướn ngoại hạng, tên tuổi lừng danh khắp Nữu Ước.
Frank Nitti quét mắt nhìn chung quanh, nhà thờ vắng vẻ đến độ tiêu điều,
không thấy một bóng người. Cha cố giờ này chắc đang bận ăn uống hay làm gì
không biết, điệu này thì chắc phải ra nhà xứ mà kiếm thì mới gặp được. Đang tính đi ra, Frank Nitti chợt nghe một tiếng động nhỏ từ xa đưa tới.
Nó quay lại nhìn thì nhìn thấy một người đàn bà mặc đồ đen, đang lui cui
dọn dẹp ở cuối nhà thờ, quay lưng về hướng nó. Frank Nitti từ từ tiến lại để hỏi
thăm.
Nhẹ nhàng tiến tới phía sau lưng người đàn bà, Frank Nitti vừa tính mở miệng ra hỏi thì người đàn bà cũng vừa quay lại. Và ngạc nhiên thay, cả hai người
cùng rú lên một tiếng sửng sốt.
Frank Nitti rú lên vì tưởng là mình gặp ma. Từ thuở nhỏ, nó thường nghe
người ta đồn là ma quỉ hay ở trong nhà thờ. Người đàn bà đứng trước mắt nó bây giờ là mụ Pat đây chớ ai. Mụ là gia nhân cũ của gia đình, đầu mối của bao nhiêu chuyện bí mật về cái chết của cha nó. Quái lạ, mụ đã bị đụng xe chết cách đây sáu tháng thì làm sao mà về nơi đây được? Họa chăng đây chỉ là hồn ma của mụ?
Mụ Pat cũng rú một tiếng vì mụ không ngờ gặp thằng con trai ông chủ cũ ở
đây. Sau cái ngày bi thảm đó, bị lương tâm cắn rứt, mụ sống như một người đàn bà dở khùng dở điên. Cuối cùng, mụ xin được một chân quét dọn ở cái nhà thờ vắng vẻ này và tưởng có thể sống nốt quãng đời còn lại một cách yên ổn, chẳng ngờ hôm nay lại có cái màn đụng độ này. Mụ thấy mặt mày xây xẩm, đưa hai tay ôm lấy ngực không nói lên lời. Cơn bệnh đau tim kinh niên từ năm nào chừng như trở lại hành hạ mụ
Nghe tiếng hét của mụ, lanh trí như Frank Nitti thì biết ngay rằng nguời
đàn bà đứng trước mặt mình không phải là ma mà là người thiệt. Ma quỉ đâu có bao giờ la oai oái lên như vậy. Nó mừng như mở cờ trong bụng. Nhìn thấy cậu cả là mụ Pat hoảng kinh hồn vía liền. Mới có mấy năm không gặp nhau mà thằng nhỏ đổi khác quá. Nó to lớn, mặt mày coi bặm trợn không thua một thằng ăn cướp chút nào. Mà nó đúng là ăn cướp chớ còn gì nữa. Báo chí
lâu nay thỉnh thoảng vẫn đăng hình nó. Cái làm bà sợ nhất là cặp mắt thằng Frank Nitti. Sao mà nó dữ tợn, nhìn đi đâu là như có tử thần đi theo tới đó. Mụ thấy như muốn co rúm người lại khi nó nhìn thẳng vào mắt mụ. Cái cặp môi xám xịt chưa thèm nhấc lên để nói một lời nào nhưng mụ hiểu nó muốn nói gì.
Mụ Pat lẹ làng làm dấu thánh giá. Tay mụ run quá, tính đưa tay chấm trán
mà chấm trật ra tới tận mang tai. Tự nhiên, mụ thấy nhói nơi lồng ngực. Làm dấu xong, mụ ra hiệu cho Frank Nitti ra ngoài nhà thờ nói chuyện rồi cúi xuống tính cầm lấy cái sô nước chùi nhà để bước theo. Ủa, tại sao cái quai cầm của sô nước thấy ngay trước mắt mà chụp không được kìa. Tay mụ như cứng đơ, quíu lại. Liền theo đó, mụ thấy nóc nhà thờ quay vòng vòng trên đầu mình. Mụ không đứng vững được nữa, liền chụp lấy thành ghế, té ngồi trên đó. Mãi đến lúc đó, mụ mới biết mình cơn đau tim kỳ này nặng lắm, nếu không được chở vào nhà thương liền thì khó mà thoát tay tử thần. Thấy khuôn mặt tái mét của mụ, Frank Nitti hình như cũng biết vậy nên cúi mình, kề đầu xuống thật sát mặt mụ, mắt tóe lửa nhìn mụ, chờ một câu nói. Mụ Pat ôm ngực hổn hển:
-Cậu, cậu đừng nóng, chuyện đâu còn đó, để tôi tôi trình bày cho cậu
nghe … không phải tôi cố ý bán cha cậu đâu, tôi … bị … bị chúng nó ép quá …
Nói xong là hai hàng lệ của người đàn bà nghèo khổ ứa ra ràn rụa. Frank
Nitti bây giờ mới chịu vén cặp môi xám xịt lên, sủa một tiếng duy nhất:
-Ai?
-Giuseppe.
– Tại sao báo đăng tin bà bị đụng xe chết cách đây sáu tháng?
Mụ Pat lắc đầu, nói qua tiếng nấc:
-Tôi có biết gì đâu. Tôi hoàn toàn không biết gì về vụ đó.
Frank Nitti chỉ cần biết có vậy thôi. Nó đứng thẳng người lên. Mụ Pat ôm
ngực lăn lộn trên chiếc ghế:
Cậu, nhờ cậu gọi dùm ông bác sĩ hay cha xứ, tôi bị đau tim bất ngờ, chắc
tôi chết quá …
Frank Nitti mặt lạnh như tiền, đứng yên nhìn mụ một lúc không nói gì. Đột
nhiên nó rút cây Colt.45 ra cầm nơi tay, nhẹ nhàng bấm nút cho băng đạn rớt xuống bàn tay kia rồi kéo cơ bẩm nghe đến soạt một tiếng. Frank Nitti kê cây súng lục không còn đạn vào ngay giữa hai mắt mụ Pat, mặt vẫn lạnh lùng, cặp môi xám xịt vẫn khép kín như hai cánh cửa nhà mồ.
Đang lăn lộn, chợt nhìn thấy cái nòng súng đen thùi lùi chĩa vô mặt mình
thì mụ Pat hoảng kinh hồn vía, rú lên một tiếng. Cơn đau tim lại nổi lên mãnh liệt lạ thường.
Chẳng nói chẳng rằng, Frank Nitti bóp mạnh cò súng.
Một tiếng cắc lạnh người vang lên. Mụ Pat khựng lên một cái sau tiếng
cắc của cây súng rồi nằm im luôn. Mụ chết mà mắt vẫn còn trợn trừng.
Có lẽ trong thiên hạ kể từ khi người ta biết chế ra súng ống để giết nhau,
người duy nhất có tài bắn súng không đạn mà vẫn giết được người là thằng Frank Nitti này. Thật chẳng hổ danh “đệ nhất đao phủ thủ Nữu Ước”.
Chưa bao giờ tin ai, Frank Nitti lay mụ mấy cái. Thấy mụ vẫn xụi lơ, nó
đặt bàn tay lên bộ ngực lép kẹp của mụ để nghe ngóng. Không nghe tiếng tim đập nữa. Mụ chết thật rồi.
Nhìn cái xác chết, tự nhiên Frank Nitti thấy con người nó trở nên sảng
khoái một cách bệnh hoạn kỳ lạ. Nó thấy đầu óc mình lâng lâng và say sưa như vừa uống xong một ly rượu quý. Nắm chặt cán cây Colt.45, Frank Nitti liếc nhìn khắp một vòng chung quanh nhà thờ, mắt tóe lửa lên làm như nếu thấy được một sinh vật nào đó còn sống ở đâu đây là nó xông tới giết chết liền.
Nhà thờ vắng lặng im lìm, chỉ có tiếng thở của nó là nghe khì khì.
Frank Nitti đút băng đạn trở lại vào cây súng, nhét vào bao dưới nách rồi
quay lui, chậm rãi bước ra khỏi nhà thờ. Đầu óc nó cảm thấy quay cuồng, cơn say máu dường như vẫn còn bừng bừng trong người.
Vừa bước ra khỏi cửa, Frank Nitti hừ lên một tiếng khi nhìn thấy một con mèo đen đang đứng tư lự trên bực thềm đá. Sau cái ngày “uống máu mèo” kinh
hoàng cách đây 2 năm tại đống rác thành phố, Frank Nitti đâm ra k mèo. Con mèo này hôm nay tới số chết nên mới lãng vãng ở đây.
Frank Nitti móc cây Colt.45, nhắm vào đầu con vật vô tư tính bóp cò nhưng
vội vàng dừng tay, đút súng vào trở lại. Nổ súng ở đây là nằm tù mọt gông, nó vừa nảy ra một ý kiến hay hơn.
Nó tới gần bên con mèo, đưa tay vuốt vuốt chú ta, vừa nhìn khắp nơi để
quan sát. Good. Khu giáo đường buổi sáng vắng tanh. Con mèo đen vừa nhắm mắt lim dim như tận hưởng những cái vuốt ve của tên đao phủ thì Frank Nitti bỗng đưa hai tay ra chụp cứng lấy cổ nó, nghiến răng bóp thật mạnh. Mèo, dù là vật bé nhỏ nhưng trong giây phút nguy hiểm của cuộc đời cũng biết tự vệ đẹp ra gì. Nó cào, nó la, nó hét, nó cắn, nó làm loạn cả lên. Chỉ trong vòng tíc tắc, bàn tay Frank Nitti đã bị mèo quào rách vài chỗ. Frank Nitti càng điên tiết lên, dùng hết sức bóp mạnh hơn nữa. Nó nghe thấy tiếng xương cổ con mèo gãy nghe rạo rạo, hai con mắt lòi hẳn ra ngoài kéo theo hai hàng máu chảy,
lưỡi lè ra dài cả tấc, cứt đái cũng đồng thời phọt ra có vòi.
Chỉ một lúc, con mèo xuội lơ, hết gào thét và cũng ngưng cữ động. Tên
đao phủ thủ mỉm một nụ cười khoái trá và nhìn xuống hai bàn tay mình. Ối chào, sao đau quá, có đến năm sáu đường quào chớ ít gì. Nhưng càng đau thì nó càng thích. Có chiến thắng nào mà không phải mua bằng máu kìa?
Frank Nitti lại mở cửa bước vào nhà thờ, đi tới bên cái xác chết, nhẹ nhàng đặt
xác con mèo chết trên bụng của mụ Pat. Xong xuôi nó tà tà bước ra miệng mỉm một nụ cười khoái trá. Đóng cánh cửa nhà thờ lại phía sau, Frank Nitti nghĩ đến cảnh người nào khám phá ra xác chết mụ Pat hôm nay ắt phải thắc mắc làm sao một mụ già như vậy lại có sức bóp cổ chết con mèo trước khi bị nó hớp hồn mang đi.
Đứng trên thềm nhà thờ một lúc, Frank Nitti lại thấy lòng mình từ từ dịu lại
như người uống rượu vừa tỉnh một cơn say. Frank Nitti nhìn xuống bàn tay mình và giật mình khi thấy những vết thương do mèo cào. Nó lại nhớ đến cái lý do nào đã đưa mình tới đây và biết ngay là mình không thể nào hỏi xin ông cha xứ làm phép xác cho đàn anh Russo được. Nó không có can đảm nhìn mặt ông ta. Thôi, đàng nào thì hồn anh Russo cũng xuống địa ngục. Hồn ở địa ngục mà xương thịt nằm trong đất thánh cũng chẳng ích gì.
Frank Nitti lầm lủi bước ra khỏi khu giáo đường leo lên xe rồ máy. Mặt mày nó bình thản và nghiêm trang như một con chiên ngoan đạo vừa đi lễ về. Ngày đầu tiên vắng bóng anh Russo quả thật khó chịu. Dù đã có bằng chứng xác đáng là tụi Giuseppe đứng sau lưng vụ giết cha mình, Frank Nitti vẫn phân vân không biết phải bắt đầu cuộc trả thù như thế nào. Bọn Giuseppe “dòng họ mấy đời” chuyên trị khu bến tàu Nữu Ước với hàng trăm tay súng dưới tay, đâu có
để cho nó vào khơi khơi mà trả thù. Không chừng nhìn thấy mặt nó, chiếc xe chưa thắng kịp là đã bị đạn bắn nát ra như tổ ong rồi.
Frank Nitti lái xe vòng vòng suy nghĩ. Khó tính quá. Xưa nay, nó chỉ nghe
lệnh và nhận lệnh của Russo. Đàn anh biểu bắn thằng này vỡ sọ thì bắn, bảo ôm súng nằm chờ ở đây thì nằm, nó đâu biết gì đến kế hoạch. Đúng ra, đàn anh Russo cũng đã nhiều lần chỉ bảo cho nó nhưng nó còn non quá, mới ra nghề có hai năm thì biết gì.
Frank Nitti lại cố gắng nhớ đến đàn anh Russo. Nếu giờ này ảnh còn sống,
ngồi bên cạnh mình thì chả sẽ làm gì kìa? Sống với nhau hơn hai năm, Frank Nitti nhớ rõ từng cữ động của đàn anh. Trước hết, ảnh sẽ bắt đầu bằng một điếu xì gà. Sau đó, hai đứa sẽ vào một quán cà phê để đàn anh ngồi suy nghĩ có khi đến hàng mấy giờ liền. Vậy tại sao mình không bắt chước kìa. Biết đâu chừng mình cũng sẽ kiếm ra một giải pháp hay như vậy.
Frank Nitti quẹo xe vào một tiệm ăn. Ngồi an toàn sau một cái bàn, đốt
xong điếu thuốc lá là Frank Nitti biết mình vừa mắc phải một lầm lỗi đầu tiên. Lầm lỗi này tuy nhỏ nhặt nhưng anh Russo không bao giờ phạm. Đó là “Đừng bao giờ đem cái bia thịt đến một quán nào mà mình không quen biết cho chúng nó tập bắn.”
Nó vừa nhìn thấy một thằng cô hồn biến mất ngay sau khi nhìn thấy nó. Thằng này đi đâu vậy kìa? Có đủ thứ lý do. Có thể nó đi … đái. Cũng có thể đi lấy thêm cứu viện hoặc đi xin chỉ thị. Khỏi cần phải quan sát lâu, ánh mắt thiện nghệ quét một lượt là Frank Nitti nhìn thấy ngay khuôn mặt của lão bồi pha
rượu xám ngắt ại như một tàu lá. Lão mập này tướng tá coi ngon lành quá, đâu có cái màn bị trúng gió bất tử vậy. Nhất định phải có chuyện gì đặc biệt đâu đây, hoặc sắp sửa có nổ lớn không chừng. Liếc sang bên phải,nó nhìn thấy trong dãy bàn sát bên tường có một mớ mấy thằng cô hồn khác mặc aó bành tô đang ngồi rù rì to nhỏ với nhau gì đó, mặt mũi đứa nào coi cũng sát khí đằng đằng. Frank Nitti kín đáo thò tay cởi hai hột nút của chiếc áo vét, sẵn sàng nổ liền nếu chúng nó có hành động gì khả nghi.
Tuy bất ngờ đi vào một nơi xa lạ và ngửi thấy chuyện bất thường nhưng Frank Nitti vẫn giữ được vẻ bình tỉnh chính hiệu của một “con nhà đao phủ thủ.”
Chết là cùng chớ làm gì mà phải hoảng vía lên kìa? Nó ngoắc tay gọi thằng bồi một cách rất tự nhiên. Chú bồi là dân cắt ké nên chưa biết chuyện trời sắp xập xuống nhà hàng này, vẫn tỉnh queo cười cầu tài:
-Thưa ông, dùng chi?
Frank Nitti móc tờ giấy bạc 20 đô cuộn tròn trong lòng bàn tay đẩy tới:
-Đây là khu nào mày?
Nhìn thấy tờ giấy bạc và cách ăn mặt của người khách lạ, chú bồi hiểu ngay là mình đang đứng trước một găng tơ, liền mau mắn trả lời, bàn tay không quên
đớp lấy tờ bạc cho vào túi:
-Brooklin!
Nãy giờ lái xe lang thang khắp phố phường, Frank Nitti tưởng mình đi lạc ở
đâu xa xôi chớ Brooklin Nữu Ước thì gần quá. Vậy thì tại sao tên bồi pha rượu lại tái mặt lên khi nhìn thấy mình bước vào? Frank Nitti đưa tay ra dấu cho thằng hầu bàn cúi đầu sát mặt rồi lên tiếng hỏi:
Ở đây có gì lạ không mày?
Thằng hầu bàn hiểu ý Frank Nitti. Dân chơi Nữu Ước hỏi vậy có nghĩa là
khu vực này yên tĩnh không đây? Nó gật đầu, quả quyết:
-Đâu không biết chớ trong quán này thì yên tĩnh vô cùng.
Nhìn mặt thằng bồi, Frank Nitti biết nó không dám nói dối. Vậy thì tại sao thằng pha rượu kia lại tái mặt? Hay nó bị trúng gió bất ngờ thật chăng? Frank Nitti bật cười vì ý tưởng ngộ nghĩnh của mình. Sao cũng được, trước sau gì nó cũng kiếm ra. Frank Nitti kéo mũ xuống thấp, che lấp ánh mắt mình và gọi ly cà phê. Đầu cúi xuống nhưng cặp mắt của Frank Nitti không bỏ sót một cử chỉ của tên bồi pha rượu và cái đám mấy thằng cô hồn ngồi bên góc đàng kia. Hình như chúng nó đã nhận ra sự xuất hiện bất ngờ của Frank Nitti, nên đang thì thầm và thỉnh thoảng liếc về phía này theo dõi. Frank Nitti nhìn lên và thấy mặt lão già pha rượu càng ngày càng tái đi.
Rồi nó chợt giật mình khi nhớ đến ngày xưa lúc đàn anh Russo còn sống,
chính nó đã từng ôm súng núp sau quầy rượu chờ địch thủ đến như vầy. Điểm khác lạ là những lần ấy, nó luôn luôn biết trước chỗ kẻ thù sắp đến nên chờ được, bây giờ nó đến bất ngờ, ai có thể biết được mà rình?
Thật là nhức đầu! Frank Nitti thầm ước giá còn anh Russo đây thì vụ này
ảnh nghiệm thấy liền tức thì. Nhưng muốn gì thì muốn, Frank Nitti biết mình không thể ngồi im cho chúng nó tập bắn được. Phải hành động trước rồi muốn ra sao thì ta. Nếu có chết thì cũng không chết hèn. Nó suy nghĩ thật mau. Nếu bọn này tính giết mình, thì mình đứng dậy, chúng nó sẽ có phản ứng liền. Bằng không, tình hình cũng chưa đến đổi nào. Đành phải liều một cú mới biết thời cơ được. Frank Nitti nín thở, tay chuẩn bị thò vào nách và từ từ đứng dậy. Nhìn bằng đuôi con mắt, nó thấy bọn cô hồn bên kia vẫn ngồi yên. Chúng nó chỉ quay đầu lại quan sát Frank Nitti thôi.
Thế là tốt rồi. Chúng nó chưa muốn thịt mình đâu, có lẽ còn đang chờ đợi
một cái gì đó như lệnh trên chẳng hạn. Có khó gì, hễ bắt chuyện được với lão bồi rượu này thì nó sẽ phăng ra được nhiều chuyện. Frank Nitti làm mặt tĩnh, vừa lên giọng nói thật to vừa tiến về phía quầy rượu:
-Ông bạn có thứ rượu vang quý nào mới không, cho tôi coi thử coi.
Nói hết câu thì Frank Nitti cũng đã tới sát bên quầy rượu. Nhìn lão già,
Frank Nitti thấy mồ hôi lấm tấm trên khắp mặt lão. Lão cất giọng, vừa nói vừa liếc nhìn về dãy bàn có mấy thằng mặc áo bành tô đang ngồi:
– Thưa ông, rượu thì có nhiều nhưng ông muốn chọn thứ nào.
Frank Nitti không trả lời câu hỏi. Nó ngồi lên ghế, tay trái dở nhẹ vạt áo
vét, tay phải chỉ vào cây Colt.45 cán bạc đang đeo dưới nách, nói rất nhỏ:
-Ông biết tôi là ai rồi phải không?
Người pha rượu gật đầu. Frank Nitti đã đoán không lầm. Lão phải biết nó
là ai nên mặt mày mới trợn trắng lên khi nhìn thấy nó bước vào. Frank Nitti lạnh lùng nói:
-Rót cho tôi một ly đi, cái gì cũng được, mình vừa làm việc vừa nói chuyện
-Cầu xin thượng đế cứu giúp linh hồn ông Russo. Ông ta tốt với tôi lắm …
Frank Nitti thấy nhẹ nhỏm trong người một chút. Nhưng nó vẫn không hiểu
được là tại sao lão này miệng nói đầy vẻ thân tình mà mặt mày thì cắt không còn hột máu. Frank Nitti vô đề liền:
-Cám ơn ông. Nhưng có chuyện gì mà thấy ông có vẻ lo lắng quá vậy?
Lão già lắc đầu, nhìn ngang ngữa cho đến khi chắc là không có ai ở gần
mới dám thều thào nói:
-Ngũ đại gia đình Nữu Ước đang cho người lùng ông gắt lắm từ tối ngày
hôm qua. Chúng nó vừa nhìn thấy ông bước vào đây, mong ông liệu cho … thế nào cũng có chuyện …
Frank Nitti nhíu mày, hỏi đồn:
-Vậy là ngũ gia không có bắn giết nhau à? Chúng nó họp lại để diệt tôi sao?
-Không! Ngu gì? Trùm Mecca đã chết, chiến tranh đâu có lợi cho ai.
Frank Nitti muốn đập đầu mình xuống nền nhà. Vậy là anh Russo tính trật
lất hay cái chết của ảnh đã thay đổi cuộc cờ? Nếu không có chiến tranh thì gia đình Gravalia đâu thèm dại dột đem nó về để chịu đấm của bốn gia đình kia. Lịch sử Nữu Ước xưa nay đâu có dung túng cho một băng giết mướn “độc lập” kiểu Russo mà dám xông vào đại bản doanh của một trong năm đại gia đình để gây máu lửa như vậy? Anh Russo dám cương ẩu là vì được cánh Gravalia bảo trợ, bây giờ nghe bọn nó họp lại để làm thịt mình, Frank Nitti biết là trùm Gravalia đã bỏ rơi nó. Bỏ không thương tiếc như người ta liệng miếng chanh vào thùng rác sau khi vắt hết nước vậy.
Có hai chiếc xe hơi dừng lại trước cửa nhà hàng. Tuy ngồi im nhưng đuôi
mắt của Frank Nitti cũng đếm được có ít nhất là năm sáu thằng trong mỗi chiếc. Xe tốp lại rồi mà đâu có thằng nào chịu leo xuống. Chúng nó cứ ngồi im như là để chờ đợi ai vậy.
Lão pha rượu nhìn thấy hai chiếc xe bỗng khóc lên híc híc:
-hu … hu, tôi không biết nữa, ông ráng tính đường dọt đi … Tôi mới sang
được tiệm rượu này chưa tới một năm … tôi có một vợ và hai con còn nhỏ …
Không hiểu sao đến giờ phút này mà Frank Nitti cũng chẳng thấy sợ hãi gì
cả. Chết là cùng chớ gì. Nó chỉ tiếc là chết mà chưa trả được thù nhà.
Frank Nitti nhấc ly rượu lên, uống cạn, nói với lão già:
-Ông đừng lo, tôi sẽ đi khỏi đây để cửa tiệm của ông được an toàn.
Đã đến lúc cần phải sống mái một trận cuối cùng với bọn này. “Tao mà
chết thì ít nhất phải có gần chục đứa chết theo tao,” Frank Nitti nói với lòng mình như vậy. Nó móc tờ giấy 100 đô thẩy lên quầy, tính đứng lên thì có một người lạ mặt tà tà tới ngồi xuống cái ghế bên cạnh nó.
Frank Nitti thò tay vào nách, chuẩn bị móc súng ra nhưng bỗng khựng lại
khi nghe tiếng nói đầy sự kính trọng của lão pha rượu với người khách lạ này:
-Kính chào ông Al Capone, lâu quá mới gặp ông.
Capone không nói gì. Hắn nhìn xuống tờ giấy 100 đô la để trên quầy với
vẻ thắc mắc. Bảo vệ an ninh cho cái quán rượu hạng trung này đã mấy năm,
Capone biết khách triệu phú đâu có thèm vào đây.
Capone quay người nhìn thằng khách hàng quái lạ này coi thử nó là ai. Ủa,
thằng này mặt mày búng ra sữa mà tiền đâu nhiều vậy? Tướng của nó là tướng … ăn cướp chớ đâu phải tướng con nhà giàu. Cái nách cộm lên như thế kia thì nhứt định là nó phải có chó lửa trong người, làm sao qua mặt Capone này được. Còn cái cặp mắt sắc như dao và bàn tay để lờ lờ trên bàn như thế kia là để chuẩn bị móc súng ra đó. Gớm thật.
Capone cười cười, sửa lại thế ngồi và móc ra một điều xì gà cắm vào môi.
Capone ngạc nhiên khi nhìn thấy hai cái hộp quẹt đưa tới một lần để mồi lửa cho hắn. Một cái là của lão bồi pha rượu, cái kia là của thằng khách lạ mới là ly kỳ.
Capone đưa đầu điếu thuốc vào cái hộp quẹt của thằng khách lạ, vừa pập
khói vừa nhìn thẳng vào mặt nó. Cặp mắt nó sắc lạ thường, đúng là týp người dám làm chuyện lớn. Và hắn giật mình khi nghe nó nói luôn:
-Tôi là Frank Nitti, đàn em của Russo. Trước khi “đi luôn”, ảnh có nhắc tôi
đến kiếm ông …
Nghe tới đó, Capone giựt mình một cái, quên cả chuyện mình đang làm để
đến nổi khói xì gà chui tuốt vào mũi, bật lên một tràng ho sặc sụa.
Thì ra đây là người em của ông bạn Russo đây mà. Kể từ chiều hôm qua,
nghe tin người bạn ngã gục, Capone buồn rầu đến bỏ cả cơm nước. Mọi dịch vụ trong xã hội đen của Nữu Ước, từ đĩ điếm cho đến sòng bài, 5 gia đình lớn chia nhau bao thầu hết, chỉ chừa lại một “dịch vụ” nguy hiểm nhất và khó ăn nhất là “dịch vụ giết người” thì cho thả nổi. Thằng nào bắn giỏi và coi mấy cái án 3, 4 chục năm tù là nhẹ thì cứ việc nhảy vào nghề này mà sinh sống. Khó khăn vậy mà vẫn có nhiều đứa xông vào mới là lạ. Nhưng đa số, chỉ sau vài tháng hành nghề, thường chấm dứt “dịch vụ” ở ba nơi: Nhà thương, nhà tù hoặc nhà xác. Capone và Russo là hai tay thiên tài lẫy lừng của dịch vụ này nên làm ăm khấm khá lắm cho đến chiều hôm qua, tới phiên Russo chấm dứt “dịch vụ” của mình trong một chiếc xe Cadillac … bị cháy đen thui. Hắn nhớ Russo có nhắc đến một “thằng em bà con” tên là Frank Nitti vài lần, không ngờ hôm nay tình cờ mới gặp.
Capone gọi hai ly rượu rồi xoè tay ra cho Frank Nitti nắm chặt lấy, nói
bằng một giọng rất thân tình:
-Tao là Al, Al Capone, bạn của anh Russo. Chú mày cứ việc gọi tao là
anh. Tao xin chia buồn với mày về sự mất mát đó.
Frank Nitti cúi đầu yên lặng rồi suy nghĩ cố kiếm một câu nói để giã từ ra
đi nhưng nghĩ chưa ra. Nó muốn gặp Capone, nhưng không phải trong hoàn cảnh bi đát và … sắp chết như thế này. Mình là kẻ đang bị treo án tử hình, nên chết một mình, không nên kéo theo một ai nữa.
Hai ly rượu vang được để trên bàn, Capone thân mật trao cho nó một ly:
-Uống với tao một ly đi, uống để nhớ thằng anh mày.
Frank Nitti không biết nói sao đành nâng ly.
-Tao nhớ, thằng anh mày luôn có mộng chọc trời khuấy nước, mày biết nó
có âm mưu gì không?
Frank Nitti lắc đầu.
-Nó muốn gồm thâu hết New York này về thành một mối, làm như là Ceasar ngày xưa vậy.
Capone cười hề hề rồi bỗng im bặt:
-Không thể được, tao tính rồi. Ngũ đại gia đình mọc rể ở đây quá lâu làm
sao bứng chúng nó đi được. Nếu muốn làm hoàng đế thì nên kiếm nơi khác mà làm, như Chicago hay qua tuốt miền Tây, San Francisco chẳng hạn …
Đã đến lúc phải ra đi. Frank Nitti đột ngột chùi miệng đứng dậy, xòe tay ra:
-Rất hân hạnh được gặp ông, ông Capone, tôi có việc phải đi liền bậy giờ.
Đang thao thao Capone bỗng chưng hững. Thằng này tính đi đâu kìa? Có
chuyện gì xảy ra mà thằng nhỏ coi bộ hối hả quá vậy. Capone nhìn nó hỏi:
-Chú mày đi đâu vậy?
-Chuyện riêng!
Miệng nó nói mà mắt nó quắc lên, bắn ra những tia lửa giết người. Capone
lúc ấy mới cảm thấy một việc gì trọng đại sắp sửa xảy ra. Giác quan thứ sáu của hắn ít khi nào đoán trật. Cấp mắt cú vọ của hắn đánh một vòng và biết là mình đoán đúng: Tuốt dãy bên kia là lù lù mấy thằng đao phủ thủ của bọn Giuseppe đang ngồi, ngoài cửa là hai chiếc xe của bọn Mecca. Thằng nào coi mặt mày cũng đầy sát khí. Capone nhíu mày suy nghĩ. Hai băng đao phủ của hai đại gia đình có mặt một lần ở nơi này mà không … bắn nhau quả là chuyện hi hữu. Nếu không bắn nhau thì chúng nó tính bắn ai đây? Dòm tướng tá và điệu bộ, chúng nó đâu có tới đây để ăn mừng sinh nhật của nhau. Mới nhất, chiều hôm qua trùm Mecca lại vừa bị quất sụm …
Và Capone hiểu ra liền. Không bắn nhau thì nhất định phải bắn thằng em
của Russo đây chớ ai nữa. Capone thầm phục “màn lưới tình báo” của mấy gia đình này. Không chỗ nào là chúng không biết, không nơi nào được gọi là nơi an toàn cả.
Đang nắm tay thằng Frank Nitti, Capone lẹ làng kéo nó ngồi xuống trở lại:
-Mày ngồi yên đây với tao, từ từ để tao tính kế cho, bước ra khỏi cửa bây
giờ là nát bấy như cái tổ ong liền …
Frank Nitti bình thản gạt tay Capone ra:
-Cám ơn ông, nhưng tôi lo thân tôi được, khỏi cần ai giúp hết …
Capone trợn mắt nhìn Frank Nitti như nhìn một con quái vật. Xưa nay hắn
đã gặp nhiều thằng khùng nhưng tuyệt chưa có ai khùng kiểu này.
-Mày nói sao?
-Chuyện của tôi, tôi lo được, xin cám ơn và để tôi đi.
Nói xong là nó đứng dậy, nhìn qua đám bàn bên kia như để thách thức.
Bọn đàn em của Giuseppe chỉ chờ có vậy. Nghe rào một cái là chúng nó đứng lên hết, tay đứa nào cũng đút sâu vô trong áo bành tô.
Capone suy nghĩ thật mau. Bằng mọi giá phải cứu cho được thằng em của
người bạn mình. Nhưng khó quá, mình chỉ có một mình, trong tay không có cả cây súng, trong khi bọn kia gom lại cũng cỡ hai chục đứa, võ khí trang bị tới tận răng. Cũng không thể đứng ra điều đình hay năn nỉ chúng nó được. Tiếng tăm mình có thật đó nhưng bọn đao phủ này có biết nghe lời ai đâu ngoại trừ xếp của chúng nó.
Ăn nói bậy bạ có khi còn bị chúng nó cho đi theo thằng Frank Nitti thì bỏ mẹ …
Khó nghĩ quá nhưng Capone biết chắc một điều là nó phải cứu thằng này,
dù có phải chết theo nó. Bỗng Capone nhìn thấy một võ chai bia để dưới quyầy rượu và nghĩ ra được một kế. Hắn làm bộ mặt tiếc rẻ bảo Frank Nitti:
-Mày muốn đi cũng được nhưng ngồi xuống đây cho tao nhắn cái này. Một
lời nhắn thôi rồi mày muốn đi đâu thì đi, tao không cản.
Chết còn chưa sợ thì sợ gì một lời nhắn, Frank Nitti lại ngồi xuống ghế trở
lại. Capone thò tay xuống dưới chụp cổ chai bia, đồng thời ghé sát vào tai nó thủ thỉ điều gì đó …
Frank Nitti đang lắng tai chờ Capone nói bỗng nghe đến rầm một tiếng, thấy đầu mình như bị ai bửa vào một nhát búa, tá hỏa tam tinh. Capone đã bất ngờ
dùng hết sức giộng chai bia xuống đỉnh đầu thằng nhỏ nghe đến “bục” một cái. Chai bia vở nát, mảnh văng khấp nơi. Frank Nitti gục đầu xuống quầy rượu nhưng chưa chịu ngất hẳn, còn ráng thò tay vô nách tính lôi ra cây súng. Capone lẹ làng đứng dậy, chụp cái ghế gần đó phang xuống đầu nó một cái thật mạnh nữa. Sau cú này thì Frank Nitti nằm xụi luôn một đống.
Trước cặp mắt chưng hững của tất cả mọi người trong quán, Capone thò tay
vô nách Frank Nitti, móc ra cây Colt.45 đút vào bụng rồi quay ra sau nhìn bọn
Giuseppe hét to lên như sấm:
-Đù mẹ tụi mày, sao không chạy tới đây giúp tao một tay mau lên, tao hạ
được nó rồi.
Thì ra vậy, bọn Giuseppe đâu có biết là ông trùm đã mướn “đao phủ thủ”
Al Capone thanh toán thằng này. Chúng nó chạy ào tới vây quanh “thằng giết
mướn” Capone. Capone rút cây Colt.45 của Frank Nitti ra chĩa vào đầu nó tính bóp cò. Lão bồi pha rượu sợ hãi quá, thét to lên:
-Không! không! Không giết nó ở đây được, tôi xin ông.
Capone dừng tay, suy nghĩ một lúc rồi dút súng vào bụng trở lại. Lão bồi
pha rượu chắp tay thở ra một hơi dài. Capone vẫn đứng yên nhìn thằng Frank Nitti, hỏi mà không thèm nhìn lui:
– Trưởng toán tụi mày là ai?
-Tôi đây, Mike.
-Mày biết tao không?
-Biết, ông là Capone, ông hành nghề “độc lập” mà.
Capone xoay người, xòe bàn tay ra:
– Vậy tiền của tao đâu đưa đây.
Thằng nọ lắc đầu, chưng hững:
-Tôi có nghe nói gì đâu, kiếm nó cả mấy ngày không ra, tình cờ ngồi đây
chơi thì nó lại dẫn xác vào nạp mạng.
Capone nhổ một bãi nước miếng xuống nền nhà, hằn học:
-Tình cờ mẹ gì, nếu tao không dụ làm sao nó vào đây được. Vậy tụi
Mecca có biết nó ở đây không?
-Chính tụi tôi thông báo cho bọn Mecca đến đây … lượm xác nó mà.
Capone hất đầu bảo thằng Mike:
-Làm ăn như fuck. Mày cho người chạy ra hỏi coi chúng nó có đem tiền
đặt cọc tới cho tao không?
Mike hất hàm ra hiệu cho một đứa đàn em chạy ra ngoài. Capone chỉ mặt
hai thằng bự con nhất:
– Không giết nó ở đây thì đem ra bờ sông bắn cũng được, hai đứa mày chịu
phiền khiêng nó ra xe cho tao.
Hai thằng nọ nhìn Mike chờ lệnh. Nó gật đầu. Thế là Frank Nitti được đứa
ôm chân, đứa ôm đầu khiêng ra ngoài theo gót Capone. Ra tới cửa, Capone hoảng hồn khi nhìn thấy hơn chục thằng đao phủ của bọn Mecca đứng choán đầy lối đi, đứa nào cũng có vẻ “ngụt lửa căm hờn”. Cái điệu này thì một con muỗi cũng chưa chắc đã chun qua được, nói gì đến người? Nhưng Al Capone vẫn mặt lạnh như tiền, bình tĩnh dơ tay chỉ vào một chiếc xe, nói với hai
thằng đàn em của Mike:
– Tụi mày để nó trên đó giùm.
Chúng nó vừa bước ra khỏi cửa thì có một người xuất hiện, hai tay chọc sâu
vào áo bành tô, mặt mũi hung ác lạ lùng, đứng chận ngay lối đi:
-Làm như thế là không được, không thể đem nó đi như vậy được, tụi này
muốn chính tay móc ruột nó ra.
Vẫn lạnh lùng, Capone tiến tới một bước, … xòe tay ra:
-Dễ mà ông bạn, ông đưa tiền đây tôi giao phức cho ông liền. Đù mẹ giữ
cái xác của nó thì ăn c … gì?
Tên kia hỏi lại liền:
-Tiền gì?
-Đù mẹ đừng có làm bộ, tiền mua cái mạng của thằng này chứ tiền gì.
Mấy ông dư biết là thằng Capone này sống bằng nghề giết mướn mà.
Rồi hắn hầm hầm móc cây Colt.45 ra cầm nơi tay, hất đầu bảo hai đứa kia:
– Tụi mày cứ đem nó lên xe đi, để tao lái thẳng về tổng hành dinh của trùm
Giuseppe. Bên Mecca không dám chi thì tôi giao cái xác này cho tụi Giuseppe vậy. Thằng nào muốn cản đường cứ việc nhào ra, Capone này xưa nay rất biết điều nhưng cũng biết cách xử thế khi nồi cơm bị xâm phạm.
Bọn Mecca nhìn nhau bối rối rồi lui bước, nhường đường cho đi. Tụi
Giuseppe cũng ngơ ngác không kém nhưng nghe nói nó đem xác thằng nầy về đại bản doanh của mình thì cũng thấy yên lòng.
Capone đóng cửa xe nghe đến rầm một cái nhưng chưa thèm rồ máy đi vội.
Có cái gì mà phải hấp tấp kìa? Nếu mình chết thì đã chết rồi. Đã lừa được chúng để đem thằng Frank Nitti ra tới đây rồi thì càng phải đóng cho trọn vỡ kịch. Al Capone biết nhiều khi, vỡ kịch coi thấy có vẻ trót lọt mà đến màn chót lại hư hết chỉ vì một chút hớ hênh, hay sợ hãi vô cớ. Nếu chúng nó biết bị lừa vào giờ chót, gần hai chục thằng thiện xạ với hai chục cây liên thanh trong tay dư sức biến chiếc xe của mình thành một cái quan tài.
Al Capone bước trở lại nhà hàng, cắm một điếu xì gà vào miệng:
-Thằng nào có lửa, cho chút coi.
Một đứa trong bọn Mecca thảy cho nó cái hộp quẹt. Al Capone nhả khói:
-Tôi hỏi anh em một lần chót để tránh các vụ hiểu lầm về sau. Có ai muốn
đem cái xác thằng Frank Nitti đi không?
Không có tiếng trả lời. Al Capone dơ hai tay lên trời, phân bua:
-Vậy là thằng Al Capone này phải đem nó đi rồi, đù mẹ chán thiệt … Tiền
không biết được bao nhiêu mà phải chở một cái xác đẫm máu như thế này đi ngờ ngờ giữa New York. Đù mẹ vô phúc mà cảnh sát nó chận lại là 10 cuốn lịch trở lên chứ không phải ít …
Al Capone quay lui, miệng lẩm bẩm mấy lời than phiền. Bọn Mecca và
Giuseppe nhìn theo cho đến khi chiếc xe của Al Capone khuất bóng sau dãy nhà. Sáng hôm sau, Frank Nitti thức giậy trong sào huyệt của Al Capone ở phía
Nam Nữu Ước, thấy đầu và lưng đau nhức không thể tả. Capone nhìn nó mỉm cười:
-Không ngờ quất mạnh vậy mà mày vẫn dậy được. Thông cảm nghe chú
em, nếu không làm vậy thì làm sao lừa được chúng nó.
Frank Nitti nghẹn ngào không biết nói sao để cám ơn cứu tử. Té ra là mình
cứu tử anh Russo, bạn anh Russo lại cứu tử cho mình ….
Từ đó, dân giang hồ New York chẳng có ai nghe tin tức của Frank Nitti và
Al Capone nữa. Đám tang của đàn anh Russo cũng thiếu mặt chúng nó. Làm sao hai đứa dám ló mặt ra được? Xưa nay có ai đủ tài năng để cho cả đám đao phủ của hai đại gia đình cùng vào xiếc một lần. Dĩ nhiên, lệnh tầm nả của ngũ gia bây giờ có thêm cái tên Al Capone đứng phía dưới nữa.
Sau khi nghe Frank Nitti kể lại hết cuộc đời lang bạt của mình, Capone nói:
-Thù thì phải trả nhưng không thể bây giờ được. Lúc tao còn nhỏ đi học,
có một bà phước hay nói với tao như thế này: “Chúa sinh ra chúng ta, có cho chúng ta một người bạn quý mà ít có ai biết làm quen đó là thời gian. Hãy để ông bạn thời gian lo giùm mọi chuyện rắc rối trước, sau đó khi chuyện hết khó khăn rồi, chúng ta sẽ lấy lại để giải quyết” Mấy bà phước nói đúng. Mình phải để cái vụ này chìm xuống chừng một năm đã, tao bảo đảm, mình sẽ lượm xác thằng Giuseppe …
-Mình sẽ làm gì trong thời gian đó?
-Phải đi khỏi nơi đây. Russo không nghe lời tao nên chết thảm, New York
là đất chết. Bọn ngũ gia đã mọc rể ở đây sâu quá rồi, không có cách nào bứng
chúng nó được.
-Đi đâu?
-Chicago!
Frank Nitti ngồi suy nghĩ một lúc thật lâu rồi lắc đầu nói:
-Cám ơn anh Capone, tôi đồng ý với anh là mình phải đi khỏi nơi đây nhưng tôi không xuống Chicago được.
-Mày muốn đi đâu?
-Tôi muốn thay đổi cuộc sống, tôi sẽ đăng lính TQLC.
Capone lắc đầu. Hắn biết thằng này đã muốn làm cái gì rồi thì không ai cản được. Mà biết đâu chừng quân đội là một dịp may cho nó, đầu óc … đầy tội ác
của Capone nghĩ sâu thêm chút nữa. Người ta có thể biến nó từ một thằng đao phủ tầm thường thành một thằng đao phủ siêu hạng có một không hai của thế giới này.
Capone vỗ vai nó, cười rất tươi:
-Đi lính cũng được nhưng để tao hỏi cái này. Về già, mày muốn làm anh
cai đội TQLC … ốm nhách già khụ hay muốn sống như một ông vua với tiền bạc tiêu xài như nước?
-Tính tình như tôi làm sao mặc áo lính suốt đời được. Tôi chỉ muốn thay
đổi cuộc sống trong lúc này thôi.
-Tốt lắm, tao cũng nghĩ vậy nên mày phải nghe cho kỹ đây. Vào trong
lính, mày phải học cho thành thuộc hai môn sau đây để giải ngũ có chuyện dùng tới:
Thứ nhất là chất nổ. Tương lai nằm trong tay những kẻ biết … gài mìn. Nhớ học đủ cách, đủ kiểu và biết tường tận như là mày biết bàn tay mày vậy. Thứ hai là máy móc điện tử. Thông minh như mày thì ráng khai thác càng nhiều càng tốt, sau này sẽ có dịp dùng. Mày phải nhớ là quân trường TQLC là nơi huấn luyện “thợ giết người” tối tân nhất thế giới. Tại đây mày sẽ được xử dụng những thứ vũ khí mới tinh, đi trước các nước khác cả năm sáu năm. Rành hai thứ đó thôi, về Chicago kiếm tao, tụi mình sẽ tính chuyện “thôn tính” Chicago.
-Làm sao mà anh biết rành vậy?
-Tao đọc báo, theo dõi thời cuộc.
Al Capone làm một hơi xì gà, nhìn ra xa rồi buông một câu chắc nịch, đầy
tự tin:
-Nếu mày làm găng tơ để nuôi thân thì chỉ cần một cây súng là đủ, muốn
trở thành giàu có thì phải học hỏi thêm nhiều, phải đọc thêm báo chí. Và muốn trở thành ông trùm thì phải có thêm khoa ăn nói nữa.
Frank Nitti nhìn người bạn mới quen vừa cứu mạng mình và tự nhiên cảm
thấy con người kỳ lạ này có đủ cả ba cái tài kể trên. Đó là chưa nói đến cái tài thứ tư, đó là bộ óc tính toán bén nhậy không ai ngờ được. Nếu Al Capone tính trễ một chút thì giờ này nó đâu có ngồi đây.
-Mày nhắm chịu được kỷ luật quân trường không? Trại TQLC là lò luyện
thép dữ dội nhất thế giới, tao nghe nói nhiều thằng chịu không nổi đã tự tử chết trong đó.
Nghe nói vậy, Frank Nitti sáng mắt lên. Thì nó tính đăng lính cũng chỉ có
bấy nhiêu thôi mà.Nó muốn thử coi cái sức chịu đựng của mình tới đâu.
Frank Nitti thò tay móc cây Colt.45 đưa cho Al Capone:
-Anh về Chicago giữ dùm tôi cái này. Ngày nào ra lính, tôi tới lấy.
Al Capone nhận cây súng, hỏi đùa:
-Mày đã hạ mấy thằng với cây này rồi?
Câu trả lời của Frank Nitti làm Al Capone giật mình:
-Nhiều quá nhớ không hết. Tôi giết người xong là quên liền, nhớ lại ăn
cơm mất ngon.
Al Capone lắc đầu.Hắn biết là mình không bằng thằng lỏi này được.
Sau đó, Al Capone và Frank Nitti phải thay đổi chỗ ở luôn mới tránh được
cuộc săn người vĩ đại nhất của lịch sử Mafia Nữu Ước. Phải mất cả tháng sau, hai đứa mới lén leo lên được một chuyến tàu hoả rời Nữu Ước. Chúng nó phải hóa trang cẩn thận lắm mới qua mặt nổi đám “tình báo” của ngũ gia gài người khắp nơi trong thành phố. Tới Chicago, Al Capone phải bắt đầu mọi chuyện lại từ con số không. Hắn kiếm được một chân gác động điếm lương mười đồng một tuần. Frank Nitti lên tàu hoả đi California để đăng lính TQLC.
Hai thằng găng tơ chia tay nhau âm thầm vào một buổi chiều. Dân anh chị
tuy tình cảm rất nhiều nhưng tuyệt khỏi có cái màn bịn rịn tiễn đưa đi. Tiễn đưa người chết còn chưa thấy gì thì đi xa có vài năm, có gì đáng để nói. Chỉ một cái bắt tay một câu nói chắc như đinh đóng cột của Al Capone: “Khi nào thành tài, mày về đây kiếm tao.” là hết.
Frank Nitti gật đầu. Nhưng bước lên toa xe lửa, Frank Nitti vừa ngồi
xuống, tính chụp mũ ngủ một giấc thì thấy đàn anh Al Capone dọt lên, mặt mày có vẻ hứng khởi vô cùng, ngoắc tay kêu nó xuống.
Xuống khỏi xe, Al Capone mới gõ gõ vào trán mình, nói chậm rãi:
-Tao nghĩ là mình có thể trở về New York trở lại được rồi.
Frank Nitti chưng hửng. Vừa chạy thừa sống thiếu chết ra khỏi cái “lò thịt”
đó xong, chưa kịp hoàn hồn thì đàn anh đã biểu mình trở lại nghĩa là làm sao? Frank Nitti đứng yên, ngó sững Al Capone như trời trồng.
-Đù mẹ đừng có ngó tao bằng cái cặp mắt đó. Lúc ở New York mình hãi
quá nên nghĩ không ra, bây giờ tao mới thấy chìa khóa của vấn đề. Vào tiệm cà phê tao cắt nghĩa cho mày nghe.
-Trễ tàu thì sao?
-Dẹp đi, lát nữa trả vé lại. Chuyến xe sắp tới tao đi với mày, không phải
qua Los Angeles mà về trở lại New York.
Quán vắng người. Gọi xong ly rượu chát cho mình, Al Capone vào đề liền:
-Bọn Mecca tìm giết mày là một lẽ tự nhiên vì tụi mày giết ông trùm của
chúng nó. Tụi Giuseppe tìm giết mày là vị sợ trả thù cái vụ giết cha, có thể hiểu
được. Nhưng điều tao không thể nào hiểu nổi là đến ngày cả trùm Gravalia mà cũng bỏ rơi mày, về hùa với bọn kia để giết mày cho được là tại làm sao? Mày có biết tại sao lão lại một hai đòi giết mày cho được không?
Frank Nitti lắc đầu. Ông này suy nghĩ gì đâu rắc rối quá, đầu óc nó đang
còn mơ tưởng đến những cuộc thao dượt hào hứng của quân trường TQLC, làm sao hiểu được. Frank Nitti buộc miệng:
-Nó không thích thì nó giết chớ gì? Ai biết lòng tụi nó được?
Al Capone bật cười:
– Tao đã nói với mày là cái nhìn của con diều hâu khác con chim sẻ. Mày
mới là con chim sẻ … bắn đẹp thôi, còn lâu mới trở thành diều hâu được.
Frank Nitti dụi điếu thuốc lá:
-Vậy nói đi con diều hâu, tại sao tụi Gravalia muốn giết tôi?
Câu trả lời của Al Capone làm thằng Frank Nitti muốn nhảy nhổm ra khỏi
ghế:
-Tại vì nếu bọn Mecca biết là chính gia đình Gravalia đứng sau lưng đỡ đầu tụi mày để giết thằng Bob Laysten và ông trùm của chúng nó thì cả nhà thằng
Gravalia sẽ không còn một thằng nào sống sót. Nó phải giết mày để bị miệng. Hiểu chưa con chim sẻ … biết bắn súng.
-Nhưng chính tụi Mecca mướn tụi tôi đi giết trùm Gravalia trước mà.
-Đúng. Chúng nó muốn giết trùm Gravalia, nhưng làm sao biết được tụi
kia đã dùng anh em mày để quất lại một cú đẹp vậy. Bọn Mecca chỉ tưởng hai đứa mày cương lên làm ẩu thôi. Bây giờ, bí mật này chỉ còn có mình mày biết. Đó là lý do tại sao chúng nó phải một hai tìm giết mày cho được. Ai cũng có thể tha được hết nhưng Frank Nitti thì phải chết. Tao đã nghĩ kỹ rồi. Mày tưởng bỏ đi lính ở tuốt bên California là thoát được bàn tay của chúng nó à? Không, dưới gầm trời này không có chỗ nào là an toàn hết. Trước sau gì chúng nó cũng kiếm ra mày để làm thịt. Chúng nó phải giết mày để bịt miệng. Mày đừng tưởng chúng nó không có người trong quân đội, tao nghe chúng nó còn mua được cả súng đại liên và súng “Ba dô Ka” mới tinh của TQLC kia mà. Frank Nitti suy nghĩ và thấy rằng mình đúng là một con chim sẻ. Nó phục
đàn anh Al Capone quá chừng. Al Capone có thể bằng hay hơn Russo chứ không thua.
-Vậy bây giờ “Xếp” tính sao?
Al Capone để ý chữ “Xếp” (Boss) mà nó xài. Ra là nó bắt đầu nể mình rồi
đây. Cái thằng cũng khó tính thật. Ngày mình cứu nó thoát chết, nó cũng chưa them gọi là “Xếp”. Bây giờ mới luận sơ sơ có vài câu “chiến lược” mà cu cậu đã mê típ mắt lại và thay đổi cách xưng hô rồi. Đúng là một thằng có máu mafia trong huyết quản.
– Tương kế tựu kế. Tao sẽ làm cho hai cánh Mecca và Giuseppe giết nhau
bằng thích rồi sẽ trở về New York với mày để làm thịt tụi Giuseppe.
– Tụi Giuseppe đâu có dính dáng gì tới vụ giết trùm Mecca, làm sao chúng
nó giết nhau được.
Al Capone lắc đầu:
-Đó mới là vần đề nan giải. Nếu để cho bọn Mecca đánh nhau với
Gravalia thì cặp mắt tao sao còn đáng gọi là có “cái nhìn diều hâu” nữa. Tao đã có cách làm sao cho bọn Mecca thề không đội trời chung với gia đình iuseppe.
-Cách nào vậy … xếp?
-Thì tao phải làm sao để thuyết phục cho chúng nó tin là chính bọn Giuseppe mướn mày để thanh toán trùm Mecca …
– Tụi Mecca cũng đâu có ngu. Chúng nó vừa bị mình lừa một vố ra gì, làm
sao dám tin mình?
Al Capone nhìn thằng em cười cười:
-Chính vì vậy mà tao với mày cần trở lại New York một phen. Hồi còn ở
New York tao có quen biết hai thằng. Một thằng đang làm lính của Giuseppe tên là Vaccio. Thằng này có ông bố cờ bạc, thiếu tiền sao đó không trả nổi nên phải bán con mình cho Giuseppe lúc chỉ là một đứa bé 12 tuổi. Trùm Giuseppe nuôi nó trong nhà và coi như một thứ nô lệ tân thời. Bố nó sau đó có lẽ vì hối hận và túng quẩn quá nên treo cổ tự tử chết ngay tối hôm trước ngày lễ Giáng Sinh. Lớn lên nó biết chuyện này và có tâm sự với tao mấy lần. Nó có ưa gì thằng già Giuseppe, nhưng bị thất học từ nhỏ, lại không biết nghề ngổng gì để nuôi thân đành ôm súng làm một thứ tà lọt hạng bét cho người ta sai khiến. Tao sẽ kêu nó về Chicago với bọn mình.
Dĩ nhiên, trước khi đi, nó phải thi hành công tác của tao giao phó. Thằng kia tên Desino, là một thứ “gián điệp” được ông trùm Mecca gài vào gia đình Giuseppe. Nếu tao dùng thằng Vacca thuyết phục thằng này tin là Giuseppe đứng đằng sau vụ giết ông già nó thì Kelly nhất định phải tin. Mày hiểu tâm lý con người, trong những hoàn cảnh như thằng Kelly bây giờ, người ta thường phải kiếm lấy một cái gì đó để tin … Hơn nữa, thằng Desino “nằm” bên đó lâu quá, lâu lâu cũng cần phải đem một tin tức gì “nóng hổi” về nhà để lấy điểm. Con người mà … Khẩu khí của những tay đại gian hùng có khác, mở miệng ra là cứ nhắc đến tâm lý con người. Frank Nitti lắc đầu:
-Xếp còn nhớ ngày tụi mình trốn ra khỏi New York nó khổ sở như thế nào.
Khổ hơn chó. Tôi không muốn trở lại thành phố … chó đẻ đó nữa.
Al Capone cười:
-Không, lần này mày về đàng hoàng với kế hoạch thần sầu của tao. Tao
biết tính tình thằng Kelly Mecca, trưởng nam và là người kế vị ông trùm. Tao biết có thể cho nó vào xiếc được. Thế nào cũng có nổ lớn. Chỉ tiếc một điều …
-Điều gì?
Al Capone ngữa cổ nốc cạn ly rượu:
-Thằng bạn Russo tao đã chết rồi. Nếu nó còn sống, hai đứa mày và tao sẽ
gồm thâu New York về một mối.
Khi Al Capone đứng lên, Frank Nitti lẹ làng kéo ghế cho đàn anh. Rồi nó
cầm mũ, mở cửa cho Al Capone, điệu bộ y hệt như ngày nào nó đã làm với Russo.
Chỉ khác một điều, thành phố Chicago này là một thành phố “còn trinh” chứ không phải nát bấy như New York, nơi chúng nó sinh ra và lớn lên …
**
Cuộc săn người của ngũ đại gia đình xem ra không thấy kết quả. Ai có ngờ
bọn nhóc con này tài quá. Bao nhiêu người, bao nhiêu đường giây vây bủa kín vậy mà chúng nó cũng trốn biệt được. Ba gia đình xông xáo nhất trong cuộc săn người này, đúng theo ý Al Capone đoán là Mecca, Giuseppe và Gravalia. Chúng nó phải hăng hái vì mỗi nhà có một lý do riêng. Trong khi đó, hai cánh kia thì chỉ tham gia cho có lệ. Sau hai tháng tìm kiếm mà không thấy có kết quả gì thì thiên hạ bắt đầu ngữi được mùi chiến tranh trong không khí. Cánh có nhiều lý do để đái trong quần nhất là tụi Gravalia.
Sáng hôm ấy, trùm Gravalia đi đi lại lại trong phòng suy nghĩ. Gia đình
Mecca xưa nay là gia đình mạnh nhất, thế lực nhiều nhất mà mình lại lỡ dại dàn cảnh cho hai anh em Russo nướng luôn một lúc từ xếp xuống tới lính gần chục mạng trong vòng một ngày thì cái tội này chừng nào mới rửa sạch được? Kẹt cái là thằng Russo, tuổi trẻ tài hoa coi thấy ngon lành như vậy mà sao lại chết non bất ngờ làm hư hết kế hoạch của mình. Nếu như nó thành công và còn sống thì trước sau gì thế nào cũng … chết, nhưng mà chết dưới mũi súng của mấy thằng cận vệ nhà mình kìa, sau khi đã phá nát hết lực lượng tụi Mecca. Mà số mình sao rủi quá. Nếu đã chết thì sao hai đứa không chết cha nó luôn một lần cho mình dễ tính, để một thằng còn sống làm gì để mình kẹt cứng. Nó mà khai hết cái âm mưu bẫn thỉu này cho thằng Kelly Mecca thì thế giới sẽ nổ thành trăm mảnh. Ghê quá. Trùm Gravalia chặt lưỡi.
Nếu không bịt miệng được thằng Frank Nitti thì trước sau gì tụi kia cũng phanh ra. Đến ngày đó thì chắc hối không kịp. Hay là thử liều mạng, chơi bọn Mecca một cú nữa coi sao? Ý nghĩ vừa thoáng hiện là lão đã lắc đầu. Không được. Gia đình Gravalia từ trước tới giờ vẫn nổi tiếng là một gia đình “thương mại”, đâu có quen đánh đấm, làm sao chơi lại chúng nó được? Trọn canh bạc chỉ có lá bài ngon lành nhất là anh em thằng Russo thì đã đem ra nướng sạch ở chiếu …
Suốt tháng qua, hễ một ngày trôi qua mà chưa moi đầu tụi Al Capone ra
được là trùm Gravalia cứ như người ngồi trên đống lửa. Càng về sau này thì mọi người đều như cảm thấy được là cuộc hoà bình gắng gượng này không thể nào kéo dài lâu hơn nữa được. Sớm hay muộn, chiến tranh sẽ nổ ra, New York sẽ tràn ngập máu. Năm nay trùm Gravalia đã trên sáu mươi. Ở lứa tuổi này, làm gì người ta cũng tính toán rất cẩn thận. Với lá bài Russo trong tay, lão âm mưu cú chót để chuẩn bị về hưu. Nhưng ai có ngờ …
Tuần lễ vừa rồi, tin tức “tình báo” cho biết có cái gì “ngửi không được” bên
gia đình Mecca. Mấy chục tay súng thường ngày vẫn hay nhởn nhơ khắp nơi ở các động chơi của New York để phô trương thanh thế của gia đình Mecca bỗng biến mất một cách kỳ lạ. Năm mươi năm trong nghề đâm chém, ông trùm hiểu thằng trưởng nam của Mecca, đi theo bố bao nhiêu năm rồi không tự nhiên rút quân của mình về để tổ chức ăn nhậu khi bố vừa bị giết chết thê thảm.
Hay là tụi nó đã bắt được thằng Frank Nitti mà chơi khăm không báo cho
mình biết kìa. Nghĩ đến đây, mồ hôi ông trùm bỗng vả ra. Trời sinh ra con người, thường ban cho họ một cái giác quan nào đó để mà sinh tồn. Chiều nay, ông chưa bao giờ thấy cái giác quan bí mật này trở về một cách mạnh mẻ như vậy. Thằng Calven, theo ông trùm làm consigliosie từ bao nhiêu năm biết ý chủ liền tăng cường toán cận vệ lên đến 30 đứa nhưng ông trùm vẫn cứ thở vắn than dài suốt buổi.
Chiều nay, hai người đang ngồi thương lượng thì một cú điện thoại khẩn
cấp gọi về thông báo một tin tức động trời. Thông thường thì điện thoại gọi về đại bản doanh là tuyệt đối cấm xin nói chuyện với Calven hay ông trùm. Trùm Gravalia vốn biết tụi cảnh sát liên bang là chúa nghe lén những đường giây điện thoại. Nhiều khi người ta vào tù hay thân bại danh liệt chỉ vì một cú điện thoại hớ hênh. Nhưng cú này là cú đặc biệt. Đặc biệt đến độ vừa nghe xong mẫu tin là ông phụ tá Calven tái mặt liền …
Là một người cẩn thận nên từ lâu, trùm Gravalia đã gài được một nhân
viên của mình vào trong cái đám lâu la của Mecca. Thằng này chỉ giữ một chức vụ hạng bét là nuôi ngựa cho mấy đứa cháu cưng của ông trùm thôi nhưng được ở ngay “mặt trời” thì tin tức nó kiếm được quý giá phải biết. Có ai ra khỏi đại bản doanh hay làm gì mà nó không biết? Nhiều khi kẻ đứng ra mở cổng lại chính là nó. Thì cái âm mưu “Xoá tên gia đình Gravalia tại nhà hàng con chuột trắng” dạo nào của trùm Mecca bị đổ bể là cũng bởi thằng này. Đúng hơn, cái mạng của ông trùm bị anh em thằng Russo lấy gọn là cũng bởi nó. Vậy mà có ai biết? Bố chết rồi, Kelly Mecca lên thế cha, cũng vẫn quý trọng nó như thường. Có khi còn hơn cha nữa là khác vì nó là “người cũ của bố” mà.
Chính thằng gọi điện thoại mà giọng cũng run lên thì phải biết là ghê gớm
tới cỡ nào. Calvin ráng đứng cho vững khi nghe nó nói:
-Thằng cả Mecca dẫn đầu một đoàn xe 4 chiếc đang trực chỉ “nhà mình”
đó.
Phản ứng đầu tiên của Calven là thò tay vô bụng mình liền, rờ rờ vào cán
cây Colt nhét ở cạp quần, làm như là bọn Mecca đã đứng thập thò ngoài cửa rồi vậy. Ông trùm vẫn ngồi im trên bàn giấy, nhưng thái độ của thằng phụ tá sao
qua mắt ông già được. Giờ G đã điểm rồi sao. Ông thở dài lên một tiếng, ráng giữ kiên nhẫn để chờ thằng Calven báo cáo lại xem nó đã nghe những gì.
-Sao mầy biết nó đang tới đây?
-Hỏi lạ vậy. Nghề của tôi mà ông phụ tá. Chừng mười lăm phút nữa mà
chúng nó không có mặt ở đó thì tôi nghĩ không ăn lương.
Giây phút hốt hoảng đã qua, Calven lấy lại phong độ của một consigliosie thời chiến ngay. Nó tính toán. Dù gì thì mình cũng có mười lăm phút để chuẩn bị.
Hơn nữa, chúng nó đem xác tới đây là dại. Đánh bất ngờ may ra chúng có thể thắng nhưng mình đã biết trước như thế này thì mười chiếc xe cũng chết chứ đừng nói bốn.
Hơn nữa, còn cái món “vũ khí bí mật” mà ông trùm mới mua để làm gì kìa? Calven mỉm cười và nhớ đến cái “võ khí bí mật”. Đó là cây đại liên 50 ly do hãng Colt chế tạo. Cây súng này mới tinh, đang còn được bộ binh Hoa Kỳ cho thí nghiệm bắn thử ở khắp lục địa, chưa đến tay lính tác chiến mà ông trùm có trước được hai cây mới là tài.
Ngay cái ngày đầu tiên đem súng về, Calven đã cho bố trí một cây ngay
cổng ra vào, tuốt phía trên lầu 3, nhìn xuống một quãng đường dài. Phải mất hết cả tuần lễ mới kín đáo đem nó lên tới đó được, bây giờ là lúc có thể nhờ nó đây.
-Ngoài ra, mầy còn thấy có gì đặc biệt không?
Một thoáng ngần ngừ rồi câu trả lời:
-Hình như nghe tin thằng Capone đã xuất hiện trở lại ở New York.
Bây giờ thì tới phiên giọng ông phụ tá Calven trở nên run run:
-Capone?
-Ừ, tôi không biết thằng này rõ lắm nhưng nỗ là chỗ quen biết với Kelly
ngày xưa. Nghe nói hai bên có gặp nhau để thương lượng gì đó.
Calven biết là mọi chuyện đã phải đến hồi kết thúc. Thì thằng Capone gặp
Kelly để kể tội mình chớ gì. Thảo nào chúng nó chẳng lên xe kéo hết về đây để trả thù.
-Ông phụ tá còn chỉ thị gì nữa không, tôi cúp máy đây.
Chỉ thị mẹ gì nữa, Calven bảo nó cúp máy và gọi lại tối nay. Nó chỉ hy
vọng sau cuộc binh biến lát nữa sẽ xảy ra tại đây, mình sẽ còn nguyên một miếng để đứng trả lời điện thoại của thằng này.
Cái ống nói này vừa gác lên là Calven chụp liền mấy cái ống nói khác, chỉ
thị và ban lệnh lạc lia lịa, để mặc cho ông trùm ngồi yên ngó. Phân cắt lực lượng đâu đó đàng hoàng xong, nó mới đến bên ông trùm, nghiêm nghị nói:
– Thằng cả nhà Mecca dắt 4 chiếc xe phóng tới đây. Không biết nó đến để
làm gì nhưng tôi đã bố trí lực lượng đâu đó xong hết rồi.
Ngừng một chút, nó thông báo luôn cái tin mà ông trùm rất sợ nghe:
-Hình như thằng Capone đã liên lạc được với tụi Kelly Mecca rồi.
Từ lúc nó chụp điện thoại lên, nhìn sắc mặt nó là trùm Gravalia cũng phần
nào đoán được nội dung câu chuyện. Không ngờ kết cuộc lại còn ghê gớm hơn ông nghĩ. Vậy là thằng Capone đã đến đó khai hết mọi chuyện rồi chăng? Nếu thế thì chắc chắn là chiều nay phải là một buổi chiều kinh hoàng nhất của New York và của hai gia đình mafia số một.
Ông đứng dậy, chỉ vào cái quầy rượu. Calven thấy có lý lắm. Nó rót đầy
một ly cho ông và một ly cho mình:
– Tụi nó sẽ có mặt ở đây trong vòng 15 phút nữa …
Mười lăm phút nữa. Cả cơ đồ của mình như vậy mà chỉ trong vòng 15 phút
nữa không chừng sẽ bị tiêu tan.
-Cái tao không thể hiểu được là tại sao chúng lại phóng xe hết về đây? Mà
lại có cả thằng Kelly dẫn đầu nữa?
-Tôi cũng nghĩ như ông. Nếu muốn chơi mình, nó sẽ có thiếu gì cách làm
đẹp hơn. Cái kiểu này là kiểu TQLC Mỹ đi hành quân chớ đâu phải kiểu “anh em mafia” đánh nhau.
Làm một ngụm rượu, trùm Gravalia nhíu mày:
-Mày đã ra lệnh cho thằng thủ đại liên?
-Dạ rồi. Lệnh của tôi là hễ thấy đủ bốn chiếc xe của chúng nó lọt vào con
đường dẫn vào cổng chính, cách đúng 150 feet là nổ liền. Với cây đại liên đặt ở chỗ đó, nhịp bắn 600 viên một phút, sẽ không có chiếc nào còn nguyên một miếng mà mò tới cổng.
Trùm Gravalia gật gù:
-Được lắm, chú mày bố trí vậy thì Napoléon sống lại cũng chào thua.
Nhưng nếu chúng nó đến đây để bàn chuyện làm ăn thì làm sao? Đù mẹ đâu có lý nào lại khơi khơi nổ banh xác chúng nó ra như vậy?
Câu hỏi đó thì Calven không trả lời được. Nếu mình biết trước được hết
mọi chuyện thì còn nói làm gì nữa. Nó nhìn ông trùm, lắc đầu:
-Đành vậy! Nhưng ngược lại, nếu chúng nó đến đây không phải nói
chuyện mà để làm thịt mình thì sao? Ông trùm đừng quên yếu tố Capone.
Lần này tới phiên trùm Gravalia không trả lời được câu hỏi. Một giả
thuyết khác đứng rất vững là chúng nó có thể đến đây để thương lượng chuyện làm ăn, hay chỉ để uống vài ly rượu vang cho đỡ buồn. Nhưng nếu có vậy thì tại sao lại phải đi tới bốn chiếc xe một lần? Hay thằng Kelly hôm nay muốn biểu diễn một chút uy quyền, thứ “tiền hô hậu ủng” cho ra cái vẻ ta đây cũng là trùm đâu có thua gì bố. Có thể lắm, bọn con nít thường làm những chuyện trái tai gai mắt như vậy. Khó nghĩ quá. Lão xoay xoay ly rượu trong tay, lắc đầu tiếc rẻ:
-Thôi thì đành chơi trò đánh bạc vậy. Một thắng hai thua.
-Ông trùm muốn chọn cái lá bài nào. Bắn hay không bắn.
-Bắn. Chẳng thà bắn lầm còn hơn bị bắn.
– Vậy thì khỏi có gì phải lo nữa, tôi đã chuẩn bị xong rồi.
Mấy phút đồng hồ còn lại, Calven lo thu dọn mớ giấy tờ ở trong văn phòng.
Nổ xong là bộ tư lệnh phải dọt đi gấp gấp, nếu không muốn bị cảnh sát ập vào đây còng đầu đem về nhà đá. Nội cái tội dám tàng trữ vũ khí ăn cắp của chính phủ là cũng đủ năm cuốn lịch rồi, chưa kể đến tội cố sát và tội phá rối an ninh trật tự. Càng nghĩ đến đó, bàn tay ông phụ tá càng di chuyển mau lẹ và nhịp nhàng …
Trong lúc Calven bận rộn với mớ giấy tờ, trùm Gravalia ngồi suy nghĩ đến
cái giá phải trả cho cuộc chiến này. Vậy là hết, chẳng còn gì giữa hai gia đình.
Càng nghĩ đến ngày mai đen tối, lão càng nhớ đến thằng Russo. Phải chi nó chết trễ một chút nữa thì cuộc cờ sẽ đẹp biết mấy.
Theo đúng chỉ thị của ông phụ tá, toán an ninh đã dàn trận sẵn sàng. Lệnh
của ông phụ tá ban ra như thế này: Cấm không được đứa nào tự động khai hỏa mà phải chờ tiếng súng của thằng giữ đại liên. Thằng này, đứng trên sân thượng, phải chờ làm sao cho cả bốn chiếc xe cùng lọt vào trong tầm bắn một lần rồi mới khai hỏa. Cấm tuyệt đối không được nổ trước mà cũng không được rời chỗ ẩn nấp bất cứ vì lý do gì. Tràng đạn của cây đại liên sẽ là những phát súng lệnh tuyệt đối. Đứng trên tầng cao nhất của sân thượng, thằng xạ thủ đại liên nhìn thấy một dàn bốn chiếc Cadillac của bọn Mecca bắt đầu quẹo vào khu phố. Nó kiểm soát lại dây đạn, coi lại cái cái khoá an toàn, mím môi chờ đợi.
Ngay lúc ấy, Calven vừa thảy xong mớ giấy tờ cuối cùng vào Vali thì chuông điện thoại reo vang. Calven xoay người nhìn và nhăn mặt lại. Thằng chó nào không biết mà giây phút thập tử nhất sinh này còn gọi vào đây? Nhưng khi nhận ra đường chuông reo ở cái điện thoại bí mật thì mắt hắn sáng lên ngay. Nhất định phải có chuyện quan trọng. Mà không chừng cú điện thoại này có dính dáng đến trận tranh hùng sắp tới này lắm.
Calven bốc điện thoại. Ra là thằng “gián điệp” ở nhà Mecca gọi tới:
-Chúng nó tới không phải để đánh mình mà đã lập kế hoạch đánh tụi Giuseppe đó, ông phụ tá đừng có cho nổ ẩu. Có thằng Al Capone muốn nói chuyện
với ông trùm.
Calven ra dấu cho ông trùm Gravalia bắt ống nghe phụ bỏ vào tai, lên
giọng:
-Al Capone? Mày không nói giỡn?
-Không, ông phụ tá, tôi đâu có thì giờ … Hello, Al đây.
-Hello Al, Calven!.
-Lâu ngày không gặp, ông phụ tá vẫn còn cho đàn em đi kiếm tôi chớ?
-Hết thì giờ rồi, có gì nói mẹ nó ra đi cha nội.
Giọng của Al Capone nói rất nhỏ, làm như nó không muốn cho ai nghe
thấy:
-O.K. nghe cho kỹ đây ông phụ tá. Tôi biết ai đứng đằng sau vụ giết ông
trùm Mecca rồi nhưng chuyện đó bỏ qua đi, “thằng Frank Nitti chết rồi.” Ông hiểu ý tôi nói chớ, nó “chết cách đây hai ngày và sẽ chết cho đến khi nào tụi tui quất được thằng Giuseppe.” Hơn nữa, tôi có bằng chứng là tụi Giuseppe đã đứng ra làm thịt ông trùm Mecca. Ông nghe rõ chưa? Và bằng chứng này hình như thằng Kelly Mecca đã biết. Nó, ông và chúng tôi sẽ hợp lực để đập tụi Giuseppe một mẻ.
Thằng Frank Nitti muốn trả thù cái chết của bố nó. Mong ông hiểu cho. Trả thù
xong là chúng tôi sẽ đi khỏi New York, một lời nói danh dự của thằng Capone này. Vậy ra là chúng nó cho thằng Frank Nitti “tạm chết” để đánh hoả mù giữa
tụi Mecca và Giuseppe. Gớm thật. Hậu sinh khả uý.
Calven nhìn ông trùm hỏi ý kiến. Hỏi mẹ gì nữa, vậy là được quá rồi còn
gì. Đã từ lâu, ông biết trùm Giuseppe đứng đàng sau vụ ám sát ông Albert Nitti. Rồi cuộc tàn sát tại nhà Mecca đã làm mọi chuyện đảo lộn. Hôm nay, ông không ngờ thằng Capone mới có chừng ấy tuổi mà đã biết tính toán đâu ra đấy đàng hoàng.
Nếu chúng nó khai với tụi Mecca là cánh Gravalia đứng đằng sau vụ đổ máu bất hủ đó, chắc chắn chiến tranh sẽ xẩy ra. Nhưng ai được lợi kìa? Dĩ nhiên không phải là hai gia đình đang lo đánh nhau túi bụi. Và tụi Frank Nitti cũng chẳng được cái gì cả. Kẻ ngồi mát ăn bát vàng phải là thằng Giuseppe. Nó đã mạnh sẵn, bây giờ cứ đứng khoanh tay mà nhìn hai kẻ thù của mình giết nhau thì còn gì thú bằng. Chờ đến gần tàn cuộc, nó sẽ lựa gia đình mạnh hơn nhảy vào thanh toán nốt gia đình yếu để chia chác quyền lợi. Không chừng xong chuyện rồi nó còn quay lại bứng luôn gia đình kia thì cả New York này chắc chắn phải về nó. Đây là điểm chiến lược quan trọng đã làm ông trùm mất ăn mất ngủ mấy tháng nay. Dĩ nhiên, nếu chuyện này xảy ra thì thằng Frank Nitti làm sao trả thù cho bố được. Không những vậy, thằng Frank Nitti dù có bay lên trời tụi Giuseppe cũng cho người đến cắt cổ để trừ hậu hoạn.
Dân Sisilian nhiều khi chỉ có một cái tát mà đến 50 năm sau nó còn nhớ thì nói gì cái mối thù giết cha. Cho nên, cái việc làm của thằng Capone chứng tỏ nó là một tay mưu lược trùm đời, tương lai sẽ rất khá. Nó lại còn cẩn thận hứa là xong việc sẽ bỏ New York mà đi thì biết điệu quá.
Ông trùm gật đầu liền hai ba cái. Calven trả lời:
-Mày muốn vậy cũng được, nhưng xong việc thì phải cút khỏi New York
gấp gấp, tụi tao không muốn nhìn thấy mấy cái bản mặt cô hồn của tụi mày ở đây.
-Dĩ nhiên rồi, ông phụ tá khỏi lo chuyện đó. Nhưng còn chuyện này nữa.
-Chuyện gì?
-Anh em lúc này kẹt quá, ông phụ tá nói với ông trùm là bắt người ta đi “lưu vong” thì phải cho con người ta chút ít tiền chớ, xuống nơi xa lạ lấy chó gì mà
sống?
Calven cười. Đù mẹ thằng quỉ này chết đến đít mà vẫn ráng bắt địa cho
được. Nó nhìn ông trùm và thấy ông gật đầu, đưa lên hai ngón tay, bèn nói:
-Được. Ông trùm cho hai đứa tụi bay 20 xấp, nhưng trước khi lên xe mới
giao tiền.
-O.K. Nhờ ông phụ tá gởi lời cám ơn giùm tôi. Nói với ổng là có thể tin
Capone này được. Thằng này nói một lời cho có chết cũng không bỏ …
Vừa nghe tới đó thì Calven cũng nhìn thấy chiếc Cadillac đầu tiên của bọn
Mecca quẹo vào. Nhìn kỹ hơn thì nó thấy thằng Kelly ngồi nghênh ngang ở ghế sau của chiếc đầu tiên, điệu bộ rất phong lưu nhàn nhã. Đúng thật, chúng nó đâu có đến đây để tấn công mình. Nếu đến để tấn công thì đời nào chúng nó lại để xếp ngồi hớ hênh vậy.
Calven buộc miệng chửi thề. Đù mẹ mấy thằng con nít mới lên ngôi vua
này, bày trò tiền hô hậu ủng làm chi không biết để suýt tí nữa thì có đổ máu tùm lum. Nghĩ chưa hết thì Calven giật nẩy mình và nhớ đến thằng thủ đại liên. Cứ đúng theo lệnh ban ra thì thằng này sẽ chờ cho đủ bốn chiếc xe quẹo vào con đường dẩn tới cổng chính thì nổ liền. Sau khi đại liên khai hoả, tất cả những họng súng khác ở trong nhà tổng cộng chừng 40 cây sẽ đồng loạt nổ một lúc. Thằng nào sẽ sống nổi?
Calven không kịp trả lời nữa. Nó cúp điện thoại, sủa được ba tiếng “cây đại liên” xong là phóng như bay ra khỏi phòng. Đến lúc ấy, chiếc Cadillac thứ hai
của bọn Mecca bắt đầu quẹo vào cổng chính.
Bọn cận vệ đang ở trong “vị trí tác chiến” ngoài văn phòng của ông trùm,
nhìn thấy ông phụ tá đương không hớt hãi bung cửa chạy ra trối chết như vậy thì kinh ngạc, lắc đầu nhìn nhau. Ông phụ tá chạy xuống hết bậc thang, thì chiếc xe thứ ba của bọn Mecca quẹo vào.
Không kịp nữa rồi. Calven vò đầu bức tóc. Từ đây ra đến sân chính, có
chạy mau lắm cũng mất đến ba mươi giây đồng hồ. Mà đứng đây la lên cũng không được, nó đứng tuốt trên lầu ba, đâu nghe thấy gì? Trời hỡi, ai bảo rằng có gián điệp nằm bên phe kẻ thù là tốt? Nếu hồi nãy, nó không gọi điện thoại về với cái tin … lẩm cẩm thì giờ này cảnh tương tàn đâu đã xảy ra. Than ôi, một sự nghiệp lẫy lừng như vậy mà cuối cùng bị tiêu tan vì một cú điện thoại.
Calven vận hết sức còn lại, chạy như bay ra sân chính trước hàng chục cặp
mắt kinh ngạc của đàn em. Chạy được đến gần tới nữa sân thì Calven thoáng nhìn thấy chiếc xe thứ tư của bọn Mecca quẹo vào sân chính …
Xong rồi. Vậy là hết. Chỉ trong vòng một giây đồng hồ nữa khẩu đại liên
sẽ khai hoả. Sau đó, cả toà nhà sẽ rung động dưới tiếng nổ hàng chục cây tiểu liên cùng nổ một lúc. Và, dĩ nhiên, đó cũng có thể là ngày tàn của hai gia đình Gravalia và Mecca.
Mồ hôi Calven toát ra như tắm. Trán hắn nhăn lại, hai mắt lạc thần khi
nghĩ đến cuộc đại chiến điên khùng sắp xảy ra chỉ vì một chuyện lãng nhách.
Giữa lúc đó, thay vì những tràng đạn khủng khiếp xé trời của cây đại liên
như mình lo sợ, Calven lại nghe thấy một nổ bụp rất gọn của ai đó vừa bắn ra. Tất cả mọi người đều ngạc nhiên thắc mắc. Ai dám nổ súng trái lệnh của ông phụ tá vậy? Mà hình như tiếng súng phát ra từ trên lầu, gần nơi văn phòng chính.
Lúc này thì bốn chiếc xe của gia đình Mecca đã đỗ xịch trước cổng. Bọn
cận vệ trong nhà đứng im, không dám nổ súng cũng không dám bỏ chỗ núp. Ủa, cái thằng xạ thủ chết dịch này sao mà chậm trễ vậy? Kẻ thù ngờ ngờ trước cổng, sao nó chưa chịu bóp cò để anh em còn bắn nữa chớ, bộ ngủ gục trên đó hay sao. Calven chạy đến giữa sân, nhìn lên ổ súng và hiểu liền mọi sự. Thì ra ai lẹ tay đã để cho thằng xạ thủ một phát súng vào đầu. Nó nằm ngã người trên ụ súng, có giòng máu rỉ ra nơi cái miệng méo xệch. Calven nhín xéo lên chỗ văn phòng và nhìn thấy ông trùm Gravalia đang vẫy tay cười cười, ra dấu bảo nó mở cổng ra đi.
Trên tay ông trùm là khẩu súng trường Winchester còn bốc khói. Calven thở phào một cái nhẹ nhỏm. Ra là mình đã nhanh, nhưng ông già còn lanh hơn mình một bực. Hèn gì chẳng được làm trùm.
Calven ra hiệu cho đám cận vệ nhà dẹp hết súng ống và đích thân chạy ra
mở cái cổng sắt. Cái then cài bự đến vậy mà phải chụp đến mấy lần mới trúng được vì bàn tay run quá …
Bốn chiếc xe của tụi Mecca chỉ có hai chiếc chạy vào, hai chiếc kia dừng
phía ngoài để làm an ninh. Xe của trùm Kelly tốp lại trong sân, cánh cửa sắt vừa đóng lại thì ông trùm Gravalia cũng đã có mặt ngay tại nhà dưới. Ông khựng người lại một chút khi nhìn thấy thằng AI Capone nhưng trấn tĩnh được ngay. Al Capone còn kín đáo nháy mắt một cái. Cáo già như trùm Gravalia thì hiểu được ngay là thằng lỏi con này muốn chơi trò gì.
Ông ôm Kelly hôn và thầm nghĩ trong lòng là xong trận này, bọn Giuseppe
sẽ không còn được giới giang hồ New York nhắc đến nữa. Gravalia nói:
-Chú mày giống bố y hệt, đi đâu là không bao giờ để cho ai biết trước.
Lần sau, nên thông báo để người nhà còn có thì giờ chuẩn bị đón tiếp.
Kelly cũng quỷ quyệt không vừa:
-Lâu lâu ghé thăm bất ngờ như vậy mới biết lòng nhau.
Trùm Gravalia hơi bất mãn trong lòng vì câu nói này và nhớ đến giây phút
nguy kịch lúc nãy. Nếu không có cú điện thoại của thằng điệp viên gọi về thì giờ này nó là một cái xác không hồn rồi chớ đâu có còn đứng ở đây mà nói chuyện trời đất. Mà nếu nó bị bắn chết luôn chưa chắc phải là một đại họa cho mình. Ông trùm tiếp Kelly ở phòng làm việc ngay dưới lầu một. Calven mở cửa, Kelly bước vào một mình, để hết đám cận vệ ngồi chầu rìa ngoài phòng khách. Rót rượu cho hai người xong, Calven ra ngồi phía sau ông trùm.
Ông trùm Gravalia mở lời:
-Chú Kelly lên thăm bất ngờ chắc có chuyện muốn bàn.
-Đúng. Chuyện rất quan trọng tôi muốn nói …
Ngừng lại làm một ngụm rượu, Kelly thong thả tiếp:
-Tôi biết bọn nào đứng sau lưng anh em thằng Russo để hạ ông già rồi …
Nói tới đó, Kelly im bặt. Ông trùm Gravalia cùng thằng phụ tá như muốn
nín thở. Đù mẹ thằng này ăn nói giống y hết bố nó, cái gì cũng úp úp mở mở, hư hư thật thật làm không ai đoán ra được gì. Trùm Gravalia nâng ly rượu, phá tan sự yên lặng ghê gớm:
-Chúc mừng chú em. Thù nhà là chuyện quan trọng nhất, nhiều khi còn
quan trọng hơn cả chuyện làm ăn. Vậy thằng gia đình nào đã đứng sau vụ này?
– Bọn khốn nạn Giuseppe!
Trùm Gravalia và thằng phụ tá thấy khoẻ khoắn trong người liền. Ông
trùm Gravalia hỏi ngay:
-Có bằng chứng gì không?
-Một thằng đàn em của nó về đầu quân với chúng tôi. Nó khai hết mọi chuyện.Ông trùm Gravalia gật gù:
-Gớm thật cái thằng Giuseppe …
Kelly nốc cạn ly rượu:
-Vì vậy hôm nay tôi mới đến thăm ông trùm, tôi có một đề nghị này cho
ông.
-Nói đi.
-Nhân danh là “Don” của gia đình Mecca, tôi muốn cùng ông trùm thoả
thuận “hiệp ước bất tương xâm”. Tôi muốn ông cho tôi rảnh tay để diệt tụi
Giuseppe. Tôi lấy danh dự và thề trên xác chết của cha tôi rằng bọn tôi sẽ không bao giờ đụng đến ông, và ngược lại, nếu thấy đề nghị là đúng, tôi cũng xin ông thề rằng không bao giờ đụng đến gia đình tôi.
Dân mafia xưa nay là vậy. Bàn chuyện làm ăn bạc triệu hay chuyện chiến
tranh có thể ảnh hưởng đến sinh mạng của hàng trăm người, không bao giờ thấy ký với nhau một tờ giấy nào. Chỉ một lời nói danh dự là đủ rồi. Một mafiosi có thể chết chứ không bao giờ để lời hứa mình bay đi.
Ông trùm khẽ liếc mắt nhìn Calven rồi cúi đầu suy nghĩ. Mình mới giết
cha nó xong, tính lật đổ cả gia đình Mecca nhưng chuyện bất thành, đang vãi đái trong quần thì thằng cả nhà này lại vác mặt tới đề nghị kết anh em. Thật chẳng còn gì ngon hơn. Khỏi cần hỏi ý kiến thằng consigliorie, ông cũng biết là nó đang mừng như mở cờ trong bụng.
Ông trùm nhíu mày:
-Chú mày đã tính toán kỹ chưa?
-Tôi nghĩ là “Don” của một đại gia đình như nhà tôi khi nói ra rồi thì chẳng
có gì phải suy nghĩ lại cả.
-Chú mày thề là sẽ không đụng đến gia đình tao dù bất cừ trường hợp nào?
-Đúng! Nếu ông cũng thề được như vậy.
Trùm Gravalia đứng lên ôm lấy Kelly Mecca mà hôn, vỗ vỗ vào lưng nó,
nói thật bùi ngùi:
-Trừ phi tôi chết thì thôi, nhưng từ nay giữa Mecca và Gravalia, sẽ không
9 giờ. Tôi bảo Đặng Xuân Côn thả tôi xuống trước rạp Kinh Thành. Côn chạy về Phú Nhuận. Mình tôi đứng bên dãy phố Hai Bà Trưng nhìn sang vỉa hè bên kia, buổi sáng Tân Định. Chỗ đó, vài hôm trước, tôi vừa gặp anh Trần Kim Tuyến, sơ-mi bỏ ngoài, giép Nhật Bản, thất thểu đi. -Anh đi đâu đấy, anh Tuyến? – Đi đâu? Ông Giám đốc Sở nghiên cứu chính trị, “tên trùm mật vụ ác ôn thời Diệm” – cộng sản nó gọi thế – thở dài. – Chúng ta đã chống cộng. Riêng tôi thì cứ ngoác miệng đòi “chống cộng đến chiều.” Và rồi chúng ta hỏi nhau đi đâu. Anh sẽ đi đâu, anh Tuyến? – Chẳng hiểu. – Mỹ nó không đón anh à? – Không. Còn cậu? – Có lẽ cũng không. Người Mỹ dành ưu tiên số một cho me Mỹ, cho bọn tham nhũng, thối nát, cho đám làm giầu bằng chiến tranh. – Cậu định đi đâu? – Chẳng hiểu, anh ạ! Không có lối chạy cho người chống cộng. Những kẻ chống cộng tự nguyện rất kiêu hãnh nhưng luôn luôn thiệt thòi. Tôi là một trong những kẻ ấy. Vì chống cộng tự nguyện, tôi không bị xếp vào hàng ngũ đầy tớ Mỹ. Đó là một thiệt thòi. Sự thiệt thòi nhìn rõ: Có cả chục ngàn chỗ cho những người chưa hề chống cộng trên máy bay di tản của Mỹ mà lại không có chỗ nào cho Doãn Quốc sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Phan Nhật Nam, Thanh Tâm Tuyền… Trong cuốn Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa – tư tưởng*, ở “Lời giới thiệu”, cộng sản viết: “… Một số người khác như Duyên Anh, Nhã Ca… chấp nhận chủ nghĩa chống cộng với một thái độ hoàn toàn tự nguyện. Nhưng nếu xét gốc rễ thái độ thù địch của họ đối với cách mạng, thái độ đó có nguyên nhân ở sự tác động của chủ nghĩa thực dân mới. Họ vừa là kẻ thù của cách mạng, của nhân dân. Nhưng nếu xét đến cùng họ cũng vừa là một nạn nhân của đường lối xâm lược tinh vi, xảo quyệt của Mỹ. Dù xét dưới tác động nào, hoạt động chống cộng bằng văn nghệ của đội ngũ những cây bút này cũng là những hoạt động có ý thức. Ý thức đó biểu hiệu trước hết trong thái độ chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới, chống lại một cách điên cuồng chủ nghĩa cộng sản. Họ cho văn nghệ làm sự chọn lựa một phạm vi hoạt động, một phương tiện đểà đạt mục đích và tự nguyện dùng ngòi bút của mình phục vụ cho chế độ. Thái độ tự nguyện của họ cũng đã có nhiều người tự nói ra. Vũ Hoàng Chương tự ví mình là “viên gạch để xây bức tường thành ngăn sóng đỏ.” Doãn Quốc Sĩ coi mình như một “viên kim cương, răng cộng sản không sao nhá được.” Thêm một thiệt thòi. Và cái thiệt thòi cay đắng là bị cộng sản chụp cái mũ khả ố “chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới”. Như thế, vẫn chưa đủ nghẹn ngào. Kẻ chống cộng tự nguyện còn bị những người tập sự chống cộng, bập bẹ chống cộng, vỡ lòng chống cộng, ngớ ngẩn chống cộng phán xét một cách dễ chửi thề. Hẳn nhiên, những kẻ chống cộng tự nguyện thường xuyên bị vây hãm, bị bêu nhục bởi bòn đầy tớ Mỹ chống cộng ở bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào. Nhưng mà những kẻ chống cộng tự nguyện phải chấp nhận, hiên ngang chấp nhận và can đảm chống luôn cả bọn đầy tớ ngoại bang chống cộng, bọn làm thui chột niềm tin chống cộng, bọn giúp cộng sản đánh bóng chính nghĩa của nó, bọn ảo tưởng và thù vặt vì bất đồng quan điểm. Những kẻ chống cộng tự nguyện ngổn ngang kẻ thù. Ngoài cộng sản, họ còn bị đánh dấu tuyết hận bởi bè lũ thống trị tôi mọi, tập đoàn ăn cắp, thảo khẩu chính trị, lũ thời cơ chủ nghĩa, đám buôn bán Phật Chúa… Song cần chi, hai tiếng tự nguyện mà kẻ thù cộng sản khoác hoa quanh cổ họ cơ hồ hào quang đốt cháy mọi rác rưởi, bèo bọt thế thời. Và họ vẫn ngồi lên tất cả như đã ngồi lên tất cả những khuôn mặt sa-đích chính trị rẻ tiền. – Anh có lối nào khác lối Mỹ không? Tôi hỏi. Bác sĩ Trần Kim Tuyến lắc đầu buồn bã: – Không. Không. Chúng ta đã chống cộng sản hai mươi năm và chúng ta không có lối chạy trốn cộng sản! Tại sao tổ tiên chúng ta đã không tìm đường chạy trốn mà chỉ tìm chỗ tạm lui về chờ đợi tiến lên? Chắc chắn, tổ tiên chúng ta chống giặc nước một mình. Còn chúng ta, chúng ta chống giặc nước với người Mỹ. Chúng ta đã đổ xương máu cho KHÔNG. Và cái không ủ ê nhất là cái không lối chạy trốn giặc. Liệu chúng ta đã học được một điều gì trong bài học chống cộng sản với Mỹ rồi không còn lối chạy trốn cộng sản? Chỗ đó, vài hôm trước… Chỗ đó, hôm nay… Tôi đã thất thểu bước tới ngã tư Hai Bà Trưng – Yên Đổ – Trần Quang Khải. Nỗi chết không còn ám ảnh mà nỗi chết hiện dần. Tự nhiên, tôi thèm sống vô cùng. “Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh a! Đỗ Bá Thế đã phán vậy. Sự thèm sống khiến tôi quên sợ chết. Lạ quá, lúc đó, tôi chẳng hiểu nổi tôi. Phải nói, tôi chẳng hiểu nổi sự chuyển dịch tâm hồn tôi. Nếu tôi đã chưa biết cái cảm giác lênh đênh của tâm hồn thì, bây giờ, tôi biết. Biết rõ. Tâm hồn tôi lênh đênh theo bóng ngã hoàng hôn của cuộc chiến đấu hai mươi năm hư ảo. Lênh đênh chạy trốn. Lênh đênh bất bình chạy trốn. Lênh đênh sợ chết. Lênh đênh chờ chiến đấu. Lênh đênh thèm sống. Lênh đênh ước mơ. Đi ngược đường Yên Đổ, tôi về nhà tôi.
° ° °
Thành phố Sài gòn bất chấp lệnh giới nghiêm 24 trên 24 của Dương văn Minh. Thành phố này, hình như, cũng bất chấp cả nỗi ngậm ngùi sắp đến. Sài gòn thản nhiên chờ đợi niềm bất hạnh. Mặt trời vẫn chưa mọc. Có vẻ mặt trời không thích mọc hôm nay. Tôi buồn bã đứng trước cổng nhà mình ngó ngang, nhìn dọc. Bà bán thuốc lá sát cổng nhà tôi hớt hơ hớt hải từ dưới Xóm Lách chạy tới chỗ tôi: -Cậu không đi được à? – Không. – Liệu người ta có để cậu yên không? – Ai? – Thì… Việt cộng? Bà ta nói nhỏ: – Cậu ạ, người ta vây kín Sài gòn rồi! Tôi thở hắt ra: – Thế à? Nhìn bà bán thuốc lá, tôi hỏi: – Sao bữa nay bà không bán? – Tôi tưởng giới nghiêm. – Chứ không phải mệt vì đêm qua lo hôi đồ à? – Tôi thề với cậu, không quen làm việc ấy. – Làm thì đã sao, của Mỹ chứ bộ. – Mà không quen. Tôi nhìn thẳng vào mặt bà ta: – Việt cộng vào, bà có để tôi yên không? Bà ta chớp mắt lia lịa: – Tôi mong cậu đi lọt mà. Từ người vô sản bán thuốc lá, tôi quan sát những người vô sản Xóm Lách quanh tôi. Tất cả đều còn cho tôi những nụ cười, những ánh mắt chứa chan tình cảm. Tôi yên tâm. Đã quá hiểu những bài học căm thù của cộng sản, tôi sợ rằng những nụ cười, những ánh mắt chứa chan tình cảm của người vô sản Xóm Lách sẽ biến mất. Chưa biết bao giờ. Có thể lát nữa. Có thể trưa nay. Có thể chiều nay. Có thể tối nay. – Bà Tẹo. – Dạ. – Tôi đã làm phiền bà điều gì chưa? – Sao cậu hỏi vậy? – Bởi vì sẽ thay đổi nhiều đấy. – Không có gì thay đổi đâu cậu ạ? Tôi vẫn bán thuốc lá trước cổng nhà cậu, vẫn xin được bán thiếu cho cậu để cuối tháng có món tiền để dành lớn. – Cám ơn bà. Tôi bấm chuông. Nhà tôi ra mở cổng: – Thế nào, bố? – Thế nào là thế nào? – Còn nước tát không? – Cạn rồi. Mỹ thật sự cút rồi. Nhưng em yên tâm. Bằng hữu của chúng ta còn ở lại khá đông. Anh đã gặp Mai Thảo, Nguyễn Tuấn Anh… Nhà tôi nín thinh. Tôi vào, gieo người xuống ghế bành, gác chân lên bàn xa-lông. Tôi cảm giác căn nhà của gia đình tôi đã trở thành cái nghĩa địa hoang vắng. Nỗi hiu quạnh đùn lên, đùn lên, dâng ngập trắng xóa. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn rõ cái lẽ phù ảo của đời sống. Nhờ vậy, tôi thanh thản dọn chết. Và tôi còn dọn thêm cả sự “thoát chết, bung ra.” Nếu lúc này có Mai Thảo ngồi đấu hót? Tôi trách tôi đã quên rủ Mai Thảo đi nhìn Sài gòn hấp hối và rủ Mai Thảo về nhà tôi uống rượu. Tôi vẫn còn vài chai Table du roi. Tôi nhớ, mới đây thôi, Mai Thảo tâm sự với tôi: – Tôi ở một nơi chốn nào là lòng gửi nơi chốn đó nên xa một nơi chốn là nhớ vô cùng, dẫu nơi chốn cũ chẳng xa gì nơi chốn mới. Thật sự, tôi không thích di tản. Xa quá, xa quá… Và Mai Thảo rất lừng khừng chuyện ra đi- Anh ta cứ ra, theo triết lý cù nhầy của Nguyễn Bính “ngày mai ra sao rồi hãy hay.” Mai Thảo tâm sự tiếp: – Tôi có ông thày học khá lạ lùng. ông ta đã nói với tôi rằng, người ta chỉ cần sống đến 50 tuổi. Là đủ rồi. Tôi đã 50 tuổi. Sống thêm có lẽ thừa thãi. Mai Thảo đã 50 tuổi. Tôi mới 40. Cho nên, dù đã vỡ lẽ phù ảo của cuộc đời, Cứ thèm thuồng “thoát chết, bung ra” trong những giờ phút dọn chết.
° ° °
10 giờ thiếu 10 phút. Chuông điện thoại reo vang: – Long hả? – Ừ! – Chúng nó xuất hiện ở Xóm Gà, Gò Vấp rồi. Trên ấy ra sao? – Im lặng. – Mày nghĩ xem có nên chở gia đình lên bà Nguyễn Đình Vượng tránh né cảnh tranh tối tranh sáng không? – Không cần. – Tại sao không cần?
– Vì bà Vượng cũng bị ném vào biển máu! Nếu ông muốn cùng chết với tôi thì lên đây. Đặng Xuân Côn, Thằng Côn, người bạn ấu thời của tôi, người bạn đã, cơ hồ cái bóng, theo sát tôi 30 năm ròng rã, đã chia xẻ vinh nhục với tôi, đã đau khổ vì tôi, đã ôm đau khổ của tôi làm đau khổ của mình. Chúng tôi học tiểu học ở trường Monguillot thị xã Thái Bình. Côn là cháu đích tôn của cụ Đặng Đình Điền, tự Hào Điển, một trong những lãnh tụ Việt Nam quốc dân đảng. Năm 1951, sau khi cộng sản quy định thành phần, giai cấp, mặc dù đã mù lòa, bệnh hoạn, cộng sản vẫn bắt cụ Hào Điển, bỏ cụ vào cái rổ xề, khiêng cụ ra giữa cánh đồng hoang vắng và để cụ chết đói chết khát ở đó. Qua mấy năm tao loạn, chúng tôi lại gặp nhau ở thị xã Thái Bình đổ nát vì tiêu thổ kháng chiến. Tình bạn vẫn khắng khít. Chúng tôi học trung học tại trường Trần Lãm và không ngớt tương tư thị xã đềm êm cũ với những hàng hồi thơm hăng hắc dọc vỉa hè đường phố. Rồi chúng tôi lên Hà Nội trọ học. Mùa hè 1954, tôi về Thái bị kẹt vì Pháp “di tản chiến thuật”. Tôi ở lại chứng kiến quân cách mạng tiếp thu Thái Bình. Rồi hội nhập đời sống mới. Cuối tháng 7-1954, Côn trở lại Thái với nhiều ưu tư. Nó không hé miệng nói cho tôi nghe những ưu tư của nó. Chúng tôi thường lên cầu Bo ngắm dòng sông Trà Lý đỏ ngầu phù sa mùa nước lũ. Cầu Bo. cây cầu kỷ niệm của chúng tôi, bị quân Pháp đánh sập nhịp giữa trước đêm rút lui. Người ta bắc cầu giây đi tạm. Côn ở Thái hai tuần lễ và lỉnh tránh mọi công tác… cách mạng. Một buổi sáng nó tìm tôi khi tôi đang bận kê bàn ghế cho lớp học dạy “công nhân” vỡ lòng quốc ngữ. Côn rủ tôi sang Nam Định chơi. Tôi từ chối, vì… công tác khẩn trương. Tôi bảo Côn đợi vài hôm nữa. Nó bỏ về. Rồi nó sang Nam Định lúc nào tôi không rõ. Cuối tháng 8-1954, Nguyễn Thịnh từ Hà Nội về Thái. Tôi hỏi thăm Côn. Thịnh nói Côn đã vào Sài gòn.. Tôi choáng váng. Côn đã nghi ngờ tôi theo… cách mạng, không dám tâm sự với tôi. Tôi vội vàng chuồn lên Hà Nội, kiếm nhà Vũ Thượng Văn ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, hỏi thăm đia chỉ Côn tại Sài gòn. Tiêu pha hết đồng bạc cuối cùng ở Hà Nội, cuối tháng 9-1954 tôi mới vào Sài gòn, đến phố Heurtaux bên Khánh Hội tìm Côn. Thế là chúng tôi có tháng ngày nhà hát Tây ba đào, có tình yêu lẩm cẩm, có Đỗ Tiến Đức, Hà Huyền Chi… Chúng tôi thêm những kỷ niệm cay đắng vào đời. Sự nghiệp văn chương của tôi, phần lớn, là do Thằng Côn đóng góp. Bằng khích lệ. Bằng cả những đồng tiền mồ hôi của nó. Tập truyện Hoa thiên I)” của tôi, Côn bỏ tiền xuất bản. Nếu có lần nào đền ơn Thằng Côn thì chỉ một lần Thằng Vũ nghiến răng chịu nhục, chịu hành hạ cả thể xác lẫn tâm hồn để ngậm miệng cho Thằng Côn bình yên ngoài nhà tù mà tìm cách đưa vợ con trốn khỏi Việt Nam. Đáng lẽ, Côn ra đi bình yên trước 30-4-75, nó cứ bám sát tôi Cho đến phút chót, nó vẫn lo tôi bị tàn sát trước nhất. – Tao nghĩ mày nên đưa vợ con lỉnh chỗ khác. – Chỗ nào? Không còn chỗ nào cho tôi ẩn thân cả. Mà tôi cũng cóc cần ẩn thân nữa. – Mày đừng chướng. – Cúp điện thoại đi! Tôi cúp trước, khỏi cần đợi Côn.
° ° °
10 giờ 20 phút. Chuông điện thoại lại reo: – Long hả? – Ừ! – Chúng nó đã lảng vảng khu nhà anh Hoàng văn Đức rồi. Tao lên mày nhé? – Hỏi chi nữa! Tôi cúp điện thoại ngay. Và, thật sự, kể từ phút này, tôi đã té nhào khói lãng du lênh đênh trên ước mơ, tôi hết dám thèm “thoát chết, bung ra.” Tôi sợ hãi. Tôi trở về với sự sợ hãi 0 giờ 1 phút. Nỗi chết gần kề. Đao phủ và hình cụ của nó đang chờ tôi bên bờ biển máu. Làm thế nào đểà con người được chết ngon lành? Tôi chợt nhớ một truyện ngắn của Jack London, nhan đề Mất mặt. viết về sự dọn chết tuyệt vời của một người không thích chết đau đớn, sợ hãi chết khắc khoải. Câu chuyện như thế này: Một gã phiêu lưu da trắng lạc vào một bộ lạc hung dữ nhất của một vùng Bắc cực. Các bộ lạc ở đây đánh giá trị vĩ đại nhất bằng sự tàn ác nhất. Bộ lạc nào giết kẻ thù chết từng giây, chết đếm nỗi chết từng giây, chết quằn quại, rên la lâu nhất, bộ lạc ấy được tôn vinh và công nhận là minh chủ. Thế thì gã phiêu lưu của Jack London đã rơi vào tay bộ lạc minh chủ. Gã hiểu gã sẽ bị chết co rút mỗi tế bào. Gã cũng hiểu những kẻ tàn ác nhất đều là những kẻ thèm sống “muôn năm”, thèm bất tử, nên gã xin được kéo dài ngày chịu tội để kiếm lá luyện thuốc bất tử. Môn thuốc này bôi khắp mình mẩy, tên bắn vào văng ra, búa bổ xuống nẩy tung, lao phóng trúng cong oằn… Tù trưởng của bộ lạc minh chủ sướng quá, bèn cho gã phiêu lưu đi tìm lá. Gã khôn ngoan, luyện thuốc bất tử thật lâu. Khi đã luyện xong, gã yêu cầu vị tù trưởng thử. Vị tù trưởng sợ, không dám thử. Không ai trong bộ lạc dám thử cả. Tất cả những kẻ hung ác đều sợ chết thảm và đều thích người khác chết thảm. Cuối cùng, gã phiêu lưu tình nguyện thí nghiệm thuốc bất tử của mình. Bộ lạc đồng ý. Gã yêu cầu kê cổ gã trên một 1 húc gỗ tròn và chắc và phải dùng một cái búa sắc như nước do tay lực lưỡng xử dụng. Gã bôi thuốc đầy cổ. Rồi gã dục hạ búa. Nhát búa vung lên, bổ mạnh xuống. Gã phiêu lưu bay đầu. Gã được chết ngon lành. Bộ lạc minh chủ mất mặt, mất ngôi minh chủ và bị các bộ hạ khác khinh bỉ, vì đã để kẻ thù chết sung sướng, chết thanh, chết gọn… Cộng sản ác hơn và khôn ngoan hơn bộ lạc minh chủ bị mất mặt trong truyện ngắn của Jack London. Và tôi, tôi không có can đảm dọn cho mình cái chết ngon lành. Tôi sợ luôn cả cái chết ngon lành, cái chết của chiến sĩ, cái chết của liệt sĩ, cái chết của thánh tử đạo. Rốt cuộc, tôi thèm sống, sợ chết. Bởi tôi vừa nhận ra tôi đích thực rằng tôi chỉ là nghệ sĩ. Tôi cần sống sót. “Cậu là nhà văn, cần buôn kinh nghiệm mà bán.” Cao Dao khuyên tôi thế. Tôi cần sống sót. “Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh ạ”? Đỗ Bá Thế dạy tôi thé. Nhà văn không cần thiết tử vì đạo. Vì y vô đạo. Nhà văn không cần thiết tuẫn tiết. Vì y tuẫn tiết sẽ chẳng còn ai sống để viết về những cái chết đẹp trong cõi đời. Nhà văn cần thiết có tác phẩm, và phải là tác phẩm rực rỡ kinh qua mọi sợ hãi, mọi thống khổ mỏi mòn. Nhà văn là người viết về sự sống ngoạn mục, nỗi chết phi thường của người khác, không bao giờ là kẻ trông đợi người khác viết về cái chết, nỗi chết của mình. Do đó, nhà văn bất chấp những kẻ bỉ thử mình, lăng mạ mình đủ điều về sự sống của mình. Rất tự hào và đủ quyền kiêu hãnh để nói, những kẻ bỉ thử, lăng nhục nhà văn là những kẻ không biết viết hay viết chẳng ra gì. Những kẻ này không bao giờ được phục sinh, bởi vì họ không hề có một cái gì đểà lại cho đời sống kế tiếp. Tôi là nhà văn, tôi chẳng lấy gì làm xấu hổ mà công khai nhận mình thèm sống sợ chết. Tôi đã bày tỏ thái độ của tôi rõ rệt trong bài Chút tâm sự của người làm thơ trong tù. Theo tôi, sự tồn tại khác hẳn với sự sống. Tôi chưa thấy một nhà văn chuyên nghiệp nào – nhà văn nuôi mình, nuôi vợ con mình bằng hàng tỉ chữ thao thức viết – khi chết được vinh tôn như một anh hùng, liệt sĩ. Người ta đã chỉ vinh tôn tác phẩm của nhà văn. Tôi cũng chưa thấy ai nhận trách nhiệm nuôi vợ con nhà văn, nuôi nhà văn cả, nhưng người ta cứ bắt nhà văn phải có đủ thứ trách nhiệm, đủ thứ đạo đức, đủ thứ can đảm. Người ta còn bắt nhà văn dấn thân, nhà văn tranh đấu cho đủ thứ quyền của con người, nhưng, mỉa mai thay, cái quyền lợi thiết thực của nhà văn là tác phẩm mồ hôi, tim óc của họ bị đạo tặc công khai tước đoạt, không ai tranh đấu cho nhà văn cả Tôi đã thấy chính xác nhà văn tạo hào quang rực rỡ cho anh hùng, liệt sĩ, thần thánh. Nhân loại đã thờ phụng hình chúa Giêsu vẽ theo trí tưởng tượng của Michel Ange mà không thờ Michel Ange. Những bức tượng, những tranh vẽ trong giáo đường của Léonard de Vinci, của Raphael về Đức Mẹ, về thiên thần đều được kính cẩn thờ phụng cả đấy. Ai đã nói cho nhân loại biết tài năng của Michel Ange, Léonard de Vinci, Raphael? Nhà văn. Nhà văn viết về Thượng Đế. Nhà văn làm ra Thượng Đế. Thượng Đế không làm ra nhà văn. Gần gũi chúng ta nhất, người Tầu và cả người Việt Nam đều đèn nhang, trầm hương xì xụp vái lạy ba anh Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi mà quên nhà văn La Quán Trung đã phong thánh cho ba anh rất lơ mơ trong lịch sử Trung Hoa. Tài năng của nhà văn La Quán Trung đã biến nhân vật tiểu thuyết thành thánh. Không ai thờ La Quán Trung cả. Người ta hằng luận về hào khí Võ Tòng, Lâm Xung mà quên Thị Nại Am; ngợi ca Kiều Phong, Lệnh Hồ Xung, Dương Quá, Quách Tĩnh mà quên Kim Dung. Vân vân… ở thời đại của tôi và ở đất nước tôi, nhà văn, nhà thơ, nhà nhạc đã phong thánh cho Hồ Chí Minh. Khi đất sét được nặn hóa thánh, thánh tưởng mình thiêng đã bỏ tù những kẻ phong thánh cho mình. Nhân Văn giai phẩm là thí dụ điển hình. Nguyễn Bính có câu thơ mà tôi rất thích: Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ. Cái đám thế nhân mắt trắng có thánh để thờ, có thần tượng để chiêm ngưỡng, có lãnh tụ để suy tôn, có ước mơ để mơ ước, đã không đem gạo nuôi nhà văn, đã không biết ơn nhà văn, lại còn ong óng lời chó dại, lại còn phun phì nọc rắn rết lên án nhà văn, thống trách nhà văn. Vậy thì nhà văn, anh đã sáng suốt nhận ra anh chưa? (Tôi đã nhận ra tôi. Và tôi cho rằng tôi chỉ có trách nhiệm với những thống khổ tôi đã kinh qua, đã thể nghiệm. Tôi không được phép phản bội những oan khiên, những cay đắng, những cô đơn đã soi sáng cuộc đời tôi. Và tôi hiểu rằng nhà văn có quyền phép ghê gớm. Nhà văn đưa thằng bán chiếu Lưu Bị lên ngôi anh hùng và bắt kẻ anh hùng Tào Tháo làm đứa gian hùng. Thế nhân mắt trắng, cái đám ưa hạch sách nhà văn, vấn nạn nhà văn, thị phi nhà văn, chụp mũ nhà văn, sống nghìn đời vẫn không đủ tư cách và khả năng hủy diệt nổi tác phẩm của nhà văn. Nhưng, nhà văn chỉ cần cuốn sách mỏng, viết bằng chân trái, cũng đủ nhốt cái đám gian dối lương tâm vào ngục tù muôn thuở. Đừng có đùa với văn chương Và đừng có rỡn mặt nhà văn. Chưa quán triệt sức mạnh của văn nghệ, học đòi làm lãnh tụ, học đòi mưu đồ quốc sự, đã không biết kính trọng nhà văn còn xúi dục tiểu yêu bôi bẩn nhà văn, quả là bọn cắn hạt gạo chưa vỡ đôi Người ta chỉ đố kỵ niềm vinh quang của nhà văn mà không chịu cảm thông nỗi nhục nhằn nhà văn phải kiên nhẫn chịu đựng, chịu đựng không ngừng. Và nhà văn làm việc cho ai, tác phẩm của nhà văn để lại cho ai, người ta cứ giả vờ không thèm biết. Rồi mỗi năm bao nhiêu tiến sĩ tốt nghiệp và bao nhiêu năm mới nẩy sinh một danh sĩ, người ta cũng cứ giả vờ không biết. Và nhà văn chờ đợi cái chết vì tác phẩm của mình thì không ai biết. Nhưng cần gì ai biết mình sống ra sao, viết trong những hoàn cảnh nào, nhà văn, có vẻ như kiêu ngạo để không lý tới cái hôm nay. Mà đúng thế, nhà văn đã không lý tới cái hôm nay, cũng chẳng thèm lý tới những phán xét ngu xuẩn của thời nay. Trên sầu đạo và ngược dòng nghịch lũ oan khiên, nhà văn mang tâm sự của con gọng vó, âm thầm bước, âm thầm lội. Và âm thầm đợi chết. Như tôi. Không ai chia xẻ với tôi nỗi sợ hãi cả. Ngày nào đó “thoát chết, bung ra”, tôi viết những trang sách ghi lại cảm giác rụng rời của tưởng tượng nỗi chết, cách chết, kiểu chết tính bằng co rút của tế bào, tính bằng héo khô của mạch máu, tính bằng rời rạc của nhịp tim, chắc chắn, tôi vẫn được chiếu cố tận tình bởi soi mói của cú vọ, bởi phẩm bình của quạ diều. Có phải đó là sự trả nghiệp, theo nhà Phật?
° ° °
Đặng Xuân Côn chở vợ con lên. Tôi cũng tính xong sổ đời. Thấy chẳng để lại vết tích nào dơ bẩn trên 200 số báo Tuổi Ngọc và suốt 1 5 năm viết văn, làm báo, tôi cam đành đợi chết. Nói cam đành vì tôi thèm sống, sợ chết. Để cực tả, phải viết: Tôi thèm sống vô cùng. Lúc này tôi mới cảm Tư Mã Thiên và phục Tư Mã Thiên. Than ôi, Tư Mã Thiên chịu nhục hình, cố bám lấy cái sống hèn chỉ vì chưa lo xong Sử ký. “Ta hồ văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ Nếu Tư Mã Thiên không chấp nhận hình phạt thiến, không vượt lên sự khinh bỉ của thể nhân mắt trắng, không cô đơn những ngày tháng còn lại, sẽ muôn đời không có Sử ký của Tư Mã Thiên. Kẻ làm việc cho muôn đời chấp nê chi cái lẽ sống hèn, sống hùng. Những đứa chê bai Tư Mã Thiên đều đã chết như cây cỏ. Chúng nó sống hùng lắm, sống hùng miệng lưỡi mà chẳng có gì để lại: Chúng nó chê Tư Mã Thiên sống hèn, sống nhục nhã tội bị thiến, không dám chết giữa pháp trường, nhưng nhờ biết sống hèn, sống nhục, Tư Mã Thiên có Sử ký. Tư Mã Thiên được phục sinh bằng Sử ký. Và bằng Sử ký, Tư Mã Thiên bất tử. Ông đau vết hoạn lưỡi dao hèn Từ đó, cung giương một mũi tên Theo hồn tài tử. tên bay vút Ngạo nghễ hành tinh Tư Mã Thiên Những đứa chê ông chết cả rồi Nhưng ông sống mãi như mây trôi Hai nghìn năm ngỡ chùng gang tấc Mảnh đất oan này lại có tôi…
Sử ký và Tư Mã Thiên đã đủ soi sáng thân phận nhà văn và tác phẩm hoàn thành bất chấp nghịch cảnh, bất chấp mọi hoàn cảnh, bất chấp cung cách sống, bất chấp cảnh ngộ sống chưa? Có lẽ, với ngự sử vô học, với “sa đích phê bình văn nghệ rẻ tiền”, cần được giáo dục thêm nữa. Tôi không thừa thì giờ nói với hai hạng người vừa kể. Tôi tâm sự với nhà văn. Nhà văn có sức mạnh tuyệt luân. Nhà văn là con người như mọi con người. Y cũng phải chết thôi. Có thểà, y sẽ bị chết theo cung cách Gandhi đã bị chết. Nhưng tác phẩm của y không bao giờ chết. Y có thể chịu hình phạt nhục, chịu phán xét ngu xuẩn như Tư Mã Thiên, như Gheorghiu. Chính sự chịu nhục sống hèn (hiểu theo nghĩa bần tiện của thế nhân mặt trắng) của nhà văn đã làm tác phẩm của y rực rỡ và tác phẩm của y phục sinh y sau cái chết. Nhà văn, có thể, chết thảm như Khái Hưng và Lan Khai. Cộng sản đã nhận chìm Khái Hưng, Lan Khai dưới nước mà không thể nhận chìm tác phẩm của tác giả Hồn bướm mơ tiên, Dọc đường gió bụi, của tác giả Cái hột mận, Lầm than… dưới nước. Cộng sản kiêu ngạo nhất loài người, đầy đủ quyền uy và biết chơi bạo lực mà vẫn ngậm ngùi sợ hãi văn chương – tư tưởng: “Cơ sở giai cấp của bọn phá hoại còn tồn tại lâu dài trong xã hội ta. Khi đã hết giai cấp, thù địch vẫn còn. Vì tư tưởng của giai cấp có sức sống dai hơn giai cấp tính ra nó”* . Nghĩ cũng tội nghiệp cho đám lãnh tụ ễnh ương của quyền uy ảo tưởng và đồ đệ cứ hăm hở đòi hủy diệt nhà văn và tư tưởng của nhà văn. Phải nói rõ rệt là nhà văn cố gắng soi sáng những mê muội của thời đại mình. Thời đại mê sảng, cố tình mê sảng thì người đời sau sẽ làm công việc thương người đời xưa. Nguyễn Du còn ngờ vực, 300 năm sau, có ai hiểu ta chăng, thì nhà văn xá chi những hạch hỏi vô lý, vô nghĩa, vô học, vô ơn của cóc nhái thời thượng. Song, cần thiết, nhà văn phải nhận ra mình, phải nhận ra sức mạnh tuyệt luân của mình và phải biết xử dụng, dám xử dụng sức mạnh đó để chế ngự bạo lực đến từ bất cứ phía nào, ở bất cứ nơi đâu, dẫu sự chế ngự có mang tới những cay đắng nghiệt ngã, những oan khiên ứa máu, những ngộ nhận nứt tim. Và cả nỗi chết. Và luôn sự thèm sống hèn đểà thoát chết. Tôi nghĩ rằng cái cứu cánh biện minh cho cung cách sống chết của nhà văn là tác phẩm y để lại cho đời sống. Trong bộ cassette tưởng mộ Victor Hugo, một vị viện sĩ của Viện Hàn Lâm Pháp quốc đã múa một tuyệt chiêu: “Nước Pháp không được phép nói tha thứ những bê bối trong cuộc đời của Victor Hugo mà phải có bổn phận chấp nhận những bê bối ấy. Vì sự nghiệp văn chương của Hugo đã làm rạng rỡ cho đất nước Pháp và dân tộc Pháp.” Tôi không ở nước Pháp, không là nhà văn Pháp. Georges Simenon viết nhiều, viết khỏe, chẳng cần phải quan tâm văn chương, tư tưởng của Simenon, Jean-paul Sartre đã vinh tôn khả năng sáng tạo của Simenon. Tôi cũng viết nhiều, viết khỏe, thì chỉ nghe Sài gòn dè bỉu và đợi Hà Nội vào tàn sát. Và tôi thèm sống hèn. Để hy vọng có một Sử ký như Tư Mã Thiên.
° ° °
10 giờ 30. Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng. Đặng Xuân Côn mở radio thật lớn. Tôi lặng người trong giọng nói cơm nguội của Big Minh. Tôi mất miền Nam từ giây phút này. – Tắt radio đi, Côn? – Để nghe xem còn tin tức gì nữa. – Hết rồi. – Chưa. – Tôi bảo hết rồi. Tắt đi? Tôi nhìn Côn: – Có thể ông thoát biển máu. Vợ con tôi cũng có thể thoát biển máu. Tôi thì khó thoát. Côn an ủi tôi: – Mày sẽ thoát. Tôi lắc đầu: – Khó lắm. Tôi biết tôi. Cộng sản biết tôi. Những kẻ muốn làm tốt đẹp cho xã hội miền Nam sẽ bị quăng xuống biển máu. Nếu ông thoát… Côn chớp mắt: – Tao hiểu tao sẽ phải làm gì cho mày. – Cho vợ con tôi thôi. – Mày muốn tao sẽ làm gì? – Đưa vợ con tôi rời khỏi Việt Nam. Im lặng. Hai chúng tôi nhìn nhau, nước mắt ứa ra. Trong phòng ngủ, hai người đàn bà và những đứa trẻ con khóc nức nở. Tôi biết, cả Sài gòn đang khóc….
Nếu cuộn băng nhựa ghi lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh thất lạc Mỗi biến cổ lịch sử xảy ra thường kèm theo những chuyện ngoài lề. Và những chuyện ngoài lề được truyền kể, được thêu dệt thành huyền thoại. Một trong những chuyện ngoài lề dưới đây không phải là huyền thoại. Mà là chuyện ở quán cà-phê vỉa hè sau ngày 30-4-1975. Người ta thuật cho nhau nghe, người ta luận bàn và người ta không thèm quan tâm đến cái vô lý của câu chuyện.
° ° °
10 giờ, Phủ tổng thống gọi cho Đài phát thanh sài gòn, yêu cầu gửi gấp sang một chuyên viên ghi âm. Anh chuyên viên đem máy móc, băng nhựa đến trình diện ông Giám Đốc Nha báo chí Phủ tổng thống. Anh vào phủ bằng lối góc ngã tư Nguyễn Du – Thủ Khoa Huân – Huyền Trân Công Chúa. Giám đốc Nha báo chí hướng dẫn anh chuyên viên tới phòng họp của Tổng thống. Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng cộng sản tại đây. Kẻ viết lệnh đầu hàng là Lý Quý Chung, Tổng trưởng Thông tin của nội các Vũ văn Mẫu, “danh sĩ” của môn phái Hoa Lan. Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng xong, anh chuyên viên Đài phát thanh đem băng về đài. Anh ta lái chiếc Honda 50. Cuốn băng lịch sử được giao cho phòng phát thanh và được ra lệnh phát vào đúng 10 giờ 30 phút.
° ° °
Câu chuyện vắn tắt trên đây ví như Kinh Xuân Thu của Khổng Tử. Các vị Đông Lai, các Mao Tôn Cương “phản động” đã “bác nghị”, đã “lời bàn” sôi nối. – Tôi không tin đại sự lại giản dị thế. – Dương văn Minh hiểu gì đại sự? ông thử nhìn kỹ coi, bọn Minh sún có thằng nào ra cái giống người? – Tôi nghĩ lệnh đầu hàng trực tiếp truyền thanh. – Trực tiếp con khỉ! Chúng nó quýnh hét, đâu kịp chuẩn bị. Phải tin tôi, thằng chuyên viên Đài Sài gòn là bạn tôi. – Là bạn ông à? – Ừ! Nó lái Honda “chở” lệnh đầu hàng. Tôi tự hỏi, nếu nó bị đụng xe, chết ngỏm, lịch sử sẽ ra sao? Hoặc nó phẫn nộ, vất cha nó cuốn băng ghi lệnh đầu hàng của Dương văn Minh, về ngủ với vợ, lịch sử sẽ ra sao? – Chắc chắn Sài gòn nổ lớn. – Nổ lớn, tôi đã mong mỏi. Rốt cuộc, chỉ tại thằng chuyên viên mẫn cán, ngu đần, sợ lệnh lạc mà cộng sản vào Sài gòn ngon ơ. Tức muốn hộc máu mồm. – Tôi nghe nói cộng sản đã vô Dinh Độc Lập từ đêm trước, chúng dí súng sau ót Dương văn Minh, bắt Minh đọc lệnh đầu hàng. – Không có vụ ấy.
° ° °
Nếu câu chuyện kể trên đúng 80%, nếu anh chuyên viên của Đài phát thanh Sài gòn bị đụng xe chết giữa đường Thống Nhất, nếu anh chuyên viên quên Dương văn Minh, quên lệnh đầu hàng về ngủ với vợ, tôi tin chắc rằng lịch sử khác đi một chút. Nó cũng sẽ bị sang trang nhưng không đến nỗi sang trong buồn tủi. Sẽ có máu, nhiều máu của Sài gòn 30-4-1975. Và đó là những dòng máu cần thiết cho Sài gòn ngày mai…
Ông Từ Diễn Đồng mâu thuẫn với chính ông. Đã hỏi: Lòng nước ai ai đà thức dậy Dậy thì lên tiếng gọi nhà nho… Ông lại chép miệng: Thiên hạ có khi đang ngủ cả Tội gì mà thức một mình ta Không ai ngủ. Tất cả đều thức. Và thức trắng đêm qua. Và cùng đợi chờ. Có ba tâm trạng đợi chờ trong một đêm bắt buộc không ngủ. Kẻ đợi chờ cộng sản mang hạnh phúc cho mình. Kẻ đợi chờ cộng sản mang bất hạnh cho mình. Kẻ đợi chờ cộng sản vùi xác giữa một thành phố bất khuất. Tôi đang ở tâm trạng thứ ba sau khi thoát khỏi tâm trạng thứ hai. 6 giờ thiếu 10 phút. Thường lệ, vào giờ này, sinh hoạt chợ Xóm Lách đã ồn ào. Hôm nay im vắng. Chẳng phải vì giới nghiêm đâu, mà vì cuộc hôi đồ chiều hôm qua đã diễn sâu tới khuya, đã diễn xa lên Sài gòn, đã diễn rộng khắp khu vực nên dân chúng ngồi nhà ngắm “chiến lợi phẩm”. Tôi lại mở cổng ra đường. Bước sát cột đèn lưu thông, tôi đứng ở ngã tư Công Lý – Yên Đổ. Lần đầu tiên, từ hai mươi năm khôn lớn tại Sài gòn, tôi được nhìn Sài gòn buồn bã. Như thể Sài gòn choàng khăn tang và hồi chuông cáo phó đã đọng trên đầu cỏ, ngọn lá. Con phố Công Lý, con đường của VIP, nườm nượp xe cộ từ tan giới nghiêm đến vô giới nghiêm, hôm nay, vắng ngắt. Tôi mơ hồ thấy, trong hiu quạnh khôn cùng của ban mai Sài gòn 30-4, những lời giối giăng đứt khúc. Chắc chắn không có sóng ngầm. Chắc chắn không có Stalingrad ở Sài gòn. Không có một dấu hiệu nào chứng tỏ thành phố chuẩn bị nghênh giặc. Tôi đã thất vọng. Tôi đã tuyệt vọng. Não nề hơn, tôi đã thất tình với cuộc chiên đấu mơ ước. Với Dương văn Minh và đám cầy cáo đui què, không bao giờ có chiến đấu, dù chiến đấu để chết đẹp, chết xứng đáng làm người. Tôi tự trách tôi ngu xuẩn đã không chịu suy diễn sự dọn đường quỳ mọp của Lý Quý Chung, phát ngôn viên chính thức của Dương văn Minh. Tôi ngu xuẩn hay tôi giống người sắp chết đuối với được cái phao Giới Nghiêm 24 trên 24? Sài gòn của tôi, Sài gòn của chúng ta đã lần nào chịu khuất phục trước bạo lực xâm lăng? Từ thành phố này mang tên Sài gòn, ít nhất, đã hai phen nó phóng nhiệt tình và lòng tự phụ vào mặt kẻ thù xâm lược. Còn nhớ Tiếng súng Nam Bộ của tháng ngày 1946 chứ: Tiếng súng vang sông núi miền Nam ầm đất nước Việt Nam Tiếng súng vang lùng khắp non sông dục ta ra tranh đấu Tiếng súng vang sông núi miền Nam vì mưu chiếm miền Nam Ta muốn băng mình xuống phương Nam xé xác quân tham tàn… Còn nhớ nghĩa sĩ Bình Xuyên* thuở ấy chứ? Bình Xuyên… Bình Xuyên oai hùng ngàn năm đoàn dũng sĩ máu sôi lòng hờn căm Khi quân ta tiến ra vung gươm lên chói lòa muôn đầu rơi sát khí ầm vang hát chốn sa trường không tiếc thân… Bình Xuyên… Gò Công hai lần diệt Tây… Còn nhớ tuổi trẻ Sài gòn thuở ấy chứ? Những gậy tầm vông của thanh niên đã làm khiếp đảm súng liên thanh của liên quân Anh-ấn-pháp. Những địa danh Cầu Quay, Cầu Mống, Rạch Đỉa, Thị Nghè đã làm nản lòng quân xâm lược. Và đã làm Sài gòn ngạo nghễ, đã làm người Sài gòn bất hủ. Đó là lần Sài gòn đứng dậy, đứng hết dậy viết những trang lịch sử mới sau 100 năm nô lệ. Lần thứ hai, còn nhớ chứ, tháng ngày mùa hè 1955. Tuổi trẻ Sài gòn lại đứng dậy, kẻ sĩ Sài gòn lại đứng dậy biểu dương nhiệt tình và lòng tự phụ cho bạo lực cộng sản mở mắt. Những khẩu hiệu chiến đấu ăm ắp sáng tạo: Chặt cổ Hồ Chí Minh. chém ngang thây Trường Chinh… Những bước chân săn đuổi Văn Tiến Dũng khiến nức lòng đường phố. Nhiệt tình của tuổi trẻ bốc cháy Majestic, Galliéni. Gươm dáo Bảo Tàng Viện cũng rung rinh nhạc võ Kẻ thù phương Bắc rụng rời… Nhưng hôm nay… Đứa thoán nghịch đã học đòi Mạc Đăng Dung sẽ học đòi Mạc Đăng Dung thôi… Tôi nhìn ngang con đường Công Lý. Tôi nhìn dọc con đường Yên Đổ. Tôi hình tưởng những con phố khác. Tôi hình tưởng cái toàn thể Sài gòn và những vùng thân yêu Đakao, Tân Định, Phú Nhuận, Chí Hòa… Tất cả chìm vào mù khơi hiu hắt. Tất cả rơi xuống hụt hẫng thinh không. Sài gòn. Em đã cho anh hai mươi năm sung sướng Anh phải van lơn để hứng chịu cơ cầu Tôi chôn chân cạnh trụ đèn lưu thông, ngã tư CôngLý – Yên Đổ. Tôi thèm được chết đứng ở đây. Tôi thèm được chết đứng cơ hồ Từ Hải, cái chết đứng bị phản bội nhục nhã. “Thiên hạ có khi đang ngủ cả,” mình tôi, một mình tôi thức, mình tôi chới với trong quạnh hiu ứa máu của Sài gòn đợi chờ khuất phục. Và tôi, tôi lại đợi chết. Mơ ước cuối cùng của tôi đã tàn tạ khi chưa kịp nở. Tôi mơ hồ nghe tiếng bước chân thù dẫm trên đường phố, tiếng rên xiết của đất đá, tiếng chuông cáo phó rung lên cho Sài gòn chết oan. Tôi không chết đứng nổi. Tội nghiệp tôi. Tôi trở về, đẩy cổng, vào nhà.
° ° °
Đạn nổ phía phi trường Tân Sơn Nhất đã thưa thớt. Trực thăng Mỹ vần vũ mạnh hơn ở góc trời đó, góc trời ân huệ của những người Việt Nam đã ăn no đấm đá của lính Mỹ để leo lên nóc Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ; góc trời thảm não của những người Việt Nam không được ăn no đấm đá của lính Mỹ để bị ngồi bó gối trước cống Toà Đại Sứ Hoa Kỳ. Trời đầy sương mù. Tại sao sương mù mùa xuân, mùa khô của miền Nam? Bỗng chuông điện thoại reo: – Alô, bố Tí hả? – Ừ. – Tao lên được không? – Giới nghiêm 24 trên 24 mà. – Ở đây, thiên hạ đi lại ầm ầm. – Thì ông lên đi? Đặng Xuân Côn từ Phú Nhuận gọi cho tôi. Chuông điện thoại reo làm các con tôi thức. Nhà tôi, vì uống thuốc an thần quá trễ nên vẫn còn ngủ mê man. Thằng con lớn của tôi chạy ra phòng khách. Nó bật đèn. Thấy tàn thuốc lá bừa bãi, chai Rémy Martin đã cạn nằm nghiêng, nó hỏi: – Bố không ngủ à? Tôi gật đầu. – Bố sợ cộng sản à? Tôi lắc đầu. – Tại sao bố không ngủ? Tôi đáp: – Rất nhiều người không ngủ đêm qua. Không để con nít biết chuyện nước non buồn thảm, tôi dục con tôi: – Cu Tí pha cà-phê cho bố. Đặng Xuân Côn đã lái xe lên Sài gòn. Chúng tôi uống cà-phê, đàm luận. Con nít bị đuổi hết vô phòng ngủ: – Có gì lạ ở Phú Nhuận? – Thiên hạ đợi Việt cộng vào. – Hân hoan đợi? – Một nửa sợ hãi, một nửa vui mừng. Chắc chắn, không có đánh đấm gì đâu. Dương văn Minh là cái xác chết. Bọn tướng lãnh đầu xỏ cút hết rồi. Đào ngũ hết rồi. Ông Vĩnh Lộc ví như chiếc lá cuối cùng. Gió cũng cuốn ông ta bay… – Tôi hiểu. Tôi đã mơ mộng Sài gòn sẽ là Stalingrad thứ hai. Rốt cuộc, nó sẽ là Hochiminhgrad, đúng như tiên đoán trước của lãnh tụ văn nghệ Nguyễn Đức Quỳnh mười tám năm cũ. – Mày tính sao? – Tính gì? – Chuồn. – Chuồn đâu? Mã cùng đồ rồi! – Về Long Xuyên ẩn thân. – Mai danh ẩn tích hả? Kệ mẹ nó. Đến đâu hay đến đó. Đặng Xuân Côn có thể đưa vợ con di tản dễ dàng. Cứ bám lấy tôi vào những ngày tôi bối rối nhất. Rồi tôi biến thành cái đầu tầu di tản, kéo các toa em vợ. Nhà tôi không thèm nghĩ đến con mình, chỉ nghĩ vợ con của đứa em trai mình, bắt tôi kéo bằng được vợ con đùm đề của cậu em trai du học bên Mỹ. Rốt cuộc, kéo nặng quá, đầu máy chết. Phạm Duy, trước khi chạy, cho tôi hay rằng anh đã phải vất vài đứa con lại. Anh khuyên tôi lo thoát lấy thân mình. Tôi còn bận bịu lo thoát thân vợ con của em vợ. Than ôi! -Thả một vòng Sài gòn chơi chăng? Đặng Xuân Côn đề nghị. – Thì đi. Tôi trả lời. Lúc ấy đã 7 giờ, đường phố không còn hoang vắng như cách đây một tiếng đồng hồ. Xe cộ xuôi ngược, bớt cảnh nườm nượp hàng ngày. Đèn lưu thông chớp nháy tự động ở các ngã tư. Lệnh giới nghiêm của Dương văn Minh vô hiệu quả. Luật pháp quốc gia đã bị coi thường. Người ta có thể tự do thanh toán nhau vì thù hận riêng tư hôm nay. Người ta có thể cướp bóc, hãm hiếp hôm nay. Cảnh sát vắng bóng. Quân cảnh vắng bóng. Nhưng cao quý thay là ngày Sài gòn thả nổi, ngày Sài gòn có chính phủ như vô chính phủ, tất cả bình yên nhờ chân lý mất gì không mất tình người Việt Nam. Tôi muốn vinh tôn dân tộc tôi bằng vàng son chói lọi. Tôi muốn vinh tôn Sài gòn bằng gấm vóc kiêu sa. Thành phố thân yêu của tôi, có trái tim của mấy triệu trái tim. Thành phố ấy không hề khích lệ, đốc xúi trả thù, tuyết hận trong cơ hội tha hồ trả thù, tuyết hận và tha hồ nhân danh đủ thứ chính nghĩa. Sài gòn, thành phố nhân bản, thành phố biểu tượng của tình nghĩa Việt Nam, của tình người Việt Nam. Như thế, Sài gòn vĩnh cửu, Sài gòn tồn tại như dân tộc Việt Nam.
Tôi yêu Sài gòn. Sài gòn, tên em trên những vệt môi son trong ánh mắt và trong hơi thở trong hạnh phúc và trong đau khổ ở tuổi non và ở tuổi già ở xuân hồng sắp sang và thu biếc đã qua ở hôm nay anh sống và ngày mai anh chết Trước hết, Đặng Xuân Côn lái xe ngang qua căn nhà số 101 Phan Đình Phùng. Tôi thấy Mai Thảo đang nói chuyện với cô bé Nicole, (cháu của ông Nguyễn Đình Vượng, chủ nhiệm tạp chí Văn). Tôi ấm lòng. Mai Thảo còn ở lại Sài gòn. Chúng tôi sẽ cùng bơi trong biển máu. Đặng Xuân Côn cư ngụ tại cư xá Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận. Hắn cho tôi biết Văn Quang, Nguyễn Mạnh Côn, Trịnh Viết Thành còn ở lại. Anh em văn nghệ còn ở lại, tôi mới rõ bốn người. Những ai nữa, và những ai đã đi thoát,. không ai hiểu. Một ngày dài nhất còn là một ngày xa cách nhất. Vẫy tay chào Mai Thảo, chúng tôi vòng lại đại lộ Hai Bà Trưng, đến nhà thờ Tân Định. Gặp Nguyễn Tuấn Anh, ngỡ ngàng tưởng chừng gặp người trong mộng. Tuấn Anh và gia đình đã xuống tầu chiều qua. Tôi đã bắt tay vĩnh biệt anh. Thế mà anh trở lại, đang khuân “hành lý di tản” vào nhà. Con tầu đã đi. Người bạn của tôi không đi nữa. Vài câu đối thoại nhanh, chúng tôi tạm biệt Tuấn Anh lên Sài gòn. Tôi nghĩ Nguyễn Tuấn Anh sẽ chung số phận với tôi. Anh ta là bác sĩ, đã phục vụ quân đội, đã là dân biểu đối lập trong nhóm Quốc Gia, đã bày tỏ thái độ chống cộng quyết liệt như Nguyễn văn Cử, Nguyễn Trọng Nho, Đặng văn Tiếp, Nguyễn văn Cung, Trần văn Ân. Anh ta sẽ bơi trong biển máu. Chúng tôi đậu xe sát lề đại lộ Thống Nhất, ngay cửa tư thất của ông Đại Sứ Pháp tại Sài gòn, thả bộ lên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Trực thăng lên xuống đều đặn. Trên nóc tòa nhà biểu tượng cho quyền uy Hiệp chủng quốc ở Việt Nam, vẫn đông nghẹt người di tản. Chung quanh tường Toà Đại Sứ, Thủy quân lục chiến Mỹ mặc áo giáp, tay trần, kè kè M-16 gắn lưỡi lê sẵn sàng đàn áp những người Việt Nam sợ biển máu, nhất định đáp lời kêu gọi di tản của tổng thống Ford. Thủy quân lục chiến Mỹ, binh chủng vẻ vang của quân lực Hoa Kỳ, được thần thánh hóa trong phim ảnh do Hồ ly vọng sản xuất, đã và đang diễn nghĩa cái nắm tay thân hữu của Mỹ với các nước đồng minh. Năm 1954, lính thủy Mỹ thân ái cầm tay người Việt Nam di cư bỏ trốn cộng sản. Năm 1975, “lính thủy đánh bộ” Mỹ giáng báng súng xuống thân phận Việt Nam di tản bỏ trốn cộng sản. Hẳn nhiên, lý luận theo cộng sản, đó là hiện tượng. không phải là bản chất. Bản chất tốt đẹp là dân tộc Mỹ, là đất nước Mỹ. Hiện tượng xấu xa là chính phủ Mỹ, chính sách Mỹ đối với nước nhỏ. Thế thì cái hiện tượng Hoa Kỳ đang lạnh lùng đề phòng những người Việt Nam di tản xếp hàng đông đặc trên vỉa hè phía trước Tòa Đại Sứ chỉ rình cơ hội là tông cửa xô vào, leo lên nóc Tòa Đại Sứ. Dân tộc Việt Nam chưa được hưởng tí gì về sự nghiệp khai phóng dân chủ, tự do của Mỹ ở Việt Nam ròng rã hai mươi năm. Dân tộc bất hạnh này chỉ hưởng dùi cui, báng súng, lựu đạn khói, phi tiễn vì áp dụng bài học tự do, dân chủ. Và hôm nay, dân tộc ấy có định nghĩa chính xác về tự do trước cổng Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Chúng tôi lái xe ra bến Bạch Đằng. Những con tàu nghiêng lệch về một bên đã đi cả rồi. Cái phà qua Thủ Thiêm còn sang ngang. Và trên sông, những chiếc ghe chèo, ghe máy đuôi tôm vẫn thản nhiên xuôi ngược. Chúng tôi sang Khánh Hội. ở kho 5, thiên hạ di tản ùn ùn kéo nhau vô. Có lẽ còn tàu. Chúng tôi trở lại Sài gòn. Các cửa hiệu khu phố Lê Lợi, Tự Do, Nguyễn Huệ đóng cửa. Ở những căn nhà lầu, cửa sổ mở tung và những khuôn mặt ngó xuống nhìn Sài gòn dáo dác. Khác với Sài gòn ngày 11 tháng 11 năm 1960, khác với Sài gòn buổi chiều trước 1-11-1963, khác với Sài gòn ngày chỉnh lý, ngày biểu dương lực lượng, ngày đảo chính cục bộ, Sài gòn sáng 30-4-1975 là ngày hân hoan dấu kỹ, là ngày ngơ ngác phô ra, là ngày sợ hãi hiện rõ. Trời u ám. Người ủ ê. Hơn tám giờ mà mặt trời còn ẩn kỹ. Không một sợi nắng. Có ba ngày lạ lùng trong tháng 4. Hôm tên phi công phản phúc oanh tạc Dinh Độc Lập, trời lất phất mưa. Hôm Dương văn Minh “lên ngôi” tổng thống, trời lất phất mưa. Và hôm nay, trời u ám lạ thường. “Khí trời u uất hận chia ly”. Câu thơ này đã diễn tả chính xác Sài gòn buổi sáng 30-4-1975. Tôi bảo Đặng Xuân Côn đậu xe. Chúng tôi lang thang trên hè phố. Tôi nhìn vào Garden (Givral cũ) vắng hoe. Bên kia, Continental cũng thế. Mới hôm nào, ngày Sài gòn hốt hoảng tin cộng sản tấn chiếm Đà Nẵng, tôi còn ngồi chung bàn với Cao Dao, Đỗ Bá Thế luận bàn thế cuộc. Cao Dao, người biết quá nhiều, cộng tác viên của vài tờ báo Mỹ lớn. Anh viết tiếng Việt và Phùng thị Hạnh dịch sang Anh Ngữ. Sau này, sang Bỉ, viết báo Đức, anh lại viết bằng tiếng Pháp. Đỗ Bá Thể, tác giả Thím Bẩy Giỏi. Ngã tư quốc tế* , tiểu thuyết gia, báo gia, điện ảnh gia, kẻ lãng du tình ái không hề mỏi gối long chân. Cả hai, Cao Dao và Đỗ Bá Thế đều bình thản trước cơn hấp hối của Sài gòn. Tôi hỏi Cao Dao: – Cả nước lo di tản, ông còn ngồi đây tán phét à? Cao Dao cười tít mắt: – Để thiên hạ đi vợi, tớ chạy sau chót. Tôi nói: – Ông ơi, không có chuyến tầu vét Hải Phòng 1955 đâu Cao Dao hít đẫy hơi thuốc, nhả khói: – Thì ở lại. Di tản sớm mất giá. Chạy trốn sau có giá. Cậu là nhà văn, cần buôn kinh nghiệm mà bán. Tôi cười: – Nhỡ vào biển máu, cạn láng? Đỗ Bá Thế vỗ vai tôi: – Tao đã đi mòn chân Âu Châu rồi, tao không viết được chữ nào thời gian dài tao ở Pháp. Về Việt Nam tao mới biết viết! Mày muốn tác yêu tác quái xứ người, mày cần ở lại. Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh ạ? Nghe hai ông già này nói chuyện câu trăng, câu sao trên mặt nước, tôi chợt nhớ hai câu thơ của Hoàng Cầm trong kịch bản Lên đường: Đêm ba mươi còn đi cầu danh lợi Vận nhà ta đến lúc hỏng mất rồi Đó là ý nghĩ của tôi mấy hôm trước. Bây giờ, nhìn vào Garden qua cửa kính, tôi nhớ Cao Dao, Đỗ Bá Thề, và trong tâm hồn tôi vừa nẩy mầm hy vọng mới. Ừ nhỉ, nếu không dám tình nguyện đi buôn thì bất đắc dĩ đi buôn vậy “Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh ạ?” Thoát chết, bung ra được… Di tản sớm mất giá. Tôi đã có niềm an ủi bị ở lại. Bước nhanh qua La Pagode. Cũng vắng hoe. Các nhà văn nghệ chiếu nhất, hàng đầu, chiếu ba hàng cuối, bằng hữu của tôi nơi mô? Sông chưa lấp mà tưởng chừng đã lấp. Biển dâu tự lúc nào vậy? Tôi đọc khẽ Trần Tế Xương: Sông kia rầy đã nên đồng Nơi thì nhà cửa nơi trồng ngô khoai Đêm nghe tiếng ếch bên vai giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò… Và đọc khẽ Vũ Đình Liên: Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ… Quay lại, tôi đã đứng trước cửa Phòng Triển Lãm. Nhìn sang Caravelle, tôi thấy vài anh phóng viên ngoại quốc đeo súng! Phóng viên nhiếp ảnh, quay phim, thông tín viên, ký giả ngoại quốc ví như lũ đỉa đói đã hút máu cuộc chiến của chúng ta bằng những tin bẩn, phim bẩn, bình luận bẩn của họ. Chính họ đã tiếp tay cộng sản tạo ra hôm nay. Sự hiểu biết thiển cận của họ, sự làm dáng tiến bộ của họ, sự phản chiến một chiều của họ, sự xuyên tạc, bêu nhục cuộc chiến đấu của chúng ta đầy ác ý và giúp cộng sản thắng lợi ngoài nước trước khi thắng lợi trong nước. Phóng viên, ký giả ngoại quốc, đỉa đói và kên kên gớm ghiếc, nhiều kẻ lãnh lương của Việt cộng, nhiều kẻ đần độn, nhiều kẻ tự nhận lương tâm của mình là lương tâm nhân loại để phán xét chiến tranh Việt Nam. Họ còn ở lại Sài gòn. Họ chưa muốn… di tản. Họ cần thiết có những thước phim, những tấm ảnh, những bài báo ngưỡng mộ cộng sản. Họ chờ đợi cộng sản tiến vào sài gòn. Họ đeo súng*. Không phải để đối phó với cộng sản mà để bắn chết bất cứ một người lính vô kỷ luật, một người Việt Nam nào đe dọa mạng sống của họ. Nhà báo đeo súng, thứ nhà báo vô liêm sỉ. Chắc chắn, nghĩa vụ luận báo chí của nước họ không có điều khoản đeo súng hành nghề. Nhà báo đeo súng và nhà báo đeo súng đã miệt thị ông Nguyễn Ngọc Loan bắn bỏ tù binh? Nhìn những tên phóng viên ngoại quốc đeo súng nghênh ngang trước cửa khách sạn Caravelle, tôi lấy làm ghê tởm. Làng báo Việt Nam cũng có ít nhất, năm đứa đeo súng hành nghề. Đứa lõa lồ nhất, vô lại nhất là Như văn Uy. Thằng này đem súng cả vào Hạ Viện, bắn loạn xà ngầu. Nhưng khi bị Đặng văn Tiếp thách “bắn chậm thì chết”, nó co vòi. Bẩn mắt vì ngó những thằng phóng viên ngoại quốc đeo súng, tôi ngắm Hạ Viện. Hạ Viện đã giống chùa Quán Sứ của bà Hồ Xuân Hương: Hạ Viện sao mà cảnh vắng teo Hỏi thăm dân biểu đáo nơi neo Nghị sĩ chạy cả rồi. Dân biểu chạy cả rồi. Chiến hay hòa không có tiếng vang rung chuyển nơi đây. Cho nên, những trang lịch sử chó đẻ nhất của dân tộc phải tính từ ngày 12-3-1975. Và những trang này không chứa chất u ẩn cần các sử gia đời sau soi sáng. Nó phơi ra thỗn thện như những miếng thịt bầy nhầy, như xác chết muông thú nhung nhúc ròi bọ. Chẳng còn gì hấp dẫn ở trung tâm thành phố, cũng chẳng có gì lạ lùng ở bất cứ một khu vực nào của Sài gòn. Câu thơ sau đây của Trần Tế Xương diễn tả đúng cảnh tượng Sài gòn buổi sáng 30-4-1975: Kẻ đi người lại dáng bơ vơ… Chúng tôi trở lại tòa Đại Sứ Mỹ. 8 giờ 15 phút. Lính Mỹ vẫn lạnh lùng canh gác. Con nít ngủ la liệt trên vỉa hè. Cụ già dựa lưng vào tường, nửa thức nửa ngủ và nửa mơ màng thiên đường Mỹ. Chúng ta tìm về đất hứa không có Moise hướng dẫn, không có Moise bênh vực, không có Moise bảo vệ và không có Moise đầy phép tích nên chúng ta bệ rạc nằm, ngồi ngổn ngang trước Toà Đại Sứ Mỹ, chúng ta ăn báng súng, ăn xô, ăn đạp. Quân dữ ở không gian và thời gian nào cũng thế. Quân dữ ở thời đại của chúng ta hơi khác một tí là nó đã từng bảo nó là bạn của chúng ta. Người ta cần nhớ bài học cay đắng di tản những ngày cuối tháng 4-1975 ở phi trường Tân Sơn Nhất, ở tòa Đại Sứ Hoa Kỳ nằm trên đại lộ Thống Nhất mà định mức hào hiệp của người Mỹ thống trị. Và người ta sẽ quán triệt chân lý: Chỉ người Việt Nam mới giải thoát nổi thân phận Việt Nam khỏi ách thống trị của cộng sản. Người Việt Nam phải làm chủ vận mệnh của dân tộc mình. Mọi hậu thuẫn, trợ giúp tinh thần, vật chất là phụ. Chấp nhận viện trợ và khước từ chỉ huy, lãnh đạo. Để không còn vết nhục quốc sỉ Nguyễn văn Thiệu: “Bảo chúng tôi chống cộng sản mà không viện trợ thì làm sao chúng tôi chống cộng được”? 8 giờ 17 phút, bất thần, Thủy quân lục chiến Mỹ rút hết một lượt vào bên trong Tòa Đại Sứ. Dân di tản nhất loạt đứng dậy. Cụ già tỉnh táo. Con nít thức giấc. Mọi người chờ đợi một “biến cố” như một quyết định ban ân huệ vào phút chót. 8 giờ 25 phút, không thể chờ đợi lâu hơn, nóng ruột lắm rồi. Dân di tản leo tường vào, xô cổng vào. Chiếc trực thăng bay lên đúng 8 giờ 30 phút. Dân di tản đã ùa vô đầy sân Tòa Đại Sứ. không có chiếc trực thăng nào xuống, không còn chiếc trực thăng nào xuống nữa. Năm phút, mười phút, rồi ba mươi phút. Trực thăng hết vần vũ trên một góc trời Sài gòn. Chiếc trực thăng cuối cùng rời Sài gòn hồi 8 giờ 30 phút. Có thể, chuyến đó mang ông đại sứ Martin, các nhân vật của Tòa Đại Sứ, và lính Thủy quân lục chiến Mỹ ra khơi. Dĩ nhiên, ông đại sứ Martin đã không quên gấp lá cờ sao xọc vuông vắn, bê theo, bước lên tàu bay. Thế giới có thể mường tượng cảnh cuốn cờ bỏ chạy của đại sứ Martin qua hình ảnh đại sứ John Dean. Hình ảnh đại sứ John Dean cuốn cờ bỏ chạy khỏi Nam Vang đã đăng trên báo chí. Những người hụt di tản đau nhất, đau đến mất trí, là những người đã chịu đựng “gian khổ” leo lên nóc Tòa Đại Sứ Đã ngồi trước cổng Thiên Đàng mà lại bị xuống Địa Ngục, còn gì nghẹn ngào hơn? Tuyệt vọng vì người Mỹ hào hiệp không trở lại, họ dắt díu nhau, tìm lối, mò mẫm xuống. Di tản trong gặp gỡ di tản ngoài. Di tản trên gặp gỡ di tản dưới. Chỉ Picasso mới đủ khả năng vẽ những khuôn mặt méo mó của người di tản hụt từ nóc Toà Đại Sứ xuống sân, bước ra đường. Thảm cảnh này rất nên ghi vào những trang lịch sử chó đẻ.
Ông Hồ Chí Minh không có tham vọng đánh tan giặc Mỹ. Hơn bất cứ ai, ông hiểu thấu binh pháp Tôn Vũ: “Tri kỷ tri bỉ.” Cho nên châm ngôn chống Mỹ của ông là”Đánh cho Mỹ cút”, không đánh cho Mỹ thua. ông ta đã thành công. Mỹ không thua mà Mỹ cút. Mỹ không bao giờ thua trận cả. Mỹ càng không bao giờ thua Việt cộng. Mỹ mở chiến tranh như mở cuộc chơi. Chơi lấy thắng mãi đâm ra nhàm chán, Mỹ chơi lấy… không thắng. Không thắng và thua khác nhau. Cút và thua khác nhau xa tít tắp. Như ăn uống và tiêu hóa vậy. Người ta có thể bắt bẻ: Không ăn lấy gì tiêu hóa, không thua tại sao cút? Bắt bẻ thế là sai. Mỹ muốn thắng Việt cộng thì bố Việt cộng cũng chẳng đỡ nổi. Đằng này, Mỹ không thèm thắng, dù Mỹ thí lính Mỹ chết thảm, què quặt, tàn phế như con nít đốt kiến. Do đó, thế giới thân cộng mới bảo chiến tranh Việt Nam là chiến tranh bẩn thỉu. Mỹ giao đấu với Việt cộng móc ngón tay: “Tao không đập mày chết đâu.” Việt cộng lạy lục: “Cám ơn ông, tôi chỉ mong ông cút.” Và Mỹ bèn cút…
° ° °
Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là cuộc chiến tranh giai đoạn cho một mục đích*. Sự nghiệp chống cộng sản bảo vệ độc lập, tự do, dân chủ của chúng ta chỉ là cái cớ để Mỹ khỏa lấp cái tham vọng hèn hạ của họ. Hai trái bom CBU thả thử xuống chiến trường Long Khánh tiêu diệt dưỡng khí trong một chu vi rộng lớn đã làm “chết sạch” gần hai sư đoàn Việt cộng và cả quân dân ta luôn. Sự tiến công của cộng sản phải dừng lại. Mục đích thử bom CBU của Mỹ đã đạt. Không có thèm trái thứ ba như đã không có ngày thứ mười ba trải thảm bom B-52 ở Hà Nội. Mỹ hoàn toàn yên ổn lương tâm. Phi-la- tồ American rửa tay, mặc xác cho Việt cộng với biển máu của nó. Người Mỹ thực sự hết trách nhiệm khai phóng dân chủ tự do và bảo vệ dân chủ tự do ở Nam Việt Nam vào hồi 8 giờ 30 ngày 30-4-1975. Một nửa dân tộc bị bán đứng cho cộng sản. Một biển máu hứa hẹn dâng tràn. Và tổng thống Gerald Ford thản nhiên tuyên bố: “Lịch sử đã sang trang!” Nếu có một sư đoàn bộ binh “phản loạn” bao vây Tòa Đại Sứ Mỹ, nghênh súng phòng không hạ trực thăng Mỹ, không cho đáp xuống, liệu lịch sử có sang trang dễ dàng?
TRUYỆN NGHE KỂ SAU 30-4-1975 Lịch sử thường làm nên bằng những bất ngờ. Lịch sử còn đãi ngộ những kẻ có duyên và hờ hững với những kẻ vô duyên. Người vô duyên nhất trong lịch sử hiện đại là cụ Nguyễn Hải Thần. ông Lý Thành Cầu, đại tá tình báo của quân đoàn Lư Hán, người đã theo tướng Tiêu Văn sang Việt Nam tước võ khí Nhật ở miền Bắc, người đã dẫn dắt Hồ Chí Minh gặp Tiêu Văn để hối lộ vàng cho Tiêu Văn rút Tầu phù về nước, khi vào tù cộng sản* , kể cho Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Mạnh Hùng và tôi nghe rằng: – Cụ Nguyễn Hải Thần làm thơ chữ Hán trác tuyệt, hay gấp bội thơ chữ Hán của cụ Hồ Chí Minh. Cụ mê thơ quên đại sự. Thống chế Tưởng Giới Thạch kính trọng cụ Nguyễn lắm, nhưng bận việc nước non, rất hiếm dịp tiếp cụ Nguyễn và nếu có dịp, chỉ tiếp được 15 phút. Cụ Nguyễn gặp Tưởng không bàn chuyện cứu nước, mà cứ khoe thơ, bình thơ mãi hết thì giờ. Đó là nỗi vô duyên thứ nhất của cụ Nguyễn Hải Thần. Nỗi vô duyên thứ hai được nhà văn Trúc Sĩ, tác giả Kẽm trống khá hay, người đã tham dự ngày tổng khởi nghĩa 19-8-1945 tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội kể lại trong trường thiên tiểu thuyết Thét hận* . Theo Trúc Sĩ, cụ Nguyễn Hải Thần bôn ba sang Tầu trước Lý Đông A có vài năm mà cụ nói tiếng Việt không sõi nữa. Vì cụ ấp úng “tồng pào thân mến” nên Trần Huy Liệu mới dám vỗ vai cụ, mời cụ xuống đểà thao túng diễn đàn. Và quốc gia bị cộng sản chế ngự. Cộng sản cướp luôn công lao chiến đấu giành độc lập của các đảng phái quốc gia. Nỗi vô duyên thứ hai của cụ Nguyễn Hải Thần xứng đáng là bài học quý giá cho những ai mưu đo chuyện phục quốc, cho thế hệ trẻ trưởng thành tại quê người. Vì vô duyên với lịch sử, cụ Nguyễn còn bị cộng sản ghép vào bộ ba bán nước Tam Thần Sâm (Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn văn Sâm) và nhục mạ cụ bằng bài hát: Nguyễn Hải Thần. Nguyễn Hải Thần ông ơi, ông ra đi từ 21. 22 ông ra đi sang nước Tầu buôn sái vì sái thơm ông hy sinh cả một đời… Và nhái ca dao Thằng Bờm: Thằng Thần có cái Việt Nam thực dân gạ đổi ngai vàng nhà vua Thần rằng Thần chung lấy vua thực dân gạ đổi ba cô nàng hầu… …….. thực dân gạ đổi cơm đen Thần cười… Người có duyên, dù thù hận cách mấy, dù không ưa một tí ti ông lão nào cả, người ta vẫn phải công nhận ông ta có duyên với lịch sử, là Hồ Chí Minh. Bất ngờ, về nước năm 1945, ông Hồ Chí Minh lơ thơ vài sợi râu. Và ông ta được suy tôn là “cha già dân tộc”, một cách lãng xẹt. Nguyễn Thanh Trịnh, nhà văn trẻ của tuần báo Tuổi Ngọc kể với tôi rằng, đã gặp Nguyễn Đình Thi, đã chất vấn bộ râu của “Bác Hồ” và được trả lời: – Râu của Bác là cái may và còn là cái không may. Nếu 54 tuổi, cằm bác nhẵn thín, lịch sử đã có khúc rẽ: Nguyễn Đình Thi không dám “diễn nghĩa”… cụ thể về mấy sợi râu lơ thơ tơ liễu buông mành của ông Hồ Chí Minh năm 1945. Cái may của ông Hồ nhờ râu. Cái không may của dân tộc vì râu của ông ta. ông Hồ Chí Minh khôn lỏi. Bí danh cuối cùng của ông chọn làm Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chứng tỏ ông ta toan tính kỹ lưỡng. âm nhạc có bảy nốt. Hồ Chí Minh chiếm ba nốt êm ái. Hồ Chí Minh muôn năm thì ông ta chiếm 4 nốt. Mà Bác Hồ Chí Minh muôn năm là 5 nốt. Tình tính tinh: Hồ Chí Minh. ông Hồ Chí Minh đã đi giép râu, mặc quần áo đại cán, cầm que điều khiển giàn nhạc đại hòa tấu chơi bài Kết đoàn, có vẻ như ông ta rành âm nhạc. Ông ta gây dễ dàng cho các nhạc nô suy tôn ông và gây khó khăn cho các nhạc nô muốn suy tôn lãnh tụ kế nghiệp và lãnh tụ đối nghịch. Thí dụ: Tôn Đức Thắng, Đặng Xuân Khu, Lê Đức Thọ, Ngô Đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu… Ti tì tị: Ngô Đình Diệm. Nghe không du dương. Tí ti tị: Nguyễn văn Thiệu. Càng chói lỗ tai. Tì tí ti: Hồ Chí Minh. Mê ly như hờ ly rút tinh tủy? Thế là ông Hồ Chí Minh có hàng trăm bài suy tôn công đức và sự nghiệp. ông ta xứng biệt danh Cáo Già. Vì khôn lỏi, ông ta cố tình cấy râu ớ có râu lơ thơ. Nhờ râu lơ thơ, ông ta tự nhận mình là “cha già dân tộc,” là “Bác Hồ,” là “Cụ Hồ”. Cả nước gọi ông bằng Bác, bằng Cụ. ông ta, chó ngáp phải… râu, trở thành bác của nam phụ lão ấu? Nếu 1945 về nước “cướp chính quyền”, ông Hồ Chí Minh không có râu, ông ta sẽ bị miệt thị: Đàn ông không râu bất nghì Đàn bà không vú lấy gì nuôi con… Ông ta chẳng bao giờ dám trơ trẽn để cho văn nô, thi nô, nhạc nô ví mình như “cha già dân tộc,” như Bác của nam phụ lão ấu, như Cụ… trong dân! Lịch sử đã có khúc rẽ. Ôi, vì vài sợi râu lơ thơ mà ông Hồ Chí Minh có duyên với lịch sử. Sự có duyên của ông ta đã khiến dân tộc đói khổ, ngu dốt, lạc hậu, thù hận, tù đầy. Và đó là trớ trêu của lịch sử. “Với một chữ nếu, người ta có thể bỏ Paris vào trong cái chai.” Nếu cụ Nguyễn Hải Thần nói giỏi tiếng Việt, Việt Minh đi về đâu từ 1 945? Nếu ông Hồ Chí Minh vô tù, dân tộc Việt Nam đi về đâu? Chắc chắn, không đi vào quỹ đạo cộng sản. Đừng tưởng lịch sử sáng suốt. Lịch sử đã mù lòa chọn kẻ có duyên Hồ Chí Minh mà đãi ngộ. Nói cho hợp lý, muốn lịch sử mù lòa, những kẻ âm mưu lãnh tụ cần tua tủa thủ đoạn và biết hóa trang. Hồ Chí Minh chính là một trong những kẻ đó. Nhưng lịch sử không chỉ đãi ngộ những kẻ có duyên mà còn đãi ngộ những kẻ liều lĩnh đúng thời. Nguyễn Nhạc là biểu tượng của những kẻ liều lĩnh đúng thời. Kẻ phóng đãng đất Bình Khê, nhờ liều lĩnh mà dẫn lối cách mạng Tây Sơn để Nguyễn Huệ* mở đường đi tuyệt vời cho dân tộc. Nếu Nguyễn Nhạc không liều lĩnh, có nhà Tây Sơn không? Và nếu Nguyễn Nhạc không phóng đãng, Nguyễn Nhạc là Biện Nhạc hiền lành, có nhà Tây Sơn không?
° ° °
Ông Đinh Xuân Cầu, tác giả Bên kia Bến Hải và Đôi kính, kể với tôi rằng: -Lịch sử có thể thay đổi bằng một cú chơi bạo cuối cùng. Những người chống cộng quyết liệt đã vận động xong một sự hợp tác với một tiều đoàn nhẩy dù. Tiểu đoàn dù sẽ bao vây Toà Đại Sứ Mỹ, sẽ nhắm trực thăng mà hạ. Trực thăng không đáp xuống được đểà cứu ông đại sứ thì thủy quân lục chiến Mỹ phải đổ bộ vào cứu. Chúng ta lợi dụng cơ hội này hô hào chiến đấu vì Mỹ lại can thiệp thì quân đội sẽ lên tinh thần. Kế hoạch định vào sáng 30-4. Bất ngờ, 30-4, Dương văn Minh ban lịnh giới nghiêm. Quý vị đầu não của kế hoạch nản lòng, nằm nhà thở dài. Thế là lịch sử sang trang! Cú chơi bạo cuối cùng sẽ ngoạn mục lắm. Người ta có thể mường tượng ra phản ứng của Mỹ. Nhất định, Thủy quân lục chiên Mỹ sẽ can thiệp. Chúng ta bắt Mỹ phải chơi trò chơi do chúng ta bầy ra. Chúng ta không cho “Mỹ cút”. “Mỹ đã trở lại.” Chỉ cần bốn tiếng đó cho một khoảnh khắc thế sự. Là có thay đổi lòng người. Là sẽ thay đổi mọi mặt. Nhưng vì thiếu liều lĩnh cần thiết, vì hèn nhát, những kẻ định níu kéo lịch sử đã nản lòng. Và lịch sử lạnh lùng sang trang như sự lạnh lùng của tuyên bố Ford. Và chúng ta có những khuôn mặt méo mó di tản hụt, từ nóc Tòa Đại Sứ Mỹ mò mẫm xuống sân, lếch thếch trên đường về…
Ước chi được một lần trở về… nhìn Sài Gòn thấy lại phố xá y nguyên như ngày xưa ấy.
Sao bỗng dưng lại nói về Sài Gòn. Phải chăng vào xuân lòng tư hương lại dâng lên dào dạt.
Đúng rồi. Với Nguyễn và nhiều anh em đồng hội đồng thuyền thì Sài Gòn là hình ảnh thân thương quý mến nhất. Thỉnh thoảng khi thời gian trở mình, hình và bóng của Sài Gòn lại trở về. Cho tới bây giờ sau hơn nửa thế kỷ, vẫn không quên được những con đường với hàng cây xanh tỏa bóng và phố xá đông vui, người người sống chan hòa hạnh phúc. Đặc biệt gần đây khi được đọc một bài viết của Phạm Công Luận với tựa đề ‘Sài Gòn Chuyện Đời Của Phố: Nhộn Nhịp Từ Bonard đến Lê Lợi’ và một bài khác của Nguyễn Đạt ‘Sài Gòn Của Tôi 50 Năm Trước’, lòng mình xiết bao bồi hồi xúc động.
Còn nhớ ngày nào Nguyễn đã mở một mục thường xuyên trên Phố Văn được nhiều bạn đọc và tham gia: Yêu Mãi Sài Gòn. Phải rồi Sài Gòn với các đại lộ Bonard-Lê Lợi, Charner-Nguyễn Huệ, Catinat-Tự Do những năm cuối 50 đầu 60 của thế kỷ trước là thành phố của một thời tuổi trẻ. Thuở ấy, mình tóc còn xanh, vừa mới chân ướt chân ráo từ Huế vào Sài Gòn, thấy cái gì cũng lạ. Phố xá, nhà hàng lộng lẫy, phần lớn mang tên Tây. Vài năm sau, có sự thay đổi: tên Việt thay thế tên Tây – vẫn giữ lại tên những danh nhân thế giới, dù danh nhân ấy là người Pháp, như Calmette, Pasteur, Alexandre de Rhodes … Những đường phố mang tên Tây, đa số là quan chức Pháp, được thay thế, như: Bonard – Lê Lợi; Charner – Nguyễn Huệ; Galliéni – Trần Hưng Đạo; De la Grandrière – Gia Long; Catinat – Tự Do; Lacaze – Nguyễn Tri Phương… Tuy nhiên, nhiều năm sau đó, theo nhà văn Nguyễn Đạt, dân Sài Gòn vẫn nói: Đi bát phố Bô-na, Catinat; đi mua hàng ở thương xá Charner … luôn là gọi tên Tây, cho 3 đường phố đẹp bậc nhất của Sài Gòn. Một bạn ở lứa tuổi trẻ hơn một chút, gần đây viết comment trên báo sau khi đọc bài của Phạm Công Luận: Những cái tên như đường Lê Lợi, rạp hát Vĩnh Lợi (tuy khán phòng không lớn lắm nhưng sang), Thương xá Tax, Mini Rex A, B nơi để tuổi ô mai đôi khi «cúp cua» xem phim đầy nét dễ thương …Và nhất là nhà sách Khai Trí. Những ai sống ở Sài Gòn trước 75 ít nhất đôi lần ghé vào đây. Kho tàng kiến thức đúng như tên gọi. Đường Lê Lợi với nét kiến trúc nhà cửa đặc trưng không thể lẫn lộn… Nó đã trở thành một phần văn hóa của đời sống.
Bìa sách ‘Sài Gòn Chuyện Đời Của Phố: Nhộn Nhịp Từ Bonard đến Lê Lợi’ của Phạm Công Luận – nguồn anyflip
Thuở ấy, khi mới đặt chân tới Sài Gòn, như đã nói, Nguyễn thấy cái gì cũng đẹp cũng mê. Mê hàng me xanh trên đường Catinat, mê ly nước mía Viễn Đông và ly kem Mai Hương. Đã bao sáng bao chiều dạo bước trên đường Bonard, Catinat, một mình hay với người yêu. Đi để ngắm cảnh ngắm người chứ chẳng có mục đích gì đặc biệt. Mới vào Sài Gòn, trong túi đâu có tiền nong gì nhiều. Cho nên Nguyễn chỉ đi bát phố, thỉnh thoảng gặp Đinh Cường đi với Tô Mặc Giang. Hai chàng e cũng rách như mình thôi. Rách là chỉ bề ngoài nhưng tâm hồn thì đầy thơ và mộng tưởng. Những ngày tháng bông lông thế mà vui. Mãi tới hơn năm sau đi dạy học có tiền mới dám ngồi cà phê ở Kim Sơn, ăn kem ở Mai Hương, uống bia ở La Pagode, Continental, cùng với người yêu ăn suông ở nhà hàng Thanh Thế ngay phía sau Kim Sơn. Những sáng Chủ Nhật hai đứa dắt nhau vào hẻm Casino ăn món Bắc: Bún chả, bánh cuốn, bún riêu, phở … Ôi tuyệt vời. Bonard là đường quen thân nhất. Ở đây mình gặp lại Quách Thoại và Minh Đăng Khánh sau lần đầu tiên ở Huế. Thoại thì gầy xanh, còn Minh Đăng Khánh vẫn béo tốt, yêu đời. đường Bonard … Đường Charner với những kiosques bán hoa và đồ lưu niệm, đặc biệt có quán cơm Bà Cả Đọi cũng là nơi hấp dẫn. Ôi những nơi ấy đã từng bao lần in hình bóng của Nguyễn và bạn bè.
Nói tới Bonard mà không nói tới nhà sách Khai Trí là điều thiếu sót không thể tha thứ. Đây là địa điểm dừng chân của bao người trẻ mê chữ nghĩa. Đi dạo đường Bonard thế nào cũng phải vào Khai Trí để nghỉ chân, mua sách và đọc sách cọp. Sách nhiều vô số mà ông chủ Nguyễn Hùng Trương cũng như các nhân viên không bao giờ có thái độ bất nhã với người yêu sách. Không khí ở đây thật thoải mái, dễ chịu. Khai Trí xứng đáng là trọng điểm văn hóa của một thời. Trên đường Tự Do cũng có một nhà sách lớn là nhà sách Xuân Thu nhưng không đông khách bằng. Bên ngoài nhà sách Khai Trí là một dọc những sập hàng bán đồ linh tinh, sửa bút máy, đồng hồ, khắc chữ lưu niệm. Nguyễn đã có lần đưa Sương Trúc từ Quy Nhơn vào chơi, tới đây khắc tên trên bút máy. Ôi, làm sao quên được. Trên đường về, ngồi trong taxi, hai đứa nắm tay nhau. Làm sao quên buổi chiều tiễn đưa Sương Trúc lên xe lửa về lại Quy Nhơn. Tại sân ga đường Lê Lai gần đó, Sương Trúc đã trao tặng Nguyễn cuốn Một Thời Để Yêu Một Thời Để Chết, bảo anh hãy giữ làm kỷ niệm.
Nhà sách Khai Trí, sau 1975 bị đổi tên là Sài Gòn – nguồn flickr.com
Bên kia đường đối diện với Khai Trí là một loạt những cửa tiệm, kiosques sách. Mình cũng đã từng dạo qua nơi đây, xem sách, gặp bạn bè. Còn nhớ ngồi với Tạ Ký ở Thanh Bạch ăn cánh gà chiên, uống bia. Tạ Ký kêu hai ly đá lạnh, thả vào đấy ít cọng hành lá. Một lát, lấy hành ra chấm muối tiêu, ăn, uống bia, sướng rên mé đìu hiu (chữ của Duyên Anh). Sát gần với Thanh Bạch là cinema Vĩnh Lợi. Nói tới những rạp chiếu bóng thời cuối thập niên 50 đầu 60, ngoài Lê Lợi phải kể đến Vĩnh Lợi, Eden, Majestic, Đại Nam … Một thời tuổi trẻ của Nguyễn ở đó. Mùa hè, có hôm Nguyễn coi tới 3 phim ở 3 rạp khác nhau. Ôi, làm sao quên. Làm sao không nhớ…
Đêm thỉnh thoảng còn theo Hồ Đăng Tín tới phòng trà nghe nhạc. Cho tới bây giờ còn nhớ tiếng hát Lệ Thanh ở Mỹ Phụng và Bạch Yến ở Tự Do. Bích Chiêu hồi ấy với Nỗi Lòng và Cao Thái trong ca khúc Mexico… Đây. Đây. Mexico, Mexico… Sous ton soleil qui chante / Le temps paraît trop court / Pour goûter au bonheur de chaque jour…
Chiều nay … Một chiều phai nắng, ngồi một mình bên ly vang đỏ, nghe điệu kèn thê thiết vọng lên từ một phố xưa. Chiều xóa thành đô / thế nhân bàng hoàng / Giọng hát lời ca / Ôi sao nhịp nhàng / Dừng trên hè phố / Lòng ta thầm nhớ những chiều lá rơi / Lá rơi bên thềm nhà / thềm nhà…* Ôi, giọng ca Mai Hương chợt vang lên đâu đây, trong trẻo và da diết, làm sống lại Sài Gòn xưa của tôi. Những trang viết này gởi cho gió cuốn bay đi, bay đi, về lại hè phố xưa…
Ôm súng theo Russo hơn hai năm, Frank Nitti chưa tìm ra kẻ thù giết cha
mình nhưng nhờ lăn lộn xông xáo qua hàng trăm trận lớn nhỏ, nó trở thành một tay găng tơ lì lợm nhất Nữu Ước. Đúng hơn, phải nói nó là đệ nhất găng tơ với tài bắn súng thần sầu. Nó có bao giờ rút súng ra mà không có thằng bị đốn ngã đâu? Hàng xóm nó, sau cái đêm nó ôm súng tới tận nhà thằng Eddie, kêu thằng này ra bắn chết tươi ngay trước cửa thì ai nghe nói tới tên Frank Nitti cũng lạnh gáy. Bắn xong, nó còn thản nhiên đứng nói lớn cho cả xóm nghe:
-Tên tao là Frank, Frank Nitti, thằng nào muốn báo thù hay thắc mắc thì cứ
tới nhà gặp tao.
Ai mà dám tới. Cảnh sát đến làm biên bản, hỏi thì ai cũng lắc đầu nguầy
nguậy. Mấy cái băng du côn vườn từ đó né nó một mực. Frank Nitti tự nhiên trở thành thần tượng của hằng bao nhiêu đứa trong xóm. Nhìn thấy Frank đằng xa là chúng nó kháo nhau: “Đó, có muốn làm ăn cướp thì làm cỡ thằng Frank Nitti kìa. Nó đâu có thèm chơi kiểu “gà què ăn quẩn cối xay”, đâu thèm đi ăn hiếp anh em hàng xóm. Nó ngon là ngon với những thằng ở đâu đâu kìa … “
Dân giang hồ New York thì khỏi nói rồi, mới có mười mấy tuổi đầu mà tên
Frank Nitti đã đứng đầu sổ phong thần. Đàn anh Russo chịu nó quá. Chẳng những học mau, nói một lần hay dạy cái gì là nhớ suốt đời, nó còn gan dạ lì lợm vô cùng.
Ôm súng vô khu vực kẻ thù mà nó ngang nhiên bình thản như là ngày xưa đi coi hội chợ với bố nó vậy, chẳng biết sợ là gì. Nhưng cái làm Russo ớn nhất là thằng này hình như bị hình ảnh cái chết của ông bố ám ảnh kỹ quá nên trở nên tàn độc vô cùng. Bắt được kẻ thù nó đâu thèm giết liền. Nó phải hành hạ con người ta cho đến chết lên chết xuống, đến chừng kẻ xấu xố chịu không nổi nữa, phải qùy xuống mà xin một phát súng ân huệ thì nó mới chịu xuống tay. Hễ càng rên la năn nỉ thì càng bị nó hành hạ, làm như nó là một con quỷ khao khát sự đau khổ của con người vậy.
Có thằng đệ tử hung ác khét tiếng nên chẳng bao lâu Russo trở nên nổi
tiếng khắp New York. “Ngũ Đại Gia Đình Nữu Ước” xưa nay chia New York làm năm phần … không bằng nhau, thế lực, nhân viên và tiền bạc từ mấy chục năm qua đã mọc rể khắp nơi mà còn thấy rét, bèn họp nhau lại để tìm cách đối phó với “thằng quí tộc.” Nhưng buổi họp hội đồng chuột chẳng đi đến kết quả nào hết. Ai cũng đồng ý thằng Russo là nguy hiểm, rất đáng diệt trừ để tránh hậu hoạn nhưng khi cắt công tác thì gia đình này đổ qua cho gia đình kia, chẳng ai muốn hy sinh trước. Dân giang hồ biết là cứ khoảng năm mười năm thì sẽ có “đại chiến” một lần để tranh đất sống.
New York này hưởng thái bình đã quá lâu, ai cũng lo sợ và đang âm thầm chuẩn bị chiến tranh, ngu gì đi gây với hủi để phe mình bị yếu thế đi. Tan họp, mọi người đều đồng ý với nhau là: “Nếu không ai tình nguyện đi diệt nó thì đành mướn nó làm đao phủ thủ cho mình vậy.” Cách này lợi được hai đường. Vừa kềm chế được nó, vừa có thêm một lực lượng dữ dằn dưới trướng.
Vậy là Russo đương không trở thành “đao phủ thủ Nửu Ước.” Ngày xưa
hắn đã được thiên hạ kiêng nể, bây giờ càng lộng hành thêm. Người của “ngũ đại gia đình” còn nể hắn thì ai mà dám chống?
Russo tinh đời và có nhiều tham vọng lắm. Hắn biết trước chiến tranh thế
nào cũng xảy ra ở New York nên âm thầm chờ đợi. Chúng mày cứ việc giết nhau đi, ông ở ngoài yểm trợ cho. Chừng nào cuộc chiến gần ngã ngũ, các phe hết xíu quách thì ông sẽ nhảy vào vòng chiến, bứng trọn cả 5 gia đình một lần. Một thành phố New York mà tại sao lại phải có tới năm gia đình nhỉ? Hèn gì cứ năm mười năm là có đại chiến một lần. Nếu một mình Russo làm chủ thì mọi chuyện sẽ bình yên …
Một ngày, hai thầy trò đang ngồi trò chuyện ở một quán cà phê có chiếc xe
chạy tới thắng trước cửa. Thoáng nhìn qua một cái, Frank Nitti biết ngay trên xe chỉ có một người, và kẻ đó là thằng Bob Laysten, cận vệ số một kiêm đao phủ thủ lừng danh nhất của trùm Mecca, một trong những gia đình mạnh nhất của ngũ đại gia đình Nữu Ước. Russo nhìn Frank Nitti:
-Thằng Bob chắc đem tin tức lại cho tụi mình.
Frank Nitti ầm ừ không nói gì. Cả năm qua, nó đã tập được cho mình cái
tính này. Bob mở cửa bước vào tiệm, tiến tới bàn hai người đang ngồi. Frank Nitti đứng dậy liền, che trước mặt Russo, một tay đưa ra chận thằng đao phủ thủ lại, tay kia bỏ vô trong túi áo vét. Thằng Bob nhăn nhó:
-Đù mẹ tao đi mình không, tới nói chuyện mà.
Nói xong, nó hiểu ý nên đưa hai tay ra chờ đợi. Theo đúng thủ tục, Frank
Nitti đi một đường kiểm soát khắp người thằng đao phủ thủ của cánh Mecca. Tốt, không thấy súng ống gì hết, vậy là thằng này đi nói chuyện thật. Frank Nitti chỉ cho nó cái ghế ngồi đối diện với Russo. Cho chắc ăn, nó bước ra ngoài tiệm nghe ngóng một lúc rồi mới trở vào, ngồi bên cạnh Bob.
Russo hỏi:
-Ông bạn đích thân tới đây chắc có đem theo tin tức gì giật gân?
Bob nhún vai, cặp mắt láo liên, nhìn Russo nói rất nhỏ:
-Có tin hay lắm nhưng không nói ở đây được.
Russo nhìn tới nhìn lui rồi gật đầu, buông một câu gọn lỏn:
-Ra ngoài xe.
Ba người theo gót nhau bước ra khỏi quán, chui vô xe Russo. Frank Nitti
làm tài xế, Russo và Bob ngồi băng sau.
Xe chạy được một khúc đường, Bob mở miệng nói một câu làm thằng
Frank Nitti dựt nẩy mình, thắng xe lại cái kít.
-Tôi biết tụi nào đứng sau vụ giết ông Albert Nitti rồi …
Tin tức dữ dằn vậy mà đàn anh Russo thấy sao vẫn tỉnh bơ. Hắn rút một
điếu thuốc lá cắm vào môi, bình thản mồi lửa, nhắc đàn em:
-Frank, mày cứ chạy xe như thường đi, chuyện đâu còn đó, để tao nghe
chuyện anh bạn kể đã …
Frank Nitti nóng lòng báo thù cha, nghe tới đó là thấy rụng rời tay chân nhưng Russo thì tinh mắt lắm. Đã từ lâu, hắn dư biết là muốn tổ chức một vụ tàn sát
lớn và qui mô như vụ giết ông Albert Nitti năm nào, chắc chắn phải có bàn tay của một trong ngũ đại gia đình Nữu Ước dính vào. Ngày xưa, lúc tụi thằng Russo chưa phải là một lực lượng đáng sợ thì chẳng ai thèm ngó tới. Nhưng bây giờ, tiếng tăm hai đứa đã vang lừng Nữu Ước, gia đình nào đã trót dại dính dáng tới vụ đó ắt phải ỉa trong quần. Thằng Frank Nitti mà biết được thì có trời đỡ được chúng nó. Chắc chắn sẽ bị khốn đốn bằng thích. Ở trong một thời điểm mà chiến tranh giữa năm gia đình có thể bộc phát bất cứ lúc nào, ai cũng lo thủ lấy thân, ngu gì đi gây hấn với ai để làm yếu lực lượng mình? Và cái luật muôn đời của chiến tranh xưa nay vẫn là tìm mọi cách để làm suy yếu kẻ thù. Có cách nào hay hơn là thuyết phục và chứng minh cho bọn Russo biết chính kẻ thù của mình là thủ phạm. Nếu chúng nó tin thật thì chuyện còn lại đâu có gì khó, cứ nằm nhà ngũ kỹ để coi “người ta” giết nhau.
Chờ cho cả hai phía bị “chiến tranh tàn phá” đến thất điên bát đảo, lúc ấy cứ tà tà mà ôm súng nhảy vào mà “giải quyết chiến trường” thì lấy gì mà thua được?
Hơn ai hết, Russo biết rõ trò chơi này từ lâu và đã chờ đợi một ngày như
ngày hôm nay. Kinh nghiệm còn dạy cho hắn biết, ngày nào có đứa đem tin tức vụ này đến bán cho hắn, đó là ngày chiến tranh sẽ bùng nổ giữa ngũ đại gia đình.
Hóa ra trùm Mecca là người chủ mưu phát động cuộc can qua này. Trong
ngũ đại gia đình, trùm Mecca là kẻ mạnh nhất và dĩ nhiên, khôn ngoan nhất. Chưa nói ra, nhưng Russo đoán là gia đình Mecca sẽ đổ tội cho cánh Giuseppe vì sau Mecca thì tụi này mạnh nhất, lại coi luôn khu bến tàu là khu mập địa nhất của Nữu Ước. Nếu chúng nó quất sụm được gia đình Giuseppe, hay chỉ cần gây khốn đốn thôi, Mecca sẽ chuẩn bị lực lượng để đem quân làm mẻ càn quét chót. Ra quân chắc ăn như vậy, làm sao tụi Giuseppe chịu nổi?
Russo ráng dấu nụ cười, bình thản hỏi:
– Tụi nào đứng sau vụ này, ông bạn nói nghe thử?
Bob nhún vai:
-Russo, ông biết luật giang hồ mà. Chúng tôi khổ công tìm kiếm gần cả
năm trời mới tìm thấy, bây giờ chẳng lẽ lại phun ra khơi khơi như vậy cho mấy ông. Hòn đất ném qua thì hòn chì ném lại chớ, ông giang hồ đã lâu chắc biết luật này rõ hơn tôi mà.
-Có bằng chứng không?
-Không có sao dám nói. Gớm thật thằng cha Mecca, chẳng hổ danh là trùm. Cái tin này, có muốn tặng không cho Russo chưa chắc hắn đã thèm lấy, lại
bày đặc đòi hỏi hòn đất hòn chì như là quý giá lắm. Bộ lão già này tưởng thiên hạ chỉ có mình lão là biết suy nghĩ, còn mọi người đều là dân ngu hết.
Russo quăng điếu thuốc lá ra ngoài, giả đò ngây ngô:
– Vậy ông trùm Mecca muốn gì? Ra giá đi.
Chỉ chờ có vậy là thằng Bob móc ra một tờ giấy nhỏ đưa cho Russo. Trên
mảnh giấy đó là địa chỉ của một nhà hàng Ý ngoại ô New York, tên là “Con Chuột trắng”. Russo cất tờ giấy vào túi, Bob nói luôn:
– Tối ngày thứ sáu này trùm Gravalia sẽ đến đó ăn tối. Ông hiểu tôi muốn
nói gì …
-Bắn chết hết?
-Đúng. Không còn một thằng, nếu cần giúp sức trùm Mecca sẽ tiếp viện
cho ông thêm mấy tay súng.
Russo cố nén một tiếng kêu ngạc nhiên. Từ lúc nhỏ, hắn đã biết chuyện
người thiện xạ giỏi bắn một lần chết hai con chim, nhưng chưa bao giờ nghe ai muốn bắn một lần chết ba con như thế này. Ra là lão này còn muốn mượn tay anh em chúng nó để dứt luôn tụi Gravalia, gia đình mạnh thứ ba của Nữu Ước.
Russo gật gù cái đầu. Chỉ ngồi trong nhà thôi mà lão Mecca đã có kế hoạch diệt gọn hai đại gia đình của Nữu Ước. Diệt mà không ai trách lão được mới
là cái tài.
-Ông bạn cho biết ý kiến đi.
Câu hỏi của thằng Bob làm Russo chấm dứt sự suy tư, trở về với hiện tại:
-Vậy là tôi phải diệt xong chúng nó thì ông trùm Mecca mới thò ra cái
bằng chứng à?
-Cũng gần đúng như vậy.
-Nếu tôi từ chối?
Bob nhún vai:
-Quyền của ông.
-Nếu tôi từ chối và lại đi thông báo cho tụi Gravalia biết thì sao?
Bob trả lời tỉnh bơ như đã đoán trước được câu nói của Russo:
-Không ai tin ông cả. Nhưng tôi không nghĩ là ông sẽ làm vậy. Ông biết
thế lực nhà Mecca mà. Ông tự coi mình là lớn, là mạnh, là đủ thế lực để làm gì thì cái đó là quyền của ông, nhưng ông đừng quên một điều là gia đình Mecca có mặt ở đây đã trên 25 năm …
Quên sao được. Khỏi cần được nhắc khéo Russo cũng chẳng bao giờ dám
quên. Nó chồm tới vỗ vào vai Frank Nitti, làm dấu kêu nó quay xe trở lại. Suốt
quãng đường về, Russo đem cái đề nghị của nhà Mecca ra nghiên cứu. Chiến tranh coi như là một chuyện không thể tránh được. Trước hết, hắn biết nếu từ chối, thì cú đấm đầu tiên của bọn này sẽ không giáng xuống đầu tụi Gravalia hay Giuseppe mà nhắm vào hắn. Không chừng lão trùm Mecca đã có sẵn kế hoạch cho tụi kia đi thanh toán hắn rồi cũng nên. Sống hay chết, tồn tại hay bị tiêu diệt là tùy thuộc câu trả lời này đây. Nhưng Russo đã có một kế hoạch khác ở trong đầu. Hắn sẽ tương kế tựu kế chơi một cú để đời. Vừa trả được thù cho thằng em, vừa hốt được một mớ bạc, vừa làm được sạch sẽ Nữu Ước.
– Nhờ bạn về nói lại với ông trùm, tôi đồng ý trên nguyên tắc nhưng có cái
kẹt này …
-Nói đi.
-Tôi đồng ý là phía bên ông trùm kiếm được tin tức này không phải là dễ.
Cũng phải trầy vi tróc vẫy, phải tốn tiền, phải chi địa tùm lum …
Bob nóng lòng xen vào:
-Nói mẹ nó ra đi, rào đón hoài.
-Ý tôi muốn nói là cái giá mà ông Mecca ra đó mắt quá. Ông nghĩ coi, thế
lực nhà Gravalia lớn như vậy, đông người như vậy mà bắt mình tụi tui xông vào bắn chết tươi chúng nó chỉ để đổi lấy được có cái bằng cớ của một vụ án mạng không thì ông trùm xử ép anh em quá. Mong ông trùm nghĩ lại một chút cho anh em nhờ …
-Mấy ông có muốn trả thù không?
– Dĩ nhiên, muốn chớ ông bạn. Thằng em tôi ngày nào mà không mơ tưởng
tới chuyện lột da sống cái thằng chó chết nào đó đã giết cha mình. Nhưng tôi đã nói, cái giá đó ra mắt quá. Mà tụi tôi không biết sau khi xông vào nhà hàng “Con chuột trắng” này trở ra, có còn đủ nguyên một miếng mà nói chuyện trả thù không kìa? Thế lực nhà Gravalia xưa nay cỡ nào, khỏi cần nói chắc ông cũng biết. Hơn nữa, ông trùm Mecca nói là ông trùm có bằng chứng thì tôi cũng biết tin như vậy. Nói thì ông trùm tha lỗi, nhỡ chúng tôi nghe lời ông trùm, gây cuộc can qua với cánh Gravalia xong rồi mới biết là ông trùm không có bằng chứng gì hết thì có phải là chúng tôi bị thiệt thòi không?
Bob nhăn mặt. Đù mẹ thằng Russo này lỏi tì mà sao khôn lanh quá cỡ.
Hèn gì chỉ trong vòng có vài năm mà danh tiếng hắn nổi như cồn.
-Vậy thì ông từ chối?
-Không, tôi có một đề nghị.
-Nói đi.
-Tôi tính như thế này đẹp cho cả đôi bên. Trước hết, tụi tôi đồng ý sẽ làm
thịt thằng Gravalia, nhưng tôi xin ông trùm Mecca giúp đỡ cho tí địa còm để anh em mướn thêm người. Đưa trước một nửa, nửa kia làm xong sẽ lấy. Tôi không dám mượn người của quý ông. Cứ để một mình thằng Russo này lo, nếu chuyện không thành, thì cũng mình chúng tôi gây oán thù thôi, khỏi dính dáng đến mấy ông. Thứ hai, tôi muốn ông trùm hứa cho một lời. Hứa là nếu chúng tôi có thất bại, thì ông trùm cũng thương tình, không trách phạt. Dĩ nhiên, chúng tôi sẽ hoàn trả tiền lại.
Thứ ba, đồng ý rằng quý ông có bằng cớ thật, tôi không đòi hỏi coi hết, nhưng chỉ xin ông trùm hé ra một chút cho anh em tôi yên lòng thôi. Chỉ cần một chút thôi, ví dụ như là ngày đó đã được tổ chức ra sao, súng ống hiệu gì, bao nhiêu đứa nhúng tay vào. Mấy ông chỉ cho biết từng đó thôi là tụi này sẽ xung phong ôm súng đi làm thịt Gravalia liền …
Chiếc xe đã chạy trở về chỗ khởi hành. Frank Nitti quẹo vào lề, tắt máy.
Bob hỏi trước khi xuống xe:
-Ông muốn bao nhiêu tiền?
-Một trăm ngàn đô la chẵn.
Bob đóng cửa xe thật mạnh, nghe đến rầm một tiếng, sủa một câu gọn lỏn:
-Để về trình lại với ông trùm, vài ngày tôi liên lạc lại cho biết kết quả.
Rồi thằng đao phủ thủ của Mecca quay lui, hối hả bước về xe mình. Russo
cũng leo xuống xe, ra ngồi nơi băng trước, sát bên thằng em. Nó nhìn đồng hồ, biểu thằng Frank Nitti:
-Dọt qua New Jersey, tao với mày đi ăn mừng tối nay.
Frank Nitti rồ máy chiếc xe, nhìn kiếng chiếu hậu rồi quẹo trở ra:
-Thằng Bob đã có tin tức sốt dẻo mà mình tìm kiếm suốt năm qua, sao hồi
nãy anh không nhận lời liền, còn đòi hỏi thêm tiền bạc, lỡ tụi nó không chịu thì sao?
Russo cười gằn:
-Chú mày cứ sợ chuyện chim không biết bay, chó không biết sủa. Mày biết “ngũ đại gia đình Nữu Ước” sắp sửa có đại chiến không?
-Không.
Cái lạ là không ngờ chính tụi mình sẽ là ngòi nổ của cuộc đại chiến này.
Từ lâu, tao biết là chúng nó nắm vững tất cả các chi tiết về vụ giết cha mày từ ngày nó mới xảy ra nhưng lão đâu có cho mình biết, nhất định chờ cho đến ngày hôm nay mới xì ra. Cha nội Mecca quỷ lắm. Lão chờ lâu vậy là muốn mượn tay anh em mình thanh toán tụi Gravalia trước. Dĩ nhiên, đại chiến sẽ bùng nổ vì ngũ gia biết có cho kẹo mình cũng không dám láo lếu vậy. Nhất định phải có một gia đình đứng ra bảo trợ vụ này. Sau đó, lão sẽ xì tin ra cho tụi mình biết cánh nào là thủ phạm để đi trả thù. Mình trả thù xong, nếu may mắn mà còn nguyên được một miếng thì tao dám nói là sẽ có ít nhất là một chục họng tiểu liên của bọn Mecca sẽ chờ sẵn chúng mình ở đâu đó để khạc đạn. Hê! giết xong mình, lão sẽ được tiếng với anh em là tiểu trừ gian tặc, trả thù cho hai cánh kia … Mày thấy không, một phát tên bắn được tới ba con chim …
-Đù mẹ giang hồ rắc rối quá nhỉ. Mấy cái vụ này tôi không bao giờ nghĩ ra
được. Nhưng làm sao anh biết là tụi Mecca không đứng đằng sau lưng việc ám sát cha tôi?
Russo bật cười lên hềnh hệch:
-Lão Mecca không phải là thánh nhưng tao biết lão không có dính dáng đến vụ này. Nếu lão quả thật đứng đằng sau vụ đó thì tao với mày đã trở thành hai
cái xác không hồn từ lâu rồi Frank. Thế lực nhà Mecca bao trùm New York mà …
-Vậy có thể là tụi Gravalia không?
-Mày còn ngây thơ quá, cũng không phải tụi Gravalia luôn. Vì nếu tụi Gravalia đứng đàng sau thì trùm Mecca đã không mướn tụi mình đi thanh toán lão.
Mày hiểu ý tao nói chưa?
Frank Nitti gật gù cái đầu:
-Anh tính sao?
-Mày khỏi phải lo chuyện này. Tao sẽ lấy kế nó làm kế mình. Lão Mecca
có đầu óc còn tao cũng đâu phải sọ khỉ. Tao sợ rằng sau vụ này, tên tuổi của Mecca sẽ chẳng còn bao giờ được nhắc tới trong giới giang hồ Nữu Ước nữa …
Đúng y giờ hẹn, chiếc xe Cadillac của Bob Laysten rề rề chạy tới. Trên xe
chỉ có một người. Frank Nitti ra tới tận ngoài đường, chiếc xe chưa kịp thắng là nó đã thò tay mở được cánh cửa, thụt đầu vào nhìn dáo dác và hỏi:
-How do you do Bob?
Bob không trả lời câu nói. Nó thừa hiểu thằng hung thần này có thích gì
mình mà “how do you do”. Chẳng qua là nó ra đây để kiểm soát coi mình có dấu thằng nào trong xe không đây mà.
Bob bước xuống xe, móc cây Colt.45 trong người ra, trở ngược cán giao cho
Frank Nitti:
-Tao chỉ có trần xì cây này.
Luật giang hồ của dân Ý xưa nay như vậy. Đi họp là tuyệt đối cấm đem vũ
khí theo. Nếu có mang là phải biết ý giao cho chủ nhân trước khi bước vào lãnh thổ của người ta.
Frank Nitti lẹ làng chụp cây súng, nhét vào bụng mình. Bob quay lui, thò
tay lấy cái cặp táp để bên ghế phải ra rồi đóng cửa xe, xăm xăm tính bước vào.
Nhưng thằng Frank Nitti đã đứng yên như trời trồng ngay trước mặt nó.
Bob hiểu ý. Đù mẹ thằng khốn này thật là khó chịu. Đưa cho nó cây súng
mà nó vẫn còn chưa tin, ý còn muốn đi một đường kiểm soát cho chắc ăn. Bob nhăn nhó:
-Tao đi phó hội mà.
Frank Nitti không nói gì, chỉ đứng chàng hảng hai chân giữa vỉa hè, im lìm
nhìn nó. Bob đành giở cặp táp ra:
-Đây, đù mẹ muốn xét thì xét, tao đâu có đem theo súng ống gì đâu?
Bàn tay phải của Frank Nitti lanh lẹ chạy một vòng khắp nơi trong cái cặp
táp da. Tốt, nó chỉ rờ thấy … tiền. Frank Nitti gật đầu, rồi nhìn vào người ông khách như muốn nói “Còn người ông, cho kiểm soát luôn đi”. Bob đành đưa hai tay lên. Frank Nitti lẹ làng thi hành bổn phận. Không có gì hết. Bob theo đuôi Frank Nitti bước vào nhà.
Đúng hơn, cái apartment bằng gạch này được Russo dùng tạm thời làm một
đại bản doanh di động. Russo không bao giờ chịu tiếp khách tại nhà mình, nếu
muốn hầu tiếp ai, hắn luôn luôn thay đổi chỗ.
Vào trong nhà, Bob thảy cái cặp táp lên bàn, nhìn Russo giọng có vẻ hơi
bất mãn:
-Anh em với nhau không đến bàn chuyện làm ăn, làm gì phải kiểm soát
nhau kỹ vậy?
Russo không trả lời, ra dấu mời nó ngồi. Bob vừa ngồi xuống là đi vào vấn
đề liền:
-O.K. Ông trùm Mecca chịu điều kiện của ông.
Bob đẩy cái cặp táp về phía Russo:
-Hai mươi lăm ngàn đô la trong đó đó.
-Tại sao hai mươi lăm. Tôi tưởng 100 chia cho hai thì thành 50 chớ? Tụi
này tuy ngu dốt nhưng cũng biết làm tính chia tính nhân, phải không Frank Nitti? Mày lấy 100 chia cho hai coi thử được bao nhiêu?
Bob lắc đầu:
-Ông trùm chỉ chịu chi có 50 ngàn thôi. Ông không chịu thì dẹp hết mọi
chuyện đi, tôi đi về ….
Nói xong, Bob đã toan đứng dậy nhưng Russo liền phất tay:
-Từ từ, chuyện đâu còn đó, đừng có nóng nảy.
Nó nhìn Frank Nitti ra hiệu. Thằng này từ phía sau chồm tới, chụp cái cặp
táp, dốc ngược lên cho mọi thứ đổ hết xuống bàn.
Khỏi cần đếm, Russo cũng biết mớ bạc đó vào khoảng 25 ngàn. Nó gật
đầu ra dấu đồng ý. Frank Nitti lại bỏ hết số bạc vào cặp táp rồi ra đứng sau lưng thằng Bob. Russo chìa bao thuốc lá ra:
-Làm một điếu?
-Không.
-Chỉ có 25 ngàn mà thanh toán được một băng hung dữ cỡ thằng Gravalia
thì cũng rẻ đó chớ hả? Nhưng mà thôi cũng được, ông trùm Mecca còn nghĩ đến anh em như vậy là tốt rồi. Coi như xong một chuyện.
Russo mồi điếu thuốc, nhìn Bob chậm rãi hỏi:
-Còn chuyện thứ hai?
Bob thò tay vào trong túi, móc ra một tấm hình thảy lên bàn. Frank Nitti từ
phía sau lại nhổm người tới trước để nhìn cho kỹ tấm hình. Ủa, tưởng hình của một thằng giết mướn nào, hóa ra lại là khuôn mặt của một người đàn bà nhà quê xấu xí.
Russo cũng ngạc nhiên không kém. Nó chưa biết ăn nói gì thì thằng Frank Nitti đã thốt lên:
-Nhớ ra rồi. Đây là hình của con mẹ Pat đây mà. Mụ làm đầy tớ nhà tôi
từ lúc tôi còn nhỏ …
Bob nhìn Frank Nitti:
-Con mẹ đầy tớ này có dính dáng tới vụ ám sát đó.
Frank Nitti lắc đầu phản đối liền:
-Hôm đó mụ bị bịnh xin nghĩ ở nhà, làm sao dính dáng tới chuyện này được?
Russo biết chắc phải có gì bí ẩn sau vụ này nên im lặng. Bob chợt nhướng
mắt hỏi:
-Để tao nhắc sơ cho chú mày nhớ, thường thường ăn cơm gia đình, mấy cái
màn cửa nhà mày đóng hay mở? Nếu hôm đó các màn cửa trong nhà đóng xuống hết thì có thằng nào thấy được ông cụ mày ngồi chỗ nào để khạc đạn?
Bây giờ thì Frank Nitti mới thấy chưng hửng. Thôi đúng là mụ Pat, người
làm công thân tín bao lâu nay trong gia đình đã bán linh hồn cho quỷ rồi. Nó nhớ rõ, từ khi cha nó gặp gở người lạ mặt, theo lời cố vấn của cận vệ Russo lúc đó, tất cả các rèm cửa trong nhà phải luôn luôn phủ kín xuống để bảo mật. Hôm đó, mấy cái màn cửa sổ không phải chỉ trong phòng ăn mà khắp nơi trong nhà tự dưng được một bàn tay bí mật vén cao lên hết.
Càng nhớ đến cái ngày kinh khủng đó, Frank Nitti càng thấy lạnh mình.
Phải rồi, điệu bộ mụ Pat lúc sau này, đặc biệt khoảng một tuần trước khi xảy ra vụ án mạng, thấy có vẻ bí mật lạ lùng. Tối hôm trước, mụ đi làm, cho mấy đứa đàn em tháo bung hết mấy cái cửa sổ ra để lau chùi. Chùi xong, gắn lại mụ cố tình để hớ hênh như vậy và ngày hôm sau xin nghỉ việc vì bị cúm bất ngờ. Ai có thì giờ để mà để ý tới ba cái chuyện lẻ tẻ đó. Thằng Frank Nitti thì lúc ấy chỉ là một đứa học trò nhỏ, làm sao nghĩ tới chi tiết này. Bây giờ nó mới vỡ lẽ.
Cặp mắt Frank Nitti bỗng long lên sòng sọc. Nó nhìn tới đâu là lửa như bốc
theo tới đó. Nó quay sang ngó đàn anh Russo như muốn thầm bảo: “Vậy thì có gì khó đâu, chỉ việc kéo tới nhà mụ Pat, tẩn cho con mẹ một mẻ thì chuyện lại chẳng biết được?”
Như biết được những gì hai đứa nó nghĩ trong đầu, Bob lại thảy lên bàn một
mảnh báo nhỏ của tờ New York Times. Russo cầm lấy đọc lướt qua rồi nhìn Frank Nitti lắc đầu:
-Mụ Pat chết rồi. Bị xe đụng chết cách đây sáu tháng.
Mặt Frank Nitti xịu xuống. Bob nhún vai:
-Như quý bạn thấy, chúng tôi không nói dóc với các bạn. O.K. hai điều
bạn đòi hỏi, chúng tôi đã trả lời thoả đáng.
-Còn chuyện thứ ba, nếu chúng tôi vồ hụt thằng Gravalia thì ý ông ông
trùm ra sao.
Bob lắc đầu, mặt đanh lại cương quyết:
-No deal. Vụ này thì ông trùm tụi tôi đã có chỉ thị rõ ràng: Tụi Gravalia
phải chết. Chúng nó không chết, mấy ông đền mạng giùm.
Frank Nitti bỗng thấy nóng ran người. Thằng đao phủ thủ này, dù biết nó
là sứ giả của Mecca, và biết lát nữa nó sẽ … chết nhưng nghe nó nói là muốn nhào tới dộng một trận cho sướng tay cái đã. Ai cho nó cái quyền ăn nói mất dậy như vậy ngay giữa đại bản doanh của mình. Russo thấy vẻ thay đổi trên mặt thằng Frank Nitti, sợ nó sắp sửa làm ẩu nên đưa mắt nhìn nó ra ám hiệu chặn lại, có ý ngầm bảo:
“Chờ chút đi thằng em. Trước sau gì thằng này cũng chết mà”. Nó nhìn Bob
Laysten:
-O.K. Ông trùm muốn vậy cũng được, tụi tôi dễ tính mà.
Bob đứng dậy, vừa đưa hai tay tính đẩy cái ghế vào thì Russo nói luôn:
-Khoan, khoan về đã Bob. Trước khi ra đi, tôi muốn giới thiệu với ông một
người khách quý.
Bob Laysten bắt đầu đánh hơi thấy có gì kỳ lạ trong buổi họp mặt hôm nay.
Đù mẹ bọn nhãi ranh này muốn gì đây. Nó xoay người tính từ chối đi ra nhưng nhìn thấy bộ mặt hung dữ của Frank Nitti đứng chấn ngay ngõ ra bèn đổi ý, ngồi xuống.
Russo nói lớn tiếng:
-Kính mời ông trùm Gravalia xuống gặp đại diện của gia đình Mecca.
Bob nghe tới đó là thất kinh hồn vía. Có tiếng bước đều đặn từ cầu thang
đưa xuống. Không phải của một người mà của ba hay bốn người. Bob há hốc miệng nhìn lên cầu thang xem thử người đang đi xuống là ai. Nó chỉ mong thằng Russo này đùa dai với anh em thôi.
Nhưng không, kẻ bước xuống đầu tiên chính là trùm Gravalia. Theo sau là
ba thằng cận vệ ruột sát khí đằng đằng. Bob thấy trời đất quay cuồng, cổ họng khô đắng. Nó ngồi ngây người, không nói được một câu.
Rất bình thản, thằng cận vệ của ông trùm Gravalia kéo ghế cho chủ mình
ngồi xuống ngay trước mặt thằng Bob. Giọng Russo hơi có chút thương hại:
Ông để tôi giới thiệu, đây là ông trùm Gravalia.
Cổ họng Bob vẫn còn thấy khô cứng. Nó mấp máy đôi môi một lúc mới
phát ra được vài tiếng tắt nghẹn:
-Russo, mày bán tao. Mày bán anh em.
-Xin lỗi, tôi chưa bao giờ làm anh em với ông. Tôi và ông chỉ có “deal.”
Russo nhìn Frank Nitti làm dấu. Thằng này lẹ làng lấy cái cặp táp đưa cho
ông trùm Gravalia. Russo nói luôn:
-Nếu không có ông trùm ở đây ngày hôm nay thì 25 ngàn đô la này sẽ mua
đứt cái mạng ông tối thứ sáu này tại nhà hàng “Con Chuột trắng”.
Mồi xong điếu xì gà, Gravalia mới nói, giọng nghe rất nhẹ nhàng, điềm
đạm:
-Tên chú em là Bob Laysten phải không? Qua rất tiếc phải gặp chú em
trong một trường hợp như vầy …
Gravalia ngừng nói, làm một hơi xì gà thật dài rồi nhìn ra xa tư lự:
-Qua còn nhớ lần họp mặt cuối cùng với Ngũ đại gia đình, bữa đó có chú
em đi họp mà, nhớ không? Thằng trùm của em cứ một hai đòi phải bứng tụi nhóc tì cho kỳ được. Nó nói quá, anh em cuối cùng đồng ý là phải bứng nó nhưng rốt cuộc, không có gia đình chịu hy sinh ôm súng đi hết. Ngay hôm đó, qua đã nghĩ là thằng Mecca và Russo là hai kẻ không thể đội trời chung được. Ai có dè nó lại tính mượn tay thằng Russo này để chơi anh em một cú cạn láng như vậy. May mà thằng Russo còn có chút “lương tâm”, không thì thằng già này chết không toàn thây rồi …
Bob ngồi im chịu trận. Đi giang hồ bao nhiêu năm, xông xáo khắp các nơi,
đây là lần đầu tiên nó thấy mình đang ngồi sát bên ông thần chết. Nó nhìn ông trùm Gravalia, mặt trở nên bình thản lạ thường. Cái bình thản của những kẻ tử tội sắp sửa lên máy chém:
-Số mạng của tôi ra sao?
Trùm Gravalia nhìn Russo:
-Tao để cái đó tùy ý mày, mày tính sao?
Russo nhìn chầm chập vào Bob:
-Tội của ông là tội chết nhưng tôi có đề nghị này.
-Nói đi.
-Nếu ông cho tôi biết cánh nào đứng sau vụ ám sát ông Albert Nitti, tôi sẽ
đề nghị tha cho ông …
Nói xong Russo rung đùi ngồi chờ câu trả lời. Bob suy nghĩ một lúc, rồi lắc
đầu:
-Xin lỗi mày, Russo, khỏi có vụ đó rồi. Mày muốn biết thì tự tìm lấy.
Thằng Bob này là dân giang hồ, đi theo trùm Mecca từ lúc còn là một thằng bé,
được cưng chìu ưu đãi. Tao không thể tham sống mà phản chủ được. Hôm nay bị mày cho vào bẫy, nằm trong tay mày rồi, thì mày cứ việc giết tao đi. Đừng hòng moi được nơi tao cái gì. Tao chỉ mong một điều là dân giang hồ với nhau, tao với mày không có thù oán gì, thì giết tao xong, mày cho đem xác tao về để trùm Mecca lo làm lễ cầu hồn cho phải luật đạo.
Bob khôn lắm. Nó biết cho dù có phun ra bao nhiêu tin tức rồi cuối cùng
cũng không thể nào tránh được một đường sơ mi gỗ. Anh em thằng Russo này xưa nay nổi tiếng khát máu nhứt Nữu Ước, ai mà không biết. Thôi, chi bằng nói hụych toẹt ra để kiếm lấy cái chết cho trọn nghĩa.
Russo và ông trùm đang còn ngạc nhiên trước khí khái của thằng này thì từ
phía sau, bỗng Frank Nitti thét lên một tiếng rùng rợn rồi xông lên chụp cứng thằng Bob, nói như hét:
-Mày ngon hả? Để tao coi thử chừng nào mày mới chịu khai thằng giết cha
Tao.
Frank Nitti vừa nói vừa vung tay lia lịa, tung ra những cú phật thủ vào mặt
thằng Bob. Chỉ nghe vài tiếng bục bục là thấy mặt thằng Bob đầy những máu, gục người xuống như một khối thịt bầy nhầy. Frank Nitti xốc nó lên. Mặt thằng Bob đâu còn gì nữa, chỗ thì sưng vếu lên, chỗ khác bầm dập và răng thì không còn cái nào nguyên vẹn hết. Gớm thật cái sức mạnh của thằng “đao phủ thủ con” này. Frank Nitti nắm tóc thằng Bob, lắc lắc mấy cái cho nó tỉnh:
-Mày chịu nói chưa? Hay tao phải tiếp tục nữa?
Lạ lùng thay, cặp môi sưng húp của thằng Bob mấp máy. Frank Nitti mừng
như mở cờ trong bụng. Ra thì mày đã biết sức mạnh của tao rồi. Có thế chứ, xưa này có thằng chịu nổi đòn của Frank Nitti mà còn dám ngang bướng?
Frank Nitti cúi đầu vào sát mặt Bob để nghe cho rõ. Bỗng thấy thằng Bob
mở miệng, nhổ một bãi nước miếng vào giữa mặt thằng “đao phủ thủ con.” Frank Nitti lắc đầu để tránh nhưng đâu còn kịp nữa. Một bãi nước miếng có cả răng lẫn máu bay dính vào mặt nó.
Cả đám đầu trâu mặt ngựa ngồi đó nhìn thấy mà còn giật mình. Riêng Russo thì nhớ đến cái đêm nào tại bãi đổ rác thành phố, mặt nó toàn những máu
mèo. Lần này thì Frank Nitti nổi cơn điên lên thật. Nó túm cổ thằng Bob và cứ
thế mà vung tay ra thoi lia lịa vào người thằng này. Không biết nó đánh bao nhiêu lâu cho đến lúc có người ôm nó kéo ra. Hai bàn tay nó đẫm máu và thằng Bob thì đã chết không biết từ lúc nào …
Russo lật cái xác bê bết máu của Bob Laysten lên. Hắn đưa tay vuốt mắt
cho kẻ xấu số. Tự nhiên, Russo thấy thương thằng này. Hắn không hiểu nếu ngày nào đối diện với thần chết, mình có đủ can đảm như nó không. Mà cái nghề bạc bẽo này ai biết trước được chuyện gì sẽ xảy ra cho ngày mai. Ngày hôm nay là thằng Bob, biết đâu ngày mai sẽ tới phiên mình hay bất cứ đứa nào khác. Russo bỗng đưa tay làm dấu thánh giá rồi lâm râm một câu kinh cầu nguyện ngắn. Xong hắn nói với trùm Gravalia:
-Thằng này xứng đáng là dân anh chị. Đúng ra thì mình nên đưa xác nó về
nhà như lời mong ước cuối cùng của nó, nhưng kẹt một cái là tôi còn muốn “xử
dụng” cái xác nó để đưa trùm Mecca vào tròng. Đành chịu thôi! Mong bạn Bob
Laysten hiểu được lòng tôi …
Russo quay sang thằng Frank Nitti đang ngồi một cục gần đó như kẻ mất
hồn:
-Mày ra sau nhà rửa ráy chân tay mặt mũi đi, tối nay còn có nhiều chuyện
làm.
Rồi hắn đứng lên, dơ tay nhìn đồng hồ, nhắc khéo ông trùm Gravalia:
-Còn ba tiếng nữa là tụi tôi phải đi.
-O.K. Chúc mấy em may mắn. Qua hứa sẽ kiếm ra cái vụ đó cho mấy
em.
Ông trùm đứng dậy. Đám đàn em vây quanh. Russo lắc đầu, nhìn ông
trùm:
-Khoan, hình như ông còn quên cái gì?
Trùm Gravalia cười, quay sang thằng cận vệ, hất đầu ra hiệu. Thằng này
móc trong áo bành tô ra mấy cọc bạc toàn giấy một trăm đô, để trên bàn. Trùm
Gravalia nhìn Russo:
-Đủ rồi chớ gì?
Russo gật đầu. Lần đầu tiên suốt từ khi gặp nhau, miệng hắn mở một nụ
cười, nhìn thày trò Gravalia theo chân nhau bước ra ngoài …
Trùm Mecca sáng hôm nay có vẻ nóng nảy. Ngồi trong văn phòng, thỉnh
thoảng lão quay sang nhìn thằng phụ tá Torego một cái rồi lại cúi đầu xuống nhìn cái ống tẩu đang cầm nơi tay, nhíu mày tư lự. Phụ tá Torego biết vậy nhưng không lấy làm ngạc nhiên. Hôm nay là ngày đánh lớn mà. Tâm lý con người ai chả vậy.
Có đụng là có lo, có chuẩn bị, có chờ đợi v.v …
Thật ra, hôm nay là ngày trọng đại nhất của gia đình Mecca: Ngày thi hành
kế hoạch “độc thủ” mà ông trùm đã khổ công bỏ ra cả năm trời để chuẩn bị. Trong xã hội Mafia, điều khó khăn không phải chuẩn bị chiến tranh mà là chuẩn bị làm sao để không bị ai biết hay nghi ngờ. Không có gì ngu hơn là đi phát động một cuộc chiến mà chưa kịp ra tay đã bị chúng nó phát giác rồi. Những điều yếu lược này của binh thơ thì thầy trò Mecca rành lắm. Mới tháng trước đây, trong kỳ họp định kỳ, chính lão đã đọc một bài diễn văn nẩy lửa kêu gọi năm gia đình đoàn kết vì cuộc sống càng ngày càng khó khăn, thịt thì ít mà thú rừng thì nhiều. Hơn nữa, lâu lâu lại có vài con thú lạ xuất hiện, hung dữ và khôn lanh lạ thường. Lão kêu gọi Ngũ gia coi chừng bị miếng mồi thơm tiền bạc làm mờ mắt, gây can qua máu lửa vô ích …
Ai dự hội nghị ngày đó cũng nức nở. Trùm Mecca mà ăn nói chí tình như
vậy thì cuộc đại chiến mà mọi người đều lo lắng chờ đợi chắc đâu có thể xảy ra
được kìa. Ai cũng biết, kẻ có thể và có lý do để gây chiến nhất là trùm Mecca. Lão có nhiều thứ để thắng hơn là thua nếu có đụng lớn. Thứ nhứt, lực lượng của lão hùng hậu quá. Thứ hai, có một lực lượng lớn như vậy mà chỉ được một nửa khu bến tàu, cái nghiệp đoàn chuyên chở, một tiệm xuất nhập cảng độc quyền dầu ăn và bốn quận Nữu Ước thì có vẻ hơi yếu. Trong khi đó, gia đình Gravalia và Giuseppe là hai gia đình yếu thế hơn mà lại vô nhiều địa hơn. Tại sao có chiến tranh? Theo dân Mafia, cũng như trời đất lâu lâu phải có những cơn bão bố để dung hoà khí hậu, chiến tranh là một giải pháp của vấn đề phân chia quyền lợi. Kẻ mạnh phải được chia phần nhiều hơn kẻ yếu. Thằng mafioso nào cũng biết định luật này và riêng trùm Mecca thì nắm vững hơn ai hết. Theo ý lão, Nữu ước này không nên có quá 3 gia đình. Và một trong 3 gia đình này phải có nhiệm vụ … chỉ huy và hướng dẫn 2 gia đình kia. Lão không chịu được cái cảnh bàn thảo theo kiểu hội nghị bàn tròn, ai cũng muốn nói mà không ai chịu làm. Thật chẳng ra cái thống chế gì cả. Đã đến lúc cần phải tái tổ chức lại thành phố Nữu Ước, qui tụ nó về một mối dưới tay Mecca này.
Trùm Mecca nhìn đồng hồ, hỏi Torego:
-Thằng Bob sao giờ này chưa thấy nó về?
Lần đầu tiên kể từ buổi sáng hôm nay, Torego thấy hơi lo. Thằng Bob này
ít khi trễ hẹn, nhất là trong những ngày trọng đại như hôm nay. Kế hoạch của trùm Mecca là sau khi gặp gỡ Russo và giao tiền xong, Bob phải về để đem quân mình bí mật đi tiếp ứng cho anh em Russo. Trùm Mecca không bao giờ tin ai cả. Lão sợ thằng Russo vồ hụt Gravalia thì kế hoạch của lão sẽ bị bất thành. Bob có nhận được chỉ thị là nếu thằng Russo không làm thịt được bọn này, thì cho chúng nó đi tàu suốt luôn.
Nhưng đến giờ này chưa thấy nó mò về thì quả là một chuyện lạ. Torego
gật gù:
-Nó trễ hơn một tiếng đồng hồ rồi.
Cái trán ông Consigliori nhăn lại. Một luồng điện chạy khắp người ông
phụ tá nổi tiếng khôn lanh nhất Nữu Ước. Hắn chợt đứng lên, nói qua hơi thở:
-Có thể nào được?
-Có thể nào làm sao?
-Có thể nào thằng Russo phản mình được?
Trùm Mecca nhăn mặt:
-Có cho kẹo chúng nó cũng không dám, nhưng biết đâu chừng. Thằng Russo này xưa nay nổi tiếng tráo trở mà.
Torego chạy tới mở cửa văn phòng, thò đầu ra gọi một thằng cận vệ:
-Mày chạy về kêu phụ tá của thằng Bob lên đây. Nói nó đem theo chừng
10 tay súng. Biểu lên đây gấp làm an ninh cho ông trùm.
Khỏi cần chờ câu trả lời, Torego đóng cửa cái rầm. Hắn đã đánh hơi thấy
có gì là lạ. Torego bước tới trước bàn ông trùm:
-Nếu thằng Russo làm phản, thì bốn gia đình của Nữu Ước phải biết hết kế
hoạch của mình.
Giọng nói của trùm Mecca hơi run run:
-Và thằng Gravalia phải là kẻ biết đầu tiên.
-Đúng. Và chuyện quan trọng là chúng nó sẽ phản ứng ra sao?
-Sẽ có đánh lớn là cái chắc.
-Đánh lớn mình không sợ, chỉ sợ tụi nó họp nhau lại quất mình trước.
Torego mở tủ, lấy ra hai cây Tommy gun, thảy cho ông trùm một cây. Ông
trùm Mecca chụp cây súng, càu nhàu:
-Nhưng dù sao đi nữa, tao không nghĩ là tụi nó dám xông vào đây. Tụi nó
biết lực lượng mình mà.
-Tôi cũng đồng ý với ông. Muốn tự sát chúng nó mới xông vào đây, nhưng
mình cẩn thận vẫn hơn.
Thủ cây súng trong tay, đầu óc ông trùm Mecca xoay chuyển quanh cái
trục … Russo. Lão nắm được nhiều chi tiết của bọn nó quá. Thằng Frank Nitti còn mối thù giết bố cần phải trả. Thằng Russo còn trẻ, ham danh lợi và ham tiền mà chỉ có Mecca là người duy nhất có thể giúp nó được. Nó ngu gì đi quay súng chống lại mình kìa?
Thời gian bắt đầu trôi qua thật chậm trong cái văn phòng của trùm Mecca.
Torego đứng dậy, đi qua đi lại trong phòng. Bỗng, có tiếng gõ cửa phòng. Torego hơi ngạc nhiên nhưng nói vọng ra:
-Vào đi.
Cánh cửa mở, một thằng cận vệ của ông trùm ló đầu vào, giọng hớt hải:
-Có thằng tìm thấy cái xe Cadillac của Bob Laysten đậu ngoài đầu dãy
phố. Không biết nó đậu từ lúc nào.
Ông trùm Mecca, dù bản lãnh cao cường nhưng nghe tới đó không cầm
được một tiếng nấc kinh ngạc. Torego đứng dậy hỏi dồn:
-Có thấy thằng Bob không?
-Hình như trên xe có một người ngồi, không biết sống hay chết.
Như vậy là bỏ mẹ rồi. Nhất định phải có chuyện lớn. Thằng Bob không
chừng đã bị chúng nó thịt rồi cũng nên. Đầu óc ông trùm thấy choáng váng, lại xoay chuyển quanh cái trục Russo. Tụi nó dám cả gan làm vậy sao. Không ngờ, không thể nào ngờ được. Ông gầm lên một tiếng, mắt rực lửa. “Tao thề giết chết chúng bay.”
Lẩm bẩm xong câu chửi là ông thấy bình tĩnh lại ngay. Bây giờ không phải là lúc để chửi bới. Chuyện hiện tại mới đáng lo. Bốn gia đình kia mà biết mình chơi xé lẻ như thế này thì ắt có đại họa. Một chống một ông không sợ ai nhưng một chống bốn thì ông phải xét lại. Trước hết, vấn đề là phải coi xem thằng Bob sống chết thế nào đã.
Ông trùm Mecca đứng bật dậy, khoác tay:
– Tụi mày đi với tao.
Torego dơ tay cản ông trùm lại:
-Khoan đã, chờ toán cận vệ của mình lên rồi đi cũng chưa muộn.
Ông trùm lắc đầu:
-Cả khu phố này, bán kính dài tới mấy dặm là khu của mình. Người của
mình đầy dẫy, có thằng nào vào đây được mà lo?
Nói xong ông trùm Mecca xăm xăm bước ra cửa, chẳng cần biết thằng phụ
tá có đồng ý hay không. Torego nhìn thằng cận vệ hất hàm ra hiệu rồi cũng xách một cây Tommy Gun bước ra theo.
Có lẽ ông trùm nói đúng. Một con kiến vào đây cũng không qua mắt bọn
này được thì lo gì hai anh em thằng Russo. Chuyện thằng Bob mới là quan trọng. Cây súng số một của gia đình Mecca mà bị quất sụm trong khi mình chưa kịp ra quân thì khốn đốn bằng thích.
Khi ông trùm Mecca xuống tới đường cái thì Torego cũng đã huy động
được mười thằng cận vệ đan kín ông trùm vào giữa. Cả bọn chia nhau lên hai chiếc xe Cadillac đậu sẵn dưới đường. Vừa ngồi lên xe là ông trùm đã hối nhặng lên liền:
-Mau, mau tới đó thử coi có phải xe của thằng Bob không?
Hai chiếc Cadillac nối đuôi nhau quẹo ra. Xe vừa chạy tới đầu đường là
ông trùm nhìn thấy chiếc Cadillac của thằng đao phủ thủ nhà mình liền. Nó đó chớ ai nữa. Ủa, mà sao có thằng nào ngồi trên xe gục đầu xuống tay lái coi giống như thằng Bob vậy? Ông trùm hối thằng tài xế chạy lẹ tới rồi mở tự động mở cửa xe bước xuống.
Chiếc kia cũng nhào tới phía sau nhưng chưa có đứa nào xuống kịp. Ông
trùm Mecca thương thằng đệ tử quá nên chẳng kịp chờ chúng nó. Ông lụp xụp chạy tới bên chiếc xe của thằng đệ tử yêu quí, thò tay toan mở cửa. Nhưng bàn tay ông chưa nắm được thì bỗng cánh cửa sau của chiếc Cadillac tự động mở tung và một họng tiểu liên thò ra, nhắm vào ông trùm khạc lửa.
Ông trùm thấy rõ ràng ngọn lửa màu cam thoát ra từ nòng cây súng liên
thanh … bắn vào ngực mình. Ông lãnh nguyên một tràng tiểu liên. Trước khi ngã xuống, ông nhận ra mặt kẻ đã bắn mình. Thằng Frank Nitti chớ ai nữa.
Ngay lúc ấy, Russo xuất hiện ở băng trước. Nó mở cửa, một tay đẩy cái xác của thằng Bob xuống đường, tay kia cầm cây liên thanh chĩa vào chiếc xe thứ
hai nổ một tràng thật dài.
Bị mấy loạt đạn bất ngờ, đám cận vệ trong chiếc xe đầu tiên chới với.
Thằng Frank Nitti xuất thủ lẹ quá, không làm sao phản ứng kịp. Quất sụm ông trùm xong, Frank Nitti ngừng bắn, thả cây súng xuống nệm xe.
Nghe im tiếng súng, vài thằng đàn em của trùm Mecca bắt đầu móc súng
ra ngóc đầu lên, nhưng chưa kịp bắn thì thấy thằng Frank Nitti thẩy qua một vật gì đen đen tròn tròn. Chưa kịp phản ứng gì thì cái vật đó đã bay tuốt vào trong xe, nằm chình ình một đống. Lúc đó mọi người đều biết đó là trái lựu đạn. Ai nấy giật mình kinh hãi, hối hả mở cửa bung người ra ngoài chạy trốn.
Nhưng đâu còn kịp nữa. Một tiếng nổ long trời lỡ đất vang lên, năm sáu
cái thây cháy đen như than nằm vung vãi khắp nơi. Coi như xong một chiếc, cây liên thanh lại như mọc cánh bay vào tay Frank Nitti, rưới những tràng đạn chính xác vào chiếc còn lại.
Thế là nguyên một băng cận vệ của trùm Mecca chưa làm ăn gì được, đã
có vài thằng ăn đạn ngay trên xe. Chúng nó loay hoay nép người xuống, vừa gắng mở cửa xe chui xuống. Không hiểu bọn khốn nay nhồi đạn cách nào mà sức công phá thật dữ dội. Mấy lớp thép xe hơi dày như vậy mà xem chừng chẳng ăn thua gì. Một thằng bò được xuống đường, lăn ra phía sau, chĩa cây tiểu liên nhắm vào Frank Nitti nhả đạn.
Nghe tiếng nổ về hướng mình, Frank Nitti quay họng cây tiểu liên ra sau.
Khỏi cần nhắm, nó bóp cò một cái là thấy thằng này nhảy dựng lên.
Tuy nắm phần chủ động từ giây phút ban đầu nhưng Russo biết khu này là
giang sơn của tụi Mecca, không ham đánh. Hắn rồ máy xe, miệng la lớn:
-Cho nó một trái mãng cầu. Mình phải dọt.
Frank Nitti lại bỏ súng xuống. Trái lựu đạn thứ hai vừa được tung ra là nó
đã thấy chiếc Cadillac gầm lên … de lui. Frank Nitti thắc mắc trong đầu. Đàn anh chơi kiểu gì kỳ cục vậy kìa, tại sao không chạy tới mà lại de lui. Bỗng Russo thắng chiếc xe lại cái kít và sang số, rồ hết ga vọt tới, quẹo sang trái, bánh xe kêu ren rét trên mặt đường.
Bây giờ Frank Nitti mới hiểu ý đàn anh. Thì ra hắn muốn cán qua cái xác
ông trùm một phát cho chắc ăn đây mà. Đàn anh cẩn thận lắm nhưng Frank Nitti thấy vô ích. Nó biết ông trùm đã trút hơi thở ngay sau loạt đạn đầu tiên bắn tới. 10 cục chì cứ nhè cái khoảng ngực nơi tim mà bay vào một lần thì người nào chịu nổi?
Hai bánh xe bên trái của chiếc Cadillac nặng gần chục tấn chạy qua người
ông trùm nghe bụp bụp làm người ngồi trong xe bị xóc lên mấy cái. Không thấy tiếng rên la. Vậy là trùm Mecca đã chết từ lâu rồi, đúng như những gì thằng Frank Nitti nghĩ.
Cũng vừa lúc ấy, trái lựu đạn thứ hai nổ cái oành. Russo bẻ tay lái qua
phải, nhấn hết ga, lái chiếc Cadillac lái ra đường lộ. Frank Nitti ngồi băng sau, còn nhoái người ra chĩa cây súng vào chiếc xe đang bốc cháy nổ tiếp vài tràng súng như để gỡ gạc cho một cuộc chơi kết thúc quá mau.
Nhưng vừa chạy được hơn 500 thước, ra tới ngã tư đường, Russo lẹ mắt
nhìn thấy một chiếc Cadillac từ con đường bên phải phóng tới như vũ bão. Đù mẹ thằng nào học lấy bằng ở đâu không biết mà lái xe ẩu tả quá mạng, nếu không thắng kịp thì cả hai thằng đều đâm vào nhau mà chết. Russo lẩm bẩm chửi thề vừa co giò hoảng hốt co chân đạp mạnh thắng. Bốn bánh xe chiếc Cadillac kéo rít trên mặt đường, khói bốc lên nghi ngút. Thằng Frank Nitti đang từ phía sau bị đẩy ngã nhào ra băng trước, lòm còm bò dậy. Russo thắng được chiếc xe chỉ cách chiếc kia có vài inch. Hú hồn, bắn nhau không chết mà để chết vì đụng xe thì thật là lãng xẹt. Hắn thò đầu ra ngoài tình chửi cho thằng tài xế ngu dốt nào đó một trận nhưng cổ họng tự nhiên khô cứng.
Russo vừa nhìn thấy trên xe lúc nhúc một mớ năm sáu thằng ăn mặc bảnh
bao, đầu đội mũ phớt, mặt mũi đứa nào coi cũng bặm trợn như quỷ vương.
Russo nhận ra ngay bọn đàn em của thằng Bob. Hắn tái mặt. Trùm Mecca
tính đã hay, mình tính còn hay hơn nữa nhưng làm sao đoán được cái màn này? Tụi này từ đâu lù lù dẫn xác tới kìa?
Hắn đâu ngờ đây là toán tiếp ứng mà Torego đã nhanh trí cho gọi tới để
tăng cường an ninh khi chờ hơn một giờ mà không thấy thằng Bob trở về.
Đúng ra, tụi này thuộc toán đặc biệt mà đích thân Bob Laysten đã lựa ra để
chuẩn bị cho cuộc đánh lớn theo kế hoạch của ông trùm. Thằng nào cũng là tay
thiện xạ có hạng và kinh nghiệm chiến trường đầy mình. Chúng nó đang tập trung ở một căn nhà bí mật gần khu nhà hàng “Con chuột trắng”. Theo chỉ thị, trường họp anh em thằng Russo thất bại trong việc làm thịt trùm Gravalia thì chính Bob sẽ hướng dẫn chúng nó “xông thẳng vào nhà hàng, giải quyết chiến trường.” Còn nếu tụi Russo thành công, chúng nó sẽ bí mật kéo về điểm tụ tập thứ hai để chờ đợi. Chẳng ngờ, giờ phút chót, đao phủ thủ Bob đi đâu mất tiêu, và chúng nó được lệnh của Torego dọt về đây làm việc khác. Vừa vô tới đầu khu phố, chúng đã nghe tiếng súng nổ long trời lở đất, biết là có chuyện liền nhấn hết ga chạy về. Và tới ngã tư này thì suýt đụng phải chiếc xe Cadillac đang chạy thụt mạng ra. Sau giây phút bở ngỡ ban đầu, chúng nó nhận ra hình dạng chiếc Cadillac của xếp mình, mà người lái xe thì không phải. Nhìn kỹ hơn, nó nhận ra thằng Russo và Frank Nitti. Tại sao tụi này lại có mặt ở đây? Khó nghĩ quá, nhưng súng vừa nổ loạn, nếu nó không phải phe mình thì là địch chứ còn là ai nữa. Một đứa mau lẹ chĩa cây Tommy Gun ra, bóp cò. Nhưng Russo đã mau mắn sang số chiếc Cadillac cho de lui, bánh xe nghiến trên mặt đường nghe rùng rợn. Tràng đạn bắn vào khoảng không. Bọn kia quẹo theo liền. Bây giờ thì chúng đã moi ra được tới bốn cây liên thanh, chuẩn bị nổ.
Trong khi đó, Russo vẫn nhấn hết ga, lái chiếc Cadillac chạy … lui trên
đường cái. Russo biết xe chạy ngược đời như vậy không thể nào thoát khỏi tay bọn kia được được và rất khó lái, nhưng hắn không còn giải pháp nào khác. Nếu quay đầu lại, chắc chắn cái xe này sẽ trở thành một cái bia di động cho chúng nó tập bắn.
Russo vừa nhìn kiếng chiếu hậu chiếc xe, vừa hét to lên với thằng Frank Nitti:
-Mày nổi tiếng thiện xạ, đã đến lúc mày phải trổ tài, bắn làm sao cho gục
chiếc xe đó thì mình mới thoát được.
Bây giờ trên đường phố là một cuộc rượt đuổi nhau rất kỳ lạ. Một chiếc xe
Cadillac chạy thẳng ruợt một chiếc Cadillac chạy lui. Khoảng cách càng ngày càng ngắn lại vì chiếc xe de lui của Russo không thể nào de mau bằng chiếc đang chạy tới được.
Frank Nitti chĩa cây liên thanh ra khỏi xe, nhắm vào đầu chiếc Cadillac
bóp cò. Nhưng dù có thiện xạ tới đâu, trong một chiếc xe chạy lắc lư nghiêng ngã như vậy thì cũng chịu. Đạn bay veo véo trật ra ngoài hết. Trong khi đó, tiếng súng liên thanh từ chiếc kia đáp lễ ròn rã. Cả hai đứa thấy lạnh người vì chúng nó có thế hơn, đạn bắn ra viên nào đáng đồng tiền viên đó. Đã có nhiều phát ghim vào thân xe nghe lên lụp bụp.
Tự nhiên, Russo có cảm thấy hình như có ai đấm mạnh vào bụng mình một
phát nhưng nó quên đi ngay.
Nguy hiểm hơn, chiếc xe của Russo lái càng lui về sau thì càng trở về gần
lại chỗ cũ, nơi cuộc ác chiến đầu tiên đã diễn ra. Tại đây, một mớ cận vệ của trùm Mecca còn sống sót đang hờm súng chờ sẵn chúng nó. Mặt mày đứa nào cũng đằng đằng sát khí, nhất định phen này phải luộc sống thằng hai anh em thằng lớn gan này.
Russo và Frank Nitti làm sao không biết được sự nguy hiểm này. Không ngờ một kế hoạch phản gián thần sầu như vậy mà cuối cùng hư hết chỉ vì một chiếc xe Cadillac đến vào giờ phút cuối cùng. Cuộc đời “hai anh em” Russo chắc tàn tại nơi đây. Trong giây phút thập phần nguy hiểm đó, Russo bỗng nẩy ra một kế. Hắn nói như hét:
-Chạy xe kiểu ngược đời này thì một chút nữa chết không có xác mà chôn.
Mày chuẩn bị nhảy xuống xe. Dưới đường cái, làm sao quất sụm chúng nó cho tao. Tao de lui một khoảng nữa rồi sẽ sang số trở lại, lên đón mày. Nhảy đi, một sống hai là chết …
Gì chớ chết thì thằng Frank Nitti đâu có sợ. Nó nghiến răng thay một băng
đạn mới vào cây súng. Russo nới lỏng chân ga cho chiếc xe bớt tốc độ. Frank Nitti ôm cây súng nhào ra ngoài. Lộn mấy vòng cho bớt đà, vừa đứng vững trên hai chân là cây liên thanh trên tay nó khạc lửa liền. Lần này nó bắn đẹp không tả được.
Tràng đầu tiên nó đã thổi văng mất sọ của thằng tài xế ra, máu óc bay tung tóe ra khắp nơi trong xe. Tràng thứ hai từ phía sau kéo ngược lên. Mấy thằng không núp kịp đều bị ăn đạn hết. Chiếc xe Cadillac đang ngon trớn bỗng bị mất người điều khiển, chạy lạng quạng rồi ủi vào lề. Đứa ngồi bên cạnh tài xế lẹ làng chồm người qua chụp tay lái, vặn một vòng để sửa hướng. Chiếc xe không người lái lại quẹo trở ra, lần này ủi vào một trụ đèn, nằm im bất động.
Ngay lúc ấy, Russo cũng đã sang số chiếc Cadillac, dọt tới trước đón thằng
Frank Nitti. Thằng em vừa đặt chân lên tấm bửng là Russo nhấn lút ga xăng liền.
Frank Nitti đành đứng trêm tấm bửng xe, ôm cứng cánh cửa, loay hoay tìm cách mở cửa chun vào. Gió thổi ào ào vô mặt nó.
Khốn nạn, vừa ra tới chỗ ngã tư đường “xém chết” lúc nảy thì Russo lại
nhìn thấy một chiếc Cadillac khác cũng của gia đình Mecca xuất hiện xa xa nơi tay phải. Đến nước này thì đành phải liều. Hắn nghiến răng quẹo phải, chạy về hướng chiếc xe đang lao tới. Lợi dụng sức ly tâm của khúc quẹo gắt, Frank Nitti chun người qua cửa sổ, nhảy tót vào ngồi nơi ghế trước. Nó ngạc nhiên khi nhìn thấy bụng của Russo đầy những máu, hỏi dồn:
-Russo, anh bị rồi à.
Russo đang cố gắng hết sức để khỏi ủi cái xe vào nhà người ta, đâu có thì
giờ trả lời. Hai chiếc xe mở hết tốc lực, phóng ngược chiều nhau. Một chiếc muốn tới chiến trường coi những gì xảy ra, còn chiếc kia muốn rời khỏi chiến trường càng sớm càng tốt. Qua mặt chiếc xe hơi, Russo mới thấy nhẹ nhỏm một chút, và chợt nhớ đến câu hỏi của thằng Frank Nitti. Hắn tự nhiên thấy tay mình có chất nhờn, bèn đưa lên xem thử và nhận ra toàn những máu là máu.
Vậy là mình bị trúng đạn rồi chăng? Mà trúng chỗ nào kìa? Russo chợt nhớ
ra cú đau nhói lúc nảy. Hắn bèn thò tay xuống bụng mò mẫm một lúc và bỗng kêu “mother fuck” một tiếng khi bàn tay đụng vào một mớ gì bầy nhầy. Ruột chảy ra lòng thòng nảy giờ mà vì ham bắn nhau quá nên hắn đâu có biết.
Tự nhiên Russo thấy đầu óc hoa lên, một cơn mệt rã rời từ đâu chạy đến
xâm chiếm lấy người hắn. Russo lắc đầu mấy cái, hỏi thằng Frank Nitti:
-Có đứa nào chạy theo sau không?
-Không thấy. Anh bị rồi à, bị chỗ nào vậy?
Russo không nói gì. Hình như có một tấm màn trắng phủ mờ mờ xuống
trước mặt hắn. Hắn đưa tay lên chùi mạnh vào mắt mình. Russo lại lẩm bẩm văng tục. Đù mẹ chùi xong thì lại càng ít thấy đường hơn vì bàn tay đầy những máu là máu. Russo đành nhả bớt chân ga của chiếc Cadillac, nói mau:
-Lấy cho tao cái khăn ướt, lẹ lẹ …
Frank Nitti luống cuống. Làm gì có khăn ướt trong chiếc xe này mà lấy.
Nó rút khăn mù soa của mình đưa cho Russo:
-Hay anh để tôi lái cho?
Russo lắc đầu:
-Không, mày đâu biết đường khu này, tao còn lái được. Mày leo ra băng
sau canh chừng tụi nó.
Frank Nitti ngoan ngoãn vâng lời. Russo một tay lái xe, một tay cầm khăn
mu soa chùi mặt mình. Xong, hắn nhét luôn cái khăn vào cái lỗ hỗng dưới bụng.
Bây giờ thì hắn cảm thấy mệt lắm rồi. Chiếc xe chạy trên mặt đường đã thấy có
phần hơi nghiêng ngã.
Frank Nitti ngồi sau thấy vậy liền đề nghị:
-Hay là mình bỏ xe, dọt xuống đây rồi kiếm chỗ trốn, tôi thấy anh mệt quá
rồi …
Frank Nitti nói đúng. Russo cảm thấy mệt mỏi vô cùng nhưng hắn đâu có
bỏ chịu bỏ cuộc dễ dàng như vậy. Không biết mình đang ở đâu nhưng khu vực này vẫn còn là “thuộc địa” của trùm Mecca. Xuống đây là chỉ có chết. May ra, nếu dọt ra tới được khu Brooklin thì mới an toàn được.
Russo ráng định thần nhìn sang hai bên. Mắt hoa quá rồi, chỉ thấy được mờ
mờ con đường phía trước, còn hai bên thì chịu. Mình đang ở đâu kìa? Không thể nào biết được, hắn đành nhấn lút ga, khi thì quẹo phải, khi thì quẹo trái.
Vừa quẹo vào một khúc đường, Russo bỗng nghe Frank Nitti rú lên:
-Đù mẹ chạy làm sao mà lại về khúc đường cũ rồi. Quẹo phải, quẹo phải
gấp!
Russo hoảng hồn, làm y lời. Nay lúc đó, hắn bỗng nghe một loạt súng vang
lên. Đạn bay véo véo qua đầu hai đứa. Frank Nitti nhổm người ra khỏi cánh cửa sổ, kịp nhìn thấy một chiếc Cadillac của bọn Mecca ló đầu ra từ một góc đường. Nó bóp cò cây súng, đáp lễ một tràng đạn bắn cầu may.
Vừa quẹo khuất say dãy nhà là Russo nhấn lút ga. Qua mấy cái ngã tư,
hắn cũng chẳng thèm giảm tốc độ. Thằng nào dại dột băng ngang đường lúc này thì cả hai xe cùng chết hết.
Qua được bốn năm cái ngã tư, Russo thấy yên lòng, vừa nới lỏng chân ga
thì bỗng thằng Frank Nitti la lên:
-Chết mình rồi, tụi nó bám cứng phía sau …
Russo nghe nói là tá hỏa tam tinh, bàn chân ga của hắn tự động nhấn sâu
lút cán. Chiếc xe gầm lên như con cọp đói. Vì tốc độ quá mau, chỉ cần một cái đổi hướng nhỏ là chiếc xe chao đi dữ dội, tưởng như sắp đổ nhào, tiếng bánh xe nghiến mặt đường nghe ken két.
Chạy được một quãng, Russo lại cảm thấy mệt mõi vô cùng. Mồ hôi hắn
toát ra đầy cả hai tay, mặt mũi. Hắn thều thào hỏi Frank Nitti:
-Tụi nó còn theo không?
Frank Nitti càu nhàu:
-Còn. Nó bám cứng phía sau như chó và hình như có thêm một chiếc xe
cảnh sát cũng bắt đầu lâm trận, rượt theo cả hai chiếc luôn.
Nghe tới đó, Russo biết cuộc đời anh chị của mình hôm nay đến đây là
chấm dứt. Với một bao tử lòng thòng những khúc ruột ra ngoài, dù có tài giỏi đến đâu, hắn cũng chỉ là người. Người hắn lại toát mồ hôi đầm đìa. Russo nhớ đến cuộc đời anh chị của mình. Hễ khi nào người bị thương tự nhiên ra mồ hôi ướt như tắm, đó là dấu hiệu báo kẻ ấy sắp “đi luôn.” Hôm nay, Russo biết đã tới phiên mình. Chỉ tiếc một điều là kế hoạch đẻ ra đẹp như vậy, chắc ăn như vậy mà không ngờ bị hư hết chỉ vì một lý do bất ngờ. Hắn suy nghĩ, nếu mình dọt ra khỏi chỗ đó chỉ sớm hơn chừng hai phút đồng hồ thôi, mọi chuyện đã đổi khác. Ôi, trên đời này có những cái bất ngờ chết người đến như vậy?
Frank Nitti ngồi từ phía sau bỗng nộ khí sung thiên, dùng báng súng đập bể
kính sau, gầm lên:
-Đù mẹ tao thề sống chết với chúng mày một phen.
Russo nghe tiếng đập loảng xoảng mới giật mình tỉnh giấc, trở về thực tại.
Hắn lấy hết sức, ráng nói qua tiếng gầm thét của động cơ và gió:
-Tao sẽ đột ngột giảm tốc độ một phát để đưa chúng nó vào tầm súng, mày
ráng mà làm đẹp.
-O.K.
Vừa quẹo khỏi một ngã tư, Russo buông chân ga rà thắng. Chiếc xe chạy
chậm hẳn lại. Từ phía sau, chiếc Cadillac bóng lộn của bọn Mecca làm sao biết
được trò này của Russo, liền hiện ra lù lù một đống trước họng súng của Frank Nitti.
Nó nghiến răng bóp cò một tràng thật dài.
Bắn đẹp lắm nhưng quái lạ, sao không thấy phát đạn nào bay trúng mục
tiêu hết. Nổ thêm tràng nữa, vẫn không thấy kết quả, nó mới biết là mình bị sức đẩy tới của chiếc xe làm tay súng bị lạc đi. Chờ cho sức đẩy giảm bớt, nó vừa bóp cò thì Russo lại rú ga. Lần này sức kéo tới của chiếc xe đẩy tràng đạn xuống đường cái vô tội vạ. Frank Nitti chỉ còn biết bung ra một tiếng chửi thề.
Tuy không bắn trúng được kẻ thù nhưng một việc lạ lùng xảy ra. Đương
không bỗng bị lọt vào tầm bắn của thằng Frank Nitti nên khi nghe súng nổ, tên tài xế của bọn Mecca chỉ còn biết nhắm mắt nhắm mũi đạp thắng để tránh tầm đạn quái ác. Chiếc xe cảnh sát đang chạy hết tốc lực rượt theo phía sau không thắng kịp, đành phải quẹo gắt để tránh. Ở tốc độ cao gần trăm cây số một giờ mà quẹo ẩu tả như vậy thì dẫu tài xế là “cao thủ” vẫn bị nhào như thường. Chiếc xe cảnh sát lộn một lúc ba bốn vòng rồi đụng vào một cột đèn, nằm chổng gọng.
Mấy người cảnh sát máu me đầy mình dắt díu nhau chun ra. Có tiếng cười
man dại của bọn Mecca. Trước khi dọt đi, một thằng thò cây tiểu liên ra khỏi cửa sổ, nhắm vào chiếc xe đang nằm phơi bụng rưới một tràng đạn dài.
Không nghe thấy tiếng súng đáp lễ của cảnh sát Nữu Ước …
Tiếp tục cuộc săn đuổi lần này, vì còn ngán cái họng súng ác ôn của thằng
Frank Nitti nên chúng nó không bám sát theo xe nữa. Trước sau gì bọn bay cũng chết, hấp tấp làm gì kìa? Cứ chạy theo coi thử hai đứa chúng mày trốn đi đâu cho biết. Nữu Ước là đất của gia đình Mecca mà.
Đàn anh Russo đang ở vào giây phút cuối cùng của cuộc đời mà thằng Frank Nitti nào có biết. Nó tỉnh bơ cho ý kiến:
-Anh thắng lại một cái, tôi dọt xuống xe bắn chết mẹ tụi nó hết rồi mình
dọt đi cũng được. Chơi theo cái kiểu hồi chiều đó …
Russo không trả lời. Hắn đang nghĩ đến lời hứa với thằng đàn em: “Tao sẽ
giúp mày trả thù cho bố … ” Nghĩ đến đây, Russo bấc giác buông một tiếng thở dài. Giây phút này mạng sống hai đứa chưa biết giữ được không, nói gì đến chuyện trả thù. Frank Nitti lắp một băng đạn mới vào súng, nóng nảy hỏi:
-Sao, anh tốp lại có được không?
Russo lắc đầu, lấy tay chỉ vào bụng mình:
-Nếu tốp lại là tụi mình nằm luôn …
Frank Nitti đang ngồi băng sau, bèn nhỏm tới trước, thò tay rờ vào bụng
đàn anh. Nó rú lên một tiếng … chửi thề:
-Đù mẹ bọn chó đẻ, nó bắn anh nặng vậy sao? Ruột gan lòng thòng như
vậy thì chắc … chết.
Dù đang đối diện với thần chết, Russo cũng muốn phì cười vì câu nói ngớ
ngẫn của thằng em. Xưa nay, có đạn nào bắn vào người mà không thấy nặng.
Chúng nó chế đạn bằng đồng chứ có phải bằng giấy đâu. Mặt thằng Frank Nitti bỗng trở nên sầu thảm vô cùng. Hình ảnh của ông bố bị bắn chết ngày nào trở về trong trí nó. Nó mếu máo, hai hàng nước mắt chảy dài xuống má, nói qua tiếng khóc:
-Anh Russo, anh tốp lại đi. Để tôi xuống chận đường tụi nó cho anh chạy.
Một mình tôi với cây tiểu liên và hai trái lựu đạn này sẽ dư sức ăn thua với chúng nó … Nếu có gì, thì chỉ mình tôi chết, còn đỡ hơn cả hai đều chết …
Lúc nãy, liếc nhìn thấy khuôn mặt mếu máo của đàn em qua tấm kính
chiếu hậu, Russo đã thấy cảm động đến muốn rơi lệ. Giờ nghe nó đòi xuống đứng cản đường cho mình chạy thì Russo không ngăn được nữa, liền để cho hai hàng lệ từ từ chảy ra. Hắn không nhớ lần cuối cùng mình khóc là lúc nào. Hình như lâu, lâu lắm, lúc bố chết vì bệnh đau màng óc, một chứng bệnh của con nhà nghèo …
Có một quyết định trong đầu, Russo hỏi:
-Mày còn mẳng cầu không?
-Còn.
-Good.
Sau tiếng “good”, Russo chợt nín lặng. Frank Nitti hình như cũng linh cảm
một chuyện gì quan trọng sắp sửa xảy ra. Một lúc sau, Russo thều thào hỏi:
-Trong xe có chút nước nào không? Tao khát quá rồi.
Frank Nitti biết đàn anh bị mất máu nhiều, sắp sửa mê sảng rồi đây.
-Làm gì có nước mà anh hỏi. Hay anh tốp đại xuống chỗ nào đi, tôi sống
mái với chúng nó một trận nữa.
Russo lắc đầu. Hắn nhận ra sự đòi hỏi vô lý của mình, bèn nói:
-Không có thì thôi, mày lên ngồi băng trước tao có chuyện này cần nói.
Frank Nitti phóng lên phía trước. Russo mò mẫm trong túi áo lấy đưa cho
Frank Nitti cái chìa khóa:
-Tao không có bà con họ hàng gì ở đây hết. Tất cả tiền bạc … ăn cướp được
xưa nay tao để trong cái tủ này. Tao rất tiếc đã không giúp chú mày trả thù được nhưng hy vọng số tiền này sẽ giúp chú mày đạt được sở nguyện …
Frank Nitti cầm chìa khóa trong tay, lắc đầu tính nói một câu gì đó nhưng
Russo ra dấu bảo nó im:
-Chú mày có biết hồi nãy chú mày làm tao chảy nước mắt không?
-Không.
Russo cười:
-Từ ngày lưu lạc giang hồ, đời tao đã trải qua bao nhiêu can qua khổ lụy
nhưng tao chưa bao giờ khóc. Hôm nay, ngày gần xuống địa ngục, tao lại chảy nước mắt mới là kỳ. Nhưng không phải khóc vì đau đớn nhưng mà vì sung sướng. Chú mày ăn ở với tao rất có tình. Tao cảm động lắm.
Hình như trong giọng nói của Russo có pha lẫn chút tang tóc làm Frank
Nitti thấy lạnh mình. Đúng rồi, đi theo Russo mấy năm nay, nó đâu bao giờ thấy đàn anh thèm biểu diễn cái màn tỉ tê mềm yếu như thế này. Đàn anh sắp … chết thật chăng? Nhưng tại sao Russo lại bi quan quá đến như vậy kìa? Xưa nay, đi bắn lộn với người ta, thỉnh thoảng nhận một vài viên đạn vô người là chuyện thường. Chính nó cũng đã lãnh một phát vô ba sườn sau trận đánh ở khu Brooklin mà có sao đâu?
Vô nhà thương, nhờ bác sĩ đi một đường dao kéo rồi nằm nhà đánh bài chừng vài tuần lễ là xong hết.
-Russo, anh đừng nói nhảm. Anh … ngon lành vậy làm sao chết được. Để
tôi kiếm một chỗ nào coi được, hai đứa mình dọt xuống, ngon như anh không thể chết bất tử kiểu này được …
Russo lại phì cười. Nhưng nụ cười lần này yếu lắm rồi, méo xệch đi một
cách thảm hại:
-Tao còn bài học cuối cùng dạy cho mày, đó là, con người, dù có tài giỏi
đến đâu rồi cuối cùng cũng phải chết. Mày hay đi nhà thờ lúc nhỏ chắc còn nhớ câu này trong kinh thánh: “Hỡi người, mi sinh ra bởi tro bụi thì sẽ trở về với tro bụi.” Tao chỉ mong một điều, không biết mày có làm nổi cho tao không?
Frank Nitti chợt cảm thấy lạnh mình. Đang bắn nhau tưng bừng hoa lá mà
đàn anh lại cứ sổ kinh sổ kệ như thế này thì quả là chuyện bất tường xưa nay chưa hề thấy. Hay đúng như lời hắn nói, hắn sắp bỏ mình đi thật sao? Lần đầu tiên trong cuộc đời anh chị, Frank Nitti thấy lòng mình như chùn lại. Nó hối hả:
-Nói tôi nghe thử coi?
-Làm sao mày đem xác tao về được cho cha xứ Paul làm lễ an táng. Mày
làm sao xin cho tao được chôn ở nghĩa trang nhà thờ là tao mãn nguyện.
Frank Nitti không tin được hai lỗ tai mình. Vậy ra đàn anh mình … sắp chết
thật. Người ta nói kẻ sắp chết thường trở nên khôn ngoan, nhưng Frank Nitti chưa thấy ai khôn ngoan cái kiểu này. Như đa số dân Ý, nó là người công giáo. Dù đã mười mấy năm chưa bước vào nhà thờ nhưng Frank Nitti thừa biết những con người như đàn anh Russo và nó, giết người như ngoé, lại phạm đủ mọi thứ tội ác trên cõi đời này thì chết đi ai dám cho xác chúng nó được chôn ở nghĩa trang nhà thờ là nơi mà người ta gọi là đất thánh? Không chừng nghe tin Russo chết, cả họ đạo còn làm lễ ăn mừng để tạ ơn thiên chúa đã đưa trở về lại hỏa ngục một thằng quỷ Satan hạng nặng.
Nó nghẹn ngào:
-Không, anh đừng nói nhảm. Anh sẽ vô nhà thương cho thầy thuốc băng
ruột lại, không sao hết.
Russo lắc đầu chán nản. Chiếc xe vẫn chạy băng băng trên con lộ vắng.
Khu phía Nam thành phố Nữu Ước buổi chiều cuối tuần ít xe cộ lạ thường. Tốc độ chiếc xe lúc này đã giảm đi nhiều nhưng tụi Mecca không dám bám sát theo. Chúng nó còn nhớ những tràng đạn chính xác của Frank Nitti nên ráng giữ một khoảng cách hơi xa.
-Bây giờ, phải nghe lời tao, chúng mình làm như thế này thì mới thoát
được.
Đàn anh nói vậy là còn có hy vọng, Frank Nitti hăm hở chờ nghe ý kiến.
Russo tiếp:
-Khi xe chạy qua khỏi một ngã cua, mày dọt xuống đường rồi dọt thật mau,
chúng nó có thấy cũng không đuổi theo mày đâu.
-Chạy thật mau, còn anh thì sao?
-Tao vẫn lái xe chạy thẳng, lừa chúng nó đến một chỗ không có đường ra,
tao sẽ quay lại tử chiến.
Nghe tới đó, Frank Nitti lắc đầu phản đối liền:
-Không bao giờ. Thằng Frank Nitti này không bao giờ bỏ anh mà chạy
một mình. Tôi sẽ đi với anh, nếu chết thì cùng chết chung.
Russo thấy cảm động nhưng lúc này hắn đã trở nên mệt mỏi quá rồi, nếu
không giải quyết sớm thì sẽ ngã gục trên tay lái. Làm vậy thì cả hai đứa cùng xuống lỗ. Không thể được. Mình thì chắc chết rồi nhưng thấy mà tội cho thằng Frank Nitti, nó còn quá trẻ, hơn nữa, còn một mối thù cần phải trả. Hắn thều thào:
-Frank, nghe cho kỹ. Tao biết chú mày ngon lắm và rất chí tình nhưng bây
giờ không phải là lúc để biểu diễn ba cái màn tình cảm lẩm cẩm của bọn đàn bà. Nếu hai đứa cùng ở lại đây thì chết là cái chắc. Chết vậy là ngu. Nhưng nếu mày chịu nhảy xuống, ít nhất, mày hoặc tao còn có hy vọng “thoát cú này” …. Tao cũng ham sống lắm, nhưng trong hoàn cảnh này, giữa hai giải pháp đều bi thương, mình phải chọn một giải pháp ít đau khổ hơn …
Frank Nitti vẫn cứng cổ lắc đầu. Nó nhất định ngồi lại với đàn anh Russo.
Nó nghiến răng quay ra ngoài nổ một tràng đạn vào xe bọn Mecca như để trút cơn tức giận. Nhưng vừa trở mặt vào thì đã thấy Russo chĩa họng cây Colt.45 đen thùi lùi vào màng tang nó, cất giọng lạnh lùng:
-Mày không nhảy, tao nổ tung cái sọ mày. Chẳng thà tao bắn chết mày
còn hơn để chúng nó bắn mày.
Nói xong câu đó đàn anh Russo đón chờ thằng nhỏ thay đổi ý kiến, nhưng
lại nghe nó bình tĩnh trả lời:
-Vậy thì anh bắn đi, tôi đéo đi.
Russo chán nản bung một tiếng chửi thề. Thằng này lì thật. Lì hơn hắn
tưởng. Bỗng Russo nghĩ ra một điều, liền nói:
-Frank Nitti, mày chí tình vậy tao cũng thích lắm. Nhưng nếu cả hai đứa
đều chết, ai sẽ trả thù cho bố mày. Mày biết dân Sicilian chính gốc không bao giờ quên thù nhà. Mày liều mạng để chết lãng xẹt vậy tức là từ chối bổn phận của một thằng trưởng tộc trong gia đình Sicilian …
Frank Nitti giật mình tỉnh ngộ. Thì nó bỏ gia đình đi theo Russo cũng
chẳng phải vì muốn trả thù cho cha đó sao. Nhưng trong lúc nguy khốn mà bỏ đi như vậy coi sao được?
Nhìn thấy vẻ mặt bối rối của Frank Nitti trên tấm kính chiếu hậu, Russo
biết mình đã nói trúng ý thằng em, bèn bồi thêm một phát:
-Tao không biểu mày bỏ tao chạy lấy thân đâu. Đó chỉ là một giải pháp
tốt nhất trong lúc này. Tao chưa chắc gì sẽ chết. Nếu tao còn trở về được sau cú
này, tụi mình sẽ tính chuyện chia đôi Nữu Ước.
Nói xong, hắn ra lệnh:
-Bây giờ, mày nổ hết băng đạn còn lại trong súng đi rồi đưa tao trái mẳng
cầu.
Frank Nitti làm y lời. Bọn Mecca không thèm trả đũa, chỉ nới thêm khoảng
cách giữa hai chiếc xe. Trước sau gì chúng nó cũng chết, bắn làm gì cho uổng đạn?
-Nếu tao không thoát được cú này, thì trả thù cha xong, chú mày nên bỏ Nữu Ước mà đi tìm đất mới để sinh sống. Bọn Mecca không để mày yên đâu. Tao
nghe nói Chicago sống cũng được lắm, nếu gặp thời, mày sẽ có ngày làm trùm thiên hạ …
Russo liếc nhìn kiếng chiếu hậu rồi nhấn thêm ga tăng tốc độ chiếc xe.
Hắn nhận ra là tầm nhìn của mình càng ngày càng yếu dần. Russo không còn thấy khát nước nữa nhưng một cơn mệt mỏi vô cùng từ từ xâm chiếm lấy người hắn. Hắn biết là sức mình đã cạn. Chiếc xe này chưa chắc đã lái nổi nó chỉ trong 10 phút nữa, nói gì đến chuyện bắn nhau với kẻ thù. Nhưng hắn không còn chọn lựa nào khác.
Tốp lại bây giờ thì cả hai đứa sẽ biến thành cái bia sống cho chúng nó tập bắn.
Russo nhớ ra một chuyện rất quan trọng cần phải nói trước khi từ giã thằng
em:
-Gia đình nào đứng sau lưng việc hạ thủ ông già mày tao nghĩ ra rồi, cũng
không có gì khó lắm. Nếu tao không trở về, mày xin vào đầu quân cho ông trùm Gravalia. Tao biết lão cũng chẳng thương xót gì mày, nhưng sẽ nhận tạm mày để làm áp lực với bốn gia đình kia. Hề hề, nắm được một thằng hung thần cỡ Frank Nitti đâu phải dễ. Nhưng xong việc rồi thế nào lão cũng sẽ bán mày cho một trong bốn gia đình kia. Nên nhớ, điều này rất quan trọng: Tụi nào cứ một hai đòi giết mày cho được, chính tụi nó đã tổ chức giết ông già mày. Phải nhớ kỹ chuyện đó.
Frank Nitti im lặng, ghi nhớ lấy những lời vàng ngọc cuối cùng của đàn
anh. Chim sắp chết thì tiếng hót nghe bi ai, con người trước khi ra đi thường nói những lời khôn ngoan. Nó đưa hai tay nắm lấy bàn tay còn lại của Russo. Nó thấy bàn tay đàn anh mình sao lạnh như nước đá. Frank Nitti xiết bàn tay đó thật chặt, như muốn truyền vào đó chút hơi ấm của mình.
Russo lại nhớ tới một chuyện quan trọng nữa:
-Tao có quen một thằng ở khu Brooklin tên là Al Capone. Thiên hạ gọi nó
là “Al mặt thẹo.” Thằng này trẻ tuổi nhưng mưu mẹo rất nhiều và chơi bạo lắm, chỉ hơn mày chứ không thua được. Trước khi làm chuyện gì quan trọng, nên qua Brooklin kiếm nó. Nếu nó chịu hợp tác với mày, tao nghĩ hai đứa có thể làm chuyện lớn được trong tương lai …
Frank Nitti ráng nhét cái tên Al Capone vô trong đầu. Hình như nó cũng đã
nghe được cái tên này một lần ở đâu đó. Russo tiếp luôn:
-Chuẩn bị, tới khúc đường kế, mày sẽ nhảy xuống.
Frank Nitti mò xuống sàn, lượm cây Colt.45 đặt vào tay đàn anh. Russo nói
thều thào:
-Nếu tao có chuyện gì, mà cũng không tìm được xác, mày đến nhờ thờ cha
Paul, xin ổng làm cho tao một cái lễ cũng được. Ông có chút ơn nghĩa với tao. Nói với ổng là mơ ước cuối cùng của tao là chỉ mong cho linh hồn được an nghĩ trên thiên đàng …
Cho đến giờ phút đó, Frank Nitti không nghĩ là đàn anh mình sẽ đi luôn.
Anh Russo mưu thần chước quỷ mà, làm sao ra đi bất tử như vậy được. Chắc ông anh có kế gì đây mà giấu mình. Nó lột áo choàng, cởi luôn áo vét, móc cây Colt.45 cán bạc của bố ra kiểm soát lại đạn dược rồi đút vào bụng. Nó đã sẵn sàng.
Russo bảo nó:
-Mở sẵn cửa ra đi, khúc tới mày nhảy xuống.
Tới gần một ngã tư đường, Russo ép sát lề phải làm như sắp quẹo sang
hướng đó nhưng bất thần bẻ tay lái ngược lại sang trái. Chiếc Cadillac chao đi như muốn lật nhào. Vừa quẹo xong là Russo ép sát lề, nhả chân ga, hét lớn:
-Nhảy.
Đã chuẩn bị sẵn, Frank Nitti bung cửa dọt ra ngoài. Rớt mình xuống đất là
nó lộn luôn mấy vòng, bàn tay phải nắm chặt cây Colt.45. Vừa nằm im trên mặt đất thì Frank Nitti cũng vừa nhìn thấy chiếc Cadillac của bọn Mecca quẹo vào. Đàn anh Russo tính đẹp quá, gần chết đến nơi mà vẫn còn đẹp. Frank Nitti nắm ép sát người xuống cỏ, nghe tiếng động cơ của hai chiếc xe hơi từ từ nhỏ dần.
Qua thêm bốn năm cái ngã tư, ý chừng thằng em đã thoát nạn, Russo bèn
thò tay kéo nhẹ chốt một trái lựu đạn rồi nới lỏng chân ga. Ván bài cuối cùng của cuộc đời tay anh chị nằm trong trái lựu đạn này đây. Nếu nó nổ tung trong xe của bọn Mecca, Russo còn có hy vọng thoát nạn. Nếu không, nó sẽ trở thành một cái bia thịt cho bọn kia tập bắn.
Bọn Mecca thấy chiếc xe của Russo tự nhiên chạy chậm lại, lại có vẻ quờ
quạng liền sinh nghi. Dân vào sinh ra tử mà, đâu có bị lừa dễ dàng vậy được.
Chúng nó lẹ làng chĩa bốn họng súng liên thanh ra ngoài hờm sẵn và thằng tài xế khéo léo từ từ thu ngắn lại khoảng cách.
Hai chiếc xe cách nhau bắt đầu là 20 thước, rồi đến 15, 10, và cuối cùng
chỉ còn 5 thước. Russo liền đạp mạnh thắng xe, dùng ngón tay bấm cho chốt trái lựu đạn rớt xuống sàn. Chiếc xe vừa ngừng thì nó thò tay ra ngoài, dùng hết sức thẩy trái lựu đạn ra sau.
Nhưng, nhanh hơn nó một chút, trái lựu đạn chưa kịp tung lên thì bốn cây
liên thanh của bọn Mecca cùng khạc đạn một lần, lửa bay vèo vèo khắp nơi.
Russo dảy dụa trong xe, bàn tay ôm trái lựu đạn bị cày nát bấy. Quả mẳng
cầu rớt xuống mặt đường, lăn lông lốc dưới lườn xe hắn. Russo biết vậy nhưng
không còn đủ sức để làm gì nữa. Gần chục viên đạn ghim vào người, chịu gì nổi.
Bọn Mecca biết lựu đạn sắp nổ, liền sang số, de xe lại. Bốn họng súng vẫn
không ngừng khạc đạn. Một tiếng nổ long trời lở đất vang lên. Chiếc Cadillac của Russo biến thành một cục lửa vĩ đại.
Bây giờ bọn Mecca mới chịu im tiếng súng. Chúng nó cứ ngồi yên trên xe
chờ đợi. Khi thấy chắc chắn rằng không còn ai sống sót để bước ra khỏi chiếc xe đang bốc lửa, chúng nó mới tà tà bỏ đi.
Từ đàng xa, văng vẳng vọng lại nhiều tiếng còi hụ của cảnh sát …
Cuộc đời của “đệ nhất đao phủ thủ Chicago” Frank Nitti coi như đã bị trật chìa vào năm nó mười bẩy tuổi. Frank Nitti sinh trưởng tại New York, là đứa con duy nhất của ông bà Alberto Nichiono sau khi gia đình di cư sang Mỹ năm 1880, trong cuộc “Mass Immigration”.
Gia đình Alberto Nichiono là dân Sicilian chính gốc. Ông thân của Frank
Nitti, vốn là một người thợ may tài giỏi. Giỏi đến độ, dân trong làng gọi Alberto là “cậu” để phục tài may cắt. Khách đến tiệm, cậu Albert đâu có bao giờ thèm cầm lấy cây thước như những anh thợ khác? Cậu chỉ cần nhìn lướt qua người, vỗ vai vỗ đít khách hàng vài cái là trong đầu đã có sẵn những kích thước, vòng mông vòng bụng không sai một ly ông cụ. Cậu lại khéo tay nữa. Ngồi lụi cụi một lúc với cây kéo và xấp vãi, cậu cắt lia lịa có khi đến vài chục bộ một lúc. Xong bộ nào là cậu Alberto quăng nó ra thành từng đống riêng để bên cạnh. Cắt xong, cậu cứ lượm từng mãng vải lên lắp vào nhau, miệng thì huýt gió và chân thì đạp lia lịa một thôi. Chỉ trong một thời gian ngắn, những bộ quần áo đẹp đẽ hiện ra dưới mắt mọi người.
Khách lấy áo quần đem về nhà, tuyệt khỏi có bao giờ nghe được những câu chê bai thông thường như “Nách hơi rộng và bụng thì hơi chật” đi. Khách luôn luôn thỏa mãn, vừa ý. Tuy cậu “chém” nặng hơn những nơi khác nhưng ai trả tiền cũng thấy sung sướng mới là tài.
Làm ăn giỏi vậy nên cậu lên như diều. Sau vài năm, thấy may cắt cho mấy
thằng nhà quê ở cái thành phố nhỏ tí tẹo này không tiến xa được, Alberto Nichiono bèn dắt vợ khăn gói lên thành phố Naples, một kinh thành hoa lệ để mở một cửa tiệm may. Trẻ tuổi tài cao lại chịu khó làm ăn, chẳng bao lâu cậu trở nên giàu có, ăn đứt luôn những tiệm may cắt cũ tại thành phố này.
Nếu cuộc đời cậu Alberto Nichiono cứ vậy mà sống thì chẳng có gì đáng
nói. Cậu sẽ sinh con đẻ cái, trở nên giàu có rồi chết già, và nước Mỹ ngày hôm nay không chịu cái nạn của thằng “đệ nhất đao phủ thủ Chicago Frank Nitti” là trưởng nam của cậu. Nhưng, hễ trẻ tuổi, đa tài và lại luôn luôn có tiền trong túi thì thường hay sinh tật. Xưa nay thói đời vẫn vậy.
Bà Nichiono bắt đầu thấy chồng mình từ từ ít khi chịu đi lễ nhà thờ như lúc
còn hàn vi nữa. Đám bạn bè mà Alberto Nichiono thường giao du cũng thay đổi nhiều. Một ông chủ tiệm may thành công ở thành phố Naples đâu có thèm đi đàn đúm vớ vẫn với mấy thằng nhà quê ngày xưa làm gì? Vừa tốn tiền vừa chả được tiếng tăm gì hết. Alberto Nichiono bây giờ thích đi chơi với quan quyền, với những tay chạy áp phe, những con buôn lớn mặt. Và trong cái đám “lớn mặt” đó, dĩ nhiên, như tất cả các thành phố khác của nước Ý, là những ông trùm mafia địa phương. Ăn chơi lớn thì tiêu xài lớn. Alberto Nichiono vung tiền có khi còn sang hơn cái bọn quí tộc kia để che lấp cái mặc cảm xuất thân nghèo hèn của mình.
Vì ông chủ cứ bỏ sở đi ăn chơi mãi, tiệm may càng ngày càng đi xuống một
cách thảm hại. Cả thành phố Napples chỉ có cậu Nichiono là “biết may cắt” mà lần nào đến tiệm cũng chẳng gặp cậu, chỉ thấy mấy thằng học trò ngớ ngẩn đứng tập sự thì khách nào không nản? Tụi này do cậu Nichiono mướn vào để học nghề nên chúng nó làm sao may cắt khéo bằng ông chủ được. Thế là khách hàng từ từ xa lánh.
Trong khi đó, mức ăn chơi của cậu Nichiono không giảm mà lại còn tăng lên. Không phải là cậu không biết cái cảnh sa sút của mình. Cậu biết rõ lắm chứ
nhưng cứ chủ quan, nghĩ rằng có tài như mình, từ hai bàn tay trắng mà còn gây dựng được một cơ đồ to lớn vậy thì có gì đáng lo? Cứ việc ăn chới thỏa chí đi, hôm nào về lại cửa tiệm, chí thú làm ăn chừng vài tháng thì cơ đồ gây dựng lại mấy hồi? Nghĩ vậy, nên lúc hết tiền, cậu bèn ngửa tay mượn đỡ bạn bè. Mà có ai lại thừa tiền bạc để cho cậu mượn hơn là cái đám bạn quý mafia của cậu. Cậu đâu biết là chúng nó sống bằng nghề cho vay ăn lời mà. Cậu hỏi bao nhiêu chúng nó cũng đưa hết. Vừa đưa tiền cho cậu vừa khuyến khích cậu ăn chơi cho đã. “Mình có tài mà … “
Một ngày, Alberto Nichiono đến mượn tiền để tiêu xài nữa thì bị chúng nó
lắc đầu. “Tiền cũ chưa trả thì làm sao cho mượn tiền mới được. Muốn mượn, ít nhất phải trả tiền lời cái đã.” Nói xong, nó đưa cho cậu coi một miếng giấy. Cả tiền lãi lẫn tiền mượn, cậu thiếu chúng nó gần nửa triệu bạc.
Bước ra khỏi nhà ông trùm, cậu Nichiono đi muốn không vững. Nửa triệu
bạc thì có sống đến già cũng không trả nổi. Cậu về nhà để kiểm kê lại tài sản và
nhận ra là mình đã bị khánh tận. Trên bàn giấy, chất cao lên tới mấy tấc là hàng
trăm cái hóa đơn đòi nợ của nhà băng, nhà hàng, tiệm rượu. Tính hết số tiền nợ ra có thể lên tới gấp chục lần cái tài sản của mình. Cậu Alberto toát mồ hôi. Lúc đó cậu mới biết cái giá giao du với bọn quyền quí nó đắt như vậy.
Ngồi bóp trán một lúc, Alberto Nichiono liền nhớ đến cái đám bạn bè quí
tộc của mình. Phải rồi, chúng nó là những thằng bạn quí đã từng ăn chơi rất tận tình với mình. Hơn nữa, cũng vì chúng nó mà mình bị ra nông nỗi này thì chúng nó có bổn phận phải gỡ mình ra khỏi ngõ bí. Như vậy mới đúng là bạn bè. Luật nhà quê của dân Sicilian xưa nay là như vậy mà.
Nghĩ là quyết định. Quyết định xong là làm liền. Ông chủ tiệm may playboy nửa mùa bèn ăn mặc chỉnh tề để đi cầu cứu đám bạn quí tộc. Từ giã vợ
bước ra khỏi nhà, Alberto Nichiono hy vọng trong bụng lắm. Mình chơi với bạn bè đẹp như vậy, chi đẹp như vậy chắc chúng nó phải nhớ mình, phải dơ tay cứu vớt mình ra khỏi cơn nguy cấp này. Nếu không phải vậy thì có bạn bè để làm gì? Người Ý luôn luôn nổi tiếng là một dân tộc có nhiều tình cảm mà. Alberto Nichiono vừa leo lên xe vừa suy nghĩ những lời hay ý đẹp để nói với đám bạn quý …
Chiều đó, bà Nichiono đang ngồi ở nhà đọc kinh thì thấy chồng mình dẫn
xác về, say mèm, quần áo tả tơi như vừa đánh lộn với ai vậy. Trong cơn say,
Alberto Nichiono quì xuống trước mặt vợ, xin lỗi nàng và cho biết mình chẳng có thằng bạn nào cả. Bọn quí tộc này chỉ có một thứ bạn duy nhất là tiền. Ngày nào còn tiền bao chúng nó ăn nhậu thì chúng nó còn đến. Hễ hết tiền thì khỏi tới làm chi cho mất thì giờ chúng. Chẳng có thằng chó nào giúp được cái gì hết. Có thằng còn không thèm tiếp cậu nữa mới là đau lòng. Nói xong Alberto Nichiono thấy đau khổ và hối hận quá, bèn bưng mặt khóc hu hu …
Hai vợ chồng lâm vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Trở về quê cũ thì
không còn mặt mũi nào mà ở lại làm ăn cũng không được. Nợ nhà băng thì còn từ từ khất được chứ nợ cái đám mafia mà không trả thì không xong, mất mạng là chuyện rất thường tình.
Moi móc của chìm của nổi trong nhà ra bán hết cũng chỉ đủ để trả tiền lời
cho chúng nó đợt đầu. Hai vợ chồng không biết kiếm đâu ra tiền để trả cho tháng tới thì đùng một cái, họ nghe tin quốc hội Hoa Kỳ của “Tân thế giới” ban hành đạo luật cho phép dân da trắng ở Châu Âu di cư ào ào vào Mỹ. (Cuộc Mass Immigration năm 1880 của chính phủ Hoa Kỳ). Như người chết đuối vớ được chiếc phao, một buổi tối, hai vợ chồng lẳng lặng đóng cửa nhà, âm thầm trốn đi mất biệt.
Ba tháng sau, nhờ một linh mục đỡ đầu giúp đỡ, cả hai tìm được hai chỗ ngồi trong chiếc tàu di cư đang trực chỉ về qua “Tân thế giới, đất của tự do và cơ
hội.”
Vài tuần sau khi tàu nhập cảng New York, cái tên Alberto Nichiono được
cậu Alberto xin đổi lại là Albert Nitti để nghe cho nó có vẻ Mỹ và quan trọng nhất, để cho mấy thằng chủ nợ mafia bên nhà hết biết đường tìm kiếm …
Học được bài học đau thương từ quê nhà, định cư xong một cái là cậu
Albert Nitti trở nên chí thú làm ăn trở lại như ngày nào. Tay cậu may cắt lia lịa,
miệng cậu cười thật tươi với tất cả mọi người. Khỏi phải nói, đất Mỹ là đất của
những hạng người khéo léo như cậu. Chẳng bao lâu, anh chàng di cư Albert Nitti tậu được một cửa hàng. Mới đầu cậu làm nhỏ thôi nhưng rồi vì nhiều khách quá, cậu phải cứ nới rộng nó ra mãi. Nới cho ra tới ngoài đường mà vẫn không đủ chỗ tiếp khách, ông chủ đa tài này bèn bỏ tiền mặt mua quách một cái cửa tiệm khác lớn hơn, sang hơn, nằm ngay trong khu trung tâm thương mại của Nữu Ước hoa lệ. Năm ấy, thằng bé Frank Nitti, đứa con trai duy nhất của gia đình vừa được mười hai tuổi. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu có, Frank Nitti được đối xử như một ông hoàng con. Thời buổi đó, nó đi học đã có xe hơi riêng đưa đón, ăn mặc thì luôn luôn thắt cà vát với complê cẩn thận được may cắt bằng những hàng vải đắt tiền nhất thế giới …
Người ta bảo con người không bao giờ nhớ được mãi bài học của đời mình.
Câu này áp dụng cho ai không biết nhưng đối với ông chủ “nouveaux rich” Albert Nitti ở New York thì đúng y chang. Năm ấy Albert Nitti đã ngoài 50 tuổi. Hơn ba mươi năm chịu đựng cực khổ để gây dựng cơ đồ, đã đến lúc ông thấy mình cần phải hưởng thụ một chút. Nghĩ cho cùng, người ta lo làm giầu để làm gì kìa? Ngồi đếm tiền thú lắm nhưng đếm hoài cũng mỏi mắt và mỏi tay. Phải chi vừa đếm mà vừa có một con đầm trẻ đẹp nào đó ngồi trên đùi để lâu lâu véo vào mông nó một cái cho sướng tay thì càng đếm càng thấy thú. Đàn bà con gái bên Mỹ này không hiểu ăn cái gì mà đẹp quá chừng. Đít và vú coi đều đặn thật sướng con mắt. Quê nhà bên Ý nghèo nàn nơi mình xuất thân đâu có được như vậy?
Cái quá khứ khánh tận gia tài hai chục năm trước ở thành phố Naples xa xưa từ từ biến mất trong trí ông thợ may di cư. Như một con ngựa quen đường cũ,
Albert Nitti bắt đầu giao du đi lại với bọn quyền quí New York. Phải là đúng quyền quí thì Albert Nitti mới chịu đi chơi. Lần này, già rồi thì phải khôn hơn, Albert Nitti tuy ăn chơi nhưng thủ rất kỹ. Đi đâu hoặc làm gì thì làm, ngày nào cậu cũng mò vô tiệm để kiểm soát cửa hàng một chút. Được một điều là bọn Mỹ ở New York này không khó tánh như cái bọn nhà quê keo kiệt bên nhà. Chúng nó không đặt điều kiện là phải có ông chủ tôi mới chịu cắt. Ai cắt cũng được, miễn là đẹp đẽ ngon lành thì chúng chi địa rất sòng phẳng. Vì thế, cửa hàng vẫn phát triển đều đều dù vắng bóng ông chủ. Thời gian qua, tên tuổi và gia tài của Albert Nitti càng ngày càng đi lên. Một buổi chiều, đang ngồi trong văn phòng nói chuyện phiếm với thằng con trai Frank Nitti thì bỗng có một ông khách lạ bước vào tiệm. Khách ăn mặc sang lắm nhưng lại nói tiếng Mỹ lơ lớ y như dân Ý di cư vậy. Đám thợ may xúm lại hỏi khách muốn may quần aó kiểu gì, mặc loại hàng nào nhưng khách cứ lắc đầu vào đòi gặp ông chủ cho được.
Ông chủ Albert Nitti cho khách vào. Cái hình ảnh gặp gỡ ngày hôm đó đã
ám ảnh thằng bé 17 tuổi Frank Nitti cho đến suốt đời. Người khách lạ giới thiệu tên họ rồi đưa cho ông chủ Albert Nitti coi một tờ giấy nhỏ có ghi chép gì đó. Sau vài câu trao đổi bằng tiếng Ý nữa, lần đầu tiên Frank Nitti thấy cha mình khóc trước mặt mình và một người lạ mặt.
Frank Nitti tuy mới 17 tuổi nhưng tướng tá đô con như đàn ông. Không cần
biết chuyện gì xảy ra nhưng khi thấy có thằng nào làm cha mình khóc thì nó nộ khí lên, miệng lẩm bẩm mấy lời chửi rủa của con nít. Người khách lạ chỉ liếc Frank Nitti cười lạt trong khi Albert Nitti chồm tới, tát cho thằng con trai một cái nên thân rồi đuổi nó ra ngoài.
Thằng bé Frank Nitti đành thui thủi ra ngồi ngoài văn phòng chờ cha. Ông
khách kỳ lạ với cha mình nói chuyện lâu quá, có tới bốn năm giờ đồng hồ liên tiếp làm thằng bé ở tuổi đang lớn thấy đói meo râu. Khi cửa hàng đã đóng cửa, nhân viên về hết rồi ông khách mới chịu từ giã bước ra. Albert Nitti tiễn chân khách, mặt mũi méo xệch như người đi đưa đám ma.
Trên con đường về nhà, ông bố vừa lái xe vừa kêu tên chúa Giê su mấy
lần. Thỉnh thoảng ông lại còn tung ra một tràng chửi rủa bằng tiếng Ý. Frank Nitti biết có chuyện lớn nên lo lắng lắm, tính hỏi bố nhưng không dám. Cái tát tai hồi chiều còn thấy hơi rát rát nơi mặt.
Tối đó, Frank Nitti thấy cha mẹ mình ngồi nơi phòng khách nói chuyện rất
khuya. Tiếng Ý dù hiểu không nhiều nhưng Frank Nitti cũng nghe lỏm được câu chuyện. Bà Albert Nitti nói với chồng:
-Thôi thì anh cứ mượn tiền trả cho họ đi, không nên làm mất lòng bọn “bàn
tay đen” … Hơn nữa, ngày xưa vì anh ham chơi nên mới nợ nần họ, bây giờ chúng nó đã tìm thấy mình, thôi thì cũng nên trả cho người ta chút ít …
-Không được, chúng nó có đòi chút ít đâu. Bọn khốn nạn đó muốn mình
sang lại cái cửa tiệm mình. Đâu có được, đây là nồi cơm của mình mà. Phải ngày xưa còn trẻ thì không nói gì, mình có thể đi thành phố khác để sinh sống, bây giờ mình già rồi, chỉ mong vào đó mà dưởng già. Anh thà chết chứ không sang cái tiệm này lại cho chúng …
-Nhưng anh có nói chúng sẽ đền bù cho mình một số tiền mà?
-Chẳng có thấm thía vào đâu hết. Anh dứt khoát rồi. Anh sẽ đưa cho
chúng nó 100 trăm ngàn đô la để trả bứt số nợ kia. Nhưng nếu chúng không chịu thì thôi. Anh nhất định chết sống gì cũng phải giữ cửa tiệm đến cùng. Em nên nhớ, mình đang ở Mỹ là một xứ tự do, có luật pháp phân minh chứ không phải như những ngày ở bên quê nhà nữa …
Frank Nitti bỏ lên lầu. Nó không biết cửa tiệm may mỗi ngày kiếm được
bao nhiêu mà cha mình chẳng thà bỏ ra 100 ngàn còn hơn mất tiệm. Mà bố đã làm gì kìa? Cái quê hương nước Ý của giòng máu mình sao mà nhiều rắc rối, nhiều chuyện lạ quá. “Bàn tay đen” là bọn nào mà nghênh ngang đến như vậy? Chả trách gì đi học, bạn bè mỗi lần nghe nói mình là dân Ý thì đứa nào cũng có vẻ khinh khi ra mặt.
Bị cái hình ảnh quái lạ của ông khách hồi chiều ám ảnh, giấc ngủ đêm đó
của Frank Nitti ngắt quảng nhiều lần cho đến sáng. Ngày hôm sau, từ tiệm trở về, Frank Nitti thấy bố dắt theo hai người đàn ông lạ mặt tướng tá dữ tợn mà bố giới thiệu là bạn thân. Tay bố còn cầm theo một mớ hộp giấy lớn. Lúc bố khui hộp ra, Frank Nitti mới biết là bố mua súng đem về nhà. Súng đâu nhiều mà đẹp thế này. Đủ cỡ, từ súng nhỏ cho đến súng lớn. Có cây trạm bạc trông rất đẹp mà mãi sau này nó mới biết đó là cây Colt.45. Còn hai ông khách lạ, bạn bè của bố xưa nay có ai mà mặt mày coi dữ tợn thế này đâu. Một người thì cứ ngồi lì nơi cửa ra vào, người kia hình như đi theo bố như bóng với hình.
Tuy còn nhỏ nhưng chỉ một lúc là Frank Nitti biết ngay họ những người bố mướn làm cận vệ cho bố. Frank Nitti còn biết một người tên Russo còn người kia là Leo.
Sau ngày đó, Frank Nitti thấy bố mình lấy lại tinh thần chút ít. Thấm thoát đã mấy tháng trôi qua, thấy không có ai làm gì, bố Albert Nitti hầu như quên hết chuyện cũ. Nhà cửa mà có người lạ đi ra đi vào mãi thấy cũng mất tự nhiên nên một buổi tối, bố gọi hai người cận vệ vào sa lông nói chuyện. Bố cho biết ý định là từ nay chỉ cần một người cận vệ thôi.
Russo nghe nói đến đó, liền đứng phắt dậy, nhìn bố nói bằng một giọng rất
cảm động:
-Ông chủ, ông phải biết là tụi nó chỉ chờ có bấy nhiêu thôi. Tôi biết tụi
mafia mà. Chúng nó đâu có thèm chơi ông ở lúc này. Nó sẽ chờ và có dư kiên nhẫn để chờ cho đến khi ông mệt mỏi, quên chuyện cũ, lơ là chúng nó mới ra tay …
Không phải tôi muốn ở lại đây đâu, tôi nói là vì cái mạng sống của ông đó …
Bố Albert Nitti nghe nói giật mình, bèn giữ cả hai người ở lại.
Một tháng nữa trôi qua, cũng chẳng thấy gì. Bố mẹ Frank Nitti bàn với
nhau một đêm để giải quyết vấn đề rắc rối này. Cho họ nghĩ thì không dám, còn giữ lại thì không biết đến bao giờ? Không lý giữ suốt đời sao?
Sau một lúc bàn cãi, cả hai đi đến một quyết định hợp lý: Từ này về sau,
bố Albert Nitti chỉ cần bảo vệ vào những khi ra đường. Nhà mình ở có hàng rào sắt hai ba lớp kiên cố lại có thêm mấy con chó berger giữ, cần gì đem người về nhà cho mất công lại thêm khó chịu?
Ý kiến hay quá, ngày hôm sau được đem ra áp dụng liền. Buổi chiều về
nhà, bố Albert Nitti cho bố trí kỹ lưỡng lắm. Hễ nghe tiếng bấm chuông bất ngờ là bố sách súng ra, đứng tấn đàng hoàng, chĩa họng cây shotgun đen ngòm ra ngoài rồi mới làm dấu cho cô sen mở cửa. Làm vậy cho nó chắc ăn. Hễ thấy có nghi ngờ là phơ liền. Chẳng thà bắn lộn còn hơn là bị bắn, kinh nghiệm Mafia từ những ngày còn ở bên Ý làm bố Albert Nitti không dám sơ hở.
Mấy tháng trôi qua yên lành …
Một buổi chiều thứ bảy, không biết vì lý do gì mẹ Albert Nitti trổ tài nấu
nướng, làm bữa ăn rất linh đình cho cả gia đình. Bố con Albert Nitti ngồi vào bàn, nhìn thấy đồ ăn thức uống đầy dẫy thì rất đẹp lòng, đọc kinh mau như ngựa chạy nước rút để còn lo đớp hít. Vừa mới “amen” xong là mấy bàn tay chụp muỗng nĩa chan gắp tưng bừng, làm mẹ Albert Nitti rất khoái chí. Người đầu bếp nào cũng muốn khách tận tình thưởng thức những công trình nấu nướng của mình. Đồ ăn thức uống hôm nay mẹ nó làm khéo quá, bố Albert Nitti vừa ăn vừa nói, vừa rót rượu vang vô ly lia lịa.
Cắt một miếng bít tết còn đỏ hỏn, bố Albert Nitti bỏ vào miệng nhồm
nhoàm nhai. Nhai gần hết, bố Albert Nitti thò tay cầm ly rượu chát đưa lên uống ừng ực. Tự nhiên, đang nốc rượu, bố Albert Nitti bỗng khựng lại làm như bị mắc nghẹn vậy. Rượu vang đỏ chảy từ khoé mép xuống cái áo sơ mi trắng.
Mẹ Albert Nitti tưởng chồng bị mắc nghẹn, hối hả cầm ly nước đưa cho
chồng …
Ngay lúc đó, hai tiếng nổ đinh tai bức óc vang lên bất ngờ như sét đánh
ngang trời. Đúng ra, đó là hai tiếng súng phát ra từ một cây shotgun đang chĩa từ phía ngoài vào, xuyên qua cánh cửa sổ. Bố Albert Nitti bị đẩy bật ra sau ngay trước cặp mắt kinh ngạc của vợ con mình. Khoảng ngực phía trước bị bắn nát bét với hai lỗ lớn và chi chít một mớ lỗ nhỏ.
Thằng nào ôm shotgun đứng ngoài cửa sổ phòng ăn bắn vào phải là thợ giết người chuyên nghiệp. Bố Albert Nitti ngã xuống sàn nhưng còn tỉnh táo để rán
lết vô dưới gầm, mong mượn cái mặt bàn làm tấm bia đỡ đạn. Nhưng thằng kia hình như đã biết trước rồi, nên nó phản ứng còn mau hơn. Thoát một cái là nó đã nhảy qua cái cửa sổ thứ hai thấp hơn. Từ đây, nó nhìn thấy rõ cả người bố Alberto Nitti từ đầu tới chân.
Phát thứ ba và thứ bốn nổ xuyên qua lớp cửa kính. Bố Albert Nitti giật
người lên một cái. Sau lần này thì bố hết cục cựa nổi, nằm im một đống. Vậy mà thằng đao phủ đâu có tha, nó bình tĩnh bơm thêm ba phát nữa vào cái khối thịt bầy nhầy, trước mấy cặp mắt kinh hãi của mẹ con bà Albert Nitti.
Hình như bị bất ngờ quá nên cậu trưởng nam Frank Nitti không phản ứng gì
được hết, cứ ngồi im như tượng đá, há hốc miệng nhìn người ta bắn bố trước mặt mình. Đến chừng nghe mẹ hét lên mấy tiếng thì cậu cả mới hoàn hồn, sực nhớ đến cây súng bố vẫn thường cất bên cạnh lò sưởi. Frank Nitti liền nhào tới lò sưởi chụp cây súng. Nhưng lúc nó quay lui thì thằng sát nhân nọ đã làm xong nhiệm vụ, phóng đi đâu mất tiêu …
Hình ảnh đẫm máu của buổi chiều hôm đó đã ám ảnh Frank Nitti suốt cuộc
đời còn lại, biến nó thành một con quỷ khát máu người hơn bất cứ tên khát máu của xã hội Mafia Hoa Kỳ.
Tai nạn của gia đình Albert Nitti đến đó đã hết đâu? Mấy ngày sau, vừa
đưa đám bố về thì bà Albert Nitti được tin báo cửa tiệm may đã bị một kẻ bí mật lén cho một mồi lửa cháy tan tành. Không hiểu chúng nó đốt kiểu gì mà mấy cái song sắt cửa sổ lớn vậy nhưng cũng bị sức nóng uốn cong queo. Sắt mà vậy thì có cái gì trong tiệm còn xài được?
Mất tiệm, hết tiền, bà Albert Nitti bèn dắt con vô nhà băng tính lấy một mớ
đem về để trang trải sở phí đám tang. Cô thâu ngân nhìn trương mục của bà một lúc rồi aí ngại cho biết là trương mục của hai ông bà còn gì nữa đâu mà lấy? Ông nhà lúc còn sinh tiền làm ăn lớn quá, ăn chơi rộng quá, tiền bao nhiêu đem ra kinh doanh và tiêu xài hết, đâu có để lại trong này bao nhiêu? Sổ ghi là chỉ còn có vài chục đồng, lại đứng tên chỉ có một mình ông nhà, bà muốn lấy thì phải đem luật sư tới …
Nghe tới đó là bà Albert Nitti quệt nước mắt ra về. Cơ sự đã thế này thì
đành bán căn nhà đang ở mà trang trải nợ nần. Một lần nữa, gia đình Albert Nitti đang từ một giai cấp quyền quí bỗng rớt cái rầm trở lại xuống làm dân cùng đinh nghèo hèn như thưở nào ở thành phố Naples. Cái kẹt là khác hơn các lần trước, lần này bố Albert Nitti không còn sống để thử lại thời vận lần thứ 3 nữa. Bây giờ chỉ có mình bà và đứa con trai 17 tuổi.
Với một số ít tiền do tự mình dành dụm lấy còn lại, bà Albert Nitti tìm mua
được một căn nhà khác, rất khiêm nhường trong một khu phố nghèo mà người Ý di cư thường tụ tập. Nhà không có lò sưởi, không có nước máy cũng không có điện. Nhưng chả sao, vì tất cả những “không” vừa kể đem cộng lại cũng đâu có đau đớn bằng cái “không còn bố.”
Bị đời chơi ác vậy nên cậu Frank Nitti bèn nghỉ học, tìm cách trả thù đời.
Bà mẹ năn nỉ khóc lóc bao nhiêu cũng không làm thằng nhỏ đổi ý.
Frank Nitti nhớ rõ, những ngày đầu tiên nằm nhà không phải cắp sách đến
trường đi học là những ngày tuyệt diệu. Sáng sáng, nó hay thức giậy sớm đi ngao du khắp nơi trong xóm. Chỉ một vòng ngắn, Frank Nitti khám phá ra là trong cái xóm này cũng có vài chục đứa bỏ học như mình. Bọn này cũng chẳng đi làm, tối ngày chỉ lang thang đầu đường xó chợ. Bằng tuổi nhau mà coi chúng nó sao thấy ngon lành quá. Thằng nào cũng ăn mặc bảnh bao tuy nhà rất nghèo. Có thằng lại còn ngậm thuốc lá và uống la de ngon lành như mình uống nước ngọt vậy. Làm quen sơ sơ một hai thằng, Frank Nitti mới biết chúng nó đứng đi khơi khơi vậy nhưng thật ra đứa nào cũng “đang làm việc”. Việc chúng nó làm không có ghi trong bảng nghề nghiệp của chính phủ. Đứa thì làm nghề … báo động cảnh sát, đứa dắt mối đánh bạc, dắt khách làng chơi và một vài đứa to con thì làm nghề đánh mướn. Tự nhiên, Frank Nitti thấy cái nghề đứng đường này hợp với mình quá dù nó chưa bao giờ thử lần nào. Một ý nghĩ bỗng xoay quanh đầu óc thằng bé. Tại sao mình phải cắp sách đến trường làm chi kìa? Bố mình làm ăn chân chỉ hạt bột suốt mấy chục năm, một câu chửi thề cũng không nghe nơi bố mà cuối cùng bị chết thảm thiết. Cái xã hội lương thiện này đâu có làm gì được để bảo vệ ổng. Hai bàn tay trắng, không phe đảng, không quen biết, mình làm thế nào để trả thù được cho cha đây? Mẹ cứ nói là “con phải đến trường học để … trả thù cho cha.” Bà già sao khó hiểu quá. Tại sao phải tới trường kìa? Sách vở nhà trường, nếu lựa mấy cuốn tự điển
nặng nhất, lớn nhất … liệng vô đầu kẻ thù cũng đâu có chết nó được. Muốn trả thù thì chỉ cần một cây Smith & Wesson, nhỏ thôi, cỡ bằng lòng bàn tay mà đứng gần, chĩa vô mặt bóp vài cái thì bự đến mấy cũng lăn quay ra giãy đành đạch cho coi …
Một ngày, Frank Nitti đi lang thang, bụng đói meo, trong túi không còn một
xu nhỏ. Nó vừa đi vừa nghĩ đến bố. Cuộc đời chó má thật. Nếu bố còn sống thì giờ này chắc mình đang ngồi trong một cao lâu nào đó để ăn trưa … Càng nhớ càng thấy tủi thân, Frank Nitti chặc lưỡi, cúi đầu đếm bước. Mắt thằng nhỏ ướt sũng, vừa nhớ đến cha, vừa thương mẹ, và vừa buồn cho số phận hẩm hiu của mình. Bỗng nó dừng lại giữa đường, đưa mắt nhìn trời rồi nhảy cẫng lên sung
sướng. Frank Nitti vừa vô tình nhớ ra mình có một cái tài đặc biệt. Chính cái tài này sẽ làm thay đổi cuộc đời nó. Không, đây không phải là cái tài mà phải nói là một kho tàng vô giá của trời cho, không phải ai cũng có được.
Đó là tài … bắn đâu trúng đó.
Nó nhớ một lần lúc nhỏ đi hội chợ bắn súng chơi với bố, nó đã làm cho ông
già ngạc nhiên vô cùng. Dù chưa bao giờ rờ tới bất kỳ món binh khí nào nhưng hôm đó, khi được bố đưa cho cây súng hơi, trong lúc ổng đang còn khổ sở cắt nghĩa và chỉ bảo cách xử dụng thì cậu con đã đưa súng lên bóp cái oành theo năng khiếu, khỏi cần nhắm nhiếc gì hết. Viên đạn ghim vào gần trúng ngay giữa hồng tâm.
Ông chủ gian hàng bắn súng cười ngất, lấy đưa cho Frank Nitti mấy món
quà, khuyến khích nó bắn tiếp nữa. Dân lái buôn mà, dòm qua là biết thằng bé này “chó ngáp phải ruồi” liền. Đứng xa vậy mà nhắm bắn cho trúng cái hồng tâm nhỏ chút xíu, theo sự nghiên cứu kỹ từ hai chục năm qua của ông thì làm sao ăn nổi. Cái gian hàng này là nồi cơm của ông, nếu chúng nó bắn được hết thì ông đã giải nghệ từ lâu rồi. Bao nhiêu tay tự xưng mình là thiện xạ, vào đây muốn khoe tài, cuối cùng đều bị thua nặng. Hôm nay, suốt từ sáng đến giờ ông chuyên lượm bạc cắt của thiên hạ, lâu lâu gian hàng cũng cần phải có người bắn được trúng thưởng để tăng phần hào hứng.
Ông bố Albert Nitti cũng nhìn ông chủ gian hàng cười, ý muốn nói rằng:
“Thằng lõi nhà tôi chó ngáp phải ruồi đấy, ông đừng lo … “. Frank Nitti đòi bắn nữa. Cả hai người đều khuyến khích. Đi hội chợ thì phải cho con nó “enjoy” chớ. Bố Albert Nitti còn cẩn thận, luôn miệng nhắc nhở: “Cái thằng này, mày làm cái gì cũng hấp tấp, không nghe lời tao chỉ bảo gì hết. Bắn súng là cả một nghệ thuật. Mới đầu mày phải lấy thế như thế này này, rồi đưa súng lên, rồi nhắm như vầy nè …. “
Thằng bé Frank Nitti lại đưa súng lên, y như lần trước, khỏi cần nhắm nhiếc gì hết, nó bóp cò liên tiếp mấy phát nữa. Nụ cười của ông chủ gian hàng đang
tươi rói bỗng từ từ hết … tươi, rồi tròn lại, và sau đó biến thành một cái mếu thảm hại. Năm phát liên tiếp, thằng Frank Nitti để viên nào cũng vào ngay giữa hồng tâm. Vậy là bao nhiêu giải thưởng to nhỏ của gian hàng tối đó Frank Nitti đem về hết. Tối đó, nó còn nhớ còn nghe bố khoe với mẹ một câu như thế này: “Bà biết không, thằng con mình là một nhà thiện xạ đại tài.”
Rồi chuyện con nít ấy cũng qua đi như nhiều chuyện con nít khác. Sau ngày đó, thằng Frank Nitti cũng chẳng bao giờ có dịp rờ tới cây súng nào khác.
Ngày hôm nay chợt nhớ lại, hình như có linh tính báo cho Frank Nitti biết là chuyện trả thù cha không còn rắc rối như ngày hôm qua nữa. Trước hết, phải có một cây súng thiệt để thử xem mình có tài thật như lời bố nói ngày nào không?
Nghĩ đến đó, cậu Frank Nitti có vẻ khoái chí, thọc hai tay vào túi quần,
miệng huýt sáo, vừa đi vừa nhún nhẩy ra chiều sung sướng lắm. Đang hăm hở bước đi thì Frank Nitti bị hai thằng cô hồn trong xóm chận lại. Thì bọn du thử du thực ở đây chớ ai. Chúng nó tuổi tác cũng xấp xỉ cỡ Frank Nitti nhưng cách đi đứng và giáng điệu coi thấy ghê gớm quá. Một thằng tiến tới trước mặt Frank Nitti, hất hàm hỏi:
-Ê thằng “con nhà giàu,” ai cho phép mày huýt sáo ở đây? Đù mẹ có giấy
phép huýt gió không, đưa coi thử coi?
Frank Nitti chưng hửng. Huýt sáo mà cũng cần phải xin giấy phép thì lạ
thật. Nó biểu diễn một nụ cười cầu tài, rút hai tay ra khỏi túi quần, phân bua:
-Tôi ở xa mới dọn về đây nên đâu biết, xin hai anh thông cảm.
-Mới dọn về nên không biết luật hả? Mày thuộc băng nào?
Frank Nitti có thuộc băng nào đâu nên ú ớ không biết phải trả lời làm sao.
Thằng có ngậm điếu thuốc lá tới đứng gần bên Frank Nitti ngắm ngía nó một chập rồi bất thình lình vung tay quại một cái như trời giáng vào mặt nó. Frank Nitti té lăn cù. Bị cú bất ngờ đau quá mà thằng chó kia đâu có tha. Nó nhào tới lôi cổ Frank Nitti dậy tính giộng thêm mấy cái nữa thì đứa bạn bên cạnh lên tiếng:
-Thôi Eddie, nhiêu đó đủ rồi. Nó mới dọn về, có biết băng đảng gì đâu,
tha cho nó đi …
Thằng kia chưa chịu buông tha, xốc áo Frank Nitti, giọng nói cố làm ra vẻ
như ta đây là một dân anh chị bự:
-“Nhập gia tùy tục” nghe mày. Tên tao là Edddie, thiên hạ gọi là “Eddie
lạng quạng” …
-Dạ, anh Eddie lạng quạng thông cảm …
Người bạn tốt bụng hồi nãy xen vào:
-Mày may lắm đó, vì bố mày … bị chết bất tử tụi tao thương tình, không dàn
chào mày kỹ càng như những đứa khác. Ở đây mà không có băng đảng là kẹt vậy đó. Có nhiều thằng bị đòn sưng mặt sưng mày cho đến nổi phải bỏ khu này đi luôn vì không có băng nào hết. Tên tao là Frankie, mày là gì?
-Tôi là Frank.
Eddie thấy bạn ăn nói tử tế với Frank Nitti bèn buông tay ra. Frank Nitti
đưa tay lên vuốt vuốt cái cổ áo nhàu nát. Ủa, sao kỳ vậy cà, đương không vô cớ bị người ta giộng cho một cái vô mặt mà nó không thấy tức tối hay căm thù gì hết? Nó thấy lòng nguội tanh, chẳng thấy oán hờn mà cũng chẳng thấy sợ hãi. Frank Nitti vốn là một thằng bự con to xác, sức khỏe dồi dào, nếu đấu tay đôi, nó biết chắc sẽ dạy cho hai thằng cao bồi vườn này một bài học dễ dàng. Dù chưa bao giờ làm du đãng, Frank Nitti xưa nay có bao giờ nhịn nhục ai dễ vậy đâu? Sợ chăng? Đâu có, nó thấy mình đứng nói chuyện với bọn này tỉnh bơ, không có chút kiêng nể gì. Vậy tại sao nó nhún mình quá cỡ vậy?
Frank Nitti đưa tay bóp bóp hàm răng, chỗ bị đánh lúc nảy. Ê ẩm thật. Và
nó chợt khám phá ra là đầu óc mình đang ngập ý nghĩ trả thù cha, nên mọi chuyện khác đều không trở thành quan trọng, kể cả việc bị ăn hiếp giữa đường. Nhưng nó biết chắc một điều là trước sau gì nó cũng phải … giết chết thằng Eddie này. Giết để mà giết chứ không thấy căm phẫn gì hết.
Frankie khoác vai nó, vừa kéo đi vừa nói:
-Mày là con nhà giàu mới dọn tới đây nên không biết luật lệ của mấy cái
khu chung cư này. Mỗi chỗ đều có luật lệ riêng mày hiểu không? Khu nào cũng có một hay hai băng được thành lập để bảo vệ quyền lợi của anh em trong băng mình. Mày muốn khỏi bị ăn hiếp, bị giật bút máy đồng hồ thì nên kiếm một băng nào đó mà nhập vào …
Frankie là một thằng tinh mắt. Nó thấy Frank Nitti bự con lớn xác, khuôn
mặt lại đầy chất cô hồn thì thích lắm, tính đi một đường kết nạp. Có được một thằng ngon như vầy trong băng thì oánh lộn sướng phải biết.
Nhưng dù được mớm ý kỹ vậy, Frank Nitti đâu có thèm mở miệng xin nhập băng của nó. Cứ từ từ cái đã, mình mới về, biết ai mạnh ai yếu mà xin vào? Mà
cũng chẳng biết có cần phải vào không? Dòm tụi này tuy cô hồn vậy nhưng có đứa nào dám chơi chó lửa đâu? Frank Nitti biết nếu nó dám chơi chó lửa và lại bắn đẹp thì có băng nào dám đụng nó?
Frank Nitti cám ơn Frankie rồi hai đứa bắt tay nhau. Thằng Eddie cũng chìa tay ra để bắt nhưng Frank Nitti cố ý làm lơ đi như không thấy. Nó không thích
bắt tay những kẻ … sắp chết.
Về tới nhà, Frank Nitti chạy bay vô phòng, dỡ dưới tấm nệm móc cây súng
Colt cán bạc của bố mua dạo nào ra. Vừa cầm tới cây súng, chất thép lạnh chạy qua tay thằng nhỏ, xuyên lên tới trên óc nó. Frank Nitti ôm chặt cây súng trong tay, đứng đê mê một lúc như người mất hồn. Thép ơi là thép, sao mà vừa đẹp vừa gọn gàng lại vừa chứa đầy quyền lực thế này? Nó biết, kể từ giây phút này, cuộc đời nó sẽ gắn liền với mẫu thép đẹp đẽ này.
Frank Nitti kéo cơ bẩm thử. Cây cò mổ ngóc đầu ra sau. Nó đưa súng lên
ngang tầm mắt ngắm nghía, tưởng tượng một đường thẳng từ đuôi súng đến đầu súng, kéo dài ra tới mục tiêu. Frank Nitti bóp cò miệng kêu “Pằng pằng” mấy phát rồi đút súng vào bụng, quay lui.
Frank Nitti giật mình khi thấy mẹ đã đứng sau lưng từ lúc nào. Bà Nitti
nghiêm nghị nhìn nó bằng một cặp mắt mà có lẽ đến suốt đời, Frank Nitti sẽ không bao giờ quên. Frank Nitti bối rối lẫn tránh ánh mắt sầu thảm của mẹ. Bà kêu nó lại, cất giọng buồn buồn:
-Con có biết rằng trong kinh thánh có một câu như vầy:”Ai dùng gươm sẽ
chết vì guơm” không?
Frank Nitti đứng im, cúi đầu. Một lúc sau, nó trả lời, giọng chắc nịch:
-Mẹ chúc lành cho con. Con thích dùng gươm và sẵn sàng chết vì gươm.
Nói xong, nó đưa hai tay ôm chầm lấy mẹ. Bà Albert Nitti chảy hai hàng
nước mắt, nức nở bảo con:
-Hôm nay là ngày buồn nhất của đời mẹ sau ngày ba con chết. Mẹ biết
không ngăn con được nên phải để cho con làm những gì con muốn. Nhưng Frank con ơi, con phải nên nhớ là không bao giờ người ta dùng lửa để chửa lửa, không bao giờ dùng oán thù để báo thù …
-Bố có dùng súng đâu, suốt đời chăm chỉ làm ăn, một con chim cũng không
muốn bắn, đâu có gây hận thù với ai, tại sao chúng nó vẫn bắn bố chết thảm thiết trước mặt con như vậy?
Bà Albert Nitti biết không thể can con được, đành buông hai tay ra, đặt lên
đầu thằng quí tử, ngậm ngùi nói:
-Nguyện xin thiên thần bổn mạng gìn giữ con trong tay người và xin Chúa
chúc lành cho con, cho cuộc đời gian hồ mà con đã chọn …
Frank Nitti cúi đầu, làm dấu thánh giá rồi bước ra khỏi nhà. Hơi lạnh của
cây Colt.45 chuyền vào bụng, theo những bước chân vội vã của nó. Ra tới đầu ngõ thì nó quên phứt luôn đôi mắt của bà mẹ già.
Trời về chiều, không khí dìu dịu thoải mái, Frank Nitti đi bộ qua mấy khu
phố mà vẫn không tìm ra được một cái đích nào để thử tài bắn. Hơn nữa, dân vô công rỗi nghề lại ngồi ngoài trời nhiều quá, Frank Nitti đành cứ lần mò đi mãi. Đi có đến hơn tiếng đồng hồ, chợt thấy trước mặt một bãi rác vĩ đại. Đúng hơn, phải nói đây là một biển rác. Frank Nitti dừng chân nhìn lại, biết là mình đã bị lạc đường. Có sao đâu, càng xa thành phố và càng vắng vẻ thì càng tốt, đỡ bị làm phiền. Đột nhiên, có một con mèo đen nhảy qua trước mặt làm nó giật mình. Chú mèo đi ăn đêm mò mẫm trên đống rác. Frank Nitti bỗng thấy phẩn uất. Đù mẹ mày, khi không làm tao giựt nẩy mình lên như vậy là tội lớn lắm, cần phải trừng trị.
Tao đang cần một mục tiêu tập bắn thì mày lại lù lù dẫn xác vào. Frank Nitti móc cây.45 ra nhắm và bóp cò. Phát súng đầu tiên của cuộc đời anh chị hung hiểm quá chừng. Con mèo đen bị bắn tung lên, chỉ kêu được một tiếng “Mi-ai” thê thảm. Chưa bao giờ rờ đến súng mà phát đầu được như vậy thì nhất định mình phải là kẻ “có tài.” Frank Nitti cảm thấy thích thú với ý nghĩ đó. Kể từ đây, cái tên Frank Nitti sẽ trở thành một ác mộng trong giới giang hồ.
Frank Nitti đưa súng xuống, lần này khỏi cần nhắm, nổ thêm hai phát nữa.
Con mèo đen bị mấy viên đạn cày vào giữa bụng, ruột gan bay tứ tung. Tự nhiên, Frank Nitti thấy một nguồn cảm hứng lạ lùng chạy rần rần khắp thân thể. Chao ôi, cái cảm giác nhìn một sinh vật dãy dụa dưới lằn đạn do chính tay mình bắn là cái cảm giác sung sướng không bút nào tả được. Nó cứ thắc mắc là tại sao người ta lại khoái đi tập bắn bia giấy nhỉ? Bia … thịt bắn sướng hơn nhiều …
Giết xong con mèo đen, đang đứng suy nghĩ coi sẽ kiếm cái bia thịt nào để
thử tài bắn tiếp thì Frank Nitti bỗng nghe có tiếng xe hơi từ xa rề rề chạy tới. Nó chửi thề. Đù mẹ cảnh sát ở đây mau vậy sao? Lúc đi nãy lạc đường, muốn kiếm một thằng để hỏi thì không thấy đâu hết, vậy mà mới bắn vài phát súng là chúng nó đã không biết từ đâu kéo tới rồi.
Cái điệu này là phải dọt lẹ. Từ xa mới đến đây, chưa làm ăn gì được mà
để cảnh sát tóm cổ lôi vế bót thì thù cha biết đến bao giờ mới trả được? Nhìn lui, Frank Nitti thấy chiếc xe vừa quẹo vào khu đổ rác. Trong giây phút hốt hoảng, Frank Nitti nhào đại người vô đống rác, moi một cái lỗ rồi chun xuống.
Một ánh đèn pha lướt qua đống rác rồi chiếc xe từ từ xuất hiện. Xe không
chạy mau lắm, qua khỏi chỗ ẩn nấp của thằng “tân du đãng” và từ từ chậm lại. Ngay lúc ấy, nằm dưới đống rác tanh tưỡi, Frank Nitti cảm thấy một dòng nước ấm ấm nhỏ từng giọt xuống mặt mình. Nó đưa tay lên vuốt mặt. Quái lạ, cái gì đây đâu có phải là nước. Nước đâu có nhờn nhợt và tanh như thế này. Frank Nitti đưa bàn tay sát vào mặt, mở căng mắt nhìn thử. Đù mẹ toàn là máu. Nó giật mình, đã tính bung người nhảy ra nhưng trấn tĩnh lại kịp thời. Lờ mờ phía bên trên nó, giữa đám rác ngổn ngang, là cái xác con mèo đen vừa bị nó bắn chết.
Con vật khốn nạn đã chết nát thây rồi mà còn chơi được kẻ vừa giết nó được một vố ra gì. Nó nắm xấp, bốn chân chàng hãng, cứ phơi cái bụng lòng thòng
đầy ruột gan ra ngoài và nhỏ từng giọt máu xuống trúng ngay mặt thằng Frank Nitti. Frank Nitti không dám cựa quậy, đành ngồi im hứng tất cả mọi thứ “trời
cho”. Trong đời thằng Frank Nitti, có hai đêm mà nó không thể nào quên được.
Đêm thứ nhất là đêm nhìn bố bị bắn chết thê thảm ngay tại bàn ăn của gia đình.
Đêm thứ hai là đêm nay. Frank Nitti ráng nằm im chịu đựng. Chiếc xe nọ hình như đã dừng lại cách đó không xa lắm vì nó nghe được tiếng sang số chiếc xe. Tiếng máy xe cũng dịu đi nghe thấy rõ.
Có tiếng mở cửa xe, tiếng chửi thề và tiếng giày giộng lộp cộp trên vĩa hè.
Hình như có đến hơn ba người thì phải. Frank Nitti co rúm người, nín thở.
Một giọng nói:
-Đụ mẹ thằng chó đẻ, mày phải khai cho rõ, ai đã bán thằng Cora?
Không có tiếng trả lời. Rồi Frank Nitti nghe những tiếng đấm đá, xen lẫn
với những tiếng “ục ục” và “ự ự” …
Cảnh sát hèn vậy sao, Frank Nitti tự hỏi. Làm gì mà phải lôi con người ta
tới chỗ kín đáo này rồi đánh đấm dữ vậy? Frank Nitti mò mẫm, nhẹ nhàng hất xác con mèo đen chết sang một bên, ló được cái đầu ra khỏi đống rác. Nó nhận ra rằng mặt mình toàn đầy máu mèo, ướt đẫm xuống đến ngực.
Vuốt mặt mấy cái để nhìn cho rõ, Frank Nitti mới biết bọn này không phải
là cảnh sát. Thì ra có hai người đang túm một người thứ ba bị trói tay và đấm đá tên này túi bụi. Cứ dòm sơ qua thì biết ngay tụi này phải là dân găng tơ chính hiệu. Áo quần bảnh bao, xe cộ láng bóng, mới tinh.
Hèn quá. Hèn không thua gì cái bọn đã giết cha mình hồi nào. Tại sao lại
phải trói tay trói chân người ta rồi mới dở trò đấm đá? Frank Nitti thấy nóng nóng ở thái dương. Nó thò tay xuống bụng nắm chặt cán cây Colt.45.
Có lẽ bị đòn đau quá chịu không nổi, người bị đòn bắt đầu lên tiếng:
-Đù mẹ chúng mày, tao đã như thế này thì cứ việc giết tao đi, tao nhất định
không bao giờ mở miệng đâu …
Nghe tới đó là Frank Nitti thấy giựt mình. Giọng nói của ai nghe quen
quen. Thôi đúng rồi, giọng của ông cựu cận vệ Russo đây chứ của ai. Xa cách đã lâu, nhưng cái giọng này làm sao nó quên được? Những ngày ăn cùng mâm, ngủ cùng giường với mấy tay anh chị này là những kỷ niệm đẹp. Frank Nitti từ từ, khéo léo nhấc từng bước một mò ra khỏi nơi trú ẩn. Đứng vững được dưới đường cái thì cây Colt.45 cũng nằm gọn trong tay nó.
Frank Nitti tà tà bước tới phía sau đám người kia, mặt mũi bê bết máu mèo, mắt long lên, sáng quắc như sao.
-A! thằng này ngon, mày chết đến nơi rồi mà vẫn còn phách lối. Để tao
coi thử mày cứng tới cỡ nào.
Tiếp theo câu nói, thằng nọ thò tay vô trong túi áo, móc ra con dao:
-Tao móc mắt mày ra thử coi mày có chịu nói không?
Hai đứa, thằng phía sau giữ chặt Russo, lo ôm cứng cái đầu, thằng kia từ từ
đưa dao lên, thọc vào mắt nạn nhân.
Tự dưng, bàn tay cầm dao bị ai nhào tới cản lại. Cả ba người cùng quay
sang nhìn kẻ phá đám và bỗng rú lên một tiếng kinh hãi. Con dao nhỏ rớt xuống đường nghe đến “keng” một tiếng.
Thằng phá đám này đâu phải là người, phải nói là ma thì đúng hơn. Mặt nó
toàn những máu và máu, ướt từ trên xuống dưới, thấm luôn vào cả quần áo. Mắt thì tròn quay, lòng trắng nhiều hơn tròng đen và miệng thì không có môi. Giữa sự hoảng hốt của mọi người, tự nhiên, nó lại nhe răng ra cười sằng sặc rất là kỳ lạ làm ba tay anh chị dù đã vào sinh ra tử, giết người như ngoé cũng thấy rùng mình rởn gáy. Đù mẹ “Tân thế giới ” sao cũng nhiều ma quỷ quá vậy … Thật ra, ngay từ lúc đầu, vì thấy Russo sắp bị nguy hiểm nên Frank Nitti
chỉ muốn bay tới đỡ giùm cho người quen khỏi bị con dao lụi vào mắt. Nhưng khi thấy cả ba ông găng tơ nhìn mặt nó bỗng tá hỏa tam tinh như là gặp ma quỷ hiện hình thì nó không nhịn được, bèn bật cười lên sằng sặc. Hóa ra con người ai cũng biết sợ, dù kẻ đó là những tay vào sinh ra tử hằng ngày.
Trong một tích tắt quí báu đó, bản năng sinh tồn trong người bùng dậy,
Russo vùng bỏ chạy. Một thằng móc ra cây Smith & Wesson đen bóng loáng, quay hẳn người về hướng Russo đưa lên nhắm vào lưng nó.
Nhưng cây Colt.45 trong tay Frank Nitti đã nổ trước vào người ông này.
Bắn gần quá nên sức công phá của viên đạn xuyên qua sau gáy rồi đẩy luôn nó ngã xấp ra đằng trước. Đến lúc đó, thằng cầm dao mới biết kẻ phá đám này chẳng phải là ma mà là người, bèn thò tay rút súng.
Nhưng đâu còn kịp nữa, Frank Nitti đã lẹ làng quay lui, kê súng vào mặt
thằng kia bóp cò luôn phát nữa. Colt.45 bắn gần vậy thì khỏi cần phải thử phát thứ hai. Thằng nọ té ngữa, một nửa phần trán bị thổi mất tiêu …
Xong, Frank Nitti chạy theo Russo, vừa chụm tay lại la lớn:
-Anh Russo, khỏi có chạy làm gì nữa, tôi là Frank Nitti đây, tôi làm tụi nó
xong rồi.
Đang chạy thụt mạng, nghe tiếng nổ sau lưng, Russo chờ đợi một viên chì
bay vào lưng mình nhưng không thấy. Tạ ơn trời, Russo vừa cầu nguyện vừa cố hết sức chạy mau hơn nữa thì nó nghe thêm một tiếng nổ và tiếng gọi tên mình. Russo bấy giờ mới dừng chân. Frank Nitti cũng vừa chạy đến.
Nhìn mặt thằng này, Russo không nhớ nó là ai nhưng nghe nói đến tên thì
nhớ ra liền. Té ra con ma vừa cứu sống mình là thằng con của ông chủ cũ Albert Nitti. Lâu ngày không gặp, chẳng biết nó làm cái gì mà hôm nay bò ra tới cái nghĩa địa rác này? Nhìn mặt nó mà thấy phát ngán. Thảo nào lúc nãy mình không nhận ra nó được. Gặp nhau mừng lắm, lại thêm ơn cứu tử thì Russo phải quí thằng em vô cùng, nhưng nó không thèm nói lời chúc tụng gì cả, cũng chẳng hỏi thăm mà hét nhặng lên:
– Mở trói cho tao cái đã … tao lấy cho mày cái khăn mu soa. Đù mè mặt
mày coi gớm quá …
Frank Nitti nhớ lại cảnh ban nãy, lại cười hì hì, mở trói cho Russo. Hai bàn
tay vừa được giải thoát là đàn anh Russo bèn y lời, rút ra cái khăn tay thảy tới cho Frank Nitti:
-Lau giùm cái mặt ma quỉ của mày đi, rồi nói chuyện sau.
Trong lúc Frank Nitti làm “vệ sinh,” Russo đi ngược lại chỗ cũ, lật hai cái
xác của kẻ thù lên quan sát. Thằng nhóc này đúng là tay thần xạ, Russo chặc lưỡi.
Dân giang hồ rồi đây phải khốn đốn với nó bằng thích.
-Anh Russo coi tui bắn đẹp không?
Russo đứng dậy, hất đầu ra dấu cho nó đi theo mình:
-Đẹp hay không lát nữa tính, mình còn nhiều chuyện để nói. Bây giờ phải
dọt ra khỏi chỗ này liền. Cảnh sát nó ập vào đây là mình khốn nạn.
Frank Nitti nhìn chiếc xe hơi Ford mới tinh không chủ đậu gần đó có dấu
tiếc rẻ:
-Hay mình dọt lên chiếc xe này mà đi. Tụi nó chết hết rồi mà?
Biết tài thằng em, Russo lắc đầu:
-Không! Mai mốt tao mua cho mày một chiếc như vậy. Bây giờ thì câm
họng lại, đi theo tao và làm tất cả những gì tao biểu mày …
Frank Nitti biết cuộc đời nó, kể từ giây phút này, đã bước sang một khúc rẻ
mới …
*
Kể xong câu chuyện từ lúc bố bị bắn cho đến lúc cả gia đình phải lủi thủi
dọn nhà về khu chung cư nghèo nàn, Frank Nitti cúi đầu:
-Anh Russo, dù gì anh cũng đã một thời theo thân phụ, tôi coi anh như người thân trong nhà, anh đã biết chuyện nó như vậy, mong anh giúp tôi trả thù cho
bố giùm.
Russo nâng ly cà phê, ngã người ra phía trước, chống hai khuỹu tay lên
bàn, nhìn thật sát khuôn mặt thằng thanh niên vừa bị mất bố:
-Chuyện đó mình sẽ lo được với một điều kiện …
-Anh cứ nói.
-Mày có chịu đi theo tao không?
-Đi theo anh làm gì?
-Ngu thấy mẹ, nghĩa là làm đàn em tao, nghĩa là nghe lời tao dậy bảo,
nghĩa là tao biểu bắn thằng nào thì bắn liền, biểu hốt bạc thì hốt liền …
-Kể từ giây phút này, tôi sẵn sàng đi theo anh, nhưng tôi giúp anh được cái
gì?
-Mày có một cái tài mà bất cứ thằng du đãng nào ở đây nghe tới cũng phải
chảy nước miếng. Tài bắn súng trời cho. Bắn hay vậy tại sao mày không trổ tài làm cận vệ cho bố mày? Có ai dạy mày bắn súng không?
Frank Nitti lắc đầu có dấu tiếc rẻ:
-Nếu tôi biết mình tài như vậy thì bố đâu có bị chúng nó bắn chết thê thảm
như vậy … Tiếc thay, ông già đi rồi tài năng mới được khám phá …
Rồi nó kể cho Russo nghe cái ngày đầu tiên được cầm tới cây súng trong
hội chợ năm nào. Russo nghe xong gật gù:
-Khá lắm thằng em trai, nhưng mày còn phải học hỏi nhiều. Để tao hỏi
mày một câu đã. Mày nói đi theo tao, tao biết mày tuy là con nhà phó may nhưng lại có máu đâm chém trong người, vậy mày đã suy nghĩ kỹ chưa? Tao không muốn đưa một thằng nào xuống địa ngục hết.
Frank Nitti cúi đầu, suy nghĩ một lúc rồi ngửng mặt lên trả lời dứt khoát:
-Tôi chẳng có gì phải suy nghĩ hết. Tôi định được tương lai mình, tôi biết
một ngày nào đó, tôi sẽ sống cuộc đời còn … ngon hơn anh nữa.
Đù mẹ thằng bé này ngon thật, khẩu khí mấy thằng có tài thật khác thiên
hạ, Russo thầm nghĩ.
-Được, nhóc con! Mày muốn hơn tao cũng là một điều tốt, nhưng trước khi
hơn được tao, mày phải trải qua một thời kỳ huấn luyện đã. Tao sẽ biến mày thành một tay chơi thượng thặng của Hoa Kỳ. Xã hội giang hồ không phải chỉ có tài bắn súng thôi là đủ làm trùm thiên hạ đâu. Mày phải học hỏi nhiều thứ …
Frank Nitti nhìn Russo lạnh lùng:
-Tôi biết, vì vậy tối hôm qua tôi mới bắn chết hai thằng kia để cứu mạng
cho anh.
Thằng nhãi này kinh thật. Ơn cứu tử tối hôm qua Russo nào dám quên,
nhưng không ngờ thằng này lại hụych toẹt nói ra như vậy thì còn gì là tình nghĩa nữa. Russo bỗng nổi giận. Phải dạy cho thằng chó con này bài học giang hồ đầu tiên mới được.
Russo chợt chồm tới trước vung tay tát một cái như trời giáng vào mặt thằng Frank Nitti. Cái tát của đàn anh mạnh quá, đẩy bật thằng nhỏ văng ra khỏi
ghế ngồi. Ly chén rớt kêu loảng xoảng. Cả quán cà phê dựt mình khi nhìn thấy một thằng thanh niên bị té chổng gộng trên sàn nhà. Ông chủ quán biết người hành hung là ai nên không hề dám thắc mắc, chỉ nhìn một lượt quanh nhà hàng rồi nhún vai một cái như thầm bảo với đám khách hàng trong quán: “Dân giang hồ với nhau đấy, kệ mẹ chúng nó, đừng có xía vào” rồi lẳng lặng quay lui.
Bị một cái tát đau điếng, Frank Nitti đưa tay xoa má rồi lòm còm ngồi dậy.
Đàn anh Russo bị loạn thần kinh chắc? Tối qua mình vừa mới cứu giả thoát chết, chưa mở một lời cám ơn lại dộng cho mình một cái tát như thế này nghĩa là làm sao?
Nhìn lên còn thấy mặt đàn anh hầm hầm, nên Frank Nitti chưa dám đứng dậy vội:
-Anh Russo, … chơi gì kỳ vậy?
– Mày còn giữ ý muốn đi giang hồ với tao không?
-Muốn chớ, nhưng không phải kiểu này. Giang hồ cái kiểu … bị đòn này thì
bố thằng nào dám theo anh?
-Tao mới dạy cho mày một bài học. Lên ngồi đây đi để tao dạy tiếp luôn
cho bài học thứ hai.
Frank Nitti yên chí đứng lên và từ từ tiến lại, giở cái khăn bàn lên và ngồi
xuống. Nhưng đít nó chưa an tọa thì Russo đã chụp cổ nó, thẳng tay giộng cho một quả đấm vào giữa mặt.
Đã chuẩn bị sẵn nên Frank Nitti đưa tay lên đỡ. Nhưng nó đâu biết cú vừa
rồi chỉ là cú giả. Đàn anh chỉ chờ có vậy là rút tay về, tay kia buông cổ nó ra làm một cú direct nặng nghìn cân vào ngay giữa bụng thằng nhỏ.
Chỉ nghe hự một tiếng là Frank Nitti bị gục người xuống làm đôi. Bàn tay
kia của Russo đi “ra phan” thêm cú thứ hai, móc từ dưới lên, lần này chính xác vào ngay giữa mặt nó.
Frank Nitti bật ra sau, cả người lẫn ghế rớt cái rầm trên sàn nhà. Đau đớn
quá, nó nổi khùng, chẳng còn kể anh em gì nữa, thò tay vô bụng móc ra cây Colt.45, nhưng đàn anh Russo biết ý đàn em nên đã đỡ nhẹ cây súng của nó không biết từ lúc nào.
Nó gầm lên, đau đớn:
-Tại sao anh lại … đánh tôi? Đ.M. tôi làm gì?
Russo nhún vai:
– Học mà không hành thì chừng nào mới khá được?
Frank Nitti lại lòm còm bò dậy. Lần này nó đứng xa xa, hỏi:
-Bài học gì kỳ vậy?
-Đó là bài ” … đéo bao giờ tin ai hết,” và luôn luôn thủ thân mình, ngay cả đối với anh em trong nhà.”
-Còn cái tát đầu tiên là gì?
-Ngồi xuống đây rồi từ từ tao nói cho.
Frank Nitti lắc đầu:
-Đéo. Bộ tui ngu sao? Tôi đéo ngồi với anh nữa!
Russo cười:
-Lần này tao nói thiệt. Tao không giộng mày nữa đâu.
-Anh vừa dậy tôi là không bao giờ tin ai hết. Làm sao tôi tin anh được?
Anh có gì làm bằng cớ là sẽ không giộng tôi một cái nữa không?
Russo móc cây Colt.45 có cán bạc của Frank Nitti ra thẩy lên bàn:
-Tao nói thiệt. Nếu tao trái lời thì súng của mày đây, mày cứ việc “nổ đẹp”.
Frank Nitti tới gần bàn, thò tay chụp cây súng trước cho chắc ăn rồi mới
ngồi xuống.
Thực khách trong quán tuy nghe lời ông chủ nhưng ai cũng vừa ăn vừa liếc
mắt coi hai thằng ăn cướp này làm gì, đến khi thấy Russo móc cây Colt thảy lên bàn thì thiên hạ chịu hết nổi, lẳng lặng đứng dậy tính tiền bỏ ra về. Ông chủ quán không biết tính sao, cũng không dám mở miệng than thở, cứ thầm kêu trời như bọng trong lòng.
Những viêc này không thoát khỏi cặp mắt tinh đời của đàn anh Russo. Nó
nhìn ông chủ ôn tồn nói:
-Ông chủ đừng lo, Russo này không để ông thiệt thòi đâu.
Lão mập lại nhún vai, miệng ráng điểm một nụ cười. Frank Nitti nhìn đàn
anh:
-Bây giờ anh nói đi, bài học của … cái tát đầu tiên là gì?
Đàn anh Russo cắm một điếu thuốc vào môi, nhìn Frank Nitti:
-Mày có hộp quẹt?
-Tôi không biết hút thuốc.
-Ai hỏi mày biết hút thuốc hay không? Bài học thứ ba là hễ thấy tao ngậm
điếu thuốc hay ngậm bất kỳ cái gì vô miệng là phải điếu đóm chìa ra cái hộp quẹt mà mồi lửa cho tao liền. Đù mẹ dân “quí tộc” Sicilian cỡ như tao không bao giờ tự mồi thuốc lấy. Hiểu chưa?
Frank Nitti không ngờ đi làm ăn cướp mà cũng có nghi lễ khó khăn vậy.
Nó đang ngồi thộn mặt thì đàn anh hét luôn vào mặt nó:
-Đù mẹ còn chờ gì nữa? Đi kiếm cái hộp quẹt cho mau. Xong rồi về đây
tao dạy cho bài học thứ tư.
Mồi lửa cho đàn anh xong, Frank Nitti cứ thắc mắc là sao mình cứ được
dạy hết bài này đến bài kia mà bài thứ nhất vẫn không biết được. Và nó giựt mình khi thấy đàn anh Russo chìa tay ra đưa cho nó cái băng đạn của cây Colt.45.
-Súng không có đạn thì chẳng hơn gì một cục sắt. Bài học thứ tư cho mày
là không bao giờ thủ một cây súng trong tay mà không kiểm soát coi nó có đạn trong đó không.
Frank Nitti nhét băng đạn vào súng. Russo tiếp tục:
-Bài thứ năm là không bao giờ đưa một cây súng cho kẻ thù mà lớ ngớ còn để viên đạn nào trong đó. Có thể một trong những viên đó là những viên kết liểu
cuộc đời mình. Nghe rõ chưa?
-Rõ. Còn bài học số một là bài học gì?
Russo không trả lời, cầm muỗm khuấy đều ly cà phê, phì thuốc lá um khói
lên cả một vùng. Lăn lộn giang hồ bao nhiêu năm, Russo có cái biệt tài “ngửi” được những con người nguy hiểm. Chỉ trong vòng hai năm thôi, thằng bé con này sẽ làm đảo điên giới giang hồ với cây Colt.45 và cái tính liều bạt mạng của nó. Nếu nó khéo léo một chút, thiên hạ sẽ về tay nó hết. Russo dụi tắt điếu thuốc, từ từ nhã ra giòng khói cuối:
-Bài học đầu tiên là, dân giang hồ với nhau, ơn qua nghĩa lại là chuyện
thường, chú mày không bao giờ được đem những cái “nợ” của mình ra để khoe
khoang hay thương lượng. Tối qua mày cứu mạng tao, ai biết được ngày mai thằng nào sẽ cứu mày. Nói tóm tắt là mày ăn nói với ai phải ráng giữ mồm giữ miệng. Mày không biết người ta giết nhau vì tiền bạc hay quyền lợi thì ít mà vì cái lỗ miệng thì nhiều hay sao? Nếu không biết ăn biết nói thì tốt hơn hết là câm cha nó cái họng của mình lại. Đó là bài học đầu tiên và cũng là bài học quan trọng nhất. Ráng mà nhớ lấy …
Frank Nitti trầm ngâm suy nghĩ. Nó biết xưa nay mình vốn là một thằng
thiếu khoa ăn nói. Giận ai thì nói là giận, thương thì nói là thương, tuyệt khỏi có cái màn nghĩ một mà nói hai như những thằng khác. Đi học ở nhà trường, nó không biết tại sao đối xử với người khác rất đẹp, chi địa rất xộp mà vẫn không bao giờ có bạn. Nhiều khi còn bị chúng bạn xa lánh như người ta xa lánh hủi mới là phiền. Sáng hôm nay, được đàn anh chỉ giáo vậy thì còn gì quí bằng.
-Mày phải biết, lời nói là sức mạnh. Sự giàu sang, uy quyền của con người
95 phần trăm đều từ lỗ miệng mà ra hết. Mày nói đúng một câu vào lúc hợp thời, sẽ lên vù vù. Ngược lại, nói bậy một câu không đúng chỗ, nhiều khi có thể bị mất mạng như chơi. Nhất là trong giới giang hồ …
Frank Nitti ngồi để cho những lời nói vàng ngọc thấm vào tim óc. Nó gật
gù.
-Đàn anh nói phải quá, nhưng thằng Frank Nitti này thì thiếu hẳn cái khoa
ăn nói …
-Vậy thì ráng câm cha cái họng mày lại. Nói càng ít càng tốt.
Kể từ hôm đó, suốt cuộc đời giang hồ còn lại của thằng ăn cướp này, nó đã
thực hành bài học quí giá thứ nhất của đàn anh Russo không sai một ly. Thực hành hay đến nổi giang hồ thường gọi nó là “Frank câm” vì bản tính không thích nói mà chỉ thích móc súng.
Russo lại ngậm một điếu thuốc lá khác vào mồm. Vừa nhìn thấy là Frank
Nitti hốt hoảng chụp cái hộp quẹt, điếu đóm mồi lửa cho đàn anh. Russo rít một hơi dài, mắt lim dim sảng khoái. Coi, thằng này mặt mũi coi xấu xí thôi chứ đâu phải là dân ngu. Với cái tài bắn của nó cộng thêm cái đầu óc biết tính toán của mình thì New York chắc có nhiều thằng sẽ vải đái trong quần.
Russo đứng dậy bước ra quầy tính tiền. Ông chủ là người nhà, bèn biểu
diễn một nụ cười tươi như hoa, xun xoe:
-Đàn anh hôm nay thấy cà phê thế nào? Bọn nhà bếp chiên trứng cho đàn anh có ngon không? Lâu lâu đàn anh mới chiếu cố đến đây, thật là quí quá …
– Thường thường, một buổi sáng như vậy ông bán được bao nhiêu?
-Dạ cỡ năm chục đô.
-Sáng nay ông bán được bao nhiêu rồi?
Ông chủ nhún vai:
-Khoảng vài chục.
Russo móc ra tờ giấy trăm, dùng ngón tay búng vào tờ bạc nghe đến tách
một cái rồi để lên bàn:
-Tôi đã nói là tôi không để cho ông thiệt thòi mà. Ông cầm giùm tờ giấy
bạc này, gọi là chút quà mọn của Russo …
Ông chủ quán cà phê mừng quá, mắt liếc tờ giấy bạc nhưng chưa dám cầm
lấy. Chưa biết ông nội trùm du đãng này sẽ giở trò gì đây? Russo quay sang thằng Frank Nitti, hỏi chậm rãi:
-Tới bài thứ mấy rồi?
-Bài thứ sáu.
-Good! Bài học thứ sáu, nghe đây thằng em, dân giang hồ nói một câu là
phải chắc như đinh đóng cột. Nói giết là giết, nói tha là tha. Nhiều khi, phải bỏ cả mạng sống mình để giữ lời hứa. Tao đã hứa không để người ta thiệt thòi thì tao phải giữ lời. Trừ khi mình nằm dưới lòng đất thì không nói làm chi nhưng còn sống thì phải giữ cho được lời hứa.
-Nghe rõ!
Lão mập lại lải nhải:
-Đàn anh Russo, tôi không dám. …. Đàn anh làm vậy kẹt tôi quá, có sao đâu, lâu lâu khách đánh nhau trong tiệm là thường mà. Hơn nữa, đàn anh đâu có
đánh nhau đâu …
Russo gấp đôi tờ giấy bạc bỏ vào túi áo trên của ông chủ. Lão thấy sướng
mê người, nhưng miệng cứ tiếp tục từ chối. Russo quàng vai lão, vừa thủ thỉ vào tai vừa kéo lão ra một góc nhà:
-Có chuyện này muốn hỏi ông chút xíu …
Thấy mặt ông chủ tiệm cà phê bắt đầu tái đi, Russo mỉm cười, móc ra một
tấm hình, nói rất nhỏ. Nhỏ đến độ ngay cả thằng Frank Nitti đứng sát bên cũng
không nghe thấy:
-Biết thằng này không?
Ông chủ quán nhìn tấm hình rồi lắc đầu:
-Chưa bao giờ thấy.
Russo gật đầu, cất tấm hình trở lại vô trong túi. Lúc bàn tay nó rút ra khỏi
túi, hai ngón giữa có kẹp theo một mảnh giấy nhỏ, kín đáo đưa cho ông chủ:
– Nếu ông thấy nó, gọi dùm số điện thoại này được không?
Chỉ chừng đó thôi, khỏi cần nghe câu trả lời của ông chủ, Russo quay sang
nhìn thằng Frank Nitti:
-Mũ tao đâu mày? Bài học thứ bẩy, luôn luôn chăm sóc cho xếp, coi xếp
như là cha đẻ của mày vậy. Ở trong nhà thì lo hầu hạ cơn nước, ra khỏi nhà thì phải lo lấy mũ, sách cặp táp, lái xe v.v …
Frank Nitti le làng lấy cái mũ trên giá đưa cho Russo. Đàn anh búng búng ngón tay vào mũ vài cái cho đúng điệu “quí tộc Sicilian” rồi đội vào. Frank Nitti mở
cửa cho Russo đi ra ngoài rồi bước theo sau, điệu bộ chửng chạc ngon lành không thua bất cứ một thằng găng tơ thứ thiệt nào của thành phố New York ….
Russo tuy thô lỗ vậy nhưng tình nghĩa luôn luôn đầy ăm ắp. Chiều đó, nó
bắt Frank Nitti chở mình về nhà để thăm bà Albert Nitti. Gặp bà là Russo chạy tới ôm chầm lấy, làm bà muốn rơi lệ. Tuy không ở lâu trong gia đình này nhưng Russo rất quý ông Albert khi còn sinh tiền. Ông luôn luôn chi rất đẹp cho anh em. Nó nhớ ngày phải bỏ New York ra đi vì một chuyện rắc rối với cảnh sát, đến giã từ ông Albert Nitti, Russo có linh cảm hình như một chuyện gì đó sẽ xảy ra. Nó ôm ông chủ tiệm may tận tình khuyên nhủ: “Tụi nó sẽ ra tay vào cái lúc ông không ngờ nhất. Ông ráng cẩn thận. Nhưng theo ý tôi thì cách đề phòng hay nhất là ông nên giàn xếp, thương lượng trả cho chúng nó một ít tiền … Trời sinh ông không sinh ra để cầm kéo chứ không phải cầm súng … “
Ông Albert Nitti đã có vẻ thấm mệt, hình như muốn thương thuyết trở lại
nhưng chưa có dịp. Sau đó, Russo vì miếng ăn nên lăn lộn nhiều nơi và quên bẳng chuyện này, không ngờ hôm gặp được cậu quý tử của ông chủ thì ông chủ cũ chẳng còn nữa. Trước khi từ giã ra đi, Russo dúi vào tay bà quả phụ một mớ giấy bạc và hứa sẽ “bảo bọc” cho thằng Frank Nitti.
Bước ra khỏi cửa, Russo kéo thằng Frank Nitti theo, nói nhỏ:
-Tối nay ráng đi ngủ sớm. Sáng mai ra quán cà phê hồi sớm gặp tao …
Frank Nitti gật đầu nhưng nó biết tối nay không thể đi ngủ sớm được.
Trong đầu nó có một kế hoạch khác cần phải thi hành, sợ để lâu thì nguội mất. Nó muốn trả thù cái tát tai của thằng Eddie …
Tôi vụt thức khi thấy cổ họng mình khô rang. Ngó dạ quang của đồng hồ: 2 giờ 48 phút. Thì ra tôi đã chợp mắt trong cơn sợ hãi. Thuốc lá làm họng tôi khô, lưỡi tôi khô, môi tôi khô nhưng rượu đã không làm tôi say. Rượu đủ. Đó là tên truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu. Rượu chưa đủ, không đủ khả năng trấn áp nỗi sợ biển máu của tôi. Có lẽ, thuốc phiện đủ khả năng ấy. Tôi thèm được nằm bàn đèn với Nguyễn Mạnh Côn – với Hoàng Hải Thủy thì nhất – hút vài cặp. Thuốc phiện sẽ bắt tan loãng mọi sợ hãi. Nếu ta say, thuốc phiện giúp ta thoát thực tại ưu phiền, đưa ta lên cõi phiêu bồng lâng lâng. Thuốc phiện lâu say mà say lâu. Và hễ say, dao kề cổ vẫn tỉnh bơ, bởi chẳng còn ý thức nổi không gian, thời gian, nói chi sự việc quanh mình. Dẫu mắt vẫn mở. Mắt mở không phải là thức. Dù mắt nhắm. Mắt nhắm không phải là ngủ. Tai vẫn nghe người nói song không biết trả lời Lý Bạch mới say rượu mà đã trở thành thi bá và chết đẹp vì say. Thời nhà Đường, Trung Hoa chưa “sáng tạo” được dọc tẩu, đèn dầu lạc và cung cách nằm hít tô phe, nên Lý Bạch đã chưa phiêu diêu trong cõi say phù dung. Do đó, nhân loại vẫn thiếu những bài thơ trác tuyệt của thi sĩ thịnh Đường. Giá tôi được chết say thuốc phiện, tôi sẽ hoan hỉ vô cùng. Tôi sẽ vượt khỏi sợ hãi chờ chết. Hạnh phúc cho những nhà văn nào bị cộng sản đánh dấu, bị thất bại di tản, đang chong ngọn đèn dầu lạc soi tâm sự và thả tâm sự ấy theo khói thuốc phiện vào giây phút mà cái thòng lọng thù hận đang xiết chặt dần cổ mình. Không có thuốc phiện, tôi đành đem hồi tưởng và ý nghĩ vẩn vơ ra thay thế và coi như những lời giăng dối gửi cho hư vô. Trăm năm trước tôi, Từ Diễn Đồng đã chờ sáng: Đêm sao đêm mãi tối mò mò Đêm đến bao giờ mới sáng cho Con trẻ u ơ chừng muốn dậy Ông già húng hắng ngại thèm ho Ngọn đèn giữ trộm khêu còn nhỏ Tiếng chó nghi người cắn vẫn to Làng nước ai ai đà thúc dậy Dậy thì lên tiếng gọi nhà nho Dân tộc bất hạnh của chúng ta chờ sáng dài dài, chờ sáng đều đều. Đêm tối không chỉ một đời người mà từng thế kỷ. Trăm năm sau Từ Diễn Đồng, Nguyễn Sĩ Tể lại Chờ sáng. Tôi không chờ sáng. Tôi muốn đêm tối vô cùng, đừng bao giờ sáng nữa. Vì bóng tối vỡ, tôi sẽ nhìn rõ hình cụ của đao phủ. Tôi đang chờ chết. Làm sao anh có cảm giác đích thực của kẻ chờ chết? Người ta hằng nói về nỗi thống khổ, về nỗi sợ hãi đã kinh qua. Kinh qua chưa đủ. Cần thể nghiệm. Cho nên, có nhiều nhà văn của chúng ta ôm trái ngọt thống khổ mà không dám nuốt. Rốt cuộc, sự kinh qua thống khổ chỉ thể hiện trên những trang giấy kể khổ, tố khổ mà không soi sáng cho đời sống một ý nghĩa nào. Đây là một thiếu sót lớn trong văn nghệ của chúng ta. Sự thiếu sót đã khiến tác phẩm văn chương của chúng ta thiếu kích thước, vắng cái chiều sâu thăm thẳm. Hình như, chúng ta cũng bằng lòng sự thiếu sót đó. Và chúng ta đánh giá đại tác phẩm của chúng ta bằng cuốn sách nào nhiều sổ trang nhất, dầy nhất, cầm nặng tay nhất? Thế thì lại thêm một vấn đề đặt ra. Kinh qua nỗi khổ, thể nghiệm trọn vẹn nỗi khổ mà nhiều tài năng phô diễn, xem chừng cũng vô tích sự. Tôi là kẻ thiếu tài năng phô diễn nên tôi đã không phô diễn trọn vẹn cảm giác sợ hãi chờ chết của tôi. Và tôi bắt chước Thanh Tịnh để khỏa lấp một sự bất tài: Bấy giờ tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Tôi bắt chước câu văn của Thanh Tịnh thôi. Trường hợp hồi tưởng buổi học đầu đời của Thanh Tịnh và trường hợp của tôi khác hẳn. Rõ rệt tôi là kẻ bất tài. Súng vẫn nổ ròn ở phía phi trường Tân Sơn Nhất. Trực thăng Hoa Kỳ vẫn vần vũ một góc trời Sài gòn. Ở những nơi nào nữa, trên quê hương miền Nam, những người lính Cộng Hòa đang trả lời chính quyền Mỹ, dân tộc Mỹ và thế giới rằng, họ không phải là tên bù nhìn Nguyễn văn Thiệu. Khẩu khí Nguyễn văn Thiệu là, khẩu khí một tên lính đánh mướn. Thiệu không chống cộng, Thiệu nhả ngôi vị tổng thống vì Mỹ cúp viện trợ. Lính và sĩ quan liêm sỉ của nước Việt Nam cộng hòa tiếp tục chiến đấu chiến đấu vào lúc “đại tướng” Cao văn Viên đã đào ngũ chạy trốn sang đảo Guam. Bây giờ tôi mới thấy tôi hèn nhát. Nếu tôi đã là lính, lúc này, tôi được chiến đấu, được chết anh dũng, chết xứng đáng. Dẫu không có quan tài, không có quốc kỳ phủ trên quan tài, không cả da ngựa bọc thây, vẫn còn giọt nước mắt tiếc thương của chiến hữu. Vì tôi trót hèn nhát nên tôi phải ngồi chờ chết, chờ chết nhục, chết thảm. Chợt nhớ đoàn xe tăng tối hôm qua, tôi băn khoăn không hiểu xe tăng của ta đi về đâu chặn giặc cứ điểm nào. Bên kia biên giới của tuyệt vọng là hy vọng. Câu này áng trong tôi một đốm sáng. Tôi kiếm cái radio nhỏ mở nghe tin tức xem Tân tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam cộng hòa, trung tướng Vĩnh Lộc, còn tuyên bố gì thêm không. Đài phát thanh Quân Đội im bặt. Đài Sài gòn chỉ léo nhéo Nối vòng tay lớn và giọng nói no đầy đắc thời của tên dân biểu ngu dốt chủ trương giữa Lý Quý Chung. Hắn đã là Tổng trưởng Thông tin của nội các Vũ văn Mẫu. Tướng Vĩnh Lộc không còn tiếng nói. Ông ta đang ở đâu? Xướng ngôn viên quen thuộc của đài Sài gòn loan tin giới nghiêm 24 trên 24 kể từ hôm nay, 30-4-1975. Giới nghiêm 24 trên 24. Tình trạng cực kỳ nghiêm trọng rồi. Sài gòn sẽ biến thành một Stalingrad chăng? Tôi mong thế. Để được chiến đấu và được chết đúng nghĩa một cái chết. Tắt radio. Tôi ngồi hút thuốc chờ sáng. Tôi không chờ chết nữa…
° ° °
Những chuyện vừa xảy ra từ đầu tháng 4 mà tưởng chừng xa lắm rồi. Lịch sử nào cũng có những trang buồn bã và những trang chó đẻ. Những trang chó đẻ nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại tính từ ngày 12-3-1975. Và những trang này không chứa chất u ẩn cần các sử gia đời sau soi sáng. Nó phơi ra thỗn thện như những miếng thịt bầy nhầy, như xác chết muông thú nhung nhúc ròi bọ. Hiện nguyên hình, hiện rõ chân tướng trên những trang sử chó đẻ là bọn thống trị tôi mọi chiếu nhất, chiếu nhì của cái chế độ bệ rạc đệ nhị cộng hòa. Khi máu của dân, của lính chẩy dài dọc 300 cây số liên tỉnh lộ số 7, con trâu Nguyễn văn Thiệu và con bò Trần Thiện Khiêm vẫn húc nhau. Đứa tham nhũng đòi lật đổ đứa tham nhũng. Và thầy tu Trần Hữu Thanh và “chiến hữu” đã nhân danh cái Thiện chống cái ác vì cái ác khác. Cuộc chiến đấu của thầy tu Trần Hữu Thanh không có tên để đặt. Có vẻ, cuộc chiến đấu ấy như thể là cuộc khiêu vũ trên xác chết. Cao nguyên đã mất. Vùng đất chiến lược đã mất. Con trâu hận chủ nó và hận con bò đã nộp dân, dâng đất cho cộng sản. Trâu bò không có lòng trắc ẩn, nên cảnh tượng hãi hùng diễn ra dọc 300 cây số đường máu chỉ là hoạt cảnh tương tự chương trình tạp lục của Tùng Lâm. Và tất cả đồng ý với trâu bò, sự nghiệp nộp dân, dâng đất cho cộng sản của Nguyễn văn Thiệu là… di tản chiến thuật? Người ta bỗng nhớ những cuộc rút lui chiến thuật theo “Thông cáo của Bộ tối cao chỉ huy quân đội liên hiệp Pháp” vào những ngày trước 20-7-1954 và sau thất bại Điện Biên Phủ. Thoạt đầu, những tỉnh thượng du “rút lui chiến thuật” rồi các tỉnh trung du “rút lui chiến thuật” rồi các tỉnh đồng bằng “rút lui chiến thuật.” Rồi mất miền Bắc. Dĩ vãng đã không lay động cơn mê sảng hiện tại. Và cơn mê sảng biến chứng thành lú lấp. “Rút lui chiến thuật” 1954 không phải, không bao giờ phải là “di tản chiến thuật” 1975. Cái chính trường của Sài gòn hoàng hôn chỉ đủ khả năng găm vào Nguyễn văn Thiệu và triều đình cầy cáo của Thiệu. Và, thê thảm lắm, sự mong muốn của Thiệu, từ chức, người ta quả quyết, là ý Mỹ.
Đó là sự thật đau lòng. Mỹ muốn Ngô Đình Diệm thay thế Bảo Đại, thay thế ảnh hưởng thực dân cũ bằng thực dân mới. Bảo Đại bị truất phế. Mỹ muốn thay thế Ngô Đình Diệm bằng đám tướng lãnh vai u thịt bắp, vô học và ngoan ngoãn. Ngô Đình Diệm bị hạ sát. Ngô Đình Diệm trưng cầu dân ý để phản bội Bảo Đại và tự biên tự diễn cách mạng nhân vị. Cách mạng nhân vị đã tiêu diệt quốc trưởng Bảo Đại và toàn ban Hội tề ấm ớ. Đám tướng lãnh thoán nghịch cũng nhân danh cách mạng tháng 11 tiêu diệt nhà Ngô và cách mạng nhân vị. Mỹ muốn thế. Mỹ muốn hết. Mỹ chỉ cần tay sai một giai đoạn nào đó, cho một mục đích nào đó. Nhưng Mỹ khoái chơi trò chơi dân chủ. Mỹ mở võ đài đánh đấm độc tài. Mỹ cổ võ. Cả nước Việt Nam chống độc tài Ngô Đình Diệm. Cả nước Việt Nam tưởng mình làm cách mạng, tưởng mình hạ bệ Ngô Đình Diệm. Nẩy sinh một số kiêu tăng mà Thích Trí Quang là biểu tượng rõ nét. Ông thầy tu này coi miền Nam giống cái sân chùa Từ Đàm của ông. ông đã thật “thiêng liêng” những giai đoạn chống Diệm, chống Hương, chống Kỳ. ông thật sự hết thiêng khi chống Thiệu. Tòa Đại Sứ Mỹ đã ngó lơ, mặc ông tuyệt thực đủ 100 ngày trước Dinh Độc Lập rồi ông âm thầm về dưỡng sức tại Dưỡng đường “đỡ đẻ” của bác sĩ Nguyễn Duy Tài? Thích Trí Quang cháy từ đó. ông ta không hiểu Mỹ chỉ cần ông ta cho một mục đích nào đó, trong một giai đoạn nào đó. Nhiều kẻ đối lập Thiệu và đối lập tổ quốc cũng không hiểu, không chịu hiểu và không biết hiểu như ông thầy tu Thích Trí Quang. Mỹ xử dụng ông Trí Quang, thỏa mãn tự ái của Phật tử quá khích, giải tỏa niềm tự ti lép vế 100 năm, đồng thời, hâm nóng tự ái Chúa tử, réo gọi cái lép vế hiện thời. Giữa Trí Quang và Hoàng Quỳnh giàn trận. Hai đêm mù mịt con Phật, con Chúa giao tranh giữa Sài gòn, thời Nguyễn Khảnh, là kết quả đẹp của Tòa Đại Sứ Mỹ. Đến lượt Thiên chúa giáo quá khích biểu dương lực lượng “kick-out” Cabot Lodge và “chiếm đóng” Dinh Gia Long. Tôn giáo thay thế đảng phái. Đảng phái hoàn toàn tê liệt. Mỹ lại phân tán mỏng tôn giáo. Phật Giáo chia ra hai hệ phái kình địch nhau: ấn Quang và Việt Nam quốc tự. Giấc mộng hóa đạo (hóa các đạo khác thành đạo Phật) mà văn gia Nguyễn Đức Quỳnh mớm cho ông Thích Tâm Châu bị vỡ. Thiên chúa giáo chia ra hai lực lượng chống đối nhau: Lực lượng đại đoàn kết và Mặt trận công dân công giáo. Trò chơi của Mỹ đã xong. Nguyễn văn Thiệu yên ổn đóng vai bù nhìn. Và Mỹ tự do toan tính những âm mưu của Mỹ. Những kẻ thèm quyền bính và những kẻ chống đối ảo tưởng không quán triệt cái thủ thuật dùng tay sai cho mục đích nào, trong giai đoạn nào của Mỹ nên đã đối lập hư vô, đã câu sao in mặt nước, đã cù trên mũ sắt. Khi Mỹ còn cần Thiệu như một đầy tớ đắc dụng, chống đối Thiệu chỉ là sự làm dáng dân chủ giả hiệu của Mỹ ở nước nhỏ. Nhưng khi Mỹ không cần Thiệu và không cần bất cứ một tay sai nào thay thế Thiệu nữa, Mỹ muốn bỏ rơi Nam Việt Nam – vì đến giai đoạn bỏ, bởi mục đích đã đạt – thì người ta lại chỉ có thể hiểu rằng Mỹ sẽ bỏ Thiệu vì… ý dân bản xứ là ý trời. Ý ấy thể hiện ở công cuộc bài trừ tham nhũng Nguyễn văn Thiệu của thầy tu Trần Hữu Thanh. Có lẽ, ông thầy tu Trần Hữu Thanh ngây thơ, ông tưởng Trần Thiện Khiêm trong sạch như “con cò mà đi ăn đêm, đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”, hoặc Trần Thiện Khiêm như cánh sen, “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Ông ta “trụ trì” ở Dòng Chúa Cứu Thế, đâu biết những cánh rừng thông non của tổ quốc, Trần Thiện Khiêm đã bán hết, bán rẻ cho tư bản Nhật. Riêng vụ chặt thông non, Trần Thiện Khiêm đã đáng đem ra xử tử Nếu có dịp – trước 1975, dĩ nhiên – ra Cam Ranh, thấy gốc và ngọn thông xếp núi vất lại, lái buôn Nhật chỉ mua khúc thân giữa thật ngắn, mới đếm được tội ác của Trần Thiện Khiêm. Và người tê liệt lòng yêu nước cũng bỗng dậy lòng yêu nước. Thầy tu Trần Hữu Thanh không nhìn thấy gì, nghe thấy gì cả. Thầy nhắm mắt bài trừ tham nhũng Nguyễn văn Thiệu nhân danh tham nhũng Trần Thiện Khiêm. Và, như những kẻ bị Thiệu loại ra khỏi chính trường, tước đoạt quyền bính, thầy tu Trần Hữu Thanh hồ hởi phấn khởi chờ đợi ngày Nguyễn văn Thiệu gửi lời “cám ơn” đồng bào 1. Tất cả đã chỉ vì Thiệu, chỉ nhằm Thiệu mà quên suy diễn: Hàng tỉ đô-la tung sang Việt Nam, không tiếc sao lại tiếc 200 triệu? Nhưng cái chính trường vét đĩa ấy đã không suy diễn sự kiện Mỹ cúp viện trợ, đã không nhớ lại sự “rút lui chiến thuật” 1954. Nó bung ra tứ phía và tưởng cò sẽ béo khi nước đục. Nó rộn ràng đó đây. Nó hân hoan Mỹ cúp viện trợ cho Thiệu. Nó tưởng Mỹ cúp viện trợ cho Thiệu là đuổi Thiệu đi. Nó hy vọng tràn trề, kế vị Thiệu sẽ được Mỹ tiếp tục viện trợ và viện trợ nhiều hơn. Những người đủ tư cách trả lời những kẻ ôm ảo tưởng Mỹ viện trợ nhiều hơn là các ông tướng quân đoàn, tướng sư đoàn thì đều im lặng. Chỉ cần một ông tướng pháo binh nói sự thật về sự giới hạn đến thê thảm đạn phản pháo. Đã đủ thức tỉnh mọi người cái thế kết đoàn tự lực ngăn giặc. Buồn thay, đã chẳng hề ai có thẩm quyền lên tiếng về những phi vụ Mỹ yểm trợ hành quân càng ngày càng thưa từ sau hòa ước Paris và mất hẳn và chiến cụ viện trợ nhỏ giọt bó tay quân lực Việt Nam cộng hòa. Bầy hạc gỗ nín khe. Đám cầy cáo hưởng thụ no nê thì hóa đui, điếc, câm. Bởi thế, thay vì rộn ràng một hội nghị Diên Hồng không cần Thiệu và quần thần đê tiện của Thiệu, người ta tấp nập, vội vàng chiếm thế thượng phong vào… Dinh Độc Lập ngồi lên cái ghế nô dịch của Thiệu. Ba trăm cây số đường máu oan nghiệt của quân dân “di tản chiến thuật” không làm xúc động ai. Hình như ruồi nhặng chỉ thích đậu trên máu quánh, và kên kên chỉ thèm xác chết rữa… Đó đây, từng nhóm thống trị bù nhìn phế thải họp bàn mưu đồ lợi dụng thời cơ phục hồi quyền bính cũ. Những khuôn mặt cá ươn của chính trường bay ra cái chợ chiều dân tộc. Và những giọng nói cú vọ lại phát ngôn lời sắt son yêu nước. ông Nguyễn Cao Kỳ là người cay cú Nguyễn văn Thiệu nhất và thèm quyền bính nhất trong đám tôm tép chợ chiều. Thuở nắm quyền bính “độc lập, tự do” trên: không có kỳ đà tổng thống cản mũi, dưới: không có gà què quốc hội làm phiền, ông ta thường hay phát ngôn nhảm nhí bất xứng với cương vị thủ tướng. Trong chợ chiều, ông ta buông một câu chính khí: – “Tôi không đi đâu cả. Tôi nhất định ở lại Việt Nam. Tôi đã quen ăn tương cà, canh mắm rồi. Sang Mỹ ăn bơ sữa dễ bị ỉa té re. Đứa nào sang Mỹ, đàn ông làm cu-ly đàn bà làm đĩ “! Nhiều người rất cảm động khẩu khí Nguyễn Cao Kỳ, đinh ninh rằng ông ở lại chiến đấu, quyết xin được da ngựa bọc thây, dẫu chẳng lật lại thời thế, bảo vệ miền Nam dân chủ tự do, thì cũng đem thân báo đền nợ nước để khỏi thẹn với tiền nhân dưới suối vàng. Xin mở một ngoặc đơn. (Rất tiếc ông Nguyễn Cao Kỳ đã ra đi. Người ta sẽ thông cảm ông, sẽ chia xẻ với ông lời nói của cổ nhân “chấp kinh tòng quyền”, nếu ông biết ẩn thân, diện bích mà suy nghĩ một câu ngắn trong Cựu ước: “Có một thời im lặng và một thời lên tiếng”. Tại ông ham lên tiếng và lại lên tiếng nhảm, lên tiếng không đúng thời nên ông mắc khẩu nghiệp. Và bị công kích. Khi viết cuốn sách này và từ dòng này, tôi đã thiền, nên xin ông hiểu giùm rằng, tôi không thích công kích ông nữa). Khép ngoặc đơn. Dù ghét ông Kỳ hay dù chẳng ghét ông Kỳ, rất nhiều người đã vì khẩu khí Tân Sa Châu của Nguyễn Cao Kỳ mà ở lại, hy vọng được cùng ông Kỳ chiên đấu. Rốt cuộc thì đa số vào tù nghĩ là ông Nguyễn Cao Kỳ sáng giá nhất chợ chiều tôm tép, một ông tướng đã vội hạ quyết tâm: – Lần này ông nắm quyền bính, thằng nào trình văn thư cho ông ký ở bàn mạt chược, xin phép ông, tôi bắn bỏ hết! Đó mới là sinh hoạt một cụm. Những cụm khác ra sao? Quý vị mót làm Tổng trưởng lăng xăng như gà mót đẻ. Thiệu đổ sẽ có nội các mới. Nội các nào? Người ta đi tìm chỗ cư ngụ của Thủ tướng tương lai. Thầy tu Trần Hữu Thanh quên Chúa, nhất định phá bùa ếm dấu trong bụng con rùa đồng đen làm chân tượng đài tri ân các nước viện trợ cho Việt Nam cộng hòa. Đất nước bất hạnh của chúng ta đã có Tổng thống tin bói toán, tử vi, lại còn thêm những kẻ đối lập Tổng thống tin tử vi, bói toán, ngải và bùa ếm! Phong trào của thầy tu Trần Hữu Thanh quả quyết rằng, chỉ cho chất nổ phá tung con rùa đồng đen là Nguyễn văn Thiệu… băng hà. Sự tham quyền cố vị của Thiệu nằm ở chỗ nào đó trong bụng con rùa. Một cái bùa của cụ Diễn, chắc chán. Tôi chợt nhớ một chuyện tương tự đã xảy ra cách đây 20 năm. Một số các ông Đại Việt quan lại đã gài mìn giật sập Chùa Một Cột 2. Các ông ngu si này lý luận: – Long mạch của cố đô nằm dưới Chùa Một Cột. Phải đánh sập chùa, bít long mạch thì cộng sản bất yên mà quốc gia mới có cơ hội Bắc tiến giải phóng quê hương. Cộng sản có bất yên, Bắc tiến có thực hiện nổi không, chúng ta đã được trả lời. Cái ngu hôm qua lại vẫn là cái ngu hôm nay. Dễ hiểu thôi, vì trong phong trào của thầy tu Trần Hữu Thanh có vài ông Đại Việt? Người ta đòi phế bỏ một ông Tổng thống bằng cách đi phá bùa ếm!
° ° °
Tôi cảm giác thời gian ngừng lại. Khi tôi mong trời vỡ sáng thì trời không muốn vỡ sáng. Mới 4 giờ. Tiếng súng từ phi trường Tân Sơn Nhất vọng vào đã thưa thớt, nhưng tiếng phi cơ trực thăng vẫn ầm ĩ một góc trời thành phố. Tôi bật ti-vi. Màn ảnh nhỏ trắng xóa. Không có cái bất ngờ như tôi tưởng tượng. Tôi đâm ra tương tư người lính sửa xe tăng trước cửa nhà mình tối qua và ông tướng Vĩnh Lộc. Tôi mở radio. Giới nghiêm 24 trên 24 kể tử 0 giờ ngày 30-4-1975. Lệnh giới nghiêm không thay đổi. Tôi tắt ngay radio để khỏi bị nghe Nối vòng tay lớn và giọng tanh tưởi của Lý Quý Chung luận về tình nghĩa Trung Nam Bắc. Có vẻ như thằng ở giữa đần độn này muốn mở đường chào đón “anh em Việt cộng” của nó. Tôi nghĩ rằng đã có sự phân chia trong chế độ phù du Dương văn Minh. Quân sự chủ chiến. Dân sự chủ hòa. Thật sự, tôi không thiết nhớ lại cái chính trường vỏ tôm Sài gòn những ngày tháng tư. Mà tôi cứ bị nhớ. Con người khó thoát khỏi sự chi phối của chính trị, dù là chính trị cà chớn của những thằng cà chớn. Tháng tư 1975 quả là tháng chó đẻ của 5000 năm văn hiến, là tháng chó đẻ của 1975 năm sau Công nguyên, ghi niên biểu vào lịch sử Việt Nam và cả lịch sử Hoa Kỳ. Thành quả khai phóng tự do, dân chủ của Mỹ và thành tích 7 năm chấp chính của Nguyễn văn Thiệu nằm trong tháng 4-1975. Sự nghiệp vẻ vang của Thiệu nổi bật ở bài diễn văn từ chức và bài diễn văn từ chức rạng rỡ có một câu: “Bảo chúng tôi chống cộng sản mà không viện trợ thì làm sao chúng tôi chống cộng được?” Rõ là khẩu khí của tên vô lại, của thằng đánh mướn đê tiện. Nhân sinh quan của Nguyễn văn Thiệu in nổi trên xú ngôn quốc sỉ này. Lý tưởng chiến đấu của Nguyễn văn Thiệu in nổi trên xú ngôn quốc sỉ này. Chính vì xú ngôn quốc sỉ này mà Việt cộng dám thóa mạ quân đội Việt Nam cộng hòa anh dũng của chúng ta là lính Ngụy là bọn đánh mướn. (Tôi xin, một lần nữa, xác nhận ở đây, quân đội là của tổ quốc, của dân tộc, vì tổ quốc, vì dân tộc mà chiến đấu. Quân đội việt Nam cộng hòa không phải là công cụ của bất cứ một chế độ nào, kể từ chế độ Ngô Đình Diệm trở đi. Quân đội đứng trên các chế độ). Lại mở ngoặc đơn. (Kẻ vô liêm sỉ Nguyễn văn Thiệu cũng đòi học đòi danh sĩ Nhất Linh tuyên bố: Đời tôi để cho lịch sử xử? Thêm một kẻ vô liêm sỉ, thứ tiến sĩ cơm thừa canh cặn ở Dinh Độc Lập, đã bình giảng xú ngôn Nguyễn văn Thiệu thành một pho xú thư dầy cộm bêu riếu dân tộc). Khép ngoặc đơn. Thiệu từ chức chỉ vì thầy Mỹ cúp tiền. Nhưng Thiệu không biết xấu hổ khi phát xú ngôn, ông ta dùng câu đó để diễu cợt những kẻ chống đối ông ta với thâm ý: Mỹ cúp tiền tao mới chịu từ chức chứ không phải tao từ chức vì áp lực chống đối của chúng mày? Chúng ta đành ngậm ngùi đã có một vị Tổng thống nằm trong một trang nào đó của những trang lịch sử chó đẻ tháng 4-1975.
Nguyễn văn Thiệu từ chức “đột xuất” khiến Phong trào của thầy tu Trần Hữu Thanh cụt hứng. Bùa yếm của Thiệu còn nguyên vẹn và con rùa đen cũng còn nguyên. Nhưng thầy tu Trần Hữu Thanh hét đối tượng… bài trừ Nguyễn văn Thiệu nhường ngôi cho ông già gân Trần văn Hương. Nội các Nguyễn Bá Cẩn thành lập thật nhanh, nhanh đến nỗi không ai biết tên một vị Tổng trưởng nào. Nội các này cần lập nhanh để chạy trốn hợp pháp lẹ. Tổng thống Trần văn Hương đòi chết như một chiến sĩ, nhưng ông hạ sĩ danh dự đã không toại nguyện, ông chỉ gây khó khăn cho những người di tản với cái sắc lệnh cấm công chức, sĩ quan và thanh niên trong tình trạng quân dịch chạy loạn cộng sản. Dược sĩ La Thành Nghệ là nạn nhân của tổng thống Trần văn Hương. Ông ta vượt biển quá sớm, bị hải quân bắt đem về đất liền, bị ở lại và bị đi học tập cải tạo. Vào những ngày cuối tháng 4, ông chủ Hoa Kỳ không còn thiết làm chủ bọn thống trị bù nhìn nữa. Ông ta… giải phóng nô lệ, thế nhưng cái chính trường Sài gòn hèn mạt vẫn nơm nớp sợ hãi ông chủ và tưởng rằng ông chủ Hoa Kỳ thích Dương văn Minh thay thế Trần văn Hương để thực thi hòa giải dân tộc. Lưỡng viện Quốc Hội họp. Tất cả quay về sau lưng, thấy mấy ông Mỹ ở Tòa Đại Sứ đến dự kiến, ngỡ rằng Mỹ gây áp lực. Bèn đồng ý Dương văn Minh cái rụp. Thế là chúng ta có Tổng thống Dương văn Minh.° ° ° Tôi mở cổng ra vỉa hè, nhìn xuống cầu Công Lý, nhìn lên Dinh Độc Lập. Đường phố vắng hoe. Trời lất phất mưa. Không phải sương rây. Sẽ xảy ra chuyện gì những giờ sắp tới? 4 giờ 30 rồi. Tôi trở vào nhà, rất mong những người lính Sài gòn, những sĩ quan quả cảm, những tướng lãnh đầy trách nhiệm làm Sài gòn thành một Stalingrad.
Chúng ta đã có những ngày Hà Nội dân chúng đốt cháy phố phường, đục tường nhà này xuyên qua tường nhà nọ, sống với thủ đô, chết với thủ đô để trả lời kẻ thù và thế giới lòng yêu tự do, dân chủ và ý chí chiến đấu của chúng ta. Tôi mong được chết bởi đạn quân thù khi đang chiến đấu. Tôi sẽ tình nguyện vác đạn. “Xin làm đôi giầy của dũng sĩ” thôi. Tự nhiên, lòng tôi dạt dào cảm xúc. Tôi bỗng thấy cái bài hát tôi ghét nhất trở thành hay nhất:
… Nhân dân tự vệ Vang lên lời thề Không để quân thù giầy xéo quê nhà ta Từng khu phố đứng lên… Cảm xúc, bây giờ, khiến tôi nhớ những bài báo của Trần Việt Sơn, đăng mỗi ngày, trang 2, báo Chính Luận. Những bài báo của anh Trần Việt Sơn đã bắt cả Sài gòn lạc quan trước khí thế tiến công của cộng sản. Ngòi bút của Trần Việt Sơn thật giá trị. Anh đã trấn an Sài gòn khi Huế mất, Đà Nẵng mất, Quy Nhơn mất. Anh quả quyết chúng ta sắp phản công và cộng sản phải ngừng lại ở bên kia đèo Cả. Cùng với những bài báo của Trần Việt Sơn – than ôi, chỉ có một con én quả cảm và bình tĩnh Trần Việt Sơn và chỉ có một nhật báo Chính Luận – Nguyễn Trọng Nho bay trên vùng trời Long Khánh quan sát mặt trận với các chuyên viên quân sự, tuyên bố cùng báo chí sự bạc nhược của bộ đội miền Bắc sau hai trái bom CBU. Sài gòn tin tưởng lại. Chúng ta còn võ khí xử dụng vào phút chót. Bom CBU. Bom CBU sẽ đẩy lui tham vọng điên cuồng của cộng sản. Chính tôi cũng được kích thích mạnh bởi báo cáo của Nguyễn Trọng Nho. Tôi đã đến Cục tâm lý chiến, tìm gặp ông đại tá Cao Tiêu, đề nghị ông can thiệp với không quân chở một số nhà văn, nhà báo danh tiếng đi quan sát các mặt trận gần để về, viết báo, nói trên các đài phát thanh, truyền hình gây lại niềm tin tưởng. Đại tá Cao Tiêu đồng ý 3. Nhưng ông đã không thực hiện. Tôi còn nhớ cả cái sĩ khí của một số anh em văn nghệ ở những ngày cận kề 30-4. Họ đã họp nhau tại một căn nhà ở đường Tự Do, quyết định xuất bản một tờ báo lửa. Nếu tôi nhớ lầm, xin được tha thứ: Trong số anh em văn nghệ đó có anh đang ở đây và một số còn kẹt lại quê hương, không tiện nêu tên. Người ta sẽ nghĩ gì về thái độ của kẻ sĩ lúc tổ quốc lâm nguy, và sẽ nghĩ gì về bọn tướng lãnh đào ngũ trước buổi họp của kẻ sĩ đòi xuất bản báo lửa? Trong những phút giây mà mạng sống như sợi chỉ treo mành, rất hiếm những con người còn dám ngẩng mặt. Những người này chung thân im lặng, đôi khi còn xấu hổ nếu có ai nhắc đến thái độ sống của mình, dẫu để vinh tôn. Chắc chắn, thái độ sống của những người dám ngẩng mặt khi những người khác chạy trốn hay chuẩn bị cúi mặt cần phải được thắp sáng bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào. ít nhất thì cũng để kẻ thù của chúng ta không dám mở miệng khinh bỉ chúng ta hèn mạt. Vì khan hiếm những con người dám ngẩng mặt nên chúng ta thừa những con người mê muội thèm khát quyền bính đến quên cả thế lẫn thời. Lời thóa mạ nào dành cho những kẻ trí thức bám quanh Vũ Văn Mẫu bon chen danh vọng giờ thứ 25? Những tên Tổng trưởng đê tiện của Vũ văn Mẫu rồi cũng vào tù. Và cũng muối mặt nhận mình là tù nhân tư tưởng! Tôi muốn quên hết, quên hết, quên cả những thảm cảnh đồng bào tôi di tản về đất hứa Phú Yên và bị ở lại với cộng sản; đồng bào tôi nhục nhã xuống tàu từ Đà Nẵng vào Phú Quốc, từ Đà Lạt xuống Phan Thiết. Quên để mường tượng một Sài gòn sắp biến thành Stalingrad vài giờ nữa. Tôi chợt thấy mình còn hạnh phúc. Hạnh phúc ước mơ chết ngon lành.
5 giờ. Tôi đã trải qua 300 phút của ngày dài nhất. Ngẫu nhiên, tôi trở thành chứng nhân của thời đại tôi, một chứng nhân không thích rườm rà chi tiết, một chứng nhân chỉ khoái vắn tắt từng sự kiện và suy diễn những sự kiện theo kiến thức hữu hạn của mình. Nhưng luôn luôn sáng tạo, cố gắng sáng tạo. Rất nhiều khi chứng-nhân-tôi quên hẳn những sự kiện quan trọng mà chỉ nhớ những sự kiện vớ vẩn. Người viết tiểu thuyết khác người viết lịch sử ở chỗ đó. Người viết tiểu thuyết thường khám phá ra ở sự kiện vớ vẩn cái vóc dáng đẫy đà và quan trọng hơn cả sự kiện quan trọng dưới mắt sử gia. Tôi mê huyền sử, dã sử nặng gấp bội chính sử, ngoại sử. Giản dị lắm, huyền sử và dã sử không thèm quan tâm tới niên biểu. Thế mà tôi lại quan tâm tới niên biểu của một ngày dài nhất đầu tiên trong đời tôi đã trôi mút mít 20 năm. 10 tháng 7 năm 1954, là ngày dài nhất ấy, là ngày quân đội liên hiệp Pháp rút khỏi thị xã Thái Bình, là ngày dân chúng di tản. Thực sự, những người có máu mặt và hiểu thời cuộc đã “rút lui chiến thuật” trước 10-7. Ngày dài nhất ấy, với tuổi 19 của tôi, thật phũ phàng. Tôi nhớ lại. Như thế này… Hàng năm, tôi đều từ Hà Nội về Thái Bình nghỉ hè. Hè 1954 xảy ra vụ “rút lui chiến thuật” trước khi tôi lên Hà Nội. Sự hãi hùng bắt đầu từ 12 giờ ngày 10-7. Lính Hổ xám, lính pạc-ti-dăng và cả lính Bảo chính đoàn nữa, xông vào các nhà buôn bán lớn tống tiền, cướp của và hãm hiếp đàn bà, con gái. Y hệt những thảm cảnh đã diễn ra tại vài thành phố miền Trung trước 30-4-1975. Hàng phố vội vàng đóng cửa kín mít. Bố mẹ tôi tìm chỗ nấp nếu cửa bị xô mở. Chúng tôi hồi hộp chờ đợi những bước giầy đinh rằm rập trên vỉa hè trước nhà mình. Tim tôi muốn vỡ ra. Tình trạng nín thở kéo dài đến tối. May mắn, bố mẹ tôi buôn bán nhỏ nên đã thoát cảnh tống tiền, cướp của, hãm hiếp. Tuy nhiên, chúng tôi đã có một đêm không ngủ, một đêm không ngủ đợi chờ bất hạnh. Đêm im lặng. Máy điện chạy nghe rõ. Và máy bay bà già lượn suốt đêm trên vùng trời thị xã. Gần sáng, một tiếng nổ lớn ở phía cầu Bo. Rồi hoàn toàn vắng lặng. Máy bay bà già đã hết lượn. Chỉ còn vang vang động cơ của máy phát điện. Mãi 12 giờ hôm sau, 1 1-7, dân thị xã mới biết Pháp đã rút lui. Người ta tự động di tản về nông thôn. Thị xã bỏ trống 4. Tôi chờ hiệp định Genève ký kết xong mới lên Hà Nội. Và Hà Nội trước những ngày cộng sản vào tiếp thu rất bình yên. Như Sài gòn chiều ngày 29-4-1975. Không hề có tống tiền, cướp của, hãm hiếp do một số lính vô kỷ luật tạo ra. Cũng không hề có “đấu tranh” giành lại “xương máu bị bóc lột” của dân nghèo. 20 năm sau, 1975, tôi 40 tuổi, lại thêm một ngày dài nhất và một đêm không ngủ trong đời mình. Đêm không ngủ, tôi vừa trải qua. Ngày dài nhất, tôi mới đếm được 5 giờ. Với một nhà văn tài năng, 5 giờ đồng hồ đợi chết, ông ta sẽ cống hiến chúng ta những trang sách rụng rời về cảm giác sắp chết. Và ông ta sẽ soi sáng ý nghĩa sống của sự chết. Có thể, ông ta sẽ cho chúng ta biết chính xác nơi chốn ngự trị của linh hồn. Chúng ta cần hiểu điều đó, thèm hiểu điều đó. Rằng, những người công chính, sau khi chết, về đâu; những kẻ giả hình về đâu; những người chịu đựng oan khiên ngộ nhận về đâu; những kẻ điêu ngoa, dối trá về đâu; những người suốt đời cặm cụi ngậm cô đơn và thống khổ để làm đẹp cho con người cho cuộc đời về đâu; những kẻ phì nọc rắn, phun nọc rết, nhẩy múa trên cay đắng đồng bào chúng nó, của đồng loại chúng nó về đâu ông ta còn có thể mặc khải một niềm sống tuyệt vời nếu con người vượt lên được trên nỗi sợ hãi chết, nếu con người thản nhiên chờ chết. Tôi chợt nhớ sự thản nhiên sống và thản nhiên chờ chết của cổ nhân Đông phương. Đến một tuổi nào đó, con người Đông phương, con người cũ Việt Nam, con người nguyên thủy Việt Nam thừa ngạo nghễ rung đùi ngâm thơ nhìn quan tài mua sẵn cho mình hay ngồi trên nắp quan tài mà say sưa cuộc cờ Khi con người nhìn rõ cái phù ảo của cuộc sống thì nó không thèm lý tới sự chết. Và, vì đã quán triệt cái lẽ phù ảo của cuộc sống, con người sẽ cố sống cho ra con người, cố làm cái gì đó thật ý nghĩa cho những cuộc sống nổi tiếp. Hẳn nhiên, ý nghĩa của sự sống khi con người thấu hiểu lẽ phù ảo của nó chẳng bao giờ là tiện nghi vật chất thừa mứa, là tiền bạc phủ phê, là hư danh hão huyền đến nỗi phải kèn cựa nhau, tranh giành nhau đến xầy da, sứt trán, đến chém giết nhau, đến thù hận nhau làm phôi pha tình người và mất ý nghĩa của sự sống, mất lạc thú của cuộc sống. Ca dao chẳng đã luận về sự bình đẳng của sự chết đó ư!
Vua Ngô đi bốn tàng vàng Chết xuống âm phủ chẳng mang được gì Chúa Chổm nốc rượu tì tì Chết xuống âm phủ khác gì vua Ngô
Nếu Chúa Chổm là Lý Bạch, là Tản Đà, là Tề Xương, là Hà Huyền Chi, là Baudelaire, là Hoàng Anh Tuấn, là Nguyễn Bính…, Chúa Chổm hơn vua Ngô triệu triệu lần. Vì Chúa Chổm có thơ để lại cõi thế mà vua Ngô chả có gì. Vua Ngô chết là mục xác. Chúa Chổm sống mãi, Chúa Chổm bất tử, Chúa Chổm phục sinh nhờ thơ của Chúa Chổm. Cái thứ sống mãi trong hòm kính là thứ sống mãi bệ rạc không hứa hẹn hòm kính sẽ bị đập vỡ tan tành. Tôi không phải là nhà văn tài năng nên tôi đã sợ chết ngâm rọ dưới sông, sợ chết sặc sụa trong biển máu. Và tôi không thể có những trang sách tuyệt vời về cảm giác chờ chết. Tôi đã sợ hãi chết, sợ hãi trời chóng sáng, đã muốn bóng tối mênh mang vô cùng để khỏi nhìn rõ đao phủ và hình cụ của nó. Bây giờ, tôi chờ sáng, tôi hết sợ chết nếu tôi được chết bởi đạn quân thù găm trong tim giữa lúc tôi đang chiến đấu. Không một kẻ chiến bại nào được da ngựa bọc thây cả. Da ngựa biết chê thây chiến bại. Tôi mở radio. Lệnh giới nghiêm nhắc đi nhắc lại. Không còn Nối vòng tay lớn. Không còn cả giọng nói bầy nhầy đón gió trúng mối của biểu tượng Lý Quý Chung. Tâm hồn tôi rạng rỡ khi hình tưởng người lính sửa xe tăng tối qua và nhật lệnh quyết chiến của tướng Vĩnh Lộc, người hùng Pleime năm xưa, “vua xứ mọi” của tôi. Ông đang ở đâu, ông Vĩnh Lộc? ở đâu cũng được, ông còn ở màn ảnh nhỏ của Truyền Hình Việt Nam, băng tần số 9, tối hôm qua là đủ rồi. ít nhất, với tôi. Lập tức tôi có ý nghĩ mới: Bằng hữu tôi, đồng bào tôi di tản thoát, đã mất dịp làm Người Sài gòn. Sài gòn sắp thành Stalingrad, nơi đó phẩm cách nguyên khối của người Việt Nam được chứng tỏ cùng thế giới: Rằng người Việt Nam chiến đấu chống cộng sản cô đơn và lãng mạn không cần cố vấn Mỹ và viện trợ Mỹ.
Tôi cảm khái, khe khẽ hát: Từng bờ tường mái hiên Từng mô đất Từng khu phố Từng khe cống Sài gòn vùng đứng lên…
Hãy đứng lên, hãy ngẩng mặt, Sài gòn! Có tôi làm giầy dũng sĩ ngăn giặc xâm lăng. Có tôi làm công dân tải đạn…
Trong giai đoạn ồn ào của Phong trào bào trừ tham nhũng. Đài Tiếng Nói Việt Nam của cộng sản đã kết tội thầy tu Trần Hữu Thanh là tay sai CIA thay vì ca ngợi thầy. Thầy bị bắt tháng 2-1976, đã được tha và bị quản chế tại sinh quán.
Công trình kiến trúc từ thời nhà Lý đã bị tan nát. Chùa Một Côt hiện nay là kiến trúc mới mô phỏng chùa củ. Báo chí Hà Nội, hồi ấy — trước ngày cộng sản tiếp thu — đã gọi bọn giật sập Chùa Một Cột là bọn phản quốc, bọn ngu xuẩn…
Ông tướng chiến tranh chính trị Trần Văn Trung đã mời tôi đến Tổng cục Chiến tranh chính trị ba lần để nói về nghệ thuật tâm lý chiến. Cã ba lần, Trần Văn Ân đều dự kiến. Lần thứ tư tôi từ chối vì ý kiến của tôi chưa được thực hiện. Tôi tình nguyện đến ông Cao Tiêu. Có lẽ, ông lo… di tản, bỏ rơi đề nghị của tôi. Cám ơn ông, nếu ông thực hiện, tôi sẽ chết rũ trong tù.
Bộ truyện Vẽ buồn tỉnh lỵ gồm 6 cuốn. Tôi mới cho xuất bản Thằng Vũ, Thằng Côn, Con Thúy, Thằng Khoa. Còn thiếu Thằng Vọng và Vẽ buồn tỉnh lỵ. Tôi đã tiếc không cho xuất bản trọn bộ sớm hơn. Để độc giả thấy 1954 mà so sáng 1975. Hai bản thảo đã bị cộng sản tịch thu hôm công an đến bắt tôi, 8-4-1976. Tôi sẽ viết lại ngày gần đây. Vì một nhà xuất bản Pháp muốn dịch trọn vẹn bộ truyện này.
Anh sẽ giối giăng đọc tên em từng hàng cây, con phố
Theo bước chân người anh rày đây mai đó
Mỗi chia ly mỗi gần gũi em hơn
Mỗi chia ly mỗi thơm ngát nỗi buồn
Anh mới hiểu
Sài gòn trái tim anh, tim đất nước
Anh mới hiểu
Tại sao mình yêu tổ quốc
Và tại sao mình yêu dấu Sài gòn
Em cho anh nhiều, em nhớ nổi không
Tiếng hát thê lương, điệu ru kỷ niệm
Em cho anh no tròn sự nghiệp
Để anh đi làm đẹp cuộc đời
Sài gòn
Tên em trên những vệt son môi
trong ánh mắt và trong hơi thở
trong hạnh phúc và trong đau khổ
ở tuổi non và ở tuổi già
ở xuân hồng sắp sang và thu biếc đã qua
ở hôm nay anh sống và ngày mai anh chết
ở ngàn dặm kẻ chân mây mù mịt
ở tấc gang người cuối phố đầu phường
ở sớm công viên ngọn cỏ ngậm sương
ở chiều bùng binh đèn mầu phô sắc
ở bình minh nụ cười
ở hoàng hôn nước mắt
ở chốn ngoài ta
ở cõi vô thường
ở nghẹn ngào vết chém thê lương
của lịch sử trăm năm phản bội
của lịch sử làm nên bởi những tên gian dối
những tên bù nhìn yêu nước độc quyền
những tên tay sai tráo trở đảo điên
Em ngự đền đài, em là đà huyệt mộ
ở mọi nơi vì em là thành phố
Là chứng nhân và là cả nạn nhân
Anh yêu em muốn cắn nát vai trần
Muốn ghì chặt môi hôn bây giờ và mãi mãi
3.-
Sài gòn khăn sô
Mùa xuân tím tái
Lưỡi lê đàng ngoài thù hận đàng trong
Chim hạc hồng tiếp tục trốn mùa đông
Chả thấy Hoàng Diệu nào tuẫn tiết
Anh chỉ thấy bọn tướng hèn khốn kiếp
Lột xé chiến bào, phi tang tích huân chương
Đứa tham sinh rời lủi quê hương
Đứa úy tử gục đầu chịu trói
Sài gòn ơi, anh biết em đau nhói
Anh biết em nhục nỗi tháng Tư
Nỗi nhục ghim sâu, em vẫn thủ đô
Vẫn rực rỡ tự hào những người
Ta không bỏ em cao thượng
Ta ở lại địa ngục trần gian
và ta tự tìm lên thiên đàng hạnh phúc
Bởi vì ta được khóc với Sài gòn
Nước mắt ta nhỏ xuống vết thương non
Vết thương xót xa làm ta khôn lớn
Sài gòn
Em đã cho anh hai mươi năm sung sướng
Anh phải van lơn để hứng chịu cơ cầu
Ngày mai, trong ngục tù hay phát vãng rừng sâu
Anh không thẹn khi nói: Anh yêu em tha thiết
Hãy mơn nhẹ nỗi đau, đừng rên xiết
Hãy thinh không niềm bí ẩn trùng khơi
Sài gòn ơi
mãi là em nhé,
Sài gòn ơi
Dù biển dâu có khoác áo chồn tinh
lên tên em diễm tuyệt
Mãi là nắng thi ca là mưa tiểu thuyết
Dù đường xưa đầy dấu vết kên kên
Mãi là em,
mãi là em ngơ ngác, dịu hiền
Để anh vững hành trang xa em biệt xứ
Để anh vỗ về tương lai bằng điệu ru quá khứ
Để anh yên vui còn một chốn lui về
4.-
Tháng sáu mây chì
Mưa tiễn anh đi
Mưa sướt mướt hay Sài gòn sướt mướt
Anh đi theo nổi trôi vận nước
Anh đi theo dâu biển quê nhà
Anh hết là anh
Anh đã là ta
Cái tiểu ngã nhập vào đại ngã
Nỗi thống khổ chẳng riêng ai chịu nữa
Nó đè lên vai cả dân tộc
cả thế giới chúng mình
Nó trong giọt nước mắt già và trên ngọn tóc xanh
Nó ở cuộc đời thênh thang
và ngục tù tăm tối
Nó ở ban mai kinh nguyện cầu
nửa đêm kinh sám hối
ở hồi chuông cáo phó
ở tiếng khóc chào đời
Nó gầm gừ đe dọa dài dài
Sau mỗi hòa bình của chiến tranh ý thức hệ
Nó là tham lam, ích kỷ
là kiêu căng, ngu xuẩn là độc ác dối gian
Nó xui Việt Nam tàn nhẫn với Việt Nam
Và bắt nhân loại phải rời xa nhân loại
Nó đã bắt ta xa em, Sài gòn hỡi
Nó đầy ta suối độc, rừng thiêng
Nó còn giả vờ giăng khẩu hiệu nhân quyền
Con ó bảo mỏ mình thôi nhọn hoắt
và con gấu khoe chân mình cùn nanh vuốt
Nhưng loài người vẫn bị mổ mắt, vẫn bị cấu cào
Ta thì vẫn nằm dài trong những đề lao
Nghe nỗi nhớ Sài gòn thơm ngát
5.-
Mùa thu nghe con cuốc cuốc
Có gần ta những buổi chiều nhung
Em đến luôn luôn, em đến rất thường
Với cỏ úa công viên, với cây khô tước vỏ
Với phấn son, lược gương vất bỏ
Với móng tay dài, ánh mắt diều hâu
Phan Đình Phùng tạm trú nơi đâu
Trần Quý Cáp hộ nào chứa đó
Ôi, Cần Vương trăm năm cũ
Cũng biển dâu dâu biển dưới mồ
Giải khăn sô trên vừng trán tháng Tư
Cho người chết và cho lịch sử
Cho nhiệt tình và cho danh dự
Cho quên trời xa cho nhớ đất gần
Em đến hoài hoài, em đến thật chăm
Với bước chân em rã rời cõi tạm
Với mũi tên găm tim xưng phổi nám
Em gọi ta về máu đỏ chiêm bao
Em gọi ta về xao xuyến dạt dào
Em có hiểu vì sao ta ở lại
Em có hiểu vì sao ta đóng đinh chịu tội
Sài gòn ơi, nay mới thật yêu em
Xưa đã yêu rất mướt rất mềm
Đã tha thiết chỉ gọi là tha thiết
Chưa cuồng điên, dại rồ, mãnh liệt
Vẫn ngỡ tình yêu khói nắng mơ hồ
Vẫn tưởng tình yêu bọt nước hư vô
Nên mới có bây giờ ta sám hối
Ta tình nguyện lưu đầy chuộc lỗi
Bởi mãi rong chơi nên đánh mất Sài gòn
Bởi trót lơ là làm héo đóa môi son
Làm suối lệ thành đại dương nước mắt
Hạnh phúc trong tay ta vừa vuột mất
Em gọi ta về hiu hắt dặm đường xa
Ta những chàng trai của Sài gòn mở hội hôm qua
Của hôm nay đề lao, tập trung lao cải
Của Sơn La, Lai Châu, Lào Kay, Yên Bái
Của Ninh Bình, Vĩnh Phú, Gia Trung
Của Kàtum, Thanh Nghệ, Phước Long
Của Trảng Lớn, Vườn Đào, Đồng Tháp
Của Chí Hòa, Hàm Tân, Sa ác
Của Gia Rai, Xuyên Mộc, vân vân
Hỡi Sài gòn, người tình chói lọi chân dung
Em gắng đợi ta về trong nỗi nhớ
6.-
Anh hỏi trời cao
Trời cao hớn hở
Anh chỉ đất thấp
Đất thấp mặn nồng
Có tình yêu, hạnh phúc nào già không
Trời đất nói hạnh phúc, tình yêu nghìn năm son trẻ
Và thành phố anh yêu cũng nghìn năm như thế
Sài gòn ơi, em trẻ mãi chẳng già
Anh sẽ về thắp sáng ngọn đèn xưa
Vẽ lại chân dung em
bản đồ giáo khoa thư địa lý
Viết tên em Sài gòn hoa phong nhụy
Sài gòn tình thơ anh
Sài gòn ấu thơ anh
Sài gòn mưa tâm tư
Sài gòn nắng tâm tình
Sài gòn mênh mông
Sài gòn vời vợi
Sài gòn rất tươi
Sài gòn thật mới
Thế giới ơi, tôi không mất Sài gòn
(Sa Ác, 30-4-1979)
1
Tôi nhìn đồng hồ: 0 giờ 1 phút. Ngày mới của nhân gian đã sang được 60 giây. Hoàng hôn của đời tôi khởi sự. Từ đốm lửa ở đầu điếu thuốc loé lên mỗi hơi rít đẫy đà, tôi mơ hồ thấy nỗi chết gần kề. Đao phủ và hình cụ của nó đang chờ tôi bên bờ biển máu. Tôi linh cảm tôi sẽ là một trong cả triệu nạn nhân bị đẩy vào cuộc tàn sát tuyết hận ghê gớm của cộng sản như người Mỹ khẳng định và như Soljenitsyne quả quyết. Tôi sợ hãi. Tôi sợ hãi vô cùng: Vì tôi chưa hiểu cộng sản sẽ dành cho những nhà văn chống đối họ cách chết nào, lối chết nào, kiểu chết nào. Khái Hưng đã bị dìm dẫy sặc dưới nước. Lan Khai đã bị nhét vô rọ liệng xuống sông. Sắp đến lượt chúng tôi. Sắp đến lượt Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Như Phong… Chẳng biết những người này có nhanh chân và may mắn hơn tôi? Chẳng biết anh em nào đã ra đi, anh em nào còn kẹt lại? Riêng tôi, tôi tuyệt vọng di tản từ lúc cổng sắt của Phòng thông tin Mỹ góc đường Lê Quý Đôn – Phan Đình Phùng mở tung, dân Sài gòn ùa vào đập phá cho hả giận bị đánh lừa và hôi đồ cho bõ tức. Với tôi, định mệnh an bài hồi 14 giờ, ngày 29-4-1975. Sứ thần Lan Carter không trở lại thực thi lời tâm huyết của tổng thống Gerald Ford: “Phải dành ưu tiên di tản những nhà văn, những nhà báo, những chủ bút”… Tôi nhớ Phạm Duy, trước phút chạy thục mạng, đã cố gọi giây nói khuyên tôi: “Tìm lối thoát lẹ đừng tin Mỹ, bọn Mỹ chó đẻ lắm”? Bọn Mỹ chó đẻ thật. Nó năn nỉ chúng tôi đến Usis ghi tên di tản. Nó lập danh sách, ghi rõ tên tuổi, bút hiệu, địa chỉ của chúng tôi. Nó đem danh dự của dân tộc nó quả quyết sẽ không bao giờ để chúng tôi lọt vào tay cộng sản. Chúng tôi tin nó. Và chúng tôi đã không kiếm đường khác. Bấy giờ, ông đại sứ John Dan chưa công bố thư riêng của hoàng thân Sirit Matak sau khi cuốn cờ sao xọc rời Phnom Penh: “Sống chết đối với tôi không quan trọng. Điều quan trọng là tôi đã trót tin người Mỹ”? Sirit Matak khước từ di tản. Nếu tôi không lưỡng lự giữa hợp pháp và bất hợp pháp, chỉ cần xỉa cho chị me Mỹ đen dưới chợ Xóm Lách mỗi đầu người ba trăm đô-la, tôi đã leo máy bay Mỹ ở phi trường Tân Sơn Nhất. Mới hay, me Mỹ giá trị hơn lời của tổng thống Gerald Ford và danh dự Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Khi tôi quán triệt tâm huyết Mỹ, đó là lúc tôi chờ đợi cái chết. Tôi đã chưa hề tin Mỹ. Lần đầu tôi tin Mỹ và tôi e rằng không còn dịp để nói là lần cuối cùng. Mỹ giống hệt cộng sản. Nó bảo trắng thì là đen. Nó bảo thắng thì là bại. Nó bảo đồng minh thì là đầy tớ. Nó bảo chung thủy thì là phản phúc. Nó dọa biển máu, biển máu. Nó vẽ ra những cảnh tượng hãi hùng. Nó sáng tạo sự khiếp đảm. Nó bắt thần kinh con người phải căng thẳng. Nó khiến con người gần như mất hết phẩm cách vì sợ chết, ôm lấy nó để nó giáng những báng súng thô bạo lên thân thể, nó đấm, nó đạp mà vẫn cam đành nhục nhã, ê chề, đau đớn cho sự sống hèn mọn ngoài biển máu quyết đoán của nó. Rồi nó thản nhiên vất cả một dân tộc lại, thoi thóp từng giây với ác mộng biển máu. Từ khai thiên lập địa, từ có loài người, chưa có giống người nào dã man, độc ác, lạnh lùng hơn giống tư bản. Cái giống tư bản đã viện trợ thêm cho chúng tôi cảm giác rụng rời của tưởng tượng nỗi chết, cách chết, kiểu chết tính bằng co rút của tế bào tính bằng héo khô của mạch máu, tính bằng rời rạc của nhịp tim. Tư bản làm tê liệt tâm hồn con người để cộng sản kết thúc cuộc sống của con người. Hai kẻ tội đồ của nhân loại đã thông đồng một trò chơi khốn kiếp ở nhiều nước nhỏ trên trái đất. Hôm nay, ở nước tôi.
Để quên nỗi chết, tôi chỉ còn biết hồi tưởng.
° ° °
Tín hiệu của ngày dài nhất trên quê hương Việt Nam khốn khổ đã phóng lên vùng trời Ban mê thuột hôm 12-3-1975. Nhưng Sài gòn không treo cờ rũ như đã treo để tang Phước Long thất thủ hồi đầu tháng 1-1975. Thành phố ấy vẫn ăn chơi trong mọi khắc khoải, vẫn nhẩy nhót trên mọi ưu phiền, vẫn cửng cổ quyền bính và âm mưu truất phế quyền bính. Những xác chết của quân dân chất đống, những dòng máu của quân dân chẩy dài, ở Darlac, còn tươi rói, chẳng làm lay động nổi cái bóng.. tối phủ kín lương tri mê sảng của giai cấp thống trị và bọn đối lập tổ quốc Người ta lạy lục xin viện trợ chống giặc. Người ta lạy lục cúp viện trợ chống giặc. Phong trào bài trừ tham nhũng chuẩn bị cuộc xuống đường vĩ đại. Cảnh sát chuẩn bi cuộc đàn áp ngoạn mục. Lần này, thầy tu Trần Hữu Thanh hạ quyết tâm phá nát con rùa tại công trường Duy Tân vì Nguyễn văn Thiệu dấu bùa yểm sự nghiệp bảo vệ đất nước dưới mu rùa! Lịch sử đã quá xa thời đại thầy tăng dựng triều đại nhà Lý vẻ vang. Bây giờ là giai đoạn tôn giáo thay thế sự ươn hèn của đảng phái. Để múa may ít và để bị giật giây múa may nhiều. Và vô tích sự. Hoàn toàn vô tích sự. ông Trần Hữu Thanh chống ông Nguyễn văn Thiệu bằng sở nguyện của ông Trần Thiện Khiêm, bằng tài liệu của ông Trần Thiện Khiêm, bằng hậu thuẫn của ông Trần Thiện Khiêm, tham nhũng ngang cơ ông Nguyễn văn Thiệu. Nhân danh một điều ác loại trừ một điều ác. Đó là tư tưởng tranh đẩu của một số thầy tu. Và, dĩ nhiên, không có hồi chuông cáo phó nào rung lên cho Ban mê thuột, ở nhà thờ, ở nhà chùa…
Ngày Nông Dân 1975 định tổ chức thật vĩ đại ở Sài gòn tạm hoãn. Những công trình xây cất tại Sở Thú cho ngày “Người cầy có ruộng” đang ồn ào, bỗng im lặng. Một triệu số giai phẩm Cách mạng xanh ấn loát xong xuôi đành nằm vô duyên ở Bộ Canh Nông, ở Sài gòn ấn quán, không còn dịp tặng nông dân tham dự đại hội. Bài ca cách mạng xanh của Phạm Duy do Thái Thanh hát chẳng kịp vang vọng những lời nhân bản: “Ruộng vườn chia nhau mà không cần đổ máu”… Tuy nhiên, sóng ngầm chỉ mới dấy lên ở đáy lòng giai cấp thống trị bù nhìn và tham vọng của bọn đã bị tước đoạt quyền bính bù nhìn cũ. Sóng nổi rõ rệt, không, không phải là sóng mà là những cọng rác bắt đầu nhô lên dòng thế sự, là đám Nguyên văn Binh, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quý Chung… Binh ôm chặt thầy tu Trần Hữu Thanh, khuynh loát nhóm dân biểu Quốc Gia, xúi dục tạo những xáo trộn. Chung theo sát gót Dương văn Minh, chờ đợi phất cờ.” Nguyễn văn Binh, cháu Tổng giám mục Sài gòn Nguyễn văn Bình, như cái nhân cộng sản cấy vào nhóm dân biểu đối lập Quốc Gia của những tay chống cộng sản khét tiếng Nguyễn Trọng Nho, Trần văn ân, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Văn Cung… Chính Binh đã qua mặt nhóm Quốc Gia viết thông cáo và nhân danh nhóm Quốc Gia -. Binh là chủ tich của nhóm – công khai đối lập… tổ quốc, nghĩa là xúi Mỹ cúp viện trợ cho Việt Nam. Nhóm Quốc Gia, vì cảm tình đã không tỏ thái độ gì cả. Những kẻ gọi là đối lập Nguyễn văn Thiệu đã quên việc lớn, chỉ nghĩ đến việc nhỏ. Đất nước mới vĩnh cửu, Nguyễn văn Thiệu nhất thời. Chỉ nghĩ tới cái nhất thời mà quên cái vĩnh cửu nên người ta hăm hở săn đuổi Nguyên văn Thiệu, người ta không thích đưa ra một đề nghị tạm xóa bỏ hận thù riêng để đối phó hận thù chung. Dễ hiểu thôi, chính trường của miền Nam, đúng hệt lời nhận xét của Nguyễn Trọng Nho: “Không có đối lập, chẳng có thân chính quyền, chỉ rặt gà què ăn quẩn”. Cần nối tiếp: “… và gia nô”? Cái chính trường đê tiện ấy, thực sự, không có đối lập đúng nghĩa. Chỉ là đối lập tổ quốc và đối lập người nguyên thủ quốc gia như đối phó kẻ thù. Bọn đối lập tổ quốc, ai cũng rõ chân tướng của chúng, là bọn cộng sản nằm vùng, là bọn thân cộng sản, là bọn đầy tự ti mặc cảm. Bọn gia nô miễn đếm xỉa. Một vài chính khách, dân cử đối lập chân chính thì lại thiếu thái độ chính trị. Nghĩa là chỉ biết chê sai mà không dám khen đúng, chỉ thích xa cách lấy danh mà không thích gần gũi hứng nhục vì quyền lợi của dân tộc, vì sự sống còn của tổ quốc Họ còn ngây thơ nữa. Muốn Nguyễn văn Thiệu té nhào nhưng họ không đủ tài năng cù nách Godfather của Thiệu. Khi bố già Sam còn yêu Thiệu, đối lập là trò hề rẻ tiền, hơn cả trò hề, là sự làm dáng dân chủ cho Thiệu vững vàng thêm. Nguyễn văn Thiệu trở thành kẻ tồi tệ do Godfather Sam khích lệ, do gia nô sùng bái, một phần do đối lập chỉ mưu đồ hất ông ta mà không chịu đóng góp xây dựng cho ông ta. Bởi vậy, với riêng Thiệu, đối lập và đối nghịch nguy hiểm hơn cộng sản; với đối lập và đối nghịch, Nguyễn văn Thiệu nguy hiểm hơn cộng sản. Cái chính trường ngu xuẩn ấy khoán trắng việc đánh giặc bảo vệ tổ quốc cho quân đội. Để làm những trò khỉ đối lập Để làm xáo động hậu phương cả trong lúc hậu phương và tiền tuyến đều bàng hoàng chuyện mất đất.
Không một hồi chuông cáo phó nào rung lên cho Ban mê thuột, ở nhà thờ, ở nhà chùa và ở cả lòng những kẻ đối lập phiêu lưu mà, đáng lẽ, cần phải rung lên. Cuộc chiến hai mươi năm, chưa lần nào lãnh thổ nước Việt Nam cộng hòa bị cộng sản ngoạm một miếng to thế, mầu mỡ thế. Ban mê thuột là vùng kinh tể trù mật của Cao nguyên. Một nhà phát hành sách báo ở Sài gòn cho biết, số sách báo bán riêng tại Ban mê thuột bằng cả miền Trung cộng lại. Nhưng Ban mê thuột đã thất thủ. Và Sài gòn không treo cờ rũ. Và Sài gòn đã quên cả Phước Long, đã chẳng cần đặt câu hỏi: Trước thời gian Phước Long mất, có một căn cứ, một đồn bót nào bị mất?Không, mất sáng thì quân đội ta chiếm lại chiều, mất đêm thì quân đội ta’ chiếm lại ngày. Nửa tấc đất cũng không để lọt vào tay cộng sản. Ngay Quảng Trị khó tái chiếm mà vẫn tái chiếm. Căn cứ Tống Lê Chân heo hút biên giới mà vẫn tử thủ. Tại sao bỏ rơi Phước Long? Niềm u uẩn Phước Long tại sao không bày tỏ? Mục đích bẩn thỉu nào đã cống hiến xương máu quân dân Phước Long làm quà tặng cho “giải phóng miền Nam”? Tất cả đều ngậm miệng, gia nô và đối lập; tướng hùng và tướng hèn. Rồi Ban mê thuột? Tiếng nói của lương tri nào kịp thời an ủi những cái chết tội nghiệp của dân, những cái chết bi phẫn của lính? Im lặng và lạnh lùng. Sài gòn vẫn nhẩy đầm, vẫn rượu gái, vẫn tham nhũng, vẫn làm tiền, vẫn củng cổ quyền bính, vẫn âm mưu cướp đoạt quyền bính… Phải đợi đến ngày 17-3-1 975, ngày khởi sự “300 cây số đường máu” dọc liên tỉnh lộ số 7 về đất hứa Tuy Hòa, nghĩa là ngày vĩnh biệt Cao Châu 1, Sài gòn mới hơi hơi xao xuyến!
0 giờ 15 phút. Trực thăng Mỹ vẫn vần vũ một góc trời Sài gòn. Nó tiếp tục hạ cánh, cất cánh chở những người Việt Nam hạnh phúc leo lên được nóc Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Nghĩ cũng tội nghiệp cái hạnh phúc đó. Tư bản Mỹ đem chiến tranh sang Việt Nam và cần leo thang đúng chỉ tiêu của chính sách khai phóng tự do, dân chủ giả hiệu made in USA, họ đã nhỏ những giọt nước mắt cá sấu xuống xác chết anh em ông Ngô Đình Diệm, đã dẵm những gót giầy đinh thô bỉ lên những năm bình yên của miền Nam. Bằng đô-la, họ đã làm đảo tung trật tự xã hội Việt Nam, đã gây ô nhiễm đạo lý Việt Nam, đã tạo dâu biển tình nghĩa Việt Nam, đã dựng một giai cấp thống trị mới điếm đàng, tồi tệ, gian manh nhất trong lịch sử thực dân. Giai cấp giá trị mới này được phép làm giàu trong chiến tranh để phục vụ guồng máy chiến tranh tư bản Mỹ. Chúng ta có các ông vua chở dầu chiến lược, vua kẽm gai, vua xây bin-đinh cho Mỹ mướn, vua giặt áo quần Mỹ… Bằng quyền bính tôi mọi, họ đã bầy ra thế trận để tướng lãnh thù hận tướng lãnh, đảng phái thù hận đảng phái, tôn giáo thù hận tôn giáo, con người xa lánh con người. Và họ gọi là chống cộng sản. Và họ gọi là khai phóng dân chủ, tự do. Và họ gọi là chính sách tán biên cương xuất cảng chân thiện mỹ hai trăm năm Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Sự cao quý, sự lương thiện của đất nước, của dân tộc Lincoln đã chỉ thể hiện ở Việt Nam, ở các nước nhỏ trên thế giới qua chính sách bần tiện và gian dối của Hoa Kỳ. Suy diễn chính xác danh ngôn Fulbright: “Sài gòn là một ổ điếm,” thì ổ điếm ấy tập trung đủ mặt Tú Bà, Sở Khanh, Khuyển Ung, Khuyển Phệ tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ và lũ điếm thối thống trị bù nhìn tập trung ở Dinh Độc Lập. Cái ổ điếm Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ đã đánh đĩ dân chủ, tự do Mỹ để bành trướng chân lý kiểm tục của cộng sản. Hai chi nhánh điếm của hai đại công ty điếm Hoa Kỳ và Liên Sô khuếch trương kỹ nghệ đĩ dân chủ, đĩ cách mạng ở nước Việt Nam dưới hai bảng hiệu Chống cộng sản bảo vệ tự do, dân chủ và Chống Mỹ cứu nước. Vi trùng tư bản và vi trùng cộng sản làm mòn teo dân tộc Việt Nam. Vi trùng này ghê gớm hơn vi trùng giang mai, vì là vi trùng chiến tranh tư bản chống chiến tranh cộng sản và vi trùng chiến tranh cộng sản chống chiến tranh tư bản. Dân tộc Việt Nam, một dân tộc phi cộng sản, phi tư bản, bị nhiễm cả hai thứ vi trùng chủ nghĩa. Vi trùng cộng sản gây bệnh cách mạng giải phóng rồi biến chứng thành các bịnh khát máu, ngu dốt, nghèo khổ, thù hận, ngục tù… Vi trùng tư bản gây bịnh dân chủ tự do giả hiệu rồi biến chứng thành các bịnh độc tài, tham nhũng, vọng ngoại, chia rẽ, tham quyền cố vị. Nhưng sự biến chứng nguy hiểm nhất của bịnh dân chủ tự do giả hiệu là hạnh phúc hứng bom đạn, hạnh phúc chết chóc, hạnh phúc hưởng thuốc khai quang và hạnh phúc di tản. Hạnh phúc di tản, thứ hạnh phúc cuối cùng của người Mỹ ban phát cho “đồng minh chống cộng”Õ Việt Nam, được tính thêm bằng những báng súng, những cái đạp, những cú đấm tối tăm mặt mũi. Lịch sử Hoa Kỳ sẽ không ghi những báng súng, những cái đạp, những cú đấm biểu tượng văn minh và văn hóa hai trăm năm Hiệp chủng quốc Mỹ giáng xuống thân phận Việt Nam sợ hãi cái biển máu do Mỹ tưởng tượng. Nhưng dân tộc Việt Nam sẽ nhớ mãi. Rằng, có hai cách trốn tránh biển máu thêu dệt kiểu Mỹ, một là chịu đòn mềm xác để leo lên được nóc Tòa Đại Sứ Mỹ, hai là chi cho me Mỹ, bất kể đen hay trắng, 300 đô-la một đầu người?
Cùng với tiếng trực thăng vần vũ, tôi còn nghe cả tiếng súng nổ ở phía phi trường Tân Sơn Nhất. Cộng sản đã pháo kích vào phi trường quân sự từ mấy hôm nay. Họ chưa ngừng pháo kích. Họ muốn tấn chiếm yếu khu Tân Sơn Nhất. Lính của chúng ta vẫn chống cự. Vào giờ này, bọn tướng lãnh hèn mạt, bọn đại tá nham nhở đang tranh giành nhau chỗ ngủ, phần ăn tại đảo Guam. Có thể, nhiều đứa đang thức bảo vệ đồ tế nhuyễn, công lao ăn cắp xương máu lính của chúng, mà chúng không quên di tản theo để làm rạng rỡ thêm sự nghiệp đào ngũ. Bọn tướng lãnh đốn mạt đã vất lại Danh dự, Tổ quốc, Trách nhiệm. Nhưng lính thì không, lính còn nguyên phẩm cách làm người, còn nguyên danh dự làm lính. Dù tướng đã đào ngũ chạy trốn, dù chỉ huy đã đào ngũ chạy trốn, lính vẫn hiên ngang bảo vệ tổ quốc, bảo vệ danh dự, và duy trì trách nhiệm của lính. Không còn ngôn ngữ nào khốn kiếp hơn để miệt thị bọn tướng lãnh đào ngũ. Cũng chẳng còn ngôn ngữ nào cao quý hơn đề vinh danh những người lính Việt Nam cộng hòa biết ý nghĩa sống, ý nghĩa chiến đấu và ý nghĩa chết. Hơn cả hào hùng, lính của chúng ta lãng mạn nhất loài người, chấp nhận chiến đấu cô đơn và gục ngã âm thầm.
Súng nổ ròn, nổ đẹp ở phía phi trường Tân Sơn Nhất. Và ở những nơi nào nữa trên quê hương tôi vào lúc bi thảm của lịch sử, vào lúc mà người lính có quyền đứng thẳng, ngẩng mặt, vất vũ khí, giã từ trận mạc? Họ lại khước từ cái quyền đó, họ đứng thẳng, ngẩng mặt phóng nhiệt tình và niềm kiêu hãnh của họ về hướng kẻ thù. Những người lính Việt Nam cộng hòa đã trả lời cho thế giới một cuộc chiến bảo vệ tự do đích thực, cuộc chiến không còn Mỹ và tay sai của Mỹ. Cuộc chiến đấu chống cộng sản của dân tộc Việt Nam chỉ khởi sự từ những ngày cuối tháng 4-1975. Từ những ngày này, lính đã thắp sáng chính nghĩa quốc gia. Trước đó, chính nghĩa của chiến đấu bị lu mờ, bị ô nhiễm, bị ngộ nhận bởi Mỹ và đầy tớ thống trị bù nhìn của Mỹ.
Nghe súng nổ, tôi liên tưởng người lính, nhân vật bất hủ của nhà văn James Jones trong tác phẩm from here to eternity. Anh ta tạm bỏ đơn vị vì lý do giết gã cai ngục quân lao trả thù cho bạn. Anh ta bị thương, tá túc tại nhà một vũ nữ. Biết tin quân thù xuất hiện và đồng đội anh hăng say chiến đấu, anh ta trở về đơn vị.
– Quân đội bạc đãi anh, anh trình diện làm gì nhỉ?
– Vì tôi là lính.
Vì tôi là lính. Câu nói đầy cảm xúc và cảm khái. Lính của chúng ta đã nói thế, nếu có ai hỏi tại sao các anh còn chiến đấu khi bọn tướng lãnh, bọn đại tá tham mưu đã đào ngũ. Tôi lại nhớ chập tối hôm qua…
° ° °
Lúc ấy, trên màn ảnh nhỏ của đài Truyền Hình Việt Nam, băng tần số 9, ông tướng Vĩnh Lộc, mà có thời chúng tôi âu yếm gọi là “vua xứ mọi” đang chắp tay sau lưng đi đi lại lại. Tướng Vĩnh Lộc thay thế “đại tướng” Cao văn Viên đã đào ngũ, nắm quyền Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam cộng hòa. Tướng Vĩnh Lộc còn ở lại với lính, với dân. Vào phút giây “sauve qui peut” này, vẫn thấy tướng Vĩnh Lộc chưa chạy, tưởng rằng ông ta xứng đáng con nhà tướng. Tôi không có kiến thức quân sự như Phạm Huấn đề thẩm định giá trị trận mạc và tài năng chỉ huy của tướng lãnh, vậy xin có vài hàng thật trung thực về “vua xứ mọi”, ông vua đã đối xử với tôi như một ông “vua” đối với một kiêu sĩ.
Hồi ấy, thời điểm Nguyễn văn Thiệu ra tranh cử tổng thống lần đầu, tôi đang ồn ào trên nhật báo Sống. Nhật báo này bảo trợ ấp Tân Lợi ở Rạch Giá, muốn tổ chức hai đêm đại nhạc hội tại Nha Trang và Quy Nhơn và rất muốn “vua xứ mọi” giúp đỡ tận tình. Chu Tử định cử Nguyễn văn Đông lên Pleiku “yết kiến” ông “vua xứ mọi”, Tư lệnh vùng 2. “Trì phủ Nguyễn Hoàng Đạt, tùy viên báo chí của tướng Vĩnh Lộc ngăn cản, bảo rằng, chỉ có tôi, tướng Vĩnh Lộc mới dành cho mọi dễ dàng. Chu Tử bèn phong tôi chức “đại sứ” của “vương quốc” Sống. Tôi hơi ngỡ ngàng vì tôi chưa hề gặp gỡ, chuyện trò riêng tư với tướng Vĩnh Lộc. Thế thì tôi cầm “quốc thư” ra đi. Đến Pleiku buổi chiều, chuẩn úy Nguyễn Trọng Nho ra phi trường đón tôi. Nho lái tôi về tư thất của quan năm Nguyễn văn Tự, hỗn danh Năm Mù, Tham mưu phó chiến tranh chính trị quân đoàn 2. Các quan đang xoa mã tước còm. Chỉ có Diên Nghị và Nguyễn Hoàng Đạt niềm nở thăm hỏi tôi. Quan năm chiến tranh chính trị, qua cặp kính đen của ông ta, đã nhìn tôi như nhìn một phóng viên hạng bét mà ông ta thường tiếp xúc. Kệ ông ta. Qua một đêm ở Pleiku, sáng hôm sau tôi yết kiến “vua xứ mọi”. Vua có công tác khẩn phải đi Lâm Đồng, chở tôi ra phi trường, dặn dò: “Đừng về, đợi tôi nhé, chiều nay chúng ta mạn đàm.” Buổi chiều, tướng Vĩnh Lộc cho người mời tôi lên quân đoàn. ông tướng vừa bay nhiều giờ trên vùng trời Lâm Đồng, chưa kịp về tư thất tắm gội, thay quần áo. ông ta tiếp tôi tại văn phòng. Có quan năm chiến tranh chính trị dự kiến. Tôi tặng ông tướng cuốn tiểu thuyết mới nhất của tôi. ông ta nói: “ông Duyên Anh lật chương thứ năm, tôi đọc cho ông nghe.” Ông tướng bảo, yêu tôi nhất ở Hoa thiên lý. ông tướng thao thao chuyện văn chương của tôi. Rồi chúng tôi luận về Đông chu Tam quốc… Gần 9 giờ tối, ông tướng “xin lỗi về nghe tin tức Sài gòn, vì dân sự nhất định phải đuổi liên danh quân sự ra khỏi chính trường.” ông tướng chỉ thị chiêu đãi tôi tại Phượng Hoàng.
Bất cứ một nhà văn nào được bất cứ một độc giả nào hiểu văn chương của mình, yêu văn chương của mình thì cũng đều thích thú cả. Tôi có cảm tình với tướng Vĩnh Lộc từ đó. Và từ đó, ông Năm Mù yêu dấu của tôi khoái tôi ông ta mắng yêu: “Tại cậu, tớ lại phải đọc tiều thuyết của cậu để đấu với ông tướng.” Vì chống đối cố vấn Mỹ ngu xuẩn, tướng Vĩnh Lộc mất chức Tư lệnh vùng 2. ông ta sai Nguyễn Hoàng Đạt về Sài gòn gọi tôi lên Pleiku đề cho tôi nguyên cơ sở ấn loát tuần báo Cao Châu. “sợ rằng Lữ Lan sẽ phá nát” và tặng tôi 9 trăm 98 ngàn là tiền quỹ của tuần báo Cao Châu. ông tướng muốn giúp tôi xuất bản nhật báo như đã muốn giúp tôi đắc cử dân biểu thị xã Nghĩa Trang sau vụ án trò giết thày. Cả hai lần, tôi đều từ chối. Tôi còn từ chối thêm lần thứ ba là lần ông ta nắm Tổng cục Quân huấn, loay hoay tìm giải pháp hợp lệ tình trạng quân dịch cho tôi. ông ta bảo tôi cầm bút hữu hiệu hơn cầm súng. ít có ông tướng nào đọc nhiều tác phẩm của các nhà văn Sài gòn và hiểu được sức mạnh của văn nghệ như tướng Vĩnh Lộc. Gọi ông ta là tướng trí thức, có lẽ không sợ lộng ngôn. Rất tiếc, giai cấp tướng lãnh khá hiếm những Vĩnh Lộc. Khi ông bị biếm về trường Cao Đẳng Quốc Phòng, tôi có ghé thăm ông một lần.
Bây giờ, ông xuất hiện trên ti vi, nắm quyền Tổng tham mưu trưởng vào giờ thứ hai mươi lăm. ông ta có vẻ bối rối trong Nhật lệnh đọc từng câu rời rã. Sự thung dung cần thiết lúc này để gây lại phấn khởi, để lấy lại niềm tin đã thiếu hẳn ở người hùng Pleiku. Cái vẻ phẫn nộ pha lẫn chán nản của tướng Vĩnh Lộc đã làm tôi buồn bã thêm. Tôi bỏ ra sân. Nghe tiếng xích xe tăng nghiến trên mặt đường, tôi mở cổng ra xem. Một đoàn xe tăng của ta từ hướng Tân Sơn Nhất chạy vào Sài gòn. Bất chợt, một chiếc dừng ngay trước cổng nhà tôi. Những chiếc tăng phía trước và phía sau dừng lại hết. Ngã tư Công Lý – Yên Đổ đủ một chỗ trống cho xe hơi qua lọt. Người lính xe tăng mở nắp, cầm cái búa lớn nhẩy xuống đường. Chiếc tăng bị trục trặc. Bình tĩnh, người lính giáng những nhát búa. Chắc chắn, anh ta không nghe tướng Vĩnh Lộc hài tội tập đoàn Nguyễn văn Thiệu và kêu gọi tiếp tục chiến đấu. Người lính ấy, biểu tượng rực rỡ và đích thực của quân đội, còn nguyên vẹn danh dự và trách nhiệm. Anh ta thừa hiểu bọn tướng lãnh đầu sỏ đã chạy trốn hết. Bọn thống trị bù nhìn đã chạy trốn hết. Nhưng anh ta là lính, dù thoi thóp một phút chiến đấu, anh ta vẫn bảo vệ danh dự quân đội, anh ta vẫn chứng tỏ trách nhiệm của anh ta với tổ quốc, dân tộc. Người lính im lặng làm công việc của anh ta. Hẳn nhiên, anh ta không hò hét. Nên, anh ta vẫn còn đây, trước cổng nhà tôi số 225 Bis đường Công Lý, sửa xích xe tăng một cách thản nhiên. Sự thản nhiên của người lính tôi đã không tìm thấy ở tướng Vĩnh Lộc trên vô tuyến truyền hình. Nếu “cái dũng của thánh nhân” đã biểu hiện rõ nét ở các ông tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê văn Hưng, Phạm văn Phú, chắc chắn, những cái chết của các ông ấy đã phục sinh một ý nghĩa chiến đấu tuyệt vời. Chỉ tiếc các ông ấy tự sát quá vội vàng, tự sát chưa đúng lúc. Cần một tướng Nguyễn Khoa Nam có đủ cái thung dung tự tại phút nguy cơ, vùng 4 đã là những chiến khu lý tưởng dẫu thất thế sau 30-4. Tuy nhiên, các ông tướng tự sát vẫn xứng đáng con nhà tướng, vẫn để lại những dấu ấn khó phai nhòa trong quân sử và trong lịch sử. ông tướng Vĩnh Lộc quên cái dũng, vì ông pha trộn sự phẫn nộ Nguyễn văn Thiệu, Cao văn Viên và bọn tướng đào ngũ, vào sự đối phó tình hình khẩn trương. Người lính xe tăng đang sửa xe đã biết dằn sự phẫn nộ. Danh dự của anh soi sáng trách nhiệm của anh. Danh dự ấy, có soi sáng những khuôn mặt tướng tá đào ngũ trong những cái lều ở đảo Guam?
Người lính đã sửa xong xích tăng. Anh ta leo lên xe, chui xuống, đậy nắp. Đoàn xe tiếp tục chạy. Về đâu? Tôi không biết. Trở vô nhà, ông tướng Vĩnh Lộc đã đọc xong Nhật lệnh. Màn ảnh vô tuyến truyền hình, bây giờ, chỉ còn cái dấu chỉnh hình tưởng chừng cái hình bát quái và giọng hát buồn nôn của mấy cậu sinh viên tranh đấu nhai đi, gặm lại ca khúc Nối vòng tay lớn, thỉnh thoảng bị đứt khúc bởi tiếng nói đắc thời của Lý Quý Chung, Tổng trưởng Thông tin nội các Vũ văn Mẫu? Tôi vội tắt ti vi.
0 giờ 45 phút. Súng nổ ở phi trường Tân Sơn Nhất vọng vào lấn át tiếng máy bay trực thăng lên xuống nóc Tòa Đại Sứ Mỹ. Tôi ngồi dựa lưng ghế bành, để cả hai chân trên mặt bàn xa-lông, hút thuốc gạt tàn bừa bãi. Lúc này, tôi thèm nghe nhạc Schubert. Tôi thèm nghe hồ cầm độc tấu La Jeune Fille ét la Mort của Schubert. Vợ con tôi đã ngủ. Các con tôi mệt nhoài di tản thất bại hôm qua, ngủ say sưa. Vợ tôi ngủ chập chờn. Tôi nghe rõ tiếng thở dài của vợ tôi. Trong đời sống, có những lúc vợ chồng không dám an ủi nhau. Vợ tôi đã không dám dục tôi đi ngủ, để mặc tôi đốt thuốc thâu đêm. Tôi thèm nghe Schubert diễn tả sự chết, chẳng tại vì can đảm. Mà vì nuôi hy vọng được chết cuống quít, chết hạnh phúc, chết gắn bó với âm thanh. Khó lắm. Cộng sản thích con người sống mòn và, đồng thời, thích con người chết mòn. Chúng tôi sắp chết sặc sụa trong biển máu. Có phải cái nỗi “chết đuối người trên cạn,” Nguyễn Gia Thiều đã tiên liệu cho dân tộc chúng ta? Con người của thời đại chúng ta đã mắc lưới ý thức hệ và đã thay phiên nhau “chết đuối trên cạn.” Nghĩ mà ghê tởm ý thức hệ, chủ nghĩa. Dân tộc chúng ta chẳng đã một lần Thập nhị sứ quân, một lần sông Gianh đấy ư? Không thấy lịch sử viết về biển máu sau Đinh Bộ Lĩnh, sau Nguyễn Huệ thống nhất đất nước. Khi cuộc đời thôi chiến trường, con người trở về bình yên để xây dựng lại cái vĩnh cửu của con người. Con người quên oán hờn, con người không sợ hãi hình phạt trả thù của thù hận. Con người bằng lòng cái đã chết và hoan hỉ cái đang sống. Thi sĩ Hoàng Cầm đã diễn tả chính xác cái còn lại của người Việt Nam sau chiến tranh:
Ai cũng chết cả rồi
Cái còn vĩnh viễn là người Việt Nam…
Những cái chết cho cái tồn tại vĩnh cửu của dân tộc chẳng làm thăng hoa cái sống sót nữa. Chủ nghĩa và ý thức hệ ngoại lai khốn kiếp đã phủ lên tình tự đích thực của Việt Nam cái bóng tối đen đặc hãi hùng. Từ đó, cuộc đời thôi chiến trường bên ngoài là để khởi sự chiến trường bên trong, thứ chiến trường phủ nhận mọi cái đã chết và đe dọa mọi cái sống sót. Và đó, chiến trường hủy diệt “cái còn vĩnh viễn là người Việt Nam”. Đã thấy rồi, 1 triệu 500 ngàn người Việt Nam sống sót sau chiến tranh mười năm, chưa kịp dứt nụ cười đã bị tàn sát bởi cuồng phong chủ nghĩa cộng sản. Người Việt Nam bị học tập thù hận rồi say sưa thù hận để giết người Việt Nam bằng ý thức hệ mà người Việt Nam không hiểu nó là cái gì? Người Việt Nam đã chết thảm trong Cải Cách Ruộng Đất 1 triệu 500 ngàn mạng, trong sửa sai thêm 500 ngàn mạng. Hình tưởng máu của hai triệu con người? Có làm nên một dòng sông? Và dòng sông oan nghiệt ấy bắt nguồn từ đâu, chẩy đến một mục đích nào? “Máu người dân Việt còn cầy cho luống cầy,” Phạm Duy đã van xin máu Việt Nam chỉ đổ cho tương lai Việt Nam. Rốt cuộc, nó đã đổ cho thắm màu cờ Mác-xít, cho tham vọng đầy đoạ dân tộc, đầy đọa con người của bọn lãnh tụ đê tiện. Giấc mơ bình dị của Việt Nam được diễn tả:
Em đã mơ gì em ơi?
Lúa chín hai mùa no ấm
Chồng giết giặc về em vui…
đã bị hủy diệt. Và riêng tôi, tôi ngồi đợi chết sặc sụa trong biển máu của hòa bình sau chiến tranh hai mươi năm. Chưa hề thấy một dân tộc nào bất hạnh như dân tộc Việt Nam, một dân tộc sợ hãi chiến tranh, sợ hãi luôn cả hòa bình. Sợ hãi mà vẫn phải chấp nhận cả hai. Còn bất hạnh thêm là người Việt Nam không nhìn rõ trái đau khổ chín vàng trên thân phận mình để hái, đề nuốt ngon chất đắng mà Thượng Đế đã ban ân sủng và phó thác cho sứ mạng tạo dựng lại loài người sống trọn vẹn tình nghĩa con người lý tưởng mà Thượng Đê mong muốn. Nạn nhân của chủ nghĩa, của ý thức hệ ngoại lai, xa rời tình tự dân tộc vì ngu muội phiêu lưu, không chịu khôn lớn bằng thống khổ vàng mười để về nguồn, để sống như con người Việt Nam nguyên thủy, để cống hiến cho nhân loại ý nghĩa phục sinh của nỗi chết, lại tiếp tục phiêu lưu, lại chạy theo chủ nghĩa mới, ý thức hệ mới vá víu, vay mượn và rồi tranh giành khắp nơi, gấu ó khắp nơi, bé nhỏ dần mà vẫn quên truy nã bản thân mình.
Không có La Jeune Fille et la Mort, tôi lại nhớ…
Mai Thảo dặn tôi rằng:
– Tôi ngồi nhà chờ ông, hễ Usis gọi, ông ghé đón tôi, chúng ta cùng đi.
Lúc này Mai Thảo đã rời Chiều Tím ở đường Võ Tánh, về 101 Phan Đình Phùng. Trọn buổi sáng hôm qua, tôi canh điện thoại. Usis không gọi. Gần trưa, Đặng Xuân Côn dục tôi:
– Cứ lên Usis xem sao. Thiên hạ chạy ầm ầm.
Tôi đồng ý. Côn chở vợ con từ Phú Nhuận lên. Chúng tôi đến đón Mai Thảo. Nhà văn lừng khừng nhất nước của tôi đã biến. Tôi nghĩ Mai Thảo ham vui đâu đó, nên quên hẹn. Về sau, do Mai Thảo kể, tôi mới biết anh ta “tìm đường cứu nước” qua ngả Nguyễn Cao Kỳ. ông Kỳ đóng vai Mạnh Thường Quân đi tản. Tân khách của ông hầu hết là văn nghệ sĩ. Mặc dù đã tuyên bố nẩy lửa tại Tân Sa Châu rằng nhất định không đi, nhưng ông ta vẫn âm mưu đi và kết nạp Giới Tứ Thôi, Ngụy Thù, Triệu Thuẫn, Hiền Điệt toan tính chuyện Trùng Nhĩ. “Quân tử nhất ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi nói lại là quân tử khôn.” ông Kỳ theo triết lý sống này. Tân khách di tản tụ tập cả bầy trong tư thất Trùng Nhĩ ở Tân Sơn Nhất. Bà Kỳ đi trước. Đài phát thanh ngoại quốc loan tin. Họ bình luận thêm: Tới Guam lần này không có thảm trải, và bà Kỳ bị xịt thuốc sát trùng như mọi người tỵ nạn? Bà Kỳ đi, để lại mấy cái tủ lạnh đầy nhóc thực phẩm. Tân khách vừa tiêu thụ cạn láng thì ông Kỳ lặng lẽ ra đi. Tân khách ở lại chịu pháo kích tơi bời. May mà ống nước không trúng đạn cộng sản nên tân khách uống đỡ cầm hơi trên đường về nhà mình, vừa lê bước vừa chửi rủa Trùng Nhĩ. Có lẽ tại ông Kỳ bỏ rơi Giới Tử Thôi, Ngụy Thù nên sự nghiệp phục quốc của ông nó lận đận. Thành thật chia buồn cùng ông. Mã Viện nói: “Thời loạn, bầy tôi tìm vua hiền mà phò chứ vua khỏi cần tìm bầy tôi.” Mã Viện tìm Lưu Tú, giúp Lưu Tú diệt Vương Mãng mà mở thời Đông Hán. Các tân khách tìm ông Kỳ phò, noi gương đám tòng vong của Trùng Nhĩ, ông Kỳ bỏ rơi, thành thử, ông Kỳ cứ đòi ôm cờ phục quốc mà mãi không được ôm. Do đó, đất nước vĩnh viễn không có tướng quốc ký văn thư trên bàn mã tước và trong cuộc chọi gà!
Không gặp Mai Thảo, chúng tôi lái xe đến Usis. Trịnh Viết Thành chở vợ con vừa ép lề:
– Đi nổi không, Duyên Anh?
– Nổi..
Tôi méo xệch miệng:
– Nổi lềnh bềnh…
Trịnh Viết Thành, Đặng Xuân Côn và tôi len vào sát cổng Usis khóa chặt. Đàn bà, con nít ngồi lại trong xe. Nguyễn Ngọc Bích nhận ra tôi, lớn tiếng:
– Yên chí. Đợi ông Alan Carter về.
– Ổng đâu?
– Bên tòa Đại Sứ.
Chúng tôi lách ra, đứng chờ. Rất yên tâm, vì nhân viên Usis còn nguyên con, và hai chiếc buýt vẫn đậu trong sân. Nửa tiếng đồng hồ sau, cổng Usis bị dân di tản ké đạp tung. Sứ thần Lan Carter, giám đốc Usis không bao giờ trở lại nữa. Thiên hạ đập phá và hôi đồ. Hoàng Hải Thủy dắt vợ con đến giữa cơn hỗn loạn. Bẽ bàng nhất là Nguyễn văn Liên, trưởng phòng nhân viên của Usis. Mấy hôm trước, anh ta đã dẫn vợ con ra đi. Vì lệnh của ông già Hương cấm chỉ thanh niên trong tình trạng quân dịch di tản nên Liên đành bỏ một đứa con lại. Vô phi trường, anh ta thấy lên tàu bay quá dễ dàng, bèn xui vợ đóng kịch băng huyết mà trở về cứu nốt con. Bây giờ kẹt lại cả chùm.
Tôi chia tay Trịnh Viết Thành, cùng Đặng Xuân Côn phóng tìm Nguyễn Tuấn Anh ở đường Hai Bà Trưng. Tuấn Anh cho vé tàu phước thiện. Chúng tôi theo Tuấn Anh vào Chợ Lớn. Nhưng tôi đã không xuống tàu. Cả Côn luôn. Chúng tôi chào vĩnh biệt Nguyễn Tuấn Anh, trở về Sài gòn. Tôi lái xe qua Tòa Đại Sứ Mỹ, ngắm thảm cảnh “lính thủy đánh bộ” Hoa Kỳ đấm đá, xô đạp “đồng minh” di tản. Cay mắt quá, tôi ra bờ sông Sài gòn nhìn mấy con tàu sắt đầy nhóc người chạy trốn cộng sản đến nỗi tàu nghiêng hẳn về một bên. Tôi đã nghĩ những con tàu này khó ra nổi cửa biển. Rồi tôi quyết định lái xe về nhà tôi. Mở cửa xe cho các con xuống, tôi mệt mỏi:
– Thôi, đành ở lại sống với cộng sản!
Nhà tôi chớp mắt, buồn bã:
– Không còn cách nào hả, bố?
– Còn hai cách.
– Sao bố không tính?
– Khó tính.
– Sao?
Tôi cù không trúng nách nhà tôi:
– Thứ nhất, anh không phải là bố tổng thống Mỹ. Thứ hai, em không phải là mẹ tổng thống Mỹ?
Nhà tôi nín thinh. Các con tôi thay quần áo xong là chạy ra vỉa hè chơi. Tôi ngồi ngả lưng dài trên ghế bành hút thuốc và thở dài. Một thoáng kỷ niệm chập chờn theo khói thuốc. Năm 19 tuổi, đất nước vào Dương lịch 1954, tôi đã di cư. Thuở ấy, di cư dễ dàng, muốn vô Sài gòn ngày nào thì vô. Tôi rong chơi Hà Nội đến tháng 9 mới tính chuyện giang hồ. Nhờ thuộc thơ Nguyễn Bính và có chút “nhan sắc”, tôi tán được vài em nữ sinh mà gia đình nhất định ở lại chờ cụ Hờ về. Thế là tôi bèn thêu dệt những cuộc chia ly não nùng. Tôi tìm em thứ nhất, đau đớn báo tin cho em biết rằng tôi sẽ vào Sài gòn lập sự nghiệp, “ngày về xa quá người ơi”, và mong mỏi “đường đời anh muốn em còn mơ”… Dạo đó, chưa có những bài hát lấp sông Bến Hải, trở về quê hương diệt tan giặc cộng, gặp lại em gái năm xưa nối giây tình tứ đứt đoạn nên tôi chi nhạc và lời Lê Trạch Lựu. Tôi vi vút: “Bao giờ anh về gần em cùng đếm này trăng này sao chia nhé em”… Em gái cảm động lắm. Tôi chi thêm thơ Hoàng Công Khanh, ví mình như tráng sĩ Lê Liêm:
Thuở ấy lên đường có một thân
đường sang Hời mấy ngả phân vân
nàng mơ Đát Kỷ xô hung Trụ
ta mộng Kinh Kha diệt bạo Tần
nửa nụ cười xuân muôn tráng sĩ
ba nghìn tân khách một giai nhân
thiếu bao đưa đón lòng không thiếu
chỉ thiếu một người đi tiễn chân
Em gái mủi lòng, xin đi tiễn chân cho tôi khỏi thiếu thốn. Chúng tôi hẹn hò. Đưa em lên Cổ Ngư ăn bánh tôm. Dạo quanh hồ Gươm. Chui vào rạp xi-nê-ma. Rồi dìu em về gác trọ của tôi, nhờ em thu xếp hành lý lên đường. Em tiễn chân tôi đến Tòa thị chính. Tôi nằm đây cô quạnh chờ sáng sớm ngày mai xe GMC của lính Tây đến bốc tôi sang phi trường Gia Lâm. Em gái không thể nằm bên tôi tâm sự trắng đêm. Em phải về trước chín giờ tối kẻo mẹ mắng. Lúc em gần về, tôi cảm khái:
Cầm tay anh sẽ nói
Khóc lóc mà làm chi
Hôn nhau một lần cuối
Em về đi. anh đi…
Cám ơn thi sĩ Nguyễn Bính, em gái khóc. Và tôi cầm gỡ tay em, ôm gỡ em, hôn gỡ em. Tôi lớn rồi, tôi hết “ngày xưa còn bé.” Tôi biết yêu, biết gian dối. Em gái buồn bã ra về. Sợ em trở lại thì vỡ nợ, tôi phải nán nằm, đốt cháy mười điếu Cotab rồi mới xách hành lý rút êm về gác trọ. Tôi chưa… lên đường. Vài hôm sau, tôi lại “bổn cũ soạn lại”, gạ em thứ hai chia ly. Cho đến khi hết sạch em, không thể muối mặt “tái bản” chia ly em thứ nhất, và túi rỗng tuếch rồi, tôi mới âm thầm ra đi.
Than ôi, năm 39 tuổi, đất nước vào Dương lịch 1975, tôi phải cõng vợ con di tản và không di tản được. Bây giờ, thơ tình là thơ cù nhầy Phan Khôi khi vợ tôi hỏi tôi “ở với việt Cộng có làm sao không”?
Làm sao cũng chẳng làm sao
Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi.
Làm chi cũng chẳng làm chi
Dẫu có việc gì cũng chẳng làm sao…
Đang ở cái thế “mã cùng đồ” thì ông luật sư Dzu và vợ là ca sĩ Đan Thanh tới, hỏi chuyện ra đi ngả Usis. Tôi não nề đáp: “Hỏng rồi, hỏng rồi”? Và tôi ra vỉa hè xem “nhân dân chống Mỹ cứu nước”. Chiến dịch Hôi Đồ đồng khởi ngoạn mục. Các trụ sở của cơ quan thiện nguyện Mỹ, của Hội cha mẹ nuôi quốc tế, của các nhà cho Mỹ mướn, của các gia đình di tản không còn ai trông giữ bị tấn công ào ạt. Người người, lớp lớp, dân Xóm Lách phóng lên đường Công Lý. Thoạt đầu, nhân dân “giải phóng” sữa đặc, sữa bột, đồ hộp. Rồi mùng mền, ri-đô. Rồi tủ, giường, bàn ghế. Rồi máy lạnh, tủ lạnh, bếp ga. Rồi cửa sổ, cửa kính. Trẻ già, trai gái, bô lão, nhi đồng tham dự chiến dịch một cách quyết liệt. Rất may không xảy ra giết nhau vì thù hận cá nhân. Tôi chứng kiến “nhân dân anh hùng” làm thịt gọn một chiếc buýt chuyên chở lính Mỹ. Chiến dịch Hôi Đồ và sự lưu thông bất chấp đèn đường chiều 29-4 là dấu hiệu rõ nét nhất của sự sụp đổ miền Nam. Kể từ 16 giờ ngày 29-4-87, Sài gòn sống trong tình trạng vô chính phủ. Có một điều để tôi suy nghĩ, để tôi còn yêu mến dân Sài gòn và thành phố Sài gòn là dân nghèo Sài gòn chỉ hôi đồ của Mỹ và những vi-la do Mỹ mướn bỏ trống. Ý thức đấu tranh giai cấp chưa thấm vào lương tri dân nghèo Sài gòn và không bao giờ thấm nổi cả Tất cả những gia đình quyền quý, giầu sang đều bình yên. Ngay cả những gia đình tướng tá, bộ trưởng, cảnh sát hống hách cũng bình yên. Tinh thần dân tộc cao quý thể hiện rõ rệt ở Sài gòn chiều 29-4. Con người, nhất là con người nghèo khổ triền miên bị áp bức, bóc lột được quyền phẫn nộ lúc này, lúc mà luật pháp quốc gia dưới chân họ. Người ta tự do trả thù, đốt nhà, cướp của, hãm hiếp, sát nhân; tự do đối với những đối tượng thù nghịch. Nhưng không một ai thèm hưởng cái tự do đó. Người ta vẫn ăm ắp lương tri và nhân tính. Và tôi nghĩ đó là bài học cho toàn thể người Việt Nam trên trái đất. Và tôi hãnh diện là người Sài gòn của chiều 29-4-1975 và mãi mãi. Tôi ra đi, mang theo lương tri và nhân tính của người Sài gòn chiều 29-4. Vì nó mà tôi còn khao khát chiến đấu. Vì nó mà tôi biết can đảm và kiên nhẫn chịu đựng mọi nghịch cảnh oan khiên.
Nhà thơ tàn tật Huy Tưởng chống nạng đến thăm tôi xem tôi đi được hay kẹt lại. Tôi bỏ cảnh tượng hôi đồ, mời Huy Tưởng vô nhà. Mở chai Rémy Martin cuối cùng, Huy Tưởng và tôi cụng ly:
– Anh có sợ không?
– Sợ gì?
– Anh có nhiều điều để sợ. Tôi nhắc anh nghe một điều thôi. Anh đã thách Võ Nguyên Giáp cho T-54 xâm nhập chiến tuyến Hải Lăng và bảo hạ sĩ Sứt đang chờ T-54 để phóng hỏa tiễn TOW. Anh nhớ chứ? Anh đã tuyên bố trên vô tuyến truyền hình Huế được phát lại ở Sài gòn. Anh nhớ chứ? Chuyến bay trên phá Tam Giang của anh với Phạm Duy, Tô Thùy Yên, Trần văn Ân, Nguyễn Trọng Nho…
– Uống đi, bằng hữu. Có thể là cuộc rượu cuối cùng đấy!
Tôi bốc máu Kiều Phong:
– “Sống bằng không mà chết cũng bằng không”?
Sống có thể bằng không nhưng chết khó thể bằng không. Tôi đâu phải nhân vật tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung. Alain De lon đã diễn xuất một vai thật người trong phim Deux hommes danh la ville với Jean Gabin. Khi lên máy chém, người không sợ chết đã thú nhận, thành khẩn thú nhận “Tôi sợ”! Tôi đã biết Lan Khai chết cách nào, Khái Hưng chết cách nào, làm sao tôi không sợ? Tôi sợ lắm, sợ lắm, sợ lắm…
Khu vực quân sự kiểm soát biên giới thật ra lại quá nghèo nàn về hình thức so với một Bangkok đồ sộ, hào nhoáng của Thái Lan. Chừng hai mươi gian nhà tranh thấp, lụp xụp nằm ngay hàng thẳng lối trong khung cảnh tịch mịch, yên lặng và tăm tối của núi rừng. Đứng ngoài nhìn vào, tôi có cảm giác như đứng nhìn Trại Cải tạo 53 của Cộng Sản tại Phú Khánh mà bao nhiêu kỷ niệm cay cực, kinh hoàng vẫn không bao giờ phai nhạt trong tiềm thức. Có khác chăng là cái hàng rào dựng lên bằng những cọc tre hoặc cây đan chéo nhau để ngăn cách tù nhân và xã hội bên ngoài đã được thay thế bằng những bụi gai rậm rạp, những giây nhợ chằng chịt của thiên nhiên mà khả năng ngăn chận thật hữu hiệu. Cái khác biệt chính yếu là những kẻ sống trong những ngôi nhà lụp xụp nầy là những con người có nhiệm vụ ngăn cản người khác tự ý làm những điều họ muốn, còn những con người trong nhũng gian nhà tù Cộng Sản lại tự ngăn cản mình làm những điều mình ước muốn, dù đó là ước muốn Tự do, Công lý.
Sau một đoạn đi men theo mép đường lộ chính mà thỉnh thoảng tôi phải ngồi thụp xuống, hoặc chớp nhoáng lách vào bờ bụi bên lề đường để tránh né những ánh đèn pin loang loáng từ xa, hay những bước chân xào xạc trên sỏi của Toán Tuần tiễu, tôi tiến gần miếng đất đã được phát quang sạch và cách ngôi nhà đầu tiên chừng ba mươi thước. Bụi bờ phía mặt tiền tuy gây vất vả, nhọc nhằn nhưng cuối cùng tôi cũng chui qua được, sau khi đã để lại vài vết trầy sướt trên tay và cổ, mặt. Tôi định đi vòng men theo mép vườn để qua khu vực trú quân nguy hiểm. Bóng tối đồng lõa với tội ác nhưng bóng tối đồng thời cũng che chở người hiền lương trong cơn hoạn nạn. Lúc đầu tôi cố bò khom người đi tới, nhưng nhiều cành cây thấp mới đâm chồi ra lá thỉnh thoảng cứ đập vào mắt vì mắt không nhận rõ đường, nên tôi đành đứng dậy, dò dẫm rón rén từng bước chậm rãi. Những lá khô, cành gãy kêu răng rắc gây những tiếng động lớn giữa đêm yên lắng ngột ngạt.
Bước chân đi thấp cao, hụt hẫng trên thế đất gồ ghề làm tôi nhiều lúc chúi nhủi, nên lượm khúc cây còn tốt làm gậy để dò đường và để làm vật nương tựa giữ thăng bằng. Cuối cùng tôi quyết định đi xuyên qua giữa hai dãy nhà sát bìa rừng, vì vẻ hoang vắng tăm tối và bất động như chìm đắm trong giấc ngủ vùi mê mệt. Có gian nhà như nơi chứa dụng cụ, có gian như phòng ăn tập thể. Có lúc đi nép sát hiên nhà để tránh lộ hình tích, có lúc tôi đi lại thong thả trên lối đi như chính mình là người cư ngụ trong khu vực đó, cần đi vệ sinh ban đêm hoặc đang đi kiểm soát. Tôi đã vượt được nửa đoạn đường hiểm hóc bỗng có tiếng chó sủa dồn inh ỏi. Con chó tinh khôn bám sát theo tôi để báo động, và tiếng chân chạy lịch bịch, đèn pin lóe sáng. Tôi mỉm cười tự nghĩ:
– Yên chí! Ban ngày ban mặt ông còn chạy an toàn dưới lằn đạn truy đuổi, giờ nầy bóng tối, rừng cây, khoảng cách, các chú làm gì nổi ta.
Tôi phóng chạy tách vào rừng, lớp lá ẩm mục và cành cây gãy phủ dày trên mặt đất lâu ngày làm tôi có cảm giác như bước chân mình bị sa xuống hầm bẫy bên dưới. Có lúc bị vấp mạnh, cả thân mình bắn lên như một lực sĩ nhảy cao, rồi rớt lọt thỏm vào một bụi rậm trước mặt. Bọn gác đuổi theo một đoạn đường rồi bỏ cuộc.
– Một con mễn, một con nai đi lạc! Toán tuần tiễu có thể nghĩ như vậy. Tôi té chui té nhủi, trèo, bò, trườn, làm đủ cách để leo lên những bờ đất cao, giây leo chằng chịt hoặc trơn trợt. Đường quốc lộ quẹo trái, tôi phải đi vòng cung 270 độ mới gặp lại đoạn kế tiếp. Sau nửa giờ mò mẫm theo đường, tôi lại gặp một Trạm gác khác, đèn đóm sáng trưng. Trạm gác nầy bề thế và quy củ, có tính cách chính quy hơn vẻ du kích của khu vực đồn canh Thái Lan. Những dãy nhà gạch nằm liền lạc nhau, được bố trí có tính cách quân sự, nghiêm chỉnh.
Không biết vì quá tự tin hay muốn tìm chút cảm giác mạnh mà thay vì sau khi rẽ phải theo một con đường lộ lớn mới xây cất xong cách đồn phòng thủ chừng một trăm thước, tôi cần phải đi ít nhất xa một cây số rồi mới quẹo hướng Nam để xuyên qua khu vực canh phòng, tôi lại quyết định leo qua hàng rào cao bằng tường và giây thép rồi đi xuyên qua những dãy nhà nằm gần bìa khu vực phòng thủ, tương đối yên tĩnh, mù mờ trong ánh sáng khiêm nhường của những bóng đèn điện tròn với ánh sáng yếu ớt.
Lính gác Cộng Sản thường lười biếng vì cuộc sống kham khổ, khắc nghiệt làm họ mệt mỏi. Lính các nước Tư Bản cũng lười biếng, nhưng trái lại, vì đời sống tương đối đầy đủ thỏa mãn chỉ gây cho họ ý tưởng thích hưởng thụ, và mệt mỏi vì sự hưởng thụ qáu độ. Nói chung nếu không vì kỷ luật sắt máu của Chuyên chính Vô sản, hay nhũng biện pháp mạnh của Thể chế Quân đội phe Tự do, có lẽ đặc tính lười tự nhiên của con người bị bắt đi lính sẽ có cơ hội phát triển mạnh mẽ. Nước sông công lính hay nước sông công tù có lẽ phát sinh từ ý niệm đó. Đã từng gần mười năm sống trong Quân đội, cũng như gần sáu năm nghiên cứu Binh lính Cộng Sản qua các Trại tù, tôi có cảm giác không ái ngại khi vượt qua những trở lực do sức người tạo ra. Chỉ có những hệ thống kiểm soát bằng máy móc điện tử mới tương đối có hiệu lực ngăn chận những công tác đột nhập.
Len lỏi qua một số gian nhà bên ngoài cùng, tồi tiến đến một nơi hình như là nhà bếp và chỗ tạm chứa đồ phế thải trước khi chuyển đi đổ rác. Tôi bỗng vô ý đạp lên những vỏ đồ hộp vứt bỏ ngổn ngang, tiếng kêu dòn lốp đốp của kim loại làm một tên lính nằm tầng gác trên lưu ý. Có lẽ y vừa thức giấc vì có tiếng đằng hắng. Tôi rón rén đi tiếp, cẩn thận tránh né nhưng vì tối trời, tôi lại đạp lên những cái hộp rỗng khác. Tiếng dép lẹp xẹp trên gác chạy xuống khẩn trương, tôi đành phóng chạy nhanh như cắt. Khu vực nằm giữa ruộng nước và sình lầy, tôi phải lội nhanh qua đám đất ruộng trống trải, đất bùn sền sệt cố níu kéo lấy chân kẻ đang cố chạy trối chết. Tôi bương bả lội bì bõm một hồi lâu và ra khỏi khu vực nguy hiểm, giặt kỹ đôi giày và ống quần bết bùn rồi vòng ra đường cái, tiếp tục đi qua các xóm nhà nằm rải rác, ngái ngủ. Đến gần sáng, tôi tìm một bụi rậm nghỉ lưng.
Trốn Thoát Khỏi Mã Lai
Những con muỗi cỏ đói khát từ các bụi bờ rủ nhau kéo lại. Mặc kệ, mặc sức cho chúng mầy làm thịt ta. Ta phải ngủ dù đang nằm trên lửa, trên gai, dù trời long đất lở, bởi vì ta đã thoát khỏi vùng đất bất trắc, hiểm họa, định chôn chặt cuộc đời ngang dọc của ta. Nằm ngủ nướng nhàn hạ trong khi xe cộ và người đi đường đã rộn rịp ngoài lộ, tôi hoàn toàn hồi phục. Tôi kiểm soát áo quần và bước ra đường, ước ao được thấy một lá cờ để xác định cái hạnh phúc cồn cào náo nức trong lòng. Những chiếc Takxi (có thêm chữ k tại Mã Lai) chạy ngang bóp còi, tôi định đón xe, nhưng vì cẩn thận tôi chọn giải pháp vất vả. Tôi sẽ đi bộ và còn đi bộ mười sáu cây số để đến Thị trấn đầu tiên của Mã Lai: Kangar.
Hai bên đường có những trạm nhỏ vừa làm bus stop vừa làm nơi bán các món quà vặt. Những người đàn ông da nâu, để râu mép trông lạ mắt, dân trong vùng hiền lành, cởi mở. Một chiếc xe Cảnh sát màu đen chạy ngược chiều, những phụ nữ mặc trang phục Muslim, một số người gốc Ấn, một thứ ngôn ngữ nghe líu ríu như đọc thần chú. Tôi đến Kangar khoảng gần trưa sau suốt một buổi sáng tản bộ như kẻ nhàn du, nhưng mồ hôi đã đầm đìa cả áo. Không Takxi nào chịu đi xa từ Kangar đến Kuala Lumpur, tôi đành phải đợi chuyên xe buýt 8g30 tối. Tôi thay đổi nhiều quán nước để chờ giờ lên đường. Vừa mới khổ vì khát khô cổ họng giờ lại khổ vì phải uống nhỉều nước, đầy hơi tức bụng.
Tôi vào công viên, giữa thanh thiên bạch nhật, cởi quần jean vá lại cái đủng quần, bởi quá trình leo, trèo, té, trợt đã làm rách toẹt một khoảng lớn, và bôi một chút thuốc mỡ vào mông và háng đang phồng rát ê ẩm. Lại vào xi nê để giết thì giờ. Tôi chỉ đường cho một người Anh du lịch đang tìm ngân hàng, luôn tiện nhờ đổi dùm số tiền Bahts còn thừa.
Nhớ cái lần nhức tim buổi sáng, khi mới vào quán ăn đầu tiên, một thanh niên ngồi đối diện cứ thỉnh thoảng liếc nhìn tôi. Ăn xong, tính tiền, tôi vừa bước đi thì bị kêu lại. Ngạc nhiên, tưởng ăn xong phải dọn dẹp bàn như kiểu Mỹ, tôi lật đật quơ những giấy napkin gom lại, thì người nầy chỉ vào đĩa ra dấu. Té ra tôi bỏ quên số tiền lẻ thối lại lần trước. Ôi người bạn Mã Lai ơi! Sự lịch sự và thân hữu của bạn làm ta phải nhức tim mấy phút.
Mã Lai—Thái Lan, một vùng biên giới nhưng hai sắc dân, một vùng đất, hai đặc tính. Con người bên nầy hiền hòa cởi mở, con người bên kia soi mói, rình rập. Có phải vì gần với Cộng Sản hơn mà người Dân Thái dọc biên giới đã ảnh hưởng cái đặc chất đầy Cộng Sản tính như vậy. Đúng là gần mực thì đen! Tôi đi tìm bia uống để lấy hứng khởi, nhưng Kangar hay Kuala Lumpur hay Mã Lai nói chung, hạn chế bia và rượu theo qui luật của đạo Hồi. Tôi ngồi nhìn những thiếu nữ mặc quốc phục bằng voan màu xanh hoặc trắng có khăn choàng mặt, vừa kín đáo, vừa bí ẩn. Đạo Muslim có ảnh hưởng lớn trên mọi sinh hoạt của người dân Mã. Tôi lên xe buýt Air Cond với vài người khách lẻ tẻ, chẳng bù với xe buýt Sàigòn, những loại xe Liên Xô chật chội như cá hộp, khó khăn tìm một chỗ đứng và nhờ vậy mà đám móc túi mặc sức tung hoành (dù trong túi người dân chỉ còn bạc cắc) và những anh chàng có máu dê mặc tình dở trò sờ soạng. Sự đói khát cũng không ảnh hưởng đến bản tính dê cụ.
Sau cái đói khổ, tôi vừa gặp cái no khổ và hiện tại là sướng khổ. Tôi sướng khổ vì hệ thống máy lạnh quá mới, xe lại ít khách làm tôi rét run cầm cập, suốt đêm trăn trở. Tiếc những đêm hạnh phúc nằm lăn lóc giữa rừng sâu say sưa trong giấc ngủ tuyệt vời. Đường quốc lộ hẹp, nên dù chạy một mình giữa canh khuya vắng vẻ xe buýt chưa sử dụng được hết khả năng tốc độ. Xe chạy qua một vài Trạm gác một cách bình yên mặc dù có lần tôi thấy thót ruột vì xe ngừng lại quá lâu.
Kuala Lumpur, Thủ Đô Mã Lai
Tôi đến Kuala Lumpur lúc 5 giờ sáng. Một thanh niên ngồi cạnh bập bẹ nói tiếng Anh mời tôi về nhà chơi. Tôi từ chối để được đi bát phố một mình. Tôi vào một tiệm Tàu ăn sáng. Người Tàu ở đâu cũng vậy, thú ăn uống là một đặc điểm dân tộc tính. Tôi kêu một bàn la liệt đủ loại bánh bao, xíu mại, bánh cuốn, dầu cháo quãy… chẳng cần biết tên món ăn, thấy món nào hấp dẫn là tôi chận xe lại để ăn thử, ăn đến ớn và trả tiền cũng ớn.
Tôi tính toán giờ giấc. Để đến Johore Baru vào sẩm tối, tôi chọn chuyến xe buýt 12g30 trưa. Để tiêu khiển một buổi sáng tại thủ đô Mã Lai, tôi mướn một Takxi hết 18 dollars Mã mỗi giờ để chạy quanh ngắm cảnh. Kuala Lumpur không tấp nập nhộn nhịp như Bangkok, nhưng những buildings chọc trời nằm lẻ loi đây đó tạo nên một dáng dấp riêng, một vẻ đẹp hài hòa. Người tài xế làm hướng dẫn viên du lịch thành thạo, đã đưa tôi đi xem các di tích, danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Thủ đô.
Bangkok chật chội, ngộp thở với nhịp sống vội, Kuala Lumpur khoáng đãng, rộng rãi với những bãi cỏ, những đồi, vườn cây xanh tươi mát mẻ. Tôi ngồi trên lầu của trạm xe buýt uống bia đen, ngắm cảnh tài tử giai nhân qua lại, rồi lên đường theo dự trù. Những thị trấn nhỏ nằm dọc theo quốc lộ phía Nam nghèo nàn hơn phía Bắc. Tôi kiểm lại bảng cây số, địa danh sắp đến. Vẫn những đồn điền cao su nằm dọc suốt lộ trình, nền kinh tế, kỹ nghệ của Thái và Mã phát triển trên lợi tức của loại nguyên liệu nầy.
Xe dừng dọc đường để khách ăn chiều. Ba người Mỹ, hai trai, một gái, lúng túng khi gọi món ăn vì Chủ quán không nói được tiếng Anh. Tôi ngồi bàn gần cạnh nên làm quen với họ. Họ cùng đi Singapore. Tôi hỏi sơ họ về đoạn đường sắp tới, nói đại khái ý định của mình và hẹn gặp họ tại Singapore, họ ngạc nhiên và không tin. Một người Mỹ ăn phần đồ ăn vừa kêu nhưng vì không thích khẩu, nên bỏ nửa chừng. Anh đưa phần thừa mời tôi.
– Anh ăn đi kẻo bỏ uổng.
Tôi lắc đầu, bảo rằng:
– Tôi có đủ tiền để ăn, nếu cần ăn.
Nền văn hóa phương Đông bị shocked nặng trước sự thân hữu bất nhã đó. Người Anh gặp tại Kangar còn đặc biệt hơn nữa. Anh đi chung với tôi cả tiếng đồng hồ, tiết kiệm đến nỗi chỉ đứng giải khát tại xe bán nước mía bình dân bên đường. Anh uống một ly xong, kêu thêm ly nữa. Uống nửa ly, để xuống nghỉ lấy hơi, người bán hàng tưởng anh uống xong thò tay lấy ly định đổ đi để rửa, anh chộp lấy, giật lại và bực bội phân bua với tôi:
– Nó vừa bán vừa ăn cướp!
Tôi chợt nhớ và tiếc nuối những người Mỹ ở Việt Nam ngày xưa. Họ đi đến đâu, người ta chạy theo mời mọc, vồ vập đến đó, bởi vì họ rộng rãi trong cách sử dụng tiền, trong lối giao thiệp. Đi du lịch không chỉ đến để ngắm một bãi biển, một phong cảnh, để nằm lăn lóc những nơi chốn rẻ tiền, gặm bánh mì và uống nước mía bình dân. Bãi biển đâu cũng vậy, phong cảnh đâu cũng giống nhau. Chỉ có những giây phút của sự buông thả, buông thả về cách suy nghĩ, buông thả về cách sinh hoạt, tiêu xài, buông thả để hưởng cái cảm tình ngưỡng mộ của người địa phương, sự nồng nhiệt chờ đợi, sự chuẩn bị phục vụ những người khách hào hoa, phong nhã. Toàn bộ những thứ đó mới đem lại cuộc du lịch một ý vị đặc sắc của nó.
Hồi trước, mỗi lần đi chơi một nơi nào, điều thú vị nhất vẫn là sự đón tiếp, ân cần nơi tôi đến. Những người bồi vừa thấy mặt đã chạy ra mừng rỡ, vừa móc điếu thuốc đã thấy bật lửa quẹt lên, vừa uống một ngụm đã thấy ly bia lại đầy. Tôi đã làm cho họ hạnh phúc bằng cách tip rộng rãi. Họ đã làm cho tôi hạnh phúc: Phục vụ tận tụy. Hai bên cùng hạnh phúc, cùng mong mỏi gặp nhau, không chỉ riêng bồi nhà hàng, các chú bé đánh giày còn mê tôi như điếu đổ. Tôi vừa ngồi xuống, hai chú bé, mỗi chú một chiếc giày, vừa đánh xong, chú khác vào, lại lột giày ra đánh tiếp. Có lần gặp một cảnh tức cười không quên được. Tôi vào ăn trưa tại Thanh Bạch và chỉ có một chú bé đang ngồi ngáp ruồi thay vì nhiều chú như thường lệ. Tôi rút chân ra khỏi bàn cho chú bé đánh bóng mặc dù giày tôi lúc nào cũng bóng. Đánh xong chú bé ra đi, một lát sau, một chú bé ở trần, đầu trùm kín bằng chiếc áo, đi vào, lại kéo giày tôi ra đánh tiếp. Tôi ngồi nghe nhạc, rung đùi nhâm nhi bia, bỗng cảm thấy có gì là lạ? Tôi cầm vai xoay mặt chú bé lại. Đúng là chú bé hồi nãy đã giả dạng để đánh giày thêm một lần nữa. Tôi cú đầu chú bé trừng trị cái tội lừa tôi, nhưng lại cho thêm tiền vì em đã đem lại cho tôi một cảm giác thú vị khó quên.
Tôi cảm thấy hạnh phúc vì cái hạnh phúc của những kẻ nghèo khổ khi gặp mình. Cái giới thứ ba thỉnh thoảng cũng được nằm mơ một lần là những người ăn xin. Đôi khi, gặp lúc yêu đời, tôi kéo một anh chàng ăn mày vào ngồi chung bàn với mình, cho anh ta tự do ăn uống tùy thích. Xong xuôi tôi còn bắt ép anh ta ăn ráng thêm để hưởng cái thú no khổ. Tôi tiếc mình không phải là một ông tiên có phép mầu để thỏa mãn những điều ước của những người cùng khổ, bất hạnh. Thỉnh thoảng, trong khả năng, tôi cũng cố gắng tạo những niềm vui lạ, những hạnh phức bất ngờ cho họ.
Bơi Qua Eo Biển Johore Strait
Xe chạy, rồi dừng lại đổ xăng, rồi chạy tiếp. Tôi cứ tưởng tượng giữa Johore Baru và bờ biển là một cánh rừng, hoặc những bãi cát rộng, nhưng khi đang mê mải với những ngọn đèn đường rực rỡ như hội hoa đăng, với làn sóng xe cộ tràn ngập, rộn rịp, tôi bất chợt bị kéo ra khỏi xe bằng một lời thông báo bất ngờ:
— Yêu cầu hành khách xuống xe, kiểm soát thông hành trước khi qua Singapore.
Tôi bước xuống, đi ngược hướng những người khách khác, đứng lẫn lộn ở một bãi đậu xe cách Trạm Xét giấy chừng bảy mươi thước để quan sát. Cảnh sát Quan thuế, Cảnh sát Sở Di trú đứng nhung nhúc trong một phạm vi chật hẹp, phải là kiến mới lọt qua chỗ nầy mà không có passport. Tôi đi về hướng Tây, đi dọc bờ biển dài xây bằng đá, cao trên mặt nước. Trời chuyển xấu, gió thổi mạnh nhưng những đôi nhân tình vẫn không lưu tâm quấn lấy nhau tình tự, yêu đương. Thanh niên nam nữ Mã Lai thật bạo, có cặp như chuẩn bị làm tình công khai giữa nơi chốn đông người. Đã mệt mỏi với đường dài, đã thừa mứa với Esther, thế mà đôi mắt đói mắt hơn đói bụng thỉnh thoảng lại len lén nhìn trộm. Cảnh tượng này làm tôi nhớ lại cảnh bờ sông Bạch Đằng trước ngày ra đi. Sài Gòn Xã hôi Chủ nghĩa cũng táo bạo vô cùng, hoàn cảnh khó khăn đã làm cho giá cả tình yêu càng ngày càng rẻ mạt. Một tô hủ tiếu, một chầu xi nê, một cuổc xe Honda cũng làm nên một cuộc tình vội nhưng đầy đủ thủ tục và nghi thức. Những cô gái vị thành niên trốn vùng kinh tế mới về thành phố, hàng đêm tụ tập níu kéo khách qua đường. Từ khu nhà ga xe lửa Sài Gòn, khu Tao Đàn, khu Hồng Thập Tự, công viên trước Quốc Hội… đến nhiều nơi khác, giá bình dân chỉ một Mỹ kim một đêm.
Sài Gòn giờ đây hàng đêm lăn lóc bao nhiêu cặp tình nhân trẻ dọc theo bờ sông Bạch Đằng. Sự sống trở nên điên cuồng, vội vã bởi vì đời sống đã thành vô nghĩa, bởi vì tương lai mờ mịt ngoài tầm tay, bởi không biết còn được sống bao lâu nữa?
Càng đi xa đường càng vắng dần, rải rác đó đây, những cặp tình nhân cuối cùng cũng đang vội vã rời bờ biển hẹn hò vì giông gió đã chuyển hướng, sấm sét đang gầm thét sẵn sàng giáng cơn thịnh nộ bất ngờ.
Huyền thoại về Đội Tuần tra biên giới, về Đội Đặc nhiệm chống buôn lậu thuổc phiện đã làm cho sự toan tính chuẩn bị quá chu đáo, cẩn thận của tôi trở nên khôi hài:
– Nothing is easy but nothing is impossible. Tôi lập lại câu châm ngôn của mình và bắt đầu cởi quần áo chuẩn bị. Tôi chọn lựa, bỏ bớt một số đồ, xong nhét đồ vào xách tay, choàng qua cổ. Nhìn hướng về bờ biển Singapore khoảng cách trên ba cây số, tôi chọn một ngọn đèn sáng, nằm tách riêng ra để làm chuẩn. Thời tiết bất ngờ xấu đã làm cuộc vượt biển thập phần khó khăn. Tôi bơi một mình giữa vùng biển mênh mông giá lạnh, sóng gào gió thét. Sự chiến đấu sinh tồn hoàn toàn độc lập nhiều năm tháng lúc nào cũng lặng lẽ cô đơn trong sự bình tĩnh và tự tin. Tôi mỉm cười tự nhủ:
– Lý Tống. Bạn là người hạnh phúc trọn vẹn. Bởi vì hạnh phúc và bất hạnh của bạn không chia sẻ được.
Sóng biển cao vỗ mạnh từ hướng trái. Tôi phải bơi nghiêng một bên, cần cổ mỏi rã rời. Những con cá nhỏ hay những đám rong rêu gây những cảm giác nhờn nhợt rờn rợn nơi lòng bàn tay quạt nước. Túi xách ngấm nước càng lúc càng nặng và chìm dần. Cứ mỗi động tác tiến tới, giây choàng lại giật mạnh vào cổ, như con chó muốn chạy nhanh bị người Chủ già giật dây tròng cổ giữ lại. Tôi ngoảnh đầu lại vẫn còn thấy mình đang ở bên nửa hải phận của Mã Lai. Tôi đã uống ba chai 7 up (tôi chọn số 7) trước khi xuống nước, nhưng cái mệt quá độ làm cảm giác khô đắng ở cổ cứ ngai ngái nhột nhạt muốn buồn nôn.
Bơi hoài, bơi mãi. Bờ biển Singapore nhòe nhoẹt mơ hồ, ngọn đèn chuẩn chập chờn di động, bờ bãi mênh mông chìm đắm trong ánh sáng tù mù. Có đèn chuẩn, hướng bơi vẫn còn bị lệch vì sóng đánh dạt về một phía. Nếu cứ bơi bừa, không hiểu tôi phải lạc lõng giữa biển đen bao lâu nữa. Sóng dạt từ trái và tôi phải bơi ngang kiểu cua.
Tôi nhớ lại lần bơi đua ở bãi biển Ninh Chữ. Thanh, Phi công cùng Phi đoàn Ó Đen 548 thách tôi bơi ra cồn ngoài biển, một bãi đất nằm chìm khuất dưới nước. Chỉ nghe nói cồn ở phía đó, khoảng cách chừng đó, nhưng thực sự chưa ai từng biết, từng thấy cồn lần nào. Buổi sáng đi biển chung với các cô bé con Chủ Phan Rang Hotel và các bạn gái khác. Phi công vốn thừa tình nhưng thiếu tiền bởi vì ham đào đạt bay bướm. Có lẽ vào cuối tháng chưa kịp lãnh lương, Thanh, Thuận đã không làm vừa lòng bà Chủ quán. Bà ta nói xiên, nói xéo, nói tục nói tĩu để đuổi những khách chỉ uống nước dừa, để dành chỗ cho khách sộp khác uống bia. Bạn trai và gái của tôi, có lẽ thường đi biển, quen cảnh bạc đãi ở đây, nên cứ đánh bài lờ, ngồi thản nhiên không thèm để ý. Tôi đi biển lần đầu nên khó chịu, bực mình. Tôi ngoắc bà Chủ quán lại, móc cọc tiền 100,000 đồng mà lúc nào tôi cũng đem sẵn để chi dùng cho dịch vụ Câu Lạc Bộ Sĩ Quan KQ (mà tôi đang làm Quản lý), đập mạnh xuống bàn và quát:
– Chừng nầy có đủ đốt quán nầy không?
Cái mặt nhơn nhơn đáng ghét kia bỗng tái xanh run rẩy. Ôi! Mãnh lực đồng tiền! Bà ta xun xoe xin lỗi và hỏi tôi:
– Cậu kêu món gì tôi dọn ra?
– Đem hết ra đây. Tôi mua luôn cả quán!
Chúng tôi ăn hết đống nem chả nầy, uống đến két bia nọ. Ăn uống xong, bắt đầu mục bơi đua. Đến lúc nầy, Thanh bắt đầu ái ngại nhìn ra biển xa, đưa ý kiến:
– Nếu toa bơi một mình đến được cồn coi như toa thắng.
– OK. Một chầu tiền bay (4.500 đồng) chịu không? Tôi ra giá.
– Đồng ý. Thanh lưỡng lự gật đầu.
Tôi xuống nước, cứ thế bơi mãi. Chẳng biết đâu là cồn, đâu là điểm đến, sóng gió lớn làm tôi muốn đứt hơi. Tôi cứ bơi, tôi đuối sức đến ỉa chảy luôn trong quần nhưng vẫn cương quyết tự nhủ:
– Lý Tống! Toa phải bơi tiếp. Hoặc toa chết trên biển nầy hoặc toa chiến thắng!
Chẳng hiểu vì sao lúc đó tôi lại có quyết định dứt khoát và vô lý cho một trò giải trí tầm thường. Bơi quá lâu, kiệt sức, không chồm qua được ngọn sóng cao, tôi bị chìm xuống đáy nước. Bất ngờ lúc đó chân tôi đụng đất, nước sâu tới cổ và không biết cồn rộng bao nhiêu. Cứ tưởng tượng nếu tôi vô tình bơi qua khỏi cồn mà không hay và tiếp tục bơi tới mãi để tìm một vị trí thực sự đã bỏ lại đằng sau? Tôi cởi quần giặt sạch sẽ và đưa cao làm cờ vẫy ra hiệu. Các bạn phía trong vẫy trả lời. Tôi nghỉ mệt hơn nửa tiếng đồng hồ mới lại sức, bơi trở vào. Đến bờ, tôi không đứng nổi, hai chân run, đánh lập cập vào nhau. Tôi khuỵu xuống, bò lên khỏi mặt nước vừa lúc Thanh, Thuận chạy lại, đồng đồng kẻ chiến thắng lên vai chạy quanh bãi biển.
Vâng. Chỉ trong một cuộc chơi, tôi đã xả thân để chơi, giờ nầy, tại vùng biển âm u xa lạ nầy, sự nỗ lực phấn đấu còn có ý nghĩa nghiêm trọng hơn nhiều. Tôi đã tới được giữa biển, khoảng cách hai bên bờ bằng nhau. Tự nhiên sự mệt nhọc biến mất, tôi phấn khởi và cảm thấy sức khỏe hồi phục. Tôi bơi tránh một ngôi nhà đánh cá nổi nằm bên phải, một chiếc thuyền chài đơn độc bên trái. Bơi một hồi lâu, tay chân lại bủn rủn vì đuối sức. Tôi cố đánh vật chồm tiếp qua từng đợt sóng cao và hầu như sắp kiệt lực thì thấy xuất hiện trước mắt dãy trụ cột đóng giữa dòng nước. Đây là nơi giăng lưới bắt cá. Tôi bám vào cây cột gần nhất, bám lấy nghỉ xả hơi. Tự nhiên ruột gan tôi cồn cào và bị tháo dạ rèn rẹt như bắn tiểu liên. Thì ra trong lúc bơi, những động tác chồm, đạp… giống như máy bơm đã bơm hút nước biển đầy ắp vào bụng. Tôi phải bám cột nghỉ dưỡng sức gần nửa tiếng mới đủ sức bơi tiếp đoạn biển cuối cùng. Tôi hướng về hàng cây mọc nằm nhô ra biển.
Bước lên bờ, trước mặt tôi là một ngôi nhà lớn điện sáng, một đống rác đang cháy âm ỷ gần cạnh. Tôi giặt giũ quần áo, tắm rửa sạch sẽ và mặc đồ ướt đi lên đường. Đi qua một ngôi nhà chẳng ai để ý (sau nầy trở lại để chụp hình điều tra, tôi ngạc nhiên khi thấy tấm bảng Police gắn ở cổng ra vào)! Tôi đi dọc theo đường hai bên có đồn lính đóng, vài người bộ hành về muộn, đi ngược chiều. Qua khỏi đường xe lửa, tôi gặp xa lộ và quẹo trái vì ngỡ rằng Singapore là những buildings sáng rỡ ánh đèn mà tôi đã thấy khi đứng bên phần đất Mã Lai. Singapore trên đoạn đường nầy về đêm chỉ thây bóng rừng và vườn hoa. Tôi ngạc nhiên vì một hòn đảo diện tích nhỏ, lại bỏ nhỉều đất hoang như thế.
Được chừng bốn cây số, thấy xe cộ dồn cục ùn ùn truớc mặt chờ đi Mã Lai. Woodland, New Town. Tôi đọc tên địa danh trên bảng hiệu chỉ dẫn, định đi dạo một vòng nhưng vì đã khuya, mọi sinh hoạt đều ngưng nghỉ trừ xe cộ lưu thông trên xa lộ. Tôi vào Woodland Garden tìm chỗ ngủ, vòng lên một tháp xây cao, ngắm nghía toàn cảnh chung quanh rồi đi xuống về hướng cái chòi gỗ chìm khuất trong bóng tối. Một tay bụi đời ngủ say trong chòi thứ nhất, một cặp tình nhân vội vã rời nhau khi thấy tôi đi qua trong chòi thứ hai, chòi thứ ba vắng người. Tôi vào chòi thứ tư kín đáo, quần áo vẫn còn ẩm ướt, giằng co giữa cái lạnh và muỗi. Singapore thật đẹp nhưng cũng thật nhiều muỗi. Gió đêm rì rào tê tái thịt da đã bở vì ngâm nước lâu. Mặc áo ướt thì lạnh, cởi áo thì bị muỗi. Tôi đành ở truồng và ngồi, trùm áo quần bao phủ lấy toàn thân. Cái lạnh và muỗi cùng những xúc cảm dào dạt làm tôi trằn trọc không ngủ được. Bỗng có tiếng giày đi lại. Tôi ngồi lắng yên. Cảnh sát tuần tra? Tôi lo lắng toan tính. Có lẽ nào tôi lại bị bắt tại đây? Tôi muốn đến nơi dự trù để trình diện: Tòa Đại Sứ Mỹ.
Bỗng có tiếng thét sợ hãi của một người con gái. À! Thì ra một cặp tình nhân. Tôi đứng dậy để tự thanh minh, tự chứng tỏ mình là một tay bụi đời chứ không phải là một bóng ma. Nếu để họ nghi ngờ tôi là ma, biết đâu lại sinh ra rắc rối. Đây là lần thứ nhì tôi bị tưởng nhầm là ma, một con ma bất đắc dĩ, bởi vì đống áo quần trùm phủ kín người. Nhờ hơi người, nhờ gió, sáng hôm sau, quần áo tạm khô, tôi tìm đường về thành phố Singapore. Đến bến xe buýt, gặp một người con gái da nâu, sắc sảo, mặn mà đứng một mình, tôi tiến gần chào bằng tiếng Anh:
– Good morning, Miss. Where can I get a bus going to city center?
– Tôi cũng đi city, ông cứ theo tôi.
Cô gái vừa nói vừa giang tay đón một chiếc buýt đang chạy lại, vội vã leo lên. Tôi nhảy theo nàng, và ngồi cạnh ghế nàng gợi chuyện:
– Tôi ở Malaysia qua đây thăm một người anh làm tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Mới đến buổi sáng, chưa đổi tiền được, cô có thể đổi cho tôi ít tiền Mã Lai sang tiền Singapore để trả tiền xe không?
Tôi kiểm soát hết túi và ngạc nhiên vì 20 Mỹ kim Esther đổi cho tôi đã đánh mất từ hồi nào. Cô ta lấy một dollar Singapore đổi một Mã kim.
– Cô biết Tòa Đại Sứ Mỹ ở đâu không? Chỉ dùm tôi xuống.
– Vâng, nhưng xe buýt không đi qua Tòa Đại Sứ. Ông phải đón taxi đi tiếp.
Tôi chào cô gái, xuống xe theo lời chỉ dẫn. Thành phố Singapore đẹp ngoài sức tưởng tượng. Tôi đã ở Hoa Kỳ năm 1966, nhưng nhan sắc Singapore không gì so sánh bằng. Những buildings cao bằng kiếng đủ màu, những kiến trúc tân thời vươn mình ngạo nghễ trên các tàn cây xanh thẳm. Người dân Singapore thật sang trọng, những kiểu y phục thời trang Tây Phương, những loại vải nhập cảng đắt tiền làm nổi bật nhân dáng Đông Phương kiều diễm. Tôi chưa đến Tòa Đại Sứ Mỹ vội, tôi phải đi ngắm cảnh, ngắm người cho thỏa thích. Đường phố sạch như chùi bóng, bỗng gặp một bảng hiệu thân mến: Saigon Restaurant.
Mừng rỡ biết bao khi thấy chữ Sài Gòn thân thương, khi sắp gặp những người Đồng hương yêu dấu. Tôi lên cầu thang tìm quán, một bà cụ mở cửa mời tôi vào.
– Còn sớm quán chua mở. Cậu ngồi tạm.
– Thưa dì, dì ở đây lâu chưa?
Từ ngày mất Sàigòn đến nay. Tôi định cư tại đây luôn. Cậu ở đâu mới đến?
Tôi kể sơ chuyến đi của mình và hỏi ý kiến của bà.
– Cậu ngồi chơi, chốc nữa bà Chủ quán đến. Bà Chủ có chồng người Mỹ, mới qua đây mở quán làm ăn.
Sau đó bà Chủ đến. Bà Chủ là một người đàn bà còn trẻ, nhan sắc trung bình. Tôi đang chờ đợi được chào hỏi niềm nở như bà cụ đã vồn vả với tôi, nhưng ngược lại, bà Chủ lạnh lùng và khó chịu khi nghe chuyện tôi do bà cụ giới thiệu.
– Sao ông không đến trình diện ở Trại Tị Nạn đi?
— Tôi muốn trình diện tại Tòa Đại Sứ Mỹ. Bà có thể chỉ đường dùm hoặc hướng dẫn dùm?
– Xin lỗi. Tôi đang bận!
Bà Chủ nói xẵng và bỏ vào trong. Một cảm giác đau đớn xâm chiếm tâm hồn. Ôi! Người Đồng hương ơi! Có lẽ nào chỉ có những người nghèo mới thân mến ân cần, mới thương yêu người Đồng bào của mình? Bà cụ nhìn tôi thương cảm, khuôn mặt bà xúc động, đau đớn:
– Cậu đừng buồn. Những người giàu họ đều như vậy!
Không, tôi không tin điều đó. Tôi đã từng giàu có, bạn bè tôi đã từng giàu có, và ngay cả những người Mỹ giàu có sau nầy khi đọc báo về cuộc hành trình gian khổ của tôi cũng đã viết thư chúc mừng, tình nguyện bảo lãnh và giúp đỡ việc làm. Cái loại người của bà Chủ quán Sàigòn là một loại đặc biệt. Quán Saigon, sự lạm dụng tên của Thủ đô thân yêu đã làm đau lòng những con người có tâm hồn, có lương tâm, có tình người mà thôi.
– Dì có tiền đổi dùm tôi?
– Tôi không có tiền. Tôi biếu tạm cậu 5 đô Singapore. Tôi vào trong hỏi bà Chủ đổi dùm cho cậu.
Từ phía trong, giọng bà Chủ vọng ra lảng xảng:
– 25 đô Mã đúng ra chỉ đổi cho cậu 15 đô Singapore. Nhưng thôi tôi đổi cậu 20 đô cho chẵn.
Tôi định lấy lại tiền bỏ đi. Tôi chẳng cần mấy đồng tiền thừa của những con người vô tình, đầy tính toán và nhẫn tâm như bà. Bà cụ năn nỉ tôi:
– Thôi lấy rồi đi cậu. Đừng để ý đến họ làm gì.
Tôi nắm tay bà cụ muốn khóc.
– Chào dì tôi đi.
Tôi đón xe taxi đến Tòa Đại Sứ Mỹ. Vừa mở cửa định bước vào, thấy một người Mỹ tất tả bước ra, tôi vội thối lui đón lại để hỏi. Ông ta chỉ tôi vào bên trong. Nhân viên An ninh người địa phương thấy tôi mở cửa vào, lại thụt ra, nên tiến tới hỏi tôi:
– Đi đâu? Gặp ai?
– Tôi đi tị nạn. Tôi cần gặp Viên chức Tị nạn của Tòa Đại Sứ.
Anh ta xét đồ và đưa tôi vào phòng đợi. Tôi đến bàn đầu tiên bên trái, trình bày câu chuyện của mình, moi miếng giấy bèo nhèo có khuôn dấu Trại Tị nạn Nong Samet đã bay màu, ticket xe lửa, xe buýt ướt nhão nhẹt và nhăn nhúm. Cuối cùng khi được thẩm vấn, tôi trình bày về thân thế và cuộc hành trình 17 tháng đã qua. Câu chuyện thật khó tin, tôi cảm thấy sự ngờ vực qua đôi mắt của người thẩm vấn.
– Thưa ông! Ông cứ liên lạc với Tòa Đại Sứ Mỹ ở Bangkok, ông sẽ tin những điều tôi nói.
Hai nữ nhân viên của UNHCR được thông báo cũng vừa đến. Và Lê Văn Mỹ, một cựu Đại úy Không Quân, được gọi đến làm thông dịch viên:
– I think you don’t need me anymore, because he speaks English better than I do.
Lê Văn Mỹ, tuy thế, vẫn không thừa thãi. Vì qua câu chuyện giữa tôi và Mỹ, Mỹ đã xác nhận với Caroline là chúng tôi có chung những người bạn Không Quân, mặc dầu không quen biết nhau.
– Chỉ cần nhìn anh ta cũng đủ biết là thứ thật rồi. Mỹ nhấn mạnh thêm.
Tại Singapore, Julian, Chuyên viên Phản gián của Cơ quan Tình báo, sau khi đóng cửa phòng thẩm tra, mở lời:
– Nghe nói anh là một tay từng vượt ngục nhiều quốc gia, anh là bậc Thầy của Papillon. Vậy ở phòng nầy, anh trốn bằng cách nào?
Tôi nói ngay:
– Ngã nầy! Tôi chỉ vào chỗ máy lạnh gắn vào tường.
Ngạc nhiên về sự nhạy bén của tôi, anh ta nửa đùa nửa thật:
– Ngày mai tôi sẽ đem theo vệ sĩ và súng. Biết đâu anh lại giết tôi và bỏ trốn thì nguy quá.
Chữ và số hình như có một ý nghĩa huyền bí nào đó. Đầu tiên tôi rất thích số 8 và sợ số 7. Trên lòng bàn tay phải, tôi có một con số 8 nàm ngang do những đường chỉ bàn tay tạo nên, và một nốt ruồi son ẩn trên đầu số 8. Những ngày trốn tránh ở Sài Gòn, tôi gặp Dương Ngọc Cư (trong vụ án Trần Khánh Vân và Trần Văn Bé Tư) tại nhà một cô bạn hàng xóm. Dương Ngọc Cư đã nghe nhiều huyền thoại vượt ngục và ở tù của tôi nên mến mộ và mời tôi đi gặp một Thầy xem tướng nổi tiếng tại Sài Gòn để thử xem vận số trước khi tôi lên đường đột nhập Phi trường Tân Sơn Nhất. Ông thầy coi tướng bảo Cư “có những ngón tay nhọn nên gặp trở lực nào cũng đâm thủng được.” Còn tôi, ông bảo:
— Anh có số 8 ở trên đường chỉ tay, chỉ thua người có số 9 thôi, nhưng số 8 nằm ngang lại trở thành cái koòng số 8. Vì vậy để thành đạt được, anh sẽ bị tù tội và xiềng xích liên tục.
Tôi đã ở tù tại hơn bốn Quốc gia, tới Singapore vẫn còn bị ở tù, và xích xiềng. Không chỉ ở Việt Nam mà ngay khi đã đến Thái Lan, tôi vẫn còn bị xích xiềng.
– Số 7 giống như lưỡi hái tử thần. Thấy số 7 ngán như thầy Thần Chết! Thế mà từ khi đột nhập Phi trường Tân Sơn Nhất, trong lúc nguy hiểm tôi đã trốn trong phi cơ số đuôi 077 và tránh khỏi bị bắt. Từ đó tôi tin rằng số 7 tiền hung hậu kiết, gặp số 7 là gặp hiểm nghèo nhưng cuối cùng vô sự. Vì thế khi ở Nhà tù 7708, tôi hoàn toàn yên chí vì 77 đã tốt lại cộng thêm số 8 bổn mạng của tôi. Số 7 theo Phật Giáo lại có ý nghĩa huyền diệu hơn. Đúc Phật Thích Ca sinh ra đời đi 7 bước, biểu tượng bằng 7 đóa hoa sen. Số 7 tượng trưng cho kiến thức thông suốt vũ trụ, sự vĩ đại, siêu việt. Đó cũng là một trong những nhân tố quyết định trong các cuộc vượt ngục của tôi.
Hai lần vượt ngục vào ngày 7: 7-10-1975 và 7-10-1981, lại còn nhiều trường hợp trùng số kỳ lạ: Tôi bị bắt giam vào trại 7708 ngày 25 tháng 9 năm 1981, bị nhốt tù Aran ngày 25 tháng 1 năm 1982, và tôi tiên đoán sẽ rời Galang ngày 25 tháng 8 nămg 1983. Số 25 tức 2 + 5 = 7 nút. Lại số 7.
Trước kia tôi là người bài bác những kẻ hay tin dị đoan nhưng trong những ngày nằm tù nằm khám, nhiều lúc rỗi rảnh không làm gì cả, chẳng hạn như bị cùm, bị conex tôi ôn cố tri tân, nghiên cứu, nghiền ngẫm những sự kiện quan trọng xảy ra trong cuộc đời đã qua và đã tìm thấy được nhiều sự trùng hợp kỳ cục, khó hiểu của sự kiện. Vì thế tôi nghĩ, thỉnh thoảng cũng nên tin dị đoan chút chút và đó cũng là nguyên nhân tại sao tôi chọn ngày 13 để đột nhập Phi trường Tân Sơn Nhất lần nhì. Số 13 là số xui xẻo, tôi đang xui tận mạng nên dùng số 13 để dĩ độc trị độc.
Tôi được chuyển qua Immigration Department và một lần nữa, tôi lại ở tù. Qua nhiều Trại tù của nhiều Quốc gia, tôi có nhận định rằng: Nhà tù là một biểu tượng mà qua đó ta có thể đánh giá được mức độ văn minh của mỗi Dân tộc. Vị thẩm quyền cao nhất của Sở Di Trú hoàn toàn không tin tôi, Mr. Never Swim, không tưởng tượng được chuyện kẻ một mình ban đêm bơi qua biển rộng hơn ba cây số đầy sóng gió, cá mập…
– Anh thú thật đi. Anh đi theo đường rầy xe lửa, hay mướn thuyền chở qua?
À ra thế. Đến đây tôi mới biết còn có những lối đi dễ dàng hơn nhiều mà tôi không hề nghĩ tới.
– Hay là CIA giúp đỡ anh? Họ cần Phi công giỏi. Họ thấy anh bị kẹt ở Thái Lan lâu nên cấp giấy tờ giả cho anh đến đây?
Tôi nhớ đến một Viên chức Tòa Đại Sứ Mỹ tại Bangkok, khi gặp chúng tôi ở Nong Samet đã nói:
—Tôi có vợ Việt Nam, tôi có hai người anh vợ. Tỉ dụ hai người anh vợ tôi tị nạn đến đây, họ cũng phải chờ hàng năm như các người khác.
Vâng, đúng vậy. Người Mỹ rất công bằng trong các trường hợp như vậy, họ có những kế hoạch toàn cầu, những giải quyết tập thể, không cá nhân, không thiên vị. Họ sẽ không can thiệp nếu có kẻ bị đối xử bất công, nếu có sự vi phạm Công pháp Quốc tế, bởi vì không muốn gây quan điểm bất đồng với Chính quyền địa phương.
Người Điều tra viên đưa tôi trở lại hiện trường. Đây ụ xi măng, đây hàng cây nhô ra biển, đây những hàng cột lưới cá… Tất cả đều chính xác hoàn toàn. Thật cũng may, nếu tôi xuống và lên bờ ở những chỗ khác, làm sao tôi diễn tả được những điểm chuẩn rõ ràng chính xác để họ tin. Tôi đề nghị ông ta đưa thuyền thả tôi bên bờ Mã Lai và tôi sẽ biểu diễn bơi trở lại Singapore, nhưng ông từ chối, bảo:
– Không cần thiết. Tôi hoàn toàn tin tưởng anh. nhưng cần anh cho biết: Tại sao anh bỏ Việt Nam và bỏ Thái Lan trốn qua đây?
– Tôi vượt ngục tại Việt Nam bởi vì tôi chưa muốn chết như một người Hùng trong ngục tù Cộng sản. Tôi trốn thoát Trại Tị nạn Nong Samet bởi vì tôi đã chán sống đời sống một thằng ăn mày vô vọng tại đó.
Ngoài những cuộc thẩm vấn của Immigration Officers, những trao đổi kiến thức chuyên nghiệp với các Sĩ quan Phi công của Bộ Tư Lệnh Không Quân Singapore, một Chuyên viên Phản gián đã request a favor về nhận định tình hình thực tiễn tại Việt Nam và Kampuchia.
Tôi trả lời:
– Chống Cộng là nhiệm vụ chung của tất cả mọi người yêu chuông Tự Do. Không chỉ với các ông mà bất cứ ai cần tìm hiểu Cộng sản để chống Cộng, tôi cũng sẵn sàng trình bày những hiểu biết thực tiễn và quan điểm của mình để đóng góp vào Sự nghiệp Giải thể Chế độ CS của Thế giới Tự do.
Tôi viết một bản báo cáo 20 trang bằng tiếng Anh, đề cập đến tình hình về các mặt Quân sự, Chính trị, Kinh tế, Xã hộí và tinh thần của Cán binh Cộng sản, của Dân chúng tại Việt Nam, của Bộ đội Việt Nam tại Kampuchia, và những hiểu biết về các Lực lượng Kháng chiến Khmer hiện tại.
— Có thể đánh Cộng sản được không? Đánh như thế nào?
Chuyên viên nầy nhấn mạnh. Đó là một câu hỏi mà thông thường những ai ít nghiên cứu về Chủ nghĩa Cộng sản trên lý thuyết và hoàn toàn mù tịt Cộng sản về thực tiễn thường hay thắc mắc. Nói theo Nguyễn Bá Học: “Đánh Cộng sản khó, không khó vì Cộng sản khó đánh, mà khó vì lỏng người sợ Cộng sản và không dứt khoát để đánh Cộng sản.”
Từ ngày Chủ nghĩa Cộng sản tượng hình trong đầu hai ông tổ Cộng sản Karl Marx và Engel, đến thời kỳ được Lenin sáng chế và bổ túc thêm để áp dụng vào thực tiễn cho đến nay, chưa lúc nào Cộng sản có đủ yếu tố và cơ hội thuận tiện để sụp đổ như hiện tại. “Cộng sản như một cổ quan tài cồng kềnh mà xác chết bên trong đã sình thối! ”
Các Chế độ Cộng sản trên thế giới dần dần sụp đổ do chính sự nổi dậy của quần chúng phù hợp với ý niệm chiến lược: “Chỉ có Cộng sản mới đánh được Cộng sản.” Đã có một Việt Nam và một số quốc gia khác bị Cộng sản xâm lược đã thể hiện quan niệm chiến thuật hiện đại: “Muốn thắng Cộng sản trước hết phải thua Cộng sản.” Và giờ đây Nga Sô, quốc gia tiên phong giương cao ngọn cờ búa liềm của Cách mạng vô sản, đang chuyển mình theo Chính sách Tư bản Kinh tế Thị trường.
“Đại Thắng Mùa Xuân” của Việt Cộng chỉ nhắc nhở một câu nói trong phim Ben Hur: “Les vainqueurs ce sont les vaincus” hay Pháp quốc đối với Đức quốc năm 1945: “Les vaincus seront les vainqueurs.” Thắng-Bại chưa thể phán xét khi trận chiến cuối cùng vẫn còn ở trước mặt. Nếu cứ để Việt Nam Cộng Hòa còn tồn tại đến nay, ta có thể tưởng tượng được tinh thần Binh sĩ, tinh thần Dân chúng Việt Nam đến giờ phút nầy còn bi thảm và tệ hại biết
dường nào. Nhìn rõ thực tế để dụng thời, dụng người cho cuộc Chiến đấu Chính nghĩa. Những năm sau 1975, Hoa Kỳ không tốn một nhân mạng, không tốn một đồng Mỹ kim cho cuộc chiến Việt Nam, nhưng Nhà tù Cộng sản là một Trường Huấn luyện vĩ đại nhất đã huấn luyện người Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa trở thành những tay thiện chiến và kiên cường vượt bực. Xã hội của Xã hội Chủ nghĩa, một môi trường ưu việt nhất giáo dục Dân chúng ý thức được giá trị của Tự do, khai phá trí tuệ và lương tâm con người để họ tự giải đáp câu thắc mắc ngày xưa: Chiến đấu cho ai, chiến đâu vì cái gì để tự tạo một lập trường, một thế đứng chính trị tích cực! Chúng ta lost war nhưng won peace. Cộng sản won war nhưng mất tất cả bởi vì toàn Dân miền Bắc đã thấy được bộ mặt dối trá, lường gạt của Cộng sản trong mấy chục năm qua. Và miền Nam cũng nhận chân được Thiên đàng hiện thực của Chủ nghĩa Cộng sản.
– Nếu biết đi, tất cả các cột đèn cũng đều sẽ đi vượt biên! Dương Hùng Cường nói lên một sự thật phũ phàng, rõ ràng như ban ngày. Người dân Đông Dương đã bỏ phiếu bằng chân chống Cộng sản trên bước đường tị nạn gian khổ của họ. Tuy nhiên vì bản tính con người dễ dãi, như một loài sâu lá, dễ dàng thay đổi màu da để hòa lẫn với màu sắc ngoại cảnh, nên con người dễ chấp nhận hoàn cảnh, dễ dàng Chịu đựng mọi áp bức, bất công, dưới sự đe dọa của mũi súng.
Tình thế đã căng thẳng như một trái bong bóng hơi khí đầy hơi, chỉ cần búng một tàn thuốc là vỡ, như một tô nước đã đầy, chỉ cần một giọt cuối cùng là tràn, nhưng cái giọt cuối cùng đó, mỗi người đều quan niệm hoặc trân trọng quá đáng như là một giọt máu quí báu, như là một mạng sống thay vì chỉ cần nhổ một bãi đờm hay đái vung tí mẹt vào là nó tàn tràn ngay.
Chống Cộng không phải là một sự nghiệp riêng của một người hay một quốc gia, mà chống Cộng cũng không phải là cứu cánh của loài người. Chống Cộng và chống bất cứ Chế độ nào tàn bạo, bất nhân như Chế độ Cộng sản. Thay thế Chế độ Cộng sản bằng Chế độ thối nát khác cũng không phải là một giải pháp lý tưởng. Hoàn toàn nương tựa vào Đồng minh, hay tự lực tự cường như một người hùng cô đơn đều không phải là những phương thức hoàn hảo. Phải làm cho Đồng bào thấy Tự Do và Hạnh Phúc không phải là trái sung mà ta cứ nằm dưới gốc cây há miệng chờ rụng, làm cho thế giới thấy Cộng sản là hiểm họa chung, là đe dọa trực tiếp đến bản thân họ. Đẩy Bè bạn, Đồng minh về phía kẻ thù, trở mặt với Ân nhân và không thấy lỗi lầm của ta, quanh ta chỉ còn là một thế giới thù địch.
Người Chiến sĩ Quốc gia chiến đấu chống Cộng sản không chỉ vì lý tưởng yêu nước mà còn là một hành động chuộc lỗi đã để đất nước rơi vào tay Cộng sản. Đối với những người hồi chánh cũng vậy, còn là sự đoái công chuộc tội cái quá khứ lầm lỗi đã góp tay với kẻ thù sát hại Đồng bào, tàn phá Quê hương. Nếu trở về hoặc đứng lên chỉ vì quyền lợi, địa vị trong tương lai, hành động đó cũng đồng nghĩa với đồng lõa, là đầu cơ trục lợi, đục nước béo cò, lạm dụng xương máu của Đồng bào, nhiệt tình của nhũng con người có tinh thần, ý thức.
Thật dễ mà cũng thật khó. Khó hay dễ cũng chỉ vì cái lòng người.
Chưa thống nhất được các Lực lượng, chưa thống nhất được lòng người thì chưa thắng được Cộng sản. Một vũ khí tối tân ở trong tay kẻ thiếu tinh thần trở thành một thỏi sắt vô dụng và ngược lại. Ngày xưa ta có được sự viện trợ mạnh mẽ, nhưng thiếu lý tưởng, thiếu ý chí quyết chiến quyết thắng nên ta thua Cộng sản. Ngày nay ta có Thiên thời, Nhân hòa nhưng thiếu Địa lợi, và cái địa đây không phải chỉ là đất mà còn là tiền, tức là thiếu tiền bạc, vũ khí viện trợ nên ta chưa thắng được Cộng sản.
Thượng Đế sinh ra kẻ xấu để ta thấy ghê tởm điều xấu mà sống lương thiện. Thượng Đế sinh ra Cộng sản và các Chế độ độc tài để ta thấy được giá trị của Tự do, của Nhân quyền, biết hưởng Hạnh phúc giản dị, biết sống một đời sống có ý nghĩa, hữu ích. Chừng nào chưa ý thức được Chân lý đó, chưa cảm nhận được phần thưởng và hình phạt đang nhận lấy hàng ngày trong đời sống hiện hữu chứ không phải là Địa ngục hay Thiên đàng sau khi đã chết, thì xã hội vẫn còn bất công, thì con người vẫn còn đau khổ, mặc dù không còn Cộng sản.
Ngày nào Cộng đồng người Việt Hải ngoại nhận chân được rằng hạnh phúc không chỉ là nhà lầu, xe hơi, tiền bạc, địa vị cho bản thân mình, gia đình mình, mà còn thông cảm được hạnh phúc và bất hạnh của hàng triệu dân Việt Nam quốc nội, còn biết hạnh phúc trong chia sẻ và đóng góp. Chừng nào 90 triệu người dân trong nước cảm nhận được rằng, hạnh phtic không chỉ là còn sống yên thân cho hết quãng đời còn lại, mà còn là những giây phút bất khuất, kiên cường khi đang bị tra tấn, cùm kẹp, khi hiên ngang đi đến pháp trường, thì Cộng sản sẽ tan vữa như con đỉa gặp thuốc xịt muỗi. Đáng trân trọng biết bao những thái độ tích cực đối với Công cuộc Kháng chiến Cứu nước:
– Thà bị nhầm lẫn hơn là vô trách nhiệm.
Có nhũng thái độ Chim bị cung gặp cành cây cong cũng sợ, nhưng vẫn có những con người từng nhiều lần chạy dưới lằn đạn truy kích của kẻ thù vẫn cảm thấy coi khinh họng súng. Thái độ đấu tranh của những tay nghiên ngập, ba hoa trong những cơn say, tự vỗ ngực mình yêu thương nòi giống theo kiểu:
Phàm phu đâu biết người say nhỉ,
Say nước say nhà lúc ngửa nghiêng.
Hay những tư tưởng: Dỉ đào vi thượng sách, như của một người tị nạn được phỏng vấn đã trả lời:
– Tôi thích sống gần biển. Bởi vì khi Cộng sản đến, tôi lại tiếp tục lên đường vượt biên! ” chỉ là những thái độ tiêu cực, thụ động, đầu hàng.
Chúng ta không thể đổ trách nhiệm cho Hoa Kỳ hay bất cứ thế lực nào về sự thất trận nhục nhã của Việt Nam Cộng Hòa. Hãy tự trách lấy bản thân mình, chính chúng ta từ ngài Tông Tông đến anh Tùy phái, từ cấp Tướng năm sao đến chú Binh nhì, từ ngài Triệu phú đến gã Ăn mày, từ bậc Sĩ phu đến gã Thất phu, từ anh Nghệ sĩ đến gã Phàm phu, từ các Công nương đến các Chị Mary Sến, từ Dân chơi thành thị đến bác Nông dân, từ ông Cố đạo đến Nhà sư… mỗi một người Việt Nam đều đã không hoàn thành bổn phận giữ nước và cứu nước, đã có một phần trách nhiệm trong cuộc bại trận năm 1975 và thảm cảnh hiện tại của Việt Nam.
Nếu chúng ta không thể Chịu đựng và nuôi dưỡng một người bạn thất nghiệp nhưng suốt ngày chỉ thích rượu chè, cờ bạc, ăn chơi, thì làm thế nào Hoa Kỳ lại có thể tiếp tục viện trợ và cưu mang một Chế độ tham nhũng thối nát đồng thời lại công kích, nguyền rủa, biểu tình, đốt xe, xúc phạm đến Ân nhân mình, trong khi chính bản thân người dân Mỹ phải quần quật làm việc để trả nợ bills mà chính chúng ta, những người Tị nạn, giờ cũng đang được nếm mùi mưu sinh vất vả đó?
Thế giới đang chuyển mình qua một khúc quanh lịch sử quan trọng. Những biến chuyển đột xuất tại Liên Xô và Đông Âu bắt nguồn từ sự thất bại của Chủ nghĩa Cộng sản là đi thẳng từ Chế độ Phong kiến xây dựng trên nền tảng Nông nghiệp lên Chủ nghĩa Cộng sản bằng con đường vũ trang Cách mạng không kinh qua Chủ nghĩa Tư bản và thời kỳ quá độ, nên thiếu nền kỹ nghệ hiện đại để phát triển kinh tế như Karl Marx chủ trương, cùng những chi phí nặng nề của chiến tranh bành trướng và xâm lược nên đã đưa đến sự sụp đổ của Chủ nghĩa Xã hội ở các nước Đông Âu, được phương Tây gọi Cuộc Cách mạng năm 1989 hay Mùa thu của Cộng sản và việc Liên Xô bị giải thể vào cuối năm 1991 dẫn đến kết quả là Nga và 14 quốc gia tuyên bố độc lập của khỏi Liên Xô. Tác động này cũng dẫn đến việc cáo chung của Chế độ CS tại một số quốc gia khác, ngoại trừ 4 nước còn lại Trung Cộng, Việt Cộng, Bắc Hàn và Cuba,dẫn đến tuyên bố kết thúc của Chiến tranh Lạnh.
Thời hoàng kim của chiến tranh bằng quân sự đã qua, và chiến tranh ý thức hệ cũng đã ngã ngũ. Ai thắng ai? Câu hỏi thường được các Cán bộ Cộng sản nhắc đi nhắc lại trong các Trại tù Cải tạo đã có câu trả lời rõ rệt. Kinh tế và tài chánh là cơ sở sức mạnh của thời đại hiện tại và tương lai.
Chủ nghĩa Cộng sản không còn mê hoặc được Dân chúng một khi người Dân dưới Chế độ Cộng sản đã bị mùi Tư bản quyến rũ, và người Dân thuộc Khối Tự do đã hiểu thấu bản chất tàn độc, bất nhân và nghèo đói, bần cùng của Cộng sản.
Nếu Hoa Kỳ và Khối Tư bản thành công trong nỗ lực ủng hộ các thành phần cấp tiến trong khối Cộng sản thì Chủ nghĩa Cộng sản sẽ sớm bị tiêu diệt. Nếu thất bại, sẽ có hai khuynh hướng xảy ra tại các nước Cộng sản òn lại:
— Phe Bảo thủ sẽ thắng thế và dùng bạo lực quân sự để đàn áp và tiêu diệt các Phong trào Dân chủ.
— Hoặc tình trạng hỗn loạn vô chánh phủ sẽ xảy ra một khi người Dân vừa thoát khỏi ác mộng Cộng sản lại vỡ mộng ảo vọng Tư bản.
Trung Cộng là thí dụ điển hình của trường hợp thứ nhất. Nhưng sự thắng thế của phe bảo thủ chỉ tạm thời, bởi vì lớp lãnh đạo già nua của cuộc Vạn Lý Trường Chinh sẽ ra người thiên cổ vào những thập niên tới. Trong tương lai, dù cho sức mạnh quần chúng không đủ sức tiêu diệt họ, thì đám bảo thủ cố cựu này cũng sẽ tự diệt, và lớp lãnh đạo trẻ, mới sẽ phải theo đuổi một chánh sách canh tân.
Trường hợp thứ hai, sự thất bại về Chánh sách Kinh tế của Chủ nghĩa Cộng sản hướng niềm hy vọng của dân chúng về phía Tư bản, trông cậy vào sự ủng hộ tinh thần và tài chánh của các quốc gia giàu có để cải cách nền kinh tế lạc hậu, củng cố thực lực của nhóm cấp tiến, giúp quốc gia họ sớm thoát khỏi vòng kiềm tỏa của độc tài Cộng sản. Nếu Khối Tư bản không có thái độ dứt khoát, chỉ nhiệt tình ủng hộ bằng tinh thần nhưng viện trợ lại quá hạn chế và nhỏ giọt, Nhóm Cấp tiến sẽ mất khả năng thu hút và dân chúng sẽ chóng mất niềm tin.
Nếu các Chính phủ Dân chủ tương lai của Đông Âu thất bại trong chương trình cải cách kinh tế, khiến cho tình trạng nghèo đói và thiếu thốn không được cải tiến hoặc càng trầm trọng hơn, thì nội loạn sẽ xảy ra bởi vì hai Nhóm Bảo thủ và Cấp tiến đều thất bại, và khủng hoảng kinh tế cùng khủng hoảng niềm tin sẽ châm ngòi cho nhũng cuộc bạo động và nổi dậy.
Ủng hộ và giúp đỡ Phái Cấp tiến thắng thế khác với ý đồ tiêu diệt hẳn Cộng sản. Nếu tiêu diệt hoàn toàn Cộng sản, Khối Tự do sẽ mất đối tượng thù địch chính trị (và tất nhiên sẽ thêm đối tượng thù địch về kinh tế), và những tay Tư bản Kỹ nghệ Chiến tranh sẽ không còn có cơ hội tốt để sản xuất hỏa tiễn, phi cơ, xe tăng, vũ khí… để bán cho Bộ Quốc Phòng và các quổc gia khác. Lịch sử Hoa Kỳ cũng đã chứng minh rằng chính Nhóm Tư bản Kỹ nghệ Chiến tranh đã thúc đẩy Mỹ tham dự vào hai cuộc Đại Chiến Thế Giới.
Ngoài mối lợi nhuận do sự buôn bán vũ khí, sự cạnh tranh thị trường tiêu thụ giữa các Nước Tư bản cũng đã đạt tới tầm mức đáng ngại. Nhật Bản và Hoa Kỳ là thí dụ điển hình. Chưa kể từ năm 1992, Khối Thị Trường Chung Âu Châu sẽ bắt đầu Chính sách Kinh tế Liên bang để đối đầu lại với Hoa Kỳ và Nhật Bản. Nếu Nga Sô và Trung Cộng từ bỏ Chủ nghĩa Cộng sản để theo Chủ nghĩa Tư bản và thành công, các Nước Tư bản sẽ phải đối đầu với hai địch thủ đáng sợ trong cuộc chạy đua và cạnh tranh kinh tế.
Nói riêng về trường hợp Khối Đông Âu hay toàn Khối các Nước Cộng sản chư hầu cũ nói chung, việc Tư bản hóa các nước nầy có lợi gì cho Hoa Kỳ và Đồng Minh? Hãy xem một Argentina bị khủng hoảng tài chánh gây nên bởi 57 tỉ Mỹ kim tiền nợ và 3600% lạm phát hàng năm. Một Mễ Tây Cơ, người láng giềng sát nách với tệ trạng nhập cảnh lậu người và nhập cảnh lậu ma túy vào Mỹ, là “cục nợ đời” với 54 tỉ Mỹ Kim nợ nần trong khi nền kỹ nghệ dầu hỏa đang bị đình trệ. Và những cuộc bạo động phá rối an ninh trật tự, gây tử thương 300 người, 2000 người bị thương, và 2000 người bị cầm tù bởi vì giá dầu hỏa xuống thấp và tiền nợ 33 tỉ dollars đã làm đảo điên nền kinh tế, xáo trộn xã hội của một quốc gia được xem là dân chủ và ổn định nhất tại Châu Mỹ La Tinh: Venezuela.
Như vậy Hoa Kỳ và các Đồng minh Tư bản có sẵn sàng để nuôi báo cô thêm những con nợ mới (nếu Ba Lan, Hung Gia Lợi trên đường Tư bản hóa lại dẫm lên vết đường lụn bại của các Nước Dân chủ Châu Mỹ La Tinh) hoặc có sẵn sàng để đương đầu với các đối thủ kinh tế mới nếu Ba Lan, Hung Gia Lợi phát triển trở thành những Nhật Bản, Tây Đức hoặc các Rồng con như Nam Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Kông và Tân Gia Ba?
Khi đòi hỏi Hoa Kỳ viện trợ, giúp đỡ các nước vừa thoát khỏi quỉ đạo Cộng sản, ta quên rằng Hoa Kỳ đang bị thâm thủng ngân sách quốc gia 4,000 tỉ dollars và 25% tài sản địa ốc và kỹ nghệ Hoa Kỳ đều thuộc về Chủ nhân ông Nhật Bản và Anh Cát Lợi. Nga Sô, Trung Cộng theo Chủ nghĩa Cộng sản thì ngày càng nghèo đói, Hoa Kỳ theo Chủ nghĩa Tư Bản thì từ một anh Chủ nợ trở thành một con nợ lớn nhất thế giới! Anh Cộng sản đang chết đuối tưởng anh Tư Bản bở, níu lấy, trong khi anh Tư Bản cũng đang điên đầu tranh sống trong cuộc chạy đua, cạnh tranh một mất một còn theo luật “thị trường tự do!”
Chính sách của Mỹ nói riêng và Khối Tư bản nói chung được thu gọn trong bốn chữ “Thù Địch — Thân Hữu.” Họ muốn có những thù-địch-thân-hữu hơn là những thân-hữu-thù-địch. Nghĩa là những thù địch như Nga, Tàu vẫn giữ nhãn hiệu Cộng sản, nhất là loại Cộng sản đang suy sụp, khủng hoảng (hoặc biến thái sang một Chủ nghĩa khác yếu kém hơn Chủ nghĩa Tư bản) để Nhóm Tư bản Kỹ nghệ Chiến tranh còn có đối tượng, đối thủ cho chính sách ngăn chận (containment) bằng vũ trang của họ. Và đồng thời họ lại muốn những thù địch nghèo đói này có đường lối ngoại giao thân thiện, thân hữu để Nhóm Tư bản Thương mại có cơ hội khai thác thị trường tiêu thụ của hơn một tỷ người Trung Hoa và của gần ba trăm triệu người Nga. Những thân-hữu-thù-địch như Nhật Bản, nghĩa là cùng Đồng minh với Hoa Kỳ nhưng lại là địch thủ giàu mạnh trên thương trường, bất lợi cho sự độc quyền kinh tế của Mỹ.
Sau khi được tự do, một số nước gia nhập
Vì tình hình cạnh tranh căng thẳng giữa các Đại cường Tư bản, và Mỹ quốc lại theo Chủ nghĩa Thực dụng bất kể đạo lý, thủy chung, sẵn sàng “đem con bỏ chợ” nên việc Mỹ có ý đồ chiêu dụ Nga và Tàu để đối trọng kinh tế với Khối Thị Trường Chung Âu Châu và Nhật Bản khi cần là điều không tránh khỏi. Tuy nhiên Nga và đặc biệt Tàu là những quốc gia bậc thầy về mưu mô, thủ đoạn suốt quá trình lịch sử lập quốc lâu đời trong khi “anh cao bồi Mỹ” sinh sau đẻ muộn nhờ có địa lợi, tách biệt khỏi Châu Âu và Châu Á, lại dùng Chính sách “Isolationism” (Chủ nghĩa Biệt lập) nên tránh được các thiệt hại chiến tranh, lại còn lợi dụng được chiến tranh trên thế giới để trục lợi nên bỗng nhiên trở nên giàu mạnh nhất thế giới một thời, thì việc “mèo nào hơn mỉu nào,’ “ai cao cờ hơn ai” để giành thắng lợi cuối cùng trong thế cờ quốc tế cũng không quá khó để đoán. Bởi vậy không ngạc nhiên khi thấy “Mỹ chạy vòng vòng Mỹ chạy mòn hơi. Nào có hay túi cạn nào có hay cạn túi” trong Chính sách giai đoạn bất nhất, bởi “Politics is the next election” theo Mỹ, nên cuối cùng trở nên tay “Chúa chỗm” nợ nần nhất thế giới, nên không chỉ địch thủ mà ngay cả đồng minh và những kẻ từng được Mỹ thi ân, ban ân cũng trở nên ngày càng bất mãn, thù ghét Mỹ trên toàn thế giới. Bởi vậy mới có câu: “Thà làm kẻ thù Mỹ còn lợi hơn làm bạn Mỹ!”
Hoa Kỳ không những sẽ mất địa vị đại cường quân sự một khi hiểm họa chiến tranh châm dứt, mà còn có thể bị mất địa vị đại cường kinh tế giữa các quổc gia kỹ nghệ tiên tiến. Lý do căn bản cho sự thay ngôi đổi chủ là chính sách kinh tế lạc hậu của Mỹ cùng số tiền mắc nợ quá lớn. Tính đổ đồng theo đầu người, mỗi công dân Mỹ đang mắc nợ gần 15,000 đô la. Nga có lợi điểm để tiến triển nhanh hơn Mỹ bởi vì Nga mắc nợ tương đối ít, khoảng 50 tỉ đô la. Như vậy chỉ nói về nợ nần, Nga giàu hơn Mỹ đến 2,500 tỉ đô la; nói về kỹ thuật, nền khoa học không gian của Nga vượt xa Mỹ
Nói về kinh tế, tại Nga lao công rẻ, Chế độ tập quyền Cộng sản chuyển sang Chế độ bán tập quýền của Nhật dễ hơn Chế độ phân quyền của Mỹ chuyển sang Chế độ bán tập quýền của Nhật. (Chế độ kinh tế bán-tập-quýền của Nhật là Chế độ ưu việt nhất trong nền kinh tế thị trường tự do của khối tư bản hiện đại.) Bán-tập-quyền là thể tổng hợp giữa tựdo kinh doanh của các công ty kỹ nghệ tư nhân và kế sách điều động chỉ huy của chính phủ Nhật Bản.
Khối OPEC Ả Rập cũng sẽ mất ảnh hưởng bởi vì Nga sô, với kỹ thuật khai thác dầu hiện đại nhận từ khối tư bản, sẽ cung cấp đủ dầu cho châu Ảu và Hoa Kỳ. Mỏ dầu Trung Cộng cũng đủ sức thỏa mãn nhu cầu kinh tế của Nhật Bản. Ả Rập da nâu sẽ kết hợp với châu Phi da đen để củng cố địa vị sẽ bị lung lay một khi mất hẳn thế “vua dầu hỏa. ”
Nhưvậy lưỡng Cực Nga—Mỹ (Cộng sản — tựdo) dựa trên sức mạnh quân sự và chính trị sẽ biến thành tứ cực (cực Nga—Mỹ, cực Tàu—Nhật, cực Tây Âu—Đông Âu, và cực A Rập—Phi Châu) không chỉ dựa trên sức mạnh kinh tế, tài chánh, mà còn dựa trên màu da, sắc tộc: Hai khối da trắng, một khối da vàng và một khối da đen.
Trong bối cảnh mới của thế giới, chúng ta có thể tiên đoán về tương lai của Việt Nam. Ngoài đặc điểm đầu cầu chiến lược của hải cảng Cam Ranh và Đà Nẳng, hoàn cảnh lịch sử cận đại của Việt Nam khác với hoàn cảnh lịch sửTrung Cộng. Trận “ĐạiThắng Mùa Xuđn” đã giúp người dân miền Bắc nhận thấy được sự tuyên truyền bịp bợm của Bác và Đảng, và người dân miền Nam vỡ tan ảo giác Thiên Đường Cộng sản. Nội bộ bị chia rẽ phân tranh. Tình trạng kinh tế kiệt quệ. Sự phụ thuộc vào quỹ đạo Nga Sô. Kháng chiến Campuchia hùng mạnh. Âm mưu lũng đoạn Việt Nam của Trung Cộng. “Củ cà rốt Tư Bản” của Mỹ. Và lực lượng hùng hậu của người Việt hải ngoại. Tất cả những yếu tốđó sẽ giúp cho những cuộc biểu tình, đình công, bải thị qui mô có lãnh đạo tốt tại Việt Nam thành công một cách dễ dàng và nhanh chóng nếu được người Việt hải ngoại và các tổ chức chông cộng ngoại quốc, đặc biệt thế giới tự do, giúp đỡ tài chánh.
Chiến tranh quân sự giải phóng không còn hợp thời. Đấu tranh chính trị đẫ trở thành cao trào của thế giới. Những nước tự trị tại Nga, những nước Đông Âu là những mẫu mực cho cao trào cách mạng mới. Việt Nam nhất định sẽ lật đổ được Chế độ độc tài Cộng sản bằng People’s power, nhưng tự do chỉ là mục tiêu của nửa đoạn đường tranh đấu đầu, no ấm và hạnh phúc mới là mục tiêu tối hậu của loài người. Những người Mỹ thất nghiệp nghèo đói là hình ảnh của những người có tự do nhưng thiếu no ấm, và một số người Việt Tị nạn tại Mỹ tương đối sung túc nhưng vẫn cảm thấy bất hạnh là bằng chứng của sự có tự do, có no ấm, nhưng thiếu hạnh phúc. Muốn có đủ ba yếu tố: “Tự Do — No Ấm — Hạnh Phúc” những căn bản chính thức để đem lại hòa bình, thịnh vượng cho loài người, toàn thế giới cần có một học thuyết mới cải tổ toàn bộ những cơ cấu sai lầm của xã hội, gia đình, và những tư tưởng, định kiến lỗi thời của mỗi một cá nhân, mỗi một con người. Học thuyết đó được trình bày tổng quát qua ba bài Tiểu luận: (1) Trật Tự Thế Giới Mới vs. Hỗn Loạn Thế Giới Mới; (2) Giải Pháp Suy Trầm Kinh Tế Mỹ và (3) Thế Giới Tân Plato.
Chuẩn Bị Vượt Ngục Nhà tù Singapore
Bị giữ cả tháng tại Phòng Tạm giam của Immigration Department của Singapore mà vẫn chưa được giải quyết để chuyển ra Trại Tị nạn Singapore, tôi đã có ý định vượt ngục bỏ trốn. Ý định đó được tăng cường thêm khi một hôm đem dấu các muỗng ăn cơm trong nhà cầu tôi bất chợt bắt gặp một chiếc chìa khóa. Trại giam không những cấm chứa chấp các dụng cụ bằng sắt, mà ngay chính cái muỗng ăn cơm chúng tôi phải bẻ từ một cái ly nhựa và mài thành muỗng để dùng khi ăn cơm bởi vì Cai tù chỉ cho tù ăn bốc bằng tay. Không hiểu cái chìa khóa nầy của ai, ở đâu ra, nhưng đợi khi các bạn tù khác đã ngủ và các tên gác đang ở ngoài phòng trực, tôi lấy tra thử vào ổ khóa và thật tuyệt, ổ khóa được mở ra dễ dàng. Như vậy thật thuận tiện cho giai đoạn đầu, bởi vì nếu không có chìa khóa, tôi phải khổ công bẻ tấm lưới sắt ở tường nhà giam để chui ra.
Phía mặt tường nầy nằm sát đường lộ lớn, vì vậy chỉ cần có giây đu leo xuống là đã ra khỏi phạm vi Nhà giam. Tuy nhiên, đi trốn lối nầy khó khăn vì tấm lưới sắt khá dày và con đường bên ngoài lại tấp nập nhộn nhịp. Nếu mở khóa trốn theo đường bên trong thì tôi lại phải tìm cách mở thêm một cánh cửa sắt khác. Cửa sắt nầy cuốỉ dãy hành lang và có cầu thang đi xuống sân chính nằm giữa các phòng làm việc của cơ quan Immigration. Đối diện với cánh cửa sắt nầy là một cánh cửa sắt khác nằm đầu hành lang, nơi được dùng để đưa tù ra vào, và cạnh đó, khuất bởi góc tường là phòng trực của các Lính gác Nhà giam. Dự trù trong một đêm tối, tôi sẽ dùng chìa khóa lượm được mở thử cánh cửa sắt cuối hành lang, nếu mở được tôi sẽ tẩu thoát.
Trốn đi đâu? Đó là câu hỏi có giải đáp sẵn hôm hai Lính Hải Quân Mỹ vừa bị đem nhốt chung phòng vào một buổi chiều tối. Hai anh Lính trẻ thuộc Hàng không Mẫu hạm Hoa Kỳ ghé bến tại Singapore, bỏ tàu ra Singapore chơi dù không có giấy phép. Tôi hỏi dò thì được biết Hàng không Mẫu hạm đậu không xa lắm từ Cảng Singapore. Như vậy, tôi sẽ trốn về bến cảng và bơi ra Hàng không Mẫu hạm để xin tị nạn. Tôi nghĩ rằng Hạm trưởng và các Phi công Mẫu hạm sẽ thông cảm và sẵn lòng giúp đỡ một Phi công Đồng minh cũ. Lên được Mẫu hạm là lên được phần lãnh thổ chủ quyền của Hoa Kỳ, như vậy Singapore sẽ không có quyền làm khó khăn, và tôi sẽ được đi Mỹ dễ dàng nhanh chóng. Nhưng ý định chưa kịp thực hiện thì tôi được gọi thông báo chuẩn bị lên đường đi Trại Tị Nạn Galang ở Indonesia.
Sáng ngày 16 tháng 3 năm 1983, tôi được hai Sĩ quan Cảnh sát Singapore đưa từ Nhà tù thẳng ra bến tàu. Hạnh phúc nhỏ, cuối cùng tại hòn đảo nhỏ xinh xắn Singapore là được Caroline, một cô gái Mỹ trẻ, xinh đẹp, tâm hồn hài hòa Âu-Á làm việc cho UNHCR thường lệ hàng tuần ghé nhà giam thăm tôi, đang chờ đợi tôi tại bến tàu để tiễn đưa tôi đi Indonesia và tặng tôi cuốn sách War and Peace của L. N. Tolstoy. Nhà giam nghiêm cấm đủ mọi thứ, nhưng tôi vẫn lén dấu được viết và giấy để tập tễnh làm bài thơ bằng Anh Ngữ đầu tiên trong mô hình của chiếc phản lực cơ để tặng Nàng, người con gái tôi đã một lần “tỏ tình” trong dịp Caroline viếng thăm Vạn Lý Trường Thành với câu: “Nhan sắc yêu kiều diễm lệ của em đã làm lu mờ tất cả những kiến trúc mỹ thuật vĩ đại nhất của nền văn hóa mấy ngàn năm lừng lẫy của Trung Quốc.”
(Bài thơ lay-out theo hình phi cơ F5 với chữ KINDNESS là mũi phi cơ, chữ VIETNAM và LY TONG là hai Hoa Tiễn ngoài hình bản đồ VN tại đuôi phi cơ.)
YOUR KINDNESS
(Viết tại phòng tạm giam của Trung Tâm Di Trú Singapore để tặng Caroline, cô nhân viên UNHCR người Mỹ.)
My head is toughly hard
But my heart’s pretty soft
So, it’s easily touched VIETNAM
Even with a slight flirt
Your kindness is something
It’s stronger but it’s smooth
It does not expose
But it’s felt so good
It does not self-boast
But it’s understood
It comes very slow
But it overflows very fast
It looks like the absence
But its existence’s obvious
It sounds like the silence
But its echo’s deep-heard LY TONG
It seems like nothing
But it means everything
Đoạn Kết
Chiều ngày 16 tháng 3 năm 1983, một chiếc ca nô vượt biển đi đón một người tị nạn duy nhất, Lý Tống, từ cảng Indonesia về Galang. Một chiếc xe jeep do chính Viên Trưởng phòng Cảnh sát Nam Dương thuộc Trại Galang đích thân ra bến tàu đón Lý Tống về Trại, và trên đường, ông dừng xe tại một quán ăn Việt Nam chiêu đãi Lý Tống một chầu nhậu. Hội Ái Hữu Không Quân tại Galang lại được phép Trại tổ chức một Tiệc rượu để chào mừng Lý Tống (mặc dù lệnh cấm rượu đang được thi hành nghiêm ngặt) và các Chiến hữu đã nhiệt tình phát biểu:
— Đọc báo nghe nói về cuộc hành trình độc nhất vô nhị của một Phi công phản lực tên Ly Van Tong, tụi tao đã đánh cá là chỉ có Lý Tống mới làm được chuyện kinh thiên động địa nầy chứ chẳng phải Ly van Tong nào hết.
Ngày hôm sau, các nhân viên UNHCR đến quay phim và thết đãi người tị nạn nổi tiếng qua hai số báo của tờ The Wall Street Journal về Vietnamese Odyssey với lời tiên đoán: He’ll probably be mayor of Santa Anạ inside 10 years. Sau đó đặc phái viên của tờ Reader’s Digest đã bay từ Hongkong sang Indonesia để phỏng vấn và viết bài dài tám trang: Ly Tong’s Long Trek to Freedom.
Lý Tống đã tặng lại toàn bộ số tiền tờ Reader’s Digest trả công phỏng vấn cho các Hội Đoàn tại Trại Tị Nạn Galang và tổ chức một buổi Tiệc và Dạ vũ chiêu đãi các Chiến hữu. Tổ chức khiêu vũ thường chỉ dành riêng cho cơ quan UNHCR và Ban Chỉ huy của Trại Galang mà thôi.
Ngày 25 tháng 8 năm 1983, Lý Tống rời Galang đi Singapore và lên đường đi Mỹ Quốc. Ngày 1 tháng 9, đúng ngày Sinh nhật, Lý Tống đến Boston, Massachusetts và được một gia đình người Mỹ ái mộ tổ chức Sinh nhật cho Lý Tống.
Lý Tống nộp đơn xin học Khoa Chính trị tại Đại học Harvard nhưng không thành công vì học phí quá cao (gần 20,000 dollars một năm) và đơn xin học bổng không được chấp thuận vì không có Hồ sơ học bạ.
Trước khi rời Boston về California, Lý Tống tuyên bố:
— Hôm nay tôi xin làm học trò, Harvard không nhận. Ngày mai Harvard mời tôi về làm thầy, tôi cũng sẽ không nhận.
Lý Tống đã đi xuyên bang từ Boston về New York, Texas, California để thăm bạn bè và dành thì giờ viết cuốn hồi ký này và dịch sang tiếng Anh tựa đề Black Eagle
Năm 1984, Lý Tống dừng chân tại New Orleans, Louisiana làm quản lý cho một Night Club một thời gian, bắn chết một tên cướp Mỹ đen, và sau đó bắt đầu dành thì giờ ghi tên học Khoa Chính trị tại trường Đại Học New Orleans.
Tại New Orleans, toàn thể Nghị viên Hội Đồng Thành Phố đã trao tặng Lý Tống một bằng khen về sự can đảm của người Phi công phản lực:
“The Council herby commends Mr. Ly Tong for his bravery in escape and his commitment to the principle of freedom in the face of overwhelming odds. ” Tổng Thống Ronald Reagan trong một bức thư gửi Lý Tống đã viết: “Your courage is an example and inspiration to all who would know the price of freedom. ”
Để bù lại những năm chinh chiến rày đây mai đó xông pha lửa đạn với những phi vụ hiểm nghèo không có thì giờ và cơ hội tiếp tục cắp sách đến trường và để chuẩn bị kiến thức và kinh nghiệm cho cuộc đấu tranh trong tương lai, Lý Tống dành 9 năm dùi mài kinh sử, tốt nghiệp các văn bằng Cử nhân, Thạc sĩ và hoàn thành Luận án Tiến sĩ Khoa Chính trị chuyên ngành “Bang Giao Quốc Tế” và “Chính Trị Thế Giới’”tại trường Đại Học New Orleans và được Nhà Sử gia Mỹ danh tiếng, Tiến sĩ Ambrose, khen tặng:
— Ly Tong like “Ike” Eisenhower, a fighter for freedom, a hero from another war.
— In 25 years of teaching, I have never had a student graduate of whom I was prouder.
Phụ Lục
I. Phần văn và thơ của Lý Tống
— Lời kêu gọi trừ gian diệt bạo của Lý Tống (báo Văn Nghệ Tiền Phong)
— Tường trình từ New Orleans (báo Đời)
— Con đường ngắn nhất (Sách Những Kẻ Nội Thù)
— Những ngày sinh nhật (báo Lý Tưởng)
— Người về từ cõi chết (Tiếng Nước Tôi)
— Trong mơ ta thấy Việt Nam (Người Việt)
— Những rung cảm mùa xuân (báo Không Quân)
— Người về (Người Việt)
— Ga Lăng tình xù (báo Lý Tưởng).
Phần thư bạn hữu
— Sổ Tay của Trương Thiên (báo Đời)
— Lời khen tặng của Sử gia Tiến sĩ Ambrose
— Thư Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh
— Thư Trung tá KQ Trần N. Chấn
— Thư Dương Ngọc Cư
— Thư Đại úy KQ Nguyễn Bảy
— Thơ của nữ thi sĩ người Anh gốc Ấn Ashoka Tiagi.
III. Phần thư và thơ tình
— Thư của Esther, Phi Luật Tân
— Thư của Minh T., đảo Galang
— Thư của T. Hương, đảo Pulau Bidong
— Thư của Ánh H., Lomita
— Thư của Ngọc M., Baton Rouge
— Thơ của Thu H., Mission Viejo
— Thơ cho N.B.
— Thư của N.B., Miami Beach
— Thư và thơ của Hạnh, Sài Gòn
IV. Phần báo chí Việt Nam và ngoại quốc
— Mẫu phim truyện Trên Đỉnh Tình Yêu (Lý Tống đạo diễn và diễn viên).
— Headline’s về cuộc vượt biên của Lý Tống trên các tạp chí Việt ngữ phát hành tại Mỹ, châu Âu, châu Úc, Canada.
— Tóm lược thư và điện tín bảo lãnh và offer job cho Lý Tống từ các Công ty lớn tại Mỹ.
— Headlines về cuộc vượt biên của Lý Tống trên các nguyệt san ngoại quốc trên khắp thế giới.
— Trích hai bài báo đăng trên The Wall Street Journal
— Bài báo đăng trên nguyệt san Reader’s Digest tại Hoa Kỳ.
— Bài báo đăng trên Selection tại Pháp.
— Bài báo bằng Hán văn phát hành tại Hồng Kông.
— Bài báo đăng trên Das Beste, tiếng Đúc, tại Áo Quốc.
— Bài báo đăng trên Selecciones, tại Mễ Tây Cơ.
— Bài báo đăng trên Hot Best tại Hòa Lan.
— Bài báo đăng trên Selecoes, tại Brazil.
— Reader’s Digest tại úc Đại Lợi.
— Reader’s Digest tại Hồng Kông.
Chuyện vượt biên bằng đường bộ của Lý Tống được phổ biến tại 41 quốc gia trên thế giới bằng 17 tiếng ngoại quốc (chưa kể đài VOA và BBC).
Ngoại trừ bảy ngôn ngữ: English, Spanish, Portuguese, French, German, Dutch và Chinese đã đăng trong phần phụ lục, còn mười ngôn ngữ khác gồm có: Swedish, Finnish, Norwegian, Danish, Japanese, Italian, Korean, Arabic, Hindi và Greek.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.