Ó đen

lytong.wordpress.com

Lý Tống

Post by Sơn râu 22 Apr 2025

Phần 10

Chuẩn Bị Vượt Ngục Aran 

Để chuẩn bị vượt ngục Aran Jail, tôi bắt chước tù Thái, dùng cánh cửa gỗ lớn ra vào ép hai đầu koòng cho rộng ra. Thêm vào đó, thỉnh thoảng ra chỗ bửa củi, tôi dùng búa, lấy gỗ lót để đừng gây tiếng động, đập nới koòng ra. Làm nhiều lần, hai koòng đã đủ rộng để có thể rút chân ra được.

Vượt ngục theo đường nào? A ran Jail đặt dưới sự kiểm soát của Đồn Quân cảnh Aranyaprathet. Nhà tù là một khu đất nhỏ, trung bình, được bao bọc chung quanh bằng hàng rào tôn dựng đứng. Bên trong là một ngôi nhà gỗ hai tầng, với nhiều song sắt kiên cố. Bên dưới là phòng làm việc của quân cảnh Aran Jail một bên và một bên là bàn ăn cơm và cầu tiêư cho quân cảnh. Phía sau là nhà bếp, nhà ăn và cầu tiêu cho tù, sau vườn là một hồ nước rộng. Trên lầu, một nửa là phòng ngủ của lính gác nhà tù, một nửa chia làm ba phòng, phòng ngủ của tù Thái, phòng giam kỷ luật gồm ba phòng nhỏ và một phòng để giam tù Việt Nam tị nạn.

Trong thời gian tôi ở Aran Jail, có hai lần tù Thái bỏ trốn. Một tù Thái nạy tấm tôn hàng rào, chun qua tại một địa điểm kín đáo nhờ một đống củi che khuất với hai koòng đã được tháo rộng sẵn. Hai tháng sau, anh ta bị bắt và bị giam trở lại tại Aran. Một tù khác trong giờ trưa vắng, leo lên thanh cột chống nằm nghiêng, nhảy qua hàng rào, lội qua suối và bị bắt ngay sau đó. Ngoài ra còn có hai Khmer Heng Samrin cũng lợi dụng cơ hội tốt bỏ trốn. Hai tên lính nầy đóng vai người tín cẩn để được đi lại công tác dễ dàng, thừa lúc sẩm tối, lén đi ra cổng, trốn trở về Kampuchia. Chỉ hai ngày sau, mặc dù vừa nói rành tiếng Thái, lại giỏi tiếng Khmer, hai tay tù trốn bị chận bắt lại tại biên giới Thái—Miên. Cái đêm được dẫn giao trả lại Aran, “Quỷ báo cốt” trong lúc say rượu đã phạt và hành hạ hai tù Khmer suốt đêm. Mấy hôm sau, hai tên đi trốn vẫn còn nằm bất động như hai đống thịt, toàn thân bị lở loét không mặc được áo quần, phải nằm ở truồng nhiều tuần để chữa trị vết thương.

Mặc dù chuyện đi trốn khó thoát, tôi vẫn cương quyết giữ ý định nhưng hoạch định một kế hoạch qui mô. Trên trần phòng giam có một lỗ ô vuông có nắp đậy, ăn thông với một lỗ tương tự trong phòng ngủ lính gác. Mỗi ngày đi kiểm soát bộ phận lau nhà, tôi thường qua đó nghiên cứu cách trèo xuống.

Sát lỗ xuống, có một bóng đèn. Lỗ gần tường, có những thanh nẹp ngang leo lên xuống dễ dàng. Trong phòng lại còn có một sợi dây ni lông máng áo quần lớn và dài. Vào đêm tối, thường các lính gác hoặc say rượu hoặc ngủ say khi bắt từ Việt Nam đâm bóp xong, chưa kể có tay bắt tù thủ dâm cho mình như “thằng ăn trộm” hoặc “thằng gà mái.” Đúng ngày ra đi, nửa đêm tôi sẽ tháo koòng dấu trong mùng, canh chừng tên tù Thái trực đêm, leo theo song sắt chun lên trần nhà. Bò dọc trần nhà sang phòng lính gác ngủ, mở nắp đậy, thò tay mở bóng đèn, tắt điện, tụt xuống theo tường, xong, mở sợi dây ni lông cột vào cửa sổ và tụt xuống đất. 

Tôi sẽ đi men theo vách nhà, đến hàng rào tôn, leo theo cột chống nằm nghiêng gần nhà tắm, nhảy qua hàng rào và dông!

Thoát ra rồi đi đâu? Thỉnh thoảng kiếm được một số tạp chí như Time, Newsweek, một số sách xuất bản tại Thái bằng Anh ngữ và đặc biệt tờ Bangkok Post, tôi đã có một kiến thức và nhận định tổng quát về tình hình các nước Đông Nam Á, Châu Á, Trung Đông…

Đầu tiên tôi dự định trốn qua Miến Điện, xứ này theo Chế độ Kinh tế Xã hội Chủ nghĩa nhưng có Chính sách Trung lập. Giữa biên giới Thái và Miến Điện, Lực lượng Kháng chiến chống Chính phủ tuy mạnh nhưng chỉ đủ sức để tự vệ và chống trả các cuộc tấn công. Họ kiểm soát các đường buôn lậu huyết mạch từ Thái qua Miến Điện để sinh sống. Từ Bangkok sang tới biên giới Miến chỉ khoảng ba trăm cây số, con đường ngắn nhất để thoát ra khỏi Thái Lan. Tuy nhiên theo Gabriel, trưởng đoàn ICRC tại Aran, Miến Điện không có Tòa Đại Sứ Mỹ và Văn phòng ICRC. Nếu qua Miến không được giải quyết, tôi sẽ vượt tiếp đi qua Pakistan, Ấn Độ, Iran, Iraq… đến Pháp. Tôi dự trù đi bộ trong vòng hai năm và sẽ vượt ngục nhiều nhà tù trên đường đi qua.

Dự định thứ nhì là đột nhập Cung điện nhà Vua để trình “Thỉnh nguyện thư.” Mặc dù quyền lực Quốc gia thực sự nằm trong tay Chính phủ, nhưng tôi nghĩ, nhà Vua và Hoàng hậu Thái là Chủ tịch danh dự các Hội cứu giúp người tị nạn tại Thái. Trong một phạm vi nào đó, vì công lý, hai vị có thể cứu xét những trường hợp bất công. Trong cuốn sách Thailand’s 80s viết bằng Anh ngữ, tôi đã nghiên cứu các hình ảnh liên quan đến Hoàng cung, cũng như sinh hoạt của Hoàng gia. Đã từng đột nhập Phi trường Tân Sơn Nhất, vượt ngục Nhà tù 7708, tôi nhận thấy sự đột nhập Hoàng cung là một việc dễ dàng nhưng tiếc thay có quá nhiều bạn bè đã ngăn cản tôi trong dự mưu nầy: “Mầy sẽ bị thủ tiêu ngay.”

Và kế hoạch thứ ba là đi Singapore. Ở Thái Lan việc kiếm một bản đồ du lịch từ Thái đi Singapore thật dễ dàng. Tôi chỉ nhầm lẫn về khoảng cách của eo biển Singapore. Trên tờ Bangkok Post, trong một bài viết về Quân đội Singapore và cuộc tập trận hỗn hợp với Đệ Thất Hạm Đội, eo biển Singapore rộng 60 dặm là một eo biển chiến lược, là đường thủy huyết mạch của các hạm đội và thương thuyền liên đại dương. Với 60 dặm, tôi chỉ cần dùng một ruột banh bóng chuyền thổi căng lên, đem theo ít nước uống, bơi trong ba ngày ba đêm. Tôi có thể chịu lạnh trong những đêm ngâm mình dưói biển, còn vấn đề cá mập, đó là chuyện của Thượng Đế, nếu thuốc trừ cá mập không công hiệu hoặc không kiếm được. Trong bản đồ, eo biển giữa Mã Lai và Singapore chỉ chừng vài cây số. Sau khi nghiên cứu kỹ, tôi mới phân biệt được Singapore Strait và Johore Strait. Singapore đang cần tuyển Phi công nhưng có qui chế tị nạn rất nghiêm khắc: Tàu vượt biên vào Singapore sẽ bị Hải Quân kéo ra khỏi hải phận đuổi đi nước khác, nhưng nếu được một Quốc gia nào bảo lãnh, người tị nạn chỉ được nhận cho tạm trú tối đa ba tháng. Tôi muốn đến Singapore vì tôi sẽ không phải phí thì giờ lâu dài trong các Trại Tị nạn Mã Lai. Time is killing me! Tôi khác với những người đang killing the time.

Chuẩn bị kế hoạch xong xuôi, tôi vẫn chưa dứt khoát thực hành, bởi những lời hứa hẹn của Văn phòng Tumi, Phòng Thẩm vân của Tòa Lãnh Sự Mỹ tại Aranyaprathet. Aran Jail có khả năng chứa không quá 90 người, do đó từ ba đến bốn tháng, phải có một đợt giải quyết chuyển đi trại Panat Nikhom. Trước mỗi đợt đi, lại có nguồn tin từ Tumi cho biết tôi sắp được mở koòng và sẽ lên làm việc tại phòng Tumi. Tôi chờ đợi rồi thất vọng, rồi hy vọng, rồi thất vọng. Sau cùng khi đã quyết định chuẩn bị sẵn sàng và đã nới rộng koòng để vượt ngục, Chaning, lính gác nhà tù, vì cảm tình mở koòng cho tôi. Anh Đại Tá Mập nghe tin lại phóng xuống ra lệnh đóng koòng lại. Koòng đóng chật lại như cũ, nghĩa là bao nhiêu công khó tháo koòng của tôi đều đã trôi sông trôi biển. Chaning vì thương tôi mà hại tôi. Để phản đối hành động lạm quyền, bất công của anh Đại Tá Mập, tôi bắt đầu tuyệt thực. “Ống bô,” một cai tù mới đổi tới “lớn mồm” còn bỡ ngỡ năn nỉ tôi:

–  Nếu mầy không ăn nhiều thì ăn vài muỗng cũng được. Mầy không ăn cơm là kẹt cho tao lắm.

– “Ống bô” mới đến đâu biết chúng tôi vẫn thường bị cắt cơm mà vẫn chẳng kẹt cho ai cả. Tôi cương quyết không ăn. Buổi tối “Ông bô” lên phòng bảo tôi:

–  Nhà tù cấm tuyệt thực. Nếu mầy không ăn, tao buộc lòng phải có biện pháp.

Nghe “Ống bô” đe dọa, tôi nổi nóng đáp: “Tôi sẽ tuyệt thực đến chừng nào được mở koòng thì thôi,” và tôi nằm lì trên phòng không thèm xuống trong giờ ăn. Sau ba ngày đêm, một buổi tối, “Ống bô” tuyển lựa sáu tù Thái tình nguyện. Thời gian nầy có một băng tù Thái ba gai và hung dữ, lại ghét Việt Nam, rồi dẫn tôi xuống nhà dưới.

–  Lần cuối cùng mầy có chịu ăn cơm không?

Tôi không trả lời, thế là sáu tên nhảy vào đánh hội đồng. Nhiều cú đá bay vào cổ, vào ngực, vào lưng. Tay tôi cầm sợi dây buộc koòng đứng gồng người chịu trận. Tôi khám phá ra một điểm kỳ lạ của cơ thể: Trong tình trạng đói khát kiệt lực, cảm giác đau đớn bị giảm và khả năng chịu đựng hành hạ càng tăng.

Tôi chẳng thấy đau, chẳng thấy sợ hãi, trái lại bỗng dưng tôi bật cười gằn. Như lửa đổ thêm dầu, họ nổi xung, dùng những đòn nặng và hiểm cố tình đốn ngã tôi. Tôi bị té xuống sau một cú chặt vào cổ và một cú nốc ao vào bụng, khi lồm cồm đứng dậy lại bị đốn ngã tiếp. Trận đòn hội chợ tiếp tục đến lúc tôi bị đá trúng cánh tay cầm dây Koòng và giây tuột rơi xuống sàn. Hai tay tôi được tự do nên cung lên, đứng thủ thế. Tên Trưởng toán ẩn mặt phía ngoài tưởng tôi chuẩn bị đánh trả và tưởng nhầm tôi là một “đại cao thủ” (do sức chịu đựng kỳ lạ trong thời gian bị đánh đập) nên chạy vào ngăn lại và dẫn tôi lên phòng giam để tránh đổ máu. Biết dùng vũ lực, tra tấn không khuất phục được tôi, họ chuyển sang kế hoạch khác: Đánh tù Việt Nam.

Thật là một thời kỳ kinh hoàng. Mỗi tối, sau giờ ăn cơm chiều, tất cả Tù Việt Nam đều bị đặt trong trạng thái tinh thần căng thẳng sợ hãi. Băng côn đồ Thái được bật đèn xanh thẳng tay đánh đập. Có người bị đánh bất tỉnh nhiều lần trong đêm, rồi đổ nước lạnh cho tỉnh lại, đánh tiếp. Có đứa bị đốt râu, lông dái như thằng Nuộc. Trời vừa tối, tiếng ầm ầm, bịch bịch vang dội hỗn loạn khắp phòng. Lúc đầu bị đánh, mọi người đồng thanh la lớn kêu cứu nhưng không những không được can thiệp lại còn bị trừng trị nặng hơn. Từ những tay mập mạp khỏe mạnh, đến những kẻ ốm yếu bệnh hoạn, mỗi đêm ít nhất cũng bị bất tỉnh một lần.

Tôi bị giam ở phòng kỷ luật riêng, nghe tiếng đánh đập la hét mỗi đêm đau đớn như mình đang bị hành hạ. Mỗi lần thấy các bạn đi ngang, mặt mày thiểu não, hốc hác và bầm tím, tôi cảm thấy xúc động mãnh liệt. Cuối cùng đám Bộ đội trẻ năn nỉ lạy lục tôi:

—Tụi em lạy Đại Ca. Đại Ca ăn cơm lại dùm tụi em. Nếu Đại Ca không ăn cơm họ sẽ đánh tụi em đến chết!

Dương Bá Linh là tay ăn nói khí phách, hồi trước thỉnh thoảng thường đến luận bàn với tôi về những mẫu người và thái độ sống trong tù. Tôi kể cho Linh nghe về một vài chuyện trong Nhà tù cũ. Tôi nhắc lại một vài mẩu đối đáp với Đạm trong nhà tù 53. Đạm nói với tôi:

–  Không quì trước kẻ thù, bạn đã làm một tấm gương sáng cho anh em ngưỡng mộ. Tôi sẽ học tập gương bạn. Nhưng theo tôi, nếu Việt Cộng bắt tôi quì trước đám đông, tôi sẽ không quì như bạn. Trái lại, nếu họ đem tôi vào rừng vắng một mình có lẽ tôi sẽ quì bởi vì tôi cần phải sống để dạy dỗ các con tôi nên người.

–  Không. Không thể được. Tôi phản đối. Bạn không thể dạy con cái bạn sống hiên ngang, sống bất khuất, sống hào hùng, sống xứng đáng nên người bằng thái độ hèn hạ đó. Bạn trả lời với con cái thế nào khi chúng hỏi bạn: “Con nghe người ta kể lại rằng, ngày xưa có lần ba đã hèn nhát, khiếp nhược quì phục trước mặt kẻ thù, phải không ba?” Thà bạn chết đi, chết hiên ngang bất khuất. Chắc chắn con cái bạn sẽ học được bài học quí báu bằng chính tấm gương sáng của cha mình. Bạn cứ chết đi, và những bạn khác cứ chết đi một cách anh hùng, không khuất phục. Kẻ thù sẽ khủng hoảng tinh thần, sẽ điên loạn, sẽ chết, sẽ sụp đổ vì sợ hãi tinh thần, khí phách của chúng ta.

Linh sau đó cũng đã phải thú nhận:

–  Tôi nghĩ tôi có thể làm được như anh. Cho dù họ đem tôi đi xử bắn, tôi vẫn không sợ. Thế mà khi tụi nó áp lại đánh tôi, chẳng biết thế nào mà tôi quýnh lên chắp tay quì lạy trối chết.

Tôi cười trả lời:

–  Phải thử lửa mới biết được đá vàng. Phải thử thách quá giới hạn chịu đựng của con người, mình mới hiểu được mình, mới có thể tự xác định được mình. Từ ý nghĩ đến hành động phải qua một quá trình tôi luyện và thử thách.

Tôi có thể chịu đựng mọi sự tra tấn hành hạ dã man tàn bạo nhất, nhưng không thể chịu đựng được khi thấy những người khác bị đánh đập hành hạ vì mình. Hơn nữa, từ ngày thứ tư trở đi, cô y tá của ICRC mỗi ngày lại được phái đến để theo dõi tình trạng sức khỏe của tôi. Tôi thân với Daniel từ đó. Daniel, cô gái Thụy Sĩ, ngồi bên tôi, nhìn tôi với cặp mắt trìu mến, nói với tôi bằng những lời chân tình:

–  Anh nên ăn lại đi, anh cần phải sống. Cuộc đời bên ngoài còn có bao nhiêu điều tốt đẹp, bao nhiêu xứ sở tốt đẹp để anh thưởng ngoạn. Anh còn trẻ, đời còn dài…

Tôi nhìn Daniel ráng “tán” một câu, mặc dù hơi thở đã gần thoi thóp:

–  Anh đã đi nhiều nơi, từ Nhật Bản, Guam, Hawai, Texas, California, Cam Bốt… Anh đã thấy đủ và hưởng đủ. Giờ phút nầy anh chỉ còn một hạnh phúc duy nhất là nhìn em mỗi ngày ngồi cạnh anh. Vì vậy anh phải tiếp tục tuyệt thực để được hưởng cái hạnh phúc tuyệt vòi đó!

Daniel bối rối. Trong đôi mắt chơm chớp xúc động của nàng, tôi đọc được những dòng chữ sau đây: “Chàng ơi, chàng gần chết mà sao chàng còn đa tình thế? Chàng thì gần chết trong khi em đã chết vì chàng rồi, chàng biết không?”

Sau nầy khi nhận được thư của Tổng Thống Reagan, có đoạn “With Daniel, you walked through the lions’ den, sustained by your faith in God, and emerged victorious,” tôi lại càng thêm tin tưởng về sự kỳ bí của sự trùng hợp của các tên tuổi hoặc con số.

Dù sao thì tại một nước tự do, dù chỉ tự do một nửa, nhân quyền và nhân đạo cũng còn được quan tâm và tôn trọng. Tôi nằm tuyệt thực tại nhà tù Thái Lan, mỗi ngày đều được một người đẹp ngồi bên cạnh khuyên can, săn sóc, trong lúc Chiến hữu, Bạn bè tôi tại nhà tù Cộng Sản Việt Nam, chẳng hạn như tại Lam Sơn, một đứa trốn trại bị dẫm mìn đứt bàn chân, sau khi bị bỏ lơ nửa ngày mà nạn nhân chưa chịu chết, y sĩ trại đã dùng loại cưa sắt lớn, không thuốc tê, thuốc mê, không cả điều kiện vệ sinh tối thiểu, bắt các tù khác đè nạn nhân xuống, kềm chặt, cưa chân nạn nhân như cưa một khúc gỗ. Trị bệnh đã trở thành trị tội bệnh nhân. Nạn nhân quằn quại la thét đến chết bởi những “lương y như ác mẫu.”

Sau một tuần, tôi bắt đầu ăn lại vì không muốn gây đau khổ và phiền muộn đến nhiều người khác: Từ Tù Việt Nam đến ICRC. Hôm đầu tiên xuống lầu ăn cơm lại chứng kiến cảnh đau lòng mới. Giờ ăn, mỗi người cầm một cái khay đi đến vị trí phát cơm và canh. Trước khi phát thức ăn, tên tù Thái phụ trách tát mỗi Tù Việt Nam một bạt tai hoặc ký đầu một cú mạnh rồi bắt họ nói lớn:

–  Khập khun, khấp! (Dạ, cám ơn!)

Chữ khấp là tiếng dạ của kẻ dưới đối với kẻ chức quyền, với người trưởng thượng. Nghe nó mất sĩ khí quá. Đến phiên tôi, tên đầu gấu không dám đánh nhưng bắt tôi nói khập khum, khấp. Tôi không lập lại bằng tiếng Thái mà nói bằng tiếng Anh: Thank you rồi đi về bàn ngồi.

Tên nầy sau khi phát cơm xong, đến chỗ tôi đầu bàn, dùng tay vỗ mạnh vào vai tôi. Y vỗ mạnh như một cú chặt Karaté rồi bắt tôi phải lập lại bằng lời quát lớn:

–  Khập khum, khấp!

Tôi không thèm trả lời, đứng bật dậy, phóng một quả đấm tận lực vào mặt tên côn đồ Tù Thái. Y bật ngửa đụng bức tường cao gần một mét ngăn cách phòng ăn và nhà bếp nên lộn ngược qua phía bên kia, đập mặt xuống đất, mồm bị bể và phun máu. Tên bạn y đứng bên cạnh nhảy vào đấm tôi. Tôi vướng koòng bị ngã ngửa trên ghế, tiện chân đạp luôn đôi koòng vào ngực y một phát, rồi mất đà té lọt giữa ghế ngồi và bàn ăn đóng dính nhau. Chiếc bàn dài có ghế ghép hai bên trở thành vật cản giúp tôi tránh đòn. Đám Tù Thái đồng bọn nhảy vào ăn có, bề hội đồng nhưng nhờ trở ngại bàn ghế và phần lớn đều mang koòng như tôi, nên những cú đá, đạp và gậy phang bị vướng víu không gây ảnh hưởng nặng. Tay Trưởng toán tù Thái thấy ấu đả bèn chạy tới ngăn lại. Tay nầy mới lên thay chức nhưng có cảm tình và tốt với Tù Việt Nam. Tối hôm đó có hai Tù Thái kéo Dũng và Thơm, hai Bộ đội trẻ mới bị bắt vào, tới trước phòng giam của tôi và nói:

–  Mầy đánh bạn tao. Bây giờ tao đánh đàn em mầy.

Họ chỉ ra hai đòn, chặt một phát karaté vào cổ, móc một cú nốc ao vào bụng là hai Bộ đội bị đốn ngã xuống dãy đành đạch. Họ nhảy lên ngực đạp mạnh cho tỉnh lại rồi đánh bất tỉnh một lần nữa trước khi lôi trở về phòng. Ngày hôm sau, tên bị tôi đánh gãy 3 răng mồm mang một cục băng lớn tiến về phía tôi. Tưởng y muốn gây chuyện, tôi đứng thủ thế chuẩn bị ra đòn thì y xua tay làm hòa, bảo:

–  Mặc dù sau bảy ngày tuyệt thực Phú Còn (Ông lớn) tuy sức yếu lại đang bị koòng mà một mình dám đánh lại cả đám tụi tui, tôi rất phục sự can đảm và hùng tính của Phú Còn!

Nói xong y mời tôi hút thuốc. Từ đó mỗi buổi trưa, y gọi tôi đến cửa sổ, bảo thả dây xuống, kéo gói cơm chiên thịt bò y để dành chiêu đãi tôi. Tôi dễ dàng hòa hoãn thân thiện với kẻ biết điều, nhờ vậy mà không khí căng thẳng giữa Tù Việt Nam và đám Tù Thái hung dữ lắng dịu dần. Những người tù Thái mới vào thường hỏi thăm:

–  Lý Tống khôn nãy? (Lý Tống là người nào?)

Và đến làm quen do nghe các câu chuyện những tù Thái cũ mến tôi kể lại.

Tôi nhớ thời kỳ ở Nhà tù Cộng Sản, mỗi lần bị chuyển đến các Trại tù mới, các Quản giáo và Vệ binh Việt Cộng thường lãng xăng háo hức hỏi nhau:

–  Tên Giặc lái Lý Tống là đứa nào đâu?

Các tay Cai tù cũ có vẻ thích thú và hãnh diện khi chứng tỏ sự hiểu biết của mình về cái anh chàng Giặc lái Ngụy mặc áo quần sọc đỏ, đi chân đất với đủ loại huyền thoại. Hay những người Tù trong bộ phận chăn nuôi ở Lam Sơn, những lần thả trâu bò gần khu vực dân chúng ở Dục Mỹ, gặp những cô bé học trò, những cô gái bán hàng vẫn thường hỏi thăm:

– Anh Phi công Lý Tống còn ở nhà cùm không? Anh ấy có đẹp trai không?

Tâm lý của con người thật kỳ cục. Đối với nhiều người, đẹp trai cũng là một yếu tố để nâng phẩm chất của thái độ hào hùng! Nếu Napoléon cao thêm vài tấc, chắc chắn sẽ có thêm hằng triệu người ái mộ nhà Đại Anh hùng nước Pháp!

Cảm động nhất là những bà cụ bán hàng ngoài chợ. Có lần, một bà cụ bán cá đã nhờ các Tù nhà bếp đi chợ, gởi vào mấy con cá:

–  Gởi cho thằng Phi công Lý Tống. Nói với nó, tao vẫn nhớ cái ngày nó nhảy dù, nó trốn vào trong đám mía nhà tao. Cái thằng! Giặc đuổi tới đít mà vẫn tỉnh queo cứ nằm lè phè ăn của tao hết mấy cây mía!

Đa số tù Thái ở với chúng tôi rộng rãi và thân hữu, một thiểu số xấu, hung dữ cũng biết phục thiện. Ngay cả ông Đại Tá Mập, sau nầy khi nghe tôi đến được Singapore lại là người sốt sắng nhất cung cấp các tin tức về tôi cho các phóng viên săn tin. Thật ra ông ta cũng chỉ vì tận tụy với nghề nghiệp, vì tính tự tôn Dân tộc mà tôi đã xúc phạm khi yêu cầu chuyển tôi qua Tòa Lãnh Sự Mỹ để điều tra. Người Thái, chính phủ Thái rất tự tin và hãnh diện về sự độc lập và chủ quyền của Quốc gia họ.

Trên thế giới nầy, có được bao nhiêu Quốc gia nhược tiểu, ở trong quĩ đạo của Hoa Kỳ vẫn còn giữ được tính độc lập và quyền tự quyết của mình như Thái Lan? Cũng nhờ sự mâu thuẫn giữa tôi và Đại Tá Mập mà tôi có một dịp đặc biệt để tự khám phá những khả năng, những giá trị, nhũng đức tính tiềm tàng ẩn kín trong bản chất tự nhiên của mình. Tôi cám ơn, vì anh Đại Tá Mập, như một tấm gương, mà qua đó tôi nhìn ngắm được dung mạo của mình, thấy rõ những góc cạnh, chi tiết mà bản thân trong quá khứ chỉ cảm nhận mơ hồ huyền hoặc. Tôi mong muốn tình bằng hữu khắp mọi nơi trên bước đường mình đã đi qua, mỗi một con người, mỗi một Dân tộc ngoài những khuyết điểm, đều có những ưu điểm nổi bật để mình học hỏi và ngưỡng mộ. Tôi mong mỏi phát triển về sự thông cảm, tình thân ái giữa các con người, giữa các Dân tộc: “Cộng Sản nhìn vào mỗi con người lương thiện để thấy một tội phạm. Chúng ta nhìn vào mỗi con người, ngay cả mỗi tội phạm, để thấy được cái phần bản chất người tốt đẹp.”

Thù hải tặc Thái hay thù một số tên Cai ngục Thái tàn ác ở các Trại Tị nạn dọc biên giới, không phải là thù cả Dân tộc Thái hay cả nước Thái. Chính phủ Thái trên một phương diện, có trách nhiệm về các hoạt động chống hải tặc thiếu hữu hiệu, trong lúc các thương thuyền ngoại quốc từ chối cứu thuyền nhân, trên phương diện khác, cũng có trách nhiệm nhân đạo tương đương. Mỗi Quốc gia trên mỗi khía cạnh, trong mỗi hoàn cảnh đều có mặt tích cực và tiêu cực. Và chính chúng ta, những người Việt Nam hải ngoại đã có hoạt động nào hữu hiệu để cứu người tị nạn? Và những người tị nạn đi trước, trong một số trường hợp đã góp phần tăng thêm thảm cảnh nầy. Chẳng hạn trường hợp của những người từ chối định cư tại các Quốc gia đã cứu vớt họ, chỉ khăng khăng đòi đi Hoa Kỳ, làm xúc phạm đến lòng nhân đạo của một số Nước thứ ba, làm họ thay đổi thái độ với vấn đề tị nạn.

Ta chỉ trích người mà quên tự chỉ trích mình. Những người dân di tản từ miền Trung vào Sàigòn trong những ngày đầu miền Nam thất thủ vẫn còn chưa quên hình ảnh tàn bạo khủng khiếp của những tên côn đồ, hải tặc Việt Nam đối với chính đồng bào ruột thịt của mình. Nếu ta là Thái Lan, ta có chắc hoàn toàn tránh được thảm trạng đó không? Bởi vì ngay chính trên lãnh thổ Hoa Kỳ, những tên “bộ tặc” vẫn hàng ngày gây nên những tội ác kinh khủng mà chúng ta vẫn chưa đóng góp tích cực để ngăn chận và trừng trị hữu hiệu. Con sâu làm rầu nồi canh, nhưng con sâu không phải là đại diện của nồi canh. Ngay cả với Cộng Sản, tôi cũng không hận thù theo kiểu Đạm. Với Đạm, phải lóc từng miếng thịt, phải rút từng sợi gân, lột da, moi mắt… nếu một ngày lật được thế cờ.

Không. Chúng ta ghét Cộng Sản bởi Cộng Sản tàn bạo, bất nhân. Nếu chúng ta cũng tàn bạo, bất nhân, chúng ta không có lý do để nguyền rủa Cộng Sản, chúng ta không có Chính nghĩa để thắng Cộng Sản. Một ngày nào giải phóng đất nước, chúng ta sẽ không lập lại hoặc duy trì những hình ảnh tương tự Trại Cải Tạo cho kẻ địch bại trận.

Phải rộng lượng, nhân đạo để cải hóa giáo dục những con người lầm lạc, hoặc bị cưỡng bức phải làm điều lầm lạc, bởi vì bao thanh niên trẻ, con cháu, anh em chúng ta sinh trưởng ở miền Nam hiện đang bị bắt đi lính, đẩy ra chiến trường mặc dù cha, anh họ vẫn đang bị cầm tù trong Trại Cải tạo vì tội Ngụy quân, Ngụy quyền. Và từ đó suy ra, Bộ đội miền Bắc phần lớn cũng ở trong hoàn cảnh sinh bất phùng thời, tử bất phùng nơi và họ dù muốn đào ngũ cũng khó thoát được màn lưới kiểm soát chặt chẽ của Cộng Sản.

Với những tên ngoan cố, bất trị, những tên lậm thuốc Cộng Sản quá nặng không thể chữa trị, hãy cho chúng đi tị nạn về đất thánh tổ Lenin để họ hưởng hạnh phúc trong Thỉên đàng Đại đông tại Tầy Bá Lợi Á. Và những tên đầu sỏ trong Bộ Chính Trị phải bị treo cổ để trả nợ máu với Nhân dân và Tổ quốc.

Mặt khác cũng nhờ Cộng Sản mà tôi thấy được ý nghĩa đời sống. Tôi biết hưởng hạnh phúc trong tầm tay, những hạnh phúc bình dị, đơn giản. Nhờ Cộng Sản, tôi biết sống để trở thành con người hữu fch, biết nâng cao tâm hồn mình vì những mục đích cao thượng. Tôi tiến bộ được nhờ mười mấy năm trong tù ngục Cộng Sản. Chỉ những lúc sắp chết mới thấy hết giá trị sự sống, chỉ những lúc đói khát cùng cực mới biết thưởng thức những hương vị bình thường. Tôi đã từng nói với ông Julian, Cao Ủy trưởng Cao ủy Tị nạn tại Galang trong một bữa tiệc khoản đãi tôi ngày đầu tiên tôi đến Trại:

— Nếu không sống với Cộng Sản, giờ nầy tôi cũng còn mang bản chất của một playboy. Nhờ có kinh nghiệm với Cộng Sản tôi đã có ý thức mới để trở thành một Chiến sĩ tận tụy và dũng cảm. Kẻ ác, kẻ xấu là bậc thầy vĩ đại nhất dạy tôi trở nên người tốt

Vâng, tôi học được từ những người xấu nhiều hơn từ những người tốt. Chính những cái xấu xa, đê tiện, cái độc ác, cái gian xảo, cái hèn hạ được phô bày tràn truồng trước mắt làm cho tôi cảm thấy ghê tởm, phẫn nộ, khinh bỉ… Chính những cảm giác đó đã giúp tôi tránh được những lầm lỗi mà kẻ khác đã phạm phải, cho tôi một chỗ đứng khách quan để nhìn ngắm chủ quan, giúp tôi hạnh phúc trong những lựa chọn hướng thượng… Suốt cuộc đời chiến đấu, tôi chưa bao giờ ra trận với động cơ của sự hận thù, nhưng chính vì Công lý, vì Chủ quyền lãnh thổ cần được bảo vệ và tôn trọng, và quyền tự do lựa chọn định chế chính trị của người dân. Và trong tương lai, tôi sẽ tiếp tục chiến đấu vì sinh mệnh của 50 triệu người dân Việt Nam đang quằn quại rên siết dưới gông cùm thống tri của Cộng Sản. Bởi vì hạnh phúc và quyền sống của con người, chúng ta phải tiêu diệt bất cứ thế lực nào bóp chết hạnh phúc và quyền sống của con người.

Vụ tôi tuyệt thực đã gây tiếng vang lớn. Có những Sĩ quan cấp Tướng của Thái tại Bangkok đã quan tâm đến trường hợp tôi, và Tòa Lãnh Sự Mỹ tại Aranyaprathat đã phái nguời đi điều tra về tông tích tôi. Tại Trại Sikew có Đại úy Nguyễn Bảy, Phi công cùng phi đoàn Ó Đen 548 và là tù binh cùng Trại tù A30. Ngoài ra còn có Y sĩ Ngọc, Phi công Sô, Mai, hoặc cùng Không đoàn hoặc cùng Nhà tù đã xác nhận những điều tôi khai báo. Ngoài ra còn có Hồng, đánh cá ở Đài Côn Kampuchia cùng tôi, biết rõ tôi, đang tị nạn tại trại NW82. Người ta buộc lòng phải mở koòng chuyển tôi lên Phòng Thẩm vấn của Victor (thay thế Tumi đi định cư ở HoaKỳ). Văn phòng Victor có danh hiệu Black Eagle. Tôi có cảm tưởng mình đang trở về mái gia đình Không Quân thân thương cũ, về Phi đoàn 548 Black Eagle của mình. Ngày qua Galang, Indonesia, chi hội Không Quân tại đây cũng lấy danh hiệu Eagle! Số phận cứ đưa đẩy tôi gặp hoài những con số, những tên tuổi và danh hiệu tiền định.

Tôi được thử qua máy dò sự thật. Nguyên tắc của lie detector căn cứ vào nhịp tim, mạch. Một người khi nói dối thường hồi hộp, lo lắng làm rối loạn mạch tim. Nhưng nếu uống rượu say hay uống thuốc trước khi lên máy, thần kinh tê liệt có thể làm giảm sự bối rối và máy sự thật khó dò ra. Có một điều máy sự thật và người làm ra máy sự thật không lường trước được, đó là sự nói dối có chính nghĩa. Nói dối vì mục đích cao thượng, vì lòng nhân từ, vì nghĩa khí.

Tôi cảm thây lương tâm trong sáng khi nói dối, tôi cảm thấy hạnh phúc khi nói dối bởi vì tôi chấp nhận phần thiệt thòi, phần đau khổ về mình để bảo vệ hạnh phúc và sự an toàn của những người vô tội, những ân nhân tốt bụng. Hơn nữa, tôi đã từng tập chế ngự xúc cảm của mình, tập làm chủ bản thân mình qua lửa đạn chiến trường, qua gông cùm tù ngục. Vì vậy khi chuyên viên phụ trách lie detector hỏi tôi:

–  Anh có điều gì nói dối Chính quyền Thái không?

Tôi nghĩ đến số tiền 40 bahts, nghĩ đến gia đình người đàn bà Việt kiều ân nhân và tôi đáp thoải mái:

–  Không.

Và máy sự thật cũng đành chấp nhận cái sự thật không thật kia. Victor đã nói đùa về máy sự thật, về sự tin tưởng tuyệt đối của người Mỹ vào máy sự thật như sau:

– Nghe Tổng Thông Mỹ vừa tuyên bố một câu thật xúc động, thật tình nghĩa, một người Mỹ vội hỏi: “Câu nói nầy đã qua máy sự thật chưa?” “Chưa.” Một thẩm quyền trả lời. “Nếu chưa qua máy sự thật thì tôi không tin những điều Tổng Thống vừa tuyên bố.” Người nầy khẳng định. 

Bị đuổi trở lại biên giới 

Đã có nhiều người chứng nhận về background của tôi, đã có máy sự thật chứng nhận những lời khai của tôi, Chính quyền địa phương đành phải giải quyết trường hợp tôi. Thay vì được chuyển đi Trại chuyển tiếp Panat Nikhom như thông lệ, tôi lại bị trả ngược về biên giới với một lý do thật “sáng tạo”: Theo một sắc lệnh mới, Aran Jail chỉ dành riêng cho giới Bộ đội đào ngũ tị nạn!

Bốn người dân sự khác phải gồng gánh đi theo tôi cho có vẻ hợp lý. Khi đưa lên xe, anh Đại Tá Mập còn chơi chữ nói móc với các bạn đi cùng chuyến với tôi:

–  Em Khang có một có lỗ sâu sau ót làm bùa hộ mạng chắc đạn bắn không lủng. Còn Khiêm và Bằng nói tiếng Khmer rành chưa?

Các bạn tôi quá mất tinh thần, cố ráng năn nỉ, cầu khẩn vào phút chót:

–  Xin Đại Tá thương tình giúp đỡ tụi con.

Tôi bực mình cự lớn tiếng:

–  Đù mẹ, đi đâu thì đi. Chết là cùng chứ đếch gì mà sợ. Năn nỉ ỉ ôi làm đéo gì cho nó mệt người.

Anh mập tái mặt gườm tôi, tôi nhìn gườm lại anh mập và trong giờ phút đó, nghĩ bụng: “Thưa ngài. Ngài thật là may mắn Ngài biết không? Có những lần ngài đứng gần tôi, tôi lại đứng gần cái búa. Tôi đã có ý nghĩ… May mà còn chút sáng suốt, lạc quan nếu không tôi đã giáng cho Ngài một búa rồi.” Ngay cả có lúc, trong kế hoạch vượt ngục Aran Jail, tôi cũng có ý định tìm về nhà anh Mập “cắt bộ đồ nghề” của anh ta, bởi vì tuy già, nhưng ngài vẫn còn ham trò chơi trống bỏi.

Chuyển về biên giới, nếu được vào trại NW 82 thì chúng tôi cũng đã được giải quyết trong đợt cuối năm 1982. Nhưng thực tế, chúng tôi chỉ được đưa vào cổng trước và đuổi ra cổng sau để qua trại Nong Samet. Ôi, Nong Samet vĩnh viễn là mồ chôn của những người tị nạn bất hạnh, nếu không chết vì pháo kích, vì bị Việt Cộng tràn ngập, Nong Samet cũng sẽ là nhân chứng ngày tàn của những con người tuyệt vọng. Đã bao nhiêu Phái đoàn ghé đến chỉ biết lắc đầu để cảm thông, chia sẻ những số phận bất hạnh.

Đa số nguời Việt tị nạn tại Nong Samet thuộc thành phần Kampuchia Krom hoặc Muslim, ngoài tiếng Việt, họ còn có ngôn ngữ riêng thông dụng hơn. Buổi tối, năm đứa chúng tôi đánh vòng đi dạo mát để cảm thấy mình trở thành lạc lõng, trở thành người ngoại quốc trong Cộng đồng Tị nạn được mang danh hiệu Việt Nam. Tiêu chuẩn ăn uống của Nong Samet thật bi thảm: Gạo phát một ngày chỉ đủ để ăn một bữa. Một hộp cá mòi 114 grams một tuần, chưa kể có những hộp cá mòi hư thối, vừa mở nắp, là cá xì hơi mạnh văng bắn lên nóc nhà hôi thối cả gian nhà.

Chuyện ăn cá mòi làm tôi nhớ đến một viên chức Tòa Đại Sứ Mỹ. Trong một lần ghé thăm trại Nong Samet, ông ta hỏi han về cách sinh hoạt và ăn uống của người tị nạn. Một anh bạn sau một hồi giải thích cặn kẽ bèn kết luận:

–  Tôi nghĩ ông không cần phải hỏi làm gì phí công. Cứ nhìn chúng tôi gầy ốm hốc hác thế nầy là ông đoán ra được chế độ ăn uống ở đây rồi. Người viên chức Mỹ tuổi trung niên vóc dáng mập phì, ông ta mập đến phát mệt, và mập một cách khổ sở. Nghe nói thế ông ta bèn hớn hở như vừa tìm ra một chân lý:

–  Vậy hả? Thế thì tôi sẽ về bắt chước ăn giống các anh để được ốm như các anh. Tôi thích được ốm và tìm đủ cách diet mà vẫn cứ mập!

Chuyện đời thật tréo cẳng ngỗng, chỉ một thí dụ nhỏ đó cũng cho thấy sự mâu thuẫn của cuộc đời, sự khó thông cảm giữa các con người. Mỗi đất nước đều có một kiểu hạnh phúc và đau khổ trái ngược nhau. Người Việt thì nghèo nên khổ ví ốm, người Mỹ thì giàu nên khổ vì mập. Kỳ cục không kém, người Việt Nam tại Mỹ lại thèm ăn rau muống nên rau muống trở thành đắt giá. Người Việt trong nước lại chán ăn rau muống, bởi vì rau muống là món rẻ tiền họ phải ăn thường ngày, và là món duy nhất. Nhưng điều khó hiểu và tôi thường thắc mắc nhất là các cựu Quân nhân Mỹ. Hầu như cả ngàn Veterans Mỹ tôi gặp tại Mỹ đều thích thú kể lại các kỷ niệm thời chiến đấu tại Việt Nam. Người nào cũng mong có dịp trở lại Việt Nam để chiến đấu và sống lại thời huy hoàng cũ. Nhưng mỗi lần nghe báo chí, truyền hình phỏng vấn, lại chỉ nghe họ tố cáo và chống lại chiến tranh Việt Nam. Hình như mỗi lần gặp phóng viên họ lại sống và nghĩ bằng một con người khác: Một nhà chính trị, một triết gia. Nhưng sau đó họ lại trở lại con người bình thường, trần tục và những lối hưởng lạc cũ, nghĩ và nói những điều tầm thường phát xuất thực sự từ đáy lòng của họ!

Tôi phải đi dạy kèm tiếng Anh cho các người Khmer và các English Teachers cấp thấp khác, những người còn dấu diếm được chút vốn liếng vàng bạc, để có thêm gạo và cá nuôi nhóm năm người. Ngoài giờ dạy Anh văn, tôi trau dồi thêm Anh ngữ bằng cách đọc truyện tiếng Anh và đi ngồi chầu rìa nghe những người Mỹ làm việc tại Bệnh Viện tán dốc.

Ở Nong Samet, tôi làm quen với những người ngoại quốc đã từng đi du lịch qua Mã Lai, Singapore để dò đường. Miss Canada, cô gái đẹp nhất trong đám, khi nghe tôi nói về dự định đi bộ từ biên giới Kampuchia sang Singapore đã “phán” một câu lạnh lùng:

–  Are you crazy?

Tôi nhún vai:

–  Có thể. Bởi vì thiên tài và kẻ điên chỉ khác nhau một điểm duy nhất: Sự thành công.

Cô ta trầm trọng hóa hệ thông an ninh kiểm soát trên đường đi, tại bến xe bus, tàu hỏa, như một mạng lưới nhện kín không con ruồi nào có thể qua lọt. Cô nhấn mạnh.

— Ngay chính Thái Cộng, Mã Cộng còn dầu hàng không hoạt động được.

Miss Canada muốn dập tắt ngay tia lửa hy vọng vừa đang leo lét trong tôi. Chỉ có một người có quan điểm trái ngược với các ý kiến trên là Esther, một cô gái Phi Luật Tân.

–  Tôi nghĩ khả năng anh có thể đi lọt qua các trạm kiểm soát và đến được Singapore!

Esther cho tôi biết rõ ràng và chi tiết hơn những con đường cô đã đi, những nơi cô đã đến mà tôi cần tìm hiểu. Tôi làm quen Esther bằng một cách thật kỳ cục. Esther làm Trưởng Phòng thí nghiệm, mỗi lần mệt mỏi vì học quá độ, tôi thường đi tản bộ hoặc ghé ngang qua phờng thí nghiệm. Tôi đứng ngoài cửa sổ ngắm nhìn Esther. Mỗi khi đôi mắt rời kính hiển vi ngưng quan sát nhìn ra, nàng lại thấy tôi đang tựa bóng mát địa nàng.

Ngày xưa thời sinh viên Sĩ quan Không Quân, mỗi lần vào các tiệm cà phê, tôi vẫn thường dùng đôi mắt ruồi-lửa của mình để chinh phục các cô thu ngân. Tôi có thể ngồi đồng đến lúc đóng cửa và nhìn không chớp mắt. Khí giới lửa-ruồi phối hợp đó đã làm nhiều cô bé bứt rứt da thịt, không chống nổi phải đầu hàng. Ngày nay luồng nhãn lực kênh mặt trời đã mất nhiều hiệu lực bởi bùn, sình, cứt vịt của những ngày đi cày cấy trong Trại tù hóa giải. Sự kiên trì, lợm của tôi cũng làm cô Trưởng Phòng thí nghiệm mềm lòng, mặc dù kiểu trồng cây si đó đã thất bại với Miss Canada chỉ vì Miss Canada thì quá đẹp mà nàng Phi Luật Tân thì nhan sắc trung bình.

Mỗi lần quen thói ngẩng đầu lên khỏi kính hiển vi mà không thấy tôi, nàng đảo mắt tìm. Đôi mắt rõ ràng tự biểu lộ lòng trong tuy đã mặt ngoài còn e. Một hôm tôi đánh bạo đi thẳng vào phòng thí nghiệm gặp nàng kiếm chuyện xin thử nước tiểu:

–  Tôi nghi tôi bị đau lậu.

Nàng nhìn tôi bối rối ngạc nhiên. Buổi chiều thông báo:

–  Kết quả thử nghiệm nước tiểu negative…

Hôm khác tôi lại vào xin thử máu:

–  Tôi có cảm tưởng tôi bị bệnh giang mai.

Nàng lại thử máu dùm tôi và mỉm cười cho tôi biết kết quả:

–  Anh không có bệnh gì cả.

Tôi quả quyết:

–  Chắc chắn là tôi bị bệnh mà. Cô có biết không? Mỗi lần đi qua đây, tôi cứ thấy trong người bứt rứt, nôn nao, nóng sốt như là đang bị bệnh. Hay là tôi đã bị nhiễm bệnh bởi con vi trùng tình yêu của cô rồi?

Esther đỏ mặt xao xuyến. Qua ánh mắt nàng, tôi biết nàng muốn nói:

— Chàng ơi. Chắc em không thoát khỏi tay chàng nổi rồi. Em sắp khổn khổ điêu đúng vì chàng đây! 

Trại Tị nạn Nong Samet 

Sống ở Trại biên giới, chúng tôi như lọt vào vòng vây khổn; thế lực nào cũng muốn giết người Tị nạn Việt Nam. Nước Thái như bức tường thành của giác đấu trường, chận chúng tôi để làm con vật tế thần. Việt Cộng lên án chúng tôi là kẻ phản quốc, tội chỉ đáng lăng hình. Khmer Heng Samrin chủ trương “Kẻ thù của bạn ta là kẻ thù của ta.” Khmer Kháng chiến cũng chẳng nương tay: “Việt Nam Tự Do hay Việt Nam Cộng Sản cũng đều là Việt Nam. Mà Việt Nam là kẻ thù truyền thống!” Đến nỗi cả những người Khmer tị nạn, cùng hoàn cảnh, cùng số phận bi thảm như chúng tôi, thế mà đã có người tuyên bố công khai:

–  Ngày nào Việt Cộng tấn công vào đây, ông sẽ pẹt xà át bọn duôn tị nạn (giết đẹp bọn tị nạn Việt Nam).

Khmer Kháng chiến rất nể Thái. Ta phải thông cảm vì họ có nhiều lý do để nể Thái, họ nể vì phải ăn nhờ ở đậu trên đất Thái, nhờ sự bảo bọc của Thái, và ngoài ra còn là mặc cảm Dân tộc. Khi cái nể quá đáng cứ ấm ức trong lòng, họ bèn trút cái ấm ức đó xuống đầu Dân Tị nạn Việt Nam. Bao nhiêu thảm cảnh của người Việt trên đường tị nạn đi nhờ qua đất Kampuchia, bao nhiêu xác chết sình thối, dòi bọ, bao nhiêu bộ xương khô lăn lóc gió mưa, bao nhiêu người con gái bị cưỡng bức, lăng nhục, có người kiệt sức vì bị cưỡng hiếp hằng đêm, có người phải đem đi bệnh viện cứu cấp, vì vi trùng hoa liễu đã làm ung thối tử cung.

Nhỏ, một thanh niên Việt Nam nằm cạnh tôi đã kể đi kể lại nhiều lần, cho nhiều người nghe cầu chuyện: Một buổi tối bỗng nhiên có hai người lính Khmer vào bắt dẫn đi người bạn nằm cùng chiếu với anh ta. Mười lăm phút sau thấy họ xách trở về một bộ đồ lòng máu me còn chảy dòng dòng. Họ đã chiên xào để nhậu và bắt Nhỏ ăn thử một miếng gan.

Tuy nhiên từ ngày có Mặt Trận Liên Hiệp ba thành phần: Sihanouk, Son San, Khieu Samphon, những điều lệ, kỷ luật nghiêm khắc mới đã thay đổi một phần lớn những tệ hại kinh khủng đã xảy ra trong nhiều năm đẫm máu. Lực lượng Kháng chiến có quân số, có vũ khí, nhưng tinh thần chiến đâu còn bị ảnh hưởng bùa ngải và thần linh. Quân đội không có khả năng tự túc kinh tế, và ít nhận được viện trợ kinh tế. Họ sống chung với Cộng đồng Tị nạn, hưởng lương thực tiêu chuẩn của người tị nạn do Liên Hiệp Quốc cấp phát và tư lợi riêng duy nhất kiếm được là kiểm soát các đường buôn lậu Thái Miên. Mặc dù lực lượng của Sihanouk yếu nhất, nhưng ảnh hưởng của Sihanouk lại lớn nhất. Người dân Khmer từ Nam Vang đến vùng biên giới đều yêu mến và tin tưởng vào Sihanouk. Không có Sihanouk thì Mặt Trận Liên Hiệp sẽ không còn đủ uy tín và ảnh hưởng đối nội cũng như đối ngoại.

Tuy vậy nhìn chung Mặt Trận Liên Hiệp chỉ có hình thức hơn là thực chất vì Khmer Đỏ vẫn thỉnh thoảng ngoài việc tấn công lực lượng Son San bằng các trận phục kích, tấn công, còn len lỏi vào tận các làng do Son San kiểm soát để phá hoại. Ném lựu đạn, đặt mìn tại các rạp xi nê dã chiến, các chỗ giải trí của Khmer Son San tại làng Nong Samet đem lại nhiều tác hại nghiêm trọng. Bệnh viện Nong Samet là nơi thường xuyên nhận những người dân hoặc lính bị thương trong các vụ nổ mìn, lựu đạn giữa các phe Kháng chiến Khmer trước sự chứng kiến trong nỗi kinh hoàng của người Tị nạn Việt Nam.

Qua các cuộc tấn công của Việt Cộng vào Nong Chan, Nong Chak, tôi chẳng ngạc nhiên khi thấy chỉ trong một vài ngày, Việt Cộng đã hoàn toàn làm chủ các khu vực quân sự của Kháng chiến quân. Điều đáng ngạc nhiên là những Toán Đặc công, Trinh sát Việt Cộng không ám sát nổi các lãnh tụ Khmer Kháng chiến. Tôi chui khỏi Trại Tị nạn đi nghe ông Son San nói chuyện hai lần, lần nào cũng đứng gần trong vòng mươi thước. Tôi nghĩ nếu muốn, chỉ cần một trái lựu đạn, một khẩu súng hãm thanh hay một quả mìn chôn trên đường, Khmer Kháng chiến trở thành rắn mất đầu. Ôi huyền thoại của các tay ám sát quổc tế! Những công tác dễ dàng như thế mà các tay đồ tể cũng đành bó tay bất lực.

Lính Heng Samring là loại lính kiểng, một loại bù nhìn. Họ ít tham chiến và có một số, lại còn làm nội tuyến cho Khmer Kháng chiến. Đường buôn là phương tiện hoạt động mạnh nhất của các phe nhóm. Phe nào cũng gài gián điệp vào đám con buôn để lấy tin tức phe đối nghịch.

Riêng tại trại NW 82, từ ngày “ông cọp” (một cai tù Thái) bị đổi, tình hình đã khả quan nhiều. Ông cọp không chỉ là một đao phủ thủ, một con quỉ râu xanh đối với người Tị nạn Việt Nam, y còn dám cưỡng hiếp Phu nhân thứ năm của một Phum trưởng Khmer Kháng chiến vừa bị ám sát chết. Mỗi loại “thú người” đều có một nhân dáng đặc biệt. Trong nhiều năm bôn ba, tôi cũng đã thấy được nhiều khuôn mặt rùng rợn, bệnh hoạn, của những con người có sẵn bạo lực và dùng bạo lực để thỏa mãn những thú tính đê tiện của mình trên sự đau đớn, kinh hoàng và chết chóc của đồng loại. Cái nét chung của loại thú-người là cái sắc thái âm u chập chờn trên khuôn mặt họ, cái u ám của địa ngục môn. Trước ngày trốn khỏi Nong Samet, tôi có được hai chuyện vui.

Thứ nhất là được nhảy đầm. Tôi là kẻ crazy about dancing nên nhiều lần tôi khổ sở khốn đốn vì sở thích nầy. Trong thời gian vượt ngục A30 trở về Sàigòn, Nhà Văn Hóa Thanh Niên (gần Nhà Thờ Đức Bà) có tổ chức nhảy đầm tại sân quần vợt nên tôi chạy đôn chạy đáo kiếm hai đồng vào cửa mà không có, cuối cùng năn nỉ “băng kiến càng” thể dục thẩm mỹ giữ cổng xin vào. Gặp vũ sư Nguyễn Trọng (thầy dạy khiêu vũ cũ) đem theo một số nữ môn đệ, tôi chọn một partner để thi nhảy valse. Thế hệ trước 1975 có bỏ nghề lâu vẫn còn phong độ, nhờ thế mà tôi giật Cúp đêm đó. Tất cả khán giả đều cười ồ vỗ tay khi thấy kẻ đi chân đất, đôi dép quá cũ bị đứt quai khi nhảy, với quần vá đít, cái quần độc nhất, đi lên nhận Giải thưởng Valse.

Khi qua Kampuchia, tôi suýt bị bắt lại sau khi vượt ngục Nhà tù 7708 cũng vi tội mê nhảy đầm. Dân Khmer chỉ nhảy điệu Lâm Thôn, nên khi thấy tôi và một người bạn Việt Nam đánh cá khác nhảy Bebop, Cha cha cha khác lạ, họ để ý và hỏi giấy tờ. Nhờ may mắn và lanh trí, tôi đã lọt được lần đó. Ở Nong Samet, tôi phải kiếm công tác để được vào Trại NW 82 để nhảy đầm ké trong dịp tổ chức khiêu vũ Tết. Cái sân đất, bụi mù mịt như lốc xoáy khi hàng chục cặp Dân Tị nạn Việt Nam cùng Lính Thái quay cuồng khiêu vũ trên đó. Cuối cùng tôi bị hăm dọa và bị đuổi về vì nhảy quá nổi làm cho các ngài Lính gác Thái khó chịu.

Ngay cả thời kỳ ở tù Aran, Thái Lan, mặc dù mang đôi koòng khá nặng, trong những dịp lễ vui, tôi cũng không ngần ngại lót vải vào cổ chân để khỏi bị trầy, sướt chân khi nhảy biểu diễn điệu Cha cha cha theo lời yêu cầu của các bạn tù. Tiếng koòng khua rổn rảng theo từng nhịp sauter, cùng tiếng sàn gỗ kêu lầm rập là một trong những âm điệu hiếm hoi, khó quên trong ký ức của những ngày tháng đầy biến cố buồn vui của những người Tù Việt Nam tại Aran JaiL

Chuyện vui thứ hai là gặp lại Daniel, nàng mãn hợp đồng và trở về Thụy Sĩ đã mấy tháng. Không biết có phải vì “cái anh chàng gần chết mà vẫn còn đa tình” hay vì yêu mến chung tất cả người Tị nạn, Daniel đã xin trở lại phục vụ tại Thái Lan. Thật là một cuộc tái ngộ bất ngờ vì Daniel ghé Aran Jail hỏi thăm tôi, nhưng mọi người đều cố tình dấu nhẹm tin tức về tôi. Nàng ghé Nong Samet trong một công vụ đột xuất. Tôi cho nàng biết tôi sắp đi.

–  Anh đi dâu? Nàng hỏi.

–  Thân anh như cánh chuồn chuồn. Khi vui thì đậu, khỉ buồn thì

bay!

Tôi mượn câu ca dao diễn tả ý mình. Thông cảm hoàn cảnh tôi, nàng tặng tôi một bức hình khổ căn cước của nàng và vét hết tiền còn trong bóp để share your journey.

Mỗi ngày đứng nhìn người từ NW82 từng đợt lên đường đi Panat Nikhom, lòng tôi rối bời vì số phận cay đắng của mình. Tôi đang tính toán để chọn ngày khởi hành thuận tiện thì có hai biến cố ảnh hưởng trầm trọng đến quyết định, rút ngắn thời gian dự trù của tôi. Thứ nhất, ông Đại Tá Mập vừa ghé NW82, gặp “Long đen,” một cựu Sĩ quan, ông hỏi thăm tôi và nhắn nhủ với tôi qua Long đen:

–  Thằng Phi công Lý Tống ngày đầu tiên đến Thái Lan đã chửi tôi như tát nước vào mặt. Em báo cho nó biết, nó đừng hòng rời khỏi đây để đi định cư nước thứ ba. Nó phải chết rục xương ở tại vùng biên giới heo hút nầy!

Sự kiện thứ hai là cuộc tấn công đầu mùa khô của Việt Cộng vào trại Nong Chan. Ở Aran Jail, tôi đã biết trước, qua các tin của Bộ đội đào ngũ, Việt Cộng sẽ đánh chiếm các căn cứ của Khmer Kháng chiến trong đầu mùa khô, sẽ làm hàng rào điện tử MacNamara dọc theo biên giới Khmer—Thái… Chỉ có một điều đáng ngạc nhiên là Việt Cộng mở đầu Chiến dịch trễ hơn dự trù.

Ở trại Nong Samet, hình như chỉ có những gia đình có con nít là tương đối tạm đầy đủ vì mỗi ngày bệnh viện Nong Samet đều phát riêng khẩu phần cho trẻ con mỗi đứa mỗi tô cháo thịt lớn, một quả trứng, một trái chuối hoặc trái cây khác, nhờ thế mà cha mẹ chúng có thể ăn ké vào để tạm no. Ngoài cái khổ vật chất, cái khổ tinh thần nặng nhất là không có hy vọng được giải quyết. Ngay chính một vị Linh mục phụ trách các Trại Tị nạn vùng biên giới cũng đã một lần tự thố lộ:

–  Các con biết tại sao người ta không muốn giải quyết vấn đề tị nạn không? Cứ tưởng tượng ai đến được đây cũng sẽ được nhanh chóng đi Mỹ, đi Pháp… Đến nước thứ ba các con sẽ viết thư về báo tin làm phân khởi các thân nhân ở Việt Nam. Thế rồi 50 triệu dân Việt Nam đều rủ rê nhau lần lượt lên đường đi tị nạn. Vậy ai sẽ đủ sức lo hết cho các con, nước nao sẽ thu nhận hết các con đây? Vậy giữ các con ở lại đây thật lâu, hoặc sẽ không giải quyết, đó là cách hữu hiệu nhất để ngăn chận làn sóng tị nạn!

Mỗi Trại Tị nạn đều có mỗi sắc thái riêng, nhưng cái chung nhất vẫn là sự thiếu thốn, tù túng, thất vọng, nhục nhã… Môi trường của Trại Tị nạn dễ làm con người biến chất. Đó là gạch nối mong manh giữa Tự do và Nô lệ, giữa Đau khổ và Hạnh phúc, giữa Kinh tế và Chính trị. Nhiều bạn tị nạn vẫn thường than thở:

–  Mình sống ở đây thua một con chó Mỹ.

Vâng! Sự thật là như vậy. Nhưng ước gì được nghe những câu

nói:

–  Tôi sống ở đây khổ hơn một con chó Mỹ. Nhưng tư cách tôi thì những người Mỹ khả nhất cũng phải nể phục, yêu mến.

Vâng! Vượt biên, hãnh diện với danh xưng vượt biên, nhưng mấy ai đã vượt qua được cái biên giới tầm thường hèn mọn trong mỗi cá nhân mình. Sau mỗi cuộc vượt biên thành công, mỗi cá nhân tự thấy thỏa mãn về thành tích mình, tự xem trời bằng vung, chẳng chịu hòa hợp, nể phục ai. Vì thế mà hành trang lý tưởng, nhiệt tình của ngày đầu bước chân lên tàu đã bị Chủ nghĩa Cá nhân, Chủ nghĩa Tự mãn thui chột tất cả. Kẻ chia bè chia phái, kẻ thành lập vương quốc riêng, bất cứ mọi hành động tốt xấu của tha nhân đều bị chỉ trích, bài bác. Có kẻ còn quên bẵng kẻ thù chính là Cộng Sản, cứ rắp ranh mũi dùi thù địch về phía bạn bè, chiến hữu.

Người Tàu đi đâu cũng đoàn kết giúp đỡ nhau, người Do Thái mấy ngàn năm vẫn ôm mộng phục quốc và đã thực sự phục quốc, người Nhật mổ bụng không chịu đầu hàng, người Pháp thủy chung, tình nghĩa. Còn chúng ta, những người Việt Nam lưu vong với một lịch sử oai hùng, một truyền thông bất khuất, há lẽ nào lại xuôi tay làm kẻ vong quốc suốt đời? Cuộc sống nặng khuynh hướng vật chất làm một số người đánh mất mục đích đời sống. Có kẻ sống đời sống của những xác chết và nhận thức lầm lạc về những giá trị chân chính. Và ngay chính bài học Cộng Sản, bài học Tự Do, mỗi người còn nhận thức một cách khác nhau.

“Hùng mập,” một trong những người được hưởng tiện nghi vật chất trong một xã hội nheo nhóc lầm than, nhờ những của chìm của nổi còn dấu được và nhờ sự tài trợ của thân nhân từ ngoại quốc, đã than trách và tiếc nuối những ngày sống huy hoàng tại Sàigòn dưới Chế độ Cộng Sản: –  Biết đi vượt biên khổ thế nầy, thà ở lại Việt Nam sướng hơn!

Chương III 

Vượt Ngục Tại Thái Lan 

Trốn Trại Tị nạn Nong Samet

Vượt Biên Giới Thái-Miên Lần Nhì

Trại Nong Samet, trại NW82, chỉ cách nhau một hàng rào tre tăng cường kẽm gai, phía Bắc và Tây là khu nhà dân Khmer tị nạn, phía Nam là con đường chạy Đông Tây thẳng qua biên giới Thái Lan. Trại Nong Samet chỉ là một phần phụ thuộc trong khu vực Bệnh Viện Nong Samet, gồm hai gian nhà lớn bằng tranh và tre, chứa hơn 150 người tị nạn phần đông gốc Khmer Krom và Muslim.

Hai giờ sáng ngày 1 tháng 2 năm 1983, căn gác tre rùng rùng chuyển động bởi sự xô đẩy, chen lấn và tiếng chân chạy rầm rập. Nhiều người không kịp theo ngõ cầu thang, nhảy bừa lên mùng kẻ đang nằm gian dưới, tiếng người đạp, đè lên nhau kêu la inh ỏi. Sự hỗn loạn tăng dần với tiếng đạn ầm ầm pháo kích, tiếng đại liên gầm rú và tiếng xích sắt xe tăng. Nghe và định vị trí, chúng tôi tiên đoán cuộc đụng độ ác liệt đang diễn ra tại Nong Chan. Tình hình căng thẳng đã lâu, và đã có lệnh chuẩn bị di tản người Tị nạn theo kế hoạch sang đất Thái Lan trong trường hợp khẩn cấp. Tôi chờ đợi thời cơ thuận tiện để dọt luôn. Điều đau khổ nhất trong buổi sáng hôm đó là sự biến mất của đôi giày ba ta. Tay bạn gian ác nào đã chôm, đã chặt đôi chân của tôi rồi. Tin từ các người Khmer chạy loạn từ Nong Chan cho biết Việt Cộng đã chiếm được Trại Tị nạn và tàn sát hết các người Việt tị nạn tại đó. Mọi người chờ đợi số phận mình trong kinh hoàng. Tôi quyết định bỏ trôn càng sớm càng tốt. Không thể chờ nước đến chân mới nhảy.

Tám giờ tối hôm đó, tôi đánh lừa người trực đêm, xách túi hành trang chui hàng rào kẽm gai đi về hướng biên giới. Một toán lính Thái đi phục kích với một cây đàn và một chai rượu. Khmer Kháng chiến rải quân khắp nơi, đặc biệt trên đoạn đường biên giới tôi sẽ băng qua. Súng khắp nơi sẽ nổ dòn khi phát hiện một kẻ lạ đang bôn tẩu trong bóng tối. Tinh hình báo động làm cuộc đi trốn của tôi càng khó khăn nguy hiểm hơn. Tôi đi về hướng mà theo những tin tức kể lại có rất nhiều con buôn người Khmer đã bị chết trong những năm tháng đầu tiên vượt bãi mìn biên giới để chuyển hàng lậu từ Thái Lan, tránh các đường mòn để khỏi lọt vào ổ phục kích, tránh các vị trí thường gài mìn theo qui tắc chung. Đã từng trải một mình với những hiểm nguy tương tự, tôi thấy bình thản, tuy vẫn cẩn thận trong các động tác di chuyển.

Đến được địa phận phân chia ranh giới, tôi lội qua khỏi con mương ngập sình, nước. Tiếng xe Jeep và xe Honda tuần tiễu râm ran bên cạnh, ánh đèn xe và tiếng động cơ giúp tôi phát hiện vị trí của Đội Tuần phòng biên giới để ẩn nấp, trốn tránh kịp thời. Tôi bò qua con đê và đặt bước chân đầu tiên xuống lãnh thổ Thái Lan. Tôi đã thuộc nằm lòng đoạn đuờng nầy qua các bản đồ di tản treo tường, qua các câu chuyện hàn huyên với các người bạn ngoại quốc.

Từ con đường dọc biên giới đến trục lộ song song chạy về Aranyaprathet khoảng cách mươi cây số. Sau khi qua biên giới, tôi sẽ cắt theo hướng Tây Nam, băng qua con đường nằm ngang nối liền hai trục lộ, len lách giữa các trạm kiểm soát dọc đường. Khoảng cách chim bay băng rừng là mười lăm cây số, rồi từ đó theo trục lộ chính bốn mươi cây số về Aranyaprathet.

Vì muốn tránh các đường mòn, nên khi qua được biên giới chừng hai cây số, tôi đi lạc vào rừng tre, trời tối tăm gây nhiều trở ngại cho cuộc hành trình. Tôi quyết định ngồi nghỉ một tiếng đồng hồ chờ trăng lên, dùng mền đem theo lau sạch bùn sình để khỏi làm dơ áo quần khi mặc vào và trải mền nằm nghỉ trong khi chờ đợi. Trăng mọc cao, ánh sáng lồng lộng khắp không gian, tôi đã nhìn rõ những bụi tre, gai góc, những chướng ngại vật trên đường. Lấy mặt trăng phối hợp sao định hướng, tôi đi tiếp. Tôi đã thức hàng đêm ở Nong Samet để nghiên cứu sự chuyển dịch của những ngôi sao chuẩn. Rừng tre lùi dần và tôi gặp năm, sáu con sông liên tiếp chận ngang đường và một lần nữa, tôi lại cởi hết đồ để tranh thủ thời gian. Tôi dùng mền gói quần áo lại để vượt sông, rồi vác trên vai đi một mình dưới ánh trăng vằng vặc. Trăng sáng đến rờn rợn da thịt. Ánh trăng làm nổi bật những đường nét, những góc cạnh hấp dẫn nhất của thân thể người đàn ông trần truồng. Tưởng tượng một thiếu nữ nào đó bỗng dưng vô tình bắt gặp tôi đang tồng ngồng như vầy, có lẽ cô ta sẽ lính quýnh thẹn thùng mắc cỡ vì cảnh tượng kỳ cục. Ánh trăng sáng nhễ nhại cùng ý nghĩ bâng khuâng đã làm tôi động tình trong một hoàn cảnh không thích hợp.

Nhiều chòi gác trên đường bị bỏ hoang. Tôi băng qua những cánh đồng trống sau mùa gặt, vượt qua con đường cắt ngang, tôi thấy nhẹ nhàng vì đã đi hết tám cây số của nửa đoạn đường đầu tiên. Từ đây tôi phải toàn đi xuyên rừng, không rậm nhưng phải đi vòng tránh né những chỗ đáng khả nghi làm mất thời gian và kéo dài khoảng cách. Những ngôi sao chuẩn Tây Nam đã chuyển dịch về Nam. Sao Nam Tào sáng lộng lẫy như một ngọn đèn treo lơ lửng. Trong suốt cuộc hành trình 2,500 cây số vượt biên tôi chưa bao giờ trông cậy được vào sao Bắc Đẩu.

Những chòi canh rải rác mà tôi đã thận trọng né tránh, không còn đáng quan tâm nữa. Quân đội Thái mấy trăm năm hòa bình nên tinh thần cảnh giác hời hợt, họ quá tin tưởng vào những lực lượng trái độn của Khmer Kháng chiến như là một bức rào cản kiên cố và hữu hiệu. Sau mười lăm cây số đi xuyên rừng và đồng ruộng, tôi ra trục lộ chính, một mình thênh thang trên đường rộng đi về hướng Nam. Qua những nơi có buôn làng, tôi lại vòng vào rừng để tránh Trạm gác, những Đội Tuần tiễu hoặc phục kích ban đêm. Một trục lộ chạy từ Bắc xuống Nam không có nghĩa là lúc nào, bất cứ đoạn đường nào cũng nằm theo hướng Bắc Nam. Tôi quên nghĩ đến điều đó, nên sau khi vừa băng rừng trở ra lộ, gặp một con đường hẹp chạy theo hướng Đông Tây, tự cho là một đường rẽ phụ nên tôi băng qua đường tiếp tục dò tìm lộ chính. Đi mãi vẫn không gặp đường và vì lỡ đi nên cứ ráng đi tiếp.

Sau khi băng qua một con đê, tôi đã đi lạc ngược về hướng lãnh thổ Kampuchia, gần trận địa chiến giữa quân Kháng chiến Khmer Nong Chan và Lực lượng Việt Cộng. Trời đêm đang yên tĩnh bỗng nổ rền tiếng súng, mở đầu cho một trận đánh mới. Tôi phải chạy ngược trở lại và cuối cùng lạc vào khu vực đám người Tị nạn Khmer chạy loạn qua đất Thái. Tiếng Khmer và tiếng Thái văng vẳng đây đó. Tôi đi suốt đêm tranh thủ tìm lại đường cũ, đến sáng, đang mò mẫm đi theo đường mòn, tôi bỗng gặp một toán người đi ngược chiều. Tôi phát giác ra họ trễ nên khi rẽ tránh đường khác, họ đã lên tiếng bắt dừng lại. Tôi liền phóng chạy, họ nổ súng rượt theo. Sau một đoạn đường, tôi bỏ rơi họ và nấp trong một bụi tranh nằm chờ tình hình yên lắng, rồi tìm cách vượt qua con đê phòng thủ. Vừa đến chân đê, tôi lại bị một tên gác trong lô cốt phòng thủ phát hiện, nổ súng. Tôi nhanh chân đào tẩu và đi bọc rừng về hướng Nam trong nhiều giờ để tránh khu vực tuần tiễu nghiêm ngặt.

Cuối cùng tôi chọn được một vị trí thuận lợi để vượt đê và băng qua nhiều đường ngang dọc thuộc hệ thoing phòng thủ. Một dãy Chòi gác được bố trí cách đều nhau từng khoảng một trăm thước, trâu bò và mục đồng thấp thoáng đó đây. Ngoài kia, trên trục lộ chính xe cộ rộn ràng. Có lúc tôi đi bình thản như một người dân địa phương, có lúc tôi phải nấp lén theo từng gốc cây, từng lùm bụi, cỏ tranh để tiến về trước. Trên đường nhiều xe chở nước uống mang nhãn hiệu ICRC. Tôi phải nấp vào lề để tránh mỗi lân gặp xe của ICRC, bởi vì ông Khôn, người Thái, nhân viên ICRC Trưởng Trại Nong Samet biết tôi quá rõ, đã từng khiển trách và ra lệnh cấm khi bắt gặp cô bạn Phi Luật Tân một lần chở tôi đi theo xe ICRC, làm như đi công tác, nhưng thật tình là để nghiên cứu ngõ ngách đường vượt biên giới. Giờ nầy ông ta đang ruồng xe đi kiếm bắt tôi.

Đường phố, thành phố là nhũng nơi chốn tương đối an toàn cho kẻ đào tẩu. Biết bao người bạn của tôi đã vượt ngục, thoát khỏi các Trại tù Cộng Sản, nhưng cuối cùng đói khác, kiệt lực, lạc lối, bệnh hoạn, chết trong rừng hoặc bị bắt chuyển giao lại cho Trại Tù, trong khi tôi ung dung trên những đường quốc lộ và đường phố an toàn. Đoạn đường càng trống trải thêm vì những bìa rừng được đốt khai quang, có nhiều cổng gác hơn sự dự trù. Tôi chỉ đem một bộ quần áo nên mỗi lần băng rừng phải lộn ngược áo quần mặc bề trái để khỏi dơ vì càn lướt các cây cỏ cháy đen. Ra đến đường tôi lộn ngược lại, mặc vào.

Gai góc, gốc tranh đâm xuyên qua đôi dép Nhật cũ mỏng dính làm bàn chân tôi rướm máu, sưng tấy. Tôi đến gần vùng có nhiều người đang câu và bắt cá quanh những vũng nước rộng. Tôi đánh bạo đi vào kiếm chỗ vắng uống nước và tắm giặt, thái độ bình tĩnh của tôi không làm họ nghi ngờ. Hưởng trọn vẹn thú vệ sinh, sạch sẽ và mát mẻ, tôi mặc quần ướt, đi phơi nắng cho khô. Từ giờ, mỗi lãn gặp trạm gác, tôi phải ở trần để băng rừng để giữ sạch áo quần. Cỏ tranh, gai góc đâm, cắt rách nát toàn thân nhưng tôi chịu đựng đau đớn, lấy da thịt để thay thế áo quần. Sau khi đi bọc qua được một trạm gác gay go, tôi ngồi nghỉ bên lề đường quan sát. Những chiếc xe ba gác chở than lóc cóc chạy cùng hướng với tôi, thấy họ đi qua trạm gác trước mặt đường hoàng chẳng bị chận hỏi. Vì quá mệt mỏi và khổ sở với những đoạn băng rừng, tôi quyết định đi theo họ để đỡ tốn sức. Khi gần đến cổng, tên gác nhìn tôi hỏi bằng tiếng Thái:

–  Bai nãy? (Đi đâu?)

–  Phủm cặp ban. (Tôi đi về nhà.)

Ở những khu vực xóm làng nhỏ gần biên giới hầu như người cùng địa phương đều biết mặt nhau do đó họ nghi ngờ tôi vì thấy lạ mặt. Tôi vừa trả lời vừa đi tỉnh, tên gác hỏi với theo:

–  Có giấy tờ không?

Tôi nhún vai:

–  Có chứ. Nhà tôi đằng kia kìa.

Và tôi cứ thản nhiên đi tiếp. Tôi cảm thây thú vị và tự phục mình khi không còn nghe tiếng hỏi nào hoặc thắc mắc nào phía sau. Tưởng đã thoát, nhưng đi được chừng năm mươi thước bỗng có xe Honda đằng sau chạy đến, chận tôi lại.

–  Đi đâu đó?

–  Về nhà.

–  Nhà ở đâu?

– Phum Sung. Tôi trả lời theo đúng địa danh đã nghiên cứu trước.

–  Mầy trở lại cổng gác để xét giấy tờ!

Nói xong tên ngồi sau nhảy xuông xe định giữ tôi lại vì thấy tôi cứ tiếp tục vừa đi vừa trả lời. Bất ngờ tôi phóng vụt chạy về phía rừng. Tiếng súng Colt .45 nổ chát chứa đầu tiên và tiếng súng AR15 tiếp sức, rồi nhiều loại súng khác nổ rền khi toán lính gác chạy theo tiếp viện. Tôi đã nắm qui luật qua các lần chạy dưới lằn đạn nên hoàn toàn yên tâm.

Giai đoạn đầu khi tôi bật vùng chạy, phản ứng bất ngờ làm tên Lính lính quýnh hốt hoảng trong động tác mở khóa an toàn và bắn viên đạn khai hỏa. Khi tôi chạy được một khoảng xa, họ vẫn còn có ý định bắn dọa dẫm để bắt sống. Khi tôi cách xa chừng một trăm thước, vì súng ống nặng nề, áo quần, giày vớ trở ngại, lại vừa chạy vừa bắn nên khả năng tác xạ mất chính xác, hữu hiệu. Do đó họ không còn làm chủ lằn đạn của mình.

Tôi chạy vì sống còn, chạy thoát hoặc chết, họ chạy vì nhiệm vụ, bắt được cũng tốt, không bắt được cũng chẳng mất mát gì. Tôi càng chạy càng yên tâm vỉ càng có hy vọng thoát, họ càng chạy càng bất an, càng lo ngại bởi vì biết đâu tôi có vũ khí tấn công lại họ. Tôi chạy nhẹ nhàng bởi vì sinh tử cũng một mình ta, họ chạy nặng nề bởi vì gánh nặng vợ con, gia đình, vì gái, rượu đang chờ họ. Tôi chạy trong những niềm tin tuyệt đối hướng về Thượng Đế, tôi chạy bằng sức mạnh của cái đầu mặc dù cơ thể tôi đã hoàn toàn kiệt lực. Có lẽ tôi đang có súc mạnh của một Hercule, cái sức mạnh tưởng tượng mà hồi trẻ tuổi, thỉnh thoảng những lúc sinh lực cuồn cuộn trong người, tôi có cảm tưởng mình đủ súc xô đổ một gốc dừa lớn hay phóng bay từ cây nầy sang cây nọ như một Tarzan. Tôi đã từng chứng kiến cảnh thằng Cứt anh, mười tuổi, nhảy qua một hàng rào thép gai cao gấp rưỡi thân mình khi nó ăn cắp đồ bị phát giác và bị rượt đuổi. Người mất đồ đứng ngẩn ngơ bất lực trước hàng rào cao và kinh ngạc nhìn nó tẩu thoát.

Tôi đã từng phóng qua một bức tường cao, gắn miểng chai, mà lúc bình thường leo trèo tận lực cũng khó qua được, khi tay không một mình đụng độ một đám đông du đãng và suýt bị thanh toán. Những súc mạnh huyền nhiệm nào đã nâng bổng con người qua nhũng trở lực quá lớn lao và tôi chỉ kịp nhận ra mình sau khi té chúi nhũi vào đám cỏ tranh cằn cỗi, còi cọt, khi bóng dáng kẻ đuổi theo mình đã mất hút. Lồng ngực khẩn cấp bơm xả tranh thủ hút lượng dưỡng khí tối cần mà cơ thể đang đòi hỏi gấp rút. Tiếng tim đập đùng đùng như tiếng trống dồn săn thú, chưa kịp lấy lại hơi đã nghe tiếng chân người chạy lại. Tiếng chần dẫm thình thịch át hẳn tiếng tim đập rộn ràng lồng lộn trong ngực, tôi cảm giác tê dại đi vì sự xúc động đang dồn nén lại.

Cách tôi năm thước, hai tên Lính dừng lại, lục tìm xung quanh một bụi rậm. Tôi đã đoán trước những chỗ thường hay bị lục soát nên đã quyết định không chun vào đó trốn. Họ đảo mắt nhìn quanh quan sát. Tôi chẳng biết y nhìn phía nào, quan sát ở đâu, bởi vì tôi đã bắt đầu nhắm mắt lại, một cảm giác âm ấm ở đôi mắt. Đã lâu lắm rồi, tuyến nước mắt của tôi đã ngưng làm việc nên cuộc đời dù có đau đớn ê chề, cũng không bao giờ làm tôi chảy nước mắt. Thế mà giờ nầy, một giọt nước mắt vùa tiết ra đủ làm ướt con ngươi. Tôi hướng về Thượng Đế cầu nguyện trong im lặng:

– Lạy Thượng Đế. Nếu tôi không còn xứng đáng để sống, nếu tôi không còn xứng đáng để phục vụ Ngài, xin Ngài hãy giết tôi bằng chính bàn tay Ngài, đừng để tôi rơi vào bàn tay tàn độc của kẻ thù.

Cầu nguyện xong, tôi cảm thấy hoàn toàn yên tâm vì đã giao trọn sinh mạng vào quyền quyết định của Đấng Tối Cao. Có tiếng nổ lép bép như tiếng cây cỏ khô đang bị đốt cháy, có lẽ họ định đốt rừng để xua đuổi tôi ra khỏi chỗ ẩn nấp? Tiếng động phát lên từng chập và cuối cùng im hẳn, hình như cỏ không chịu bén cháy và họ bỏ đi. Tôi thở phào nhẹ nhỏm, nằm nghỉ dưỡng sức đến chiều tối. Sửa lại áo quần, tôi ra chỗ hai tên lính, đứng nhìn vào chỗ mình nằm. Trời đã về chiều hẳn mà tôi còn nhìn thấy nhũng chi tiết nhỏ nhặt nhất trong đám cỏ tranh lưa thưa, xơ xác. Thật kỳ diệu, lạ lùng. Bàn tay nào đã che những đôi mắt kia cho tôi nằm tràn trụi bình yền, an toàn?

Từ giờ phút đó, tôi không còn biết e ngại lo lắng trước nhũng hiểm nghèo, tôi biết rằng tôi còn sống, bởi vì tôi xứng đáng để sống và tôi bắt đầu nghĩ đến một tín ngưỡng riêng cho mình: Thượng Đế.

Đạo Thượng Đế

Tôn giáo như một bàn tay và các Đạo như Phật, Thiên Chúa, Tin Lành, Do Thái, Hồi… là những ngón tay. Về hình thức, mỗi ngón tay đều có những đặc tính riêng, nhưng tựu trung đều bắt nguồn từ bàn tay. Nhân loại đến với Thượng Đế thông qua Giáo Chủ của các Đạo. Tôi tiếp cận trực tiếp với Thượng Đế thông qua Đạo Thượng Đế  bởi tôi là tên Hề của Thượng Đế. Thượng Đế tạo ra vũ trụ và vạn vật. Người đang điều hành mọi sinh hoạt của muôn loài. Thượng Đế ở khắp mọi nơi và hiện hình trong muôn vật. Thượng Đế có trong mỗi con người và mỗi con người có trong Thượng Đế. Vậy Thượng Đế và con người là một. Thượng Đế được biểu tượng bằng hình người hành lễ qua các nghi thức. Đạo Thượng Đế có biểu tượng chính là Tình Yêu. Những biểu tượng khác gồm sự Quán thông, Sức mạnh, Vũ trụ, Trí thức và Lao động. Đạo Thượng Đế được thể hiện qua 7 Biểu tượng và 7 Nghi thức.

  1. Biểu Tượng Đạo Thượng Đế
  2. God: Đạo Thượng Đế
  3. Vương miện số 7:  Sự quán thông, tinh tấn.1
  4. Tóc dài: Sức mạnh (theo huyền thoại thần Samson, khi bị cắt tóc ngắn sẽ mất thần lực).
  5. Love: Tình Yêu. Chữ Love tạo thành các bộ phận chính trên thân thể:

L: Lỗ mũi.

O: Ngực đàn ông.

V: Ngực đàn bà.

E: Bộ phận sinh dục Nam-Nữ.

  1. Ngôi sao ở rốn: Biểu tượng vũ trụ.
  2. Sách: Bàn chân phải, hình cuốn sách, tượng trưng Trí thức
  3. Búa: Bàn chân trái, hình cái búa, tượng trưng Lao động.

Đạo Thượng Đế có tính cách thần linh nhưng thực tiễn và nhập thế. Tin tưởng vào Thượng Đế để dấn thân phục vụ nhân loại, góp tay xây dựng nền tảng xã hội dựa trên hai giới: Trí thức và Lao động.

Đạo Thượng Đế chỉ quan tâm đến sự sống, con người đang sống, không quan niệm Địa ngục hay Thiên đàng sau khi chết, vì “Địa ngục trần gian” hay “Thiên đàng hạ giới” đã thực sự hiện hữu trên trần thế, trong tâm thức và ý tưởng mỗi con người đang thực tồn và hiện hữu. Nhân quả cũng có tác động trực tiếp trong cuộc sống hàng ngày.

  1. Nghi Thức Đạo Thượng Đế
  2. Nơi hành lễ: Trên giường ngủ, trên bãi cỏ hoặc trong một nhà thờ hình vòm bằng kính trong suốt.
  3. Bàn thờ: Là bầu trời nơi Thượng Đế đang ngự trị.
  4. Khăn lễ: Màu đỏ: Tượng trưng cho sự hy sinh bằng máu. Màu trắng: Tượng trưng cho sự tinh khiết, trong sạch.
  5. Nhân sự: Người cầu nguyện hoàn toàn khỏa thân trở về nguyên trạng hình hài lúc tạo sinh. Người cầu nguyện nằm ngửa trên khăn lễ, chân tay và thân mình xếp thẳng hướng về bầu trời.
  6. Thông tri: Đạo Thượng Đế khi cầu nguyện nhắm mắt, im lặng (nói bằng tâm thức) và tập trung tư tưởng để thông tri với Thượng Đế.
  7. Hành lễ: Trước khi đi ngủ, Tín đồ hành lễ qua các giai đoạn:
  8. Đối tượng Đối diện:

(1) Chấp tay trên trán: Đối diện với Thượng Đế. Bắt đầu kiểm điểm sinh hoạt và tư tưởng trong ngày, dựa trên Chân lý phục vụ tha nhân và quần chúng, hướng thiện để xây dựng một tâm hồn đẹp, một tri thức trong sáng. Kiểm điếm lại những khuyết điểm.

Cầu nguyện Thượng Đế ban cho sự sáng suốt để phân biệt chân-giả, thiện-ác, để tìm giải pháp thích ứng giải quyết những trở lực trong trong Sứ mệnh phục vụ Thượng Đế.

(2) Mở rộng vòng tay: Đối diện Tha nhân. Yêu thương tha nhân. Không thù ai. Không giận ai. Không xúc phạm làm thương tổn ai. Không ích kỷ, thiên vị, ganh tị. Cảm hóa Tha nhân cùng hướng về một cứu cánh lương hảo.

(3) Xếp tay bên hông: Đối diện Bản thân. Tự chế, tự khắc kỷ bản thân để phục vụ Chân lý, Chính nghĩa tức phục vụ Thượng Đế.

  1. Đối tượng Tri ân:

(1) Chấp tay trên trán: Tri ân Thượng Đế.

(2) Chấp tay trên ngực: Tri ân tha nhân.

(3) Chấp tay trên bụng: Tri ân tự thân.

  1. Chấm dứt Hành lễ: Lấy khăn lễ đắp thân thể ở trần để ngủ.

Trong các lần cầu nguyện, chỉ có thời gian sau ngày đi Penang gặp Anthony Paul, phóng viên Nguyệt san Reader’s Digest tôi cảm thấy hạnh phúc nhất vì tôi đã dùng tất cả số tiền thù lao từ cuộc phỏng vấn tặng các Hội đoàn. Nghĩ đến các trẻ vị thành niên có được một buổi picnic tắm biển, Cộng đồng Tị nạn Khmer và các Hội đoàn Việt Nam có thêm chút tài chánh sử dụng vào việc hữu ích, thiết dụng, lòng tôi êm ả, thú vị. Đây cũng là dịp để tôi kiểm nghiệm lại tâm hồn mình. Tôi không hề tiếc nuối khi làm việc tốt vì tha nhân bởi Tất cả mọi người đều có quyền ngăn tôi làm đĩều xấu. Nhưng không một ai có thể ngăn tôi làm điều tốt đẹp, hữu ích. Tôi đang thực sự biết hưởng cái Hạnh Phúc kỳ lạ mà 8 năm gian khổ, đày đọa đã mở ra trước mắt tôi một Chân Lý mới. Con người có thể lừa dối con người, nhưng con người không thể tự lừa dối Lương Tâm và Thượng Đế. Đó là yếu tố căn bản để sự Cầu Nguyện có ý nghĩa trung thực và thành khẩn.

Chú Thích: 1  Sự kỳ diệu của số 7.

Đức Phật khi đản sinh, 7 bước nở 7 đóa sen tiêu biểu toàn thế giới, tam thiên đại thiên thế giới và sự thanh khiết để hóa độ chúng sinh. Số 7 còn biểu thị sức tinh tấn, siêu thoát 6 cõi sanh tử luân hồi.

Số 7 còn tượng trưng 7 tầng địa ngục, Đức Chúa Trời mất 7 ngày sáng tạo vũ trụ, Adam lấy xương sườn số 7 tạo ra Eva, tuần có 7 ngày, nghệ thuật có 7 ngành, âm nhạc có 7 nốt, văn minh nhân loại có 7 kỳ quan thế giới, 7 giai đoạn tiến hóa, 7 lỗ trên mặt người hay thất khiếu (hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, và miệng), 7 trạng thái tình cảm tức thất tình (ái, ố, hỉ, nộ, lạc, ai, dục), thứ quý báu nhất tức thất bảo (vàng bạc, ngọc, hổ phách, mã não, xà cừ, san hô và lưu ly)…

Xem thêm Số 7 kỳ diệu tại: http://vi.wikipedia.org/wiki/7_%28s%E1%BB%91%29

Trở Lại Aranyaprathet 

Trở lại đoạn hành trình, tôi đang đối chiếu các dữ kiện để xác định phương hướng, tôi cảm thấy bối rối trong những bài tính không có giải đáp. Tôi đang đi về phương Nam, tách vào rừng bên phải đường trong lúc chạy trốn. Thế thì tại sao mặt trời lại lặn phía bên kia đường? Và phía đổi diện là tiếng nổ của trận địa pháo binh bắt đầu khởi sự? Như vậy để tới Aran phía Nam tôi phải đi ngược về hướng mình đã đi suốt ngày hôm nay? Có lẽ nào tôi đã đi quá địa phận Aran và bây giờ tôi phải đi trở lại? Chỉ vì không xác định được điểm đứng nên giờ nầy tôi bị lạc đường mặc dù vẫn có hướng chuẩn của mặt trời và các vì sao. Cuối cùng tôi chợt nghe nhiều tiếng xe nổ dòn dã, và đặc biệt, một góc bầu trời hướng Đông rực sáng ánh đèn. Đèn điện, đô thị là điểm chuẩn quan trọng nhất, đi lạc vào đô thị an toàn hơn đi lạc vào rừng. Tôi quyết định đi về hướng ánh sáng và tiếng động, gặp một con đường nhựa, những giải lụa bạc nhỏ nằm lờ mờ bên lề đường là những vũng nước tôi đang cần để giải nhiệt cổ họng khô rát.

Sau mấy giờ lầm lũi đi, tôi đến một chiếc cầu bắc ngang sông, có đèn pha cực mạnh và nhiều lính gác. Bên trái đường, một dãy nhà nằm dọc theo bờ sông, đèn điện và các máy hát hoạt động inh ỏi từ một khu chợ búa. Tôi chuyển sang phía lề phải đường, khu vực bên nầy tương đối vắng vẻ và tối, có một con đường rẽ nằm phơi mình lõa lồ dưới ngọn đèn pha sáng rực. Tôi quyết định băng qua đường bằng cách lăn tròn. Nếu tôi trườn bò ngang đường, chiều dài của thân mình dễ làm toán lính gác chú ý và phát hiện. Nằm dọc theo đường rồi lăn tròn qua đường, chân quay về hướng trạm gác và đèn pha, tôi có thể quan sát họ và họ chỉ thây bàn chân của tôi, còn thân hình dài có thể bị nhầm là một cái bóng, chỉ là một con chồn hay một con thỏ chạy qua đường và cái bóng của nó. Chắc chắn họ sẽ nghĩ như vậy nếu bất chợt thấy tôi.

Tôi vượt qua đường và bắt đầu băng rừng đi về hướng xa hơn, có ánh đèn điện sáng hơn và tiếng nhạc vọng lại thật lớn từ một rạp chiếu bóng của một thành phố. Tôi quá mệt vì suốt một đêm, một ngày đi không ngưng nghỉ, chưa kể mấy lần bị rượt chạy hụt hơi. Tôi lại bắt đầu khát nước kinh khủng, cái thứ nước dơ bẩn uống vào làm lả người đi rồi bỗng đột nhiên bốc hơi nhanh chóng. Cái khát đạt đến mức độ có thể thông cảm được trường hợp những con người phải đổi vài nắp bi đông nước bằng một chỉ vàng hoặc đâm chém nhau tranh giành một ngụm nước. Tôi dùng một khúc cây, chống đi dò dẫm, lết từng bước một. Tôi phải tìm thêm một khúc gậy thứ hai, bởi vì phải hai gậy, tôi mới đỡ nổi thân mình kiệt sức không té quị xuống trên những đoạn đường gập ghềnh đầy chông gai.

Tôi nhớ những ngày đi rừng khiêng gỗ. Đường dốc cao hiểm hóc phải trèo hàng giờ mới đến đỉnh, những khúc gỗ nặng, lớn như những thớt voi khổng lồ mà đám Tù binh bệnh hoạn bu bám vào như một bầy kiến. Có những khúc đường trơn trợt, chúng tôi phải bám trụ vào đòn khiêng. Bước xô lệch nghiêng ngã vì sức nặng oằn vai, vì những khúc quẹo gắt, những dổc dựng đứng, hồi hộp như đi dây tử thần, bởi vì chỉ một nguời té, sẽ làm cả toán tuột vai. Khúc gỗ đổ dốc sẽ cán chết người khiêng đằng trước. Lúc dò dẫm từng bước qua những con suối cạn, đầy ghềnh đá nhọn trơn trợt, những quãng đường thăm thẳm mù khơi. Như bầy nô lệ thời Trung cổ, chúng tôi dùng sức người trong thời đại máy móc hiện đại.

Càng lúc càng quá mệt, thấy mặt mình quắc lại, nhăn nhúm, hổc hác vì kiệt lực, tôi ngừng vài phút nghỉ chân, móc túi lấy chiếc gương nhỏ soi mặt để chợt nhận ra dáng dấp thiểu não của mình. Tôi bật cười, tự nhủ với hình mình trong gương:

– Lý Tống. Bạn phải đẹp trai, phải tươi tỉnh, phải coi khinh gian khổ thì kẻ thù của bạn mới sợ bạn!

Tôi đứng bật dậy, phủi bụi áo quần, chải lại đầu tóc, lau sạch mặt mũi và tiếp tục lên đường. Nhưng chỉ một đoạn, bước đi lại khó khăn trở lại, tôi cố gắng lê bước len lách giữa các lùm bụi, hốc hố, và chướng ngại vật. Không khí nhộn nhịp đàng trước thúc dục những bước chân rời rã mệt mỏi. Mười giờ rưỡi tối, tôi đến Aranyaprathet. Sau khi chạy thoát bầy chó hùng hục đuổi theo sủa vang rền cả khu vực, tôi bước lên đường lộ chạy vòng phía ngoài thành phố. Thị trấn Aran đông vui, tấp nập về đêm nhân dịp tổ chức triển lãm. Tôi tìm điện thoại gọi Esther nhưng số lại cho sai. Tôi đi dọc theo các đường phố náo nhiệt nhất để ngắm người, ngắm cảnh, vào khu hội chợ, xem qua phòng triển lãm và kiếm chỗ ngồi ăn uống. Xong, đón xe Honda thồ đi tìm nhà Esther. Nàng cho tôi một địa chỉ không có tên đường, không có số nhà ngoại trừ nhũng check points đặc biệt trên lộ trình.

– Đưa tôi đến ngã ba đường đi Bangkok và đường đi Khao Y Đang. Tôi dùng tiếng Anh để diễn tả.

Xe chạy bon bon trên đường rộng. Nhà cửa vắng dần.

– Tới chưa? Người tài xế hỏi.

–  Ngã ba đâu rồi?

Qua lâu rồi. Đây là đường đi Khao Y Đang!

Tôi lập lại chậm rãi để người lái xe biết tiếng Anh bập bẹ hiểu rõ ý định của mình. Xe chạy ngược trở lại ngã ba, quẹo phải, có trạm xăng bên đường.

–  Đúng rồi. Quẹo trái ở con đường rẽ trái đầu tiên.

–  Chầm chậm, quẹo phải ở đây. Stop!

Mối Tình Việt-Phi 

Điều làm tôi yên tâm nhất là chiếc xe hòm chở thuốc của Bệnh viện Nong Samet đang nằm chình ình trước mặt tôi. Tôi phải trả gấp đôi giá đã đồng ý trước vì đoạn đường đi lạc. Căn nhà với phòng khách bề bộn đồ đạc, vắng người, tôi tự tiện đi vào, gõ đúng phòng số 3 nàng dặn. Cửa mở. Esther mở tròn xoe mắt kinh ngạc nhìn tôi. Tôi lách vội vào và khép cửa lại, sự kinh ngạc và sợ hãi đã xâm chiếm toàn bộ cảm giác của Esther, đánh bại nhũng xúc cảm mừng vui của đêm gặp mặt.

Esther lo lắng hỏi:

–  Có ai thấy lúc anh vào không?

–  Không.

–  Lỡ bà Giám đốc biết, không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra đây? Esther bối rối.

Tôi cảm thấy mệt mỏi và chán nản. Trí tưởng tượng đã hoàn toàn phản bội tôi. Tôi cứ nghĩ nàng sẽ ôm chầm lấy tôi mừng rỡ khi vừa thấy mặt. Sự thật quá phũ phàng, Esther ngồi ngây người, nhìn vô hồn vào đống giấy tờ đang làm dở dang, đầu óc rối bời. Tôi dựa lưng vào tường, nhắm mắt, lẩn quẩn với những ám ảnh của cảnh tượng kinh hoàng trên đoạn đường đã qua. Thật lâu lắm, như vừa thoát ra khỏi cơn ác mộng, Esther mỉm nụ cười đầu tiên tiến về phía tôi. Nàng lấy nước, bánh mời tôi ăn, rồi lấy chăn nệm trải xuống sàn nhà và bảo tôi nằm nghỉ. Tôi nằm dưới sàn nhà, nàng ngồi trên giường, nhìn tôi. Tôi khoanh tay, nhắm mắt lại trong nỗi cô đơn lạnh lùng. Bỗng nàng bước xuống giường, tiến đến ngồi sát bên tôi. Tôi chậm rãi mở mắt, theo dõi những diễn biến trên mặt nàng.

–  Em sợ quá. Nhưng không sao.

Tôi cầm lấy tay nàng để trên ngực mình, hôn nhẹ. Nàng ngã người xuống, tôi ôm siết lấy nàng.

–  Ly Tong, are you a spy? Nàng hỏi.

Tôi mỉm cười:

–  Có lẽ, trong tương lai. Nhưng hiện tại anh chỉ là một amateur spy, em có thể nghĩ vậy, nếu muốn!

Mùi nước hoa đặc biệt ưa thfch của nàng làm tôi ngây ngất những cảm xúc đê mê. Tôi và nàng quấn lấy nhau như đôi trăn trong cơn động tình. Nàng quên rằng tôi đang dơ dáy, bẩn thỉu sau cuộc hành trình gian nan. Tôi quên rằng, tôi đã cạn sinh lực cho những cuộc rượt đuổi, những cơn đói khát. Chúng tôi quên hết, chỉ còn tiếng thở mạnh dồn dập, chỉ còn tiếng rên rỉ trở trăn. Esther nhắc lại:

–  Coi chừng anh lây bệnh hoa liễu cho em đó.

Tôi cười đáp:

–  Ôi, con vi trùng tình yêu của em rỉa rói lở loét cả trái tim anh rồi.

Tôi không ngủ và không buồn ngủ, mặc dù vừa mới mấy giờ trước đây, tôi ước mơ được chợp mắt một chốc lát. Nàng không ngủ và không buồn ngả vì nàng đã ngủ thừa thãi nhiều năm nhiều tháng một mình cô đơn. Giữa khuya tôi đột nhập vào phòng tắm bên ngoài như một tên ăn trộm để tắm rửa. Cảm giác mát lạnh của nước càng tăng cường cái sinh lực vốn không bao giờ cạn của mình.

Cuộc xung đột vùng biên giới vẫn tiếp diễn. Nhân viên Bệnh viện được tiếp tục nghỉ việ. Esther kín đáo lén lút đem thức ăn, rượu vào phòng để bồi dưỡng ông khách bất hợp pháp.

Bia rượu, âm nhạc như nhũng cơn gió vần vũ, lay động những cành lá vốn đã không muôn nằm yên.

– Ta chẳng cần nói những lời phải nói. Ta chẳng cần nghe những lời muốn nghe. Bởi tuyệt đỉnh tình yêu chỉ cần một hình thức duy nhất để diễn tả… cùng nhau!

Tôi đã thực hiện đúng câu phương châm bất hủ của mình. Nơi chốn nầy là nơi chốn hạnh phúc, nhưng không phải là nơi chốn cuối cùng. Tôi phải tiếp tục lên đường đến nơi mình dự định. Esther muốn tiễn tôi một đoạn đường, vì hai đêm ngày thiêu đốt, ngọn lửa tình vẫn còn cuồn cuộn bốc cháy trong tấm thân tràn trề sinh lực kia.

–  Em thuộc loại oversexed. Esther thú nhận.

– Anh thuộc loại born to make love. Em yên chí! Tôi cười bảo.

Tôi bỏ lại tất cả áo quần cũ, thay vào nhũng bộ đồ vừa mua cho phù hợp hoàn cảnh mới. Đôi dép bèo nhèo bị đứt quai và hàng chục gai nhọn bị gãy còn nằm trong đế mút cao su đã được thay bằng đôi giày ba ta mới. Nếu không có đôi giày nầy liệu đôi chân cửa tôi có còn chịu đựng nổi biết bao gai góc, bụi bờ, đá nhọn trên đoạn đường tiếp nối nữa không?

Chúng tôi rời căn phòng đầy dấu tích cuộc tình để lên đường. Khi qua Bệnh viện, nếu không nhanh mắt tôi đã bị “Tây lai” và “Vua xét mâm” (hai quân cảnh gác Aran Jail) bắt gặp. Không phải chỉ quân cảnh Aran Jail mà tất cả những Lính Thái nào đã ở Aran Jail cùng thời, đều biết mặt và biết chuyện của tôi vì vậy tôi phải thật cẩn thận trong phạm vi khu vực Aranyaprathet. Chúng tôi ngồi trong tiệm ăn kín đáo chờ giờ xe buýt khởi hành lúc 12 giờ.

Những đô thị lớn nối liền nhau bằng những cánh rừng cao su trẻ bạt ngàn. Tôi hồi tưởng lại dự định đi bộ khi chưa có tiền, nghĩ đến những ngôi chùa phải ghé trên đường để xin cơm ăn. Nhưng thực tế chẳng có bao nhiêu ngôi chùa và chẳng có ai đi bộ trên những con đường liên tỉnh. Những đường phố, dinh thự cũng giống ở Đà Nẵng, Sài Gòn của Việt Nam tuy lối kiến trúc tập trung hơn. Đến Bangkok lúc 5 giờ chiều, chúng tôi đón xe taxi về khách sạn dành riêng cho người ngoại quốc.

Bangkok thật tấp nập, rộn rịp. Những dãy phốba bốn tầng lầu trùng trùng điệp điệp không dứt, xe cộ chạy chen chúc trên đường, người Bangkok ăn mặc thật dễ thương. Trang phục hòa điệu Âu Á. Tuy nhiên vì hạn chế hàng hóa nhập cảng, nên màu sắc và chất liệu nội hóa đã làm giảm bớt sự sang trọng, đài các của họ. Những ngôi chùa dát vàng, nhũng di tích lịch sử và kia, cung điện nhà vua. Thực dễ dàng để đột nhập hơn những toan tính dự trù trước kia. Thủ đô đông đúc chuyển động trong nhịp độ nhanh, hệ thống An ninh, Cảnh sát thiếu chặt chẽ, chỉ cần một túi xách nhỏ với vài khối chất nổ, một kẻ phá hoại tầm thường cũng làm được những vụ nổ lớn tại đây. Chúng tôi mướn khách sạn sang trọng nhất, ăn những nhà hàng đắt tiền nhất. Bangkok về đêm, Bangkok buổi chiều, buổi sáng. Cứ lúc nào cần take a break để thay đổi không khí và giản gân cốt, chúng tôi lại đi ngắm cảnh, ngắm người và ăn uống. Những khu trung tâm thương mại hiện đại, tân thời, những cô bán hàng lộng lẫy, duyên dáng. Đã đi qua Bangkok, Kuala Lumpur, Singapore, tôi thấy thương cho Sài Gòn nghèo nàn của mình. Câu khen ngợi Sài Gòn là Hòn ngọc Viễn Đông đã trở thành câu châm biếm chua chát!

Chưa có ai vi phạm luật lao động trầm trọng như chúng tôi. Trong những tấm gương lớn treo quanh tường, tôi không nhận ra mình trong những hình bóng chập chờn. Vừa có cảm tưởng mình là khán giả đang xem diễn một đoạn phim sex sống vừa chợt nhận ra nhân dáng xa lạ kia là mình, một diễn viên chính của hoạt cảnh yêu đương.

Esther người Phi Luật Tân nên khi sướng nàng rên bằng tiếng Phi. Tôi lại thích nghe tiếng Việt nên dạy nàng rên bằng tiếng mẹ đẻ của mình.

Âm thanh tiếng Việt có dấu nên những người ngoại quốc khó bắt chước thật giống hoàn toàn. Cái giọng ngọng ngịu, lơ lớ của Esther lúc rên “Em suong qua” nghe vừa kích thích vừa tức cười.

Rời Bangkok 

Thế rồi tôi phải lên đường. Cuộc chia ly nào cũng bịn rịn, nhưng cuộc chia tay của chúng tôi bứt rứt hơn nhiều. Sau khi đưa tôi ra nhà ga xe lửa, Esther phải sửa soạn hành trang rời Thái Lan trở về Phi Luật Tân, bởi vì hành động giúp đỡ cho một kẻ đào tẩu là trực tiếp làm hại đến nền an ninh của Thái Lan và hành động đó không thể tha thứ được.

Không hiểu cổng gác lúc thường có soát giây không, nhưng nhờ đến trễ và tàu lửa sắp sửa khởi hành, nên khi thấy tôi vội vã chạy vào, người gác cổng không chận lại còn ra dấu dục tôi chạy gấp cho kịp chuyến. Là người khách cuối cùng, nên khi vừa mua được vé, vừa bước lên bậc cửa tàu, xe lửa vừa lăn bánh.

Tôi tìm một chỗ ngồi rồi dựa mình ru giấc ngủ. Tôi phải ngủ bù cho bốn ngày đêm không ngủ, để lấy sức đối phó những gian truân, để khỏi bị quấy rầy bởi những câu chuyện nhảm nhí của người lân cận nhưng giấc ngủ vẫn khó đến mặc dù đầu óc váng vất mệt mỏi. Một người đàn bà khều tay tôi hỏi:

— Mi khôn năng? (Có ai ngồi đây không?)

Tôi lắc đầu, nhìn chỗ trống trước mặt. Người thanh niên bên trái cứ lăng xăng gợi chuyện người chung quanh. Tôi lấy miếng băng keo mua ở nhà thuốc tây dán kín hình bản đồ Việt Nam khắc trên tay. Thỉnh thoảng giả vờ giật mình tỉnh thức, tôi dụi mắt nhìn ra ngoài, nhìn cột cây số dọc theo đường để tính nhẩm đoạn đường đã qua và còn lại. Những thửa ruộng sau mùa gặt nằm trơ gốc rạ. Nước Thái chỉ có một Bangkok vĩ đại hào nhoáng, những thành phố khác thuộc loại trung bình.

Tôi ăn uống tại chỗ khi những người bồi nhà hàng chạy tới lui rao bán. Kiểm soát viên bấm vé một cách máy móc. Trời về chiều cảnh vật hoang vắng, tôi nhìn hai bên đường tàu, nghiên cứu những trở ngại gặp phải nếu mình phải đi bộ, quan sát địa thế ở nơi nầy để suy diễn địa thế những nơi sắp đến. Cảnh sinh hoạt của những thôn làng trên đường xe lửa đi qua cũng có những nét tương tự với đoạn đường đi bộ sắp phải dấn thân. Trời đã gần khuya, hành khách sửa soạn chỗ để ngủ, kẻ ngồi tựa lưng vào ghế, kẻ nằm dưới sàn tàu, tôi ngủ được một giấc ngon trong tiếng xinh xịch đều đặn của xe lửa về đêm. Sáng thức dậy sớm hơn mọi người, tôi làm thủ tục vệ sinh buổi sáng, sửa sang lại áo quần, tóc tai, mặt mũi cho vai tuồng quan trọng sắp tới. Mỗi ga xe lửa đều có viết tên theo mẫu tự La Tinh. Hành khách lần lượt xuống dọc đường, nếu không nghiên cứu kỹ bản đồ, làm sao tôi biết được mình đã đến đâu, và xuống tại đâu, lúc nào? Gần đến cây số 900, những cột ăng ten và nhà cửa lớn xuất hiện. Sắp đến Hạt Yai, hành khách chuẩn bị xuống đông đảo, tôi nhìn ra ngoài. Hatyai, cây số 900. Tại sao lại có sự sai số nầy, bởi vì theo cột cây số ghi trên bản đồ du lịch Hatyai phải là cây số 950.

Tôi định đi theo đường rầy xe lửa, nhưng trạm gác và nhân viên đang hoạt động làm tôi đổi ý. Ra cổng, tôi chọn con đường gần nhất, song song đường rầy để đi nhưng phải quay trở lại vì chợt nhận ra con đường đang hướng vào một cư xá. Tôi chọn con đường khác, rộng rãi, xe cộ tương đối tấp nập mặc dù xa đường rầy. Trên lề đường, những dãy hàng quán vắng khách, lười biếng trong ánh nắng đầu ngày. Hatyai là một trung tâm du lịch nổi tiếng, trong trí tưởng tượng, tôi thấy những villa đồ sộ, những bãi biển trữ tình và khách ngoại quốc đông đảo, nhưng thực tế, Hatyai chìm đắm trong vẻ vắng lặng của một thị trân đìu hiu ít hoạt động. Tôi gặp hai đường rầy xe lửa rẽ về hai phía, tôi chọn đường thứ nhì, bởi đường thứ nhất sẽ chạy về Songkla. Cẩn thận hơn, tôi đã vòng theo đường nhỏ bọc ra khỏi thị trấn, luồn lách giữa các cánh đồng cỏ hoang, trước khi bám theo trục lộ xe lửa.

Hai bên đường, đồn điền cao su nối liền nhau chạy xa tít về cuối chân trời. Vài trăm thước lại có một cầu xe lửa bắt qua suối cạn. Gần cạnh đó là nhà của nhân viên trông coi đồn điền cao su trú ngụ. Đường dài, vắng vẻ thỉnh thoảng mới gặp một xóm nhỏ lấp ló trong những rừng cây. Tôi nghĩ đến những missions phá hoại. Chỉ cần một số mìn nổ chậm loại đặc biệt có thể tích nhỏ, có gắn đồng hồ giờ, kẻ phá hoại có thể cho hằng chục cây cầu nổ đồng loạt. Sống với Cộng Sản nhiều năm, cái góc cạnh nhìn sự vật của con người cũng bị ảnh hưởng. Ngày xưa nhìn vào những dinh thự, đền đài, cảnh vật để thấy vẻ đẹp và nghệ thuật, bây giờ khi nhìn sự vật tôi lại ước tính số lượng chất nổ, con đường đột nhập, kế hoạch rút lui. Cái nhìn méo mó không mang Chủ đích tàn phá, bạo động nhưng bảo vệ, phòng thủ. Phải thấy được con đường kẻ thù sẽ sử dụng để chuẩn bị con đường ngăn chận.

Người đầu tiên tôi gặp và bị nghi ngờ là một thanh niên trẻ. Mặc dù đi ngược chiều đã khá xa, anh ta thỉnh thoảng vẫn quay lại dò xét tôi. Tôi càng cẩn thận khi đoạn đường thấp thoáng bóng người đi làm về. Một chiếc xe bò ệt được năm chú bé đẩy chạy trên đường rầy xe lửa, các chú bé xăm xoi, hiếu kỳ nhìn người khách đỉ một mình, lạ mặt. Tiếp sau đó bốn người đàn ông lớn tuổi đi ngang tôi, một người nhìn tôi hỏi:

–  Pai nãy? (Đi đâu đó?)

–  Phủm cặp ban. (Tôi về nhà.)

Có lẽ họ ngạc nhiên vì nhà cửa, người ngợm trong khu vực nầy họ đều biết và quen mặt. Mặc kệ họ, tôi thản nhiên đi tiếp. Tôi đã sẵn sàng, nếu có sự báo cáo và truy nã, tôi sẽ phóng chạy. Lần nầy thấy một người từ xa, tôi thận trọng tìm chỗ ẩn nhưng quá trễ, anh ta đã thấy tôi, nên sự mất dạng của tôi làm anh ta ngạc nhiên, nghi ngờ, vừa đi vừa đảo mắt tìm kiếm. Tôi quá chú ý đến một mục tiêu, nên vô tình bị mục tiêu khác phát hiện. Hai người đàn ông bên kia mương ruộng đang theo dõi hành động của tôi. Tôi kịp thời khám phá tình trạng nguy hiểm, bước nhanh lên đường bỏ rơi họ, đi qua chỗ một xe Honda, một xe đạp dựng ở ngã ba đường.

Yên tĩnh. Tôi tiếp tục đi, cảnh giác. Bỗng linh cảm có sự đe dọa, bèn quay người nhìn lại phía sau thì thấy một thanh niên đang chạy đuổi theo tôi. Tôi phóng người bương qua những bụi gai rậm rào kín bên đường, gai cào xướt mặt mũi, vướng víu áo quần. Tôi bước càn tới để len lách thật lẹ. Băng qua những hàng cây cao su già ngổn ngang cỏ tranh và các bụi cây nhỏ, tôi chạy hết tốc lực về hướng lùm bụi rậm rạp đằng trước. Quay lại kiểm soát trước khi chun vào chỗ ẩn tránh, tôi yên tâm thây đã bỏ rơi được anh ta. Tôi càn lướt những giây nhợ chằng chịt, những nhành gai, những chướng ngại vật, băng mình vội vã nhanh về đằng trước. Hơn một tiếng đồng hồ, tôi xa khỏi bụi bờ rậm rạp và băng qua mảnh đất cày xới xong đang chuẩn bị ươm trồng cao su.

Vài chiếc xe đạp chạy lách cách trên con đường cắt ngang mặt. Tôi cẩn thận băng qua đường rồi tiếp tục xuyên rừng, phải tranh thủ tránh xa khu vực nguy hiểm càng sớm càng tốt, khi cảm thấy an toàn, tôi đi tiệm tiến trở lại đường chuẩn. Những khoảng đất trông trải dễ đi bị người từ những ngôi nhà của nhân viên coi sóc đồn điền canh phòng trông thấy. Con đường an toàn duy nhất là xuyên rừng và tôi chọn con đường khó nhọc cho mình.

Mặt trời đã lặn, chiều tối hẳn, tôi đổi phương thức đi khi trước mặt mình chỉ còn bóng đen và những chướng ngại vật trùng trùng điệp điệp không thể nào di chuyển được. Tôi trở ra đồng trống, đường xe lửa hoàn toàn mất dạng không còn dấu vết. Tôi đi vòng sau vườn một ngôi nhà đang đốt lửa chập chờn để rút ngắn khoảng cách. Tiếng người nói chuyện nghe rõ mồn một, không tiếng chó sủa. Gặp con đường mòn và đi mài miệt gần đứt hơi qua bao nhiêu quanh co, gập ghềnh, tôi gặp lại đường xe lửa.

Phải đi rừng gay go vất vả mới thấy được sự thoải mái nhẹ nhàng của con đường rầy thân yêu. Tôi lượm mấy cục đá lớn để phòng thân. Đá là một vũ khí hữu hiệu cho những bất trắc về đêm. Tôi bỗng nghe tiếng chân người nên vội tạt nhanh vào lề, nấp sau một bụi rậm nhỏ. Điều rõ ràng là đối thủ khám phá tiếng chân tôi trước vì sự mệt nhọc đã làm giảm khả năng thính giác của tôi. Tiếng chân rón rén, sục sạo, cái đòn gánh giáng lên cao… và rầm, rầm, tôi ném bốn cục đá liên tiếp vào ngực y trước khi y kịp phang đòn gánh vào đầu mình. Tôi bỏ chạy trong khi y đang ngơ ngác, đau đớn, kêu la cầu cứu, báo động.

—  Mặc mẹ chú mầy. Chú mầy tự kiếm chuyện vào thân thì ráng mà chịu. Tôi lẩm bẩm.

Thoát nạn nhưng chắc sẽ có xe hoặc người đuổi theo. Lại nghe tiếng chân người, tôi nhảy lẹ vào lề đường nấp, nghe ngóng, chuẩn bị. Lại một tên đang lớ ngớ dò tìm tôi, tên nầy hình như là Lính gác nên có súng. Tôi ném một viên đá vào bụi phía tay trái làm y quay người lại nổ súng vào chỗ có tiếng động. Tôi ném một cục đá lớn trúng lưng y rồi vụt chạy. Phần bị đau, phần trời tối, y chỉ bắn theo mấy phát báo đông chứ không dám rượt theo tôi. Tôi lại đi tiếp. An toàn trên xa lộ! Không biết những người nầy nghĩ sao về tôi nhỉ? Một thằng ăn trộm? Một tay buôn lậu? Một tội phạm? Một Thái Cộng?

Tôi đến vị trí, theo sự phỏng đoán, là khu vực phòng thủ biên giới vì những xe tuần tiễu, những ngọn đèn pha, vì trước mặt là dãy Doanh trại nằm chắn ngang, đèn điện sáng rực. Tôi mò mẫm men theo sợi dây thép lớn căng dọc theo đường rầy, nằm sát dưới mương cạn khi một xe tuần tiễu pha đèn về hướng mình. Bò qua một bãi đất rộng, tôi đi xuyên bờ bụi của những vườn tược bỏ hoang. Phải dò dẫm từng bước vì thế đất cao thấp, vì cây cối rậm rạp, tôi băng từ vườn nầy sang vườn khác, sau vườn các ngôi nhà lớn chìm đắm trong ánh lờ mờ của các ngọn đèn điện từ con đường chính chiếu hắt lại. Tôi bọc bên hông đi về hướng ánh trăng vừa mọc, băng qua một con đường lộ lớn sát ngoài Doanh trại, rồi đi sâu vào khu rừng cao su có những ánh đèn chuyển dịch chập chờn.

Đây đó dọc theo từng hàng, những người thợ đang lấy mủ cao su về đêm. Tôi nương theo từng thân cây tìm chỗ che chở và tiến bước, một vài ngồi nhà nằm thầm lặng trong đêm yên ngủ, bỗng có tiếng động rộn ràng của xe cộ và những ánh đèn xe. Sự khác biệt của hai địa thế cho tôi cảm giác đã đi an toàn qua biên giới Thái. Một bức tường chắn ngang từ Đông sang Tây như Bức Tường Ô Nhục Đông Bá Linh, tường cao, kiên cố với hàng lớp kẽm gai giăng kín bên trên, bên trong và những chòi canh vươn cao ngạo nghễ. Tôi đi dọc theo bức tường trong khoảng cách an toàn và cảm nhận bức tường cứ dài thêm ra mãi, đành quyết định chui qua.

Có thể đây là hàng rào biên giới thứ nhì thuộc lãnh thổ Mã Lai. Tôi cởi hết áo quần bỏ vào túi xách, không một mảnh vải nào có thể làm bận bịu công tác nguy hiểm sắp tới. Tôi dùng cảm giác đau đớn của da thịt để luồn lách qua những ô kẽm gai nhỏ. Khi trèo qua tường, tôi bị kẹt cứng giữa một hệ thống kẽm gai được rào xen kẽ, kẽm gai lưỡi lam cắt ngọt lớp da trần. Loay hoay xoay sở từng gang tấc, tôi vận dụng mọi kỹ thuật, mọi sáng kiến trong suốt một giờ rưỡi để lọt qua hoàn toàn hàng rào chướng ngại rắc rối, gay go. Tôi qua được nhờ hàng rào không mắc điện, và những tên gác quá tự tin vào hệ thống phòng thủ của mình. Tôi đi xuyên qua bãi đất trống rộng, nhiều hào rãnh, mô đất, đường bố phòng ngang dọc.

Mã Lai. Mã Lai. Tôi mừng rỡ như nhắc tên một người thân yêu đang chờ đợi, bỗng thấy một tấm bia đá đề tên thị trấn cuối cùng của Thái! Có lẽ đây là dấu hiệu bang giao thân hữu của hai nước láng giềng? Có lẽ nào tôi vẫn còn ở Thái Lan sau khi đã vượt qua những địa điểm bố phòng đặc biệt như vậy? Tôi đi vào một ngõ vắng và bất ngờ lạc vào một nhà ga xe lửa. Thây kệ! Trời sắp sáng, hãy nghỉ ngơi rồi tính sau.

Tôi bò vào một toa xe lửa nằm riêng rẽ, phế bỏ, nằm vật xuống và đắm chìm vào giấc ngủ vùi. Tôi giật mình thức giấc vì tiếng nhạc chào cờ Thái Lan quen thuộc nhiều lúc đã hát nhại theo bằng tiếng Việt với những lời khôi hài, diễu cợt.

Thật chán chường, thất vọng, tôi chẳng thể làm gì khác hơn ngoài việc ngủ tiếp để duỡng sức. Tôi phải ẩn nấp tại đây suốt ngày để tối lại tìm đường đi tiếp. Đang mơ mơ màng màng, tôi giật minh vì một chấn động mãnh liệt.

–  Cái gì đây?

Tiếng “rầm, chảng” vừa dứt thì có tiếng chuyển động. Hình như tôi đang bồng bềnh, lắc lư trong cảm giác tốc độ. Tôi vùng đứng dậy, chỉ kịp chụp lấy xách áo quần và phóng lao xuông đất khi cái chỗ nằm của mình đang chạy vun vút về phía Bắc. Tôi té lăn một vòng và lồm cồm ngồi dậy. Hú hồn! Thì ra một đầu tầu vừa móc vào toa tôi đang ngủ, kéo đi. Áo quần lấm đầy bụi bẩn, tôi phải tìm nơi giặt giũ. Khu vực nhiều buildings, nhiều Công nhân Sở Hỏa xa, có những tia mắt nhòm ngó nghi kỵ. Tôi mặc quần đùi, khoác chiếc áo thun còn sạch, tay xách bộ áo quần dơ dáy thản nhiên đi ra như một công nhân lao động vừa bốc xếp hàng trở về. Ra phố, tôi vào một quán ăn sáng bình dân định vào cầu tiêu để giặt đồ, nhưng quán nghèo không có toilet. Một người đàn ông Thái ngồi bàn đối diện nhìn tôi chăm chẳm.

–  Gì nữa đây? Tôi phân vân nghĩ ngợi.

Tôi vội ăn xong, trả tiền rời quán. Người đàn ông chận lại hỏi

tôi:

–  Làm gì nơi đây?

–  Ờ! Tôi làm trong nhà ga xe lửa. Dơ quá. Mệt quá. Tôi trả lời bằng tiếng Thái.

Tôi bước ra cửa, y lật đật trả tiền, vội vàng đi theo tôi. Tôi nhanh nhẹn lẩn mình qua các đường hẻm lắc léo và bỏ rơi y. Khi cảm thấy an toàn, tôi trở lại đường lộ chính bỗng thấy y vừa quẹo xe Honda ở ngã tư trước mặt, lơ láo tìm kiếm. Tôi lủi vội qua cổng một ngôi nhà, ngồi bệt xuông một gốc cầy làm vẻ ngồi nghỉ mệt. Một bà cụ già từ trong nhà đi ra nhìn tôi dò hỏi. Tôi mỉm cười, chào bà, phân bua:

— Làm về mệt quá.

Xong đứng dậy đi ra. Quanh co, tránh né nhiều đường hẻm, tôi quẹo vào một mảnh đất bỏ hoang đầy bờ bụi. Tôi tìm chỗ ẩn nấp vì không thể đi lại ngờ ngờ ngoài đường với y phục như thế nầy. Ước gì có thêm một bộ đồ sạch sẽ, tôi đã tránh được nhiều rắc rối. Đang ngủ, tôi bỗng giật mình vi tiếng rầm rập như là của hàng chục đôi giày bottes de saut đang hùng hổ chạy về phía tôi. Có lẽ có người phát giác và báo cáo nên lính gác đang chạy lùng kiếm bắt tôi chăng? May thay chỉ là một bầy bò vừa được lùa đến đang rượt nhau tranh giành đám cỏ tốt. Không có an toàn, tôi phải rời nơi đây ngay.

Mớ tóc tôi vốn đã quăn queo giờ lại bù xù, rối rắm vì đống hột cắc ké trong bụi gai tôi nằm nghỉ. Tôi ngồi gỡ vội bằng tay và bằng lược, hột ké dính đầy tóc, khó gỡ, cuối cùng tôi phải bứt đứt từng mớ tóc để nhặt sạch những bông gai kia. Lấy gương soi xem lại khuôn mặt, chùi sạch vết dơ, tôi rời bụi đi tiếp. Bất ngờ, sau khi qua khỏi hàng rào kẽm tôi bắt gặp đường rầy xe lửa và một hố nước rộng xanh thẳm có dân chúng tắm giặt và câu cá khá đông. Tôi lựa một bến vắng, cởi hết áo quần tắm giặt kỹ càng và chậm rãi. Tôi định phơi khô áo quần, nhưng vì một người đánh cá đang trên đường đi về hướng tôi, nên đành mặc đồ ướt lên đường đi tiếp.

Dọc đường rầy, những dãy nhà có trồng nhiều cột ăng ten cao làm cho tình trạng của đường có vẻ bất trắc. Đến một đường xa lộ cắt ngang qua đường rầy, tôi đổi hướng đi dọc theo xa lộ, theo bản đồ, đường rầy sẽ ở phía phải và cách xa đường xa lộ khoảng ba mươi cây số nhưng thực tế, đường rầy vẫn ở phía tay trái cho đến tận Kangar. Tại sao? Tôi chẳng hiểu.

Xa lộ chạy hun hút giữa rừng cao su mênh mông, đây đó lẻ loi vài xóm nhà nhỏ, tôi đi băng vào rừng tránh những ngôi nhà nằm gần đường. Càng về chiều, lượng xe cộ thưa thớt dần, tại một trạm gác lớn, nhiều xe Honda bị chận lại hỏi giấy nhưng họ phóng chạy luôn. Tôi đi luồn giữa những đám cây gai góc càng lúc càng rậm, bước thấp bước cao, té lên té xuống nhưng ráng đi nhanh để tránh Trạm Kiểm soát. Suốt đoạn đường, tôi vẫn phân vân không biết mình đã qua biên giới chưa hoặc bao giờ mới đến biên giới.

Trời tối hẳn, nhịp độ xe cộ đông đảo trở lại, ánh đèn xe chóa mắt phía trước và sáng lóe đằng sau. Những nơi có nhà cửa, tôi đóng vai người địa phương đi lại, còn những vùng hoàn toàn trơ trọi, hoang vắng? Một chiếc xe tuần tiễu sẽ nghĩ thế nào về một kẻ đi bộ lang thang đầy khả nghi? Vì thế, tôi phải nấp vào lề đường chờ xe ngược chiều chạy qua khỏi mới đi tiếp, hoặc khi xe cùng chiều vừa qua mặt, tôi vội vàng phóng nhanh từ chỗ nấp ra đường lợi dạng ánh đèn xe quan sát đoạn đường trước mặt. Thà chậm bình an hơn nhanh tai nạn! Nhưng cái chậm không quan trọng bằng cái mệt mỏi vì hai bên lề đâu phải chỗ nào cũng bằng phăng cả đâu, nên có lúc tôi té đau bởi vì hào sâu, đá nhọn, có lúc gai góc đâm xuốt da thịt và có lức phải bò lên lề đường thay vì nhảy ra đường.

Cẩn thận tối đa trong đoạn đường quyết định cuối cùng. Đang chạy thẳng, xa lộ bỗng bị chắn ngang bởi một con đường lớn và một dãy núi đồ sộ chễm chệ trước mặt.

–  Quẹo trái hay phải? Tôi phân vân quan sát dấu kẻ giữa đường và quyết định rẽ trái. Từ đoạn đường nầy, xe cộ bắt đầu vắng hẳn, tôi đi theo đường, vừa đi vừa ngủ gật, mắt không mở nổi vì sự mệt mỏi đang đè nặng trên mi. Thỉnh thoảng tôi ráng hấp him mắt để xem mình có đi ngay ngắn trên đường không. Chỉ cần ngồi xuống là tôi có thể ngủ vùi một giấc đến ngày mai. Tôi phải thức, phải đi vì đây là đoạn đường sinh tử, vì qua khỏi đây tôi có thể trút bỏ gánh nặng tù tội, gánh nặng ưu phiền của những ngày tháng vô vọng trong các Trại Tị nạn dọc biên giới Thái Lan.

Đói quá, tôi chui vào bếp một nhà cạnh đường lục cơm nguội ăn để tỉnh táo lấy sức. Mặc dù có thể nhịn ăn như từng đã nhịn, bỗng nhiên tôi có ý định muốn thử xem mình có khả năng mưu sinh bằng cách liều lĩnh đó không. Ăn xong, đi được một đoạn đường, tôi bỗng gặp một dấu hiệu lạ: Ba ngọn đèn đỏ đặt nằm ngang thấp sát mặt đường và Toán Kiểm soát đi lại rộn ràng. Tôi linh cảm rằng chính đây mới thực sự là Trạm Canh phòng Biên giới và lần nầy tôi đã đoán trúng. Tôi lại rời đường băng rừng, trời tối đen như mực, đoạn rừng biên giới rậm rạp và gai góc quá mức bình thường.

Tôi cố gắng nhiều lần, tại nhiều vị trí khác nhau mà vẫn không tiến tới được. Không thể nào nằm chờ đợi trời sáng. Chỉ còn hai trăm thước cuối cùng. Tôi vạch kế hoạch táo bạo:

– Vượt biên giới bằng cách đi xuyên qua khu vực đồn trú của lính biên phòng.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply