lytong.wordpress.com
Lý Tống
Post by Sơn râu 22 Apr 2025

Phần 9
Đến Sisophone, Biên Giới Kampuchia
Trước khi lên đường, tôi ghé vào một quán cơm ăn chiều, mùi cơm khê thật khó chịu. “Cơm khê là một điềm không tốt,” tôi lẩm bẩm. Cổng trạm gác phía Tây đi ra thành phố thật nghiêm ngặt, bọn gác đứng quan sát với cặp mắt cú vọ. Đây là một trong những cửa ngõ mà dân buôn lậu hàng hóa Thái Lan phải chi tiền rất đậm. Tôi lách sau lưng một tên gác vừa đi qua giữa đường chận một xe Honda. Trọng tâm kiểm soát là hướng vào thành phố. Tôi đang đi ra khỏi thành phố, chỉ một chút nhột nhạt khi có cảm tưởng đang bị chăm chú nhìn vào sau gáy. Đường Battambang đi Xoai có hơi hướm của xa lộ Biên Hòa — Sàigòn, mặc dầu đường không rộng, sự đi lại của xe cộ, nhất là xe Honda thật tấp nập. Đây là con đường độc nhất xe Honda chạy tốc độ tối đa, xe rượt đuổi nhau, lao vun vút qua mặt nhau, xe nào cũng chở nặng ăm ắp. Trời đã về chiều, hai bên đường có những đống rơm rạ lớn, những cánh đồng đang gặt hoặc đã gặt xong. Đằng xa, một ngọn núi lớn, bên kia núi, đèn sáng rực. Chẳng lẽ sắp đến Sisophone? Tôi dự trù đi trong hai ngày đoạn đường 160 cây số từ Pursat đến Sisophone, thế mà chỉ trong một ngày, tôi đã thấy cái điểm chuẩn đáng yêu đó. Tôi quyết định ngủ lại.
Tìm một chỗ ngủ ngoài đồng tại đây thật khó. Đang mùa gặt, xe bò chở lúa đi lại suốt đêm. Giữa những cánh đồng trống trải vừa gặt xong, lúa được chất lại thành những đống dài. Có người ở lại giữ lúa, có người đi tuần ban đêm, đây đó ánh lửa chiếu sáng rực những góc trời đêm. Tôi nằm ngủ trong tiếng lạch cạch, lóc cóc của những chiếc xe bò chạy qua những mặt ruộng gồ ghề, đất nứt nẻ và gốc rạ ngắn. Trời về đêm thật lạnh, sương xuống ướt hết áo quần, chẳng có một tàn cây để tránh sương đêm.
Sáng dậy sớm, tôi lên đường. Sau cái ngọn núi tôi tưởng nhầm là núi Xoai còn có những ngọn núi khác. Ánh sáng của những đống rơm rạ cháy bừng bừng cho tôi ảo tưởng ánh sáng đèn điện của đô thị. Tôi đi vào một khu làng, sự sinh hoạt khá phồn thịnh. Ăn xong một tô hủ tiếu, tôi qua hàng khác gọi thêm một tô cháo lòng. Đường bỗng rẽ làm đôi, tôi lẩn thẩn lựa chọn, và rẽ trái, bởi đường rầy xe lửa đi gần cạnh con đường bên trái. Đi được một đoạn thì đường xe lửa bỗng cắt qua phải, tôi phân vân nhưng vẫn tiếp tục đi. Bên kia, một chiếc cầu dài, có nhiều toán lính đang kiểm soát. Tôi dừng lại gần cầu, uống một ống thốt nốt chua ngâm lạnh. Thốt nốt chua là một loại rượu nhẹ. Đã ở Kampuchia là phải ghiền thốt nốt chua. Tôi đứng giải khát, nhìn người đi lại và phương thức kiểm soát. “Thấy vậy mà không phải vậy!” Lính gác thật đông nhưng lại ít chận xét người. Rượu thốt nốt làm ấm lòng và bừng bừng khí thế. Tôi thản nhiên đạp xe đi qua. Tại Xoai, những hàng tiệm tấp nập người mua bán. Tôi đạp quanh một vòng phố thị để tìm đường ra, vừa tìm xem chỗ bắt giữ người vượt biên. Hồi ở tù 7708, có người kể rằng ở Sisophone, Việt Cộng bắt người vượt biên nhốt hai bên đường, trong những phòng nhỏ như chuồng khỉ, chuồng cọp ở sở thú.
Phòng làm bằng những song sắt lớn, người vượt biên bị cạo trọc đầu, bắt ở truồng để làm nhục, bây giờ tôi chẳng thây đâu cả, thì ra chỉ là chuyện tưởng tượng.
Ở Pursat tôi hỏi đường đi Battambang, tới Battambang tôi hỏi đường đi Xoai, không lẽ ở Xoai lại hỏi đường đi Thái Lan? An ninh chìm và cớm ở Xoai dầy đặc, người đến Xoai chỉ để buôn lậu và vượt biên, vì vậy sự kiểm soát tinh vi và chặt chẽ quá độ. Tôi nhìn dãy núi chạy từ Đông sang Tây, nhìn con đường chạy song song dãy núi, con đường đông đúc tất bật nhất thị xã.
– Chắc là con đường nầy! Tôi tự nhủ.
Tôi đã không lầm. Trường đời là trường học vĩ đại nhất, phải có đau đớn khốn khổ mới có những kinh nghiệm, những nhận xét sắc bén. Lý thuyết trường học lắm lúc xa lạ với thực tế. Tôi rong ruổi theo đường và chợt thấy một trạm gác trước mặt. Tôi chưa gặp trạm gác nào gay cấn như thế trong suốt đoạn đường đã qua. Xe Honda thồ cũng bị chận, xe đạp cũng bị chận, đi bộ cũng bị chận. Tất cả hành khách đều bị xét giấy, xét hành lý và bị tra hỏi. Thế là xong! Đi qua đường nầy giống như thấy một sợi dây thòng lọng treo sẵn mà vẫn đút đầu vào, rồi hy vọng sợi dây treo cổ sẽ đứt. Tôi quay xe trở lại tìm một đường hẻm bên trái để rẽ phải nhưng gặp một đường hẻm cụt nên đành dẫn xe băng qua sân vườn của những ngôi nhà cuối ngõ, giả vờ cần tìm chỗ đi tiêu ở cánh đồng đằng sau. Có vài đứa con nít và đàn bà nhìn tôi tò mò. Tôi phải giả bộ tuột quần ngồi xuống, sau khi đã đi một đoạn xa để ngầm giải thích với họ. Một cô gái đi vệ sinh ở một bụi che khuất thấy tôi, vội vã quấn xà rông đứng dậy. Trước mắt là đường rầy xe lửa. bên kia là cánh đồng đầy bụi bờ gai góc, tôi dẫn xe băng qua hướng dự định, gặp hai chiếc cầu dài và lớn nằm song song, một chiếc cầu xe lửa và một chiếc cầu xe hơi. Ở đầu cầu xe lửa là một ngôi nhà lớn nằm tách biệt.
– Chắc đây là nơi đồn trú của bọn lính gác cầu!
Tôi nghĩ thầm, đi bọc sau lưng, vòng qua phía trái ngôi nhà. Ruộng có nơi đầy sình và nước, có nơi gai góc rậm rạp, tôi phải cẩn thận để khỏi làm lủng lốp xe và tránh để người trong nhà trông thấy rồi gặp một con sông chảy ngang. Làm sao qua con sông rộng với một chiếc xe đạp? Thấy hai chiếc ghe nhỏ đang thả chài bắt cá tôi quyết định gọi ghe nhờ chở xe sang sông, vờ keo kiệt trả giá để hỏi bị nghi ngờ.
– Cho tôi qua dùm bên kia sông, 2 riels nhé!
Người thanh niên đánh cá nhìn tôi, không trả lời, tôi tăng lên 3 riels, rồi 5 riels. Bỗng nhiên người thanh niên bơi ghe lại gần chiếc ghe ông già nhỏ to trao đổi ý kiến. Có lẽ anh ta xin phép ông già ngưng bắt cá để chở tôi qua sông kiếm vài riels xong chèo ghe vào bờ. Tôi yên chí, định đẩy xe xuống khi ghe cặp sát bờ, nhưng ngạc nhiên vì y đi qua mặt tôi, không hề nhìn tôi mà đi về hướng ngôi nhà, gọi lớn rồi nói gì với người trong đó.
– Bỏ mẹ rồi!
Tôi lẩm bẩm và lật đật đẩy xe đi, băng qua nhiều bụi gai mọc lan tràn khắp nơi rồi xách bổng xe lên chạy miết. Được một đoạn khá xa, tôi nhìn lại, chẳng thây có ai đuổi theo. Cẩn thận, tôi dấu xe vào một bụi cây, rồi ẩn mình vào một bụi cây khác. Mười lăm phút trôi qua, chẳng có gì động tĩnh, tôi trách mình: “Đúng là thần hồn nhát thần tính rồi! Mình có tật nên hay giật mình chứ có gì đâu mà vội xách xe chạy như vậy?”
Nếu không có gì trở ngại tôi lại tiếp tục đi nhưng qua sông thì không được, vì ghe không chịu chở. Tôi vẫn dấu xe tại chỗ, đi bộ thám sát đường sá, băng trở lại đường xe lửa, đi dọc theo đám ruộng giữa đường rầy và đường quốc lộ. Tôi muốín xem lại, sau cái trạm gác hồi nãy, còn có trạm gác nào ở trên cầu nữa không, nếu không có, tôi sẽ dẫn xe băng đồng rồi qua cầu. Vừa leo lên lộ đất để ra lộ chính, tôi bỗng nghe tiếng xe Honda. Tôi liếc mắt và thấy một tên lính Khmer mang khẩu A.K. choàng qua vai. Tôi vẫn thản nhiên đi.
– Bòn bòn, xốp xốp! (Anh, anh đứng lại!)
Tôi biết đã bị đổ bể, nhưng vẫn làm tỉnh đi thẳng coi như chú mầy gọi ai đó, nhưng không thoát được vì chiếc xe đã tốp trước mặt tôi.
– Bòn mi cỏn? (Anh có xe đạp phải không?)
Đúng là tên nầy đang đi kiếm tôi đây, tôi gật đầu và chỉ về hướng ruộng, vừa chỉ, vừa đi, làm như đang đi chỉ chỗ để chiếc xe. Tên gác chạy xe Honda trên đường, tôi đi bộ băng đồng, qua một khoảng bụi rậm, tôi né mình lẩn tránh. Không thấy tôi, y dựng xe, bước quành lại để tìm và y phát hiện tôi, ngoắc lại. Tôi chỉ tay về hướng trạm gác rồi tất tả bỏ đi, được chừng mươi thước, tôi nghe y kêu:
– Xốp xốp! (Dừng lại!)
Tôi bỗng vùng chạy và y bắt đầu nổ súng. Tôi chạy về hướng trạm gác và nhà dân, nên chắc chắn y chỉ bắn chỉ thiên. Được nửa đoạn đường, tôi quẹo mặt chạy dọc theo sau lưng vườn nhà dân, tên lính đã nhảy phóng từ trên đường rầy cao xuống ruộng đuổi gấp theo tôi, vừa chạy rượt theo tôi vừa bắn liên tục. Tôi chạy nước rút. Y mang giày bốt nặng, súng nặng nên không đuổi kịp tôi, khoảng cách giữa hai người xa dần. Tôi bỗng vấp và té. Tôi biết đang chạy mà té là đã quá kiệt sức, có người quá sợ còn không chạy nổi.
Hồi vượt ngục trốn về Sàigòn, tôi chứng kiến cảnh một tay xì ke bị Công an bắt và đánh, y sợ hãi bỏ chạy, được năm thước, y lả người quị xuống như một búp bê cao su bị xả xì hết hơi, oằn lại rồi té sụm, hai tay luỗi đi không nhấc lên nổi để chống đỡ người, nên cái cằm phải đỡ toàn thân mình ngã xuống. Chỉ thế mà y bị bể cằm, gãy mấy cái răng, miệng bể toét đầy máu me!
Tôi không té sụm vì sợ hãi kinh hoảng nhưng nhưng tôi biết tôi đã quá đuối sức vì chạy nước rút. Những lực sĩ chạy bộ, sau khi bức qua mức đến trong cuộc chạy đua, nếu có kiệt sức, cũng có người dìu dùm. Tôi không may mắn bằng họ, bởi tôi không có mức đến và phải chạy nước rút từ lúc mới khởi sự. Tôi nhìn lại, những bụi cây đằng sau đã che khuất cả người lẫn súng. “Chém vè!” tôi quyết định lủi đại vào một bụi rậm sát bên cạnh chỗ bị té. Vừa nằm co rút người lại, tôi đã nghe tiếng chân nặng thình thịch của y đang đuổi dồn đến, chạy qua khỏi chỗ tôi nấp nhưng chẳng thấy tôi. Vừa lúc có một người đi ngược chiều, y hỏi:
– Có thấy ai chạy ngã nầy không?
– Không. Tiếng người đàn bà trả lời vọng lại.
Y đưa súng lên trời bắn thêm hai phát báo động để huy động toàn nhân lực tìm bắt tôi. Đầu tiên là toán lính gác ngoài trạm kiểm soát tiếp viện, rồi loa phát thanh loan báo:
– Có một tên mặc áo quần đen, khăn cà ma xanh vừa chạy trốn. Ai thấy bắt lại hoặc báo cho cảnh sát!
Không phải chỉ có cảnh sát, lính du kích, mà cả dân chúng trong vùng, đặc biệt là chó, những con chó săn hiếm hoi, may mắn còn sót lại, cùng lên đường tìm tôi trong tiếng trống bùm bùm cắc cắc như một cuộc săn thú đại qui mô. Cũng may là họ bắt đầu khởi hành cách chỗ tôi một trăm thước thẳng về phía trước và đồng thời lúc đó, điều đáng quan tâm hơn hay làm tôi giảm sự quan tâm đến cuộc bố ráp bên ngoài: Kiến.
Một tổ kiến đỏ lớn đã bắt đầu tấn công tôi tự hồi nào, tôi nằm trân mình chịu đựng. Một con giun khi bị kiến cắn còn được quằn quại, lăn lộn, tôi thì không được làm như vậy, bởi vì bất cứ động tác nào của tôi trong bụi nầy cũng có thể gây sự chú ý của người đi đường lác đác qua lại trên con đường nhỏ cách bụi cây tôi nằm chừng một thước.
Tôi nhớ lúc còn nhỏ, tôi đã từng dùng kiến để rèn luyện ý chí mình. Đọc sách thấy một Nhà Bác học làm việc mỗi ngày 22 giờ, tôi bèn noi gương, rút 5 giờ ngủ còn lại 3 giờ. Tôi tập ngủ đêm 2 giờ và ban ngày 1 giờ theo kế hoạch mới. Đang say ngủ, bị đồng hồ báo thức dựng đầu dậy, tôi tung mền, rời giường, chạy ra trời làm vài động tác thể dục. Bầu trời đêm mát lạnh và trong lành làm tôi tỉnh táo hẳn nhưng khi ngồi vào bàn học, cơn buồn ngủ lại thì thầm ru dỗ tôi. Tôi vốc nước lạnh đắp vào mặt, sự mệt mỏi quá sức của cơ thể chống đối lại. Tôi vào phòng trong của gian nhà thờ cũ kỹ, ngồi thiền cầu nguyện. Những giây phút hướng về thần linh cho tôi một chút minh mẫn và tỉnh táo nhưng ngồi vào bàn học lại buồn ngủ tiếp. Tôi giận mình và tìm cách trừng trị mình. Tôi tìm một góc phòng tối tăm, nhiều muỗi và kiến, lấy cây thọc vào ổ chọc những con kiến ngái ngủ, lười biếng nổi giận thức dậy cắn tôi. Cứ mỗi lần không thắng được sự yếu đuối của cơ thể, tôi lại dùng muỗi và kiến để trợ lực cùng ý chí.
Cắn đâu cũng được, trừ mắt và mũi. Mắt sưng không thấy đường làm sao tiếp tục hành trình? Cắn vào mũi, cái mùi nồng nồng của nọc kiến làm tôi cồn cào muôn hách xì. Tôi phải bịt mồm, bóp cổ nhiều lần để chận đứng cơn buồn hách xì đã bò nhột nhạt lên tới cổ. Tôi ngồi dậy lấy khăn cà ma che bịt mặt lại, kiến bu vào khăn cà ma dày đặc không phân biệt được màu sắc của khăn. Tôi vò khăn thật mạnh để giết kiến, xong chà khăn khắp đầu tóc, mặt, cổ rồi nhanh chóng chùm bít lại, thế mà kiến vẫn bò ngổn ngang trong khăn, trên mặt. Mỗi lần tôi nhúc nhích, giết kiến ở mắt và mũi, kiến lại báo động và cắn dữ hơn, cuối cùng tôi đành nằm xuống, ghìm người thật yên để chịu đựng, nhưng sự tuân lệnh của thân thể cũng có mức độ.
Có những người lính lúc bị cấp chỉ huy chửi mắng, họ nhẫn nhục chịu đựng nhưng có lúc người lính bỗng phản ứng kịch liệt và chống lại cấp chỉ huy. Trung tâm hệ thần kinh là cấp chỉ huy tối caơ của thân thể. Thần kinh hệ ra lệnh nằm yên, cơ thể nằm yên, thế nhưng cơ thể cũng đành bất lực mặc dù đã dùng toàn bộ ý chí để kềm chế. Tay chân vẫn nằm yên chịu đựng, nhưng bắp thịt bắt đầu co giật, rồi toàn thân tôi co giật, run rẩy từng cơn, vì hàng ngàn, hàng vạn miếng thịt li ti bị cắn, bứt khỏi cơ thể. Tôi vẫn cố gắng kìm người, dùng ngón tay rê nhẹ nhàng trên mặt, thận trọng giết từng con kiến đang bu cắn ở khóe mắt, hoặc chun vào mũi.
Có tiếng chân người đi qua. Kềm chế sự đau đớn còn dễ hơn kềm chế cơn buồn nhảy mũi làm tôi cồn cào ngứa ngáy. Đôi lúc tôi lả người sắp mê đi, tôi cố phấn đấu để tỉnh táo. Tiếng trống rập rình rập rình, tiếng con nít reo hò văng vẳng như đang dự một hội vui lớn. Tiếng loa phóng thanh nhắc đi nhắc lại nhiều làn, tôi nghe mơ màng như từ một cơn mê, như từ một thế giới xa lạ. Tôi cương quyết ở lại trong bụi và một ý nghĩ bỗng nảy ra trong đầu: Thà chết dưới nọc độc, dưới sự tra tấn của loài kiến đỏ hơn là chết trong bọn quỉ đỏ. Tôi không muốn nhìn kẻ thù cười đắc thắng khi bị rơi vào tay chứng, kẻ thù sẽ thất đởm khi ta can trường chịu chết dưới nọc độc của bầy kiến vô tâm. Sáu giờ đồng hồ chậm chạp trôi qua, dài hơn cả một đời người đã sống, đã đau đớn, và cuốỉ cùng, kẻ đầu hàng là họ.
Tôi nghe mơ màng tiếng nói chuyện, tiếng thảo luận trên đường về:
— Biến mất tiêu rồi. Hay thật.
Tôi ở ngay trước mắt họ mà họ không thấy, bởi vì tôi ngồi dưới lỗ mũi họ. Lắm lúc những nơi kém an toàn nhất, ít đáng nghi nhất, lại là nơi an toàn nhất. Một lần ở Sàigòn, nửa đêm bị kiểm tra hộ khẩu, xét nhà, tôi đã ngồi yên lành nơi góc bếp trống trải, sau một cái ghế có phơi một cái mền nhỏ trong khi bọn công an cứ lục lọi trong những ngõ ngách kín đáo nhất. Chúng chui cả vào cái lỗ nhỏ trên trần nhà xem có ai nấp trong cái chỗ kiên cố kia không.
Trời về chiều, khi tất cả mọi hoạt động lùng kiếm đã chấm dứt, tôi chậm rãi bò ra khỏi bụi cây với sự cảnh giác và quan sát cẩn thận. Sau khi cởi chiếc áo đen, và lột khăn cà ma xanh để đề phòng sự nhận diện theo đúng trang phục mô tả trên loa phóng thanh, tôi đứng dậy và bước đi như một người dân thường, mặc dù mệt mỏi, đau đớn trong cơn sốt váng vất chập chờn. Băng qua đường rầy xe lửa, tôi chui vào một bụi lớn kín đáo, sau khi đã kiểm soát ngoại cảnh. Tôi cởi hết quần áo, bắt đầu giết kiến, giết hết kiến trên đầu tóc, mặt mũi, chân tay, thân mình, trên quần áo, mặt ngoài, mặt trong, kiểm soát từng chỗ thật kỹ lưỡng. Phải một giờ đồng hồ tôi mới làm xong cái công việc tỉ mỉ kia, rồi nằm duỗi người nghỉ ngơi. Bỗng có tiếng động bên ngoài, thì ra mẩy chú trâu bò trên đường về đang nhởn nhơ gặm cỏ và bứt những đọt cây ở bụi rậm tôi đang trốn nên tôi phải nằm co rút thu mình lại đến khi trâu bò lũ lượt về chuồng và sau cùng thiếp đi trong cơn mệt lả, đau đớn.
Trời sẩm tối, tôi giật mình thức dậy, bóng tối đã bao phủ khắp cảnh vật, không ai còn đủ khả năng thị giác để nhận ra kẻ đang đi lạc lõng trong bóng đêm giữa nơi quạnh vắng nầy. Tôi đi tránh xa hướng dấu xe đạp, đề phòng sự phục kích có thể có tại đó, tụt xuống sông, ngâm mình thật lâu trong nước để những vết thương khắp thân thể dịu dần, và hưởng cảm giác thống khoái của sự mát lạnh và tỉnh táo và uống nước sông đến căng bụng. Bơi qua dòng sông, tôi đi men theo những đường mòn xuyên qua một cánh rừng cây thấp, đường chạy về hướng Tây, hoàn toàn vắng người, vắng nhà. Tôi đi mải miết, đứng phân vân ở những ngã rẽ, ở những đoạn đường quanh co lệch hướng.
Sau đó tôi lại gặp một dòng sông, có phải đây là con sông mà tôi đã bơi qua? Vài ba ngôi sao lác đác trên bầu trời đen thẩm. Tôi đi dọc theo bờ sông, đường bị cắt ngang bởi những mương nhỏ dẫn nước từ sông vào. Tôi cởi quần áo lội sang, lại mặc vào đi tiếp, lại gặp mương, hoặc những đoạn sình ngập nước, lại cởi quần áo. Lần nầy để khỏi mất thì giờ, tôi không mặc quần áo vào nữa, ở truồng đi một cách thong dong. Một ý nghĩ khôi hài chợt đến: Tôi nghĩ đến hình ảnh ông Táo về chầu Trời, ông mang hia, đội mão, mặc áo nhưng không mặc quần. Tôi ngước mặt lên trời nói:
— Sư phụ! Sư phụ đi chầu Ngọc Hoàng cởi cá và sexy 50%, con đi tìm tự do, đi bộ lại phải sexy 100%. Nếu nghĩ đến tình đồng hội ở truồng, xin Sư phụ phù hộ con đi đến nơi đến chốn an toàn.
Tôi liên tưởng lần biệt phái Tây Ninh, một phi trường vắng chỉ có phi cơ của biệt đội. Giữa trưa trời nóng nực say ngủ — tôi có tật mỗi khi vào phòng riêng thì trần truồng như nhộng — bỗng nghe điện thoại gọi đi bay. Tôi chỉ mặc vội duy nhất chiếc quần lót nhỏ, rồi mang giày botte de saut, đội helmet và giây đeo súng, chạy ra phi cơ. Sau khi hướng dẫn đánh bom xong, tôi trở về làm nhiều low pass chào các người bạn Thiết Giáp. Nhiều Chiến sĩ lái xe bọc thép ngạc nhiên đến kinh dị, leo lên pháo tháp xe tăng để chiêm ngưỡng một phi công ở truồng tồng ngồng đi đánh giặc vì cái ghế chắn đạn đã che mất phần chiếc xì líp.
Trên con đường thăm thẳm hiu quạnh, bỗng dưng có chiếc mùng trắng giăng ngang giữa đường, có một người đang nằm ngủ. Phải chăng tôi đã đến vùng đất Khmer Đỏ và đây là người lính trinh sát trên tuyến đầu tiên? Tôi lén bò qua, đi tiếp, thấy một chiếc ghe chài nằm dưới dòng sông, có lẽ một người đánh cá đi làm ăn xa một mình. Sương đêm và hơi lạnh bao trùm tấm thân trần truồng. Tôi không thấy lạnh lắm vì phải bương bả đi liên tục. Có chăng là những cảm giác ngai ngái rờn rợn khi một đợt gió thoảng nhẹ lùa qua. Con đường dọc bờ sông càng về khuya càng lệch hướng nam và cuốỉ cùng dòng sông đổ vào một hồ nước mông mênh. Tôi đứng phân vân giữa ngã ba đường, những ngôi sao làm chuẩn đã lặn làm tôi mất phương hướng vì thiếu điểm chuẩn. Bỗng một đốm lửa bằng trái banh quần vợt đang lượn lờ trước mặt như có người đang mang đuốc soi ếch hoặc bắt cá ban đêm, nhưng lửa đuốc phải lập lòe, còn lửa nầy giống như một cục sắt tròn bị nung đỏ. Tôi bò lại để xem xét, ghé tai sát đất để nghe ngóng, không có tiếng chân mà cục lửa cứ lượn lờ quanh quẩn trước mặt. Một bóng ma trơi lạc loài trong đêm? Thật lâu, chẳng tìm hiểu được gì về cục lửa kỳ dị, tôi bất cần nằm xuống giữa cánh đồng hoang vắng ngủ chờ sáng. Ma trơi ơi! Hãy cùng ta chia sẻ một đêm cô đơn!
Tôi thức dậy khi nghe tiếng reo hò văng vẳng từ một khu làng xa tít phía trước, ngồi thơ thẩn đợi mặt trời lên. Bỗng có tiếng xe cộ từ phía hướng tay phải. Tôi đã ước tính chính xác, tôi biết mình hơi đi chếch về hướng Tây Nam và giờ nầy còn kịp lúc để đổi hướng. Định phương hướng không phải chỉ sử dụng thị giác, có lúc cần phải vận dụng cả thính giác và xúc giác, tôi đang nghe để đi về điểm chuẩn. Trời đã sáng tỏ, mặt trời lên cao ở phía sau lưng.
Tôi nhớ lại lúc còn nhỏ, sáng sáng ra sân đứng “kênh” mặt trời. Để chế ngự người đổi diện, mắt là phương tiện tối hữu hiệu. Muôn dùng mắt chế ngự con người, trước hết phải tập chế ngự mặt trời. Những ngày đầu, tôi nhìn mặt trời vào buổi sáng, và mắt phải nhấp nháy liên tục để chống lại những tia sáng chói lòa, nhưng về sau, tôi có thể quắc nhìn mặt trời đứng bóng mà mắt vẫn trơ trơ. Sự luyện tập mắt đưa đến một vài hậu quả khác thường. Có nhiều cô gái bảo tôi:
– Mắt anh như có lửa, có ruồi. Mỗi lần anh nhìn em, mắt anh nhìn đâu em thấy nóng như bị lửa đốt và nhột nhạt như bị ruồi bâu.
Thế mà sau nhiều năm tháng khổ hình đày đọa, nào biệt giam phòng tối, nào phải ngụp lặn trong những thửa ruộng bùn sình dơ bẩn, đôi mắt tinh anh, mạnh mẽ ngày xưa giờ đã yếu kém, mệt mỏi. Mới đây, tôi nhận được một bức thư từ một người con gái Tây Đức, đề cập đến đôi mắt mình:
– Em không phải là loại người con gái gặp ai cũng yêu. Nhưng nhìn hình anh trên Reader’s Digest, đôi mát buồn của anh đã đi vào trái tim em!
Con đường quốc lộ chạy song song với đường xe lửa. Người bên con đường nầy trông thấy người bên con đường kia và trên đường nầy chỉ còn có một mình tôi. Đi trên đường rầy xe lửa, thoải mái và nhanh nhưng tôi không thể đi lâu, bởi trên đoạn nầy chắc chẳng có ai đi như vậy. Do đó tôi phải tuột xuống bên trái đường rầy, lợi dụng cái hào sâu khô nước chạy giữa đường xe lửa và ruộng lúa để đi. Con đường trũng thuận tiện vì cây cối mọc che khuất hai bờ, tôi đã chọn một thời điểm đúng như một sự sắp đặt của Đấng Bề trên, bởi vì con đường hào vừa đúng thời kỳ khô ráo nhưng vẫn còn vài vũng nước. Nhờ khô ráo, tôi không phải lội nước, lội sình vất vả khó khăn, và nhờ vài vũng nước nên thỉnh thoảng tôi còn có chỗ giải khát dọc theo đường. Có những vũng nước khô rút lại bằng cái rỗ, những con cá nhỏ quần tụ lúc nhúc tranh nhau chút nước cuối cùng, như thể linh cảm được ngày tàn sắp tới, sau cơn nắng gắt nay mai. Tôi ngồi xuống, từ tốn lượm từng con cá nhỏ bỏ vào miệng ăn sống theo kiểu Sushi Nhật Bản.
Tôi đến đúng lúc mùa gặt lúa vừa xong, mọi người nghỉ ngơi sau những ngày rộn ràng mệt nhọc. Nếu sớm hoặc trễ hơn, bao nhiêu Nông dân, Du kích trên đồng có thản nhiên bàng quan với một kẻ lạ khả nghi đang rong ruổi trên vùng đất của họ hay không? Thỉnh thoảng một con đường đất rẽ từ quốc lộ vào buôn, cắt ngang hào, ở những chỗ nầy tôi phải cẩn thận. Con đường vắng có dâu vết lạ: Dấu chân của một con chó và một con người đã khô cứng lại. Họ đi đâu theo lối nầy suốt một quãng đường dài trên mười lăm cây số? Tuần tra chăng? Buôn lậu chăng? Hay họ cũng đi trốn như tôi?
Xe trên đường chạy tấp nập, đặc biệt không có xe đạp bởi xe đạp cũng gởi trên xe Honda thồ hoặc xe đò. Nếu đi xe đạp, tôi vẫn là người đi xe đạp duy nhất trên đoạn đường xa lạ nầy. Đường có nhiều trạm gác nhỏ. Theo các Bộ đội VC đào ngũ ở tù Aran, con buôn đi ngang mỗi trạm chỉ cần đóng một riel, nhưng đi suốt lộ trình, con số riels đã lên đến hàng trăm. Ngoài một số nằm dọc theo đường, những phum làng còn nằm cách xa trục lộ vài cây số và Doanh trại Quân đội Nhân dân Việt Cộng thường đóng đầu phum.
Có những đoạn đường xe lửa và xe hơi quá gần nhau, những cây gai dưới hào sâu mọc lan tràn bít lối, tôi phải tách ra xa, đi len lỏi giữa các lùm cây, bụi cỏ tranh cao. Đến một vị trí tưởng chừng là biên giới Miên—Thái, có một con đường đê cao và một ngôi nhà nằm chơ vơ giữa đồng trống, nhịp độ xe giảm dần. Trong thời gian trước khi đi vượt biên, thời gian ở Nhà tù 7708, tôi thường dò hỏi những đặc điểm của biên giới. Có người bảo là một con đê cao ngăn chia hai nước, có người bảo là một chiếc cầu, là một cánh rùng. Có nhiều đoạn cỏ quá thấp, tôi phải đi lum khum hoặc bò chậm chạp bởi vì thỉnh thoảng lính gác đạp xe đi tuần tiễu quanh khu vực. Trời nắng gay gắt, nước bắt đầu khó kiếm. Mỗi lần gặp vũng nước, tôi phải uống lấy uống để, uống xong, ngưng lại lấy hơi uống tiếp, uống đến lúc nào bắt đầu ói mửa mới thôi. Từ khi bỏ xe đạp, tôi chẳng còn gì để đựng nước uống. Ngoài hai tô hủ tiếu sáng hôm qua, tôi chẳng có gì để bỏ vào miệng ngoài mấy con cá sống, suốt ngày hôm sau, tôi vẫn phải nhịn đói để đi. Nhịn đói suốt ba ngày đêm để đi liên tục, lần đầu tiên tôi nhận chân được giá trị tiềm tàng của sức khỏe bản thân trong tình trạng đói khát, mệt mỏi, thần kinh luôn luôn căng thẳng.
Tôi trở lại đường xe lửa khi đoạn đường tương đối an toàn, thỉnh thoảng vài tiếng đại bác vọng lại mơ hồ. Các chú con nít vùng nầy có vẻ cảnh giác, hoặc hiếu kỳ, vì mỗi khi tôi đi ngang, chúng đều nhìn tôi chăm chú. Tôi đi tiểu liên miên, mặc dù chỉ đi tiểu khô bởi vì đi tiểu là một thế đứng tốt nhất để dò thám quan sát. Nếu có gì đáng nghi ngờ, tôi phải sẵn sàng để bôn tẩu. Những chú bé dắt trâu đi cùng một hướng, lâu lâu quay lại nhìn tôi một cách kỳ cục, tôi lại phải giả vờ đi cầu để chờ các chú đi khuất hẳn. Về chiều, trâu bò và mục đồng khắp nới lũ lượt trở về làng. Đường quốc lộ và đường xe lửa song song chạy xuyên qua làng Mimit, tôi bọc trái vòng phía ngoài phum để tránh các trạm kiểm soát đầu làng, cánh đồng trống trải thênh thang lác đác một vài bóng cây, nhuộm màu tím thẫm.
Mặt trời đang lặn. Đã lâu lắm tôi mới được chiêm ngưỡng lại một chân trời tím. Một buổi chiều thời thanh xuân mộng mị, đang đi lang thang, tôi chợt bắt gặp một bóng giai nhân. Nàng đi về hướng mặt trời, một mặt trời rực rỡ trong bầu trời chiều màu tím kiêu sa man dại, dáng nàng lồng trong bóng mặt trời. Tóc dài, mượt mà tung bay cùng tà áo trắng, bàn tay cầm nón nghiêng nghiêng.
Những đường nét, vóc dáng thanh lịch tuyệt vời, đại lộ chiều rộng thênh thang chỉ một mình nàng độc hành. Màu tím lộng lẫy của chân trời được cẩn bạc lóng lánh bằng những cụm mây tuyết. Tôi đứng ngẩn ngơ rung động nhìn nàng đắm đuối. Bóng dáng yêu kiều diễm lệ mờ dần, nhỏ đần, chìm lẫn vào bóng hoàng hôn. Tôi chưa từng gặp và chẳng bao giờ gặp lại nàng nhưng buổi chiều hoàng hôn màu tím, mấy mươi năm, vẫn sống động dạt dào trong xúc cảm đắm mê.
Màu tím thẫm dần và hòa lẫn vào bóng tối màn đêm. Một con đê thật cao chạy vắt ngang đằng trước, tôi bò chậm rãi, bờ đê vắng người, bên kia là dòng sông rộng, có một chiếc thuyền nhỏ lẻ loi. Có phải đây là biên giới Thái— Miên? Sisophone cách biên giới 45 cây số. Tôi đi suốt một đêm, một ngày với tốc độ khá nhanh, tôi suy luận như vậy, nhưng thật lạ, từ con thuyền kia, có tiếng người vọng lại, cái tiếng Bắc của lính Cộng Sản:
— Đù mẹ, hồi năm 75 tớ giết biết bao nhiêu thằng Ngụy.
Một thoáng thất vọng, bối rối lướt qua. Kẻ thù nguy hiểm hiện diện khắp nơi, tôi một mình đương đầu với một thế lực lớn như con châu chấu trong câu ca dao ưa thích nhất, có dạo đã trở thành biểu tượng riêng của mình:
– Nực cười châu chấu chống xe. Tưởng rằng chấu ngã, ai ngờ xe nghiêng.
Tôi đi về tay phải, cần đi gần đường chuẩn để khỏi lạc lối, và hơn nữa, càng về phía phải, con sông rộng mênh mông càng hẹp dần. Cứ khoảng hai mươi thước tôi lại ngồi thụp xuống, ép tai sát xuống đất nghe ngóng và quan sát đằng trước. Vào ban đêm, từ dưới thấp nhìn lên sẽ thấy rõ hơn nhìn từ cao xuống và đôi tai lúc nầy còn hữu dụng hơn đôi mắt, để phát giác sự di chuyển của đối phương. Cứ theo phương thức đó, tôi đi gần đến đập nước lớn, không thấy lính canh, tôi chống tay bò chậm qua đập. Có tiếng nhạc vọng lại từ một chiếc radio và ánh sáng của ngọn đèn bão từ một gian nhà nhỏ. Tôi đi qua nhàn rỗi như một kẻ đi hóng mát,
gặp một cổng không có lính gác, tôi thối lui và men xuống bờ sông cỏ mục rậm rạp nghiên cứu tình hình. Một lúc sau, có tiếng chân từ cổng đi lại. May quá, tôi đã ẩn nấp kịp thời trước khi tên gác trở về, tôi quyết định bơi qua sông. Cởi tất cả áo quần, tôi đội lên đầu và lấy khăn cà ma cột choàng qua cằm, bơi chậm, nhẹ nhàng cố không gây tiếng động. Đêm tĩnh mịch âm vọng những xao động nhỏ bé nhất của tiếng nước khua. Nếu lặn qua sông, sẽ ít gây tiếng động, nhưng tôi cần giữ quần áo khô để mặc. Bên kia bờ là một bến tắm vắng vẻ, tôi vẫn ở truồng cho tiện. Sau con sông nầy, có lẽ còn phải vượt nhiều sông nữa, tôi nghĩ vậy, nên bước lên bờ trần truồng. Trời tối đến nỗi khi nhận ra bốn người đang hướng về phía bến, tôi không kịp lánh mình, chỉ kịp thối lui xuống cạnh sông, ngồi xuống vờ kỳ cọ như đang tắm. Bốn tên mặc đồ Bộ đội, nhỏ người vừa tới nơi. Họ nhìn thấy tôi mập mờ, dừng lại:
– Ai đó? Một giọng hỏi.
Tôi lúng túng chưa tìm ra cách đối phó, nên vẫn im lặng. Lại có tiếng khác:
– Đứa nào tắm đó.
À! Tôi chợt nhận ra một điểm lạ trong giọng nói, cái giọng ấp úng run run như đang bị tràn ngập bởi cơn sợ hãi. Tôi nhanh trí đoán ra nguyên nhân. Giữa đêm tối đen, một con vật kỳ lạ, phần dưới là một thân người trần truồng, phần đầu là một khối đen xù xì to lớn. Tôi nhảy chồm đến tên gần nhất, vồ hù nó với tiếng rú kinh rợn ma quái:
– Whooo… ooo… ooo!
Bốn tên mặc dù có súng cũng hoảng hồn chạy tán loạn và tôi chạy biến về hướng ngược chiều. Lội qua một áo rau muống tôi ẩn mình trong một khu vườn rậm rạp. Mấy phút sau, một đám đông nhốn nháo với đèn pin, đuốc sáng rực:
– Ở đâu, ở đâu? Nhiều giọng hớt hãi hỏi lớn.
Tiếng trả lời vẫn còn run rẩy sợ hãi:
— Ở đây. Đây nầy. Rõ ràng là MA, nó vừa vồ tao. Một con ma rà trần truồng, tóc tai rũ rượi. Khiếp quá!
Tôi cố nín cười đến tức cả ngực, thật là chuyện quái đản. Chính tôi, tôi cũng không ngờ được cái phản ứng linh hoạt của mình trong một trường hợp xuất thần như vậy. Bỗng nhiên, tôi nhận ra mình đang ở giữa một Doanh trại Bộ đội rộng lớn của Việt Cộng với nhà ván hai tầng chung quanh rộn rịp bóng người. Ngày mai là Giao thừa và tối nay có đãi những món ăn Tết. Lính Cộng Sản biết rõ, nhớ rõ ngày nào và mấy ngày trong năm được ăn no, có thịt. Nhiều ngày trước lễ, họ nôn nao chờ đợi, bàn luận và tưởng tượng. Cuộc sống thiếu thôn đã tập cho họ những thói quen, lối suy nghĩ, cách sống lẩn quẩn chật hẹp. Có người suốt ngày chỉ bận bịu với ấm nước trà, với điếu thuốc lào và tự xem đó như một phong thái sống phong lưu. Có người thèm thuồng quá mức nên phải ăn hàm thụ, nghĩa là kể đi kể lại không chán những món ăn thích khẩu mà mỗi ngày họ mơ ước được ăn.
Nỗi đau nấy đâu phải của riêng ai. Không những “Mỗi lứa tuổi đều có một nỗi đau riêng,” thông thường, mọi người dân Việt Nam dưới chế độ hiện tại, giờ phút nầy, đều có cùng một nỗi đau chung. Không phải chỉ Sĩ quan, Binh lính hay Nhân viên Chính quyền cũ Sàigòn, hay Dân chúng miền Nam mới khổ, mà chính miền Bắc, những Bộ đội, Công nhân, Nông dân Xã hội Chủ nghĩa cũng cùng chung số phận. Những tên lính gác đêm đêm lén ăn cắp mì của tù để ăn, những nhân viên cấp lớn cũng phải bịa đặt những lý do có vẻ chính đáng để được tổ chức những buổi tiệc để được ăn uổng đớp hít, bởi vì đói và thiếu thốn là căn bệnh trầm kha chung của Chế độ Cộng Sản.
Tôi định chờ khuya sẽ tìm cách lọt ra ngoài nhưng nếu không ra kịp thì sao? Tôi phải nằm kẹt trong này suốt ngày và sẽ bị bại lộ! Tôi nhịn đau bương qua các bụi tranh chằng chịt dây mắc cỡ, gai móc, cào làm sướt da thịt, rách áo và vướng bước đi. Bò qua sân nhà bếp trong ánh sáng lờ mờ của một ngọn đèn dầu, tôi băng qua một con lộ bằng đất rộng và đi xuyên về hướng những cánh đồng. Theo đường mòn dọc theo mương nước, nửa giờ sau, tôi gặp xóm nhà nhỏ đầu tiên, quẹo phải tìm đường xe lửa làm chuẩn. Một hàng bóng đèn tù mù nằm cách đều trên đoạn đường vòng cung. Có phải đèn biên giới không? Tôi đi tìm đường lầy, nhưng lại gặp một con lộ lớn khác.
Những gian nhà tranh nằm dọc bên kia lề đường, thì ra chỉ là ánh đèn từ những ngôi nhà nầy. Tôi lần mò đến gần nghe ngóng, tiếng trò chuyện bằng tiếng Miên làm tôi phân vân thắc mắc. Tôi đã qua đê, qua sông, qua lộ lớn như những lời diễn tả về đặc điểm của biên giới, nhưng cuối cùng tôi vẫn còn trên đia phận Kampuchia! Tôi đi theo khoảng đất trủng cạnh đường lộ về hướng Tây và nhà cửa vắng dần, đường đi bắt đầu có chướng ngại vật, những giây kẽm gai, cọc tre, phên đăng rào ngang chận bắt cá. Tôi đành bước lên lộ lớn đi tiếp, thoải mái nhưng nguy hiểm. Tôi vừa nghĩ vậy thì bỗng phát giác một thanh gỗ chận ngang đường, có treo tấm bảng tròn vẽ dấu hiệu dừng lại. Tôi ngồi thụp xuống đất với ý định, nếu chưa bị phát hiện, tôi sẽ bò qua cổng gác và đi tiếp nhưng một tiếng quát lớn vang lên:
– Nẻ na? (Ai đó?)
Tôi đứng lên thản nhiên bước tới.
– Bòn tâu na? (Anh đi đâu?)
– Tâu te. (Về nhà.)
Tôi vừa trả lời và khom mình lách qua thanh cổng gác tiếp tục
đi.
– Xốp! (Dừng lại!)
Tôi bật chạy đồng thời với tiếng cơ bẩm lên đạn, những tràng đạn bay xối xả trên đầu. Bên trái đường, cách một trăm thước là xóm nhà nhỏ, tôi chạy nép về phía lề trái. Phần trời tối không thấy, phần sợ đạn lạc vào khu nhà dân, tên lính gác chỉ bắn những lằn đạn lửa bay vun vút bên phía phải. Tôi bèn rẽ qua trái chạy theo một đường mòn nhỏ biến mất, tiếng chửi thề của tên gác còn vọng lại rõ ràng. Đợi tình hình lắng dịu, tôi len lỏi qua khu nhà, có nơi phải đi sát vách để tránh chướng ngại vật ngổn ngang trên sân, vườn. Tôi gặp một đường xe bò đi ra khỏi làng.
No-Man’s Land, Vùng Đất Tử Thần
Đường chạy đúng hướng Tây, cỏ tranh hai bên đường cao quá vai, cỏ ở giữa hai lằn bánh xe cũng đã mọc xanh tốt vì đường không được sử dụng thường xuyên. Con đường tiến dần vào rừng, với cây thưa giữa những tàn lá cao, ánh sao đêm lập lòe nhấp nhánh, đây đó những đốm lửa sáng như những ngọn đuốc lớn. Ngày vượt ngục Trại tù A30, tôi xuyên rừng ban đêm để đi ra lộ lớn, những ánh đuốc đêm lần đầu tiên trông thấy làm tôi chùn bước ngại ngần. Phải chăng là những đống lửa sưởi ấm của bọn lính đi kích đêm hay của một trạm kiểm soát? Sự thật là, để luôn luôn có lửa sẵn dùng, người đi rừng đốt những bộng cây chết khô để giữ lửa, có lúc gió lớn, gỗ khô toàn cây bốc cháy như một cây đuốc vĩ đại. Phải đi đêm, đi rừng mới thấy cái tính chất thiết yếu của lửa, mới thấy thâm thìa hai câu thơ:
– Em ơi “lửa tắt,” bình khô rượu.
Đời vắng em rồi, vui với ai?
Tốỉ như đêm 30. Hôm nay 29 Tết, nhưng càng vào sâu, bầu trời càng đen như mực, mắt tôi không còn phân biệt được lối đi, có lúc đi lệch, chân vấp vào mu đất lấp xấp cỏ thấp giữa đường, tôi phải dùng cùi chỏ tay trái để giữ hướng. Khi cùi chỏ chạm mạnh vào tranh, có nghĩa là tôi sắp sửa lũi vào lề trái, khi cùi chỏ mất cảm giác đụng chạm, tôi sắp lệch qua phải. Đi và định hướng bằng cùi chỏ tạo nên cảm giác lềnh bềnh lều bều như đang đi trên những chiếc phao nổi trên sông bởi đường gồ ghề, thấp cao, khi hụt hẫng, khi vấp váp.
Rừng vắng ngắt, tiếng tắc kè, tiếng vượn hú nghe âm vang rờn rợn. Đường có lúc vòng vèo sang trái, lúc quanh co sang phải tùy địa thế, nhưng tính bù trừ lại, vẫn theo đúng hướng Tây. Bỗng nhiên chân tôi bị vấp mạnh, người bắn lên và rơi xuống. Cái gì đây? Tôi ngồi xuống dùng tay mò mẫm, sờ soạng tìm thấy một sợi dây thép giăng ngang đường, tầm cao nửa đầu gối, như vậy là có chận đường, có kiểm soát. Tôi quan sát chung quanh chẳng thấy bóng người, chẳng thấy bóng nhà, bóng chòi, cách chừng vài trăm thước, tôi lại bị vấp nữa. Một điềư lạ là mặc dù mệt mỏi, nhưng phản ứng cơ thể khá nhanh, chân vừa vấp vào giây, cả người tôi đã phóng bay lên như một diễn viên có cột dây kéo lên trong những pha phi thân trên sân khâu, và rơi xuống nhẹ nhàng, không bị té. Bị vấp ba lần bởi giây thép chặn đường chưa đủ, tôi lại bị vấp lần thứ tư bởi một cảm giác khác lạ. Tôi lại ngồi xuống dùng tay mò xem, thấy một cái nạng cây chẻ hai được đóng thấp giữa đường.
Quá nửa đêm, gặp một dòng suối khô cắt ngang đường, tôi chọn hướng rẽ trái, đi một đoạn, thì hoàn toàn lạc lối và lạc hướng, xung quanh tôi là rừng tre rậm. Phương hướng bây giờ chỉ là sự tính toán trong đầu, tôi cộng trừ bao nhiêu lần rẽ trái, rẽ phải để ước đoán mình đang đi về hướng nào. Cùi chỏ tay không còn hữu hiệu vì những nhành tre gai nhọn, tôi phải đi đến lúc nào gục xuống như một thân cây bị đôn đứt lìa bởi một nhát rìu bén ngọt. Tôi đang ở giai đoạn cuối của cuộc đua, thắng hay bại chỉ lệ thuộc vào nỗ lực cuối cùng.
Bị kẹt lâu trong rừng, sự đói, khát, càng ngày càng trầm trọng. Tôi lượm một nhánh cây gãy cầm ở tay phải quơ qua quơ lại dò dẫm đằng trước, đồng thời dùng tay trái gạt lên gạt xuông liên tục để bảo vệ mặt mũi khỏi những nhành tre đầy móc gai nhọn. Tôi nhắm mắt đi quờ quạng như nhân vật “Hiệp Sĩ Mù nghe gió kiếm” của điện ảnh Nhật Bản. Cây gậy trở thành cặp mắt của người đi đêm, và xúc giác giờ nầy trở thành bộ phận độc nhất để dẫn đường. Có nơi chỉ có một lỗ trống nhưng tôi phải bò sát đất để chui qua, mấy tiếng đồng hồ đi trong trạng thái mò mẫm tối tăm làm tôi chóng mặt quay cuồng. Tôi hoàn toàn không còn ước định được phương hướng, tệ hơn nữa, tôi còn không tìm được cái khoảng trống mới chui vào để thoát ra. Gai góc như kẻ thù bao vây tôi, rồi gai góc cuối cùng trở thành người bạn che chở tôi. Tôi đành nằm xuống nghỉ mệt.
Trong thời gian chạy và bương bả đi vào rừng, tất cả mọi nỗ lực đều tập trung vào một đối tượng duy nhất: Việt Cộng. Kẻ thù đã thu hút tất cả mọi ý nghĩ, ưu tư, cảm giác của kẻ trốn chạy nhưng khi nằm xuống một chỗ an toàn, ngoài tầm tay sát hại của con người, những đối tượng khác xuất hiện ngay. Tiếng chim kêu, vượn hú lạc lõng trong rừng sâu làm cho bóng tối càng thêm phần ma quái, đe dọa. Tôi nghĩ đến những loài rắn độc đang trườn bò dưới những lớp lá rừng ẩm mốc, loài hổ beo đang rón rén từng bước tính toán để vồ chụp con mồi lạc lõng. Tôi nhớ đến Xuân, một anh bạn cũ, cao lớn gần 30 tuổi, thế mà mỗi lần đi tiểu đêm ở dãy nhà vệ sinh bên ngoài lại phải năn nỉ nhờ cậy một người khác đi theo vì sợ ma! Mặt đất ẩm lạnh lẽo, rừng khuya âm u sương giá, tôi nằm co rút người, run lật bật. Cái run rẩy của thể xác không chỉ đến từ thời tiết lạnh lẽo mà còn do nỗi sợ hãi vô cớ nào đó vừa lướt qua, và sự yếu đuối chỉ đến một thoáng là biến mất. Tôi đã trấn tỉnh được tinh thần, suốt cả quá trình dấn thân tranh đấu, tôi đã trải qua bao nhiêu hiểm nghèo, bao nhiêu gian truân vất vả, sự luyện tập hàng ngày đã có ảnh hưởng tốt đẹp trong những giờ phút cần thiết!
Cơn mỏi mệt quá độ dần dần đẩy lùi tất cả nỗi lo toan, chiếm toàn bộ trí não. Tôi ngủ vùi bất kể trời đất. Trong cơn mơ màng, tôi nghe tiếng gà gáy đằng trước, như vậy tôi đã đi đúng đường, sắp đến một thôn làng thuộc địa phận Thái Lan. Lát sau lại có tiếng gà gáy bên phải, rồi bên trái. Quanh đây chắc có nhiều phum, bỗng nhiên có tiếng gà gáy hướng đàng sau tôi vừa đi qua. Tôi chợt hiểu và nhận ra sự thông minh ngớ ngẩn của mình. Gà rừng! Đúng rồi, tôi đã từng ăn bao nhiêu trứng gà rừng trong nhũng ngày lên rừng làm công tác trại tù.
Trời sáng dần, mặt trời nhô lên dưới những tàng cây cao, tôi chui ra khỏi lùm tre và thích thú khi thấy một con đường mòn hiện ra trong vòng hai mươi thước. Tôi đi thong thả như một người đi dạo để hưởng cái cảm giác hào sảng của buổi sáng đẹp trời trong một khu rừng thanh vắng. Chim bướm bay lượn chập chờn, những chú sóc nhảy nhót trên cây, cái hạnh phúc thanh thản bình yên đã gột rửa những cảm giác mệt mỏi, ưu tư. Đường đi rộng rãi, trên đường mòn vương vãi đây đó những bọc ni lông, vỏ thuốc lá, nước ngọt. Vài nơi, còn có những manh áo quần rằn ri treo lủng lẳng trên những nhánh cây thấp, những dấu vết vừa cũ vừa mới. Đây là một con đường buôn vẫn còn được sử dụng. Tôi chợt nghe tiếng xe. Trời ơi! Tôi sắp ra khỏi rừng rồi sao! Tôi bước cuống quýt, hớn hở, tiếng xe nghe đó rồi mất đó, cuối cùng, tai tôi cứ lùng bùng vì thể xác quá mệt mỏi. Có lẽ nào? Giống như một người đi bộ trên sa mạc nắng cháy, cơn khát nước, cùng những qui luật khúc chiết, phản xạ của ánh sáng đã tạo ra những hồ nước ảo ảnh và tôi đang bị ảo giác về thính giác?
Càng lúc tôi càng không còn phân biệt, nhận định được, đó là tiếng xe cộ hay tiếng động lạ của núi rừng, bởi vì tiếng động chợt vang dội rồi biến hút, có đó rồi mất đó. Vị trí cảnh sắc trước mặt có phần biến đổi, một khoảng rừng rộng bị đốt còn nham nhở, đó đây còn mùi của cỏ cây cháy khét, một vài lượn khói nhỏ leo lét vươn lên mệt mỏi. Tôi lượm vài chú ốc, nhái bị nướng chín vì không kịp thoát thân, tôi phủi sơ sài lớp tro đen, bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến. Cơn khát nước vật vã đã làm cho những miếng thịt cháy đen trở thành đắng nghét, và làm cổ họng khô rát.
Bất giác nghe tiếng nói chuyện, tôi ngồi thụp xuống đất núp và quan sát. Bốn thanh niên mặc đồ dân sự, áo sơ mi màu xanh, đỏ, vàng sặc sỡ, vai mang súng dài đang đứng chỉ trỏ về những hướng chung quanh. Không nghe rõ, tôi không đoán được họ nói tiếng gì nhưng rõ ràng là da họ không được trắng, họ bắt đầu đi ngược con đường tôi định chọn đi. Tôi mặc áo quần đen, nằm co rút sau một bụi tranh cháy sém đen thui, cách đường trong vòng năm thước mà họ không thấy. Màu tro đen và màu người lem luốt hòa lẫn nhập nhằng với nhau, tôi đợi họ đi khá xa, mất hút mới lên đường đi tiếp.
Đến Biên Giới Miên-Thái
Đi chừng vài trăm thước, tôi bỗng phát hiện hai người lính trẻ, mặc đồ treillis, mang súng, đứng ở đoạn đường trước mặt. “Nguy hiểm,” tôi tự nhủ và quyết định rời đường mòn băng xuyên rừng.
Rừng chằng chịt những cỏ tranh, bụi tre, cây gai và lác đác những tàn cổ thụ lớn. Đi theo đường mòn không có mìn bẫy nhưng có trạm gác, đi băng rừng tránh được người nhưng phải đối diện với sự rình rập của những khối sắt thép vô tri sẵn sàng hủy diệt sự sống một cách máy móc.
Thời gian đầu ở tù Lam Sơn, tôi đã tình nguyện vào Đội gỡ mìn để học nghề, trong khi những tay chuyên nghiệp lại cố tình trốn tránh. Gỡ mìn theo phương thức của Cộng Sản thật đơn giản, họ đơn giản hóa vì mạng sống của một con người, đặc biệt của một tên tù, đối với họ đơn giản, chẳng có giá trị gì, chết đứa này còn đứa khác, chết càng nhiều càng tốt. Dụng cụ gỡ mìn là những thanh tre vót nhọn dùng xăm nghiêng mặt đất chừng 30 độ hoặc dùng lưỡi liềm móc đất. Nếu đụng vật cứng, sẽ moi đất chung quanh để lấy lên, thường thường chỉ moi trúng đá, thỉnh thoảng mới moi được một trái mìn trên bãi mìn phòng thủ cũ. Sau vài ngày, coi thường nguy hiểm, tôi dùng cuốc để lật đất cho nhanh. Tôi làm sớm nghỉ sớm, đủ chỉ tiêu diện tích trong buổi, tôi kiếm chỗ ngồi nghỉ, trong khi các bạn trong toán cứ mò mẫm, xăm xoi tỉ mỉ. Có lần vừa cuốc xong miếng đất, bỗng có tiếng gọi trở lại khẩn cấp, người trưởng toán dẫn tôi đi ngược con đường, chỉ tôi xem dấu chân mình cách hai trái mìn không quá ba phân, tôi cười pha trò:
— Số moa lớn lắm. Đâu chết được!
Tôi tin mình khó chết, nhưng bạn bè lại nghĩ, bản thân họ thật dễ chết nếu để tôi làm chung toán gỡ mìn. Họ yêu cầu Quản giáo loại tôi ra khỏi Toán, hoặc họ sẽ xin rút lui khỏi Toán vì họ không muôn đùa với Tử Thần. Từ đó tôi đã có khái niệm về cách gài mìn, vị trí gài mìn và cách gỡ mìn, tránh mìn. Đi qua những nơi có mìn, điều căn bản là phải tránh những gốc cây, những ụ mối, những lùm cây rậm. Mìn thường gài ở những chỗ ẩn núp, trốn tránh tốt, kín đáo. Những nơi trống trải, thưa thớt, ít được gài, và nếu có, cũng dễ phát hiện. Biết kỹ thuật là điều cần thiết, nhưng cái vận hạn của con người lại có phần quyết định hơn. Tôi không thể ngồi xuống, cẩn thận xăm đất trên một khoảng rừng cả chục cây số, cũng không thể chú ý hết những sợi dây gài mìn trong các trảng tranh lớn bạt ngàn. Một nửa tin vào sự nhạy bén, sắc sảo có tính cách kỹ thuật khoa học của bản thân, một nửa tin vào quyền năng của Thượng Đế, với số phận mình đã được định đoạt.
Đôi dép đứt quai nhiều lần không sửa được nữa đành phải vất bỏ, bàn chân bắt đầu nhói buốt vì những gốc tranh, gai góc dưới đất. Tôi phải đi chậm dần và nhón nhén từng bước. Tôi cảm thấy tiếc nuối bàn chân trần mấy năm về trước, trong những năm tù tội, tôi đã tập luyện cái đầu và cái chân của mình cho xứng đáng với câu “Đầu đội trời, chân đạp đất.”
Gần sáu năm, bàn chân trần đã dẫm đạp biết bao nhiêu gai góc, vấp váp bao nhiêu gốc cây, đá cục trên đường. Chân tôi có thể đạp gãy nhũng loại gai bình thường và chỉ thấy “ngứa” khi dẫm phải kẽm gai. Nhiều người tặng tôi dép, kể cả các tù nữ, kể cả các cô gái đi thăm nuôi khi nghe kể chuyện về tôi, tôi chỉ giữ chơi và biếu lại những người bạn cần dùng. Những người nằm ngủ bên cạnh đã than phiền đôi chân dày, cứng, dơ dáy bụi bặm không bao giờ rửa đó. Tôi trả lời:
— Tao chỉ cần giữ cho cái đầu sạch là đủ. Chú mầy chỉ suốt ngày lo đôi chân cho sạch mà lại bỏ quên cái đầu!
Đôi chân quí, đôi chân đã tạo thành huyền thoại, sau mấy tháng ăn nằm tại Sàigòn trong thời gian trốn tránh sự săn đuổi của bọn Công an Trại tù A30, đã lột, tróc hết lớp da vàng sần sùi dày cộm. Những vết nứt nẻ cũng biến dần vì thế mà giờ nầy tôi đang chịu đau đớn với những gốc tranh tầm thường, những bụi gai hèn mọn.
Những đồi tranh trùng điệp dày đặc làm tôi nhớ những ngày đi cắt tranh với từng hàng người nhễ nhại dưới cơn nắng hừng hực bốc lửa, chen chúc giữa những cụm đế, lác ẩm mốc để mót tranh. Gai nhọn, cạnh đế sắc bén cắt, cứa, đâm nát da thịt. Đói, khát hợp đồng hành hạ làm run rẩy những đôi chân xương xóc, những cánh tay rã rời, chiếc liềm vẫn ráng liếm soèn soẹt liên tục trong cơn chấp chới mê thiếp của thần trí.
Có đoạn đường tôi phải bò qua những lỗ hổng nhỏ giữa các bụi tre, giữa những nhánh nè đầy gai nhọn. Tôi nhớ nỗi gian nan vất vả ngày đi chặt tre. Thứ nhất chặt tre, thứ nhì ve gái. Mỗi bụi tre là một trận đồ bát quái, rối rắm khó vào, muốn tấn công phải từ ngọn đánh xuống, xông vào loạn đả ở gốc chỉ đem thương tích và thất bại về mình.
Tranh cao gần khuất đầu, tôi có lợi điểm hơn địch thủ. Đoạn nầy có nhiều đường chạy cắt ngang để các toán kiểm soát đi tuần tiễu ngăn chận sự đột nhập biên giới. Tôi đảo mắt quan sát về phía xa, những đọt cây cao nằm sắp hàng ngang trên đường chân trời cho tôi cảm giác lầm lẫn về giới hạn của cánh rừng. Bỗng dưng tôi phát hiện trên cây me lớn trơ trụi lá, một cái chòi gác nằm ngất ngưởng và một tên gác mặc áo màu xanh lục nổi bật như một con két đậu lẻ loi, tôi vội lẩn mình vào dãy bụi rậm. Nếu tôi phát giác trễ, y từ trên cao nhìn xuống, chắc chắn sẽ thấy tôi rõ mồn một, súng sẽ nổ và những toán lính sẽ bao vây, lùng kiếm.
Tôi nằm xuống nghỉ và trận đòn tra tấn của kiến đã có ảnh hưởng, hành hạ tôi trở lại. Tôi lên cơn nóng sốt và nhức chân trái, khoảng từ bắp vế đến trái chân, vết kiến cắn đã sưng lên làm độc. Tôi không duỗi chân thẳng được nữa. Thật khốn khổ, đang đi yên lành thế mà vừa nằm xuống một chốc, thay vì khỏe ra, chân tôi lại trở chứng một cách nguy hại. Tôi khát nước đến cồn cào cổ họng. Hơi nóng toàn thân đang thoát qua cổ, như một máy sưởi mở độ lớn làm rát bỏng những lớp màn mỏng trong thanh quản.
Từ chiều tối hôm qua, sau khi bơi qua sông đến giờ phút nầy, đã 40 giờ liên tiếp, tôi đi không hề nghỉ, đã nhịn đói gần ba ngày đêm. Trên đường đi, tôi cố lục lọi những lon, thùng, bịch ni lông vất bừa bãi mong tìm một chút nước cặn còn thừa sót. Người đã khô nước nên đi giữa nắng và đi nhiều giờ vẫn không hề có một giọt mồ hôi. Tôi nghĩ đến giải pháp uống nước tiểu như vẫn thường nghe nói nên bẻ một ngọn lá lớn làm phễu chứa nước tiểu. Chút nước tiểu vàng sẫm, hiếm hoi như đặc lại, vừa đến cổ đã nôn ọe ra ngay. Tôi ráng nuốt xuống một ngụm nhỏ chờ xem phản ứng cơ thể. Cái mùi nồng, cái vị đắng đặc biệt đó vừa đột nhập vào trở lại đã bị chận đứng tại cổ. Hình như cơ thể đã lên tiếng phản đối “Cái đồ cặn bã dơ bẩn kia ta đã kinh tởm, đã thải ra, tại sao giờ lại trở ngược vào ngõ nầy?” Thế là gan tim, phèo phổi ùn ùn quặn mình dùng sức đẩy lên. Sức nuốt xuông và sức đẩy lên giằng co nhau tại yết hầu và bỗng dưng “ựa” nước tiểu cùng đàm giải bị bắn vọt ra. Tôi nằm ôm lây cổ, hối hận. Ước gì tôi được khát như hồi nãy, một cái khát bình yên như con cá nằm lặng lẽ trên cạn chờ chết. Cái khát hiện tại thật hung bạo, nó quằn quại, bức rức như kẻ đã uống nhầm thuốc độc và giờ nầy thuốc độc đang công phá.
Cổ quá khô, tôi muốn nuốt nước miếng, nhưng hạch nước miếng đã ngưng hoạt động vì thiếu nước. Tôi muôn nhắc chân lên, nhưng chân như đang bị một khối đá nặng đè lên, mỗi lần nhúc nhích, đá càng đè nghiến đau đớn. Nhưng tôi không thể nằm chờ chết ở đây được. Tôi phải đi, phải đi nhanh vì tên gác đã leo xuống từ hồi nào. Tôi nghe tiếng xe, và đây là trạm gác, chắc chắn sau trạm gác là biên giới Thái Lan. Tôi cũng dự trù kế hoạch thứ hai, nếu hệ thống tuần tra biên giới quá nghiêm ngặt chưa qua được, tối nay tôi sẽ bò vào dãy Doanh trại phía bên trái trạm gác đó, và tôi nghe được tiếng radio, và tiếng nói chuyện, để kiếm thức ăn và nước uống cầm cự trong vài ngày. Tôi chống tay lết lại gần một thân cây, bám tay vào đó tìm điểm tựa để kéo người lên. Khi vùa đứng thẳng, máu tụ xuống vết thương làm tôi nhói lên từng cơn đau nhức. Cuối cùng tôi cũng đi được, đi khập khểnh một đoạn rồi ráng đi với vẻ bình thường.
Có một con đường đất cắt ngang, dọc đường có giây điện thoại. Bỗng tiếng xe gắn máy rồ lên, tôi vội tụt nhanh xuống cỏ ẩn núp. Một xe Honda tuần tiễu chay vọt qua, bên trái ở một góc khuất kín có trạm gác và hai tên lính đang ngồi. Tôi bò sát đất, vừa liếc nhìn vừa tiến tới, lăn chậm xuống mương và băng trảng tranh đi tiếp. Tôi đi qua trạm gác trên cây khá lâu mà vẫn còn lạc lõng trong rừng, có lúc tôi tự hỏi, còn bao nhiêu ngày nữa tôi mới ra khỏi đây được và tôi còn đủ súc chịu đựng bao lâu, sự thất vọng trải rộng cùng ánh nắng gắt muộn màng của chiều. Chợt có tiếng xe âm vọng lại, có tiếng trẻ con la réo một cách mơ hồ, có lẽ tôi mệt quá nên tôi mê thiếp trong lúc đang đi. Nhưng không, rõ ràng những tiếng náo nức đó càng lúc càng lớn dần và đột nhiên tôi thấy mình đã ra khỏi rừng, thấy những đám ruộng gặt xong vừa đốt rạ, có nơi còn ngún khói. Trong bóng tối chập chờn, tôi lảo đảo mỗi lần vấp mạnh vào những cục đất khô cứng. Ôi những cục đất khốn nạn, mà những ngày lao động ở trại tù Cộng Sản, mà những buổi trưa nắng gay gắt, phờ phạc, tôi đã phải tưởng tượng là nhũng cái đầu của bọn Việt Cộng gian ác, mới đủ sức nâng cuốc lên, ráng sức đập một phát thật mạnh cho tan nát thành từng mảnh vụn.
Đến Aranyapathet tỉnh địa đầu Thái Lan
Ánh sáng của đèn điện rực sáng trước mắt. Tôi đến gần ngôi nhà đầu tiên, vì đã bị hố nhiều phen, nên lần nầy tôi phải kiểm tra cẩn thận, mò vào sân một ngôi nhà có các cháu nhỏ đang tập hát. Bài hát Việt Nam do các cô ca sĩ thích nuốt lời, sửa giọng nghe còn không rõ, làm sao tôi phân biệt được các em bé đang hát tiếng Miên hay tiếng Thái khi vốn liếng tiếng Miên của tôi quá sơ sài. Bỗng có tiếng chó sủa, một con sủa rồi nhiều con sủa theo, làm tôi thối lui trở ra và ẩn mình cạnh mép bờ ruộng. Hai người Du kích nghe tiếng chó chạy ra, đứng trên đường sát ngay trên đầu tôi và soi đèn pin xuống thửa ruộng, bước qua trên người tôi để xuống ruộng và đi thẳng tới trước. Tôi bò theo mép ruộng đến vị trí khác, hai người Du kích săm soi từng lùm bụi, từng nhánh cây.
Tôi tin là mình đã tới đất Thái, bởi vì sáu, bảy năm sông dưới chế độ Cộng Sản, những người dân nghèo khổ đã phải ăn tất cả những thứ gì có thể ăn được, chưa kể đến những thứ không thể ăn
được để rồi ngộ độc mà chết, huống gì thịt chó? Chỉ có những nước tư bản, có dư thừa cái ăn, cái mặc mới nghĩ đến chuyện nuôi chó để làm bạn, làm cảnh không tính đến việc ăn thịt. Tuy nhiên để xác định chắc chắn, tôi lẻn vào sau vườn ngôi nhà làm bánh tráng lắng nghe kỹ các lời đối thoại và biết là không phải tiếng Miên. Tôi bèn bò theo mép đường băng qua một vị trí khả nghi, gặp một hồ nước nhỏ, tôi lội xuống tắm, mặc kệ tiếng chó sủa đuổi dồn bên kia bờ.
Tôi vục mặt xuống nước uống cho đã khát, đã thèm. Chưa bao giờ tôi uống một hộp bia, một chai nước ngọt hay cả một ly Martell, Cordon Bleu, Champagne nào ngon lành như những ngụm nước hồ vẩn đục này. Phải, hạnh phúc thật khó tìm, nhưng hạnh phúc cũng thật gần gũi. Làm thế nào để biết thưởng thức những hạnh phúc đơn giản bình dị, tôi đã học được qua những trại tù Cộng Sản.
Có hạnh phúc nào không vươn lên từ đau khổ?
Và thăng hoa nào… không tổn thương?
Tôi đi ra đường cái quan và gặp lại đường rầy xe lửa. Hai bên đường nhiều ngôi nhà xinh xắn tiện nghi với ánh đèn sáng rực đằng xa. Tôi nghĩ đến Chợ Trời biên giới và tiến bước về hướng đó, tới nơi, lại gặp một chiếc cầu và một nút chặn của Cảnh sát soát giấy.
Tôi đành quay trở lại, định kiếm Chợ Trời để ăn uống, mua một bộ áo quần, đổi ít tiền để sáng mai tìm đường đi Bangkok. Gặp con đường quốc lộ rẽ làm hai nhánh, tôi phân vân lựa chọn. Đã đến một nước tự do, tôi có thể đi bộ, đi xe buýt hoặc xe lửa, chắc chẳng ai bắt tôi, vì tôi là người vượt biên đi tìm tự do! Tôi nghĩ vậy. Tôi định tìm người để hỏi đường, tôi cứ ngỡ người Thái nào cũng nói được tiếng Anh, nhưng khi gặp một bót gác rộng đúc bằng xi măng, có cửa kính và có mặt bàn rộng vắng người, tôi leo lên nằm nghỉ. Định ngủ một giấc, bỗng có người đàn bà trong tiệm tạp hóa đi ra. Tôi vội chạy ra chận đường hỏi bằng tiếng Anh, người đàn bà bỡ ngỡ nên tôi hỏi bằng tiếng Miên.
— Ở đây Kampuchia hay Thái Lan, thưa bà?
– Thái Lan. Bà trả lời bằng tiếng Việt. Cậu là người Việt Nam hả?
– Dạ đúng rồi.
– Cậu định đi đâu?
– Tôi đi vượt biên tìm tự do.
– Trời ơi, cậu không biết gì sao? Mới cách đây mấy tháng, 16 người vượt biên qua đây bị lính Thái bắt giết sạch. Cậu trở lại Việt Nam ngay đi, nguy hiểm lắm!
Tôi há hốc mồm kinh ngạc.
– Tôi là người Việt Nam thuộc chế độ tự do mà. Chúng tôi là đồng minh của Thái Lan, của Hoa Kỳ. Có lẽ họ giết bọn Bộ đội Hồ Chí Minh đó. Hồ Chí Minh thuộc phe Liên Xô, Cộng Sản.
Tôi phải dông dài giải thích bởi vì biết rằng, những người Việt kiều lớn tuổi ở nước ngoài đã lâu năm, nhiều người đã quên tiếng Việt và chẳng hiểu tí gì về tình hình đất nước.
– Cậu không phải Việt Nam Hồ Chí Minh à? Nhưng ở đây người Thái họ ghét Việt Nam lắm, cứ Việt Nam là họ giết ráo.
– Những người vượt biên qua đây được ở trong Trại Tị Nạn, vậy những trại đó ở đâu?
– Hồi trước thì có. Giờ nầy họ dẹp hết rồi, họ không cho tị nạn nữa.
– Dì có gì cho tôi ăn với, tôi nhịn đói đã ba bốn ngày rồi.
– Cậu đi theo tôi, nhưng nhớ đi cách xa xa. Coi chừng họ thấy là phiền phức, nguy hiểm cho gia đình tôi.
– Vâng. Tôi sẽ cẩn thận.
Người đàn bà nhìn trước ngó sau, vẻ sợ sệt. Tôi vừa vào nhà, bà vội khép cửa lại ngay. Ngôi nhà nhỏ nhưng thật đẹp, mỹ thuật. Trên giường có một người đàn ông đang ngủ. Bà đánh thức ông ta dậy và nói gì đó, người đàn ông nhìn tôi bỡ ngỡ.
– Chồng tôi người Thái, tôi cũng thường đi buôn vải theo đường cậu đi qua đó. Phải đút lót nhiều tiền, nhiều trạm mới qua được. Làm sao cậu đi qua đó mà họ không phát giác được? Hay thật! Lính gác đầy dẫy khắp biên giới!
Bà dọn ra một mâm cơm với năm món thịnh soạn. Tôi hỏi:
– Đồ cúng Tết đó hả?
– Đâu có. Đồ ăn thường ngày thôi. Bữa nầy mấy Tết rồi hở cậu?
– Dạ, tối Giao thừa.
Tết nhất đối với một số người Việt ở hải ngoại lâu năm đã không còn ý nghĩa gì nữa. Họ không thể giữ những thủ tục rườm rà đó nữa, vì họ là người Việt duy nhất trong nhà, trong xóm. Tôi tưởng mình sẽ ăn thật nhiều để bù nhũng ngày đói khát vừa qua, thế mà mới hai chén, tôi không thể nào nuốt thêm được nữa. Đang ngồi nói chuyện chợt có một cô gái chừng 18 tuổi, thật xinh đẹp đi vào. Khi đi ngang tôi, cô khom người người xuống chào thật lễ độ. Sự cung kính giống như một người mộ đạo đi qua một nơi thờ kính quá trang nghiêm. Tôi phải đổi chỗ ngồi, tránh gần chỗ đường đi, bởi cô bé mỗi lần đi qua, lại phải gập mình xuống một cách quá đáng.
– Tôi có thể ngủ nhờ đêm nay không?
– Chết! Không được đâu. Ở đây tụi an ninh đông lắm. Nguy hiểm lắm.
Người đàn bà lấy cho tôi một bộ áo quần tây hãy còn mới và
đẹp.
– Cậu thay đồ đi, mặc đồ đen dơ dáy đó ra đường người ta bắt ngay. Đây, tôi biếu cậu ít tiền, tôi sẽ đưa cậu xuông một cái chùa để cậu trú đêm. Cậu phải cẩn thận, nếu không người ta sẽ nghi ngờ. Việt kiều ở đây bị kiểm soát chặt chẽ, đi đâu cũng phải xin giấy tờ.
Người con gái đẩy chiếc Honda scooter ra. Cô ta lái xe, bà mẹ ngồi giữa và tôi ngồi sau cùng. Đêm thật lạnh, đường vắng vẻ, mùi thơm con gái được ướp bằng hương hoa của các loại xà phòng, nước hoa đắt tiền từ nhỏ theo gió tràn ngập khứu giác làm tôi đê mê, ngây ngất.
Tôi nhớ những năm tháng đã qua. Sáu tháng bị nhốt conex không hề được đánh răng, rửa mặt, tắm và thay áo quần. Người dơ dáy đến nỗi, chính tôi còn ngửi thấy được cái mùi hôi thối của thân thể mình. Và ngay cả khi đã trốn về được Sàigòn, tôi chỉ đánh răng bằng muối và ngay cả xà phòng cô Ba loại rẻ tiền, cũng không có đủ dùng. Tôi quen Vân, cô bé có mái tóc dài mượt mà như một dòng suối, mê nhất là được vục mặt vào suối tóc nàng. Những sợi tóc dài mềm mại thơm ngát che khuất hình ảnh bi thảm, rùng rợn của tương lai, xóa nhòa những nhục nhằn tủi cực của quá khứ. Mùi tóc thơm đến rợn người, bởi tất cả mỹ phẩm nàng dùng thường ngày đều được gởi về từ Mỹ Quốc. Tôi vẫn thường đùa giỡn:
– Dù có ghét Mỹ, người ta cũng phải mê “mùi” Mỹ.
Mặc dù không có đủ xà phòng, cái loại xà phòng rẻ tiền để tắm mỗi ngày, tôi vẫn cố dấu một chút kem đánh răng còn lại để mỗi dịp nàng qua, tôi chui vào buồng tắm, đánh răng thật kỹ. Thêm vào đó một miếng kẹo chewing-gum tôi phải dấu kỹ như một người nhà nghèo dấu mấy chỉ vàng hồi môn, chuẩn bị cho một nụ hôn thật trang trọng. Nhờ thế, mặc dù tồi tàn, tôi vẫn được nàng khen:
– Miệng “chú” hôn thơm và ngọt quá!
Phải ở trong hoàn cảnh thiếu thốn cùng cực, thiếu vệ sinh cùng cực, người ta mới biết thưởng thức và trân trọng cái mùi kem, mùi xà phòng rất thông thường và rất tầm thường tại các nước tư bản giàu có.
Chùa ở trong một vườn cây rậm mát, tôi chờ bên ngoài rồi sau đó được đưa vào một phòng nhỏ gần cạnh chánh điện để nghỉ ngơi.
– Cậu ngủ lại đây. Sáng mai tôi sẽ tới đón.
Trời tối, tôi không nhìn được bao quát ngôi chùa. Nhưng tiếng tụng kinh và mùi hương trầm phảng phất lại, đưa hồn tôi phiêu diêu tới vùng đất thanh tịnh, yên bình, thoát tục. Tôi trùm mền phủ người và có cảm giác như mình đang nằm trong cỗ quan tài, và ngoài kia, các sư cụ đang làm lễ cầu siêu an táng mình. Tôi đang chết để rồi thoát thai và tái sinh trở lại kiếp con người sau nhiều năm bị Cộng Sản tước bỏ danh vị làm người. Tôi có cái cảm giác của một người chết, biết mình đang chết, biết mọi chuyện đang xảy ra quanh mình, biết mọi nghi lễ đang chuẩn bị cho mình, và tôi cầu nguyện và tôi tri ân Thượng Đế về những hồng phúc đã nhận được.
Tôi là một kẻ ngoại đạo, nhưng số phận tôi cứ bị ràng buộc với tôn giáo. Ngày yêu Minh Châu, tôi bắt đầu yêu mến hàng trăm bậc thang đá cao dẫn lên Nhà Thờ Núi Nha Trang, yêu những giờ lễ nhạc và tiếng hát thanh thoát, phiêu bồng. Tôi cảm thấy cần thiết trong những lúc cô đơn, phiền muộn, lặng lẽ một mình đi vào nhà thờ, quì phủ phục trước tượng ảnh Chứa Giêsu bị đóng đinh trên thánh giá. Hình ảnh Chúa lồng lộng giữa những màu sắc lộng lẫy rực rỡ của giáo đường, đưa tâm hồn tôi vào chốn thanh thoát, gột bỏ hết những phiền lụy thế nhân.
Những ngày đi học, những ngày ở trại tị nạn Galang, tôi bước độc hành lên dốc đồi, đi giữa những tàn cây lộng bóng, nghe tiếng chuông chùa vang dội choáng ngợp mọi cảm xúc. Tiếng mõ, tiếng chuông, nhịp điệu đều đặn nhưng không đơn điệu, những âm thanh đơn giản nhưng không tẻ nhạt. Không khí thiền môn nâng cao tâm hồn con người, xóa bỏ những bon chen, tị hiềm, những bận bịu tầm thường. Một người bạn thân cũ có lần nhận xét về tôi:
– Toa có một đức tính lạ lùng, mà nếu đi tu, toa có thể trở thành Phật. Đó là toa không thù ghét ai. Toa yêu thương, thân thiện với tất cả mọi người nhưng không bao giờ dành một cảm tình đặc biệt riêng cho một cá nhân nào cả.
Tôi cười đáp:
— Moa mà đi tu, chắc các ni cô phải bỏ chùa hết.
Tôi có số nhờ cậy nhà chùa. Nhớ lần đầu tiên rời Huế, quê của tôi, vào Sàigòn để tình nguyện đi lính Không Quân. Trong thời gian chờ đợi ngày khám sức khỏe, tôi đã xài phí hết số tiền nhỏ nhoi của mình vào các thú tiêu khiển xa xỉ: Nhảy đầm và thuê xích lô đi dạo ngắm cảnh sắc Sàigòn. Tôi chỉ để đủ tiền mua vé xe về Quảng Đức thăm người anh, nhưng nhiều chuyến xe đò bị hủy bỏ vì đường mất an ninh, do đó người chủ xe, vì biết được hoàn cảnh của tôi, đã phải đãi tôi ăn uống và cho phòng để ngủ trong những ngày chờ xe. Sáng ngày lên xe đi, còn nhét thêm một ổ bánh mì lớn để đỡ lòng đường xa.
Năm 1964, thời kỳ mà cuộc tranh chấp giữa Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Việt Cộng còn ở giai đoạn tương đối êm dịu. Ban tối, Việt Cộng trở về bắt dân phá đường, đắp mô để chận đường tiếp tế. Sáng hôm sau, binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu dân phá mô, sửa đường để cho xe cộ lưu thông. Ngày phe Quốc Gia, đêm Cộng Sản, Dân chúng thôn quê một cỗ hai tròng, chẳng có quyền theo ai, chống ai. Xe bị kẹt đường, tôi phải theo đám hành khách chuyển sang phương tiện khác: Xe Lam chạy băng đồng.
Vì không có tiền, nên mỗi lần đi tôi phải chờ xe bắt đầu chạy, mới bám xe, leo lên nóc xe ngồi, và đến khi xe gần tới bến, tôi lại phải phóng từ nóc xe xuống đất để khỏi trả tiền. Đường lắc, dằn, xóc mạnh, tôi chịu thân người trên hai tay, phần để khỏi té văng xuống đất, phần không gây tiếng động làm người tài xế lưu ý. Ba lần nhảy xuống xe ở tốc độ nhanh và trong tư thế không thích hợp, tôi suýt bị trật giò và toàn thân đau ê ẩm. Không may, chặn xe cuối cùng, tên Tài xế xe đò đi tới bến xe Lam để đón khách nên thấy được chuyện đi xe “cọp” của tôi. Y cương quyết từ chối không cho tôi leo lên chiếc xe đò duy nhất đi về Quảng Đức của anh ta. Chờ y chạy, tôi lại bám vào sau xe, nhiều lần ngừng lại đuổi không được tên khách lì lợm, không tiền, anh ta bèn báo cáo với một tên Du kích Việt Cộng đang gác tại Bến Cát (vùng Bến Cát thời đó là chiến khu quan trọng nhất của Việt Cộng). Đồng chí Việt Cộng “ăn có” với đám tài xế xe đò bắt tôi xuống xe. Đây là lần đầu tiên tôi thấy Việt Cộng bằng xương bằng thịt. Cảm tưởng đầu tiên là sự khôi hài bởi vì vũ khí trang bị của họ thật thô sơ so với những lời tuyên truyền khoác lác, rẻ tiền của họ.
Trời ngả về chiều, tất cả xe bắt đầu rục rịch lên đường, bởi vì chốc nữa đây, như thường lệ, sẽ có những phi vụ khu trục đến thả bom quanh vùng. Dấu tích những tàn cây gãy, những hố bom chạy song song dọc đường quốc lộ vẫn còn mới mẻ. Mùi bom đạn và mùi tử thi vẫn còn phảng phất trong không khí âm u của núi rừng. Tôi bỗng nổi hứng bảo tên Việt Cộng:
– Anh đuổi tôi xuống xe, giờ nầy anh phải kiếm xe khác cho tôi đi. Nếu không tôi sẽ ở lì lại đây và anh phải nuôi cơm tôi vì tôi không còn đồng xu nào dính túi cả.
Có thời kỳ Việt Cộng chận xe đò bắt Dân vào vùng chiến khu bắt phải học tập chính sách vài ngày rồi thả về. Tôi đến không đúng vào thời điểm đó, và chính vì tôi dọa ở lì lại, càng làm họ tìm cách đuổi tôi đi càng sớm càng tốt. Tên Du kích, dẫn tôi đến gặp người Tài xế xe đi Ban Mê Thuột, bắt phải đưa tôi ra khỏi vùng, đến một làng kế cận thuộc quyền kiểm soát của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tôi xuống xe giữa một buôn làng xa lạ. Trời về chiều hiu hắt, buồn thảm. Tôi nghĩ đến đêm tối, lạnh lẽo, sương giá và tôi chợt nghĩ đến nơi luôn luôn mở rộng vòng tay để đón những kẻ lỡ đường bất hạnh như tôi: Nhà chùa! Và như mọi ngôi chùa thân yêu trên đất nước quê hương Việt Nam, tôi được dọn một mâm cơm chay linh đình nhân ngày lễ Rằm, và được ngủ một giấc bình yên trong không khí yên lặng, tĩnh mịch và trang nghiêm của nơi thờ phượng.
Sáng hôm sau, chờ mãi không thây người ân nhân ghé lại, hơn nữa, những chú tiểu đồng và sư cụ trong chùa đã có vẻ e ngại và nghi ngờ người khách lạ vì thấy chân tôi bị thương đi lại khó khăn, tôi đành chào từ giã họ rồi đi ra đường, đón một xe Honda thồ và hỏi:
– Có Tòa Đại Sứ Mỹ hay Hồng Thập Tự Quốc Tế đâu đây không?
May quá, người tài xế biết tiếng Anh, trả lời:
– Tòa Đại Sứ Mỹ ở Bangkok, ở đây có ICRC.
Tôi hỏi giá cả và thấy mình chỉ đủ tiền đến ICRC thay vì Bangkok, nên lên xe và đến nơi không dự định trước, bởi vì vết thương kiến cắn đã nhiễm độc nặng nề.
Trong cuộc phỏng vấn, tôi khai rõ mọi chi tiết, trừ việc gặp người đàn bà và đêm ngủ lại trong chùa. Sau bữa cơm trưa thật thịnh soạn, họ khám chân tôi, cùng những vết thương kiến cắn khắp người rồi chích thuốc và chuyển tôi qua chính quyền Thái.
– Đây chỉ là thủ tục, ông đừng ngại gì cả. Chúng tôi sẽ lo vấn đề định cư cho ông, và hàng tuần sẽ đến thăm và khám bệnh.
Ông Gabriel, Trưởng Phái đoàn cho tôi biết như vậy. Tôi được thẩm vấn sơ khởi tại Bộ Chỉ Huy của Thái rồi đưa về một phòng điều tra khác, cuối cùng bị chuyển vào Nhà tù Aran.
Thế là sau bảy năm tù tội, vượt ngục gian khổ, tưởng rằng mình đã đến được ngưỡng cửa tự do, tôi lại bị nhốt vào tù. Số phận của tôi thật bi đát. Tôi bị bệnh suốt một tháng và thời gian nằm trăn trở trong tù tôi hồi tưởng lại những giờ phút hấp hối của Sàigòn khi Cộng Sản tổng tấn công xâm chiếm miền Nam.
Bị Giam Vào Trại Tù Aran
Hai chuyên viên điều tra người Thái nói tiếng Việt rất rành, thường được gọi là ông Đại Tá Mập và ông Thái Đen. Hai người tị nạn Việt Nam được tuyển lựa phụ tá cho họ. Tôi tưỏng mình sẽ được tiếp đón niềm nở, nhưng sự thật phũ phàng. Tôi chán nản đau đớn còn hơn những đêm ngày lầm lũi trong rừng. Tôi kể lại chi tiết tỉ mỉ đoạn đường đi qua, trừ việc gặp người đàn bà và đêm ở lại trong chùa. Cũng may khi bị dẫn vào phòng thẩm vấn thừa lúc họ vô ý tôi vò miếng giấy nhỏ xíu ghi địa chỉ gia đình người ân nhân, mà tôi định sau khi qua Mỹ sẽ gửi thư thăm và quà biếu, kín đáo búng xuống đất. Họ không những không tin chuyện tôi bị kiến cắn mà còn cho đó là trò khổ nhục kế. Họ không tin một người bình thường, không có tiền bạc lại có thể một mình đi bộ từ Việt Nam qua Kampuchia, vượt bao ngục tù, rồi đi lọt vào sâu đất Thái, qua mặt các trạm gác biên phòng một cách dễ dàng như vậy.
– Có ai đưa anh đi? Tiền Thái đâu anh có?
– Tôi đổi tiền Thái ở Kampuchia. Tôi đi một mình.
Nói chung họ kết luận tôi là một gián điệp Cộng Sản, định lợi dụng lòng tin của cơ quan ICRC để hoạt động gián điệp quanh vùng biên giới.
Tôi nói châm biếm:
– Thưa ông! Tôi nghĩ rằng một Sĩ quan từng ở trong Ngành Điều tra gần hai mươi năm như ông, chỉ cần thoáng nhìn qua cũng biết được người thật, người giả. Huống hồ gì tôi, một kẻ mà tên tuổi đã thành quen thuộc đến nỗi những tù binh khác, như Liêu “y tá” trong buổi phát biểu học tập đã quen miệng nói nhầm “Lịch sử Việt Nam từ ngày lập quốc, kinh qua các triều đại: Đinh, Lê, Lý Tống” làm các bạn cùng nhà cười ầm lên, phải lật đật sửa chữa “Xin lỗi, các triều đại: Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn,” mà ông lại còn nghi ngờ.
– Đồng ý là nếu thật sự có Lý Tống, nhưng Cộng Sản đã giết Lý Tống và cho một tay gián điệp đội lốt Lý Tống thì sao?
– Tôi thiết tưởng rằng Cộng Sản không ngu xuẩn như vậy. Họ có thể đội lốt tên Xoài, tên Mít, tên X, tên Y nào đó, nhưng không dại gì đội lốt Lý Tống bởi vì tôi có quá nhiều bè bạn, tôi có quá nhiều đặc điểm, bởi vì có quá nhiều người quen biết tôi.
Tôi thì vì bệnh, vì thất vọng nên bực mình. Vị Đại tá lại từng quen với sự sợ sệt, khúm núm, bây giờ lại gặp một tay ngang bướng, cãi lý, cũng bực mình, do đó không khí cuộc điều tra càng lúc càng gay gắt. Có lẽ tất cả những đày đọa, cực hình mà tôi phải gánh chịu sau nầy đều bắt nguồn và bị ảnh hưởng bởi câu nói sau đây:
– Đại tá là một Sĩ quan của Quân đội Thái Lan, tôi là một Sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nếu Đại tá không kính
trọng một Sĩ quan đồng minh cũ thì, xin lỗi, tôi cũng sẽ không kính trọng Đại tá.
Người tị nạn Việt Nam tự khai là trung úy Phi công tên Thạch Xen, người Kampuchia Krom, phụ giúp công tác điều tra, vì muốn kiếm điểm, nên về hùa phe có quyền thế. Sau khi hỏi tôi về kỹ thuật bay bổng, cái kiểu hỏi của những người nghe lóm, học lóm chứ không phải dân bay chuyên nghiệp (có người sau nầy cho biết anh ta là Không Quân giả mạo), anh ta xác nhận những hiểu biết về Không Quân của tôi là không chính xác!
– Anh đi du học Hoa Kỳ đầu năm 1966, vậy lương lãnh mỗi tháng bao nhiêu?
– 180 dollars.
– Tầm bậy, láo khoét, làm gì nhiều vậy! Tôi là sĩ quan, cũng đi Mỹ năm 1965 mà lương có 40 dollars mỗi tháng. Ông Đại Tá Mập chất vấn.
Tôi tức giận, cái giận của người bị kẻ ngu đòi làm thầy, bị thứ ấm ớ lên mặt dạy đời. Tôi bẻ lại.
– Xin lỗi. Vậy ông thuộc hàng Hạ sĩ quan, chứ không phải Sĩ quan.
Tôi còn nhớ rõ mỗi bữa ăn tại Mess hall bao nhiêu cents, và cả một short time ở A-cú-nhà, ở Mexico bao nhiêu dollars nữa. Tôi còn nhớ cái cô bé có lông chân cứng như rễ tre mà sau khi làm tình xong, da thịt tôi đỏ ửng và ê ẩm. Tôi nhớ cái thủ tục vào phòng tắm, hai người cùng cởi truồng, một cái thau nhỏ đựng nước âm ấm, một cục xà phòng thơm để cô gái rửa chim khách và luôn tiện xem khách có bị bệnh không. Có người không chịu nổi bàn tay điệu nghệ, sự cọ xát kích thích của xà phòng, nước ấm, sự khêu gợi của thân hình tuyệt mỹ của cô gái, đã “khóc ngoài quan ải” vào luôn thau nước, để rồi phải trả tiền một cách oan uổng, tiếc rẻ. Đứa bản lĩnh hơn, qua được màn saxo điêu luyện, cũng phải tả tơi với “cái máy bơm, ” bởi nàng sẽ ngồi xổm lên, quay quanh bốn hướng, để bơm tất cả máu huyết, sinh lực rạo rực của khách chơi lên đến tuyệt đỉnh. Có đứa tiếc tiền phải bôi thuốc Nhật “ông già mang kính” trước để cầm cự thêm vài phút, thế mà đến phiên tôi, không những đã coi khinh mọi thứ thủ tục, lại còn câu giờ đến nỗi cô ta phải líu quíu:
– Excuse me! Excuse me!
Tôi đang phân vân, thắc mắc, thì nàng đã với tay lấy khăn lau khô, và hăm hở trở lại trận đấu cờ người. Cô ta phải sorry đến bốn lần tôi mới hoàn tất nhiệm vụ trả thù Dân tộc.
Tôi cười hỏi cô bé:
– Làm nghề nầy mà em sorry nhiều vậy làm sao thọ cho nổi.
– Em làm nghề nầy không phải chỉ vì tiền mà còn vì em dâm quá. Những thằng kép không đứa nào chịu nổi em. Anh là tay có hạng lắm!
Tôi còn có thể chỉ cho quí vị xem cái thẹo nhỏ trên mặt, mà một lần cỡi ngựa tại San Antonio, Texas, tôi đã bị thương. Số là trong khu vườn cỡi ngựa, có một chiếc xe lửa con cóc chở khách chạy quanh ven đồi. Tôi đang cỡi con ngựa dữ nhất chuồng và mải mê chạy theo nhìn những cô gái xinh xắn lộng lẫy như những nàng tiên nữ trong thần thoại, đang vui đùa nghịch ngợm trên xe lửa. Đến một ngã rẽ, vì quen thói quẹo theo đường rẽ phải, ngựa bất ngờ bị tôi giật cương rẽ trái chạy theo xe lửa nên lỡ trớn phóng lao cả thân mình vào thân cây nằm sừng sững giữa ngã rẽ. Con ngựa bị thương một bên hông phải quị nằm một góc, tôi bị bắn vào gốc cây mê man bất tỉnh, và các cô bé trên xe lửa đã la hét báo động để toán kiểm soát đến đem tôi đi cứu cấp. Và những đêm một mình lang thang đến những phòng ca nhạc dưới tầng hầm, tiếng kèn saxo rên rỉ thê thiết làm tôi đứng chết lặng ở góc thang lầu, để rồi nửa chừng bỏ đi, mang theo cái âm hưởng ngây ngất choáng ngợp cảm giác trong bước độc hành vào đêm sâu thẳm vô cùng.
Vâng! Tất cả những kỷ niệm yêu dấu của ngày du học Hoa Kỳ sau mười mấy năm vẫn còn tươi mát trong phần ký ức. Thế mà họ dám cãi tôi, dám giỡn mặt với tôi.
Tôi nói lớn:
– Các ông chẳng biết mẹ gì cả. Nói chuyện với các ông mệt quá, mất thì giờ quá, vô ích quá.
Họ lại xoay qua chuyện vượt biên.
– Thế trên đường qua Cao Miên, anh thấy bao nhiêu căn cứ quân sự của Việt Cộng, quân số bao nhiêu, tên đơn vị là gì?
Tôi cười chán chường, gằn giọng:
– Thưa ông, đến một đứa con nít chăn trâu gặp trên đường tôi còn phải tránh. Tôi đi vượt biên chứ có phải đi thám sát đâu mà quan tâm, nghiên cứu những điều đó.
– Bây giờ anh có thể đưa tôi đi trở lại con đường đã đi qua không?
Nghe tới đó, tôi thấy bủn rủn tứ chi. Những giây phút kinh hoàng vừa trút bỏ đằng sau, chợt tái hiện.
– Tôi mệt lắm rồi. Tôi chẳng đi đâu nữa cả.
– Anh biết rằng nếu anh không giúp cho tôi tin tức tốt thì tôi không thể giúp anh đi định cư tại nước thứ ba không?
– Tôi đã khai rõ, khai chi tiết những gì tôi biết được. Nếu ông không tin, ông giao tôi cho Tòa Đại sứ Hoa Kỳ, họ sẽ xác nhận lý lịch của tôi. Có khó gì đâu?
– À, nếu anh muốn nhờ Tòa Đại sứ Mỹ, muốn nhờ ICRC, thì một ngày nào đó, tôi sẽ đưa anh trở về biên giới Kampuchia, họ sẽ tới đó giúp anh.
Câu nói tưởng vô tình, thế mà hơn một năm sau, chính vị đại tá mập đã thực hiện để trở thành hiện thực!
Tôi bị bịt mắt đẩy lên xe chở về Aran Jail. Tôi bị đóng koờng mặc đầu chân đang bị thương vì kiến cắn không đi được, và cơn sốt đang hành hạ cơ thể.
Hôm sau tôi lại bị lôi đi điều tra tiếp. Vừa được hai tù khác dìu xuông lầu dưới, tôi đã bị “Thái đen” đấm phủ đầu một cú tóe lửa, tối tăm mày mặt, tiếp đó, tôi còn bị kéo đi xềnh xệch, cùng lời đe dọa dằn mặt:
– Nếu lần nầy mầy không khai thật, tao sẽ cho đem mầy vào rừng bắn bỏ!
Vừa bị đẩy lên xe, tôi đã nghe một giọng nói phụ họa thêm:
– Đem nó đến cái bìa rừng hôm trước thủ tiêu thằng Gián điệp hay dẫn tới cái phòng chứa xác đằng kia?
– À! Súng đâu rồi? Đại tá đem theo mấy khẩu?
Tôi yên lặng mỉm cười trong bóng tối. Mẹ! Ông đã từng bị Việt Cộng nửa đêm đem cuốc xẻng đào hố để chôn mà ông còn coi khinh, bốn lần đối diện họng súng VC vẫn hiên ngang không quì, huống gì cái trò ấu trĩ nầy?
Xe giả vờ chay loằng ngoằng, quẹo đường nầy, hướng nọ nhưng khi dẫn lên thang gác, tôi nhận ra ngay cái Phòng Thẩm tra cũ qua các lối định hướng bằng trí nhớ dù không thấy đường. Những cú đấm như trời giáng vào mặt, vào ngực, vào bụng từ trái, từ phải, từ phía trước. Tôi ngã té mấy lần nhưng vẫn gượng đứng dậy. Tôi đứng dậy mà không hề thấy sự đau đớn của vết thương ở chân như thường lệ, bởi vì sự đau đớn các nơi khác đã trầm trọng hơn, và bởi sự đau đớn tinh thần của sự xúc phạm. Xong xuôi, họ ấn tôi ngồi xuống ghế và nạt lớn:
– Sao! Giờ nầy mầy đã chịu khai thật chưa?
Tôi ngồi thẳng người, mắt bị bịt kín như một tử tội trong giờ hành quyết. Những tiếng la hét của những chuyên viên điều tra như tiếng tru rống của quỉ dữ dưới chín tầng địa ngục.
– Tôi đã khai thật. Khai hết. Chẳng còn gì để nói nữa.
– Vậy thì thôi. Sửa soạn đem nó đi bắn bỏ.
– Mầy có muốn nói gì lần cuối trước khi chết không. Một giọng khác xen vào.
Tôi nghiêm giọng, chậm rãi và dõng dạc:
– Vâng! Đây là lời nói cuối cùng của tôi trước khi chết. Được nghe nói anh Thạch Xen là một Phi công, vậy tôi nhờ anh một chuyện. Một ngày nào được định cư ở Mỹ hay ở một Quốc gia thứ ba nào đó, nếu anh gặp những người bạn Phi công của tôi, những người bạn Tù của tôi, hoặc bất cứ người Việt Nam nào biết tên Lý Tống, nhờ anh nhắn lại với họ rằng: “Phi công Lý Tống đã vượt ngục thoát khỏi gômg cùm của bọn quỉ đỏ và đã hy sinh tại Thái Lan, một đất nước tự do.”
Tôi chơi chữ vì Thailand cũng có nghĩa là đất nước tự do. Thấy tôi cương quyết và khí khái, họ bèn đổi giọng bảo tôi:
— Được rồi! Vậy anh cứ khai lại từ đầu cho chúng tôi ghi chép.
Từ đó tôi không còn bị thẩm vấn lần nào nữa nhưng những tay ăng ten thân tín được chỉ định tìm cách moi tin tức bằng cách lân la đến đấm bóp phục vụ tôi hoặc chuyện trò với tôi. Tôi vẫn tiếp tục bị mang koòng chân. Khi số tiền Thái 20 bahts tịch thu của tôi được đem đi nhà băng kiểm nghiệm, chính vì tiền quá mới được phát hành cách đó mười lăm ngày, đã làm rắc rối lâu dài vấn đề của tôi mặc dù tôi đã nhấn mạnh:
– Các ông nên hỏi các tay buôn lậu đường biên giới vì đó là nghiệp vụ của họ.
Tôi vẫn nhất định giữ vững lập trường trong vấn đề đổi tiền tại Kampuchia nhưng họ vẫn tìm mọi biện pháp để chiêu dụ tôi.
– Nếu anh khai đã đổi tiền tại Thái hoặc có gặp một người Thái nào trước khi đến trình diện ICRC, tôi sẽ mở koòng và cho anh đi Trại Tị nạn chuyển tiếp.
Không! Tôi không thể nào làm điều đó được. Tôi tự khẳng định. Thà rôi chịu chết chứ không làm hại những người tốt giúp đỡ tôi.
Tôi tưởng tượng đến gia đình người đàn bà ân nhân bị xét nhà, bị thẩm cung, bị bắt bỏ tù v.v… trong khi tôi hạnh phúc đi Mỹ.
– Không! Không đời nào!
Tôi lẩm bẩm một mình mỗi lần các tay điều tra yêu cầu tôi khai lại vụ tiền bạc. Trong thời gian nầy, tôi được đọc tờ báo Bangkok Post nói về lịch sử thành phố nghỉ mát Phu Kien của Thái. Người sáng lập ra Phu Kien là một thanh niên Trung Hoa trẻ, nghèo, tên Phu Kien, đến Thái Lan lập nghiệp, làm ăn, xây dựng cơ đồ. Trong thời gian Nhật xâm lăng Thái, những người Anh bỏ chạy về nuớc có nhờ ông ta giữ một số hồ sơ bí mật. Mặc dù bị tra tấn hành hạ, ông ta thà chết không chịu phản bội người đã tin cậy mình. Sau khi Anh Quốc trở lại Thái, ông là người được nước Anh mang ân và trả ân. Nhờ đức tính đặc biệt đó, mọi người kính phục và ngưỡng mộ ông.
— Thưa ông Phu Kien, noi gương ông, làm theo gương ông, đó là hình thức biểu lộ sự kính phục và ngưỡng mộ ông cao quí nhất. Tôi sẽ làm điều đó.
Tại nhà tù Aran, ông Đại Tá người Thái thuộc phòng điều tra của Bộ Nội Vụ thất bại vì không làm cho tôi khai ra người Thái nào giúp tiền bạc, bèn yêu cầu:
– Bây giờ tôi cần anh xác nhận rằng, anh đi vượt biên tốn vàng và có người dẫn đường, tuy nhiên vì muốn tạo huyền thoại để làm bạn bè khâm phục, anh đã dựng chuyện ly kỳ rùng rợn về cuộc vượt biên tưởng tượng của mình. Nếu anh xác nhận vậy, anh sẽ được mở koòng.
Tôi lắc đầu trả lời:
– Chỉ có những kẻ đời sống quá khô khan nghèo nàn mới dùng trí tưởng tượng để tô màu cho cuộc sống. Còn tôi, cuộc đời tôi vốn phong phú và giàu có để trở thành huyền thoại.
Trại tù 7708 ở Nam Vang vẫn còn đó, chiếc phi cơ C119 số đuôi 077 tại phi trường Tân Sơn Nhất với nét khắc tên Lý Tống ở nosegear vẫn còn đó. Các ông có thể nhờ các phóng viên đang công tác tại Kampuchia, tại Sàigòn để kiểm soát lại, có khó gì đâu?
Tôi được “quỉ báo cốt” hớt tóc theo kiểu Mr. T, một trong những kiểu tóc punk quen thuộc của nhà tù Aran. Trong nhà tù của kẻ thù Cộng Sản, tôi luôn tự đấu tranh để giữ mái tóc dài và bộ râu chướng mắt. Trong ý thức về thái độ sống, sự đầu hàng từng bước sẽ đưa đến sự đầu hàng toàn diện. Tóc và râu không còn mang ý nghĩa của thẩm mỹ, đó là biểu tượng của một lập trường, của một lựa chọn: Để râu dọa Việt Cộng. Tôi vẫn thường nói đùa như vậy.
Với Việt Cộng, hoặc tuyệt đối tuân phục, hoặc chống đối đến kỳ cùng. Dở dở ương ương, lưng chừng, dễ bị ăn đòn oan mạng. Mỗi đối tượng đều đưọc trải qua một sự thử thách. Sự thử thách đến tận cùng của mỗi giới hạn: Giới hạn của đau đớn, của sợ hãi, của sống chết…
Bản năng sinh tồn thường bắt con người phải đầu hàng, nhiều người chỉ đi được nửa chặng đường thử thách. Thiểu số vượt qua được mọi thử thách hoặc sẽ bị thủ tiêu, hoặc sẽ được yên thân, tùy tình hình mỗi Trại. Sống hay chết trong trường hợp nầy thuộc vào số mạng con người.
Tôi nhớ những ngày ở Phan Rang. Tôi cạo trọc đầu nhưng vẫn để râu Hitler để phản đối sự khắt khe của Đại Tá “Phúc ròm.” Đại
Tá Phúc ròm là một trong những chỉ huy trưởng khó tính nhất, khó đến nỗi bắt nhốt cả người tài xế quân cảnh, chỉ vì người nầy dùng xe jeep quân cảnh đưa dùm thân sinh của chính Đại Tá từ cổng vào nhà, khi ông ta đi vắng. Lý do: Sử dụng quân xa vào việc tư nhân bất hợp pháp!
Đại Tá Phúc đã trách Đại Tá Thảo:
– Ai cho phép thằng Lý Tống cạo trọc đầu? Nó có giấy phép của Bác sĩ không?
Đại Tá Thảo chịu bênh vực những đàn em dám nói, dám làm, nên tỉnh bơ trả lời:
– Ông đừng chọc thằng khùng đó thì hơn!
Đại Tá Phúc ròm từ đó không những không chọc tôi mà còn đau khổ phân trần:
– Trong cuộc đời tao, chỉ có hai người có quyền bắt tao phải nhảy đầm là Tướng Nguyễn Cao Kỳ, và Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân. Mầy là người thứ ba bắt tao nhảy đầm và tao phải nhảy!
Đại Tá Ông Lợi Hồng, một Sư đoàn phó chằng ăn của Sư đoàn 4 Không Quân, đã từng bắt “Chấn Django,” Thiếu Tá, trong năm phút phải trình diện với bộ râu kẽm cạo sạch sẽ, thế mà đã tự tay ký giấy phép cho tôi để râu khi tôi chuyển đơn xin phép để râu với lý do: “Râu Hitler độc đáo! ”
Râu, tóc là một lề lối sống, cạo hay giữ lại, đều phải có một ý nghĩa nào đó.
Một số quân cảnh nhà tù Aran khá tốt bụng. Chính Chaning và Anh mập nhà bếp đã hai lần tự ý mở koòng cho tôi và hai lần, Đại Tá Mập vội vã tức tốc xuống quạt đám cai tù một trận và ra lệnh đóng Koòng lại. Tổng cộng tôi bị koờng ba lần trong mười tháng.
Tôi phá kỷ lục nhà tù Aran vì tù Thái bị giam giữ và bị koòng tại đây từ xưa đến giờ chưa ai bị quá ba tháng.
Sinh hoạt Trại tù Aran đơn giản. Buổi sáng, mở cửa “pai khang lẳng” (đi xuống lầu), để chùi rửa nhà cầu, lau sàn nhà, nhặt rác, nhổ cỏ rồi ăn sáng. Xong “pai khang bôn” (lên lầư). Nằm nhịn đói suốt buổi trưa, chiều xuống công tác như cũ, tắm, ăn cơm xong lên lầu nhốt lại. Cái thời kỳ sau cùng, khi tôi làm Trưởng toán, một Trưởng toán bất đắc dĩ vì tôi là người duy nhất còn lại nói được tiếng Thái vì ở quá lâu. Nhờ vận động ICRC cung cấp thêm gạo, đồ ăn, các dụng cụ thể thao, vì có dư dã “chấm mút” được đôi chút nên cai ngục Thái hòa hoãn và cải thiện một phần nào tiêu chuẩn ăn uống. Ngoài ra, Tù Việt Nam còn được đá banh, đánh bóng chuyền, đá cầu Thái chừng nửa giờ vào buổi chiều.
Hình phạt của Aran Jail gồm có: Đẹt khao (cắt cơm), Áp nam suôn (tắm nước cứt, ngâm người dưới hầm cầu tiêu), tể (đánh) và cấm tắm, ăn tàn thuốc lá, cùng các hình phạt thông thường khác. Lỗi thường phạm nhiều nhất là làm ồn ào. Sàn Nhà tù bằng ván, chỉ cần bước mạnh cũng đã nghe ầm ầm, thế mà các chú thanh niên trẻ, mặc dù đói, mặc dù bị đánh đập, cũng cứ đùa giỡn và nói chuyện um sùm. Lỗi khác không kém phần thông dụng: Làm tạp dịch, vệ sinh không hoàn chỉnh, sạch sẽ. Lỗi nặng nhất là đánh lộn.
Bản tính con người cũng thật lạ, gặp kẻ có quyền thế, có sức mạnh, đàn áp, lăng nhục bao nhiêu cũng chịu được, cũng nhẫn nhục được, nhưng với kẻ dưới tay, kẻ thất thế, kẻ đồng hoàn cảnh khốn nạn như mình lỡ đụng chạm chút xíu là nổi máu anh hùng ngay, là phẫn nộ ngay! Ôi cuộc đời! Tại sao các người không biết nộ khí xung thiên, không biết chơi xả láng khi bị những thế lực lớn, tàn bạo, bóc lột, hà hiếp, đàn áp, chà đạp và rộng lượng, dễ dãi, hòa thuận với những kẻ khốn cùng? Thời kỳ ở tù, tôi vẫn thường nói với một số bạn:
— Không phải moa bắt chước lời Chúa dạy, ai đánh má trái đưa má phải, nhưng nếu bạn nào giận moa, moa sẽ đưa mặt cho bạn đó tát mà không đánh lại. Ở với anh em, mà anh em không thương mình đã là một cái tội. Huống hồ làm cho người ta ghét, tức giận, khinh bỉ muốn đánh mình, thì đó là một cái tội không tha thứ được.
Tôi tập sống để thấy những ưu điểm của người khác và khuyết điểm của mình. Tập sống để rộng lượng với người và nghiêm khắc với mình. Mặc dù để đạt được đức tính đó, con người phải vượt ra ngoài tầm vóc và giới hạn bản thân. Nghĩ như vậy và tập sống như vậy, dù không đạt đến mức độ hoàn thiện, ít nhất cũng tìm thấy được sự bình an, hạnh phúc của tâm hồn.
Tôi vẫn nghĩ rằng, niềm tin và lòng kính trọng của tha nhân giúp buộc chặt con người vào vị trí đạo đức và nhân cách. Một kẻ xấu sẽ bị nhận chìm xuống đáy sâu tội lỗi nếu ta tiếp tục đả kích họ. Một kẻ xấu sẽ ngần ngại hoặc thay đổi nếu họ nhận được sự đổi xử tốt. Những kẻ vốn đã được kính trọng, ca ngợi, cũng khó lòng thực hiện được những điều xấu, dù đôi lúc, là con người, trong tư tưởng họ, có lúc lóe lên những ý nghĩ sai trái, đen tối.
Aran Jail có Tù Việt Nam và Thái. Tù Việt Nam gồm lính Bộ đội đào ngũ, cùng các thành phần khác vượt biên đường bộ bị bắt hoặc trình diện trên lãnh thổ Thái Lan. Tù Thái gồm các lính say rượu, đánh lộn, chơi bời, xì ke, ăn cướp, ăn trộm… cùng các tù hình sự khác. Khoảng 90% người Thái thích boxing và biết boxing nhưng võ sĩ và tinh thần võ sĩ đạo không phải lúc nào cũng là một thể thông nhất. Do đó mỗi lần lính gác đánh tù, cảnh tượng rùng rợn như phim võ hiệp Tàu. Tráo, một tay ngỗ ngáo đã từng tuyên bố “Tính tao nóng lắm. Tính tao không nhịn được, không dằn được. Thằng nào, kể cả ông Trời, chọc tao, tao đập bỏ mẹ ngay.” Thế mà sau một trận đòn đã rên rỉ, ỉ ôi: “Giờ nầy thằng nào leo lên đầu ông nội tao ỉa một bãi, tao cũng đéo dám giận, đéo dám đánh lộn.”
Tình hình của Aran Jail có lúc tồi tệ, một phần lớn cũng do lỗi của tù nhân. Có nhiều quân cảnh lúc đầu rất dễ dãi, tốt bụng, biết điều, thế mà sau một thời gian, trở thành khó khăn hoặc dữ dằn. “Ở để cho người đang thương mình thành ghét mình, cho người không thương, không ghét trở thành thù địch, muốn đập mình, đối xử tàn tệ với mình,” đó là nghệ thuật sống của một số các tù Việt Nam tại Aran Jail! Dần dần những ông Phật Sống, những ông Thiện, đã trở thành ông Ác, trở thành quỉ báo cốt.
Bộ đội đào ngũ qua Thái thuộc nhiều thành phần: Sĩ quan, Lính, miền Nam, miền Bắc. Một số mới ra trường từ các lò huấn luyện quân sự tại Việt Nam vừa mới đặt chân tới trình diện đơn vị ở Kampuchia hôm trước, hôm sau đã bỏ trốn vượt biên. Có trường hợp đặc biệt của nhóm 28 người, định trốn về Việt Nam lại đi lạc, bị Khmer Son San phục kích bắt được, đưa qua Thái và được chấp nhận theo qui chế tị nạn. Có số hành quân gần biên giới hay đóng gần biên giới, thừa cơ hội ôm súng trốn qua Thái. Cũng có một số lính bụi đời, đào ngũ, đi chận đường buôn, ăn cướp, giết người, đến khi không làm ăn được nữa, bị truy lùng quá, đành vượt biên.
Đúng ra, Bộ đội Việt Cộng bỏ ngũ hồi chánh xứng đáng được xếp hạng Tị nạn Chính trị, đáng đuợc giúp đỡ định cư sớm. Chính sách hiện hành đã dồn họ vào thế bi thảm, đường cùng, nếu giải quyết thỏa đáng thành phần tị nạn nầy, Quân đội Việt Cộng sẽ tan rã và suy sụp nhanh chóng.
Lính Thái đa số theo đạo Phật, nhưng đồng thời lại thờ Thần Dương Vật. Trong lớp áo nhà binh, người lính nào cũng đeo một sợi dây quanh bụng, lủng lẳng một Ông Thần. Tại một cái miếu nhỏ, bên trong trang thờ, đặt hai khúc gỗ đỏ khắc chạm hai “của quí” thật bự, đằng trước để một cây gậy, cũng khắc hình dương vật. Mỗi lính Thái bị đưa vào Aran đều phải qua hình phạt sơ khởi với sự chứng kiến của gậy Thần. Người trưởng toán cầm đầu gậy dộng xuống đất ba cái như ông Chánh án cầm búa gõ khai mạc phiên xét xử. Có điều lạ, là những đứa cộc cằn thô bạo bao nhiêu, như tên “Giàu khùng” lại giỏi và thuộc kinh Phật nhiều hơn nhũng người hiền lành khác. Ban ngày “Giàu khùng” dùng những ngôn từ thô bỉ, cộc cằn, dùng hành vi thô bạo, độc ác để hành hạ tù Việt Nam. Ban đêm, cũng con người ấy, cái giọng ấy, ngân nga lớn những câu kinh dẫn đạo, hướng dẫn các Tù khác đọc kinh, nghe thật bứt rứt khó chịu.
Điều khôi hài thứ nhì là tên của Thái Lan. Tờ Bangkok Post trong một bài có chiều hướng giáo dục và xây dựng thế hệ phụ nữ Thái tương lai đã đề cập:
— Làm thế nào để xóa bỏ được thành kiến của người phương Tây khi họ gọi Thailand, miền đất tự do thành Thigh Land, vùng… đùi non.
Gái Thái tràn ngập các khu chơi bời khắp các Quốc gia giàu có lân cận, đến tận Trung Đông, châu Âu. Thời kỳ tạm giam tại Immigration Department ỏ Singapore, hàng ngày sinh hoạt giải trí nhộn nhịp, hấp dẫn nhất của tù nhân là chen chúc ở cửa để nhìn các cô gái Thái cư ngụ bất hợp pháp và làm nghề bất hợp pháp mới bị bắt vào. Họ vào rồi ra, đến rồi đi, tấp nập, đông đảo như những hội chợ triển lãm người.
Lần đầu tiên tắm chung với lính Thái — chúng tôi vẫn tắm trần truồng như là một thông lệ của Aran Jail — tôi trố mắt kinh ngạc hỏi một lính Thái: “Trời ơi! Bạn bị bệnh bao lâu rồi? Đã chích thuốc gì chưa? ” khi thấy dương vật của anh ta nổi lên nhiều cục lớn như hạt bắp. Tôi đã thấy nhiều loại bệnh hoa liễu khác trái ngược với loại nầy, chẳng hạn một người lính Mỹ, trong khi ngồi uống bia trong một snack bar lại lôi cái của quí đùa. Cái đầu dương vật bị lõm, sứt mẻ nhiều lỗ, mà khi đi tiểu, như lời anh ta nói, nước tiểu xòe chung quanh giống như một vòi douche tắm!
Anh lính Thái cười vì sự quê mùa của tôi, giải thích cách làm và công hiệu:
– Mài các mảnh đít chai cho thật tròn lẳng, xẻ da qui đầu khâu vào. Effet vô cùng!
– À! Hèn gì hồi ở Sàigòn, con nhỏ Bé bạn cháu gái tôi vẫn thường khoe: Chồng cháu có độn ba cục kim cương trong dương vật!
Khi nhìn Bé cứ càng ngày càng xanh xao, gầy gò, nhìn Madame Giám đốc Bệnh viện Nong Samet, người Mỹ trẻ đẹp, cứ đeo anh chàng tình nhân nguời Thái tài xế như sam, tôi cũng dư đoán được công hiệu của loại kim cương nầy!
Lính Thái là lính cậu, lính bóng, khi chiều về, họ bôi son, trét phấn, xức nước hoa như là các diễn viên sắp lên sân khâu cải lương. Họ rất quí vàng vì vàng rất hiếm ở Thái. Hai Quốc gia Miên—Thái ở sát nách nhau lại có những điểm dị đồng đặc biệt. Vàng thì quá thường đối với người Khmer, những gia đình bình dân cũng có vài lượng, gia đình khá giả thì tích trữ vàng bằng kí lô. Do đó mà nhiều nữ Bộ đội Việt Cộng đã trở nên giàu có chớp nhoáng vì chỉ cần chịu chơi tí xíu với một chàng Khmer, trong chớp mắt đã có một sợi dây chuyền vàng mấy chỉ.
Người Thái trái lại hình như ít có vàng, họ xọp thỏn (thích vàng) đến nỗi, nhiều tay Cai ngục hoặc Tù Thái, hễ gặp bất cứ Bộ đội Việt Cộng đào ngũ nào có răng vàng đều gạ gẫm đòi mua. Có tay bạo hơn, đòi bẻ răng vàng nếu không chịu bán!
Trong tù Aran, lính Thái ít khi đánh lộn nhau, nếu có thì chỉ đánh tù Việt Nam mà thôi. Chẳng bù trong nhà tù Việt Nam thời chế độ cũ, những cuộc thanh toán, tranh giành ngôi vị Trưởng phòng, hoặc trừng trị đàn em thường xảy ra như cơm bữa.
Ban đêm Aranjail nhộn nhịp như một cái chợ nhỏ. Lính Thái ngồi hoặc nằm bên ngoài hành lang, tù Việt Nam thò tay qua song sắt đấm bóp. Coi chỉ tay và giặt áo quần cũng là những nghề để kiếm thuốc lá hút hoặc kiếm áo quần để mặc, vì lính Thái khi được thả khỏi tù trở về đơn vị, thường để lại một ít quà cho tù Việt Nam.
Riêng tôi lại được coi là Hủ Na (ông lớn) nên họ thích tiếp chuyện hoặc nhờ tôi chỉ dẫn Anh văn. Họ thường biếu tôi thuốc lá, bánh kẹo, trái cây và thỉnh thoảng mời nhậu. Nói chung đa số tù Thái dễ thương, thân hữu, thỉnh thoảng mới có vài tay thô lỗ, du côn.
Ở trong các nhà tù Việt Cộng, hoặc thời gian vượt ngục về Sàigòn, tôi cũng đã nghiên cứu, quan sát và đánh giá về đám Bộ đội Việt Cộng về khả năng và tinh thần chiến đấu của họ nhưng chính ở Aran Jail, tôi mới thực sự biết rõ đích xác bản chât của Quân đội Việt Cộng. Hầu hết Bộ đội Việt Cộng, trong thời gian huấn luyện quân sự, không mấy ai được tập bắn tổng cộng trên 30 viên đạn. Vì thế ngày thi bắn, Đơn vị Huấn luyện phải đưa các Huấn Luyện viên hoặc một vài tay súng giỏi hiếm hoi đi bắn thế để báo cáo về phẩm chất và thành quả của Khóa Huấn luyện.
Cũng chính vì biết rõ khả năng của các tay súng Cộng Sản và một phần tin tưởng vào số mệnh mình, mà một lần, trong lúc làm nghề cá tại Đài Côn (Kampuchia), tôi đã đánh cuộc với một tên lính Heng Samrin thuộc toán lính gác bảo vệ khu vực, với một điều kiện rẻ mạt:
— Tôi sẽ ngồi trên một trụ gỗ giữa dòng sông Cửu Long trong vòng 200 thước và cho y nhắm bắn tôi hai viên đạn. Nếu trúng, y sẽ không bị trách nhiệm gì cả. (Việc bắn chết một người dân tại Kampuchia, thực tế, cũng chẳng có gì đáng quan trọng, chưa kể, nếu biết được tôi là một tên tù vượt ngục, chắc chắn y còn được thưởng công thêm!) Còn nếu bắn trật, y thua tôi một tháng lương và tôi sẽ dùng số tiền đó để đãi các bạn Thợ lặn một chầu nhậu bình dân (lương lính Miên 60 riels chỉ bằng 3 dollars).
Khi hay được có cuộc đánh cá nguy hiểm đó, chính Chủ nhân của Công ty đã ngăn cản vì họ tin dị đoan rằng nếu lỡ có đổ máu, chết chóc, Công ty của họ sẽ xui xẻo, sập tiệm.
Có lần ông Đại Tá Mập hỏi một Bộ đội Việt Cộng:
– Tại sao có Đơn vị, khi đánh chỗ nầy thì xuất sắc, đánh chỗ kia thì dở ẹc?
Họ cười giải thích:
– Có gì đâu? Cứ chỗ nào có chợ búa, phum làng giàu có, tụi con tranh nhau chạy trước, chạy nhanh để hốt vàng, bạc, radio, vải vóc… Còn chỗ nào thâm sơn cùng cốc, thì dại gì mà xông xáo!
Một trong những mục tiêu Bộ đội Việt Cộng thèm khát và nhiệt tình nhất để tấn công là Thái Lan. Đi Thái Lan một chuyến về tiêu mấy năm chưa hết, chưa kể, buồn buồn, vượt biên luôn càng tốt. Điều đó xác nhận lời tuyên bố của một Cán bộ Cộng Sản cao cấp:
– Nếu cần, trong vòng mười ngày, Việt Cộng sẽ chiếm toàn bộ Thái Lan!
T’rừ đám Nghệ Tĩnh, quê hương của “Bác” là còn trung kiên, còn tất cả Bộ đội đều nghĩ và chuẩn bị thực hiện ý nghĩ vượt biên để tránh đói khát, bệnh tật thường trực ám ảnh họ, hoặc sự chết chóc phải trực diện hàng ngày mà phần lớn số thương vong đều do đạp mìn bẫy, hoặc bị đột kích, phục kích.
Tại nhà tù Aran Thái Lan, tôi bị koòng chân đến ba lần, tổng cộng mười tháng, và tôi thường đánh cá với các Bộ đội ở chung phòng:
– Anh cam đoan và dám cá rằng anh sẽ bị koòng ba lần và chắc chắn sẽ có ba con chó bị giết.
Ba lần koòng, ba con chó sẽ hy sinh thế mạng. Không ai tin, nhưng cuốỉ cùng đúng ba con chó bị giết cho tù ăn thịt, không hơn không kém. Nhưng có điều ngoài sức tiên tri, Aran bỗng nhiên xuất hiện ba ông đạo sĩ, chúng tôi gọi đùa ba người tù mới đến như vậy, vì khi họ bị giải giao tới Aran, họ đã bị cạo trọc đầu trước và sau đó ba ông đạo sĩ bị chuyển về Nong Samet, trốn trại rồi bị bắn chết.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.