Cuộc Chiến Trong Bóng Tối

hung-viet.org

Hồ Đình Nam

12 Tháng Tư 2023

Post by Sơn râu 22 Jul 2025

CampTienSha-tiensa-danang

Cho đến ngày xảy ra chuyện tôi sắp kể dưới đây mỗi khi nhớ lại tôi vẫn thấy hối hận sao lúc đó tôi laị có thể hấp tấp nhận lời không chút đắn đo khi Trung tá William yêu cầu tôi ra Đảo công tác thời gian được ấn điṇh là sáu tháng trong lúc tôi có quyền từ chối để ở lại thành phố.

Dạo đó tại các thành phố lớn đang nổ ra những cuộc biểu tình chống chính phủ do học sinh và sinh viên sách động. Tháng 6 năm 1966, tôi về lại Huế thăm gia đình sau khi tạm thôi dạy vì nghỉ ba tháng hè giữa lúc thành phố đang sôi sục xuống đường dưới sự chỉ đạo của những tu sĩ xuất phát từ chùa Từ Đàm. Lệnh giới nghiêm được thi hành từ bảy giờ tối. Một số sinh viên đào thoát theo Côṇg sản trước khi chính quyền trung ương ở Sài Gòn sắp điều Thủy Quân Lục Chiến ra Huế để giải tỏa đám biểu tình và thiết lập lại trật tự. Tôi rời Huế vào Đà Nẵng. Qua môi giới người bạn, tôi nhận việc làm tại căn cứ Camp Fay tọa lạc cuối ranh giới Sơn Chà trước khi vào cảng Tiên Sa. Nơi làm việc là cơ quan tình báo Mỹ-Việt phối hợp đặc trách nghiên cứu về mọi sinh hoạt của Miền Bắc từ tôn giáo, chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế, quân sự và đặc biệt quan tâm hàng đầu đến quân số bộ đội phòng không đồn trú.

Tại tỉnh Thanh Hóa nơi có cầu Hàm Rồng đã được thiết trí bao nhiêu súng phòng không, bao nhiêu súng cao xạ thật và giả được ngụy trang ở hai đầu cầu. Đã có bao nhiêu đơn vị chủ lực địa phương trú đóng kể cả dân quân loại 1 và loại 2, hoặc số công an biên phòng tham chiến. Trên trục giao thông quốc lộ 1 số lượng chuyển quân vào Nam băǹg những đoàn convoy có thường xuyên không? Tài liệu nghiên cứu được tham khảo và đánh gíá qua các lời khai từ nguồn tin (source) sau khi bị bắt trên biển trong hải phận Miền Bắc trên những con thuyền đang đánh cá ngoài khơi thuộc các Hợp Tác Xã Ngư Nghiệp có những tên khác nhau như HTX Quyết Thắng, HTX 19/5. HTX Thắng Lợi, HTX 2/9. Những ngư dân này sau khi bị bắt đều được bịt mắt khi dẫn độ lên ba chiếc tàu PT chạy 2 ngày, một đêm với vận tốc 90km/giờ để sau đó lùa họ lên Đảo và thông tri cho nhưñg người này biết đây là những hoang đảo trên đất Bắc.

Tôi về nhà trọ gom một ít áo quần, vật duṇg cá nhân, vàì cuốn truyện cho vào sac marine chuẩn bị cho chuyến hải hành được ấn định vaò lúc 11 giờ sáng hôm sau. Tối hôm đó tôi đi dọc theo bờ sông Bac̣h Đằng. Ngồi một mình cuối góc bên ngoàì với ly cà phê tại nhà hàng thủy tạ Bamboo nhìn qua bên kia bờ sông An Hải thấy nhấp nháy ánh đèn soi bóng những căn nhà lung linh trên nước. Tôi tự nhủ phải nửa năm nữa tôi mới trở về laị Đà Nẵng.

Sáng hôm sau tôi đến trại Camp Fay lúc 10 giờ. Nửa giờ sau, người tài xế Mỹ chở tôi trên chiếc Jeep lùn A1 chạy xuống căn cứ mật của Hải Quân thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải ở Tiên Sa. Tàu nhổ neo và sau hơn một giờ vật vã trên sóng, tôi đặt chân lên Đảo.

Nhảy xuống tàu lúc nước vừa rút ra xa, người lính Biệt Hải đứng trên boong ném cho tôi cáí sac marine rồi đưa tay vẫy chào trước khi con tàu gầm rú quay đầu ra biển trở về laị căn cứ. Tôi đi thẳng vào văn phòng Thiếu Tá Nghiêm, chỉ huy trưởng căn cứ Biệt Hải, phân bộ Đà Nẵng đồn trú ở Đảo trước khi đi qua dãy phòng làm việc của các sĩ quan Mỹ. Toán sĩ quan này chỉ vỏn vẹn có 6 người, đứng đầu là một Trung Tá và 5 Đaị Úy gồm các binh chủng Hải quân, Không quân và Bộ Binh. Không thấy có Hạ sĩ quan hay binh sĩ. Trong số này tôi có quen thân Đaị Uý Baucum, xuất thân từ học viện Quân sự West Point vẫn thường gặp tôi tại Rendez- vous Club nằm trong trại Camp Fay mỗi khi Baucum có dịp về Đà Nẵng công tác.

Gặp laị tôi, Thiếu tá Nghiêm vui ra mặt. Đó là điều hiếm thấy ở một người Bắc di cư như ông thường biểu hiện lên khuôn mặt vẻ khắc khổ, lạnh lùng và nghiêm nghị. Sau những câu thăm hỏi xã giao ông đi thẳng vào vấn đề:

– Thế cụ (*1) có biết lý do vì sao cụ có mặt ở đây không?

Tôi trả lời:

– Tôi nghĩ đợt này có nhiều “khách hàng” nên cần cán bộ quản giáo?

Ông mỉm nụ cười làm lệch cán ống vố đang ngâṃ giữa hai hàm răng:

– Cụ chỉ nói đúng một phần. Phần còn lại là do tôi tin tưởng cụ sẽ không làm tôi thất vọng trong lúc cả tôi và Sở Tâm lý Chiến ở Trung Ương lúng túng không biết phải xoay xở và giải quyết về chuyện nan giải này thế nào.

Tôi ngạc nhiên chờ ông cho biết tiếp. Ông dùng ngón tay trỏ ấn vào ống vố và ngồi nhỏm dậy nói nhẹ nhàng:

– Năm ngày nay, từ lúc xảy ra chuyện này, tôi mất ăn mất ngủ. Tôi đã có điện vào Nha cũng như Sở để xin chỉ thị từ Trung Ương nhưng trong đó cũng đành thúc thủ. Nếu xin các cô trong sở ở Sài Gòn ra thì không ai chịu đi, vả lại họ cũng không được đào tạo chuyên nghiệp nghiệp vụ này để thích ứng với công tác mật, cuối cùng Sở ủy quyền cho tôi bằng mọi cách tự giải quyết lấy. Vậy là tôi chỉ còn trông mong vào cụ, do đó tôi đã yêu cầu Trung Tá Will can thiệp để đưa cụ ra đây cộng tác giúp tôi. Sáng nay qua điện đàm với Bộ chỉ Huy ở Tiên Sa, tôi được biết cụ vừa theo tàu ra đây, tôi mừng như vừa trút được gánh nặng.

Tôi ngập ngừng hỏi:

– Thế vừa qua có chuyện gì xảy ra hở cụ?

Thiếu tá Nghiêm nhún vai, thở dài theo hơi thuốc:

– Chuyện cũng không ai ngờ vì cả trăm lần công tác trước đây chưa từng xảy ra, dễ có hơn 5 năm hoạt động. Số là cách đây năm ngày, đúng vào chu kỳ mỗi 6 tháng, mình thả số người cũ đồng thời bắt thêm số “khách hàng” mới, đâu ai ngờ trong số người mớí bắt lần này laị có một cô gái. Xét cho cùng cũng không thể trách anh em trong toán, một phần do đêm tối không thể nhận diện được ai trong bối cảnh hỗn loạn đó. Chuyện đã lỡ nay cô ấy đang ở traị Dodo, được bố trí ở trong một căn nhà riêng vì không thể nào giam chung với 14 người đàn ông nhỡ có chuyện gì xảy ra mang tiếng xấu cho Mặt Trận là điều mà Trung Ương cấm nghiêm nhặt và gây phản tác dụng tuyên truyền lâu nay.

Tôi vọt miệng:

– Dạ, tôi có biết cô này.

Thiếu tá Nghiêm nhướng mày, nhìn tôi ngạc nhiên pha lẫn nét mừng vui hiện rõ trên khuôn mặt.

Tôi vội đáp:

– Do nghiên cứu lời khai của các xã viên mấy đợt bắt trước, trong cung từ của họ, tôi được biết cô này tên Nụ, 20 tuổi là người nữ duy nhất làm thủ quỹ cho Hợp tác xã Ngư Quyết Thắng từ hai năm nay.

Tôi hỏi tiếp trong e dè:

– Nhưng trong trường hợp này, tôi sẽ giúp được gì?

– Cụ sẽ ở chung vớí cô gái đó làm cán bộ quản giáo và giáo dục để khai thác tin tức. Qua thẩm vấn sơ khởi được biết đây là lần đầu cơ quan bắt được một nguồn tin có trình độ học vấn. Cả đám xã viên bị bắt trước đây do kém văn hóa nên khả năng thâu lượm tin tức chẳng đem lại kết quả như yêu cầu. Tin sơ khởi mà tôi nhận đươc̣ từ hôm qua thì cô này có trình độ Trung học phổ thông cấp ba.

Trong lúc chờ cụ ra đây, tôi đã cho dựng thêm tấm phên ngăn đôi chỗ cụ ở chung vớí cô đó. Vậy là cụ yên chí. Tối nay tôi sẽ cho người hộ tống cụ lên căn cứ Dodo. Từ đây lên đó băng rừng phải mất hơn tiếng. Sau khi rời khỏi đây, nhớ ghé qua Ban tiếp liệu để nhận vật dụng. Chúc cụ hoàn thành nhiệm vụ mà Nha cũng như Sở và riêng cá nhân tôi trông chờ và đặt tin tưởng hoàn toàn vào cụ.

Dứt lờì, Thiếu Tá Nghiêm đứng dậy bắt tay tôi xong ông ngồi xuống ghế, ghé mắt vào đống hồ sơ ngổn ngang trên bàn. Tôi xoay người bước ra ngoài sau khi không quên đóng cửa phòng. Dưới ánh nắng chói chang tháng 5, trời trong xanh có đám mây trắng lơ lững trôi trên đầu núi bên kia làng Tân Hiệp, tôi nghe có tiếng sóng xô dạt đều đặn trên bãi biển. Lúc này tôi thèm được nằm phơi mình trên cát, dưới ánh nắng mặt trời để tìm một giấc ngủ trong bình an. Tôi đến ban tiếp liệu tọa lạc dưới căn nhà tôn để nhận 6 bộ áo quần vừa đen vừa nâu, 1 áo ấm bằng len và 1 áo trấn thủ, khẩu K54 với 2 gắp đạn, bút máy Hồng Hà, ít tiền Miền Bắc,10 bịch thuốc lá Điện Biên, Đồ Sơn, 1 đồng hồ đeo tay hiệu Prim của Tiệp, 1 đài bán dẫn.

Vào lúc gần 7 giờ, một người lính Nùng thuộc Đại Đội phòng vệ của Đảo cùng tôi trèo núí trực chỉ đến căn cứ. Tất cả vật duṇg của tôi được người lính đeo trên vai. Tôi chỉ có một xắc cốt máng lủng lẳng bên hông cùng khẩu K54 đeo vào thắt lưng và cây gậy trong tay. Đường lên núi mỗi lúc mỗi vất vả.

Những tảng đá to cản lối đi và trơn trợt. Những con cua đá thập thò trong ngách. Tiếng vỗ cánh hốt hoảng, xao xác của đàn chim rừng khi thấy chúng tôi. Chưa kịp vào rừng, từ xa đã nghe tiếng vượn hú liên hồi. Trời tối dần khi chúng tôi vào hẳn trong rừng. Trông lên thấy toàn cây cao, lá đan vào nhau dày đặc, hai bên đường mòn cây dại sum sê. Lá phủ đầy lối đi. Mỗi bước chân dẫm lên lá mục ánh lên giải sáng lân tinh theo mỗi bước. Len lỏi hơn nửa tiếng trong rừng, tôi đứng tưa lưng vào thân cây nghỉ mệt. Tiếng muổi bay vo ve khắp nơi. Tôi châm thuốc. Dưới ánh sáng chiếc bật lửa, người lính Nùng nhẫn nại nhìn tôi chờ đợị. Tôi nhìn đồng hồ dạ quang. Mới 8 giờ tối. Cũng phải non nửa tiếng nữa tôi mới đến được căn cứ.

Ra khỏi khu rừng rậm trông lên bầu trời đã thấy muôn vì sao nhấp nháy và phương Đông treo lơ lửng mảnh trăng lưỡi liềm vàng vọt. Đi thêm khoảng nửa giờ trên con đường nhỏ đã được phát quang, từ xa tôi đã thấy cảnh quang của căn cứ dưới ánh sáng ngọn đèn điện trạm gác, đến bốn dãy nhà tranh tỏa ra. Căn cứ được rào bằng những thân tre cao hơn 3 thước chôn xuống đất quanh chu vi khuôn trại. Cổng trại có mỗi một vọng gác. Người lính Nùng bỏ tất cả vật dụng của tôi xuống, ra dấu chào tôi xong quay người trở về lại hậu cứ. Tôi bước vào phòng trực ban gặp Trung sỹ Diên và được biết đang có buổi triệu tập đầu tiên với những xã viên mớí được giải giao về hai ngày trước đang tập họp lên lớp taị hội trường.

Tôi vào Hội trường là căn nhà lợp tranh, nền tráng ciment khá rộng, chào 4 Sĩ quan đồng sự được Sở Tâm lý chiến Nha Kỹ Thuật ở Sàigòn phái ra công tác đang ngồi trên 2 ghế dài, phía trước đâu lại thành 2 chiếc bàn nhỏ. Ngồi xếp hàng trên nền nhà gồm 15 xã viên bị bắt ngồi thành ba hàng ngang. Trung uý Túc, Trưởng trại trong bộ áo quần bà ba đen đứng lên khai mạc buổi họp:

– Chúng tôi là những cán bộ của Mặt Trận(*2) đêm nay tập họp các anh để nói về những điều lệ cũng như nội quy trong thời gian các anh ở đây, mong các anh chấp hành nghiêm chỉnh. Thứ Nhất các anh không được phép trao đổi riêng tư vớí nhau trong sinh hoạt ngaỳ cuñg như đêm. Hai dãy nhà bên phải gồm dãy nhà A và nhà B, mỗi nhà gồm 7 người. Riêng chị Nụ ở căn nhà nhỏ bên tráí. Chính sách của Mặt trận là giáo dục các anh về đường lối, chính sách của Mặt Trâṇ, tuyệt nhiên không có chủ trương xâm phạm thân thể, vậy các anh an tâm học tập và khai báo thành khẩn những gì mà cán bộ chúng tôi đòì hỏi. Thứ Hai: cũng nói cho các anh nắm, chủ trương của Mặt Trận là đem lại cơm no, áo ấm, tự do, haṇh phúc cho nhân dân. Mặt Trận cương quyết chống mọi đường lối, chính sách sai lầm và hà khắc của Đảng Cọng Sản và Nhà nước hiện nay. Trong các anh ngồi đây, gia đình các anh gồm ông, cha, chú, bác, dì, dươṇg có thời đã là nạn nhân trong cải cách ruộng đất, bây giờ con em của các anh do nhận thức sai lầm của Đảng và Nhà Nước đã thúc đẩy toàn bộ thế hệ trẻ đi thanh niên xung phong ở Trường Sơn, đi B (*3) chiến đấu để làm mồi, làm vật hy sinh dưới bom đạn Đế quốc Mỹ cho một chủ nghĩa không tưởng và đã từng gây tội ác chia rẽ dân tộc. Đồng chí Hải, ngồi bên trái tôi là cán bộ quản gíáo của dãy nhà A. Đồng chí Hoài, bên tay trái tôi là cán bộ quản giáo phụ trách dãy nhà B. Chỉ vào tôi, Trung uý Túc nói tiếp:

– Còn đây là đồng chí Hoàng, cán bộ giáo dục kiêm quản giáo của cô quản lý Nụ. Sau khi tan họp, yêu cầu nhà A, nhà B cử đaị diện lên nhận mỗi người gồm 4 bộ áo quần, một khăn mặt, bàn chải đánh răng, xà phòng đánh răng và xà phòng tắm. Sáng mai nghe tiếng kẻng báo thức, trong các anh cử người lên Ban Hậu cần nhận gạo cấp dưỡng. Nôị quy đặt ra là mỗi đêm điện sẽ tắt vào đúng 10 giờ, ban đêm nghiêm cấm mọi di chuyển. Tôi nói các anh nghe rõ không? Tiếng hô rõ cùng lúc nghe chói tai trong cảnh tịch mịch giữa núí rừng ban đêm.

Sau khi Cán bộ Hải và Hoài dẫn 14 người đến hai dãy nhà A và B, trong hội trường giờ còn trơ lại tôi và Nụ. Bây giờ tôi mới có thì giờ để quan sát đối tượng đang sợ hãi trước ánh mắt dò xét của tôi. Đó là một cô gáí trẻ, ốm yếu, thân gầy, đen đúa với mái tóc rối bù xõa xuống quá vai đang đứng khép nép, hai tay đan vào nhau run rẩy trước tôi.

Tôi đến bên Nụ đưa tay chỉ vào đống áo quần còn lại trên bàn:

– Tất cả vật duṇg này là của cô, gom lại và theo tôi về chỗ ở.

Tôi nghe tiếng dạ lí nhí. Ra khỏi hôị trường, Nụ đi trước, tôi theo sau. Căn nhà tranh nhỏ, phên tre được chia đôi, có cửa thông qua phòng tôi, nơi có cái bàn nhỏ đặt kế bên chõng tre làm nơi ngủ của tôi. Tôi theo Nụ quan sát chỗ ở của Nụ. Trên chiếc chõng tre có phủ chiếc chiếu, một tấm chăn được xếp gọn gaǹg cuối giường, đầu giường có cáí gối bông của Trại vừa cấp.

Tôi nóí:

– Nếu cô cần gì thêm cho tôi biết. Ngày mai tôi sẽ làm việc với cô sau.

Tôi trở lên văn phòng gặp Trung Úy Túc. Khi không còn ai, chúng tôi trở laị con người cũ với ngôn ngữ quen dùng đến những biểu lộ tình cảm sau thời gian vắng mặt nhau khá lâu. Cà phê được chế nước nóng từ cáí phích của Trung quốc để sẵn trên bàn. Tôi chia mấy bịch thuốc lá Điện Biên cho Túc. Câu chuyện giữa chúng tôi chỉ quanh quẩn hỏi nhau về tin tức bạn bè, chuyện gia đình đến sinh hoạt xã hội ở hai thành phố lớn Đà Nẵng, Sài gòn là hai nơi chúng tôi đang sinh sống. Đêm khuya từ hồi nào. Đã nghe có tiếng gà gáy sáng. Tôi về laị phòng ngủ, treo mùng, chui vào giường ngủ thiếp hồi nào không hay.

Buổi sáng ánh nắng mặt trời xuyên qua khe hở lớp phên, vừa ngồi dậy tôi đã thấy Nụ đặt trên bàn tách trà bốc khóí tỏa hương.

– Mời cán bộ dùng chè cho nóng ạ. Mấy bác trong đội cấp dưỡng bảo em đem lên cho cán bộ.

Tôi nói tiếng cám ơn cụt ngủn, bảo Nụ:

– Ăn sáng xong, cô vào đây làm việc với tôi.

Dứt lời, tôi lên văn phòng lấy hồ sơ cũ, lục lọi trong số những cung từ trước đây có lời khai liên quan đến Lê thị Nụ, thủ quỹ Hợp Tác Xã Quyết Thắng và tên tuổi những người hàng xóm của Nụ. Tôi chăm chú đọc từng trang để có đủ dữ liệu cho việc hỏi cung lần đầu.

Khi Nụ bước vào, tôi tưởng Nụ như vừa lột xác. Bên cạnh tôi là một cô gái gọn gàng trong bộ áo quần màu nâu, tóc được chải mượt mà buông thõng hai bờ vai, khuôn mặt trái xoan, đôi mắt mở lớn trông hồn nhiên pha lẫn nét dịu dàng qua tia nhìn. Tôi đưa tay chỉ vào ghế trước mặt mời Nụ ngồi. Kéo ghế ngồi đối diện, tôi đẩy tờ khai lý lic̣h cùng vớí cây bút trước Nụ và bảo:

– Cô điền vào tờ lý lic̣h này gồm tên tuổi, ngày, tháng, năm sinh, quê quán, tên họ cha mẹ, trình độ văn hóa theo như trong mẫu đã in sẵn phần kê khai. Xong phần này, một số câu hỏi tôi sẽ hỏi cô với yêu cầu cô thành thật khai báo và hợp tác với tôi.

Không nghe có tiếng trả lời, Nụ chăm chú ghi chép nhanh nhẹn trên tờ khai lý lic̣h. Viết xong Nụ trao cho tôi đầy vẽ tự tin. Nét chữ của Nụ đẹp, viết ngay hàng, thẳng lối chứng tỏ đã qua những năm tháng đến trường.

Tôi châm thuốc, nhả một hơi khói đầy, trân trối nhìn Nụ sau khi vừa thoáng nhìn vào tờ khai .Tôi hỏi với sự ngạc nhiên không che giấu:

– Thì ra cô là người Hà Nội?

– Dạ, vâng ạ. Trước năm 1966 em học ở trường Trung học Phổ thông Trần Phú cũng là trường Hoàn Kiếm ở Quận Hoàn Kiếm ở Hà Nội, đầu năm sắp bước vào cấp Ba thì trường được lêṇh sơ tán nên em phải về trọ nhà ông bác ở Tỉnh Thanh Hóa.

– Cô khai học trường Trung học phổ thông Trần Phú sao lại vừa học trường Hoàn Kiếm là thế nào?

Nụ đưa tay che miệng, cười thành tiếng giải thích:

– Thưa cán bộ, hai trường chung một địa điểm ạ, đều có cấp 2 và 3. Buổi sáng thuộc về trường Hoàn Kiếm, buổi chiều cũng tại ngôi trường này là trường Trần Phú.

– Trường hợp nào cô về Hợp Tác Xã Quyết Thắng để làm thủ quỹ? Với chức vụ thủ quỹ sao cô laị phải theo thuyền đánh cá?

– Lúc em vừa sơ tán về nhà ông bác ở Thanh Hóa thì nhà ông bác em cũng vừa được lệnh sơ tán sau đợt máy bay Mỹ đánh bom. Nhà người bác em bị xung công một phần cho bộ đội tên lửa phòng không Cầu Hàm Rồng đặt bản doanh. Do yêu cầu của Hợp tác Xã Ngư Nghiệp Quyết Thắng đang cần người có văn hóa để lo về Kinh Tế Tài Chánh đồng thời kiểm kê thủy sản đánh bắt được nên em được điều về Hợp tác Xã này. Ban lãnh đạo Huyện mới đây còn có lêṇh Thủ qũy như em phải đi thực tế để cùng sát cánh với quần chúng xã viên.

Nhìn đăm đăm vào mắt Nụ tôi hỏi:

– Thời gian qua cô có quan hệ hay quen biết người nào ở đội phòng không hay tên lửa? Cụ thể là danh hiệu đơn vị hoặc quân số bao nhiêu? Hiện nay những đơn vị này đang làm công tác gì ở cầu Hàm Rồng cũng như tại Xã, Huyện?

Nụ cúi đầu tránh nhìn ánh mắt tôi, ngập ngừng một lúc rồi nói:

– Năm 65, sau gần một năm làm cho Hợp tác Xã, máy bay Mỹ đánh bom liên tục cầu Hàm Rồng nhưng cầu vẫn không thiệt hại gì đáng kể, nhưng sáu tháng trước, sau một đợt oanh kích cây cầu này bị gãy một phần. Các đơn vị bộ đội, dân quân, dân công xã, huyện tập trung thi công sửa chữa, nay đã lưu thông trở laị, nhưng đường sắt giữa cầu không còn sử duṇg được nữa. Chủ yếu là nối thông với quốc lộ để chuyển quân bằng hàng trăm xe chạy vào Nam theo chiến dịch. Do quan hệ hậu cần nên hàng tháng Hợp tác xã phải liên hệ đến các đơn vị bộ đôị để trao đổi mậu dịch như xuất một số lượṇg cá cho đội cấp dưỡng đơn vị. Em được biết tên một vài sĩ quan đồn trú ở đó qua những lần tiếp xúc nhưng hỏi em về quân số đơn vị gồm bao nhiêu thì em không thể nào nắm được. Lần cuối cách đây một tháng em thấy bộ đội đang đào hai công sự lớn và sâu dưới lòng đất sát hai bên chân cầu, quân số đơn vị chừng 50 người, em nghĩ chắc là Đaị đội.

Tôi cười thành tiếng:

– Là con gái sao cô biết 50 bộ đội là quân số của một đaị đội?

Nụ cũng che miệng cười theo:

– Tuy em làm thủ quỹ cho Hợp tác xã nhưng đồng thời bị sung vào Dân quân loại một của Uỷ ban nhân dân Xã nên em đoán thế thôi. Đang thời chiến làm con gái em đâu có sự chọn lựa nào kể cả những ước mơ riêng tư cho mình. Chỉ biết tuân lời làm theo chỉ thị trên trao xuống cho tập thể, rồi tập thể chỉ thị lại cho Đoàn để thi hành.

Tôi lấy tờ giấy trắng vẽ hình cầu Hàm Rồng có nhiều thanh thép chéo nhau trên thân cầu, hai đầu cầu là hai ngọn núi thấp có tên núi Ngọc và núi Rồng, dưới cầu là sông Mã .Tôi đẩy trang giấy vừa vẽ đến trước mặt Nụ:

– Cô nhìn vào hình vẽ này và cho tôi biết ở đâu có đặt súng cao xạ phòng không, súng đaị liên 12 ly 7? tên lửa Sam của Liên Xô? Có bao nhiêu vị trí đặt súng giả đã được ngụy trang?

Tôi xô ghế đứng dậy bảo Nụ:

-Cô ráng tập trung để nhớ những gì tôi vừa trao đổi với cô nãy giờ. Sau ăn trưa, cô trở lại đây làm việc tiếp với tôi.

Ra gần cửa liếp, tôi ngoái đầu hỏi Nụ:

– À này, bác Thăng, bác Niếp gái ở kế nhà cô dạo này thế nào, có khỏe không? mấy người đó vẫn sinh hoạt bình thường cả chứ.

Nụ trố mắt nhìn tôi lộ vẻ ngạc nhiên tột độ:

– Thì ra cán bộ cuñg biết bác Thăng, bác Niếp cạnh nhà em?

Ra khỏi căn nhà tranh, mặt trời chói chang, trời trong xanh không một gợn mây. Dầu đang là tháng Năm nhưng ở giữa thung lũng ngọn đồi trong rừng, khí trời mát mẻ, dễ chịu. Đâu đó nghe có tiếng xào xạc của lá cây, tiếng suối chảy róc rách không ngừng nghỉ sau dãy nhà cấp dưỡng. Toán anh nuôi gồm 6 xã viên của nhà A và B chia phiên phụ trách mỗi ngày lo chuyện nấu ăn cho 15 người. Mỗi ngày được ban hậu cần trại cấp 35 lon gạo trắng cho mỗi bữa ăn. Cơm được nấu bằng 2 chảo lớn có vung đậy. Thức ăn bốn người ăn chung một con gà hoặc vịt được nuôi trong trại. Đằng sau đội cấp dưỡng có chuồng chăn nuôi trên 10 con lợn. Một đàn gà, vịt gần 50, 60 con nuôi thả trên mãnh đất đươc̣ rào lưới chung quanh chống chồn cáo. Nhìn từ xa chẳng khác gì một trại chăn nuôi.

Đi tham quan quanh traị, lúc trở về Nụ vẫn còn trên ghế, hai tay chống cằm nhìn tư lự, xa vắng vào khoảng không. Thấy tôi, Nụ đứng dậy ấp úng xin phép được ra ngoài. Trên chõng tre của tôi chăn mền được Nụ xếp lại gọn ghẽ, mùng được vén lên cao gọn gàng trong lúc tôi vắng mặt.

Gom tất cả giấy tờ trên bàn gồm bản tự khai của Nụ, tôi lên phòng trực ban gặp Trung úy Túc, Thiếu úy Hoài và Hải. Đóng cửa phòng, chúng tôi trãi tấm bản đồ quân sự có tỷ lệ 1/25000 tỉnh Thanh Hóa nơi có cây cầu Hàm Rồng để lấy tọa độ những vị trí mà Nụ vừa khai, trước khi bốn chúng tôi quyết điṇh gởi công điện qua máy đánh morse từ căn cứ Dodo về Bộ chỉ Huy ở Đà Nẵng. Công tác còn phải trãi qua giai đoạn so sánh, đối chiếu với lời khai từ những nguồn tin khác của14 xã viên của dãy nhà A và B do thiếu úy Hải và Hoài đảm trách để từ đó chúng tôi đánh gíá về gíá trị của nguồn tin thuộc loại khả tín A2 trước khi quyết định gởi đi công điện có mã số khẩn/ tối mật.

Tôi xuống đội cấp dưỡng thấy Nụ cùng bốn xã viên đang loay hoay vặt lông 5 con gà trong 3 chậu rửa bát. Thấy tôi, mọi người lên tiếng chào. Tôi bảo có ai theo tôi ra vườn để thu hoac̣h thêm rau tươi. Có lời đề nghị: Xin chị quản lý đi với cán bộ hộ chúng em.

Nụ đứng dậy chùi hai tay vào ôńg quần đi sau tôi.

Đó là mảnh đất khá rôṇg được vun xới thành haǹg lối trồng đủ thứ rau như rau muống, rau đay, mồng tơi, cải bẹ, bí đỏ, có thêm giàn mướp hương, mướp đắng lủng lẳng những quả xanh thả xuống giàn. Vạt đất khác trồng ớt, rau thơm, chanh, sả, gừng, dọt mùng xanh tươi cạnh con suối. Tôi bảo Nụ chiều nay ra vườn háí rau để cải thiện bữa ăn, đồng thời đốn mấy cây chuối rừng thái cho heo ăn với cơm thừa sau mỗi bữa. Tôi đi với Nụ đến con suối, nơi đây có xây sẵn một bể chứa nước được chảy liên tục trong ống tre nối từ con thác sau rừng làm nơi tắm giặt, rửa rau, bát đĩa trong sinh hoạt hàng ngày. Khi trở về laị láng trước giờ ăn trưa, ngang qua trại chăn nuôi, tôi nói với Nụ:

– Cô vào chuồng xem trong ổ rơm có con gà nào vừa mới đẻ lấy hộ tôi hai quả.

Nụ vén quần đẩy cửa rào, từ đầu gối xuống chân, chân Nụ trắng ngần, suông đuộc so với làn da ngăm ngăm trên khuôn mặt. Lúc bước ra khỏi chuồng Nụ trao cho tôi 2 quả trứng gà còn dính phân trên vỏ. Tôi nói:

– Cô giữ lấy để bồi dưỡng.

Nụ ngạc nhiên không nói nhưng nhìn tôi bằng ánh mắt đầy thiện cảm và biết ơn.

Bữa ăn trưa được bày biện ở hội trường chia thành 3 nhóm nhỏ ngồi ăn riêng lẻ trên nền nhà. Chuńg tôi để cho 15 người tự giác quản lý nhau về chuyện ăn uống. Chờ đến lúc mọi người ăn xong, Trung úy Túc bước vào hội trường, tất cả đều đồng loạt đứng dậy chào:

– Chúng em chào cán bộ ạ.

– Chào các anh. Sau khi làm vệ sinh ở đây xong, các anh ai trở về nhà nấy nghỉ ngơi đến 2 giờ trưa khi nghe tiếng kẻng mọi người khẩn trương lên hội trường để học tập. Các anh tự giác bố trí người trong các anh để mỗi sáng, mỗi chiều cho đàn lợn ăn, vãi thóc lúa cho gà vịt và tăng gia chăm bón rau quả sau vườn để cải thiện bữa ăn hàng ngày. Trại có đủ dụng cụ như cuốc, xẻng, thùng tưới rau cho các anh sử dụng.

Rời hội trường, tôi theo chân Trung úy Túc vào văn phòng ăn trưa cùng với Hoàì và Hải. Chúng tôi ăn bếp riêng do Hạ sỹ Toán phục dịch trong thời gian 6 tháng toán chúng tôi công tác ở Dodo này. Trong khi ăn, Trung úy Túc thì thầm:”Ngày đầu đến đây, nếu không có lệnh của tôi, e trong số 15 người này có đứa bị bội thực mà chết. Khiếp thật, nhiều đứa ăn đến hơn 10,12 bát cơm mà ăn rất khẩn trương. Nhưng nghĩ laị cũng phải thôi vì hơn 10 năm sống dưới chế độ coṇg sản ở Miền Bắc từ thành thị đến nông thôn ai mà chẳng ăn độn khoai, sắn, ngô đến 85% trong mỗi bữa.

Quay qua tôi, Trung úy Túc hỏi: Danh xưng này họ kêu bằng gì nhỉ? Tôi trả lời: Trong cung từ, họ nói là ăn độn đến 85% hoa màu phụ. Cả bọn chúng tôi nhìn nhau trong im lăṇg. Trung úy Túc chua chát bồi thêm: Dù cho có viện trợ đến những con chữ hoa mỹ này chăng nữa cũng không vì thế mà đánh lừa được bao tử con người, cái mà họ gọi là nhân dân.

Sau bữa ăn, tôi lửng thửng đến ban tiếp liệu lấy cho Nụ cái mùng và trở về nhà nghiên cứu tiếp lời khai của Nụ.

Trước giờ làm việc, tôi trao cho Nụ cái mùng và nói:

– Đây là rừng núi, ban đêm nhiều muỗi mòng cô nên cẩn thận vì có thể bị sốt rét rừng rất nguy hiểm và khó chữa chạy. Tôi yêu cầu cô tranh thủ vào phòng treo mùng trước khi trời tối, trước khi chúng ta tiếp tục trở lại những câu hỏi còn dang dở ban sáng.

Khi đã an vị, ngồi đối mặt nhau, tôi hỏi Nụ:

– Cô cho tôi biết vấn đề nghĩa vụ quân sự taị xã, huyện đã được thi hành như thế nào và đã tác đôṇg gì đến tâm lý những gia đình có con cháu họ sắp tham gia nghĩa vụ? Con số đó tại địa phương có nhiều không?

Nụ trả lời không đắn đo:

– Tại Huyện và Xã hiện nay dường như không còn thanh niên hay đàn ông nào trong lứa tuổi nghĩa vụ nữa. Có nhiều em mới 14,15 tuổi cũng đã xung phong gia nhập bộ đội để gia đình bớt miệng ăn. Vào bộ đội thì đươc cấp phát quân trang, nghĩa là áo quần, ngoài ra nhờ vậy mà gia đình được kết nạp vào Hợp Tác Xã để có sổ gạọ, lãnh nhu yếu phẩm điṇh kỳ hàng tháng. Từ khi phát động chiến dịch đăng ký nhập ngũ toàn quốc, tại xã em những gia đình có con em đi B chiến đấu hoàn toàn không được tin tức gì đã mấy năm qua.

– Có bao giờ cô đã nhìn thấy từng đoàn xe chở bộ đội chạy trên cầu Hàm Rồng để tiến vào Nam? Nếu có thì đoàn quân xa gồm bao nhiêu chiếc và có che lá ngụy trang không?

Tôi ghi chép lời khai của Nụ và bảo Nụ đi nghỉ trưa.

Sau một tuần thẩm tra lời khai của Nụ đối chiếu với 14 lời khai của mỗi xã viên với những câu hỏi giống nhau, chúng tôi đã có một buổi họp để đánh gíá về những nguồn -tin- sống này và nhất quán về sự thành khẩn của Nụ sau bảy ngày lấy cung. Trung úy Túc, Thiếu úy Hải, Hoài và tôi quyết định gởi báo cáo tình hình quân sự về trung ương. Những tìm hiểu thêm về tôn gíáo, kinh tế tại các Hợp tác Xã Nông nghiệp, Ngư nghiệp, văn hóa, sinh hoạt học đường, tất cả chỉ là điểm khai thác thứ yếu do đề xuất của trung ương.

Sáng thứ Hai mỗi đầu tuần tôi lấy hai viên thuốc Chloroquine là thuốc trị sốt rét rừng cho tôi và Nụ. Tôi bảo Nụ xuống đội cấp dưỡng đem lên hai cốc nước nóng và bảo Nụ chọn lấy một trong hai viên để uống trước .Tôi nói hàng tuần cô phải uống thuốc này để chống sốt rét, tôi cũng vậy. Sau khi uống xong, Nụ nhìn tôi với ánh mắt buồn bã, trách móc:

– Cán bộ không việc gì phải làm thế. Em nào có dám nghi ngờ gì đâu mà cán bộ cho phép em được chọn viên thuốc nào để uống trước. Tuy thời gian giao tiếp với các cán bộ ở đây có ngắn ngủi nhưng tất cả bọn em đều mang ơn các cán bộ đã đối xử chúng em bằng lòng nhân ái, nhân bản giữa con người với con người cho dù thân phận đang là những người tù bị giam giữ, cô lập nơi đây.

Một tháng sau, có hôm gặp Nụ cùng hai xã viên đang xới đất bón rau sau vườn, tôi bảo Nụ theo tôi ra suối múc nước tưới rau để có dịp tìm hiểu về năng suất lao động và thành quả của các Hợp Tác Xã Nông nghiệp. Nụ đảo mắt nhìn quanh, khi biết chắc không có ai nghe lén, Nụ nói nhỏ:

– Theo em biết thì đợt thâu hoac̣h mùa nào cũng dưới chỉ tiêu trên đề ra mặc dầu địa phương cũng như qua đài, báo đều thông báo là vụ mùa nào cũng thắng lơị lớn, thành công, đạt chỉ tiêu vượt bậc. Cán bộ thừa biết cha chung không ai khóc. Canh tác cho tập thể không ai chú tâm như chăm sóc mảnh vườn con cá thể nhà mình. Nhiều người truyền miệng câu vè sau đây để nói lên thực trạng bi đát của các hợp tác xã:

“Sáu giờ kẻng đánh phèn la.

Bảy giờ đủng đỉnh mới ra tới đồng.

Tám giờ chống cuốc đứng trông,

Chín giờ báo cáo thưa ông, con về.”

Nói xong Nụ cười lệch cả vai. Tôi cũng cười theo vì thấy chuyện ngộ nghĩnh. Quên ranh giới giữa hai người, cả hai chúng tôi đều vui lây vớí nhau trong sự thân mật bất ngờ. Tôi nói:

– Cô Nụ nãy giờ nói toàn giọng điệu phản đôṇg mà cô không sợ sao?

– Ở đây em chỉ nói riêng với cán bộ. Với 14 xã viên của em ở đây dẫu cạy miệng em cũng không dám nói. Thâm tâm ai mà muốn nói, muốn nghe những điều dối trá phải không cán bộ?

Tự nhiên Nụ nhìn tôi cười rũ:

– Bản thân em cũng đã từng nói những lời không chân thật ngang ngữa những gì tai em nghe những lời dối trá của lãnh đaọ, của chủ nhiệm, của người đôǹg cấp hoặc kẻ thừa haǹh từ mười mấy năm qua ở trường, ở cơ quan, ở đơn vị, ở cơ sở nên lâu ngày không còn biết xấu hổ là gì nữa như thể nó đã trở thành những quán tính.

Tôi vọt miệng nói theo bản năng:

– Vậy lâu nay đã có lúc nào cô đã nói những lời không chân thật với tôi?

Nụ gục đầu xuống thấp không nói cho đến khi ngẩng lên hai mắt đỏ hoe.

Tôi giục Nụ quảy đôi thùng nước về tổ canh tác. Đang lội qua suối, gặp phiến đá trơn khiến Nụ chúi toàn thân về phía tôi. Tôi đở người Nụ trong vòng tay, ôm thân thể nhỏ bé của Nụ trong lòng, ngửi hương thơm diù dịu từ máí tóc. Nụ ôm tôi, hai tay bấu trên vai tôi ghì chặt. Đầu Nụ tưạ vào người tôi bất động. Tôi nghe tiếng đập từ lồng ngực Nụ cùng hơi thở đứt quãng, dồn dập bên tôi.

Quanh tôi lúc bấy giờ thời gian như ngừng lại, chỉ còn nghe tiếng chim hót véo von, lảnh lót trên cây, tiếng khỉ gọi đàn chuyền nhau trên cành và trên những hàng cây dại nở đầy hoa đủ sắc ven suối, từng đàn bướm trắng bay chợp chờn trong nắng hanh vàng. Chúng tôi đứng ôm nhau giữa giòng suối nước chảy róc rách dưới chân không biết bao lâu cho đến lúc cả hai bối rối rời nhau như vừa trải qua một giấc mơ không tưởng.

Đã lâu tôi chưa từng có cảm xúc này nhưng đồng thời chợt nhớ đến cương vị của một cán bộ quản giáo của Nụ, tôi cố gắng trở laị thái độ bình thường như mọi ngày, như đã không có gì vừa xảy ra:

– Cô có sao không?

Nụ múc nước suối đầy thùng, quảy lên vai, trả lời nhỏ nhẹ:

– Dạ không sao ạ.

Đưa Nụ đến khu canh tác, tôi lên văn phòng trại. Gặp tôi, Trung Úy Túc, Thiếu uý Hải và Hòa cười đùa vui vẻ. Trên chiếc bàn nhỏ chất đầy những nhu yếu phẩm gởi cho chúng tôi từ Bộ chỉ Huy vừa chuyển lên căn cứ. Tôi được Trung úy Túc cho biết Trung ương cũng như Thiếu tá Nghiêm ngỏ lời khen ngợi thành quả tốt đẹp trong công tác vừa qua của chúng tôi.

Riêng nhu yếu phẩm dành cho 15 xã viên gồm 2 bánh thuốc lào, đường cát trắng Cuba. Quay qua tôi, Trung úy Túc nói bằng giọng diễu cợt: đợt này có quà đặc biệt riêng cho cụ.

Tôi hỏi lại:

– Quà gì vậy?

Cả ba người nhìn tôi cùng cười lớn không che dấu tia mắt tinh nghịch

– Nói đùa đấy, quà này dành cho cô quản lý nhà cụ đây. Nhất cậu nhá.

Rồi nói thêm:

– Gíá mà cô này sống ở Sàigòn, khối đứa chết vì nhan sắc.

Trung úy Túc đẩy bọc giấy lớn về phía tôi:

– Lát nữa cụ giao cái này cho cô Nụ. Phụ nữ ai cũng cần cái này. Trước khi cụ vào đây, báo hại mấy anh em chúng tôi vừa xé toàn bộ bao bì nylon bên ngoài, nếu không thì lộ tẩy, đến hư bột hư đường.

Nhìn vẻ ngạc nhiên của tôi, Trung úy Túc nói:

– Cụ muốn biết trong quà có cái gì thì xem mấy chữ ngoài bao bì vừa vất dưới nền, khắc biết.

Nhặt dưới nền nhà còn vương vãi bao nylon, Trung úy Túc chỉ tôi xem hàng chữ: “Băng vệ sinh phụ nữ. Công ty Bạch Tuyết sản xuất tại Saigòn VN”.

Trước khi ba chúng tôi chia tay về lại mỗi nhà, Trung úy Túc giữ tôi laị văn phòng trước giờ tắt điện, trầm ngâm nói:

– Tôi hết sức cảm thông về công tác khó khăn và tế nhị mà cụ đang thi hành. Cuộc chiến mà chúng ta đang tham dự đầy rẫy những tình huống khó xử và phức tạp. Đây là một cuộc chiến không có tiếng súng như ngoài chiến trường, nhưng là một cuộc chiến thầm lặng và là cuộc chiến trong bóng tối. Dầu ở môi trường nào, hoàn cảnh nào, điều kiện nào chăng nữa, là quân nhân chúng ta cũng phải hoàn tất nhiệm vụ trên giao phó. Tôi nhớ đã đọc đâu đó nói về thân phận con người: “Je suis né en situation et sous condition”

Có tiếng quãy đuôi của con Tô dưới gầm bàn. Trung úy Túc lấy tay xoa đầu con chó đầy vẻ trìu mến nói tiếp:

– Con Tô này tôi xin dưới làng Tân Hiệp năm ngoái đem về đây nuôi được 6 tháng, hết công tác tôi lại về Sài gòn bỏ nó lại. Lần này ra đây, sau hơn một năm nó vẫn còn nhận ra tôi là chủ cũ nên suốt ngày cứ quanh quẩn bên tôi. Cụ xem, đến như loài thú còn tình nghĩa thế kia huống hồ là giữa con người với nhau. Gần gũi nhau một thời gian thì tình cảm có cơ hội nảy nở là điều tất yếu. Thôi khuya rồi, mời cụ về nghỉ.

Tôi đi dưới ánh trăng mờ nhạt hơi sương núí rừng, trong đầu cứ vương vấn câu nói của Trung úy Túc.

Khi tôi vào đến khoảng sân trước nhà, Nụ còn thức. Tôi gọi Nụ và trao cho Nụ gói qùa. Dưới ánh đèn, khuôn mặt Nụ sáng lên miềm vui dầu không biết quà có những gì. Tôi thấy nụ cười hớn hở, rạng rỡ trong khóe mắt mở lớn của Nụ như trẻ thơ. Cả hai không nói lời nào. Nụ quay về phòng. Tôi ngồi trên chõng tre tháo giày chui vào mùng. Giấc ngủ không đến với tôi như mọi đêm. Có tiếng tắc kè kêu đổi nhịp đều đặn từng hồi nghe buồn bã trên cây sấu kế vọng gác cho đến lúc trời sáng trắng.

Thời gian trôi nhanh. Mới đó mà đã qua ba tháng. Lúc này trời đang vào đầu thu. Lá cây rừng đã bắt đầu đổi màu và vạn vật nhuốm đầy vẻ thê lương trong không gian tịch mic̣h. Chúng tôi có tổ chức những buổi lên lớp học tập chính trị dành cho 15 xã viên theo những tài liệu có sẵn của Mặt Trận và sau đó là những buổi thảo luận tại hội trươǹg dưới sự chủ trì của Trại trưởng và cán bộ.

Một buổi chiều, già Tích là người lớn tuổi nhất trong số xã viên vội vã đi tìm tôi:

– Báo cáo cán bộ khung, chị quản lý cuả chúng em dở cơm từ hai hôm nay, chắc chị ấy ốm. Suốt ngày qua, xuất cơm của chị giờ vẫn còn nguyên.

Tôi vào nhà. Đẩy tấm phên cửa thấy Nụ nằm im trên chõng tre, tôi lên tiếng không nghe trả lời. Lại gần có tiếng rên nho nhỏ. Tôi vén mùng đặt tay trên trán Nụ thấy nóng như lửa. Mái tóc Nụ đẫm đầy mồ hôi ướt nhẹp trên gối như vừa tắm. Tôi lay vai Nụ:

– Cô làm sao vậy? Ốm bao lâu rồi?

Chỉ nghe có tiếng ú ớ và tiếng cựa mình.

Tôi lên văn phòng tìm trong tủ thuốc lấy hai viên thuốc cảm cúm, vài viên vitamin C và hấp tấp xuôńg đội cấp dưỡng bảo già Tích nấu cháo tối nay mang lên cho Nụ.

Sau buổi họp thường lệ mỗi tối tại văn phòng, khi trở về ngang qua phòng Nụ tôi thấy bát cháo trắng vẫn còn nguyên cạnh giường. Đẩy cửa vào, Nụ nằm bất động, tôi lay mấy lượt Nụ mới hé mắt nhìn tôi.

-Cô ráng ngồi dậy ăn cháo cho có sức, uống thêm mấy viên thuốc cảm và vitamin C cho chóng lành.

-Tay chân em nhấc không nổi, sáng nay cố ngồi dậy nhiều lần mà không thể nào dậy được.

Tôi ngồi sát bên Nụ, nắm hai tay Nụ để cố đỡ Nụ dậy. Người Nụ nóng hầm hập. Khi đã tựa lưng được vào vách, trao cho Nụ chén cháo, Nụ lắc đầu xua tay:

-Em uống mấy viên thuốc cán bộ cho được rồi. Mồm đắng lắm em không ăn đâu. Cán bộ giúp em, đỡ cho em nằm xuống.

Đến khi đã đặt Nụ nằm ngay ngắn trở lại như trước, tôi kéo chăn đắp lên nửa người Nụ, vừa định buông mùng thình lình Nụ nắm tay tôi kéo lên mặt. Những giòng nước mắt nóng chảy qua kẽ tay tôi. Trong không gian im lăṇg không ai nói với nhau lờì nào.

Thời gian như ngừng lại không biết bao lâu, tôi nhẹ nhàng rút tay về khẽ nói lời vỗ về:

– Cô nên nghe lời tôi, ngủ cho ngoan nào.

Tôi về phòng lấy cây đèn bấm lên văn phòng trại. Gặp Trung úy Túc, tôi báo cáo:

– Cái Nụ ốm hai ngày nay không ăn uống gì. Tôi đang lo không biết phải làm sao đây.

– Đầu mùa Thu thời tiết thay đổi, chính tôi cũng đang sốt và ho liên tiếp mấy ngày nay. Cụ lấy sữa bột pha cho cô ấy uống. Có nước nóng trong phích và lấy thêm chai dầu khuynh diệp cho cô ấy thoa. Giờ tôi với cụ xuống thăm cô ấy.

Tôi cầm ly sữa nóng sóng sánh trong tay đi theo trung úy Túc. Dưới ánh sáng của ngọn đèn bấm, Nụ nằm nghiêng xoay đầu về phía tường, máí tóc xổ tung, laị gần nghe có tiếng thở đứt quãng mệt nhọc. Trung úy Túc lên tiếng trước:

-Cô Nụ ốm làm sao?

Nghe tiếng Trưởng trại, Nụ quay đầu cố ngồi dậy.

-Cô cứ nằm yên, không việc gì phải thế. Đồng chí Hoàng có đem cho cô cốc sữa, cô ráng uống để uống thuốc cho mau laị sức.

Quay qua tôi:

– Đồng chí Hoàng nâng cô Nụ lên cho cô dễ uống.

Tôi đỡ Nụ dậy, tay tráí tôi dưới lưng Nụ luồn qua phía vai để nâng đầu Nụ lên cao. Tôi đưa cốc sữa gần miệng Nụ. Hai tay Nụ ôm cốc sữa uống chậm rãi từng ngụm nhỏ. Uống gần nửa cốc Nụ tỏ ý muốn được nằm xuống. Tay phải tôi đỡ đầu Nụ đặt nhẹ nhàng xuống gối.

Sau khi nói lời an ủi Nụ, Trung uý Túc cùng tôi ra đứng trước sân. Đêm thanh vắng. Sao sáng đầy trời, có nhiều ngôi sao vụt đổi ngôi trên bầu trời đen thẫm.

Vào nhà, ngủ đến nửa đêm, tôi mở choàng mắt thức dậy nghe có tiếng ho không ngớt kèm theo tiếng rên từng hồi của Nụ, tôi ngồi dậy, mở cánh cửa liếp thông qua phòng Nụ.

– Nụ sao thế? Mệt không ngủ được à? Có cần tôi giúp gì không?

– Em chỉ cần có anh bên em lúc này.

Tôi vén mùng ngồi sát bên Nụ, tay Nụ tìm tay tôi đan vào nhau đặt trên ngực Nụ. Toàn thân Nụ vẫn còn nóng hầm hập, mồ hôi vã đầy áo. Tôi đứng dậy với tay lấy cho Nụ cái áo cánh ở cuối giường. Nụ ngồi dậy cởi chiếc áo đang mặc bỏ qua một bên chõng, chậm rãi thay áo mới. Đã quen bóng tối, nửa thân Nụ vớí làn da trắng ngần lồ lộ hiện ra trước mắt tôi. Khi Nụ nằm sấp xuống tôi lấy dầu nóng trút đầy hai tay, bảo Nụ kéo áo lên cao quá đỉnh đầu, đến tận hai vai, tôi chà xát dọc theo sống lưng Nụ cho đến khi nghe tiếng thở đều đặn của Nụ. Mùi dầu khuynh diệp tỏa khắp nơi. Tôi không nghĩ Nụ đã đi vào giấc ngủ chóng đến thế. Tôi nhẹ nhàng trở về nằm lại trên chõng tre lạnh lẽo, mắt thao láo nhìn lên đỉnh mùng thao thức cho đến lúc có tiếng kẻng báo sáng.

Gỉữa tháng 11, toán công tác chúng tôi nhận được công điện khẩn từ Trung Ương gởi ra cho biết đến cuối tháng sẽ có kế hoạch di chuyển những người bị giam giữ bấy lâu trên Đảo về lại vùng biển Thanh Hóa nơi địa phương cũ. Với tôi đó là điều hiển nhiên xảy ra thông thường trong quá trình thay đổi nguồn tin từ bao năm qua.

Trung úy Túc lêṇh cho Thiếu úy Hải và Hòa cho tập trung tất cả 15 người lên Hội trường để kiểm tra tư trang. Vào phòng thấy Nụ sắp chuẩn bị lên Hội trường, tôi mờí Nụ đến bàn:

-Nụ ngồi xuống, là phụ nữ duy nhất Nụ khỏi qua khâu kiểm tra.

Tôi đẩy trước Nụ một số tiền, cây bút Hồng Hà và chiếc áo ấm bằng len của tôi đã để sẵn trên bàn:

-Tôi không có gì nhiều làm quà cho Nụ, mong Nụ giữ những vật này như một kỷ niệm cho mối quan hệ tình cảm giữa chúng ta bấy lâu. Tôi cũng biết món quà mọn này có thể sẽ bị tịch thu khi vừa đặt chân lên bãi nếu không may bị công an xã hoặc dân quân phát hiện sớm khám xét. Vấn đề là, qua đây xin Nụ ghi nhận tấm lòng của tôi đối với Nụ, còn chuyện mất hay còn, giữ được chúng hay không là chuyện bên ngoài không là gì cả nếu so với tình cảm bên trong của con người. Đến như số phận của em hay anh cũng không làm chủ được bản thân mình vì chúng ta không đủ khả năng thay đổi định mệnh con người, nói chi đến số phận khe khắt của lịch sử, dân tộc, đất nước đã khiến chúng ta vĩnh viễn xa nhau để không bao giờ còn gặp lại nhau nữa. Em đừng khóc cho anh đau lòng. Can đảm lên em. Phấn đấu lên Nụ của anh. Anh xin em đó.

Tôi để yên tay tôi trong tay Nụ trong tiếng thổn thức không nguôi. Chiều xuống cùng cơn mưa giữa mùa Đông làm trời đất thêm tối tăm ảm đạm và thê lương.

Hai ngày trước lệnh tập trung ở Hội trường để chờ dẫn độ 15 xã viên Hợp Tác Xã Quyết Thắng về laị vùng biển Thanh Hóa, thời gian này tôi tránh gặp Nụ. Nụ đã để laị cho tôi bức thư trước ngày ly biệt.

“Anh yêu dấu,

Em không ngờ ngày em xa anh lại chóng đến thế. Mỗi lần nghĩ đến điều này khiến tim em tan nát, thắt laị từng cơn và dầu cho có nghe lời anh căn dặn, vỗ về trước đây mỗi khi lòng em yếu đuối, em cũng không làm sao ngăn được nước mắt. Anh tha lỗi cho em đã không nghe lời anh luôn khuyên bảo, dỗ dành em trước đây. Hoàn cảnh ngang trái và khắc nghiệt đã làm tráí tim em tổn thương mỗi ngày từ lúc em gặp anh. Chỉ viết có mấy giòng này cho anh mà chữ trong thư đã có chỗ nhòe nhoẹt.

Anh yêu dấu,

Nước mắt của em không chỉ nhỏ ra trong đau đớn thôi đâu, còn có những giọt nước mắt hạnh phúc kèm theo đây như trong lòng em lúc này đang nghĩ đến anh với tất cả thương yêu, trìu mến và nhung nhớ vô hạn. Trong những tháng ngày em bị cầm giữ trong trại, các anh như anh Túc, anh Hải, anh Hoài và riêng anh là những con người đầy lòng nhân ái, bao dung, độ lượng đối với em, hoàn toàn khác hẳn trong ý nghĩ ngày đầu bọn em gồm 15 người bị gom lại nơi đây với nỗi sợ hãi, âu lo. Trong cư xử, các anh đã thừa nhận chúng em là những con người. Đó là những tình cảm tốt đẹp của con người mà em nhận biết qua những biểu hiện trong thái độ và ngôn ngữ của anh đối với em. Khác hoàn toàn, nếu không muốn nói đối nghịch vớí lối đối xử từ ngôn ngữ, hành đôṇg, cử chỉ của những người sống trên đất Bắc, dưới chế độ hiện hành không loại trừ thời gian em sống giữa lòng Thủ đô Hà Nội. Ở đó họ sống với nhau trong e dè, thận trọng. Mỗi khi tiếp xúc luôn để mắt thăm dò lẫn nhau làm như điều đó đã ăn sâu trong tiềm thức họ không có cách gì cứu vãn hay gột rửa được nữa. Qua anh, em như được dẫn dắt đến một thế giới mới đẹp đẽ, thánh thiện đầy hương thơm từ cuộc sống và đầy tình người. Vì luôn nghĩ vậy nên đã có lúc em ước mơ trong tuyệt vọng phải chi em có cái may mắn là người tù của riêng anh để mỗi giờ em được nhìn thấy anh, mỗi ngày em được nghe anh nói. Em là người tù vô tội tự nguyện đến với anh để mong anh canh giữ em suốt đời. Thân anh, tim anh trú ẩn trong lòng em cũng là một dạng ở tù chung thân. Hóa ra vì tình yêu giữa đôi ta mà cả anh lẫn em đều là hai người tù của nhau anh nhỉ và hoàn toàn không vì ngoại trở mà thôi nghĩ đến nhau. Em nói đùa đấy, em không có tham vọng ấy đâu. Mười mấy năm qua em đã sống thế nào? Em không bao giờ có được những giấc mơ đẹp nói chi đến những ước mơ cho đời người con gái. Suốt ngày lao vào những công việc vớí những chỉ tiêu, ăn uống trong kham khổ thiếu thốn, lao động từ sáng đến tối chỉ mong đêm về ngủ được một giấc để sáng mai có sức mà tiếp tục công việc. Em trở thành con vật sinh lý từ thuở mới lớn hồi nào không hay nếu như không có ngày em may mắn gặp được anh.

Anh yêu dấu của em,

Ai cũng bảo người ta chỉ chết một lần trong đời nhưng với em lần xa nhau này (giữa anh với em), em coi mình như đã không còn hiện hữu trên đời này. Mà dẫu có chết như thế nào chăng nữa, với em, em cũng vô cùng mãn nguyện được chết trong niềm hạnh phúc vô biên khi đã có anh trong đời cho dù thời gian quá ngắn ngủi bên nhau”.

Thư Nụ còn dài nhưng tôi không đọc hết trong mối xúc động dạt dào. Tối hôm đó tôi lặng lẽ rời căn cứ.

Không gặp laị Nụ lần cuối, tôi lầm lũi ra đi như trốn chạy. Tôi lầm lũi đi dưới cơn mưa cuồng nộ của núí rừng. Trời đất quanh tôi tối đen. Tôi đi trong cô đơn như thuở hồng hoang vừa hiện hữu con người đầu tiên trên mặt đất.

Hồ Đình Nam

(*1) Gọi nhau bằng Cụ vì không để lộ cấp bậc. Đơn vị chỉ kết nạp người Miền Trung và Miền Bắc để thi haǹh công tác mật.

(*2) Mặt Trân Gươm Thiêng Ái Quốc.

(*3) Đi B: Vào Nam.

40 Năm Tìm Bạn

hung-viet.org

20 Tháng Sáu 2023

Đoàn Kế Tường

Post by Sơn râu 22 Jul 2025

Gần 40 năm trời trôi qua, tôi đã lần mò khắp nơi, và kể từ khi có internet thì ngày nào cũng lang thang trên khắp các trang mạng, cố tìm cho bằng được tông tích người bạn chí cốt là Ngô Văn Khiêm, nguyên Đại Úy, Pháo đội trưởng, pháo đội A, Tiểu đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù. Gặp gỡ bất cứ ai, nghe nói trước đây ở binh chủng Dù, tôi cũng dọ hỏi. Nhiều lần nhờ Du Tử Lê, liên hệ với anh em Nhảy Dù đang định cư ở Mỹ hỏi giùm, nhưng số anh em mà Du Tử Lê quen biết cũng chỉ lắc đầu. Mọi chuyện tưởng như đã không còn hy vọng, khi tuổi đời ngày càng chồng chất và thời gian còn lại trên trần gian cũng chẳng bao nhiêu. Bỗng dưng, cách nay nửa tháng, tôi tình cờ đọc được một bài viết ngắn của vài anh em Nhảy Dù đi tìm xác đồng đội, mới hay một năm trước đây, những anh em này, nhờ sự hướng dẫn của dân làng, đã tìm được một nấm mồ tập thể,chôn gần 2 xe GMC những chiến sĩ mũ đỏ đã vị quốc vong thân ngày 16/4/1975 tại phi trường Phan Rang. Bao gồm Trung tá Trần Văn Sơn, Lữ đoàn Phó, Lữ đoàn 2 Dù, Thiếu Tá Đặng Đình Tựu, trưởng ban 3 Tiểu Đoàn 1/Pháo Binh Dù, Đại Úy Ngô Văn Khiêm, Pháo dội trưởng Pháo đội A, Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Dù, và nhiều anh em vô danh khác. Cà Tèm, một chiến sĩ mũ đỏ trong nhóm đi tìm xác cho biết, tất cả chỉ còn là những nắm xương tàn nằm chung với nhau một huyệt, nên đã giữ nguyên trạng nấm mồ tập thể và chỉ xây một cái miếu nhỏ để thờ. Ngay sau đó, tôi được đọc thêm một bài viết của Thiếu Tá Nhảy dù Trương Dưỡng, mới hiểu rõ bạn mình và đồng đội đã chiến đấu hào hùng và hy sinh bi tráng như thế nào. Dĩ nhiên, tôi đã khóc, khóc một cách tự nhiên cho dù “tuổi già hạt lệ như sương!” Sau bao nhiêu năm tìm nhau, giờ thì mới hay bạn mình đã vĩnh viễn nằm xuống và ở lại với mảnh đất Phan Rang trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến.

Năm 1965, giã từ mái trường Thiếu Sinh Quân thân yêu, tôi thực sự bước vào cuộc chiến. Đơn vị đầu tiên trong đời chiến binh của tôi là trại LLĐB Lộc Ninh, nằm cuối phi đạo dã chiến, đủ cho các loại máy bay C.123, C119 và Caribu lên, xuống. Tất cả đều nằm lọt thỏm giữa những cánh rừng bạt ngàn, xanh um trên nền đất bazan đỏ hơn màu máu. Cũng giống như hầu hết các trại LLĐB khác vào thời đó, toàn nằm dọc theo biên giới, hiếm có trại nào tọa lạc gần khu dân cư nên buồn lắm. Ấy vậy mà chỉ chưa đầy 3 tháng, tôi lại được lệnh lên trực thăng về tăng cường cho trại Chí Linh (Sông Bé) giữa lòng chiến khu Đ, cách Đồng Xoài chỉ hơn 10 cây số đường chim bay. Chưa hết, ở Sông Bé được mấy tháng, tôi lại vác ba lô lên thẳng Phước Long (BCH B.14 LLĐB), trình diện Đại Úy Lưu Yểm (Về sau ông làm tỉnh trưởng Phước Long, rồi Biên Hòa) và được điều phối về trại Bù Đốp. Đến khi, thành lập trại Tống Lê Chân (B.16 LLĐB), tôi lại theo chân mấy đại đội Biệt Kích Quân tăng cường qua đó một thời gian để làm hàng rào phòng thủ, bảo vệ cho công binh Mỹ san ủi mặt bằng, xây cất công sự…Cứ thế, quanh quẩn mãi với mấy cái trại biên phòng, thuộc B.14, B15, B16 cũng mất hết mấy năm. Sau Mậu Thân, tôi lại được quay trở về lại Lộc Ninh. Lúc bấy giờ, trại LLĐB Lộc Ninh đã dời lên ở giữa sân bay, cách chi khu Lộc Ninh 1 km, khu trại cũ dưới thung lũng được làm khu gia binh do một trung đội BKQ canh gác, bảo vệ. Quân số trong trại bao gồm một toán A LLĐB Hoa Kỳ (12 người), một toán A LLĐB VN (12 người) 2 Trung đội Trinh Sát, 4 Đại Đội BKQ (1 Đại đội toàn người Miên và 3 Đại đội có dàn chỉ huy là người Kinh, còn từ cấp Trung đội trưởng trở xuống, hầu hết là người dân tộc Stieng). Tổng cộng tất cả hơn 400 tay súng, nhưng một nửa quân số luôn hoạt động bên ngoài, có khi cách xa trại vài chục cây số là thường. Mọi sinh hoạt trong trại đều diễn ra dưới những căn hầm bán lộ thiên với 2/3 nằm dưới mặt đất và những giao thông hào kiên cố. Giữa năm 1968 trại bị Công trường 7 và 2 trung đoàn Q.762 Q.763 VC tấn công. Trận đánh khốc liệt này được đài phát thanh Quân Đội và các báo tại Sài Gòn hồi đó gọi là trận Dạ Chiến Lộc Ninh.

Vài tuần lễ sau khi trận chiến đi qua, có mấy xe Công Binh vào trại ủi đất để làm vị trí cho Pháo Binh. Chúng tôi được thông báo là trại sẽ được tăng cường 2 khẩu 105 ly. Chỉ một ngày sau khi vị trí hoàn chỉnh, thì một trung đội Pháo Binh thuộc Tiểu Đoàn 52/PB, Sư Đoàn 5, kéo súng vào trại. Chỉ huy Trung đội này là Trung Úy Nguyễn Trí Thức với 2 sĩ quan Tiền Sát Viên còn rất trẻ: Chuẩn Úy Ngô Văn Khiêm và Chuẩn Úy Huỳnh Công Ni. Khỏi phải nói, có thêm một trung đội người Kinh trong trại, chúng tôi vui biết chừng nào… Ngay buổi chiều hôm đó, tôi đã sang vị trí của họ để làm quen. Ngô Văn Khiêm quê ở Chợ Gạo, Mỹ Tho. Tánh tình hồn hậu, hay nói chuyện tiếu lâm và rất chân tình nên dễ gần gũi. Còn Huỳnh Công Ni gốc gác Đà Lạt, hiền lành nhưng có cung cách một công tử, con nhà giàu. Kể từ đó, tôi với Khiêm trở thành đôi bạn thân. Tối nào tôi cũng qua vị trí của Khiêm ngồi tán gẫu đủ thứ chuyện trên đời. Có hôm nhậu lai rai, có hôm pha cà-phê ngồi uống cho tới khuya. Không ít lần, đang ngồi với nhau thì bị pháo kích. Tôi lao xuống giao thông hào chạy vội về vị trí. Chưa đến nơi đã nghe tiếng 105 ly phản pháo, át cả tiếng đạn súng cối nổ trên phòng tuyến. Những lần như thế, mới mờ sáng Khiêm đã chạy qua đánh thức tôi dậy, vừa nói, vừa cười: “Tao sang coi mày còn sống hay đã chết.”

Pháo binh

Ảnh minh họa

Ở Lộc Ninh, trời đã buồn lại càng buồn hơn nữa vào những ngày mưa. Mưa làm cho mặt đất đỏ lầy lội, dính chặt như keo, nên chỉ còn ngồi trong hầm nhìn ra khoảng không gian chật chội, nặng chĩu màu mây xám xịt. Lúc bấy giờ, Huỳnh Công Ni đã có vợ, nên thường đem hình ra khoe với chúng tôi. Con gái Đà Lạt lúc nào cũng chưng diện thật đẹp. Còn tôi và Khiêm thì chưa đứa nào có được mối tình đầu. Khiêm kể:

– Hồi còn đi học ở Mỹ Tho, tao cũng phải lòng vài con bạn cùng lớp. Nhưng nhát quá, mới đứng gần đã run nên không dám tỏ tình, đành để mấy em ôm cặp theo mấy thằng bạo miệng, bạo mồm. Xong tú tài, thì xếp bút nghiên vào Thủ Đức, ra trường, đi làm pháo thủ toàn ở những nơi khỉ ho, cò gáy, thế là dang dở đời trai.

Thứ Bảy, Chúa nhật, hôm nào không hành quân, tôi và Khiêm cũng rủ nhau ra phố chợ Lộc Ninh vào quán A-Lìn, bên bờ suối, ngồi uống cà-phê. Đó là một phố chợ không đèn, hiu hắt với vài hàng quán lèo tèo và một bến xe bụi bặm, loe hoe vài chiếc xe đò cũ kỹ chạy đường Lộc Ninh-Bình Long. Dãy phố bên hông bến xe là tiệm thuốc tây Mặc Khải (thân phụ của nhà văn nữ Thụy Vũ) Nhưng ở đây vào ngày cuối tuần cũng rộn ràng bước chân của những cô thiếu nữ ở các làng cao su thuộc đồn điền Cexo của Tây, đổ ra mua sắm. Thấy chúng tôi ngắm nghía các em một cách say sưa, mấy anh em Hạ Sĩ Quan An Ninh bên chi khu góp ý:

– Các xếp đừng đụng tới mấy em ở làng 2, làng 7, làng 9, làng 10, toàn là VC không đó. Mấy làng này nằm ngoài vòng kiểm soát của mình nên đậu nhiều hơn xôi!

Thật ra có cho kẹo thì chúng tôi cũng không dám đụng đến các em. Ít khi nào chúng tôi còn nấn ná ngoài chợ khi trời sắp ngã về chiều. Cứ kéo nhau vào trại là chắc ăn. Điều mà tôi với Khiêm thường nói với nhau là nghĩ đến một ngày phải chia tay, mỗi đứa một phương trời. Đời lính biết đâu mà hẹn trước!

Rồi một hôm, Chi Thông Tin Lộc Ninh tổ chức một đêm văn nghệ cây nhà lá vườn. Đây là một sinh hoạt văn hóa hiếm khi diễn ra ở cái vùng đất heo hút này. Trong số quan khách được mời có cả tôi và Khiêm. Đó là một đêm vui mà tiết mục hấp dẫn nhất là các em nữ sinh trường Trung học Lộc Ninh (Đệ nhất cấp) được các thầy cô dẫn đi làm khán giả cổ động… Trong số đó có con bé Mai thật dịu dàng, xinh xắn và dễ thương. Dường như Khiêm chẳng để ý đến những gì đang diễn ra trên sân khấu, mà chỉ quay sang chiêm ngưỡng cô bé như bị hút hồn. Nó chỉ Mai cho tôi, và nhở tôi tìm cách nói với cô bé, lát nữa có người muốn đưa về, có được không? Tôi cứ tưởng mình làm chuyện cầu âu cho vừa lòng bạn, nhưng không ngờ Khiêm và Mai quen nhau từ đó và tôi nghiễm nhiên trở thành ông mai. Một ông mai mặc áo rằn ri, chân đi giày bốt-đờ-sô. Giữa mùa mưa năm đó, Trung đội của Khiêm kéo súng về đồi Đồng Long (An Lộc), thay thế vào đó là một trung đội khác. Sáng sớm, tôi chạy qua chỗ Khiêm thì thấy 2 khẩu 105 ly đã được móc vào 2 xe GMC. Hai chúng tôi chỉ kịp ôm nhau nói lời từ biệt trước khi tôi dẫn một Đại đội Biệt Kích đi nằm đường, rải từ ngã ba Xóm Bưng đến cầu Cần Lê trên quốc lộ 13, để an ninh lộ trình cho trung đội của Khiêm di chuyển. Gần trưa, tôi đứng ở đầu cầu Cần Lê, thì Khiêm đi qua, nó ngồi trên ca-bin chiếc GMC đầu tiên, cố thò đầu ra hét với tôi:

– Mày ở lại mạnh giỏi, thế nào cũng gặp lại nhau. Tao luôn nhớ mày.

Tôi quay mặt sang hướng khác, không nhìn đoàn xe đi qua. Xong nhiệm vụ, tôi rút quân về. Buổi chiều ngồi một mình uống cạn mấy lon bia mà nhớ bạn đến nao lòng. Ngày đó, làm gì có điện thoại di động như bây giờ. Ngay cả điện thoại hữu tuyến cũng chỉ nối đường dây nội bộ trong phạm vi trại mà thôi. Liên lạc xa chỉ trông cậy vào máy siêu tần số với hệ thống quay đầu bò (dinamo) và một hiệu thính viên… Còn liên lạc ngắn thì có máy ANPR C25. Chính vì thế mà có nhớ nhau đến mấy, tôi và Khiêm cũng không thể liên lạc với nhau. Mấy tuần sau, tôi nhận được thư Khiêm, nó nói, về nằm với Pháo Đội trên đồi Đồng Long, sát nách tỉnh lỵ Bình Long nên cũng đỡ khổ. Gần cuối thư nó viết: “Tao báo cho mày hai tin vui. Thứ nhất, tao và Huỳnh Công Ni vừa làm đơn xin thuyên chuyển qua Pháo Binh Nhảy Dù, đơn đã được chuyển đi. Thứ hai, Mai cũng vừa về Bình Long trọ học (đệ nhị cấp). Tao định sẽ cưới Mai làm vợ, nhưng không biết nhà người ta có chịu gả con cho đám lính tráng như tụi mình hay không?” Tôi đã đọc thư Khiêm nhiều lần đến thuộc lòng.

Tháng sau, theo chân một cuộc hành quân mở đường để đoàn công-voa của đồn điền cao su CEXO chở gạo lên cho hơn 10 ngàn công nhân cạo mủ. Tôi về Bình Long gặp Khiêm. Buổi trưa, Khiêm, Mai và tôi rủ nhau vào một quán cơm ở chợ cũ, đầu con dốc Đại Lộ Hoàng Hôn. Nhìn hai đứa nó khắng khít bên nhau trông rất rất hạnh phúc và đẹp đôi khiến tôi cũng vui lây niềm vui của bạn. Ăn cơm xong, chẳng biết đi đâu vì tỉnh lỵ quá nhỏ, quá nghèo. Thế là vào một quán cà-phê ngồi tâm sự. Mấy tháng sau, thì Khiêm thư cho tôi báo đã cùng với Ni qua Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù.

Năm 1970, tôi về Chiến Đoàn 3 Xung Kích Lưu Động (B.23 –Mike-Force ở Long Hải. Chiến đoàn có 3 Tiểu đoàn Biệt Kích Quân Tiếp Ứng, quanh năm đi hành quân xa. Tôi may mắn gặp Thiếu Tá Ngô Đình Lưu, nhận ra người miền Trung với nhau nên xếp cho về ban 5, suốt ngày chỉ quanh quẩn ở hậu cứ. Thời gian này, Ngô Văn Khiêm được Tiểu Đoàn 1/PB Dù cho đi học một khóa Chiến Tranh Chính Trị kéo dài hơn tháng tại trại Lê Lợi, trong Biệt Khu Thủ Đô, đường Lê Văn Duyệt. Còn Mai thì theo gia đình về Sài Gòn ở Thanh Đa và mới bước vào Đại học Văn Khoa. Thế là cuối tuần nào tôi cũng từ Long Hải vù về Sài Gòn, cặp kè với Khiêm ra Thanh Đa đón Mai. Có khi vào rạp Rex coi xi-nê, có khi ra Mai Hương ngồi ăn kem, chứ chẳng biết làm gì hơn ở cái đất Sài Gòn hoa lệ mà chúng tôi thì tiền lính-tính liền!

Giữa năm 1970, tôi từ giã cuộc đời Biệt Kích, quay về quê nhà ở Quảng Trị. Cứ tưởng còn lâu mới gặp lại Khiêm. Cuối năm đó tôi nhận được tin Khiêm lên Bình Long làm đám cưới với Mai, nhưng tôi không về được. Nào ngờ, đầu năm 1971, Khiêm tham dự hành quân Lam Sơn 719, đánh sang Hạ Lào. Khi đơn vị của Khiêm triệt thoái về Đông Hà, tôi đã đi tìm và gặp được cả Khiêm lẫn Ni và thêm một người bạn mới có cái biệt danh là “Dưỡng Cà Lăm”. Lúc bấy giờ cả ba đã đeo lon Trung Úy. Sau chiến dịch này, Huỳnh Công Ni xin về Pháo Binh Diện Địa, thuộc Tiểu Khu Lâm Đồng. Tôi đưa Khiêm về nhà. Mẹ tôi hỏi nó muốn ăn gì? Nó nói thèm canh chua miền Nam lắm. Mẹ tôi, một bà Mẹ quê miền Trung chơn chất, ít khi bước ra khỏi lũy tre làng. Nay vì chiến tranh phải tản cư lên tỉnh, nên không biết canh chua nam bộ là thứ gì. Thế là hai đứa ra chợ mua cá lóc, me chua và đủ món gia vị, đem về tự nấu.

Chẳng hiểu có ngon lành gì không mà Khiêm cứ khen lấy, khen để. Chiều hôm đó, tôi và Khiêm về Huế. Hai thằng chui xuống một chiếc đò dưới chân cầu Gia Hội, kêu chủ đò chèo ra neo giữa lòng sông Hương nằm tâm sự cứ như là nhân tình. Đó là lần đầu tiên tôi nghe Khiêm triết lý về cuộc sống. Nó nói: “Chiến tranh ngày càng khốc liệt. Cứ đánh hết trận này đến trận khác. Tao nghĩ thế nào cũng có ngày ngã gục, không thì cũng tàn phế, bởi đi đêm hoài phải có lúc gặp ma. Tao học được ở đời lính hai điều. Thứ nhất là ý nghĩa 4 chữ “ Cư-An- Tư Nguy” quá tuyệt vời trên phù hiệu của trường Thủ Đức. Nhưng từ khi học được câu này thì chưa bao giờ “Cư An” mà chỉ toàn là “Tư Nguy”. Thứ hai là khẩu hiệu “Nhảy Dù – Cố Gắng hết sức khiêm nhường. Quả thật, không ngày nào là không cố gắng, cố gắng không ngưng nghỉ mà chẳng biết cái gì đang chờ mình ở phía trước! Thôi thì cứ tiếp tục cố gắng, cố gắng đến cùng vậy”. Rồi Khiêm nhắc đến Mai, đến cái tương lai thật đơn sơ mà hai đứa mơ ước. Tôi nghe mà thương nó lắm, bởi cảm giác như bạn mình chẳng khác nào một con ngựa hồng sắp mỏi vó! Sáng sớm hôm sau, hai đứa lại chia tay, lại hẹn ngày gặp lại. Khiêm ra Đông Hà với đơn vị đang tái phối trí, còn tôi về Quảng Trị.

Mùa hè đỏ lửa 1972, tôi làm phóng viên chiến trường, hết theo chân các đơn vị TQLC, đến Nhảy Dù tiến về Cổ Thành. Một lần biết được Pháo đội của Khiêm đang chốt vị trí tại một bãi cát bên phải quốc lộ 1, gần ngã 3 Hải Lăng, Lúc bấy giờ Khiêm đã lên Đại Úy, giữ chức vụ Pháo đội trưởng Pháo đội A, Tiểu đoàn 1 Pháo binh Dù. Chúng tôi ngồi ăn trưa trong tiếng nổ ì ầm liên tục, rung chuyển cả mặt đất. Tiếng đạn 130 ly từ trên núi rót xuống, tiếng 105 ly của Khiêm bắn đi yểm trợ cho các cánh quân đang tiến về Cổ Thành. Ai mà yếu bóng vía và không giỏi chịu đựng, chỉ cần ở đây vài phút là đã run như cầy sấy. Vậy mà Khiêm và các chiến binh can trường vẫn sống một cách hào hùng hết ngày này, sang tháng khác trong hoàn cảnh như thế.

Khiêm hỏi tôi bà già và các em đang ở đâu? Tôi cho Khiêm biết tất cả đều bình an và đang sống ở khu tản cư Non Nước, Đà Nẵng. Quả thật, trong chiến tranh, người dân Quảng Trị cũng gian truân chẳng kém gì đời lính. Họ liên tục có những cuộc bỏ phiếu bằng chân để lựa chọn. Bất chấp bom đạn trên đầu, cứ tìm nơi nào có bóng dáng người lính VNCH mà đến…

Sau bữa cơm, tôi thấy nét mặt Khiêm đượm buồn, cho dù sạm nắng và dày dạn phong sương rất nhiều. Khiêm nói:

– Báo cho mày biết, tao sắp làm cha. Ngày trước, chẳng ngán gì đường tên, mũi đạn, bất quá “áo bào thay chiếu anh về đất” là cùng. Còn bây giờ, khi biết mình sắp có con thì hơi lạnh cẳng! Thôi thì cứ phó thác cho số phận.

Ngưng một lát, Khiêm đứng dậy móc trong túi quần trận ra đưa cho tôi một xấp tiền. Nó nói tiếp:

– Đường từ đây về Huế rất an toàn, tất cả đều nằm trong sự kiểm soát của mình, ngoại trừ pháo kích thì không biết đâu mà lần. Lát nữa tao cho tài xế lái xe jeep đưa mày về Huế. Đó là lệnh, mày không được cãi. Mày không nên ở đây đêm nay. Tao gởi mày 5. ngàn. Cho mày 2 ngàn, coi như tao rửa lon Đại Úy trễ với mày. Gởi bà già 3 ngàn cho tao yên lòng. Tao ở giữa chiến trận thì để tiền trong túi mà làm gì. Mày cứ tiêu giùm tao…”.

Tôi xiết chặt tay Khiêm và nắm lấy thật lâu. Tự nhiên tôi trào nước mắt, chỉ thốt được một câu:

– Tao thương mày quá Khiêm ơi!

Khiêm nhìn tôi cố cười gượng:

– Đ.m tinh thần Biệt Kích của mày đâu rồi? Ngày xưa tao ngưỡng mộ cái ngang tàng của mày lắm mà. Sao bây giờ lại yếu đuối thế! Đó là lần cuối cùng tôi gặp Khiêm! Cho dù thỉnh thoảng tôi vẫn ghé lại hậu cứ Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Dù, nằm sát Tiểu Đoàn 9 trong trại Hoàng Hoa Thám để hỏi tin tức và biết chắc nó vẫn chân cứng, đá mềm trên khắp nẻo chiến trường.

Sau ngày 30/4/1975, tôi hy vọng Khiêm sẽ trở về, nhưng chờ hoài chẳng thấy. Một thời gian sau, tôi khăn gói đi vào trại tù, nơi được gọi là trại cải tạo! Ròng rã 10 năm lao lý, mỗi lần có số anh em từ trại khác chuyển đến, tôi đều dọ hỏi, nhưng cũng chẳng có ai biết Khiêm ở đâu. Năm 1985, tôi ra trại. Lại tiếp tục tìm kiếm. Bấy giờ tôi lại hy vọng bạn mình đã nhanh chân di tản được sang Mỹ, vì nghe nói Nhảy Dù và TQLC đi nhiều lắm. Cho đến khi có internet, tối nào trước khi tắt máy đi ngủ, tôi cũng gõ vào Google “Đại Úy Ngô Văn Khiêm pháo đội trưởng pháo đội A tiểu đoàn 1 pháo binh sư đoàn nhảy dù” và lần nào mạng cũng cho kết quả “Không hiển thị”.

Thế rồi, một buổi tối đầu tháng 7/2014, tôi đã hồi hộp đến nghẹn thở khi thấy tên Khiêm xuất hiện trên mạng, trong bài viết mang tựa đề “Cải táng những chiến sĩ mũ đỏ đã vị quốc vong thân ngày 16/4/1975 tại phi trường Phan Rang-tỉnh Ninh Thuận”. Người viết muốn thông báo cho bà con, bạn bè, thân hữu của Trung Tá Sơn, Thiếu tá Tựu và Đại Úy Khiêm là đã tìm được nấm mồ tập thể, chôn hài cốt của 3 anh em có cấp bậc cao nhất và một số chiến hữu khác dưới chân Núi Ngỗng, xã Ninh Sơn. Tháng 3/2013, một ngôi miếu nhỏ được xây dựng tại đó, sau 38 năm những cánh hoa dù về an nghĩ giữa lòng đất mẹ mà không ai nhang khói! Ý chừng để tránh phiền toái, tác giả bài viết ký tên là Cà Tèm với số điện thoại khuyến mãi: 01886423011. Mừng quá, tôi bấm ngay số điện thoại của Cà Tèm nhưng chỉ nghe tổng đài trả lời “số thuê bao đã tạm khóa, xin quý khách gọi lại sau”.

Thất vọng, nhưng tôi vẫn kiên trì gọi mỗi ngày 3 lần: sáng, trưa,chiều… Rồi gần 10 ngày sau, một buổi sáng tôi nghe chuông đổ. Đầu máy bên kia một giọng đàn ông lớn tuổi vang lên. Tôi giới thiệu ngay mình là bạn chí cốt của Ngô Văn Khiêm, rất xúc động khi đọc được tin này và rất cảm kích trước việc đi tìm xác đồng đội của anh em. Người đàn ông nói, anh ta cũng là chiến sĩ mũ đỏ và quê quán tại Phan Rang. Vì quá thương chiến hữu mà mấy chục năm qua cứ lùng sục, tìm kiếm để lo cho đồng đội một nấm mồ mới thấy yên lòng. Sau đó, Cà Tèm cho tôi số điện thoại thường dùng và tên thật của anh. Tôi hỏi Cà Tèm, hiện nay Khiêm có còn thân nhân nào không? Cà Tèm nói có, chị Mai vợ của anh đang ở Úc. Dù đã có gia đình mới nhưng hôm xây miếu cho anh Khiêm, chị cũng gởi tiền về. Tôi lại hỏi Cà Tèm có cách nào liên lạc được với Mai không? Cà Tèm nói sẽ gọi đt cho người em chồng hiện nay của Mai đang định cư ở Sài Gòn. Nhờ anh ta chuyển ngay cho Mai tên và số đt của tôi. Nếu cần thì Mai sẽ gọi. Cà Tèm cúp máy. Tôi tưởng nếu có thì cũng phải chờ một vài ngày Mai mới gọi cho tôi, bởi đã mất liên lạc với nhau hơn 40 năm rồi còn gì. Ấy thế mà chỉ một tiếng đồng hồ sau, chuông điện thoại của tôi reo, đầu máy bên kia giọng một người phụ nữ đứng tuổi nói trong xúc động:

– Có phải anh Tường không? Em là Mai vợ anh Khiêm ở Úc gọi về cho anh đây.

Quá xúc động, tôi hét lên trong máy:

– Mai ơi, Mai khỏe không?

– Em khỏe. Mấy chục năm qua, em cũng nhiều lần dò hỏi tin tức về anh nhưng không có ai trả lời chính xác. Anh Tường ơi, tội nghiệp Khiêm lắm. Những ngày tháng cuối cùng không hiểu linh tính thế nào mà Khiêm thường nói với em:

“Nữa, anh chết đi, anh sẽ kiếm cho em một người chồng tử tế. Còn thằng nào không đường hoàng anh sẽ không gả em đâu.” Rồi Khiêm lại mang hết đồ đạc về nhà và dặn dò em, chiến tranh chừng cũng sắp kết thúc, anh sẽ về sống mãi mãi bên em.”

Ngưng một lát, dường như để nén cảm xúc, Mai nói tiếp:

– Suốt đêm 16/4/1975, em không thể chợp mắt một phút nào cả. Lòng cứ nóng như lửa đốt. Mấy ngày sau, có một người y tá thuộc đơn vị của Khiêm, tên là Phan Bá Em đến nhà cho em biết. Sáng hôm đó, bên mình hầu như đạn dược, lương thực đã cạn kiệt và VC đã tràn vào phi trường. Trung Tá Trần Văn Sơn, Lữ đoàn phó, Lữ đoàn 2 Dù bị trúng một băng đạn vào người, ngã gục tại chỗ. Kế đó, Thiếu tá Đặng Đình Tựu cũng bị trúng đạn pháo kích và tử trận. Còn Khiêm thì bị thương nặng ở bụng và ở chân. Vừa lúc đó, có một chiếc máy bay chở đồ tiếp tế ra và bốc thương binh về. Khiêm được đưa lên máy bay và y tá Em băng bó tạm thời. Lúc bấy giờ, y tá Em cũng bị thương nhẹ ở tay. Nhưng rồi, phi trường bị pháo kích nặng, máy bay không cất cánh lên được. Ông Em nói với Khiêm: “Đại úy bị thương nặng, không đi được, phải nằm lại thôi. Còn em, trong tình hình này phải rời đây ngay.” Khiêm nắm tay người y tá và dặn, “cậu cố gặp vợ con tôi, kể cho họ biết. Nói là tôi yêu thương vợ con lắm. Thôi cậu đi. Chúc may mắn” Thế là Khiêm không bao giờ về nữa! Những ngày cuối tháng 4/75, chiến trường Long Khánh bùng nổ dữ dội, em rất muốn ra Phan Rang tìm anh Khiêm, nhưng đường xá chưa lưu thông. Đến ngày 4/5, em ra Phan Rang, đến phi trường thì gặp đám bộ đội còn trẻ canh gác ở đó cho biết. Đơn vị dọn dẹp phi trường và thu gom xác chết vài tuần trước đã di chuyển di nơi khác. Còn họ mới đến vài ngày nay nên không biết gì cả. Hai tháng sau, em trở ra Phan Rang 10 ngày cứ tìm kiếm, hỏi han khắp nơi, nhưng đành chịu thua. Sau đó, vì cuộc sống, em khai chồng chết và nhờ có học mấy năm văn khoa, em được họ cho học một lớp sư phạm ngắn hạn, rồi phân phối về dạy trường Trung học Giồng Ông Tố. Đến năm 1982, em gặp anh Hứa Duối, nguyên Đại Úy, Đại đội trưởng 204, Quân cảnh Dù. Anh Duối trong thời gian đi tù cải tạo thì gia đình tan nát. Tụi em đã dắt dìu nhau vượt biên sang Úc và đã sống với nhau 32 năm, có được 2 đứa con, đứa nào cũng ngoan và học hành đến nơi, đến chốn. Riêng cháu Sơn, con anh Khiêm, năm nay đã 42 tuổi rồi và rất thành đạt ở Úc. Quả thật, anh Khiêm đã phù hộ cho em gặp được người chồng tốt, vừa là đồng đội cũ của anh. Anh Duối là một người đàn ông hết mực tử tế với gia đình…

Nghe Mai kể, lòng tôi buồn vui lẫn lộn. Cuối cùng, tôi cũng biết rõ tin tức của Khiêm. Thì ra, gần 40 năm qua, bạn tôi đã nằm lại ở một nơi đèo heo hút gió vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Một cuộc chiến với hồi kết thúc thật bẽ bàng…! Bây giờ là tháng bảy âm lịch. Một buổi tối ngồi trong quán cà-phê với mấy người bạn trẻ. Tôi đem câu chuyện tình bạn của tôi và Khiêm trong thời chinh chiến với đoạn cuối còn nguyên vẹn cảm xúc kể cho họ nghe và quyết định vài hôm nữa sẽ ra Núi Ngỗng, Phan Rang để đốt cho Khiêm và anh em nằm lại ở đó một nén nhang. Nào ngờ những người bạn trí thức trẻ đó không những hết sức ủng hộ mà còn muốn theo chân tôi trong chuyến đi này một cách nhiệt tình. Thế là cùng nhau bàn bạc, chọn ngày 9/8 (13/7âm lịch) khởi hành sằng xe lửa. Theo đúng kế hoạch, 4 chú cháu chúng tôi, bao gồm 2 kỹ sư điện là Hồ Cao Anh Tuấn và Nguyễn Bá Tuệ, cùng với bác sĩ Đoàn Nguyễn Hoài Lê rời Ga Sài Gòn lúc 9 giờ tối. 6 giờ sáng hôm sau ra tới Phan Rang, nhờ Cà Tèm dẫn đường lên Núi Ngỗng. Cúng xong, chúng tôi xuống bãi biển Ninh Chữ nằm ghế bố nghỉ ngơi, chờ đến tối ra ga Tháp Chàm quay về lại Sài Gòn. Trở lại chuyện đi tìm hai cốt bạn, từ Phan Rang, chúng tôi theo quốc lộ 27 hướng lên Đà Lạt 20 cây số. Rẽ phải, vào một con đường đất ngoằn nghèo, chạy qua những sườn đồi trơ trụi, tha hồ gió cát mịt mù. Mới 9 giờ sáng mà nắng đã như thiêu, như đốt, giữa vùng đất cằn không một bóng cây xanh. Đi thêm 3 cây số nữa là tới một ngôi miếu nhỏ, sơn màu xanh da trời, nằm chơ vơ trên một miếng đất trống, bên phải một con đường mòn. Đó là nơi an nghỉ của Khiêm và một số đồng đội của nó. Tội nghiệp bạn tôi, khi còn sống thì lặn lội ở những nơi rừng sâu, núi thẳm gần như suốt thời trai trẻ. Khi nằm xuống, cũng ở một nơi đèo heo hút gió mà ngủ giấc ngàn thu! Nơi đây, ngày không một bóng người qua lại, đêm thiếu vắng cả ánh đèn dầu leo lét. Bạn tôi nằm dưới chân một hòn núi cô đơn, mang dáng dấp một con ngỗng trời, đầu hướng ra biển đông thì thầm sóng vỗ.

Chúng tôi dọn lễ vật đã chuẩn bị sẵn. Thắp nhang, rót rượu, đốt thuốc mời nhau, chẳng khác gì những bữa tiệc, tương phùng , lính tráng ngày xưa! Cho dù giờ đây, Khiêm chỉ còn là một nắm xương tàn, dưới nền ngôi miếu nhỏ. Nhưng tôi tin linh hồn của Khiêm và những anh em nằm lại nơi đây, đã được những con ngỗng thiêng ở chân núi này chở theo những cánh hoa dù bay thẳng về trời từ lâu.

Đoàn Kế Tường

Hội Quán Phi Dũng

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 22 Jul 2025

75. Phạm Văn Chừng

Người ta cho rằng cứ nghe nhạc của một dân tộc có thể biết được dân tộc đó sống hạnh phúc chăng. Bởi vì âm nhạc không những phản ảnh những tình cảm gần gụi nhất của con người, đôi khi nó còn báo hiệu những gì sắp xẩy ra trong lịch sử của một dân tộc nữa.

Cứ nghe nhạc của chúng ta thập niên 40-50 chúng ta sẽ thấy điều ấy. Đó là [sắp tới] những ngày người ta ‘ra đi không về’ [Phan Huỳnh Điểu], ‘Khóc cho ngày đi, không còn ngày về’ [Lưu BáchThụ],

‘Đi không ai tìm xác rơi’ [Văn Cao].

Nhạc cũng báo trước những ngày bơ vơ của con người:

‘Biết đâu bờ bến, thuyền ơi thuyền trôi nơi đâu’ [Đặng Thế Phong].

Con Chim Lạc Bạn của Phạm Văn Chừng cũng có chung nỗi lẻ loi, buồn bã của một cuộc chia lìa, một giai đoạn người ta không biết rồi sẽ lang bạt về đâu.

Con Chim Lạc Bạn

Trời xuân dịu êm như đắm say

Nắng xuân in vàng mái hiên ngoài

Hoa đào thắm tươi phô sắc tía

Gió uốn cành lá bướm lượn bay

Ý xuân nồng say tưng bừng khắp

Vườn xuân có một con đỗ quyên

Hót lên hoài ngàn muôn tiếng sầu thảm

Vì đâu hỡi chim, mi buồn phiền

Chíp chiu, chíp chiu

Mi kêu xao xuyến, tơi bời lòng ta

Càng nghe càng như mi sầu não xót xa

Tiếc muôn đóa hoa anh đào sắp tàn rã

Hay buồn bạn mi nay đã lánh nơi xa

Nắng xuân tràn tuôn muôn nguồn sáng

Trời xuân êm dịu tỏa làn hương

Khắp muôn loài đón xuân mừng ca hót

Mình mi mang mối hận sầu thương

Sau ngày 30 tháng 4/75 rất nhiều người Sài Gòn nói rằng, mỗi lần nhớ lại bài ca này, người ta lại khóc. Có một điều đáng tiếc là ca khúc chưa bao giờ được in ra, nên nó được chép lại theo trí nhớ. Như thế, không thể tin chắc là đúng. Nghe nói, Phạm Văn Chừng cũng thuộc gia đình, họ hàng Phạm Đình Chương. Vậy chúng ta hy vọng sẽ có người cho biết ‘chính bản’ của ca khúc này. Nghe những ca khúc được thâu thanh trong những năm gần đây, cái sai làm phát nản. Người ta có cảm tưởng không còn gì được coi là quý nữa. Mọi thứ đều bị coi thường.

Duy Trác

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 22 Jul 2025

74. Phạm Trọng

Phạm Trọng sáng tác khá nhiều. Nhưng thính giả vẫn nhớ đến ông nhiều nhất qua hai ca khúc Mùa Thu Không Trở Lại và Trường Làng Tôi. Những người đã viết về ông không ai cho biết rõ ca khúc nào trong hai ca khúc đó, đã được Phạm Trọng viết trước.

Nghe, không đoán ra được. Có điều chắc chắn Mùa Thu Không Trở Lại đã được Phạm Trọng sáng tác tại Pháp. Sinh viên Việt Nam cùng thời với Phạm Trọng nói rằng họ đều biết hoặc thuộc Mùa Thu Không Trở Lại.

Ca khúc này của Phạm Trọng, cùng với thơ Nguyên Sa, thơ Cung Trầm Tưởng, đã làm cho những ngọn đèn của ga Lyon, sường mù sông Seine, công viên Luxembourg trở thành gần gũi hơn đối với các thính giả Việt Nam, nhất là các thính giả trẻ, vào cái thời còn ít người được đi xa:

Ngày em đi

Nghe chơi vơi não nề

Qua vườn Luxembourg

Sương rơi che phố mờ

Buồn này ai có mua

Từ chia ly

Nghe rơi bao lá vàng

Ngập dòng nước sông Seine

Mưa rơi trên phím đàn

Chừng nào cho tôi quên

Hôm … em ra đi mùa thu

Mùa thu không trở lại

Sự gần gụi, cái chất thơ mộng, lãng mạn, người ta cảm nhận được khi đọc thơ, nghe nhạc, sự thật cũng chỉ có trong tưởng tượng.

Bài hát người ta thực sự chia sẻ xúc động với Phạm Trọng là bài Trường Làng Tôi. Trong văn, thơ của chúng ta, nhạc của chúng ta, hình ảnh của ngôi trường cũ, được nhắc tới rất nhiều. Những kỷ niệm “hoang mang” của ngày khai trường Thanh Tịnh kể lại, rất nhiều người còn nhớ.

“Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc, áo nàng xanh anh mến lá sân trường” [Nguyên Sa].

“Tôi yêu thầy tôi lắm, nhớ tiếng nói vang vang” [Phạm Duy]

Hình như tình cảm sâu đậm nhất người ta thường dành cho các trường ốc trong đời mình là ngôi trường tiểu học. Có phải vì đó là mối tình sớm hơn mối tình đầu? Thắm thiết vậy nhưng đó vẫn chỉ là những “mảnh tình” người ta dành cho ngôi trường cũ. Trong nhạc của chúng ta chỉ có hai [?] ca khúc các tác giả đã dành trọn tác phẩm để nói về ngôi trường thời thơ ấu của mình.

Bài thứ nhất đã có từ lâu lắm, có tên là “Trường Xưa” thì phải, tác giả là ai, kẻ viết bài này, cho đến nay cũng chưa biết, nhưng còn nhớ được lời ca như sau:

Bao tháng ngày xa vắng trôi

Còn đây nếp trường xưa

Xa vắng càng thiết tha mong

bên mấy khung song thưa

Say ngắm từng gian lớp xinh

Lòng xao xuyến tình thơ

Bao tình thơ ngây những lúc vui chơi

Cùng ngồi quanh bóng mát cùng reo cười

Cây sòi xưa kia lá tốt xanh tươi

Trạnh lòng ai nhớ tiếc khó nguôi

Trông khắp trường thấy khác xưa

Từ hiên trước tường sau

Nhưng bóng hình sáng tươi xưa

trong trí đây in sâu

Ngao ngán thời vui sướng qua ngày nay biết tìm đâu

Bài thứ hai là Trường Làng Tôi của Phạm Trọng. Sau này, các ca khúc của Phạm Trọng có nhiều cái xa, cái lạ, cái hay khác. Nhưng Trường Làng Tôi của ông với giai điệu hồn nhiên, ca từ mộc mạc, đằm thắm, dường phản ánh nguyên vẹn bầu trời ấu thơ trong sáng, đầy kỷ niệm, mỗi người đều cùng như ông, nuôi giữ trong lòng. Khi cái kho tàng ấy bị chiến tranh tàn phá, xóa bỏ, người ta mang chung một vết thương, một nỗi đau. Đó có lẽ là lý do giải thích vì sao rất nhiều người yêu ca khúc Trường Làng Tôi của Phạm Trọng:

Trường làng tôi cây xanh lá vây quanh

Muôn chim hót vang lên êm đềm

Trường làng tôi con đê bé xinh xinh

Len qua đám cây xanh nhẹ lướt

Trường làng tôi hai gian lá đơn sơ

Che trên miếng sân vuông mơ màng

Trường làng tôi không giây phút tôi quên

Nơi sống bao kỷ niệm ngày xanh

Nơi sống bao mái đầu xanh màu

Đời tươi như bao lá xanh, lá xanh

Theo tháng ngày chiến cuộc lan tràn

Qua xóm thôn nát ngôi trường xưa

Không bóng hình bao trẻ nô đùa

Cùng nhau vang hát khúc ca vô tư

Mơ đến ngày nước non thanh bình

Trong thôn xóm ấm ngôi trường xưa

Trường làng tôi nay [xưa] vang tiếng ê a

Nay [xưa] in bóng bao em nô đùa

Trường làng tôi không giây phút tôi quên

Dù cách xa muôn trùng trường ơi!

Phạm Trọng tên thật là Phạm Trọng Cầu. Ông sinh năm 1935 và đã mất tại Sài Gòn.

Thái Thanh

Tam ca Áo trắng

Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 22 Jul 2025

Chương 21.

Vương hổ tướng lật đật trở về, chàng nhủ thầm chuyến này có mục đích xem quân lính ở nhà có được tử tế, yên ổn như lúc chàng ra đi không? Chàng cũng tự cho đó là một lý do chính, song thâm tâm chàng còn một lý do thầm kín, chàng nóng lòng muốn biết có cô vợ nào sinh hạ được một đứa con trai không? Chàng đi vắng thấm thoắt đã được mười tháng, một năm rồi; trong thời gian đó, có hai lần chàng nhận được thơ của cô vợ sáng chữ. Suốt cả một trang giấy đen sì những chữ, toàn thị lời lẽ văn hoa khiêm tốn, lễ độ, ý nghĩa rỗng tuếch, tựu trung đại ý nói ở nhà bình yên vô sự.

Khi chàng vênh vang, thắng trận trở về gian phòng cũ, chàng nghĩ Trời còn tựa chàng, đang lúc hồng vận. Trong  chiếc sân, trước gian phòng kín gió, dưới ánh nắng êm dịu,hai cô vợ ngồi chơi, mỗi cô ôm một đứa trẻ sơ sinh, đứa nào cũng quấn từ đầu đến chân lụa đỏ tươi, trên đầu đội chiếc mũ thóp bằng nhiễu đỏ. Cô vợ “mù chữ” đã gắn trên mũ chop của con cô một hàng tượng Phật nhỏ bằng vàng, còn cô “sáng chữ” không tin dị đoan, thêu một cành hoa trên mũ con. Chàng thấy hai đứa hài nhi giống nhau, chàng hết sức lạ vì không ngờ lại có một lúc hai đứa con, chàng lẩm bẩm: … chà !… chà!…

Cô vợ “sáng chữ” đứng dậy, cô này tính nết nhanh nhẹn, ăn nói ngọt ngào, văn vẻ, trong câu chuyện cô nói thỉnh thoảng lại thêm một câu chữ hay một vần cổ thi, cô nói chuyện lại còn ngụ ý khoe bộ răng trắng nõn.

– Trong khi lang quân ở biên địa, tiện thiếp chúng em đã sinh hạ được những hài nhi này, xin lang quân duyệt lãm, đứa hài nhi được khang cường từ đầu đến chân. – Vừa nói, nàng vừa đưa con cho chồng coi.

Cô vợ kia nóng ruột muốn khoe với chồng cô sinh được con trai. Còn đứa nhỏ của cô “sáng chữ” là một đứa con gái. Cô đứng dậy vội vàng nói, vì hàm răng bị sún đen, rụng mất mấy chiếc, cô mím môi cố nói:

– Thưa quan, con của thiếp đây là trai, đứa kia là gái ạ.  Chàng lặng yên không nói gì. Chàng sung sướng quá,không còn biết nói gì. Chàng không ngờ đã có một đứa trẻ do chính khí huyết chàng tạo nên, và đứng yên ngắm nhìn hai đứa hài nhi. Hai cô vợ thản nhiên đứng nhìn chồng như nhìn một thân cây hay một mảnh tường. Ánh nắng chiếu vào mặt, hai cô nheo mắt, thốt nhiên đứa con trai hắt hơi, chàng ngạc nhiên thấy một đứa bé tí tẹo cũng biết hắt hơi. Đứa con gái nhỏ há mồm như con mèo con ngáp. Đứng nhìn hai đứa trẻ cho là lạ quá, chàng chưa åm bế một đứa trẻ nhỏ nào bao giờ, nên không dám mó vào hai đứa con.

Cũng không biết nói chuyện gì với hai cô vợ vì chàng chỉ quen thường nói, thường bàn những chuyện về chiến sự. Chàng chỉ mỉm cười, bọn lính đi theo hầu, đứng đó, reo mừng. Chàng nghĩ:

– Có vợ đẻ con nghĩ cũng hay.

Cuộc vui mừng đã qua, chàng vội vã vào trong phòng  riêng. Tắm rửa, ăn uống, thay bộ đồ nhà binh cứng nhắc chàng mặc một chiếc áo lụa màu lam sẫm, thì trời vừa tối. Đêm đông gió lạnh, ngồi một mình trước một lò than hồng, chàng suy nghĩ những việc đã làm, kết quả đã lượm được. Chàng nghĩ số chàng cũng tốt, việc gì cũng may mắn trót lọt, bây giờ chàng đã toại nguyện, bao nhiêu hoài bão từ trước đã dần dần thực hiện được hết. Bây giờ đã có con trai, tham vọng của chàng có một mục tiêu chính đáng, những

hành động của chàng cũng hướng vào mục đích đó. Nghĩ  thế, lòng ruột nở nang, tâm hồn sung sướng, chàng quênnhững nỗi ưu phiền đã từng có khi phải ở cô độc trong gian phòng tĩnh mịch. Thốt nhiên chàng nói một mình:

– Con ta, nhất định ta phải rèn luyện làm một chiến  tướng.

Chàng đứng dậy, lòng vui mừng quá, lấy tay vỗ đùi.Đi đi lại lại trong gian phòng, chàng không nhận ra chàng vừa đi vừa mỉm cười, chàng nghĩ có một đứa con trai, một việc đáng mừng lắm, từ nay không phải cần con của các anh, nó sẽ nối dõi sự nghiệp của chàng sau này để mở mang  thêm cương giới mỗi ngày mỗi lớn mỗi mạnh. Chàng lại nghĩcòn đứa con gái, không biết sau này chàng định cho nó làm gì. Ra đứng tựa cửa sổ, vuốt mấy sợi râu cằm, nghĩ đến đứa con gái lớn lên sau này, chàng lẩm bẩm nói một mình:

– Đứa con gái sau này ta kiếm gả cho một chiến sĩ anh hùng. Đối với con gái ta chỉ lo cho nó đến thế là cùng.

Kể từ ngày hôm đó, đối với hai cô vợ, Vương hổ tướng có  một quan niệm mới lạ, hai cô sẽ sản xuất cho chàng nhiều đứa con trai nữa, những đứa trẻ sau này là những người tuyệt đối trung thành, không bao giờ bội phản chàng, những người do giòng máu chàng tạo nên. Chàng không cần phải

nhờ hai cô vợ làm thú tiêu khiển, giải khuây chàng, tinh thần cũng như thể chất. Chàng hy vọng sẽ tạo thành những đứa hài nhi, những tên lính tương lai dũng cảm, luôn luôn ỏ bên cạnh chàng giúp đỡ sau khi mình đã về già. Chàng lại đều đặn với hai cô không thiên vị cô nào, tuy cô nào cũng hết sức chiều chuộng để được phần ưu đãi. Chàng cũng được vừa ý cả hai cô mỗi cô một vẻ song đối với hai cô chàng đã có một quan niệm rõ rệt. Cách cư xử đối đãi như thế, lòng chàng  được thư thái, chàng không bận tâm tha thiết yêu đương,say mê một người đàn bà nào, chàng đã được mãn nguyện có một đứa con trai.

Mùa đông năm đó đã trôi qua, êm đềm vui vẻ. Tết Nguyên Đán đến cũng rất náo nhiệt, hân hoan, chàng vui vẻ hơn mọi năm vì năm qua là một năm thắng lợi. Chàng phát cho binh lính rượu và thức ăn, thưởng cho mỗi người một số tiền. Chàng còn cho lính nhiều thứ mà xưa nay họ vẫn ước ao thèm muốn: thuốc hút, khăn mặt, bít tất và các đồ lặt vặt. Hai cô vợ, cô nào cũng có tặng phẩm, suốt cả nhà lớn bé ai cũng hân hoan đón mừng năm mới.

Có một việc đáng tiếc nhưng cũng may việc đó sau mấy ngày Tết mới xảy ra nên Tết vẫn được êm đềm vui vẻ. Sau Tết được mấy hôm, ông phủ chặp tối đi ngủ, sáng hôm sau đã thấy ông chết hồi nào ban đêm. Hoặc giả ông bị say thuốc phiện, hay đêm đông sương gió ông bị cảm không ai biết chăng.

Vương hổ tướng được tin đó, cho thửa một cỗ áo quan tốt, lo liệu việc tống táng, đưa về nguyên quán. Ông cụ là người ở tỉnh bên. Công việc chưa xong lại có tin cấp báo bà cụ phủ đã nuốt hết số thuốc phiện và đã theo chân ông cụ về miền cực lạc. Tin này không ai sửng sốt vì bà cụ này già lắm, không bao giờ ra khỏi phòng. Vương hổ tướng cũng chưa hề biết mặt bà bao giờ. Chàng lại cho làm một cỗ áo quan nữa, cho ba người gia đinh hộ tống hai chiếc quan tài về tỉnh bên mai táng.

Chàng thảo tờ trình, báo tin lên thượng cấp, chàng sai anh sứt môi, tên thủ hạ tâm phúc, đi cùng với vài người lính đem tờ trình đệ lên tỉnh. Chàng ghé bảo nhỏ anh này:

– Có những việc không thể nói được mà nếu có nói chỉ có thể nói nhỏ lọt vào tai thôi nên ta không có viết giấy. Mày đệ trình giấy, chờ lúc nào thuận tiện mày sẽ bẩm nhỏ tao sẽ có thơ đệ trình riêng chỉ định ai sẽ ngồi ở hạt này. Anh lính lĩnh ý, chàng vui lòng vì anh này có thể tin cậy được. Trong tình thế nhiễu nhương hiện tại chắc chắn ở tỉnh chưa gửi ngay người về thay thế cai trị, chàng hãy tạm đảm nhiệm xử lý thường vụ công việc dân sự trong hạt. Chàng để hai cô vợ ở gian nhà trong chỗ vợ ông phủ ở trước, rồi chàng cũng quên không có ai ở đó nữa, ngoài vợ con chàng.

Thiếu tá Andrew Vu (gốc Việt), từ Binh sĩ trở thành Phi công trực thăng UH-60A/L Blackhawk, Lục quân và Phi công phi cơ Airbus A320, Frontier Airlines.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on February 12, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 21 Jul 2025

Thiếu tá Andrew Vu trong buổi lễ tốt nghiệp mang cánh bay ngày 4 tháng 11 năm 2021 (ảnh khi còn mang cấp Đại uý của Pennsylvania National Guard).

Thiếu tá Andrew Vu là Phi công trực thăng UH-60A/L Blackhawk thuộc Lữ đoàn hàng không Vệ binh Quốc gia Pennsylvania, Lục quân trừ bị từ tháng 9 năm 2023. Là cư dân Lawrence Township, New Jerseyan, “Andrew Vu gia nhập quân đội vì muốn bay loại trực thăng chiến đấu AH-64 Apache”, ông cho biết. Khi còn là Sinh viên Đại học năm thứ 1 ông đã bắt đầu tìm hiểu về Quân đội và trau dồi kỹ năng bằng cách gia nhập Vệ binh Quốc gia Pennsylvania làm Binh sĩ và phục vụ từ tháng 12 năm 2006 đến tháng 8 năm 2010.

Sau đó, Thiếu tá Andrew Vu theo học khoá Sĩ quan tại Trường Sĩ quan OCS Lục quân (U.S. Army Officer Candidate School) và Tốt nghiệp mang cấp bậc Thiếu uý. Đến háng 7 năm 2020, Đại uý* Andrew Vu được tuyển chọn thụ huấn trường huấn luyện Phi công tại Fort Rucker, Alabama và tốt nghiệp với thứ hạng cao vào tháng 11 năm 2021.

Trong suốt 18 năm phục vụ Vệ binh Quốc gia, Lục quân trừ bị, Thiếu tá Andrew Vu lần lượt được thăng cấp và chỉ định thi hành nhiêm vụ qua các đơn vị: Thiếu uý Trung đội trưởng; Trung uý Sĩ quan hành quân Tiểu đoàn; Đại uý Sĩ quan huấn luyện Trường Sĩ quan OCS; Đại uý Đại đội trưởng, Đại đội Bravo, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 109 bộ binh; Đại uý Sinh viên Sĩ quan Phi công trực thăng UH-60M Blackhawk; Đại uý Sĩ quan tiếp liệu Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn hàng không yễm trợ chung 104, kiêm Phi công trưc thăng UH-60A/L Blackhawk; Đại uý Phụ tá tiếp liệu Lữ đoàn hàng không chiến đấu viễn chinh 28, kiêm Phi công trưc thăng UH-60A/L Blackhawk; Đại uý Lữ đoàn Hàng không kiêm Phi công trưc thăng UH-60A/L Blackhawk; Thiếu tá Lữ đoàn Hàng không kiêm Phi công trưc thăng UH-60A/L Blackhawk từ tháng 8 năm 2023 đến nay.

Đại uý* Andrew Vu và bạn cùng khoá Phi công trực thăng tại Fort Rucker, Alabama (ảnh của Pennsylvania National Guard).

Thiếu tá Andrew Vu tốt nghiệp Văn bằng Cử nhân Xã hội – Trường Hunter College năm 2015 và các Văn bắng, Chứng chỉ của ngành Hàng không. Từ một Binh sĩ bộ binh, Andrew Vu đã kiên nhẫn làm việc và cố gắng vươn lên để trở thành Sĩ quan bộ binh và được tuyển chọn thụ huấn khoá huấn luyên Phi công trở thành Phi công trực thăng Sikorsky UH-60 Black Hawk, với ý chí và nghị lực phi thường, ông đã thực hiện được ước mơ Phi công trực thăng Lục quân và Phi công Hàng không dân sự qua hành trình gia nhập và phục vụ quân đội.

Ngoài Thiếu tá Andrew Vu, Phi công bay loại trực thăng UH-60A/L Blackhawk Hàng không Lục quân, còn có một số Sĩ quan Phi công gốc Việt khác bay các loại trưc thăng cùng loại Sikorsky UH-60 Black Hawk như: Đại uý Vinh Phan; Đại uý Tyler Pham và Đại uý Hieu N. Ngoài nhiệm vụ và thời gian phục vụ Lữ đoàn hàng không Vệ binh Quốc gia Pennsylvania, Lục quân trừ bị, Thiếu tá Andrew Vu còn là Phi công Airbus A320 của hãng Frontier Airlines.

Chú thích: Viết theo tài liệu; *Ghi theo thời gian còn mang cấp bậc Đại uý,

Nguồn: Pennsylvania National Guard; linkedin.com; bienxua-Những Sĩ quan Phi công Lục quân Hoa Kỳ. gốc Việt.

Quảng Trị dậy sóng và cờ ta bay

dongsongcu.wordpress.com

KB Phạm Hữu Phước

Posted on September 15, 2024 by dongsongcu

Post by Sơn râu 21 Jul 2025

Ảnh minh hoạ

Chiến Dịch Lôi Phong

Trong cuộc hành quân phối hợp tái chiếm Quảng Trị này, Trung-tướng Ngô Quang Trưởng từ Quân Khu IV ra thay thế Trung-tướng Hoàng Xuân Lãm trực tiếp chỉ huy, soạn thảo kế hoạch hành quân cùng Chuẩn-tướng Bùi Thế Lân, Tư lệnh Sư-đoàn TQLC và các cấp chỉ huy khác của các Binh chủng trong QLVNCH…Trong buổi họp tham mưu đầu tiên của Thiết-đoàn 20CX, tân Thiết-đoàn trưởng Trung-tá Nguyễn Văn Tá, ưu tiên thành lập lại Chi-đoàn 1/20 CX do Đại-úy Đặng Hữu Xứng làm Chi-đoàn trưởng, rồi mới đến Chi-đoàn 2/20 CX của tôi, cuối cùng là Chi-đoàn 3/20 CX do Đại-úy Đoàn Chí Sanh chịu trách nhiệm.

Sau buổi họp, Trung-tá Thiết-đoàn trưởng nói riêng cho tôi biết, Trung-tướng Ngô Quang Trưởng không đồng ý để một Trung-úy làm Chi-đoàn trưởng chiến xa M48A3, nên tôi vẫn tiếp tục tái chỉnh trang Chi-đoàn, cho đến khi có người khác đến thay. Tái trang bị và huấn luyện xong, các đơn vị Nhảy dù, TQLC, BĐQ, ĐPQ cùng Chi-đoàn 1/20 CX, Chi-đoàn M113 Thiết Kỵ, xuất quân qua cầu phao sông Mỹ Chánh, cầu này đã bị Công Binh ta giật sập sau khi thành lập phòng tuyến, tiến lên tái chiếm Quảng Trị. Chi-đoàn 2/20 CX bắt đầu nhận xe và những binh sĩ của Chi-đoàn vừa trở về lại đơn vị, Thiếu-úy Bùi Thám, Thiếu-úy Nguyễn văn Quảng, Thiếu-úy Nguyễn văn Thuận làm Chi-đội trưởng và Trung-sĩ nhất Phan Ngọc Tuấn làm Hạ-sĩ quan ban 3 cho Chi-đoàn. Sau khi trang bị xong, Chi-đoàn lấy biểu xích số 0 cho đại bác, thực tập lại tác xạ, thao dợt hành quân dã trại tại phía tây căn cứ Dạ Lê, Huế. Trong lúc Chi-đoàn thực tập tác xạ ngoài bãi bắn, trực thăng của Trung-tướng Ngô Quang Trưởng cùng một Tướng Cố-vấn Mỹ đáp xuống xem xét. Sau khi trình diện và trả lời nhiều câu hỏi, tôi được chỉ thị lên chiến xa cùng Tướng Trưởng và Tướng Mỹ xem tôi bắn di động. Tôi cho nổ máy xe bắt đầu di chuyển rồi làm đủ mọi thao tác như ra lệnh nạp đạn, hướng súng về mục tiêu và đo tầm xa, đột nhiên trời đổ cơn mưa rào trắng xóa không còn nhìn thấy gì nữa, tôi ước chừng mà bắn đại vì đạn đã lên nòng, theo đúng chiến thuật là phải bắn trước không cho địch quân trở tay kịp. Thật kỳ lạ, vừa bắn xong thì trời cũng bắt đầu tạnh, bầu trời quang đãng trở lại và Tướng Trưởng nói với tôi một câu “không được chính xác lắm”. Vì có tướng Mỹ ở đó nên nên tôi trả lời bằng tiếng Mỹ thay vì tiếng Việt” Trời mưa nhiều quá nên tôi không thấy được mục tiêu thưa Trung-tướng” (It rain too much so I can not see the target, Sir). Chúng tôi xuống xe và chào tiễn hai người lên trực thăng rồi tiếp tục huấn luyện. Khi Chi-đoàn 1/20 CX cùng các đơn vị tham chiến đã chiếm xong quận Hải Lăng, Chi-đoàn 2/20 CX cũng đã sẵn sàng. Đến ngày lên đường vẫn chưa thấy ai đến thay thế cả, tôi hướng dẫn Chi-đoàn qua sông Mỹ Chánh, phối hợp hành quân cùng với đơn vị Dù, giữ vùng núi phía Tây quận Hải Lăng, bên trái Quốc lộ 1, ngăn không cho VC chận đường tiếp tế của ta. Với tình hình hiện tại, tôi không dùng chiến thuật chiếm giữ cao điểm nữa, khi di chuyển hay đóng quân đều dựa theo triền đồi, các cao điểm đều dành cho đơn vị Dù đảm nhận. Tiến quân đến đâu thì địch quân pháo theo đến đó. Vì có kinh nghiệm bị AT3 phá vỡ̃ phòng tuyến Đông Hà – Ái Tử nên khi tiến quân, Chi-đoàn đều dựa theo triền đồi. Nhờ thế mà pháo 130 ly và hỏa tiễn 122 ly của VC bay qua đầu, rớt trên triền đồi kế bên không hề hấn gì đến Chi-đoàn. Thấy dùng pháo không có kết quả, chúng cho chôn mìn chống chiến xa khắp nơi theo trục tiến quân làm hai xe cán mìn đứt xích. Để tránh mìn, tôi ra lệnh Chi-đoàn tiến theo đường xích của xe trước. Chi-đoàn 1/20 CX cùng Tiểu-đoàn 11 Dù của Thiếu-tá Lê Văn Mể tiếp tục tiến đánh chiếm La Vang và Chi-khu Mai Lĩnh. Trong trận này Trung-úy Hoàng Ngọc Hùng khóa 22B, Võ Bị Đại-đội trưởng 112 Dù đã tử trận và Chuẩn-úy Bùi Quốc Thái, Chi-đội phó 3/1 CX của Thiếu-úy Đặng Văn Quang bị phỏng nặng, vì trúng hỏa tiễn điều khiển AT3. Nhất quyết phải tiến chiếm cho bằng được đến cầu Quảng Trị, Chi-đội 3/1CX của Thiếu-úy Đặng Văn Quang, phối hợp cùng 2 Đại-đội của Tiểu-đoàn 9 TQLC, lợi dụng thời tiết sương mù buổi sáng, đã chớp nhoáng đánh chiếm lại bệnh viện Quảng Trị và trường Trung học Bồ Đề một cách dễ dàng. Thế là đoạn đường trên QL1 từ Hồ Đắc Hanh đến cầu QT đã được khai thông. Chi-đoàn 1/20 CX bàn giao lại địa bàn trên cho Chi-đoàn 2/20 CX về căn cứ Hòa Mỹ, quận Phong Điền, để tu bổ, bảo trì và dưỡng quân. Bấy giờ Chi-đoàn 2/20 CX vừa tăng phái cho Dù vừa tăng phái cho TQLC. Chi-đội Thiếu-úy Bùi Thám đi với Tiểu-đoàn 5 Dù của Thiếu-tá Bùi Quyền, chiếm giữ bên trái Quốc lộ 1, tiến về Động Ông Đô. Chi-đội Thiếu-úy Nguyễn văn Thuận giữ bệnh viện QT, Chi-đội Thiếu-úy Nguyễn văn Quảng đóng dọc theo bờ sông Thạch Hãn cùng với Tiểu-đoàn 9 TQLC, đánh chiếm từng căn nhà tiến về trung tâm thành phố.

Ảnh minh hoạ

Chi-đoàn 3/20 CX cũng đã thao dợt xong, xuất quân đi với Tiểu-đoàn 11 Dù, đánh chiếm doanh trại Tích Tường (hậu cứ Thiết-đoàn 11 cũ) và các vùng lân cận. Vì lý do sức khỏe, Đại-úy Đoàn Chí Sanh rời Chi-đoàn 3/20 CX, Thiếu-tá Trương Quang Thương ra thay, rồi giao lại cho Đại-úy Lê Bá Nam từ Thiết-đoàn 7 thuyên chuyển qua, giữ chức vụ Chi-đoàn trưởng 3/20 CX tại mặt trận La Vang – Tích Tường. Bấy giờ Chi-đoàn 2/20 CX tăng phái hẳn cho TQLC, Chi-đội của Thiếu-úy Bùi Thám rời Tiểu-đoàn 5 Dù, tăng phái cho Tiểu-đoàn 6 TQLC (Thần Ứng) của Thiếu tá Đổ Hữu Tùng, từ bến xe đò hướng Nam Quảng Trị, tiến đến Cổ Thành Đinh Công Tráng. Các chiến sĩ TQLC phối hợp cùng chiến xa, đánh chiếm từng căn nhà, tiến dần đến Cổ Thành. Đến giữa tháng 8/72 TQLC đã tiến gần đến trung tâm thành phố. Bộ Chỉ huy Tiểu-đoàn 8 TQLC ( Ó Biển ) của Thiếu-tá Nguyễn Văn Phán và Chi-đoàn 2/20 CX của tôi, đóng trên đồi thông bên trái Quốc lộ 1 gần ngã ba Long Hưng. Khi hai chiếc chiến xa M48A3 của Thiếu-úy Thuận giữ bệnh viện Quảng Trị, chạy trên quốc lộ 1 về chỗ của tôi, để nhận tiếp tế thì bị VC phục kích trên QL1 bắn B40 trượt bên hông trên dàn xích, nên không thủng vào trong. Tôi đến gặp Thiếu-tá Phán, để biết ai giữ đoạn đường trên, mà xe mình về bị bắn. Ngồi nghe máy cùng Thiếu-tá Phán hỏi Lữ-đoàn, để xác định đơn vị nào chịu trách nhiệm giữ khu vực đó. Tôi xin phép nhắc lại một đoạn đối thoại giữa Đại-tá Nguyễn Thế Lương, Lữ-đoàn trưởng 369 TQLC và Thiếu-tá Hồ Quang Lịch, nghe cũng vui vui, nên đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ mãi:

– Lịch à! Bộ em sống với VC hả Lịch?

Thiếu-tá Lịch đáp:

– Dạ! Đâu có anh, em bàn giao lại cho ĐPQ rồi mà.

Đại-tá Lương nói tiếp:

– Vậy em biết phải làm như thế nào rồi chứ.

Thiếu-tá Lịch trả lời:

– Dạ, anh để em lo.

Nghe vậy tôi nói với Thiếu-tá Phán:

– Anh cho một Đại-đội giữ hai bên hông xe, tôi sẽ đánh lấy lại đoạn đường đó, xe của Chi-đoàn tôi bị bắn mà.

Chỉ còn lại Phân-đội chỉ huy, nên tôi lên chiến xa, phối hợp đi cùng một Trung-đội bảo vệ tiến ra đường. Vừa đến khúc quẹo hướng về cầu Quảng Trị, thấy rất nhiều toán VC đang đứng bên ngoài canh gác, chạy đi núp sau các đống gạch do các nhà bị sập cách xe tôi hơn 100m, tôi dừng xe và nhắm vào chỗ chúng núp đầu tiên khai hỏa , bụi cát bay mịt mù, đống gạch vẫn trơ trơ, phát đạn thứ hai điều chỉnh nổ chậm, vẫn không hề hấn gì, tôi đổi qua đạn chống chiến xa. “Đùng” không có cát bụi văng ra, chỉ thấy lửa phụt ra phía sau đống gạch, tên VC còn sống sót phóng ra ngoài bỏ chạy. Biết chỉ có đạn chống chiến xa mới trị nổi những đống gạch đá, cứ thế tôi bắn từ chỗ VC núp nầy đến chỗ núp khác, cuối cùng chúng tôi cũng giải tỏa lại được đoạn đường đó, không có một tổn thất nào, lại còn thu được nhiều chiến lợi phẩm.

Ảnh minh hoạ

Đầu tháng 9/1972 vào một buổi trưa trời nắng nóng, tôi ngồi trong xe M113, cửa sau mở, không hiểu vì sao, nhưng có lẽ vì tôi còn nặng nợ với núi sông, nên khiến tôi cầm áo giáp lên che ngực khi nghe hai tiếng đề-ba (départ) “cạch, cạch” của súng cối 82 ly. Một trái nổ trên mô đất phía sau, cách xe chừng một thước, vì quá gần nên mảnh đạn tạt lên chưa cao, chỉ từ áo giáp trở xuống, nhiều mảnh ghim vào chân, đùi, mông, một mảnh xuyên qua áo giáp vào gần tới phổi, tuy các vết thương không nặng lắm, nhưng cũng phải rời mặt trận về bệnh viện Nguyễn Tri Phương (Huế). Thiếu-tá Trương Quang Thương ra thay tôi, tiếp tục cùng TQLC tiến chiếm Cổ Thành. Tại bệnh viện sau kiểm tra băng bó các vết thương, Trung-tướng Ngô Quang Trưởng đã đến tại giường bệnh hỏi thăm sức khỏe, tình hình chiến sự tại Quảng Trị. Ông hỏi tôi

– TQLC chiến đấu như thế nào?

Tôi trả lời:

– Các đơn vị TQLC đánh được lắm

Trung-tướng Trưởng mỉm cười bắt tay tôi ra về. Hôm sau Thiếu-tá Hoàng Kiều, Thiết-đoàn phó 20CX đến thăm, tôi kể lại những gì Trung-tướng Trưởng đã hỏi, Thiếu-tá Hoàng Kiều nói:

– Bộ mày không biết ổng thuộc Binh chủng Nhảy Dù hay sao, mày lại khen TQLC!

Tôi trả lời:

– Em đâu có đánh chung cùng Nhảy Dù đâu mà em nói

Khi vết thương đã lành, tôi trở lại đơn vị thì Tiểu-đoàn 6 TQLC Thần Ứng đã cắm cờ trên Cổ Thành Quảng Trị và bắt được nhiều tù binh VC vào ngày 16/9/1972.

Cuộc chiến tạm yên và mùa hè năm đó đã trở thành một trong ba sự kiện quan trọng của quân lực VNCH và Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã đặt tên cho 3 trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972:

• Bình Long Anh Dũng

• Kontum Kiêu Hùng

• Trị Thiên Vùng Dậy

Đó là tất cả diễn tiến của mùa hè 1972, một mùa hè rực lửa tại Quảng Trị mà tôi đã tham dự, chứng kiến trong đời quân ngũ. Còn mặt trận phía Tây Huế, các chiến sĩ Sư-đoàn 1 BB và Thiết-đoàn 7 KB cũng đã đánh chiếm lại được căn cứ Bastongne. Tuy chỉ trong vài tháng ngắn ngủi, nhưng cũng nói lên được sự kiên cường, dũng cảm của những người lính VNCH.

Họ là những anh hùng không tên tuổi

Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông

Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh

Nhưng can đảm và tận tình giúp nước …

Sau khi xuất viện và nghỉ phép tôi trở lại đơn vị thì cuộc chiến đã không còn ác liệt, chỉ còn những trận đánh lẻ tẻ ở Bích La thôn, và các thôn dọc theo sông Thạch Hãn. Thành phố Quảng Trị bây giờ là một thành phố hoang tàn đổ nát, không còn những quán càfê nhạc, phố xá vắng hẳn những tà áo dài màu trắng tinh khôi của nữ sinh trường Trung học Nguyễn Hoàng, trường Bồ Đề, líu lo như chim sau giờ tan học. Nhớ những dãy nhà khang trang trên đường Trần Hưng Đạo, trên đường Quang Trung và nhớ nhiều lắm những kỷ niệm ngày xưa, nhất là khi vừa đặt chân lên thị xã Đông Hà năm 1968 cùng các bạn đi chơi loanh quanh trong chợ, vừa đi vừa mút nước đá nhận, trong khí trời nóng bức bởi những cơn gió Lào khô khốc, tai nghe các cô em bán hàng cười ríu rít, nói một tràng mà mình cứ tưởng như mình là người ngoại quốc. Ôi! Đông Hà, Ôi! Quảng Trị của ta ngày xưa, nay chỉ còn lại trong ký ức. Buồn, buồn lắm!

Trở về lại thực tại, ba Chi-đoàn thay phiên nhau tăng phái cho Nhảy Dù trên đồi núi phía Tây và TQLC tại các làng xã phía đông như Hội Yên, Gia Đẳng, Mỹ Thủy… Ngày 25/1/73 quân ta được lệnh phải tái chiếm lại Cửa Việt, đã bị VC chiếm giữ khi quân ta rút khỏi Quảng Trị, trước ngày ký hiệp định Paris 28/1/1973, gồm các đơn vị Lữ-đoàn 147 TQLC, Chi-đoàn 1/20 CX, Chi-đoàn 3/20 CX, Chi-đoàn 2/17 Thiết Kỵ, Chi-đoàn 2/20 CX trừ bị tại quận Hải Lăng. Quân ta đã chiếm lại cách Cửa Việt chừng 100m, cắm cờ VNCH trên vùng đất đã lấy lại được, trước giờ 8 giờ sáng ngày 28/1/1973 như theo hiệp định Paris. Nhưng VC đã bất chấp hiệp định đình chiến, vài ngày sau đó đã tấn công và đẩy lui quân ta chiếm lại Cửa Việt.

Yên bình trở lại, nhiệm vụ các Chi-đoàn vẫn thay phiên tăng phái cho Dù và TQLC. Tại Mỹ Thủy tôi thường đến Trung tâm hành quân của Thiết-đoàn 18 Kỵ-binh để nghe Đại-úy Nguyễn Tẩn, Ban 3 Thiết-đoàn, thuyết trình về tình hình trong vùng và huấn luyện Nhị thức Bộ binh – Thiết Giáp cho TQLC. Một hôm đang huấn luyện, Trung-tướng Ngô Quang Trưởng cùng Thiếu-tá Hoàng Kiều Thiết-đoàn phó, đáp trực thăng xuống để thị sát. Trong lúc Trung-tướng đang trò chuyện, một binh sĩ TQLC đang thực tập xoay nòng súng đại bác về phía Trung-tướng, tôi hét lớn ra lệnh quay súng về hướng khác, Trung-tướng cười, trò chuyện một lúc, hai người lên trực thăng ra về. Qua hôm sau Thiếu-tá Kiều đến động viên đơn vị và nói cùng tôi:

– Chỉ có mày Trung-tướng mới cười mà thôi.

Không hiểu tại sao tôi được Trung-tướng chiếu cố, quan tâm đến ba lần, có lẽ vì không yên tâm để tôi đảm nhiệm chức vụ Chi-đoàn trưởng chiến xa M48A3 chăng? Đến tháng 6/1974 tôi bàn giao đơn vị lại cho Đại-úy Phan Thanh Tùng lên đường đi học khóa Trung cấp Thiết Giáp. Mãn khóa học, trở lại đơn vị làm trưởng ban truyền tin của Thiết-đoàn. Đầu năm 1975 Chi-đoàn 2/20 CX của Đại-úy Tùng, đánh tan Đại-đội VC tại xã Triều Dương, Vĩnh Nậy bắt sống nhiều tù binh. Đây là chiến thắng cuối cùng của Thiết-đoàn 20 CX trước khi tan hàng.

Khi Trung-tá Phan Công Tuấn, Thiết-đoàn trưởng 20 CX cùng các đơn vị TQLC trấn giữ vùng hỏa tuyến được lệnh rút bỏ Quảng Trị về Đà Nẳng vào tháng 3/1975, rồi bỏ Quân Khu I và Quân khu II một cách tức tưởi, đau đớn để cho quân đội Bắc Việt chiếm đóng dễ dàng. Đau lòng thay cho những chiến sĩ VNCH đã hy sinh xương máu để bảo vệ quê hương yêu dấu.

Tháng Ba năm 1975

Thiết-đoàn 20 CX đang đóng quân tại Phong Điền, tỉnh Quảng Trị, Trung-tá Phan Công Tuấn, Thiết-đoàn Trưởng, được lệnh đưa Thiết-đoàn rút về Đà Nẳng. Thiếu-tá Minh Thiết-đoàn phó, cùng tôi là Trưởng ban Truyền tin, phụ trách phá kho đạn tại Phong Lộc rồi mới đi sau. Xong việc chúng tôi về Huế. Đến cầu Bạch Hổ, được lệnh dừng lại chờ nhận tiếp tế. Thiếu-tá Minh về nhà, còn tôi ở lại cùng vài anh em binh sĩ. Đến trưa hôm sau, được lệnh chạy về cửa biển Thuận An. Đến nơi thấy tất cả chiến xa M48A3 và M113 đậu tại căn cứ Hải quân, nhưng vắng hoe không còn ai cả. Cuối cùng chúng tôi lục lạo trong căn cứ, tìm thấy một máy đuôi tôm còn xử dụng được, lấy những thùng xăng trống và đà gỗ, kết làm bè để về Đà Nẳng. Đang lay hoay làm bè thì Trung-sĩ Nguyễn Điền, Trưởng xa, thuộc Chi-đoàn 2/20 CX đi đến cùng vợ đang mang bầu. Tôi hỏi:

– Sao em còn ở đây?

Điền trả lời:

– Em về nhà đưa vợ cùng đi luôn.

Chưa ra đến cửa biển thì bị pháo, nhưng đạn chỉ rơi rớt chung quanh. Vừa lúc đó một chiếc LCM (loại tàu chở quân đỗ bộ) chạy đến, cho chúng tôi lên rồi chạy về Đà Nẳng. Lên bờ, anh em binh sĩ có gia đình đều đi hết, chỉ có tôi là người miền Nam, nên lang thang không biết đi đâu. Thấy trong thành phố dân chúng nhốn nháo, tôi rất hoang mang, cuối cùng quyết định qua bãi biển Sơn Trà, hy vọng sẽ có tàu Hải Quân để về Saigon. Đêm đó căn cứ Hải Quân bị pháo dữ dội, đến sáng tôi chưa biết đi đâu. Thời may có một Chi-đội M 113 từ trong căn cứ đi ra. Họ đưa tôi đến Non Nước, để bảo vệ Bộ Tư lệnh TQLC. Đến đây tôi gặp Chi-đoàn 3/20 CX M48 do Thiếu-tá Đặng Hữu Xứng chỉ huy, cũng đang bố trí tại đó. Ngồi bàn về tình hình đen tối hiện tại. Đến trưa thì có một chiến hạm đến đậu ngoài xa, cách bờ chừng 200m. Anh Xứng dục tôi lội ra tàu mau lên, còn ảnh thì ở lại để lo cho gia đình. Tôi cởi giày, lấy thùng đạn làm phao rồi bơi ra tàu. Một lát Trung-úy Bùi Thám lên tàu cùng vài binh sĩ nữa. Vớt thêm chừng 200 binh sĩ TQLC, tàu ra khơi chở chúng tôi về Cam Ranh. Lên bờ đi chân không trên cát nóng không chịu nổi, phải dùng quần bó hai bàn chân để đi. Ra Quốc lộ 1, đón xe lam về Phan Rang, đến các làng chài hy vọng mua vé ghe đi về Vũng Tàu, nhưng không có ghe nào đi vì biển động. Về lại Nha Trang, thấy lộn xộn quá đành phải trở lại Phan Rang chờ ghe. Chờ một hai ngày vẫn không thấy hy vọng gì, nên đi ra Quốc lộ, mong đón được xe đò. May sao có chiếc xe hàng chở gia đình, cho tôi và Tr/úy Bùi Thám quá giang. Về đến Bình Tuy thì dừng lại vì phía trước quân ta đang chiến đấu với VC. Tôi và Thám đi về hướng biển, đến làng đánh cá mua được vé về Long Hải. Lên bờ Quân Cảnh cho biết, Thiết Giáp đang tập trung tại căn cứ Long Bình. Hai anh em về nhà tôi, nghỉ một đêm cho lại sức rồi đến Long Bình trình diện. Anh em Thiết Giáp từ Quân khu I và II về đây rất đông. Chưa có nhiệm vụ gì, nên chúng tôi sáng đến, chiều về nhà, thỉnh thoảng chúng tôi qua hậu cứ Sư-đoàn 18 ăn trưa.

Vào khoảng giữa tháng 4/75, tôi được lệnh của Đại-tá Nguyễn Xuân Hường, Tư Lệnh Lữ-đoàn 1 KB, thành lập lại Chi-đoàn 2/11 Thiết Kỵ trực thuộc Quân Đoàn III, có nhiệm vụ phòng thủ Biên Hòa. Ban ngày bố trí tại núi Bửu Long, đêm giữ phi trường Biên Hòa. Ngày 26/4/75 Quân Đoàn chỉ thị cho tôi dẫn Chi-đoàn ra Bà Rịa, tăng phái cho TQLC. Vừa đến ngã ba Long Bình hướng về Bà Rịa, dân chúng chạy loạn cho hay, quân ta đang đánh nhau với VC tại Long Thành. Tôi gọi máy cho Quân Đoàn xin chỉ thị, được lệnh quay về tăng phái cho Tiểu-đoàn 7 Dù của Thiếu-tá Nguyễn Lô đang giữ Biên Hòa. Sau đó được lệnh cho hai Chi-đội, tăng phái cho Tiểu-đoàn 5 Dù của Thiếu-tá Võ Trọng Em giữ cầu Biên Hòa, còn tôi và thành phần còn lại cùng Tiểu-đoàn 7 giữ phi trường. Đêm 29/4 với hai cây đại bác 106 ly không giật, Chi-đội của Trung-úy Nguyễn Văn Hiệp Chi-đoàn phó, đã bắn hạ hai chiến xa địch bên kia sông Đồng Nai. Đây là chiến tích cuối cùng của Chi-đoàn 2/11 Thiết Kỵ.

Sáng ngày 30/4/75, Tiểu-đoàn 7 Dù cùng Chi-đoàn trừ của tôi, rút từ Biên Hòa về đến Hàng Xanh, thì nghe lệnh buông súng của Tổng Thống Dương Văn Minh. Vận nước đến đây là hết, chia tay nhau mổi người đi một nẻo, không chỉ riêng tôi mà hầu như tất cả những người dân miền Nam đều hoang mang, chưa biết ngày mai sẽ ra sao đây!

Tháng Tư nghiêng ngã Sơn Hà

Triệu người khóc hận can qua ngất trời

Tờ lịch rơi những đầy vơi

Lật trang sử mới? Ngàn đời không quên

(Thơ:  Như Thương

Chủ đề: Quê Hương và Quốc Hận

Đời Tù: Buồn – Vui – Khổ Ải

Cùng với những chiến hữu, tôi đi trình diện vào sáng ngày 23/6/75. Sau khi từ giã vợ con đi đến trường Trung học Lê Văn Duyệt tại Gia Định, để “học tập 10 ngày” như thông cáo của Ủy ban quân quản Saigon-Gia Định. Anh em đến trình diện mỗi lúc một đông. Đến tối ngày hôm sau, tất cả được đưa đến trại tập trung tại Long Giao, “để tạo điều kiện cho việc học tập cải tạo mau sớm trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa” như bọn quân quản VC thông báo. Trại Long Giao thật rộng lớn, chia ra nhiều khu bằng kẽm gai, mỗi khu có khoảng bốn năm nhà tiền chế, tôi ở khu nhà gần cổng trại. Mỗi nhà là một đội khoảng 50 người, chia thành bốn tổ nằm ngủ dưới đất. Ngày ngày chúng tôi chờ đợi được “học tập” cho xong, để về với gia đình. Thế nhưng đã một tháng qua, mà không thấy động tĩnh gì, bấy giờ mới biết mình bị bọn VC lừa, đang bị giam lỏng trở thành tù cải tạo.

Một buỗi sáng như thường lệ, chúng tôi được tập họp đưa đến hội trường khai giảng lớp học. Bài học đầu tiên về lịch sử, chúng tôi đã học từ khi còn bé là nước Việt Nam có 4.000 ngàn năm văn hiến, từ Ải Nam Quan đến mũi Cà mau. Bài học thứ hai là kê khai lý lịch “ba đời” và tội lỗi của mình. Khoảng ba tháng sau chúng tôi được viết thư về thăm gia đình, báo tin cho phép gởi quà mỗi người 3kg. Tôi vừa mừng nhưng cũng vừa lo, thế này thì có lẽ còn lâu mới về, theo như tiêu chuẩn đánh giá của khẩu hiệu ” học tập tốt – lao động tốt “. Để giết thời giờ cũng như cho qua ngày, chúng tôi tìm bất cứ thứ gì, có thể làm thành những vật kỷ niệm, cho ngày mai nếu được thả. Bạn Trương Kim Anh nhận công việc đào giếng, cho khu vực chỗ chúng tôi ở. Một hôm đang đào bỗng anh bị co rút bắp thịt chân gần như bại liệt, đi đứng khó khăn, đây là tai nạn đầu tiên trong tù, hiện nay anh đang ở San Jose California. Thời tiết bắt đầu lạnh, tôi tìm những bao cát bằng vải giặt sạch, may thành áo ấm, chuẩn bị cho một cuộc hành trình có thể là dài hạn.

Bỗng một hôm cả trại được tin sẽ xét xử một người, đó là Đại-úy Lê Đức Thịnh phòng Quân Báo, can tội lén lút gửi thư liên lạc với gia đình, tìm cách trốn trại chống đối, đánh phá cách mạng. Tòa tuyên án “Tử hình”. Đây có thể là vụ án đầu tiên, anh Thịnh là con cờ thí để răn đe mọi người. Đến khoảng tháng 6/1976, anh em chúng tôi bị đưa ra Miền Bắc bằng tàu Sông Hương, cập bến Hải Phòng rồi cùng các anh em lên xe lửa. Chia ra từng nhóm chen chúc nhau trong những toa chở hàng, chở súc vật đến Yên Bái. Dọc đường bị dân chúng chửi rủa, ném đá, nhưng vẫn phải thản nhiên mà chịu đựng …Rồi từng tốp 30 người, lên xe Molotova chạy lòng vòng trong núi, đưa đến một nơi có chừng vài chục nóc nhà. Xuống xe tập trung lại, được vài anh bộ đội còn trẻ, dẫn đi theo con đường đất rộng chừng 2 mét dưới chân núi. Đi khoảng chừng hai cây số, thì đến mấy dãy nhà mái lợp bằng tre nứa, chưa có vách, ở gần một hồ nước rộng lớn. Đến khi có khoảng chừng 200 người, bọn quản giáo VC cho biết đây là trại 7. Họ chia nhóm chúng tôi thành nhiều đội, mỗi đội ở một nhà. Sau vài ngày nghỉ ngơi, đội tôi chia thành 4 tổ, mỗi tổ 12 người và tự bầu lên đội trưởng, tổ trưởng. Bây giờ chúng tôi phải lao động khổ sai như đi lấy gỗ, lấy nứa, lấy luồng (một loại tre, thân to đường kính gần 2 tấc, dài trên 12 thước.) đóng gạch, làm đường, trồng sắn (khoai mì ), bắp.v.v.. Những ngày đầu cả trại được phân công mỗi đội đi lấy cây để dựng cột, nứa thì chặt khúc dài khoảng 5 tấc đập dẹp, kết thành tấm dài độ 6 tấc để lợp mái, làm vách, luồng phải dài hơn 12m để làm đòn dong… Nghĩa là dựng trại, làm sạp nằm, làm hàng rào bao chung quanh, chỉ chừa một cửa ra vào mà thôi. Nhà của cán bộ ở trên đồi cao hơn cách xa trại chừng 20m.

Dần dần chúng tôi biết trại 7 thuộc Liên trại 4, xã Cẫm Nhân, cạnh hồ Thác Bà, tỉnh Hoàng Liên Sơn nhờ hàng tháng trại chọn ra một tổ, đi ra hợp tác xã ở Cẫm Nhân để lãnh lương thực. Các trại khác cũng đến, gặp nhau tôi hỏi thăm, mới biết Liên trại 4 có 9 trại. Thời gian ở đây có nhiều anh em đã nằm xuống vì bệnh, vì kiệt sức hoặc bị tai nạn như anh Nguyễn văn Cử trại 7 bị chết đuối sau khi lấy xong nứa ở voi đất giữa hồ vì không muốn đi về vòng theo núi nên bơi tắt ngang qua hồ Thác Bà để về trại…Tôi cũng có nghe nhiều anh em ở trại khác vì kiếm thực phẩm ăn bị trúng độc chết.

Vài tháng sau đội tôi được chọn đi làm gạch, tách ra khỏi trại 7 ở riêng biệt. Tổ tôi thì đóng gạch, còn các tổ khác đi rừng lấy củi về đốt lò nung gạch. Anh em đi lấy củi dài một thước chỉ tiêu 3 người một thước khối/ngày. Tuy có vất vả nhưng có cơ hội cải thiện (tìm thức ăn). Một buổi tối cả đội bị tập trung ngoài sân để đấu tố anh Dương Viết Đang về tội âm mưu “ám sát cán bộ” do bọn “ăng-ten” báo cáo. Bốn đêm liên tiếp phát biểu, tra hỏi mà không truy ra được chứng cứ nào để buộc tội nên quản giáo tên Xe đành cảnh cáo toàn đội. Rồi lại xảy ra thêm một chuyện nữa trên cây gỗ chặt đem về có khắc hai chữ “Nợ Máu” khiến cho đội lại một phen điêu đứng, nhưng vẫn không tìm ra thủ phạm. (Mãi đến khi định cư tại Mỹ anh Phạm Hoàng mới tiết lộ là do chính mình khắc) Đến khi gạch ra lò, cả đội phải gánh gạch về trại 7 để chuyển đi nơi khác. Chỉ tiêu mỗi người là 20 viên trên đoạn đường dài lên dốc, xuống dốc gần hai cây số, một ngày bốn lượt đi về. Một lần vì mệt quá, anh Vĩnh Tham bảo tôi dừng lại để nghỉ chân. Tôi nói cán bộ Hậu khó lắm, không ngờ cán bộ Hậu đi phía sau nghe được, bèn cho cả tổ dừng lại lên lớp một hồi rồi hỏi trước kia tôi làm gì, tôi trả lời là đi đánh giặc, cán bộ Hậu giận dữ nói “bọn bây mới là giặc, là lính đánh thuê, là tay sai của Mỹ…” Tôi cắn răng, hai bàn tay nắm chặt, tức muốn chết mà vẫn cố nén trong lòng. Lên mặt kẻ cả dạy đời một chập rồi ra lệnh cho tiếp tục đi. Chiều về khi hết giờ làm, cán bộ Hậu dẫn tôi vào lò gạch cùng 3 cán bộ khác là Dương, Tiến và Nhâm cùng đánh. Tôi đành phải cố che phần ngực để tránh bị nội thương. Đến lúc chúng cảm thấy hả giận mới dừng tay cho ra về mà trong lòng tôi đầy uất hận. Người kế tiếp tôi là anh Phạm Đức Phong (biệt danh u dương phong) về tội mà cán bộ cho là “lười lao động”, anh hiện đang ở San Jose California. Một hôm sau buổi ăn tối, anh Nguyễn văn Đại và anh Nguyễn Minh Nhựt lăn lộn kêu đau bụng. Hỏi ra thì mới biết hai anh ăn một trái tựa như trái măng cụt. Biết bị trúng độc, anh em lấy đọt rau lang đâm lấy nước cho uống mới cứu được.

Khi làm đủ chỉ tiêu gạch cho trại, đội tôi được chuyển ra xã Cẩm Nhân làm đường đi cho xã. Lúc mới đến thì dân chúng nơi này (phần đông là người Dao, người Tày, còn người kinh thì ít hơn) rất ghét chúng tôi, vì được tuyên truyền cho rằng chúng tôi là bọn ác ôn, không nên đến gần hoặc nói chuyện. Dần dần thấy chúng tôi không giống như những gì đã được tuyên truyền trước kia, nên đã thay đổi thái độ, thường hay lén lút giúp đỡ chúng tôi như để nước chè (trà), khoai lang, sắn ở bên đường. Một hôm tôi đang chặt nứa trên núi thì gặp một cô gái nhìn rất dễ thương người dân tộc đang đi lấy măng tre gần đó, tự nhiên tôi thấy có chút rung động nên sửa lời bài “Còn Một Chút Gì Để Nhớ “ thơ Vũ Hữu Định, nhạc Phạm Duy, bản nhạc tôi rất ưa thích rồi cất tiếng nghêu ngao vài câu : “Em Cẩm Nhân má đỏ môi hồng, ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông, nên tóc em ướt và mắt em ướt nên em mềm như mây chiều trong “…Liếc thấy cô gái bẽn lẻn, hồng hồng đôi má thêm xinh xinh làm sao, lòng tôi cảm thấy vui vui, vì cũng còn chút gì để nhớ tại xã Cẩm Nhân này.

Một lần kia cùng vài anh em lên rừng bẻ măng cho đội bồ̀i dưỡng, chúng tôi gặp cả một đồi ớt trái chín đỏ, tôi cùng nhiều anh em khác hái đầy cả túi xách và pha trò, “ớt là gia vị mà nay trở thành thực phẩm “. Thường thì mỗi khi đi lao động về tôi hay đi ngang xóm nhà dân để nhổ những cây ngò gai, hái rau kinh giới ven bờ các lạch nước đem về ăn, gặp một anh người Tầy cho biết chúng tôi sắp chuyển trại. Về rỉ tai cho anh em nghe thì đúng như vậy, vài hôm sau đội chúng tôi được chuyển đến trại 4, để chuẩn bị cùng các anh em trại khác ra đi.

Chúng tôi được đưa về trại giam Vĩnh Quang thuộc tỉnh Vĩnh Phú do công an quản thúc. Đến đây chúng tôi mới biết chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc vừa bùng nổ. Vĩnh Quang có hai trại là A và B. Chúng tôi ở trại A. Tại đây có ba dãy nhà hình chữ U xây tường lợp ngói, bao quanh bằng tường gạch cao chừng 4m, chứa 15 đội, tôi ở đội 15. Thời gian sau tôi mới biết tại đây cũng có Đại-tá Lý Bá Phẩm, Tỉnh Trưởng Khánh Hòa (Nha Trang) và nhiều anh em trở về từ tàu Việt Nam Thương Tín. Trong số đó có anh Vũ Toàn trong ban đại diện đòi giải quyết nguyện vọng trở về lại VN.

Cũng như tất cả những trại giam khác, sáng họ mở khóa cửa phòng điểm danh, xong cho chúng tôi ra ngoài trại đi lao động. Tối vào phòng, khóa cửa lại bên ngoài. Các cán bộ công an thay nhau đi tuần tra vòng vòng bên ngoài. Lâu dần rồi cũng quen, không còn ai bận tâm nghĩ đến ngày về.

Đội 15 chúng tôi phụ trách trồng trọt, cày ruộng, đi làm thông tầm, sáng đi, chiều mới về trại, nên việc cải thiện nấu nướng cũng dễ dàng và thoải mái hơn. Thực phẩm tươi sống thiên nhiên rất nhiều mùa nào cũng có. Mùa cày thì ăn nhái, đến mùa gặt lúa thì ăn con muỗm (giống như cào cào, châu chấu), nướng mùi thơm như tôm nướng nhưng cũng phải bắt lén lút, đào vét mương thì ăn cá v.v… Tôi ở tổ cày ruộng nên thường hay bắt những con cá bảy chầu (một loại cá lia thia) về nuôi chơi cho đỡ buồn vào những ngày nghỉ cuối tuần. Một hôm tình cờ tôi gặp lại anh Trần Hữu Thành, Thiết-đoàn trưởng Thiết-đoàn 9 Kỵ-binh qua đội tôi tìm người quen. Ngồi nhắc lại những kỷ niệm ngày trước lúc anh còn ở Thiết-đoàn 11 Kỵ-binh xiết bao ngậm ngùi. Từ đó hai anh em có gì cũng chia sớt cùng nhau, cho đến ngày chuyển trại mỗi người mỗi ngã. Có một chuyện tình rất cảm động là cô giáo Tha dạy học trường làng, thường đi ngang qua đội 15 và đội 7 cũng làm thông tầm rồi gặp anh Trạch. Tình yêu vốn không biên giới, đã nảy nở giữa cô giáo và người tù không bản án.

Như những trại giam khác, tiêu chuẩn ăn vẫn là khoai lang, khoai mì. Các dịp lễ lớn mới được một chén cơm, một miếng thịt heo bằng hai ngón tay. Vào dịp Tết thì mỗi người được hai cái bánh chưng, su hào và rau cải do đội rau xanh cung cấp. Tuy đội chúng tôi đi làm thông tầm có cải thiện thêm chút ít chất đạm, nhưng cơ thể vẫn thiếu dinh dưỡng, vẫn đòi hỏi. Vì ăn không được no, thèm đủ thứ nên mỗi tối trước khi ngủ chúng tôi đứa nào cũng chiên, xào, nấu những món ăn có thể ngày xưa là đạm bạc mà lúc này lại là “cao lương mỹ vị” để cùng nhau ăn hàm thụ, cho đã cái bụng lép xẹp. Đêm nào cũng nấu món này món kia, riết rồi ăn tưởng tượng hoài cũng chán, nên cũng có lúc thay đổi khẩu vị, bằng cách lén lút hát khe khẽ cho nhau nghe, những bài nhạc lính như “Anh không chết đâu em, Người ở lại Charlie, Rừng lá thấp, Trên bốn vùng chiến thuật…v.v. “Không ngờ lúc chúng tôi đang hát thì anh công an đi tuần tra nghe được, lại hưởng ứng bảo chúng tôi hát bài  “Xuân này con không về ” vì anh rất thích bài này.

Đôi lúc chúng tôi kể cho nhau nghe một thời oanh liệt, những trận chiến có lúc thắng lúc thua, mà có thua thì vẫn thua trong danh dự. Cũng có lúc mừng vì thoát chết trong gang tấc, cho là nhờ phước đức ông bà, mục đích là để bớt suy nghĩ về ngày mai mù mịt của mình.

Anh Đặng Vũ Chương kể tại mặt trận An Lộc năm 1972, Tiểu-đoàn 3 của Thiếu-tá Nguyễn Phúc Sông Hương, thuộc Trung-đoàn 48 của Đại-tá Trần Bá Thành, Sư-đoàn 18 BB do Thiếu Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy, tái chiếm lại Đồi Gió khó khăn như thế nào.

Thích nhất là nghe anh Phan Cảnh Cho (ND), kể những trận đánh ở Hạ Lào năm 1971, vượt thoát khỏi vòng vây VC trong đêm tối, hay Đại-úy Nguyễn Văn Đương chiến đấu anh dũng và dành riêng cho mình viên đạn cuối cùng. Đại-tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ-đoàn Trưởng Lữ-đoàn 3 Dù, bị bắt tại Căn Cứ Hỏa Lực 31 sau khi bị VC tràn ngập.

Tiếp lời của Cho, tôi kể Chi-đoàn 1/11 Chiến Xa đi giải tỏa đồi 30, căn cứ hỏa lực của Dù, Chi-đội của Thiếu-úy Đáng trở về an toàn, và trên đường triệt thoái tôi cùng anh em Nhảy Dù (ND), bắn ngăn chận các đợt xung phong truy kích của VC bằng đạn chài, Binh nhất Bùi Rọ ngồi cạnh tôi trên chiến xa M41 bắn M79, bị tử thương và Trung-úy Cái Hữu Côn, Đại-đội trưởng 83 Dù tăng phái cho Chi-đoàn 1/11 chiến xa cũng hy sinh. Biết không thể rút theo Quốc Lộ 9 vì VC đóng chốt trên các đỉnh núi, hay ở các con suối cắt ngang qua đường, Đại-tá Nguyễn Trọng Luật Lữ-đoàn Trưởng Lữ-đoàn 1 KB, hướng dẫn đoàn xe Thiết Giáp cùng Tiểu-đoàn 8 ND rút theo đường mòn, vượt sông Tchepon về Lao Bảo an toàn.

Anh Cho kể tiếp mặt trận Kontum năm 72, Lữ-đoàn 2 Dù vất vả chiến đấu, trước trận địa pháo và xung phong của địch tại căn cứ Charlie, Trung-tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu-đoàn trưởng Tiểu-đoàn 11 Dù, đã tử trận vì trúng pháo 130 ly, Trung-úy Nguyễn Văn Thinh, Đại-đội trưởng 111 tử trận, Đại-đội 114 của anh Cho bị VC tràn ngập, anh Hoàng Ngọc Hùng khóa 22B Võ Bị Đại-đội trưởng 112 cùng anh Cho bị bắt rồi cả hai trốn thoát vài ngày sau đó.

Tôi nói tiếp cũng tại mặt trận Tân Cảnh, Đại-úy Trần Châu Giang khóa 22B Võ Bị, Chi-đoàn trưởng Chi-đoàn Bạch Mã 1/14 chiến xa M41, cũng bị bắt làm tù binh và được trao trả năm 73.

Anh Dương Viết Đang lái máy bay L19 thám sát vùng hỏa tuyến kể, khi bay quan sát thấy xe ủi đất của VC làm đường hầm hố ra sao, còn anh Phan Công Ý thì thường ngâm bài thơ “Hổ nhớ rừng” cho chúng tôi nghe, như để nói lên tâm tư của mình v.v.

Nói chung thì thằng nào cũng có những chiến tích hào hùng hay bi thương để kể, những nỗi buồn khi có một chiến hữu đã hy sinh, những chuyện tình lãng mạn.v.v…

Nhiều đứa ngồi nghe nói sao cứ kể toàn chuyện thua không vậy, anh Cho nói thắng thì đâu có gì để nói, thua mới có chuyện như vượt thoát để kể chư. Rồi anh cười xòa nói nhỏ, trước là tưởng niệm các anh em đã hy sinh, sau là để bọn công an đi tuần không làm khó dễ tụi mình.

Có những lúc tôi chỉ im lặng để nghe, để buồn cho những gì mình đã trải qua. Tụi nó đòi hỏi phải kể tiếp thì tôi cũng kể, mà kể thì cũng chỉ kể những mẫu chuyện vui vui, những khi được về ngồi ăn uống, nghe nhạc tại Quảng Trị, còn những chuyện buồn khác ở vùng địa đầu giới tuyến như Chuẩn úy Nguyễn văn Chiến Chi-đội phó, Chi-đội 2/2/11 Thiết Kỵ của tôi, đã hy sinh và nhiều bạn cùng khóa như Đỗ Đình Du và Võ Văn Kiệt bị thương tại Gio Linh phải giải ngũ , tôi dấu kín vì càng nhắc càng thêm buồn. Riết rồi cũng không còn chuyện gì để kể nên cũng phải thuật lại các trận đánh mình đã trải qua tại Gio Linh, tại Trung Lương, tại căn cứ Carroll, bắn hạ chiến xa địch, tái chiếm Cổ Thành v.v… Vậy là tụi nó chuyền miệng từ thằng này sang thằng khác cho nên cứ phải kể đi kể lại hoài theo yêu cầu vào cuối tuần vì tụi nó cho đó là chuyện đáng xấu hổ chưa từng thấy trong cuộc chiến như tại căn cứ Carroll (tức căn cứ Tâm Lâm) . Mọi điều thắc mắc, nghi vấn về chuyện căn cứ Carroll thất thủ thì tôi để cho tụi nó tự suy luận, đánh giá. Tôi không có ý kiến mặc dù tôi là nhân chứng sống.

Đến khi trại cho viết thư báo cùng gia đình được phép thăm nuôi, thì toàn trại đều phấn khởi. Cuộc sống trong trại nhộn nhịp hơn, vui vẻ hơn. Đến Tết nguyên đán năm 1981, trại A và B được phép tổ chức văn nghệ ngoài trời. Anh Vũ Cao Hiến khóa 24 Võ Bị lên hát một bài mà anh em ai cũng mũi lòng: “Chờ anh em nhé… dù tháng năm kéo dài ngày về… dù nắng mưa cách trở đường về… thì vẫn chờ anh đợi anh em nhé…” Khoảng giữa năm 1980 chúng tôi được trại cho phép gửi thơ, báo tin cùng gia đình được phép gởi quà mỗi gói 5kg và thăm nuôi. Vợ cùng đứa con trai cũng cố gắng lặn lội ra thăm tôi được một lần vào năm 1981 sau bao nhiêu năm xa cách, dù chỉ có một tiếng đồng hồ bên nhau nhưng cũng đủ thỏa lòng mong nhớ. Trước khi chia tay vợ tôi cũng theo yêu cầu của trại “phải động viên tôi” ráng nói lớn, như cố tình sợ anh cán bộ ngồi đó không nghe một câu mà chúng tôi đã từng nghe đi nghe lại suốt mấy năm qua: “anh cố gắng học tập cải tạo tốt, để sớm được nhà nước khoan hồng, tha về sum họp với gia đình”.

Những tin tức gia đình mang đến như sắp được tha về đoàn tụ, như Mỹ điều đình mua anh em cải tạo mỗi người 2.000 đôla. v.v. Tuy không biết thật hư như thế nào, nhưng cũng mang đến cho anh em nhiều hy vọng. Cũng có vài đợt tha về một số rất ít, cũng làm anh em càng hy vọng cho mình hơn. Cuối tuần anh em có quà thường nấu ăn, anh Điển hái lá giang về cho hai anh Tuấn và Soạn nấu với mì gói cùng ăn với nhau. Không ngờ anh Điển hái nhầm lá ngón, một loại lá độc mà không biết. Anh Điển bận đánh mạc chược, nên anh Soạn và anh Tuấn ăn trước thì bị trúng độc, anh Soạn chết còn anh Tuấn được cứu sống. Cả trại thầm cầu nguyện cho linh hồn anh sớm được siêu thoát.

Một buổi sáng anh trật tự trại đi thông báo, tất cả tập họp giữa sân để trại trưởng nói chuyện. Cả trại bàn tán xôn xao, cuối cùng được biết là…. chuyển trại về Nam, tuy chưa biết về đâu, nhưng mừng trước cái đã. Sau khi đọc tên ra đi, một số gần 100 người còn ở lại, đội 15 có tôi, Đang và vài người nữa. Tất cả dồn lại ở hai phòng. Hai ngày sau tù hình sự được đưa về trám các phòng còn lại. Thì ra tôi và anh Đang ở lại canh tác cho xong vụ mùa. Trong số những người còn ở lại gồm chung cả trại A và B, nên đêm đêm chúng tôi ngồi nghe anh Hiến hát những bản tình ca buồn, chia ly, trắc trở như:

Trách Người Đi:

“Sương lam tuôn rơi hắt hiu trên hàng thông xám reo vi vu, khiến xui bao nhiêu nhớ nhung tràn lòng ước mơ, người đi phương xa đâu ngờ, miền quê ai đang mong chờ, đau đớn xót thầm từ ngày biệt ly…”

Hẹn Hò:

“Một người ngồi bên kia sông im nghe nước chảy về đâu, một người ngồi đây trông hoa trôi theo nước chảy phương nào, trời thì mưa rơi mưa rơi không ngưng suối tuôn niềm đau, người thì hẹn nhau sang sông mong cho chóng tạnh mùa ngâu, cuộc đời làm đôi bên yêu nhau cách một biển sâu, hẹn hò tàn thu sang xuân bên nhau biết thuở ban đầu…”

Rồi đến bài Động hoa vàng:

“…Chim ơi chết dưới cội hoa, tiếng kêu rơi rụng giữa giang hà, mai ta chết dưới cội đào, khóc ta xin nhỏ lệ vào thiên thu…”

Chúng tôi ngồi nghe mà mỗi người mang trong lòng một tâm sự riêng. Rồi vụ mùa cũng xong, chúng tôi được đưa lên xe Molotova chuyển đi không biết đến nơi nào. Vì là một sự kiện quan trọng, nên tôi nhớ mãi . Chúng tôi được chuyển đi, hai người chung một cái còng trên mấy chiếc xe Molotova. Xe chạy, chạy mãi qua một thành phố cũng nhộn nhịp, lại thêm một sự kiện nữa làm chúng tôi ngỡ ngàng là dân chúng hoan hô chúc mừng, quăng bánh và trái cây lên cho chúng tôi. Nhiều người chạy xe Honda theo hỏi chúng tôi có thân nhân ở đây hay không, để báo tin dùm cho, thật là cảm động. Tôi nhớ lại ngày trước lúc đến miền Bắc thì bị ném đá, ngày nay thì được ném thức ăn, đúng là vật đổi sao dời! Qua cơn xúc động bồi hồi, xe tiếp tục đi đến trại giam rộng lớn đẹp đẽ khang trang, đó là trại Ba Sao thuộc tỉnh Hà Nam Ninh.

Xuống xe tập họp điểm danh, nhìn quanh tôi thấy trên bảng liệt kê danh sách các mặt hàng được mua có cả các loại rượu, ai cũng thắc mắc rằng trại tù mà sao lại được mua đủ thứ ? Buổi tối đầu tiên nhiều người được mua và ăn uống thả dàn, vì nhờ các người ở trước đưa tiền cho cán bộ mua dùm. Sáng hôm sau trong khi tập họp, thấy cán bộ đến đưa cho anh trực trại ghi tên và nhận tiền những ai mua thịt heo, và nhiều thứ khác.

Tôi và Đang có tên về phân trại C đảm nhiệm cày cho vụ mùa Đông Xuân. Mùa đông năm nầy sao mà lạnh dữ quá, ốc bươu nổi đầy trên mặt ao, tôi cũng rán chịu lạnh lội xuống vớt để chiều về ăn. Xuân lại về, anh em trong trại rộn ràng chuẩn bị, tôi bán bộ đồ của vợ gởi cho, để cùng anh Đang mua thịt, bánh, mứt cùng nhau ăn Tết lớn. Qua Tết âm lịch năm 1983, tôi và Đang cùng nhiều người khác được thả. Trước khi rời trại, chúng tôi được ở lại tại trại chính, tức trại A vài ngày chờ làm thủ tục. Tôi đi lòng vòng qua các phòng, gặp nhiều cấp chỉ huy trong Binh chủng Thiết Giáp của tôi như Đại-tá Trần Tín, Trung-tá Bùi Thế Dung…và được biết có nhiều chính khách lãnh đạo khác trong chính quyền VNCH, cũng bị giam giữ tại đây. Trò chuyện một lúc tôi mới biết, đây là trại mẫu dành cho những quan khách nước ngoài đến tham quan, nên mới được ưu đãi như vậy.

Mỗi người được cấp giấy ra trại và 13 đồng để đi đường. Sau đó được cán bộ trại đưa chúng tôi đến ga Hàng Cỏ. Tất cả ngồi chung một toa riêng biệt, có người xuống dọc đường, còn tôi về đến ga cầu Bình Lợi. Về đến nhà ai cũng mừng rơi nước mắt, hai đứa con trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên, lạ lẫm. Thằng con trai nay đã lên mười, đứa con gái vừa lên tám. Ngồi ôm hôn hai đứa mà lòng bồi hồi xúc động, vợ tôi lại khóc nói không nên lời. Đêm đến nằm bên nhau kể lể, tâm sự nói hoài cũng không hết, về những khó khăn từ khi tôi ra đi, cứ thổn thức cứ khóc thút thít hoài.

Được thả thì vui với vợ con, nhưng lại có những khó khăn khác như bị “quản chế ” và tìm việc làm. Cha mẹ cũng khó khăn không giúp gì được, cũng may nhờ đứa em gái xin cho vào làm ở cơ sở tư nhân nhỏ, sản xuất nhựa nylon tái sinh. Nhiều anh em khác không được may mắn như vậy, chạy đôn chạy đáo kiếm cơm hàng ngày, làm đủ mọi công việc. Nhờ còn bằng lái trước 75, tôi lái xe tải chở hàng cho cơ sở khô bò Tuyền Ký, cho đến ngày nộp hồ sơ xin định cư tại Mỹ theo diện HO 23. Vì còn mảnh đạn gần phổi nên phải ở lại thêm 6 tháng để uống thuốc.

Lời Cuối:

Chúng ta ai cũng có nhiều kỷ niệm buồn vui lẫn lộn, những kỷ niệm trong thời còn thơ ấu, thời còn học sinh, một thời làm lính chiến, một thời đi tù cải tạo. Nhiều lắm, làm sao mà kể cho hết. Cho nên có những chuyện mà mình muốn quên, nhưng không bao giờ quên được, nó cứ quay đi quay lại, không phải do ta, mà là tại tác động từ bên ngoài, khiến ta không thể bôi xóa được nhất là khi gặp lại các anh em cùng sống chung trong trại cải tạo.

Khi định cư tại Mỹ, gặp lại các bạn tù Đội 15 Vĩnh Quang tại Westminster, Orange County, California. Những chuyện kể lúc còn ở trong trại Vĩnh Quang cũng được yêu cầu kể lại trong những lúc uống café, hay trong những buổi họp mặt cùng với những người bạn mới, họ cũng muốn nghe về chuyện căn cứ Carroll đầu hàng giặc cộng. Cho nên muốn quên đi mà không thể nào quên. Nhân Đại Hội Thiết Giáp Toàn Thế Giới được tổ chức vào ngày 25 và 26 tháng 6 năm 2023 tại Little Saigon. Tôi viết lại khúc đời chiến đấu và tù tội để lại cho thế hệ sau biết được những vinh quang, gian khổ và cay đắng của một thế hệ được sinh ra và đã trưởng thành trong khói lửa với nhiệm vụ Bảo Quốc An Dân trong ba tín niệm:

Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm

KB Phạm Hữu Phước

6/2023

(nguồn: KB NguySaigon gởi BVCV)

Người Nữ Tu Trong Cô Nhi Viện Pleiku

Phạm Tín An Ninh

Post by Sơn râu 21 Jul 2025

Hình minh họa

Hơn sáu tháng sống chết với chiến trường và giữ vững được Kontum, đầu tháng 10 1972, đơn vị tôi nhận lệnh kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt dành cho một đơn vị đã tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẫm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”. Một tháng đóng trên Đồi Đức Mẹ lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa”. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa hy sinh trên chiến trường lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những vết chém đang còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên trong chốc lát đã là một điều không dễ, nên bọn tôi thèm những cơn say. Rất may, tôi có một anh bạn – phải nói ông anh mới đúng – là Liên Đoàn Trưởng của một liên đoàn Biệt Động Quân, có căn cứ tại Biển Hồ. Vợ và hai đứa con bị chết thảm tại Quảng Đức hơn một năm trước, khi xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ còn làm người tình với rượu. Những ngày không bận hành quân, anh đến đón tôi đi uống rượu trong một cái quán nằm trong Khu Chợ Mới, đã vậy mỗi khi trở về, anh còn dúi cho tôi một chai Henessey. Trước kia anh từng là một cấp chỉ huy có tiếng trong binh chủng này, nhưng vì bản tính ngang bướng bất cần, nên nhân một lý do phe phái chính trị nào đó, anh bị ngồi tù một thời gian ngắn. Ra tù, anh bị thuyên chuyển về đơn vị tôi với cái lệnh “không được giữ bất cứ chức vụ chỉ huy nào”. Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ, an ủi anh và kéo anh về ở chung nhà trong khu cư xá, vợ tôi lo chuyện cơm nước cho anh. Một thời gian sau, bỗng dưng anh được xét cho “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một liên đoàn Biệt Động Quân. Do cái ân tình đó mà anh quý mến tôi, kéo tôi theo các cuộc giải sầu này.

Dường như ngoài quán rượu ra, thỉnh thoảng anh chỉ ghé đến thăm một cô nhi viện. Nói là viện nhưng thực ra đây chỉ là một ngôi trường cũ, được chỉnh trang lại, tạm đáp ứng nhu cầu cần thiết cho một trại cô nhi. Có lẽ anh muốn tìm lại bóng dáng của hai đứa con đã phải chết oan một cách đau đớn qua hình ảnh các cháu cô nhi mà đa số là con của tử sĩ, có cả con của những người lính Biệt Động Quân của anh, mà cả người mẹ cũng chết, hay vì một lý do nào đó không có khả năng nuôi dưỡng, nên đành phải gởi lại nơi đây, nương nhờ vào bàn tay và tấm lòng nhân ái của những bà sœur. Anh bảo là từ sau trận chiến Tân Cảnh và Kontum, cô nhi viện này nhận thêm khá nhiều cô nhi. Hằng tháng. anh ghé lại đây thăm và tặng cho viện một số tiền, bởi bây giờ anh sống độc thân, không còn phải chu cấp cho ai. Biết điều này, tôi càng kính quí anh hơn. Một người ngang tàng không biết sợ ai, sống bất cần đời, nhưng bên trong là cả một tấm lòng vị tha nhân ái.

Một hôm theo anh đến đây, chúng tôi được một bà sœur ra tiếp và mời vào văn phòng uống trà. Anh bạn tôi thì đã là người quen biết từ lâu, trong cách giao tiếp, anh được các sœur xem như một ân nhân bảo trợ, chỉ có tôi là người lạ. Nhưng khi chào tôi, sœur bảo thấy tôi giống một người thân quen nào đó. Còn tôi, thì cũng mơ hồ như đã từng gặp người nữ tu này ở đâu rồi. Cũng có thể vì khuôn mặt khả ái, hiền thục của sœur phảng phất gương mặt của Đức Mẹ Maria mà tôi thường thấy trên các bức ảnh hay bức tượng trong các nhà thờ. Được giới thiệu là sœur Anna, tôi biết đây chỉ là tên thánh của bà. Khi tôi vừa ngồi xuống phía đối diện, sœur nhìn chăm chú vào cái bảng tên của tôi trên nắp túi áo, bỗng mắt sœur như sáng lên:

– Có phải lúc trước đại úy ở Tiểu Đoàn 3/44?

Tôi khựng lại, ngạc nhiên:

– Dạ, đúng là trước kia có mấy năm tôi ở tiểu đoàn này. Nhưng cách nay đã 6, 7 năm rồi!

– Đại úy còn nhớ trận Quảng Nhiêu. Hình như đại úy suýt chết trong trận ấy?

Tôi càng ngạc nhiên hơn, không hiểu tại sao người nữ tu này biết rõ mình như thế. Tôi vừa trả lời vừa nghĩ ngợi, thăm dò:

– Dạ đúng, nhưng sao sœur biết. Chuyện đã xảy ra lâu lắm rồi mà.

Sœur Anna không trả lời mà hỏi lại tôi:

– Đại úy thoát chết, nhưng người nằm hố bên cạnh thì bị nguyên một quả đạn súng cối 60 hay 80 gì đó, phải không?

Tôi giật mình, từ ký ức hiện ra rất nhanh hình ảnh hải hùng này, và ngay lúc ấy, trước mắt tôi sœur Anna cũng phảng phất bóng dáng của một người con gái khác.

Vào khoảng đầu mùa hè năm 1966, tôi đang làm đại đội phó Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 3/44. Thời gian này hậu cứ tại Ban Mê Thuột, nhưng tiểu đoàn được chọn làm đơn vị trừ bị lưu động cho Sư đoàn và Khu 23 Chiến Thuật. Thời ấy chưa có các đại đội trinh sát. Đơn vị tôi có mặt gần như trên khắp lãnh thổ Khu 23 Chiến Thuật, kéo dài từ vùng cao nguyên có biên giới với Cam Bốt cho đến tận miền duyên hải. Có khi hôm trước còn hành quân ở Quảng Đức, Lâm Đồng, hôm sau lại có mặt ở Bình Tuy, Tuy Hòa, Phan Thiết…

Một hôm, sau cuộc hành quân dài hạn ở khu Cà Ná, thuộc tỉnh Ninh Thuận, tiểu đoàn được lệnh di chuyển về Cam Ranh, vừa nghỉ dưỡng quân vừa giữ an ninh các đảo ngoài khơi để lực lượng Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân xuống đây thiết lập căn cứ.

Trong một đợt bổ sung quân số, đại đội tiếp nhận ba hạ sĩ quan và gần hai mươi tân binh vừa rời khỏi quân trường. Tôi đến bộ chỉ huy tiểu đoàn nhận lãnh và đưa về trình diện anh đại đội trưởng. Trong ba trung sĩ, một anh có dáng dấp, nói năng hiền lành như một thầy tu. Xem qua lý lịch và nhất là sau khi nói chuyện, tôi biết anh là thầy giáo một trường dòng và cũng là trưởng ca đoàn của một nhà thờ ở ngoại ô thành phố Nha Trang, quê hương tôi. Tôi không phải là người Công giáo, nên không mấy am tường các sinh hoạt này, nhưng biết chắc một điều, trưởng ca đoàn phải là một người hát hay và giỏi về nhạc lý. Vốn có máu văn nghệ, lại là người đồng hương, nên tôi dễ thân tình và thường bắt anh hát cho cả đại đội nghe. Tôi đề nghi anh đại đội trưởng cho anh làm Hạ Sĩ Quan Tâm Lý Chiến của đại đội. Từ đó chúng tôi rất thân nhau, ăn cơm chung và treo võng ngủ gần nhau dưới một vòm cây dương liễu.

Thấy anh có cái tên hơi lạ, Nguyễn Phú Hùng Em, tôi đoán và hỏi anh có phải anh có người anh tên Nguyễn Phú Hùng Anh. Anh cười mà nét mặt không vui:

– Dạ, đúng là có một người là Nguyễn Phú Hùng Anh, nhưng không phải là anh ruột. Chúng tôi lớn lên trong viện mồ côi, vì trùng tên, và anh ấy lớn hơn tôi ba tuổi, nên các sœur đặt lại tên chúng tôi như thế. Bọn tôi cũng rất thân nhau và xem như anh em. Điều buồn, là anh ấy đi lính trước, vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức và tử trận cách nay hơn một năm rồi.

Thời gian này, đơn vị chúng tôi rất may mắn, chẳng khác nào được đi nghỉ mát. Hải đảo này là nơi thực tập cho các toán Biệt kích của Trung Tâm Huấn Luyện Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Bà Thìn, nên khá an toàn. Suốt ngày bọn tôi chỉ tắm biển, câu cá, ban đêm nằm nghe sóng vỗ, đàn hát nghêu ngao. Có lẽ đây là thời gian đặc biệt thoải mái nhất trong cuộc đời làm lính của tôi. Nhân cơ hội hiếm hoi này, ông Tiểu đoàn trưởng cho phép binh sĩ được luân phiên đón vợ con ra thăm và được ở lại trong hai tuần lễ.

Một hôm anh Trung sĩ Hùng Em xin tôi cho được đón người yêu mà anh cho biết, nếu anh không bị động viên thì chắc hai người đã làm đám cưới. Tôi sắp xếp, dọn sang nằm với người lính ô-đô và nhường chiếc võng lại cho anh. Cả bọn tôi khá bất ngờ khi anh đưa người yêu đến chào. Một cô gái đẹp, làn da trắng, khuôn mặt phúc hậu, đôi môi mọng đỏ với nụ cười hiền lành, lễ độ. So với anh, cô còn khá trẻ và có cái tên cũng rất khả ái: Thụy Khanh. Đặc biệt cô có giọng hát rất hay. Mỗi lần cô hát, cả đám lính tráng bọn tôi ngồi nghe mê mẩn.

Sau đó, cô đến đảo thăm anh vài lần nữa. Những ngày có bóng dáng cô, núi rừng trên đảo dường như bỗng trở nên đẹp, thơ mộng và vui vẻ hơn, sóng biển thì êm ả hơn như để cùng hòa theo tiếng hát của cô. Ngoài ra cô còn có tài nấu ăn, thường đãi bọn tôi những bữa cơm rất ngon miệng. Tất cả đơn vị, từ quan tới lính ai cũng nghĩ anh Trung sĩ Hùng Em thật là tốt phước, ông trời đã cho anh một người tình, một người vợ lý tưởng sau này. Qua tâm tình, chúng tôi được biết, hai người quen biết nhau trong viện mồ côi từ khi còn rất nhỏ. Sau này anh vừa là thầy dạy học, dạy nhạc vừa là trưởng ca đoàn của cô trong cùng một nhà thờ. Hai người đều chơi dương cầm và hát hay nhất trong ca đoàn. Tình yêu bắt đầu nẩy nở từ môi trường cô nhi và âm nhạc. Và cuộc tình của hai người được các vị linh mục cùng các sœur đồng tình, khuyến khích, như là một sự kết hợp nhiệm màu của Thiên Chúa.

Hơn ba tháng thần tiên ở đảo Cam Ranh, khi các đơn vị tiền trạm của Hoa Kỳ được ào ạt đổ xuống thành lập “Cam Ranh Air Base”, tiểu đoàn tôi có lệnh rời khỏi đảo, di chuyển để tiếp tục lưu động khắp nơi. Lâm Đồng, Bình Thuận rồi Ninh Thuận, Sau những cuộc hành quân dài hạn trong rừng, mỗi lần đơn vị được về phố ít ngày hoặc đóng quân trong các làng mạc ở khu ngoại ô tương đối an toàn, chúng tôi lại thấy người con gái xinh đẹp Thụy Khanh đến thăm và ở lại với người yêu. Đó là một đôi tình nhân gắn bó, đẹp và lãng mạn nhất mà bọn tôi chứng kiến, và có lẽ ai cũng thèm thuồng có được một hạnh phúc như thế.

Tháng bảy năm 1966, khi đơn vị nghỉ quân ở Tháp Chàm – Phan Rang, Trung sĩ Hùng Em xin một tuần phép đặc biệt để về Nha Trang làm đám hỏi. Anh bảo cả hai người đều không có cha mẹ anh em, nên lễ đính hôn đều do các vị linh mục và các sœur đỡ đầu tổ chức.

Đúng lúc anh vừa mãn phép trở lại, thì đơn vị có lệnh không vận khẩn cấp lên Ban Mê Thuột để tiếp viện cho một đơn vị Biệt Động Quân và Thiết Giáp bị thiệt hại khá nặng tại trận chiến Quảng Nhiêu, nằm phía Tây Bắc, cách thành phố Ban Mê Thuột khoảng hơn mười cây số. Trận chiến khá cam go, ác liệt. Một lực lượng địch cấp trung đoàn, sau khi tổ chức phục kích gây tổn thất cho chi đoàn Thiết Quân Vận và một đại đội Biệt Động Quân tùng thiết, bọn chúng đào nhiều giao thông hào và hầm hố cá nhân kiên cố trong các vườn cà phê, để chặn đánh các cánh quân của ta tiếp viện. Tiểu đoàn tôi cùng một chi đoàn Thiết Vận Xa khác được tăng phái cho Trung Đoàn 45, đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Võ Văn Cảnh, đảm trách cuộc hành quân phản công, bao vây tiêu diệt địch.

Địch chiếm ưu thế về vị trí, chuẩn bị trận địa, bên ta có sức mạnh của thiết giáp và không yểm. Sau suốt năm ngày đêm không ngủ, lăn mình trong mịt mù lửa đạn quần thảo với địch, cuối cùng chúng tôi đã đạt được chiến thắng. Một số lớn địch quân bị tiêu diệt và bắt sống, nhưng bên ta cũng phải trả một cái giá không nhỏ. Đại đội tôi may mắn, chỉ có ba quân nhân tử trận và khoảng mười người bị thương, trong đó có anh đại đội trưởng. Tôi được chỉ định tạm thời chỉ huy đại đội.

Cuộc hành quân vẫn chưa kết thúc, một số đơn vị tiếp tục truy kích địch, riêng tiểu đoàn tôi được lệnh ở lại Quảng Nhiêu. Ban ngày tung các cuộc hành quân tảo thanh chung quanh, ban đêm phòng thủ bảo vệ khu vực dân cư, mà đa số là người Công giáo, đề phòng địch quay lại quấy rối, phục thù. Đại đội tôi được chỉ định bảo vệ một Pháo đội Pháo Binh 105 ly. Điều tồi tệ là vị trí Pháo đội này nằm trên một khu đất trống trải, trong phòng tuyến và cả phía bên ngoài cũng không có một cành cây, dưới đất chỉ toàn là bụi đỏ, dày cả một gang tay. Mỗi lần Pháo binh tác xạ, cả đất trời gần như chỉ toàn là bụi. Đám lính chúng tôi từ đầu tới chân cũng phủ đầy bụi đỏ. Đơn vị Pháo Binh thì đã có sẵn hầm hố kiên cố từ trước, còn đại đội tôi phải tự đào lấy những hố cá nhân, nhưng không thể đào sâu được, vì dưới đất chỉ toàn bụi và bụi, đào đến đâu bụi đỏ tràn theo tới đó, và mỗi lần Pháo Binh tác xạ, những cái hố này bị bụi lấp cạn thêm. Ban đêm, chúng tôi nằm trong những chiếc hố ấy, nhưng không che đủ nửa thân người. Cái hố của tôi dành cho hai người nằm, tôi và anh Hạ sĩ mang máy truyền tin. Hố kế bên trái là Trung sĩ Hùng Em và anh lính ô-đô của tôi.

Một hôm, khoảng hai giờ sáng, khi tôi đang ngủ chập chờn, bỗng một tiếng nổ chát chúa ngay bên cạnh, mảnh đạn và bụi phủ đầy người, tôi bật dậy chụp vội cây súng Carbine M2 chạy ra hàng rào phòng thủ, nơi vọng gác có đặt khẩu đại liên. Rờ nắn vội qua khắp người xem có thương tích gì không, tôi thở phào vì không thấy dấu hiệu đau đớn nào, nhưng khi các trái sáng bắn lên, nhìn bụi đỏ phủ đầy người tôi giật mình cứ ngỡ là máu. Địch quân đã pháo kích chúng tôi hơn 10 quả bằng hai khẩu súng cối 61 ly từ hai địa điểm khác nhau. Pháo Binh đã phản pháo chính xác làm bọn chúng câm họng. Khi tình hình ổn định, trở về hố, tôi bàng hoàng nghe anh lính ô-đô báo là Trung sĩ Hùng Em đã chết. Anh đã lãnh nguyên một quả đạn 61 ly, rớt ngay sát bên cạnh, ruột đổ ra ngoài và thân thể nhuộm đầy máu. Điều kỳ lạ, là anh lính ô-đô của tôi nằm ngay một bên mà không hề hấn gì, chỉ có áo quần dính đầy máu và thịt của người đồng đội xấu số. Tôi theo hai người lính khiêng thi thể Trung sĩ Hùng Em, được gói tạm trong tấm poncho, vào hầm cứu thương của Pháo Đội. Anh chết thật thê thảm. Tôi đứng lặng người, sau khi vuốt đôi mắt cho anh. Từ khi ấy cho đến sáng, tôi không hề chợp mắt. Tôi nghĩ đến Thụy Khanh, cô con gái xinh đẹp hiền thục, có giọng hát khuấy động cả trái tim người, vừa trở thành vị hôn thê của anh chỉ mới hai tuần trước. Trưa hôm qua, khi rủ nhau vào thăm ông cha xứ trong xóm đạo và để xin được tắm giặt ở cái giếng sâu phía sau nhà thờ, anh đã khoe tôi tấm hình anh chị chụp chung trong lễ đính hôn, và bảo rằng cuối năm này hai người sẽ làm đám cưới. Anh còn nói nhỏ với tôi, ông cha xứ của anh hứa sẽ giới thiệu anh với vị Linh mục Tuyên Úy của Sư Đoàn để xin anh về làm ở Phòng Tuyên Úy, vì hai ngài là bạn tu với nhau và được thụ phong cùng một ngày.

Nhớ tới hai khuôn mặt hiền lành với nụ cười rạng rỡ trong tấm hình đính hôn, lòng tôi se lại. Chiến tranh tàn ác quá, đã chia ly biết bao nhiêu người, và làm dang dở biết bao mối tình đẹp đẽ như anh Hùng Em và cô gái Thụy Khanh. Tôi bỗng chạnh lòng, nhớ tới người yêu, cũng là vị hôn thê của chính mình, hằng đêm cầu nguyện cho tôi, từ một thị trấn nhỏ, mà giờ đây đang xa tít mịt mùng.

Một năm sau đó, tôi được nghỉ mười lăm ngày phép về Nha Trang làm đám cưới. Nhớ đến Hùng Em, tôi rủ vợ cùng tìm đến nhà thờ gần khu Đồng Đế để hỏi thăm tin tức về nơi chôn cất anh. Chúng tôi được một vị linh mục trẻ đón tiếp niềm nở và hướng dẫn đến thăm mộ Hùng Em, nằm trong một nghĩa trang nhỏ của giáo xứ, gần biển. Từ đó, tôi có thể nhìn thấy Hòn Chồng, nơi chôn giấu nhiều hang động của tuổi thơ tôi. Đọc trên tấm bia, tôi thấy tên người lập mộ được ghi vỏn vẹn hai chữ: Thụy Khanh.

Nhớ tới người con gái xinh đẹp, phúc hậu, có giọng hát rất hay ấy, tôi hỏi vị linh mục:

– Thưa cha, chị Thụy Khanh, vị hôn thê của anh Hùng Em có khỏe không, và bây giờ chị đang ở đâu?

Vị linh mục buồn bã:

– Chị ấy đã di chuyển đến một nơi khác, khoảng ba tháng sau khi anh Hùng Em qua đời, nhưng thi thoảng chị có ghé về đây ít hôm thăm giáo xứ và viếng mộ anh ấy.

Tôi không dám tò mò thêm nữa. Cám ơn cha và đưa ngài về lại nhà thờ rồi xin phép cáo từ.

Sau đó, cuộc chiến ngày càng khốc liệt, tôi theo đơn vị hành quân liên miên, bao nhiêu lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Người lính chiến, chuyện sống chết chỉ tùy vào số mệnh, không ai có thể tránh được lằn tên mũi đạn. Đồng đội tôi đã có biết bao người ngã xuống. Có những cái chết còn thê thảm hơn cả cái chết của anh Trung sĩ Hùng Em lúc trước. Tôi đã chứng kiến cảnh một người vợ trẻ ngất xỉu khi đến nhận xác chồng mà không tìm thầy cái đầu, một bà mẹ đã lăn đùng ra chết ngất khi thi thể đứa con hy sinh chỉ còn lại một phần và bà không thể nhận diện được con mình. Những khủng khiếp của chiến tranh sau này, cùng với thời gian, dần dà làm tôi tạm quên nhiều chuyện đau đớn cũ.

-Ông Trung úy Điệp, người Huế, làm đại đội trưởng lúc ở ngoài Cam Ranh, bây giờ ra sao rồi, đại úy?

Câu hỏi của sœur Anna làm tôi giật mình, trở về thực tại:

– Dạ, anh Điệp đã chết lâu rồi. Anh tử trận tại Thiện Giáo – Phan Thiết, chỉ sau hai tuần làm đám cưới với cô giáo Diệu, cũng người Huế, nhưng sống ở Ninh Hòa. Hai người quen nhau khi đơn vị tôi về thụ huấn bổ túc tại TTHL Lam Sơn. Không ngờ sœur vẫn còn nhớ tên anh ấy.

Sœur cúi xuống, trầm ngâm giây lát. Khi ngước lên, bà lấy khăn tay lau nước mắt.

– Tôi và anh Hùng Em cũng làm đám hỏi đúng hai tuần. Cô giáo Diệu nào đó không biết may mắn hay là bất hạnh hơn tôi khi đã được làm vợ, cũng chỉ mới hai tuần?

Vừa nói xong, sœur vội vàng nói lời xin lỗi, bảo đúng ra, một người đi tu, không nên suy nghĩ đến những điều như thế.

Bốn tháng sau lần gặp gỡ bất ngờ đó, tôi đến thăm cô nhi viện môt lần nữa, nhưng lần này, tôi cùng đi với cô Trung úy Trưởng Ban Xã Hội, để giới thiệu với sœur Anna, nhờ cô nhi viện tạm chăm sóc hai đứa bé, con của một anh chuẩn úy. Cả hai vợ chồng bị chết bởi đạn pháo ở Kontum. Sœur Anna rất vui vẻ, ân cần, sẵn sàng nhận giúp và bảo tôi bất cứ khi nào có dịp về Pleiku, nhớ ghé lại thăm. Chúng tôi cám ơn, biếu cô nhi viện một ít tiền, và hứa nhất định sẽ trở lại thăm sœur và hai đứa bé.

Nhưng rồi tôi đã không giữ được lời hứa ấy. Từ đầu năm 1973, sau khi Mỹ ký hiệp định Paris trên xương máu của người bạn đồng minh, những người lính VNCH đã phải chống đỡ làn sóng xâm lăng của Cộng sản phương Bắc, ồ ạt đưa đại quân, xe pháo vào quyết chiếm miền Nam, tôi đã cùng đồng đội miệt mài với chiến trường, súng đạn, mà sự viện trợ ngày một cạn dần, nên xương máu anh em lại càng đổ ra nhiều hơn nữa.

Ngày 11.3.75, Ban Mê Thuột thất thủ. Đơn vị tôi đang hành quân ở khu vực Tây Nam Pleiku, có lệnh kéo về Hàm Rồng để được trực thăng vận xuống Phước An, quân lỵ cuối cùng còn lại của tỉnh Đắc Lắc, nhằm tái chiếm Ban Mê Thuột, nơi có bản doanh Sư Đoàn và hậu cứ của đơn vị chúng tôi. Khi BCH Trung Đoàn và một tiểu đoàn cùng đại đội Trinh Sát vừa được đổ xuống Phước An thì Pleiku có lệnh di tản. Hai tiểu đoàn còn lại của chúng tôi phải di chuyển theo đoàn quân di tản trên Tỉnh Lộ 7B. Một kế hoạch triệt thoái tồi tệ đã đưa đến thất bại nặng nề bi thảm. Cả hai tiểu đoàn khi về đến Tuy Hòa chỉ còn lại một phần tư quân số, hai anh tiểu đoàn trưởng đã phải tự sát để không lọt vào tay giặc.

Cuối cùng, miền Nam cũng mất. Tôi và cả cha tôi đều bị tù đày khốn khổ. Cha tôi, tuổi già sức yếu, không đủ sức để chịu đựng bao đòn thù tra tấn, hành hạ, nên đã chết trong trại tù Đá Bàn vào tháng 6 năm 1976, còn tôi bị đày ải qua nhiều trại tù, từ Nam ra Bắc. Sau gần tám năm tôi được thả về để chứng kiến một quê hương nghèo khổ điêu tàn, vợ con nheo nhóc. Tôi quyết định vượt biên, dù có phải chấp nhận bao hệ lụy khôn lường. Tôi rủ vài người bạn tù cùng tổ chức vượt biển, trong số này có một anh bạn nguyên là sĩ quan Hải quân có nhiều kinh nghiệm hải hành. Nơi bọn tôi hẹn gặp gỡ là một cái quán nhỏ của gia đình người bạn tù khác nằm gần khu Hòn Chồng. Một hôm, sau khi bàn công việc và ăn uống xong, tôi bỗng nghĩ tới anh Trung sĩ Hùng Em, khi chợt nhớ ngôi mộ của anh cũng nằm gần nơi này. Tôi nhờ anh bạn chở tôi đến đó. Vì nghĩa trang nhỏ, nên tôi dễ dàng tìm ra ngôi mộ của anh Hùng Em. Điều làm tôi sững sờ là ngôi mộ nằm bên cạnh có tấm bia ghi đậm tên người quá cố: Sœur Anna Phan Thụy Khanh, được Chúa gọi về ngày 15.3.1975. Tôi không biết vì sao cô chết, chỉ còn nhớ thời gian này đã từng xảy ra cuộc di tản kinh hoàng trên Tỉnh Lộ 7B. Chúng tôi tìm đến nhà thờ với ý định hỏi thăm cha xứ, nhưng rất tiếc ngài đi vắng, trong nhà thờ chỉ có hai thiếu niên rất trẻ, không hề biết sœur Anna là ai. Khi rời khỏi nơi này, trong cái man mác buồn tôi bất chợt thấy vui vui, và buột miệng như để nói với chính mình:

– Cuối cùng thì hai người cũng được ở bên nhau.

Tôi chưa (và có lẽ không) có cơ hội nào để trở lại Pleiku. Ngày xưa, tôi chỉ ghé lại thành phố bụi đỏ này một đôi lần ngắn ngủi, như chỉ một thoáng chợt đến chợt đi, chưa hề làm quen với một “em Pleiku má đỏ môi hồng”nào. Ngoài Đồi Đức Mẹ, nơi đơn vị đóng quân một tháng, cả một tháng gió mưa lầy lội, tôi chỉ còn nhớ cái quán rượu trong Khu Chợ Mới, nơi anh bạn Biệt Động Quân đưa tôi đến để tìm những cơn say, và một ngôi trường được dùng làm cô nhi viện, nơi có sœur Anna xinh đẹp, đã gợi lại trong tôi hình ảnh của những đồng đội đáng mến mà vắn số như Nguyễn Phú Hùng Em. Tôi da diết nhớ đơn vị cũ, thời chúng tôi còn trai trẻ, nhớ từng khuôn mặt bạn bè đã nằm lại trên các chiến trường xưa hay đang lưu lạc muôn phương, tiếc thương cho cuộc tình đẹp của những người lính trẻ, lãng mạn, thơ mộng, nồng nàn nhưng sớm chia lìa đớn đau bởi cuộc chiến tranh oan nghiệt.

Phạm Tín An Ninh

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 21 Jul 2025

73. Phạm Ngữ

Trong số các nhạc sĩ sáng tác của chúng ta, có rất nhiều người chỉ viết có một bài, rồi thôi. Có thể họ đã viết nhiều

hơn nhưng không ai biết, tác phẩm bị thất lạc, nhất là vào thời kỳ việc ấn loát còn khó khăn, khoảng các năm 40.

Và trong số những bài hát như dấu vết duy nhất họ để lại ấy, riêng thời được gọi chung là tiền chiến, có ba bài còn

được truyền tụng tới hiện nay, đó là các bài Nhớ Quê Hương của Phạm Ngữ, Trào Lòng của Hữu Hiệp & Hữu Châu và Con Chim Lạc Bạn của Phạm Văn Chừng.

Trải qua một thời gian dài như vậy, đến nay vẫn còn các ca sĩ đem trình diễn, hẳn các ca khúc đó phải là những tác phẩm có giá trị.

Quả thật, nghe lại những ca khúc ấy, người ta có cảm tưởng được lùi sâu vào quá khứ. Giai điệu, hình ảnh, từ ngữ dùng để viết lời ca êm đềm, bình dị, chỉ có thể có được trong một thế giới an bình, trong lành, cái thế giới từ lâu chúng ta không còn nhìn thấy nữa, tìm thấy nữa.

Nhớ Quê Hương

Đến nay thu tàn                                                   

Phương xa kìa chiếc én bay về

Khuất sau non ngàn

Riêng ta nhìn đâu thấy bóng quê

Kìa mấy nếp tranh

Đằng xa luyến bao làn khói sương

Kìa bóng lá xanh

Còn vương lấy tiếng chuông chiều buông

Sống xa một mình.

Ta đau lòng nhớ tới quê nhà

Nước non bao tình

Sao tâm hồn ta thấy xót xa

Buồn nhớ cố hương

Lòng ta có bao giờ thắm tươi

Lúc ta mơ nhìn bóng quê người

Ôi quê hương biết bao tình mến

Ôi quê hương biết bao tình thương

Tuy phương trời xa không bao giờ quên

Bóng tre xanh ngắt khi sương chiều xuống

Ôi quê hương biết bao tình mến

Ôi quê hương biết bao tình thương

Thoáng xa xa tiếng sáo trong chiều êm

Tôi im ngồi nhớ quê hương những chiều

Lúc trăng đang dần

Nhô cao đầu sau khóm tre già

Chúng tôi quây quần

Vui nô đùa sau mấy khóm hoa

Hoặc lắng ý nghe

Buồn tiếng sáo mơ hồ ái ân

Ánh trăng quê nhà đã xa dần

Cái vầng trăng Phạm Ngữ nói tới trong nhạc của ông đã  chìm mất trong quá khứ. Vầng trăng chúng ta nhìn thấy sau đó, hình như đã bị những tiếng động, loa, trống, bom, đạn, kẻng … khua động, ngay cả tiếng hát cũng làm vầng trăng xao xuyến [Có tiếng hát xao xuyến ánh trăng vàng, Phạm Duy]. Thoáng nghe tưởng chừng một bài ca lãng mạn. Nhưng không. Dưới vầng trăng ấy là:

Người đi trên đống tro tàn

Thương em nhớ mẹ hương vàng về đâu

Chiều khô nước mắt rưng sầu

Tan thân thiếu phụ, nát đầu hài nhi

[Về Miền Trung, Phạm Duy]

Hay vầng trăng trong nhạc ngọc Bích:

Trăng lên mây tan

Sao trăng đẹp thế này

Mà trên sông vắng

Con đò cay đắng đưa xác người về đâu?

Ô hô!

Con ơi mười mấy tuổi đầu

Vì chưng đói rét ngậm sầu thác oan!

Thái Hiền

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

72. Phạm Đình Chương

Nghe nhạc Việt Nam hẳn có lúc chúng ta phải giật mình vì hình như nó quá buồn. Không biết có phải vì  hoàn cảnh đất nước là nguyên nhântạo ra một nền âm nhạc như thế chăng?

Không phải chúng ta không có nhạc vui.

Nhưng cái vui, cái trong sáng của nhạc Hoàng Quý mới chỉ là cái vui, cái hớn hở, của một cuộc họp toán của các hướng đạo sinh. Và, cái vui ấy cũng hiếm hoi. Dương Thiệu Tước, Nguyễn Xuân Khoát, cũng có những bài hát vui. Nhưng đằng sau cái vui của nhạc Dương Thiệu Tước hay Nguyễn Xuân Khoát, vẫn lẩn khuất một chút buồn, như bóng đêm sau lưng nắng hồng. Phải chờ đến Phạm Đình Chương chúng ta mới được nghe, được hát, những ca khúc thực sự vui tươi, thực sự khỏe

mạnh. Nhạc Phạm Đình Chương bát ngát sức trai, nồng nàn hương sắc núi rừng, đồng nội. Qua những ca khúc đầu tay của ông như Được Mùa, Sáng Rừng, Tiếng Dân Chài, Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng v.v … người ta cảm nhận một sức sống dạt dào, nao nức cái nao nức của một cuộc lên đường, một bước vào đời, có gian lao, vất vả, nhưng cũng đầy quyến rũ, tin yêu. Cuộc sống có một vẻ gì đó giống như một thách thức hào hứng.

Nhạc như thế, lòng người như thế, tuổi xuân như thế, phải được hát lên, không phải bằng một người, một giọng, mà phải bằng nhiều người nhiều giọng. Có lẽ điều này cũng giải thích vì sao nhạc Phạm Đình Chương đã xuất hiện cùng một lúc với ban hợp ca Thăng Long do chính ông thành lập, hướng dẫn, đã thổi một luồng gió vào âm nhạc Việt Nam bằng nghệ thuật hợp ca.

Rừng núi, sông biển, ruộng đồng, đều được nhắc tới trong nhạc Phạm Đình Chương. Nói như vậy cũng không chính xác. Phải nói rằng, những thực thể ấy cũng chính là một phần nhạc, một phần tâm hồn ông. Có bao nhiêu người đã viết về rừng núi, nhưng ca khúc Sáng Rừng của Phạm Đình Chương vẫn bừng bừng một nét riêng biệt. Cái âm u không bí hiểm. Cái hoang dã không đe dọa. Mà ở đó là thơ. Ở đó là cuộc lễ linh thiêng của con

người tiếp nhận tặng phẩm của Thượng Đế. Đó là sự chan hòa giữa thiên nhiên và con người. Tiếng chim như thế người ta chỉ có thể nghe thấy trong một sáng rừng. Và rừng là ân sủng của Thượng Đế ban cho. Rừng là của ta. Có lẽ không còn hình thức tiếp nhận nào hơn là hình thức tiếp nhận bằng âm nhạc, trong một cuộc lễ như thế. Hay nói như [thơ] Tagore:

Chỉ với tư cách là ca sĩ

Tôi mới nhận ra sự hiện diện của Người.

Nói về tình yêu đất nước trong nhạc của chúng ta có rất nhiều, nhưng sừng sững như núi non, có lẽ, không có tác phẩm nào vượt qua bộ Hòn vọng Phu của Lê Thương, Con Đường Cái Quan của Phạm Duy và Hội Trùng Dương của Phạm Đình Chương.

Ôi, chúng ta chỉ nguyện làm sao có được tấm lòng yêu thương đất nước, yêu thương nhau mãi mãi như thế. Vết thương nào rồi cũng lành. Sự xa cách nào rồi cũng có ngày nối lại được. Núi non sông biển là vĩnh cửu.

Có nhạc của Lê Thương, còn nhạc của Phạm Duy và với nhạc của Phạm Đình Chương rồi những con sông vẫn cứ chẩy xuôi một niềm thương, sẽ đưa chúng ta về một bến, dù có phải hòa chung một dòng nước mắt.

Những lúc Phạm Đinh Chương trở về với cõi riêng của mình, ông cũng để lại cho đời những tình khúc tuyệt vời, dù đó không phải là những bài ca hạnh phúc. Tình ca của chúng ta rất nhiều. Nhưng có vẻ người ta nói về tình nhiều hơn tình nói. Phạm Đình Chương đã bước qua được sự cách biệt này. Chỉ khi người ta yêu, thực sự yêu, mới có được cái giọng thiết tha, nồng nàn đến thế. Phổ nhạc thơ, Phạm Đình Chương cũng tỏ ra là một nhạc sĩ cao tay lắm. Song nghe nhạc ông, người nghe vẫn cứ thấy những ca khúc do chính ông viết lời ca nó thực hơn, đằm thắm hơn.

Tuy nhiên, Người Đi Qua Đời Tôi thơ của Trần Dạ Từ, Khi Cuộc Tình Đã Chết, thơ của Du Tử Lê hay Mộng Dưới Hoa thơ của Đinh Hùng, Phạm Đình Chương phổ nhạc, vẫn cứ là những tình khúc hay nhất của ông và của chung những tình khúc Việt Nam nữa.

Nếu chúng ta, ai có dịp nghe Phạm Đình Chương hát một lần, trong một quán về khuya, hát một mình với ly rượu trong tay và bằng cái giọng một nửa tưởng chừng như bị cháy vì khói thuốc, nửa kia được dập tắt bằng rượu, mới thấy được hết cái hay của giọng hát Phạm Đình Chương.

Ông không chỉ là nhạc sĩ. Ông còn là một ca sĩ nữa. Chúng ta đã nghĩ đến việc cám ơn các nhạc sĩ, tại sao chúng ta lại không nghĩ đến chuyện công khai cảm ơn các ca sĩ nhỉ?

Không gì buồn bằng một bản tình ca không được hát. Cũng không còn gì buồn hơn một bản tình ca bị hát sai. Vậy thì được nghe một giọng hát trình bầy được hết những gì chứa dấu trong trong bản nhạc, phải chăng cũng là điều hết sức hạnh phúc? Ấy là chưa kể, cùng một ca khúc, mỗi ca sĩ có thể có một cách hát khác nhau và, bằng cách ấy, vẫn mở cho người  nghe những cánh cửa tưởng tượng kỳ lạ: vừa có khả năngđưa ta trở về một quá khứ nào đó, vừa dường như hứa hẹn vẽ ra một thế giới kỳ ảo, chỉ khi yêu hay đã ra khỏi tình người ta mới biết, mới nhận ra được.

Xuân Tha Hương

Ngày xưa xuân thắm quê tôi

Bao nhánh hoa đời đẹp tươi

Mẹ tôi sai uốn cây cành

Vun tưới hoa mùa xinh xinh

Thơi gian nay quá xa xôi

Tôi đã xa nhà đầm ấm

Sống bao xuân lạnh lẽo âm thầm

Hoa xưa dần qua biết bao kỳ đâm bông

Riêng ai buồn thương hắt hiu còn trông mong

Nàng xuân thay áo mấy mùa đợi chờ

Mắt huyền lệ rưng rưng

Sầu héo đến bao giờ

Chiều nay lê bước phiêu du

Thầm nhớ xuân về làng cũ

Tình quê chan chứa trong lòng

Chua xót thay sầu tư hương

Đường đi xa lắc lê thê

Thêm khát khao ngày về quê

Để sống vui quê mẹ lúc xuân về

Xuân tới muôn cánh hoa đào bay khắp nơi

Hương khói lan dưới mưa nhẹ rơi phơi phới

Chiều dâng sầu lâng trên đường về mịt mùng

Mây Tần ơi cho nhắn theo niềm thương

Thái Thanh