Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 2 Oct 2025

73. Thanh Tuệ.

Những người làm văn nghệ, làm báo cũ, biết nhau từ trước 1975, lèo tèo không còn lại mấy người, ở đây, thỉnh thoảng gặp lại nhau, phần lớn nhờ có báo người Việt. Từ miền Đông, miền Tây, Đức, Canada, Úc Đại Lợi, Nhật Bản, Tây … qua, ai cũng dành chút thì giờ ghé qua tòa báo, may ra gặp người nọ người kia, không thì cũng hy vọng hỏi thăm tin của người này, người khác, có thể trong tòa báo có người biết.

Thanh Tuệ từ Pháp qua cũng ghé tòa soạn Người Việt. Nghe nói ông có gặp Đỗ Quý Toàn, Hoàng Khởi Phong và đề nghị mỗi người dành cho ông một tác phẩm, trong đợt xuất bản “lớn” sắp tới, kỷ niệm 40 năm xuất bản của nhà An Tiêm.

Những người quen biết ông, được tin ông qua Mỹ, chưa gặp, nhưng chắc bụng ngày một ngày hai rồi cũng gặp. Thanh Tuệ “mưu toan” in sách thì có gì lạ đâu? Lại định làm ăn “lớn” nữa, hẳn phải còn “ngon lành” lắm.

Thế nhưng mới buổi sáng nghe vậy, buổi tối đã nghe tin Thanh Tuệ được đưa vào nhà thương cấp cứu. Rồi vài giờ sau đó tin Thanh Tuệ mất được những người quen biết báo cho nhau hay.

Như thế, chỉ trong một ngày người ta nghe đủ thứ tin về ông, ngắn, gọn, nhưng dường như thâu tóm cả đời người: đi lại, thăm viếng bạn bè, sắp đặt công việc và … chết! Tấm hình ông đăng trên báo, đối với những người biết

ông cách đây ba bốn chục năm, chỉ thấy ông hơi già đi một chút chứ không có gì thay đổi, vẫn đôi mắt có một vẻ gì đó “không nhìn nhưng thấy hết” và nụ cười hiền từ pha một chút hóm hỉnh lúc nào cũng như có sẵn trên môi.

Không có nụ cười ấy chắc ông không chịu nổi những câu nói đùa “rởn tóc gáy” và những chuyến đi về “quấy rày” của ông Bùi Giáng, trong căn nhà ở đường Lý Thái Tổ. Ở đấy ông khởi sự làm nhà xuất bản An Tiêm. Không biết ông in ở đâu, nhưng những trang sách in rồi được đem về đấy để đóng thành sách. Trong nhà luôn có mấy phụ nữ ngồi khâu sách, dán bìa.

Google image, edited by AI & Sơn râu

Ở đấy Bùi Giáng đi về như nhà mình, la hét, cũng có khi vài ba ngày không nói câu nào, lăn ra ngủ, thức dậy, đi mất. Những chuyện gì Bùi Giáng mang ra trêu chọc, “hành hạ” Thanh Tuệ, ai muốn biết, có thể hỏi dịch giả Bửu Ý, vì khi ấy ông thường có mặt ở đó để sửa bản in cho cuốn Vườn Đá Tảng. Bửu Ý biết nhiều chuyện, nếu ông không kể lại, không ai dám kể lại. Ở đấy, những cuốn sách đẹp nhất của Bùi Giáng đã được chăm chút trước khi tung ra đời.

Lá Hoa Cồn, Nghìn Thu Rớt Hột, Hoàng Tử Bé ... Thuở ấy Sài Gòn có mấy nhà xuất bản in sách đẹp là An Tiêm, Lá Bối, Cảo Thơm, Nam Chi … Phải nói, khi ấy, tác giả nào có sách được mấy nhà xuất bản này in đều rất hài lòng. Cũng nhờ những người như các ông Thanh Tuệ, Từ Mẫn [Võ Thắng Tiết] mà vai trò của các nhà xuất bản trong sinh hoạt văn học nghệ thuật chung của quốc gia được nâng lên cao hơn.

Từ lâu, hình như người ta chỉ chú ý đến các tác phẩm và tác giả, ít đề ý đến các nhà xuất bản. Lý do có lẽ cũng vì các nhà xuất bản, rõ hơn, những người trông coi hay giám đốc các nhà xuất bản, thường không có chủ trương rõ rệt, in ấn bất cứ loại sách nào, miễn có lợi tức nuôi sống cơ sở của

mình thì thôi. Ông Thanh Tuệ là một trong những người đầu tiên, đã

thay đổi quan niệm, thay đổi cung cách làm việc ấy, nâng việc xuất bản thành một đóng góp văn hóa thực sự. Sau biến cố 1975, tất cả các nhà xuất bản ở miền Nam đều bị đóng cửa.

Lận đận trong ít năm, sau đó, Thanh Tuệ vượt biên được và định cư tại Pháp. Ở Pháp ông lại nghĩ ngay đến việc xuất bản sách. Xuất bản gần như định mệnh của Thanh Tuệ. Phải nhìn thấy Thanh Tuệ cầm những cuốn sách, nâng niu những cuốn sách ông vừa in xong, mới thấy ông ‘cưng’ chúng thế nào!

Cũng phải nghe ông nói về “mùi thơm” của những trang giấy mới in một mặt [vừa thơm mùi giấy vừa thơm mùi mực in] để hiểu vì sao ông không bỏ công việc xuất bản sách được, dù trải qua nhiều điêu đứng. Thanh Tuệ xuất bản nhiều loại sách. Nhưng đọc lại tất cả sách của nhà An Tiêm, người ta sẽ

nhận ra điều này: Thanh Tuệ yêu nhất là Thơ. Chuyến trở về Việt Nam đầu tiên sau khi vượt biên, gặp lại một tác giả quen biết cũ, câu dặn của ông là hãy dành tất cả thơ làm được từ sau 75, để ông in. Gửi ra được ngay ông sẽ in ngay. Không làm được vậy thì cứ giữ đấy, lúc nào có được bản thảo trong tay ông sẽ in ngay.

Lòng yêu thơ của ông được thể hiện ngay trên những mẫu bìa sách ông chọn lựa hay gơị ý để các họa sĩ trình bầy,  luôn có một vẻ giản dị, cái đẹp, chất thơ mộng toát ra từchính cái vẻ giản dị đó.

Cũng nhờ có Thanh Tuệ, những suy nghĩ mới mẻ nhất về văn chương, triết học của Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Tuệ Sĩ, tư tưởng của những Camus, Gide, Hess, Suzuki … đãđến được với tuổi trẻ Việt Nam trực tiếp và dễ dàng. Nhà văn Vương Hồng Sển trong cuốn Thú Chơi Sách, phân ra hai loại người “mê sách” và “cuồng thư tịch”.

Mê sách là kẻ thấy sách hay, sách đẹp là cầm lòng chẳng đặng, phải tìm mọi cách để sở hữu. Kẻ được gọi là “cuồng thư tịch” thì không phân biệt sách hay, dở, xấu, đẹp, hễ cứ thấy sách là mê, là muốn chiếm đoạt cho bằng được, có sách rồi lắm khi vuốt ve, ôm ấp như người tình. Đáng lẽ cụ Vương còn phải kể thêm một bệnh nhân về sách khác nữa, người “mê bìa sách”, và người đó chính là Thanh Tuệ.

Ai quen biết ông hẳn thế nào cũng đã có lúc đã được nghe kể về những buổi ông la cà trong các tiệm sách để ngắm … bìa sách, không cần biết tác giả là ai, nội dung thế nào, so sánh các “co” chữ, xê dịch trong tưởng tượng những nét, kiểu chữ, chọn thứ giấy nào làm bìa ắt cuốn sách sẽ đẹp hơn …

Thanh Tuệ mất kể như nhà xuất bản An Tiêm không còn.

Các tác giả có sách do nhà An Tiêm xuất bản nay còn lại bao người?

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 2 Oct 2025

72. Thanh Nam.

Đất Khách gồm một số những bài thơ Thanh Nam viết truớc và sau ngày

30 tháng 4, 1975. Thanh Nam cũng đã qua đời chỉ hai năm sau khi tập thơ Đất Khách được xuất bản. Sách in khổ lớn, bìa và phụ bản bên trong là tranh và ảnh của Duy Thanh, Ngọc Dũng và Trần Cao Lĩnh.

Thanh Nam qua Mỹ năm 1975. Ba chục năm nơi đất khách dài hay ngắn đối với ông cũng đã xong rồi. Những người đến muộn trên miền đất Thanh Nam gọi là “tạm dung” này, cầm cuốn sách trong tay, cảm nhận một nỗi buồn mênh mông. Cuốn sách có thật. Những dòng chữ trên giấy trắng mực đen có thật, người ta biết vậy. Nhưng cầm cuốn sách trong tay, người ta tưởng chừng chỉ đang cầm giữ một cái ảo. Ba mươi năm tóc tang, lụt lội nước mắt, “phí bao nhiêu tóc xanh đợi chờ” [chữ của Thanh Nam] rút cục, cũng chẳng biết mình chờ đợi cái gì, quên hay nhớ thì mọi chuyện cũng đã tan vào hư không, không níu lại được gì nữa, không sửa chữa gì được nữa.

Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng

Nghĩ đắt vô cùng giá tự do

Thanh Nam đã ghi lên trang đầu tập Đất Khách hai câu người ta thơ ấy.

Lấy lòng của người ở lại để hiểu nỗi đau của người đi, được chăng?

Hiểu được hay không hiểu được, rồi sao đây?

Đất Khách của Thanh Nam tràn ngập một nỗi ngậm ngùi của thân lữ thứ, nhớ nước, nhớ người:

Ơi hỡi quê hương bè bạn cũ

Những ai còn mất giữa sa mù

Mất nhau từ buổi tàn xuân ấy

Không một tin nhà, một cánh thư

Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi

Rối bời tâm sự tuyết giăng tơ

Một năm người có mười hai tháng

Ta trọn năm dài Một Tháng Tư

Trước 1954, ở Hà Nội người ta đọc Cuộc Đời Một Thiếu Nữ của Thanh Nam, Nhìn Xuống của Sao Mai, Cánh Hoa Trước Gió của Nguyễn Minh Lang, Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu của Hoàng Công Khanh …

Năm ấy, Thanh Nam còn rất trẻ, chỉ mới trên dưới hai mươi. Ông nổi tiếng rất sớm. Thanh Nam bỏ Hà Nội vào Nam trước khi xẩy ra hiệp định Genève và có dịp làm quen và chơi thân với hầu hết các nhà văn miền Nam, nhất là những người làm việc trực tiếp tại các tòa báo.

Khi được tin Lê Xuyên mất mới đây, hầu hềt những người quen biết Thanh Nam đều liên tưởng tới ông là vì vậy. Cuộc lưu vong tháng 4/75 Thanh Nam coi như là:

Chấp nhận hai đời trong một kiếp

Đành cho giông bão phũ phàng đưa

Đầu thai lần nữa trên trần thế

Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ

Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt

Tập làm con trẻ nói ngu ngơ

Có thể lấy cái buồn của người ở lại để hiểu nỗi khắc khoải của người ra đi và ngược lại chăng? Giả thử rằng được, giả thử không. rồi sao đây?

Đất nước người ta có trở về được cũng chỉ là những cuộc viếng thăm. Những người “cùng một lứa bên trời lận đận” còn bao nhiêu ngày và còn có thể làm được gì nữa đây? Ngoài trên một chục cuốn tiểu thuyết, Thanh Nam còn viết rất nhiều truyện ngắn, kịch thơ, thơ, viết lời ca cho nhiều ca khúc của các nhạc sĩ bằng hữu, phụ trách biên tập cho nhiều tuần san văn nghệ và chương trình văn nghệ của các đài phát thanh.

Ông sống đôn hậu với tất cả bạn bè và được mọi người yêu mến. Thơ ông buồn nhưng cũng rất hào sảng:

Google image edited by AI

Canh bạc chưa chơi mà hết vốn

Cờ còn đang đánh phải đành thua

Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng

Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do

Bằng hữu qua đây dăm bẩy kẻ

Đứa nuôi thù hận đứa phong ba

Đứa nằm yên phận vui êm ấm

Đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa

Mây nước có phen còn hội ngộ

Thâm tình viễn xứ lại như xa

Xuân này đón tuổi gần năm chục

Đối bóng mình ta say với ta

Đọc thơ mới giật mình: Thanh Nam mới ở tuổi chưa đến năm muơi. Còn quá trẻ! Thế nhưng có biết bao như người như ông, có thể coi như đời đã mất từ nhiều năm trước đó nữa, đứt ngang trước đó nữa. Bao giờ tháng Tư sẽ không còn là vết thương của lịch sử chúng ta nữa?

Thơ Xuân đất khách

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ

Mới hay năm tháng đã thay mùa

Ra đi từ thuở làm ly khách

Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ

Trôi dạt từ Đông sang cõi Bắc

Hành trình trơ một gánh ưu tư

Quê người nghĩ xót thân lưu lạc

Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du

Thức ngủ một mình trong tủi nhục

Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ

Giống như người lính vừa thua trận

Nằm giữa sa trường nát gió mưa

Khép mắt cố quên đời chiến sĩ

Làm thân cây cỏ gục ven bờ

Chợt nghe từ đáy hồn thương tích

Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa

Ới hỡi quê hương bè bạn cũ

Những ai còn mất giữa sa mù

Mất nhau từ buổi tàn xuân đó

Không một tin nhà, một cánh thư

Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi

Rối bời tâm sự tuyết đan tơ

Một năm người có mười hai tháng

Ta trọn năm dài Một Tháng Tư!

Chấp nhận hai đời trong một kiếp

Đành cho giông bão phũ phàng đưa

Đầu thai lần nữa trên trần thế

Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ

Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt

Tập làm con trẻ nói ngu ngơ

Vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi

Thân phận không bằng đứa mãng phu

Canh bạc chưa chơi mà hết vốn

Cờ còn nước đánh phải đành thua

Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng

Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do!

Bằng hữu qua đây dăm bảy kẻ

Đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba

Đứa nằm yên phận vui êm ấm

Đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa

Mây nước có phen còn hội ngộ

Thâm tình viễn xứ lại như xa

Xuân này đón tuổi gần năm chục

Đối bóng mình ta say với ta…

1977

Thanh Nam

Tháng Tư, Lính không cần hớt tóc

dutule.com

19 Tháng Mười Một 2022

Nguyễn Phúc Sông Hương

Post by Sơn râu 1 Oct 2025

Nguyễn Phúc Sông Hương

Tháng Tư, lính không cần hớt tóc

Tóc dài, cứ để tóc dài thêm,

Giáp trận, chẳng ai dùng nón sắt

Đầu trần, tóc dựng, mắt trừng lên!

Tháng Tư, lính không cần hớt tóc,

Tóc dài khói súng bám càng thơm,

Nòng súng tháng tư không hạ nhiệt,

Lòng lính tháng tư lửa bừng bừng.

Tháng Tư, lính không cần hớt tóc

Tóc dài gió lộng thổi tung bay.

Đánh giặc bạn ta luôn bắn đứng,

Oai phong, sừng sững suốt đêm ngày.

Tháng Tư, lính không cần hớt tóc,

Tóc dài, gương mặt lạnh lùng hơn.

Gương mặt bao người vừa ngã xuống

Băng giá còn nguyên nỗi oán hờn.

Tháng Tư, lính không cần hớt tóc,

Tóc dài, tay kẹp súng lia ngang,

Mấy mươi tăng địch phơi ngoài bãi,

Lính bộ, rừng su lấp mấy ngàn.

Tháng Tư, lính không cần hớt tóc,

Tóc dài theo nhiệt huyết tuôn tràn.

Đại liên khạc đạn lòng chưa thỏa,

Huống gì quyết tử lính miền Nam.

Tháng tư, lính không cần hớt tóc,

Tóc dài bay dưới bóng cờ bay.

Dạ thưa Tư lệnh xin đừng phạt,

Có một không hai chỉ trận này.

Tháng Tư, lính không cần hớt tóc

Tóc dài, cứ để tóc dài thêm.

Sông ơi Núi hỡi tóc Người rụng

Tóc chúng con đây cắt đáp đền.

—–

Nguyễn Phúc Sông Hương, sinh năm 1941, tại Huế.

Ông nguyên là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Sư Đoàn 18 BB (1972-1975 An Lộc & Xuân Lộc)

Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 1 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu

10. Rita – Khách Sạn “Vera Cruz”

TRONG ngục tối của nhà cấm cố Saint Joseph, tôi đã bay lên các vì tinh tú và mơ thấy nhiều cảnh kỳ ảo để khỏi thấy cô đơn trong cảnh im vắng rợn người, nhiều lần tôi tưởng tượng mình được tự do, đã chiến thắng cuộc sống thối tha và đã làm lại một cuộc đời mới trong một đô thị. Vâng, quả là một cuộc tái sinh, tôi đẩy tấm đá đè nặng tôi trong nấm mồ đen tối để trở về với ánh sáng, với đời sống và trong cảnh trí do tôi phác họa ra, xuất hiện một thiếu nữ vừa đẹp đẽ vừa hiền hòa. Không cao, không thấp, tóc vàng, cặp mắt hạt dẻ với đôi con ngươi đen huyền linh động và thông minh. Miệng nàng có đường nét rõ rệt kỳ diệu, mỗi khi cười để lộ hàm răng ngà ngọc. Thân hình nàng cân đối hoàn toàn. Đó là hình ảnh người thiếu nữ một ngày nào đó sẽ là người bạn đời của tôi.

Tôi đã tạo cho vị nữ thần, cho sắc đẹp lý tưởng ấy một tâm hồn đẹp đẽ nhất, cao quí nhất, chân thật nhất, dồi dào đức tính một người đàn bà vừa là người yêu, vừa là người bạn. Nhất định một ngày nào đó tôi sẽ gặp nàng, rồi cùng nàng kết nghĩa trọn đời, tôi sẽ được yêu quí, giàu sang, trọng nể và sung sướng mãi mãi.

Vâng, trong không khí nóng bức ngột thở của nhà cấm cố, một tên tù thiếu hẳn sinh khí, quả tim bị khổ não vằng vặt, khát nước triền miên, kiệt sức, miệng hả ra để mong hít lấy một ít không khí tươi mát mà cũng không có, trong khối hơi nóng ngột ngạt đốt cháy buồng phổi, gần nghẹt thở, tôi bay bổng lên vùng tinh cầu mộng ước, có gió mát, cây xanh, không còn lo âu về cuộc sống hằng ngày vì tôi đã giàu sang. Trong mỗi cảnh trí, mỗi hình ảnh của giấc mơ đều xuất hiện nàng công chúa diễm kiều của tôi. Nàng không bao giờ thay đổi. Vẫn chỉ có nàng, tôi biết nàng quá đỗi, nên mỗi khi nàng bước vào cảnh mộng mơ, tôi không chút ngạc nhiên: phải chăng nàng sẽ là vợ tôi và vị thần hộ mệnh của tôi?

Một hôm, sau khi đi thám hiểm về tôi quyết định giã từ căn phòng trong trang trại của Công ty Richmond để ra ở trung tâm đô thị Maracaibo. Vì vậy mà một hôm, chiếc xe vận tải của công ty đưa đến một công trường nhỏ có bóng cây, ở trung tâm thành phố, tay xách chiếc va-li. Tôi để lại trang trại phần lớn quần áo. Tôi biết tại khu này có nhiều khách sạn hoặc nhà trọ và tôi đi dọc theo con đường Venezuela chiếm vị trí ưu tiên giữa hai công trường chính của đô thị Maracaibo, công trường Bolivar và công trường Baralt. Đó là một trong những con đường phố thuộc địa, hai bên có nhiều nhà một tầng hoặc nhiều lắm là hai tầng. Trời nóng kinh khủng, tôi đi trong bóng mát của các tòa nhà.

“Khách sạn Vera Cruz”. Một tòa nhà xinh xắn, kiểu thuộc địa từ đời chiến tranh xâm lược, sơn màu xanh nhạt. Tôi thích hình dáng sạch sẽ hiếu khách của tòa nhà nên vội bước vào một hành lang dẫn vào sân trong. Rồi tại sân im mát ấy, tôi trông thấy một thiếu phụ, và thiếu phụ ấy chính là nàng.

Chính là nàng, tôi không thể nào lầm, tôi đã thấy nàng cả triệu lần trong những giấc mơ khi tôi còn là một tên khốn khổ. Nàng đứng đó, trước mặt tôi, nàng công chúa diễm kiều của tôi đang ngồi trong chiếc ghế xích đu. Nếu lại gần nàng, chắc chắn tôi sẽ thấy đôi mắt hạt dẻ và cả một nốt ruồi tí ti trang điểm khuôn mặt trái xoan của nàng. Khung cảnh ấy, đã thấy cả ngàn lần. Không thể nào tôi lầm: công chúa trong giấc mơ của tôi là đây, trước mặt tôi, đang chờ đợi tôi.

– Xin chào cô! Cô có phòng cho thuê?

Tôi đặt va li xuống đất. Tôi chắc nàng sẽ nói vâng. Tôi không nhìn nàng: tôi dùng mắt ngấu nghiến nàng. Hơi ngạc nhiên vì bị một người lạ nhìn từng chi tiết, nàng bỏ ghế đứng lên và tiến lại phía tôi. Nàng mỉm cười để lộ hàm răng ngà ngọc quá quen thuộc với tôi.

– Thưa Ông vâng, tôi có phòng cho Ông, nàng công chúa trả lời bằng tiếng Pháp.

– Tại sao cô biết tôi là người Pháp?

– Theo cách nói tiếng Tây Ban Nha của Ông. Người Pháp phát âm thứ ngôn ngữ này khó khăn lắm. Mời ông theo tôi.

Tôi xách va li và theo sự chỉ dẫn của nàng, tôi vào một phòng sạch sẽ, mát mẻ, đầy đủ đồ đạc, cửa phòng nhìn ra sân trong.

Sau khi tắm gội, rửa mặt, cạo râu, ngồi trên giường hút thuốc, tôi mới đích thực nhận thức không nằm mơ. “Nhỏ ơi, nàng đây, người thiếu phụ đã giúp mày chịu đựng bao nhiêu ngày tháng trong ngục tối! Nàng đây, cách mày mấy thước thôi! Nhất là mày đừng hóa điên! Cơn xúc động của quả tim không nên đưa đẩy mày đến những cử chỉ hoặc lời nói bậy bạ!” Tim tôi đập dồn dập và tôi cố gắng tự trấn tĩnh: “Papillon, nhất thiết không nên kể chuyện điên khùng ấy cho ai nghe, ngay cả cho nàng. Ai mà tin nổi? Làm thế nào mày làm cho bất cứ ai tin rằng mày đã biết, đã sờ, đã hôn, đã lấy người thiếu phụ từ nhiều năm rồi, trong lúc mày nằm rục xương trong ngục tối của một nhà tù ghê tởm? Nên im đi. Nàng công chúa là đây, đó là điều quan trọng nhất. Khỏi phải thắc mắc: bây giờ mày đã gặp nàng, nàng không chạy đường nào nữa. Nhưng phải từ từ, tiến bằng những bước có chừng mực. Chỉ cần nhìn bề ngoài, chắc hẳn nàng là chủ nhân khách sạn nhỏ này”.

Một đêm huyền hoặc của vùng nhiệt đới, tại nơi sân trong, đúng ra là một cảnh vườn nhỏ bé, tôi đã nói với nàng những câu tình ái đầu tiên. Đúng là nàng tiên tôi đã bao năm mơ ước, nàng đã đợi tôi từ lâu rồi. Nàng công chúa của tôi tên là Rita, quê quán ở Tanger, nàng không bị một ràng buộc nào hết. Nàng nhìn tôi bằng đôi mắt sáng ngời, long lanh như những vì tinh tú trên trời xanh. Tôi trung thực nói với nàng tôi đã có vợ ở bên Pháp, tôi không biết rõ hoàn cảnh của tôi như thế nào và vì những lý do nghiêm trọng, tôi không thể hỏi để biết rõ. Đúng như vậy: tôi không thể viết thư yêu cầu cơ quan hành chánh xã tôi cấp cho một tờ căn cước. Không thể đoán được phản ứng của cơ quan tư pháp đối với lời thỉnh cầu ấy. Có thể người ta sẽ yêu cầu dẫn độ tôi. Nhưng tôi không nói cho nàng biết về dĩ vãng giang hồ và tù phạm của tôi. Tôi vận dụng hết tài năng và trí óc ra để thuyết phục nàng. Tôi không thể để lỡ cơ hội lớn nhất của đời tôi.

– Rita, em đẹp, đẹp kỳ diệu. Em nên nhận tình yêu sâu xa, bất diệt của một người không còn ai trên đời này, một người cần yêu và được yêu. Quả thật anh không có nhiều tiền, còn em thì với khách sạn nhỏ bé này, có thể kể là em giàu, nhưng xin em tin rằng anh ước mơ hai tâm hồn của chúng ta hòa hợp lại mãi mãi, cho đến mãn kiếp. Em nói đồng ý đi, Rita, em đẹp hơn tất cả các cành hoa đẹp nhất của xứ này, đẹp như một đóa phong lan. Anh không thể nói tại sao và từ bao giờ, nhưng dù khó tin, xin em biết cho rằng từ nhiều năm nay, anh đã biết đã yêu em. Em phải thuộc về anh như anh đã thề thuộc về em, nghĩa là hoàn toàn và vĩnh viễn.

Tuy nhiên Rita không phải hạng gái nhẹ dạ, điều ấy không lạ. Chỉ sau ba ngày nàng mới dâng hiến cho tôi. E ấp nàng yêu cầu tôi len lén vào buồng của nàng. Rồi một buổi sáng đẹp trời, không cần báo cho ai biết trước, rất tự nhiên, chúng tôi chính thức cho thiên hạ biết chúng tôi yêu nhau, và tôi đương nhiên trở thành chủ nhân ông của khách sạn.

Hạnh phúc của chúng tôi thật là đầy đủ và một cuộc đời mới mở rộng trước mắt tôi, đời sống gia đình. Tôi, một tên bị xã hội ruồng bỏ, một tên tù vượt ngục, sau khi trốn tránh khỏi bị bắt lại, giờ đây đã có một mái ấm gia đình, một người đàn bà đẹp cả thể xác lẫn tâm hồn. Chỉ còn một đám mây nhỏ trên hạnh phúc của chúng tôi: đã có vợ bên Pháp, tôi không thể cưới nàng.

Yêu và được yêu, có một tổ ấm cho riêng tôi, Thượng Đế quả là cao minh, tôi mới được như vậy.

Những kẻ lang thang vơ vẩn trên các nẻo đường hay trên vạn dặm trùng dương, những kẻ giang hồ cần phiêu lưu như người đời cần ăn uống, những kẻ bay nhảy trong cuộc đời như các loại hậu điểu trên bầu trời, những kẻ lang thang ngày đêm lục lọi các xóm nghèo, các công viên và lẩn quẩn trong các khu phố sang trọng với một tâm hồn nổi loạn luôn luôn sẵn sàng chờ đợi một mẻ làm ăn, những kẻ phiêu lưu phiến loạn luôn luôn nhận thấy các chế độ ngày thêm ích kỷ, những tư nhân được phóng thích, những người lính chiến đấu ở mặt trận về nghỉ phép, những kẻ vượt ngục bị người ta truy nã để bắt lại nhốt vào ngục tối cho tan nát cuộc đời, tất cả, vâng tất cả không trừ một ai, đều đau khổ vì đến một lúc nào đó không có được một mái ấm gia đình, đến khi Thượng Đế ban cho, họ đi vào tổ ấm như tôi bây giờ với một tâm hồn đổi mới tràn đầy tình yêu để cho và khao khát tình yêu để nhận.

Thế là cũng như mọi người trên cõi đời này, như cha tôi, như mẹ tôi, như các chị tôi, như tất cả những người thân của tôi, tôi đây cũng có một mái ấm gia đình trong đó có một người đàn bà yêu tôi.

Để cho nếp sống của tôi hoàn toàn thay đổi sau khi tôi gặp Rita, để cho tôi cảm thấy nàng là trung tâm điểm của đời tôi, người đàn bà ấy phải khác thường.

Trước tiên, cũng như tôi, nàng từ Venezuela, chạy trốn đến đây. Dĩ nhiên không phải nàng vượt ngục, nhưng cũng là một sự trốn thoát.

Nàng từ Tanger đến đây được sáu tháng với chồng; cách đây không đầy 3 tháng người chồng bỏ nàng để làm một vụ mạo hiểm ở xa Maracaibo 300 cây số. Nàng không muốn theo chồng, nên bị bỏ rơi lại khách sạn. Tại Maracaibo, nàng có một người anh làm đại lý thương mại, du hành khắp nơi.

Tôi say sưa nghe nàng kể lại đời nàng. Công chúa của tôi sinh tại một khu phố nghèo nàn ở Tanger. Mẹ nàng góa phụ đã can đảm nuôi sáu người con, ba trai ba gái. Rita là con út.

Lúc còn trẻ thơ, đường phố là nhà của nàng. Suốt ngày nàng không ở trong hai căn phòng là nơi trú ngụ của bảy mạng trong gia đình này. Nhà chính của nàng là thành phố với các công viên, các chợ búa, với vô số người lúc nhúc, ăn, uống, ca hát, la hét bằng mọi ngôn ngữ. Nàng đi chân không. Đối với bọn con nít đồng tuổi, đối với người trong khu phố nàng là Riquita. Cùng với bạn bè như một bầy chim sẻ nghịch ngợm, suốt ngày nàng rong chơi ngoài biển hay ở hải cảng hơn là học ở nhà trường, nhưng nàng biết dành chỗ khi đã sắp hàng dài chờ ở giếng nước máy để đem một thùng lớn nước về cho mẹ nàng. Mãi đến khi lên mười tuổi nàng mới chịu mang giày.

Khối óc nhanh nhẹn và hiếu kỳ của nàng để ý đến mọi việc. Nàng ngồi hàng giờ với số người vây quanh người kể chuyện cổ tích Ả Rập. Một hôm, một người kể chuyện bực mình vì cô bé luôn luôn ngồi hàng đầu mà không cho đồng nào hết, đã cho nàng một đấm. Từ ngày ấy, nàng ngồi vào hàng thứ hai.

Nàng không biết gì nhiều, nhưng không phải vì vậy mà không ước mơ khoắc khoải về một thế giới kỳ ảo đã là xuất phát điểm của những chiếc tàu to lớn mang những tên lạ lùng. Ra đi, đi rất xa, là mộng lớn làm nàng say mê. Nhưng đối với bé Riquita, thế giới hiện ra dưới một hình ảnh đặc biệt. Bắc Mỹ và Nam Mỹ là nước Mỹ trên cao và nước Mỹ dưới thấp. Nước Mỹ bên trên là Nữu Ước, bao trùm cả lục địa. Ở đó mọi người đều giàu có và mọi người là minh tinh màn bạc. Tại nước Mỹ bên dưới, người da đỏ sống ở đó tặng hoa cho du khách và thổi sáo, người ta không cần làm việc vì người da đen làm hết mọi việc.

Nhưng giữa các chợ, những người cỡi lạc đà, những người kể chuyện cổ tích Ả Rập, những bà phụ nữ che mặt huyền bí, đời sống nhộn nhịp ở hải cảng, nàng mê nhất là rạp xiếc. Nàng đã đi xem hai lần. Một lần bằng cách chui dưới lều vải, lần khác nhờ một anh hề già thương tình cô bé xinh đẹp đi chân không, nên đã đưa vào ngồi chỗ tử tế. Nàng muốn đi theo gánh xiếc, nó thu hút nàng như một viên đá nam châm. Một ngày nào đó, chính nàng sẽ đi trên dây thép, xoay tròn trên ấy và sẽ nhận những tràng pháo tay. Gánh xiếc sẽ đi qua nước Mỹ bên dưới. Nàng hết lòng mong muốn được cùng đi. Ra đi, ra đi, rồi trở về giàu có và đem về rất nhiều tiền cho gia đình.

Nàng không ra đi với gánh xiếc mà với gia đình nàng. Ồ, không xa lắm, nhưng cũng là một cuộc hành trình. Họ đến ở tại Casablanca. Hải cảng lớn hơn, những con tàu bự hơn. Riquita ước mơ một ngày được ra đi, xa, rất xa.

Bây giờ nàng 16 tuổi, nàng vẫn mặc những chiếc áo dài nho nhỏ do nàng tự may cắt lấy vì nàng làm việc trong một nhà bán hàng vải và bà chủ thường biếu nàng ít thước vải. Mộng ước viễn du ngày càng tăng trưởng vì nhà hàng ở đường phố Horloge, ở cạnh văn phòng công ty hàng không danh tiếng Latécoère. Các phi công thường ghé vào nhà hàng. Toàn những phi công tên tuổi: Mermoz, Saint Exupéru, Mimile phi công kiêm nhà văn, Delaunay, Didier. Không những họ đẹp, mà còn là những người đi mây về gió vĩ đại và can trường nhất thế giới. Nàng biết từng người, người nào cũng tán tỉnh nàng, lâu lâu nàng nhận một cái hôn, chỉ thế thôi vì nàng rất hiền đức. Nhưng đã bay trên trời với họ không biết bao nhiêu lần, nàng nghe họ kể lại các cuộc phiêu du của họ, trong lúc cùng ăn một ly kem tại một quán bên cạnh. Họ thương nàng lắm, xem nàng gần như một cô bé được họ che chở, họ viết cho nàng những bài thơ mà một số đã được đăng trong tờ báo “Tháp canh biển”.

Năm 19 tuổi, nàng lấy một nhà xuất cảng trái cây sang Âu châu. Họ làm việc nhiều, một bé gái ra đời, hai vợ chồng sung sướng. Họ có hai chiếc xe, sống đầy đủ tiện nghi và Rita dễ dàng giúp đỡ mẹ và các chị nàng.

Liên tiếp, hai chuyến tàu chở cam đến bến bị thối hết. Hai tàu cam hoàn toàn mất, quả là một sự phá sản. Chồng nàng mắc nợ quá nhiều và nếu nai lưng ra làm việc để trả nợ thì phải cần rất nhiều năm. Thế nên hắn quyết định lén trốn sang Nam Mỹ. Thuyết phục Rita theo hắn trong chuyến viễn du kỳ diệu này, đi đến một xứ thần tiên phải dùng xà beng để hốt vàng, kim cương, dầu hỏa, không phải là một việc khó. Họ sẽ gửi cháu bé gái lại cho bà mẹ của Rita. Đầy ắp mộng hải hồ, Rita nóng lòng đợi ngày bước lên chiếc thuyền to lớn mà chồng nàng đã báo trước.

Trong thực tế, đó là một chiếc thuyền đánh cá dài mười hai thước rộng năm thước. Thuyền trưởng là một người xứ Estonien có phần lưu manh, đã thuận chở vợ chồng nàng không giấy tờ đến Venezuela cùng với khoảng mười hai người hành khách lậu khác. Giá là năm ngàn quan bây giờ. Và nàng đã thực hiện cuộc viễn du trong buồng lái của chiếc tàu đánh cá cũ kỹ, sát cánh với mười đảng viên cộng hòa trốn chạy tướng Franco, một người Bồ Đào Nha trốn chạy Tổng Thống Salazar và hai phụ nữ, một người Đức hai mươi lăm tuổi, đúng là một con ngựa cái, nhân tình của viên thuyền trưởng và một người Tây Ban Nha to béo tên Maria, vợ anh đầu bếp Antonio.

Phải mất 112 ngày mới đến Venezuela! Với một lần ghé bến rất lâu ở đảo Cap Vert, vì tàu bị lủng đáy và suýt bị chìm vì một trận bão.

Trong lúc tàu được kéo lên bộ để chữa, hành khách ngủ dưới đất. Chồng Rita không còn tin tưởng nơi chiếc tàu. Hắn bảo vượt đại tây dương với một vật hư hỏng như vậy là điên rồ. Rita trấn an hắn: thuyền trưởng là thuộc giòng dõi Viking, đệ nhất thủy thủ thế giới, nên có thể tin tưởng tuyệt đối vào hắn.

Một nguồn tin bất ngờ, hết hiểu nổi! Mấy người Tây Ban Nha cho nàng hay viên thuyền trưởng là một đứa khốn kiếp, nó đã thương lượng với một nhóm hành khách khác và nó đã lợi dụng lúc họ không ngủ trên thuyền để nhổ neo ban đêm trực chỉ Dakar, và sẽ bỏ rơi họ lại đây. Lập tức nổi loạn bùng nổ. Họ báo nhà chức trách và cả bọn xuống tàu. Viên thuyền trưởng bị bao vây, dọa nạt. Bọn Tây Ban Nha có dao găm. Sau khi viên thuyền trưởng hứa sẽ đưa họ đi Venezuela, tình hình lắng dịu trở lại. Sau những chuyện đã xảy ra, nó chấp nhận sẽ chịu sự kiểm soát thường trực của một hành khách. Ngày hôm sau, họ từ giã Cap Vert lên đường vượt Đại Tây Dương.

Hai mươi lăm ngày sau, họ đến quần đảo Testigos, mũi đất Venezuela đâm xa nhất ra đại dương. Lúc bấy giờ, quên hết, bão tố, cá mập, cá xà vùng vẫy đuổi bắt chiếc thuyền, những con mọt trong bột mì, vụ lôi thôi ở Cap Vert. Rita quá sung sướng nên quên khuấy âm mưu phản bội trước đây của viên thuyền trưởng và đã nhảy lên ôm cổ ông ta hôn lên hai má. Rồi người ta nghe vang lên bài hát mà những người Tây Ban Nha đã sáng tác trong lúc thuyền vượt đại dương – trong bọn Tây Ban Nha có một ca sĩ với đàn lục huyền cầm:

– Chúng ta qua Venezuela

Dù không có đường cái quan

Chúng ta qua Venezuela

Trên chiếc thuyền buồm nhỏ bé.

Họ vào hải cảng của đô thị Caracas ngày 16 tháng 4 năm 1948, hải cảng Guaira, cách đô thị hai mươi lăm cây số, ở cuối một thung lũng. Họ đã vượt qua 4.900 dặm.

Viên thuyền trưởng đã dùng chiếc váy của Zenda, người đàn bà Đức, làm cờ để yêu cầu Sở Y tế đến khám. Mọi người hân hoan khi thấy một chiếc thuyền máy của Venezuela chạy ra: những khuôn mặt sạm nắng dần dần tiến đến, đó là xứ Venezuela. Họ đã thắng.

Rita đã chịu đựng phi thường và đã mất hết mười ký. Không bao giờ nàng phàn nàn hoặc sợ sệt. Thế mà trên một chiếc thuyền bằng một cái vỏ dừa lênh đênh trên đại dương, đã có biết bao lần phải lo sợ. Chỉ một lần nàng tỏ ra yếu đuối, nhưng không ai biết. Lúc ra đi, trong số các cuốn sách nàng đem theo để đọc tiêu khiển, nàng không tìm thấy cuốn nào hơn cuốn của Jules Verne “Hai vạn dặm dưới đáy biển”, cuốn sách duy nhất không nên xem. Một hôm trời giông tố, nàng chịu hết nổi và quăng cuốn sách ra biển từ nhiều ngày, nàng mơ thấy một con mực ma khổng lồ kéo chiếc tàu xuống đáy biển, như chiếc Nautilus.

Vài giờ sau khi cập bến, giới chức thẩm quyền Venezuela chấp nhận cho họ lưu trú mặc dù không ai có giấy tờ gì hết. “Sau này chúng tôi sẽ cung cấp các giấy tờ căn cước”. Hai người bị bệnh được đưa vào bệnh viện, những người khác được cấp quần áo, có nơi ăn chốn ở trong nhiều tuần lễ. Sau đó mỗi người tự tìm công việc làm ăn. Đó là tiểu sử của Rita.

Quả là kỳ lạ, trước tiên là tôi đã gặp người thiếu phụ đã hiện diện trong cảnh cô đơn ghê gớm của tôi trong nhà cấm cố suốt hai năm; rồi người đàn bà ấy lại đến đây cũng đồng trốn thoát như tôi nhưng trong những hoàn cảnh khác nhau? Cũng đều không giấy tờ và cũng như tôi, được quốc gia này tiếp nhận và đối xử rộng rãi vô cùng.

Trong ba tháng, không một điều gì làm xao động hạnh phúc của chúng tôi. Nhưng một hôm, một bọn vô danh mở tủ sắt của Công ty Richmond, nơi tôi tiếp tục tổ chức và chỉ huy các đoàn thám hiểm địa chất. Tôi không bao giờ hiểu nổi tại sao Cảnh sát biết được dĩ vãng của tôi. Một điều chắc chắn, là tôi bị bắt vì là người tình nghi số 1 và bị giam tại nhà tù Maracaibo.

Đương nhiên Rita bị hỏi về tôi và do đó bọn cảnh sát đã cho nàng biết những gì tôi đã giấu nàng. Tổ chức cảnh sát quốc tế đã cung cấp tất cả các tài liệu. Nàng không vì vậy mà bỏ rơi tôi trong tù, trái lại nàng hết sức giúp đỡ tôi. Nàng lại còn thuê một luật sư, ông Echeta La Roche để biện hộ cho tôi và chưa đầy mười lăm ngày, tôi được phóng thích vì có lệnh miễn tố! Tôi được công nhận hoàn toàn vô tội, nhưng việc di hại đã xảy ra rồi.

Khi đến tìm tôi trong nhà giam, Rita rất xúc động nhưng cũng rất buồn. Nàng không nhìn tôi như trước. Tôi có cảm giác nàng sợ thật, nàng ngần ngại trao gửi trọn vẹn cho tôi. Tôi nghĩ mọi việc đã tiêu tan. Tôi không lầm vì nàng tấn công ngay:

– Tại sao anh dối em?

Không, không thể như thế được, tôi không muốn mất nàng! Không bao giờ tôi gặp lại duyên may như vậy nữa. Một lần nữa, phải tranh đấu, tranh đấu mãnh liệt.

– Rita, em phải tin anh. Khi gặp em, anh mê ngay vì quá yêu em nên anh sợ em sẽ không muốn gặp lại anh nếu nói sự thật về quá khứ của anh. Em còn nhớ anh nói những gì về anh chứ? Dĩ nhiên anh tưởng tượng ra, nhưng đó là vì khi vừa biết em, anh chỉ muốn nói những gì anh nghĩ rằng em muốn nghe.

– Anh đã dối em… Anh dối em… nàng lập đi lập lại nhiều lần. Em cứ tưởng anh là người đàng hoàng.

Người thiếu phụ đã hốt hoảng, như đang trải qua một cơn ác mộng. Vâng, nàng sợ, nàng sợ mày.

– Thế có gì chứng tỏ anh không thể là người đàng hoàng? Thiết tưởng như bất cứ ai, anh đáng được trở thành một người tốt, lương thiện và sung sướng. Rita, em đừng quên rằng trong 13 năm, anh đã phải chiến đấu chống chọi với một chế độ lao tù ghê tởm nhất, và để chiến thắng những ngày tháng khổ nhục ấy không phải là chuyện dễ. Anh yêu em hết lòng Rita, anh yêu em không phải với dĩ vãng mà với hiện tại của anh. Em phải tin điều này: nếu anh không kể cho em nghe đời anh chỉ vì anh sợ mất em. Anh tự nhủ nếu trước kia anh đã sống xấu xa, trong lỗi lầm, tương lai của anh có em sẽ ngược hẳn lại. Con đường tương lai anh ước mơ cùng bước với em, anh thấy xán lạn, thanh khiết, đầy màu sắc huy hoàng. Rita, anh xin thề với em, trên danh dự cha anh đã khổ nhiều vì anh.

Rồi tôi khóc ào. Người tôi đã vỡ.

– Henri đúng vậy sao anh? Anh nhìn mọi việc và tương lai của chúng mình như đã vừa nói hả?

Tôi tự trấn tĩnh, rồi với một giọng còn ướt lệ, tôi đáp:

– Mọi việc sẽ như vậy vì ngay từ bây giờ trong lòng chúng ta, mọi việc đã như vậy. Vả lại, em cũng cảm thấy nơi anh như vậy rồi. Em với anh, chúng mình không có dĩ vãng. Chỉ có hiện tại và tương lai là đáng kể.

Rita, ôm tôi trong vòng tay:

– Henri đừng khóc nữa. Hãy nghe tiếng gió, tương lai của chúng ta đang bắt đầu. Nhưng anh hãy thề với em, không bao giờ làm điều xấu xa nữa. Hãy hứa với em, anh sẽ không bao giờ giấu em điều gì và cuộc đời chúng ta sẽ không có gì nhơ nhuốc cần phải che giấu.

Hai đứa quấn quít nhau, tôi cất cao lời thề. Trong giờ phút ấy, tôi cảm thấy đây là dịp may lớn nhất của đời tôi. Tôi hiểu rằng đối với người thiếu phụ can đảm và lương thiện ấy, đối với người mẹ một bé gái dễ thương, tôi nên nói cho biết tôi là một tên tù khổ sai chung thân vượt ngục.

Rồi tôi kể hết cho nàng nghe tất cả, kể một hơi không nghỉ. Toàn thân tôi rung chuyển, kể cả mối thù ám ảnh tôi suốt 18 năm. Tôi quyết định đặt mối thù ấy dưới chân nàng, sẽ từ bỏ mối thù ấy để chứng tỏ lòng thành thật của tôi. Thật là không thể ngờ được: đối với tôi không thể có sự hy sinh nào to tát hơn một sự hy sinh mà nàng không thể hiểu hết tầm quan trọng, thế mà tôi đã nói, như một phép mầu, như một người không phải tôi nói:

– Rita, để chứng tỏ anh yêu em đến bực nào, anh dâng hiến cho em sự hy sinh lớn nhất đời anh. Bắt đầu từ giờ phút này, anh từ bỏ mối thù. Mặc cho chúng có chết nhăn răng trên giường, bọn người đã làm cho anh đau khổ cùng cực, lão chưởng lý, bọn cảnh sát, thằng chứng gian. Vâng, em có lý. Để xứng đáng với một người đàn bà như em, anh phải, không có chuyện tha thứ vì không thể được, không còn để trong đầu ý nghĩ duy nhất phải trừng phạt không nương tay những đứa đã quăng anh vào ngục thất tù đày. Trước mặt em bây giờ là một người hoàn toàn đổi mới, người cũ đã chết rồi.

Chắc hẳn Ria đã nghiền ngẫm cuộc nói chuyện ấy suốt cả ngày, vì buổi tối, sau giờ làm việc, nàng nói với tôi:

– Thế còn ba anh? Bây giờ anh đã xứng đáng với ba, anh nên viết thư cho ba sớm đi.

– Từ năm 1933, anh không có tin và ba cũng không được tin gì hết. Đúng là từ tháng 10. Anh chứng kiến cảnh người ta phát thư cho tù nhân, những bức thư khốn khổ đã bị bọn cai ngục bóc ra, những bức thư mà nội dung không thể nói gì hết. Anh đã trông thấy nỗi thất vọng hiện trên nét mặt những tên đáng thương ấy vì không có thư nào gửi đến cho mình, anh lại đoán sự chán chường của những đứa đọc bức thư bằng chờ đợi nhưng lại không tìm thấy những điều mong ước. Anh đã thấy người ta xé các bức thư rồi dẫm lên trên, anh đã thấy những giọt nước mắt rơi trên nét mực làm nhạt nhòa hàng chữ. Anh cũng tưởng tượng phản ứng của mọi người khi các lá thư khốn nạn ấy đến nơi nhận dấu đóng của nhà bưu điện Guyane đã khiến cho những người đưa thư, những người láng giềng hay những người ngồi quán cà phê trong làng nói với nhau: “Tên tù đày này còn viết thư. Nó còn sống vì còn có thư từ”. Anh đoán nỗi niềm xấu hổ của người nhận thư và sự lo âu của người phát thư khi hỏi câu: “Con Ông vẫn khỏe chứ?”.

Rita, vì vậy nên anh có viết cho em Yvonne của anh một bức thư, bức thư duy nhất anh viết từ ngục tù, trong thư anh nói: “Đừng bao giờ trông tin anh, cũng đừng bao giờ cho anh biết tin của em. Chẳng khác nào con chó sói của thi sĩ Alfred de Vigny, anh sẽ chết mà không rên siết”.

– Henri, tất cả chuyện ấy thuộc về dĩ vãng. Anh sẽ gửi thư cho ba anh nhá?

– Ừ, ngày mai.

– Không, ngay bây giờ.

Một bức thư dài được gửi đi Pháp, chỉ kể những gì có thể nói ra mà không làm cho ba tôi đau khổ? Tôi không tả lại nổi gian truân của tôi, mà chỉ đề cập đến sự tái sinh cùng cuộc đời hiện tại của tôi. Bức thư được hoàn lại với hàng chữ: “Đã đi không để địa chỉ lại”.

Chúa ơi! Làm thế nào biết được vì tôi mà cha tôi đi nơi nào để che dấu sự tủi hổ? Người đời độc ác đã làm cho Ông già tôi không thể sống nơi quê hương đã thấy tôi khôn lớn.

Phản ứng của Rita rất nhanh:

– Em sẽ đi Pháp tìm ba anh.

Tôi nhìn nàng đắm đuối. Nàng nói tiếp:

– Anh hãy bỏ công việc thám hiểm đi; công việc ấy cũng quá nguy hiểm. Trong lúc vắng em, anh sẽ giữ gìn, săn sóc khách sạn.

Quả thật tôi không lầm về Rita. Không những nàng không ngần ngại một mình dấn thân vào một cuộc hành trình xa xôi diệu vợi đầy bất trắc, mà nàng còn đặt hết tin tưởng vào tôi, một tên cựu tù nhân khổ sai, nên đã trao hết vào tay tôi. Nàng có lý, nàng biết nàng có thể tin tôi.

Khách sạn này, Rita chỉ thuê với quyền ưu tiên được mua. Như vậy vấn đề trước tiên là không để nó lọt khỏi tay chúng tôi, nghĩa là phải mua. Lúc bây giờ tôi mới thực sự học được ý nghĩa sự tranh đấu bằng những phương pháp lương thiện để tiến một chỗ đứng trong cuộc đời.

Tôi xin thôi việc ở Công ty Richmond, rồi với sáu ngàn đồng tôi vừa lãnh cộng với số tiền dành dụm của Rita, chúng tôi trả cho chủ nhà 50 phần trăm trị giá bất động sản. Từ đó bắt đầu một cuộc tranh đấu thực sự từng ngày. Có thể nói thêm: từng đêm để kiếm thêm tiền hầu trả đúng các hạn kỳ. Cả nàng cũng như tôi, chúng tôi làm việc như điên suốt mười tám giờ, đôi khi mười chín giờ mỗi ngày. Sự cố gắng, ý chí thành công bằng mọi giá đã kết hợp hai chúng tôi lại để đạt mục tiêu trong thời gian ngắn nhất thật là kỳ diệu. Cả nàng cũng như tôi không bao giờ nói đến chuyện mệt mỏi. Tôi đi chợ, giúp làm bếp. Tôi tiếp khách hàng, cùng lúc chúng tôi có mặt khắp nơi, luôn luôn tươi cười. Mệt đứt hơi, chúng tôi lại làm việc.

Để kiếm thêm nhiều hơn, tôi dùng chiếc xe ngựa nhỏ hai bánh, chất đầy quần áo đem ra bán tại chợ ở công trường Baralt. Các quần áo ấy may hỏng, nên tôi mua tại xưởng với giá rẻ mạt. Dưới ánh nắng thiêu đốt, tôi rao hàng, hét to như một con lừa; tôi hăng say đến nỗi một hôm, dằng một chiếc áo để khoe vải chắc, tôi đã làm cho nó đứt làm hai bằng một đường từ trên xuống dưới. Mặc dù tôi có giải thích tôi là người khỏe nhất Maracaibo, bữa ấy tôi vẫn không bán được bao nhiêu. Tôi đến đó từ 08 giờ đến trưa. Đến 12 giờ rưỡi, tôi chạy về khách sạn để giúp dọn ăn ở nhà hàng.

Công trường Baralt là trung tâm thương mại của Maracaibo, một trong những địa điểm náo nhiệt là một trong những ngôi chợ đẹp mắt nhất thế giới. Chợ có bán đủ các loại thịt gia súc, thịt rừng, cá, tôm, cua, chưa kể những con kỳ đà xanh lục, một món ăn tuyệt bảo, móng chân của chúng bị cột chéo lại không thể chạy được, lại còn trứng cá sấu, trứng rùa, những con rùa biển và một loại rùa trên đất, đủ thứ trái cây vùng nhiệt đới hoặc không nhiệt đới, và dĩ nhiên là có tim cây dừa nước tươi. Dưới mặt trời thiêu đốt trong thành phố nóng bỏng ấy, ngôi chợ lúc nhúc người là người: đủ màu da, đủ loại mắt, từ cặp mắt xếch Trung quốc đến mắt tròn của người da đen.

Cũng như tôi, Rita yêu quí đô thị Maracaibo, tuy là địa điểm nóng bức nhất xứ Venezuela. Nhưng dân chúng thành phố thuộc địa ấy rất dễ thương, niềm nở, vui sống. Dân tộc ấy có một giọng nói như hát, một dân tộc cao thượng, quảng đại, ít giòng máu Tây Ban Nha và nhiều đức tính của người da đỏ. Đàn ông nóng tính, tôn thờ tình bằng hữu và có tình huynh đệ đối với bạn bè. Dân Maracaibo rất dè dặt đối với những gì từ Caracas đến. Họ phàn nàn đã phải cung cấp vàng cho cả nước Venezuela bằng dầu hỏa của họ, nhưng lại cứ bị dân Thủ đô bỏ quên, họ tự cảm thấy họ là một hạng nhà giàu bị xem là bà con nghèo bởi chính những người nhờ họ mà giàu có. Đàn bà con gái đều đẹp, tầm thước trung bình, chung thủy, gái ngoan, mẹ hiền. Tất cả sống chen chúc, la lối, đâu đâu cũng toàn màu sắc sặc sở, quần áo, nhà cửa, hoa quả. Kẻ qua, người lại, buôn bán tấp nập. Công trường Baralt đầy rẫy bọn bán hàng rong, bọn bán đồ lậu lặt vặt ngang nhiên bán nào là rượu mạnh, rượu đế, thuốc lá lậu thuế. Người ta xem nhau gần như trong gia đình: người cảnh sát đứng cách vài thước, nhưng anh ta quay đầu vừa đủ thì giờ cho những chai Whisky, những chai cognac Pháp, những gói thuốc lá Mỹ chuyển từ giỏ này qua giỏ khác. Bằng đường bộ, đường biển, đường hàng không, các loại hàng hóa đến tay người tiêu thụ trả bằng ngoại tệ, trong lúc một đồng Mỹ kim ăn ba đồng ba mươi xu bạc Venezuela.

Điều hành một khách sạn không phải chuyện dễ. Khi Rita đến, nàng đã quyết định ngay một việc trái hẳn tập tục của xứ này. Thực vậy, khách hàng người Venezuela có thói quen dùng điểm tâm rất thịnh soạn: bánh bột bắp (arepas), trứng chiên jambon, thịt muối, phô mát trắng. Vì các khách hàng ở trọ cả tháng, nên thực đơn trong ngày được viết lên trên một bảng đen. Hôm đầu nàng chùi hết và với tuồng chữ kéo dài, nàng viết: “Điểm tâm – Cà phê đen hoặc cà phê sữa, bánh mì với bơ”. Hết thời! Có lẽ khách trọ nghĩ như vậy, đến cuối tuần, một nửa khách hàng bỏ đi ở nơi khác.

Tôi đến. Rita có thay đổi chút ít, tôi thì tôi làm hẳn một cuộc cách mạng.

Sắc lệnh thứ nhất: tăng giá gấp đôi.

Sắc lệnh thứ hai: nấu ăn theo lối Pháp.

Sắc lệnh thứ ba: máy lạnh cùng khắp.

Người ta ngạc nhiên khi có máy điều hòa không khí cùng khắp các phòng ngủ và phòng ăn trong một ngôi nhà kiểu thuộc địa được sửa lại làm khách sạn. Khách hàng đổi khác. Trước hết là những người du khách thương mại. Rồi một người Pháp miền Basque bán đồng hồ Thụy Sĩ hiệu Oméga hoàn toàn làm tại Pérou. Hắn mở cửa hàng ngay trong buồng, chỉ bán cho những người mua đi bán lại cho bọn bán dạo từng nhà và bán cho người làm ở mỏ dầu. Tuy khách sạn không đáng ngại, nhưng hắn quá đa nghi nên đã bỏ tiền túi ra mua ba ổ khóa lớn gắn vào cửa buồng. Thế mà lâu lâu hắn lại thấy mất một chiếc đồng hồ. Hắn tưởng buồng có ma, mãi đến một hôm hắn nhận thấy kẻ trộm quả thật là con chó con tên Bouclette. Con chó rất ranh mảnh, nó len lén bò vào trong buồng ngay trong lúc chủ phòng có mặt rồi ngoặm một chiếc dây đeo đồng hồ, khi có, khi không có đồng hồ. Thế là thằng cha la hét kinh khủng, cho là chính tôi đã dạy con chó ăn cắp đồ của hắn. Tôi bò ra cười, rồi sau vài ba ly rượu rum, tôi thuyết phục hắn rằng tôi không lấy thứ đồng hồ giả của hắn làm gì, có bán ra cũng xấu hổ vì đồng hồ ấy quê lắm. Hết giận và yên trí, hắn làm lành với tôi rồi về buồng đóng cửa lại.

Khách trọ có đủ hạng người. Maracaibo đông nghẹt người nên tìm chỗ ở là một việc hầu như vạn nan. Một bầy người Napolitain đi từng nhà, lừa gạt thiên hạ bằng cách bán những cây vải xếp rất khéo, người mua tưởng đủ may bốn bộ quần áo mà thật ra chỉ có hai bộ. Mặc áo hải quân, trên vai mang một bao to tướng, chúng quấy rầy cả thành phố, kể cả vùng phụ cận, nhất là nơi mỏ dầu hỏa. Tôi không hiểu làm thế nào bọn lưu manh ấy tìm ra khách sạn của chúng tôi. Vì hết phòng, nên chỉ còn một giải pháp là chúng ngủ ngoài sân. Chúng bằng lòng. Buổi tối chúng về lúc 7 giờ và tắm ở phòng tắm chung. Vì chúng ăn tối tại khách sạn, nên chúng tôi học được cách nấu món mì ống theo kiểu dân thành phố Naples. Chúng tiêu xài rộng rãi và là những khách hàng tốt.

Tối lại, các giường sắt được đưa ra, đặt tại sân trong và hai người bồi gái nhỏ giúp Rita sửa soạn nệm gối. Vì tôi bắt trả tiền trước, nên mỗi tối lại diễn ra cảnh cãi vã: chúng cho rằng ngủ ngoài trời mà phải trả đúng giá thuê phòng là quá đắt. Và mỗi tối, tôi lại phải giải thích rằng trái với chúng nghĩ, đây là một điều rất hợp lý, rất đàng hoàng vì lẽ đem giường ra, trải drap, bày mền gối đến sáng phải xếp tất cả lại đem cất, quả là một công việc nặng nhọc, nếu suy nghĩ kỹ thì công việc này vô giá.

– Nếu anh còn kêu nài nữa tôi sẽ tăng giá! Quả thật tôi mệt đứt hơi vì cứ phải bày ra dẹp vào. Tóm lại, tôi chỉ lấy tiền di chuyển các đồ đạc ấy thôi.

Chúng trả tiền, mọi người vui cười. Tuy chúng kiếm được nhiều tiền, nhưng hôm sau cứ diễn lại tuồng cũ. Chúng càng kêu nài khi có trận mưa đổ xuống trong đêm và chúng phải ôm quần áo chăn nệm chạy vào phòng ăn ngủ cho hết đêm. Một bà chủ nhà điếm có đến tìm tôi. Bà có một cơ sở rất lớn ở cách Maracaibo 5 cây số, tại một địa điểm gọi là La Cabeza de Toro. Nhà điếm mang tên Tibiri Tabara. Bà chủ, Eleonore, là một đống thịt đồ sộ, có cặp mắt rất đẹp, người thông minh. Gần 120 cô gái làm việc cho bà. Chỉ ba đêm thôi.

– Một số gái Pháp muốn đi, Bà Eleonore giải thích. Tụi nó không muốn ở nhà điếm 24 trên 24 giờ. Làm việc từ 9 giờ tối đến 4 giờ sáng, được lắm. Nhưng chúng muốn ăn ngon ngủ kỹ, xa tiếng động, trong những căn phòng đủ tiện nghi.

Tôi thỏa thuận với Eleonore: bọn gái Pháp và gái Ý có thể đến ở khách sạn chúng tôi. Không có gì phải câu nệ để tăng tiền trọ thêm 10 đồng một ngày: các nàng sẽ quá thích khi được ở tại khách sạn Vera Cruz do người Pháp làm chủ. Đáng lẽ chỉ lấy 6 đồng, nhưng không hiểu sao, một tháng sau chúng tôi nhận gấp đôi.

Rita áp đặt một kỷ luật sắt. Các cô ấy còn trẻ, đều đẹp. Tuyệt đối cấm tiếp khách giống đực trong khách sạn, dù ở trong sân hay tại phòng ăn. Vả lại, không có xảy ra chuyện gì, ở khách sạn, các cô ấy đàng hoàng như các mệnh phụ. Vì phải công nhận rằng thường thì chỉ những phụ nữ tử tế mới biết ăn ở đàng hoàng. Đêm đến tắc xi đến rước họ. Họ thay đổi hẳn, lịch sự, trang điểm đẹp đẽ. Lặng lẽ, không để ai thấy, họ đi đến “Sở làm” như họ nói. Thỉnh thoảng, một thằng ma cô từ Ba Lê hoặc Caracas đến. Nó cố không làm ai chú ý. Dĩ nhiên cô gái có thể tiếp nó ở khách sạn. Một khi đã lấy tiền xong, cô gái được lên tinh thần, nó ra đi kín đáo như lúc đến.

Đôi khi cũng xảy ra lắm chuyện buồn cười. Một thằng ma cô đến để thăm một cô gái, nói riêng với tôi để được đổi phòng. Vợ nó đã tìm được một cô bạn đồng ý đổi phòng cho nó. Lý do: người ở phòng bên cạnh là một người Ý khỏe mạnh to lớn, đêm nào cũng vậy, sau khi vợ hắn về, cũng làm tình một lần đôi khi hai lần. Nó chưa đến 40 tuổi, còn lão người Ý có đến 45.

– Anh cũng hiểu, kiểu đó tôi không thể nào chịu nổi. Không cách gì đạt đến kỷ lục ấy, gần đến cũng không được. Vì hai phòng kế cận, vợ chồng tôi nghe rõ hết tiếng kêu la, tiếng rên rỉ, đủ hết mọi âm thanh của một cuộc đại hòa tấu. Như thế, anh cũng thấy tôi còn mặt mũi nào nữa, vì may lắm thì tôi chỉ đụng độ với vợ tôi mỗi tuần một lần. Phịa ra chuyện bị nhức đầu, cô nàng không còn tin nữa và chắc chắn cô nàng so sánh. Vậy thì, nếu không trở ngại gì, xin anh giúp tôi.

Tôi nín cười và nói với nó rằng trước những lập luận vững chắc như vậy, tôi sẽ đổi phòng cho nó.

Một đêm, lúc hai giờ sáng, Eleonore gọi điện thoại cho tôi. Một anh Pháp không nói được một tiếng Tây Ban Nha nhỏ nào, đã bị cảnh sát bắt gặp ngồi trên một cành cây trước nhà điếm. Người ta hỏi tại sao nó leo lên cây kỳ cục như vậy để ăn trộm hay làm gì nó chỉ đáp: “Henri, khách sạn Vera Cruz”. Tôi nhảy lên xe nhà phóng thẳng đến nhà điếm Tibiri Tabara.

Tôi nhận ra thằng chả ngay, một người quê ở Lyon đã đến ở nhà tôi. Nó đang ngồi, cô gái điếm cũng vậy. Trước mặt nó có hai người cảnh sát vẻ mặt nghiêm trang. Tôi dịch vắn tắt những gì nó vừa nói với tôi:

– Không, ông này không leo lên cây để trộm cắp gì đâu. Ông chỉ yêu một người đàn bà, nhưng không muốn nói tên người ấy. Sở dĩ ông ta leo lên cây, là để núp nhìn ngắm nàng, vì nàng nhất định không muốn biết ông ta là ai. Chỉ có vậy, không hơn không kém. Như quý vị thấy, không có gì quan trọng cả. Vả lại tôi biết ông này, ông là một người đàng hoàng.

Chúng tôi uống hết một chai sâm banh, hắn trả tiền, tôi bảo hắn để tiền lẻ lại trên bàn, sẽ có người lấy, rồi đưa hắn ra xe tôi.

– Anh ngồi chóc ngóc trên cây làm cái quái gì vậy? Anh điên hay đâm ra ghen vợ anh?

– Không phải vậy đâu. Sự thật là tiền lương của nó vô cớ bị tụt xuống. Nó vào hạng gái đẹp nhất ở đây thế mà lương lại ít hơn. Thế nên tôi nghĩ ra cách ban đêm đến canh chừng lần đi khách của nó mà không cho nó biết. Tôi tự nhủ làm cách đó tôi biết ngay nó có giấu và lấy bớt tiền của tôi không.

Mặc dù bực bội vì nửa đêm phải thức dậy do một chuyện rắc rối của thằng ma cô, khi nghe nó giải thích tôi không nhịn cười được.

Từ ngày ấy tôi gọi nó là “thằng ma cô đậu trên cành cây”. Sáng hôm sau nó đi Caracas. Việc canh chừng của nó không còn lý do tồn tại. Vụ ấy đã gây tai tiếng trong nhà điếm, vợ nó biết rõ câu chuyện như mọi người và chỉ vợ nó biết tại sao nó leo lên trên cây: cây này ở ngay trước phòng đi khách của cô ả.

Chúng tôi làm việc quần quật, nhưng khách sạn rất vui vẻ. Mọi người không ngừng đùa dỡn. Có một thời kỳ, sau khi các cô gái đã đi làm, chúng tôi chơi trò cầu cơ. Mọi người ngồi ngay ngắn chung quanh một chiếc bàn tròn, hai bàn tay áp trên mặt bàn, mỗi người gọi hồn mình muốn hỏi chuyện. Chính một nữ họa sĩ trẻ đẹp độ 30 tuổi, người Hung đã khởi xướng việc này. Đêm nào nàng cũng gọi chồng nàng, và dĩ nhiên tôi đã dùng chân tôi để dưới bàn phụ lực với hồn để trả lời, nếu không thì chẳng biết phải chờ đến bao giờ.

Nàng bảo chồng nàng khuấy phá nàng. Tại sao? Nàng không biết. Rồi một đêm, hồn chồng nàng trả lời sẽ không bao giờ để nàng yên. Người chồng cáo buộc nàng đã có cặp đùi quá dễ dãi. Tất cả chúng tôi đều la lên như thế thì nguy lắm, hồn ghen có thể trả thù khủng khiếp, phương chi nàng sẵn sàng công nhận cặp đùi nàng quả có dễ dãi thật. Thuốc gì đây? Phải suy nghĩ một chút bởi vì cặp đùi nàng có dễ dãi, nhưng chuyện này không dễ dãi tí nào. Chúng tôi thảo luận nghiêm chỉnh rồi cho nàng biết các chữa trị. Chỉ có một cách: một đêm trăng tròn, nàng phải cầm một con dao phạng mới toanh, cởi hết quần áo trần truồng đứng giữa sân trong, tóc bỏ xõa, không phấn sáp, toàn thân gội kỹ bằng xà bông Marseille, không bôi nước hoa, không nữ trang, tinh khiết từ đầu đến chân. Chỉ có chiếc dao phạng trong tay. Khi mặt trăng chiếu thẳng xuống sân, lúc trăng chiếu không còn bóng người, trừ ở phía dưới, nàng sẽ vung phạng chặt vào không khí rất mạnh, đúng 21 lần.

Kết quả hoàn toàn khích lệ vì ngày mai, sau buổi trừ tà khá hấp dẫn, đêm ấy chúng tôi núp sau cửa sổ cười vỡ bụng. Chiếc bàn đã trả lời (do sự can thiệp của Rita bảo chúng tôi không nên đùa dai) rằng từ nay người chồng quá cố sẽ để nàng yên, nàng cứ có cặp đùi dễ dãi mấy cũng được, nhưng với một điều kiện nàng đừng vung gươm chém không khí trong đêm trăng sáng nữa vì làm vậy hắn đau khổ lắm.

Chúng tôi nuôi một con chó con, khá lớn, do một khách trọ người Pháp đi qua Maracaibo cho. Nó luôn luôn được cắt lông mình và lông đầu đẹp đẽ: lông trên đầu rất cứng và đen được hớt thành một chiếc mũ kiểu Ả Rập, cao và uy nghi. Lông đùi xồm xàm, chân nhẵn thín, râu mép kiểu Charlot, chồm râu cằm nhọn hoắc. Đối với người bản xứ, nó luôn luôn là một kỳ quan và nhiều người đánh bạo hỏi tôi con vật gì quái.

Suýt nữa là con Minou đã gây một chuyện rắc rối nghiêm trọng với Giáo hội. Con đường phố trước khách sạn Vera Cruz đưa đến một nhà thờ, tại đây thường có các diễn hành. Minou rất thích ngồi tại cửa khách sạn ngắm người ta qua lại trên đường phố. Dù trên đường có xảy ra việc gì nó cũng không sủa. Tuy nó không sủa, nhưng nó lại được mọi người chú ý. Một hôm, cha xứ cùng các lễ sinh dẫn đầu một lễ rước nhìn lui thấy các con chiên dừng lại cách cha năm chục thước, tụ tập trước khách sạn, hỏi nhau về con vật quái dị. Họ quên đi theo cuộc diễn hành. Họ hỏi với nhau lung tung, họ chen lấn nhau để nhìn gần Minou, có người trịnh trọng đưa ý kiến rằng con vật lạ lùng này có thể là linh hồn của một kẻ phạm tội đã hối cãi nên mới điềm nhiên nhìn vị linh mục cùng các lễ sinh mặc toàn đỏ và ca vang đi qua. Một lúc lâu cha xứ mới nhận thấy sau lưng cha quá yên lặng rồi nhìn lui, cha không còn thấy ai hết. Cha vội vàng bước trở lại, giận đỏ mặt, lớn tiếng rầy la các con chiên không tôn trọng cuộc lễ. Mọi người sợ sệt sắp hàng tề chỉnh đi trở lại. Tôi để ý thấy có nhiều người quá xúc động nên đi giật lùi để được tiếp tục ngắm con Minou. Từ bữa ấy, chúng tôi theo dõi tờ báo của thủ đô Maracaibo, tờ Panorama, để biết ngày giờ các cuộc diễn hành sẽ đi qua trước khách sạn để lâm thời cột Minou lại trong sân.

Đúng là thời kỳ hay có chuyện lôi thôi với các vị linh mục. Hai phụ nữ Pháp vừa từ bỏ nhà điếm của Eleonore và cũng từ bỏ khách sạn luôn. Họ quyết định sống độc lập và mở một nhà điếm nho nhỏ trong một con đường ở trung tâm thành phố, ở đó chỉ có hai chị em hành nghề. Tính toán như thế không sai, vì như vậy, khách làng chơi không phải lái xe chạy đến 10 cây số khứ hồi để viếng thăm họ. Có thể nói cửa tiệm ở ngay tại chỗ. Để tự giới thiệu, họ cho in danh thiếp đề mấy chữ: “Julie và Nana, công việc chu đáo”, dưới là địa chỉ. Họ phân phát trong thành phố, nhưng nhiều khi thay vì đưa thẳng cho các ông, họ chùi ở dưới chiếc gạt nước của các xe đậu trên đường.

Rủi là các nàng đã để hai tấm danh thiếp, mỗi tấm dưới mỗi quạt nước, nơi xe của đức giám mục Maracaibo. Sự việc ấy phát khởi một vụ tai tiếng không thể tưởng tượng. Để thấy rõ tính cách phạm thượng của cử chỉ trên, nhật báo “Tôn giáo” đã cho đăng bức hình tấm danh thiếp. Tuy nhiên đức giám mục cũng như hàng giáo phẩm đã tỏ ra độ lượng: nhà điếm không bị đóng cửa, người ta chỉ yêu cầu các cô nàng nên kín đáo hơn. Vả lại, khỏi cần phải phân phát danh thiếp nữa: nhờ sự quảng cáo không tiền của tờ “Tôn giáo”, một số khá lớn khách làng chơi tìm đến địa chỉ đã được loan. Làn sóng người đến quá đông nên để lấp liếm sự tụ tập đông người trước nhà, các nàng đã yêu cầu một người bán dạo xúc xích để chiếc xe nhỏ của anh ta không xa cửa vào nhà để thiên hạ tưởng người ta nối đuôi nhau là để mua xúc xích.

Đó là cuộc sống tại khách sạn với những mẫu chuyện kỳ thú, nhưng chúng tôi không sống cuộc sống ấy trên một hành tinh riêng rẽ. Chúng tôi sống ở Venezuela, chen lẫn với những xao động kinh tế và chính trị. Thế mà về mặt chính trị, năm 1948 không được yên tĩnh lắm. Từ năm 1945, Callegos và Betancourt nắm quyền lãnh đạo trong nước, lần đầu tiên trong lịch sử Venezuela đem ra thử áp dụng chế độ dân chủ.

Ngày 13 tháng 11 năm 1948, chưa được ba tháng sau khi tôi cộng tác với Rita để mua lại khách sạn, xảy ta tiếng súng đầu tiên chống chế độ: một viên Thiếu tá, Thomas Mendoza đã cả gan, một mình chống mọi người, phát động một cuộc nổi loạn. Ông đã thất bại.

Ngày 24 cũng tháng ấy, các quân nhân chiếm chính quyền nhờ một cuộc đảo chính sắp đặt chính xác như một bộ máy đồng hồ, không có hoặc hầu như không có đổ máu. Tổng Thống Callagos đồng thời cũng là một văn sĩ tên tuổi đã phải rút lui. Betancourt, đích thực là một con sư tử trong địa hạt chính trị, xin tị nạn tại Tòa Đại sứ Colombie.

Dân chúng Maracaibo đã sống những giờ sôi động nghẹt thở. Thình lình, người ta nghe từ máy thu thanh phát ra một tiếng gọi đầy nhiệt tình: “Anh em thợ thuyền, hãy xuống đường! Người ta định cướp mất tự do của anh em, gạt bỏ các nghiệp đoàn, dùng vũ lực áp đặt một chế độ độc tài quân phiệt! Mọi từng lớp nhân dân hãy đến chiếm các công trường, các…” Tách! dứt hẳn tiếng nói vì máy vi âm đã bị giựt từ tay người chiến sĩ quả cảm, rồi một tiếng nói trầm lặng bình tĩnh vang lên: “Công dân Venezuela! Quân lực đã thu hồi chính quyền từ tay những người đã nhận lãnh. Sau khi đã truất phế Tướng Medina, vì họ đã lạm dụng. Xin đừng sợ hãi, chúng tôi bảo đảm sinh mạng và tài sản của tất cả mọi người, không trừ một ai. Quân đội vạn tuế! Cách mạng vạn tuế!.”.

Đó là tất cả những gì tôi đã trông thấy và một cuộc cách mạng hầu như không đổ máu, và ngày hôm sau chúng tôi đã thức dậy đọc thấy trong các báo thành phần của Ủy hội quân nhân: ba Đại Tá: Degado Chalbaud: Chủ tịch, Perez Jiménez và Ilovera.

Lúc đầu, chúng tôi sợ chế độ mới sẽ đưa ra việc bãi bỏ các tự do đã được chế độ cũ thừa nhận. Nhưng không có chuyện ấy. Cuộc sống không có gì thay đổi, hầu như người ta không cảm thấy chế độ đã thay đổi trừ việc các chức vụ then chốt đã do quân nhân nắm giữ.

Rồi hai năm sau, Delgado Chalbaud bị ám sát. Một câu chuyện rất bẩn thỉu, có hai giả thuyết trái ngược nhau. Giả thuyết đầu tiên: người ta định ám sát cả ba, và ông ấy là người bị giết trước; giả thuyết thứ hai: một hoặc hai Đại tá kia đã thủ tiêu ông ta. Không bao giờ biết rõ sự thật là kẻ sát nhân bị bắt đã bị bắn chết trong khi được chở đến nhà giam. Phát súng thần tình ngăn chặn mọi lời khai lôi thôi. Dù sao thì từ ngày ấy con người hùng của chế độ, Perez Jimenez, chính thức trở thành một nhà độc tài năm 1952.

Cuộc sống của chúng tôi tiếp diễn đều đặn, một cuộc sống không có thú vui bên ngoài, như đi dự tiệc tùng hay ngao du, nhưng vẫn đưa đến một niềm sung sướng kỳ lạ được nuôi dưỡng bằng nhiệt tình của đôi quả tim. Những gì chúng tôi xây dựng bằng công sức của chúng tôi sẽ là mái ấm gia đình, nơi đó chúng tôi sống hạnh phúc vì chúng tôi không nhờ vả ai, chúng tôi đã tự lực mưu sinh; chỉ có hai người cô độc trên cõi đời, yêu nhau như chúng tôi yêu nhau, mới hòa hợp như chúng tôi.

Rồi Clotilde, con gái của Rita sẽ đến với mái ấm gia đình này, nó sẽ là con tôi, rồi ba tôi sẽ đến, sẽ là ba của nàng. Rồi những người bạn của tôi sẽ đến để có thì giờ rỉa lông rỉa cánh, lấy lại sức lực mỗi khi họ gặp cảnh ngặt nghèo.

Trong mái nhà hạnh phúc này, tôi quá đầy đủ nên không bao giờ nghĩ đến chuyện trả thù bọn người đã làm cho tôi và người thân của tôi điêu đứng.

Và cuối cùng, ngày chúng tôi thắng cuộc đã đến. Tháng chạp năm 1950, một văn kiện tốt lành được ký tại nơi văn phòng chưởng khế, chúng tôi vĩnh viễn là chủ nhân của khách sạn Vera Cruz.

Vết Nám – Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 23 Feb 2015 

Post by Sơn râu 1 Oct 2025

Thiếu tiểu ly gia…

(Hạ Tri Chương)

“Một Cõi Đi Về…”

Đi lần nầy, cũng xe Molotova, nhưng không bít bùng như lần trước, chuyến đi từ Taberd Saigon lên Trảng Lớn, hồi mới tập trung “đóng tiền đi ở tù”. Tuy nhiên, lần nầy cũng có một chú bộ đội cầm AKA ngồi canh ở cuối xe.

Xe chưa chạy, anh ta đã xổ ra một tràng giọng Nghệ, xứ của “bác” anh ta. Chẳng biết anh ta nói gì, vì thiếu “thông dịch viên.”

Lần chuyển trại nầy té ra về Long Giao.

Về tới đó khoảng sau nửa đêm.

Trời mưa phùn.

Đất đỏ chèm nhẹp.

Tối thui, tối như mực, lò mò tập trung cho bộ đội điểm danh, xong vô một cái nhà dài, trại lính Úc cũ. Nền nhà dơ vô cùng, không nằm ngủ được. Tôi mò tìm được một nửa tấm ri sắt, ai đã kê cao khỏi mặt đất, nằm co lại thì cũng vừa đủ, ngủ một giấc ngon lành, có lẽ vì mệt.

Sáng, khi thức dậy, trời đã tạnh mưa. Anh em léo nhéo kéo nhau đi tìm nước. Bên cạnh cái sân lớn có một cái giếng.

Trời! Thấy cái giếng mà lạnh mình!

Miệng giếng rộng hơn nửa cái sân bóng chuyền. Nhìn xuống dưới thì sâu thăm thẳm, mịt mù, không khác gì đường xuống âm ti. Không dám vói nhìn xa vì miệng giếng không xây thành, rớt xuống giếng dễ như chơi.

Chẳng có máy bơm, chẳng có máy quay tay lấy nước.

Anh em đi tìm giây, nối lại, làm gầu, v.v… Một cái gầu mà những mấy chục người chờ nhau.

Có người vội vàng đi tìm bao cát, tước sợi, xe giây. Ai bảo “sĩ quan ngụy” chỉ biết hưởng thụ, bóc lột?!

“Mưu sinh thoát hiểm” là nét đặc sắc trong đời lính cũng như trong đời tù. Họ hay lắm!

Tôi thì chịu, ngồi nhìn, không than oán, không rên rỉ, dững dưng.

Tôi bỗng nhớ một câu nói về người quân tử, tôi từng dạy học trò: “Thượng bất oán thiên, hạ bất vưu nhân, cư dị dĩ sĩ mệnh.” 

“Dĩ sĩ mệnh” đến thiệt! Một chốc, Phạm Ngọc Hiền, người được Trần Phú Trắc đặt cho cái tên là Tạ Tốn, dân Quảng Ngãi, ở chung tổ với tôi cả năm nay, cầm tới cho tôi một “gô” nước, bảo tôi đánh , rửa mặt rồi đi uống càphê. Anh ta đang nấu nước sôi.

Tôi cảm động về hành động nầy của Tạ Tốn. Trong cuộc sống bình thường thì không thấy chi. Khi khó khăn mới biết nhau, biết thương yêu, giúp đỡ nhau.

Khoảng mười giờ, bộ đội xuống kêu có lệnh tập trung. Anh em, khoảng vài ba trăm người mới tới, tập trung ở một căn nhà hình chữ T khá lớn. Nhà tiền chế kiểu quân đội, đã hư hỏng, chỉ còn mái, không có vách. Bỗng gió ào ào cùng mưa tới. Căn nhà rung lên rồi kêu răng rắc.

Ai nấy bỏ chạy ra khỏi nhà vì sợ nhà sập.

Tôi cũng phóng ra giữa sân khá nhanh vì tôi còn đứng ở bên hông nhà, chưa vào sâu bên trong.

Rồi căn nhà đổ ập xuống, mái nằm sát đất.

Cả chục người không chạy kịp, bị kẹt trong đó. Một chốc, tôi thấy Đào Sơn Bá vạch mái tôn chui ra.

Thấy tôi, Bá cười:

– “May tui lọt vô giữa hai cái vài nên không can chi.”

Chúng tôi nghe thấy tiếng la, tiếng gọi nhau. Một người nào đó, bị cái vài nhà sập xuống, đè bể ngực, chết ngay tại chỗ. Bộ đội ra lệnh chúng tôi khiêng mái nhà cho hỏng lên rồi lôi xác chết ra, đem đi chôn, không có hòm, lấy tấm nylon mà bó lại. Thế là xong.

Đời tù, “Một cõi đi về” như hơi gió thoảng.

Phạm Ngọc Hiền nói với tôi:

– “Tại sao chôn như vậy. “Cách mạng” không thấy tội nghiệp cho người ta à?”

– “Buồn cười không!” Tôi nói. “Ông nhớ giùm tui, nói “tội nghiệp” là nói tới nhân quả, là nói tới cái nghiệp của nhà Phật. Khi nói tội nghiệp là nói tới từ bi, bác ái của Chúa, là chữ nhân của Khổng. Cả thế giới nầy có ai cho rằng chế độ Cộng Sản là nhân đạo? Ngay cả “Mác” cũng không bàn tới nhân đạo, nhân đạo chung chung, theo quan điểm của loài người.

– “CHỉ có hận thù!” Hiền nói.

– “Nói tới Cộng Sản là phải nói tới hận thù, số một là “hận thù giai cấp”. Không có hận thù không có Cộng Sản. Những người “xương trắng Trường sơn” thì ai chôn? Gian khổ, nguy hiểm và nhất là hận thù làm cho lòng người ta trơ ra. Có chỗ mà chôn là còn may.” Tôi góp ý với Hiền.

Rồi tôi nghĩ tới một câu Kiều “Vùi nông một nắm mặc dù cỏ hoa”. Xưa cũng vậy mà nay cũng vậy! Nhân loại ngày nay tiến bộ nhiều mặt nhưng lòng người thì hình như chai cứng hơn.

Hiền nói:

– “Họ giáo dục như thế anh à! Tui lớn lên ở Quảng Ngãi, trước 1954 là vùng Việt Minh. Bọn con nít như chúng tôi được họp thành đoàn thể, dạy hận thù người nầy, người kia, hận thù thằng Tây, thằng Việt gian. Ai không ở trong hàng ngũ họ là Việt Gian. Ai đứng ngoài, ai không theo là Việt Gian, bị diệt trừ.”

– “Anh không bị ảnh hưởng?” Tôi hỏi.

– “Có chớ anh!” Hiền trả lời. “Nhờ năm 1954, tiếp thu, nhà tôi ở ngay ngoại ô thị xã, má tui gắng cho tui đi học. Ở cái nhà trường mới, người ta không dạy hận thù.”

– “Anh học tới đại học?” Tôi hỏi.

– “Làm gì có. Tui mồ côi cha sớm. Tui học xong tiểu học, rồi học làm thợ may. Tui ưa học quá! Buổi tối học thêm lớp riêng của mấy ông thầy dạy ở Trần Quốc Tuấn. Tui đậu trung học. Hứng chí, bỏ may, đi học tiếp.”

– “Ai nuôi ông?” Tôi lại hỏi.

– “Tui làm précepteur, “giáo tại gia” tới khi đậu tú tài. Tới đó cũng là cái mốc của tuổi lính.”

– “Như vậy thì anh “ảnh hưởng quốc gia”. Những đứa khác thì sao?” tôi hỏi.

– “Dễ thôi! Đứa nào vô rừng thì “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.” Hiền trả lời.

– “Bây giờ gặp lại không biết sao?” Tôi thắc mắc.

– “Tùy đứa anh à! Hy vọng có đứa còn chút lương tâm, vẫn coi mình là bạn, phần đông chắc coi mình như kẻ thù.”

– “Quyền lợi cả ông ạ! Thiên hạ nầy một chữ lợi là trên hết. Gặp ông, nó giúp đỡ ông thì nó được cái gì. Lơ ông đi thì nó còn giữ được cái chỗ ngồi.” Tôi nói.

– “Tui nghĩ rồi anh à! “học tập cải tạo” xong rồi, tui tìm cách ở lại trong Nam nầy. Tui bỏ xứ đi luôn.” Hiền nói.

– “Trước 75, tui từng lưu lạc xuống tận Hà Tiên, Cà Mâu. Đời lính mà ông! Xa xứ buồn lắm! “Tới đây đất nước lạ lùng, con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh.” Lại còn sợ Việt Cộng.” Tôi nói.

– “Cũng phải ở lại thôi anh ơi! Dân Quảng Nam, Quảng Ngãi tui cực đoan lắm. Về gặp mấy thằng “nhảy núi”, chắc không yên với chúng.” Hiền tâm sự.

– “Mấy thằng cuồng tín là ghê lắm. Cộng Sản cũng là một tôn giáo cuồng tín vậy. Nhiều đứa hoàn toàn bị tẩy não.” Tôi nói.

– “Anh muốn nói mấy đứa “con tố cha”, “vợ tố chồng” phải không?” Hiền hỏi.

– “Con người là một con vật, bản năng như con chó, con ngựa vậy. Tập cho nó, lâu rồi thành quen. Đứa bé mới lớn, làm sao biết hiếu thảo. Cha mẹ, thầy cô, bà con tập cho nó, riết thành quen, thành ra nó biết hiếu thảo. Vô chùa, vô nhà thờ, người ta tập quỳ lạy, van xin, tin tưởng, riết rồi người ta tin, rồi tới cuồng tín chẳng bao xa. Con người có cái bản năng của sinh vật, nhưng chỉ dễ dàng tập tành khi còn nhỏ thôi. Còn như bọn mình, “tẩy não” gì nỗi. Họa là đập bể đầu ra rồi nhét vô!” Tôi nói.

Một lúc sau, tôi nói thêm:

– “Họ sẽ có cách đấy. Cộng Sản không chịu thua đâu!”

– “Đem giết đi chớ gì? Giết bằng cách nào?” Hiền hỏi.

– “Ông biết “Xi-bê-ri” (Siberia) không? Đày qua đó là xong. Giết lần, giết mòn. Hà Nội học theo bài bản “Mốtx-Cu”. Tôi nói.

– “Năm ngoái có đợt đi Bắc, không biết còn đưa đi nữa không?” Hiền nói.

– “Ở riết trên Việt Bắc, cỡ vài thế hệ, con cái mình sẽ thành lôlô, Mường, Thái, Mèo, Hờmông là xong!” Tôi nói.

Hiền nói trong tiếng thở dài: “Tàn ác quá!”

&

Ngày hôm sau, chúng tôi được sắp xếp lại. Việt Cộng gọi là “biên chế” đấy!

Tất cả anh em tổ 1, tổ 2 thuộc đội 1 chúng tôi được gom chung ở một nhà.

Tôi và Phạm Ngọc Hiền chiếm một đầu góc nhà. Sợ cái giếng nước, tôi và hiền đi tìm được một cái vỏ đạn, to bằng cái cột nhà. Một đầu, chúng tôi lấy một tấm nylon cứng bịt lại, hàn kín bằng bao nhựa đốt cháy cho nhỏ vào những nơi không kín. Xong, dựng cái vỏ đạn vào mái hiên, hứng nước mưa mà dùng. Khi nào tắm thì Hiền rủ tôi đi, anh ấy kéo nước giếng giùm cho.

Không biết ở đây bao lâu, nhưng chúng tôi cũng rồng rau. Tôi dăm mấy hột đậu phụng. Vài hôm sau đã thấy mọc mầm. Đất đỏ, mùa mưa, trồng cậy thật mau tốt.

Sau trận đau ở Trảng Lớn, Hiền bị suyễn nặng. Anh phải nằm võng. Tôi nằm giữa sàn. Đêm đêm nghe tiếng suyễn kéo khò khò trong cổ anh, tôi biết anh khó ngủ. Lại thêm, lo nghĩ cho gia đình nhiều, tôi cũng đoán chừng anh có muốn ngủ cũng không ngủ được.

Gia đình anh đang sinh sống ở Quảng Ngãi. Khi Quảng Ngãi mất, anh dắt díu vợ con và bà mẹ già chạy vào Saigon. Trong cảnh sống chưa ổn định, nhà cửa chưa có thì anh phải trình diện đi tù cải tạo.

Anh nói vợ con anh không ở Saigon được, không có nhà, không có hộ khẩu, đã dọn về Long Khánh để làm rẫy.

&

Sau nầy, cải tạo về, tôi cố tìm bạn tù cũ mà không gặp. Một hôm, tôi thoáng thấy anh ngồi trên chiếc xe xích lô chạy nhanh về hướng bến xe Miền Đông. Tôi quay xe lại đạp theo mà không kịp. Có lẽ anh từ Long Khánh lên, nay về lại.

&

Chúng tôi ở đây khoảng vài tuần, chẳng lao động hay học tập gì cả. Bộ đội cũng không mấy khi xuống, ngoài mỗi ngày một lần điểm danh. Chúng tôi cứ quanh quẩn trong vòng rào, không được ra khỏi trại.

Rảnh rỗi, tôi rủ Hiền qua cái gian nhà khác chơi.

Có lần đi ngang một gian nhà chúng tôi nghe tiếng đàn từ trong nhà vọng ra, tôi nói với Hiền:

– “Không phải tiếng đàn “ôông” ơi! Nghe như tiếng kẻng nhỏ.”

Hiền nói:

– “Của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đó. Thằng chả lấy vỏ đạn nhôm cắt thành từng miếng, chả canh sao mỗi miếng nhôm ăn với một nốt nhạc, đánh nghe hay lắm. Tụi nó phục lăn!”

Từ đó, nhiều ngày, tôi rủ Hiền đi ngang căn nhà đó để nghe Nguyễn Đức Quang “chơi nhạc”. Anh ta chơi toàn nhạc vàng, nhưng không thấy “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”, đôi khi không nghe anh ta chơi gì cả, cũng buồn.

Chúng tôi tự do trong vòng rào kẽm gai. Tối tối, mấy anh chàng ưa hát, ngứa cổ, qua các nhà khác hát biểu diễn, dĩ nhiên là hát chùa, đôi khi được mời uống càphê. Từ ngày bị cấm hát nhạc vàng từ khoảng nửa năm trước, nay nghe nhạc vàng đã lắm, chẳng ai cấm cản gì cả.

Ở đây, tôi gặp Hồ Đài. Hồi còn học ở Quốc Học, nhiều người ngại anh chàng nầy bởi vì anh vô ra nhà “cậu” rất dễ dàng. Anh là đệ tử của “cậu”, làm bí thư hay gì đó của một tổ chức, có vẻ giống như là “đảng đoàn”, – dĩ nhiên là đảng Cần Lao – của trường Quốc học. Năm 1964, tôi đi chấm thi Trung học ở Hội An, nghe nói anh làm hiệu trưởng trường Trung học Bán Công Nguyễn Duy Hiệu ở Vĩnh Điện, sau đó nhờ làm Tỉnh Đoàn Trưởng Bình Định Nông Thôn Quảng Nam nên khỏi đi lính.

Tôi cũng gặp anh Phạm Gia Định.

Anh học luật với tôi cùng một năm tại Luật Khoa Huế, hồi bà Tăng Thị Thành Trai còn làm khoa trưởng. Năm sau, anh Định vào Quốc Gia Hành Chánh.

Tôi cùng đi khóa đó với anh, nhưng vô tới Saigon, ông anh cả viết một câu trong thư: “Mi chỉ biết lo cho thân mi, còn hai đứa em, không ai lo, phải bỏ học…” Thế là, thay vì hai đứa em, tôi đành bỏ học, lại về Huế, vừa đi học, vừa đi dạy để chăm sóc cho hai đứa em.

Chức vụ cuối cùng của anh Phạm Gia Định là Phó Thị trưởng Đà Lạt, cấp bậc thiếu úy. Anh ấy than phiền, giải thích thế nào cán bộ cộng sản cũng không tin vì một chuyện khá buồn cười:

Thị trưởng Đà Lạt mang “loon” đại tá, tại sao anh chỉ mới thiếu úy mà làm Phó Thị trưởng. Anh phải là trung tá hoặc ít ra cũng là thiếu tá, tại sao chỉ có thiếu úy. Vậy là khai gian, là còn che dấu, là nói dối với “cách mạng”.

Tội khai gian là nặng lắm, khó có hy vọng “Cách mạng khoan hồng cho về sum họp với gia đình”.

Anh ấy có mang theo tập “Thơ Đường” của Trần Trọng San, cho tôi mượn đọc. Tôi bỏ phấn cầm súng năm 1968, nay đã tám năm. Bây giờ có thì giờ trở lại với môi trường văn chương mà tôi đã “ngụp lặn” trong đó suốt mười năm dạy Việt Văn, nay đọc lại, sau nhiều bầm dập cuộc đời, thấm thía và thú vị biết chừng nào!

Bài thơ đúng với tâm trạng tôi là bài “Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương:

            Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi.

            Hướng âm vô cải, mấn mao thôi

            Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

            Tá vấn khách tòng há xứ lại.

Quả là tôi xa nhà khi còn trẻ. Tôi trốn mẹ ra đi năm 16 tuổi, đến nay là đã ba mươi hai năm (1976). “Lão đại hồi” thì chắc tôi không về. Về là để gặp cha mẹ, anh em, bà con. Sau 1972, “Quảng trị tui” thành bình địa. Cục đá cũng không còn nguyên, vậy tôi về với ai? Vêề  là m chi? “Hướng âm vô cải” cũng sai luôn. Suốt mấy năm trong quân đội VNCH, tôi lưu lạc xuống tận Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau. Về tới miền Tây Nam Bộ mà nói tiếng Quảng Trị thì người ta coi tôi như “người nước ngoài”, làm sao hiểu tôi nói gì, nên tôi phải học mà nói tiếng Nam, riết thành quen. Bọn trẻ Quảng Trị, nếu có gặp chúng ở đâu đó, không chắc bọn nó nghĩ rằng tôi là dân “Quảng Trị tui.”

Tui lai giống mất rồi!

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Phần 14.

Trong những ngày đen hơn mõm chó mực ấy nhiều lần đạp xế lang thang trên những nẻo đường Thành Hồ tôi cũng có nhìn thấy vài người đàn bà trước 1975 có cảm tình với tôi. Tôi có thể ghé xe đạp vào vỉa hè nói chuyện vài câu với các nàng. Nhưng tôi không ghé. Ghé làm gì. Chỉ thêm buồn tủi. Nhan sắc tôi tàn phai thảm thiết quá đỗi. Tôi muốn giấu mặt tôi đi để các nàng đừng nhìn thấy. Hôm nay tôi xin nói rõ: Tôi không hề có hân hạnh được “nịnh bà chủ vila Kiều Trang” như chuyện diễn tả trong NTBKCB. Tự xét thân tôi, tôi thấy dường như cả đời tôi chẳng nịnh, chẳng bốc thơm, chẳng nâng bi qua một người đàn bà nào trên cõi đời này. Ca tụng những nữ nhân vật trong tiểu thuyết thơm hơn múi mít thì có, nhưng ca tụng đàn bà bằng xương, bằng thịt, bằng da, đàn bà có ăn, có ngáo thực sự trên đời này thì không. Nhiều người đọc truyện tôi viết thấy tôi có vẻ vi vút phong tình, nhưng đấy toàn là chuyện tôi phịa ra mà thôi. Tôi là anh đàn ông cơm nhà, quà vợ tầm thường nhất cõi đời này. Quả đáng tội cũng có vài người đàn bà chẳng may dính líu ái tình mí tôi nhưng đó là vì các nàng kiếp trước quỵt nợ tôi nên kiếp này các nàng phải trả. Dzậy thôi. Tôi không hề thả lời ong bướm quyến rũ rủ rê bất cứ người đàn bà nào.

Về nữ minh tinh Kiều Trang thì cái gọi là quen biết giữa nàng với tôi là như vầy: Năm 1956 có hai bộ phim Việt do đạo diễn Phi Luật Tân thực hiện ra đời: Phim “Chúng tôi muốn sống” và phim “Ánh sáng miền Nam”. Những tên tuổi Mai Trâm, Thu Trang, Khánh Ngọc, Lê Quỳnh nổi lên từ hai phim này. Anh Đỗ Bá Thế, Giám đốc hãng phim Đông Phương thực hiện phim “Ánh sáng miền Nam”, nhờ bạn tôi Minh Đăng Khánh, giúp phần quảng cáo trên các báo. Năm đó tôi đang phụ trách cái gọi là Trang Điện ảnh cho nhật báo Ngôn Luận và tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong của chủ nhiệm Hồ Anh.

Gần Tết hay vừa Tết xong, hãng phim Đông Phương tổ chức cuộc Thi Hoa Hậu Đông Phương ở Hội Chợ Quang Trung, Minh Đăng Khánh chở tôi lên hội chợ trên chiếc Lambretta của anh. Hội chợ buổi tối vắng còn hơn chùa Bà Đanh. Khách dự cuộc thi hoa hậu ngồi ngoài trời lạnh thấy mồ. Dự thi hoa hậu chừng mười lăm em. Các em toàn bận áo dài – không hở cổ vì bà Lệ Xuân chưa lăng xê mốt hở cổ, hở vai – có mặc quần đàng hoàng, đi qua đi lại vài vòng, không có mặc áo tắm một mảnh, hai mảnh chi cả. Ta có thể coi đây là cuộc thi hoa hậu thứ nhất ở Sàigòn.

Người về sau trở thành nữ minh tinh Kiều Chinh – người được gọi là Kiều Trang trong NTBKCB – cũng lên đài biểu diễn. Lẽ ra nàng được chọn làm Hoa Hậu Đông Phương, nhưng vì nàng không ghi danh dự tuyển nên Ban Giám khảo trao tặng nàng một giải đặc biệt. Tôi theo Minh Đăng Khánh vào cái gọi là hậu trường quây bằng cót để phỏng vấn nàng đôi câu về đăng báo.

Sau đó nàng bốc lên – không như diều gặp gió mà như phi cơ phản lực – nàng lên hình bìa tạp chí Kịch Ảnh Số Một, đóng phim “Hồi Chuông Thiên Mụ” v.v…và v.v… Thành công với phim “Người Tình Không Chân Tay”, nàng trở thành người cả nước biết mặt, biết tên v.v… và v.v…

Người có tài như cây kim nằm trong bọc chẳng ai bóp cũng thò ra. Người đã có tài mà lại là đàn bà đẹp thì mũi kim của các nàng còn thò ra nhanh gấp bội. Kiều Chinh có tài nên Kiều Chinh nổi. Anh Con trai bà Cả Đọi lục lục thường tài nên anh không nổi, không chìm, anh lình bình vất vả suốt một đời chẳng lúc nào được trội hơn người.

– Khuất Duy, Dương Hùng, Hoàng Hải không bao giờ gọi Đoàn Quốc bằng “cụ”, bằng “bác” cả.

– Hoàng Hải có nhờ Trần Tam Tiệp, với tư cách Tổng Thư ký Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, liên lạc với mấy nhà xuất bản bên Xê Kỳ đã tái bản vài quyển truyện của y để xin tí tiền cứu đói. Nhờ Tiệp tôi được chi – qua Tiệp – khoảng 400 đô. Trong mấy năm trời, tôi nhận được nhiều lần quà của Tiệp. Nhưng tôi chỉ nhận được phần quà của tôi như anh em có tên trong Danh Sách Con Cá của Tiệp. Khi tôi viết bài gửi sang, Tiệp đưa đăng báo, anh em thường nhờ Tiệp gửi tiền về cho tôi là tôi có tiền riêng mà thôi.

– Trong buổi gặp tối ấy chúng tôi có đọc một thư của Tiệp nhưng thư ấy không phải là lá thư được đăng ở đoạn trên. Thư của Tiệp viết cho chúng tôi có kèm theo một thư tiếng Anh của vị Trưởng ban Writers in Prison Committtee của Ban Chấp Hành PEN Intern gửi cho Tiệp, thư này nói đến chúng tôi.

Tháng Chín 1977 công an Thành Hồ đưa xe bông đến Cư xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, đón tôi đi. Tôi nằm 12 tháng 2 ngày trong hai phòng Biệt giam 15 khu B, phòng biệt giam 6 khu C Một – kỷ lục nằm xà lim có thể là vô địch trong hàng ngũ văn nghệ sĩ Sàigòn kẹt giỏ bị giam ở cái gọi là Trại Tạm Giam số 4 Phan Đăng Lưu – Tháng Mười Một năm 1979 tôi trở về Ngã Ba Ông Tạ. Lần tù thứ nhất này tôi nằm ngâm thơ Ngồi Rù 23 tháng mây bay trong Số 4 Phan Đăng Lưu.

Người bạn tôi gặp lần đầu tiên khi vừa về đến nhà là Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều. Khi ấy Mai Thảo, Hoài Bắc Phạm Đình Chương, Lê Thiệp, Nguyễn Hữu Hiệu – Thiệp và Hiệu sống cùng khu Ông Tạ với tôi – đã vượt biên sang Mỹ. Nhiều bạn tôi bị bắt trước tôi: Thái Thủy, Duyên Anh, Thanh Thương Hoàng, Tú Kếu còn mỏi mòn trong những trại cải tạo. Những ngày tháng đen hơn mõm chó mực ở Thành Hồ cuối 79 tôi chỉ có một người bạn thân là Lê Trọng Nguyễn.

Lê Trọng Nguyễn đi sang Hoa Kỳ với vợ con theo diện đoàn tụ gia đình năm 1983. Gia đình vợ anh bảo lãnh cho con gái và thế là Nguyễn và bốn con đàng hoàng lên máy bay sang Mỹ. Gia đình Nguyễn là một trong số những gia đình đầu tiên đi đoàn tụ gia đình.

Nếu Lê Trọng Nguyễn không đi khỏi Thành Hồ năm 1983 anh đã bị bắt cùng chúng tôi trong đêm 2 tháng Năm năm 1984 hoặc ít ngày sau đó. Chuyện đó chắc hơn đinh đóng cột. Nếu Nguyễn bị bắt cùng chúng tôi, không biết đời anh sẽ ra sao? Khi nhìn thấy nhau xách túi quần áo đứng chờ trước cửa xà-lim, chúng tôi không ai nghĩ đến chuyện hai anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường lại chết trong tù.

Nguyên nhân Lê Trọng Nguyễn – nếu còn có mặt ở thành Hồ tháng Năm 1984 – bị tóm là anh làm một bản nhạc hành khúc. Anh đưa cho tôi và bảo:

– Mày làm lời bài này cho tao. Tao tặng Kháng Chiến Quân…

Tôi nói chỉ có người soạn nhạc lấy thơ phổ nhạc, tôi không thể làm lời nhạc được vì lẽ giản dị tôi mù tịt về âm nhạc, mù tịt luôn cả dương nhạc. Nguyễn làm lời rồi đưa bản nhạc cho tôi gửi sang Mỹ. Tôi đặt tên cho bản nhạc rồi viết thêm vài dòng:

Tiếng hát trở về

Tặng các bạn Kháng Chiến Quân. Nhạc và lời Trung Nhơn.

Trung Nhơn là một nhạc sĩ nổi tiếng của chúng ta từ lâu trước 1975. Hiện ông đang sống ở Sàigòn. Vậy chúng ta cứ tạm biết ông với cái tên Trung Nhơn.

Tôi gửi bản nhạc đi. Năm ấy là năm 82. Thấm thoát vậy mà đã mười mấy mùa lá rụng. Những ngày như lá tháng như mây – Thơ Thanh Nam, – tôi không nhớ tôi gửi cho ai, cho báo nào. Thế rồi Nguyễn đi khỏi Thành Hồ vào cuối năm 1983, đi khỏi đường Nguyễn Minh Chiếu bị đổi tên là Nguyễn Trọng Tuyển, tôi mất thêm một người bạn tốt.

Vào hai giờ sáng ngày 2 tháng 5, 1984, bọn đầu trâu mặt ngựa cháu Bác Hồ, mười mấy tên kéo vào căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi. Lực lượng công an đi vồ phản động lần này thật hùng hậu. Hai máy ảnh nháng đèn liên hồi. Ít nhất nội trong đêm ấy chúng cũng phái năm đội như thế đi bắt anh em chúng tôi: Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự và tôi bị bắt trong cùng một đêm.

Xét nhà tôi chúng tóm được mấy bức thư Nguyễn từ Mỹ gửi về cho tôi. Nhờ có kinh nghiệm vì đã bị bắt một lần tôi cẩn thận cất giấu tất cả những gì tôi viết. Khi ta đã cất đến ông nội chúng nó cũng không tìm thấy. Chỉ vì ta như những em gái trinh hớ hênh, ta để tài liệu khơi khơi trên bàn, bên gối, trên giường, trong tủ nên chúng mới dễ dàng tóm được mà thôi. Chúng vớ được mấy lá thư của Nguyễn vì tôi thấy thư viết chuyện đời sống của Nguyễn và gia đình ở bên Mỹ, toàn chuyện vô thưởng vô phạt nên để thư trong ngăn kéo bàn.

Theo đúng thông lệ và thủ tục thẩm vấn người mới bị bắt vô là bị hỏi liên tiếp trong những ngày đầu. Tôi không chối tội vì tôi thấy tôi không có gì phải xấu hổ vì những việc tôi làm. Hai nữa tôi không chối vì tôi biết có chối cũng vô ích. Khi bắt mình chúng đã định trước mức án. Chối thì mười năm mà nhận thì cũng mười năm. Chi bằng nhận mình hách hơn. Ít nhất mình cũng không hổ thẹn với chính mình. Lý do thứ ba làm tôi dễ dàng khai báo nhận tội là tôi không thích nói dối. Tất nhiên không phải tôi nói dzậy là suốt đời tôi không bao giờ nói dối. Có chứ. Nhưng tôi đã viết: theo tôi thấy qua kinh nghiệm mồ hôi và máu tươi của tôi – mồ hôi vì trong tù đông người nóng quá, máu tươi vì phải đem thân gầy nuôi rệp xuất khẩu thâu ngoại tệ về cho đảng Cộng sản bỏ túi và nằm trần không mùng cho muỗi tha hồ đốt – với Công an cộng sản thì người tù chối hay nhận tội cũng vậy thôi. Thêm nữa tôi dễ dàng nhận tội vì tôi chỉ nhận những cái gì gọi là tội của tôi, tôi không phải khai báo việc làm của anh em tôi. Đây là điều thoải mái nhất cho lương tâm tôi. Những gì tôi biết về việc làm của anh em tôi bọn cớm cộng cũng đã biết. Chúng còn biết về những việc anh em tôi làm nhiều hơn tôi nữa.

Công an Thành Hồ có sách báo của người Việt hải ngoại dễ hơn chúng đớp cơm sườn. Tay sai của chúng ở các nước tư bản mua đủ thứ sách báo Việt gửi về. Chúng chỉ việc nghiên cứu những bài viết tìm xem tên nào đang sống trong vòng kìm kẹp ác ôn của chúng dám liều mạng viết những bài tố cáo tội ác của chúng gửi ra nước ngoài. Huỳnh Thành Trung, tên anh Công an thẩm vấn tôi, mang vào Phan Đăng Lưu chừng năm bẩy tờ tạp chí hải ngoại. Trong những tờ báo này có những bài chúng nghi là do tôi viết. Chúng mang báo vào cho tôi đọc và hỏi rằng có phải bài này do tôi viết không?

Chúng chỉ cho tôi đọc riêng bài nào chúng nghi tôi là người viết. Một trong những lạc thú của những người viết là được đọc những bài viết của mình được in rõ ràng, sáng sủa trên những trang sách báo. Lâu lắm rồi tôi không được hưởng cái lạc thú ấy. Tôi khoái chí đọc từ đầu đến cuối những bài tôi viết được in ở nước ngoài. Và tôi nhận của tôi nếu bài viết đó do tôi viết, tôi nói không nếu bài viết đó không phải do tôi viết. Tôi dùng nhiều bút hiệu dưới những bài ấy: Ngụy Công Tử, Văn Kỳ Thanh, Yên Ba, Con Trai Bà Cả Đọi, Dương Hồng Ngọc, Hồ Thành Nhân, Triều Đông, Hạ Thu v..v… Trên mấy bài chúng nghi tôi là tác giả tôi thấy tên nào đó ghi mấy chữ “H2T?”

Hát Đơ Tê và dấu hỏi. Như vậy là có tên nào đó biết khá rõ về lối viết, về cái gọi là “văn phong, ngôn ngữ” của HHT đã đọc bài viết này và nghi bài đó là của Hát Đơ Tê.

Trong một số báo như thế tôi thấy đăng bản nhạc “Tiếng Hát Trở Về tặng các bạn Kháng Chiến Quân, Nhạc và lời của Trung Nhơn,” đăng nguyên con, đăng y chang. Ông bạn nhà báo nào đó nhận được bản nhạc đã đưa luôn bản viết tay của chúng tôi lên máy chụp luôn, in luôn. Chữ tôi viết lời giới thiệu, chữ Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều Trung Nhơn Rởm lù lù trên trang báo. Còn chối chăng chi nữa. Chối là con nít. Chữ mình viết rõ ràng. Có là con nó thì may ra chối nó để yên, còn là bố nó mà đến nước ấy còn ngang ngạnh chối nó cũng đá cho hộc máu.

Tôi nói:

– Đúng. Bài này tôi viết. Bản nhạc này do tôi gửi đi. Tác giả nó là bạn tôi, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, anh bạn tôi đã sang Hoa Kỳ.

Anh công an nghiêm giọng:

– Anh nên khai báo nghiêm chỉnh. Đừng tưởng cứ đổ hết tội cho người đã ra đi nước ngoài là được đâu.

Tôi chỉ nói:

– Mấy dòng chữ trên bản này là của tôi, những dòng này là chữ Lê Trọng Nguyễn. Các anh đã bắt được thư của Nguyễn ở nhà tôi, so tự dạng là các anh biết ngay chứ gì.

Anh công an thẩm vấn tôi lần tôi bị bắt thứ hai này chưa đầy ba mươi tuổi. Anh sinh trưởng ở Sàigòn, thuộc loại con nhà “gia đình cách mạng”, tức có cha, anh, chú, bác là Việt cộng nên anh được đưa vào ngành công an. Tên anh, bí danh hay tên thật tôi không rõ, là Huỳnh Trung Thành. Tôi thấy tên anh ghi trên biên bản thẩm vấn tôi. Dường như tôi có duyên nợ với những anh công an Việt cộng họ Huỳnh tên Thành. Người thẩm vấn tôi lần trước 77-79 là Huỳnh Bá Thành, lần 84-90 này là Huỳnh Trung Thành.

Trong những buổi thẩm vấn tôi Huỳnh Bá Thành thường ngưng hỏi để trò chuyện với tôi, Huỳnh Trung Thành nói chuyện riêng ít hơn. Anh còn quá trẻ so với tôi, anh không biết gì nhiều để nói. Có lần anh tâm sự:

– Tôi sống ở Sàigòn nhưng các ông anh, bà chị tôi mới biết các ca sĩ Thái Thanh, Anh Ngọc. Tôi không biết.

Xin kể một chuyện bên lề dính dáng đến hai ông Mít nổi tiếng trong giới Mít Dzăng nghệ dzăng gừng hải ngoại nói chung, Xê Kỳ nói riêng. Hai ông đó là ông Lê Văn đài VOA, và ông Đỗ Ngọc Yến nhật báo Người Việt.

Như tôi đã viết hơn một lần: sau 1975 sợi dây liên lạc mong manh duy nhất mà những Anh Con Trai Bà Cả Đọi kẹt giỏ Thành Hồ còn có được với thế giới bên ngoài là những giờ phát thanh tiếng Việt của hai đài VOA, BBC: Vợ Ông Anh, Bà Bán Cam, Bà Bán Cháo. Mỗi ngày chỉ cần nghe hai đài này là chúng tôi có thể yên tâm là mình biết tạm đủ tin tức trên thế giới.

Nhưng cũng có nhiều ông nghiện nghe đài nặng – tiếng đài là do ta bị ảnh hưởng của người miền Bắc xã hội chủ nghĩa: Mua đài, nghe đài, đài nói láo, báo nói sai – ngoài việc chờ nghe hai đài VOA, BBC các ông này còn chịu khó nghe đài Úc. Có thể nói kể từ ngày những đài VOA, BBC bầy ra giờ phát thanh tiếng Việt chưa bao giờ hai đài lại được thính giả Mít chiếu cố nhiều như những năm sau 1975.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 1 Oct 2025

71. Thái Thủy.

Mấy tuần gần đây Thái Thủy đã được đưa ra đưa vào nhà thương nhiều lần. Sau tai nạn xe hơi gãy xương sườn, đứt ruột, chưa bình phục hẳn, các bác sĩ lại cho biết ông bị cancer phổi, phải cắt bỏ mỗi bên một phần lá phổi.

Cải tạo, tuổi tác, tai nạn, bệnh tật liên tiếp như thế, “sức voi” cũng chịu không thấu. Nói chung, những người quanh lứa tuổi với Thái Thủy, trên dưới 20 khi khởi sự viết lách năm 1954, tại miền Nam, sau hiệp định Genève, đến nay, hình như đã “rơi rụng” gần hết. Những người còn lại cũng trong cảnh “ngất ngư con tàu đi” như vậy. Các chàng trai trẻ hôm nào nay đã trở thành “những ông cụ 70, 80″ cả rồi. Nhớ lại Ban Thi Văn Tao Đàn, một trong những chương trình được thính giả tán thưởng và đón nghe nhiều nhất của Đài Phát Thanh Quốc Gia [Sài Gòn] trước 75, do chính Thái Thủy cùng với Đinh Hùng, Thanh Nam, Huy Quang, Tô Kiều Ngân, các giọng ngâm Hoàng Thư, Quách Đàm, Hồ Điệp chủ trương mà sợ: tất cả chỉ còn lại Tô Kiều Ngân và Thái Thủy. Tô Kiều Ngân hiện vẫn còn ở trong nước. Vào những “năm tháng cũ” ấy, biên tập và xướng ngôn là hai công việc riêng biệt. Các chương trình thường được biên tập trước, rồi đưa cho các xướng ngôn viên đọc. Đinh Hùng, Thanh Nam, Tô Kiều ngân, Huy Quang, Thái Thủy đã tự đảm nhiệm việc đọc các bài viết của mình. Cách làm việc “mới” này tạo thêm vẻ sinh động cho chương trình và từ đó gần như cũng được hầu hết các đài phát thanh trong nước áp dụng. Thực ra không ai hiểu rõ bài viết hơn tác giả, nên nghe họ đọc, người ta dễ nhận ra những gì họ muốn nói hơn. Chương trình Tao Đàn đã đem đến cho các thính giả ở Sài Gòn, một thời, những buổi tối thích thú, thi vị, vì qua chương trình này, người ta có cơ hội hiểu biết thêm lịch sử văn học của đất nước nói chung và của từng tác giả nói riêng, được soi chiếu bằng nhiều quan điểm, góc độ khác nhau, đo những người am hiểu, cùng trong nghề viết và nhất là, được nghe các nghệ sĩ diễn ngâm các thi phẩm.

Hình như “ngâm thơ” là thú tiêu khiển riêng của người Việt Nam. Các dân tộc khác người ta chỉ “đọc” thôi. Nhưng cũng có người thích, người không thích nghe ngâm thơ. Đó chỉ là ý thích riêng của mỗi người. Song nếu đã thích nghe ngâm thơ, người ta không thể không nhớ tới Hồ Điệp, Hoàng Thư, Quách Đàm, Tô Kiều Ngân. Nhiều người kể lại rằng, vào “thời kỳ cực thịnh” của Tao Đàn, dù có đi ra ngoài vì chuyện gì, người ta cũng thu xếp trở về nhà đúng giờ để nghe. Theo Thái Thủy người đã có mặt trong Ban Tao Đàn từ lúc khởi đầu cho đến lúc ngừng tiếng thì người ngâm thơ “lục bát” hay nhất là Quách Đàm, người ngâm thơ cổ “thất ngôn bát cú, song thất lục bát” hay nhất là Hồ Điệp. “Thơ mới”, thơ “phá thể” thì Hoàng Thư là người ngâm hay nhất.

Tô Kiều Ngân là “con dao pha” của Ban, ông vừa viết bài, đệm nhạc, thổi sáo, và có thể ngâm bất cứ bài thơ nào đến tay không cần đọc trước. Có lẽ vì bản thân cũng là một thi sĩ, nên ông nắm bắt ý nghĩa của các bài thơ một cách dễ dàng, nhất là ngâm thơ tình, giọng Tô Kiều Ngâm ngọt như mật.

Ngâm thơ như thế gần như là một hình thức tự phổ nhạc tại chỗ bài thơ, mắt nhìn đến đâu phải tìm thấy âm điệu tới đó.

Không biết hiện nay có còn ai giữ được ít nhiều băng ghi âm các buổi phát thanh của ban Tao Đàn, để những người đã được nghe có dịp nghe lại, ai chưa từng được nghe Hoàng Thư ngâm “Bài Ca Ngư Phủ” hay “Bài Ca Sông Dịch” của Vũ Hoàng Chương chẳng hạn, sẽ được nghe và hiểu rằng, cho dù người ta nghĩ thế nào chăng nữa, ngâm thơ không phải là một nghệ thuật dễ đạt được.

Chương trình Tao Đàn kéo dài trong nhiều năm. Nhiều người thẳng thắn nói rằng họ “mang ơn” chương trình ấy vì nó đã trở thành một phần quá khứ của họ. Cái quá khứ gắn liền với cuộc sống tốt đẹp, gắn liền với một phần đất nuớc, đã tan nát kể từ sau biến cố tháng 4/75. Trường hợp Thái Thủy cũng hơi lạ. Ông có rất nhiều công lao đối với ngành truyền thanh tại miền Nam. Có thể nói, tất cả các ban văn nghệ của Đài kể từ 1954, đều có sự chi phối của ông. Đã có những lúc ông giữ các chức vị chỉ huy cao cấp của Đài.

Về báo chí, Thái Thủy cũng từng cộng tác và làm thư ký tòa soạn cho tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa. Ông sáng tác nhiều thơ nhưng chỉ cho đăng rải rác trên các báo chứ chưa xuất bản thành sáth bao giờ. Nếu chỉ lưu giữ những bài vở Thái Thủy viết riêng cho chương trình Tao Đàn trong hàng chục năm trời cũng đủ để có một cuốn sách vài ngàn trang.

Nhưng Thái Thủy không giữ được gì hết. Bài thơ duy nhất của ông được nhiều người biết là bài “Lá Thư Gửi Mẹ” do Nguyễn Hiền phổ nhạc.

Bài thơ này Thái Thủy đã làm từ khi ông chưa đầy hai mươi tuổi.

Sau 1975, Thái Thủy bị bắt tù cải tạo hai lần, tổng cộng trên mười năm, vì tội văn nghệ sĩ phản động. Cũng sau 75, Vũ Hoàng Chương có viết cái câu đau đớn này:”Chúng ta mất hết, chỉ còn có nhau”.

Câu ấy hình như chưa đủ đối với Thái Thủy. Đời riêng của ông chỉ những người thân thiết của ông biết.

Một bài thơ và mười mấy năm tù. Chuyện như đùa mà có thật. Cũng chẳng phải chuyện oan hay ưng. Chuyện gì xẩy ra cứ xẩy ra, ta không làm gì được.

Như trong một giấc mơ, không phải trái, không thật giả. Quên hay nhớ, có ta hay không có ta, cũng vớ vẩn vậy thôi, đôi khi Thái Thủy cũng nói vậy với bạn bè.

Nhưng chơi với nhau từ lúc chưa đầy hai mươi tuổi, nay kẻ vừa ra khỏi phòng cấp cứu, không còn hơi, vì già, vì bệnh tật, gọi giây nói hỏi thăm kẻ vừa từ phòng giải phẫu được đẩy ra, chưa tan hết hẳn thuốc mê, xem “có khá không”, quả có điều gì đó thật buồn.

Sau đây là nguyên văn bài thơ “Lá Thư Gửi Mẹ”,

Nguyễn Hiền phổ nhạc, do Mai Hương chép theo trí nhớ, một ca khúc Mai Hương cho rằng hai chị em [Mai Hương – Bạch Tuyết] hát rất hợp:

Mẹ ơi! Thôi đừng khóc nữa

Cho lòng già nặng sầu thương

Con đi say tình viễn xứ

Đâu có quên tình cố hương

Thương ngóng về quê cũ

Gót thù xéo thảm thê

Bầy trai thầm rơi lệ

Súng gươm hẹn mai về

Con về tầm đẹp lứa

Mẹ cười vun khóm dâu

Mái tranh chiều vươn khói

Vườn thơm ngát hương cau

Nương chè vươn xanh lá

Ruộng tươi lúa lên màu

Rộn ràng muôn tiếng hát

Đời hết nghĩa thương đau

Mẹ ơi! Thôi đừng khóc nữa

Cho lòng già nặng sầu thương

Con đi xây [say?] tình viễn xứ

Đâu có quên tình cố hương

Thái Thanh

Hoàng Thư

Hồ Điệp

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Son rau 1 Oct 2025

70. Tạ Tỵ

Tạ Ty là một họa sĩ danh tiếng của chúng ta. Nhưng đồng thời ông cũng là nhà phê bình nghệ thuật, làm thơ và viết văn nữa. Ông là tác giả của nhiều tập truyện ngắn, thơ và nhận định văn học đã được xuất bản tại Sài Gòn trước 1975. Đặc biệt là các tập được ông gọi chung là Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ. Giản dị có lẽ vì, trong mỗi tập, ông chỉ nói đến 10 tác giả mà ông ưa thích, hoặc ông gọi là đã đi qua đời tôi. Nói cách khác, đó có thể là những tác giả đã để lại dấu ấn trong lòng ông.

Trong tập Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ, Tạ Tỵ đề cập tới 10 tác giả sau đây:

Lãng Nhân, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính, Đinh Hùng, Văn Cao, Sơn Nam, Mai Thảo và Nguyên Sa.

Trong phần được gọi là Mở của cuốn sách, Tạ Tỵ viết:

“Trong cuộc sống có những giờ phút thật trống rỗng, cái trống rỗng đến ghê sợ cả sự hiện hữu của mình cũng như của sự vật chung quanh.

Nhất là những ngày thời tiết thay đổi bất ngờ làm lòng người tiếc nhớ bâng khuâng một cái gì đó thoáng còn, thoáng mất. Nói cho đúng, cái còn cái mất là lẽ đương nhiên, là sự luân lưu miên viễn của thời gian, trong đó thân phận con người chi được coi như sự góp mặt định kỳ nơi một khoảng trống nào đó mà Thượng Đế đã an bài cho từng số mệnh. Đọc sách là để tìm cuộc đời hay tìm chính hình ảnh mình in hằn trong đó”.

Như thế, Tạ Ty đã bầy tỏ khá rõ ràng quan niệm đọc sách của ông. Trong số 10 tác giả đương thời Tạ Ty nói đến trong cuốn sách của ông, hình như chỉ còn có một mình Sơn Nam còn sống và đang sống ở trong nước. Cầm cuốn sách trên tay, nghĩ đến điều ấy người đọc không khỏi cảm thấy bùi ngùi, xúc động. Cuộc đời như giấc mộng. Ngày tháng như bóng câu qua cửa sổ. Đó không phải chỉ là những câu nói văn chương, bóng bẩy. Mà hoàn toàn là sự thật.

Một sự thật đơn thuần, giản dị. Tạ Tỵ viết về Sơn Nam, người duy nhất còn lại như sau:

“Sơn Nam đến với tôi không đem theo gió bão hoặc nỗi quằn quại, ray rứt, chua xót của con người thời đại. Sơn Nam đến với tôi bằng hơi thở, bằng nụ cười hồn nhiên, bằng nhớ thương nhè nhẹ, bằng những ngón tay giao cảm chạy dài theo nhưng con rạch giăng mắc như mạng nhện khắp vùng châu thổ miền Nam nước Việt. Sơn Nam một tâm hồn đơn thuần, chất phác như luống cầy. Sơn Nam sống như con chim rừng nhỏ nhoi lạc vào thành phố. Có những chiều không gian câm nín tựa phiến đá, thời gian tắng đọng trong khung trời thép rỉ, người đọc Sơn Nam mới cảm thấy tự đáy lòng dâng lên từng đợt sóng u hoài.

Người đọc Sơn Nam không tìm thấy dấu vết của đại lộ, không một ánh sáng điện. Ở Sơn Nam đại lộ là những con rạch, như rạch Thuồng Luồng, rạch Cái Cau, rạch Bình Thủy.

Tâm hồn Sơn Nam bình dị, thật bình dị, như cỏ cây, như khí trời. Những lời nói và hành động trong văn chương cũng như giữa cuộc sống đều toát ra sự hiền hòa, chân thực, chẳng riêng với mình, còn với người. Quê hương miền Nam và kích thước của miền Hậu giang như gói trọn trong cơ thể Sơn Nam. Nó là những vi ti huyết quản, nó là xương máu, da thịt … “.

Tóm lại Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ là cuốn sách, là cái cớ để Tạ Ty thả tâm hồn bay lượn trên văn chương, là dịp để ông bầy tỏ cái tâm hồn phong phú và nhậy cảm của ông, đối với thời tiết, với cái xấu, cái đẹp của cuộc sống.

Và, trên hết mọi sự, cuốn sách chất chứa một mối tư hương lặng lẽ, lẩn khuất sau mỗi dòng chữ, của một người đã quá cái tuổi cổ lai hy nói về quê hương, đất nước, nói bằng cách đọc người khác, phân tích người khác, để chiếu rọi tâm hồn mình. Và tâm hồn ấy là tâm hồn của một người yêu nước, yêu người, yêu tiếng nói của dân tộc. Yêu và tìm ra cái đẹp để yêu chứ không phải yêu một cách mù quáng. Tạ Tỵ sinh năm 1922 tại Hà Nội. Ông tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương năm 1943. Thực ra ông học ngành sơn mài, nhưng lại nổi tiếng với tư cách một họa sĩ lập thể tiền phong của Việt Nam. Tưởng cũng nên nhắc lại, hầu hết các họa sĩ danh tiếng của chúng ta như Nguyễn Gia Trí, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân v.v … đều xuất thân từ trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương.

Cũng theo tiết lộ của Tạ Tỵ thì cả Văn Cao và Phạm Duy trước khi viết nhạc cũng đã học vẽ tại đây. Nhưng Văn Cao còn theo đuổi công việc học ít lâu, chứ Phạm Duy thì như chính ông cho biết”đã bỏ học ngay để đi theo gánh hát”.

Trả lời phỏng vấn của một cơ quan truyền thông mới đây, Phạm Duy đã nói đua rằng, tuy là một họa sĩ nhưng hình như Tạ Tỵ đã viết văn, làm thơ nhiều hơn vẽ. Sự thực thì sự nghiệp của Tạ Ty phải được chia làm hai phần rõ rệt, phần văn chuơng và phần hội họa. Nhà văn Hiếu Chân [Nguyễn Hoạt], đề tựa cho tuyển tập truyện ngắn Những Viên Sỏi của Tạ Tỵ xuất bản tại Sài Gòn năm 1960 đã viết như sau:

“Tôi làm quen với Tạ Ty do sự giới thiệu của Hoàng Lập Ngôn. Tạ Ty năm ấy vừa đúng 30 tuổi, anh đã thu hút trọn vẹn cảm tình của tôi không phải vì nghệ thuật hội họa của anh mà tôi chẳng hiểu gì, nhưng chính vì nét mặt luôn luôn tươi trẻ và với nụ cười hồn nhiên, với những lời lẽ chân thành, cởi mở khiến cho các bạn anh đều cho rằng, Tạ Ty là một nghệ sĩ bao giờ cũng trẻ hơn tuổi, trẻ trong tâm hồn cũng như trong nghệ thuật”.

Những nét phác họa đó của Nguyễn Hoạt về con người Tạ Ty, những người quen biết Tạ Tỵ cho rằng, mãi về sau này vẫn đúng. Nhận định về tranh Tạ Ty, nhà phê bình mỹ thuật Huỳnh Hữu Ủy viết:

“Nói đến hội họa của Tạ Ty, người ta thường tức thời nhớ ngay đến tính cách mới mẻ của ‘lập thể Tạ Ty’. Ông là người đầu tiên nghiên cứu và đưa không khí lập thể vào Việt Nam. Ông bị vây bủa bởi đường lối nghệ thuật này, từng vang dội từ Âu Châu đầu thế tỷ, muốn xử dụng búp pháp này để xây dựng thế giới của mình, để tháo gỡ và đào sâu vào đối vật, làm thiên nhiên lệch lạc đi, phá vỡ tất cả những cách nhìn quen thuộc về sự vật khám phá ra những khía cạnh mới mẻ nhất, muốn tạo được sự bỡ ngỡ và đưa người xem đến chỗ bất ngờ. Những người lưu tâm đến hội họa Tạ Ty vẫn nhắc đến các tác phẩm lập thể Vàng, Tím, Tồn Tại, Chiếu Bạc v.v … thời ở Hà Nội khoảng 1951.

Nhà phê bình Huỳnh Hữu Ủy cho rằng, công của Tạ Ty là ở chỗ gây nên được những phản ứng sôi nổi mà những phản ứng như thế thì bất cứ thời đại nào cũng rất hữu ích cho sự tiến bộ chung.

Còn họa sĩ Nguyễn Quỳnh, trong một bài tổng kết ngắn nhan đề là ‘Nhìn lại hội họa Việt Nam hiện đại 1930-1970’, phần nói về Tạ Ty, đã viết: “Tuy rằng tranh lập thể của ông không đúng là lập thể kiểu Braque, Picasso hay Gris, nhưng ông đã có công thổi vào trong khung cảnh hội họa Việt Nam

còn phôi thai trong lịch sử nhân loại một luồng gió mới. Tranh lập thể của Tạ Ty lạ lùng như thơ mới theo kiểu Apollinaire và Prévert tại Việt Nam thuở ấy”.

Nhưng theo nhận định của họa sĩ Trịnh Cung thì vào khoảng 1974 Tạ Tỵ đã bắt gặp được ngôn ngữ lập thể đích thực và đã thực hiện được một số tác phẩm có chiều sâu thực sự của nghệ thuật này.

Như thế, các nhà chuyên môn đều nhìn nhận công khai phá của Tạ Tỵ khi đưa lập thể vào hội họa Việt Nam, dù cho sự đánh giá có đôi chút khác biệt.

Tuy nhiên có một bộ tranh của Tạ Tỵ được tất cả các nhà phê bình cũng như những người thưởng ngoạn bình thường đánh giá rất cao đó là bộ tranh ông vẽ chân dung một số các nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ đồng thời.

Nói về bộ tranh này, ông Huỳnh Hữu Ủy cho là:

“Rất đẹp, lạ, có bút pháp và bản sắc riêng biệt, rất gần với loại tranh có tên gọi là ‘Tinh Tướng Họa’ của Hoàng Lập Ngôn. Loạt chân dung của Hoàng Lập Ngôn về văn nghệ sĩ, có điểm loáng thoáng giống Tạ Ty, nhưng nhìn kỹ thì khác nhau rất nhiều. Tạ Ty và Hoàng Lập Ngôn đã lọc được cái thần của chân dung muốn vẽ, nắm được những nét chính rồi phóng bút theo cách riêng của mình”.

Trong tuyển tập Tạ Tỵ do nhà xuất bản Văn nghệ xuất bản năm 2001 tại Mỹ, tác giả có cho in lại 6 bức trong bộ chân dung các văn nghệ sĩ của mình. Nhận định chung về những sáng tác văn chương, những truyện ngắn của Tạ Ty, nhà văn Hiếu Chân [Nguyễn Hoạt] viết:

“Tôi không biết những nhà chuyên môn về Nghệ Thuật Hội Họa có tìm thấy chút gì Tình Thương trong họa phẩm của anh không, nhưng riêng tôi, tôi nhận thấy trong con người Tạ Ty cũng như trong tác phẩm văn chương của anh, cái đáng yêu nhất vẫn là Tình Thương chân thành, một Tình Thương do sự khích động qua xúc cảm mà bật ra, chứ không phải là một thứ văn chương hời hợt giả tạo”.

Theo Nguyễn Mạnh Trinh trong một bài tưởng nhớ Tạ Tỵ đăng trên báo Người Việt cho biết thì Tạ Tỵ còn một tác phẩm, ông rất trau truốt, nhưng chưa kịp xuất bản đó là cuốn “Cuộc Đời Và Hội Họa”, vì ông khó tính, nên các con ông đã nhiều lần in thử và dù với kỹ thuật tân tiến hiện đại ông vẫn cho rằng màu sắc không được trung thực, nên chưa chịu cho ấn hành cuốn sách. Được biết Ta Tỵ sau khi được tha khỏi trại cải tạo, đã vượt biên và định cư tại Hoa Kỳ gần 20 năm. Ông đã quyết định trở về để chết tại Việt Nam.

Và ông đã được như ý.

Nửa hồn Xuân Lộc

dutule.com

14 Tháng Tư 2020

Nguyễn Phúc Sông Hương

Post by Sơn râu 30 Sep 2025

Nếu được như bố già thượng sĩ

Nghe tin lui quân chỉ nhìn trời,

Vỗ về nón sắt, cười khinh bạc,

Chắc hẳn lòng ta cũng thảnh thơi.

Còn ta nhận lệnh rời Xuân Lộc

Lại muốn tìm em nói ít lời,

Nhưng sợ áo mình đầy khói súng

Cay nồng mắt người gục trên vai.

Vì chắc ôm nhau em sẽ khóc,

Khóc theo, vợ lính cả trăm người!

Em biết dù tim ta sắt đá

Cũng vỡ theo ngàn giọt lệ rơi.

Mây xa dù quen đời chia biệt

Ngoảnh mặt ra đi cũng ngậm ngùi.

Rút quân, bỏ lại hồn ta đó

Bảo Chánh, Gia Rai lửa ngút trời!

Bí mật lui quân mà đành phụ

Mối tình Long Khánh tội người ơi.

Mất thêm Xuân Lộc tay càng ngắn

Núm ruột miền Trung càng xa vời.

Sáng mai thức dậy, em buồn lắm

Sẽ khóc trách ta nỡ phụ người.

Lòng ta như trái sầu riêng rụng

Trong vườn em đó vỡ làm đôi!

Đêm nay Xuân Lộc vầng trăng khuyết

Như một vành tang bịt đất trời!

Chân theo quân rút, hồn ta ở

Sông nước La Ngà pha máu sôi;

Thương chiếc cầu tre chờ thác lũ

Cuốn qua Xuân Lộc khóc cùng người

Ta đi, áo nhuộm màu đất đỏ

Cao su vướng tóc mãi thơm mùi,

Tiếc quá nắng vàng phơi áo trận,

Vườn nhà em chuối chín vàng tươi.

Ta nhớ người bên đàn thỏ trắng,

Cho bầy gà nắm lúa đang phơi,

Chôm chôm hai gốc đong đưa võng,

Ru nắng mùa xuân đẹp nụ cười…

Nếu được đưa quân lên Định Quán

Cuối cùng một trận cũng là vui

Núi Chứa Chan kia sừng sững đứng

Sư đoàn 18 sao quân lui?

Thân ta là ngựa sao không hí

Cho nỗi đau lan rộng đất trời.

Hồn ta là kiếm sao không chém

Rạp ngã rừng xanh, bạt núi đồi.

Hỡi ơi! chân bước qua Bình Giã

Cẩm Mỹ nhà ai khói, ngậm ngùi!

Lửa cháy, cả lòng ta lửa cháy

Xóm làng Gia Kiệm nhớ khôn nguôi.

Đêm nay Xuân Lộc, đoàn quân rút

Đành biệt nhau, xin tạ lỗi người.

Chao ơi tiếng tắc kè thê thiết

Kêu giữa đêm dài sợ lẻ loi,

Chân bước, nửa hồn chinh chiến giục

Nửa hồn Xuân Lộc gọi quay lui.

Ta biết dưới hầm em đang khóc

Thét gầm pháo địch dập không thôi

Em ơi Xuân Lộc, em Xuân Lộc

Xích sắt nghiến qua những xác người.

Nguyễn Phúc Sông Hương

Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 30 Sep 2025

Google images edited by Sơn râu

9. Maracaibo – Xứ Người Da Đỏ

TUY cơ quan cảnh sát biết rõ người ta đang chuẩn bị một cuộc đảo chánh nữa, nên còn nhiều việc phải làm hơn là theo dõi tôi, tôi càng xa Caracas để được quên đi chừng nào hay chừng ấy. Trong hiện tại hình như họ đã quên cuộc đảo chánh bị tan vỡ trong trứng nước, nhưng nên đề phòng thì hơn.

Thế nên tôi chụp ngay cơ hội khi nhân tạt ngang nhanh qua Caracas, tôi được một người bạn giới thiệu với một thiếu nữ nguyên là người mẫu ở Ba Lê, đang kiếm một người giúp nàng cai quản một khách sạn vừa mới mở ở Maracaibo. Tôi vui vẻ chấp nhận làm một thứ đàn ông đa hiệu. Thiếu phụ tên Laurence đẹp và lịch sự trước đây đến Caracas để trình bày kiểu áo rồi ở luôn tại Venezuela. Giữa cơ quan cảnh sát Caracas với đô thị Maracaibo, đã có một ngàn cây số, thế nên đối với tôi tiện vô cùng.

Tôi đi quá giang xe một người bạn và sau một cuộc hành trình 14 giờ, tôi trông thấy cái mà người ta gọi là cảnh hồ Maracaibo tuy thực ra đó là một cái đầm dài 150 và rộng một trăm cây số, nối liền với biển bằng một con lạch rộng mười cây số. Maracaibo ở về mạn Bắc trên bờ phía tây của con lạch, bây giờ được nối liền với bờ phía đông bằng một cây cầu. Thời ấy chưa có cầu và đi từ Caracas đến phải qua một chiếc phà.

Cảnh hồ thật là hùng vĩ, phi thường; êm ả, đó là hàng ngàn ngôi tháp bằng sắt. Trông như một khu rừng mênh mông, tít mù với những hàng cây cân đối nên có thể trông thấy chân trời.

Nhưng những cây ấy là các giếng dầu, dưới chân mỗi giếng có một quả lắc vĩ đại ngày đêm không ngừng bơm từ lòng đất chất vàng đen quí báu.

Một chiếc phà chở xe cộ, hành khách và hàng hóa qua lại liên hồi giữa con đường từ Caracas đến với Maracaibo. Trên chiếc phà, như một đứa trẻ, tôi đi từ mạn bên này qua mạn bên kia, hết sức sửng sốt, thán phục nhìn thấy các cây thấp bằng sắt từ mặt hồ mọc lên và nghĩ rằng cách đó hai ngàn cây số, đầu bên kia xứ này, ở Guyanne thuộc Venezuela, Chúa đã vung vãi kim cương, vàng, sắt, niken, man-ga-ne, bầu xít, uranium, và nhiều thứ khác nữa, còn ở đây thì rải cho dầu lửa, động cơ của thế giới, nhiều đến nỗi hàng ngàn máy bơm hút cả ngày đêm mà không cạn hết được. Thế thì xứ Venezuela không có gì trách Thượng đế cả.

Khách sạn Normandie là một biệt thự rộng lớn đẹp đẽ có vườn hoa chăm sóc kỹ lưỡng. Người đẹp Laurence tiếp tôi niềm nở:

– Anh Henri, đây là vương quốc của tôi, nàng cười nói.

Nàng đã mở khách sạn này chỉ mới hai tháng. Mười sáu phòng chỉ có thế, nhưng vô cùng sang trọng, mỗi phòng có buồng tắm như trong một đại khách sạn. Chính nàng đã tự tay trang trí từ cái phòng ngủ, đến các buồng rửa mặt, kể cả phòng khách, sân thượng và phòng ăn. Tôi bắt tay vào việc và nhận thấy không phải chuyện dễ khi làm người đệ nhất cộng sự viên của người phụ nữ Pháp chưa đến bốn mươi tuổi này, mỗi sáng thức dậy lúc 6 giờ, canh chừng có khi tự tay làm thức ăn điểm tâm cho khách trọ.

Suốt ngày, không biết mệt, nàng đi đi lại lại, chăm lo mọi việc, để mắt đến tất cả, thế mà vẫn còn thì giờ chăm sóc một cây hồng hoặc quét dọn một lối đi. Nàng nắm chắc cuộc đời bằng đôi bàn tay mở rộng, vượt qua những khó khăn hầu như nan giải để tạo dựng cơ nghiệp này, và nàng quá tin tưởng vào sự thành công, khiến tôi cũng hoạt động hăng say như nàng. Hay gần như thế. Tôi cố hết sức giúp nàng giải quyết vô số vấn đề được đặt ra. Nhất là vấn đề tiền bạc. Nàng mang nợ ngập đến cổ, vì đã biến biệt thự này thành ra một khách sạn hạng sang bằng cách đi vay mượn hầu hết những gì cần thiết.Hôm qua, không tham khảo ý kiến nàng, tôi đã vận động và đạt được một kết quả phi thường do một công ty dầu lửa thỏa thuận.

– Chào Laurence.

– Chào anh, Henri, đã tám giờ tối rồi. Tôi không rầy anh, nhưng cả buổi chiều, tôi không thấy anh đâu hết.

– Tôi đi dạo.

– Anh nói đùa hay nói thật?– Đúng vậy, tôi đùa với cuộc đời. Đời vui lắm mà, có phải không?

– Không hẳn luôn luôn như vậy. Chính tôi đang cần anh nâng đỡ về phương diện tinh thần vì tôi đang gặp nhiều chuyện bực mình.

– Bà bực mình lắm hả?

– Phải. Tôi phải trả tiền sửa chữa khách sạn và tuy công việc phát đạt, nhưng không dễ gì trả nổi. Tôi nợ rất nhiều.

– Laurence, bà bình tĩnh nghe đây, bà không còn nợ gì nữa hết.

– Anh đùa dai hả?

– Không. Này: bà đã đặt để tôi như một người hùn với bà và tôi nhận thấy nhiều người tưởng tôi là ông chủ.

– Rồi sao?

– Thế này! Một anh người Canađa của công ty Lumus, tưởng tôi là ông chủ cách đây vài ngày, anh ta có nói với tôi về một vụ làm ăn mà anh nghĩ có thể cộng tác với tôi được. Hôm nay tôi đến thăm anh ta và vừa về đây.

– Nói mau đi! Laurence nói, đôi mắt mở lớn.

– Kết quả! Công ty Lumus thuê khách sạn của bà, thuê hết, trả tiền hết trong một năm!

– Khó tin quá.

– Thật mà, tôi thề với bà.

Quá xúc động Laurence ôm tôi hôn lên trên hai má, rồi ngồi phịch xuống ghế, hai chân quỵ xuống.

− Dĩ nhiên tôi không thể ký bản giao kèo hậu hĩ ấy và ngày mai người ta sẽ mời bà đến công ty.

Nhờ bản giao kèo ấy, với khách sạn Normandie, Laurence đã có một tài sản nho nhỏ. Chỉ với ba tháng tiền thuê nhà trả trước, nàng đã có thể trả hết nợ.

Sau khi giao kèo được ký kết, những người quản lý công ty Lumus, Laurence và tôi đã uống sâm banh.

Đêm nay, nằm trên chiếc giường rộng, tôi vô cùng sung sướng. Lại thêm men rượu sâm banh, tôi nhìn thấy cuộc đời bằng màu hồng. Mày không ngốc hơn nàng đâu: phải chăng người ta có thể tạo một địa vị, hơn thế, trở nên giàu có, bằng cách làm việc? Và bắt đầu từ bàn tay trắng? Trời ơi, quả là một điều tôi vừa khám phá tại khách sạn Normandie. “Vâng, quả là một sự khám phá, bởi vì lúc còn ở bên Pháp, trong ít năm tôi có thì giờ nhìn đời tôi vẫn nghĩ rằng một người thợ suốt đời vẫn là một người thợ”. Ý nghĩ hoàn toàn sai lầm ấy lại càng sai lầm tại xứ Venezuela này, ở đây mọi cơ hội, mọi sự dễ dàng được dành cho ai muốn làm một cái gì.

Nhận xét này rất quan trọng để thực hiện ý đồ của tôi. Thật vậy, không phải vì ham tiền mà tôi lao mình vào những vụ bất lương, tôi không sở trường về trộm cắp. Nhưng tôi không thể tin rằng người ta có thể thành công thật sự trong đời, tạo nên một địa vị từ số không và nhất là đối với tôi, kiếm đủ số tiền khá lớn để đi Pháp thanh toán món nợ. Thế mà việc ấy có thể được: chỉ cần một điều tiên khởi: một số vốn tối thiểu, vài ngàn đồng, số tiền ấy cũng dễ dành dụm một khi tìm được công việc làm khả quan…

Thế thì, Papillon, không nên bày trò bất lương nữa, dù lớn dù nhỏ. Hãy tìm những phương pháp đơn giản và lương thiện, Laurence đã thành đạt bằng đường lối ấy, thế thì ta cũng vậy. Nếu mày chịu thực hiện được như vậy, ông già mày sẽ vô cùng sung sướng.

Điều phiền phức duy nhất, nếu theo đường lối ấy, là phải cần một thời gian khá lâu mới có thể trả mối thù. Không phải trong ba ngày, tôi đã có đủ số tiền cần thiết. Miguel đã nói với tôi tại mỏ kim cương: “Thù hận là một thức ăn phải dùng lúc nguội”. Rồi tính.

Maracaibo đang sôi sục. Trong không khí rộn rịp, các xí nghiệp, các loại xây cất, các xưởng lọc dầu phát triển quá chừng đến nỗi từ rượu bia đến xi măng, tất cả đều bán chợ đen. Người ta không sản xuất đủ nhu cầu. Vì nhu cầu tăng quá nhanh. Thứ gì cũng có giá, đôi cánh tay, sức lao động, mọi hình thức thương mại.

Khi tìm ra được mỏ dầu, nền kinh tế của vùng đó trải qua hai thời kỳ khác hẳn nhau. Thời kỳ đầu, trước lúc khai thác mỏ dầu, thời kỳ tiền khai thác. Các công ty đến, đặt cơ sở, phải có văn phòng, trang trại, đắp

đường, bắt dây điện cao thế, giếng, xây tháp, đặt máy bơm vân vân. Đó là thời kỳ vàng son, đối với tất cả các ngành chuyên nghiệp và đối với mọi tầng lớp xã hội.

Giới bình dân, với đôi bàn tay sần sùi có nhiều giấy bạc, ý thức giá trị kim tiền và an sinh của ngày mai. Gia đình được tổ chức lại, nhà cửa được mở rộng ra, được cải tiến, con nít ăn mặc tử tế cắp sách đến trường, thường đi học bằng các chiếc xe ca của các công ty.

Tiếp theo là thời kỳ thứ hai, thể hiện bằng hình ảnh chiếc hồ Maracaibo biến thành một rừng tháp bằng sắt (theo như phía tôi trông thấy). Mỗi ngày, hằng ngàn máy bơm tự động rút lên hằng triệu thước khối vàng đen.

Tuy nhiên, khối của khổng lồ ấy không lọt vào tay giới bình dân, hằng triệu mỹ kim đi thẳng vào ngân quỹ các ngân hàng của chính phủ hoặc của các công ty. Hai giai đoạn khác nhau hẳn. Tình hình trở nên khó khăn, nhân viên bị giảm đến mức tối thiểu, không còn tài sản công cộng, tất cả những kinh doanh lớn nhỏ thuộc về dĩ vãng. Các thế hệ sau chỉ tưởng tượng qua lời kể lại của các bậc cha ông: “Khi Maracaibo còn triệu phú, ngày xưa”.

Nhưng tôi thì đã gặp may, tôi đến vào thời kỳ thứ hai của Maracaibo. Không mong gì nơi các máy bơm trên hồ, nhưng nhờ vào nhiều lối tiêu xài như điên của các công ty dầu hỏa vừa trúng thầu các đặc nhượng chạy từ dãy núi Perija đến bờ hồ và đến bờ biển.

Đúng là thời kỳ thích hợp cho tôi.

Tôi sẽ định cư ở đây. Chắc hẳn là nhiều chuyện kỳ lạ lắm, tin như vậy. Muốn thành đạt tôi sẽ làm bất cứ việc gì, bằng mọi phương tiện tôi sẽ làm việc để kiếm phần tối đa trong ổ bánh khổng lồ này. Papillon, hứa rồi đấy nhá! Đến phiên mày phải thành công như những người lương thiện. Nghĩ cho kỹ, họ có lý do họ đã trở nên giàu có mà không bị vào tù.

“Đầu bếp Pháp rành nghề, 39 tuổi, tìm việc làm tại các công ty dầu hỏa, lương tối thiểu 800 mỹ kim”.

Nhờ Laurence và người bếp của nàng, đã học những điều thô thiển và cách nấu nướng và tôi nhất định thử thời vậy. Lời rao ấy được đăng trên một tờ báo địa phương và tám ngày sau, tôi trở thành đầu bếp của công ty khai thác Richmond.

Tôi luyến tiếc giã từ Laurence bởi vì nàng không thể nào trả cho tôi số lương ấy.

Giờ đây một thời gian thực hành tôi rất thạo làm bếp. Lúc đến nhận việc tôi run sợ quá chừng, đến nỗi bọn bếp khác trông thấy ngay rằng anh đầu bếp Pháp không biết gì về vấn đề soong chảo. Nhưng tôi không khỏi ngạc nhiên khi cũng nhận thấy ngay rằng chúng nó rất sợ người đầu bếp Pháp phát giác sự thật tất cả chúng nó chỉ là những đứa rửa chén. Tôi thở phào: tôi có một quyển sách dạy nấu ăn, bằng tiếng Pháp, do một gái điếm về già tặng.

Trưởng phòng nhân viên là một người Gia Nã Đại, ông Blanchet. Hai ngày sau, ông giao cho tôi phụ trách công việc nấu ăn cho các cấp chỉ huy của công ty, thứ dữ ấy mà!

Buổi sáng hôm đầu, tôi trình cho ông ấy xem một thực đơn rùng rợn. Tuy nhiên tôi lưu ý ông nhà bếp thiếu phương tiện nên không thể thực hiện thực đơn ấy được. Ông quyết định tôi sẽ có một ngân quỹ riêng cho tôi làm quản lý. Không cần nói cũng biết tôi ăn lời khá nhiều, nhưng mấy ông cao cấp cũng được ăn uống thỏa thích. Thế là vui vẻ cả làng.

Mỗi buổi tối, tôi yết thực đơn của ngày hôm sau tại phòng khách, dĩ nhiên là bằng tiếng Pháp, những tên gọi các món ăn rất kêu lấy từ quyển sách dạy nấu ăn, đã đẩy mạnh vào các ngài. Vả lại, tôi tìm được trong thành phố một tiệm chuyên bán các nguyên liệu Pháp rồi nhờ phương pháp làm bếp và nhờ đồ hộp của hiệu Potin và Radel, tôi xoay sở tài tình đến nỗi các vị cao cấp của tôi thường đưa các bà vợ đến. Thay vì 12 họ đến 20 người. Một khía cạnh nào đó thì khá nhiều phiền phức, nhưng mặt khác, người ta ít chú ý đến cách chi phí của tôi bởi vì theo thể lệ, tôi chỉ nấu dọn cho nhân viên hiện dịch.

Tóm lại, vì thấy họ quá bằng lòng nên tôi xin tăng lương lên 1.200 Mỹ kim mỗi tháng, nghĩa là thêm 400 Mỹ kim. Họ từ chối, chỉ thuận 1.000, tôi cũng nhận, nhưng nói cho họ biết đối với một việc đầu bếp hữu hiệu như vậy thật là tồi tệ.

Nhiều tháng trôi qua, nhưng riết rồi, làm việc có giờ giấc nhất định như vậy khiến tôi bực bội hết sức chẳng khác nào một cổ áo quá chật. Tôi bắt đầu thấy chán công việc hỏa đầu và tôi xin vị chỉ huy các nhà địa chất học đem tôi theo mỗi khi ông đi thám hiểm mỏ dầu tại các nơi kỳ thú nhất, không kể nguy hiểm.

Quả vậy, các cuộc thám hiểm có mục đích tìm hiểu địa chất của dãy núi Perija ngăn cách xứ Venezuela với xứ Colombie, ở về phía tây hồ Maracaibo. Đó là xứ sở của một giống người da đỏ hiếu chiến, rất dã man, bộ lạc Montilones nên người ta thường gọi dãy núi Perija là dãy núi của người Montilones. Đến bây giờ người ta vẫn mù tịch về nguồn gốc đích xác của sắc dân ấy, ngôn ngữ và tập quán của họ rất khác các bộ lạc láng giềng và trong lúc tôi viết mấy dòng này, nền văn minh mới bắt đầu và xâm nhập vào, vì họ rất nguy hiểm. Họ sống trong những túp lều tập thể, từ 50 đến 100 người, đàn ông, đàn bà, trẻ con, hoàn toàn chung chạ. Gia súc duy nhất là con chó. Họ dã man đến độ người ta kể lại trường hợp thường xảy ra những người Montilones bị người “Văn minh” bắt, đôi khi bị thương, mặt dù được đối đãi tử tế vẫn nhất định không chịu ăn uống gì hết và cuối cùng tự tử bằng cách lấy răng cắn cho đứt mạch máu cổ tay. Từ thời kỳ tôi kể lại, các linh mục giòng Capucins đã can đảm đến ở dọc theo sông Santa Rosa, chỉ cách túp lều công cộng gần nhất độ vài cây số. Cha bề trên của hội truyền giáo phải dùng đến các phương pháp hiện đại nhất như bỏ từ phi cơ xuống nào là thực phẩm, quần áo, mùng mền, và hình chụp các cha Capucins. Hơn thế nữa, Ngài lại còn thả dù xuống những người nộm bằng rơm mặc áo giòng Capucins trong túi đầy thức ăn đủ loại, cá và sữa hộp. Ông cha không ngu tí nào: một ngày nào đó, ông bách bộ đến, chúng tưởng từ trên trời rơi xuống.

Nhưng thời kỳ tôi xin được tham dự các đoàn thám hiểm là vào năm 1948 rất lâu trước các lần cố gắng xâm nhập của nền văn minh, sự xâm nhập này thực ra chỉ khởi đầu vào năm 1965.

Đối với tôi, các cuộc thám hiểm ấy có ba khía cạnh hữu ích. Trước hết, đó là một cuộc sống hoàn toàn khác hẳn cuộc sống trong bếp của công ty Richmond mà tôi đã bắt đầu chán. Tôi lại được dịp phiêu lưu trong lòng tạo vật hùng vĩ, nhưng đây là một nếp sống phiêu lưu lương thiện. Dĩ nhiên có nguy hiểm, thật như trong mọi cuộc phiêu lưu nhiều lần một đoàn thám hiểm trở về thiếu mất một hai người. Bọn Montilones bắn cung rất tài và như người ta thường nói trong vùng này, họ để mắt đến đâu là họ để tên đến đó. Nhưng bị giết mà không bị ăn thịt, vì họ không phải giống ăn thịt người. Ít ra cũng được điều đó.

Khía cạnh thứ hai, các cuộc xâm nhập 3 tuần lễ trong cảnh rừng già nguy hiểm ấy được trả lương rất hậu. Tôi lãnh gấp đôi lương đầu bếp. Một điểm rất đáng kể trong ý đồ của tôi.

Điểm thứ ba: Tôi thích được gần gũi các nhà địa chất học. Họ rất thông thái. Tuy biết rõ rằng bây giờ đã quá trễ để thâu thập những kiến thức thay đổi hẳn con người tôi, tôi vẫn có cảm giác tưởng chừng dụng với những nhà bác học ấy dù sao cũng không phí thì giờ.

Tóm lại, tôi đi với họ lòng tràn đầy hăng hái và tin tưởng. Khỏi cần sách nấu ăn. Chỉ cần đồ hộp, biết làm một món bánh ngọt với bánh mì. Học làm các món ấy không khó chút nào.

Người bạn mới của tôi, nhà địa chất học trưởng đoàn thám hiểm tên là Crihet. Anh ta được công ty thám hiểm California biệt phái sang công ty Richmond.

Anh biết hết về địa chất học, môn dầu hỏa. Ngoài điều ấy ra, anh có biết chiến tranh vì anh đã đi đánh giặc, nhưng anh không chắc hoàng đế nước Nga đã sống trên đời này trước hay sau Nã Phá Luân. Vả chăng, anh bất cần điều ấy, không biết lịch sử thế giới anh vẫn khỏe mạnh, vẫn có một người vợ tuyệt hảo, sinh con đẻ cái và cung cấp cho công ty của anh những tài liệu về địa chất cần thiết.

Tuy nhiên, tôi đoán anh biết nhiều hơn những điều anh nói, và tôi có kinh nghiệm nên đề phòng óc châm biếm của hạng người như anh ta, thường khác với dân xứ Ardèche của tôi. Chúng tôi rất hiểu nhau.

Một kỳ thám hiểm như vậy kéo dài từ 20 đến 26 ngày khi về, được nghỉ tám ngày. Đoàn thám hiểm gồm một nhà địa chất, trưởng đoàn, hai nhà địa chất khác và từ 12 đến 18 người khuân vác hoặc phụ giúp, chỉ cần mạnh và có kỷ luật. Mấy người này ở căn lều riêng và có đầu bếp riêng. Tôi thì đặc trách cho ba nhà địa chất. Mấy người khuân vác không đần độn, và trong số ấy có một đảng viên đảng A.D. (Dân chủ tác động) một đảng tả phái có nhiệm vụ nhắc nhở tôn trọng các luật lệ nghiệp đoàn. Hắn tên Calos. Mọi người đều hòa thuận, chính tôi giữ sổ sách kế toán về giờ phụ trội, được họ ghi chép rất cẩn thận, không trồi không sụt.

Cuộc thám hiểm đầu tiên làm tôi hết sức hăng say. Công việc tìm kiếm các dữ kiện địa chất về mỏ dầu rất kỳ lạ. Mục tiêu là phải đi ngược dòng các con suối trong núi, càng xa càng hay, đến chỗ các con suối chảy lách giữa các tảng đá. Chúng tôi đi đến tận cùng bằng xe vận tải, rồi bằng jeep. Khi hết đường mòn, dùng xuồng đi ngược dòng suối, và khi suối không đủ sâu, chúng tôi bước xuống, đẩy xuồng cố gắng đi đến gần nguồn. Một phần dụng cụ đồ đạc do các người khuân vác đảm trách, mỗi người khoảng 45 ký, trừ hai người đầu bếp và ba nhà địa chất.

Tại sao lại phải đi sâu vào núi non như vậy? Bởi vì trên bờ suối và do các đường nứt của dòng suối, người ta nhìn thấy như trên một quyển sách học, tất cả các sự cấu tạo địa chất liên tiếp. Thế là người ta lượm các mẫu đá gô trên các bờ, mỗi mẫu được sắp hạng, phân loại bỏ vào một túi nhỏ. Người ta ghi nhận đường hướng các lớp địa chất chạy về đồng bằng. Với hằng trăm các mẫu địa chất lấy ở nhiều địa điểm khác nhau. Người ta có thể phác họa một bản đồ các lớp địa chất sẽ tìm thấy lại ở đồng bằng vào khoảng từ 100 đến 2.000 thước bề sâu. Rồi tính kỹ theo các dữ kiện ấy, một ngày nào đó người ta đào một cái giếng cách đó 100 cây số, tại một nơi chưa ai đặt chân tới. Vì biết trước rằng đến một mực sâu nào đó sẽ có một lớp dầu hỏa. Khoa học thật là bất ngờ và tôi hết sức thán phục.

Mọi việc tốt đẹp nếu không có bọn Montilones thường hay có những người bị thương hay chết vì bị mũi tên bắn. Điều này khiến việc tuyển người cho các đoàn thám hiểm khó khăn và các công ty phải tốn kém nhiều.

Tôi đã theo đoàn thám hiểm nhiều lần và đã sống những ngày phi thường.

Một trong các nhà địa chất là người Hòa Lan, tên Lapp. Một hôm anh ta lượm trứng cá sấu, ăn rất ngon sau khi phơi nắng. Rất dễ tìm loại trứng ấy, bằng cách theo dấu con cá sấu cái để lại khi nó bò từ bờ suối lên chỗ đất khô để đẻ trứng, trứng ấy nó ấp rất nhiều giờ. Thừa lúc cá sấu cái đi vắng, anh Lapp đào trứng lên rồi thung dung trở lại căn trại. Anh ta vừa đến nơi chỗ tôi đang đóng trại thì con cá sấu xuất hiện như một phi tiễn và đâm vào anh. Nó đã theo dấu tên ăn trộm và đến để trừng phạt. Nó dài hơn ba thước và thở ra những tiếng khàn khàn như mắc bệnh yết hầu. Lapp vùng chạy quanh một cây lớn trong khi tôi ôm bụng cười trước cảnh một chàng vạm vỡ mặc quần ngắn, sải những bước dài thậm thượt miệng kêu la cầu cứu. Crichet cùng các người phu chạy đến: hai tiếng súng bắn đạn nổ chận ngang con cá sấu. Anh Lapp ta, tái xanh như một thây ma, té phịch xuống đất. Mọi người khó chịu vì thái độ của tôi. Tôi giải thích dù sao tôi cũng không thể làm gì được, vì tôi không bao giờ mang súng kềnh càng.

Lúc ăn cơm tối dưới lều vải, trong lúc thưởng thức các đồ hộp, Crichet nói với tôi:

– Anh không còn trẻ, ít nhất anh cũng đến 34 tuổi phải không?

– Hơn một chút, hỏi làm gì vậy?

– Anh sống và cư xử như một người 20 tuổi.

– Anh biết không, không nhiều như thế đâu, tôi 26 tuổi.

– Dối.

– Thật mà, tôi sẽ giải thích tại sao tôi phải nằm ấp. Bây giờ tôi phải sống thời gian 13 năm, vì tôi chưa sống, khoảng đời ấy. Thế nên 39 trừ 13 còn 26, tôi 26 tuổi.

– Tôi không hiểu.

– Không có gì quan trọng.

Quả đúng vậy: tâm hồn tôi như một đứa trẻ 20 tuổi, không thành vấn đề, tôi phải sống 13 năm ấy, tôi cần sống những năm ấy, tôi phải được đền bù lại 13 năm người ta đã cướp của tôi. Tôi phải đốt cháy hoàn toàn khoảng thời gian ấy bằng thái độ bất cần tất cả như ở tuổi hai mươi, lòng chứa chan lưu linh và nhựa sống.

Một buổi mai trước khi mặt trời mọc, một tiếng thét đột ngột đánh thức chúng tôi dậy. Trong lúc móc chiếc đèn bão vừa thắp lên để pha cà phê, anh đầu bếp, bọn phu khuân vác bị bắn hai mũi tên, một ở hông, một ở đùi. Phải đưa ngay anh ta về Maracaibo. Bốn người sẽ khiêng anh trên một cái võng đến một chiếc xuồng đưa anh xuống chiếc xe jeep chở anh đến chiếc xe vận tải chạy về Maracaibo.

Ngày ấy trôi qua trong bầu không khí nặng nề, trì trệ. Chúng tôi có cảm giác quanh mình, trong rừng sâu có nhiều người da đỏ, nhưng không thể thấy, không thể nghe chúng. Càng tiến sâu, chúng tôi lại có cảm giác lọt vào vùng đất săn bắn của chúng. Thú rừng thật nhiều và vì mọi người đều có súng, nên lâu lâu lại hạ một con chim hay một con thỏ. Mọi người đều có vẻ nghiêm trọng không ai ca hát gì hết, và sau khi bắn vài phát súng, họ nói chuyện nho nhỏ với nhau như thể họ sợ người ta nghe được.

Dần dần một mối sợ tập thể xâm chiếm mọi người. Họ muốn ngưng cuộc thám hiểm và trở về Maracaibo. Anh trưởng đoàn Crichet lại muốn tiếp tục đi tới. Anh Carlos, đại diện nghiệp đoàn là một gã can đảm, nhưng cũng bị giao động. Anh nói riêng với tôi.

– Henri, về nhá.

– Tại sao, Carlos?

– Bọn da đỏ.

– Đúng có bọn da đỏ nhưng chúng cũng có thể tấn công chúng mình trên đường về chẳng khác nào trên đường đi tới.

– Không chắc. Có thể chúng ta còn không xa làng của chúng. Nhìn viên đá kia. Chúng nó gieo ngũ cốc.

– Carlos, anh nói có lý. Chúng ta đến Crichet.

Nhà địa chất đã tham gia cuộc đổ bộ ở Normandie ít bị xúc động và là một người say mê nghề nghiệp. Trước mọi người tập họp lại, anh ta nói chúng ta đang ở vào một vùng rất dồi dào dữ kiện địa chất. Anh bực tức và trong lúc nổi giận, anh tuôn ra một câu duy nhất không nên nói ra:

– Nếu các anh sợ thì cứ đi đi. Tôi ở lại.

Mọi người đều bỏ về, trừ Carlos với tôi. Nhưng tôi ở lại với điều kiện phải chôn các dụng cụ vì tôi không muốn mang nặng. Thật vậy, từ ngày tôi bị gãy hai chân trong cuộc vượt ngục thất bại ở Bananquilla, tôi cảm thấy rất nhọc khi phải mang một vật nặng. Carlos sẽ đào tải các mẫu đất đá nhặt được.

Trong 5 ngày, chỉ có Crichet, Lapp, Carlos với tôi. Không có gì xảy ra, thành thật mà nói, chưa khi nào tôi trải qua những ngày thích thú và hứng khởi bằng 5 ngày này, 24 trên 24 giờ biết mình bị rình rập bằng những cặp mắt vô hình. Chúng tôi định bỏ cuộc thì vừa đúng Crichet đi lại phía bờ suối để làm cái việc mình đoán được, bỗng nhiên thấy bụi sậy lay động và có hai bàn tay chậm rãi vạch ra. Điều trông thấy đã cắt ngang công việc anh ta định làm, rồi với thái độ bình tĩnh thường nhật, như không có việc gì cả, anh quay lưng lại đám sậy đi về phía căn lều.

Anh nói với anh Lapp.

– Tôi tưởng đã đến lúc ta nên trở về Maracaibo, chúng ta đã có nhiều mẫu đá và tôi không tin rằng về mặt khoa học chúng ta cần để lại cho bọn da đỏ bốn mẫu người da trắng.

Chúng tôi đi thông suốt đến La Burra, một xóm nhỏ độ mười lăm mái nhà. Chúng tôi đang uống trong khi chờ chiếc xe vận tải đến đón thì có một người lai da đỏ, nặc mùi rượu, kéo riêng tôi ra và nói:

– Anh là người Pháp phải không? Thế thì dốt đến bực đó, làm người Pháp làm gì?

– À, tại sao vậy?

– Tôi nói cho anh biết, các anh đi vào địa giới của bọn Montilones và các anh đã làm gì? Các anh bắn lung tung vào những gì bay, chạy hay bơi. Tất cả mọi người đều có súng. Không phải một cuộc thám hiểm khoa học mà là những buổi săn bắn đồ sộ.

– Anh muốn nói gì?

– Làm như vậy, các anh tàn phá cái mà bọn da đỏ cho là kho lương thực của họ. Họ không có nhiều thực phẩm. Họ chỉ giết đủ cho một hay hai bữa ăn. Không hơn. Vả lại, với cung tên của họ, họ hạ thịt trong im lặng, không làm cho thú vật bỏ chạy. Trong khi các anh tàn sát tất cả và với tiếng súng, các anh làm chim muông kinh hãi. Thế là các con thú di cư đi nơi khác.

Thằng cha này nói có lý. Tôi thích làm quen với hắn.

– Anh uống gì? Tôi trả lời.

– Hai ly rượu rum. Cảm ơn.

Rồi hắn tiếp.

– Vì vậy mà bọn Montilones dùng tên bắn các anh. Họ cho rằng tại các anh nên họ kiếm ăn khó khăn.

– Tóm lại, nếu tôi hiểu, chúng tôi đã tàn phá tủ đồ ăn của họ.

– Đúng. Ngoài ra mỗi khi ngược dòng một con suối. Đến chỗ hai bờ họp lại, ít nước đến nỗi các anh phải xuống đi chân đẩy xuồng, các anh có để ý rằng các anh đã phá vỡ các bờ đập làm bằng cành cây và tre không?

– Có, thường thấy lắm.

– Thế thì những cái mà các anh phá hủy một cách vô tình, chính là những bẫy cá của bọn Montilones và như thế đã gây nhiều thiệt hại cho chúng. Vì các bẫy ấy là cả một công trình. Nó gồm những ngăn nắp rắc rối, quanh co, đưa đến các con cá lội ngược dòng đến một cái bờ lớn, ở đó cá không ra được. Phía trước là một hàng rào bằng tre, và không cách gì tìm ra cửa vào làm bằng những dây leo mà các con cá đã vạch ra để chun vào, rồi dòng nước đã dán lại vào cánh cửa sau khi chúng đã vào trong bờ. Tôi đã trông thấy nhiều bẫy cá dài hơn năm chục thước. Một công trình tuyệt kỹ.

– Anh có lý hoàn toàn. Phải là những thằng phá hoại như chúng tôi mới đạp đổ những công trình như vậy.

Trên đường về, tôi suy nghĩ về những điều thằng lai da đỏ ướp mềm rượu rum nói và tôi định làm thử một cái gì. Vừa đến Maracaibo trước khi về nhà để nghỉ tám ngày, tôi để một lá thư nơi nhà ông Blanchet, trưởng phòng nhân viên, xin gặp ông ta ngày hôm sau.

Ông tiếp tôi và cùng lúc tôi gặp vị chỉ huy tất cả các nhà địa chất. Tôi giải thích cho họ hiểu rằng từ nay trong các cuộc thám hiểm sẽ không có người chết, hoặc người bị thương nếu tôi được chỉ huy toán thám hiểm. Dĩ nhiên Crichet vẫn là người chỉ huy chính thức nhưng trên thực tế chính tôi sẽ phụ trách về mặt kỷ luật của đoàn. Họ quyết định thử một lần xem sao, được như vậy sẽ giải quyết mọi chuyện bởi vì Crichet đã làm một bản phúc trình theo đó nếu được tiến sâu hơn kỳ thám hiểm vừa rồi, nghĩa là đến một vùng nguy hiểm hơn nhiều, sẽ tìm thấy một kho tàng dữ kiện giá trị vào bậc nhất. Các điều kiện liên quan đến chức vụ mới của tôi cộng với chức vụ đầu bếp (tôi vẫn còn là đầu bếp của các nhà địa chất) sẽ được ấn định sau khi tôi trở về. Lẽ dĩ nhiên tôi chưa nói rõ cái lý do khiến tôi dám bảo đảm an ninh cho đoàn thám hiểm, và vì những người Mỹ rất thực tế, họ không hỏi han lôi thôi, chỉ có kết quả là đáng kể.

Chỉ có Crichet là hiểu công chuyện. Sắp đặt như vậy có lợi cho anh ta, nên anh đồng ý và tin tưởng nơi tôi. Anh tin chắc tôi đã tìm ra một phương cách chắc chắn để tránh những rắc rối. Vả chăng anh ta cũng đã cảm kích về việc tôi đã là một trong ba người ở lại với anh trong khi thiên hạ đã bỏ rơi anh.

Tôi đến gặp ông Tỉnh Trưởng và trình bày cho ông nghe công chuyện tôi dự định. Ông tỏ vẻ hiểu biết, thân mật, nhờ bức thư giới thiệu của ông, tôi được viên chỉ huy quân đội quốc gia trong tỉnh ra lệnh cho đồn cuối cùng, trước khi đến lãnh thổ của bọn Montilones phải giữ lại khí giới của những người tôi đưa tên trước khi cho đoàn thám hiểm đi qua, họ sẽ bày ra một cái cớ hữu lý và tin được. Thật vậy, nếu từ lúc khởi hành ở Maracaibo, chúng nó biết sẽ đến lãnh thổ bọn Montilones với hai tay không, không bao giờ chúng nó chịu đi. Tôi phải hành động bất ngờ ngay tại chỗ.

Mọi việc xảy ra tốt đẹp. Đến đồn cuối cùng, tại La Burra, tất cả mọi người trong đoàn đều bị tước khí giới, trừ hai người được lệnh của tôi chỉ bắn khi nào gặp trường hợp gặp nguy kịch, không bao giờ bắn chim muông hay bắn chơi. Tôi chỉ có một khẩu súng lục mà thôi.

Từ ngày ấy, các đoàn thám hiểm không gặp rắc rối nữa. Bọn Mỹ nhận thấy điều ấy, nhưng vì họ chỉ kể hiệu quả nên không hỏi tôi lý do.

Tôi được cả đoàn thông cảm và nghe lời. Tôi say mê vai trò của tôi. Bây giờ, thay vì các chiếc xuồng của chúng tôi dẫm lên các bẫy cá, chúng tôi đi bọc mà không động chạm gì đến. Một việc nữa: vì biết rằng nỗi âu lo chính yếu của bọn Montilones là sợ đói, nên mỗi lần nhổ trại, chúng tôi để lại những chiếc hộp đựng đầy muối, đường và đôi khi một chiếc phạng, một con dao, một lưỡi búa nhỏ. Vòng về, đi qua trở lại những nơi chúng tôi đã cắm trại, không còn thấy gì cả. Tất cả đã biến mất, ngay đến các chiếc hộp cũng không còn. Như thế là mưu mẹo của tôi có hiệu quả và bởi lẽ ở Maracaibo không ai biết tại sao, người ta đồn tôi là một tay phù thủy hoặc tôi thông đồng với bọn Montilones khiến tôi cười vỡ bụng.

Có một kỳ tôi đã học được một cách câu cá kỳ lạ: bắt cá mà không cần lưỡi câu. Không có mồi, chỉ cần đưa tay thong thả bắt cá trên mặt nước. Giáo sư của tôi là con danta, một giống vật lớn hơn con heo to. Đôi khi mình nó dài hơn hai thước. Một buổi xế, đang đứng bên bờ suối, lần đầu tiên tôi thấy nó. Nó đi ra khỏi nước, tôi quan sát mà không nhúc nhích để cho nó khỏi sợ. Da nó giống da con tây ngu, hai chân trước ngắn hơn hai chân sau, và nơi chỗ miệng có một cái vòi ngắn nhưng rất cứng. Nó lại gần một loại dây leo, ăn một mớ khá nhiều vì nó là loài thú ăn cỏ. Rồi tôi thấy nó đi xuống ruộng trở lại, tiến đến một vùng nước không chảy. Nó dừng lại và như một con bò cái, nó mửa ra, thế là nó thuộc loài nhai lại. Một thứ nước xanh lục chảy từ vòi ra. Rất khéo léo nó trộn chất nước ấy với nước suối bằng cách quậy chiếc đầu lớn của nó trong ấy. Tôi đang tự hỏi nó làm như vậy để làm gì thì ít phút sau tôi ngạc nhiên thấy nhiều con cá phơi bụng trên mặt nước, vẫy vẫy nhè nhẹ như bị đầu độc hay say ngủ. Thế là con danta thong thả đớp hết con cá này đến con cá khác, tôi vô cùng sửng sốt.

Từ ngày đó tôi thử áp dụng phương pháp ấy. Nhận biết được giống dây leo con vật đã ăn trước mặt tôi. Tôi bứt một bó lớn, lấy hai tảng đá nghiền nát để lấy chất nhựa bỏ vào một cái hũ. Rồi tôi đến rải tại một chỗ nước sông không bị xao động. Toàn thắng, vài phút sau, tôi thấy nhiều cá nổi lên mặt nước, ngất ngư. Y như khi con danta làm vậy. Chỉ cần cẩn thận một điều: nếu cá ăn được phải lấy ruột bỏ đi ngay. Nếu không hai giờ sau, chúng thối hết. Tiếp theo cuộc thí nghiệm ấy, các nhà địa chất thường được ăn cá rất ngon. Tôi ra lệnh cho mấy người trong đoàn, trong bất cứ trường hợp nào, không bao giờ được giết hại một loại ngư phủ dễ thương như vậy. Phương chi chúng hoàn toàn vô hại.

Trong các cuộc thám hiểm, đôi khi tôi đem theo một gia đình thợ săn cá sấu, gia đình Fuenmayor, một ông cha với hai đứa con trai, để dẫn đường. Mọi người đều bằng lòng vì ba cha con am thạo vùng này, nhưng nếu đi một mình họ sẽ trở thành mồi ngon cho bọn Montilones. Đi với chúng tôi, chúng tôi nuôi ăn họ, để đáp lại, ban ngày họ chỉ đường cho chúng tôi, đêm lại họ săn cá sấu. Mọi người đều có lợi.

Mấy người thợ săn thuộc giống Maracuchos ở Maracaido rất có xã hội tính. Họ nói như hát, tôn thờ tình bạn đến cao độ. Mang giòng máu da đỏ, họ có tất cả mọi đức tính của người da đỏ, ngoài ra còn rất thông minh và ranh mãnh.

Tôi có những tình bạn tuyệt vời, bền chặt với người Maracuchos, đàn ông cũng có đàn bà cũng có, vì phụ nữ Maracuchos rất đẹp, biết yêu và làm cho người khác mê say.

Săn cá sấu, những con vật dài từ hai đến ba thước là một việc rất nguy hiểm. Đêm nay, tôi theo cha con ông Fuenmayor. Trên chiếc xuồng rất hẹp và rất nhẹ, ông cha ngồi phía sau đằng lái, tôi ngồi giữa, đứa con trai phía đầu mũi. Trời tối đen, chỉ nghe tiếng rừng sâu và loáng thoáng tiếng nước róc rách vào mạn xuồng. Chúng tôi không hút thuốc, không gây tiếng động. Mái chèo vừa đưa đi tới, vừa lái chiếc xuồng không được động vào mạn xuồng bất cứ vì lý do gì.

Thỉnh thoảng đưa vệt sáng của chiếc đèn bấm quét tất cả mặt nước, chúng tôi thấy xuất hiện từng cặp chấm đỏ, giống như những chiếc đèn pha xe hơi chiếu vào các bảng quảng cáo lân quang dọc đường lộ. Hai chấm đỏ một con cá sấu. Người ta biết phía trước cặp mắt, trên mặt nước, có hai lỗ mũi, vì hai mắt và cái mõm là hai điểm duy nhất, nổi trên mặt nước khi con cá sấu nằm nghỉ. Người ta chọn con cá sấu để hạ khi nào khoảng cách giữa người thợ săn với các chấm đỏ gần nhất. Một khi đã nhắm xong, người ta tắt hết đèn, ước lượng mà tiến tới. Ông già Fuenmayor tỏ ra thần tình trong việc dùng ánh đèn soi trong một giây để định một cách chính xác chỗ con cá sấu đang nằm. Chúng tôi tiến mau đến đó và khi gần kề, chúng tôi chiếu ánh sáng vào con vật, mỗi lần như vậy đều bị chói mắt. Vệt ánh sáng không rời con vật cho đến lúc chúng tôi chỉ còn cách nó hai hoặc ba thước. Ở mũi xuồng, đứa con trai dùng tay trái chiếu đèn vào con cá sấu, còn tay mặt dùng sức bình sinh liệng chiếc lao có gắn 10 ký chì, chỉ có thứ lao ấy mới đâm thủng lớp da rắn chắc và ăn sâu vào thịt.

Lúc này phải nhanh tay, vì vừa bị lao đâm, con vật lặn xuống, và về phần chúng tôi, với ba mái chèo, chúng tôi bơi gấp vào bờ. Chúng tôi hầu như cho xuồng nhảy vọt vì chậm một chút, cá sấu đủ thì giờ trồi lên mặt nước, nhào tới dùng đuôi quật mạnh cho chiếc thuyền lật úp, biến bọn thợ săn thành mồi ngon cho những con cá sấu khác vừa được báo động. Vừa vào bờ chúng tôi nhảy lên rồi nhanh như chớp lấy dây quấn vào một thân cây. Nó bò đến, chúng tôi cảm thấy nó bò đến để xem nó dính vào cái gì. Nó không biết việc gì đã xảy ra, ngoại trừ nó nghe đau ở lưng. Nó dò xem tình hình. Chúng tôi nhẹ tay lượm mà không kéo mối dây quấn vào thân cây. Nó sắp nổi lên gần bờ. Người con trai Fuenmayor, cầm trên tay một cái búa mỏng và rất bén, đúng lúc nó nổi lên, đập một nhát rất mạnh trên đầu con vật. Nhiều khi phải đập đến 3 nhát con cá sấu mới chết. Mỗi lần bị một nhát búa, nó vẫy đuôi, nếu đụng người cầm búa, người này sẽ bị đưa lên trời luôn. Nếu búa chém không chết, trường hợp này cũng thường xảy ra, phải nới lỏng dây để con cá sấu trở lại dưới suối. Bởi vì, với sức mạnh kinh khủng, nó sẽ làm rơi cây lao, dù đã đâm cứng vào thân nó. Phải đợi một lúc rồi lại kéo một lần nữa.

Tôi đã trải qua một đêm hi hữu, chúng tôi đã giết nhiều cá sấu. Chúng tôi để trên bờ. Đến sáng, cha con Fuenmayor trở lại lấy da bụng và miếng da ở dưới đuôi. Da lưng quá cứng không thể khai thác. Rồi chúng tôi chôn các con vật khổng lồ ấy: không nên quăng ra suối vì nước suối sẽ nhiễm độc. Cá sấu không ăn thịt nhau, dù là thịt cá sấu chết.

Tôi đi cùng các đoàn thám hiểm nhiều lần, kiếm được nhiều tiền và có thể dành cũng khá, thì một biến cố lạ lùng nhất đời tôi xảy đến.