Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 30 Sep 2025

Google images edited by Sơn râu

9. Maracaibo – Xứ Người Da Đỏ

TUY cơ quan cảnh sát biết rõ người ta đang chuẩn bị một cuộc đảo chánh nữa, nên còn nhiều việc phải làm hơn là theo dõi tôi, tôi càng xa Caracas để được quên đi chừng nào hay chừng ấy. Trong hiện tại hình như họ đã quên cuộc đảo chánh bị tan vỡ trong trứng nước, nhưng nên đề phòng thì hơn.

Thế nên tôi chụp ngay cơ hội khi nhân tạt ngang nhanh qua Caracas, tôi được một người bạn giới thiệu với một thiếu nữ nguyên là người mẫu ở Ba Lê, đang kiếm một người giúp nàng cai quản một khách sạn vừa mới mở ở Maracaibo. Tôi vui vẻ chấp nhận làm một thứ đàn ông đa hiệu. Thiếu phụ tên Laurence đẹp và lịch sự trước đây đến Caracas để trình bày kiểu áo rồi ở luôn tại Venezuela. Giữa cơ quan cảnh sát Caracas với đô thị Maracaibo, đã có một ngàn cây số, thế nên đối với tôi tiện vô cùng.

Tôi đi quá giang xe một người bạn và sau một cuộc hành trình 14 giờ, tôi trông thấy cái mà người ta gọi là cảnh hồ Maracaibo tuy thực ra đó là một cái đầm dài 150 và rộng một trăm cây số, nối liền với biển bằng một con lạch rộng mười cây số. Maracaibo ở về mạn Bắc trên bờ phía tây của con lạch, bây giờ được nối liền với bờ phía đông bằng một cây cầu. Thời ấy chưa có cầu và đi từ Caracas đến phải qua một chiếc phà.

Cảnh hồ thật là hùng vĩ, phi thường; êm ả, đó là hàng ngàn ngôi tháp bằng sắt. Trông như một khu rừng mênh mông, tít mù với những hàng cây cân đối nên có thể trông thấy chân trời.

Nhưng những cây ấy là các giếng dầu, dưới chân mỗi giếng có một quả lắc vĩ đại ngày đêm không ngừng bơm từ lòng đất chất vàng đen quí báu.

Một chiếc phà chở xe cộ, hành khách và hàng hóa qua lại liên hồi giữa con đường từ Caracas đến với Maracaibo. Trên chiếc phà, như một đứa trẻ, tôi đi từ mạn bên này qua mạn bên kia, hết sức sửng sốt, thán phục nhìn thấy các cây thấp bằng sắt từ mặt hồ mọc lên và nghĩ rằng cách đó hai ngàn cây số, đầu bên kia xứ này, ở Guyanne thuộc Venezuela, Chúa đã vung vãi kim cương, vàng, sắt, niken, man-ga-ne, bầu xít, uranium, và nhiều thứ khác nữa, còn ở đây thì rải cho dầu lửa, động cơ của thế giới, nhiều đến nỗi hàng ngàn máy bơm hút cả ngày đêm mà không cạn hết được. Thế thì xứ Venezuela không có gì trách Thượng đế cả.

Khách sạn Normandie là một biệt thự rộng lớn đẹp đẽ có vườn hoa chăm sóc kỹ lưỡng. Người đẹp Laurence tiếp tôi niềm nở:

– Anh Henri, đây là vương quốc của tôi, nàng cười nói.

Nàng đã mở khách sạn này chỉ mới hai tháng. Mười sáu phòng chỉ có thế, nhưng vô cùng sang trọng, mỗi phòng có buồng tắm như trong một đại khách sạn. Chính nàng đã tự tay trang trí từ cái phòng ngủ, đến các buồng rửa mặt, kể cả phòng khách, sân thượng và phòng ăn. Tôi bắt tay vào việc và nhận thấy không phải chuyện dễ khi làm người đệ nhất cộng sự viên của người phụ nữ Pháp chưa đến bốn mươi tuổi này, mỗi sáng thức dậy lúc 6 giờ, canh chừng có khi tự tay làm thức ăn điểm tâm cho khách trọ.

Suốt ngày, không biết mệt, nàng đi đi lại lại, chăm lo mọi việc, để mắt đến tất cả, thế mà vẫn còn thì giờ chăm sóc một cây hồng hoặc quét dọn một lối đi. Nàng nắm chắc cuộc đời bằng đôi bàn tay mở rộng, vượt qua những khó khăn hầu như nan giải để tạo dựng cơ nghiệp này, và nàng quá tin tưởng vào sự thành công, khiến tôi cũng hoạt động hăng say như nàng. Hay gần như thế. Tôi cố hết sức giúp nàng giải quyết vô số vấn đề được đặt ra. Nhất là vấn đề tiền bạc. Nàng mang nợ ngập đến cổ, vì đã biến biệt thự này thành ra một khách sạn hạng sang bằng cách đi vay mượn hầu hết những gì cần thiết.Hôm qua, không tham khảo ý kiến nàng, tôi đã vận động và đạt được một kết quả phi thường do một công ty dầu lửa thỏa thuận.

– Chào Laurence.

– Chào anh, Henri, đã tám giờ tối rồi. Tôi không rầy anh, nhưng cả buổi chiều, tôi không thấy anh đâu hết.

– Tôi đi dạo.

– Anh nói đùa hay nói thật?– Đúng vậy, tôi đùa với cuộc đời. Đời vui lắm mà, có phải không?

– Không hẳn luôn luôn như vậy. Chính tôi đang cần anh nâng đỡ về phương diện tinh thần vì tôi đang gặp nhiều chuyện bực mình.

– Bà bực mình lắm hả?

– Phải. Tôi phải trả tiền sửa chữa khách sạn và tuy công việc phát đạt, nhưng không dễ gì trả nổi. Tôi nợ rất nhiều.

– Laurence, bà bình tĩnh nghe đây, bà không còn nợ gì nữa hết.

– Anh đùa dai hả?

– Không. Này: bà đã đặt để tôi như một người hùn với bà và tôi nhận thấy nhiều người tưởng tôi là ông chủ.

– Rồi sao?

– Thế này! Một anh người Canađa của công ty Lumus, tưởng tôi là ông chủ cách đây vài ngày, anh ta có nói với tôi về một vụ làm ăn mà anh nghĩ có thể cộng tác với tôi được. Hôm nay tôi đến thăm anh ta và vừa về đây.

– Nói mau đi! Laurence nói, đôi mắt mở lớn.

– Kết quả! Công ty Lumus thuê khách sạn của bà, thuê hết, trả tiền hết trong một năm!

– Khó tin quá.

– Thật mà, tôi thề với bà.

Quá xúc động Laurence ôm tôi hôn lên trên hai má, rồi ngồi phịch xuống ghế, hai chân quỵ xuống.

− Dĩ nhiên tôi không thể ký bản giao kèo hậu hĩ ấy và ngày mai người ta sẽ mời bà đến công ty.

Nhờ bản giao kèo ấy, với khách sạn Normandie, Laurence đã có một tài sản nho nhỏ. Chỉ với ba tháng tiền thuê nhà trả trước, nàng đã có thể trả hết nợ.

Sau khi giao kèo được ký kết, những người quản lý công ty Lumus, Laurence và tôi đã uống sâm banh.

Đêm nay, nằm trên chiếc giường rộng, tôi vô cùng sung sướng. Lại thêm men rượu sâm banh, tôi nhìn thấy cuộc đời bằng màu hồng. Mày không ngốc hơn nàng đâu: phải chăng người ta có thể tạo một địa vị, hơn thế, trở nên giàu có, bằng cách làm việc? Và bắt đầu từ bàn tay trắng? Trời ơi, quả là một điều tôi vừa khám phá tại khách sạn Normandie. “Vâng, quả là một sự khám phá, bởi vì lúc còn ở bên Pháp, trong ít năm tôi có thì giờ nhìn đời tôi vẫn nghĩ rằng một người thợ suốt đời vẫn là một người thợ”. Ý nghĩ hoàn toàn sai lầm ấy lại càng sai lầm tại xứ Venezuela này, ở đây mọi cơ hội, mọi sự dễ dàng được dành cho ai muốn làm một cái gì.

Nhận xét này rất quan trọng để thực hiện ý đồ của tôi. Thật vậy, không phải vì ham tiền mà tôi lao mình vào những vụ bất lương, tôi không sở trường về trộm cắp. Nhưng tôi không thể tin rằng người ta có thể thành công thật sự trong đời, tạo nên một địa vị từ số không và nhất là đối với tôi, kiếm đủ số tiền khá lớn để đi Pháp thanh toán món nợ. Thế mà việc ấy có thể được: chỉ cần một điều tiên khởi: một số vốn tối thiểu, vài ngàn đồng, số tiền ấy cũng dễ dành dụm một khi tìm được công việc làm khả quan…

Thế thì, Papillon, không nên bày trò bất lương nữa, dù lớn dù nhỏ. Hãy tìm những phương pháp đơn giản và lương thiện, Laurence đã thành đạt bằng đường lối ấy, thế thì ta cũng vậy. Nếu mày chịu thực hiện được như vậy, ông già mày sẽ vô cùng sung sướng.

Điều phiền phức duy nhất, nếu theo đường lối ấy, là phải cần một thời gian khá lâu mới có thể trả mối thù. Không phải trong ba ngày, tôi đã có đủ số tiền cần thiết. Miguel đã nói với tôi tại mỏ kim cương: “Thù hận là một thức ăn phải dùng lúc nguội”. Rồi tính.

Maracaibo đang sôi sục. Trong không khí rộn rịp, các xí nghiệp, các loại xây cất, các xưởng lọc dầu phát triển quá chừng đến nỗi từ rượu bia đến xi măng, tất cả đều bán chợ đen. Người ta không sản xuất đủ nhu cầu. Vì nhu cầu tăng quá nhanh. Thứ gì cũng có giá, đôi cánh tay, sức lao động, mọi hình thức thương mại.

Khi tìm ra được mỏ dầu, nền kinh tế của vùng đó trải qua hai thời kỳ khác hẳn nhau. Thời kỳ đầu, trước lúc khai thác mỏ dầu, thời kỳ tiền khai thác. Các công ty đến, đặt cơ sở, phải có văn phòng, trang trại, đắp

đường, bắt dây điện cao thế, giếng, xây tháp, đặt máy bơm vân vân. Đó là thời kỳ vàng son, đối với tất cả các ngành chuyên nghiệp và đối với mọi tầng lớp xã hội.

Giới bình dân, với đôi bàn tay sần sùi có nhiều giấy bạc, ý thức giá trị kim tiền và an sinh của ngày mai. Gia đình được tổ chức lại, nhà cửa được mở rộng ra, được cải tiến, con nít ăn mặc tử tế cắp sách đến trường, thường đi học bằng các chiếc xe ca của các công ty.

Tiếp theo là thời kỳ thứ hai, thể hiện bằng hình ảnh chiếc hồ Maracaibo biến thành một rừng tháp bằng sắt (theo như phía tôi trông thấy). Mỗi ngày, hằng ngàn máy bơm tự động rút lên hằng triệu thước khối vàng đen.

Tuy nhiên, khối của khổng lồ ấy không lọt vào tay giới bình dân, hằng triệu mỹ kim đi thẳng vào ngân quỹ các ngân hàng của chính phủ hoặc của các công ty. Hai giai đoạn khác nhau hẳn. Tình hình trở nên khó khăn, nhân viên bị giảm đến mức tối thiểu, không còn tài sản công cộng, tất cả những kinh doanh lớn nhỏ thuộc về dĩ vãng. Các thế hệ sau chỉ tưởng tượng qua lời kể lại của các bậc cha ông: “Khi Maracaibo còn triệu phú, ngày xưa”.

Nhưng tôi thì đã gặp may, tôi đến vào thời kỳ thứ hai của Maracaibo. Không mong gì nơi các máy bơm trên hồ, nhưng nhờ vào nhiều lối tiêu xài như điên của các công ty dầu hỏa vừa trúng thầu các đặc nhượng chạy từ dãy núi Perija đến bờ hồ và đến bờ biển.

Đúng là thời kỳ thích hợp cho tôi.

Tôi sẽ định cư ở đây. Chắc hẳn là nhiều chuyện kỳ lạ lắm, tin như vậy. Muốn thành đạt tôi sẽ làm bất cứ việc gì, bằng mọi phương tiện tôi sẽ làm việc để kiếm phần tối đa trong ổ bánh khổng lồ này. Papillon, hứa rồi đấy nhá! Đến phiên mày phải thành công như những người lương thiện. Nghĩ cho kỹ, họ có lý do họ đã trở nên giàu có mà không bị vào tù.

“Đầu bếp Pháp rành nghề, 39 tuổi, tìm việc làm tại các công ty dầu hỏa, lương tối thiểu 800 mỹ kim”.

Nhờ Laurence và người bếp của nàng, đã học những điều thô thiển và cách nấu nướng và tôi nhất định thử thời vậy. Lời rao ấy được đăng trên một tờ báo địa phương và tám ngày sau, tôi trở thành đầu bếp của công ty khai thác Richmond.

Tôi luyến tiếc giã từ Laurence bởi vì nàng không thể nào trả cho tôi số lương ấy.

Giờ đây một thời gian thực hành tôi rất thạo làm bếp. Lúc đến nhận việc tôi run sợ quá chừng, đến nỗi bọn bếp khác trông thấy ngay rằng anh đầu bếp Pháp không biết gì về vấn đề soong chảo. Nhưng tôi không khỏi ngạc nhiên khi cũng nhận thấy ngay rằng chúng nó rất sợ người đầu bếp Pháp phát giác sự thật tất cả chúng nó chỉ là những đứa rửa chén. Tôi thở phào: tôi có một quyển sách dạy nấu ăn, bằng tiếng Pháp, do một gái điếm về già tặng.

Trưởng phòng nhân viên là một người Gia Nã Đại, ông Blanchet. Hai ngày sau, ông giao cho tôi phụ trách công việc nấu ăn cho các cấp chỉ huy của công ty, thứ dữ ấy mà!

Buổi sáng hôm đầu, tôi trình cho ông ấy xem một thực đơn rùng rợn. Tuy nhiên tôi lưu ý ông nhà bếp thiếu phương tiện nên không thể thực hiện thực đơn ấy được. Ông quyết định tôi sẽ có một ngân quỹ riêng cho tôi làm quản lý. Không cần nói cũng biết tôi ăn lời khá nhiều, nhưng mấy ông cao cấp cũng được ăn uống thỏa thích. Thế là vui vẻ cả làng.

Mỗi buổi tối, tôi yết thực đơn của ngày hôm sau tại phòng khách, dĩ nhiên là bằng tiếng Pháp, những tên gọi các món ăn rất kêu lấy từ quyển sách dạy nấu ăn, đã đẩy mạnh vào các ngài. Vả lại, tôi tìm được trong thành phố một tiệm chuyên bán các nguyên liệu Pháp rồi nhờ phương pháp làm bếp và nhờ đồ hộp của hiệu Potin và Radel, tôi xoay sở tài tình đến nỗi các vị cao cấp của tôi thường đưa các bà vợ đến. Thay vì 12 họ đến 20 người. Một khía cạnh nào đó thì khá nhiều phiền phức, nhưng mặt khác, người ta ít chú ý đến cách chi phí của tôi bởi vì theo thể lệ, tôi chỉ nấu dọn cho nhân viên hiện dịch.

Tóm lại, vì thấy họ quá bằng lòng nên tôi xin tăng lương lên 1.200 Mỹ kim mỗi tháng, nghĩa là thêm 400 Mỹ kim. Họ từ chối, chỉ thuận 1.000, tôi cũng nhận, nhưng nói cho họ biết đối với một việc đầu bếp hữu hiệu như vậy thật là tồi tệ.

Nhiều tháng trôi qua, nhưng riết rồi, làm việc có giờ giấc nhất định như vậy khiến tôi bực bội hết sức chẳng khác nào một cổ áo quá chật. Tôi bắt đầu thấy chán công việc hỏa đầu và tôi xin vị chỉ huy các nhà địa chất học đem tôi theo mỗi khi ông đi thám hiểm mỏ dầu tại các nơi kỳ thú nhất, không kể nguy hiểm.

Quả vậy, các cuộc thám hiểm có mục đích tìm hiểu địa chất của dãy núi Perija ngăn cách xứ Venezuela với xứ Colombie, ở về phía tây hồ Maracaibo. Đó là xứ sở của một giống người da đỏ hiếu chiến, rất dã man, bộ lạc Montilones nên người ta thường gọi dãy núi Perija là dãy núi của người Montilones. Đến bây giờ người ta vẫn mù tịch về nguồn gốc đích xác của sắc dân ấy, ngôn ngữ và tập quán của họ rất khác các bộ lạc láng giềng và trong lúc tôi viết mấy dòng này, nền văn minh mới bắt đầu và xâm nhập vào, vì họ rất nguy hiểm. Họ sống trong những túp lều tập thể, từ 50 đến 100 người, đàn ông, đàn bà, trẻ con, hoàn toàn chung chạ. Gia súc duy nhất là con chó. Họ dã man đến độ người ta kể lại trường hợp thường xảy ra những người Montilones bị người “Văn minh” bắt, đôi khi bị thương, mặt dù được đối đãi tử tế vẫn nhất định không chịu ăn uống gì hết và cuối cùng tự tử bằng cách lấy răng cắn cho đứt mạch máu cổ tay. Từ thời kỳ tôi kể lại, các linh mục giòng Capucins đã can đảm đến ở dọc theo sông Santa Rosa, chỉ cách túp lều công cộng gần nhất độ vài cây số. Cha bề trên của hội truyền giáo phải dùng đến các phương pháp hiện đại nhất như bỏ từ phi cơ xuống nào là thực phẩm, quần áo, mùng mền, và hình chụp các cha Capucins. Hơn thế nữa, Ngài lại còn thả dù xuống những người nộm bằng rơm mặc áo giòng Capucins trong túi đầy thức ăn đủ loại, cá và sữa hộp. Ông cha không ngu tí nào: một ngày nào đó, ông bách bộ đến, chúng tưởng từ trên trời rơi xuống.

Nhưng thời kỳ tôi xin được tham dự các đoàn thám hiểm là vào năm 1948 rất lâu trước các lần cố gắng xâm nhập của nền văn minh, sự xâm nhập này thực ra chỉ khởi đầu vào năm 1965.

Đối với tôi, các cuộc thám hiểm ấy có ba khía cạnh hữu ích. Trước hết, đó là một cuộc sống hoàn toàn khác hẳn cuộc sống trong bếp của công ty Richmond mà tôi đã bắt đầu chán. Tôi lại được dịp phiêu lưu trong lòng tạo vật hùng vĩ, nhưng đây là một nếp sống phiêu lưu lương thiện. Dĩ nhiên có nguy hiểm, thật như trong mọi cuộc phiêu lưu nhiều lần một đoàn thám hiểm trở về thiếu mất một hai người. Bọn Montilones bắn cung rất tài và như người ta thường nói trong vùng này, họ để mắt đến đâu là họ để tên đến đó. Nhưng bị giết mà không bị ăn thịt, vì họ không phải giống ăn thịt người. Ít ra cũng được điều đó.

Khía cạnh thứ hai, các cuộc xâm nhập 3 tuần lễ trong cảnh rừng già nguy hiểm ấy được trả lương rất hậu. Tôi lãnh gấp đôi lương đầu bếp. Một điểm rất đáng kể trong ý đồ của tôi.

Điểm thứ ba: Tôi thích được gần gũi các nhà địa chất học. Họ rất thông thái. Tuy biết rõ rằng bây giờ đã quá trễ để thâu thập những kiến thức thay đổi hẳn con người tôi, tôi vẫn có cảm giác tưởng chừng dụng với những nhà bác học ấy dù sao cũng không phí thì giờ.

Tóm lại, tôi đi với họ lòng tràn đầy hăng hái và tin tưởng. Khỏi cần sách nấu ăn. Chỉ cần đồ hộp, biết làm một món bánh ngọt với bánh mì. Học làm các món ấy không khó chút nào.

Người bạn mới của tôi, nhà địa chất học trưởng đoàn thám hiểm tên là Crihet. Anh ta được công ty thám hiểm California biệt phái sang công ty Richmond.

Anh biết hết về địa chất học, môn dầu hỏa. Ngoài điều ấy ra, anh có biết chiến tranh vì anh đã đi đánh giặc, nhưng anh không chắc hoàng đế nước Nga đã sống trên đời này trước hay sau Nã Phá Luân. Vả chăng, anh bất cần điều ấy, không biết lịch sử thế giới anh vẫn khỏe mạnh, vẫn có một người vợ tuyệt hảo, sinh con đẻ cái và cung cấp cho công ty của anh những tài liệu về địa chất cần thiết.

Tuy nhiên, tôi đoán anh biết nhiều hơn những điều anh nói, và tôi có kinh nghiệm nên đề phòng óc châm biếm của hạng người như anh ta, thường khác với dân xứ Ardèche của tôi. Chúng tôi rất hiểu nhau.

Một kỳ thám hiểm như vậy kéo dài từ 20 đến 26 ngày khi về, được nghỉ tám ngày. Đoàn thám hiểm gồm một nhà địa chất, trưởng đoàn, hai nhà địa chất khác và từ 12 đến 18 người khuân vác hoặc phụ giúp, chỉ cần mạnh và có kỷ luật. Mấy người này ở căn lều riêng và có đầu bếp riêng. Tôi thì đặc trách cho ba nhà địa chất. Mấy người khuân vác không đần độn, và trong số ấy có một đảng viên đảng A.D. (Dân chủ tác động) một đảng tả phái có nhiệm vụ nhắc nhở tôn trọng các luật lệ nghiệp đoàn. Hắn tên Calos. Mọi người đều hòa thuận, chính tôi giữ sổ sách kế toán về giờ phụ trội, được họ ghi chép rất cẩn thận, không trồi không sụt.

Cuộc thám hiểm đầu tiên làm tôi hết sức hăng say. Công việc tìm kiếm các dữ kiện địa chất về mỏ dầu rất kỳ lạ. Mục tiêu là phải đi ngược dòng các con suối trong núi, càng xa càng hay, đến chỗ các con suối chảy lách giữa các tảng đá. Chúng tôi đi đến tận cùng bằng xe vận tải, rồi bằng jeep. Khi hết đường mòn, dùng xuồng đi ngược dòng suối, và khi suối không đủ sâu, chúng tôi bước xuống, đẩy xuồng cố gắng đi đến gần nguồn. Một phần dụng cụ đồ đạc do các người khuân vác đảm trách, mỗi người khoảng 45 ký, trừ hai người đầu bếp và ba nhà địa chất.

Tại sao lại phải đi sâu vào núi non như vậy? Bởi vì trên bờ suối và do các đường nứt của dòng suối, người ta nhìn thấy như trên một quyển sách học, tất cả các sự cấu tạo địa chất liên tiếp. Thế là người ta lượm các mẫu đá gô trên các bờ, mỗi mẫu được sắp hạng, phân loại bỏ vào một túi nhỏ. Người ta ghi nhận đường hướng các lớp địa chất chạy về đồng bằng. Với hằng trăm các mẫu địa chất lấy ở nhiều địa điểm khác nhau. Người ta có thể phác họa một bản đồ các lớp địa chất sẽ tìm thấy lại ở đồng bằng vào khoảng từ 100 đến 2.000 thước bề sâu. Rồi tính kỹ theo các dữ kiện ấy, một ngày nào đó người ta đào một cái giếng cách đó 100 cây số, tại một nơi chưa ai đặt chân tới. Vì biết trước rằng đến một mực sâu nào đó sẽ có một lớp dầu hỏa. Khoa học thật là bất ngờ và tôi hết sức thán phục.

Mọi việc tốt đẹp nếu không có bọn Montilones thường hay có những người bị thương hay chết vì bị mũi tên bắn. Điều này khiến việc tuyển người cho các đoàn thám hiểm khó khăn và các công ty phải tốn kém nhiều.

Tôi đã theo đoàn thám hiểm nhiều lần và đã sống những ngày phi thường.

Một trong các nhà địa chất là người Hòa Lan, tên Lapp. Một hôm anh ta lượm trứng cá sấu, ăn rất ngon sau khi phơi nắng. Rất dễ tìm loại trứng ấy, bằng cách theo dấu con cá sấu cái để lại khi nó bò từ bờ suối lên chỗ đất khô để đẻ trứng, trứng ấy nó ấp rất nhiều giờ. Thừa lúc cá sấu cái đi vắng, anh Lapp đào trứng lên rồi thung dung trở lại căn trại. Anh ta vừa đến nơi chỗ tôi đang đóng trại thì con cá sấu xuất hiện như một phi tiễn và đâm vào anh. Nó đã theo dấu tên ăn trộm và đến để trừng phạt. Nó dài hơn ba thước và thở ra những tiếng khàn khàn như mắc bệnh yết hầu. Lapp vùng chạy quanh một cây lớn trong khi tôi ôm bụng cười trước cảnh một chàng vạm vỡ mặc quần ngắn, sải những bước dài thậm thượt miệng kêu la cầu cứu. Crichet cùng các người phu chạy đến: hai tiếng súng bắn đạn nổ chận ngang con cá sấu. Anh Lapp ta, tái xanh như một thây ma, té phịch xuống đất. Mọi người khó chịu vì thái độ của tôi. Tôi giải thích dù sao tôi cũng không thể làm gì được, vì tôi không bao giờ mang súng kềnh càng.

Lúc ăn cơm tối dưới lều vải, trong lúc thưởng thức các đồ hộp, Crichet nói với tôi:

– Anh không còn trẻ, ít nhất anh cũng đến 34 tuổi phải không?

– Hơn một chút, hỏi làm gì vậy?

– Anh sống và cư xử như một người 20 tuổi.

– Anh biết không, không nhiều như thế đâu, tôi 26 tuổi.

– Dối.

– Thật mà, tôi sẽ giải thích tại sao tôi phải nằm ấp. Bây giờ tôi phải sống thời gian 13 năm, vì tôi chưa sống, khoảng đời ấy. Thế nên 39 trừ 13 còn 26, tôi 26 tuổi.

– Tôi không hiểu.

– Không có gì quan trọng.

Quả đúng vậy: tâm hồn tôi như một đứa trẻ 20 tuổi, không thành vấn đề, tôi phải sống 13 năm ấy, tôi cần sống những năm ấy, tôi phải được đền bù lại 13 năm người ta đã cướp của tôi. Tôi phải đốt cháy hoàn toàn khoảng thời gian ấy bằng thái độ bất cần tất cả như ở tuổi hai mươi, lòng chứa chan lưu linh và nhựa sống.

Một buổi mai trước khi mặt trời mọc, một tiếng thét đột ngột đánh thức chúng tôi dậy. Trong lúc móc chiếc đèn bão vừa thắp lên để pha cà phê, anh đầu bếp, bọn phu khuân vác bị bắn hai mũi tên, một ở hông, một ở đùi. Phải đưa ngay anh ta về Maracaibo. Bốn người sẽ khiêng anh trên một cái võng đến một chiếc xuồng đưa anh xuống chiếc xe jeep chở anh đến chiếc xe vận tải chạy về Maracaibo.

Ngày ấy trôi qua trong bầu không khí nặng nề, trì trệ. Chúng tôi có cảm giác quanh mình, trong rừng sâu có nhiều người da đỏ, nhưng không thể thấy, không thể nghe chúng. Càng tiến sâu, chúng tôi lại có cảm giác lọt vào vùng đất săn bắn của chúng. Thú rừng thật nhiều và vì mọi người đều có súng, nên lâu lâu lại hạ một con chim hay một con thỏ. Mọi người đều có vẻ nghiêm trọng không ai ca hát gì hết, và sau khi bắn vài phát súng, họ nói chuyện nho nhỏ với nhau như thể họ sợ người ta nghe được.

Dần dần một mối sợ tập thể xâm chiếm mọi người. Họ muốn ngưng cuộc thám hiểm và trở về Maracaibo. Anh trưởng đoàn Crichet lại muốn tiếp tục đi tới. Anh Carlos, đại diện nghiệp đoàn là một gã can đảm, nhưng cũng bị giao động. Anh nói riêng với tôi.

– Henri, về nhá.

– Tại sao, Carlos?

– Bọn da đỏ.

– Đúng có bọn da đỏ nhưng chúng cũng có thể tấn công chúng mình trên đường về chẳng khác nào trên đường đi tới.

– Không chắc. Có thể chúng ta còn không xa làng của chúng. Nhìn viên đá kia. Chúng nó gieo ngũ cốc.

– Carlos, anh nói có lý. Chúng ta đến Crichet.

Nhà địa chất đã tham gia cuộc đổ bộ ở Normandie ít bị xúc động và là một người say mê nghề nghiệp. Trước mọi người tập họp lại, anh ta nói chúng ta đang ở vào một vùng rất dồi dào dữ kiện địa chất. Anh bực tức và trong lúc nổi giận, anh tuôn ra một câu duy nhất không nên nói ra:

– Nếu các anh sợ thì cứ đi đi. Tôi ở lại.

Mọi người đều bỏ về, trừ Carlos với tôi. Nhưng tôi ở lại với điều kiện phải chôn các dụng cụ vì tôi không muốn mang nặng. Thật vậy, từ ngày tôi bị gãy hai chân trong cuộc vượt ngục thất bại ở Bananquilla, tôi cảm thấy rất nhọc khi phải mang một vật nặng. Carlos sẽ đào tải các mẫu đất đá nhặt được.

Trong 5 ngày, chỉ có Crichet, Lapp, Carlos với tôi. Không có gì xảy ra, thành thật mà nói, chưa khi nào tôi trải qua những ngày thích thú và hứng khởi bằng 5 ngày này, 24 trên 24 giờ biết mình bị rình rập bằng những cặp mắt vô hình. Chúng tôi định bỏ cuộc thì vừa đúng Crichet đi lại phía bờ suối để làm cái việc mình đoán được, bỗng nhiên thấy bụi sậy lay động và có hai bàn tay chậm rãi vạch ra. Điều trông thấy đã cắt ngang công việc anh ta định làm, rồi với thái độ bình tĩnh thường nhật, như không có việc gì cả, anh quay lưng lại đám sậy đi về phía căn lều.

Anh nói với anh Lapp.

– Tôi tưởng đã đến lúc ta nên trở về Maracaibo, chúng ta đã có nhiều mẫu đá và tôi không tin rằng về mặt khoa học chúng ta cần để lại cho bọn da đỏ bốn mẫu người da trắng.

Chúng tôi đi thông suốt đến La Burra, một xóm nhỏ độ mười lăm mái nhà. Chúng tôi đang uống trong khi chờ chiếc xe vận tải đến đón thì có một người lai da đỏ, nặc mùi rượu, kéo riêng tôi ra và nói:

– Anh là người Pháp phải không? Thế thì dốt đến bực đó, làm người Pháp làm gì?

– À, tại sao vậy?

– Tôi nói cho anh biết, các anh đi vào địa giới của bọn Montilones và các anh đã làm gì? Các anh bắn lung tung vào những gì bay, chạy hay bơi. Tất cả mọi người đều có súng. Không phải một cuộc thám hiểm khoa học mà là những buổi săn bắn đồ sộ.

– Anh muốn nói gì?

– Làm như vậy, các anh tàn phá cái mà bọn da đỏ cho là kho lương thực của họ. Họ không có nhiều thực phẩm. Họ chỉ giết đủ cho một hay hai bữa ăn. Không hơn. Vả lại, với cung tên của họ, họ hạ thịt trong im lặng, không làm cho thú vật bỏ chạy. Trong khi các anh tàn sát tất cả và với tiếng súng, các anh làm chim muông kinh hãi. Thế là các con thú di cư đi nơi khác.

Thằng cha này nói có lý. Tôi thích làm quen với hắn.

– Anh uống gì? Tôi trả lời.

– Hai ly rượu rum. Cảm ơn.

Rồi hắn tiếp.

– Vì vậy mà bọn Montilones dùng tên bắn các anh. Họ cho rằng tại các anh nên họ kiếm ăn khó khăn.

– Tóm lại, nếu tôi hiểu, chúng tôi đã tàn phá tủ đồ ăn của họ.

– Đúng. Ngoài ra mỗi khi ngược dòng một con suối. Đến chỗ hai bờ họp lại, ít nước đến nỗi các anh phải xuống đi chân đẩy xuồng, các anh có để ý rằng các anh đã phá vỡ các bờ đập làm bằng cành cây và tre không?

– Có, thường thấy lắm.

– Thế thì những cái mà các anh phá hủy một cách vô tình, chính là những bẫy cá của bọn Montilones và như thế đã gây nhiều thiệt hại cho chúng. Vì các bẫy ấy là cả một công trình. Nó gồm những ngăn nắp rắc rối, quanh co, đưa đến các con cá lội ngược dòng đến một cái bờ lớn, ở đó cá không ra được. Phía trước là một hàng rào bằng tre, và không cách gì tìm ra cửa vào làm bằng những dây leo mà các con cá đã vạch ra để chun vào, rồi dòng nước đã dán lại vào cánh cửa sau khi chúng đã vào trong bờ. Tôi đã trông thấy nhiều bẫy cá dài hơn năm chục thước. Một công trình tuyệt kỹ.

– Anh có lý hoàn toàn. Phải là những thằng phá hoại như chúng tôi mới đạp đổ những công trình như vậy.

Trên đường về, tôi suy nghĩ về những điều thằng lai da đỏ ướp mềm rượu rum nói và tôi định làm thử một cái gì. Vừa đến Maracaibo trước khi về nhà để nghỉ tám ngày, tôi để một lá thư nơi nhà ông Blanchet, trưởng phòng nhân viên, xin gặp ông ta ngày hôm sau.

Ông tiếp tôi và cùng lúc tôi gặp vị chỉ huy tất cả các nhà địa chất. Tôi giải thích cho họ hiểu rằng từ nay trong các cuộc thám hiểm sẽ không có người chết, hoặc người bị thương nếu tôi được chỉ huy toán thám hiểm. Dĩ nhiên Crichet vẫn là người chỉ huy chính thức nhưng trên thực tế chính tôi sẽ phụ trách về mặt kỷ luật của đoàn. Họ quyết định thử một lần xem sao, được như vậy sẽ giải quyết mọi chuyện bởi vì Crichet đã làm một bản phúc trình theo đó nếu được tiến sâu hơn kỳ thám hiểm vừa rồi, nghĩa là đến một vùng nguy hiểm hơn nhiều, sẽ tìm thấy một kho tàng dữ kiện giá trị vào bậc nhất. Các điều kiện liên quan đến chức vụ mới của tôi cộng với chức vụ đầu bếp (tôi vẫn còn là đầu bếp của các nhà địa chất) sẽ được ấn định sau khi tôi trở về. Lẽ dĩ nhiên tôi chưa nói rõ cái lý do khiến tôi dám bảo đảm an ninh cho đoàn thám hiểm, và vì những người Mỹ rất thực tế, họ không hỏi han lôi thôi, chỉ có kết quả là đáng kể.

Chỉ có Crichet là hiểu công chuyện. Sắp đặt như vậy có lợi cho anh ta, nên anh đồng ý và tin tưởng nơi tôi. Anh tin chắc tôi đã tìm ra một phương cách chắc chắn để tránh những rắc rối. Vả chăng anh ta cũng đã cảm kích về việc tôi đã là một trong ba người ở lại với anh trong khi thiên hạ đã bỏ rơi anh.

Tôi đến gặp ông Tỉnh Trưởng và trình bày cho ông nghe công chuyện tôi dự định. Ông tỏ vẻ hiểu biết, thân mật, nhờ bức thư giới thiệu của ông, tôi được viên chỉ huy quân đội quốc gia trong tỉnh ra lệnh cho đồn cuối cùng, trước khi đến lãnh thổ của bọn Montilones phải giữ lại khí giới của những người tôi đưa tên trước khi cho đoàn thám hiểm đi qua, họ sẽ bày ra một cái cớ hữu lý và tin được. Thật vậy, nếu từ lúc khởi hành ở Maracaibo, chúng nó biết sẽ đến lãnh thổ bọn Montilones với hai tay không, không bao giờ chúng nó chịu đi. Tôi phải hành động bất ngờ ngay tại chỗ.

Mọi việc xảy ra tốt đẹp. Đến đồn cuối cùng, tại La Burra, tất cả mọi người trong đoàn đều bị tước khí giới, trừ hai người được lệnh của tôi chỉ bắn khi nào gặp trường hợp gặp nguy kịch, không bao giờ bắn chim muông hay bắn chơi. Tôi chỉ có một khẩu súng lục mà thôi.

Từ ngày ấy, các đoàn thám hiểm không gặp rắc rối nữa. Bọn Mỹ nhận thấy điều ấy, nhưng vì họ chỉ kể hiệu quả nên không hỏi tôi lý do.

Tôi được cả đoàn thông cảm và nghe lời. Tôi say mê vai trò của tôi. Bây giờ, thay vì các chiếc xuồng của chúng tôi dẫm lên các bẫy cá, chúng tôi đi bọc mà không động chạm gì đến. Một việc nữa: vì biết rằng nỗi âu lo chính yếu của bọn Montilones là sợ đói, nên mỗi lần nhổ trại, chúng tôi để lại những chiếc hộp đựng đầy muối, đường và đôi khi một chiếc phạng, một con dao, một lưỡi búa nhỏ. Vòng về, đi qua trở lại những nơi chúng tôi đã cắm trại, không còn thấy gì cả. Tất cả đã biến mất, ngay đến các chiếc hộp cũng không còn. Như thế là mưu mẹo của tôi có hiệu quả và bởi lẽ ở Maracaibo không ai biết tại sao, người ta đồn tôi là một tay phù thủy hoặc tôi thông đồng với bọn Montilones khiến tôi cười vỡ bụng.

Có một kỳ tôi đã học được một cách câu cá kỳ lạ: bắt cá mà không cần lưỡi câu. Không có mồi, chỉ cần đưa tay thong thả bắt cá trên mặt nước. Giáo sư của tôi là con danta, một giống vật lớn hơn con heo to. Đôi khi mình nó dài hơn hai thước. Một buổi xế, đang đứng bên bờ suối, lần đầu tiên tôi thấy nó. Nó đi ra khỏi nước, tôi quan sát mà không nhúc nhích để cho nó khỏi sợ. Da nó giống da con tây ngu, hai chân trước ngắn hơn hai chân sau, và nơi chỗ miệng có một cái vòi ngắn nhưng rất cứng. Nó lại gần một loại dây leo, ăn một mớ khá nhiều vì nó là loài thú ăn cỏ. Rồi tôi thấy nó đi xuống ruộng trở lại, tiến đến một vùng nước không chảy. Nó dừng lại và như một con bò cái, nó mửa ra, thế là nó thuộc loài nhai lại. Một thứ nước xanh lục chảy từ vòi ra. Rất khéo léo nó trộn chất nước ấy với nước suối bằng cách quậy chiếc đầu lớn của nó trong ấy. Tôi đang tự hỏi nó làm như vậy để làm gì thì ít phút sau tôi ngạc nhiên thấy nhiều con cá phơi bụng trên mặt nước, vẫy vẫy nhè nhẹ như bị đầu độc hay say ngủ. Thế là con danta thong thả đớp hết con cá này đến con cá khác, tôi vô cùng sửng sốt.

Từ ngày đó tôi thử áp dụng phương pháp ấy. Nhận biết được giống dây leo con vật đã ăn trước mặt tôi. Tôi bứt một bó lớn, lấy hai tảng đá nghiền nát để lấy chất nhựa bỏ vào một cái hũ. Rồi tôi đến rải tại một chỗ nước sông không bị xao động. Toàn thắng, vài phút sau, tôi thấy nhiều cá nổi lên mặt nước, ngất ngư. Y như khi con danta làm vậy. Chỉ cần cẩn thận một điều: nếu cá ăn được phải lấy ruột bỏ đi ngay. Nếu không hai giờ sau, chúng thối hết. Tiếp theo cuộc thí nghiệm ấy, các nhà địa chất thường được ăn cá rất ngon. Tôi ra lệnh cho mấy người trong đoàn, trong bất cứ trường hợp nào, không bao giờ được giết hại một loại ngư phủ dễ thương như vậy. Phương chi chúng hoàn toàn vô hại.

Trong các cuộc thám hiểm, đôi khi tôi đem theo một gia đình thợ săn cá sấu, gia đình Fuenmayor, một ông cha với hai đứa con trai, để dẫn đường. Mọi người đều bằng lòng vì ba cha con am thạo vùng này, nhưng nếu đi một mình họ sẽ trở thành mồi ngon cho bọn Montilones. Đi với chúng tôi, chúng tôi nuôi ăn họ, để đáp lại, ban ngày họ chỉ đường cho chúng tôi, đêm lại họ săn cá sấu. Mọi người đều có lợi.

Mấy người thợ săn thuộc giống Maracuchos ở Maracaido rất có xã hội tính. Họ nói như hát, tôn thờ tình bạn đến cao độ. Mang giòng máu da đỏ, họ có tất cả mọi đức tính của người da đỏ, ngoài ra còn rất thông minh và ranh mãnh.

Tôi có những tình bạn tuyệt vời, bền chặt với người Maracuchos, đàn ông cũng có đàn bà cũng có, vì phụ nữ Maracuchos rất đẹp, biết yêu và làm cho người khác mê say.

Săn cá sấu, những con vật dài từ hai đến ba thước là một việc rất nguy hiểm. Đêm nay, tôi theo cha con ông Fuenmayor. Trên chiếc xuồng rất hẹp và rất nhẹ, ông cha ngồi phía sau đằng lái, tôi ngồi giữa, đứa con trai phía đầu mũi. Trời tối đen, chỉ nghe tiếng rừng sâu và loáng thoáng tiếng nước róc rách vào mạn xuồng. Chúng tôi không hút thuốc, không gây tiếng động. Mái chèo vừa đưa đi tới, vừa lái chiếc xuồng không được động vào mạn xuồng bất cứ vì lý do gì.

Thỉnh thoảng đưa vệt sáng của chiếc đèn bấm quét tất cả mặt nước, chúng tôi thấy xuất hiện từng cặp chấm đỏ, giống như những chiếc đèn pha xe hơi chiếu vào các bảng quảng cáo lân quang dọc đường lộ. Hai chấm đỏ một con cá sấu. Người ta biết phía trước cặp mắt, trên mặt nước, có hai lỗ mũi, vì hai mắt và cái mõm là hai điểm duy nhất, nổi trên mặt nước khi con cá sấu nằm nghỉ. Người ta chọn con cá sấu để hạ khi nào khoảng cách giữa người thợ săn với các chấm đỏ gần nhất. Một khi đã nhắm xong, người ta tắt hết đèn, ước lượng mà tiến tới. Ông già Fuenmayor tỏ ra thần tình trong việc dùng ánh đèn soi trong một giây để định một cách chính xác chỗ con cá sấu đang nằm. Chúng tôi tiến mau đến đó và khi gần kề, chúng tôi chiếu ánh sáng vào con vật, mỗi lần như vậy đều bị chói mắt. Vệt ánh sáng không rời con vật cho đến lúc chúng tôi chỉ còn cách nó hai hoặc ba thước. Ở mũi xuồng, đứa con trai dùng tay trái chiếu đèn vào con cá sấu, còn tay mặt dùng sức bình sinh liệng chiếc lao có gắn 10 ký chì, chỉ có thứ lao ấy mới đâm thủng lớp da rắn chắc và ăn sâu vào thịt.

Lúc này phải nhanh tay, vì vừa bị lao đâm, con vật lặn xuống, và về phần chúng tôi, với ba mái chèo, chúng tôi bơi gấp vào bờ. Chúng tôi hầu như cho xuồng nhảy vọt vì chậm một chút, cá sấu đủ thì giờ trồi lên mặt nước, nhào tới dùng đuôi quật mạnh cho chiếc thuyền lật úp, biến bọn thợ săn thành mồi ngon cho những con cá sấu khác vừa được báo động. Vừa vào bờ chúng tôi nhảy lên rồi nhanh như chớp lấy dây quấn vào một thân cây. Nó bò đến, chúng tôi cảm thấy nó bò đến để xem nó dính vào cái gì. Nó không biết việc gì đã xảy ra, ngoại trừ nó nghe đau ở lưng. Nó dò xem tình hình. Chúng tôi nhẹ tay lượm mà không kéo mối dây quấn vào thân cây. Nó sắp nổi lên gần bờ. Người con trai Fuenmayor, cầm trên tay một cái búa mỏng và rất bén, đúng lúc nó nổi lên, đập một nhát rất mạnh trên đầu con vật. Nhiều khi phải đập đến 3 nhát con cá sấu mới chết. Mỗi lần bị một nhát búa, nó vẫy đuôi, nếu đụng người cầm búa, người này sẽ bị đưa lên trời luôn. Nếu búa chém không chết, trường hợp này cũng thường xảy ra, phải nới lỏng dây để con cá sấu trở lại dưới suối. Bởi vì, với sức mạnh kinh khủng, nó sẽ làm rơi cây lao, dù đã đâm cứng vào thân nó. Phải đợi một lúc rồi lại kéo một lần nữa.

Tôi đã trải qua một đêm hi hữu, chúng tôi đã giết nhiều cá sấu. Chúng tôi để trên bờ. Đến sáng, cha con Fuenmayor trở lại lấy da bụng và miếng da ở dưới đuôi. Da lưng quá cứng không thể khai thác. Rồi chúng tôi chôn các con vật khổng lồ ấy: không nên quăng ra suối vì nước suối sẽ nhiễm độc. Cá sấu không ăn thịt nhau, dù là thịt cá sấu chết.

Tôi đi cùng các đoàn thám hiểm nhiều lần, kiếm được nhiều tiền và có thể dành cũng khá, thì một biến cố lạ lùng nhất đời tôi xảy đến.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply