This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Lời Giới Thiệu: Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.
Ông thiếu tướng ra lệnh thật là đại khái, ông trung tá cũng ra lệnh đại khái không kém, có điều chủ ý rõ ràng của các vị này là bắt tôi phải chặn đứng mọi mưu toan tiến về hướng Ðông của các đơn vị địch hiện có mặt trong vùng Ia Drang. Ðịa thế Cao Nguyên Vùng 2 thì tôi rất rành, còn trận liệt địch vùng này tôi cũng thuộc nằm lòng. Do đó tôi cũng không bận tâm thắc mắc.
Tôi đã biết, trong một năm vừa qua, sau hưu chiến, tuyến đường mòn Hồ Chí Minh từ Cam Bốt đã chuyển sang Ðông Trường Sơn vào địa phận Ðức-Cơ. Những ống dẫn dầu của Việt-Cộng từ chân núi Phượng-Hoàng, Ðức-Cơ đã kéo dài tới Tiêu Atar, và đang trên đường xuôi Nam.
Tin tức kỹ thuật cho biết Trung Ðoàn 470 Vận Tải của Mặt Trận B3 Cộng-Sản đang được bổ sung quân số và cơ giới để nâng cấp thành Sư Ðoàn 470 Vận Tải. Ðơn vị này đã hoàn tất công tác phát quang một con đường rẽ từ làng Gà (Plei Bon Ga) trong thung lũng Ia Drang, đi thẳng về hướng chính Ðông để tiếp tế cho mặt trận duyên hải. Ðể xác nhận tin tức trên, vài tuần lễ trước đây, tôi đã tung toán viễn thám của Trung sĩ Thìn vào vùng để tận mắt kiểm chứng con đường này.
Quả thật con đường chiến thuật này rất là lợi hại, nó có thể cho phép địch quân dùng cơ giới để chuyển binh cắt đứt Quốc Lộ 14, băng qua Liên Tỉnh Lộ 7B rồi đánh thốc lên hướng Bắc chiếm giữ đèo Mang-Yang khiến cho Pleiku trở thành một ốc đảo. Trên đường chuyển quân này chỉ có một cái đồn Plei Do Lim bé tí teo do một trung đội Ðịa Phương Quân trấn giữ. Ðại quân của địch không cần đánh đồn, mà chỉ cần bao vây ba ngày là đơn vị đồn trú sẽ không còn nước uống, phải bỏ đồn mà chạy.
Ðúng ra thì, sau khi trình diện Tướng Tư Lệnh Vùng thì tôi phải vào Pleime ngay, nhưng hiện thời chưa có người thay tôi đảm đương chức vụ Trưởng Phòng 2 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 nên tôi phải để ông Tiểu đoàn phó là Thiếu tá Nguyễn Tự Bé chỉ huy căn cứ, đợi khi có người thay thế thì tôi mới chính thức nhận việc.
Lý do tôi phải nấn ná ở Phòng 2 cũng vì tôi đang bận công tác thả toán viễn thám cung cấp tin tức địch vùng Plei Djereng cho Sư Ðoàn 22 Bộ Binh để đơn vị này tổ chức một cuộc hành quân tái chiếm căn cứ Lệ Minh theo lệnh của Tổng Thống.
Những ngày cuối năm 1973 tôi phải vào Lệ-Chí để chỉ huy một cuộc hành quân xâm nhập vùng 20 cây số Ðông Bắc Pleiku, quân số tham dự gồm có Ðại Ðội 2 Trinh Sát Biệt Ðộng Quân, Trung Ðội Viễn Thám của Phòng 2 Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 cùng với lực lượng trừ bị là một nửa Tiểu Ðoàn 81 do ông Ðại úy Phát, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 81 chỉ huy.
Kết quả cuộc hành quân thám sát ngắn ngày này đã xác nhận rằng tin tức địch đang thiết lập một con đường chiến thuật nối liền Ngã Ba Dak Doa tới Bắc Ðèo Mang-Yang là có thật.
Trong tương lai, nếu chiến sự xảy ra thì con đường này và con đường mới phát quang vùng Bắc Pleime sẽ trở thành cái thòng lọng chiến thuật siết cổ Pleiku.
Giáng Sinh 1973 và Tết Giáp Dần…
Thời kỳ 1966-1970 còn sự hiện diện của quân đội Ðồng Minh thì Ngã Ba Diệp Kính Pleiku đã trở thành một khu buôn bán lộ thiên rất sầm uất. Người ta quen gọi nơi đó với cái tên “Chợ Trời”. Chợ Trời ngày xưa chỉ bày bán hàng tuồn ra từ PX của các doanh trại Mỹ.
Từ 1972 thì Chợ Trời bắt đầu xuất hiện đủ loại mặt hàng “hằm bà làng” như quần áo cũ, giầy Saut, áo trận, chăn chiếu, mùng mền, ba lô, nón sắt, lương khô, xẻng cuốc…vân vân. Ðã có hôm tôi giật mình khi thấy trên mặt tấm poncho của chị đàn bà vợ lính có bày bán mấy bộ quần áo tác chiến và một dây đeo gồm một quả mìn Claymore với đủ bộ ngòi nổ, dây điện cùng con cóc điện để bóp cò!
Tôi ngồi xuống bỏ ra 500 đồng mua ngay bộ mìn Claymore này, rồi hỏi chị bán hàng,
– Từ đâu mà chị có thứ này?
Chị ta đã trả lời rằng chị có chồng là Nghĩa Quân trong Lệ Chí. Chồng chị vừa chết trận nên chị mới đem bán những đồ vật mà anh còn để lại.
Tôi chỉ biết lắc đầu mà nói với chị rằng từ nay đừng sờ tới những vật dụng nguy hiểm đó nữa. Nếu thấy nó còn trong nhà thì phải gọi Cảnh Sát hay Quân Ðội tới lấy nó đi. Sau đó tôi tới Quân Trấn Pleiku giao quả mìn cho ông đồn trưởng, rồi lưu ý ông ta nhớ cho nhân viên tuần tra kiểm soát khu Chợ Trời một cách kỹ lưỡng hơn. Vợ tôi và hai đứa con gái tôi rất thích bánh Pound Cake trong các hộp lương khô C Rations của Mỹ. Cuối năm 1973 thì Mỹ rút đi đã lâu rồi, nhưng bánh Pound Cake trong hộp thiếc vẫn còn thấy bày bán trong Chợ Trời. Thời gian này vợ tôi đang mang bầu em bé thứ ba, không tiện len lách trong chợ, đành phải ngồi trong xe cùng với hai đứa con để chờ tôi đi tìm mua Pound Cake. Trong lúc đó thì chú tài xế Phạm Công Cường cứ loanh quanh bên chiếc xe Jeep, không dám dời xa nửa bước.
Một ngày trước Noel 1973 tôi đang lui cui nhặt mấy hộp bánh bỏ vào bao thì nghe bước chân ai đó tiến sát sau lưng, rồi có tiếng người hỏi nhau,
– Bộ mày quen thằng chuẩn úy Biệt Ðộng Quân này ư?
Lập tức có người trả lời,
– Ðây là chồng một đứa em gái của tao! Thiếu tá đó! Không phải chuẩn úy đâu!
Tiếng nói của người này tôi nghe rất quen. Ngay sau đó, là tiếng cười vang của người kia,
Có lẽ cái lon thiếu tá của tôi thêu bằng chỉ đen, lại bị bàn ủi đè xẹp lép, nên nhìn cứ như cái lon chuẩn úy, thêm vào đó, mặt tôi cũng trắng trẻo, có chút thư sinh, khiến cho người khác nhìn mà lầm.
Tới lúc này thì tôi đã quay lại. Tôi nhận ra ngay, trước mặt mình là ông anh trai thứ ba của vợ tôi.
Anh ấy mặc quân phục bộ binh, bên cạnh anh ấy cũng là một sĩ quan bộ binh.
Hai ông chuẩn úy trẻ mới ra trường với hai cặp lon vàng còn sáng chói trên cổ áo đã tự động đứng nghiêm trước mặt một thiếu tá.
Tôi la lên,
– Anh Thọ! Anh ra trường rồi hả? Sao không tình nguyện về Biệt Ðộng Quân mà lại đi Bộ Binh?
Anh Thọ lí nhí,
– Hồi đó chú có gửi gắm tôi cho ông Trung Tá Liên Ðoàn Trưởng Sinh Viên Sĩ Quan để ưu tiên có tên đi Biệt Ðộng Quân, nhưng ngày mãn khóa nghe mấy thằng bạn rủ rê, tôi đã chọn Sư Ðoàn 22.
Nghe ông anh vợ nói, tôi mới nhớ cái thư của Trung tá Ðoàn Thi đã gửi cho tôi cách nay khá lâu.
Trung tá Ðoàn Thi là cựu Liên Ðoàn Trưởng Biệt Ðộng Quân, sau đó về Trường Bộ Binh đảm nhận chức vụ Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị. Anh Ðinh Văn Thọ lúc đó là một khóa sinh dưới quyền Trung tá Ðoàn Thi. Tôi đã nhờ Trung tá Ðoàn Thi để ý giúp đỡ anh Thọ nếu cần.
Trước khi rời chức vụ Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Ðức để đi chỉ huy một Liên Ðoàn Ðịa Phương Quân, Trung tá Ðoàn Thi đã báo cho tôi hay rằng, vì nể lời gửi gắm của tôi, ông đã ghi tên anh Ðinh Văn Thọ ưu tiên đi Biệt Ðộng Quân sau khi tốt nghiệp.
Nhưng khóa Sĩ Quan Trừ Bị đó chấm dứt khá lâu mà tôi chờ hoài không thấy anh Thọ trình diện.
Thì ra anh Thọ không thích làm lính Biệt Ðộng Quân.
Ông chuẩn úy bạn của anh Thọ lúc này mới nhìn tôi với ánh mắt đầy thiện cảm,
– Mới nhìn thấy ông trẻ quá, tui không tin ông là thiếu tá. Thiếu tá tốt nghiệp Ðà-Lạt hay Thủ-Ðức vậy?
Tôi bắt tay anh bạn bộ binh,
– Khóa 20 Võ Bị.
Mắt ông chuẩn úy sáng lên,
– Vậy là sĩ quan đàn anh ông sếp của tụi tôi.
– Sếp của anh tên là gì?
– Dạ! Ðại úy Thành, Phan Ðình Thành.
– Thành sau tôi hai khóa.
– Vậy mà trông ông Thành già dặn hơn Thiếu tá nhiều lắm.
Sau đó, tôi đưa ông anh vợ tới gặp vợ tôi và hai cháu của anh ấy.
Rồi vợ chồng tôi đưa anh về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 thăm nhà tôi.
Nhân dịp này anh Thọ đã cùng vợ chồng tôi và hai cháu bé chụp chung vài cái ảnh để kỷ niệm.
Anh Thọ cho tôi hay anh đang giữ chức vụ trung đội phó một trung đội tác chiến của Tiểu Ðoàn 3 Trung Ðoàn 41 Bộ Binh. Trung đội này có 8 ông lính, 1 ông trung sĩ và 2 ông chuẩn úy. Trung đội trưởng của anh là một chuẩn úy ra trường trước anh một khóa. Từ ấy, anh Thọ vẫn đóng quân ở Hàm Rồng, nhưng không ghé thăm nhà tôi lần nào nữa.
Tôi không hề có ý định gửi gắm anh Thọ cho những người tôi quen ở Sư Ðoàn 22 Bộ Binh vì sợ nợ nần nhau thì rất khó làm việc. Nhưng có đôi khi nghĩ lại, tôi cũng thấy tiếc rằng anh Thọ đã chọn Sư Ðoàn 22 thay vì Biệt Ðộng Quân. Nếu anh ấy chọn Biệt Ðộng Quân thì chắc chắn tôi sẽ xin cho anh ấy về làm việc với tôi. Người anh cả của vợ tôi và Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ là Thiếu úy Ðinh Quang Biện đã từng là bạn cùng đơn vị với tôi từ đầu năm 1968, khi mới mãn khóa 25 Sĩ Quan Trừ Bị.
Tôi với anh Biện thương nhau như anh em ruột. Chúng tôi đã cùng nhau đồng cam, cộng khổ trong suốt những năm tháng còn ở Tiểu Ðoàn 11 và Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân. Nhờ tình bạn thân thiết giữa tôi và Thiếu úy Ðinh Quang Biện mà cuối năm 1970 tôi đã trở thành em rể của anh Biện. Năm 1971 Thiếu úy Ðinh Quang Biện bị tử nạn. Trước Tết Giáp Dần tôi vào Hàm Rồng để họp hành quân thì được biết anh Thọ đã được thăng chức trung đội trưởng. Từ đó tôi bận việc liên miên nên không có dịp gặp anh ấy nữa.
Cho tới tháng 8 năm sau thì Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ có dịp dẫn trung đội dưới quyền mình vào Pleime để tiếp cứu thằng em rể là tôi, đang bị Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản bao vây. Trong trận này, khi nghe tin Tiểu Ðoàn 3/41 chạm địch, tôi đã liên lạc được người chỉ huy đơn vị này để hỏi thăm tin tức của Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ. Lúc này chú Phan Ðình Thành, người Sĩ Quan Võ Bị Khóa 22 A, đàn em của tôi đã mang cấp bậc thiếu tá. Thiếu tá Phan Ðình Thành, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 3/41 cho tôi hay trung đội của Chuẩn úy Thọ giữ vai trò tiên phong, đi đầu, chạm nặng, và đã bị thất lạc.
Tới lúc đó tôi mới thấy hối lỗi vì đã không gửi gắm anh Thọ cho hai người mà tôi quen là Chuẩn Tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 và Ðại tá Vũ Ðình Chung, Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn 22. Hai ông anh lớn của vợ tôi đã chết rồi, nay ông anh thứ ba lại bị mất tích. Nếu biết tin này chắc gia đình vợ tôi sẽ đau buồn lắm.
May thay, ba ngày sau, từ Căn Cứ Hỏa Lực 711, Trung úy Hạp, Sĩ Quan Ban 3 của Liên Ðoàn 24 gọi máy báo cho Tiểu Ðoàn 82 hay rằng Biệt Ðộng Quân vừa tiếp nhận một trung đội bộ binh bị thất lạc về trình diện. Tôi vội nhờ Trung úy Hạp hỏi xem anh chuẩn úy trung đội trưởng bộ binh tên là gì thì ông Hạp nói người chuẩn úy trung đội trưởng đó có tên là Ðinh Văn Thọ.
Thì ra Trung Ðội 1 Ðại Ðội 4 Tiểu Ðoàn 3 Trung Ðoàn 41 Sư Ðoàn 22 Bộ Binh của Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ đã đụng độ với một tiểu đoàn Việt-Cộng, nhưng vì yếu thế, nên đơn vị này phải rút lui trong đêm tối. Cũng nhân dịp này, mà chú Phan Ðình Thành mới biết Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ là anh vợ của tôi. Tiếc thay, hai người vừa quen biết nhau thì Thiếu tá Phan Ðình Thành đã sớm tử trận ngay sau khi Trung Ðoàn 41 rút quân về Bình Ðịnh.
Tháng Sáu năm 1976, chúng tôi bị chuyển trại, từ Trảng Lớn, đi đâu thì… chưa biết. Đây là đợt chuyển trại chung của nhiều “đơn vị” như L1, L2, L3 (L3 là “đơn vị” của tôi), v.v… L3 phần đông là “dân” biệt phái, bò nhứt, bò nhì, nhiều hơn bò tam (thiếu úy, trung úy, đại úy, tiếng chúng tôi thường gọi đùa).
Thiếu tá thì độc nhứt chỉ có một mình Đỗ Quan Tư, anh xuất thân khóa 13 Võ bị. Khóa nầy phần đông người ta lên trung tá, đại tá cả rồi, vì ông là “Quan Tư” nên chỉ lên tới thiếu tá thì nằm ì ở đó. Quan Tư mà! Chính tả trong Nam viết hơi… ẩu, quang thiếu mất chữ G, làm anh ta chết cứng ở “loon” quan tư, thiếu tá. Vừa mới về L-3 ít lâu thì anh đã bị đưa đi một mình, cũng chẳng ai biết đi đâu.
Tới bây giờ thì ra đi phần đông là đại úy. Tổ 1 của tôi, ở lại chỉ có Phan Hải, trung úy và hai ông đại úy mới “biên chế” tới. Tổ 2, ở lại cũng chỉ có vài ba mạng mà thôi.
Lệnh chuyển trại đưa ra từ trưa nhưng tới chiều mới tập trung lên xe. Phan Hải đưa chúng tôi ra cổng “đơn vị”. Anh ta khóc.
Chúng tôi ngồi tập trung bên con đường nhựa, chờ lệnh. Nhiều người ngồi quanh tôi, nói đùa chơi chơ đỡ buồn.
Tôi là người hay nói đùa nhất đám, hay kể chuyện vui, chuyện “hoang” nên rất được anh em “chiếu cố” ngồi chung quanh.
Theo trại phổ biến, chuyến đi nầy là để “Các anh có cơ hội lao động, để thấy “Lao động là vinh quang”, “sớm trở về sum họp với gia đình”, v.v… Mấy tiếng nầy, nghe cả năm nay rồi, cũng chán.
Một người nào đó, ngồi phía sau tôi, nói: “Mình đi dzậy, chắc còn lâu mới được về?”
Tôi nói:
– “Phải tẩy não. Chưa tẩy não xong thì chưa được về.”
Lê Quang Dung, dân Nam bộ chính cống, nóng tính, cãi lại:
– “Tẩy con mẹ gì nữa. Học xong 10 bài rồi thôi chớ!”
Trần Hữu Bảo hỏi tôi:
– “Biết khi nào thì tẩy não xong?”
Tôi cười:
– “Khi nào mình không muốn về nữa là tẩy não xong. Cách mạng sẽ cho về.”
Một tay nào đó, bất mãn:
– “Đ. mẹ, nghe cha Hải nói chán thấy mẹ. Không muốn về nữa thì về làm gì?”
Tôi cũng cười:
– “Không muốn về mà “cách mạng” cho về thì cũng phải về. Cũng giống như mình có muốn đi cải tạo đâu! Có ai không đi nào? Tuy nhiên, khi nào mình chưa tẩy não xong mà họ cho mình về, là “cách mạng” bắt đầu thua rồi đó.”
– “Cách mạng bắt đầu thua?” Nguyễn Văn Bê hỏi.
– “Có ăn thì có thua. Nhưng tôi nói lúc đó, họ chỉ mới bắt đầu thua.” Tôi nói.
– “Khi nào thua hẳn?” Hiền hỏi tôi.
– “Từ bắt đầu tới khi thua hẳn, còn xa. Khi Mỹ đổ quân vô miền Nam là bắt đầu thua. Tới khi thua hẳn năm 1975 là mười năm. Dziệt Cộng kiên trì hơn, thua chậm hơn.” Tôi nói.
– “Thôi ông ơi! Ông nói toàn chuyện bù trớt không! Mười năm nữa còn gì là tôi!” Người lúc nãy than van.
Hiền hỏi:
-“Tẩy não là sao?”
Người nào đó trả lời:
-“Là brain washing!”
Chung cười:
-“Não chớ có phải áo quần gì mà đem ra giặt!”
Bê hỏi:
-“Anh Hải, giặt não là giặt như thế nào?”
-“Giặt gì đâu! Họ dùng phương pháp gọi là “phản xạ có điều kiện!”
Bê lại hỏi:
-“Phản xạ có điều kiện” là sao?”
Tôi hỏi:
-Năm Đệ Nhứt, ông có nghe thầy giảng về con ngựa Páp-lốp (Pavlov) không?”
-“Tụi học ban A mới học kỹ ông ơi! Ban B học qua loa, ai mà nhớ!” Bảo nói.
Chung hỏi:
-“Con chó hay con ngựa?”
-“Tụi nhớ trong sách Obré tôi học là con ngựa, sau nầy thấy sách báo người ta nói là con chó!”
Ai đó cằn nhằn:
-“Chó mèo gì cũng được. Nó có dính dáng gì tới tẩy não thì nói nghe cho biết.”
-“Nó là như thế nầy.” Tôi nói. “Ông Páp-lốp là nhà bác học Nga. Ông thí nghiệm bằng một con chó. Quan sát, ông ta thấy, khi nào cho chó ăn, thì dạ dày nó tiết ra dịch vị để tiêu hóa đồ ăn. Ông ta bắt đầu thí nghiệm bằng cách, trước khi cho chó ăn, ông đánh lên mấy tiếng chuông. Dần dà, mỗi khi đánh chuông, không cần cho chó ăn, dịch vị vẫn tiết ra. Cái điều kiện là từ thức ăn đổi qua tiếng chuông. Đó là một thí nghiệm thiên về duy vật, được làm nền tảng cho chủ nghĩa duy vật. Người ta ứng dụng thí nghiệm của Páp-lốp như thế nầy. Tù hay người sống tập thể, bọn thanh niên, trước khi ăn, người ta đánh mấy tiếng chuông như cho chó ăn. Lâu dần thành quen, người ăn nghe tiếng chuông thì thấy đói và thấy ăn ngon. Sau đó, người ta thay tiếng chuông bằng khẩu hiệu. Như ở nhà tù nổi tiếng ở ngoại ô Băc Kinh, trước khi ăn, người ta buộc tù hô to “Mao chủ tịch muôn năm”. Riết rồi thành quen, mỗi khi ăn người ta đều hô khẩu hiệu như thế. Điều kiện sinh lý làm thay đổi tư duy của con người. Trong tất cả các trại tù nổi tiếng của Cộng Sản, họ đều cho áp dụng phương pháp “phản xạ có điều kiện” nầy, để tẩy não người tù.”
-“Có thành công không?” Hiền hỏi.
-‘Cái nhà tù ở ngoại ô Bắc Kinh như tôi nói, trong “cách mạng Văn hóa”, lật Lưu Thiếu Kỳ xong, Mao cho giam Kỳ vào đấy. Kết quả là người ta đem Lưu Thiếu Kỳ đi chôn. Ai được tha mà có tẩy não được không thì tôi không biết, nhưng tôi nghe nói nhà tù ấy đã đem chôn hàng vạn người.”
&
Trung úy (Dziệt Cộng) Hồng Dư và Phan Hải đi tới. Chúng tôi làm thinh, không nói gì nữa. Anh trung úy Hồng Dư nầy phụ trách “học tập” của trại tôi.
Trước đây, anh ta cấm chúng tôi không được gọi nhau bằng tù. “Các anh chỉ đi học tập thôi. Học xong là về.”
Tội nghiệp, anh chàng người Việt gốc Tàu nầy ngây thơ dữ. Tin tưởng tuyệt đối vào đảng. Có lần anh ta nói: “Tất cả mọi sự đều tương đối, ngoại trừ nghị quyết của đảng.”
Nghe nói sau nầy, vì là gốc Tàu, nên khi vụ “Nạn Kiều” xẩy ra, anh ta bị đuổi về Tàu. Không rõ anh ta còn cho rằng nghị quyết lệnh của đảng là đúng tuyệt đối không?
Và đây là chuyện tôi được Việt Cộng “mời cộng tác”:
Khoảng ba, bốn tháng sau ngày 30 Tháng Tư tôi được gặp anh Ba Trinh, một trong những cán bộ phụ trách biên tập tờ nhật báo Sàigòn Giải Phóng. Những năm 1960 Ba Trinh có đến tòa soạn nhật báo Sàigònmới nên anh biết tôi, rồi anh bị bắt, thả ra, bị bắt lại hai ba lần, lần cuối cùng anh từ Côn Đảo về miền Bắc năm 1972, theo thỏa hiệp trao đổi tù binh giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt Cộng, Tháng 5 anh từ Hà nội vào Sàigòn. Ba Trinh hơn tôi khoảng mười, mười lăm tuổi. Anh nói với tôi:
– Chúng tôi cần loạt bài phóng sự về cuộc sống của bọn tướng tá Ngụy, chúng tôi không viết được loại phóng sự ấy. Cậu có biệt tài về loại đó, chúng tôi mời cậu viết cho chúng tôi. Nhưng nếu viết cậu đừng để tên cậu. Cậu mà dùng tên cậu thì ngay cả các bạn cậu cũng chửi cậu. Cậu dùng một tên khác. Mai đây chúng tôi có thể nói với các ông ấy người viết loạt bài đó là cậu. Sẽ đỡ cho cậu nhiều lắm. Và cũng có ít tiền giúp cậu đỡ khó khăn trong lúc này.
Tôi ừ ào cho qua nhưng tôi không viết. Khi còn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa tôi có thể viết những phóng sự hoạt kê châm biếm bọn có quyền thế, có địa vị, bọn giầu tiền, như tôi đã từng viết những phóng sự Bà Lớn, Yêu Tì đăng trên nhật báo Ngôn Luận những năm trước 1963, nhưng bây giờ Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa của tôi vừa bị diệt, những bộ trưởng chính phủ, tướng tá, tỉnh trưởng, thẩm phán, dân biểu của tôi không chạy ra nước ngoài được nay đang bị tù đày, họ đang khổ cực hơn tôi, vợ con họ khổ cực hơn vợ con tôi, dù sao họ cũng là anh em tôi, có xấu xa đến mấy đi chăng nữa họ cũng là anh em tôi, trong tình cảnh khốn khổ, nhục nhã chung này tôi không thể viết chửi bới họ.
Chuyện “cộng tác” thứ hai: Sau Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai chừng hai tháng tôi nhận được giấy gọi lên Sở Công An Thành phố. Tôi hồi hộp đến Nha Cảnh Sát Đô Thành của ta. Một anh công an trẻ tuổi, có vẻ là người Sàigòn, tiếp tôi trong cái vi-la ngay bên cạnh trụ sở. Anh ta nói:
– Những người có tội như Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh đã bị bắt. Anh không phải là không có tội nhưng chúng tôi thấy anh tội nhẹ nên không bắt anh song anh có bổn phận phải cộng tác. Chúng tôi cần biết về tình hìng các văn nghệ sĩ Sàigòn, họ làm gì, nghĩ gì, họ sống ra sao. Không phải anh cứ báo cáo là chúng tôi bắt họ đâu, anh có thể cho chúng tôi biết những khó khăn của anh em văn nghệ sĩ để chúng tôi giúp họ.
Những người công an bắt tôi làm việc cho họ không cho tôi biết tên họ – tôi chỉ biết tên có một chị: chị Chanh, Việt Cộng nằm vùng, từng hành nghề buôn cây để có dịp vào rừng liên lạc với đồng bọn. Họ hẹn tôi một, hoặc hai tuần đến gặp họ và báo cáo một lần. Những lần họ gặp tôi đều ở những vi-la tư nhân họ chiếm được. Tôi chẳng có gì để báo cáo với họ cả. Sau chừng ba tháng dằng co như thế một sáng tôi nói với vợ tôi:
– Anh không thể làm chỉ điểm cho bọn này. Nếu anh báo cáo về anh em mình anh không thể nhìn mặt anh trong gương. Anh không làm đâu. Nó muốn bắt anh thì bắt.
Alice đồng ý với tôi.
Lần gặp sau tôi đưa cái thư “Kính gửi ban lãnh đạo..”, trong thư tôi viết tôi không có điều kiện cộng tác với Sở Công An, việc gặp tôi chỉ làm mất thì giờ của anh chị em công an, xin lãnh đạo cho tôi được nghỉ; tôi có thể dịch các tài liệu tiếng Anh, tiếng Pháp, nếu cơ quan cần người dịch thuật tôi xin làm vv..
Tháng Ba, tháng Tư năm 1976 tôi chờ đợi tôi cũng bị bắt như các bạn tôi. Nhưng tôi đã không bị. Tôi xin nói rõ – và nói đi nói lại nếu cần – tôi không muốn được đi tù một ly ông cụ nào cả. Anh Triều Đẩu từng giải cho tôi biết Tử Vi của tôi không có sao Quả Tạ, tức là không có số ở tù. Tôi chỉ tỏ ra hung hăng con bọ xít, du đãng, du côn, du thủ, du thực, hào huê, phong tình trong những chuyện tôi viết mà thôi. Trong đời thực tôi lành hơn cục đất thó. Và cũng hơn một lần tôi đã viết: Sau ngày oan nghiệt tôi quanh quẩn trong xó nhà, ngày ngày quét nhà, lau nhà, đổ rác, giặt quần cho vợ, thuốc lá Vĩnh Hảo Bốc En Xe Ông Già Le Lưỡi Liếm… giấy vấn thoải mái, lâu lâu có chầu rượu đế, lạc rang, hột vịt lộn, nghêu sò ốc hến vỉa hè… Tất nhiên là so với cuộc sống trước tháng Tư năm 1975 thì tối tăm ảm đạm thật đấy, nhưng nếu so với những cuộc sống trong những nhà tù Việt cộng thì chắc chắn còn đỡ khổ hơn nhiều.
Không phải là Alice không giặt được quần áo của nàng hay nàng bắt chồng nàng phải giặt, chỉ vì anh Con Trai Bà Cả Đọi, người anh em cùng vợ với chàng Công Tử Hà Đông, suốt ngày đêm chẳng có việc gì mần cho đỡ buồn nên anh tranh làm cái việc giặt quần áo. Có những lần ngồi giặt anh lơ mơ nhớ lại ngày xưa anh viết những bài chửi bới thiên hạ dưới hai cái tên Gã Thâm, Công Tử Hà Đông, anh thường rủa: “Cho thằng đó về nhà giặt quần áo cho vợ”. Không biết trong số những người bị anh rủa có ai phải về nhà giặt quần cho vợ hay không. Anh chỉ biết anh bị Việt cộng nó cho về xó nhà giặt quần cho vợ dài dài, mệt nghỉ…
Vẫn biết cuộc sống quanh quẩn trong xó nhà làm những việc chân tay lặt vặt, lâu lâu được rờ đôi mông teo của vợ hiền… tuy tăm tối cũng còn khá hơn cuộc sống trong tù nhiều, nhưng khi các anh em tôi bị bắt tù tôi không bị như anh em, tôi thấy kỳ quá. Mỗi lần đi ra, di dzô cư xá tôi cứ cúi mặt xuống mà đi. Tôi có mặc cảm người ta nhìn tôi với ánh mắt muốn hỏi: “… Bao nhiêu văn nghệ sĩ bị bắt, sao tên này không bị? Nó làm gì mà bọn Việt cộng không bắt nó?” Nếu bà con cô bác có ai théc méc đặt câu hỏi như vậy thì cũng đúng thôi: việc tôi bị Việt cộng bắt không có gì lạ, việc VC không bắt tôi mới là lạ. Tôi nói lại cho rõ: ngày ấy, tháng ấy, năm ấy tôi không mong tôi cũng bị bắt như anh em, tôi chỉ thấy anh em bị bắt tôi không bị sao kỳ quá…
Những năm 1976, 1977 những anh con trai bà Cả Đọi không bị đi cải tạo ở nhà làm việc giữ nhà, giặt giũ, nấu cơm, đổ rác là chuyện thường – đàn bà đi chợ trời, chợ đất, mua đi, bán lại kiếm sống – ngồi buồn trong xó bếp căn nhà tối tăm trong cư xá Tự Do mãi cũng chịu không nổi, có những chiều nấu cơm xong, tôi tắm rửa sạch sẽ, ra đầu cư xá ngồi chờ Alice đi chợ trời Hàm Nghi về bằng xe ô-tô-buýt, tôi mần bài Sẩm Xoang:
Gió lay cành trúc, gió đập cành tre
Thuyền tình anh vẫn le te đợi nàng
Gió lắc cành vông, gió lật cành bàng
Thuyền tình anh chẳng đợi nàng thì anh đợi ai?
Ối cô nàng ờ… Ới cô nàng ơi… Anh nói để cô nàng hay
Chứ mà… Cô nàng nghe anh hỏi cô nàng này
– Lương Mẽo được mấy trăm đồng?
Dầm sương, dãi tuyết má hồng nàng phai.
Đi lắm thì vú nàng quai
Chẳng thà ăn sắn, ăn khoai thành Hồ.
Nàng đói thì nàng bán đồ
Để anh cơm nước, chăm lo cửa nhà.
Riêu cua nàng chan cơm cà
Nàng mà đau bụng thì đà có anh
Nàng còn xẻo đất trồng hành
Anh trui cá lóc nấu canh tập tàng.
…
Cá lóc còn ở trong hang
Cái rau tập tàng còn ở ruộng dâu
Anh về anh chuốt cần câu
Ngoắc con cá lóc nấu rau tập tàng…
Với những bằng chứng như trên chi tiết hai anh cớm cộng Nam Thi – Minh Kiên cho nhân vật Hoàng Hải trong “Những tên biệt kích cầm bút” nói với bà chủ vi la Kiều Trang:
– …Tôi đã treo bút. Viết ký gì bi giờ? Viết để làm gì???… Là hổng có đúng sự thật.
Quý bạn vừa đọc một số trang trích từ quyển “Những tên biệt kích cầm bút” do hai đại tá công an Việt cộng viết ở Thành Hồ về nhóm anh em chúng tôi. Chương truyện này là cuộc họp mặt nhân lễ Giáng Sinh năm 1983, Trần Tam Tiệp năm ấy là Tổng thư ký Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, gửi một khoản tiền về cho chúng tôi nhân Lễ Noel có một bữa ăn gặp gỡ. Chúng tôi mượn vi-la của Nữ diễn viên điện ảnh Kiều Chinh ở Cư Xá Lữ Gia làm nơi tổ chức bữa ăn họp mặt. Vi-la này năm ấy do bà chị của Kiều Chinh làm chủ. Riêng Trần Tam Tiệp được hai anh Nam Thi – Minh Kiên, Tổng và Phó Biên tập tuần báo Công an thành Hồ gọi nguyên tên là Trần Tam Tiệp. Tên anh em chúng tôi đều bị cắt bớt một phần: Doãn Quốc Sĩ trở thành Đoàn Quốc, Dương Hùng Cường trở thành Dương Hùng, Khuất Duy Trác là Khuất Duy và tôi là Hoàng Hải.
Phiếm là tác phẩm thứ 7 của Song Thao, sau 6 tập truyện ngắn, được xuất bản liên tiếp trong khoảng 10 năm qua. Nhưng Phiếm không phải truyện dài, cũng không phải truyện ngắn. Nó gồm 40 đoản văn, trong đó, tác giả bàn về “đủ mọi thứ ở trên đời”: cà phê, rượu, bia, phôn tay, vợ chồng, quảng cáo, thuốc lá, đàn ông, tóc, răng, tiền, xe đạp …
Phiếm theo định nghĩa của Đào Duy Anh là “trôi nổi linh đinh, không thiết thực, không chuyên một việc”. Tùy vào các từ người ta dùng kèm, nó sẽ có những ý nghĩa riêng, thí dụ phiếm bạc: rộng lớn, phiếm du: đi chơi chỗ này chỗ khác, không định trước, phiếm lãm: xem xét đại khái, phiếm luận: bàn trống không, không nhắm riêng việc gì v.v …
Cùng cách viết ấy, Hiếu Chân đã mở ra mục Nói Hay Đừng [báo Tự Do] Chu Tử khai sinh Ao Thả Vịt [báo Sống] Phan Lạc Phúc gọi là Tạp Ghi [Báo Tiền Tuyến] còn Bùi Bảo Trúc hiện đang xếp chung vào loạt những lá Thư Gửi Bạn. Trên báo chí Sài Gòn trước 75, các cây viết phiếm, các cây viết hài hước, châm biếm sâu sắc, còn có thể kể thêm những Tiểu Nguyên Tử, Vip KK, Dê Húc Càn [Dương Hùng Cường], Thương Sinh [Duyên Anh] v.v …
Đại khái lối viết của họ gần với Phiếm luận hơn cả. Và, tuy cùng gần với phiếm tuận, nhưng họ viết rất khác nhau. Viết phiếm, nói phiếm, tự nó đầ rút bớt đi sự nghiêm trọng, nếu có đụng chạm tới ai. Trừ trường hợp người viết nhắm thẳng vào cá nhân nào đó, gọi đích danh người ấy và nói về những sự việc liên quan trực tiếp tới đương sự, để chỉ trích, khen ngợi hay phê bình. Nhưng trường hợp này lại không còr phải là “phiếm” nữa, dù bài viết có được để trong mục chuyện phiếm. Các tác giả thường cũng xác nhận không nhắm “làm văn chương” khi viết phiếm.
Quả cũng khó trích dẫn một đoạn văn nào đó trong các cuốn phiếm để làm mẫu dùng trong các sách giáo khoa như các đoạn văn của Thanh Tịnh về ngày khai trường hay A. France khi đi qua vườn Luxembourg chẳng hạn.
Nhưng, nếu không có văn tài không thể viết phiếm được. Lại không phải chỉ có văn tài là đủ. Muốn viết phiếm còn phải có kiến thức rộng rãi, đọc nhiều, nhớ nhiều, có cái nhìn tinh tế, óc phê phán nhạy bén, và nhất là, phải có duyên nữa.
Nói gì thì nói, hình như trong các bài viết phiếm về chuyện trên trời dưới đất [Bùi Bảo Trúc] chuyện liên quan tới cơm ăn, áo mặc, sĩ diện quốc gia, danh dự cá nhân … đau đớn, nhục nhã, móc máy, xỏ xiên, cái cuối cùng còn lại trong lòng người đọc vẫn là cái “duyên” và cái “tâm” của người viết.
Cái duyên để người ta vui cười. Không có duyên, mà cứ cố làm duyên, cũng có thể làm người ta cười được, nhưng nhạt thôi.
Viết độc ác quá làm người ta sợ. Song Thao cũng không xác định các đoản văn của mình là truyện, tùy bút hay tiểu luận. Có lẽ từ “Phiếm” đủ để chỉ,
để đặt tên cho loại văn mới này. Sau đây là vài đoạn Song Thao “phiếm” về tiền.
Trích đoạn I
Một bà nằm mơ thấy được gặp Thượng Đế, liền hỏi:
“Thưa ngài, trăm năm của hạ giới bằng bao nhiêu ngày trên thượng giới?”
“Con ơi! Không thể tính được bằng ngày mà chỉ bằng một phút thôi.”
“Thế trăm triệu đồng thì sao?”
“Chỉ đáng một xu trên thượng giới mà thôi.”
Bà xuống giọng … con cá:
“Vậy xin Ngài rủ lòng thương ban cho con một xu! Con sống nghèo khổ lắm.”
“Được, con hãy đợi ta một phút nhé”
Trích đoạn II
“Nói chuyện tiền bạc với Thượng Đế nản chết. Cứ gửi thư cho những vị quyền thế dưới đất này, xin số tiền họ …không thèm đếm xỉa tới cũng được rồi. Ở Canada, quý vị có thể gửi cho các vị sau. Trong thư bạn nhớ chỉ hỏi xin số tiền … lẻ họ bỏ quên trong các trương mục ngân hàng cũng đủ rượu chè qua ngày. Cô ca sĩ hái ra tiền Celine Dion đã cho ngủ trong ngân hàng National Bank ở Farnham, Quebec, số tiền 42, 79 Gia kim từ năm 1984 tới giờ mà không thèm sờ tới. Cựu Thủ Tướng Brian Mulronay quên 144, 83 Gia kim tại ngân hàng CIBC ở Calgary. Thủ Tướng vừa tái đắc cử Paul Martin đãng trí bỏ quên tới ba trương mục: hai ở Montreal 5833, 70 Gia kim và 1302, 73, và một ở Windsor 38, 04 Gia kim. Cựu Thủ Tướng Joe Clark chẳng thèm biết đến 1685, 77 Gia kim tại ngân hàng CIBC ở Ottawa. Tổng cộng số tiền bị bỏ quên của 767. 590 trương mục mà chủ nhân coi như vứt đi lên tới 204 triệu Gia kim”.
Trích đoạn III
Hai cô bạn gái nói chuyện với nhau:
“Bồ lại mua xe mới? Lấy chồng giầu sướng thật!”
Cô bạn nhăn nhó thảm hại:
“Có gì đâu! Hôm đó tớ đang shopping ở dưới phố, chợt thấy đau bụng. Ngó quanh thấy một cửa hàng bán Mercedes vội vào nhờ toilet. Bồ biết tính tớ, chẳng lẽ khơi khơi đi ra mà không mua gì thì cũng ngại!”
Đừng tưởng có tiền mua xe Mercedes là ngon lành đâu.
Xe Porsche cũng vậy!
“Bởi vì theo một cuộc khảo sát trên 2200 người của tạp chí Men’s Car xuất bản tháng 5 năm 2004 thì những ông lái Mercedes chỉ “vui chơi” được 1,6 lần một tuần. Lái xe Porsche ngầu như vậy mà yếu xìu! Chỉ có 1,4 lần một tuần.
Ngầu nhất là dân lái xế BMW 2,2 lần một tuần. Tiếp theo là Audi 2,1 lần một tuần; Volkswagen 1,9 lần một tuần; Ford 1,7 lần một tuần. Tính theo quốc tịch xe thì lái xe Ý 2 lần một tuần; xe Pháp 1,9 lần; xe Nhật 1,6 lần; xe Đại Hàn 1,5 lần.
Về đàn bà lái xe thì lái xe Pháp 2,1 lần; xe Audi 2 lần, xe Ý 2 lần; xe BMW 1,9 lần và xe Porsche 1,2 lần. Vậy khi ra đường, thấy ai lái xe Porsche, chúng ta chẳng nên trầm trồ, đó là thứ … hạng bét! Đây là bản nghiên cứu …vô duyên nhất thế giới, ghi lại đọc cho vui, chứ đừng có vị nào thấy mình yếu lại … đổi xe! Chỉ tổ tốn tiền vô ích. Nhà tình dục học Greg McCrea ở Ottawa, khi đọc bản nghiên cứu này đã khôi hài: ‘Chắc tại mấy anh lái xe BMW thích … nổ lớn hơn mấy anh lái xe Toyota hay xe Ford thôi!”.
Và sau cùng là mấy câu đồng dao mới, ở trong nước, nói về tiền, tác giả Song Thao đã sưu tầm được:
Quách Tấn là một hiện tượng đặc biệt của thi ca Việt Nam. Trong khi những nhà nho cuối cùng của chúng ta như Tản Đà,
Phan Khôi gần như không còn ai làm thơ Đường luật nữa, và phong trào thơ mới cũng đang bước dần sang thế giới thơ tự do với những Nguyễn Xuân Xanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đình Thi; Quách Tấn vẫn sống lặng lẽ với “vũ trụ thơ thất ngôn bát cú” của ông.
Trước 1975 ông còn cho xuất bản nguyên một tập thơ sáng tác theo phong cách ấy, lấy tên là Mùa Cổ Điển. Hai chữ “cổ điển” chính ông dùng để gọi thơ mình, hình như không hề có ý thách thức hay so sánh với bất cứ một hình thức thơ mới cũ nào. Nó chỉ khẳng định công việc của ông.
Nói Quách Tấn lặng lẽ sống, không phải chỉ vì ít người, rất ít người gặp ông, biết ông như một người làm thơ, một thi sĩ. Người ta không bao giờ thấy ông tới một nơi nào để hội họp bàn chuyện văn chương, phát biểu ý kiến, phê bình, khen chể người này hay tác phẩm nọ, ở một địa điểm công cộng nào.
Hình như ông cũng ít di chuyển, đi đây, đi đó. Ông ở Huế, hay thật ra, phần lớn người ta phỏng đoán như vậy, vì đọc thơ ông:
Nắng nhạt chiều thu qua rộn ràng
Sầu vương lau lách lạnh thành hoang
Tro tàn thơ viện duyên ngao ngán
Đá nát hoàng cung bước ngỡ ngàng
Gầy gọ cỏ sương tùng Thế Miếu
Bẽ bàng trăng nước trúc Hương Giang
Trông vời Thiên Mụ mây man mác
Lơ lửng chuông hồn rụng tiếng vàng
Nhớ xưa, Tản Đà sau đôi lần vào Nam ra Bắc, có lúc ngồi kiểm lại cuộc đời cầm bút của mình, đã viết trên tờ Đông Pháp Thời Báo số ra ngày 17 tháng 12 năm 1927 như sau:
“Tôi từ theo nghề quốc văn kể có tới gần mười lăm năm, lên bổng xuống trầm, vào trong ra đục, phong trần chẳng quản, phi nghị mặc ai, thực cũng mong tựa văn chương để có ít nhiều sự nghiệp. Mới đây, tôi ở Hà Nội vào Nam, thăm Thuận An, qua Đà Nẵng, trải Hoành Sơn, Hải Vân, một lần đường bộ, hai lần đường thủy, càng thấy giang sơn ta là to, càng mới biết văn chương là rất nhỏ mà bao nhiêu cái tư tưởng muốn lấy văn chương làm sự nghiệp, tự nhiên như bọt bể mây ngàn”.
Đó đây không thiếu những người khuyến khích, tán dương những chuyến du hành, nhất là đối với các văn nghệsĩ, coi đó như một điều kiện cần thiết để sáng tác.
Về chuyến đi xa và dài tới tận nước Mỹ của mình, Võ Phiến lại cảm nhận thêm một điều gì đó, vừa khôi hài vừa bi thảm nữa. Một bữa đi vãng cảnh núi non tại Quốc Gia LâmViên Hồng Sam, nhìn cây hồng sam có cái tuổi khoảng 4000 năm, gần ngang với tuổi của Tổ Hùng Vương, tần mần cho mấy ngón tay ngoáy vào những lỗ đá lớn bằng miệng chén trà, thổ dân Da Đỏ xưa đã dùng như là một thứ cối để nghiền thức ăn, Võ Phiến bỗng băn khoăn tự hỏi:
“Một đứa bé sinh trưởng ở làng quê dưới chân dãy Trường Sơn bên Việt Nam như mình sao lại đến nỗi có ngày ngồi ngẩn ngơ giữa một cao độ um tùm miền Tây lục địa Mỹ Châu thế này?”.
Như thế, đi nhiều, đi xa, và có đi thật xa chăng nữa, đó là điều hay hay dở quả thật cũng khó biết. Nó lại còn tùy thuộc mỗi người nữa. Trước 1975, ở Sài Gòn, cũng hiếm khi người ta thấy bóng Quách Tấn, hoặc giả ông có vào, nhưng ngay cả trong văn giới hình như ông cũng không giao du.
Ngay thơ ông, thỉnh thoảng lắm mới thấy xuất hiện trên báo, thường là chỉ trong các số đặc biệt như số Xuân chẳnghạn.
Đọc thơ Quách Tấn người ta thấy, cái mà ông yêu nhất có lẽ là sự lặng lẽ, yên tịnh:
Chim chiều kêu trước giậu
Gối sách nhìn hư không
Phơi phới làn mây trắng
Bay qua ngọn ráng hồng
Ông sống với sự lặng lẽ tìm thấy, nghe thấy và cả nhìn thấy quanh mình:
Nghìn xưa trang giấy lật
Hiu hắt ngọn hàn đăng
Tháo kính ra thềm đứng
Cành rơi đôi giọt trăng
Quách Tấn đã mất tại Huế ngày 21 tháng 12 năm 1992. Nghe nói trước khi mất ông đã phải trải qua những ngày khó khăn, tang thuơng lắm.
Đọc lại thơ ông, nghĩ tới những nỗi biển dâu trong đời, người ta bỗng thấy cái tịch mịch, lặng lẽ trong thơ ông, thấm qua mình như một sự xóa bỏ không cưỡng lại được. Nhưng xóa bỏ cái gì đây? Đêm xóa bỏ ngày. Cái chết xóa bỏ đời sống. Quên xóa bỏ nhớ.
Danh lợi mình không tranh với ai
Vườn không rào kín ngõ không cài
Sân lồng gió biển cháu kèo mận
Hiến ngát hương trời ông thưởng mai
Đầu bạc tuổi xanh xuân vẫn một
Chim vàng bướm trắng thú chung đôi
Bên đường em bé thủ mua báo
Rằng: nhạn đưa tin đã đến rồi
Bài thơ Đường luật, vận / đối nghiêm chỉnh, nhưng hình ảnh, ý tứ, lại có vẻ gì đó nửa tân kỳ, nửa cổ điển: hiên mai, kèo mận, bán báo, nhạn đưa.
Nếu thơ là nơi ẩn trốn của người làm thơ thì cùng một lúc nó cũng cho thấy đó là một nơi ẩn trốn không an toàn.
TRỞ lại Caracas. Thật là cả một thích thú khi tôi gặp lại thành phố sống động này.
Tôi được phóng thích đã 20 tháng, nhưng vẫn chưa hội nhập vào xã hội. Nói thì rất hay: “Chỉ cần làm việc!”. Nhưng không kể tôi không tìm ra một công việc tạm được, tôi lại không nói thạo tiếng Tây Ban Nha và vì không nắm vững ngôn ngữ nên nhiều nơi đã không nhận tôi. Thế nên tôi mua một quyển sách về văn pháp rồi tự giam mình trong buồng, nhất quyết ở riết trong nhà cho đến khi nào nói thạo tiếng Tây Ban Nha. Tôi bực bội, không cách nào tôi đọc đúng giọng, và sau vài ngày, tôi vứt quyển sách trong xó, trở lại đi quanh các đường phố, các quán cà phê, hầu tìm một người quen giúp tôi tìm công ăn việc làm.
Càng ngày người Pháp từ Âu Châu qua càng nhiều vì họ chán cảnh chiến tranh và các xáo trộn chính trị. Người thì chạy trốn một nền công lý bất ổn, độc đoán tùy thuộc xu hướng chính trị giai đoạn, người khác đi tìm cảnh yên ổn, một bờ bến dễ thở, không bị thiên hạ mỗi lúc lại bắt mạch xem quả tim đập mạnh yếu thế nào.
Tôi thấy họ không có vẻ gì là người Pháp nhưng mà họ là người Pháp thật. Tuy nhiên những người lương thiện ấy không dính líu gì đến ông cụ Charrière cùng những người tôi biết trong buổi thiếu thời. Khi tiếp xúc với họ, tôi nhận thấy vô số ý kiến khác hẳn những gì tôi hấp thụ lúc nhỏ, khiến tôi không còn hiểu gì hết. Nhiều lúc tôi nói với họ:
– Thiết tưởng có lẽ các ông không nên quên quá khứ, nhưng không nên nói đến nữa. Hitler, bọn quốc xã, bọn Do Thái, đỏ, trắng, De Gaulle, tả phái, bao nhiêu thứ khác nữa mà các ông đã phá hay dung dưỡng trong cõi lòng? Có thể nào, sau chiến tranh, trong các ông, có những người bênh vực chủ nghĩa quốc xã, chế độ mật vụ Đức hay Pháp? Tôi nói cho các ông biết: Khi các ông nói đến người Do Thái, người ta tưởng trông thấy một dân tộc trút niềm thù hận trên đầu một dân tộc khác.
“Các ông sống ở Venezuela, trong lòng dân tộc này, thế mà các ông không thể hòa đồng với triết lý vô cùng kỳ diệu của xứ này. Ở đây, hoàn toàn không có kỳ thị chủng tộc hoặc kỳ thị tôn giáo. Lẽ ra, giai cấp xã hội khốn cùng nhất, do điều kiện sinh sống dưới mức bình thường của con người, phải mang trong lòng loại siêu vi trùng về thù hận đối với hạng người được ưu đãi. Thế mà, ở đây không có thứ siêu vi trùng ấy.
“Ngay các ông cũng không thể lập lại một cuộc sống để mà sống như những người khác. Lẽ nào cuộc đời chỉ là một cuộc đấu tranh triền miên giữa những người không cùng chung một chủ nghĩa?
“Xin các ông im đi! Đừng đến đây như những người Âu Châu đầy mặc cảm tự tôn dân tộc, như những tay thám hiểm. Đúng, trung bình trình độ trí thức của các ông cao hơn quảng đại quần chúng ở đây, rồi sao nữa? Việc ấy có ích gì đâu nếu rốt cuộc các ông ngốc hơn họ? Có thể nói đối với các ông, học vấn không có nghĩa là thông minh quảng đại, nhân ái, cảm thông mà chỉ là một mớ hiểu biết do sách vở đem lại. Nếu tâm hồn các ông khô khan, ích kỷ, thù vặt, thủ cựu, những tri thức ấy không có nghĩa lý gì hết.
“Thượng Đế tạo ra mặt trời, biển cả, đồng cỏ mênh mông, rừng sâu, nhưng để cho ai? Có phải để cho các ông đâu?
“Các ông tưởng mình là chủng tộc trời định để tổ chức thế giới. Khi nhìn các ông, nghe các ông nói, tôi nghĩ rằng xuyên qua công lý của các ông, tôi chỉ là một đống rác, thế giới do hạng người khốn nạn như các ông điều khiển sẽ chỉ có chiến tranh với cách mạng dài dài. Bởi vì các ông là hạng người có lẽ chỉ mơ ước một nền an ninh công cộng nhưng với điều kiện phải phù hợp với quan điểm của các ông.
“Mỗi người đưa ra một danh sách những người cần phải tranh đấu, phải kết án, phải bỏ tù. Và mặc dù thất vọng, tôi không khỏi buồn cười khi nghe hạng người như các ông ngồi trong một tiệm cà phê hay một phòng khách nhà trọ hạng bét, công kích lung tung rồi kết luận chỉ có các ông mới xứng đáng dìu dắt nhân loại”.
Rồi tôi lo sợ, vâng, tôi lo sợ, bởi lẽ cảm thấy rõ rệt nguy cơ mà những người mới đến đem theo: chất độc nhiễm của những chủ nghĩa lỗi thời của cựu thế giới.
Năm 1947. Tôi làm quen với một cựu phạm, Pierre René Deloffre chỉ biết tôn thờ mỗi một người, tướng Angarita Medina, cựu Tổng Thống Venezuela, bị cuộc đảo chánh quân đội năm 1945 lật đổ. Deloffre là một nhân vật đặc biệt. Hiếu động, nhưng hăng say và quảng đại.
Hắn đã đem hết nhiệt tình thuyết phục tôi rằng các người kế nghiệp cuộc đảo chánh ấy không bằng đế giầy của Medina. Xin nói trống ra rằng hắn không thuyết phục được tôi, nhưng vì tôi đang ở trong một hoàn cảnh khó khăn nên tôi không nói trái ý hắn.
Hắn đã nhờ một tay tài phiệt, một người phi thường, tìm việc cho tôi. Anh tài phiệt tên là Alejandro. Thuộc giòng dõi thế gia ở Venezuela, anh là người cao thượng, rộng rãi, tế nhị, thông thái, thông minh, can đảm đặc biệt, nhưng phải cái tội: có một người anh đố kỵ, ngu ngốc và bất tài. Những hoạt động mới đây của anh cho thấy sau 25 năm, anh vẫn không thay đổi. Deloffre giới thiệu tôi với anh ta mà không vòng vo:
– Papillon, bạn tôi, trốn thoát từ ngục tù Pháp. Papillon đây là người tôi đã nói chuyện với anh.
Alejandro nhận tôi ngay rồi với thái độ bình dị của một vương tôn công tử, anh hỏi tôi có cần tiền không.
– Thưa ông Alejandro, tôi cần công việc làm. Dù sao, tôi thích chờ, không nên vội vã. Vả lại, thật tình trong lúc này tôi chưa cần tiền.
– Mời anh 9 giờ sáng mai trở lại đây.
Ngày hôm sau, ông ta dẫn tôi đến một hãng sửa xe mang tên Hãng “Pháp – Venezuella”, để giới thiệu với những cộng sự viên của ông. Đó là ba người thanh niên tràn trề máu nóng, luôn luôn sẵn sàng phi nước đại mà ông cầm cương, cũng không cần thắng, mới nhìn qua đã thấy rõ như vậy. Hai người đã lập gia đình. Một người có vợ tên Simone, dân Ba Lê, 25 tuổi, rất đẹp; vợ người kia tên Dédée, dân xứ Bretagne, 20 tuổi, mắt xanh biếc, trang nhã như một cành hoa tím, đã có tý nhau tên Cricri.
Cả ba người đều đẹp trai, cởi mở, không hậu ý. Họ tiếp tôi niềm nở, như thể đã quen tôi tự bao giờ. Họ đặt ngay cho tôi một chiếc giường trong một góc nhà sửa xe rộng lớn, gần cửa phòng tắm, có treo một tấm màn để ngăn cách sơ sài. Tôi có thể chân thực viết rằng đã 17 năm, đây là gia đình đầu tiên của tôi. Được nhóm người trẻ ấy yêu mến, nuông chiều, trọng nể, tôi càng sung sướng nhận thấy dù có hơn họ ít tuổi, tôi cũng yêu đời như họ, cũng ham sống không biên giới và không luật lệ.
Không cần hỏi han – thật ra nào có cần – tôi cũng dễ dàng thấy rằng không người nào đích thực là thợ máy. Họ chỉ hiểu biết thô sơ, rất thô sơ – một thoáng hiểu biết nếu tôi có thể nói như vậy – về máy nổ, lại còn biết rất ít về máy móc xe hơi Huê Kỳ là thứ xe được đem đến sửa nhiều nhất. Một người là thợ tiện, vì vậy có một máy tiện để điều chỉnh các pit-tông, theo lời hắn nói.
Không lâu tôi được biết máy tiện ấy dùng để làm lậu những bình hơi có gắn ngòi nổ.
Đối với đợt Pháp kiểu mới đến, hãng sửa xe Pháp – Venezuela sửa xe lấy có, nhưng đối với ông tài phiệt Venezuela, nó chế ra nhiều trái bom cho một cuộc đảo chính. Chuyện này không hợp với tôi tí nào.
– Trời ơi! Vụ này bày ra để ủng hộ ai, chống ai vậy? Nhờ các anh giải thích cho tôi rõ. Tôi hỏi ba anh người Pháp như vậy, một đêm, dưới ánh đèn, sau khi các bà vợ và mấy đứa con đã đi ngủ.
– Chúng tôi không cần biết. Chúng tôi chỉ làm những cái ống theo lời yêu cầu của Alejandro. Sau đó không cần biết.
– Có lẽ các anh không cần biết. Nhưng tôi cần biết.
– Tại sao? Anh được trả lương hậu hĩ, tụi mình đùa dỡn suốt ngày, phải vậy không?
– Đùa dỡn thì tôi đùa dỡn, nhưng tôi không phải như các anh. Tôi bị “quản thúc” trong xứ này. Người ta tin tôi và cho tôi được tự do.
Họ sửng sốt khi nghe tôi nói như vậy trong hoàn cảnh của tôi. Vì họ đã biết, định kiến của tôi, do tôi đã có lần nói. Tuy nhiên tôi không nói cho họ biết vụ trộm tiệm cầm đồ. Vì vậy, họ bảo tôi:
– Vụ này, nếu thành công, anh sẽ có đủ số tiền cho công việc anh định làm, hơn nữa là khác. Đối với chúng tôi, chúng tôi từng nghĩ sẽ không ở trong hãng sửa xe này đến mãn đời. Đành rằng chúng ta vui đùa, nhưng không phải một công việc làm ăn vững chãi nếu đem đối chiếu với giấc mơ của chúng tôi khi bước chân đến Nam Mỹ, chắc anh nghĩ vậy chứ?
– Còn vợ các anh, con các anh?
– Các bà xã đều biết công chuyện. Một tháng trước ngày đảo chính, họ sẽ đi Bogota.
– À, à!… Các bà ấy biết. Tôi cũng tự bảo như vậy khi thấy họ không tỏ vẻ ngạc nhiên đối với công chuyện ở đây.
Đêm ấy tôi đến gặp Deloffre và Alejandro. Tôi nói chuyện với họ rất lâu. Alejandro giải thích cho tôi nghe:
– Trong xứ tôi, Betancourt với Gallegos lãnh đạo dưới danh nghĩa đảng ngụy dân chủ A.D. (Dân chủ tác động). Họ nhận chính quyền từ tay các quân nhân ngây thơ không biết tại sao đã lật đổ một quân nhân khác phóng khoáng hơn, ông Médina, nhân ái hơn các nhân vật dân sự rất nhiều. Tôi đã im lặng chứng kiến cuộc tàn sát các cựu viên chức của chế độ Médina và tôi cố hiểu tại sao những con người đã làm một cuộc cách mạng với khẩu hiệu “công bằng, xã hội, tôn trọng tất cả mọi người, không trừ một ai”, lại trở nên tồi tệ hơn những người tiền nhiệm một khi đã nắm chính quyền. Thế nên tôi muốn góp phần đưa Médina trở lại.
– Alejandro, như thế hay lắm. Tôi cảm thông với anh, trước hết anh muốn chấm dứt các vụ khủng bố của đảng đang cầm quyền. Còn anh, Deloffre, anh có một thần tượng, đó là Médina, vừa là bạn, vừa là người che chở cho anh. Nhưng xin nhớ cho tôi điều này, đối với tôi, Papillon, chính đảng cầm quyền đã phóng thích tôi ra khỏi ngục tù El Dorado.
“Sau cách mạng ít ngày, ông tân giám đốc đến – hình như ông ấy vẫn còn tại chức – ông Don Julio Ramos, một luật sư, một nhà văn tên tuổi, ông thả tôi ra và chận đứng ngay chế độ khủng bố tàn bạo trong ngục thất. Thế mà các anh muốn tôi tham dự vào một âm mưu chống lại các người ấy? Không, các anh để tôi đi. Các anh cũng biết các anh có thể tin tôi rất kín miệng”.
Alejandro vốn là một tay hào hiệp, biết rõ hoàn cảnh khó khăn của tôi, nói:
– Henri, anh không làm các quả bom, anh không làm việc tại máy tiện. Anh chỉ lo sửa xe và đưa các dụng cụ khi cần. Thế thì anh ở lại một thời gian nữa. Chính tôi yêu cầu anh điều này, tôi hứa với anh và anh nên tin chắc như vậy, rằng là khi chúng tôi hành động, anh được báo tin trước một tháng.
Rồi tôi ở lại với ba thanh niên, tôi không nói hết tên của họ, mà chỉ gọi bằng những chữ đầu: PL, BL, và JG. Cả ba hãy còn sống. Chúng tôi trở thành một nhóm ghê gớm, luôn luôn có nhau sống như ngựa buông cương, đến nỗi Pháp kiều ở Caracas gọi chúng tôi là Ba chàng Ngự lâm pháo thủ trong khi đến bốn chàng. Mấy tháng ấy vẫn là thời kỳ đẹp nhất, vui nhất, trẻ trung nhất của tôi ở Caracas.
Lúc bấy giờ sống chỉ để mà đùa dỡn. Ngày thứ bảy, chúng tôi để dành chiếc xe đẹp nhất của khách hàng và nói sửa chưa xong, rồi chúng tôi đi ra biển trên một bãi kỳ diệu đầy hoa lá và có nhiều dừa, để tắm và làm một trăm chuyện điên khùng. Dĩ nhiên đôi khi chúng tôi gặp người chủ xe giận dữ thấy xe của mình chở bọn quỉ vật này trong khi anh ta tưởng nó nằm ở xưởng sửa chữa. Thế là với giọng điệu nhã nhặn, chúng tôi chậm rãi giải thích cho anh ta nghe chúng tôi làm thế này là vì anh, chúng tôi không muốn giao chiếc xe chưa hoàn hảo, do đó cần phải chạy thử. Ít khi gặp chuyện rắc rối, có lẽ nhờ nụ cười tươi đẹp của hai thiếu phụ trong bọn chúng tôi.
Trái lại, có xảy ra vài vụ đẫm máu: thùng chứa xăng trong xe của ông đại sứ Thụy sĩ bị chảy. Ông ta đem xe đến để hàn chỗ lủng. Tôi cẩn thận rút hết xăng ra bằng một ống cao su, tôi hút đến giọt cuối cùng. Có lẽ vẫn còn xăng trong thùng, vì khi để mỏ hàn xì vào, thùng xăng quỉ quái nổ tung, chiếc xe phụt cháy, tiêu tan hoàn toàn. Trong khi tôi với người thợ mặt mũi mình mẩy bám đầy than khói, sờ vào nhau để xem quả mình đã thoát chết, thì tôi nghe giọng nói bình thản của B.L:
– Xem có nên báo cho công ty mình biết tai nạn tí ti này hay không?
Nó điện thoại cho Alejando, nhưng lại gặp thằng Vicente ngu ngốc.
– Vicente, nhờ anh cho tôi số điện thoại của hãng bảo hiểm xưởng sửa xe của mình.
– …….
– Không có hả? Sao kỳ vậy? Chính anh phụ trách công việc hành chánh mà.
– ……….
– Tại sao? À, phải rồi, tôi quên! Vì là chiếc xe của ông đại sứ Thụy sĩ bị cháy. Bây giờ chỉ còn là một đống tro.
Không cần nói rằng năm phút sau, Vicente chạy đến hai cánh tay đưa lên trời, nó càng nổi giận vì thực ra xưởng sửa xe không được bảo hiểm. Phải cần đến ba ly Whisky khá đậm cùng tất cả vẻ mỹ miều của cặp giò hở hang của Simone, lão mới bình tĩnh trở lại. Alejandro thì ngày hôm sau mới đến, với thái độ hết sức tự chủ. Ông ta nói một câu rất dễ thương: “Vì có làm việc nên mới xảy ra tai nạn. Dù sao, nên cho qua, tôi đã sắp đặt xong với ông đại sứ”.
Viên đại sứ đã tìm lại một chiếc xe, nhưng không bao giờ chúng tôi thấy lại Alejandro.
Trong khi sống trẻ trung và vui nhộn, lâu lâu tôi nhớ đến kho tàng nho nhỏ của tôi giấu dưới gốc cây trong nước cộng hòa nổi tiếng nhờ thịt đông lạnh. Đồng thời tôi để dành số tiền lộ phí khứ hồi khi nào tôi đến lấy kho tàng ấy. Ý nghĩ tôi đã có đủ, hoặc gần đủ phương tiện trả mối thù khiến tôi hoàn toàn thay đổi. Tôi sống không cần kiếm nhiều tiền, vì đó không còn là vấn đề cần thiết đối với tôi nữa. Tiền tôi tiết kiệm là đủ. Vì vậy tôi sống không chút bận tâm cuộc đời của những chàng ngự làm pháo thủ, và một buổi chiều chủ nhật, chúng tôi gặp nhau lại mặc xì líp tắm trong hồ một công trường ở Caracas. Ít ra trong vụ này Vicente đã chứng tỏ có khả năng vì đã xin những người cộng tác với em của lão bị bắt vì tội công xúc tu sỉ được cuộc cảnh sát thả ra.Tuy nhiên nhiều tháng đã trôi qua và bây giờ tôi có thể yên tâm đi tìm kho tàng của tôi.
Vậy thì, xin chào các bạn, cảm ơn lòng tốt của các bạn! Thế là tôi trực chỉ phi trường.
Đến nơi lúc 6 giờ sáng, tôi thuê một chiếc xe và 9 giờ tôi có mặt tại chỗ.
Tôi băng qua cây cầu. Trời ơi! Việc gì đã xảy ra? Tôi mất trí hay đây là một ảo ảnh? Qua khỏi cầu, tôi cố nhìn, không thấy cây cổ thụ ở đâu hết. Không những chỉ mỗi cây của tôi, mà tất cả các cây đều biến mất. Cây cầu đã được mở rộng theo đường lộ đã biến thể, rộng hơn trước kia rất nhiều. Tính từ cây cầu, tôi phỏng đoán địa điểm cây cổ thụ và kho tàng của tôi. Không thể tin được, tôi hết thở. Không còn gì hết!
Một cơn điên như chó dại xâm chiếm tôi. Tôi lấy gót chân nện vào nhựa đường như thể nó có cảm giác vậy. Trong cơn phẫn nộ, tôi tìm quanh một thứ gì để đập phá, chỉ thấy mấy đường trắng kẻ trên mặt lộ, tôi lấy chân đạp cho tan tành, làm như mấy mảnh sơn vụn tróc ra ấy có thể gây ra một thảm họa.
Tôi trở lại cây cầu, và so với mối cầu bên kia không bị thay đổi, tôi tính ra người ta đã phải đào sâu hơn 4 thước đất. Kho tàng của tôi chỉ chôn dưới một thước đất, hẳn là người ta thấy ngay liền.
Tôi tựa mình vào lan can cầu và trong nhiều phút tôi nhìn nước chảy. Dần dần tôi bình tâm trở lại, nhưng các ý nghĩ vẫn quay cuồng trong đầu óc. Phải chăng tôi cứ tiếp tục đập phá? Có nên từ bỏ các cuộc phiêu lưu mạo hiểm hay không? Làm gì bây giờ? Đôi chân tôi quỵ xuống. Rồi tôi nghĩ lại tự nhủ: “Trước lần thoát ngục cuối cùng, mày đã thất bại biết bao nhiêu lần rồi? Bảy đến tám lần, phải vậy không? Thế thì trong đời cũng vậy. Một canh bạc thua, sẽ thắng canh khác! Đời là vậy nếu ta thực tâm yêu đời!”.
– Tôi không ở lại lâu trong cái xứ ham sửa chữa đường sá này. Thật là chán mớ đời khi nghĩ rằng trong một nước văn minh – vì cái xứ hoang vắng này người ta cũng văn minh đáo để – ngay cả đến các cây cổ thụ cũng không được tôn trọng. Và tại sao, tôi xin hỏi anh, phải mở rộng một con đường đã khá rộng đối với sự lưu thông hiện hữu?
Trong chuyến phi cơ trở về Caracas, tôi nghĩ đùa rằng con người tưởng làm chủ được vận mạng của mình, có thể xây dựng tương lai, đoán trước những việc sẽ làm trong một hai năm. Sai tuốt, Papillon ạ. Một người chính xác nhất, tính toán nhất, tổ chức cuộc sống tài tình nhất cũng chỉ là một trò chơi trước số mệnh bất khả tri. Chỉ có hiện tại là chắc, kỳ dư đều là mờ mịt, nào là may, nào là rủi, nào là vận số, lại còn ngón tay bí mật và khó hiểu của Thượng Đế.
Ở đời chỉ có một điều đáng kể trước tiên: “đừng bao giờ chịu thua và sau mỗi lần thất bại, cứ bắt đầu trở lại”. Đó là việc tôi sắp làm.
Lúc ra đi, tôi đã chào vĩnh biệt các bạn. Quả vậy, nếu tìm được kho tàng, tôi sẽ đi qua các nước khác chứ không đi qua Venezuela, đổi các món nữ trang để cho người ta khỏi nhận ra, rồi sau khi bán xong, tôi sẽ đến Tây Ban Nha và từ đó sẽ đến viếng lão Phó Chưởng Lý và đồng bọn. Thế nên người ta có thể tưởng tượng cả một sự động binh của bọn ngự lâm pháo thủ khi nhìn thấy tôi hiện ra trước cửa xưởng sửa xe. Tiệc, bánh mừng tôi trở về với bốn cành hoa do Andrée để trên bàn. Mọi người nâng ly chúc mừng giây phút tái ngộ rồi cuộc sống lại diễn ra hết mình. Tuy vậy tôi không còn vô tư như trước.
Tôi linh cảm Alejandro và Deloffre định giao cho tôi một công việc mà họ chưa tiết lộ cho tôi biết. Theo tôi đoán có lẽ là liên quan đến vụ đảo chính, tuy rằng họ đã biết lập trường của tôi đối với vấn đề này. Họ thường mời tôi đến uống rượu hoặc ăn cơm tại nhà Deloffre. Những bữa cơm rất ngon lành, không khách lạ. Deloffre làm bếp và Victor, người tài xế trung thành của hắn bưng dọn. Chúng tôi nói đủ mọi chuyện nhưng rốt cuộc cũng đi đến một chủ đề: tướng Medina, một trong những vị tổng thống dân chủ nhất của Venezuela, dưới trào ông không có một tư nhân chính trị, không một ai bị truy tố vì chính kiến của mình, một chính sách sống chung với tất cả các quốc gia, tất cả các chế độ đi đến chỗ lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô; Medina là người rất tốt, rất cao thượng và dân chúng mến ông vì tính tình bình dị đến nỗi có một hôm, trong một buổi lễ ở Paraiso, người ta đã công kênh ông với vợ ông như những tay chiến thắng trong trận đấu bò rừng.
Mãi nói đi nói lại cho tôi nghe về ông Medina thân tình, thường đi dạo trong đô thị Caracas chỉ với một người cận vệ và đi xem chiếu bóng như tất cả mọi người công dân nào, Alejandro và Deloffre riết rồi hầu như đã thuyết phục được tôi rằng một người có lòng phải làm mọi cách để đưa ông trở lại chính quyền. Những bất công, óc trả thù của bọn viên chức trong chính phủ hiện tại đối với một phần dân chúng đã được phác họa bằng những nét đen tối nhất. Để cho vị tổng thống phi thường ấy thêm dễ mến đối với tôi, Deloffre kể rằng ngoài các đức tính ấy, Medina là một người chơi bời có hạng, chưa kể là một người bạn thân, tuy Deloffre là một tù nhân vượt ngục. Xin ghi thêm rằng trong cuộc cách mạng vừa qua, Deloffre đã mất tất cả. Những tay trả thù bí mật đã phá tan nhà hàng khiêu vũ của hắn; Medina và tất cả dân thanh lịch đô thị Caracas thường đến đó ăn uống hoặc ngồi chơi một lúc.
Cuối cùng, hầu như đã bị thuyết phục – sau này tôi mới biết đó là một điều sai lầm – tôi định nhận đóng một vai trò trong cuộc đảo chính. Những do dự của tôi hoàn toàn tiêu tán (tôi phải nói điều này ra vì tôi muốn trung thực) khi được hứa hẹn một số tiền quan trọng cùng các phương tiện cần thiết để thực thi kế hoạch trả thù của tôi.
Thế là rồi một đêm nọ, tôi đến nhà Deloffre gặp hắn, tôi là đại úy, Deloffre là Đại tá, sẵn sàng hành động.
Công việc bắt đầu gặp trục trặc. Dễ nhận biết nhau, những người đảo chính dân sự mang một băng tay màu xanh lục và ám hiệu là aragua. Chúng tôi phải có mặt tại địa điểm hành động lúc hai giờ sáng và vào khoảng 11 giờ đêm chiếc xe ngựa duy nhất của thành phố Caracas chở đến bốn thằng hoàn toàn ngu xuẩn. Bốn thằng điên ấy hát inh ỏi lại còn được đàn guitare. Họ dừng ngay trước nhà và tôi kinh hoàng nghe chúng nó hát những câu đề cập một cách thô lỗ đến cuộc đảo chính trong đêm nay. Một thằng kêu lớn Deloffre:
– Pierre! Cơn ác mộng chấm dứt trong đêm nay! Hãy can đảm và xứng đáng. Các bạn! Cha già Medina bảo chúng ta phải trở về.
Không thể đần độn hơn. Chỉ cần một thằng nào đó báo cảnh sát, cảnh sát đến hỏi thăm sức khỏe chúng tôi là đẹp nhất rồi! Tôi tức điên người; mà tức là phải: chúng tôi có ba quả bom trong thùng xe, một quả dưới băng sau, giấu dưới một chiếc mền.
– Trời! bọn đồng lõa của anh đẹp nhỉ! Nếu tất cả đều như vậy, chẳng cần phải nhọc sức, thà đi thẳng vào nhà tù còn hơn!
Deloffre cười ngặt nghẽo, thoải mái như sắp đi khiêu vũ, rạng rỡ trong bộ đồng phục sĩ quan cấp tá ngắm nhìn trước gương.
– Papillon, đừng có lo. Vả lại chúng ta chả làm hại ai hết. Như anh biết, trong ba quả bom kia chỉ có thuốc nổ mà thôi. Chỉ để gây tiếng nổ, không hơn không kém.
– Rồi tiếng nổ ấy để làm gì?
– Giản dị lắm: để báo hiệu cho những người đảo chính tản mác trong thành phố. Không hơn không kém. Anh thấy không, không có gì tàn ác, chúng ta không muốn hại ai cả. Chỉ buộc họ đi chỗ khác chơi mà thôi.
Được rồi, dù muốn dù không, tôi đã dấn thân, kệ xác tôi! Tôi khỏi cần phải run sợ hay hối tiếc, chỉ cần chờ đến giờ.
Tôi từ chối ly rượu Porto của Deloffre mời; nó chỉ uống mỗi một thứ rượu này, ít nhất hai chai một ngày. Nó uống vài ly.
Ba chàng ngự lâm pháo thủ đến, trên một chiếc xe đò đã cải trang thành chiếc xe cần trục. Xe ấy sẽ dùng để lấy đi hai chiếc tủ sắt, một của một công ty hàng không và một của nhà tù kiểu mẫu mà một trong các viên giám đốc – chỉ huy đồn binh địa phương là đồng lõa. Tôi sẽ được chia 50 phần trăm số bạc trong tủ sắt và sẽ hiện diện lúc lấy chiếc tủ sắt của nhà tù. Sẽ là một cách trả thù đẹp nhất đối với tất cả các nhà tù trên thế gian. Tôi quyết tâm thực hiện việc này.
Một liên lạc viên đem đến các mệnh lệnh sau cùng: không bắt một kẻ thù nào hết, nên để họ chạy đi. Phi cảng dân sự ở trung tâm thành phố đã được giải tỏa để các yếu nhân và nhân viên chính phủ hiện tại có thể dùng phi cơ nhỏ trốn đi mà không gặp trở ngại nào.
Lúc bấy giờ tôi được biết địa điểm sẽ cho nổ trái bom đầu tiên. Trời, thằng Deloffre quả là gan cùng mình! Sẽ cho nổ ngay trước cổng dinh Tổng Thống ở Minaflores, tương đương với điện Elysée của nước Pháp, không hơn không kém. Còn hai trái khác, một trái cho nổ ở phía Tây, một trái ở phía Đông thủ đô Caracas để gây cảm tưởng bom nổ lung tung. Tôi mỉm cười một mình khi nghĩ đến nỗi khiếp sợ của những người trong dinh Tổng Thống.
Cánh cổng lớn bằng gỗ ấy không phải là lối vào chính thức của dinh. Nó ở phía sau dinh và dùng để các xe nhà binh và các xe lớn khác ra vào và cũng để cho một số nhân vật, đôi khi là Tổng Thống, vào ra mà không ai để ý.
Tất cả các đồng hồ của chúng tôi đều lấy giờ lại cho phù hợp nhau. Chúng tôi phải có mặt trước cổng lúc hai giờ kém ba phút. Một người bên trong sẽ hé mở cửa trong hai giây đồng hồ, vừa đủ để người tài xế phát ra một tiếng như tiếng cóc kêu bằng một thứ đồ chơi con nít bắt chước giống y chang tiếng cóc kêu. Thế là người ta biết chúng tôi đã có ở đó. Để làm gì? Tôi chẳng hiểu vì không ai giải thích cho tôi rõ. Đám cận vệ của Tổng Thống Gallegos có tham gia đảo chính hay không và có bắt ông ấy giam lại hay không? Hay là đám cận vệ sẽ bị đặt trong tình trạng bất động vì đã bị những người thù đảo chính, ở trong dinh, hòa giải? Tôi không thể biết được.
Một điều chắc chắn là đúng hai giờ, tôi phải châm ngòi nổ quả bom tôi kẹp trong hai đùi, rồi quăng ra cửa xe rất mạnh để cho nó lăn đến cổng dinh Tổng Thống. Ngòi nổ cháy đúng một phút ba mươi giây. Thế nên tôi phải dùng lửa điếu thuốc xì gà để châm, và khi ngòi bắt đầu cháy, sẽ giãn chân phải ra mở cửa xe, vừa đếm đủ 30 giây. Đến giây thứ 30, tôi cho nó lăn trên mặt đường. Chúng tôi đã tính quả bom lăn trên mặt đất sẽ có gió làm cho ngòi bom cháy mau và chỉ còn khoảng 40 giây trước khi nổ.
Tuy bom không có đạn, nhưng mảnh bom vô cùng nguy hiểm và vì vậy phải cho xe thoát chạy hết tốc lực để tránh mảnh bom. Đó sẽ là công việc của Victor, người tài xế.
Tôi đã được Deloffre hứa là nếu có một người lính hoặc một cảnh sát viên đứng gần đấy, nó sẽ ra lệnh, vì nó mặc quân phục đại tá, cho người ấy phải chạy đến góc đường phố.
Chúng tôi đến trước cổng lúc hai giờ kém ba phút, không gặp khó khăn gì. Mọi người đứng dọc theo lề đường phía trước. Không có lính canh, cũng không có cảnh sát. Tốt quá. Hai giờ kém hai phút……. Hai giờ kém một phút. Hai giờ…
Cánh cổng không thấy mở.
Tinh thần tôi căng thẳng. Tôi nói với Deloffre:
– Pierre, hai giờ rồi.
– Tôi biết. Tôi cũng có đồng hồ như anh.
– Thế là có triệu chứng bất thường.
– Tôi không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Chúng mình hãy chờ 5 phút nữa.
– O.K.
Hai giờ hai phút… Cánh cổng mở mạnh hết sức, một đoàn lính chạy ra, tay cầm súng và trải ra trong thế sẵn sàng nổ súng. Rõ ràng như ban ngày, chúng tôi bị phản.
– Chạy đi, Pierre, chúng ta bị phản.
Phải nói nhiều hơn thế để chứng minh cho Deloffre hiểu vì nó có vẻ hoàn toàn vô ý thức.
– Anh lầm! Họ về phe ta.
Tôi rút một khẩu súng 45 và ấn vào gáy Victor.
– Cho xe chạy nếu không tao giết mày!
Thay vì cảm thấy xe vọt chạy vì tôi tin rằng Victor ráng sức bình sinh đạp ga, tôi nghe một câu bất hủ:
– Bạn ơi, ở đây anh không chỉ huy mà ông chủ. Ông chủ bảo sao?
Thật là hết chỗ nói. Tôi đã từng thấy những thằng ngu ngốc lạ lùng, nhưng chưa thấy ai như cái thằng lai da đỏ này!
Tôi không thể làm gì vì bọn lính chúng cách tôi có ba thước. Vì họ thấy ba hoa mai bạc đại tá trên vai Deloffre đang tựa vào cửa xe, nên họ không lại gần.
– Pierre, nếu anh không bảo Victor cho xe chạy, tôi không giết Victor mà tôi giết anh.
– Nhóc con, tôi nói cho anh biết họ theo mình. Hãy chờ một chút nữa, Pierre quay đầu lại phía tôi đáp.
Lúc bấy giờ tôi mới thấy có bột trắng dính nơi lỗ mũi của Deloffre. Tôi hiểu: thằng cha này xài bạch phiến. Tôi sợ quá, vâng, tôi sợ kinh khủng, tôi để khẩu súng ngang gáy nó thì vừa lúc nó hết sức bình tĩnh:
– Papillon, bây giờ là hai giờ sáu phút. Hai phút nữa chúng mình đi. Chắc hẳn chúng ta bị phản.
Khoảng thời gian 120 giây thật là vô tận. Tôi không rời mắt khỏi mấy người lính: những người đứng gần nhìn chúng tôi, nhưng hiện giờ không biểu tỏ điều gì. Cuối cùng Deloffre nói:
– Victor, chạy đi. Chậm chậm, như thường vậy, không nên đi quá mau.
Và chúng tôi thoát được cạm bẫy ấy, thật là một phép lạ. Thật là may! Ít năm sau, người ta có cho ra cuốn phim “Ngày dài nhất”. Người ta cũng có thể làm một cuốn phim nhan đề: “Tám phút dài nhất”.
Deloffre ra lệnh cho tài xế đi về phía chiếc cầu của thành phố nối liền khu Paraiso với đại lộ Saint-Martin. Nó muốn cho nổ quả bom dưới cây cầu. Dọc đường chúng tôi gặp hai chiếc xe chở bọn người đảo chính; họ không biết phải làm gì vì lúc hai giờ không nghe tiếng nổ. Chúng tôi giải thích nội vụ, rằng đã bị phản và bây giờ Deloffre lại đổi ý kiến, ra lệnh về gấp nhà nó. Quả là một sai lầm to bằng cái nhà. Bởi vì, chúng tôi đã bị phản thì có thể cảnh sát đã có mặt tại nhà nó rồi. Chúng tôi vẫn đến đó; trong lúc giúp một tay cho Victor để quả bom vào thùng, tôi thấy có vẽ mấy chữ trên ấy: P. R. D. Khi Pierre Resé Deloffre giải thích lý do, trong lúc tôi cởi bộ quân phục, tôi chỉ còn biết cười xòa:
– Papillon, đừng bao giờ quên rằng trong những vụ nguy hiểm, phải biết để vào đó một cành hoa. Những chữ ấy là tấm danh thiếp gởi đến kẻ thù của bạn tôi.
Victor đem bỏ chiếc xe trong bãi đậu, dĩ nhiên nó không để khóa xe. Ba tháng sau người ta mới phát giác ba quả bom.
Không nên ở lâu tại nhà Deloffre, nó đi phần nó, tôi đi phần tôi. Không liên lạc với Alejandro. Tôi đi thẳng đến xưởng sửa xe để giúp tháo máy tiện cùng năm sáu ống hơi để ở đó. Lúc 6 giờ, điện thoại reo, một giọng bí mật nói:
– Các anh Pháp, các anh nên đi hết đi, mỗi người một ngả. Chỉ B.L. là phải ở lại xưởng sửa xe. Hiểu chưa?
– Ai ở đầu dây đó?
Người bên kia đầu dây đã gác máy.
Cải trang thành đàn bà, đi trên một xe Jeep do một sĩ quan cựu kháng chiến Pháp lái, người này đã được tôi giúp đỡ khá nhiều từ ngày đến xứ này, tôi ra khỏi Caracas không gặp trở ngại gì, rồi thẳng tiến Rio Chico, cách đó hai trăm cây số, trên bờ biển. Tôi ở đó hai tháng với anh cựu đại úy, vợ anh và hai người bạn quê ở Bordeaux.
B.L. bị bắt. Không bị tra tấn, một cuộc thẩm vấn gắt gao nhưng tử tế. Khi biết chuyện ấy, tôi kết luận rằng chế độ của Gallegos và Betancourt không tội lỗi như người ta phao cho, ít nữa là trong vụ này.
Deloffre đã tỵ nạn ngay đêm ấy trong tòa đại sứ xứ Nicaragua, nếu tôi không lầm.
Về phần tôi, luôn luôn đầy tin tưởng vào cuộc đời, một tuần lễ sau, tôi cùng tên cựu đại úy lái chiếc xe vận tải của Sở Kiều lộ Rio Chico. Chúng tôi đã nhờ một người bạn giới thiệu vào làm việc ở tòa thị chính. Lương hai chúng tôi mỗi ngày 25 đồng dùng để nuôi sống năm đứa!
Cuộc đời phu lục lộ kéo dài hai tháng, khoảng thời gian đủ để cho sóng gió do âm mưu đảo chính vừa rồi lắng dịu ở Caracas và để cho cơ quan cảnh sát quay sang chú tâm đến những tin tức về một âm mưu đảo chính mới. Họ lưu ý đến hiện tại và gác quá khứ về một bên, điều ấy rất hợp lý. Tôi không mong gì hơn bởi vì tôi nhất định không để bị bắt vì một vụ như vậy nữa. Một lần đã quá đủ. Bây giờ tốt hơn hết là sống bình yên với bạn bè, không làm cho người ta chú ý đến mình.
Để cho bữa ăn thường ngày khác hơn, mỗi buổi chiều tôi thường đi câu ở biển. Chiều nay tôi câu được một con cá gáy lớn; ngồi trên bãi biển, tôi đánh vảy cá, vừa nhìn cảnh mặt trời lặn huyền diệu. Buổi chiều đỏ rực, hy vọng đấy Papillon! Và mặc dù từ ngày được phóng thích, gặp bao nhiêu chuyện rắc rối, tôi vẫn cười. Vâng, niềm hy vọng sẽ giúp tôi thắng và sống. Nhưng đến bao giờ mới thành công? Papillon, hãy thử tổng kết hai năm tự do.
Hiện giờ tôi không nghèo lắm, nhưng không có nhiều: tối đa là ba ngàn, kết toán của hai năm phiêu lưu mạo hiểm.Trong thời gian ấy, việc gì đã xảy ra?
– Một: đống vàng ở Callao. Không cần phải dài giòng, không phải một thất bại, nhưng là một sự từ khước để cho các bạn cựu phạm ở đó được sống yên ổn. Mày biết rõ hả? Không. Tốt lắm, hãy chôn chặt tấn vàng ấy đi!
– Hai: đánh bạc ở mỏ kim cương. Mày đã suýt bỏ mạng hai mươi lần vì mười nghìn mỹ kim không bao giờ sờ mó được. Jojo đã chết thay cho mày, mày đã thoát! Không bao giờ mày quên nổi không khí căng thẳng của những đêm ấy, mặt mũi dễ sợ của các con bạc dưới ánh đèn khí đá, thái độ bình tĩnh và tự tin của Jojo. Thế thì không có gì đáng tiếc rẻ.
– Ba: đường hầm dưới nhà ngân hàng. Vụ này lại khác: không kiếm được đồng nào trong vụ này. Tuy nhiên, trong ba tháng trời, mày đã xúc động suốt 24 trên 24 giờ, mỗi giờ có những sự kiện để tinh thần căng thẳng. Cho dù không có chuyện gì khác thì cũng đủ để mày không nên phàn nàn gì cả. Nhưng mày cũng nhận thấy trong ba tháng, ngay trong các giấc mộng ban đêm, mày đã tự thấy trở thành triệu phú bằng mỹ kim, nên không có lý do gì để không giàu có. Như vậy không đáng kể sao? Vẫn biết chỉ may mắn thêm cho mày một đường tơ kẽ tóc là mày được của ấy, nhưng mày cũng có thể bị xui xẻo hơn. Thế nên lúc mày ở dưới đất, đường hầm sập thì sao? Mày đã chết như một con chuột cống hay như một con chồn trong hang.
– Bốn: Nhà cầm đồ với mấy căn phòng ướp lạnh. Không có gì đáng khiếu nại, trừ phi với Sở Kiều lộ của xứ hoang vu ấy.
– Năm: Âm mưu đảo chính. Nói cho đúng, mày không hăng lắm trong vụ này. Các vụ rắc rối về chính trị, các trái bom có thể giết bất cứ ai, không phải nghề của mày. Thật ra, mày đã tham gia vì hai thằng cha quá tử tế và cũng vì tin rằng với số tiền kiếm được mày có thể thực hiện dự mưu của mày. Nhưng mày không tha thiết lắm bởi vì mày lật đổ một chính phủ đã trả tự do cho mày là một việc không hợp tình chút nào. Tuy vậy mày cũng lợi được 4 tháng vui thích với bọn ngự lâm pháo thủ, vợ con chúng nó, và còn lâu mày mới quên những ngày vui sống chan hòa tuổi trẻ ấy.
Chưa kể những chuyện khác, chiếc phi cơ của Carotte vân vân.
Kết luận: tôi bị tù oan trong 13 năm, người ta đã cướp mất tuổi xuân của tôi, nếu tôi ngủ, tôi ăn, tôi uống, tôi vui đùa, không bao giờ tôi quên rằng một ngày nào đó tôi phải trả thù. Tốt lắm.
Tóm lại, mày đã được tự do hai năm rồi. Trong hai năm, mày đã trải qua trăm ngàn chuyện, mày đã làm nhiều vụ phi thường, thoát vụ này lại bắt tay qua vụ khác. Hơn thế, mày không cần tìm kiếm, công chuyện tự nhiên đến với mày; không ai có được tình yêu như mày, mày đã gặp đủ hạng người kết thân với mày, mày với các bạn đã đem mạng sống ra thử thách, thế mà mày còn rên siết nỗi gì? Mày cạn túi hay gần như thế phải không? Không nên bận tâm vì nghèo không phải một thứ bệnh nan y.
Thế thì, Papillon ơi, hoan hô Thượng Đế. Hoan hô các cuộc phiêu lưu mạo hiểm đã làm cho mày sống mãnh liệt mỗi ngày, mỗi phút! Chẳng khác nào mày uống một thứ nước tuyệt diệu, mỗi hớp chảy vào tận đáy lòng! Và mày vẫn khỏe mạnh, đó là điều quan trọng nhất.
Thưa quí vị, chúng ta hãy xóa hết đi và bắt đầu lại. Canh bạc đã sẵn sàng. Thua rồi, theo, theo nữa! Mãi mãi! Chỉ cần toàn thân mày rung cảm, nói lên niềm hy vọng và tin tưởng rằng một ngày kia mày sẽ được nghe: “Chín nút! Mời ông Papillon vơ tiền, ông trúng chén bạc này!”
Vừng thái dương xuống sát chân trời. Buổi chiều đỏ rực. Hy vọng. Hẳn rồi; tôi tràn trề hy vọng và tin tưởng ở tương lai. Gió đã trở lạnh, bình thản, sung sướng vì hãy còn sống tự do, chân trần đi trên cát ướt, tôi bước vội về nhà, mọi người đang trông chờ kết quả buổi câu cá của tôi cho bữa cơm tối. Nhưng tất cả những màu sắc kia, hằng ngàn vệt bóng đêm và vệt ánh sáng đùa rỡn trên các ngọn sóng chạy thẳng ra khơi đã làm cho tâm hồn tôi quá đê mê, nên sau khi gợi lại các tai biến đã vượt qua, tôi chỉ còn biết nghĩ đến đấng tạo hóa đến Thượng Đế: “Xin chúc Người một đêm yên lành! Dù đã nhiều lần thất bại, xin cảm tạ Người đã ban cho một ngày đầy ánh sáng tự do, lại còn thêm cảnh mặt trời lặn của vùng nhiệt đới mỹ miều!”.
Lời Giới Thiệu: Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.
Trung tâm hành quân báo cho tôi hay Không Quân cũng không liên lạc được Lệ Minh nên họ cứ nhắm vào những vị trí có khói depart của pháo địch ở bên ngoài rào trại mà thả bom. Lúc này đồi Lệ Minh chìm trong màn khói của pháo địch, sân bay Plei Djereng và làng Plei Doch cũng chìm trong bụi đỏ và khói bom của ta. Khoảng gần 3 giờ chiều ngày 22 tháng 9 có một đoàn trực thăng chuyển viện binh nhắm hướng Lệ Minh. Người chỉ huy hợp đoàn này Trung tá Lương Văn Hơi. Ông Hơi thông báo cho tôi hay ông sẽ thả một đại đội xuống làm đầu cầu để tiếp nhận quân tiếp viện cho Lệ Minh.
Ông Hơi nói, nếu tôi liên lạc được với Ðại úy Quang hay Ðại úy Hội thì thông báo cho hai vị này biết để tránh ngộ nhận. Ðể tránh những lằn đạn phòng không của địch, tôi phải bay trong vùng cách xa phi trường Plei Djereng khoảng hai cây số. Quân tiếp viện được thả xuống một cánh đồng cỏ tranh cách đuôi phi đạo chừng hơn một cây số về hướng Ðông Nam. Chiếc trực thăng đổ quân cuối cùng vừa rời vùng thì khói bụi đã ngùn ngụt bốc lên từ bãi thả. Hàng trăm trái pháo của Việt-Cộng theo đuôi nhau dồn dập trải đều trên bề mặt ngọn đồi cỏ tranh.Tôi nghĩ bụng, chắc chắn địch đã dự trù các yếu tố tác xạ nhắm vào bãi đáp này từ trước, nên quân ta vừa có mặt đã bị địch tưới đạn lên đầu ngay.
Tôi chưa biết phải làm gì thì nghe ai đó hớt hải la làng trong máy,
– Ð.M! Bộ các cha muốn giết tụi tui hay sao mà thả tụi tui ngay trên trận địa pháo? Bây giờ tui phải làm gì đây hả các cha?
Chờ một phút, không thấy tiếng Trung tá Hợi, tôi vội cầm máy,
-Ai đó? Ðây là Thái Sơn! Nghe được thì trả lời!
Ðầu máy bên kia là một giọng nói Quảng-Nam ồm ồm,
– Thái Sơn ơi! Ðây là Cẩm Hà! Thái Sơn ơi! Ðây là Cẩm Hà!
Cẩm Hà là danh hiệu truyền tin của Ðại úy Trương Ðình Hà.
Trương Ðình Hà là bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi, tôi đã đem anh Hà từ Liên Ðoàn 2 về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 đảm nhận chức vụ Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2 Trinh Sát để trám chỗ cho Trung úy Thuận vừa tử trận.
Trung Úy Vương Mộng Long 1969
Trương Ðình Hà là dân Quảng-Nam nên anh đã lấy địa danh một xã ngoại ô Hội An là Cẩm-Hà để làm danh hiệu truyền tin.
– Cẩm Hà! Thái Sơn nghe!
– Ð.M! Ông già Hơi thả tau xong thì bay đi mất. Chẳng có lệnh lạc con mẹ gì cả. Tau vừa đạp đất đã bị pháo phủ đầu, không ngóc cổ lên được. Mày mau mau tìm cách cứu tau với! Long ơi!
Cùng lúc này tôi thấy năm hay sáu chiếc xe tank địch xuất hiện, dàn hàng ngang trên sân bay, rồi liên tục đua nhau nã pháo vào sân trại.
Tôi lại nhìn thấy từ hướng Nam phi trường Plei Djereng đột nhiên xuất hiện sáu, bảy chiếc tank T54 vừa bắn, vừa lao về hướng bãi thả quân tiếp viện. Tôi liền ra lệnh cho Ðại úy Hà,
– Hướng 1600 ly giác! Chạy! Chạy tới khi nào qua hết một con suối sâu thì ngừng lại gọi tao!
Có thể nói, Ðại Ðội 2 Trinh Sát Biệt Ðộng Quân là một đơn vị rất tinh nhuệ và thiện chiến của Biệt Ðộng Quân Vùng 2. Ðơn vị này có nguồn gốc từ Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân, nhưng nằm ngoài bảng cấp số.
Cuối năm 1969, thi hành lệnh của Trung tá Bùi Văn Sâm Liên đoàn trưởng, tôi đã đứng ra thành lập Ðại Ðội Trinh Sát Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân. Quân số của Ðại Ðội Trinh Sát Liên Ðoàn 2 đều được tăng phái từ các Tiểu Ðoàn 11, 22 và 23 trực thuộc liên đoàn.
Ít năm sau, đơn vị này được cải danh thành Ðại Ðội Trinh Sát Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 do Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 trực tiếp điều động. Dù là một đơn vị thiện chiến và tinh nhuệ, nhưng chắc chắn đại đội này không thể đánh nhau tay đôi với một đoàn chiến xa T54 trên đồng cỏ mênh mông, nên nghe được lệnh “Chém vè” của tôi, ông đại đội trưởng đã mừng rỡ la lên,
– Cám ơn mày! Hướng 1600 ly giác! Tau thi hành lệnh ngay!
Năm phút sau, tôi đánh một vòng tròn về hướng Nam, thì thấy những chiếc tank T54 đang trườn qua con thông thủy phía Ðông của phi trường, nhưng trên bãi thả quân không còn ai cả. Tôi thở ra, may quá! Lệnh rút quân của tôi đã kịp thời tránh cho cánh quân của Ðại úy Hà một tổn hại nặng nề trước mắt. Tình hình lúc này coi như tuyệt vọng. Ngọn đồi Lệ Minh chỉ là một cột khói đen ngùn ngụt.
Khoảng mười phút sau tôi phải rời vùng, về Pleiku đổ xăng. Lúc tôi quay trở lại cách Lệ Minh chừng hai cây số thì nghe trong tần số có tiếng Hoàng Nghĩa Hội,
– Thái Sơn đây Hoàng Hoa gọi!
– Thái Sơn nghe!
– Thái Sơn ơi! Chúng nó vào tới sân cờ rồi! Thằng Quang đã bị chúng nó trói dẫn đi. Hội bị thương nặng lắm! Hội đang nằm trong cái lô cốt gần cổng chính.
– Có cách nào chui ra đầu sân bay? Anh sẽ nhào xuống cứu chú!
– Ðừng! Ðừng liều mạng! Xe tank của tụi nó đang nằm sát hàng rào! Ðừng tới gần! Ðừng xuống!
Sau đó trong máy chỉ còn tiếng “È! È!” tôi không còn nghe Hội nói nữa. Tới 4 giờ 30 chiều ngày 22 tháng 9 năm 1973 thì tiền đồn Lệ Minh hoàn toàn thất thủ. Phi cơ của ta tiếp tục đánh bom trên vùng bán kính 5 cây số quanh Lệ Minh cho tới gần tối mới ngưng. Ðêm 22 tháng 9 tôi và Trung úy Lập thay phiên nhau bay trên Hỏa Long để liên lạc với Ðại úy Quang và Ðại úy Hội, nhưng không nghe tiếng ai trả lời. Cánh quân của Ðại úy Hà cũng im hơi, không biết đã phiêu bạt nơi nao?
Sáu giờ sáng ngày 23 tháng 9 đài tiếp vận của tôi đặt trên đỉnh Hàm Rồng nhận được tin của Ðại úy Trương Ðình Hà báo cáo rằng Ðại Ðội 2 Trinh Sát Biệt Ðộng Quân đã về tới tiền đồn Plei Blang 3. Ðơn vị này có hai quân nhân mất tích, không có ai bị thương, vũ khí bảo toàn. Một tuần sau ngày đó có một anh binh nhì của Tiểu Ðoàn 80 trốn khỏi khu giam giữ tù binh của Việt-Cộng rồi về trình diện. Anh lính này khai rằng sau hai giờ pháo kích, Việt-Cộng đã xung phong vào chiếm cứ bộ chỉ huy và cắm cờ trên đỉnh cái lô cốt giữa sân.
Những quân nhân bị kẹt trong vòng rào trại đều bị địch bắt sống, kể cả hai ông Ðại úy Tiểu đoàn trưởng và Tiểu đoàn phó của Tiểu Ðoàn 80 cùng với ông sĩ quan trưởng toán Lôi Hổ của Chiến Ðoàn 2 Xung Kích. Trong số gần ba chục người bị thương thì tình trạng của Ðại úy Hội là nguy kịch nhất. Ðại úy Hoàng Nghĩa Hội đã chết khi đoàn tù bị áp giải qua sông Sa-Thầy. Anh lính này không biết Chuẩn úy Dao là ai.
Nghe tin Lệ Minh thất thủ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh cho các cơ quan và công sở trên toàn quốc phải treo cờ lửng để tang cho Lệ Minh. Tổng thống cũng lên đài truyền hình khắt khe lên án quân Cộng Sản trắng trợn vi phạm Hiệp Ðịnh Paris bằng hành động đánh chiếm Lệ Minh là một tiền đồn của Việt-Nam Cộng Hòa. Phái đoàn của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến đã can thiệp, nhưng phía Việt-Cộng nại cớ rằng không có địa danh nào tên là Lệ Minh trên bản đồ Pleiku.
Khi phe ta đưa hình ảnh và tọa độ trại Lệ Minh ra khiếu nại, thì phái đoàn Cộng-Sản nói đó là Chư Nghé của họ. Vùng này nằm sâu trong lãnh thổ Cộng-Sản kiểm soát vì nó ở xa Pleiku tới hơn 40 cây số. Tiền đồn xa nhất của ta thời bấy giờ là làng Plei Blang 3 cũng chỉ nằm cách Pleiku 7 cây số là cùng.
Cãi nhau nhùng nhằng qua lại chỉ phí lời, vì phe ta tuy tình ngay mà lý thì không vững, nên không thuyết phục được Ủy Ban Kiểm Soát Ðình Chiến. Có lẽ vì sự cãi chày, cãi cối của Việt-Cộng mà ít lâu sau những tên trại bằng danh từ Việt do Tướng Ngô Du đặt cho từ năm 1970 liền bị bỏ đi. Từ tháng 10 năm 1973, các trại biên phòng của Vùng 2 quay trở về với những địa danh cũ: Trại Ðức Phong lại là Dak Pek, trại Lệ Mỹ lại là Pleime, trại An Tân lại là Tiêu Atar, trại Trang Phục lại là Ban Don và trại Bạch Phong lại là Bu Prang.
Lực lượng Bạn và Địch trận Bu Prang (New) tháng 11 năm 1973
Trận Bu Prang 1973…
Năm 1967 Trại Bu Prang cũ được Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa-Kỳ xây dựng và trấn giữ. Trại này nằm trên ngọn đồi thấp và bằng phẳng cách làng Bu Prang một con suối. Nơi đây thuộc lãnh thổ tỉnh Quảng-Ðức và chỉ cách biên giới Việt Miên vài cây số. Cuối năm 1969 Bu Prang cũ bị một sư đoàn Cộng Quân từ biên giới Cao-Miên tràn qua bao vây và tấn công. Tôi đã có mặt trong đoàn quân của Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân nhảy vào tiếp viện cho căn cứ này.
Ngày Giáng-Sinh năm 1969 sau khi hoàn tất nhiệm vụ giải vây cho Bu Prang, tôi đã có dịp đứng trước Camp Bu Prang để chụp một tấm ảnh kỷ niệm. Ảnh này còn được lưu giữ tới hôm nay. Cuối năm 1970, căn cứ Bu Prang được di chuyển về làng Bù Bông nằm trên Quốc lộ 14 giữa Tuy Ðức và Kiến Ðức. Căn cứ mới có tên là Trại Bạch Phong. Sau đó lực lượng Dân Sự Chiến Ðấu của trại Bạch Phong được cải tuyển thành Tiểu Ðoàn 89 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng. Mùa Hè năm 1972 Tiểu Ðoàn 89 trở thành đơn vị lưu động nên căn cứ Bạch Phong được giao cho Ðịa Phương Quân của Tiểu Khu Quảng-Ðức đồn trú. Tới đầu tháng 10 năm 1973 trại Bạch Phong đổi lại tên cũ là Bu Prang.
Ngày 4 tháng 11 năm 1973 Tướng Hoàng Cầm, Tư Lệnh Quân Khu 6 Cộng-Sản đã huy động Trung Ðoàn 205 Bộ Binh cùng Trung Ðoàn E 429 Ðặc Công và một đại đội xe tank T54 bất ngờ tấn công căn cứ này. Lực lượng trú phòng ở Bu Prang thời gian đó gồm có Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật của Tiểu Khu Khánh-Hòa do Trung tá Võ Khâm chỉ huy cùng với một liên đoàn Ðịa Phương Quân. Sáng 5 tháng 11 năm 1973 Bu Prang thất thủ, Trung tá Võ Khâm mất tích. Trận Bu Prang 1973 diễn ra chưa đầy một ngày, kết quả là một tiền đồn của ta bị địch chiếm giữ, một chiến đoàn của ta bị đánh tan.
Tôi không thấy Tổng Thống lên đài kết tội Cộng-Sản, không có lệnh để tang Bu Prang. Tôi cũng không biết chuyện Việt-Cộng vi phạm đình chiến kỳ này có còn là đề tài để ta và địch tranh cãi phải nhờ Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến giải quyết hay không. Mất Bu Prang, giao thông giữa Ðức-Lập và Kiến-Ðức phải đi vòng theo Liên Tỉnh Lộ 8B vì đoạn Quốc Lộ 14 từ ngã ba Tuy-Ðức tới đồi Bù Row hướng Bắc đồn Kiến-Ðức đã nằm trong tay Cộng Quân. Tháng 12 năm 1973 địch mở thêm một trận đánh nữa nhắm vào Chi Khu Kiến-Ðức, tỉnh Quảng-Ðức nhưng không gây được tiếng vang.
Con đường từ Ia Drang tới Mang Yang…
Hai ngày sau Lễ Giáng-Sinh năm 1973 Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 gọi tôi vào văn phòng rồi nói:
“Ông Toàn ra lệnh cho tui, bắt cậu vào Pleime thay cho thằng Lân gấp! Tui có nói với ổng rằng, chờ tui xin Trung Ương cho người thay cậu, rồi sẽ cho cậu đi.”
(Ông Toàn: là Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn II. Thằng Lân: là Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân. Trung Ương: là Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa)
Nghe Ðại tá Tất nói, tôi thấy ngạc nhiên quá. Ở Vùng 2 này, ông Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 bổ nhậm ai làm liên đoàn trưởng còn chưa cần xin ý kiến của tư lệnh quân đoàn, huống hồ gì chuyện bổ nhậm tiểu đoàn trưởng? Thay thế một tiểu đoàn trưởng mà phải có chỉ thị của tư lệnh quân khu thì quả là chuyện khó tin.
Tôi nghĩ, chuyện này chắc có nguyên ủy cắc cớ gì đây, nên ông tư lệnh quân đoàn mới ra mặt, nhúng tay. Sau đó tôi bị gọi lên trình diện Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn II và Quân Khu 2. Bước qua cửa văn phòng, tôi vừa vào thế đứng nghiêm, chưa kịp giơ tay chào, thì ông Toàn đã lớn tiếng,
– Tau cho mi một tuần lễ chuẩn bị rồi vào giữ Pleime! Nghe rõ chưa?
Tôi gật đầu,
– Tôi nghe rõ!
– Vậy thì mi xuống gặp ông Tiếu để biết nhiệm vụ!
Tiếp đó ông Toàn giơ tay phẩy một cái về hướng cửa,
– Thôi! Khỏi chào! Ði đi! Cố gắng lên!
Từ lâu, đã quen cái cung cách ban lệnh và cư xử với cấp dưới của ông Tướng Vùng này rồi, nên tôi lẳng lặng xuống lầu mà không có ý kiến gì. Trước tấm bản đồ chi chít dấu ghi bằng bút chì màu, Trung tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 vừa nhìn tôi vừa đưa ngón tay trỏ di động trên một đoạn đường vẽ bằng bút đỏ, vùng Tây Nam Pleiku,
– Chắc chú rành vùng này hơn anh. Chú đã biết con lộ vừa được khai thông của Việt-Cộng? Ông Toàn muốn chú vào trong đó rồi tùy nghi hành động. Làm cách nào vô hiệu hóa được con đường này thì làm.
Các trưởng khối đi họp lúc 10 giờ sáng, tới 11 giờ thì về thông báo cho biết trưa nay “cách mạng” sẽ xử bắn Ngô Nghĩa ở phi trường Trảng Lớn.
Mỗi khối cử một hay hai người đi coi để về phổ biến cho anh em cải tạo hay. Riêng L3/ T3, “đơn vị” chúng tôi, gồm 6 khối, từ khối 1 đến khối 6 vì ở sát phi trường nên mọi người có thể ra sát hàng rào, đứng bên nầy bờ đất để coi.
Phan Hải, trưởng khối 1, yêu cầu tổ trực nấu cơm hôm nay, phát cơm sớm để “anh em đi xem” như lời “bộ đội yêu cầu”.
Trưởng khối Phan Hải nhắm bộ háo hức trong vụ xử bắn nầy. Anh ta lảnh phần ăn, ăn vội vã cho xong, rồi mặc áo đi lên khu nhà bộ đội ở.
Anh ta nguyên là trung úy chế độ cũ, thuộc Đặc Khu Saigon – Chợ Lớn, biệt phái kiểm soát ẩm thực ở nhà tù Chí Hòa.
Anh ta rất “giác ngộ Cách mạng” bởi một lý do rất dễ hiểu. Anh ta thuộc thành phần liên hệ với Việt Cộng, mà liên hệ nặng như tôi đã kể ở bài trước. Cũng vì có lý lịch như thế, anh ta thường lên chơi với bộ đội và có nhiều chuyện hay hay đem về kể cho chúng tôi nghe.
Chẳng hạn như chuyện Ngô Nghĩa sẽ bị xử bắn trưa nay.
Ngô Nghĩa, nguyên là trung úy pháo binh thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Anh ta cũng “trình diện đóng tiền đi ở tù” như mọi người. Anh ở “đơn vị” L3/T1 hay T4 gì đó, không thuộc T2 vì nếu T2 thì cách T3 chúng tôi bằng một hàng rào kẽm gai mong manh, bên nầy bên kia anh em lén lút chuyện trò qua lại được thì chúng tôi biết rõ sự việc hơn.
Theo Phan Hải thì cách đây mấy hôm, trời mới rạng sáng, Ngô Nghĩa mặc quần áo bộ đội, – Anh ta giả trang bộ đội – đi từ trại ra cổng lớn ở Trảng Lớn, khoảng đường cũng khá xa, gần hai cây số.
Trên đường đi, Ngô Nghĩa cắt giây điện thoại nối từ cổng vào bộ chỉ huy. Anh ta mang một khẩu súng CKC nhưng lại băng đạn AK.
Có lẽ anh “điều nghiên sơ hở về khâu” nầy, dễ làm cho bộ đội sinh nghi.
Khi tới cổng, bộ đội gác cổng chận anh ta lại hỏi. Anh ta trả lời không rõ ràng đơn vị bộ đội nào. Toán ở cổng gọi điện thoại vào “xác minh” với bộ chỉ huy thì không nối đường giây được. – Ngô Nghĩa đã cắt rồi, còn đâu! –
Thế là toán gác cổng giữ anh ta lại, chờ “xác minh với trên”.
Bất thần, anh ta vùng chạy ra khỏi cổng. Bộ đội đuổi theo. Ngô Nghĩa quăng lui một trái lựu đạn, loại mini. “May” là lựu đạn rơi xuống một cái hố bên đường nên chỉ làm cho một “chú bộ đội” bị thương nhẹ. Toán gác cổng tiếp tục truy đuổi, cuối cùng anh bị bắt ở khu nhà dân phía ngoài cổng lớn.
Ngô Nghĩa nhứt định không khai một lời mặc dù Quân Pháp, từ “Sư” (Sư là Sư Đoàn, – Việt Cộng hay gọi tắt như vậy) về hỏi cung rất kỹ và rất căng. Theo Phan Hải thì không bao giờ Ngô Nghĩa bị đánh vì luật pháp Việt Cộng không cho phép đánh bị can?!
Do đó, “cách mạng” không biết ai đã cung cấp súng và quần áo bộ đội. Họ cương quyết cho rằng phải có người lấy giúp súng và quần áo cho Ngô Nghĩa chứ anh ta không thể lên khu bộ đội lấy cắp được.
Cuối cùng, Ngô Nghĩa ôm một lô tội mà ra pháp trường. Nặng nhứt là tội “sát thương bộ đội”, thứ hai là “tội trộm tài sản xã hội chủ nghĩa”, đặc biệt lại là trộm vũ khí và quân nhu (có nghĩa là sung và quần áo bộ đội), thứ ba là tội trốn trại, thứ tư là “tội phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa”, có nghĩa là cắt giây điện thoại. Với chừng đó tội, “quân pháp” đề nghị với “trên” xử tử. “Trên” chuẩn y. Vậy là trưa nay Ngô Nghĩa ra pháp trường.
Trong khi Phan Hải vừa ăn vừa kể chuyện, anh em trong tổ tôi – Tổ 1, Đội 1, Khối 1 L3-T3 – im lặng ngồi nghe. Ăn xong, Phan Hải đi ra giếng bên hông nhà, Phạm Quang Chiểu, Bắc Kỳ 54, (như chúng tôi thường gọi đùa), chỗ nằm gần sát vách trong, bên cạnh Trần Phú Trắc, người thâm trầm ít nói, nhìn anh em chỉ cười cười, phán một câu, nghe hơi lạnh mình: “Chiến dịch khủng bố bắt đầu!”
Phạm Ngọc Hiền, dân Quảng Ngãi, chỗ nằm gần phía cửa trước, đang đu đưa nhè nhẹ trên võng, ngóc đầu lên ngó Chiểu cảnh cáo: “Mi coi chừng cái miệng mi. Tau từng ở với Việt Minh trước 54 cả chục năm, tau biết họ lắm. Khi họ làm một việc chi quan trọng, họ tăng cường theo dõi để tìm mấy đứa “phản động”.
Tôi đang ngồi dựa vách, tay cầm cái ông vố “tự biên tự diễn”, bập bập mấy khói “xơ-vơn-ti-rê” (1) góp ý bằng một câu Kiều:
Ở đây tai vách mạch rừng,
Gặp ai người cũ cũng đừng nhìn chi.
Trần Phú Trắc đang nằm dài sau lưng Chiểu, buồn buồn nói:
– “Không rõ có ai biết gia đình Ngô Nghĩa ở đâu mà báo cho họ hay. Không chắc bộ đội báo tin về nhà anh ta đã bị xử bắn. Chắc rồi không ai hương khói cho anh ta.”
Hoàng Hữu Chung, người nằm kế Phan Hải, vốn là người rất từ tâm, nghe nói tới chết không ai hương khói, mặt mày trở nên thểu nảo:
– “Anh Hải nhớ câu chi trong Chinh Phụ Ngâm, nói về người lính chết trận?”
Tôi nói:
– “Bỏ đi dạy lâu, tôi quên. Để nhớ thử coi.”
Một lát sau, tôi đọc:
“Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.
Chinh phu, tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?!
Mấy câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm làm ai nấy liên tưởng đến việc xử bắn Ngô Nghĩa trưa nay, không làm cho mọi người cảm thấy bình thản như thường lệ.
Sau khi Phan Hải đi rồi, vài anh em lục tục đi coi xử bắn. Tôi lấy gối nằm nghỉ, chờ giấc ngủ trưa. Trần Hữu Bảo, nằm bên kia vách, phía cửa sau, hỏi tôi:
– “Anh Hải không đi coi răng?”
Tôi trả lời bình thản:
– “Bộ hết cái coi hay răng mà đi coi giết người!”
Ngoại trừ Hoàng Hữu Chung, Nguyễn Văn Bê, Huỳnh Văn Khánh, Phạm Ngọc Hiền và Phan Hải đi xem xử bắn, còn lại thì nằm nhà.
Lê Quang Dung, dân Nam bộ, là người ít suy nghĩ sâu xa nhứt, lên tiếng:
– “Cái thằng Ngô Nghĩa sao nó ngu, trốn trại làm chi không biết!”
Phạm Quang Chiểu nghe vậy, trả lời:
– “Mình không phải là nó, làm sao mình biết nó nghĩ gì mà cho là khôn với ngu.”
Phạm Xuân Lý, người được xem là khôn nhất tổ, khôn theo nghĩa “từng trải” góp ý:
– “Khôn dại gì thì cũng chết. Càng khôn sớm, càng chết sớm. Dại lại càng dễ chết hơn. Đằng nào cũng chết. Đùng một phát là xong.”
Tôi nói:
-“Khôn chết, dại chết, biết sống! Khổng Tử nói rồi.”
Phạm xuân Lý hỏi:
-“Thế nào gọi là biết?”
Tôi cười:
-“Ông hỏi thế thì tôi cũng chịu. Tôi không rành về đạo Nho, nhưng hồi còn trẻ, làm précepteur ở nhà ông chú họ, ông là học trò cụ Phan khi cụ Phan bị giam lỏng ở Bến Ngự, có lần tôi hỏi ông về Sở Từ, ông bảo Khuất Nguyên sai, không biết tùy thời, nên phải bị biếm, bị truất, nhảy xống sông mà tự tử.”
Phạm Xuân Lý lại nói:
-“Bọn tôi học trò trong Nam, không rành về mấy cái rắc rối nầy. Ông nói nghe chơi đi.”
Tôi nói:
-“Tôi không nhớ kỹ. nhưng năm tôi học Đệ Lục, một hôm tôi đọc “Cổ Học Tinh Hoa”, thấy câu chuyện Hứa Do – Sào Phủ tôi thích lắm.
“Vua Nghiêu nghe danh Hứa Do là người tài đức vẹn toàn, bèn đến gặp, mời ra làm quan. Hứa Do từ chối. Vua đi rồi, Hứa Do ra sông rửa tai, tức là rửa cho sạch những lời vua nói vào tai ông. Lúc ấy có Sào Phủ dắt ngựa xuống sông uống nước, nghe chuyện, ông bèn dắt ngựa lên phía trên dòng nước cho ngựa uống. Ông bảo, nghe mà rửa tai, chi bằng không nghe thì hay hơn, nghe mà rửa chỉ làm cho nước dơ mà thôi.
Lê Quang Dung nóng tính:
-“Chuyện có ăn nhập gì đâu?”
-“Có chứ! Người đời sau chê hai ông nầy là cực đoan. Khuất Nguyên cũng vậy, người ta chê: “Đời đục cả, ta trong làm sao được. Đời say cả, ta tỉnh làm sao được?” Khổng Tử bảo phải biết “tùy thời”. Tùy thời tức là biết đấy.” Tôi nói.
Dung hỏi:
-“Khuất Nguyên là ông nào?”
Tôi giải thích:
-“Người nước Sở bên Tầu, làm quan đại phu. Tính tình ông ngay thẳng, bị gièm pha, bị đuổi ra khỏi triều chính. Một hôm ông ngồi bên bờ sông, một ngư ông trông thấy, hỏi:
-“Phải Tam lư Đại phu đó không? Sao mà tiều tụy đến vậy?”
Khuất Nguyên kể chuyện mình vì ngay thẳng mà bị gièm. Nghe xong, ông lão đánh cá chê Khuất Nguyên bằng mấy câu thơ, thường gọi là Sở Từ:
“Sông Tương nước chảy trong veo,
Thì ta xuống đó rửa lèo mũ ta.
Sông Tương nước đục chảy ra,
Thì ta xuống đó để mà rửa chưn!”
“Đời đục cả, ta trong làm sao được?”
-“Nói như anh, mấy ông tướng tự tử ngày 30 tháng Tư là vì gì?” Chung nói.
-“Điều Khổng Tử nói là đời thường. Còn như việc ông nói là “Chân lý tuyệt đối”. Tôi nói.
-“Cách mạng cũng “chân lý tuyệt đối vậy?” Phan Hải nói.
Phạm Quang Chiểu hỏi: “Anh Hải nhớ hôm trung úy Hồng Dư nói ở Hội trường không?” Rồi Chiểu nói tiếp: “Cái gì cũng tương đối, ngoại trừ “nghị quyết của Bộ Chính Trị.”
Nghe xong, chúng tôi cười. Tôi nhớ hôm đó ở Hội Trrường cũng nhiều người cười khi nghe anh ta nói vậy.
-“Tui nói thiệt! Lần đầu nghe mấy ông giáo viên dạy mười bài, nói “chủ nghĩa Mác là tuyệt đối, đỉnh cao của trí tuệ loài người”, tôi nhớ ngay câu của Pascal, thầy dạy Việt Văn của tui năm tui học Đệ Lục: “Bên nầy Pyrènées là chân lý, bên kia thì ngược lại.” Tôi kể.
-“Nhưng Mác khác, Pascal khác!” Dung cãi.
-“Không đâu! Cùng hệ tư tưởng Châu Âu cả. Mác còn là “hậu duệ” của Pascal.” Tôi nói.
-“Người Tầu họ có nghĩ như Pascal không?” Dung lại hỏi.
-“Trong Cổ Học Tinh Hoa” có câu chuyện “Ngọc Bích họ Hòa” cũng tương tự như thế. Có người thợ đá, đem dâng ho vua, vua gì tôi không nhớ, một cục đá thật lớn, nói rằng trong đá nầy có ngọc quý. Vua cho là xàm tấu, phạt chặt một chân. Đến đời vua sau, ông lại đem dâng ngọc, cũng nói như thế. Vua cũng cho là xàm tấu, chặt thêm một chân nữa. Đến đời vua thứ ba, ông ta lại đem dâng. Lần nầy vua tin thật, cho đập viên đá ra. Quả thật trong đó có ngọc quý. Đời Tần Thủy Hoàng, đem ngọc đẻo thành cái “ngọc tỷ”, tưởng truyền đến vạn đời nhưng đến đời thứ ba thì nhà Tần dứt nghiệp, sau ngọc tỷ thất lạc về đâu không ai biết!”
Chung nói: “Tui à! Dâng vua làm chi, làm sợi giây chuyền cho vợ đeo có phải hơn không?”
Ai cũng cười.
-“Ý nghĩa của ngọc là chân lý, là sự thực phải không?” Lý hỏi.
-“Ngọc là chân lý, chân lý thất lạc về đâu, không ai hay. Không chắc “chân lý cách mạng” không mai một vì thời thế đổi thay.” Tôi nói.
&
Một lúc sau, tôi nêu ý kiến:
– “Đúng ra thì không nên giết. Bây giờ nhiều nước bỏ án tử hình, trên bảy chục nước trên thế giới không còn án giết người.”
Chiểu nói, giọng dài ra, mai mỉa:
– “Tư bản đế quốc mới vậy anh ơi! “Cách mạng” là “giải phóng”. Đùng một phát là “giải phóng” một mạng người.”
Tôi nói:
-“Cũng không hẳn vì họ là những nước tư bản. “Văn minh Thiên Chúa giáo” đấy. Người ta văn minh. Người ta lý luận rằng chúng ta không thể lấy đi cái ta không cho. Nhân loại không tạo ra sự sống. Dù khoa học có tiến bộ như thế nào thì khoa học cũng không thể tạo ra sự sống; không ai cho ai sự sống. Không cho thì không có quyền lấy. Sự sống là do Tạo Hóa cho, người theo đạo Thiên Chúa thì cho là Thượng Đế. Chỉ có Tạo Hóa mới lấy đi cái Tạo Hóa cho. Ta nhân danh cái gì mà lấy đi cái Tạo Hóa đã ban cho người khác?”
Chung giọng buồn bã:
– “Qua một trận giặc chết chóc tùm lum, ai sống còn tưởng là may, không ngờ chừ lại bị đem bắn! Đời vô nghĩa thiệt.”
Trắc phụ họa, cũng với giọng chán nản:
– “Đời thiệt vô nghĩa!”
Lê Quang Dung nói:
– “Anh Ngô Nghĩa nầy nên đổi tên. Không phải Ngô Nghĩa mà Vô Nghĩa.”
Phạm Quang Chiểu cười cười:
– “Không có cuộc đời nào vô nghĩa cả. Đời có nghĩa đấy nhé.”
Rồi anh ta đọc mấy câu thơ của Tố Hữu:
Nghĩa đời trong ba tiếng:
Máy điện giục gầm gừ
Chuông đạo hát vô tư
Kiểng tù khua gắt gỏng.
Phạm Xuân Lý nghe đọc thơ, cười nói:
– “Trại bữa nay thay kẻng mới rồi. Bộ đội mới đem về một thanh tà vẹt, thay cho cái mâm xe. Kẻng nầy nghe to hơn. Không muốn dậy cũng phải dậy.”
Tôi bỗng nhớ mỗi sáng, khi còn tinh mơ, trước kẻng báo thức, tôi đã thức giấc nhưng còn nằm trong chăn. Mỗi sáng, cứ giờ đó, có tiếng chuông nhà thờ từ xa vọng lại. Trong cái im lặng buổi sớm tinh sương mùa đông, tiếng chuông nhà thờ tuy gióng giả mà nghe buồn lắm. Trại tù tuy đông mà người tù thì cô đơn, lạnh lẽo. Ngoài kia cuộc đời vẫn tuần tự trôi đi, trong cuộc sống mới, không rõ người đời sướng khổ như thế nào! Gia đình bây giờ cũng xa lắm, xa lắm rồi, cũng không rõ vợ con no đói ra sao!
Có khi chuông không đổ đúng giờ mà lại bất thường. Có lẽ ai đó mới qua đời. Không biết “Chuông gọi hồn ai” (2) của Hemingway có buồn như vậy không.
Ở cuối khối 6, chỗ ca sĩ Khuất Duy Trác, có cái máy điện của quân đội cũ để lại. Cứ buổi chiều, một anh lính chế độ cũ, được bộ đội thuê lại, vào cho máy chạy. Cái máy điện Mỹ cũng “giục gầm gừ” y như trong thơ Tố Hữu vậy. Tố Hữu có nghĩ rằng chính vì ông ta mà cả triệu binh lính miền Nam đang sống trong cảnh tù như ông đã từng trải. Liệu ông có nghĩ tới những ngày tù trước kia của ông mà có chút thông cảm nào cho hàng triệu người tù sau ông?
Lại cứ mỗi sáng, khi trời chưa rạng, tôi lại nghe tiếng còi xe Ford giục giã phía chợ Long Hoa, gần “tòa thánh Tây Ninh”. Cuộc đời ngoài kia vẫn cứ sinh hoạt ồn ào, giòng đời cứ trôi mà trong nầy cuộc sống như dừng lại, ngày nào cũng như ngày nào.
Những người tù ở đây, phần đông còn trẻ, sức sống còn hăng, nhiệt huyết còn nhiều nhưng tất cả những thứ ấy, “cách mạng” thấy không có ích lợi gì cho “cách mạng” cả nên để cho chúng tiêu hao dần mòn trong những tháng ngày dài chán nản, vô vị.
&
Khoảng trưa, trong khi chúng tôi đang nằm nửa thức nửa ngủ trong phòng thì nghe một loạt súng nổ phía phi trường. Có lẽ đó là tiếng súng bộ đội xử bắn Ngô Nghĩa.
Một lát sau, tôi lại nghe tiếng người nói lao xao phía sau nhà cũng như ở sân trước. Mấy anh em đi coi xử bắn về đang bàn tán gì đó.
Mới vào nhà, Hoàng Hữu Chung vừa cởi áo vừa kể lại câu chuyện Ngô Nghĩa bị bắn, giọng sôi nổi:
– “Cha nội ni chì thiệt. Đi ra chỗ bị xử tử mà cha tỉnh bơ, làm như đi dạo phố.”
Phan Hải cũng vừa về tới, góp ý:
– “Tới phút cuối, sau khi từ trên xe xuống, “Quân Pháp” hỏi chả một lần chót. Nếu khai ra ai đưa súng và quần áo cho chả thì sẽ tha chết. Chả lắc đầu, không nói chi hết.”
– “Hèn chi tôi thấy thằng chả lắc đầu mà không biết chuyện chi. Chắc Ngô Nghĩa có hứa gì với “chú bộ đội” nào đó. Anh ta giữ lời hứa, chẳng thà chết chớ không chịu khai tên ra.” Phạm Ngọc Hiền nói.
Phan Hải thuật lại:
– “Trước khi bắn, anh ta không chịu cho bịt mắt. Bộ đội phải lấy cái bao cát rộng trùm lên đầu anh ta. Hai tay bị trói, anh ta lắc mạnh cái đầu cho cái bao cát văng ra nhưng không được.”
Chung hỏi:
– “Hình như anh ta không chịu quì?”
– “Không”. Phan Hải nói. “Hai bộ đội phải vật anh ta xuống rồi trói vào cọc bắn. Vậy mà anh ta cứ rướn thẳng người lên. Lợi dụng lúc ấy, Trung Úy Dư ra lệnh bắn, một loạt đạn ghim vào ngực anh ta. Khi đó, anh ta mới gục xuống, đi luôn. Trung úy Dư bắn phát ân huệ cũng vô ích, anh ta đã chết rồi.”
– “Không biết anh ta có được cái hòm không?” Hiền hỏi.
Phan Hải trả lời:
– “Sức mấy. Bộ chỉ huy bảo lấy tấm chiếu mà bó lại. “Phản động, chống phá cách mạng” sức mấy có hòm mà chôn. Có chiếc chiếu là may rồi.”
hoànglonghải
(1)-Trước khi “sập tiệm” tôi thường hút “Seventy-nine”. Bây giờ không còn thuốc lá nhập, gia đình chỉ gởi cho thuốc rê. Tôi gọi đùa là “xơ-vơn-ti-rê”. Ông điếu (ống vố) thì tôi lấy một khúc củi mà tự làm lấy.
(2)-“To whom the bell rings?” Tác phẩm nổi tiếng của Hemingway
Thời gian qua, những ngày như lá, tháng như mây – Thơ Thanh Nam Si-a-tồ -khi tuổi đời sáu bó lẻ mấy que tôi mới thấy những lời người ta nói như thế về những nàng Kiều là không đúng. Bằng chứng rõ ràng không thể cãi cọ được là cuộc đời ái tình và sự nghiệp của nữ minh tinh Kiều Trang. Tên nàng cũng là Kiều đấy nhưng đời nàng vẫn sáng choang như gương Tàu. Thử hỏi có em Ngọc Côn, Kim Lệ, Huỳnh Hoa nào có cuộc đời an nhàn mọi mặt như nàng Kiều Trang được công an Việt cộng nhắc đến một cách kính nể đầy tính nâng bi trong quyển NTBKCB? Hai nữa, cần gì cứ tên Kiều Nọ, Kiều Kia mới vất vả năm bẩy đời chồng, ba bốn chục đời nhân tình, lúc thì áo xanh, lúc thì áo hồng. Số em có nhiều đàn ông là em có nhiều đàn ông, không phải là vì cái tên Kiều của em. Vô tư mà nói cuộc đời em Kiều Thúy nhiều lúc đoạn trường thật nhưng cũng có nhiều lúc sáng giá đền bù đã lắm đấy chứ? Sao chỉ nhắc đến những lúc nàng bị Mã Giám Sinh xơi tái, Sở Khanh bỏ rơi, Tú Bà đánh đòn, Hoạn Thư bắt hầu rượu, gảy đàn kìm, Hồ Tôn Hiến gỡ gạc mà không nói đến lúc nàng đường đường ngồi ghế Chánh án phu nhân. Khi ấy nàng vinh quang biết chừng bao? Nàng ơn đền, oán trả nặng nề, thẳng tay, Hoạn Thư quỳ mọp dưới sân, Thúc Kỳ Tâm người cũ không những chỉ run như cầy sấy mà còn sợ đến són đé ra quần. Lại còn Tú Bà rập đầu lậy côm cốp như chày giã gạo. Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hạnh nhìn thấy Tử thần vác lưỡi hái lù lù ngay trước mặt. Ba anh này lúc cuối đời mới ăn năn thì sự đã rồi, rất có thể lúc ấy ba anh nghĩ; ” Mèn ơi.. Biết sự đời như thế này thì lúc ấy bà có cho em cũng chẳng để vào làm chi…” Về mặt giá trị tính theo vàng Kiều Thúy có giá nhất không những chỉ trong cõi đời Gia Tĩnh triều Minh mà là ở mọi cõi đời, nhất là ở cõi đời này hôm nay.. Đằng nào cũng mất, chẳng mất trước thì mất sau, mất mà có 400 lượng vẫn hơn là mất mà hổng có lượng nào, hoặc bán mà giá chỉ có năm chỉ.
Vì không phải là những văn nghệ sĩ chân chính nên hai anh cớm cộng Nam Thi – Minh Kiên – dù có là đại tá đi nữa – tác giả “Những tên biệt kích cầm bút” đã cho nhân vật Hoàng Hải nói:
– …Tôi đã treo bút . Viết cái gì bây giờ? Viết để làm gì? Chẳng lẽ mình lại là độc giả duy nhất của chính mình?
Vật bất kỳ bình tắc minh. Khi đau khổ chúng ta kêu, rên, khóc ti tỉ. Khi sung sướng chúng ta kêu, rên, cười toe toét. Văn nghệ sĩ cũng là người nên khi đau khổ, sung sướng văn nghệ sĩ cũng kêu, rên, khóc cười như bất cứ ai. Song vì văn nghệ sĩ là… văn nghệ sĩ nên khi buồn đau, vui sướng văn nghệ sĩ còn sáng tác ra những cái gọi là tác phẩm văn nghệ. Chẳng hạn các thi sĩ mần thơ, nhạc sĩ mần bài ca, văn sĩ viết truyện ngắn, truyện dài. Nói cách khác người thường khi đau buồn chỉ khóc, vui sướng chỉ cười, văn nghệ sĩ ngoài khóc cười như đã nói còn có sự cần thiết bức bách phải cho ra đời tác phẩm văn chương. Sự cần thiết ấy là bắt buộc, không mần không được. Nó như nhu cầu về sinh lý: ăn dzô thì phải tống ra. Chỉ có đầu dzô mà không có đầu ra là chết năm bẩy cửa tứ. Vì vậy văn nghệ sĩ nào nói: “… Viết cái gì? Viết để làm gì? Viết cho ai…?” là văn nghệ sĩ rởm. Bất bình tắc minh. Không bình thường thì kêu lên. Khi xúc động đập vào trái tim người nghệ sĩ, anh ta bắt buộc phải mần thơ nếu anh ta là thi sĩ, mần nhạc nếu anh ta là nhạc sĩ, viết truyện nếu anh ta là văn sĩ. Không mần thì anh sẽ mặt mũi bần thần, ngẩn ngơ, ăn nói vô duyên. Nói rõ hơn và hình tượng dễ hiểu hơn là nếu không sáng tác văn nghệ sĩ sẽ bị táo bón tinh thần rất nặng.
Vì vậy nếu là văn sĩ anh bắt buộc phải viết lên giấy những xúc động trong tim anh, trong hồn anh. Anh không thể dửng dưng, lửng lơ con cá vàng nói: “Viết làm chó gì? Viết cho ai đọc? Không lẽ viết để mình đọc ư?” Anh có thể nghĩ: “Viết ra nó tóm được là bỏ mẹ. Không cần chửi chúng nó hay kêu gọi ai thủ dao phay đứng chờ ở đầu ngõ thấy thằng công an Việt Cộng nào đi qua là chém cho nó năm bẩy nhát. Chỉ cần mình than buồn, than khổ thôi là đủ để nó đem mình đi cất năm bẩy niên. Xa vòng tay gầy lạnh của vợ hiền. Chán lắm…” Anh có thể tự khuyên những câu đầy tính minh triết xanh rờn: “Chịu đi. Đừng có dại mà viết. Bút sa gà chết. Với Việt cộng thì bút sa người chết. Quanh quẩn trong xó nhà như vầy năm bữa, nửa tháng may ra cũng có tô phở chợ, lâu lâu được vợ an ủi, khuyến khích một lần. Thơ mí phú làm ký gì. Vạ vào thân….” Anh nghĩ thì quá khôn, nhưng anh nghĩ dzậy mà anh thường không mần như dzậy.
Những văn nghệ sĩ trong cõi đời này còn có cái tật nữa là ngoài việc mấy ổng dùng buồn vui của mấy ổng làm thành tác phẩm, mấy ổng còn buồn vui vì những buồn vui của người khác. Và mấy ổng cũng có thể vì buồn vui của người khác mà làm thành tác phẩm nghệ thuật. Mấy ổng được người đời yêu mến vì cái tài ấy.
Năm 1994 ở Thành Hồ, tôi xem cuộn băng Vidéo Văn Phụng – Châu Hà, thấy MC Nguyễn Ngọc Ngạn hỏi Văn Phụng trong trường hợp nào nhạc sĩ sáng tác bản “Tạ Từ Đêm Mưa”? Văn Phụng trả lời:
– Đêm ấy chơi nhạc ở Đăng-xinh Văn Cảnh. Khi ra về tôi thấy một cặp tình nhân chia tay nhau. Cảnh họ quyến luyến nhau trong đêm mưa gợi hứng cho tôi làm nhạc…
MC Nguyễn Ngọc Ngạn:
– Như vậy là anh giả vờ buồn…
Nhạc sĩ Văn Phụng không nói gì.
Khi gặp Văn Phụng ở thành phố Arlington, nơi có Rừng Phong thu vẫn nhuốm mầu quan san của Công tử Hà Đông, tôi hỏi anh:
– Anh nhớ trong Vidéo của anh Nguyễn Ngọc Ngạn hỏi anh về bản Tạ Từ Đêm Mưa chứ? Khi Nguyễn Ngọc Ngạn nói “anh giả vờ buồn…” sao anh không nói gì cả? Anh thấy người khác chia ly nhau người ta buồn. Anh không chia ly ai cả nhưng anh buồn cái buồn của những người phải xa nhau, anh làm bản Tạ Từ…. Làm sao anh có thể giả vờ buồn mà làm được bản nhạc buồn đến thế…?
Tôi suốt một đời đi ở nhà thuê. Bi giờ về già hết lộc rồi nghĩ lại thật xấu hổ. Chẳng gì cũng mang danh ký giả, văn sĩ, có mấy chục bộ truyện được in, nhân viên Sở Mẽo! Mà nếu vợ bị tra tấn tàn nhẫn sống dở chết dở bẩy ngày cũng không xì ra được nửa chỉ vàng nào để hối lộ, kim cang, hột xoàn lại càng không có. May mắn cho vợ chồng tôi là mẹ tôi có một cái nhà nhỏ vẫn bỏ không trong cái gọi là cư xá Tự Do ở giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bảy Hiền. Ba tháng sau ngày oan nghiệt vợ chồng tôi về căn nhà đó ở. Không có căn nhà này thì chúng tôi còn vất vả nhiều. Và chúng tôi đã sống lúi cúi với nhau, đã yêu thương, nhớ thương và chờ đợi nhau trong căn nhà nhỏ ấy đúng mười chín mùa lá rụng lẻ sáu tháng mây bay. Hai lần Công An Thành Hồ cho xe bông đến trước cửa căn nhà ấy rước tôi đi, hai lần tôi từ nhà tù cộng sản sống sót trở về đó.
Cư xá Tự Do có hai khu do Gia Cư Liêm Giá Cuộc xây lên bán trả góp cho dân. Khu ngoài là khu vi-la song lập đắt tiền. Khu trong là khu nhà có gác lửng rẻ tiền. Sau những trận mưa đầu mùa con đường trong khu nhà tôi nước ngập đến đầu gối. Trong căn nhà tối ấy những chiều buồn quá không có việc gì làm, không biết đi đâu, đến nhà ai, tôi đứng sau khung cửa sổ nhìn vẩn vương ra con đường nhỏ. Xế cửa nhà tôi có một thiếu phụ tuổi trạc ba mươi, ông chồng là đại úy đi cải tạo, nàng thường bồng đứa con nhỏ đứng trong khung cửa sổ nhà nàng nhìn vơ vẩn ra đường. Tôi biết nàng buồn. Tôi cảm được nỗi buồn của nàng. Thêm vào đó là nỗi buồn của tôi. Bên nhà tôi – năm ấy tôi bốn bó lẻ hai, ba que – tôi cũng buồn quá. Không thể chịu được tôi mần thơ:
Buồn
Như cánh lá vàng sau trận cuồng phong
Anh rạt về đây, xóm hẹp, đường đông.
Nhà em, nhà anh cách hai thước ngõ
Những chiều mưa buồn nước ngập như sông
Anh đứng võ vàng sau khung cửa sổ
Như người tù nhìn đời qua chấn song.
Em đứng mỏi mòn bên dàn ván gỗ
Như người chinh phụ ôm con đợi trông.
Anh đứng trông mây, em đứng trông chồng
Vắng chồng con bế, con bồng em mang.
Cái bống là cái bống bang
Mẹ bống yêu bống , bống càng làm thơ…
Tiếng ru hờ, tiếng khóc ơ
Vương trên khung cửa bây giờ tang thương.
Đìu hiu cuối ngõ, cùng đường
Bên anh tuyệt vọng, đoạn trường bên em.
Ngày lại ngày, đêm lại đêm
Ngày rơi tàn tạ, đêm chìm phôi pha
Buồn từ trong cửa buồn ra
Buồn từ ngã bẩy, ngã ba buồn về
Ta đang sống, ta đang mê
Hay ta đang chết não nề, em ơi…!
Những tháng cuối 1975 đầu 1976 ngẩn ngơ giữa mấy rừng cờ đỏ, quá buồn tôi làm thơ. Tôi chép những bài thơ này vào một tập. Tháng 10 năm 1977, công an Thành Hồ đến nhà bắt tôi, vớ được tập thơ này. Khi thẩm vấn tôi, Ba Trung. tức Huỳnh Bá Thành, tức họa sĩ Ớt, nhật báo Đồng Nai Chủ nhiệm Hồng Sơn Đông, hỏi mỉa tôi:
– Bây giờ anh đã được làm người tù nhìn trời qua chấn song, anh không còn phải tưởng tượng nữa, anh thấy sao?
Và Ba Trung nói về bài thơ Buồn của tôi:
– Các anh sĩ quan Ngụy phải đi cải tạo là cần thiết. Cứ để mấy ảnh ở nhà sao được. Vợ mấy ảnh có mong chồng thì cũng phải chịu thôi. Trong khi nhân dân cả nước đang phấn khởi hồ hởi tiến lên xã hội chủ nghĩa, một mình anh kêu than buồn khổ đâu có được. Bài thơ buồn của anh có thể ảnh hưởng xấu đến người khác, làm người khác buồn lây, có hại đến việc xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Ba Trung, họa sĩ Ớt Huỳnh Bá Thành, tác giả truyện Vụ Án Hồ Con Rùa có hai ba tiểu thuyết được làm thành phim. Từ năm 1990 Ba Trung giữ chức vụ quyền Tổng biên tập Tuần báo Công An Thành Hồ. Loại báo này đúng ra chỉ là báo phổ biến tin tức nội bộ cơ quan công an, nhưng bọn cớm cộng làm thành báo bán để kiếm lời. Cớm cộng có đặc quyền khai thác hồ sơ những vụ giết người, hiếp dâm, ăn cắp, ăn cướp v.v… – đặc quyền và toàn quyền – nhiều người dân mua, đọc Tuần báo Công An, trong số này có cả tôi, chỉ để đọc những vụ hiếp dâm tàn bạo, những vụ giết người kinh khiếp, những vụ đảng viên ăn cắp công khai, làm bậy bất chấp Đảng với Nhà Nước, đọc tin về những ổ mãi dâm, ma túy, hàng giả, hàng lậu, vidéo sex v.v… Có thể nói tờ tuần báo Công An Thành Hồ là tờ báo bới móc, phơi bầy những cái xấu của xã hội XHCN một cách ác ôn nhất.
Trong một xã hội mà những tờ báo chuyên đăng những tin tức hiếp dâm, giết người, cướp trộm, sa đọa bán chạy, có nhiều người đọc chứng tỏ cái xã hội đó thối nát tàn tệ, bẩn thỉu quá đỗi. Bọn Tuần báo Công An Thành Hồ không chút hổ thẹn vì báo của chúng chỉ bán được nhờ đăng những vụ hiếp dâm, giết người. Không những không biết hổ thẹn chúng còn vênh váo khoe khoang là báo của chúng bán chạy nhất.
Ba Trung là cán bộ công an thẩm vấn tôi trong lần tôi bị bắt lần thứ nhất – 1977-1979 – Lần ấy tôi chưa “phạm tội” gì nhiều, tôi chỉ viết một số bài kiểu Tạp ghi Văn Nghệ Văn Gừng gửi cho một nữ độc giả của tôi bỏ nước chạy lấy người sang Xê Kỳ – một số bài viết có thể gọi là vô thưởng vô phạt về những ngày sống u buồn của tôi ở Thành Hồ, tả cảnh nón cối, dép râu, tóc bím, mông đít to như cái thúng, lính cụ Hồ đực rựa hai mươi nhăm, ba mươi tuổi nắm tay nhau đi rung răng, rung rẻ ngay trên đường Lê Lợi, Tự Do, cùng một số bài thơ than thân, trách phận, thương khóc kẻ ở, người đi kiếp sau chắc mí gặp nhau não nùng, ai oán. Người độc giả của tôi gửi những bài viết của tôi đến các báo Việt ở hải ngoại. Trong số những báo đăng loạt bài ấy của tôi có Tạp chí Đất Mới ở Seattle, tạp chí Thời Tập của Viên Linh, Nhất Việt của Du Tử Lê.. vv..
Cộng sản thù ghét nhất những người sống dưới chế độ chúng mà dám viết những bài tả cuộc sống khốn khổ, khốn nạn của mình và của nhân dân gửi ra nước ngoài. Với cộng sản “cứ viết gửi ra nước ngoài” là có tội rồi, bất kể bài viết có nội dung ra sao. Có lần thẩm vấn tôi Ba Trung nói với tôi:
– Anh biết viết bài gửi ra nước ngoài là nguy hiểm nhưng anh cứ viết, cứ gửi…
Và Ba Trung nói đến chuyện tôi được “mời cộng tác”
– Khi các văn nghệ sĩ Sàigòn phải đi cải tạo, chúng tôi đã để cho anh được yên ở nhà. Không những chỉ để anh yên, chúng tôi còn mời anh cộng tác. Anh không làm thì thôi, anh ở yên đi. Anh còn chống chúng tôi nữa. Chúng tôi bắt buộc phải bắt anh thôi. Tiếc cho anh. Chúng tôi có đối xử gì nặng tay với anh đâu? Anh vẫn còn được ngồi ngang hàng với Vũ Hạnh…
Trước hết việc “được ngồi ngang hàng với Vũ Hạnh” làm tôi xấu hổ. “Ngồi ngang hàng” đây là việc sau khi một số văn nghệ sĩ Sàigòn được công an Thành Hồ ưu ái cho xe bông đến tận nhà rước đem đi cất kỹ vào tháng Ba, tháng Tư năm 1976. Quần hùng đi tù thật đông, không sao nhớ hết và cũng không thể kể hết. Sau đợt bắt tập thể ấy cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Phố HCM tổ chức hai khóa bồi dưỡng chính trị cho những anh chị chưa bị bắt. Tôi đi dự Khóa Bồi Dưỡng Hai như tôi đã kể. Ý Ba Trung muốn nói là trong những cuộc hội họp như thế tôi vẫn được ngồi ngang hàng với Vũ Hạnh. Khi nghe Ba Trung nói như thế tôi ngồi yên, tôi không nói cho anh ta biết là tôi xấu hổ, tôi cay đắng mỗi lần tôi phải vác cái mặt mo của tôi đến ngồi nghe bọn cán cộng ưu ái lên lớp.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.