Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 1 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu

10. Rita – Khách Sạn “Vera Cruz”

TRONG ngục tối của nhà cấm cố Saint Joseph, tôi đã bay lên các vì tinh tú và mơ thấy nhiều cảnh kỳ ảo để khỏi thấy cô đơn trong cảnh im vắng rợn người, nhiều lần tôi tưởng tượng mình được tự do, đã chiến thắng cuộc sống thối tha và đã làm lại một cuộc đời mới trong một đô thị. Vâng, quả là một cuộc tái sinh, tôi đẩy tấm đá đè nặng tôi trong nấm mồ đen tối để trở về với ánh sáng, với đời sống và trong cảnh trí do tôi phác họa ra, xuất hiện một thiếu nữ vừa đẹp đẽ vừa hiền hòa. Không cao, không thấp, tóc vàng, cặp mắt hạt dẻ với đôi con ngươi đen huyền linh động và thông minh. Miệng nàng có đường nét rõ rệt kỳ diệu, mỗi khi cười để lộ hàm răng ngà ngọc. Thân hình nàng cân đối hoàn toàn. Đó là hình ảnh người thiếu nữ một ngày nào đó sẽ là người bạn đời của tôi.

Tôi đã tạo cho vị nữ thần, cho sắc đẹp lý tưởng ấy một tâm hồn đẹp đẽ nhất, cao quí nhất, chân thật nhất, dồi dào đức tính một người đàn bà vừa là người yêu, vừa là người bạn. Nhất định một ngày nào đó tôi sẽ gặp nàng, rồi cùng nàng kết nghĩa trọn đời, tôi sẽ được yêu quí, giàu sang, trọng nể và sung sướng mãi mãi.

Vâng, trong không khí nóng bức ngột thở của nhà cấm cố, một tên tù thiếu hẳn sinh khí, quả tim bị khổ não vằng vặt, khát nước triền miên, kiệt sức, miệng hả ra để mong hít lấy một ít không khí tươi mát mà cũng không có, trong khối hơi nóng ngột ngạt đốt cháy buồng phổi, gần nghẹt thở, tôi bay bổng lên vùng tinh cầu mộng ước, có gió mát, cây xanh, không còn lo âu về cuộc sống hằng ngày vì tôi đã giàu sang. Trong mỗi cảnh trí, mỗi hình ảnh của giấc mơ đều xuất hiện nàng công chúa diễm kiều của tôi. Nàng không bao giờ thay đổi. Vẫn chỉ có nàng, tôi biết nàng quá đỗi, nên mỗi khi nàng bước vào cảnh mộng mơ, tôi không chút ngạc nhiên: phải chăng nàng sẽ là vợ tôi và vị thần hộ mệnh của tôi?

Một hôm, sau khi đi thám hiểm về tôi quyết định giã từ căn phòng trong trang trại của Công ty Richmond để ra ở trung tâm đô thị Maracaibo. Vì vậy mà một hôm, chiếc xe vận tải của công ty đưa đến một công trường nhỏ có bóng cây, ở trung tâm thành phố, tay xách chiếc va-li. Tôi để lại trang trại phần lớn quần áo. Tôi biết tại khu này có nhiều khách sạn hoặc nhà trọ và tôi đi dọc theo con đường Venezuela chiếm vị trí ưu tiên giữa hai công trường chính của đô thị Maracaibo, công trường Bolivar và công trường Baralt. Đó là một trong những con đường phố thuộc địa, hai bên có nhiều nhà một tầng hoặc nhiều lắm là hai tầng. Trời nóng kinh khủng, tôi đi trong bóng mát của các tòa nhà.

“Khách sạn Vera Cruz”. Một tòa nhà xinh xắn, kiểu thuộc địa từ đời chiến tranh xâm lược, sơn màu xanh nhạt. Tôi thích hình dáng sạch sẽ hiếu khách của tòa nhà nên vội bước vào một hành lang dẫn vào sân trong. Rồi tại sân im mát ấy, tôi trông thấy một thiếu phụ, và thiếu phụ ấy chính là nàng.

Chính là nàng, tôi không thể nào lầm, tôi đã thấy nàng cả triệu lần trong những giấc mơ khi tôi còn là một tên khốn khổ. Nàng đứng đó, trước mặt tôi, nàng công chúa diễm kiều của tôi đang ngồi trong chiếc ghế xích đu. Nếu lại gần nàng, chắc chắn tôi sẽ thấy đôi mắt hạt dẻ và cả một nốt ruồi tí ti trang điểm khuôn mặt trái xoan của nàng. Khung cảnh ấy, đã thấy cả ngàn lần. Không thể nào tôi lầm: công chúa trong giấc mơ của tôi là đây, trước mặt tôi, đang chờ đợi tôi.

– Xin chào cô! Cô có phòng cho thuê?

Tôi đặt va li xuống đất. Tôi chắc nàng sẽ nói vâng. Tôi không nhìn nàng: tôi dùng mắt ngấu nghiến nàng. Hơi ngạc nhiên vì bị một người lạ nhìn từng chi tiết, nàng bỏ ghế đứng lên và tiến lại phía tôi. Nàng mỉm cười để lộ hàm răng ngà ngọc quá quen thuộc với tôi.

– Thưa Ông vâng, tôi có phòng cho Ông, nàng công chúa trả lời bằng tiếng Pháp.

– Tại sao cô biết tôi là người Pháp?

– Theo cách nói tiếng Tây Ban Nha của Ông. Người Pháp phát âm thứ ngôn ngữ này khó khăn lắm. Mời ông theo tôi.

Tôi xách va li và theo sự chỉ dẫn của nàng, tôi vào một phòng sạch sẽ, mát mẻ, đầy đủ đồ đạc, cửa phòng nhìn ra sân trong.

Sau khi tắm gội, rửa mặt, cạo râu, ngồi trên giường hút thuốc, tôi mới đích thực nhận thức không nằm mơ. “Nhỏ ơi, nàng đây, người thiếu phụ đã giúp mày chịu đựng bao nhiêu ngày tháng trong ngục tối! Nàng đây, cách mày mấy thước thôi! Nhất là mày đừng hóa điên! Cơn xúc động của quả tim không nên đưa đẩy mày đến những cử chỉ hoặc lời nói bậy bạ!” Tim tôi đập dồn dập và tôi cố gắng tự trấn tĩnh: “Papillon, nhất thiết không nên kể chuyện điên khùng ấy cho ai nghe, ngay cả cho nàng. Ai mà tin nổi? Làm thế nào mày làm cho bất cứ ai tin rằng mày đã biết, đã sờ, đã hôn, đã lấy người thiếu phụ từ nhiều năm rồi, trong lúc mày nằm rục xương trong ngục tối của một nhà tù ghê tởm? Nên im đi. Nàng công chúa là đây, đó là điều quan trọng nhất. Khỏi phải thắc mắc: bây giờ mày đã gặp nàng, nàng không chạy đường nào nữa. Nhưng phải từ từ, tiến bằng những bước có chừng mực. Chỉ cần nhìn bề ngoài, chắc hẳn nàng là chủ nhân khách sạn nhỏ này”.

Một đêm huyền hoặc của vùng nhiệt đới, tại nơi sân trong, đúng ra là một cảnh vườn nhỏ bé, tôi đã nói với nàng những câu tình ái đầu tiên. Đúng là nàng tiên tôi đã bao năm mơ ước, nàng đã đợi tôi từ lâu rồi. Nàng công chúa của tôi tên là Rita, quê quán ở Tanger, nàng không bị một ràng buộc nào hết. Nàng nhìn tôi bằng đôi mắt sáng ngời, long lanh như những vì tinh tú trên trời xanh. Tôi trung thực nói với nàng tôi đã có vợ ở bên Pháp, tôi không biết rõ hoàn cảnh của tôi như thế nào và vì những lý do nghiêm trọng, tôi không thể hỏi để biết rõ. Đúng như vậy: tôi không thể viết thư yêu cầu cơ quan hành chánh xã tôi cấp cho một tờ căn cước. Không thể đoán được phản ứng của cơ quan tư pháp đối với lời thỉnh cầu ấy. Có thể người ta sẽ yêu cầu dẫn độ tôi. Nhưng tôi không nói cho nàng biết về dĩ vãng giang hồ và tù phạm của tôi. Tôi vận dụng hết tài năng và trí óc ra để thuyết phục nàng. Tôi không thể để lỡ cơ hội lớn nhất của đời tôi.

– Rita, em đẹp, đẹp kỳ diệu. Em nên nhận tình yêu sâu xa, bất diệt của một người không còn ai trên đời này, một người cần yêu và được yêu. Quả thật anh không có nhiều tiền, còn em thì với khách sạn nhỏ bé này, có thể kể là em giàu, nhưng xin em tin rằng anh ước mơ hai tâm hồn của chúng ta hòa hợp lại mãi mãi, cho đến mãn kiếp. Em nói đồng ý đi, Rita, em đẹp hơn tất cả các cành hoa đẹp nhất của xứ này, đẹp như một đóa phong lan. Anh không thể nói tại sao và từ bao giờ, nhưng dù khó tin, xin em biết cho rằng từ nhiều năm nay, anh đã biết đã yêu em. Em phải thuộc về anh như anh đã thề thuộc về em, nghĩa là hoàn toàn và vĩnh viễn.

Tuy nhiên Rita không phải hạng gái nhẹ dạ, điều ấy không lạ. Chỉ sau ba ngày nàng mới dâng hiến cho tôi. E ấp nàng yêu cầu tôi len lén vào buồng của nàng. Rồi một buổi sáng đẹp trời, không cần báo cho ai biết trước, rất tự nhiên, chúng tôi chính thức cho thiên hạ biết chúng tôi yêu nhau, và tôi đương nhiên trở thành chủ nhân ông của khách sạn.

Hạnh phúc của chúng tôi thật là đầy đủ và một cuộc đời mới mở rộng trước mắt tôi, đời sống gia đình. Tôi, một tên bị xã hội ruồng bỏ, một tên tù vượt ngục, sau khi trốn tránh khỏi bị bắt lại, giờ đây đã có một mái ấm gia đình, một người đàn bà đẹp cả thể xác lẫn tâm hồn. Chỉ còn một đám mây nhỏ trên hạnh phúc của chúng tôi: đã có vợ bên Pháp, tôi không thể cưới nàng.

Yêu và được yêu, có một tổ ấm cho riêng tôi, Thượng Đế quả là cao minh, tôi mới được như vậy.

Những kẻ lang thang vơ vẩn trên các nẻo đường hay trên vạn dặm trùng dương, những kẻ giang hồ cần phiêu lưu như người đời cần ăn uống, những kẻ bay nhảy trong cuộc đời như các loại hậu điểu trên bầu trời, những kẻ lang thang ngày đêm lục lọi các xóm nghèo, các công viên và lẩn quẩn trong các khu phố sang trọng với một tâm hồn nổi loạn luôn luôn sẵn sàng chờ đợi một mẻ làm ăn, những kẻ phiêu lưu phiến loạn luôn luôn nhận thấy các chế độ ngày thêm ích kỷ, những tư nhân được phóng thích, những người lính chiến đấu ở mặt trận về nghỉ phép, những kẻ vượt ngục bị người ta truy nã để bắt lại nhốt vào ngục tối cho tan nát cuộc đời, tất cả, vâng tất cả không trừ một ai, đều đau khổ vì đến một lúc nào đó không có được một mái ấm gia đình, đến khi Thượng Đế ban cho, họ đi vào tổ ấm như tôi bây giờ với một tâm hồn đổi mới tràn đầy tình yêu để cho và khao khát tình yêu để nhận.

Thế là cũng như mọi người trên cõi đời này, như cha tôi, như mẹ tôi, như các chị tôi, như tất cả những người thân của tôi, tôi đây cũng có một mái ấm gia đình trong đó có một người đàn bà yêu tôi.

Để cho nếp sống của tôi hoàn toàn thay đổi sau khi tôi gặp Rita, để cho tôi cảm thấy nàng là trung tâm điểm của đời tôi, người đàn bà ấy phải khác thường.

Trước tiên, cũng như tôi, nàng từ Venezuela, chạy trốn đến đây. Dĩ nhiên không phải nàng vượt ngục, nhưng cũng là một sự trốn thoát.

Nàng từ Tanger đến đây được sáu tháng với chồng; cách đây không đầy 3 tháng người chồng bỏ nàng để làm một vụ mạo hiểm ở xa Maracaibo 300 cây số. Nàng không muốn theo chồng, nên bị bỏ rơi lại khách sạn. Tại Maracaibo, nàng có một người anh làm đại lý thương mại, du hành khắp nơi.

Tôi say sưa nghe nàng kể lại đời nàng. Công chúa của tôi sinh tại một khu phố nghèo nàn ở Tanger. Mẹ nàng góa phụ đã can đảm nuôi sáu người con, ba trai ba gái. Rita là con út.

Lúc còn trẻ thơ, đường phố là nhà của nàng. Suốt ngày nàng không ở trong hai căn phòng là nơi trú ngụ của bảy mạng trong gia đình này. Nhà chính của nàng là thành phố với các công viên, các chợ búa, với vô số người lúc nhúc, ăn, uống, ca hát, la hét bằng mọi ngôn ngữ. Nàng đi chân không. Đối với bọn con nít đồng tuổi, đối với người trong khu phố nàng là Riquita. Cùng với bạn bè như một bầy chim sẻ nghịch ngợm, suốt ngày nàng rong chơi ngoài biển hay ở hải cảng hơn là học ở nhà trường, nhưng nàng biết dành chỗ khi đã sắp hàng dài chờ ở giếng nước máy để đem một thùng lớn nước về cho mẹ nàng. Mãi đến khi lên mười tuổi nàng mới chịu mang giày.

Khối óc nhanh nhẹn và hiếu kỳ của nàng để ý đến mọi việc. Nàng ngồi hàng giờ với số người vây quanh người kể chuyện cổ tích Ả Rập. Một hôm, một người kể chuyện bực mình vì cô bé luôn luôn ngồi hàng đầu mà không cho đồng nào hết, đã cho nàng một đấm. Từ ngày ấy, nàng ngồi vào hàng thứ hai.

Nàng không biết gì nhiều, nhưng không phải vì vậy mà không ước mơ khoắc khoải về một thế giới kỳ ảo đã là xuất phát điểm của những chiếc tàu to lớn mang những tên lạ lùng. Ra đi, đi rất xa, là mộng lớn làm nàng say mê. Nhưng đối với bé Riquita, thế giới hiện ra dưới một hình ảnh đặc biệt. Bắc Mỹ và Nam Mỹ là nước Mỹ trên cao và nước Mỹ dưới thấp. Nước Mỹ bên trên là Nữu Ước, bao trùm cả lục địa. Ở đó mọi người đều giàu có và mọi người là minh tinh màn bạc. Tại nước Mỹ bên dưới, người da đỏ sống ở đó tặng hoa cho du khách và thổi sáo, người ta không cần làm việc vì người da đen làm hết mọi việc.

Nhưng giữa các chợ, những người cỡi lạc đà, những người kể chuyện cổ tích Ả Rập, những bà phụ nữ che mặt huyền bí, đời sống nhộn nhịp ở hải cảng, nàng mê nhất là rạp xiếc. Nàng đã đi xem hai lần. Một lần bằng cách chui dưới lều vải, lần khác nhờ một anh hề già thương tình cô bé xinh đẹp đi chân không, nên đã đưa vào ngồi chỗ tử tế. Nàng muốn đi theo gánh xiếc, nó thu hút nàng như một viên đá nam châm. Một ngày nào đó, chính nàng sẽ đi trên dây thép, xoay tròn trên ấy và sẽ nhận những tràng pháo tay. Gánh xiếc sẽ đi qua nước Mỹ bên dưới. Nàng hết lòng mong muốn được cùng đi. Ra đi, ra đi, rồi trở về giàu có và đem về rất nhiều tiền cho gia đình.

Nàng không ra đi với gánh xiếc mà với gia đình nàng. Ồ, không xa lắm, nhưng cũng là một cuộc hành trình. Họ đến ở tại Casablanca. Hải cảng lớn hơn, những con tàu bự hơn. Riquita ước mơ một ngày được ra đi, xa, rất xa.

Bây giờ nàng 16 tuổi, nàng vẫn mặc những chiếc áo dài nho nhỏ do nàng tự may cắt lấy vì nàng làm việc trong một nhà bán hàng vải và bà chủ thường biếu nàng ít thước vải. Mộng ước viễn du ngày càng tăng trưởng vì nhà hàng ở đường phố Horloge, ở cạnh văn phòng công ty hàng không danh tiếng Latécoère. Các phi công thường ghé vào nhà hàng. Toàn những phi công tên tuổi: Mermoz, Saint Exupéru, Mimile phi công kiêm nhà văn, Delaunay, Didier. Không những họ đẹp, mà còn là những người đi mây về gió vĩ đại và can trường nhất thế giới. Nàng biết từng người, người nào cũng tán tỉnh nàng, lâu lâu nàng nhận một cái hôn, chỉ thế thôi vì nàng rất hiền đức. Nhưng đã bay trên trời với họ không biết bao nhiêu lần, nàng nghe họ kể lại các cuộc phiêu du của họ, trong lúc cùng ăn một ly kem tại một quán bên cạnh. Họ thương nàng lắm, xem nàng gần như một cô bé được họ che chở, họ viết cho nàng những bài thơ mà một số đã được đăng trong tờ báo “Tháp canh biển”.

Năm 19 tuổi, nàng lấy một nhà xuất cảng trái cây sang Âu châu. Họ làm việc nhiều, một bé gái ra đời, hai vợ chồng sung sướng. Họ có hai chiếc xe, sống đầy đủ tiện nghi và Rita dễ dàng giúp đỡ mẹ và các chị nàng.

Liên tiếp, hai chuyến tàu chở cam đến bến bị thối hết. Hai tàu cam hoàn toàn mất, quả là một sự phá sản. Chồng nàng mắc nợ quá nhiều và nếu nai lưng ra làm việc để trả nợ thì phải cần rất nhiều năm. Thế nên hắn quyết định lén trốn sang Nam Mỹ. Thuyết phục Rita theo hắn trong chuyến viễn du kỳ diệu này, đi đến một xứ thần tiên phải dùng xà beng để hốt vàng, kim cương, dầu hỏa, không phải là một việc khó. Họ sẽ gửi cháu bé gái lại cho bà mẹ của Rita. Đầy ắp mộng hải hồ, Rita nóng lòng đợi ngày bước lên chiếc thuyền to lớn mà chồng nàng đã báo trước.

Trong thực tế, đó là một chiếc thuyền đánh cá dài mười hai thước rộng năm thước. Thuyền trưởng là một người xứ Estonien có phần lưu manh, đã thuận chở vợ chồng nàng không giấy tờ đến Venezuela cùng với khoảng mười hai người hành khách lậu khác. Giá là năm ngàn quan bây giờ. Và nàng đã thực hiện cuộc viễn du trong buồng lái của chiếc tàu đánh cá cũ kỹ, sát cánh với mười đảng viên cộng hòa trốn chạy tướng Franco, một người Bồ Đào Nha trốn chạy Tổng Thống Salazar và hai phụ nữ, một người Đức hai mươi lăm tuổi, đúng là một con ngựa cái, nhân tình của viên thuyền trưởng và một người Tây Ban Nha to béo tên Maria, vợ anh đầu bếp Antonio.

Phải mất 112 ngày mới đến Venezuela! Với một lần ghé bến rất lâu ở đảo Cap Vert, vì tàu bị lủng đáy và suýt bị chìm vì một trận bão.

Trong lúc tàu được kéo lên bộ để chữa, hành khách ngủ dưới đất. Chồng Rita không còn tin tưởng nơi chiếc tàu. Hắn bảo vượt đại tây dương với một vật hư hỏng như vậy là điên rồ. Rita trấn an hắn: thuyền trưởng là thuộc giòng dõi Viking, đệ nhất thủy thủ thế giới, nên có thể tin tưởng tuyệt đối vào hắn.

Một nguồn tin bất ngờ, hết hiểu nổi! Mấy người Tây Ban Nha cho nàng hay viên thuyền trưởng là một đứa khốn kiếp, nó đã thương lượng với một nhóm hành khách khác và nó đã lợi dụng lúc họ không ngủ trên thuyền để nhổ neo ban đêm trực chỉ Dakar, và sẽ bỏ rơi họ lại đây. Lập tức nổi loạn bùng nổ. Họ báo nhà chức trách và cả bọn xuống tàu. Viên thuyền trưởng bị bao vây, dọa nạt. Bọn Tây Ban Nha có dao găm. Sau khi viên thuyền trưởng hứa sẽ đưa họ đi Venezuela, tình hình lắng dịu trở lại. Sau những chuyện đã xảy ra, nó chấp nhận sẽ chịu sự kiểm soát thường trực của một hành khách. Ngày hôm sau, họ từ giã Cap Vert lên đường vượt Đại Tây Dương.

Hai mươi lăm ngày sau, họ đến quần đảo Testigos, mũi đất Venezuela đâm xa nhất ra đại dương. Lúc bấy giờ, quên hết, bão tố, cá mập, cá xà vùng vẫy đuổi bắt chiếc thuyền, những con mọt trong bột mì, vụ lôi thôi ở Cap Vert. Rita quá sung sướng nên quên khuấy âm mưu phản bội trước đây của viên thuyền trưởng và đã nhảy lên ôm cổ ông ta hôn lên hai má. Rồi người ta nghe vang lên bài hát mà những người Tây Ban Nha đã sáng tác trong lúc thuyền vượt đại dương – trong bọn Tây Ban Nha có một ca sĩ với đàn lục huyền cầm:

– Chúng ta qua Venezuela

Dù không có đường cái quan

Chúng ta qua Venezuela

Trên chiếc thuyền buồm nhỏ bé.

Họ vào hải cảng của đô thị Caracas ngày 16 tháng 4 năm 1948, hải cảng Guaira, cách đô thị hai mươi lăm cây số, ở cuối một thung lũng. Họ đã vượt qua 4.900 dặm.

Viên thuyền trưởng đã dùng chiếc váy của Zenda, người đàn bà Đức, làm cờ để yêu cầu Sở Y tế đến khám. Mọi người hân hoan khi thấy một chiếc thuyền máy của Venezuela chạy ra: những khuôn mặt sạm nắng dần dần tiến đến, đó là xứ Venezuela. Họ đã thắng.

Rita đã chịu đựng phi thường và đã mất hết mười ký. Không bao giờ nàng phàn nàn hoặc sợ sệt. Thế mà trên một chiếc thuyền bằng một cái vỏ dừa lênh đênh trên đại dương, đã có biết bao lần phải lo sợ. Chỉ một lần nàng tỏ ra yếu đuối, nhưng không ai biết. Lúc ra đi, trong số các cuốn sách nàng đem theo để đọc tiêu khiển, nàng không tìm thấy cuốn nào hơn cuốn của Jules Verne “Hai vạn dặm dưới đáy biển”, cuốn sách duy nhất không nên xem. Một hôm trời giông tố, nàng chịu hết nổi và quăng cuốn sách ra biển từ nhiều ngày, nàng mơ thấy một con mực ma khổng lồ kéo chiếc tàu xuống đáy biển, như chiếc Nautilus.

Vài giờ sau khi cập bến, giới chức thẩm quyền Venezuela chấp nhận cho họ lưu trú mặc dù không ai có giấy tờ gì hết. “Sau này chúng tôi sẽ cung cấp các giấy tờ căn cước”. Hai người bị bệnh được đưa vào bệnh viện, những người khác được cấp quần áo, có nơi ăn chốn ở trong nhiều tuần lễ. Sau đó mỗi người tự tìm công việc làm ăn. Đó là tiểu sử của Rita.

Quả là kỳ lạ, trước tiên là tôi đã gặp người thiếu phụ đã hiện diện trong cảnh cô đơn ghê gớm của tôi trong nhà cấm cố suốt hai năm; rồi người đàn bà ấy lại đến đây cũng đồng trốn thoát như tôi nhưng trong những hoàn cảnh khác nhau? Cũng đều không giấy tờ và cũng như tôi, được quốc gia này tiếp nhận và đối xử rộng rãi vô cùng.

Trong ba tháng, không một điều gì làm xao động hạnh phúc của chúng tôi. Nhưng một hôm, một bọn vô danh mở tủ sắt của Công ty Richmond, nơi tôi tiếp tục tổ chức và chỉ huy các đoàn thám hiểm địa chất. Tôi không bao giờ hiểu nổi tại sao Cảnh sát biết được dĩ vãng của tôi. Một điều chắc chắn, là tôi bị bắt vì là người tình nghi số 1 và bị giam tại nhà tù Maracaibo.

Đương nhiên Rita bị hỏi về tôi và do đó bọn cảnh sát đã cho nàng biết những gì tôi đã giấu nàng. Tổ chức cảnh sát quốc tế đã cung cấp tất cả các tài liệu. Nàng không vì vậy mà bỏ rơi tôi trong tù, trái lại nàng hết sức giúp đỡ tôi. Nàng lại còn thuê một luật sư, ông Echeta La Roche để biện hộ cho tôi và chưa đầy mười lăm ngày, tôi được phóng thích vì có lệnh miễn tố! Tôi được công nhận hoàn toàn vô tội, nhưng việc di hại đã xảy ra rồi.

Khi đến tìm tôi trong nhà giam, Rita rất xúc động nhưng cũng rất buồn. Nàng không nhìn tôi như trước. Tôi có cảm giác nàng sợ thật, nàng ngần ngại trao gửi trọn vẹn cho tôi. Tôi nghĩ mọi việc đã tiêu tan. Tôi không lầm vì nàng tấn công ngay:

– Tại sao anh dối em?

Không, không thể như thế được, tôi không muốn mất nàng! Không bao giờ tôi gặp lại duyên may như vậy nữa. Một lần nữa, phải tranh đấu, tranh đấu mãnh liệt.

– Rita, em phải tin anh. Khi gặp em, anh mê ngay vì quá yêu em nên anh sợ em sẽ không muốn gặp lại anh nếu nói sự thật về quá khứ của anh. Em còn nhớ anh nói những gì về anh chứ? Dĩ nhiên anh tưởng tượng ra, nhưng đó là vì khi vừa biết em, anh chỉ muốn nói những gì anh nghĩ rằng em muốn nghe.

– Anh đã dối em… Anh dối em… nàng lập đi lập lại nhiều lần. Em cứ tưởng anh là người đàng hoàng.

Người thiếu phụ đã hốt hoảng, như đang trải qua một cơn ác mộng. Vâng, nàng sợ, nàng sợ mày.

– Thế có gì chứng tỏ anh không thể là người đàng hoàng? Thiết tưởng như bất cứ ai, anh đáng được trở thành một người tốt, lương thiện và sung sướng. Rita, em đừng quên rằng trong 13 năm, anh đã phải chiến đấu chống chọi với một chế độ lao tù ghê tởm nhất, và để chiến thắng những ngày tháng khổ nhục ấy không phải là chuyện dễ. Anh yêu em hết lòng Rita, anh yêu em không phải với dĩ vãng mà với hiện tại của anh. Em phải tin điều này: nếu anh không kể cho em nghe đời anh chỉ vì anh sợ mất em. Anh tự nhủ nếu trước kia anh đã sống xấu xa, trong lỗi lầm, tương lai của anh có em sẽ ngược hẳn lại. Con đường tương lai anh ước mơ cùng bước với em, anh thấy xán lạn, thanh khiết, đầy màu sắc huy hoàng. Rita, anh xin thề với em, trên danh dự cha anh đã khổ nhiều vì anh.

Rồi tôi khóc ào. Người tôi đã vỡ.

– Henri đúng vậy sao anh? Anh nhìn mọi việc và tương lai của chúng mình như đã vừa nói hả?

Tôi tự trấn tĩnh, rồi với một giọng còn ướt lệ, tôi đáp:

– Mọi việc sẽ như vậy vì ngay từ bây giờ trong lòng chúng ta, mọi việc đã như vậy. Vả lại, em cũng cảm thấy nơi anh như vậy rồi. Em với anh, chúng mình không có dĩ vãng. Chỉ có hiện tại và tương lai là đáng kể.

Rita, ôm tôi trong vòng tay:

– Henri đừng khóc nữa. Hãy nghe tiếng gió, tương lai của chúng ta đang bắt đầu. Nhưng anh hãy thề với em, không bao giờ làm điều xấu xa nữa. Hãy hứa với em, anh sẽ không bao giờ giấu em điều gì và cuộc đời chúng ta sẽ không có gì nhơ nhuốc cần phải che giấu.

Hai đứa quấn quít nhau, tôi cất cao lời thề. Trong giờ phút ấy, tôi cảm thấy đây là dịp may lớn nhất của đời tôi. Tôi hiểu rằng đối với người thiếu phụ can đảm và lương thiện ấy, đối với người mẹ một bé gái dễ thương, tôi nên nói cho biết tôi là một tên tù khổ sai chung thân vượt ngục.

Rồi tôi kể hết cho nàng nghe tất cả, kể một hơi không nghỉ. Toàn thân tôi rung chuyển, kể cả mối thù ám ảnh tôi suốt 18 năm. Tôi quyết định đặt mối thù ấy dưới chân nàng, sẽ từ bỏ mối thù ấy để chứng tỏ lòng thành thật của tôi. Thật là không thể ngờ được: đối với tôi không thể có sự hy sinh nào to tát hơn một sự hy sinh mà nàng không thể hiểu hết tầm quan trọng, thế mà tôi đã nói, như một phép mầu, như một người không phải tôi nói:

– Rita, để chứng tỏ anh yêu em đến bực nào, anh dâng hiến cho em sự hy sinh lớn nhất đời anh. Bắt đầu từ giờ phút này, anh từ bỏ mối thù. Mặc cho chúng có chết nhăn răng trên giường, bọn người đã làm cho anh đau khổ cùng cực, lão chưởng lý, bọn cảnh sát, thằng chứng gian. Vâng, em có lý. Để xứng đáng với một người đàn bà như em, anh phải, không có chuyện tha thứ vì không thể được, không còn để trong đầu ý nghĩ duy nhất phải trừng phạt không nương tay những đứa đã quăng anh vào ngục thất tù đày. Trước mặt em bây giờ là một người hoàn toàn đổi mới, người cũ đã chết rồi.

Chắc hẳn Ria đã nghiền ngẫm cuộc nói chuyện ấy suốt cả ngày, vì buổi tối, sau giờ làm việc, nàng nói với tôi:

– Thế còn ba anh? Bây giờ anh đã xứng đáng với ba, anh nên viết thư cho ba sớm đi.

– Từ năm 1933, anh không có tin và ba cũng không được tin gì hết. Đúng là từ tháng 10. Anh chứng kiến cảnh người ta phát thư cho tù nhân, những bức thư khốn khổ đã bị bọn cai ngục bóc ra, những bức thư mà nội dung không thể nói gì hết. Anh đã trông thấy nỗi thất vọng hiện trên nét mặt những tên đáng thương ấy vì không có thư nào gửi đến cho mình, anh lại đoán sự chán chường của những đứa đọc bức thư bằng chờ đợi nhưng lại không tìm thấy những điều mong ước. Anh đã thấy người ta xé các bức thư rồi dẫm lên trên, anh đã thấy những giọt nước mắt rơi trên nét mực làm nhạt nhòa hàng chữ. Anh cũng tưởng tượng phản ứng của mọi người khi các lá thư khốn nạn ấy đến nơi nhận dấu đóng của nhà bưu điện Guyane đã khiến cho những người đưa thư, những người láng giềng hay những người ngồi quán cà phê trong làng nói với nhau: “Tên tù đày này còn viết thư. Nó còn sống vì còn có thư từ”. Anh đoán nỗi niềm xấu hổ của người nhận thư và sự lo âu của người phát thư khi hỏi câu: “Con Ông vẫn khỏe chứ?”.

Rita, vì vậy nên anh có viết cho em Yvonne của anh một bức thư, bức thư duy nhất anh viết từ ngục tù, trong thư anh nói: “Đừng bao giờ trông tin anh, cũng đừng bao giờ cho anh biết tin của em. Chẳng khác nào con chó sói của thi sĩ Alfred de Vigny, anh sẽ chết mà không rên siết”.

– Henri, tất cả chuyện ấy thuộc về dĩ vãng. Anh sẽ gửi thư cho ba anh nhá?

– Ừ, ngày mai.

– Không, ngay bây giờ.

Một bức thư dài được gửi đi Pháp, chỉ kể những gì có thể nói ra mà không làm cho ba tôi đau khổ? Tôi không tả lại nổi gian truân của tôi, mà chỉ đề cập đến sự tái sinh cùng cuộc đời hiện tại của tôi. Bức thư được hoàn lại với hàng chữ: “Đã đi không để địa chỉ lại”.

Chúa ơi! Làm thế nào biết được vì tôi mà cha tôi đi nơi nào để che dấu sự tủi hổ? Người đời độc ác đã làm cho Ông già tôi không thể sống nơi quê hương đã thấy tôi khôn lớn.

Phản ứng của Rita rất nhanh:

– Em sẽ đi Pháp tìm ba anh.

Tôi nhìn nàng đắm đuối. Nàng nói tiếp:

– Anh hãy bỏ công việc thám hiểm đi; công việc ấy cũng quá nguy hiểm. Trong lúc vắng em, anh sẽ giữ gìn, săn sóc khách sạn.

Quả thật tôi không lầm về Rita. Không những nàng không ngần ngại một mình dấn thân vào một cuộc hành trình xa xôi diệu vợi đầy bất trắc, mà nàng còn đặt hết tin tưởng vào tôi, một tên cựu tù nhân khổ sai, nên đã trao hết vào tay tôi. Nàng có lý, nàng biết nàng có thể tin tôi.

Khách sạn này, Rita chỉ thuê với quyền ưu tiên được mua. Như vậy vấn đề trước tiên là không để nó lọt khỏi tay chúng tôi, nghĩa là phải mua. Lúc bây giờ tôi mới thực sự học được ý nghĩa sự tranh đấu bằng những phương pháp lương thiện để tiến một chỗ đứng trong cuộc đời.

Tôi xin thôi việc ở Công ty Richmond, rồi với sáu ngàn đồng tôi vừa lãnh cộng với số tiền dành dụm của Rita, chúng tôi trả cho chủ nhà 50 phần trăm trị giá bất động sản. Từ đó bắt đầu một cuộc tranh đấu thực sự từng ngày. Có thể nói thêm: từng đêm để kiếm thêm tiền hầu trả đúng các hạn kỳ. Cả nàng cũng như tôi, chúng tôi làm việc như điên suốt mười tám giờ, đôi khi mười chín giờ mỗi ngày. Sự cố gắng, ý chí thành công bằng mọi giá đã kết hợp hai chúng tôi lại để đạt mục tiêu trong thời gian ngắn nhất thật là kỳ diệu. Cả nàng cũng như tôi không bao giờ nói đến chuyện mệt mỏi. Tôi đi chợ, giúp làm bếp. Tôi tiếp khách hàng, cùng lúc chúng tôi có mặt khắp nơi, luôn luôn tươi cười. Mệt đứt hơi, chúng tôi lại làm việc.

Để kiếm thêm nhiều hơn, tôi dùng chiếc xe ngựa nhỏ hai bánh, chất đầy quần áo đem ra bán tại chợ ở công trường Baralt. Các quần áo ấy may hỏng, nên tôi mua tại xưởng với giá rẻ mạt. Dưới ánh nắng thiêu đốt, tôi rao hàng, hét to như một con lừa; tôi hăng say đến nỗi một hôm, dằng một chiếc áo để khoe vải chắc, tôi đã làm cho nó đứt làm hai bằng một đường từ trên xuống dưới. Mặc dù tôi có giải thích tôi là người khỏe nhất Maracaibo, bữa ấy tôi vẫn không bán được bao nhiêu. Tôi đến đó từ 08 giờ đến trưa. Đến 12 giờ rưỡi, tôi chạy về khách sạn để giúp dọn ăn ở nhà hàng.

Công trường Baralt là trung tâm thương mại của Maracaibo, một trong những địa điểm náo nhiệt là một trong những ngôi chợ đẹp mắt nhất thế giới. Chợ có bán đủ các loại thịt gia súc, thịt rừng, cá, tôm, cua, chưa kể những con kỳ đà xanh lục, một món ăn tuyệt bảo, móng chân của chúng bị cột chéo lại không thể chạy được, lại còn trứng cá sấu, trứng rùa, những con rùa biển và một loại rùa trên đất, đủ thứ trái cây vùng nhiệt đới hoặc không nhiệt đới, và dĩ nhiên là có tim cây dừa nước tươi. Dưới mặt trời thiêu đốt trong thành phố nóng bỏng ấy, ngôi chợ lúc nhúc người là người: đủ màu da, đủ loại mắt, từ cặp mắt xếch Trung quốc đến mắt tròn của người da đen.

Cũng như tôi, Rita yêu quí đô thị Maracaibo, tuy là địa điểm nóng bức nhất xứ Venezuela. Nhưng dân chúng thành phố thuộc địa ấy rất dễ thương, niềm nở, vui sống. Dân tộc ấy có một giọng nói như hát, một dân tộc cao thượng, quảng đại, ít giòng máu Tây Ban Nha và nhiều đức tính của người da đỏ. Đàn ông nóng tính, tôn thờ tình bằng hữu và có tình huynh đệ đối với bạn bè. Dân Maracaibo rất dè dặt đối với những gì từ Caracas đến. Họ phàn nàn đã phải cung cấp vàng cho cả nước Venezuela bằng dầu hỏa của họ, nhưng lại cứ bị dân Thủ đô bỏ quên, họ tự cảm thấy họ là một hạng nhà giàu bị xem là bà con nghèo bởi chính những người nhờ họ mà giàu có. Đàn bà con gái đều đẹp, tầm thước trung bình, chung thủy, gái ngoan, mẹ hiền. Tất cả sống chen chúc, la lối, đâu đâu cũng toàn màu sắc sặc sở, quần áo, nhà cửa, hoa quả. Kẻ qua, người lại, buôn bán tấp nập. Công trường Baralt đầy rẫy bọn bán hàng rong, bọn bán đồ lậu lặt vặt ngang nhiên bán nào là rượu mạnh, rượu đế, thuốc lá lậu thuế. Người ta xem nhau gần như trong gia đình: người cảnh sát đứng cách vài thước, nhưng anh ta quay đầu vừa đủ thì giờ cho những chai Whisky, những chai cognac Pháp, những gói thuốc lá Mỹ chuyển từ giỏ này qua giỏ khác. Bằng đường bộ, đường biển, đường hàng không, các loại hàng hóa đến tay người tiêu thụ trả bằng ngoại tệ, trong lúc một đồng Mỹ kim ăn ba đồng ba mươi xu bạc Venezuela.

Điều hành một khách sạn không phải chuyện dễ. Khi Rita đến, nàng đã quyết định ngay một việc trái hẳn tập tục của xứ này. Thực vậy, khách hàng người Venezuela có thói quen dùng điểm tâm rất thịnh soạn: bánh bột bắp (arepas), trứng chiên jambon, thịt muối, phô mát trắng. Vì các khách hàng ở trọ cả tháng, nên thực đơn trong ngày được viết lên trên một bảng đen. Hôm đầu nàng chùi hết và với tuồng chữ kéo dài, nàng viết: “Điểm tâm – Cà phê đen hoặc cà phê sữa, bánh mì với bơ”. Hết thời! Có lẽ khách trọ nghĩ như vậy, đến cuối tuần, một nửa khách hàng bỏ đi ở nơi khác.

Tôi đến. Rita có thay đổi chút ít, tôi thì tôi làm hẳn một cuộc cách mạng.

Sắc lệnh thứ nhất: tăng giá gấp đôi.

Sắc lệnh thứ hai: nấu ăn theo lối Pháp.

Sắc lệnh thứ ba: máy lạnh cùng khắp.

Người ta ngạc nhiên khi có máy điều hòa không khí cùng khắp các phòng ngủ và phòng ăn trong một ngôi nhà kiểu thuộc địa được sửa lại làm khách sạn. Khách hàng đổi khác. Trước hết là những người du khách thương mại. Rồi một người Pháp miền Basque bán đồng hồ Thụy Sĩ hiệu Oméga hoàn toàn làm tại Pérou. Hắn mở cửa hàng ngay trong buồng, chỉ bán cho những người mua đi bán lại cho bọn bán dạo từng nhà và bán cho người làm ở mỏ dầu. Tuy khách sạn không đáng ngại, nhưng hắn quá đa nghi nên đã bỏ tiền túi ra mua ba ổ khóa lớn gắn vào cửa buồng. Thế mà lâu lâu hắn lại thấy mất một chiếc đồng hồ. Hắn tưởng buồng có ma, mãi đến một hôm hắn nhận thấy kẻ trộm quả thật là con chó con tên Bouclette. Con chó rất ranh mảnh, nó len lén bò vào trong buồng ngay trong lúc chủ phòng có mặt rồi ngoặm một chiếc dây đeo đồng hồ, khi có, khi không có đồng hồ. Thế là thằng cha la hét kinh khủng, cho là chính tôi đã dạy con chó ăn cắp đồ của hắn. Tôi bò ra cười, rồi sau vài ba ly rượu rum, tôi thuyết phục hắn rằng tôi không lấy thứ đồng hồ giả của hắn làm gì, có bán ra cũng xấu hổ vì đồng hồ ấy quê lắm. Hết giận và yên trí, hắn làm lành với tôi rồi về buồng đóng cửa lại.

Khách trọ có đủ hạng người. Maracaibo đông nghẹt người nên tìm chỗ ở là một việc hầu như vạn nan. Một bầy người Napolitain đi từng nhà, lừa gạt thiên hạ bằng cách bán những cây vải xếp rất khéo, người mua tưởng đủ may bốn bộ quần áo mà thật ra chỉ có hai bộ. Mặc áo hải quân, trên vai mang một bao to tướng, chúng quấy rầy cả thành phố, kể cả vùng phụ cận, nhất là nơi mỏ dầu hỏa. Tôi không hiểu làm thế nào bọn lưu manh ấy tìm ra khách sạn của chúng tôi. Vì hết phòng, nên chỉ còn một giải pháp là chúng ngủ ngoài sân. Chúng bằng lòng. Buổi tối chúng về lúc 7 giờ và tắm ở phòng tắm chung. Vì chúng ăn tối tại khách sạn, nên chúng tôi học được cách nấu món mì ống theo kiểu dân thành phố Naples. Chúng tiêu xài rộng rãi và là những khách hàng tốt.

Tối lại, các giường sắt được đưa ra, đặt tại sân trong và hai người bồi gái nhỏ giúp Rita sửa soạn nệm gối. Vì tôi bắt trả tiền trước, nên mỗi tối lại diễn ra cảnh cãi vã: chúng cho rằng ngủ ngoài trời mà phải trả đúng giá thuê phòng là quá đắt. Và mỗi tối, tôi lại phải giải thích rằng trái với chúng nghĩ, đây là một điều rất hợp lý, rất đàng hoàng vì lẽ đem giường ra, trải drap, bày mền gối đến sáng phải xếp tất cả lại đem cất, quả là một công việc nặng nhọc, nếu suy nghĩ kỹ thì công việc này vô giá.

– Nếu anh còn kêu nài nữa tôi sẽ tăng giá! Quả thật tôi mệt đứt hơi vì cứ phải bày ra dẹp vào. Tóm lại, tôi chỉ lấy tiền di chuyển các đồ đạc ấy thôi.

Chúng trả tiền, mọi người vui cười. Tuy chúng kiếm được nhiều tiền, nhưng hôm sau cứ diễn lại tuồng cũ. Chúng càng kêu nài khi có trận mưa đổ xuống trong đêm và chúng phải ôm quần áo chăn nệm chạy vào phòng ăn ngủ cho hết đêm. Một bà chủ nhà điếm có đến tìm tôi. Bà có một cơ sở rất lớn ở cách Maracaibo 5 cây số, tại một địa điểm gọi là La Cabeza de Toro. Nhà điếm mang tên Tibiri Tabara. Bà chủ, Eleonore, là một đống thịt đồ sộ, có cặp mắt rất đẹp, người thông minh. Gần 120 cô gái làm việc cho bà. Chỉ ba đêm thôi.

– Một số gái Pháp muốn đi, Bà Eleonore giải thích. Tụi nó không muốn ở nhà điếm 24 trên 24 giờ. Làm việc từ 9 giờ tối đến 4 giờ sáng, được lắm. Nhưng chúng muốn ăn ngon ngủ kỹ, xa tiếng động, trong những căn phòng đủ tiện nghi.

Tôi thỏa thuận với Eleonore: bọn gái Pháp và gái Ý có thể đến ở khách sạn chúng tôi. Không có gì phải câu nệ để tăng tiền trọ thêm 10 đồng một ngày: các nàng sẽ quá thích khi được ở tại khách sạn Vera Cruz do người Pháp làm chủ. Đáng lẽ chỉ lấy 6 đồng, nhưng không hiểu sao, một tháng sau chúng tôi nhận gấp đôi.

Rita áp đặt một kỷ luật sắt. Các cô ấy còn trẻ, đều đẹp. Tuyệt đối cấm tiếp khách giống đực trong khách sạn, dù ở trong sân hay tại phòng ăn. Vả lại, không có xảy ra chuyện gì, ở khách sạn, các cô ấy đàng hoàng như các mệnh phụ. Vì phải công nhận rằng thường thì chỉ những phụ nữ tử tế mới biết ăn ở đàng hoàng. Đêm đến tắc xi đến rước họ. Họ thay đổi hẳn, lịch sự, trang điểm đẹp đẽ. Lặng lẽ, không để ai thấy, họ đi đến “Sở làm” như họ nói. Thỉnh thoảng, một thằng ma cô từ Ba Lê hoặc Caracas đến. Nó cố không làm ai chú ý. Dĩ nhiên cô gái có thể tiếp nó ở khách sạn. Một khi đã lấy tiền xong, cô gái được lên tinh thần, nó ra đi kín đáo như lúc đến.

Đôi khi cũng xảy ra lắm chuyện buồn cười. Một thằng ma cô đến để thăm một cô gái, nói riêng với tôi để được đổi phòng. Vợ nó đã tìm được một cô bạn đồng ý đổi phòng cho nó. Lý do: người ở phòng bên cạnh là một người Ý khỏe mạnh to lớn, đêm nào cũng vậy, sau khi vợ hắn về, cũng làm tình một lần đôi khi hai lần. Nó chưa đến 40 tuổi, còn lão người Ý có đến 45.

– Anh cũng hiểu, kiểu đó tôi không thể nào chịu nổi. Không cách gì đạt đến kỷ lục ấy, gần đến cũng không được. Vì hai phòng kế cận, vợ chồng tôi nghe rõ hết tiếng kêu la, tiếng rên rỉ, đủ hết mọi âm thanh của một cuộc đại hòa tấu. Như thế, anh cũng thấy tôi còn mặt mũi nào nữa, vì may lắm thì tôi chỉ đụng độ với vợ tôi mỗi tuần một lần. Phịa ra chuyện bị nhức đầu, cô nàng không còn tin nữa và chắc chắn cô nàng so sánh. Vậy thì, nếu không trở ngại gì, xin anh giúp tôi.

Tôi nín cười và nói với nó rằng trước những lập luận vững chắc như vậy, tôi sẽ đổi phòng cho nó.

Một đêm, lúc hai giờ sáng, Eleonore gọi điện thoại cho tôi. Một anh Pháp không nói được một tiếng Tây Ban Nha nhỏ nào, đã bị cảnh sát bắt gặp ngồi trên một cành cây trước nhà điếm. Người ta hỏi tại sao nó leo lên cây kỳ cục như vậy để ăn trộm hay làm gì nó chỉ đáp: “Henri, khách sạn Vera Cruz”. Tôi nhảy lên xe nhà phóng thẳng đến nhà điếm Tibiri Tabara.

Tôi nhận ra thằng chả ngay, một người quê ở Lyon đã đến ở nhà tôi. Nó đang ngồi, cô gái điếm cũng vậy. Trước mặt nó có hai người cảnh sát vẻ mặt nghiêm trang. Tôi dịch vắn tắt những gì nó vừa nói với tôi:

– Không, ông này không leo lên cây để trộm cắp gì đâu. Ông chỉ yêu một người đàn bà, nhưng không muốn nói tên người ấy. Sở dĩ ông ta leo lên cây, là để núp nhìn ngắm nàng, vì nàng nhất định không muốn biết ông ta là ai. Chỉ có vậy, không hơn không kém. Như quý vị thấy, không có gì quan trọng cả. Vả lại tôi biết ông này, ông là một người đàng hoàng.

Chúng tôi uống hết một chai sâm banh, hắn trả tiền, tôi bảo hắn để tiền lẻ lại trên bàn, sẽ có người lấy, rồi đưa hắn ra xe tôi.

– Anh ngồi chóc ngóc trên cây làm cái quái gì vậy? Anh điên hay đâm ra ghen vợ anh?

– Không phải vậy đâu. Sự thật là tiền lương của nó vô cớ bị tụt xuống. Nó vào hạng gái đẹp nhất ở đây thế mà lương lại ít hơn. Thế nên tôi nghĩ ra cách ban đêm đến canh chừng lần đi khách của nó mà không cho nó biết. Tôi tự nhủ làm cách đó tôi biết ngay nó có giấu và lấy bớt tiền của tôi không.

Mặc dù bực bội vì nửa đêm phải thức dậy do một chuyện rắc rối của thằng ma cô, khi nghe nó giải thích tôi không nhịn cười được.

Từ ngày ấy tôi gọi nó là “thằng ma cô đậu trên cành cây”. Sáng hôm sau nó đi Caracas. Việc canh chừng của nó không còn lý do tồn tại. Vụ ấy đã gây tai tiếng trong nhà điếm, vợ nó biết rõ câu chuyện như mọi người và chỉ vợ nó biết tại sao nó leo lên trên cây: cây này ở ngay trước phòng đi khách của cô ả.

Chúng tôi làm việc quần quật, nhưng khách sạn rất vui vẻ. Mọi người không ngừng đùa dỡn. Có một thời kỳ, sau khi các cô gái đã đi làm, chúng tôi chơi trò cầu cơ. Mọi người ngồi ngay ngắn chung quanh một chiếc bàn tròn, hai bàn tay áp trên mặt bàn, mỗi người gọi hồn mình muốn hỏi chuyện. Chính một nữ họa sĩ trẻ đẹp độ 30 tuổi, người Hung đã khởi xướng việc này. Đêm nào nàng cũng gọi chồng nàng, và dĩ nhiên tôi đã dùng chân tôi để dưới bàn phụ lực với hồn để trả lời, nếu không thì chẳng biết phải chờ đến bao giờ.

Nàng bảo chồng nàng khuấy phá nàng. Tại sao? Nàng không biết. Rồi một đêm, hồn chồng nàng trả lời sẽ không bao giờ để nàng yên. Người chồng cáo buộc nàng đã có cặp đùi quá dễ dãi. Tất cả chúng tôi đều la lên như thế thì nguy lắm, hồn ghen có thể trả thù khủng khiếp, phương chi nàng sẵn sàng công nhận cặp đùi nàng quả có dễ dãi thật. Thuốc gì đây? Phải suy nghĩ một chút bởi vì cặp đùi nàng có dễ dãi, nhưng chuyện này không dễ dãi tí nào. Chúng tôi thảo luận nghiêm chỉnh rồi cho nàng biết các chữa trị. Chỉ có một cách: một đêm trăng tròn, nàng phải cầm một con dao phạng mới toanh, cởi hết quần áo trần truồng đứng giữa sân trong, tóc bỏ xõa, không phấn sáp, toàn thân gội kỹ bằng xà bông Marseille, không bôi nước hoa, không nữ trang, tinh khiết từ đầu đến chân. Chỉ có chiếc dao phạng trong tay. Khi mặt trăng chiếu thẳng xuống sân, lúc trăng chiếu không còn bóng người, trừ ở phía dưới, nàng sẽ vung phạng chặt vào không khí rất mạnh, đúng 21 lần.

Kết quả hoàn toàn khích lệ vì ngày mai, sau buổi trừ tà khá hấp dẫn, đêm ấy chúng tôi núp sau cửa sổ cười vỡ bụng. Chiếc bàn đã trả lời (do sự can thiệp của Rita bảo chúng tôi không nên đùa dai) rằng từ nay người chồng quá cố sẽ để nàng yên, nàng cứ có cặp đùi dễ dãi mấy cũng được, nhưng với một điều kiện nàng đừng vung gươm chém không khí trong đêm trăng sáng nữa vì làm vậy hắn đau khổ lắm.

Chúng tôi nuôi một con chó con, khá lớn, do một khách trọ người Pháp đi qua Maracaibo cho. Nó luôn luôn được cắt lông mình và lông đầu đẹp đẽ: lông trên đầu rất cứng và đen được hớt thành một chiếc mũ kiểu Ả Rập, cao và uy nghi. Lông đùi xồm xàm, chân nhẵn thín, râu mép kiểu Charlot, chồm râu cằm nhọn hoắc. Đối với người bản xứ, nó luôn luôn là một kỳ quan và nhiều người đánh bạo hỏi tôi con vật gì quái.

Suýt nữa là con Minou đã gây một chuyện rắc rối nghiêm trọng với Giáo hội. Con đường phố trước khách sạn Vera Cruz đưa đến một nhà thờ, tại đây thường có các diễn hành. Minou rất thích ngồi tại cửa khách sạn ngắm người ta qua lại trên đường phố. Dù trên đường có xảy ra việc gì nó cũng không sủa. Tuy nó không sủa, nhưng nó lại được mọi người chú ý. Một hôm, cha xứ cùng các lễ sinh dẫn đầu một lễ rước nhìn lui thấy các con chiên dừng lại cách cha năm chục thước, tụ tập trước khách sạn, hỏi nhau về con vật quái dị. Họ quên đi theo cuộc diễn hành. Họ hỏi với nhau lung tung, họ chen lấn nhau để nhìn gần Minou, có người trịnh trọng đưa ý kiến rằng con vật lạ lùng này có thể là linh hồn của một kẻ phạm tội đã hối cãi nên mới điềm nhiên nhìn vị linh mục cùng các lễ sinh mặc toàn đỏ và ca vang đi qua. Một lúc lâu cha xứ mới nhận thấy sau lưng cha quá yên lặng rồi nhìn lui, cha không còn thấy ai hết. Cha vội vàng bước trở lại, giận đỏ mặt, lớn tiếng rầy la các con chiên không tôn trọng cuộc lễ. Mọi người sợ sệt sắp hàng tề chỉnh đi trở lại. Tôi để ý thấy có nhiều người quá xúc động nên đi giật lùi để được tiếp tục ngắm con Minou. Từ bữa ấy, chúng tôi theo dõi tờ báo của thủ đô Maracaibo, tờ Panorama, để biết ngày giờ các cuộc diễn hành sẽ đi qua trước khách sạn để lâm thời cột Minou lại trong sân.

Đúng là thời kỳ hay có chuyện lôi thôi với các vị linh mục. Hai phụ nữ Pháp vừa từ bỏ nhà điếm của Eleonore và cũng từ bỏ khách sạn luôn. Họ quyết định sống độc lập và mở một nhà điếm nho nhỏ trong một con đường ở trung tâm thành phố, ở đó chỉ có hai chị em hành nghề. Tính toán như thế không sai, vì như vậy, khách làng chơi không phải lái xe chạy đến 10 cây số khứ hồi để viếng thăm họ. Có thể nói cửa tiệm ở ngay tại chỗ. Để tự giới thiệu, họ cho in danh thiếp đề mấy chữ: “Julie và Nana, công việc chu đáo”, dưới là địa chỉ. Họ phân phát trong thành phố, nhưng nhiều khi thay vì đưa thẳng cho các ông, họ chùi ở dưới chiếc gạt nước của các xe đậu trên đường.

Rủi là các nàng đã để hai tấm danh thiếp, mỗi tấm dưới mỗi quạt nước, nơi xe của đức giám mục Maracaibo. Sự việc ấy phát khởi một vụ tai tiếng không thể tưởng tượng. Để thấy rõ tính cách phạm thượng của cử chỉ trên, nhật báo “Tôn giáo” đã cho đăng bức hình tấm danh thiếp. Tuy nhiên đức giám mục cũng như hàng giáo phẩm đã tỏ ra độ lượng: nhà điếm không bị đóng cửa, người ta chỉ yêu cầu các cô nàng nên kín đáo hơn. Vả lại, khỏi cần phải phân phát danh thiếp nữa: nhờ sự quảng cáo không tiền của tờ “Tôn giáo”, một số khá lớn khách làng chơi tìm đến địa chỉ đã được loan. Làn sóng người đến quá đông nên để lấp liếm sự tụ tập đông người trước nhà, các nàng đã yêu cầu một người bán dạo xúc xích để chiếc xe nhỏ của anh ta không xa cửa vào nhà để thiên hạ tưởng người ta nối đuôi nhau là để mua xúc xích.

Đó là cuộc sống tại khách sạn với những mẫu chuyện kỳ thú, nhưng chúng tôi không sống cuộc sống ấy trên một hành tinh riêng rẽ. Chúng tôi sống ở Venezuela, chen lẫn với những xao động kinh tế và chính trị. Thế mà về mặt chính trị, năm 1948 không được yên tĩnh lắm. Từ năm 1945, Callegos và Betancourt nắm quyền lãnh đạo trong nước, lần đầu tiên trong lịch sử Venezuela đem ra thử áp dụng chế độ dân chủ.

Ngày 13 tháng 11 năm 1948, chưa được ba tháng sau khi tôi cộng tác với Rita để mua lại khách sạn, xảy ta tiếng súng đầu tiên chống chế độ: một viên Thiếu tá, Thomas Mendoza đã cả gan, một mình chống mọi người, phát động một cuộc nổi loạn. Ông đã thất bại.

Ngày 24 cũng tháng ấy, các quân nhân chiếm chính quyền nhờ một cuộc đảo chính sắp đặt chính xác như một bộ máy đồng hồ, không có hoặc hầu như không có đổ máu. Tổng Thống Callagos đồng thời cũng là một văn sĩ tên tuổi đã phải rút lui. Betancourt, đích thực là một con sư tử trong địa hạt chính trị, xin tị nạn tại Tòa Đại sứ Colombie.

Dân chúng Maracaibo đã sống những giờ sôi động nghẹt thở. Thình lình, người ta nghe từ máy thu thanh phát ra một tiếng gọi đầy nhiệt tình: “Anh em thợ thuyền, hãy xuống đường! Người ta định cướp mất tự do của anh em, gạt bỏ các nghiệp đoàn, dùng vũ lực áp đặt một chế độ độc tài quân phiệt! Mọi từng lớp nhân dân hãy đến chiếm các công trường, các…” Tách! dứt hẳn tiếng nói vì máy vi âm đã bị giựt từ tay người chiến sĩ quả cảm, rồi một tiếng nói trầm lặng bình tĩnh vang lên: “Công dân Venezuela! Quân lực đã thu hồi chính quyền từ tay những người đã nhận lãnh. Sau khi đã truất phế Tướng Medina, vì họ đã lạm dụng. Xin đừng sợ hãi, chúng tôi bảo đảm sinh mạng và tài sản của tất cả mọi người, không trừ một ai. Quân đội vạn tuế! Cách mạng vạn tuế!.”.

Đó là tất cả những gì tôi đã trông thấy và một cuộc cách mạng hầu như không đổ máu, và ngày hôm sau chúng tôi đã thức dậy đọc thấy trong các báo thành phần của Ủy hội quân nhân: ba Đại Tá: Degado Chalbaud: Chủ tịch, Perez Jiménez và Ilovera.

Lúc đầu, chúng tôi sợ chế độ mới sẽ đưa ra việc bãi bỏ các tự do đã được chế độ cũ thừa nhận. Nhưng không có chuyện ấy. Cuộc sống không có gì thay đổi, hầu như người ta không cảm thấy chế độ đã thay đổi trừ việc các chức vụ then chốt đã do quân nhân nắm giữ.

Rồi hai năm sau, Delgado Chalbaud bị ám sát. Một câu chuyện rất bẩn thỉu, có hai giả thuyết trái ngược nhau. Giả thuyết đầu tiên: người ta định ám sát cả ba, và ông ấy là người bị giết trước; giả thuyết thứ hai: một hoặc hai Đại tá kia đã thủ tiêu ông ta. Không bao giờ biết rõ sự thật là kẻ sát nhân bị bắt đã bị bắn chết trong khi được chở đến nhà giam. Phát súng thần tình ngăn chặn mọi lời khai lôi thôi. Dù sao thì từ ngày ấy con người hùng của chế độ, Perez Jimenez, chính thức trở thành một nhà độc tài năm 1952.

Cuộc sống của chúng tôi tiếp diễn đều đặn, một cuộc sống không có thú vui bên ngoài, như đi dự tiệc tùng hay ngao du, nhưng vẫn đưa đến một niềm sung sướng kỳ lạ được nuôi dưỡng bằng nhiệt tình của đôi quả tim. Những gì chúng tôi xây dựng bằng công sức của chúng tôi sẽ là mái ấm gia đình, nơi đó chúng tôi sống hạnh phúc vì chúng tôi không nhờ vả ai, chúng tôi đã tự lực mưu sinh; chỉ có hai người cô độc trên cõi đời, yêu nhau như chúng tôi yêu nhau, mới hòa hợp như chúng tôi.

Rồi Clotilde, con gái của Rita sẽ đến với mái ấm gia đình này, nó sẽ là con tôi, rồi ba tôi sẽ đến, sẽ là ba của nàng. Rồi những người bạn của tôi sẽ đến để có thì giờ rỉa lông rỉa cánh, lấy lại sức lực mỗi khi họ gặp cảnh ngặt nghèo.

Trong mái nhà hạnh phúc này, tôi quá đầy đủ nên không bao giờ nghĩ đến chuyện trả thù bọn người đã làm cho tôi và người thân của tôi điêu đứng.

Và cuối cùng, ngày chúng tôi thắng cuộc đã đến. Tháng chạp năm 1950, một văn kiện tốt lành được ký tại nơi văn phòng chưởng khế, chúng tôi vĩnh viễn là chủ nhân của khách sạn Vera Cruz.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply