Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 4 Oct 2025

77. Tô Hoài.

Tô Hoài là một trong số vài nhà văn hiếm hoi thuộc lớp tiền chiến còn “tại thế”. Ông nổi tiếng với các truyện dài, truyện ngắn, như Cỏ Dại, Giăng Thề, Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, Xóm Giếng ngày Xưa, O Chuột …

Ông cũng nổi tiếng là người tận tụy với Đảng và Nhà Nước kể từ khi có cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ. Ông từng giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy kiểm soát văn nghệ của Đảng, và do đó, có thể nói, ông có chút quyền hành, hay ít ra, những báo cáo của ông với cấp trên, có thể làm thay đổi số phận của nhiều người trong giới.

Cứ như chính ông kể lại trong các tập hồi ký, tự truyện, Tô Hoài cho xuất bản sau 1975 thì gần như mọi người trong giới đều ‘sợ’ ông.

Tô Hoài cho biết về mình như sau:

“Tôi làm việc cơ quan, tháng lĩnh lương, hay được đi nước ngoài, nhà treo bằng Huân Chương Kháng Chiến hạng nhất”.

Người ta sợ ông cũng phải.

Chỉ nguyên cái việc Hội Văn Học Nghệ Thuật miền Bắc trải qua bao lần đổi thay, sóng gió, đến ngay cả Tố Hữu, người một thời nắm quyền sinh sát toàn bộ văn nghệ sĩ miền Bắc, trong đó có Tô Hoài, cũng không tránh khỏi ảnh hưởng các cuộc tranh chấp quyền hành loại bỏ. Riêng Tô Hoài, không biết bằng cách nào đã né tránh được hết những tên bay đạn lạc, để tái xuất hiện và luôn tái xuất hiện như một người có chút quyền hành gì đấy, thì hiển nhiên ông là người đáng sợ rồi.

Ông là người thông minh, có tài, có lực nữa. Ông có tới 170 tác phẩm gồm dủ các thể loại. Đối với các nhà văn Việt Nam nói chung, cái số lượng tác phẩm ấy hình như không ai bì kịp. Hai cuốn hồi ký Cát Bụi Chân Ai và Chiều Chiều của Tô Hoài gây nhiều dư luận.

Qua hai cuốn sách đó, Tô Hoài đã cho biết nhiều chuyện, nếu ông không viết ra ít người biết, bởi vì nó thuộc loại “thâm cung bí sử” của giới văn nghệ miền Bắc: họ đã sống với nhau, kèn cựa nhau, phục vụ và lập công với chế độ thế nào. Rất nhiều chuyện có thể làm cho người đọc rung mình, ngẩn ngơ vì không thể ngờ nó đến nỗi như vậy.

Trong bài Tổng Quan Về Hồi Ký Tô Hoài, Đặng Tiến viết:

“Điều lý thú khác khi đọc Chiều Chiều là những bí ẩn kia do bản thân Tô Hoài kể sau 50 năm sống trong guồng máy từ chi bộ đến Đảng bộ, Đảng ủy. Từ những hồ sơ, người đọc biết được những gian nan một thời của Đồ Phồn, Trinh Đường, Phan Kế An … và thêm một số truyện khác. Như về Thế Lữ, chúng ta cho rằng đã biết đầy đủ qua hồi ký của bà Song Kim, về Quang Dũng cũng vậy, qua những trang giới thiệu của Trần Lê Văn; về Lưu Hữu Phước, hồi ký của Mai Văn Bộ tưởng là đầy đủ chi tiết về chính trị, nhưng đọc Chiều Chiều của Tô Hoài mới biết thêm nhiều oan khốc không ngờ tới. Và biết thêm về đời sống văn chương của một thời chưa xa vắng. Về những oan khiên đè nặng lên cuộc đời những Đặng Đình Hưng, Trần Đức Thảo, Trần Huyền Trân, và những gian nan của Nguyễn Bính … ”

Những điều Đặng Tiến gọi là biết thêm về các giả được nêu tên đó là những gì? Xin trích một đoạn Tô Hoài viết về Phan Khôi [các trang 525-531], qua đó người đọc có thể hiểu được phần nào vai trò của ông đối với các văn nghệ sĩ miền Bắc một thời, qua cách ông cư xử và ăn nói với họ:

“Tôi vốn thích đọc Phan Khôi, dù vẫn biết nhiều năm ở cùng cơ quan ông chẳng coi tôi là cái đinh. Viết báo, tạp văn, ngòi bút Phan Khôi sắc đọng, ngang như cua mà đọc lại chịu, như ăn gừng cay … Cái ông gia trưởng này cũng không một bề, mà ông không nổi nóng khi tôi cãi với ông, có khi lại hăng hái biện luận là khác. Ông không để mắt đến tôi, nhưng ông cũng hãi tôi chứ.

Ông ra ngoài tắm suối. Hồi ấy anh Trần Ngọc Danh đã mất. Tố Hữu bảo lên đưa chị Thái Thị Liên về cơ quan. Chị ở tạm với chúng tôi trước khi sang công tác ở đoàn văn công bên kia sông … Ông Phan Khôi chúa trùm tiếu lâm. Chị Liên cũng được một mũi. Suốt ngày, cái gian nhà chỗ ông ‘con, cây, cục, cái’ này cứ chốc chốc lại vang lên tiếng cười. Ông Phan Khôi bước vào, lưng trần còm nhom, khan mặt ướt vắt vai.

Ông nói:

– Tư Mã Thiên mỗi khi nhớ là đã bị thiến thì rùng mình, toát mồ hôi. Tôi bây giờ mà trông thấy đàn bà được mắt thì có một luồng điện chạy suốt sống lưng. Ông kia bị người ta cắt, còn tôi bị dẹp bỏ, điện toát ra ngoài.

Mọi người cười rầm lên khi ông kết luận:

– Tôi là cái xác hết thuốc. Võ Tắc Thiên vứt ra vườn. Ấy là lúc vui, nhưng cũng có lúc khác, tôi giở trò cật vấn ông.

Tôi hỏi:

– Cái năm 1945, ở Quảng Nam, có phải ông suýt bị bắt rồi anh Hoàng Hữu Nam cứu ông ra Hà Nội?

– Anh là Việt Minh thì anh phải biết việc ấy, hỏi tôi làm gì?

– Tôi nghe nói.

– Không biết thì đừng mở miệng”.

Chỉ qua đoạn trích, người tả có thể hiểu, vì sao, ông Phan Khôi không coi Tô Hoài ra cái đinh gì nhưng cũng hãi Tô Hoài [như lời Tô Hoài].

Sao lại cật vấn?

Cật vấn rồi có đem báo cáo chăng? Cái cách Tô Hoài kể lại câu chuyện đó, chứng tỏ những người cùng cơ quan không hòa nhập với Tô Hoài, hoặc Tô Hoài không hòa nhập với họ. Hay nói một cách giản dị, có vẻ như họ không chơi với Tô Hoài.

Lý do họ biết với nhau, người đọc chỉ cảm nhận điều đó.

Đoạn Tô Hoài nói về cái chết của ông Phan Khôi cũng có thể tóm tắt cái tình của họ đối với nhau:

“Nhẽ ra tôi cũng chẳng rõ ông Phan Khôi mất bao giờ. Tôi mà biết cũng chẳng can cớ gì. Hồi ấy, nhà tôi thuê ở đầu ngõ, cuối đường Bà Triệu, cửa số trông chếch ra phố chính. Buổi sáng chợt thấy đi qua ngoài đường một cái xe tang một ngựa phủ vải đen, sau xe có mấy người khăn trắng bước theo. Tôi nhận ra có chị Hằng Phương. Chị Hằng Phương là cháu gọi ông Phan Khôi bằng cậu. Tôi liên tưởng đoán chắc đám ma ông Phan Khôi. Ông đã ngoài bẩy mượi, ốm đã lâu, từ độ dọn lên ở gác trong một nhà phố Thuốc Bắc. Ngày tháng chạp cuối năm âm u đám ma lạnh lẽo ra ngoại ô ngoài ngã tư chợ Mơ”.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 4 Oct 2025

76. Thụy Khuê

Nói Chuyện Với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trọng Hiệp của Thụy Khuê là một cuốn sách lạ. Thụy Khuê càng ngày càng được nhiều người biết đến vì những câu chuyên liên quan tới văn học nghệ thuật mà bà phụ trách trên đài RFI ở Pháp.

Ngoài những bài phê bình, bà còn nhiều cuộc gặp gỡ, phỏng vấn các văn

nghệ sĩ, trí thức, một phần có lẽ vì công việc phải làm, phần khác và phần này, người nghe người đọc Thụy Khuê có thể nhận ra ngay, đó là tấm lòng thiết tha với văn chương chữ nghĩa và cả lịch sử nữa của bà.

Nói Chuyện Với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trọng Hiệp gồm những bài Thụy Khuê đã thực hiện và cho phát trên sóng của đài RFI, nay in thành sách.

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, trực tiếp hay gián tiếp, là bực thầy của nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam, kể cả giáo sư Tạ Trong Hiệp, người đã được Thụy Khuê xếp chung vào trong cuốn sách.

Năm 1945 ông tham gia chánh phủ Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ Trưởng Giáo Dục. Chính nhờ ông mà lần đầu tiên chương trình trung học tiếng Việt được ban hành. Nhưng phần quan trọng hơn hết trong sự nghiệp của ông chính là những công trình trước tác của ông vậy.

Ông là tác giả cuốn Danh Từ Khoa Học được soạn thảo khi ông còn đang du học ở Pháp. Ông cũng được coi như người Việt đầu tiên nghiên cứu lịch sử một cách nghiêm túc và khoa học.

Và, sau cùng, ông cũng là người đóng góp nhiều trong việc nghiên cứu Hán-Nôm trong văn chương Việt. Một tác phẩm khác mà rất nhiều người đang trông đợi để được đọc, một công trình nghiên cứu đồ sộ, ông mất nửa thế kỷ mới hoàn thành là cuốn Kiều Tầm Nguyên. Đây là cuốn Kiều được sửa chữa dựa theo bản cổ nhất. Thực tế, cho đến hiện tại, tất cả những ấn bản truyện Kiều chúng ta có trong tay, gần như không có hai cuốn hoàn toàn giống nhau.

Vậy, bản của giáo sư Hoàng Xuân Hãn dùng làm chuẩn có độ đáng tin cậy tới mức nào? Việc đầu tiên, người ta có thể tin cậy được là sự thông thái của ông, phương pháp và tinh thần làm việc vừa khoa học vừa thận trọng của ông, chúng ta sẽ có được một bản Kiều gần với Nguyễn Du nhất.

Chúng ta có thể trích dẫn một câu hỏi của Thụy Khuê và câu trả lời của giáo sư Hoàng Xuân Hãn, để có thể hình dung phần nào nội dung của cuốn sách:

“Thưa bác, công việc của bác là bác sửa chữa cho đúng với bản bác cho là cổ nhất, tức là phần lớn những câu sai mà dở, thì bác sửa lại cho đúng, còn những câu ngày trước người ta đã sửa lại cho nó hay hơn, thì bác có sửa lại không?”.

Câu trả lời của giáo sư Hãn là:

“Không. Bởi vì mình không chắc chắn nguyên bản là thế nào cả. Cái mà sau này có thể sửa hay hơn, hay là đối với mình hiện đại thì cho là hay hơn, thì cũng phải nói rằng: sau người ta chữa ra thế.

Ví dụ như:

Dưới cầu nước chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha

Bây giờ là bóng chiều ‘thướt tha’. Cái cảnh ấy, đối với mình bây giờ là hay lắm, vì lá liễu dài như tơ, coi như nó thướt tha như cái áo dài, hay là tóc dài của người đàn bà. Nhưng mà thực ra không phải ‘thướt tha’ đâu. Những bản cũ là ‘tha ra’. ‘Tha ra’ có ý là không rơi thẳng mà rơi xiên. Rồi sau chắc là các cụ thấy ‘tha ra’ không quen đọc, không quen nói nữa, rồi đổi ra ‘thướt tha’, hay hơn. Những chữ ấy thì mình vẫn để là ‘thướt tha’, nhưng đề rằng bản cổ viết là ‘tha ra’, chứ không phải ‘thướt tha’.

Theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn những trường hợp thay đổi chữ này có rất nhiều trong truyện Kiều. Và, cũng vẫn theo ông, phải biết chữ Nôm, phải hiểu tiếng Việt, phải hiểu tiếng cổ, nhiều khi lại tiếng địa phương lại là chuyện khác nữa, thì lúc ấy mới hiểu thấu được những chữ ấy. Bởi vì cụ

Nguyễn Du là một người viết rất chính xác, không phải viết cho qua chuyện đi, do đó những câu như:

Một đôi nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài dành họa hai

được chép trong một vài bản nôm, thực ra phải đọc là:

Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc dành trọi một, tài đành họa hai

Còn những câu mà người ta thường cho là tối nghĩa hay không rõ nghĩa như:

Nằm [hay năm] tròn như cuội trong mây

Trần trần một phận ấp cây đã liều

được giáo sư Hãn sửa là:

Vuông tròn nhờ cậy cung mây

Triền triền một phận ấp cây đã liều.

Phần nói về giáo sư Tạ Trong Hiệp trong cuốn sách của Thụy Khuê, cảm động nhất có lẽ là đoạn nói về cuộc gặp gỡ giữa ông Tạ Trong Hiệp và ông Đào Duy Anh mà ông Hiệp gọi là bậc đại sĩ, tại thành phố Hồ Chí Minh:

“Cuối cùng, ông rút ra mấy tập bản thảo hoàn chỉnh, đánh máy rõ ràng, bảo tôi, muốn chọn những gì thì ông tặng cả mà mang về Pháp, in được cuốn nào cho ông thì in. Lúc chia tay, ông đứng sững nhìn tôi hồi lâu, im lặng. Im lặng mãi cho đến phút bất thình lình mở rộng hai tay ôm choàng lấy tôi, vừa ôm vừa nức nở thê thảm, như thể trút hết bao nhiêu buồn đau dồn chất suốt hai mươi năm”.

Hai ông Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trọng Hiệp không có ở trong nước trong suốt cuộc biến động lịch sử vừa qua. Ông Đào Duy Anh ở trong nước và ở Hà Nội, tham gia vào các công việc của chính phủ miền Bắc cho đến lúc mất. Ông Hoàng Xuân Hãn cho rằng việc thống nhất đất nước là công to của ông Hồ Chí Minh. Ông Đào Duy Anh khóc khi gặp được ông Tạ Trọng Hiệp và gửi gấm tác phẩm mang ra ngoài in. Đó là những điều một số độc giả tầm thường, những người tự nhận thấy mình chưa xứng đáng là học trò các ông, đọc xong, nghe xong, cũng muốn khóc nữa.

Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 3 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu

12. Nối Lại Tình Máu Mủ – Công Dân Vénézuéla

TÔI vẫn biết độc giả chờ đợi những biến chuyển xảy đến cho cá nhân tôi chứ không phải lịch sử nước Venezuela. Vậy xin độc giả lượng thứ nếu tôi kể lại một biến cố chính trị quan trọng đã diễn tiến trong thời kỳ này. Có hai lý do: trước hết là vì các biến cố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình đời tôi, đến các quyết định của tôi, thứ nữa vì tôi nhận thấy, trong lúc tôi đi qua các quốc gia đã ấn hành cuốn “Papillon”, người ta biết rất ít về xứ Venezuela.

Đối với phần đông, Venezuela là một quốc gia Nam Mỹ (nhiều người không biết đích xác xứ ấy ở tại nơi nào), sản xuất dầu hỏa, một quốc gia do người Hoa Kỳ khai thác, không đáng kể, tóm lại, một thứ thuộc địa Hoa Kỳ. Không đúng mảy may nào hết.

Thực ra, ảnh hưởng của các công ty dầu hỏa rất quan trọng, nhưng dần dần, từng lớp trí thức Venezuela đã hầu như hoàn toàn giải phóng xứ sở họ khỏi ảnh hưởng chính trị của Hoa Kỳ.

Hiện nay, nền độc lập chính trị của Venezuela đã hoàn toàn, bằng chứng là địa vị của quốc gia ấy tại Liên Hiệp Quốc hoặc tại các nơi khác. Tất cả các chính đảng đều giống nhau ở điểm không thích ai xâm phạm đến tự do hành động của Venezuela trong mối tương quan với các nước khác. Vì vậy mà từ ngày Caldera lên cầm quyền, chính phủ đặt quan hệ ngoại giao với tất cả các quốc gia trên thế giới, không kể chế độ chính trị.

Về phương diện kinh tế, quả thực nước Venezuela tùy thuộc vào dầu hỏa, nhưng nó đã bán dầu hỏa với giá rất cao và đã buộc các công ty dầu hỏa phải trả đến 85 phần trăm trên số lời.

Nước Venezuela còn những tài nguyên khác hơn dầu hỏa, như sắt cùng những nguyên liệu khác, lại có nhiều người, cả một kho dự trữ người với mục tiêu giải phóng hoàn toàn xứ sở họ khỏi mọi áp lực kinh tế, bất cứ từ đâu đến. Những con người đã bắt đầu chứng tỏ và ngày càng chứng tỏ rằng tại Venezuela, có thể xây dựng một nền dân chủ được tôn trọng tồn tại, xứng đáng như bất cứ một nền dân chủ nào khác.

Trong các trường đại học, thật là cả một lò rèn, đúc các tư tưởng chính trị, lớp trẻ chỉ mơ ước công bằng xã hội, cải tạo triệt để tổ quốc của mình. Họ có đức tin, chắc chắn sẽ thành công mà không loại bỏ các nguyên lý, về tự do chân chính, sẽ đưa cả dân tộc đến hạnh phúc mà không rơi vào một nền độc tài cực tả hay cực hữu. Dĩ nhiên không phải không có các cuộc biểu diễn vũ lực đã được các hãng thông tấn loan báo khắp thế giới nhưng đã quên không nói rõ nguyên nhân, đó là lòng khao khát công lý xã hội và tự do. Tôi tin tưởng thanh niên xứ này sẽ góp phần xây dựng quốc gia này thành một quốc gia kiểu mẫu, do dân chủ chân chính cũng như do nền kinh tế, vì không nên quên rằng trong một tương lai gần, các tài nguyên thiên nhiên của xứ này sẽ được hoàn toàn kỹ nghệ hóa. Ngày đó, nước Venezuela sẽ thắng một trận giặc lớn, nhất định nó sẽ thắng. Có thể tin chắc như vậy.

Ngoài khả năng kỹ nghệ hóa vô biên hoặc hầu như vô biên các tài nguyên thiên nhiên, Venezuela còn là một quốc gia lý tưởng, về phương diện du lịch trong tương lai: những bãi cát hồng có những hàng dừa che kín ánh mặt trời ăn đứt các miền khác, những nơi câu cá, nước ấm suốt bốn mùa, những phi trường các máy bay lớn nhất hạ cánh được, một đời sống rẻ hơn các nơi khác, vô số hải đảo dân chúng dễ thương, hiếu khách, hoàn toàn không có vấn đề kỳ thị màu da. Một giờ bay từ Caracas là trông thấy ngay những người da đỏ, các thôn xóm xây cất trên hồ Maracaibo, dãy núi Andes với tuyết phủ thiên nhiên.

Trong ít lâu, Venezuela sẽ có thể tiếp đón một số lớn du khách không bao giờ hối tiếc đã đến viếng xứ này. Nếu dân chúng được chính trị hóa đó là đối với các vấn đề nội bộ. Họ đủ khôn ngoan để nhận xét các ngoại kiều theo chế độ chính trị.

Tôi luôn luôn mơ ước rằng nhờ các nghiệp đoàn lớn, người ta quý các gia đình có cơ hội đoàn tụ trong dịp nghỉ hè, không phải tại các khách sạn đồ sộ, mà tại các quán trọ, ở đây họ có thể ăn, ngủ, mặc quần áo lúc nào và cách nào cũng được. Phi cơ đã bay mau hơn, các hợp đồng đã làm cho phí tổn chuyên chở hạ rất nhiều. Thế thì tại sao các nghiệp đoàn lớn không thể có những ngôi nhà nho nhỏ hầu các đoàn viên có thể hưởng thụ cảnh thiên nhiên và khí hậu đặc biệt với một giá không ai cạnh tranh nổi.

Tóm lại, có thể nói Venezuela có quá nhiều tài nguyên chỉ đòi hỏi được kỹ nghệ hóa nên không cần phải có một chính trị gia lãnh đạo, mà chỉ cần một kế toán viên giỏi với nhóm người tích cực, dùng khối lượng ngoại tệ do dầu lửa đem lại, xây cất các nhà máy để khai thác tài nguyên của xứ sở và mở rộng thị trường lao động cho những ai cần và ao ước có công ăn việc làm.

Một cuộc cách mạng phải bắt từ trên đi xuống như thế kết quả sẽ thiết thực hơn một cuộc cách mạng từ dưới lên, nếu từng lớp trẻ, tiêm nhiễm tư tưởng mới, không ý thức phải có một cuộc cải tạo sâu xa chế độ hiện tại. Riêng tôi, tôi tin rằng nước Venezuela sẽ thắng trận giặc này và nếu được vậy, quốc gia này có đủ mọi điều kiện để hưởng hạnh phúc và phú cường và sẽ đem lại cho người công dân hèn kém nhất một mức sống và một nền an sinh khá cao.

Năm 1951… Viết đến năm này, tôi tìm lại cảm tưởng lúc bấy giờ, là không còn chuyện gì để kể. Người ta thường kể những chuyện bão tố, lên thác xuống ghềnh, nhưng một khi trời thanh biển lặng, người ta muốn nhắm mắt lại và nghỉ ngơi không nói gì nữa trong cảnh thanh bình. Nhưng mưa gió lại nổi lên, sông nước không còn yên lặng, một đợt sóng cuốn ta đi, và dù ta có ước vọng sống yên thân tại một nơi hẻo lánh, biến cố bên ngoài vẫn tác động mãnh liệt vào đời ta khiến ta phải lại ra dấn thân vào cuộc sống sông hồ, phải tránh ghềnh, vượt thác với hy vọng tìm đến một bờ bến thái bình.

Sau khi Chalbaud bị ám sát bí mật cuối năm 1950, Perez Jimenez nắm vững chính quyền trong tay tuy nép mình sau một vị chủ tịch ủy hội quân nhân, Ông Flamerich. Chế độ độc tài bắt đầu. Biện pháp trước tiên: bãi bỏ tự do ngôn luận. Báo chí và đài phát thanh bị khóa miệng. Đối lập được tổ chức trong bí mật và mật vụ chính trị ghê gớm, cơ quan Seguiridad National, hoạt động mạnh, các đảng viên cộng sản và đảng viên của đảng Tác động dân chủ, đảng của Betancourt, bị săn đuổi.

Nhiều bạn chúng tôi giấu họ tại khách sạn Vera Cruz. Không bao giờ chúng tôi cấm cửa ai hết, không bao giờ chúng tôi hỏi căn cước. Tôi sung sướng đền ơn những người của Betancourt đã trả tự do cho tôi và cho tôi lưu ngụ. Làm như vậy chúng tôi có thể bị mất hết, nhưng Rita hiểu rằng chúng tôi không có quyền làm khác.

Vả lại, khách sạn Vera Cruz hầu như nơi ẩn trú của những người Pháp gặp khó khăn, những người đến Venezuela mà không có của cải nhiều và không biết đi đâu. Ở với chúng tôi, họ có thể ăn và ngủ không trả tiền trong khi chờ đợi có công ăn việc làm. Đến nỗi tại Maracaibo, người ta gọi tôi là viên Lãnh Sự Pháp kiều. Trong số ấy, có anh Georges Arnaud được ăn, ở, quần áo tử tế và đủ phương tiện cần thiết để đi sang Colombie; sau này anh ta đã rút ra từ các chuyện tôi kể quyển “Cái giá phải trả cho một cơn kinh hoàng”, và có lẽ để cảm ơn chúng tôi, đã vô cớ dèm pha chúng tôi trong một quyển sách của anh.

Tuy nhiên, trong những năm ấy, một biến cố quan trọng xảy đến cho tôi, gần quan trọng như việc tôi gặp Rita: “tôi nối lại tình máu mủ”. Quả vậy, sau khi Rita đi, Dì Ju đã viết thư cho hai chị tôi. Và cả ba người, hai chị tôi, Dì Ju gởi thư cho tôi. Hai mươi năm trôi qua, sự im lặng dai dẳng đã chấm dứt. Tôi run lên khi mở bức thư đầu. Trong thư có gì? Tôi không dám đọc. Các chị ấy từ tôi vĩnh viễn hay là…

Đắc thắng! Những bức thư ấy là tiếng reo vui vì biết tôi còn sống, có một địa vị lương thiện, kết hôn với một thiếu phụ mà Dì Ju đã không tiếc lời khen ngợi. Tôi tìm lại các chị tôi đồng thời cũng tìm lại được gia đình của các chị, đã trở thành gia đình của tôi.

Chị cả tôi có bốn đứa con rất xinh, ba gái một trai. Chồng chị cũng đã viết cho tôi rằng anh vẫn giữ nguyên vẹn tình thương đối với tôi và anh hết sức sung sướng khi được biết tôi đã được tự do và có địa vị đàng hoàng. Rồi những bức hình, thêm những bức hình, những trang thư, thêm những trang thư gợi lại các kỷ niệm và kể lại cuộc sống của họ, kể lại những năm chinh chiến, những gì họ đã phải làm để có thể nuôi các cháu. Mỗi chữ được đọc đi đọc lại, phân tích để được hiểu rõ và tận hưởng nỗi niềm hoan lạc.

Rồi từ tận cùng thời gian, sau đường hầm đen tối của những năm tháng trong ngục tù, thời thơ ấu của tôi trỗi dậy: “Riri thân mến”, đó là lời chị tôi viết. Riri… tôi còn thấy mẹ tôi gọi tôi với một nụ cười tuyệt đẹp. Hình như trên một bức ảnh tôi gởi cho các chị, tôi giống hệt ba tôi. Chị tôi tin chắc rằng bề ngoài tôi giống ba tôi, thì tánh tình tôi cũng không khác. Chồng chị với chị không lo ngại về việc tôi xuất hiện. Cảnh binh hẳn đã biết Rita có đi Ardèche, và họ đã tìm đến nhà chị tôi để hỏi tin tức về tôi, anh rể tôi đã trả lời: “Quả thật chúng tôi có nhận được tin tức về cậu ấy. Cậu ấy khỏe mạnh và hiện rất sung sướng. Cảm ơn các ông”.

Một người chị nữa ở Ba Lê, vợ một luật sư người Corse. Họ có hai trai, một gái, một địa vị khả quan. Trong thư, cũng một tiếng reo vui: “Em đã được trả tự do, được yêu, em đã có một mái ấm gia đình, một địa vị tử tế, em sống như mọi người. Hoan hô em! Các con chị, chồng chị cùng chị cảm ơn Thượng đế đã giúp em ra khỏi cảnh ngục tù ghê tởm”.

Chị cả đề nghị đem con gái chúng tôi về với chị để nó tiếp tục học hành. Đồng ý, nó sẽ qua bên ấy.

Nhưng điều làm chúng tôi ấm lòng nhất là không người nào tỏ vẻ xấu hổ vì đã có một đứa em là một tên tù vượt ngục.

Để thêm vào trận mưa rào tin tức phi thường ấy, nhờ một bác sĩ người Pháp có nhà ở Maracaibo, bác sĩ Rosenberg, tôi tìm được địa chỉ của người bạn tôi, bác sĩ Guibert-Germain, trước kia là bác sĩ trong ngục thất đã đối xử với tôi như một người trong gia đình, mời tôi đến nhà, che chở tôi khỏi các lỗi lầm và cùng bà vợ luôn luôn khuyến khích tôi tin vào giá trị làm người của tôi. Nhờ ông mà tôi không còn cô đơn trong thời kỳ ở nhà cấm cố Saint Joseph, nhờ ông tôi đã được chuyển đến Đảo Quỷ sứ để rồi trốn thoát. Tôi viết thư cho ông và một hôm, tôi vô cùng sung sướng nhận bức thư này:

“Lyon, 21 tháng 2 năm 1952. – Papillon thân mến, được tin anh, chúng tôi rất vui mừng. Từ lâu tôi đoán anh tìm cách liên lạc với tôi. Trong khi tôi ở Dijon, mẹ tôi cho biết có nhận một bức thư từ Venezuela gởi đến mà không thể biết đích xác người gởi là ai. Rồi mới đây, mẹ tôi đưa cho tôi bức thư anh nhờ bà Rosenberg chuyển. Thế là sau bao nhiêu gian nan, chúng tôi đã tìm lại anh. Từ tháng 9 năm 1945, ngày tôi rời nhà giam Royale, rất nhiều việc đã xảy ra.

“(……) Cuối cùng, đến tháng 10 năm 1951, tôi nhận lệnh thuyên chuyển qua Đông Dương, phải lên đường gấp, nghĩa là ngày 6 tháng 3 năm sau, nhiệm kỳ hai năm. Lần này tôi đi một mình. Có lẽ đến nơi rồi, tùy nơi phục vụ, tôi có thể vận động cho nhà tôi qua theo.

“Thế là từ ngày chúng ta gặp nhau lần cuối, tôi đã đi vài cây số. Dĩ vãng ấy đã để lại cho tôi nhiều kỷ niệm nhưng tiếc rằng tôi không hề được gặp lại người nào trong số các anh em thường đến nhà tôi. Trong một thời gian khá lâu, tôi đã có nhận được tin tức của anh đầu bếp Ruche đã lập nghiệp ở Saint Laurent, nhưng sau khi tôi rời khỏi Djibouti, tôi không được tin gì của anh ấy nữa. Dù sao chúng tôi rất mừng được biết anh sung sướng, khỏe mạnh, và có nhà có cửa đàng hoàng. Đời là một cái gì kỳ lạ, nhưng tôi vẫn nhớ không bao giờ anh chán nản và như vậy là anh có lý.

“Tấm hình anh chụp với vợ anh làm cho chúng tôi hết sức vui mừng và chứng tỏ anh đã thành đạt. Có lẽ một ngày nào đó chúng tôi sẽ có thể đến thăm anh, biết đâu! Các biến chuyển đi nhanh hơn chúng ta. Nhìn trong ảnh, chúng tôi để ý thấy anh có óc thẩm mỹ, bà nhà rất kiều diễm và khách sạn có vẻ rất khang trang. Anh Papillon thân, anh tha thứ nếu tôi vẫn còn gọi anh bằng cái tên ấy nhưng đối với chúng tôi nó gợi biết bao kỷ niệm!

“(……) Bạn ơi, đó là một ít tin tức của chúng tôi. Anh nên tin chắc rằng chúng tôi đã nhiều lần nhắc đến anh và chúng tôi vẫn nhớ mãi cái ngày bất hủ mà Mandolini dòm ngó vào công việc không dính dáng gì đến nó.

“Papillon thân mến, tôi kèm theo đây bức hình chụp cả hai chúng tôi, ở Marseille, cách đây hai tháng, tại Canebière.

“Tôi ngừng bút nơi đây, chúc anh mọi điều lành và hy vọng lâu lâu được thư anh.

“Nhà tôi cùng tôi gởi lời thân ái chào chị và gởi đến anh nhiều cảm tình. – A. Guibert Germain.

Tiếp theo là mấy giòng của bà Giubert Germain:

“Xin có lời mừng anh thành công và cầu chúc anh chị một năm mới khang an. Vẫn giữ kỷ niệm đẹp nhất về người em tinh thần của tôi. – M. Guibert Germain”.

Bà Guibert Germain không theo chồng qua Đông Dương. Ông đã bị giết ở đó và tôi không bao giờ thấy lại người y sĩ quân y vô cùng nhũn nhặn đã là một trong số ít người, cùng với Trung tá Péan trong đội quân cứu nguy và rất ít người nữa, can đảm bênh vực những tư tưởng nhân ái đối với các tù nhân và riêng phần ông đã đạt đến một số kết quả khi còn tại chức. Không có ngôn ngữ cao cả nào đủ để nói lên lòng tôn kính đối với những người như ông và như bà vợ ông. Chống lại mọi người và bất kể có thể nguy hại đến sự nghiệp, ông đã nói rằng con người vẫn là con người và không bao giờ hư hỏng vĩnh viễn, dù người ấy có phạm tội nặng.

Lại cũng có các bức thư của Dì Ju. Không phải những bức thư của một bà kế mẫu chưa khi nào biết mặt con chồng, mà đúng là những bức thư của một bà mẹ với lời lẽ phát xuất từ một lòng mẹ. Trong thư, bà kể lại cuộc đời của cha tôi cho đến ngày ông qua đời, một giáo chức tôn trọng luật pháp với quan tòa, nhưng cũng đã nói: “Thằng nhỏ tôi vô tội, tôi cảm thấy như vậy, thế mà bọn khốn nạn kết tội nó, sau khi vượt ngục, không biết bây giờ nó ở đâu! Nó còn sống hay đã chết”. Mỗi lần những người kháng chiến thành công một vụ chống kẻ xâm lăng, ba tôi nói: “Nếu còn Henri ở đây, nó sẽ đứng trong hàng ngũ với họ”. Rồi nhiều tháng im lặng, ba tôi không nhắc đến tên con nữa. Hình như ông đem hết tình thương dành cho tôi gởi vào những đứa cháu mà ông nuông chiều với nhiều kiên nhẫn, hơn bất cứ một ông ngoại nào.

Tôi cho vào lòng những mẩu chuyện trên như một kẻ chết đói. Những bức thư quí hóa nối lại tình gia đình đã bị đứt đoạn từ nhiều năm, tôi cùng Rita, đọc đi đọc lại và giữ lại như những thánh tích vô giá. Quả thật tôi có phúc nên quyến thuộc của tôi, không trừ một ai, đã quá thương tôi và đã quá can đảm nên mặc dù có một địa vị xã hội có phần trưởng giả, họ đã bất cần dư luận và đã hân hoan được biết tôi còn sống, được tự do và sung sướng. Thật vậy, phải có can đảm bởi vì xã hội loài người rất khắt khe và không dễ dàng tha thứ trong gia đình có một phần tử phạm tội. Có những người bần tiện đã nói: “Ồ, anh biết không, trong gia đình ấy toàn là hạt giống tù tội”.

Năm 1953, chúng tôi bán ngôi nhà khách sạn. Lâu rồi khí hậu quá nóng nực ở Marcaibo làm cho chúng tôi mệt mỏi, và dù sao, Rita với tôi cũng có máu phiêu lưu nên không muốn sống mãn đời ở đây. Phương chi tôi vừa nghe nói đến một vụ ghê gớm ở xứ Guyane thuộc Venezuela, người ta đã tìm thấy một núi sắt tinh. Nó ở đầu kia xứ này, vậy thì lên đường đi Caracas, chúng ta sẽ dừng lại đây để nghiên cứu tình hình.

Chúng tôi khởi hành vào một buổi sáng đẹp trời, bằng chiếc xe De Soto màu lục to bự của tôi chất đầy hành lý, để lại sau lưng năm năm hạnh phúc êm đềm cùng nhiều bạn bè, người tỉnh Maracaibo và người ngoại quốc.

Tôi gặp lại CARACAS. Nhưng phải chăng đây là Caracas? Kìa, không lẽ chúng tôi lầm thành phố?

Perez Jimenez, sau thời kỳ nhiếp chính của Flamerich, đã tự phong Tổng Thống, nhưng trước đó đã chủ trương biến thủ đô Caracas, một thành phố thuộc địa, thành ra một thủ đô tối tân chính cống. Việc ấy được thực hiện trong một thời kỳ mà phía chính phủ cũng như phía đối lập bí mật phóng tay sử dụng vũ lực tàn bạo khủng khiếp. Ông Caldera, đương kim Tổng Thống từ năm 1970, đã thoát khỏi một vụ mưu sát ghê gớm: một quả bom có sức công phá mãnh liệt đã được quăng trong buồng, nơi ông đang ngủ với bà vợ và một đứa con. Thật là một phép lạ, không người nào chết, rồi với một thái độ bình tĩnh phi thường, không kêu la, không hãi sợ, ông cùng bà vợ chỉ đọc kinh cảm tạ Thượng Đế đã cứu họ thoát chết. Việc này xảy ra năm 1951, và tôi xin nhấn mạnh lúc ấy ông đã là một đảng viên đảng Xã hội Thiên chúa giáo, chứ không phải ông theo đảng ấy sau vụ mưu sát.

Dù chế độ độc tài của ông gặp rất nhiều khó khăn, Perez Jimerez đã hoàn toàn biến cải Caracas cũng như nhiều thứ khác nữa.

Con đường cổ xưa đi từ Caracas đến phi trường Maiquetia và đến hải cảng La Guaira vẫn còn. Nhưng Perez Jimenez đã cho đắp một xa lộ tráng lệ, kỹ thuật tân kỳ, nối liền thành phố với bãi biển trong vòng mười lăm phút, trước kia phải đi đến hai giờ nếu theo đường cũ. Tại khu phố Silencio, công trình của Médina, ông cho mọc lên những tòa nhà đồ sộ chẳng khác gì ở Nữu ước. Ông cho làm ngay trung tâm thành phố một xa lộ kỳ lạ có ba lề, xa lộ xuyên ngang thành phố từ đầu này đến đầu kia. Đó là chưa kể công cuộc cải tiến hệ thống đường sá, việc xây cất nhà cửa cho thợ thuyền và giai cấp trung lưu, là những mẫu mực về phương diện trang thiết đô thị, cùng nhiều cải tiến khác nữa. Thật là một cuộc luân vũ hằng triệu mỹ kim, một tiềm năng mãnh liệt được đánh thức trong một quốc gia đã ngủ yên từ bao thế kỷ. Các quốc gia nhìn xứ này bằng một nhãn quan khác trước, tư bản ngoại quốc tràn vào cùng lúc với các chuyên viên đủ loại. Đời sống thay đổi hẳn, cửa được mở rộng đón tiếp ngoại kiều, và giòng máu mới ấy, thích ứng với đời sống hiện đại hơn, đã khiến cho nhịp sống mới của xứ sở này trở nên hữu hiệu hơn. Một lỗi lầm duy nhất, theo ý tôi rất quan trọng, thời kỳ ấy người ta không lợi dụng hay hầu như không lợi dụng sự hiện diện của các chuyên viên ngoại quốc để huấn luyện về kỹ thuật cho hàng ngàn thanh niên để bọn này có được một nghề hay một khả năng chuyên môn.

Nhân ghé lại Caracas, tôi tiếp xúc với các bạn và hỏi thăm tin tức về Picolino. Trong những năm vừa qua, tôi thường đưa người đến thăm nó và đem cho nó một ít tiền. Một người bạn mà tôi vừa gặp lại, trong năm 1952, đã đưa cho nó một số tiền do tôi gởi vì nó có hỏi để có thể đến ở tại La Guaira, gần hải cảng. Nhiều bận tôi đề nghị nó đến ở với chúng tôi tại Maracaibo, nhưng nó đều cho biết chỉ ở Caracas mới có bác sĩ. Hình như nó đã nói được lại và cánh tay mặt nó cử động được. Bây giờ, không ai biết nó ở đâu. Người ta có thấy nó đi lang thang ở hải cảng La Guaira rồi nó biến luôn. Có thể nó đã xuống tàu đi Pháp. Không bao giờ tôi biết được và tôi tự trách đã không đi Caracas sớm hơn để thuyết phục nó theo tôi đến ở Maracaibo.

Tình hình đã sáng sủa: nếu chúng tôi không tìm được công việc vừa ý ở Guyane thuộc Venezuela, ở đây có vụ mỏ sắt đặc biệt và có một vị tướng kiến trúc sư, trung tướng Ravard, vừa khai thác khu rừng già kinh khủng cùng với các con sông mênh mông để chứng minh rằng mặc dầu sức mạnh của sông núi vô biên, nhưng con người vẫn có thể chống chế được, trong trường hợp đó, chúng tôi sẽ trở lại lập nghiệp ở Caracas.

Trên chiếc De Soto đầy ắp va li, Rita cùng tôi trực chỉ Ciudad Bolivar, thủ đô xứ Guyane, nằm trên bờ sông Orénoque. Tám năm đã trôi qua, bây giờ tôi gặp lại tỉnh thành diễm lệ này với những người dân vui tươi, niềm nở.

Sau một đêm khách sạn, chúng tôi vừa ngồi ở nơi hàng hiên để uống cà phê thì có một người đến đứng trước mặt. Cao, gầy, sạm nắng, một chiếc mũ rơm trên đầu độ 50 tuổi, hắn nhíu cặp mắt ti hí hầu như mất hẳn trong kẽ giữa hai hàng mi.

– Hoặc là tôi điên, hoặc anh là một người Pháp tên Papillon, hắn nói.

– Bồ ơi, mày không kín đáo chút nào. Nếu người đẹp đi với tao không biết chuyện cũ, mày tính sao?

– Xin lỗi mày. Tao ngạc nhiên quá đỗi nên tao không để ý đã nói một câu ngu ngốc.

– Thôi, không nói chuyện ấy nữa. Ngồi xuống đây với bọn này.

Một thằng bạn cố triMarcel B. Chúng tôi nói chuyện này nọ. Nó ngạc nhiên thấy tôi hết sức khỏe mạnh và đã có một địa vị khả quan. Tôi nói cho nó biết tôi đã gặp rất nhiều may mắn, còn nó thì tội nghiệp, không cần nói cũng biết nó không thành đạt, quần áo của nó chứng tỏ điều đó. Tôi mời nó ăn trưa. Sau khi uống vài chén rượu Chí Lợi, nó nói:

– Vâng, thưa bà, lúc trẻ tôi là một thằng thanh niên kỳ dị, không biết sợ ai hết. Bà thử nghĩ sau khi vượt ngục lần đầu, tôi đi mãi đến Gia Nã Đại, rồi xin đăng vào Cảnh Sát kỵ mã mới hay chứ! Xin nói thêm tôi nguyên là giáp kỵ binh. Đáng lẽ tôi ở trong hàng ngũ ấy suốt đời, nhưng một hôm tôi nổi tức, đánh lộn, thằng kia đã ngã trên con dao của tôi. Quả như lời tôi nói, bà Papillon ạ, thằng Gia Nã Đại đã ngã trên con dao của tôi.

Bà không tin phải không? Thế là, vì biết cơ quan cảnh sát Gia Nã Đại cũng sẽ không tin, tôi liền bỏ trốn ngay. Sau khi qua Hoa Kỳ, tôi đến Ba Lê. Có lẽ vì bị một thằng chó chết nào đó tố cáo, tôi bị bắt, trả vào tù và tại đây tôi đã gặp chồng bà. Chúng tôi là đôi bạn thân.

– Marcel, thế bây giờ mày làm gì?

– Tao có một đồn điền cà chua ở Morichales.

– Phát đạt chứ?

– Tàm tạm. Đôi khi một đám mây không cho mặt trời minh bạch xuất hiện. Mình biết có mặt trời, nhưng không thấy. Vậy mà nó ném ra những tia ánh sáng vô hình giết chết cà chua của mình trong vài giờ.

– Thế hả? Tại sao?

– Bí mật của tạo hóa, bồ ơi. Tao không biết rõ nguyên nhân, nhưng kết quả thì tao biết.

– Ở đây có bao nhiêu cựu tù nhân?

– Vài chục.

– Có được sung sướng không?

– Vậy thôi.

– Mày cần gì không?

– Papillon, tao thề, nếu mày không hỏi tao sẽ không nói. Nhưng tao cảm thấy mày không đến nỗi nào, và xin lỗi Bà, tao sẽ nói với mày một điều rất quan trọng.

Tôi nghĩ nhanh: “Miễn là đừng quá đắt”.

– Mày cần gì nói đi Marcel.

– Một cái quần, một đôi giày, một sơ mi và một cà vạt.

– Được rồi, lên xe.

– Cái này của mày hả? Trời, mày hên quá.

– Vâng, rất hên.

– Khi nào mày đi lại?

– Chiều nay.

– Tiếc quá, nếu không mày có thể chở cô dâu chú rể bằng xe của mày.

– Cô dâu chú rể nào?

– À, tao quên nói với mày bộ quần áo là để đi dự đám cưới một thằng bạn cựu tù nhân.

– Tao có biết nó không?

– Không hiểu. Nó tên Maturette.

– Mày nói sao? Maturette?

– Đúng vậy. Có gì lạ lùng đâu? Một kẻ thù?

– Trái lại, một thằng bạn chí thân.

Không thể tưởng tượng được. Maturette! Thằng nhỏ dễ thương không những đã giúp chúng tôi trốn thoát khỏi bệnh viện Saint Laurent du Maroni, mà còn đi với chúng tôi hai ngàn cây số trên một chiếc ghe nhỏ giữa lòng đại dương.

Không còn vấn đề đi nữa, ngày hôm sau chúng tôi dự đám cưới Maturette với một cô gái nhỏ nhắn dễ thương nước da màu cà phê sữa. Việc tối thiểu là trả tiền đám cưới và sắm áo quần cho ba đứa con chúng nó đã sáng tác trước khi dẫn nhau đến trước ông linh mục. Trong dịp này tôi tiếc đã không chịu rửa tội nên không thể đứng làm chứng cho thằng bạn trong lễ cưới.

Maturette ở một khu phố nghèo nàn, mọi người trố mắt khi chiếc De Soto đi vào, nhưng nó cũng có được một ngôi nhà nhỏ bằng gạch, sạch sẽ, có bếp, buồng tắm, phòng ăn. Nó không kể cho tôi nghe lần vượt ngục thứ hai và tôi cũng không kể cho nó nghe lần vượt ngục sau của tôi. Chỉ có một câu nhắc đến dĩ vãng:

– Nếu may mắn hơn tý nữa, chúng ta đã được tự do sớm hơn mười năm.

– Ừ, nhưng số phận của chúng mình sẽ khác Maturette, tao đang sống hạnh phúc, mày cũng có vẻ sung sướng.

Chúng tôi chia tay nhau, nghẹn ngào, miệng mãi nói: “Chào mày”, “sẽ gặp lại”.

Trên đường đi Ciudad Polivar, một thành phố vừa mọc lên bên cạnh một mỏ sắt sắp được khai thác, tôi nói với Rita về Maturette, và những đổi dời kỳ lạ trong cuộc đời. Cùng nó, hơn hai mươi lần chúng tôi suýt bỏ mạng ngoài biển, chúng tôi hết sức liều lĩnh, rồi chúng tôi bị bắt lại, đưa về ngục thất, nó cũng như tôi mỗi đứa bị hai năm cấm cố. Thế mà trên đường đi đến một cuộc phiêu lưu mới, một dịp may hiếm có đã khiến không những tôi gặp lại nó, mà gặp đúng vào hôm trước ngày đám cưới của nó, nó cũng đã có một địa vị có lẽ khiêm nhường, nhưng nó sung sướng. Rita với tôi đã cùng nghĩ thế này: “Dĩ vãng không nghĩa lý gì, chỉ ta thành con người thế nào mới đáng kể”.

Tại Ciudad Polivar, vì tôi không tìm ra công việc gì thích hợp nên chúng tôi trở lại Caracas mua lại một cơ sở kinh doanh phát đạt.

Chúng tôi tìm thấy ngay một cơ sở phù hợp với năng khiếu và khả năng tài chánh của chúng tôi. Đó là một tiệm ăn muốn thay chủ rất thích hợp với chúng tôi, tiệm Aragon, bên lề công viên Carbobo, một địa điểm rất đẹp. Những ngày đầu khá nhọc nhằn vì chủ cũ là người đảo Canaries và chúng tôi phải thay đổi tất cả. Chúng tôi áp dụng thực đơn nửa Pháp, nửa Venezuela thực khách mỗi ngày mỗi tăng. Trong số thực khách, có nhiều người làm nghề tự do: y sĩ, nha sĩ, dược sĩ, luật sư. Kỹ nghệ gia cũng có. Và trong môi trường thanh lịch ấy, ngày tháng trôi qua, không gì rắc rối.

Đúng 9 giờ sáng một ngày thứ hai, ngày 6 tháng 6 năm 1956 chúng tôi nhận được một tin tuyệt vời: Bộ Nội Vụ báo cho biết đơn xin nhập tịch của tôi được chấp thuận.

Hôm nay là một ngày trọng đại, đây là phần thưởng của hơn 10 năm sống ở Venezuela mà nhà chức trách không thấy gì đáng chỉ trích trong đời sống của tôi, một công dân tương lai của xứ này. Bữa nay là ngày 5 tháng 7 năm 1956, ngày lễ Quốc Khánh. Tôi sẽ đi tuyên thệ trung thành với lá cờ của tổ quốc mới của tôi, một quốc gia biết rõ quá khứ của tôi và đã chấp nhận tôi. Chúng tôi cả thảy 300 người đứng trước lá quốc kỳ. Rita và Clotilde ngồi trong hàng khán giả. Thật khó tả lại cảm giác của tôi lúc bấy giờ, các ý nghĩ chen nhau trong đầu óc, trong lồng ngực tim tôi đập thình thình. Tôi nghĩ đến những gì dân tộc Venezuela đã cho tôi: trợ giúp vật chất, trợ giúp tinh thần mà không một lần nào nhắc đến dĩ vãng của tôi. Tôi nhớ lại câu chuyện truyền kỳ của dân Ians Mamos, một bộ lạc da đỏ sống ở biên giới Ba Tây, theo đó họ là con của Peribo, là mặt trăng. Peribo, một danh tướng, trong nguy cơ bị lằn tên kẻ thù bắn hạ, đã nhảy cao đến nỗi bay luôn lên không trung, nhưng cũng vẫn bị trúng nhiều mũi tên. Ông bay lên mãi và từ những vết thương rơi xuống đất nhiều giọt máu đã biến thành người Iano Mamos. Vâng, tôi đã nghĩ đến chuyện truyền kỳ ấy, rồi tôi tự hỏi, phải chăng ông Simon Bolivar, vị anh hùng giải phóng Venezuela, đã gieo rắc máu đào trên xứ sở này nên mới phát sinh ra một dân tộc hào hùng, nhân ái, thụ hưởng một di sản đẹp đẽ nhất?

Quốc ca trổi lên. Mọi người đứng thẳng. Tôi nhìn chăm chăm vào lá cờ có nhiều tinh tú đang được kéo lên rồi nước mắt chảy dài.

Cùng những anh em khác, tôi ra sức hát lớn bài quốc ca của tổ quốc mới, tôi, một đứa đã tưởng trong đời mình không bao giờ được hát một bản quốc ca:

“Abajo cadenas…”. Đập tan xiềng xích

Vâng, chính ngày hôm nay, và mãi mãi, tôi thật sự cảm thấy xiềng xích người ta buộc cho tôi đã rơi rụng. Mãi mãi.

– Hãy thề trung thành, lá cờ này từ nay sẽ là của các anh.

Tất cả ba trăm người chúng tôi đã long trọng tuyên thệ, nhưng tôi chắc rằng người trung thực nhất là tôi, Papillon, một thằng đã bị tổ quốc của nó xử một hình phạt tệ hại hơn tử hình, vì một tội không hề phạm. Vâng, nước Pháp là đất mẹ của tôi, nước Venezuela là thiên đàng của tôi.

Vết Nám – Hồi Ký Tù Cải Tạo

Hoàng Long Hải

Posted on 4 Mar 2015 by quanvan.net 

Post by Sơn râu 3 Oct 2025

 “Cũng những thằng nịnh hót”

Bài 11

Những mồm không tanh tưởi

Ngậm vòi đu đủ

Trợn mắt Phùng mang Thổi vào rốn cấp trên


“Dạ, dạ, thưa anh…
Dạ, dạ, em, em…”
Gãi cổ
Gãi tai:
… anh quên ngủ quên ăn nhiều quá!

(Cũng những thằng nịnh hót – Hữu Loan)

Tháng 6 năm 1976, tôi lại bị đưa đi, chưa biết đi đâu.

Lên xe Molotova lần nầy thì vẫn đông, nhưng những bạn bè cũ từ Trảng Lớn ra đi “rơi rụng” cũng nhiều, phần đông đều được đi “thăm lăng bác Hồ”. Nhiều khi tôi nhớ thương Phạm Ngọc Hiền, Phạm Quang Chiểu, Trần Hữu Bảo, Hoàng Hữu Chung! Họ bị đày đi “Si-bê-ria của Việt Cộng”, biết bao giờ về, có ngày về hay không hay bỏ thân nơi núi rừng Việt Bắc?

Tôi “biết” Việt Bắc theo sách Địa Lý Việt Nam mà tôi đã từng học rồi dạy học trò. Trước đó, tôi cũng “biết” Việt Bắc qua các tiểu thuyết mà tôi “ngốn” không ít, đến nỗi mẹ tôi cầm cuốn Tự Điển Pháp Việt của Đào Duy Anh ném vào tôi vì tội “ham đọc tiểu thuyết bỏ học.” Cuốn tự điển dày lắm, may tôi phóng kịp qua cửa sổ chạy mất tiêu.

Việt Bắc là “Mắt Thần” hay “Lệ Hằng Phục Thù” của Trường Xuân, “Ai hát giữa rừng khuya” của Lan Khai, “Vàng và Máu” của Thế Lữ hay “Thần Hổ” của TCHYA, “Trường Đời” của Lê Văn Trương. Nhớ lại những “tiểu thuyết đường rừng” ấy mà không biết bạn mình đang ở đâu, gian khổ như thế nào, “ma thiêng nước độc” như thế nào?! Hy vọng họ sẽ sống còn, bởi như Trần Phú Trắc thường “khẳng định” và cười với tôi: “Nhưng không chết người trai khói lửa”.

“Ăn theo” tôi kỳ nầy chỉ còn Đào Sơn Bá, đại úy cảnh sát đặc biệt; Trần Phú Trắc, đại úy, Huỳnh Văn Khánh, đại úy quân cảnh.

Kỳ chuyển trại nầy cũng khá kỹ, có nghĩa là mui xe đóng bít bùng, chẳng thấy được gì bên ngoài cả. Cuối xe, một vệ binh cầm Aka đạn đã lên nòng. Thấy anh đóng khóa an toàn nên tôi đoán chừng vậy. Người trong xe chật ních, lẫn lộn với hành trang, không nhúc nhích gì được.

Dù ở trong xe bít bùng nhưng vài anh em đoán hướng xe chạy, nói to: “Về Saigon! Mấy ông ơi!” Biết là về Saigon nhưng người nào ngu lắm mới hy vọng được đem về Saigon để tha.

Xe chạy khoảng gần nửa ngày thì ngừng, mở mui và có lệnh xuống. Nhìn quanh, có người nói to: “Trại Suối Máu”.

Lần đầu tiên tôi nghe hai tiếng Suối Máu.

Ghê thật!

Máu chảy thành suối! Trận đánh nào xảy ra ở đây mà ghê thế! Lịch sử hai tiếng Suối Máu như thế nào?! Té ra tên Suối Máu nầy có từ lâu. Trước 1975, đây là “Trại tù binh Cộng sản”.

Đường từ cổng đi vào phải đi qua ba khu trại giam 1, 2 và 3 bên tay trái. Một số “tù cải tạo” ra đứng sát hàng rào nhìn chúng tôi. Có người quen biết từ trước nhận ra nhau nhưng không dám gọi to cho nhau.

Bên tay phải là nhà thờ, chùa. Dĩ nhiên, “tù cải tạo” không ai được đi nhà thờ, đi chùa. Còn cán bộ Cộng sản thì vô thần, vô tôn giáo, đã được giáo dục rằng “tôn giáo phản động”. Có ai đi lễ bao giờ. Chùa, nhà thờ đều hoang phế. Phật, Chúa cũng không ở được với Dziệt cộng đâu, cũng đã “vượt biên” cả rồi, chẳng còn vị nào ngồi lại trên tòa sen hoặc trên thánh giá!

Khi mới vào trại tù cải tạo, thỉnh thoảng đọc báo “Quân Đội Nhân Dân”, thấy không ít bài đã kích đạo Thiên Chúa. Hồi có cuộc di cư năm 1954 thì họ nói rằng các linh mục bảo với con chiên: “Chúa đã vào Nam”. Giáo dân nên vào Nam với Chúa.

Tới 30 tháng Tư thì Cộng Sản gọi là “Chúa đã đi Guam”, nên “di tản” theo Chúa.  Có câu thơ đùa:

Ngày xưa Chúa đã vào Nam,

Ngày nay Chúa lại đi Guam mất rồi. 

Trong trại, chúng tôi thường đọc báo “Quân Đội Nhân dân” do bộ đội đem xuống cho. Ngoài ra, “Saigon Nhật báo”, báo “Tin sáng” của Ngô Công Đức, khi thăm nuôi, gia đình có mang theo cho vài tờ, hoặc lấy từ trong các giấy gói quà. Người viết thường chỉ có một chiều, một bài bản, đọc “chán thấy mẹ”.

Tương đối những bài viết của Thành Tín (tức là ông Bùi Tín) đăng trên báo Quân đội Nhân dân là có một ít kiến thức, hiểu biết tình hình miền Nam ít nhiều, hơn các người khác, và ít “đường một chiều”. Báo Tin Sáng, phần nhiều chỉ là “nâng bi lập công” như anh em tù cải tạo nói vậy.

Nghĩ tới “anh chàng” báo Tin Sáng nầy, là người tôi từng có cảm tình, đã gặp một lần ở văn phòng của anh ta ở đường Nguyễn Huệ, khi tôi đến nhờ giúp cho một ông anh rể họ bị ông thị trưởng Đà Nẵng chiếm nhà, tôi thấy ái ngại cho anh ta. Một người như thế mà có đủ “sĩ diện” để làm cái nghề “nâng bi” thì cũng “buồn tình đời” thật đấy!

 Anh ta mong được cái gì ở chế độ mới?

            Không lý một “trí thức”, một “tiểu tư sản thành thị” như Ngô Công Đức, “con chủ điền”, lại là một người “theo đạo Thiên Chúa”, “cháu giám mục Nguyễn Văn Bình”, lại không biết Cộng Sản là cái gì hay sao?

            Những “lý do đặc biệt” như tôi vừa nói ở trên, là những điều Cộng Sản không bao giờ cho anh ta “nhập chung môt bọn” với Cộng Sản được!

Anh ta biết cả đấy, nhưng vì một miếng đỉnh chung đã làm lu mờ cái nhãn quan của anh ta hay sao: Một chức “dân biểu” là nhỏ quá, “Ơn Trên” phải cho anh ta một cái gì cao hơn, một cái ghế bộ trưởng Dương Văn Minh dành cho anh ta chẳng hạn. Tiếc một điều, trên đường từ Pháp về để nhận cái ghế bộ trưởng do Dương Văn Minh chia cho, vì máy bay của hãng Air France bay chậm quá, nên khi anh ta về tới Saigon thì Trần Văn Trà đã ngồi trong Dinh Độc Lập, thành ra cái ghế được dành cho anh ta trở thành cái ghế “Bộ trưởng không bộ nào”.

            Sau 1975, mặc dù Trần Bạch Đằng không mặc váy, anh ta vẫn “núp dưới cái váy của Trương Gia Triều”. Trương Gia Triều làm sao chống lại nỗi Lê Đức Thọ, nhất là khi “Công Đoàn Đoàn Kết” của Lech Walesa được “Giáo hoàng Giăng Pôn Hai” và Tổng Thống Reagan hỗ trợ tích cực (1) để đánh đổ chế độ Cộng Sản của Tướng Wojciech Jaruzelski thì Thọ thấy hãi trước sức mạnh của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam. Thế là Thọ vạch cái váy của Trần Bạch Đằng mà lôi đầu Ngô Công Đức ra, đóng cửa báo Tin Sáng, biểu Ngô Đức Đức về làm sơn mài.

Khả năng của Ngô Công Đức chỉ làm được ông chủ hãng sơn mài, không thể vói tới cái ghế bộ trưởng được.

Một “đồng chí của Ngô Công Đức” cũng “chui như chuột không kém gì anh ta.

Một hôm, người ta thấy có một mục nhắn tin trên báo Tin Sáng như sau, cho thấy có con chuột (cái) ló mặt ra khỏi hang. Nội dung: “Kiều Mộng Thu, tìm một người anh theo kháng chiến, tập kết năm 1954. Xin liên lạc về với gia đình theo địa chỉ… gì đó ở Long Xuyên”

Cô dân biểu “Nàng Kiều lá đổ” bây giờ không còn gọi “Anh Châu ơi” nữa, không biết có tìm được người anh tên Phong không? Phong là tên do tôi bày đặt cho gia đình “Nàng Kiều lá đổ”, đặt cho ông anh của “Nàng Kiều thời đại”. Tôi dựa theo cuốn tiểu thuyết trinh thám “Lê Phong Phóng Viên” của Thế Lữ. Thám tử Lê Phong trong tiểu thuyết trinh thám của Thế Lữ bị Phạm Cao Củng ghẹo, đề nghị nên đổi tên ra Lê Phong vì hay bắt hụt, bắt gió, bắt không trúng “địch thủ” như cầu thủ “đá gió” vậy.

“Người anh” của “Nàng Kiều lá đổ” chỉ là người “anh gió” mà thôi! “Nàng Kiều lá đổ” tưởng tượng ra một “người anh tập kết” để hù thiên hạ, nổ với thiên hạ rằng cô ta cũng “gia đình cách mạng”, bằng vài phát đại bác đạn rơm chơi. Có phải đó là trò hù thiên hạ của mấy “ông to bà lớn ưa nổ” chế độ cũ hay chăng?!

Trương Ngọc Thu là một cô học trò sắc đẹp trung bình, lãng mạn, đa tình, ưa làm thơ tình, và ưa đặt tên “cải lương”: Đã Kiều, còn Mộng, còn Thu?!

Cô Thu ưa lấy chồng làm quan, dù quan hơi “già”. Nhân vật đó là ông phó tỉnh trưởng Nguyễn Chánh Sắc, đảng Đại Việt. Thế rồi chán cảnh “Đêm đêm bên cạnh chồng già”, cô Thu Mộng Kiều đi làm chính trị, vừa làm chính trị vừa cặp kè kè với ông trung tá con ông Thượng Thư thời vua Khải Định mang “ngù vai, đội nón dấu có chóp vàng”. Khi ông trung tá ngồi tù vì vụ gián điệp Trần Ngọc Hiền, nàng Kiều mỗi ngày đổ không biết bao nhiêu nước mắt, “gọi thầm tên anh”: “Anh Châu ơi!” như báo chí hồi ấy hay đem ra làm trò vui!

            Người ta cũng bàn tán về việc nhờ ông Trí Quang mà nàng kiều lá đổ, – tác giả tập thơ “Lá đổ trên mười đầu ngón tay” – quê ở bên bờ sông Bassac phù sa đỏ lòm đắc cử dân biểu ở miền sông Hương núi Ngự.

Hồi ở trại Trảng Lớn, Phan Hải thường lên khu bộ đội chuyện trò, cho biết có một anh trung úy bộ đội theo đạo Thiên Chúa. Anh ta có cái thánh giá nhưng phải dấu tuốt dưới đáy ba-lô. Anh ta sợ bị đồng đội phát hiện! Dĩ nhiên. Anh ta dấu đồng đội nhưng không dấu với “tù cải tạo”.

&

Anh em chúng tôi được đưa vào một khu mới: Khu 4. Trước 1975, chỗ nầy là khu thể thao của trại tù binh. Bây giờ “trường cải tạo” phát triển nên khu thể thao biến thành khu “nhà trường” của “tù cải tạo”.

Khu 4 gồm một chục gian nhà “tôn” mới được nhà thầu dựng lên, cái nằm ngang, cái nằm dọc, trông giống khu lao động Saigon cũ, tuy nhà tôn ở đây có dài hơn. Gian nhà “tôn” đầu tiên, tách riêng với toàn bộ nhà Khu 4 bằng một hàng rào chăng giây kẽm khá kỹ.

Bên gian nhà ấy là nơi điều trị bệnh nhân. Một người nằm trên giường, bụng to như bụng trâu. Người ta thường nói là bệnh cổ trướng; có người gọi là viêm gan.

Cổ trướng và viêm gan có bà con gì với nhau?! Tôi mù tịt về y khoa!

Một người đứng sau tôi, có lẽ tới đây trước tôi mấy tháng, nói: “Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đó.” Nhiều người “à” lên vui mừng!

Người vừa nói tỏ ra rành chuyện: “Bác sĩ nói chắc không qua khỏi. Kim Cương có lên thăm ông ta!”

Nguyễn Uyên, họa sĩ, đứng bên tôi nói: “Bác sĩ Dziệt Cộng thì biết gì. Khám tầm bậy không!” Người lúc nãy cải chính: “Bác sĩ “của mình”, không phải “cách mạng”. Có anh chưởi thề: “Cách mạng cái con cặ…”

 Nói xong, anh ta cười hề hề. Mấy người khác cũng cười theo… Thấy vui vui, tôi bỗng hát hơi to một chút, cũng mong ông nhạc sĩ nghe được cho vui: “Chiều mưa biên giới anh đi về đâu…”

Nguyễn Thụy Hiền, đại úy giải ngũ, từ quân lao Gò Vấp được tha hai năm nay, người tôi mới quen, nói đùa: “Anh hát tầm bậy không! Sao lại “đi về đâu”. Anh phải hát “Chiều mưa biên giới anh đi về… đây!”  Đang nằm chình ình ở đó mà còn hỏi “đi về đâu” nữa. Không chừng về dưới đó.”

Họa sĩ Nguyễn Uyên, đại úy cục Tâm Lý Chiến, cự nự: “Người ta sắp chết mà mấy ông còn đem ra đùa. Bậy! Bậy quá.”

Mọi người tản đi.

Người miền Nam có nhiều cái buồn cười. Tình nguyện đi lính, chọn những binh chủng đánh giặc thật dữ: Cọp Ba Đầu Rằn, Trâu Điên, Sói biển, Nhảy Dù, v.v… nhưng lại phản chiến hay thích phản chiến, ưa hát bài ca của Nguyễn Văn Đông.

Ngay “Hùng móm” em tôi cũng vậy. Ra trường, cố chọn cho được Nhảy Dù, sợ bị người ta chê, không cho đi Dù. Mậu thân, “loon” thiếu úy mới toanh, đánh một trận nổi tiếng gan lì ở Vạn Kiếp rồi về giữ Bộ Tổng Tham Mưu ở trại Trần Hưng Đạo. Tôi cũng mới nhập ngũ, lính mới tò te ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, cuối tuần đi phép. Hai anh em đi dạo phố Lê Lợi, Hùng ghé quán nhạc mua một tập nhạc của Trịnh Công Sơn vì trong đó có bài “Cho Một Người Nằm Xuống”, một bài hát phản chiến: Trịnh Công Sơn khóc Lưu Kim Cương.

Trước khi nhập ngũ, Hùng rất thích hát những câu như “Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng…” Hà Thanh hát những bài hát nầy của Nguyễn Văn Đông thì tuyệt, trước nay chưa ai bằng. Nhưng thằng em út của tôi cũng “mâu thuẫn không ai bằng”.

Té ra có một điều dễ hiểu. Họ không thích chiến tranh, nhưng hăng hái tham gia Quân Đội VNCH để bảo vệ tự do.

Nguyễn Thụy Hiền hỏi tôi:

– “Anh Hải, người ta nói Kim Cương hoạt động cho Cộng Sản có phải không?”

– “Hoạt động mẹ gì!” – Tôi nói. “Con mẹ ấy chính cống là Dziệt Cộng. Hồi Nguyễn Văn Đông làm chánh văn phòng hay bí thư gì đó cho tướng Nguyễn Văn Là, y thị bắt cặp với Nguyễn Văn Đông để vào ra Tổng Nha Cảnh Sát lấy cắp tài liệu chuyển ra bưng. Sau nầy nó cặp với Nguyễn M., cũng để tái diễn cái việc tình báo đó.”

Hiền hỏi:

– “Ông M. nầy làm gì?”

– “Trưởng khối Đặc Biệt ở Tổng Nha. Ông biết không, mấy thằng chả nầy bậy lắm.” Tôi nói.

– “Bậy sao?” Hiền hỏi.

– “Thằng cha M. khoe với nhân viên ông ta có con cu bự nên Kim Cương mê lắm. Té ra nó có cần cu đâu! Nó vào ngủ với thằng chả ngay trong Tổng Nha là để chôm tài liệu. Thằng chả cứ nghĩ vì cái củ cải mà nó mê. Mất nước là phải!” Tôi giải thích.

– “Anh làm cảnh sát ở dưới ruộng, sao mà biết rõ trên nầy vậy?” Hiền nói.

– “Hồi đó thì ai biết gì. Sau 30 tháng Tư mọi chuyện mới tá hỏa ra. Một đám ở Trảng Lớn với mình là sĩ quan khối Đặc Biệt. Mấy ngày sắp đứt phim, tụi nó lôi tài liệu ra đốt mà khóc. Coi như thế là xong! Tới đó, trong Tổng Nha nhiều ông mới lộ ra nhiều điều mà trước nay câm như hến. Người ta sợ mấy ông lớn ghét, trả thù.” Tôi giải thích.

– “Vậy chớ Kim Cương tình nghĩa gì mà lên thăm Nguyễn Văn Đông!” Hiền lại hỏi.

– “Lòng con người ta phức tạp lắm, không biết hết được. Yêu nhau mà coi thường nhau, lợi dụng nhau. “Trong khi chắp cánh liền cành, Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên.” Đọc xong câu Kiều, tôi cười.

Tới đó, Hiền mới tin tôi. Thật ra, Hiền nhỏ hơn tôi ít ra cũng gần mười tuổi, thấy tôi hay làm “thầy bàn” nên tin tôi lắm. “Bàn trật hay trúng nghe cũng… vui.” Hiền nói với tôi vậy!

Tôi hỏi Hiền:

– “Bữa kia ông có xem tuồng “Lá sầu riêng” của Kim Cương không?”

– “Tối đó tôi bị bệnh, không coi TV. Tuồng nầy có hay không?” Hiền trả lời.

– “Hay hay không để nói sau, nhưng bây giờ Kim Cương “giác ngộ” rồi!” Tôi nói.

– “Giác ngộ đạo Phật?” Hiền hỏi.

– “Đạo Phật cái con khỉ! Cô ta “giác ngộ chủ nghĩa Mác”. Cái đó mới nhục cho Kim Cương.” Tôi nói.

– “Tôi chưa hiểu, anh giải thích rõ đi.” Hiền đề nghị.

– “Như thế nầy nè!” Tôi nói. “Tuồng nầy của Kim Cương viết trước năm 1975, nhưng đặt tên tác giả là Hoàng Dũng, con của cô ta. Hồi xưa, Kim Cương mê Anh Tứ dữ lắm, không rõ có đẻ đứa con nào không? Nội dung tuồng có hai người yêu nhau, một cô gái nhà quê miền Nam, yêu một thanh niên nhà quê miền Nam. Anh thanh niên giã từ người yêu lên Saigon học, để ít lâu về làm thầy giáo làng. Hứa hẹn hai người sẽ cưới nhau sau khi học xong.

Dzậy rồi dòng đời đưa đẩy, hai người không lấy được nhau. Người con gái làm lẻ một ông phú hộ thôn quê, sinh một đứa con gái; còn anh chàng kia ra làm thầy giáo, rồi cũng có vợ, sinh một cậu con trai. Cuối cùng, hai người đều góa bụa. Trời xui đất đẩy, họ lại gặp nhau, gã con cho nhau. Anh xui chị xui cũng bắt tay nhau, vui vẻ, âu yếm nhìn nhau nhưng “không trào máu họng”!.

Các tác phẩm cũ, tiểu thuyết hay tuồng tích, thường có kết quả nhân hậu như thế. Đó là truyền thống người Việt, ưa một kết cục có sum họp, có đầm ấm, có thương yêu, như truyện Kiều chẳng hạn, dù cô Kiều phải lưu lạc 15 năm.

Bây giờ theo Dziệt Cộng, Kim Cương bèn thay đổi cái kết cục đó khác đi. Bậy vô số.”

– “Bậy vô số là sao?” Hiền hỏi.

– “Bậy vô số” là chữ của ông Võ Phiến, là bậy lắm, bậy vô cùng. Kết quả vở tuồng bây giờ bị Kim Cương sửa lại, hai đứa con của hai người ấy không lấy được nhau, mà hai người ấy cũng không còn là “anh xui, chị xui” nắm tay nhau vui vẻ. Bậy vô số.”

– “Vì sao?” Hiền lại hỏi.

– “Kim Cương bị nhuộm đỏ lòm, viết tuồng theo cách “đấu tranh giai cấp”. Ông giáo làng bây giờ là một nhà tư sản, giàu có. Giàu có là thuộc giai cấp “bóc lột nhân dân lao động”, làm sao kết sui gia với chị nông dân nghèo khổ. Nông dân nghèo khổ là “giai cấp tiên tiến, là đội tiên phong của đảng”.

– “Vậy thì có chi thắc mắc?” Hiền nói.

– “Ngòi bút. Viết như thế là “bồi bút”. Tại sao lại phải sửa. Viết rồi là không sửa. Nó có “tính thời gian” của nó. Kim Cương có muốn phục vụ Dziệt Cộng thì viết tuồng khác. Sửa như thế, người ta gọi là “bẻ cong ngòi bút” để phục vụ “hệ tư tưởng Mác, đấu tranh giai cấp”. Đáng chê lắm.”

– “Hồi xưa, người ta cũng phải viết theo cách phục vụ cho vua chúa vậy. Tui học chương trình Pháp, không rành văn chương Việt Nam nên không cải lý với anh được.” Hiền bày tỏ.

– “Tui hiểu, tui hiểu. Ví dụ như “Chinh Phụ ngâm”, trong đó, ca tụng người lính phục vụ cho vua. “Áo chàng đỏ tựa ráng pha, Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.” Hình ảnh đẹp quá chớ gì? Nên người ta đi lính phục vụ cho vua. Nhưng đi đánh giặc, giữ gìn an ninh, chống ngoại xâm không là phục vụ cho đất nước hay sao? Ông nhớ rằng, “trung quân, ái quốc” hay “trung hiếu tiết nghĩa” là cái luân lý của người xưa, của dân tộc. Người ta có soạn tuồng hát trong đại nội, hay hát ở thôn quê, hát đình, hát miễu thì cũng viết như Đồ Chiểu “Trai thời trung hiếu làm đầu, Gái thời tiết hạnh là câu trau mình”. Đó là tiêu chuẩn văn hóa người Việt thời kỳ đó, đâu có phải đó là tiêu chuẩn do ông vua bày đặt ra. Có thể nó có lợi cho ngai vàng của vua, nhưng văn hóa đó là của dân tộc. Người viết truyện, soạn tuồng, chọn tiêu chuẩn cho tác phẩm của họ là tiêu chuẩn của văn hóa dân tộc, đâu có phải phục vụ cho ông vua nào, triều đại nào.

So việc làm đó của tổ tiên với việc làm của Kim Cương bây giờ hay Tố Hữu nó khác nhau lắm chớ. Tiêu chuẩn Dziệt Cộng đưa ra cho văn nghệ sĩ viết sách, soạn tuồng là “đấu tranh giai cấp”, là “cải cách ruộng đất” là “Giết! giết nữa bàn tay không ngừng nghỉ, Cho ruộng đồng mau tốt, thuế mau xong.”

Văn hóa người Việt Nam không có chuyện “Giết! giết nữa.” Đúng không? Bà Bảy Nam là người mộ đạo Phật, khi bả biết con bà đi theo cái đám “Giết! giết nữa!” thì bà vui hay buồn? Kim Cương lo phục vụ cho đảng mà quên chữ hiếu đối với mẹ.”

– “Nghe anh nói, tui muốn gặp con mẹ Kim Cương để chưởi vào mặt nó cho bớt tức.” Hiền nói, đúng là dân Nam bộ nóng tính, bộc trực.

hoànglonghải

  • Liên minh Thần Thánh, tác giả dịch từ “Times”

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 3 Oct 2025

Phần 16

Thế đấy, nhưng nghe ai bàn tán đến việc này, Đoàn Quốc cũng không thanh minh, mặc ai hiểu thế nào cũng được. Được phép xuất ngoại, ông ta càng tính toán tương lai. Cũng chính trong thời gian đó, ông ta được bạn bè cũ ở nước ngoài báo cho biết số tác phẩm cũ của ông được tái bản ở Mỹ, lại có người hứa can thiệp để nhà xuất bản ấy trả tiền bản quyền cho ông ta. Hàng chục nghìn đô la đâu phải dễ kiếm với người đã ngoài sáu mươi như ông ta. Rồi đến lượt “Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại” gửi thư chúc mừng ông ta sắp được “tự do”, hứa hẹn sẽ đón tiếp ông ta như một hội viên danh dự.

– Té ra, người ta vẫn còn nhớ đến mình như ngày nào! – Đoàn Quốc tự nhủ – Thế mà lâu nay, chính ta lại quên lãng ta. Trong đêm tối mặt trời vẫn tồn tại!

Chính vì tự thấy mình vẫn “tồn tại” với tư cách một nhà văn mà Đoàn Quốc đã nhận lời và báo tin cho nhiều đồng nghiệp cũ đến nhà Kiều Trang, dự buổi họp mặt với các đồng nghiệp cũ. Vốn không thích ồn ào, ông ta lặng thinh khi cuộc họp chính thức hôm ấy bắt đầu, nhưng cũng từ đấy, trong đầu ông nẩy sinh ra bao dự tính khiến ông trằn trọc, nôn nao như đang thai nghén một tập truyện dài. Đúng ra Đoàn Quốc rạo rực với tập truyện “Dấu chân cát xóa” của ông ta viết từ năm 1972 đến 1974 và bản thảo đã được chữa xong ngày 16 tháng 5 năm 1975 – nửa tháng sau ngày thành phố được giải phóng. Tập bản thảo dấu trên trần nhà được lôi xuống. Ông ta chong đèn đọc mấy đêm liền, trân trọng như đọc tác phẩm của một văn hào!

Tháng ngày lùi xa tít tắp như cuối trời sa mạc. Tìm lại những dấu chân mình đã bị cát xóa. Bỗng thấy bầu trời “Springfield” – cánh đồng mùa xuân ấy – gần gũi trong xanh mà Chương – nhân vật trong truyện của ông ta – đã trở lại. Nơi ấy, những năm tháng sau khi giải ngũ, Chương đã sang du học và tốt nghiệp Ph.D . Nơi ấy Martha đã đến với Chương như một quà tặng của tự do. “Tôi sẽ dùng xe buýt đi dọc theo xa lộ qua các tiểu bang New Mexico, Arizona, Nevada và nhất định tôi sẽ đến Los Angeles qua Thung lũng Tử thần (Chương nhấn mạnh). Yes, Death Valley, I said” con lừa nhỏ của chàng Tappan.

Chàng Tappan đi qua thung lũng Tử thần dưới ánh nắng chói lòa trên sa mạc cát bỏng. Những tia nắng đã thực sự biến thành những mũi kim xiên thấu da thịt. Nhớ lúc Tappan chịu cơn bão táp giết người về đêm, chết ngất trên lưng lừa. Thế mà Tappan cũng lên được đỉnh núi tuyết và sống bốn mùa êm ả trên đó. Thế rồi, giờ của định mệnh đã điểm. Tappan đã cứu được con lừa Janet qua khỏi cơn bão tuyết, đưa nó từ đỉnh núi băng giá xuống thung lũng mượt xanh. Con lừa được ăn cỏ và sống, còn chủ nó đã chết vì kiệt sức.

“Mình là con lừa Janet hay là chàng Tappan?” Đoàn Quốc băn khoăn tự hỏi. “Mình sẽ vượt qua thung lũng của sự chết – cái đất nước khốn khổ này. Mình đến được đó là đủ rồi. Rồi ra sao thì ra, miễn là thoát được cơn bão khốn kiếp này. Là con lừa Janet may mắn hay chàng Tappan xấu số cũng được.”

Martha! Martha. Bên kia bờ sông có tiếng vọng lại “Martha! Martha”. Con sông tâm tưởng. Chương lúc đó đang ngồi ngửa mặt nhắm mắt lười biếng trên chuyến xe buýt liên tiểu bang – Con sông xuân tràn đầy chảy lênh láng, màu nước biêng biếc như tóc mềm (tóc Martha) gặp gió xõa trên bờ vai. Chương biến thành gió, luồn tay vào mái tóc đó, bàn tay vô hình mơn man êm dịu… Springfield – cánh đồng mùa xuân – thủ phủ của Illinois thật hữu tình và có tính cách tiền định.

Đến Springfield để trả món nợ tình… Thời gian, không gian giờ đây là của hai người. Chương nghiêng đầu sát tới nói thầm bên tai Martha:

– The closer I get, the better you look.

Chàng có một cử chỉ “nhào đại”, muốn hôn lên miệng Martha…

– A… a… a… a…

Chương tìm lại hương vị thơm đắng của cà phê trên môi Martha, một bàn tay Chương xoa lên bờ vai rồi vòm ngực tròn trịa của nàng

– Về nhà đã Chương, Martha van vỉ.

Chương lắc đầu giữ chặt lấy nàng, không đáp. Martha cảm thấy những ánh sao lóe sáng rụng lả tả… rụng lả tả trên khắp vùng da thịt…

…..

Đoàn Quốc tiếp tục đọc hơn trên hai trăm trang bản thảo. Như trở về chốn cũ. Anh gặp lại người xưa. Ngỡ ngàng như quen thuộc, gần gũi mà xa xôi. “Dòng sông tâm tưởng. Martha, Martha!” Tiếng vọng từ bên kia dòng sông, hay từ bên kia đại dương, của quá khứ nhạt nhòa đứt đoạn.

Ngoài đường đã bắt đầu tiếng xe chạy. Tiếng xích lô máy nổ lẻ loi, vang động. Đoàn Quốc nghe cột sống lưng tê cứng, nhưng không thấy buồn ngủ. Châm bình trà mới, đốt một nén hương đuổi muỗi. Bẩy năm rồi đã ngủ triền miên để thức trọn đêm nay. Để thấy lại bầu trời. Cánh đồng mùa xuân và Martha, thung lũng tử thần và anh chàng Tappan tội nghiệp.

Gần sáng, Đoàn Quốc nẩy ý định viết tiếp “Dấu chân cát xóa”. Chương trở về nước làm giáo sư kiêm nhà văn. Lúc giải phóng Sàigòn, hắn ta bị kẹt lại đi học tập cải tạo. Bẩy năm qua chẳng là tấn bi kịch của cuộc đời được tiếp nối đó sao? Mặt trời đã lặn, nhưng mặt trời không tắt hẳn. Nó sẽ mọc lại vào bình minh hôm sau. Tappan đã vượt qua Thung lũng Tử thần nóng bỏng, chết chóc để lên tận đỉnh non cao bốn mùa êm ả. Dẫu là đêm, nhưng mặt trời vẫn tồn tại…”Đường lên mặt trời” – Đoàn Quốc đã chọn để làm tựa đề cho chương tiếp của “Dấu chân cát xóa”.

Trên đây là một phần chương IV-NTBKCB. Nhân vật chính của chương này là giáo sư – nhà văn Đoàn Quốc. Trong số năm tên chúng tôi bị gọi là “Những tên Biệt kích cầm bút”, Đoàn Quốc là người được diễn tả đời tư với những lời tương đối sạch sẽ, tử tế nhất. Không chỉ những giới thiệu đàng hoàng mà thôi dường như hai anh cớm cộng Nam Thi – Minh Kiên còn có vẻ thán phục và đề cao Biệt kích Đoàn Quốc. Kể từ 1954 – trước đó bỏ, ta chỉ tính sổ bụi đời từ năm 1954 – đến năm nay 1996 là 42 mùa thu lá bay ông Đoàn Quốc dậy học, viết văn, in sách, đi tù ở Sàigòn nói riêng và trong nước nói chung, rồi ra hải ngoại, định cư ở Houston, Texas, hai ông bà được mời đi khắp nơi gặp lại bạn hữu v.v… Suốt 42 mùa thu đó ông Đoàn Quốc không bị một lời chỉ trích, chê bai, kể cả xuyên tạc, vu khống, ghen tị, bới lông tìm vết, móc lò bậy bạ. Ngay cả đến đại tá công an Việt cộng khi viết về người tù Đoàn Quốc cũng viết với những lời lịch sự như ta vừa thấy. Trong khi ấy, thì bốn tên văn nghệ sĩ Khuất Duy, Dương Hùng, Trần Ngọc Thự, Hoàng Hải cùng được xe bông công an thành Hồ đến tận nhà rước đi trong một đêm với ông Đoàn Quốc bị diễn tả như những tên lưu manh, láu cá, đá cá lăn dưa hết sức tồi tệ. Khốn nạn nhất là anh cu Hoàng Hải. Anh này không những bị chửi về đời tư bê bối mà thôi, bọn bắt giam và viết về anh còn lôi cả ông ngoại anh vào những trang NTBKCB.

Tác phẩm Dấu Chân Cát Xóa của Doãn Quốc Sĩ đã được ấn hành ở hải ngoại. Tháng Năm 1995 anh chị Doãn Quốc Sĩ đến thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Trong sáu niên tù đầy lần thứ hai tôi ở chung phòng với Trí Siêu Lê Mạnh Thát năm năm, chung phòng với Doãn Quốc Sĩ hai năm. Không một lần nào chúng tôi hẹn nhau, dù chỉ là hẹn đùa cho dzui: “Chúng ta sẽ gặp nhau ở Mỹ…”. Dzậy mà… định mệnh an bài… Nàm thao em piết….!

Tôi không hay đọc tác phẩm của người viết cùng thời. Trước năm 1975, tôi chỉ đọc những quyển “Tình cao thượng, Mối tình mầu hoa đào, Hòa bình, nghĩ gì, làm gì?” của Nguyễn Mạnh Côn, Thương Nhớ Mười Hai của Vũ Bằng. Những ngày u buồn trống rỗng, đen tối khủng khiếp sau Ba Mươi tháng Tư 75 quẩn quanh trong căn nhà nhỏ, không có việc gì làm, không biết đi đâu, tôi lấy sách cũ ra đọc. Vớ được quyển “Sầu Mây” của Doãn Quốc Sĩ trong tủ sách, tôi nằm đọc “Sầu Mây”.

Năm 1981, anh Sĩ từ trại cải tạo Gia Trung Pleiku-Kontum trở về. Tôi gặp lại anh ở nhà anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Tôi nói với anh:

– Trong “Sầu Mây” cái đoạn nhân vật chính, anh chàng gì đó, sang Mỹ du học, làm tình với em đầm Mỹ, anh tả: “Lúc ấy chàng cảm thấy như nước tình yêu chan hòa trên mặt các lãnh tụ của cả hai miền Nam Bắc…” Tôi thấy hơi quá đáng. Hai nữa, theo tôi nghĩ, thằng đàn ông nào đến giây phút ấy còn bị ám ảnh về chuyện chính trị thì đó là tên khổ sở nhất đời.

Nhà mô phạm tả chuyện đàn ông, đàn bà làm tình rạo rực, rộn rịp mê ly đâu có kém gì những nhà văn nữ. Bằng chứng như ta đã thấy. Công an Việt cộng khi trích “Dấu chân cát xóa” đã bỏ qua những đoạn có tư tưởng chính trị để trích đoạn nhân vật Chương trở lại Springfield, Illinois, với đầm Mỹ Martha. Anh Con Trai Bà Cả Đọi xin chiếu lại hầu quý vị đoạn phim này:

Martha! Martha. Bên kia bờ sông có tiếng vọng lại “Martha! Martha”. Con sông tâm tưởng. Chương lúc đó đang ngồi ngửa mặt nhắm mắt lười biếng trên chuyến xe buýt liên tiểu bang – Con sông xuân tràn đầy chảy lênh láng, màu nước biên biếc như tóc mềm (tóc Martha) gặp gió xõa trên bờ vai. Chương biến thành gió, luồn tay vào mái tóc đó, bàn tay vô hình mơn man êm dịu… Springfield – cánh đồng mùa xuân – thủ phủ của Illinois thật hữu tình và có tính cách tiền định. Đến Springfield để trả món nợ tình… Thời gian, không gian giờ đây là của hai người. Chương nghiêng đầu sát tới nói thầm bên tai Martha:

– The closer I get, the better you look.

Chàng có một cữ chỉ “nhào đại”, muốn hôn lên miệng Martha…

– A… a.. .a… a…

Chương tìm lại hương vị thơm đắng của cà phê trên môi Martha, một bàn tay Chương xoa lên bờ vai rồi vòm ngực tròn trịa của nàng

– Về nhà đã Chương, Martha van vỉ.

Chương lắc đầu giữ chặt lấy nàng, không đáp. Martha cảm thấy những ánh sao lóe sáng rụng lả tả… rụng lả tả trên khắp vùng da thịt…

Năm 1970 Nhật báo Sống của anh Chu Tử đang ở giữa thời kỳ phồn vinh nhất trong cuộc sống ngắn ngủi của nó. Năm ấy ngoài truyện võ hiệp Kim Dung như các báo khác, Sống đăng truyện dài nơi trang trong của Nguyễn Thụy Long, Hoàng Ly, Anh Hợp, Hoàng Hải Thủy. Báo Sống bán được có tiền, anh Chu Tử tăng cường hai cây bút nặng ký: Nguyễn Mạnh Côn và Bùi Giáng.

Anh Côn viết loạt bài không hẳn là khảo luận, không ra luận thuyết mà cũng không phải là tiểu thuyết, dưới cái tên long trọng là “Tuyên ngôn của Tình Yêu và Ánh Sáng”. Anh Bùi Giáng viết tiểu thuyết võ hiệp. Anh Chu Tử có cái hay là khi anh đã nhờ ai viết cho báo anh thì người đó hoàn toàn tự do muốn viết gì thì viết, anh không bao giờ can thiệp vào việc viết của anh em. Thi sĩ Lá Hoa Cồn, người có câu thơ bất hủ tả trong một đêm mà “… Cồn lê lên miệng đến ba bốn lần” – Một hai lần chắc còn ngắc ngoải được, một đêm mà đến ba bốn lần chắc chết – người từng dịch “Antoine et Cléopatre” ra “Sương Tì Hải”, viết tiểu thuyết võ hiệp không giống ai, anh dùng rất nhiều tiếng “tồn liên, liên tồn” trong truyện. Kể cả bọn tôi, bọn thợ viết, đọc truyện anh đăng trên báo Sống cũng chịu không biết anh tả chuyện gì, nhân vật nói với nhau lời gì, ân oán ra sao.

Tôi có dịp gần anh Nguyễn Mạnh Côn khá nhiều. Trong số những người trẻ từng gần anh Côn như Nguyễn Đình Toàn, Trần Dạ Từ, Duyên Anh chỉ có tôi là người cùng đăng lính Cô Ba với anh Côn. Tôi dám nói chắc mà không sợ mấy ổng kiện là những ông văn nghệ sĩ lớn như các ông Nguyễn Mạnh Côn, Bùi Giáng, Chu Tử, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, kể cả hai ông thi sĩ mần thơ Tình Yêu vi vút nhất là Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… đều là những ông đàn ông ít biết về đàn bà nhất và biết ít đàn bà nhất.. Xin nói rõ: biết ít đàn bà nhất. Ông nào cũng vừa mới mười chín, đôi mươi là có vợ hiền, suốt đời cơm nhà, quà vợ. Dzậy mà kể cũng lạ và cũng hay: các ông vẫn viết về tình yêu và đàn bà loạn cào cào.

Tôi chịu khó đọc những bài “Tuyên ngôn vềTình Yêu và Ánh Sáng” của anh Côn đăng trên báo Sống. Một sáng tôi gặp anh đến tòa báo, tôi bảo anh:

– Ông ơi…Ông làm ơn viết “Tình Yêu Ánh sáng” cẩn thận giùm con một tí…

Đa số người viết thích thú khi gặp người đọc mình – khen càng tốt, chê, chỉ trích cũng được. Miễn là có đọc mình – chê đúng thì nghe, bậy bạ bỏ qua – Anh Côn tỏ ra hào hứng nghe tôi phê bình những gì anh viết. Muốn phê phán văn anh ngoài việc đọc anh người phê còn phải có công lực kha khá. Trong bài Nguyễn Xuân Hoàng phỏng vấn anh Côn đăng trong Nhật báo Công Luận – khoảng năm 1968-69 – anh Côn có nói: “Trong số những người trẻ tôi vẫn mến và cho là viết được, tôi không ngờ Hoàng Hải Thủy lại là người đọc tôi kỹ nhất…”

Khi nghe tôi nói câu trên về “Tình Yêu và Ánh Sáng” tại xe cà phê-nước ngọt trên vỉa hè trước cửa tòa soạn báo Sống – Nhà in Tường Anh đường Gia Long – Anh Côn hỏi tôi:

– Chuyện gì thế?

– Ông đưa ra mấy cái đền gì đó ở Ấn Độ có cả mấy trăm bức tượng nam nữ mần tình đủ kiểu, ông kết luận: “Tại dân Ấn biết cách làm tình nên họ thông minh!” Ông viết thế là thế nào? Tại vì họ biết làm tình nhiều kiểu cho khoái lạc nên họ thông minh hay vì họ thông minh nên họ biết cách làm tình? Ông viết như thế bọn trẻ nó đọc ông, nó sẽ thấy muốn thông minh nó phải làm tình thật nhiều, làm đủ kiểu. Làm tình như thế nó sẽ trở thành thằng điếm đực chứ không thể trở thành người thông minh.

Anh cười:

– Được rồi. Ông nói thế tôi cũng biết thế. Tôi không nhớ tôi có viết đúng như ông nói hay tôi viết khác. Tôi về đọc lại rồi sẽ nói chuyện với ông….

Tôi định nói: “Cả đời anh chỉ biết có mỗi một người đàn bà thôi mà anh cứ viết bừa tăng tít về đàn bà…” nhưng sợ câu đó quá hỗn, tôi nói một câu nhẹ hơn:

– Anh chẳng biết đ.. là cái gì mà anh cứ viết loạn cào cào về đ…

Sáng nay, một buổi sáng hai mươi sáu mùa lá rụng sau buổi sáng năm 1970 tôi gặp anh Côn ở trước cửa tòa soạn báo Sống, ngồi viết ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, tôi thấy hiện lên trong tôi ánh mắt sau làn kính cận và miệng cười vui của anh Nguyễn Mạnh Côn. Rồi tôi thấy hiện lên hình ảnh của anh trong Nhà Giam Số 4 Phan đăng Lưu năm 1977: buổi sáng chủ nhật, khoảng 10 giờ, cai tù mở cửa phòng cho tù nhân ra sân ngồi phơi nắng chừng nửa tiếng. Từ sà-lim nhìn ra qua ô cửa gió tôi thấy anh Côn ngồi bên lối đi, anh bận bộ đồ ngủ nâu. Đó là hình ảnh cuối cùng của anh trong ký ức tôi. Vài ngày sau anh Côn bị đưa lên trại cải tạo Xuyên Mộc và anh chết ở đó.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Son râu 3 Oct 2025

75. Thơ Thơ

Phòng Triển Lãm Mùa Đông của Thơ Thơ gồm 14 truyện ngắn, hầu hết đã được đăng rải rác trên các tạp chí xuất bản ở hải ngoại trong ít năm gần đây. Thơ Thơ đã được các nhà văn, nhà phê bình, đề tựa, đề bạt, viết lời giới thiệu với nhiều cảm tình.

Trong lời tựa cho cuốn sách, nhà văn Nguyễn Mộng Giác viết:

“Tôi biết ‘lý lịch’ của cô trước khi đọc văn cô. Anh Hoàng Khởi Phong trân trọng nhắc nhở: ‘Con nhà tông đấy. Cháu ngoại cụ Hoàng Đạo đấy. Lời giới thiệu khiến tôi phải quan sát Thơ Thơ kỹ hơn. Một cách vô thức, tôi nhanh chóng so sánh Thơ Thơ với những mẫu nhân vật nữ của Tự Lực Văn Đoàn. Chẳng hạn với Loan [Đoạn Tuyệt]. Nếu cô Loan của Nhất Linh sống đời sống bây giờ, có lẽ cô cũng ăn mặc như Thơ Thơ; chiếc áo khoác rộng vải Khaki, chiếc sơ-mi màu nhã, quần jeans xanh nhạt, giầy vải Reebok, tóc cắt gọn, hay cột lại bằng một ruban nhỏ, nói chung là một cách ăn mặc gọn ghẽ, đơn giản, trẻ trung, và đầy tự tín. Nhưng Thơ Thơ không có phong thái của một nhà tranh đấu cho nữ quyền như cô Loan. Tôi không biết nhiều về Thơ Thơ ngoài lời giới thiệu ngắn của Hoàng Khởi Phong, nhưng phong thái của

Thơ Thơ không hề là phong thái của một nạn nhân cổ tục đại gia đình như cô gái thời Tự Lực Văn Đoàn”.

Như thế, Nguyễn Mộng Giác vừa muốn giới thiệu Thơ Thơ như một hậu duệ chính thống của Tự Lực Văn Đoàn Đoàn vừa muốn tách cô ra khỏi cái bóng rợp của Tự Lực Văn Đoàn. Thực ra thì ngay Nhất Linh của Đôi Bạn và Bướm Trắng cũng đã khác với Nhất Linh của Xóm Cầu Mới và Giòng Sông Thanh Thủy rồi, nói chi tới thế hệ Thơ Thơ.

Lịch sử đã khác.

Đời sống đã khác.

Môi trường sống cũng đã khác.

Và, những người như Thơ Thơ tiếp nhận một nền văn hóa cũng như giáo dục khác. Dù có muốn người ta cũng không thể trở lại quá khứ được nữa.

Thế giới của Tự Lực Văn Đoàn đã khép lại.

Nửa Chừng Xuân hay Con Đường Sáng là những cuốn phim hay. Cái thế giới ấy thuộc về những người tạo ra nó. Nó có thể vẫn còn là những tấm gương soi, nhưng không còn là đời sống nữa.

Nhìn vào tấm gương ấy trước mặt là quá khứ, sau lưng mới là đời sống, mới là hiện tại. Quay lưng lại thì không còn dấu vết gì của quá khứ nữa.

Thơ Thơ nhìn đời sống bằng đôi mắt của mình. Cái nhìn thẳng vào cuộc đời chứ không theo một chỉ dẫn hay gợi ý nào trước.

Cách bố cục truyện cũng như suy nghĩ của các nhân vật của Thơ Thơ không thể có trong thời Tự Lực Văn Đoàn. Về các truyện ngắn của Thơ Thơ nhà văn Duy Lam đưa ra nhận xét:

“Dưới cái nhìn buồn bã và đôi khi bất lực, Thơ Thơ đã sáng tác được những truyện ngắn phức tạp, đặc sắc và khó quên”.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Son râu 3 Oct 2025

74. Thảo Trường

Thảo Trường là một trong những nhà văn quan trọng đã đóng góp vào việc hình thành nền văn học miền Nam Việt Nam trong hai thập niên từ 55 đến 75.

Ông có một văn phong mạnh mẽ, ngắn gọn, nhưng súc tích. Cách bố cục truyện của ông chặt chẽ, mới mẻ. Có thể nói, truyện ngắn Việt Nam đến những Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Thảo Trường đã hoàn toàn đổi mới, so với dòng văn học trước đó. Viết truyện không còn thuần túy là kể một câu truyện, mà hình như nó hàm chứa tất cả những gì liên quan đến than phận con người nằm trong câu chuyện ấy, hiểu theo nghĩa siêu hình, triết học và thực tế. Nói như thế cũng chỉ là một cách nói.

Thực tế, người ta không thể tách rời những điều ấy ra khỏi nhau, cũng từa tựa như người ta không thể tách rời đời sống ra khỏi cái chết.

Chẳng hạn, một nhân vật trong một truyện ngắn của Thảo Trường, một người lính, bị thương cụt cả chân lẫn tay, anh muốn tự vẫn, nhưng nghĩ đại khái như thế này:

“Nếu tôi sống thì xã hội còn những hình hài bẩn thỉu. Nếu tôi chết thì nhân loại mất đi một bằng chứng kinh tởm về chiến tranh”.

Thật người đọc cũng khó lòng nắm được hết ý nghĩa những câu văn như thế. Không phải tác giả cố ý viết một câu văn triết lý. Nhưng sự việc tự nó mang lấy ý nghĩa đó. Không phải tác giả tạo ra những nhân vật như thế.

Chính những nhân vật như thế bị ném vào cuộc đời. Người ta nhìn thấy hắn. Và hắn phải xoay trở để thích ứng với hoàn cảnh.

Những sự việc [hình như] cụ Nguyễn Du đã trông thấy trước, đã nói ra rồi: Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Nói về cuộc chiến tranh vừa qua Thảo Trường viết:

“Cuộc chiến không thể kéo dài mãi, cần phải chấm dứt nó, ở trong nước cũng như ở ngoài nước, nhiều người đã nghĩ như vậy. Nhưng để chấm dứt cái cuộc chiến huynh đệ tương tàn đã tốn quá nhiều xương máu ấy thì phải có một bên thua. Ai chịu làm bên thua đây? Bên nào chịu nhục đây? Không tìm ra cách giải quyết.

Cho đến năm 1975, tội lớn nhất của cộng sản là đã thắng trận, và, chiến công lớn nhất của cộng hòa là thua trận.

Có thể có những người không đồng ý với lập luận này của Thảo Trường. Nhưng chúng ta có cái sung sướng là được nghe mọi người bầy tỏ quan điểm của mình. Cũng nên nhắc lại ở đây Thảo Trường là người thực sự đã đóng góp xương máu vào cuộc chiến đó. Ông là một trong những người sau cùng được thả ra khỏi trại cải tạo. Mây Trôi viết về đời sống của những người miền Nam sau khi cộng sản chiếm được miền Nam.

Người miền Nam sống trộn lẫn với người miền Bắc mới tràn vào. Các nhân vật đã bị hay được Thảo Trường đơn giản hóa đến độ không ban cho họ mỗi người một cái tên nữa. Họ chỉ được gọi là con ở, ông cựu sĩ quan Cộng Hòa, hay cựu tù, bà cựu đảng viên, ông chồng của bà ta gọi là ông chồng …

Ông cựu tù vợ con đã đi Mỹ cả.

Ông cặp với bà cán bộ.

Họ dính với nhau trong khi ông chồng của bà cán bộ mãi loay hoay làm việc trong kho quân nhu.

Ông cựu tù tự nhận định về mình thế này:

“Anh đã bị nhấn xuống tận cùng hố thẳm, bây giờ trồi lên, cũng không biết rồi sẽ ra sao, bởi vì mọi sự đều đã đi  quá xa, mọi thứ đều đã quá trễ, anh như một kẻ lạc hậu, anh tụt lại phía sau lịch sử, vì anh vắng mặt bấy lâu … Gặp em cưu mang, em cho anh các thứ, trong chốc lát, nhưng thử hỏi được bao lâu, bởi vì chính em cũng không làm chủ được em cơ mà, em cũng chỉ là người sống tạm bợ …

Và sau đây là lời nàng nói với chàng:

“Em không cần biết những điều ấy. Em có một số của cải cất giấu đủ xài suốt đời và đủ bao bọc cho anh suốt đời, em không cần gì khác nữa, em không muốn biết gì khác nữa. Em có một kinh nghiệm sống vỏn vẹn như thế. Anh đừng thèm nghĩ ngợi gì lôi thôi … Cái gì xài được là xài liền. Ăn tươi được là ăn tươi ngay không để phơi khô. Cái gì chụp giữ được cho mình là cất giấu ngay làm của riêng tắp lự. Không “oong đơ gì cả”.

Cả cuốn truyện gần như sục sôi một không khí dục vọng. Người ta lăn xả vào nhau. Người ta sống như muốn lấy lại những ngày tháng đã phí phạm. Phí phạm vì bị ở tù. Phí phạm vì không tìm ra ý nghĩa của đời sống, nên dù có làm gì chăng nữa vẫn cứ thấy đời sống trống rỗng. Cái mà người ta gọi là tình ái không thể lấp đầy nỗi trống rỗng đó. Và càng cố bám víu vào nó người ta càng cảm thấy hao hụt thêm lên.

Người đàn ông, chàng cựu tù, sau đó đi Mỹ. Người đàn bà, cựu đảng viên, nhiều tiền của, lắm mánh khóe sau đó cũng sang được Mỹ. Người đàn ông gặp lại vợ con rồi chết. Ao ước cuối cùng của chàng là tro cốt được đem về chôn tại quê nhà ở miền Bắc, bên cạnh mộ cha mẹ chàng.

Người đàn bà cựu đảng viên thì lại cảm thấy không thể trở về Việt Nam được nữa vì đã dị ứng với chế độ và tự thấy mình là một thứ cộng sản rạc rầy, vùng vẫy thoát ra khỏi nó mang theo rất nhiều thương tích.

Hình như mọi người đều sống sai chỗ, nên lênh đênh cho đến lúc chết.

Có ít nhiều thay đổi trong lối viết của Thảo Trường. Có vẻ như ông muốn bỡn cợt với cả những điều nghiêm chỉnh. Nên văn ông bỗng trở nên buồn và chua chát.

Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 2 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu

11. Cha Tôi

SAU một thời gian ngắn sửa soạn cuộc viễn du, hôm nay Rita ra đi lòng chứa chan hy vọng. Nàng ra đi để tìm chỗ cha tôi ẩn náu, trốn tránh.

– Henri, xin anh tin em. Em sẽ đưa ba về.

Bây giờ chỉ mình tôi coi sóc khách sạn. Tôi bỏ công việc bán quần áo, một công việc chỉ trong vài giờ, đã thấy lời khả quan. Tuy nhiên Rita đã ra đi tìm ba tôi, tôi phải lo liệu tất cả, không những như là có mặt nàng ở đây, mà phải hai lần hơn.

Tìm ba tôi, tìm ba tôi! Một ông giáo thuần khiết của một làng trong tỉnh Ardèche, một ông cha mà cách đây 20 năm, lần cuối không thể hôn đứa con trai trong kỳ viếng thăm tại nhà tù vì bị các song sắt ngăn cách, một đứa con bị xử phạt khổ sai chung thân. Với ông cha ấy, Rita, vợ tôi sẽ nói: “Con đến như một đứa con gái thưa ba rõ rằng con trai của ba đã ra sức tìm lại tự do, anh ấy đã làm lại cuộc đời, và trở nên một người tốt, một người lương thiện và đã cùng con tạo nên một mái ấm gia đình đang chờ đợi ba đến”.

Tôi thức dậy lúc 5 giờ và đi mua các thứ với con chó Minou và một đứa trẻ mười hai tuổi mà tôi đã nhận nuôi sau khi nó trong tù ra. Nó xách giỏ. Trong một giờ rưỡi đồng hồ, tôi mua thức ăn cho cả ngày: thịt, cá, rau. Chúng tôi đi về mang nặng như hai con lừa. Trong bếp có hai người đàn bà. Một người hai mươi bốn tuổi, người kia mười tám. Tôi đặt tất cả các thứ mua về trên bàn rồi họ sắp xếp lại.

Đối với tôi, thời gian đẹp nhất của cuộc sống đơn giản này là lúc sáu giờ rưỡi sáng, tôi điểm tâm tại phòng ăn với đứa con gái bà bếp Rosa ngồi trên đùi tôi. Đứa bé lên bốn, đen như cục than, nó không chịu ăn nên không được cùng ăn sáng với tôi. Thân hình nhỏ bé của nó trần truồng và còn mát rượi vì được mẹ nó vừa tắm cho nó lúc ngủ dậy, cặp mắt sáng ngời của nó nhìn tôi đầy tin tưởng, tiếng nói líu lo của nó, tất cả, kể cả con chó ghen tức vì bị lãng quên nên sủa lớn, con két của Rita mở ruột bánh mì nhúng sữa bên cạnh tách cà phê, tất cả, vâng, đã làm cho giờ phút ấy trở thành kỳ diệu nhất trong ngày.

Không nhận được thư từ gì của Rita cả. Tại sao? Nàng ta đi đã hơn một tháng rồi. Đành rằng phải mất mười sáu ngày đi đường, nhưng trong mười lăm ngày trên đất Pháp, nàng chưa tìm ra manh mối gì hay là nàng không muốn nói cho tôi biết? Tôi không đòi hỏi gì hơn một bức điện tín, ít ra là một bức điện tín trong đó bằng một câu ngắn nàng reo hò đắc thắng: “Ba khỏe mạnh, và vẫn yêu anh”.

Tôi trông chờ người đưa thư, tôi chỉ rời khách sạn để đi công việc cần cho mọi việc chạy đều, làm việc hối hả rồi về để luôn luôn có mặt ở nhà. Ở Venezuela, nhân viên bưu điện không mặc đồng phục, nhưng đều rất trẻ. Thế nên khi một chú bé vừa bước vào sân trong là tôi tiến đến, mắt nhìn chăm chăm vào đôi tay của nó để thấy ngay nó có cầm mảnh giấy xanh hay không. Không có, cứ không có mãi. Thường khi không phải là những chú nhân viên bưu điện. Chỉ trừ hai ba lần gì đó có chú bé đi vào với một mảnh giấy xanh. Tôi nhảy tới, hầu như giựt bức điện tín nơi tay nó để rồi thất vọng nhận thấy điện tín ấy gởi đến cho một người khách trọ.

Sự chờ mong, sự thiếu vắng tin tức khiến tôi bực bội, âu lo. Tôi làm việc như chết, tôi cần bận rộn luôn luôn nếu không tôi không thể nào chịu đựng nổi tình trạng này. Tôi phụ giúp nấu ăn, bày ra những món ăn tân kỳ, đi khám các phòng mỗi ngày hai lần, nói chuyện với khách trọ về bất cứ vấn đề gì, tôi nghe kể bất cứ chuyện gì. Chỉ có một việc đáng kể là lấp đầy ngày giờ để có thể chịu đựng cảnh thiếu tin tức và cảnh đợi mong. Chỉ có một việc tôi không thể làm được: ngồi vào bàn xì phé bắt đầu mỗi đêm vào lúc hai giờ.

Về công việc khách sạn, một mình tôi xoay sở cũng khả quan, và khách trọ đều tỏ ý hài lòng.

Chỉ có một trục trặc khá quan trọng. Do lỗi của Carlitos. Thay vì mua dầu lửa để lau chùi nhà bếp, nó lại mua dầu xăng. Sau khi đổ khá nhiều để rửa nền xi măng, mấy bà bếp không chút nghi ngờ đã đốt lò. Tất cả nhà bếp phựt cháy kinh khủng. Hai chị em bị cháy từ chân đến bụng. Tôi chỉ kịp lấy khăn bàn trùm kín bé Da đen con của Rosa và cứu được khỏi phỏng. Hai người kia bị phỏng nặng. Tôi để họ nằm điều trị tại phòng của họ trong khách sạn và tuyển một người bếp quốc tịch Panama.

Đời sống ở khách sạn vẫn đều đều, nhưng tôi bắt đầu thấy mất ăn mất ngủ vì sự bặt tin và sự thiếu vắng Rita.

Nàng ra đi đã 57 ngày. Chốc nữa nàng sẽ có ở đây, chỉ còn 10 đến 20 phút nữa. Tôi chờ nàng ở phi trường. Tại sao chỉ có một điện tín vắn tắt: “Sẽ đến thứ ba 15 giờ 30 bằng chuyến bay 705. Hôn nhiều – Rita”. Tại sao không còn gì nữa? Hay là nàng không tìm được ai hết? Tôi không biết nghĩ gì hơn, và không muốn phỏng đoán.

Kìa, Rita của tôi đã đến. Tôi sẽ biết ngay.

Nàng là người hành khách thứ năm bước xuống cầu thang máy bay. Nàng trông thấy tôi ngay và đưa cánh tay lên cùng lúc tôi đưa cánh tay tôi. Bước chân nàng không gì khác lạ. Cách xa 40 thước, tôi dò xét nét mặt nàng, nàng không cười, chỉ mỉm cười thôi. Không, nàng không tiến về phía tôi bằng những bước chân đắc thắng, không, nàng không đưa tay lên để báo hiệu nỗi vui mừng mà chỉ để cho tôi hiểu nàng đã thấy tôi.

Khi còn cách tôi 10 thước, tôi biết rõ ràng đã thất bại trong chuyến đi.

– Em có tìm thấy ba anh không?

Câu hỏi được ném thẳng vào mặt nàng, sau khi tôi chỉ hôn nàng một cái, chỉ một cái sau hai tháng xa cách. Tôi không thể chờ đợi lâu nữa.

Vâng, nàng đã tìm được ba tôi. Ông nằm trong nghĩa địa một thôn nhỏ ở tỉnh Ardèche.

Nàng đưa cho tôi một bức ảnh. Một ngôi mộ xây đắp kỹ lưỡng, bằng xi măng, có mấy chữ: “J. Charrière”. Ba tôi chết bốn tháng, trước khi nàng đến. Bức ảnh ngôi mộ là tất cả những gì Rita đem về cho tôi.

Lòng tôi tràn đầy hy vọng khi vợ tôi ra đi bây giờ nghe tin kinh khủng ấy tim tôi gần như ngừng đập. Tôi cảm thấy tim tôi bị xé nát, tất cả những ảo vọng của một người đã trưởng thành nhưng đối với cha mình vẫn còn là cậu bé, đều sụp đổ. Chúa ơi, không những Chúa đã tàn hại cả tuổi thanh xuân của tôi, Chúa còn từ khước không cho tôi hôn cha tôi, nghe giọng cha tôi chắc hẳn nói với tôi: “Lại đây với Ba, bé Riri. Số kiếp tàn nhẫn với con, công lý và chế độ lao tù đối xử bất nhân với con, nhưng ba vẫn thương con, không bao giờ ba từ con và ba hãnh diện vì con đã có nghị lực chiến thắng tất cả để trở nên con người ngày hôm nay”, Rita kể lại không biết chán những gì, tuy rất ít, nàng được biết, nàng đã hầu như van xin người ta cho biết về cảnh đời của ba tôi sau khi tôi bị kết án. Tôi không nói gì hết, tôi không thể nói được, hình như có cái gì chặn ở cổ. Rồi đột nhiên, như một giòng suối tuôn trào, ý nghĩ trả thù trở lại xâm chiếm tôi với một mãnh lực dã man. “Hỡi bọn cảnh sát, tao sẽ cho nổ chiếc rương tại số 36 đường Orfèvres, không phải để giết một vài đứa tụi bây, mà giết càng nhiều càng tốt, một trăm, hai trăm, ba trăm, một ngàn! Còn mày, Goldstein, vì ham lợi mà làm chứng gian, mày hãy xem tao, mày sẽ có phần của mày, đúng mức mà! Còn mày, thằng phó Chưởng lý khao khát kết án người ta, tao sẽ cắt cái lưỡi của mày một cách đau đớn nhất!”.

– Rita, chúng ta phải xa nhau. Em cố gắng hiểu cho anh: chúng nó đã tàn hại đời anh. Chúng đã không cho anh hôn ba anh và xin ba anh tha thứ. Anh phải trả thù, không thể để chúng thoát. Ngày mai anh sẽ đi, đêm nay là đêm cuối cùng. Tiền lộ phí và tiền chi vào việc thực hiện ý đồ, anh đã có cách. Việc duy nhất anh yêu cầu em, là để cho anh lấy 5.000 đồng trong số tiền chúng ta dành dụm hầu anh trang trải những chi phí đầu tiên.

Giây phút im lặng kéo dài, tôi không còn thấy Rita, gương mặt nàng khuất sau những hình ảnh của kế hoạch trả thù đã được tôi vạch từng chi tiết cả ngàn lần.

Phải cần những gì để thực hiện kế hoạch ấy? Tính chung ít hơn hai trăm ngàn đồng. Trước kia tôi dự trù quá nhiều. Với số tiền sáu chục ngàn Mỹ kim, là quá đủ. Có hai nơi tôi để yên vì tôn trọng xứ này. Trước hết là vùng Callao với đống vàng do cựu phạm canh giữ. Thứ đến là ngay tại trung tâm Caracas, người thâu ngân viên của một xí nghiệp lớn. Rất dễ đánh cướp tên này vì hắn chuyển tiền không có người hộ vệ. Hành lang đi vào tòa nhà rất tiện, cũng như hành lang ở lầu tư, vì cả hai đều thiếu ánh sáng. Tôi có thể ra tay một mình, không cần vũ khí, không cần thuốc mê. Có điều rắc rối là trong trường hợp chuyển một số tiền rất lớn, chúng nó đi ba người. Một mình tấn công cả ba là một việc không chắc ăn một trăm phần trăm. Dễ nhất dĩ nhiên là mớ kim cương Callao. Đến đó lấy đủ số tôi cần, ba mươi ký vàng, không hơn, rồi chôn kỹ. Nếu có bị phát giác, tôi cáo bệnh nằm tại nhà Maria, nhưng không có dấu hiệu gì chứng tỏ sẽ bị phát giác ngay. Công việc không gì phiền toái: tôi nằm với Maria, rồi khi nàng ngủ, tôi cho nàng ngửi thuốc mê để nàng khỏi thức dậy khi tôi đi. Tôi có thể ra đi, ăn hàng xong rồi trở về nằm bên nàng mà không ai thấy. Thân hình trần truồng, sơn đen, trong đêm tối đến gần người canh kho là việc quá dễ.

Phải trốn đi bằng ngả xứ Guyane thuộc Anh. Tôi phải đến Georgetown với rất ít vàng đã được đốt chảy ra thành sinh kim hoặc vàng cặn, một việc tương đối dễ làm. Chắc chắn sẽ kiếm được một người mua tất cả. Tôi sẽ thỏa thuận, với nó để nó trả bằng giấy bạc cắt làm đôi. Nó giữ một nửa, và chỉ đưa cho tôi sau khi tôi đã trao hàng trên bờ sông, Caroni thuộc Anh nơi tôi sẽ cất dấu tất cả số vàng. Như thế đôi bên sẽ được yên trí.

Tôi sẽ có thể nổi lên mặt nước ở Georgetown vì tôi đã lén bỏ thành phố ấy đi cách đây mấy năm. Vào lậu như vậy, nếu có bị hỏi, điều này không chắc, tôi sẽ nói trong mấy năm qua tôi đã vào rừng tìm vàng vì vậy mà lâu nay không ai thấy tôi.

Tôi biết thằng Julot vẫn ở đó. Nó trú ngụ hợp pháp, nó sẽ cho tôi ở tại nhà nó. Chỉ có một điều đáng lo là Indara với cô em. Tôi chỉ nên ra khỏi nhà ban đêm hay tốt hơn không nên đi đâu hết và nhờ Julot đi lo công việc giúp tôi. Tôi đoán thằng André cao lớn cũng ở Georgetown và nó có sổ thông hành do chính quyền Gia Nã Đại cấp. Thay cái ảnh, đổi con dấu, rất dễ. Nếu không có nó ở đó, sẽ mua giấy tờ của một thằng nào đang cần tiền hoặc của một lính thủy ở câu lạc bộ hải quân.

Chuyển tiền vào một trương mục ngân hàng ở Buenos Aires, bọc theo rất ít ngoại tệ, đáp máy bay ở Trinidad đi Rio de Janeiro. Đến Rio, thay số thông hành rồi vào Á Căn Đình.

Tại đây, không có vấn đề gì khó. Tôi có những thằng bạn cựu phạm ở đó, và chắc sẽ dễ dàng tìm ra những tên cựu đảng viên Đức quốc xã có lẽ có hàng đống giấy tờ trong các hộc tủ. Từ Buenos-Aires đi Bồ Đào Nha với bốn loại thông hành và căn cước mang nhiều quốc tịch khác nhau nhưng cùng một tên để khỏi bị lúng túng.

Từ Lisbonne, tôi sẽ vào Tây Ban Nha bằng đường bộ rồi đến Barcelone. Cũng vẫn bằng đường bộ, đi vào đất Pháp với một thông hành của xứ Paraguay. Bây giờ tôi nói khá thạo tiếng Tây Ban Nha đủ để một hiến binh Pháp tò mò tưởng tôi là một người Nam Mỹ.

Tôi sẽ chuyển gấp một nửa số tiền vào trương mục ở cơ quan tín dụng thành phố Lyon, nửa kia tôi để lại ở Buenos-Aires.

Tất cả những người tôi sẽ gặp ở Georgetown, ở Ba Tây, ở Á Căn Đình đều phải tin rằng tôi đi Ý để gặp vợ tôi đang chờ tôi để mở một cửa hàng tại một thành phố tắm biển.

Đến Ba lê tôi sẽ ở khách sạn George V. Không bao giờ rời khách sạn ban đêm, dùng bữa ăn tối tại khách sạn, rồi đến 10 giờ bảo đem trà lên phòng. Như vậy suốt bảy ngày trong tuần. Đó là tác phong của một anh chàng đứng đắn sống có giờ giấc nhất định. Việc này sẽ được mọi người trong khách sạn biết ngay.

Dĩ nhiên tôi sẽ để ria mép, tóc hớt ngắn, theo kiểu sĩ quan. Chỉ nói những điều cần thiết và chỉ dùng đôi tiếng Pháp được Tây Ban Nha hóa. Mỗi ngày, bảo để các báo Tây Ban Nha trong ngăn kệ của tôi ở tại phòng tiếp khách.

Cả ngàn lần tôi suy nghĩ đến vấn đề nên bắt đầu từ đứa nào hay bọn nào, để người ta không thể đặt liên hệ giữa ba vụ với cái tên Papillon. Trước tiên là bọn cảnh sát với chiếc rương đựng chất nổ ở số 36 đường Orfèvres. Nếu hành động khéo léo thì không có lý gì để nghĩ đến tôi. Tôi sẽ đi xem địa điểm, tính kỹ thời gian cần thiết để leo lên cầu thang cho đến phòng báo cáo rồi trở ra cổng. Tôi không cần ai để canh đồng hồ ngòi nổ, vì tôi đã thử rất nhiều lần ở xưởng sửa xe “Pháp – Venezuela” trước kia.

Tôi sẽ đến bằng một xe vận tải trên hông xe tôi sẽ kẻ bằng sơn mấy chữ: “Cửa hàng gì đó, cung cấp dụng cụ văn phòng”. Mặc áo tài xế kiêm khuân vác, trên vai mang chiếc rương nhỏ, thật là ăn chắc. Tuy nhiên, lúc thăm dò địa điểm, phải nhớ tên một quận trưởng cảnh sát ghi trên một cánh cửa hoặc là tìm cách biết tên một đứa nào giữ một chức vụ quan trọng ở tầng lầu ấy. Như vậy tôi sẽ nói tên đó với bọn cảnh sát gác cổng ở bên ngoài, hoặc là cũng có thể đưa cho xem hóa đơn làm như tôi không nhớ tên người đặt hàng. Rồi sau đó mặc sức cho pháo bông nổ. Phải xui xẻo hết sức người ta mới đặt sự liên hệ giữa vụ khủng bố, một hành động của bọn vô chính phủ, với cái tên Papillon.

Thế là lão Pradel không thể nghi ngờ. Để đối phó với lão, và cũng để sửa soạn chiếc rương, máy đồng hồ, chất nổ, mảnh đạn, tôi sẽ thuê một biệt thự với tên ghi trong thông hành do chính phủ Paraguay cấp nếu tôi không xoay xở được một căn cước Pháp. Nhưng gặp lại giới giang hồ cũ là một điều nguy hiểm. Có lẽ không nên, tôi sẽ dùng số thông hành.

Biệt thự sẽ ở gần Ba Lê, trên bờ sông Seine, vì tôi phải có thể đến đó cả bằng đường bộ và đường thủy. Tôi sẽ mua một tàu nhỏ, nhẹ và chạy nhanh, có buồng lái, có bến đậu trước biệt thự và một chỗ đậu khác trên bờ sông Seine ngay trung tâm Ba Lê. Trên bộ, tôi sẽ tậu một chiếc xe nhỏ chạy mau và nhanh. Chỉ lúc nào đến tại chỗ, sau khi biết Pradel ở đâu, làm việc ở đâu, nếp sống như thế nào, nghỉ cuối tuần ở đâu, đi métro, đi xe buýt, xe tắc xi hay xe nhà, tôi mới có thể chuẩn bị chu đáo để bắt cóc và nhốt lão trong biệt thự.

Điều quan trọng là phải biết rõ lúc nào và nơi nào chỉ có một mình lão. Một khi đã đưa nó vào hầm rượu của biệt thự thì nhất rồi! Thằng chả với đôi mắt kênh kênh mà các luật sư phải e sợ, tại phiên tòa đại hình năm 1931, có vẻ muốn nói với tôi: “Thằng ranh con, mày không thoát tay tao, tao sẽ vận dụng tất cả những gì chống lại mày, tất cả đống hồ sơ gớm ghiếc của mày, làm cho mày trở thành ghê tởm để các ông phụ thẩm vĩnh viễn xóa tên mày trong xã hội”. Thằng chả đã dùng tất cả công sức vào cuộc thẩm vấn để phác họa ra hình ảnh đê tiện nhất, hư hỏng nhất của một đứa con trai 24 tuổi, đến đỗi 12 lão phụ thẩm như 12 miếng phô mát không biết gì hết đã đưa tôi vào tù chung thân, tôi phải hành hạ nó ít nhất là tám ngày trước khi cho nó chết.

Đứa sau cùng phải trả nợ là thằng Goldstein, làm chứng gian. Tôi bắt nó sau cùng vì đối với tôi nó nguy hiểm nhất. Vì sau khi tôi giết nó, người ta sẽ nhìn vào cuộc đời của nó, và bọn cảnh sát không phải là hạng ngốc, sẽ dễ dàng trông thấy vai trò của nó trong vụ án xử tôi. Và cũng vì chúng biết ngay rằng hiện tôi đang bỏ trốn, từ đó đến việc nghĩ rằng có Papillon trong không khí thành phố Ba Lê, con đường không xa. Lúc bấy giờ, mọi việc sẽ vô cùng nguy hiểm đối với tôi: khách sạn, đường phố, nhà ga, hải cảng, phi trường. Phải lánh mặt gấp và không bỏ quên một điều nhỏ nhặt nào?

Bằng cửa hàng bán áo lông của cha nó, việc tìm hiểu đường đi nước bước của nó không khó. Có nhiều cách giết nó, nhưng dù cách nào đi nữa, tôi cũng muốn nó nhận ra tôi trước khi chết. Nếu có thể, tôi sẽ làm như đã nhiều lần mơ ước: lấy tay bóp cổ nó, chầm chậm, vừa bóp cổ vừa nói cho nó nghe như thế này: “Đôi khi người chết sống lại. Mày không ngờ phải không, không ngờ chết vì tay tao hả? Thế mà mày đã thắng cuộc vì chỉ chết trong mấy phút, còn tao thì mày đã kết tội phải rục rã dần dần suốt đời cho đến chết mới thôi”.

Không biết tôi có sẽ ra khỏi nước Pháp không, vì sau khi Goldstein chết, thật là nguy hiểm. Có lẽ người ta sẽ tìm ra tông tích của tôi. Đếch cần. Dầu có bỏ mạng trong vụ này, chúng nó cũng phải trả nợ về cái chết của cha tôi. Đoạn đời khổ nhục của tôi, tôi có thể tha thứ cho chúng được. Nhưng việc cha tôi chết mà không nghe tôi nói thằng con còn sống và đã thoát khỏi vòng lao lý, cha tôi đã chết vì tủi hổ, có lẽ đã phải trốn tránh những người bạn cũ, đã nằm trong nấm mồ mà không biết hiện giờ tôi ra người như thế nào, à, không được, không thể nào được! Không bao giờ tôi có thể tha thứ cho chúng nó!

Trong suốt buổi tôi im lặng để hình dung lại một lần nữa tất cả các giai đoạn hành động sắp tới để xem có gì chưa ổn, Rita ngồi dưới chân tôi, đầu tựa vào đầu gối của tôi. Nàng không nói một câu nào, một tiếng nào, hình như nàng nín thở.

– Rita yêu quí, ngày mai anh sẽ đi.

– Anh sẽ không đi?

Nàng đã đứng lên, để hai tay trên vai tôi rồi nhìn thẳng vào mặt tôi. Nàng nói tiếp:

– Anh không nên đi, anh không thể nào đi được. Đối với em cũng có chuyện mới lạ. Nhân chuyến đi vừa rồi, em đã sắp đặt cho con em đến đây. Trong ít ngày nữa nó sẽ đến. Anh cũng biết sở dĩ em chưa đem nó theo em là vì em cần có một địa vị vững chắc mới đón nó. Bây giờ không những em đã có địa vị, mà nó cũng có một người cha, là anh đó. Không lẽ anh trốn trách nhiệm? Không lẽ anh làm hỏng tất cả những gì chúng ta đã xây dựng bằng tình yêu và lòng tin nhau? Ám sát những người đã làm anh khốn khổ và có lẽ có trách nhiệm về cái chết của ba anh, anh tưởng chỉ có việc ấy cần làm, nếu đem so với tất cả những việc khác hay sao? Đó là giải pháp duy nhất anh tìm thấy hay sao?

“Số phận của chúng ta đã mãi mãi gắn liền với nhau, Henri ạ. Đối với em, đối với đứa con gái lớn sắp đến với anh và sẽ thương anh. Em tin chắc như vậy, em không đòi hỏi anh tha thứ cho chúng nó, nhưng chỉ xin anh vĩnh viễn từ bỏ ý định trả thù. Trước đây anh đã quyết định như vậy rồi. Thế mà cái chết của ba anh đã đưa anh trở lại đường cũ. Xin anh nghe em đây: nếu ba anh có thể nói được, nhà giáo tỉnh lẽ công chính và nhân từ ấy một đời đã dạy cho vô số học trò phải nhân ái, trung trực, cần mẫn thương người, tôn trọng luật pháp, lẽ nào lại có thể chấp nhận ý định trả thù của anh? Không. Ba anh sẽ bảo rằng tất cả bọn ấy, mấy tên cảnh sát, thằng làm chứng gian, lão phó chưởng lý, những thằng cha anh gọi là phụ thẩm phô mát, bọn cai ngục, nào có đáng gì để anh phải hy sinh một người đàn bà yêu anh và anh cũng yêu, một đứa con gái hy vọng sẽ tìm thấy nơi anh một người cha, một mái ấm gia đình vững chắc, một cuộc sống lương thiện?

“Mối thù của anh, em xin nói anh rõ nhãn quan của em: đối với mọi người, gia đình chúng ta sẽ là viễn tượng của hạnh phúc; với óc thông minh của anh có em phụ giúp, chúng ta sẽ đạt đến một địa vị khả quan, bằng những phương tiện lương thiện; sau này, khi nhắc đến anh, người xứ này chỉ có một giọng: anh người Pháp rất ngay thẳng, lương thiện, đàng hoàng, một lời nói của anh ấy đáng giá ngàn vàng. Đó là cách trả thù của anh và là cách trả thù đẹp nhất: chứng minh cho thiên hạ thấy rằng họ đã lầm tàn tệ về anh, rằng anh trở nên người có địa vị vì anh đã không để cho hư hỏng sau khi bước chân ra khỏi nơi tù đày khổ ải, mặc dù anh đã chịu đựng một chế độ ngục tù trung cổ khủng khiếp và sự khiếp nhược của người đời. Đó là cách trả thù duy nhất xứng đáng với lòng tin yêu của em đã gởi cho anh”.

Nàng đã thắng cuộc. Chúng tôi nói chuyện suốt đêm và tôi đã uống cạn chén sầu khổ. Tôi muốn được biết tất cả các chi tiết về chuyến đi vừa rồi của Rita. Nàng nằm trên chiếc ghế dài lớn, đau khổ vì lần đi vừa rồi đã thất bại và vì cuộc tranh đấu với tôi vừa qua. Ngồi trên xép ghế dài, cúi xuống nàng; tôi hỏi, hỏi mãi không thôi, và bằng từng mảnh, từng mảnh nhỏ, tôi đã biết được những điều nàng muốn giấu tôi.

Trước hết, sau khi ra đi đầy tin tưởng từ Maracaibo đến hải cảng Caracas để đáp tàu thủy, nàng linh cảm mơ hồ sẽ thất bại: tất cả đều như đã cấu kết lại để ngăn trở không cho nàng đi Pháp. Lúc sắp bước chân xuống tàu Colombie, nàng mới nhận thấy còn thiếu một trong những chiếu khán cần thiết. Phải chạy đua với đồng hồ bằng con đường nhỏ rất nguy hiểm tôi từng biết để đến Caracas lấy chiếu khán. Lấy chiếu khán xong, nàng trở lại hải cảng, thấp thỏm lo sợ tàu đã nhổ neo trước khi nàng đến. Một trận giông tố mạnh khủng khiếp nổi lên, nhiều đoạn đường bị sụp. Đường đi quá nguy hiểm nên người tài xế sợ quá phải quay xe trở lại, bỏ Rita đứng lại bên đường giữa cảnh bão tố cùng đất lở. Nàng đi ba cây số dưới mưa rồi như một phép lạ, gặp một chiếc tắc xi đi về Caracas, nhưng vì đất lở nên đã phải quay đầu trở về hải cảng. Từ hải cảng nàng nghe vang lên tiếng còi tàu mà trong lúc bối rối nàng tưởng tượng là tiếng còi khởi hành của chiếc Colombie.

Cuối cùng, sau khi vào đến buồng tàu, mừng đến chảy nước mắt, thì một việc trục trặc xảy ra trên tàu và giờ khởi hành phải lùi lại nhiều tiếng đồng hồ. Tất cả chuyện ấy làm cho nàng nghĩ phải chăng đó là điềm chẳng lành.

Những ngày tiếp sau là đại dương, Le Havre, Ba Lê, Marseille, không nghỉ. Tại Marseille, một cô bạn đón nàng và giới thiệu với một nghị viên thành phố. Ông này, không chút do dự, đã viết một bức thư giới thiệu rất nồng hậu cho một người bạn ở Vals les Baises, trong tỉnh Ardèche, tên là Henri Champel.

Rồi lại lên xe lửa, xe đò, và chỉ sau khi đến nhà Champel, hai vợ chồng tử tế lạ thường, Rita mới lấy lại sức và tổ chức công việc tìm kiếm. Nàng còn cực nhọc nhiều.

Henri Champel đưa nàng đi Aubenas ở Ardèche, đến nhà ông Chưởng Khế của gia đình tôi, mét Testud. Ồ, cái lão Testud! Một thằng cha trưởng giả bất nhân. Trước hết nó tàn nhẫn cho nàng hay ba tôi đã chết. Rồi, không hỏi ý kiến ai hết, lão tự tiện cấm nàng đến thăm cô tôi (em cha tôi) cùng chồng bà là Ông Dumarché, hai vợ chồng đều là giáo viên hồi hưu hiện ở Aubenas. Về sau, cách đó mấy năm, cô dượng đã niềm nở tiếp chúng tôi, và đã tỏ ra hết sức tức tối lúc bấy giờ không được gặp Rita và liên lạc với tôi vì lão Testud khốn nạn. Đối với hai người chị của tôi, cũng vậy, lão không chịu cho biết địa chỉ. Dù vậy, nàng đã tìm cách làm cho con người gỗ đá ấy nói ra địa danh cha tôi đã qua đời là Saint-Péray.

Nàng lên đường đi Saint-Péray. Tại đây, Henri Champel và Rita tìm thấy mộ ba tôi và biết thêm một điều: sau hai mươi năm ở góa, ba tôi tục huyền với một bà giáo hồi hưu, trong thời kỳ tôi bị đày. Họ đã gặp bà ta. Trong gia đình bà được gọi là Dì Ju hay Tata Ju.

Một người đàn bà đáng kính phục, Rita nói, bà đã giữ nguyên vẹn và sống động kỷ niệm và tinh thần của mẹ tôi trong gia đình mới. Nàng đã trông thấy treo trên tường phòng ăn, những bức ảnh lớn của mẹ tôi, thần tượng của tôi, cùng ảnh của cha tôi. Nàng đã lấy tay mân mê những bàn ghế đồ đạc của mẹ tôi trước đây. Dì Ju bỗng nhiên đi vào cuộc đời của tôi, đã làm đủ mọi cách để Rita cảm thấy cái không khí cha tôi và chính bà muốn còn mãi mãi: kỷ niệm của mẹ tôi cùng hình ảnh hằng cửu của đứa con đã biến mất nhưng đối với cha tôi vẫn là bé Riri.

Ngày 16 tháng 11, ngày sinh nhật của tôi, tất cả các ngày 16 tháng 11, ba tôi đều khóc. Tất cả mọi ngày lễ Giáng Sinh, đều có một chiếc ghế để trống. Khi cảnh binh đến nói cho biết người con trai của hai ông bà đã vượt ngục, một lần nữa, cả hai ông bà suýt nữa đến ôm hôn các anh cảnh binh đã đem đến một tin tức tuyệt vời như vậy. Bởi vì, Dì Ju, tuy không biết tôi, nhưng xem tôi như con ruột và đã cùng cha tôi vui mừng đến chảy nước mắt khi nghe nguồn tin hứa hẹn một niềm hy vọng mới.

Thế nên Rita đã được bà đón tiếp hết sức niềm nở. Chỉ có một bóng mờ: Dì Ju không cho nàng biết địa chỉ của hai người chị tôi. Tại sao? Vâng, tại sao Dì Ju, vợ của ba tôi, lại không cho các địa chỉ ấy? Tôi suy nghĩ rất nhanh. Không nghi ngờ gì nữa, bà không chắc cái tin tôi trở về sẽ được đón nhận như thế nào. Phải có nhiều lý do xác đáng, bà mới không nói với Rita: “Mau lên, con chạy mau lại chỗ nào đó, các chị ấy sẽ vô cùng sung sướng khi biết em các chị ấy còn sống; có địa vị trong xã hội, và được biết người em dâu”. Có lẽ Dì Ju biết rằng cả chị Yvonne, chị Hélène, cùng mấy ông anh rể của tôi không sốt sắng đón tiếp người vợ của em trai họ, một người tù vượt ngục, đã bị kết án khổ sai chung thân. Chắc hẳn bà không muốn họ trách bà đã làm cho cuộc sống của họ xáo động.

Đành rằng các chị ấy đã có chồng, đã có con, và có lẽ những đứa con ấy, không biết chúng có một ông cậu là tôi. Bà tự bảo: phải cẩn thận. Dù sao tôi chẳng biết gì, nhưng tôi kết luận rằng trong mười ba năm tôi bị đày, tôi đã sống với họ, vì họ, trong khi suốt mười ba năm ấy họ làm đủ mọi cách để quên tôi, hay ít ra cũng để xóa bỏ tên tôi trong đời sống hằng ngày của họ. Rồi vợ tôi trở về chỉ với một ít đất nhặt trên mộ ba tôi cùng với bức ảnh của ngôi mộ ba tôi đã nằm xuống tại đó đúng bốn tháng trước khi nàng đến.

Dù vậy, qua đôi mắt của Rita, tôi cũng đã được thấy (vì Champel đã đưa nàng đi khắp các nơi) cây cầu Ucel của thời thơ ấu của tôi. Tôi nghe nàng đã kể rõ ngôi trường tiểu học rộng lớn, gia đình chúng tôi ở tầng lầu trên các lớp học. Tôi được thấy lại đài chiến sĩ trận vong trước vườn nhà chúng tôi, và cả cảnh vườn trong đó một cây Mimosa đầy hoa rực rỡ hình như giữ gìn tất cả hương sắc để người nữ khách đang say sưa nhìn mảnh vườn, đài kỷ niệm, ngôi nhà, có thể nói lại với tôi: “Không có gì hoặc hầu như không có gì thay đổi, anh đã nhiều lần diễn tả nơi anh đã trải qua tuổi ấu thơ nên lúc bấy giờ em không trông thấy một cảnh mới lạ, mà em chỉ gặp lại những nơi chốn đã biết rồi.

Ban đêm, nhiều lần tôi yêu cầu Rita kể lại một đoạn nào đó trong cuộc hành trình. Cuộc sống ở khách sạn trở lại như trước. Nhưng trong đáy lòng tôi, đã xảy ra một điều gì không thể giải thích được. Cái chết của ba tôi, tôi không cảm nhận như một người đã bốn mươi tuổi, tuổi cực thịnh của cuộc đời, vừa biết tin cha mình hai mươi năm không gặp, đã qua đời, mà như một đứa bé lên mười sống bên cạnh cha mình, rồi sau một lần ngỗ nghịch trốn học bỏ đi, khi về thấy cha mình đã ra người thiên cổ.

Clotilde, con gái của Rita đã đến. Nó hơn 15 tuổi nhưng quá mảnh khảnh và nhỏ nhắn nên tưởng chừng chỉ 12 tuổi. Người nó thấp. Mái tóc đen dài, cứng và uốn cong xỏa trên đôi vai. Đôi mắt nhỏ đen huyền sáng ngời thông minh và hiếu kỳ. Miệng nó không phải của một thiếu nữ mà của một đứa bé còn chơi mạng hoặc chơi búp bê. Chúng tôi tin nhau ngay. Hình như nó hiểu rằng người đàn ông sống với mẹ nó sẽ là người bạn quí nhất của nó và sẽ yêu nó và che chở nó mãi mãi.

Từ ngày nó đến, một cái gì mới mẽ xâm chiếm tôi, bản năng che chở, lòng mong muốn nó được sung sướng; và được nó xem, dù không như cha đẻ, ít nữa cũng như một điểm tựa vững chắc.

Bây giờ Rita đã về rồi, tôi đi chợ trễ hơn, vào lúc 7 giờ. Tôi đem Clotilde theo và chúng tôi ra đi, tay nắm tay, nó cầm dây cột chó Minou, có Carlitos xách giỏ. Đối với nó, mọi việc đều lạ, cùng một lúc nó muốn biết tất cả. Mỗi khi nó trông thấy một cái gì bất ngờ, nó hét lên để được biết đó là gì. Nó ngạc nhiên nhất khi trông thấy mấy người phụ nữ da đỏ mặc áo dài lòe loẹt, má sơn đỏ, trên đôi guốc có trang trí một chùm len đủ màu sắc.

Bên cạnh có đứa nhỏ siết tay tôi đầy tin tưởng trước một nguy cơ tưởng tượng, một bé gái tựa vào cánh tay tôi để cảm thấy giữa đám đông lòe loẹt người đi qua, kẻ đi lại, người chạy, kẻ la ó trong nhịp sống sôi động, nó được che chở cẩn thận, tất cả chuyện ấy khiến tôi xúc động sâu xa và tràn đầy một tình cảm mới lạ: tình phụ tử. “Bé Clotilde, đúng đấy, con nên vững tâm, tin tưởng tiến bước trong cuộc đời, con tin chắc rằng cho đến cuối cùng ba sẽ tìm mọi cách để vẹt ra một bên các chông gai trên đường con đi”.

Chúng tôi về khách sạn, mọi người đều thỏa thích, bao giờ cũng có một chuyện buồn cười kể lại cho Rita nghe về những gì đã xảy ra cho chúng tôi hoặc chúng tôi đã trông thấy.

Vết Nám – Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 27 Feb 2015 

Post by Sơn râu 2 Oct 2025

Thằng Bombata mất dạy

Bài 10

Rồi lại có lệnh “biên chế”. Anh em chúng tôi đi hết, nào Phạm Ngọc Hiền, Phạm Quang Chiểu, Phạm Xuân Lý, Trần Hữu Bảo, Nguyễn Văn Tiếp, Hoàng Hữu Chung, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Văn Bê, Nguyễn Văn Quí, v.v…

Về sau, nghe tin mấy anh em nầy đi “Thăm lăng “bác” Hồ”, tức là tiếng gọi đùa những anh em bị đày ra Bắc. Một số còn lại gồm tôi, Trần Phú Trắc, Đào Sơn Bá, Lê Quang Dung, Nguyễn Đạo thì xuống “trại Bombata”.

Gọi là “xuống trại” vì trại chúng tôi đang ở là ở trên đồi, gần cửa vào trại Long Giao. Nay thì xuống một trại ở dưới thung lũng, cũng thuộc trại Long Giao. Đây là căn cứ của lính Mỹ hay Úc gì đó, tôi cũng chẳng tìm hiểu.

Xuống trại dưới nầy thì gặp ngay Bombata, một anh sĩ quan bộ đội Dziệt Cộng đểu và “mất dạy.”

Số anh em cũ của chúng tôi nay chỉ còn mấy ngoe như tôi kể tên ở trên, còn lại phần đông anh em lạ, ở đây đã mấy tháng rồi.

Căn phòng chúng tôi được đưa vào ở là một căn trại gia binh chế độ cũ. Nền nhà, vách, v.v… dơ dáy. Dơ dáy vì không phải nó là trại gia binh mà vì trước khi chúng tôi đến là nơi giam “tù hình sự”. Vẽ bậy, viết bậy và viết đứng đắn cũng có, đầy trên vách.

Bá nói với tôi: “Tui thấy đằng vách kia kìa, có tên Chế Linh. Chắc anh ta có bị giam ở đây.” Có thể ban đầu, tù hình sự do bộ đội bắt nên giam ở đây. Nay “ban quân quản” giao lại cho công an nên họ bị đem đi rồi.

Sự kiện chúng tôi để ý lúc nầy là “Hội nghị Hiệp thương Thống nhứt”. Có người nói: “Thống nhứt rồi, có lẽ mau được về!” Đâu có dễ vậy, phải không?

Tối tối, tôi nằm nói chuyện với Đào Sơn Bá (hiện đang ở Boston). Bá hỏi tôi: “Nhắm có về sớm như người ta nói không anh?”

Tôi nói:

– “Hồi đầu tháng 5/ 1975, bà Nguyễn Thị Bình, bộ trưởng bộ ngoại giao (chính phủ Cộng hòa Lâm thời Miền Nam Việt Nam) đi Algerie. Bả xin thế giới giúp cho một triệu cái cuốc. Bả còn nói hai miền Nam Bắc còn nhiều khác biệt, phải năm năm nữa mới có thể thống nhứt đất nước được. Cái tui thắc mắc là bả thì nói 5 năm mà nay mới 1 năm đã thống nhứt rồi. Có chuyện chi đây?”

Bá hỏi:

– “Theo anh nghĩ thì có chuyện chi?”

– “Theo “moa” nghĩ thì bọn miền Nam như Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Hữu Thọ không phải là “Cộng Sản ròng” như Đỗ Mười, Lê Duẫn. Phần đông họ là dân trí thức tiểu tư sản, “theo kháng chiến” rồi theo Cộng Sản chớ không phải vì thích chủ nghĩa Cộng Sản. Bọn ngoài Bắc dựng bọn trong Nam lên để làm mặt trận là làm bình phong. Bây giờ không cần nữa thì phải loại ra, mà phải loại sớm. Để lâu, bọn trong Nam mọc chưn mọc rễ ra khó loại hơn. Đó là lý do thống nhứt cho lẹ lẹ.” Tôi giải thích.

– “Đám miền Nam về vườn hết sao?” Bá hỏi.

– “Đâu có! Để thưởng cái công “cầm cặ… chó đái”, họ được cho một chức gì đó, ngồi chơi xơi nước. Không thuộc giai cấp “ba đời đi ở, bốn đời làm thuê” mà.” Tôi giải thích.

– “Rồi mình có hy vọng chi về sớm không?” Bá lại hỏi.

– “Mình không biết. Theo kinh nghiệm của mình, mình lưu lạc từ Trung tới Nam rồi thì mình nghĩ quyền hành ở trong tay đám Nam Kỳ dễ sống hơn. Với Bắc kỳ khó sống lắm “ôông” ơi!”

&

Chúng tôi gánh hậu quả vụ “Út Bạch Lan trốn trại.” Út Bạch Lan, Biệt Kích Dù, cùng khóa Võ Bị với “Hùng móm”, em út tôi.

Truớc khi chúng tôi về trại nầy khoảng hai bữa, “Út Bạch Lan trốn trại”. Anh ta chui qua mấy lớp hàng rào kẽm gai, dầy đặc cả mìn chiếu sáng và mìn chống người, ngay dưới chân cái tháp canh ngày đêm có bộ đội ngồi gác trên ấy.

Hàng rào và tháp canh nầy, có từ hồi lính Úc tới đóng đồn ở đây, đặc công còn không vào được mà anh ta chui ra dễ như chơi.

Người ta còn kháo nhau, Út Bạch Lan còn chơi khăm “bộ đội”, bỏ lại cái áo trắng trên hàng rào, làm như báo cho tụi nó biết “Tao ra ở lối này nè!”

Út Bạch Lan thuộc một khối chúng tôi vừa tới, trưởng khối là ông Nguyễn Bảo Tụng, nhà chơi tem nổi tiếng miền Nam, trước 75 nhiều lần lên TV nói về chuyện chơi tem cho khán giả nghe chơi.

Quản giáo khối nầy là một trung úy “Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược”, gọi như thế cho đúng với chữ nghĩa thời Việt Nam Cộng Hòa, để phân biệt với Dziệt Cộng là dân trong Nam nhảy núi hay vào bưng.

Mỗi ngày anh trung úy cộng sản tập trung điểm danh chúng tôi. Câu anh ta thường đe dọa khi điểm danh là “Không được trốn trại”. Buổi tối, sau giờ kẻng đánh là “Không được bước chân xuống khỏi thềm nhà. Ra khỏi thềm nhà là vệ binh của tôi chúng nó bắn ngay. Chúng nó được “nệnh” không được bắn vào đầu, chỉ bắn vào chân cho què thôi. Nhưng chúng nó bắn dở “nắm”. Nó nhắm vào chân nhưng “nại” trúng vào đầu đấy. Rõ chưa?”

Chúng tôi phải hô “rõ” thật to trước cách nói xỏ lá của nó; nó mới chịu.

Mỗi khi nó điểm danh, trưởng khối Nguyễn Bảo Tụng đứng bên cạnh nó, nhìn về phía chúng tôi. Khi nó nói cái câu xỏ lá như trên thì ông Tụng thường nhìn tôi, mĩm cười. Tôi cũng nhếch mép cười, không hướng về phía ông Tụng và dĩ nhiên không cho tên trung úy cộng sản thấy.

Thái độ hung hãn và bất thân thiện, nếu không muốn nói rất ghét chúng tôi, trông giống như một nhân vật trong một cuốn phim Bulgary, tên nhân vật đó là “Bombata”, nên anh em thay vì gọi tên, họ gọi là Bombata. Vì vậy, cho tới nay, tôi vẫn không biết tên thật y là gì!

Bombata biểu ông Tụng cắt tù canh đêm, hễ thấy ai trốn trại thì hô hoán lên báo động cho bộ đội biết. Mỗi phiên hai người tù canh chung. Một hôm, tôi chung phiên với “ông thầy chùa Phát”. Ông Phát nguyên là đại úy tuyên úy, nay không còn ăn chay và cũng chẳng thấy kinh kệ hay Phật pháp gì cả.

Hôm ông canh với tôi, tôi nói: “Hộp quẹt tôi bị hư rồi, làm sao hút thuốc?”

Thầy chùa Phát nói:

– “Anh cứ lấy thuốc ra hút. Hễ gần hết điếu, mình mồi qua điếu khác.”

Tôi nói:

– “Hút vậy hao quá! Thầy có hộp quẹt không?”

Ông ta trả lời không!

Thế là tối hôm đó, tôi đem ra 3 gói thuốc “Basto Xanh” do vợ gởi cho. Cứ hết điếu nầy, tôi và ông thầy chùa vì sợ khuya rồi, biết xin lửa ở ai, mà canh đêm, không có thuốc hút thì buồn lắm, hút liền tù tì điếu nầy qua điếu khác, miệng nóng và đắng nghét.

Hôm sau, tôi thấy Trắc hút thuốc lào. Tôi cự nự Trắc:

– “Có hộp quẹt mà tối qua không cho tôi mượn.”

Trắc giải thích:

–  “Đâu có, tui mới mượn của ông thầy chùa Phát.

Tôi nói:

– “Vậy mà ông ta nói với tôi ông không có hộp quẹt?”

– “Anh tin thằng chả?” Trắc hỏi. “Ông thầy chùa nầy ghê lắm. Cần tiền thì ông cũng bán cả Phật như không!”

Một hôm, Bombata dẫn năm sáu anh em chúng tôi đi đốn cây ở phía dưới Long Giao một chút, trong một khu rừng nằm bên cạnh trục lộ từ Long Khánh đi Phước Tuy, có mấy vệ binh vác súng đi theo.

Cứ hai người đốn và khiêng về một cây dài khoảng 5 thước, gốc bằng bắp chuối. Không nặng lắm nhưng đi đường xa cũng mệt.

Tới một cái quán bên đường, chúng tôi xin nghỉ chân, vào quán xin nước uống. Thằng Bombata chấp thuận.

Chủ quán là một bà cụ già, khoảng 60 tuổi, vui vẻ lấy nước cho chúng tôi uống. Cụ còn nói: “Anh nào muốn uống nước ngọt thì uống đi, tôi không tính tiền đâu!” Chẳng ai uống mà cũng không mua vì sợ bà cụ không tính tiền cũng kỳ. Quán chỉ bán vài chai nước ngọt, mấy nãi chuối, ổi, đu đủ, v.v…

Đang ngồi nghỉ mệt, bà cụ nói đùa một câu: “Bây giờ khỏi đi đánh giặc, chỉ đi học không thôi, khoẻ há?” Rồi cụ cười, cái cười phải là rất ý nghĩa.

Chúng tôi sợ thằng Bombata, chỉ nhìn cụ cười lại mà không nói gì.

Trước khi ra về, chúng tôi xin phép thằng Bombata mua ít nãi chuối đem về trại. Nó bằng lòng. Bà cụ tính mỗi nãi chuối có 1 đồng (tiền mói đổi của Cộng Sản).

Thấy rẻ, Bombata cũng vào mua ba nãi. Bà cụ tính ba nãi mười đồng. Bombata thắc mắc:

– “Tại sao chị bán cho những người kia một đồng mà bán cho tôi những hơn ba đồng?”

Bà cụ hỏi lại:

– “Anh là chủ quán hay tui? Tui là chủ, tui muốn bán sao tui bán.”

Bombata tức lắm, nó nói:

– “Chị chưa giác ngộ, còn phản động “nắm”! Tôi sẽ phản ảnh với địa phương.”

Bà cụ cười mỉa:

– “Tui chấp đó. Thuở đời nhà ai, tui chừng nầy tuổi mà gọi tui bằng chị. Tui đáng tuổi bà nội. Chắc tụi nầy dưới đất chui lên.”

Biết không làm gì được bà cụ, Bombata quăng mấy nãi chuối lại, hằm hằm bảo chúng tôi khiêng cây về.

Về tới “nhà”, Bá vẫn chưa quên câu chuyện bà cụ trả lời “Bombata”. Bá hỏi tôi:

-“Tại sao thằng Bombata gọi bà cụ bằng chị. Nghe kỳ quá.”

-“Tại vì người ta có “một cha cung trên trời”. Bọn chúng có một “bác chung” cho cả nước. Ai cũng là “cháu của bác” thì già trẻ, lớn bé, cha con, mẹ con đều là anh em cả thì gọi nhau anh, chị em. Vậy là đúng chính sách đấy.”

Bá nói:

-“Hèn chi tụi thấy tụi cán bộ gọi nhau là anh anh em em, không lịch sự chút nào cả. Phải là có máu mũ bà con hay bồ bịch gì đó mới gọi là anh em chứ!”

-“Văn hóa ông nói là “văn hóa tư sản”, “văn hóa tiểu tư sản.” Văn hóa mới của tụi Bắc Kỳ là “văn hóa vô sản”, “văn hóa Chí Phèo”, giống nhau thế chó nào được.” Tôi trả lời.

Thằng Bombata “hành hạ” ông Nguyễn Bảo Tụng đến tội nghiệp.

Vì Út Bạch Lan ở trong khối của ông nên sau khi Út Bạch Lan trốn trại, nó đặt ra nhiều biện pháp rất nghiêm nhặt: Không cho nói chuyện với người ngoài tổ. Vì vậy, tôi chỉ có thể nói chuyện với Đào Sơn Bá, cùng tổ. Tôi và Trắc, trong đời tù cải tạo, đi chung với nhau từ đêm đầu tiên ở Taberd, 24 tháng 6 năm 1975 cho tới bây giờ. Không biết bao nhiêu lần chúng tôi ở chung, ăn chung, chơi chung, đào giếng, trồng rau, trồng sắn (mì) chung, v.v…

Trắc thấy tôi, cười một cái rồi nói “Nhưng không chết người trai khói lửa” rồi đường ai nấy đi. Trong suốt thời gian tù cải tạo sống bên nhau, mỗi khi gặp khó khăn, Trắc thường nói đùa với tôi câu hát ấy. Sau nầy, qua tới Mỹ, lần đầu tiên gọi điện thoại cho tôi, Trắc hỏi: “Biết ai đây không? “Nhưng không chết người trai khói lửa…” Trắc nói chưa xong thì tôi đã la lên: “Trắc, tui tìm ông quá trời!..”

Chúng tôi đoán chừng tên quản giáo buộc ông Tụng theo dõi bọn tôi để báo cho nó hay những “biểu hiện xấu”.

Chúng tôi cũng đoán chắc ông Tụng không thể làm như vậy được. Vì vậy mà thằng Bombata làm khó làm dễ ông quá lắm!

Chỉ một việc Út Bạch Lan trốn trại mà nó hành hạ ông già Tụng đến thảm. Nó bắt ông Tụng viết báo cáo về việc Út Bạch Lan trốn trại đến cả chục lần, lần nào nó cũng bảo rằng chưa đạt. Đạt có nghĩa là ông Tụng cũng như anh em biết Út Bạch Lan âm mưu trốn trại mà không báo cáo cho “cách mạng” hay. Ối trời! Ai mà biết ai “âm mưu trốn trại”. Ai có khùng mới “phổ biến” việc mình muốn trốn trại cho người khác biết. Mà dù có biết, chẳng ai báo cáo. Việc ấy, ai làm được?!

Mỗi ngày một lần, ông Tụng phải cầm tờ báo cáo đọc cho nó nghe. Không hiểu tại sao nó không cầm tờ báo cáo tự đọc lấy mà bắt ông Tụng phải đọc. Có thể nó đọc chữ quốc ngữ không thông chứ chữ ông Tụng viết rất đẹp và khá rõ. Ông thuộc loại học trò trước 1945, thầy giáo dạy tập viết kỹ lắm.

Khi ông đọc báo cáo, nó bắt ông phải ngồi dưới đất, theo kiểu nước lụt, thông tục gọi là “ngồi chò hỏ”; còn nó ngồi trên sập, “vách đốc củ tỏi”, như mấy ông lý trưởng, chánh tổng ngày xưa.

Trong cái “tư thế” như vậy, ông Tụng khó chịu lắm, nhưng ông làm gì được nó. Nó từng hăm nhốt ông vào “cát-xô” vì tội tán trợ Út Bạch Lan trốn trại. “Anh biết trước nó trốn nhưng anh không báo cáo. Tôi sẽ “xử ní” anh.”

Chưa nhốt ông vào cát-xô là điều may cho ông, nói gì tới chuyện khác. Vả lại cách làm của Bombata như thế cũng là một hình thức khủng bố ông Tụng.

Cùng đơn vị trước đây với ông Tụng có ông cựu đại úy Lượm. Ông Lượm thường tự hào mình là con chủ điền. Có lần ông nói: “Cha mẹ tôi giàu, con khó nuôi, nên mới đặt tên tôi là Lượm. Lượm đâu đó về nuôi, chớ không phải do ông già bà già đẻ ra, sợ ma bắt.”

Không mấy khi tôi nói chuyện với ông Lượm. Tôi không thích những người gọi cha mẹ là “ông già, bà già.” Gọi như thế là thiếu tôn kính cha mẹ, là cách nói của giới bình dân.

&

Khi thằng Bombata điểm danh xong, về rồi, tôi thường ngồi nơi cửa sổ phòng tôi nhìn về phía bên kia đồi.

Tôi chờ mặt trời xuống. Bây giờ đang mùa hè!

Mặt trời như một khối lửa, khi chạm tới đỉnh đồi phía xa xa, nó tóe ra trăm ngàn tia lửa đỏ, rực cả một chân trời, phản chiếu vào mầu mây. Cao trên mây chút nữa là mầu đen của một cảnh trời chiều sắp tắt, trông buồn lắm. Cảnh ấy làm cho tôi nhớ thời niên thiếu khi tôi còn ở quê nhà, ngồi bên nầy bờ sông Thạch Hãn, nhìn mặt trời sắp lặn sau dẫy Trường Sơn. Chỉ khác một điều, những ngọn đồi ở đây không cao, không trùng điệp và hùng vĩ như những ngọn núi ở dãy Trường Sơn.

Trong những buổi chiều lặng lẽ và u buồn như thế, ông Tụng hay ra đứng bên cạnh tôi, nói bâng quơ vài câu chuyện.

Tò mò một chút ít về tem. Có lần tôi hỏi ông:

– “Bác Tụng nè! Câu sấm nói “Voi bò trên giấy” là ứng với tờ giấy hai giác (hai mươi xu, hai giác là gọi theo cách xưa của người Trung; người Bắc gọi là hai hào) thời Đông Dương. Hồi đó, tôi nhớ cũng có con tem vẽ hình mấy con voi. Vậy câu sấm có ứng với mấy con tem không?”

Ông Tụng giải thích:

– “Tờ giấy bạc hay con tem không quan trọng, cái ý chính của câu sấm là nói tới “thầy tăng” là “thằng Tây” sắp đi đời.” (1)

Tôi lại hỏi:

– “Bác có nghĩ thầy tăng là mấy ông thầy chùa không?”

– “Làm gì có!” Thầy tăng là thằng Tây. Câu sấm nói lái.” Ông Tụng giải thích.

– “Tui không nghĩ câu sấm nầy là của ông Trạng Trình đâu. Nếu là ông Trạng Trình, mắc chi ông phải nói lái. Nói lái như vậy là để đánh lạc hướng mật thám Tây. Như vậy là câu nầy mới đẻ ra hồi Tây.” Tôi nói.

– “Cũng có thể đấy!” Ông Tụng nói. “Tôi chơi tem mấy chục năm, chưa ai hỏi tôi rắc rối như anh!” Ông Tụng vừa cười vừa nói.

– “Bác có bực mình không? Bác nên nhớ tui là “dân trọ trẹ” mà!”

– “Bực mình thì tôi đã không ra đứng đây nói chuyện chơi với anh cho vui. Tôi khổ tâm vì cái thằng trung úy bộ đội nầy. Nó chưa bằng tuổi con tôi mà nó mất dậy quá!”

– “Thời thế mà! Hàn Tín còn luồn trôn giữa chợ!”

Rồi tôi đọc câu đối của Ngô Thời Nhiệm “Gặp thời thế thế thời phải thế!”

Bỗng ông Tụng hỏi tôi:

– “Anh ở Huế có biết Như Hà không?”

– “Như Hà nào? Hà-Lãng-Hổ à? Bà ấy là chị thằng bạn tui.”

– “Tôi lập hồ sơ vụ án Hà-Lãng-Hổ. Hồi đó cho tới 30 tháng Tư, tôi làm việc ở Biên Hòa.”

Ông Nguyễn Bảo Tụng, người gốc Bắc, không rõ tỉnh nào. Trước là Hiến Binh. Sau chế độ Ngô Đình Diệm, Hiến Binh giải tán, một số chuyển ngành Cảnh Sát, một số chuyển qua Quân Cảnh. Ông thuộc ngành Quân Cảnh Tư Pháp, chức vụ cuối cùng của ông trước 30 tháng Tư là Đại Đội Trưởng Đại Đội Quân Cảnh Tư Pháp Quân Khu 3, đóng tại Biên Hòa.

Khi vụ án Hà-Lãng-Hổ xẩy ra, ông làm việc ở Đại Đội Quân Cảnh Tư Pháp đó, nhưng không biết đã làm đại đội trưởng hay chưa. Ông là người lấy cung, điều tra vụ án nầy.

Tò mò, tôi muốn thêm chút ít về một vụ án, mà Ngô Thị Như Hà, nhân vật chính là chị của Trần Quang Quy, bạn học của tôi.

Năm 1954-55, tôi và Trần Quang Quy học chung một lớp, chuẩn bị thi Trung Học Đệ Nhất Cấp. Chúng tôi là bạn thân. Bà Hà chuẩn bị thi Tú Tài 1.

Hồi đó, nhà Quy tại “Villa Elizabeth” nằm trên đường Duy Tân, là đường nối liền từ đầu cầu Trường Tiền xuống An-Cựu. Ngôi nhà nầy sau thuộc phạm vi “Khách Sạn Duy Tân” của Cậu Cẩn.

Tôi ăn cơm tháng gần trong hồ Tịnh Tâm, khu vực không có điện, tối mù mù, phải dùng đèn dầu hỏa. Học bài khuya, hao dầu, nhắm bộ bà chủ không vui lòng nên cứ tối tối, tôi qua nhà Quy học chung.

Cũng không phải là học trong nhà. Bọn tôi ra ngồi ở gốc đèn điện đường. Ngồi cột đèn nầy một chút thì qua cột đèn kia. Thỉnh thoảng, thấy chó chạy hoang thì lấy đá vụt chơi. Gặp mấy o bán chè thì hát “Con mèo chạy quanh tấm ván” nhại theo câu rao hàng của mấy o là “Chè đậu xanh đậu ván.” Có một câu nhại tục hơn, nhưng mấy ông lính mới xài câu đó, chúng tôi là học trò, không dám (2).

Gặp cảnh sát đi tuần sau giới nghiêm, 12 giờ đêm, thì phải trốn cho lẹ vì đôi khi, mấy thầy cảnh sát bắt được, nếu không thông cảm thì “Bị bác bếp Bình bắt bỏ bót ba bốn bữa.” Không “ba bốn bữa” đâu! Sáng hôm sau đã thả ra, vừa mất học bài, vừa trễ một buổi học ở trường.

Nhà Quy ở là nhà Tây, có nhiều phòng.

Ông thân Quy, thiếu tá Trần Thành, dân Quảng Bình, cùng quê với Cậu nên sớm làm trung đoàn trưởng đóng gần Huế.

Thỉnh thoảng ông mới về nhà. Quy có phòng ngủ riêng. Bà Hà cũng có phòng riêng. Nó cười cười, dặn tôi không được vào phòng bà Hà: “Phòng con gái, dơ lắm.”

Nó nói vậy. Tôi hiểu mờ mờ về cái dơ đó. Tuy thường đến đây, tôi chưa bao giờ thấy bà Hà tại nhà. Chỉ có một lần, khi chúng tôi đang ngồi trong lớp, bà Hà đạp xe đạp tới, gọi Quy ra, nói chuyện gì đó. Cả lớp, nhất là Nguyễn Đình Thống, anh ca sĩ Hoàng Lan của Đài Phát thanh Huế, trầm trồ “Chị thằng Quy đẹp ghê!” Vậy thôi.

Năm tôi học ở Khải Định, sau nầy là Quốc Học, tôi không thấy bà Hà lần nào, mặc dù, mấy lớp trên tôi, con gái còn học chung với con trai bên Khải Định vì trường Đồng Khánh chưa mở những lớp Đệ Nhị Cấp.

Nghe nói bà Hà đã đi dạy Trung Học, sau khi đậu tú tài 1. Hình như có một năm bà ấy về học lại lớp đệ nhứt, chung với bà Tường Loan.

Trên “Tập văn Học sinh Quốc Học” năm ấy, hai bà nầy đăng thơ gởi qua gởi lại cho nhau, làm như đôi tình nhân.

Tôi chỉ nghe nói, không đọc thơ họ hay đọc rồi mà quên. Nói như thế là thật tình, thơ không hay lắm. Nếu thơ hay lắm, – tôi nói là hay lắm -, có lẽ tôi đã thuộc vài câu.

Khi tôi đã đi dạy rồi, một người bạn đồng nghiệp, rất thân, bạn học với Tường Loan kể cho tôi nghe một câu chuyện như sau:

Một hôm, anh bạn tôi tới tư thất viện trưởng, nhà số 1, ở đầu đường Trương Định, là nhà của cha Luận, để mượn sách.

Vào sân, anh bạn tôi thấy ngay cửa giữa, sau bức màn phía sau phòng khách, phía dưới màn còn hở là cái áo đen và hai chân cha Luận, bên cạnh là hai chân một người đàn bà. Chỉ thấy hai chân vì phần trên đã bị tấm màn che khuất.

Tò mò, người bạn tôi đạp xe ra phía cửa sau. Té ra lúc đó, bà Hà đang đứng khâu lại bức màn. Cha Luận đứng bên cạnh. Hai người đang nói chuyện với nhau, vui vẻ lắm!

Khu nhà phía sau, có nhiều phòng. Những người ở lại nhà cha Luận, như bà Hà thì ngủ ở những phòng sau đó, không ngủ lại trên gian nhà chính.

Bọn sinh viên Huế, không ít người biết bà Hà là con nuôi của cha Luận.

Có một điều vui nữa, theo người bạn kể, cha Luận thường cho những “học trò cưng” của ông mượn sách về đọc. Ông có một tủ sách lớn, sách mua từ bên Tây về.

Mượn sách về phải rọc sách mà đọc. Điều đó cho thấy cha Luận có nhiều sách nhưng lại ít đọc.

Chuyện nầy cũng khá buồn cười. Năm bà Hà họcĐệ Nhứt gì đó, một buổi sáng, bà Hà không đi học. Bà đau bụng! Mấy người bạn cả trai lẫn gái rủ nhau đạp xe lên ga xe lửa Huế, thăm bả vì bả thuê nhà ở trên ấy. Vô tới nhà, hỏi thì bà nói đã đỡ đau nhiều, nhờ hồi khuya có gọi điện thoại cho cha, cha đã lên thăm và có xức dầu cho bà rồi.

Cha xức dầu cho bà Hà đau bụng, xức ở đâu? “Nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”, dĩ nhiên là chúng tôi có rất nhiều “lời bàn Mao Tôn Cương” và tiếng cười vì việc xức dầu ấy!

Giữa năm 1974, tôi đang ở Hà Tiên, nhân viên của tôi đi học ở Cần Thơ, không biết sao lại gặp Trần Quang Quy. Biết tôi ở Hà Tiên, Quy theo họ về tôi chơi, ở lại một đêm.

Sáng hôm sau, tôi xin máy may trực thăng bên biệt Khu 44 cho Quy quá giang về Cần Thơ. Khi ấy, Quy mang “loon” trung úy, đang phục vụ tại Cần Thơ.

Bữa đó, ăn cơm xong, tôi bảo lính xếp hai cái giường bố trong văn phòng của tôi để chúng tôi nằm bên nhau nói chuyện chơi.

Tôi lại tò mò hỏi Quy về vụ Hà-Lãng-Hổ mà báo chí đã đăng tùm lum, khi tôi còn ở Saigon. Lúc nầy, hình như bà Hà làm chủ thẩm mỹ viện Như Hà trên đường Phan Thanh Giản, Saigon.

Quy kể:

“Bà Hà có cái xe Fiat trắng, đẹp lắm; ngày ngày đưa đón con đi học ở Taberd. Thiếu tá Đinh Viết Lãng cũng có một chiếc Fiat giống y chang vậy, cũng đưa đón con đi học mỗi ngày như bà Hà.

Để ý xe ai giống xe mình, rồi để ý đến người lái xe, mối tình ngang trái bắt đầu, rồi làm thơ gởi qua gởi lại cho nhau. Chuyện lãng mạn của những người còn trẻ, giàu có, tư sản.

Khi câu chuyện tình bể ra, muốn giàn xếp cho yên, cha Luận can thiệp.

Cha yêu cầu Bộ Tổng Tham Mưu đổi Thiếu tá Lãng về Cần Thơ, để hai người xa nhau, không có cơ hội gặp gỡ.

“Vậy mà rồi hai người cũng cứ lén lút gặp nhau. Thiếu tá Hổ theo dõi, bắt gặp hai người đưa nhau đi chơi trên xa lộ Saigon – Biên Hòa.

Hổ chận xe bắn chết thiếu tá Lãng, đạn lạc, chết luôn cả cậu em Như Hà ngồi ở băng sau.”

Hỏi về chuyện bà Hà mở thẩm Mỹ viện, Quy cho biết bà Hà đi học thẩm mỹ ở Nhật, cũng do cha Luận giúp đỡ.

Ông Tụng lại kể chuyện vụ án Hà-Lãng-Hổ với tôi.

Tôi hỏi:

– “Giết chết hai mạng người, một cố sát, một ngộ sát mà chỉ bị án treo. Khó hiểu không?”

– “Nói chung thì tội cho bà Lãng và mấy đứa con. Thiệt thòi nhất.” Ông Tụng nói.

– “Bà không khiếu nại gì hết trơn?” Tôi hỏi.

– “Họ giàn xếp.” Ông Tụng giải thích. “Bà Như Hà cam kết chăm sóc nuôi nấng các con của bà Lãng cho đến khi khôn lớn.”

– “Tình trạng như bây giờ, ai ở ai đi! Bà Hà còn giữ lời cam kết không?” Tôi hỏi.

– “Tôi cũng không rõ!” Ông Tụng nói.

Nhớ cha Luận là cha nuôi bà Hà, tôi hỏi:

– “Có ai giàn xếp vụ nầy không? Cha Luận có can thiệp gì không?”

– “Như Hà không khai được một lời, chỉ ngồi khóc. Mọi việc cha lo liệu hết.” Ông Tụng giải thích.

– “Khai như thế nào mà chỉ bị tù treo. Tui không hiểu được.” Tôi nói.

Ông Tụng giải thích:

– “Trong lời khai ghi như thế nầy”. Ông Tụng kể lại: “Khi thiếu tá Hổ chận xe lại, chỉ rút súng ra là để hăm dọa và tự vệ vì thiếu tá Lãng cũng có mang súng. Thiếu tá Hổ hỏi thiếu tá Lãng: “Tại sao mày ngoại tình với vợ tao?” Lãng nói: “Tao ngoại tình với vợ mày. Mày không thấy xấu hổ sao mà còn hỏi…” Đó là câu nói khiêu khích của Lãng làm cho Hổ nóng lên, mất bình tỉnh, nên nổ súng bừa.”

– “Ai làm chứng? Bà Hà làm chứng, ông Hổ khai, cũng như không!” Tôi nói.

Nghe câu đó, ông Tụng chỉ cười. Một chốc, ông Tụng nói: “Tướng bà Hà là dâm lắm.” Tôi cũng làm thinh, nhớ hồi đi học, bọn học trò chúng tôi được ông Lê Hữu Mục cho chia phe cải nhau “Kiều đa tình hay đa dâm, hay cả đa dâm đa tình?” Chúng tôi cải nhau dữ dội, chẳng đâu ra đâu!

Một lúc sau, tôi nói với ông Tụng: “Xã hội nào cũng có hai giai cấp chính. Giai cấp bị trị và giai cấp thống trị. Người Tây có nói: “giai cấp thống trị là giai cấp thượng lưu.” Họ cấu kết với nhau để bảo vệ quyền lợi của họ.”

Ông Tụng hỏi:

– “Theo anh nghĩ, “cách mạng” nói họ xây dựng một xã hội không có giai cấp. Họ có làm được không?”

Tôi nhìn ông Tụng, nói nhỏ: “Đừng nghe những gì…” rồi tôi cười, không nói tiếp nữa. Dĩ nhiên ông ta nhớ hết cả câu và biết rõ ai nói lên cái chân lý đó.

&

Từ đó về sau, mỗi chiều, nói chuyện với nhau, chúng tôi không nói chuyện Hà-Lãng-Hổ nữa. Hà-Lãng-Hổ là tên vụ án do bao chí hồi đó đặt ra.

Chúng tôi trở lại việc chơi tem. Tôi hỏi ông Tụng:

– “Bác Tụng! Bác có tin sấm không? Sấm Trạng Trình!”

– “Cũng có, nhưng không tin lắm.” Ông Tụng trả lời.

– “Tôi nói bác đừng phiền tôi. Bác có đạo, tin Chúa, tin Kinh Thánh. Tôi nghĩ, kinh Thánh, cũng như sấm, nhiều khi nói sai, hoặc tam sao thất bổn. Có khi các đệ tử của Chúa giảng kinh Thánh sao cho có lợi cho bản thân họ, chứ không cần có đúng kinh Thánh hay không! Hình như kinh Thánh nói năm hai ngàn tận thế. Ba mươi tháng Tư là coi như miền Nam tận thế trước thiên hạ.” Tôi nói.

Ông Tụng cười:

– “Anh nói buồn cười thật. Sấm truyền không thể so với kinh Thánh, thứ hai, Ba mươi tháng Tư mà tận thế sao?”

– “Kinh Thánh, sấm Trạng Trình, sấm giảng của ông Huỳnh Phú Sồ, ai tin cái nào thì cho cái đó đúng hơn, cao hơn, đó là thường tình. Còn với những người bị bắt đi cải tạo, gia đình ly tán, phiêu lạc, trời có sập, có tận thế cũng tới đó là cùng.”

Không trả lời tôi, ông Tụng chỉ cười.

Tôi lại hỏi:

– “Bác có con tem bà Nam Phương không?”

– “Tôi có những mấy con. Bà đội khăn vàng, khăn hoàng hậu.” Ông Tụng nói.

Tôi cười:

– “Hồi xưa chỉ có hoàng hậu, hoàng thái hậu mới đội khăn vàng. Bây giờ mấy cô dâu Huế cô nào cũng đội khăn vàng. Vợ tui, khi đám cưới cũng vậy. Bà nào cũng muốn làm hoàng hậu.” Rồi tôi nói đùa: “Vợ tui là hoàng hậu của tui.”

Tôi nhớ có đọc một bài viết của ông Đoàn Thêm, kể chuyện khi ông Bảo Đại bên Pháp về, ra thăm Hà Nội, kiều nữ Hà Thành nhiều người nhắm ngôi hoàng hậu, nhưng sau đó, ông cưới bà Nguyễn Hữu Thị Lan. Tôi thuật lại câu chuyện đó với ông Tụng.

Ông Tụng nói:

– “Con gái Hà Nội đẹp lắm, đẹp hơn bà Nam Phương nhiều, vậy mà chẳng cô nào lọt mắt hoàng đế.”

Tôi nói:

– “Tôi không nghĩ ông Bảo Đại yêu bà Nguyễn Hữu Thị Lan mà cưới. Ông ta háo sắc mà bà Nam Phương thì không đẹp. Bà có duyên nhưng hai mắt nhỏ quá, phá tướng. Người thương thì gọi lá “mắt phượng”; người ghét thì cho là “mắt ti hí” Bác nghĩ phải không?”

– “Vậy tại sao ông Bảo Đại cưới bà?”

– “Chính trị. Chính trị mà.” Tôi nói. “Đám cưới nầy là do ông Charles (3) dàn dựng. Ông ta có công dạy dỗ ông Bảo Đại, lo vợ, lo con. Dĩ nhiên, công việc của ông Charles là một công tác đặc biệt, được Thực dân Pháp giao phó, nhắm vào quyền lợi nước Đại Pháp (4), đâu phải vì quyền lợi của người Việt Nam.”

– “Bà Nam Phương lấy ông Bảo Đại thì nước Pháp được lợi gì?” Ông Tụng hỏi.

– “Trói ông Bảo Đại lại. “Sắc bất ba đào dị nịch nhân.” (5) Người Huế có tinh thần yêu nước, ai không biết như thế! Sau khi ông Bảo Đại cưới vợ thì ông “nằm im”, chỉ chăm việc nhảy đầm, săn bắn, vui chơi. “Năm cụ khi không rớt cái ình” (6) xong rồi thì ông Bảo Đại rớt theo.” Tôi nói.

Ông Tụng hỏi:

– “Anh nói “năm cụ khi không rớt cái ình” là chuyện gì?”

– “Là năm ông thượng thư già bị ông Bảo Đại cho về hưu, lập một nội các mới, nhiều người trẻ. Trong số, trẻ nhứt là ông Ngô Đình Diệm, mới 32 tuổi.”

– “Thế rồi tại sao ông Diệm xin từ quan?”

– “Vì nội các mới đặt vấn đề với Tây, yêu cầu thi hành đứng đắn các hiệp ước đã ký với triều đình An-Nam. Ông Bảo Đại còn trẻ, tinh thần còn hăng, muốn đem cái sở học từ bên Tây về để canh tân nước nhà cho kịp đà tiến hóa với năm châu. Tụi thực dân Pháp ngửi thấy mùi “phản động” đó, triệt tiêu ngay bằng một “mụ” đàn bà.” Tôi giải thích.

Một lúc, tôi nói tiếp:

– “Tui nhớ hồi tui chưa đi học, đã nghe bài hát:

“Dậy, dậy, dậy mở mắt xem toàn châu

Đèn khai hóa rọi khắp toàn cầu

Ngọn đường thông thương ngàn dặm

Xe tàu điện, tàu nước, tàu bay…”

Lời ca thật ngô nghê…”

– “Chưa đi học mà nhớ tới giờ cũng hay đấy!” Ông Tụng vừa cười vừa nói.

Phấn chấn vì lời khen của ông Tụng, tôi nói tiếp:

– “Tôi còn nhớ một bài nữa “Kìa, núi vàng bể bạc, có sách trời, sách trời định phận. Một dòng ta gầy non sông vững chặt…” chỉ nhớ chừng đó, đoạn sau tôi quên mất. “Sách Trời Định” là “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” của Lý Thường Kiệt đấy.”

Ông Tụng nói:

– “Bài anh hát là bài “Đăng Đàn Cung” là bài dùng để rước vua.”

– “Tôi không biết, nhưng hồi Tây, sau bài Marseillaise thì học trò hát bài nầy. Tôi cứ tưởng là bài quốc ca nhà Nguyễn.”

– “Cũng có thể đấy. Tôi học trường Tây nên khi chào cờ chỉ hát Marseillaise mà thôi. Sau đó hát bài “Maréchal! Nous voila! Devant toi, le sauver…” Ông Tụng nói.

Một lúc, tôi lại hỏi ông:

– “Bác có biết những bài kêu gọi Đông du, Duy tân như “Á tế Á”, “Hải ngoại huyết thư”, “Lưu cầu huyết lệ tân thư” của cụ Phan Bội Châu không?”

– “Tôi chỉ biết sơ thôi, tôi có đọc sử.” Ông Tụng trả lời.

Tôi đọc:

“Phen nầy cắt tóc đi tu,

Tụng kinh Độc lập ở chùa Duy Tân.

Đến ngày khấn vái ân cần,

Cầu cho ích quốc, lợi dân mới là,

Tu sao cho mở trí dân nhà,

Tu sao độ được nước ta phú cường.”

Hồi ấy, tôi cứ thắc mắc, không biết chùa Duy Tân nằm ở đâu?”

Cả ông ta với tôi đều cười.

Một lúc ông Tụng than:

– “Coi như ông Diệm là “đồng chí” với ông Bảo Đại. Vì vậy mà ông bị kẹt.”

– “Còn nữa bác. Ông Bảo Đại lập “Ủy ban Cải cách”, cử ông Diệm làm thư ký hay tổng lý gì đó, đại khái là một cái chức gì đó, tôi không nhớ, chỉ dưới quyền ông Bảo Đại mà thôi.

Ông Bảo Đại muốn cải cách cái gì? Tây nó coi đó như là sự chống đối. Vậy thì phải trói tay ông ta lại chớ. Ông Diệm không từ chức cũng không được. Đó chỉ là một cách nói. Ông Diệm đi rồi, còn lại toàn là một đám người dễ bảo. Cưới cho ông Bảo Đại một bà vợ, với một triệu đồng tiền Đông Dương làm hồi môn. Thế là xong. Có bài bản cả đấy. Thành ra, tôi cho rằng ai bôi lọ ông Diệm, cho rằng vì tranh chức thượng thư không lại với Phạm Quỳnh mà xin từ chức là xuyên tạc lịch sử.”

– “Lâu lâu nghe anh nói chuyện lịch sử triều đình Huế cũng hay. Theo anh thì bà Nam Phương là người như thế nào?” Ông Tụng hỏi tiếp.

– “Nầy, bác coi nhé. Học trường đạo nầy, du học bên Tây nầy, dòng dõi “Huyện Sĩ theo Tây Đại Việt Gian nầy”, “dân Tây” nầy, quê “Nam Kỳ thuộc địa” nầy. Bác biết quan trọng nhứt là điều gì không?” Tôi nói.

– “Điều gì?” Ông Tụng hỏi.

– “Đạo Thiên Chúa. Với một con người như bà ấy, bà đặt quyền lợi giáo hội La Mã lên trên quyền lợi dân tộc Việt Nam. Bà “dân Tây”, “Nam kỳ thuộc địa”, đâu có thuộc “nước An-Nam”. Đưa tôn giáo vào chính trị là vậy. Nước ta, đưa thần quyền vào thế quyền là chủ trương của giáo hội La Mã khi họ bắt tay với bọn thực dân xâm lăng, cai trị nước ta. Đến khi bà Nam Phương lên ngôi hoàng hậu, lúc ấy, từ trung ương đến địa phương, thế lực giáo hội đã quá rõ ràng. Vì vậy, ở nước ta, quyền lợi thực dân Pháp liên kết chặt chẽ với quyền lợi của giáo hội.” Tôi nói, một hơi.

Giọng ông Tụng vẫn từ tốn:

– “Theo tôi, anh nghĩ hơi xa rồi đấy!”

– “Có thể bác không đồng ý với tôi, cũng là điều thường tình. Nhưng kính mến bác nên tôi nói thẳng và nói thật những gì tôi suy nghĩ từ trước tới nay./

hoànglonghải

(1)-Câu sấm là:

Bao giờ cỏ mọc trên chì,

Voi bò trên giấy đi đời thầy tăng!

(2)-Câu tục mấy ông lính tráng thường chọc mấy “o” là “Đè đầu hôm tới sáng.”

(3)-“Jean Eugène Charles” nguyên khâm sứ Trung kỳ, Toàn quyền Đông dương tạm thời 1916-1917. “Bạn” của vua Khải Định, thay mặt nhà vua chăm sóc việc học hành cho Bảo Đại khi ông nầy du học ở Pháp. Sau khi ông Bảo Đại thôi học trở về Huế, ông Charles cũng qua Việt Nam, tiếp tục “chăm sóc” cho nhà vua, “sắp đặt” việc vợ con cho vua.

(4)-“Nước Đại Pháp”, ấy là cách nói “nịnh” nước Pháp, cũng giống như sau nầy, chế độ Cộng Sản Hà Nội gọi “Trung quốc Vĩ đại” hay “Liên xô Vĩ đại” vậy.

(5) Nguyễn Giản Thanh, thường được gọi là Trạng Me; 1482–?) là trạng nguyên khoa thi Đoan Khánh năm thứ tư (1508), đời vua Lê Uy Mục, người làng Ông Mặc (tục gọi là làng Me) huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh.

Ông làm quan đến chức Hàn lâm viện Thị thư kiêm Đông các Đại học sĩ. Sau đó, lại ra làm quan với nhà Mạc, được cử đi sứ sang Trung Hoa để cầu phong cho Mạc Đăng Dung. Khi trở về, ông được thăng Thượng thư Bộ Lễ kiêm Hàn lâm viện Thị độc, Chưởng viện sự, khi mất được tặng tước hầu.

Lúc Nguyễn Giản Thanh còn đi học, thầy học là Đàm Thuận Huy, thấy học trò sắp ra về thì trời đổ mưa to, học trò không về được, thầy bèn ra vế đối để thử tài học trò:

“Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách” (Mưa không có then khóa mà có thể giữ được khách).

Nguyễn Giản Thanh liền đối lại là: “Sắc bất ba đào dị nịch nhân” (Sắc đẹp của người đàn bà, không phải là sóng, nhưng dễ nhận chìm người).

Thầy Đàm Thuận Huy nói:

Câu đối này thật hay và thật chỉnh, văn khí này có thể đậu Trạng nguyên, nhưng về sau coi chừng việc sắc dục làm hại sự nghiệp.

Tương truyền, Nguyễn Giản Thanh chỉ đậu bảng nhãn còn Hứa Tam Tỉnh (làng Ngọt) đậu trạng nguyên. Trong buổi lễ ra mắt vua, các tân khoa phải làm một bài phú dâng tặng vua và hoàng thái hậu (mẹ của vua). Hoàng thái hậu thấy Hứa Tam Tỉnh dung mạo xấu xí thì không ưng lắm, trong khi đó Nguyễn Giản Thanh khuôn mặt khôi ngô thanh tú nên bà muốn ông làm trạng nguyên. Vua vì muốn chiều lòng mẹ nên đánh giá bài phú của Nguyễn Giản Thanh cao hơn và trao danh hiệu trạng nguyên cho ông. Do đó dân gian có câu “Trạng Me đè trạng Ngọt”.

(6) Toàn bộ bài thơ nầy, theo một người bà con, chị là con gái cụ cử Hoàng Đức Cự, bạn đồng song với ông Tuần Chi (Nguyễn Đình Chi – chồng bà Tuần Chi, thường gọi là bà Tùng Chi, xưa là hiệu trường Đồng Khánh, mẹ vợ tướng Trần Văn Trung) đọc cho tôi chép lại như sau:

Năm cụ khi không rớt cái ình

Đất bằng sống dậy chốn thần kinh

Bài không đeo nữa xin dâng lại

Đàn chẳng ai nghe, khéo dở hình

Liệu thế không xong, binh chẳng được.

Liêm đành giữ tiếng, lễ đừng rinh

Công danh như rứa là hậu hỉ

Đại sự xin nhường kẻ hậu sinh.

Trong “Thuyền ai trước bến Văn Lâu” của giáo sư Nguyễn Lý Tưởng”, chép lại theo “Hương Bình Thi Tập” của cụ Hoàng Trọng Thược, có khác vài chữ như sau:

Câu 2: Đất bằng sóng dậy đất thần kinh

Câu 7: Công danh thôi thế là hưu hỉ

Câu 8: Đại sự xin nhường lũ hậu sinh

Cũng trong sách nói trên, tác giả chép lại theo “Giai

Thoại Làng Nho” của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc như sau:

Năm trụ khi không ngã cái ình

Đất bằng một tiếng thảy đều kinh

Bài không đeo nữa xin dâng lại

Đàn nọ ai nghe, khéo dở hình

Liệu thế không xong, binh chẳng được

Liêm đành giữ tiếng, lễ đừng rinh

Công danh như thế là hưu hỉ

Đại sự xin nhường lũ hậu sinh.

Năm cụ, tiếng Huế thường dùng để gọi các quan, những người lớn tuổi như cụ Ngô, cụ Hồ (năm 1945, 46), cụ Huỳnh, cụ Phan, v.v… là 5 ông thượng thư tại chức khi vua Bảo Đại còn ở bên Pháp.

Năm cụ rớt chức thượng thư gồn có:

Câu 3: Nguyễn Hữu Bài, rớt chức thượng thư bộ Lại

4: Tôn Thất Đàn, thượng thư bộ Hình

5: Phạm Liệu, thượng thư bộ Binh

6: Võ Liêm, thượng thư bộ Lễ

7: Vương Tứ Đại, thượng thư bộ Công.

Con cháu ông Nguyễn Hữu Bài, tước quận công, bây giờ còn ai, tôi không biết, nhưng các ông như giáo sư Tôn Thất Thiện, Phạm Biểu Tâm, Võ Văn Hải, là con cháu các cụ thượng thư ở Huế, tôi không rõ có quan hệ giữa các ông nói trên với các cụ “rớt cái ình” như thế nào!

Năm trụ: là 5 cột trụ của triều đình.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy
Post by Sơn râu 2 Oct 2025

Phần 15

Việt cộng có luật cấm nhân dân nghe những đài phát thanh tư bản. Luật này lâu lâu lại được vẩn vương đem ra đăng lại trên các nhật báo. Nhưng ngơ ngáo vào Sàigòn Việt cộng bị tràn ngập bởi các máy radio. Sàigòn quá nhiều radio Việt cộng kiểm soát không nổi. Việc nghe VOA, BBC trở thành một nhu cầu phải có của nhiều người dân Việt Nam Cộng Hòa thua trận. Những tháng năm đen tối ấy anh Cao Hữu Đính, ông bạn vong niên của tôi, trang bị một máy radio vừa dùng được điện vừa xài được pin. Anh đề phòng những lúc Thành Hồ mất điện anh vẫn nghe được tin và để buổi sáng anh mang radio theo anh vào phòng vệ sinh. Giáo sư Cao Hữu Đính, nguyên giáo sư Phật học Đại học Vạn Hạnh, nguyên Tổng Thư ký Hội Đồng Liên Tôn thời Phật Giáo chống Tổng thống Ngô Đình Diệm, anh đã mãn phần tại Thành Hồ năm 1993. Anh chị có bẩy người con. Tất cả các con của Cao lão gia đều thành đạt và hiện nay ở Canada, Hoa Kỳ và Pháp. Anh Đính chăm nghe radio, nhớ những tin liên can đến Việt Nam để nói lại cho chúng tôi nghe.

Hai ông Mít Ra-đi-ô ở hải ngoại được nhân dân Thành Hồ nhắc nhở đến, hai ông cùng tên Văn, ông Lê Văn Đài VOA, ông Đỗ Văn Đài BBC – Những năm 82, 83 buổi phát thanh Tạp Chí Đông Nam Á chín giờ tối thứ năm trong tuần của Đài BBC được Anh Con Trai Bà Cả đón nghe kỹ nhất. Tối nào có mục đi ăn nhậu viả hè anh đều chăm chăm đạp xế về nhà trước chín giờ tối để nghe Tạp Chí Đông Nam Á. Tối nào vui bạn hay có mồi ngon, rượu tốt không đành lòng nhẩy lên xế đạp trở về nhà để nghe BBC Đông Nam Á được anh tiếc hùi hụi. Một trong những nguyên nhân làm anh đón nghe đài BBC, VOA là để anh có điều kiện bàn tán với thiên hạ. Sáng hôm sau đến tiệm hớt tóc hay quán cà phê vỉa hè, nghe ai nói tối qua Bà Bán Cam loan tin này, tin nọ, anh có thẩm quyền phát biểu: “Hổng phải thế ông ơi. BiBiSi nói như vầy nè…”. Nếu anh không nghe được buổi phát thanh ấy khi thiên hạ bình loạn anh bán tín bán nghi.

Ông Văn ra-đi-ô thứ hai là ông Lê Văn. Ông này được bà con cô bác biết tên nhờ mục Âm Nhạc Việt Nam Hải Ngoại VOA. Những năm 1980 nhạc chiến đấu của Việt Dzũng, Nguyệt Ánh đang ở trong vòng hào quang sáng chói nhất. Giờ phát thanh nhạc Việt hải ngoại có nội dung đả kích Việt cộng đến nơi đến chốn. Bởi dzậy Việt cộng rất không ưa ông Lê Văn. Sau khi Hoa Kỳ bang giao với Việt cộng, VOA phái ông Lê Văn làm phát viên VOA ở Hà Nội, Việt cộng đã không chịu cho ông về nước. Trong khí đó thì Đỗ Văn BBC, một Công Tử Hà Đông rất ít khi chịu nhận mình là Công tử Hà Đông, cùng đi với bà Judy Stowe BBC, đã đàng hoàng trở về Hà Nội, Thành Hồ với tư cách đặc phái viên BBC từ những năm 88, 89..

Bà con kẹt giỏ nghe Đài VOA, kể cả những văn nghệ sĩ, chỉ biết Lê Văn là ông Lê Văn. Bỗng dưng tuần báo Tuổi Trẻ, cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh niên Cộng sản Thành phố HCM, đăng một bài đả kích đài VOA, gọi đích danh Lê Văn VOA là ký giả Đỗ Ngọc Yến.

Anh Con Trai Bà Cả từng có hân hạnh được quen biết ông Đỗ Ngọc Yến từ năm nhà ông còn ở gần Ngã Tư Hàng Xanh xa lộ. Ngày 25, 26 chi đó Tháng Tư năm 1975, anh còn gặp ông Đỗ Ngọc Yến ở Sàigòn. Ông và các ông Đỗ Quý Toàn, Lê Tất Điều, Vũ Ngự Chiêu, Phạm Hậu, Phạm Huấn, Thanh Nam v.v.. cùng nhiều ông khác dzọt đi thật lẹ. Từ khi tờ Tuổi Trẻ loan tin Lê Văn VOA là Đỗ Ngọc Yến bang chúng Cái bang Saìgòn đều cho là đúng. Chẳng còn ai théc méc gì.

Bị bắt, anh Con Trai Bà Cả Đọi cùng người anh em cùng vợ mí anh là Công Tử Hà Đông không thấy phiền hà gì với những buổi được gọi làm việc, tức là đi chịu thẩm vấn. Cai tù đến dùng sâu chìa khóa đập mạnh vào cửa xà lim – Hán Việt văn huê gọi là Biệt Giam – và gọi: “Hát… Hát… Tê… đi làm việc…”. Phải viết là “được” đi thẩm vấn vì phòng tù xã hội chủ nghĩa, nếu là phòng biệt giam, tức sà-lim thì người tù nằm một mình quá buồn, muốn được ra ngoài cho thỏang khoát, muốn được nói chuyện dù là nói chuyện với kẻ thẩm vấn mình, nếu ở phòng tập thể thì phòng nhồi nhét quá đông người. Bẩn, nóng, ồn ào, hôi thối. Mùi người. Đụng chạm. Đó là những gì có mặt thường trực Vảnh Sít xuya Vảnh Cát ở tất cả những phòng tù Việt cộng nhốt nhân dân thân thương, nhốt những đồng bào của chúng không những chỉ ở Thành Hồ mà là ở khắp nước Việt Nam đau khổ. Được gọi đi thẩm vấn, ít nhất cũng được ra khỏi cái phòng giam bẩn thỉu ấy trong vòng hai tiếng đồng hồ, được ngồi tương đối thoải mái ở một chỗ tương đối vắng người, được công an Việt cộng mời hút thuốc lá Mai, Vàm Cỏ v.v…

Trong một buổi thẩm vấn thường lệ khoảng Tháng 8 năm 1984 anh công an Huỳnh Trung Thành mở cặp lấy ra quyển sổ bìa đen. Anh để một tấm các nửa trong nửa ngoài trong sổ, phần tên tuổi người trong tấm các được che đi, chỉ cho tôi thấy tấm ảnh căn cước cỡ cát-xít. Thành hỏi tôi:

– Anh biết ai đây không?

Tôi nhìn ảnh. Tôi gặp người trong ảnh này cuối tháng Tư 1975. Bi giờ là tháng Sáu 1984. Thấm thoát dzậy mà đã chín mùa lá rụng. Tôi tưởng như tôi mới gặp ông ấy có ngày hôm qua. Tuy không được giao du thân mật với ông nhưng tôi không làm sao quên được dung nhan của ông. Ông trán cao, tai lớn, mặt vuông cương nghị. Đặc biệt ông có cặp kính trắng cận thị hơi dầy nên trông rất trí thức. Chắc hơn bắp là mình nói đúng, mình cũng là tay kha khá ở Sàigòn vì mình quen biết nhiều người quan trọng, tôi trả lời:

– Nếu tôi không lầm thì đây là ảnh anh Đỗ Ngọc Yến…

Và để lấy điểm tôi tự khai báo thêm:

– Anh này hiện ở Mỹ. Nghe nói anh ta là Lê Văn đài Vê-Ô-A.

Huỳnh Trung Thành gật đầu:

– Anh nói đúng đấy.

Tấm các được lấy ra cho tôi xem. Chẳng cần nhìn tên tôi cũng biết đó là Đỗ Ngọc Yến. Đây là tấm phiếu lý lịch của anh khi anh khai lấy thẻ căn cước hay xin thứ giấy tờ gì đó ở trong hồ sơ Tổng Nha Cảnh sát của ta.

Tôi có tật viết vòng vo và quý bạn đọc vừa thấy tôi biểu diễn một đường Lăng Ba Vi Bộ vi vút.Ý định của tôi khi ngồi vào bàn gõ máy chữ Olympia mang theo từ Ngã Ba Ông Tạ, Thành Hồ đến Virginia Rừng Phong A Linh Tôn là viết về Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều, và về một người đã thương xót, đã giúp đỡ an ủi khuyến khích, làm cho trái tim vợ chồng, bố con tôi, kể cả trái tim thằng cháu ngoại của tôi ấm lại.

Năm 1980 từ số 4 Phan Đăng Lưu trở về Ngã Ba Ông Tạ, gặp lại Dương Hùng Cường – anh đi cải tạo trở về khoảng năm 1979 – Cường bảo tôi:

– Trần Tam Tiệp, không quân, tức Đạo Cù, Con Ong, hiện là Tổng Thư ký Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, ở Paris, có gửi thuốc về cho anh em. Tôi đã cho Tiệp biết ông mới về, địa chỉ ông, kỳ quà tới thế nào ông cũng có đấy.

Tôi gặp Lê Trọng Nguyễn, Nguyễn nói:

– Có cô Phương Hương ở Pháp gửi thuốc về chi viện văn nghệ sĩ. Tao có báo cho cô ấy biết tin mày. Địa chỉ của cô ấy đây. Mày nên viết cho cô ấy…

Thế là tôi được ghi tên vào hai sổ Con Cá Nó Sống Vì Nước Ngoài, sổ Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại kiêm Văn Bút Quốc Tế của Trần Tam Tiệp, Sổ Quan Thế Âm Bồ Tát Cứu Khổ Cứu Nạn của cô Phương Hương. Khi gửi thùng thuốc cho Lê Trọng Nguyễn, cô để tên người gửi là Lê Thị Phương Hương, trên thùng thuốc gửi cho tôi cô đề tên người gửi là Hoàng Thị Phương Hương. Gửi quà cho ai, cô lấy tên họ người ấy. Tôi chắc trên thùng thuốc cô gửi cho Mai Tuyết An, vợ Lý Đại Nguyên, cô để tên người gửi là Mai Phương Hương.

Trong những năm đen tối, tuyệt vọng ở Thành Hồ, tôi may mắn được khá nhiều người gửi đồ, gửi tiền về cứu trợ. Bà Dì tôi và các em tôi không kể, cô Phương Hương là một trong những người thương xót vợ chồng chúng tôi nhất. Tôi chắc với tất cả mọi người – những chúng sanh lặn ngụp trong bể khổ cõi Ta Bà – cô Phương Hương đều có tấm lòng vị tha như thế. Tôi được biết tên cô là Cao Ngọc Phượng, sinh quán Bến Tre, nữ bác sĩ. Cô là Phật tử thuần thành, đệ tử của Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh. Tôi gửi một số bài viết của tôi sang cô. Hai bài của tôi được đăng trong tuyển tập “Tắm Mát Ngọn Sông Đào” do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành ở Paris năm 1982.

Tắm Mát Ngọn Sông Đào được lấy ra từ bài Sẩm Xoang của tôi:

Muốn tắm mát thì lên ngọn cái con sông đào

Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh

Đôi tay anh vín đôi cành

Quả chín anh hái quả xanh anh vồ

Năm sáu năm nay anh ăn ở Thành Hồ

Cơm nhà quà vợ nửa rồ anh lại nửa điên

Sống quẩn quanh ngày tháng nó nặng chiền chiền

Ngày rơi ngày muộn, đêm phiền theo đêm

Nhưng mà em ơi… Anh ngẫm cái thân anh đến giờ này anh còn nệm ấm, giường êm.

Vợ thương, con thảo, anh còn rên cái nỗi gì

Bạn bè anh như lá đài bi

Đứa thì dãi nắng, đứa thì dầm sương

Thằng sông Vô Định phơi xương

Thằng thì con vợ nó phú lỉnh một đường sang sông

Thơ xanh anh chép giấy hồng

Lúc hèn thì đến Quận Công cũng hèn.

Nói gì rằng đỏ, rằng đen.

Được cô Phương Hương thương xót, cứu trợ và đối xử chân tình, tôi chăm chỉ viết thư cho cô, kể linh tinh đủ thứ chuyện trong nhà, ngoài xã hội. Ngoài việc cứu trợ bằng phẩm vật, nâng đỡ tinh thần bằng những lời thăm hỏi, cô còn giúp vợ chồng tôi nhiều nữa qua những việc cô làm mà cô không nói, như trình bày trường hợp của tôi với những tổ chức nhân đạo quốc tế để xin họ giúp đỡ, xin họ can thiệp cứu tôi, lên tiếng đòi trả tự do cho tôi.

Tháng Năm 1984. tôi bị bắt lần thứ hai. Năm mùa lá rụng ngồi tù nhìn nắng chiếu, mưa rơi ngoài song sắt phòng tù tôi mới được gần Alice vảnh cát xuya vảnh cát ở trại Cải tạo Z30A Xuân Lộc, Đồng Nai, Alice kể:

– Cô Phương Hương tội lắm. Anh bị bắt rồi, thư đầu cô ấy gửi về cho con Giang. Cô ấy viết: “… Giang… con ôm chặt lấy Má cho cô…”

Năm 1989 Doãn Quốc Sĩ và tôi ở trại Z30A, cô Phương Hương nhờ một nữ đệ tử về thăm quê hương đem tiền cứu trợ đến tận nhà cho chúng tôi. Nữ phật tử này cũng theo các vị sư sãi chùa Già Lam lên trại Z30A thăm các vị Thượng Tọa Thích Đức Nhuận, Đại Đức Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, Trí Siêu Lê Mạnh Thát và thăm gặp mặt cả hai anh em Biệt Kích Văn Nghệ ở tù ở trại này là anh Doãn Quốc Sĩ và tôi.

Năm 1990 lần thứ hai tôi từ nhà tù cộng sản trở về mái nhà xưa. Cuộc liên lạc bằng thư từ giữa cô Phương Hương với tôi không còn được thường xuyên như trước 1984. Cô cho biết cô đã xuống tóc, trở thành Ni Sư, pháp danh là Chân Không, cô thường đi Ấn Độ, Tích Lan đi khắp nơi học và thuyết pháp. Cô chuyên vào việc tu hành. Việc quyên góp và cứu trợ đồng bào trong nước trong tổ chức Phật tử tự nguyện của cô được cô trao cho người khác.

Tháng Chín năm 1995, Thiền sư Nhất Hạnh sang Hoa Kỳ trong một chuyến đi hoằng pháp. Ni sư Chân Không ở trong đoàn tháp tùng. Cô Chân Không phone cho tôi khi cô theo Thầy đến Washington D.C. Cô mời tôi lên D.C. dự cuộc nói chuyện của Thầy. Người ta đến nghe phải mua giấy vào cửa, tôi đến nghe free.

Hai ngày sau, Thiền sư thuyết pháp ở Arlington. Vợ chồng tôi lại được gặp cô. Lần này vợ chồng chúng tôi được nói chuyện với cô lâu hơn. Cô đến phòng hội trước để chuẩn bị, sắp xếp cuộc thuyết pháp. Vợ chồng tôi đón cô trên đường cô đi vào hội trường. Gặp chúng tôi cô hỏi ngay:

– Kiều Giang hồi này sống ra sao? Con nó năm nay mấy tuổi rồi?

Trích “Những tên Biệt kích cầm bút”

Chỉ vài ngày sau khi Đoàn Quốc nhận được giấy xuất cảnh thì hầu như những người quen biết cũ trong làng văn, làng báo trước đây cũng đều biết tin. Lâu nay, ít ai nhắc đến ông ta. Điều đó cũng dễ hiểu thôi vì từ trước ông ta vẫn chuộng lối sống “ẩn dật” khá khác biệt với các đồng nghiệp.

Ngoài nghề viết văn, ông ta còn là nhà giáo, ảnh hưởng sâu đậm Nho giáo và của văn học Pháp, về sau này tốt nghiệp môn giáo dục học ở Đại học California. Ông ta còn nghiên cứu về Thiền và là bạn thân với các nhà sư tiếng tăm.

Tất cả những khuynh hướng văn học, triết học có vẻ trái khoáy với nhau tập hợp lại tạo thành tính cách riêng, mặt này bổ sung mặt kia, khiến cho các đồng nghiệp và độc giả của nhà văn Đoàn Quốc thấy ở ông một tổng hợp nhiều màu sắc và có sức thuyết phục!

Cái vẻ nho nhã bên ngoài khiến cho một số người coi đó là “tính truyền thống” của văn hóa Việt Nam. Điều khác là “nhà nho” Đoàn Quốc không có khăn đóng, áo dài mà khoác bộ cánh của văn chương lãng mạn Pháp và những đường nét kỷ hà của văn minh Mỹ ngang ngay sổ thẳng, chính xác và thực dụng. Vì vậy, trong văn chương và cả trong cuộc sống ai theo thị hiếu nào đều cũng có thể tìm thấy cái nhìn ưa thích nơi Đoàn Quốc. Vì chính màn khói ảo giác ấy đã đưa Đoàn Quốc lên vị trí đàn anh trong thứ trật tự “chiếu trên, chiếu dưới” trong làng văn Sàigòn trước đây.

Thế mà nay mai ông ta sắp đi cùng đám con lai Mỹ, cùng với các cụ già, cháu bé… được Nhà Nước cho phép xuất cảnh để “đoàn tụ gia đình”. Sự thật là vậy. Theo đúng chính sách, ông ta ra đi theo diện người ngoài tuổi lao động, già yếu, được con cái bảo lãnh, chứ không hề với tư cách một nhà văn. Ấy thế mà lại có tin đồn, ông ta được “một tổ chức nhân quyền quốc tế” nào đó can thiệp để ra đi với tư cách là một nhà văn “không thích nghi với chế độ cộng sản”! Cái tin vịt ấy kể ra cũng có xuất xứ của nó. Một vài tờ báo lá cải của nhóm lưu vong phản động bắt đầu làm rùm beng, coi việc ra đi của Đoàn Quốc như là thành tích “đấu tranh” của chúng buộc “nhà cầm quyền cộng sản” phải nhượng bộ!