Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 15 Nov 2025

9. Chương 9

Ngủ gục trong sở mà sau được vinh thăng Tổng Đốc.

Chuyện này có thật, nhưng xảy ra đã quá lâu, lại nữa tôi chỉ nghe thuật lại không đầu không đuôi, nên tôi không dám chi đích danh, e xúc phạm vong linh người quá cố đáng kính, vậy tôi tạm gọi người bằng một tên đặt riêng là “Người Sài Gòn” và xin độc giả thông qua cho.

Việc xảy ra vào cuối thế ký XIX bắt qua thế kỷ XX. Bên Pháp quốc, Nội các rất kính nể và rất phục tài nhưng cũng vì quá ngán sự đàn bạch chất vấn của ông, nên đồng hè tiến cử thượng nghị sĩ Paul Doumer qua làm Toàn quyền đại thần, trọn quyền cai trị toàn cõi Đông Dương, kể từ ngày 13-2-1897. Lại một khó xử nữa cho tôi, tên gì quá tục, quá ác, cái gì mà “Doumer: Đu Me”, nên tôi phải chịu theo người Bắc mà gọi ông bằng một tên văn hoa thơm tho là “Đô Mỹ”.

Và nay tôi bắt đầu kể chuyện. Sự nghiệp của Đô Mỹ để lại đây quả là đáng đích tỷ dụ nói sơ như ngoài Bắc có chiếc cầu sắt bắc qua Hồng Hà, nay còn danh tiếng và trong Nam này, nào cầu sắt cho xe lửa chạy qua Biên Hòa lên tận Hà Nội, và nào cầu sắt Bến Lức và cầu sắt Tân An, tuy nay đã có cầu đúc đá sạn thay thế, nhưng danh sách mấy cầu sắt kiểu Eiffel nầy vẫn còn tồn tại. Nhưng việc ông Đô Mỹ thành công trong sự nghiệp tạo tác tôi xin gác qua một bên và trong bài nhỏ này, tôi xin nhắc sơ vài mẩu chuyện có thật mà gần như đã thành huyền thoại, chuyện mạn đàm trong buổi trà dư không cần tỷ mỷ dò xem đích xác. Chính toàn quyền đại thần Đô Mỹ là người duy nhứt, dám đơn thân độc mã phóng ngựa chạy qua truông Nhà Hồ, bất chấp chướng khí sơn lam cọp rừng voi rú, suốt từ Hà Nội cho đến Huế đô và chi dắt theo bên mình, một võ quan uy tín, đến mỗi trạm thì thay ngựa mới, cái kỳ công xuất chúng này, các toàn quyền kế tiếp, du hành bằng xe hơi tốt máy, bằng tàu biển hay tàu hỏa, há dám tranh công?

Đô Mỹ quả là người có tài tánh lại quả quyết gần như độc đoán, nhưng rất giản đi, các quan lang sa theo giúp ông cũng đều xứng đáng các qui kỳ phận, bên Đoan (Thương chánh), bên Dây Thép (Bưu cục) như bên Lộ Cầu (tạo tác cầu, đường), duy khi Đô Mỹ qua nhận chức tại Hà Nội, nơi văn phòng Toàn quyền phủ, ông vẫn chấp nhận các quan lại bản xứ của trào trước để lại, đều toàn là người đất Bắc, khăn đen áo dài tiêm tất và trong văn phòng giúp việc cho Đô Mỹ, chỉ có một người duy nhứt từ phủ Phó Soái Sài Gòn gới ra, ăn vận không giống ngoài Bắc, đã văn minh tóc hớt ngắn và mặc áo bành tô (paletot) gài sáu nút, và tạm gọi “Người Sài Gòn”.

Người Sài Gòn này gần như bị bỏ bê bất dụng, một phần vì Bắc Nam lúc ấy cư xử ăn ở không mấy giống nhau, một phần khác, Người Sài Gòn vấn khô nhập hội với chúng bạn đồng sở mã tấu răng đen, Người Sài Gòn tứ bể lạ nước lạ non, có vợ con chưa hay vẫn sống độc thân, vẫn ăn cơm tháng và ở trọ đâu đây hay vẫn có gia cư đường hoàng, nào ai biết được, chỉ biết ngày qua ngày, ngày nào như ngày nấy.

Người Sài Gòn không có việc công để làm và sớm như chiều, khi vô sở, chỉ có ngồi ngáp gió và đặc biệt là giới nghề ngủ gục, gục lên gục xuống, (ngoài nở gọi ngủ gật, thì cũng một thứ), và chính một hôm nọ, các quan trong sở đều rút lui ai về nhà nấy, mà cũng quên đánh thức người Sài Gòn, ông ta vừa tỉnh giấc Nam Kha, chưa biết tấn thổi lẽ nào, thì bỗng trong phòng riêng ông Đô Mỹ bước ra, trong văn phòng lạnh ngắt, ông ngó quanh ngó quất chỉ thấy duy nhứt người Sài Gòn đang ngơ ngác thủ lễ cúi đầu chào kính cẩn:

– Ủa! – toàn quyền Đô Mỹ vui vẻ nói – Anh còn ở đây hà? Này, hãy làm ơn cho đi bức công điện khẩn này! (Câu Pháp văn có lẽ là: Ah! Vous êtes encore là! Tennez, faites-moi partir ce T.O. (télégramme officiel), s’il vous plaýt!).

Viết đến đây, tôi cần mở một dấu ngoặc để giải nghĩa buổi ấy vẫn chưa có máy đả tự hoặc máy điện thoại chi chi cả và người thơ ký thuở ấy chỉ cần thạo nghề thông dịch cho cứng cáp, từ tiếng Tây qua tiếng ta hoặc từ tiếng ta qua tiếng Tây cho thật rành rẽ, và biết đủ bốn bài toán cộng trừ nhơn chia, là đủ có tiền lương mỗi tháng đều đều, có việc thăng quan tấn chức, vẫn tùy vận đó đen, biết nịnh bợ hay cứ đường thắng mà đi và giữ liêm chánh đúng như lương tâm của nhà nho còn sót lại. Khép dấu ngoặc.

Đô Mỹ giao cắt việc xong thì lui về phòng, nhưng đối với Người Sài Gòn, kể từ hôm ấy, quả vận đen đã đứt và vận đỏ đang hừng, cơn gió thuận vẫn đưa ông thẳng tới bãi Đằng, đúng như câu Hán “Thời lai phong tổng Đằng vương các”.

Đô Mỹ đại thần từ ấy chỉ biết và dùng duy một “người Sài Gòn” ấy làm thơ ký riêng, còn các quan khăn đen áo dài kia, các quan chức gốc Bắc kia, trái lại, đến lượt cầm quạt quạt mát và ngồi chơi xơi nước cả ngày, hoặc tiếp tục làm những việc vặt vạnh cho qua ngày qua buổi, có khi kéo một hơi thuốc lào để nghe tiếng giòn tan lốc bốc giải khuây, khi khác chùm nhum nhau lại cãi cọ con ruồi con dế có mấy ngoe mấy cắng! Cùng một lúc, và phải nói ra đây, Người Sài Gòn vẫn giữ tánh khiêm nhượng ít nói ít rằng, vừa lanh lẹ làm theo ý chủ nhưng không hề bợ đỡ, và chắt mót “kiến tha lâu đầy ổ” “đường mây cười tớ ham dong ruổi”, cứ một đà thẳng tới… tương lai ngay bót một đường!

Đến một ngày nọ, toàn quyền có việc cần có mặt để giải quyết tại Huế đô, và ông vẫn dắt theo duy một thơ ký riêng “Người Sài Gòn”. Lúc ấy vua Đồng Khánh đang tại vị và đức vua ra lịnh thiết yến đãi quan toàn quyền theo lối âu Tây và ban sắc chỉ cho các quan được một khi “đồng tịch đồng sàng”, cùng ngồi bàn để dự yến với đức vua, chớ không lẽ “ăn cơm Tây” mà bắt phải quì để xơi để uống, và tay nào cắt thịt, tay nào cầm muỗng cầm nĩa, trời hỡi trời!

Khi Đô Mỹ được trao giấy đức vua mời dự yến, ông tươi cười xin quan phụ chánh của Nội các Huế nhớ mời cùng chung vui viên thơ ký riêng của mình:

• Thượng quan nhớ mời thơ ký riêng của tôi với! (Invitez en même temps mon secrétaire particulier, có lẽ câu Pháp ngữ là như vậy).

– Dạ thưa toàn quyền đại nhân, việc không thể được vì muốn được dự yến với đức hoàng thượng, ít nữa phải vào hàng tổng đốc sắp lên. (Câu Pháp: Les invités de Sa Majesté, doivent au moins tre du rang de “tổng đốc”).

– Như vậy thì cứ phong ông ấy vào hàng tổng đốc, có khó gì? Chính tôi đây sẽ ký sắc lịnh ấy kia mà! (Alors, nommez-le tổng đốc! C’est moi qui signe l’arrêté de nomination? ý tắt tiếng Tây có lẽ như vậy vậy).

Thế là vừa bỗng nhiên và cũng vừa nghiễm nhiên và thinh khổng thinh không, Người Sài Gòn trở nên tổng đốc, không chạy chọt và không cần đi thi mà được cử!

Việc ấy làm cho các quan trong triều đình Huế sôi gan, tức gần hộc máu tươi mà vẫn không làm gì khác hơn là đồng ấn ban cấp bằng chánh thức.

Duy đoạn sau vẫn có chút đổi thay để đỡ mất mặt trào đình. Đô Mỹ đại nhân hết hạn, rút lui về Pháp và căn số của ông thật cũng là không giống một ai: ông có hai người con trai, đều thành tài nhưng đều tử tại trận tiền, trong trận đệ nhứt thế chiến Đức – Pháp và chính ông Đô Mỹ, sau lên đến tột bực là lên làm tổng thống nước Pháp (Président de la République), nhưng dòng Doumer khiến phải tuyệt tự, ông bị một tên cuồng nhơn nước Nga tên Gorguloff bắn ông chết rồi đền mạng… còn Người Sài Gòn, tôi không rõ hậu lai ra sao, tôi chỉ quen với con và dâu của ông, và vẫn biết Người Sài Gòn vẫn được an nhàn tự tại, về dưỡng lão nơi tỉnh quê hương là đất Vĩnh Long, cây trái xanh ngon, thú điền viên ông tọa hưởng nơi đất Vãng này, chỗ trấn nhậm cũ của quan Phan Thanh Giản, kinh lược ba tỉnh Miền Tây, đất Vãng trước của Cao Miên, danh gọi Kompong Luông, ta dịch là Vũng Luông, rồi biến ra Vĩnh Long, theo Hán tự, chớ thật ra “Luông” tiếng Miên tiếng Lào là “vương” là “vua” tỷ như Luang-Prabang (Lào) và Kompong Luong (Miên) vậy vậy. Đô Mỹ về Pháp địa là một dịp cho triều đình Huế gỡ bớt mối xám mặt năm trước: viện cớ đất Nam Kỳ đã trở thành thuộc địa của Pháp, như vậy con dân đất Nam không còn giữ quốc tịch Nam được và mấy ông trước phong làm tổng đốc thực thụ, nay trở nên tổng đốc hàm, và chỉ còn hàm thiếu răng:

Nam Kỳ có ba ông tổng đốc: một Trần Bá Lộc, vì giết hại đồng bào mà được chức của Tây ban, về sau Lộc đeo đuổi nghề mở mang điền sản ở Đồng Tháp rồi sạt nghiệp, con trai là Trần Bá Thọ phải tự tử bằng súng lục vì vỡ nợ, rồi đời dòng phản thần:

– Một tổng đốc thứ 2 là Đồ Hữu Phương từ chức hộ bên Gia Tô giáo leo lần lên tổng đốc, vinh vang một hồi, rồi cũng xác chôn hóa giòi….

– Duy tổng đốc thứ 3 là Người Sài Gòn này, biết an phận tùy duyên, nhờ ngủ gục kịp thời mà bống vinh thăng tổng đốc, tôi chỉ nghe thuật chuyện của ông và biết có bao nhiêu đó, độc giả nào muốn biết rõ hơn, xin mời đến đất Vãng và ráng hỏi thăm người cố cựu xứ cây và trái ngon ấy.

Riêng tôi, gần đây, tôi tàm tài liệu để viết về “viện bảo càng trong thảo cầm viên ngày nay”, tài liệu ấy đăng trong quyển số 2 của bộ tập san Bulletin de la Société des Etudes Indochinoise, numéro 2 de l’année 1929, số báo này vẫn có đăng một bài nécronologie de Phạm Văn Tươi (chính đích danh của Người Sài Gòn này), nhưng mấy phen xin mượn mà sách không được trao tay, lấy lẽ sách cất trên cao khó lấy và hẹn lần hẹn hồi, tôi đành ngã lòng cam viết tào lao làm vậy và cũng không nên trách ai buổi này: (31-3-1991).

Tái bút

Thuật tiếp chuyện “Người Sải Gòn”, tức “Chuyện ngủ gục trong sở mì sau được vình thăng Tổng đốc”.

(bài viết ngày 8/4/1991)

Trong bài tôi đã giao cho nhà báo, nhan là “Ngủ gục mà được làm tổng đốc…” nơi mấy hàng chót, tôi có than rằng: “muốn mượn tập số 2 năm 1929 của tạp chí Pháp văn của rội nghiên cứu cổ học Trung Ấn (Bulletin de la Societe des Etudes Indochinoises) nhưng không mượn được, bất ngờ và may mắn thay là nhờ khéo vận động, hôm nay 8-4-1991, tôi đã nắm trong tay bản sao “photocopie” ba trang sách dẫn trên đây, nói về sự nghiệp và công trạng của “Người Sài Gòn”, mà không rõ tâm tình, tôi đã vô phép viết điệu mạn đàm, cách xuất thân của Người Sải Gòn nầy, nay tôi thành thật cáo lỗi với vong người đã khuất và muốn cho đầy đủ câu chuyện, tôi xin viết tiếp những gì tôi biết, về: “tâm địa của người Miền Nam trước đây đã làm việc cho chánh phủ Pháp”, nhưng tôi không dám luận sát vấn đề, và chỉ xin “chạy hiệu” chung quanh những nhơn vật tôi từng sống chung đụng và từng biết chút ít về tâm lý, tâm trạng, v.v.. nhưng cũng chưa chắc tôi đã đi guốc trong bụng họ được, và như vậy xin chư độc giả thông cảm cho.

Bài “Nécrologie” (tự điển Đào Duy Anh gọi “tử vong tiểu truyện” viết rõ ràng “Nécrologie Monsieur Phạm Văn Tươi”, đủ hiểu năm 1929, người Pháp trọng vọng người đã từ trần đến bực nào và trong bốn trang, tạp chí Pháp đã đăng: một bài điếu văn của Hội S.E.1., tiếp một bài điếu của Thống đốc Nam kỳ đang thời, và sau rốt là mấy hàng điện văn của chủ tịch Thượng nghị viện Pháp, mà không ai khác hơn là vị cố Toàn quyền Paul Doumer, tôi chép y và xin dịch lại đây để cùng biết:

“J’apprends avec douleur la mort de mon excellent collaborateur et ami et j’adresse à sa famille mes sympathiques condoléances (Paul Doumer, Président du Sénat).

Dịch: “Tôi vừa hay tin đau xót về người cộng sự viên xuất sắc và bạn thiết cốt cố nhân từ trần, tôi xin gới lời phân ưu nồng nhiệt đến tang quyến”.

Tôi xin tóm tắt lại đây: đại lược Hội kể “Người quá cố là Tổng đốc danh dự của triều Huế, vừa là nghị viên chánh thức của Cơ mật viện Đông Dương, vừa là thực thụ có Bắc Đẩu bội tinh đến bậc Đệ tam Đắng (Commandeur de la Légion d’Honneur), bội tinh cao cấp này, người thuộc địa không dễ gì có).

Trong bài ai điếu của ông J. Krautheimer, Thống đốc Nam kỳ, lại kể buổi xuất thân lam lũ, tống thơ văn (expéditionnaire) địa hạt Chợ Lớn, rồi thi đỗ chức thơ ký tập sự của Chánh phủ Nam kỳ, Người Sài Gòn được biệt phái ra Hà Nội làm việc nơi Toàn quyền phủ, nào ngờ lọt nhãn Toàn quyền Đô Mỹ và giữ chức “Bí thơ” suốt năm niên cộng sự, từ ấy vinh thăng đốc phủ sứ từ năm 1902, thụ lĩnh bội tinh Bắc Đẩu, để rồi sau khi toàn quyền Đô Mỹ rời Đông Dương về Pháp quốc, Người Sài Gòn lui về miền Nam và vẫn không từ nan chức nào, từ địa hạt Thủ Dầu Một, thuyên chuyển qua tỉnh Biên Hòa, trẩy qua Rạch Giá, sau rốt và sau bốn mươi năm công cán, Người Sài Gòn lui về nơi nhau rún (Vĩnh Long) và an dưỡng tuổi hưu nhàn năm 1926, sau khi đóng vai tuồng lưu niệm dạ tiệc Bal La Grandière đồng vai Kinh Lược Phan Thanh Giản vận y mão theo cựu trào (năm 1927), dựng Văn Miếu Công thần tỉnh Vĩnh Long và mất tại đây vào năm 1929. Một công chức cao cấp của thuộc địa Pháp năm xưa mà tôi đã múa bút giỡn viết như bài kỳ trước, quả tôi hữu nhãn vô châu và trịch thượng vô lễ, nhưng việc cũ nhắc lại, còn biết bao người ăn lương đốc phủ sứ mà nào hiểu ba chữ ấy truy nguyên từ đâu, (chính Tôn Thọ Tưởng đặt ra, lấy quyền như “Tổng đốc”, chức là “Tiểu Phủ sứ” đi tẩy trừ kẻ chống trào Tây), biết bao người nhờ lòn lỗi chạy chọt hối lộ mà leo lần từ huyện qua phủ rồi giữ chức ấy nhưng lục lục tài thường, biết chìa tay lãnh bổng mà nào biết phận sự phải làm, ngoài ra, không nên quơ đủa cả nắm, và thiếu chi độc phú đủ tài năng, một Nguyễn Văn Tâm, Hùm Xám Cai Lậy, mang tiếng dữ nhưng nào có giết một ai và tài làm thơ tám câu chữ Hán, ngoài kia còn nhớ, một Trần Văn Tấn, thơ nay thơ cổ đều lão luyện, một Lê Thành Long, có Pháp tịch, có bội tinh Bắc Đẩu nhưng vẫn chống Pháp bị đày qua Pháp, làm thi chữ Pháp tự ví mình như chiếc xe Citroen 5 ngựa bị giá lạnh nằm chèo queo xó đường ở Paris, rồi một đốc phủ nọ làm giàu nhờ lột vàng trên tay tử thi trôi dòng nước lụt trận bão lớn ở Gò Công năm Thìn 1904, một ông khác từ Toàn quyền phủ đổi về Rạch Giá, chiếm ruộng của dân gây ra án mạng danh gọi “Đồng Nộc Nạn”, một ông làm nơi dinh đốc lý, quen gọi dinh Thượng thơ (Direction des

Bureaux), thanh liêm và giỏi nhớ, một ông nữa làm nơi văn phòng thống đốc, kiệm cần làm bổn phận, thanh thận cần làm gốc và nói lái một cây, còn xiết bao người kia, sau đều đền tội kẻ bị móc ruột, kẻ bị hành hình, thây thả trôi sông, và nào Đốc Phủ, Đ.H.H., nào Trần Bá Lộc và con là Thọ.

Một ông có tài, viết Pháp văn dễ như ăn cơm bữa, nhưng có tật bạc bài, bao nhiêu tiền tiết kiệm ra đều cúng vào sòng me sông Xe Lửa và đánh Già Dác (ông Trần Văn Mổng); một ông vơ vét mót được trốt trăm lạng vàng, mua vườn trà vườn cà phê trên Cao Nguyên, ô hô phê trà, đau tim mà chết. (Ô. Trần Văn Thi); một ông bị sát hại tại nhà thương (đốc phủ Phước); một ông khác, vừa leo lên chức huyện, cho làm chủ tỉnh ở Cà Mau, vợ tham, đòi binh Nhựt trả một chiếc đồng hồ đeo tay nghi cho một lính đánh cắp, lính lẹ tay quăng trả trên nóc mùng, lính chạy tang vật xong, một hai xin chủ tỉnh đền tội nghi không bằng cớ, huyện Trang (Dương văn), chết lảng nhách là một gương sáng, danh mà chi? quyền lợi mà chi? làm đến đô trưởng Sài Gòn, rồi chết trong hàn vi (Nguyễn Phú Hải), làm đến đốc phủ rồi qua làm chủ ngân hàng tư rồi phủi sạch tay không, ích gì? Một ông chạy qua Pháp, có một đứa con duy nhứt, nó lấy vợ đầm, con đầm bảo chồng cho cha vào dưỡng đường nằm để chúng nó hưởng tự do khỏi việc hiếu đạo, thảy đều là bạn đồng song, trước cùng học một trường trung học Chasseloup với kẻ hèn nẩy, một bạn giỏi Pháp văn, đậu huyện sớm, chết bị giết ở Biên Hòa là Tân Hàm Phục, một bạn nữa, từng viết bài được báo Nam Phong chấp nhận, là Nguyễn Ngọc Chi, bị hại ở Trà Vinh, về sau người vợ phải ngồi bán vé cải lương và cho tiền vay góp cho kép đào để lấy lãi nuôi con, đứa con ấy sau đã ra sao, nọ biết, chung qui từ tân trào, Pháp đem văn minh Âu Tây qua nhiễm độc, một Nguyễn Ngọc Thơ, có tài có đức, nhưng vì theo phò ông Diệm mà thân bại danh liệt, tôi nhìn nhận ông Thơ có công gầy dựng cho tỉnh nhà là Long Xuyên được khang trang và mở mang như ngày nay, ban sơ hàng huyện phủ đào tạo do thơ ký thi đậu khoa khả năng chuyên nghiệp (concours professionnel), rồi Pháp mở trường dạy về luật ở Hà Nội, rồi cất nhắc trường lên đại học luật khoa,

Pháp mở trường dạy về y học ở Hà Nội để câu sinh viên từ Trung Quốc và cho rằng nếu mở trường ấy ở miền Nam thì e học trò miền Bắc, miền Trung, eo hẹp tiền tài, không xuống đây đèn sách được, Pháp trả lương cho vua ở Trung Việt độ lối hai mươi ngàn đồng bạc “Con Đầm Xòc”, nhưng vua phải đài thọ tiền trả cho lính và trong cung nội, sâu độc là Pháp trả cho vua Cao Miên bằng mười ký thuốc phiện và cho vua Thổ được chứa tay bài giỡn bạc nhà vua lấy xâu, sa ngã vì thuốc thì rán chịu, tiếng rằng qua đây truyền bá văn minh, văn minh đâu không thấy, chỉ thấy đạo đức suy đồi, vợ để chồng, con kiện cha, học trò đánh người dạy dỗ, ngày binh Nhựt tràn vào Đông Dương, khắp trong nước không có một chiếc xe cứu thương và phải quyên tiền của dân, như vậy mà xưng là “bảo hộ”? Quan Phan Thanh Giản, bởi tin nơi lời hứa của đô đốc Bonard “Thế nào cũng tâu với vua Pháp sẽ cho chuộc đất”, Bonard mất, lời hứa bất thành, vua Nam lại buộc than nghèo, dẫu ai ngày nay đã chê quan Phan, thử có giỏi, thay Phan thử nào, năng thiết bất năng hành, tôi xin chừa cho dư luận phán đoán. Thế giới đang biến chuyển, tôi nay chẳng qua là một tên thơ ký quèn của trào Tây sót lại, viết làm vầy kể như lớn lối, sự thật tại sao lúc nhỏ tôi không chọn nghề làm thợ, làm thợ kim hoàn, tránh tiếng “thợ bạc”, bị treo giò khoảng mươi lăm năm, nay vẫn làm ra tiền, tôi lựa chi nghề văn, thi rớt lên rớt xuống, lúc rớt tưởng rằng vận xấu, nay mới rõ nhờ thi không đỗ nên nay còn đánh máy và triết lý sái mùa làm vậy, âu cũng là tốt số.

Lên làm đốc phủ rồi chạy theo gót quan thầy sang Tây chịu đói chịu lạnh, chi bằng cơm rau ngày hai bữa, tương đậu mà vô bịnh, “nước trong rửa ruột sạch trơn, một câu danh lợi chi sờn lòng ai?” và “đố ai biết mỗ là ai? người trong trần tục hay ngoài thế gian”!

Xưa làm quan để hưởng bổng lộc, quan ngày xưa được trọng vọng, nhưng quan từ đời Tây, ham hốt bạc bất chấp lương tâm, quan đã xuống dốc tuột dù, làm dân, tôi cho là sướng nhứt, miễn đóng thuế đủ, đừng chợ đen chợ đó, an phận tùy duyên, dầu cho trời sập, thì cùng chung một cảnh ngộ với bao nhiêu kẻ kia, vua, chúa, đốc quân, thảy đều vào nằm trong sáu ván hay lên giàn lửa. “Người Sài Gòn” tôi viết làm hai bài, đều không trật tự, đúng là cháo lòng theo Nam, cháo ngô theo Bắc.

Con gà chết vì tiếng gáy, con thú trong rừng, chết vì miếng ăn, con người, đầu đen máu đỏ, ai cũng như ai, ham lên xe xuống ngựa, ham nhà xinh vợ đẹp, “Người Sài Gòn” vẫn chạy theo vinh thân phì gia, từng đem cải lương, khiêu vũ ra ngoài kia, nhưng “Người ngoài kia” vẫn thấy xa hơn, và sự nghiệp trong nước như hiện nay thấy, cũng vẫn trong vòng vinh thân phì gia, cả ba Bắc-Trung-Nam, mỗi người riêng mỗi kiếp, duy “nằm ngủ quên mà lên hàng tổng đốc cực thần”, gẫm có duy nhứt người này, và đất Vãng linh ứng, nào Lê Quang Hiền sanh Quang Tường đốc phủ, ăn chổi chà, và Quang Trinh bị gái ăn sương đánh lại là chuyện khác. Đọc sách, đọc báo và luận chơi chơi về Rắn và về địa danh “Bãi Xàu”.

Năm nay, tôi ít xuống đô thành ăn phở sáng, với tuổi chín chục, cặp giò tôi không làm chủ được, đi đứng lụm cụm, rất sợ mấy cậu nhỏ đua xe, cán, khó đòi thường mạng.

Đành nằm võng ở nhà đọc sách báo cho qua buổi. Vừa rồi, thấy trong tập số 6, – báo BÁCH KHOA VĂN HỌC (quảng cáo không lấy tiền), – có bài của bạn nhỏ N.M.H. viết nơi trương 45, nói về “Sợi dây ngũ sắc”, anh bạn nhỏ dịch lại bài Anh văn của Arthur Conan Doyle, hôm nay ngứa miệng, xin có mấy hàng này, bàn góp chút hiểu biết riêng về loại bò sát, bò trườn, nói ngay ra, là nói về “rắn”. Con rắn ở đây (xứ của mình đây), theo tôi biết riêng, và nhớ trong sách khoa học dạy, rắn nhờ có mấy cái vảy cứng dưới bụng, vảy này biết mở ra và xếp lại được, nhờ vậy mà rắn xê dịch nhúc nhích và chuyển mình tới trước, và tiếng ta gọi là rắn bò. Và theo tôi hiểu, muốn cho rắn bò đi tới, thì phải có sẵn một chỗ vững chắc, tỷ như mặt đất cứng, cây đòn tay vững vàng, có chỗ cho rắn xòe vảy rồi xếp vảy lại, một lần nữa tôi nhắc lại, đó là “rắn bò”.

Đàng này, ông tác giả Ăng-lê kể chuyện một con rắn độc, loại cobra hay Naja của xứ Chà Và (Ấn Độ), mà tác giả Ăng-lê bắt con rắn dữ này bò trên một sợi dây ngũ sắc, treo tòn ten lủng lẳng và lún nhún như cọng bún bột gạo của bà bán bún nước lèo xóm tôi, khiến tôi tức hông mà viết bài này, xin anh bạn nhỏ N.M.H. đừng phiền, tôi không có ý chê anh dịch sai đâu, tôi chỉ muốn cãi chuyện với ông Conan Doyle kia thôi. Vả lại tôi không biết Anh văn, trong bài anh dịch, Cobra hay Naja? tôi chưa biết, tôi chỉ biết Naja là rắn Phi châu hoặc Ấn Độ, dữ và độc không thể tả, nọc vào mình là chết tức khắc, chết không kịp chạy thuốc chữa, thế mà tác giả Hồng Mao hay Ăng-lê gì đó, bịa là rắn uống sữa và chịu nằm cho chủ nhốt trong rương trong hòm, hỏi tôi không tức là hỏi làm sao chớ? Và tôi xin nhắc, những gì tôi viết đây là ý nghĩ riêng, tôi nghe làm sao thì thuật lại làm vậy, và xin thỉnh giáo người lão luyện về rắn. Và xin đa tạ.

Ban đầu, trước khi viết, tôi lật tự điển Larousse xem, thấy ghi: “DOYLE (sir authur Conan), écrivain anglais, né à Edimbourg (1859 – 1930) ses romans policiers ent pour héros Sherlock Holmes, type du détective amateur”.

Tôi dịch: Doyle Arthur Conan (1859 – 1930) sanh tại Edimbourg, là tác giả Anh quốc, chuyên viết tiểu thuyết trinh thám. Nhân vật chính trong tác phẩm của ông lấy tên là Sherlock Holmes, là một nhà trinh thám hạng tài tử.

Bây giờ tôi biết khá rõ Conan Doyle viết chuyện con rắn này, trước năm 1930. Và trước năm 1930, tôi chưa thất nghiệp, vẫn còn trẻ trung, độ ba chục thanh xuân, có ruộng ở quê nhà, từng vừa làm mọi Tây, (công chức lương hơn tám chục bạc mỗi tháng) vừa là tiểu điền chủ, lúa ruộng mỗi năm, thuế má đóng xong, còn tròm trèm bảy tám ngàn bạc nữa, phủ phê quá, cho nên giữ được tánh liêm, không nhận của hối, duy tật khó chừa và nay vẫn còn là ham nữ phái, Conan Doyle biết nhiều về rắn vì từng qua đất Chà, lăn lộn giang hồ để tìm tài liệu viết tiểu thuyết, và tôi cũng từng lặn hụp sông ngòi, chỗ nào có gái, có thức ăn ngon, con vịt tơ luộc chấm nước mắm gừng, có cô nhỏ con tá điền có cặp mắt mơ mộng là có tôi đến… hoặc chỗ nào héo lánh hóc bà Tó, nhưng chủ nhà có con chịu nấu cháo gà cho tôi xơi, là tức khắc có tôi chường mặt và làm trây gọi cha cô là Papa ngọt xớt, và làm mặt đạo đức (thứ Ba Tàu giả hiệu), miễn thâu lúa ruộng và chỉ cầu Papa cho ngủ tạm một đêm cùng chung một mùng với “ai” kia!

Tôi viết đến đây, bỗng nhớ lại thật là sự bất ngờ, chính Papa này trở nên người “tằng khạo” của tôi, – tằng khạo là tiếng Triều Châu, chữ viết làm sao tôi chịu dốt, chỉ biết “tằng khạo” là người tin cậy, hóa (mướn) ruộng và có phận sự góp thâu lúa ruộng thế cho chủ điển. Và nói tắt cho mau, một hôm nọ, Papa cùng đi với tôi và một đứa trai nhỏ độ mươi tuổi, cùng nhau đi xét ruộng vào mùa lúa trổ đồng đòng. Đang đi trên bờ mẫu, bỗng cậu nhỏ la lên “rắn, rắn” và cậu bị rắn cắn nơi bắp chuối và cậu nằm lì nơi đó vừa khóc vừa rên… Papa cười cười, tỉnh bơ, khuyên tôi dắt cậu em về nhà và Papa hẹn ở nán lại bắt cho được con rắn kia để đem về nấu cháo ăn trừ buổi cơm tối. Tôi vốn nhát như thỏ đế, hối cùng về để chữa trị rắn cắn, nhưng Papa không nghe lời, và cũng vừa lúc ấy, Papa đập chết rắn, giao cho cậu nhỏ xách rắn về luôn, và hãy để Papa còn đi bộ một mình xuống xóm trên mua một lít rượu ngon về thưởng thức…bữa tiệc cháo rắn. Tôi hồi hộp bụng lo rủi cậu nhỏ chết, lòi chành tật ăn vụng, nhưng lạ làm sao là cha nào con nấy, cậu về tới nhà, giao rắn cho chị lo nấu cháo, cậu nằm trên vạc tre đắp chiếu rên hù hù, tôi thì nằm võng mà bụng đã hết vui, Papa thoạt về, tôi hối chữa trị cho cậu kia, nhưng Papa không nói không rằng, chỉ lo lau chén lau ly sắp đũa, phì phà điếu thuốc đã tắt từ lâu, tôi nổi nóng nằng nặc đòi trở về trại lớn, không ăn cháo làm chi đã no và mất hứng rồi, Papa vừa cười vừa rốt rượu ngậm vào miệng, lại gần giường tre, dỡ chiếu phun rượu và đọc lâm râm một câu thần chú, cậu nhỏ lồm cồm ngồi dậy tỉnh bơ, Papa múc một tô cháo đầy, biểu con ăn cho hết tô cháo là mạnh luôn, còn tôi, Papa mời ngồi vào bữa tiệc, bữa tiệc bất ngờ không hẹn mà nên, “cho ở lại” và giảng cho nghe chút nghề bắt rắn:

“Rắn xứ mình, có nhiều thứ, kể làm sao cho hết. Con rắn khi nãy là rắn nước, nó cắn như chó cắn, nên tôi không sợ. Còn nhiều thứ khác, nào là: rắn hổ đất, hổ hành, hổ mây, hổ dòn cân, hổ lửa, rắn mái gầm, rắn lục xanh, rắn lửa vẫn khác với rắn hổ lửa, hổ mỏ vọ, rắn vú nàng, rắn lục cườm, rắn râu, rắn rồng (khi ở chung với người và khi ra ngoài đồng là rắn hổ đất), và độc nhức là rắn hổ ngựa, nó chạy như ngựa sải, nó phóng mình khoanh tròn tới trước và miệng cắn cái “phụp” chết không kịp trối, nó phùng mang tròn vo và có lẽ đó là rắn mà “cậu” gọi Naja gì gì đó, và trong tự điển Đào Duy Anh gọi rắn hổ mang, rắn mang hoa (câu này của tôi viết thêm) và tùy coi dấu răng miệng rắn trên vết thương, rắn cắn thì để răng nơi vết, nhìn đường viền nơi chỗ bị cắn, còn tươi, hoặc đã bầm nhiều và đen là khố, nếu còn rịn máu thì nặn bóp lấy ra cho hết, nếu trong miệng người chữa bịnh có răng hư hoặc có trầy trụa thì đừng dùng miệng nút nọc độc sẽ qua, mình sợ rắn mà rắn cũng sợ mình, tỷ như muốn bắt rắn hổ hành thì dùng hành lá đập nát thoa vào tay, thò vào hang bắt nó dễ như lấy món đồ trong túi, đáng sợ nhức là rắn lai dòng, dấu cắn coi không thấu và không chạy thuốc trị kịp, còn rắn phùng mang tròn vo, đó là hổ ngựa, chỉ có thầy rắn chà trị họa may cứu được, chớ rắn lai, hề gặp là sanh nghề tử nghiệp và hổ ngựa, Papa chưa gặp nên không dám cho ý kiến. Vả lại Papa học nghề trị rắn với một thẩy Châu Giang chuyên nghề đi bán hàng lụa và hàng dệt Tần Châu, thầy này học nghề với chà và, giao kết lời thề độc địa, thứ nhất không được gian dâm, thứ hai không được nhận tiền đền ơn nhiều, cho con gà luộc cúng tố, cho chút ít thì ưng nhận, không được đòi hỏi thêm và lời thể thứ ba quá nặng nề, vì vậy Papa bỏ làm nghề thầy rắn và chịu làm tá điền như vầy, lời thể ấy là: “Tổ vốn dòng khất thực, ăn mày, hành nghề cứu người bị nạn, và muốn được linh thiêng linh thính, muốn tổ mau nhập và trị có hiệu nghiệm là người đi rước thầy, không nên dùng cam ngôn mỹ từ, mà phải chọc cho thầy giận, phải chửi rủa kêu cha kêu mẹ gọi tổ tiên thầy rắn ra mà nhục mạ, chừng nào thầy rùng mình giận dữ thì nghề mới có hiệu quả, lời thề như vậy cho nên Papa cúng vái và đã bỏ nghề từ lâu… Mà cơ khổ Papa ngồi nhâm nhi

miếng rượu và ba miếng thịt rắn, Papa ba hoa chích chòe tôi để mặc Papa, tôi nói một câu giả say chun vô mùng và nào nhớ gì nữa để thuật lại hôm nay, chỉ xin nhấn mạnh, rắn bò đất cứng, không bò được trên sợi dây lỏng lẻo, rắn xơi hột gà ních trộm nguyên ổ luôn và gà mẹ đang ấp, hoặc ăn chuột cống ngoài đồng, ăn cá tươi bắt nơi ruộng, ếch nhái không chừa và rắn uống dĩa sữa là do Conan Doyle bịa đặt như thi sĩ Pháp La Fontaine bất hủ, bịa chuyện con ve ve đi vay gạo của kiến, mà quên ve ve có vòi để hút mật và nút chất lỏng, chớ hột gạo ve-ve nào có răng để cắn?

Kết luận tạm là văn nước ngoài cũng có khi viết không đúng sự thật…

Về địa danh “Bãi Xàu”, tôi viết tiếp ra đây cho đủ chạy tiền đồng tiền trường cho ba đứa cháu nội đã gần tới ngày nhập trường mà nhà còn thiếu tiền trả tiền điện, tiền nước Đồng Nai và tiền thuê đất – nhà năm ni đóng rồi phải lo sang năm – bao nhiêu nào biết và không nên nói nhiều, đụng chạm mất luôn tiền viết bài này.

Bãi Xàu, do hai tiếng Kơ-me, nguyên văn “Bai” là cơm chín, “xau” là cơm không chín, tức cơm còn lụp bụp ăn vào sôi bụng. Bai xau, cảo nhơn biến ra “Bãi xàu” có nghĩa gọn là “chỗ khi xưa cùng nhau ăn cơm chưa chín”, và lấy tích ấy làm địa danh nhắc đời. Có hai thuyết, để chỉ định Bãi Xàu, tôi đã có viết rồi trong tập “Nhân danh, Địa danh miền Nam” và trong tập “Hơn nửa đời hư, Hậu Giang Ba Thắc”, nay viết lại vắn tắt đủ hiểu cho đừng hao giấy:

Thuyết thứ 1, thuộc về lịch sử, tôi nói cho lẹ là thuộc cuối đời vua Thiệu Trị (1840 – 1847), hoặc đầu đời Tự Đức (1848 – 1883), tức cũng không xưa lắm, tóm tắt là binh Việt ta giao chiến với binh Kơ-me, binh Kơ-me đánh không lại, rút lui về một nơi, vừa nấu cơm chưa kịp ăn thì hay tín bình Việt kéo tới, nên hồi hả nuốt cơm chưa chín để kịp rút lui vào chỗ khác và đặt tên chỗ ấy là chỗ “cơm chưa chín” srok Bai Xau, xứ cơm sống, và ta đặt là Bãi Xàu. Bãi Xàu theo tôi biết, có đến hai vùng, vùng cũ, gọi Bãi Xàu cũ và gọi tắt “Chợ cũ”, là xóm Phước Kiến, ngày xưa thịnh mậu, chuyên nghề mua bán lúa, thì nay đã lèo hèo, năm 1989, tôi có về thì người cố cựu hoặc đã già chết hoặc con cháu đã ly hương, ra ở phố chợ Sốc Trăng hoặc khá hơn nữa là có vốn lên sanh nhai lập nghiệp mới ở Chợ Lớn, hay Sài Gòn; một vùng tân lập nay sung túc là Bải Xâu, tên mới là Mỹ Xuyên, có chợ khang trang chùa miếu nguy nga và nhà lang sung túc, Bãi Xàu tân lập nằy gọi tắt là “Ngoài bão”, và “bão” đây là đồn bão lập từ năm xưa, gốc tích “Bão” này nay còn dấu vết nơi công ty nấu rượu và nhà máy xay lúa Hội đồng Diệp Văn Giáp, tôi kể lại đây mà vẫn chưa rõ có cònnhư cũ, tôi đã thấy, hay đã bình địa đi rồi.

2. Thuyết thứ 2 nay còn dấu tích để lại là còn một miếu nhỏ, thờ thần Bassac, gọi “Ba Thắc cổ miếu”, năm tôi đến viếng có người thuật ngày xưa, không biết vào đời ông vua nào và có lẽ còn thuộc đất Miên (Kơ-me), có một nhóm thợ rừng người Thổ, (Kơ-me) đi làm củi trong rừng già, xế chiều kéo nhau trở về và chia nhau tìm bổi để dễ nuốt cơm, một thợ nợ bỗng gặp một ổ trứng gì không rõ, nhưng chấy ngon mắt nên hốc hết đem vẻ, bắc chảo định luộc trứng và chờ cơm sôi. Bống đang ngồi nói chuyện vã xảy nghe tiếng động trong rừng, cây thì gãy nhánh nghe rôm rộp và gió thổi đùng đùng, và hai con rắn thần thật to chạy đến, các thợ hoảng hốc mất vía, mạnh ai nấy kiếm chỗ núp, đến khi rừng lặng gió tan, hoàn hồn chạy ra thì mẹ ôi, nồi trách bế hết, trứng kia không thấy, chỉ thấy nồi cơm, lửa tắt queo, cơm thì chưa chín, nhưng đành lót dạ bao nhiêu cơm sống còn lại và lấy đó đặt tên nhắc đời, là Srok Bai Xau như đã nói trên kia. Tôi cũng chỉ nhớ bao nhiêu ấy và không dám bịa thêm. Duy xin trở lại về “rắn”, có lẽ rắn thần đã thâu con và tha cho thợ – còn về rắn của Conan Doyle, xin nhắc, rắn đó ắt không ưng trở lại nằm trong rương và xưa ở Long Xuyên, mùa nước nổi, không chỗ ở, rắn vẫn vào nhà ở chung với người, và gọi rắn rồng, nằm chung một mùng một mền với người, và khi ra đồng đó lại là rắn hổ, cắn chết người. Papa không còn, nàng kia cũng không còn chỉ còn chuyện rắn, tôi viết luộm thuộm và cũng chưa kịp đọc lại và sửa chữa cho vừa bụng.

Cũng không nên trách Conan Doyle viết ẩu, nhớ tích cũ trong sách nào đây đã đọc, kể rằng: Đời Tống bên Tàu, tể tướng Vương An Thạch có hai câu thi:

Minh nguyệt sơn đầu khiếu,

Hoàng khuyến ngọa hoa tâm,

hai câu này bị văn hào Tô Đông Pha chê, rằng cái gì:

Trăng sáng kêu đầu núi

Chó vàng nằm giữa hoa

và Đông Pha sửa lại:

Minh nguyệt sơn đầu chiếu,

Hoàng khuyển ngọa hoa âm,

Trăng sáng soi đầu núi,

Chó vàng nằm bóng hoa.

Có ngờ đâu, sau đó Tô Đông Pha bị Vương An Thạch gởi đi trấn nhậm một chỗ nọ, rõ ràng quả có thứ chim tên gọi là “Minh Nguyệt” và một loài sâu gọi “Hoàng Khuyển” và hai câu của họ Vương là đúng và sự hiểu biết của họ Tô là sai.

Phàm viết nhiều thì khó tránh sai lầm, tôi nay làm tài khôn sửa lưng nhà văn nọ mà ai đây sẽ gọt lại văn tôi. Nhưng tôi nào làm văn, tôi chỉ viết sao như đã nói làm vậy và đã có người nhìn nhận Anatole France và Alphonse Daudet, văn gãy gọn, suôn đồn đuột và trơn tuột luốt như đầu gối bà nhạc ông bô, mà đó vẫn là văn của Pháp, người trên kia chê là cái quyền của người kia ấy, tôi mặc tôi, tôi viết tôi chơi, miễn được tiền đắp đổi là xong. Người ta viết “kinh cức”, tôi không viết cứt c, cứt t, lộn xộn, tôi đổi lại nói “chông gai” cho êm chuyện, và “phẫn nộ” xin hỏi phẫn dấu hỏi hay dấu ngã, thay vì vậy tôi viết “nổi giận”, thì tránh được cái khó và êm ru bà rù. Dám khuyên N.M.H. cứ dịch văn Anh cho nhiều để già nầy đọc giải buồn, và già định nghỉ viết nhường chỗ cho người mới còn hăng hái tuổi xuân, nhưng mở trang sách cũ, ông cử này viết “Thủy Băng” là sông Sài Gòn, ông cử khác viết “Băng Bột” là sông Sài Gòn, tôi dốt đặc cán mai, nhưng vốn là sanh đẻ tại đây, tôi lật tự vị Huình Tịnh Của ra xem thì Thủy Bột, Băng Bột, nó là Thủy Vọt, chữ của Trương Vĩnh Ký để lại và ông họ Trương là người bản xứ nên tôi tin ông Ký hơn tin hai ông cử kia và tự trách lúc nhỏ cha mẹ không cho học Hán.

Bãi Xàu là nhau rún của nhà văn Khuông Việt, tên thật là Lý Vĩnh Khuông, sanh ở Bải Xàu, tác giả tập nhỏ “Tôn Thọ Tường” sách này năm 1942, được giải thưởng từ các nhà Hà Nội, nhưng bín của tôi, bị kiểm duyệt cắt bỏ trên cả chục trang, nay sách đã bị thủ tiêu và cấm lưu trữ, duy tôi còn sống sót kể đây chờ bắt tội.

Xin hỏi người nào có bản đầy đủ xin cho tôi chép, chứ ngắt mươi trang, đâu còn gì là giai phẩm văn chương?

(viết ngày 4-8-1991)

V.H.S.

Tái bút

Xứ Sốc Trăng và đất Bãi Xàu, có rất nhiều chim Chìa Vôi.

Lúc bé, chị vú giữ tôi thường ru tôi bằng câu: “Chít chọt, chít chọt, khứ Bãi Xàu”, tôi hỏi nghĩa, chị đáp: “Nghe Tiều Châu hát làm vậy, chị hát theo, không biết nghĩa. Tôi lần mò và nay hiểu nghĩa là: “Chích chòc, chích chòe, khứ Bãi Xàu”. Chị tên Sách, đó là tiền định, nay tôi mê sách. Một câu hát nữa là “Chim Chìa Vôi bay ngang đám thuốc, cá Bã Trầu lội tuốt mương cau” (có đủ “trầu cau vôi thuốc”, cũng là tiền định nữa với bà Năm Sa Đéc.

Bài số 2, kể tiếp về rắn, chuột, cóc, và ong vò vẽ (viết ngày 6-8-1991).

Trong một bài đã gởi đăng trong B.K.VH. và dã mấy số liên tiếp, tôi thường có đăng báo, nay tự xét thấy có vẽ tham và trái với lời hứa không viết nữa, nhường chỗ cho các bạn trẻ và cho người mới, nghiệt nỗi còn đôi chút nghe thấy lượm lặt tích trữ nhiều năm, tự thấy gần ngày xuống lỗ theo ông theo bà, bỏ đi thì tiếc vậy xin cứ việc ghi thẳng lại đây, độc giả cao kiến, nếu cho là có lý thì đây mừng, bằng như kể là nói tầm xàm thì cứ cho vào xọt rác.

Vả lại tôi xin trả chức học giả cho người xứng đáng, và tôi viết là để chạy gạo, không đáng gọi làm văn. Ai kia trong báo gần đây, rằng trong Nam không có văn tôi cũng xin ai đó muốn nói sao thì nói, không lẽ mình vạch lưng bới thẹo lúc này. Và đây vài chuyện không đầu không đuôi, nhớ tới đâu viết tới đó, tiếp theo tập “Sài Gòn tạp pín lù” đang chạy máy in, và xin làm tài khôn, giải nghĩa nơi đây:

“Tạp pín lù” là tiếng của Ba Tàu, nếu viết ra Hán tự, là “đả biên lô”: đánh tửu ăn thức sống bên lò lửa, và khi nhúng thức ăn ấy vào nước me chua hoặc pha giấm, trong ấm thiếc, giữa ấm có đặt một lò than lửa, thì đó là “xực cù lao” nói cách khác theo Tàu là “ăn xán lẩu (Hán tự: sanh lô)”, tức ăn sanh vật (xán) nhúng trong nước có lò (lô), mượn tiếng của Ba Tàu nữa.

Chuyện thứ 1

Con ong vò vẽ, nọc độc nhứt. Cổ kim dạy rằng “Bảy (7) con vò vẽ khác nhau, nếu đánh một con trâu cổ, thì trâu ngã chết ngay, đủ biết nọc dữ thế nào. Cách nay không lâu, trong báo có thuật nơi vùng sông Hậu, trẻ chăn trâu chơi ác, biết khúc rạch có ổ ong vò vẽ trên nhánh gié giữa dòng, chúng không ác ý và để đùa cười chơi, chúng chờ có ghe nhỏ chèo ngang, chúng dùng giàn thun bắn vào ổ ong cho vò vẽ bay ra đánh người chèo, người bị ong đánh đau đớn rên la mà chúng cười được, tôi cho là thiếu giáo dục. Ong vò vẽ lợi hại như vậy, thế mà tôi từng nghe một lão ông nói với tôi: Bảy (7) con cóc trộng, đủ sức nuốt trọn một ổ vò vẽ mà vô sự không chết cóc nào, – tôi không tin, ông lão cắt nghĩa, cóc bảy con ấy biết tập thể, chia nhau đứng chung quanh ổ ong, ổ này đặt trong một lỗ nẻ dưới đất mùa khô, gọi lỗ chưn trâu chẳng hạn, bảy con cóc ấy rình chờ ong bầy bay lên, cứ con ong này vừa ra khỏi lỗ, thì cóc thứ 1 nhảy táp nuốt tươi rồi có bị cắn thấm nọc giãy đành đạch chết giá nằm đó thì cóc số 2 nhảy ra chờ ong số 2 bay lên thì táp liền, rồi luân phiên như vậy, từ cóc số 3 trừ ong số 3, rồi cóc số 4 v.v.., nối tiếp ăn tươi vò vẽ không kịp biết và cứ bay lên nạp mạng cho cóc, đến lượt con ong số 8 bay lên, thì con cóc số 1 khi ban sơ cũng vừa tỉnh giấc chết giả và nhảy lại táp con ong số 8 và cứ tiếp tục làm vậy cho đến say máu ngà, cóc bảy con ăn trọn ổ vò vẽ mà bầy ong chẳng hay biết, thần tình vậy thay cho chiến lược tập thể.

Chuyện thứ 2

Cũng nói về cóc tía.

Đây là chuyện do tôi thấy tận mắt và thuật lại đây không dám thêm bớt lời nào.

Lối năm 1913, tôi vừa mươi tuổi đầu và học lớp ê-lê-măng-te (elémentaire) trường tỉnh Sốc Trăng và đang ở nhà cha mẹ tôi, nơi sau nhà này lúc đó chưa có cầu tiêu thùng và có đào một lỗ sâu, khi nào đầy phân, sẽ lấp đi và đào lỗ tiêu khác. Đúng hôm đó, nhà trường chưa đánh trống tựu, độ vừa hơn sáu giờ ngoài, khi đang ngồi chờ trả xong nợ dạ dày, trước mắt tôi, chỗ tôi đang ngồi, tôi bỗng thấy một ổ kiến lửa đang bò trong ổ ra, kéo nhau dẫn đi một hàng dài, bỗng thình lình có một con cóc tía khá trộng từ xa nhảy tới, cóc bất chấp sự có mặt của tôi, cóc lanh lẹ nhảy đón đầu bầy kiến và lẹ như chớp, cứ con kiến nào bò tới, là cóc thè lưỡi liếm kiến và nuốt ngay, con kiến dẫn dầu bị vô bụng cóc mà nào biết gì để báo tin cho chúng bạn, và trọn ổ kiến lửa, trên trăm con, bữa sáng ấy đều làm mồi cho cóc, – trống tựu trường đánh hồi nào tôi mảng mê coi cóc ăn kiến mà quên đi học và đã bỏ học hôm ấy với bài “cóc ăn kiến”, để chờ khi khác cóc chết bị kiến ăn lại để trả thù, và việc sau này tôi biết nói mà chưa từng thấy.

Chuyện thứ 3.

Nay trở lại chuyện chuột không sợ rắn, chuyện này tôi đã đọc trong bộ “Chuyện giải buồn” của ông Huỳnh Tịnh Của, bản của tôi có, in từ năm 1971, nay tôi lấy ra và xin mạn phép, viết lại cho xuôi câu như vầy:

“Hai con chuột là một cặp vợ chồng, rủ nhau đi kiểm mồi lót dạ, rủi một con bị rắn bắt, con kia giận dữ, trố mắt nhìn như hai hột tiêu, long lanh ướt mi mà cũng chỉ núp xa xa mà dòm, biết mình yếu sức nên không dám lại gần. Rắn ta nuốt xong, lềnh nghênh bò xuống hang, nhưng khi vừa chui vào được nửa thân mình, thì con chuột bạn chạy đến xốc lại cắn riết cạnh đuôi rắn, rắn giận rút đầu trở lại, thì chuột ngoài này nhảy trái, rắn rượt thì đã trể, rắn lui cui lộn lại vào hang, xăm xăm chưa vào hết, thì chuột nọ y như mửng (môn) cũ, lại cắn đuôi rắn, ạch đụi lằn nhằn, cù cưa cù cưa, hễ rắn đút đầu vào hang thì chuột lại cắn đuôi như trước và hễ rắn ló đầu lên thì chuột chạy đi… cả hai làm như vậy một hồi khá lâu lâu, rắn thét bực mình, trở ra, mửa ngay con chuột đã nuốt bỏ nằm trên mặt đất rồi bò vào hang êm thấm.

Chuột sống nhìn xác chuột chết, chạy lại hít ngửi, dường như thương tiếc, rồi tha xác ấy đi mất. Chuyện trong sách vắn tắt như vậy, dám đâu gọi là văn, tôi chép lại đây và vẫn bồi hồi, dám hỏi người nào khinh lỗi viết trong Nam, sẽ nghĩ sao???

Chuyện thứ 3, trở lại về rắn, và thuật chuyện của mình, có câu “le moi est haêssable” (chuyện của thằng mình là đáng ghét), nhưng tuổi gần xuống lỗ, cứ nói, ai khen hay chê mặc ai, – nguyên tôi có một ông ngoại (cha của bà kế thất), gốc người Quảng Đông, làm nghề hốt thuốc, ông có hai bàn tay vẫn để móng không rửa, móng đen xì, nhưng ông có tài bắt chuột đồng, làm lạp xưởng, còn ngon hơn lạp xưởng Nam Vang, và lạp xưởng hiệu Xảo Ích của hãng Chợ Lớn thua xa, ông lấy cơm nguội, ông nhồi trộn với men gì và với mấy móng tay ấy, nhưng ăn cấp kỳ, ngon lành không thua cơm rượu nếp đầu mùa.

Khi tôi thi đậu về nằm nhà chờ được bổ nhiệm, ông thường tâm sự và dạy tôi nhiều việc, nay thuật lại đây, e có người sẽ nói tôi bày điều đặt chuyện, vì những gì ông nói, gần như rút trong sách khoa học tây phương.

Tỷ như ông nói lấy đầu rắn hổ, chặt lấy đầu để luôn nọc,

Quăng đầu rắn vào lò than, đốt cháy đỏ rồi lấy đầu rắn ấy ra đâm nát, hòa với dầu dừa, đó là thuốc trị ghẻ, hiệu nghiệm vô song, “con sâu ghẻ” gặp nọc rắn đã dịu bớt cháy ra tro, sâu ghẻ chịu thua ngay.

Lại nữa, rắn nào ban đêm cũng ra giỡn trăng và nó nhả nọc vào đám cỏ quanh hang, cỏ ấy là thuốc trị nọc rắn đó, khi bị rắn cắn lúc đào hang, rắn cắn cứ làm tỉnh, quơ tay ra sau lưng nắm một mớ cỏ vừa nhai nuốt nước và lấy xác cỏ ấy đắp vào vết cắn, rồi về nhà sẽ nhìn dấu cắn mà chạy thuốc thì lành.

Theo tôi hiểu ngày nay cỏ ấy ắt có chứa chút ít nọc rắn, nhưng nhẹ bớt đi, và đó là theo phương pháp Pasteur (mà ông nào đọc sách Tây) và lấy nọc trị nọc, y như trồng trái đó mà!

Ông vui miệng thường khuyên tôi không nên nghe lời dụng ý uống rượu có ngâm xác rắn nguyên con, rượu tắc kè, rượu bìm bịp, rượu chim gõ kiến, v.v.., thảy đều dơ và không nên uống và chưa chắc gì là bổ hay hiệu nghiệm và ông cười cười nói nho nhỏ, bị rắn cắn chạy vô nhà thương Pasteur là chắc ăn hơn!

Chim bìm bịp, hễ kêu thì nước dậy lớn và chim ấy ăn kiến, khi đậu ngọn tre thì lấy mỏ gỏ vào tre cho kiến bò ra và thiên hạ đồn chim ấy giỏi bùa Lỗ Bang, khi chim ra ràng, bợm rượu thường trèo lên ổ, bẻ giò bẻ cánh cho gãy lọi, chim mẹ về, nhảy xuống đất vẽ bùa rồi bay lên ổ làm cho chim con lành lẽ, tội nghiệp cho chim ra ràng đau đớn chịu oan, có lẽ sự thật và tự nhiên chim lành, có câu “Chó liền da, gà liền xương” và bìm bịp, gõ kiến đồng một thứ, biết tự trị như nhau…

Ngoại tôi nói trăn rừng thì dữ, trăn nuôi thì hiền, trăn cắn như chó cắn, không có nọc độc và trăn như chó, thường bắt cặp (dính lẹo) và trong rừng mùa rượn đực rượn cái, trăn đóng nhau lẹo lùn cục, thợ đi rừng gặp thì trúng mối to, cứ chặt nhánh xúm nhau khiêng về vì trăn mắc kẹt không chạy…

Rắn lục đẻ con, mỗi lần sanh là ở trên cây căng bụng cho con lọt ra, mẹ thì chết, còn con thì đứa nào thoát khỏi miệng bìm bịp chờ hứng nơi dưới, thì may hồn, con nào lơ mơ bìm bịp nuốt hết cho bớt loài rắn dữ.

Trăn rắn giao cấu nơi lỗ trôn, còn thức ăn to lớn, lông thú và xương con mồi thì khi tiêu hóa, mửa ra đàng mồm.

Có tích ngày xưa ở rừng Rạch Giá, thợ rừng trông thấy một con rắn hay trăn, thân to hơn cột nhà cháy, xanh đen lẫn lộn, lại có sừng kềnh càng, hoảng hồn chạy về hô “gặp rồng”, khi quan kéo binh vô bắn chết mới biết đó là trăn nuốt một con nai, khi nuốt tới gạc (sừng), nuốt không vô nữa và ở xa tưởng đó là rồng xuất hiện.

Rắn biết trả thù, khi giết không chết thì nên đề phòng nó rình cắn lại. Sách xưa kể chuyện khi tạo thiên lập địa, tạo hóa để lại câu: “Người già người lột, rắn già rắn tột đầu săng”, nhưng rắn lanh miệng hơn, sửa lại: “rắn già rắn lột và người già người tột đầu săng”, nhưng theo tôi rắn cũng chết như người và rắn thành yêu hay tiên là bịa.

(viết 6-8-1991)

Tôi chưa từng bắt rắn lật bụng ra xem ra sao, nên không dám nói, chớ trăn thì tôi đã thấy nơi bụng, gần lỗ trôn, có hai cái móc nhỏ cứng như sừng, khi nào trăn vấn được người hay con thú (nai, heo rừng), thì nó móc quắm hai cái móc ấy để lấy thế rồi mới dùng sức mạnh mà rút chặt lại thì bao nhiêu xương cũng gãy cũng mềm, và chừng ấy nó mới nuốt.. và khi nào bị trăn quấn, nên nhớ phải tìm mà cắn cho được cái đuôi nó mà cắn sâu vào, thì nó đau và tháo thân ra mà chạy và có người nói với tôi nhưng tôi chưa thí nghiệm, rằng rắn cắn được ai thì nó trở lại cắn đuôi làm dấu và rắn cụt đuôi bao nhiêu thì biết nó sát hại bao nhiêu, nhưng tội chưa thí nghiệm lần nào và chỉ tài thuật lại.

Một chuyện khác, lúc tôi còn ở tỉnh nhà, nhau rún Sốc Trăng, khoảng 1943 – 1944, mỗi sáng thường đi tập thể dục ngoài đồng nội, đường lộ số 4, Xóm Bắt – Tà Ky, vẫn có ông thông phán họ Cao, (từ trần đã lâu), ông ấy khi gặp vịt chết hay xác chuột bỏ ngoài đường thì ông lượm về nuôi trăn nơi nhà và nói rằng trăn giỏi nhịn đói, nếu không cho ăn thì lột da và nằm khoanh lại chờ thời, thêm nữa trăn ăn vật chết, vật đã sình và nhả xương nơi mồm, v.v. nuôi trăn trên bồ lúa, khỏi cho ăn và lúa ít hao, chuột hay se sẻ, con nào vào bồ thì trăn cho vào bụng đói tất cả, chủ khỏi nuôi tốn bằng thức ăn mua ngoài chợ.

Người mình nuôi trăn mà không biết ích lợi chỗ nào, tôi đọc sách Pháp, thầy dạy ở Thái Lan (Xiêm La quốc) họ nuôi trăn trên thuyền đi biển, khi nào trăn tháo lỗng bỏ chạy, đó là điểm nếu thuyền ra khơi, sẽ gặp sóng gió chết chìm.

Một chuyện khác nữa, khi tôi chạy lên đây và làm việc nơi viện bảo tàng, tôi có được một dược sư quen nhau vì đều chơi đồ cổ, ông tên Trần Kim Khánh, nay đã quá vãng, một đêm nọ tôi được ông mời dùng bữa tại một biệt thự đường Nguyễn Trãi, ngồi vào bàn, tôi đạp dưới chưn cái gì mềm mềm êm êm, tôi tưởng chủ nhà lót gối lót nệm đỡ chơn, nhưng khi tôi nghe có tiếng khè khè, hỏi ra hết hồn, ông Khánh cười mà rằng: “Nhà này là nhà riêng, nhà lớn của tôi vẫn ở Mỹ Tho mỗi khi tôi về dưới ấy, thì nhà này tôi giao cho một người giữ nhà, thêm có hai con chó berger thả nơi sân trước sân sau, khi nào có kẻ trộm qua lọt hai berger vào được trong nhà thì có sẵn con trăn này luôn luôn bỏ đói và trăn đối với kẻ trộm còn hay giỏi hơn người gác dan và hơn cá hai chó kia. (viết 6-8-1991).

Còn nhớ thuộc lòng bài thi Hán này, xin ghi lại:

Thanh túc xà vi khẩu,

Hưỳnh phong vĩ thượng châm,

Lưỡng ban vi khả độc,

Tối độc phụ nhơn tâm.

Đã có người dịch thoát:

Miệng con rắn hàn nàm,

Nọc con ong vò vẽ,

Hai thứ tuy rằng độc,

Độc nhứt dạ đàn bà.

Chợ Lớn có một cao lâu đường Triệu Quang Phục chuyên bán cơm với thức ăn lạ mỗi ngày thường viết chứ lớn treo bảng rao: “Qui xà” thì bán món nấu thịt rùa và rắn, khi rao “Tàm hội: long lân phụng”, hoặc “Tứ Linh” thì có đủ: rắn thế cho rồng, lân dùng chồn cáo, cầy thay trăn, phụng là gà thiến hoặc gà mới đẻ, rắn, trăn, gà, thịt trắng như nhau, khi xé nhỏ để chung, khó biết và đều tưởng đó là thịt gà, rùa vẫn là rùa (qui), và khi dọn ra, nấu với thuốc Bắc, ngũ hương, v.v.. nay viết tới đây còn thèm.

(viết ngày 6-8-1991)

Thơ cho Lê Quang Thái

Một học trò cũ còn nhớ Thầy

(viết 30/9/1991)

Anh bạn nhỏ thân mến,

Anh còn nhớ đến tôi, việc cũng đáng mừng, chớ ngày nay, giáo nào như giáo nấy, đều là thứ đếm giờ hoặc chờ cuối tháng – ơn nghĩa trả cù lao, trôi sông ra biển – và tôi gọi bằng anh, để dễ nói chuyện và cứ kể anh của con tôi, Hồng Bảo.

Anh gởi cho tôi hai bức thơ, đề 9/9 và 14/9, hôm nay 30/9 tôi mới trả lời, hai thơ nhận một lượt, lại có kèm một gói mè xửng, hiệu Hương Vinh, 31 Yết Kiêu, Huế.

Yết Kiêu là đường nào, tôi nào có biết, chỉ biết hiệu Hồng Thuận, hiệu Nam Thuận, đường Hàng Bè, sát cầu

Đông Ba, và một hiệu nữa có chữ Y (phải Như Y chăng?) cũng thì gốc Tàu, mè xửng là một thứ kẹo ngọt làm bằng mạch nha nếp mới, trong chứa đậu phộng ngoài rắc mè bùi bùi, nhưng bao tử nay quen dồn rau muống, tương mặn, nay biết có dung thứ và chịu cùng chung sống trong cái ruột già kia chăng? Mè xửng, trong này gọi mè thửng, xửng hay thừng cũng đều Ba Tàu, viết ra chữ Hán, là “đường” đường ngọt và đời Đường cũng một thứ, Xưng Tửng là Đường Đồng, và Từng trơn tru là thằng chệc con chạy từ bên đó sang đây vào thời Pháp thuộc, đang chạy tiền lo lót cho được giấy tạm trú, ngày nay gọi chứng minh nhân dân, tôi viết dài dòng, chưa bỏ tật ba hoa chích chòe giáo lá!

Trong thơ, anh lại ước muốn có của tôi một bài nói về “khi” cho kịp ra mắt vào đầu năm Thân sắp đến. Hoặc một bài về Thú chơi sách, hoặc Thú chơi đồ cổ. Anh muốn có hơi nhiều, tờ Cửa Việt số 9 anh gởi, tôi chưa có thì giờ đọc, nhìn thấy ngoài bìa hình một thiếu nữ bày ngực, xem tiếp bìa trong thấy đề tranh sơn dầu, báo của Hội Văn học, Nghệ thuật của tỉnh Quảng Trị, bày chi ngực, con gà con vịt, đều Trống đẹp hơn Mái và cần chi lấy Mái làm duyên, nhìn thêm, ban biên tập từ tổng biên đến phó, đều là Hoàng Phủ, các cây bút trẻ, đều lạ hoắc, tôi sợ quá làm sao dám cùng viết chung? Nhưng để giữ mỗi cảm tình riêng với anh, xin có bức thơ này xen vài chuyện tào lao, thơ là thơ tỏ tình ấm lạnh riêng, khuyên anh nên bỏ tôi ra ngoài, đừng ép tôi viết, hoặc giả bài nầy anh phải làm điệu lại để khỏi đụng chạm, bớt ra những gì tôi thốt ra quên giữ lời, cả anh và tôi đều quá tuổi hoạt động tốt, anh ắt trên năm mươi, tôi nay chín chục, đều thua bác nông phu, nếu bần cố nông thì có ruộng để cày và có lúa ăn, thua luôn bác lao động phu xích lô, chạy máy hay đạp chơn, bữa ăn điểm tâm, ngồi lù coi, cũng không ai dám nói lời nào, lại nữa dặn nhỏ anh đừng ham lên đến thượng thọ, lên đó ích gì, tuổi đó là đáng chán, khỏi lú lẫn là may, nhưng nào gan hư thận yếu, kẻ trộm rất ghét giờ nào cũng gặp còn thức để đi xổ nước tiểu, có người lại bị bí lối, phải nằm nhà thương cho mổ lấy sạn, được thoát chết thì cũng giảm sức sống, thêm mắt lờ tai điếc, răng rụng và xin nhớ đừng trồng răng giả, móm không xấu, chỉ cười nhe răng quá trắng trái ngược với da mặt như quả chín héo mà tôi cho là không đẹp, già chưa biết thân, xấu lắm.

Anh bảo tôi viết mà nghề viết đã hết xài. Thời nầy, chạy tiền không đủ ăn, sách báo bán ế, tiền đâu mua? Mượn về đọc đỡ ghiền, mấy ông đậu bằng cấp cao, lãnh lương cho lớn, khi đến việc bỏ chạy nơi nầy nơi kia tiếp tục chìa tay nhận đô-la nặng túi, những ai còn ở lại đây, đám nhỏ tiến lên, không thèm học văn, đi thi khó có điểm cao, ưng học toán, học nghề, tuổi bé thì bị vidéo, phim tồi bại khuyến rủ, học múa súng kiểu John Wayne, đi đường kiếm kiểu phim Hồng Kông, gần đây tai hại nhứt là tháng bảy, lễ Vu Lan, chớp phim Tây Du, tháng tám lễ Trung thu đổi qua phim VõTòng, chuyện Thỉnh kinh, tôi sẽ nói đoạn sau, về bánh Trung thu, có người cho tôi bốn bánh hiệu danh tiếng “Đồng Khánh” mắc tiền nhưng hột dưa hột điều độn hột vịt muối, mứt bí, mỡ heo, để ba ngày đã phá bụng, ăn vào mắc chứng Tào Tháo chạy vô cầu không kịp, tốn tiền ngàn mà thua xa bánh trước giải phóng, tôi xin kể trong Chợ Lớn, tỷ như hiệu “Đại La Thiên” (cái phèng la lớn trên trời), hiệu “Ái Huê” và hạng nhứt là hiệu “Ngọc Lan Đình”, ba hiệu này làm bánh chỉ bán trong hai ngày 14 và 15 – thiên hạ đua nhau chen mua không kịp gói và qua ngày rằm, bánh sót lại đều xổ ra lấy nhân làm món khác, làm như vậy để giữ uy tín hiệu nhà, nhớ bánh mà thèm, vi cá, thịt đùi jambon, nấm Đông Cô, hột hạnh nhân, hột bạch quả, thêm có quả dẻ tây (trái marron trong nầy gọi cù lắc), bùi bùi, thơm thơm, mà chỉ có bốn năm chục đồng bạc cắc mỗi bánh, (0$40, 0$50), nào phải như nay, bánh bán hà rầm quanh năm, ăn không thấy ngon, mắc tiền thì có.

Tôi có tật ưa cà kê nghê ngồng, hể nói thì nói quên thôi, theo tôi, lên thượng thọ là tỷ như leo lên la phong và đã hết chỗ leo, ngồi trơ chờ thần chết, mà quả ngộ, truyện Thủy Hử tả đám anh hùng Lương Sơn Bạc hùng hùng hổ hổ, nào Võ Tòng tay không giết cọp nơi gò Kiến Dương, nào Lỗ Trí Thâm, oanh liệt một dao ngắn cứu Lâm Xung nơi rừng Xích Tòng, nhưng cả mấy vị anh kiệt ấy khi lên đến trại Thủy Hử, lãnh chức đầu lĩnh, thì cũng đều như leo la phong, không còn thét ra lửa như xưa, xuống đến ngày nay, mau quá chưa đầy hai mươi năm, mà từ nơi xa, nước Nga bỏ hiệu cờ, nước Đức phá vách tường ngăn chia hai chủ nghĩa, và bên Á Đông này thì nước Nhựt từ bại trận lại hóa ra giàu nứt dây lưng và đang tranh làm bá chủ với nước Mỹ mà xe hơi hiệu Cadillac, Chevrolet nay bán kém hiệu Toyota, Honda và tôi đây chưa ngồi xe ấy lần nào nên kể tên như còn vính cướng.

Nói tắt mà nghe, sợ nói nhiều e đụng chạm, duy bụng đói thì chưn phải bò, sở dĩ từng tuổi nầy mà còn cặm cụi viết là cốt để chạy gạo nuôi ba đứa cháu nội còn trứng mén, trước mắt tôi chỉ phục và thương một Lưu Hữu Phước mà tôi cho là có chơn tài về nhạc, nực cười lão họ Dương, con nhà dòng dõi, nay còn nằm nhà tại đây còn bận bịu tuổi bảy tám mươi, có con bé tí do một thiếu nữ tuổi đáng là cháu ngoại sanh ra và L.H. Phước vẫn không tốt số bằng lão họ Phạm, đã chạy qua Mỹ và đang tối tối, thứ bảy, ọ e trên đài B.B.C. kiếm lúi (đô la). Anh hùng gần đây trong một thời gian, theo tôi biết, thì có một thủ tướng đời Thiệu họ Trần, nay biết tiếng Tàu, đang sống ngon lành nơi hải đảo to Đài Bắc, một cựu dược sư cựu thủ hiến thì sống an nhàn nơi Úc Châu cũng họ Trần, một đại tướng mặc quân phục rất kẻng, nay sống với năm ngàn đô mỗi tháng, ăn xài làm gì cho hết, trước đây ở đất nầy, người vợ chuyên che chở cho các cậu con nhà giàu xuất tiền cha mẹ dễ kiếm để trốn làm lính, khỏi đi quân dịch và biết bao nhiêu mà kể những đậu bằng cao, Harvard, Sorbonne, nghí ngố về đây lãnh lương cho lớn, ngồi ghế bộ, ghế khoa trưởng, rồi khi có việc đã cuốn vó leo máy bay chạy cái vù, báo hại chúng tôi trả nợ tiền khiên làm vầy, nhưng khi biết an phận tùy duyên, thì mặc dầu mang tiếng là nghèo nhứt thế giới, nhưng xin hỏi có dân nào hạnh phúc hơn dân nước mình, tỷ như Ả Rập thì kiêng không ăn thú bị cắt cổ trước, dân Chà cứ thịt heo, còn ta đây, chó, mèo, đều xơi không cử, lên cao nguyên ăn con gián, con trùng với người Thượng, thằn lằn, cắc kè cũng không chừa, đó là hạnh phúc tràn trề mà nào có biết. Cho hay hạnh phúc, khi đã vuột qua tay thì mới tiếc và để kể cho khá đủ, lại có một dược sư, nhờ khéo hát được lên làm bộ trưởng bộ giáo dục, để rồi khi xuất hiện trên đài phát thanh, mở đầu ông hô lớn “Đồng bào quốc vân!”, ông Tổng Diệm, khi hay được, lật đật cho ông ra rìa, ông Thế ôi! Ông bị cất chức là đáng, nói tiếng Việt chưa rành, mà bộ trưởng Giáo dục cái gì? Một dược sư nữa, ngứa nghề ra làm chánh trị, ngồi làm thủ hiến ở Huế, khi tôi ra đó và đi gần cầu Trường Tiền, mé nhà Morin, có thấy một bia đúc xi-man, chữ viết nói gì tôi không nhớ, chỉ nhớ nơi viền bia có chạy một hàng hồi văn, rõ ràng ông cáp viền biên một nhãn hiệu thuốc Tây, người cầm đầu một nước như vậy, thảo nào nước không thua. Bài này tôi viết riêng cho anh, không có ý cho lên mặt báo, rủi như anh muốn làm theo ý anh, xin nhớ bỏ bớt những đoạn như vầy, anh đã trót khen trên một tập san có ảnh một người ngồi đàn ở Đài Bắc, người ấy lại mặc áo ngũ trào khi tấu nhạc, tôi xin hỏi: vua thuở nay, từng nghe quan hoặc dân đàn hát, chớ tự vua có bao giờ đàn cho một ai khác ngồi nghe, nhứt là khách ngồi nghe là Ba Tàu, tôi cho làm như vậy là nhục quốc thể nước mình, và nhục thay cho áo thêu con rồng năm móng, trên vai người đã mang quốc tịch khác. Nay xin nói chút gì về “Năm Nhâm Thân, nói chuyện về khỉ”.

Tôi rất kỵ với khỉ, vì là tuổi Nhâm Dần (1902). Xin để con Pékinensis gì đó nằm yên, tôi xin sơ lược với vài nhận thấy riêng và tóm tắt:

Khi tôi còn ăn lương công nhựt giữ chức giám thủ viện bảo tàng nơi vườn thảo cầm ở đây, mấy lúc rổi rãnh thả bách bộ trong vườn, tôi đã mục kích một khỉ đột vóc to bằng một trẻ nít lên mười, nguyên của một gánh hát xiếc ngoại bang, thấy khi trở chứng quá hung tợn, nên bèn bỏ lại đây, con khỉ này tôi từng thấy nó biết nổi máu ghen, mỗi khi nó thấy một đàn ông đứng gần một phụ nữ gần chuồng của nó, thì nó nhảy dựng lên hai tay nắm lưới sắt lung lay gần sập chuồng, trái lại khi có một thiếu nữ nào đứng gần chuồng, hoặc cho nó một nắm đậu phộng, hoặc một trái chuối, thì nó biết thò tay nhận lãnh và nghí ngố tỏ tình y như chúng ta không khác. Sách nói Tô Võ khi bị Hồ bắt cầm tù, Võ ở với khỉ giả nhơn đến có con, tôi cho là việc không thể xảy ra được, khác giống làm sao thụ thai được. Duy tôi mắt thấy rõ ràng, một khi nọ gần lễ Nô en, một lính Lê Dương vào vườn, mua nón giấy đội chơi rồi bỏ nón lại trong chuồng khỉ, một con đực chụp nón đội lên sọ, trên tay sẵn có một khúc tre xanh ai quăng vào chuồng hồi nào không biết, rồi khi ta biểu diễn một pha duy nhứt, trước mắt tôi rõ ràng là cảnh náo yêu cung, khỉ đực khỉ cái ôm nhau bày trò con heo, nuôi làm chi thứ thú tục tĩu nầy cho tốn cơm hao chuối. Một khi khác, mãn giờ làm việc, tôi đạp xe về nhà, vừa cơm nước xong, tôi nằm võng đong đưa, Năm Sa Đéc đang ngồi vá áo, một khỉ độc khá to, từ trên trính nhà tuột xuống, nhảy lên bụng tôi ngồi chểm chệ, tôi nín thở, không dám cục cựa, rồi khi nhảy qua ngồi gần Năm, độ mấy phút sau dài và lâu như kim đồng hồ ngưng chạy, rồi buồn tình, khỉ nhảy lên trính, biến mất, hú hồn.

Nói chuyện khỉ biết đội mão, múa gậy lang ba, bổng nhớ mùa tháng bảy vừa qua, lễ Vu Lan có siêu độ được bao nhiêu oan hồn uổng tử trên đất Bà Chiểu nầy, và chiếu phim Tam Tạng thỉnh kinh mà chi, khiến bao nhiêu trẻ trong xóm đều bắt chước làm ông Tề, báo hại hàng rào tre trúc nơi cổng nhà bỗng bị tháo lấy không còn một bóng. Hậu sanh khả úy, hậu sanh đời nầy lại còn đáng sợ hơn xưa. Tôi nào dám nói gì, và ba lần tôi cưa tre mua dây kẽm sửa chữa hàng rào, đều bị ban đêm có tay bí mật hất sạch. Tôi không nản lòng và đổi ra cách khác. Thay vì tôi cắt tre vừa tầm tay làm gậy ông Tề, tôi bèn cưa lụn vụn, cho không còn là thiết bảng của Tề Thiên đại thánh nữa và phen nầy tôi được thành công. Một trưa nọ, tôi đang lui cui cột ghịt hàng rào, bỗng có hai chú nhỏ đến gần, một chú chi chú kia mà rằng:

– Đây! Thẳng nẩy nó ăn cắp tre của ông đó!

– Vậy hả! Tôi vừa cười vừa nói, vừa đưa tay nắm tay hai chú và không tỏ vẻ giận dữ chút nào. Tôi ôn tồn nói nhỏ.

Đừng lấy của tôi nữa. Cho tôi chơi với chớ!

Rồi cả ba bắt tay từ giã, quả nhiên tre từ ấy không mất, và dây trầu bà đã xanh um. Một biết nhịn bằng chín làm lành, đời của tôi, từ nhỏ thì thờ kính ông bà cô bác, nay trở nên già mà đời đã không như xưa, tôi phải kiêng và sợ lại đám nhỏ, duy người một trạc với tôi mà muốn lấn tôi thì tôi không nhịn và quyết ăn thua đủ. Người lớn với nhau mà!

Khỉ là một loại khó tánh, khó chơi, và tật xấu có nhiều hơn tánh tốt. Tánh khỉ hay bắt chước. Thấy chủ nuôi quẹt lửa đốt thuốc, lơ lỉnh khỉ lấy quẹt đốt nhà. Chuối treo, ăn no, khi bẻ chuối khoét lỗ làm trò tục khó nói.

Tiếng “làm trò khi” đã làm cho một cựu giáo sư Việt văn Trung học, sau làm phó tổng thống, bị anh em chỉ trích cũng vì ham nói tiếng này.

Ở Miền Trung, núi non xanh tốt, khỉ ắt có nhiều. Xin anh dạy tôi ở ngoài, bắt khỉ sống bằng cách nào? Trong này có cách dọn một thúng cơm rượu cho thơm ngon, đem vào ven rừng để đó, khỉ ra ăn, giây lát thấm say, mặc sức bắt. Vùng bảy núi ở miền Tây trong này, có một quận tên chữ gọi quận Tri Tôn, ngoài dân gọi Xà Tón. Người ngoài kia vào đây, thường lấy Hán tự làm gốc để tra gốc tích các địa danh trong này. Tôi xin mách: Xà Tón là ta âm theo tiếng Miên, người Kơ-me buổi xưa thấy mỗi lần vào rừng kiếm củi chốn nầy, khỉ thường ra níu áo và dạn quá, vì thuở ấy người chưa có súng và số khỉ nhiều hơn số người. Bèn lấy đó đặt tên cho vùng: Swar là khi, Tonnh là níu kéo, Swar Tonnh là vùng có khỉ ra níu áo kéo quần. Về sau, súng làm cho khỉ tránh và số người đông hơn số khỉ, khỉ phải sợ lại người, mất sự níu kéo làm thân. Năm Thân sắp tới đây lót chữ Nhâm, thì phải cẩn thận đề phòng. Đừng nói bậy, không nên. Năm xưa báo Nam Phong có bày ra hình hoạt kê. Vẽ một con khỉ thay viết chữ “khải” cũng đọc là khởi. Lâu sau, thầy hỏi, trò quính, coi theo hình vẽ và tỉnh bơ, thưa:

“Chó là ngáp ạ!”. Đó là hoạt kê trong Nam Phong.

Tôi chỉ biết có bấy nhiêu và viết liền trong sáu trang.

Anh muốn bài về đồ cổ và thú chơi sách, cũng tùy chờ xem năm Thân ra sao và mè xửng vẫn còn bán chứ? Nay thơ và chúc an khang.

30-9- 1991

V.H.S.

Tôi biết gì về chuyện “Gia Long tẩu quốc”

Dẫn.

Một bạn nhỏ ở tạp san Cửa Việt mời tôi viết bài về “Ái Tử và Quảng Trị”, tôi không dám viết vì chưa đến các nơiđó lần nào. Tôi đổi lại xin viết theo nhan đề nói trên và được chấp nhận. Bài ấy đã đăng trong số C.V.12 năm Nhâm Thân 1992, tôi chép lại trong tạp chí số 4 để lưu niệm.

Chuyện Gia Long tẩu quốc.

Cho hay người ở xứ nào đất nào thì biết được về xứ hay đất đó. Tôi nói đây mà không dám động đến ông bạn đã vắng tin tức lâu ngày là ông Quách Tấn đất Nha Trang. Quách năm xưa viết thơ hỏi tôi tài liệu về chúa Nguyễn Ánh, lúc ty nạn trong Nam, tôi tình thật nói trong thơ hồi âm rằng chúa chạy trốn “trong rừng dừa nước”; rồi một thời gian sau tôi hay tin họ Quách viết và hiểu là chúa Ánh ty nạn “trong rừng dừa”. Và nhớ lại tôi có viết thơ đính chính rằng không phải “trong rừng cây dừa”, đất khô ráo như ở Tam Quan, mà chúa vẫn ẩn mình trong “rừng cây dừa nước”, và phải viết: dừa nước, Pháp gọi là “palmier d’eau” vẫn khác xa cây dừa mà Pháp gọi “cocotier” và trái thì gọi “coco”, và từ này đẻ ra hai từ theo tôi rất ngộ nghĩnh và lắt léo là “cồ cồ ta” và “cồ cồ Xiêm”, còn “cồ cồ lửa” là do tôi bày đặt, từ này chưa nhận và chưa có trong từ điển; trong này gọi “dừa lửa”.

Trở lại chúa Ánh gặp nhiều cơ hội may mới được sau này lên ngôi, tỷ dụ nhờ Tây Sơn giết vua Duệ Tông và cháu là Mục Vương, nhờ vậy trống chỗ, Ánh sau này kế vị lên ngôi báu, chớ thuở hai ông kia còn thì ngôi vị Ánh còn xa lơ xa lắc. Nói tắt cho mau, thì năm 1774 cho đến năm 1790, ngót mười lăm năm, chúa Ánh bị Tây Sơn đánh đuổi, chúa chạy gần khắp nơi trong Nam, khi thì về nương náu vùng Sài Gòn, còn là bụi và rừng lá, hoặc khi bị Tây Sơn đuổi nà thì lê gót lưu vong khắp miền Cà Mau (người Thổ gọi Tức Kh’ mau, Nước Đen), khi lại trốn ra hòn Phú Quốc (khoảng 1782 – 1786). Và chớ quên mỗi năm, cứ đến mùa gió thuận thì binh Tây Sơn dùng thuyền lớn vào Nam, ruồng kiếm quyết diệt cho sạch dòng Nguyễn Phúc. Ngày nay còn khá nhiều điển tích lúc chúa Ánh chạy trốn: trái bần chúa ăn với mắm sống bốc cơm (và đó là cơm nguội sau một buổi chạy giặc tất tả); bốc cơm xé mắm sống bằng tay chớ không hề cầm đũa, chúa khen ngon, đặt tên chữ cây bần là “thủy liễu”. Con cá nhỏ nhảy vào thuyền báo tin đừng sớm ra khơi, cứu chúa khỏi bị Tây Sơn chận ngoài biển, chúa đặt là “cá linh”. Còn tích “gặp rắn thì đi, gặp qui thì về” là có một lúc, thuyền chúa định ra khơi, bỗng có con kỳ đà lội qua sông chận đường, chúa sanh nghi không cho thuyền ra biển, sau rõ là nếu ra thì ắt là Tây Sơn làm khổ và nay giới cờ bạc còn tin gọi “kỳ đà cản mũi”  và điều này hiểu lầm ra nhiều nghĩa khác.

Đất miền Nam, tóm tắt, lúc đó bị chia ra làm ba vùng riêng biệt. Theo tôi biết riêng là vùng giồng đến sông Cửu Long là thuộc Đông Định Vương Nguyễn Lữ. Thỉnh thoảng vua Quang Trung đem binh đến đây thì ngừng lại và không vượt qua Cửu Long Giang, vì vùng giữa sông Mékong (Cửu Long) qua Bassac (Hậu Giang) là riêng của Đông Sơn Đỗ Thanh Nhơn (Đừng gọi Thành Nhơn, vì Thanh là người đất Thanh Hóa). Còn vùng Hậu Giang qua Vịnh Xiêm La là vùng của Mạc Thiên Tứ. Ba vùng riêng biệt, san hà chia ba và chúa Ánh nương nhờ đất Đỗ Thanh Nhơn, về sau ganh tị, sai giết Đỗ Thanh Nhơn, xuýt hư cơ đồ nghiệp lớn. Bởi theo tôi biết, chúa Ánh lúc lên ngôi với chức “Nguyên Soái” tuổi vừa mười sáu hay mười bảy, vẫn về Sài Gòn lấy tin tức, khi thì ngồi trên vai cho một lực sĩ cõng, chúa ngồi chểm chệ bỏ hai chơn ra trước cho lực sĩ kềm, gọi là “đồng đồng”; lực sĩ này về sau khi chúa lên ngôi, dời ông ra Huế để phong chức thì lực sĩ từ nan và ở lại đất Nam.

Lực sĩ không phải một người mà do lắm lần, khi gọi là “Cai Việc Hạc” (vì tên thật là Trần Văn Hạc, làm chức Cai việc trong làng và có nhà ở Rạch Mù U), khi khác gọi là “Quan Lớn Cái Da” (vì tránh gọi ngay tên tộc là Trương Tấn Bửu, sau phong là Long Vân hầu, làm đến chức Phó Tổng Trấn Sài Gòn, thời Tả Quân Lê Văn Duyệt làm Chánh Tổng Trấn.

Về Cồn Ngao, mà trong sách Alinot viết “Cửa Cung Hầu”, là danh từ để gọi một nhánh sông Cửu Long trổ ra biển, tôi truy ra không có địa danh Cửa Cung Hầu, hoặc “Cửa Công Hầu” và kỳ thật cửa biển ấy, đúng là Cửa Cồn Ngao, bởi Tây đọc Cồn Ngao ra “Cung gao” rồi có lẽ người có trách nhiệm ghi lại trên địa đồ, không dám hỏi chủ Pháp cho rõ ràng và tự tiện, sửa lại là “Cửa Công Hầu”, hoặc “Cửa Cung Hầu” và cả hai đều sai bét. Cồn Ngao là do Ngao Châu, như trong câu “Dàu dàu mây trắng cõi Ngao Châu” (thơ Đồ Chiểu khóc Phan Thanh Giản). Một điển tích khác nói lúc chúa Ánh chạy ra vùng Sa Đéc, được một nhà giàu viện trợ (cung cấp cơm nước, lương phạn cho chúa Ánh, nếu rủi thời bị Tây Sơn sanh cầm, thì vừa đầu (thủ cấp), vừa cả ba họ (tam tộc) sẽ không còn; cái gan lì của “Hậu” là một khía cạnh của dân trong Nam này. Nhà giàu ấy, chúa tặng là “ông Bố” (cha nuôi, tớ già), tên là Hậu, và để kỷ niệm việc nầy, chúa đặt lại địa danh ở vùng Sa Đéc, như Long Thắng, Long Hậu (đã chọn chữ “Long” sau nẩy làm để hiệu). Vả lại vùng này nước chảy mạnh thuyền hay bị nạn, nên gọi “Nước Xoáy” chữ gọi “Hồi Oạ” và một vùng khác nữa gọi đúng là “Bến Tranh”, nhưng trong nhiều sách Hán Nôm, khi gọi “Đồng Tranh” khi gọi “Đồng Chênh” đều sai lầm. Một sách cắt nghĩa “Tranh” là “chênh chênh bóng nguyệt” là hết nước nói.

Cách nay vài năm, tôi có đến vùng Valco, tức sông Vàm Cỏ. Nhơn đi ăn một đám cưới, tôi có quan sát Sông Lớn Vàm Cỏ này, gọi theo cổ là sông Vũng Gù và có một nhánh nữa cũng gọi Rạch Vũng Gù, là nơi có điển tích Chúa Ánh cỡi trâu hoặc cỡi lưng ngạc ngư để sang sông.

Theo tôi hiểu biết riêng tích chúa nhờ lưng thú độ qua sông là do nịnh bợ vua, cho rằng chúa Nguyễn có chơn mạng làm vua, nên có linh thú phò trợ. Điều ấy, theo tôi, nên loại bỏ và tôi hiểu có lẽ chúa Ánh nhờ một con trâu quen đường do Đỗ Thanh Nhơn đào tạo; chúa cỡi lưng trâu ấy lội qua sông lớn, thì còn hiểu được, hoặc giả, nếu không cỡi trâu mà một chàng trai lối mười sáu, mười bảy tuổi, lội qua khúc sông rạch này, hoặc lội qua Vàm Vũng còn như “ngồi trên lưng cá sấu” sấu nào cho ai cỡi lưng cỡi cổ bao giờ?

Nhiều điểm nữa kể ra không xiết, tỷ như điển mà nhiều người biết rành hơn tôi, là tích người Lục tỉnh Nam kỳ cũ, vẫn đặt tên con đứa đầu lòng, luôn luôn là “Hai” rồi “Ba” v.v. và kiêng chữ “cả”, bởi “cả” riêng dành tưởng niệm “ông Hoàng Cả” là “Đông Cung Cảnh”, chỉ trừ trường hợp chữ “Cả” cũng để gọi “Bá Đa Lộc” là “Cha Cả”, là tiếng gọi cảm mến, mỗi khi người nào bị tội chém đầu, hễ Cha Cả xin một tiếng là chúa tha ngay, nên đức ân còn nặng.

Những gì tôi nói đây là dựa theo ngành chơi đồ cổ mà tôi có chút công khám phá và biết kha khá, chớ kỳ trung tôi là một thơ ký quèn của Tây sốt lại, chữ nho vẫn dốt, nôm vẫn đặc cán mai và tiện đây, xin múa bút, tích “Gia Long tẩu quốc” tôi có tìm được ba dĩa có in hình trong tập “Sài Gòn năm xưa” (hiện được tái bản, nhưng không có in hình):

I dĩa để câu “Bình Kiều nhơn quán độ, sanh xuất tiểu chu lai”, 1 dĩa khác lại đề câu: “Ngư gia độ hoàng gia, âm tinh ngộ để tinh” và 1 dĩa thứ 3, không đề chữ nào, cả ba dĩa đều vẽ hình một người đứng chờ thuyền qua rước, có lọng che (chúa Ánh) và nơi bờ bên kia, hiểu là đất liền Nam kỳ.

Những gì nói đây là hấp tấp hối hả, tôi biết sức tôi mà tự thẹn, già tuổi 91, kể theo ta, và tuổi 89 kể theo Tây, sanh năm 1902, vì đau chơn phải há miệng nói cách khác, vì đói chơn phải bò, bởi có một đứa con duy nhứt, đặt tên là Hồng Bảo. H.B. hiện lánh mặt, bỏ lại ba đứa cháu nội đói, tôi viết làm vầy kiếm cơm và Cửa Việt cũng đừng gởi nhuận bút, nếu còn đủ bộ gởi cho tôi đọc là đủ và đa tạ.

12 giờ 18 Novembre 1991

V.H.S.

Vô Đề (Bài không có đề tài)

(viết 10/1/1991 đăng Bách Khoa Văn Học số 1)

Nhơn tuổi già ngủ khó tâm trí thường miên man, lấy truyện cũ ra đọc, một đôi chỗ thấy mâu thuẫn, dậy bày ra đây nhờ cao kiến dạy thêm.

1. Đọc Thủy Hử, bản dịch Tử Vi Lang, có chỗ ráp mí không y, tỷ như:

a) Đoạn nói về vợ chồng Trần Lệ Khanh và Chúc Vĩnh

Thanh bàn luận về binh khí nặng nhẹ và dõng lực thế nào (tập 5 tr. 803), xin tóm tắt như vầy: “Chúc Vĩnh Thanh nói:

Tôi sử dụng một cây kích nặng 42 cân, còn nàng dùng cây Lê hoa thương nặng 36 cân. Tại sao sức có dư mà không dùng cây thương cho nặng hơn? Trần Lệ Khanh cười mà đáp rằng: Không phải tại binh khí nặng hay nhẹ, tỷ như trong trận Tam anh chiến trong Tam quốc chí nói rằng Quan Vân Trường thủ một cây Thanh long đao nặng 82 cân, thêm một cây kiếm của Lưu Huyền Đức, không nghe nói nặng bao nhiêu, lại thêm cây Trượng bát xà mâu của Trương Phi cũng không rõ nặng bao nhiêu, thế mà Lữ Phụng Tiên (nay gọi Bố này, Bố nọ), y ta chỉ thủ một cây Phương thiên họa kích, chỉ nặng có 24 cân, như vậy mà đôi bên giáp chiến, thế lực cầm đồng.

b) Rồi khi tôi đọc một đoạn khác, dịch giả Tử Vi Lang lại viết: “Lữ Bố sử dụng cây kích nặng cỡ 100 cân?!! rồi nơi đoạn khác lại viết: đời Đường, Tiết Nhơn Quí cầm cây kích nặng 89 cân??? và hôm nay tôi lấy sách ra đọc lại, nơi tập số 1 (Thủy Hử) lúc ở Ngũ Đài sơn, Lổ Trí Thâm tìm và đặt lò rèn làm lại một cây thiền trượng nặng 100 cân, người chủ lò nói rằng: “Nặng 100 cân thì cây trượng không đồng thanh đồng thủ, khi sử dụng sẽ không trúng cách; rất đổi Quan Vân Trường thủ cây Thanh Long đao chỉ nặng 81 cân???. Trí Thâm cãi bướng: Xưa Quan là một người, nay ta đây cũng là người, há chịu kém hơn sao? Rốt lại, thợ làm cho Trí Thâm cây Thủy Ma thiền trượng nặng 62 cân. (Theo chỗ tôi hiểu riêng, người thợ có kinh nghiệm và tinh nghề, gậy sắt xứng tay, lợi hại nơi người cầm, mà phải đồng thanh đồng thủ mới là gậy xinh và lợi hại.

2. Nay bắc cầu thử luận chơi về chuông. Chung (Hán tự) và chuông (nôm tự) là vật dùng để gọi giờ để biết khi đọc kinh… Nhưng tôi xin hỏi, tại sao, đôi bên, bên ta như bên Tây, ác nghiệt thay, tỷ như chuông ta, muốn cho kêu ra tiếng, thì bắt từ ngoài, có hai chú tiểu (sãi con), khệ nệ vác ôm một khúc cây bự (gọi cái chày), từ ngoài khiêng và tống mạnh, dộng vô thì chuông mới đáp lời, tức kêu. Trong khi ấy, ở Tây phương, không gõ dộng chuông từ phía ngoài, mà trái lại, lại dùng một vật khá nặng, tròn tròn hoặc dài dài, và từ bên trong, lắc qua đưa lại, làm cho vật tròn hay vật dài ấy sẽ cạ, sẽ cọ vào lòng chuông, nơi phía trong, thì chuông Tây phương mới kêu ra tiếng. Tại sao: “Đàn ông chơi với đàn ông, một trăm gánh đồng chẳng đúc nên chuông?”. Trái lại:

“Đàn bà chơi với đàn bà, một đồng tiền giám đúc ra chuông kềnh!” Tại sao vậy hé?

“Tiền giám, chuông kềnh”, xin gác qua buổi khác, riêng tôi hiểu: Bên ta, phép đúc chuông, phải lấy đức tin làm trọng. Rõ ràng, tỷ như chuông nơi chùa Thiên Mụ đất Huế, ngày xưa đúc chuông với đức tin thật nhiều, thiện nam, tín nữ, góp trọn sức vốn, người thì cà rá (nhẫn) hoa tai (bông tai), lại cời luôn vòng vàng, kiếng cổ, xuyến tay, gởi hết vào với đức tin ăn chay nằm đất, cho nên chuông chùa Thiên Mụ, tiếng kêu thanh nhã u trầm, khiến người đạo khác cũng đem lòng sùng bái. Trái lại, cũng lấy y khung mẫu chuông Thiên Mụ, đem kiểu về đất Sài Gòn này, rồi tân tạo năm đó, chuông nơi chùa Xá Lợi, thì tiếng kém, âm thinh không có, rõ lại, có lẽ thiếu chất vàng vòng xuyến cà rá, bông tai… và chỉ lấy vỏ đạn đã bắn giết người cho vào lò đúc, quên rằng khi làm vỏ đạn, người ta đã bỏ thêm một chất hóa học, nay chưa lọc ra cho sạch, khiến nên chuông Xá Lợi mất thanh, khi đúc kỳ nhì cũng bị nứt nẻ, chất thuốc kia chưa tẩy sạch.

Có câu: “Chuông già đồng điếu, chuông kêu”, “Anh già lời nói, em xiêu tấm lòng”. Lẽ thường, phụ nữ lòng mềm như đèn sáp đèn cầy gặp nóng… đồng điếu, đồng “Mắt cua”, đồng “vỏ cua”, đồng đỏ, đồng già, đồng ghép, đủ làm cho loạn trí điên đầu kẻ già này, nên xin tạm gác qua khi khác nữa.

3. Nay xin lạm bàn về tâm trí người Tây phương và chúng ta, nội hai thứ chuông, thấy đã khác: Chuông của chùa Phật, tiếng như tiếng cọp gầm, u u, minh minh, trầm bổng huyền diệu, lại nữa giá treo làm bằng gỗ rừng, gỗ rừng sức vóc cao lớn có hạn độ, lấy gỗ ấy làm giá chuông chùa nên thường treo thấp, đến như lời nói, tiếng phát âm của ta cũng chuộng trầm hùng, nghiêm nghị, dầu khi ca hát cũng có chừng, mực.

Trái lại, bên phương Tây, chuông thường treo thật cao, trên chót vót đỉnh lại có phân chia ra lớn bé nhiều loại (một cái chuông không lồ, le Gros Bourdon de Notre Dame de Paris, nặng cả mấy tấn), mỗi thứ chuông, tiếng kêu mỗi khác, nhí nhảnh cười vui buổi lễ tân hôn và buồn tẻ sầu bi khi lễ cất đám, hoặc cầu hồn, tiếng nói phát âm của người Tây phương cũng khác ta, nhiều cười dồn cợt trêu, nóng nảy mặc dầu sống trong gió lạnh tuyết nhiều…

Chuông các miếu nhỏ, am côi đất Huế, nào nơi “Thiên quang vương mẫu” sơn báo hậu”, nào “Diệu Võ huân cao”, nào… nay đã phá hủy rất nhiều, thật là đáng tiếc. Năm trước, cách nay không lâu, tôi có dịp và được lịnh đưa đại đức Narada xứ Tích Lan (Ấn Độ), xuống viếng chùa Vĩnh Tràng, tỉnh Mỹ Tho, nơi cổ tự này, thấy một chuông đồng khá cao, cỡ chín tấc Tây, nhưng bề ngang không tương xứng, nếu có người từng quả quyết rằng ngày xưa chúa Nguyễn Ánh đã trốn núp trong một cái chuông trong chùa này và có nghĩa quân Tây Sơn lùng kiếm để bắt chúa mà không thấy, theo tôi, tôi không trả lời cải chính làm gì và bề trong tôi vẫn không tin chúa trốn núp trong quả chuông nầy được, vì chúa dù vóc người nhỏ thó đến đâu, cũng không thể ẩn mình trong một chuông hình thức như vầy được, và tưởng không cần suy luận cái nhau chi nhiều và cứ hiểu có lẽ, nếu tích chúa trốn trong chuông là có thật thì theo tôi, chuông cổ tích kia đã bị đánh tráo từ lâu rồi.

Một điển tích khác lại nói rằng nơi chùa Phụng Sơn tự, tức chùa Gò hiện thuộc quận 11 ở Phú Lâm (Thành phố Hồ Chí Minh), tại đây tương truyền ngày xưa có đào được một chuông đồng cổ của người Cao Miên, tôi cũng cho rằng điển ấy là sai, nếu không nói là bịa, vì tục người Kơ-me (khmer), Cao Miên, thờ Phật, họ không bao giờ dùng chuông và họ vẫn không dùng trống lớn nơi chùa, thay thế cho chuông và nên nói luôn nơi đây, cái tin đồn người phong cùi, phong hủi, phải đánh chuông nhỏ để dân biết và tránh đường, tích ấy có lẽ xảy ra họa chăng bên Trung Quốc và ở nơi đây, chỉ thấy chị bán cà rèm cây và các chú bán nước đá bào và bánh riêng của họ mà thôi.

Không chút nào vạch lá tìm sâu, nhơn đọc một “Tuồng hát” xuất bản ngoài kia, đoạn kể về tuồng “Tiên Bửu và lão trượng”, tôi thấy viết một câu, tôi chép y lại đây là “Già thời già mặt gọi già, cũng như cao lửa, đỏ da non lòng”. Theo tôi, có lẽ người chép sách ấy, chưa từng thấy trái cau đỏ ở đây, và cứ đinh ninh đối chỉnh “cao lửa” là đúng, đối với “lòng son” là khó chối cãi, nhưng xin mách trong Nam này vẫn có một giống cau, ngoài da vẫn màu đỏ tươi, mặc dầu lúc hái, trái còn non, thì da vẫn hồng hồng và “đỏ da non lòng” phải viết lại: cau chớ không phải cao đâu.

Ngày 29 tháng bảy âm lịch năm Tân Mùi, (16-9-1991) Nhà thơ HÀN  MẶC có bài cảm khái “Dự lễ quí tế Tả Quân” như sau:

Xướng:

Chồng, vợ dự chung giỗ Tả Quân,

Lễ nghi sùng kính bậc Công thần,

Ba hồi trống giục vang ngoài cổng,

Chín chập chiêng ngân dội trước sân,

Thiện chí phần hương dâng tửu, quả,

Thành tâm đánh lễ, chính y; cân;

Hằng năm qui tế trang khai quốc,

Cổ tục bảo tồn, cựu phối tân.

Hàn Mặc (16-9-1991)

Phụ họa y vận

Lệ đáo thường niên giỗ Tả Quân,

Cầu an tháng báy, tạ tôn thần;

Oai linh tọa trấn che tòa bố,

Hiển ứng tâm thành chật nứt sân;

Trong có lễ sanh, chầu hát cúng,

Ngoài đầy khăn áo rực y cân;

Trãi bao ký độ theo chiều gió

Đồ sộ hiên ngang hựu nhật tân

Ngày Trung thu (22/9/1991)

Lão sanh V.H.S.

Lệ đáo kỳ yên miếu Tả Quân,

Ngày cùng tháng Bảy giỗ linh thần.

Đức oai vang khắp che tòa bố,

Hiển ứng đồn xa rợp bóng sân.

Trong có lễ sanh, chẩu hát bội,

Ngoài nửy khăn áo xứng y cân.

Một tòa đồ sộ không hề hấn,

Qua lượt phong ba, hựu nhật tân.

Ngày 3-10-1991 (26-8 â.l.)

Đúng là lỡ khóc lỡ cười. Cũng tưởng được đi học thêm cho biết với người ta, mong sẽ thi thố những gì nghe thấy, khi mở niên khóa nơi trường Đại học Văn khoa ở Sài Gòn, thì chức giảng sư ăn tiền giờ của tôi cũng mất luôn, chén cơm hằng bữa cũng có người thay thế và có người sẽ hỏi, tôi mà dạy giống gì và tôi vội xin thưa, dạy “tiếng nói miền Nam”, môn này tuy vậy tôi cũng thạo kha khá. Nhưng cũng còn may cho tôi là khoa giảng ở trường Huế, tôi vẫn còn nắm giữ và liên tiếp tôi cũng kiếm ăn kéo dài nhiều kỳ nữa mãi cho đến năm Mậu Thân (1969 gì đó”), tôi tự đánh hơi và tự xin rút lui về nhà từ đây.

1 Năm 1968 là năm Mậu Thân (NXB). (214)

Nhắc lại năm Giáp Thìn (1965), tôi được 63 tuổi, vẫn còn là tuổi “thanh niên sồn sồn”, gọi “thanh niên râu”! Vào tháng 6 dương lịch, tôi ra Huế, tôi làm quen tại nhà cụ Ẩm Tư (Lưu Đình Tiến), với một bác sĩ y khoa, có phòng mạch ở đường Gia Hội và ngày chủ nhật, 6-6-1963, tôi được bác sĩ lấy xe nhà cho tôi dạo mát vùng ngoại ô đất Thần kinh, đất các vua nhà Nguyễn Phúc, bổng đến một nơi gọi chùa Từ Hiếu, cũng gọi chùa Vạn Phước, thoạt tôi thấy ngôi mộ của ông Phạm Quỳnh, với hàng chữ nho vỏn vẹn:

“Nam Phong Chủ Bút Thượng Chi Phạm Quỳnh di thế”.

Học giả Phạm Quỳnh là người từ biết đọc báo Nam Phong, tôi hằng tâm phục, nhưng đứng trước mộ ông, tôi thầm hỏi: “Ham mê làm chi thứ mũ cánh chuồn mong manh tóc kết, để đến nổi thân bại danh nhục, thì chung qui cũng chút hư danh “phù dung, diễm ảo”.

Tôi đang đứng trầm ngâm miên man, thì ông bác sĩ kéo tay đưa tôi vào trong chùa để xin yết kiến một bà vợ của một phế đế tên tắt tạm gọi T… T…- bà tụng kinh chiều vừa xong, quả tôi được thấy dung nhan một bà hậu vua cũ, quả phong kiều diểm lệ, tuy đồng tuổi sanh năm Dần, nhưng sao còn trẻ như sáu mươi, sáu ngoài là nhiều.

Rồi cũng một kỳ đó, bổng tôi thấy tại Viện Văn hóa Huế đô, hai bóng phụ nữ thướt tha trong hai chiếc nón bài thơ, cười cười nói nói, hai bà này bước ra khỏi Viện Văn hóa, tôi vội hỏi, mới biết đã gặp tiên sống mà mất cơ hội vái chào, hai bà ny là hai công chúa, cũng con vua T…T.., tiếc quá.

Rồi nói tắt đủ nghe, khi tôi tuổi vừa tròm trèm sáu ngoài bảy chục, ông bác sĩ Gia Hội lại cho tôi đến nhà, nơi đường Hàng Bè, nếu bắt từ Gia Hội nhắm về hướng cầu Đông Ba, thì nhà nây thuộc mé hữu, tôi nhớ mại mại trong nhà hay gần một nhà cùng xóm, có một hòn giả sơn gắn dính vào vách, thật là khéo và tôi chưa từng thấy, tiếng là xin được yết kiến, nhưng tôi cũng không quan tâm cho lắm, ngồi chờ đợi quá lâu, tôi vừa định xin ông bác sĩ cùng rút lui, thì thoạt như trong một giác chiêm bao hay giấc mơ mộng thấy tiên nga hiện hình, bỗng khói thơm xông vào mũi ngọt ngào, một lò hương trầm nghi ngút từ khuê phòng đưa ra và vài phút sau, trâm cài lượt giắt, như một cành mai, như một đóa hoa, không khác một bức tranh hay là một bóng tiên hiện ra, rón rén khoan thai, mặt như hoa hàm tiếu “nửa mùa”, cặp mắt như sao buổi sáng, mũi dọc dừa, đôi môi như quả tim vẽ khéo, khách đứng dậy, tần ngần chưa kịp chào thưa, thì bà đã ra dấu tiển khách ra về, ôi! uổng công xin yết kiến lâu lơ lâu hoắc, tiên hay phàm, tôi đến nay chưa hay chưa biết.

Tôi có tật ham nói dài dòng, làm chán độc giả, chớ mãi đến khi rời khỏi nhà ở đường Hàng Bè này, tôi chưa biết tiểu sử của bà ra sao, chỉ biết sơ sài, bà có mỹ danh là “Bà TÂN”, một cựu ái phi của vị vua cũ, nhưng cho hay, TÂN có khá nhiều Tân, trong Đại Nội có nhiều danh từ xưng gọi bí hiểm, tỷ như tại Huế này, cớ sao có quá nhiều chức tước, tôi hỏi lén bác sĩ Gia Hội, ông vẫn cười bí mật, rằng nào ông Phò là phò mã (rể vua), nào ông Hường (Hồng lô tự khanh), nào ông Mê (hoàng nam, con trai vua), chót nữa nào ông Khóa (từng dự thi tú tài, cử nhân), nào ông Nghè (mua chức Nghè hàm), cho nên con quan cũ thì xưng “Cậu ấm” và các bà của vua Ka-đê (có đến nào bà Tiếp (chức là Tiếp dư), nào bà Ân (sắc phong Ân phi), nào bà Tài Biểu, Tài Táo, v.v., còn Tân và Giai, có biết đến mấy bà và kể làm sao cho xiết.

Tôi xin chịu thua và học được qua loa bao nhiêu ấy, bỗng bốn năm năm sau ngày Giải phóng vô đây, độ lối 1980 gì đó, tôi đã trót 78 tuổi, bỗng nghe một bà bác sĩ mà tôi đã từng chỉ vài giờ về môn tìm hiểu đồ sứ cổ Huế (Pháp gọi “bleu de Huế”), bà này có nhà và phòng mạch ở xéo xéo nhà thương Bình Dân, (đường Phan Thanh Giản cũ), bà cho hay sắp mời một thân nhơn tên gọi “Bà Tần” đến nhà dùng bữa, tôi nghe làm vậy, và trực nhớ đến bà Tân Hàng Bè, cách mươi mấy năm nay, tôi bèn ngỏ ý cùng nữ bác sĩ, làm sao cho tôi được yết kiến với bà này để xem thay đổi ra sao. Lời yêu cầu của tôi được nữ bác sĩ chấp nhận và vào một chiều hôm nọ, tôi được mời làm khách, và khi tôi đến biệt xá, thì vẫn thấy bà khách mời đã ngồi sẵn nơi khách phòng, trong khi bà chủ gia, mắc bận lo nấu nướng trong bếp, vì nhà không kẻ ăn người ở.

Tôi cúi chào bà khách, nhưng lòng ngại ngại, không ắt gặp đây là bà Tân đường Hàng Bè năm trước, vì nhớ trong trí, bà Hàng Bè mảnh mai như liễu, còn bà khách ngồi đối diện đây, tuy dung nhan đài các phương phi khác thường, nhưng vẫn hồng hào, da hơi sậm, mặt xương, chắc da chắc thịt như cây tùng, cây bá… tôi cẩn thận và để cho khỏi lầm lạc, tôi e dè mở dầu câu chuyện như sau đây:

– Thưa bà, xin bà miễn thứ, tôi xin bà cho phép tôi được nghe vài mẩu chuyện cũ đất Huế, để chờ bà chủ gia được thong thả ránh tay…

– Không dám! Tôi xa cách Huế đã nhiều năm nay và tôi không nhớ mô để nói.

– Thưa bà, – tôi đột ngột hỏi dồn, bà lìa đất Huế làm chi và bà ra ngoài đất Bắc, sanh nhai thế nào?

– Thưa, khi tiên đế đã không còn, chúng tôi không nhà không cửa, ở Huế thế mô và tôi ra ngoài ấy, dạy đàn organ, dạy nữ công, đủ sống. Dạy nhạc đủ vui.

Cũng may, câu chuyện vừa đến đó, thì nữ bác sĩ tươi cười bước ra mời chúng tôi nhập tiệc. Phòng ăn vẫn nối tiếp phòng khám và vào bàn, vòn vẹn chỉ có ba người. Tôi vẫn một mực giữ trong khuôn ngoài phép, cứ dạ dạ, thưa thưa, để dò đường đất. Đã là dân gian người phàm, ngồi đây đối diện một bà bác sĩ tân khoa, một bà Đại Nội cựu trào, dám đâu sơ sót. Bữa cơm này còn hơn một bữa đi thi Đại học. Để cho bớt nhạt, tôi khởi đầu bằng một câu bâng quơ:

“Đêm qua rót đọi dầu đầy, bấc non chẳng cháy, oan mày, dầu ơi!”

– Đó là đọi dầu, – bà bác sĩ cười và tiếp. Còn “Một lời nói, một đọi máu” là khác nữa! Rồi day qua bà khách, tiếp:

“O có còn nhớ đọi trong đại nội chứ?

– Mô dám quên? Đọi có nhiều thứ lắm, thứ chấm hiệu “Nội Phủ” và thứ đời Kiền Long để lại, hiệu dưới đáy là hai con cá (Song Ngư, Double poisson), và trong lòng chấm chữ Thọ thật khéo, chung quanh là ba chim phụng cùng bay (tam phụng tề phí), đọi ấy là thứ dĩa, sâu giạu, để cho cháo nóng được mau nguội và sáng sớm nào lại chẳng húp một hai cháo lỏng đỡ lòng, tiếng là Đại Nội, mà nhớ lại khi được vào cung, ngày đầu được ban một ít áo xuyến, tưởng còn mỏng hơn thứ áo của con gái người tá điền trong Nam này khi có chồng đi cưới!

– Vậy chớ không phải, – tôi tiếp lời, hai bà tha cho, đọi vẫn không phải là chén hay bát hay sao? Lại còn tỷ như, xin hai bà dạy thêm, nếu ăn một đọi mà vẫn chưa no, thì mới làm sao?

– Đúng vậy, bà khách tiếp. Chén, bát, tô, dĩa, đều gọi là đọi được tất cả. Còn “ăn một đọi”, nếu còn bụng đói mà có người đỡ chén bới thêm thì cứ kể “một đọi” và khi nào tự mình đứng dậy đi bới lấy thì phải kể hai hay ba… tùy.. và người ăn khỏe, có thể khoe “ăn một đọi rưỡi” hay là “hơn”!

Vừa đến đây, bỗng bà chủ nhà, phát ra một câu tiếng Tây gọn lỏn; xanh dờn:

– Elles sont, toutes vierres? (Tôi tạm dịch: Họ, cả thảy, đều trinh trắng!)

– Mon Dieu! Dieu seul le sait! Tôi lỡ lời, bụm không kịp

“Lạy Chúa? Chỉ có Chúa biết được mà thôi!”

Bà khách hơi thẹn, tự bào chữa:

– Lấy được ông chồng làm vua, nói mà nghe, tỷ như đánh số, may sanh được một hoàng nam, thì cả nhà vinh quang nào bằng… Nhưng thưa ông S… chúng tôi nói gì, tôi thấy ông cũng ghi ghi, chép chép, ông lại rất thích thơ, đây tôi có một bài tám câu vừa làm khi đi hầu phường trên Gò Vấp, để tôi đọc cho ông chép:

Thơ rằng.

Cứ sống cho vui, có việc gì?

Sông dư trăm tuổi, cũng “Ừ” đi!

Không duyên, không kiếp, không gì hết!

Lắm bạc, lắm tiền, lắm dễ khi!

Ép chuối, phơi cau, vui thú lạ;

Nài phường, xin quận, có hề chi?

Tự do, Độc lập, còn gì quí?

Nô lệ ngày xua, đâu thế ni?

Ngâm xong, bà với tay bẻ hai trái chuối, xơi ngon lành, tự nhiên, lại vói lấy một cây thập lục treo trên vách, bà ngồi sửa dây và thong thả đàn một bài: “Nước non ngàn dặm ra đi…”. Mặc dầu đêm đã muộn, bà nán lại đính chính cho tôi biết: Bà ở Hàng Bè, tuy cũng cùng tên “Tân” nhưng vẫn là “Đệ ngũ giai phi”, còn chính bà đây tên “Tân Du” vẫn là Đệ nhị giai phi”. Bà “Đệ Ngũ”, hiện tôi không rõ còn hay thế nào, tôi được biết bà Tân Du, thì đã nằm yên đất ẩm hay đã hỏa táng, hồn bà đã bay theo tiên đế hay đã tiêu dao lạc cảnh, – thơ của bà, tôi xin nhường cho độc giả chiêm nghiệm và vọc vạch nhớ một câu hát cũ trong tuồng

Phụng Nghi Đình, tôi xin chép lại đây, ít người biết. Đào Điêu Thuyền từ trong buồng bước ra, khoát màn, ngâm bốn câu hát như vầy:

“Ai a!

Hường nhan! Hường nhan a!

Chỉ hận thuyền quyên bắt xuất môn!

Nhứt sanh trung ngới hướng thùy ngôn!

Sầu mì ám tả quân vương hận,

Thiết sỉ thiên thu xã tắc luân!

Thưa, tôi sức học đâu chưa tới đâu, nên không dám phê bình thơ của bà, hai chữ “sầu mi” tôi cũng còn ngờ, duy để kết thúc bài này, tôi xin viết: Gẫm lại xưa như nay, đàn bà có nhan sắc, sang hay hèn, đều là ngoạn phẩm, đồ chơi, dù cho bị đi cống Hồ, Hán Chiêu Quân, Đường Hạnh Nguồn,

Lục Vân Tiên có nàng Nguyệt Nga, Tỳ bà hành có vợ khách buôn, ngày nay dù có Mụ Nhu hay con chiêu đãi cao cờ, nữ sinh Đại học chờ thi đậu và vinh qui xuất giá, hay con nhà nghèo, vì thiếu cơm nên phải ngồi xe ôm, bán cà phê hay đứng gốc cây chờ khách, thảy đều như hạt mưa sa, hạt vào đài các hạt sa giếng sầu, chung qui thảy đều trong cảnh phù dung ảo mộng.

Hai ngày 14 và 15 Déc. 1991. V.H.S.

Tái bút.

Đến hôm nay thì bà Tần Du (đệ nhị giai phi đã ra người thiên cổ, duy có bà bác sĩ Thanh, hiện đã yên vui sum họp gia đình ở đất mới Gia Nã Đại, xin chúc bà Hạnh phúc, Bình an. Về hai chữ “sầu mi” phải chăng là “sầu ni” giọng Huế.

Viết ngày 14/12/1991

Phù dung ảo mộng.

“Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng, màn loan chiếu phụng, không chồng cũng hư”!

“Một ngày dựa được thuyền rồng, còn hơn một kiếp nằm trong thuyền chài”.

Nhưng tuy vẫn nằm thuyền chài, nhưng hạnh phúc tràn trề, còn hơn lắm ai, hoa thải ong thừa, phòng không vắng bạn, thiếu thứ bóng mặt trời rọi ẩm.

Ngày xưa vua là bậc chí tôn, như thần như thánh, già cúp cũng mặc, lấy được chồng vua là sang, vua xưa là một gạch thiêng liêng nối liền ba mối: chữ là Thiên, Địa, Nhân, nôm na là ba giềng: Trời, Đất và Con người. Nhưng từ phương Tây nhiễm qua, lây tư tưởng khoa học, ông vua đã mất địa vị là thần là thánh, tuột xuống vẫn là người như ai, nhứt là như vua gần đây xứ mình, vua ăn lương do chánh phủ đô hộ Pháp cung cấp, còn gì thể thống.

• Hôm nay tôi xin kể lại đây, đăng vào tạp chí mỏng Bách khoa Văn học đầu năm Nhâm Thân 1992, vài mẩu chuyện cũ xì, nhưng có thật, duy mỗi người nghe biết một cách khác.

Quả trên đời, không có gì là vĩnh viễn, thấy đó rồi mất đó. Tôi nào dám tự khoai vò minh củ, chút diểm phúc nhớ lại, cứ tự tiện ba ngày xuân mới, chép lại nghe chơi:

Như vào năm 1963 (Nhâm Dần) mới đây đã gần ba mươi năm mau quá, thinh khổng thinh không, tôi được chánh phủ Pháp mời qua viếng gọi là cho có dịp học bổ túc khoa bảo tàng (bảo quản cổ vật sưu tầm), trong hai tháng, tháng 5 và tháng 6, xuân hòa đầm ấm, cho vé máy bay khứ hồi, vừa cho thêm tiền dằn túi, ba ngàn quan nặng (3.000 Fr.) sướng quá và chu đáo quá.

Một diễm phúc thứ hai là cũng năm 1963 ấy, vào tháng 10 dương lịch, tôi lại được chánh phủ Đài Loan, nhơn ông cố Phó Tổng thống Trần Thành, sang đây, đến viếng viện bảo tầng trong vườn thảo cầm rồi mời tôi qua đó cho biết chút nào là “bác vật quán Đài Bắc” và dịp may thứ ba là viện Foundation Rockfeller lại ban cấp vé sang đất Hoa Anh Đào một tuần nhựt, để rồi nhơn chuyến từ Đông Kinh trở về xứ, tôi lại được cùng đáp trên một tàu hàng không khổng lồ, cùng một chuyến với đại tướng Lê Văn Tỵ. Nhơn dịp có một không hai ấy, tôi mới biết và thầm kính phục ông tướng tuổi “Tỵ” xuất thân là một “chó sói” đồng tử quân

“Bồi Xi Cút” (boy-scout) của trào Tây thuở ấy. Ông hiền hậu và khiêm tốn ra mặt, có mấy thuở tôi đi vé hạng nhứt và ông thiếu người đồng hành để đàm đạo, nên đã sai tùy viên quan qua mời tôi sang ngồi cùng phòng, được thưởng thức một bữa ăn đặc biệt trên tàu bay và khi tàu hạ cánh cảng Hồng Kông, tôi xin phép xuống mua một chai rượu Anh quốc, miễn phí đoan, ông tướng mỉm cười và hứa khi về đến Sài Gòn, ông sẽ biếu một chai Whisky, của dư, vì ông đang mắc bịnh và không dùng rượu mạnh được nữa. Quả, “Phước không nên đến đôi ba lần” (Phúc bất trùng lai), cũng năm 1963 ấy, vừa về đến xứ, thì ông Diệm đã bị lật nhào, cũng vừa khiến bản giao kèo của tôi hết hạn, Bộ Giáo dục không tái lưu dụng tôi nữa, mà tôi cũng không nao núng, vẫn tỉnh phờ, mặc dầu tôi có thể xin tái tuyển được nữa ông Nguyễn Ngọc Thơ, vẫn không xa lạ, cùng bạn đi thi chức Huyện năm xưa, (ông đậu tôi rớt) và nhứt là với đại tướng Dương Văn Minh, tôi vẫn được gọi là “chú”, vừa bạn đồng liêu với Dương Văn Mao, là thân phụ ông Minh, vừa mới đây vẫn còn làm việc chung một bàn, tôi coi về công văn nơi soái phủ Nam kỳ và ông Minh, vẫn coi về công văn từ các tỉnh gởi lên, và mỗi tuần nhựt Minh vẫn “coi tiệm” cho tôi lén nhảy dù đi xem phim chớp khi rạp Eden khi rạp Casino, ai nào biết?

Xuân Tân Mùi (1991), thơ mừng Vương lão sư V.H.S. hưởng thượng thọ.

Người ta sáu chục đã tra,

Vương ông thượng thọ vẫn là đương xuân;

Ưa mòn mắt ngồi trông con gái,

Thân chứa chồn, sức ngại ngùng chi?

Nhớ xưa ở chốn cung vi,

Nào TÀI, nào TIẾP, nào PHI mấy bà,

Nay chánh thất cũng đà quá vãng,

Chí tang bồng, cụ ruổi cùng ai?

Thức khuya mới biết đêm dài,

Nâng khăn sửa túi, cậy ai giúp mình?

Thi có đủ, cái tình e thiếu,

Cháu con đâu có hiểu cho mình

Ông già tóc bạc mắt xanh

Vẫn yêu như thưở sóng tình đang dâng

Trăm năm trong cõi hồng trần

Cao Sơn

Tiệc khao bước qua 91 tuổi, ngày 27 tháng 9 âm lịch Tân mùi (2 décembre 1991) Năm 1991, định không ăn khao Thượng thọ 91, một bạn thân, anh Khai Trí Nguyễn Hùng Trương, đã sang Mỹ quốc, vả lại nhà đơn chiếc, nhưng bạn nhỏ Cao Sơn đem về nhà đãi, nhờ vậy làm quen được hai bạn mới, là ông bố vợ của chủ gia và một hoàng thân đất Thần kinh là cụ Ưng Lang. Cao Sơn sau đó gới tám câu Đường luật:

Kính mừng Văn Đường lão sư “Thượng thượng thọ”:

Tiệc Thọ năm nay vắng mấy người,

Vui mừng gặp gỡ Cụ còn tươi;

Tuyết sương thắm đượm màu râu tóc,

Phiền nảo nhạt phai giọng nói cười,

Sa Đéc mơ mừng tình gới gió,

Văn Đường quạnh vắng bóng trêu ngươi;

Ơn trời cho hưởng tròn mười ký,

Chép dể ngàn thu chuyện đổi dời.

Tuy đã hết thích làm thi, cũng phải nối điêu, và phụng

Họa y vận:

Chín mốt năm Mùi vắng bộn người

Phùng Xuân khô mộc vẫn xanh tươi

Sá chỉ mưa gió sương và tóc,

Bao quản trần ai khóc với cười.

Đối hộ môn đăng, đăng trước gió,

Cách liêm hoa ảnh, ảnh trong ngươi.

Tiếng đâu lãnh lót? Chào ông Noên (Noel),

Vừa thấy đồng chinh, bóng lại dời!

V.H.S

Đầu xuân Nhâm Thân (1992), báo bán Tết nhiều như nấm đầu mùa mưa, thấy trong tờ Thời Nay nơi trương 105, ba bài luật Đường của ba bạn quen là:

1. Còn sống còn vui

Riêng tớ nay ngoài sáu chục xuân,

Ba chìm bảy nổi đã bao lần

Văn chương nặng nghiệp còn đeo đuổi

Danh lợi phù du mãi dững dưng

Tóc trắng há quên người tri kỷ

Mắt mờ chưa đứt chuyện nghĩa nhân

Cuộc đời có lắm trò dâu bể

Còn sống còn vui đến thập tuần.

Minh Quân

2. Thập tuần

Thắng canh tâm sự1 sáu mươi xuân

Gió núi2 vần xoay cũng lắm lần

Hoạn nạn tìm đâu ra quyến thuộc

Tiệc mừng chỉ thấy rặt người dưng

Vạc dầu nào gặp ai tri kỷ

Mòn mắt chưa hề được nghĩa nhân

Quẳng gánh lo đi vui cuộc sống

Chúc anh còn thọ đến thập tuần.

Lê Phương Chi

1.Tựa đề một bài thơ của Phong Sơn

2. Phong Sơn nghĩa là gió núi

3. Sáu mươi, nhưng dáng vẫn còn xuân

Xuống ngựa lên voi biết mấy lần

Mỹ nữ hẹn hò ha há hả

Tử thần dọ dẫm dững dừng dưng

Với trò, đúng mực nhờ mô phạm

Cùng vợ, ra tuồng bậc triết nhân

Xa chuyện bể dâu, gần đáo tế

Mừng anh xin chuốc rượu ba tuần.

4. Tôi vốn thơ như cơm nếp nát, nhưng ngứa ngáy, cũng nối vần ba bạn trên đây, gọi chúc mừng muộn Năm Mới, và hòa lại như vầy:

Tân Mùi thượng thượng chín mươi xuân,

Nhiều tuổi nhục nhiều, bộn bộn lần.

Việc nước, Đảng lo, Dân đỡ nhọc,

Việc nhà, ai nấy thảy dừng dưng.

Thơ giòn, cười lớn, thơ bà Phụng

Văn khéo, ngâm chơi, văn chị Quân

Hạnh ngộ tao phùng, thập niên hậu

Trường sanh bá tuế, kỷ hà tuần?

                    Vương Hồng Sển Mars 1992

Cuối năm Tân Mùi (1991), tổng luận (viết ngày 22-12-1991)

Năm Mùi sắp dứt, Tết Nhâm Thân đã lố dạng, vừa rồi, đêm 21 décembre, khi thức giấc, bỗng thấy nơi kệ treo vách chứa bộ môn “bình vôi”, thấy trống nhiều chỗ, nhìn kỹ lại, tõ ràng đã mất trộm thêm một mớ bình vôi còn sót do kẻ trộm bó lại và nay đã biến mất, chỉ trơ trẽn lơ thơ tám bình vôi đất mà kẻ lấy cắp có lẽ cho là vô giá trị, nên chừa lại và rất may trong số bỏ lại ấy vẫn còn một bình vôi đời Tổng (bạch định, rất quí) và một bình vôi sứ, vế “sen le” đời Tự Đức, thôi thì tự an ủi, và ngụ ý viết ra bài này:

“Tôi bị người nuôi trong nhà, lấy trộm một mớ đồ cổ ngoạn”, tôi đã buồn rầu kiểm kê tài sản rồi cũng bỏ xuôi cho êm chuyện, nào ngờ nay lại thấy nhà giữ kỹ, cửa nẻo không sơ hở, thế mà một số đồ vật sưu tầm, tự nhiên thấy mất đi một mớ nữa, gần sạch tủ, chỉ còn sót vỏn vẹn tám món tầm thường, tôi thêm buồn, lấy sách ra đọc, bỗng gặp bài này, tôi chép y nguyên văn:

“Ngụ đời (đây là cái tít (titre) tôi chọn, chớ trong sách viết:

Nghĩa vui:

Con người ta ở đời, hãy trải lòng trãi dạ ra mà ở cho rộng rãi cái tánh ý mình, lòng dạ mình được mấy năm (bao lâu), hay mấy năm (bấy lâu) mà thôi; chớ sự sống sự chết không chừng, mình thường thấy trước con mắt mình, cứ tùy theo phận mình cao thì ở cao, tùy theo phận mình thấp thì ở thấp, tùy theo duyên mình tốt xấu mà ở theo cho qua ngày tháng; còn như việc hơn việc thua, hay giỏi thì chớ có tích lòng oán hờn làm chi; mình có mình không cũng đừng có than van nan trách làm chi; là sự được giàu mắc nghèo hết thảy là ở tại nơi trời định; cho nên buổi thường mình sống ở đời, mình phải ăn phải mặc phải ở theo cái duyên phận trời cho mình, thì được yên lòng yên trí luôn; hể thong thả được một ngày, ấy là tiên một ngày đó.

Trương Minh Ký diễn thơ ấy ra Nôm như sau này:

“Rộng tánh rộng lòng trãi ít năm,

Người còn người mắt mắt xem nhàm;

Theo cao theo thấp theo duyên gặp,

Hoặc dở (vắn), hoặc hay (dài), chớ giận thầm,

Mình có mình không đừng trách móc,

Nhà giàu nhà khó tại trời làm;

Ở đời ăn mặc theo thời vậy,

Một bữa rãnh rang bữa khỏi phàm.

Đô là những gì tôi đọc nơi trang 12 tập số 1, tháng 5 dương lịch 1889 của bộ “Sự loại thông khảo (Miscellanées của Trương Vĩnh Ký – lòng chưa thóa mãn, tôi lật sách tiếp và đọc:

“An phận tùy duyên là hơn”.

Con người ta ở đời bậc nào bậc nấy cũng như nhau, chỉ có cái ngắn nó khác nhau, tùy phận tùy duyên. Mà “kỳ chí giả nhứt dã”. Biết mà xử thế thì là giỏi, tri mạng mớ xông đời, thì là tài. Cứ theo “tố” mà làm thì là xong xuôi cả; đã yên lòng mình thì chớ, lại thuận mạng trời. Cho nên cả đời an nhàn vui vẻ thong thả khói lúng túng trí khôn, khỏi mệt nhọc thân thể. Vì vậy: “gia đương thủ phận tùy duyên quá, tiện thị tiêu diêu tự tại tiên”.

Giàu ngày ba bữa, khó ba chiều,

An phận là hơn hết mọi điều;

Khát uống trà mai, hơi ngác ngác,

Nực kề hiên trước gió hiu hiu;

Giang sơn tám bức là tranh vẽ,

Hoa thảo bốn mùa, ấy gấm thêu;

Đỏng đảnh khuya nằm và sớm thức,

Khác chi dân của thuở Đường Nghiêu.

Hôm mai gió thổi hiu hiu,

Có hoa là bức gấm thêu nên đồ;

Thanh u sẵn cảnh bốn mùa,

Lựa là cứ chốn giang hồ mới vui?

Cánh ưa lâu cũng quen mùi,

Bên song hóng mát ngỡ người Bào thi;

Hẹp hòi nào sá quản chi,

Phen thì dặm liễu phen thì ngàn mai.

(Trên đây là trích trong 4 tập sự loại thông khảo số 4 tháng 8 năm 1889)

Lòng vẫn còn ấm ức bèn lấy “Chuyện giải buồn” bản in lần thứ 5 của Huỳnh Tịnh Của in năm 1911. Đã trót trăm năm gặp chuyện như dưới đây, nguyên văn:

Có một người giàu có lớn, mà hà tiện cũng lớn, cứ bo bo giữ của không chịu làm phước cho ai. Có một tên ăn mày tới xin, quyết một nén vàng, người nhà giàu phát giận, nói giá ăn mày dám xin tới vàng nén, biểu đày tớ đuổi đi. Tên ăn mày la lết không chịu đi, cứ việc ở trước nhà mà xin mãi. Trong nhà không ai thèm nói tới, tên ăn mày sớm đi xin nơi chỗ khác, trưa lại lộn về ở tại nhà giàu mà nói hoài cho đặng nén vàng. Nó làm như vậy đã đúng ba năm, người nhà giàu thấy nó có công gắng vó, cũng nới lòng mà chịu cho. Tên ăn mày được nén vàng, thì làm bộ nhảy nhót mừng rỡ bội phần, liền cởi áo gói lại mà đi. Khi tên ăn mày đi ra một đổi, thì người nhà giàu sai một đứa đày tớ theo rình coi lão ăn mày đem nén vàng đi đâu, cùng làm chuyện gì với nén vàng. Tên đày tớ đi theo xa xa, thấy lão ăn mày đi thẳng ra ngoài đồng, tới chỗ bóng mát ngồi xuống mở áo lấy nén vàng dồi lên dồi xuống mà giỡn chơi, coi ra ý mừng rỡ lắm. Cách một hồi lão ấy buồn ngủ, nằm chèo queo, nén vàng chỉ để trần một bên chỗ ngủ. Đứa đày tớ nom đặng, chờ lão ăn mày ngủ mòn, lén lại lấy nén vàng đem về cho chủ, chủ mừng còn nén vàng, liền đem đi cất. Lão ăn mày thức dậy, thấy mất nén vàng không thèm tìm kiếm, xăm xăm trở lại nhà giàu mà xin nén khác. Ông nhà giàu nói: “Mới cho một nén, làm gì hết đi, mà còn xin nữa?” Lão ăn mày nói: “Tôi vừa nhắm mắt, nó liền mất đi, nên phải xin ông nén khác”.

Ông nhà giàu nghe nói, dường như ai soi sáng tấm lòng liền hiểu sự đời, hễ con người ta nhắm mắt rồi, thì chẳng còn cửa cải sự nghiệp gì nữa, mới khấn nguyền xin tặng của cải mà làm phước với thiên hạ, sau nghĩ lại, mới biết người ăn mày ấy là tiên.

(Trang 5 và 6 “Chuyện giái buồn” của Huỳnh Tịnh Của).

Lời bàn.

Người đời nay bàn chuyện đời xưa, tôi cho là thừa. Kẻ sanh sau, đọc lại sách cũ, giỏi chi mà bàn. Tuy vậy, để giải nỗi lòng, cũng xin có mấy lời mạn luận. Phàm đọc sách, phải có trí đủ để chiêm nghiệm:

Trên đây, với mấy chuyện chép lại, một bài là “Nghĩa vui”, đó là lời một trí thức, già kinh nghiệm, hại ông Trương Vĩnh Ký và Trương Minh Ký đem ý mình diễn ra văn và thơ kế đến bài về “An phận tùy duyên”, hai ông họ Trương, sống vào đời ly loạn, binh Tây ỷ mạnh qua chiếm đất, đánh thì không lại, ép phải chung sống và minh triết bảo thân, hai ông giữ được tiếng thơm, đáng làm gương thiên hạ, qua bài thứ 3, đọc văn ông Huỳnh Tịnh Của, chuyện “Ăn mày xin vàng nén”, không phải ngẫu nhiên mà quả do sự linh cảm sáng suốt mà gặp, “người nhà giàu dư vàng” có phải tôi chăng? Tôi mất cổ ngoạn thì tiếc thì than van, xin hỏi từ Chúa Trịnh sắm của quí, qua Bằng quận công cắp vàng nén làm chìm nơi bãi biển, vua Quang Trung được

“hóa phẩm” anh em xích mích, vua Gia Long nhờ tuổi trẻ, được hưởng, nhưng chung quy nhà Nguyễn Phước chưa tới hai trăm năm rồi của cũng tứ tán, mình là con nhà tay lấm chưn bùn, tích trữ bấy lâu chưa phí hay sao, có câu “của Tào trả lại Âm ty”, thanh dạ văn chung phải nhớ. Đọc “Tam Quốc Chí”, hồi thứ 57, bản dịch Phan Kế Bính, năm 1908 văn ngót trăm năm, khi hồn Quan Thánh đòi đầu, sư Phổ Tịnh hỏi: “Vậy chớ đầu Lương, Xử, Hoa Hùng, sáu tướng nơi năm cửa ải, ai đòi, ai trả?!?”, đọc qua “Tây Du Ký”, bản dịch trong Nam, chí đến video nhại đi nhại lại, bốn thầy trò muốn sang sông qua cõi Tây phương, gặp con qui, độ đường, qui vì chứa châu ngọc nhiều nên chưa thành công, khuyên giải mở châu báu ắt mau thành, ngày nay triết lý nhà tu đất Ấn, khuyên vua chúa các vương muốn tu cho có kết quả, khuyên phải biết phép “Xả thân cầu đạo” nhưng một vài ông lãnh chúa Ấn, lại hiểu “đân chúng phải nạp trên giá cân số châu ngọc y số nặng của xác mình”, làm sao cho thành vì muốn thành mà còn lợi dụng một ông cân bảy tám chục ký, của dân mồ hôi xót mắt từ ly từ phân, làm sao cho đủ, nói thêm nữa là thừa. (Viết trên máy không cần bản nháp, ngày chủ nhựt 22-12-1991).

Lâng lâng không làm phước được mà cũng không buồn tiếc của đã mất.

V.H.S.

Việc cũ chưa quên (tuy tuổi đã 90, nhưng chưa lẩm cẩm chưa dở người) 1. Đắt Bắc chuyên nói tắt và có bốn danh từ để gọi bốn địa danh gọi “Tứ danh hương”:

Mo, làng Đại Mỗ

La, La Khê

Canh. Phương Canh

Cót, An Quyết (Cót)

2. Nguyễn Văn Thụ, bố vợ của Huỳnh Văn Tiếng, 4 giờ chiều đi xe đạp, đem một gói trà Hà Nội đến gọi “mừng tuổi 80” và khoe vừa ở Hà Nội vẻ đầy và đã tìm được: 1 quyển “Phong lưu cũ mới” mới toanh, chưa rọc bìa, trước là của mình viết tặng Cổ Trung Ngươn đề số 97 (VHS); 1 quyển “Năm mươi năm mê hát”; 1 cuốn “Sổ tay của người chơi cổ ngoạn” (vì trong cuốn nảy, có câu ghi nơi trang 274 “27-9 là sinh nhật”, nên nay hiết mà đến…

No. V Thu cho hay những hộp cẩm lai chạm chữ NAM PHONG, trước do thợ Hòe làm dể đựng bộ NP bán cho C.T.N. hiện các hộp ấy bị bỏ rơi và nằm tại trụ sở Alliance Française và định cho rằng đồ vật của C.T.N, toàn chở qua Pháp, có thế còn sót bò lại nơi COPIAVINA nhiều lắm. Kỷ niệm xa xưa, các chủ cũ, chủ tỉnh và ân nhân.

1) Cher Monsicur Sen,

Mes vifs remerciements pour votre aimable lettre, auxquels je forme, avec mes meilleues souvenirs, mes voeux bien sincères pour vous et tous les vôtres.

Emmanuel Rosel

Mécanicien Inspecteus de 2è classe de la Marine Militaire

Directeur de l’Ecole des Mécaniciens Asiatiques

Tôi đầu quân năm 1923 nơi đây và phục vụ Trường Máy này từ 1923 đến 1928.

2) Francois Bartoli

Administrateus Chen de la province de So-Déc (1926)

Remerciements Meilleus voeux

Maurice EQuivillon

Chủ tinh Sa Déc thay thế ông F. Bartoli, sau là Thanh tra Lao động.

Vous remercie des voeux que vous lui adressez et vous prie d’accepter les siens avec son bien cordial souvenir,

Saigon i-i-37.

Louis Le Strat

Chủ tỉnh Sa Đéc thay ông Esquillon, sau làm Đổng lý Văn phòng, Directeur dcs Bureaux du Gouvernement dc la Cochinchine.

Remerciements Meilleurs voeux.

Louis Charles Damais

Nhân viên trường Viễn Đông Bác Cổ, chuyên về Mã Lai ngữ Meilleurs voeux à l’occasion de la nouvelle Année Tân Mão

Madame Ch. Chanut, sau tái giá là Mme Bruel, Mẹ đỡ đầu của V.H. Bảo (năm 1951)

Avec les voeux affectueux de sa marraine et ses voeux

Monsieur Jacques Garnier et Madame née Geneviève

Camilleapp laissent à Denys Thierry et Patrice, la joie d’annoncer la naissance de DIANE, le ler septembre 1960 69 rue de la Paroisse, Versailles.

Nhân viên hãng buôn Denis Frères, Sài Gòn, quen thân Bùi Văn Khá (thông ngôn Tam pháp ty Sài Gòn) nuôi và làm chủ hôn cho tôi cưới cô Dương Thị Tuyết

Đổi về tòa án Rạch Giá, gởi câu “Remerciements,

Meilleurs voeux Bon souvenir

Phạm Văn Lầm, dạy nơi trường Máy, nuôi không nhận tiền:

Đại sứ Anh quốc Mrs Donaild Read Heath phu nhơn, viết nguyên văn: Cher M. Sen, “Merci encore une fois pour le grand plaisir vous m’avez donner l’autre jour en me montrant votre maison charmante. Je suis en train de partir la semaine prochaine pour conger dans mon pays, mais quand je serai de retour, je me permettrai d’amener mon mari et des autres amis, Cordialement Louise Heath Saigon le 2 Mars.

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 15 Nov 2025

Bài 34

Cuộc nổi loạn ở đảo Sant-Joseph

Tình hình trên các đảo cực kỳ nguy hiểm do cảm giác tự do giả tạo mà đám tù nhân được hưởng. Tôi buồn khi thấy mọi người đều thu xếp cảnh sinh hoạt để sống cho thật an nhàn. Người thì đợi ngày mãn hạn tù, kẻ thì chẳng làm gì, chỉ ngập ngụa trong những thói hư tật xấu của mình. 
Đêm đó, tôi nằm dài trên võng, phía cuối phòng có một sòng bạc lớn đến nỗi cả hai bạn tôi, Carbonieri và Grandet, phải cùng điều khiển mới nổi. Một người trông không xuể. Tôi thì đang ôn lại những hồi ức của dĩ vãng. Những kỷ niệm ấy không chịu đến với tôi: cứ như thể chưa hề bao giờ có cái phiên tòa đại hình ấy. Tôi cố hết sức làm cho sáng tỏ những hình ảnh mơ hồ của cái ngày tiền định nọ, nhưng vẫn không thấy rõ nét một nhân vật nào. Chỉ có viên chưởng lý hiện ra với tất cả sự thật tàn nhẫn. Tiên sư đời. Tôi tưởng đã hoàn toàn thắng được số kiếp khi tôi đến Trinidad, ở với gia đình Bowen. Mi đã yểm bùa gì cho ta để đến nỗi sáu chuyến vượt ngục rồi mà ta vẫn chưa được tự do, hỡi quân đểu cáng? Qua chuyến thứ nhất, khi nhận được tin tức của ta do phạm nhân kể lại, mi có ngủ yên được không? Ta muốn biết, mi có sợ không hay mi chỉ bực tức vì thấy con mồi của mi đã sổng chuồng sau 43 ngày đi trên đường đến cái nơi thối nát mà mi đày ta đến? Tôi đã phá được cái lồng. Nghiệp chướng nào đã đeo đuổi tôi để tôi phải trở về nhà tù này mười một tháng sau? Có thể Trời đã trừng phạt tôi vì đã dám khinh thường cuộc sống nguyên thủy nhưng đẹp đẽ biết bao mà tôi có thể kéo dài mãi mãi chừng nào tôi còn muốn? 
Lali và Zoraima, hai mối tình của tôi, cái bộ lạc không có cảnh sát, không có luật lệ gì ngoài sự hiểu biết lẫn nhau tường tận giữa những con người làm thành viên của nó. Phải, tôi về đây chỉ tại tôi thôi, nhưng tôi cũng chỉ tự cho mình phải nghĩ đến một điều duy nhất là vượt ngục, vượt ngục hay là chết: Nếu như mi biết rằng ta đã bị bắt và phải trở lại nơi lưu đày, mi sẽ lại nở nụ cười chiến thắng như tại phiên tòa đại hình nọ và mi sẽ thầm nhủ: “Thế là đẹp rồi, nó lại phải đi trên con đường đến nơi ruỗng nát mà ta đã đặt nó vào!”. Nhưng mi đã lầm. Không bao giờ tâm hồn ta, trí óc ta thuộc về con đường ô nhục ấy đâu. Mi chỉ nắm được thân thể ta thôi, những tên lính gác của mi, cả hệ thống lao tù của mi mỗi ngày hai lần ghi nhận là ta có mặt; với mi, thế là đủ. Sáu giờ sáng: “Papillon đâu?” – “Có tôi”. Sáu giờ chiều: “Papillon? – “Có tôi”. Mọi việc thế là ổn rồi. Chúng ta tóm được nó đã gần sáu năm, chắc nó đã bắt đầu rữa ra rồi, chỉ cần chút xíu nữa là có ngày chuông sẽ gọi lũ cá mập đến tiếp nhận nó với đầy đủ nghi thức, trong bữa tiệc hàng ngày mà chế độ đào thải theo lối giũa cho mòn của mi vẫn cho không lũ cá nọ. 
Mi nhầm rồi, những tính toán của mi không đúng đâu. Sự hiện diện về vật chất của ta không liên quan gì đến sự tồn tại về tinh thần của ta. Mi có muốn ta nói cho mi biết điều này không? “Tôi không thuộc về chốn lao tù này, tôi không bị đồng hóa chút nào với những thói quen của các bạn tù, ngay cả với những bạn tù thân thiết nhất. Tôi là người luôn luôn có mặt trong các chuyến vượt ngục”. 
Tôi đang đối thoại với kẻ buộc tội tôi ở tòa đại hình thì có hai người đến gần võng tôi. 
– Cậu ngủ à, Papillon? 
– Chưa. 
– Chúng tớ muốn nói chuyện với cậu. 
– Cứ nói đi, không có ai ở đây, nói nho nhỏ, không ai nghe được đâu. 
– Thế này nhé. Chúng tớ đang chuẩn bị một cuộc nổi loạn. 
– Kế hoạch của các anh ra sao? 
– Chúng tớ giết hết bọn A-rập, bọn lính gác, tất cả vợ con bọn lính vì đấy là những mầm mống của sự thối nát. Để làm được như vậy, tớ đây, Arnaud, bạn tớ, Hautin, và bốn người nữa, đã thỏa thuận sẽ tấn công kho vũ khí của bọn chỉ huy. Tớ làm việc ở đấy, tớ chuyên bảo trì vũ khí cho tốt. Có hai mươi ba khẩu súng máy và hơn tám mươi khẩu súng trường mút-cơ-tông và Lebel. Chúng tớ bắt đầu hành động từ… 
– Thôi, đừng nói thêm gì nữa. Tôi không tham gia đâu Tôi cảm ơn các anh đã tin tôi nhưng tôi không tán thành. 
– Bọn tớ nghĩ cậu sẽ nhận chỉ huy cuộc nổi loạn này. Cậu cứ để tớ nói hết các chi tiết bọn tớ đã nghiên cứu và cậu sẽ thấy là không thể nào thất bại được. Chúng tớ chuẩn bị việc này đã năm tháng nay. Đã có hơn năm mươi người tán thành chúng tớ. 

– Đừng kể tên ai ra, tôi từ chối việc chỉ huy, và cũng không muốn tham gia vào việc này. 
– Sao vậy? Cậu phải giải thích cho bọn tớ sau khi bọn tớ đã tin cậu và kể hết cho cậu nghe. 
– Tôi không yêu cầu các anh kể cho tôi nghe dự định của các anh. Sau nữa, ở đời, tôi chỉ làm điều gì người khác muốn. Vả lại, tôi cũng không phải là một kẻ giết người hàng loạt. Tôi có thể giết chết kẻ nào làm điều gì có hại đối với tôi chứ tôi không giết đàn bà trẻ con, họ chẳng làm gì hại đến tôi cả. Điều nghiêm trọng nhất, các anh không thấy ra, và tôi sẽ nói cho các anh thấy là: dù cuộc nổi loạn của các anh đạt được kết quả, các anh cũng thất bại.  – Sao vậy? 
– Bởi vì việc chính, tức thoát ra khỏi chốn lao tù, sẽ không thực hiện được. Cho là có một trăm người tham gia cuộc nổi loạn, họ sẽ đi bằng cách nào? Trên đảo chỉ có hai chiếc xuồng. Cả hai chiếc chở hết mức cũng không được hơn bốn mươi người. Còn sáu mươi người còn lại, các anh tính sao? 
Chúng ta sẽ ở trong số bốn mươi người đi trên hai chiếc xuồng đó. 
Các anh tưởng thế thôi. Những người khác không ngốc hơn. các anh đâu, họ cũng có súng như các anh, và nếu mỗi người ấy biết suy nghĩ một chút xíu, thì khi anh nói với những người ấy rằng họ sẽ bị bỏ lại, hai bên khắc sẽ bắn nhau để dành quyền được đi trên xuồng. Điều quan trọng hơn nữa là hai chiếc xuồng đó sẽ không có nước nào muốn nhận, vì điện tín sẽ báo tin này cho tất cả các nước mà các anh có thể đến được, và báo ngay từ trước khi các anh đến nữa, nhất là với số người chết đông đảo mà các anh để lại. Các anh đến đâu cũng sẽ bị giữ lại lại và bị trao trả cho nước Pháp. Các anh biết là tôi từ Colombia trở về chứ, tôi biết rõ điều tôi nói. Tôi bảo đảm với các anh là sau chuyện ấy, ở đâu người ta cũng trả các anh về. 
– Thôi được. Thế là cậu từ chối phải không? 
– Phải. 
– Lời cuối cùng của cậu đấy chứ 
– Quyết định không thay đổi của tôi đấy. 
– Vậy chúng tớ chỉ còn rút lui thôi. 
– Chờ một chút đã, Tôi xin các anh đừng nói về dự định ấy với bất cứ bạn nào của tôi. 
– Sao vậy? 
– Vì tôi biết trước là họ sẽ từ chối, cho nên các anh đừng nói mà mất công. 
– Được lắm. 
Các anh không thể từ bỏ kế hoạch này được sao? 
– Thật tình mà nói, không được đâu, Papillon ạ. 
– Tôi không hiểu nổi lý tưởng của các anh là gì, bởi vì tôi đã nói một cách rất đứng đắn với các anh là dù cuộc nổi loạn có thành công, các anh cũng không được tự do. 
– Chúng tớ chỉ muốn trả thù. Và bây giờ cậu đã giải thích cho chúng tớ thấy là không thể đến đâu được, rằng không nước nào tiếp nhận chúng tớ, vậy, chúng tớ sẽ vào rừng và tụ tập thành một toán ở rừng vậy.
– Tôi hứa với các anh là sẽ không nói việc này ra với ai, ngay cả bạn chí thân. 
– Chúng tớ cũng tin như vậy. 
– Tốt. Một điều cuối cùng nữa: các anh tin cho tôi biết trước tám ngày để tôi đến đảo Saint-Joseph chứ không ở đảo Royale khi sự việc xảy ra. 
– Cậu sẽ được báo trước kịp thời để có thể chuyển đến đảo khác. 
– Tôi không thể làm gì để các anh thay đổi ý kiến được sao? Các anh có thể phối hợp với tôi làm điều gì khác được không? Chẳng hạn, ăn cắp bốn khẩu súng trường, và vào một đêm nào đó, tấn công vọng gác ca-nô, không giết ai cả, chỉ lấy một chiếc xuồng rồi cũng nhau trốn đi. 
– Không, chúng tớ đã chịu đựng quá nhiều rồi. Cái chính đối với chúng tớ là trả thù, dù có phải chết. 
– Thế còn những đứa nhỏ, những người đàn bà thì sao?. 
– Tất cả đều cùng một lò, cùng một giòng máu mà ra. Tất cả phải chết. 
– Thôi đừng nói chuyện này nữa. 
– Cậu không chúc chúng tớ được may mắn? 
-Không, tôi chỉ nói với các anh là hãy thôi việc ấy đi, có nhiều việc đáng làm hơn cái chuyện tồi tệ đó. 
– Cậu không chấp nhận quyền được trả thù? 
– Có chứ, nhưng không phải là bằng cách sát hại những người vô tội. Chào các anh. 
– Chào cậu. Vậy là chúng ta không hề nói gì với nhau đấy nhé, phải không, Papi? 
– Đồng ý. 
Cả Hautin và Arnaud đã rút lui. Chuyện này thật là tức cười. Hai thằng cha đúng là khùng ngoài ra lại còn năm sáu chục thằng khác có liên can, rồi đến giờ H số ấy còn lên tới một trăm nữa. Thật là chuyện quái đản. Trong số các bạn tôi không hề có ai đả động gì đến việc này. Như vậy là hai thằng cha nọ chắc chỉ bàn với bọn trưởng giả thôi. Không hề có những tay thuộc giới giang hồ tham gia vụ này. Điều nghiêm trọng hơn nữa, là những kẻ trưởng giả giết người lại là những tên sát nhân thật sự, những kẻ giết người trong giới giang hồ thì khác hẳn. 
Trong tuần này, tôi đã điều tra rất kín đáo về Arnaud và Hautin. Hình như Arnaud lãnh oan án chung thân về một tội không đáng tới mười năm tù. Các bồi thẩm kết tội hắn nặng như vậy do năm trước, anh của hắn đã bị chết chém vì giết một cảnh sát. Còn hắn thì do công tố viên nói nhiều đến người anh của hắn để tạo một không khí thù địch, nên hắn bị xử án nặng ghê gớm đến thế. Hắn lại còn bị tra tấn rất tàn nhẫn trong lúc bị bắt, cũng vẫn do những việc làm của người anh. 
Hautin chưa được hưởng tự do bao giờ, hắn ở tù từ năm lên chín. Vào hồi mười chín tuổi, hắn đã giết một người ngay trước khi ra khỏi nhà trừng giới một ngày để đăng lính hải quân, với mục đích thoát khỏi tù. Hắn ta có lẽ cũng hơi điên, vì dự định của hắn hình như là sang Venezuela, vào làm việc tại một mỏ vàng bên đó rồi sẽ tìm cách tự làm cho gẫy một chân để được hưởng một khoản tiền bồi thường lớn. Cái chân đó bị tê cứng do hắn tự chích thuốc gì tôi không rõ, từ hồi ở Saint- Martin-de-Ré. 
Có sự thay đổi bất ngờ. Sáng nay, trong buổi điểm danh, Arnaud, Hautin và em của Matthieu Carbonieri đã bị gọi đi. Cậu em tên Jean, là thợ làm bánh mì, nghĩa là làm việc tại bến cảng, gần nơi thuyền đậu. Họ bị chuyển đi đảo Saint Joseph mà không được giải thích gì, và cũng không có lý do rõ rệt. Tôi cố tìm hiểu. Không ai biết chút gì, thế mà Arnaud trông coi vũ khí đã bốn năm rồi, còn Jean Carbonieri là thợ làm bánh mì đã năm năm. Không thể là chuyện ngẫu nhiên. 
– Chắc phải có rò rỉ ở đâu, nhưng rò rỉ như thế nào và đến mức nào? 
Tôi quyết định bàn chuyện đó với ba người bạn thân: Matthieu Carbonieri, Grandet và Galgani. Cả ba đều không biết chút gì. Thế là Arnaud và Hautin chỉ rủ rê những tay sừng sỏ không thuộc giới giang hồ. 
– Vậy thì sao bọn họ lại nói với tớ? 
– Bởi vì tất cả ai ai cũng biết là cậu tính vượt ngục với bất kỳ giá nào. 
– Nhưng không phải với giá đó. 
– Bọn ấy không hiểu nổi sự khác biệt. 

– Thế còn thằng Jean, em cậu? 
Làm sao mà biết được vì lý do gì nó lại đâm đầu vào làm cái việc ngu ngốc đó. 
– Có thể có thằng kéo nó vào cuộc rồi quay ra giao động, và thằng em cậu không biết gì cả chăng? 
Sự việc diễn biến thật mau lẹ. Đêm ấy Girasolo bị giết khi vào nhà cầu. áo của anh da đen chăn trâu người Martinique có dính máu. Mười lăm ngày sau một cuộc điều tra chớp nhoáng diễn ra và qua lời khai của một tên da đen khác bị cách ly, anh chăn trâu bị một tòa án đặc biệt kết án tử hình. 
Một gã giang hồ nhiều tuổi, tên là Garvel, dân Savoie, đến nói chuyện với tôi ở chỗ giặt áo quần ở ngoài sân. 
– Papi này, tớ khó chịu quá vì tớ đã giết Girasolo. Tớ muốn cứu thằng nhỏ nhưng lại sợ bị chặt đầu. Phải trả cái giá ấy, thì tớ không nói đâu. Nếu nghĩ lại cái mẹo nào chỉ bị độ ba hay năm năm thì tớ tự thú rồi. 
– Án khổ sai của anh là bao nhiêu? 
– Hai mươi năm. 
– Anh đã ngồi được bao nhiêu lâu rồi? 
– Mươi hai năm. 
– Anh hãy bằng lòng chịu án chung thân đi, như vậy anh không phải vào nhà lao cấm cố. 
– Biết làm sao bây giờ? 
– Cứ để tôi nghĩ đã. Đêm nay tôi sẽ nói với anh. 
Tối đến, tôi nói với Garvel: 
– Anh không thể tự thú và nhận đã làm việc đó được! 
– Sao vậy? 
Anh có thể bị án tử hình. Chỉ có một cách để tránh nhà lao cấm cố là lĩnh án chung thân. Anh cứ tự thú đi. Lý do: lương tâm anh không cho phép anh để một người vô tội bị chết oan. Anh hãy tìm một cảnh binh người Corse để nhờ bào chữa cho anh. Tôi sẽ nói cho anh biết tên người đó, để tôi hỏi ý nó trước đã. 
– Phải làm mau mau mới được. Không nên để thằng cha bị chặt đầu quá nhanh. Anh hãy cho hai ba ngày nữa. 
Tôi đã bàn việc này với viên giám thị Collona. Anh ta đã mách cho tôi một ý kỳ: tôi sẽ dẫn hắn đến gặp thiếu tá chỉ huy. Và tôi nói là Garvel xin tôi bênh vực hắn, đưa hắn đến gặp ông để nhận tội. Tôi bảo đảm với hắn rằng, với hành động cao thượng này, không thể kết án tử hình hắn được, nhưng hắn cũng biết trường hợp của hắn là nghiêm trọng, và đã tính trước là sẽ lãnh án chung thân. 
Mọi việc đều diễn ra một cách ổn thỏa. Garvel đã cứu được cậu oẳn da đen, cậu này được thả ngay lập tức. Kẻ làm chứng giả để buộc tội hắn lãnh một năm tù còn Garvel thì chung thân.. 
Hai tháng đã trôi qua. Bây giờ, khi mọi việc đã chấm dứt, Garvel mới kể cho tôi nghe đầu đuôi câu chuyện Girasolo, sau khi nhận lời tham gia cuộc nổi loạn và được biết những chi tiết của âm mưu này, đã tố cáo Arnaud, Hautin và Carbonieri, may mà nó không biết thêm tên ai. 
Được nghe tố cáo cái chuyện tầy đình này, bọn cảnh sát không tin. Tuy vậy, để phòng ngừa, chúng cũng chuyển đi Saint-Joseph ba tên tù bị nêu tên đó, nhưng không nói gì với chúng, không lục vấn chúng và không làm gì cả. 
– Còn cậu Garvel, vì sao cậu giết nó? 

Tớ viện cớ là nó đã ăn cắp plan của tớ. Rằng chỗ tớ nằm đối diện với chỗ nó – đó là sự thật – và ban đêm, tớ lấy plan ra giấu vào cái mền vẫn để gối đầu Có đêm tớ đi cầu, khi tớ về chỗ thì plan của tớ bị mất. Lúc bấy giờ, quanh chỗ tớ, chỉ có một người thức, đó là Girasolo. Bọn lính tin cách giải thích của tớ. Họ cũng không nói cho tớ biết là nó đã tố giác một vụ nổi loạn. 
– Papillon! Papillon ra điểm đanh! – Ngoài sân có tiếng gọi. 
– Có tôi đây 
– Thu xếp đồ đạc. Lên đường đi Saint-Joseph ngay bây giờ. 
– Chà! Mẹ kiếp! 
Chiến tranh vừa nổ ra ở Pháp. Tình hình buộc phải có một lý luật mới: những viên chức đầu ngành mà để xảy ra một cuộc vượt ngục là bị cách chức ngay. 
Tù nhân nào bị bắt khi đang vượt ngục, sẽ bị tử hình. Việc vượt ngục bị coi như có động cơ muốn gia nhập các lực lượng của phe Nước Pháp Tự do đang phản bội tổ quốc. Việc gì cũng có thể dung thứ được, chứ vượt ngục thì dứt khoát là không. 
Thiếu tá Prouillet đi đã được hai tháng. Tôi chưa biết người chỉ huy mới, mà cũng chẳng biết làm gì. Tôi chào các bạn. Tám giờ, tôi đã ở trên tàu đi Saint-Joseph. 
Bố của Lisette không còn ở trại Saint-Joseph nữa. Tuần qua, ông đã cùng gia đình dời đi Cayenne. Chỉ huy tàu giao ngay tại bến cho tên lính trực cùng với giấy tờ kèm theo. 
– Anh là Papillon hả? 
– Thưa thiếu tá, vâng. 
– Anh là một nhân vật kỳ cục lắm – Ông ta vừa nói vừa lật giấy tờ của tôi ra xem. 
– Tại sao tôi lại là kỳ cục? 
– Bởi vì một mặt, anh bị ghi là nguy hiểm về mọi phương diện, nhất là có một lời ghi chú bằng mực đỏ: “thường xuyên chuẩn bị vượt ngục” rồi lại, có ghi thêm: “bị cá mập bao vây, vẫn cố cứu con gái thiếu tá chỉ huy đảo Saint-Joseph”. Tôi có hai con gái nhỏ, Papillon à, anh có muốn gặp chúng không? 
Ông gọi hai đứa trẻ, lên ba và năm tuổi vào phòng làm việc của ông. Cả hai đều cô mái tóc vàng, đi vào theo sau chúng là một tên A-rập còn trẻ, mặc toàn trắng và một phụ nữ tóc đen, rất xinh. 
– Em ơi, em thấy người này không, anh ta đã cố cứu Lisette, con đỡ đầu của em, đấy. 
– Ôi! Cho tôi được bắt tay anh nào, – người thiếu phụ nói. 
Bắt tay một người tù khổ sai! Tính hồn nhiên và cái cử chỉ tự phát của bà ta làm tôi cảm động. 
– Phải, tôi là mẹ đỡ đầu của Lisette. Chúng tôi rất thân với gia đình Frandoit. Thế mình có định làm gì cho anh này không, hả mình? 
Anh ta phải về trại giam đã. Rồi anh sẽ cho tôi biết anh muốn tôi phân cho anh việc gì nhé. 
– Xin cảm ơn thiếu tá, cảm ơn bà. Xin ông cho tôi biết lý do vì sao tôi phải chuyển đến Saint-Joseph. Đối với tôi, đó gần như là một hình phạt. 
– Theo tôi nghĩ thì không có lý do gì. Chẳng qua ông chỉ huy mới sợ anh vượt ngục. 
– Ông ấy nghĩ không sai. 
– Các hình phạt đối với những ai để tù vượt ngục đã được tăng lên. Trước chiến tranh, có khả năng bị mất một lon; bây giờ, đó là điều tất nhiên rồi, chưa kể các hình thức khác nữa. Vì vậy ông ta đưa anh đến đây, ông ta thà để anh vượt ngục từ Saint-Joseph không thuộc phạm vi của ông, còn hơn là từ Royale là nơi ông phải chịu trách nhiệm. 
– Thưa thiếu tá, ông phải ở đây bao nhiêu lâu? 
– Mười tám tháng. 
– Tôi không thể nào chờ lâu đến thế được, nhưng tôi sẽ kiếm cách trở về Royale để khỏi phương hại đến ông. 

– Cám ơn anh, – vợ ông ta nói. – Tôi rất sung sướng thấy anh xử sự cao thượng như vậy. Anh cần gì, cứ đến đây đừng ngần ngại. Bà này, bà ra lệnh cho vọng gác để Papillon có thể đến gặp em khi nào anh ta yêu cầu nhé. 
– Được thôi, em yêu. Mohammed, đi theo Papillon về trại, còn anh, anh có thể chọn phòng anh muốn ở. 
– Ồ, tôi thì rất dễ: tôi xin ở nhà giam những tù nguy hiểm. 
– Điều đó không khó, thiếu tá cười, đoạn viết mấy chữ vào một tờ giấy đưa cho Mohammed. Tôi rời căn nhà vừa là nhà ở vừa là văn phòng của thiếu tá bên bến tàu, đó là nhà ở trước đây của Lisette. Tôi đi về trại, theo sau là tên A-rập trẻ. Chỉ huy trạm gác là một người Corse, rất hung hãn, y là tay chuyên giết người mà ai cũng biết. Tên y là Filissari. 
– Papillon, anh đến rồi đấy hả? Anh biết tính tôi đấy, tốt thì thật tốt, xấu cũng thật xấu. Anh đừng giở trò vượt ngục với tôi nhé, vì anh mà thất bại là tôi giết anh như giết con gián vậy. Hai năm nữa, tôi sẽ về hưu. Vì vậy bây giờ không phải là lúc gặp chuyện phiền toái. 
– Ông biết rằng tôi vốn là bạn của tất cả những người Corse. Tôi không nói với ông là tôi sẽ không vượt ngục, nhưng nếu tôi vượt ngục, tôi sẽ thu xếp để việc đó không xảy ra vào phiên trực của ông. 
– Vậy thì được, Papillon. Chúng ta không phải là kẻ thù của nhau rồi. Anh cũng hiểu đấy, bọn trẻ họ có thể chịu đựng những chuyện bực mình do một cuộc vượt ngục gây ra, còn tôi thì anh lạ gì? Với tuổi tôi, lại sắp về hưu nữa! Rồi, thế là hiểu nhau nhé. Còn bây giờ thì về chỗ ở đã chỉ định. 
Thế là tôi lại vào trại, trong một văn phòng giống y như ở đảo Royale, chứa từ một trăm đến một trăm hai tù nhân. Ở đấy có thằng Pierrot rồ, Hautin, Arnaud và Jean Carbonieri. Đáng lẽ tôi phải về cùng nhóm với Jean vì nó là em Matthieu nhưng Jean không có cỡ như Matthieu, và do nó đánh bạn với Hautin. Arnaud tôi thấy không hợp. Cho nên, tôi gạt nó ra và về ở với Carrier, người Bordeaux, còn gọi là thằng Pierrot rồ. 
Đảo Saint-Joseph hoang dã hơn đảo Royale, hơi nhỏ hơn Royale một chút nhưng vì dài hơn, nên trông như lớn hơn. Trại ở lưng chừng cao điểm của đảo, giữa hai khoảng đất bằng làm thành hai tầng kế tiếp nhau. Trại giam ở tầng thứ nhất; còn ở tầng trên là nhà lao cấm cố trứ danh mà mọi người ghê sợ. Nhân tiện cũng xin nói là phạm nhân bị giam cấm cố hàng ngày vẫn được đi tắm một giờ. Hy vọng rằng việc đó sẽ còn tiếp tục. 
Hàng ngày, vào buổi trưa, tên A-rập làm việc cho thiếu tá đưa đến cho tôi ba cái cà-mèn xếp lồng vào một miếng sắt dẹt ở đầu có tay xách bằng gỗ. Hắn để ba ngăn cà-mèn lại và lấy những ngăn cà-mèn hôm trước về. Bà mẹ đỡ đầu Lisette hàng ngày gửi cho tôi những món mà bà đã nấu nướng cho gia đình bà ăn. 
Chủ nhật, tôi đến thăm và cảm ơn bà. Tôi ở đấy cả buổi chiều để chuyện trò với bà và chơi với các con bà, vuốt mớ tóc vàng của chúng, tôi tự nhủ, nhiều khi khó mà biết đâu là bổn phận của mình. Nguy cơ đang đè nặng lên gia đình này trong trường hợp hai thằng ngu kia vẫn giữ ý định thật là ghê gớm. Girasolo đã tố giác câu chuyện ra rồi mà bọn lính chẳng tin. Đến nỗi chúng không chịu tách mấy thằng kia ra, mà chỉ chuyển chúng đến Saint-Joseph. Nhưng nếu tôi nói thêm một câu để người ta tách chúng riêng ra từng thằng một, hóa ra tôi lại xác nhận sự kiện là có thật, cùng tính chất nghiêm trọng của chuyện tố giác nọ. Nếu thế thì phản ứng của cai tù sẽ ra sao? Tốt hơn cả là câm miệng lại. 
Ở trại, Arnaud và Hautin hầu như không nói với tôi Thế lại hóa hay, chúng tôi đối xử với nhau nhã nhặn nhưng không thân mật, Jean Carbonieri không nói chuyện với tôi, nó tức vì tôi đã không về ở cùng nhóm với nó. Chúng tôi có bốn người: Pierrot rồ, Marquetti, đã từng đoạt giải nhì trong cuộc thi vĩ cầm ở Roma, nhiều khi cậu ta chơi đàn mấy giờ liền, làm tôi cũng buồn mang mác, và cả Marsori, dân Corse, vùng Sète, cũng vậy. 
Tôi không nói gì với ai, tôi có cảm giác là ở đây cũng không ai biết gì về cuộc chuẩn bị nổi loạn bị dang dở ở đảo Royale. Họ còn giữ những ý định ấy không? Cả ba đang làm lao dịch nặng nhọc. Họ phải kéo lê dưới nước những tảng đá to để xây một hồ bơi ngoài biển. Một tảng đá to được buộc chặt bằng xích, một sợi dây khác từ mười lăm đến hai mươi mét được nối vào đấy ở bên phải và bên trái. Mỗi tù nhân chẳng dây kéo của mình vào thân hay vào vai, móc đây đó vào một khâu của sợi xích dài. Rồi cùng một lúc, y như những con vật, họ phải kéo các tảng đá đến nơi đã định. Dưới trời nắng chói chang, đấy là một công việc nặng nhọc và chán ngấy. 
Có tiếng súng trường, súng mút-cơ-tông và súng ngắn nổ vang ở phía bến tàu. Tôi hiểu ngay, lũ điên khùng đã hoạt động. Việc gì đã xảy ra vậy? Ai thắng? Tôi ngồi trong phòng, không động đậy. Những tay tù sừng sỏ đều nói: “Họ nổi loạn rồi!”. 
– Nổi loạn à? Nổi loạn thế nào? – Tôi cố tình tỏ ra cho mọi người thấy là tôi không biết gì. Jean Carbonieri hôm đó không đi làm, sáng lại gần tôi, mặt tuy rám nắng mà vẫn tái mét như đã chết rồi. Nó nói lí nhí, “Nổi loạn đấy, anh Papi ạ”. Tôi lạnh lùng hỏi nó: “Loạn gì? Tao không biết”. 
Tiếng súng mút-cơ-tông vẫn tiếp tục nổ. Pierrot rồ chạy vào phòng. 
– Nổi loạn nhưng hình như thất bại thì phải. Thật là một lũ điên? Papillon, mở dao ra đi. ít ra ta cũng phải giết được thật nhiều lính rồi có chết mới chết. 
– Phải, – Carbonieri nói, – phải giết càng nhiều lính càng tốt. Chissilia lấy ra một con dao cạo. Người nào cũng lăm lăm một con dao đã mở sẵn. Tôi nói với họ: 
– Đừng có xử sự như những thằng ngu. Chúng ta có bao nhiêu mống? 
– Chín. 
– Bảy cậu hãy bỏ vũ khí -xuống. Cậu nào hăm dọa lính gác, tôi sẽ giết ngay. Tôi không muốn bị bắn như thỏ trong căn phòng này. Cậu có tham gia vào vụ này không? 
– Không. 
– Còn cậu? 
– Cũng không. 
– Thế cậu này? 
– Tôi chẳng biết nếp tẻ gì cả. 
– Tốt. Chúng ta ở đây đều là dân giang hồ, không ai biết gì về cuộc nổi loạn của bọn trưởng giả cả. Hiểu không nào? 
– Được rồi. 
Đứa nào đi tố giác và nhận rằng có biết ít nhiều điều gì là sẽ bị bắn chết ngay đấy. Bởi vậy, thằng nào ngờ nghệch nói ra là chẳng ăn cái giải gì đâu. Các cậu vứt cả vũ khi vào thùng phân đi. Bọn lính chắc cũng sắp đến đây rồi. 
– Thế nhỡ cánh tù thắng thì sao? 
– Nếu cánh tù thắng, ta cứ để cho chúng thu xếp và hoàn thành chiến thắng của chúng bằng một cuộc vượt ngục. Còn tôi, với cái giá này, tôi không ham. Các cậu thì sao? 
– Chúng tôi cũng vậy, – tám người kia cùng đồng thanh nói, kể cả Jean Carbonieri. 
Tôi không hó hé về những gì tôi vừa nhận thấy: không còn tiếng súng nổ nữa, và như thế nghĩa là cánh tù đã thất bại. Quả thật là cuộc tàn sát đã được dự tính từ trước chưa thể nào mới đến giờ này mà đã xong xuôi được 
Bọn lính vừa chạy như điên đến, vừa dùng báng súng, gậy, và chân thúc mấy người tù đi chuyển đá về. 
Chúng lùa họ vào căn nhà kế bên rồi cũng vào trong đó luôn. Đàn ghi-ta, măng-đô-lin, bàn cờ vua, cờ đam, đèn dầu, ghế băng, các chai đựng dầu, đường, cà phê, quần áo trắng, tất cả đều bị chà đạp phá hủy và bị vất ra ngoài. Bọn lính đập phá tất cả những gì mà quy chế không chính thức cho phép các phạm nhân được giữ. 
Có hai tiếng súng nổ, chắc chắn là tiếng súng ngắn. Trại giam có tám tòa nhà. Bọn lính hành động như vậy ở cả tám tòa nhà, thỉnh thoảng còn dùng báng súng để phá. Một người trần truồng, rõ ràng là bị bọn lính giải về xà-lim để đánh cho nhừ tử, đã chạy về phía nhà giam. 
Bọn chúng đã đến các nhà ở phía trước và bên phải chỗ chúng tôi. Bây giờ chúng đang ở nhà thứ bảy. Chỉ còn lại căn nhà của chúng tôi. Cả chín đứa chúng tôi ai nấy đều vẫn ngồi yên ở chỗ của mình. Những người đi làm ở ngoài cũng chưa ai về. Người nào cũng chết dí tại chỗ của người nấy. Không ai nói gì. Miệng tôi khô rang, tôi đang nghĩ: “Mong cho đừng có thằng khốn nào lợi dụng lúc hỗn quân hỗn quan này để hạ thủ mình một cách vô tội vạ”. 
– Chúng nó đến đây rồi kia, – Carbonieri nói, hắn không còn hồn vía nào nữa. 
Bọn lính, hơn hai mươi tên, ùa vào, súng mút cơ- tông hay súng ngắn lăm lăm trong tay sẵn sàng nhả đạn. Filissari la lối: 
– Này, chúng mày chưa cởi hết quần áo ra à? Còn chờ gì nữa, đồ chó chết? Chúng mày sẽ bị bắt cả lũ. 
– Cởi hết quần áo ra, chúng ta không muốn lột quần áo ở xác chúng mày ra. 
– Thưa ông Fillissari… 
– Câm mồm đi, Papillon. Đừng có xin tha tội ở đây. Cái chuyện chúng mày bày đặt ra nó quá ư nghiêm trọng. ở trong phòng tù nguy hiểm này, chắc chắn cả bọn chúng mày đã tham gia. 
Mắt y trợn trừng lên vằn đỏ những tia màu, ánh mắt tràn đầy sát khí. 
– Chúng tôi có quyền, Pierrot nói. 
Tôi quyết định đánh bài liều. 
– Tôi ngạc nhiên thấy một người Corse như ông mà lại đi tàn sát những người vô tội? Ông muốn bắn hả? Được, không cần phải dài giòng làm gì, chúng tôi không thiết nữa đâu. Ông bắn đi, bắn cho mau đi. Trời đất ơi! Tôi tưởng ông cũng là một con người chứ, ông Filissari kia, một đệ tử chân chính của Napoléon! Nhưng tôi đã lầm. Cũng chẳng sao. Thậm chí tôi cũng những muốn nhìn thấy ông khi ông bắn chúng tôi nữa cơ. Tôi quay lưng lại đây. Này, các cậu quay lưng cả lại để người ta không nói là chúng mình định tấn công họ. Và tất cả mọi người như một, đã quay lưng lại bọn lính. Bọn họ sững sờ trước thái độ của tôi, càng ngạc nhiên hơn vì trước đấy (việc này về sau tôi mới biết) Filissari đã bắn chết hai phạm nhân ở các nhà khác. 
– Mày còn muốn nói gì nữa không, Papillon? 
Vẫn quay lưng lại, tôi đáp: 
– Chuyện nổi loạn này, tôi không tin chút nào. Sao lại nổi loạn? Để giết lính à? Rồi vượt ngục? Rồi đi đâu? Tôi đây, là chuyên viên vượt ngục, tôi từ ở rất xa, tận Colombia trở về. Tôi thử hỏi có nước nào lại chứa chấp những kẻ giết người rồi vượt ngục? Tên cái nước ấy là gì vậy? Đừng có ngu như thế, không một ai xứng đáng với danh hiệu một con người lại dính vào chuyện này làm gì. 
– Mày, thì may ra có thể như thế, nhưng còn Carbonieri? Tao chắc chắn nó có tham gia, vì sáng nay thằng Arnaud và thằng Hautin ngạc nhiên thấy nó báo bệnh để không đi làm. 
– Ông tưởng thế thôi, tôi bảo đảm là như vậy. Và tôi quay mặt lại với y. Tôi nói để ông hiểu ngay nhé. Carbonieri là bạn tôi, anh ta biết mọi chi tiết về chuyến vượt ngục của tôi, anh ta không có ảo tưởng gì hết, anh ta biết rõ hậu quả của một cuộc vượt ngục bằng cách nổi loạn. 
Đúng lúc đó, thiếu tá chỉ huy đến. Ông ta đứng bên ngoài. Filissari đi ra. Thiếu tá gọi: 
– Carbonieri. 
– Có tôi 
– Cho nó vào xà lim nhưng không được ngược đãi. Giám thị này, đi theo nó. Tất cả đi ra ngoài hết, chỉ các giám thị trưởng ở lại đây thôi. Đưa tất cả các tù nhân còn rải rác ở đảo về trại. Không được giết ai, cho tất cả về trại, không trừ một ai. 
Thiếu tá chỉ huy trại, viên chỉ huy phó và Filissari cùng bốn lính gác bước vào phòng giam. Thiếu tá nói. 
– Papillon, có một việc rất nghiêm trọng vừa xảy ra. Với tư cách chỉ huy trại giam, tôi có trách nhiệm rất nặng nề. Trước khi có vài biện pháp đối phó, tôi cần biết ngay một số tin tức. Tôi biết là trong thời điểm ngặt nghèo này, anh sẽ từ chối không nói chuyện riêng với tôi, vì thế, tôi đã đến đây. Giám thị Ductos đã bị giết. Bọn chúng còn muốn lấy vũ khi cất ở nhà tôi đây là một cuộc nổi loạn. Tôi chỉ có vài phút thôi, tôi tin anh. Tôi hỏi ý kiến anh về việc này, thế nào? 
– Nếu có nổi loạn, sao chúng tôi không biết gì cả? Sao không ai nói gì với chúng tôi? Có bao nhiêu người liên quan đến vụ này? Tôi đặt ra ba câu hỏi đó với ông thiếu tá và tôi sẽ trả lời, nhưng trước tiên, ông phải cho tôi biết, là sau khi họ giết giám thị và đoạt được súng của ông ấy rồi, tôi đoán chắc vậy, có bao nhiêu người đã hành động? 
– Ba người. 
Đó là những ai? 
– Arnaud, Hautin và Marceau. 
– Tôi hiểu rồi. Dù ông muốn hay không, ông nghĩ thế nào tùy ý nhưng không có cuộc nổi loạn nào cả. 
– Papillon, anh nói láo. – Filissari nói – Cuộc nổi loạn này đáng lẽ xảy ra ở đảo Royale, Girasolo đã tố giác, chúng tôi không tin là có. Nhưng bây giờ, rõ ràng những gì nó nói ra là đúng. Vậy là anh có ý bịp chúng tôi Pappillon! 
-Nếu như ông nói là đúng, thì tôi đây, tôi là thằng đi tố cáo chăng, rồi cả Pierrot rồ nữa, rồi Carbonieri và Galgani cùng tất cả cánh lục lâm Corse ở đảo Royale, rồi cả cánh giang hồ nữa. Bất chấp những sự việc đã xảy ra tôi vẫn không tin vào chuyện ấy. Nếu có cuộc nổi loạn, thì chúng tôi cầm đầu chứ không có ai khác. 
– Anh nói chuyện gì mà lạ vậy? Không có ai liên quan đến việc này sao? Vô lý. 
– Thế hành động của những kẻ khác là thế nào? Có ai ngoài ba thằng khùng ấy làm gì không? ở đây, có ai nhúc nhích chân tay để chiếm vọng gác có bốn giám thị có súng, lại có cả ông xếp Filissari cũng có súng mút-cơ-tông nữa không? Có bao nhiêu tàu ở Sain- Joseph nào? Chỉ có một chiếc sà-lúp thôi? Thế là một sà-lúp dùng cho sáu trăm người à? Chúng tôi có ngu đâu? Rồi giết người để vượt ngục? Cứ cho là có hai mươi người đi được, thì rồi cũng sẽ bị bắt và phải đầu hàng ở bất cứ chỗ nào. Thưa thiếu tá, tôi không biết người của ông hay chính tay ông giết bao nhiêu tù, nhưng gần như chắc chắn đấy là những người vô tội. 
Và bây giờ lại đi phá tất cả các đồ đạc mà chúng tôi có được là nghĩa lý gì? Các ông tức giận có lý đấy, nhưng xin các ông đừng quên rằng ngày mà các ông không để cho đời sống của tù nhân được dễ chịu đôi chút, thì ngày đó đúng là sẽ có một cuộc nổi loạn, một cuộc nổi loạn của những kẻ tuyệt vọng, nổi loạn để cùng tự vẫn với nhau, đã chết thì chết chùm cả một thể: lính cũng như tù. Thưa ông Dutain, tôi nói với ông hết sức thành thật đấy, tôi cho là ông đáng được đối xử như vậy, chỉ vì ông đã đến tìm chúng tôi hỏi rõ tình hình trước khi quyết định. Xin ông để cho chúng tôi được yên. 
– Thế còn những thằng đã liên quan đến vụ này? Filissan lại nói. 
– Đó là việc các ông phải tìm ra. Chúng tôi không biết gì cả, về chuyện này, chúng tôi không giúp được gì cho các ông đâu. Tôi xin nhắc lại, đây là chuyện điên rồ của những thằng trưởng giả, chúng tôi không dính dáng vào đấy. 
– Ông Filissarn, khi nào người ở phòng tù nguy hiểm này về hết, ông khóa cửa lại cho đến khi có lệnh mới. Đặt hai người gác ở cửa, không được đánh đập ai và đừng có phá phách các thứ của họ. Đi thôi 
Nói đoạn ông ta bỏ đi cùng với cả bọn cảnh sát. 
Phào! Phào! Hú vía!





Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 15 Nov 2025

Chương 11

Mỗi chúa nhật, một ban giải trí đưa đến trình diễn tại một khối khác nhau, một màn văn nghệ nhiều tiết mục, càng ngày càng cải tiến kể từ khi tôi mới đến. Và đối với giai cấp “phong kiến” của trại, lại có chiếu bóng và hòa nhạc trong một căn phòng rộng lớn. Tôi được dự nhiều buổi giải trí đó. Nếu phim ảnh phần lớn đều tệ, trái lại đêm hòa nhạc đã chơi nhiều bản xuất sắc như trong các buổi trình tấu tại Ba-lê. Lần đầu tiên tôi đã đến dự một dạ hội, và viên Thiếu tá SS, trưởng trại chủ tọa danh dự đêm đó. Khán thính giả, chừng 800 người, gồm toàn giới “trung lưu và; thượng lưu” của trại và đại biểu của các quốc tịch có mặt trong trại. Mặc dù chỉ hiểu tiếng Đức đại khái, ba xướng ngôn viên giới thiệu các tiết mục, lần lượt bằng tiếng Đức, Nga và Pháp. Ban nhạc, chính ban nhạc chơi hành khúc cho tù nhân đi đều bước trên quảng trường lúc họ bị di chuyển đi nơi khác, bắt đầu với phần khai khúc “Cavalerie légère”. Các nhạc công mặc đồng phục giống như đồng nghiệp của họ trong các ban hòa tấu ở các phòng trà ở Vienne vào những năm 1900, họ toàn là tay nhà nghề kỳ cựu phần đông là người Đức hoặc Tiệp Khắc. Chỉ có tay vĩ cầm chánh là người Pháp; đó là ông Hewitt rất được giới âm nhạc ở Ba-lê biết tiếng. Toàn bộ ban hòa tấu trông đầy phong độ và phẩm chất âm nhạc trình tấu có thể chấp nhận được. Lần lượt năm nhóm quốc tịch khác nhau trình diễn các tiết mục đặc biệt của mình. Trước hết là nhóm tù Pháp mới đến, trình diễn màn các người cắm trại hát chung quanh lửa trại. Nhóm Đức trình diễn những bài ca đã được sáng tác trong thời gian dài bị giam cầm. Rồi một vở kịch ngắn có nội dung sâu sắc đối với tâm lý người Đức, chủ đề của vở kịch đáng được thuật lại: Một Kapo (một tù nhân mạnh khỏe được chọn làm cai) tính đặc biệt hay càu nhàu, bắt gặp ba tù nhân đập đá thuộc toán mình; đang mơ mộng thay vì làm việc. Anh ta mắng họ “Đồ vô lại, tao không muốn bị rắc rối vì tụi bây, đối với bọn cốt đột không hơi sức đâu mà chịu như vậy”. Rồi sau khi dọa họ bằng sự phẫn nộ của tên lính SS đang đi quanh quẩn ở đó, anh ta tò mò hỏi họ đã làm gì mà bị đưa đến đây và hỏi nghề nghiệp của họ. Lần lượt một người, ở Vienne, một người ở Ba-lê và một người ở Naples trả lời bằng tiếng mẹ đẻ: “Tôi là ca sĩ”, và trình diễn luôn bài ca hay nhất của mỗi xứ. Cảm động vì giọng ca của các tù nhân nầy, những người mà anh ta đột nhiên thấy là vô tội, người Kapo, tìm cách công khai xin lỗi những lời phỉ báng vừa qua, rồi bỏ đi vừa lẩm bẩm “Tốt, tốt, cứ mơ mộng đi, nhưng mỗi người phải luân phiên nhau mà canh chừng!”. Một tràn pháo tay như sấm động vang lên để tán thưởng các diễn viên, coi như là vô địch đêm đó. Ai cũng hiểu là tác giả tự phê bình và qua hình ảnh người Kapo ông ta muốn chỉ trích các tù nhân chính trị, những người mà thời gian bị giam giữ quá lâu hoặc một đời sống vật chất càng ngày càng được khá hơn, đã quên mất lý tưởng của mình và cam tâm làm gia nô phục vụ bọn SS.

Nhóm Ba-Lan, Tiệp-Khắc trình diễn tiếp và nhóm Nga Sô, đông nhất, kết thúc buổi dạ hội văn nghệ.

Trại tập trung Buchenwald cũng có một nhà chứa. Có hai mươi em trong đó có một em người Nancy, giá mỗi lần là hai đồng mark. Chỉ có quyền đến đó, những tù nhân ở lâu quá sáu tháng và phải được cấp trước một “bông” đặc biệt sau khi làm đơn xin văn phòng trung ương. Tên SS canh cửa chuyên môn dục khách hàng vì thời gian có hạn, và một cú gậy sẽ đến tiếp theo nếu ông khách muốn kéo dài thêm một hay hai phút khoái lạc nữa. Vấn đề kiểm soát vệ sinh rất chặt chẽ và thuốc tím được dùng để dội ào ào. Tôi trình bày với Ludwig nỗi ngạc nhiên trước một hoạt động thương mãi như; vậy, ông ta kể lại với tôi rằng kế hoạch của Đảng Quốc Xã trong trường hợp chiến thắng là nhốt tất cả những kẻ thù chính trị vào các trại tập trung, nơi đây, họ sẽ không bao giờ có hy vọng thoát ra được nữa, nhưng ngược lại, trong đó có đủ thứ cần thiết cho một tên nô lệ tân thời. Trong mỗi xứ bị chiếm đóng sẽ có nhiều “Thành phố được đành riêng” để nhốt những kẻ quấy phá, và giống người thượng đẳng, chủ nhân ông của Âu châu, trong khi nhờ đợi sự chính phục thế giới, sẽ sống trên lưng của các dân tộc cũ nay phải vĩnh viễn còng xuống trong tư thế phục tùng toàn diện

– Vả chăng, – Ludwig nói thêm. – chiến tranh với sức mạnh của nó, đã cho Hitler thi hành nhiều phần khác quái gở và ghê tởm hơn nữa của kế hoạch đó. Tôi muốn nói đến sự tiêu diệt các chủng tộc bị coi là hạ đẳng, như Do Thái, và người tziganes 1. Tôi vừa được biết sắp có một chuyến công-voa từ Auschwitz đến đây ngày mai hay là ngày mốt, và anh có thể nghe tiếng nói của người trong cuộc về câu chuyện của một vài trò đùa của chúng.

Qua các người mới đến, chúng tôi được biết trước sự dồn cục quá nhiều tù nhân bị bắt từ các nước miền Đông, viên chỉ huy trại tập trung thời danh ở Ba Lan, sau khi được sự chấp thuận của Bá-linh, đã gởi một vài chuyến công-voa đến các trại ở trung tâm nước Đức, trong số đó có trại chúng tôi. Trong số tù nhân nầy có cả số người Pháp may mắn thoát khỏi cái chết kinh hoàng. Họ kể với tôi câu chuyện phi lý không tưởng tượng được về họ. Khi số phận của Pucheu, cựu Bộ trưởng của chúnh phũ Vichy bị đe dọa trước tòa án ở Alger, để trả đũa, bọn Gestapo đã đưa 1.500 con tin từ Compiègne đến Auschwitz. Khi đến trại ấy, và trong khi họ không lo sợ gì cả, thì được người ta báo cho biết nếu viên cựu bộ trưởng trong chính phủ Vichy bị tử hình, họ sẽ lập tức bị đưa vào lò hơi ngạt để chịu chung số phận. Họ bị nhốt trong một “khối” riêng, trong khi chờ đợi tin tức. Cứ như thế, tình trạng kéo dài nhiều ngày, và thật dễ đoán biết họ sống lo âu như thế nào trong khoảng thời gian đó. Một buổi sáng, một tên SS đi vào, không nói một lời nào mà chỉ nhìn họ với vẻ khinh bỉ. Mọi người âu lo do dự và một người đánh liều hỏi y. Một tiếng cười khẩy đen tối trả lời người nầy: Yawohl. Họ bị lùa ra ngoài để sửa soạn bị giết chết bằng hơi ngạt. Hai trăm người đầu tiên được đưa về một khối đặc biệt dùng cho công tác thảm khốc nầy. Nạn nhân bị buộc phải cởi hết áo quần và một khi được đưa vào nhà mồ tạm thời, một tên SS mở nút cho hơi độc xịt vào tràn ngập căn phòng. Cơn hấp hối kinh hoàng kéo dài nhiều phút. Một đội lao tác được đưa đến để mang các xác chết còn tươi rói đến lò hỏa thiêu. Và người ta đẩy các người tiếp theo vào. Một tùy phải từ phòng viên chỉ huy trưởng chạy đến vừa đúng lúc một trăm người thứ ba và thứ tư sửa soạn đi theo những đồng bạn khốn khổ của mình. Anh tùy phái mang theo một mệnh lệnh từ Bá-linh bảo triển hạn hành hình con tin. Hai trăm mạng, chỉ cách vài phút thôi đã được cứu sống rồi. Ai đã ra lệnh đó? Chắc chắn là Himmler, nhưng đo ai can thiệp? Không ai biết cả. Đó là lần đầu tiên người Pháp chịu đựng loại khổ hình nầy. Nhưng những chủng tộc khác, Do-Thái, Tziganes, Ba Lan, Nga, nhiều triệu người đã đi qua lò sát sinh đó từ đầu cuộc chiến. Năm 1942 và 1943, hầu hết các chuyến công-voa chở người Do-Thái từ Budapest, Ba-lê, Prague hay Athènes đến đều bị đưa ngay vào phòng hơi ngạt

Vừa mới bước xuống khỏi toa xe lửa, thường đã có một nửa bị chết rồi, họ bị tập họp trong sân và sau khi cởi bỏ áo quần tại chỗ họ, được phát cho khăn tắm và xà bông để đi tắm rửa. Tin tưởng, họ có thể làm gì khác hơn? Những người vô tội tiến vào các dãy trại nổi danh và chỉ đến lúc vào hết bên trong, rồi họ mới biết các đồ dùng để tắm rửa không, còn ích lợi gì nữa. Qua các cửa sổ nhỏ, bọn SS chứng kiến cảnh hấp hối của tội nhân. Đối với chúng đó là một màn trình diễn hấp dẫn và chúng còn chỉ trỏ người đàn ông nầy hay người đàn bà kia chịu đựng lâu hơn hết. Sáu lò thiêu xác làm việc thường trực ngày đêm. Đôi khi trong một chuyến công-voa, một vài người mạnh khỏe nhất được chọn lựa để sung vào một biệt đội lao tác. Sau vài tuần lễ, một “chuyên viên” len lỏi qua các hàng nô lệ đang đứng và chỉ vào người nào bị coi là không còn đủ sức khỏe để sản xuất. Và rồi đến phiên các người nầy chịu số phận cùng với gia đình. Csó nhiều khổ hình dành cho nữ tội nhân do bọn ác quỷ đặt ra. Một tên trong bọn giựt đứa con trong tay một bà mẹ, và trước cặp mắt hãi hùng của bà ta, y liệng cục thịt sống đó vào một chảo nước đang sôi sùng sục. Bà mẹ hấp tấp muốn chạy theo con, tên SS cười man rợ nắm đầu giữ bà ta lại. Bà mẹ khốn khổ nổi điên trước khi bị đưa vào phòng hơi ngạt. Một lần khác, để giải trí, một nhóm sĩ quan lựa năm mươi trong số thiếu nữ đẹp nhất từ một chuyến công-voa chở đến, và đồng thời lựa một số tương đương các cụ già, rồi nhưng bắt buộc từng cặp làm tình với nhau ngay giữa sân. Gồm có sáu khu khác nhau, trại Auschwitz đôi khi chứa tới 300.000 tù nhân, ở đó bọn bác sĩ SS thực hiện tất cả các loại thí nghiệm về thuật giải phẫu sinh thể 2 do chúng tưởng tượng ra trên thân thể các tù nhân kể cả các phụ nữ đang mang thai.

Tất nhiên là tại Buchenwald, không ai còn lầm lẫn gì bọn SS nữa, nhưng khi nghe tất cả các chuyện trên đây, mọi người đều sững sờ, và cả thế giới không ai biết sự thể đó hết!

– Nếu biết được chuyện đó, – một người phát biểu ý kiến, – chắc người Mỹ có thể sẽ đổ bộ sớm hơn.

– Anh nghĩ thế chứ! – người từ trại Auschwitz đến trả lời, – nếu tôi có thể bắt thình lình đến được Hoa-thạnh-đốn và trình một báo cáo về các tội ác mà tôi đã chứng kiến người ta sẽ cho tôi là điên khùng và cho nhốt tôi ngay! Tôi muốn kiếm Ludwig nói chuyện một lúc để thảo luận sâu thêm về tội ác khủng khiếp mà những người đồng hương của anh đã phạm, bởi vì đây là lần đầu tiên, lý thuyết cổ điển phân biệt nhóm lãnh đạo lầm lỗi và tập thể đại chúng vô tội, đã bị đánh đổ. Đây không còn là một thiên số cuồng tín sẵn sàng làm mọi chuyện nữa, như trong xứ nào cũng có; nhưng đây là hàng chục ngàn cá nhân, và có lẽ hàng triệu, đã nhân danh cấp lãnh đạo để phạm vào các tội ác ghê tởm này. Và những câu chuyện chặt tay chặt chân trong cuộc chiến tranh mà tôi không muốn tin, nếu đem so sánh, thì chỉ là các trò chơi dại dột của xã hội. Trước khi Hitler nắm chính quyền, bọn SS chỉ là vài nhóm nhỏ trong mỗi tỉnh và được coi là thuộc loại đặc biệt. Nhưng một khi Hitler cầm quyền, hàng sư đoàn, hàng binh đoàn SS đã được tổ chức gồm toàn người tình nguyện và tất cả bọn chúng đã càn quét Âu châu như các bầy thú viễn chinh của Attila, và đây lại là bọn người xuất phát từ một dân tộc cần lao, trong sáng, nhưng tánh khí không giải thích được.

Đúng, vấn đề hấp dẫn liên quan đến tánh khí dân Đức sẽ là đề tài thích thú để nói với ông giáo sư Đại học Ludwig, tuy nhiên tôi đã tự chế, mặc dù tôi có hoàn toàn tự do có thể cho phép tôi phát biểu với ông ta, bởi vì ấy, trong khối có một biến chuyển xẩy ra và biến cố ấy đã soi sáng tôi hơn bất cứ cuộc thảo luận lâu dài nào cả. Jacob là một người luôn luôn trầm tĩnh, gần như xa cách với mọi người, và một nội tâm kín đáo mà đến kẻ ưa dèm pha nhất cũng phải công nhận, ông ta không bao giờ đụng chạm với ai, coi đó là một nguyên tắc đắt giá trong các trại tập trung đối với tất cả tù nhân chính trị xứng đáng với danh hiệu nầy. Phải nói rằng sự kiện bị nhốt vào trại tập trung không phải là là một bảo đảm cho trí thông minh, và, khốn thay nhiều người lại tỏ ra mau hiểu hơn vì bị đánh đập hơn là được khuyến dụ. Tuy nhiên, Jacob luôn luôn xử dụng lời nói, từ chối hành động nào có thể làm cho thần kinh suy mòn, để dành các biện pháp mạnh cho nhưng kẻ hư hỏng hay hèn nhát. Thế mà một ngày cuối tháng 4, sau một ván cờ dam, hai đối thủ thường gây gổ với nhau, đã đi đến chỗ xử dụng tay chân. Một trong hai người đến khiếu nại với Jacob và xin ông làm trọng tài. Vì lẽ tôi ở xa, nên không nghe được câu chuyện ra sao, nhưng lần đầu tiên tôi thấy ông nhảy chồm cả khối người lên đối thủ của người đến khiếu nại. Ông ta tím người vì giận, mắt thất thần. Không hề kiểm soát lại những gì mà người ta báo cáo, ông ta đấm đá anh nầy nhừ tử cho đến lúc thở hết ra hơi, bỏ về văn phòng, không một ai biết rõ nguyên động lực đã chia rẽ hai người chơi cờ, một người Tiệp Khắc và một người Ba Lan, họ không muốn nói gì cả. Điều ngạc nhiên hơn hết là thái độ của Jacob.

Để khỏi thắc mắc, tôi theo dõi ông. Tôi thấy ông ta lăn mình trên giường ngủ và khóc rấm rức. Thấy tôi, ông quay mặt đi và tôi nghe ông thì thầm.

– Tôi bậy quá hà? Nhất là đó lại là một chiến sĩ kháng chiến, nhưng ai biểu hắn nói rằng tất cả người Đức đều là cá mè một lửa, nói thế làm tôi đau khổ vô cùng! Tôi tự hỏi không biết tại sao tôi lại nổi khùng như vậy. Anh biết rõ tôi, anh xin lỗi hắn dùm tôi và đừng nói cho ai biết cả!

Tôi nhìn thấy người nầy, sụm xuống như một cậu bé bị bạn đánh hạ, và đột nhiên một câu mà do tình cờ tôi đọc được trong tập “Du Ký” của Bá tước Kevserling, hiện về trong trí tôi: “Dân tộc. Đức hãy còn vị thành niên”. Tôi đã từng không hiểu rõ lắm ý nghĩa của câu nói, vì thời đó tôi chỉ biết cái “Lorclei” qua văn chương Đức mà thôi, tuy nhiên lời thú nhận của một đứa con của dân tộc ở bên kia bờ sông Rhin có lẽ là câu giải thích thật sự những cơn cuồng nộ đã làm rung chuyển dân tộc nầy một cách định kỳ.

Cuộc chiến tranh nầy phải chăng là đo cơn khủng hoảng của sự trưởng thành?

Có thể lắm, bởi vì điều gì có vẻ khác thường đối với ta, sẽ ít khác thường hơn đối với con cái ta, và những điều mà chúng ta cho là những xung đột vĩ đại nhất, có thể sẽ trở thành một cảnh ngộ lịch sử đơn giản đối với cháu chắt chúng ta. Như vậy, thật dễ tiên liệu rằng, từ khi sống trong quỹ đạo của một đại cường Đức quốc, kỷ luật và sinh sôi nẩy nở mau chóng, đã lớn mạnh mau hơn là như một vại bộ óc ở Tây phương nghĩ, và nếu nhu cầu cho thấy điều đó sẽ xảy ra trong tương lai, binh sĩ của họ cũng sẽ chiến đấu cuồng nhiệt dưới một huy hiệu mới như họ đã chiến đấu cho hình chữ Vạn.

Tháng 5 năm 1944 đã đến, và thời tiết tốt kéo dài. Nhiều lần chúng tôi đã chào mừng các phi đoàn “Liberator” tiến về hướng Leipzig, Iéna, Dresde, và các cuộc không tập hình như đã gia tăng. Tuy nhiên các cuộc oanh tạc không tăng nhiều hơn tin vịt lan tràn trong trại, và đã có cả các cuộc đánh cá được tổ chức. Một người trong bọn tôi đã quả quyết là Đồng Minh đã đổ bộ rồi và quân Đức sợ không dám loan báo vì làm như thế tức là làm cho phòng tuyến của họ sụp đổ và có thể là làm cho một cuộc cách mạng bùng nổ. Ngay cả trong trại tập trung một vài người không thể sửa chữa được.

Tôi còn có một nguồn tin khác. Một hay hai lần mỗi tuần, một tù nhân Đức nghe được đài Mạc-tư-khoa và nhờ đó, nhân ngày 1 tháng 5, Wilhelm Pipck, một trong các lãnh tụ đối lập với chế độ Quốc Xã của Hitler nói “Chế độ phát xít sẽ bị đánh bại từ đây cho đến 1 tháng 5 năm 1945”. Thành thật mà nói, khó mà tìm được trong trại hơn năm người không tin tưởng chiến tranh sẽ chấm dứt trước cuối năm 1944. Tuy nhiên người vừa thốt ra bản thông điệp kia, không thể nói ẩu tả, vì lẽ từ ba năm nay chiến tranh thật sự đã bùng nổ ở phía Đông và chắc phải có lý do vững chắc, ông ta mới tin tưởng một năm nữa. Vậy thì thật sung sướng thay cho những người luôn luôn hy vọng ba tháng, hay ngay cả hai tháng nữa kể từ khi thời tiết trở nên tốt đẹp. Không một dòng nước mát nào có thể làm tinh thần họ tỉnh táo được. Tôi không phải làm việc cực nhọc, và khi bạn bè đến kiếm tôi sau một ngày mệt nhọc, họ thường sung sướng hơn tôi. Có lẽ suy nghĩ nhiều quá cũng không tốt thật. Vả chăng, không còn ai đi vào các câu chuyện luân lý nữa, Luân lý tốt nhất là một chút xúp thừa. Ngay cả các tu sĩ cũng nghĩ thế, họ có cả một nhóm như vậy. Một người trong số đó mất cả khuynh hướng sau khi nghe kể chuyện ở Auschwitz. Đó là cả một biến cố nhỏ và mọi người hỏi ông ta như cả một hiện tượng. “Không, không, không thể nào có một vị chúa trời được nữa”, ông ta phân bua với mọi người chung quanh. Những tu sĩ khác vẫn giữ đức tin, nhưng trong óc não họ có nhiều điều đã bị thay đổi. Họ học hỏi được khối chuyện khi đụng chạm với công việc tay chân và với một chế độ ăn uống thiếu thốn. Họ đã khổ đau rất nhiều hơn người khác và một cách tổng quát, họ tỏ ra rất gan dạ và dũng cảm.

Ramelin là người duy nhất trong toán chúng tôi cần được giúp đỡ; tất cả những người khác đều đã ra đi hoặc tự lo liệu lấy được. Làm việc ở nhà máy thì không có gì khó nhọc lắm, nhưng dạ dày luôn, luôn đòi hỏi một sự tối thiểu, và gia đình thì không thể gửi cho anh gì cả. Mỗi lần tôi có thể chuyển cho anh một ít xúp, tôi phải rầy rà anh bởi vì mặc dù câm, nhưng anh vẫn cứ thốt lời “cám ơn”. Anh ta cần thực phẩm: 48 kg trên một chiều cao 1m80. Cái đầu anh ta đong đưa trên cao như một trái dừa, và với một cái đầu như thế, anh ta lại chỉ có một chút xíu ngực.

Cùng với Ramelin và các bạn khác, Đại tá Ganrveval. Michael, Max, khi có dịp ngồi chung với nhau, chúng tôi kiểm điểm lại tình hĩnh. Tất cả các máy bay kia gần như bay ngang hàng ngày chắc phải gây nhiều thiệt hại và ai biết đâu, một vố mạnh nứt khoát lại chẳng được nối tiếp theo đó? Tất cả chúng tôi đều có thể đứng vững trong khi chờ đợi. Bưu kiện vẫn luôn luôn đến hàng đống và quà biếu cho kẻ nghèo càng ngày càng rộng rãi hơn. Jacob, vẫn luôn luôn để cho chúng tôi làm việc theo sáng kiến, đề nghị thành lập một ủy ban và ông chỉ định tướng Challe chỉ huy. Ủy ban sẽ chỉ định thêm nhiều tiểu ban, và đối với một số ít, có thể tin rằng đây là cả một guồng máy cai trị một tỉnh nhỏ. Như vậy mọi người đều có thể chứng tỏ khả năng chỉ huy dẫu cho lãnh vực chỉ huy chỉ là vệ sinh sạch sẽ bay là phân phối phó mát trắng một vòng thứ hai. Loại phó mát này thật ra chỉ là một thứ bột, nhưng vì quá thiếu thốn nên nó được coi là một món ăn ngon. Và vì những người có bơ riêng, thường bỏ phần phó mát mà họ được chia, những người khác thường được chia thêm. Xúp được phân phát, mọi người mang ra ngoài để ăn mà không quên mang theo đồ vật của mình. Tất cả trông giống như một bọn vô lại đang ăn uống no say, nhưng không có rượu và gái.

Mặc dù vậy, có rất nhiều người bị đau ốm trong khối và đã có hai “ngăn” hoàn toàn dành cho họ. Luôn luôn cũng là chừng đó thứ bệnh: sưng phổi: kéo dài từ mùa đông vừa qua hay là kiết lỵ. Nhiều người ra đi vĩnh viễn trong cùng một ngày, và nếu khi sống họ chẳng cho ai được gì, lúc chết, họ ban cho bốn người khiêng xác được hưởng gấp đôi phần ăn. Tôi nghĩ đến những nạn nhân đầu tiên được Boucher đọc điếu văn trong khi mọi người lắng nghe trong sự suy tưởng sâu xa. Nghi lễ đó nay đã chấm dứt, khi một chiếc cáng đi qua, chỉ những người bạn thân là còn quay lại nhìn vĩnh biệt. Trong những ngày đầu họ còn lo lắng cho người bạn bị đau ốm, những niềm âu lo, sự săn sóc ấy không kéo dài được lâu. “Lành bệnh hay là chết, nhưng đừng kéo dài!” Thế mà ngoại trừ những người già yếu, phần đông bám lấy cuộc đời với tất cả sức tàn của mình bởi vì suy cho cùng thì chấm dứt cuộc đời tả tơi trên đệm rơm thối tha và vài giờ sau, chỉ còn là một cụm khói xanh, là cả một cái gì đau đớn quá!

Nhiều chuyến công-voa khác chở tù nhân đến đều đều và trong các dãy trại người ta tưởng thì chứa được sáu trăm là tối đa, nhưng bây giờ lại phải chen chúc nhau với con số tám trăm và trong một vài chỗ, con số đó đạt đến mức một ngàn. Hãy tự lo liệu lấy! Và cứ như thế, luôn luôn bị dồn cục, một khu trại mới gồm toàn nhà lều quân đội vĩ đại phải được dựng lên thêm. Trong khi chờ đợi có rơm để làm đệm. đêm đầu tiên tù nhân phải nằm ngay trên cỏ và các đêm dài tháng 5 chỉ êm dịu trong thi phú mà thôi. Đối với những người mới đến, thời gian ở trại này không lâu, một loạt các mũi thuốc chích, rồi lại lên đường. Dora đã hoàn toàn bị phá hủy hay gần như vậy, nhưng nhiều nhà máy khác được xây cất sâu vào lòng núi trong vùng Thuringe, chúng luôn luôn đòi hỏi nhân công. “Chúng oanh tạc bao nhiêu kệ chúng, Goebels nói; chúng ta cùng với kỹ nghệ sản xuất, chúng ta chui xuống lòng đất” lời nói thật hay để kích thích bọn cuồng tín, tuy nhiên chính chúng tôi phải trả giá cho chủ trương đó!

Có thể nói trực giác không bao giờ lầm lẫn. Cùng với các cuộc di chuyển cách nhau đều đều, mối lo ngại của tôi chợt đến. Vì lý do nào? Thật khó giải thích, tuy nhiên có cái gì đó cho tôi biết rằng tôi sẽ không ở mãn đời tại Buchenwald, và chuyện đã xảy ra một cách đơn giản như sau: buổi sáng ngày 19 tháng 5, trong khi mọi người đi rửa mặt, một tùy phái của văn phòng trung ương đến kiếm tôi. Đó là một trường hợp đặc biệt, và nếu có Jacob ở đó tôi sẽ lập tức báo cho ông ta biết. Dầu sao; có thể đây chỉ là một sự triệu dụng để hỏi về một tin tức nào đó. Tôi chưa bao giờ bị gọi và tôi chỉ biết sơ sơ các nhân viên kỳ cựu làm việc ở đây. Hình như có một người ở văn phòng trung ương biết rõ tôi, đó là người bạn của Albert, tuy nhiên câu chuyện đó nay đã quá xưa cũ rồi, và tôi cũng đã quên mất.

Tại quảng trường, nhiều hàng người trong y phục tù nhân để sẵn sàng ra đi, đang đứng đợi. Sao, có phải vì một cuộc di chuyển mà người ta cho gọi tôi? Theo thông lệ, người ta thường thông báo cho tù nhân biết trước ít nhất là 24 tiếng đồng hồ.

– 44809?

– Phải, chính tôi.

– Anh phải đi ngay, – một người Tiệp Khắc báo cho tôi biết bằng tiếng Đức.

– Đâu có thể như thế được, – tôi nói với anh ta bằng một giọng hốt hoảng.

– Tôi không biết, – anh ta trả lời vắn tắt trước các câu phản đối của tôi, – tôi chỉ biết anh bị ghi trong danh sách, vả chăng kia kìa, cuộc kiểm điểm đã bắt đầu và cổng trại đã mở cho một trăm người đầu tiên đi ra.

Kẻ nào toan tính vố nầy, có thể hãnh diện là đã chuẩn bị rất kỹ. Hắn biết rằng tôi đã mặc sẵn áo quần sọc từ vụ bị tống đi hụt vừa rồi và như vậy tôi không cần phải quay trở lại nhà kho áo quần nữa. Bị lượm vào phút chót, tôi không có thì giờ vận động sự can thiệp và ngay cả việc báo tin cho một ai cả. Jacob hay một người khác có đến đi nữa, thì cũng đã quá trễ rồi.

Có lẽ Marcel Paul (Bộ trưởng sản xuất kỹ nghệ Pháp sau chiến tranh), người mới từ trại Auschwitz đến được 8 ngày và được chỉ định lãnh đạo ủy ban kháng chiến bí mật, có thể làm một cái gì đó cho tôi, nhưng làm sao kiếm ông bây giờ trong cái thị trấn hiểm độc tin gồm hơn 50.000 tù nhân nầy.

Lúc khởi hành, ngay khi bọn SS cầm bảng danh sách trong tay, ai bị ghi vào đó là phải có mặt. Mọi mưu mô xắp xếp và thế chỗ chỉ có thể làm được đêm qua, bây giờ, quá trễ. Tên SS đã cầm bảng danh sách trong tay, một người nào đó trong văn phòng trung ương vừa đem ra đưa cho hắn ta. Nếu người bạn của Albert có là kẻ đào huyệt chôn tôi đi nữa, thì ít ra hắn cũng nên đến bảo tôi: “Chính ta đã làm cho mầy phải bị tống đi. Albert đã được trả thù!”, thì tôi cũng được biết được, và chắc anh ta cũng không từ chối một sự nhờ nhỏ giản dị của tôi: gởi lời từ giã bạn bè. Nhưng ra đi một cách bí mật, trong sự im lặng thì đau đớn quá! Tôi bị hạ gục. Ai biết cho? Một niềm hy vọng tối thượng dâng lên trước khi nhóm một trăm người chúng tôi đi qua công trại để đến sân ga xe lửa; có lẽ đây là một lầm lẫn của văn phòng trung ương, người ta sẽ cho gọi tôi trở lại…

Tôi đã đi thật, và không bao giờ tôi biết được ai đã hại tôi lần nầy.

——————————–

1Người dân vùng Bohéme, ở phía Tây Tiệp-Khắc.
2Vivisection = Giải phẫu sinh thể: cứ để con vật sống như thường và mổ ra xem, ở đây bọn y sĩ SS bắt tù nhân, mổ sống để xem và thí nghiệm.

Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 15 Nov 2025

Phần 16 – Kết

Người khách cuối năm

Từ ngày chị Tích, vơ anh qua đời vì tai nạn, ông anh vợ rời Việt Nam đến định cư ở Hoa Kỳ, Thuyết trở thành người thừa hưởng cái cơ ngơi gồm một căn nhà khá rộng và một khu đất mênh mông, cỏ mọc um tùm quanh năm bởi anh không phải là người làm nông chuyên nghiệp! Thỉnh thoảng, anh thuê người làm cỏ, thường là trước tết âm lịch hàng năm,

Năm nay, những ngày giáp tết đã gần kề, anh khỏi làm vì hôm tháng mười một dương lịch, ngày lể các Thánh, anh đi thăm mộ vợ ở nghĩa trang về, thấy khu đất um tùm, nhớ đến hai ngôi mộ của người chủ trước, bán lại cho ông anh rồi biệt tăm ba năm năm nay… anh thuê người làm cỏ, vun nền, thắp nhang cho  ngôi mộ, anh cũng gởi lể cầu hồn cho họ dù không biết tên thánh là gì!

Ánh nắng đã tắt, trong cái chập choạng của buổi chiều, Thuyết rờn rợn người khi thấy một bóng người ngồi ủ rủ nơi mé trái hàng hiên.

Bốn năm nay, anh sống đơn độc, năm ngoái anh đón bà chị ruột đã lớn tuổi, cũng côi cút về ở cùng…

Nghe tiếng xe của anh, người lạ ngẩng đầu lên, nhìn anh gật đầu chào cùng lúc bà chị xuất hiện nơi cửa chính, cất giọng nói to, cách nói của người già nghễnh ngãng:

-Anh đây là chủ trước của khu đất, hai ngôi mộ là vợ và con của anh ấy! Nghe vậy, Thuyết dựng xe đến bắt tay người đàn ông:

Cài tên của người khách thoáng qua trí nhớ của Thuyết, anh nhớ tới mớ giấy tờ sang nhượng đất mấy năm nay vẫn nằm trong tủ.

-Chào anh, anh là anh Hào? sao chị không mời anh vào nhà?! Anh đến lâu chưa?

-Cảm ơn anh, cũng mới thôi anh ạ.

-Anh đã ra thăm chị và cháu chưa?

-Tôi chờ anh về!

-Không biết anh có Đạo hay không, Lễ phục sinh vừa rồi tôi có gởi lể cầu hồn cho chị và cháu, nhưng không biết tên thánh là gì!

-Người lạ lại đưa tay bắt tay Thuyết, anh ta bóp mạnh:

-Tôi cũng Thiên Chúa Giáo. Cảm ơn anh lắm!

Là người theo đạo Thiên Chúa Giáo thuần thành. Nhưng Thuyết thắp nhang thường xuyên. Anh vào nhà lấy nhang rồi kéo tay người đàn ông cùng đi ra góc vườn. Người đàn ông quỳ sụp xuống nơi ngôi mộ lớn, khóc rấm rức. Thuyết cũng nghèn nghẹn nơi cổ, vợ anh cũng đã chết tức tưởi sáu năm nay, sau hơn mười ba năm chung sống thuận hòa hạnh phúc! Đứa con trai của Anh nay đã vào đại học.

Từ lâu rồi, không hề gặp người đàn ông này để đề nghị đưa hai nấm mộ ra nghĩa trang rồi xây cất tử tế. theo ý nguyện của bố vợ anh. Không biết gì về họ, ngoài cái tên Hào, nhưng nhìn người đàn ông gầy gò với những nếp nhăn khắc khổ trên gương mặt sạm đen, trong lòng anh dậy lên một mối cảm thương với  anh ta.

Bóng tối phủ lên khu vườn, cảnh vật chìm trong cơn gió se lạnh của những ngày cuối đông. Người đàn ông đứng lên, lúng túng nhìn Thuyết ấp úng:

-Cảm ơn anh đã chăm cho mộ vợ và con tôi bấy lâu nay…

-Anh định đi đâu?

-Tôi tính đi tìm một người quen cũ qua đêm, rồi mai thuê người đưa cô ấy và cháu ra nghĩa trang, mẹ tôi cũng chôn ở đó.

-Sao không ở lại đậy với tôi, từ lâu rồi tôi mong gặp anh!

Cả hai vào nhà, mâm cơm được bà chị dọn sẵn, Thuyết mời người lạ cùng ngồi vào bàn. Từ dạo sống như kẻ đốc thân, Thuyết có thói quen uống rượu vào buổi chiều, khi thì ở trường cùng với đồng nghiệp, khi thì một người bạn nào đó, nếu không thì bữa cơm tối anh cũng uống vài cốc, loại rượu trắng ngâm chuối hạt…

Anh mời người khách ngồi vào bàn, đơm cơm rồi rót rượu ra hai cái tách trà:

-Mời anh, từ khi bán lại ngôi nhà, chắc là anh đi làm ăn xa?

-Vâng, tôi lên Buôn Ma Thuột! Tôi đã có trước một đời vợ, cũng có một đứa con trai, chúng tôi chia tay nhau mười năm nay, cô ấy dành phần nuôi con rồi lên Buôn Ma Thuột làm ăn cúng người chồng mới. Hai ngôi mộ này là vợ và con thứ hai của tôi!

Tiếng người đàn ông trầm, buồn buồn kể lại chuyện của mình…Thuyết ngồi nghe trong yên lặng, anh nghỉ đến chặng đường người khách đã trải qua, dài như một cuộc khổ nạn!

Sau khi chia tay người vợ trước, tôi không còn nghĩ đến chuyên chắp nối thêm một lần nửa, bởi thấy rằng trong hôn nhân, với nhiều người lả nguồn hạnh phúc, nhưng với số phận của tôi thì hạnh phúc ấy thật mong manh!

Chỉ sau khi sinh đứa con hai năm, cô ấy bắt đầu ngoại tình với một cán bộ tài chính huyện, họ có chung một đường dây huê hụi lớn trong vùng, trên danh nghĩa làm ăn, họ gần gũi nhau cho đến khi tôi bắt gặp, ngay trong phòng ngủ ngôi nhà mình! Ngôi nhà đứng tên cô ấy nên tòa tịch biên sau khi họ bỏ trốn, tôi về ở với Mẹ, lô đất này là của bà ấy. Mẹ tôi mất một năm sau!

Sau khi ra tòa, nhận phần nuôi con, cô ấy và hắn, tên cán bộ tài chính bỏ trốn cùng với mấy tỷ tiền huê hụi và cả của nhà nước…làm khốn đốn nhiều người!

Ba năm trước, Tôi mới biết cô ấy đang ở Buôn Ma Thuột, đứa con trai của tôi và cô ấy phải vào tù vì dính vào một vụ cướp! Tôi tìm lên thăm con…Biết sự tình là trong đám thanh thiếu niên của vụ án, con tôi chưa đủ tuổi thành niên, nhưng muốn lo lót trước khi tòa xử, phải chạy một khoản tiền mả cô ấy không có hay không muốn bỏ ra, tôi phải trở về bán lô dất và căn nhà này…Nhưng rồi cũng không lo được cho đứa con thoát vòng tù tội! Tiền mất tật mang, nó ra tòa lãnh án bốn năm tù giam!

Cô ấy lại cùng chồng mới trốn đi lần nửa! Họ đã có với nhau hai đứa con… Không đành bỏ con tù tội không ai thăm nuôi, tôi mua một đám dất nhỏ, dựng một cái chòi…rôi hàng ngày đi làm thuê, vừa nuôi bản thân vừa dành dụm hàng tháng đi thăm con trong tù!

Hào nâng cốc hớp một hớp rượu, anh mồi một điếu thuốc, đôi mắt như chìm vào những buồn đau của ký ức. Thuyết cũng nâng cốc, anh cạn ly rồi rót đầy lại hai cốc như chung chia nỗi buồn cùng khách. Gió đêm thổi qua khu vườn làm lao xao cây mãng cầu nơi cửa sổ gần bàn, Thuyết đứng lên đến đóng cửa sổ rồi đóng luôn cửa chính. Bầu trời đêm lưa thưa vài vì sao…như làm buồn thêm cái không khí của những đêm cuối năm. Ngồi lại bàn, Thuyết rụt rè hỏi Hào như sợ câu hỏi khơi thêm nỗi đau trong lòng người đàn ông bất hạnh:

-Anh gặp chị…đây lúc nào? Không biết gọi người vợ thứ hai, người nằm dưới ngôi mộ sau vườn thế nào, Thuyết ngần ngừ rồi gọi: chị…đây.

Hiểu ý Thuyết, Hào lại nhấp thêm ngụm rượu:

-Hân là em gái của Phú, một người bạn của tôi. Chúng tôi quen nhau từ khi cô ấy còn học cấp ba. Hân thích Thơ và nhạc, thỉnh thoảng hỏi tôi về một nhà  thơ nào đo của thời tiền chiến. Những bài thơ tôi nhớ được làm cô ấy thích thú. Cô ấy tất thích cái tâm trạng bồi hồi của cô gài trong “Mưa xuân” của Nguyễn Bình, thường lặng yên, chống cằm ngồi nghe tôi đọc những bài thơ: “ Thu xa”, “ Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm , “Đôi mắt người Sơn Tây”, “Quán bên đường”… của Quamg Dũng…Tôi cũng biết đàn, chỉ chơi được chút ít để tự dàn, hát những bản nhạc yêu thích, cô ầy nghe hát, cảm nhận với tấm hồn lãng mạn trẻ trung của tuổi mới lớn… Cô ấy thích nghe tôi hát bản: “Hương xưa” của Cung Tiến, “Gợi giấc mơ xưa” cuả Lê Hoàng Long… Chúng tôi giống nhau về sở thích…Những bài thơ, bản nhạc nào tôi thích, Hân cũng thích…

Hết cấp ba, Hân vào Đại Học ở Sài Gòn, Tình cảm của chúng tôi không phải là tình yêu mà chỉ là cảm mến nhau, Hân còn chưa trưởng thành đê nói đến tình yêu, cô ấy luôn tôn trọng tôi như một người anh, một người thấy có kiến thức cần thiết cho mình…Cô ấy còn có những ước mơ xa xôi của tuổi mới lớn, Vào Đại học là con đường thênh thang cô ấy mong mỏi lâu nay.

Chúng tôi chia tay nhau trong niềm hy vọng tương lai của Hân. Sài Gòn, nơi mà những cô bé mới lớn mong ước được sống cùng với đời sinh viên…Những tháng đầu, chúng tôi liên lạc nhiều, nhưng rồi cũng thưa dần khi cô ấy bắt đầu hòa nhập được với bạn bè và môi trường mới.

Tôi cũng quên dần cô ấy với những lo toan công việc thường ngày của một công nhân viên, Tôi bận rộn thường xuyên với những việc đo đạc, vẽ bản đồ và những cuốc nhậu tràn bờ…của một càn bộ địa chính…Tôi quen dần với những mối quan hệ nhiều toan tính trong giao tiếp thường ngày… làm cằn cỗi đi tâm hồn tôi. Rồi tôi lập gia đình…

Hân ra trường, Cô ấy làm việc cho một công ty nào đó ở trong ấy.

Lúc này, tôi không còn tâm trí nào để nghĩ đến ai. Vợ tôi xoay trong những cuộc làm ăn, hái ra rất nhiều tiền củng với những mối quan hệ không minh bạch! Với sự đồng lỏa của tay cán bộ tài chình, nhiều lần cô ấy lấy danh nghĩa của tôi để bán khống những lô đất trong thị trấn. Chuyện vở lỡ, tôi bị kỷ luật buộc thôi việc…

Trút bỏ tất cả, tôi mua một đám đất rừng. vừa trồng rừng vừa chăn nuôi…Cho đến khi chuyện ngoại tình của cô ấy vở lỡ…cùng với những vụ lường gạt huê hụi sau đó!

Tôi gặp lại Hân trong một buổi tiệc mừng tân gia của Phú ở thị xã. Cô ấy cũng ê chề vì yêu rồi lấy nhằm một anh chồng đã có gia đình. Biết được, cô ấy chia tay.

Phú thương em, Không an tâm khi để Hân sống đơn độc tại Sài gòn…gọi Hân về, mở một cơ sở Photocopy, đồng thời cho các cơ quan, công ty… trong thị xã thuê máy photocoppy cũ, giao cho nàng quản lý.

Niềm vui lẫn nỗi buồn gặp lại nhau trong hoàn cảnh cả hai đều thất bại trong hôn nhân. Tôi uống nhiều…

Khi tàn tiệc, Hân không cho tôi về một mình. Đoạn đường từ thị xã về đây ba mươi lăm cây số. Cô ấy chở tôi về rồi nhất định ờ lại đêm cùng tôi.

Sau đêm đó, Hạnh phúc mà chúng tôi cảm nhận được tử hai tâm hồn hòa cùng thể xác của nhau… cả hai chúng tôi đều tiếc nuối cho những tháng năm qua!!!

Chúng tôi nâng niu từng ngày niềm hạnh phúc muôn màng. Hai chúng tôi cùng mong mỏi một đứa con cho trọn vẹn hạnh phúc chồng vợ…Nàng mang thai sau một năm chung sống. Đứa con lớn dần, là con trai và đã được năm tháng!

Tôi không để cô ấy làm một việc gì, cực chẵng đã phải đi xe máy như đi chợ thì tôi chở đi…Khi tôi lo lắng ngăn ngừa tai họa từ hướng này thì bằng ngã khác, tai ương ấp đến với chúng tôi!

Năm đó cũng vào những ngày cuối năm, trước lể giáng sinh vài hôm, Trong một lần tắm, cô ấy bị ngã trong phòng tắm, bụng cố ấy dập vào bồn cầu…Tôi kinh hải nhìn cô ấy đớn đau trong máu và nước! Khi đến bệnh viện thị xã, thì cả cô ấy lẫn thai đều quá yếu. Buộc phải mổ đưa thai ra để chăm cho mẹ…

Với thai năm tháng tuổi, bênh viên không dủ đều kiên trợ tim, trợ thở cho cháu. Nửa giờ sau khi đưa ra khỏi tử cung, con chúng tôi ngưng thở!

Hân vẫn nằm trong phòng hồi sức! Một nữ y tá bồng cháu ra, trao cho tôi:

-Không thể cứu được cháu, chị vẩn còn hôn mê nhưng đã qua cơn nguy kịch. Anh đem cháu về rối sáng mai trờ lại!

Tôi gọi báo tin cho Phú rồi mượn bạn chiếc xe máy. Phú đến cùng em gái Hân ngay sau khi nghe điện. Trùm cháu trong một cái áo khoác, tôi cột hai tay áo ra sau cổ thành chiếc võng rồi trong đêm, chạy về nhà, Tôi chôn cháu trong vườn để sáng còn trở lại bệnh viên. Tôi vừa chạy xe vừa lầm rầm khấn cầu với cháu: Con ơi, con hãy cứu mẹ!

Vết mổ của Hân nhiễm trùng, tái đi tái lại cộng với lượng máu mất nhiều.  Cô ấy kiệt sức rồi mất sau mười hai ngày nằm trong phòng hồi sức! Tôi đau đớn tột cùng. Đưa Hân về chôn bên con…

Không lâu sau, chưa hồi tâm sau mất mát đau lòng này, tôi được tin con trai vướng vào vụ án!!!

Suốt đêm hôm ấy và mấy đêm sau nửa, Thuyết không ngủ được, anh trằn trọc với những khốn khổ mà Hào, người khách cuối năm kể lại. Bố vợ anh có ý tự nguyện giúp cho Hào một khoản tiền, đủ để xây cho ba ngôi mộ, luôn cả mộ mẹ của Hào.

Hôm xong xuôi, Hào nghẹn ngào ôm Thuyết, mếu máo những lời cảm ơn. Không lớn lao to tát, nhưng ba nấm mộ cũng khá khang trang. Hào trở lại Buôn Ma Thuột.

Chia tay nhau nơi bến xe, tấp nập người đi kẻ về vào những ngày cuối năm… dáng Hào đơn độc, bước đi liêu xiêu với cái túi xách trên vai. Thuyết cúi đầu quay về, lỏng trĩu nặng như mang theo nỗi bất hạnh của Hào.

Anh ngẩm nghĩ: Hạnh phúc của kiếp con người, bao giờ cũng mong manh ngắn ngủi, nhưng nỗi bất hạnh thì xem chừng như trùng trùng, vô tận!!!

Sài gòn, 01/12/2016.

Trần Hữu Hội

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 15 Nov 2025

Phần 16 – Khi người đàn bà đứng dậy

 Sau những ngày đêm nghĩ suy trũng mắt, nàng quyết định dắt hai con nhỏ theo chồng vượt biển ra đi. Con đường mòn giữa rừng dẫn ra biển dài ngun ngút. Nỗi âu lo tràn ứ trong lòng cứ giục chân nàng bước tới, hai tay dìu hai con thơ. Nôn nóng, sợ sệt, tim nàng mảy may không một chỗ nào còn trống cho cái cảm giác ly hương bùi ngùi nước mắt như ngày xưa Kiều ra đi mà…”lòng quê đi một tấc đường một đau” hay cái cảm giác của chàng chinh nhân trong Chinh Phụ Ngâm… sau những giây phút “múa gươm rượu tiễn chưa tàn – chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo…” Nhưng khi phóng người lên lưng chiến mã thì chàng lại bịn rịn, “bước đi một bước giây giây lại dừng…”. Nàng cắn răng nhủ lòng: một sống, một chết! Phải liều thân.

Đến bờ nước, điểm hẹn bốc người, nàng bàng hoàng trước những con sóng cứ đuổi nhau vô bờ trong lúc chiếc ghe nhỏ xíu mang theo mẹ con nàng vật vã ngược sóng đi ra. Sóng nước quê hương như muốn giữ nàng lại, nhưng khát vọng tự do và tương lai cuối trời lại đẩy nàng vào chốn mênh mông trùng trùng sóng nước. Càng xa, quê hương càng mờ dần. Quê hương, một mầu đen ảm đạm biến mất cuối trời mây trong bóng đêm dày đặc. Nàng nắm tay chồng:

– Thoát chưa anh?

– Dường như ghe đã tới hải phận quốc tế rồi em! Hy vọng thoát!

– Em sợ quá! Sống không nổi phải ra đi! Tội nghiệp hai con! Mình đi một phần cũng vì tương lai của hai đứa nhỏ!

Vợ chồng nàng và hai đứa con đã thoát thật sự, đã sống thật sự khi chân nàng lê những bước mệt nhọc đầu tiên trên bờ cát Bidong sau chuyến hải trình sóng gió giữa biển rộng. Có những hôm ra cầu Jetty, nhìn hàng dừa xanh, nàng chạnh nhớ hàng dừa Mũi Né, nhìn bờ cát trắng, nàng mơ màng Cà Ná, sóng vỗ gọi hồn sông nước, nàng đoạn ruột nhìn về phương trời quê cũ, một vầng mây bạc lang thang ở cuối tận chân trời. Nàng thấy cuộc đời nàng đang như những áng mây vô định, càng trôi, càng xa rời nơi chôn nhao cắt rốn nghìn trùng xa cách. Mắt nàng bỗng ươn ướt, và hai giọt nước mắt lăn tròn trên má người thiếu phụ. Hình ảnh quê hương, cha mẹ, anh chị, bờ cây, ngọn cỏ đang vọng tiếng thê lương nhung nhớ trong lòng nàng…

Sáu tháng sống nhờ cơm Cao Ủy, vợ chồng nàng lên đường định cư ở một nơi xa lạ, thấy trên giấy tờ ghi Canada. Sau chuyến bay dài gần nửa ngày, nàng đến Montreal rồi lại đi tiếp đến Vancouver, một thành phố lạ nàng chưa hề nghe trong đời. Nàng đến Vancouver vào giữa mùa đông, co ro, buốt giá khi những hoa tuyết lãng đãng rơi trên vai, trên tóc nàng như thay lời chào đón: “Welcome to beautiful British Columbia“.

Nàng choáng ngợp trước một thành phố tấp nập rực rỡ ánh đèn, ngập tràn xe cộ… Song rồi mọi thứ cũng đâu vào đó. Nàng thấy ấm lòng trong bàn tay bảo trợ chu đáo của nhà nước Canada. Cuộc sống mới bắt đầu. Hai đứa nhỏ có trường mới, bạn mới và chỉ mấy tháng sau, nó bắt đầu nói tiêng Anh ngon lành. Nàng không tưởng tượng nỗi khả năng tiếp nhận ngôn ngữ nhanh chóng của hai con. Nàng nhớ lại câu nàng nói với chồng ngày nào trên biển: “mình di một phần cũng vì tương lai của hai đứa nhỏ.” Uớc mơ đã hiện thực hôm nay trên con đường mỗi sáng dắt con đến trường

– Bảo! Bình! Mẹ rất mừng khi hai con nói tiếng Anh rất giỏi! Nhưng khi về nhà thì nhớ nói tiếng Việt với Ba Mẹ nghe! Con nói tiếng Anh, Ba Mẹ không hiểu hết…

– Mình ở Canada mà Mẹ!

– Ừa! Mẹ biết! Nhưng mình là người Việt Nam, về nhà mình nói tiếng Việt Nam, mình giữ tiếng Việt Nam để sau này con nói giỏi hai thứ tiếng. Mai con cứ hỏi cô giáo con là người nói hai thứ tiếng tốt hơn là người chỉ nói một thứ tiếng, xem cô giáo có cùng ý với Mẹ không?

Hôm sau, hai thằng bé vào lớp cùng hỏi cô giáo một câu. Cô giáo lúc đầu hơi ngạc nhiên, nhưng sau đó trả lời là người nói nhiều ngôn ngữ có ích hơn là chỉ nói một ngôn ngữ, và cô giáo khuyến khích nên giữ tiếng Việt đừng bị quên mất. Tan học, Bảo và Bình chạy một mạch về nhà và tranh nhau nói trước với Mẹ:

– Mẹ ơi! Cô giáo con cũng nói giống Mẹ vậy! Ờ nhà tụi con nói tiếng Việt với Mẹ nghe!

Nàng ôm con vào lòng, và thấy hơi ấm hạnh phúc tràn lan trong phòng. Mấy tháng nay, cả hai vợ chồng đều sống nhờ trợ cấp xã hội của nhà nước. Số tiền cấp dưỡng cho gia đình nàng vừa đủ sít sao cho những chi tiêu căn bản của đời sống, nhà cửa, điện nước, ăn uống, áo quần… Muốn làm cái gì rộng tay một chút thì y như rằng, tháng kế phải cắt xén không tiền ăn thì cũng tiền dắt hai con đi Mac Donald vào những Chúa Nhật.

Nàng nhận ra, số tiền giới hạn nhà nước cung cấp như một cái khung căn bản ban đầu cho một gia đình đầu tiên trên đất mới, nhưng cái khung đó quá chật hẹp khi cuộc sống bắt đầu đơm hoa, con càng lớn, ước vọng càng đâm chồi, một chiếc xe cùn để chạy đỡ giò thay vì le te chạy theo mấy chiếc xe bus với mấy giỏ nylon thức ăn mua ở Safeway hay chợ Tàu, có khi ngả té văng cả thức ăn, có khi đợi xe dưới trời buốt giá.

Thêm vào đó, khi thư Canada về đến Việt Nam thì lại có mấy cái thư kêu cứu của gia đình, bè bạn bay ngược lại. Đôi lúc nàng có cảm tưởng bà con ở Việt Nam xem nàng như nàng công chúa trên trời rơi nhẹ nhàng xuống một vùng hoa lá đầy vàng đầy ngọc hai bên vệ đường, và nàng công chúa ấy phải nhặt gửi về lại Việt Nam. Thương cha mẹ, hai vợ chồng nàng lần đầu chắt chiu gửi về mây trăm đô la, và tháng sau đó là thắt lưng buộc bụng.

Một năm trôi qua, hoài bảo, tương lai các con và gia đình đã ở trong tầm tay, nó không còn là những đám mây trên biển cả, nó không còn là những đám mây trên trời Pulau Bidong, nó không còn là những giọt nước mắt trong những ngày đầu nơi xứ lạ; nó hiện hữu, nó nắm bắt được, sắp đặt được, bàn tính được. Khả năng Anh ngữ của vợ chồng nàng đã đủ để tạm sống giữa xã hội Canada, nó không còn lọng cọng với chỉ hai chữ no và yes … Nàng tin là mình có thể bước tới tương lai bằng hai chân của mình mà những giúp đỡ của nhà nước chỉ là những bệ phóng ban đầu cho những người Việt Nam tỵ nạn khát khao tự do và đầy nghị lực. Khi cánh con chim đã đủ lông vũ xòe ra giữa trời lộng gió thì có ngày, nó sẽ bay liệng giữa trời bao la.

Buổi tối, khi cho con ăn xong và hai đứa bé ngủ yên trên giuờng, nàng bàn với chồng:

– Anh nghĩ sao khi cả hai vợ chồng mình cùng đi tìm việc làm?

– Ủa! Bữa nay sao em có tư tưởng cách mạng dữ thế?

– Đâu có gì là cách mạng? Đâu có gì là ghê gớm? Mình đến xứ tự do để xây đắp một đời mới, một tương lai mới. Chẳng lẽ ôm hai đứa nhỏ ăm “queo – phe” suốt đời? Không biết anh nghĩ gì, chứ nhiều bữa mình xếp hàng chờ lãnh tiền trợ cấp hàng dọc dài với thiên hạ, em thấy ra sao ấy! Tính em tự lập, không muốn lê kiếp sống nhờ!

– Rồi hai đứa nhỏ? Ai đưa nó đi học? Hết giờ ai đón nó?

– Cái đó giải quyết được! Mình đi tìm việc làm. Người làm sáng, người làm chiều, hoặc cha, hoặc mẹ. Như vậy là lúc nào cũng có người đưa đón và chăm sóc con!

– Bộ em tưởng đi làm sướng lắm hả? Cứ tàn tàn sống nhờ “queo-phe” có chết con chuột nào đâu?

– Kỳ vậy? Ngày xưa anh xông xáo tổ chức vượt biên, tù tội mấy bận, anh như một chiến sĩ dọc ngang, liều mạng nhờ vậy mà hôm nay mới có mặt ở Canada, chứ không thì chắc phải eo xèo hắt hiu trong lao tù hay trong mấy cái hóc bà tó kinh tế mới. Sao bây giờ trên đất tự do, thiên hạ làm ăn ì xèo, anh lại co cụm an thân? Anh thấy hai đứa nhỏ càng ngày càng lớn như thổi, quần áo mua tháng này, mặc vài ba tháng sau nó nhổ giò phải mua cái khác, nhà cửa quá đạm bạc, lại còn dư chút ít để giúp chút cháo bên nhà.

Sống như vầy hoài, em chịu không được! Nhà nước Canada đâu mắc nợ tiền kiếp tụi mình mà tụi mình cứ ngồi ăn không hoài. Nói thiệt với anh, anh không đi làm thì em đi làm. Tương lai chúng ta, con chúng ta phải bung rộng từ bàn tay chúng ta!

Nàng nói thao thao. Giọng nói thoát ra từ nghị lực, niềm tin và niềm tự hào của một người bỏ nước ra đi và vượt thắng định mệnh trái ngang, nghiệt ngã. Nàng không thể giẫm chân tại chỗ khi đến xứ này, nàng không thể đầu hàng khi có cơ hội chiến thắng: một tương lai tự tạo, tự hào và tươi sáng hơn. Nàng nhìn chồng ngồi trầm ngâm.

Đêm nay có lẽ là đêm quan trọng thứ hai kể từ đêm đầu tiên đặt chân đến Canada. Người vợ mảnh mai của chàng hôm nay như một nội tướng hóa thân thành một dũng tướng, hoạch định cuộc hành quân ngoài mặt trận. Chàng có một chút ngạc nhiên, chàng cũng có một chút tự ái thèn thẹn khi nghĩ lại những lời tiêu cực của mình lúc bàn luận với vợ. Quá khứ chàng hiện lại trong những ngày hành quân ngang doc trước 75, những ngày tù tội trong các lò cải tạo, những đêm chôn dầu vượt biển… Chàng như con mãnh sư trong rừng, như con cọp trong chuồng, như con báo đen… trong những trong những đêm đâu trí với công an để thực hiện chuyến đi sinh tử. Nay chẳng lẽ … Và chàng bất chợt nói với vợ:

– Em số một! Em là một người vợ hết sẩy! Mình phải vươn vai lên mới được! Thank you Canada! Thank you em!

Tháng đầu đi làm, tuy có vất vả chút đỉnh, nhưng không thấm vào đâu so với những ngày lao động chết người ở kinh tế mới nhưng không đủ ăn. Nàng và chồng nhận được hai tấm cheque đầu tiên do công sức của mình làm trên quê hương thứ hai. Hai tấm cheque cộng lại hơn gấp rưởi tiền trợ cấp xã hội hàng tháng trước đây. Hai tấm cheque khởi đầu cho một tương lai mở rộng.

Hàng tuần dắt hai nhóc tì đi Me Donald đều hơn, bàn ghế trong nhà tươm tất hơn, mấy thùng mì gói ít lại, và lâu lâu dư chút đỉnh báo hiếu cho gia đình mẹ cha nghèo khổ tại quê nhà.

Hai tấm cheque, cũng in bằng giấy, bằng mực như tấm cheque nhà nước cấp cho, nhưng sao nàng thấy nó dường như nặng hơn, trang trọng hơn, tự hào hơn. Nàng ngửa mặt nhìn trời, trái tim mở ra, tương lai mở ra… và những đám mây lang thang trên bầu trời Vancouver bỗng như hồng lên rực rỡ. Nàng đang bước đi giữa phố phường Vancouver trên đôi chân của một người đứng dậy … Nàng đang bước vào tương lai bằng đôi chân và ý thức trong sáng của người đàn bà Việt Nam bỏ nước ra đi vì tự do!

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 14 Nov 2025

8. Chương 8

Cô Bảy hột Điều và Cậu Ba – Luật sư Dương Văn Giáo

(Viết ngày 9-12-1990)

Phải gọi Bà mới đúng vì nay đã hơn tám mươi tuổi, và đây là một nữ anh thư, trong giới giang hồ lưu lạc mà giữ được khí tiết thanh cao, tôi dám chắc người đồng hội chưa ai ví bằng, và nay cô đang lần chuỗi bồ đề, tôi mong cô tròn quả phúc, vì vậy đã có nhiều cậu thanh niên, nghe tôi thuật, đòi chở tôi bằng xe ôm đi đến nơi cho biết mặt, nhưng tôi dại gì mà nghe lời, người ta đang tu hành, không nên phá đám, duy hôm nay bụng đói, Tết gần kề mà chưa sắm được chút gì, thành thử gượng viết lại đây chút ít hiểu biết về cô, nếu cô sẽ đọc, xin xóa cho cái tội thày lay và Nam mô Phật, xin Phật chứng cho, tôi không có lòng tà, bài nầy viết chực chúc xuân đầu năm con Dê Mới Tân Mùi, và chỉ có vậy thôi. Đã có người trong giới chủ nhà bán sách lớn, quen nghề quảng cáo, yêu cầu tôi lên đó, chụp cho một ảnh, tôi lại càng hoảng sợ, nhớ câu cũ rếch:

“Giai nhân tự cổ như danh tướng, bất khứng nhân gian kiến bạch đầu” nay cô đã da mồi, tóc trắng, lên đó làm chi, chụp một bô (pose) “hình bà vãi”, xinh đẹp thuở trước còn đâu, vả lại có biết cô khứng cho thâu ảnh hay không, sớn sác lên đó chỉ làm mất lòng người mà không kết quả.

Tuy vậy, gương của cô, nên viết lại đây, có tiền sup (soupe), và hùm chết để da, danh “Cô Bảy Hột Điều”, tôi xin thuật lại. Và tôi thuật theo lối thuộc lòng, chuyện thì tôi đã viết rồi, nhưng nay cũng không lấy ra đọc lại, cái bài thuật chuyện cũ để có dịp cắn hột dưa, nhắp chén trà thơm đầu xuân, buổi trà dư tửu hậu, chuyện thuật hôm nay sai lệch chuyện viết năm xưa, lại càng đượm hương trà…

Thưa cô Bảy, tôi là một vô danh tiểu tốt, lớn lối khoe rằng biết cô, chớ kỳ thật, nhắc lại cô có biết tôi chút nào, vì khi năm xưa, lâu lắm rồi, cách ba bốn chục, năm chục năm nay, khi tôi đến nhà cô ở đường Duranton (nay Bùi Thị Xuân) thì tôi theo hầu cậu Ba Giáo, luật sư Dương Văn Giáo là cậu của vợ trước của tôi (nay đã li dị) cô nào để ý đến tôi, một “xây lũ cố” (tiểu lão ca) thứ theo người lớn tuổi chực cơm chực nghe chuyện tiểu, và vài chục năm xưa, trước đây khi tôi lên đó để nghe cô nhắc chuyện đời, thì tôi lại tháp tùng xe Mercedes của bác sĩ Trần Văn Tứ, người chơi hoa lan nức tiếng vùng “Con Gà Quay Thủ Đức” lại cũng là thằng mê ăn cà ri của bà bác sĩ nấu, ngon số dách, và mê chà bài Thiên cửu nơi nhà bác sĩ, chờ xế chiều đón xe đỏ

Biên Hòa trấy về chợ Bà Chiểu, để lết bộ về nhà, mê ăn cà ri và mê đánh bài, mấy lần tháp tùng xe khín của người ta, cái thứ con người ăn bám xe khín ấy, cô cần nhớ lại làm gì, và chăng cô thành danh “mỹ nhơn, danh kỹ”, cô phát tích là cũng nhờ dựa hơi cậu Ba D.V. Giáo, cậu của vợ kẻ hèn ny, lẽ đáng tôi nên xưng hô với cô là mợ, nhưng cậu Giáo không cho và dạy gọi bằng cô, tôi xin dưng lời và nay nhắc tích cô và tích cậu Giáo, cô vẫn còn đây, nhưng cậu Ba, biệt tăm biệt tích, xin cô cứ nhắc và cứ kể, tôi xin kính cẩn cầm bút chép lại y như lời cô thuật:

Lời tự thuật của cô Bảy Hột Điều.

“Tôi lỡ sanh phận gái, cha mẹ thì nghèo, quê tôi tôi không muốn nói ra đây, thuở tôi đủ lông đủ cánh để bay nhảy tranh đấu vật lộn với đời, thì cô Ba Trà, cô Tư Nhị Nam Vang, cô Sáu Hương, em công tử Bích Trà Vinh, cô Hai Thời, cô Ba Pho (xe Ford) đều danh tiếng như cồn, nhưng mấy cô ấy sinh sống trong nghề đổ bác, hốt me với mấy ông cờ bạc, Sáu Ngọ, Bảy Nhiều, Huyện Đước, Tư Muôn, Năm Hy, Chín Từng, v.v.., ngựa xe như nước cuồn cuộn chảy, vì làm ra tiền không nhọc sức, nên vẫn coi tiền như rác, cứ năm ba tháng, thì đổi hiệu mua xe mới một lần, cứ đập vào túi công tử, con nhà giàu, cho bạc tuôn ra, tha hồ xài phá, tôi đây, thì không phải vậy, tôi không se sua, tuy trốt lỡ theo nghề bán thân nuôi miệng, nhưng tôi giữ nề nếp, chắt mốt dành dụm, tôi giữ tiếng và giữ kín, người ta đem tiền đến cho mình xài, mình phải xài thế nào cho còn, chớ nói chi phung phá, tánh tôi, không dành làm vậy. Tôi đã hư một đời chồng, tôi buồn mới bước vào cảnh chơi bời, tôi chí thú và bà Trường tòa Đoàn, vừa xây hai căn phố lầu một từng nơi đường Duranton, tôi nói với bà để cho tôi ở một căn, tôi đóng cửa kén người trao thân, bỗng một hôm ông Phán Kính, thông ngôn nơi tòa Sài Gòn, đi xe Fiat nhỏ đưa lại nhà và giới thiệu, ông luật sư Giáo, muốn làm quen, và xin bày mâm Phù dung kéo chơi vài điều và xin một đêm cháo gà, đàm luận cho trôi buồn tẻ. Ông Kính thì là khách cũ, ai ở đất Sài Gòn nầy lại không biết cái lanh lợi của ông, nơi

Pháp đình, khi có xử đại hình, tòa mặc áo đỏ ngồi xử, thì mới dùng ông đứng làm thông ngôn, ông mang kiếng gọng đồi mỗi, ông chừa râu mép ngắn, ông nói chuyện có duyên, giòn giã như bắp rang, tiếng Tây sạch sẽ, tiếng ta gãy gọn, da ngăm đen, nên người ta đặt tên lén ông là Cá kinh, Kinh Chà, mà tôi không ngờ ông đây (kẻ viết bài nấy), lại là phò mã của ông Kính, quả tôi nhớ lại có một lần nọ, sau bữa cháo gà, ông Giáo trở lại với xe Fiat của ông Kính, đi theo ông Giáo, là một thơ sanh trắng trẻo, à, té ra đó là ông đây.

Cũng là một kỳ ngộ chứ! Hôm ấy, ông Giáo buồn buồn, nằm cạnh mâm đèn, đốt đèn dầu lạc, nắm đọc nhựt trình, tôi làm thuốc, xoe tròn liều thuốc trên ngọn đèn dầu lạc, thuốc làm xong mà ông Giáo chỉ kéo có một hơi rồi thôi, à tế ra hôm đó người tùy tùng theo ông Giáo, đó là thầy, thầy cũng trộng, nay tôi tạm gọi bằng “anh” cho gọn, chớ chưa phải được làm anh tôi đâu nhé, giỏi lắm là “anh” theo người Bắc cho dễ xưng hô, anh là anh của đứa tôi đã bỏ, nếu còn nó, cũng trạc tuổi cô Tư Tuyết, con gái của bà Phán Kính, bà Phán cỡ tuổi của tôi, tôi có thể làm mẹ vợ được lắm và xin đừng hiểu lầm, nực cười cậu Ba Giáo, hôm ấy buồn về việc nhà, lại kể hết cho tôi nghe, thuở giờ ông luật sự gì mà kín miệng và ít nói quá, khi ra Tòa không biết thế nào, chớ khi lại nhà tôi, ông chỉ nằm nghe người khác nói để ông chúm chím cười như tiếng trống chầu trong giới hát bội, và anh muốn nghe chuyện của cậu vợ cũ của anh không, hoặc anh đã biết dư, nhưng tiện đây tôi xin kể lại, và nhại lời ông D.V. G:

– Cô Bảy à! Tôi khi học ở trường ra thi gặp buổi bên Pháp có trận đệ nhứt thế chiến, Tây chống giặc A-lơ-măng, đang thiếu thợ tay ngang qua bên đó tùng chính, làm việc nặng nhọc, chở đạn, chụm củi lò nẫu thép, v.v. và tôi chưa có việc làm, bèn thừa dịp đăng tên lãnh làm thông ngôn cho thợ không chuyên môn gọi theo tiếng Pháp là Interprète des O.N.S. (ouvriers non spécialisés) qua tới bên đó, sau khi đồng lon và mặc sắc phục quan hai (thiếu úy), có chiến công rồi tôi đăng tên xin học trường Thuộc địa (Ecole Coloniale), tôi không theo ngạch làm quan cai trị (administrateurs) và được miễn bằng tú tài, học luật và học đủ năm, được bố làm luật sư và được nhập Pháp tịch, tôi lại gia nhập Hội Binh vực Quyền làm người (Société des Droits de l’Homme) và về bên ni, tôi chuyên môn cuốc bộ, chớ không bao giờ ngồi xe cho người khác kéo, vì luật “Nhân quyền” không cho phép, riêng xe hơi thì tôi thích đi và đi xe êm, tài xế, xăng dầu đều có Xừ Kính trả, thì đâu có trái luật Nhân đạo, Nhân quyền.

Ông Giáo cười hề hề, rồi tiếp: “Tôi có người anh, thứ hai, tên Dương Văn Tây, tôi lúc nhỏ tên là Du, Tây Du, nhưng trong bộ đời tên thật là Giáo. Giáo nầy được anh Tây lựa vợ giùm, có một bà giầu có lớn, quê ở Vũng Liêm, thuộc hạt Vĩnh Long, bà có một gái thôi chồng, bà gả cho Giáo và mua cho Giáo một nhà lầu ở đường Paul Blanchy (nay Hai Bà Trưng), đó là một lâu đài, một biệt thự rất sang và rất lớn, nay còn đó và ở gần tòa đại sứ trước của Đài Bắc, nhưng Giáo thích nằm ván gỗ của cô Bảy, vẫn mát mẻ hơn giường có lò xo Hồng Kông, mạ vàng, nệm nhún nhún nhưng nhột nhạt Giáo không thích, bây giờ Giáo hỏi thiệt: cô Bảy có bằng lòng kết làm bạn với Giáo, vì từ ngày biết cô, Giáo thấy tâm đầu ý hiệp và chỉ mong Bảy ưng lời, nối hai cái khổ tâm, có lẽ sẽ được cả hai toại lòng mà chứ?

Mà trời đất ôi! Câu hỏi đột ngột quá, và hi vọng của tôi tràn trề, biết làm sao từ chối!

Rồi từ đó tôi thành vợ và Giáo thành chồng, mấy lần tôi nhớ, ôm bóp đầm đến văn phòng của chồng, lại dụng đầu với lão Tây luật sư chưn đi cà nhót, Bernard Couget, lão này chíp để bụng và khi anh Giáo lâm nạn lìa Sài Gòn qua Xiêm, tôi bơ vơ, ông cà nhót đút đơn xin thay thế và tôi cũng chẳng biết làm sao để từ chối. Để tôi thuật chút chuyện của ông Giáo, cho thấy nghề làm chánh trị, vinh quang đâu chưa thấy, nhưng nguy hiểm đến bực nào. Quên nữa, khi ông Giáo ở Pháp trở về có mang theo một bà đầm đã kết hôn vợ chồng chánh thức, bà đầm nầy đã từng diễn thuyết nơi Nhà Hát Sài Gòn, khuyên phụ nữ Pháp nên sính đôi với người Việt, để được Pháp Việt nhứt gia, nhưng khi qua đây nếm cơm với cá kho canh chua, lâu ngày bà thấy hai bực người Tây thuộc địa và người Việt bị cai trị, bị chiếm đóng, Tây ngồi nhà hàng sang, uống rượu khai vị mắc tiền, còn người Việt vẫn là anh đi rền (indigène), kéo xe kéo, đẩy xe đổ thùng, nhục nhã, bà thôi lấy ông Giáo, trở về Pháp lấy chồng đồng loại, ông Giáo ở lại, làm chánh trị, nhập hội với nhóm Bùi Quang Chiêu mà hai người nhìn nhận có dính dấp thân thích còn gần, ông Giáo một mực viết bài chống đối cai trị bất công của Pháp, Pháp thừa một dịp bắt Giáo giam vào Khám Lớn Sài Gòn, Giáo xin năm dưỡng đường

Grall, vô đó rồi, Giáo xin mổ và trị một bịnh kín gì gì đó, tôi làm sao biết được, để rồi vài ngày sau, độ bốn năm giờ gì đó, có một y tá đến rước ông Giáo từ giường bịnh đi bộ sang qua phòng mổ để thay băng mới và làm thuốc vì chỗ mổ gần lành, à tôi quên nói lúc đó quân đội Nhựt đã có mặt tại Sài Gòn rất đông, và khi thay băng xong, người y tá đưa ông Giáo trở về giường bịnh, nhưng khi đi ngang qua một phòng bịnh nhơn nọ, ông Giáo ngỏ lời với y tá xin để cho ông vào phòng ấy thăm người bạn và nói chuyện chốc lát cho đỡ buồn, người y tá dễ dãi gật đầu, ông Giáo bước vô, người y tá không vô theo và đứng ngoài cửa chờ ra, và chưa đầy ba bốn phút, trong phòng thấy bước ra một vị quan đại úy Nhựt, ba lon ràng ràng, mắt thì đeo kính râm, đầu thì đội mũ che sụp mí tóc, người y tá đưa tay lên trán chào vị quan ba Nhựt theo lối nhà binh, quan nẩy không nối không rằng, thong thả, bước xuống từng lầu chen ra cửa sau của nhà thương Grall nơi đường Paul Blanchy (cửa nẩy còn y không đổi), và mé đường đã có một xe camion bít bùng Nhựt đậu chờ sẵn, quan ba Nhựt bước lên xe, xe rồ máy chạy nghe một cái vù, trong nầy, người y tá thấy chờ có hơi lâu, nóng ruột, bèn xô cửa bước vô thì té ra ông Giáo đã kịp cổi bỏ áo quần nhà thương và thay hình đổi áo, vị quan ba Nhựt khi nãy chính là ông Giáo, thì đã bạt nội mây ngàn, ông lên máy bay ở Tân Sơn Nhứt, bay tuốt qua Thái Lan, được bạn cũ là ông thủ tướng Xiêm niềm nở tiếp đón, phong ông làm cố vấn của chánh phủ bên ấy và tội nghiệp cho người y tá tốt bụng, tôi không biết sau đó y lãnh mấy năm tù vì đã làm sẩy một tù phạm chánh trị, và từ ấy tôi bặt tin tức của người tôi thương, ông Giáo chết hồi nào và bị ai giết, tôi không nói được, còn bổn thân tôi, cơ khổ, muốn thủ phận chờ chồng thì trong nhà không còn một đồng một chữ nào, phần thì phải chạy trả tiền nhà, tiền cơm nước, tiền bồi bếp v.v.., tôi phải bước thêm một bước và trở nên phu nhân của luật sư B.Couget, ông nầy tuy xấu xí, đi cà thọt vì một cắng cao một cắng thấp, nhưng bụng dạ tốt, duy tôi ngày nay không rõ một người đồng nghiệp mà lấy vợ của người đồng nghiệp làm chung một văn phòng, có còn nên dùng danh từ đồng nghiệp hữu nữa hay không, và trong lúc ấy, lúc 1945/1946 gì gì đó, ở Sài Gòn, nhà phố không có xe đổ thùng, chợ không nhóm, Ba Tầu lên chưn, đi xe đạp treo cờ giấy Đồng minh, mua gà mua thức ăn về bán cho Tây đối, họ đói đến hết làm phách, ra ngồi quán dơ ăn lạp xường mốc vẫn ngon lành và không còn chê dơ chê chứa nhiều mi-cà-rốp nữa… Vả lại lúc ấy, nghe đâu dường như xóm góc đường La Grandière (nay Lý Tự Trọng) và Aviateur Garres (nay Thủ Khoa Huân) bị máy bay Mỹ dội bom nát tan tành, ông Dương Văn Tây, anh ông Giáo đã chết, gia quyến lưu lạc phương nào tôi nào biết, chỉ nghe chừng nhà ông Nam Đình, là hiệu Fabrinat bán chiều, vẫn không hề hấn…

Cô Bảy Hột Điều thuật chuyện đến đây, đến đây tôi mới nhớ lại, nãy giờ câu chuyện cô Bảy thuật là chuyện tôi nghe trong một cái am nhỏ ở trên một con đường héo lánh vùng Thủ Đức, lộ đá đỏ, khúc trổ ra chợ bán nem thì có lính bố lít và ma tà đứng gác, Bác sĩ Tứ lái xe, lính biết mặt nên xe qua dễ dàng, còn khúc đường phía xa kia là vùng xôi đậu có người khác canh gác, đường vắng ít người đi, mà đi làm gì, Bác sĩ Tứ có thể trở về, tôi nếu bị kẹt, chén cơm viện bảo tàng ắt mất, mất sở làm lấy gì nuôi sống, tôi nhớ lại quên giới thiệu cô Bảy, mảng lo sợ không yên trong bụng, phập phồng ghi chép lời cô thuật lẹ lẹ, dòm ra sân am thấy trời đứng bóng tôi lật đật hối Bác sĩ Tứ xin phép ra về hẹn kỳ sau độ hai tuần nhựt sẽ trở lại…

Và đúng hai tuần, một sáng chủ nhựt, tôi lên Thủ Đức, khi xe Mercédès của Bác sĩ Tứ quẹo vô am, thì cũng vừa có một xe lạ từ trong ấy chạy ra, chúng tôi, ông Tứ và tôi, đậu xe xong, bước vô, kỳ nầy tôi nhìn kỹ, am sơ sài vừa đủ ở giữa một bàn Phật hương hoa nhang khói nồng nặc, cô Bảy ra tiếp, mời vào, cô độ trên ba mươi, trót bốn mươi, áo vải nâu sống màu sô-cô-la, nhưng nơi cổ tay trái còn đeo một chiếc vòng bích ngọc có tẩm một giọt đo đỏ gọi là ngọc huyết tẩm, tay áo ngắn, lộ ra cổ tay tròn như ống chỉ, da trắng như ngà như bột, ngực nở, gương mặt, à gương mặt cô Bảy thật là không giống một ai, thông thường phụ nữ đẹp mặt phải trái soan, thon thon không ngắn lắm mà cũng không dài, đàng nầy cạnh hàm cô Bảy ngang ngang, ai kia đã đặt cho cô mỹ hiệu nọ quả đúng, đúng là hình “hột quả đào lộn hột”, cô Bảy có một duyên dáng lạ lùng, một cái đẹp khác biệt không giống một ai, cô không cắt tóc và tóc của cô không chải mà dợn sóng, óng ánh đen huyền, tôi nhìn lại phía vách am, thấy một tranh sơn dầu hình cô Bảy lúc còn ở nhà đường Duranton, họa sĩ nào đây quả có tài, và hình nguyên thân, ôi cha, Tây Thi ngày xưa đẹp ra làm sao nào ai có biết, nhưng nhìn bức tranh nầy, quả cậu Ba Giáo khéo lựa người và lão Couget quả biết chọn ý trung nhân, và hôm nay không son không phần, mà dung nhan nào đổi, công tử, vương tôn năm xưa tốn tiền cũng đáng! Phải chỉ ở nhà chưa có Năm Sa Đéc!

Trà nước xong, cô Bảy thuật tiếp:

“Đó, xe vừa ra là ông Họa đồ họ Đào, trắc địa sư (géomètre) đo đất bán đất rất giàu, ông đem nho đem táo

Tây đến dâng, nói chuyện “cầu hôn Giang tả”, tôi đều trả lại hết, tằng đã có ăn rồi lúc trước, nay quyết tâm dựa chơn Phật và lánh xa trần tục, nếu quả có lòng mộ đạo, thì nên cho tôi xin thỉnh thoảng một bao chỉ xanh gạo trắng, tế độ người đông con và thiếu cơm để nuôi, còn như bác sĩ đây và chú nhỏ nầy, muốn biết chuyện của tôi, tôi cũng chiều lòng, tôi thuật không giấu giếm mà cũng không thêm không bớt.

Nhắc lại tiếp theo, như cậu đây (tác giả bài này), lúc đó đã lui về quê nhà, ở Sốc Trăng phải không? Cậu sướng quá khỏi cảnh kẹt lúc Hô ở Sài Gòn, khói mò tôm hay mổ bụng. Tôi lúc đó, nhờ có ông Couget bao bọc, tưởng được yên thân, dè đâu ổng lại bị cho vào Khám Lớn Sài Gòn, tôi lính quýnh như cua rụng càng, và số đào hoa chưa dứt, ma đắt lồi hay quỷ đưa đường bỗng có một ông Nhựt không cao không lùn, đưa danh thiếp xưng là Satoh, Đồng lý Văn phòng của Thống đốc Nhựt Minoda, lại cũng như ông Họa đồ kía, toan “cầu hôn Giang tả”, tôi trả lời: “Tôi là gái có chồng, chồng tôi vì là Tây, nên bị giam Khám Lớn, chồng tôi mắc chứng nghiện, nếu ông có lòng, đem được một hộp á phiện lớn vào đó cứu chồng tôi, như được thì trở lại đây sẽ biết. Chồng tôi tên là luật sư Bernard Couget! *

Mà quả số tôi còn nặng nợ, chưa đầy một tuần, Satoh trở lại, cầm thơ trong khám đưa ra, tôi phải giữ lời, bước thêm một bước nữa, thiệt là cùng chắng đã. Tôi gượng gạo tiếp ông Satoh, nhưng không cho việc gì, bỗng kế đó, có bà Song Thu từ Mỹ Tho lên tìm, nói với tôi một hai tôi phải tìm cách nào cứu ông đốc phủ chủ quận Cai Lậy, ông đốc phủ ấy đáng được cứu mạng, và không phải là người xấu như người ta thường nói đâu v.v..

Tôi có tánh lạt lòng, nghe như vầy, không hứa không rằng, nhưng khi Satoh đến, tôi yêu cầu vậy vậy….

– Người mắc nạn đó bây giờ ở đâu? Satoh hỏi tôi.

– Kẹt ở khám Mỹ Tho, và bị giải kéo chạy bộ từ Cai Lậy về khám mà không sao, tôi trả lời.

– Ở Sài Gòn, thuộc phạm vi của tôi thì cứu được. Chớ ở Mỹ Tho tôi không giúp được. – Nếu ông không cứu người đó được, thì xin đừng lại đây nữa!

Đó rồi, duyên nợ của tôi với ông Nhựt bổn nói giỏi tiếng Tây nầy chưa dứt, cho nên dường như y bị câu tôi nói xóc, y tức khí, y xin Minoda cho đi thanh tra các tội nhơn bị giam ở lục tinh, rồi y xuống tra xét thật kỹ ở ngục thất Vĩnh Long, xong rồi y ghé lại khám Mỹ Tho, y giả đò hỏi xét vài phạm nhơn cho có chừng và đến xế chiều, y đứng dậy lên xe ra về và ra lịnh giải hết những tội nhơn chưa xét (trong số có ông Cai Lậy), giải hết lên giam Khám Lớn Sài Gòn thì ông mới có thời gian hỏi tra kỹ lưỡng!

Thế là đã cứu được ông ấy, chớ nếu để ông nơi khám Mỹ Tho thì ất mạng ông ấy đã hưu hỷ rồi…

Nhưng việc đời không phải dễ như lời nối chuyện. Việc đời quá oái oăm, từ ngày trái bom Mỹ rơi xuống đất Nhựt, Nhựt đầu hàng, chồng tôi, ông Couget ra khỏi khám, và đến phiên tình nhơn Satoh bị đưa vào ngục thay thế… tôi được tin nầy, cầm lòng không đậu, xin ông Couget giải thoát cho ông Nhựt, chồng tôi lạnh lùng trả lời: “Nó là thằng thù, lấy vợ, cứu sao được”.

Tôi lại không nghe, rằng: tôi là gái giang hồ, đã thí thân mấy lượt… y cứu ông thì nay ông phải cứu lại y, mới đáng gọi quân tử đời mới. Chồng tôi nài ni rằng tuổi già nay mai sẽ chết và đã làm di chúc, ông ấy và tôi, ai còn sống sót sẽ thừa hưởng của người kia để lại. Nhưng ông năn nỉ cách mấy, tôi cũng nằng nặc không nghe, một hai sẽ vào chùa và sẽ tìm một người thay thể, vừa có học thức, vừa xinh đẹp hơn tôi nữa. Và tôi quên nói tại sao tôi vào cửa Phật, số là tôi có chứng tật kinh phong, ông Couget đã đưa tôi qua

Pháp điều trị mà bịnh không dứt, sau khi tôi đưa bà họ Hà, con của chúa Mường tên Hà Triều Nguyệt vùng Thanh Hóa vào làm bạn với Couget, tình hiệp ý xứng, ông quên tôi và tôi vào đây đây, mà cũng không phải vô cớ mà tôi vào, tôi cắt nghĩa không được và cũng khó tin, số là một hôm, bịnh đang hành, tôi nằm tại một căn phố nhỏ không người chăm sóc, bịnh làm xung, tôi mơ màng thấy một bà lão có lẽ đó là Phật Bà, bà từ trong bước ra, lại gần chỗ tôi nằm và nói:

– Sao không ra bửa củi đi? Tôi da một tiếng, tay xách búa ra ngồi trước sân nhà và chẻ củi, tôi chẻ và mồ hôi ra ướt áo, mớ củi chẻ sạch, tôi bước vào nhà nằm bất tỉnh nhơn sự, nhưng không hiểu vì sao từ đó bịnh kia không trở lại, tôi mạnh luôn, như vậy có phải là Phật Bà độ mạng hay không? Và câu chuyện còn dài…

Cô Bảy thuật đến đây, hai tôi xin hẹn một bữa khác, ngờ đâu hôm ấy, hai tôi về tới nhà, ông Tứ cho xe vô ga ra, chưa chi bà bác sĩ nổi trận lôi đình, hăm và trách tôi không để bác sĩ bắt mạch cho thuốc, rù quến chuyện hư, bà hăm đốt xe, tôi sợ quá, cà ri hết ngon, tôi lật đật từ giã xin về, không lâu bác sĩ từ trần, nhà đã sang tên, còn cô Bảy, ủa bà Hột Điều, tôi không dám trở lại, nghe đâu cái am đã trở nên một ngôi chùa, chùa nẩy ở chỗ nào nay tôi cũng không biết chỗ, cách nay vài năm có một y tá chích dạo quen, nói với tôi rằng y có lên đó tiểm thuốc, bà nhần bảo tôi có dịp lên… nhưng Nam mô di Phật, nhà ai nấy ở. (viết 9.10, đéc, 1990).

Ông Cai Lày; nghe tìn đã từ trần bên đấc Pháp, sống trên chín mươi gần đủ trăm, có biết chăng nhờ Cô Bảy Hột Diều, nếu chuyển có thật, làm việc thiện như vầy, không cần tu, cũng tràn quả phúc.

Tựa

Tôi đã viết ba tập, không dám gọi là “Tùy bút” và chỉ gọi khiêm “Tạp lục”.

Số 1 Tạp lục 1989/1990, kỷ niệm cửu tuần khánh hỷ 27-9 Canh Ngo.

Số 2 Tap bút cho năm 1991, lặp lại và nhắc tuổi 90. (Khởi viết 13-6-1990 và viết xong 11-8-1990);

Số 3 Tạp bút Canh Ngọ (1990) qua Tân Mùi (1991) gồm 98 trang viết từ 24-11-1990 đến 12-3-1991.

Cũng tưởng bao nhiêu ấy đã là nhiều, dè đâu nay còn. Số 4 này và hôm nay 6 tháng 4 năm Nhâm Thân, mới đề tựa. Trể quá? Nghĩ lại hóa tức cười, tại sao đứa trẻ, đào tạo rồi mới lập tờ khai sanh. Và vì vậy người Tây kể từ ngày sanh để đếm tuổi và trái lại ông bà ta hể sanh ra là kể một tuổi trên đầu và đứa sanh tháng chạp, khi ra giêng, đã chịu là hai tuổi. Ai trúng, ai sai, theo tôi, cả hai đều hữu lý, và rõ ra. Nay với tuổi 91, quả là lẩn thẩn.

Anh Lê Thọ Xuân đã mãn phần. Anh Lê Ngọc Trụ cũng nối gót…

Vừa rồi, nhơn lục xấp viết tay, chữ của Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê, thấy câu này viết ngày 24/8/1979 (nguyên văn):

“Lê Thọ Xuân mất rồi, Lê Ngọc Trụ cũng mất.

– Anh có lẽ là người duy nhứt trong Nam, biết nhiều về thời cổ ở đây. Anh còn biết được gì, còn tra được gì, thì cứ ghi hết lại đi, sẽ giúp cho người sau rất nhiều. Công việc đó, ngoài anh, không còn ai làm được đâu”.

Tôi là kẻ chậm hiểu, hôm nay mới thấy lời Lộc Đình, như lời ký thác. Lộc Đình, tôi kể như thầy và tôi đã học được rất nhiều. Tôi xin bái lĩnh và tiếp tục, không những đã viết xong nửa tập cho năm Nhâm Thân (1992), và vẫn nguyện còn hơi thở dến đâu, xin viết, dầu đở dầu hay, làm cuốn kèn để bó xác liệm cũng đỡ tốn.

Nay tựa

6 tháng 5 dương lịch (mồng 4 tháng 4 năm Nhâm Thân (1992).

Một buổi hò còn nhớ. (viết ngày 24-6-1990).

Văn thơ đã có từ xưa, từ bẻ cò bỏ nóp, từ Kinh Thi bên Trung Quốc… Tiếng hò miền Nam là một lối của dân lao động chuyên về đồng áng, để quên bớt nỗi vất vả chưn bùn tay lắm, cặp giò ngâm dưới nước, lưng phơi nắng đầu mùa mưa, phải miệng hò để mua sự quên nỗi mệt mỏi. Có khi nên vợ nên chồng, cũng có khi lời qua tiếng lại, trai và gái gác nhau chút đỉnh, nhẹ thì háy nguýt, nặng thì có khi sanh oán sanh thù, nhưng chung cuộc thì cũng dã lã, hẹn đến mùa cấy sau sẽ hay, và không ngờ cả đôi bên, đều giàu hồn thơ lai láng, nếu không có hồn thơ thì không bao giờ hò được, vì hò là do sự lanh trí và không định trong trí trước được. Sau đây tôi xin ghi lại một buổi hò đối đáp này:

Một cô gái nọ, cấy chung đồng với một anh trai lấc khấc, cô không ưa, hò: “Thân anh (kia) như ông cả trong làng, Em như con hạc đứng trên bàn ngó ra!” Ý cô ám chí khi có cúng thần, kỳ yên, ông cả phải lạy bàn thần có hạc đứng. Sau một chập hò ơ bông lông, anh trai ngứa cổ, hò đáp lại:

“Anh về nhập tịch lang sa, mua cây súng nhỏ, “bắn bà” con hạc kia!

Thế là đã khai chiến, không nhịn, cô nọ cũng có chút xắng, tấn công:

“Anh về bán cả thế gia, bán cha mẹ già, cưới chẳng được em!”

Thấy cô này có hơi hỗn, có mòi leo trèo, anh nổi nóng, hò trả treo lại:

“Anh về bán một mái gà, Đem qua anh cưới hết, cả bà lẫn con!”

Câu hò nẩy làm cho các bạn trai hò tiếp hò ơ ơ ơ, anh hứng chí hò thêm:

“Súng một lòng đạn nọ hai viên, anh đây nhắm bắn “chiếc thuyền quyên” kia hè”

Cô kia đỏ mặt, nhưng súng như gà Cao Lãnh há chịu tịt ngòi, dùng chữ “thuyền” đáp:

“Thuyền em chưa bể rõ ràng, không tin anh đội về làng mà xem?”

Bánh sáp đi, bánh chì lại, anh không chịu thua, hò rằng:

“Hỏi thăm “giếng loạn” em đâu, đặng ngâm “khúc gỗ” của anh, lâu “bù xè”!

Cô nổi giận, nhưng còn kín đáo, chừa chút nhơn tình, nên hò:

“Anh quên, chẳng chút kiêng dè, “Giếng cha mẹ uống”, sao nhè “ngâm cây”!

Câu nầy được các chị em hưởng ứng, có tiếng cười khúc khích chen lẫn với tiếng hò ơ-ơ-ơ-ơ trêu ghẹo…, ngon trớn, cô tấn công, tự ví cô sẽ có chồng là một chiến sĩ, một ông tướng ở trận tiền, chớ thứ trai cấy đừng hòng mơ ước:

Viết cho những bạn còn nhớ tiếng Tây (viết ngày 13-3-1991).

Thuở người Pháp còn ở đây, tôi biết tại mé sông Sài Gòn, ở sát cạnh sở Ba Son, có một quán bán rượu vang (trong này quen gọi là rượu chát) chủ quán là một võ quan Thủy binh chơi chữ, hiệu quán vòn vẹn đề mấy số thật lớn, trên bảng:

0 – 20 – 100 – 0 và phải đọc là “Au vin sans eau” (quán bán rượu không pha nước), (chữ o đọc “au”, chữ 20 (viết) đọc “vin”, chữ kế nữa 100 (cent) đọc “sans” và chữ chót câu O đọc “eau”.

Lại có một giai đoạn, anh nọ mua một đôi giày mắc tiền bằng da đắt giá, nhưng mang đau chơn, nên gới cho chủ hiệu giày vải ba số chữ:

7 (sept) et 3 (trois), đọc “c’est (7) et 3 (trois).

Chủ hiệu giày đáp lại cũng vòn vẹn là:

7 et 9, nên đọc là: c’était neuf: (sept et neuf).

Tạm dịch cho người không thông tiếng Pháp:

Câu trên “C’est étroit: giày chật (chẹt)

Câu dưới “c’était neuf”: vì giày mới. Rõ là 9 chống chín, đó 8 lượng, thì đây nửa cân, bằng đó 10 chỉ thì đây một lạng.

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 14 Nov 2025

Bài 33

Trở lại đảo Royale

Như vậy quả thật là nhờ một phép màu mà tôi được trở lại đảo Royale với chế độ phạm nhân chịu án bình thường. Tôi rời Royale ra với một án tám năm tù cấm cồ và nhờ liều thân cố che một người bị nạn, mười chín tháng sau, tôi lại được trở về.
Tôi đã gặp lại các bạn cũ: Dega, vẫn làm kế toán, Galgani đi phát thư, Garbonieri, đã được trắng án sau vụ tôi vượt ngục, Graldet, Bourset thợ mộc, cùng hai anh em Đẩy Xe: Naric và Quenier, Chatal ở bệnh xá, người đã đồng lõa với tôi trong chuyến vượt ngục đầu tiên, và Maturette vẫn ở đảo Royale làm phụ y tá.
Tất cả bọn lục lâm vùng rừng núi đảo Corse cũng còn cả đây: Essari, Vicioli, Cesari, Razori, Fosco, Maucuer và Chapa đã từng làm cho La Griffe bị chết chém vì câu chuyện chứng khoán ở Marseille. Tất cả các minh tinh của những vụ tội phạm từ năm 27 đến năm 35 đều còn tại đây.
Marino, người đã giết Dufréne, vừa chết bệnh cách đây một tuần. Ngày ấy, lũ cá mập đã được một bửa thịnh soạn. Một chuyên viên bậc nhất về đá quý của thủ đô Paris đã được dọn cho chúng chén. 
Barrat, biệt danh là “Nữ diễn viên”, còn là nhà triệu phú kiêm vô địch quần vợt ở Limoges, kẻ đã giết một người tài xế cùng cậu bạn thân, quá thân là khác, của y. Barrat là trưởng phòng thí nghiệm và là dược sĩ của bệnh viện đảo Roycale. Một bác sĩ có tính hay bông lơn nói rằng, ở đảo, người ta bị bệnh lao theo quyền cọ vế.
Tóm lại, việc tôi trở về đảo Royale chẳng khác nào một phát đại bác. Tôi trở lại nhà giam những kẻ cứng đầu, vào một buổi sáng thứ bảy. Gần như ai nấy đều có mặt đông đủ, và mọi người không từ ai, đều đến chào tôi, hết sức niềm nở. Cả cái anh thợ sửa đồng hồ, vốn câm nín không nói bao giờ từ cái buổi sớm trứ danh mà anh ta suýt bị chết chém vì nhầm lẫn, cũng đến chào tôi.
– Thế nào, các bạn, khỏe cả chứ! 
– Khỏe cả, Papi ạ, hoan nghênh cậu đã trở về.
– Chỗ của cậu vẫn còn đấy, Grandet nói. Từ khi cậu đi vẫn để trống.
– Cảm ơn tất cả. Có gì mới không?
– Có một tin vui.
– Gì vậy?
– Đêm qua, trong nhà xí, trước mấy cái ống thoát nước, người ta đã tìm thằng cha dạo nọ treo lên ngọn dừa để rình và tố giác cậu, bị giết chết. Chắc một người bạn thân của cậu vì không muốn để cậu gặp mặt thằng cha ấy đã tiết kiệm hộ cậu cái việc ấy.
– Tớ rất muốn biết cậu đó là ai để cảm ơn.
– Chắc sẽ có ngày cậu ấy sẽ nói ra với cậu thôi. Vào giờ điểm danh sáng nay, người ta thấy thằng cha ấy bị một nhát dao vào tim. Chẳng ai trông thấy hay nghe thấy gì cả.
– Thế là hơn. Còn bài bạc ra sao?
– Vẫn vậy. Chỗ của cậu vẫn còn đấy.
– Hay lắm. Thế thì có thể bắt đầu sống trở lại cái cảnh khổ sai chung thân rồi. Chả biết chuyện này sẽ chấm dứt ra sao và vào lúc nào.

– Papi này, thật tình bọn tớ choáng người đi khi biết là cậu phải lãnh tám tấm lịch. Bây giờ cậu đã trở về đây, tớ nghĩ rằng trên đảo này, không ai lại có thể từ chối, không chịu giúp đỡ cậu về bất cứ việc gì, dù mạo hiểm đến mấy.
– Ông chỉ huy gọi anh đấy, – một tên lính da đen nói.
Tôi theo hắn ra ở vọng gác, có vài tên cảnh sát nói vui vài câu với tôi. Tôi theo tên đến gọi tôi và gặp thiếu tá Prouillet.
– Khỏe chứ, Papillon?
– Thưa chỉ huy, khỏe.
– Tôi mừng thấy anh được đặc xá, và tôi cũng khen anh về hành động can đảm của anh đối với đứa con gái nhỏ của người bạn đồng sự của tôi.
– Xin cảm ơn ông.
Tôi giao cho anh việc chăn trâu cho đến lúc anh được trả về với việc đổ thùng và được quyền đi câu.
– Nếu điều này không có gì phiền đến ông nhiều quá tôi xin tuân lệnh.
– Đấy là việc của tôi. Giám thị của xưởng không còn ở đây, còn tôi trong ba tuần nữa, tôi cũng về Pháp. Thế là mai, anh đến nhận việc nhé.
– Thưa chỉ huy, tôi không biết cảm ơn ông bằng cách nào.
– Bằng cách chờ một tháng nữa rồi hãy tìm cách vượt ngục, được không? – Prouillet vừa cười vừa nói.
Trong phòng giam, tôi thấy vẫn những người ấy, với cách sinh hoạt hàng ngày vẫn như trước khi tôi đi. Những dân mê cờ bạc thuộc một loại người riêng biệt, chỉ suy nghĩ và sống vì bài bạc. Những ai có một thằng “bạn trẻ” thì cùng ở, cùng ăn, cùng ngủ với nó. Đấy là những cặp vợ chồng thật sự, và sự đam mê cùng tình yêu giữa đàn ông với nhau chiếm hết tâm tư của họ, cả ngày lẫn đêm. Cũng có những cảnh ghen tuông, những dục vọng không kiềm chế nổi, làm cho “chồng” và “vợ”, cứ rình mò lẫn nhau và gây ra những vụ giết người không sao tránh khỏi nếu một trong hai “vợ chồng” chán người kia và bay đi tìm những mối tình mới.
Tuần qua, vì người đẹp Charlie (tức Barrat), một tù nhân da đen tên là Simplon đã đâm chết một người tên là Sidero. Đây là người thứ ba bị Simplon đâm chết do yêu Charlie.
Tôi về trại mới được vài giờ đã có hai thằng cha đến tìm tôi.
– Này, Papillon, tôi muốn biết Maturetté có phải là của anh không?
– Hỏi để làm gì?
– Tôi có lý do riêng của tôi.
– Anh hãy nghe tôi nói. Maturette đã vượt ngục đi với tôi một chuyến dài 2500 kilômét, và cậu ấy đã xử sự như một người đàn ông chân chính. Tôi chỉ nói với anh có vậy thôi.
– Tôi muốn biết cậu ấy có thuộc về anh không?
Không, tôi không hề biết Maturette trong vấn đề tình dục. Tôi quý trọng cậu ấy như một người bạn thân, ngoài ra, tôi không quan tâm đến cái gì hết trừ phi có ai muốn hãm hại cậu ấy.
– Nếu có ngày cậu ấy là vợ tôi thì sao?
– Lúc đó nếu cậu ấy bằng lòng, thì tôi không xen vào làm gì. Nhưng nếu anh hăm dọa cậu ấy để buộc cậu ấy theo anh, thì anh sẽ có chuyện với tôi đấy.
Những kẻ đồng tình luyến ái thì dù bị động hay chủ động, đều như nhau, vì cả hai loại người đó khi đã đam mê rồi thì chẳng còn nghĩ đến cái gì khác. Tôi đã gặp cậu người Ý có cái plan bằng vàng cùng đi một chuyến tàu với tôi. Cậu ta đến chào tôi. Tôi hỏi:
– Cậu vẫn ở đây à?
– Tôi đã xoay đủ cách. Mẹ tôi gửi cho tôi 12000 francs, thằng lính lấy công sáu ngàn, tôi chi mất bốn ngàn để khỏi bị nhốt, tôi lại được đưa đi chiếu X quang ở Cayenne rồi cũng chẳng được việc gì. Sau đấy tôi lại bị buộc tội là đã làm một người bạn bị thương. Anh biết nó đấy, nó là Razori, dân kẻ cướp đảo Corse đấy.
– Ừ! rồi sao nữa?
– Nó thỏa thuận với tôi, nó tự gây ra một vết thương ở bụng, và tôi sẽ ra tòa án binh với nó, nó thì là người buộc tội, còn tôi là người có tội. Bọn tôi còn không được lên đảo nữa. Chỉ có 15 ngày là xong hết. Tôi lãnh án sáu tháng cấm cố. ấy là chuyện ở năm ngoái. Anh còn không biết tôi ở đấy nữa cơ. Papi ơi, tôi chịu hết nổi rồi. Tôi muốn tự vẫn đi cho xong.
– Thà chết trong một chuyến vượt ngục còn hơn, ít ra cậu được chết tự do.
– Anh nói đúng, tôi đã sẵn sàng để làm đủ mọi việc Anh có tính chuyện gì, cho tôi biết với nhé.
– Đồng ý.
Cuộc sống ở đảo Royale cứ tiếp tục. Và tôi đã đi chăn trâu. Tôi phải trông một con trâu đực tên là Brutus. Nó nặng hai tấn, khét tiếng là dữ: nó đã giết hai con trâu đực. Viên giám thị Angosti, chuyên trách phần công việc này, nói với tôi: “Đây là lần cuối cùng. Nó còn giết một con nữa là phải thịt nó thôi”. Sáng nay, tôi làm quen với Brutus. Anh chàng da đen người Martnique vẫn chăn dắt nó, phải ở lại một tuần để chỉ dẫn cho tôi. Tôi đã kết thân được với Brutus ngay từ đầu bằng cách đái vào mũi nó: cái mũi to và dài của nó ưa liếm chất mặn. Rồi tôi cho nó vài trái xoài ương mà tôi hái được ở vườn bệnh viện. Tôi thắng nó vào một chiếc xe bò thô sơ, xứng với cái xe bò cổ lỗ của các đời Vua Lười Biếng xa xưa, và dắt nó đi.
Trên xe, có một thùng ton-nô chứa ba ngàn lít nước. Công việc của tôi cùng anh bạn Brutus là xuống bờ biển, đổ nước vào thùng rồi chở lên cái dốc khủng khiếp này đến tận bãi bằng. Tối đó, tôi mở nắp cho nước chảy vào các cống rãnh cuốn cho hết chất bẩn còn lại từ buổi sớm. Tôi bắt đầu làm từ sáu giờ, khoảng chín giờ thì xong việc.
Sau bốn ngày, anh chàng người Martinique tuyên bố là tôi đã có thể xoay xở một mình được. Chỉ có một chuyện phiền: năm giờ sáng, tôi đã phải bơi đi tìm Brutus trốn trong ao, vì nó không muốn làm việc. Điểm yếu của nó là ở lỗ mũi cho nên tôi đặt một cái vòng xuyên qua mũi nó, và thường xuyên buộc với một đoạn dây dài 50 phân. Khi tôi tìm được nó, nó lủi đi, lặn xuống nước rồi nhô lên ở một chỗ xa hơn. Đôi khi tôi mất cả tiếng đồng hồ mới tóm được nó trong cái ao nước tù hãm hôi tanh, đầy những sâu bọ và hoa súng. Tôi cáu kỉnh rủa một mình: “Đồ khốn nạn. Đồ mặt dày? Cứng đầu cứng cổ đến thế nữa! Mày có chịu ra không thì bảo!” Nó chỉ chịu nghe khi tôi đã nắm được sợi xích của nó. Còn chửi rủa, nó cóc cần. Nhưng cuối cùng, khi nó ra khỏi ao thì nó lại trở thành bạn của tôi.
Tôi có hai cái can trước kia đựng mỡ, nay dùng để chứa nước ngọt. Tôi bắt đầu tắm cho hết nước nước nhớp nhúa ở ao. Khi tôi sát xà-phòng và kỳ cọ cấn thận cho mình rồi, còn lại đến hơn nửa thùng nước ngọt, tôi lấy nắm xơ dừa để cọ rửa cho Brutus. Tôi kỳ cọ thật kỹ những chỗ kín của nó, vừa cọ vừa dội nước. Thế là Brutus cọ đầu vào tay tôi rồi tự nó đến đứng trước càng xe. Không bao giờ tôi dùng gậy nhọn thúc nó đi như anh chàng người Martinique vẫn làm. Chắc nó cũng biết ơn tôi, vì với tôi, nó rảo bước nhanh hơn. Có một con trâu cái nhỏ rất đẹp mê Brutus. Nó luôn đi bên cạnh chúng tôi. Khác với anh chàng kia, tôi không xua đuổi nó~tôi để cho nó hôn Brutus và theo chúng tôi đi bất cứ đâu. Ví dụ, khi chúng hôn nhau, tôi không phá bao giờ, và Brutus đã chịu ơn tôi, vì nó đã kéo ba ngàn lít nước với một tốc độ nhanh không ngờ. Hình như nó muốn dành lại khoảng thời gian nó đã làm mất đi những khi dừng lại liếm láp Marguerite (đó là tên con trâu cái).
Hôm qua, trong buổi điểm danh sáu giờ, có một câu chuyện bê bối nho nhỏ do Marguerite gây ra. Hình như anh chàng da đen người Martinique đã leo lên một bức tường thấp và ở đó ngày nào chàng ta cũng hôn hít Marguerite. Bị lính gác bất ngờ tóm được, cậu ta lĩnh mười ngày xà-lim. Về tội “giao cấu với súc vật”. Theo đúng quy chế chính thức. Thế mà hôm qua, khi điểm danh, Marguerite lại dẫn xác vào trại, cô nàng đi ngang qua hơn sáu chục người và đến trước anh chàng da đen, cô nàng chổng mông lại, giơ đít ra cho chàng kia. Ai nấy đều cười phá lên và chàng da đen xấu hổ đến xám mặt.

Google photo

Mỗi ngày tôi phải ba lần di chuyển nước. Lâu nhất là việc chờ hai người phụ tôi đổ nước vào đầy thùng chứa, nhưng công việc cũng khá nhanh. Đến chín giờ, tôi đã xong việc, được quyền đi câu.
Tôi đã liên minh với Marguerite để kéo Bratus ra khỏi ao. Cứ gãi vào tai là cô ta nghé ọ, nghe giống như thằng ngựa cái động đực. Và Brutus tự động lên khỏi ao. Tuy tôi không phải tắm rửa cho mình nữa, tôi vẫn cọ rửa cho nó, còn cẩn thận hơn trước. Sạch sẽ, không còn bị mùi hôi hám của nước ao tù bám suốt đêm trong lúc nó ngủ ở ao, nó càng được Marguerite ưa thích hơn và điều đó làm cho nó linh hoạt hẳn lên.
Từ bờ biển đi lên, lưng chừng dốc, có một khoảng bằng; ở đấy có một hòn đá to. Brutus quen nghỉ xả hơi năm phút ở chỗ đó, tôi lấy đá chèn bánh xe lại: làm như vậy, nó yên tâm nghỉ ngơi hơn. Nhưng buổi sáng hôm đó, một con trâu khác, tên là Danton, cũng to như Brutus, nấp sau những cây dừa nhỏ chỉ có lá không, bởi vì đây là một vườn ươm cây. Chờ sẵn chúng tôi tại đấy Danton xồ ra tấn công Brutus. Con này nhảy sang bên, tránh được cú đánh, con kia đụng phải cái xe. Một bên sừng của nó cắm vào thùng ton-nô. Danton cố hết sức để gỡ sừng ra, tôi tháo dây thắng cho Brutus ra khỏi càng xe. Thế là Brutus chạy lấy đà lên phía trên cao, ít ra cũng chừng 30 mét rồi phi nước đại lao vào Danton. Không biết vì sợ hay do tuyệt vọng, trước khi con trâu của tôi tới được chỗ nó, con Danton đã giật được sừng ra khỏi thùng tuy một mẩu sừng bị gãy còn mắc tại đấy, nhưng Brutus không hãm lại kịp thời nên xô vào và lật đổ cái xe.
Đến đây tôi được chứng kiến một chuyện kỳ quái nhất. Brutus và Danton đã chạm sừng vào nhau mà không xô đẩy nhau, chúng chỉ cọ cặp sừng kếch xù của chúng vào nhau thôi. Dường như chúng nói với nhau, nhưng chúng lại không kêu rống lên mà chỉ thở phì phò. Con trâu cái từ từ leo lên dốc, theo sau là hai con đực Thỉnh thoảng hai con này dừng lại, cọ đầu và đan sừng vào nhau. Thấy lâu lắc quá, Marguerite rên rỉ một cách uể oải rồi lại đi về phía bãi bằng ở trên đảo. Hai con vật khổng lồ kia vẫn đi song hàng, theo sau.
Sau ba lần dừng lại với những nghi thức như vậy, chúng tôi đã lên tới bãi bằng. Chỗ chúng tôi đứng lại ở trước cây đèn pha là một khoảng trống dài chừng ba trăm mét. Một phía là trại tù, bên trái và bên phải là hai tòa nhà của bệnh viện: một cho tù nhân, một cho cảnh binh. Danton và Brutus vẫn đi phía sau cách hai mươi bước. Còn Marguerite, nó bình thản đến giữa khoảng đất và dừng lại. Hai con trâu thù địch tiến lên ngang nó. Thỉnh thoảng nó lại rống lên một tiếng dài nghe ai oán và rõ ràng là khêu gợi. Hai con kia lại chạm sừng vào nhau một lần nữa nhưng lần này tôi có cảm giác là chúng thật sự nói chuyện với nhau vì lẫn với hơi thở của chúng, có cả những âm thanh chắc chắn là có một ý nghĩa nào đó.

Google photo

Sau cuộc nói chuyện này, một con trâu chậm chạp đi về phía bên phải, còn con kia về phía trái. Chúng đến đứng tận hai đầu khoảng trống. Marguerite vẫn đợi ở chính giữa. Tôi hiểu ngay: đây là một cuộc quyết đấu tay đôi theo đúng thể thức, được cả hai phía chấp nhận, trong đó con trâu cái sẽ là chiến lợi phẩm. Con trâu cái non tơ cũng có vẻ đồng ý, nó còn tỏ ra hãnh diện chẳng kém hai chàng mê gái sắp đánh nhau vì cô nàng.
Marguerite cất tiếng rống lên hai con trâu đực mới lao vào nhau. Trong đoạn đường mà mỗi con vượt qua, mỗi phía dài độ một trăm năm mươi mét, không cần phải kể rằng cái khối nặng hai ngàn ki-lô của chúng được nhân lên gấp bội với tốc độ chạy của chúng. Hai cái đầu va phải nhau, mạnh đến nỗi cả hai chết lặng đi đến năm phút. Con nào cũng khuỵu xuống.

Google photo

Brutus đã hồi sức lại trước và dậy được, nó phi về chỗ cũ. Cuộc chiến đấu kéo dài hai giờ. Lính gác muốn giết chết Brutus, nhưng tôi không chịu, và đến lúc chạm sừng. Danton bị gẫy rời hẳn đoạn sừng bị hỏng khi mắc vào chúng ton-nô. Nó bỏ chạy, Brutus đuổi theo. Cuộc chiến đấu còn kéo dài sang ngày hôm sau. Chúng chạy qua chỗ nào: vườn tược, nghĩa địa, xưởng giặt, thì chỗ đó bị tàn phá tan tành. Chỉ sau khi đã quần nhau suốt đêm, mãi tận sớm hôm sau, lúc bảy giờ sáng, Brutus mới dồn được Danton vào chân tường lò sát sinh ở gần bờ bể và tại đấy, nó đã dùng sừng đâm thủng bụng con Danton. Để kết thúc hẳn địch thủ, Brutus lăn đi lăn lại hai lần để cho sừng xoáy sâu vào bụng con Danton và con này đã ngã gục xuống chết, trong một suối máu lẫn với lòng ruột. Cuộc chiến đấu giữa hai con vật khổng lồ làm Brutus kiệt sức đến nỗi tôi phải đỡ sừng cho nó, nó mới đứng lên được. Nó loạng choạng rời khỏi nơi ấy theo con đường ven bờ biển và con Marguerite đã tới đi bên nó, dùng cái đầu không có sừng của mình để đỡ cái cổ đồ sộ của anh bạn thắng cuộc.
Tôi không được chứng kiến đêm tân hôn của chúng, vì tên lính gác coi đàn trâu đổ tội cho tôi là đã cởi dây thắng cho Brutus nên tôi bị mất việc chăn trâu: Tôi xin được gặp chỉ huy để nói chuyện về Brutus. – Chuyện xảy ra thế nào vậy, Papillon? Phải giết Brutus thôi, nó nguy hiểm quá. Nó đã giết mất ba con trâu tốt rồi.
– Thưa, tôi đến để xin ông hãy cứu lấy Brutus. Người gác trông coi việc trồng trọt, chuyên lo lũ trâu không hiểu gì hết. Xin ông cho phép tôi được kể lại là Brutus đã tự vệ chính đáng ra sao
Viên trại trưởng mỉm cười:
– Tôi nghe đây.
– Như vậy, như ông chỉ huy đã thấy, con trâu của tôi bị tấn công trước. – Sau khi kể các chi tiết, tôi kết luận như vậy. – Hơn thế nữa, nếu tôi không cởi dây cho Brutus thì con Danton đã đâm chết nó mà nó không thể chống đỡ được vì nó còn bị buộc vào càng xe.
– Đúng vậy- trại trưởng nói.
Vừa lúc đó người gác kia tới.
– Xin chào thiếu tá. Còn Papillon, tôi đang tìm anh, vì sáng nay anh đi trên đảo như đi làm vậy, mà anh lại không có việc làm.
– Thưa ông Angosti, tôi đi ra để xem có thể ngăn không cho hai con trâu đánh nhau được không, nhưng chẳng may, cả hai con đã điên tiết lên cả rồi.
– Có thể là như thế, nhưng bây giờ anh không chăn trâu nữa, tôi đã nói với anh rồi. Vả lại, sớm chủ nhật này, cũng phải mổ nó để lấy thịt cho trại giam.
– Ông không làm thế được.
– Anh không thể ngăn tôi đâu.
– Tôi không thể ngăn ông nhưng thiếu tá ngăn được Nếu thế cũng chưa đủ tôi sẽ nhờ bác sĩ Germain Guibert can thiệp để cứu Brutus.
– Anh xen vào chuyện này để làm gì?
Vì chuyện này có dính dáng đến tôi. Chính tôi chăn dắt con trâu, và nó là bạn của tôi.
Trâu mà là bạn của anh à? Anh giỡn với tôi đấy hả?
– Ông Angosti, xin phép ông, ông cho tôi nói một chút chứ? 
– Thì cứ để cho anh ta bênh vực con trâu của anh ta xem, – ông thiếu tá nói.
– Được anh nói đi.
– Ông có tin là súc vật cũng nói với nhau được không, ông Angosti?
– Sao lại không, nếu chúng muốn giao thiệp với nhau?
– Nếu vậy thì Brutus và Danton đã cùng thỏa thuận là sẽ đấu với nhau.
Rồi tôi kể lại sự việc một lần nữa, từ đầu đến cuối.
– Trời đất quỷ thần – viên gác người Corse nói.
– Anh thật đến là kỳ cục, Papillon ạ. Anh thu xếp làm sao với Brutus thì làm, nhưng lần sau nó còn giết một con nào nữa, thì không ai, kể cả thiếu tá, có thể cứu được mạng nó. Tôi lại để anh đi coi trâu vậy. Nhưng phải bắt Brutus làm việc đi.
Hai ngày sau, chiếc xe đã được thợ ở công xưởng sửa lại, và Brutus, với cô vợ chính thất là Marguerite kèm bên, lại tiếp tục công việc chuyên chở nước hàng ngày. Còn tôi, mỗi lần đến nơi nghỉ, khi chiếc xe đã được chèn đá cẩn thận, tôi lại hỏi, “Danton đâu rồi, Brutus?” Và con vật khổng lồ kia, kéo mạnh chiếc xe, chân bước lâng lâng, với tư thế của kẻ chiến thắng, đi một mạch về tới nơi.




Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 14 Nov 2025

Chương 10

Tôi đã thắng định mệnh hai keo và lại được tin cậy, nhưng Albert vẫn còn đó, và đấy chính là người phải canh chừng gắt gao. Chúng tôi là hai thái cực của khối và mọi người đều ghi chép và kết toán các cơ may riêng của mỗi đứa.

Những lá thư đầu tiên kèm theo bưu kiện quà cáp đã đến, đem theo một ít không khí quê hương. Jacob, người mà ngoài một điếu thuốc, từ chối lất cả mọi thứ mà người ta biếu, cũng cấm tôi không được nhận bất cứ món gì dù là một chiếc bánh nhỏ, ngược lại, khi ông nhận được quà của vợ gửi cho, ông vội vàng chia xẻ, nhưng gói quà chẳng chứa đựng gì nhiều.

Những bọn bè quen từ đầu, nay đã đi hết, người nầy đến người kia, chắc chắn là đến Dora. Chỉ còn lại Michael, Mas và Ramelin, cả ba, địa vị vững chắc. Đại tá Ganneval cũng được rời khỏi công việc tạp dịch, ngoài trời để vào công xưởng nhờ các sĩ quan Tiệp Khắc quen ông nhân một xứ mạng ở Prague thuở trước, và họ đã nhận ra ông mặc dù dưới bộ “đồng phục” mới. Người Tiệp Khắc, sau người Đức, là những người nhận được chỗ tốt, trước tiên nhờ vào tư cách là thuộc “nước bảo hộ” của Đại Đức Quốc.

Vì lẽ tôi chẳng nhận được thư từ bưu phẩm gì, thiện cảm của các bạn tù Nga lại càng tăng lên và vì tôi có vẻ còn vững trong địa vị, lòng tin của những người đã bỏ rơi tôi trong khi tôi lâm vào tình trạng tuyệt vọng, cũng đã trở lại. Vì thế mà nhiều người kể lại với tôi rằng Albert đã lấy của họ nhiều gói quà, để giúp họ, anh ta bảo vậy, tránh khỏi bị tống đi đến những chỗ tệ hại. Vả chăng, trong khối ai cũng biết cả, nhưng không có ai dám khiếu nại. Albert được bên trên nâng đỡ mạnh. Một liếp xúc-cù-là, hay một gói thuốc Gaulois có hiệu quả cũng bằng nếu không muốn nói là tốt hơn cả một bao thơ đầy ắp giấy bạc mà người ta dúi vào tay một vị đại biểu lem nhem. Tên quỷ quyệt của chúng tôi áp dụng đường lối này. Một du kích quân gốc người Bretagne đề nghị với tôi để anh thanh toán hắn, nhưng Jacob không chấp thuận, Đáng tiếc, bởi vì khi đêm đến, việc đó rất dễ thực hiện. Phải tìm cách khác. Chính Boucher đã đem lại giải pháp cho chúng tôi. Từ lâu anh ta có vũ khí bí mật nhưng vẫn chờ cơ hội để tung ra. Khí giới bí mật đó chỉ là một chiếc đồng hồ đeo tay bằng vàng mà tên khốn kiếp đã cưỡng đoạt lúc anh mới đến, với lời hứa là sẽ đưa anh vào làm việc ở nhà máy, xử dụng quyền của một thông dịch viên, anh ta len lỏi trong số người mới đến trong khi họ được sát trùng, để tìm cách kiếm chát.

– Hắn bóc lột tất cả, mọi người chung quanh nói; vậy tốt hơn nên dàn xếp giữa người Pháp với nhau.

Có ai muốn giữ chiếc đồng hồ khi thấy mình trần như nhộng sẵn sàng để cho bị hớt và cạo như trong lò sát sinh không? Boucher, người đầu tiên, để cho anh ta làm, tưởng rằng đây là chuyện bình thường, có hai chứng cứ không chối cãi được đối với tội trạng nầy. Một mảnh giấy mà Albert viết nguệch ngoạc và đưa cho anh trong lúc tiếp chuyện đó, chứng cớ thứ hai là bên trong nắp hộp đồng hồ có khắc tên của sở hữu chủ và ngày tháng. Một hội thẩm đoàn danh dự gồm có người Đức, Nga, Pháp được thành lập. Boucher vốn là một luật sư, anh trình bày tất cả với giọng sâu cay và sự rõ ràng khúc chiết làm cho các thông dịch viên gặp nhiều khó khăn, nhưng anh ta chẳng cần phải dùng đến tất cả tài năng mình, chứng cớ cũng đã quá đủ. Albert, luôn luôn đeo chiếc đồng hồ nầy vẫn hãnh diện nói rằng mình đã thành công trong việc dấu nó qua tất cả các cuộc lục soát từ khi bị giam cầm tại Pháp, đã không ngờ có cuộc tấn công được sửa soạn trước như thế nầy. Một trong các hội thẩm đề nghị án tử hình, nhưng sau cùng hình phạt được ấn định là anh ta phải bị tống đến một mỏ muối. Bốn hôm sau, Albert lên đường và ngay cả tôi tớ thân cận nhất của anh ta cũng không dám bắt tay từ biệt.

“Tên khủng bố” đã đi khỏi, mọi người đã thở phào nhẹ nhõm. Những chuyện đó đã dây dưa đến cuối tháng ba. Ngoài một vài tin vịt, vẫn không có gì mới lạ. Ngay cả cuộc tiến quân ở phía Đông cũng dừng lại. Sự yên tĩnh trên tất cả các mặt trận có thể cho phép dự đoán đang có âm mưu gì đó, nhưng trong khi chờ đợi, phải sống đã. Những ai thỉnh thoảng có nhận được một gói quà thì bảo toàn mạng sống là chuyện dễ. Ngay cả những người kém may mắn nhất, những người làm việc ngoài trời cũng bớt than vãn vì thời tiết lạnh lẽo đã chấm dứt. Ai cũng biết được ở lại Buchenwald tức là còn có cơ may sống sót. Trong tất cả các chuyến di chuyển trước đây mấy tuần, đã có sự thiệt hại lớn lao. Chúng tôi biết được điều đó qua văn phòng nhân số, và tôi buồn rầu tự hỏi Huhert và các bạn khác trong cơn thử thách mới hay đã ra sao.

Trong khối nầy lại có thêm tù mới đến. Trước hết khối dành cho tất cả những người tàn tật trong trại tập trung. Với các người cư trú mới: cụt chân, cụt tay, đau yếu và cả kẻ đui mù nữa, khối mau lẹ trở thành một “sân phép lạ” và lò thiêu xác nhận từ khối cửa tôi nhiều khách hàng nhất. Sự chết chóc bắt đầu đến với những người quá bốn mươi tuổi và đã bị thời tiết của mùa đông vừa rồi làm kiệt sức. Một đêm, tháng ba, một cơn gió lạnh buốt thổi qua các khe ván hở của căn phòng nhỏ của chúng tôi, ông Nghị sĩ người Bỉ Francois hấp tấp đi vào văn phòng khối và la lên bằng tiếng Đức: “Ngài chủ tịch mất rồi”. Đó là ông cựu thủ tướng Janson, lãnh tụ đảng tự do Bỉ vừa chết ở tuổi bẩy mươi hai.

– Thế thì đưa ông ta vào ngăn dành cho người chết, – Jacob trả lời khi đang rửa chân, không thèm cả quay đầu lại. Rồi quay nhìn tôi, trong khi ông kia tủi giận, bỏ đi ra:

– Bộ ông ta tượng trưng cho cái gì sao? Người ta làm quốc tang cho ông ta vì ông ta đã từng làm Bộ trưởng chắc? Nếu ông ta biết tôi đã từng thấy không biết bao nhiêu người đã chết.

Đó là người chết đầu tiên trong khối…

Nhà vật lý học danh tiếng Helbronner ra đi vĩnh viễn sau đó; một cơn cảm lạnh trong ba ngày liền đã quật ngã ông mặc dù với tuổi 65, ông ta có một sức mạnh làm kinh ngạc. Rồi đến giáo sư Roby một nhà toán học. Bệnh kiết lỵ đã làm người ông khô đét. Ngay hôm ông mất, người ta báo là ông có một bức thư, nhưng ông không còn gì thì giờ để đọc nữa.

Đối với những người chết đầu tiên, các y tá còn bỏ công lo lắng và Boucher, được chỉ định phụ trách việc nầy, đã đọc một điếu văn ngắn ngủi. Vì lẽ số người chết ngày càng gia tăng, bốn người tình nguyện họp thành một Tod Komando(Biệt đội chung sự) có nhiệm vụ khiêng xác chết. Bù lại với nỗi mệt nhọc, họ được nhận gấp đôi phần ăn và không còn điếu văn nữa.

Mối ưu tư số một của chúng tôi là ăn, và người già nhất cũng trở thành hổ đói. Trông họ nhai, người ta có thể nói là họ đang dự một cuộc tranh đấu vô hình chống lại “Người Đồng chí” đang lảng vảng trên không.

Đối với người không làm việc gì cả, phần ăn của trại tạm coi là mức sống tối thiểu, và còn có bưu kiện thêm vào. Bưu kiện nhiều đến nỗi Zacob thiết lập một quỹ tương trợ. Mỗi người bỏ vào đó những gì mà lòng thương yêu thúc đẩy, tất cả tặng phẩm sẽ mang chia cho nhiều người bất hạnh không thân quyến, không nhận được gì hết. Hai lò sưởi của khối không bao giờ bị tắt, vì luôn luôn có người hâm nóng đồ hộp, hay nấu lại rau trái được phơi khô. Có hai người ranh ma đã chiếm lấy hai mỏ vàng nầy, công việc là châm củi vào lò, thiết lập một vòng di chuyển thứ tự và canh chừng việc nấu nướng các món khác nhau. Họ mập ra trông thấy và từ lâu đã mất tất cả những quan niệm riêng về thời cuộc. Một lần tôi bắt gặp một anh đang nếm một cách quá đáng một món thịt hầm đậu. Với vẻ tỉnh bơ, anh ta cố gắng thuyết phục tôi về tánh ngay thẳng của anh:

– Tôi đang giúp ông y sĩ già quê ở Calvados, ông ta chỉ có thể ăn được nước sốt thôi, vả lại ông ta mới ngồi dậy được và tôi nghĩ là không còn lâu nữa đâu.

Tiếng tăm của khối chúng tôi lan tràn mau chóng trong trại tập trung. Người ta chỉ nói đến khối của tù nhân tàn phế. Hãy nghĩ xem, ở đây không ai làm việc cả và chắc chắn là vì các tù nhân bị tàn tật ở đây cho nên số bưu kiện gởi đến cũng nhiều hơn nơi khác.

Ngay cả nhóm người Nga già nua cũng phải làm tạp dịch, nhưng để bù lại, họ được lãnh tất cả phần súp dư thừa. Duy chỉ có điều kiện thiếu vệ sinh là làm cho người ta ở đây dễ bị chết mà thôi. Trong dãy nhà nầy, bình thường có chỗ cho từ 50 đến 100 tù nhân, nhưng vào tháng 4 năm 1944 nầy, chúng tôi có những 600 người. Thời tiết tốt đã trở lại, và mỗi tuần một lần vào thứ bảy chúng tôi quyết định mọi thứ phải được đưa ra ngoài để làm tổng vệ sinh. Họ đưa ra vô số vật dụng, đủ thứ dị dạng, khiến cho chung quanh khối trông giống như một khu chợ chồm hổm. Buổi tối khi sắp đặt tại đâu vào đó, là có cuộc thanh tra sạch sẽ. Đứng nối đuôi nhau mỗi người phải trình diện thân thể mình cho một kiểm soát viên chuyên về chấy rận, từ bệnh xá gởi đến, ông nầy nhờ một đèn rọi xách tay kiểm soát tất cả phần thân thể có tóc lông. Bịnh đậu lào! (một bệnh địch do chấy rận gây ra). Người Đức sợ bệnh nầy cũng như sợ bị oanh tạc, vào thời kỳ đó, họ đề phòng ngay cả trong các trại giam.

Không làm gì cả trong ngày, và không bị khổ sở vì đói, người ta để cho tâm trí rẽ qua các câu chuyện không bao giờ dứt, trong đó chuyện trà nước lẫn lộn với chuyện nhậu nhẹt. Mọi khu vực trong xã hội đều có người đại diện và có một vài nhân vật danh tiếng.

Michelin, vua cao su, như người Đức vẫn gọi, thường thường rất sang trọng bỏ rơi phần ăn vì ông ta nhận vô số là bưu kiện. Tù nhân Nga từ khắp nơi bu đến để có thể chiêm ngưỡng dung nhan một nhà đại tư bản thực sự bằng xương bằng thịt.

– Đúng là một tên keo kiệt, – một hôm Boncher nói với tôi, – hắn ta muốn bán cho tôi một gói thuốc với giá mười Đức kim, trong khi hắn ta có cả kho.

Mặc dầu có một địa vị tốt đẹp trong đời sống dân sự (ông ta có một trong những văn phòng lớn nhất ở Ba-lê), ông luật sư của chúng tôi không hề nhận được đồ ăn lẫn tiền bạc, chúng tôi có quyền nhận ba mươi Đức kim mỗi tháng, và ông ta khổ sở nhất là do thiếu thuốc hút. Nhờ sự táo bạo, ông ta len lỏi để được liệt vào loại bất lực nhờ vào một bịnh đau tim không kiểm xét được. Khi cao hứng ông ta kể lại các vụ án danh tiếng: vụ Violette Norzière, vụ hỏa hoạn trên chiếc “Georges- Philipar” tuy nhiên nhược điểm của ông ta, đó là sự hợp pháp của chánh quyền Pétain. Chắc chắn ông luật sư chống lại hành động của Pétain nhưng riêng đối với sự phê chuẩn của quốc hội Vichy, nó trở thành hợp pháp và để bênh vực, ông ta không bao giờ đi ra ngoài các công thức pháp lý! Những người nói chuyện với ông, thường bị ngụp lặn trong mớ danh từ chuyên môn khó tiêu, không bao giờ nhận bị ông đánh bại. “Luật lệ của anh là một con điếm, và ai cũng có thể hôn nó tùy ý!” một lần, một tù nhân gốc Bordeaux nổi khùng kết luận như vậy.

Cũng có cả các dân biểu nghị sĩ ở đây nữa. Đôi khi họ rốt lúng túng vì phải cung cấp các lời giải thích về đường lối chính trị trong quá khứ của họ. Lẽ tất nhiên là mọi người đều tiên liệu mối hiểm họa Hitler và kiêu hãnh cho rằng đã làm mọi chuyện để tránh tình trạng thảm hại. De Tessan, cựu Tổng thư ký phong trào Bình dân bị chết lãng nhách vì một mụn nhọt nơi cánh tay.

Nhiều cựu sĩ quan, đủ để trám đầy nhiều phòng khách, và họ không bao giờ biết một khi cật vấn cấp bậc của nhau, không phải lúc nào họ cũng luôn đồng ý với nhau. Vốn không phải chỉ trao đổi với nhau những những lời lẽ lịch sự. May thay vì danh dự quân đội, một vài người đã giữ vững được uy tín. Tướng Challe là một trong số đó. Với số tuổi 75, ông có một sức khỏe vật thể và tinh thần mà nhiều thanh niên phải thèm muốn. Đối với tất cả mọi người ông không hề ngần ngại thú nhận mình có tư tưởng cơ đốc và bảo thủ, và ít ra người ta cũng biết rằng khi nói chuyện với ông, mình đang nói chuyện với ai. Biết bao nhiêu người không được một lập trường vững chắc bao chung quanh ông! Một hôm, một viên Đại tá xúc phạm đến ông bằng một lời lưu ý hỗn xược, ông tướng mắng thẳng vào mặt ông tá nầy một cách uy nghiêm:

– Khi trở về đến Pháp, tôi bắt anh đứng nghiêm lại.

Trong khung cảnh không gian và thời gian nơi câu chuyện xảy ra, màn kịch nầy thật đáng buồn cười, tuy nhiên vẻ tự tin khi ông nói mấy lời “khi về đến Pháp”, đã giúp ông chiếm được sự ngưỡng vọng của những người – và số nầy rất đông – đã thất vọng cho rằng mình sẽ không bao giờ còn được thấy những ngày nghi lễ lạ lùng nầy chấm dứt.

Cùng với các bưu kiện, những giai cấp xuất hiện trở lại, vì có những người giàu, kẻ nghèo biến thành người đi thương lượng, thủ lợi và trộm cắp. Ngoài đời sống dân sự, những kẻ có thế lực trên trái đất sống trong một khu vực riêng biệt, nhưng ở đây, người nầy chồng lên người kia, kẻ bày thịt heo hay hộp mứt cạnh người quên mất mùi vị các thứ đó từ lâu đã tạo ra cùng hậu quả giống như một ông lớn đang sống trong một khách sạn đặc biệt lại vừa mang đồ đạc sang trọng đến sống trong một khu vực ngoại ở tăm tối bẩn thỉu.

Có một vài kẻ như là điên khùng với quà nhận được. Họ không dám ăn hết bất cứ món gì. Một người miền Vendée, nhận quà hàng tháng tượng trưng cho cả một gia tài ở Ba-lê vào thời đó; nhưng khi phải cho ai vài cục đường hoặc ba chiếc bánh, mặt mày ông ta trở nên tái xanh, đến nỗi những kẻ ích kỷ nhất cũng thấy thẹn. Jacob, nản lòng vì trông thấy cảnh đó, muốn bỏ rơi tất cả những gì ông đã muốn tổ chức, nhưng vì tò mò, ông thực hiện một cuộc kiểm soát, đúng hơn là một cuộc lục soát, vì đã có nhiều người khiếu nại với ông là có mùi hôi thối. Ngạc nhiên quá đỗi, ông khám phá thấy nào là bơ đã bị ôi, nào là bánh bị mốc, đồ hộp bị hư hỏng và cho đến cả thuốc lá bị thối hoàn toàn mà chủ nhân không hút và thích giữ lại hơn là đem bán hạ giá. Đem cho ư, chuyện ấy không bao giờ có.

Đây không phải là một hiện tượng chung, nhưng mấy hôm trước đây một gã ngốc nghếch đã bị phạt suốt cả buổi chiều phải đi quanh dãy trại với một hòn đá nặng trên lưng. Anh ta đã ăn cắp một hộp cá của người bạn tù nằm gần bên, không phải để ăn – dù anh ta rất cần – nhưng để đổi lấy thuốc lá tại một khối khác. Ngày có cuộc lục soát anh ta mừng quýnh. “Chính họ mới đáng bị phạt”, anh ta ta lớn, vừa chỉ vào những tù nhân giữ cả kho thực phẩm đã hư hỏng. Tôi biết được anh ta là một nha sĩ tại Ba-lê. Không có thuốc lá, anh ta lâm vào tình trạng suy nhược đến tối. Thuốc lá đối với anh ta còn quí hơn cả đồ ăn. Trước các sự khám phá nhân cuộc lục soát đó, tình hình có vẻ khá hơn. Trên cấp bậc toàn trại tập trung, sự lạc quyên quà tặng cũng được tổ chức để giúp đỡ các tù nhân đau ốm và nghèo, ở bệnh xá. Trong bệnh xá thường hay có người chết nằm cạnh nhau, người nầy vì kiệt sức trong khi lao tác và bị thiếu ăn, và người kia vì kiết lỵ gây ra bởi việc ăn ngốn ngấu quá độ thực phẩm nhận được trong một bưu kiện.

Boucher, như là một anh chàng thổ công, luôn luôn khám phá thấy trong ngôi bảo tàng viện về con người, và nhứt là khối 56, một vài đồ thì mà tôi là người được anh cho biết trước. Một đêm, anh ta ra dấu bảo tôi đi theo, và đưa tôi đến một góc giữa hai “ngăn”, tôi thấy một ông già bị bao bọc chung quanh bởi các thanh niên thường đến thăm ông.

– Có gì lạ ở đó vậy? – Tôi quan sát và hỏi Boucher.

– Bộ anh không thấy những cặp mắt xanh biếc của họ, và, và… tôi phải nói làm sao nhỉ, và vẻ dịu dàng của cây thục quì trong mắt họ sao? Anh hay thử đến gần gũi với một thanh niên rồi anh sẽ thấy ông già muốn ăn tươi nuốt sống anh vì ghen ra sao! ồ! ông ta không làm gì hại đến họ cả, ông chỉ rờ rẫm sơ sơ thôi, vả chăng, ông ta cũng không còn sức lực nữa.

Tôi lắng tai và nghe một câu chuyện lạt lẽo vô vị về thơ văn.

– Sao, – ông giáo sư Boncher thình lình xen vào, – học trò vẫn đến thăm ông chứ?

Ông già giật mình, và trên vẻ mặt nhăn nheo thoảng một màu đỏ vì mắc cỡ:

– Không nên bỏ rơi họ, đó là tương lai của Âu châu, những thanh niên nầy, – ông trả lời với giọng gần như lạc đi vì cảm động.

Tôi lưu ý ông luật sư lắm lời của tôi rằng ông ta chỉ nhìn thấy có khía cạnh xấu,

– Nhưng tôi cũng có con chim lạ, – anh ta phản đối, – tôi không chỉ cho anh bởi vì không có gì hay ho lắm đó mà thôi.

Trong số một nhóm người yếu đuối bất lực mới đến ở trong khối từ một tuần nầy, có một thanh niên mới 25 tuổi, anh nầy đã nhờ một sự tình cờ và có lẽ cũng là nhờ thân thể được cấu tạo rắn chắc, mà thoát được một cơn sưng phổi nguy hiểm. Cha mẹ anh gởi cho anh nhiều kiện hàng vĩ đại, nhưng ngay trong đêm đó, tất cả quà nhận được đều biến mất không còn vết tích nào cả. Anh ta đã giúp đỡ không biết bao nhiêu cái dạ dày luôn luôn đi kiếm thức ăn, và không bao giờ anh giữ cho mình phần lớn nhất. Anh cho đó là chuyện rất tự nhiên, và những người lần lượt được anh mời, cũng cảm thấy bối rối vì anh làm việc đó với sự giản dị quá. Vả lại, mọi chuyện đối với anh đều đơn giản; nguồn gốc gia đình, nghề nghiệp, kiến thức và tên tuổi của anh tôi còn nhớ, Roger Dufour, bồi tiệm ăn, con nhà nông. Tuồng như một thiên thần đã xuất hiện ở đây qua thân xác anh có lẽ để chứng tỏ cho chúng tôi thấy rằng không nên thất vọng quá về con người.

– Anh thấy không, – Boucher ghẹo tôi, – tôi đã khám phá ra một người, nhưng anh lại tìm thấy một người anh em!

Buổi chiều, khi Julien Cain, quản thủ thư viện Quốc Gia Pháp không bị bận rộn quá với bạn bè, tôi đã trải qua cùng với ông những giây phút thích thú nhất ở những nơi ưu sầu ấy. Tôi nghe nhiều hơn là nói, và từ bộ óc uyên thâm đó, tôi được học nhiều bài học đang giá. Để được yên tĩnh hơn khi thời gian cho phép, chúng tôi đi ra sau trại, ngồi ngay trên vệ đường, ông ta kể cho tôi nghe những giai thoại chưa hề được biết ai trong làng văn ở Ba-lê. Tôi cũng đã từng trò chuyện với một trong những chủ nhân của Galeries Lafayette và tiếp xúc với một ông xanh xao vẻ buồn rầu, nhưng rất đáng kính trọng trong bộ áo tù nhân, nhà kiến tạo máy bay Marcel Dassault.

Trong các trại giam ở Đức, tôi gặp tất cả các dân tộc của Âu châu. Trong số các người Đức ở chung với chúng tôi, những người bệnh tật, có vài trường hợp kỳ lạ. Một người vào khoảng 70 tuổi đã vi phạm một tội hình do tình ái vào lúc 21 tuổi. Bị kêu án án chung thân, ông ta trải qua vô số nhà tù, từ năm bốn mươi tuổi, sau cùng đến “nằm ấp” ở trại nầy tiếp theo tình trạng vô số nhà giam trung ương bị phá hủy vì phi cơ oanh lạc. Ông ta không nhớ kỹ các chi tiết của tấn thảm kịch và từ lâu đã mất hẳn liên lạc với gia đình, trước đó khá lâu gia đình ông vẫn viết thư cho ông. Một người khác, hiệu trưởng một trường hỗn hợp tại một thành phố nhỏ vùng Rhénanie, đã phạm tội hiếp một cô học trò mười hai tuổi. Nay ông đã quá 50 tuổi và không còn hy vọng đi được ra khỏi trại tập trung vì ông đang bị tê bại vì bệnh sưng khớp xương ở thời kỳ quá trầm trọng. Bị phạt mười lăm năm tù, ông còn bốn năm nữa, có gia đình và con cái, ông không làm sao giải thích được nguyên nhân của trọng tội mà ông đã phạm. Một cựu chủ gánh xiếc cũng có mặt ở đây vì đã mua hai miếng dăm-bông chợ đen. Đó là một người dễ thương, đã từng du hành quá toàn cõi Âu châu, đặc biệt là biết rành về nước Pháp. Ông cũng nói được tiếng Pháp và luôn luôn quả quyết với tôi rằng đó là “một xứ bất hủ để nghỉ hè”. Một người Ý biết rất rõ về các nhà tù tại đảo Lipari và nhiều ngục thất khác của chế độ Mussolini, anh nầy luôn luôn tự hỏi tại sao, sau mười sáu năm bị giam cầm trong xứ, người ta lại đẩy anh đến Buchenwald để hành nghề đóng giày. Nhiều khi do tình cờ, trong các đám người lúc nhúc trong một mớ lộn xộn luôn luôn đổi mới, ta có thể gặp một người Hy Lạp, một người dân đảo Malte, một người Ethiopie, và nhiều giống người đặc biệt khác bị bắt trong một cuộc bố ráp hoặc là luôn luôn chờ đợi được thẩm vấn.

Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 14 Nov 2025

Google photo

Phần 15 – Phần số của anh tôi

Nhiều năm sau khi anh tôi mất, mẹ tôi vẫn thường kể về chuyện ấy, bà kể rằng:

Năm ấy là năm Nhâm Ngọ, mẹ tôi cùng một người trong làng có việc phải ra Đông Hà, chiều lại, khi đi bộ về ngang chùa Sắc Tứ, một ngôi chùa nằm phía bắc tỉnh Quảng trị, tọa lạc trên một vùng cát trắng mà sau này khi chiến tranh tràn lan, vùng này mọc lên một căn cứ quân sự của Mỹ bao quanh ngôi chùa chỉ trừ một lối vào vừa đủ cho Phật tử trong vùng vãn chùa, đảnh lễ. Khi bà cùng người làng ghé chùa, sư trụ trì cùng các sãi đang đạp lúa trước sân, mẹ tôi vái thầy rồi tỏ ý muốn xin xăm. Một chú tiểu tóc để chỏm nhanh nhạy theo lời sai của thầy, dẩn mẹ tôi vào chính điện, qua bên một chiếc bàn khấn lại, rút một thẻ tre gọi là xăm, đem ra cho sư trụ trì xem, Sư ngừng đạp lúa, nhìn vào xăm rất lâu rồi nói chậm rãi:

-Mợ đang mang thai, một nam nhưng mạng này lại vắn số! Mẹ tôi sững sờ đáp lại:

-Thưa thày, tôi vừa bỏ một đứa con chưa bao lâu, sao lại như vậy được?

-Xăm nói sao tôi nói vậy, mợ về xem lại.

Là người Quảng Trị, nhưng trong nhà tôi gọi cậu mợ, có lẽ cách gọi này là “mốt” thời thượng của những gia đình từng đi làm cho Tây thời đó, tôi gọi cậu mợ cho tới khi gia đình tôi rời quê lên tỉnh vì chiến tranh.

Bố mẹ tôi mong mỏi một đứa con trai, nhưng hai lần sinh đều là gái, cái thai thứ ba mẹ tôi vừa bị hư cũng là gái, trong khi đó tuổi của bố tôi đã bốn mươi tám và mẹ tôi hai mươi tám.

Chuyện của bố mẹ tôi gặp nhau là một chuyên hiếm hoi, nguyên bố tôi đã có một đời vợ, bốn đứa con. Thời gian này người được bỗ ra làm việc ở Quảng Bình, năm sau, một trận dịch hạch xảy ra, cả vùng Quảng Bình, Quảng Trị chết rất đông, có nhà mất cả gia đình, đi đâu cũng nghe tiếng khóc than! Mẹ đích tôi cùng các anh chị nằm trong số đó!( trong nhà tôi gọi vợ trước của ba tôi là mẹ đích).

Sau khi an táng vợ và các con, người buồn rầu trở lại Quảng Bình làm việc. Trước là một người hoạt bát năng nổ, nhưng nay u uất buồn rầu.

Ông ngoại tôi là bạn đồng liêu thân thiết với bố tôi.

Sau hôm giỗ mãn tang mẹ đích tôi không lâu, ông ngoại tôi trong một bữa rượu, đã gợi ý gả con gái cho bố tôi, dù con mình còn quá trẻ, mới mười bảy tuổi!

Mẹ tôi kể lại khi ông ngoại gọi, mẹ tôi đang bẻ bắp sau nhà, nghe ông ngoại nói ra ý mình, mẹ tôi cúi mặt nói lí nhí:

-Thầy muốn vậy cũng được ạ!

Bởi bố tôi là bạn thân thiết với ông ngoại tôi, mẹ tôi không lạ gì người đàn ông hiền lành, thích thơ phú và vui tính này!

Trở về nhà, mẹ tôi kể chuyện lá xăm với bố tôi, ông liền đưa mẹ tôi lên tỉnh, nhờ một người bạn là bác sĩ, trong tỉnh ai cũng gọi ông là “Đốc tờ Hy”.

Sau khi thăm thai, Đốc tờ Hy trở ra nơi bố tôi ngồi, vui vẻ bắt tay bố tôi, nói:

-Thai bốn tháng rồì, mong là trời cho “xừ” một quý tử.

Bố tôi theo Tây học, ít khi tin vào tử vi bói toán, nhưng rôi cũng hoang mang với lá xăm!

Gần cuối năm thì anh tôi chào đời, cả nhà tôi, hai chị còn nhỏ, bố mẹ tôi và hai bên nội ngoại…hoan hỷ vui mừng. Nhưng mẹ tôi thì lo âu tùng ngày vì tin vào số mệnh, vị sư nói “vắn số” nhưng khống biết “vắn” là tại thế được bao lâu!!!

Nỗi lo âu thường trực trong lòng bà cho tới khi anh tôi qua đời!

Bấy giờ chúng tôi đã lớn, nhưng vì thương mẹ nên cũng ngồi nghe kể dù đã thuộc nằm lòng, thỉnh thoảng chen vào, hỏi mẹ một vài chuyện về anh, cũng đã nằm lòng, nhưng dù đã nằm lòng vẫn không khỏi khóc. Chẳng hạn như sau khi anh tôi được ba tuổi, mẹ tôi sinh thêm chị gái tôi, năm sau, giặc Tây càn, những trận càn liên miên thời đó. Mẹ bồng chị tôi, anh tôi chạy cùng hai chị, không may đạp nhằm cái gai tre xuyên qua bàn chân, đau lắm! Thấy anh tôi không chạy được, các chị cũng còn nhỏ không cõng nổi, mẹ tôi  muốn bỏ lại chị tôi bên đường để cõng anh tôi. Nhưng anh tôi không chịu, khóc lóc, nhất định là: “Con đi được, mợ đứng bỏ em!” Rôi anh tôi tấp tễnh đi bằng gót chân non nớt! Chúng tôi luôn khóc về chuyện này, khi chị tôi đã lớn khôn, chị vừa khóc vừa gọi “Anh ơi !!!” làm chúng tôi sụt sùi!

Thời gian này bố tôi đã bỏ việc ở Quảng Bình, thoát ly lên chiến khu Ba Lòng, được một vài năm, ông bị Tây bắt phải nằm nhà lao mấy năm. Trở về, bố tôi nhớ lại lời của lá xăm, người nguyên xin ơn trên cho thêm đứa con  trai nữa, trời cho thật, anh kế tôi ra đời vào năm Nhâm Thìn, bố tôi đặt tên là Trần Như Nguyện, nhưng vài năm sau, sinh thêm tôi khi mẹ tôi đã bốn mốt tuổi, bố tôi sáu mốt! Tôi thường bị trêu là con ông già. Vậy là gia đình tôi có sáu người con, ba trai ba gái.

Tản cư lên tỉnh, gia đình tôi nhờ ông Tỉnh trưởng giúp cho một chỗ ở, công việc sinh nhai là nấu cơm cho thợ hồ, thợ mộc xa nhà. Ăn ngày, ăn tuần, ăn tháng tùy…

Ông Tỉnh trưởng thường đến nhà tôi chuyện trò cùng bố tôi, từng là một thầy giáo dạy văn. Ông là tỉnh trưởng dân sự cuối cùng vì sau đó những tỉnh trưởng đều là Quân đội.

Có một lần, bố tôi đọc cho ông nghe câu đối mà bố tôi mới làm xong:

“Bán cháo, bán cơm, không bán nước, “Mua đồng, mua trự. chẳng mua quan.

Ông Tỉnh trưởng khen rồi xin cắt nghĩa, bố tôi nói:

-Tôi tản cư lên tỉnh, nhờ ông Tỉnh trưởng giúp cho chỗ ở, nấu cơm bữa cơm tháng sinh nhai, nên chỉ bán cháo bán cơm, còn nước thì lấy từ sông Thạch Hản lên, ai khát thì cho người ta uống chứ không bán. Nhà tôi nghèo, chỉ có tiền đồng tiền trự, chứ làm gì có tiền quan mà mua. (Lúc này tiền tệ không còn “trự” “quan”, Nhưng ông mượn đơn vị tiền tệ cũ để nói lên ý mình trong câu đối.)

Tâm đắc với câu đối, ông Tỉnh trưởng về, hôm sau cho chở tới 10 bao gạo rồi giới thiệu các công chức xa nhà đến ăn cơm, nhà tôi đông như quán cơm xã hội. Mẹ tôi đã vất vả càng vất vả hơn!

Vất vả bận rộn, nỗi lo về anh tôi cũng vơi đi phần nào. Cho đến một hôm, có một thầy chấm số Tử vi từ Huế ra, chuyên chấm tử vi cho những nhà giàu, quan chức trong tỉnh…đến ăn cơm. Ông thầy đau bao tử nên hơi tái xanh, gầy. Mẹ tôi chừa phần cơm thường bỏ thêm cho ông một miếng cháy bởi ông rất thích cơm cháy.

Năm trước, anh tôi thi rớt tú tài phần nhất. gặp lúc tòa hành chánh tính có tổ chức “Đoàn cán bộ hành chánh lưu động”. Anh tôi được tuyển dụng.

Tôi còn bé nhưng cũng nhớ là đêm ấy là đêm mưa rét, bố tôi ngồi chuyện trò cùng thấy tử vi, ông ấy gọi anh tôi, bảo vào trong phòng xem dưới hạ bộ có nốt ruồi đen hay không, anh tôi theo lời rồi ra xác nhận là có. Ông cười bảo với anh không có gì, ông ngồi cùng bố tôi một lát rồi về nhà trọ.

Hôm sau ông lại đến ăn cơm, ông nói nhỏ với bố tôi:

-Ba mươi mốt tuổi nó hết số anh à!

Bố mẹ tôi buồn lắm, nửa tin nửa không muốn tin!

Ba mẹ tôi giấu không cho chúng tôi biết, nhưng cũng chẳng giấu được bao lâu, anh tôi và cả nhà đều biết, ai cũng cố không tin ông Thầy tử vi!

Lá xăm và lời thầy tử vi cũng chỉ là hé lộ mơ hồ về số phần của anh tôi, có vẻ như đã được định mệnh sắp đặt. Tin hay không tin cũng chỉ biết đợi chờ!

Những lắng lo xoay trở tạo cho mình có được một “cái gì đó” trước khi tuổi ba mươi mốt đến là ý nghĩ luôn hiện hữu và chi phối những chọn lựa của anh tôi!

Anh tôi thích thơ-văn, anh cùng hai người bạn ra một tập thơ mỏng chép tay, in roneo, lấy tựa là “Thi phẩm: Buồn hôm nay”, anh cũng gởi thơ cho các báo, một vài bài thơ của anh được đăng trên bào “Phổ Thông” và “Bách khoa”.

Anh vào lính, thi lại tú tài rồi xin vào làm ở Đài Phát Thanh Quân đôi, ở Huế.

Năm sau anh cưới vợ, ở tuổi hai mươi mốt, mặc cho gia đình phản đối!

Làm ở đài phát thanh không bao lâu thì cuộc chỉnh biến 1963 xảy ra cùng với chiến sự lan tràn, anh về làm lính tiểu khu Quảng Trị, ở đó cho đến biến cố tết Mậu Thân.

Những đứa con ra đời, anh tôi lại có thêm nỗi lo kinh tế! Là lính tiểu khu, ngoài những giờ gác đêm, anh tôi được tự do, anh làm thông dịch cho những nhà thầu nơi các căn cứ Mỹ để kiếm thêm thu nhập, phụ vào đồng lương ít ỏi của anh binh nhì.

Ông Tỉnh trưởng dân sự ngày nào, sau khi thôi làm tỉnh trưởng, ông ứng cử Hạ nghị viện và lúc này đang là Bí thư Hạ viện tại Sài gòn. Khi ứng cử nhiệm kỳ đầu, anh tôi đến các quận trong tỉnh để vận động cho liên danh của ông. Trong lần về lại, gặp anh tôi, ông khuyên anh tôi vào trường Bộ binh Thủ Đức, sau khi ra trường sẽ ứng cử Hạ viện như ông trước đây. Trong thời chiến, ứng cử viên là sĩ quan quân đội sẽ được cử tri quân nhân ủng hộ.

Năm 1970 bố tôi mất vì bệnh phế quản, có lẽ là di chứng của những năm nằm nhà lao.

Theo lời khuyên của ông Tỉnh trưởng, anh tôi vào Trường Sĩ quan Thủ Đức, khóa 3/70.

Mãn khóa, anh nằm trong số được chọn đơn vị. Chiến sự căng thẳng khắp nơi, bốn đứa con là động lưc cho anh tôi chọn tiểu khu Phong Dinh vì nghĩ rằng miền Tây gạo và thức ăn rẻ! Chuyện ứng cử Hạ viện không còn trong tầm tay.

Anh vẫn viết, cộng tác với các nhật báo. Anh viết những bản tin, phóng sự, thỉnh thoảng đăng một vài truyện ngắn và thơ… đem lại một khoản tiền nhuận bút cho kinh tế của anh.

Văn thơ anh lúc này bi quan với những: “mộ phần, nghĩa trang, cái chết”, những gian truân đời lính, bên cạnh những bài thơ mang ước vọng hòa bình…

(Tôi còn nhờ vài câu:

Đường đi vào nghĩa trang,

Buổi chiều nghiêng nắng đổ

Em cúi mình hỏi mộ

Mộ anh ở nơi nào?!

…………………… Hay như:

Nếu một mai Quê hương tàn tiếng súng,

Anh giã từ vủ khí trở về em

Anh quên hết những oán hờn xưa cũ,

Gối đau thương trong giấc ngủ say mềm…

………………………………………….)

Gia đình tôi vẫn ở Quảng Trị cho đến tháng 4 năm 1972. Quê tôi rực lên bởi đạn pháo. Chết chóc, ly tán…Gia đình tôi nhờ chạy trước nên không qua đoạn Quốc lộ 1, nơi được gọi là “Đại lô kinh hoàng”.

Anh tôi từ Cần Thơ đăng báo tìm “mẹ và em”, anh cho tôi địa chỉ một người bạn gái ở đường Võ Tánh Sài Gòn. Đến đó, anh sẽ đón mẹ và tôi đưa về Cần Thơ.

Anh kế tôi lúc này cũng đã vào trường Thủ Đức, khóa 4/71. Các chị tôi ở lại Đà Nẵng trong các trại tạm cư, chờ khi tái chiếm được Quảng Trị sẽ hồi cư.

Gặp lại anh ở Sài Gòn, mẹ tôi rơi nước mắt vì mừng mà cũng vì anh gầy và tái xanh, anh cười bảo là muỗi nhiều nên sốt rét. Anh muốn mẹ và tôi ở lại vài ngày ở Sài gòn để anh đưa đi thăm bà con nhưng mẹ tôi không muốn, bà nôn nóng về với các cháu, chị dâu tôi đang mang thai đứa thứ năm!

Ngồi trên chiếc xe về miền Tây ở bến xe Chợ Lớn, anh nói nhiều cho tôi biết về Cần Thơ, những bến Ninh Kiều, phi trường Bình Thủy, phà Cần Thơ rộng qua sông Cửu Long, Rạch Chanh nơi đơn vị anh đóng quân…Anh cũng nói đến Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, anh muốn nếu chết thì chôn anh ở đó! Câu nói như bất chợt ấy làm tôi nặng lòng!

Một cô gái mang một chồng sách lên xe bán dạo, tôi vui trở lại. Anh chọn bốn cuốn: “ Chiến trường tồi tệ “ của Ngô Đình Vận, “Một chút mặt trời trong nước lạnh” của F. Sagan, bản dịch của Kiều Diễm Hồng. Anh nói về nhà văn nữ người Pháp cho tôi biết, nói qua về trào lưu “Hiện sinh”… , mua thêm cho tôi hai số nguyệt san “Văn Học”: Một số viết về nhà thơ Quang Dũng và một số về Hoảng Cầm. Hình bìa số về Quang Dũng có in hình nhà thơ, anh tôi nói đó là áo của sĩ quan Hoàng Phố, nói cho tôi nghe về trường quân sự này, cũng nói thêm về Vũ Bằng và mấy cây bút trong những số này làm tôi háo hức đến Cần Thơ, nơi căn nhà mướn của anh để xem…

Căn nhà mướn chật chội làm tôi thương anh hơn. Những ngày phép còn lại thật quý, anh em tôi ngồi chuyện trò về thơ, văn, nhạc…Tuy tuổi chênh nhau nhiều nhưng anh em tôi gần gũi nhau hơn các anh chị khác. Lúc này tôi mới mười sáu còn anh ba mươi mốt ! Vốn thơ tôi không quá cuốn “Việt Nam Thi Nhân” của Hoài Thanh. Nhạc thì tôi kha khá nhờ nghe nhiều, chúng tôi cùng sở thích. Nhạc Tiền chiến và Trịnh Công Sơn. Thời gian này băng nhạc “Như cánh vạc bay” và “Cỏ xót xa đưa” của Trịnh Công Sơn đang thịnh hành, trong những cuốn băng Cassette tôi mang theo về Cần Thơ được nghe liên tục. Tôi cũng mang theo được cuốn        “ Yêu nhau khi còn thơ” và “Khi loài thú xa nhau” của Lê Uyên và Phương, còn có một cuốn nhạc chọn lọc tôi rất quý vì đã cất công vào nhà thu băng Hoa Đàm ở cửa Thượng Tứ,  Huế. thu chọn những bài mà tôi thích “Trăng mờ bên suối”, “Suối mơ”,

” Chiếc lá cuối cùng”, “Đêm đông”… Tôi chọn cho được giọng ca Thái Thanh và Sỹ Phú. Thu chọn bài đắt gấp ba lần thu nguyên băng, nhưng tôi vẫn kiếm tiền thu cho được.

Thế mà vài ngày sau tôi phải bán cái máy Cassette ấy! cái máy này tôi mang theo từ Quảng Trị. Khi hết phép, anh tôi về đơn vị nhưng không có tiền, tôi đề nghị bán chiếc máy, anh không cho, nhưng rồi cuối cùng cũng phải chấp nhân vì ngoài tiền mang theo về đơn vị, còn tiền ăn cho cả nhà! Tội nghiệp anh, tự an ủi là lãnh lương sẽ mua lại cho tôi cái máy tốt hơn!

Hai anh em, tôi xách cái máy, anh tôi vác cài thùng loa Sharp, qua các phố Cần Thơ tìm chỗ bán. Mồ hôi đẫm chiếc áo lính của anh tôi, khi tới một tiệm sửa máy, đồng ý mua lại, anh tôi rút khăn lau mặt, không biết anh lau mồ hôi hay những giọt nước mắt, có lẽ cả hai!

Trước khi trở lại đơn vị, anh tôi xin cho tôi đi học. Tôi vừa xong lớp chín, muốn bỏ lớp mười để vào lớp mười một. Anh tôi ngại tôi không theo kịp, nhưng tôi hứa là sẽ cố gắng. Tôi vào lớp mười một trường Nông Lâm Súc Cần Thơ nhờ thầy Giám học cảm thông cho hoàn cảnh chiến tranh của Quảng Trị, không đòi hỏi hồ sơ lớp mười.

Sáng ngày anh về đơn vị, mẹ tôi đưa cho anh ba ngàn, trong số tiền bán cái máy, nhưng anh chỉ lấy một ngàn, nói là “con chỉ đi ba ngày rồi về”.

Những ngày ở nhà, anh thường hỏi tôi mấy giờ rồi, tôi sợ anh về đơn vị không biết giờ nên cởi cái đồng hồ hiệu Bulova bào anh mang theo, tôi ở nhà không cần, bởi anh nghĩ chỉ ba ngày rồi xin phép về nên cũng mang vào tay.

Có lẽ mẹ tôi đã đếm tùng ngày của năm Nhâm Tý, 1972 và mừng thầm vì đã đến tháng bảy!

Anh tôi trở lại đơn vị hôm mồng một, mẹ tôi phấp phỏng âu lo, có những lúc tôi thấy bà ngồi lầm rầm khấn ông bà. Những lúc như thế, tôi thường nói rằng mẹ đừng lo lắng, anh đang bệnh, là Đại đội phó thì anh ấy cũng chỉ ở hậu cứ chứ chết chóc gì!

Tôi cũng không buồn đi chơi đâu, dù rằng Cần Thơ là nơi tôi thường nghe tiếng là Tây Đô với nhiều cái đẹp, tôi nằm ngấu nghiến mấy cuốn sách vừa mua.

Đúng ba ngày từ hôm anh tôi đi, sáng sớm có một bà ở cuối lộ 19 bị trúng gió độc chết, bà cũng ba mươi mốt tuổi! Mẹ tôi bần thần như người mất hồn, đứng lên ngồi xuống, đi ra đi vào!

Chừng mười giờ sáng, có một anh lính đi ngang nhà, mẹ tôi bảo tôi chạy ra hỏi, tôi đi ra:

-Anh tìm nhà ai?

-Nhà Thiếu úy Dụng ở đâu ạ?

-Tôi là em anh Dụng!

Anh lính đứng im không nói thêm gì, mẹ tôi lao ra hỏi dồn dập:

-Thằng Dụng sao rồi, sao rồi?!

-Thiếu úy chết rồi ạ!

Mẹ tôi và chị dâu thét lên rồi lăn ra giữa đường, tôi cố trấn tỉnh hỏi anh lính là anh chết lúc nào, hiện ở đâu?

-Ông chết năm giờ sáng, xe của đơn vị đang ở đầu lộ chờ đưa thân nhân xuống nhà xác quân khu…

Mẹ, chị dâu và tôi đến nhà xác, xe vẫn chưa đưa xác anh về. Hôm ấy mất điện, nhà xác ngập ngụa máu từ các ngăn lạnh chứa xác chảy ra! Chừng hai mươi phút sau, anh tôi về trên chiếc xe cứu thương, với một mảng mặt vỡ nát và ba vết đạn trên ngực và bụng!

Anh tôi bảo chỉ đi ba ngày rồi xin phép về, đúng ba ngày, anh tôi trở về như thế! Hôm ấy là ngày 03 tháng 7 năm 1972, anh tôi đúng ba mươi mốt tuổi như trong là số tử ví mà ông thầy chấm ngày nào!

Thẻ xăm và lá số tử vi khiến anh tôi lo lắng rồi có những chọn lựa sai lầm, đưa đến cái chết đúng như lá số tử vi, hay dù có làm gì chăng nữa, cũng không qua được số phần mà định mệnh đã định dặt cho cuộc đời ngắn ngủi của anh tôi?

Đó là câu hỏi luôn dằn vặt tôi cho đến bây giờ, không chỉ riêng định mệnh của anh tôi, mà tất cả những con người tồn tại trong cõi hiện sinh mong manh này.

Tháng III, 2015.

Trạch An Trần Hữu Hội

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 14 Nov 2025

Phần 15

Tám Tàng giác ngộ cách mạng đen

Minh Khịt mặt mày lem luốc, mũi giải lòng thòng. Lớn đầu tới 15, 16 tuổi mà lúc nào người ta cũng thấy hắn dùng hai tay áo thay khăn để quẹt mũi. Hắn thường bỏ trâu ngoài đồng để mò vào các nhà quan xóm có lễ lộc cúng kiếng để kiếm ăn. Hễ thấy cái bản mặt lúc nào cũng khìn khịt mũi, gia chủ thường chụp vài cái bánh, chạy nhanh ra cửa:

– Này! Cho mày bánh và đồ ăn. Mày ra ngoài đồng ngồi ăn! Đi nhanh giùm tao!

Chả có gia chủ nào muốn bà con, thực khách của mình lợm giọng vì cái dơ dáy bày hày của Minh Khịt. Sự xuất hiện của hắn làm mất vẻ trang nghiêm của không khí giỗ chạp, làm con chó giữ nhà sủa la inh ỏi. Đến cả khi hắn chặt chặt lưỡi làm quen, mấy con chó cũng có vẻ không hài lòng. Dường như con chó cũng biết kỳ thị. Hắn cũng biết tính nết hắn, thân phận hắn. Thường thì hắn nhanh nhẩy nhận thức ăn và trở lại với mấy con trâu của mình. Gia chủ đôi lúc cũng nói vói theo:

– Minh Khịt, lần sau vô nhà ai kiếm ăn, mày chịu khó ra suối vục nước rửa cái bản mặt mày một chút có được không? Đồi quỷ! Bộ chăn trâu rồi cũng dơ như trâu sao!

Dường như hắn hài lòng với định mệnh, với cuộc đời, không buồn phiền những lời chê bai, trách nhiếc, và người ta những tưởng Minh Khịt sẽ sống bằng nghề chăn trâu suốt đời. Nhưng nào ai biết số hắn sinh vào giờ nào, tử vi của hắn ra sao, đời hắn sẽ về đâu, lên hay xuống, chỉ có trời biết. Một hôm hắn biến mất. Hắn đi làm “cách mạng cứu nước” vào một ngày phải gió trở trời nào đó, và người ta chỉ biết ra khi mấy con trâu hắn chăn ăn cả nửa đám mạ ông hàng xóm.

– Trời đất ơi! Bớ Minh Khịt! Mày đi đâu mà bỏ trâu ăn cả vạt mạ của tao! Trời ơi! Làm sao gieo mạ lại cho kịp vụ mùa hè trời! Chỉ còn một tháng nữa làm sao chạy kịp! Thằng ôn hoàng dịch lệ!

Mấy con trâu bị lùa ra đồng trống trở lại. Người ta chạy đi mắng vốn chủ trâu. Ông Ba Bé hầm hầm cầm theo cây roi tìm Minh Khịt. Người ta nghĩ hắn ngủ bờ ngủ bụi ở một xó xỉnh nào đó, nhưng ông Ba Bé tìm hắn cả ngày không gặp. Ông dắt trâu về cột trong chuồng và nghĩ hoài không ra.

– Cái thằng mắc dịch này lạ thật!

Ông nghĩ hôm sau thế nào Minh Khịt cũng về nhà . Ông la nó một hồi rồi cho nó ăn cơm, rồi nó lại dắt mấy con trâu ra đồng. Nó làm công cho ông cả bốn năm nay, lâu lâu nó giở chứng như vậy. Hai ba ngày sau đó, Minh Khịt vẫn biến mất như con ma. Ông cho người đến nhà mẹ nó, bà cũng không biết gì hơn. Minh Khịt vắng bóng trong xã từ đó. Và sau mấy tuần, chẳng ai còn nhớ Minh Khịt.

Minh Khịt vô bưng sau khi tiếp xúc với một người bạn cùng xóm bỏ nhà ra đi mà hắn không biết đi đâu. Hắn nào biết cách mạng là gì, du kích là gì, súng ống là gì, hắn chỉ nghe lời thằng Tám Tàng, bạn hắn tả con đường cách mạng thênh thang, có quần áo đen để mặc, có cái khăn rằn lau mồ hôi, có cơm cá ăn no bụng, không bị chủ la rầy, không phải chạy theo mấy con trâu, không phải len lén ăn chực ở mấy cái đám giỗ quanh xóm, và sau cùng là không bị mấy con chó rượt chạy vắt giò lên cần cổ. Nhìn lại thân thế mình, hắn thấy con đường Tám Tàng vẽ ra trước mặt có sức hấp dẫn lạ thường.

– Ừa, tao đi! Tao đi theo mà y cũng vui!

Thế là Minh Khịt đi làm cách mạng.

Mấy tháng sau, Minh Khịt trở thành một tên du kích hoạt động trong rừng mật khu Lê Hồng Phong. Mặt mũi phong sương, trưởng thành hơn. Ban ngày người ta dạy hắn về con đường cách mạng của “Bác” đi, và Minh Khịt là kẻ đang đi tiếp theo con đường của “Bác”, dù không biết ngày mai con đường “Bác” đi có bi đát hay vinh quang.

Cái đầu Minh Khịt đen kịt, không có chỗ nào trống để nhét mấy cái ý niệm giải phóng, đế quốc, áp bức, cách mạng, Mác Lê-nin, kể cả “Bác Hồ vĩ đại”. Những chuyện tầm thường bằng ngón tay út mà nhét vô đầu hắn cả tháng cũng không vô thì “Bác Hồ vĩ đại” chui vô sao được. Tỷ như chuyện tháo ráp cây AK mà hắn học cả ba tháng trời, tháo ra thì hắn tháo được, nhưng bảo ráp vào thì hắn lộn tùng xèo với một đống sắt.

Cách mạng như những thùng nước, mà cái đầu Minh Khịt là lá môn. Nói chuyện cách mạng với Minh Khịt như nước đổ lá môn… Đảng và “Bác Hồ” là chuyện nghe qua rồi bỏ, vô tai này nó chạy tuột qua tai khác.

Có những buổi trưa, hắn được phân công mò ra bìa rừng, nơi có thể nhìn ra quốc lộ 1, để quan sát, canh chừng hoạt động địch. Hắn chưa được phát súng, chỉ được chỉ thị giả dạng như người chăn trâu, làm rẫy…

Hắn lựa một bụi rậm mát, từ trên động cát, người dân gọi là động Thái An, nhìn xuống đồng bằng. Màu vàng của lúa làm hắn nhớ mấy con trâu, xe cộ dọc ngang trên quốc lộ 1 làm hắn nhớ nhà. Đó là những cảm giác đầu tiên gây nên cơn giông bão trong đầu hắn. Hắn bỗng nuối tiếc cái thời thơ ấu chăn trâu lem luốc. Hắn muốn bỏ rừng về nhà. Hắn nhớ bà già. Chưa bao giờ hắn nhớ nhà như lúc này. Đôi lúc hắn muốn chạy một mạch xuống đồng ruộng, nhưng hắn bỗng rợn người khi nhớ lại lời thằng Tám Tàng có lần nói với hắn sau khi đã ở trong bưng mấy tháng:

– Theo cách mạng mà bỏ về nhà là bị xử tử đó mày! Tao nói thiệt chứ không giỡn đâu!

– Xử tử là cái gì?

– ĐM sao mày ngu dữ dậy! Xử tử là mấy ổng bắn bể sọ mày, chặt cổ mày!

– Gì mà ghê dậy mày? Sao hồi đó gặp tao mày không nói trước?

– Nói trước thì làm sao mày dám đi! Con khỉ!

Lần đầu tiên hắn biết sợ. Biết sợ là một trong những thành quả mà hắn được Tám Tàng thay cách mạng đào luyện cho hắn. Dường như chỉ có điều này là còn dính chút xíu trong cái đầu đen kịt của hắn. Hắn nằm trên cát. Cơn nắng trải đều không gian, hừng hực đổ lửa trên những triền động. Hắn nhìn mấy con dông thềm chạy ngang dọc kiếm ăn. Hắn trở mình. Nghe tiếng động, mấy con dông ngẩng đầu lên dòm ngó, rồi chợt phóng nhanh như cắt xuống mấy cái hang. Dông là thức ăn thường ngày của hắn, Tám Tàng và những đơn vị du kích sống trong rừng mật khu Lê Hồng Phong.

Cơn gió mát hiu hiu đưa hắn vào giấc ngủ lúc nào hắn không hay. Chiều tối, có chiếc trực thăng đâu đó bay ngang, trên bầu trời lấp lánh sao, hắn giật mình thức dậy, lần lũi theo bóng đêm đang mờ dần. Phút chốc, bóng Minh Khịt biến mất trong rừng sâu.

Vào năm 1972, cường độ chiến tranh gia tăng, thỉnh thoảng Minh Khịt thấy một số bộ đội nói tiếng Bắc xuất hiện trong vùng du kích của hắn. Đa số bọn họ đều mang AK, và một hôm hắn được người ta dạy về cách tháo ráp, bắn súng, không phải loại AK mà là một cây súng bá đỏ, sau này hắn nghe gọi cây súng đó là cây CKC. Hắn được báo cho biết là hắn được cách mạng giao thêm trách nhiệm tác chiến. Hắn được giao cho cây CKC.

Xưa nay, những lý thuyết, những đêm học tập người ta nhồi nhét vào đầu hắn, nói chui từ lỗ tai này ra hết lỗ tai kia. Nó không có ký lô nào trong đầu hắn. Nay thì khác, cuộc đời hắn bắt đầu trĩu nặng, đầu tiên là sức nặng của cây súng. Nhiệm vụ tiên khởi của hắn, cũng như mấy lần trước, là ra bìa rừng quan sát và canh gác an toàn cho các đơn vị trong bưng, nhưng lần này lại có cây CKC kèm theo vai, lần này lại có cả Tám Tàng mang AK đi theo. Hai đứa ẩn mình trong bụi rậm kín đáo, tầm mắt hướng về quốc lộ 1.

Hai thằng giở cơm vắt ra ăn với cá khô. ăn xong, cả hai lại không hẹn, cùng nhau thiu thiu ngủ. Tám Tàng ôm cây AK dựa lưng vào gốc cây thả hồn theo cơn gió mát. Minh Khịt ngồi bên, mở mắt không lên, cũng ôm CKC ngủ tiếp. Chẳng biết hai đứa ngủ được bao lâu. Trên bầu trời xanh lộng gió bỗng vọng lại tiếng trực thăng, Minh Khịt nhướng mắt nhìn về hướng Sông Mao, hắn thấy đến hai chiếc, một chiếc lớn đang bay, câu theo một chiếc nhỏ tòn ten bên dưới.

Tiếng trực thăng càng lúc càng gần, hắn thấy cả hai chiếc càng ngày càng rõ trên vòm trời. Bỗng Minh Khịt nghe mát rượi khi một cơn gió mạnh thổi qua rừng. Trên trời, chiếc trực thăng nhỏ đeo bên dưới chiếc lớn chao xoay một vòng, chợt đứt giây rơi ào xuống đầu hắn. Minh Khịt hoảng hốt, chẳng biết làm sao mà hai viên CKC thay nhau ra khỏi nòng, hai tiếng nổ chát chúa, xẹt qua mang tai Tám Tàng cùng với tiếng rầm, ào ào cây đổ khi chiếc trực thăng hư bị đứt dây chạm đất.

– ĐM mày Minh Khịt! Trời ơi ! Sao mày bắn xẹt qua mang tai tao! Chút nữa tao bỏ mạng rồi! Kỳ dậy!

– Thấy nó thinh không xuống lẹ quá, tao giật mình chụp súng chớ có bắn hồi nào! Chẳng biết tại sao nó lại nổ hai phát! Súng gì kỳ vậy?!

Khi chiếc Chinook biến mất ở cuối chân trời thì Minh Khịt và Tám Tàng cũng rời vị trí để đến xem chiếc trực thăng. Nó trở thành một đống sắt vụn giữa rừng, không thấy một tên “giặc lái Mỹ xâm lược” nào chết.

Tháng 9 năm 1976, cả nước lọt vào vòng tay cộng sản hơn một năm. Người ta nghĩ sau khi cộng sản thắng ở miền Nam, từ Nam tới Bắc sẽ sống trong không khí hòa bình, tiếng sáo chiều, tiếng mục đồng êm ả… “đường ta ta cứ đi, nhà ta ta cứ xây, ruộng ta, ta cứ cày…” như trong một bài hát thời kháng chiến chống Pháp. Nhiều người bất mãn quốc gia, hay mê VC cũng vào bưng vì những ý nghĩ và giấc mơ đó. Nhưng tất cả đã lầm.

Năm 1976 là năm bắt đầu cao điểm của sắt máu, của trả thù, của trấn bức, của tịch thu tài sản. Cả miền Nam căng cứng những lo âu, sợ sệt, hận thù. Cả miền Nam, gần như gia đình nào cũng có thân nhân vào tù hay bị nhốt trong các trại cải tạo, ra đường cúm rúm, co ro. Đường ta đó, nhưng không có chuyện ta cứ đi. Đi một tấc đường là phải xin một giấy phép; nhà ta đó, nhưng cả nước đột nhiên nghèo thê thảm thì lấy gì xây; ruộng ta đó, nhưng làm sao cày khi nhà nước mới sung công đất ruộng, trâu bò vô hợp tác xã… rồi cả đám cùng làm mà chẳng có ăn!

Tất cả những cuộc đổi đời xuống dốc đó không ảnh hưởng chút gì vào cái đầu của Minh Khịt. Chiều nay, hắn và tên du kích xã, người chỉ huy hắn, được nêu tên tuyên dương “anh hùng diệt máy bay Mỹ” gì đó trong buổi lễ mừng ngày quốc khánh 2/9. Hắn bây giờ bệ vệ trong bộ áo mới, mặt vênh váo, hãnh diện.

Người ta khó mà nhận ra Minh Khịt khi chăn trâu bị chó rượt năm xưa với đồng chí Minh Khịt xã đội phó du kích bây giờ. Tiếng loa mời gọi mọi người tập trung tại sân lúa hợp tác xã để dự lễ mừng quốc khánh 2/9, đồng thời tuyên dương các đồng chí miền Nam chống Mỹ cứu nước. Buổi lễ có cả màn ca hát để dễ bề thu hút bà con.

Mặt trời lặn dần, những ánh nắng chiều vàng vọt vắt trên ngọn cây nhạt mờ dần. Sân đội tập trung khá đông người, cờ xí giăng đỏ dọc theo bờ ruộng từ quốc lộ 1 vô tới sân khấu. Buổi lễ được “đồng chí” huyện ủy chủ tọa đặc biệt. Lý do sự có mặt đặc biệt đó là lễ gắn huy chương anh hùng diệt Mỹ.

Mọi người im phắc khi tiến hô nghiêm vang lên. Một toán hát “quốc ca”, cờ đỏ kéo lên. Nghi thức chào cờ chấm dứt, xướng ngôn viên mời các “đồng chí” lớn và đồng bào an tọa. Để bắt đầu lễ gắn huy chương, người ta xướng danh một lô du kích tên tuổi lạ hoắc, song khi nghe đến tên đồng chí Minh Khịt, mọi người bỗng rồ lên nhốn nháo, xì xào:

– ĐM, thằng Minh Khịt chăn trâu mậy!

– Nó đi du kích hồi nào?

– Ai biết ! Nghe nói hồi trước “giải phóng”, nó đang chăn trâu rồi bỏ bọn chăn trâu, chăn bò vô rừng, sao bắn rớt máy bay cho được!

– Tí nữa nó lãnh huy chương xong mày hỏi nó!

– “Cách mạng” cho nó cái gì dậy?

– Ai biết! Tao nghe nói nó có thành tích bắn rơi chiếc trực thăng của Mỹ bằng cây súng bá đỏ gì đó. Tưởng như chuyện phong thần!

– Ngon vậy! Hồi trước, nó là thằng bèm nhèm, dơ dáy, gà mờ nhất, ai ngờ nó vô bưng!

Tiếng bọn trẻ xì xào bàn tán về thành tích Minh Khịt ngưng lại khi chúng nó nghe tới phần đọc bản tuyên dương công trạng. Minh Khịt được mời đứng dậy. Hắn cũng biết đứng nghiêm chỉnh trong cái giây phút nghiêm trọng mà hắn hãnh diện lần đầu tiên trong đời.

– Nay tuyên đọc công trạng! Đồng chí Minh Khịt đã giác ngộ theo con đường cách mạng vào năm 1972. Sau thời gian huấn luyện và học tập năng nổ, đồng chí Minh Khịt được đảng và nhà nước trang bị vũ khí chiến đấu. Trong một cuộc chạm súng với quân Mỹ Nguỵ trong mật khu Lê Hồng Phong, đồng chí Minh Khịt đã anh dũng dùng CKC bắn tan xác một máy bay lên thẳng của đế quốc Mỹ và giết chết một tên giặc lái. Thành quả của đồng chí Minh Khịt đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp giải phóng miền Nam của nhân dân ta. Nay nhân danh đảng và nhà nước, tuyên dương và cấp huy chương diệt Mỹ và bằng ban khen “chiến sĩ anh hùng” cho đồng chí Minh Khịt!

Trước khi người ta đưa hai cái tay ra vỗ một cách phản xạ một giọng nói đâu đó bỗng xé màn đêm sang sảng làm các tiếng vỗ tay lẹt đẹt trước đó ngưng bặt:

– Anh dũng cái con mẹ gì! Thành quả cái khỉ khô gì! Mẹ nó, nó đang ngủ mê man trong bụi với tui, máy bay Mỹ câu trực thăng bị gió xoáy đứt dây rớt xuống rừng, nó giật mình bóp cò sảng, đạn bay xẹt mang tai tui suýt chết, chứ có chạm súng cái con mẹ gì ! Mấy đồng chí vẽ bùa mà không tìm hỏi nhân chứng sống! Cách mạng gì kỳ dậy!

– Ai nói đó! Thằng nào vừa phát biểu phản động linh tinh đó? Các đồng chí an ninh bắt lấy nó! Bắt lấy nó! Tay sai điệp báo Mỹ Ngụy! Bắt lấy nó!

Đám đông bỗng như ông vỡ tổ, hỗn loạn, xì sầm. Bỗng có tiếng AK bắn chỉ thiên. Có tiếng chân du kích rượt theo một bóng đen đang chạy băng qua bờ ruộng. Một lúc sau, người ta áp tải một thanh niên mặt mày sưng vù vào sân hành lễ. Mọi người trong xã ồ lên:

– Tám Tàng!

Chỉ một giây phút bực tức nói lên sự thật, Tám Tàng sau đó bị kết tội là phản động, là CIA nằm vùng, và Tám Tàng bị đưa đi Sông Cái để tiếp tục điều tra và nằm tù cải tạo.

Cái tội của Tám Tàng vĩ đại đến độ hắn ra đi không có ngày về. Hắn bị “cách mạng”, các đồng chí cũ của hắn đập thê thảm. Trong lần khai thác cuối cùng, người ta hành hạ hắn tối đa để may ra tìm được trong lời khai của hắn một tin tức gì của Mỹ Nguỵ, của CIA để lại. Cơ thể hắn nhừ bân,sưng vù và hết cảm giác, như trong một sát na linh thiêng mầu nhiệm, thần trí hắn bừng sáng, hắn chợt hiểu ra sự thật, hắn chợt “giác ngộ một thứ cách mạng đen” mà hắn đã dại dột chui đầu vào.

Những giây phút cuối, hắn như một thiền sư đốn ngộ hốt nhiên tìm ra chân lý trong đáy cùng khốn nhục, đau đớn; một trạng thái tâm thần nửa tiên, nửa tục pha lẫn những uất ức dồn nén trong buồng tim còn đập những nhịp yếu dần, mắt hắn lờ đờ, môi hắn mấp máy. Người ta ngưng tay chờ hắn nói một lời thú tội quan trọng. Hắn thều thào nói lớn lời uất hận:

– ĐM! Cách mạng, bác Hồ như con C… tao!

Và hắn lăn ra chết. Đám công an đứng sững người trước lời nói sau cùng của người chết. Nếu quả trước khi chết người ta thường nói thật, thì lời sau cùng của Tám Tàng cũng có thể là chân lý . Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng dường chân lý này mới là thứ chân lý không bao giờ thay đổi.

Chẳng bao lâu sau, mộ hoang chôn xác Tám Tàng chưa xanh màu cỏ dại thì người ta “hồ hỡi” thống nhất hai miền Nam Bắc, giấc mơ một thiên đường xã hội chủ nghĩa, xe hơi, nhà lầu, công bằng tiến bộ mà một thời hắn được người ta nhồi sọ, một thời hắn cuồng nhiệt say sưa thổi vào lỗ tai Minh Khịt … cũng theo hắn chìm sâu trong lòng đất lạnh..

Em về, đất ngậm cơn đau

Hoa Xuân trổ những cánh sầu không tên

Em về, hoang lạnh miếu đền

Thấy cành Xuân đã mọc lên nhánh buồn.