Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 13 Nov 2025

7. Chương 7

Cái chết của bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, nguyên Thủ Hiến Nam Kỳ buổi Tây trở lại.

Buổi Tây trở lại đây, là tôi nhớ những năm sau khi binh Nhựt đầu hàng năm 1945, đạo binh Tây, tiếc của, kéo trở lại toan đoạt quyền trong tay binh Nhựt, và toan đè đầu chúng ta một thời gian nữa, lúc ấy tôi đã lui từ 1943-1944 về làm việc và xin về hưu trí non ở tỉnh nhau rún Sốc Trăng, và chuyện tôi thuật lại đây là do nhớ thuộc lòng và tưởng niệm một người tôi từng mang ơn, đó là bác sĩ Nguyễn Văn Thinh mà ngày nay tên tuổi đã lu mờ, nhắc đến thường với danh xấu hổ là “Việt gian”, là “theo Tây” v.v.., nhưng đối với tôi, tôi cho ông là một hiển nhơn quân tử, mà đã bị hiểu lầm.

Vong hồn ông có linh, xin biết cho. Trước đây, trước 1975, tôi từng được có người cho xem ba bài luận án để thi làm bác sĩ y khoa thời Diệm, một bài về cái chết của thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu, một bài về cái chết của cố thi sĩ Đông Hồ, và bài kía nói về cái chết của nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.

Ba ông làm ba luận án, có lẽ nay đã hành nghề, duy tôi chưa biết mặt, nếu có đọc bài nầy, xin miễn trách tôi còn nhắc việc cũ lại làm chi, nhưng tôi phải nhắc, để dựng chứng viết bài nầy. Lúc đó sau khi đọc xong, tôi trả về chủ cũ, duy tôi có nói sơ rằng:

– Về ông Tản Đà, ông chết về rượu, nhưng xin chớ quên nếu không có ông Diệp Văn Kỳ, hào phóng, xuất tiền ngàn rước ông vô đây, thì ắt không bao giờ ông Hiếu biết cảnh Sài Gòn, ông dọn nhà ở Gò Vấp, lấy rượu thịt làm vui, mỗi tuần báo “Đông Pháp thời báo” của Diệp quân sai lon ton đạp xe vô Gò Vấp xin tám câu để kịp lên khuôn ra báo, một hôm, túng bài, ông chửi đổng: “Làm thơ chớ phải bửa củi hay sao mà đòi đủ thước khối và cho kịp thì giờ!”.

– Về ông Nhất Linh, tôi nói ông Tường Tam là cử nhơn khoa học Tây, ông lựa cái chết để khỏi ra tòa phanh phui liên lụy đến anh em, ông Diệm chơi độc là bắt Bộ Y tế gởi ruột già ruột non của ông cho viện Pasteur tìm căn do cái chết, báo hại nhiều bác sĩ đã ký tên trên vi bằng giảo nghiệm, vô tình mang chút không thơm do một tổng thống, theo tôi cũng chưa đáng chết dữ, vì thiếu chi người đáng tội hơn mà vẫn sống phè phè vui vợ vui con.

– Riêng về cố hữu Đông Hồ, đã thế tôi làm giảng viên nơi Đại học Văn khoa, tôi vừa cười vừa trả bổn luận án mà rằng: “Tôi từng bị gái cho kỷ niệm đau nhức, mà tôi bao giờ dám thú thật với Năm Sa Đéc? Và lấy chuyện mình mà hiểu rộng qua chuyện bạn, ông Đ.H nghiêm mười lần hơn tôi, tôi định ông không khi nào thố lộ tâm sự phòng the, và hỏi bà M.T. để viết về Đ.H., tôi cho và ví tục, có ai hỏi cột đình cột chợ con xi đã làm dấu chỗ nào?

Và tôi kết luận tại sao không một sinh viên y khoa nào viết giùm luận án về cái chết của một đàn anh, theo tôi là đáng kính, là bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, nhưng hỏi rồi, tôi tự trả lời, viết làm chi và bao giờ được chấm đậu, chính tôi nếu bắt tôi thi, tôi rớt ngay buổi đầu, ăn zéro hột vịt bắc thảo lẹ lẹ, và văn của tôi có mùi nước chấm Mũi Né, nhiều người chấm mà ít ai chịu ngửi, mấy ông học trò trường thuốc vẫn khôn hơn tôi nhiều! Nay bắc cầu, viết: “Tôi biết gì về ông Dr. Thinh?” Chuyện này tôi đã có viết rồi, hình như trong “Hơn nửa đời hư” hoặc là nơi một tập khác, tôi cũng không hơi đâu mà dò lại và nay tái viết, có lẽ khó tránh sai siến không giống bản cũ, vậy xin độc giả lượng thứ, tôi viết đây là viết để trong nhà đọc mà thôi. Năm 1923 tôi thi đậu ra trường, vào làm thơ ký nơi trường máy đường Đồ Hữu Vị tôi lêu lổng chơi bời, tập hút thuốc điếu, tập uống la ve, tôi cảm và ho, uống nhiều thuốc Tây không hết, ngậm kẹo thuốc “pastilles Valda” cũng như không, thét rồi, tôi nghe lời bạn khuyên, tôi tìm bác sĩ Thinh, phòng mạch của ông lúc đó ở nơi góc đường Trương Định và Nguyễn Du ngày nay, nhà lầu day mặt qua hoa viên Tao Đàn, ông chẩn mạch, ra toa viết tay cho tôi bổ thuốc nơi nhà thuốc Tây Solirène (nay là nhà hàng Givral), tôi tốn 5 đồng bạc tiền coi mạch, ba món thuốc do ông viết tay, giá chừng 3 đồng nữa, vị chi là 8 đồng bạc con đằm xỏc, mà bịnh ho cảm dứt ngay, hay quá, tôi phục ông từ đó, cái toa thuốc ấy nay tôi còn giữ đây, nhưng chữ đã lu mờ đề ngày 17 sept. 1924, ký tên Thinh, không tiện in bản rặp (polycopie) vì không đọc được mà tôi cũng không dám chép tay sao lại cho độc giả xem chơi, vì ông viết tắt như sirop, ông viết sp, và chữ của thầy thuốc, ai ai cũng biết, khó đọc, còn tôi thì học chưa tới đâu, nên xin mời bạn nào muốn xem thì lại nhà tôi xem và xin cho tôi miễn sao chép lại đây.

Phục ông là phục vậy nhưng chưa phục mấy. Cái nầy mới làm cho tôi phục sát đất, và ngày nay ai dầu chê ông cách nào, tôi vẫn kính ông đúng là một chơn chánh lương y, một hiền nhơn đạo đức, vì cách đó một ít lâu, tôi cưới vợ, vợ tôi đau, nằm tại nhà, tôi rước ông đến điều trị, bịnh lành mạnh, ông gởi giấy sai người trao cho tôi tiền mạch là 50 đồng bạc, tôi lật đật đầu tháng, đem tiền và ghim toa thuốc ho cũ, vào phòng trình cho ông, ông cầm hồ sơ, liếc nhìn tôi rồi hỏi:

– Thầy lương bao nhiêu và trước học ở đâu?

– Dạ, tôi học ở Chasseloup và ăn lương 54$50 mỗi tháng.

– Thầy học trường đó mà tôi cũng xuất thân trường đó.

Tôi có lời nguyện nhớ ơn trường cũ, ai học ở đó lại tôi điều trị, tôi bớt cho nửa phần tiền. Thầy ăn lương 54 đồng, trả tôi 50 đồng, thì còn chi mà xài, vậy thầy trả tôi 25 đồng là được rồi. Mà khoan, tôi nhiều việc lắm, thầy đừng trả ngay cho tôi, thầy bước ra cô y tá coi việc bút toán, thầy trình bày và cắt nghĩa cô ghi sổ, mỗi tháng thầy đem lại 5 đồng và hết năm tháng là đủ, thầy không thiếu chi nữa cả. Chào thầy, để tôi trị cho người khác.

Tôi ra về, chơn bước nhẹ như lên mây, có ông bác sĩ hay ông thầy thuốc nào ngày nay, tốt bụng được như vậy, và phải nói 25 đồng cỡ năm 1924, cầm bằng không biết bao nhiêu đồng giấy ngày nay, nhưng tiền trong tay tôi như chuối đút miệng voi, nào sách, nào đồ xưa, nào xem hát, nào ăn cơm với vợ nơi nhà hàng Tây, bao nhiêu cho đủ.

Mà cũng chưa mấy: ông rầy tôi sao có mượn cô y tá làm thuốc cho vợ tôi, ông cắt nghĩa và dạy tôi tự làm thuốc, tự bơm rửa cho vợ, đã đỡ tốn thêm nặng tình âu yếm, và một lần nào đó, ông gặp tôi và nhớ lại việc cũ, ông nói bịnh huyết trắng của gái tơ, đừng nghi lầm, phải hỏi lại có mặc chung quần áo của người lớn tuổi nào không, và quả thật, về hỏi lại vợ tôi và bà nhạc tôi, mẹ con vẫn mặc chung và thay đổi chung áo quần của nhau, để được nhiều màu nhiều kiểu và “lây” nhau là vì vậy. Không phục ông sao đặng?

Nhưng kể từ đó, phục thì vẫn phục, nhưng đường ai nấy đi. Tôi đeo theo cái chức “cò mi nửa miếng”, “chức Huyện nửa chừng” tôi đổi về làm ở Sa Đéc, rồi về Sốc Trăng, qua Cần Thơ, khi tôi trở lên đất Sài Gòn thì ông đã không còn, và cuộc đời của ông làm sao viết ra đây cho đủ, bác sĩ Thinh danh tiếng lãy lừng, xuất thân là một y sĩ từng học nội trú chung với Tây tại các dưỡng đường ở Paris, có lẽ ông là một đốc tờ ngang với bằng cấp Tây xưa và cũ trong nầy, các ông đi học trường thuốc ở Hà Nội, thuở ấy, Tây không cho gọi là “bác sĩ docteur” và ban cho danh từ vừa kém vừa hạ bệ “médecin auxiliaire – lương y phụ tá” được làm chung với thầy thuốc Tây, nhưng thủ vai phụ lực, khi coi mạch riêng, tiền coi mạch mấy ông Hà Nội về là lưỡng ngân (hai đồng) duy dr Thinh, như các bác sĩ Tây thời đó, Dr Roton, Dr Vielle, tiền mạch 5 đồng, rước ban đêm là 10 đồng bạc con Đầm Xòe rắc rắc.

Bác sĩ Thinh, tôi nhớ lại, người nhỏ thó, mặt trắng mặt xương, không bô trai, ông bình thường thích mặc y phục Pháp vải shang tung canh tơ chỉ vải, vừa đẹp, khiêm tốn, vừa bền bỉ, ông nói nhỏ nhẹ như con gái, và ông nói tiếng Pháp nhiều hơn tiếng Việt, ngày thường ông ít làm quen với ai, ông chỉ vui với nghề cứu nhơn độ thể, ông làm ra tiền quá dễ quá nhiều, về sau ông bị ép ra tranh cử và làm hội đồng quản hạt, đứng chung nhóm với nhóm lập hiến của Bùi Quang Chiêu, Lưu Văn Lang, Nguyễn Phan Long, Trương Văn Bền v.v. ông mua đất cất nhà lầu dọn về ở góc đường Lê Văn Duyệt và Bùi Thị Xuân (tôi gọi theo tên cũ), ngang vườn Tao Đàn, ông có quốc tịch Pháp, ông có vợ đầm, hình như sanh một hay hai gái, rồi nói tắt cho gọn, dùng một cái, Nhựt chiếm, Tây chạy rồi Tây trở về, Tây ép ông ra làm thay thống đốc Nam kỳ mà chức không ra chức, dinh không ra dinh, làm thủ hiến Nam kỳ mà Tây khẩn ông ở nhà của ông và lấy nhà ấy luôn làm văn phòng, còn dinh Thống đốc, Tây vẫn ở và nay là viện bảo tăng đường Lý Tự Trọng. Vợ con ông, lui về Pháp, ông ở trên lầu và chọn ông đốc phủ Hồ Văn Trung (nhà văn Hồ Biểu Chánh) làm chánh văn phòng, và để ông Trung ở từng lầu dưới cho tiện gần gũi, và một sáng nọ, ông Trung lên lầu mới hay chủ của mình, bác sĩ Thinh, thây tòn ten nơi chốt vặn cửa sổ, ai treo ông đây hay là ông tự treo, treo bằng sợi dây đèn, dây điện khí mới ác, bác sĩ bực thông thái như ông, muốn hủy mình thiếu gì cách: chích thuốc độc, uống liều độc dược, chớ có đâu, tôi nghe như trên bàn viết có lật tự điển Pháp y khoa nơi trang “suicide” (tự sát, tự tử) và thầy thuốc học Tây gì treo cổ bằng dây đàn điện khí. Chết oan hay ưng, dư luận có thì thầm có người ngủ chung một nhà, ám sát, bóp cổ rồi treo cổ ông, hay ông tự thắt cổ. Khi tôi từ Sốc Trăng chạy lên đây, làm việc nơi viện bảo tàng trong vườn thảo cầm, tôi có mấy lần lại nơi nhà cũ lấy làm dinh thủ hiến của bác sĩ Thinh, lúc đó Nhà nước lấy dọn tạm làm nha học chánh mà tôi phải tùng quyền, mỗi lần lại đây, tôi thường thừa dịp dò la thăm hỏi, và tự nhìn tận mắt chỗ ông chết, thì thấy, trên đầu cửa sổ có một trang thờ đìu hiu lẻ loi một lư hương lèo hèo, nhện giăng không ai quét, lạnh lùng cho một thủ hiến đứng đầu các quan chức Nam buổi nào, đưới trang ấy, khi hai cánh cửa sổ khép lại, tôi thấy một tay vặn ổ khóa còn sờ sờ đó, vẫn không cao hơn một thước tám hay hai thước Tây, và dầu cho vóc giạc ông Thinh nhỏ thó chưa tới một thước sáu, nhưng nghe đâu khi tháo mở thây, thì hai bàn chơn người chết là đà gần sát mặt nền gạch bông ván rầm, và trong quần ngủ pijama có vết xuất tinh, kẻ nói nằy nói nọ, kẻ làm tàng cho rằng tự tử nên tinh xuất trong quần, và tôi xin hỏi, nếu có ai bóp cổ rồi mới diễn trò giả dối, treo cổ trong gấp rút bằng dây đèn, tôi xin hỏi người chết bất đắc kỳ tử, tinh vẫn xuất rồi mới treo thây cho thấy quần ướt, theo tôi nghi án nẩy nan giải.

Ông Thinh chết rồi, Tây mới hoảng hốt, viên đặc sứ toàn quyền d’Argenlieu đến hôn lên trán phân ưu, ôi cái hôn giả dối của một tên quắng áo nhà tu (un moine défroqué), làm sao gột sạch? Và tội nghiệp thay cho ông Thinh, vì lầm tay hiểm độc của đám cá sà cá mập thuộc địa, ông tin lời, tưởng rằng làm thủ hiến, ra giúp nước nhà cũng là nên làm, ngờ đâu khi bắt tay vào việc, chưa lĩnh lương đồng nào, ông mặc áo vá chằm khíu và sau khi chết trong tủ sắt không còn một xu, khi hành sự, ông muốn giúp một bạn đồng nghiệp có một cây súng lục để phòng hộ thân mà ông xin không được, bóng đổ thầy, thầy đổ bóng, Tây quây ông mòng mòng như con vụ, ra quốc hội thì ông bị lão tổ Béziat nạt nộ hăm he, ông day qua đặc sứ d’Argenlieu thì ông nẩy đi vắng, ông quơ qua chánh văn phòng Tây thì bị đóng cửa mắc bận nhóm cơ mật, chính tên quèn Beauvais, Tây đặt gần ông để dòm hành, nó cũng lên mặt khinh thường, trở qua trở lại, không chỗ tiếp xúc, ngoài ra dư luận báo chí não nề chê dè, – tôi tức tối cho ông tại sao lúc như vậy ông không quăng áo thủ hiến và thôi phắt không thèm đồng vai trò hề bị bêu riếu ấy, quăng tất cả vào mặt từ lão nhà tu bỏ áo đạo khoác áo nhà banh là lão đặc sứ d’Argenlieu, đã ban cho ông chức thủ hiến hư vị, lương bổng chưa thấy đồng nào mà quyền hành vẫn là bánh vế, và cũng thừa dịp quẳng phắt vào mặt tên tay tổ Béziat, nó dụ ông lọt vào vòng rồi nó nhai ông như mèo nhai chuột, ông bỏ phắt hết coi chúng làm gì được ông, và ông lựa hay bị chi cái chết oan khúc, tôi dám trách ông vì thiếu bạn tâm giao khuyến nhủ lời hay, hoặc vị bực trí không suy nghĩ cho thấu đáo, ông quá thực thà và hành động như trẻ con, cái chết lẩy ấy chết chi uổng thân và sao bằng cái trí bỏ quan lui về với thú tế nhơn độ thế của ông, ông là một tay thầy thuốc lành tài, mà ông cũng là một hiền nhơn quân tử, bởi quá chơn chất nên bị nhóm Tây thực dân nó gạt, ngày nay ai muốn nói gì thì nói và ai muốn hiểu cách nào về ông, cũng mặc, tôi luôn luôn vẫn nhớ ông cư xử rất tốt đối với tôi buổi tôi mới bước chưn vào đời, và luôn luôn tôi vẫn kính trọng ông, ai có nói ông là Việt gian, chớ tôi vẫn không cho ông là như vậy.

Có hai người rất lão luyện và biết rất rành về cái chết của ông là ông Nam Đình, chủ báo Thần Chung, đã viết quyển Hồi ký chuyện 1945 – 1946, và ông Trần Tấn Quốc, đã để lại tập nhỏ mà phong phú “Sài Gòn Septembre 45”, hai tập nầy có lê Thư viện công cộng tại đây còn giữ; ngoài ra mấy trang của tôi viết đây là loại mạn đàm để giúp vui buổi trà dư, tôi tưởng nhớ bác sĩ Thinh nên viết để chơi và không có tánh cách nghiên cứu.

(viết ngày 29-11-1990)

Một người biết nhiều về ông Thinh là ông Hồ Biểu Chánh thì cũng không còn để hỏi về cái chết đáng nghi này.

  1. Rồi có câu này của đốc phủ Trần Văn Tấn cười tụi tôi chưa đậu khóa 2 huyện: “Lầu cao leo mới một từng, ông huyện nừa chừng, ăn nói dễ thương! *

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973
Post by Sơn râu 13 Nov 2025

Bài 32

Cấm cố lần thứ hai

Tôi cùng trở về Quần đảo với anh chàng Ba Lan, tay tôi và tay anh ta cùng khóa cung một cái khoá. Chúng tôi đã không phải nằm lì trong các xà-lim ở Saint-Laurent! Đến đấy vào thứ hai, ra tòa hôm thứ năm, thì thứ sáu đã lên tàu trở về Quần đảo.

Chúng tôi có cả thảy mười sáu người được đưa ra Quần đảo, trong đó có mười hai người bị cấm cố. Biển động mạnh, chốc chốc lại có một đợt sóng lớn tràn qua boong tàu. Trong cơn tuyệt vọng, tôi đi đến nước mong sao cho chiếc tàu cà khổ này đắm quách. Tôi không nói chuyện với ai. Ngọn gió ẩm ướt quất vào mặt tôi làm cho tôi hướng vào nội tâm. Tôi không tìm cách che gió, ngược lại, tôi còn cố ý để cho mũ bay mất: trong suốt tám năm ròng cấm cố, tôi còn cần gì đến mũ? Mặt quay thẳng ra phía gió, tôi hít làn không khí ướt át đang quất vào tôi cho đến ngạt thở thì thôi. Sau khi mong tàu đắm, tôi cố định thần lại: “Bébert Celier đã làm mồi cho cá mập; còn mày, mày mới ba mươi tuổi, và phải ngồi tù cấm cố tám năm”. Nhưng liệu có qua nổi tám năm trong những bức tường của cái chuồng giam ăn người ấy không?

Cứ theo kinh nghiệm của tôi đã qua, tôi nghĩ rằng không thể nào qua nổi. Bốn hay năm năm hẳn là cái giới hạn tột cùng của sức để kháng tối đa có thể có được Giá tội không giết Celier, tôi chỉ ngồi có ba năm, thậm chí chỉ hai năm thôi, vì vụ giết người đã làm cho các khoản kia nặng thêm, kể cả khoản vượt ngục. Lẽ ra tôi đừng giết cái thằng khốn nạn ấy mới đúng. Bổn phận làm người của tôi đối với bản thân tôi không phải là xét xử kẻ khác để lập lại công bằng cho tôi, mà trước hết và trên hết là phải sống, sống mà để vượt ngục. Làm sao tôi lại có thể phạm một sai lầm như vậy? Đó là chưa kể chỉ có một chút xíu nữa là hắn giết tôi, cái đồ rác rưởi ấy. Sống, sống cho bằng được, lẽ ra đó phải là tôn giáo duy nhất của tôi. Trong số những viên giám thị đi áp giải đoàn tù có một người tôi đã từng gặp ở nhà lao cấm cố. Tôi không biết hắn tên là gì, nhưng tôi không sao cưỡng lại được ý muốn hỏi hắn một câu.

– Thưa sếp, tôi muốn hỏi sếp một điều này.

Viên giám thị ngạc nhiên, lại gần tôi nói:

– Điều gì?

– Sếp đã từng biết có ai qua được tám năm cấm cố chưa?

Hắn nghĩ một lát rồi nói:

– Chưa, nhưng tôi biết có mấy người đã qua được năm năm, và còn có một người, tôi còn nhớ rất rõ, đã ra khỏi nhà lao khỏe mạnh và cân bằng sau sáu năm cấm cố. Tôi có mặt ở nhà lao khi người này được thả.

– Cảm ơn sếp.

– Không có gì – viên cảnh sát nói. – Anh bị tám năm phải không?

– Thưa sếp vâng.

– Anh chỉ có thể qua được nếu anh không bị phạt lần nào. – Nói đoạn hắn bỏ đi.

Câu này rất quan trọng. Đúng, tôi chỉ có thể sống sót mà ra khỏi nhà lao nếu tôi không bị phạt một lần nào. Thật thế, nếu bị phạt, anh sẽ bị giảm một phần hay toàn bộ suất ăn trong một thời gian nào đấy, và về sau, ngay đến khi đã được trở lại chế độ ăn bình thường, anh vẫn không tài nào lấy lại sức được nữa. Chỉ cần vài lần bị phạt hơi nặng một chút là anh không thể chịu đựng đến cùng được nữa, anh sẽ chết trước khi mãn hạn. Kết luận: tôi không được nhận dừa, hay thuốc lá, thậm chí cũng không được viết và nhận thư nữa. Trong phần còn lại của chuyến đi, tôi không ngừng nhai đi nhai lại cái quyết định này. Không nhận gì hết, tuyệt đối không, dù từ bên ngoài hay từ bên trong. Tôi nảy ra một ý: cách duy nhất để được ăn khá hơn một chút là làm sao từ bên ngoài có ai đút tiền cho mấy tên phát xúp để họ chọn cho tôi miếng thịt to nhất và ngon nhất trong bừa xúp buổi trưa. Việc này dễ, vì một người múc xúp vào cà-mèn tù nhân, rồi một người bưng khay đi theo sau bỏ một miếng thịt vào phần xúp đã múc. Người múc xúp phải vét xuống đáy thùng để vớt thật nhiều rau vào muối.. Nghĩ ra được cách này, tôi thấy vững tâm, Quả thật, tôi rất có thể không bị đói, và ăn gần đủ chất nếu phương cách kia được thu xếp chu đáo. Tôi chỉ còn mỗi việc mơ mộng, thá hồn bay đi thật nhiều, cố chọn những đề tài tươi vui để tưởng tượng, cho khỏi phát điên.

Chúng tôi đã về đến quần đảo. Lúc bấy giờ là ba giờ chiều. Vừa lên bờ, tôi đã nhìn thấy tà áo màu vàng nhạt của Juliette đang đứng cạnh chồng, ông chỉ huy trại bước nhanh đến cạnh tôi, trước khi đoàn tù có đủ thì giờ xếp hàng, và nói:

– Bao nhiêu?

– Tám năm.

Ông ta trở lại cạnh vợ và nói cho bà biết. Xúc động mạnh, bà ngồi xuống một tảng đá. Có thể thấy rõ bà thất vọng ê chề. Chồng bà nắm lấy cánh tay bà, bà đứng dậy, và sau khi đưa về phía tôi một cái nhìn nặng tình thương xót của đôi mắt mênh mông, bà đi theo chồng, không ngoái lại.

– Papillon, bao nhiêu? – Dega hỏi tôi.

– Tám năm cấm cố.

Dega lặng thinh, không dám nhìn tôi. Galgani lại gần. Trước khi anh ta kịp nói, tôi dặn:

– Đừng gởi gì cho tôi, cũng đừng viết gì. Thời hạn lâu như vậy, tôi không thể để cho bọn họ có cớ phạt tôi.

– Tôi hiểu.

Tôi nói thầm rất nhanh: cậu tìm cách làm sao cho họ dành phần khá trong suất ăn tù cho tôi, vào buổi trưa và buổi tối. Nếu cậu làm được, có lẽ một ngày kia chúng mình sẽ còn gặp lại nhau. Gửi Chúa”.

Tôi tự động đi về phía chiếc xuồng đầu tiên sẽ đưa tù cấm cố đến Saint-Joseph. Mọi người đều nhìn theo tôi như nhìn một cỗ quan tài đang hạ huyệt. Không ai nói một lời. Trên đoạn đường ngắn ngủi này, tôi nhắc lại với Charpar những điều tôi đã nói với Galgani. Anh ta đáp:

– Chắc làm được thôi. Can đảm lên Papi – Rồi anh nói thêm – Thế còn Matthieu Carbonieri thì sao?

– Tôi quên mất cậu ấy, cậu tha thứ cho tôi. Chủ tọa Tòa án binh đã yêu cầu bổ sung tài liệu về trường hợp cậu ấy trước khi ra quyết định, như thế là đáng mừng hay đáng lo?

– Chắc là đáng mừng.

Tôi đi ở hàng đầu một toán gồm mười hai người đang leo lên đốc để đến nhà lao Cấm cố. Tôi đi rất nhanh, kể cũng lạ: tôi nóng lòng muốn ngồi lại một mình trong buồng giam. Tôi rảo bước đến nỗi tên lính gác nói:

– Từ từ chứ Papillon. Có vẻ như anh đang vội quay về ngôi nhà mà anh mới từ giữ cách đây chẳng bao lâu.

– Đến nơi rồi.

– Cởi hết ra! Đây là vị chỉ huy nhà lao Cấm cố.

– Tôi lấy làm tiếc là anh lại trở lại, Papillon ạ, – ông nói. Đoạn lại chuyển sang bài diễn văn quen thuộc: “Các phạm nhân cấm cố! ở đây v.v…” Sau đó ông lại nói với tôi: “Nhà A, buồng 127. Buồng giam khá nhất đấy Papillon ạ, vì anh được ở trước mặt cửa hành lang, do đó anh có nhiều ánh sáng hơn, và không bao giờ bị thiếu không khí. Tôi hy vọng anh sẽ có hạnh kiểm tốt. Tám năm là một thời hạn rất dài. Nhưng có lẽ với một hạnh kiểm thật tốt, anh có hy vọng được án giảm một hai hay năm. Tôi cầu mong anh được như thế, vì anh là một người can đảm”.

Thế là tôi về buồng giam 127. Quả nhiên nó ở ngay trước mặt một khung cửa lớn có chấn song đưa vào hành lang. Tuy đã sáu giờ mà trông còn khá rõ. Căn buồng cũng không có cái mùi và cái vị của một nơi đựng đồ mục ruỗng như căn buồng của tôi lần trước.

Điều đó làm cho tôi vừng lòng đôi chút: “Anh bạn Papillon thân mến, đây là bốn bức tường sẽ nhìn anh sống trong tám năm. Chớ làm cái việc đếm tháng đếm giờ, việc đó hoàn toàn vô ích. Nếu anh muốn có một đơn vị khả thủ để đo thời gian, anh phải tính từng lục cá nguyệt. Mười sáu lần sáu tháng là anh mãn hạn. Dù sao thì anh cũng được một ưu thế. Anh có chết ở đây thì ít nhất cũng được chết trong ánh sáng, nếu anh chết vào ban ngày. Điều này rất quan trọng. Chết trong bóng tối chắc chẳng vui chút nào. Nếu anh ốm, ít ra bác sĩ cũng nhìn thấy được mặt anh. Anh không việc gì phải tự trách móc vì đã muốn sống lại bằng cách vượt ngục, và quả tình cũng không nên tự trách mình đã giết chết thằng Celier. Anh thử tưởng tượng xem anh sẽ đau đớn nhường nào khi nghĩ rằng trong lúc anh đang ngồi đây thì hắn đã lên đường vượt ngục. Thời gian sẽ trả lời. Biết đâu rồi đây chẳng có một cuộc đại ân xá, một cuộc chiến tranh, một trận động đất, một trận bão lốc, làm cho cái pháo đài này sụp đổ tan tành? Sao lại không? Biết đâu rồi đây chẳng có một con người trung trực từ đây trở về Pháp khuấy động được niềm công phẫn trong lòng dân Pháp, và dân Pháp sẽ buộc ban Quản trị trại trừng giới bãi bỏ cái lối giết người không cần đến máy chém này? Hoặc giả một ông bác sĩ, buồn nôn trước cái cảnh này, kể lại cho một nhà báo, một ông linh mục gì đấy, tôi làm sao biết được? Dù sao thì thằng Celier đã được lũ cá mập tiêu hóa từ lâu. Còn tôi, tôi vẫn còn đây, và nếu tôi xứng đáng với bản thân, tôi sẽ sống cho đến cùng để ra khỏi nấm mồ này.

Một, hai, ba, bốn, năm, đằng sau quay; một, hai, ba, bốn, năm, đằng sau quay; tôi bắt đầu đi đi lại lại, ngay lập tức tìm lại được cái tư thế tối ưu của đầu, của tay, và chiều dài chính xác của mỗi bước đi để cho quả lắc hoạt động hoàn hảo. Tôi quyết định chỉ đi đi lại lại hai giờ vào buổi sáng và hai giờ vào buổi chiều, cho đến khi nào biết chắc là sẽ có được một chế độ ăn ưu tiên về lượng. Trong tình trạng tinh thần kích động của những ngày đầu, không nên lãng phí năng lượng một cách vô ích.

Phải, đến phút cuối mà thất bại cũng thật thê thảm. Tuy đây mới chỉ là phần đầu của cuộc vượt ngục: còn phải gặp may trong một chuyến vượt biển dài hơn một trăm năm mươi cây số trên chiếc bè mỏng manh này. Và tùy nơi đổ bộ lên Đất liền, lại phải bắt đầu một hành trình đào tẩu khác. Nếu hạ thủy bình yên, cánh buồm làm bằng ba cái bao bột sẽ đưa chiếc bè đi với tốc độ hơn mười cây một giờ. Không đầy mười lăm tiếng, có lẽ mười hai cũng nên, sẽ đến đất liền. Dĩ nhiên là nếu ngày hôm ấy trời mưa, vì chỉ có trời mưa mới dám căng buồm. Tôi nhớ mường tượng hình như hôm tôi bị giam vào xà-lim, trời mưa thì phải. Tôi không chắc lắm. Tôi tìm thử xem tôi đã phạm, những lỗi lầm gì. Tôi chỉ thấy có hai. Anh thợ mộc đã muốn làm một cái bè quá tốt, quá chắc chắn, cho nên để ghép dừa vào, đã phải bỏ công ra làm một cái khung phức tạp gần như thành hai chiếc bè ghép vào nhau. Thành thử phải làm quá nhiều bộ phận và mất quá nhiều thì giờ vào đấy để làm cho thật cẩn thận và kín đáo.

Thứ hai, là sai lầm nghiêm trọng nhất: khi đã có nghi vấn nghiêm trọng về Celier, lẽ ra tôi phải giết hắn ngay đêm hôm ấy. Giá tôi làm như vậy, không biết bây giờ tôi đã ở tận đâu đâu rồi? Dù có bị bại lộ khi đến Đất liền hay bị bắt ngay khi hạ thủy, thì tôi cũng chỉ ăn ba năm chứ không phải là tám, mà lại có được sự thỏa mãn của hành động. Giả sử mọi việc đều xuôi lọt bây giờ tôi đang ở đâu? Có thánh mà biết được Có lẽ đang nói chuyện với ông Bewen ở Trinidad, hay đang ở Curacao dưới sự bảo trợ của Giám mục Irénée de Bruyne. Và từ đó, chúng tôi sẽ chỉ lên đường khi nào đã biết chắc có một nước nào chịu nhận chúng tôi. Nếu không, tôi sẽ dễ dàng đi một mình, trên một con thuyền nhỏ, hướng thẳng về Guajira, lãnh thổ của bộ lạc đã dung nạp tôi làm một thành viên. Rất khuya tôi mới ngủ được, nhưng giấc ngủ của tôi đêm ấy cũng bình thường. Cái đêm đầu ấy đã không đến nỗi quá khổ sở. Sống, sống cho bằng được. Tôi sẽ phải tự nhắc đi nhắc lại, mỗi khi thấy mình sắp buông xuôi vào tuyệt vọng, câu châm ngôn sau đây của niềm tin ở tương lai: “Chừng nào hãy còn sống là hãy còn hy vọng”.

Một tuần lễ đã trôi qua. Kể từ hôm qua tôi đã nhận thấy có sự thay đổi trong suất ăn hàng ngày. Bữa ăn trưa tôi được một miếng thịt hầm rất to, rồi bữa tối là cả một cà mèn rau muống, rất ít nước. Như một đứa trẻ, tôi tự nhủ: “Rau muống có chất sắt, bổ lắm”.

Nếu tình hình này kéo dài, tôi sẽ có thể đi đi lại lại mấy ngày từ mười đến mười hai tiếng đồng hồ, và đến tối, thân thể mỏi mệt, tôi có thể tha hồ du hành giữa các vì sao. Không, tôi không đi lan man đâu, tôi đang ở trên trần thế, thực sự đang sống trên trần thế, tôi nghĩ đến tất cả những trường hợp các phạm nhân đã gặp phải mà tôi được nghe kể trong thời gian sống trên Quần đảo. Mỗi người đều có thiên lịch sử của mình, đều có một quá khứ và một hiện tại. Tôi cũng nghĩ đến những truyền thuyết mà người ta thường kẻ cho nhau nghe trên quần đảo. Trong đó có một chuyện mà tôi tự hứa là sẽ kiểm tra lại xem thực hư ra sao: đó là chuyện cái chuông.

Như tôi đã có dịp nói, phạm nhân chết không được chôn cất, mà bị đem ném xuống biển ở khoảng giữa đảo Saint-Joseph và đảo Royale, một nơi nhung nhúc những cá mập. Người chết được bọc trong mấy cái bao bột, chân buộc vào một cục đá lớn. Một cái thùng hình chữ nhật dài, được dùng thường xuyên cho mọi người, đặt nằm dọc ở phía trước mũi thuyền. Đến nơi đã ấn định, sáu phạm nhân chèo thuyền nâng mái chèo lên khỏi mặt nước, ngang tầm mạn thuyền. Một người dốc cái thùng, một người khác mở cái nắp ở bản lề ở đầu thùng ra. Bấy giờ cái xác chết tụt xuống biển. Có một điều chắc chắn, không thể hồ nghi gì được, là ngay tức khắc lũ cá mập cắn đứt sợi thừng buộc đá vào chân tử thi. Không bao giờ tử thi có đủ thì giờ chìm xuống sâu lắm. Nó lại trồi lên mặt nước, và lũ cá mập bắt đầu tranh nhau miếng mồi ngon ấy. Theo những người đã chứng kiến cảnh này, nhìn lũ cá mập ăn thịt người tù đã chết là một cảnh tượng gây cảm giác rất mạnh, vì khi cá mập đến đông, chúng nâng cả cái bọc vải liệm lên khỏi mặt nước, xé tung nó ra và đớp từng miếng thịt người to tướng.

Cái thủ tục mai táng ấy diễn ra đúng như tôi đã tả nhưng có một điều tôi chưa xác minh được. Các phạm nhân, không trừ một ai, đều nói rằng cái làm cho cá mập tụ tập đến chỗ ấy chính là tiếng chuông của nhà thờ trại giam đánh lên mỗi khi có người chết. Họ nói là nếu anh đứng ở đầu con kè dài từ đảo Royale đâm ra biển vào lúc sáu giờ chiều, có những ngày không thấy có lấy một con cá mập nào. Nhưng khi ngôi nhà thờ nhỏ của trại giam gióng chuông lên, chỉ một nhoáng ở đấy đã nhung nhúc một đàn cá mập đến chờ người chết, vì không còn lý do nào khác khiến cho chúng nó tập trung về đấy đúng vào giờ ấy. Mong sao tôi sẽ không phải làm món ăn cho lũ cá mập của đảo Royale trong một hoàn cảnh tương tự. Chúng nó có nhai tươi nuốt sống tôi trong một chuyến vượt ngục thì cũng đành, ít nhất thì đó cũng là một biến cố xảy ra trên đường đi tìm tự do. Nhưng nếu là sau khi tôi chết bệnh trong một căn buồng giam thì xin đừng! Một việc như thế không thể để xảy ra được.

Được ăn đủ chất nhờ cách dàn xếp của các bạn tôi, sức khỏe tôi vẫn hoàn hảo. Tôi đi đi lại lại trong phòng giam từ bảy giờ sáng đến sáu giờ chiều, không lúc nào ngưng. Thành thử cái cà-mèn đầy rau quả khô, rau muống, đậu đũa hay cơm rang của bữa ăn tôi bao giờ cũng được vét sạch. Bao giờ tôi cũng ăn hết mà không phải cố gắng gì. Cái môn đi đi lại lại rất có lợi cho cơ thể của tôi, sự mệt mỏi mà nó đem lại cho tôi là một sự mệt mỏi lành mạnh, và trong khi đi như vậy, tôi lại còn tìm được cách tự phân thân ra thành hai. Như hôm qua chẳng hạn, tôi đã suốt ngày rong chơi trên những cánh đồng cỏ của một thôn nhỏ ở Ardèche gọi là thôn Favras. Hồi mẹ tôi mất rồi, tôi hay đến đấy ở chơi vài tuần với bà dì em ruột mẹ tôi làm giáo viên trong trường làng. Thế thì hôm qua tôi đã thực sự dạo chơi trong khóm rừng phong, thấy đâu có nấm lại cúi xuống nhặt, rồi tôi lại nghe bạn tôi, cậu bé chăn cừu hô lớn những mệnh lệnh sai bảo con chó berger, và con vật khôn ngoan răm rắp thi hành những mệnh lệnh của cậu chủ, khi thì đi kiếm một con cừu lạc lôi về, khi thì trừng phạt một con dê quá nghịch ngợm. Hơn nữa, miệng tôi còn thấm thía cái vị nồng nồng của ly nước mát rượi, khoái trá thưởng thức cái cảm giác nhột nhột của những đám bọt nhỏ li ti trong nước suối xông lên tận mũi. Những cảm giác rõ như thật này về những giờ phút đã qua hơn mười lăm năm về trước, cái khả năng sống lại thực sự những cảm giác ấy một cách mãnh liệt như vậy chỉ có thể thực hiện được trong nhà giam, xa cách mọi tiếng ồn ào, trong cõi im lặng tuyệt đối.

Thậm chí tôi còn trông thấy cả cái màu vàng của tà áo dài của dì Outine. Tôi nghe thấy tiếng gió vi vu trong rặng phong dương, tiếng động khô gọn của một quá phong khi rơi xuống chỗ đất khô, và tiếng động mềm khi rơi xuống lớp lá vàng. Một con lợn lòi to tướng tử trong đám bụi rậm và cao lao ra đã làm cho tôi sợ hãi đến nỗi tôi bỏ chạy thục mạng, trong cơn hốt hoảng đánh rơi mất một phần lớn những cây nấm đã nhặt được. Vâng, tôi đã suốt ngày dong chơi (trong khi đi đi lại lại trong buồng giam) ở Favras với dì tôi và với bạn tôi cậu bé Julion chăn cừu cho Hội Từ Thiện. Những kỷ niệm êm đềm, trong sáng, rõ nét ấy, không ai có thể cấm tôi sống lại một lần nữa, không ai có thể ngăn tôi lăn xả vào đấy để tìm thấy sự thanh thản rất cần cho mảnh hồn dập nát của tôi.

Xã hội cứ tưởng đâu tôi đang nằm ở một trong những căn xà lim của cái nhà giam ăn thịt người này. Nó có biết đâu tôi đã ăn gian được của nó cả một ngày trời, tôi đã sống cái ngày ấy ở trên những bãi cỏ, trong những rặng phong ở Favras, lại còn uống cả nước khoáng ở con suối được gọi là Suối cây Đào. Thế rồi sáu tháng đã trôi qua. Tôi đã tự hứa là sẽ tính từng sáu tháng một: tôi đã giữ đúng lời hứa ấy.

Chỉ đến sáng hôm nay, tôi mới hạ con số mười sáu xuống thành con số mười lăm… Chỉ còn mười lăm lần sáu tháng nữa.

Ta thử sơ kết lại xem: Trong sáu tháng vừa qua cá nhân tôi không có trục trặc gì. Thức ăn hàng ngày trước sau vẫn thế, nhưng với một khẩu phần khá đủ để duy trì sức khỏe của tôi ở một trạng thái khả quan. Xung quanh tôi đã xảy ra nhiều vụ tự tử và nhiều trường hợp phát điên dữ dội, may mà họ đưa người điên đi ngay.

Thật nản vô cùng khi phải nghe họ la hét, rên rỉ hay kêu than hàng giờ liền hay suốt ngày suốt buổi. Tôi đã tìm được một cái mẹo khá tốt cho thần kinh, nhưng lại có hại cho lỗ tai. Tôi cắt một mảnh xà-bông nhét vào hai tai để khỏi nghe những tiếng kêu gào rùng rợn ấy.

Đáng tiếc là xà-bông làm cho ống tai bị đau, chỉ hai ba ngày là trong tai có nước rỉ ra: Lần đầu tiên kẻ từ khi tôi đến trại khổ sai, tôi đã hạ mình xuống xin xỏ một tên cảnh sát. Số là một tên cảnh sát trông coi việc phát xúp là người Montelimar, gần quê tôi. Tôi có quen hắn ở Royale, nên đã xin hắn đem vào cho tôi một cục sáp để tôi nhét vào tai cho đỡ nghe những tiếng la hét của những tù nhân phát điên khi họ chưa được đưa đi. Hôm sau hắn đã đem vào cho tôi một cục sáp to bằng hạt dẻ. Cái cảm giác nhẹ nhõm khi không còn nghe những tiếng gào của những người khốn khổ ấy nữa thật dễ chịu không thể tưởng tượng được.

Tôi đã thành thạo về cái khoản trị rết. Trong vòng sáu tháng tôi chỉ bị cắn có một lần, tôi đã tự chủ được hoàn toàn những khi thức giấc mà cảm thấy có một con rết đang bò trên thân thể trần truồng của tôi. Cái gì rồi người ta cũng quen đi, chẳng qua đấy là vấn đề tự điều khiển, vì cái cảm giác nhột nhột do chân và râu gây ra hết sức khó chịu. Nhưng nếu không khéo bắt nó thì bị cắn ngay. Tốt hơn là nên đợi cho nó tự bò xuống, rồi sau đó mới tìm nó mà xéo cho chết đi. Trên cái ghế xi măng của tôi lúc nào cũng để sẵn hai ba mẩu bánh mì nho nhỏ. Thế nào mùi bánh mì cũng hấp dẫn rết đến. Lúc bấy giờ tôi cứ việc giết.

Tôi luôn luôn phải xua đuổi một ý nghĩ cứ ám ảnh tôi hoài. Tại sao tôi không giết thằng Bébert Celier ngay cái hôm anh em bắt đầu nghi ngờ hắn có những ý định khốn nạn ấy? Mỗi lần câu hỏi ấy hiện ra tôi lại phải tranh luận với bản thân: trong trường hợp nào ta có quyền giết. Rồi kết luận: mục đích biện hộ cho phương tiện. Mục đích của tôi là vượt ngục cho bằng được; tôi đã có cái may mắn là đóng xong được một chiếc bè tốt và giấu được bè vào một nơi an toàn. Việc ra đi chỉ còn tính từng ngày. Một khi tôi đã biết rằng Celier là một mối nguy cơ cho cái bộ phận cuối cùng của chiếc bè, mà do một sự may mắn lạ lùng đã đem cất giấu được, thì lẽ ra tôi phải hành quyết nó ngay, không chút do dự.

Thế nếu tôi nhầm, nếu cái mối nguy cơ ấy chỉ là một ảo giác do những hiện tượng bề ngoài sinh ra thì sao? Thì tôi đã giết một người vô tội. Như thế khủng khiếp quá! Nhưng mày đặt vấn đề như thế thật là phi lô-gích, vì mày là một tên tù khổ sai kia mà! Hơn thế nữa, mày là tù chung thân đã bị xử tám năm cấm cố kia mà!

Mày nghĩ vớ vẩn gì thế, hở cái đồ cặn bã bị coi như rác rưởi hôi tanh của xã hội? Mày thử tự hỏi xem mười hai miếng pho-mát kia – mười hai tên bồi thẩm đã xử mày, – có bao giờ tự vấn lương tâm, dù chỉ một lần thôi, xem thử chúng nó xử mày nặng như vậy có công bằng hay không? Xem viên biện lý – mà tôi chưa quyết định được là sẽ dùng cái gì để rút lưỡi hắn ra – cũng có tự hỏi xem bản cáo trạng của hắn có gì quá đáng hay không? Ngay các trạng sư đã bênh vực tôi chắc chắn là cũng không còn nhớ đến tôi nữa. Có chăng, chắc họ chỉ nhớ chung chung đến “Cái vụ án đáng buồn xử thằng Papillon” ở Tòa Đại hình 1932: các bạn đồng nghiệp ạ, hôm ấy tôi không được sung sức cho lắm, trong khi luật sư Pradel thì lại đang lúc phong độ lên đến tột đỉnh. Ông ta đã làm cho bên nguyên thắng cuộc một cách oanh liệt. Đó quả là một đối thủ hạng cừ khôi”.

Tôi nghe thấy những điều đó như thể tôi đang đứng cạnh trạng sư Raymond Hubert trong một cuộc chuyện trò giữa mấy ông luật sư, hay trong một buổi dạ hội của giới thượng lưu, hay có lẽ đúng hơn là trong một dãy hành lang của Tòa án.

Chắc chắn là chỉ có một người có thể có được lập trường của một vị quan tòa trung thực và lương thiện, đó là ông chánh án Bé vin. Con người trung chính vô tư ấy rất có thể, nhân một buổi bàn luận giữa những người đồng nghiệp hay một cuộc hội họp của giới thượng lưu bàn cãi về cái nguy cơ xử oan một con người khi dựa vào ý kiến của bọn bồi thẩm. Chắc chắn ông ta phải nói, dĩ nhiên là với những từ ngữ tế nhị, rằng mười hai miếng pho-mát của hội đồng bồi thẩm không hề được đào tạo hay trang bị gì để đảm đương một trách nhiệm lớn như vậy, rằng họ quá dễ bị nghệ thuật ngôn từ của bên nguyên hay bên bị mê hoặc, tùy theo tương quan lực lượng giữa hai bên trong cuộc đấu khẩu; rằng họ có thể tha bổng quá nhanh, hoặc ngược lại lên án quá dễ dàng mà chẳng biết rõ cho lắm là mình căn cứ vào cái gì, tùy theo cái không khi tích cực hay tiêu cực mà phía có tài hùng biện hơn đã gây nên được.

Ông chánh án và cả gia đình tôi nữa cũng thế, đúng; nhưng có lẽ gia đình tôi cũng oán hận tôi chút ít vì chắc chắn là tôi đã gây cho gia đình những chuyện phiền hà. Chỉ có một người duy nhất, cha tôi, vâng, người cha tội nghiệp của tôi, là không than phiền về cây thập tự mà đứa con trai đã đặt lên vai người, tôi tin chắc như vậy. Cây thập tự nặng nề ấy người vẫn cố kéo lê đi mà không lên án thằng con trai, không hề trách móc, mặc dầu, vốn là một người thầy giáo, người phải kính trọng pháp luật và, hơn nữa phải dạy cho học trò hiểu và chấp nhận pháp luật. Tôi tin chắc rằng trong đấy lồng ngực cha tôi, trái tim hiền hậu của người phải quát lên: “Quân khốn nạn, chúng bay đã giết con ta, tệ hơn nữa, chúng bay đã đày đọa cho nó chết dần chết mòn, trong khi nó mới hai mươi lăm tuổi! Giá người biết thằng con trai của người đang ở đâu, người ta đang hành hạ nó như thế nào, rất có thể người đã trở thành một kẻ vô chính phủ.

Đêm hôm nay, cái nhà pha ăn thịt người đã xứng đáng với danh hiệu của nó hơn bao giờ hết. Tôi được biết là có hai người tù đã treo cổ chết và một người đã tự làm mình chết ngạt bằng cách nhét giẻ vào mồm và vào hai lỗ mũi. Buồng giam 127 ở gần chỗ bọn cảnh sát đổi gác, cho nên thỉnh thoảng tôi nghe được từng mẩu những câu chuyện họ trao đổi với nhau. Sáng nay chẳng hạn, họ nói khẽ, nhưng chưa đủ khẽ để cho tôi đừng nghe những điều họ kể cho nhau nghe về những sự cố đã diễn ra trong đêm vừa qua.

Lại thêm sáu tháng nữa trôi qua. Tôi đã tính sổ, và tôi vừa khắc lên gỗ một con số “14” rất đẹp. Tôi có một cái đinh, cứ sáu tháng mới dùng đến một lần. Vâng, tôi đã tính sổ và nhận định tình hình: sức khỏe tôi vẫn tốt và tinh thần tôi rất vững.

Nhờ những chuyến du hành những các vì sao, rất ít khi tôi bị những cơn tuyệt vọng kéo dài. Những lần lâm vào tình trạng ấy, tôi khắc phục nỗi tuyệt vọng khá nhanh và tổ chức thật chu đáo một chuyến du hành thực sự hay tưởng tượng nó xua tan hết những ý nghĩ bi quan. Cái chết của Celier đã giúp cho tôi nhiều trong việc chiến thắng những cơn khủng hoảng tinh thần ác liệt ấy Tôi tự nhủ: còn ta, ta vẫn sống, ta đang sống nhăn răng ra đây này, và ta phải sống, sống nữa, sống nhiều nữa để một ngày kia sẽ sống lại thành một người tự do. Hắn đã phá hỏng cuộc vượt ngục của ta, nhưng hắn đã chết và sẽ không bao giờ được tự do như ta sẽ được tự do sau này: một ngày kia ta sẽ tự do, đó là điều chắc chắn. là điều tất nhiên. Dù có sao chăng nữa, nếu ta ra khỏi nhà lao cấm cố vào tuổi ba mươi tám, ta cũng chưa già, và cuộc vượt ngục tiếp theo sẽ nhất định thành công, chắc chắn là như vậy.

Một, hai, ba, bốn, năm, đằng sau quay: một, hai, ba, bốn, năm, đằng sau quay. Từ mấy hôm nay hai chân tôi đen lại, chân răng tôi là máu..Khai ốm chăng? Tôi lầy ngón tay cái bấm vào cổ chân: khi buông ra, vết bấm vẫn lõm sâu vào. Có thể tưởng chừng như trong người tôi toàn nước. Từ một tuần nay tôi chỉ còn đi được mười cho đến mười hai tiếng một ngày, chỉ đi hai lần sáu tiếng mà tôi đã mệt lả ra rồi. Mỗi lần chùi răng bằng khăn mặt rám tẩm xà-bông, tôi thấy đau lắm, và ra máu nhiều. Thậm chí hôm qua có một cái răng tự nhiên rụng ra – một cái răng cửa hàm trên.

Đợt sáu tháng tiếp theo kết thúc bằng một cuộc cách mạng thực sự. Thật vậy, hôm qua họ bắt tù nhân thò đầu cả ra người ghi-sê, một bác sĩ đi rảo qua, banh môi từng người lên. Và sáng nay, đúng mười tám tháng sau khi tôi vào nhà tù cấm cố này, buồng giam của tôi được mở ra, và họ nói với tôi:

– Ra đi, đứng quay mặt vào tường và đợi đấy.

Tôi là người đầu tiên kể từ cửa lớn. Cả thảy gần bảy mươi người đã ra. “Quay trái, quay?” Tôi là người đi sau cùng trong một dãy dài được dẫn ra đầu phía kia của nhà giam và được đưa ra sân.

Lúc bấy giờ là chín giờ. Một bác sĩ trẻ tuổi mặc áo sơ mi kaki cộc tay đang ngồi giữa sân, sau một cái bàn nhỏ bằng gỗ. Bên cạnh ông ta là hai anh y tá phạm nhân và một viên giám thị y tá. Trong cả bốn người nay tôi không biết mặt một người nào, kể cả ông bác sĩ. Mười viên cảnh sát cầm súng trường đứng gác xung quanh. Viên chỉ huy nhà tù cấm cố và tốp giám thị trưởng đứng nhìn, không nói một câu.

– Tất cả, cởi hết ra, – viên giám thị trưởng hô – Quần áo cặp nách. Người thứ nhất. Tên là gì?

– Mỗ…

– Há miệng ra, giang chân ra. Nhổ ngay ra 3 cái răng này. Tra cồn pha i-ốt trước, sau đó là xanh méthylène. Xi-rô Cochleria mỗi ngày hai lần trước bừa ăn.

Tôi là người cuối cùng.

– Tên gì?

– Charrière.

– Chà! Anh là người duy nhất có một thân thể còn coi được. Mới đến à?

– Không.

– Giam ở đây bao lâu rồi?

– Mười tám tháng.

– Tại sao anh không gầy như mọi người khác.

– Tôi không biết.

– Được, tôi sẽ nói cho anh biết. Tại vì anh ăn khá hơn, nếu không phải là vì anh thủ dâm ít hơn. Há miệng xem. Chân. Mỗi ngày hai quả chanh: một sáng một chiều. Mút nước chanh, xong xát bã vào lợi, anh bị bệnh scorbut.

Họ dùng cồn pha i-ốt lau lợi cho tôi, rồi bôi thuốc xanh méthylène, đoạn phát cho tôi một quả chanh. Đằng sau quay. Tôi là người sau cùng trở về buồng giam.

Việc vừa xảy ra quả là một cuộc cách mạng: cho phạm nhân bị ốm ra tận ngoài sân, cho họ nhìn thấy mặt trời, cho bác sĩ khám từng người một. ở trại giam cấm cố chưa bao giờ có như vậy. Có chuyện gì xáy ra thế nhỉ? Phải chăng, do một sự tình cờ nào đấy, rốt cục đã có một ông bác sĩ không chịu làm kẻ tòng phạm câm lặng cửa cái quy chế trứ danh này? Cái ông bác sĩ này, về sau sẽ trở thành bạn tôi, tên là Germain Guibert. Bây giờ thì ông chết rồi, chết ở Đông Dương, vợ ông ta có gửi thư đến Macaraibo, ở Venezuela, báo cho tôi biết, khá nhiều năm sau cái ngày ấy.

Cứ mười ngày lại có một buổi được ra nắng. Thuốc men vẫn chỉ có thế: cồn pha i-ốt, xanh méthylène, hai quả chanh. Tình trạng của tôi không trầm trọng thêm nhưng cũng không thuyên giảm. Đã hai lần tôi xin xi- rô Cocheléria và đã hai lần bác sĩ không chịu cho, điều đó bắt đầu làm cho tôi xì-nẹc, vì tôi vẫn không đi được sáu tiếng mỗi ngày, và hai cổ chân tôi vẫn còn sưng phù và bầm đen lại.

Một hôm, trong khi chờ đến lượt khám, tôi chợt nhận ra rằng cái cây còm cõi mà tôi đang dùng để nấp chút đỉnh cho đỡ nắng là một cây chanh không ra quả. Tôi bứt một cái lá chanh bỏ vào miệng nhai, rồi một cách lơ đễnh, không hề có chủ đích, tôi bẻ một nhánh cây có dăm chiếc lá cầm chơi. Đến khi ông bác sĩ gọi đến tên tôi, tôi cắp cái nhánh cây sau đít, nói:

– Thưa bác sĩ, tôi không biết có phải tại mấy quả chanh của bác sĩ không, nhưng xin bác sĩ xem giùm thứ cái gì mọc sau đít tôi đây này.

Nói đoạn tôi quay người lại cho bác sĩ xem cái nhánh cây cắm sau đít.

Thoạt tiên bọn cảnh sát cười phá lên, nhưng rồi viên giám thị trưởng nói:

– Papillon anh sẽ bị phạt vì đã có thái độ bất kính đối với bác sĩ.

– Không hề có như thế, – bác sĩ nói. – ông không được phạt người này, vì tôi có phàn nàn gì đâu. Anh không muốn dùng chanh nữa à? ý anh muốn nói như vậy phải không?

– Vâng, thưa bác sĩ, tôi chán chanh lắm rồi: mãi có khỏi đâu. Tôi muốn xin xi-rô Cochléria uống thử xem.

– Trước đây tôi không cho anh vì tôi chỉ có được rất ít, phải dành cho những người bệnh nặng. Tuy vậy tôi sẽ cho anh mỗi ngày một thìa, nhưng vẫn phải tiếp tục dùng chanh.

– Thưa bác sĩ, tôi đã có dịp trông thấy người Anh-điêng họ ăn rong biển, thứ rong này ở Royale tôi cũng thấy có. Chắc ở Saint-Joseph cũng phải có thứ rong này.

Anh đã gợi cho tôi một ý tuyệt hay. Chính tôi cũng đã thấy có một thứ rong gì đấy ở bờ biển. Tôi sẽ cho vớt và phát cho các anh mỗi ngày một ít. Người Anh-điêng họ ăn sống hay đem nấu lên?

– Họ ăn sống.

– Được Cám ơn. Và nhất là, thưa ông chỉ huy, tôi yêu cầu đừng phạt người này, xin ông cam kết với tôi như vậy.

– Tôi đồng ý, bác sĩ ạ.

Quả là một phép lạ. Cứ tám ngày lại được ra nắng hai tiếng đồng hồ, đợi đến lượt mình khám bệnh hoặc chờ cho những người khác được đưa ra, được trông thấy những gương mặt, được thì thầm với nhau vài câu: trước kia ai mà dám mơ ước những điều kỳ diệu như vậy?

Đây là một sự thay đổi huyễn hoặc đối với mọi người, những xác chết đã đứng dậy và bước đi dưới ánh nắng; những con người bị chôn sống ấy nay đã nói lên được đôi lời. Đó là một bình dưỡng khí thổi sự sống vào cơ thể và tâm hồn của mỗi chúng tôi.

Clac, clac, hằng hà sa số những tiếng clac mở tất cả các cửa ngục vào một buổi sáng thứ năm lúc chín giờ. Mỗi người đều phải ra đứng ở ngang ngưỡng cửa phòng giam. Một tiếng gọi: “Các phạm nhân cầm cố! Quan thống đốc đi thanh tra”.

Cùng đi với năm viên sĩ quan của quân đội thuộc địa, chắc hẳn đều những sĩ quan quân y, một người cao lớn, trang nhã, tóc màu hoa râm có ánh bạc, bước chậm rãi đọc hành lang đi qua trước từng khung cửa phòng giam. Tôi nghe tiếng một viên cảnh binh báo cáo cho ông ta biết những hình án nặng và những nguyên do đã dẫn đến nó. Trước khi đi ngang chỗ tôi, họ phải ra lệnh cho một người đứng dậy, vì người này đứng đợi lâu quá đã ngồi thụp xuống. Đó là một trong toán tù vượt ngục ăn thịt người: Graville. Một viên sĩ quan nói:

– Ồ, tên này chỉ còn là cái xác biết đi!

Quan thống đốc đáp:

– Tình trạng tất cả các tù nhân đều thảm hại.

Đoàn thanh tra đến chỗ tôi. Viên chỉ huy nhà lao nói:

– Người này là tù nhân bị án hình nặng nhất trong nhà lao.

Anh tên gì? – Quan thống đốc nói.

– Charrière.

– Hình án?

– Tám năm vì tội lấy trộm vật tư của nhà nước và giết người, ba cộng năm năm cấm cố, không có phối án.

– Đã ngồi được bao lâu?

– Mười tám tháng.

– Hạnh kiểm ra sao?

– Tốt. – Viên chỉ huy nhà lao nói.

– Sức khoẻ ra sao?

– Tạm được, – ông bác sĩ nói.

– Anh có muốn nói gì không?

– Có: cái chế độ cấm cố này là vô nhân đạo và không xứng đáng với một dân tộc như nước Pháp.

– Tại sao?

– Im lặng tuyệt đối, không được đi dạo, và trước đây ít hôm không hề có lệ khám sức khỏe.

– Anh hãy cố gắng có hạnh kiểm tốt, có lẽ anh sẽ được ân giảm nếu tôi còn làm thống đốc.

– Cám ơn ông.

Kể từ ngày ấy, theo lệnh quan thống đốc và bác sĩ trưởng từ Martinique và từ Cayenne tới, hôm nào chúng tôi cũng được một buổi đi dạo và tắm biển trong một thứ bể bơi giả, có những tảng đá lớn ngăn với biển cho cá mập khỏi vào.

Mỗi buổi sáng cứ đến chín giờ, từng toán tù nhân một trăm người một từ nhà lao cấm cố kéo xuống tắm, mình trần như nhộng. Vợ con của bọn giám thị phải ở nhà, để khỏi thấy cái cảnh lõa lồ đó.

Chế độ này kéo dài đã được một tháng. Sắc diện của lũ tù đã khác hẳn. Buổi đi dạo giữa nắng, buổi tắm nước mặn, cái quyền được nói mỗi ngày một giờ, đã làm cho bầy tù cấm cố, cái bầy người đau ốm về tinh thần và thể chất ấy, thay đổi tận gốc.

Một hôm tôi đang đi ở các hàng sau trên đường từ chỗ tắm về nhà lao cấm cố, bỗng nghe có tiếng một người đàn bà hét lên thất thanh và hai phát súng lục.

– Cứu với! Cứu với! Con tôi chết đuối mất?

Những tiếng kêu la ấy từ phía bến đưa lại. Bến đây chỉ là một đường dốc xây xi-măng để cho thuyền đậu. Lại nghe tiếng xôn xao:

– Cá mập! Cá mập!

Rồi lại hai tiếng súng lục nữa. Trong khi ai nấy đều quay đầu về phía có tiếng kêu cứu và tiếng súng lục, tôi xô một tên lính gác ra, không hề suy tính, và người vẫn trần truồng như thế, tôi chạy thẳng ra bến. Đến nơi, tôi trông thấy hai người đàn bà đang la hét như điên, cạnh đấy có hai tên lính gác và hai thằng A-rập.

– Nhảy xuống đi? – người đàn bà hét. – Nó chưa trôi xa đâu! Tôi không biết bơi, chứ biết thì tôi đã xuống rồi. Hèn nhát cả một lũ!

– Cá mập! Một tên lính gác nói, đoạn lại chĩa súng bắn xuống biển.

Một đứa bé gái mặc chiếc áo dài màu xanh nối trắng đang trôi lềnh bềnh trên mặt biển, bị một dòng hải lưu yếu đưa từ từ ra xa. Nó trôi thẳng về phía các hải lưu quy tụ lại, vốn là chỗ dùng làm nơi mai táng các phạm nhân, nhưng hãy còn xa mới đến chỗ ấy. Bọn lính gác nổ súng liên tục, và chắc hẳn họ đã bắn trúng nhiều con, vì quanh con bé có những chỗ nước cuộn lên sùng sục.

– Đừng bắn nữa! – tôi quát.

Rồi không suy nghĩ đắn đo, tôi nhảy xuống biển.

Được dòng hải lưu đẩy đi, tôi bơi rất nhanh về phía con bé bấy giờ vẫn nổi lềnh bềnh nhờ cái áo dài căng phồng lên. Tôi vừa bơi vừa đạp chân thật mạnh đế cho cá mập khỏi đớp trúng.

Tôi chỉ còn cách con bé có ba bốn chục mét thì một chiếc xuồng từ đảo Royale vừa chèo ra đến nơi: bên ấy đã nhìn thấy cái cảnh này từ xa. Người trên thuyền vớt đứa bé lên. Tôi ức phát khóc lên được khi đến lượt tôi được kéo lên thuyền, ức đến nỗi quên khuấy cả lũ cá mập: tôi đã liều thân một cách hoàn toàn vô ích.

Nói cho đúng hơn, lúc bấy giờ tôi tưởng là hoàn toàn vô ích, vì một tháng sau, bác sĩ Germain Guibert đã vận động cho tôi được miễn cấm cố vì lý do sức khỏe, và chỉ huy trại đã chuẩn y, coi như đây là một cách thưởng công cho tôi đã liều mình lao xuống biển để cứu đứa bé.

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 13 Nov 2025

Chương 9

Cuộc tiếp đón tôi bởi ông trưởng khối 56 được thực hiện với sự có mặt của ông niên trưởng. Tại Buchenwald có ba ông, nhưng ông nầy, mang băng tay số ba lại là người quan trọng nhất; ông ta mới thực là người cai quản trại tập trung. Nhân vật nầy có nhiều quyền hành đối với chúng tôi hơn bất cứ vị quốc trưởng nào đối với dân chúng của ông ta. May thay ông chỉ xử dụng quyền hành ấy để bảo bọc chúng tôi, bắt thuộc viên tuân hành một thứ kỷ luật nghiêm ngặt, và có một tinh thần sạch sẽ, bởi vì trong cái thành phố quỷ quái nầy vô số bất công, nếu không nói là đầy tội ác, vẫn được thể hiện hàng ngày; nếu một khiếu nại có đầy đủ chứng cớ, ông ta cho kẻ phạm tội đi nơi khác ngay, và đã có hơn một Stubendienst bị mất chỗ; nhưng đối với bọn SS dĩ nhiên là ông không thể làm gì cả. Khốn thay, không phải là sự ta thán nào cũng đều đến được tai ông ta cả. Cả hai người hỏi về hoạt động trong quá khứ, cùng lúc trắc nghiệm lại khả năng Đức ngữ của tôi. Ông niên trưởng siết tay tôi sau khi cho vài lời khuyên và gởi gắm cho tôi một người chỉ huy nghiệp đoàn ở Lyon mà ông ta đã quen biết trong một hội nghị quốc tế khoảng 15 năm về trước.

Jacob, chỉ huy mới của tôi, nói với tôi rất lâu về nhiệm vụ của ông và nhiệm vụ thuộc về phần tôi.

– Với anh, mọi chuyện sẽ trôi chẩy. Ở đây cũng có một thông ngôn, Albert, nhưng anh ta nói tiếng Đức cũng chỉ ngang cỡ tôi nói tiếng Pháp. Thế mà ở đây lại gồm toàn người đồng hương của anh, và mỗi lúc, tôi đều cần một người thông dịch. Tôi hy vọng hai người sẽ ăn ý với nhau!

Giọng nói mà ông dùng để giải thích với tôi mọi chuyện, cho tôi thấy ông ta đã bị đồng nghiệp của tôi chi phối. Và khi tôi gặp viên thông ngôn thứ hai nầy, y lập tức coi tôi như đối thủ. Những nhân viên khác trong khối gồm toàn là dân Nga trẻ tuổi, hay đúng hơn là người Ukraine, rõ rệt là họ coi khinh dân Pháp. Tôi đã có dịp quan sát thái độ đó đối với chúng tôi khi tôi là tù binh chiến tranh. Lúc đó, trong khi ngườiAnh, Ba-Lan, Nga, người Nam Tư và Bỉ đều hãnh diện về sự đoàn kết, chúng tôi lại hư hỏng, và nhiều người lại sẵn sàng chấp nhận những nguy cơ tệ hại nhất. Chính các sĩ quan Ba-Lan lại khóc cho sự thất trận của chúng tôi, và chính người Nam Tư lại nhắc cho chúng tôi nhớ là chúng tôi có bản quốc ca và phải hát quốc ca ngày 14 tháng 7, mặc dù cho có bị nhốt sau hàng rào kẽm gai đi nữa. Vào thời đó không mấy ai trong chúng tôi tin ở chiến thắng sau cùng của Đồng Minh. Về sau các nhóm thân Pétain được tổ chức tại khắp các trại giam Đức và đã phát triển đến độ quân Đức đâu đâu cũng hết sức hài lòng. Và những ai chuẩn bị vượt ngục cũng phải đề phòng người bạn tù của mình. Ngay cả khi bị tù đầy, chúng tôi cũng vẫn chia rẽ và không có gì ngạc nhiên khi thấy một huyền thoại về sự xuống dốc của Pháp đã thành hình trong đầu óc của rất đông bạn tù ngoại quốc của chúng tôi.

Và bây giờ đến lượt những thanh niên nông dân Nga không ngừng hỏi tôi về nguyên nhân của tình trạng thê thảm đó. Làm sao mà một nước như nước Pháp, với cả một phòng tuyến Maginot và quân lực, lại có thể bị đánh bại trong ba tuần lễ? Họ không hiểu và tôi cố gắng giải thích rằng sự phản bội có thể hạ gục những người khỏe mạnh nhất.

– Chính những nhà điếm đã làm xứ anh sụp đổ, – Léonide nói với tôi, anh ta là người lãnh đạo đám thanh niên Nga. – Hình như Ba-lê là nơi có nhiều ổ điếm nhất.

Và khi tôi nói với anh ta về phong trào kháng chiến chống xâm lăng của chúng tôi, anh ta vẫn không tha:

– Nói cho tôi nghe có nước nào mà một bộ phận lớn như vậy lại hợp tác với địch như thế không: Các anh có một ông tướng ở Luân-đôn, nhưng chính một ông Thống chế lại đi với Hitler, và cùng với ông ta là cả một chính phủ, và không phải gồm toàn vô danh tiểu tốt đâu nhé! Các anh đã là một dân tộc lớn, nhưng nay chỉ còn là một Quốc gia nhỏ bé.

Người ta dù tôn trọng kẻ mạnh ngoài ra đều không đáng kể, và ngay trong cùng thẳm của một trại tập trung, chúng tôi phải trả giá cho nỗi ô nhục của năm 1940. Là con dân của một xử đang trên đường đi đến một tương lai vĩ đại, anh ta đã quên mất một vài chi tiết lịch sử, tuy nhiên tôi có nhiệm vụ nhắc lại cho anh ta nhớ.

Nếu người Nga vốn nhiều tình cảm, họ cũng hiểu thấu được sự chân thành. Nghĩ rằng tôi thông biết tất cả về tổ quốc họ, về lịch sử của họ, thái độ của họ đối với tôi thay đổi mau chóng, sau cùng họ thỏa mãn về sự bổ nhiệm tôi. Tôi hiểu ngay rằng họ ghét Albert: người thông ngôn thứ hai, và họ giới thiệu anh ta với tôi dưới màu sắc đen tối. Buổi chiều, khi mọi người đi làm việc trở về, tôi được nghe các lời ta thán của những người vừa trải qua một ngày lao tác ngoài trời để xúc đất, cuốc đất mà bụng trống rỗng. Tôi nói với họ vài câu hứa sẽ làm tất cả mọi chuyện có thể được để giúp họ. Ngay sau khi vừa dứt lời, cả một đám mây than vãn vang lên bên tai tôi. Tôi trấn an họ và yêu cầu một người đứng lên trình bầy thay cho cả tập thể. Người được chỉ định có giọng nói miền Bourgogne tên là Boucher. Tôi được biết ngày trước ông ta làm luật sư ở Ba-lê.

– Thật là ô nhục, – ông ta hét lớn, – chúng tôi không được đụng đến ngay cả lít súp mà chúng tôi có quyền hưởng. Đây là cả một cuộc màn kịch xấu xa.

Đêm đầu tiên, chính tay tôi phân phối súp. Mỗi người nhận đủ phần của mình nghĩa là một ca đầy, và tôi sung sướng nhìn thấy niềm vui tràn đầy phát hiện lần đầu tiên. Mọi người đều hài lòng ngoại trừ Léonide. Là lãnh tụ đồng bào của mình, anh ta lại là thư ký của khối, và với chức vụ đó, tôi là cấp dưới của anh ta. Khi tôi chấm dứt công việc, anh ta gọi tôi:

-Họ phàn nàn vì súp, có thể được, nhưng họ không nên khóc lóc quá như vậy vì vài muỗng. Họ có nhận được bưu kiện tặng phẩm, còn chúng tôi ở đây hai ba năm rồi mà chẳng nhận được gì từ bên ngoài. Tối nào tôi cũng phải tiếp tế thêm cho những đồng bạn kém may mắn hơn. Mỗi khối, nơi nào có nhân viên người Nga, họ cũng đều làm như vậy.

Tôi cho anh ta biết chuyện đó là rất tử tế, nhưng nói phân minh thì không thể lấy của người nầy để cho người khác. Tôi cũng lưu ý anh ta rằng phần đông là đồng hương của tôi lúc nầy cũng chịu khổ đau ít ra là cũng bằng tù nhân Nga vậy.

Vì Jacob không ưa các vấn đề lặt vặt như vậy. Léonide, với 22 tuổi, có thể lên giọng chủ nhân ông. Tuy nhiên anh ta không làm vậy, thái độ cương quyết của tôi làm anh ta thích và anh ta làm hòa ngay. Anh ta chấp nhận ai có phần nấy, đối với đồ ăn dư, sẽ chia hai. Tôi hoàn toàn thỏa mãn. Với hệ thống mới, mỗi tù nhân sẽ nhận được trọn một lít súp, và số còn lại thường là từ mười đến mười lăm lít. Léonide lấy một nửa để giúp đỡ bạn bè của anh, và tôi một nửa cho bạn bè của tôi. Đêm hôm sau, tôi đi kiếm Hubert và vài người bạn khác để cho họ ăn thêm một lít thứ hai; họ đã không cần để được mời đến lần thứ hai.

Hubert kể cho tôi nghe những ngày lao tác nhọc nhằn mà tôi đã được biết qua các tù nhân nơi khối tôi làm việc.

– Đó không hẳn là công việc, mà là đứng suốt ngày và luôn luôn canh chừng bọn SS đi phất phơ không có vẻ gì cả, nhưng thình lình nhảy chộp lấy mình như chó sói vồ cừu non. Anh đã thấy cơn bão tuyết chiều hôm qua rồi, thế mà phải tiếp tục làm việc. Đến 6 giờ mới xong, và lúc đó là giờ tập họp và lúc trở về thì lại điểm danh. Khi mọi chuyện êm xuôi, điểm danh nửa giờ. Như vậy bảy giờ mới về đến khối. Phân phối súp, hỏi thăm tin tức, bàn luận đã gần 10 giờ và phải dậy từ 4 giờ sáng hôm sau.

– Nhưng có tin gì không?

– Hình như Phần Lan đã đầu hàng.

Thì đó, thỉnh thoảng lại có vụ đầu hàng ở một nơi nào đó.

Cũng như các nơi khác, trong phòng Jacob cũng có máy phóng thanh, buổi tối, sau bữa súp, tôi thông dịch bản thông cáo trong ngày. Cứ như bản thông cáo nầy thì nó đã phản lại những âu lo của Bộ Tổng tham mưu đã vì tình hình mặt trận Miền Đôngv, nơi mà chậm chạp nhưng chắc chắn Hồng quân gặm mòn dần lãnh thổ. Nhờ tôi thêm mắm thêm muối vào trong khi dịch, tinh thần của mọi người được cải thiện đôi chút sau mấy ngày nhọc nhằn. Mặt khác các tù nhân Đức có quyền mua dài hạn một tờ báo. Hàng ngày Jacob đều nhận được tờ “Thuringsche Zeitung”. Tôi luôn luôn tìm thấy trong đó vài hàng cho biết cơn cuồng nộ của Bá-linh trước tin tức về kho vũ khí ngày càng vĩ đại của Đồng Minh được tích trữ tại Anh Quốc. Và các tin tức đó là một món tráng miệng tuyệt vời của mọi người. Với những ưu quyền mà tôi được ban cấp cho, tôi tổ chức các công việc kiểm soát tạp dịch đều đặn, và nghiêm chỉnh, thay thế một vài trưởng khối quá tư lợi trong khi phân phát phó mát trắng, và tôi có thể hãnh diện là đã được thiện cảm của dại đa số tù nhân.

Nhưng cũng chính vì điều đó mà Albert dệt một màn lưới nhện xung quanh tôi. Không ai biết gì về anh ta cả ngoài việc, anh ta là một trong các người Pháp đầu tiên đến trại này. Nói bập bẹ vài tiếng Đức, anh ta đã khéo vận động để len được vào chức vụ hiện tại. Trong trại, không có một sự kiểm soát nào về quá khứ của một tù nhân được thực hiện, kẻ đi trước bao giờ cũng có lý. Ai cũng sợ anh ta, bởi vì anh ta có gốc lớn ở Arbcitstalislik (văn phòng lao tác) nơi vẫn thiết lập danh sách những người phải di chuyển đi nơi khác, Botucher, tù nhân mà tôi quen nhiều nhất, đã cung cấp cho tôi vài tin tức:

– Hắn ta thực hiện ở đây một sự khủng bố thật sự, không ai muốn đi Dora hay một nơi nào khác, ít ra ở đây người ta biết mình có được cái gì. Chẳng bao lâu nữa bưu kiện sẽ đến. Một vài người đã nhận được rồi, và như anh nghĩ họ vội vàng đem biếu hắn ta.. Ngay cả Michelin (anh đã biết ông ta hiện có mặt ở đây) cũng đã hứa với hắn ta những số tiền khủng khiếp để tránh cho con ông, trong chuyến công-voa sắp đến khỏi bị đi Mauthausen. Hắn ta không dám nhận, hắn ta rất mạnh thế, đó là một lên gian hùng, một tên dâm đãng và với lời lẽ bợ đỡ không ngượng miệng hắn ta mê hoặc người Đức. Chỉ cần bắt gặp quả tang hắn ta phạm tội, chẳng hạn như lúc hắn ta vòi vĩnh tù nhân tặng lại các bưu kiện mà họ nhận được. Duy có điều là anh phải đề phòng, kẻ đã bị phỉnh gạt có thể sẽ bị nói rằng y đã làm một hành động tương trợ tự nhiên, và vũ khí mà anh xử dụng có thể sẽ là con dao hai lưỡi quay về phía anh. Khất là Jacob thì lại không bao giờ ưa chuyện yêu sách các bưu kiện, ông ấy không bao giờ nhận được gì cả và có thể nói từ mười năm qua ông ấy chỉ ăn súp và phần bánh mì của mình. Chỉ có nhóm người Nga ở đây là có thế lực, hãy làm thân với họ.

Tuy nhiên, trước mặt tôi, Albert chỉ cười.

Và từ khi tôi đến đây, hắn ta chẳng làm gì ráo dường như muốn để cho tôi toàn quyền. Nhưng tôi lo lắng và nói cho Mas, Michael và những bạn bè khác biết. Ai cũng cười vào mũi tôi: “Anh muốn hắn làm gì chớ, khi mà người ta bằng lòng với công việc của anh, hắn sẽ hoàn toàn bất lực đối với anh”. Một đêm Léonide nói rõ với tôi: “Mỗi lần hắn ta ở một mình với Jacob, hắn ta nhỏ một giọt dấm; không nhiều lắm, nhưng vì ông kia lại rất dễ bị ảnh hưởng, cho nên anh phải coi chừng”. Làm sao đây? Tôi là người mới đến, và tôi không làm gì để cho hắn ta sợ tôi thù ghét, tâm hồn tôi thanh thản. Trong rừng già, nhiều nạn nhân chắc hẳn có trạng thái tinh thần như vậy trước khi bị dã thú phanh thây..

Những lời nói của Boucher vẫn văng vẳng bên tai, và tôi cố rút chặt giây thân hữu với Léonide và nhóm của anh ta. Nhưng trong thực tế họ có giá trị như thế nào? Trong số mười nhân viên trong khối, ba người nổi bật rõ rét: Léonide thuộc về giai cấp lãnh đạo, Victor, thợ hớt tóc và Vassil, chịu trách nhiệm về bánh mì.

Mỗi ngày tiếng Nga của tôi khá hơn; và khi biết tiếng Nga, người ta tiến tới chỗ hiểu được các thổ ngữ Slaves. Ở đây, điều nầy có tầm quan trọng then chốt.

Hubert và các bạn đến gặp tôi luôn và không hiểu các mối âu lo của tôi. Họ cũng có niềm lo âu riêng. Bị đầy đọa suốt ngày ngoài trời, ý tưởng duy nhất là thời gian trôi mau đến tối, và ăn một ít xúp thừa. Họ hài lòng, tuy nhiên có lẽ tôi hài lòng hơn khi thấy bạn vui vẻ. Boucher, Ganneval cũng nhập nhóm và trong tình bạn, tôi quên đi nhiều điều ti tiện, tuy nhiên đã có người không quên: buổi sáng ngày 10 tháng 3, Léonide, trong tư cách thư ký của khối đi lấy các chỉ thị của văn phòng trung ương mỗi sáng, hấp tấp kiếm tôi:

– Coi đây, tôi nghi chính hắn làm chuyện nầy!

Trong một danh sách có các số thứ tự, tôi đọc thấy con số của tôi, những người có tên trong danh sách phải di chuyển đi nơi khác trong ba hôm nữa. Đi Dora, anh ta nói thêm, tất cả những người mới đều đi đến đó.

Thật là cả một sự sụp đổ, và tôi cảm thấy có cảm giác y như khi tôi bị bắt.

Tôi mới ở được tại chức vụ có độ mươi hôm. Tôi đã có thêm được nhiều bạn tốt và trong khi giúp đỡ họ, tôi có cảm tưởng là còn tiếp tục được công cuộc chiến đấu. Thế mà, bỗng nhiên lại phải vứt bỏ tất cả một cách tàn bạo. Kẻ âm mưu quá mạnh thế và nếu tôi có ý định phản công, phải mau lẹ, không thể để mất thì giờ.

Tất cả những người bị di chuyển phải có mặt ở quảng trường ngay sáng hôm đó. Từ đấy họ sẽ được đưa đi khám bệnh, tiếp theo là khoác áo tù, để hạ nhục họ thêm một chút, và nhất là để ngăn chặn mọi âm mưu vượt ngục trong khi di chuyển hay lại địa điểm làm việc tương lai vẫn thường được canh giữ sơ sài hơn tại trại tập trung Buchenwald.

Quá khổ sở về điều tôi vừa biết được, tôi chạy đi kiếm Jacob, để hỏi thăm và yêu cầu giải thích, ông ta có vẻ dửng dưng:

– Đi mặc áo đã, anh còn đến ba ngày nữa, người ta sẽ có thì giờ xem lại.

Câu trả lời nầy cho biết sự vu khống đã thắng. Những gì đối với tôi là một thảm kịch, hình như đối với Jacob chỉ là một biến cố rất bé nhỏ: trong mười năm ở trại, ông ta đã từng chứng kiến nhiều biến cố quan trọng hơn.

Léonide mang chỉ thị về lúc 5 giờ, nửa giờ sau, tôi có mặt ở quảng trường được nhiều đèn pha chiếu sáng. Hàng ngàn người sẵn sàng đi đến nơi làm việc mới, trong nhà máy hoặc ngoài trời. Ban nhạc tấu một bài hành khúc nặng nề để bắt đám tù nhân đi đều bước. Thật là hài hước, nhưng vì trời lạnh quá không ai nghĩ đến chuyện cười. Khi họ biến mất sau cánh cửa chánh của trại, tôi thấy chỉ còn lại vài trăm người và chúng tôi được đưa về phía trại bệnh xá. 2500 người nữa phải sẵn sàng để đi và phần đông đã sẵn sàng y phục.

Tại cửa bệnh xá, chúng tôi phải chờ ba tiếng đồng hồ để trải qua một cuộc khám bệnh lâu ba giây. Gian phòng để quần áo khổng lồ mà chúng tôi đã đi qua hồi mới đến, nay chúng tôi cũng đợi ở đó nhưng với một y phục khác: Áo vét, quần, nón chào mào đều có sọc.

Đêm trước tôi còn mặc đồ dân sự, đúng hơn là đồ rách rưới của bọn vô gia cư, vô nghề nghiệp, nhưng tôi được kính nể, gần như được sợ hãi vì tôi thuộc giai cấp “quí phái” ở đây. Từ nay tôi chỉ là một tù nhân chìm ngập trong số đông. Chắc chắn số phận nầy dành cho phần đông chúng tôi, nhưng đối với một người đã lãnh được chức vụ thông ngôn, ra đi có nghĩa là đã phạm tội trong khi thừa hành phận sự và trong tâm trí những người không hiểu chuyện điều đó đã gây ra biết bao giả thuyết nghi ngờ. Khi tôi trở lại khối, tôi chú ý thấy mình là đầu đề của mọi câu chuyện nhưng tôi không có thì giờ đã nghe họ nói gì, vì tôi cần phải đi báo động cầu cứu các bạn hữu nhất là những người có địa vị. Câu chuyện của tôi làm họ kinh hãi và tự hỏi người xếp tên tôi vào danh sách mạnh đến mức nào. Chỉ có Ludwig là trầm tĩnh:

– Chuyện đó đã xẩy ra rồi, chuyện gì cũng có thể xẩy ra cả, điều khó chịu ở đây là chuyện đã xảy ra giữa người Pháp với nhau, và tôi biết Albert được văn phòng trung ương coi như một đại diện có tư cách của người Pháp, tôi cố xem xét vụ nầy xem.

Một ngày trôi qua, và trong khi tất cả những người sắp đi ra nằm nghỉ mệt, tôi chạy Đông chạy Tây thử làm việc không thể làm được. Thật vậy, cho đến ngày lên đường, chúng tôi có được một khoảng thời gian rảnh, nhờ đó tôi có thể đi vận động.

Qua trung gian của Ludwig trong nhóm người Đức, và Léonide, người Nga, lẽ phải của tôi dần dần thắng thế. Một phái đoàn Pháp-Nga đến gặp Jacob để bày tỏ sự ngạc nhiên vì tôi bị đầy ải. Trước các đòi hỏi giải thích, ông ta phải bước ra khởi sự lãnh đạm, và ông ta, cho đến nay chỉ nói với tôi những chỉ thị công tác, vui lòng tiếp tôi đặc biệt để thảo luận trường hợp của tôi. Cuộc nói chuyện lái sang lịch sử của phong trào công nhân Đức mà may thay tôi cũng được biết khái quát, và ông ta chấm đứt bằng cách công nhận rằng, như tôi nghĩ, có thể tôi là nạn nhân của sự vu khống hèn hạ.

Trong lúc đó Albert dọ thám hoạt động của tôi, với sự trầm tĩnh của những đại lãnh Chúa, có vẻ tự tin vô cùng. Anh ta có lý để vững tin, bởi vì mọi sự can thiệp có vẻ vô hiệu quả, và người tống khứ tôi lại không phải là một tên SS, cũng không phải là một tù nhân ngoại quốc, mà là một người Pháp và tên súc sinh nầy hành xử sự độc tài lên đầu tôi, Napoléon rất có lý, trước hết chỉ có giống người, sau đó mới đến sắc tộc, rồi biên giới và tôn giáo.

Tôi đã chuẩn bị tư tưởng để lên đường, nhưng tôi đau thắt ruột mỗi khi nghĩ đến Albert vẫn tiếp tục ngự trị như kẻ cướp. Chắc chắn anh ta cũng có nhược điểm, và tôi chỉ muốn ở lại để vén bộ mặt anh ta lên; thế mà khi tôi đi rồi, địa vị của anh ta càng thêm củng cố, và tôi chỉ còn có một buổi chiều và một đêm. Đêm 12 rạng 13 đó, đúng lúc nửa đêm, mọi người phải có mặt trong phòng trình diễn văn nghệ, vì có một phòng độc nhứt cho toàn trại để tập họp và được kiểm soát lần chót trước khi lên đường vào sáng sớm hôm sau. Tôi tuyệt vọng. Là người mới, người ta không biết rõ tôi mấy và lời nói của người cũ mới đáng kể. Anh ta đã nói gì? Không thể biết được, người ta không giải thích.

Trong số những người khác Hubert, Pierre, Tu viện trưởng Bourgeois cũng bị đi, đó là niềm an ủi duy nhất của tôi. Tuy nhiên tôi vẫn chưa chịu chấp nhận; linh tính báo cho biết là nhà máy dưới lòng đất ấy sẽ là tai họa đối với tôi, tôi phải ở lại, nhưng làm cách nào đây?

Hồi tối, tôi đã từ biệt bạn bè và khi tôi đến Jacob, tôi ngạc nhiên nghe ông nói, vẻ tươi cười,

– Không bao giờ nên tuyệt vọng!

Chính Léonide đưa chúng tôi đi, vào giờ đã định, đến chỗ tập họp. Khối chúng tôi có mười lăm mạng. Vào phút chót, cả nhóm tù nhân Nga bạn của viên thư ký đến bắt tay tôi, không phải để từ biệt mà để tỏ tình liên đới. Họ cũng tươi cười. Tôi cảm thấy có một cái gì đó, nhưng tôi không hiểu.

Khi tôi bước vào gian phòng mênh mông, tù nhân đã chật cứng, họ ngồi bệt xuống đất. Một chiếc bàn đặt ngay lối ra vào đầy giấy tờ và nhiều người Đức thực hiện một sự kiểm soát người mới đến. Léonide làm dấu cho một người trong bọn trong khi bí mật chỉ tôi. Người kia tiến về phía tôi, bắt mạch và dường như để cho các đồng nghiệp nghe thấy, anh ta nói với tôi:

– Trở về khối của anh đi, anh bị sốt,

Khi trời lạnh giá bên ngoài đã làm tôi nhớ lại thực tại. Tôi không có chuyện với bọn Gestapo, hay với một sở cảnh sát nào. Chỉ là một chấp tranh nội bộ giữa tù nhân bị giam cầm trong trại giam bí mật nhứt.

Léonide đến với tôi, và trước vẻ bối rối của tôi, anh ta phá lên cười:

– Chính tôi và cả băng anh em, đã yêu cầu Jacob giữ anh lại. Mỗi trưởng khối có quyền làm thủ đoạn đó… tất nhiên là không một kẻ thứ ba nào được biết chuyện, và từ ngày mai, đối với tất cả một người anh là người bị đau yếu.

Và anh ta giải thích rằng Ludwig và viên thư ký khối 62, tựu trung trong số những người được tôi báo động đã đến nói chuyện với Jacob để thúc đẩy ông ta quyết định can thiệp cho tôi. Hôm sau, khi trông thấy tôi, mọi người kể cả Albert, biết rằng tôi vừa thắng keo đầu ở giây phút chót.

Tôi vừa mới có thì giờ để kiềm chế cơn xúc động lại thì ngay tuần lễ kế đó, tôi lại bị ghi tên vào chuyến di chuyển chỉ gồm toàn tù nhân Đức gốc vùng Bohéme 2. Tôi lại qua cuộc khám bệnh ở bệnh xá, nhưng Michael được báo kịp thời, đã ghi tên tôi vào loại bất lực và lần thứ hai, tôi thoát khỏi bị tống đi. Trước một vố trùng điệp như vậy, Jacob rõ rệt đứng về phía tôi và một đêm khi chỉ có chúng tôi với nhau, ông ta thú nhận:

– Ngay hôm anh mới đến, Albert bắt đầu đâm thọc anh rồi, và thành thật mà nói, tôi đã tin hắn… tôi luôn luôn tin hắn, nhưng từ lúc nói chuyện với anh, tôi thấy trong thực tế, chính sự ganh tị đã thúc đẩy hắn, và anh biết tại sao không? Chỉ vì tôi chọn anh làm thông ngôn chính. Anh nghĩ khi những người Pháp đầu tiên mới bị đưa đến đây, hắn ta là một trong số rất hiếm hoi người nói được một ít tiếng của chúng tôi và với một ít ấy hắn ta đã lừa hết tất cả chúng tôi. Bạn hắn, lại có chỗ tốt tại văn phòng kiểm soát danh sách di chuyển và hắn ta đâu có ngần ngại gì trong việc ghi tên anh vào đó.

“Cần nhất là nên tránh dừng nói đi nói lại về chuyện nầy, những chuyện y như vậy cũng đã xẩy ra khi chúng tôi chỉ có người Đức với nhau. Và đã có những cuộc đấu tranh cốt nhục tương tàn rồi mới đến được tình trạng ổn cố ngày nay. Người Ba Lan, người Nga, cũng có cặn bã trong bọn họ, và đáng buồn thay, không phải lúc nào người tốt cũng thắng…

Ông ta đi kiếm thuốc lá để trong một lon đồ hộp cũ và đến ngồi trước mặt tôi. Mọi người đã ngủ từ lâu và trong căn phòng nhỏ chỉ có Victor và Léonide ngồi đánh cờ. Người ta có thể nghe cả tiếng thở của họ như là họ muốn tôn trọng sự im lặng thiêng liêng nầy.

– Anh thấy không, – Jacob nói tiếp, – đây là thời khắc tốt nhất đối với chúng tôi, những người có mặt lâu đời trong trại, khi tất cả đều yên tĩnh. Chúng tôi không thể tham dự vào các cuộc chấp tranh nữa và kho tàng quí báu của chúng tôi là nói chuyện quá khứ…

Bị bắt từ năm 1933, từ khi chế độ Quốc Xã bắt đầu, được thả với điều kiện hứa không làm chính trị nữa, ông ta lại bị bắt, không đầy một tháng sau, với nhiều ấn bản bí mật của tờ “Rotê Fahne” (cờ đỏ) và lần nầy không còn chuyện tha thứ nữa.

– Trước hết là sáu tháng trong trại đặc biệt trong đó sự im lặng bị bắt buộc luôn luôn. Chúng tôi trở thành người máy thật sự. Sau đó là đi đắp các vùng đầm lầy ở biên giới Hòa Lan. Mình trần trong mọi thời tiết, đào nhiều con kinh sâu hai thước. Bọn SS đi thơ thẩn đọc theo con kinh, và kẻ nào vô phước ngước đầu lên, là lập tức nhận những ngọn roi trừng phạt. Không cần phải nói với anh là phần đông đã chết trong những năm đầu tiên ấy, chính chúng tôi dựng lên trại Buchenwald, Dachau và Công ty với mồ hôi và máu. Đó là vào các năm 1934, 35, 36, trong lúc toàn cả thế giới vô tư lự, sống hạnh phúc. Chúng tôi chỉ là người Đức với nhau, nhưng chúng đối xử với chúng tôi tàn bạo hơn bây giờ nhiều. Chúng tôi đều chịu đựng toàn thể bọn SS trên lưng. Chiến tranh đã chiếm mất một số lớn và bắt đầu từ trận Stalingrad, Hitler không còn tiết kiệm chúng nữa. Nơi nào có biến, ông ta liền gửi chúng đến, và cuối cùng chắc chắn là chúng sẽ bỏ xác ở đấy hết cả”.

Thấy mắt tôi đã sụp xuống, ông ta đứng dậy đi một vòng trong khối để kiểm soát. Léonide, nằm dài trên đệm rơm, sau khi học được một bài học mới của Victor, người không bao giờ thua cờ, nói với tôi:

– Đó là một gã tốt bụng, nhưng ông ta và bạn bè cũng đã hơi lẩm cẩm rồi… Từ khi tôi biết ông ta, ông ta đã kể cuộc đời mình ít ra là hơn chục lần rồi. Nay đến lượt anh, và đó chỉ mới là bắt đầu.

——————————–

1Đọc “Những Trận Đánh Lịch sử của Hitler, Sông-Kiên xb – Sách đã phát hành.
2Bohéme: Vùng đất phía Tây nước Tiệp Khắc, đó là phần đất được mở mang nhiều nhứt.

Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 13 Nov 2025

Phần 14 – Mẹ và những cuốn sách

Cuối năm, cả nhà bận rộn quét, lau mọi ngõ ngách trong nhà ra tận cửa, nước lênh láng từ tầng trên xuống tầng dưới…Ông Cần vì cái chân cụt, không làm được việc gì nên ngồi trên giường sắp xếp lại cái tủ sách, làm cho có việc.

Từ ngày vào Sài gòn, không biết đã là định cư chưa, bởi có nơi ông đã ở tới 40 năm, tưởng sẽ là vĩnh viển, thế mà rồi phải bán tất cả để vào ở cùng các con. Vào đây, ông mua lại căn nhà, bé hơn nhà ông ở quê, bé hơn nhiều lắm, nên ông cho cái tủ sách nằm ngay trong phòng ngủ, ở cuối giường. Cũng hay, xưa nay ông thích nằm đọc sách hơn là ngồi.

Hôm chuẩn bị chuyển nhà, ông quyết định đồ đạc tủ bàn bỏ lại hết, vào trong này mua lại. Chỉ có sách là ông tiếc, không bỏ hết được, lọc lựa thế nào cũng còn mấy thùng giấy cứng. Vào đây hai năm, mua thêm một ít, bạn bè tặng một ít thành nhiều…

Miên man với những cuốn sách, rối nhớ tới những ngày mẹ còn sống, những năm tháng khốn khó gần 40 năm trước, những cuốn sách của ông đã làm mẹ khốn khổ hơn, ông ứa nước mắt vì thương mẹ…

Ngày ấy, ông chỉ mới hai mươi, mẹ đã còng lưng theo năm tháng cực nhọc từ hồi nào rồi, thủa chưa rời quê vì bom đạn. Theo đoàn di dân vào lập nghiệp nơi núi rừng Ninh Thuận này, những luống khoai, đám mì càng làm lưng mẹ còng hơn.

Chính thể đổi thay, kéo theo mọi sự thay đổi. Gia đình ông bấy lâu nhờ vào đồng lương của người chị, anh rể là lính, đang đi cải tạo. Nay không còn lương tháng nên vất vả hơn.

Mấy tháng sau khi tạm ổn định việc đưa đi học tập cải tao các đối tượng thuộc chế độ trước. Ủy ban Quân quản có lệnh thu giữ và tiêu hủy văn hóa cũ, không phân ra loại sách nào là đồi trụy hay phản động…mà là tất cả!

Hồi còn đi học, lâu lâu chị cho tiền mua sách, ngoài sách học, thừa tiền ông mua thêm các cuốn sách mà ông thích, lần hồi cũng được chừng mấy chục cuốn.

Nhìn cái kệ sách, vuốt ve, lật xem từng cuốn…ông quyết định không đem nộp, biết rằng những cái tên tác giả nước ngoài trên bìa sách có thể lả tai họa! Ông lấy một cái bao gạo, loại bao 50 kg, sắp gọn tất cả vào, rồi cho

xuống gầm giường, đẩy sâu vào góc tường, dự tính nếu nghe có đi kiểm tra thì mang vào rẫy dấu đâu đó.

Cả thôn rầm rộ đem nộp sách, truyện…Có người một hai cuồn, có người mang cả chồng báo Playboy, có người là thầy giáo dạy học bao năm, cho xe kéo đến mấy thùng, toàn Tự điển, sách nghiên cứu giảng dạy, văn học, lịch sử thế giới…Tất cả được cho vào kho trụ sở. Bạn thân ông làm Tuyên Văn Giáo thôn, từng học Đại học Văn, khoa Việt-Hán tại Đại học Đà lạt, cả hai đứng nhìn mà lòng tiếc xót!

Chừng hai tháng sau ngày 30/4/1975. Ông cùng bạn được gọi lên trụ sở thôn. Cán bộ trên xã về lảm việc, bạn ông được giao cho làm Tuyên-Văn- Giáo, còn ông, cho đi học hai tuần về làm Kinh tài thôn.

Bạn ông cũng như ông, thương mấy cuốn sách lắm, nhưng cha của bạn ấy là Công chức chế độ cũ, không cho ông giữ lại, buộc phải đem nộp hết! Hai đứa phụ bưng các thùng sách vào kho mà tâm trí cứ băn khoăn không biết người ta có duyệt, chọn lọc loại nào cần tiêu hủy, loại nào cần trả lại hay không. Chẳng lẽ tất cả đều là đồi trụy và phản động hết sao!?

Lâu lắm rồi, kể từ ngày đem sách đến nộp, không thấy ai nhắc nhở gì đến chuyện tiêu hủy hay giải quyết thế nào về số phận của những cuốn sách, những chỗ dột làm ướt một số, một số bị các ủy viên lén lấy về làm giấy đi vệ sinh. Căn phòng được trưng dụng làm kho cũng là phòng đặt máy phóng thanh, trong các ban ngành, Kinh Tài là ban thông báo nhiều hơn hết, từ gạo, mắm, dầu lửa đến vải, nilon…Hằng ngày ông vào thông báo trên loa phóng thanh cho bà con trong thôn, cứ thấy đống sách là ông xót ruột mặc dù chẳng phải của mình.

Một hôm, trong trụ sở thôn không có ai, ông nấn ná ngồi lại sau khi thông báo xong. Lật xem mấy cuốn, toàn sách của những tác giả ông thích:

F. Dostoievsky, E. M. Remaque, A. Camus, J. P. Sartre, V. Gheorghiu…nhiều tác giả, tác phẩm mà Cha Mai Nghị, dạy môn Triết ông hồi còn đi học hay nhắc đến nhưng ông chưa được đọc. Số sách này phần nhiều ký tên Lê Thanh Dân, một thầy giáo dạy Văn ở Quy Nhơn đem nộp. Ngày thầy đem sách đến, ông đứng bên thầy, nhìn thầy húng hắng ho. nhìn nước da tái xanh và đôi mắt đỏ như muốn khóc mà thương…

Biết chắc là không có ai, ông lấy cuốn “Anh em nhà Karamazov” của Dostoievsky, cho vào chiếc túi mang về. Cuốn này, bao nhiêu lần ông đứng ngắm nó trong hiệu sách, nhưng không dám hỏi mua vì biết chắc rất đắt, nhìn độ dày của nó cũng đủ biết! Ông khóa cửa phòng lại, đi ra mà lòng lo sợ đủ thứ chuyện, lỡ có ai đi vào, dọc đường gặp ai đó tò mò hay một cán bộ xã…Ông đi như chạy, vào trong nhà, ngồi trên giường mà tim ông đập như vừa chạy bộ mấy cây số, vội vàng cho xuống gầm giường, dự tính vài ngày sau mới lôi ra đọc.

Được một lần, đọc xong, rồi những lần sau ông lấy hai cuốn, ba cuốn tùy độ dày mỏng của những cuốn sách. Tò mò về Chủ nghĩa Cộng Sản, ông lấy những cuốn liên quan về Chủ nghĩa này, đọc ngấu nghiến hằng đêm.  Đọc xong, ông cho thêm vào bao gạo, chẳng bao lâu, phải kiếm một cái bao khác…Cứ thế, lấy về, đọc xong cho vào bao, đã bốn cái bao đầy mà không ai phát giác hay nói chuyện mất sách trong kho, chừng như ai cũng có lấy về đi vệ sinh, nên chẳng ai thèm thắc mắc gì!

Có một hôm, cán bộ phụ trách an ninh, họp toàn dân phổ biến lệnh kêu gọi những ai còn tàng trữ sách báo chưa nộp thì đem nộp tiếp, phát giác ai còn cất giấu thì tố cáo với chính quyền để thu hồi…Ông ngồi nghe mà lo sợ cho những cuốn sách, lo sợ cho bản thân sẽ bị quy là ngoan cố hay phản động! Ông muốn đem đi nộp nhưng lại ngại là sẽ bị hỏi sao lâu nay không nộp!

Mấy ngày sống trong âu lo, cuối cùng, ông quyết định sẽ dần dần mang vào đám rẫy gần nhà. Khi đã chuyển vào hết, mẹ cùng ông đào một cái hồ, lót một lớp nilon ở dưới, phủ một lớp bên trên rồi lấp đất lại. Cả hai mẹ con vừa đào vừa hồi hộp, thỉnh thoảng ông chạy ra đường đi nhìn trước nhìn sau…Kể từ hôm đó, ông không đọc mà cũng không lấy thêm cuốn sách nào!

Chừng hai tháng sau, cả ông và bạn đều bị cho nghỉ việc thôn. Một ông lớn tuổi, từ Quảng Ngãi vào được thay ông làm Kinh tài, một anh bên chi đoàn Thanh Niên thay bạn ông làm Tuyên Văn Giáo.

Nghỉ việc thôn, bạn ông bị gọi đi Nghĩa vụ Thanh Niên Xung Phong, còn ông, có mẹ già nên được miễn.

Ở cuối đám rẫy cùa mẹ, có một bộng mối rất lớn, một hôm trời trở mưa, mối bay đầy, bay cả vào mặt ông. Lo cho mấy bao sách, ông bàn với mẹ đem về lại nhà, thời gian này thấy cũng êm êm, không còn nhắc chuyện nộp sách nữa. Hai mẹ con lại đào lên rồi lần hồi chuyển về, dấu sau đám mì của lô gia cư. Ông lại đọc những cuốn chưa kịp đọc, chuyền cho những bạn thân của ông cùng đọc.

Anh rể đi cải tạo về, làm rẫy chỉ khoai lang và mì không đủ qua ngày bèn đưa chị và đứa con vào Long Khánh làm ăn. Cũng không khấm khá hơn là bao. Nhà chỉ còn ông và mẹ.

Kinh tế càng lúc càng khó, ông đi buôn tàu lửa cùng những người dân trong vùng. Dân buôn xứ ông đầy sân ga…Đi buôn cũng không đủ gạo cơm mắm muối, phải ăn độn mì, khoai. Một hôm, mẹ ngại ngần nói:

-Con lựa cho mẹ mấy cuốn sách đã đọc rồi.

-Làm gì vậy mẹ?

-Mẹ bán cho mấy người bán hàng, họ gói hàng.

-Sách khổ nhỏ họ có mua không mẹ?

-Họ cắt nhỏ gói bột ngọt, ớt bột, tiêu…

Ông ra sau nhà, giữa mấy luống mì ngồi lựa, cuốn nào cầm lên cũng tiếc! Ông đem cho mẹ năm cuốn. Mẹ cho vào bao rồi mang ra chợ!

Vốn không có, đi buôn càng khó, chái bếp nhà ông đã dỡ hết tôn đem bán lần hồi, tội nghiệp mẹ phải ngồi nấu nướng giữa nắng, những lúc mưa phải dời bếp vào trong nhà! Vốn cứ cụt dần vì vừa ăn, vừa bị bắt mất hàng.

Chị cả ông ở Quảng Trị vào thăm, mẹ và chị ôm nhau khóc suốt mấy ngày. Hôm về, chị bảo ông cùng ra quê. Mấy ngày về quê không vui, anh chỉ gặp được các cháu nhưng chúng còn nhỏ, ông dành một ngày đi thăm mộ cha và bà con, hôm sau ông vào lại. Đứng trước sân nhà, chị sụt sùi:

-Chị muốn đưa mẹ và em về làng, nhưng em không làm ruộng Hợp tác xã nổi đâu. Chị còn mấy chỉ vàng, em cầm hai chỉ làm vốn mà buôn bán.

Ông òa khóc, còn khóc to hơn chị! Nhìn túm gạo chị ông cột sẵn cho ông mang vào, chỉ chừng 10 kg, nhưng ông lo không biết có mang vào được không!

-Em sợ không mang gạo vào được, hay chị để lại, có vốn rồi, em vào đi buôn mua gạo trong đó cũng được, mất uổng lắm!

-Mất thì thôi em ạ.

Chị đưa anh ra cổng làng, ngay trạm kiểm soát này đã không qua được. Chị năn nỉ mãi nhưng cũng đành mang về, may mà gặp thằng cháu trong họ gác trạm, nếu không thì đã bị tịch thu.

Có hai chỉ vàng, ông bán đi làm vốn, theo một người bạn đi buôn xe đạp từ Sài gòn về bán trong địa phương. Một lần đi, ông mua hai chiếc, thỉnh thoảng có người đặt mua xe cũ, ông mua thêm một chiếc theo ý người đặt. Đi buôn xe đạp thì đi bằng xe đò, ít vất vả nhưng hồi hộp hơn là đi xe lửa, bởi phải qua nhiều trạm kiểm soát, nhờ tài xế và lơ xe năn nỉ cũng qua lọt. Không chi cho trạm thì chi cho tài và lơ. trạm tốn nhiều, tài xế ít hơn!

Ông đi được chừng sáu chuyến, mẹ mừng vì bớt nổi lo gạo mắm.

Chuyến cuối, ông từ Sài gòn về vừa vào nhà, mẹ ghé tai ông thì thào:

-Họ đến tìm con!

-Ai vậy mẹ?

-Du kích và công an! Ông nhìn mẹ lo lắng, nói:

-Mình có làm gì đâu mà sợ mẹ, chắc chuyện đi buôn thôi!

Mẹ không bớt lo âu nhưng cũng xuống dọn cơm, hai mẹ con vừa ngồi vào bàn thì ba du kích cùng công an xã đi vào:

Với lý do không xin phép đi lại, anh bị bắt. Ở trại tạm giam huyện, anh được biết thầy dạy Lý- Hóa của anh và ba người bạn học khác, bị bắt trước anh nhưng cũng cùng ngày!

Hơn hai năm bốn tháng, ông trở về cùng mẹ, lệnh tha ghi tội danh là: “Nhen nhóm âm mưu lật đổ chính quyền”. Thầy ông phải ở thêm ba năm nữa mới được tha.

Chiều hôm trở về, mẹ mừng quá, hét lên khi ông vào nhà. Đôi tay gầy guộc ôm lây ông khóc mếu máo!

Sáng hôm sau, ông hỏi mẹ về mấy cuốn sách. Mẹ buồn rầu:

-Mẹ bán dần dần đi thăm nuôi, còn mấy cuốn thôi con ạ!

Anh cười lớn, nói cho mẹ yên lòng, mặc dù còn nhiều cuốn ông chưa kịp đọc:

-Hết thì thôi, con đọc hết rồi mẹ ạ.

Những ngày trong tù, hàng tháng mẹ đi thăm đều đặn. Mẹ kể chuyện làng xóm, người xắt cho ký thuốc rê, người cho đường tán, bánh tráng…Mẹ không tốn gì, chỉ bán vài cuốn sách mua cho anh ít đồ ăn ngay như bánh mì, xôi, gói chè, nải chuối…

Mẹ lôi cái bao gạo dưới gầm giường, anh sắp mấy cuốn sách ra xem: “Anh em nhà Karamazov” của Dostoievsky, “Exodus” của Leon Uris, “Hố thẳm thư tưởng” của Phạm Công Thiện, “Giọt lê và nụ cười” của Kahlil Gibran và “Sử thi Mahabhahta” của Ấn độ.

Những cuốn sách này dày hoặc do bìa mới, mẹ cho là hay, có lẽ ông quý hơn cả nên chừa lại!

-Mẹ bán luôn đi, con cũng đã đọc những cuốn này rồi.

Bữa cơm trưa có thịt bò nhờ mấy cuốn sách nặng ký, ông thầm nghĩ: bữa ăn gồm: Văn học Nga, Ấn độ, Ả rập, Việt nam và Mỹ(*) mà không thịnh soạn sao được! Ông cười, gắp miếng thịt bò bỏ vào chén mẹ:

-Thịt bò ngon quá mẹ ạ, mẹ cùng ăn chứ sao con ăn hết được!

-Lâu lâu mới có người ở Động Mé lên bán xương bò của HTX, mẹ mua được cái xương, lóc thịt ra đó.

Năm cuốn sách dày và hay, mua được cái xương bò. Ông muốn cúi đầu tạ lỗi, tạ lỗi với những ai đã viết, đã dịch, đã bỏ công sức làm nên những cuốn sách!

Sài Gòn, Tháng I, năm 2016.

(*) – “Anh em nhà Karamasov” của Dostoievsky: Nga.

– “Exodus- Về miền đất hứa.” Leon Uris: Mỹ.

– “Hố thẳm tư tưởng” của Phạm Công Thiện: Việt Nam.

– “Sử thi Mahabhata”: Ấn Độ.

– “Giọt lệ và nụ cười” của Kahlil Gibran: Ả Rập.

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào
Post by Sơn râu 13 Nov 2025

Phần 14

Quê nội, quê ngoại

Tuổi tôi đến nay đã già quá 6 bó, chưa lú lẫn, song dường như trí nhớ của tôi không được khá, có lẽ tâm trí tôi đã vật lộn với quá nhiều đau khổ trong dĩ vãng và với quá nhiều “bill bộng” trong hiện tại. Ở cái xứTây phương này, ra đường nhiều khi không có một xu dính túi, song thẻ nhựa thì một đống, cà cái này bị xù thì cà cái khác, cái nào cũng bị xù có nghĩa là mình trở thành vô sản! Chỉ vài cái bị xù là nạn nhân biết là mình phải phờ người trả nợ. Nợ nước thì khất lần mãi từ năm này sang năm khác không thấy ai phone hay gởi giấy đòi, nhưng nợ visa thì nó nắm đầu không thoát được. Đố có một ai ở xứ này thoát được nợ visa.

Đương đầu với mấy cái thẻ nhựa này nhiều khi muốn khùng, lãng trí chút chút là may lắm rồi. Dù vậy, trí nhớ của tôi lùi về 6 thập niên trước lại vẫn còn nguyên như in. Lúc tôi ra đời không phải là thời đại xài thẻ nhựa visa, đồng hồ!

Mẹ tôi sinh tôi tại một nơi mà người ta gọi là Cây Trôm. Làng Cây Trôm là quê ngoại của tôi, nơi Mẹ tôi tá túc khi sinh đứa con đầu lòng, và về ở với Mẹ để nhờ chăm sóc.

Cây trôm làng Ngoại tôi là một cây đại thụ to lớn, gốc cả chục người ôm, nằm ngay bên đường liên tỉnh lộ 8 từ Phan Thiết lên Ma Lâm, Thiện Giáo, cách Hầm Đá chừng hai cây số, và cách Phan Thiết chừng 5 cây số về phía Bắc

Từ Phan Thiết lên, nó nằm bên tay phải. Nhà Ngoại tôi bên kia đường, đốì điện cây trôm, trước nhà là một ao rau muống khá lớn. Cách nhà Ngoại tôi về hướng Tây Bắc là một cái bàu lớn, nước quanh năm. Tôi đã từng tắm và vọc nước ở cái bàu này mỗi khi theo mấy ông cậu đem trâu đi uống nước…

Khi sinh tôi ra, con so, Mẹ tôi đau bụng từ đầu hôm, đau mãi mà không sinh được, tôi ngoan cố nằm lì trong bụng Mẹ, đến gần sáng hôm sau tôi mới chui ra. Thuở ấy Mẹ đâu có đồng hồ, và cũng chẳng biết trên đời này có cái chạy tích tắc kỳ cục đó, nên bà không biết giờ giấc chính xác lúc sinh ra tôi, bà cứ nói đại cái ngày bà đau bụng là ngày sinh, mà tôi đâu chịu ra đời lúc bà đau bụng. Giờ sinh, ngày sinh của tôi không chính xác, nên mấy ông thầy chấm và luận tử vi của tôi, ông thì giải Nam Tào, ông thì luận Bắc Đẩu. Về sau này đảng đì đi tù cải tạo khổ quá nên ai hỏi tôi tuổi giáp con gì, tôi bảo tuổi con dế cho tiện!

Mẹ tôi bám trụ theo Ngoại tới khi tôi lên 6 tuổi bà cho ra riêng. Cái nhà tranh đầu tiên của Mẹ tôi lại ở ngay dưới gốc cây trôm, cách nhà Ngoại tôi chỉ một con đường lộ nhỏ. Mẹ tôi vẫn không muốn xa Ngoại, tôi cũng vậy. Mỗi lần lục nồi cơm nhà không có, tôi chạy sang Ngoại là có ngay thức ăn. Ở với Mẹ mà hầu như tôi ăn cơm bà ngoại hàng ngày. Bà thương tôi, vắng tôi bà nhớ, bà kiếm. Hồi nhỏ, dường như tôi hơi cứng đầu. Mỗi khi Mẹ tôi rút roi là tôi phóng như bay qua Ngoại. Ngoại tôi thương cháu, có lần bảo Mẹ tôi:

– Có gì tao chịu. Tao không muốn ai đánh đòn cháu tao!

Tôi rút gọn vào lòng ngoại tôi, cảm thấy ấm áp, an toàn. Một hôm tôi chơi hoang, mình mẫy dính đầy nhựa trôm, thứ nhựa người ta bảo có thể ăn với đường cát, song tôi dùng nó ném nhau với đám trẻ, mặt mày lem luốc, quần áo nhầy nhụa, Mẹ tôi giận phết cho mấy roi. Tôi tức mình. Trong lúc bà ra chợ làng mua cá, tôi lủi thủi bỏ nhà đi hoang.

Không hiểu tại sao lần này tôi không qua Ngoại mà lại trở chứng đi về hướng Phan Thiết, đi cho đả nư. Nhưng đến đường công hương về hướng Xuân Phong, tôi chợt nhớ Nội tôi. Xuân Phong là quê bà Nội tôi. Tôi lẹt đẹt theo mấy bà bán cá về nhà Nội, nơi Ba tôi thường dắt về quê Nội trong những ngày cúng giỗ…

Chiều và đêm hôm đó, cả làng Cây Trôm đổ ra đi tìm thằng nhóc mất tích. Mẹ tôi, Ngoại tôi điên loạn như người mất hồn. Ngoại tôi hụp lặn bàu Cây Trôm suốt đêm để tìm xác cháu vì nghĩ rằng tôi tắm bàu và chết chìm. Mỗi lần tôi bị đòn là tôi chạy sang ngoại ngủ. Chưa bao giờ tôi đi hoang. Ngoại tôi khóc hết nước mắt, sai ba tôi qua Xuân Phong cho Nội tôi hay. Nửa đêm, tôi nghe tiếng Ba tôi gõ cửa. Ông mếu máo nói cho Nội tôi nghe chuyện tôi mất tích. Trong mùng, tôi nghe Nội tôi cười và bảo:

– Vào trong mùng xem phải thằng con mày nằm đó không?

Tôi lớn lên trong giặc giả, chiến tranh. Mỗi khi chạy giăc, Mẹ tôi bỏ tôi vào một đầu gánh, đầu bên kia Mẹ bỏ gạo cá, nồi niêu… Chạy giặc, Mẹ chạy băng đồng theo những người hàng xóm. Mỗi lần đầu thúng tôi ngồi chạm bờ ruộng là mỗi lần tôi bị xoay tròn. Tôi không nhớ tôi đã bị xoay bao nhiêu vòng trong đời chạy giặc, trong vòng đời cơ cực của Mẹ tôi. Bà lúc đó chỉ khoảng trên 20 gì đó. về sau, Mẹ tôi sinh thêm vài đứa em và Nội tôi đem tôi về nuôi. Tôi xa cha mẹ để về quê Nội.

Tôi về ở với Nội trong một căn nhà tranh nhỏ gần đường xe lửa, và trường tiểu học Trinh Tường, Phan Thiết là trường đầu tiên tôi gom nhặt mớ chữ nghĩa cho cuộc đời thơ ấu. Tôi lớn lên với những trận đá banh trầy da tróc vẩy với lũ nhóc trên ruộng rạ mùa khô, với những chiều coi xe lửa về từ Mương Mán chở đầy hành khách, và lớn lên từ mái trường tiểu học cho đến khi lên trung học bằng cơm gạo Nội tôi. Ngày tôi thi đậu đệ thất vào trường Phan Bội Châu, Nội tôi mừng rỡ cúng một con gà trống thiến tổ chảng. Bà hãnh diện về đứa cháu của bà.

Đến trường Phan Bội Châu, mỗi buổi sáng, tôi đi dọc đường xe lửa, qua khỏi ga Phan Thiết, theo đường Nguyễn Hoàng, qua khỏi chợ Phường là đến trường. Hai cực nối thời thơ ấu của tôi là mái nhà tranh Nội tôi và trường Phan Bội Châu. Con đường xưa tôi đi là đoạn đường xe lửa từ nhà đến ga Phan Thiết.

Khi tôi trưởng thành, tôi rời ngôi trường trung học để vào học tiếp ở Sài Gòn, và đó cũng là lúc tôi xa Nội tôi. Hơn 10 năm trời ở với Nội, tôi ra đi, để lại khoảng trống hắt hiu trong đời bà. Nội tôi đoạn ruột khi tôi rời ngôi trường Phan Bội Châu và mái nhà tranh mà cháu bà hủ hỉ có nhau.

Thuở ấy, tôi đi về Sài Gòn – Phan Thiết bằng xe lửa. Mỗi lần nghe tiếng còi tàu và tiếng toa xe sầm sập trên đường sắt, bà lại nhớ đến tôi. Những năm về sau, chiến tranh bắt đầu trở lại. Nội tôi chỉ biết khi nghe súng nổ, bà chui xuống hầm, hết tiếng súng, bà ra khỏi hầm, ngoáy trầu, tặc lưỡi. Bà cũng không hề biết chiến tranh đã cuốn hút thế hệ tôi vào lửa đạn.

Sau khi tôi vào Thủ Đức và lưu lạc đó đây, Nội tôi chuyển nhà về Xuân Phong. Cứ mỗi lần có dịp công tác về Phan Thiết, tôi đều ghé thăm Nội. Nội chỉ biết tôi đi lính, Nội không có ý niệm gì về cấp bậc. Tôi có cảm tưởng Nội vẫn nghĩ tôi là thằng nhóc của hàng chục năm trước. Nội coi đám lính theo tôi như mấy đứa bạn đá banh với tôi tự thuở năm nào. Có lần tôi về thăm bà, theo tôi là mấy người lính dưới quyền, bà kêu nguyên một gánh đậu hủ:

– Này, cháu múc cho mấy đứa cháu tôi mỗi đứa một tô! Tụi nó ăn bao nhiêu, tính tôi trả tiền! Tội nghiệp, cả năm nó mới về một lần!

Ngày tôi đi tù cải tạo, bà cứ thắc mắc tại sao quá lâu không thấy tôi về thăm bà. Mỗi lần giỗ chạp, mọi người về đông đủ, chỉ thiếu tôi, bà chống gậy hết ra cửa trước đến xuống cửa sau:

– Không biết sao thằng cháu nội của tao không thấy dìa, nó đi đâu mà biền biệt!

Trong lần lễ giỗ ông Nội tôi, bà vào ngồi buồn trên bộ ván nhà sau, rồi lại cũng nhắc đến tên tôi. Dường như không có tôi, bà thấy đám giỗ thiếu vắng một cái gì. Nhà trước đầy người, kể cả những nón cối, giép râu con cháu xa gần thời “cách mạng”. Bỗng không biết đứa nào đến gần bà, thì thầm vào tai bà:

– Nội đừng chờ anh Hai nữa! Ảnh bị Việt cộng bắt đi cải tạo 2 năm rồi, bộ Nội không biết sao?

Nội tôi lãng tai, nói lớn:

– Diệt cộng là bọn nào dậy? cải tạo là cái gì dậy bây? Mà tại sao lại bắt nó?!

– Nội nói nho nhỏ dậy! Việt cộng là mấy ông “cách mạng”, còn cải tạo là ở tù đó Nội!

Nội tôi thảng thốt, như nhận biết một cái gì không lành, bà bỗng tuột xuống khỏi bộ ván ngựa, bỏ ống trầu vào giỏ và chống gậy ra nhà trước. Mọi người đang ăn uống ồn ào, vui vẻ. Nội tôi thắp một cây nhang, tay run run cắm lên bàn thờ ông Nội, lâm râm khấn vái điều gì không rõ. Bỗng bà quay ra hỏi mọi người đang ngồi ăn:

– Thằng Hai cháu của tao nó hiền khô như cục đât, nó tội tình gì mà bắt nó ở tù hai ba năm không thấy dìa? Tụi bay biết nó ra sao nói cho tao nghe coi!

Bỗng có tiếng trả lời Nội, một người cháu nón cối, giép râu của bà:

– Ngoại đừng lo, cậu ấy là sĩ quan ngụy, cậu ấy có tội với nhân dân nên đảng gởi đi cải tạo, chắc không lâu đâu ngoại!

– Sĩ quan ngụy là cái gì? Nó làm gì mà có tội với nhân dân, nhân dân là cái gì hả? Đảng là thằng nào mà nhốt tù cháu tao cả mấy năm không thả? Thiệt là cái quân bất nhơn ác đức.

Nói xong, bà chống gậy ra nhà sau. Cả một bàn ăn trơ mắt nhìn ba. Bầy con cháu bà sau năm 75 là một tập hợp quốc-cộng. Giới nón cối giép râu chắc ăn không ngon vì những lời nguyền rủa của Nội tôi. Mấy ông anh bà con gốc lính “ngụy” của tôi nheo mắt nhìn nhau và bỗng cùng nhau đưa mấy ly xá-xị lên:

– Bà Nội vạn tuế! Bà Nội muôn năm! Dô! Dô! Dô!

Những năm sau đó, bà yếu và lẫn dần, song hầu như điều bà còn nhớ duy nhất là nhắc tên thằng cháu nội. Trong đầu bà là hình ảnh đứa cháu bà chắt chịu nuôi nấng, và cái quân thất nhơn ác đức nào đó là ai bà không có ý niệm rõ ràng. Thỉnh thoảng con chaú nghe bà chắt lưỡi:

– Thiệt là cái quân thất nhơn ác đức! Đảng là bọn nào dậy bây?

Khi tôi thoát củi sổ lồng, xa cách Nội tôi nửa vòng trái đất, mỗi lần nghĩ về quê hương là mỗi lần hình bóng Nội tôi ẩn hiện đâu đó trong ký ức. Trong những ngày cuối đời, Nội chỉ nhắc có tên tôi, buồn bã, đoạn ruột.

Nghe tin Nội tôi mất, tôi bồi hồi nhớ lại những ngày ấu thơ. Tôi bỗng muốn đi lại con đường quê cũ, con đường có bóng cây râm của những ngày trốn nắng buổi trưa, con đường của những ngày thơ ấu cắp sách đến trường, con đường của thơ và mộng, và hôm nay, dĩ vãng như chợt đùn đọng từ cơn mơ bất chợt hiện hình, tôi bỗng thấy vô cùng đớn đau, cay đắng khi biết mình không thể về lại cái nơi mà hơn 60 năm trước tôi gởi một nhúm nhao và một phần đời yêu dấu…

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 12 Nov 2025

6. Chương 6

Trở lại, thử tìm hiểu cảnh ngộ quan Phan khi đi sứ sang Pháp xin chuộc đất và thử so sánh hai vua:

Vua Pháp Napoléon III và Vua Tự Đức

Dẫn

Nơi bữa tiệc Chủ Nhựt 2 Novembre, anh em còn sót của nhóm Bách Khoa Thời đại, không kể tôi, có năm bạn là chủ gia (anh Lê Ngộ Châu), anh chủ nhà sách Khai Trí (Nguyễn Hùng Trương), chú nhỏ Nguyễn Q. Thắng, xưng là môn đệ, anh Lê Thanh Thái và Nguyễn Minh Hoàng, năm lương hữu đãi một tiệc thịnh soạn, và khi đèo xe ôm Q. Thắng đưa về, mấy câu Hoàng tặng làm cho tôi bùi ngùi, nào là: “Người ta chín chục thì già, riêng ông chín chục, vẫn là đương xuân”, và nào là: “Trời còn dành sắn mười năm, Để cho nợ bút duyên văn còn dài”…

Tôi xin thanh minh: ai ai lại khỏi già, và hề già, tức sức lực suy, tôi cũng không qua khỏi thông lệ ấy, duy tật ham nói khó chừa, nay xin bộc bạch. Bấy lâu, tôi thường nghe đầy tai lời trách quan Phan “làm cho mất nước” và vua Tự Đức là đứng đầu về tội ấy. Thấp cổ bé miệng, tôi có dại gì cãi họ, duy trong thâm tâm riêng tưởng họ chưa tới mắt cá quan Phan, và tội nói oan ai lỡ lời nấy chịu trách nhiệm. Từ ngày Giải phóng vô đây, thay vì ăn phở sáng, tôi nhịn tiền lục mua sách nơi chợ trời, vì vậy quen với Hoàng, và duyên may, tôi gặp nhiều sách Pháp và Việt, mà tôi cho là quí, tỷ như những cuốn hay bộ:

– Les premières années de la Cochichine của Paulin Vial (Challamel, Paris, 1874) tôi mua của Tuấn, giá 20 đồng, ngày 2-10-1978, mà thử nay có ai nài 200 ngàn, thà đối chớ tôi không bán; (mục lục vô sổ nhà tôi là 581B/IB;)

– L’Empire d’annam của Capitaine Ch. Gosselin (Perrin et Cie, 1904) mục lục số 437 B, cuốn nầy tôi có từ lâu, không phải mua tại Chợ Trời;

– Les grands procès de l’Histoire của Henri Robert (Payot, Paris, 1934) mục lục số 550m mua ngày 2-03-1978, ở Chợ Trời giá 3 đồng, nói nhiều về Napoléon III; – Histoires d’Amour de l’Histoire de France (Editions Noir et Blanc, 1965) của Guy Breton, một bộ 10 cuốn dày cỡ 300 trang, kể đủ chuyện tồi bại, đau bịnh kín, loạn luân của các vua chúa nước Pháp từ xưa đến nay, (không số mục quên già và khen Pháp đã cho xuất bản).

– Histoire de la Concession Française de Changhai của Ch.B. Maybon et Jean Fredet (Flon, Paris, 1929) (mục lục số 581-B/ter mua tháng mars 1977ở Chợ Trời, giá 15 đồng, sách này bị mối gặm nhưng hay kịp ngày 10-12-1978…)

Xin hỏi sách nói về tô giới của Pháp chiếm đất Tàu, nhưng đã bị Tàu lấy lại rồi, sách ấy có ăn thua gì đất mình mà hòng nói ra đây, nhưng sự thật, sách ấy quí và hay vô cùng, vì chính sau khi đọc, tôi mới hiểu đầu dây mối nhợ của sự Pháp qua chiếm đoạt đất mình, chưa ắt do quyết tâm và quả do một sự bất ngờ, cho hay theo tôi đã hiểu theo lối xưa và thơ vận mạng tỷ như nước ta không phải do người định đoạt mà một phần nào do sự định đoạt và sắp sẵn ở trên cao, theo dân ngu thường hiểu là do ông trời làm ra, và xin để cho tôi lần lượt trình bày ra đây, vả lại việc tôi viết đây, tôi không có ý chút gì gọi là khảo cứu và chẳng qua là viết để giải khuây để cho cháu con trong nhà thông hiểu chút ít những gì tôi thâu thập được, qua sách Hán đã có người hay giỏi như ông Trần Trọng Kim dịch sẵn (Việt Nam sử lược) và qua vài sách Pháp do tôi mua sắm, và tôi xin giải bày như sau:

Vào giữa thể kỷ thứ XIX, nước Tàu dưới triều nhà Thanh, bắt đầu suy yếu, không khác một ông khổng lồ to lớn mà có hai chưn bằng đất sết bệu xệ không chở nổi thân, và bắt đầu các nước Tây phương trở nên cường mạnh đông dân, nhờ có súng bắn xa và tướng binh hay giỏi, nên định địa, khai thác thu hoa lợi đem về nước mình, tỷ như:

– Nước Bồ Đào Nha, nhỏ bé mà sớm thấy xa, đã chiếm đất Ma Cao của Trung Quốc,

– Nước Đức thì chiếm miền Bắc nước Tàu làm hải cảng lớn thuộc tỉnh Sơn Đông và Uy Hải Vệ (Weihaiwei);

– Nước Anh thì chiếm Hương Cảng (Hongkong), v.v..

Từ bắt đầu năm 1840, có trận giặc nha phiến, binh Ăng lê đánh chiếm đất Tàu, vua Minh Mạng giựt mình, dặn dò cháu con không nên chơi với người mũi lõ da trắng, ông xa người Pháp và nều ông thắng tay bắt đạo, không dung dưỡng người Tây phương gieo rắc đạo mới, khiến cho dân bỏ tục thờ cúng ông bà tổ tiên, theo tôi, đó là quyền của ông, nước Pháp, dưới triểu Napoléon III, sắn người hay giỏi phò trợ, nên kéo binh đi “chia thịt” của nước Tàu, Pháp xua binh toan đánh chiếm quần đảo Formose (Đài Loan), nhưng tướng Rigaut de Genouilly đánh Tàu không thấy thắng, đang khi bối rối ngã lòng, lại được có người chỉ chọc, nên kéo binh qua kiểm chuyện là binh vực đạo mới, đánh thắng binh ta và thấy thế ta yếu, ăn quen làm già, tế ra cái rủi là Tây thua bên Tàu qua đây gỡ thẹn rồi xâm chiếm, và vua Tự Đức, bình sanh chỉ hay giỏi về chữ nghĩa thi thơ, trong nước lại không người giỏi về binh bị, cái trung cang nghĩa khí có thừa, mà lấy tầm vong vạt nhọn và súng hỏa mai khọt khẹt bắn không được xa, lấy những binh khí yếu hèn ấy mà chống với súng mousqueton từ xa bắn tỉa đến và lấy dao cùn mác lụt mà đâm tàu sắt tàu đồng, thì xin hỏi có ông nào tướng nào đủ thay vua Tự Đức, thay ông Nguyễn Tri Phương? Và có ông nào thay ông Phan Thanh Giản mà làm hơn ông bao giờ?

Tôi xin lẩy những gì tôi đã đọc và thấy, trình bày ra đây để chư độc giả lấy bình tâm và công tâm dạy cho hoặc xét lại theo sự hiểu biết và thông cảm của người đời nay đổi với việc xưa triều vua Tự Đức:

Tôi nay đã quá già, nên không còn hơi sức đâu mà nhắc lại những chi tiết vặt cạnh của cuốn Histoire du Consulat de Changhai, dày đến 458 trang, giấy khổ 31×25, tôi chỉ nhớ sơ lược chính người Pháp giữa thế kỷ XIX, ý có binh ròng tướng mạnh, quyết tâm chia xẻ nước Tàu với những cường quốc khác, rồi khi gặm nhắm Trung Quốc không xuể, Pháp bèn day qua làm thịt nước Nam của chúng ta, và rốt lại, vì đánh không thắng nổi Tàu, mà ta bị mất nước, và lời nói ngạo mạn của Pháp “Người lang sa là những kẻ rất dốt về môn sử địa”‘ lời nói giả ngộ mà có thật:

– Một lần muốn nuốt Tàu, nuốt không vô, day qua xơi ngon đất Nam kỳ lục tỉnh!

– Một lần đầu, lối 186… tưởng sông Cửu Long thông được tới Vần Nam, Tây đánh đoạt Nam kỳ, làm cho chết một Doudard de Lagrée và một Francis Garnier;

– Một lần nữa, lối 1884, tưởng Nhĩ Hà sẽ đưa lên đất Tàu, khiến chết một đại tá Henri Rivière, và lần chót, trận Điện Biên Phủ, ta đã được phục thù và không quên ơn lớn của binh đội Cộng sản V.N. mà Tây cũng vì khinh người nên như vậy.

Tôi nhớ đại lược và viết sơ lược lại đây nghe chơi, tỷ như Henri Rivière, mình ngồi trên ngựa cao lớn, tưởng là vững chắc, nào ngờ đã bị một dõng sĩ của phe Cờ Đen, (Lưu Vĩnh Phúc cầm đầu), dõng sĩ ấy tay cầm dây đại kỳ có kết móc sắt bén nơi bìa, thình lình phất mạnh cây cờ vào mình H.Rivière và kéo xển y ta xuống đất, binh Tây cứu không kịp, binh Cờ Đen chạy ra chặt đầu Rivière, bêu lên cao, tin nầy khi qua tới triều đình Pháp, thì Nội các đổ, Nội các khác lên cẩm quyền và bày cuộc bắt thăm hỏi ý kiến nên chống giữ đất Bắc kỳ, hay nên trả lại cho nước ta, thì chi có 274 thăm quyết giữ, và 270 thăm nghị trả đất, té ra cuộc bắt thăm ấy chứng tỏ triều đình Pháp lúc ấy cúng phân vân lưỡng ước, và than ôi, nước Nam ta bị lây đô hộ tám chục năm là chỉ tùy có BỒN LÁ THĂM, nhưng nói cùng mà nghe, tính qua lợi hại, theo ý ngu tối của tôi, từng bị đè đầu mới sáng mắt ra và dưới đây, tôi xin so sánh và luận qua giữa hai vua Nam và Tây, xem ai đạo đức và ai là gian xảo:

Trước luận sơ về vua Tự Đức và tình hình triều Nam thời ấy.

Tôi đọc quyển l’Empire d’Annam của Ch.Gosselin, tôi thầm phục ông Tây nầy, qua đây không bao lâu mà thông hiểu chuyện nước ta hơn chúng ta rất nhiều, tôi xin tóm tắt đại lược, theo những trang tôi đã đọc:

– Vua Gia Long băng năm 1820, thọ vừa lối năm mươi, để lại 9 trai và 8 công chúa;

– Vua Minh Mạng, té ngựa đau và mất năm 1841, thọ vừa bốn mươi, có rất nhiều vợ và để lại đến 71 con, trong số có 49 ông hoàng tử. Trong những ông hoàng nầy, thử kể lại tỷ như ông Thọ Xuân Vương, có đến một trăm người con.

Ta hãy xét thử ông giàu bao nhiêu, của để lại theo tôi hiểu, làm sao chia ra nuôi sống đầy đủ cho khắp các ông hoàng và các bà chúa kia, cái tệ hại giỏi nhảy cái mà quên lo hậu vận cho các con sau nẩy, và người Tây, khi vua Hàm Nghi bỏ ngôi, lại cử ông Thọ Xuân Vương nầy làm nhiếp chánh coi việc nước, thì kết quả ra sao, tưởng không cần nói cũng thấy vận mạng nước đến thế ấy là cùng;

– Vua Thiệu Trị, không được thọ, băng năm 1847, ở ngôi chỉ bảy năm, tuổi ngoài ba mươi, yểu quá, nhưng vẫn có đến 26 người con, trong số có 14 ông hoàng tử;

– Vua Tự Đức lên nối ngôi, thọ trên năm mươi, anh của ông là ông hoàng Bảo, bị mất lên ngôi vì không phải con dòng đích, hoàng Bảo thêm bị hại là làm chết luôn cả dòng, rồi vua Tự Đức, khi băng hà, vợ có hai bà hậu và kể 103 người vợ, mà không sanh được một mụn mọn nào, – lời dân truyền lén “tuyệt tự vì tội sát huynh, cốt nhục tương tàn” – đầu dây rắc rối, tranh giành, chiếm quyền và dòng Nguyễn Phúc đến vua Tự Đức là không còn độc lập, các ông kế vị, đều là vua ăn lương của Tây, bất xứng, trò hề. Nên ghi lại đây gương bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức, thọ đến 94 tuổi, mất năm 1901, đã mù và điếc, nhưng chứng kiến xiết bao nỗi khổ tâm, trải qua ba vua nhỏ Dục Đức (bị bỏ chết đói trong khám tối, làm vua chỉ mấy ngày), vua Hiệp Hòa rồi vua Kiến Phước nối tiếp, kẻ bị siết họng và vùi thây, người bị đầu độc chết trên giường bịnh và bà Học Phi (vợ vua Tự Đức lại ngậm điếu thuốc đã có Nguyễn Văn Tường hút trước tiên, nhưng án tư thông được ém đi vì Học Phi là mẹ nuôi vua Đồng Khánh), Gosselin lại kể chi tiết rành rọt các hoàng tử con vua Thiệu Trị, nhưng tên không chấm dấu, tôi xin chép lại đây làm tài liệu cho người viết sau sẽ bổ túc.

Ngoài Hường Bảo và Hường Nhậm (Tự Đức) là hoàng tử thứ 3 con vua Thiệu Trị là Hường Phu, vào năm 1885 đã 53 tuổi, vua Tự Đức rất yêu, vì bề ngoài ông hoàng nầy thùy mị mà bề trong rất là xấu tệ, ông dung dưỡng để con hư và chỉ thích nhắc lại những trắc nết của các bà tôn nữ;

– Ông thứ 4 là Hường Y, sanh năm 1832, mất năm 1885, chính là cha của ông Ung Cai (Ung Dien) được vua Tự Đức nhận làm con, tức vua Dục Đức, cha vua Thành Thái;

– Ông thứ 5 là Hường Tho, đúng là một hiền giả, chỉ thủ gia, cặm cụi ham văn thi;

– Ông thứ 6 là Hường Hun (sic), (có lẽ là Hựu, sách in lầm là Hun?). Vua Tự Đức rất yêu và ông hoàng nầy chỉ thích hát bội và có sắm gánh hát tại gia, ít xa xí;

– Ông thứ 7 là Hường Kien, nhờ bán nha phiến lậu mà có dư tiền, ông vượt lễ độ, sống chung với một bà công chúa đã có chồng, ông bắt sống về chung chạ, rất trái với phong tục cổ lệ trong nước;

– Ông thứ 8 là Hường Pho, thông minh, cao thượng, rất xứng được lên nối ngôi báu;

– Ông thứ 9 là Hường Dinh, nợ như chúa chồm, đủ tật xầu, duy là một ông hoàng dám đối đầu chống không nể uy ông Nguyễn Văn Tường;

– Ông thứ 10 là chính ông vua sau nầy xưng là Hiệp Hòa, nối ngôi tiếp Dục Đức;

– Ông thứ 11 là Hường Cai sanh 4 hoàng tử, đã có câu truyền tục trong dân gian: “một nhà sanh đặng ba vua: một còn, một mất, một thua chạy dài”, là ông nầy.

Các hoàng tử khác, ông Gosselin không kể lại, vì thảy đều mất sớm và Gosselin kể vì vua Tự Đức không con, nhận cháu làm con, sanh ra sự hiềm tỵ ganh ghét giữa anh em có con được vua nhận làm con ấy và một buổi sáng sớm năm 1875, có tin đồn ông hoàng Hường Cai, đã chết trên giường ngủ cổ họng đứt… có một cây dao cạo đặt trên tay, nhưng cái chết nầy là một nghi vấn, tuy vẫn cũng có tin đồn ông hoàng nẩy tâm tánh bất định, gần như loạn trí…

Làm sao truy tố ông hoàng nầy chết oan bị giết, hay chết ưng, chính ông tự cắt họng… trong nước Nam nầy, nào là đầu độc, ám sát, là cũng vì tranh giành cái ngôi vua kia và chính vua Đồng Khánh sau nầy, đã từng thố lộ: “ngôi cửu ngũ xiết bao nguy hiểm, một khi rơi xuống, có xứng đáng gì mà phải lượm lên”.

*****

Couronne royale, suprême bandeau, – disait Dong Khanh à un ami, un jour d’abandon, – emblème du pouvori et symbole du Malheur, qui saurait bience

Ấy, việc trong nước, làm sao tôi hiểu cho bằng người tại đất Thần kinh Huế đô, tôi chỉ là con két thuật nhón lại những gì đã nghe ngoài ấy và đã đọc trong sách Tây mua được, và thuật lại nghe chơi, chính Gosselin viết (trang 32) khi băng hà, vua Tự Đức để lại vừa vợ, vừa cô hầu, vừa cung nữ từng được vua để mắt, kể cho là 103 bà, thì năm 1901, còn sốt lại nơi Khiêm lăng là 47 bà coi việc nhang đèn thờ vua, và khi tại vị, vua mỗi nhựt, có 47 bà hầu hạ: 30 coi về canh trực, 13 bà lo về bếp núc, lo việc y phục, phòng the, chải tóc cho vua, săn sóc móng tay, lo việc châm thuốc hút và mài mực, dâng bút, dâng giấy cho vua phê viết, v.v.

ngoài ra kể về đức tánh. V.N.S.L. Trần Trọng Kim ghi lại lời ông Thân Trọng Hue, tánh vua Tự Đức vốn hiền, nội thị châm thuốc, lỡ làm phóng tay, vua tha thứ, vua thích đi săn là luyện tập võ nghệ theo ý vua không nói ra, vua chơi đầu hồ tài hay giỏi, không ai qua, đó là tập tánh nhẫn nhịn, nhưng đánh đầu hổ, ngày nay nào ai chơi nữa, và nay chỉ thích thể thao đánh vợt chơi túc cầu, vua rất thiện nghệ về lục bát tám câu, vua thông chữ Hán hơn các quan khoa bảng trong triều, nhưng vua chỉ ở trong cung hú hý cùng phi tần, việc triều đình, Nội các thì không đủ tài, ngày nay sao cứ trách vua? Quan văn, quan võ đều trung thật nhưng phong trào đã biến đổi, tàu đồng sắt từ phương nào tới đây, người dị quốc đem đạo mới đến khuyến dụ truyền bá, ăn cơm ở đây mà lòng mong chiếm đất đã làm ra cơm, quan văn như Phan Thanh Giản, thì một chén á phiện đền nợ.

Thử xét về vua Napoléon III của đế quốc Pháp

Luận theo bây giờ, chớ chi đời Tống, không bị nịnh thần Thái Kinh lộng quyền, ở trong nước và không bị ngoài nước, binh Phiên xâm lăng, thì vua Huy Tông sẽ là một trứ danh đại họa sĩ ngự trị làm một vị hoàng để thuở thái bình, và chớ chi ở xứ ta, không có binh Pháp qua xâm lắn và không có Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường chuyên quyền, thì nước ta đâu có điêu linh và trước đó vài năm, vua Tự Đức sẽ giữ yên xã tắc làm một hoàng dế kiêm thi sĩ tài hoa cái thể, nhưng sự đời đâu có suôn lành như lý tưởng được, và sanh chi ở nước Pháp có một vị hoàng đế hư hỏng không chỗ nói là ông Napoléon III, nhưng vì có binh túc, thêm có tướng cao tài, lại có tay trong, người đi giảng đạo không lo việc kinh kệ, lại xen làm chính trị, làm tay sai quyết giựt nước ta làm ra thuộc địa, Napoléon III nầy vì binh lực mà nên mà cũng vì binh uy lạm dụng và hư việc đến hư nước, hại thân, và liên lụy khiên vua Tự Đức không làm được một thái bình thiên tử và phải chịu mang tiếng kém tài, làm mất đất và hư việc nước, ông nào đáng thương, ông nào đáng trách, xin kể những gì tôi hiểu về vua Pháp nầy và xin chừa cho chư quí độc giả, lấy bình tâm và công tâm so sánh và xét lại; các việc như kể dưới đây, dường như “chuyện không mà nói có”, nhưng tôi xin thưa đó toàn là chuyện có thật, từ các tác giả Pháp đã ghi trong các sách đã kể từ trước, và tôi cứ dịch thuật lại như sau.

Trong tự điển Petit Larousse ghi rõ, thì bà Hortense vẫn là con đẻ của hầu tước de Beauharnais. Vợ ông nẩy, sau khi chồng mất, đã gặp và trải qua nhiều tay tướng làm cách mạng năm 1789, rồi mới cặp với đế lẫy lừng Napoléon ler.

Như vậy bà Hortense là con ghé, gọi Nã Phá Luân là dưỡng hoàng. Nhưng bà lại kết duyên với bào đệ là Louis Bonaparte, cho hay bên nước Pháp, việc kết hôn tắng tịu làm vậy, âu cũng là một thế biến của một thế hệ loạn li bên ấy. Khi bà sanh một trai sách sử vẫn ghi “con không cha” (né de père inconnu), nhưng lấy sang làm họ, cứ nhìn là con của Louis-Bonaparte, được gọi để Napoléon ler là bác, và vì con trai của để, rủi mất sớm vì đầu quân, qua châu Phi, bị giặc mọi hạ sát, cho nên con của Hortense, nối nghiệp của người bác, tiếp ngôi Napoléon II, nên tự xưng là Napoléon III, chớ sự thật là nạ dòng.

Vả chăng sách sử của Pháp, rất là tự do ngôn luận, tự do xuất bản, không giấu giếm, không che chuyện xấu, dầu cho của vua chúa cũng vậy, cho nên ngày nay còn đọc được những chuyện nhơ nhớp của ông vua bác và của ông vua cháu nẩy, thật là nay chép lại còn ngại ngùng, tôi xin cứ y chép lại làm tài liệu và tóm tắt.

Đế Napoléon ler, rất thích được gần đàn bà. Đế rất có tài về chiến thuật, nhưng khi cao hứng muốn gần phụ

nữ, thì bất kể hồ sơ khẩn cấp, bất chấp tướng to tướng bé, thống chế đến cũng hẹn và đẹp qua một bên, để tung phí vãi tiền cho phái đẹp, ông thích nghe chuyện lí lắc trêu cợt, chuyện ti tiểu nói về chiếc nệm lót giường, đế không nệ đùa giỡn với các cô trẻ nơi sân Malmaison, và để có nhiều ái cơ vụng trộm, nhiều hơn cả Louis XV, Francois 1 và luôn cả Henri IV. Các việc ấy, đọc sử chơn chánh, làm sao biết được.

Qua đến đời ông vua cháu thì mới thật là loạn, loạn xà ngầu, thử hỏi: “vua Tự Đức chịu mang tiếng của đời sau là làm cho mất nước, vua có đến 103 người hầu hạ gối chăn, nhưng dầu sao, vua là thừa mạng trời “thể thiên hành đạo” có vợ nhiều (đa thê) nên không nghe có chuyện loạn luân, còn đế của Pháp, giữ tục “độc thê”, thế mà “vì do dân chúng bầu lên, gọi là “thọ mạng ư dân cầu” luật dạy một vợ một chồng, thế mà ông này bất chấp vợ của ai, và vẫn “quân loạn thần thê”, ông có hơn hai trăm nhơn tình bất chánh, xin hỏi

vua nào đúng đắn, vua nào bê bối, đã bê bối thế mà cho binh qua đây gọi là giáo hóa dân ngu, xin chép:

Một câu Pháp văn chép nơi chú thích dưới đây, tôi ráng dịch để làm bằng chứng:

“Dưới triều vua Napoléon III, thời Đệ Nhị đế chính, các mạng phụ phu nhơn nào vào chầu vua, đều không phải là thiết thạch sắt đá. Dưới lớp váy mỏng vải thô, họ vẫn bào hao hậm hực muốn chầu vua cho thật xứng đáng với tấm lòng háo hức hiếu dâm của vị để của nước Pháp, tức hoàng đế Napoléon III nầy. Đế mang nặng chứng luyến ái cuồng cao đến cực độ: mỗi khi để thấy một chiếc váy là để lên cơn nồng nhiệt khó dằn, khiến nên từ năm 1852 chí đến năm 1870, các mạng phụ, một số lớn, đều ưng làm mồi cho sự dâm loạn của đế và các cuộc “rồng giỡn sóng nầy”, thật là khó tả: trên rương hòm, lấy mặt rương làm chiếu, khi chen giữa hai cánh gà kẹt cửa, khi đề cạnh bàn cũng xong, khi thì sau bức màn the cũng gọn, hoặc trong chiếc ghế bành, hoặc kê vào vách đứng, hoặc núp cạnh lò sưởi lò hơ, chéo giường nằm, đáy tủ áo, mặc cho cuộc mưa Sở mây Tần, sống nhồi mặc sóng, rồng đoanh mặc rồng, cho hay cái yếm che yếu sịu và bạc nhược của nữ nhi lại hóa ra có một cường lực vô biên, mà vẫn mang tiếng yếm mang quần vận. Có thể nói không lầm và có ngờ đâu các vế non đùi nhớt của đám phụ nữ thời ấy, và trong suốt thập bát niên nghiêng ngửa, vẫn là năng lực phi thường của nước Pháp hùng cường dũng mãnh. (dịch ngay trên máy ngày 26-11-1990).

Và chỉ có một bà cao tay ấn, trị được ông vua số đú nầy.

Bà kiên quyết không để cho đế xúc phạm trinh tiết, bà mạnh dạn khước từ và trả lời cho đế, rằng “muốn việc ấy phải đứng trước bàn thờ chúa trước đã!” và đế thét… phải chịu phục thiện và làm lễ cưới bà, tôn làm chánh thất hoàng hậu, và đó là bà Eujénie de Montijo, tôi sẽ nói nhiều nơi đoạn sau.

Cho hay, đời xưa như đời nay, gẫm lại vẫn còn trong vòng “thiên địa tuần hoàn” cũ rích! Mặt sắt như Từ vương mà cũng chết ngây, chết đứng với một nàng Kiều: Kiểu than một tiếng mà tự nhiên thây kia ngã xuống!

Bên Pháp, cũng vậy, tôi xin dài dòng nhắc lại nghe chơi.

Trước tiên, nên kể gương Napoléon ler, tôi gọi là ông vua bác. Thời Cách mạng năm 1789 để lại cảnh suy đồi, dân chém vua và chặt đầu vợ vua bằng gươm máy. Một viên quan hai vô danh, từ mặt trận, may thời gặp và kết đôi với bà Joséphine mà lên lần đến ngôi sang hoàng để. Lên ngôi rồi, ông toan phải có con để nối nghiệp đế, ông chê bà Joséphine là chai lơ, nên phế đi và chọn bà Marie Louise trinh trắng, tôn làm hậu, sanh được một hoàng tử, rủi không được thọ, và hoàng tử nẩy, khi mất, sử tặng hiệu là Napoléon II (1811 – 1832).

Đến lượt xuất hiện ông kế nghiệp, sử tôn hiệu là Napoléon III (1808 – 1873). Ông nầy, tôi gọi “vua cháu”, vĩnh viễn, ngờ đâu, sáu năm sau (1846), ông giả làm thợ nề, ông vượt ngục thất là thành lũy kiên cố Nam, (trong những năm trong tù, ông dan díu với một con đòi đem cơm, sanh được mấy con, không nhìn nhận, sau ông tặng tiền, và cho lấy tên theo họ mẹ), ông qua Anh quốc, ông làm tình với một danh kỹ nhan sắc tên Noward, cô này rất giàu, và không tiếc của, mấy lần bán lâu đài, biệt thự, bán nữ trang quí giá, giúp ông tận lực tận tình, ông dùng các số tiền lớn nầy, ông trở về Pháp năm 1848, được cho ra tranh cử, ông được đắc cử làm đại biểu cho nhiều quận, nhiều trấn, rồi lần hồi, nhờ khéo vận động, nhờ uy tín dòng họ, nên ngày 10-12-1848, dân Pháp cử ông giữ chức “giám quốc”. Cách ba năm sau, ông đẹp xong nhóm dân chủ (républicains) và sạch nhóm vương quyền (royalistes), ông lật đồ đại hội của chánh phú (assemblée générale), ông đảo chánh, bày cuộc trưng cầu dân ý và ông được dắc cử, qua năm kế đó, ông xưng hoàng để, đồ là “đệ nhị để chính” (Second Empire) của Pháp quốc.

Phải nhìn nhận ông có công thâu về cho Pháp hai quận Savoie và Nice (1860), đời cai trị của ông có thể chia làm ba đoạn, từ 1852 đến 1858 là độc quyền làm vua, từ 1858 đến 1867 ông nới quyền cho dân chúng lo việc nước, và từ 1867 đến 1870, là thời đế quốc khoan đại (Empire libéral).

Ông cho làm nhiều công tác hữu ích, khuyến khích nông trang việc canh nông, mở mang kinh tế và thương mãi, sáng lập ngân hàng, xây dựng cơ sở học hiệu, dưỡng đường, v.v.., các việc ấy ông có công với nước của ông, còn đối về ngoại giao và riêng nước chúng tôi, quả ông hám tiền, quyết biến nước tôi làm thuộc địa, lấy tiền phạt vạ chiến tranh để ông bồi đắp những thâm thủng quốc khố của ông, ông gieo rắc những gì văn minh mới, phá mất văn minh đạo đức cũ, tội của ông đối với nước tôi, ông mất ngôi, vì quá ham chiến tranh và vì quá ham gần đàn bà, cả ông và cháu, hai vua vì sắc, vì háo chiến mà hư nhà, hại nước, sau đây tôi xin lược kể về bà hậu Eugénie de Montijo do ông chọn làm hoàng hậu nước Pháp, và chính bà từng dự kiến cuộc sứ bộ quan Phan vào yết kiến vua Napoléon 111 để xin chuộc đất.

Nhắc lại vua Pháp, lên ngôi vua rồi, vội quên mối tinh cũ là bà Noward, ông vẫn đi lại nhưng không phong làm vợ chánh thức, ông buông lung từ khi lập hậu, ông giữ được đoan chính vài tháng, rồi ngựa quen đường cũ, bà Eugénie cũng không kềm chế ông được, ban đầu bà ghen, cấm không cho ông gần gũi, ông lại được cớ sai lập riêng cơ ngơi ở đường rue du Bac để tiếp xúc với cái lạ, và lạ thay bọn đắt mối lại lén lấy xâu trước, thành thử tuy làm hoàng để mà nào được thưởng thức nước tiên. Bà Eugénie thét cũng ngà lòng, lại day qua giành tham gia việc chánh trị, một lần bà đốc phách vua nâng đỡ và đưa hoàng thân nước Áo là Maximilien, cùng vợ, qua làm vua xứ Mễ Tây Cơ, nhưng việc ấy thất bại, hại cho Maximilien bị dân bản xứ xử bắn (năm 1867), vợ vua Maximilien, khi hay tin chồng bị xử tử, bà bị bịnh loạn trí, nhưng sống đến năm 87 tuổi mới lìa đời, chết đau thương uất hận chồng bị bắn vì trót nghe lời Napoléon III nửa chừng bỏ cuộc. Trong trận gây chiến với nước Nga, gọi trận giặc Crimée, nghe lời theo Anh quốc và Hồi quốc, để bị thua (1854-1856), đã mất uy tín nước, thêm tổn hại công quý, cũng vì vậy nên để gỡ gạc lại xua binh qua dánh chiếm nước tôi (trận chiến ở Nam kỳ 1859 – 1862, chiếm ba tỉnh Miền Đông) và năm 1857 – 1860) binh Pháp theo với binh Anh sang đánh nước Tàu, các trận chiến ấy đều có tay bà hoàng hậu Eugénie vụ tất việc chánh trị và đốc xúi, và lòng hiếu chiến không nguôi, Napoléon III tự cầm binh đánh trận ở Sedan, binh đại bại, ông phải đầu hàng (1-9-1870), ông bị truất phế nhưng khỏi chết, cùng vợ và hoàng tử mang tế nhuyển, lui về ẩn nơi Chishurst (Anh quốc) kéo dài cuộc sống tủi nhục đến năm 1873, ông mới chịu lìa trần… Tội nghiệp cho con ông, vừa tuổi hai mươi, đầu quân làm thiếu úy, dẫn binh qua châu Phi, bị binh mọi đen phục kích giết chết, tóm lại ông vua bác bỏ bà Joséphine cưới bà Marie-Louise, và ông vua cháu, quên tình tấm mẳn của bà Noward để cưới bà Eugénie, cả hai đều lụy vì sắc, mà sử không nói và tôi thày lay đã trễ!

Viết đến đây tôi tạm ngưng đánh máy, để nhìn nhận: đọc sách ngoại sử cũ của Pháp, thấy tình hình bên triều đình Pháp, một ông vua không xứng đáng, lại tự tung tự tác, bê tha loạn luân là làm chánh trị theo ý riêng của mình, tung hoành dâm đật, và nhơn đọc bài của thủ lãnh tài ba của luật sư đoàn Henri Robert’ tôi lại rõ chánh phủ Pháp thời ấy vẫn trong tay một đàn bà không trị được một ông chồng quá ư ham trăng gió đã để cho việc nước lọt vào tay khăn yếm, và ông Henri Robert đã kết tội bà Eugénie, nhưng tôi tưởng lại bà nầy đã đền tội, vì sau khi chồng từ trần và con bị mọi giết, bà bơ vơ kéo dài cuộc sống bi thảm ấy mãi cho đến ngày 2 juillet 1920, bà mới chịu lìa cuộc đời trần ai nầy, và tác giả thủ lãnh luật sư đoàn, tức nhiên là một cây bút nghiêm trang đứng đắn, ông đã hạ bút viết: “Bà Eugénie, vẫn có xây ghế, tin tưởng như lời ma mị và khi thác, đúng như lời tiên tri của một bà thầy coi tay bohémienne năm xưa, bà có số đỏ, lên cao như diều giấy, chết già gần gần được trăm tuổi, nhưng chết sầu bi tăm tối như đi đêm.

Cộng sơ và so sánh lại:

– Một hoàng hậu của vua Napoléon III (Eugénie de

Montijo) sống 94 tuổi,

– Một hoàng hậu vua Maximilien, vợ chồng đang sống như cặp uyên ương hạnh phúc, lại nghe lời xúi giục của cặp vợ chồng vua Pháp, ông Napoléon III nẩy, rồi qua Nam Mỹ làm hoàng đế xứ lạ để rốt lại, bị vua Pháp bỏ rơi không gới binh tướng cứu trợ, Maximilien đền tội tham ngôi cao để bị dân Nam Mỹ xử bắn, bà vợ khi hay tin dữ nầy thì loạn óc và sống đến 87 tuổi mới từ trần, gẫm thọ dai làm chi, chỉ đầy nhục, ưu, và nghiệp dĩ, rồi nhớ lại việc nước Nam mình, bà Từ Dũ, hoàng thái hậu, sanh đồng thời cũng thọ 93, 94 tuổi, từ trần năm 1912, hai bà kia vẫn yên mồ yên mả, bà bên ni, vừa rồi lăng mộ bị quân mất dạy lén đào không được yên mồ yên xác, như vậy sống lâu cũng không nên ham, và thà mồ đất lâu ngày thành bình địa mà vẫn hơn mộ đá, mộ ô dước bị cuốc bị đào (28-11-1990).

Trong quyển l’Empire d’Annam của Ch. Gosselin, ông là đại úy đã từng cầm binh qua đây ruồng kiếm ông tẩu quốc Hàm Nghi, khi hay tin sứ đoàn Phan Thanh Giản sang Pháp chuộc đất, Gosselin chơn thật đã từng hạ câu:

“Vua Tự Đức, vì hiếu đạo, sai qua xin chuộc đất có mồ mả tổ tiên, nhưng chuộc đất sao được, vì chúng tôi là kẻ đi chinh chiến, cướp đất để làm thuộc địa, ai văn minh, ai là lạc hậu, đã rõ rồi” v.v..

Trong quyền “les Premières de la Cochinchine” của Paulin Vial (Challame, Paris, 1874), tôi nhớ có đọc, ông E. Vial độc nhãn vì bị binh ta bắn trận Kỳ Hòa, ông “Dách cô ngạn” nầy, sau giải bình, ra làm đầu văn phòng của Phó Soái Nam kỳ, cũng có nói và khai thật: “Vua Tự Đức sai Phan Thanh Giản đi sứ và căn dặn phải nài hạ bớt tiền phạt vạ chiến tranh, một một hai hai phải than nghèo, phải than nước không đủ tiền… và phải nói làm sao cho Pháp ưng nghe mà bớt tiền phạt vạ…”, lời chỉ thị của trên ban như vậy, một ông già đã trên bảy mươi tuổi đầu, gới ông đi sứ qua Pháp, giữa đám hạm sói thèm máu hám tiền, lấy đạo nhơn đạo ái của Khổng học đã dạy, ông già nầy can đảm lãnh mạng vì tin nơi lời hứa xin xỏ của đề đốc Bonard, nhưng khi qua tới bên đó, Bonard đã không còn, còn lại một ông vua mắc bận nghi hè, phải đợi hơn tháng vua mới về và cho yết kiến, vua hẹn cầm chừng, “đẩy cây”, “Hãy về đi, hãy để cho nội các, triều đình nghị lại”, ông già mục kiến Pháp phô trương lực lượng và tiền hóa, theo tôi nghĩ bụng, mười ông già có miệng lưỡi khác cũng vậy, và mấy ông ngày nay, ngồi trong nhà, bàn việc xưa nay, xin hãy vào thử thay ông Phan Thanh Giản, trước khi phê bình và chê trách.

Tôi đã viết nhiều và viết từ trước, chuyện của quan Phan và chuyện của Tôn Thọ Tường, nay tôi không trở lại. Tôi viết bài nầy được 14 trang, viết ngày 24 đến nay 28, ngoài cửa cổng nhà, hàng rào tre bị đập phá và che bít cửa ra vô, sáng nẩy 28, mở cửa ra, thấy hàng rào, đã thừa đêm tối có ai kéo qua chỗ cũ mà chưa ai dựng lại, tế ra người lối xóm, muốn làm gì thì làm, tôi vẫn đánh máy đủ vui và đủ quên mọi việc.

(viết ngày 28-11-1990)

Xem tạp chí Nistoria số 250 tháng 9 năm 1972, bài của André Castelot viết *La fin tragique de Maximilien, empereur du Mexique, từ trang 147… (Chớ chi gương nấy đủ làm cho Napoléon III bớt hiếu chiến và chớ chi việc xảy ra trước khi có cuộc binh đao giữa Pháp và nước chúng tôi).

tempéraments qui correspondaient d’silleura parfaitement aux exigences démesurées de Napoléon III.

L’Empereur était en effet un érotomane qui entrait en transes à la vue du moindre jupon. Aussi, de 1852 à 1870, les femmes de la Cour furent-elles les maitresses du pouvoir. Prises svec ivresse – sur des coffres, entre deux portes, sur un coin de table, derrière un ridesu, dans un fauteuil, contre un mur, sous le manteau d’une cheminéc, au travers d’un lit ou su fond d’un placart, elles tiraient de leur apparente faiblesse une authentique puissance. Et l’on peut dire, aussi étrange que cela pyisse paraitre, que ce sont toutes ces cuisses légères qui constituèrent pondant dix-huit ans le bras séculier de la France.

(Histoires d’amour de l’Histoire di France par Guy Breton, volume X, page 10).

… les femmes qui fréquentaient les Tuileries sous le Second Empire, n’étaient pas de pierre. Elles cachaient sous leurs vastes crinolines de redoutables

que tu caches de soucis, de dangers, de misères, ne voudrait pas seulement si tu tombais, te ramasser (trang 234 sách Gosselin dẫn thượng).

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 12 Nov 2025

Bài 31

Quần đảo Salut – Chiếc bè trong ngôi mộ (tt)

Chỉ còn thiếu có thế nữa thôi để làm cho tôi bình tâm lại sao? Giấc chiêm bao của Juliette! Làm như thể tôi chưa đủ rối trí với những vấn đề gay cấn trong cõi thực, còn phải thêm những vấn đề trong cõi mộng nữa? Bourset nói là anh ta có cảm giác bị theo dõi thực sự. Chúng tôi đợi cái bộ phận cuối cùng của bè – cái mảng dài một mét rưỡi – đã mươi lăm hôm nay. Naric và Quenier nói không thấy có gì bất thường, nhưng Bourset vẫn không chịu làm cái bộ phận kia. Giả sử nó không có năm cái khớp phải đục chính xác từng ly, Matthieu có thể đem ra vườn làm. Đằng này những cái khớp ấy phải lắp cho sít năm đường nẹp của chiếc bè. 
Vì Naric và Quenier đang phải sửa chữa ngôi nhà nguyện của trại cho nên có thể dễ dàng đưa ra đưa vào rất nhiều vật liệu trong xưởng. Hơn thế nữa, thỉnh thoảng họ lại được dùng một chiếc xe trâu nhỏ. Phải lợi dụng cho được dịp may này. Bourset bị chúng tôi thúc giục quá đành phải làm một cách miễn cưỡng. Một hôm anh ta nói là biết chắc có người đã lấy cái mảng bè ra xem rồi để lại chỗ cũ. Chỉ còn một cái khớp phải đục ở đầu mút. Mọi người quyết định là anh ta phải đục cho xong, rồi giấu cái màng dưới tấm ván ở bàn mộc, ở trên để một sợi tóc để xem thứ có ai động đến không. 
Bourset đục cái khớp, rồi đến sáu giờ anh ta ra khỏi xưởng sau cùng, sau khi đã biết chắc là trong xưởng chỉ còn tên gác. Cái mảng bè đã để ở chỗ quy định với sợi tóc đánh dấu. Đến mười hai giờ trưa tôi có mặt ở trại, chờ những người làm ở xưởng tới, cả thảy tám mươi người. Naric và Quenier đều có mặt, nhưng Bourset thì không thấy đâu. Một phạm nhân người Đức đến trao cho tôi một mảnh giấy dán kỹ. Có thể thấy rõ là chưa có ai bóc ra. 
Tôi đọc: “Sợi tóc không còn ở đấy nữa: đã có kẻ sờ đến cái mảng. Tôi đã xin tên gác cho tôi ở lại làm việc trong giờ nghỉ trưa để làm cho xong cái tráp bằng gỗ hồng tâm tôi đang làm dở. Hắn đã cho phép. Tôi sẽ lấy cái mảng để vào chỗ để dụng cụ của Naric. Anh nói cho họ biết đi. Đến ba giờ họ phải đưa ngay súc gỗ đi. May ra thằng cha đang theo dõi cái mảng bè chưa kịp trở tay”. 
Naric và Quenier đồng ý. Họ sẽ ra đứng ở hàng đầu đám thợ làm ở xưởng. Trước khi mọi người, vào hết, hai người sẽ bày chuyện đánh nhau ở gần trước cửa. Chúng tôi đã nhờ hai người đồng hương với Carbonieri làm giúp việc này. Đó là hai người Corse ở Montmartre: Massani và Santini. Họ không hề hỏi tại sao phải thế: miễn chúng tôi cần là được rồi, sẵn sàng ngay. Naric và Quenier sẽ lợi dụng thời cơ ấy để trở ra nhanh, mang theo một vật liệu gì đấy, làm như thể họ đang vội đi làm và không quan tâm đến vụ đánh nhau. Chúng tôi đều nhất trí rằng hãy còn một khả năng cứu vãn. Nếu chuyến này thành công, tôi phải án binh bất động một hai tháng, vì chắc chắn là đã có một hay nhiều người biết là có ai đang chuẩn bị một chiếc bè. Cứ để cho họ tìm xem ai chuẩn bị, và bè giấu ở đâu. 
Đã đến hai giờ rưỡi, các bạn tôi chuẩn bị hành động. Từ lúc điểm danh đến lúc xuất phát đi công trường phải mất ba mươi phút. Họ bắt đầu đi. Bébert Celier đứng ở khoảng giữa đoàn người xếp thành hai mươi hàng tư. 
Naric và Quenier đi đầu, Massani và Santini ở hàng thứ mười hai, Bébert Celier ở hàng thứ mười. Tôi nghĩ như thế rất tiện, vì khi Naric lấy các thứ gỗ này nọ trong đó có cả cái mảng bè, những người kia chưa vào hết trong xưởng. Bébert sẽ gần vào đến cửa xưởng. Khi cuộc ẩu đả nổ ra, vì mọi người sẽ la ó om xòm lên, lẽ tự nhiên là mọi người, trong đó có Bébert, sẽ quay lại nhìn. Đến bốn giờ, mọi việc đã diễn ra êm xuôi, cái mảng bè đã được giấu dưới một đống vật liệu để trong nhà thờ. Họ chưa đưa ra khỏi nhà thờ được, nhưng để tạm ở đấy cũng rất ổn. 
Tôi ghé chỗ Juliette, nhưng bà ta không có ở nhà. Khi quay về, tôi đi ngang sân trước nhà ban Quản trị. Tôi trông thấy Massani và Santini đang đứng trong bóng râm đợi vào xà lim. Cái này chúng tôi đều biết trước.

Tôi đi qua chỗ họ, hỏi: 
– Bao nhiêu? 
– Tám ngày – Santini đáp. 
Một tên cảnh binh người Corse nói: 
– Đồng hương mà lại đi đánh nhau, khỉ thật! 
Tôi về trại. Sáu giờ, Bourset rạng rỡ lên, nói với tôi: 
– Cứ như thể mình đang bị ung thư mà bỗng dưng bác sĩ cho biết là đã chẩn bệnh nhầm, chứ mình chẳng có bệnh gì cả.. 
Carbonieri và các bạn tôi đều đắc thắng. Họ khen ngợi tôi về cách tổ chức công chuyện. Naric và Quenier cũng đều thỏa thuê. Mọi sự đều ổn cả. Tôi ngủ thẳng giấc cho đến sáng. Tuy hồi tối mấy tay cờ bạc đã đến mời tôi đánh. Tôi nói dối là nhức đầu. Thật ra tôi buồn ngủ đến chết đi được, nhưng tôi hài lòng và mừng rỡ vì sắp thành công đến nơi rồi. Cái khó khăn nhất thế là đã vượt qua được. 
Sáng nay Matthieu đã giấu tạm cái bộ phận cuối cùng trong hốc tường. Lúc bấy giờ ông già gác nghĩa địa đang quét những lối đi phía ngôi mộ giấu bè. Lúc này mà mon men đến đó thì dễ lộ lắm. Sáng sớm nào cũng vậy, từ lúc tờ mờ tôi đã đến nghĩa địa dùng xẻng gỗ đắp lại đất trên ngôi mộ, cố làm thật nhanh. Tôi dùng chổi quét sạch lối đi, rồi nhanh chóng quay về đổ thùng, giấu chổi và xẻng trong góc nhà xí. 
Kể từ lúc bắt đầu chuẩn bị cho đến nay đã đúng bốn tháng, và chúng tôi nhận được bộ phận cuối cùng của chiếc bè đã được chín hôm. Trời không còn mưa hàng ngày nữa, và nhiều hôm trời lạnh suốt cả đêm. Tất cả các giác quan của tôi đều luôn luôn trong tình trạng báo động, để chuẩn bị cho hai cái giờ G sắp tới: trước tiên là lấy cái bộ phận trứ danh kia trong vườn Matthieu rồi lắp chiếc bè cho thật khớp. Việc này chỉ có thể làm ban ngày. Sau đó là lên đường. Việc này không thể tiếp luôn sau việc kia, vì khi lấy bè ra rồi còn phải nhét dừa và lương thực vào. 
Hôm qua tôi đã kể hết cho Castelli nghe và cho bác ta biết tình hình hiện tại. Bác ta mừng cho tôi là đã gần đạt đến đích. Bác nói: 
– Bây giờ là tiết trăng non. 
– Tôi biết. Vậy thì lúc nửa đêm không sợ có trăng nước ròng là vào mười giờ, vậy giờ tốt nhất để hạ thủy vào hai giờ sáng. 
Carbonieri và tôi đã quyết định làm gấp. Sáng mai chín giờ, lắp xong bộ phận cuối cùng của bè. Đến đêm là vượt ngục. 
Sáng hôm sau, chúng tôi hành động rất ăn ý với nhau. Tôi đi qua khu vườn, đến nghĩa địa, chống xẻng nhảy ra tường. Trong khi tôi dùng xẻng gạt đất trên mộ địa, Matthieu lấy phiến đá ra và đem cái bộ phận bè mới giấu vào đấy sang cho tôi. Chúng tôi cùng giở lớp lá dừa đan để sang một bên. Chiếc bè hiện ra, dính đất nham nhở, nhưng tình trạng hoàn hảo. Chúng tôi đưa bè ra khỏi mộ, vì để lắp thêm bộ phận cuối cùng, bên cạnh phải có chỗ rộng. Chúng tôi lắp năm đường nẹp vào thanh gỗ có năm khớp. Muốn chặt chúng tôi phải lấy đá gõ. Chúng tôi đã lắp xong đâu vào đấy, đăng đặt bè vào chỗ cũ, thì một tên cảnh sát hiện ra, tay lăm lăm khẩu súng trường. 
– Đứng im, không chết ngay! 

Chúng tôi buông cái bè xuống, giơ hai tay lên trời. Tôi nhận ra mặt tên cảnh sát. Đó là viên giám thị trưởng của xưởng thợ. 
– Các anh đừng kháng cự mà dại. Các anh bị bắt quả tang. Các anh hãy chấp nhận như thế và ít ra cũng phải lo cứu lấy tính mạng: mạng các anh bây giờ treo trên sợi tóc, vì tôi chỉ muốn cho các anh một băng. Thôi, đi tay vẫn để nguyên thế! Đi ra nhà ban chỉ huy. 
Khi đi qua cổng nghĩa địa, chúng tôi gặp một thằng A-rập giữ chìa khóa. Tên cảnh sát nói với hắn: 
– Mohamed, cám ơn cậu đã giúp tôi. Sáng mai ghé tôi tôi sẽ đưa cái ấy cho… món quà tôi đã hứa thưởng cậu ấy mà. 
Cám ơn sếp, – thằng A-rập nói. – Tôi sẽ đến, nhưng sếp ạ. Bébert Celier cũng phải trả công cho tôi chứ, phải không ạ? 
– Chuyện này hai cậu dàn xếp với nhau, – tên cảnh sát nói. 
Tôi hỏi hắn: 
– Chính Bébert Celier đã chơi chúng tôi, phải không sếp? 
– Không phải tôi nói chuyện này với các anh đâu đấy nhé. 
– Cũng thế thôi, chuyện này biết được cũng hay. 
Vẫn chĩa súng vào chúng tôi, tên cảnh sát nói: 
– Mohamed, lục soát chúng tôi. 
Thằng A-rập rút con dao tôi giắt ở thắt lưng, cả con dao của Matthieu nữa. Tôi nói với hắn: 
– Mohamed này, anh tài thật đấy. Anh làm thế nào mà biết được thế? 
– Ngày nào tôi cũng leo lên ngọn cây dừa đằng kia để xem các anh giấu chiếc bè ở đâu. 
– Ai bày cho anh làm như thế? 
– Đầu tiên là Bébert Celier, sau là ông giám thị Bruet. 
– Đi thôi, nói nhiều quá rồi đấy, – tên cảnh sát nói. Bây giờ các anh có thể bỏ tay xuống, và đi nhanh lên. 
Đoạn đường bốn trăm mét mà chúng tôi để đến trụ sở ban chỉ huy tôi có cảm giác là đoạn đường dài nhất trong đời tôi. Tôi đã sụm hẳn. Bấy nhiêu hơi sức dốc ra rồi cuối cùng chuốc lấy một thất bại thảm hại như thế Trời ơi, sao Người nỡ tàn nhẫn đối với tôi như vậy? 
Thật là một cảnh điếm nhục khi chúng tôi đến Ban chỉ huy Trại. Vì trên đường đi chúng tôi lần lượt gặp những tên cảnh binh: họ liền nối gót theo tên đang chĩa súng vào chúng tôi, thành thử khi đến nơi đã thành một tốp bảy tám tên đi sau lưng chúng tôi. 
Viên chỉ huy, được tên giữ khóa người A-rập chạy về báo trước, đang đứng trước cửa ban chỉ huy cùng với Dega và năm viên giám thị trưởng. 
– Có chuyện gì thế, ông Bruet? – viên chỉ huy hỏi. 
– Có chuyện là tôi đã bắt quả tang hai người này đang cất giấu một chiếc bè hình như đã đóng xong. 
– Papillon, anh có cần nói gì không? 
– Không. Tôi sẽ khai trước hội đồng thẩm vấn. 
Đưa hai người vào xà-lim. 
Tôi bị nhốt vào một căn xà-lim có một khung cửa sổ bịt kín đối diện với cửa ra vào Ban chỉ huy. Căn xà-lim tối om, nhưng tôi nghe được tiếng nói của những người qua lại trước trụ sở Ban chỉ huy. 
Các sự việc diễn ra rất nhanh. Đến ba giờ họ cho chúng tôi ra và khóa tay chúng tôi lại. 
Trong phòng có lập một thứ tòa án: chỉ huy trại, phó chỉ huy, giám thị trưởng. Một viên cảnh binh làm chân lục sự. Ngồi riêng sau một cái bàn đặt cách xa nhóm kia, Dega cầm cây bút chì, chắc hẳn là để ghi lại những lời vấn đáp sắp tới. 

– Charrière và Carbonieri, các người hãy lắng nghe bản báo cáo của ông Bruet về các người: “Tôi, Bruet Auguste, giám thị trưởng, quản đốc công xưởng Quần đảo Salut, xin khởi tố hai phạm nhân khổ sai là Charrière và Carbonieri về tội lấy trộm, lạm dụng vật liệu thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. Tôi tố cáo phạm nhân thợ mộc Bourset về tội đồng lõa. Tôi thấy có cơ sở để khẳng định rằng hai phạm nhân Naric và Quenier cũng phạm tội đồng lõa. Tôi xin nói thêm rằng tôi đã bắt được quả tang Charnère và Carbonicri đang xâm phạm ngôi mộ của bà Privat mà họ dùng làm nơi cất giấu chiếc bè của họ”. 
– Các anh nói sao đây? – Viên chỉ huy trại hỏi. 
– Trước hết, Carbonieri chẳng có dính dáng gì vào đây cả. Chiếc bè được thiết kế để chở có một người, tức là tôi. Chẳng qua tôi đã bắt Carbonieri phải giúp tôi giở lớp lá dừa đan trên mộ, vì việc này tôi không thể làm lấy một mình. Vậy thì Carbonieri không hề phạm tội lạm dụng và lấy cắp vật liệu của Nhà nước, mà cũng không hề phạm tội đồng lõa vượt ngục, vì cuộc vượt ngục chưa hề được thực hiện. Bourset là một nạn nhân bị buộc phải hành động vì bị dọa giết. Còn Naric và Quenier thì tôi hầu như không hề quen. Tôi xin quả quyết là họ không hề dính líu đến việc này. 
– Người chỉ điểm của tôi nói khác kia, – viêm giám thị nói. 
– Tên Bébert Celier, người đã chỉ điểm cho ông, rất có thể lợi dụng việc này để trả thù một vài người nào đấy bằng cách nói điêu cho họ. Làm sao có thể tin lời một tên chỉ điểm? 
Viên chỉ huy nói: 
– Tóm lại, anh bị tố cáo chính thức là đã lấy trộm và lạm dụng vật liệu của Nhà nước, xâm phạm mộ phần và mưu toan vượt ngục. Anh ký vào văn bản đi. 
– Tôi chỉ ký khi nào trong văn bản đã thêm lời tôi khai về Carbonieri, Bourset và hai anh em rể Naric và Quenier. 
– Đồng ý. Các ông viết thêm vào đi. 
Tôi ký. Tôi không thể diễn đạt rõ ràng tất cả những gì đã diễn ra trong tâm trí tôi kể từ khi công việc bị bại lộ vào phút cuối ấy. Tôi như đã phát điên trong xà lim này, tôi ăn chẳng được, tôi không đi lại, nhưng tôi hút thuốc liên hồi, hết điếu này sang điếu khác. 
Cũng may là Dega tiếp tế thuốc lá cho tôi đầy đủ. Hôm nào chúng tôi cũng được một giờ đi dạo vào buổi sáng, trong khoảng sân của các xà lim trừng giới, dưới ánh năng. 
Sáng nay ông chỉ huy trại có đến nói chuyện vôi tôi. Kể cũng lạ: nếu cuộc vượt ngục thành công, ông chính là người bị thiệt hại nặng nề nhất, thế mà chính ông lại là người tức giận tôi ít nhất. Ông ta mỉm cười kể cho tôi nghe rằng vợ ông có nói là một người bị giam mà còn giữ được tư cách dĩ nhiên là phải tìm cách vượt ngục. Rất khéo léo, ông ta lái câu chuyện như thế nào để tôi xác nhận phần đóng góp của Carbonieri. Tôi có cảm giác là tôi đã thuyết phục được ông, cho ông thấy rõ rằng Carbonieri ở vài cái thế không thể nào từ chối khi tôi nhờ giúp tôi một tay trong việc tháo giở lớp lá dừa bên trên ngôi mộ. 
Bourset đã xuất trình bức thư đe dọa và tấm đồ án do tôi làm. Về phần tôi thì ông chỉ huy hoàn toàn tin là mọi việc diễn ra đúng như tôi đã khai. Tôi hỏi ông ta xem theo ý ông thì cái tội lấy trộm vật tư kia liệu có thể xử đến mấy năm. Ông nói: “Mười tám tháng là cùng”. 
Nói tóm lại, tôi dần dần leo trở lên cái dốc bờ vực mà tôi đã lăn xuống. Tôi có nhận được mấy chữ của Chatal, người y tá. Anh ta cho tôi biết rằng Bébert Celier hiện nay nằm một phòng cách biệt ở bệnh viện, đang được cứu xét miễn giam vì một kết quả chẩn bệnh ít có: áp xe gan. Chắc đây là một cách dàn xếp giữa ban Quản trị và ông bác sĩ để che chở cho hắn tránh khỏi những hành động trả thù. 
Căn xà-lim của tôi không bao giờ bị khám, họ cũng không lần nào khám người tôi. Tôi lợi dụng tình hình đó để nhờ các bạn tuồn vào cho tôi một con dao. Tôi nói với Naric và Quenier là họ phải yêu cầu một cuộc đối chất giữa viên giám thị công xưởng, Bébert Celier, anh thợ mộc và tôi, đệ lên viên chỉ huy trại một lời thỉnh cầu là sau cuộc đối chất này ông sẽ quyết định cách xử lý mà ông thấy là thích đáng đối với họ: hoặc giam cầm, hoặc trừng giới, hoặc cho đi lại tự do trong trại. 
Trong buổi đi dạo hôm nay, Naric nói với tôi rằng chỉ huy trại đã đồng ý. Cuộc đối chất sẽ diễn ra lúc mười giờ sáng mai. Dự buổi này sẽ có một giám thị trưởng làm chức năng dự thẩm. suốt đêm hôm ấy tôi tìm cách tự can gián, vì tôi có ý định giết Bébert Celier. Nhưng tôi không sao tự can ngăn được. Không, con người ấy mà được miễn giam vì đã có công phát hiện vụ vượt ngục, rồi sau đó, xuất phát từ Đất Liền, hắn lại có thể lên đường vượt ngục nữa, như thể để thưởng công vì đã ngăn chặn tôi vượt ngục, thì thật quá ư bất công. Phải, nhưng mày có thể bị xử tử, vì người ta có thể coi là mày có chủ định từ trước. Tôi đếch cần. Đó là kết luận của tôi, vì tôi quá tuyệt vọng. Bốn tháng trời hy vọng, vui mừng, lo sợ, suy nghĩ, phát minh, để rồi đến khi đã sắp thành đạt thì bỗng dưng thất bại thảm hại như vậy chỉ vì miệng lưỡi một thằng chỉ điểm. Ra sao thì ra, mai tôi sẽ tìm cách giết Celier cho bằng được. 
Cách duy nhất để khỏi bị xử tử là làm thế nào để hắn rút dao ra trước. Muốn thế, tôi phải làm thế nào cho hắn thấy rõ là con dao của tôi cũng đã mở. Chắc chắn là thấy thế hắn phải rút dao ra ngay. Việc này phải làm trước cuộc đối chất một chút, hay ngay sau đó. Tôi không thể giết hắn trong khi đang đối chất, vì như thế có nguy cơ là một tên cảnh sát có thể rút súng bắn tôi ngay. Tôi trông mong vào cái thói cẩu thả kinh niên của bọn cảnh sát. 
Suốt đêm tôi vật lộn với ý nghĩ trên đây. Tôi không sao trấn áp được nó. Quả thật, trong đời có những điều không thể nào tha thứ được. Tôi biết rằng con người ta không có quyền tự mình đứng ra xét xử người đời, nhưng đó là nói về những người thuộc một đẳng cấp xã hội khác kia. Làm sao có thể chấp nhận rằng có thể không nghĩ đến việc trừng phạt thật đích đáng một con người đáng ghê tởm như thế. Tôi không hề làm điều gì có hại cho tên tù trại lính ấy, thậm chí hắn cũng không hề quen biết gì tôi. Như vậy là hắn đã tự dưng xử phạt tôi  năm cấm cố một cách hoàn toàn vô cớ. Hắn đã tìm cách chôn sống tôi để mưu cầu được miễn giam. Không, nhất định không? Tôi không thể nào lại để cho hắn được hưởng thành quả của cái hành động đáng buồn nôn của hắn. Không thể được! Tôi cảm thấy mình chỉ có chết. Thôi, chết thì chết, nhưng hắn cũng phải chết, mà phải chết khổ chết sở hơn cả tôi nữa. Nhưng nếu mày bị xử tử, thì thử hỏi chết vì một con người đê tiện như thế có phải là ngu dại không? Cuối cùng tôi chỉ hứa được với bản thân có một điều: nếu hắn không rút dao ra, tôi sẽ không giết hắn. 
Suốt đêm ấy tôi không ngủ. Tôi hút hết cả một bao thuốc lá sợi xám. Đến sáu giờ sáng, lúc họ đưa cà phê vào tôi chỉ còn hai điếu. Thần kinh tôi căng thắng đến nỗi ngay trước mặt tên gác, tôi nói với người đưa cà- phê (điều này xưa nay cấm): 
– Cậu có thể cho tôi mấy điếu thuốc hay một ít thuốc lá sợi không… nếu sếp đây cho phép? Thưa sếp, tôi kiệt quệ lắm rồi. 
– Ừ!, anh cứ cho Papillon đi, nếu anh có sẵn. Tôi thì không hút thuốc. Tôi thành thực phiền lòng cho anh, Papillon ạ. Là người Corse, tôi thương con người và ghét những việc làm khốn nạn.  Mười giờ kém mười lăm, tôi đang đứng ngoài sân đợi lúc vào phòng. Naric, Quenier, Bourset, Carbonieri đều có mặt ở đây. Viên cảnh sát gác chúng tôi là Antartaglia, người vừa gặp tôi khi đưa cà phê vào. Hắn nói chuyện với Carbonieri bằng tiếng Corse. Tôi nghe cũng hiểu được ý hắn nói là việc vừa rồi thật đáng tiếc, và Carbonieri có thể bị ba năm cấm cố. Lúc ấy cánh cửa mở ra và tên A-rập leo dừa, tên A-rập gác cửa xưởng và Bébert Celier bước vào sân. Nhìn thấy tôi, hắn hơi chùn bước lại, nhưng tên gác đi kèm hắn nói: 
– Đi tới, đứng sang một bên kia, bên phải ấy. 
– Antartaglia, đừng để cho chúng nó trao đổi gì với nhau. 
Thế là hắn và tôi đứng cách nhau không đầy hai mét. Antartaglia nói: 
– Giữa hai nhóm cấm nói với nhau. 
Carbonieri lúc bấy giờ vẫn nói chuyện bằng tiếng Corse với viên cảnh sát đồng hương đang giám thị cả hai nhóm. Viên cảnh sát cúi xuống buộc lại dây giày, tôi ra hiệu cho Matthieu đứng nhích ra phía trước một chút. Cậu ta hiểu ngay. Cậu đưa mắt nhìn Bébert Celier và nhổ bọt về phía hắn. Khi viên cảnh sát đứng thẳng lên, Carborneri cứ nói chuyện với hắn không ngớt miệng, thu hút được sự chú ý của hắn đến mức tôi bước lên một bước mà hắn không hề nhận thấy. Tôi buông cho con dao từ ống áo tụt xuống và cầm vào tay. Chỉ có Celier có thể trông thấy. Nhanh như cắt, hắn rút con dao đã mở sẵn trong túi quần đâm một nhát trúng vào bắp tay phải của tôi. Tôi thì lại thuận tay trái. Tôi đâm thẳng vào ngực hắn một nhát ngập đến tận chuôi. Một tiếng “A-a~ch!” nghe như tiếng đã thú, rồi hắn rơi phịch xuống đất. Antartaglia rút súng lục cầm tay nói với tôi: 
– Cậu lùi ra, lùi ra ngay. Chớ đâm thêm, không tôi buộc lòng phải bắn. 
Carbonieri lại gần Celier, lấy chân chạm thử vào đầu hắn, rồi nói hai tiếng Corse. Tôi nghe cũng hiểu: hắn chết rồi. Viên cảnh sát nói: 
– Cậu đưa đao đây.. 
Tôi đưa con dao, hắn đút súng vào bao, đi ra cánh cửa sắt gõ mấy tiếng. Một tên gác mở cửa ra. Viên cảnh sát nói: 
– Cho cáng vào khiêng một xác chết. 

– Ai vừa chết thế? – tên gác hỏi. 
– Bébert Celier. 
– Thế à? Thế mà tôi cứ tưởng là Papillon. 
Họ lại nhốt chúng tôi vào xà-lim. Cuộc đối chất thế là phải bãi. Trước khi vào hành lang Carbonieri nói với tôi: 
– Papi, tội nghiệp cậu quá, lần này thì cậu lãnh đủ. 
– Ừ, nhưng tớ vẫn còn sống, còn nó thì ngoẻo rồi. Viên cảnh sát trở lại một mình, mở cửa rất khẽ khàng rồi nói với tôi, giọng vẫn còn xúc động: 
– Đấm vào cửa mấy cái đi, kêu là bị thương. Chính hắn đã tấn công trước, tôi trông thấy rõ ràng. – Đoạn hắn khép cửa lại. 
Mấy cái gã cảnh sát Corse ấy ghê thật: hoặc xấu tất, hoặc tốt cả. Tôi đập cửa, kêu: “Tôi bị thương rồi, phải đưa tôi vào bệnh viện băng bó chứ” 
Viên cảnh sát trở lại với viên giám thị trưởng của khu trừng giới. 
– Anh làm sao? Có việc gì mà làm ồn lên thế? 
– Thưa sếp, tôi bị thương mà. 
– À! Anh bị thương phỏng? Tôi tưởng hắn đâm có trúng đâu? 
– Bắp thịt tay phải của tôi bị đứt rồi. 
– Mở ra, viên cảnh sát kia nói. 
Cửa mở, tôi bước ra. Quả bắp thịt bị cắt đứt, hở hoác ra. 
– Khóa tay hắn lại, đưa sang bệnh viện. Không được để hắn nằm lại bệnh viện, bất cứ với lý do gì. 
Băng bó xong, phải đưa về đây ngay. 
Khi chúng tôi ra ngoài, có đến mười tên cảnh sát với cả ông chỉ huy trại nữa. Viên giám thị công xưởng nói với tôi: 
– Quân giết người! 
Tôi chưa kịp đáp thì ông chỉ huy đã nói với hắn: 
– Giám thị Bruet, ông im đi, Papillon đã bị hắn tấn công trước. 
– Khó tin lắm, – Bruet nói. 
– Tôi có trông thấy, và tôi sẽ làm chứng, – Antartaglia nói. Và thưa ông Bruet, xin ông biết cho rằng một người Corse không nói dối bao giờ. 
Ở bệnh viện, Chatal gọi bác sĩ đến. Ông ta khâu vết thương cho tôi mà không cho thuốc mê hay gây tê gì cả, rồi đính cho tôi tám cái kẹp, không nói với tôi một lời. Tôi thì cắn răng chịu đau, không một tiếng kêu than. Cuối cùng, bác sĩ nói: 
– Hết thuốc tê rồi, cho nên tôi không thể tiêm cho anh đỡ đau được. – Đoạn ông ta nói thêm – Việc anh vừa làm chẳng tốt chút nào. 
– Ồ, bác sĩ cũng biết đấy: đàng nào thì với cái áp- xe gan ấy hắn cũng chẳng sống được bao lăm nữa. 
Câu trả lời bất ngờ của tôi làm cho ông bác sĩ đớ người ra. 

Cuộc thẩm vấn vẫn tiếp tục. Phần trách nhiệm của Bourset bị gạt ra hoàn toàn. Mọi người đều thừa nhận cậu ấy bị đe dọa đến tính mạng, sợ quá phải làm theo. Tôi cũng góp phần làm cho họ tin như vậy. Đối với Naric và Quenier cũng không có bằng chứng gì là họ can phạm hay đồng lõa. Chỉ còn lại tôi và Carbonieri. Đối với Carbonieri, họ gạt bỏ lời buộc tội lấy trộm và lạm dụng vật tư của Nhà nước. Chỉ còn tội đồng lõa trong việc mưu toan vượt ngục. Quá lắm cũng chỉ sáu tháng là cùng. Đối vôi tôi thì tình thế đâm ra phức tạp Thật vậy, bất chấp những nhân chứng bênh vực tôi, viên giám thị lãnh nhiệm vụ thẩm vấn vẫn không chịu thừa nhận đây là trường hợp tự vệ chính đáng. Dega đã được xem cả tập hồ sơ, bác ta quyết định rằng mặc dầu viên dự thẩm rất quyết tâm trị tội, họ cũng không thể nào xử tử tôi được, vì tôi đã bị thương trước khi hành động. Bên buộc tội có một căn cứ để vin vào mà đòi xử tôi thật nặng: hai tên A-rập giữ chìa khóa đều khai rằng tôi đã rút dao ra trước. 
Cuộc thẩm vấn đã xong. Tôi đợi ngày đi Saint-Laurent dự phiên xử của tòa án binh. Suốt ngày tôi chỉ hút thuốc, hầu như không đi lại trong xà-lim. Người ta cho tôi một giờ đi dạo vào buổi chiều. Không một lần nào viên chỉ huy trại hay bọn giám thị, trừ viên giám thị công xưởng đã là dự thẩm trong cuộc thẩm vấn vừa qua, có thái độ thù địch đối với tôi. 
Đến thứ sáu là tôi phải giải đi Saint-Laurent. Sáng thứ tư, lúc mười giờ, tôi đi dạo trong sân đã gần hai tiếng đồng hồ thì viên chỉ huy trại. gọi tôi lại, nói: “Anh đi theo tôi”. Tôi theo ông ta ra khỏi sân trại, không có ai đi kèm theo. Tôi hỏi ông chỉ huy xem ông đưa tôi đi đâu nhưng ông chi lẳng lặng bước tiếp trên con đường xuống dốc dẫn về nhà ông. Dọc đường ông ta nói: 
– Nhà tôi muốn gặp anh một lát trước khi anh đi. 
Tôi không cho ai áp giải anh, vì nhà tôi sẽ bị một ấn tượng không hay nếu trông thấy anh bị một viên cảnh sát có súng đi kèm theo. Tôi hy vọng anh sẽ có thái độ đúng mực. 
– Thưa thiếu tá vâng. 
Chúng tôi đã đến nhà ông chỉ huy. Ông nói với Juliette: “Anh đưa người được em che chở về cho em đây như anh đã hứa. Em cũng biết là anh phải đưa anh ta về trại trước mười hai giờ trưa. Em có được gần một tiếng đồng hồ để nói chuyện anh ta”. Đoạn ông ta lui vào nhà trong một cách tế nhị. 
Juliette đến gần tôi và đặt bàn tay lên vai tôi, mắt nhìn thẳng vào mắt tôi. Đôi mắt đen láy của bà càng sáng hơn mọi khi, vì giờ đây nước mắt bà là ra long lanh sau đôi hàng mi đen và dài. Cũng may là bà đủ tự chủ để cầm nước mắt lại.
– Anh thật là điên rồ, anh bạn của tôi ạ. Giá anh nói cho tôi biết là anh muốn ra đi, tôi tin là tôi sẽ có cách làm cho mọi việc được dễ dàng hơn. Tôi đã xin nhà tôi cố cứu giúp anh hết lòng, nhưng nhà tôi nói là tiếc thay ông ấy không có đủ quyền. Tôi gọi anh đến trước hết là thấy rõ tình trạng anh ra sao. Tôi khâm phục lòng can đảm của anh, tôi thấy anh còn đáng trọng hơn là trước đây tôi vẫn nghĩ. Với lại trước đây tôi cũng muốn được đền bù lại những gì anh đã cho tôi một cách hào phóng trong bấy nhiêu tháng trời. Đây, anh cầm lấy một ngàn francs, tôi chỉ cho anh được có thế. Tôi lấy làm tiếc là không thể làm gì hơn. 
– Bà ơi, xin bà nghe tôi, tôi không cần tiền đâu. Tôi van bà, bà nên hiểu là tôi không thể nhận được, vì theo tôi, làm như thế và làm vẩn đục tình bạn của chúng ta 
Đoạn tôi đẩy hai tờ giấy năm trăm mà bà chỉ huy đã rộng lòng biếu tôi. 
– Tôi van bà đừng nài tôi. 
– Thôi, tùy anh vậy, – Juliette nói. – Uống một chút rượu hồi nhẹ nhé? 
Và trong hơn một tiếng đồng hồ, người đàn bà đáng ngưỡng mộ ấy không ngớt nói với tôi những lời lẽ dịu dàng, nhân ái. Bà ta tin rằng tôi sẽ được trắng án về cái tội đã giết tên Bébert đểu cáng ấy và chỉ phải ngồi tù cấm cố mười tám tháng cho đến hai năm vì mấy tội kia. 
Khi từ giã, Juliette xiết chặt tay tôi hồi lâu trong đôi tay bà, và nói: “Tạm biệt anh, chúc anh may mắn nhiều” đoạn khóc òa lên. 
Ông chỉ huy đưa tôi về khu trừng giới. Dọc đường tôi nói:
– Thưa thiếu tá, thiếu tá có được người vợ cao quý nhất trên đời này. 
– Tôi biết, Papillon ạ, cô ấy sinh ra không phải để sống ở đây, những gì diễn ra ở đây quá tàn nhẫn đối với cô ấy. Nhưng biết làm thế nào được? Thôi, cũng chỉ bốn năm nữa tôi đã về hưu rồi. 
– Nhân lúc này chỉ có ông và tôi, tôi cũng xin cảm ơn ông đã cố làm sao cho người ta đối xử với tôi tử tế, mặc dầu nếu tôi thành công, việc ấy sẽ gây cho ông những chuyện hết sức phiền hà. 
– Phải, anh có thể làm cho tôi đau đầu hết sức. Tuy vậy, anh có muốn tôi nói với anh điều này không? Anh xứng đáng được hưởng thành công trong chuyến vượt ngục. 
Đến cổng khu trừng giới, ông nói thêm: 
– Từ biệt anh, Papillon. Cầu Chúa phù hộ anh, anh sẽ cần đấy. 
– Từ biệt thiếu tá. 
Đúng, tôi sẽ cầu Chúa phù hộ vì tòa án binh do một thiếu tá hiến binh bốn lon chủ tọa đã tỏ ra cực kỳ khắc nghiệt. Ba năm về tội lấy trộm và lạm dụng vật tư của Nhà nước, xâm phạm mộ phần và mưu toan vượt ngục, năm năm về tội giết tên Celier. Tổng cộng là tám năm cấm cố. Giả sử tôi không bị thương, chắc chắn là cái tòa án ấy đã xử tử tôi rồi. 
Cái tòa án đã xử tôi nghiệt ngã như vậy lại tỏ ra khoan dung đối với một phạm nhân Ba Lan tên là Dandowsky vừa phạm tội giết hai người. Hắn chỉ bị năm năm, tuy vụ án mạng hiển nhiên là đã được tính toán từ trước. 
Dandowsky là một người thợ bánh mì, chỉ chuyên làm men bột nở. Hắn chỉ làm việc từ ba đến bốn giờ sáng. Vì lò bánh mì ở ngay bến, đối diện với biển, cho nên bao nhiêu thì giờ rỗi hắn đều dành cho việc đi câu. Tính tình điềm đạm, nói tiếng Pháp không được sõi, hắn chẳng giao du với ai. Người tù khổ sai chung thân này dồn hết tình thương yêu trìu mến cho một con mèo đen có đôi mắt xanh biết như màu ngọc bích. Con mèo đối với hắn như một người ruột rà thân thiết, cùng ăn cùng ngủ với nhau, mỗi khi hắn đi làm con mèo đi theo hắn như một con chó, để cho hắn có bạn. Nói tóm lại, giữa người và vật có cả một mối tình đằm thắm. 
Còn như nếu trời nắng quá mà không có nơi nào có bóng râm gần chỗ câu cá, nó trở về lò bánh mì một mình leo lên võng của bạn nằm chờ. Đến mười hai giờ trưa, khi nghe chuông điểm, nó liền ra đón anh bạn Ba Lan và nhảy nhót bên con cá con mà anh ta treo ở đầu sợi chỉ, dứ dứ cho con mèo vờn cho đến khi nó chụp được.
Tốp thợ bánh mì ở chung một giàn phòng lớn kế bên lò bánh mì. Một hôm, hai người tù khổ sai tên là Corrazi và Angelo mời Dandowsky ăn món xi-vê thỏ do Corrazi nấu: mỗi tuần anh này đều nấu xi-vê thỏ chén một lần. Dandowsky ngồi xuống ăn với họ, nhân thể góp một chai rượu vang để nhắm với thịt thỏ. Tối hôm ấy con mèo không về. Anh Ba Lan tìm khắp nơi mà chẳng thấy. Một tuần đã trôi qua, mà con mèo vẫn chẳng thấy đâu. Dandowsky buồn lắm: sinh vật duy nhất mà anh yêu thương và cũng yêu thương anh một cách đằm thắm như vậy bỗng dưng đã biến đi một cách thật khó hiểu. Được biết nỗi đau buồn vô hạn của Dandowsky, vợ một viên giám thị đem biếu anh ta một con mèo con. Dandowsky liền đuổi nó đi, và phẫn uất hỏi bà ta: làm sao bà ta lại đang tâm nghĩ rằng anh có thể yêu thương một con mèo khác được. Anh ta nói rằng đó là một sự xúc phạm nặng nề đối với hương hồn của người bạn đã khuất của anh. 
Một hôm tên Corrazi đánh một cậu bé học nghề làm bánh mì, đồng thời chuyên đưa bánh mì vào trại. Cậu ta không ở chung với tốp thợ bánh mì, mà thuộc phiên chế của trại. Vốn tính thù dai, cậu bé tìm gặp Dandowsky nói: 
– Anh ạ, cái con thỏ mà Corrazi và Angelo mời anh ăn ấy, chính là con mèo của anh đấy. 
– Chứng cớ đâu? – anh Ba Lan túm cổ cậu bé quát. 
– Dưới gốc cây xoài ở chênh chếch phía sau cái lán để xuồng, tôi đã nhìn thấy Corrazi chôn da con mèo của anh đấy. 
Như một người điên, anh Ba Lan ra đấy xem, và quả nhiên tìm thấy bộ da. Anh ta nhặt bộ da và cái đầu đã bắt đầu thối rữa, đem ra biển rửa sạch, phơi ra nắng cho khô rồi lấy vải sạch bọc lại và đem chôn ở một nơi khô ráo, chôn rõ sâu để cho kiến khỏi ăn. 
Chính anh ta kể lại với tôi như vậy. 
Đêm hôm ấy, dưới ánh đèn dầu hỏa, trên một cái ghế dài rất nặng ở phòng ăn của thợ bánh mì, Corrazi và Engelo ngồi cạnh nhau đánh một ván belote tay bốn. Dandowsky là một người đàn ông trạc bốn mươi, vóc người tầm thước, vạm vỡ, rộng vai, rất khỏe. Anh ta đã chuẩn bị một cái gây lớn bằng gỗ lim nặng như sắt. Từ phía sau bước vào, anh ta chẳng nói chẳng rằng giáng lên đầu mỗi đứa một đòn khủng khiếp. Hai cái sọ vỡ tung ra như hai quả lựu, óc chảy cả xuống đất. 
Như điên như dại, Dandowsky chưa hả, còn hốt óc hai kẻ thù phết lên tường nữa. Cả căn phòng nhầy nhụa những máu và óc người. 
Trong khi tôi không được ngài thiếu tá hiến binh, chánh án tòa án binh, thông cảm, thì Dandowsky tuy đã giết hai mạng một lúc có chủ định hắn hoi, lại may mắn được ngài thông cảm, đến mức chỉ bị xử có năm năm cấm cố.







Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 12 Nov 2025

Chương 8

Chúng tôi đã đến Buchenwald được 15 ngày, đời sống ở đây được tổ chức và hình như mọi người đã thích nghi với đời sống đó.

Nhưng buổi chích ngừa tiếp tục theo lịch trình đã định và thời gian trong ngày được lấp đầy bởi vài vòng đi hầm đá, và các cuộc điểm danh trôi qua mà không có một biến cố nào xảy ra.

Ngày chúa nhật, tất cả mới được phép tổ chức văn nghệ trong mỗi khối. Ông tu viện trưởng Bourgeois, luôn luôn tìm kiếm học trò, đã tập họp được một nhóm trẻ và dựng nên các màn liên quan đến đời sống hàng ngày tại Pháp.

Một cuộc thẩm vấn toàn diện thứ nhì lại được thực hiện, và một buổi sáng, chúng tôi được dẫn đến bệnh xá trước một bác sĩ SS. Y ngồi chễm chệ như ngự trong một chiếc ghế bành. Chung quanh y, các bác sĩ tù nhân chạy lăng xăng, trình cho y xem các phiếu cá nhân chúng tôi, trong khi y liếc mắt nhìn hai lượt, một trên tờ giấy và một trên thân mình chúng tôi, lúc đó chúng tôi để mình trần và quần được trụt xuống thấp để y có thể kiểm soát bệnh sa ruột. Đa số tù nhân sẽ được gởi đi, trong ngày một ngày hai, trong các chuyến di chuyển, và cuộc khám bệnh nầy có mục đích phân loại xem ai sẽ được giữ lại ở trại nầy vì lý do tàn tật hay bị bịnh kinh niên. Rất nhiều biệt đội lao tác thích ứng với khả năng của họ đã dành sẵn chỗ. Tất cả những người khác, ngoại trừ các công nhân chuyên nghiệp, lập tức được liệt vào hạng “di chuyển”. Trong thực tế, tất cả mọi chuyện đó chỉ là một hài kịch bởi vì viên bác sĩ SS, nhân một chuyến chở tù nhân đi nơi khác, chẳng bao giờ kiểm soát các danh sách được thiết lập.

Sau khi khám sức khỏe về, tất cả các thợ chuyên nghiệp có dính dáng đến ngành luyện kim được yêu cầu trình diện. Vào khoảng 50 người đi ra theo lệnh; một vài người đã rờ được cái giũa nhờ sự tình cờ, một số khác là dân cày chính cống. Tuy nhiên tất cả đều tự cho rằng đã biết rõ bí mật của nghề luyện kim và họ có lý vô cùng. Không mất gì cả, cứu mình trước đã.

Thời gian kiểm dịch thu ngắn dần, mọi chuyện chạy đều trong khối. Hubert với tờ giấy 1000 quan, có thể mua 20 lít một loại súp do nhà bếp bán, lẽ ra phải có tiền Đức kim mới mua được, tuy nhiên một trong các nhân viên chịu nhận tiền Pháp với điều kiện trừ bớt 25% trị giá coi như tiền huê hồng. Đó là cả một dịp lễ nhỏ, và tối hôm đó, Hubert có rất nhiều bạn.

Một buổi sáng, tất cả mọi người trong khối phải ra ngoài để lau chùi gì đó tôi không rõ, tôi khám phá thấy trong tận cùng của ngăn, phần dưới thấp nghĩa là gần như ngang mặt đất, một tù nhân lớn tuổi, ông ta lồm cồm ngồi dậy khi bị tôi trông thấy, và bằng một giọng dịu dàng ông xin tôi cho phép nằm lại, ông cảm thấy mệt nhọc quá. Với cặp mắt kiếng viền vàng ông ta có bộ mặt của một chưởng khế tỉnh nhỏ.

– Tôi là M.Saudan, Bộ trưởng Tư pháp Bỉ, ông ta tiết lộ với tôi.

Không ai chú ý đến ông cả.

Trong trại chúng tôi có nhiều người Bỉ và Slave. Người Nga, phần đông là trẻ vị thành niên, đã là đối tượng của sự tò mò toàn diện. Phần đông bị xúc trong các nông trường tập thể ở Ukraine, chúng chỉ có một câu trả lời cho mọi câu hỏi: “Ở xứ tôi người ta ăn, ở xứ phát xit, người ta đói”. Lanh lẹ như chồn, khỏe mạnh lướt qua mọi thử thách, bọn trẻ thâm nhập trong tất cả các khối để mua bán trao đổi, và sản phẩm được đòi hỏi nhiều nhất là thuốc lá.

Thỉnh thoảng một vài đồ vật bị đánh cắp và đã có một lần có kẻ đánh cắp bánh mì.

Một cách tự động, người ta lên án các vụ đánh cắp đó. Nhưng một cuộc điều tra đã tìm ra thủ phạm, đó là một thợ phụ người miền Lille. Nếu ăn trộm mọi thứ khác được xem là chuyện vặt, thì bánh mì là một vật thiêng liêng và nhân dịp nầy chúng tôi được biết hình phạt tử hình có thể được áp đụng cho trường hợp phạm tội ăn trộm bánh mì, điều nầy hoàn toàn tùy thuộc người trưởng khối và các phụ tá của ông nầy.

Gần chúng tôi, trong khối 59, một tù nhân Hòa Lan đã bị tử hình vì 250 gam chất bột đen gọi là bánh mì đó. Anh ta bị cột trần truồng vào cánh cửa suốt một đêm. Sáng hôm sau người ta tìm thấy một xác chết cóng vì lạnh. Trong khối chúng tôi, Léo, hôm đó nổi cơn, nói rằng cũng sẽ làm như vậy đối với kẻ phạm tội. May thay, Kurt, thoát khỏi vẻ lạnh lùng cố hữu, đã xen vào kịp thời. Kẻ phạm tội chỉ bị phạt đứng trên một ghế đẩu trong 3 giờ với một tấm bảng mang trước ngực ghi lại những gì mà anh ta đã làm.

Một đêm, viên thư ký bảo chúng tôi đứng nguyên tại hàng sau cuộc điểm danh, và khi điểm danh xong, ông ta bước lên một chiếc ghế đẩu với một danh sách trong tay. Được một thông ngôn giúp đỡ, ông ta tuyên đọc sự chỉ định mỗi người vào công việc sẽ được bắt đầu vào ngày mai. Những người ra trình diện như là chuyên viên sẽ đi nhà máy, tất cả số còn lại là việc ngoài trời: làm đường bộ, đường sắt, đào mương, tất cả đều ở chung quanh trại: 12 giờ đứng làm việc trong bất cứ thời tiết nào với một thời gian ngăn ngừng nghỉ vào buổi trưa. “Tuy nhiên, ông ta kết thúc, các anh chỉ làm các công việc đó ở đây trong một thời gian ngắn nữa thôi, trong chuyến di chuyển sắp đến, 8 hay 15 ngày nữa, tất cả các anh lại phải lên đường”.

Hubert, Pierre, tu viện trưởng Bourgeois, Đại tá Ganneral đều phải ra làm việc ngoài trời, thật thảm hại. Ramelin đi nhà máy, khá hơn, Michael được làm y tá, Max qua làm thông ngôn cho khối 58 và tôi nhận nhiệm vụ tương tự ở khối 56. Chúng tôi nằm trong số được ưu đãi.

Những người may mắn nhất hứa với bạn bè gặp vận xui, tất cả tình liên đới, bởi vì cuộc chiến đấu để sống còn chỉ mới thật sự bắt đầu.

Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 12 Nov 2025

Phần 13 – Lời nguyện đêm Giáng Sinh

Trung tỏ vẻ quen thuộc bệnh viện, hắn đưa tay chặn cả đám dừng lại nơi ngã rẽ vào phòng hồi sức, chìa tay nói với ba thằng bạn:

– Có bao nhiêu gom lại đây, tiền xe về có tao lo.

Đứa nào cũng móc sạch túi, thằng Trung đếm cẩn thận mớ tiền chẳn có lẽ có:

– Bảy trăm tư, mẹ kiếp toàn con nhà nghèo, tao thêm hai trăm sáu cho đủ triệu!

– Mai đi rừng vơ tao phải chạy lại tiền mua đồ bới, mua cỏ đem theo cho bò ăn đó mày, lẹ lẹ vào tao nhìn mặt nó chút!

Cả bốn đứa rón rén vào phòng hồi sức. Khanh ngước mắt nhìn đám bạn vào phòng, nước mắt hắn rươm rướm:

-Tụi mày xuống thăm cháu đó à, tưởng đi rừng hết rồi chơ?

Nhìn thằng con trai tàm tuổi của Khanh nằm thiêm thiếp, chiếc sơ mi đứt mấy hột nút phô ra lồng ngực thoi thóp làm cả bọn thở dài, bốn thằng ghé ngồi lên chiếc giường hai bên, Trung vuốt tóc thằng nhỏ hỏi Khanh:

-Hôm qua đến giờ có uống được chút sửa nào không, Bác sĩ nòi sao?

-Chuyền hai chai nước, có uống mấy muổng sửa rối rát quá nó không uống nửa! Cả đám cùng thở dài, Tiên nói làm cả bọn thêm ray rứt hối hận:

-Giá tao đừng xướng làm con chó thì đâu có chuyện này!

-Lỗi gì mình mày, đừng ăn món tiết canh thì đâu đến nổi!

-Nói lui vậy thì thà nói chờ lễ về rồi nhậu thì đâu vào đó! Tụi mình thằng nào cũng khổ cũng thèm, đi rừng cả tuần có chút gì bổ béo trong người đâu, toàn cá khô vói nước mắm, thấy mâm tiết thằng nào cũng muốn ăn, xui là cháu nó dại!

-Có nghe Bác sĩ nói chuyển vô Sài gòn không?

-Hôm qua súc ruột xong bác sĩ nói đợi hai ngày kiểm tra lại vòm họng, nếu không loét lắm thì chữa ở đây cũng được.

-Vợ mày đâu?

-Nó đi giặt cái mùng và mấy cái áo quần rồi, cúp nước nên nó đợi hai giờ rồi đó!

Hai chiếc cộ bò vào nhà thắng Trung lúc ba giờ sáng ngày hai bốn tháng mười hai, cả bốn thằng mừng rỡ nhảy xuống xe ngắm lại sáu bi gỗ căm xe, đường kính sáu mươi phân nằm gọn gàng trên hai thùng xe mà khoái chí. Quên hết bao nhọc nhắn từ trong núi giáp ranh với rừng Lâm Đồng. quên bảy con khe mùa khô không nước, tháng mười một đổ mưa làm cho chúng trở thành bảy con thác hung tợn, chưa kể đến cái gian nan “lĩa” (*) sáu lóng gỗ từ trên cao xuống, nó muốn kéo tuột con bò xuống vực!

-Trung, mày chạy qua nhà cha Thắng ngay đi, lão ngủ thỉ kéo dây nói là căm xe bi sáu tấc, dài ba mét rưỡi, nghe vậy là lão tỉnh ngay. Hôm nay hăm bốn rồi, có tiền sắm sửa chút Giáng Sinh chớ!

Lão Thắng qua thiệt, trời vừa sáng, nhìn sáu lóng gỗ đỏ rực lão nói:

-Tụi bây không sợ kiểm lâm Lâm Đồng à, tụi nó tuyên bố gặp lâm tặc Ninh Sơn là bắn không cần hỏi đó tụi mày!

-Tụi nó bắn thì chết đạn, không phá rừng thì chết đói, hên xui! Thằng Trung nóng nãy:

-Ông trả bao nhiêu cho sáu lóng này?

-Thì giá căm xe tụi mày rành rồi hỏi chi nữa, chỉ trừ hao cho tao chút chút thôi, đợi sáng mai tính tấc tình khối tao trả tiền, cái nòi căm xe mặt lớn dễ thua lắm, nứt ruột!

Mừng xía vô:

-Tươi rói cha à, nguyên cây đó!

-Ừ, cho xe qua nhà rồi ứng trước ba triệu, qua lễ tính sau, đồng ý không?

-Trả hết đi cha, lễ xong là tụi này đi lại liền!

-Tao mới xuất một mớ đi Đồng Nai dang kẹt, mà thôi cũng được!

Chiều lại, cả bốn “lâm tặc” xúm nhau ở nhà thằng Tiên, con chó của nó hay cắn trẻ con hàng xóm, cũng tại tụi nhỏ có cái tật cứ đi lễ tối về ngang nhà là dậm chân rồi chạy, con chó chạy ra sủa, đứa nào chạy chậm là nó cắn, mấy tháng nay Tiên bị hàng xóm đem con tới ăn vạ đền mấy lần!

Làm xong con chó, treo mớ dồi lên chiếc sào, bốn cái chân đem cho bốn bà vợ hoong cho con, lọc ít thịt, chừa làm món luộc, sau lễ sẻ rũ mấy thằng bạn đi rừng trong thôn cùng về nhâu, nhưng tắm táp xong mới sáu giờ chiều mà mười giờ đêm mới lễ!

Mâm tiết canh đông cứng nhìn thích mắt, thằng Khanh đề nghị:

-Làm vài xi với cái tiết rồi về đi lễ với vợ con cũng lịp chán, mới sáu giờ!

Không biết rượu nặng hay cả bọn quá mệt, bốn đửa đều say, nhưng Trung và Tiên thì gắng dậy được để đi lể. Vợ Khanh chạy qua lay hoài mà hắn không dậy nỗi. Thôi thì không đi lể đêm thì sáng mai đi cũng được, nhưng chị một tay ẳm con bé sáu tháng tuổi, không có Khanh không ai giữ thằng con tám tuổi, sợ nó nghịch chạy lung tung làm bà con lo ra không dâng lễ được.

Thằng con Khanh hiếu động nhưng ngoan, mỗi lần bạn bè Khanh đến nhà nó rất lễ phép, chơi ngoài sân nhưng nghe gọi là chạy vào ngay, học cũng khá dù không có ai bày vẽ gì, không có tiền học thêm nên nó chăm lắm, chưa bao giờ nhà trường hay cô giáo la rầy gì, vợ chồng Khanh thương con lắm.

Sợ thế mà thật!

Sân nhà thờ đông nghẹt người, đang chú tâm xem hoạt cảnh “hang Bê Lem” bỗng nghe tiến xầm xì từ ngoài cổng rồi lan vào trong, lát sau có tiếng ai đó:

-Con anh Khanh, nó uống nhầm a xít!

-A xít đâu mà uống?

-Của ông bán bong bong bay,

Một số người ùa ra cổng nhà thờ. Trung ngồi nơi đám cỏ gần cổng, nhào ra khi nghe loáng thoáng tên Khanh. Thằng bé quằn quại giữa đất, lũ trẻ và đám người bu quanh, có tiếng hỏi:

-A xít để đâu mà nó uống vậy?

-Nó ở đâu tự nhiên chạy lại chụp cái chai a xít dùng đổ vô đá “các buya” bơm bóng bay, tôi cũng đang quay lưng lại nên không cản kịp!

-Nó uồng nhiều không?

-Khoảng nữa chai!

Trung chạy vào bải giữ xe, lấy được chiếc xe cũng không dễ, nhưng may là xe anh nằm ngoài, len lỏi tới nơi anh nói to:

-Có ai bồng giùm cháu lên bệnh viên với!

Một anh thanh niên nhanh nhẩu ẵm ngang cháu leo lên xe.

Khi Khanh lên bệnh viên thì thằng nhỏ còn trong phóng cấp cứu, mặt hắn phờ phạc còn vợ Khanh thì ngất lên xỉu xuống, luôn miệng con ơi!

Trung nói nhỏ vào tai Khanh:

-Nó chơi đuổi bắt, khát quá nên chạy đến chổ bán bong bong, tưởng chai axit là chai nước nên xin, ông ta chưa kip quay lại nò đã tu mấy ngụm liền!

Khanh ngồi úp mặt vào hai bàn tay, lát sau có tiếng y tá gọi:

-Thân nhân chuẩn bị chuyển xuống bệnh viện tỉnh! Khanh nói với Trung:

-Mày chở vợ tao về với con bé rồi ra chợ chờ xe xuống, chay nhanh nghe mày!

-Không, tao ra xem cậu thanh niên còn không, nhờ cậu ấy… Lát sau Trung quay lại:

-May quá, cậu ta vẫn còn!

Tài xế xe cấp cứu đóng cửa, chị y tá xem lại dây chuyền nước và bình o xy. Khanh và Trung ngồi hai bên chiếc băng ca. Xe chạy ra cổng, hai gả “lâm tặc”làm dấu thánh giá, nhìn lên trần xe cấp cứu, thành khẩn, lâm râm cầu chúa hài đồng: xin cho thằng bé bằng an!

Sài gòn 02 tháng 12 năm 2014.

(*) Lỉa: Cột lóng gỗ vào con bò, rồi bẩy lóng gỗ xuống dốc, trong khi con bò rị lai, xuống từ từ. rất nguy hiểm.

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 12 Nov 2025

Phần 13

Thưở vô trường học, thưở ra trường tù

Thuở còn ở nhà trường trung học, tôi có vẻ khá Việt văn nhưng lại đi ban B môn Toán, chả biết tại sao. Đời tôi có nhiều chuyện trật đường rầy ngay từ buổi thiếu thời. Có lần làm một bài bình giảng trong truyện Kiều, tôi bài bác ông tướng giặc Từ Hải hết chỗ chê. Tôi chê có lý, có văn, có sách đàng hoàng, đến ông thầy Thế Viên phải cho điểm cao nhất lớp.

Thuở xưa, hễ ai hùng cứ được một phương là tự nhiên được làm tướng, không cần cái sao nào trên áo trận. Không có ngôi sao nên không thể so sánh được với mấy ông tướng của mình về cấp bực. Cấp bực không so sánh được, nhưng cách hành sử của một ông tướng Từ Hải thì tôi không chịu… Tướng Từ Hải khi chưa gặp Kiều thì:

Đường đường một đấng anh hào

Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.

Cái này tôi chịu. Đến khi mang được Kiều về khu chiến thì ông tướng xìu thấy rõ. Người đẹp nhớ kinh thành, đô hội, bèn bèn làm một màn dụ ông tướng về hàng triều đình để làm quan võ, cho nàng được hưởng chút phú quý, vinh hoa. Tướng Từ Hải không còn “ải ải như ta đây”, hay dọc ngang nào biết trên đầu có ai, mà chỉ than:

Bó thân về với triều đình

Hàng thần lơ láo, phận mình ra sao…

Kiều thấy ông tướng có vẻ xuống tông, bèn rề vô ôm eo ếch năn nỉ, không biết nàng thủ thỉ cái kiểu chi mà ông tướng xụi lơ, nhận lời đề nghị qui hàng:

Nghe lời Kiều nói mặn mà

Thế công Từ mới đổi qua thế hàng!

Trời ơi, làm tướng kiểu gì mà vì đàn bà nói ngọt, đang giáp trận đùng đùng lại xếp gươm giáo qui hàng?! Cái máu con trai của tôi thây chuyện này không ổn tí nào. Nhưng sách viết như vậy biết làm sao bây giờ. Ông Trần Hưng Đạo, ông Lý Thường Kiệt, ông Quang Trung mà như vậy thì chết cha nước ta. Khi Kiều thành thực tin ở triều đình, tin ở Từ Hải, tin mọi chuyện sẽ an bài; và vì tin nàng, Từ Hải tàn tàn kéo quân về trình diện triều đình. Không ngờ gặp phải thứ triều đình cà chớn, cho Hồ Tôn Hiến ra phục kích.

Từ Hải bị vây, tấn công bất ngờ, chết đứng giữa trận. Có thể lúc đó ông tướng bị áp huyết cao, cholesterol cao, nhận ra sự lọc lừa phản bội của triều đình, hoặc giả Từ Hải nghĩ Kiều là gián điệp nội phản… Thế là ông tướng uất lên mà chết thẳng lưng trên lưng ngựa, báu kiếm còn nguyên trong vỏ. Tên Hồ Tôn Hiến này cho ngồi chỗ tướng VC Nguyễn Chí Thanh, triều đình tráo trở này cho thế vào chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Hồ Chí Minh thì có lẽ hợp. Cứ coi cái trận Mậu Thân 1968 thì thấy hai cái triều đình này hành sử gian trá, lọc lừa y chang nhau.

Trong bài bình giảng thuở xưa, dĩ nhiên lúc tôi chưa biết lính tráng là gì, song là con trai có chút máu lý sự, tôi oánh ông tướng Từ Hải thê thảm. Ông thầy hỏi:

– Tại sao còn nhỏ mà em viết nặng tay như vậy?

– Thầy coi, đường đường là một ông tướng “dọc ngang nào biết trên đầu có ai” mà chỉ vì “nghe lời Kiều nói mặn mà. Thế công Từ mới đổi ra thế hàng”. Làm tướng gì mà hèn yếu, kỳ cục vậy? “Nhất tướng công thành vạn côt khô”, ổng làm tướng như vậy là chết cha ba quân. Bài bình giảng em viết hơi bạt mạng mà thầy lại cho em điểm cao là sao?

– Vì cách diễn giảng và phê bình của em có những lý lẽ vững vàng. Trời cho sau này mà em làm tướng, chắc em gắt gao và nguyên tắc?

– Em làm tướng sao nổi thầy. Cha mẹ em là nông dân mà, sau có đi lính bò lên tới quan là phúc đức ông bà!

– Tướng mạo em hiền, thẳng tính, nhưng biết đâu!

Trong suốt quãng đời thơ ấu bậc trung học, về môn văn, khi đụng tới truyện Kiều là tôi đâm bực cái câu:

Nghe lời Kiều nói mặn mà

Thế công Từ mới đổi ra thế hàng!

Từ Hải đã chết vì hai cái câu này. Nhiều lần tôi nghĩ bụng, tôi mà làm tướng thì muôn lần không, vạn lần không, sẽ không có chuyện mấy bà rớ vô chuyện nhà binh, chuyện đại sự. Thành ra, sau này, khi tôi vào lính, tôi ghét cay ghét đắng chuyện mấy bà lớn chỉ huy ông lớn, nhúng tay vào chuyện thuyên chuyển, bổ nhiệm, chuyện chạy cửa hậu. Tổng tư lệnh mấy cái cửa hậu đều do mấy bà nắm. Mà bình tâm xét lại, Kiều là nạn nhân tin người, Kiều không gian ác, tàn hại ai. Không thấy sách nói Kiều nhúng tay đày ải bất cứ người lính nào của Từ Hải…

Tuy nhiên, sau nầy tôi đã trải qua cái chết đứng cứng người như Từ Hải thuở xưa giữa tiếng hò reo của quân Hồ Tôn Hiến: Trên con đường trăng giữa mật khu Lê Hồng Phong dẫn ra biển, mấy chục cây AK của bộ đội và công an Việt cộng bất chợt ùa ra từ bụi rậm, chĩa thẳng lưỡi lê lạnh ngắt vào người tôi:”Đứng lại! Đưa tay lên” Tôi thành Từ Hải giữa mật khu Lê Hồng Phong, chân trụ trên đất, hai tay không một tấc sắt, đưa ngược lên trời, toàn thân lạnh người chết cứng. Có thể Từ Hải thuở xưa đã chết đứng như vậy!

Từ Tổng Trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao, tôi được tạm tha để về nơi cư trú trình diện và làm lại cuộc đời. Cuộc đời thực ra đã tả tơi, tan nát từ cái ngày miền Nam sụp đổ, nên sau những tháng năm tù, tôi không biết phải làm lại từ đâu, ngoài cái nghề đốn củi, làm tiều phu. Tiều phu trong sách vở là hình ảnh mấy ông già sống cái nghề lao động vô cùng tội nghiệp, còn tôi, bao nhiêu tuổi đầu còn lại chỉ thấy một mầu tang dưới khung trời xã hội chủ nghĩa.

Sầu đời, tôi chỉ biết chẻ nửa câu thơ Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác mà than “Trai trẻ bao lâu mà đầu bạc. Trăm năm thân thế bóng tà dương!” Còn cái chuyện “vỗ tay mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất man man, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường…” thì khỏi. Ngông nghênh, thất chí kiểu này thì công an tóm cổ tống lên trại trở lại là cái chắc. Sự kiểm soát, cai trị của cộng sản khắc khe và tàn độc hơn thời Pháp thuộc hàng ngàn lần. Không thể “nghiêng bầu mà hỏi để cạn hồ trường” như người xưa được!

Ngày tôi về, gia tài duy nhất tôi mang theo từ trại, đúng ra phải nói là từ những khu rừng âm u của trại tù tàn binh Kà Tót, là hàng hàng lớp lớp những trùng sốt rét nằm vùng trong máu, cứ lâu lâu “nghe lời Bác dạy”, hành tôi lên cơn một phát. Thế là hồng cầu nhen nhúm được nhờ những bữa cơm nhà tiêu đi mất trong một buổi chiều nóng lạnh. Sau cơn sốt, cơ thể tôi như cọng bún, chân bước không qua nổi một cục gạch bông. Cũng may, bà xã tôi vẫn còn được cho dạy học ở trường Phan Bội Châu Phan Thiết nên còn chút ít phương tiện sinh sống cầm hơi.

Khi tôi còn trong trại, phiên họp nào ở trường cô cũng có mặt. Cái gì cũng phải tốt để khỏi bị ảnh hưởng xấu đến ngày về của chồng. Khi tôi về và bị sốt rét nặng, cô lơi đi việc họp hành, chia bớt thời giờ để lo thuốc men cho chồng. Thế là đảng đoàn ở trường kết tội cô bị chồng ảnh hưởng tư tưởng tiêu cực nên không còn “năng nổ” như xưa.

Vậy là mấy năm “học tập cải tạo”, dù cho về, đảng vẫn coi tôi là thành phần ngụy ngập, không tin được. Nghe tin bí thư đảng đoàn gì đó của trường phán như thế, dù chưa đến kỳ lên cơn, tôi cũng thấy lạnh người như vừa bắt đầu lên cơn sốt rét.

Nhà tôi ở trên đường Trần Quí Cáp, Phan Thiết; mỗi khi có lễ lộc gì của nhà nước cộng sản, thiên hạ đều phải treo trước cửa một cây cờ đỏ sao vàng. Đường phố rực một màu đỏ rợn người. Trong những dãy cờ treo dọc phố, cây cờ của nhà tôi là bạc màu nhất, chẳng biết ông già vợ tôi kiếm ở đâu đem về. Ý ông là treo cho có lệ, người ta treo thì mình treo, không treo thì công an hỏi thăm sức khỏe.

Bên góc phải cửa trước nhà tôi có một hộp thư. Thỉnh thoảng nhà vẫn nhận thư bưu điện gởi đến, thỉnh thoảng lại có mấy cái thư đán tem gởi về Hà Nội. Thì ra các đồng chí nhà ta tưởng đây là “hòm thư bưu điện”. Những cái thư đồng chí gởi đồng chí kiểu này, tôi xé ra coi và cho vào bếp lửa. Đúng sai gì tôi không cần biết, chỉ biết đó là hành động tôi “trả thù” đảng kể từ ngày ra khỏi tù.

Đến một hôm, tôi bóc một bao thư đề gởi cho Ban Quân Quản Phan Thiết, người gởi là một bà cán bộ từ miền Bắc vào, ở sát hẻm nhà tôi. Nội dung thư tố cáo căn hộ của tôi ở là căn hộ của một tên sĩ quan ngụy mới về từ trại, coi thường lá cờ tổ quốc, để lá cờ bạc màu và tua rách, và yêu cầu trên lưu ý, xử lý thích đáng.

Đọc thư, tôi hoảng hồn, phóng xe đạp tìm ông cụ và nhà tôi lại phải ra phố mua cây cờ mới. Dĩ nhiên lá thư tố cáo tôi cũng chui vào bếp lửa để phi tang. Tôi nghĩ bụng sống như thế này sẽ có ngày chết, không chết vì sốt rét thì chết vì đứng tim, không chết vì đứng tim thì chết vì cộng sản hốt vô lại trại tù đày ải, bệnh hoạn mà chết. Hàng trăm lý do để bị chết oan nghiệt.

Mỗi khi tôi lên cơn sốt rét, tôi đều dặn gia đình là kêu y tá dạo tiêm thuốc, tuyệt đối không chở đi nhà thương, tôi sợ mấy cô y sĩ cách mạng nhớ thù xưa cho một phát thuốc bậy bạ là tên sĩ quan ngụy này chết không nhắm mắt! Căn nhà tôi trọ là của ông già vợ, gia tài của tôi còn lại duy nhất là chiếc solex. Cái gia tài này cũng làm tôi khốn đốn không ít. Cứ mỗi lần tôi kiếm được một xị xăng chạy ra phố là y như rằng có sự dòm ngó của công an, bộ đội:

– “Địt mẹ, thằng đó nó đi chiếc xe gì mà tớ không thấy nó đạp, không thấy máy cơ hành giây xên mà xe lại chạy phom phom! Quái nhỉ!”

Và dường như cái phong thái ngồi trên chiếc solex của tôi nó cũng có vẻ tiểu tư sản, phản động giữa cái thời mà cả nước xuống cấp, nón cối, dép râu, lao động phờ người. Một hôm, hai tên công an biên phòng đến nhà. Hắn hỏi xã giao trên trời, dưới đất và hắn tò mò hỏi cơ hành chiếc solex tôi dựng trong phòng khách. Tôi phải giải thích làm sao mà xe chạy được, chỉ cho hắn cái trục lăn cạ bánh trước khi nó lăn thì bánh xe quay, và xe chạy. Hắn lấy làm thích thú, song sau đó, hắn làm tôi lạnh người, hắn yêu cầu tôi cho hắn xem lại giấy ra trại. Hắn tịch thu, mang đi và tôi không có một mảnh giấy lộn trong người suốt một tuần lễ.

Tôi nằm nhà, mỗi đêm vài cơn ác mộng. Cứ mỗi sáng ra, tôi nhận diện cuộc đời, và chưa bao giờ trong đầu tôi chờn vờn nhiều ghe thuyền bằng lúc này, chiếc nào cũng có mũi nhắm hướng Mã Lai.

Không thể kéo dài cuộc sống đau tim này được. Biển cả và tự do thôi thúc, như một sức hút vô hình, tôi chợt nghĩ, rồi ra, đời mình chỉ còn có hai hướng đi mà định mệnh chọn sẵn, một là lên núi, hai là ra biển. Thử con đường Sơn Tinh mấy lần, thấy khó ăn, thế là tôi theo Thủy Tinh ra biển. Chết sống có số, chết bỏ! Ra đi may mà có đường sống.

Chuyến đi được chuẩn bị hàng mấy tháng trước. Bãi bốc là một địa điểm hẹn trên bờ biển phía Nam Phan Rí chừng 10 cây số, gần bìa rừng dựa lưng mật khu Lê Hồng Phong. Gia đình tôi gồm đứa con 3 tháng, đám em và một nhóm bạn bè từ Sài Gòn ra, được đổ ban đêm trên quốc lộ 1 phía Bắc Chợ Lầu vài cây số, từ đó băng ruộng, vượt sông qua một động cát ở hướng đông, nơi tôi sẽ gặp mọi người bằng một con đường đi riêng chỉ có tôi và người bạn đồng hành biết.

Là một sĩ quan tù cải tạo ra trại không bao lâu, cơn ác mộng của tôi là bị bắt trở lại. Do đó, tôi và người bạn đồng hành đã dùng địa bàn bộ binh lội nát lộ trình tôi định đi, để nếu lỡ chuyến đi bị phát giác, tôi có cơ hội thoát một mình Nhưng lưới đảng lồng lộng, tôi đã bị tóm.

Mẹ tôi đã khóc hết nước mắt khi em tôi kể lại chuyện tôi bị phục kích và suýt bị bắn trong mật khu Lê Hồng Phong Riêng tôi, tôi không hở một lời. Kể từ ngày bỏ nước ra đi năm 80, tôi chưa một lần về lại Việt Nam.

Tôi vẫn biết, mỗi lần Tết đến, bà cụ vừa rang nổ làm cốm Tết, vừa khóc. Bà biết chút ít câu Kiều, nhưng chắc bà không biết Từ Hải trong truyện Kiều chết đứng ra sao, bà cũng không làm sao biết được cái oan nghiệt lạnh người của tôi khi bất ngờ bị phục kích giữa rừng, bà chỉ biết tôi suýt chết, nhờ ông bà phù hộ mà còn sông và nay thì biền biệt cuối chân trời.

Sài Gòn nắng hạ mưa tuôn

Cũng không rửa sạch mối hờn trăm năm

Hỡi ơi, tóc loạn không cầm

Mà tim còn hực lửa hồng sục sôi.