Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 15 Nov 2025

Phần 16 – Khi người đàn bà đứng dậy

 Sau những ngày đêm nghĩ suy trũng mắt, nàng quyết định dắt hai con nhỏ theo chồng vượt biển ra đi. Con đường mòn giữa rừng dẫn ra biển dài ngun ngút. Nỗi âu lo tràn ứ trong lòng cứ giục chân nàng bước tới, hai tay dìu hai con thơ. Nôn nóng, sợ sệt, tim nàng mảy may không một chỗ nào còn trống cho cái cảm giác ly hương bùi ngùi nước mắt như ngày xưa Kiều ra đi mà…”lòng quê đi một tấc đường một đau” hay cái cảm giác của chàng chinh nhân trong Chinh Phụ Ngâm… sau những giây phút “múa gươm rượu tiễn chưa tàn – chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo…” Nhưng khi phóng người lên lưng chiến mã thì chàng lại bịn rịn, “bước đi một bước giây giây lại dừng…”. Nàng cắn răng nhủ lòng: một sống, một chết! Phải liều thân.

Đến bờ nước, điểm hẹn bốc người, nàng bàng hoàng trước những con sóng cứ đuổi nhau vô bờ trong lúc chiếc ghe nhỏ xíu mang theo mẹ con nàng vật vã ngược sóng đi ra. Sóng nước quê hương như muốn giữ nàng lại, nhưng khát vọng tự do và tương lai cuối trời lại đẩy nàng vào chốn mênh mông trùng trùng sóng nước. Càng xa, quê hương càng mờ dần. Quê hương, một mầu đen ảm đạm biến mất cuối trời mây trong bóng đêm dày đặc. Nàng nắm tay chồng:

– Thoát chưa anh?

– Dường như ghe đã tới hải phận quốc tế rồi em! Hy vọng thoát!

– Em sợ quá! Sống không nổi phải ra đi! Tội nghiệp hai con! Mình đi một phần cũng vì tương lai của hai đứa nhỏ!

Vợ chồng nàng và hai đứa con đã thoát thật sự, đã sống thật sự khi chân nàng lê những bước mệt nhọc đầu tiên trên bờ cát Bidong sau chuyến hải trình sóng gió giữa biển rộng. Có những hôm ra cầu Jetty, nhìn hàng dừa xanh, nàng chạnh nhớ hàng dừa Mũi Né, nhìn bờ cát trắng, nàng mơ màng Cà Ná, sóng vỗ gọi hồn sông nước, nàng đoạn ruột nhìn về phương trời quê cũ, một vầng mây bạc lang thang ở cuối tận chân trời. Nàng thấy cuộc đời nàng đang như những áng mây vô định, càng trôi, càng xa rời nơi chôn nhao cắt rốn nghìn trùng xa cách. Mắt nàng bỗng ươn ướt, và hai giọt nước mắt lăn tròn trên má người thiếu phụ. Hình ảnh quê hương, cha mẹ, anh chị, bờ cây, ngọn cỏ đang vọng tiếng thê lương nhung nhớ trong lòng nàng…

Sáu tháng sống nhờ cơm Cao Ủy, vợ chồng nàng lên đường định cư ở một nơi xa lạ, thấy trên giấy tờ ghi Canada. Sau chuyến bay dài gần nửa ngày, nàng đến Montreal rồi lại đi tiếp đến Vancouver, một thành phố lạ nàng chưa hề nghe trong đời. Nàng đến Vancouver vào giữa mùa đông, co ro, buốt giá khi những hoa tuyết lãng đãng rơi trên vai, trên tóc nàng như thay lời chào đón: “Welcome to beautiful British Columbia“.

Nàng choáng ngợp trước một thành phố tấp nập rực rỡ ánh đèn, ngập tràn xe cộ… Song rồi mọi thứ cũng đâu vào đó. Nàng thấy ấm lòng trong bàn tay bảo trợ chu đáo của nhà nước Canada. Cuộc sống mới bắt đầu. Hai đứa nhỏ có trường mới, bạn mới và chỉ mấy tháng sau, nó bắt đầu nói tiêng Anh ngon lành. Nàng không tưởng tượng nỗi khả năng tiếp nhận ngôn ngữ nhanh chóng của hai con. Nàng nhớ lại câu nàng nói với chồng ngày nào trên biển: “mình di một phần cũng vì tương lai của hai đứa nhỏ.” Uớc mơ đã hiện thực hôm nay trên con đường mỗi sáng dắt con đến trường

– Bảo! Bình! Mẹ rất mừng khi hai con nói tiếng Anh rất giỏi! Nhưng khi về nhà thì nhớ nói tiếng Việt với Ba Mẹ nghe! Con nói tiếng Anh, Ba Mẹ không hiểu hết…

– Mình ở Canada mà Mẹ!

– Ừa! Mẹ biết! Nhưng mình là người Việt Nam, về nhà mình nói tiếng Việt Nam, mình giữ tiếng Việt Nam để sau này con nói giỏi hai thứ tiếng. Mai con cứ hỏi cô giáo con là người nói hai thứ tiếng tốt hơn là người chỉ nói một thứ tiếng, xem cô giáo có cùng ý với Mẹ không?

Hôm sau, hai thằng bé vào lớp cùng hỏi cô giáo một câu. Cô giáo lúc đầu hơi ngạc nhiên, nhưng sau đó trả lời là người nói nhiều ngôn ngữ có ích hơn là chỉ nói một ngôn ngữ, và cô giáo khuyến khích nên giữ tiếng Việt đừng bị quên mất. Tan học, Bảo và Bình chạy một mạch về nhà và tranh nhau nói trước với Mẹ:

– Mẹ ơi! Cô giáo con cũng nói giống Mẹ vậy! Ờ nhà tụi con nói tiếng Việt với Mẹ nghe!

Nàng ôm con vào lòng, và thấy hơi ấm hạnh phúc tràn lan trong phòng. Mấy tháng nay, cả hai vợ chồng đều sống nhờ trợ cấp xã hội của nhà nước. Số tiền cấp dưỡng cho gia đình nàng vừa đủ sít sao cho những chi tiêu căn bản của đời sống, nhà cửa, điện nước, ăn uống, áo quần… Muốn làm cái gì rộng tay một chút thì y như rằng, tháng kế phải cắt xén không tiền ăn thì cũng tiền dắt hai con đi Mac Donald vào những Chúa Nhật.

Nàng nhận ra, số tiền giới hạn nhà nước cung cấp như một cái khung căn bản ban đầu cho một gia đình đầu tiên trên đất mới, nhưng cái khung đó quá chật hẹp khi cuộc sống bắt đầu đơm hoa, con càng lớn, ước vọng càng đâm chồi, một chiếc xe cùn để chạy đỡ giò thay vì le te chạy theo mấy chiếc xe bus với mấy giỏ nylon thức ăn mua ở Safeway hay chợ Tàu, có khi ngả té văng cả thức ăn, có khi đợi xe dưới trời buốt giá.

Thêm vào đó, khi thư Canada về đến Việt Nam thì lại có mấy cái thư kêu cứu của gia đình, bè bạn bay ngược lại. Đôi lúc nàng có cảm tưởng bà con ở Việt Nam xem nàng như nàng công chúa trên trời rơi nhẹ nhàng xuống một vùng hoa lá đầy vàng đầy ngọc hai bên vệ đường, và nàng công chúa ấy phải nhặt gửi về lại Việt Nam. Thương cha mẹ, hai vợ chồng nàng lần đầu chắt chiu gửi về mây trăm đô la, và tháng sau đó là thắt lưng buộc bụng.

Một năm trôi qua, hoài bảo, tương lai các con và gia đình đã ở trong tầm tay, nó không còn là những đám mây trên biển cả, nó không còn là những đám mây trên trời Pulau Bidong, nó không còn là những giọt nước mắt trong những ngày đầu nơi xứ lạ; nó hiện hữu, nó nắm bắt được, sắp đặt được, bàn tính được. Khả năng Anh ngữ của vợ chồng nàng đã đủ để tạm sống giữa xã hội Canada, nó không còn lọng cọng với chỉ hai chữ no và yes … Nàng tin là mình có thể bước tới tương lai bằng hai chân của mình mà những giúp đỡ của nhà nước chỉ là những bệ phóng ban đầu cho những người Việt Nam tỵ nạn khát khao tự do và đầy nghị lực. Khi cánh con chim đã đủ lông vũ xòe ra giữa trời lộng gió thì có ngày, nó sẽ bay liệng giữa trời bao la.

Buổi tối, khi cho con ăn xong và hai đứa bé ngủ yên trên giuờng, nàng bàn với chồng:

– Anh nghĩ sao khi cả hai vợ chồng mình cùng đi tìm việc làm?

– Ủa! Bữa nay sao em có tư tưởng cách mạng dữ thế?

– Đâu có gì là cách mạng? Đâu có gì là ghê gớm? Mình đến xứ tự do để xây đắp một đời mới, một tương lai mới. Chẳng lẽ ôm hai đứa nhỏ ăm “queo – phe” suốt đời? Không biết anh nghĩ gì, chứ nhiều bữa mình xếp hàng chờ lãnh tiền trợ cấp hàng dọc dài với thiên hạ, em thấy ra sao ấy! Tính em tự lập, không muốn lê kiếp sống nhờ!

– Rồi hai đứa nhỏ? Ai đưa nó đi học? Hết giờ ai đón nó?

– Cái đó giải quyết được! Mình đi tìm việc làm. Người làm sáng, người làm chiều, hoặc cha, hoặc mẹ. Như vậy là lúc nào cũng có người đưa đón và chăm sóc con!

– Bộ em tưởng đi làm sướng lắm hả? Cứ tàn tàn sống nhờ “queo-phe” có chết con chuột nào đâu?

– Kỳ vậy? Ngày xưa anh xông xáo tổ chức vượt biên, tù tội mấy bận, anh như một chiến sĩ dọc ngang, liều mạng nhờ vậy mà hôm nay mới có mặt ở Canada, chứ không thì chắc phải eo xèo hắt hiu trong lao tù hay trong mấy cái hóc bà tó kinh tế mới. Sao bây giờ trên đất tự do, thiên hạ làm ăn ì xèo, anh lại co cụm an thân? Anh thấy hai đứa nhỏ càng ngày càng lớn như thổi, quần áo mua tháng này, mặc vài ba tháng sau nó nhổ giò phải mua cái khác, nhà cửa quá đạm bạc, lại còn dư chút ít để giúp chút cháo bên nhà.

Sống như vầy hoài, em chịu không được! Nhà nước Canada đâu mắc nợ tiền kiếp tụi mình mà tụi mình cứ ngồi ăn không hoài. Nói thiệt với anh, anh không đi làm thì em đi làm. Tương lai chúng ta, con chúng ta phải bung rộng từ bàn tay chúng ta!

Nàng nói thao thao. Giọng nói thoát ra từ nghị lực, niềm tin và niềm tự hào của một người bỏ nước ra đi và vượt thắng định mệnh trái ngang, nghiệt ngã. Nàng không thể giẫm chân tại chỗ khi đến xứ này, nàng không thể đầu hàng khi có cơ hội chiến thắng: một tương lai tự tạo, tự hào và tươi sáng hơn. Nàng nhìn chồng ngồi trầm ngâm.

Đêm nay có lẽ là đêm quan trọng thứ hai kể từ đêm đầu tiên đặt chân đến Canada. Người vợ mảnh mai của chàng hôm nay như một nội tướng hóa thân thành một dũng tướng, hoạch định cuộc hành quân ngoài mặt trận. Chàng có một chút ngạc nhiên, chàng cũng có một chút tự ái thèn thẹn khi nghĩ lại những lời tiêu cực của mình lúc bàn luận với vợ. Quá khứ chàng hiện lại trong những ngày hành quân ngang doc trước 75, những ngày tù tội trong các lò cải tạo, những đêm chôn dầu vượt biển… Chàng như con mãnh sư trong rừng, như con cọp trong chuồng, như con báo đen… trong những trong những đêm đâu trí với công an để thực hiện chuyến đi sinh tử. Nay chẳng lẽ … Và chàng bất chợt nói với vợ:

– Em số một! Em là một người vợ hết sẩy! Mình phải vươn vai lên mới được! Thank you Canada! Thank you em!

Tháng đầu đi làm, tuy có vất vả chút đỉnh, nhưng không thấm vào đâu so với những ngày lao động chết người ở kinh tế mới nhưng không đủ ăn. Nàng và chồng nhận được hai tấm cheque đầu tiên do công sức của mình làm trên quê hương thứ hai. Hai tấm cheque cộng lại hơn gấp rưởi tiền trợ cấp xã hội hàng tháng trước đây. Hai tấm cheque khởi đầu cho một tương lai mở rộng.

Hàng tuần dắt hai nhóc tì đi Me Donald đều hơn, bàn ghế trong nhà tươm tất hơn, mấy thùng mì gói ít lại, và lâu lâu dư chút đỉnh báo hiếu cho gia đình mẹ cha nghèo khổ tại quê nhà.

Hai tấm cheque, cũng in bằng giấy, bằng mực như tấm cheque nhà nước cấp cho, nhưng sao nàng thấy nó dường như nặng hơn, trang trọng hơn, tự hào hơn. Nàng ngửa mặt nhìn trời, trái tim mở ra, tương lai mở ra… và những đám mây lang thang trên bầu trời Vancouver bỗng như hồng lên rực rỡ. Nàng đang bước đi giữa phố phường Vancouver trên đôi chân của một người đứng dậy … Nàng đang bước vào tương lai bằng đôi chân và ý thức trong sáng của người đàn bà Việt Nam bỏ nước ra đi vì tự do!


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply