vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 15 Nov 2025

9. Chương 9
Ngủ gục trong sở mà sau được vinh thăng Tổng Đốc.
Chuyện này có thật, nhưng xảy ra đã quá lâu, lại nữa tôi chỉ nghe thuật lại không đầu không đuôi, nên tôi không dám chi đích danh, e xúc phạm vong linh người quá cố đáng kính, vậy tôi tạm gọi người bằng một tên đặt riêng là “Người Sài Gòn” và xin độc giả thông qua cho.
Việc xảy ra vào cuối thế ký XIX bắt qua thế kỷ XX. Bên Pháp quốc, Nội các rất kính nể và rất phục tài nhưng cũng vì quá ngán sự đàn bạch chất vấn của ông, nên đồng hè tiến cử thượng nghị sĩ Paul Doumer qua làm Toàn quyền đại thần, trọn quyền cai trị toàn cõi Đông Dương, kể từ ngày 13-2-1897. Lại một khó xử nữa cho tôi, tên gì quá tục, quá ác, cái gì mà “Doumer: Đu Me”, nên tôi phải chịu theo người Bắc mà gọi ông bằng một tên văn hoa thơm tho là “Đô Mỹ”.
Và nay tôi bắt đầu kể chuyện. Sự nghiệp của Đô Mỹ để lại đây quả là đáng đích tỷ dụ nói sơ như ngoài Bắc có chiếc cầu sắt bắc qua Hồng Hà, nay còn danh tiếng và trong Nam này, nào cầu sắt cho xe lửa chạy qua Biên Hòa lên tận Hà Nội, và nào cầu sắt Bến Lức và cầu sắt Tân An, tuy nay đã có cầu đúc đá sạn thay thế, nhưng danh sách mấy cầu sắt kiểu Eiffel nầy vẫn còn tồn tại. Nhưng việc ông Đô Mỹ thành công trong sự nghiệp tạo tác tôi xin gác qua một bên và trong bài nhỏ này, tôi xin nhắc sơ vài mẩu chuyện có thật mà gần như đã thành huyền thoại, chuyện mạn đàm trong buổi trà dư không cần tỷ mỷ dò xem đích xác. Chính toàn quyền đại thần Đô Mỹ là người duy nhứt, dám đơn thân độc mã phóng ngựa chạy qua truông Nhà Hồ, bất chấp chướng khí sơn lam cọp rừng voi rú, suốt từ Hà Nội cho đến Huế đô và chi dắt theo bên mình, một võ quan uy tín, đến mỗi trạm thì thay ngựa mới, cái kỳ công xuất chúng này, các toàn quyền kế tiếp, du hành bằng xe hơi tốt máy, bằng tàu biển hay tàu hỏa, há dám tranh công?
Đô Mỹ quả là người có tài tánh lại quả quyết gần như độc đoán, nhưng rất giản đi, các quan lang sa theo giúp ông cũng đều xứng đáng các qui kỳ phận, bên Đoan (Thương chánh), bên Dây Thép (Bưu cục) như bên Lộ Cầu (tạo tác cầu, đường), duy khi Đô Mỹ qua nhận chức tại Hà Nội, nơi văn phòng Toàn quyền phủ, ông vẫn chấp nhận các quan lại bản xứ của trào trước để lại, đều toàn là người đất Bắc, khăn đen áo dài tiêm tất và trong văn phòng giúp việc cho Đô Mỹ, chỉ có một người duy nhứt từ phủ Phó Soái Sài Gòn gới ra, ăn vận không giống ngoài Bắc, đã văn minh tóc hớt ngắn và mặc áo bành tô (paletot) gài sáu nút, và tạm gọi “Người Sài Gòn”.
Người Sài Gòn này gần như bị bỏ bê bất dụng, một phần vì Bắc Nam lúc ấy cư xử ăn ở không mấy giống nhau, một phần khác, Người Sài Gòn vấn khô nhập hội với chúng bạn đồng sở mã tấu răng đen, Người Sài Gòn tứ bể lạ nước lạ non, có vợ con chưa hay vẫn sống độc thân, vẫn ăn cơm tháng và ở trọ đâu đây hay vẫn có gia cư đường hoàng, nào ai biết được, chỉ biết ngày qua ngày, ngày nào như ngày nấy.
Người Sài Gòn không có việc công để làm và sớm như chiều, khi vô sở, chỉ có ngồi ngáp gió và đặc biệt là giới nghề ngủ gục, gục lên gục xuống, (ngoài nở gọi ngủ gật, thì cũng một thứ), và chính một hôm nọ, các quan trong sở đều rút lui ai về nhà nấy, mà cũng quên đánh thức người Sài Gòn, ông ta vừa tỉnh giấc Nam Kha, chưa biết tấn thổi lẽ nào, thì bỗng trong phòng riêng ông Đô Mỹ bước ra, trong văn phòng lạnh ngắt, ông ngó quanh ngó quất chỉ thấy duy nhứt người Sài Gòn đang ngơ ngác thủ lễ cúi đầu chào kính cẩn:
– Ủa! – toàn quyền Đô Mỹ vui vẻ nói – Anh còn ở đây hà? Này, hãy làm ơn cho đi bức công điện khẩn này! (Câu Pháp văn có lẽ là: Ah! Vous êtes encore là! Tennez, faites-moi partir ce T.O. (télégramme officiel), s’il vous plaýt!).
Viết đến đây, tôi cần mở một dấu ngoặc để giải nghĩa buổi ấy vẫn chưa có máy đả tự hoặc máy điện thoại chi chi cả và người thơ ký thuở ấy chỉ cần thạo nghề thông dịch cho cứng cáp, từ tiếng Tây qua tiếng ta hoặc từ tiếng ta qua tiếng Tây cho thật rành rẽ, và biết đủ bốn bài toán cộng trừ nhơn chia, là đủ có tiền lương mỗi tháng đều đều, có việc thăng quan tấn chức, vẫn tùy vận đó đen, biết nịnh bợ hay cứ đường thắng mà đi và giữ liêm chánh đúng như lương tâm của nhà nho còn sót lại. Khép dấu ngoặc.
Đô Mỹ giao cắt việc xong thì lui về phòng, nhưng đối với Người Sài Gòn, kể từ hôm ấy, quả vận đen đã đứt và vận đỏ đang hừng, cơn gió thuận vẫn đưa ông thẳng tới bãi Đằng, đúng như câu Hán “Thời lai phong tổng Đằng vương các”.
Đô Mỹ đại thần từ ấy chỉ biết và dùng duy một “người Sài Gòn” ấy làm thơ ký riêng, còn các quan khăn đen áo dài kia, các quan chức gốc Bắc kia, trái lại, đến lượt cầm quạt quạt mát và ngồi chơi xơi nước cả ngày, hoặc tiếp tục làm những việc vặt vạnh cho qua ngày qua buổi, có khi kéo một hơi thuốc lào để nghe tiếng giòn tan lốc bốc giải khuây, khi khác chùm nhum nhau lại cãi cọ con ruồi con dế có mấy ngoe mấy cắng! Cùng một lúc, và phải nói ra đây, Người Sài Gòn vẫn giữ tánh khiêm nhượng ít nói ít rằng, vừa lanh lẹ làm theo ý chủ nhưng không hề bợ đỡ, và chắt mót “kiến tha lâu đầy ổ” “đường mây cười tớ ham dong ruổi”, cứ một đà thẳng tới… tương lai ngay bót một đường!
Đến một ngày nọ, toàn quyền có việc cần có mặt để giải quyết tại Huế đô, và ông vẫn dắt theo duy một thơ ký riêng “Người Sài Gòn”. Lúc ấy vua Đồng Khánh đang tại vị và đức vua ra lịnh thiết yến đãi quan toàn quyền theo lối âu Tây và ban sắc chỉ cho các quan được một khi “đồng tịch đồng sàng”, cùng ngồi bàn để dự yến với đức vua, chớ không lẽ “ăn cơm Tây” mà bắt phải quì để xơi để uống, và tay nào cắt thịt, tay nào cầm muỗng cầm nĩa, trời hỡi trời!
Khi Đô Mỹ được trao giấy đức vua mời dự yến, ông tươi cười xin quan phụ chánh của Nội các Huế nhớ mời cùng chung vui viên thơ ký riêng của mình:
• Thượng quan nhớ mời thơ ký riêng của tôi với! (Invitez en même temps mon secrétaire particulier, có lẽ câu Pháp ngữ là như vậy).
– Dạ thưa toàn quyền đại nhân, việc không thể được vì muốn được dự yến với đức hoàng thượng, ít nữa phải vào hàng tổng đốc sắp lên. (Câu Pháp: Les invités de Sa Majesté, doivent au moins tre du rang de “tổng đốc”).
– Như vậy thì cứ phong ông ấy vào hàng tổng đốc, có khó gì? Chính tôi đây sẽ ký sắc lịnh ấy kia mà! (Alors, nommez-le tổng đốc! C’est moi qui signe l’arrêté de nomination? ý tắt tiếng Tây có lẽ như vậy vậy).
Thế là vừa bỗng nhiên và cũng vừa nghiễm nhiên và thinh khổng thinh không, Người Sài Gòn trở nên tổng đốc, không chạy chọt và không cần đi thi mà được cử!
Việc ấy làm cho các quan trong triều đình Huế sôi gan, tức gần hộc máu tươi mà vẫn không làm gì khác hơn là đồng ấn ban cấp bằng chánh thức.
Duy đoạn sau vẫn có chút đổi thay để đỡ mất mặt trào đình. Đô Mỹ đại nhân hết hạn, rút lui về Pháp và căn số của ông thật cũng là không giống một ai: ông có hai người con trai, đều thành tài nhưng đều tử tại trận tiền, trong trận đệ nhứt thế chiến Đức – Pháp và chính ông Đô Mỹ, sau lên đến tột bực là lên làm tổng thống nước Pháp (Président de la République), nhưng dòng Doumer khiến phải tuyệt tự, ông bị một tên cuồng nhơn nước Nga tên Gorguloff bắn ông chết rồi đền mạng… còn Người Sài Gòn, tôi không rõ hậu lai ra sao, tôi chỉ quen với con và dâu của ông, và vẫn biết Người Sài Gòn vẫn được an nhàn tự tại, về dưỡng lão nơi tỉnh quê hương là đất Vĩnh Long, cây trái xanh ngon, thú điền viên ông tọa hưởng nơi đất Vãng này, chỗ trấn nhậm cũ của quan Phan Thanh Giản, kinh lược ba tỉnh Miền Tây, đất Vãng trước của Cao Miên, danh gọi Kompong Luông, ta dịch là Vũng Luông, rồi biến ra Vĩnh Long, theo Hán tự, chớ thật ra “Luông” tiếng Miên tiếng Lào là “vương” là “vua” tỷ như Luang-Prabang (Lào) và Kompong Luong (Miên) vậy vậy. Đô Mỹ về Pháp địa là một dịp cho triều đình Huế gỡ bớt mối xám mặt năm trước: viện cớ đất Nam Kỳ đã trở thành thuộc địa của Pháp, như vậy con dân đất Nam không còn giữ quốc tịch Nam được và mấy ông trước phong làm tổng đốc thực thụ, nay trở nên tổng đốc hàm, và chỉ còn hàm thiếu răng:
Nam Kỳ có ba ông tổng đốc: một Trần Bá Lộc, vì giết hại đồng bào mà được chức của Tây ban, về sau Lộc đeo đuổi nghề mở mang điền sản ở Đồng Tháp rồi sạt nghiệp, con trai là Trần Bá Thọ phải tự tử bằng súng lục vì vỡ nợ, rồi đời dòng phản thần:
– Một tổng đốc thứ 2 là Đồ Hữu Phương từ chức hộ bên Gia Tô giáo leo lần lên tổng đốc, vinh vang một hồi, rồi cũng xác chôn hóa giòi….
– Duy tổng đốc thứ 3 là Người Sài Gòn này, biết an phận tùy duyên, nhờ ngủ gục kịp thời mà bống vinh thăng tổng đốc, tôi chỉ nghe thuật chuyện của ông và biết có bao nhiêu đó, độc giả nào muốn biết rõ hơn, xin mời đến đất Vãng và ráng hỏi thăm người cố cựu xứ cây và trái ngon ấy.
Riêng tôi, gần đây, tôi tàm tài liệu để viết về “viện bảo càng trong thảo cầm viên ngày nay”, tài liệu ấy đăng trong quyển số 2 của bộ tập san Bulletin de la Société des Etudes Indochinoise, numéro 2 de l’année 1929, số báo này vẫn có đăng một bài nécronologie de Phạm Văn Tươi (chính đích danh của Người Sài Gòn này), nhưng mấy phen xin mượn mà sách không được trao tay, lấy lẽ sách cất trên cao khó lấy và hẹn lần hẹn hồi, tôi đành ngã lòng cam viết tào lao làm vậy và cũng không nên trách ai buổi này: (31-3-1991).
Tái bút
Thuật tiếp chuyện “Người Sải Gòn”, tức “Chuyện ngủ gục trong sở mì sau được vình thăng Tổng đốc”.
(bài viết ngày 8/4/1991)
Trong bài tôi đã giao cho nhà báo, nhan là “Ngủ gục mà được làm tổng đốc…” nơi mấy hàng chót, tôi có than rằng: “muốn mượn tập số 2 năm 1929 của tạp chí Pháp văn của rội nghiên cứu cổ học Trung Ấn (Bulletin de la Societe des Etudes Indochinoises) nhưng không mượn được, bất ngờ và may mắn thay là nhờ khéo vận động, hôm nay 8-4-1991, tôi đã nắm trong tay bản sao “photocopie” ba trang sách dẫn trên đây, nói về sự nghiệp và công trạng của “Người Sài Gòn”, mà không rõ tâm tình, tôi đã vô phép viết điệu mạn đàm, cách xuất thân của Người Sải Gòn nầy, nay tôi thành thật cáo lỗi với vong người đã khuất và muốn cho đầy đủ câu chuyện, tôi xin viết tiếp những gì tôi biết, về: “tâm địa của người Miền Nam trước đây đã làm việc cho chánh phủ Pháp”, nhưng tôi không dám luận sát vấn đề, và chỉ xin “chạy hiệu” chung quanh những nhơn vật tôi từng sống chung đụng và từng biết chút ít về tâm lý, tâm trạng, v.v.. nhưng cũng chưa chắc tôi đã đi guốc trong bụng họ được, và như vậy xin chư độc giả thông cảm cho.
Bài “Nécrologie” (tự điển Đào Duy Anh gọi “tử vong tiểu truyện” viết rõ ràng “Nécrologie Monsieur Phạm Văn Tươi”, đủ hiểu năm 1929, người Pháp trọng vọng người đã từ trần đến bực nào và trong bốn trang, tạp chí Pháp đã đăng: một bài điếu văn của Hội S.E.1., tiếp một bài điếu của Thống đốc Nam kỳ đang thời, và sau rốt là mấy hàng điện văn của chủ tịch Thượng nghị viện Pháp, mà không ai khác hơn là vị cố Toàn quyền Paul Doumer, tôi chép y và xin dịch lại đây để cùng biết:
“J’apprends avec douleur la mort de mon excellent collaborateur et ami et j’adresse à sa famille mes sympathiques condoléances (Paul Doumer, Président du Sénat).
Dịch: “Tôi vừa hay tin đau xót về người cộng sự viên xuất sắc và bạn thiết cốt cố nhân từ trần, tôi xin gới lời phân ưu nồng nhiệt đến tang quyến”.
Tôi xin tóm tắt lại đây: đại lược Hội kể “Người quá cố là Tổng đốc danh dự của triều Huế, vừa là nghị viên chánh thức của Cơ mật viện Đông Dương, vừa là thực thụ có Bắc Đẩu bội tinh đến bậc Đệ tam Đắng (Commandeur de la Légion d’Honneur), bội tinh cao cấp này, người thuộc địa không dễ gì có).
Trong bài ai điếu của ông J. Krautheimer, Thống đốc Nam kỳ, lại kể buổi xuất thân lam lũ, tống thơ văn (expéditionnaire) địa hạt Chợ Lớn, rồi thi đỗ chức thơ ký tập sự của Chánh phủ Nam kỳ, Người Sài Gòn được biệt phái ra Hà Nội làm việc nơi Toàn quyền phủ, nào ngờ lọt nhãn Toàn quyền Đô Mỹ và giữ chức “Bí thơ” suốt năm niên cộng sự, từ ấy vinh thăng đốc phủ sứ từ năm 1902, thụ lĩnh bội tinh Bắc Đẩu, để rồi sau khi toàn quyền Đô Mỹ rời Đông Dương về Pháp quốc, Người Sài Gòn lui về miền Nam và vẫn không từ nan chức nào, từ địa hạt Thủ Dầu Một, thuyên chuyển qua tỉnh Biên Hòa, trẩy qua Rạch Giá, sau rốt và sau bốn mươi năm công cán, Người Sài Gòn lui về nơi nhau rún (Vĩnh Long) và an dưỡng tuổi hưu nhàn năm 1926, sau khi đóng vai tuồng lưu niệm dạ tiệc Bal La Grandière đồng vai Kinh Lược Phan Thanh Giản vận y mão theo cựu trào (năm 1927), dựng Văn Miếu Công thần tỉnh Vĩnh Long và mất tại đây vào năm 1929. Một công chức cao cấp của thuộc địa Pháp năm xưa mà tôi đã múa bút giỡn viết như bài kỳ trước, quả tôi hữu nhãn vô châu và trịch thượng vô lễ, nhưng việc cũ nhắc lại, còn biết bao người ăn lương đốc phủ sứ mà nào hiểu ba chữ ấy truy nguyên từ đâu, (chính Tôn Thọ Tưởng đặt ra, lấy quyền như “Tổng đốc”, chức là “Tiểu Phủ sứ” đi tẩy trừ kẻ chống trào Tây), biết bao người nhờ lòn lỗi chạy chọt hối lộ mà leo lần từ huyện qua phủ rồi giữ chức ấy nhưng lục lục tài thường, biết chìa tay lãnh bổng mà nào biết phận sự phải làm, ngoài ra, không nên quơ đủa cả nắm, và thiếu chi độc phú đủ tài năng, một Nguyễn Văn Tâm, Hùm Xám Cai Lậy, mang tiếng dữ nhưng nào có giết một ai và tài làm thơ tám câu chữ Hán, ngoài kia còn nhớ, một Trần Văn Tấn, thơ nay thơ cổ đều lão luyện, một Lê Thành Long, có Pháp tịch, có bội tinh Bắc Đẩu nhưng vẫn chống Pháp bị đày qua Pháp, làm thi chữ Pháp tự ví mình như chiếc xe Citroen 5 ngựa bị giá lạnh nằm chèo queo xó đường ở Paris, rồi một đốc phủ nọ làm giàu nhờ lột vàng trên tay tử thi trôi dòng nước lụt trận bão lớn ở Gò Công năm Thìn 1904, một ông khác từ Toàn quyền phủ đổi về Rạch Giá, chiếm ruộng của dân gây ra án mạng danh gọi “Đồng Nộc Nạn”, một ông làm nơi dinh đốc lý, quen gọi dinh Thượng thơ (Direction des
Bureaux), thanh liêm và giỏi nhớ, một ông nữa làm nơi văn phòng thống đốc, kiệm cần làm bổn phận, thanh thận cần làm gốc và nói lái một cây, còn xiết bao người kia, sau đều đền tội kẻ bị móc ruột, kẻ bị hành hình, thây thả trôi sông, và nào Đốc Phủ, Đ.H.H., nào Trần Bá Lộc và con là Thọ.
Một ông có tài, viết Pháp văn dễ như ăn cơm bữa, nhưng có tật bạc bài, bao nhiêu tiền tiết kiệm ra đều cúng vào sòng me sông Xe Lửa và đánh Già Dác (ông Trần Văn Mổng); một ông vơ vét mót được trốt trăm lạng vàng, mua vườn trà vườn cà phê trên Cao Nguyên, ô hô phê trà, đau tim mà chết. (Ô. Trần Văn Thi); một ông bị sát hại tại nhà thương (đốc phủ Phước); một ông khác, vừa leo lên chức huyện, cho làm chủ tỉnh ở Cà Mau, vợ tham, đòi binh Nhựt trả một chiếc đồng hồ đeo tay nghi cho một lính đánh cắp, lính lẹ tay quăng trả trên nóc mùng, lính chạy tang vật xong, một hai xin chủ tỉnh đền tội nghi không bằng cớ, huyện Trang (Dương văn), chết lảng nhách là một gương sáng, danh mà chi? quyền lợi mà chi? làm đến đô trưởng Sài Gòn, rồi chết trong hàn vi (Nguyễn Phú Hải), làm đến đốc phủ rồi qua làm chủ ngân hàng tư rồi phủi sạch tay không, ích gì? Một ông chạy qua Pháp, có một đứa con duy nhứt, nó lấy vợ đầm, con đầm bảo chồng cho cha vào dưỡng đường nằm để chúng nó hưởng tự do khỏi việc hiếu đạo, thảy đều là bạn đồng song, trước cùng học một trường trung học Chasseloup với kẻ hèn nẩy, một bạn giỏi Pháp văn, đậu huyện sớm, chết bị giết ở Biên Hòa là Tân Hàm Phục, một bạn nữa, từng viết bài được báo Nam Phong chấp nhận, là Nguyễn Ngọc Chi, bị hại ở Trà Vinh, về sau người vợ phải ngồi bán vé cải lương và cho tiền vay góp cho kép đào để lấy lãi nuôi con, đứa con ấy sau đã ra sao, nọ biết, chung qui từ tân trào, Pháp đem văn minh Âu Tây qua nhiễm độc, một Nguyễn Ngọc Thơ, có tài có đức, nhưng vì theo phò ông Diệm mà thân bại danh liệt, tôi nhìn nhận ông Thơ có công gầy dựng cho tỉnh nhà là Long Xuyên được khang trang và mở mang như ngày nay, ban sơ hàng huyện phủ đào tạo do thơ ký thi đậu khoa khả năng chuyên nghiệp (concours professionnel), rồi Pháp mở trường dạy về luật ở Hà Nội, rồi cất nhắc trường lên đại học luật khoa,
Pháp mở trường dạy về y học ở Hà Nội để câu sinh viên từ Trung Quốc và cho rằng nếu mở trường ấy ở miền Nam thì e học trò miền Bắc, miền Trung, eo hẹp tiền tài, không xuống đây đèn sách được, Pháp trả lương cho vua ở Trung Việt độ lối hai mươi ngàn đồng bạc “Con Đầm Xòc”, nhưng vua phải đài thọ tiền trả cho lính và trong cung nội, sâu độc là Pháp trả cho vua Cao Miên bằng mười ký thuốc phiện và cho vua Thổ được chứa tay bài giỡn bạc nhà vua lấy xâu, sa ngã vì thuốc thì rán chịu, tiếng rằng qua đây truyền bá văn minh, văn minh đâu không thấy, chỉ thấy đạo đức suy đồi, vợ để chồng, con kiện cha, học trò đánh người dạy dỗ, ngày binh Nhựt tràn vào Đông Dương, khắp trong nước không có một chiếc xe cứu thương và phải quyên tiền của dân, như vậy mà xưng là “bảo hộ”? Quan Phan Thanh Giản, bởi tin nơi lời hứa của đô đốc Bonard “Thế nào cũng tâu với vua Pháp sẽ cho chuộc đất”, Bonard mất, lời hứa bất thành, vua Nam lại buộc than nghèo, dẫu ai ngày nay đã chê quan Phan, thử có giỏi, thay Phan thử nào, năng thiết bất năng hành, tôi xin chừa cho dư luận phán đoán. Thế giới đang biến chuyển, tôi nay chẳng qua là một tên thơ ký quèn của trào Tây sót lại, viết làm vầy kể như lớn lối, sự thật tại sao lúc nhỏ tôi không chọn nghề làm thợ, làm thợ kim hoàn, tránh tiếng “thợ bạc”, bị treo giò khoảng mươi lăm năm, nay vẫn làm ra tiền, tôi lựa chi nghề văn, thi rớt lên rớt xuống, lúc rớt tưởng rằng vận xấu, nay mới rõ nhờ thi không đỗ nên nay còn đánh máy và triết lý sái mùa làm vậy, âu cũng là tốt số.
Lên làm đốc phủ rồi chạy theo gót quan thầy sang Tây chịu đói chịu lạnh, chi bằng cơm rau ngày hai bữa, tương đậu mà vô bịnh, “nước trong rửa ruột sạch trơn, một câu danh lợi chi sờn lòng ai?” và “đố ai biết mỗ là ai? người trong trần tục hay ngoài thế gian”!
Xưa làm quan để hưởng bổng lộc, quan ngày xưa được trọng vọng, nhưng quan từ đời Tây, ham hốt bạc bất chấp lương tâm, quan đã xuống dốc tuột dù, làm dân, tôi cho là sướng nhứt, miễn đóng thuế đủ, đừng chợ đen chợ đó, an phận tùy duyên, dầu cho trời sập, thì cùng chung một cảnh ngộ với bao nhiêu kẻ kia, vua, chúa, đốc quân, thảy đều vào nằm trong sáu ván hay lên giàn lửa. “Người Sài Gòn” tôi viết làm hai bài, đều không trật tự, đúng là cháo lòng theo Nam, cháo ngô theo Bắc.
Con gà chết vì tiếng gáy, con thú trong rừng, chết vì miếng ăn, con người, đầu đen máu đỏ, ai cũng như ai, ham lên xe xuống ngựa, ham nhà xinh vợ đẹp, “Người Sài Gòn” vẫn chạy theo vinh thân phì gia, từng đem cải lương, khiêu vũ ra ngoài kia, nhưng “Người ngoài kia” vẫn thấy xa hơn, và sự nghiệp trong nước như hiện nay thấy, cũng vẫn trong vòng vinh thân phì gia, cả ba Bắc-Trung-Nam, mỗi người riêng mỗi kiếp, duy “nằm ngủ quên mà lên hàng tổng đốc cực thần”, gẫm có duy nhứt người này, và đất Vãng linh ứng, nào Lê Quang Hiền sanh Quang Tường đốc phủ, ăn chổi chà, và Quang Trinh bị gái ăn sương đánh lại là chuyện khác. Đọc sách, đọc báo và luận chơi chơi về Rắn và về địa danh “Bãi Xàu”.
Năm nay, tôi ít xuống đô thành ăn phở sáng, với tuổi chín chục, cặp giò tôi không làm chủ được, đi đứng lụm cụm, rất sợ mấy cậu nhỏ đua xe, cán, khó đòi thường mạng.
Đành nằm võng ở nhà đọc sách báo cho qua buổi. Vừa rồi, thấy trong tập số 6, – báo BÁCH KHOA VĂN HỌC (quảng cáo không lấy tiền), – có bài của bạn nhỏ N.M.H. viết nơi trương 45, nói về “Sợi dây ngũ sắc”, anh bạn nhỏ dịch lại bài Anh văn của Arthur Conan Doyle, hôm nay ngứa miệng, xin có mấy hàng này, bàn góp chút hiểu biết riêng về loại bò sát, bò trườn, nói ngay ra, là nói về “rắn”. Con rắn ở đây (xứ của mình đây), theo tôi biết riêng, và nhớ trong sách khoa học dạy, rắn nhờ có mấy cái vảy cứng dưới bụng, vảy này biết mở ra và xếp lại được, nhờ vậy mà rắn xê dịch nhúc nhích và chuyển mình tới trước, và tiếng ta gọi là rắn bò. Và theo tôi hiểu, muốn cho rắn bò đi tới, thì phải có sẵn một chỗ vững chắc, tỷ như mặt đất cứng, cây đòn tay vững vàng, có chỗ cho rắn xòe vảy rồi xếp vảy lại, một lần nữa tôi nhắc lại, đó là “rắn bò”.
Đàng này, ông tác giả Ăng-lê kể chuyện một con rắn độc, loại cobra hay Naja của xứ Chà Và (Ấn Độ), mà tác giả Ăng-lê bắt con rắn dữ này bò trên một sợi dây ngũ sắc, treo tòn ten lủng lẳng và lún nhún như cọng bún bột gạo của bà bán bún nước lèo xóm tôi, khiến tôi tức hông mà viết bài này, xin anh bạn nhỏ N.M.H. đừng phiền, tôi không có ý chê anh dịch sai đâu, tôi chỉ muốn cãi chuyện với ông Conan Doyle kia thôi. Vả lại tôi không biết Anh văn, trong bài anh dịch, Cobra hay Naja? tôi chưa biết, tôi chỉ biết Naja là rắn Phi châu hoặc Ấn Độ, dữ và độc không thể tả, nọc vào mình là chết tức khắc, chết không kịp chạy thuốc chữa, thế mà tác giả Hồng Mao hay Ăng-lê gì đó, bịa là rắn uống sữa và chịu nằm cho chủ nhốt trong rương trong hòm, hỏi tôi không tức là hỏi làm sao chớ? Và tôi xin nhắc, những gì tôi viết đây là ý nghĩ riêng, tôi nghe làm sao thì thuật lại làm vậy, và xin thỉnh giáo người lão luyện về rắn. Và xin đa tạ.
Ban đầu, trước khi viết, tôi lật tự điển Larousse xem, thấy ghi: “DOYLE (sir authur Conan), écrivain anglais, né à Edimbourg (1859 – 1930) ses romans policiers ent pour héros Sherlock Holmes, type du détective amateur”.
Tôi dịch: Doyle Arthur Conan (1859 – 1930) sanh tại Edimbourg, là tác giả Anh quốc, chuyên viết tiểu thuyết trinh thám. Nhân vật chính trong tác phẩm của ông lấy tên là Sherlock Holmes, là một nhà trinh thám hạng tài tử.
Bây giờ tôi biết khá rõ Conan Doyle viết chuyện con rắn này, trước năm 1930. Và trước năm 1930, tôi chưa thất nghiệp, vẫn còn trẻ trung, độ ba chục thanh xuân, có ruộng ở quê nhà, từng vừa làm mọi Tây, (công chức lương hơn tám chục bạc mỗi tháng) vừa là tiểu điền chủ, lúa ruộng mỗi năm, thuế má đóng xong, còn tròm trèm bảy tám ngàn bạc nữa, phủ phê quá, cho nên giữ được tánh liêm, không nhận của hối, duy tật khó chừa và nay vẫn còn là ham nữ phái, Conan Doyle biết nhiều về rắn vì từng qua đất Chà, lăn lộn giang hồ để tìm tài liệu viết tiểu thuyết, và tôi cũng từng lặn hụp sông ngòi, chỗ nào có gái, có thức ăn ngon, con vịt tơ luộc chấm nước mắm gừng, có cô nhỏ con tá điền có cặp mắt mơ mộng là có tôi đến… hoặc chỗ nào héo lánh hóc bà Tó, nhưng chủ nhà có con chịu nấu cháo gà cho tôi xơi, là tức khắc có tôi chường mặt và làm trây gọi cha cô là Papa ngọt xớt, và làm mặt đạo đức (thứ Ba Tàu giả hiệu), miễn thâu lúa ruộng và chỉ cầu Papa cho ngủ tạm một đêm cùng chung một mùng với “ai” kia!
Tôi viết đến đây, bỗng nhớ lại thật là sự bất ngờ, chính Papa này trở nên người “tằng khạo” của tôi, – tằng khạo là tiếng Triều Châu, chữ viết làm sao tôi chịu dốt, chỉ biết “tằng khạo” là người tin cậy, hóa (mướn) ruộng và có phận sự góp thâu lúa ruộng thế cho chủ điển. Và nói tắt cho mau, một hôm nọ, Papa cùng đi với tôi và một đứa trai nhỏ độ mươi tuổi, cùng nhau đi xét ruộng vào mùa lúa trổ đồng đòng. Đang đi trên bờ mẫu, bỗng cậu nhỏ la lên “rắn, rắn” và cậu bị rắn cắn nơi bắp chuối và cậu nằm lì nơi đó vừa khóc vừa rên… Papa cười cười, tỉnh bơ, khuyên tôi dắt cậu em về nhà và Papa hẹn ở nán lại bắt cho được con rắn kia để đem về nấu cháo ăn trừ buổi cơm tối. Tôi vốn nhát như thỏ đế, hối cùng về để chữa trị rắn cắn, nhưng Papa không nghe lời, và cũng vừa lúc ấy, Papa đập chết rắn, giao cho cậu nhỏ xách rắn về luôn, và hãy để Papa còn đi bộ một mình xuống xóm trên mua một lít rượu ngon về thưởng thức…bữa tiệc cháo rắn. Tôi hồi hộp bụng lo rủi cậu nhỏ chết, lòi chành tật ăn vụng, nhưng lạ làm sao là cha nào con nấy, cậu về tới nhà, giao rắn cho chị lo nấu cháo, cậu nằm trên vạc tre đắp chiếu rên hù hù, tôi thì nằm võng mà bụng đã hết vui, Papa thoạt về, tôi hối chữa trị cho cậu kia, nhưng Papa không nói không rằng, chỉ lo lau chén lau ly sắp đũa, phì phà điếu thuốc đã tắt từ lâu, tôi nổi nóng nằng nặc đòi trở về trại lớn, không ăn cháo làm chi đã no và mất hứng rồi, Papa vừa cười vừa rốt rượu ngậm vào miệng, lại gần giường tre, dỡ chiếu phun rượu và đọc lâm râm một câu thần chú, cậu nhỏ lồm cồm ngồi dậy tỉnh bơ, Papa múc một tô cháo đầy, biểu con ăn cho hết tô cháo là mạnh luôn, còn tôi, Papa mời ngồi vào bữa tiệc, bữa tiệc bất ngờ không hẹn mà nên, “cho ở lại” và giảng cho nghe chút nghề bắt rắn:
“Rắn xứ mình, có nhiều thứ, kể làm sao cho hết. Con rắn khi nãy là rắn nước, nó cắn như chó cắn, nên tôi không sợ. Còn nhiều thứ khác, nào là: rắn hổ đất, hổ hành, hổ mây, hổ dòn cân, hổ lửa, rắn mái gầm, rắn lục xanh, rắn lửa vẫn khác với rắn hổ lửa, hổ mỏ vọ, rắn vú nàng, rắn lục cườm, rắn râu, rắn rồng (khi ở chung với người và khi ra ngoài đồng là rắn hổ đất), và độc nhức là rắn hổ ngựa, nó chạy như ngựa sải, nó phóng mình khoanh tròn tới trước và miệng cắn cái “phụp” chết không kịp trối, nó phùng mang tròn vo và có lẽ đó là rắn mà “cậu” gọi Naja gì gì đó, và trong tự điển Đào Duy Anh gọi rắn hổ mang, rắn mang hoa (câu này của tôi viết thêm) và tùy coi dấu răng miệng rắn trên vết thương, rắn cắn thì để răng nơi vết, nhìn đường viền nơi chỗ bị cắn, còn tươi, hoặc đã bầm nhiều và đen là khố, nếu còn rịn máu thì nặn bóp lấy ra cho hết, nếu trong miệng người chữa bịnh có răng hư hoặc có trầy trụa thì đừng dùng miệng nút nọc độc sẽ qua, mình sợ rắn mà rắn cũng sợ mình, tỷ như muốn bắt rắn hổ hành thì dùng hành lá đập nát thoa vào tay, thò vào hang bắt nó dễ như lấy món đồ trong túi, đáng sợ nhức là rắn lai dòng, dấu cắn coi không thấu và không chạy thuốc trị kịp, còn rắn phùng mang tròn vo, đó là hổ ngựa, chỉ có thầy rắn chà trị họa may cứu được, chớ rắn lai, hề gặp là sanh nghề tử nghiệp và hổ ngựa, Papa chưa gặp nên không dám cho ý kiến. Vả lại Papa học nghề trị rắn với một thẩy Châu Giang chuyên nghề đi bán hàng lụa và hàng dệt Tần Châu, thầy này học nghề với chà và, giao kết lời thề độc địa, thứ nhất không được gian dâm, thứ hai không được nhận tiền đền ơn nhiều, cho con gà luộc cúng tố, cho chút ít thì ưng nhận, không được đòi hỏi thêm và lời thể thứ ba quá nặng nề, vì vậy Papa bỏ làm nghề thầy rắn và chịu làm tá điền như vầy, lời thể ấy là: “Tổ vốn dòng khất thực, ăn mày, hành nghề cứu người bị nạn, và muốn được linh thiêng linh thính, muốn tổ mau nhập và trị có hiệu nghiệm là người đi rước thầy, không nên dùng cam ngôn mỹ từ, mà phải chọc cho thầy giận, phải chửi rủa kêu cha kêu mẹ gọi tổ tiên thầy rắn ra mà nhục mạ, chừng nào thầy rùng mình giận dữ thì nghề mới có hiệu quả, lời thề như vậy cho nên Papa cúng vái và đã bỏ nghề từ lâu… Mà cơ khổ Papa ngồi nhâm nhi
miếng rượu và ba miếng thịt rắn, Papa ba hoa chích chòe tôi để mặc Papa, tôi nói một câu giả say chun vô mùng và nào nhớ gì nữa để thuật lại hôm nay, chỉ xin nhấn mạnh, rắn bò đất cứng, không bò được trên sợi dây lỏng lẻo, rắn xơi hột gà ních trộm nguyên ổ luôn và gà mẹ đang ấp, hoặc ăn chuột cống ngoài đồng, ăn cá tươi bắt nơi ruộng, ếch nhái không chừa và rắn uống dĩa sữa là do Conan Doyle bịa đặt như thi sĩ Pháp La Fontaine bất hủ, bịa chuyện con ve ve đi vay gạo của kiến, mà quên ve ve có vòi để hút mật và nút chất lỏng, chớ hột gạo ve-ve nào có răng để cắn?
Kết luận tạm là văn nước ngoài cũng có khi viết không đúng sự thật…
Về địa danh “Bãi Xàu”, tôi viết tiếp ra đây cho đủ chạy tiền đồng tiền trường cho ba đứa cháu nội đã gần tới ngày nhập trường mà nhà còn thiếu tiền trả tiền điện, tiền nước Đồng Nai và tiền thuê đất – nhà năm ni đóng rồi phải lo sang năm – bao nhiêu nào biết và không nên nói nhiều, đụng chạm mất luôn tiền viết bài này.
Bãi Xàu, do hai tiếng Kơ-me, nguyên văn “Bai” là cơm chín, “xau” là cơm không chín, tức cơm còn lụp bụp ăn vào sôi bụng. Bai xau, cảo nhơn biến ra “Bãi xàu” có nghĩa gọn là “chỗ khi xưa cùng nhau ăn cơm chưa chín”, và lấy tích ấy làm địa danh nhắc đời. Có hai thuyết, để chỉ định Bãi Xàu, tôi đã có viết rồi trong tập “Nhân danh, Địa danh miền Nam” và trong tập “Hơn nửa đời hư, Hậu Giang Ba Thắc”, nay viết lại vắn tắt đủ hiểu cho đừng hao giấy:
Thuyết thứ 1, thuộc về lịch sử, tôi nói cho lẹ là thuộc cuối đời vua Thiệu Trị (1840 – 1847), hoặc đầu đời Tự Đức (1848 – 1883), tức cũng không xưa lắm, tóm tắt là binh Việt ta giao chiến với binh Kơ-me, binh Kơ-me đánh không lại, rút lui về một nơi, vừa nấu cơm chưa kịp ăn thì hay tín bình Việt kéo tới, nên hồi hả nuốt cơm chưa chín để kịp rút lui vào chỗ khác và đặt tên chỗ ấy là chỗ “cơm chưa chín” srok Bai Xau, xứ cơm sống, và ta đặt là Bãi Xàu. Bãi Xàu theo tôi biết, có đến hai vùng, vùng cũ, gọi Bãi Xàu cũ và gọi tắt “Chợ cũ”, là xóm Phước Kiến, ngày xưa thịnh mậu, chuyên nghề mua bán lúa, thì nay đã lèo hèo, năm 1989, tôi có về thì người cố cựu hoặc đã già chết hoặc con cháu đã ly hương, ra ở phố chợ Sốc Trăng hoặc khá hơn nữa là có vốn lên sanh nhai lập nghiệp mới ở Chợ Lớn, hay Sài Gòn; một vùng tân lập nay sung túc là Bải Xâu, tên mới là Mỹ Xuyên, có chợ khang trang chùa miếu nguy nga và nhà lang sung túc, Bãi Xàu tân lập nằy gọi tắt là “Ngoài bão”, và “bão” đây là đồn bão lập từ năm xưa, gốc tích “Bão” này nay còn dấu vết nơi công ty nấu rượu và nhà máy xay lúa Hội đồng Diệp Văn Giáp, tôi kể lại đây mà vẫn chưa rõ có cònnhư cũ, tôi đã thấy, hay đã bình địa đi rồi.
2. Thuyết thứ 2 nay còn dấu tích để lại là còn một miếu nhỏ, thờ thần Bassac, gọi “Ba Thắc cổ miếu”, năm tôi đến viếng có người thuật ngày xưa, không biết vào đời ông vua nào và có lẽ còn thuộc đất Miên (Kơ-me), có một nhóm thợ rừng người Thổ, (Kơ-me) đi làm củi trong rừng già, xế chiều kéo nhau trở về và chia nhau tìm bổi để dễ nuốt cơm, một thợ nợ bỗng gặp một ổ trứng gì không rõ, nhưng chấy ngon mắt nên hốc hết đem vẻ, bắc chảo định luộc trứng và chờ cơm sôi. Bống đang ngồi nói chuyện vã xảy nghe tiếng động trong rừng, cây thì gãy nhánh nghe rôm rộp và gió thổi đùng đùng, và hai con rắn thần thật to chạy đến, các thợ hoảng hốc mất vía, mạnh ai nấy kiếm chỗ núp, đến khi rừng lặng gió tan, hoàn hồn chạy ra thì mẹ ôi, nồi trách bế hết, trứng kia không thấy, chỉ thấy nồi cơm, lửa tắt queo, cơm thì chưa chín, nhưng đành lót dạ bao nhiêu cơm sống còn lại và lấy đó đặt tên nhắc đời, là Srok Bai Xau như đã nói trên kia. Tôi cũng chỉ nhớ bao nhiêu ấy và không dám bịa thêm. Duy xin trở lại về “rắn”, có lẽ rắn thần đã thâu con và tha cho thợ – còn về rắn của Conan Doyle, xin nhắc, rắn đó ắt không ưng trở lại nằm trong rương và xưa ở Long Xuyên, mùa nước nổi, không chỗ ở, rắn vẫn vào nhà ở chung với người, và gọi rắn rồng, nằm chung một mùng một mền với người, và khi ra đồng đó lại là rắn hổ, cắn chết người. Papa không còn, nàng kia cũng không còn chỉ còn chuyện rắn, tôi viết luộm thuộm và cũng chưa kịp đọc lại và sửa chữa cho vừa bụng.
Cũng không nên trách Conan Doyle viết ẩu, nhớ tích cũ trong sách nào đây đã đọc, kể rằng: Đời Tống bên Tàu, tể tướng Vương An Thạch có hai câu thi:
Minh nguyệt sơn đầu khiếu,
Hoàng khuyến ngọa hoa tâm,
hai câu này bị văn hào Tô Đông Pha chê, rằng cái gì:
Trăng sáng kêu đầu núi
Chó vàng nằm giữa hoa
và Đông Pha sửa lại:
Minh nguyệt sơn đầu chiếu,
Hoàng khuyển ngọa hoa âm,
Trăng sáng soi đầu núi,
Chó vàng nằm bóng hoa.
Có ngờ đâu, sau đó Tô Đông Pha bị Vương An Thạch gởi đi trấn nhậm một chỗ nọ, rõ ràng quả có thứ chim tên gọi là “Minh Nguyệt” và một loài sâu gọi “Hoàng Khuyển” và hai câu của họ Vương là đúng và sự hiểu biết của họ Tô là sai.
Phàm viết nhiều thì khó tránh sai lầm, tôi nay làm tài khôn sửa lưng nhà văn nọ mà ai đây sẽ gọt lại văn tôi. Nhưng tôi nào làm văn, tôi chỉ viết sao như đã nói làm vậy và đã có người nhìn nhận Anatole France và Alphonse Daudet, văn gãy gọn, suôn đồn đuột và trơn tuột luốt như đầu gối bà nhạc ông bô, mà đó vẫn là văn của Pháp, người trên kia chê là cái quyền của người kia ấy, tôi mặc tôi, tôi viết tôi chơi, miễn được tiền đắp đổi là xong. Người ta viết “kinh cức”, tôi không viết cứt c, cứt t, lộn xộn, tôi đổi lại nói “chông gai” cho êm chuyện, và “phẫn nộ” xin hỏi phẫn dấu hỏi hay dấu ngã, thay vì vậy tôi viết “nổi giận”, thì tránh được cái khó và êm ru bà rù. Dám khuyên N.M.H. cứ dịch văn Anh cho nhiều để già nầy đọc giải buồn, và già định nghỉ viết nhường chỗ cho người mới còn hăng hái tuổi xuân, nhưng mở trang sách cũ, ông cử này viết “Thủy Băng” là sông Sài Gòn, ông cử khác viết “Băng Bột” là sông Sài Gòn, tôi dốt đặc cán mai, nhưng vốn là sanh đẻ tại đây, tôi lật tự vị Huình Tịnh Của ra xem thì Thủy Bột, Băng Bột, nó là Thủy Vọt, chữ của Trương Vĩnh Ký để lại và ông họ Trương là người bản xứ nên tôi tin ông Ký hơn tin hai ông cử kia và tự trách lúc nhỏ cha mẹ không cho học Hán.
Bãi Xàu là nhau rún của nhà văn Khuông Việt, tên thật là Lý Vĩnh Khuông, sanh ở Bải Xàu, tác giả tập nhỏ “Tôn Thọ Tường” sách này năm 1942, được giải thưởng từ các nhà Hà Nội, nhưng bín của tôi, bị kiểm duyệt cắt bỏ trên cả chục trang, nay sách đã bị thủ tiêu và cấm lưu trữ, duy tôi còn sống sót kể đây chờ bắt tội.
Xin hỏi người nào có bản đầy đủ xin cho tôi chép, chứ ngắt mươi trang, đâu còn gì là giai phẩm văn chương?
(viết ngày 4-8-1991)
V.H.S.
Tái bút
Xứ Sốc Trăng và đất Bãi Xàu, có rất nhiều chim Chìa Vôi.
Lúc bé, chị vú giữ tôi thường ru tôi bằng câu: “Chít chọt, chít chọt, khứ Bãi Xàu”, tôi hỏi nghĩa, chị đáp: “Nghe Tiều Châu hát làm vậy, chị hát theo, không biết nghĩa. Tôi lần mò và nay hiểu nghĩa là: “Chích chòc, chích chòe, khứ Bãi Xàu”. Chị tên Sách, đó là tiền định, nay tôi mê sách. Một câu hát nữa là “Chim Chìa Vôi bay ngang đám thuốc, cá Bã Trầu lội tuốt mương cau” (có đủ “trầu cau vôi thuốc”, cũng là tiền định nữa với bà Năm Sa Đéc.
Bài số 2, kể tiếp về rắn, chuột, cóc, và ong vò vẽ (viết ngày 6-8-1991).
Trong một bài đã gởi đăng trong B.K.VH. và dã mấy số liên tiếp, tôi thường có đăng báo, nay tự xét thấy có vẽ tham và trái với lời hứa không viết nữa, nhường chỗ cho các bạn trẻ và cho người mới, nghiệt nỗi còn đôi chút nghe thấy lượm lặt tích trữ nhiều năm, tự thấy gần ngày xuống lỗ theo ông theo bà, bỏ đi thì tiếc vậy xin cứ việc ghi thẳng lại đây, độc giả cao kiến, nếu cho là có lý thì đây mừng, bằng như kể là nói tầm xàm thì cứ cho vào xọt rác.
Vả lại tôi xin trả chức học giả cho người xứng đáng, và tôi viết là để chạy gạo, không đáng gọi làm văn. Ai kia trong báo gần đây, rằng trong Nam không có văn tôi cũng xin ai đó muốn nói sao thì nói, không lẽ mình vạch lưng bới thẹo lúc này. Và đây vài chuyện không đầu không đuôi, nhớ tới đâu viết tới đó, tiếp theo tập “Sài Gòn tạp pín lù” đang chạy máy in, và xin làm tài khôn, giải nghĩa nơi đây:
“Tạp pín lù” là tiếng của Ba Tàu, nếu viết ra Hán tự, là “đả biên lô”: đánh tửu ăn thức sống bên lò lửa, và khi nhúng thức ăn ấy vào nước me chua hoặc pha giấm, trong ấm thiếc, giữa ấm có đặt một lò than lửa, thì đó là “xực cù lao” nói cách khác theo Tàu là “ăn xán lẩu (Hán tự: sanh lô)”, tức ăn sanh vật (xán) nhúng trong nước có lò (lô), mượn tiếng của Ba Tàu nữa.

Chuyện thứ 1
Con ong vò vẽ, nọc độc nhứt. Cổ kim dạy rằng “Bảy (7) con vò vẽ khác nhau, nếu đánh một con trâu cổ, thì trâu ngã chết ngay, đủ biết nọc dữ thế nào. Cách nay không lâu, trong báo có thuật nơi vùng sông Hậu, trẻ chăn trâu chơi ác, biết khúc rạch có ổ ong vò vẽ trên nhánh gié giữa dòng, chúng không ác ý và để đùa cười chơi, chúng chờ có ghe nhỏ chèo ngang, chúng dùng giàn thun bắn vào ổ ong cho vò vẽ bay ra đánh người chèo, người bị ong đánh đau đớn rên la mà chúng cười được, tôi cho là thiếu giáo dục. Ong vò vẽ lợi hại như vậy, thế mà tôi từng nghe một lão ông nói với tôi: Bảy (7) con cóc trộng, đủ sức nuốt trọn một ổ vò vẽ mà vô sự không chết cóc nào, – tôi không tin, ông lão cắt nghĩa, cóc bảy con ấy biết tập thể, chia nhau đứng chung quanh ổ ong, ổ này đặt trong một lỗ nẻ dưới đất mùa khô, gọi lỗ chưn trâu chẳng hạn, bảy con cóc ấy rình chờ ong bầy bay lên, cứ con ong này vừa ra khỏi lỗ, thì cóc thứ 1 nhảy táp nuốt tươi rồi có bị cắn thấm nọc giãy đành đạch chết giá nằm đó thì cóc số 2 nhảy ra chờ ong số 2 bay lên thì táp liền, rồi luân phiên như vậy, từ cóc số 3 trừ ong số 3, rồi cóc số 4 v.v.., nối tiếp ăn tươi vò vẽ không kịp biết và cứ bay lên nạp mạng cho cóc, đến lượt con ong số 8 bay lên, thì con cóc số 1 khi ban sơ cũng vừa tỉnh giấc chết giả và nhảy lại táp con ong số 8 và cứ tiếp tục làm vậy cho đến say máu ngà, cóc bảy con ăn trọn ổ vò vẽ mà bầy ong chẳng hay biết, thần tình vậy thay cho chiến lược tập thể.

Chuyện thứ 2
Cũng nói về cóc tía.
Đây là chuyện do tôi thấy tận mắt và thuật lại đây không dám thêm bớt lời nào.
Lối năm 1913, tôi vừa mươi tuổi đầu và học lớp ê-lê-măng-te (elémentaire) trường tỉnh Sốc Trăng và đang ở nhà cha mẹ tôi, nơi sau nhà này lúc đó chưa có cầu tiêu thùng và có đào một lỗ sâu, khi nào đầy phân, sẽ lấp đi và đào lỗ tiêu khác. Đúng hôm đó, nhà trường chưa đánh trống tựu, độ vừa hơn sáu giờ ngoài, khi đang ngồi chờ trả xong nợ dạ dày, trước mắt tôi, chỗ tôi đang ngồi, tôi bỗng thấy một ổ kiến lửa đang bò trong ổ ra, kéo nhau dẫn đi một hàng dài, bỗng thình lình có một con cóc tía khá trộng từ xa nhảy tới, cóc bất chấp sự có mặt của tôi, cóc lanh lẹ nhảy đón đầu bầy kiến và lẹ như chớp, cứ con kiến nào bò tới, là cóc thè lưỡi liếm kiến và nuốt ngay, con kiến dẫn dầu bị vô bụng cóc mà nào biết gì để báo tin cho chúng bạn, và trọn ổ kiến lửa, trên trăm con, bữa sáng ấy đều làm mồi cho cóc, – trống tựu trường đánh hồi nào tôi mảng mê coi cóc ăn kiến mà quên đi học và đã bỏ học hôm ấy với bài “cóc ăn kiến”, để chờ khi khác cóc chết bị kiến ăn lại để trả thù, và việc sau này tôi biết nói mà chưa từng thấy.

Chuyện thứ 3.
Nay trở lại chuyện chuột không sợ rắn, chuyện này tôi đã đọc trong bộ “Chuyện giải buồn” của ông Huỳnh Tịnh Của, bản của tôi có, in từ năm 1971, nay tôi lấy ra và xin mạn phép, viết lại cho xuôi câu như vầy:
“Hai con chuột là một cặp vợ chồng, rủ nhau đi kiểm mồi lót dạ, rủi một con bị rắn bắt, con kia giận dữ, trố mắt nhìn như hai hột tiêu, long lanh ướt mi mà cũng chỉ núp xa xa mà dòm, biết mình yếu sức nên không dám lại gần. Rắn ta nuốt xong, lềnh nghênh bò xuống hang, nhưng khi vừa chui vào được nửa thân mình, thì con chuột bạn chạy đến xốc lại cắn riết cạnh đuôi rắn, rắn giận rút đầu trở lại, thì chuột ngoài này nhảy trái, rắn rượt thì đã trể, rắn lui cui lộn lại vào hang, xăm xăm chưa vào hết, thì chuột nọ y như mửng (môn) cũ, lại cắn đuôi rắn, ạch đụi lằn nhằn, cù cưa cù cưa, hễ rắn đút đầu vào hang thì chuột lại cắn đuôi như trước và hễ rắn ló đầu lên thì chuột chạy đi… cả hai làm như vậy một hồi khá lâu lâu, rắn thét bực mình, trở ra, mửa ngay con chuột đã nuốt bỏ nằm trên mặt đất rồi bò vào hang êm thấm.
Chuột sống nhìn xác chuột chết, chạy lại hít ngửi, dường như thương tiếc, rồi tha xác ấy đi mất. Chuyện trong sách vắn tắt như vậy, dám đâu gọi là văn, tôi chép lại đây và vẫn bồi hồi, dám hỏi người nào khinh lỗi viết trong Nam, sẽ nghĩ sao???
Chuyện thứ 3, trở lại về rắn, và thuật chuyện của mình, có câu “le moi est haêssable” (chuyện của thằng mình là đáng ghét), nhưng tuổi gần xuống lỗ, cứ nói, ai khen hay chê mặc ai, – nguyên tôi có một ông ngoại (cha của bà kế thất), gốc người Quảng Đông, làm nghề hốt thuốc, ông có hai bàn tay vẫn để móng không rửa, móng đen xì, nhưng ông có tài bắt chuột đồng, làm lạp xưởng, còn ngon hơn lạp xưởng Nam Vang, và lạp xưởng hiệu Xảo Ích của hãng Chợ Lớn thua xa, ông lấy cơm nguội, ông nhồi trộn với men gì và với mấy móng tay ấy, nhưng ăn cấp kỳ, ngon lành không thua cơm rượu nếp đầu mùa.
Khi tôi thi đậu về nằm nhà chờ được bổ nhiệm, ông thường tâm sự và dạy tôi nhiều việc, nay thuật lại đây, e có người sẽ nói tôi bày điều đặt chuyện, vì những gì ông nói, gần như rút trong sách khoa học tây phương.
Tỷ như ông nói lấy đầu rắn hổ, chặt lấy đầu để luôn nọc,
Quăng đầu rắn vào lò than, đốt cháy đỏ rồi lấy đầu rắn ấy ra đâm nát, hòa với dầu dừa, đó là thuốc trị ghẻ, hiệu nghiệm vô song, “con sâu ghẻ” gặp nọc rắn đã dịu bớt cháy ra tro, sâu ghẻ chịu thua ngay.
Lại nữa, rắn nào ban đêm cũng ra giỡn trăng và nó nhả nọc vào đám cỏ quanh hang, cỏ ấy là thuốc trị nọc rắn đó, khi bị rắn cắn lúc đào hang, rắn cắn cứ làm tỉnh, quơ tay ra sau lưng nắm một mớ cỏ vừa nhai nuốt nước và lấy xác cỏ ấy đắp vào vết cắn, rồi về nhà sẽ nhìn dấu cắn mà chạy thuốc thì lành.
Theo tôi hiểu ngày nay cỏ ấy ắt có chứa chút ít nọc rắn, nhưng nhẹ bớt đi, và đó là theo phương pháp Pasteur (mà ông nào đọc sách Tây) và lấy nọc trị nọc, y như trồng trái đó mà!

Ông vui miệng thường khuyên tôi không nên nghe lời dụng ý uống rượu có ngâm xác rắn nguyên con, rượu tắc kè, rượu bìm bịp, rượu chim gõ kiến, v.v.., thảy đều dơ và không nên uống và chưa chắc gì là bổ hay hiệu nghiệm và ông cười cười nói nho nhỏ, bị rắn cắn chạy vô nhà thương Pasteur là chắc ăn hơn!
Chim bìm bịp, hễ kêu thì nước dậy lớn và chim ấy ăn kiến, khi đậu ngọn tre thì lấy mỏ gỏ vào tre cho kiến bò ra và thiên hạ đồn chim ấy giỏi bùa Lỗ Bang, khi chim ra ràng, bợm rượu thường trèo lên ổ, bẻ giò bẻ cánh cho gãy lọi, chim mẹ về, nhảy xuống đất vẽ bùa rồi bay lên ổ làm cho chim con lành lẽ, tội nghiệp cho chim ra ràng đau đớn chịu oan, có lẽ sự thật và tự nhiên chim lành, có câu “Chó liền da, gà liền xương” và bìm bịp, gõ kiến đồng một thứ, biết tự trị như nhau…
Ngoại tôi nói trăn rừng thì dữ, trăn nuôi thì hiền, trăn cắn như chó cắn, không có nọc độc và trăn như chó, thường bắt cặp (dính lẹo) và trong rừng mùa rượn đực rượn cái, trăn đóng nhau lẹo lùn cục, thợ đi rừng gặp thì trúng mối to, cứ chặt nhánh xúm nhau khiêng về vì trăn mắc kẹt không chạy…
Rắn lục đẻ con, mỗi lần sanh là ở trên cây căng bụng cho con lọt ra, mẹ thì chết, còn con thì đứa nào thoát khỏi miệng bìm bịp chờ hứng nơi dưới, thì may hồn, con nào lơ mơ bìm bịp nuốt hết cho bớt loài rắn dữ.
Trăn rắn giao cấu nơi lỗ trôn, còn thức ăn to lớn, lông thú và xương con mồi thì khi tiêu hóa, mửa ra đàng mồm.
Có tích ngày xưa ở rừng Rạch Giá, thợ rừng trông thấy một con rắn hay trăn, thân to hơn cột nhà cháy, xanh đen lẫn lộn, lại có sừng kềnh càng, hoảng hồn chạy về hô “gặp rồng”, khi quan kéo binh vô bắn chết mới biết đó là trăn nuốt một con nai, khi nuốt tới gạc (sừng), nuốt không vô nữa và ở xa tưởng đó là rồng xuất hiện.
Rắn biết trả thù, khi giết không chết thì nên đề phòng nó rình cắn lại. Sách xưa kể chuyện khi tạo thiên lập địa, tạo hóa để lại câu: “Người già người lột, rắn già rắn tột đầu săng”, nhưng rắn lanh miệng hơn, sửa lại: “rắn già rắn lột và người già người tột đầu săng”, nhưng theo tôi rắn cũng chết như người và rắn thành yêu hay tiên là bịa.
(viết 6-8-1991)
Tôi chưa từng bắt rắn lật bụng ra xem ra sao, nên không dám nói, chớ trăn thì tôi đã thấy nơi bụng, gần lỗ trôn, có hai cái móc nhỏ cứng như sừng, khi nào trăn vấn được người hay con thú (nai, heo rừng), thì nó móc quắm hai cái móc ấy để lấy thế rồi mới dùng sức mạnh mà rút chặt lại thì bao nhiêu xương cũng gãy cũng mềm, và chừng ấy nó mới nuốt.. và khi nào bị trăn quấn, nên nhớ phải tìm mà cắn cho được cái đuôi nó mà cắn sâu vào, thì nó đau và tháo thân ra mà chạy và có người nói với tôi nhưng tôi chưa thí nghiệm, rằng rắn cắn được ai thì nó trở lại cắn đuôi làm dấu và rắn cụt đuôi bao nhiêu thì biết nó sát hại bao nhiêu, nhưng tội chưa thí nghiệm lần nào và chỉ tài thuật lại.
Một chuyện khác, lúc tôi còn ở tỉnh nhà, nhau rún Sốc Trăng, khoảng 1943 – 1944, mỗi sáng thường đi tập thể dục ngoài đồng nội, đường lộ số 4, Xóm Bắt – Tà Ky, vẫn có ông thông phán họ Cao, (từ trần đã lâu), ông ấy khi gặp vịt chết hay xác chuột bỏ ngoài đường thì ông lượm về nuôi trăn nơi nhà và nói rằng trăn giỏi nhịn đói, nếu không cho ăn thì lột da và nằm khoanh lại chờ thời, thêm nữa trăn ăn vật chết, vật đã sình và nhả xương nơi mồm, v.v. nuôi trăn trên bồ lúa, khỏi cho ăn và lúa ít hao, chuột hay se sẻ, con nào vào bồ thì trăn cho vào bụng đói tất cả, chủ khỏi nuôi tốn bằng thức ăn mua ngoài chợ.
Người mình nuôi trăn mà không biết ích lợi chỗ nào, tôi đọc sách Pháp, thầy dạy ở Thái Lan (Xiêm La quốc) họ nuôi trăn trên thuyền đi biển, khi nào trăn tháo lỗng bỏ chạy, đó là điểm nếu thuyền ra khơi, sẽ gặp sóng gió chết chìm.
Một chuyện khác nữa, khi tôi chạy lên đây và làm việc nơi viện bảo tàng, tôi có được một dược sư quen nhau vì đều chơi đồ cổ, ông tên Trần Kim Khánh, nay đã quá vãng, một đêm nọ tôi được ông mời dùng bữa tại một biệt thự đường Nguyễn Trãi, ngồi vào bàn, tôi đạp dưới chưn cái gì mềm mềm êm êm, tôi tưởng chủ nhà lót gối lót nệm đỡ chơn, nhưng khi tôi nghe có tiếng khè khè, hỏi ra hết hồn, ông Khánh cười mà rằng: “Nhà này là nhà riêng, nhà lớn của tôi vẫn ở Mỹ Tho mỗi khi tôi về dưới ấy, thì nhà này tôi giao cho một người giữ nhà, thêm có hai con chó berger thả nơi sân trước sân sau, khi nào có kẻ trộm qua lọt hai berger vào được trong nhà thì có sẵn con trăn này luôn luôn bỏ đói và trăn đối với kẻ trộm còn hay giỏi hơn người gác dan và hơn cá hai chó kia. (viết 6-8-1991).
Còn nhớ thuộc lòng bài thi Hán này, xin ghi lại:
Thanh túc xà vi khẩu,
Hưỳnh phong vĩ thượng châm,
Lưỡng ban vi khả độc,
Tối độc phụ nhơn tâm.
Đã có người dịch thoát:
Miệng con rắn hàn nàm,
Nọc con ong vò vẽ,
Hai thứ tuy rằng độc,
Độc nhứt dạ đàn bà.
Chợ Lớn có một cao lâu đường Triệu Quang Phục chuyên bán cơm với thức ăn lạ mỗi ngày thường viết chứ lớn treo bảng rao: “Qui xà” thì bán món nấu thịt rùa và rắn, khi rao “Tàm hội: long lân phụng”, hoặc “Tứ Linh” thì có đủ: rắn thế cho rồng, lân dùng chồn cáo, cầy thay trăn, phụng là gà thiến hoặc gà mới đẻ, rắn, trăn, gà, thịt trắng như nhau, khi xé nhỏ để chung, khó biết và đều tưởng đó là thịt gà, rùa vẫn là rùa (qui), và khi dọn ra, nấu với thuốc Bắc, ngũ hương, v.v.. nay viết tới đây còn thèm.
(viết ngày 6-8-1991)
Thơ cho Lê Quang Thái
Một học trò cũ còn nhớ Thầy
(viết 30/9/1991)
Anh bạn nhỏ thân mến,
Anh còn nhớ đến tôi, việc cũng đáng mừng, chớ ngày nay, giáo nào như giáo nấy, đều là thứ đếm giờ hoặc chờ cuối tháng – ơn nghĩa trả cù lao, trôi sông ra biển – và tôi gọi bằng anh, để dễ nói chuyện và cứ kể anh của con tôi, Hồng Bảo.
Anh gởi cho tôi hai bức thơ, đề 9/9 và 14/9, hôm nay 30/9 tôi mới trả lời, hai thơ nhận một lượt, lại có kèm một gói mè xửng, hiệu Hương Vinh, 31 Yết Kiêu, Huế.
Yết Kiêu là đường nào, tôi nào có biết, chỉ biết hiệu Hồng Thuận, hiệu Nam Thuận, đường Hàng Bè, sát cầu
Đông Ba, và một hiệu nữa có chữ Y (phải Như Y chăng?) cũng thì gốc Tàu, mè xửng là một thứ kẹo ngọt làm bằng mạch nha nếp mới, trong chứa đậu phộng ngoài rắc mè bùi bùi, nhưng bao tử nay quen dồn rau muống, tương mặn, nay biết có dung thứ và chịu cùng chung sống trong cái ruột già kia chăng? Mè xửng, trong này gọi mè thửng, xửng hay thừng cũng đều Ba Tàu, viết ra chữ Hán, là “đường” đường ngọt và đời Đường cũng một thứ, Xưng Tửng là Đường Đồng, và Từng trơn tru là thằng chệc con chạy từ bên đó sang đây vào thời Pháp thuộc, đang chạy tiền lo lót cho được giấy tạm trú, ngày nay gọi chứng minh nhân dân, tôi viết dài dòng, chưa bỏ tật ba hoa chích chòe giáo lá!
Trong thơ, anh lại ước muốn có của tôi một bài nói về “khi” cho kịp ra mắt vào đầu năm Thân sắp đến. Hoặc một bài về Thú chơi sách, hoặc Thú chơi đồ cổ. Anh muốn có hơi nhiều, tờ Cửa Việt số 9 anh gởi, tôi chưa có thì giờ đọc, nhìn thấy ngoài bìa hình một thiếu nữ bày ngực, xem tiếp bìa trong thấy đề tranh sơn dầu, báo của Hội Văn học, Nghệ thuật của tỉnh Quảng Trị, bày chi ngực, con gà con vịt, đều Trống đẹp hơn Mái và cần chi lấy Mái làm duyên, nhìn thêm, ban biên tập từ tổng biên đến phó, đều là Hoàng Phủ, các cây bút trẻ, đều lạ hoắc, tôi sợ quá làm sao dám cùng viết chung? Nhưng để giữ mỗi cảm tình riêng với anh, xin có bức thơ này xen vài chuyện tào lao, thơ là thơ tỏ tình ấm lạnh riêng, khuyên anh nên bỏ tôi ra ngoài, đừng ép tôi viết, hoặc giả bài nầy anh phải làm điệu lại để khỏi đụng chạm, bớt ra những gì tôi thốt ra quên giữ lời, cả anh và tôi đều quá tuổi hoạt động tốt, anh ắt trên năm mươi, tôi nay chín chục, đều thua bác nông phu, nếu bần cố nông thì có ruộng để cày và có lúa ăn, thua luôn bác lao động phu xích lô, chạy máy hay đạp chơn, bữa ăn điểm tâm, ngồi lù coi, cũng không ai dám nói lời nào, lại nữa dặn nhỏ anh đừng ham lên đến thượng thọ, lên đó ích gì, tuổi đó là đáng chán, khỏi lú lẫn là may, nhưng nào gan hư thận yếu, kẻ trộm rất ghét giờ nào cũng gặp còn thức để đi xổ nước tiểu, có người lại bị bí lối, phải nằm nhà thương cho mổ lấy sạn, được thoát chết thì cũng giảm sức sống, thêm mắt lờ tai điếc, răng rụng và xin nhớ đừng trồng răng giả, móm không xấu, chỉ cười nhe răng quá trắng trái ngược với da mặt như quả chín héo mà tôi cho là không đẹp, già chưa biết thân, xấu lắm.
Anh bảo tôi viết mà nghề viết đã hết xài. Thời nầy, chạy tiền không đủ ăn, sách báo bán ế, tiền đâu mua? Mượn về đọc đỡ ghiền, mấy ông đậu bằng cấp cao, lãnh lương cho lớn, khi đến việc bỏ chạy nơi nầy nơi kia tiếp tục chìa tay nhận đô-la nặng túi, những ai còn ở lại đây, đám nhỏ tiến lên, không thèm học văn, đi thi khó có điểm cao, ưng học toán, học nghề, tuổi bé thì bị vidéo, phim tồi bại khuyến rủ, học múa súng kiểu John Wayne, đi đường kiếm kiểu phim Hồng Kông, gần đây tai hại nhứt là tháng bảy, lễ Vu Lan, chớp phim Tây Du, tháng tám lễ Trung thu đổi qua phim VõTòng, chuyện Thỉnh kinh, tôi sẽ nói đoạn sau, về bánh Trung thu, có người cho tôi bốn bánh hiệu danh tiếng “Đồng Khánh” mắc tiền nhưng hột dưa hột điều độn hột vịt muối, mứt bí, mỡ heo, để ba ngày đã phá bụng, ăn vào mắc chứng Tào Tháo chạy vô cầu không kịp, tốn tiền ngàn mà thua xa bánh trước giải phóng, tôi xin kể trong Chợ Lớn, tỷ như hiệu “Đại La Thiên” (cái phèng la lớn trên trời), hiệu “Ái Huê” và hạng nhứt là hiệu “Ngọc Lan Đình”, ba hiệu này làm bánh chỉ bán trong hai ngày 14 và 15 – thiên hạ đua nhau chen mua không kịp gói và qua ngày rằm, bánh sót lại đều xổ ra lấy nhân làm món khác, làm như vậy để giữ uy tín hiệu nhà, nhớ bánh mà thèm, vi cá, thịt đùi jambon, nấm Đông Cô, hột hạnh nhân, hột bạch quả, thêm có quả dẻ tây (trái marron trong nầy gọi cù lắc), bùi bùi, thơm thơm, mà chỉ có bốn năm chục đồng bạc cắc mỗi bánh, (0$40, 0$50), nào phải như nay, bánh bán hà rầm quanh năm, ăn không thấy ngon, mắc tiền thì có.
Tôi có tật ưa cà kê nghê ngồng, hể nói thì nói quên thôi, theo tôi, lên thượng thọ là tỷ như leo lên la phong và đã hết chỗ leo, ngồi trơ chờ thần chết, mà quả ngộ, truyện Thủy Hử tả đám anh hùng Lương Sơn Bạc hùng hùng hổ hổ, nào Võ Tòng tay không giết cọp nơi gò Kiến Dương, nào Lỗ Trí Thâm, oanh liệt một dao ngắn cứu Lâm Xung nơi rừng Xích Tòng, nhưng cả mấy vị anh kiệt ấy khi lên đến trại Thủy Hử, lãnh chức đầu lĩnh, thì cũng đều như leo la phong, không còn thét ra lửa như xưa, xuống đến ngày nay, mau quá chưa đầy hai mươi năm, mà từ nơi xa, nước Nga bỏ hiệu cờ, nước Đức phá vách tường ngăn chia hai chủ nghĩa, và bên Á Đông này thì nước Nhựt từ bại trận lại hóa ra giàu nứt dây lưng và đang tranh làm bá chủ với nước Mỹ mà xe hơi hiệu Cadillac, Chevrolet nay bán kém hiệu Toyota, Honda và tôi đây chưa ngồi xe ấy lần nào nên kể tên như còn vính cướng.
Nói tắt mà nghe, sợ nói nhiều e đụng chạm, duy bụng đói thì chưn phải bò, sở dĩ từng tuổi nầy mà còn cặm cụi viết là cốt để chạy gạo nuôi ba đứa cháu nội còn trứng mén, trước mắt tôi chỉ phục và thương một Lưu Hữu Phước mà tôi cho là có chơn tài về nhạc, nực cười lão họ Dương, con nhà dòng dõi, nay còn nằm nhà tại đây còn bận bịu tuổi bảy tám mươi, có con bé tí do một thiếu nữ tuổi đáng là cháu ngoại sanh ra và L.H. Phước vẫn không tốt số bằng lão họ Phạm, đã chạy qua Mỹ và đang tối tối, thứ bảy, ọ e trên đài B.B.C. kiếm lúi (đô la). Anh hùng gần đây trong một thời gian, theo tôi biết, thì có một thủ tướng đời Thiệu họ Trần, nay biết tiếng Tàu, đang sống ngon lành nơi hải đảo to Đài Bắc, một cựu dược sư cựu thủ hiến thì sống an nhàn nơi Úc Châu cũng họ Trần, một đại tướng mặc quân phục rất kẻng, nay sống với năm ngàn đô mỗi tháng, ăn xài làm gì cho hết, trước đây ở đất nầy, người vợ chuyên che chở cho các cậu con nhà giàu xuất tiền cha mẹ dễ kiếm để trốn làm lính, khỏi đi quân dịch và biết bao nhiêu mà kể những đậu bằng cao, Harvard, Sorbonne, nghí ngố về đây lãnh lương cho lớn, ngồi ghế bộ, ghế khoa trưởng, rồi khi có việc đã cuốn vó leo máy bay chạy cái vù, báo hại chúng tôi trả nợ tiền khiên làm vầy, nhưng khi biết an phận tùy duyên, thì mặc dầu mang tiếng là nghèo nhứt thế giới, nhưng xin hỏi có dân nào hạnh phúc hơn dân nước mình, tỷ như Ả Rập thì kiêng không ăn thú bị cắt cổ trước, dân Chà cứ thịt heo, còn ta đây, chó, mèo, đều xơi không cử, lên cao nguyên ăn con gián, con trùng với người Thượng, thằn lằn, cắc kè cũng không chừa, đó là hạnh phúc tràn trề mà nào có biết. Cho hay hạnh phúc, khi đã vuột qua tay thì mới tiếc và để kể cho khá đủ, lại có một dược sư, nhờ khéo hát được lên làm bộ trưởng bộ giáo dục, để rồi khi xuất hiện trên đài phát thanh, mở đầu ông hô lớn “Đồng bào quốc vân!”, ông Tổng Diệm, khi hay được, lật đật cho ông ra rìa, ông Thế ôi! Ông bị cất chức là đáng, nói tiếng Việt chưa rành, mà bộ trưởng Giáo dục cái gì? Một dược sư nữa, ngứa nghề ra làm chánh trị, ngồi làm thủ hiến ở Huế, khi tôi ra đó và đi gần cầu Trường Tiền, mé nhà Morin, có thấy một bia đúc xi-man, chữ viết nói gì tôi không nhớ, chỉ nhớ nơi viền bia có chạy một hàng hồi văn, rõ ràng ông cáp viền biên một nhãn hiệu thuốc Tây, người cầm đầu một nước như vậy, thảo nào nước không thua. Bài này tôi viết riêng cho anh, không có ý cho lên mặt báo, rủi như anh muốn làm theo ý anh, xin nhớ bỏ bớt những đoạn như vầy, anh đã trót khen trên một tập san có ảnh một người ngồi đàn ở Đài Bắc, người ấy lại mặc áo ngũ trào khi tấu nhạc, tôi xin hỏi: vua thuở nay, từng nghe quan hoặc dân đàn hát, chớ tự vua có bao giờ đàn cho một ai khác ngồi nghe, nhứt là khách ngồi nghe là Ba Tàu, tôi cho làm như vậy là nhục quốc thể nước mình, và nhục thay cho áo thêu con rồng năm móng, trên vai người đã mang quốc tịch khác. Nay xin nói chút gì về “Năm Nhâm Thân, nói chuyện về khỉ”.
Tôi rất kỵ với khỉ, vì là tuổi Nhâm Dần (1902). Xin để con Pékinensis gì đó nằm yên, tôi xin sơ lược với vài nhận thấy riêng và tóm tắt:
Khi tôi còn ăn lương công nhựt giữ chức giám thủ viện bảo tàng nơi vườn thảo cầm ở đây, mấy lúc rổi rãnh thả bách bộ trong vườn, tôi đã mục kích một khỉ đột vóc to bằng một trẻ nít lên mười, nguyên của một gánh hát xiếc ngoại bang, thấy khi trở chứng quá hung tợn, nên bèn bỏ lại đây, con khỉ này tôi từng thấy nó biết nổi máu ghen, mỗi khi nó thấy một đàn ông đứng gần một phụ nữ gần chuồng của nó, thì nó nhảy dựng lên hai tay nắm lưới sắt lung lay gần sập chuồng, trái lại khi có một thiếu nữ nào đứng gần chuồng, hoặc cho nó một nắm đậu phộng, hoặc một trái chuối, thì nó biết thò tay nhận lãnh và nghí ngố tỏ tình y như chúng ta không khác. Sách nói Tô Võ khi bị Hồ bắt cầm tù, Võ ở với khỉ giả nhơn đến có con, tôi cho là việc không thể xảy ra được, khác giống làm sao thụ thai được. Duy tôi mắt thấy rõ ràng, một khi nọ gần lễ Nô en, một lính Lê Dương vào vườn, mua nón giấy đội chơi rồi bỏ nón lại trong chuồng khỉ, một con đực chụp nón đội lên sọ, trên tay sẵn có một khúc tre xanh ai quăng vào chuồng hồi nào không biết, rồi khi ta biểu diễn một pha duy nhứt, trước mắt tôi rõ ràng là cảnh náo yêu cung, khỉ đực khỉ cái ôm nhau bày trò con heo, nuôi làm chi thứ thú tục tĩu nầy cho tốn cơm hao chuối. Một khi khác, mãn giờ làm việc, tôi đạp xe về nhà, vừa cơm nước xong, tôi nằm võng đong đưa, Năm Sa Đéc đang ngồi vá áo, một khỉ độc khá to, từ trên trính nhà tuột xuống, nhảy lên bụng tôi ngồi chểm chệ, tôi nín thở, không dám cục cựa, rồi khi nhảy qua ngồi gần Năm, độ mấy phút sau dài và lâu như kim đồng hồ ngưng chạy, rồi buồn tình, khỉ nhảy lên trính, biến mất, hú hồn.
Nói chuyện khỉ biết đội mão, múa gậy lang ba, bổng nhớ mùa tháng bảy vừa qua, lễ Vu Lan có siêu độ được bao nhiêu oan hồn uổng tử trên đất Bà Chiểu nầy, và chiếu phim Tam Tạng thỉnh kinh mà chi, khiến bao nhiêu trẻ trong xóm đều bắt chước làm ông Tề, báo hại hàng rào tre trúc nơi cổng nhà bỗng bị tháo lấy không còn một bóng. Hậu sanh khả úy, hậu sanh đời nầy lại còn đáng sợ hơn xưa. Tôi nào dám nói gì, và ba lần tôi cưa tre mua dây kẽm sửa chữa hàng rào, đều bị ban đêm có tay bí mật hất sạch. Tôi không nản lòng và đổi ra cách khác. Thay vì tôi cắt tre vừa tầm tay làm gậy ông Tề, tôi bèn cưa lụn vụn, cho không còn là thiết bảng của Tề Thiên đại thánh nữa và phen nầy tôi được thành công. Một trưa nọ, tôi đang lui cui cột ghịt hàng rào, bỗng có hai chú nhỏ đến gần, một chú chi chú kia mà rằng:
– Đây! Thẳng nẩy nó ăn cắp tre của ông đó!
– Vậy hả! Tôi vừa cười vừa nói, vừa đưa tay nắm tay hai chú và không tỏ vẻ giận dữ chút nào. Tôi ôn tồn nói nhỏ.
Đừng lấy của tôi nữa. Cho tôi chơi với chớ!
Rồi cả ba bắt tay từ giã, quả nhiên tre từ ấy không mất, và dây trầu bà đã xanh um. Một biết nhịn bằng chín làm lành, đời của tôi, từ nhỏ thì thờ kính ông bà cô bác, nay trở nên già mà đời đã không như xưa, tôi phải kiêng và sợ lại đám nhỏ, duy người một trạc với tôi mà muốn lấn tôi thì tôi không nhịn và quyết ăn thua đủ. Người lớn với nhau mà!
Khỉ là một loại khó tánh, khó chơi, và tật xấu có nhiều hơn tánh tốt. Tánh khỉ hay bắt chước. Thấy chủ nuôi quẹt lửa đốt thuốc, lơ lỉnh khỉ lấy quẹt đốt nhà. Chuối treo, ăn no, khi bẻ chuối khoét lỗ làm trò tục khó nói.
Tiếng “làm trò khi” đã làm cho một cựu giáo sư Việt văn Trung học, sau làm phó tổng thống, bị anh em chỉ trích cũng vì ham nói tiếng này.
Ở Miền Trung, núi non xanh tốt, khỉ ắt có nhiều. Xin anh dạy tôi ở ngoài, bắt khỉ sống bằng cách nào? Trong này có cách dọn một thúng cơm rượu cho thơm ngon, đem vào ven rừng để đó, khỉ ra ăn, giây lát thấm say, mặc sức bắt. Vùng bảy núi ở miền Tây trong này, có một quận tên chữ gọi quận Tri Tôn, ngoài dân gọi Xà Tón. Người ngoài kia vào đây, thường lấy Hán tự làm gốc để tra gốc tích các địa danh trong này. Tôi xin mách: Xà Tón là ta âm theo tiếng Miên, người Kơ-me buổi xưa thấy mỗi lần vào rừng kiếm củi chốn nầy, khỉ thường ra níu áo và dạn quá, vì thuở ấy người chưa có súng và số khỉ nhiều hơn số người. Bèn lấy đó đặt tên cho vùng: Swar là khi, Tonnh là níu kéo, Swar Tonnh là vùng có khỉ ra níu áo kéo quần. Về sau, súng làm cho khỉ tránh và số người đông hơn số khỉ, khỉ phải sợ lại người, mất sự níu kéo làm thân. Năm Thân sắp tới đây lót chữ Nhâm, thì phải cẩn thận đề phòng. Đừng nói bậy, không nên. Năm xưa báo Nam Phong có bày ra hình hoạt kê. Vẽ một con khỉ thay viết chữ “khải” cũng đọc là khởi. Lâu sau, thầy hỏi, trò quính, coi theo hình vẽ và tỉnh bơ, thưa:
“Chó là ngáp ạ!”. Đó là hoạt kê trong Nam Phong.
Tôi chỉ biết có bấy nhiêu và viết liền trong sáu trang.
Anh muốn bài về đồ cổ và thú chơi sách, cũng tùy chờ xem năm Thân ra sao và mè xửng vẫn còn bán chứ? Nay thơ và chúc an khang.
30-9- 1991
V.H.S.
Tôi biết gì về chuyện “Gia Long tẩu quốc”
Dẫn.
Một bạn nhỏ ở tạp san Cửa Việt mời tôi viết bài về “Ái Tử và Quảng Trị”, tôi không dám viết vì chưa đến các nơiđó lần nào. Tôi đổi lại xin viết theo nhan đề nói trên và được chấp nhận. Bài ấy đã đăng trong số C.V.12 năm Nhâm Thân 1992, tôi chép lại trong tạp chí số 4 để lưu niệm.
Chuyện Gia Long tẩu quốc.
Cho hay người ở xứ nào đất nào thì biết được về xứ hay đất đó. Tôi nói đây mà không dám động đến ông bạn đã vắng tin tức lâu ngày là ông Quách Tấn đất Nha Trang. Quách năm xưa viết thơ hỏi tôi tài liệu về chúa Nguyễn Ánh, lúc ty nạn trong Nam, tôi tình thật nói trong thơ hồi âm rằng chúa chạy trốn “trong rừng dừa nước”; rồi một thời gian sau tôi hay tin họ Quách viết và hiểu là chúa Ánh ty nạn “trong rừng dừa”. Và nhớ lại tôi có viết thơ đính chính rằng không phải “trong rừng cây dừa”, đất khô ráo như ở Tam Quan, mà chúa vẫn ẩn mình trong “rừng cây dừa nước”, và phải viết: dừa nước, Pháp gọi là “palmier d’eau” vẫn khác xa cây dừa mà Pháp gọi “cocotier” và trái thì gọi “coco”, và từ này đẻ ra hai từ theo tôi rất ngộ nghĩnh và lắt léo là “cồ cồ ta” và “cồ cồ Xiêm”, còn “cồ cồ lửa” là do tôi bày đặt, từ này chưa nhận và chưa có trong từ điển; trong này gọi “dừa lửa”.
Trở lại chúa Ánh gặp nhiều cơ hội may mới được sau này lên ngôi, tỷ dụ nhờ Tây Sơn giết vua Duệ Tông và cháu là Mục Vương, nhờ vậy trống chỗ, Ánh sau này kế vị lên ngôi báu, chớ thuở hai ông kia còn thì ngôi vị Ánh còn xa lơ xa lắc. Nói tắt cho mau, thì năm 1774 cho đến năm 1790, ngót mười lăm năm, chúa Ánh bị Tây Sơn đánh đuổi, chúa chạy gần khắp nơi trong Nam, khi thì về nương náu vùng Sài Gòn, còn là bụi và rừng lá, hoặc khi bị Tây Sơn đuổi nà thì lê gót lưu vong khắp miền Cà Mau (người Thổ gọi Tức Kh’ mau, Nước Đen), khi lại trốn ra hòn Phú Quốc (khoảng 1782 – 1786). Và chớ quên mỗi năm, cứ đến mùa gió thuận thì binh Tây Sơn dùng thuyền lớn vào Nam, ruồng kiếm quyết diệt cho sạch dòng Nguyễn Phúc. Ngày nay còn khá nhiều điển tích lúc chúa Ánh chạy trốn: trái bần chúa ăn với mắm sống bốc cơm (và đó là cơm nguội sau một buổi chạy giặc tất tả); bốc cơm xé mắm sống bằng tay chớ không hề cầm đũa, chúa khen ngon, đặt tên chữ cây bần là “thủy liễu”. Con cá nhỏ nhảy vào thuyền báo tin đừng sớm ra khơi, cứu chúa khỏi bị Tây Sơn chận ngoài biển, chúa đặt là “cá linh”. Còn tích “gặp rắn thì đi, gặp qui thì về” là có một lúc, thuyền chúa định ra khơi, bỗng có con kỳ đà lội qua sông chận đường, chúa sanh nghi không cho thuyền ra biển, sau rõ là nếu ra thì ắt là Tây Sơn làm khổ và nay giới cờ bạc còn tin gọi “kỳ đà cản mũi” và điều này hiểu lầm ra nhiều nghĩa khác.
Đất miền Nam, tóm tắt, lúc đó bị chia ra làm ba vùng riêng biệt. Theo tôi biết riêng là vùng giồng đến sông Cửu Long là thuộc Đông Định Vương Nguyễn Lữ. Thỉnh thoảng vua Quang Trung đem binh đến đây thì ngừng lại và không vượt qua Cửu Long Giang, vì vùng giữa sông Mékong (Cửu Long) qua Bassac (Hậu Giang) là riêng của Đông Sơn Đỗ Thanh Nhơn (Đừng gọi Thành Nhơn, vì Thanh là người đất Thanh Hóa). Còn vùng Hậu Giang qua Vịnh Xiêm La là vùng của Mạc Thiên Tứ. Ba vùng riêng biệt, san hà chia ba và chúa Ánh nương nhờ đất Đỗ Thanh Nhơn, về sau ganh tị, sai giết Đỗ Thanh Nhơn, xuýt hư cơ đồ nghiệp lớn. Bởi theo tôi biết, chúa Ánh lúc lên ngôi với chức “Nguyên Soái” tuổi vừa mười sáu hay mười bảy, vẫn về Sài Gòn lấy tin tức, khi thì ngồi trên vai cho một lực sĩ cõng, chúa ngồi chểm chệ bỏ hai chơn ra trước cho lực sĩ kềm, gọi là “đồng đồng”; lực sĩ này về sau khi chúa lên ngôi, dời ông ra Huế để phong chức thì lực sĩ từ nan và ở lại đất Nam.
Lực sĩ không phải một người mà do lắm lần, khi gọi là “Cai Việc Hạc” (vì tên thật là Trần Văn Hạc, làm chức Cai việc trong làng và có nhà ở Rạch Mù U), khi khác gọi là “Quan Lớn Cái Da” (vì tránh gọi ngay tên tộc là Trương Tấn Bửu, sau phong là Long Vân hầu, làm đến chức Phó Tổng Trấn Sài Gòn, thời Tả Quân Lê Văn Duyệt làm Chánh Tổng Trấn.
Về Cồn Ngao, mà trong sách Alinot viết “Cửa Cung Hầu”, là danh từ để gọi một nhánh sông Cửu Long trổ ra biển, tôi truy ra không có địa danh Cửa Cung Hầu, hoặc “Cửa Công Hầu” và kỳ thật cửa biển ấy, đúng là Cửa Cồn Ngao, bởi Tây đọc Cồn Ngao ra “Cung gao” rồi có lẽ người có trách nhiệm ghi lại trên địa đồ, không dám hỏi chủ Pháp cho rõ ràng và tự tiện, sửa lại là “Cửa Công Hầu”, hoặc “Cửa Cung Hầu” và cả hai đều sai bét. Cồn Ngao là do Ngao Châu, như trong câu “Dàu dàu mây trắng cõi Ngao Châu” (thơ Đồ Chiểu khóc Phan Thanh Giản). Một điển tích khác nói lúc chúa Ánh chạy ra vùng Sa Đéc, được một nhà giàu viện trợ (cung cấp cơm nước, lương phạn cho chúa Ánh, nếu rủi thời bị Tây Sơn sanh cầm, thì vừa đầu (thủ cấp), vừa cả ba họ (tam tộc) sẽ không còn; cái gan lì của “Hậu” là một khía cạnh của dân trong Nam này. Nhà giàu ấy, chúa tặng là “ông Bố” (cha nuôi, tớ già), tên là Hậu, và để kỷ niệm việc nầy, chúa đặt lại địa danh ở vùng Sa Đéc, như Long Thắng, Long Hậu (đã chọn chữ “Long” sau nẩy làm để hiệu). Vả lại vùng này nước chảy mạnh thuyền hay bị nạn, nên gọi “Nước Xoáy” chữ gọi “Hồi Oạ” và một vùng khác nữa gọi đúng là “Bến Tranh”, nhưng trong nhiều sách Hán Nôm, khi gọi “Đồng Tranh” khi gọi “Đồng Chênh” đều sai lầm. Một sách cắt nghĩa “Tranh” là “chênh chênh bóng nguyệt” là hết nước nói.
Cách nay vài năm, tôi có đến vùng Valco, tức sông Vàm Cỏ. Nhơn đi ăn một đám cưới, tôi có quan sát Sông Lớn Vàm Cỏ này, gọi theo cổ là sông Vũng Gù và có một nhánh nữa cũng gọi Rạch Vũng Gù, là nơi có điển tích Chúa Ánh cỡi trâu hoặc cỡi lưng ngạc ngư để sang sông.
Theo tôi hiểu biết riêng tích chúa nhờ lưng thú độ qua sông là do nịnh bợ vua, cho rằng chúa Nguyễn có chơn mạng làm vua, nên có linh thú phò trợ. Điều ấy, theo tôi, nên loại bỏ và tôi hiểu có lẽ chúa Ánh nhờ một con trâu quen đường do Đỗ Thanh Nhơn đào tạo; chúa cỡi lưng trâu ấy lội qua sông lớn, thì còn hiểu được, hoặc giả, nếu không cỡi trâu mà một chàng trai lối mười sáu, mười bảy tuổi, lội qua khúc sông rạch này, hoặc lội qua Vàm Vũng còn như “ngồi trên lưng cá sấu” sấu nào cho ai cỡi lưng cỡi cổ bao giờ?
Nhiều điểm nữa kể ra không xiết, tỷ như điển mà nhiều người biết rành hơn tôi, là tích người Lục tỉnh Nam kỳ cũ, vẫn đặt tên con đứa đầu lòng, luôn luôn là “Hai” rồi “Ba” v.v. và kiêng chữ “cả”, bởi “cả” riêng dành tưởng niệm “ông Hoàng Cả” là “Đông Cung Cảnh”, chỉ trừ trường hợp chữ “Cả” cũng để gọi “Bá Đa Lộc” là “Cha Cả”, là tiếng gọi cảm mến, mỗi khi người nào bị tội chém đầu, hễ Cha Cả xin một tiếng là chúa tha ngay, nên đức ân còn nặng.
Những gì tôi nói đây là dựa theo ngành chơi đồ cổ mà tôi có chút công khám phá và biết kha khá, chớ kỳ trung tôi là một thơ ký quèn của Tây sốt lại, chữ nho vẫn dốt, nôm vẫn đặc cán mai và tiện đây, xin múa bút, tích “Gia Long tẩu quốc” tôi có tìm được ba dĩa có in hình trong tập “Sài Gòn năm xưa” (hiện được tái bản, nhưng không có in hình):
I dĩa để câu “Bình Kiều nhơn quán độ, sanh xuất tiểu chu lai”, 1 dĩa khác lại đề câu: “Ngư gia độ hoàng gia, âm tinh ngộ để tinh” và 1 dĩa thứ 3, không đề chữ nào, cả ba dĩa đều vẽ hình một người đứng chờ thuyền qua rước, có lọng che (chúa Ánh) và nơi bờ bên kia, hiểu là đất liền Nam kỳ.
Những gì nói đây là hấp tấp hối hả, tôi biết sức tôi mà tự thẹn, già tuổi 91, kể theo ta, và tuổi 89 kể theo Tây, sanh năm 1902, vì đau chơn phải há miệng nói cách khác, vì đói chơn phải bò, bởi có một đứa con duy nhứt, đặt tên là Hồng Bảo. H.B. hiện lánh mặt, bỏ lại ba đứa cháu nội đói, tôi viết làm vầy kiếm cơm và Cửa Việt cũng đừng gởi nhuận bút, nếu còn đủ bộ gởi cho tôi đọc là đủ và đa tạ.
12 giờ 18 Novembre 1991
V.H.S.
Vô Đề (Bài không có đề tài)
(viết 10/1/1991 đăng Bách Khoa Văn Học số 1)
Nhơn tuổi già ngủ khó tâm trí thường miên man, lấy truyện cũ ra đọc, một đôi chỗ thấy mâu thuẫn, dậy bày ra đây nhờ cao kiến dạy thêm.
1. Đọc Thủy Hử, bản dịch Tử Vi Lang, có chỗ ráp mí không y, tỷ như:
a) Đoạn nói về vợ chồng Trần Lệ Khanh và Chúc Vĩnh

Thanh bàn luận về binh khí nặng nhẹ và dõng lực thế nào (tập 5 tr. 803), xin tóm tắt như vầy: “Chúc Vĩnh Thanh nói:
Tôi sử dụng một cây kích nặng 42 cân, còn nàng dùng cây Lê hoa thương nặng 36 cân. Tại sao sức có dư mà không dùng cây thương cho nặng hơn? Trần Lệ Khanh cười mà đáp rằng: Không phải tại binh khí nặng hay nhẹ, tỷ như trong trận Tam anh chiến trong Tam quốc chí nói rằng Quan Vân Trường thủ một cây Thanh long đao nặng 82 cân, thêm một cây kiếm của Lưu Huyền Đức, không nghe nói nặng bao nhiêu, lại thêm cây Trượng bát xà mâu của Trương Phi cũng không rõ nặng bao nhiêu, thế mà Lữ Phụng Tiên (nay gọi Bố này, Bố nọ), y ta chỉ thủ một cây Phương thiên họa kích, chỉ nặng có 24 cân, như vậy mà đôi bên giáp chiến, thế lực cầm đồng.
b) Rồi khi tôi đọc một đoạn khác, dịch giả Tử Vi Lang lại viết: “Lữ Bố sử dụng cây kích nặng cỡ 100 cân?!! rồi nơi đoạn khác lại viết: đời Đường, Tiết Nhơn Quí cầm cây kích nặng 89 cân??? và hôm nay tôi lấy sách ra đọc lại, nơi tập số 1 (Thủy Hử) lúc ở Ngũ Đài sơn, Lổ Trí Thâm tìm và đặt lò rèn làm lại một cây thiền trượng nặng 100 cân, người chủ lò nói rằng: “Nặng 100 cân thì cây trượng không đồng thanh đồng thủ, khi sử dụng sẽ không trúng cách; rất đổi Quan Vân Trường thủ cây Thanh Long đao chỉ nặng 81 cân???. Trí Thâm cãi bướng: Xưa Quan là một người, nay ta đây cũng là người, há chịu kém hơn sao? Rốt lại, thợ làm cho Trí Thâm cây Thủy Ma thiền trượng nặng 62 cân. (Theo chỗ tôi hiểu riêng, người thợ có kinh nghiệm và tinh nghề, gậy sắt xứng tay, lợi hại nơi người cầm, mà phải đồng thanh đồng thủ mới là gậy xinh và lợi hại.

2. Nay bắc cầu thử luận chơi về chuông. Chung (Hán tự) và chuông (nôm tự) là vật dùng để gọi giờ để biết khi đọc kinh… Nhưng tôi xin hỏi, tại sao, đôi bên, bên ta như bên Tây, ác nghiệt thay, tỷ như chuông ta, muốn cho kêu ra tiếng, thì bắt từ ngoài, có hai chú tiểu (sãi con), khệ nệ vác ôm một khúc cây bự (gọi cái chày), từ ngoài khiêng và tống mạnh, dộng vô thì chuông mới đáp lời, tức kêu. Trong khi ấy, ở Tây phương, không gõ dộng chuông từ phía ngoài, mà trái lại, lại dùng một vật khá nặng, tròn tròn hoặc dài dài, và từ bên trong, lắc qua đưa lại, làm cho vật tròn hay vật dài ấy sẽ cạ, sẽ cọ vào lòng chuông, nơi phía trong, thì chuông Tây phương mới kêu ra tiếng. Tại sao: “Đàn ông chơi với đàn ông, một trăm gánh đồng chẳng đúc nên chuông?”. Trái lại:
“Đàn bà chơi với đàn bà, một đồng tiền giám đúc ra chuông kềnh!” Tại sao vậy hé?
“Tiền giám, chuông kềnh”, xin gác qua buổi khác, riêng tôi hiểu: Bên ta, phép đúc chuông, phải lấy đức tin làm trọng. Rõ ràng, tỷ như chuông nơi chùa Thiên Mụ đất Huế, ngày xưa đúc chuông với đức tin thật nhiều, thiện nam, tín nữ, góp trọn sức vốn, người thì cà rá (nhẫn) hoa tai (bông tai), lại cời luôn vòng vàng, kiếng cổ, xuyến tay, gởi hết vào với đức tin ăn chay nằm đất, cho nên chuông chùa Thiên Mụ, tiếng kêu thanh nhã u trầm, khiến người đạo khác cũng đem lòng sùng bái. Trái lại, cũng lấy y khung mẫu chuông Thiên Mụ, đem kiểu về đất Sài Gòn này, rồi tân tạo năm đó, chuông nơi chùa Xá Lợi, thì tiếng kém, âm thinh không có, rõ lại, có lẽ thiếu chất vàng vòng xuyến cà rá, bông tai… và chỉ lấy vỏ đạn đã bắn giết người cho vào lò đúc, quên rằng khi làm vỏ đạn, người ta đã bỏ thêm một chất hóa học, nay chưa lọc ra cho sạch, khiến nên chuông Xá Lợi mất thanh, khi đúc kỳ nhì cũng bị nứt nẻ, chất thuốc kia chưa tẩy sạch.
Có câu: “Chuông già đồng điếu, chuông kêu”, “Anh già lời nói, em xiêu tấm lòng”. Lẽ thường, phụ nữ lòng mềm như đèn sáp đèn cầy gặp nóng… đồng điếu, đồng “Mắt cua”, đồng “vỏ cua”, đồng đỏ, đồng già, đồng ghép, đủ làm cho loạn trí điên đầu kẻ già này, nên xin tạm gác qua khi khác nữa.
3. Nay xin lạm bàn về tâm trí người Tây phương và chúng ta, nội hai thứ chuông, thấy đã khác: Chuông của chùa Phật, tiếng như tiếng cọp gầm, u u, minh minh, trầm bổng huyền diệu, lại nữa giá treo làm bằng gỗ rừng, gỗ rừng sức vóc cao lớn có hạn độ, lấy gỗ ấy làm giá chuông chùa nên thường treo thấp, đến như lời nói, tiếng phát âm của ta cũng chuộng trầm hùng, nghiêm nghị, dầu khi ca hát cũng có chừng, mực.
Trái lại, bên phương Tây, chuông thường treo thật cao, trên chót vót đỉnh lại có phân chia ra lớn bé nhiều loại (một cái chuông không lồ, le Gros Bourdon de Notre Dame de Paris, nặng cả mấy tấn), mỗi thứ chuông, tiếng kêu mỗi khác, nhí nhảnh cười vui buổi lễ tân hôn và buồn tẻ sầu bi khi lễ cất đám, hoặc cầu hồn, tiếng nói phát âm của người Tây phương cũng khác ta, nhiều cười dồn cợt trêu, nóng nảy mặc dầu sống trong gió lạnh tuyết nhiều…
Chuông các miếu nhỏ, am côi đất Huế, nào nơi “Thiên quang vương mẫu” sơn báo hậu”, nào “Diệu Võ huân cao”, nào… nay đã phá hủy rất nhiều, thật là đáng tiếc. Năm trước, cách nay không lâu, tôi có dịp và được lịnh đưa đại đức Narada xứ Tích Lan (Ấn Độ), xuống viếng chùa Vĩnh Tràng, tỉnh Mỹ Tho, nơi cổ tự này, thấy một chuông đồng khá cao, cỡ chín tấc Tây, nhưng bề ngang không tương xứng, nếu có người từng quả quyết rằng ngày xưa chúa Nguyễn Ánh đã trốn núp trong một cái chuông trong chùa này và có nghĩa quân Tây Sơn lùng kiếm để bắt chúa mà không thấy, theo tôi, tôi không trả lời cải chính làm gì và bề trong tôi vẫn không tin chúa trốn núp trong quả chuông nầy được, vì chúa dù vóc người nhỏ thó đến đâu, cũng không thể ẩn mình trong một chuông hình thức như vầy được, và tưởng không cần suy luận cái nhau chi nhiều và cứ hiểu có lẽ, nếu tích chúa trốn trong chuông là có thật thì theo tôi, chuông cổ tích kia đã bị đánh tráo từ lâu rồi.
Một điển tích khác lại nói rằng nơi chùa Phụng Sơn tự, tức chùa Gò hiện thuộc quận 11 ở Phú Lâm (Thành phố Hồ Chí Minh), tại đây tương truyền ngày xưa có đào được một chuông đồng cổ của người Cao Miên, tôi cũng cho rằng điển ấy là sai, nếu không nói là bịa, vì tục người Kơ-me (khmer), Cao Miên, thờ Phật, họ không bao giờ dùng chuông và họ vẫn không dùng trống lớn nơi chùa, thay thế cho chuông và nên nói luôn nơi đây, cái tin đồn người phong cùi, phong hủi, phải đánh chuông nhỏ để dân biết và tránh đường, tích ấy có lẽ xảy ra họa chăng bên Trung Quốc và ở nơi đây, chỉ thấy chị bán cà rèm cây và các chú bán nước đá bào và bánh riêng của họ mà thôi.
Không chút nào vạch lá tìm sâu, nhơn đọc một “Tuồng hát” xuất bản ngoài kia, đoạn kể về tuồng “Tiên Bửu và lão trượng”, tôi thấy viết một câu, tôi chép y lại đây là “Già thời già mặt gọi già, cũng như cao lửa, đỏ da non lòng”. Theo tôi, có lẽ người chép sách ấy, chưa từng thấy trái cau đỏ ở đây, và cứ đinh ninh đối chỉnh “cao lửa” là đúng, đối với “lòng son” là khó chối cãi, nhưng xin mách trong Nam này vẫn có một giống cau, ngoài da vẫn màu đỏ tươi, mặc dầu lúc hái, trái còn non, thì da vẫn hồng hồng và “đỏ da non lòng” phải viết lại: cau chớ không phải cao đâu.
Ngày 29 tháng bảy âm lịch năm Tân Mùi, (16-9-1991) Nhà thơ HÀN MẶC có bài cảm khái “Dự lễ quí tế Tả Quân” như sau:
Xướng:
Chồng, vợ dự chung giỗ Tả Quân,
Lễ nghi sùng kính bậc Công thần,
Ba hồi trống giục vang ngoài cổng,
Chín chập chiêng ngân dội trước sân,
Thiện chí phần hương dâng tửu, quả,
Thành tâm đánh lễ, chính y; cân;
Hằng năm qui tế trang khai quốc,
Cổ tục bảo tồn, cựu phối tân.
Hàn Mặc (16-9-1991)
Phụ họa y vận
Lệ đáo thường niên giỗ Tả Quân,
Cầu an tháng báy, tạ tôn thần;
Oai linh tọa trấn che tòa bố,
Hiển ứng tâm thành chật nứt sân;
Trong có lễ sanh, chầu hát cúng,
Ngoài đầy khăn áo rực y cân;
Trãi bao ký độ theo chiều gió
Đồ sộ hiên ngang hựu nhật tân
Ngày Trung thu (22/9/1991)
Lão sanh V.H.S.
Lệ đáo kỳ yên miếu Tả Quân,
Ngày cùng tháng Bảy giỗ linh thần.
Đức oai vang khắp che tòa bố,
Hiển ứng đồn xa rợp bóng sân.
Trong có lễ sanh, chẩu hát bội,
Ngoài nửy khăn áo xứng y cân.
Một tòa đồ sộ không hề hấn,
Qua lượt phong ba, hựu nhật tân.
Ngày 3-10-1991 (26-8 â.l.)
Đúng là lỡ khóc lỡ cười. Cũng tưởng được đi học thêm cho biết với người ta, mong sẽ thi thố những gì nghe thấy, khi mở niên khóa nơi trường Đại học Văn khoa ở Sài Gòn, thì chức giảng sư ăn tiền giờ của tôi cũng mất luôn, chén cơm hằng bữa cũng có người thay thế và có người sẽ hỏi, tôi mà dạy giống gì và tôi vội xin thưa, dạy “tiếng nói miền Nam”, môn này tuy vậy tôi cũng thạo kha khá. Nhưng cũng còn may cho tôi là khoa giảng ở trường Huế, tôi vẫn còn nắm giữ và liên tiếp tôi cũng kiếm ăn kéo dài nhiều kỳ nữa mãi cho đến năm Mậu Thân (1969 gì đó”), tôi tự đánh hơi và tự xin rút lui về nhà từ đây.
1 Năm 1968 là năm Mậu Thân (NXB). (214)
Nhắc lại năm Giáp Thìn (1965), tôi được 63 tuổi, vẫn còn là tuổi “thanh niên sồn sồn”, gọi “thanh niên râu”! Vào tháng 6 dương lịch, tôi ra Huế, tôi làm quen tại nhà cụ Ẩm Tư (Lưu Đình Tiến), với một bác sĩ y khoa, có phòng mạch ở đường Gia Hội và ngày chủ nhật, 6-6-1963, tôi được bác sĩ lấy xe nhà cho tôi dạo mát vùng ngoại ô đất Thần kinh, đất các vua nhà Nguyễn Phúc, bổng đến một nơi gọi chùa Từ Hiếu, cũng gọi chùa Vạn Phước, thoạt tôi thấy ngôi mộ của ông Phạm Quỳnh, với hàng chữ nho vỏn vẹn:
“Nam Phong Chủ Bút Thượng Chi Phạm Quỳnh di thế”.
Học giả Phạm Quỳnh là người từ biết đọc báo Nam Phong, tôi hằng tâm phục, nhưng đứng trước mộ ông, tôi thầm hỏi: “Ham mê làm chi thứ mũ cánh chuồn mong manh tóc kết, để đến nổi thân bại danh nhục, thì chung qui cũng chút hư danh “phù dung, diễm ảo”.
Tôi đang đứng trầm ngâm miên man, thì ông bác sĩ kéo tay đưa tôi vào trong chùa để xin yết kiến một bà vợ của một phế đế tên tắt tạm gọi T… T…- bà tụng kinh chiều vừa xong, quả tôi được thấy dung nhan một bà hậu vua cũ, quả phong kiều diểm lệ, tuy đồng tuổi sanh năm Dần, nhưng sao còn trẻ như sáu mươi, sáu ngoài là nhiều.
Rồi cũng một kỳ đó, bổng tôi thấy tại Viện Văn hóa Huế đô, hai bóng phụ nữ thướt tha trong hai chiếc nón bài thơ, cười cười nói nói, hai bà này bước ra khỏi Viện Văn hóa, tôi vội hỏi, mới biết đã gặp tiên sống mà mất cơ hội vái chào, hai bà ny là hai công chúa, cũng con vua T…T.., tiếc quá.
Rồi nói tắt đủ nghe, khi tôi tuổi vừa tròm trèm sáu ngoài bảy chục, ông bác sĩ Gia Hội lại cho tôi đến nhà, nơi đường Hàng Bè, nếu bắt từ Gia Hội nhắm về hướng cầu Đông Ba, thì nhà nây thuộc mé hữu, tôi nhớ mại mại trong nhà hay gần một nhà cùng xóm, có một hòn giả sơn gắn dính vào vách, thật là khéo và tôi chưa từng thấy, tiếng là xin được yết kiến, nhưng tôi cũng không quan tâm cho lắm, ngồi chờ đợi quá lâu, tôi vừa định xin ông bác sĩ cùng rút lui, thì thoạt như trong một giác chiêm bao hay giấc mơ mộng thấy tiên nga hiện hình, bỗng khói thơm xông vào mũi ngọt ngào, một lò hương trầm nghi ngút từ khuê phòng đưa ra và vài phút sau, trâm cài lượt giắt, như một cành mai, như một đóa hoa, không khác một bức tranh hay là một bóng tiên hiện ra, rón rén khoan thai, mặt như hoa hàm tiếu “nửa mùa”, cặp mắt như sao buổi sáng, mũi dọc dừa, đôi môi như quả tim vẽ khéo, khách đứng dậy, tần ngần chưa kịp chào thưa, thì bà đã ra dấu tiển khách ra về, ôi! uổng công xin yết kiến lâu lơ lâu hoắc, tiên hay phàm, tôi đến nay chưa hay chưa biết.
Tôi có tật ham nói dài dòng, làm chán độc giả, chớ mãi đến khi rời khỏi nhà ở đường Hàng Bè này, tôi chưa biết tiểu sử của bà ra sao, chỉ biết sơ sài, bà có mỹ danh là “Bà TÂN”, một cựu ái phi của vị vua cũ, nhưng cho hay, TÂN có khá nhiều Tân, trong Đại Nội có nhiều danh từ xưng gọi bí hiểm, tỷ như tại Huế này, cớ sao có quá nhiều chức tước, tôi hỏi lén bác sĩ Gia Hội, ông vẫn cười bí mật, rằng nào ông Phò là phò mã (rể vua), nào ông Hường (Hồng lô tự khanh), nào ông Mê (hoàng nam, con trai vua), chót nữa nào ông Khóa (từng dự thi tú tài, cử nhân), nào ông Nghè (mua chức Nghè hàm), cho nên con quan cũ thì xưng “Cậu ấm” và các bà của vua Ka-đê (có đến nào bà Tiếp (chức là Tiếp dư), nào bà Ân (sắc phong Ân phi), nào bà Tài Biểu, Tài Táo, v.v., còn Tân và Giai, có biết đến mấy bà và kể làm sao cho xiết.
Tôi xin chịu thua và học được qua loa bao nhiêu ấy, bỗng bốn năm năm sau ngày Giải phóng vô đây, độ lối 1980 gì đó, tôi đã trót 78 tuổi, bỗng nghe một bà bác sĩ mà tôi đã từng chỉ vài giờ về môn tìm hiểu đồ sứ cổ Huế (Pháp gọi “bleu de Huế”), bà này có nhà và phòng mạch ở xéo xéo nhà thương Bình Dân, (đường Phan Thanh Giản cũ), bà cho hay sắp mời một thân nhơn tên gọi “Bà Tần” đến nhà dùng bữa, tôi nghe làm vậy, và trực nhớ đến bà Tân Hàng Bè, cách mươi mấy năm nay, tôi bèn ngỏ ý cùng nữ bác sĩ, làm sao cho tôi được yết kiến với bà này để xem thay đổi ra sao. Lời yêu cầu của tôi được nữ bác sĩ chấp nhận và vào một chiều hôm nọ, tôi được mời làm khách, và khi tôi đến biệt xá, thì vẫn thấy bà khách mời đã ngồi sẵn nơi khách phòng, trong khi bà chủ gia, mắc bận lo nấu nướng trong bếp, vì nhà không kẻ ăn người ở.
Tôi cúi chào bà khách, nhưng lòng ngại ngại, không ắt gặp đây là bà Tân đường Hàng Bè năm trước, vì nhớ trong trí, bà Hàng Bè mảnh mai như liễu, còn bà khách ngồi đối diện đây, tuy dung nhan đài các phương phi khác thường, nhưng vẫn hồng hào, da hơi sậm, mặt xương, chắc da chắc thịt như cây tùng, cây bá… tôi cẩn thận và để cho khỏi lầm lạc, tôi e dè mở dầu câu chuyện như sau đây:
– Thưa bà, xin bà miễn thứ, tôi xin bà cho phép tôi được nghe vài mẩu chuyện cũ đất Huế, để chờ bà chủ gia được thong thả ránh tay…
– Không dám! Tôi xa cách Huế đã nhiều năm nay và tôi không nhớ mô để nói.
– Thưa bà, – tôi đột ngột hỏi dồn, bà lìa đất Huế làm chi và bà ra ngoài đất Bắc, sanh nhai thế nào?
– Thưa, khi tiên đế đã không còn, chúng tôi không nhà không cửa, ở Huế thế mô và tôi ra ngoài ấy, dạy đàn organ, dạy nữ công, đủ sống. Dạy nhạc đủ vui.
Cũng may, câu chuyện vừa đến đó, thì nữ bác sĩ tươi cười bước ra mời chúng tôi nhập tiệc. Phòng ăn vẫn nối tiếp phòng khám và vào bàn, vòn vẹn chỉ có ba người. Tôi vẫn một mực giữ trong khuôn ngoài phép, cứ dạ dạ, thưa thưa, để dò đường đất. Đã là dân gian người phàm, ngồi đây đối diện một bà bác sĩ tân khoa, một bà Đại Nội cựu trào, dám đâu sơ sót. Bữa cơm này còn hơn một bữa đi thi Đại học. Để cho bớt nhạt, tôi khởi đầu bằng một câu bâng quơ:
“Đêm qua rót đọi dầu đầy, bấc non chẳng cháy, oan mày, dầu ơi!”
– Đó là đọi dầu, – bà bác sĩ cười và tiếp. Còn “Một lời nói, một đọi máu” là khác nữa! Rồi day qua bà khách, tiếp:
“O có còn nhớ đọi trong đại nội chứ?
– Mô dám quên? Đọi có nhiều thứ lắm, thứ chấm hiệu “Nội Phủ” và thứ đời Kiền Long để lại, hiệu dưới đáy là hai con cá (Song Ngư, Double poisson), và trong lòng chấm chữ Thọ thật khéo, chung quanh là ba chim phụng cùng bay (tam phụng tề phí), đọi ấy là thứ dĩa, sâu giạu, để cho cháo nóng được mau nguội và sáng sớm nào lại chẳng húp một hai cháo lỏng đỡ lòng, tiếng là Đại Nội, mà nhớ lại khi được vào cung, ngày đầu được ban một ít áo xuyến, tưởng còn mỏng hơn thứ áo của con gái người tá điền trong Nam này khi có chồng đi cưới!
– Vậy chớ không phải, – tôi tiếp lời, hai bà tha cho, đọi vẫn không phải là chén hay bát hay sao? Lại còn tỷ như, xin hai bà dạy thêm, nếu ăn một đọi mà vẫn chưa no, thì mới làm sao?
– Đúng vậy, bà khách tiếp. Chén, bát, tô, dĩa, đều gọi là đọi được tất cả. Còn “ăn một đọi”, nếu còn bụng đói mà có người đỡ chén bới thêm thì cứ kể “một đọi” và khi nào tự mình đứng dậy đi bới lấy thì phải kể hai hay ba… tùy.. và người ăn khỏe, có thể khoe “ăn một đọi rưỡi” hay là “hơn”!
Vừa đến đây, bỗng bà chủ nhà, phát ra một câu tiếng Tây gọn lỏn; xanh dờn:
– Elles sont, toutes vierres? (Tôi tạm dịch: Họ, cả thảy, đều trinh trắng!)
– Mon Dieu! Dieu seul le sait! Tôi lỡ lời, bụm không kịp
“Lạy Chúa? Chỉ có Chúa biết được mà thôi!”
Bà khách hơi thẹn, tự bào chữa:
– Lấy được ông chồng làm vua, nói mà nghe, tỷ như đánh số, may sanh được một hoàng nam, thì cả nhà vinh quang nào bằng… Nhưng thưa ông S… chúng tôi nói gì, tôi thấy ông cũng ghi ghi, chép chép, ông lại rất thích thơ, đây tôi có một bài tám câu vừa làm khi đi hầu phường trên Gò Vấp, để tôi đọc cho ông chép:
Thơ rằng.
Cứ sống cho vui, có việc gì?
Sông dư trăm tuổi, cũng “Ừ” đi!
Không duyên, không kiếp, không gì hết!
Lắm bạc, lắm tiền, lắm dễ khi!
Ép chuối, phơi cau, vui thú lạ;
Nài phường, xin quận, có hề chi?
Tự do, Độc lập, còn gì quí?
Nô lệ ngày xua, đâu thế ni?
Ngâm xong, bà với tay bẻ hai trái chuối, xơi ngon lành, tự nhiên, lại vói lấy một cây thập lục treo trên vách, bà ngồi sửa dây và thong thả đàn một bài: “Nước non ngàn dặm ra đi…”. Mặc dầu đêm đã muộn, bà nán lại đính chính cho tôi biết: Bà ở Hàng Bè, tuy cũng cùng tên “Tân” nhưng vẫn là “Đệ ngũ giai phi”, còn chính bà đây tên “Tân Du” vẫn là Đệ nhị giai phi”. Bà “Đệ Ngũ”, hiện tôi không rõ còn hay thế nào, tôi được biết bà Tân Du, thì đã nằm yên đất ẩm hay đã hỏa táng, hồn bà đã bay theo tiên đế hay đã tiêu dao lạc cảnh, – thơ của bà, tôi xin nhường cho độc giả chiêm nghiệm và vọc vạch nhớ một câu hát cũ trong tuồng
Phụng Nghi Đình, tôi xin chép lại đây, ít người biết. Đào Điêu Thuyền từ trong buồng bước ra, khoát màn, ngâm bốn câu hát như vầy:
“Ai a!
Hường nhan! Hường nhan a!
Chỉ hận thuyền quyên bắt xuất môn!
Nhứt sanh trung ngới hướng thùy ngôn!
Sầu mì ám tả quân vương hận,
Thiết sỉ thiên thu xã tắc luân!
Thưa, tôi sức học đâu chưa tới đâu, nên không dám phê bình thơ của bà, hai chữ “sầu mi” tôi cũng còn ngờ, duy để kết thúc bài này, tôi xin viết: Gẫm lại xưa như nay, đàn bà có nhan sắc, sang hay hèn, đều là ngoạn phẩm, đồ chơi, dù cho bị đi cống Hồ, Hán Chiêu Quân, Đường Hạnh Nguồn,
Lục Vân Tiên có nàng Nguyệt Nga, Tỳ bà hành có vợ khách buôn, ngày nay dù có Mụ Nhu hay con chiêu đãi cao cờ, nữ sinh Đại học chờ thi đậu và vinh qui xuất giá, hay con nhà nghèo, vì thiếu cơm nên phải ngồi xe ôm, bán cà phê hay đứng gốc cây chờ khách, thảy đều như hạt mưa sa, hạt vào đài các hạt sa giếng sầu, chung qui thảy đều trong cảnh phù dung ảo mộng.
Hai ngày 14 và 15 Déc. 1991. V.H.S.
Tái bút.
Đến hôm nay thì bà Tần Du (đệ nhị giai phi đã ra người thiên cổ, duy có bà bác sĩ Thanh, hiện đã yên vui sum họp gia đình ở đất mới Gia Nã Đại, xin chúc bà Hạnh phúc, Bình an. Về hai chữ “sầu mi” phải chăng là “sầu ni” giọng Huế.
Viết ngày 14/12/1991
Phù dung ảo mộng.
“Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng, màn loan chiếu phụng, không chồng cũng hư”!
“Một ngày dựa được thuyền rồng, còn hơn một kiếp nằm trong thuyền chài”.
Nhưng tuy vẫn nằm thuyền chài, nhưng hạnh phúc tràn trề, còn hơn lắm ai, hoa thải ong thừa, phòng không vắng bạn, thiếu thứ bóng mặt trời rọi ẩm.
Ngày xưa vua là bậc chí tôn, như thần như thánh, già cúp cũng mặc, lấy được chồng vua là sang, vua xưa là một gạch thiêng liêng nối liền ba mối: chữ là Thiên, Địa, Nhân, nôm na là ba giềng: Trời, Đất và Con người. Nhưng từ phương Tây nhiễm qua, lây tư tưởng khoa học, ông vua đã mất địa vị là thần là thánh, tuột xuống vẫn là người như ai, nhứt là như vua gần đây xứ mình, vua ăn lương do chánh phủ đô hộ Pháp cung cấp, còn gì thể thống.
• Hôm nay tôi xin kể lại đây, đăng vào tạp chí mỏng Bách khoa Văn học đầu năm Nhâm Thân 1992, vài mẩu chuyện cũ xì, nhưng có thật, duy mỗi người nghe biết một cách khác.
Quả trên đời, không có gì là vĩnh viễn, thấy đó rồi mất đó. Tôi nào dám tự khoai vò minh củ, chút diểm phúc nhớ lại, cứ tự tiện ba ngày xuân mới, chép lại nghe chơi:
Như vào năm 1963 (Nhâm Dần) mới đây đã gần ba mươi năm mau quá, thinh khổng thinh không, tôi được chánh phủ Pháp mời qua viếng gọi là cho có dịp học bổ túc khoa bảo tàng (bảo quản cổ vật sưu tầm), trong hai tháng, tháng 5 và tháng 6, xuân hòa đầm ấm, cho vé máy bay khứ hồi, vừa cho thêm tiền dằn túi, ba ngàn quan nặng (3.000 Fr.) sướng quá và chu đáo quá.
Một diễm phúc thứ hai là cũng năm 1963 ấy, vào tháng 10 dương lịch, tôi lại được chánh phủ Đài Loan, nhơn ông cố Phó Tổng thống Trần Thành, sang đây, đến viếng viện bảo tầng trong vườn thảo cầm rồi mời tôi qua đó cho biết chút nào là “bác vật quán Đài Bắc” và dịp may thứ ba là viện Foundation Rockfeller lại ban cấp vé sang đất Hoa Anh Đào một tuần nhựt, để rồi nhơn chuyến từ Đông Kinh trở về xứ, tôi lại được cùng đáp trên một tàu hàng không khổng lồ, cùng một chuyến với đại tướng Lê Văn Tỵ. Nhơn dịp có một không hai ấy, tôi mới biết và thầm kính phục ông tướng tuổi “Tỵ” xuất thân là một “chó sói” đồng tử quân
“Bồi Xi Cút” (boy-scout) của trào Tây thuở ấy. Ông hiền hậu và khiêm tốn ra mặt, có mấy thuở tôi đi vé hạng nhứt và ông thiếu người đồng hành để đàm đạo, nên đã sai tùy viên quan qua mời tôi sang ngồi cùng phòng, được thưởng thức một bữa ăn đặc biệt trên tàu bay và khi tàu hạ cánh cảng Hồng Kông, tôi xin phép xuống mua một chai rượu Anh quốc, miễn phí đoan, ông tướng mỉm cười và hứa khi về đến Sài Gòn, ông sẽ biếu một chai Whisky, của dư, vì ông đang mắc bịnh và không dùng rượu mạnh được nữa. Quả, “Phước không nên đến đôi ba lần” (Phúc bất trùng lai), cũng năm 1963 ấy, vừa về đến xứ, thì ông Diệm đã bị lật nhào, cũng vừa khiến bản giao kèo của tôi hết hạn, Bộ Giáo dục không tái lưu dụng tôi nữa, mà tôi cũng không nao núng, vẫn tỉnh phờ, mặc dầu tôi có thể xin tái tuyển được nữa ông Nguyễn Ngọc Thơ, vẫn không xa lạ, cùng bạn đi thi chức Huyện năm xưa, (ông đậu tôi rớt) và nhứt là với đại tướng Dương Văn Minh, tôi vẫn được gọi là “chú”, vừa bạn đồng liêu với Dương Văn Mao, là thân phụ ông Minh, vừa mới đây vẫn còn làm việc chung một bàn, tôi coi về công văn nơi soái phủ Nam kỳ và ông Minh, vẫn coi về công văn từ các tỉnh gởi lên, và mỗi tuần nhựt Minh vẫn “coi tiệm” cho tôi lén nhảy dù đi xem phim chớp khi rạp Eden khi rạp Casino, ai nào biết?
Xuân Tân Mùi (1991), thơ mừng Vương lão sư V.H.S. hưởng thượng thọ.
Người ta sáu chục đã tra,
Vương ông thượng thọ vẫn là đương xuân;
Ưa mòn mắt ngồi trông con gái,
Thân chứa chồn, sức ngại ngùng chi?
Nhớ xưa ở chốn cung vi,
Nào TÀI, nào TIẾP, nào PHI mấy bà,
Nay chánh thất cũng đà quá vãng,
Chí tang bồng, cụ ruổi cùng ai?
Thức khuya mới biết đêm dài,
Nâng khăn sửa túi, cậy ai giúp mình?
Thi có đủ, cái tình e thiếu,
Cháu con đâu có hiểu cho mình
Ông già tóc bạc mắt xanh
Vẫn yêu như thưở sóng tình đang dâng
Trăm năm trong cõi hồng trần
Cao Sơn
Tiệc khao bước qua 91 tuổi, ngày 27 tháng 9 âm lịch Tân mùi (2 décembre 1991) Năm 1991, định không ăn khao Thượng thọ 91, một bạn thân, anh Khai Trí Nguyễn Hùng Trương, đã sang Mỹ quốc, vả lại nhà đơn chiếc, nhưng bạn nhỏ Cao Sơn đem về nhà đãi, nhờ vậy làm quen được hai bạn mới, là ông bố vợ của chủ gia và một hoàng thân đất Thần kinh là cụ Ưng Lang. Cao Sơn sau đó gới tám câu Đường luật:
Kính mừng Văn Đường lão sư “Thượng thượng thọ”:
Tiệc Thọ năm nay vắng mấy người,
Vui mừng gặp gỡ Cụ còn tươi;
Tuyết sương thắm đượm màu râu tóc,
Phiền nảo nhạt phai giọng nói cười,
Sa Đéc mơ mừng tình gới gió,
Văn Đường quạnh vắng bóng trêu ngươi;
Ơn trời cho hưởng tròn mười ký,
Chép dể ngàn thu chuyện đổi dời.
Tuy đã hết thích làm thi, cũng phải nối điêu, và phụng
Họa y vận:
Chín mốt năm Mùi vắng bộn người
Phùng Xuân khô mộc vẫn xanh tươi
Sá chỉ mưa gió sương và tóc,
Bao quản trần ai khóc với cười.
Đối hộ môn đăng, đăng trước gió,
Cách liêm hoa ảnh, ảnh trong ngươi.
Tiếng đâu lãnh lót? Chào ông Noên (Noel),
Vừa thấy đồng chinh, bóng lại dời!
V.H.S
Đầu xuân Nhâm Thân (1992), báo bán Tết nhiều như nấm đầu mùa mưa, thấy trong tờ Thời Nay nơi trương 105, ba bài luật Đường của ba bạn quen là:
1. Còn sống còn vui
Riêng tớ nay ngoài sáu chục xuân,
Ba chìm bảy nổi đã bao lần
Văn chương nặng nghiệp còn đeo đuổi
Danh lợi phù du mãi dững dưng
Tóc trắng há quên người tri kỷ
Mắt mờ chưa đứt chuyện nghĩa nhân
Cuộc đời có lắm trò dâu bể
Còn sống còn vui đến thập tuần.
Minh Quân
2. Thập tuần
Thắng canh tâm sự1 sáu mươi xuân
Gió núi2 vần xoay cũng lắm lần
Hoạn nạn tìm đâu ra quyến thuộc
Tiệc mừng chỉ thấy rặt người dưng
Vạc dầu nào gặp ai tri kỷ
Mòn mắt chưa hề được nghĩa nhân
Quẳng gánh lo đi vui cuộc sống
Chúc anh còn thọ đến thập tuần.
Lê Phương Chi
1.Tựa đề một bài thơ của Phong Sơn
2. Phong Sơn nghĩa là gió núi
3. Sáu mươi, nhưng dáng vẫn còn xuân
Xuống ngựa lên voi biết mấy lần
Mỹ nữ hẹn hò ha há hả
Tử thần dọ dẫm dững dừng dưng
Với trò, đúng mực nhờ mô phạm
Cùng vợ, ra tuồng bậc triết nhân
Xa chuyện bể dâu, gần đáo tế
Mừng anh xin chuốc rượu ba tuần.
4. Tôi vốn thơ như cơm nếp nát, nhưng ngứa ngáy, cũng nối vần ba bạn trên đây, gọi chúc mừng muộn Năm Mới, và hòa lại như vầy:
Tân Mùi thượng thượng chín mươi xuân,
Nhiều tuổi nhục nhiều, bộn bộn lần.
Việc nước, Đảng lo, Dân đỡ nhọc,
Việc nhà, ai nấy thảy dừng dưng.
Thơ giòn, cười lớn, thơ bà Phụng
Văn khéo, ngâm chơi, văn chị Quân
Hạnh ngộ tao phùng, thập niên hậu
Trường sanh bá tuế, kỷ hà tuần?
Vương Hồng Sển Mars 1992
Cuối năm Tân Mùi (1991), tổng luận (viết ngày 22-12-1991)
Năm Mùi sắp dứt, Tết Nhâm Thân đã lố dạng, vừa rồi, đêm 21 décembre, khi thức giấc, bỗng thấy nơi kệ treo vách chứa bộ môn “bình vôi”, thấy trống nhiều chỗ, nhìn kỹ lại, tõ ràng đã mất trộm thêm một mớ bình vôi còn sót do kẻ trộm bó lại và nay đã biến mất, chỉ trơ trẽn lơ thơ tám bình vôi đất mà kẻ lấy cắp có lẽ cho là vô giá trị, nên chừa lại và rất may trong số bỏ lại ấy vẫn còn một bình vôi đời Tổng (bạch định, rất quí) và một bình vôi sứ, vế “sen le” đời Tự Đức, thôi thì tự an ủi, và ngụ ý viết ra bài này:
“Tôi bị người nuôi trong nhà, lấy trộm một mớ đồ cổ ngoạn”, tôi đã buồn rầu kiểm kê tài sản rồi cũng bỏ xuôi cho êm chuyện, nào ngờ nay lại thấy nhà giữ kỹ, cửa nẻo không sơ hở, thế mà một số đồ vật sưu tầm, tự nhiên thấy mất đi một mớ nữa, gần sạch tủ, chỉ còn sót vỏn vẹn tám món tầm thường, tôi thêm buồn, lấy sách ra đọc, bỗng gặp bài này, tôi chép y nguyên văn:
“Ngụ đời (đây là cái tít (titre) tôi chọn, chớ trong sách viết:
Nghĩa vui:
Con người ta ở đời, hãy trải lòng trãi dạ ra mà ở cho rộng rãi cái tánh ý mình, lòng dạ mình được mấy năm (bao lâu), hay mấy năm (bấy lâu) mà thôi; chớ sự sống sự chết không chừng, mình thường thấy trước con mắt mình, cứ tùy theo phận mình cao thì ở cao, tùy theo phận mình thấp thì ở thấp, tùy theo duyên mình tốt xấu mà ở theo cho qua ngày tháng; còn như việc hơn việc thua, hay giỏi thì chớ có tích lòng oán hờn làm chi; mình có mình không cũng đừng có than van nan trách làm chi; là sự được giàu mắc nghèo hết thảy là ở tại nơi trời định; cho nên buổi thường mình sống ở đời, mình phải ăn phải mặc phải ở theo cái duyên phận trời cho mình, thì được yên lòng yên trí luôn; hể thong thả được một ngày, ấy là tiên một ngày đó.
Trương Minh Ký diễn thơ ấy ra Nôm như sau này:
“Rộng tánh rộng lòng trãi ít năm,
Người còn người mắt mắt xem nhàm;
Theo cao theo thấp theo duyên gặp,
Hoặc dở (vắn), hoặc hay (dài), chớ giận thầm,
Mình có mình không đừng trách móc,
Nhà giàu nhà khó tại trời làm;
Ở đời ăn mặc theo thời vậy,
Một bữa rãnh rang bữa khỏi phàm.
Đô là những gì tôi đọc nơi trang 12 tập số 1, tháng 5 dương lịch 1889 của bộ “Sự loại thông khảo (Miscellanées của Trương Vĩnh Ký – lòng chưa thóa mãn, tôi lật sách tiếp và đọc:
“An phận tùy duyên là hơn”.
Con người ta ở đời bậc nào bậc nấy cũng như nhau, chỉ có cái ngắn nó khác nhau, tùy phận tùy duyên. Mà “kỳ chí giả nhứt dã”. Biết mà xử thế thì là giỏi, tri mạng mớ xông đời, thì là tài. Cứ theo “tố” mà làm thì là xong xuôi cả; đã yên lòng mình thì chớ, lại thuận mạng trời. Cho nên cả đời an nhàn vui vẻ thong thả khói lúng túng trí khôn, khỏi mệt nhọc thân thể. Vì vậy: “gia đương thủ phận tùy duyên quá, tiện thị tiêu diêu tự tại tiên”.
Giàu ngày ba bữa, khó ba chiều,
An phận là hơn hết mọi điều;
Khát uống trà mai, hơi ngác ngác,
Nực kề hiên trước gió hiu hiu;
Giang sơn tám bức là tranh vẽ,
Hoa thảo bốn mùa, ấy gấm thêu;
Đỏng đảnh khuya nằm và sớm thức,
Khác chi dân của thuở Đường Nghiêu.
Hôm mai gió thổi hiu hiu,
Có hoa là bức gấm thêu nên đồ;
Thanh u sẵn cảnh bốn mùa,
Lựa là cứ chốn giang hồ mới vui?
Cánh ưa lâu cũng quen mùi,
Bên song hóng mát ngỡ người Bào thi;
Hẹp hòi nào sá quản chi,
Phen thì dặm liễu phen thì ngàn mai.
(Trên đây là trích trong 4 tập sự loại thông khảo số 4 tháng 8 năm 1889)
Lòng vẫn còn ấm ức bèn lấy “Chuyện giải buồn” bản in lần thứ 5 của Huỳnh Tịnh Của in năm 1911. Đã trót trăm năm gặp chuyện như dưới đây, nguyên văn:
Có một người giàu có lớn, mà hà tiện cũng lớn, cứ bo bo giữ của không chịu làm phước cho ai. Có một tên ăn mày tới xin, quyết một nén vàng, người nhà giàu phát giận, nói giá ăn mày dám xin tới vàng nén, biểu đày tớ đuổi đi. Tên ăn mày la lết không chịu đi, cứ việc ở trước nhà mà xin mãi. Trong nhà không ai thèm nói tới, tên ăn mày sớm đi xin nơi chỗ khác, trưa lại lộn về ở tại nhà giàu mà nói hoài cho đặng nén vàng. Nó làm như vậy đã đúng ba năm, người nhà giàu thấy nó có công gắng vó, cũng nới lòng mà chịu cho. Tên ăn mày được nén vàng, thì làm bộ nhảy nhót mừng rỡ bội phần, liền cởi áo gói lại mà đi. Khi tên ăn mày đi ra một đổi, thì người nhà giàu sai một đứa đày tớ theo rình coi lão ăn mày đem nén vàng đi đâu, cùng làm chuyện gì với nén vàng. Tên đày tớ đi theo xa xa, thấy lão ăn mày đi thẳng ra ngoài đồng, tới chỗ bóng mát ngồi xuống mở áo lấy nén vàng dồi lên dồi xuống mà giỡn chơi, coi ra ý mừng rỡ lắm. Cách một hồi lão ấy buồn ngủ, nằm chèo queo, nén vàng chỉ để trần một bên chỗ ngủ. Đứa đày tớ nom đặng, chờ lão ăn mày ngủ mòn, lén lại lấy nén vàng đem về cho chủ, chủ mừng còn nén vàng, liền đem đi cất. Lão ăn mày thức dậy, thấy mất nén vàng không thèm tìm kiếm, xăm xăm trở lại nhà giàu mà xin nén khác. Ông nhà giàu nói: “Mới cho một nén, làm gì hết đi, mà còn xin nữa?” Lão ăn mày nói: “Tôi vừa nhắm mắt, nó liền mất đi, nên phải xin ông nén khác”.
Ông nhà giàu nghe nói, dường như ai soi sáng tấm lòng liền hiểu sự đời, hễ con người ta nhắm mắt rồi, thì chẳng còn cửa cải sự nghiệp gì nữa, mới khấn nguyền xin tặng của cải mà làm phước với thiên hạ, sau nghĩ lại, mới biết người ăn mày ấy là tiên.
(Trang 5 và 6 “Chuyện giái buồn” của Huỳnh Tịnh Của).
Lời bàn.
Người đời nay bàn chuyện đời xưa, tôi cho là thừa. Kẻ sanh sau, đọc lại sách cũ, giỏi chi mà bàn. Tuy vậy, để giải nỗi lòng, cũng xin có mấy lời mạn luận. Phàm đọc sách, phải có trí đủ để chiêm nghiệm:
Trên đây, với mấy chuyện chép lại, một bài là “Nghĩa vui”, đó là lời một trí thức, già kinh nghiệm, hại ông Trương Vĩnh Ký và Trương Minh Ký đem ý mình diễn ra văn và thơ kế đến bài về “An phận tùy duyên”, hai ông họ Trương, sống vào đời ly loạn, binh Tây ỷ mạnh qua chiếm đất, đánh thì không lại, ép phải chung sống và minh triết bảo thân, hai ông giữ được tiếng thơm, đáng làm gương thiên hạ, qua bài thứ 3, đọc văn ông Huỳnh Tịnh Của, chuyện “Ăn mày xin vàng nén”, không phải ngẫu nhiên mà quả do sự linh cảm sáng suốt mà gặp, “người nhà giàu dư vàng” có phải tôi chăng? Tôi mất cổ ngoạn thì tiếc thì than van, xin hỏi từ Chúa Trịnh sắm của quí, qua Bằng quận công cắp vàng nén làm chìm nơi bãi biển, vua Quang Trung được
“hóa phẩm” anh em xích mích, vua Gia Long nhờ tuổi trẻ, được hưởng, nhưng chung quy nhà Nguyễn Phước chưa tới hai trăm năm rồi của cũng tứ tán, mình là con nhà tay lấm chưn bùn, tích trữ bấy lâu chưa phí hay sao, có câu “của Tào trả lại Âm ty”, thanh dạ văn chung phải nhớ. Đọc “Tam Quốc Chí”, hồi thứ 57, bản dịch Phan Kế Bính, năm 1908 văn ngót trăm năm, khi hồn Quan Thánh đòi đầu, sư Phổ Tịnh hỏi: “Vậy chớ đầu Lương, Xử, Hoa Hùng, sáu tướng nơi năm cửa ải, ai đòi, ai trả?!?”, đọc qua “Tây Du Ký”, bản dịch trong Nam, chí đến video nhại đi nhại lại, bốn thầy trò muốn sang sông qua cõi Tây phương, gặp con qui, độ đường, qui vì chứa châu ngọc nhiều nên chưa thành công, khuyên giải mở châu báu ắt mau thành, ngày nay triết lý nhà tu đất Ấn, khuyên vua chúa các vương muốn tu cho có kết quả, khuyên phải biết phép “Xả thân cầu đạo” nhưng một vài ông lãnh chúa Ấn, lại hiểu “đân chúng phải nạp trên giá cân số châu ngọc y số nặng của xác mình”, làm sao cho thành vì muốn thành mà còn lợi dụng một ông cân bảy tám chục ký, của dân mồ hôi xót mắt từ ly từ phân, làm sao cho đủ, nói thêm nữa là thừa. (Viết trên máy không cần bản nháp, ngày chủ nhựt 22-12-1991).
Lâng lâng không làm phước được mà cũng không buồn tiếc của đã mất.
V.H.S.
Việc cũ chưa quên (tuy tuổi đã 90, nhưng chưa lẩm cẩm chưa dở người) 1. Đắt Bắc chuyên nói tắt và có bốn danh từ để gọi bốn địa danh gọi “Tứ danh hương”:
Mo, làng Đại Mỗ
La, La Khê
Canh. Phương Canh
Cót, An Quyết (Cót)
2. Nguyễn Văn Thụ, bố vợ của Huỳnh Văn Tiếng, 4 giờ chiều đi xe đạp, đem một gói trà Hà Nội đến gọi “mừng tuổi 80” và khoe vừa ở Hà Nội vẻ đầy và đã tìm được: 1 quyển “Phong lưu cũ mới” mới toanh, chưa rọc bìa, trước là của mình viết tặng Cổ Trung Ngươn đề số 97 (VHS); 1 quyển “Năm mươi năm mê hát”; 1 cuốn “Sổ tay của người chơi cổ ngoạn” (vì trong cuốn nảy, có câu ghi nơi trang 274 “27-9 là sinh nhật”, nên nay hiết mà đến…
No. V Thu cho hay những hộp cẩm lai chạm chữ NAM PHONG, trước do thợ Hòe làm dể đựng bộ NP bán cho C.T.N. hiện các hộp ấy bị bỏ rơi và nằm tại trụ sở Alliance Française và định cho rằng đồ vật của C.T.N, toàn chở qua Pháp, có thế còn sót bò lại nơi COPIAVINA nhiều lắm. Kỷ niệm xa xưa, các chủ cũ, chủ tỉnh và ân nhân.
1) Cher Monsicur Sen,
Mes vifs remerciements pour votre aimable lettre, auxquels je forme, avec mes meilleues souvenirs, mes voeux bien sincères pour vous et tous les vôtres.
Emmanuel Rosel
Mécanicien Inspecteus de 2è classe de la Marine Militaire
Directeur de l’Ecole des Mécaniciens Asiatiques
Tôi đầu quân năm 1923 nơi đây và phục vụ Trường Máy này từ 1923 đến 1928.
2) Francois Bartoli
Administrateus Chen de la province de So-Déc (1926)
Remerciements Meilleus voeux
Maurice EQuivillon
Chủ tinh Sa Déc thay thế ông F. Bartoli, sau là Thanh tra Lao động.
Vous remercie des voeux que vous lui adressez et vous prie d’accepter les siens avec son bien cordial souvenir,
Saigon i-i-37.
Louis Le Strat
Chủ tỉnh Sa Đéc thay ông Esquillon, sau làm Đổng lý Văn phòng, Directeur dcs Bureaux du Gouvernement dc la Cochinchine.
Remerciements Meilleurs voeux.
Louis Charles Damais
Nhân viên trường Viễn Đông Bác Cổ, chuyên về Mã Lai ngữ Meilleurs voeux à l’occasion de la nouvelle Année Tân Mão
Madame Ch. Chanut, sau tái giá là Mme Bruel, Mẹ đỡ đầu của V.H. Bảo (năm 1951)
Avec les voeux affectueux de sa marraine et ses voeux
Monsieur Jacques Garnier et Madame née Geneviève
Camilleapp laissent à Denys Thierry et Patrice, la joie d’annoncer la naissance de DIANE, le ler septembre 1960 69 rue de la Paroisse, Versailles.
Nhân viên hãng buôn Denis Frères, Sài Gòn, quen thân Bùi Văn Khá (thông ngôn Tam pháp ty Sài Gòn) nuôi và làm chủ hôn cho tôi cưới cô Dương Thị Tuyết
Đổi về tòa án Rạch Giá, gởi câu “Remerciements,
Meilleurs voeux Bon souvenir
Phạm Văn Lầm, dạy nơi trường Máy, nuôi không nhận tiền:
Đại sứ Anh quốc Mrs Donaild Read Heath phu nhơn, viết nguyên văn: Cher M. Sen, “Merci encore une fois pour le grand plaisir vous m’avez donner l’autre jour en me montrant votre maison charmante. Je suis en train de partir la semaine prochaine pour conger dans mon pays, mais quand je serai de retour, je me permettrai d’amener mon mari et des autres amis, Cordialement Louise Heath Saigon le 2 Mars.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.