vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 14 Nov 2025

8. Chương 8
Cô Bảy hột Điều và Cậu Ba – Luật sư Dương Văn Giáo
(Viết ngày 9-12-1990)
Phải gọi Bà mới đúng vì nay đã hơn tám mươi tuổi, và đây là một nữ anh thư, trong giới giang hồ lưu lạc mà giữ được khí tiết thanh cao, tôi dám chắc người đồng hội chưa ai ví bằng, và nay cô đang lần chuỗi bồ đề, tôi mong cô tròn quả phúc, vì vậy đã có nhiều cậu thanh niên, nghe tôi thuật, đòi chở tôi bằng xe ôm đi đến nơi cho biết mặt, nhưng tôi dại gì mà nghe lời, người ta đang tu hành, không nên phá đám, duy hôm nay bụng đói, Tết gần kề mà chưa sắm được chút gì, thành thử gượng viết lại đây chút ít hiểu biết về cô, nếu cô sẽ đọc, xin xóa cho cái tội thày lay và Nam mô Phật, xin Phật chứng cho, tôi không có lòng tà, bài nầy viết chực chúc xuân đầu năm con Dê Mới Tân Mùi, và chỉ có vậy thôi. Đã có người trong giới chủ nhà bán sách lớn, quen nghề quảng cáo, yêu cầu tôi lên đó, chụp cho một ảnh, tôi lại càng hoảng sợ, nhớ câu cũ rếch:
“Giai nhân tự cổ như danh tướng, bất khứng nhân gian kiến bạch đầu” nay cô đã da mồi, tóc trắng, lên đó làm chi, chụp một bô (pose) “hình bà vãi”, xinh đẹp thuở trước còn đâu, vả lại có biết cô khứng cho thâu ảnh hay không, sớn sác lên đó chỉ làm mất lòng người mà không kết quả.
Tuy vậy, gương của cô, nên viết lại đây, có tiền sup (soupe), và hùm chết để da, danh “Cô Bảy Hột Điều”, tôi xin thuật lại. Và tôi thuật theo lối thuộc lòng, chuyện thì tôi đã viết rồi, nhưng nay cũng không lấy ra đọc lại, cái bài thuật chuyện cũ để có dịp cắn hột dưa, nhắp chén trà thơm đầu xuân, buổi trà dư tửu hậu, chuyện thuật hôm nay sai lệch chuyện viết năm xưa, lại càng đượm hương trà…
Thưa cô Bảy, tôi là một vô danh tiểu tốt, lớn lối khoe rằng biết cô, chớ kỳ thật, nhắc lại cô có biết tôi chút nào, vì khi năm xưa, lâu lắm rồi, cách ba bốn chục, năm chục năm nay, khi tôi đến nhà cô ở đường Duranton (nay Bùi Thị Xuân) thì tôi theo hầu cậu Ba Giáo, luật sư Dương Văn Giáo là cậu của vợ trước của tôi (nay đã li dị) cô nào để ý đến tôi, một “xây lũ cố” (tiểu lão ca) thứ theo người lớn tuổi chực cơm chực nghe chuyện tiểu, và vài chục năm xưa, trước đây khi tôi lên đó để nghe cô nhắc chuyện đời, thì tôi lại tháp tùng xe Mercedes của bác sĩ Trần Văn Tứ, người chơi hoa lan nức tiếng vùng “Con Gà Quay Thủ Đức” lại cũng là thằng mê ăn cà ri của bà bác sĩ nấu, ngon số dách, và mê chà bài Thiên cửu nơi nhà bác sĩ, chờ xế chiều đón xe đỏ
Biên Hòa trấy về chợ Bà Chiểu, để lết bộ về nhà, mê ăn cà ri và mê đánh bài, mấy lần tháp tùng xe khín của người ta, cái thứ con người ăn bám xe khín ấy, cô cần nhớ lại làm gì, và chăng cô thành danh “mỹ nhơn, danh kỹ”, cô phát tích là cũng nhờ dựa hơi cậu Ba D.V. Giáo, cậu của vợ kẻ hèn ny, lẽ đáng tôi nên xưng hô với cô là mợ, nhưng cậu Giáo không cho và dạy gọi bằng cô, tôi xin dưng lời và nay nhắc tích cô và tích cậu Giáo, cô vẫn còn đây, nhưng cậu Ba, biệt tăm biệt tích, xin cô cứ nhắc và cứ kể, tôi xin kính cẩn cầm bút chép lại y như lời cô thuật:
Lời tự thuật của cô Bảy Hột Điều.
“Tôi lỡ sanh phận gái, cha mẹ thì nghèo, quê tôi tôi không muốn nói ra đây, thuở tôi đủ lông đủ cánh để bay nhảy tranh đấu vật lộn với đời, thì cô Ba Trà, cô Tư Nhị Nam Vang, cô Sáu Hương, em công tử Bích Trà Vinh, cô Hai Thời, cô Ba Pho (xe Ford) đều danh tiếng như cồn, nhưng mấy cô ấy sinh sống trong nghề đổ bác, hốt me với mấy ông cờ bạc, Sáu Ngọ, Bảy Nhiều, Huyện Đước, Tư Muôn, Năm Hy, Chín Từng, v.v.., ngựa xe như nước cuồn cuộn chảy, vì làm ra tiền không nhọc sức, nên vẫn coi tiền như rác, cứ năm ba tháng, thì đổi hiệu mua xe mới một lần, cứ đập vào túi công tử, con nhà giàu, cho bạc tuôn ra, tha hồ xài phá, tôi đây, thì không phải vậy, tôi không se sua, tuy trốt lỡ theo nghề bán thân nuôi miệng, nhưng tôi giữ nề nếp, chắt mốt dành dụm, tôi giữ tiếng và giữ kín, người ta đem tiền đến cho mình xài, mình phải xài thế nào cho còn, chớ nói chi phung phá, tánh tôi, không dành làm vậy. Tôi đã hư một đời chồng, tôi buồn mới bước vào cảnh chơi bời, tôi chí thú và bà Trường tòa Đoàn, vừa xây hai căn phố lầu một từng nơi đường Duranton, tôi nói với bà để cho tôi ở một căn, tôi đóng cửa kén người trao thân, bỗng một hôm ông Phán Kính, thông ngôn nơi tòa Sài Gòn, đi xe Fiat nhỏ đưa lại nhà và giới thiệu, ông luật sư Giáo, muốn làm quen, và xin bày mâm Phù dung kéo chơi vài điều và xin một đêm cháo gà, đàm luận cho trôi buồn tẻ. Ông Kính thì là khách cũ, ai ở đất Sài Gòn nầy lại không biết cái lanh lợi của ông, nơi
Pháp đình, khi có xử đại hình, tòa mặc áo đỏ ngồi xử, thì mới dùng ông đứng làm thông ngôn, ông mang kiếng gọng đồi mỗi, ông chừa râu mép ngắn, ông nói chuyện có duyên, giòn giã như bắp rang, tiếng Tây sạch sẽ, tiếng ta gãy gọn, da ngăm đen, nên người ta đặt tên lén ông là Cá kinh, Kinh Chà, mà tôi không ngờ ông đây (kẻ viết bài nấy), lại là phò mã của ông Kính, quả tôi nhớ lại có một lần nọ, sau bữa cháo gà, ông Giáo trở lại với xe Fiat của ông Kính, đi theo ông Giáo, là một thơ sanh trắng trẻo, à, té ra đó là ông đây.
Cũng là một kỳ ngộ chứ! Hôm ấy, ông Giáo buồn buồn, nằm cạnh mâm đèn, đốt đèn dầu lạc, nắm đọc nhựt trình, tôi làm thuốc, xoe tròn liều thuốc trên ngọn đèn dầu lạc, thuốc làm xong mà ông Giáo chỉ kéo có một hơi rồi thôi, à tế ra hôm đó người tùy tùng theo ông Giáo, đó là thầy, thầy cũng trộng, nay tôi tạm gọi bằng “anh” cho gọn, chớ chưa phải được làm anh tôi đâu nhé, giỏi lắm là “anh” theo người Bắc cho dễ xưng hô, anh là anh của đứa tôi đã bỏ, nếu còn nó, cũng trạc tuổi cô Tư Tuyết, con gái của bà Phán Kính, bà Phán cỡ tuổi của tôi, tôi có thể làm mẹ vợ được lắm và xin đừng hiểu lầm, nực cười cậu Ba Giáo, hôm ấy buồn về việc nhà, lại kể hết cho tôi nghe, thuở giờ ông luật sự gì mà kín miệng và ít nói quá, khi ra Tòa không biết thế nào, chớ khi lại nhà tôi, ông chỉ nằm nghe người khác nói để ông chúm chím cười như tiếng trống chầu trong giới hát bội, và anh muốn nghe chuyện của cậu vợ cũ của anh không, hoặc anh đã biết dư, nhưng tiện đây tôi xin kể lại, và nhại lời ông D.V. G:
– Cô Bảy à! Tôi khi học ở trường ra thi gặp buổi bên Pháp có trận đệ nhứt thế chiến, Tây chống giặc A-lơ-măng, đang thiếu thợ tay ngang qua bên đó tùng chính, làm việc nặng nhọc, chở đạn, chụm củi lò nẫu thép, v.v. và tôi chưa có việc làm, bèn thừa dịp đăng tên lãnh làm thông ngôn cho thợ không chuyên môn gọi theo tiếng Pháp là Interprète des O.N.S. (ouvriers non spécialisés) qua tới bên đó, sau khi đồng lon và mặc sắc phục quan hai (thiếu úy), có chiến công rồi tôi đăng tên xin học trường Thuộc địa (Ecole Coloniale), tôi không theo ngạch làm quan cai trị (administrateurs) và được miễn bằng tú tài, học luật và học đủ năm, được bố làm luật sư và được nhập Pháp tịch, tôi lại gia nhập Hội Binh vực Quyền làm người (Société des Droits de l’Homme) và về bên ni, tôi chuyên môn cuốc bộ, chớ không bao giờ ngồi xe cho người khác kéo, vì luật “Nhân quyền” không cho phép, riêng xe hơi thì tôi thích đi và đi xe êm, tài xế, xăng dầu đều có Xừ Kính trả, thì đâu có trái luật Nhân đạo, Nhân quyền.
Ông Giáo cười hề hề, rồi tiếp: “Tôi có người anh, thứ hai, tên Dương Văn Tây, tôi lúc nhỏ tên là Du, Tây Du, nhưng trong bộ đời tên thật là Giáo. Giáo nầy được anh Tây lựa vợ giùm, có một bà giầu có lớn, quê ở Vũng Liêm, thuộc hạt Vĩnh Long, bà có một gái thôi chồng, bà gả cho Giáo và mua cho Giáo một nhà lầu ở đường Paul Blanchy (nay Hai Bà Trưng), đó là một lâu đài, một biệt thự rất sang và rất lớn, nay còn đó và ở gần tòa đại sứ trước của Đài Bắc, nhưng Giáo thích nằm ván gỗ của cô Bảy, vẫn mát mẻ hơn giường có lò xo Hồng Kông, mạ vàng, nệm nhún nhún nhưng nhột nhạt Giáo không thích, bây giờ Giáo hỏi thiệt: cô Bảy có bằng lòng kết làm bạn với Giáo, vì từ ngày biết cô, Giáo thấy tâm đầu ý hiệp và chỉ mong Bảy ưng lời, nối hai cái khổ tâm, có lẽ sẽ được cả hai toại lòng mà chứ?
Mà trời đất ôi! Câu hỏi đột ngột quá, và hi vọng của tôi tràn trề, biết làm sao từ chối!
Rồi từ đó tôi thành vợ và Giáo thành chồng, mấy lần tôi nhớ, ôm bóp đầm đến văn phòng của chồng, lại dụng đầu với lão Tây luật sư chưn đi cà nhót, Bernard Couget, lão này chíp để bụng và khi anh Giáo lâm nạn lìa Sài Gòn qua Xiêm, tôi bơ vơ, ông cà nhót đút đơn xin thay thế và tôi cũng chẳng biết làm sao để từ chối. Để tôi thuật chút chuyện của ông Giáo, cho thấy nghề làm chánh trị, vinh quang đâu chưa thấy, nhưng nguy hiểm đến bực nào. Quên nữa, khi ông Giáo ở Pháp trở về có mang theo một bà đầm đã kết hôn vợ chồng chánh thức, bà đầm nầy đã từng diễn thuyết nơi Nhà Hát Sài Gòn, khuyên phụ nữ Pháp nên sính đôi với người Việt, để được Pháp Việt nhứt gia, nhưng khi qua đây nếm cơm với cá kho canh chua, lâu ngày bà thấy hai bực người Tây thuộc địa và người Việt bị cai trị, bị chiếm đóng, Tây ngồi nhà hàng sang, uống rượu khai vị mắc tiền, còn người Việt vẫn là anh đi rền (indigène), kéo xe kéo, đẩy xe đổ thùng, nhục nhã, bà thôi lấy ông Giáo, trở về Pháp lấy chồng đồng loại, ông Giáo ở lại, làm chánh trị, nhập hội với nhóm Bùi Quang Chiêu mà hai người nhìn nhận có dính dấp thân thích còn gần, ông Giáo một mực viết bài chống đối cai trị bất công của Pháp, Pháp thừa một dịp bắt Giáo giam vào Khám Lớn Sài Gòn, Giáo xin năm dưỡng đường
Grall, vô đó rồi, Giáo xin mổ và trị một bịnh kín gì gì đó, tôi làm sao biết được, để rồi vài ngày sau, độ bốn năm giờ gì đó, có một y tá đến rước ông Giáo từ giường bịnh đi bộ sang qua phòng mổ để thay băng mới và làm thuốc vì chỗ mổ gần lành, à tôi quên nói lúc đó quân đội Nhựt đã có mặt tại Sài Gòn rất đông, và khi thay băng xong, người y tá đưa ông Giáo trở về giường bịnh, nhưng khi đi ngang qua một phòng bịnh nhơn nọ, ông Giáo ngỏ lời với y tá xin để cho ông vào phòng ấy thăm người bạn và nói chuyện chốc lát cho đỡ buồn, người y tá dễ dãi gật đầu, ông Giáo bước vô, người y tá không vô theo và đứng ngoài cửa chờ ra, và chưa đầy ba bốn phút, trong phòng thấy bước ra một vị quan đại úy Nhựt, ba lon ràng ràng, mắt thì đeo kính râm, đầu thì đội mũ che sụp mí tóc, người y tá đưa tay lên trán chào vị quan ba Nhựt theo lối nhà binh, quan nẩy không nối không rằng, thong thả, bước xuống từng lầu chen ra cửa sau của nhà thương Grall nơi đường Paul Blanchy (cửa nẩy còn y không đổi), và mé đường đã có một xe camion bít bùng Nhựt đậu chờ sẵn, quan ba Nhựt bước lên xe, xe rồ máy chạy nghe một cái vù, trong nầy, người y tá thấy chờ có hơi lâu, nóng ruột, bèn xô cửa bước vô thì té ra ông Giáo đã kịp cổi bỏ áo quần nhà thương và thay hình đổi áo, vị quan ba Nhựt khi nãy chính là ông Giáo, thì đã bạt nội mây ngàn, ông lên máy bay ở Tân Sơn Nhứt, bay tuốt qua Thái Lan, được bạn cũ là ông thủ tướng Xiêm niềm nở tiếp đón, phong ông làm cố vấn của chánh phủ bên ấy và tội nghiệp cho người y tá tốt bụng, tôi không biết sau đó y lãnh mấy năm tù vì đã làm sẩy một tù phạm chánh trị, và từ ấy tôi bặt tin tức của người tôi thương, ông Giáo chết hồi nào và bị ai giết, tôi không nói được, còn bổn thân tôi, cơ khổ, muốn thủ phận chờ chồng thì trong nhà không còn một đồng một chữ nào, phần thì phải chạy trả tiền nhà, tiền cơm nước, tiền bồi bếp v.v.., tôi phải bước thêm một bước và trở nên phu nhân của luật sư B.Couget, ông nầy tuy xấu xí, đi cà thọt vì một cắng cao một cắng thấp, nhưng bụng dạ tốt, duy tôi ngày nay không rõ một người đồng nghiệp mà lấy vợ của người đồng nghiệp làm chung một văn phòng, có còn nên dùng danh từ đồng nghiệp hữu nữa hay không, và trong lúc ấy, lúc 1945/1946 gì gì đó, ở Sài Gòn, nhà phố không có xe đổ thùng, chợ không nhóm, Ba Tầu lên chưn, đi xe đạp treo cờ giấy Đồng minh, mua gà mua thức ăn về bán cho Tây đối, họ đói đến hết làm phách, ra ngồi quán dơ ăn lạp xường mốc vẫn ngon lành và không còn chê dơ chê chứa nhiều mi-cà-rốp nữa… Vả lại lúc ấy, nghe đâu dường như xóm góc đường La Grandière (nay Lý Tự Trọng) và Aviateur Garres (nay Thủ Khoa Huân) bị máy bay Mỹ dội bom nát tan tành, ông Dương Văn Tây, anh ông Giáo đã chết, gia quyến lưu lạc phương nào tôi nào biết, chỉ nghe chừng nhà ông Nam Đình, là hiệu Fabrinat bán chiều, vẫn không hề hấn…
Cô Bảy Hột Điều thuật chuyện đến đây, đến đây tôi mới nhớ lại, nãy giờ câu chuyện cô Bảy thuật là chuyện tôi nghe trong một cái am nhỏ ở trên một con đường héo lánh vùng Thủ Đức, lộ đá đỏ, khúc trổ ra chợ bán nem thì có lính bố lít và ma tà đứng gác, Bác sĩ Tứ lái xe, lính biết mặt nên xe qua dễ dàng, còn khúc đường phía xa kia là vùng xôi đậu có người khác canh gác, đường vắng ít người đi, mà đi làm gì, Bác sĩ Tứ có thể trở về, tôi nếu bị kẹt, chén cơm viện bảo tàng ắt mất, mất sở làm lấy gì nuôi sống, tôi nhớ lại quên giới thiệu cô Bảy, mảng lo sợ không yên trong bụng, phập phồng ghi chép lời cô thuật lẹ lẹ, dòm ra sân am thấy trời đứng bóng tôi lật đật hối Bác sĩ Tứ xin phép ra về hẹn kỳ sau độ hai tuần nhựt sẽ trở lại…
Và đúng hai tuần, một sáng chủ nhựt, tôi lên Thủ Đức, khi xe Mercédès của Bác sĩ Tứ quẹo vô am, thì cũng vừa có một xe lạ từ trong ấy chạy ra, chúng tôi, ông Tứ và tôi, đậu xe xong, bước vô, kỳ nầy tôi nhìn kỹ, am sơ sài vừa đủ ở giữa một bàn Phật hương hoa nhang khói nồng nặc, cô Bảy ra tiếp, mời vào, cô độ trên ba mươi, trót bốn mươi, áo vải nâu sống màu sô-cô-la, nhưng nơi cổ tay trái còn đeo một chiếc vòng bích ngọc có tẩm một giọt đo đỏ gọi là ngọc huyết tẩm, tay áo ngắn, lộ ra cổ tay tròn như ống chỉ, da trắng như ngà như bột, ngực nở, gương mặt, à gương mặt cô Bảy thật là không giống một ai, thông thường phụ nữ đẹp mặt phải trái soan, thon thon không ngắn lắm mà cũng không dài, đàng nầy cạnh hàm cô Bảy ngang ngang, ai kia đã đặt cho cô mỹ hiệu nọ quả đúng, đúng là hình “hột quả đào lộn hột”, cô Bảy có một duyên dáng lạ lùng, một cái đẹp khác biệt không giống một ai, cô không cắt tóc và tóc của cô không chải mà dợn sóng, óng ánh đen huyền, tôi nhìn lại phía vách am, thấy một tranh sơn dầu hình cô Bảy lúc còn ở nhà đường Duranton, họa sĩ nào đây quả có tài, và hình nguyên thân, ôi cha, Tây Thi ngày xưa đẹp ra làm sao nào ai có biết, nhưng nhìn bức tranh nầy, quả cậu Ba Giáo khéo lựa người và lão Couget quả biết chọn ý trung nhân, và hôm nay không son không phần, mà dung nhan nào đổi, công tử, vương tôn năm xưa tốn tiền cũng đáng! Phải chỉ ở nhà chưa có Năm Sa Đéc!
Trà nước xong, cô Bảy thuật tiếp:
“Đó, xe vừa ra là ông Họa đồ họ Đào, trắc địa sư (géomètre) đo đất bán đất rất giàu, ông đem nho đem táo
Tây đến dâng, nói chuyện “cầu hôn Giang tả”, tôi đều trả lại hết, tằng đã có ăn rồi lúc trước, nay quyết tâm dựa chơn Phật và lánh xa trần tục, nếu quả có lòng mộ đạo, thì nên cho tôi xin thỉnh thoảng một bao chỉ xanh gạo trắng, tế độ người đông con và thiếu cơm để nuôi, còn như bác sĩ đây và chú nhỏ nầy, muốn biết chuyện của tôi, tôi cũng chiều lòng, tôi thuật không giấu giếm mà cũng không thêm không bớt.
Nhắc lại tiếp theo, như cậu đây (tác giả bài này), lúc đó đã lui về quê nhà, ở Sốc Trăng phải không? Cậu sướng quá khỏi cảnh kẹt lúc Hô ở Sài Gòn, khói mò tôm hay mổ bụng. Tôi lúc đó, nhờ có ông Couget bao bọc, tưởng được yên thân, dè đâu ổng lại bị cho vào Khám Lớn Sài Gòn, tôi lính quýnh như cua rụng càng, và số đào hoa chưa dứt, ma đắt lồi hay quỷ đưa đường bỗng có một ông Nhựt không cao không lùn, đưa danh thiếp xưng là Satoh, Đồng lý Văn phòng của Thống đốc Nhựt Minoda, lại cũng như ông Họa đồ kía, toan “cầu hôn Giang tả”, tôi trả lời: “Tôi là gái có chồng, chồng tôi vì là Tây, nên bị giam Khám Lớn, chồng tôi mắc chứng nghiện, nếu ông có lòng, đem được một hộp á phiện lớn vào đó cứu chồng tôi, như được thì trở lại đây sẽ biết. Chồng tôi tên là luật sư Bernard Couget! *
Mà quả số tôi còn nặng nợ, chưa đầy một tuần, Satoh trở lại, cầm thơ trong khám đưa ra, tôi phải giữ lời, bước thêm một bước nữa, thiệt là cùng chắng đã. Tôi gượng gạo tiếp ông Satoh, nhưng không cho việc gì, bỗng kế đó, có bà Song Thu từ Mỹ Tho lên tìm, nói với tôi một hai tôi phải tìm cách nào cứu ông đốc phủ chủ quận Cai Lậy, ông đốc phủ ấy đáng được cứu mạng, và không phải là người xấu như người ta thường nói đâu v.v..
Tôi có tánh lạt lòng, nghe như vầy, không hứa không rằng, nhưng khi Satoh đến, tôi yêu cầu vậy vậy….
– Người mắc nạn đó bây giờ ở đâu? Satoh hỏi tôi.
– Kẹt ở khám Mỹ Tho, và bị giải kéo chạy bộ từ Cai Lậy về khám mà không sao, tôi trả lời.
– Ở Sài Gòn, thuộc phạm vi của tôi thì cứu được. Chớ ở Mỹ Tho tôi không giúp được. – Nếu ông không cứu người đó được, thì xin đừng lại đây nữa!
Đó rồi, duyên nợ của tôi với ông Nhựt bổn nói giỏi tiếng Tây nầy chưa dứt, cho nên dường như y bị câu tôi nói xóc, y tức khí, y xin Minoda cho đi thanh tra các tội nhơn bị giam ở lục tinh, rồi y xuống tra xét thật kỹ ở ngục thất Vĩnh Long, xong rồi y ghé lại khám Mỹ Tho, y giả đò hỏi xét vài phạm nhơn cho có chừng và đến xế chiều, y đứng dậy lên xe ra về và ra lịnh giải hết những tội nhơn chưa xét (trong số có ông Cai Lậy), giải hết lên giam Khám Lớn Sài Gòn thì ông mới có thời gian hỏi tra kỹ lưỡng!
Thế là đã cứu được ông ấy, chớ nếu để ông nơi khám Mỹ Tho thì ất mạng ông ấy đã hưu hỷ rồi…
Nhưng việc đời không phải dễ như lời nối chuyện. Việc đời quá oái oăm, từ ngày trái bom Mỹ rơi xuống đất Nhựt, Nhựt đầu hàng, chồng tôi, ông Couget ra khỏi khám, và đến phiên tình nhơn Satoh bị đưa vào ngục thay thế… tôi được tin nầy, cầm lòng không đậu, xin ông Couget giải thoát cho ông Nhựt, chồng tôi lạnh lùng trả lời: “Nó là thằng thù, lấy vợ, cứu sao được”.
Tôi lại không nghe, rằng: tôi là gái giang hồ, đã thí thân mấy lượt… y cứu ông thì nay ông phải cứu lại y, mới đáng gọi quân tử đời mới. Chồng tôi nài ni rằng tuổi già nay mai sẽ chết và đã làm di chúc, ông ấy và tôi, ai còn sống sót sẽ thừa hưởng của người kia để lại. Nhưng ông năn nỉ cách mấy, tôi cũng nằng nặc không nghe, một hai sẽ vào chùa và sẽ tìm một người thay thể, vừa có học thức, vừa xinh đẹp hơn tôi nữa. Và tôi quên nói tại sao tôi vào cửa Phật, số là tôi có chứng tật kinh phong, ông Couget đã đưa tôi qua
Pháp điều trị mà bịnh không dứt, sau khi tôi đưa bà họ Hà, con của chúa Mường tên Hà Triều Nguyệt vùng Thanh Hóa vào làm bạn với Couget, tình hiệp ý xứng, ông quên tôi và tôi vào đây đây, mà cũng không phải vô cớ mà tôi vào, tôi cắt nghĩa không được và cũng khó tin, số là một hôm, bịnh đang hành, tôi nằm tại một căn phố nhỏ không người chăm sóc, bịnh làm xung, tôi mơ màng thấy một bà lão có lẽ đó là Phật Bà, bà từ trong bước ra, lại gần chỗ tôi nằm và nói:
– Sao không ra bửa củi đi? Tôi da một tiếng, tay xách búa ra ngồi trước sân nhà và chẻ củi, tôi chẻ và mồ hôi ra ướt áo, mớ củi chẻ sạch, tôi bước vào nhà nằm bất tỉnh nhơn sự, nhưng không hiểu vì sao từ đó bịnh kia không trở lại, tôi mạnh luôn, như vậy có phải là Phật Bà độ mạng hay không? Và câu chuyện còn dài…
Cô Bảy thuật đến đây, hai tôi xin hẹn một bữa khác, ngờ đâu hôm ấy, hai tôi về tới nhà, ông Tứ cho xe vô ga ra, chưa chi bà bác sĩ nổi trận lôi đình, hăm và trách tôi không để bác sĩ bắt mạch cho thuốc, rù quến chuyện hư, bà hăm đốt xe, tôi sợ quá, cà ri hết ngon, tôi lật đật từ giã xin về, không lâu bác sĩ từ trần, nhà đã sang tên, còn cô Bảy, ủa bà Hột Điều, tôi không dám trở lại, nghe đâu cái am đã trở nên một ngôi chùa, chùa nẩy ở chỗ nào nay tôi cũng không biết chỗ, cách nay vài năm có một y tá chích dạo quen, nói với tôi rằng y có lên đó tiểm thuốc, bà nhần bảo tôi có dịp lên… nhưng Nam mô di Phật, nhà ai nấy ở. (viết 9.10, đéc, 1990).
Ông Cai Lày; nghe tìn đã từ trần bên đấc Pháp, sống trên chín mươi gần đủ trăm, có biết chăng nhờ Cô Bảy Hột Diều, nếu chuyển có thật, làm việc thiện như vầy, không cần tu, cũng tràn quả phúc.
Tựa
Tôi đã viết ba tập, không dám gọi là “Tùy bút” và chỉ gọi khiêm “Tạp lục”.
Số 1 Tạp lục 1989/1990, kỷ niệm cửu tuần khánh hỷ 27-9 Canh Ngo.
Số 2 Tap bút cho năm 1991, lặp lại và nhắc tuổi 90. (Khởi viết 13-6-1990 và viết xong 11-8-1990);
Số 3 Tạp bút Canh Ngọ (1990) qua Tân Mùi (1991) gồm 98 trang viết từ 24-11-1990 đến 12-3-1991.
Cũng tưởng bao nhiêu ấy đã là nhiều, dè đâu nay còn. Số 4 này và hôm nay 6 tháng 4 năm Nhâm Thân, mới đề tựa. Trể quá? Nghĩ lại hóa tức cười, tại sao đứa trẻ, đào tạo rồi mới lập tờ khai sanh. Và vì vậy người Tây kể từ ngày sanh để đếm tuổi và trái lại ông bà ta hể sanh ra là kể một tuổi trên đầu và đứa sanh tháng chạp, khi ra giêng, đã chịu là hai tuổi. Ai trúng, ai sai, theo tôi, cả hai đều hữu lý, và rõ ra. Nay với tuổi 91, quả là lẩn thẩn.
Anh Lê Thọ Xuân đã mãn phần. Anh Lê Ngọc Trụ cũng nối gót…
Vừa rồi, nhơn lục xấp viết tay, chữ của Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê, thấy câu này viết ngày 24/8/1979 (nguyên văn):
“Lê Thọ Xuân mất rồi, Lê Ngọc Trụ cũng mất.
– Anh có lẽ là người duy nhứt trong Nam, biết nhiều về thời cổ ở đây. Anh còn biết được gì, còn tra được gì, thì cứ ghi hết lại đi, sẽ giúp cho người sau rất nhiều. Công việc đó, ngoài anh, không còn ai làm được đâu”.
Tôi là kẻ chậm hiểu, hôm nay mới thấy lời Lộc Đình, như lời ký thác. Lộc Đình, tôi kể như thầy và tôi đã học được rất nhiều. Tôi xin bái lĩnh và tiếp tục, không những đã viết xong nửa tập cho năm Nhâm Thân (1992), và vẫn nguyện còn hơi thở dến đâu, xin viết, dầu đở dầu hay, làm cuốn kèn để bó xác liệm cũng đỡ tốn.
Nay tựa
6 tháng 5 dương lịch (mồng 4 tháng 4 năm Nhâm Thân (1992).
Một buổi hò còn nhớ. (viết ngày 24-6-1990).
Văn thơ đã có từ xưa, từ bẻ cò bỏ nóp, từ Kinh Thi bên Trung Quốc… Tiếng hò miền Nam là một lối của dân lao động chuyên về đồng áng, để quên bớt nỗi vất vả chưn bùn tay lắm, cặp giò ngâm dưới nước, lưng phơi nắng đầu mùa mưa, phải miệng hò để mua sự quên nỗi mệt mỏi. Có khi nên vợ nên chồng, cũng có khi lời qua tiếng lại, trai và gái gác nhau chút đỉnh, nhẹ thì háy nguýt, nặng thì có khi sanh oán sanh thù, nhưng chung cuộc thì cũng dã lã, hẹn đến mùa cấy sau sẽ hay, và không ngờ cả đôi bên, đều giàu hồn thơ lai láng, nếu không có hồn thơ thì không bao giờ hò được, vì hò là do sự lanh trí và không định trong trí trước được. Sau đây tôi xin ghi lại một buổi hò đối đáp này:
Một cô gái nọ, cấy chung đồng với một anh trai lấc khấc, cô không ưa, hò: “Thân anh (kia) như ông cả trong làng, Em như con hạc đứng trên bàn ngó ra!” Ý cô ám chí khi có cúng thần, kỳ yên, ông cả phải lạy bàn thần có hạc đứng. Sau một chập hò ơ bông lông, anh trai ngứa cổ, hò đáp lại:
“Anh về nhập tịch lang sa, mua cây súng nhỏ, “bắn bà” con hạc kia!
Thế là đã khai chiến, không nhịn, cô nọ cũng có chút xắng, tấn công:
“Anh về bán cả thế gia, bán cha mẹ già, cưới chẳng được em!”
Thấy cô này có hơi hỗn, có mòi leo trèo, anh nổi nóng, hò trả treo lại:
“Anh về bán một mái gà, Đem qua anh cưới hết, cả bà lẫn con!”
Câu hò nẩy làm cho các bạn trai hò tiếp hò ơ ơ ơ, anh hứng chí hò thêm:
“Súng một lòng đạn nọ hai viên, anh đây nhắm bắn “chiếc thuyền quyên” kia hè”
Cô kia đỏ mặt, nhưng súng như gà Cao Lãnh há chịu tịt ngòi, dùng chữ “thuyền” đáp:
“Thuyền em chưa bể rõ ràng, không tin anh đội về làng mà xem?”
Bánh sáp đi, bánh chì lại, anh không chịu thua, hò rằng:
“Hỏi thăm “giếng loạn” em đâu, đặng ngâm “khúc gỗ” của anh, lâu “bù xè”!
Cô nổi giận, nhưng còn kín đáo, chừa chút nhơn tình, nên hò:
“Anh quên, chẳng chút kiêng dè, “Giếng cha mẹ uống”, sao nhè “ngâm cây”!
Câu nầy được các chị em hưởng ứng, có tiếng cười khúc khích chen lẫn với tiếng hò ơ-ơ-ơ-ơ trêu ghẹo…, ngon trớn, cô tấn công, tự ví cô sẽ có chồng là một chiến sĩ, một ông tướng ở trận tiền, chớ thứ trai cấy đừng hòng mơ ước:
Viết cho những bạn còn nhớ tiếng Tây (viết ngày 13-3-1991).
Thuở người Pháp còn ở đây, tôi biết tại mé sông Sài Gòn, ở sát cạnh sở Ba Son, có một quán bán rượu vang (trong này quen gọi là rượu chát) chủ quán là một võ quan Thủy binh chơi chữ, hiệu quán vòn vẹn đề mấy số thật lớn, trên bảng:
0 – 20 – 100 – 0 và phải đọc là “Au vin sans eau” (quán bán rượu không pha nước), (chữ o đọc “au”, chữ 20 (viết) đọc “vin”, chữ kế nữa 100 (cent) đọc “sans” và chữ chót câu O đọc “eau”.
Lại có một giai đoạn, anh nọ mua một đôi giày mắc tiền bằng da đắt giá, nhưng mang đau chơn, nên gới cho chủ hiệu giày vải ba số chữ:
7 (sept) et 3 (trois), đọc “c’est (7) et 3 (trois).
Chủ hiệu giày đáp lại cũng vòn vẹn là:
7 et 9, nên đọc là: c’était neuf: (sept et neuf).
Tạm dịch cho người không thông tiếng Pháp:
Câu trên “C’est étroit: giày chật (chẹt)
Câu dưới “c’était neuf”: vì giày mới. Rõ là 9 chống chín, đó 8 lượng, thì đây nửa cân, bằng đó 10 chỉ thì đây một lạng.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.