Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 17 Nov 2025

Bài 36

Đảo Saint-Joseph – Cái chết của Carbonieri

Ngày hôm qua, Matthieu Carbonieri bạn tôi đã bị một nhát dao trúng tim. Vụ giết người đã kéo theo một loạt những vụ giết người khác. Anh ta đang tắm trần truồng ở xưởng giặt, và khi bị đao đâm, mặt còn đầy xà phòng. Khi đang tắm gương sen, chúng tôi có thói quen mở sẵn dao và dấu dưới quần áo, để kịp thời lấy được ngay nếu có người nào vẫn được coi là kẻ thù của mình bất thần ập đến. Vì lần này không làm như vậy nên anh đã thiệt mạng, kẻ giết bạn tôi là một tên Armeni, suốt đời làm mướn.
Được thiếu tá cho phép, và có một người phụ giúp tôi đưa xác anh xuống tận bến. Anh ta nặng ký nên khi xuống đốc, tôi phải nghỉ ba lần. Tôi buộc vào chân anh ta một tảng đá to và chẳng bằng một sợi dây thép thay cho sợi dây thừng thường lệ. Làm như vậy, cá mập không thể cắn đứt dây được và xác anh sẽ chìm xuống đáy mà không bị chúng ăn.
Chuông nhà thờ vang lên khi chúng tôi đến bến tàu. Đã sáu giờ chiều. Mặt trời lặn ở cuối chân trời. Chúng tôi lên ca nô. Trong cái hòm thường ngày, được dùng cho tất cả mọi người, nắp đã được đậy lại Matthieu nằm yên trong giấc ngủ vĩnh viễn. Với anh ta thế là hết.
“Chèo đi nào”, – viên cảnh binh cầm lái nói. Chưa đầy mười phút, chúng tôi đã tới dòng lạch chảy giữa hai đảo Royale và Saint-Joseph. Tự nhiên, tôi thấy cổ nghẹn lại. Cả chục cái vây cá mập nhô lên khỏi mặt nước, quay vòng rất nhanh trong một khoảng chật hẹp chưa tới bốn trăm mét. Bọn cá ăn thịt tù đây. Chúng đến thật đúng giờ hẹn và điểm hẹn chính xác. Cầu trời cho chúng không đớp kịp bạn tôi. Các mái chèo đã được dựng đứng, để chào vĩnh biệt. Cái quan tài đã được nâng lên. Thi hài của Matthieu, liệm trong mấy cái bao bột mì, bị sức nặng của tảng đá lớn lôi theo, đã trượt nhanh xuống biển.
Kinh khủng quá! Cái thi hài vừa rơi xuống nước, tôi tưởng nó chìm nghỉm thì nó lai bị dội lên mặt nước do bảy, mười hay hai mươi con cá mập – ai biết được, nâng bổng lên. Trước khi chiếc thuyền quay mũi, những bao bột mì liệm xác đã bị rách tan nát và một điều không sao hiểu được đã xảy ra. Matthieu đứng thẳng trên mặt nước chừng hai, ba giây. Cánh tay phải đã mất. Nứa thân người anh tiến thẳng về phía thuyền rồi bị một cái xoáy rất mạnh hút xuống, anh đã biến mất. Lũ cá mập lao vun vút ở phía dưới va phải đáy thuyền, làm một người mất thăng bằng suýt ngã xuống nước.
Tôi bước chậm chạp đi từ bến về trại. Không ai đi theo tôi. Tôi mang cái cáng trên vai và tới quãng bằng nơi con Brutus tấn công con Danton dạo nọ. Tôi dừng lại và ngồi xuống. Trời đã tối, nhưng bấy giờ môi có bảy giờ. Về phía Tây, bầu trời còn le lói vài tia sáng nhạt của vầng dương đã khuất dưới chân trời. Còn lại là một màu đen tối, chỉ thỉ thoảng mới có ánh đèn pha của đảo quét thành một đường sáng. Lòng tôi nặng chĩu. Rõ khỉ! Mày đã muốn xem đám ma, lại là đám ma bạn mày nữa! Thì mày đã được xem, lại được xem kỹ nữa còn gì! Có cả tiếng chuông tiếng chiếc đầy đủ lệ bộ: mọi thứ! Mày đã được hài lòng rồi chứ? Cái tật tò mò bệnh hoạn của mày được thỏa mãn rồi còn gì? Bây giờ còn cái việc thanh toán thằng khốn đã giết bạn mày vào lúc nào?

Đêm nay. Tại sao lại đêm nay? Chưa được đâu. Hãy còn sớm quá, thằng cha chắc hẳn đang thủ thế đề phòng hết mức. Nhóm của hắn có đến mười thằng. Tôi không thể để cho mình mắc bẫy, tự dẫn xác đến cho chúng hạ thủ. Nhưng cũng không thể để cho chúng tranh thủ đánh phủ đầu trước được. Thử tính xem tôi có thể có bao nhiêu người trợ thủ nào? Có bốn người, kể cả tôi là năm. Được! Phải thanh toán nó và nếu có thể, tôi sẽ xin chuyển sang đảo Quỷ. Tại đấy, không cần bè, không cần chuẩn bị gì cả; chỉ hai bao dừa khô, là tôi lao xuống biển được rồi. Khoảng cách đến bờ biển tương đối gần, bốn mươi ki-lô-mét theo đường chim bay. Tính thêm sóng gió và nước thủy triều, cho là một trăm hai mươi ki~lô-mét đi. Còn lại là vấn đề chịu đựng được hay không. Tôi còn khỏe, và hai ngày cưỡi lên túi dừa, lênh đênh trên biển chắc tôi sẽ chịu được.
Tôi nhấc cáng và lên đường về trai. Đến cửa, tôi bị lục soát, một việc khác thường. Chưa bao giờ tôi bị như vậy. Tên lính gác đoạt con dao của tôi. 
– Ông muốn tôi bị giết hả? Tại sao ông lại lấy dao của tôi? Ông có biết làm như vậy là ông giết tôi không? Tôi mà chết là tội ông đấy.
Không ai trả lời tôi, từ lính gác đến bọn A rập giữ chìa khóa. Họ mở cửa và tôi bước vào phòng: “Sao tối mò thế này? Mọi ngày có ba cái đèn, sao hôm nay lại chỉ có một?
Grandet kéo tay áo tôi.
– Papi lại đây.
Căn phòng không ồn ào lắm. Hình như có việc gì nghiêm trọng sắp xảy ra hoặc đã xảy ra.
– Tôi bị tước mất dao rồi. Bọn nó khám tôi lấy luôn.
– Đêm nay cậu không cần đến nó.

– Sao vậy?
– Thằng Armeni và bạn nó đã ở trong nhà tiêu.
– Chúng làm gì ở trong ấy?
– Chúng chết rồi.
– Ai giết chúng?
– Tớ
– Mau nhỉ. Còn những đứa khác thì sao?
Trong nhóm chúng còn bốn đứa. Paulo đã hứa danh dự với tớ là chúng sẽ không làm gì, chúng chờ gặp cậu để hỏi xem cậu có bằng lòng cho chuyện này chấm dứt ở đây không.
– Đưa cho tớ con dao.
– Đây cầm lấy dao của tớ. Ra nói chuyện với bọn đó đi, tớ ở lại đây.
Tôi tiến lại phía nhóm của họ. Mắt tôi lúc này đã quen dần với bóng tối lờ mờ. Rồi tôi cũng nhận ra nhóm họ. Bọn họ đang đứng túm tụm vào nhau, trước võng. 
– Paulo, anh muốn nói chuyện với tôi phải không? Phải.
– Nói một mình hay có cả các bạn anh? Anh muốn gì?
Tôi thận trọng để một khoảng cách một mét rưỡi giữa chúng tôi. Dao đã được mở sẵn, giấu trong cánh tay áo trái, chuôi dao nằm gọn trong lòng bàn tay tôi.
– Tôi muốn nói, tôi cho rằng bạn của anh thế là đã được trả thù xứng đáng rồi. Anh mất người bạn thân nhất, còn chúng tôi mất hai. Theo ý tôi, thế là đủ. Anh nghĩ sao?
– Tôi sẽ xét đề nghị của anh, Paul ạ. Điều ta có thể làm được, nếu các anh đồng ý, là hai nhóm thỏa thuận sẽ không làm gì trong vòng tám ngày. Chịu không?
– Được.
Và tôi rút về.
– Bọn chúng nó nói những gì với cậu?
Chúng nó cho là, với cái chết của thằng Armeni và thằng Vô Lô, Matthieu đã được trả thù đủ rồi.
– Không được – Galgani nói.
Garandet không nói gì. Jean Castelli và Louis Gravon đồng ý là phải thỏa thuận đình chiến.
– Còn ý cậu thì sao Papi?
– Trước hết, ai giết Matthieu? Thằng Armeni phải không? Tôi đã đưa ra một điều thỏa thuận. Tôi đã hứa và bọn kia cũng vậy, là trong vòng tám ngày, hai bên sẽ không có ai hành động gì để hại nhau.
– Cậu không muốn trả thù cho Matthieu hả? Galgani hỏi.
– Bây giờ, Matthieu đã được trả thù rồi, vì cậu ấy mà hai thằng đã chết. Còn giết những thằng khác làm gì?
– Chúng có biết như vậy không đã chứ? Phải tìm hiểu điều gì?
– Xin lỗi và chào tất cả. Tớ cố ngủ một chút đây, ít ra tôi cũng cần được yên tĩnh một mình. Tôi nằm dài trên võng. Tôi cảm thấy có một bàn tay lướt trên người tôi, nhẹ nhàng rút con dao của tôi. Trong đêm tối, một giọng nói thì thầm: 
– Papi cố ngủ đi, nếu ngủ được cứ yên tâm mà ngủ. Bọn tớ dù thế nào cũng thay nhau canh gác.
Cái chết tàn nhẫn, khốn nạn của bạn tôi là không có lý do chính đáng. Tên Armeni giết anh vì trong đêm đánh bạc, Matthieu đã bắt nó phải trả ngay một trăm sáu mươi francs. Thằng chó đẻ mất thể diện vì bị buộc phải bỏ tiền ra trước mặt bốn chục con bạc khác. Bị Matthieu và Gandet kẹp hai bên, nó chỉ có cách tuân lệnh.
Và nó đã giết một cách hèn nhát một tay giang hồ kiểu mẫu, trong sạch và thẳng thắn với giới của mình. Vố này đã làm tôi xúc động mạnh, có một điều làm tôi thỏa mãn là bọn giết người chỉ sống được vài giờ sau khi chúng phạm tội ác: cũng chẳng được bao năm. Grandet, khác nào một con hổ, với tốc độ của một nhà vô địch, đã thọc con dao vào cổ từng đứa một, trước khi chúng có thì giờ thủ thế. Tôi hình dung chỗ chúng gục xuống chắc phải ngập ngụa máu. Tôi tự hỏi một cách ngớ ngẩn: “Không biết ai đã kéo xác chúng vào nhà xí?”. Nhưng tôi không nói ra. Mắt nhắm nghiền, tôi hình dung thấy những tia sáng cuối cùng của mặt trời đỏ và tím một màu thê thảm đã chiếu sáng cái cảnh rùng rợn này: lũ cá mập đang tranh giành thi thể bạn tôi… Và cái thân trên thẳng đứng, đã cụt một cánh tay, đang tiến về phía ca-nô?… Rõ ràng là tiếng chuông đã gọi lũ cá mập đến, và lũ khốn kiếp ấy biết rằng khi có tiếng chuông là chúng sắp được ăn. Tôi còn thấy hàng chục cái vây cá lóe lên một ánh bạc ảm đạm, lượn tới lượn lui như những chiếc tàu ngầm. Chắc phải tới hơn trăm con.. Với Matthieu, với bạn tôi thế là hết! Con đường thôi nát đã đưa anh đến tận cùng.
Chết ở tuổi bốn mươi vì một nhát dao do một chuyện tầm phào. Tội nghiệp cho bạn tôi. Tôi chịu hết nổi rồi. Không, không được. Không được đâu. Tôi muốn cho lũ cá mập ăn thịt tôi trong khi tôi còn sống, liều mình đi tìm tự do, không bị bọc trong mấy cái túi bột mì, không bị buộc vào đá, trói vào dây. Và không có một ai chứng kiến lúc đó, dù là tù nhân hay là lính gác. Không có tiếng chuông nhà thờ. Nếu tôibị ăn thịt, thì… chúng sẽ chén tôi lúc tôi còn sống, trong khi tôi đang vật lộn với thiên nhiên để tới được đất liền.
Thôi đi. Thôi hẳn đi. Không còn những cuộc vượt ngục chuẩn bị qua quá kỹ càng nữa. Từ đảo Quỷ, chỉ cần hai bao tải đựng đầy dừa, rồi phó mặc cho số mạng, nhờ ơn Trời?
Nói cho cùng, đây chỉ là vấn đề chịu đựng của thể xác. Bốn mươi tám giờ hay sáu mươi giờ? Một thời gian ngâm mình trong nước biển lâu như vậy, cộng với sức lực của cơ đùi phải bỏ ra để kẹp chặt lấy các bao tải dừa, đến một lúc nào đó, liệu có làm chân tôi tê cứng lại không? Nếu tôi may mắn đến được đảo Quỷ, tôi sẽ thử. Trước hết phải rời đảo Royale, và đến đảo Quỷ đã. Sau rồi sẽ liệu.
– Cậu ngủ chưa, Papi?
– Chưa.
– Cậu uống cà-phê không?
– Nếu có.
Và tôi ngồi trên võng, cầm ca cà phê nóng Grandet đưa cho tôi cùng một điếu Gauloise đã châm sẵn.
– Mấy giờ rồi?
– Một giờ. Tớ bắt đầu gác từ nửa đêm, tớ thấy cậu cứ trằn trọc hoài, tớ biết là cậu không ngủ được.
– Đúng đấy. Matthieu chết làm tôi ngao ngán quá chừng, nhưng việc mai táng cậu ấy chỗ lũ cá mập còn làm tôi đau lòng hơn. Thật là khủng khiếp.
– Tớ không muốn nghe chuyện ấy đâu, Papi ạ. Tưởng tượng cũng thấy được. Lẽ ra cậu không nên đi thì hơn.
– Trước kia tôi cứ nghĩ câu chuyện về tiếng chuông là bịa đặt. Rồi với dây thép chẳng vào đá, tôi nghĩ là không bao giờ cá mập có thể đớp được cậu ấy khi đang chìm xuống đáy. Tội nghiệp cho Matthieu, tôi sẽ còn nhìn thấy cái cảnh rùng rợn đó mãi cho đến chết. Còn cậu, cậu làm thế nào để khử được thằng Armeni với thằng Vô Lô lẹ vậy?

– Tớ ở phía cuối đảo, đang ghép một cánh cửa cho cửa hàng thịt thì nghe tin chúng nó giết bạn của ta. Lúc ấy là giữa trưa. Đáng lẽ về trại, tớ lại đến xưởng, lấy cớ cần phải sửa ổ khóa. Tớ đã lồng vào một cái ống dài một thước một con dao găm hai lưỡi. Chuôi dao và ống đều rỗng cả. Năm giờ khi về trại, tớ mang cái ống ấy về. Tên lính gác hỏi để làm gì, tớ nói là cái xà treo võng của tớ bị gãy và đêm nay tớ sẽ dùng cái ống này để thay tạm. Khi tớ về đến phòng, trời còn sáng, nhưng tớ đã để cái ống đó ở chỗ giặt quần áo. Trước khi điểm danh, tớ mới ra lấy về. Trời bắt đầu tối. Các bạn đứng quanh che cho tớ lồng con dao vào cái ống. Thằng Armeni và thằng Vô Lô đứng tại chỗ trước võng của chúng. Paulo hơi lùi về sau một chút. Cậu biết là Jean Castelli và Louis Gravon can đảm đấy, nhưng già rồi, cũng không đủ nhanh nhẹn nếu hai bên dàn trận ra đánh nhau. Tớ muốn hành động trước khi cậu trở về để tránh cho cậu khỏi bị dính dáng vào việc này. Với thành tích cũ của cậu, nếu cánh ta bị gì, thì cậu sẽ lãnh án tối đa. Jean đứng ở cuối phòng và đã tắt bớt ngọn đèn ở đấy, Gravon ở đầu phòng đằng kia cũng làm như vậy. Cả gian phòng gần như tối mò, chỉ có một cây đèn dầu ở chính giữa. Tớ có một cây đèn pin của Dega cho. Jean đi trước, tớ theo sau. Đến ngang chỗ bọn chúng, Jean cầm đèn chiếu thẳng vào mặt chúng. Thằng Armeni bị lóa, đưa tay lên che mắt. Tớ có đủ thì giờ lao cả ngọn dao vào cổ nó. Đến lượt thằng Vô Lô, cũng bị lóa, nó đã rút dao và chĩa ra phía trước nhưng chẳng biết đâm vào đâu. Tớ cũng lao mạnh đến nỗi con dao xuyên qua cổ sang tận bên kia. Paulo nhào xuống sàn và lăn vào dưới võng. Jean đã tắt đèn, tớ thôi không đuổi theo Paulo ở dưới võng, cho nên nó mới thoát chết.

– Ai kéo chúng vào nhà cầu?
– Tớ không biết. Tớ cho là chính bọn cùng nhóm với chúng đã kéo chúng vào đấy để moi hai cái plan dấu trong bụng chúng.
– Chắc phải có đến một ao máu nhỉ?
– Chứ còn gì nữa. Chúng nó đúng là bị chọc tiết nên máu phải ra đến hết. Tớ nghĩ ra mẹo dùng đèn pin trong khi chuẩn bị cái lao. ở xưởng tớ tình cờ trông thấy một tên lính gác thay pin cho cái đèn của nó. Tớ nghĩ ngay đến cái mẹo ấy, liền nhờ Dega kiếm cho một cây đèn pin. Bây giờ thì chúng tha hồ lục soát. Cây đèn pin và cả con dao găm nữa, đã được một thằng A-rập giữ chìa khóa lấy trong xưởng mang đến cho Dega. Về phần ấy, không lo bị lộ. Tớ cũng chẳng có gì tự trách mình. Bọn chúng giết Martthieu trong khi mắt cậu ấy đầy bọt xà phòng, còn tớ đã giết chúng trong khi mắt chúng đầy ánh đèn pin? Thế là xong nợ. Cậu nghĩ sao, Papi?
– Cậu làm đúng đấy. Tôi không biết phải cảm ơn cậu như thế nào vì cậu đã hành động mau như vậy để trả thù cho bạn, hơn thế, cậu còn nghĩ cách giữ cho tôi được đứng ngoài cuộc trong vụ này.
– Đừng bận tâm đến chuyện ấy. Tớ chỉ làm bổn phận của tớ. Cậu đã chịu đựng nhiều và cậu khát khao được tự do quá đỗi nên tớ phải làm việc ấy.
– Cảm ơn cậu, Grandet ạ. Phải, bây giờ tớ lại càng muốn đi cho thoát hơn bao giờ hết. Vậy cậu hãy giúp đỡ làm sao cho việc này ngưng lại đây nhé. Thẳng thắn mà nói, tớ rất ngạc nhiên nếu thằng Armêni, trước khi hành động, đã báo cho nhóm nó biết. Paulo không bao giờ chấp nhận một vụ giết người hèn nhát đến thế đâu. Nó biết rõ những hậu quả sẽ phải chịu.
– Tớ cũng nghĩ vậy. Nhưng Galgani thì nói là tất cả bọn chúng có tội hết.
– Chờ đến sáu giờ xem việc gì sẽ xảy ra. Tôi sẽ không ra ngoài để đổ thùng đâu. Tôi sẽ cáo bệnh để ở lại xem tình hình diễn biến ra sao.
Năm giờ sáng. Bác Trưởng khối đến chỗ chúng tôi: “Các cậu này, ta có nên gọi vọng gác không nhỉ? Tao vừa thấy hai xác chết trong nhà tiêu. Người tù già bảy mươi tuổi này muốn cả chúng tôi cũng tin rằng từ sáu giờ rưỡi tối qua, giờ hai thằng ấy bị giết, bác ta không biết gì cả. Gian phòng chắc bê bết máu, vì vũng máu ở đúng giữa lối đi, mọi người đi qua đi lại bắt buộc phải dẫm vào đấy. Grandet cũng trả lời với cái vẻ thơ dại như người tù già:
– Sao, có hai người chết ở trong nhà tiêu à? Từ lúc nào vậy?
– Mày đi mà hỏi xem – ông già nói – Tao ngủ từ sáu giờ. Bảy giờ, tao đi tiểu, tao bị trượt chân ngã suýt vỡ mặt ra. Tao bật máy lửa lên, mới biết là máu và trong nhà tiêu, tao trông thấy hai thằng đó.
– Thôi bác cứ gọi đi, rồi xem sao.
– Ối giám thị ơi, giám thị?
– Làm gì mà to mồm vậy, lão già kia. Cháy nhà hẳn?
– Không đâu, sếp ơi, có hai người chết ở nhà xí.
– Bọn bay muốn tao làm gì nào? Làm cho chúng sống lại chắc? Bây giờ là năm giờ mười lăm chờ đến sáu giờ hẵng hay. Không được cho ai vào cầu tiêu đấy. 
– Ông nói thế không được đâu. Vào giờ này, sắp dậy cả rồi, ai cũng phải đi là, đi đái chứ.
– Được rồi, chờ đấy đã. Để tao đi gọi sếp gác. Ba lính gác, một cai giám thị và ba người nữa đã tới. Tưởng họ vào phòng giam nhưng không, họ đứng bên ngoài cánh cứa sắt.
– Có hai người chết ở nhà xí hả?
– Thưa sếp, vâng.
– Từ mấy giờ?
– Tôi không biết. Tôi vừa đi đái thì trông thấy họ.
– Những ai vậy? 
– Tôi không biết.
– Vậy thì, lão gàn này, tôi nói cho lão biết. Một thằng chết là thằng Armeni, vào xem đi.
– Đúng rồi, đấy là thằng Armeni và thằng Vô Lô. Chờ đến lúc điểm danh thôi. 
Rồi cả bọn bỏ đi. 
Sáu giờ sáng, chuông reo lần thứ nhất. Cửa được mở và có hai người phát cà-phê đi từ chỗ người này đến chỗ người kia, theo sau là những người phát bánh mì.
Sáu giờ rưỡi, là hồi chuông thứ hai. Ngày đã rạng. Và lối đi đầy những vết chân đã dẫm vào máu đêm qua.
Hai viên trại trường đến. Trời đã sáng rõ. Tám giám thị và một bác sĩ cũng đến theo.
– Tất cả cởi hết quần áo, đứng nghiêm trước võng của mình. Trời đất ơi! Đây đúng là cái lò sát sinh. Chỗ nào cũng đầy máu là máu.
Phó trại trưởng vào nhà tiêu trước. Khi trở ra, mặt ông ta trắng bệch. “Đúng là họ bị chọc tiết. Dĩ nhiên, không ai trông thấy hay nghe thấy gì, phải không?”.
Im lặng hoàn toàn.

– Ông già, ông là trưởng khối này, hai người kia đã cạn hết máu. 
– Xin bác sĩ cho biết họ chết chừng được bao lâu rồi.
– Từ tám đến mười giờ. – bác sĩ nói.
– Thế mà đến tận năm giờ lão mới thấy họ? Lão không trông thấy, không nghe thấy gì chứ?
– Phải, tôi vốn nặng tai. Tôi nhìn cũng chẳng rõ, hơn nữa tôi đã bảy mươi tuổi, đã bốn mươi năm trong tù. Cho nên, các ông hiểu cho, tôi ngủ. Sáu giờ tôi đã ngủ, vì mót đi tiểu, tôi mới phải dậy lúc 5 giờ sáng. Cũng may, vì thường ngày tôi chỉ dậy khi có tiếng chuông.
– Lão nói đúng, cũng may mà lão mới nhìn thấy đấy nhỉ, – thiếu tá nói, giọng châm biếm – Ngay với chúng tôi, tất cả mọi người, giám thị cũng như tù, tất cả đều ngủ ngon lành suốt dêm. Ai khiêng cáng đây, đưa hai cái xác này đi, đem tới bệnh viện, để bác sĩ khám nghiệm. Còn tất cả, đi ra sân, từng người một cứ trần truồng như thế.
Từng đứa chúng tôi đi ngang qua mấy viên chỉ huy và bác sĩ. Tất cả các bộ phận trên thân thể chúng tôi đều dược xem xét tỉ mỉ. Không ai có thương tích, nhiều người bị vấy máu. Họ đều nói là họ trượt chân khi bị vào nhà tiêu. Grandet, Galgani và tôi bị kiểm tra tỉ mỉ hơn mọi người.
– Papillon, chỗ anh nằm dâu? – Họ lục soát đồ đạc của tôi – Con dao của anh đâu?
– Dao của tôi bị ông giám thị tịch thu ngay từ cửa, lúc bảy giờ.
– Phải – người lính nói – Anh ta còn làm toáng lên, nói là người ta định giết mình.
– Grandet, dao này của anh hả?.
– Vâng, nó ờ chỗ của tôi, vậy nó là của tôi. Con dao sạch như một đồng xu mới, không có lấy một dấu vết, được xem xét thật kỹ lưỡng.
Bác sĩ từ nhà tiêu trở ra nói:
– Hai người này bị đâm bằng một con dao hai cạnh. Cả hai bị đâm khi đang đứng thẳng. Chẳng làm sao hiểu nổi. Không tù nhân nào chịu để bị người ta giết như giết con thỏ mà không chống cự. Phải có ai ở đây bị thương.
– Nhưng bác sĩ thấy đấy, chẳng ai có lấy một vết xước
– Hai người này có nguy hiểm không?
– Đặc biệt nguy hiểm, bác sĩ ạ. Tên tù người Armeni hẳn là kẻ đã giết Carbonieri ở xưởng giặt chín giờ sáng hôm qua.
– Xếp việc này lại thôi, – thiếu tá nói, – nhưng cứ giữ dao của Grandet lại. Tất cả đi làm hết, trừ người bệnh. – Papillon, anh có báo bệnh không?
– Thưa thiếu tá, có.
– Anh không bỏ phí thì giờ để trả thù cho bạn nhỉ. Tôi không bị bịp đâu nhé. Đáng tiếc là tôi không nắm được chứng cớ gì, và tôi biết là sẽ không bao giờ tìm ra những chứng cớ ấy. Một lần nữa, ai có gì cần khai không? Ai có thể giúp chúng tôi có được chút ánh sáng về hai vụ giết người này, tôi hứa là người đó sẽ được ra khỏi trại và đưa về đất liền. 
Im lặng hoàn toàn
Cả tổ của thằng Armeni đều báo bệnh. Thấy vậy, Grandet, Galgani, Jean Castelli và Louis Gravon cũng cáo bệnh vào phút cuối cùng. Một trăm hai mươi người ra cả, gian phòng vắng hẳn. Nhóm tôi có năm đứa, nhóm thằng Armeni, bốn đứa thêm người tù sửa đồng hồ và ông già khối trưởng luôn mồm càu nhàu không ngớt vì phải dọn dẹp chỗ máu, và một hay hai tù nhân khác trong đó có một tù nhân cao lớn người Alsace tên là Sylvain.
Anh này sống độc thân trong tù và được mọi người quý mến. Anh đã dám một mình làm một việc phi thường, vì vậy mà bị hai mươi năm tù. Đó là một con người hành động, rất được nể trọng. Chỉ có một mình, anh đã tấn công một toa xe lửa chở bưu kiện trên chuyến tàu tốc hành Paris-Bruxelles, đánh gục hai người lính gác rồi ném xuống đường những túi bưu kiện, được đồng bọn đi dọc đường sắt thu nhặt lại, và có được một món tiền lớn
Sylvain thấy hai nhóm rầm rì nói chuyện ở góc của mình, và vì không biết rằng chúng tôi đã thỏa thuận không chống nhau, nên đã lên tiếng:
– Tôi hy vọng các anh không dàn trận đánh nhau kiểu ba chàng ngự lâm pháo thử chứ?
– Hôm nay thì không – Galgani nói – việc đó để sau hẵng hay.
– Sao lại để sau? Việc gì làm được hôm nay không nên để đến ngày mai – Paulo nói – nhưng tôi thấy không có lý do gì phải chém giết nhau. Anh thấy thế nào, Papillon?
– Tôi chỉ hỏi một câu: anh có biết thằng Armeni định làm gì không?
– Xin lấy danh dự mà nói rằng tôi không biết gì cả và anh có muốn tôi nói thêm điều này không? Nếu thằng Armeni không chết rồi, không biết tôi chịu đựng sao nổi việc này.
– Nếu vậy tại sao chúng ta không kết thúc chuyện này cho dứt khoát? – Grandet nói.
– Chúng tôi đồng ý. Chúng ta hãy bắt tay nhau và thôi không bàn tới câu chuyện đáng buồn này nữa.
– Tán thành.
– Tôi làm chứng nhé? – Sylvain nói – Tôi vui lòng thấy việc này được bỏ qua.
– Thôi không nói nữa.
Sáu giờ chiều, chuông nhà thờ vang lên. Nghe tiếng chuông, tôi không sao quên được cảnh ngày hôm qua, nửa thân trên của bạn tôi tiến về phía thuyền. Hai mươi bốn giờ đã trôi qua, mà hình ảnh ấy vẫn làm tôi xúc động đến nỗi tôi không mong thấy dù trong một giây, thằng Armeni và thằng Vô Lô bị lũ cá mập rước như vậy.

Galgani không nói một câu nào. Anh ta biết việc gì đã đến với Carbonieri. Anh ngồi trên võng, hai chân thõng hai bên, mắt đăm đăm nhìn vào khoảng trống ở trước mặt. Grandet vẫn chưa về. Tiếng chuông vừa lặng đi được độ mười phút thì Galgani, chân vẫn đung đưa mắt không nhìn tôi, nói nho nhỏ: “Tớ chỉ mong con cá mập nào đã ăn Matthieu đừng đớp miếng thịt của thằng xỏ lá Armeni. Lúc sống thì tách biệt, lúc chết lại cùng năm trong bụng một con cá, nếu thế thì đời chó má quá!”.
Rõ ràng, việc mất người bạn cao thượng và thành thật ấy đã gây ra cho tôi một khoảng trống lớn. Tốt hơn cả là tôi đi khỏi Royale, và đi càng sớm càng tốt.
Ngày nào tôi cũng nhắc nhở với mình như vậy.









Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 17 Nov 2025

Chương 13

Một lần nữa, tôi lại leo lên được khỏi miệng vực thẳm, nhưng ngay trong những ngày đầu tiên tôi nhận thấy chúng tôi đang ở trong sào huyệt của một đảng cướp thật sự. Cái dá để phân phát xúp không đúng một lít theo tiêu chuẩn và người ta cố ý làm như vậy để giúp Helmut có thêm một số lượng cần thiết cho công cuộc mua bán. Ai mà khiếu nại sẽ được lãnh ngay mấy cán xẻng.

Cứ như thế khi tối đến, cả một bầy đói rách chạy ào ào như để tấn công vào tầng lầu một, tại đây tôi sửa soạn dọn xúp với sự giúp đỡ của người phụ tá gốc Ba Lan. Bureau cấp tốc kể cho tôi nghe rằng anh ta thích vận động để có gấp đôi phần xúp như tại Buchenwald, nhưng đã có sự khác biệt.

Trong mỗi đội lao tác, hình phạt roi rất khắc nghiệt, và khi đi làm về phải chạy và trải qua một cơn mưa gậy. Tên gia nô nhỏ bé nhứt tay cầm một khúc cây, dấu hiệu để phân biệt cấp bậc của y, và luôn luôn có sự cạnh tranh trong việc bày tỏ sự tận tụy quá đáng.

Bởi vì đó là kiểu thời thượng, tên trưởng khối của chúng tôi cũng giống như các “ônghoàng” khác trong trại, có riêng cho mình một tên Tzigane để sử dụng như là hầu cận, điểm chỉ viên, và như là tấm chùi chân. Lúc phân phối xúp, y mò đến đi thơ thẩn, trong khi tôi ghi các danh số để phát xúp. Trước mặt tôi bốn trăm tên tù khổ sai đi ngang qua phần đông rất trẻ, có cả trẻ con từ mười bốn đến mười sáu tuổi. Khi phân phát xong, những cặp mắt van xin các nồi đựng súp để vét sạch bằng muỗng, bằng ngón tay hay bằng lưỡi. Tôi thử tổ chức một vòng luân phiên, nhưng tôi bị chìm mau lẹ dưới làn sóng người và sau đó là đánh lộn. Helmut nhào vào và đánh đập loạn lên trong đống người, sau đó, quá mệt, y bỏ rơi cây gậy và tôi thấy y thích bạt tay hơn. Y rình một chiếc má lộ ra, nhắm kỹ và bang!… Trò tồi bại nầy là cố tật và y rất vui vẻ một khi làm như thế. Không ai dám quấy nhiễu y, trái lại, đã có một vài người cười theo để nịnh nọt. Tôi phải nói với y mới được, tôi còn cảm thấy rõ mùi vị của cái bạt tay của y đêm thứ ba, y giáng cho tôi một phát, chiếc bạt tay gây đau đớn còn hơn bị đánh bằng gậy khi tôi bị thẩm vấn. Không vì lý do gì cả? Tôi đang đếm phần bánh mì khi y đi qua gần tôi với cái nhìn kỳ lạ; chắc y đang lên cơn. Lập tức tôi muốn bóp cổ y, nhổ móng tay và dùng búa chẻ y ra từng mảnh.

Buổi sáng trong giờ cà-phê, lại đánh lộn tiếp và suốt ngày không có một phút nghỉ ngơi giữa các công tác khổ dịch khác nhau. Để giúp tôi, Helmut phái tên cận vệ của y đến, nhưng con heo cái nầy lại muốn nghe tôi kể chuyện về Ba-lê. Thỉnh thoảng tên chủ lại gọi hắn và cố ý khiêu khích hắn để thỏa mãn đam mê riêng. Tôi nghe hoạt cảnh từ đàng xa. “Giày bốt của tao không sạch mậy!”

– Một cái tát. “Mền tao sao không dũ mậy!”.

– Một cái tát nữa. Cứ thế năm, sáu cái bạt tay. Từ trong góc, tôi rất thú vị và đối với tôi đó là lúc nghỉ ngơi dễ chịu nhất trong ngày.

Một thảm kịch trên trời rơi xuống vào tối chúa nhật, đúng làm ngày sau khi tôi được chỉ định. Khi đi làm về, với sự hấp tấp thường lệ để được là người đầu tiên được ăn, bọn tù nhân không ý thức được rằng chiếc cầu thang bằng gỗ trắng chật hẹp đưa lên tầng lầu một, cũng phải than thở vì mệt nhọc; nó đổ sụp đúng lúc đó, kéo theo một chùm người. Sàn nhà cũng qhịu không nổi và nhiều tù nhân nằm la liệt dưới nền. Helmut bắt tên hầu cận chạy mau đến kiếm viên quản trại và tên nầy xuất hiện trong một trạng thái giận dữ đến nỗi người gan dạ nhất cũng phải rùn mình.

– Mau lên, phạng vào bọn hạ tiện nầy coi, – y ra lệnh cho tất cả những tên đứng bao quanh, và không thiếu gì kẻ tình nguyện. Chính y cũng nện vào những người không đứng dậy nổi vì các vết thương do tai nạn gây ra. Hai lối thoát ra ngoài của tầng trệt bị canh giữ, và những tù nhân chạy ùa ra đó bị một cơn mưa gậy tứ phía. Ba cán xẻng đã bị gãy trong đám hỗn loạn và xương người ta chắc phải cứng lắm vì cán xẻng đâu có gãy một cách quá dễ dàng như vậy. Và để chấm dứt cuộc chiến, hãy bỏ việc phân phát súp. Tên quản trại cho khiêng qua một khối khác, và còn có vẻ chưa nguôi giận, y thở hổn hển.

– Nầy cầm lấy, đây là vũ khí của các anh, tôi muốn thấy nó bị gãy đều đều.

Mỗi tù nhân thuộc viên được y phát cho một cán xẻng mới do các tên phụ tá ôm đến.

Không trông thấy tôi đứng đầu hàng người thuộc “lực lượng trật tự”, y gọi tôi và ngạc nhiên thấy tôi không cầm gì cả. Tôi biết trước sẽ chuốc họa vào thân nhưng tôi vẫn cứ thử giải thích rằng tôi không biết xử dụng thứ dụng cụ nầy và dẫu sao cho đến lúc đó tôi thấy nó mang lại hậu quả bất lợi. Y không để cho tôi nói hết, và bọn thân cận tự hỏi không hiểu sao tôi dám thảo luận thay vì tỏ ra bảo một làm mười để củng cố địa vị. “Ngày mai anh sẽ đi lao tác”. Đó là một tiếng gầm gừ rít vào lỗ tai tôi và tôi có cảm tưởng là vừa tránh khỏi bị đánh. Có lẽ là nhờ Montmartre, một sự hổ thẹn không đâu đã ngăn cản y làm vậy. Lẽ dĩ nhiên, tôi có thể tạo cho mình một chức nghiệp ngon lành bằng chiếc cán xẻng.

Đây không phải là lần cuối tôi bị rơi đài. Phải, rồi lại thoát ra, và phát lặp đi lặp lại để in điều đó. Nhưng đêm đó, khi tôi nằm dài ra với chiếc bao tử trống rỗng, đầu óc tôi toàn mầu đen tối và trong tận cùng sâu thẳm của bóng tối, một con số chợt hiện ra trong trí nhớ của tôi: hôm đó, tôi vừa đúng hai mươi bảy tuổi.

Hình ảnh lúc hai mươi tuổi tròn lúc đi thi hành quân dịch, với một vài ảo tưởng và, tại sao không thừa nhận, một vài phấn khởi trong lòng, so với bây giờ sao có vẻ xa vời quá.

Là con dân một nước, phải rời ghế nhà trường lúc còn trẻ, nhưng vì ưa thích và vì không được cuộc đời ưu đãi lắm và, đúng hơn vì ăn uống thiếu thốn, thì trại binh tượng trưng cho một thứ trường trung học lớn, nơi đó người ta được ở, được ăn miễn phí. Tuy nhiên, thất vọng biết bao nhiêu!

Chaumont-sur-Marne, một thành phố tỉnh lẻ một vài quán rượu, hai rạp chiếu bóng, và một nhà chứa. Toàn thể như bị bao phủ bởi một tấm vải liệm âu sầu và hung dữ. Hai năm đần độn, chìm ngập trong rượu chát đỏ của các câu lạc bộ trại binh.

A! Những ngày chúa nhật, tôi nhu nhược làm sao, và tôi chưởi bới những ngày khác cùng với một viên thượng sĩ, một người, mà hồi tưởng lại tôi thấy rất giống các tên Kapo ở đây.

Một vài người bạn hiếm hoi, một vài ngày nghỉ phép, những khoảng rừng thưa trong khu rừng rậm rạp.

– Tiêu tiền của chú hết mau đi, chú lính con, và sau đó, đi cho khuất mắt!

Chắc những con buôn trong thành phố trại binh nầy nghĩ như thế. Chúng tôi ra đi, toàn khóa 37, nhưng là đi ra tiền tuyến! Thoạt tiên, chiến tranh có vẻ “kỳ cục” như người ta nghĩ. Thật sự, nó giống như một cuộc thao diễn, mặc dù một mùa đông mà ngay cả dân cư vùng Alsace, đã không mấy hoan hỷ vì sự hiện diện của chúng tôi, cũng phải lấy làm ngạc nhiên. Và, tuy nhiên, cùng với mùa xuân 1940, một mùa xuân đẹp bên bờ sông Rhin giữa Mulhouse và Ba-lê, nơi sư đoàn của tôi trấn đóng, biết bao nhiêu người còn tin là chiến tranh sẽ chấm dứt nhanh chóng, trong chiến thắng hay trong hòa bình như phép lạ.

Thế rồi, cái vụ nổ như sấm động ngày 10 tháng 5, cuộc khởi hành đến sông Somme, đến vùng chiến tranh thật sự, sự khám phá tất cả kinh hoàng của chiến tranh, chấm dứt mọi ảo tưởng. Ông Trung úy Đại đội trưởng nói với tôi trước khi tiến lên phòng tuyến trước Amiens:

– Nếu nằm luôn lại ở đó, chú mày sẽ là một thây ma, nếu trở về được, chú mày sẽ trở thành anh hùng.

Tôi nghĩ phớt qua hai giải pháp, nhất là giải pháp đầu, nhưng một giải pháp thứ ba lại xuất hiện: tù binh chiến tranh.

Các trại giam chờ chúng tôi trên khắp lãnh thổ Đức, có thể trở thành nơi nghỉ mát đối với những kẻ biết nói tiếng Đức, và mặc kệ các hàng rào kẽm gai, các chòi canh, với một chút liều lĩnh và may mắn, người ta có thể ra khỏi các trại giam ấy. Cũng như nhiều người khác, tôi đã thử, sau 18 tháng nghỉ ngơi bó buộc, và tôi thành công. Đó là một cuộc mạo hiểm không gian nguy gì lắm, ít ra là trong một vài cơ hội nào đó. Mặc y phục thường đân, chữ Vạn Quốc Xã trên hàng nút áo, và tiếng hô “Heil Hitler” tự động, vừa đưa tay mặt lên cao, để chào hỏi nhau, cả một dân tộc, từ đứa con nít trong nôi cho tới ông già sắp xuống lỗ, đều chào nhau theo kiểu đó. Ngay giữa thế kỷ 20, sau Goethe và Schiller, sau Bach và Beethoven, và sau những gì của 2000 năm văn minh thiên chúa, và tiến bộ kỹ thuật phi thường! Định mệnh con người xét ra thật bi hài biết bao!

Ông cựu Đại sứ của chúng tôi ở Bá-linh, ngài Scapini, đã nói rằng vượt ngục là chứng cớ của sự vị kỷ. Chỉ có những người muốn tìm cách tỏ bày ân hận về sự nhu nhược của mình mới cho ông ta có lý.

Đến vùng phía Nam, sau vài giai đoạn bi hài, tôi phải trốn kỹ. Những biến chuyển đủ loại đã gặm mòn vài người như là bệnh ung thư, trong vùng không bị chiếm đóng, có vô số kẻ sẵn sàng tình nguyện phục vụ chế độ Vichy, biết bao nhiêu kẻ sẵn sàng hợp tác với khu vực bị chiếm đóng miền Bắc. Phải chăng chiến tranh đã là cơ hội đặc biệt để thay đổi dòng định mệnh và để làm giàu nhanh chóng? Cơn mơ ước đó há chẳng phải đã biểu hiện trong óc não từ khi quả địa cầu là quả địa cầu ư! Bọn Quốc Xã hiểu rõ vấn đề nầy và vì tiền bạc có thể làm thối nát tất cả, chúng đã vung vãi thật nhiều tiền. Tham nhũng, tố cáo hèn hạ, chợ đen… Người tù binh chiến tranh vượt ngục trở về để khám phá thấy vào năm 1942 một quê hương bạc nhược và phân hóa, yếu hèn và qui phục.

Tuy nhiên nếu tìm kỹ, người ta cũng có thể khám phá ra bên cạnh đám người hèn mọn thời đó cũng có một bông hoa mong manh: kháng chiến, ở đó, không có thì giờ để buồn bực; nhưng cùng với sự thoái bộ của thời gian, bộ mặt thật của nó từ từ xuất hiện. Những gương hy sinh cao cả! Những anh hùng vô danh! Phải, nhưng luôn luôn cũng chỉ phát xuất từ cùng một hạng người, những người có ý thức quốc gia, ý thức xã hội. Rõ ràng họ chỉ là một thiểu số trong cả một dân tộc. Dẫu sao đây cũng là một sự thỏa mãn duy nhất, nhưng rất sâu sắc và rất thật, sự thỏa mãn của người không đứng chung trong đàn, với bầy cừu. Phải, dẫu sao, cho đến khi bị bọn Gestapo bắt và trải qua nhà ngục Montluc, Compiègne, Buchenwald cho đến chiếc giường thô kệch của trại Ellrich.

Thực cũng là một thời gian dài, bảy năm những năm đẹp nhứt của thời trưởng thành, những năm mà ở đó người ta cảm thấy mình thành nhân, có khả năng làm những việc lớn lao nhứt.

Thế nhưng tất cả những gì diễn ra trong trí tôi đêm đó như một cuốn phim câm, đã chết rồi và chưa hết. Ở đây còn tệ hại hơn trong trại lính bội phần, tệ hại hơn chiến tranh và tôi không biết tệ hại hơn các nhà giam tù binh chiến tranh bao nhiều lần.

Sáng hôm sau khi đi xuống sân nơi tập họp các lao công, tôi thấy tổng số lên đến cả ngàn. Ba phần tư sẽ được xe lửa chở đi đến một công trường cách xa sáu cây số, và số còn lại phải ở tại trại để tiếp tục công cuộc xây cất, sửa sang. Công việc khoan núi lập nhà máy là một việc đặt cái cầy trước con trâu, đòi cho nhiều tù dễ làm việc nhưng không lo sắp đặt chỗ ở. Như vậy phải cấp tốc chuẩn bị các hạ tầng kiến trúc tổng quát và nơi tạm trú cho các đoàn công-voa sắp đến. Trong khi chờ đợi cơ sở ấy, người ta không được tắm rửa và một chiếc hố sâu được đào để làm hố tiêu. Cho đến lúc đó, tôi chưa hề bước quá hai khối khác đã có sẵn. Helmut “săn sóc”chúng tôi kỹ quá. Nay tôi mới thấy mặt những người đến trước chúng tôi vài tuần. Áo quần họ bẩn thỉu và rách, và thật khó để đọc chữ đầu mang dấu hiệu quốc tịch trên áo họ. Nhưng, luôn luôn là những người mang chữ “R” (Nga). Chưa có một tổ chức lao tác nào được thành lập. Một tên thô bạo đếm những người phải di chuyển, và trong số ở lại, bọn Kapo đến lấy bất ngờ, 20, 30 hay 50 người. Tù nhân có thể len lỏi đứng vào bất cứ nhóm nào, nhưng phải biết nhóm ấy phụ trách công tác gì. Vì lẽ tôi chỉ mới được báo cho biết phải đi lao lúc đêm hôm trước, tôi để cho bị dẫn dắt như một tên tù. Trả lời một câu hỏi sẽ làm gì, một tù Nga làm một cử động bằng tay mơ hồ. Không có gì quan trọng đối với anh ta.

Chúng tôi đi qua nhiều sân ngổn ngang gạch ngói đổ nát, đâu đâu bọn khổ sai chúng tôi cũng đã bắt đầu một ngày làm. việc. Dọc theo con hương lộ, gần nhà ga một con kênh đã được đào khá dài đang chờ chúng tôi. Tôi nhận một cái xẻng, nhưng vì làm việc theo từng cặp hai người, nên phải thay phiên nhau xử dụng cuốc và xẻng. Người ta có thể đoán quang cảnh sau cùng của trại tập trung một khi được xây dựng xong, bằng cách nhìn chung quanh, hiện tại, nó còn là một đống vôi vữa. Có một điều chắc chắn, cổng trại sẽ hướng thẳng về sân ga, để tránh cho các biệt đội khỏi phải đi qua xóm dân cư mà các căn nhà đầu tiên có thể đứng đây nhìn rõ được ba toán trộn hồ, bị chặn lại hoặc làm việc chậm lại, theo một kế hoạch tập trung kỹ nghệ, đã được trưng dụng để xây cất chỗ cư trú cho 15.000 tù nhân, nhân số lấy từ trại Buchenwald. Chúng tôi chỉ là số đầu tiên của kế hoạch đó, và trong khi chờ đợi, tôi đưa đẩy chiếc xẻng trên lớp đá vôi, chúng tôi đã đào sâu 80 phân, phải đào đến một thước. Một toán khác sẽ đặt các ống cống bằng sa thạch, sau đó chúng tôi phải trở lại để lấp đất. Khi mà người ta chứa bao giờ làm công việc đào đất, thì đã rất khó rồi, nhưng khi có mưa xen vào, thì thật như bị giết tại chỗ. Vì lẽ không thể đi ẩn nấp, chúng tôi bị ướt như chuột rất mau. Đất dính bết vào xẻng và càng vung vẩy, nước càng chẩy vào cổ áo nhiều hơn. Mưa rơi không lớn hột lắm, nhưng rơi đều đều đủ để một môn đệ của thi hào Verlaine cảm hứng làm thơ và đủ để chúng tôi nổi sùng. Không có cách nào để tự giúp đỡ, phải đứng đó, chân ngâm dưới nước, thân hình ướt nhẹp. Dẫu là, lạnh thấu xương, và cái cử động khi làm việc không đủ để sưởi ấm. Bọn Kapo thì có thể đi nấp mưa dưới các kiến trúc gần đó. Tù nhân cũng lợi dụng cơ hội để nghỉ. Trải qua cơn mưa – là cả chuyện khổ nhọc. Người bạn cuốc đất của tôi có thể đốt một điếu thuốc mà chất liệu chính được cuộn lại là một mẩu giấy báo. Không cần trao đổi lời nào, anh ta chuyển cho tôi hít vài hơi. Loại thuốc trộn nầy có đó mùi vị và khi rít một hơi người ta có cảm giác được ấm áp đôi chút và nó cũng làm cho ta thêm nhiều mộng lương. Mưa rơi suốt ngày. Tôi có thể nói là mình đã bắt đầu trong tình cảnh thật xấu, và tôi chưa quen được ai. Những tù Pháp đến cùng lúc với tôi nay làm việc trong các biệt đội khác, và trong khối, họ chia từng toán ba người cách xa nhau dự trù để nhận bưu kiện. Tôi không thể dối họ, tôi chẳng nhận được gì, và vì tôi vừa mất chỗ làm tốt, không chắc trong tình thế mới tôi có thì tạo ra những giao thiệp.

Paul, lên người Alsace, đã trở thành Kapo thật sự, và ở riêng cách xa chúng tôi. Hắn đã gỡ chữ F trên ngực và càng ngày càng ít nói tiếng Pháp. Vì không phải nơi tên nhãi ranh ấy mà tôi sẽ đến xin xỏ được vật gì. Phải, một lần nữa tôi đã lại rơi sâu xuống vực thẳm và mỗi giọt mưa lại nhắc nhở tôi điều đó.

Trở về khối, đến lượt tôi phải đứng nối đuôi để nhận phần súp.

Vừa ăn xong, tôi leo lên giường ngay. Người bị ướt nhưng sung sướng được nằm nghỉ tôi khám phá thấy với tất cả lòng vui sướng rằng tôi có được một người bạn. Từ trước, vì đi ngủ trễ, tôi không có dịp nói chuyện với người nằm cùng giường tên là Vladimir. Anh ta giải thích rằng có một thông lệ gần như trở thành qui tắc, trong trại tập trung, đó là một nhân viên, sau khi bị rơi đài, phải chịu điếc tai vì bị mắng chửi, hậu quả của những việc xấu xa mà y đã làm trong khi có địa vị, nhưng đối với tôi, tình trạng khác hẳn. Mọi người đã biết câu tôi trả lời tên quản trại, và đã thấy tôi làm việc trong 8 ngày có thẩm quyền. Anh ta như không mãi mãi lưu tâm khi tôi kể lại ngày lao tác khó nhọc.

– Ngày mai anh sẽ đi với tôi, – anh ta bảo trong khi chờ đợi, – chúc anh ngủ ngon.

Vào lúc sáng, phải thức dậy. Và lúc tập họp tôi không rời Vladimir và khi tên Kapo đếm lấy 30 người, tôi có mặt trong số đó. Y dẫn chúng tôi đến một trong các tòa nhà của trại, công việc gồm có dọn sạch tất cả vật liệu còn sót lại trong đó. Tên Kapo tối ngày ở miết trong một phòng nhỏ tầng trệt và trách nhiệm duy nhất của y là đưa chúng tôi về buổi tối, khi hết giờ và trình diện đủ số lúc điểm danh. Y không cần phải sự một sự vượt ngục nào. Vì ngoài hàng rào kẽm gai đã được đặt chung quanh trại, tất nhiên còn có các lính canh mà một phần đứng trên các chòi vừa mới được cất. Một người dân sự có trách nhiệm canh chừng tiến triển của công tác trong mỗi khu vực, tuy nhiên trong tòa nhà nơi chúng tôi có mặt, hiệu năng công việc không thể nào kiểm soát được. Chúng tôi phân tán ra làm việc lại nhiều tầng, nhiều phòng, và liệng gạch, gỗ, sắt vụn qua cánh cửa sổ. Những người khác đến lượm để sắp lại cách đó một khoảng xa. So với ngày lao tác hôm trước, tôi có cảm tưởng hôm nay được nghỉ hè, và buổi tối khi trở về tôi không biết nói sao để cảm ơn Vladimir. Tôi sẽ ước phải chi mình nhận được một bưu kiện, ít ra là một lần nhận bưu kiện để chia xẻ với anh ta. Khi biết tôi không nhận được gì cả, anh ta dặn tôi: “Đừng nói gì với ai cả, nhất là với tên Kapo, vì như anh đã để ý thấy, y o bế người Pháp, hy vọng là được họ cho quà. Trong thâm tâm, lý do chính là thế đó. Vậy phải để y không biết gì cả. Trong khi chờ đợi thư tin từ Buchenwald đến, thời gian sẽ lâu chừng mười ngày; cứ giả định là anh sẽ nhận được quà, duy có điều không phải là người đầu tiên đó mà thôi. Cần nhất là phải tranh thủ thời gian. Hè sắp đến rồi và anh sẽ thấy cuộc đại tấn công”.

-A! thế hả, mặt trận thứ hai?

– Không, quân đội của chúng tôi, họ không chỉ tiến quân trong mùa đông. Tất nhiên nếu Anh Mỹ cũng lúc đó có thể đổ bộ được thì rất lý tưởng, tuy nhiên họ đã hứa điều đó bao lần rồi…

Vladimir chưa đầy mười chín tuổi nhưng được đời làm cho chín chắn, anh ta nói như một người lớn tuổi. Một đêm tại Bá-linh, cuộc oanh tạc đã làm sập một phần doanh trại của nhà máy nơi anh làm việc, đây không phải là lần đầu tiên, và cũng như mọi lần, anh ta cùng một số bạn lợi dụng sự lộn xộn, lẻn ra phố kiếm thêm thực phẩm bổ túc bữa ăn thường nhật, và đưa về một số đồ ăn dự trữ, dấu trong đệm rơm. Nhưng một đêm, một cảnh sát viên có bọn thiếu niên Hitler đi kèm, chộp được họ và thế là con đường cổ điển mở rộng; thẩm vấn tại sở cảnh sát hình sự ở Alexanderplatz, và hoặc bị treo cổ, hoặc bị tống đi trại tập trung. Vladimir bị hình phạt thứ nhì, may mắn. Anh gốc ở Kharkov, con một kỹ sư hỏa xa. Mộng của anh ta: trả thành sĩ quan và đến Tachkent, “thành phố sung túc”. Khi nói với tôi về thành phố đó, mắt anh ta sáng rực vì say mê. Cả một thiên tiểu thuyết được xây dựng quanh thành phố mới nầy. Sau bữa súp, thay vì chạy chỗ này chỗ kia kiếm thuốc hút, Vladimir nằm dài trên đệm và đầy khao khát hiểu biết, anh ta hỏi tôi về Ba-lê, về nước Pháp, cả ngàn chuyện. Cũng như nhiều người đồng hương khác của mình, anh ta biết một phần văn chương Pháp và không ngừng bày tỏ với tôi sự ngưõng mộ Victor Hugo, Banlzac và Alexandre Dumas. Anh ta đoán quyết là không một làng mạc nào ở xứ anh mà thanh niên không biết và ngưỡng mộ cha đẻ của “Ba người ngự lâm pháo thủ”.

Một trời một biển

vietmessenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 17 Nov 2025

Phần 3. Bệnh của người

Trời hôm nay mưa phùn bay lất phất. Lạnh lạnh, cái lạnh của mưa gió sụt sùi. Không gian như mờ đục hơi sương. Những hạt mưa bụi nhỏ li ti tuy không thấy rõ nhưng đã làm ẩm ướt khắp mọi nơi. Trên mặt nhựa đường đen nhánh, cũng như trên thân cây nâu sậm và lá cành thẫm xanh. Những hạt mưa đã từng làm những chiếc áo mưa thêm hồng và những chiếc dù thêm thắm. Cho những đôi tình nhân suốt đời thèm lang thang trên hè phố, sát vào nhau như muốn chuyền hơi ấm. Những hạt mưa đã từng làm khung trời thêm phần ảm đạm, thê lương. Cho những cuộc chia ly, kẻ ở người đi. Trên sân ga hay đường qua cổng Long Vân. Và hiển nhiên không thiếu những bến bờ thương mến, vấn vương: Cầu Ðá hay bãi ủi trước cổng trường Hải quân.

Hiền ngồi co ro bên hiên nhà, tựa cửa ngó mong, dõi mắt trông ra đường. Lòng buồn rười rượi. Lại mất tiêu một ngày thứ bảy nữa rồi, nàng nhủ thầm. Nếu như trời không mưa, có lẽ giờ này nàng và một hai con bạn đang tung tăng thả lần trên đường Ðộc Lập. Với không một chủ đích trong đầu. Ði lên đi xuống như một góp mặt với đời, cho tuổi trẻ này của nàng rồi sẽ chóng qua.

Từ ngày tình cờ gặp lại Tần ở ngoài phố, xéo xéo rạp chớp bóng Tân Tân, nàng hay suy nghĩ vẩn vơ cho duyên phận mình. Có bọt bèo lắm không? Gia đình chàng có phải là một gia đình cao sang quyền quý ở trong Nam? Biết đâu chàng chẳng lại là một công tử miệt vườn? Con cái hay cháu chắt thừa tự của một ông hội đồng ruộng vườn rẫy bái cò bay thẳng cánh chó chạy cong đuôi, hay của một viên chủ tỉnh về hưu với nhiều đồn điền cao su nào đó của một thời phong kiến xa xưa?

Nàng không hề mong như thế! Ðúng vậy! Vì so với hoàn cảnh gia đình nàng thì kể ra cũng có phần hơi khó xử, nếu không muốn nói là bế tắc, trong tương lai. Nếu những gì nàng nghĩ đến về Tần đều là sự thật… Từ ngày ba nàng, cũng như biết bao nhiêu người yêu nước đã hiên ngang dám liều thân cho “cách mạng,” chịu tập kết ra Bắc vào năm 1954, mẹ nàng vẫn sống thui thủi một mình ở thôn ấp buồn hiu, quạnh quẽ của xứ Thành. Tảo tần buôn bán nuôi con. Chị Diệu, rồi đến Hiền, và hai đứa em trai nàng. Ðứa vừa biết đi lẩm đẩm, Trí, và đứa còn sấp ngửa, Dũng. Nguồn sống của gia đình chỉ trông cậy vào mảnh vườn con trồng đủ thứ cây ăn trái và miếng đất nhỏ trồng mãng cầu dai, do bên ngoại chia cho. Má nàng vẫn phải làm thêm công việc khác, tráng và bán bánh tráng bánh phồng, mới đủ kiếm sống. Có khi bỏ mối trên chợ Ninh Hòa, có khi phải chạy xuống giao cho bạn hàng ở các chợ Nha Trang.

Trong khi đó, cha nàng đã biền biệt làm… “kẻ ra đi, hề, không bao giờ trở lại.” Trường hợp của những người khác thì sao nàng không biết, chớ thật sự đối với nàng, nàng chẳng hề thấy chút gì “anh hùng tính” trong câu nói này hết. Vì sau một hai lần thư trong đôi ba năm, ba nàng bỗng bặt vô âm tín. Chẳng biết ổng đã hy sinh hay đã vui với niềm vui mới. Bây giờ, tất cả như đã đi sâu vào dĩ vãng, Hiền không thể nào hình dung ra khuôn mặt của cha mình. Một người mà nàng chỉ nhớ mang máng gặp được một đôi lần, trong đêm hôm tăm tối. Cách mạng nào không dẫn đến chiến tranh và chiến tranh nào không đem lại tang tóc chia ly? Cho những gia đình đang sum vầy, hạnh phúc! Cách mạng, ôi, hai chữ này nghe sao mà thần thánh, quyến rũ quá. Nhưng, cũng đừng ai lợi dụng nó và biến nó thành một công cụ giết người. Máu chảy thành sông. Ðể không còn ai tin tưởng vào ý nghĩa trung thực, tốt đẹp của nó nữa.

Sau đó, chị Diệu được gửi xuống Nha Trang học. Nhưng, chưa học xong ban trung học thì chị đã có chồng, anh Thiện, một chân thợ làm ở nhà in Bác Ái. Rồi hên cho chị là nhờ có ông chú bên chồng dẫn vào, chị được làm thơ ký có ngạch trong viện Pasteur. Cho nên, dạo sau này, đời sống của hai người tương đối có phần dễ thở, thoải mái. Nhất là những lúc nhà in bận, anh vẫn hay làm trễ hoặc làm thêm vào cuối tuần. Nhưng, tánh chị Diệu lại hay ăn xài sang. Thấy món gì đẹp cũng muốn mua, thấy món gì ngon cũng muốn nếm. Thành thử, tuy vợ chồng làm có tiền mà cũng không dành dụm được bao nhiêu. Lấy vào cửa trước, đưa ra cửa sau. Hơn bốn năm lập gia đình, đến nay, chị đã sinh cho anh một đứa trai, thằng Tiến, và một đứa gái, con Liên, rất là mũm mĩm dễ thương.

Rồi như những lượn sóng mãi mãi nối nhau tấp vào bờ, lớp sau ùa tuôn theo lớp trước, hết chị Diệu bây giờ đến Hiền, lại phải xuống Nha Trang trọ học. Ở với chị bề gì cũng dễ hơn ở với mẹ, Hiền nghĩ. Chị Diệu không mảy may cấm đoán Hiền đi đó đi đây, rong chơi bè bạn. Hầu hết là bạn gái, lẽ dĩ nhiên. Trường học của Hiền, trường Kim Yến ở đường Nguyễn Trãi, ngay trong khu chợ Xóm Mới cũng gần. Ði tới đi lui cũng tiện. Trường của nàng tuy nhỏ nhít về tầm vóc nhưng lại lớn tiếng về mặt… chẳng lành. Là nơi quy tụ những học trò tối ngày chỉ khoái lo party hơn là bài với vở. Là nơi, một thời, nổi tiếng với cặp nhị Kiều: Kiều Tiên và Kiều Nữ…

Thật ra Hiền quen với Hạnh, Thảo và Thúy trong một trường hợp rất là đặc biệt. Nhân một buổi công tác ủy lạo bão lụt miền ngoài, vùng Phú Yên, Sông Cầu. Như là… những chí lớn thường gặp nhau vậy thôi. Chớ không phải vì lý do đơn giản “cùng trường cùng xóm” như hồi nào anh Ðức, ý trung nhân của bà Hạnh, giới thiệu. Hiền cứ cười thầm trong bụng hoài khi thấy Tần, và các anh Thắng, Thành coi bộ dễ tin những gì anh Ðức nói.

Hiền đang ngồi lớp đệ nhị. Và nàng cứ tự hỏi: mình có đủ tư cách để làm một đứa học trò lớn hay chưa? Một học trò có thể đem vòng tay của mình tặng cho người tình, ôm ấp người tình không bao giờ biết mỏi! Nhiều người ở lứa tuổi nàng đã đi lấy chồng, như chị Diệu của nàng lúc trước chẳng hạn. Sang năm, nếu đậu xong Tú Tài, nàng nhất quyết sẽ trở thành cô giáo. Nàng sẽ theo học ban sư phạm, bốn năm hoặc hai năm. Ước mơ nhỏ nhoi của nàng và luôn của mẹ nàng chỉ có thế!

Từ nhỏ đến giờ, ngoại trừ việc chợ búa, mỗi khi Hiền đi đâu thường có anh có chị đi theo hay ít ra cũng có một hai con bạn đi cùng. Ít khi Hiền đi một mình lắm. Như vậy, lần này, làm sao Hiền đi xuống trường Hải quân để thăm Tần đây? Chẳng lẽ nàng lại rủ Thảo, Thúy, hoặc bà Hạnh? Hay đèo thêm chị Diệu? Những người mà nàng muốn dấu. Ít ra cũng trong buổi ban đầu. Mà ô hay, chẳng lẽ Hiền đã yêu Tần đến độ say đắm rồi chăng? Cho dù chỉ sau một hai lần gặp mặt! Mỗi lần nghĩ tới, nàng cảm thấy “mắc cở” trong lòng quá đi thôi!

Nhưng Hiền đâu làm sao dấu nổi người chị, đã ít nhứt một lần, từng trải qua những yêu thương, đón đưa, nhung nhớ… Chị Diệu như đã đi guốc trong bụng Hiền, đã đến từ phía sau lưng, đặt nhẹ tay lên vai nàng, hỏi nhỏ:

– Sao, làm gì mà thẫn thờ ra đây vậy cô em! Ðang mơ tưởng điều gì hả? Hay là đang nhớ đến “tên” Tần?

Hiền giựt mình, đánh trống lãng:

– Ðâu có gì đâu chị! Chỉ tại trời mưa hoài mưa hủy, buồn bã quá phải không chị? Em định về nhà thăm má bữa nay, mà sao thấy làm biếng đi quá chừng. Mà nếu về được trên đó, có lẽ em cũng ngồi ru rú trong nhà chớ có giúp ích cho má được việc gì đâu!

Những cuối tuần về thăm nhà, thực ra, Hiền cũng chẳng có làm công lên chuyện xuống gì để có thể gọi là nặng nhọc hết. Bất quá chỉ quét dọn nhà cửa, giặt giũ quần áo, xách nước từ giếng vào bồn, hay nấu thay mẹ một bữa cơm. Không còn chuyện tắm rửa em út nữa vì Trí và Dũng cũng đã lớn, mười bốn mười lăm tuổi tới nơi rồi. Nàng lại rất ít khi giúp mẹ về chuyện rẫy bái, vườn tược…, ngoài việc đi tìm hái mấy trái chín cây treo lủng lẳng trên cành. Hiền hỏi lại chị:

– Bữa nay chị có tính đi đâu không?

– Mưa gió thúi đất như vầy thì đi đâu cũng ngại, tiệm quán chắc là ế ẩm, đóng cửa hết. Nhưng chắc chị cũng phải chạy lại đằng chợ một tí, mua một ít rau cải và cá mắm về làm cơm cho anh Thiện. Cuối tuần cũng nên có cho ảnh một bữa ăn tươm tất, tươi mát một chút. Em có muốn đi với chị?

Chuyện đi chợ đối với Hiền chẳng có gì mới mẻ hết. Nàng vẫn làm hằng ngày vì cả hai, chị Diệu và anh Thiện, đều đi làm ngày hai buổi. Công việc đó hai người đã nhiều lần giao khoán cho nàng. Kể cả nấu ăn, làm bếp. Nhưng, thật sự, Hiền muốn đi rảo ngoài phố Ðộc Lập, Trần Quý Cáp hơn. Ở đó, cho dù trong làn mưa bụi mù mù sương khói, nàng cũng có thể bất ngờ gặp Tần. Như lần trước. Còn vòng vòng ở cái chợ Xóm Mới kia với chị Diệu thì kể như là hết hi vọng. Mà nàng bỗng nghĩ lại, liệu bữa nay mưa gió như vầy thì biết Tần có can đảm xách đít “đi bờ” hay không đây? Ðể mà gặp với gỡ? Hay chàng lại nằm trại đọc sách, đọc thư nhà. Ðọc thư tình nữa, cũng không biết chừng! Làm sao mà hiểu nổi những người con trai bay bướm hào hoa, những sinh viên sĩ quan hải quân như Tần chớ! Nhưng nếu nàng nói không muốn đi thì chị Diệu sẽ nghi! Vả lại còn hai đứa nhỏ ở nhà thì bỏ cho ai trông coi, chẳng lẽ lại bồng theo… May quá, chị Diệu đã tự trả lời thế cho Hiền:

– Hay là em muốn đi chơi với mấy đứa bạn thì chị đi một mình cũng được.

Hiền nói ngay như sợ chị nàng đổi ý:

– Em định lại nhà con Thảo, lâu quá không gặp lại nó!

Chị nàng hơi ngạc nhiên, mỉm cười:

– Thế à! Vậy thôi để chị sửa soạn đi cho rồi, kẻo trưa!

Thật ra Thảo đã ghé nhà thăm Hiền cách đây vài ngày. Con nhỏ vẫn hay tạt ngang trên đường đi học về, đạp xe đạp từ trường Thánh Tâm qua ngã Nguyễn Hoàng lần ra khu chợ Phước Hải. Trường nhà dòng thì kỹ luật khó khăn hơn, nhưng thỉnh thoảng Thảo cũng bỏ lớp cúp cua đi chơi với bạn. Lạng quạng nó dám bị đuổi học có ngày, Hiền nghĩ. Lại phải chui vào các trường tư thục, không nổi tiếng cái này thì cũng nổi tiếng cái kia. Rất tiếc là lần vừa rồi Hiền quên đề nghị với Thảo về việc đi xuống trường hải quân thăm “chàng.” Phải nói không riêng gì Tần của Hiền, mà còn Thắng của Thảo nữa chi. Con nhỏ coi mòi cũng chịu đèn “chàng” của mình dữ lắm.

Nhưng muốn đi thì phải có kế hoạch. Vì không thể đến thăm “chàng” trong giờ làm việc được. Ngoại trừ những trường hợp khẩn cấp dành cho thân nhân ruột thịt như cha mẹ, anh chị em hay vị hôn thê, Hiền biết vậy. Mà trong khoảng thời gian này, chắc “chàng” cũng đang bù đầu vào bài vở, lớp học, thi cử. Không tâm trí đâu mà để ý đến chuyện bồ bịch, vẩn vơ. Ðang đợi chờ ngoài cổng. Rồi, nếu có đi thăm sau năm giờ chiều tan học về thì phải viện dẫn lý do chính đáng thế nào đây? Cho chị Diệu và anh Thiện tin tưởng? Cho ba má con Thảo bằng lòng? Nàng suy nghĩ mãi mà không tìm ra được một kế hoạch nào chu đáo. Vả lại, nếu xuống đó thăm thì phải nói với “chàng” những gì? Lại phải dắt nhau đi đâu, câu lạc bộ chẳng hạn, hay chỉ ngồi nói bâng quơ vài câu trong phòng tiếp tân? Nàng thấy sao mà rắc rối quá!

Nhưng, trước sau gì Hiền cũng phải thực hiện lời hứa oan nghiệt của mình đối với Tần: Sẽ có một ngày đẹp trời, không xa lắm … Và hiển nhiên, nàng không thể để Tần chờ lâu hơn. Rủi chàng lỡ quên luôn nàng thì sao? Xa mặt dễ cách lòng mà! Có thể nàng phải gấp rút ghé tạt qua đó, ngay ngày hôm nay cũng nên. Chỉ cần gặp mặt chàng cho… đỡ nhớ và ghi cho chàng cái địa chỉ nhà, thế thôi. Hẹn chàng cứ đến nhà tìm thăm, nếu chàng thích. Trâu phải tìm cột chớ cột nào lại đi tìm trâu. Nhưng nàng lại chợt nhớ, hôm nay là thứ bảy, rủi chàng không sợ gió bấc mưa phùn, cứ lầm lũi đội mưa “đi bờ” thì càng tréo cẳng ngỗng! Rõ lẩn thẩn! Càng nghĩ, nàng càng có lý do để gặp Thảo bàn tính chương trình.

Chị Diệu trở ra trong cánh áo sơ mi bâu lật màu hường nhạt, quần tây đen. Vẫn mang đôi giày bít sờn gót đi làm thường ngày, có lẽ cho đỡ văng bùn lên gấu quần. Chị tròng vô tấm áo mưa ny-lông trong suốt với cái mũ ba góc trùm đầu cùng loại. Mặc dù không son phấn sửa soạn chi hết, trông chị vẫn còn mơn mởn đào tơ. Không ai ngờ rằng chị đã có hai con. Con gái đẹp thường hay bị con trai xỏ mũi, rước đi sớm là vậy. Kèm theo cái cảnh hay bị chồng ghen, tiệc tùng cưới hỏi gì gì ở đâu, anh Thiện cũng đi theo giữ chị chằng chằng như chằn giữ kho tàng. So với chị, tuy Hiền không sắc sảo bằng nhưng nàng lại có duyên ngầm. Ðiểm giống nhau của hai chị em là đều có nước da sáng sủa, dẫu sống quanh năm bên vùng biển mặn. Hiền khen khéo chị Diệu một phát:

– Chị đi một mình phải coi chừng có mấy anh chàng hải quân độc thân theo tán tỉnh bất tử đó!

Chị Diệu đẩy đưa, nói bóng nói gió:

– Theo chị hay theo em đây? Lại nhớ tới hải quân nữa rồi phải không? Cô này bữa nay quá lắm rồi nghen, coi chừng chị mét má!

Hiền giẫy nẫy:

– Chị quỷ nè.

Diệu tiếp:

– Ở nhà trông cháu giùm chị, chị đi một chút xíu sẽ về ngay. Sữa chị đã pha rồi dưới bếp, nếu con Liên thức dậy, em cứ lấy cho nó bú, khỏi khuấy. Chị đi đây.

Hiền đáp nhẹ:

– Dạ, chị để đó cho em.

Chị Diệu đi rồi, Hiền lấy chiếc áo len trắng do chính nàng đan tay máng sau bệ ghế khoác lên người, cho đỡ lạnh và đi xuống nhà sau. Hai đứa nhỏ còn ngủ say sưa trong buồng anh chị nàng, Hiền ghé đầu ngó vào trông chừng. Trời mưa âm u càng làm cho căn phòng như đang chìm lỉm trong màn đêm. Trở lại phòng mình, nàng bật đèn ngồi vào bàn viết. Làm gì đây, nàng tự hỏi? Học bài giờ này thì chắc là học không vô rồi, nàng biết chắc chắn như vậy. Hay là viết thư? Cho Tần! Gửi xuống KBC 3317, một KBC mà hầu hết con gái ở Nha Trang đều biết! Hiền ngại quá, chuyện gì chớ chuyện giấy trắng mực đen coi bộ hơi nguy hiểm. Bút sa gà chết! Mà biết viết gì đây? Chẳng lẽ lại vào đề: Tần… thương mến… Úi chao, không được. Sao chưa gì mình lại đi thương mến người ta chớ!

Phải chi có Thảo, có Thúy, hay bà Hạnh… ở bên mình giờ này thì đỡ cho Hiền biết mấy. Hai ba bộ óc liễu yếu, đào thơ dễ thường… dụm lại cũng nên hòn núi cao lắm chớ chẳng phải chơi, nàng bỗng nghĩ. Ít ra bọn nó sẽ cho nàng một vài ý kiến! Ối, mà chuyện tâm tình của bọn nó cũng giống như của Hiền, nghĩa là luôn luôn rối nùi như mớ bòng bòng thôi. Ở đó mà cho ý kiến! Ý, biết đâu chuyện mình thì quáng, còn chuyện bạn bè hay tình địch thì các nàng lại sáng như sao băng đây? Nghĩ đến đó Hiền lại càng nôn nóng muốn nhảy tót lên xe đạp chạy tuốt qua chợ Phước Hải gặp Thảo ngay. Hay vọt lên chợ Ðầm gặp Thúy… Còn bà Hạnh ở chợ Phường Củi thì miễn bàn đi. Bà này hay làm tài khôn, dạy đời Hiền dữ lắm, Hiền không thèm hỏi ý kiến đâu. Bả chỉ đòi làm má Hiền thôi, mặc dầu mới lớn hơn Hiền chỉ vài ba tuổi.

Nhưng nói gì thì nói, Hiền cũng phải chờ chị Diệu đi chợ về, rồi nàng mới dứt khoát đi tới nhà ai. Bậy quá, phải chi mình vọt từ sáng sớm thì được rồi, khỏi phải nằm nhà suy nghĩ tới lui. Mà cũng không được nữa! Mới sáng sớm mà đến nhà người ta chỉ để… chơi không thôi sao? Ít ra phải có vấn đề gì quan trọng chớ! Hừm, quan trọng thì rất quan trọng thiệt đó, nhưng nàng không dám nói ra là cái cẳng. Ừa, hay là Hiền cứ sửa soạn, son phấn ngay từ bây giờ đi là vừa. Mà thôi, trời đất kia đang tỉ tê ướt át đến như thế này thì sửa soạn, son phấn cho ai coi, nàng lại phân vân. À, nếu không làm mặt làm mày thì ít ra mình phải chọn mặc đồ gì, hàng gì cho thích hợp đây chớ. Chẳng lẽ lại trắng với đen hoài, black on white always right, như nàng đã có lần đọc ở đâu đó trong một cuốn catalog hàng ngoại quốc…

Bỗng, bên kia phòng có tiếng con nít khóc ré lên. Chậc, con Liên và thằng Tiến đã thức dậy! Hiền chạy nhanh qua phòng, bật công tắc. Hai đứa đang lồm cồm ngồi dậy, dụi mắt, mặt nhăn nhó như khỉ ăn ớt. Mùi nước đái khai nồng nặc, lại đái dầm, nàng than thầm. Bế xốc Liên bên mình và đưa tay đỡ Tiến leo xuống giường, nàng nói:

– Chạy ra nhà sau cho dì rửa mặt nghe không!

Thằng bé ở truồng đưa cu dòng dõng ngoan ngoãn vâng lời, lẩm đẩm bước đi. Hiền theo sau. Nàng múc thau nước mát để trên bàn nhỏ, khoát nước rửa mặt cho hai cháu trước rồi mới rửa cu rửa chim cho từng đứa sau. Nước lạnh làm Tiến rùng mình, uốn éo, tỉnh ngủ. Liên cũng vậy. Hiền lấy ngón tay khều khều vào bụng con nhỏ, Liên nhoẻn miệng cười đưa hai cái răng sữa như hai hạt gạo nanh chồn. Hiền hỏi bâng quơ:

– Khát sữa rồi phải không? Biết lắm mà! Cười cái nữa đi, dì thương!

Con bé chép miệng đưa tay lên mút. Nàng đi lại bình hấp sữa, mở nắp, lấy một chai nhỏ giao cho Tiến tự cầm bú lấy. Thằng nhóc thấy chai sữa như mèo thấy mỡ, mặt mày sáng sủa, tươi rói ngay. Hai tuổi rưỡi rồi mà vẫn còn bú sữa ké của em, không biết mắc cở, nàng ngạo thầm. Lấy thêm một chai nữa cho con nhỏ, rồi nàng lại nằm treo trên võng. Ðể đầu con bé gối lên tay, nằm gọn bên hông mình, nàng lêu lêu bình sữa trước mặt. Con bé quơ quơ hai cánh tay tròn lẳn như hai củ cải trắng, chụp lấy chụp để trên không. Ðói dữ hả con, nàng tự nói với mình, rồi đút núm vú vào miệng cháu. Con bé chu mỏ nút, lúm hai đồng tiền lớn bên má. Nàng đẩy võng đong đưa, bất giác, hát lên câu ca dao mẹ con tình tự:

Con tôi khát sữa bú tay
Ai cho bú thép ngày rày mang ơn
.

Rồi bỗng dưng mắc cở một mình, con ai đâu mà con, nàng nhủ thầm… Chợt, Hiền bâng khuâng vụt nghĩ tới má nàng và hai em. Giờ này chẳng biết má nàng đang làm gì, tráng bánh hay nấu cơm? Và hai thằng em láo táo như khỉ của nàng nữa, đã chạy rong hàng xóm hay đi chơi đâu đó dọc theo bờ sông Cái trong cảnh đời mưa gió vi vu, âm u mù mịt như thế này? Tự nhiên, nàng cảm thấy mình bất hiếu với mẹ quá! Làm thân con gái, có nuôi cho lớn rồi cuối cùng cũng theo trai. Sống với chồng con, mải lo cho chồng con như chị Diệu nhà này, có bao giờ để tâm để trí đến kẻ sinh thành nữa! Nàng buông tiếng thở dài! Có lẽ nàng phải về Thành thăm nhà ngay trưa này, thay vì đi bàn tính chuyện riêng tư, tình cảm cá nhân với bạn bè, con Thảo, con Thúy. Tần ơi, em không nỡ bỏ má em để đi đón anh chiều nay, xin anh tha lỗi… Tha lỗi cái con khỉ, người ta nào đã là gì của mình đâu, nàng nghĩ mình chắc đã khùng tới! Chưa gì đã lẩn thẩn chuyện bên hiếu, bên tình! Nhưng thân phận nàng rồi có bèo bọt lắm không? Làm sao nàng biết được rằng Tần không thuộc vào một gia đình cao sang, quyền quý?

Vô lý thật, mấy lúc gần đây sao Hiền cảm thấy hơi khó ăn khó ngủ. Lại hay nhớ trước, quên sau. Ðầu óc luôn nghĩ chuyện đâu đâu, vớ va vớ vẩn. Chẳng hiểu tại sao trong đêm dạ vũ gắn alpha, nàng lại dám cả gan hôn lên má Tần và để cho chàng ghì chặt vào lòng. Làm con gái mà hành động như Hiền có nên gọi là thứ lẳng lơ, trắc nết hay không? Biết đâu Tần cũng đã “phải lòng” Hiền, cũng đã thương nhớ Hiền không nguôi? Giờ này nữa, Tần đang làm gì? Chàng có để hình bóng Hiền rơi vào đôi mắt xanh màu biển rộng của chàng chăng? Chàng đang vui với bạn bè hay đang buồn vì vọng nhớ quê nhà, miền Nam xa vắng kia? Dẫu vui hay buồn, nàng đều nhứt quyết muốn chia sẻ cùng chàng!

– Tần ơi, có phải gió mưa là bệnh của trời, tương tư là bệnh của người… mới yêu …

Hiền bỗng thì thầm như vậy. Và ngoài kia, trời vẫn lất phất mưa bay…

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 17 Nov 2025

Phần 18 – Ta phải sống

Trong trại giam Thẩm-vấn Phan Thiết, ngày lại ngày, thời gian là những chuỗi tuyệt vọng vô hình. Như những con chim bị nhốt trong lồng, mỗi ngày cho ăn hai bữa trong lò lửa tù, hàng ngày phải chịu cái nóng hừng hực, những con chim tù coi nước uống là những thứ vô cùng quí báu. Người nhà thăm nuôi, bỏ bao cho tù thường là thức ăn, nào ai gởi nước. Dường như chưa có nhà tù nào cho tiếp tế nước cho tù. Mỗi bữa ăn, trại thay đổi từ bo bo đến bột mì luộc vo thành bánh xe méo xẹo, đôi lúc nhai dai như cao su. Hôm nào đẹp trời, đảng cho ăn độn một cơm chín khoai lát. Có người tù cẩn thận, tẳn mẳn ngồi lựa mấy hạt cơm dính tòn ten trên mấy lát khoai và la lớn:

– Bữa nay tao được 65 hạt cơm trắng! Hết sẩy!

Trong tù, thằng nào không bị sốt rét thì trơ xương như nhau, trắng bệt như nhau; thằng nào có thêm món sốt rét mà còn sống thì màu da xanh tái, bên dưới lớp da là những dòng sông xanh chằng chịt, mờ ảo, ẩn hiện như những dòng định mệnh u buồn li ti chạy trăm ngả.

Mỗi kỳ thăm nuôi, hắn được bồi dưỡng mấy cục đường, vài trái chuối và một ít cám rang trộn bắp xay ngào đường. Mấy thứ này giúp hắn kiếm lại ít hồng cầu trong máu, da hắn bớt xanh và tiệp màu da anh em, nhưng cứ mỗi tháng hai kỳ, mấy con sốt rét dựa hơi đảng và nhà nước, trở lại tàn phá thân thể hắn bằng những cơn nóng lạnh chết người, thế là hắn xanh lè trở lại. Nhưng hắn không chết, dù sốt rét quật hắn không biết bao nhiêu lần. Cái này không phải tại hắn ngoan cố hay ngoan cường gì cả, voi mà bị sốt rét ác tính cũng lăn quay như hắn. Hắn không chết là tại vì số hắn chưa chết. Hắn là hạt bụi trong tay đảng kia mà!

Hắn ngồi nhâm nhi chén khoai, nhai từng miếng, có những miếng bột, có những miếng sượng, có những miếng sùng đắng nghét. Hắn đổ quạu:

– Thứ này cho heo ăn nó cũng không thèm ăn!

Tiếng hắn rõ mồn một trong lúc cả phòng nín khe. Hắn chợt ngước lên nhìn ra cửa, tên công an đứng trước cửa phòng tự bao giờ. Nghe hắn nói trọn câu, tên công an nhìn hắn:

– Ê! Anh kia! Anh nói cái gì nói lại nghe coi! ĐM! Thứ phản động, tay sai đế quốc, chưa bắn bỏ là may! Bày đặt còn chê khoai sùng khoai thúi! Lần sau tôi mà còn nghe anh nói kiểu ó đâm đó là tôi tống cổ cho nhịn đói trong chuồng cọp nghe chưa!

Hắn cúi đầu, nhẫn nhục làm thinh. Hắn nuốt nỗi nhục nhằn, uất hận, giữ cho nó khỏi tuôn ra đôi mắt. Hắn sợ cán bộ Việt cộng thấy ruột gan hắn. Hắn dấu kín, hắn nghĩ phản ứng là vô ích; trả lời, biện cải là vô ích, vì người tù có khi phải trả cái giá chết người chỉ vì trả treo, lý sự với những thứ người cộng sản mất nhân tính, coi tù như cỏ rác.

Tên công an bỏ đi xuống nhà bếp. Hắn ném nhúm khoai sùng vào xô cầu và cẩn thận lùa hết muỗng cơm trắng vào miệng. Hắn nhai từ từ, mắt lim dim thưởng thức những hạt tinh bột theo cổ họng chạy xuống bao tử và hắn thấy tinh bột như đang ngấm vào máu. Nhà bếp tiếp theo đó, đặt trước mỗi phòng một xô nước. Mỗi người tù có một chiếc ca riêng, thứ tự từng người xếp hàng lết ra cửa, thò tay múc nước đủ uống. Qui định của trại giam không cho chứa nước. Sức nóng của phòng giam, của mái tôn, của ánh nắng làm cho từng giọt nước quí như vàng. Mỗi lần uống thì cố uống cho cành hông cho đã đời. Chiều tối trại mới cho uống một lần nữa.

Dãy phòng ngang gồm 4 phòng, mỗi thùng nước đặt trước mỗi phòng, từ cuối đầu nhà bếp, tên công an ngồi kiểm soát từng ca nước thò ra, thụt vô. Công an coi tù ra lệnh cấm bất cứ ai ló đầu ra ngoài, trại tù không muốn tù nhân nhìn ra hành lang quan sát sinh hoạt bên ngoài. Gần tới phiên hắn uống nước trưa, hắn lôi trong bọc ra một cái ca nhựa màu vàng nhà mới bỏ bao kỳ thăm nuôi tuần trước. Thanh Cùi chợt đề nghị:

– Anh uống xong anh cho em mượn ca. Cái ca em nhỏ quá, uống một lần không đã.

– Ừa!

Thanh Cùi chuẩn bị giở trò ăn cắp nước. Bằng một động tác có chuẩn bị trước, Thanh Cùi rút ra một chiếc đũa, đầu đũa kẹp một miếng kính nhỏ nhặt ở đâu, hồi nào không biết, rồi từ từ thọc nhẹ đầu đũa ra ngoài, nghiêng đầu nhìn vào miếng kính nhỏ để dò xem tên công an có mặt hay không ở cuối dãy hành lang nhà bếp. Thanh thò ca múc uống phần mình, rồi nhanh như cắt, Thanh Cùi thọc chiếc ca vàng vào xô nước múc vô một ca đầy nước. Hắn hả hê:

– Trưa nay có nước bồi dưỡng rồi!

Nhưng tai nạn đến ngay liền sau đó. Chẳng biết tên công an núp ở một xó nào, nó rình các sai phạm của tù như một trò chơi thú vị buổi trưa, và thích thú, “hồ hởi” khi lôi được một tên tù ra nhốt phòng kín hay bạt tai, bất kể tù nhỏ tuổi hay tù đáng tuổi cha. Buổi trưa đó, tên công an trực tù nhỏ con là Hoa nhí. Hoa nhí hiện ra như một con ma:

– Cái ca vàng vừa múc nước tới hai lần! Ai vừa múc nước tự giác đứng dậy!

Cả phòng im lặng. Hoa nhí khuỳnh tay:

– Giởn mặt hả! Cả phòng đứng đậy! Ôm cả đồ đạc gốì đầu!

Tất cả đám tù đứng dậy, lòi ra ca nước màu vàng dưới chân Thanh Cùi. Hoa nhí thích thú:

– Bắt tận tay đấy nhé! Anh kia! Ca nước dưới chân là của ai?

Thanh Cùi ngơ mặt ra, lắp bắp không nên lời, không phủ nhận hay xác nhận. Hoa nhí hét:

– Anh kia, anh bên cạnh! Có phải của anh không?

– Không phải của tôi cán bộ!

– Không phải của anh thì của anh kia!

Hoa nhí chỉ mặt Thanh Cùi:

– Bước ra!

Thanh Cùi vẫn đứng như trời trồng, nhìn hắn cầu cứu. Hắn đứng lên:

– Tôi nhận cái ca đó của tôi!

– À! Ngon! Tự giác cao! Nhưng tại sao chỗ anh bên kia mà cái ca nước lại ở bên này?

– Tôi múc thêm nước dấu uống buổi trưa. Tôi chuyền dấu qua bên đó!

Thanh Cùi thở phào, nhìn hắn như cám ơn. Cái ca nước thì đúng là của hắn, mà tội múc nước lậu là của Thanh Cùi, nhưng Hoa nhí truy chủ nhân cái ca nên hắn nhận đại cho rồi, có bị phạt thì phạt một thằng. Và hắn nghĩ đó cũng là cách trả ơn Thanh Cùi những ngày Thanh Cùi quạt hắn khi hắn lên cơn sốt. Hoa nhí nhìn hắn một chập rồi ra lệnh:

– Anh bước ra!

Hắn dợm bước ra cửa phòng giam, Hoa nhí hét:

– Quay lại lấy quần mặc vô! Trình diện cán bộ mà ở truồng hả!

Trở lại chỗ mình, hắn cúi xuống lấy cái quần đùi, thọt hai cái giò khẳng khiu vào, trở ra đứng trước mặt Hoa nhí.

Cơn gió mát bỗng đâu thoảng qua hành lang, hắn cảm thấy thoải mái, hắn có cảm giác được ướp một hơi lạnh vô cùng dễ chịu mà không một ai trong phòng giam có cái may mắn được hưởng. Bị mấy cái tát tai mà thở được một chút không khí trong lành như thế này cũng đáng. Tự dưng hắn mĩm cười.

Buổi trưa hè oi bức này, được một cơn gió mát là được của trời cho. Cuộc đời kỳ thật, hắn nghĩ, cái thằng nhóc con này đáng tuổi em út hắn, đứng thấp hơn hắn hơn một cái đầu, lại sắp tát tai hắn. Hắn thường thấy Hoa nhí véo tai, tát má những ông già vượt biên bị bắt, nên hắn có lãnh mấy cái tát cũng chẳng sao.

Hoa nhí thấy hắn cười, nụ cười của người tù như một thứ hoa nở vô thường trên nỗi nhục nhằn chai đá của những chuỗi ngày tù tội không tương lai, không ngày về mà thời gian trước mặt là một xa lộ cụt đường trong mầu đen kịt chủ nghĩa, nụ cười tự phát từ trong một cõi vô thức nào đó mà người tù không hề có ý định trước, nhưng đối với tên công an coi tù, đó là một thứ thách thức, ngạo mạn. Hoa nhí gằn giọng:

– Anh coi thường cách mạng hả! Tại sao cười? Cười cái gì? Cười linh tinh? Đứng thẳng người coi!

Cả phòng trố mắt coi Hoa nhí đánh tù, một chuyện hầu như thường ngày. Gương mặt hắn trở lại nét bình thường, nụ cười không còn trên môi, hắn trầm tư, nhẫn nhục nhìn khoảng trời mây qua đầu Hoa nhí. Xuyên qua mé mái tôn, hắn thấy mấy vạt mây thênh thang bay qua bầu trời. Hắn ước chi mình được hóa thân là mây, là gió, là con chim nhỏ, là hạt bụi trong khung trời bao la trước mặt, tâm trí hắn bay bổng gần như thoát hồn, đứng trơ trơ như cục đá.

Hoa nhí cung tay, nhón cao chân tát thẳng một cái tát vào má trái hắn, nhưng không hiểu tại sao, bàn tay Hoa nhí dừng lại trước khi đụng vào hai gò má xanh xao đang nhìn trời, có vẻ bất cần của hắn. Hắn không hiểu tại sao Hoa nhí dừng tay!

Nhìn xuống, hắn thấy Hoa nhí chống nạnh, và hốt nhiên, từ trong mớ tiềm thức lộn xà ngầu sau cuộc đổi đời đen như mõm chó, hắn nhớ ra Hoa nhí là thằng học trò lớp đệ thất Phan Bội Châu của vợ hắn trước 30/4/75 có lần đến nhà nộp bài và chào hắn bằng thầy. Hắn nghĩ bụng: “À thì ra thằng này chắc nhận ra mình, và lương tri hắn còn chút tôn tri trật tự trong cái đầu 30/4, hắn không nỡ đánh ông thầy. Thằng VC này chắc chưa đến nỗi!” Nhưng rồi Hoa nhí nói như tạt nước lạnh vào mặt hắn:

– ĐM! Cà chớn! Lần sau tái phạm biết tay tôi! Vô!

Hắn lửng thửng vô lại chỗ nằm. Hoa nhí tịch thu ca nước tạt ra hành lang và mang ca đi luôn. Hắn không tiếc cái ca, hắn tiếc những giọt nước, hắn đăm đăm nhìn vạt nước tràn lan trên nền xi măng, rồi hắn nhìn Thanh Cùi, nụ cười hồn nhiên lại hiện ra trên môi hắn, dường như hắn coi cuộc đời vô thường này như cơn gió qua hè. Cửa phòng được lệnh đóng kín lại. Hắn cởi quần thoát y một trăm phần trăm trở lại như anh em.

Có những buổi trưa nóng hết chịu nỗi, mùi hôi người, mùi hôi xô cầu trộn nhau dưới sức nóng hắt lửa của mái tôn trong một phòng giam chật hẹp thiếu không khí, đã làm một vài tù nhân ngất ngư ngộp thở. Cửa khóa bên ngoài. Công an canh phòng có thể đang cởi trần ngủ trưa trên võng hay trên chiếc ghế bố ngoài hành lang. Trong đám tù ngất ngư đó, dường như chỉ có hắn là người còn để cho cái đầu hoạt động trước nghịch cảnh. Hắn đăm đăm nhìn vào các song cửa lá sách với những miếng gỗ mỏng xếp nghiêng, mà người bên trong có thể nhìn chéo xuống và thấy chân giép râu của công an canh tù đi ngang qua lại ở bên ngoài. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu hắn. Hắn dựng Thanh Cùi dậy:

– Thanh! Mày làm cái này cho tao. Nếu ngon lành, chiều nay tao chia mày nửa chén bo bo!

Thanh nhừa nhựa ngồi dậy:

– Cái gì anh nói thử coi!

– Này! Mày lách anh em, đứng ra giữa phòng, quay mặt về cửa phòng, dùng cái quạt của mày và của tao, xòe quạt theo tầm ngang và thẳng tay quạt lên quạt xuống gần mấy miếng lá sách. Mày làm động tác như kiểu tao làm. Mày coi này!

Hắn đứng dậy chỉ cho Thanh Cùi cách quạt gió. Thanh Cùi có vẻ không hiểu gì cả, nhưng trong đầu Thanh Cùi là chiều nay có thêm được nửa chén bo bo. Cái đó mới quan trọng. Thanh Cùi dạng chân quạt. Chỉ sau vài phút là phép lạ xẩy ra trong phòng giam. Người phát giác phép lạ đầu tiên lại là tên đang ngồi trên xô cầu cuối vách, và người la làng đầu tiên là ông tù phòng trưởng nằm gần cửa để lúc nào cái lỗ mũi cũng nhận nhiều không khí mát từ bên ngoài nhiều hơn anh em.

Phải là một tên tù thâm niên nhất phòng mới được đặc ân làm phòng trưởng, điểm danh, chia cơm nước cho anh em, và chiếm vị trí gần cửa nhất. Tên ngồi trên xô cầu bỗng la lớn một cách thích thú:

– Trời ơi! Tự nhiên sao có gió mát quá!

Tiếp theo là ông tù phòng trưởng:

– Chết cha! Sao nóng và hôi quá! ĐM! Sao gì kỳ vậy!

Từ giữa phòng, hắn đứng dậy, nói với cả phòng, nói một cách nghiêm trang:

– Tôi đã vừa thử một cách làm cho phòng chúng ta bớt nóng, có chút không khí trong lành vô phòng. Khi Thanh quạt xuống, một số tù khí trong phòng chúng ta bị tông ra ngoài theo hai cây quạt vào phần dưới cửa lá sách, tức khắc, một luồng không khí mát bên ngoài tràn vào, theo phần trên của lớp lá sách chui vô phòng chúng ta, chạy dọc theo mái tôn dụng vách xô cầu và tràn xuống. Hơi nóng bị luồng không khí lùa ra ngoài qua mấy khe dưới của cửa lá sách. Đó là lý do tại sao anh Mười phòng truỏng đột nhiên thấy nóng và la làng. Nhưng không sao, nếu chúng ta thay phiên làm kiểu này mỗi buổi trưa một vài tiếng đồng hồ, không khí trong phòng này sẽ dễ thở và mát hơn. Thanh tiếp tục quạt như thế cho anh năm mười phút nữa xem sao!

Thanh Cùi làm theo lời hắn, và quả nhiên, cả phòng vô cùng thích thú – y như những gì hắn giải thích. Từ đấy, một số tù lớn tuổi đã cùng hắn chia bớt phần ăn cho các tù trẻ để làm dịch vụ thay đổi không khí trong phòng. Và vị trí nằm độc tôn sát cửa của phòng trưởng không còn là nơi lý tưởng duy nhất trong phòng giam. Phát kiến này có tiếp ngay một hệ quả khác mà anh em gọi là “nhiệt độc tà khí thần chưởng”, được áp dụng vô cùng thần sầu vào mỗi đêm để đuổi công an.

Buổi tối, sau khi kẽng trại báo ngủ, tất cả các phòng giam bị khóa cứng, bên ngoài, công an bắt đầu đi tuần. Thường thì công an đi rình nghe các phòng nói chuyện. Phòng hắn có lẽ là cái phòng già chuyện nhất trong các dãy phòng ngang đầy ắp người. Phòng giam quá đông, không có chỗ đánh cờ tướng nên buổi tối thường chụm đầu nhau kể chuyện. Kể chuyện mà bị công an nghe là bị phạt cả phòng.

Thành ra, mỗi đêm kể chuyện, phòng đều cử một anh em gác cửa bằng cách đứng gần cửa lá sách nhìn chéo xuống đất, hễ thấy đôi giép râu vừa ló gần tới là ra hiệu cho cả phòng im tiếng. Tên công an vừa rón rén tới gần và đặt tai vào cửa, mấy cây quạt bên trong cùng lúc quạt vào khung cửa lá sách. Báo cáo sau đó là:

– Hết sẩy! Khi mình quạt cái đầu, em thấy ông công an lùi lại cái rột! Ông không chịu nổi mùi hôi trong phòng. Cái này bác Cương chắc gọi là “nhiệt độc tà khí thần chưởng” của “Đệ Bát Tử Vong Cốc”.

Cương dường như là sĩ quan thuộc Nha Tuyên úy Phật giáo bị tù vì tội vượt biên, và thường kể chuyện chưởng cho anh em nghe. Và Đệ Bát Tử Vong Cốc chính là tên anh em đặt cho phòng ngang số Tám.

Cái kinh nghiệm điều hòa không khí bằng cách quạt vào cửa lá sách không biết các phòng khác có nghĩ ra hay không song không có cách chi chia sẻ kinh nghiệm với anh em. Vấn đề cái nóng chết người tạm thời giải quyết được, nhưng diện tích phòng giam, chiều cao vách tường thì chịu. Tù lúc nào cũng dày đặc.

Phan Thiết nằm trên bờ Thái Bình Dương nên là một trong những thành phố có nhiều người vượt biển nhất, và số nạn nhân bị công an cộng sản bắt cũng vào hạng nhất nước. Thuận Hải lúc đó là tỉnh hai năm liên tục đoạt cờ đầu của chủ tịch Tôn Đức Thắng về thành tích bắt người vượt biên, và nghe đâu một đại biểu quốc hội tỉnh Minh Hải có lần họp ở Hà Nội hỏi móc họng đại biểu tỉnh Thuận Hải, là “các các đồng chí cai trị dân ra sao mà năm nào các đồng chí cũng đoạt cờ đầu về thành tích bắt người bỏ nước ra đi!” Không nghe mấy ông Thuận Hải trả lời ra sao.

Cũng vì lý do đó mà phòng giam của hắn lúc nào cũng ở trong tình trạng cá hộp, tù nhân phải ngủ thế hai chân gác tréo mẩy. Ngủ tréo mẩy là nằm dài lưng trên ván, hai chân co lại và chân này gác chân kia, tay cầm quạt phe phẩy. Đó là dáng cách của mấy ông nhà nho, mấy ông quan, hay cả của bác nông dân thư thả buổi trưa hè.

Mấy ông đó nay không còn tồn tại, mà trong phòng giam của hắn, chỉ còn hàng lớp tù nhân cũng nằm ngủ đêm hay ngủ trưa trong cái thế tréo mẩy có vẻ nhàn nhã nhưng thực ra là một cực hình.

Họ ngã lưng, chân co lại gác lên nhau ở thế tréo mẩy, đít người này thẳng hàng chạm đít người đối diện để vừa đủ hai người nối nhau, hai đầu đụng hai vách có độ dài cách nhau không quá một thước tám, chia hai vừa đủ mỗi người một phản lưng, dư chút xíu cho hai cái mông đâu lại. Không “tự giác” nằm theo thế này thì những người vào sau, có đến nửa phòng, sẽ phải ngủ đứng, ngủ ngồi, nếu có người chết hay chuyển trại mới thế người mới thâm niên vào chỗ nằm của người ra đi.

Theo “luật giang hồ” trong phòng, mỗi lần người đối diện đứng dậy đi cầu, khoảng trống sẽ dành cho anh bạn đối đít duỗi chân thoải mái, không ai được dành chỗ. Giây phút được duỗi thẳng hai cẳng là những giây phút thần tiên. Nhiều lúc quá mõi chân, hoặc ngủ say, hoặc đồng ý duỗi chân gác lên ngực nhau, hai tên tù cùng nhau bỏ thế tréo mẩy, duỗi cẳng dài ra, ôm cẳng chân nhau mà ngủ. Gặp cái thằng mập mạp, mới vô lò với hai cái giò tổ bố nặng thì người kia khó mà không xẹp ngực qua một đêm dài…!

Hắn sống khốn nhục như vậy trong suốt bảy tháng trời, cùng với những cơn sốt rét tái đi tái lại, hắn thành một cây tre rụng lá biết đi. Bên ngoài, người nhà hắn nghĩ có thể VC không giết hắn, song hắn sẽ chết vì sốt rét trong nhà giam, hoặc vì hắn tự tử khi sức chịu đựng đã quá mức mà con người có thể chịu đựng.

Thực vậy, những dự tưởng của người nhà hắn không sai lắm. Gác ngang chuyện chết vì sốt rét do kiệt sức và không thuốc men, chuyện tự tử cho xong đời… đã nhiều lần lảng vảng trong đầu hắn, nếu có trong bọc quần áo một chục viên thuốc ngủ, không chừng hắn chơi luôn trong một đêm mưa gió nào đó. Hắn sẽ về với Chúa cũng tốt, với Phật cũng xong, về với ma vương, ngạ quỉ cũng được, cái nào cũng khá hơn cuộc đời khốn nhục này.

Một buổi trưa, sau khi nhận quà hàng tháng do người nhà tiếp tế, hắn giao hết cho nhóm ăn chung, chỉ giữ lại hai viên chè trôi nước trong bọc nylon. Sau bữa cơm chiều, hắn đổ hai viên chè ra ca và thưởng thức vị ngọt của đường. Hắn nhai nhè nhẹ, hai mắt lim dim như nghe chất ngọt qua từng đợt theo thành ruột ngấm tràn vào máu. Bỗng hắn khựng lại, ngừng nhai. Hai viên chè đã bị công an kiểm soát đâm nát, mà lại có cái gì còn cộm giữa viên chè. Hắn thấy một cái gì bất thường khi lưỡi và răng hắn cho hắn biết vật cồm cộm là một bọc nylon nhỏ.

Không đời nào có chuyện nhân đậu xanh trộn giấy ny-lon. Hắn không hé răng cho ai biết chuyện lạ trong miệng hắn. Hắn lừa qua, lừa lại, nhét được bọc nylon nhỏ xíu vào hốc má như con khỉ, phần khác nuốt xuống như không có gì xẩy ra. Hắn giữ như vậy đến khuya, khi mọi người ngủ say hắn len lén ngồi dậy, lừa bọc nylon ra ngoài, chộp lấy chùi khô, bên trong là một miếng giấy xếp nhỏ. Mắt hắn sáng lên, hồi hộp. Hắn xé bọc nylon được hàn kín bằng bàn ủi nóng, miếng giấy nhỏ có mấy chữ viết tay của vợ hắn: “Nếu thoát không được thì đừng tự tử! Ráng sống để nuôi con!” Hai hàng nước mắt hắn bỗng chợt tuôn lăn trên má. Thằng nhóc con đầu lòng mới sinh không đầy 3 tháng của hắn theo cha vô tù, trở thành tên tù chính trị bé nhất trại lúc bấy giờ. Sáu tháng sau, cộng sản cũng không tha thằng nhóc, gia đình phải làm đơn xin bảo lãnh nuôi, trại mới cho ra, sau đó giam mẹ tiếp một năm nữa. Ngày hắn nhận thông điệp “đừng tự tử” gởi trong viên chè trôi nước là ngày vợ hắn đã được thả về mấy tháng trước. Thằng bé không nhận ra cả mẹ nó, nó ôm chặc lấy bà dì nuôi, nó trố mắt nhìn mẹ nó khóc nức nở khi gặp lại con…

Một thời gian dài hắn sống trong tù như cục đất, khốn nhục, sống chết dường như không còn là cái gì quan trọng trong cuộc đời, hắn quên bẳng thân phận mình, quên cha mẹ, vợ con, bạn bè… Cho đến một hôm, trong cái giây phút thiêng liêng tĩnh lặng giữa phòng giam tịch mịch, trừ tiếng ngáy đủ kiểu âm thanh của bạn tù, hình ảnh đứa con đến với hắn qua mấy chữ vợ hắn viết, nó bỗng như cắt ruột, dao đâm, nó cào gan, xé phổi, nó làm cho sức đề kháng của định mệnh trổi dậy như giông bão trong cái đầu muốn buông xuôi của hắn. Hắn đập tay trần xuống nền xi măng:

– “Ta phải sống!”

Hắn thốt lên như một lời thề, và hốt nhiên, toàn thân hắn, một mạch hưng phấn, nhiệm mầu từ cõi vô hình nào đó bỗng tràn ngập trong từng mạch huyết quản dồn dập đô về tim. Trong hắn, sức sống trổi dậy như triều dâng, như thác lũ. Và quả thật hắn đã sống. Định mệnh nuôi nấng và chở che hắn.

Cuối cùng thì hắn thoát. Giữa biển rộng bao la, hắn thấy mình như một tên tù vừa chui lọt một cái lỗ kim khâu nhỏ tí. Ngày nay, xa cách quê hương gần nửa vòng trái đất, hắn vẫn nhớ như in những ngày khốn nhục, từ Kà Tót đến Sông Mao, từ Thẩm vấn Phan Thiết, đến Bình Tú… Và những dòng ký ức hắn viết lại trong bài này, dù đã hơn 22 năm trôi qua, dư âm, hình ảnh những ngày tù vẫn còn đậm nét trong trí nhớ, và từng dòng chữ viết dường như vẫn còn đủ sức vực dĩ vãng sống dậy, đủ sức làm hắn lặng người bàng hoàng như ngày vừa ra khỏi trại tù lần sau cùng, vừa đi vừa ngó lại, và hai chân chân hắn như đi lảng đảng trên mặt lộ suốt dọc con đường Hải Thượng Lãn Ông, qua cầu Quan, qua đường Gia Long, Đồng Khánh và về tới tận nhà ở đường Trần Quý Cáp, Phan Thiết.

Suốt dọc đường đi, hắn có cái cảm giác ngờ ngợ như chung quanh hắn, cành cây nào cũng cong như cây cung với những mũi tên đi đâu hắn cũng thấy chỉa vào lưng…

(Mùa đông Canada 2001)

Em về, tủi lá sầu cây
Trổ trăm nhánh lạ, hao gầy gió sương
Em về, hòn sỏi bên đường
Vỡ ra còn thấy máu xương đậm màu..

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 16 Nov 2025

PHỤ LỤC

Phần 1

Bà Nguyễn Thị Thanh

Bà, thị dòng Nguyễn Phúc, nhà trước đây rân rát, đông khách vãng lai, nghề làm bác sĩ, thêm được mát tay, nhưng hồng nhan phận bạc, có chồng, chồng nán lại Canada, với một bạn mới “trên bộc trong dâu”, bà tam sầu bạch xác, cùng hai con, thuộc Tôn thất, gái Hà, trai Sơn, gái thiện nghệ đàn thập lục, trai chờ ra nước ngoài sẽ học chữ, rồi cả ba, một mẹ hai con, được xuất ngoại, rêu rao trên giấy “élève de V.H.S” mà cơ khổ, tôi có dạy bao giờ, giờ nào, dạy gì??? Thế mà khi qua tới Gia nã đại, hiệp với một người bán đồ cổ, tên Lộ công Mười Ba, vậy mà nổi sóng gió, và bán chạy, nhiều tiền. Cái giấy chứng “élève de V.H.S.” nay tôi làm thất lạc, không sẵn đây để giải một buổi cơm tại đường ngang Bịnh viện Bình Dân, được nghe bà Tân Du, Đệ nhị giai phi của đế Khải Định. đọc cho nghe bài tám câu “Cứ sống cho vui, có việc gì, Sống dư trăm tuổi cũng Ừ đi”, v.v .. và v.v .. sáu câu sau tuổi 91, nhớ tiếng còn tiếng thiếu, đành tạm gác khi nhớ sẽ viết thêm …

Nay chỉ nhớ và tiếc một món đồ cổ, bình sứ da Bạch định, chấm kiểu “song hạc tề phi” (chặp cánh liên cành),

bình có quai nguyên vẹn nắn nặn hình “rồng” nơi hông như đã kể, là chim phụng ẩn bóng, nên bình gọi “Long phụng ngọc hồ”, trước có một thiếu phụ mang từ đất Bắc vào đây, nài bán cho tôi lúc bạc 500 đổi lấy một đồng giấy, tôi mua 2000, đổi bình với một bạn trẻ, bạn trẻ gã bình bao nhiêu tôi không rõ chắc duy biệt về sau, khi lọt về tay bà, bà bán được 5 cây vàng, và vì vậy tôi gọi “Tang thương ngẫu lục” đời Ngọ Mùi, và nhớ lại T.T.N.L. của Ph. Đình Hồ, đã viết “một tô trà, một chiếc bánh, một trầu têm”, nhớ mại làm vậy mà giá

“chỉ một đồng tiền hoẻn” trái lại ngày nay lá trầu trên bạc trăm, trái cau bạc ngàn, đám cưới tân thời có mâm trầu cau, xin hỏi giá mấy, và ai đâu còn xơi mà tục lệ xưa pha lẫn, tân giai nhân mặc Âu phục che đầu khăn lưới trắng, tay ôm bó hoa trinh bạch trắng phếu mà cái kia đã rách tự hồi nào?

Đừng hỏi tôi sao mà “rách”, thiếu chi lối, tập thể thao, chạy xa nhảy cao, cũng rách được mà, cần gì “nước vỏ lựu, máu mồng gà, xưa quá”.

Thanh có sắc, nhưng nói năng kém phần duyên, nay sum hiệp đoàn viên, với chồng, Sơn và Hà kết chăng thành “xã tắc”, thôi việc của người, lo chi cho mệt. Chắng qua cũng vì tiền, tiền thờ “le veau d’or” (tiểu kim ngưu), biến đổi lẹ như chớp. Nhứt tiếu thiên kim “ngàn vàng là gì, ngàn lạng, ngàn chỉ, ngàn phân, khó giải đáp. Nhứt tự thiên kim, hai chữ thiên kim trở đi trở lại mãi mãi, nhưng giá trị vẫn tùy thời. Ngày trước đọc truyện “Thuyết Đường”, ngày nay bạn trẻ không đọc truyện Tàu, Đường Thuyết, Thuyết Đường, trẻ làm sao hiểu, nên tôi xin lần thẩn cắt nghĩa nghe chơi:

Trong truyện Thuyết Đường, có kể tích tướng Tần Thúc Bảo, lúc làm mã khoái cùng đi với một bạn, giải tội nhơn qua hai chỗ khác nhau, khi đi đến một ngã ba chia tay mỗi người đi mỗi ngả, người bạn không chia bạc và ôm trụm qua tay không để lại cho Thúc Bảo đồng nào, khiến Thúc Bảo chịu nghèo chịu đói, ngày nầy qua ngày kia, tháng nầy qua tháng nọ, cả năm trời, không bạc lộ phí, không tiền trả cơm quán, – truyện éo le mà không giải thích, nay già xét lại mới hiểu, đời Đường còn xài bạc nguyên khối, bạc nặng cân, nên Thúc Bảo giao hết cho bạn giữ, và ngày nay so sánh lại thật thâm thúy – trước đây, ông nhà giàu trong Nam, quê ở Hạnh Thông Tây, (đất Gia Định), tặng cháu gái “một triệu đồng bạc Đông Dương” cân nặng 27 gr. x 1.000.000 đồng tức 2700 kí, và cháu gái trở nên hoàng hậu, trong khi ấy, đời 1992, một triệu đồng là 200 tờ giấy 5000, nhẹ hếu hếu, xếp bỏ túi áo, làm gì có chuyện con gái quan thượng thơ phụ chánh đại thần mất chồng Thái tử và đi tu, mất âm hao tin tức?

(viết ngày 3-5-1992)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 16 Nov 2025

Bài 35

Cuộc nổi loạn ở đảo Sant-Joseph (tt)

Vừa đóng cửa lại. Filissari vừa nói với tôi: 
– Phúc tổ cho mày là tao lại là dân Corse! 
Chưa đầy một giờ sau, gần hết những người thuộc căn nhà của chúng tôi đã về cả. Chỉ thiếu mười tám người: bọn gác đã nhận ra rằng trong lúc hốt hoảng cuống quít họ đã nhốt lầm mấy người này vào một nhà khác Khi tất cả đã cùng trở về, ở đâu về đó, chúng tôi mới biết rõ sự việc đã xảy ra như thế nào, vì tất cả những người đó đều đang đi làm cỏ-vê. Một anh kẻ trộm người Saint-Etienne đã thầm thì kể với tôi: 
– Papi này, anh thử tưởng tượng là chúng tôi đang kéo một tảng đá nặng gần một tấn trên quãng đường dài gần bốn trăm mét. Con đường kéo đá không có đoạn nào gay go lắm, và chúng tôi đến một cái giếng cách nhà trại trưởng chừng năm mươi mét. Cái giếng vẫn là nơi nghỉ chân từ trước đến nay. Nó vừa có bóng dừa mát, lại ở giữa đoạn đường phải đi tiếp. Cho nên chúng tôi đã dừng lại như mọi ngày, chúng tôi kéo một xô nước giếng mát lịm lên uống, có mấy thằng thấm nước vào khăn để che lên đầu. Mỗi lần nghỉ thường là mười phút, thằng lính gác cũng đến ngồi ở thành giếng. Hắn bỏ mũ ra, đang lấy khăn tay ra lau đầu và mặt thì Arnaud từ đằng sau tới tay cầm một cái cuốc, buông thõng xuống cho nên không ai biết mà báo cho thằng lính đề phòng. Giơ cuốc lên và dùng phía lưỡi bén bổ vào giữa đầu người lính chưa mất đến một giây đồng hồ. Đầu bị tách ra làm hai mảnh, người lính ngã sóng soài ra đất không kêu được một tiếng. Hautin đã đứng sẵn từ trước ở đó, chộp ngay lấy khẩu mút-cơ-tông, còn Marceau thì cởi thắt lưng và lấy khẩu súng ngắn. Có súng trong tay, Marceau quay lại nói với cả bọn tù: “Đây là một cuộc nổi loạn, ai theo chúng tôi, thì đi cùng chúng tôi”. Không có một tên giữ chìa khóa nào nhúc nhích hay kêu la, không có tù nhân nào tỏ ý muốn theo họ.” 
Cậu ta kể tiếp: 
– Arnaud nhìn chúng tôi khắp lượt rồi nói: “Đồ hèn! Cả lũ chúng mày ấy. Rồi chúng tao sẽ cho chúng mày thấy đã làm người thì phải thế nào?” Arnaud lấy khẩu mút-cơ-tông từ tay Hautin rồi cả hai chạy về phía nhà thiếu tá. Marceau ở lại nhưng đứng tách riêng ra một bên. Cậu ta cầm một khẩu súng và ra lệnh: “Không được động đậy, không được nói, không được la hét. Còn bọn A-rập kia, nằm úp sấp xuống đất”. ở chỗ tôi đứng, tôi nhìn thấy rõ lắm. 
Arnaud đang lên bậc thềm nhà thiếu tá thì thằng A-rập giúp việc ở đấy mở cửa đi ra, với hai đứa bé gái, một đứa dắt tay, một đứa bế bên hông. Cả hai bên đều sửng sốt, thằng A-rập đang bế đứa bé đá cho Arnaud một cái. Arhaud muốn giết hắn nhưng hắn đã thẳng tay đưa đứa bé ra để đỡ. Không ai kêu la, cả thằng A-rập lẫn những người khác. Khẩu mút-cơ-tông chĩa vào thằng A-rập đến bốn năm lần, ở đủ các góc độ khác nhau. Cứ mỗi lần như thế là đứa bé lại bị giơ ra trước nòng súng. Hautin không leo lên bậc mà đứng bên kéo ống quần của thằng A-rập. Thấy mình sắp ngã đến nơi, nó quẳng cả đứa bé gái vào khẩu mút-cơ-tông của Arnaud. Bị mất thăng bằng trên bậc thang, Arnaud, đứa bé gái, thằng A-rập bị Hautin kéo chân, tất cả đều ngã đè lên nhau lỏng chỏng. Lúc đó mới có những tiếng la hét đầu tiên, trước hết là của hai đứa bé, rồi của thằng A-rập, rồi tiếng chửi rủa của Arnaud và Hautin. Thằng A-rập, nhanh tay hơn hai gã kia, đã nhặt được khẩu súng nhưng nó chi nắm được cái nòng, lại nắm bằng tay trái. Hautin lại tóm dược cẳng hắn. Còn Arnaud thì nắm lấy cánh tay phải của hắn và bẻ xoắn lại. Thằng A-rập ném khẩu mút-cơ-tông ra cách xa mười mét. 
Trong khi cả ba xông tới để cướp khấu mút-cơ- tông, thì có tiếng súng nổ lần đầu tiên, do người lính coi tù đi quét lá bắn tới. Ông thiếu tá hiện ra ở cửa sổ và bắn phát một, vì sợ bắn phải thằng A-rập, nên ông ta chỉ nhằm vào chỗ khẩu mút~cơ-tông rơi. Hautin và Arnand chạy trốn về phía trại theo con đường ven bờ biển, và vẫn bị súng bắn theo. Hautin chân bị tê cứng nên chạy không được nhanh, và đã bị hạ trước khi tới mép nước. Còn Arnaud thì lội xuống nước, khoảng giữa chỗ tù tắm và hồ bơi của lính. Chỗ ấy lúc nào cũng đầy cá mập. Arnand bị bao vây giữa những phát súng của một tên lính nữa vừa đến trợ lực và một tên lính coi tù đi quét lá. Y nấp sau một tảng đá to. 

– Đầu hàng đi, sẽ được sống, – bọn lính kêu to. 
– Không bao giờ, – Arnaud đáp lại, – tao thà cho cá mập phanh thây còn hờn là nhìn thấy bộ mặt khả ố của chúng mày. 
Và y lội xuống biển, thẳng vào chỗ lũ cá mập tập trung ở đấy. Hình như y bi trúng một viên đạn vì y có dừng lại một lát. Thấy thế, bọn lính tiếp tục bắn. Arnaud lại đi chứ không bơi, thân trên trên y còn nhô lên trên mặt nước thì lủ cá mập đã tấn công y. Trông rất rõ y đâm một con cá mập đã phóng nửa người lên mặt nước để lao vào y. Rồi y đã bị phanh xác ra – hiểu theo nghĩa đen – vì lũ cá mập kéo tứ phía mà không cắn đứt chân tay y ra được. Chưa đầy năm phút sau y đã biến mất. 
Bọn lính đã bắn ít ra là một trăm phút súng xuống chỗ Arnaud và lũ cá mập đang quần nhau. Chỉ có một con cá mập bị chết; nó đã dạt vào bờ, ngửa bụng lên. 
Thấy bốn phía đều có cảnh binh kéo tới, Marceau vất súng xuống giếng, hòng cứu lấy mạng mình, nhưng bọn A-rập đã đứng lên, dùng gậy và tay đấm, chân đá, dồn hắn về chỗ bọn lính, nói rằng nó có ở trong cuộc. Tuy hắn bê bết máu và đã giơ tay lên, bọn lính cũng dùng súng lục và mút-cơ-tông bắn vào hắn, và cuối cùng, một tên lính còn cầm đầu nòng khẩu mút-cơ-tỏng phang báng súng vỡ đầu ra cho chết hẳn. 
Bợn cảnh binh cũng xả đạn vào Hautin. Có cả thảy ba mươi tên, mỗi tên bắn sáu phát, và chúng đã cho cậu này ăn trước sau hơn một trăm hai mươi phát đạn. Filissari bắn chết những đứa bị bọn A-rập tố cáo là đã nhúc nhích định theo Arnaud nhưng sau lại chùn bước. 
Đó là chuyện bịa đặt một trăm phần trăm vì tuy có thể có những thằng đồng lõa, song không hề có một ai cựa quậy cả.
Đã hai ngày hôm nay, tất cả những tù nhân bị nhốt trong mấy căn phòng giam dành riêng cho từng loại rồi không ai được ra đi làm. ở cửa, linh gác cứ hai giờ thay phiên một lần. Giữa các nhà, lại có những lính gác khác. Cấm nói từ nhà này sang nhà kia. Giữa hai hàng võng là lối đi; đứng tại lối đi đó, hơi chếch một chút, có thể nhìn ra sân qua cửa sát. Có cả những cảnh binh được đưa từ đảo Royale đến để tăng cường. Không một tù nhân nào được ở bên ngoài. Kể cả bọn A-rập giữ chìa khóa cũng vậy. Tất cả đều bị nhốt. Thỉnh thoảng, có một người trần truồng theo sau là lính, bị đưa đến khu xà lim giam tù bị phạt nhưng không thấy có tiếng kêu la hay tiếng đánh đập. Bọn lính thường đứng nhìn vào trong qua các cửa sổ bên hông nhà. ở mỗi cửa ra vào, có hai lính gác, một ở bên trái, một ở bên phải. Thời gian gác ngắn, chỉ hai giờ nhưng họ không bao giờ ngồi, cũng không đeo súng lên vai: khẩu mút-cơ-tông tì vào cánh tay trái, luôn sẵn sàng nhả đạn. 
Tù nhân quyết định đánh bài poker, từng nhóm năm người một. Không đánh bài Marseillaise, cũng không chơi những thứ bài ăn lớn vì như thế quá ồn ào. Marquetti đang kéo một bài sonate của Beethoven cũng bị ngăn lại. 
– Không được chơi thứ nhạc ấy nữa, lính chúng tôi đang có tang. Một không khí căng thẳng khác thường đè nặng không phải chỉ trên trại giam mà trên toàn trại. Không có cà phê, không có xúp. Buổi chiều chỉ có một mẩu bánh mì, trưa thịt hộp, chiều thịt hộp, bốn người một hộp. Vì các thứ đồ lề của chúng tôi không bị phá hủy, nên chúng tôi có cà phê và thực phẩm: bơ, dầu, bột mì, v.v…. Các nhà khác không còn gì. Khi chúng tôi đun nước pha cà phê và khói ở trong nhà xí bay ra, một tên cảnh binh bắt tắt lửa đi. Người đun nước là một tù nhân thuộc giới giang hồ trở về già, người Marseille, tên là Niston, thường pha cà phê để bán. 
Lão đã trả lời lính gác một cách xấc xược: 
– Anh có muốn tắt lửa thì vào mà tắt lấy đi. 

Thế là tên lính bắn qua cửa sổ mấy phát súng. Cà phê và lửa đành biến vội. Niston bị trúng đạn vào chân. Mọi người đều cảm thấy quá căng và tưởng lính bắt đầu bắn chúng tôi nên ai nấy liền nằm sấp xuống đất. 
Chỉ huy phiên gác vào giờ đó lại vẫn là Filissari. Y chạy như điên đến, theo sau có bốn lính. Người lính vừa bắn xong, gốc vùng Auvergne, đang trình bày sự việc xảy ra. Filissari chửi anh ta bằng tiếng Corse, còn anh nọ không nghe được gì, chỉ biết nói: 
– Tôi không hiểu gì cả. 
Chúng tôi lại lên võng ngồi. Chân Niston bị chảy máu. 
– Đừng nói là tôi bị thương. Chúng nó sẽ khử tôi luôn ở ngoài đó mất. 
Filissari đến gần cửa sắt. Marquetti nói gì với y bằng tiếng Corse. 
– Cứ làm cà phê, chuyện này sẽ không xảy ra nữa. Nói xong y bỏ đi. 
May cho Niston là viên đạn không nằm trong chân: gặp đoạn cơ bắp, nó ra ở phía nửa chân bên kia. Bọn tôi buộc ga rô cho lão, máu ngưng chảy và sau đó lão được băng bó với nước giấm. 
– Papillon, ra đây – Lúc bấy giờ đã tám giờ rồi: bên ngoài trời tối đen.. 
Tôi không biết mặt người lính đã gọi tôi, có thế đấy là một người gốc Bretagne. 
– Tại sao tôi lại phải ra ngoài vào giờ này? Tôi chẳng có việc gì ở ngoài ấy cả. 
– Thiếu tá muốn gặp anh. 
– Bảo ông ta đến đây. Tôi không ra đâu. 
– Anh từ chối không đi hả? 
– Phải, tôi từ chối không đi đấy. 
Các bạn tôi vây thành một vòng quanh tôi. Người gác nói qua cánh cửa vẫn đóng kín. Marquetti ra cửa nói: 
– Chúng tôi không để Papillon ra khỏi đây nếu không có thiếu tá. 
– Thì chính ông ta cho kiếm Papillon đấy mà. 
– Vậy thì bảo ông ấy cứ lại đây. 
Một giờ sau. hai tên lính trẻ đến trước cứa phòng có tên A-rập giúp việc ở nhà thiếu tá đi theo. Tên này đã cứu ông và ngăn chặn được cuộc nổi loạn. 
– Papillon ơi, tôi là Mohammed đây. Tôi đến tìm anh, thiếu tá muốn gặp anh, ông ấy không thể đến đây được 
Marquetti nói với tôi: 
– Papi này, thằng cha ấy mang súng mút-cơ-tông đấy 
Tôi ra khỏi vòng người do các bạn tôi quây thành và lại gần cửa. Quả thật Mohammed đang cầm trong tay một khẩu súng trường. Một tên tù khổ sai lại được chính thức mang súng trường? Chuyện khó tin lại có thật. 
– Đi thôi, tên A-rập nói. Tôi đến đây để cùng đi theo anh và để bảo vệ anh, nếu cần. 
– Nhưng tôi không tin là cần. 
Tôi ra ngoài, Mohammed đi cạnh tôi, có hai tên lính đi theo sau. Tôi đến sở chỉ huy. Đi ngang qua vọng gác ở ngoài cổng trại. Filissari nói với tôi: 
– Papillon, tôi mong anh không có gì phải hàn nàn về tôi đấy. 
– Riêng tôi thì không có gì, trong phòng giam tù nguy hiểm cũng không ai có gì phàn nàn về ông. Còn ở chỗ khác thì tôi không biết. 
Chúng tôi đi xuống nhà thiếu tá. Căn nhà và bến tàu được thắp đèn đất cốt tỏa ánh sáng ra xung quanh nhưng chẳng được bao nhiêu. Trong khi đi đường. Mohammed đưa cho tôi một bao thuốc lá Gauloises. 
Khi bước vào gian phòng được hai cây đèn đất chiếu sáng, tôi thấy có thiếu tá chỉ huy đảo Royale, viên chỉ huy phó của ông ta, thiếu tá chỉ huy Saint-Joseph, viên chỉ huy và viên chỉ huy phó của nhà lao cấm cố trên đảo Saint-Joseph. 

Bên ngoài tôi thấy bốn tên A-rập, và có bốn cảnh binh giám sát. Tôi nhận ra hai tên thuộc toán cỏ-vê hữu quan. 
– Papillon đến rồi ạ – Tên A-rập nói. 
– Chào anh, Papillon, – thiếu tá trại trưởng Saint- Joseph nói. 
– Chào ông. 
– Anh ngồi xuống ghế này. 
Tôi ngồi đối mặt với tất cả mọi người. Cửa phòng để mở, trông vào bếp, tôi thấy bà mẹ đỡ đầu Lisette giơ tay thân mật chào tôi. 
– Papillon này, – thiếu tá trại trường Royale nói, anh được thiếu tá Dutain coi là người có thể tin cậy được Anh đã chuộc tội bằng cách cố cứu sống đứa con đỡ đầu của bà ấy. Tôi thì chỉ biết anh qua những báo cáo chính thức, coi anh là một tù nhân nguy hiểm về mọi mặt. Tôi muốn bỏ qua các báo cáo ấy và tin vào ông Dutain đồng sự của tôi. Chắc chắn rồi sẽ có một phái bộ đến đây để điều tra, và các tù nhân các loại ai cũng phải khai ra những điều gì mình biết. Chắc chắn là anh và một vài người nữa, có uy tín lớn đối với các tù nhân, và họ sẽ răm rắp nghe lời anh. Chúng tôi muốn biết ý kiến anh về cuộc nổi loạn và cả những điều mà anh đã ít nhiều thấy trước là những người trong khối anh, rồi sau đó là những người khác, có thể khai ra. 
– Tôi không có gì để khai ra cả, cũng không có bổn phận gây ảnh hưởng gì đối với lời khai của những người khác Nếu có một phải bộ đến để điều tra thật sự, thì trong tình hình hiện nay, các ông sẽ bị cách chức hết. 
– Anh nói gì lạ vậy, Papillon? Tôi và các đồng sự của tôi ở Saint-Joseph đã ngăn chặn được cuộc nổi loạn kia mà! 
– Có lẽ riêng ông, ông sẽ thoát được, nhưng các ông chỉ huy ở Royale thì không thoát được đâu. 
– Anh hãy nói cho rõ đi nào. – Hai viên chỉ huy ở đảo Royale đứng lên rồi lại ngồi xuống. 
– Nếu các ông cứ chính thức nói là có cuộc nổi loạn, các ông đều sẽ lãnh đủ. Nếu các ông chịu chấp nhận các điều kiện của tôi, tôi sẽ cứu tất cả các ông trừ Filissari. 
– Điều kiện gì?. 
– Thứ nhất, sinh hoạt ở đây phải trở lại nếp bình thường ngay lập tức, bắt đầu từ ngày mai. Chỉ khi nào chúng tôi nói chuyện được với nhau bình thường, chúng tôi mới tác động được vào mọi người về những điều phải khai với ban thanh tra. Có đúng không nào? 
– Đúng – Dutain nói. – Nhưng tại sao lại phải cứu chúng tôi? 
– Bởi vì từ đảo Royale, các ông không phải chỉ huy đảo Royale mà chỉ huy cả ba đảo nữa. 
– Đúng. 
– Và các ông đã dược Girasolo báo cáo là có một cuộc nổi loạn đang được âm mưu chuẩn bị. Cầm đầu là Hautin và Arnau chứ gì. 
– Cả Carbonieri nữa, tên lính gác nói. 
Không, điều đó là sai. Girasolo có thù riêng với Carbonieri từ khi còn ở Marseille. Nó đã tố giác thêm anh ta một cách vô căn cứ. Nhưng các ông có tin là có nổi loạn đâu. Tại sao vậy? Vì hắn nói là cuộc nổi loạn này nhằm mục đích giết đàn bà, trẻ con, bọn A-rập và các cảnh binh. Điều đó có vẻ khó tin. Mặt khác, ở Royale có tám trăm người mà chỉ có hai chiếc sà-lúp, còn ở Saint-Joseph có sáu trăm người mà chỉ có một chiếc sà-lúp. Không một người chín chắn nào lại đi chấp thuận một mưu đồ như thế. 
– Làm sao anh biết được tất cả những điều đó? 
– Đấy là việc của tôi. Nhưng nếu các ông cứ nói mãi về cuộc nổi loạn, dù cho các ông có thủ tiêu tôi đi, và nhất là khi các ông làm thế thật, thì tất cả những điều ấy sẽ lộ rõ và sẽ được chứng minh rành rọt. Do đó trách nhiệm sẽ thuộc về đảo Royale, đã chuyển những người kia đi Saint-Joseph, lại không tách rời họ ra. Quyết định hợp lý duy nhất – cho nên nếu cuộc điều tra thấy được thì các ông sẽ không tránh khỏi những hình thức kỷ luật nặng nề đấy – là đưa người này đến đảo Quỷ, người kia đến Saint-Joseph. Nhưng tôi vẫn thừa nhận là khó có thể tin được câu chuyện đó do lũ điên rồ ấy bày ra được. Tôi nhấn mạnh là nếu các ông nói đến nổi loạn, các ông sẽ sa lầy đấy. Vậy nếu các ông chấp nhận điều kiện của tôi, thì thứ nhất là, như tôi đã nói, mọi việc phải trở lại bình thường ngay từ ngày mai; thứ hai, tất cả những ai bị nhốt vào xà lim vì tình nghi có âm mưu nổi loạn phải được thả ngay – cũng không được tra hỏi những người đó về phần đồng lõa của họ trong cuộc nổi loạn, bởi vì không làm gì có nổi loạn; thứ ba là ngay bây giờ, Filissari phải được đưa tức khắc về đảo Royale trước hết để đảm bảo an toàn cho chính ông ta: bởi vì một khi không hề có nổi loạn thì làm thế nào biện bạch được việc giết chết ba người kia? Sau nữa vì ông ta là một kẻ giết người ti tiện, và khi sự việc xảy ra ông ta đã hành động trong một tâm trạng sợ hãi đến cùng cực: ông ta toan giết chết tất cả mọi người, kể cả chúng tôi ở trong phòng giam. Nếu các ông chấp nhận những điều kiện đó, tôi sẽ thu xếp để tất cả mọi người đều phát biểu là Arnaud, Hautin và Marcean đã hành động với mục đích làm sao gây ra thật nhiều tai họa trước khi chết. Những gì họ làm không thể lường trước được. Họ không có tòng phạm, không hề tâm sự với ai. Theo nhận xét của toàn thể phạm nhân, dó là những kẻ đã quyết định tự vẫn bằng cách ấy, giết càng nhiều người càng tốt, trước khi họ bị giết: mục đích của họ là làm sao khiêu khích cho lính bắn vào họ. Nếu các ông ai muốn, tôi xin vào trong bếp để các ông bàn luận và trả lời cho tôi sau. 
Tôi đi vào bếp và đóng cửa lại. Bà Dutain bắt tay tôi và đưa cà phê với cả rượu cô nhắc chó chúng tôi uống. Tên A-rập Mohammed nói: Anh không nói gì cho tôi à? 
– Đó là việc của ông thiếu tá. Một khi ông ấy đã giao súng cho cậu, tức là ông ấy định tha tội cho cậu đấy 
Bà mẹ đỡ đầu của Lisette nhẹ nhàng nói với tôi: 
– Các ông ở đảo Royale lần này thì lãnh đủ nhé. Tất nhiên rồi, thừa nhận có cuộc nổi loạn ở Saint- Joseph mà ai cũng bắt buộc phải biết rõ, trừ ông chồng bà, đối với họ dễ quá. 
– Papillon này, tôi nghe được hết và tôi hiểu ngay là anh muốn làm điều tốt cho chúng tôi. 
– Đúng vậy, thưa bà Dutain. 
Cửa mở ra và một lính vào gọi. 
– Papillon, qua đây. 
– Anh ngồi xuống đi, – thiếu tá chỉ huy đảo Royale nói. – Sau khi bàn luận với nhau, chúng tôi nhất trí kết luận là anh nói đúng: không hề có nổi loạn. Ba tù nhân đó đã quyết định tự vẫn và trước khi chết, họ cố giết được càng nhiều người càng tốt. Vậy là mai mọi việc hàng ngày sẽ lại như cũ. Ngay đêm nay, ông Filissari sẽ được chuyển về đảo Royale. Giải quyết trường hợp của ông ta là việc của chúng tôi, nên chúng tôi cũng không yêu cầu anh cộng tác với chúng tôi. Chúng tôi trong vấn đề này chỉ mong anh giữ lời hứa. 
– Các ông cứ tin ở tôi. Xin chào các ông. 
– Mohammed và hai ông giám thị hãy đưa Papillon về phòng. Và mời ông Filissari vào đây. Ông ta sẽ đi với chúng tôi về đảo Royale ngay. 
Trên đường về, tôi nói với Mọhammed rằng tôi hy vọng là anh ta sẽ được thả. Anh ta cảm ơn tôi. 
– Bọn chỉ huy muốn cậu làm gì thế? 
Trong cảnh im lặng hoàn toàn, tôi kể lại rõ ràng và tỉ mỉ từng câu một, những gì đã xảy ra. 
– Nếu có ai không đồng ý hay có gì chỉ trích những gì tôi đã nhân danh tất cả mà thỏa thuận với các cấp chỉ huy ở đây, xin cứ nói ra. 

– Tất cả đều nhất trí tán thành. 
– Cậu cho rằng họ tin là không còn ai liên quan đến vụ này sao? 
– Không đâu, nhưng nếu họ không muốn bị cách chức thì họ bắt buộc phải tin như vậy. Cả chúng ta nữa, nếu chúng ta không muốn gặp chuyện rắc rối, chúng ta cũng phải tin như vậy. 
Bảy giờ sáng hôm nay, tất cả các tù nhân bị giam ở xà lim đều được thả về chỗ cũ. Có trên một trăm hai mươi người. Chưa ai đi làm nhưng tất cả các phòng giam đều được mở cửa và ngoài sân đầy những tù nhân được tự do hút thuốc, thoải mái chuyện trò, ngồi ngoài nắng hay trong bóng râm. Niston đã được đưa đi bệnh viện. Carbonieri cho tôi biết là có những tấm bìa ghi hàng chừ: “Tình nghi tham gia vào vụ nổi loạn” được treo trước cửa ít ra từ tám mươi đến một trăm xà-lim. 
Lúc này đây, được tập trung đông đủ, chúng tôi mới biết rõ sự thật. Filissari chỉ giết có một người, những người khác bị hai tên lính trẻ giết, hai tên này bị mấy phạm nhân giết, trong bước đường cùng: tưởng mình sắp bị giết, các phạm nhân này đã cầm dao lao bừa vào lính, cố giết lấy một người trước khi chết. Thế là một vụ nổi loạn thật sự may sao đã phá sản ngay từ đầu để trở thành một cuộc tự vẫn kỳ quặc của ba tù nhân khổ sai: đấy là luận đề hình thức được mọi người, cả ban Quản trị lẫn tù nhân, công nhận. Còn lại là truyền thuyết hay chuyện thật, tôi không biết nói thế nào cho chính xác. 
Hình như việc mai táng ba người bị giết ở trại cùng với Hautin và Marceau được tiến hành như sau: vì chỉ có một cỗ quan tài có rãnh trượt để thả các thi hài xuống biển, nên bọn lính đặt tất cả các xác chết xuống lòng thuyền rồi cả năm cái xác được ném bằng tay xuống cho cá mập. Khi tiến hành việc liệng xác, họ tính rằng, trong lúc những thi thể ném xuống trước đang bị cá mập cắn xé thì những thi thể ném sau đã được buộc đá vào chân có đủ thời gian chìm sâu xuống nước. Tôi được nghe kể lại rằng không có cái xác nào chìm xuống nước cả, và cả năm cái xác đó, được liệm vải trắng vào lúc chập choạng tối, đã nhảy múa như những con rối thật sự, được miệng và đuôi lũ cá mập đưa đẩy trong một bữa tiệc thịnh soạn xứng với Nabuchodonozor. Cảnh tượng hãi hùng đó đã làm cho đám tù chèo thuyền và đám lính gác hốt hoảng tháo lui 
Một ban thanh tra đã tới, ở lại gần năm ngày trên đảo Saint-Joseph, và hai ngày trên đảo Royale. Tôi không bị tra hỏi riêng mà cũng chỉ như mọi người. Qua thiếu tá Dutain, tôi biết là mọi việc đều êm thấm. Filissari được nghỉ phép chờ ngày về hưu, như vậy là lão ta sẽ không trở lại đảo này nữa. Mohammed được ân xá hoàn toàn, và thiếu tá Dutain được gắn thêm một lon. 
Vì thế nào cũng có những kẻ không được vừa lòng nên hôm qua, một tù nhân người Bordeaux đã hỏi tôi: 
– Giúp đỡ cho bọn coi tù như vậy, phỏng chúng ta có được xơ múi gì? 
Tôi nhìn thẳng vào y: 
– Chẳng được gì mấy: chỉ có độ năm, sáu chục tù không bị giam vào ngục cấm cố về tội tòng phạm, cậu thấy thế là không có gì hả? 
May mắn là cơn giông tố đó đã dịu dần. Một sự thỏa thuận ngầm giữa cai tù và tù đã hoàn toàn vô hiệu hóa ban thanh tra trứ danh nọ, mà có lẽ chính ban thanh tra cũng chỉ mong sao mọi việc được ổn thỏa cho rồi. 
Về phần tôi, tôi chẳng được gì cũng chẳng mất gì nếu không nói đến sự biết ơn của các bạn tôi đã không phải chịu đựng một kỷ luật khắt khe hơn. Trái lại, lao dịch kéo đá đã được bãi bỏ. Đó là một lao dịch kinh khủng. Bây giờ trâu kéo đá, tù nhân chỉ xếp đá vào chỗ đã định. Carbonieri được trả về lò bánh mì. Tôi tìm cách trở về đảo Royale. ở đây thì không có công xưởng nên không thể đóng bè được. 
Việc Pétain lên cầm quyền ở Pháp làm quan hệ giữa tù nhân và giám thị nặng nề thêm. Tất cả các nhân viên thuộc chính quyền đều lớn tiếng tuyên bố theo phải Pétain, và có một lính gác người Normandie đã nói với tôi: 
– Cậu có muốn nghe tôi nói với cậu điều này không, Papillon? Tôi chưa bao giờ theo phải Cộng hòa cả. ở đảo, không ai có máy thu thanh và không ai biết được tin tức gì. Ngoài ra, lại có tin đồn là chúng tôi tiếp tế cho tàu ngầm Đức ở Martinique và Guadeloupe. Thật không sao hiểu nổi. Luôn luôn nổ ra những cuộc tranh luận. 
– Mẹ kiếp! Cậu có muốn tớ nói cho cậu biết không, Papi? Bây giờ mới là lúc nổi loạn, để trao các đảo cho nước Pháp của De Gaulle. 
– Cậu cho là ông Charlot cao kều ấy cần nơi giam tù khổ sài à? Để làm gì? 
– Thì để có được hai ba ngàn quân chứ còn sao? 
– Những thằng hủi, những thằng ngớ ngẩn, lao phổi, kiết lỵ hả? Cậu không đùa đấy chứ? Ông ta không ngốc đến nỗi phải ôm lấy lũ tù khổ sai đau. 
– Thế hai ngàn tù còn khỏe mạnh thì sao? 
Đấy lại là chuyện khác. Đúng là người, nhưng không phải là những người có khả năng cầm súng. Cậu tưởng chiến tranh giống như đi ăn cướp đấy hả? Ăn cướp chỉ mười lăm phút là xong, chiến tranh kéo dài hàng năm. Muốn trở thành một chiến sĩ tốt, phải có lòng tin của người yêu nước. Cậu có tin hay không mặc cậu, tớ không muốn ở đây có lấy một thằng nào dám hy sinh thân mình cho nước Pháp. 
– Hy sinh làm quái gì, sau khi nước Pháp đã đối xử với chúng ta như thế này? 
– Cậu đã thấy tớ nói có lý chưa? May mà ông Charlot cao kều đã có những người khác các cậu để tiến hành chiến tranh. Nhưng cũng phải nhớ là bọn Đức khốn nạn đang ở trên đất nước chúng ta! Lại có những thằng Pháp đi với tụi chúng nữa. Tất cả quan và lính ở đây, không trừ ai, đều nói là chúng ủng hộ Pétain. 
Bá tước Bérac nói: “Giá có thể liều thân đánh nhau với Đức thì đó cũng là một cách để chúng ta chuộc tội”.
Thế là sinh ra cái hiện tượng sau đây: trước kia chưa có tù nhân nào nói đến việc chuộc tội. Thế mà bây giờ tất cả mọi người, từ dân giang hồ đến dân trưởng giả, tất cả các phạm nhân khổ sai khốn khổ ấy đều thấy lóe lên một tia hy vọng. 
– Thế để được gia nhập vào hàng ngũ của De Gaulle, chúng mình sẽ nổi loạn chứ hả Papillon? 
– Đáng tiếc là tớ chẳng cần phải chuộc tội đối với bất cứ ai cả. Tớ ngồi xổm lên cái công lý của nước Pháp với cái mục “phục hồi nhân phẩm” của nó. Tớ sẽ tự tay mình chứng minh là tớ đã “phục hồi nhân phẩm” rồi. Nhiệm vụ của tớ là vượt ngục, để khi được tự do, sẽ trở thành một người bình thường, sống trong xã hội mà không gây nguy hại gì cho xã hội đó. Tớ không tin rằng một con người có thể chứng minh một cái gì khác bằng một cách gì khác được. Tớ sẵn sàng tham gia bất cứ hành động nào để đạt mục đích vượt ngục. Trao quần đảo này cho ông Charlot cao kều không phải là việc của tớ, và tớ chắc rằng ông ta cũng chẳng thiết. Vả lại nếu ta làm như vậy, cậu có biết những thằng cha ngồi trên chóp bu sẽ nói gì không? Rằng chúng mình chiếm đảo để được tự do, chứ không phải để làm một nghĩa cử vì nước Pháp tự do. Mà cậu nào có biết ai đúng, ai sai. De Gaulle hay Pétain? Tớ thì tớ chẳng biết cái cóc khô gì cả. Đất nước bị chiếm đóng, tớ cũng đau khổ như mọi người dân thường, tớ nghĩ đến những người thân của tớ, đến bố mẹ, đến các chị em tớ, đến các cháu tớ. 
– Chúng ta lo lắng như vậy cho cái xã hội chẳng thương xót gì chúng ta ấy làm quái gì nhỉ. 
– Điều ấy cũng là bình thường, vì bọn cảnh sát và bộ máy luật pháp của nước Pháp, bọn hiến binh, bọn cảnh sát, chúng không phải là nước Pháp. Đấy là cả một tầng lớp riêng biệt, gồm những kẻ tâm địa hoàn toàn méo mó. Bây giờ có biết bao nhiêu kẻ như thế sẵn sàng trở thành đầy tớ cho bọn Đức? Tớ cá với cậu là cảnh sát Pháp đang bắt bớ đồng bào của chúng để giao cho bọn cầm quyền Đức. Thôi nhé. Tớ đã nói và tớ nhắc lại rằng tớ không tham gia vào một cuộc nổi loạn, với bất cứ lý do gì. Trừ phi là để vượt ngục, nhưng cũng còn phải xem vượt ngục như thế nào đã. 
Những cuộc tranh cãi rất gay gắt đã nổ ra giữa các phe phái trong trại. Kẻ ủng hộ De Gaulle, kẻ ủng hộ Pétain. Thật ra chẳng ai hiểu gì cả, vì như tôi đã nói, cả giám thị lẫn tù nhân, không ai có cái máy thu thanh nào. Tin tức có được đều do các tàu đi ngang qua đem đến cho chúng tôi một ít bột mì, rau khô và gạo. Đối với chúng tôi, chiến tranh đứng từ xa như vậy mà nhìn, thật khó hiểu. 
Nghe đâu như có một người đến Saint-Laurent- du-Maroni để tuyển mộ lính cho lực lượng tự do. Tù nhân chẳng biết gì hết, chỉ biết một điều là bọn Đức đóng khắp nước Pháp. 
Có một sự kiện vui vui: một linh mục đến đảo Royale có thuyết giảng sau khi làm lễ. Ông ta nói: 
– “Nếu các đảo bị tấn công, các anh sẽ được phát súng để giúp các giám thị báo vệ đất đai của nước Pháp” Chuyện thật mười mươi đấy. Ông cha ấy ngộ nghĩnh thật, và không biết ông ta hiểu về chúng tôi ra thế nào mà lại đi thuyết giảng như vậy được. Chắc ông ta đánh giá trí khôn của chúng tôi chẳng cao chút nào. Kêu gọi tù nhân đi bảo vệ nhà giam của họ. Thật là chuyện kỳ quặc khó nghe nổi. 
Đối với chúng tôi, chiến tranh có nghĩa là: người gác tăng gấp đôi từ lính quèn đến chỉ huy trưởng và chánh giám thị; rất nhiều thanh tra, một số thanh tra nói giọng Đức hay giọng Alsace rất rõ; rất ít bánh mì: chỉ còn bốn trăm gam; rất ít thịt. 
Chỉ có một thứ được tăng là giá biểu phải trả cho một cuộc vượt ngục thất bại: tử hình. Vì thêm vào bản án về tội vượt ngục là: “mưu toan chạy sang hàng ngũ những kẻ thù của nước Pháp”. 
Tôi ở đảo Royale đã được bốn tháng nay. Tôi đã có một người bạn lớn là bác sĩ Germain Guibert. Vợ bác sĩ, một người đàn bà khác thường, đã nhờ tôi trồng cho bà một vườn rau để giúp bà sống được trong cái chế độ ăn uống hạn chế này. Tôi đã trồng trong vườn của bà nào rau xà lách, nào cải củ, đậu đũa, nào cà chua, và cà tím. Bà rất khoái và coi tôi như một người bạn tốt 
Ông bác sĩ này không bao giờ bắt tay một viên giám thị, bất kể ở cấp bực nào, nhưng lại thường bắt tay tôi và một vài tù nhân khác mà ông đã biết rõ và đem lòng quý trọng. 
Sau này, khi được tự do, tôi đã liên hệ lại với bác sĩ Germain Guibert qua bác sĩ Rosenberg. Ông đã gởi cho tôi một tấm hình ông chụp cùng với vợ trên bến Canebière ở Marseille. Ông đã chết ở Đông Dương vì cố cứu một thương binh rơi lại phía sau. Ông là một con người phi thường và vợ ông cũng tương xứng với ông. Năm 1976, khi về Pháp, tôi định đến thăm bà. Sau tôi lại thôi vì bà đã không viết thư cho tôi sau khi bà cho tôi một giấy chứng nhận mà tôi cần xin bà. Từ đó, tôi không được tin tức gì của bà nữa. Tôi không biết lý do của sự im lặng này, nhưng trong đáy lòng tôi vẫn giữ mãi một mềm tri ân sâu sắc đối với cả hai ông bà về cách họ đối xử với tôi trong gia đình họ ở Royale. 
Vài tháng sau, tôi đã có thể trở về đảo Royal rồi.





Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 16 Nov 2025

Chương 12

Cho đến lúc ngồi trong toa xe tôi mới ý thức được thực tại. Mỗi toa năm mươi người và tôi là người Pháp độc nhứt giữa số tù nhân Ba-Lan và Ukraine. Nghĩ ngợi mà làm gì nữa! Tư tưởng của tôi đầy mùi cay đắng. Tất cả mọi sự xây dựng được với bạn bè nay đã sụp đổ, bị bứng đi như người ta xé một trang giấy cũ trong một cuốn sách bỏ xó. Mới hồi đêm qua đây, giờ thì lại xa cách quá rồi. Có thật cần phải lo âu quá đáng trong một vài cảnh ngộ nào đó của cuộc đời? Những ngày dài bất tận ở nhà lao Montluc vẫn còn đó, cuộc đi đầy đến Buchenwald, cuộc tiếp xúc đầu tiên, những sự ngạc nhiên, những âm mưu, bẩy tháng đấu tranh không ngừng và bây giờ đơn độc lên đường bước vào một giai đoạn mới. Nếu biết được sẽ bị đưa vào tổ ong vò vẽ nào, tôi đã có thể đem theo một ít đồ tư hữu: một mẩu bánh, vài điếu thuốc, vài miếng giẻ (xin lỗi vài khăn tay); tuy nhiên tôi giống như Robinson Crusoe, chỉ có thiếu tự do của nhân vật nầy. Bên cạnh tôi mọi người có vẻ thích ứng với hoàn cảnh hơn, sự quen mặt đã làm họ dễ chấp nhận cảnh ngộ mới và một nửa trong bọn họ đã bắt đầu ngủ ngon. Chắc họ nghĩ rằng mọi chuyện rồi phải đến thế cả. Cũng giống như đêm đầu tiên trong xà lim, tôi không thể nào chợp mắt được. Vả chăng, cửa sổ hai bên toa xe mở rộng cho thấy cảnh vật bên ngoài đã gợi ý nghĩ trốn thoát, con tàu dừng lại nhiều lần tại các ga đổi hướng hoặc ngay tại chính giữa cánh đồng quê. Vào mùa ấy, vùng đồng quê thật đẹp.

Trong mỗi toa đã có chuẩn bị trước cho mỗi người một phần bánh mì và phó mát làm bằng bột cá dư thừa trong trại tập trung. Đó là bữa ăn dành cho cuộc hành hình. Chỉ có hai lính canh mỗi toa, họ là lính không quân. Tôi có thể nói chuyện với họ và điều nầy làm tôi nhớ lại lúc trước, thuở còn bị giam trong trại tù binh chiến tranh.

Họ rất ngạc nhiên khi biết tôi chẳng hề ăn cắp hoặc giết người gì cả mà lại bị bắt làm tù nhân. Kháng chiến ư? Họ hoàn toàn không biết gì cả. Khi mà họ đã đánh bại được nước Pháp rồi, mọi người đều phải khuất phục. Thật họ, những kẻ ngây ngô, họ không biết gì cả về một cuộc chiếm đóng bởi các người anh em của họ và thật dài dòng nếu muốn giải thích cho họ hiểu. Và, cuộc nói chuyện chuyển hướng dần dần, và không thất bại tí nào; tôi được xem hình họ chụp với vợ con. Năm phút trước, đó là những tên người máy ngu đần muốn chinh phục thế giới và bây giờ giọng nói đầy nước mắt nhắc đến gia đình. Tôi muốn nện mấy gậy vào đầu họ vào lúc đó và nói: “Nhưng, không biết đầu óc anh chứa cái giống gì trong đó?”, tôi để mặc họ với sự ngớ ngẩn và nằm dài xuống bên cạnh một người thợ đóng giày quê ở Kiev. Tôi chợt nhận thấy mình cũng đã mang theo được từ trại Buchenwald một cái gì: tiếng Nga, không đủ để đàm đạo với một nhà ngoại giao, nhưng cũng đủ để tham dự vào các cuộc nói chuyện tầm phào. Lập tức, một câu hỏi lớn chợt đến: chiến tranh còn bao lâu nữa? Trả lời sau đây! Bịp chăng? Không thể được! Nếu nói là chiến tranh sẽ chấm dứt vào cuối Đông năm nay, ông bạn Nga của tôi cũng còn cho là quá bi quan. Thật bất ngờ, ông ta cười vào mũi tôi và nói:

– Tôi đã là chiến sĩ và rồi tù nhân. Tôi biết nhiều về các toa xe lửa chở súc vật, đói khát, chấy rận. Một cuộc chiến tranh đâu có chấm đứt quá nhanh như vậy được. – Đoạn ông ta nói về thành phố quê quán của mình.

– Kiev bị tàn phá rồi. Chúng tôi sẽ xây dựng lại, còn phong cảnh, không một trận đánh nào sẽ có thể tiêu diệt nó được cả, và đó chính là vẻ đẹp của thành phố. Con sông Dniepr chảy ngang qua chính giữa. Bên nầy sông “thành phố thượng” nằm trên một vùng cao nguyên với hàng trăm lầu chuông, và phía trước mặt một “vùng đồng hoang” ngút ngàn vô tận.

Ông ta nói nho nhỏ để không làm phiền các người khác ngủ bên cạnh và nhìn đăm đăm vào khoảng không, chắc ông ta đang nhìn thấy cánh đồng quê hương qua trí tưởng tượng. Mắt tôi đã sụp xuống và chỉ còn nghe tiếng được tiếng mất. Ngay cả sàn tàu gồ ghề cũng trở nên êm dịu khi người ta quá mệt.

Các tia nắng ấm đã đánh thức chúng tôi dậy. Suốt đêm, có hàng ngàn cơ hội để hạ hai tên lính canh. Nhưng sau đó thì sao! Trong bộ quần áo tù, không một xu dính túi, trốn thoát là một ý nghĩ điên khùng. Một thị trấn xuất hiện, tôi đọc thấy trên một tấm bảng: Nordhausen. Nhiều ống khỏi nhà máy, gác chuông nhà thờ, luôn luôn ta thấy trước hết là những thứ đó, sau mới đến là dân chúng, nhà cửa. Chiến tranh ư? không có vết tích gì của chiến tranh ở đây cả. Con tàu chạy không mau lắm, nhờ đó chúng tôi quan sát được dân cư. Họ ăn mặc đẹp và sạch sẽ, ở Đức luôn luôn là vậy. Một bé gái đứng trên sân ga nhìn chúng tôi; cô bé nghĩ gì về chúng tôi nhỉ? và rồi lại đến vùng đồng quê. Suốt một buổi sáng chúng tôi rảnh rỗi ngỗi nhìn cảnh vật cho đến trưa khi con tàu dừng lại và một lính canh nói “Đây rồi”. Ellrich! Một nhà ga trung bình với một đường chuyển hướng tàu. Tất cả sự vật có thể thấy được là kiểu nhà cửa tô bằng hồ trước các hầm đá trắng. Mọi vật có vẻ như đang đắm chìm trong giấc ngủ.

Bốn trăm và không ai trốn cả… Tiến lên! Chúng tôi không phải đi bộ lâu, gần nhà ga một hàng đèn dọc theo con hương lộ và thỉnh thoảng, một cuộn thép gai. Chúng tôi đến lúc mà chỗ ở đang được xây cất. Vài phút sau chúng tôi đứng giữa một kiến trúc được dùng vào việc khác gồm nhiều dãy nhà bị phá hủy bằng chất nổ để sửa soạn xây dựng một trại tập trung. Những ngôi nhà còn lại đã có người ở, vậy là chúng tôi đến tăng cường.

Cho đến lúc đó, mọi chuyện êm đẹp, nhưng ảo vọng của chúng tôi chỉ kéo dài trong chốc lát. Nhiều binh lính tập họp chúng tôi lại, và một tên bắt chúng tôi đứng nghiêm sau khi ra lệnh “Mutzen ab” (dở nón ra). Và chúng tôi thấy một sĩ quan SS, đúng hơn là một hình nộm múa rối, ưỡn ẹo đi về phía chúng tôi. Y khoanh tay trước ngực, ngửa đầu ra sau, vẻ chế riễu, y mắng tạt vào mặt chúng tôi:

– A! Bỏ nón ra cách đó hả! Bộ các anh tưởng còn ở Buchenwald chắc! Ở trại dưỡng sức chắc! Ở trong lãnh địa của bọn Sô-viết chắc! Mấy thứ đó chấm dứt rồi, ở đây ta là người chỉ huy, và để bắt đầu, đồ ăn hại, hãy thử dượt trong nửa giờ.

Trên giấy, lời nói ấy không làm ta thấy có gì cả, nhưng lấy danh dự mà nói, các lời nói ấy đã tác động nhiều lên chúng tôi. Y không nói, y hét lớn, vung vẩy, xùi bọt mép như bị chó điên cắn. Và những người không hiểu được tiếng Đức sẽ tự hỏi là không hiểu con quỷ nào đang đứng trước mặt mình. Tất cả binh lính và hạ sĩ quan bao quanh chúng tôi đều thuộc không quân, nhưng tên chỉ huy bởi vì chính hắn ta, là sĩ quan SS.

Y vừa dứt lời huấn thị, một tên thuộc viên bắt chúng tôi làm động tác thể dục trong nửa giờ, nếu là trời lạnh, chắc người chúng tôi được sưởi ấm lên rồi. Mất một số nhiệt năng vô ích thật đáng tiếc. Sau đó là một cuộc lục soát. Chúng biết chúng tôi không có vật gì bậy bạ cả, nhưng chúng cũng giỡn chơi bằng cách lột áo làm bằng gỗ thông của chúng tôi và bẻ gẫy các chiếc muỗng mà cán được mài nhọn như dao. Chúng cười phá lên trước sự khám phá đó vì viên chỉ huy vẫn để ý theo dõi. Trong lúc đó một bọn tù nhân với băng đeo tay tiến gần chúng tôi, và bấy giờ chúng tôi được biết các nhân vật trưởng khối, Kapo và các loại cai ngục khác trong tương lai của chúng tôi. Tất cả đều mang hình tam giác lục (Tù thường tội). Đó là đám người cặn bã mà giới tờ chính trị ở Buchenwald đã tống cổ đi. Tuy nhiên giới tù nhân chính trị đã lầm khi tưởng làm như thế thì bọn tù thường tội sẽ bị cực khổ. Bọn đó nếu còn ở lại trại trung ương thì sẽ bị bắt đập đá, nhưng ở đây chúng là chủ nhân của chúng tôi, quyền uy vô hạn và tên sĩ quan SS có thể ngủ yên. Y không thể kiếm đâu ra các công sự viên tốt hơn để thi hành mệnh lệnh của mình.

Cả một bầy vô lại tziganes trẻ bao quanh một người mang băng tay niên trưởng. Chúng làm công việc sửa chữa lại các tòa nhà và lúc nầy chúng đang nghỉ trưa và đang tìm cách bày tỏ sự sốt sắng lố bịch của chúng. Chúng canh chừng từng lời lưu ý nhỏ nhoi của viên chỉ huy để lập tức tán thành ngay. Tên nầy lại khoanh tay trước ngực và giọng chế diễu: “Có lẽ các anh sẽ thấy có sự thay đổi, chính là bọn “lục” chỉ huy ở đây và vị trưởng trại không muốn thấy ai lạng quạng cả!” Anh ta cao lớn, cặp mắt hơi đục với một mái tóc rậm rạp. Về sau tôi được biết anh ta là người Hambourg, bị kết án khổ sai chung thân vì tội đã giết hai mạng người trong “giới”. Tại đây anh ta là chủ nhân ông thật sự của chúng tôi.

Cuộc khám xét chấm dứt trong tiếng ồn ào chung, tôi vui mừng nghe có tiếng Pháp xen lẫn trong đó. Chúng tôi có 15 người trong tổng số 400, ở rải rác trên các toa khác nhau, và cảnh ngộ tả tơi xơ xác đã làm chúng tôi tự động kiếm nhau. Hình như chúng tôi được phép nghỉ một chút, mọi người ngồi bệt xuống đất và đem thứ đồ ăn nào mỗi người có ra chia cho cả tập thể bởi vì cơn đói đã đến. Tôi không có gì cả, nhưng nhờ xin xỏ nên cũng được nhiều gào-mên nước. Trong vài phút chúng tôi thưởng thức tình đoàn kết thật sự, đó là tình đoàn kết mà nghịch cảnh đã hun đúc nên, không tính toán, không giả tạo. Trời rất đẹp và ngước mắt nhìn lên, ta thấy xa xa những cánh đồng, những nông trại, tất cả những gì để mơ mộng. Chúng tôi mới vừa bắt đầu làm quen nhau thì một hồi còi đã dựng mọi người đứng dậy. Bốn tên Kapo (tù nhận được chọn làm cai) đến đưa chúng tôi đi khuân gạch, đó là “lễ nghi” tiếp đón đồng thời để cho chúng tôi “làm quen” với sinh hoạt của trại. Phải bươi móc, tìm kiếm trong các ngôi nhà đổ nát, tất cả gạch ngói còn có thể xử dụng lại được và vừa vác vừa chạy đến chất vào một đống cách đó chừng 50 thước. Trong mỗi khu chúng tôi có 100 người, những người khác được phân phối cho khắp công trường và mỗi người có phần đau khổ của mình. Chất lên xe, dỡ xuống xe, luôn luôn là vât liệu xây cất. Bên trong tình hình, có lẽ là có quá dư người, nhưng thật ra có nhiều người đóng vai trò chỉ huy quá, nhất là bọn lang bạt “gitan” luôn luôn xuất hiện như là họn tình nguyện khi cần làm bất cứ việc gì ngoại trừ làm công việc lao tác. Mạnh thế nhờ có quốc tịch Đức, vì bọn chúng đều là người Đức, chúng đóng vai trò cai thợ, và để được chú ý, với cây gậy trong tay chúng đến lên giọng khỉ. Gần như toàn thể gia đình chúng đều đã bị tiêu diệt ở Auschwitz, nhưng ở đây hình như chúng đã bị mất hết nhân tính. Nếu mỗi người tượng trưng cho một con thú: chó sói, chồn, cừu, bò con, bọn gitan ở đây hình như đã bị biến thành rắn độc và chúng chiếm tất cả các chức vụ phụ tá. Tên Kapo đi quanh quẩn, nói chuyện với một tên lính canh và chiêm ngưỡng bọn phụ tá, giống như một bầy chó con đang chạy theo chúng tôi không ngừng. Chúng tôi bị chìm ngập trong bụi mù một cách mau lẹ, chân tay bị phồng dộp, hơi thở nặng nề. Và luôn luôn là những tiếng la hét mà tôi phải nghe hiểu:

 A! A A! Đây không phải là Buchenwald đồ lười biếng, bây được nghỉ ngơi ở đó, phải làm việc ở đây!

Bọn chúng theo đuổi trù ếm đặc biệt tù nhân người Nga, và chửi bới họ một cách dữ dằn, nhưng khi thấy chữ “F” trên dấu hiệu hình tam giác, chúng làm bộ ra vẻ chăm sóc. Tôi đâu có biết rằng tù Pháp thường nhận được đơn kiện. Tôi nói với chúng về những “Pakétt” (Bưu kiện) về sô-cô-la, và về thịt muối. “Chắc chắn là tôi sẽ nhận được nhiều, nhiều hơn là tôi cần”. Chúng chảy nước miếng khi nghĩ đến chuyện đó. Nếu chúng biết được sự thật, chúng sẽ để tôi tại chỗ thừa chết thiếu sống tuy nhiên khi người ta bịp, phải đi tận cùng. Đã đến lúc, tôi kiệt sức. Chỉ trong một buổi chiều mà hình như người ta mất tất cả sức lực và một nửa cuộc sống. Và uy tín của một xứ giàu có như xứ sở của tôi đã giúp tôi tránh khỏi phải chấm dứt một ngày trong tình trạng gục ngã. Đến 6 giờ chiều, đói khát, bẩn thỉu, chúng tôi được đưa về khối. Sức mạnh thật sự của con người là, trong một giai đoạn mới của cuộc đời, có thể xóa bỏ một cách tự động hình ảnh quá khứ trong tâm trí. Tôi gần như buồn cười trước các âu lo mà trước đây tôi thường nghĩ đến. Cuộc đời chó má thật. Tuy nhiên nếu trong đời sống dân sự, làm người giác ngộ là chuyện dễ dàng, thì trong trại tập trung nó là cả một sự xa hoa. Trong 15 ngày thôi, là kẻ chán đời sẽ đổ sụp như một đống giẻ và sau đó là một thây ma! Tôi yêu cuộc sống và tôi cố gắng quên đi “nhà dưỡng bệnh” gần Weimar để chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh được báo trước là sẽ khó khăn vô cùng. Nhưng dẫu sao khi người ta không còn có gì nữa cả, tất cả, đều có thể được mang lại cho con người.

Trước một tòa nhà xám có dấu hiệu cho thấy là đáng dành cho những người bị dịch hạch hay cùi hủi và các khung kiếng cửa sổ đã được thay thể bằng không khí đồng nội, người ta bắt chúng tôi sắp hàng để trình diện với viên trưởng khối và viên Fuhrer mới. Một người là tù nhân, người kia là một hạ sĩ quan không quân, nhưng cả hai, đều là người Đức, đang bàn về số phận của chúng tôi. Tất cả những gì mà họ nói với chúng tôi, chúng tôi đều biết trước: Kỷ luật!… Họ chỉ có tiếng trong mồm và nó cũng được dùng luôn làm buổi ăn tối cho chúng tôi! Thế mà một khổ nhục phụ nữa vẫn còn chờ đợi chúng tôi. Chúng tôi đã tỏ ra bằng lòng vì có thể ngả lưng xuống đệm rơm, nhưng một nửa” giường luôn luôn là một kiểu giường chồng lên nhau, chưa được ráp, thể là suốt đêm phải đóng búa, khiêng ván, lót đầy rơm. Hai toán ziganes thay phiên nhau suốt đêm để chỉ cách cho chúng tôi. Đến bừng sáng, mọi việc mới xong và nếu tù Nga tỏ ra dai sức thì bọn tù đại diện khu vực La-tinh chúng tôi chỉ còn là cái bóng của chính mình… Để giáng thêm vố nữa, một khổ hình khác lại chờ chúng tôi. Chúng tôi bị cấm nằm nhàn vì có cà-phê, một cuộc viếng thăm của viên niên trưởng và lại bắt đầu làm việc lại ngay, viên trưởng khối, tên Helmut, cho biết rằng từ đầu tháng 4, trại bắt đầu mở cửa và tất cả mọi ngày chúa nhật được xử dụng để xây dựng trại, còn trong suốt tuần chúng tôi phải làm việc tại các công trường khác nhau chung quanh Ellrich. Đó là nhiều nhà máy nổi tiếng được xây ngầm dưới đất, lương tự như nhà máy Dora nằm cách đây vài cây số.

Người niên trưởng sẽ nói gì với chúng tôi? Tòa nhà chúng tôi ở gồm có mặt tầng trệt và hai tầng lầu, 400 người chúng tôi chiếm hai tầng dưới, tầng trên cùng dành cho chuyến công-voa sắp tới. Tên phạm trọng tội ở Hambourg đến kiếm chúng tôi tại tầng thứ nhất. Giống như mọi tên gia nô đê tiện khác của bọn SS, y mang một đôi giày ống và chiếc quần kỵ mã, vừa mới được vạch một lằn sơn để phân biệt với người thường. Chúng tôi phải ngồi bệt cả xuống sân để y chế ngự và trong thấy chúng tôi rõ hơn. Nhưng buổi gặp gỡ trở nên đáng chú ý vì y tới để chỉ định các người làm việc cho khối, và sau khi sì sầm một lúc với bộ tham mưu, y hỏi ai biết nói tiếng Đức. Ngoại trừ trong nhóm người Pháp chỉ có ba người, tất cả các tù nhân khác đều đưa tay lên. Đối với mọi người việc nầy cũng như trúng số độc đắc, ai cũng muốn thử thời vận.

Một loạt cười dòn và một tiếng gầm gừ cho chúng tôi biết y sắp ổn định cách lựa chọn.

– Bọn bôn-sơ-vích không được đưa tay.

Y nói và ra lệnh cho bọn tù Nga bỏ tay xuống. Chỉ còn lại khoảng hai mươi tù nhân Ba-Lan và ba người Pháp.

– Anh gốc ở đâu?

Câu hỏi nầy đặt ra cho tôi. Đó là sự may mắn mà nhờ trung gian của một tướng cướp đã đến gỏ cửa tôi. Tôi nhìn thẳng vào mất y, và sau khi hít một hơi dài, tôi vứt lá bài xuống chiếu: Ba-lê.

Một tia nhìn thoáng hiện trong mắt y như một kỷ niệm mơ hồ. Y vẫn giữ thái độ mơ màng một lúc và tôi, lúc đó đang đứng dậy, có cái cảm giác đang cố giữ thăng bằng khi đứng trên một sợi dây căng thật thẳng.

– Tôi có biết Montmartre, – y trả lời tôi với giọng người đang đàm đạo thân mật đượm mùi tiếc nuối. Và tôi hiểu rằng tôi đã bám được vào cây sào.

– Lấy anh nầy, – y nói với Helmut, trưởng khối của chúng tôi,

– Hú vía! Tôi thở hắt hết không khí bí giữ lại trong phổi và sức lực bị tiêu hao trong 48 giờ vừa qua nay đã trở lại khi nghe mấy lời đó. Sau đó y chỉ định thêm hai người Ba-Lan, một người phụ trách tầng dưới và người kia, thư ký khối vì anh nầy biết cả tiếng Đức lẫn tiếng Nga.

Buổi họp hình như đã chấm đứt, khi bên cạnh tôi, một tù nhân người Pháp đến khúm núm xin phép được trình đôi lời với viên niên trưởng.

– Tôi là người Alsace, – hắn ấp úng, – tôi hy vọng các ông sẽ chấp nhận sự phục dịch của tôi.

Từ khi chúng tôi được biết hắn ta, hắn ta chỉ ầm ừ với chúng tôi có vài tiếng và chẳng ai chú ý đến hắn cả. Chúng tôi chỉ biết hắn tên là Paul.

– Chú mày có sức khỏe, làm một chân Kapo được lắm, – viên niên trưởng hứa với hắn ta.

Trên kia, những tên cai đang tìm kiếm, như trong một chợ nô lệ, số người cần thiết cho những công việc khác nhau trong ngày hôm nay: Khuân vác vật liệu, làm “vệ sinh và tạp dịch đủ thứ. Bọn Tziganer cũng có mặt ở đó với gậy gộc để đưa các toán đến các địa điểm khác nhau. Phần đông tù Pháp đã có thể ở lại trong nhà với tôi, với nhiệm vụ sửa soạn một phòng cho viên trưởng khối.

Helmut tỏ ra rất chịu giá trị của thủ công nghệ Pháp bằng cách phân phối súp rất rộng rãi. Tuy nhiên y không để mất hướng, bởi vì sự rộng rãi trong khi phát xúp chẳng qua cũng chỉ là một cách nhắc nhở gián tiếp chúng tôi về thuốc lá: thuốc điếu Gaulois. Bất cứ người ngoại quốc nào ghiền thuốc mà biết qua thuốc Gaulois đều cũng trở thành các tay hâm mộ nó nồng nhiệt. Ở đây sự ưa thích đó trở thành điên cuồng. Một người trong bọn tôi còn vài điếu đã làm một cuộc thương lượng thích thú và không kém lạ kỳ; một lít xúp ăn thêm trong suốt 15 ngày, một phần margarine trong suốt một tuần, và bánh mì. Tuy nhiên điều kiện sau cùng liên hệ tới bánh mì là nhiệm ý vì chính ngay cả viên trưởng khối cũng chỉ có được phần ăn hằng ngày của mình, anh ta chỉ có thêm quyền là tự ý định đoạt về số đồ ăn dư thừa sau khi phân phát. Người vừa làm vụ áp phe nầy tên là Bureau, thầu khoán nhỏ vùng Lyon, là một cựu chiến binh; là một trong những người Pháp đầu tiên bị đày qua Đức, anh ta không thiếu khôn ngoan do kinh nghiệm lâu ngày trong tù.

– Tôi không hút bao giờ, – anh ta nói với chúng tôi, – nhưng tôi biết các điếu thuốc lá nhỏ ấy sẽ giúp ích tôi rất nhiều. Tôi còn cả một số dự trữ, tuy nhiên phải coi chừng bọn bất lương nầy. Nếu tên nầy trả đều đặn, tôi sẽ lại đề nghị trao đổi với hắn trong mười lăm ngày nữa.

Một trời một biển

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 16 Nov 2025

Phần 1 – Trong Mơ

Nha Trang, một ngày đẹp trời. Nắng mong manh như tơ vàng lụa mỏng, lung linh trang trải khắp miền biển khơi bao la trước mặt và núi đồi trùng điệp sau lưng. Tiếng sóng rì rầm vỗ vào bờ cát trắng chan hòa cùng tiếng gió vi vu thổi qua hàng phi lao là điệu nhạc mê hồn của xứ thùy dương. Không một ai có thể dấu được nhịp rung cảm êm đềm tận đáy lòng mình trong những phút giây trầm lặng, lắng nghe đó.

Hơn nữa, không đẹp trời sao được khi hôm nay là ngày gắn alpha của Tần, sau bao ngày huấn nhục đầy gian truân khổ hạnh, tróc vảy trầy vi. Không một thành quả nào được coi là lớn, nếu không có những thất vọng ê chề đi trước. Tần cảm thấy mình như can đảm có thừa khi đã vượt qua được những thử thách cam go, sống chết cho đời lính. Cánh cửa hải nghiệp vừa rộng mở, và cuộc đời chàng như thực sự đã sang trang. Bao nhiêu kiến thức học hỏi đang chờ đợi chàng, một con người hiếu học và cầu tiến.

Ánh nắng chiều le lói trên chòm cây khuynh diệp phía sau sân cờ, báo hiệu một ngày sắp tắt. Nhường lại cho bóng đêm những vui đùa riêng của nó, sau một ngày dài làm việc cực nhọc. Nhứt là đêm nay, đêm liên hoan cho toàn khóa. Những con cái của Ðệ nhị Hải sư đang vừa mới chào đời. Với cặp alpha sáng ngời lủng lẳng trên vai.

Tất cả bàn ghế trong nhà bàn, phạn xá, đều đã được mang ra thao diễn trường, bày thành hai dãy dài cách đều nhau từng khoảng ngắn. Mặt bàn được phủ lên một lớp drap giấy, trắng xóa. Nhìn xa giống như những đóa hoa biển cài lên lượn sóng bạc đầu. Giống luôn màu đồng phục của người lính hải hồ. Trắng muốt từ đầu đến chân, từ mũ kết-bi cho đến đôi giày. Và ngay cả cặp găng tay. Trắng như lòng người trinh nữ trên những bến bờ, đang đợi chờ những tâm hồn hiên ngang oai hùng của biển.

Hai con “bê thui” được đặt ở hai đầu. Hai con bò con đang bị xỏ lụi, nướng trui trên gác tréo thì đúng hơn. Thơm phức cả một vùng trời. Cái trục sắt thỉnh thoảng vẫn được quay tới quay lui, trở lửa cho vàng đều. Lò chứa than kê bên dưới làm bằng nửa cái thùng phuy, lúc nào cũng đỏ rực. Cạnh bên có một bàn để đầy dao, nĩa, muỗng, dĩa, rau cải, nước chấm. Và không thiếu những đôi đũa tre. Với nhiều thùng nước đá cục chứa đầy bia lạnh. Một buổi tiệc dã chiến ngoài trời, lính mà lị. Có lửa trại bập bùng trong đêm thâu. Có bóng hồng tay trong tay. Có tình lên men say cho ba đào dậy sóng. Cho tất cả các sinh viên sĩ quan, đàn anh lẫn đàn em. Cùng các sĩ quan cán bộ, ban tham mưu điều khiển quân trường, đã không quên dự phần… ăn ké.

Trời đã chạng vạng tối. Gió đêm hiu hiu thổi và sóng biển vẫn rì rào vọng lại từ xa. Từ bên ngoài vòng đai quân trường, nơi bãi cát bên kia đường Duy Tân nối dài, chạy thẳng xuống Chutt. Từ công viên Bạch Ðằng đang mới thành hình. Nơi có tượng Ðức Thánh Trần anh dũng uy nghi, Thánh tổ của Hải quân, đang chỉ tay phóng mắt nhìn vào biển rộng.

Sau khi chỉ huy trưởng tuyên bố khai mạc, với một bài diễn văn ngắn, tất cả xếp thành hàng hai thẳng tiến, đánh chiếm mục tiêu, làm thịt hai con “bê thui.” Trong vui cười, hớn hở. Trò ăn tục nói phét, đấu láo đùa giai được dịp thi nhau nổ như bắp rang.

Ăn giỗ đi trước lội nước đi sau, vì sắp hàng ở gần đầu hàng nên không mấy chốc đã đến phiên Tần. Chàng cầm con dao dài như mã tấu, xẻo một miếng lớn bên đùi. Máu đỏ trong thịt tươm ra. Ý da, còn sống nhăn, ghê quá! Chàng đành phải dùng chiếc đũa tre cắm sâu một đầu vào miếng thịt, hơ lên đốm than hồng, ngồi nướng tiếp. Cho cháy cháy, khét khét bên ngoài một chút. Cho miếng thịt mặn mòi hơn một chút. Mấy thằng bạn chàng bắt chước làm theo, quây quần chật nứt bên bếp than. Quả thiệt là thừa mứa dư dả, không ai thèm nghĩ đến chuyện lóc xương, chặt sườn con bò…, chỉ lo lạng những mảng thịt đầy ắp thịt đủ phần mình. Mà dẫu có trở lại lần thứ hai cũng chưa chắc đã hết.

Phải nhường chỗ cho chúng bạn, Tần mang miếng thịt đã được nướng chín tới để vào dĩa nhựa. Vớt theo mấy con dao, mấy cái nĩa cũng bằng nhựa, và mấy miếng khăn lau miệng bằng giấy. Toàn là đồ chế tạo tại Mỹ, ăn xong vứt đi. Khỏi phải dọn dẹp, rửa ráy chi cho mệt. Cầm thêm hai xâu bia lỡ dở, một nửa Hamm một nửa Budweiser, Tần quay trở về khu trung đội của mình. Dọc theo dãy bàn dài, nhiều bóng hồng đã được mời ngồi xen kẽ với áo trắng tiểu lễ hải quân. Tần tấp vào bàn có mấy tên bạn thân cùng phòng. Có Thành, Trương Viết Thành. Có Thắng, Nguyễn Phước Thắng. Và có Ðức, Ðào Khiết Ðức…

Thắng, dân Bình Dương, trơ trẽn chìa tay lên tiếng:

– Mầy đi lấy giùm cho tao đó hả Tần, cám ơn mầy nghen Tần!

Tuy đang ngạc nhiên vì có nhiều em gái hậu phương trước mặt, Tần vẫn không cần giữ lễ, trả đủa ngay:

– Ớ ớ, làm như ăn cướp cạn không bằng! Còn khuya tao mới lấy cho mầy! Có lấy giùm là lấy cho mấy cô đây, người ta thân phận tay yếu chưn mềm, chớ còn mầy…, bộ mầy không có chưn có cẳng hả?

Thành, dân Cần Thơ, lên giọng kẻ cả, xen vào:

– Chưa gì mà hai thằng bây đã gấu ó với nhau, không sợ mấy cô cười cho à!

Ðức, dân Nha Trang. Bạn cùng khóa hay gọi đám dân Nha Trang này là đám… Thanh niên Khánh Hòa. Thì cũng chẳng trật vào đâu. Nhưng, sở dĩ có sự phân chia bè nhóm lẻ tẻ là vì có một số nhỏ, độ khoảng hai mươi tên, được tuyển mộ trực tiếp tại tỉnh lỵ và nhập trại thẳng vô quân trường. Không qua trại Bạch Ðằng II. Nơi thường dùng làm chỗ đón tân binh và phân phát quân trang cho hầu hết các tân khóa sinh ở thủ đô và lục tỉnh. Và cũng vì vậy, nhóm lẻ tẻ đó chưa hề nếm mùi lênh đênh con tàu trên HQ 500, Dương vận hạm Cam Ranh, hai ngày hai đêm từ Sài Gòn ra Nha Trang. “Ðó là một thiếu sót lớn lao trong… đời hải hồ,” đám con rơi này vẫn hay cứ bị chọc như vậy điều chi!

Tuy chê thì có chê, nhưng phần lớn dân thủ đô và lục tỉnh lại khoái kết thân với đám Thanh niên Khánh Hòa dữ lắm! Bởi lẽ, thứ nhứt, dầu sao đám này cũng là thổ công thổ địa tại vùng, nếu cần tìm hiểu thêm đường đi nước bước thì bọn này cũng có thể nhờ vả được. Kế đến, còn cái đám em út tóc kẹp và nhóm bạn bè tóc uốn của bọn nó nữa chi!

Ðức giới thiệu:

– Ðây là Hạnh, bà xã tao. Còn đây là Hiền, Thúy, và Thảo. Bạn cùng trường, cùng lớp, và cùng xóm của bà xã. Còn đây là Tần, Nguyễn Hương Tần, bạn anh.

– Chào chị Hạnh, chào mấy cô.

– Dạ, chào anh Tần.

– Chào anh.

– Chào anh.

Trong ánh sáng mờ mờ ảo ảo của lửa trại và ánh trăng vừa mới ló, bằng trực giác, Tần đã nhận ra ngay là Hiền đẹp hơn hết. Theo ý Tần, hiển nhiên. Cô mặc chiếc áo trắng, ngắn tay bằng lụa mỏng có thắt cái nơ nhỏ trước ngực, jupe phủ gối màu hồng tươi. Vóc người mảnh mai hợp với khuôn mặt xương xương và đôi cánh tay dài suôn đuột. Mái tóc ngắn ngang vai uốn dợn dưới đuôi. Ðôi mắt long lanh, đen ướt. Thảo mặc chiếc áo dài tay màu hường nhạt, điểm hoa hồng, jupe ngắn, đỏ thẫm. Khuôn mặt bầu bĩnh, hợp với vóc người hơi có da có thịt. Thúy có khuôn mặt chữ điền, nước da ngăm, dáng ốm và cao trong chiếc robe màu vàng. Chỉ có Hạnh có lẽ chiều ý phu quân nên mặc cái áo trắng cổ vuông, có những đường viền xanh đậm trông như áo lính thủy, thích hợp với váy trắng, dài. Hạnh hợp với Ðức ở dáng dấp bề ngoài, hơi thấp và có phần tròn trĩnh.

Chẳng biết Thành và Thắng đã có ý tuyển chọn, ngắm nghía cô nào cho mình chưa, Tần cứ đi theo… tiếng gọi của con tim, chìa dĩa thịt ra, ga-lăng tại chỗ:

– Phần này tôi lấy cho cô…, cô Hiền đây. Nhận giùm đi làm phước. Cô Thảo và cô Thúy có cần tôi lấy giúp nữa không?

Thắng chận ngang:

– Ê, vừa phải thôi chớ mậy, định bắt cá hai tay lẫn hai chưn hả? Dễ sợ chưa!

Hiền cầm lấy dĩa “bê thui,” cười khúc khích, tiếp lời:

– “Dễ… sợ,” cám ơn anh Tần.

Rồi mấy cô gái ngó nhau cười rộ. Cả Thắng, Thành và Ðức cũng cười theo. Tần chẳng biết ất giáp gì, nhưng không nghĩ là mình đã làm điều chi quê mùa lố bịch hết. Chàng vẫn luôn luôn coi trọng phong cách của người sĩ quan hải quân! Theo như sách vở đã dạy! Nhứt là trước mặt những người đẹp như thế này. Tuy nhiên, Ðức đã ôn tồn giải thích giùm cho Tần:

– Nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục, mầy chưa vô nhà nên mầy chưa biết. “Dễ… sợ” của mấy cô ở đây chỉ có nghĩa là “yes sir,” nói trại từ tiếng Mỹ đó thôi! Người ta kính trọng mầy, “yes sir” với mầy mà không biết nói gì sao?

À, thì ra vậy. Tần chợt nhớ ra là cái xứ Nha Trang này bây giờ có rất đông lính Mỹ, bar Mỹ, và nhiều câu nói rất bồi Mỹ đã thông dụng trên đầu môi chót lưỡi của những cô gái bán bar và luôn cả trẻ con thường hay bắt chước. Chàng chưa biết phải trả lời ra sao cho ổn, chẳng lẽ lại “you’re welcome,” thì thời may Thắng đã hớt trước:

– Chắc nó đòi cô Hiền phải nói “aye aye sir” như nói với hạm trưởng vậy, nó mới chịu mầy! Thôi ngồi xuống đây đi ông tiên tổ!

– Khoan, tao còn phải đi lấy thêm “bê thui” nữa chớ!

Ðức cản:

– Cứ để đó cho bọn nó. Ai người ta cũng có bổn phận của người nấy hết, mầy khỏi lo. Ðể cho thằng Thành với thằng Thắng làm nhiệm vụ của nó với cô Thúy và cô Thảo nữa chớ, không thôi tụi nó buồn sao.

Người đẹp… của Tần xen vào:

– Anh Tần và Hiền ăn chung một dĩa này được mà. Thịt và rau cải nhiều quá một mình Hiền ăn không hết đâu.

Thắng lõ mắt ngạc nhiên:

– Trời đất, mới đó mà tình quá vậy ta… Cô Thảo này, cô có muốn cùng tôi đi xếp hàng lấy đồ ăn không?

– “Dễ… sợ,” em phải đi với anh Thắng cho có bạn chớ, để ảnh đứng một mình ngoài đó ảnh cảm lạnh sao!

Thắng cười khan:

– Ðó, mầy thấy gì chưa Tần? Mầy đừng tưởng tao là thứ đồ bỏ nghe mậy!

Ðến phiên Thành, không nói không rằng, dụi điếu thuốc đang hút dở trên tay, đứng dậy tiến đến Thúy, đưa tay mời:

– Thôi mình cùng đi luôn với Thắng và Thảo nghen cô Thúy!

Thúy liếc xéo Thành một phát rồi yên lặng nắm tay Thành đứng lên. Cả hai sánh vai cùng nối đuôi theo hàng, như một cặp tình nhân.

Tần ngồi xuống tự nhiên bên cạnh Hiền. Hành động của một người… lính có khác. Không phải rụt rè, nhút nhát như thuở chàng còn là sinh viên. Mỗi lần đứng trước mặt con gái thì miệng như bị dán băng keo, tay chân bỗng dưng đâm ra thừa thãi. Bây giờ chàng không còn lúng túng nữa, muốn gì thì cứ nói toạc ra, chẳng sợ chết chóc ai. Ấy vậy mà được việc hơn, mới kỳ. Vì con gái dường như vẫn thầm mong có sự bạo dạn, tấn công ở người con trai. Một sự biểu đồng tình, đồng lõa. Ngẫm nghĩ lại chàng thấy quân đội đã dạy cho chàng nhiều điều hay. Mà nói nào ngay, ở Nha Trang nói riêng và ở thành phố lính nói chung, con gái cũng quen tánh dạn dĩ, gần như đến ngổ ngáo, không thua gì con trai. Lắm lúc còn tỏ ra ta đây thầy đời, chỉ dạy luôn những người tình chưa chăn chiếu, vì mới vừa lượm được ngoài bãi cát, nữa. Văn minh tân tiến hơn cả Sài thành hoa lệ, với mười cô đã biết nhảy đầm hết bảy!

Tần kéo dĩa “bê thui” sang bên mình, thay Hiền lấy dao nĩa cắt ra từng lát mỏng. Chàng gợi chuyện:

– Chẳng hay chị Hạnh và cô Hiền đây học trường nào và đang ngồi lớp mấy vậy?

Hạnh mỉm cười, trả lời:

– Dạ, tụi này đang học trường Huyền Trân, anh. Còn chuyện học lớp mấy thì anh thắc mắc để mà làm chi, hở?

– Mèn đét ơi, chớ chị không nghe người ta đồn rằng hải quân toàn đi dê con nít, toàn dan díu với những cô nhỏ hơn mình chín mười tuổi sao? Thành thử, tôi phải điều tra thiệt kỹ coi chị và mấy cô đây hỉ mũi có sạch chưa, để không thôi lại mang tiếng dụ dỗ gái dưới tuổi vị thành niên.

Hiền xem vào:

– Chuyện đó thì anh khỏi lo. Anh chỉ cần nhìn vào sự đạo mạo gương mẫu của anh Ðức bạn của mấy anh đó, mà làm chuẩn và làm theo là được rồi.

Tần cười lớn:

– Ý cha, đừng tưởng ông tướng Ðức này hiền lành mà có ngày bán lúa giống. Nó đóng kịch giỏi lắm nghen chị Hạnh. Hiền hay không là hãy nhìn cái bản mặt của anh Tần đây này nè, Hiền ơi. Ðâu, cô ăn thử miếng thịt bít-tết do chính tay tôi nướng trui này xem có ngon không cái đã. Tuy khét đen khét đỏ vậy chớ mà bắt lắm à. Hả miệng ra đi Hiền, lớn rồi đừng có mắc cở nữa.

– Cám ơn anh, anh để Hiền tự ghim lấy được mà.

– Thì để anh đút cho Hiền cho nó có tình có nghĩa chút chút chớ. Ê, Ðức, đâu mầy với chị Hạnh làm ơn quay mặt chỗ khác một lát coi.

Nói cho dữ vậy chớ rồi Hiền cũng tự nhiên không kém. Một lát cho Hiền, một lát cho Tần. Thịt bò non, tươi, thơm ngon, ngọt thịt thiệt. Tần tu một hơi bia dài, mát lạnh cả cổ họng. Chàng lấy gói thuốc Cool trong túi ra rút một điếu rồi thảy lên bàn. Bật hộp quẹt, châm lửa, rít một hơi sâu thật sâu, thong dong nhả khói …

Thúy với Thành và Thảo với Thắng cũng vừa trở lại ngồi vào bàn. Thêm hai dĩa “bê thui” đầy ối và một mớ Coca-Cola. Hải quân chơi sang thiệt, món nào cũng ấp lẩm, dư thừa. Thắng phát biểu thay cho cả nhóm:

– Lấy luôn một lần để sẵn đây, lát nữa nếu ăn không hết đem về phòng dấu, dành cho ngày mai hoặc cho những cơn đói lòng… nửa đêm thức giấc.

– Ý, mấy anh được phép nấu nướng trong phòng hả? Thảo hỏi.

– Tụi anh làm gì có được cái phép thơm tho đó, vẫn phải làm lén Thảo ơi. Không như em, muốn nấu lúc nào thì nấu, muốn nướng lúc nào thì nướng. Nướng giấc trưa, giấc sáng, giấc chiều… nên hơi tròn tròn là phải!

– Á, anh đừng chọc Thảo, Thảo giận anh “bi chừ…” Thảo nũng nịu đánh nhẹ vào vai Thắng!

– Nếu không muốn anh chọc thì hôm nào ra phố, em phải cho tụi anh thưởng thức tài nghệ nấu bếp của em nghen?

– Ấy, cái mục đó coi bộ kẹt dữ à nha. Ba má em khó tánh lắm, không mời anh về nhà được “mô.”

– Thiệt vậy sao? Thôi, phần tao kể như có kỳ đà cản mũi rồi Tần. Mầy hãy lo thân phận của mầy đi là vừa.

Tần quay sang Hiền, hỏi tới:

– Ba má em dễ tánh phải không Hiền? Ừ đại đi cho anh mừng!

Hạnh nói chữa:

– Chỉ có ba má em là dễ thôi. Mà không dễ cũng không được phải không anh?

Hạnh mơn man ngả đầu vào vai Ðức. Chàng đang nhai nhóp nhép cũng phải gật gù:

– Ừa…

Trong bọn chỉ có cặp Thúy và Thành là ít nói. Khác với bạn, Thúy thích suy tư nhiều hơn là phát biểu. Mặc dù hoàn toàn do hoàn cảnh đẩy đưa, nàng bỗng dưng thấy mình gần gũi với Thành hơn.

Cũng như Thúy, Thành thường hay để thì giờ chiêm nghiệm cuộc đời này. Chàng thấy, đôi lúc, cuộc đời chàng chẳng khác nào như một giấc mơ. Mới đó mà chàng đã lưu lạc xứ người những hơn… mấy tháng! Chỉ mấy tháng thôi mà chàng tưởng chừng dài như cả năm, vì thời gian huấn nhục rất là khó khổ. Chúng bạn và chàng đã mong ngóng ngày từng ngày trôi qua. Cho đến sáng nay, cũng tại thao diễn trường sỏi đá này, chàng được nghe những lời huấn dụ hào hùng của vị tân Tư lệnh Hải quân. Những giáo lý và lập luận của thánh hiền còn được truyền lại qua lời tuyên ngôn đó. Và giây phút tuyên thệ, đồng thanh hò hét và đồng vất mũ lên trời làm biểu hiệu, ôi nó sung sướng hãnh diện, khoan khoái làm sao. Một trăm ba mươi sáu mạng nhập cuộc. Một rớt giai đoạn đầu ra trường ngay, móc lên vai cánh gà trung sĩ. Một bỏ mạng sa trường trên vùng cát nóng. Giờ, còn lại một trăm ba mươi bốn tên được chính thức gắn alpha. Cuộc đời của một sinh viên sĩ quan đã và đang thực sự bắt đầu… Thành lõm bõm nghe Tần nói:

– Ê, tụi mình phải thanh toán ba cái ngữ này lẹ lẹ lên, đặng còn đi bal nhảy nhót với người ta chớ! Có nghe tiếng trống nhạc xập xình đã trổi lên không?

Thắng không đồng ý:

– Ối, ba cái nhạc chết thâu băng cassette hát lại đó mầy ơi. Chưa tới màn nhạc sống…

Nghe nhắc tới nhạc, mặt mày mấy cô gái như sáng lên. Mục đích vào đây chỉ có bấy nhiêu đó. Thành biết rõ hai bạn mình, Tần và Thắng, đứa nào cũng đang náo nức cho lần ra quân đầu đời. Hổm rày bận tập dợt liên miên, nhưng chỉ được ôm “đào giả,” những “partner đàn ông” do mấy “vũ sư của khóa” như Ðức chẳng hạn, đóng vai. Ôm đào thiệt chắc phải có cái cảm giác gì khác lạ, Thành nghĩ vậy. Tuy biết chắc chắn mình không phải là tay ghiền, nhưng chàng cũng đã học sơ qua đủ hết mọi bài bản cho có điệu nghệ với người ta. Nào là paso, tango, rumba, chachacha, bebop, slow…, đủ cả. Có lẽ chàng sẽ chọn nhảy rời theo kiểu chachacha mà thôi. Vì cho dù có trật bước đi nữa thì cũng không đến nỗi đụng chạm hay đạp chân ai. Trong khi Tần và Thắng, chàng biết, hai đứa này đã nhứt quyết phải đem vòng tay của mình ra ôm hết… con gái Nha Trang. Bằng những điệu slow, tango, boston mùi mẫn… Chàng lại nghe Thắng thủ thỉ với người tình riêng:

– Anh mới học nhảy mấy tuần nay thôi. Nếu có gì trục trặc, Thảo nhớ là phải dìu anh đi nghen. Ðừng để anh té lăn cù ra sàn nhảy mà tên “vũ phu,” ý quên, “vũ sư” Ðức… cống của anh rủa thầm.

Hạnh phân bua:

– Tưởng mấy anh học với ai, ai dè học với chàng thì giữa tụi em và các anh phải nói là chỗ đồng môn. Không ai ăn hiếp ai đâu mà sợ. Nhưng, cũng đừng vì vậy mà đi “ăn gian” nghen.

Thì ra mấy cô nàng đã biết cái tẩy của những tay dìu đào lả lướt như nước chảy hoa trôi, Thắng nghĩ. Ðối với chàng, khỏi cần sử dụng ngón đòn slow, boston làm chi. Chỉ cần mỗi cái điệu paso xoay đào trở lui hơi nhanh chân một chút là cánh tay chàng sẽ áp chặt vào đôi gò bồng đảo của em rồi. Giả hay thiệt, bảo đảm, biết liền. Dợt hoài có bao nhiêu đó mà bảo không “ăn gian” sao được. Thắng cười cười:

– Ý da, đúng là gà đẻ gà cục tác. Chỉ sợ đến lúc có ai đó muốn người ta ăn gian mà người ta không thèm ăn gian thì mới phiền dữ đa!

Thảo giẫy nẩy:

– Thôi đi, anh Thắng lại méo mó nghề nghiệp nữa rồi.

Thắng giả lả:

– Chớ bộ em thiệt không muốn anh ăn gian hay sao? Mà nếu em càng không muốn thì anh lại càng ăn gian nhiều hơn đó. Hì hì hì…

Thảo nguýt yêu Thắng một cái dài thòng, sắc lẻm. Con mắt có đuôi. Nhưng, bỗng nhiên, Thắng có ý so sánh Thảo với Kim, người em gái hậu phương của chàng ở cư xá Lữ Gia, Sài Gòn. Ngày nào chàng xuống tàu, bóng Kim đứng trên bờ tiễn người tình, nước mắt như mưa. À, có lẽ cái số của chàng hay sao không biết, Thảo trông giống giống Kim ở vóc dáng bề ngoài, nghĩa là hơi có da có thịt một chút. Tuy nhiên, Kim có nước da trắng như trứng gà bóc và giọng nói thanh tao hơn Thảo nhiều. Gái miền biển có nước da mặn mòi vì gió muối là chuyện đương nhiên, nhưng còn giọng nói hơi khàn khàn, đục đục là bởi do đâu mà có? Rõ ràng, chàng không cách chi hiểu được! Thêm một điểm trùng hợp nữa là Thảo cũng hay làm nũng như Kim. Ngoài miệng nói giận hờn leo lẻo chớ trong bụng thì thích lắm. Thắng rất mong Thảo cũng khoái cái tính hay đùa giai của mình như Kim. Hóa ra chuyện nồi nào úp vung nấy không phải là không có. Tánh của Thắng như vậy thì phải đi đôi với Thảo, với Kim thôi. Thắng vói lấy lon bia mới khui tiếp, nốc một ngụm đầy, đưa hơi:

– Ê, tụi mầy làm vô khá khá đi, để tụi mình còn thanh toán ba cái ngữ này vô thùng rác nữa chớ. Nãy giờ coi bộ mấy cô ngồi đây sốt ruột lắm rồi đó nha. Phải vậy không… cưng.

Ðức chêm vào:

– Chỉ có mầy là thằng chậm lụt thôi. Ai người ta cũng đã “cạn tàu ráo máng,” sắp sửa nhất quyết đứng dậy vùng lên mà mầy bày đặt đi khui lon mới. Thôi, một mình mầy làm đại một trăm phần trăm đi rồi đi.

Thắng chụp mấy lon bia trên bàn lắc từng cái một, ré lên:

– Ê, thằng Tần ăn gian mậy, lon của nó còn nguyên xi đây nè. Làm vô mầy, tao với mầy làm một cú thiệt đẹp coi nào.

Biết tửu lượng của mình không ở mức thượng thừa như Thắng, Tần chối phăng:

– Nè, rượu bất khả ép nghen mậy. Mầy hãy lo phần mầy đi, cứ để tao phá mồi nhâm nhi lai rai có được không? Mầy làm quá sợ lát nữa tao chỉ có nước bò với lết chớ chẳng làm sao nhảy với nhót được! Mà này, có cô nào dám cụng với tôi không? La ve cụng với nước ngọt cũng không sao mà? Ðây, một trăm phần trăm với Hiền, với Thúy, với Thảo. Với chị Hạnh nữa, lẹ lẹ lên đặng còn lo thu dọn chiến trường.

Chỉ có Hiền và Thúy hưởng ứng, nhưng ai nấy chỉ cạn ly độ chừng mười phần trăm thôi. Ðúng là “nữ liếm như miêu.” Ðột nhiên, Ðức đứng phắt dậy lên tiếng:

– Thôi để tao lo dọn dẹp ba cái chiến lợi phẩm này cái đã. Tụi mầy ngồi đó nói riết biết bao giờ mới xong. Hổng chừng bị mọc gốc mọc rễ ở cái bàn này luôn!

Hạnh đứng dậy giúp Ðức một tay. Chẳng có gì khó nhọc hết, chỉ cần gom những dĩa nhựa, dao nĩa nhựa, lon nhôm, tàn thuốc, khăn ăn… bỏ vào bịch ny-lông đựng rác để cạnh bàn là xong. Thành chụp vội gói thuốc Pall-Mall bỏ vào túi, la lên chói lói:

– Ê, chậm chậm một chút mậy, đừng vứt mấy thứ này vô thùng rác mà tổn thọ nghen.

Tần cũng chụp lên gói Cool của mình và nói thêm:

– Cốt thằng Thành trên thuốc dưới nhựa, mầy phải để cho nó thiếu môi em nên anh đành hút thuốc, nhả khói mơ trên vạn nẻo đường đời thì nó mới chịu…

Ở đầu dãy đằng kia, nhiều khóa sinh và quan khách mặc áo dài, jupe ngắn đủ màu đủ kiểu, đã rục rịch di tản vào hội trường. Nhảy nhót đi trước? Lại muốn dành chỗ tốt? Dãy bàn ghế kê sát sàn nhảy? Gì chớ chuyện này đối với bọn Thành, Tần, Thắng và Ðức không cho là quan trọng. Mới học nhảy thì nên ngồi phía sau. Khi nào đúng bài bản của mình, slow, tango, chachacha… thì chịu khó vẹt bàn ghế đưa đào chầm chậm tiến ra mục tiêu cũng chẳng hề gì. Càng đông người nhảy trước càng hay. Càng đỡ ngượng. Cho có bài có bản với người ta chớ nào phải là những tay đi biểu diễn. Lòng dặn lòng như vậy mà Tần vẫn cứ thấy hồi hộp, không yên.

Sau khi dọn dẹp sạch sẽ, cả bọn vươn vai cho dãn gân cốt rồi nối đuôi theo bạn bè phía trước. Thẳng tiến theo hàng bàng cao ngọn, to lá bên vệ đường. Chỉ có Thắng và Thảo bắt chước đôi nhân tình đã bao lần thề non hẹn biển, Ðức và Hạnh, cùng nhau cặp kè sóng bước, quàng tay ôm lưng người… dưng khác họ. Thành và Thúy đi rời nhau, vì có lẽ mỗi người đang theo đuổi một nỗi niềm riêng, một suy tư riêng. Tần và Hiền đi sau cùng. Chàng cũng muốn kề vai, bỏ tay âu yếm ôm eo ếch người tình lắm, nhưng cảm thấy sao còn… mới quá. Thôi thì đành tay tìm tay, dung dăng dung dẻ. Một cơn gió thoảng qua, vài chiếc lá bàng rơi là đà mặt đất hay đánh soạt xuống chân.

Hội trường hôm nay có một cảnh trí khác thường, trông thật huy hoàng rực rỡ. Thật là mát mắt cho một đêm dạ vũ gắn alpha. Cái kết quả mỹ mãn của các tân khóa sinh trong ban trang trí, đã bỏ công sơn phết, treo đèn kết hoa suốt cả tuần nay. Vừa bước vô cửa phòng, trước mặt mọi người là một bức bình phong thật lớn, đầy màu sắc, chiếm gần hết bức tường. Trên đó, “họa sĩ nhà nghề” Huỳnh Ðịnh Công đã vẽ thật ngoạn mục một con hải sư đang đi trên sóng. Như một con lân biển thì đúng hơn, nhưng vẫn là một sáng tác có một không hai. Bên dưới, dàn nhạc sinh viên sĩ quan với đầy đủ nhạc cụ tối tân được bày ra, ngay hàng thẳng lối. Bộ trống hiệu Olympia còn mới tinh khôi, lớp da bịt chưa có nhiều dấu dùi. Cặp loa nhiều tầng, nhiều ngăn được đặt xéo hai bên góc. Dàn điện bốn năm cây, nhỏ có lớn có…

Ðèn đuốc sáng trưng. Thật đông người và tiếng nói cười ồn ào hơn cái chợ. Bọn đồ đệ của Ðức đã tìm được một chỗ ngồi thật khiêm nhường, thiếu điều… sát bên cửa ra vào. Cho bỏ tật không chịu học câu: nhảy đầm đi trước… Ðám bạn của Hạnh ngóng cổ nhìn vào, ngó dáo dác tìm người quen. Bạn cùng xóm cùng trường hay bà con xa gần cũng nên.

Bỗng có tiếng người xướng ngôn viên trên máy phóng thanh:

– Một, hai, ba… Yêu cầu các bạn trong ban nhạc lên sân khấu… Yêu cầu các bạn trong ban nhạc lên sâu khấu có việc cần…

Trong phút chốc, năm bảy bộ tiểu lễ lót tót vào vị trí. Người này tay đàn, người kia chân trống, kẻ nọ cầm kèn saxo… Nhưng chẳng thấy một bóng hồng nào hết? Lạ chưa? Có lẽ chưa đến lúc phải cần ca sĩ! Giọng người xướng ngôn viên lại oang oang trên máy:

– Trân trọng kính mời chỉ huy trưởng khai mạc buổi dạ vũ…

Ðèn tắt phụt. Chỉ còn mờ ảo những đốm sáng lung linh phản chiếu từ trái cầu treo trên giữa trần. Quay chậm chậm theo một nhịp độ đều đặn. Nhạc trổi lên theo điệu paso. Bản Bạch Ðằng Giang, đại hòa tấu. Ðây Bạch Ðằng Giang sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng Nam Bắc Trung. Trên trời xanh … Thì ra không cần diễn văn diễn từ gì hết cho các cuộc ăn chơi đàng điếm. Bóng chỉ huy trưởng thấp thoáng trong quân phục trắng cùng một thiếu phụ trẻ đẹp, nhưng không hẳn là bà chỉ huy trưởng. Vài ba cặp nữa cùng bước ra. Có cặp, cả đào lẫn kép, đều mặc toàn đồ civil .

Tần thấy nôn nao trong lòng, không biết phải đến giây phút nào mới gọi là… đúng thời, đúng lúc. Cho một trinh nguyên cần khai phá mà chàng đã ôm ấp từ lâu. Ô kìa, đông quá rồi, mình phải làm gan đi chớ. Tần nhìn lại Thắng, nháy mắt ra hiệu: mời đào đi, chờ đợi gì nữa! Thắng cười cười như thầm khuyến khích bạn. Không thể dằn lâu hơn được, Tần đứng lên, lấy hết can đảm nghiêng mình như một dũng sĩ si tình:

– Mời… Hiền.

Biết chắc là cô em sẽ không hề từ chối, vậy mà Tần vẫn còn run. Con tim khờ khạo còn đánh lô tô, bình bình trong lồng ngực. Một đắc thắng vẻ vang cho Tần khi Hiền chẳng nói chẳng rằng, khoan thai yểu điệu đứng lên. Dễ dàng như vậy sao? Tần cầm những ngón tay mềm mại của Hiền khẽ kéo đi. Ra đến sàn nhảy chật ních cả người, đang xẹt qua xẹt lại như những cánh bướm lượn bay trước gió, chàng luống cuống quên bẵng đi không biết tay nào phải đặt vào hông Hiền. May quá, có cô em sành điệu, cứ làm theo nàng như ma đưa đường quỉ dẫn lối thôi! Qua được phút giáo đầu. Sàng qua sàng lại vài bước lấy trớn, chàng liền mở rộng vòng đai về phía bên trái. Một phát én liệng trời xuân. Miệng đếm thầm một, hai… ba. Xui quá, tiếng… rầm thay cho tiếng… ba. Con nhà ai mà hung dữ, đưa đào đi “tợn” thế! Lại phải đi lui, tiếp tục chéo sang trái theo cạnh hình tam giác. Lại phải một, hai… rầm. Cái sàn nhảy này coi bộ thiếu thước tấc? Hay là chị em ta giò dài, trường túc bất tri lao đây? Nhảy đầm chớ đâu phải chạy đua nước rút!

Qua hai lần ăn-pan thiếu điều muốn xiểng niểng, gãy gánh giữa đường, đào văng một nơi, kép bay một ngả, Tần có kinh nghiệm ngay. Càng đụng lại càng hay. Vai kề vai, vế cọ vế, mông chà mông thì sợ cái nỗi gì. Mình là đàn ông con trai mà, chỉ có lời chớ đâu có lỗ. Chàng phải đổi chiến thuật. Thay gì để tay mình hờ hững bên hông Hiền, bây giờ chàng phải giữ chặt hơn, ôm sát vào người hơn. Bàn tay kia cũng vậy, không thể chỉ mở ra hờ hững cho Hiền gá vào, mà chàng phải nắm bắt, buông đẩy, bóp nắn. Không ngán mặt nào hết, kể cả chỉ huy trưởng, chỉ huy phó… Bỗng nhiên,… rầm, và có giọng bỡn cợt:

– Ê, Tần, dìu đào mầy đi chỗ khác chơi, chỗ này chỗ của tao với Thảo mà, ha ha ha…

Tần đưa đít húc vào mông Thắng một cái thiệt mạnh trả đũa, cho hắn biết tay, nhưng Thắng cười to hơn:

– Ha ha ha…, cái mửng đó tao rành rồi… Mầy có ngón nào hay hơn không thì biểu diễn tao coi. Nè, mầy coi vòng tay… ôm hết thiên hạ của tao nè…

Thắng còn định nói thêm điều gì nữa với Tần, nhưng đã bị Thảo lòn tay bụm họng lại thành… ú, ớ. Tần cười theo, há há há… Mải lo vui với bạn, chàng cũng bị Hiền kéo giựt lại:

– Coi chừng đụng người ta kìa, anh Tần!

Và rồi… rầm, đụng thiệt. Hiền ngã chúi vào người Tần, chàng lính quính ôm trọn người nàng vào lòng. Giữ lại. Xiết nhẹ. Mặc cho gót giày nàng dẫm lên chân chàng. Nàng hôn vào má chàng đánh chụt. Tần ngây người, cơ hồ như muốn quỵ xuống, không sao cất bước nổi nữa. Cố đứng đó như trời trồng giữ chặt người tình trong tay… Một phút trôi qua… Thời may, bản nhạc đi vào đoạn cuối. Thoát nạn. Nhưng khác với Tần, Hiền có vẻ không mấy bằng lòng với cái kết cuộc như vậy. Nàng đang tiếc thầm những cảm giác tuy ngắn ngủi nhưng không kém phần say sưa đó…

Ôi, với Tần, bản nhạc đầu đời nghe sao mà âm vang từng cung bậc. Chàng lẳng lặng dìu Hiền trở về chỗ ngồi, lòng hân hoan nghĩ đến ngày mai. Một ngày mai tươi sáng trong thành phố Nha Trang xa lạ nhưng rồi sẽ mến yêu. Với bóng dáng Hiền và chàng cùng in đậm nét trên khắp các vỉa hè. Tần mỉm cười, tưởng mình như đang sống trong mơ…

Một trời một biển

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 16 Nov 2025

Bạt
Lê Bảo Trân

Từ Winston-Salem, North Carolina, Nguyễn Tấn Hưng gọi, ngỏ ý muốn tôi góp “vài lời” cho tác phẩm Một Trời Một Biển của anh sắp sửa trình làng.

Tôi nhận!

Không phải vì tác giả cùng quê cùng xứ hay cùng nhóm cùng phe (tôi vốn dĩ vô duyên với những cái lẩm cẩm ấy), nhưng vì tình chiến hữu khi xưa. Nguyễn Tấn Hưng chọn tôi chắc cũng không ngoài ý đó!

Nhưng lo!

Viết gì đây? Viết sao cho tròn, vừa trung thực, vừa đẹp lòng bạn, vừa yên lòng mình mà không bị độc giả cau mày vì:

Xun xoe áo thụng hai hàng
 Hia mão rộn ràng đâu mặt vái nhau.

Cái khó là đó!

Ít hôm sau, tôi nhận được Một Trời Một Biển, kèm theo bức tâm thư của Nguyễn Tấn Hưng: “Ðây là bản thảo Một Trời Một Biển để nhờ anh viết cho cái Bạt. Như anh cũng từng đọc qua, truyện dài của Nguyễn Tấn Hưng là một chuỗi truyện ngắn, vẫn tiếp tục con đường đó… Cũng dựa vào sự thật, nhưng không nặng tính chất tự truyện nữa. Ðâu anh đọc thử xem sao?”

Tôi bắt đầu đọc. Ðọc thật kỹ. Suy ngẫm từng ý, từng câu. Tôi muốn hiểu thêm về tác giả. Vì, thật tình tôi biết Nguyễn Tấn Hưng chưa lâu.

Cùng là lính, nhưng anh bơi dưới nước, tôi lội trên bờ! Cùng quê xứ dừa, nhưng dòng Tiền Giang đôi bờ chia cách! Anh đi từ trường làng sang trường quận, rồi tốt nghiệp “lò” Nguyễn Ðình Chiểu, một trường trung học công lập nổi tiếng ở Mỹ Tho. Tôi vừa xong lớp vỡ lòng đã khăn gói lìa quê lên Sài Gòn, mỗi năm chỉ được về thăm nhà vào hai dịp Hè và Tết.

Do đó, tình hoài hương của anh chắc phải nặng hơn tôi.

Một sáng Chúa nhựt…

Ðiện thoại reo. Bên kia đầu dây, Nguyễn Tấn Hưng lên tiếng. Giọng anh thật thà, đơn giản, chắc nịch như hột lúa miền châu thổ Cửu Long Giang.

Tôi quen Nguyễn Tấn Hưng từ đó.

Thỉnh thoảng, anh gọi… Càng ngày, khoảng cách địa dư giữa chúng tôi như gần lại. Tôi mến anh, không phải vì thông lệ hẹp hòi “cùng quê, cùng cảnh,” nhưng vì cái mộc mạc đó.

Tôi đã đọc hầu hết cái tác phẩm của Nguyễn Tấn Hưng. Anh viết dễ dàng như kể chuyện, không chải chuốt, gọt mài. Tôi đồng ý với Hồ Trường An là “Nguyễn Tấn Hưng viết tự truyện chớ không phải tiểu thuyết.” Người đọc không bận tâm, thắc mắc vì cú pháp hay tình tiết. Xong là hết!

Không biết do ngẫu trùng hay chủ định mà hầu như tác phẩm nào của Nguyễn Tấn Hưng cũng đều mang… số 1. Như: Một Chuyến Ra Khơi, Một Ðời Ðể Học, Một Thuở Làm “Trùm”, Một Cảnh Hai Quê, Một Kỷ Niệm Ðẹp, Một Lần Xuống Núi, Một Nỗi Buồn Riêng, Một Thoáng Trong Mơ và giờ đây thì… Một Trời Một Biển. Lại sẽ có Một Giấc Mơ Tiên, Một Phen Lận Ðận …

Có lần tôi tếu:

– Hưng nè, cú pháp của anh độc đáo quá, không ai bắt chước được. Chi bằng tác phẩm tới lấy tên Một Mình Một Chiếu cho… thảnh thơi ngồi.

Hưng cười. Nụ cười xuề xòa, không câu nệ.

Ngoài văn xuôi, Nguyễn Tấn Hưng còn làm thơ viết nhạc. Nhưng theo tôi, cảm tình của độc giả dành cho anh là truyện ký. Nguyễn Tấn Hưng vừa cùng Phan thị Hồng Lan… cho ra Một Dòng Ca Dao, Câu Hò, Câu Ðố Miền Nam, một đóng góp khá phong phú trong lãnh vực sưu tầm. Hồng Lan nữ sĩ đã có những nét riêng ngay từ những sáng tác thơ văn đầu tay.

Ðọc xong Một Trời Một Biển, tôi có cảm giác lâng lâng như ngày nào còn là Sinh viên Sĩ quan Thủ Ðức, bồng bềnh trên chiếc Gascogne, rập rềnh theo sóng nước đi từ Nam ra Bắc.

Màu xanh trùng dương, bầu trời bát ngát, gió khơi lồng lộng, ngàn cánh hải âu, lững lờ cá lội… Tàu qua Nha Trang, Tuy Hòa, Qui Nhơn, Thanh Hóa… Từ khơi nhìn vào thấy Hòn Vọng Phu buồn hiu hắt, dãy Trường Sơn trùng điệp, bãi cát trắng phau phau. Rồi, đêm nằm trên bãi Ðồ Sơn, nghe tiếng thông reo, tiếng sóng vỗ, nhìn đóm mắt hỏa châu, ngắm đỉnh Ba Vì, ngọn Yên Tử ẩn chìm sau làn mây xám, lòng bỗng say mê mộng hải hồ.

Với biển cả anh là thủy thủ
Với lòng nàng anh là hoàng tử

…

Với Một Trời Một Biển, Nguyễn Tấn Hưng đã rẽ sang lối ngoặt mới. Anh đã chọn cho mình một ngõ đi khác, gần gũi với tiểu thuyết trữ tình hơn.

Một chút mộng mơ:

Trời hôm nay mưa phùn bay lất phất. Lạnh lạnh, cái lạnh của mưa gió sụt sùi. Không gian như mờ đục hơi sương. Những hạt mưa bụi nhỏ li ti tuy không thấy rõ nhưng đã làm ẩm ướt khắp mọi nơi. Trên mặt nhựa đường đen nhánh, cũng như trên thân cây nâu sậm và lá cành thẫm xanh. Những hạt mưa đã từng làm những chiếc áo mưa thêm hồng và những chiếc dù thêm thắm. Cho những đôi tình nhân suốt đời thèm lang thang trên hè phố, sát vào nhau như muốn chuyền hơi ấm. Những hạt mưa đã từng làm khung trời thêm phần ảm đạm, thê lương … (trang 41).

Một trời lãng mạn:

Hiền bỗng dưng mềm nhũn trong tay Tần, nàng không còn mảy may một sức kháng cự nào trước cơn mê vũ bão, sảng khoái của yêu đương. Nàng để mặc cho chàng bồng nàng gọn ghẽ trên đôi tay rắn chắc, đầu nàng áp vào ngực chàng bên cạnh trái tim hừng hực bốc cao qua từng nhịp thở. Tần đưa chân khép trái cửa và đưa nàng vào phòng riêng gần như đã quen thuộc của hai đứa. Bóng đèn trái ớt cũng không làm căn phòng sáng hơn bên ngoài bao nhiêu. Chàng đặt nàng xuống giường, duỗi hai chân nàng thẳng ra, áp mình lên người nàng, cúi hôn… hai đầu lưỡi quyện vào nhau, quấn quít. Hai mắt nàng nhắm nghiền trong cảm giác đê mê, say sưa hưởng thụ…
Từng khuy áo bật nút và, theo bản năng, bàn tay chàng ve vãn bờ vai trần, mơn mởn thịt da. Hương con gái ngào ngạt tỏa ra từ đôi ngực đào tơ, lồ lộ, không mặc áo sú-cheng. Nàng bất giác rùng mình, nổi da gà, khi những ngón tay chàng chạm vào đầu vú, phớt qua phớt lại… rồi nắn bóp, cương lên, săn gọn trong lòng bàn tay chàng 
… (trang 176,177).

(Không biết nữ sĩ Hồng Lan nghĩ sao về đức lang quân khi đọc đến đoạn này?).

Một Trời Một Biển có thể là quyển “lưu niệm” gối đầu giường của những cựu Sĩ quan Hải Quân xuất thân từ lò “luyện thép” miền Thùy Dương cát trắng.

Nguyễn Tấn Hưng “thật” và “hăng” quá! “Thật” từ ngôn từ, tư tưởng, đến bút pháp, lời văn. “Thật” đến độ quên giữ ý, giữ lề, nên dễ bị “ách giữa đàng…” Người miền Nam có câu: “Trống rỗng như cái ống tre.” Anh là vậy đó!

Xin nghe anh “nói thật” về cái nghèo của gia đình mình:

Ở nhà chú Hai Bộ không được thoải mái bằng nhà ông Bảy. Ði đứng phải có giờ giấc. Học bài cũng không được học khuya, sợ hai thằng nhỏ giật mình. Ngay cả miếng đất bằng bụm tay phía sau nhà cũng không được tự do trồng trọt. Chỉ được đám rau răm. Mặc dù bị mấy cây gòn che hết nắng mà đám rau răm cũng mọc xanh rì như đám cỏ. Chị em Hùng nhờ vào đám rau này rất nhiều. Mấy lúc kẹt tiền, chị Cúc ba bốn bữa liên tiếp cho anh Tấn với Hùng ăn cơm với mỗi một món độc nhất “rau răm xắt nhuyễn thả vô nước tương.”
Gió đưa cây cải về trời, rau răm ở lại chịu mùi nước tương , tụi Hùng ngâm như vậy. Dũng Thanh Lâm kia “cá hấp, cá hấp hoài phải ngứa,” thì mình “rau răm, rau răm hoài phải cay.” Bởi vậy chị Cúc một lần đó đổi món ăn mới mà mỗi lần nhớ lại Hùng thấy nhói trong tim.

– Bữa nay có gì ăn không chị ba? Hay là bổn cũ soạn lại?

– Có nồi cá kho để trên bếp đó.

Anh Tấn và Hùng nghe nói có nồi cá kho trong bụng như mở cờ, hấp tấp dọn cơm. Ðến chừng dở nồi cá ra mới thấy hỡi ôi:

– Cá kiểu gì kỳ vậy chị Ba? Sao toàn là đầu mà không thấy phần đuôi!

– Của thiếm Hai cắt cho đó. Chị kho cho mấy em ăn đỡ.

Hùng nghẹn ngào nhìn anh Tấn, nhẹ nhàng đậy nấp vung lại.

– Chị Ba à, sao chị làm vậy? Tụi em thà chết đói…

– Chị thấy hai em ăn với nước tương hoài, chị không nỡ.


Rồi ba chị em nhìn nhau rơm rớm

…

 (trong Một Ðời Ðể Học, trang 22 và 23).

Ðọc đoạn này tôi rơi nước mắt. Vì, tôi cũng có người chị thương em như chị Cúc của Hùng…

Qua những bài “ý kiến” của Nguyễn Tấn Hưng thỉnh thoảng xuất hiện trên các báo địa phương, tôi nhận thấy anh “thật” đến độ có nhiều ý nhiều lời nếu đặt lên bàn mổ sẽ trở thành đề tài tranh cãi lớn.

Có lần anh tâm sự:

– Không biết sao dạo nầy thiên hạ thi nhau “dũa” mình tới tấp!

Tôi nghĩ vì anh còn nặng “NGHIỆP” (theo nghĩa nhà Phật)!

Khi biết được:

Kinh sử xác xơ chồng giấy lộn
Ðỉnh chung thấp thoáng bóng mây trôi

thì mọi chuyện trên đời đâu còn là những cái để bận tâm nữa?

Gốc Hải Quân, anh thừa hiểu ra khơi phải gặp sóng gió. Không sóng lưỡi búa cũng sóng bạc đầu. Cái khéo của thuyền trưởng là làm sao hoàn tất cuộc hải trình mà con tàu không thương tổn… Sóng gió là những bài học kinh nghiệm quí giá, giúp thuyền trưởng cẩn thận hơn, khôn khéo hơn, chu đáo hơn, và tế nhị hơn trong những chuyến về sau.

Madison, tháng năm, 1992

Lê Bảo Trân

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 16 Nov 2025

Phần 17 – Bóng tối và con chim sâu bên khung cửa tù.

 Một buổi sáng, tôi được chuyển từ trại giam Sông Mao về trại Thẩm Vấn Phan Thiết. Đoạn đường trên duới 60 cây số này, tôi đã đi không biết bao nhiêu lần, quen thuộc từng bờ cây ngọn cỏ, từng góc phố, mái tranh dọc đường, nhưng hôm nay, trên đoạn đường áp tải đó, tôi hoàn toàn xa lạ. Cỏ cũng lạ, cây cũng lạ, người cũng lạ và ánh nắng chan hòa trên đồng ruộng cũng lạ, nó có vẻ như vàng úa, trầm luân, địa ngục từ một góc a-tì nào đó rọi chiếu xuống trần gian. Tôi bần thần trong nỗi âu lo tuyệt vọng. Tôi thấy xứ sở mình như đã thay mặt trở lòng, thế giới quanh tôi như ngùn ngụt hận thù làm tôi chới với, hụt hẩng.

Súng và công an kềm hai bên hông, vòng đời tôi khóa chặt, nhưng hai mắt vẫn còn nhìn được cảnh cũ đang trở thành ngăn cách, lạnh lùng và vô hồn như tôi đang ở một thế giới khác, chứ không hiện diện trên quê hương thân yêu.

Xe qua Lương Sơn, Long Thạnh, Tà Dôn, Phú Long, sở Muối và ngôi trường Phan Bội Châu của một thời đậm đà kỷ niệm. Cột cờ nhoi lên giữa hàng cây rũ một chéo cờ đỏ. Môt tốp khăn quàng đỏ tập hợp trong sân trường. Tôi rùng mình. Thế là hết! Chiếc xe nuốt khoảng đường dài Nguyễn Hoàng rồi Hải Thượng Lãn Ông, quẹo phải một đoạn ngắn trên đường Lương Ngọc Quyến, rồi ngừng trước sân trại Thẩm Vấn Phan Thiết.

Lần đầu tiên tôi vô trại Thẩm Vấn, và lần này VC đưa tôi vô. Tôi sinh ra và lớn lên ở Phan Thiết, nhưng mặc áo lính lang bạt ở phương xa. Tôi chỉ nghe nói về Trại Thẩm Vấn, nơi cơ quan an ninh thẩm vấn những tù binh VC bị bắt, mỗi phòng có một cái giường cho một người, mái tôn, trên trần leo lét một bóng đèn. Tù binh VC bị khai thác xong là giải đi nơi khác.

Buổi trưa nắng đổ lửa, khi bị tống vào phòng, tôi quờ quạng trong bóng đen dày đặc, không ánh sáng, mà cũng chẳng có cái giường nào. Chân tôi không di chuyển được, vì chỗ nào cũng đặc sít người nằm. Tên công an đẩy tôi vào và đóng sầm cửa lại, hắn bất chấp tôi đạp phải lên người ai. Tôi đứng gần như bất động để chờ con mắt quen với bóng tối.

Có ai đó gọi tên tôi. Tôi không buồn trả lời. Có ai đó bảo tôi cởi hết quần áo ra cho đỡ nóng. Tôi cũng không buồn trả lời. Mùi hôi của thùng cầu và hơi người nồng nặc. Mái tôn đổ lửa xuống người tôi. Quần áo tôi ướt đẫm dần. Tôi cắn răng chịu đựng và chờ đợi những khốn nhục kế tiếp, khốn nhục kiểu gì tôi không biết.

Đến khi mắt tôi thấy hết được phòng giam, tôi bàng hoàng kinh ngạc: dưới chân tôi là những lớp người nằm chen sít nhau có đến gần 30 người, tất cả đều trần truồng như nhộng, mỗi người có một mảnh giấy hay cái quạt che “chim”. Lúc này tôi mới hiểu tại sao có người bảo tôi cởi hết quần áo ra cho đỡ nóng. Và lúc này tôi không thoát y cũng không được. Quần áo tôi đã ướt nhẹp, và tôi cởi hết quần áo, ở truồng như anh em.

Tôi vào sau, bị nhét vào ngồi ôm xô cầu. Tôi túm bộ đồ vắt mồ hôi vô xô cầu. Những giọt mồ hôi đổ xuống như áo quần vừa bị ướt duới cơn mưa lớn. Mấy ngày sau, người tôi khô khốc, da không còn một giọt mồ hôi để ra. Tôi quen dần cái không khí hôi hám, ngột ngạt trong phòng và đã phải ngủ ngồi ba hôm, khi có người chuyển trại, tôi mới có một chỗ đặt lưng.

Theo lệ phòng giam, người mới vào sau thì phải ôm xô cầu, nghĩa là ngủ ngay cái góc phòng giam, chỗ để cái xô cho tù đại và tiểu tiện. Người ôm xô bị anh em tiểu văng lên cổ, lên mặt là chuyện thường. Mỗi ngày công an coi tù cho đổ cầu một lần, song tai nạn xô cầu tràn ra sàn xi măng thỉnh thoảng vẫn xẩy ra, nhất là những lúc có người bị kiết lỵ hay tiêu chảy phải dùng xô cầu suốt đêm.

Tôi ở được hai tuần, có được một chỗ chen lưng cách xô cầu một mét. Một buổi tối, công an bắt một nhóm vượt biển ở đâu đó, tống vào phòng tôi thêm ba người, trong đó có hai người bị còng chung với nhau, được anh em sắp nằm chung một chỗ. Không biết VC điều tra ra sao mà cả hai tuần sau hai anh tù vẫn còn bị còng chung. Thời gian hai tuần đủ “thâm niên” cho hai anh xích xa dần xô cầu lên gần chỗ tôi nằm. Chả biết sao anh lại biết tôi. Một buổi trưa anh chợt hỏi:

– Sóng Thần phải không? Bị bao giờ?

– Tôi bị mấy tháng rồi! Vừa mới chuyển về đây hơn một tháng. Mà sao anh biết tôi?

– Nghe mấy đứa nhỏ nó nói!

– Còn anh và anh bạn tại sao bị còng chung?

– Hai thằng tôi là giáo sư anh văn ở Sài Gòn. Dạy anh văn, trốn đi Mỹ là CIA! Họ bảo thế, và còng luôn!

Thường thì ban ngày hai anh bị còng, khi bị gọi thẩm cung, hai anh bị dắt đi một lượt, ban đêm khi đi ngủ thì công an cho mở còng ra. Một lần, tên công an giữ chìa khóa còng đi đá banh làm mất cha xâu chìa khóa, thế là hai anh bạn tù của tôi bị còng liên tục mấy hôm. Khổ nỗi trong lúc hai anh bị còng sắt còng dính chùm nhau lại là lúc một trong hai anh bị kiết ly, đi cầu suốt đêm. Mỗi lần đi là ông kiết lỵ lôi ông kia dẫm lên người anh em phóng tới xô cầu, làm khổ cả phòng. Cuối cùng cả phòng la làng, và công an đã phải cưa còng cho hai anh.

Cái phòng giam quái đản và súc vật này có lẽ ít thấy nơi nào trên trái đất. VC có vẻ hả hê khi biến con người thành súc vật. Ban đêm có những người tù mới vào ngộp thở chịu không nổi đã kêu gào xin được bắn bỏ. “Cán bộ ơi! Giết tôi đi! Cán bộ ơi! Cho tôi một viên đạn cho rồi! Trời ơi!…” Tiếng kêu gào vọng ra tận bên ngoài như một thứ âm thanh ma quỷ vọng từ vùng địa ngục. Thế nhưng, sau một thời gian bị giam, đâu cũng vào đấy. Sự thích ứng và chịu đựng của người tù quả là ghê gớm, phi thường.

Tù được nuôi ngày hai bữa bo bo hay khoai mì, hai bữa nước uống cung cấp bằng cái xô nước dơ bẩn, đục ngầu mà đôi lúc bọn nhà bếp dùng rữa cá nên nước uống tanh không chịu được. Sau cơm nước bữa trưa, các phòng giam bị khóa kín, sức nóng của mái tôn hắt xuống, hơi người theo đó hắt ra, và cùng với cái xô cầu bốc mùi thường trực đã làm cho phòng giam tuôn ra một thứ mùi hôi kinh khiếp.

Giữa cái buổi trưa hè đổ lửa đó, trung úy công an Vũ Xuân Nghĩa vừa đến làm trưởng trại 2 ngày, đi “tham quan” các phòng giam cùng với tên công an cầm theo một chùm chìa khóa. Khi cửa phòng giam vừa hé mở, mùi xú uế bất ngờ ập vào người Vũ Xuân Nghĩa, ông ta tháo lui như thể bị một thứ hàn âm độc chưởng của một cao thủ bà bà nào đó tập kích bất ngờ. Ông ta nhăn mặt hỏi tên công an:

– Tại sao lại hôi hám thế này?

– Báo cáo đồng chí…

– Đồng chí cho tôi xem phòng giam, mở cửa phòng ra!

Mùi hôi trong phòng giam đã dịu bớt khi không khí ngoài hành lang theo gió lùa vào. Vũ Xuân Nghĩa đứng trước cửaphòng giam, ra lệnh bật đèn lên, và ông ta trố mắt bất ngờ trước cảnh tượng trên 30 người tù trắng bệt nằm chen nhau như cá bị lột da trên nền xi măng không một chỗ chen chân trên mình tù trần trụi không một mảnh vải.

Bọn tù trơ mắt nhìn ra ngoài, nhìn Vũ Xuân Nghĩa và không màng che kín hạ bộ. Vũ Xuân Nghĩa dường như thấy mình bị xúc phạm trước thái độ để chim tỉnh bơ của đám tù ông ta lớn tiếng:

– Các anh lấy cái gì che của nợ các anh có được không nào!

Thế là những tờ báo, những cái quạt, những mảnh khăn được đưa ra để che cái phần không được nghiêm túc tí nào khi thủ trưởng trại giam “tham quan”.

Tôi bị giam trong phòng này khoảng được 6 tháng, thích ứng được với các điều kiện khốn cùng của phòng giam. Bên cạnh tôi là anh Nguyễn Mạnh Hùng và người bạn giáo sư Anh văn của anh. Chúng tôi ăn chung với nhau trong những bữa cơm tù, trong những lúc gia đình tiếp tế.

Trong phòng cũng có khá nhiều anh em tù gần như vô thừa nhận, vô gia đình, không người thăm nuôi, một phần do gia đình quá nghèo, một phần do gia đình tìm không ra, người bị bắt không được công an thông báo, cứ tình nghi là bắt, không cần xem xét, nhiều người bị bắt oan giam cầm cả năm không cần tra xét. Họ chịu đựng, cơ cực và cô đơn. Một thanh niên nằm đôi diện tôi khoảng 16,17 tuổi gì đó, bị bắt ở nhà ga Phan Thiết, giam cả 4 tháng trời mà không biết mình bị bắt vì tội gì. Bất ngờ buổi trưa, cậu ta được gọi lên phòng thẩm cung:

– Nguyễn Văn Bẩy!

– Dạ, có mặt!

– Theo tôi lên phòng làm việc!

Bẩy đứng dậy, bước ra khỏi phòng, trên mình không một mảnh vải, cứ để con chim tòn teng như đứa con nít. Tên công an quay lại, chợt thấy thằng tù theo chân mình ở truồng đi tỉnh bơ, hắn hét:

– Bộ anh muôn giỡn mặt? Anh muốn bôi bác cán bộ và nhà nước hả? Quần áo anh đâu?

– Thưa cán bộ, em bị bắt hơn bốn tháng nay, nhà không ai hay biết, không ai tiếp tế. Quần áo em xé đi cầu hết trơn rồi!

Tên công an như hiểu ra, đưa Bẩy quay lại phòng, hắn chỉ một anh tù có bộ quần áo gối đầu:

– Ê anh kia! Đứng dậy, đưa quần áo cho thằng Bẩy mượn! Mau lên!

Thế là Bẩy mặc bộ bà ba của người bạn tù để lên phòng làm việc. Tôi nhìn khắp phòng, thấy có ít ra là cả chục mạng “vô sản, trên răng dưới bác” như Bẩy, và dường như trong đáy cùng tuyệt vọng, ai cũng ngộ cái lẽ vô thường “sắc sắc không không” của cuộc đời, nên chẳng ai màng gì tới áo quần còn mất trên thân thể mình. Mà dường như cũng chỉ có cộng sản mới đẩy được con nguời tới cái cảnh này sau cuộc đổi đời cạn tàu ráo máng. Khi Bẩy về lại phòng, mặt mày buồn so. Trả lại bộ quần áo cho người bạn tù, Bẩy rề lại tôi tâm sự:

– Anh nghĩ coi, em ở Phú Hội. Buổi chiều theo xe lửa xuống Phan Thiết coi xi- nê, tối chờ xe lửa để về nhà. Công an đuổi bắt một nhóm vượt biên bị bể ở Thương Chánh hay Thanh Hải gì đó, họ chạy ào vào ga Phan Thiết, công an vây hai đầu ga và tó luôn em. Em thành thật khai báo là em không phải người Sài Gòn, em ở Phú Hội, em không dính gì tới chuyện vượt biên, nhưng họ vẫn không tin!

– Cán bộ hỏi cung bảo em phải làm gì?

– Họ bảo em về lại phòng giam, chừng nào nhận tội thì mới được thả. Họ bảo nhà nước cách mạng không bao giờ sai lầm, đảng không bao giờ sai lầm, công an bắt ai thì không bao giờ bắt lầm!

– Thế sao em không nhận cha nó tội xem sao. Còn không, em cứ bị giam hoài!

– Mình không có tội mà nhận tội thì biết đâu họ giam mình càng dữ nữa! Mà nếu họ có tha ra, nhưng với cái tội danh vượt biên hay phá rối trị an ghi đại vào giây phóng thích, về lại Phú Hội em sống sao nổi với mấy thằng công an, du kích xã?

Quả tình, nếu nằm trong hoàn cảnh của Bẩy, tôi vẫn bí không có lối ra. Tôi chợt hỏi Bẩy:

– Em có bà con cô bác gì ở Sài Gòn hay không?

– Sài Gòn thì em không có, nhưng em có bà cô ruột em ở Long Khánh! Anh hỏi vậy là sao?

– Bẩy! Cái này tùy em. Ý anh sắp nói có thể cho em một lối thoát, không thì cái kiểu này, em cứ ở truồng đi lên đi xuống hoài!

– Anh nói rõ cho em nghe coi!

– Em cứ nhận đại cái gì đó. Khi ra khỏi trại giam, em nhắn gia đình đem quần áo và ít tiền bạc xuống Phan Thiết, em bắt xe đò vô Long Khánh sống với người bà con, xé cha nó cái lệnh tha. Tuổi em còn nhỏ, giữ giấy cũ và làm ăn trong đó luôn. Bỏ quê hương này đi xa may ra mới có đường sống!

Một tuần sau, Bẩy ra khỏi nhà giam và biến đi như một cánh chim bay về một phương trời vô định. Ngày nhận lệnh tha, Bẩy ôm tôi từ giã và bước ra khỏi phòng với cái quần đùi tôi cho. Bọn tôi tiếp tục ở lại với những ngày tù ngục ở truồng.

Cái tuyệt vọng của những ngày tù nhiều lúc không thấm vào đâu với cái cồn cào của bao tử. Ngày thăm nuôi, bỏ bao là những ngày vàng son của đám tù có gia đình tiếp tế, và lại cũng là ngày đen tối của những anh em tù đứt liên lạc với gia đình.

Ngày thường, ai cũng đói như nhau, ngày thăm nuôi, kẻ no người đói, nó làm cho con người cách biệt bởi món ăn, thức uống, bởi những ngày thăm nuôi mà trong cảnh khốn cùng, ai cũng lo cho thân mình, ít ai ban phát chia đồng cho người khác. Phản ứng bởi cái đói nghiệt ngã và bản năng sinh tồn mỗi người một khác, song có những cái mà tôi nghĩ không ra.

Lệ thường, ngày thăm nuôi, vách phòng giam treo đầy những chuối, đường, bánh tét, bánh ngọt, thức ăn đủ thứ. Của ai treo trên tuờng gần người đó. Những người không được tiếp tế thèm thuồng nhìn những cục đường, những trái chuối, những miếng bánh của người bên cạnh. Tủi thân hay không thì không ai biết, nhưng chắc chắn ruột họ cồn cào theo bản năng tự nhiên của bao tử. Nhà đèn đột nhiên tắt điện, cả phòng giam bỗng tối đen, tiếng sột soạt trên tường, tiếng chửi thề la lối, và vài phút ngắn ngủi sau, khi đèn bật sáng, tất cả những thứ treo trên tường biến mất như một phép lạ.

– ĐM! Hai ký đường, một nải chuối và nửa đòn bánh tét bay mất! Thằng nào ăn, thằng nào lấy?

– ĐM! Mấy cái bánh ú và gói xôi của tao cũng biến như ma! Trời ơi, thằng nào chôm lẹ vậy?

Cả phòng lao nhau, chửi bới. Tôi và người bạn lặng lẽ nhìn nhau, gia tài ăn chung của bọn tôi cũng không còn một miếng gì trên tường. Theo lời yêu cầu của phòng trưởng, mọi người đứng dậy. Tang vật chẳng còn gì trừ vỏ chuối, lá bánh tét ném vương vãi xô cầu. Thủ phạm “xơi tái” gọn và nhanh thần sầu thức ăn anh em chẳng biết là ai. Họ chụp giựt và thanh toán lẹ như con ma. Tôi không thể tưởng tượng nổi họ có thể nhét vô bụng những thứ tam bành lục tặc đó trong vòng vài ba phút tắt đèn. Tôi không hiểu nổi!

Đối với tôi, khả năng chịu đựng sự khốn nhục, cực khổ còn hơn súc vật trong phòng tôi của những người tù đã là một điều phi thường, nhưng việc làm biến mất hàng loại những chuối, đường, bánh tét… trên tường chỉ vài phút là điều chỉ có các ảo thuật gia ma quỉ mới làm nổi. Mất đồ ăn nhưng tôi phục họ vô cùng. Tôi nói với Nguyễn Mạnh Hùng:

– Lần sau, chắc mỗi thằng mình phải để đồ ăn trên bụng truớc khi ngủ mới chắc ăn!

– Mình ngủ mê, đèn tắt, rờ bụng trống trơn thì cũng như không. Chẳng lẽ tụi mình lại đi chửi thề, la lối như anh em!

– Thôi! Kỳ sau nhà tiếp tế, ăn cho đã, còn bao nhiêu chia cho các anh em “mồ côi” là tiện việc sổ sách. Họ đói và thiếu thốn quá! Tội nghiệp, nếu họ được thăm nuôi như mình có ai trổ tài phù thủy bao giờ!

Trong trại Thẩm vấn, loại phòng giam tôi ở gọi là phòng ngang. Tôi ở phòng ngang được 6, 7 tháng thì có một hôm ông thần sốt rét lại thăm tôi. Loại sốt rét này là gia tài để lại của trại Kà Tót khi xưa. Tôi nghĩ bụng “kỳ này chắc chết!” làm sao có chuyện chuyền serum pha Quinin và Solucortef làm sao có chuyện cả nhà xúm nhau cạo gió, hơ gừng… Tôi lăn ra nóng cùng với cái nóng đổ lửa dội xuông từ mái tone, rồi tôi lăn ra lạnh bất cháp phòng giam hực lửa vẫn thấy một trời băng giá, băng giá từ trong xương tủy ra tận thịt da. Phòng trưởng thấy tôi lăn quay, xanh lè, tưởng tôi chết, la lớn:

– Báo cáo cán bộ, có người bệnh sắp chết!

Dường như có tiếng giép râu lệt xệt đi lại:

– Khiêng nó ra đây!

Mấy người bạn tù khiêng tôi bỏ ra ngoài hành lang xi măng. Cửa phòng đóng lại. Một lúc sau, những cơn gió thoáng mát và hơi lạnh của nền xi măng làm tôi tỉnh lại. Nằm trên nền xi măng có hơi gió là cả một thiên đàng. Ôi, những cơn gió mát! Thứ này đâu có ai làm chủ mà muốn có cũng không được. Tôi muốn nằm hoài, sau đó tôi thiếp đi. Đến chiều, gần đến giờ ăn, thấy tôi cựa mình mở mắt, công an cho người đưa tôi vô trở lại phòng giam.

Chiều đó, tôi xin nhà bếp một gô nước cơm, móc trong bâu quần ba viên Chloroquine dấu kín từ lâu, chơi luôn vô miệng, tới đâu hay tới đó, có sống thì coi cuộc đời nó giạt tới đâu, nếu chết thì coi như đã hết nợ trần. Kiếp này có còn chó gì đâu mà tham sống! Một thời ở Kà Tót bị đày như súc vật bây giờ bị coi như súc vật… thì có lăn quay ra chết cũng là vừa!

Chả biết cái mạng tôi mang số con gì mà sau đó tôi bình phục lại dễ dàng trong cái địa ngục trần gian hôi thối này. Tuy nhiên, kể từ sau khi hết sốt rét, tôi ăn không hết hai chén bo bo. Tôi chia phần ăn cho mấy em tù trẻ. Tôi thấy thiếu thốn tự do, ray rứt từng những phút giây giam cầm và cảm giác này hành hạ tôi mỗi ngày.

Sáng ra, tôi thường vịn song cửa tù ở vách sau nhìn ra bên ngoài. Niềm vui của tôi là những vạt nắng vàng phơi trên tàu lá chuối non mọc sát vách nhà giam. Niềm vui của tôi là con chim sâu nhỏ sáng nào cũng có mặt trên các tàu lá chuối. Ngoài bụi chuối là hàng rào kẽm gai.

Cuộc đời tôi bị vách nhà tù và hàng rào kẽm gai chôn cứng, nhưng con chim nhỏ thì có cái tự do vô cùng của nó. Tôi mơ cái tự do của con chim buổi sáng. Tôi mơ là vạt nắng vàng giăng trên khóm chuối. Tôi mơ mình bỗng nhiên tan biến theo từng cụm nắng và ra khỏi nhà giam để hòa tan vào vô tận của đất trời. Trong một phút giây nào đó, tôi đã ra khỏi phòng giam, tôi được tự do, tôi rời thế giới thực tại. Tôi vươn tay thọc ra ngoài song sắt, ánh nắng mai rọi trên tay tôi thành một vệt trắng bệt, dưới lớp da chạy những dòng máu thiếu mất hồng cầu. Những con Plasmodium sốt rét quả là “đồng minh môi hở răng lạnh” của chế độ!

Khi tôi rút tay vào và xoay người lại thì cả phòng im phăng phắt. Cửa phòng mở ra tự lúc nào tôi không hay. Tên công an Hoa nhí đứng trước cửa phòng nhìn tôi.

– Ê! Bộ tính chuyện trốn trại hả! Ở ngoài đó cái gì mà nhìn mê man vậy? về lại chỗ nằm!

Duờng như hắn đọc được cái say mê sảng khoái của tôi với con chim sâu nhỏ, với vệt nắng vàng trên tàu lá non, hay hắn sợ tôi bẻ song cửa trốn trại. Tôi nhớ trước đó mấy tháng, có một anh tù tên Trung, tự xưng là tù phục quốc, bị bắt ở Ma Lâm, mò tới xin nằm gần tôi, lân la rủ tôi trổ nóc tôn khi trời mưa lớn để thoát trại. Kế hoạch anh ta có vẻ khả thi, hư thực tôi không biết, song tôi từ chối:

– Tôi chấp nhận số mệnh an bài. Tôi bị giam hơn nửa năm nay, hai bắp chân rất yếu. Dại dột trốn trại, tôi chỉ chạy một chút là vọp bẻ bị bắt lại ngay. Trung bỏ chuyện đó đi!

Trung sau đó bị chuyển trại khác. Tôi không rõ Trung là phục quốc thật hay công an giả dạng để gài tôi. Song tôi suy nghĩ nhiều về lời nói của tên công an Hoa nhí. Chiều hôm đó, công an sai toán nhà bếp đem xi măng và gạch ra sau hè phòng giam xây trám bít khung cửa tù có ba song sắt. Cả phòng chúng tôi kinh hoàng:

– Chết mẹ rồi! Bít kiểu này thì không khí ở đâu tụi mình thở!

Mà thật vậy! Không khí vô phòng giam để nuôi gần 30 cái buồng phổi tù nhân đi từ cái cửa lá sách phía trước và cái khung song sắt phía sau. Nay khung này bị đóng thì tình trạng ngạt thở vì thiếu không khí lại càng nghiêm trọng hơn. Điệu này chắc chết! Thằng Hoa nhí tự ý làm hay là chủ trương của trại? Không ai biết, và cũng chẳng ai dám khiếu nại. Một thiếu niên cũng tên Hoa, anh em gọi là Hoa Đức Thắng, vì nhà em ở phường Đức Thắng, bỗng đứng lên:

– Trong lúc xi măng chưa khô, để em dùi một lổ nhỏ để sáng sáng dòm ra ngoài cho đỡ buồn!

Phòng không ai có ý kiến gì. Hoa đến gần khung sắt loáy hoáy dùng chiếc đũa dùi một lổ tròn bằng ngón tay, đủ nhìn ra ngoài. Mấy ngày sau xi măng khô cứng lại. Ngoài cửa chính nhìn vô, đó là một vách xi măng bít kín, không ai nghi ngờ gì cả. Nhưng khi cửa nhà giam đóng lại, bên trong nhìn ra qua lổ nhỏ là một mảng thiên đàng còn sót lại, có nắng vàng sớm mai, có con chim sâu trên tàu lá, xa xa có một chút trời xanh.

Tôi thầm cám ơn Hoa. Dường như khát vọng tự do, thoát củi sổ lòng trong tim nó cũng chính là của tôi, của mọi người.

Một buổi trưa hè, một người tù vô tình dán mắt nhìn ra ngoài qua cái lỗ giữa khung sắt và bị Hoa nhí bắt gặp, hắn làm ầm lên, giận dữ:

– Trong phòng này, ai? Ai là người dùi vách xi măng?

Cả phòng làm thinh. Hắn khuỳnh tay:

– ĐM! Tao có biện pháp kỷ luật hết cả phòng! Rồi tụi mày biết tay tao!

Cả phòng lại vẫn im lặng. Bỗng Hoa Đức Thắng đứng lên:

– Thưa cán bộ! Tôi làm!

– À mày ngon! Ra khỏi phòng! Theo tao!

Và Hoa nhí đã dẫn Hoa Đức Thắng xuống nhà bếp đánh thê thảm. Buổi tối công an tống Hoa Đức Thắng trở lại phòng, mặt mày sưng vù. Anh em xúm nhau bóp dầu cho Hoa, và cũng ngay tối đó, cái lỗ nhìn ra thiên đường bị bít kín bằng xi-măng trở lại. Thêm một chút không khí bị tước đoạt. Thời buổi này ông Nguyễn Công Trứ sai là cái chắc, làm gì có chuyện “của trời trăng gió kho vô tận” dưới chế độ cộng sản!

Buổi sáng nằm trong phòng giam, nghe tiếng chim hót ở bên ngoài, biết trên tàu chuối non có mấy vệt nắng vàng, có con chim non líu lo nhảy nhót, biết trên trời có những tảng mây lang thang và biết cả một giang sơn đang chìm ngập trong mầu cờ đỏ. Tôi bỗng tự hỏi thân phận của Trần Dần liệu có nghiệt ngã hơn thân phận của những tên tù miền Nam trần truồng trong phòng giam hôi tối của địa ngục Thẩm Vấn Phan Thiết? Quê hương của “Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà. Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ” trên đất Bắc làm sao oan nghiệt hơn quê hương miền Nam khi cả nước bỗng trở thành một nhà tù vĩ đại sau 75!

Và lúc đó, tôi chỉ muốn hóa chuyển đời mình thành con chim sâu trên cành lá sau vách nhà tù để được có một chút nắng mai trong cuộc đời bèo bọt.