Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 14 Nov 2025

Chương 10

Tôi đã thắng định mệnh hai keo và lại được tin cậy, nhưng Albert vẫn còn đó, và đấy chính là người phải canh chừng gắt gao. Chúng tôi là hai thái cực của khối và mọi người đều ghi chép và kết toán các cơ may riêng của mỗi đứa.

Những lá thư đầu tiên kèm theo bưu kiện quà cáp đã đến, đem theo một ít không khí quê hương. Jacob, người mà ngoài một điếu thuốc, từ chối lất cả mọi thứ mà người ta biếu, cũng cấm tôi không được nhận bất cứ món gì dù là một chiếc bánh nhỏ, ngược lại, khi ông nhận được quà của vợ gửi cho, ông vội vàng chia xẻ, nhưng gói quà chẳng chứa đựng gì nhiều.

Những bọn bè quen từ đầu, nay đã đi hết, người nầy đến người kia, chắc chắn là đến Dora. Chỉ còn lại Michael, Mas và Ramelin, cả ba, địa vị vững chắc. Đại tá Ganneval cũng được rời khỏi công việc tạp dịch, ngoài trời để vào công xưởng nhờ các sĩ quan Tiệp Khắc quen ông nhân một xứ mạng ở Prague thuở trước, và họ đã nhận ra ông mặc dù dưới bộ “đồng phục” mới. Người Tiệp Khắc, sau người Đức, là những người nhận được chỗ tốt, trước tiên nhờ vào tư cách là thuộc “nước bảo hộ” của Đại Đức Quốc.

Vì lẽ tôi chẳng nhận được thư từ bưu phẩm gì, thiện cảm của các bạn tù Nga lại càng tăng lên và vì tôi có vẻ còn vững trong địa vị, lòng tin của những người đã bỏ rơi tôi trong khi tôi lâm vào tình trạng tuyệt vọng, cũng đã trở lại. Vì thế mà nhiều người kể lại với tôi rằng Albert đã lấy của họ nhiều gói quà, để giúp họ, anh ta bảo vậy, tránh khỏi bị tống đi đến những chỗ tệ hại. Vả chăng, trong khối ai cũng biết cả, nhưng không có ai dám khiếu nại. Albert được bên trên nâng đỡ mạnh. Một liếp xúc-cù-là, hay một gói thuốc Gaulois có hiệu quả cũng bằng nếu không muốn nói là tốt hơn cả một bao thơ đầy ắp giấy bạc mà người ta dúi vào tay một vị đại biểu lem nhem. Tên quỷ quyệt của chúng tôi áp dụng đường lối này. Một du kích quân gốc người Bretagne đề nghị với tôi để anh thanh toán hắn, nhưng Jacob không chấp thuận, Đáng tiếc, bởi vì khi đêm đến, việc đó rất dễ thực hiện. Phải tìm cách khác. Chính Boucher đã đem lại giải pháp cho chúng tôi. Từ lâu anh ta có vũ khí bí mật nhưng vẫn chờ cơ hội để tung ra. Khí giới bí mật đó chỉ là một chiếc đồng hồ đeo tay bằng vàng mà tên khốn kiếp đã cưỡng đoạt lúc anh mới đến, với lời hứa là sẽ đưa anh vào làm việc ở nhà máy, xử dụng quyền của một thông dịch viên, anh ta len lỏi trong số người mới đến trong khi họ được sát trùng, để tìm cách kiếm chát.

– Hắn bóc lột tất cả, mọi người chung quanh nói; vậy tốt hơn nên dàn xếp giữa người Pháp với nhau.

Có ai muốn giữ chiếc đồng hồ khi thấy mình trần như nhộng sẵn sàng để cho bị hớt và cạo như trong lò sát sinh không? Boucher, người đầu tiên, để cho anh ta làm, tưởng rằng đây là chuyện bình thường, có hai chứng cứ không chối cãi được đối với tội trạng nầy. Một mảnh giấy mà Albert viết nguệch ngoạc và đưa cho anh trong lúc tiếp chuyện đó, chứng cớ thứ hai là bên trong nắp hộp đồng hồ có khắc tên của sở hữu chủ và ngày tháng. Một hội thẩm đoàn danh dự gồm có người Đức, Nga, Pháp được thành lập. Boucher vốn là một luật sư, anh trình bày tất cả với giọng sâu cay và sự rõ ràng khúc chiết làm cho các thông dịch viên gặp nhiều khó khăn, nhưng anh ta chẳng cần phải dùng đến tất cả tài năng mình, chứng cớ cũng đã quá đủ. Albert, luôn luôn đeo chiếc đồng hồ nầy vẫn hãnh diện nói rằng mình đã thành công trong việc dấu nó qua tất cả các cuộc lục soát từ khi bị giam cầm tại Pháp, đã không ngờ có cuộc tấn công được sửa soạn trước như thế nầy. Một trong các hội thẩm đề nghị án tử hình, nhưng sau cùng hình phạt được ấn định là anh ta phải bị tống đến một mỏ muối. Bốn hôm sau, Albert lên đường và ngay cả tôi tớ thân cận nhất của anh ta cũng không dám bắt tay từ biệt.

“Tên khủng bố” đã đi khỏi, mọi người đã thở phào nhẹ nhõm. Những chuyện đó đã dây dưa đến cuối tháng ba. Ngoài một vài tin vịt, vẫn không có gì mới lạ. Ngay cả cuộc tiến quân ở phía Đông cũng dừng lại. Sự yên tĩnh trên tất cả các mặt trận có thể cho phép dự đoán đang có âm mưu gì đó, nhưng trong khi chờ đợi, phải sống đã. Những ai thỉnh thoảng có nhận được một gói quà thì bảo toàn mạng sống là chuyện dễ. Ngay cả những người kém may mắn nhất, những người làm việc ngoài trời cũng bớt than vãn vì thời tiết lạnh lẽo đã chấm dứt. Ai cũng biết được ở lại Buchenwald tức là còn có cơ may sống sót. Trong tất cả các chuyến di chuyển trước đây mấy tuần, đã có sự thiệt hại lớn lao. Chúng tôi biết được điều đó qua văn phòng nhân số, và tôi buồn rầu tự hỏi Huhert và các bạn khác trong cơn thử thách mới hay đã ra sao.

Trong khối nầy lại có thêm tù mới đến. Trước hết khối dành cho tất cả những người tàn tật trong trại tập trung. Với các người cư trú mới: cụt chân, cụt tay, đau yếu và cả kẻ đui mù nữa, khối mau lẹ trở thành một “sân phép lạ” và lò thiêu xác nhận từ khối cửa tôi nhiều khách hàng nhất. Sự chết chóc bắt đầu đến với những người quá bốn mươi tuổi và đã bị thời tiết của mùa đông vừa rồi làm kiệt sức. Một đêm, tháng ba, một cơn gió lạnh buốt thổi qua các khe ván hở của căn phòng nhỏ của chúng tôi, ông Nghị sĩ người Bỉ Francois hấp tấp đi vào văn phòng khối và la lên bằng tiếng Đức: “Ngài chủ tịch mất rồi”. Đó là ông cựu thủ tướng Janson, lãnh tụ đảng tự do Bỉ vừa chết ở tuổi bẩy mươi hai.

– Thế thì đưa ông ta vào ngăn dành cho người chết, – Jacob trả lời khi đang rửa chân, không thèm cả quay đầu lại. Rồi quay nhìn tôi, trong khi ông kia tủi giận, bỏ đi ra:

– Bộ ông ta tượng trưng cho cái gì sao? Người ta làm quốc tang cho ông ta vì ông ta đã từng làm Bộ trưởng chắc? Nếu ông ta biết tôi đã từng thấy không biết bao nhiêu người đã chết.

Đó là người chết đầu tiên trong khối…

Nhà vật lý học danh tiếng Helbronner ra đi vĩnh viễn sau đó; một cơn cảm lạnh trong ba ngày liền đã quật ngã ông mặc dù với tuổi 65, ông ta có một sức mạnh làm kinh ngạc. Rồi đến giáo sư Roby một nhà toán học. Bệnh kiết lỵ đã làm người ông khô đét. Ngay hôm ông mất, người ta báo là ông có một bức thư, nhưng ông không còn gì thì giờ để đọc nữa.

Đối với những người chết đầu tiên, các y tá còn bỏ công lo lắng và Boucher, được chỉ định phụ trách việc nầy, đã đọc một điếu văn ngắn ngủi. Vì lẽ số người chết ngày càng gia tăng, bốn người tình nguyện họp thành một Tod Komando(Biệt đội chung sự) có nhiệm vụ khiêng xác chết. Bù lại với nỗi mệt nhọc, họ được nhận gấp đôi phần ăn và không còn điếu văn nữa.

Mối ưu tư số một của chúng tôi là ăn, và người già nhất cũng trở thành hổ đói. Trông họ nhai, người ta có thể nói là họ đang dự một cuộc tranh đấu vô hình chống lại “Người Đồng chí” đang lảng vảng trên không.

Đối với người không làm việc gì cả, phần ăn của trại tạm coi là mức sống tối thiểu, và còn có bưu kiện thêm vào. Bưu kiện nhiều đến nỗi Zacob thiết lập một quỹ tương trợ. Mỗi người bỏ vào đó những gì mà lòng thương yêu thúc đẩy, tất cả tặng phẩm sẽ mang chia cho nhiều người bất hạnh không thân quyến, không nhận được gì hết. Hai lò sưởi của khối không bao giờ bị tắt, vì luôn luôn có người hâm nóng đồ hộp, hay nấu lại rau trái được phơi khô. Có hai người ranh ma đã chiếm lấy hai mỏ vàng nầy, công việc là châm củi vào lò, thiết lập một vòng di chuyển thứ tự và canh chừng việc nấu nướng các món khác nhau. Họ mập ra trông thấy và từ lâu đã mất tất cả những quan niệm riêng về thời cuộc. Một lần tôi bắt gặp một anh đang nếm một cách quá đáng một món thịt hầm đậu. Với vẻ tỉnh bơ, anh ta cố gắng thuyết phục tôi về tánh ngay thẳng của anh:

– Tôi đang giúp ông y sĩ già quê ở Calvados, ông ta chỉ có thể ăn được nước sốt thôi, vả lại ông ta mới ngồi dậy được và tôi nghĩ là không còn lâu nữa đâu.

Tiếng tăm của khối chúng tôi lan tràn mau chóng trong trại tập trung. Người ta chỉ nói đến khối của tù nhân tàn phế. Hãy nghĩ xem, ở đây không ai làm việc cả và chắc chắn là vì các tù nhân bị tàn tật ở đây cho nên số bưu kiện gởi đến cũng nhiều hơn nơi khác.

Ngay cả nhóm người Nga già nua cũng phải làm tạp dịch, nhưng để bù lại, họ được lãnh tất cả phần súp dư thừa. Duy chỉ có điều kiện thiếu vệ sinh là làm cho người ta ở đây dễ bị chết mà thôi. Trong dãy nhà nầy, bình thường có chỗ cho từ 50 đến 100 tù nhân, nhưng vào tháng 4 năm 1944 nầy, chúng tôi có những 600 người. Thời tiết tốt đã trở lại, và mỗi tuần một lần vào thứ bảy chúng tôi quyết định mọi thứ phải được đưa ra ngoài để làm tổng vệ sinh. Họ đưa ra vô số vật dụng, đủ thứ dị dạng, khiến cho chung quanh khối trông giống như một khu chợ chồm hổm. Buổi tối khi sắp đặt tại đâu vào đó, là có cuộc thanh tra sạch sẽ. Đứng nối đuôi nhau mỗi người phải trình diện thân thể mình cho một kiểm soát viên chuyên về chấy rận, từ bệnh xá gởi đến, ông nầy nhờ một đèn rọi xách tay kiểm soát tất cả phần thân thể có tóc lông. Bịnh đậu lào! (một bệnh địch do chấy rận gây ra). Người Đức sợ bệnh nầy cũng như sợ bị oanh tạc, vào thời kỳ đó, họ đề phòng ngay cả trong các trại giam.

Không làm gì cả trong ngày, và không bị khổ sở vì đói, người ta để cho tâm trí rẽ qua các câu chuyện không bao giờ dứt, trong đó chuyện trà nước lẫn lộn với chuyện nhậu nhẹt. Mọi khu vực trong xã hội đều có người đại diện và có một vài nhân vật danh tiếng.

Michelin, vua cao su, như người Đức vẫn gọi, thường thường rất sang trọng bỏ rơi phần ăn vì ông ta nhận vô số là bưu kiện. Tù nhân Nga từ khắp nơi bu đến để có thể chiêm ngưỡng dung nhan một nhà đại tư bản thực sự bằng xương bằng thịt.

– Đúng là một tên keo kiệt, – một hôm Boncher nói với tôi, – hắn ta muốn bán cho tôi một gói thuốc với giá mười Đức kim, trong khi hắn ta có cả kho.

Mặc dầu có một địa vị tốt đẹp trong đời sống dân sự (ông ta có một trong những văn phòng lớn nhất ở Ba-lê), ông luật sư của chúng tôi không hề nhận được đồ ăn lẫn tiền bạc, chúng tôi có quyền nhận ba mươi Đức kim mỗi tháng, và ông ta khổ sở nhất là do thiếu thuốc hút. Nhờ sự táo bạo, ông ta len lỏi để được liệt vào loại bất lực nhờ vào một bịnh đau tim không kiểm xét được. Khi cao hứng ông ta kể lại các vụ án danh tiếng: vụ Violette Norzière, vụ hỏa hoạn trên chiếc “Georges- Philipar” tuy nhiên nhược điểm của ông ta, đó là sự hợp pháp của chánh quyền Pétain. Chắc chắn ông luật sư chống lại hành động của Pétain nhưng riêng đối với sự phê chuẩn của quốc hội Vichy, nó trở thành hợp pháp và để bênh vực, ông ta không bao giờ đi ra ngoài các công thức pháp lý! Những người nói chuyện với ông, thường bị ngụp lặn trong mớ danh từ chuyên môn khó tiêu, không bao giờ nhận bị ông đánh bại. “Luật lệ của anh là một con điếm, và ai cũng có thể hôn nó tùy ý!” một lần, một tù nhân gốc Bordeaux nổi khùng kết luận như vậy.

Cũng có cả các dân biểu nghị sĩ ở đây nữa. Đôi khi họ rốt lúng túng vì phải cung cấp các lời giải thích về đường lối chính trị trong quá khứ của họ. Lẽ tất nhiên là mọi người đều tiên liệu mối hiểm họa Hitler và kiêu hãnh cho rằng đã làm mọi chuyện để tránh tình trạng thảm hại. De Tessan, cựu Tổng thư ký phong trào Bình dân bị chết lãng nhách vì một mụn nhọt nơi cánh tay.

Nhiều cựu sĩ quan, đủ để trám đầy nhiều phòng khách, và họ không bao giờ biết một khi cật vấn cấp bậc của nhau, không phải lúc nào họ cũng luôn đồng ý với nhau. Vốn không phải chỉ trao đổi với nhau những những lời lẽ lịch sự. May thay vì danh dự quân đội, một vài người đã giữ vững được uy tín. Tướng Challe là một trong số đó. Với số tuổi 75, ông có một sức khỏe vật thể và tinh thần mà nhiều thanh niên phải thèm muốn. Đối với tất cả mọi người ông không hề ngần ngại thú nhận mình có tư tưởng cơ đốc và bảo thủ, và ít ra người ta cũng biết rằng khi nói chuyện với ông, mình đang nói chuyện với ai. Biết bao nhiêu người không được một lập trường vững chắc bao chung quanh ông! Một hôm, một viên Đại tá xúc phạm đến ông bằng một lời lưu ý hỗn xược, ông tướng mắng thẳng vào mặt ông tá nầy một cách uy nghiêm:

– Khi trở về đến Pháp, tôi bắt anh đứng nghiêm lại.

Trong khung cảnh không gian và thời gian nơi câu chuyện xảy ra, màn kịch nầy thật đáng buồn cười, tuy nhiên vẻ tự tin khi ông nói mấy lời “khi về đến Pháp”, đã giúp ông chiếm được sự ngưỡng vọng của những người – và số nầy rất đông – đã thất vọng cho rằng mình sẽ không bao giờ còn được thấy những ngày nghi lễ lạ lùng nầy chấm dứt.

Cùng với các bưu kiện, những giai cấp xuất hiện trở lại, vì có những người giàu, kẻ nghèo biến thành người đi thương lượng, thủ lợi và trộm cắp. Ngoài đời sống dân sự, những kẻ có thế lực trên trái đất sống trong một khu vực riêng biệt, nhưng ở đây, người nầy chồng lên người kia, kẻ bày thịt heo hay hộp mứt cạnh người quên mất mùi vị các thứ đó từ lâu đã tạo ra cùng hậu quả giống như một ông lớn đang sống trong một khách sạn đặc biệt lại vừa mang đồ đạc sang trọng đến sống trong một khu vực ngoại ở tăm tối bẩn thỉu.

Có một vài kẻ như là điên khùng với quà nhận được. Họ không dám ăn hết bất cứ món gì. Một người miền Vendée, nhận quà hàng tháng tượng trưng cho cả một gia tài ở Ba-lê vào thời đó; nhưng khi phải cho ai vài cục đường hoặc ba chiếc bánh, mặt mày ông ta trở nên tái xanh, đến nỗi những kẻ ích kỷ nhất cũng thấy thẹn. Jacob, nản lòng vì trông thấy cảnh đó, muốn bỏ rơi tất cả những gì ông đã muốn tổ chức, nhưng vì tò mò, ông thực hiện một cuộc kiểm soát, đúng hơn là một cuộc lục soát, vì đã có nhiều người khiếu nại với ông là có mùi hôi thối. Ngạc nhiên quá đỗi, ông khám phá thấy nào là bơ đã bị ôi, nào là bánh bị mốc, đồ hộp bị hư hỏng và cho đến cả thuốc lá bị thối hoàn toàn mà chủ nhân không hút và thích giữ lại hơn là đem bán hạ giá. Đem cho ư, chuyện ấy không bao giờ có.

Đây không phải là một hiện tượng chung, nhưng mấy hôm trước đây một gã ngốc nghếch đã bị phạt suốt cả buổi chiều phải đi quanh dãy trại với một hòn đá nặng trên lưng. Anh ta đã ăn cắp một hộp cá của người bạn tù nằm gần bên, không phải để ăn – dù anh ta rất cần – nhưng để đổi lấy thuốc lá tại một khối khác. Ngày có cuộc lục soát anh ta mừng quýnh. “Chính họ mới đáng bị phạt”, anh ta ta lớn, vừa chỉ vào những tù nhân giữ cả kho thực phẩm đã hư hỏng. Tôi biết được anh ta là một nha sĩ tại Ba-lê. Không có thuốc lá, anh ta lâm vào tình trạng suy nhược đến tối. Thuốc lá đối với anh ta còn quí hơn cả đồ ăn. Trước các sự khám phá nhân cuộc lục soát đó, tình hình có vẻ khá hơn. Trên cấp bậc toàn trại tập trung, sự lạc quyên quà tặng cũng được tổ chức để giúp đỡ các tù nhân đau ốm và nghèo, ở bệnh xá. Trong bệnh xá thường hay có người chết nằm cạnh nhau, người nầy vì kiệt sức trong khi lao tác và bị thiếu ăn, và người kia vì kiết lỵ gây ra bởi việc ăn ngốn ngấu quá độ thực phẩm nhận được trong một bưu kiện.

Boucher, như là một anh chàng thổ công, luôn luôn khám phá thấy trong ngôi bảo tàng viện về con người, và nhứt là khối 56, một vài đồ thì mà tôi là người được anh cho biết trước. Một đêm, anh ta ra dấu bảo tôi đi theo, và đưa tôi đến một góc giữa hai “ngăn”, tôi thấy một ông già bị bao bọc chung quanh bởi các thanh niên thường đến thăm ông.

– Có gì lạ ở đó vậy? – Tôi quan sát và hỏi Boucher.

– Bộ anh không thấy những cặp mắt xanh biếc của họ, và, và… tôi phải nói làm sao nhỉ, và vẻ dịu dàng của cây thục quì trong mắt họ sao? Anh hay thử đến gần gũi với một thanh niên rồi anh sẽ thấy ông già muốn ăn tươi nuốt sống anh vì ghen ra sao! ồ! ông ta không làm gì hại đến họ cả, ông chỉ rờ rẫm sơ sơ thôi, vả chăng, ông ta cũng không còn sức lực nữa.

Tôi lắng tai và nghe một câu chuyện lạt lẽo vô vị về thơ văn.

– Sao, – ông giáo sư Boncher thình lình xen vào, – học trò vẫn đến thăm ông chứ?

Ông già giật mình, và trên vẻ mặt nhăn nheo thoảng một màu đỏ vì mắc cỡ:

– Không nên bỏ rơi họ, đó là tương lai của Âu châu, những thanh niên nầy, – ông trả lời với giọng gần như lạc đi vì cảm động.

Tôi lưu ý ông luật sư lắm lời của tôi rằng ông ta chỉ nhìn thấy có khía cạnh xấu,

– Nhưng tôi cũng có con chim lạ, – anh ta phản đối, – tôi không chỉ cho anh bởi vì không có gì hay ho lắm đó mà thôi.

Trong số một nhóm người yếu đuối bất lực mới đến ở trong khối từ một tuần nầy, có một thanh niên mới 25 tuổi, anh nầy đã nhờ một sự tình cờ và có lẽ cũng là nhờ thân thể được cấu tạo rắn chắc, mà thoát được một cơn sưng phổi nguy hiểm. Cha mẹ anh gởi cho anh nhiều kiện hàng vĩ đại, nhưng ngay trong đêm đó, tất cả quà nhận được đều biến mất không còn vết tích nào cả. Anh ta đã giúp đỡ không biết bao nhiêu cái dạ dày luôn luôn đi kiếm thức ăn, và không bao giờ anh giữ cho mình phần lớn nhất. Anh cho đó là chuyện rất tự nhiên, và những người lần lượt được anh mời, cũng cảm thấy bối rối vì anh làm việc đó với sự giản dị quá. Vả lại, mọi chuyện đối với anh đều đơn giản; nguồn gốc gia đình, nghề nghiệp, kiến thức và tên tuổi của anh tôi còn nhớ, Roger Dufour, bồi tiệm ăn, con nhà nông. Tuồng như một thiên thần đã xuất hiện ở đây qua thân xác anh có lẽ để chứng tỏ cho chúng tôi thấy rằng không nên thất vọng quá về con người.

– Anh thấy không, – Boucher ghẹo tôi, – tôi đã khám phá ra một người, nhưng anh lại tìm thấy một người anh em!

Buổi chiều, khi Julien Cain, quản thủ thư viện Quốc Gia Pháp không bị bận rộn quá với bạn bè, tôi đã trải qua cùng với ông những giây phút thích thú nhất ở những nơi ưu sầu ấy. Tôi nghe nhiều hơn là nói, và từ bộ óc uyên thâm đó, tôi được học nhiều bài học đang giá. Để được yên tĩnh hơn khi thời gian cho phép, chúng tôi đi ra sau trại, ngồi ngay trên vệ đường, ông ta kể cho tôi nghe những giai thoại chưa hề được biết ai trong làng văn ở Ba-lê. Tôi cũng đã từng trò chuyện với một trong những chủ nhân của Galeries Lafayette và tiếp xúc với một ông xanh xao vẻ buồn rầu, nhưng rất đáng kính trọng trong bộ áo tù nhân, nhà kiến tạo máy bay Marcel Dassault.

Trong các trại giam ở Đức, tôi gặp tất cả các dân tộc của Âu châu. Trong số các người Đức ở chung với chúng tôi, những người bệnh tật, có vài trường hợp kỳ lạ. Một người vào khoảng 70 tuổi đã vi phạm một tội hình do tình ái vào lúc 21 tuổi. Bị kêu án án chung thân, ông ta trải qua vô số nhà tù, từ năm bốn mươi tuổi, sau cùng đến “nằm ấp” ở trại nầy tiếp theo tình trạng vô số nhà giam trung ương bị phá hủy vì phi cơ oanh lạc. Ông ta không nhớ kỹ các chi tiết của tấn thảm kịch và từ lâu đã mất hẳn liên lạc với gia đình, trước đó khá lâu gia đình ông vẫn viết thư cho ông. Một người khác, hiệu trưởng một trường hỗn hợp tại một thành phố nhỏ vùng Rhénanie, đã phạm tội hiếp một cô học trò mười hai tuổi. Nay ông đã quá 50 tuổi và không còn hy vọng đi được ra khỏi trại tập trung vì ông đang bị tê bại vì bệnh sưng khớp xương ở thời kỳ quá trầm trọng. Bị phạt mười lăm năm tù, ông còn bốn năm nữa, có gia đình và con cái, ông không làm sao giải thích được nguyên nhân của trọng tội mà ông đã phạm. Một cựu chủ gánh xiếc cũng có mặt ở đây vì đã mua hai miếng dăm-bông chợ đen. Đó là một người dễ thương, đã từng du hành quá toàn cõi Âu châu, đặc biệt là biết rành về nước Pháp. Ông cũng nói được tiếng Pháp và luôn luôn quả quyết với tôi rằng đó là “một xứ bất hủ để nghỉ hè”. Một người Ý biết rất rõ về các nhà tù tại đảo Lipari và nhiều ngục thất khác của chế độ Mussolini, anh nầy luôn luôn tự hỏi tại sao, sau mười sáu năm bị giam cầm trong xứ, người ta lại đẩy anh đến Buchenwald để hành nghề đóng giày. Nhiều khi do tình cờ, trong các đám người lúc nhúc trong một mớ lộn xộn luôn luôn đổi mới, ta có thể gặp một người Hy Lạp, một người dân đảo Malte, một người Ethiopie, và nhiều giống người đặc biệt khác bị bắt trong một cuộc bố ráp hoặc là luôn luôn chờ đợi được thẩm vấn.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply