vietmessenger.com
Serge Miller
Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên
Post by Soơn râu 19 Nov 2025

Chương 15
Với các chuyến công-voa mới, tổng số tù nhân nay đã lên tới 12.000, một bệnh xá được thiết lập trong vựa lúa. Số tù chết còn ít, chừng mười hai mạng một ngày, đây là một con số không đáng kể tại một nơi như ở đây. Kiết lỵ là căn bệnh sát hại chính, và vì không có thuốc men, sống chết chỉ là vấn đề may mắn. Đó là một ngày chúa nhật. Buổi sáng chúng tôi làm việc gần một con sông, một toán thiếu niên Hitler, trai có gái có đang tắm ở đấy. Chúng đi ngang qua chúng tôi, sức khỏe tuyệt diệu, cái nhìn của chúng đầy vẻ thù hận và khinh mạn đến nỗi tất cả chúng tôi, ba mươi lăm người trong biệt đội, đều muốn tình nguyện giết chết bọn con trai và hiếp bọn con gái. Một chiếc máy quay dĩa hát để gần bãi tắm phát ra điệu nhạc uể oải trong khi chúng tôi đào con rãnh để đặt đường dây cáp.
Vào thời đó, trong ngày chúa nhật, chúng tôi chỉ làm việc đến trưa. Trên con tàu đưa về trại, đột nhiên tôi cảm thấy đau bụng dữ dội và muốn đi cầu lập tức. Chỉ còn mười lăm phút nữa là đến trại, nhưng mỗi phút đối với tôi kéo dài như cả giờ. Nghiến chặt răng, mồ hôi toát đầm đìa. Một khi bước xuống sân ga Ellrich, chúng tôi lại được kiểm soát lại. Hôm đó, như dồn dập chuyện xui, có chuyện đếm lầm lộn và trước khi kiểm soát đủ số, lại phải mất 20 phút nữa. Sau cùng lối vào trại đã xuất hiện, chỉ còn một trăm năm mươi thước nữa là đến chỗ ao ước. Tôi vừa chịu đựng hợn nửa giờ, tôi còn chịu đựng được nửa phút nữa. Đó là điều tôi nghĩ nhưng ruột tôi lại không đồng ý và khi còn cách mục tiêu độ năm mươi thước, tôi bị chặn lại vì một tiếng nổ tai hại và một sự giải thoát dễ chịu, tuy nhiên thật là một thảm họa! Và không có gì có thể sửa đổi được nữa. Đây chẳng phải là vấn đề tự ái, vì ở đây loại tai nạn nầy xảy ra rất thường, nhưng tôi mất cả buổi chiều, đáng lẽ được. nghỉ ngơi, để giặt áo quần và tự nhiên là tôi phải mặc lại áo quần ẩm ướt. Điều có vệ trầm trọng hơn cả là tôi phải trở ra hố tiêu hơn mười lần để giải thoát, đó là dấu hiệu bắt đầu bị kiết lỵ. Nằm dài trên đệm rơm, tôi cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Thêm vào sự thiếu thốn vật chất là nỗi lo âu tinh thần. Để làm cho mọi sự thêm trầm lrọng, một sự ham muốn được không không cưỡng lại được đã xâm chiếm tôi. Tôi biết rằng nước rất nguy hiểm trong trường hợp nầy, nhưng tôi chịu không, nổi nữa. Bureau, vẫn khôn ngoan tiếp tục vụ mua bán thuốc lá vừa đùa vừa giãi bày với tôi: “Anh phải từ bỏ mọi loại chất uống trong bốn mươi tám giờ, và vi trùng sẽ chết vì khát, hoặc nếu anh phình người ra vì nước, vi trùng sẽ tự động chết đuối”. Tôi chọn lối thứ hai, ít ra cũng làm dịu cơn khát, và những người nằm cạnh thấy tôi hấp tấp chạy xuống bồn rửa mặt mới được đặt. Đầu tôi đặt dưới vòi nước tôi uống ừng ực chất lỏng đó cho đến khi gần như nổ tung người vì nước, rồi tôi trở lên nằm. Tôi đã mạo hiểm để chấp nhận tất cả, và suốt đêm, lo lắng, tôi chờ đợi quyết định của sự may rủi, tuy nhiên đã không có âm mưu nào bày trò trong bụng tôi nữa, và sáng hôm sau, tôi khỏe mạnh hơn bao giờ hết.
Công việc đặt đường dây của chúng tôi chấm dứt vào cuối tháng.
Tên Kapo loan báo từ nay chúng tôi được phải tới ga hàng hóa Wofleben để bốc dỡ hoặc chất đầy vật liệu dành cho công trường. Công tác nầy nặng nhọc ở mức trung bình: không tốt, nhưng không quá xấu, những so với các ngày trước, sự thay đổi lớn lao biết bao! Gỗ, than, đá, xi măng, sắt, các toa xe nối tiếp nhau lộn xộn và khi đường sắt bận rộn quá, tình trạng nầy xẩy ra luôn vì các cuộc oanh lạc tại các trung tâm hỏa xa, cần phải chở gấp đối để tránh sự đe dọa bị các vố oanh tạc luôn luôn treo trên đầu. Lúc tập họp, trong khi tất cả các biệt đội diễn qua, người ta có thể đoán công việc của họ qua cách đi và qua tình trạng áo quần.
Sau một vài ngày lao động nhọc mệt, áo quần tôi rách tả tơi và đôi giày cũng không có giá trị gì hơn. Nhiều người đi chân đất, nhưng ngoài việc bị đe dọa bị thương tích một chút tự ái cuối cùng ngăn cản tôi làm như thế. Tuy nhiên, tôi bắt buộc phải thử nhiều cách sửa chữa lạ lùng không tưởng tượng được. Tại kho áo quần, do bọn Tzigane giữ và thông thường là chúng tôi được lãnh đồ đạc, nhưng mọi thứ đều được đem ra mua bán và có cả một giá chính thức được ấn định. Vì không có gì để dâng cho chúng, tất nhiên là tôi không thể đến cửa tiệm đó được. Viadimir, tôi ít gặp anh ta từ ngày không còn ở chung cùng một biệt đội, cho tôi đôi giày của anh, và nó vừa với kích tấc của chân tôi. Tôi nhất định từ chối một sự hy sinh như vậy, nhưng anh ta cho tôi biết là sẽ kiếm được một đôi khác ngay. Ngày hôm sau, anh ta có một đôi giày hoàn toàn mới.
– Chúng ta đang ở trong trại của bọn cướp, anh ta nói với tôi, và nếu muốn còn sống khi ra khỏi đây, không nên ngây thơ quá.
Vladimir cho tôi biết, các tù nhân Nga coi anh như lãnh tụ, và vì ngoài tiếng Nga, anh còn biết tiếng Đức, anh ta kể cho tôi nhiều chi tiết mà anh biết về vài hải cảng Pháp trên bờ Đại Tây Dương vì đã đi qua những nơi đó trong những năm 1937, 38 lúc anh ở trên các chiếc tàu tiếp tế cho nước cộng hòa Tây Ban Nha. Anh cũng đi thăm Ba Lan và Đức vì các sứ mạng mà anh không nói rõ là gì. Anh có vẻ đã quá 30 tuổi và không thể nào biết rõ nghề nghiệp ngoài đời sống dân sự của anh ta là gì. Khi nào bị hỏi gắt, anh ta trả lời: “Tôi là nông dân”. Anh ta yêu nước Pháp nhưng ghét người Pháp.
Tôi thường nghĩ đến tương lai thế giới và của nước Pháp. Nhưng nếu tôi bỏ thây ở đây và biến thành một làn khói xanh thì trái đất vẫn xoay quanh mặt trời, nước Pháp vẫn ở tại vị trí cũ. Và nếu định mệnh bắt tôi phải chết, sao tôi không chết ngoài mặt trận hay trong cuộc chiến đấu chống xâm lăng? Trong khi đó ở trại tập trung, cái chết thật vô ích và nhọc nhằn. Mỗi xẻng than, mỗi tấm ván trên lưng cho tôi thấy thần chết đến gần. Sau tám ngày lao tác tại các toa xe hàng, tôi chỉ còn da bọc xương, và cố lạc quan tôi tự bảo chiến tranh còn kéo dài ba tháng nữa. Luôn luôn còn ba tháng nữa. Trời ơi! Những chiếc máy bay hàng ngày bay ngang trên đầu chúng tôi chắc phải ném rất nhiều bom và bây giờ có hai mặt trận. Rồi sao? Chưa đủ. Những luận cứ bên phía lạc quan còn nhẹ cân quá. Ra đi lúc tờ mờ sáng, làm mười giờ lao tác với một lít súp nhỏ và một mẩu bánh mì; bị đánh đập và về trại khi đêm đến, thật quá sức và tôi cảm thấy chắc không qua khỏi trong vài tuần nữa. Tôi như bị đứng trước một ngã tư mà không có con đường nào đi được. Không có bạn bè có chức vụ, không có bưu kiện. Liệu Pavel có làm được gì cho tôi không? Anh ta phụ trách quét dọn văn phòng, đó là một địa vị vương giả và tôi ngờ rằng nó không phải từ trên trời rơi xuống. Tôi nói cho anh ta nghe những điều tôi suy nghĩ và trước sự ngạc nhiên lớn lao kèm theo nỗi sung sướng không tả được, anh ta cho tôi biết đã lo kiếm chỗ cho tôi từ lúc chúng tôi gặp và quen nhau. Một sự may mắn nữa! Tôi rơi vào một trong rất hiếm các phần tử chính trị có tổ chức tương trợ để giúp một vài người thuộc mỗi quốc tịch. Phương tiện của họ còn yếu vì tất cả việc quản trị đều ở trong tay tù thường tội Đức. Alex, một hóa học gia trẻ ở Prague, làm việc, trong một kho vật liệu, đóng một vai trò quan trọng. Anh ta bồ với kẻ có trách nhiệm về công việc “Arbeit Statistikik”, đã từng bị giam chung với người nầy nhiều năm. Như vậy có thể xin một vài đặc ân vì người ấy phân phát tù nhân đi làm các công việc khác nhau. Khi Pavel giới thiệu tôi với ông ta, còn một người Bỉ vốn là thư ký của viên thị trưởng Anvers cũng được giới thiệu. Alex sau khi khảo sát kỹ, hứa với chúng tôi một giải pháp trong 48 giờ sau. Và anh ta giữ lời. Người Bỉ được vào làm việc ở phòng kinh lý để đo đạc các đường hầm, và tôi, thông ngôn trong một toán thợ điện. Người cô đơn bị bất hạnh biết bao! Thiện cảm hỗ tương và các câu chuyện hàng ngày tạo ra dây liên đới vững chắc hơn bất cứ trò vật chất nào. Suy cho cùng tôi cám ơn sự tình cờ đã bắt tôi học tiếng Đức.
Ngày một ngày hai tôi biến thành người khác đến nỗi tôi còn tin rằng chiến tranh sẽ chấm dứt trong mùa hè.
Hoàn toàn sung sướng, biệt đội gồm toàn người Pháp và Bỉ: 40 trên 50. Chúng tôi thuộc bộ phận gắn điện trong các đường hầm vừa được đào xong. Tên Kapo dắt chúng tôi là dân Đức, nhưng khác với đồng bọn của anh ta. Trong khi tại các biệt đội khác, Kapo là một tên hung dữ có trách nhiệm bắt tù nhân phục vụ tối đa bằng sự khủng bố, Rudolph là một chuyên viên, tù chính trị – một trường hợp rất hiếm ở Ellrich và là hiện thân của một nhân vật tiểu thuyết. Cựu sĩ quan hải quân, bị thương ở tay trong trận kịch chiến nổi danh ở Jutland. Nhiều lần ông ta kể: “Quân Anh đông gấp năm lần, nhưng Lord Kitchener vẫn phải thú nhận bị đánh bại”. Chống đối Quốc Xã 100% và được huấn luyện trong quân đội là cả một niềm hãnh diện đối với ông ta. Sau cuộc bại trận 1918, ông trở về làm kỹ sư trưởng của hãng “Siemens” và trong mười năm phiêu lưu quanh thế giới do hãng cử đi công việc. Ông ta lần lượt làm việc ở Riga, Kharkov, Durban Shanghai. Năm 1930, trở về quê mẹ để nghỉ ngơi trong sự sung túc nhưng chính trị đã nắm lấy ông ta. Gặp lại bạn đồng ngũ và ông ta thấy mình, bị lôi kéo vào một liên minh cựu sĩ quan có khuynh hướng cộng hòa.
Năm 1933, họ phải đi ty nạn. Rudolph qua Pháp. Gestapo để cho con mồi nhỏ được yên nhưng chú ý đặc biệt đến các cán bộ cũ đã trốn đi ngoại quốc. Người lữ hành của chúng ta cảm thấy bị săn đuổi, nhưng ông nghĩ “Ta đang ở Pháp, xứ của tự do và của quyền tỵ nạn”. Ảo tưởng thê thảm! Cảnh sát Pháp bắt ông ta ở Marseille vì tình nghi và khi bộ ngoại giao nhận được yêu cầu dẫn độ, chuyện không có gì nguy hiểm cả, nhưng họ giao ông ta cho nhà cầm quyền Đức một cách hèn nhát. Đó là vào năm 1934. Rồi từ đó bắt đầu con đường cổ điển của tất cả tù chính trị Đức. Trước hết là bốn năm bị giữ trong bí mật và ông ta nhắc lại với tôi nhiều lần: “48 tháng, một mình trong xà lim ở Kassel”. Ông ta không biết bị lên án vì tội gì nhưng nghe kêu án chung thân trong một trại tập trung. Số phận trớ trêu, sau nhiều trại trung ương, ông ta bị rơi vào Ellrich để dắt dẫn biệt đội chuyên trách về điện lệ thuộc vào công ty cũ của ông! Chắc ông gặp lại nhiều kỹ sư quen biết thời vàng son còn được tự do và suốt ngày, cuộc sống của ông ta rất bình thường. Buổi tối tất nhiên phải về trại. Với năm mươi bốn tuổi ông còn giữ được sức khỏe sắt thép thêm vào đó là một tâm trí đầy thiện cảm. Đó là một người Đức của rượu bia và âm nhạc và mỗi khi trong khối của ông có một tù nhân khốn nạn bị đánh rách da đổ máu vì đã thử tìm cách để có thêm một ít súp, Rudolph, nằm trong góc, ứa nước mắt khóc thầm. Nhưng ông không thể can thiệp, các người đồng hương của ông chỉ rình cơ hội để bứng ông khỏi chỗ, vì đó là một trong các chức vụ tốt nhất trong trại.
Qua tất cả các cuộc phiêu lưu, ông ta giữ vài sự oán hận đối với chế độ dân chủ, và ông thường nói với tôi “Nếu Hitler tồn tại ấy là nhờ Anh quốc vì Pháp quốc, và chính các tay lãnh đạo hai xứ nầy mới đáng bị giam thiu người trong các trại tập trung”.
Tôi tự hỏi không biết có phải chính mình nói chuyện chính trị với một người văn minh; một người vẫn đưa cho tôi một nhật báo mỗi ngày mà ông ta xin được nơi một kỹ sư của hàng Siemens hay không. Các toa xe ư? Nhưng tôi không bao giờ có thể làm việc ở đó nữa, đây là một cơn ác mộng và quá xa vời rồi! Hai mươi tám đường hầm đã được đào gần xong. Trong mỗi đường, hai trăm nô lệ luân phiên đào ngày đêm, đào mãi, và các thợ điện nhờ đó mới thấy hạnh phúc của mình. Họ cũng đến đường hầm nhưng được bọn nhân viên dân sự kính nể và ngay cả bọn SS cũng không nói gì họ, uy thế của kỹ thuật. Họ làm công việc của mình, kéo dây chỗ nầy, nối chỗ họ và thường trở về kho lấy thêm vật liệu. Vẫn có tập họp buổi tối sau một ngày làm việc, vẫn có chờ đợi ở sân ga, điểm danh, lúc trở về trại trong đó tình cờ người ta nhận các cú đá vào bụng, vẫn là phần súp gầy mòn, và đánh nhau vì đệm rơm, vì thiếu chỗ nên nhiều người phải ngủ đất; tuy nhiên, tất cả những thứ đó không ăn thua gì khi người ta không bị mệt nhoài vì công việc. quân Đồng Minh vẫn tiến dều và phi cơ Đồng Minh trút bom hàng ngày đập tắt hàng ngàn giọng la Heil Hitler! Vậy thì phải giữ hy vọng cho đến hết mùa hè.
Các tù nhân rất bằng lòng với kết luận đó, không những chỉ có các bạn cùng biệt đội được ưu tiên cho biết tin rút từ báo ra, mà cả những người khác cũng vậy. Lẫn lộn với đủ mọi loại sắc dân, ở đấy, giữa những người nguyên quán tỉnh lẻ ở khắp nơi, tình cờ có một thầy thư ký kế toán tại Châteauroux, một người chăn cừu ở Landes, và một người chủ tiệm ăn ở Firminy. Khi trở về khối của họ, mỗi người lại chuyền tai nguồn tin đúng cho bạn bè cùng giường hoặc cùng xứ làm việc ở các công trường khác. Tổng quát có 3500 tù Pháp, phần đông kiệt sức nhưng cảm thấy còn có thể chịu đựng được qua từ hai đến ba tháng nữa. Từ khi có cuộc đổ bộ, không thư từ bưu kiện nào được gởi đến, nhưng mặc kệ, tất cả đều sẵn sàng hy sinh, miễn là quân Đồng Minh tiến mãi. Mọi người đều đồng ý điểm nầy vào tháng 7 năm 1944 đó, và ngay cả với các tù nhân có quốc tịch khác, sự bất mãn cũng giảm dần. Trong khi chờ đợi ngày đẹp trời đó, tôi khám phá thấy trong biệt đội nhiều chàng trai trẻ đến từ khắp bốn phương trời. Paco, chuyên viên vô tuyến của Hàng không Pháp, tìm thấy ba người bạn thân thoát khỏi bị tử hình, từ nay họ không rời nhau nửa bước và được mọi người gọi họ là nhóm “Ba người ngự lâm pháo thủ”. Tony và Tozo, hai tù nhân gốc Hy Lạp, 20 tuổi, không bao giờ rời nhau từ khi thôi học ở trường làng cho đến trại Ellrich, và tình bạn cũng giống như rượu: càng lâu năm càng tốt. Chưa hề đi lính, bị Gestapo bắt, bị giam xà lim Buchenwald, Dora.
Bicot là tên mà chúng tôi đặt cho một tù nhân tinh quái gốc ở Orléans, nhưng lại tin rằng mình được sinh ra tại Tây Ban Nha và bị bắt trong một chiến khu ở Pyrénées (vùng núi non nằm ở cực Nam nước Pháp ngay biên giới Tây Ban Nha). Để có thể kéo vài hơi thuốc mỗi ngày, anh ta có thể chịu đựng thiếu thốn bất cứ thứ gì. Cặp mắt tinh quái của anh ta nhắm thật mau vào chỗ một nhân viên dân sự vừa vứt tàn thuốc. Chẳng có tí thuốc nào, và nhiều khi cháy cả môi. Nếu các người ghiền thuốc khác chịu đựng thiếu thốn trong im lặng, trái lại anh ta có thể giết một tên Đức nếu anh biết y có mang trong người một gói thuốc lá. Quả thật từ lâu anh ta chẳng được điếu nào. Cùng với thời gian, mỗi người học được vài chữ thứ ngôn ngữ của bọn mình và không có gì khôi hài cho bằng cuộc đàm thoại giữa con dân một xứ Bắc Phi với một người Ukraine.
Barot được tuyền làm nhân viên tại một văn phòng để đương trong một quận lỵ hẻo lánh, miền Basse-Alpes. Anh ta rụt rè như một anh công chức của Courieline, và mắt anh luôn luôn tự hỏi các thân chủ của mình nay ra sao. Ấy vậy mà thật đáng ngạc nhiên vì anh đã vượt qua tất cả các cạm bẫy. Nghe anh kể chuyện về mình là như cả một món ăn ngon:
– Tôi không hề làm điều gì chống lại người Đức, tôi tôn trọng luật lệ hiện hành;và trong thành phố nhỏ bé của tôi, không có gì thay đổi. Đài phát thanh? Tôi luôn luôn nghe đài Ba-lê trước cũng như khi có chiến tranh! Một lần, sau bữa ăn trưa tôi rời nhà đi làm cũng như mọi ngày, lúc đó là 1 giờ 25, có hai ông chặn tôi lại và chở tôi bằng xe hơi đến một khách sạn để hỏi về một chiến khu hình như được thiết lập đâu đó trong vùng. Chưa bao giờ tôi được nghe về chiến khu nầy. Tôi bị tra tấn và tống vào Compiègne, nhờ nói chuyện với người khác tôi mới biết kháng chiến là gì. Ồ! Tôi không có hợp tác với họ, nhưng lương tâm tôi bình thản, tôi tuyệt đối không làm gì chống họ. Chắc họ đày tôi vì lầm lẫn.
Thật cười đến chết, nhưng anh ta nói vậy với tất cả thơ ngây.
– Thật đáng tiếc, Paco than thở, bọn Gestapo sao không bắt những người, không làm gì cả thay vào chỗ chúng ta!
Bébert là một cậu bé ở Pigalle, không biết ngày sinh, nhưng được đào luyện kỹ. Anh ta không biết chính xác về gốc gác mình, do cứu tế xã hội nuôi dưỡng. Do hạnh kiểm xấu, trại tế bần giữ anh ta đến 15 tuổi. Trốn thoát anh ta đóng đô ở Ba-lê trong vương quốc của giới chị em ta và hộp đêm. Anh ta lần lượt làm tất cả mọi việc trong khu vực nầy đó là những công việc không tốt đẹp gì. Anh ta thì vẫn muốn lòe những người chung quanh đang chăm chú nghe, “không phải là những người trung bình thường hay phạm tật xấu có lẽ vì họ không có tiền, nhưng tôi đã đưa mối cho các luật sư, các nhà ngoại giao, các kỹ nghệ gia và ngay cả một ông tu sĩ nữa. Đưa mối và cung cấp gái, anh ta làm cả hai việc và thường thường gái trả phần tiền chia cho anh. Khi bọn Đức đến, tôi đã hốt bạc thật sự, bởi vì cho đến khi có chiến tranh, tôi hãy còn dại. Và rồi tôi bị xúc vì đã đưa một anh sĩ quan Đức đến ngủ với một em bị lậu nặng. Anh nầy không phải là người đầu tiên, và khi người ta bị bệnh lậu, người ta để được miễn dịch, cho nên tôi nghĩ mình cũng đã có hành động phá hoại”.
Bébert xử dụng một ngôn ngữ đấy tiếng lóng; và vì mọi người không hiểu, anh ta giải thích với niềm kiêu hãnh và không bối rối chút nào khi tả những chi tiết về khách hàng của mình. Barot, và không phải chỉ một mình anh ta, mở lớn mắt, dỏng tai để nghe có lẽ phải đến trại tập trung anh ta mới biết là trong con người bằng xương bằng thịt. Không phải chỉ có tình yêu theo thánh thư. Nhận thấy anh ta thường tỏ ra quá ngạc nhiên, một lần, Bébert trắng trợn hỏi anh là đã làm gì với vợ trên giường, bởi vì anh chàng công chức của chúng tôi đã có vợ.
Barberon tánh lãnh đạm như dân Anh, có lẽ còn lãnh đạm hơn thế nữa đối với nơi ấy, tuy nhiên tư tưởng thâm sâu, anh ta có vẻ quyến rũ biết bao! Anh đã trải qua một thời niên thiếu ở Cameroun, nơi cha anh có đồn điền. Và anh kể lại các chuyện hấp dẫn có thể hồi tưởng lại được. Tất nhiên là nhờ gia tài đồ sộ, cuộc sống rất vàng son, Anh có thể tiếp tực sống cuộc đời của mình một cách vị kỷ cho đến hết chiến tranh, nhưng anh thích sự hiểm nguy trong cuộc chiến đấu chống quân chiếm đóng.
– Và, thật ra tôi không kháng chiến vì yêu nước gì cả. Tôi đi du lịch nhiều quá và tôi không hiểu nhiều về lý tưởng của quốc gia, đối với tôi nó cũng chật hẹp như đàn ông một vợ vậy. Và tôi cũng không ghét người Đức đến thế. Tôi chỉ say mê chiến đấu để giết thì giờ, nhưng hiện nay tôi xác nhận là chúng đáng bị ghét, đáng bị tàn sát, và không phải chỉ có bọn Đức thôi, mà tất cả những kẻ có cùng một quan niệm như chúng trong bất cứ quốc gia nào.
Roger là nghệ sĩ của băng chúng tôi, anh là điêu khắc gia, nhưng đó chỉ là nghề phụ, vì anh ta chạy áp phe để sống, và trong thời bình anh di chuyển bằng phi cơ giữa Bruxelles và Luân-đôn như đi chợ. Nhờ sự thông đồng của các kỹ sư, Rudolph có thể thả lỏng anh trong một xó của kho vật liệu, và với phương tiện sung mãn ở đó, anh ta thay đổi lối suy nghĩ của họ. Nếu bọn SS mà biết được, anh ta sẽ bị treo cổ ngay, và những người bảo bọc sẽ bị tù vì tội phá hoại công tác, nhưng nếu phải nghĩ đến tất cả đe dọa mà một tù nhân phải chịu đựng trong ngày, thì sẽ không làm sao sống nổi. Roger có cung cách thanh nhã ngay trong khi làm việc bằng tay chân, không bao giờ anh nổi giận và trong khối, anh chịu đựng các sự bất tiện vật chất với sự trầm tĩnh đáng nể phục.
Lại còn có Raymond, một chủ đồn điền nho ở vùng Beaujolais. Ông ta đã tiếp tế rượu vang cho chiến khu, và luôn luôn khuyên chúng tôi nên uống loại Pouilly, loại rượu thích nhất của ông và không quên kể các câu chuyện đẹp nhất về mùa hái nho. Mỗi khi tham dự câu chuyện với ai, về một vấn đề gì, ông ta luôn luôn nói một câu: “chuyện của các anh đẹp quá, nhưng phải ăn cái đã; hôm nay các anh ăn gì?”, và bắt buộc mọi người nói chuyện ăn uống. Và sau đó là đủ hạng người khác, làm đủ nghề trừ thợ điện. Nhưng khi được hỏi ai biết làm điện, họ đều đưa tay, vì ngửi thấy chỗ dấu đồ ăn. Đó là thời gian trại bắt đầu được xây dựng, và sự táo bạo nhiều lúc đem cho họ phần thưởng, vì chỉ cần độ chục người rành nghề là số còn lại đóng vai trò phụ việc. Họ luôn luôn nghe những câu chuyện nổi bật ấy và nhờ đó thời gian chờ đợi ở sân ga trở thành nơi dễ chịu nhất trong ngày.
Trong số các người đến chơi với chúng tôi, có một nhóm khác cũng chuyên về điện, họ chỉ có sáu người, năm Pháp và một Nga, nhưng có địa vị tốt hơn chúng tôi. Trong khi phần lớn công việc được giao cho chúng tôi, họ chỉ phụ trách các công tác nhỏ trong văn phòng các nhân viên dân sự và trong doanh trại lính canh. Luôn luôn có chuyện hư hỏng cần sữa chữa và nếu cần, cũng có thể tạo ra một vụ hư hỏng dễ dàng. Người chỉ huy họ là một cựu quân nhân SS, xấu tánh như hủi, nhưng đối với họ thì rất đàng hoàng. Lãnh đạo nhóm là một người gốc ở Lorraine, thành phố Nancy, tên André; anh ta cũng là cựu tù binh chiến tranh như tôi và từ ít lâu nay, chúng tôi đã gợi cho nhau các kỷ niệm chung. Liệu chúng tôi có chịu trốn khỏi trại giam tù binh chiến tranh không, nếu biết rằng làm như vậy để rồi lại rơi vào các trại tập trung nầy? Thật khó trả lời. Cuộc vượt ngục là một cuộc phiêu lưu kỳ thú, và rồi còn tất cả những gì tốt đẹp tiếp theo đó nữa chứ. Anh ta cũng bị rơi vào một vụ lộn xộn và tại miền Đông nước Pháp, trong những vụ như thế người ta đi đến nơi đến chốn, không thể có thái độ lừng chừng được. Đấy chính là một phong trào sang lập bởi các cựu tù binh chiến tranh đã trốn thoát. Được chỉ hướng khá rõ, nhưng từ từ vì cần phải tìm hiểu mình đang tâm sự với một người như thế nào, và dần dần chúng tôi khám phá ra rằng cả hai chúng tôi cùng làm việc trong cùng một tổ chức nhưng tại hai vùng khác nhau, chúng tôi kể tên những bạn chung, và người bạn mới hé cho tối thấy các khả năng của anh ngoại trừ một mà anh hứa để dịp khác. Tôi ép buộc quá, anh ta cũng chỉ nói tới mấy tờ báo trên bàn ông chủ và các cuộc nói chuyện mà anh nghe lỏm được trong khi làm việc, vì anh phụ trách về điện trong các văn phòng kỹ sư Đức nhờ biết tiếng Đức. Ngày 21 tháng 7 lúc 15 giờ, André, với một thái độ quá bình thản đến nỗi tôi không chú ý gì cả, đến tìm tôi. Dãy trại làm việc của anh không xa chúng tôi và qua công trường; chúng tôi tự do nói chuyện. Lẽ tất nhiên là với một cái kềm hay một đoạn dây điện trong tay và với vẻ lo lắng cho công việc. Tôi từng đến chỗ ở của anh để lấy vật liệu, nhưng lần nầy là cả một sự ngạc nhiên được ao ước từ lâu. Trong phòng giấy của ông chủ, trên bàn, có một máy thu thanh lật ngược, có vẻ đang được sửa chữa. Mắt André nói nhiều hơn tôi. Vì tôi nín lặng, anh giải thích: “Sao, anh không hiểu hả? Nó đã được sửa xong sáng nay, ở đây nhiều máy thu thanh thường được đưa đến để sửa, ông xếp phụ trách sửa chữa nhưng cả buổi chiều ông ta vắng mặt. Vả lại đã có Guy canh chừng, anh biết rồi, Guy là chú bé ở Toulouse luôn luôn làm việc tại kho vật liệu đó. Nào, phải làm gấp, buổi phát thanh sắp, đến chỉ còn 10 phút nữa thôi”. Tôi đã hiểu từ lâu. Không sao, có thể để đau tim, nhưng định mang đã lựa chọn chúng tôi, không nên chần chừ.
“Đây là Đài phát thanh Luân-đôn…
“Chúng tôi chưa có được mọi chi tiết về vụ mưu sát mà Hitler 1 chỉ bị thương xoàng đã thoát chết nhờ phép lạ… Ảnh hưởng vang dội tại Đức rất lớn lao… Cần đợi các giờ phát thanh tới; quí vị sẽ biết các biến cố quan trọng…”
André nắm chặt tay tôi và tôi cảm thấy móng tay anh bấm sâu vào da thịt tôi.
“Hình như phong trào do các sĩ quan thuộc Bộ Tổng tham mưu cũng với các nhân vật chính trị kỳ cựu lãnh đạo, càng ngày càng lan rộng… Cách mạng bùng nổ tại nhiều thành phố. Một từ báo ở Stockholm loan báo hải quân tại Stetlin ra tại Kiel đã nổi dậy…”
Chúng tôi nhìn nhau, mắt đỏ ngầu, cổ họng khô đắng, có ra đi ngoài hành lang, André đưa tay tắt mày, nhưng chúng tôi đã nghe khá nhiều rồi. Một sự thèm muốn nhảy ra ngoài không cưỡng lại được, để hết to hết sức “Anh em ơi! Hết rồi, các anh tự do rồi!”. đã tràn ngập trong lòng chúng tôi.
Chúng tôi bước ra và cố gẵng giữ bình tĩnh. Mặc dù cọ tự chủ, tôi vẫn thấy chân mình run bây bẩy, nhưng trước mặt chúng tôi không có gì thay đổ cả. Mọi người vẫn làm việc và công trường giữ vẻ bình thường.
Chúng tôi nghĩ rằng các nhân viên dân sự và quân lính chưa biết tin vì đang chăn gát chúng tôi, nhưng trong vài phút tới chúng tôi sẽ chứng kiến họ bỏ chỗ và chạy tán loạn. Chúng tôi lẻn đi tìm Rudolph và kể cho ông ta nghe những gì mà chúng tôi coi như hãy còn là một nguồn tin bí mật và độc quyền.
– Các con ơi, – ông ta bắt đầu nói, – mặt tái mét, nếu các con biết mình vừa trình bày cái gì thì rõ rệt là các con chưa biết thế nào là bọn Quốc Xã… Tôi đã nghe tin vụ mưu sát nầy rồi; đừng có một ảo tưởng nào cả, người Anh tuyên truyền cũng láo khoét như Goebbels vậy. Bản tin được họ soạn trong các sào huyệt ở thủ đô các nước trung lập và thường do điệp viên trong đạo quân thứ năm viết. Tin tải đi, một cuộc cách mạng là chuyện không thể có được, khi nào mặt trận còn vững và vẫn còn cách xa biên thùy của Đức Quốc Xã quá… Nếu Hitler bị giết, thây ông ta sẽ làm cho chế độ vững chắc thêm vì các người kế vị sẽ tán dương ông ta như là một người hy sinh vì chủ nghĩa.
Tôi có cảm giác Rudolph nói thành thật, nhưng lý luận của ông ta làm chúng tôi phát cáu và André lập tức nói nhỏ vào tai tôi “Dẫu sao đó cũng là một tên Đức!”. Chúng tôi không thể chấp nhận rằng những phút say mê mà chúng tôi vừa trải qua lại không để lại được gì. Rudolph gần như muốn làm chúng tôi mất mặt với kinh nghiệm già dặn của ông, nhưng thật là êm dịu khi ta được ru trong ảo vọng. Tuy nhiên ông ta có lý. Báo chí hai mươi bốn giờ sau, không dấu gì cả, và nhan đề một bài báo đập vào mắt ngay trang đầu “Bọn phản bội tắm trong máu”. Dưới một tấm hình Hitler khá lớn có câu chú thích: “Thượng đế đã giữ Ngài lại với chúng ta”.
Nếu sự kiện là thật, đài B.B.C đã quá phóng đại, đó chỉ là một cuộc cách mạng trong lâu đài; cả dân lộc Đức vẫn làm việc và chiến đấu một cách mù quáng và đối với chúng tôi thật là kinh hoàng. Như một tia nắng trong bầu trời xám ngắt, chúng tôi thấy ngày kết thúc sắp đến gần, một sự chấm dứt đã đưa chúng tôi, những người tính toán qua phía hàng ngũ bi quan. Khốn thay quả thật tin về cuộc nổi loạn của hải quân cũng là tin vịt. Trong mỗi dòng chữ của tờ báo, giận giữ và vẻ ngạo mạn của bọn Gestapo bùng nổ, chúng vẫn làm chủ tình thể. Cuộc mưu sát chỉ như là phần thưởng của một thời kỳ khoan khoái bắt đầu từ lúc có cuộc đổ bộ, nhưng rồi tan biến thật nhanh. Các chiến thắng của quân Nga tại Ba Lan và tại các Quốc gia vùng biển Baltique cũng không có ý nghĩa gì quan trọng đối với các bộ óc phải học ở đây về địa lý thế giới, và cuộc kịch chiến vẫn không thay đổi trong vùng Normandie. Riêng phần Ý Đại Lợi, không ai chú ý đến đó nữa. Thêm vào đó, nồi súp càng ngày càng trong veo và người lạc quan nhất cũng đột ngột bị suy sụp tinh thần. Từ khi có cuộc đổ bộ, và trái với điều được tiên liệu, kỷ luật được siết chặt hơn bao giờ hết. Một phần lính canh trong đó có Hans đã được gởi ra tiền tuyến, và những lính trù bị già thế chỗ. Họ lại còn quá sá hơn, nghi ngờ chúng tôi như mắc bệnh dịch hạch. Nhưng chính trong hàng ngũ của chúng tôi mới cần đề phòng gắt, và trong lâu dài, người ta lạc lối trong hệ thống gián điệp và phản gián điệp.
Paul, tên Kapo gốc Alsace đã bị Đức hóa hoàn toàn. Chính y đảm nhiệm việc phân phát đòn bọng cho tù nhân vì các lỗi nhẹ: 10, 20, 30, 50 cú vào mông, bằng gậy hoặc bằng dây điện. Mỗi khi viên Thượng sĩ SS già cần một người tình nguyện, thì Paul xông ra ngay. Y trở nên đẫy đà, ăn mặc đầy đủ. Cả một bầy điểm chỉ viên dưới quyền y, và y tiên đoán là bọn Anh Mỹ sẽ không bao giờ quá được hàng rào của Quân lực Đức, và chẳng bao lâu họ sẽ bị đánh bật ra biển khơi. “Tôi đã từng là Thiếu úy trong quân đội Pháp, – y giãi bày với một tên SS – và tôi biết rõ thứ quân đội đó.”. Đôi khi y la cà vào đám tù Pháp như bị dằn vặt bởi một sự hối hận nào đó, nhưng y được tiếp đón bằng một sự im lặng lạnh nhạt. Lúc đó trong cặp mắt ti hí của người ta có thể đọc thấy nỗi sợ hãi, có lẽ y nghĩ “Nếu tất cả không chết hết, tất có người sẽ nói lại”, và y rút lui với vẻ mặt đe dọa làm ta rùng mình. Chức vụ của y cho y mọi quyền hành đối với tù nhân. Y giống như là một tên Kapo cảnh sát; y không phụ trách đặc biệt một toán lao tác nào, mà là toàn diện công trường, và chính y có thể ban phát hình phạt. Chính y đã thường làm như thế để chứng tỏ cho chủ biết y không phải là kẻ bất lực. Và kết quả là y bị thù ghét hơn cả bọn SS.
Ở đây cũng có cơ quan Gestapo, thứ thiệt. Trong mỗi cộng đồng tại Đức, cơ cấu Gestapo đều được thiết lập. Tại đây, văn phòng đó được đặt trong một dãy trại ngay lối đi vào công trường, có một ủy viên mập ú và một nữ thư ký tóc vàng. Mọi người ai cũng biết hai tên đó, tuy nhiên kẻ săn tin lại cũng ăn mặc như chúng tôi và thật khó mà đánh lạc hướng chúng. Không nhất thiết điểm chỉ viên là một tên được ưa đãi. Trái lại, một người có thể rách tả tơi trong một biệt đội cực khổ nhất vì một điếu thuốc hay một mẩu bánh mì, cam tâm chịu báo cáo nhưng danh số nào có thảo luận “chính trị”. Những tên chó săn nguy hiểm nhất là bọn Tzigane. Vì vậy, tự nhiên người ta xa lánh không dám nói chuyện với chúng. Nụ cười của chúng chứa gươm dao và nếu Đồng Minh đột ngột tiến tới trại nầy, chúng là những kẻ đầu tiên treo cổ những người bảo bọc chúng đêm trước, bởi vì chúng sẵn sàng phản lại bất cứ ai.
Viên quản trại bị thay thể vì ăn cắp quá nhiều của nhà bếp, người thay thế từ Dora đến. Lập tức những tên đặc biệt nhất trong bọn gitan tự hiến dâng để được phục vu. Nhưng thất vọng! Ông chủ mới có vẻ không ưa chúng, và ông ta chọn một chú nhỏ Ba Lan. Như vậy, chúng mất ảnh hưởng. Chú nhỏ mới được ưu đãi chỉ có 15. tuổi và người ta tự hỏi không biết hắn có phải là đại biểu cho phái nam hay không. Lúc điểm danh, khi ông chủ đi qua các hàng người, hắn lẽo đẽo đi theo như một nàng công chúa trẻ với áo quần được sửa lại đúng kích tấc và với đôi giày đánh bóng. Hắn ăn ngay khi nào thấy đói, và ăn khoai nghiền với thịt và uống bia. Bạn bè biết hắn thuở cực khổ, tìm cách nói chuyện, cười với hắn và nhắc nhở các kỷ niệm đẹp. Tùy hứng hắn phân phát cho vài lít súp vì hắn có một “ngân sách” thực phẩm có dư séc làm thỏa mãn cả chục người đói khát. Lúc rảnh, hắn đi đến các khối thăm đồng nghiệp, những người nầy bằng lòng coi viên trưởng khối là chủ nhưng lại được hưởng lợi vật chất giống nhau, và đừng quên, bị nhiều bất tiện như nhau. Chúng cùng nhau hút thuốc, không có vẻ gì là say mê và cả một rừng mắt sáng long lanh rình các tàn thuốc do chúng vứt đi. Tại Buchenwald, một trưởng khối bị trừng phạt nặng nếu làm một hành vì trái thiên nhiên, nhưng ở đây sự hư hỏng toàn diện làm chủ, và quá nhiều kẻ tình nguyện dâng hiến thân thể mình đánh đổi thực phẩm; biết bao nhiên là lời châm biếm cay chua chờ đợi những người từ chối mọi sự nài xin khẩn cầu, thích bị nghèo khổ hơn là bị mất danh dự. Phải có biết bao nhiêu là can đảm và hơn thế nữa, mới cưỡng lại được với sự cám dỗ. Thật đáng buồn… Những thanh thiếu niên đó tượng trưng cho một mẫu người mới trong số cả một loạt nạn nhân của Hitler. Được đưa đến trại tập trung ngay từ khi còn bé con, đói khát đã làm mất nơi chúng mọi ý thức và bây giờ, được ăn là đủ, chúng chỉ có một ưu tư: bảo vệ địa vị, không bao giờ chúng nói đến biến chuyển của tình hình, và chiến tranh không có gì quan trọng đối với chúng. Vậy thì tốt hơn là tránh nói chuyện khi có mặt chúng, vì sau khi bán thể xác, tâm hồn của chúng không còn đáng giá nữa.
——————————–
| 1 | Đọc: “Những trận đánh lịch sử của Hitler” – Sông Kiên xuất bản – Sách đã in lần thứ II. |














