Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Soơn râu 19 Nov 2025

Chương 15

Với các chuyến công-voa mới, tổng số tù nhân nay đã lên tới 12.000, một bệnh xá được thiết lập trong vựa lúa. Số tù chết còn ít, chừng mười hai mạng một ngày, đây là một con số không đáng kể tại một nơi như ở đây. Kiết lỵ là căn bệnh sát hại chính, và vì không có thuốc men, sống chết chỉ là vấn đề may mắn. Đó là một ngày chúa nhật. Buổi sáng chúng tôi làm việc gần một con sông, một toán thiếu niên Hitler, trai có gái có đang tắm ở đấy. Chúng đi ngang qua chúng tôi, sức khỏe tuyệt diệu, cái nhìn của chúng đầy vẻ thù hận và khinh mạn đến nỗi tất cả chúng tôi, ba mươi lăm người trong biệt đội, đều muốn tình nguyện giết chết bọn con trai và hiếp bọn con gái. Một chiếc máy quay dĩa hát để gần bãi tắm phát ra điệu nhạc uể oải trong khi chúng tôi đào con rãnh để đặt đường dây cáp.

Vào thời đó, trong ngày chúa nhật, chúng tôi chỉ làm việc đến trưa. Trên con tàu đưa về trại, đột nhiên tôi cảm thấy đau bụng dữ dội và muốn đi cầu lập tức. Chỉ còn mười lăm phút nữa là đến trại, nhưng mỗi phút đối với tôi kéo dài như cả giờ. Nghiến chặt răng, mồ hôi toát đầm đìa. Một khi bước xuống sân ga Ellrich, chúng tôi lại được kiểm soát lại. Hôm đó, như dồn dập chuyện xui, có chuyện đếm lầm lộn và trước khi kiểm soát đủ số, lại phải mất 20 phút nữa. Sau cùng lối vào trại đã xuất hiện, chỉ còn một trăm năm mươi thước nữa là đến chỗ ao ước. Tôi vừa chịu đựng hợn nửa giờ, tôi còn chịu đựng được nửa phút nữa. Đó là điều tôi nghĩ nhưng ruột tôi lại không đồng ý và khi còn cách mục tiêu độ năm mươi thước, tôi bị chặn lại vì một tiếng nổ tai hại và một sự giải thoát dễ chịu, tuy nhiên thật là một thảm họa! Và không có gì có thể sửa đổi được nữa. Đây chẳng phải là vấn đề tự ái, vì ở đây loại tai nạn nầy xảy ra rất thường, nhưng tôi mất cả buổi chiều, đáng lẽ được. nghỉ ngơi, để giặt áo quần và tự nhiên là tôi phải mặc lại áo quần ẩm ướt. Điều có vệ trầm trọng hơn cả là tôi phải trở ra hố tiêu hơn mười lần để giải thoát, đó là dấu hiệu bắt đầu bị kiết lỵ. Nằm dài trên đệm rơm, tôi cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Thêm vào sự thiếu thốn vật chất là nỗi lo âu tinh thần. Để làm cho mọi sự thêm trầm lrọng, một sự ham muốn được không không cưỡng lại được đã xâm chiếm tôi. Tôi biết rằng nước rất nguy hiểm trong trường hợp nầy, nhưng tôi chịu không, nổi nữa. Bureau, vẫn khôn ngoan tiếp tục vụ mua bán thuốc lá vừa đùa vừa giãi bày với tôi: “Anh phải từ bỏ mọi loại chất uống trong bốn mươi tám giờ, và vi trùng sẽ chết vì khát, hoặc nếu anh phình người ra vì nước, vi trùng sẽ tự động chết đuối”. Tôi chọn lối thứ hai, ít ra cũng làm dịu cơn khát, và những người nằm cạnh thấy tôi hấp tấp chạy xuống bồn rửa mặt mới được đặt. Đầu tôi đặt dưới vòi nước tôi uống ừng ực chất lỏng đó cho đến khi gần như nổ tung người vì nước, rồi tôi trở lên nằm. Tôi đã mạo hiểm để chấp nhận tất cả, và suốt đêm, lo lắng, tôi chờ đợi quyết định của sự may rủi, tuy nhiên đã không có âm mưu nào bày trò trong bụng tôi nữa, và sáng hôm sau, tôi khỏe mạnh hơn bao giờ hết.

Công việc đặt đường dây của chúng tôi chấm dứt vào cuối tháng.

Tên Kapo loan báo từ nay chúng tôi được phải tới ga hàng hóa Wofleben để bốc dỡ hoặc chất đầy vật liệu dành cho công trường. Công tác nầy nặng nhọc ở mức trung bình: không tốt, nhưng không quá xấu, những so với các ngày trước, sự thay đổi lớn lao biết bao! Gỗ, than, đá, xi măng, sắt, các toa xe nối tiếp nhau lộn xộn và khi đường sắt bận rộn quá, tình trạng nầy xẩy ra luôn vì các cuộc oanh lạc tại các trung tâm hỏa xa, cần phải chở gấp đối để tránh sự đe dọa bị các vố oanh tạc luôn luôn treo trên đầu. Lúc tập họp, trong khi tất cả các biệt đội diễn qua, người ta có thể đoán công việc của họ qua cách đi và qua tình trạng áo quần.

Sau một vài ngày lao động nhọc mệt, áo quần tôi rách tả tơi và đôi giày cũng không có giá trị gì hơn. Nhiều người đi chân đất, nhưng ngoài việc bị đe dọa bị thương tích một chút tự ái cuối cùng ngăn cản tôi làm như thế. Tuy nhiên, tôi bắt buộc phải thử nhiều cách sửa chữa lạ lùng không tưởng tượng được. Tại kho áo quần, do bọn Tzigane giữ và thông thường là chúng tôi được lãnh đồ đạc, nhưng mọi thứ đều được đem ra mua bán và có cả một giá chính thức được ấn định. Vì không có gì để dâng cho chúng, tất nhiên là tôi không thể đến cửa tiệm đó được. Viadimir, tôi ít gặp anh ta từ ngày không còn ở chung cùng một biệt đội, cho tôi đôi giày của anh, và nó vừa với kích tấc của chân tôi. Tôi nhất định từ chối một sự hy sinh như vậy, nhưng anh ta cho tôi biết là sẽ kiếm được một đôi khác ngay. Ngày hôm sau, anh ta có một đôi giày hoàn toàn mới.

– Chúng ta đang ở trong trại của bọn cướp, anh ta nói với tôi, và nếu muốn còn sống khi ra khỏi đây, không nên ngây thơ quá.

Vladimir cho tôi biết, các tù nhân Nga coi anh như lãnh tụ, và vì ngoài tiếng Nga, anh còn biết tiếng Đức, anh ta kể cho tôi nhiều chi tiết mà anh biết về vài hải cảng Pháp trên bờ Đại Tây Dương vì đã đi qua những nơi đó trong những năm 1937, 38 lúc anh ở trên các chiếc tàu tiếp tế cho nước cộng hòa Tây Ban Nha. Anh cũng đi thăm Ba Lan và Đức vì các sứ mạng mà anh không nói rõ là gì. Anh có vẻ đã quá 30 tuổi và không thể nào biết rõ nghề nghiệp ngoài đời sống dân sự của anh ta là gì. Khi nào bị hỏi gắt, anh ta trả lời: “Tôi là nông dân”. Anh ta yêu nước Pháp nhưng ghét người Pháp.

Tôi thường nghĩ đến tương lai thế giới và của nước Pháp. Nhưng nếu tôi bỏ thây ở đây và biến thành một làn khói xanh thì trái đất vẫn xoay quanh mặt trời, nước Pháp vẫn ở tại vị trí cũ. Và nếu định mệnh bắt tôi phải chết, sao tôi không chết ngoài mặt trận hay trong cuộc chiến đấu chống xâm lăng? Trong khi đó ở trại tập trung, cái chết thật vô ích và nhọc nhằn. Mỗi xẻng than, mỗi tấm ván trên lưng cho tôi thấy thần chết đến gần. Sau tám ngày lao tác tại các toa xe hàng, tôi chỉ còn da bọc xương, và cố lạc quan tôi tự bảo chiến tranh còn kéo dài ba tháng nữa. Luôn luôn còn ba tháng nữa. Trời ơi! Những chiếc máy bay hàng ngày bay ngang trên đầu chúng tôi chắc phải ném rất nhiều bom và bây giờ có hai mặt trận. Rồi sao? Chưa đủ. Những luận cứ bên phía lạc quan còn nhẹ cân quá. Ra đi lúc tờ mờ sáng, làm mười giờ lao tác với một lít súp nhỏ và một mẩu bánh mì; bị đánh đập và về trại khi đêm đến, thật quá sức và tôi cảm thấy chắc không qua khỏi trong vài tuần nữa. Tôi như bị đứng trước một ngã tư mà không có con đường nào đi được. Không có bạn bè có chức vụ, không có bưu kiện. Liệu Pavel có làm được gì cho tôi không? Anh ta phụ trách quét dọn văn phòng, đó là một địa vị vương giả và tôi ngờ rằng nó không phải từ trên trời rơi xuống. Tôi nói cho anh ta nghe những điều tôi suy nghĩ và trước sự ngạc nhiên lớn lao kèm theo nỗi sung sướng không tả được, anh ta cho tôi biết đã lo kiếm chỗ cho tôi từ lúc chúng tôi gặp và quen nhau. Một sự may mắn nữa! Tôi rơi vào một trong rất hiếm các phần tử chính trị có tổ chức tương trợ để giúp một vài người thuộc mỗi quốc tịch. Phương tiện của họ còn yếu vì tất cả việc quản trị đều ở trong tay tù thường tội Đức. Alex, một hóa học gia trẻ ở Prague, làm việc, trong một kho vật liệu, đóng một vai trò quan trọng. Anh ta bồ với kẻ có trách nhiệm về công việc “Arbeit Statistikik”, đã từng bị giam chung với người nầy nhiều năm. Như vậy có thể xin một vài đặc ân vì người ấy phân phát tù nhân đi làm các công việc khác nhau. Khi Pavel giới thiệu tôi với ông ta, còn một người Bỉ vốn là thư ký của viên thị trưởng Anvers cũng được giới thiệu. Alex sau khi khảo sát kỹ, hứa với chúng tôi một giải pháp trong 48 giờ sau. Và anh ta giữ lời. Người Bỉ được vào làm việc ở phòng kinh lý để đo đạc các đường hầm, và tôi, thông ngôn trong một toán thợ điện. Người cô đơn bị bất hạnh biết bao! Thiện cảm hỗ tương và các câu chuyện hàng ngày tạo ra dây liên đới vững chắc hơn bất cứ trò vật chất nào. Suy cho cùng tôi cám ơn sự tình cờ đã bắt tôi học tiếng Đức.

Ngày một ngày hai tôi biến thành người khác đến nỗi tôi còn tin rằng chiến tranh sẽ chấm dứt trong mùa hè.

Hoàn toàn sung sướng, biệt đội gồm toàn người Pháp và Bỉ: 40 trên 50. Chúng tôi thuộc bộ phận gắn điện trong các đường hầm vừa được đào xong. Tên Kapo dắt chúng tôi là dân Đức, nhưng khác với đồng bọn của anh ta. Trong khi tại các biệt đội khác, Kapo là một tên hung dữ có trách nhiệm bắt tù nhân phục vụ tối đa bằng sự khủng bố, Rudolph là một chuyên viên, tù chính trị – một trường hợp rất hiếm ở Ellrich và là hiện thân của một nhân vật tiểu thuyết. Cựu sĩ quan hải quân, bị thương ở tay trong trận kịch chiến nổi danh ở Jutland. Nhiều lần ông ta kể: “Quân Anh đông gấp năm lần, nhưng Lord Kitchener vẫn phải thú nhận bị đánh bại”. Chống đối Quốc Xã 100% và được huấn luyện trong quân đội là cả một niềm hãnh diện đối với ông ta. Sau cuộc bại trận 1918, ông trở về làm kỹ sư trưởng của hãng “Siemens” và trong mười năm phiêu lưu quanh thế giới do hãng cử đi công việc. Ông ta lần lượt làm việc ở Riga, Kharkov, Durban Shanghai. Năm 1930, trở về quê mẹ để nghỉ ngơi trong sự sung túc nhưng chính trị đã nắm lấy ông ta. Gặp lại bạn đồng ngũ và ông ta thấy mình, bị lôi kéo vào một liên minh cựu sĩ quan có khuynh hướng cộng hòa.

Năm 1933, họ phải đi ty nạn. Rudolph qua Pháp. Gestapo để cho con mồi nhỏ được yên nhưng chú ý đặc biệt đến các cán bộ cũ đã trốn đi ngoại quốc. Người lữ hành của chúng ta cảm thấy bị săn đuổi, nhưng ông nghĩ “Ta đang ở Pháp, xứ của tự do và của quyền tỵ nạn”. Ảo tưởng thê thảm! Cảnh sát Pháp bắt ông ta ở Marseille vì tình nghi và khi bộ ngoại giao nhận được yêu cầu dẫn độ, chuyện không có gì nguy hiểm cả, nhưng họ giao ông ta cho nhà cầm quyền Đức một cách hèn nhát. Đó là vào năm 1934. Rồi từ đó bắt đầu con đường cổ điển của tất cả tù chính trị Đức. Trước hết là bốn năm bị giữ trong bí mật và ông ta nhắc lại với tôi nhiều lần: “48 tháng, một mình trong xà lim ở Kassel”. Ông ta không biết bị lên án vì tội gì nhưng nghe kêu án chung thân trong một trại tập trung. Số phận trớ trêu, sau nhiều trại trung ương, ông ta bị rơi vào Ellrich để dắt dẫn biệt đội chuyên trách về điện lệ thuộc vào công ty cũ của ông! Chắc ông gặp lại nhiều kỹ sư quen biết thời vàng son còn được tự do và suốt ngày, cuộc sống của ông ta rất bình thường. Buổi tối tất nhiên phải về trại. Với năm mươi bốn tuổi ông còn giữ được sức khỏe sắt thép thêm vào đó là một tâm trí đầy thiện cảm. Đó là một người Đức của rượu bia và âm nhạc và mỗi khi trong khối của ông có một tù nhân khốn nạn bị đánh rách da đổ máu vì đã thử tìm cách để có thêm một ít súp, Rudolph, nằm trong góc, ứa nước mắt khóc thầm. Nhưng ông không thể can thiệp, các người đồng hương của ông chỉ rình cơ hội để bứng ông khỏi chỗ, vì đó là một trong các chức vụ tốt nhất trong trại.

Qua tất cả các cuộc phiêu lưu, ông ta giữ vài sự oán hận đối với chế độ dân chủ, và ông thường nói với tôi “Nếu Hitler tồn tại ấy là nhờ Anh quốc vì Pháp quốc, và chính các tay lãnh đạo hai xứ nầy mới đáng bị giam thiu người trong các trại tập trung”.

Tôi tự hỏi không biết có phải chính mình nói chuyện chính trị với một người văn minh; một người vẫn đưa cho tôi một nhật báo mỗi ngày mà ông ta xin được nơi một kỹ sư của hàng Siemens hay không. Các toa xe ư? Nhưng tôi không bao giờ có thể làm việc ở đó nữa, đây là một cơn ác mộng và quá xa vời rồi! Hai mươi tám đường hầm đã được đào gần xong. Trong mỗi đường, hai trăm nô lệ luân phiên đào ngày đêm, đào mãi, và các thợ điện nhờ đó mới thấy hạnh phúc của mình. Họ cũng đến đường hầm nhưng được bọn nhân viên dân sự kính nể và ngay cả bọn SS cũng không nói gì họ, uy thế của kỹ thuật. Họ làm công việc của mình, kéo dây chỗ nầy, nối chỗ họ và thường trở về kho lấy thêm vật liệu. Vẫn có tập họp buổi tối sau một ngày làm việc, vẫn có chờ đợi ở sân ga, điểm danh, lúc trở về trại trong đó tình cờ người ta nhận các cú đá vào bụng, vẫn là phần súp gầy mòn, và đánh nhau vì đệm rơm, vì thiếu chỗ nên nhiều người phải ngủ đất; tuy nhiên, tất cả những thứ đó không ăn thua gì khi người ta không bị mệt nhoài vì công việc. quân Đồng Minh vẫn tiến dều và phi cơ Đồng Minh trút bom hàng ngày đập tắt hàng ngàn giọng la Heil Hitler! Vậy thì phải giữ hy vọng cho đến hết mùa hè.

Các tù nhân rất bằng lòng với kết luận đó, không những chỉ có các bạn cùng biệt đội được ưu tiên cho biết tin rút từ báo ra, mà cả những người khác cũng vậy. Lẫn lộn với đủ mọi loại sắc dân, ở đấy, giữa những người nguyên quán tỉnh lẻ ở khắp nơi, tình cờ có một thầy thư ký kế toán tại Châteauroux, một người chăn cừu ở Landes, và một người chủ tiệm ăn ở Firminy. Khi trở về khối của họ, mỗi người lại chuyền tai nguồn tin đúng cho bạn bè cùng giường hoặc cùng xứ làm việc ở các công trường khác. Tổng quát có 3500 tù Pháp, phần đông kiệt sức nhưng cảm thấy còn có thể chịu đựng được qua từ hai đến ba tháng nữa. Từ khi có cuộc đổ bộ, không thư từ bưu kiện nào được gởi đến, nhưng mặc kệ, tất cả đều sẵn sàng hy sinh, miễn là quân Đồng Minh tiến mãi. Mọi người đều đồng ý điểm nầy vào tháng 7 năm 1944 đó, và ngay cả với các tù nhân có quốc tịch khác, sự bất mãn cũng giảm dần. Trong khi chờ đợi ngày đẹp trời đó, tôi khám phá thấy trong biệt đội nhiều chàng trai trẻ đến từ khắp bốn phương trời. Paco, chuyên viên vô tuyến của Hàng không Pháp, tìm thấy ba người bạn thân thoát khỏi bị tử hình, từ nay họ không rời nhau nửa bước và được mọi người gọi họ là nhóm “Ba người ngự lâm pháo thủ”. Tony và Tozo, hai tù nhân gốc Hy Lạp, 20 tuổi, không bao giờ rời nhau từ khi thôi học ở trường làng cho đến trại Ellrich, và tình bạn cũng giống như rượu: càng lâu năm càng tốt. Chưa hề đi lính, bị Gestapo bắt, bị giam xà lim Buchenwald, Dora.

Bicot là tên mà chúng tôi đặt cho một tù nhân tinh quái gốc ở Orléans, nhưng lại tin rằng mình được sinh ra tại Tây Ban Nha và bị bắt trong một chiến khu ở Pyrénées (vùng núi non nằm ở cực Nam nước Pháp ngay biên giới Tây Ban Nha). Để có thể kéo vài hơi thuốc mỗi ngày, anh ta có thể chịu đựng thiếu thốn bất cứ thứ gì. Cặp mắt tinh quái của anh ta nhắm thật mau vào chỗ một nhân viên dân sự vừa vứt tàn thuốc. Chẳng có tí thuốc nào, và nhiều khi cháy cả môi. Nếu các người ghiền thuốc khác chịu đựng thiếu thốn trong im lặng, trái lại anh ta có thể giết một tên Đức nếu anh biết y có mang trong người một gói thuốc lá. Quả thật từ lâu anh ta chẳng được điếu nào. Cùng với thời gian, mỗi người học được vài chữ thứ ngôn ngữ của bọn mình và không có gì khôi hài cho bằng cuộc đàm thoại giữa con dân một xứ Bắc Phi với một người Ukraine.

Barot được tuyền làm nhân viên tại một văn phòng để đương trong một quận lỵ hẻo lánh, miền Basse-Alpes. Anh ta rụt rè như một anh công chức của Courieline, và mắt anh luôn luôn tự hỏi các thân chủ của mình nay ra sao. Ấy vậy mà thật đáng ngạc nhiên vì anh đã vượt qua tất cả các cạm bẫy. Nghe anh kể chuyện về mình là như cả một món ăn ngon:

– Tôi không hề làm điều gì chống lại người Đức, tôi tôn trọng luật lệ hiện hành;và trong thành phố nhỏ bé của tôi, không có gì thay đổi. Đài phát thanh? Tôi luôn luôn nghe đài Ba-lê trước cũng như khi có chiến tranh! Một lần, sau bữa ăn trưa tôi rời nhà đi làm cũng như mọi ngày, lúc đó là 1 giờ 25, có hai ông chặn tôi lại và chở tôi bằng xe hơi đến một khách sạn để hỏi về một chiến khu hình như được thiết lập đâu đó trong vùng. Chưa bao giờ tôi được nghe về chiến khu nầy. Tôi bị tra tấn và tống vào Compiègne, nhờ nói chuyện với người khác tôi mới biết kháng chiến là gì. Ồ! Tôi không có hợp tác với họ, nhưng lương tâm tôi bình thản, tôi tuyệt đối không làm gì chống họ. Chắc họ đày tôi vì lầm lẫn.

Thật cười đến chết, nhưng anh ta nói vậy với tất cả thơ ngây.

– Thật đáng tiếc, Paco than thở, bọn Gestapo sao không bắt những người, không làm gì cả thay vào chỗ chúng ta!

Bébert là một cậu bé ở Pigalle, không biết ngày sinh, nhưng được đào luyện kỹ. Anh ta không biết chính xác về gốc gác mình, do cứu tế xã hội nuôi dưỡng. Do hạnh kiểm xấu, trại tế bần giữ anh ta đến 15 tuổi. Trốn thoát anh ta đóng đô ở Ba-lê trong vương quốc của giới chị em ta và hộp đêm. Anh ta lần lượt làm tất cả mọi việc trong khu vực nầy đó là những công việc không tốt đẹp gì. Anh ta thì vẫn muốn lòe những người chung quanh đang chăm chú nghe, “không phải là những người trung bình thường hay phạm tật xấu có lẽ vì họ không có tiền, nhưng tôi đã đưa mối cho các luật sư, các nhà ngoại giao, các kỹ nghệ gia và ngay cả một ông tu sĩ nữa. Đưa mối và cung cấp gái, anh ta làm cả hai việc và thường thường gái trả phần tiền chia cho anh. Khi bọn Đức đến, tôi đã hốt bạc thật sự, bởi vì cho đến khi có chiến tranh, tôi hãy còn dại. Và rồi tôi bị xúc vì đã đưa một anh sĩ quan Đức đến ngủ với một em bị lậu nặng. Anh nầy không phải là người đầu tiên, và khi người ta bị bệnh lậu, người ta để được miễn dịch, cho nên tôi nghĩ mình cũng đã có hành động phá hoại”.

Bébert xử dụng một ngôn ngữ đấy tiếng lóng; và vì mọi người không hiểu, anh ta giải thích với niềm kiêu hãnh và không bối rối chút nào khi tả những chi tiết về khách hàng của mình. Barot, và không phải chỉ một mình anh ta, mở lớn mắt, dỏng tai để nghe có lẽ phải đến trại tập trung anh ta mới biết là trong con người bằng xương bằng thịt. Không phải chỉ có tình yêu theo thánh thư. Nhận thấy anh ta thường tỏ ra quá ngạc nhiên, một lần, Bébert trắng trợn hỏi anh là đã làm gì với vợ trên giường, bởi vì anh chàng công chức của chúng tôi đã có vợ.

Barberon tánh lãnh đạm như dân Anh, có lẽ còn lãnh đạm hơn thế nữa đối với nơi ấy, tuy nhiên tư tưởng thâm sâu, anh ta có vẻ quyến rũ biết bao! Anh đã trải qua một thời niên thiếu ở Cameroun, nơi cha anh có đồn điền. Và anh kể lại các chuyện hấp dẫn có thể hồi tưởng lại được. Tất nhiên là nhờ gia tài đồ sộ, cuộc sống rất vàng son, Anh có thể tiếp tực sống cuộc đời của mình một cách vị kỷ cho đến hết chiến tranh, nhưng anh thích sự hiểm nguy trong cuộc chiến đấu chống quân chiếm đóng.

– Và, thật ra tôi không kháng chiến vì yêu nước gì cả. Tôi đi du lịch nhiều quá và tôi không hiểu nhiều về lý tưởng của quốc gia, đối với tôi nó cũng chật hẹp như đàn ông một vợ vậy. Và tôi cũng không ghét người Đức đến thế. Tôi chỉ say mê chiến đấu để giết thì giờ, nhưng hiện nay tôi xác nhận là chúng đáng bị ghét, đáng bị tàn sát, và không phải chỉ có bọn Đức thôi, mà tất cả những kẻ có cùng một quan niệm như chúng trong bất cứ quốc gia nào.

Roger là nghệ sĩ của băng chúng tôi, anh là điêu khắc gia, nhưng đó chỉ là nghề phụ, vì anh ta chạy áp phe để sống, và trong thời bình anh di chuyển bằng phi cơ giữa Bruxelles và Luân-đôn như đi chợ. Nhờ sự thông đồng của các kỹ sư, Rudolph có thể thả lỏng anh trong một xó của kho vật liệu, và với phương tiện sung mãn ở đó, anh ta thay đổi lối suy nghĩ của họ. Nếu bọn SS mà biết được, anh ta sẽ bị treo cổ ngay, và những người bảo bọc sẽ bị tù vì tội phá hoại công tác, nhưng nếu phải nghĩ đến tất cả đe dọa mà một tù nhân phải chịu đựng trong ngày, thì sẽ không làm sao sống nổi. Roger có cung cách thanh nhã ngay trong khi làm việc bằng tay chân, không bao giờ anh nổi giận và trong khối, anh chịu đựng các sự bất tiện vật chất với sự trầm tĩnh đáng nể phục.

Lại còn có Raymond, một chủ đồn điền nho ở vùng Beaujolais. Ông ta đã tiếp tế rượu vang cho chiến khu, và luôn luôn khuyên chúng tôi nên uống loại Pouilly, loại rượu thích nhất của ông và không quên kể các câu chuyện đẹp nhất về mùa hái nho. Mỗi khi tham dự câu chuyện với ai, về một vấn đề gì, ông ta luôn luôn nói một câu: “chuyện của các anh đẹp quá, nhưng phải ăn cái đã; hôm nay các anh ăn gì?”, và bắt buộc mọi người nói chuyện ăn uống. Và sau đó là đủ hạng người khác, làm đủ nghề trừ thợ điện. Nhưng khi được hỏi ai biết làm điện, họ đều đưa tay, vì ngửi thấy chỗ dấu đồ ăn. Đó là thời gian trại bắt đầu được xây dựng, và sự táo bạo nhiều lúc đem cho họ phần thưởng, vì chỉ cần độ chục người rành nghề là số còn lại đóng vai trò phụ việc. Họ luôn luôn nghe những câu chuyện nổi bật ấy và nhờ đó thời gian chờ đợi ở sân ga trở thành nơi dễ chịu nhất trong ngày.

Trong số các người đến chơi với chúng tôi, có một nhóm khác cũng chuyên về điện, họ chỉ có sáu người, năm Pháp và một Nga, nhưng có địa vị tốt hơn chúng tôi. Trong khi phần lớn công việc được giao cho chúng tôi, họ chỉ phụ trách các công tác nhỏ trong văn phòng các nhân viên dân sự và trong doanh trại lính canh. Luôn luôn có chuyện hư hỏng cần sữa chữa và nếu cần, cũng có thể tạo ra một vụ hư hỏng dễ dàng. Người chỉ huy họ là một cựu quân nhân SS, xấu tánh như hủi, nhưng đối với họ thì rất đàng hoàng. Lãnh đạo nhóm là một người gốc ở Lorraine, thành phố Nancy, tên André; anh ta cũng là cựu tù binh chiến tranh như tôi và từ ít lâu nay, chúng tôi đã gợi cho nhau các kỷ niệm chung. Liệu chúng tôi có chịu trốn khỏi trại giam tù binh chiến tranh không, nếu biết rằng làm như vậy để rồi lại rơi vào các trại tập trung nầy? Thật khó trả lời. Cuộc vượt ngục là một cuộc phiêu lưu kỳ thú, và rồi còn tất cả những gì tốt đẹp tiếp theo đó nữa chứ. Anh ta cũng bị rơi vào một vụ lộn xộn và tại miền Đông nước Pháp, trong những vụ như thế người ta đi đến nơi đến chốn, không thể có thái độ lừng chừng được. Đấy chính là một phong trào sang lập bởi các cựu tù binh chiến tranh đã trốn thoát. Được chỉ hướng khá rõ, nhưng từ từ vì cần phải tìm hiểu mình đang tâm sự với một người như thế nào, và dần dần chúng tôi khám phá ra rằng cả hai chúng tôi cùng làm việc trong cùng một tổ chức nhưng tại hai vùng khác nhau, chúng tôi kể tên những bạn chung, và người bạn mới hé cho tối thấy các khả năng của anh ngoại trừ một mà anh hứa để dịp khác. Tôi ép buộc quá, anh ta cũng chỉ nói tới mấy tờ báo trên bàn ông chủ và các cuộc nói chuyện mà anh nghe lỏm được trong khi làm việc, vì anh phụ trách về điện trong các văn phòng kỹ sư Đức nhờ biết tiếng Đức. Ngày 21 tháng 7 lúc 15 giờ, André, với một thái độ quá bình thản đến nỗi tôi không chú ý gì cả, đến tìm tôi. Dãy trại làm việc của anh không xa chúng tôi và qua công trường; chúng tôi tự do nói chuyện. Lẽ tất nhiên là với một cái kềm hay một đoạn dây điện trong tay và với vẻ lo lắng cho công việc. Tôi từng đến chỗ ở của anh để lấy vật liệu, nhưng lần nầy là cả một sự ngạc nhiên được ao ước từ lâu. Trong phòng giấy của ông chủ, trên bàn, có một máy thu thanh lật ngược, có vẻ đang được sửa chữa. Mắt André nói nhiều hơn tôi. Vì tôi nín lặng, anh giải thích: “Sao, anh không hiểu hả? Nó đã được sửa xong sáng nay, ở đây nhiều máy thu thanh thường được đưa đến để sửa, ông xếp phụ trách sửa chữa nhưng cả buổi chiều ông ta vắng mặt. Vả lại đã có Guy canh chừng, anh biết rồi, Guy là chú bé ở Toulouse luôn luôn làm việc tại kho vật liệu đó. Nào, phải làm gấp, buổi phát thanh sắp, đến chỉ còn 10 phút nữa thôi”. Tôi đã hiểu từ lâu. Không sao, có thể để đau tim, nhưng định mang đã lựa chọn chúng tôi, không nên chần chừ.

“Đây là Đài phát thanh Luân-đôn…

“Chúng tôi chưa có được mọi chi tiết về vụ mưu sát mà Hitler 1 chỉ bị thương xoàng đã thoát chết nhờ phép lạ… Ảnh hưởng vang dội tại Đức rất lớn lao… Cần đợi các giờ phát thanh tới; quí vị sẽ biết các biến cố quan trọng…”

André nắm chặt tay tôi và tôi cảm thấy móng tay anh bấm sâu vào da thịt tôi.

“Hình như phong trào do các sĩ quan thuộc Bộ Tổng tham mưu cũng với các nhân vật chính trị kỳ cựu lãnh đạo, càng ngày càng lan rộng… Cách mạng bùng nổ tại nhiều thành phố. Một từ báo ở Stockholm loan báo hải quân tại Stetlin ra tại Kiel đã nổi dậy…”

Chúng tôi nhìn nhau, mắt đỏ ngầu, cổ họng khô đắng, có ra đi ngoài hành lang, André đưa tay tắt mày, nhưng chúng tôi đã nghe khá nhiều rồi. Một sự thèm muốn nhảy ra ngoài không cưỡng lại được, để hết to hết sức “Anh em ơi! Hết rồi, các anh tự do rồi!”. đã tràn ngập trong lòng chúng tôi.

Chúng tôi bước ra và cố gẵng giữ bình tĩnh. Mặc dù cọ tự chủ, tôi vẫn thấy chân mình run bây bẩy, nhưng trước mặt chúng tôi không có gì thay đổ cả. Mọi người vẫn làm việc và công trường giữ vẻ bình thường.

Chúng tôi nghĩ rằng các nhân viên dân sự và quân lính chưa biết tin vì đang chăn gát chúng tôi, nhưng trong vài phút tới chúng tôi sẽ chứng kiến họ bỏ chỗ và chạy tán loạn. Chúng tôi lẻn đi tìm Rudolph và kể cho ông ta nghe những gì mà chúng tôi coi như hãy còn là một nguồn tin bí mật và độc quyền.

– Các con ơi, – ông ta bắt đầu nói, – mặt tái mét, nếu các con biết mình vừa trình bày cái gì thì rõ rệt là các con chưa biết thế nào là bọn Quốc Xã… Tôi đã nghe tin vụ mưu sát nầy rồi; đừng có một ảo tưởng nào cả, người Anh tuyên truyền cũng láo khoét như Goebbels vậy. Bản tin được họ soạn trong các sào huyệt ở thủ đô các nước trung lập và thường do điệp viên trong đạo quân thứ năm viết. Tin tải đi, một cuộc cách mạng là chuyện không thể có được, khi nào mặt trận còn vững và vẫn còn cách xa biên thùy của Đức Quốc Xã quá… Nếu Hitler bị giết, thây ông ta sẽ làm cho chế độ vững chắc thêm vì các người kế vị sẽ tán dương ông ta như là một người hy sinh vì chủ nghĩa.

Tôi có cảm giác Rudolph nói thành thật, nhưng lý luận của ông ta làm chúng tôi phát cáu và André lập tức nói nhỏ vào tai tôi “Dẫu sao đó cũng là một tên Đức!”. Chúng tôi không thể chấp nhận rằng những phút say mê mà chúng tôi vừa trải qua lại không để lại được gì. Rudolph gần như muốn làm chúng tôi mất mặt với kinh nghiệm già dặn của ông, nhưng thật là êm dịu khi ta được ru trong ảo vọng. Tuy nhiên ông ta có lý. Báo chí hai mươi bốn giờ sau, không dấu gì cả, và nhan đề một bài báo đập vào mắt ngay trang đầu “Bọn phản bội tắm trong máu”. Dưới một tấm hình Hitler khá lớn có câu chú thích: “Thượng đế đã giữ Ngài lại với chúng ta”.

Nếu sự kiện là thật, đài B.B.C đã quá phóng đại, đó chỉ là một cuộc cách mạng trong lâu đài; cả dân lộc Đức vẫn làm việc và chiến đấu một cách mù quáng và đối với chúng tôi thật là kinh hoàng. Như một tia nắng trong bầu trời xám ngắt, chúng tôi thấy ngày kết thúc sắp đến gần, một sự chấm dứt đã đưa chúng tôi, những người tính toán qua phía hàng ngũ bi quan. Khốn thay quả thật tin về cuộc nổi loạn của hải quân cũng là tin vịt. Trong mỗi dòng chữ của tờ báo, giận giữ và vẻ ngạo mạn của bọn Gestapo bùng nổ, chúng vẫn làm chủ tình thể. Cuộc mưu sát chỉ như là phần thưởng của một thời kỳ khoan khoái bắt đầu từ lúc có cuộc đổ bộ, nhưng rồi tan biến thật nhanh. Các chiến thắng của quân Nga tại Ba Lan và tại các Quốc gia vùng biển Baltique cũng không có ý nghĩa gì quan trọng đối với các bộ óc phải học ở đây về địa lý thế giới, và cuộc kịch chiến vẫn không thay đổi trong vùng Normandie. Riêng phần Ý Đại Lợi, không ai chú ý đến đó nữa. Thêm vào đó, nồi súp càng ngày càng trong veo và người lạc quan nhất cũng đột ngột bị suy sụp tinh thần. Từ khi có cuộc đổ bộ, và trái với điều được tiên liệu, kỷ luật được siết chặt hơn bao giờ hết. Một phần lính canh trong đó có Hans đã được gởi ra tiền tuyến, và những lính trù bị già thế chỗ. Họ lại còn quá sá hơn, nghi ngờ chúng tôi như mắc bệnh dịch hạch. Nhưng chính trong hàng ngũ của chúng tôi mới cần đề phòng gắt, và trong lâu dài, người ta lạc lối trong hệ thống gián điệp và phản gián điệp.

Paul, tên Kapo gốc Alsace đã bị Đức hóa hoàn toàn. Chính y đảm nhiệm việc phân phát đòn bọng cho tù nhân vì các lỗi nhẹ: 10, 20, 30, 50 cú vào mông, bằng gậy hoặc bằng dây điện. Mỗi khi viên Thượng sĩ SS già cần một người tình nguyện, thì Paul xông ra ngay. Y trở nên đẫy đà, ăn mặc đầy đủ. Cả một bầy điểm chỉ viên dưới quyền y, và y tiên đoán là bọn Anh Mỹ sẽ không bao giờ quá được hàng rào của Quân lực Đức, và chẳng bao lâu họ sẽ bị đánh bật ra biển khơi. “Tôi đã từng là Thiếu úy trong quân đội Pháp, – y giãi bày với một tên SS – và tôi biết rõ thứ quân đội đó.”. Đôi khi y la cà vào đám tù Pháp như bị dằn vặt bởi một sự hối hận nào đó, nhưng y được tiếp đón bằng một sự im lặng lạnh nhạt. Lúc đó trong cặp mắt ti hí của người ta có thể đọc thấy nỗi sợ hãi, có lẽ y nghĩ “Nếu tất cả không chết hết, tất có người sẽ nói lại”, và y rút lui với vẻ mặt đe dọa làm ta rùng mình. Chức vụ của y cho y mọi quyền hành đối với tù nhân. Y giống như là một tên Kapo cảnh sát; y không phụ trách đặc biệt một toán lao tác nào, mà là toàn diện công trường, và chính y có thể ban phát hình phạt. Chính y đã thường làm như thế để chứng tỏ cho chủ biết y không phải là kẻ bất lực. Và kết quả là y bị thù ghét hơn cả bọn SS.

Ở đây cũng có cơ quan Gestapo, thứ thiệt. Trong mỗi cộng đồng tại Đức, cơ cấu Gestapo đều được thiết lập. Tại đây, văn phòng đó được đặt trong một dãy trại ngay lối đi vào công trường, có một ủy viên mập ú và một nữ thư ký tóc vàng. Mọi người ai cũng biết hai tên đó, tuy nhiên kẻ săn tin lại cũng ăn mặc như chúng tôi và thật khó mà đánh lạc hướng chúng. Không nhất thiết điểm chỉ viên là một tên được ưa đãi. Trái lại, một người có thể rách tả tơi trong một biệt đội cực khổ nhất vì một điếu thuốc hay một mẩu bánh mì, cam tâm chịu báo cáo nhưng danh số nào có thảo luận “chính trị”. Những tên chó săn nguy hiểm nhất là bọn Tzigane. Vì vậy, tự nhiên người ta xa lánh không dám nói chuyện với chúng. Nụ cười của chúng chứa gươm dao và nếu Đồng Minh đột ngột tiến tới trại nầy, chúng là những kẻ đầu tiên treo cổ những người bảo bọc chúng đêm trước, bởi vì chúng sẵn sàng phản lại bất cứ ai.

Viên quản trại bị thay thể vì ăn cắp quá nhiều của nhà bếp, người thay thế từ Dora đến. Lập tức những tên đặc biệt nhất trong bọn gitan tự hiến dâng để được phục vu. Nhưng thất vọng! Ông chủ mới có vẻ không ưa chúng, và ông ta chọn một chú nhỏ Ba Lan. Như vậy, chúng mất ảnh hưởng. Chú nhỏ mới được ưu đãi chỉ có 15. tuổi và người ta tự hỏi không biết hắn có phải là đại biểu cho phái nam hay không. Lúc điểm danh, khi ông chủ đi qua các hàng người, hắn lẽo đẽo đi theo như một nàng công chúa trẻ với áo quần được sửa lại đúng kích tấc và với đôi giày đánh bóng. Hắn ăn ngay khi nào thấy đói, và ăn khoai nghiền với thịt và uống bia. Bạn bè biết hắn thuở cực khổ, tìm cách nói chuyện, cười với hắn và nhắc nhở các kỷ niệm đẹp. Tùy hứng hắn phân phát cho vài lít súp vì hắn có một “ngân sách” thực phẩm có dư séc làm thỏa mãn cả chục người đói khát. Lúc rảnh, hắn đi đến các khối thăm đồng nghiệp, những người nầy bằng lòng coi viên trưởng khối là chủ nhưng lại được hưởng lợi vật chất giống nhau, và đừng quên, bị nhiều bất tiện như nhau. Chúng cùng nhau hút thuốc, không có vẻ gì là say mê và cả một rừng mắt sáng long lanh rình các tàn thuốc do chúng vứt đi. Tại Buchenwald, một trưởng khối bị trừng phạt nặng nếu làm một hành vì trái thiên nhiên, nhưng ở đây sự hư hỏng toàn diện làm chủ, và quá nhiều kẻ tình nguyện dâng hiến thân thể mình đánh đổi thực phẩm; biết bao nhiên là lời châm biếm cay chua chờ đợi những người từ chối mọi sự nài xin khẩn cầu, thích bị nghèo khổ hơn là bị mất danh dự. Phải có biết bao nhiêu là can đảm và hơn thế nữa, mới cưỡng lại được với sự cám dỗ. Thật đáng buồn… Những thanh thiếu niên đó tượng trưng cho một mẫu người mới trong số cả một loạt nạn nhân của Hitler. Được đưa đến trại tập trung ngay từ khi còn bé con, đói khát đã làm mất nơi chúng mọi ý thức và bây giờ, được ăn là đủ, chúng chỉ có một ưu tư: bảo vệ địa vị, không bao giờ chúng nói đến biến chuyển của tình hình, và chiến tranh không có gì quan trọng đối với chúng. Vậy thì tốt hơn là tránh nói chuyện khi có mặt chúng, vì sau khi bán thể xác, tâm hồn của chúng không còn đáng giá nữa.

——————————–

1Đọc: “Những trận đánh lịch sử của Hitler” – Sông Kiên xuất bản – Sách đã in lần thứ II.

Một trời một biển

vietmessenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Phần 5. Mãi mãi còn lâu

Chiều Qui Nhơn hôm nay vẫn buồn buồn như mọi khi. Bầu trời âm u, không nắng không mưa. Những đám mây trắng đục lãng đãng giữa thinh không trông như những tảng băng sơn trôi lềnh bềnh trong lòng biển chết. Sâu thẳm và đen ngòm. Tất cả như đang rơi vào một cõi vắng xa. Trâm cảm thấy như vậy.

Sau lưng nàng, cái phi trường ồn ào ngày đêm kia như đã biến mất. Trước mặt nàng, trường Kỹ Thuật và quân y viện Duy Tân như cũng đắm chìm trong vùng tăm tối bao la. Xa hơn một chút, xóm làng Gành Ráng với những ghềnh đá nhô ra tận biển, trên đồi đó có ngôi mộ của thi sĩ Hàn Mặc Tử vang bóng một thời, cũng đã nhạt nhòa trong không gian xám xịt, thẫm đen. Và bên kia đồi, dưới thung lũng, là nhà thương và trại cùi Quy Hòa, làm sao nàng có thể hình dung ra được.

Ngoài xa kia vùng biển khơi sóng dậy trùng trùng, lấp lánh một vài chiếc thuyền con bồng bềnh với những cánh buồm cũ mục, trồi lên hụp xuống từng cơn. Sát vào bờ, những lượn sóng mang đầy bọt trắng xóa, không ngớt thi nhau xóa sạch dấu chân và những lâu đài trên cát của loài dã tràng. Im lìm hơn, màu xanh của muôn ngàn ngọn rau muống biển, hàng hàng lớp lớp ngoi lên, như muốn vây chặt khu gia binh phía bên kia đường, không cho một người nào thoát xuống bãi.

Hơi lạnh chạy dọc theo hành lang nội trú, phảng phất quanh người làm Trâm bỗng thấy se da. Mặc dù nàng có chiếc áo len mỏng choàng hờ qua vai. Từ trên lan can tầng hai nhìn xuống, không một bóng sinh viên sư phạm, giám thị, hay ngay cả một người làm công nào hết. Ðìu hiu quạnh quẽ thật. Như chính trong tâm hồn Trâm. Nàng cũng không ngờ mình đã dám đi đến một quyết định cứng rắn và dứt khoát đến là như vậy. Nàng đã nhiều lần xót xa từ chối không tiếp Hải, người mà nàng dan díu và yêu mến từ những hai năm qua. Hai năm cuối cùng của ban trung học, hai năm của đùa vui văn nghệ văn gừng, bích báo và chữ nghĩa văn chương…

Rồi sao lại anh đường anh tôi đường tôi?

Con người gì mà quá độc đoán, nông cạn! Làm cái gì cũng không cho. Quen biết bạn bè với ai cũng không được, cho dù là bạn gái. Vô lý thật!

– Anh thấy em viết văn chỉ để làm mất thì giờ và làm thơ chỉ để hao thêm giấy mực, thế thôi!

Tại sao Hải có thể nói với em những lời như thế được chứ? Tại sao Hải không chịu hiểu cho em? Một ước mơ nho nhỏ làm vui! Ðể bây giờ em phải sống trong đơn lẻ, dằn vặt như thế này? Anh có biết? Bạn bè cùng phòng với em, cuối tuần, đứa nào cũng có người tình đến thăm, đưa nhau rong chơi khắp phố phường, tiệm quán. Còn em, như một nữ tu giam hãm linh hồn mình trong bốn bức tường chủng viện. Hải ơi, em hứa sẽ yêu anh đến trọn đời, nhưng với một điều kiện, xin anh hãy để cho em tự do hơn có được không? Tại sao anh lại nỡ hờn ghen với những mộng mơ, trăng gió của em chứ?

Rõ ràng, Trâm biết nàng không thể tiếp tục với ông cai ngục tương lai của đời mình! Trâm đành phải thoát lấy thân, trốn chạy cảnh tù tội. Bây giờ, hai đứa chưa hẳn đã là gì của nhau, thì tốt hơn nên sớm liệu mà xa nhau. Và Trâm đã làm. Một cách quyết liệt. Mặc dù những lúc đêm về, trong cái tập thể cô giáo làng tương lai này, Trâm rất cô đơn. Nàng vẫn chưa quên được vòng tay âu yếm của Hải, mùi thuốc lá quen quen, và đôi môi đầy tham lam, quấn quít…

– Anh đừng đến đây tìm em nữa! Em sẽ không tiếp anh đâu! Vì xem ra càng ngày hai đứa mình càng không có điểm gì tâm đầu ý hợp hết. Tại sao anh cứ mãi bắt em làm theo ý anh, theo kiểu chồng chúa vợ tôi? Anh hãy đi về đi và đừng bao giờ trở lại. Xin anh hãy để cho em bình yên trong thế giới của riêng em.

– Thế giới của riêng em? Tức là không có anh trong đó! Nếu nói như vậy thì trong hai em đã chọn một, và em không hề có ý định chọn anh, có phải? Thôi được, anh sẽ để cho em nằm đêm tự suy nghĩ lấy. Nhưng anh vẫn giữ ý định của anh, em phải là của riêng anh. Anh không muốn em thư từ, hình ảnh với ai nữa hết, em nghe không?

Trâm không ngờ Hải cố chấp như vậy! Mà tại sao nàng lại quá thành thật với Hải chứ? Chuyện gì nàng cũng đem kể hết cho Hải nghe, tỏ rõ nguồn cơn. Ôi, thế mới biết là mình nhẹ dạ, nông nổi. Và cũng bởi tánh nàng rất thẳng thắn, nhứt quyết không muốn lừa dối bất cứ ai, ngay cả với chính mình. Giờ, dây chuông kể như đã cắt. Duyên phận nàng coi như một chuyến đã lỡ làng rồi. Trâm thở dài…

Bỗng, Trâm nhớ đến Thành, người anh tiền tuyến ở trường Hải quân. Và những bức thư đi đi về về đã bao lần sưởi ấm con tim lẻ loi, đơn điệu. Nàng bước vội về phòng, kéo ngăn tủ tìm lá thư mới nhất của Thành. Mặc dù tuy là lá thư mới nhất, nhưng cũng lại là lá thư được nàng đọc đi đọc lại nhiều nhất. Nàng nhảy phóc lên giường nệm tầng trên, trùm chăn lên tận cổ, đọc lại lần nữa:

Nha Trang ngày…

Trâm thương mến,

Anh không ngờ Trâm của anh lại là người đang sống trong cô đơn lạnh lẽo. Chuyện tình của Trâm kể ra cũng hơi buồn vào đoạn cuối. Nhưng không sao, thường trong một cái chết đều đã có sẵn cái mầm sống, cho đúng luật nhân quả tuần hoàn của đất trời. Cái mầm sống ấy vốn là nỗi vui “muốn làm gì thì làm,” “làm báo,” “viết văn,” “thành lập thi văn đoàn,” “kết bạn với các nhà văn nhà thơ,” v.v. mà Trâm đã đề cập đến trong thư. Tuy nhiên, Trâm nói rằng Trâm “chỉ có mỗi một sở thích nhỏ nhoi đó thôi” mà cũng bị anh ta “cấm đoán,” thì cũng đâu có oan gì cho lắm. Nhỏ nhoi sao được? Trâm không thấy cái sở thích đó là cả một đời người hay sao? Và chính Trâm đã coi trọng cái sở thích đó hơn cả người tình của mình, cho nên cuộc tình học trò ướt át, nên thơ đi đến tan vỡ là phải. Thường, theo ý anh, những tâm hồn nghệ sĩ rồi sẽ phải tìm kiếm và kết hợp với những tâm hồn nghệ sĩ thôi. “Yêu nhau là cùng nhìn về một hướng chớ không phải ngồi đó mà nhìn nhau,” nói theo kiểu St. Exupe’ry. Bằng không, những tâm hồn nghệ sĩ cần phải kết hợp với những tâm hồn rộng lượng, vị tha, biết sống cho người tình của mình (lắm khi còn nhiều hơn cho cả chính mình nữa). Trường hợp của Trâm đã không rơi vào hai môi trường kết hợp căn bản trên, với những điều kiện cần và đủ của nó.

Tình yêu, theo anh nghĩ, phải có hai phần: tâm hồn và thể xác. Ở người mình yêu và ở ngay chính mình. Thiếu một trong hai là không ổn. Chỉ đơn phương từ một người là không ổn. Bởi vậy, cần phải có sự hài hòa của cả hai về cả hai mặt. Ðể có thể nói tuy hai mà một. Nhưng thử hỏi, có mấy ai tìm được những người tình và những mối tình trọn vẹn như vậy chớ? Nói đến những mối tình, có lần anh nói với một thằng bạn rất gần của anh, rằng, mầy chỉ biết yêu những mối tình bé bỏng, lẩm cẩm đã đi qua đời mầy, chớ mầy không biết và chưa hề yêu đúng nghĩa một người tình nào hết. Thậm chí, chưa biết tương tư là gì. Và chính nó, nó cũng công nhận như vậy. Cho nên, việc khám phá thế nào là tình yêu, thế nào là người tình, chắc còn phải tùy thuộc vào từng cơ hội, từng hoàn cảnh, từng tâm hồn phải không Trâm?

Tuy nhiên, cũng theo anh nghĩ, cái gì tròn trịa quá thì chẳng hóa ra là một số không to tướng, có phải không?

Bây giờ, cho dù anh có yêu Trâm đi nữa thì anh chỉ được phép hiến dâng cho Trâm có mỗi một nửa thôi: phần tâm hồn. Phần thể xác thì chắc phải nhường cho người khác! Ít ra trong giai đoạn anh còn phải trụ trì ở chốn quân trường… đổ mồ hôi này tối thiểu hơn một năm rưỡi nữa. Vả lại, tình yêu của anh đến với Trâm không phải là những bức thư mang theo vòng tay ấm áp, bao dung này của anh hay sao? Bao giờ Trâm còn mong đợi, còn trông chờ từng phút từng giây những cánh thư của anh là ngày đó Trâm còn yêu thương anh, chịu không? Anh rất hi vọng rằng những dòng chữ này sẽ sưởi ấm phần nào trái tim đang độ cô đơn, ray rứt của Trâm.

Thôi, ít hàng cho Trâm của anh. Mong Trâm hãy đổi buồn làm vui, nỗi vui bất tận của cả cuộc đời. Cho anh hôn em kỷ niệm…

Thương em,

Thành

Trâm cảm thấy hình như Thành đã thấu hiểu hết tâm can gan ruột mình. Mặc dù hai đứa chưa hề gặp nhau, chỉ nhận biết nhau qua mấy tấm ảnh vô tri vô giác. Có phải chăng Trâm lại nông nổi, nhẹ dạ một lần nữa? Nàng mỉm cười với chính mình! Sao chuyện gì nàng cũng kể cho Thành nghe hết vậy? Trong thư! Ngay cả cuộc tình đầu trắc trở của mình với Hải. Thành ơi, anh có ghen hờn với Hải, với mơ mộng gió trăng của em không? Có lẽ không, Trâm cảm nhận như vậy! Thành bao dung, che chở, và già dặn tình đời hơn Hải nhiều. Thành lại cao ráo, đẹp trai như trong ảnh. Thành của em, Trâm gọi thầm, rồi bất giác chu mỏ, đặt môi hôn lên làn giấy láng.

Trâm tự hỏi phải chăng nàng đã khám phá ra thế nào là tình yêu, thế nào là tương tư như Thành đã ngụ ý với nàng trong thư? Phải chăng Trâm đã yêu Thành? Ðúng vậy, em đã yêu anh mất rồi Thành ơi! Vì ở đây, không ngày nào, không giờ nào mà em không mong ngóng thư anh. Vả lại, em tham lam lắm anh à, em không muốn dừng lại đó. Em muốn hết cả hai, tâm hồn và thể xác của anh cơ. Nếu anh không tìm ra Qui Nhơn được thì em sẽ kiếm đường vào Nha Trang. Trong một ngày gần đây. Em không thể chờ đợi anh thêm những một năm rưỡi trời đằng đẵng nữa…

Trâm quay sang hỏi con nhỏ bạn đang nằm học bài trên giường kế bên:

– Ê, từ đây vào Nha Trang bao nhiêu cây số hả Hằng?

Con bạn ôn dịch của nàng cười ha hả, giọng chị cả, chua chát lên tiếng:

– Hỏi chi lạ rứa! Răng mi tính đi xe đò vô đó tìm chàng? Vừa vừa thôi nha mụ non, trâu tìm cột chớ cột nào tìm trâu. Hãy chờ thêm một xí nữa là sẽ có ngày tàu chàng ủi bãi trước cổng trường và chừng đó mi làm ơn đừng có gọi tao đi chạy trốn nhá con quỷ sứ!

Trâm thở dài thườn thượt, kéo chăn phủ luôn lên cả mặt, cả đầu. Cái ngày mà Hằng và nàng mong đợi sao như mãi mãi còn lâu…

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 19 Nov 2025

Phần 20.

Bụi rau Dền Gai

Buổi sáng, những tia nắng rừng vạch sương rọi thẳng xuống sân trại. Những tàn cây, thân thẳng như những chiếc đũa chọc trời, không đủ sức che những vạt nắng càng lúc càng hừng hực trên lưng người tù. Những chiếc ba sườn cong lên khi người tù khom xuống.

Một ngày như mọi ngày, đám tù tập họp chờ lao động. Hơn ba tháng lao động giữa rừng xanh, cơm mục lẫn sạn cát, canh măng trộn muối, ngủ không mùng, đi chân trần, đau ốm không thuốc men, chết nhẹ nhàng như giun dế. Cả chục người chết chỉ mới mấy mươi ngày tập trung lao động, chờ hoài không thấy bút giấy, học hành gì. Thét rồi dường như người tù nhận luôn cái số kiếp con người lên khu rừng này chỉ có nhiệm vụ lao động và ngả xuống theo ông bà, không cần một giọt nước mắt của mẹ cha. Hà quay sang người bạn thắc mắc:

– Mày thấy bữa nay có cái gì là lạ không?

– Ừ! Nói nhỏ nhỏ vậy! Tụi nó nghe rắc rối!

– Lẽ ra bây giờ đã chui hết vào rừng cắt tranh và xắn măng, bây giờ còn đứng đây, chả có lệnh lạc gì! Tao thấy trên trại có mấy tên mới đến!

Toàn trại gần như im thin thít. Gần với cái chết, gần với bệnh tật, gần với cảnh chôn bè bạn không một miếng ván hòm… làm cho đám tù chai đi, ù lì và phó mặc. Nhưng quả thật, trong đầu đám tù, người nào cũng có những thắc mắc y như Hà . Bỗng mọi người không hẹn, mấy trăm cái đầu quay nhìn về văn phòng trại trưởng. Trung Ống Vố đi với một tên cán bộ lạ mặt, thẳng xuống sân trại, sau hắn là hai tên bộ đội súng cầm tay. Dường như cả hai khẩu AK đều trong tình trạng tác chiến.

– Tất cả các anh, thứ tự từng dãy trại, mang hết đồ đạc ra sân tập họp và chờ lệnh. Các anh nghe rõ không?

– Rõ!!

Đám tù như những cái máy, tuần tự ra sân sắp hàng.

Bóng nắng đã nghiêng góc. Rừng Kà Tót hôm nay khác lạ, ngay cả chiếc lá rơi cũng không bình thường, nó không rơi xuống đất mà đậu trên vai người tù, nhẹ nhàng, êm ái. Tâm trạng những người tù cũng không giống như mọi ngày. Một chút âu lo, một chút hy vọng. Có kẻ lại cóc cần… .

– Kệ mẹ nó! Đi đâu cũng được! Miễn là thoát được chỗ này!

– Ê mày ! Mấy thằng sốt rét bò càng mỗi đêm lên cơn sốt làm sao nó chuyển trại?

– Tao đâu biết? Cái thân tao, tao không biết có lết nỗi vài chục cây số đường rừng hay không thì còn lo cho ai được! .

– Không chừng lúc tụi mình đi, mấy ông nội sốt rét sợ cọp ăn cũng phóng theo. Mày khỏi lo!

Trên ban chỉ huy trại, một tên bộ đội bỗng ôm ra mấy cái võng. Hắn bỏ võng xuống đất và nhìn vào đám tù. .

– Ê? Anh kia? Ra khỏi hàng… Anh kia! Anh kia nữa!…Khẩn trương lên! Hai anh nhận một cái võng, nhanh lên?

– Thưa cán bộ! Tôi yếu, mới hết cơn hôm qua, chắc khiêng không nổi?

Một tên bộ đội lên nòng đạn AK, nhát gừng:

– Tôi không cần biết? Anh có khiêng hay không thì bảo!?

Thế là đám tù tong teo phải thay phiên nhau võng những đám tù da bọc xương rời trại. Lệnh chuyển trại không hề được báo trước, nó đến một cách đột ngột. Nó cũng không cho đám tù biết sẽ về đâu. Đám tù dắt díu đưa nhau rời trại, vượt rừng theo một lối mòn hướng về liên tỉnh lộ số 8, hai bên súng ống bộ đội chạy ngược chạy xuôi …

Đoàn xe chở tù từ trại Kà Tót về đến Sông Mao thì trời đã về chiều. Trại tạm trú là doanh trại của một đơn vị bộ binh VNCH bỏ hoang phế tự bao giờ. Có một số tù các nơi được chuyển về dây mấy hôm trước. Họ đứng từng nhóm nhìn đám tù mới đến.

– Trời đất ơi? Mấy anh em này bị nhốt ở đâu mà ông nào cũng như ông nấy, ốm và xanh xao như những thây ma!

– Có mấy anh em không xuống xe được, làm sao mình tới giúp họ!

– Bộ mày muốn bị nằm chuồng cọp chắc! Mày không thấy mấy thằng bộ đội hầm hầm nhìn đám tù hay sao? Họ cấm quan hệ với người mới tới. Bộ mày quên tên cán bộ nói buổi sáng hay sao?

– Tao thấy dường như có mấy thằng bạn quen! ĐM, tụi nó hành con người ta cái kiểu gì mà thằng nào cũng như những con ma đói!

Khi mọi người đã xuống xe, tập trung điểm danh, bộ đội đuổi tất cả đám tù cũ đang tụm năm tụm ba bàn tán về đám tù mới đến về phòng. Hà nói nhỏ:

– Mấy ông nội kia ở đâu mà sao tao thấy họ còn mướt và khỏe mạnh quá vậy mậy?

– Tao loáng thoáng thấy mấy thằng Đà Lạt và Phan Rang. Có lẽ tụi nó trình diện ở Lâm Đồng, Đà Lạt hay Ninh Thuận thì phải. Tụi mình số con rệp mới trình diện ở Bình Thuận để bị đày lên Kà Tót. Chắc kiếp trước mắc nợ Trung Ống Vố! Nghĩ mà tội những anh em không về Sông Mao với mình!

– Ai?

– Sao mày ngu quá vậy! Mấy chục đứa chết trên Kà Tót kể từ lúc mất Lâm Đồng, vượt rừng về Phan Thiết bị bắt, và một số anh em nghe lời xúi dại trình diện sớm, như Biên, chi khu Tuy Phong…, đa số đều ngủ lại thiên thu trên Kà Tót. Về đây tao mới thấy cái sống, may ra!

– May ra là sao? Sao lại may ra?

– Thì ai biết?? Mình như con dế trong hộp, tụi nó rinh đi đâu thì mình chết dí ở đó. Ai cấm sáng mai, tuần sau tụi mình bị chuyển đi nơi khác còn tàn độc hơn Kà Tót!

– Kệ mẹ nó! Coi như hết số rồi! Tìm chỗ ngả lưng cái đã! Mai còn sống thì thấy mặt trời mọc, còn chết thì bỏ, lo nghĩ hoài mệt quá!

Đêm đầu tiên ở Sông Mao là đêm thần tiên. Đám tù ngủ say như chết. Sáng ra không thấy rừng cây u ám, không thấy những rừng tranh ngun ngút, không thấy lên rừng đốn tre, chặt mây… và không thấy cái cùm dài hàng chục thước xỏ chân người như xâu cá nục, nhung nhúc những rệp. Nhưng khi nắng lên, hực lửa đổ xuống mái tôn, anh em bỗng nhớ những tàn cây trong rừng Kà Tót, nhớ dòng suối uốn quanh bên sân trại, nước trong và mát. Kà Tót vô cùng nên thơ trong những đêm trăng tỏ, trừ những đêm trăng cọp gầm hay về chụp mấy con heo của trại. Trại không có hàng rào chỉ nghe tiếng lách cách của AK ở đâu đó, nó làm cho trăng vỡ, nó làm cho đêm thành ác mộng…

Cuối hè 1975, đầu tháng Tám, trời Sông Mao đổ nắng, nước không có, từng toán tù chia nhau đào giếng. Chẳng có giếng nào có nước trên vùng đất cao. Những ngày đầu chưa phân trại, nhìn ra bên ngoài hàng rào thấy dân qua lại cũng đỡ buồn, nhưng nghe tiếng bà bán xôi bắp rao hàng, hàng trăm bao tử của đám tù thi nhau co thắt. ..Đói! Cái đói trên rừng Kà Tót cận kề tử sinh nên nó ngủ yên, nay về đồng bằng, gần dân, gần thôn làng, gần với những giấc mơ được gia đình tiếp tế nên nó thao thức, nó đòi hỏi, nó dày vò. Trại thì cấp lương thực cho tù gần như lấy lệ kiểu nuôi mèo hoang, nên đám tù phải kiếm thức ăn như trâu bò để dằn bao tử.

Cả một khu doanh trại quân đội VNCH bỏ hoang mọc lên đủ thứ, khoai mì, rau đồng tiền, rau lang, rau dền trơn, rau dền gai nuôi heo và những cây bắp rài. Các toán tù đến trước đó vài ngày từ các nơi khác, khỏe mạnh, hồng hào, còn dự trữ thức ăn của gia đình, họ nhìn bọn tù về từ Kà Tót như những tên ăn mày đói rách, thất thểu lang thang dưới nắng hè tìm đủ mọi thứ rau để ăn dậm.

Lúc đầu thì chỉ nhặt các loại rau lang, đồng tiền, rau dền trơn. Vài ngày sau, đến bắp non, đọt mì… Và một tuần sau nữa thì sạch, chỉ còn những thảm cỏ còi cháy nắng và khu dền gai mọc cao hơn đầu người đầy sâu bọ, rắn rết. Hà nằm trong toán tôi. Tôi chịu đựng, lầm lì. Hà bất an lo âu.

– Anh Hai! Tụi mình quả ăn nhanh hơn trâu bò. Chưa đầy 10 hôm mà mình ngốn cha nó hết những thứ rau dại, cỏ hoang, mà vẫn đói thấy bà tổ. Chẳng hiểu tại sao mấy thằng chả cho tụi mình ăn như mèo!

– Ở Kà Tót, tôi thấy tụi mình là những con vật. Về đây, nhìn anh em Đà Lạt, Lâm Đồng, Ninh Thuận mình mới thấy hy vọng mình được đối xử như con người một chút. Nhưng đói thế này thì thành ma đói, cắt đi lao động là chắc chết! Hà có biết đại úy Nguyễn Văn Tư hấp hối tự hôm qua không? Chắc Tư ra đi trước bọn mình!

– Toán mình có bác sĩ Lê Bá Dũng mà!

– Bác sĩ Lê Bá Dũng làm gì được với mấy con trùng sốt rét tràn ngập trong máu Tư? Bộ anh tưởng hễ là bác sĩ thì có quyền án ma ni thần phù khỏi cần Chloroquine, Quinine, Fansida chắc!?

– Tôi không rành chuyện thuốc men. Không về đây, anh Tư cũng chết trên Kà Tót, về đây ảnh chết gần nhà hơn! Số kiếp! Thôi để tôi chạy tìm chút rau cỏ gì để cải thiện chiều nay.

Hà chụp lên đầu cái mũ làm bằng bao cát bước ra ngoài. Tôi nghĩ bụng, bây giờ là lúc Hà BĐQ tận dụng hết ngón mưu sinh thoát hiểm trong các lớp rừng núi sình lầy trước đây ở trong cái rọ này, mưu sinh thét rồi cũng không còn một cọng cỏ non, còn thoát hiểm thì vô kế khả thi! Ngày xưa, quân trường Sình Lầy Dục Mỹ đâu có ngờ, đâu có dự liệu cái ngày phe ta thê thảm như hôm nay.

Tôi qua phòng Lê Bá Dũng, Tư hai mắt lờ đờ gần như đứng tròng. Tôi phụ Dũng đổ một ít nước vô miệng Tư. Dũng lắc đầu. Dũng là y sĩ chỉ huy phó Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch và Tư là sĩ quan tài chánh. Hai người cùng đơn vị, hội ngộ trong tù, và sắp chia tay. Tôi là bạn học cùng lớp. Hai thằng trơ mắt, xuôi tay trước cái chết sắp xẩy ra trong giây phút của bạn mình. Tư tắt thở sau đó trên tay tôi và Dũng. Thêm một đứa ra đi. Những người ở lại cũng chai đá trước cái chết gần như định số, kẻ trước, người sau…

Buổi chiều, Hà trở về, kéo theo một bụi rau dền gai bị chặt gốc. Hay tin Tư qua đời, Hà khựng lại, thở dài rồi tiếp tục với bụi dền gai, coi như không có chuyện gì xẩy ra.

– Bụi dền gai tổ bố này Hà kiếm ở đâu vậy?

– Ở góc trại, sát hàng rào kẽm gai. Chỗ đó chui ra được bên ngoài là thoát, vì nó nối sát với một đường mương.

– Nhưng lạng quặng coi chừng vướng mìn phe ta còn để lại. Ớn bỏ mẹ!

– Bộ gần đó không có trạm gác sao?

– Bây giờ thì không. Tương lai thì không biết! Thôi bỏ chuyện này đi. Lọt tai cán bộ là khốn nạn!

Lần đầu tiên kể từ ngày lên Kà Tót và chuyển về đây bữa nay mới nghe Hà đề cập tới chuyện trốn trại. Bị cắt đứt với bên ngoài, bị khủng hoảng đến tê liệt tinh thần ở bên trong, tôi gần như không có ý niệm gì cho cái chuyện vượt thoát. Thế nhưng hôm nay, khi nói chuyện thì thầm với Hà, tôi bỗng thấy bầu trời bung rộng lớn hơn, màu xanh của đám cây ngoài trại dễ thương hơn, cánh chim trên bầu trời nhẹ nhàng hơn, và nỗi khát khao tự do bừng bừng trỗi dậy, nó trỗi dậy như sóng vỗ, và nó cũng tan mau như cơn sóng lùi ra biển khi tầm mắt nhìn vào lớp kẽm gai vây kín, bên ngoài lảng vảng bóng dáng những tên bộ đội đi tuần. Khi tôi tư lự Hà bắt đầu chặt bụi dền gai ra từng nhánh.

– Chiều nay toán mình bồi dưỡng mấy nhánh này. Phần còn lại cho ngày mai!

– Dền gai toàn là gai làm sao ăn được?

– Bộ anh không biết người ta bầm dền gai nấu cháo heo sao? Heo ăn được là người ăn được. Món này có trong danh sách các thứ rau cỏ mưu sinh. Lần này tụi mình mưu sinh, chuyện thoát hiểm hạ hầu phân giải!

Anh em xúm nhau lặt tất cả đọt non, tất cả lá, bất kể lá non hay lá già. Thân cây dền lô nhô những gai nhọn hoắc được anh em róc bỏ, chặt ra từng khúc, tước vỏ ngoài còn lại cái lõi bên trong. Đọt và lá luộc riêng, lõi thân dền luộc riêng. Cả đám chụm đầu nhau ăn buổi chiều, gạo mục, rau dền chấm nước mắm. Một bữa ăn thần tiên của anh em nhờ ngón nghề xưa của Hà.

Sang đến đầu năm 1976, trại Sông Mao được phân trại theo cấp bậc tù nhân dưới cái tên trên giấy tờ: Tổng Trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao thuộc quân khu 6 của Việt cộng. Trại A ở phía Đông tập trung tất cả sĩ quan từ đại úy đến đại tá. Đại tá Lê Hưng Phê, chỉ huy phó BĐQ/QK2 cũng nằm trại này. Trại B nằm ở giữa tập trung tất cả anh em sĩ quan cấp trung úy, và trại C nằm về hướng Tây gồm tất cả anh em thiếu úy và chuẩn úy. Tù nhân phải tự làm trại và hội trường lấy để chuẩn bị học tập chính trị.

Từ khi tổng trại gom tù các nơi về và chia làm ba phân trại, tôi ở trại A, Hà ở trại B, cách nhau một hàng rào kẽm gai gang tấc mà anh em lại xa như ngàn trùng. Sau gần 6 tháng xây trại và các dãy phòng học, toàn trại bị vùi đầu vào các lớp học chính trị tẩy não, nhồi sọ với bài học số một: “Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân thế giới và là kẻ thù số một của dân tộc Việt Nam”… “Tội ác ngụy quân, ngụy quyền..”, “Ba dòng thác cách mạng..”, rồi thu hoạch, rồi kiểm điểm, toàn những thứ nhét vô lại trào ra, nhưng nó lại làm cho con người phờ phạc, thèm đi lao động, thèm phơi nắng giữa trời, thèm ật lộn với mồ hôi hơn là ngồi chồm hổm nghe những bài nhồi sọ.

Cho đến khi bắt đầu trở lại giai đoạn lao động, đám tù ba trại thỉnh thoảng mới gặp nhau. Dọc đường xe lửa các ga Sông Mao về phía Nam độ ba cây số, tù nhân ba phân trại được lệnh tập trung phá rừng thưa trồng bắp. Có những buổi trưa hạnh phúc khi nhìn đoàn tàu đi ngang qua. Có những buổi trưa hạnh phúc khi một vài cánh tay nõn bà con gái đưa tay vẫy về phía đoàn tù đang chống cuốc đứng nhìn đăm đăm.

Dường như ai cũng muốn tìm trong đám đông trên toa xe hình bóng thân thương của vợ con, cha mẹ. Một vài anh em vẹt nước mắt, không biết nước mắt hay mồ hôi. Có những toa tàu đi qua, có những toa tàu mất hút. Hà là người nhìn tàu hỏa đi qua một cách chăm chú như bị con tàu thôi miên. Tôi gặp lại Hà trên các luống bắp, đang nhìn theo con tàu. Tôi kéo Hà vào một bóng cây, nhìn quanh, không có ai, tôi hỏi.

– Hà! Khỏe hả? Sống bên trại B ra.sao? .

Dường như Hà gặp tôi mà quên cả mừng, quên cả trả lời câu hỏi. Trong đầu Hà đang bị một cái gì cuốn hút. Hà bất chợt hỏi:

– Nghe nói ngày xưa đơn vị đầu tiên sau khi anh ra khỏi lò Thủ Đức là An Ninh Thiết Lộ?

– Ừa! Lính xe lửa!

– Anh thấy sau khi rời ga Sông Mao chạy ngang khu rừng này mà xe chạy tốc độ mình thường thấy hàng ngày, anh có thể phóng theo nhảy lên tàu được không?

– Hà ơi! Tôi hiểu Hà rồi! Tội quá! Bây giờ hai cái giò tôi muốn teo lại không biết có chụp tàu được không, nhưng thuở xưa thì lính An Ninh Thiết Lộ lên tàu và xuống tàu dễ dàng với tốc độ này. Hà còn trẻ, còn khỏe, tôi không biết sao, nhưng nguyên tắc là phải chạy theo tàu gần với tốc độ tương đương, rồi chụp thành tàu phóng theo, không thể đứng một chỗ phóng lên tàu khi tàu chạy, và cũng không thể chạy chậm hơn tàu mà phóng được lên tàu. Vấn đề là có một khoảng thuận tiện để có thể chạy theo tàu!

– Tôi hiểu rồi! Thôi mình chia tay, hết giờ ăn trưa, tụi bộ đội đang đi tới!

Tôi lách ra, cúi đầu vun những gốc bắp. Hà biến mất trong mấy lùm cây. Hôm sau, Hà gặp lại tôi cũng vào giờ nghỉ trưa. Cũng lại một đoàn tàu đi qua. Mỗi đoàn tàu đi qua để lại trong đầu Hà một viễn tượng vượt thoát mạnh hơn. Hà tâm sự:

– Thú thật, trong số anh em, tôi biết anh hơn cả. Tôi tin anh hơn cả. Tôi lại biết cả đơn vị đầu tiên của anh, hay là tôi và anh tìm cách thoát. Về thẳng Sài Gòn, anh sống lang thang với tôi, sau đó tìm cách chui xuống miền Nam.

– Hà biết, khát vọng tự do, khát vọng thoát tù trong tôi không thua gì Hà cả. Tôi đã mơ ngàn giấc mơ. Tôi mơ trong giấc ngủ, tôi mơ khi ngả lưng nhìn những con chim bay, tôi mơ những đám mây lang thang trên bầu trời… Cái thân tôi đánh cuộc cái chi tôi cũng cóc cần, nhưng tôi mà thoát là cả 1 lò nhà tôi bị hết, bị vây bủa, khốn nạn. Tôi biết rõ cảnh này.Tôi chịu đựng, tôi an phận tù đày một phần cũng vì cái an nguy của gia đình. Chế độ này không từ một ai. Chế độ này không có chuyện ai làm nấy chịu. Họ cột nhau một chùm, họ cột cả nước một chùm.

Hà nắm tay tôi xiết mạnh.

– Anh giữ gìn sức khỏe. Tôi đã định một con đường. Anh cầu cho tôi nghe. Anh đạo Phật hả! Anh thầm tụng kinh cho tôi nghe!

– Ừ Tối nay, tôi sẽ lấy đũa làm nhang hướng qua trại B tụng Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế âm Bồ Tát cho Hà! Hà phải thật cẩn thận, kín đáo, đừng để ai hay, thoát không được thì tìm cách nhập vào toán lao động để về trại Tụi nó phát giác là tàn đời, Hà hiểu không?

– Anh đừng lo! Số tôi cao lắm!.

Hôm sau, các toán lao động lại tập trung ở rẫy bắp. Kể từ khi hết học tập chính trị và ra lao động đến nay, chưa có một vụ đào trại nào. Buổi trưa đám vệ binh chui vào bóng râm, các toán lao động cũng ngừng việc tìm bóng mát ăn trưa. Hà băng mình như con chuột lủi xuống ống cống và chui sang bên kia đường rầy. Trưa đó Hà không gặp tôi.

Chuyến tàu về Nam hú những tiếng còi dài rời ga Sông Mao tiến gần, càng gần đến ngang rẫy bắp. Tôi gần như bỏ ăn, hồi hộp nhìn đoàn tàu đi qua. Tôi hồi hộp sợ nghe tiếng súng nổ. Không có gì. Tôi mừng cho người bạn trẻ. Đoàn tàu mất hút. Tôi cứ đăm đăm nhìn theo mà tường chừng Hà đã thoát được lên tàu.

Mọi người lại bắt đầu lao động tiếp. Buổi chiều, trên đường về, toán lao động trại B về trước, đi ngang qua toán tôi, tôi kinh ngạc thấy Hà thất thểu vác cuốc đi chung toán, áo quần rách toạt mấy chỗ, chân đi cà nhắc. Hà nhìn tôi lắc đầu. Tôi nhìn Hà lắc đầu. Buổi lao động kế tiếp, gặp Hà tôi chưa hỏi được câu nào, Hà đã lên tiếng thì thầm:

– Suýt nữa là thoát. Tôi chờ toa chở gỗ sau cùng không có người, chạy theo kiểu anh nói, nhưng tôi chụp hụt thành tàu, té muốn gẩy bản họng. Chả ai thấy tôi. Tôi lăn xuống mé đường rầy, lom khom bò về ống cống, chui qua rẫy nhập bọn lao động tỉnh bơ. Phải trước kia ra trường tôi chui vô cùng đơn vị anh thì hay biết mấy !

– Tôi lo điếng người. Khi tàu mất hút, tôi cứ ngỡ Hà con chim xổ lòng tối nay tung tăng ở Sài Gòn!

Một thời gian sau, khi các toán lao động không làm việc chung trên cùng một đám rẫy, tôi không có cơ hội gặp lại Hà. Tôi không biết Hà còn ở trại hay đã “hổ mất xác”. Rồi mọi chuyện cũng quên đi. Một đêm Sông Mao lạnh cứng người, cơn mưa ném mạnh những hạt nước theo gió qua khe vách tù. Cái lạnh của đêm, của mưa, của gió, của những tấm vĩ sắt thay ván không ngăn nỗi những mệt nhọc của một ngày lao động mệt nhoài, đám tù cứ ngả lưng là lăn ra ngủ. Nửa đêm, bỗng có tiếng AK nổ, và thượng liên trên chòi canh nổ theo dồn dập. Có tiếng bộ đội cộng sản chạy thình thịch. Cả trại thức giấc. Cơn mưa lại tiếp tục. Tiếng súng không còn nổ. Nhiều anh em đoán chừng là có người vượt trại bên phân trại B. Tôi bỗng lo cho Hà và không ngủ được đến sáng.

Buổi sáng, trời tạnh mưa và mây tan. Mặt trời lên sớm. Tôi ra sân trại, vờ đi cầu ở hầm cầu gần hàng rào kẽm gai phân trại B để quay mặt nhìn qua một góc hàng rào đầy những bụi dền gai, nơi bộ đội cộng sản chùm nhum làm cái gì đó Bỗng tôi điếng người. Họ khiêng ra một xác người mắc dính dưới hàng rào kẽm gai.

– “Trời ơi? Hà!”

Hà đã tìm cách vượt trại ngay đám dền gai mà Hà phát giác từ lúc rời Kà Tót về Sông Mao và Hà đã thua cuộc.

Miền Nam đã không dự liệu được ngày 1975. Quân lực đã không dự liệu được cái cảnh mưu sinh mà không đường thoát hiểm, và Hà đã bỏ mình ngay bụi dền gai ban đầu trong những ngày mưu sinh trên vùng đất chết của cái gọi là Tổng Trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao. Tội nghiệp Hà, một con chim bất khuất, khao khát tự do, bị chết oan nghiệt trong chiếc lồng tù ngục.

Tôi biết gì về báo Nam Phong và về Phạm Quỳnh đối với đồng bào trong Nam

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 18 Nov 2025

Dẫn

Tôi thuở nay là đứa nhát đèn, nhưng có tánh ưa nói chuyện động trời, khi nói lỡ và viết lỡ, thì như con thỏ có tai dài, ở chung trong rừng với các chúa sơn lâm, thì cứ vẫn sợ bị nghi tai dài như sừng, và chỉ các chúa trong sơn lâm mới được phép có sừng, và khi ở chợ ở kinh thành, thì tôi rất sợ làm con bướm ham se sua khoe cánh vào đèn mà lửa táp cháy cánh không hay, và vẫn thích làm con dế mèn, trốn trong hang kín, khi trăng thanh gió mát thì xòe cánh gáy chơi … Bấy lâu có người tặng và gọi tôi là “học giả”, tôi xin nhìn nhận có lẽ là học giả giả thì được mà học giả thứ thiệt thì còn xa. Sách báo cho tôi đồng hàng với cụ Trần Văn Giáp, ông nầy là phụ tá chánh thức của trường Viễn Đông Bác Cổ, Pháp gọi assistant de l’Ecole Française d’Extrême Orient, còn tôi vẫn chưa ra chưa biết Hà Nội lần nào, chỉ khi Tây chạy vô đây, thiếu người dùng, và sẵn thấy tôi làm viên thơ ký ăn lương công nhựt nơi viện bảo tàng ở đây lúc đó, rồi dùng tôi luôn, còn như sánh tôi với Đào Duy Anh, thì xa nhau mười lăm bã trầu liệng chưa tới, Đào quân chữ nho chữ Hán đầy bụng còn tôi chữ nghĩa lem nhem không đầy lá mít, hoặc giả sánh tôi với Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê có lẽ được và tôi nhìn nhận tôi là bạn và thường năng lui tới nhà anh và kính anh Lê như người thầy vong niên, nhưng nhờ tôi từng lặn ngòi lội nước, biết chút ít học lóm trường đời, nhưng một đôi khi anh Lộc Đình cũng chịu tôi khá khá về việc trong nầy: Đồng Tháp cũng từng, Sài Gòn tiêm hút á phiện, xóm chị em cũ đều từng đặt lưng hoặc từng chà lết chung chạ …

Có bao nhiêu nay xin khai hết và xin bỏ qua cho. Hôm nay, 29 tháng 11 năm 1992, có một bạn nhỏ đến nhà mời viết về đề tài trên đây “Nam Phong và ông Phạm Quỳnh, đối với đồng bào trong Nam”, tôi đã giẫy nẩy từ chối, và tôi khuyên ông bạn nhỏ hãy cậy bà Mộng Tuyết, quả phụ của thi sĩ Đông Hồ, là người biết rành hơn tôi và xứng đáng hơn tôi, nhưng ông bạn cứ nằn nì bảo viết rằng nay bất chấp và tha hồ … Vì vậy mà có bài “xả láng” nói huỵch tẹt nầy, mặc cho sấm sét búa rìu, thương nhờ ghét chịu, trâu già hết sợ dao phay!

Với cái tuổi 92, và chỗ sẽ đi tới vẫn khỏi thông hành chứng chỉ. Sợ gì? Miệng tuy nói vậy và bụng cũng không mấy hứng, vì bây giờ có tật sửa, xén, cắt và bỏ của mình gần hết, – nhưng lần này kể như lần chót hay thử coi ra thế nào. Nói về tạp chí Nam Phong trước.

Báo Nam Phong ngày nay giá mắc hơn vàng. Một tờ báo lẻ, giá tương đương có hơn hoặc bằng lương một tháng, nói đây là nói với người ham sưu tập chớ đối với trong đất Nam nầy, ngày xưa, khi phát hành, nhớ như lối năm 1917 gì đó, theo như tôi biết và chỉ nói riêng về tỉnh nhỏ nhau rún của tôi là tỉnh Sốc Trăng, vừa bị nạn sóng thần thăm viếng tan nhà nát cửa hai quận Long Phú và Vĩnh Châu, sóng leo lên bãi thì mặc kệ lượn sóng nó điên cuồng, người Thổ trong vùng, gọi “rồng hay cù dậy”, dân bổn xứ đã có chữ “sóng Thần”, nhưng ngoài kia không chịu chữ “Thần”, đổi lại gọi “Triều cường”, triều vả chăng là nước biển nước sông khi lên khi xuống thì gọi làm vậy, còn cường là mạnh, ai lại không biết, nhưng triều cường thế cho sóng thần, vẫn

chưa mấy ổn, cũng là tại cái tật của Nam Phong còn sót lại, báo Nam Phong năm nào đó đăng lại bài văn tế chúa Nguyễn Ánh tế thầy cả Bá Đa Lộc, có câu: “ … trời Phú Quốc”, trong báo N.P. sửa lại là … “trời cố quốc”, và ngày nay vô đây thấy hòn đảo, mới nhận “Phú Quốc” là đúng, và nhớ lại tỉnh Sốc Trăng khi báo N.P. ra đời, tỉnh có gần gần một trăm xã thôn, thì quan chánh bố ép làng mua hộ giúp N.P. rắc rắc gần đủ 100 niên báo, mà một năm báo như vậy giá chỉ có ba đồng sáu cắc bạc (3$60) tức ba cắc bạc mỗi tháng, nhưng trên biên lai thu tiền vẫn ghi 3$60 và viết thêm “ba đồng sáu hào chỉ”, dân trong nầy hồi đó đều cười và nói thầm với nhau, cắc bạc là cắc bạc nói phứt cho rồi, hào chỉ (hầu chỉ tiếng Quảng Đông) lại cũng nói theo Tàu chưa bỏ, còn báo thì – khi tôi khởi sự ham sưu tầm và tìm mua, thì mọi làng đều trả lời: “Không ai hiểu báo nói gì, và đã lấy giấy đậy hũ mắm hoặc cho trẻ phất diều, cho mẹ bù trẻ lót tã và tệ hơn nữa, cho chùi … khi đứa trẻ làm xấu! Của quí, đã nói quí hơn vàng, mà đành đem làm giấy vệ sinh, than ôi, đâu phải chỉ có Phật có người thường lâm nạn, mà khi vào tay dân quê dân dốt, chữ ông Thánh cũng khó tránh tai ương!

Và phần đông các tỉnh trong Nam, Bạc Liêu, Sốc Trăng, Trà Vinh, Châu Đốc, dân cư là dân Thổ, thì đều na ná như vậy, không biết giá trị N.P. và tôi hỏi kỹ lại, chỉ có mấy tỉnh dân kinh ở nhiều, Mỹ Tho kể đầu, Vĩnh Long, Sa Đéc, đều biết giữ lại tờ N.P. vì dân cư phần lớn là người kinh, công chức về hưu, hoặc cai tổng, hội đồng địa hạt có vốn chữ nho hoặc đã đọc một ít tờ báo từ ngoài kia lọt vào, duy lạ nhứt là báo N.P. được một tỉnh nhỏ xa xôi, khỉ ho cò gáy, Hà Tiên, sùng bái lại đề cao nhứt, vì Hà Tiên là quê hương của một người, không học Pháp văn nhiều, nhưng già giặn chữ Hán, là bạn tâm giao, Đông Hồ và nữ sĩ Mộng Tuyết, Đông Hồ mở trường luyện quốc văn, và M.T. trước là học sinh, vốn người trong thân rồi trở thành người bạn trăm năm, vừa trung thành, vừa đồng chí, đồng gối chăn.

Trong khi các tỉnh có nhiều người khơ me ngụ, chê đè tạp chí N.P. như đã nói nơi đoạn trên, thì trái lại, ở đất Cần Cao (do tiếng Cảng khẩu nói giọng Tàu) Hà Tiên (Cần Vọt) lại có phong trào sớm vung bồi tiếng mẹ, chít khăn đóng, mặc áo dài thâm và nói nhiều giọng Bắc, viết nhiều văn Hán Nôm và mỗi mỗi cử chỉ, phong tục, văn chương, văn hóa, lấy làm gốc: điệu bộ, thói lề, nghề viết muốn cho được y như trên cao kia mới nghe: âu cũng là một biến cố mới, nói theo giọng tân thời, hoặc đó là một chuyển biến của một thế hệ thấy cử chỉ, phong tục, văn hóa gốc Tàu của họ Mạc, họ Lâm v.v .. cần phải thay đổi cho hợp thời hạp mới.

Trong lúc miền Nam đang xáo trộn thay đổi như vậy, tôi bắt đầu biết giá trị tạp chí N.P., nhờ một sự bất ngờ. Tôi đang học lớp nhì (cours moyen trường tỉnh Sốc Trăng) năm 1918, vừa 16, 17 tuổi đầu, thì có một đàn anh lối xóm, đến làm quen, anh ấy tên Nguyễn Tích Thiện, có dắt theo và giới thiệu một bạn, hình dáng vặm vỡ to xương, chắc da chắc thịt, da đen ngăm ngăm, bắt tay siết mạnh và xưng tên Phan Văn Hùm. Lạ nhỉ, sao lại tên Hùm? Hóa ra cùng một tuổi dần, nhưng mình vừa lớp nhì, còn vài năm nữa mới thi “xẹt”, còn Thiện đã có bằng thành chung, đít lôm và sắp ra trường Hà Nội, Cao Đắng Sư phạm, còn Hùm, thì chưa nói học lực tới đâu, duy rõ là bạn tốt của Thiện, vì thấy Thiện sẽ bị cho thi rớt, không được thi đỗ làm giáo sư Trung học và tấm lòng nghĩa hiệp của Hùm càng làm cho tôi kính nể thêm nhiều, và nhứt là trong giao thiệp, trong nói năng, thảy thảy đều lướt và hơn tôi thập bội. tỷ như: Thiện muốn lập trường tư có nuôi học trò vừa dạy vừa cho chỗ ngủ, cho cơm ăn, tôi nói: “trường ăn cơm trong”. Hùm cười và nhỏ nhẹ sửa lại: “Thưa anh, Ký túc xá, Tây gọi Pensionnat, Internat”. Tôi mắc cỡ thầm, qua tiếng khác, tôi hỏi: cũng nói học buộc (tưởng mình lòe … biết chút tiếng Tây, nhưng Hùm sửa lưng: “Đừng nói vậy! Đó là “có học bồng!”. Tôi biết mình kém và sớm chịu thua, rón rén hỏi: “Học ở đâu mà có những từ hay quá đó?” Hùm lễ phép trả lời: “Anh về tìm mua tạp chí NAM PHONG”. Tôi day qua hỏi người anh cả, mua ở đâu? Thiện cười cười đáp: “Mua không có nữa đâu. Chính tôi lục soát mấy năm ở Hà Nội mà tụi nó không có mà bán!”

Rồi từ ngày ấy, năm 1918, chia tay nhau. Năm 1919, tôi thi đậu xẹt, lên học trường Sài Gòn, collège  Chasseloup-Laubat, còn Hùm ở lại Sốc Trăng giúp Thiện lập trường Pensionnat Nguyễn Tích Thiện, nhưng khi phát tài, Thiện trở nên hoang phí, Hùm can ngăn không nghe, Hùm thôi làm tổng giám thị (surveillant Général), trở ra Hà Nội, học trường Công chánh, đậu chức cán sự chuyên môn (agent technique des travaux publics), rồi sang Pháp trở về cử nhơn văn Pháp, nhưng gãy cánh giữa đường, còn tôi vẫn lé đé đỗ brờ vê (brevet élémentaire), đỗ thành chung (diplôme de fin d’études complémetaries franco-indigènes) mang chữ “anh đi rềnh” đậu thêm chức thơ ký Soái phủ Nam kỳ (sau gọi Thống đốc), nhưng mỗi người riêng mỗi kiếp và mỗi số phận, nhưng Hùm và tôi biệt và không thấy mặt nhau từ 1918, tuy thỉnh thoảng tôi vẫn tìm đọc bài viết của Hùm, sở dĩ về sau Hùm được khen viết chánh tả ít sai (lời khen nầy là của Phan Khôi) và tôi rõ lại viết cứng là nhờ có thọ giáo với Diệp Văn Cương, ông nầy, tôi biết mặt vì ông dạy lớp Việt văn đệ tứ (4ème année), tôi ngồi lớp đệ Một (1ère année) hai phòng sát cạnh, tiếng giáo sư ngang hàng giáo sư Tây của ông Cương, lồng lộng nghe vang, nhưng tôi chỉ được nghe lóm, cho đến nay còn tiếc hối, và tự trách viết còn phải kè kè khít bên, cuốn Chính tả của anh Lê Ngọc Trụ. Nhớ câu của Tư Chơi khóc kép Tư Úc: “Những thằng đáng chết sao chưa chết, lại chết chi thằng đáng sống lâu?”. Nay thảy đều không còn và còn một mình đây, chưa chắc là hay là cái chắc! Tuy dở thì xin chịu, nhưng nhờ vảy may, học được với Hùm và mua được một bộ Nam Phong tạp chí chẵn chòi 210 số, mới toanh, nhưng nay đã lọt về tay người khác, và xin để cho tôi thuật đầu đuôi tự sự như sau:

Cái tật của tôi là khi viết vẫn ưa cu cu chần chần làm vậy đã quen, muốn nghe thì đừng cắt, cắt cụt thì tốt hơn là đừng nghe, và tôi vẫn thấy đài B.B.C như đài Mỹ, phát thanh ăn tiếng (manger les mots), tôi dám chê, nhưng vẫn chê thầm chớ làm sao gởi phản đối tới tai họ. Trở lại chuyện Nam Phong và Phạm Quỳnh, viết đến đây đã bốn trương, khiến đâm chán, viết dài bị thiến, muốn cắt cho mất giống, thôi thì tôi viết tóm tắt đại lược rồi lấy chi mà thiến, và chuyện thâu vắn như dưới đây là ngoài ý muốn:

Đến hôm nay, độc lập về trong tay đã 18, 19 năm, mà tại sao chữ in trên sách báo vẫn nhỏ tí xíu, nhỏ hơn chưn muỗi, rồi làm sao mắt già đọc được. Giấy in thì xấu, mực in lại quá lu, mua sách mua báo uồng tiền, tiền trả cho người viết bỏn sẻn, chung qui nhà xuất bản quá thâu chặt miệng túi, vả lại vẫn tùy vì vẫn ở trong tay kẻ bao thầu, rốt cuộc nín hơi rặn hai năm, đẻ ra tỷ như tôi, năm 1982, bản thảo “Chuyện một cô lưu lạc, chuyện bà giấu tên, V.A … ” năm 1983, bản thảo “Sài Gòn tạp pín lù”, tôi viết “tạp pín lù”, trối kệ thây tôi, khi in lại đòi đổi làm “Sài Gòn muôn vẻ” rồi nhập hai bản thảo làm một. Về giá trị của báo Nam Phong, tôi biết có một người tốt số là Nguyễn Khắc Kham (đã mất), một bữa nọ, ông đi đâu đó gặp một chú Ba Tàu, gánh một gánh sách cũ ông hỏi mua và túi không đủ tiền, ông ba chưn bốn cẳng chạy về lấy trả cho Ba Tàu, ông mua được bảy hay tám chục số lẻ rời rạc Nam Phong, mà chỉ tốn mỗi số độ 1.000 như giá thách của Ba Tàu, vị chi tốn có bảy hay tám chục ngàn đồng (70.000 hoặc 80.000) trong khi nghe đâu Đại Đức Thích Tâm Châu định sai người qua Paris xin thâu ảnh (photocopie) N.P. nơi Thư viện quốc gia (Bibliothèque Nationale) của Pháp, thì ắt phải xuất biết bao nhiêu triệu mà kể?

Một người tốt số thứ hai là Đông Hồ. Anh nầy, ở Hà Tiên chạy lên Sài Gòn, lập quán bán sách lớn, anh đăng báo và mua đủ mọi giá, lần hồi anh có được một số sách báo to, anh tuyển chọn, vá víu, lựa được toàn một bộ Nam Phong vừa ý (nay đã qua đất Pháp về tay cháu ngoại), tôi không rõ anh đã xuất ra bao nhiêu, nhưng có ai lanh trí, nhạy hơn, và có duyên với sách quí, bằng anh Đông Hồ?

Và người tốt số nhứt hạng, và bộ Nam Phong nầy nay cũng đã qua đất Pháp duy không rõ còn trong tay người đó hay đã sang tay chủ khác (Toàn quyền đặc sứ cũ là Đề đốc Decoux, có một bộ Kỷ yếu của Hội Đô Thành Hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Huế) một đầu lãnh Đông Dương muốn sưu tập sách, có thể tỷ như ra một ý nhỏ đủ cho các nơi tới tấp gởi sách về để nịnh, ông Decoux nghe như lúc sau, đã nhượng bộ sách hiếm có (mỗi năm chỉ in 600 tập cho hội viên) cho một người và người ấy, tôi xin tạm không nói tên và chỉ viết tắt H.X.H., học giả đại danh vẫn ở Pháp, lão thành và lão luyện về sử Việt và môn sưu tầm sách cũ, quí).

Nhưng phải nói luôn có lẽ người ngu hạng nhứt là kẻ hèn đang viết bài nầy, có sách quí mà không biết giữ làm của, nhưng nay nghĩ lại, lúc đó, tôi đang xính vính hụt tiền mà người kia sẵn lòng giúp tôi ba trăm ngàn (đời ông Diệm), tôi nhận số bạc ra tiền đổi lại làm ba chục lạng vàng (10 ngàn mỗi lượng) – xin hỏi ai cầm lòng cho đậu?

Vả lại Nam Phong, theo tôi lúc đó, như cây mía ngọt đã bị ép lấy gần ráo chất ngọt, tuyển ra nào Thượng Chi văn tập, nào “Nam Phong”, truyện ngắn, Tuyển nào “Chủ đích Nam Phong” v.v .. Ngoài ra, như bộ “Hạn mạn du ký” của Nguyễn Bá Trác, thì bằng chữ Hán, tôi tịt mù, cho nên cái ngu của tôi hóa ra hợp thời, đổi ra vàng y, hữu ích hơn … và đã cà kê xin cho tôi cà kê luôn, mặc dù đã hứa muốn vắn tắt, và dưới đây là sự tích, để dụ người đọc ham học nghề.

Thú chơi sách.

Như đã nói, nhờ được nghe Phan Văn Hùm giải thích, tôi quyết tìm và sắm cho được Nam Phong đủ bộ. Tôi ra trường năm 1923, mà Nam Phong ra đời từ 1917. Dịp may, vừa ra khỏi trường, thì thầy cũ, ông Đốc Nguyễn Văn Mai, mời tôi làm phụ tá cho ông để mỗi chiều ngày thứ năm, trở vào trường, giúp ông chỉ dẫn cho mấy ông Tây vô đây học tiếng Việt. Tôi kiếm được ba quan Tây cậy tôi dạy riêng mỗi tuần một giờ tại nhà họ, đã có rượu khai vị khi giảng, lại thêm mỗi ông bê tôi hai chục bạc, vị chi tôi làm ra gần gần bằng lương một tri huyện trong Nam hoặc một kỹ sư cầu cống cháy da nám phổi học Cao đắng Hà Nội ba hay bốn niên, thi đỗ mới có số tiền khá cao ấy, năm 1927, tôi lại thi đậu nửa miếng chức còm ni, cái vảy may của tôi là năm 1924, tôi gặp lão Lê Mai, tác giả sách dạy o mèo, Lê Mai bán sách lẻ ở chợ Bến Thành, Lê Mai đã làm mai bán cho tôi bốn chục số báo Nam Phơng, từ số 7 đến 37, mỗi số báo, chủ là một ông Đồ già, bán sách đứt ruột và xin lại phần chữ Nho, ra giá “ba hào chỉ” (0$30) mỗi số, lão Lê Mai bắt mối, xin thêm một cắc mỗi số, và ba chục báo Nam Phong (số 7 đến số 37, thiếu phần Hán văn, tôi cắn răng xỉa đủ mười hai đồng bạc Đầm Xòe (12$00), rồi cắp ca cắp củm, không nhớ rõ, bỗng tôi mua được sáu số khó kiếm nhứt là số 1 của tháng 7 năm 1917, đến số 6 – décembre 1917, thật là có thể nói “buồn ngủ may gặp chiếu manh” và nói chữ chút chơi, “tụ thiểu thành đa”, tôi vừa có đủ 37 số, rồi bắt đầu từ đó, tôi liên tiếp gởi ngay ra Hà Nội mua Nam Phong, cứ thiếu số nào, hoặc bị cho mượn làm mất, nay không trả hoặc bị rách bị hư bìa, tôi vẫn gởi thơ mua bổ túc, và bộ Nam Phong của tôi, tôi tự cho là có một không hai, tôi giữ kỹ còn làu làu, đặc biệt là tôi không đóng thành tập và tôi đóng rời mỗi số đóng theo điệu sách Tàu, vừa chắc, vừa nhẹ, muốn nằm ngồi trên võng hay ôm vào mùng khêu đèn điện đọc cũng xong, vừa khi qua tay người mua bộ Nam Phong nầy, tôi lại chế ra cho hai thợ mộc lấy ván cẩm lai làm bìa gỗ, lấy ván gõ đỏ làm thành mỗi sáu số làm một hộp, và thợ Đào Văn Hòe, người làng Đình Bảng, trổ nơi gáy cẩm lai hai chữ Hán Nam Phong, thêm có con rồng nổi bay lên, nhưng vào năm 1975, sau ngày binh Giải Phóng vào đây, người chủ bộ Nam Phong giao sách cho hãng Tây Transitaire Réuni chở sang Pháp, và hãng nầy có lẽ bỏ những hộp gỗ bọc Nam Phong ấy lại đây cho nhẹ tiền chở chuyên, và sự thật là cách nay vài năm, chính ông bạn Bắc, bố vợ ông bạn Hh. V. Tiểng, quen thân với tôi, đã cho hay ông từng thấy những hộp ấy bỏ rơi trống phốc nơi kho hay hè hội Pháp văn đồng minh (Alliance Française, đường Lý Tự Trọng) và chứng minh việc nầy là ông Thụ đã đưa cho tôi nhìn tập “Hiếu cổ đặc san” nhan là Phong lưu cũ mới, tập nầy tôi đã tặng ông C.T.N. là chủ hộ Nam Phong, cho hay, theo tôi, sách như người, đều có duyên phần số mạng.

Suốt những bảy trang kể lề dài dòng, tôi đã lợi dụng lòng nhẫn nại của chư độc giả, nhưng xin nhà in đừng cắt xén, cái tật của tôi không bỏ, là mặc dù lời hứa viết tắt, nhưng muốn biết chơi cổ ngoạn cũng như biết chơi sách cũ, phải vòng vo tam quốc mới thấy nỗi cam go của nhà sưu tập, và một lời chót để bắt qua nói về ông hay cụ Phạm Thượng Chi, là (xin tha thứ cho tôi kể lại chi việc tục) là tạp chí Nam Phong nay quí hơn vàng, nhưng trong Nam nầy, và lúc Nam Phong ra đời (1917 đến 1920), báo bị dân quê dốt Miền Nam coi rẻ, còn rẻ và vẫn giá rẻ hơn bèo cho heo ăn, tỷ như trên một bìa Nam Phong để trên một bàn hội tề làng nọ ở Sốc Trăng, tôi đã thấy nhan báo hai chữ Nam Phong, đã có người đặt tay bỏ dấu, đọc “Nằm Phòng” và hỏi kỹ lại, đó là chữ của vị đại hương cả trong làng, ông là người Miên (Khơ me) vì giàu sụ được tôn hương cả, ông bập bẹ tiếng Việt y như Tây nói tiếng Nam, khi làm hương quản, ngồi tra hỏi một trên trộm vặt, ông hỏi: “Mầy ăn tôm mà để cua ở đâu?” (và tên trộm đã dõng dạc thưa: “Bẩm, tôi không có ăn tôm ăn cua nào cả!” (trộm, của, ông nói mà không bỏ dấu, và hai chữ Nam Phong, đại hương cả Mên, khi lên Cần Thơ dự làm cố vấn dân sự, tòa Đại Hình (conseiller assistant de la Cour d’ Appel), khi ông đến khách sạn, bồi phòng (boy d’hôtel) kính cẩn hỏi ông muốn chọn lựa “nằm nơi phòng hạng nào?” và ông lại tưởng tờ tạp chí nọ có người nói mà quên bỏ dấu!

Tôi biết gì về ông hay cụ Thượng Phạm Quỳnh.

Tôi đã quên hỏi người đến đặt cho tôi viết bài về Nam Phong và Phạm Quỳnh là với mục đích gì, tôi đã 92 tuổi đầu, chỉ chờ ngày xuống lỗ và đã hết ham vừa danh vừa lợi, tôi không quên chỉ là một thơ ký quèn từng làm mọi cho Tây nay dấu dây xích nơi cổ chưa lành, như vậy tôi nay còn dấn thân viết bài nầy để làm gì? Hình như dặn tôi viết vài trương, mà tôi lại quyết viết mươi trang cà kê cho được hả hơi, vả lại tôi đã hết thời giờ tra cứu tài liệu cũ, vậy tôi xin người đọc hiểu cho tôi, đây là tôi thố lộ tất cả chân tình, tôi tỏ bày riêng cái nghe thấy cạn hẹp của một tên may thời còn sót lại và đã được mớ người trẻ và người cao kiến muốn biết chút lòng kẻ sống dai nầy thôi.

Tôi tóm tắt, tôi biết trước đây, trong Nam có tờ báo chữ Pháp L’Echo Annammite của Nguyễn Phan Long và tờ La Tribune Indochinoise của Nguyễn Phú Khai, Bùi Quang Chiêu, v.v .. , là hai tờ báo của Dân Miền Nam muốn tỏ bày sự muốn hiệp tác với Pháp … trong khi ấy ở Miền Bắc, vẫn có Đông Dương tạp chí (xuất bản từ năm 1913 do F.H. Scheider đứng tên), rồi tờ chữ Pháp L’Indochine Nouvelle, có ông viết cừ văn Pháp Nguyễn Văn Vĩnh cầm bút … trong lúc ấy, đã khởi sự có báo Tàu, viết Hán văn, và báo Tiếng A-lơ-măng do nước Đức cốt cán, lăm le dòm ngó Đông Dương mầu mỡ, khiến nên nước Pháp giựt mình và sai qua đây một quan toàn quyền giỏi tài mị dân thuộc địa, là Albert Sarraut và một quan coi về sở mật thám, là Louis Marty, nói và hiểu rành tiếng Bắc, hai người nầy nghĩ ra cách đẻ ra “chính sách giữ sách thực dân cho được tồn tại bằng sách báo” và vì vậy, nảy sanh tờ báo Nam Phong và sanh ra ông Phạm Quỳnh. Theo tôi, ông Phạm Quỳnh nầy, chỉ là một hi sinh của Pháp thực dân, ông lắm tài, nhưng mà về sau ông đi không đúng đường, khiến thân bại danh liệt … và “khi trâu đứng ít kẻ cho ăn cỏ, khi trâu ngả xuống nhiều kẻ cầm dao”, thậm chí có lúc, một nhóm sinh viên trường sư phạm ở Sài Gòn lập ra và “làm án Phạm Quỳnh” “lên án Nam Phong” nhưng nay Nam Phong vẫn có người tìm mua, và Phạm Quỳnh, riêng tôi thì tôi vô cùng tội nghiệp và vô cùng tiếc mến tài, tôi chỉ nói về tôi và xin miễn nói về ý kiến phần đông người trong nầy, có tay cầm viết mà khó ghi lời nào khỏi bị sửa chữa, cắt xén, – vả lại tôi là người gì mà được cho phép nói, “quán rằng xin chớ nói nhăng, dầu cho có giỏi, cũng thằng bán cơm!” (Lục Vân Tiên) …nhưng đã hỏi thì phải nói, và khi nói đố ai bụm miệng tôi kịp! Nhớ lại như đời Nam Phong là một đời đã qua, nhưng tiếng thơm còn tồn tại, còn như Phạm Quỳnh, tại sao khi được giữ cán cờ lại phất quá mạnh, lúc ông từ chủ bút vào làm ngự tiền văn phòng cho vua, làm thượng thư bộ lại, có nghĩa tế đặt cạnh làm bí thư cho bà hoàng hậu, vinh vang tôi ở đây nào thấy, chỉ thấy lúc ngai vàng sụp đổ, ngôi sang của ông cũng mất, Nam Đình, tay viết báo trong Nam ra Huế khi gặp ông thì ông nhỏ nhẹ than van, “đừng gọi tôi là cụ Thượng …” và ông chỉ ham đội mũ cánh chuồn, và khi cánh chuồn như cánh bướm gần đèn, bị lửa táp, tôi chỉ nhớ ông là một tay độc thủ, ít muốn cho ai cùng hưởng mối tiền do Tây cấp phát, vua ta còn lĩnh lương của Tây huống hồ gì, các tay phụ giúp ông viết cho tờ Nam Phong, ông lần hồi loại ra: ông cầm lại như Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, như Mân Châu (Nguyễn Mạnh Bổng), để giữ mục phục cổ, còn như Nguyễn Bá Trác, bỏ đảng về viết “Hạn mạn du ký”, rồi lên làm tổng đốc, được khoái khẩu hơn … như Nguyễn Bá Học viết “câu chuyện gia tình”, ông nầy vẫn như cây đèn dầu lạc, được khêu lên cho văn học Hán cũ, phựt sáng lên để rồi tắt luôn, kỳ dư: như Phạm Duy Tốn, sớm vào trong Nam, mượn xấp tiếu lâm cũ của học giả Trương Vĩnh Ký, đem về sửa lại giọng Bắc, in ra bộ “Tiếu Lâm An Nam” ký Thọ An, (hai người con của ông đều tài lạ, một Phạm Duy Khiêm qua học trường khó vào nhứt của Pháp, trường Đại học Sư phạm Ecole Normale Supérieure, đỗ thạc sĩ (agrégé) và trở nên một thầy đồ gàn, bỏ học bỏ chữ lót, còn giữ một tên “Khiêm”, hai nữa là Phạm Duy Mẫn, giỏi về âm nhạc, lại bỏ mất tên cúng cơm (Mẫn) chỉ giữ vỏn vẹn hài chữ Phạm Duy … ngoài ra trợ bút đào tạo bởi trường Pháp là Hoàng Ngọc Phách, để lại “Giọt lệ hồng lâu” và “Tố Tâm” rồi không ai nhắc đến nữa … vài người khen ông như Thiếu Sơn, với “Những áng văn hay” rồi khi ông xuống chưn thì cũng trở cờ … và như Vũ Ngọc Phan, tôi xin chừa còn nhiều người biết hơn tôi, và cho phép tôi bỏ qua nói về ông Phạm Quỳnh, ông vào trong Nam đăng đàn diễn thuyết nơi nhà hát Tây (nay là nhà Hội lớn đường Đồng Khởi), văn ông lưu loát, giọng nói hữu duyên, ông tìm người phụ giúp cho tờ Nam Phong, ông xuống Mỹ Tho, thì cháu con của cụ Đồ Chiểu sụt sè không dám nhận lời, vì biết còn kém nhiều tay ngoài kia đều khoa bảng còn lại, như cụ Nghè Ngô Đức Kế, bút chiến với ông về truyện Kiều, và vẫn tức vì ngòi bút lông, kết bằng lông thỏ lông mèo, không sắc bén bằng ngòi Flamant, Major đúc bằng thép điêu luyện lò Tây nhưng khi ông cho nghĩa tế vào thay ông, lên diễn đàn chỗ cũ, tôi đây chen được vào nghe, tôi ba chớp bốn sáng nghe ông nghĩa tế dõng dạc la lớn: “Tự Ro là Dzì? Tự Ro là Tự Rụng (Tự do là gì? Tự do là tự dụng” … tôi nghe được bao nhiêu đó thì mồ hôi ra ướt áo, tôi xuýt nghẹt thở và lật đật chui ra ngoài kẻo nín thở luôn, tôi quên nữa, cộng tác với ông, như thi sĩ Tản Đà, bị ông cười, “đời tân học, chuộng trơn bén bóng loát, Khắc Hiếu, giỏi nghề chạm rồng trổ phụng, đẹp mắt thật nhưng nhiều bụi bặm”, Tản Đà tức, ôm mớ văn chương lên bán ở Chợ Trời, tuy vậy “trận gió thu phong rụng cánh hồng” vẫn còn nhiều thanh niên ngâm đi hát lại, và tỷ như ông Lô gic Phan Khôi, cũng vẫn bị ông cho nghỉ việc, khiến Phan Khôi vào Nam, giúp tờ Đông Pháp thời báo của ông Diệp Văn Kỳ, rồi ra Huế dựng tờ Sông Hương … Diệp Văn Kỳ, bạn học cũ ở Quốc học Huế đô với Bác và Phan Văn Hùm, thời buổi ấy chưa có máy bay cứu thoát nên đã đi bán muối dưới Diêm đài, việc ấy xin hồi sau phân giải … đến đây bài của tôi đã quá dài, tôi xin chấm dứt để nhớ lại, năm 1967, tôi được cho ra Huế dự khảo xét các bạn Đại Học nhỏ, xuýt thi ra trường, một tên thơ ký quèn dốt nho dốt nôm, nhưng vì ham tìm mua đồ cổ ngoạn, phúc được ra Huế có vé máy bay khứ hồi, tội gì mà từ chối, không nhớ đó là vào tháng nào, chỉ nhớ một hôm, bỗng một ông bạn bác sĩ có mở phòng trị bịnh ở đường Gia Hội, ông lấy xe nhà, mời đi một vòng, bác tài xế lái xe đến chùa Vạn Phước, bỗng sừng sực thấy trước mắt một ngôi mộ bằng ô dước hay xi măng đã quên, kiểu thức lối cổ, có vòng đai chung quanh và miếu nhỏ thờ thổ thần, trời đã nhá nhem sắp tối, ngoài xa giăng giăng hàng núi Ngự xanh xanh, và chớp chớp nước sông Hương sáng sáng, tôi đứng run lặp cặp, nửa vì lạnh, nửa vì không mặc áo ấm ngự hàn, ngậm ngùi thức cảnh sanh tình, rán đọc mấy chữ rẻ “thập nhì”, “thập bát”, còn lại mấy chữ mắt, có người đọc cho tôi ghi lại ba hàng:

Nam NAM ất

PHẠM PHONG mùi

BÍCH CHỦ niên

lịnh BÚT thập

đệ PHẠM nhị

tự QUỲNH ngoạt

PHẠM? THƯỢNG nhị

đồng CHI thập

bái DI bát

lập THẾ nhựt

Tôi bỗng vụt hỏi:

– Sao lại “di thể”,

Người đứng kế bên, bác sĩ Hà:

“Restes mortels”, ông Diệm sai tìm xác anh, Cố Trầu sai bộ hạ, bộ hạ biết chỗ, moi trong lỗ lên ba xác: 1 xác đàn bà, loại ra, cái thứ 2, mắt còn mang nhãn kính gọng đồi mồi, biết chắc đó là di thể cụ Phạm, nên trả cho thông gia là Ung Trình, còn xác thứ ba, đúng là của tổng đốc Ngô Đình Khôi. Xe đưa tôi trở về, tôi xuống xe trước nhà hàng Morin, bắt tay cám ơn bác sĩ, leo lên lầu, vào phòng lấy bánh mì và nem chua ra xơi, lên giường nằm suy nghĩ: “thơ ký lem nhem ba chữ không đầy lá mít, chỉ vì khéo tránh bẫy tránh dò nay còn sót lại, tưởng số hơn ông nằm ban chiều nơi chùa sư nữ, hỏi ra vì mẹ ông đã được an táng tại đó, và chớ chi ông đừng bôn chôn ham cái mũ cánh chuồn, ông ở lại Bắc làm chủ tờ Nam Phong, thì danh thơm không mất, chẳng qua mỗi người mỗi số kiếp, khéo tu thì còn, vụng tu thì chìm, mà ở đời ai dám biết vụng hay khéo? Và chớ chi Nhà Nước đừng hấp tấp, dưỡng ông lại như nuôi con bò để kéo xe chở cỏ, có lẽ mình đây ắt được học thêm nhiều, nhưng mấy đời người ta biết xót thương người hiếu học, và câu chót, tôi lại nghe, lúc Tây đi

kiếm để cứu ông Quỳnh, cứ đi tới đâu, câu trên môi của lính sơn đá Tây là “cù est Phạm Quynh? “Où est Quynh? v.v .. , rõ Quỳnh lợi hại thôi thì hạ sát cho xong. Ở đời xin đừng vội tưởng hễ được cầm cờ thì tay cứ phất? Phải coi lèo coi lái, khi gặp gió ngược, trở tay sao kịp? Lỗi về ai, có khi lỗi về người ra lịnh phất cờ. Gió đã thay chiều, không nên hơ hỏng? (viết 12 trang làm bốn ngày, tuổi 92 vẫn còn minh mẫn hỉ).

2-12-1992 V.H.S.

(Ất Mùi là 1955).

Bộ Nam Phơng của tôi gồm 211 số, có dư một số về Xuân, không rõ năm nào, ngoài bìa vẽ hình một táo đen giao tay qua một táo đỏ, tôi cứ dư số Xuân ấy, dâng cho cụ Cử Võ Hoành ở Sa Đéc, cụ nhận mà bĩu môi: “Văn thằng Quỳnh, thằng Chác, ghét quá!” Cũng vì thét thay vì hét, phì cười v.v .. kha kha là anh, trong nầy lại nói “ca ca”, một ông Tây đi xem hát bội, nói với tôi: Il a trop de caca? Thiết tưởng còn hoài, từ Trịnh Nguyễn tranh phuông cho đến nay vẫn chưa dứt …

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 18 Nov 2025

37. Một cuộc vượt ngục của người điên

Vì đang có chiến tranh, các hình phạt lại được tăng lên nếu vượt ngục thất bại, lúc này không phải là lúc để lỡ chuyện, phải không, Salvidia?
Cậu người ý có hai plan bằng vàng trong đoàn tàu đang bàn với tôi ở chỗ giặt áo quần sau khi đọc tờ yết thị thông báo về những biện pháp mới đối với các trường hợp vượt ngục. Tôi nói với y:
– Cái án tử hình ấy không làm cho tôi từ bỏ ý định vượt ngục được đâu. Còn cậu thì sao?
– Papillon ơi, tôi chịu hết nổi rồi và tôi cũng muốn tếch thẳng luôn. Muốn ra sao thì ra. Tôi đã xin vào làm y tá ở nhà thương điên. Tôi biết là tại phòng cung tiêu của nhà thương lấy có hai cái thùng tôn-nô chứa được 225 lít tức là thừa sức ghép thành bè. Một thùng chứa đầy dầu ô-liu, một thùng đầy dấm. Hai cái thùng ấy mà chằng kỹ vào nhau, sao cho nó không thể tách ra được tôi thấy có cơ may về được Đất liền đấy. Phía bên ngoài tường bao quanh nhà thương điên không bị kiểm soát. Phía trong thường ngày chỉ có một tên lính y tá gác, có tù phụ giúp, luôn luôn kiểm soát xem bệnh nhân làm gì. Sao cậu không đến đấy với tôi?
– Làm y tá à?
– Không được đâu. Cậu biết thừa là không bao giờ cậu được làm việc ở nhà thương điên. Vừa xa trại giam vừa ít bị kiểm soát, tất cả những điều đó làm cho người ta không đưa cậu đến làm việc ở đây. Nhưng cậu có thể vào đây với tính cách người mất trí.
– Khó đấy, Salvidia ạ. Khi một bác sĩ đã coi cậu là “điên”, ông ta cho cậu được quyền tha hồ muốn làm gì thì làm, không hơn không kém. Cậu được công nhận là không phải chịu trách nhiệm về những hành động của mình. Cậu thử nghĩ đến trách nhiệm của một bác sĩ khi chấp nhận ký vào bản chẩn đoán ấy? Cậu có thể giết tù, giết cả lính hay vợ lính, hay một đứa con nít cũng không sao. Cậu có thể vượt ngục, phạm bất cứ tội gì luật pháp cũng vô phương đối với cậu. Quá lắm người ta cũng chỉ có thể lột truồng cậu ra rồi tống cậu vào một phòng giam có lót nệm, và cậu phải mặt áo trần lực của người điên. Chế độ ấy chỉ kéo dài một thời gian, rồi có ngày họ lại phải nới nhẹ cách chữa trị bằng vũ lực đó Kết quả là: với bất cứ hành động nghiêm trọng đến đâu, kể cá vượt ngục, cậu cũng chẳng mất mát gì.
Papillon ơi, tôi tin cậu, tôi muốn vượt ngục với cậu. Cậu hãy cố làm đủ mọi cách để vào được nhà thương điên với tôi đi. Với tư cách là y tá, tôi sẽ giúp cậu chịu đựng được tốt nhất và đỡ đần cậu những lúc gay go nhất. Tôi công nhận rằng không bị điên mà phải sống chung với những người nguy hiểm như vậy, cũng khủng khiếp thật.
– Cậu cứ về nhà thương điên đi, Roméo, tôi sẽ nghiên cứu thật kỹ vấn đề này và nhất là tìm hiểu những hiện tượng đầu tiên của bệnh điên để bác sĩ tin được Làm sao cho bác sĩ xếp mình vào loại không phải chịu trách nhiệm gì cũng là ý kiến hay đấy.

Tôi bắt đầu nghiên cứu vấn đề một cách nghiêm chỉnh. Thư viện của trại không có cuốn sách nào về vấn đề này. Cứ có dịp là tôi bàn luận với những người đã từng mắc bệnh điên trong một thời gian nào đấy.
Dần dần, tôi đã có ý niệm khá rõ ràng:
1. Tất cả những người điên đều đau đầu dữ dội.
2. Họ thường bị những tiếng ù ù trong tai.
3. Vì thần kinh họ bị kích thích nên họ không thể nằm lâu ở một tư thế mà không bị một cơn co giật thần kinh thực sự khiến cho cả cái thân thể bị căng thẳng đến tột độ của họ nấy bật lên như cái lò xo.
Vậy thì phải làm sao để đừng phô bày ra một cách lộ liễu mà người ngoài vẫn phát hiện ra những triệu chứng đó. Bệnh điện của tôi phải vừa đủ nặng để buộc bác sĩ quyết định gửi tôi đi bệnh viện nhưng không dữ dằn để phải đòi hỏi những biện pháp đối xử tồi tệ của các giám thị như: phải mặc áo trấn lực của người điên, bị đánh đập, phải nhịn ăn, phải chích bromure, phải tắm bằng nước lạnh nay nước nóng già v.v…. Nếu tôi đóng kịch khéo, tôi có thể làm cho bác sĩ cũng bị lừa.
Có một điều có lợi cho tôi: tại sao, vì lý do gì mà tôi phải giả bệnh? Bác sĩ không thể giải thích một cách hợp lý vấn đề này, chắc chắn tôi có thể thắng cuộc trong trò này. Đối với tôi không có giải pháp nào khác.
Họ đã từ chối không chịu đưa tôi đi đảo Quỷ. Tôi không còn chịu đựng nổi cảnh ở lại trại sau cái chết của Matthieu, bạn tôi. Do dự làm quái gì! Tôi phải quyết định thôi, thứ hai tôi sẽ báo các bệnh. Thế cũng không xong, tôi không thể tự mình khai bệnh được. Tốt hơn là để một người khác làm việc này, nhưng người ấy lại phải là người tin rằng tôi điên thật mới được. Tôi phải làm hai hay ba việc kỳ cục ở phòng giam. Rồi trưởng khối sẽ báo cáo với cai tù và cai tù sẽ ghi tên cho tôi đi khám bệnh.
Đã ba ngày nay, tôi không ngủ, không rửa ráy, cũng không cạo râu. Mỗi đêm tôi thủ dâm nhiều lần và ăn rất ít. Hôm qua tôi hỏi người nằm kề bên tôi sao anh ta lại lấy mất tấm hình tôi vẫn bày ở đầu võng (tấm hình này không hề có bao giờ ở chỗ tôi). Anh ta thề sống thề chết là không đụng đến đồ đạc của tôi. Anh ta sợ, và xin chuyển đi chỗ khác. Thông thường xúp vẫn được để ở chậu vài phút trước khi đem chia. Tôi đến gần chậu xúp và trước mặt đông đủ mọi người tôi đái vào đấy Ai nấy đều tỏ ý bực mình, nhưng cái vẻ mặt lầm lầm của tôi chắc đã làm cho mọi người thấy ngán nên không ai nói gì, chỉ có anh bạn Grandet nói với tôi
– Papillon, sao cậu làm thế?
– Vì họ quên chưa cho muối.
Rồi chẳng thiết để ý đến những người khác, tôi lấy ga-men của tôi đưa ra để trưởng khối sớt xuất của tôi vào đây
Trong một không khí im lặng hoàn toàn, mọi người đã đứng nhìn tôi ăn xúp.
Hai sự việc đó đã đưa đến kết quả là hôm nay, tôi được đưa đến bác sĩ mà không phải xin xỏ gì.
– Bác sĩ có khỏe không?
Tôi nhắc lại câu hỏi một lần nữa. Bác sĩ kinh ngạc nhìn tôi. Tôi nhìn lại ông với cặp mắt cố tình làm ra vẻ tự nhiên như không.
– Tôi vẫn khỏe, bác sĩ nói. Còn anh. Anh bị ốm phải không?
– Đâu có?
– Thế tại sao anh lại đi khám bệnh?
– Chẳng tại sao cả. Họ nói với tôi là bác sĩ bị ốm.
– Hóa ra không phải, cho nên tôi cũng mừng. Chào bác sĩ tôi về
– Khoan đã, Papillon. Anh ngồi xuống đây, trước mặt tôi. Anh nhìn vào tôi đi.
Rồi bác sĩ dùng một cái đèn gì chiếu ra một tia sáng nhỏ xíu soi vào mắt tôi.
– Bác sĩ không thấy cái mà bác sĩ muốn tìm à?
Đèn của ông không đủ sáng nhưng dù sao ông cũng đã hiểu chứ, phải không? Ông có thấy chúng nó không, ông cho tôi biết đi. 

– Thấy gì? Bác sĩ hỏi.
– Ông đừng giở trò ngớ ngẩn, ông là bác sĩ hay là thú y? ông đừng nói với tôi là ông không có thì giờ trông thấy chúng trước khi chúng trốn mất, hoặc ông không muốn nói với tôi, hoặc ông cho tôi là một thằng ngu.
Mắt tôi ánh lên vì mệt mỏi. Bề ngoài của tôi, râu chưa cạo, mặt chưa rửa, đều góp phần vào màn kịch nhỏ của tôi. Bọn cảnh sát đứng nghe, sững sờ cả ra, nhưng tôi không hề có một cử chỉ dữ dằn nào khiến họ phải can thiệp. Bác sĩ có thái độ hòa giải và về hùa theo tôi để tôi khỏi bị kích động, ông ta đứng dậy và đặt tay lên vai tôi. Tôi vẫn ngồi yên.
– Phải, tôi không muốn nói cho anh biết, Papillon, nhưng tôi đã có đủ thì giờ để thấy chúng.
– Bác sĩ chỉ nói láo, mà mặt vẫn trơ trơ ra như thổ địa. Bởi vì tôi biết thừa là ông chẳng thấy quái gì cả ông đang tìm ba cái đốm đen ở trong mắt trái của tôi chứ gì? Ba cái đốm đen ấy, tôi chỉ trông thấy chúng khi tôi nhìn vào khoảng không hay lúc tôi đọc sách. Nếu lấy gương soi, tôi nhìn thấy mắt tôi rõ ràng, nhưng ba cái đốm thì đi đâu biệt tăm biệt tích. Hễ tôi cầm gương lên một cái là chúng biến đi đàng nào mất tang ngay tức khắc.
– Nhập viện ngay, – Bác sĩ nói – Không phải quay về trại nữa, Papillon, anh nói với tôi là anh không có bệnh phải không? Có thể đúng như vậy, nhưng tôi lại thấy anh mệt mỏi lắm, cho nên tôi để anh nghỉ vài ngày ở bệnh viện, anh bằng lòng chứ?
– Chẳng sao cả, được thôi. Bệnh viện hay trại thì cũng vẫn là ở đảo.
Bước đầu đã trót lọt. Nửa giờ sau, tôi đã ở bệnh viện, tại một phòng sáng sủa, giường sạch sẽ, nệm trắng tinh. Ngoài cửa treo tấm bảng “Đang theo dõi”. Dần dà, do sức ám thị lên đến cao độ, tôi đã thành người điên. Trò chơi này cũng nguy hiểm: cái tật làm cho mồm méo xệch đi và dùng hai hàm răng cửa cắn chặt môi dưới, tôi vẫn nghiên cứu với một cái gương soi nhỏ lén giấu được, tôi quen làm như vậy, nhiều lúc tôi tôi bắt gặp thấy mồm mình méo đi như thế tuy tôi không hề cố ý. Papi ơi, không nên sớm chơi với cái mẹo vặt này. Nếu cứ ép mình phải tự cảm thấy mình mất trí mãi có thể nguy hiểm và để lại cho mình những chứng tật vĩnh viễn. Nhưng tôi vẫn phải chơi trò này đến cùng nếu muốn đạt kết quả. Để vào nhà thương điên, được xếp vào loại không chịu trách nhiệm rồi vượt ngục với anh bạn. Vượt ngục! Hai tiếng kỳ diệu ấy đưa tôi bay bổng, tôi đã hình dung thấy mình ngồi trên hai chiếc thùng ton-nô, được sóng nước đẩy về đất liền, cùng với anh bạn thân y tá người ý của tôi.
Bác sĩ thăm bệnh hàng ngày. Ông khám tôi rất kỹ, và lần nào chúng tôi cũng nói chuyện với nhau, lễ độ và hòa nhã. Ông ta có vẻ lo nhưng chưa tin hẳn. Vậy thì tôi phải cho ông ta biết là tôi có những cơn đau nhói ở vùng gáy, và đấy là những triệu chứng đầu tiên.
– Thế nào Papillon? Anh ngủ được chứ?
– Vâng thưa bác sĩ, nói chung tôi cũng khỏe. Cám ơn bác sĩ đã cho tôi mượn tờ báo Match, nhưng ngủ thì lại là việc khác. ở sau phòng tôi, có một cái máy bơm, chắc để tưới cái gì đó: máy chạy suốt đêm, tiếng phòng phòng của nó cứ dội vào gáy tôi, cứ như là ở trong đầu tôi cũng có tiếng vang phòng phòng vậy. Cả đêm cứ thế, chịu không nổi. Cho nên tôi rất biết ơn nếu bác sĩ cho tôi được sang phòng khác.
Bác sĩ quay sang phía người lính y tá và hỏi nhỏ, rất nhanh.
– Có cái máy bơm à?
Y tá lắc đầu ra hiệu không có.
– Giám thị, cho anh ta sang phòng khác. Anh muốn ở phòng nào?
– Càng xa cái máy bơm chết tiệt này càng tốt, phía cuối hành lang. Cảm ơn bác sĩ.

Cửa đã được khép chặt, chỉ còn một mình tôi ở trong phòng. Một tiếng động rất nhỏ, báo cho tôi biết có người đang theo dõi tôi qua khe nhòm, chắc chắn đấy là ông bác sĩ, vì tôi không nghe tiếng chân ông đi xa dần khi ông ra khỏi phòng. Thế là tôi giơ nắm tay hướng về phía tường che khuất cái máy bơm tường tượng của tôi và tôi kêu lên, không to lắm “Tắt máy đi? Tắt máy đi! Đồ khốn kiếp. Đồ thợ vườn hạng bét, tưới gì tưới lắm thế?” Rồi tôi lăn ra giường, vùi đầu dưới gối.
Tôi không nghe được tiếng chiếc nắp đồng của khe nhòm đóng lại nhưng tôi nhận ra tiếng chân đi xa dần. Kết luận: người nhòm qua khe cứa đúng là bác sĩ. Buổi chiều, tôi được đổi phòng. Chắc tôi đã gây được ấn tượng tốt vào lúc sáng, vì đưa tôi đi dọc hành lang chỉ vài bước mà phải có đến hai người lính và một người tù y tá đi kèm. Họ chẳng nói gì nên tôi cũng không nói. Tôi chỉ lặng thinh đi theo họ. Hai ngày sau, tôi cho ra cái triệu chứng thứ hai: những tiếng ù trong tai.
– Khá chứ, Papillon? Anh đã xem tờ tạp chí tôi gửi cho anh chưa?
– Chưa, tôi chưa đọc được. Suốt ngày hôm qua và một phần đêm nữa, tôi đã cố tìm cách làm cho con ruồi hay con muỗi gì đấy vào làm tổ trong tai tôi phải chết ngạt. Tôi đã lấy bông nhét vào tai mà vẫn không ăn thua gì Cánh của nó cứ rung lên liên hồi không giây nào dứt, hết o-o-o lại đến di-di-di… Hơn thế nữa, lại còn thêm cái cảm giác nhột nhột buồn buồn khó chịu lắm. Đến loạn óc mất thôi, bác sĩ ạ! Bác sĩ thấy thế nào? Nếu tôi không làm cho nó chết ngạt được, ta có thể kiếm cách làm cho nó chết đuối vậy nhỉ, bác sĩ bảo sao? 
Mồm tôi cứ máy máy liên hồi và tôi nhận thấy bác sĩ đã để ý đến điều đó, ông ta nắm tay tôi và nhìn thẳng vào mắt tôi. Tôi cảm thấy ông bối rối và phiền lòng.
– Được rồi, Papillon ơi, chúng ta sẽ dìm cho nó chết. Chatal, anh rửa tay cho anh ấy đi. Mỗi sáng, những cảnh như vậy cứ lặp đi lặp lại có cải biên ít nhiều, nhưng bác sĩ vẫn chưa quyết định gửi tôi đi nhà thương điên.
Có lần, trong khi chích bromure cho tôi, Chatal báo trước cho tôi biết: “Bây giờ thì ổn rồi. Bác sĩ nghĩ nhiều lắm nhưng chắc cũng còn lâu, ông ấy mới gửi cậu đi bệnh viện. Nếu cậu muốn ông ta quyết định sớm, cậu phải làm cho ông ta thấy là cậu có thể trở nên nguy hiểm mới được.
– Anh thấy thế nào Papillon? – Bác sĩ, có hai y tá và Chatal đi theo, mở cửa vào phòng tôi, và thân mật hỏi tôi.
– Ông bỏ ngay lối chơi ấy đi, bác sĩ. – Tôi giở thái độ gây gổ ra. – ông biết thừa là không ổn rồi. Tôi muốn hỏi trong bọn ông, ai đã thông đồng với cái thằng vẫn hành hạ tôi?
– Anh hành hạ anh? Bao giờ? Hành hạ thế nào? – Trước hết, bác sĩ có biết các công trình của bác sĩ Arsonval không đã?
– Biết, tôi hy vọng là có biết.
– Ông biết là ông ta sáng chế ra một cái máy dao động có nhiều làn sóng để ion-hóa không khí xung quanh một bệnh nhân bị loét hành tá tràng. Với cái máy dao động ấy, người ta có thể phóng ra những giòng điện. Thế mà, một kẻ thù của tôi đã đánh cắp một cái máy như thế ở bệnh viện Cayenne. Cứ mỗi lần tôi ngủ yên, là nó ấn nút, làm điện giật vào đúng bụng và hai đùi tôi. Tôi giật mình, nẩy đến mười phân lên khỏi giường. Cứ thế ông bảo tôi chống đỡ và ngủ nghê sao được? Cả đêm, chẳng lúc nào ngừng. Tôi cứ vừa chợp mắt là pằng một cái, điện lại giật, cả người tôi cứ nẩy lên như lò xo. Bác sĩ ạ, tôi không chịu được nữa đâu ông báo cho mọi người biết là hễ tôi mà tóm được thằng nào tòng phạm với nó là tôi giết đấy. Tôi không có vũ khí thật nhưng tôi đủ sức bóp cổ nó cho đến chết, dù cho nó là ai. Biết được rồi thì liệu mà giữ lấy thân nhé. Ông cũng cút đi với cái lối: “khỏe không, Papillon?” cái lối chào hỏi giả dối của ông. Tôi nhắc lại cho ông biết đấy, bác sĩ ạ, ông bỏ ngay lối chơi ấy đi!
Sự việc này đã đem lại kết quả. Chatal cho tôi biết là bác sĩ đã dặn dò bọn gác phải hết sức cẩn thận. Không bao giờ được mở cửa phòng của tôi mà không có hai hay ba người. Phải nói năng ôn tồn với tôi. Tôi mắc chứng bách hại cuồng, bác sĩ nói thế, phải đưa tôi đi nhà thương điên càng sớm càng tốt. 
– Tôi có thể đưa anh ấy đi nhà thương, chỉ cần một người phụ là đủ – Chatal đề nghị để tránh cho tôi khỏi phải mặc áo trấn lực của người điên. 
– Papi, anh ăn được chứ?
– Ăn được, Chatal ơi, ăn ngon nữa.
– Anh có thể đi với tôi và ông Jeannus chứ?
– Đi đâu?
– Mang thuốc đến cho bệnh viện, như đi dạo một quãng thôi mà.
– Nào thì đi.
Thế là cả ba chúng tôi rời bệnh viện để đến nhà thương điên. Vừa đi Chatal vừa nói chuyện, và khi gần đến nói, Chatal bỗng hỏi: “Cậu ở trại mãi có chán không, Papillon?”
– ồ, chán đến tận cổ, nhất là từ khi Carbonieri bạn tôi không còn ở đấy nữa.
– Thế tại sao cậu không ở lại vài ngày ở nhà thương điên? Thằng cha có cái máy sẽ không tìm ra cậu để phóng điện vào người cậu nữa.
– ý hay đấy. Nhưng tớ không bị loạn óc, không biết họ có chịu nhận không?
– Cậu cứ để tôi lo việc này, tôi sẽ nói hộ cậu. 
Tên cảnh sát nói, mừng vì thấy tôi rơi vào cái bẫy mà nó tưởng Chatal giăng ra để đánh lừa tôi. Tóm lại, tôi đã vào nhà thương điên ở với cả trăm người điên khác. Sống với người điên, thật chẳng dễ dàng chút nào. Chúng tôi ngồi từng tốp hai, ba chục người ở ngoài sân để thay đổi không khí, trong khi các y tá cọ rửa các phòng. Mọi người đều trần truồng suốt ngày đêm. May mà trời nóng. Riêng tôi họ để lại cho đôi bít tất ngắn.
Tôi vừa được y tá cho một điếu thuốc lá đã châm sẵn. Ngồi giữa nắng, tôi suy nghĩ và tính ra là ở đây đã năm ngày mà chưa liên hệ được với Salvidia.
Một người điên lại gần tôi. Tên anh ta là Fouchet. Tôi biết câu chuyện của anh. Mẹ anh bán nhà và gửi cho anh mười lăm ngàn francs nhờ một giám thị chuyển, để anh lấy tiền vượt ngục. Tên đó được năm ngàn và phải đưa cho anh mười ngàn. Nhưng y đã lấy tất rồi đi Cayenne. Khi Fouchet qua một đường dây khác biết được là mẹ anh đã gửi tiền cho anh và bà mẹ đã hy sinh tất cả một cách vô ích, anh ta nổi cơn điện và ngay hôm đó, anh đã tấn công các giám thị. Nhưng anh chưa kịp làm gì họ thì đã bị chế ngự ngay. Từ ngày ấy, cách đây đã ba, bốn năm, anh ở nhà thương điên.
– Cậu là ai?
Tôi nhìn con người đáng thương vừa hỏi tôi. Hắn còn trẻ, chỉ chừng ba mươi tuổi.
– Tớ là ai à? Một người đàn ông bình thường, như cậu thôi, không hơn không kém.
– Cậu trả lời ngớ ngẩn lắm. Tớ đã thấy rõ, cậu là đàn ông rồi. Tớ muốn hỏi cậu là ai? Nghĩa là cậu tên gì?
– Papillon.
– Papillon à? Cậu là con bướm à? Khổ cho cậu rồi. Bướm phải bay và có cánh, thế cánh của cậu đâu?
– Tớ đánh mất rồi.
– Phải tìm cho ra, có cánh mới vượt ngục được. Bọn lính không có cánh. Cậu sẽ ăn đứt chúng. Đưa thuốc lá của cậu cho tớ.
Tôi chưa kịp đưa, hắn đã giật lấy. Rồi hắn ngồi.. trước mặt tôi hút, vẻ say sưa.
– Còn cậu, cậu là ai?
– Tớ là thứ thịt để cho ôi. Cứ mỗi lần người ta đưa cho tớ cái gì của tớ, là người ta lại lừa tớ. 
– Tại sao vậy?
– Nó là như vậy. Cho nên tớ giết bọn cai tù, càng nhiều càng tốt. Đêm nay, tớ đã treo cổ hai đứa. Nhưng đừng nói với ai nhé!
– Tại sao cậu lại treo cổ chúng?
– Chúng nó đã ăn cướp nhà của mẹ tớ. Mẹ tớ gửi nhà của bà cho tớ, chúng nó thấy nhà đẹp, chúng giữ lại và ở ngay tại đấy. Tớ treo cổ chúng lên, không hay sao?
– Cậu có lý. Như vậy chúng không thể lợi dụng nhà của mẹ cậu được.
– Thằng cai bự ở đằng kia, sau hàng rào sát ấy, cậu thấy không? Nó cũng ở nhà ấy đấy. Thằng đó, tớ cũng sẽ giết nó thôi, cậu cứ tin ở tớ.

Rồi anh ta đứng lên và bỏ đi.
Trời đất ơi! Sống giữa những người điên, chẳng có gì là vui thú, mà còn nguy hiểm nữa. Ban đêm, có tiếng kêu la ở khắp bốn phía và vào những đêm trăng rằm, những người điên lại càng bị kích thích hơn. Vì sao tuần trăng lại ảnh hưởng đến hành động của người điên? Tôi nhận xét thấy thế nhiều lần nhưng không giải thích nổi.
Bọn cai có nhiệm vụ báo cáo về những người điên phải theo dõi. Với tôi, chúng còn đối chiếu thêm với những việc khác. Chẳng hạn chúng cố tình quên không cho tôi ăn một bữa. Tôi có một cái gậy và một sợi dây, và tôi làm điệu bộ câu cá. Tên xếp gác hỏi tôi: 
– Cá có cắn câu không, Papillon?
– Chúng không cắn mồi được. Có một con cá nhỏ cứ lẽo đẽo theo tôi hoài, mỗi khi cá lớn sắp đớp mồi, nó lại báo trước: “Chú ý, đừng đớp, Papilìon đang câu đấy”. Vì thế tôi chẳng được con nào bao giờ. Nhưng tôi vẫn cứ câu. Chắc có ngày sẽ có một con cá không tin con cá nhỏ kia.

Tôi nghe thấy tên lính đó nói với y tá: “Thằng cha này điên thật rồi”.
Khi tôi phải ngồi ăn ở bàn công cộng tại nhà ăn, tôi không sao ăn được đĩa đậu đũa của tôi. Có một thằng rất to con, cao ít ra đến một mét chín mươi, tay chân và ngực đầy lông lá trông như con khỉ, nó chọn tôi làm nạn nhân để nó hành. Thoạt tiên nó luôn luôn ngồi cạnh tôi. Đậu được dọn ra, đang rất nóng cho nên muốn ăn phải đợi cho nguội đã. Với chiếc muỗng gỗ, tôi xúc từng ít một và cứ thế ăn được vài thìa. Ivanhoe – thằng cha tưởng mình là trang kỵ sĩ thời Trung thế kỷ – cầm đĩa của nó lên, đổ vào lòng bàn tay và ăn hết trong năm phút. Rồi nó tự tiện lấy đĩa của tôi và cũng làm như vậy Khi đĩa đã nhẵn như chùi, nó đặt mạnh trước mặt tôi và nhìn tôi với cặp mắt to, vằn tia máu như muốn nói: “Mày đã thấy tao ăn đậu chưa?”. Tôi bắt đầu chán ngấy Ivanhoe, và vì tôi chưa được xếp hẳn vào loại điên nên tôi quyết định cho nó một đòn để gây tiếng vang. Hôm nay lại là ngày ăn đậu đũa, Ivanhoe không bỏ qua cho tôi. Nó đến ngồi cạnh tôi. Bộ mặt rồ dại của nó trông rạng rỡ hẳn lên. Nó tấm tắc hưởng trước nỗi khoái trá được chén phần đậu của nó và cả của tôi. Tôi đem theo một cái hũ sành to và nặng, đựng đầy nước. Thằng cha khổng lồ vừa cầm đĩa của tôi lên và bắt đầu đồ đậu vào mồm thì tôi đứng lên, lấy hết sức bình sinh đập hũ nước vào đầu nó. Thằng cha rống một tiếng như bò rồi gục xuống. Ngay lập tức, những người diên, tay vẫn cầm đĩa thức ăn của mình. xông vào đánh nhau loạn xạ. Cảnh ồn ào như vỡ chợ bắt đầu. Cuộc loạn đả tập thể này lại có thêm những tiếng la hét của tất cả lũ người điên trong bệnh viện hòa theo.
Bốn viên y tá lực lưỡng đã bế thốc tôi lên không nương nhẹ chút nào và đưa ngày tôi về phòng, tôi kêu váng lên là: “Ivanhoe đã ăn cắp cái bóp trong đó có giấy căn cước của tôi”. Lần này thì đạt yêu cầu! Bác sĩ quyết định xếp tôi vào loại không phải chịu trách nhiệm về bất kỳ hành động nào của mình. Tất cả các cai tù đều nhất trí nhận định chứng bệnh của tôi là điên thuộc loại hiền, nhưng cũng có những lúc rất nguy hiểm. Đầu Ivanhoe được băng bó tuyệt đẹp. Hình như tôi đã làm da đầu nó rách dài đến tám phân. Cũng may mà nó không ra đi dạo cùng giờ với tôi.
Tôi đã nói chuyện được với Salvidia. Anh đã làm được chìa khóa giả mở gian phòng để thùng ton-nô. Anh đang kiếm cho đủ dây thép để chẳng các thùng ấy lại với nhau. Tôi nói với anh ta là tôi sợ dây thép dễ bị đứt do các thùng ton-nô ra đến biển sẽ co kéo nhau, có lẽ nên dùng thừng chão, dẻo hơn. Anh sẽ cố kiếm thứ đó, cả dây thừng và dây thép. Anh còn phải đánh ba cái chìa khóa nữa: một cái mở phòng tôi, một cái mỏ cửa hành lang dẫn đến phòng tôi và một cái mở cửa chính nhà thương điên. Các phiên gác không nhiều lắm. Mỗi phiên gác dài bốn giờ, chỉ có một lính canh. Từ chín giờ tối đến một giờ sáng rồi từ một giờ đến năm giờ. Hai cai tù đến phiên trực của mình chỉ ngủ và không đi tuần lần nào. Họ ỷ vào người tù y tá cùng gác với họ. Vậy là ổn, chỉ cần bình tĩnh chờ. Nhiều nhất là một tháng.
Viên sếp gác đã cho tôi một điếu xì gà loại tồi y đang hút dở khi tôi ra sân. Tuy thuốc tồi, tôi cũng thấy ngon tuyệt. Tôi nhìn lũ người trần truồng, hát hỏng, khóc lóc vung chân vung tay loạn xạ, nói một mình. Họ còn ướt sũng nước vì vừa tắm trước khi ra sân, thân thể họ còn mang những vết bầm do bị đánh đập hoặc tự họ gây ra, cùng vết dây chẳng của áo trấn lực thắt quá chặt. Đúng là thảm cảnh cuối cùng trên con đường đến nơi ruỗng nát. Có bao nhiêu người điên này được các bác sĩ tâm thần ở Pháp buộc phải chịu trách nhiệm về mọi hành động của mình?
Titin – đấy là tên người ta thường gọi anh ta – cùng đi một chuyến với tôi năm 1933. Anh đã giết một người ở Marseille, rồi gọi xe ngựa, cho nạn nhân lên xe, bảo xe chở tới bệnh viện, và đến nơi anh đã nói: “Hình như anh ta bị bệnh, các ông săn sóc giùm cho” Anh bị bắt ngay. Các bồi thẩm nhất định không chịu coi anh ta là thuộc loại không phải chịu trách nhiệm, dù chút ít, về hành động của mình. Mà đúng là anh có điên mới làm như vậy. Người bình thường dù ngớ ngẩn đến đâu cũng chẳng ai làm như vậy. Giờ đây, Titin đang ngồi cạnh tôi. Anh ta bị kiết lỵ kinh niên. Anh ta giống như một cái xác chết biết đi. Anh nhìn tôi với đôi mắt xám chì, không hồn. Anh nói với tôi: “Anh bạn đồng hương ơi, có những con khỉ con ở trong bụng tôi. Có những con ác lắm, chúng cắn ruột của tôi và khi tôi đi ra máu là lúc chúng đang cáu giận đấy. Những con khác thuộc giống khỉ xù toàn lông cả là lông, có những bàn tay êm dịu như tơ. Chúng nhẹ nhàng xoa vuốt tôi và ngăn không cho lũ ác kia cắn tôi: khi lũ khỉ con hiền lành này chịu khó bảo vệ tôi, tôi không đi ra máu”.
– Cậu có nhớ Marseille không, Titin.
– Tất nhiên là nhớ chứ. Nhớ kỹ nữa là khác. Quảng Trường Chứng khoán với những thằng cha chuyên chơi chứng khoán và những băng trấn lột…
– Cậu có nhớ được tên vài thằng không? Thằng Thần hám lợi? Le Gravat? Clément chẳng hạn?
– Không, tôi không nhớ tên thằng nào hết, chỉ nhớ thằng cha đánh xe ngựa chở thằng bạn bị bệnh của tôi và tôi đến nhà thương. Tôi còn nhớ nó đã nói tôi là nguyên nhân làm bạn tôi bị bệnh. Có thế thôi.
Tội nghiệp cho Titin, tôi cho anh ta mẩu xì gà và tôi đứng lên, lòng xót thương vô hạn. Con người khốn khổ này rồi sẽ chết như một con chó. Đúng là sống chung với những người điên rất nguy hiểm, nhưng biết làm sao được? Tôi cho đấy là cách độc nhất để tổ chức vượt ngục mà không lo bị trừng phạt.
Salvidia đã gần hoàn thành các công việc chuẩn bị. Anh ta đã có được hai cái chìa khóa, chỉ thiếu chìa khóa phòng tôi. Anh đã xoay được một cuộn dây thừng rất tốt, thêm vào đó, anh còn tháo võng để bện một cuộn dây có năm sợi. Về mặt này, mọi việc đều tốt. Tôi muốn mau mau chuyển sang hành động vì vừa đóng kịch vừa chịu đựng cảnh này thật gay go. Để được tại phòng này trong khu nhà thương. thính thoảng tôi phải lên một cơn điên.
Tôi đã lên một cơn giống như thật đến mức các y tá tống tôi vào bồn tắm nước nóng già và chích cho tôi hai mũi bromure. Cái bồn tắm này phủ một tấm vải bạt rất dày để giữ cho tôi không ra được. Chỉ có một lỗ hổng để tôi thò đầu ra. Tôi ở trong bồn tắm loại làm cho người điên này được hai giờ thì Ivanhoe bước vào phòng. Tôi hết hồn khi thấy cách hắn nhìn tôi. Tôi sợ nó bóp cổ tôi, đến chết khiếp. Tôi bị bó tay dưới tấm vải, tôi không thể nào tự vệ được.

Nó tiến lại gần tôi, đôi mắt thao láo của nó chăm chú dòm tôi, có vẻ như cố nghĩ xem nó đã từng trông thấy ở đâu cái đầu từ dưới lớp vải này nhô lên. Hơi thở của nó và một mùi thối khẳn phả vào mặt tôi. Tôi muốn kêu cứu nhưng tôi sợ tiếng kêu của tôi làm cho nó càng thêm hung dữ. Tôi nhắm mắt lại chờ đợi, tôi tin chắc là hai bàn tay hộ pháp của nó sắp chít lấy cổ tôi. Tôi không dễ quên được những giây phút hãi hùng ấy. Sau, nó quay đi, đảo một vòng quanh gian phòng, rồi tới chỗ những vòng vô lăng vặn với nước. Nó đóng với nước lạnh và mở hết mức với nước nóng. Tôi kêu thét lên, vì tôi đang bị luộc chín thật sự. Hơi nước tỏa kín phòng, tôi bị ngợp thở vì hơi nước, tôi cố vùng vẫy cuống cuồng để thoát ra khỏi tấm vải chết tiệt này nhưng vô ích. Sau rồi cũng có người đến cứu tôi. Bác cai tù thấy hơi nước lọt từ các cửa sổ ra. Khi tôi ra khỏi được cái nồi hầm này, tôi bị bỏng nặng và đau như một linh hồn dưới hỏa ngục, nhất là ở đùi và bộ phận sinh dục, ở đấy da đã bị lột ra. Tôi được bôi acid pieric và được vào nằm trong phòng nhỏ của bệnh xá. Vết bỏng của tôi nặng đến mức họ phải gọi bác sĩ đến khám. Tôi được chích vài mũi thuốc morphin để chịu đựng được trong hai mươi bốn giờ đầu. Khi bác sĩ hỏi tôi việc gì đã xảy ra tôi nói là trong bồn nước có một ngọn núi lửa bắt đầu phun. Chẳng ai hiểu đầu đuôi ra sao. Và viên y tá gác đổ lỗi cho người chuẩn bị nước tắm đã điều chỉnh lộn hai cái với nước.
Salvidia, sau khi bôi acid picric cho tôi đã đi ra. Anh đã sẵn sàng và nói với tôi, may mà tôi được ở bệnh xá vì nếu cuộc vượt ngục thất bại, tôi có thể trở về khu vực này mà không sợ có ai trông thấy. Anh phải cấp tốc làm một chiếc chìa khóa giả của phòng này. Anh đã lấy dấu chià khóa bằng một mẩu xà phòng. Ngày mai sẽ có chìa. Chỉ cần tôi cho biết ngày nào tôi đỡ đau, đủ sức để lợi dụng phiên gác đầu tiên của người coi tù không đi tuần. Chúng tôi quyết định là đêm nay sẽ trốn đi trong phiên gác từ một giờ đến năm giờ sáng. Salvidia không phải trực. Để tranh thủ thời gian, anh sẽ dốc hết thùng ton-nô dấm vào hồi mười một giờ đêm. Thùng dầu sẽ được để nguyên vì biển động, có thể dầu phủ lên nước biển sẽ làm dịu bớt sóng khi chúng tôi xuống nước. Tôi mặc một cái quần làm bằng bao bột mì, dài tới đầu gối và một cái áo va-rơi bằng len, một con dao tốt dắt vào thắt lưng. Tôi còn đeo một cái túi nhỏ không thấm nước ở cổ, trong đựng ít thuốc lá và một cái máy lửa. Salvidia thì chuẩn bị sẵn một túi dết không thấm nước đựng bột sắn trộn với dầu ăn và đường, chừng ba ki-lô, theo lời anh nói. Đã khuya rồi. Tôi ngồi trên giường, đợi anh đến. Tim tôi đập thình thình. Chỉ trong chốc lát, cuộc vượt ngục sẽ bắt đầu. Cầu Trời và vận may đến với tôi để cuối cùng tôi thành công, vĩnh viễn thoát được ra khỏi con đường thối rữa này. Điều lạ lùng là tôi chỉ có một ý nghĩ thoáng qua về quá khứ. Tôi nghĩ về bố tôi và về gia đình tôi. Không có một hình ảnh nào về phiên tòa đại hình, về các bồi thẩm hay về viên biện lý.
Khi cửa được mở ra, tôi bất chợt thấy cảnh Matthieu bị lũ cá mập rước đi thẳng đứng.
Lên đường nào, Papi.
Tôi đi theo anh. Anh vội khóa cửa và giấu chìa khóa ở góc hành lang: “Mau lên, làm thật mau đi”. Chúng tôi đến nhà kho, cửa đã mở. Vần cái thùng tôn-nô rỗng ra dễ như chơi. Anh lấy dây thừng cuốn quanh người, tôi thì cuốn dây thép. Tôi vớ cái túi dết bột, và trong đêm tối đen như mực, tôi bắt đầu lăn cái thùng tôn- nô của tôi ra phía biển. Anh lăn thùng dầu theo sau. May là anh rất khỏe nên đã dễ dàng kìm được cái thùng khi nó lăn xuống đường dốc thẳng đứng này.
– Từ từ thôi, cứ từ từ, cẩn thận đừng để nó lăn quá nhanh. Tôi chờ anh, để phòng trường hợp anh thả thùng ton-nô của anh ra sẽ bị thùng của tôi chặn lại. Tôi đi giật lùi, tôi đi trước, thùng ton-nô của tôi lăn theo sau. Chúng tôi xuống đến cuối con đường nhỏ không khó khăn lắm. Có một lối hẹp để ra biển, nhưng sau đó là khu có đá khó vượt qua được.
Dốc hết dầu ra, để thùng đầy, không sao đưa qua được quãng có đá đâu. Gió thổi mạnh và sóng đập ào ào vào bờ đá. Thùng đã được trút hết dầu, xong xuôi “Nứt cho chặt. Chờ đây, đậy miếng sắt tây này lên đấy”. Các lỗ đã được bịt kín. “Đóng cho chặt các đầu đinh”. Tiếng sóng gió ầm ầm, không thể nào nghe thấy tiếng đóng đinh. Khó mà khiêng nổi hai cái thùng ton-nô đã được cột chặt vào nhau này. Mỗi thùng chứa được hai trăm hai mươi lăm lít. Thật cồng kềnh, khuân vác rất vướng. Địa điểm anh bạn tôi chọn cũng không dễ dàng xoay trở. “Đẩy đi nào, trời đất ơi! Nâng lên một chút. Cẩn thận đợt sóng này đấy”. Cả hai đứa chúng tôi và cả đôi thùng ton-nô bị nhấc bổng lên và bị ném mạnh vào đá. “Cẩn thận, không chừng bị bể tanmất, chưa kể là ta còn bị gãy chân gãy tay nữa!.
– Cứ bình tĩnh, Salvidia! Cậu đi trước ra phía biển hay lại đằng sau đây thì hơn. Đó, ở chỗ ấy được rồi. Khi tôi kêu, cậu kéo mạnh nhé. Tôi cũng đẩy và chắc chắn ta sẽ ra khỏi được quãng đá này thôi. Muốn thế, phải giữ cho vững và đứng cho chắc tại chỗ, dù có bị sóng ập đến”…
Tôi cứ gào lên ra lệnh cho anh, giữa tiếng sóng gió ào ào này, tôi chắc anh nghe được: một con sóng lớn đổ ập xuống cái khối cứng nhắc gồm đôi thùng ton-nô, anh và tôi. Lúc ấy tôi điên tiết, lấy hết sức đẩy mạnh chiếc bè. Anh ta chắc cũng kéo tới vì bỗng nhiên tôi thấy nhẹ nhõm và bập bềnh trên sóng. Anh ta leo lên thùng ton-nô trước tôi và đúng lúc tói định trèo lên thì một đợt sóng thật mạnh đẩy từ dưới lên, quăng chúng tôi như một cọng lá lên một tảng đá nhô ra xa hơn cả. Con sóng xô mạnh đến nỗi hai cái thùng bị bửa toang ra mỗi nơi một mảnh. Khi sóng rút, tôi thấy mình bị kéo ra xa, cách tảng đá đến hai mươi mét. Tôi bơi và bị một con sóng khác đẩy thẳng vào bờ đặt ngồi giữa hai tảng đá. Tôi đã kịp bám giữ để khỏi bị cuốn ra khơi. Khắp người bị bầm giập, tôi đã vùng thoát được nhưng khi đến chỗ cạn, tôi mới nhận ra là tôi bị trôi xa cách chỗ chúng tôi xuống nước đến một trăm mét. Không gìn giữ gì cả, tôi la to: “Salvidia Roméo! Anh ở đâu đấy?”. Không có tiếng đáp lại. Mệt rã rời, tôi nằm trên đường đi, cởi quần dài, áo va-rơi và lại trần truồng chẳng mang gì ngoài đôi bít tất ngắn ở chân. Trời đất thiên địa, anh bạn tôi ở đâu rồi? Tôi lại kêu váng lên: “Cậu ở đâu đấy?”. Chỉ có tiếng gió, biển và sóng đáp lại. Tôi ngồi đấy, không biết bao nhiêu lâu, thẫn thờ, bị suy sụp hoàn toàn cả về thể chất lẫn tinh thần. Rồi tôi khóc vì bực tức và quẳng đi cái túi nhỏ đeo ở cổ đựng thuốc lá và máy lửa – biểu hiện mối quan tâm ruột thịt của anh bạn đối với tôi, vì anh không hút thuốc.
Đứng trước gió, trước những đợt sóng quái đản đang quét tất cả mọi thứ, tôi giơ nắm tay lên và nguyền rủa Trời: “Đồ xỏ lá, đồ chó đẻ, đồ pê-đê, mi không thấy hổ thẹn vì cứ bám riết lấy ta mà hành hạ như thế này ư? Chúa lòng lành gì mi? Mi chỉ là đồ đáng ghê tởm, đúng thế đấy, mi là kẻ xa-đích, kẻ đáng nguyền rủa! Mi là đồ thoái hóa! Ta sẽ không bao giờ gọi tên mi nữa! Mi không xứng đáng chút nào!”. Gió đã dịu dần và cảnh êm ả đã làm tôi tỉnh táo trở về với thực tại.
Tôi sẽ trở lên nhà thương điên và nếu có thể, lại lê về bệnh xá. Chỉ cần chút ít may mắn, tôi có thể làm được việc ấy
Tôi leo dốc và chỉ nghĩ một điều: trở về nằm vào giường mình. Không để ai trông thấy, không để ai biết. Tôi đã tới hành lang bệnh xá mà không gặp trở ngại. Tôi phải nhảy qua tường bệnh viện vì tôi không biết Savidia giấu chìa khóa cổng chính ở đâu.
Tôi chẳng phải tìm lâu cũng thấy chìa khóa cửa bệnh xá. Tôi vào phòng và khóa trái hai lần cửa phòng tôi lại Tôi ra cửa sổ, ném chìa khóa đi thật xa. Nó rơi phía bên ngoài tường. Và tôi đã vào giường nằm. Vật duy nhất có thể tố cáo việc tôi làm, là đôi bít tất còn ướt Tôi dậy đi vào nhà cầu để vắt cho kiệt nước. Tôi kéo chăn lên tận mặt và dần dần ấm người được đôi chút. Gió và nước biển đã làm tôi tê cóng. Không biết bạn tôi có bị chết đuối thật không? Có thể anh ấy bị sóng cuốn đì xa hơn tôi, đến tận cuối đảo và đến đấy mới bíu được lên bờ. Tôi có trở lên sớm quá không? Đáng lẽ tôi phải chờ thêm chút nữa. Tôi tự trách mình quá vội khi cho là bạn tôi đã bị thiệt mạng.
Trong ngăn kéo bàn ngủ đầu giường tôi, có hai viên thuốc ngủ. Tôi nuốt cả hai viên mà không uống nước. Nước miếng của tôi cũng đủ làm nó trôi vào họng. Tôi đang ngủ thì bị lay dậy và thấy anh y tá đứng trước mặt. Gian phòng đầy ánh nắng và cứa sổ đã được mở. Ba người bệnh đang đứng ngoài nhìn vào. 
– Thế nào Papillon? Cậu ngủ như chết vậy? Mười giờ sáng rồi. Cậu không uống cà phê à? Nguội lạnh cả.
– Uống đi.
Tuy còn ngái ngủ, tôi cũng nhận thấy là đối với tôi mọi việc vẫn bình thường.
– Sao anh lại đánh thức tôi dậy?
– Vì những vết bỏng của cậu đã lành rồi mà đang cần giường. Cậu sẽ trở về phòng của cậu.
– Thôi được.
Tôi đi theo y. Đi ngang qua sân, y để tôi ở lại đấy. Tôi tranh thủ hong đôi bít tất ra nắng cho mau khô. Cuộc vượt ngục đã tan vỡ được ba ngày rồi. Tôi không nghe thấy xì xào bàn tán về chuyện này. Tôi đi từ phòng ra sân rồi lại từ ngoài sân về phòng. Không thấy Salvidia xuất hiện, vậy là anh ta đã chết, tội nghiệp cho anh, chắc anh ta bị đập vào đá mà chết. Tôi cũng gặp may mới sống được, và tôi thoát hẳn là vì tôi ở phía sau thay vì ở đằng trước. Làm sao biết được? Tôi phải rời khỏi nhà thương điên này thôi. Làm cho họ tin là tôi đã khỏi hay ít ra cũng đáng trở về trại giam, có lẽ còn khó hơn là vào đây: Bây giờ tôi phải thuyết phục để bác sĩ thấy là tôi đã khỏi bệnh.
– Thưa ông Rouviot (ông ta là y tá trưởng), đêm qua tôi bị lạnh. Tôi xin hứa sẽ không làm bẩn quần áo của tôi, sao ông không cấp quần dài và áo sơ mi cho tôi?
Viên cai sửng sốt. Ông ta ngạc nhiên nhìn tôi rồi nói: 
– Papillon, anh ngồi xuống đây. Nói cho tôi nghe, có chuyện gì vậy?
– Tôi lấy làm lạ là tại sao tôi lại ở đây, hả sếp. Đây là nhà thương điên, như vậy là tôi sống với người điên à? Có phải, chẳng may tôi bị mất trí không? Tại sao tôi lại ở đây? Sếp vui lòng nói cho tôi nghe đi. 
– Anh bạn Papillon, vừa qua anh bị bệnh, tôi thấy anh đã khá hơn. Anh muốn làm việc không?
– Có ạ
– Anh muốn làm gì?
– Làm bất cứ việc gì.
Thế là tôi được mặc quần áo, tôi được giao việc quét dọn các phòng. Buổi chiều, cửa phòng tôi được để mở cho đến chín giờ tối và chỉ khi người gác đêm nhận phiên gác, tôi mới bị nhốt ở trong.
Một người tù – y tá, người Auvergne, chiều qua lần đầu nói chuyện với tôi. Chỉ có hai chúng tôi trong phòng gác. Cai tù chưa tới. Tôi không biết anh này nhưng anh ta nói là anh biết tôi.
– Bây giờ thì chẳng cần phải vờ vịt làm gì cho mệt, bạn ạ.
– Cậu nói gì vậy?
Cậu tưởng tôi không biết cậu giả vờ sao? Tôi làm y tá ở nhà thương điên đã bảy năm nay, và ngay từ tuần đầu tôi đã biết thừa là cậu chỉ giả vờ điên..
– Thế rồi sao nữa?
– Sau đó tôi rất tiếc vì cậu đã thất bại trong chuyến vượt ngục với Salvidia. Cậu ấy đã bỏ mạng rồi. Tôi đau khổ thật sự vì đây là một người bạn tốt, tuy cậu ấy không nói cho tôi biết, nhưng tôi cũng không để bụng giận cậu ấy. Còn cậu có cần gì, cứ cho tôi biết, tôi sẽ lấy làm sung sướng nếu được giúp cậu.
Anh có cặp mắt thẳng thắn làm tôi không nghi ngờ lòng thành thật của anh. Vì nếu tôi không nghe ai nói tốt về anh, tôi cũng không thấy ai nói xấu về anh: như vậy hẳn anh phải là người khá.
Tội nghiệp cho Salvidia! Khi biết chuyện anh ta trốn đi, mọi người đều sửng sốt. Họ tìm thấy những mảnh thùng ton-nô bị sóng đưa vào bờ. Ai cũng cho là anh đã bị cá mập ăn rồi. Bác sĩ làm toáng lên vì chỗ dầu ô-liu bị đổ đi. Ông nói trong hoàn cảnh chiến tranh không dễ gì có được.
– Anh khuyên tôi nên làm gì?
– Tôi sẽ xin cho cậu việc đi lãnh thực phẩm hàng ngày ở bệnh viện cho nhà thương này. Cậu sẽ được đi dạo một vòng. Cậu phải bắt đầu giữ gìn hạnh kiểm cho tốt. Nói mười câu thì tám câu cho có lý. Vì cũng không nên khỏi bệnh quá mau. cảm ơn, tên cậu là gì?
– Dupont.
– Cảm ơn cậu. Tôi sẽ không quên những lời khuyên của cậu.
Tôi vượt ngục hụt đã được một tháng. Sáu ngày sau, người ta tìm thấy xác anh bạn tôi nổi lên mặt nước. Do một sự tình cờ không sao hiểu được, cá mập không ăn anh. Nhưng Dupont kê với tôi rằng các loại cá khác đã ăn bộ lòng của anh, và cả một khúc chân nữa. Sọ của anh cũng bị thủng. Vì thịt đã rữa nên tử thi không bị mổ để xét nghiệm. Tôi hỏi Dupont xem anh ta có thể gửi giùm tôi một bức thư bằng đường bưu điện được không. Muốn vậy phải trao thư cho Galgani để lúc niêm phong túi đựng thư, cậu ta có thể dúi vào trong.
Tôi đã viết cho mẹ của Ro meo Salvidia ở ý bức thư sau đây:
“Thưa bà, con trai bà đã chết, chân không bị xiềng. Anh ấy đã chết ở biển, một cách can đảm, xa bọn cai ngục và xa nơi giam cầm. Anh ấy đã chết tự do trong khi đấu tranh dũng cảm để dành lại tự do cho mình. Chúng tôi đã hứa với nhau sẽ viết thư cho gia đình của bạn mình nếu có người nào gặp nạn. Nay tôi làm tròn cái nhiệm vụ đau đớn ấy và xin kính cẩn hôn tay bà với lòng yêu kính của một người con.
Bạn của con bà
Papillon”

Làm xong nhiệm vụ đó, tôi quyết định không nghĩ tới cơn ác mộng ấy nữa. Đời là thế, còn phải ra khỏi nhà thương điên, tìm mọi cách để về bằng được đảo Quỷ và thử vượt ngục một chuyến nữa. Viên cai tù đã giao cho tôi việc làm vườn nhà y. Tôi trở lại bình thường đã hai tháng nay, và tôi được mến thích đến nỗi thằng cha đó không muốn buông tôi ra nữa. Cậu người Auvergne kể cho tôi nghe, lần khám bệnh vừa qua bác sĩ muốn cho tôi xuất viện về trại để “thử nghiệm”. Viên cai tù đã phản đối, nói rằng chưa bao giờ vườn của hắn lại dược chăm sóc cẩn thận đến như vậy.
Cho nên sáng nay, tôi đã nhổ tất cả các cây dâu tây và vất vào sọt rác. Rồi tôi trồng một cây thập tự nhỏ vào chỗ ấy. Cứ mỗi gốc dâu lại có một cây thập tự Không cần phải kể, cũng biết là sự việc này đã rùm beng lên như thế nào. – Thằng cha cai tù béo phệ này tức điên lên tưởng chết được. Hắn sùi cả bọt mép và nghẹn ngào nói không ra tiếng nữa. Sau cùng ngồi trên chiếc xe cút kít, hắn đã khóc nức nở, hai hàng nước mắt thật tuôn lã chã. Tôi đã chơi hơi quá nhưng biết làm sao được?
Bác sĩ không coi việc này là quá nghiêm trọng. Ông nhấn mạnh, bệnh nhân này phải được đưa trả về trại giam, cho thích nghi lại với môi trường sống bình thường để “thử nghiệm”. Khi còn lại một mình ở trong vườn, ông mới nảy ra cái ý nghĩ kỳ quặc này.
– Papillon ơi, anh nói cho tôi biết tại sao anh lại nhổ dâu tây để trồng các cây thập tự vào đấy? Tôi cũng không giải thích nổi tại sao tôi làm như vậy bác sĩ ạ, và tôi đã xin lỗi ông giám thị. Ông ấy cưng mấy cây dâu quá làm tôi cũng khổ tâm lắm. Tôi sẽ cầu nguyện để xin Trời cho ông ấy những cây dâu khác.
Tôi đã trở về trại giam, và gặp lại các bạn. Chỗ của Carbonieri vẫn để trống. Tôi mắc võng ở bên cạnh, làm như thể Matthieu vẫn còn nằm ở đấy. Bác sĩ bắt dính vào áo ngoài của tôi giòng chữ: “Đang điều trị đặc biệt. Không một ai, trừ bác sĩ, được ra lệnh cho tôi”. Ông bảo tôi nhặt lá rụng trước bệnh viện từ tám giờ đến mười giờ sáng. Tôi ngồi ghế bành uống cà phê và hút thuốc với bác sĩ ngay trước nhà ông. Vợ ông cũng ngồi với chúng tôi, ông cùng vợ ông cố gợi chuyện tôi về quá khứ của tôi.
– Sau rồi làm sao, Papillon? Sau khi rời những người Anh-điêng mò ngọc trai, việc gì đã đến với anh? Trưa nào tôi cũng ngồi với hai con người đáng khâm phục ấy. Vợ bác sĩ nói: “Anh lại đây hàng ngày với tôi nhé, Papillon. Trước hết vì tôi muốn gặp anh, thứ đến là tôi rất thích nghe kể những chuyện đã xảy ra với anh”.
Ngày nào tôi cũng đến vài giờ với bác sĩ và vợ ông, thỉnh thoảng chỉ có một mình bà vợ. Bắt tôi kể lại quãng đời đã qua của tôi, cả hai tin chắc rằng việc ấy sẽ làm tôi vĩnh viễn lấy lại được thăng bằng. Tôi quyết định xin bác sĩ chuyển tôi đi đảo Quỷ.
Rồi việc ấy cũng xong, ngày mai, tôi sẽ đi. Ông bác sĩ và vợ ông biết vì sao tôi đòi đến đảo Quỷ. Cả hai quá tốt với tôi nên tôi không muốn lừa dối họ: “Bác sĩ ơi, ở nhà tù khổ sai này, tôi không sao chịu nổi, bác sĩ cho tôi chuyến đi đảo Quỷ để tôi vượt ngục hay là chết, sao cũng được, miễn là chấm dứt tình trạng này đi cho rồi”.
– Tôi hiểu anh, Papillon ạ, cái chế độ đàn áp này cũng làm tôi chán ngấy, cái Ban Quản trị ở đây quá thối nát. Thôi vĩnh biệt và chúc anh gặp may.








Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 18 Nov 2025

Chương 14

Nhiều chuyến công-voa từ Buchenwald đến và nhiều khối khác được thành lập. Chúng tôi không có thì giờ chạy kiếm coi có người quen không. Chỉ có sự tình cờ do chuyển dịch trong lúc tập họp, mới giúp chúng tôi gặp lại một người bạn.

Trong khi tôi sắp bắt đầu tuần lễ thứ hai trong biệt đội lao tác nầy, công việc tương đối nhẹ nhàng, thì cùng với ba mươi sáu tù nhân khác, tôi bị thộp một cách tình cờ để đưa lên con tàu chở súc vật mà mỗi sáng đưa nhân công đến đại công trường. Rõ ràng là tôi không được làm việc quá tám ngày tại một chỗ mà tôi bắt đầu thích được ở lại mãi. Tuy nhiên, suy cho cũng, tôi sắp thấy chuyện mời là khác. Chúng tôi xuống tàu tại một ngôi làng vui tươi đẹp đẽ tên là Wofleben. Bị bao học bởi lính canh, 1500 người chúng tôi ra khỏi ga và đi vào con đường chính trong làng. Làng mạc ở Đức dễ có cảm tình, sạch, và những cửa sổ đủ màu đã che khuất những gì khó coi trong một trang trại. Chúng tôi thấy có một lữ quán mang tên: “Sân bắn của Đại đế Frédéric le Grand”, tuy nhiên có vẻ không đắt khách lắm. Ngay khi vừa ra khỏi làng, một bên đường bị rào kẽm gai hàng trăm thước, vì bên trong là các nhà phụ thuộc của nhà máy vĩ đại đang được đào sâu vào lòng núi gần đó. Chúng tôi vào đây. Trên một khoảng rộng nhiều biệt đội đứng sắp hàng sau một tấm bảng tên người cai liên hệ.

Rọ đi qua một chiếc bàn có sĩ quan SS đứng đằng sau kiểm soát, và tôi thấy hoặc họ biến mất trong đường hầm, hoặc trong các dãy nhà dùng làm đủ loại cơ xưởng. Các toán khác được phái bốc dỡ hoặc chất đầy các toa tàu trên một đường xe lửa đi qua công trường. Chúng tôi, số người bị lấy thêm, tự hỏi người ta sắp giao cho việc gì đây.

Một chiếc xe vận tải nhỏ đến chở chúng tôi cho đến vùng ngoại ô Nordhausen, cách đó chừng mươi cây số. Một người dân sự chờ đó với xẻng, cuốc và các cuộn dây điện thoại, chúng tôi phải đặt một đường dây phụ nối thành phố này với công trường. Khoảng cách đường dây độ chừng mười cây số. Phần dây chôn dưới đất dành cho chúng tôi. Phần còn lại dành cho một toán chuyên viên gồm toàn người Ý trong quân đội của Badoglio. Họ được hưởng chế độ tù binh chiến tranh, nghĩa là sự xa hoa so với chúng tôi, nhưng họ không ngạc nhiên khi trông thấy chúng tôi, họ quen làm việc với mọi loại người nội trú mà Đại Đức quốc đã “tuyển dụng” để làm việc. Chúng tôi phải đào một rãnh dài, và vì trời đẹp nên ngày đầu tiên trôi qua không có gì mệt nhọc. Tình trạng hôm sau không còn được như vậy nữa. Một tên lính canh, thường không lưu tâm gì đến công tác, đã đến gần tôi trong buổi sáng. Từ lúc bắt đầu làm việc, tôi chú ý là y theo dõi tôi một cách đặc biệt:

– Sao, không biết xử dụng cuốc ạ, y nói với tôi, đưa tay coi?

Đó là một tên tóc đỏ hoe, vẻ mặt được đánh dấu đặc biệt bởi một chiếc mồm giống miệng thỏ và vẻ thù hận trong ánh mắt. Tôi đưa hai tay trình y.Y phá ra cười chế nhạo và ra lệnh cho tôi cuốc với nhịp nhanh hơn. Y đứng ở gần tôi để theo dõi sự thi hành mệnh lệnh. Sau nửa giờ, tôi mệt đứt hơi nhưng nỗi thống khổ chỉ mới bắt đầu. Mỗi lần có ý định dừng lại một giây để lấy sức, một báng súng dáng vào lưng tôi nhắc nhở sự hiện diện của y. Y cười ngạo mạn, chỉ trỏ tôi cho bọn đồng nghiệp, và tự nhiên là vì tính hèn hạ, chúng đã đồng tình với y. Tất cả những gì tôi chịu đựng cho đến lúc đó chỉ là trò trẻ con. Khi buổi nghỉ trưa, sau cùng, rồi cũng đến, kiệt lực, tôi tự hỏi với nỗi sợ hãi làm sao có thể tiếp tục vào buổi chiều được. Trên đường, nhiều người chạy xe đạp ngang qua. Cảnh đồng quê thật đẹp, mọi vật yên bình và tươi tĩnh. Chúng tôi lại được lệnh tiếp tục làm việc, tôi nghe một tên lính nói với bạn y một câu có vẻ lo âu: “Mày nghe chưa, radio nói là chúng đã thực hiện rồi”. Cả hai đi vào một căn nhà gần đó để nghe tin tức và tất cả bọn lính canh chặn lại sầm sì với nhau có vẻ bí mật. Tình trạng nầy thật là hấp dẫn bởi vì tên đao phủ thủ đã quên mất tôi và suốt cả buổi chiều tôi đã cố thử đoán xem tin tức gì mà có thể làm xao động đến như vậy. Tất cả những dự đoán đều trải qua trong óc. nhưng mãi đến tối, lúc trở về trại tôi mới biết rõ, mọi người đều đề cập đến nó. Đài phát thanh Đức cũng loan báo tin nầy và nhiều tù nhân đã nghe được. Cuộc đổ bộ đã được thực hiện rồi, lần nầy không còn là tin vịt nữa. Từ ngày người ta chờ đợi nó, chúng tôi đã chán quá vì tin bậy bạ, mọi người đều thừa nhận sau cơn phấn khích: “đã đến lúc rồi”. Hôm đó, vả chăng, thực cũng là một ngày tốt đẹp.

Biến cố vừa xảy ra ở phía Tây dường như có vẻ gần gũi quá, và mọi loại ảo tưởng lại trở về trong tâm trí. Sự sụp đổ mau lẹ của Đức quốc vì cả hai mặt trận và, hậu quả tức thời chắc là có sự nới rộng chế độ kỷ luật. Ngay cả với những người bi quan nhất, cũng thấy có khả năng chịu đựng được chuỗi ngày còn lại của cuộc giam cầm, và không một ai trong số 10.000 tù nhân ở đây còn nghi ngờ gì về chuyến chiến tranh sắp chấm dứt. Ngay đêm 6 tháng 6 đó, khi chúng tôi đã nằm duỗi dài trên đệm rơm, một người dân xứ Flandre cắt đứt sự đồng tình toàn diện trong tâm trí mọi người bằng cách tuyên bố:

– Nếu người Anh Mỹ không đến, người ta tự hỏi quân Nga sẽ bị chặn lại ở đâu. Vấn đề là chiến đấu, bọn Nga có đó, tôi không nói ngược lại, nhưng tôi không chịu nổi chủ nghĩa Cộng sản.

Nhân xét này đã gây ra một cuộc cãi vã và một người đã nói rằng sau khi chiến tranh chấm đứt, các cường quốc rồi ra có lợi hơn cả, nhờ buôn bán nhờ kỹ nghệ võ khí, và như vậy các quốc gia bị chiến tranh tàn phá sẽ còn gặp rắc rối, khó khăn.

Người đa nghi vừa phát biểu ý kiến trên đã làm tôi tò mò, và tôi không phải mất nhiều thì giờ để làm quen với Paco, tên của vô tuyến điện viên hãng Air France. Anh nầy đã điều khiển một lưới liên lạc ở Pas de Calais. Khi tôi tỏ bày sự ngạc nhiên khi thấy một người có vẻ chán chường như anh ta mà lại tham gia kháng chiến, anh ta trả lời:

– Không có gì kỳ lạ cả, chiến tranh đã làm tôi bó gối ở Á căn đình và làm tôi bực dọc. Người ta nói đời sống bắt đầu lúc 40 tuổi, tôi vừa đạt đến tuổi đó. Tôi xin tòa Đại sứ Anh cho phép đến Luân-đôn gặp Lực lượng Pháp quốc Tự do. Ở đó có rất nhiều chỗ làm cho bọn cơ hội chủ nghĩa và bọn chính khách sa-lông cho nên khi tôi thấy giỏ cua ấy tôi liền mau lẹ xin được thả dù xuống Pháp và rồi, tôi ưa thể thao, ưa mạo hiểm, tôi chẳng hối tiếc gì cả.

Anh ta vừa đến trại này không lâu cùng với một công-voa gồm 700 tù nhân đã từng xây cất một nhà máy tại Saxe. Một ngàn ba trăm trên hai ngàn tổng số lúc đầu đã bỏ mạng cho công trình xây cất mới mà mục tiêu là để sản xuất hóa phẩm. Vùng Nordhausen mà chúng tôi đang ở, nhận tối đa nhân lực có sẵn, vì dự án khi hoàn tất sẽ gồm 80 cây số đường hầm ngang qua dãy núi Thuringe và ngoại trừ Dora, nhà máy trung ương gần như đã hoàn thành, tất cả phần còn lại của dự án thì mới bắt đầu từ sáu tháng nay và đang được làm gấp. Trong mùa hè này, sức khỏe tổng quát của mọi người tương đối tốt, và số người chết ít đến nỗi không còn ai chú ý đến nữa. Vài ngày sau cuộc bộ, khoảng 15 tháng 6, một đêm, khi đi làm về, một cuộc tập họp tổng quát được triệu tập theo từng loại quốc tịch, trong khi chúng tôi nghĩ đây chỉ là một cuộc điểm danh thường lệ, thì người ta lại loan báo rằng chúng tôi sẽ chứng kiến cảnh treo cổ hai người. Một cột treo cổ với hai thòng lọng còn mới, được đựng lên chính giữa chúng tôi để mọi người đều có thể trông thấy. Những tử tội, người Tiệp Khắc, được đặt đứng trên một chiếc ghế dài. Tay họ bị trói, mồm ngậm một mảnh gỗ để nói không được. Viên thông ngôn chính của trại, lại là người Tiệp Khắc, phải công bố bằng ba thứ tiếng tội phạm mà hai bạn đồng hương của anh ta đã phạm phải: dự định vượt ngục tiếp theo sau các biến chuyển mới nhất của tình hình. Tuy nhiên, vì sự xúc cảm đã làm anh ta nói không ra hơi, tên chỉ huy trưởng SS, tên đã đón tiếp chúng tôi khi mới đến, đã nện cho anh ta mấy đấm vào bao tử, đến nằm ẹp dưới đất, và rú lên bằng tiếng Đức:

– Đây là những tên đầu tiên mà tôi cho treo cổ, tôi báo trước, chúng không phải là những người cuối cùng đầu. Các anh đang ở trong một Arbeitlager SS (trại khổ sai SS) và ở đây chỉ có một điều duy nhất có giá trị thôi: hiệu năng.

Sau khi cho lệnh hành hình, y sấn vào trong hàng ngũ tù Tiệp Khắc, và một cách điên cuồng, y phân phối các cú đá, đấm, khắp mọi phương vị, chính tên tù, quản trại, tình nguyện quàng thòng lọng vào cổ hai nạn nhân.

Y làm việc đó với vẻ tự nhiên như bất cứ công việc tạp dịch thường lệ nào khác. Một cái đá chân nhẹ làm đổ chiếc ghế dài và hai thân người đu đưa trong khoảng không. Trong vài giây đồng hồ, cái hư vô của tất cả những gì trên cõi thế đã hiện ra trong ánh mắt của đám khán giả bị bắt buộc chúng tôi, rồi đến khi có lệnh giải tán để đi lãnh phần ăn, mọi người đều nghĩ đến số đường đất mà quân Anh Mỹ tiến được trong ngày. Khi không còn gì nữa, người ta bám vào bất cứ nơi nào có thể.

Một lúc sau, trước lối vào khối số 3, nơi chúng tôi ở, tôi thấy tên tù quản trại – luôn luôn là y – đánh một tù Nga bằng gậy, dưới các đòn đánh đập, nạn nhân lăn lóc và hét lên vì đau đớn. Điều đó cũng không làm tên sát nhân nương tay chút nào, y còn thọc cả mũi giày nhọn đá vào bụng vào ngực chú nhỏ. Nhưng nạn nhân đã phạm tội gì mà nên nỗi? Anh ta đã cãi lộn và khốn thay, đánh mấy cái vào một tên gitan gia nô ruột của tên quản trại. Không cần phải đoán là y sẽ giết nạn nhản, bởi vì đó là ý định của y. Cuộc hành tội kéo dài 20 phút và tôi không còn nghe tiếng rên rỉ nữa, y nghiêng người xem nạn nhân còn thở không, nhưng hết rồi. Lúc đó, y thở dốc, nhìn lên gia nô ruột. Tên nầy, thật tôi muốn cho ai phần bánh mì nếu đập bể được mặt nó quá, hiu hiu tự đắc thốt ra một câu nhận xét “Da nó cứng quá, hả?” Hai tù nhân Nga mang xác còn nóng hổi của bạn mình đi và tôi nghe họ lầm bầm “khi nào chủ nó rớt đài, mình sẽ tính chuyện với nó”. Thật vậy, thường thường một tên kapo, hay trưởng khối, và ngay cả tên quản trại, khi mất chỗ sau một cuộc chấp tranh nội bộ với các đối thủ hung dữ hơn. Một vài người đã lợi dụng thời cơ để trả thù thật tàn bạo.

Vào giữa tháng 6, khi biệt đội của tôi vẫn còn đặt đường dây điện thoại, một lính canh đến gần tôi và đưa cho tôi một mẩu bánh mì gói trong trang đầu của một tờ báo. Bọn lính canh giờ chúng tôi thay đổi luôn. Đó là cả một sự may mắn, bởi vì kinh nghiệm mới đây còn để lại cho tôi một kỷ niệm xấu, nhưng tôi có thái độ còn hơn cả ngạc nhiên nữa, bởi vì mọi sự liên lạc giữa lính canh và tù đều bị cấm chỉ. Nếu vi phạm, cả hai bên đều bị trừng phạt. Quả thật chúng tôi đang ở ngoài trại và kẻ cho tôi một cách rộng lượng một mẩu bánh mì, chắc phải có thâm giao với trưởng toán và chỉ có vậy mới cho phép anh ta đi xa qui tắc như thế. Trong giờ nghỉ, anh ta đến kiếm tôi và nói bằng tiếng Pháp lưu loát, về các biến chuyển quân sự mới nhất, và đây là lần đầu tiên tôi khám phá thấy được, một thanh niên Đức chống Hitler. Đây không phải là một cái bẫy vì không có một lợi ích nào thúc đẩy anh ta làm như thế. Trái lại, nói chuyện tin cẩn với một tù nhân là cả một cái gì nguy hiểm cho anh ta. Tôi có thể tố cáo anh ta và nhờ đó được các lợi lộc vật chất, trong khi anh ta có thể bị đi nằm nhà đá hay đưa ra trước tiểu đội hành quyết. Tất nhiên là tôi để cho anh ta nói và vì thận trọng, tôi chỉ trả lời mơ hồ thoái thác. Bởi vì làm sao có thể trả lời được cho kẻ có thể hạ gục mình bằng một viên đạn súng lục, và đặt cho mình một câu hỏi đột ngột “Anh có tin rằng chúng tôi đứng vững không?” Sự kiện là, mặc dù chống chế độ, anh ta chỉ chấp nhận một cách khổ tâm sự bại trận của Quốc gia mình. Tôi phải thừa nhận rằng thời gian sống ở “Quartier Latin” (khu vực sinh viên ở Ba-lê) đã ảnh hưởng tới anh rõ rệt, và chuyển biến có thật, tôi gặp một kẻ có thiện cảm với người Pháp, trong thế đối nghịch. Mỗi lần đến phiên anh ta coi gác chúng tôi, tôi chắc là sẽ có một cái gì đó để ăn và một tờ báo là một món ăn ngon của tôi trong thời kỳ hoàn toàn mù tịt tin tức nầy.

Ngay buổi tối ngày tôi làm quen với anh ta, mấy tù nhân Pháp cùng có mặt trong biệt đội nhào đến hỏi tôi đủ thứ câu hỏi:

– Sao, y nói gì với anh? Y có vẻ lo âu. Ồ! Đó là chứng cớ rõ ràng nhất là anh ta đang kinh hãi. Rồi sẽ chấm dứt sớm hả!

Thật ra, vẻ âu lo mà Hans – đó là tên của anh lính canh – để lộ ra chỉ là vì nguyên nhân đơn giản: vấn đề tình nhân loại nói chung. Tôi đã gặp một chú bé tình cảm và có thể lãng mạn nữa, bị nghiền nát bởi kỷ luật và các phương pháp của bọn Quốc Xã. Anh ta có vẻ không xa sự thật lắm khi xác nhận với tôi.

– Nếu Đồng Minh không gấp rút lên, Hitler sẽ có khả năng qua mặt nhanh chóng. Không nên đùa với loại vũ khí bí mật và hỏa tiễn V1 1 mới được đem ra xử dụng chỉ là trò trẻ con trong nghệ thuật giết người mà bọn Quốc Xã đang chế tạo trong vòng bí mật.

Tôi báo cho các bạn bè biết nhận định đó khi họ đến hỏi tin tức. Hệ thống tuyên truyền chung quanh sự tiêu diệt Luân-đôn bằng loại máy bay do người máy điều khiển đã đến tai chúng tôi và một vài âu lo đã len vào các lời chế nhao mà mọi người vẫn bày tỏ. Nhất là cũng vẫn cứ mấy dịa danh đó được nhắc trong thông cáo và sức đề kháng của Đức trong bán đảo Cotenlin (miền Bắc nước Pháp), bắt đầu có vẻ kéo dài quá, đối với chúng tôi. Chúng tôi nghĩ nếu mỗi thước đất của quê hương người Gaulois phải được chiếm lại với các trận chiến khốc liệt, thì xứ sở chúng tôi sẽ bị tàn phá còn hơn Đức quốc nữa.

Trong biệt đội của tôi có một cựu sĩ quan thuộc địa có gia đình tại Caon mà tôi biết, qua một tờ báo, là phần đông dân chúng đã bị chôn vùi dưới các đống đổ nát tiếp theo sau các cuộc dội bom dữ dội đêm trước khi có cuộc đổ hộ.

Tin tức nầy, có vẻ phóng đại quá trớn, nhưng cũng đã làm lay chuyển những người sắt đã nhất. Tuy nhiên Đại úy Adam – đó là tên của viên sĩ quan – lại nói chuyện khác. Bà mẹ già và vợ ông ta chắc bị chết rồi, hai con trai ông chắc là ở đâu đó trong chiến khu và chính ông lại ở trong cảnh khốn khổ, nhưng khi có thì giờ rảnh. ông đã trình bày quan niệm một chính sách đối ngoại thật sự có tính cách Quốc gia.

– Đáng lẽ chúng ta không nên tuyên chiến năm 1939, ông ta nói. Nước Anh, nếu ở trong vị thế của chúng ta cũng không làm như vậy. Quyền lợi của chúng ta là nhào vào cuộc nhảy nhót càng chậm càng tốt. Nhưng nếu đã vì một lầm lỗi phạm phải vào ngày 3 2 tháng 9, năm 1939 thì không nên phạm một lầm lỗi nữa vào ngày 17 tháng 6 năm 1940 khi van nài đình chiến mới phải.

“Thật rõ ràng là sau Clémenceau, chúng ta thiếu các chính khách giỏi, tuy nhiên không có gì ngăn cản được chiến tranh tiếp tục tại Bắc phi. Không những Rommel sẽ không bao giờ trở lại đó mà quân Ý cũng đã quỳ gối từ lâu. Nước Ý có thể làm được gì để chống lại một hành động phối hợp của hải quân Pháp Anh?

” Chiến tranh có thể chấm dứt rồi. Thay vì như vậy, người ta còn đùa giỡn với phòng tranh với cuộc diễn ngựa lại bờ bể Phi châu, và nay với đồng quê của Ý, để làm gì? Dẫu sao nước Pháp cũng bị chiếm đóng hoàn toàn và rốt cuộc là chúng ta bị thiệt thòi nhất.”

Khi ông ta đi đến kết luận đó, không ai dám nói lời nào. Duy chỉ có một tù Ba Lan, con một kỹ nghệ gia ở Cracovic, đã từng qua học ở Pháp, trêu chúng tôi.

– Rồi đời nước Pháp rồi, – anh ta la lên! – Vai trò của nước Pháp chấm dứt rồi. Sau chiến tranh nầy chúng tôi sẽ trở lại thành cường quốc như thời trung cổ. Từ bờ bể Baltique đến “Hắc hải”, đó là tất cả những gì mà Đồng Minh hứa với chúng tôi, vả chăng, đấy là quyền lợi của họ, nhất là đối với Anh quốc. Một nước Đức bị nghiền nát, lúc đó kẻ thù số một là Nga sô.

Vài ngày sau, trong chiếc xe đưa chúng tôi đến nhà máy Dora vì đường dây điện thoại của chúng tôi đi ngang qua qua. Hans lo gác chúng tôi, thì thầm thì vào tai tôi:

– Xong rồi, điều mà các anh chờ đợi nay đã đến.

Vì lẽ anh ta không nói gì hơn, tôi vẫn còn thắc mắc, mặc dù rất vui vì được là người đầu tiên biết tin, nhưng tôi không hiểu nội dung tin đó là gì. Trong thực tế chúng tôi chờ đợi hai điều: mặt trận Miền Tây mở máy vì đã dậm chân tại chỗ khá lâu, dẫu cho trận chiến có vẻ khốc liệt; điều thứ hai là lực lượng Nga sô mở cuộc tiến công Miền Đông. Mọi người đều biết: nếu cả hai mặt trận phối hợp với nhau, chiến thắng cuối cùng sẽ đến nhanh hơn. Chắc Hans phải phòng một trong những đồng bạn, bởi vì mặc dầu tôi ra dấu không hiểu, anh ta cũng không hé thêm được điều gì. Mãi đến lúc xuống xe khi tới địa điểm làm việc, anh ta mới có thể nói nhanh cho tôi một chi tiết: “Cuộc tấn công của Nga sô đã được phát động đầu hôm qua tại Vitebsk”. Hôm ấy là ngày 23 tháng sáu và thời tiết rất tuyệt. Tin tức được lan truyền nhanh chóng và nỗi sung sướng làm mặt ai cũng sáng rỡ. Áo quần chúng tôi bị mòn rách cả rồi, nhiều người có dưới chân một bó giẻ thay vì đôi giày, người đầy rận, và cái đói kềm kẹp chúng tôi không ngừng. Tuy nhiên chúng tôi sung sướng và vui sống hơn cả những người được ưu đãi trên cõi đời nay nữa.

Nhưng trong thực tế, chúng tôi đang ở Dora, tên của một nơi nằm ngay giữa đường từ Nordhausen đến công trường Woflben của chúng tôi. Từ ngoài đường chúng tôi trông thấy doanh trại và vật liệu được chất ngút ngàn, nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy ngọn núi bên phải lại chứa trong một hang động, một nhà máy tối tân với hai mươi ngàn nô lệ đang chế tạo bom và vài bộ phận của hỏa tiễn trứ danh V1. Đường dây của chúng tôi băng qua các khu rừng trong ngọn núi nầy, và từ đó, chúng tôi có thể trông thấy bao quát cả khu nhà máy. Thật sự nó tọa lạc tại một địa điểm rất tốt, và người ta không thể ngăn cản được ý nghĩ so sánh với các trại dưỡng sức. Nó được chia ra làm ba phần: phần thứ nhất gồm các dãy nhà dành cho tù nhân tạm trú; phần thứ hai dành cho trung đoàn SS, và phần chót làm nơi chứa vật liệu dùng cho nhà máy. Một đường xe lửa đến tận chân núi qua cổng chính. Đường sắt nầy được ngụy trang kỹ, và không thể nào bị máy bay khám phá. Toàn bộ được bao bọc, ngoài hàng rào kẽm gai và hàng rào truyền điện, còn có các rừng thông; có hình dáng một cái móng ngựa khổng lồ nếu đứng trên cao nhìn xuống. Như thế, khu trại dường như đã được thiết lập xong và nhà máy thì hoàn tất từ đầu mùa xuân.

Lúc nghỉ trưa, tôi gặp may nói chuyện được với một tù nhân Pháp làm việc ở ngoài từ sáu tháng nay. Ngồi trên cỏ, và trong bộ y phục tù nhân. Với một chút tưởng tượng, người ta có thể tưởng rằng đang nghỉ mát trong một khung cảnh đồng quê dễ chịu. Tuy nhiên những gì nghe chính miệng người đồng bạn của tôi nói đã giữ tôi lại với thực tế:

– Anh thấy không, anh ta vừa nói vừa chỉ khu doanh trại, khi tôi đến đây vào mùa thu năm ngoái, vùng nầy là một vũng bùn và đôi khi chúng tôi phải lội bì bõm ngang đầu gối.

Nhưng điều đó cũng chưa thấm gì. Hãy nghĩ đến nỗi kinh hoàng của chúng tôi khi bị đưa vào đường hầm đang được đào và không được trở ra nữa, ít ra là cho đến lúc các dãy trại được cất xong. Và chỉ có một tuán tù ít ỏi đảm trách công cuộc dựng các trại nầy. Bên trong, ba toán thay nhau làm việc liền trong 8 tiếng để tiếp tục công cuộc khoan hầm, và trong khi toán nầy làm việc trong tiếng ầm ĩ của các chiếc máy khoan bằng hơi ép và trong bụi bặm đến mờ mắt, những người khác nằm ngủ hay cố ngủ kế bên đó, trong một đường hầm nằm ngang, trên các giường chồnn lên nhau bốn hay có lúc năm tầng. Ai nằm tầng dưới thường hứng được, từ các tầng trên một chất lỏng lẽ ra phải cho chảy vào ống cống. Tuy nhiên ai cũng bị mệt mỏi đến nỗi không muốn mất thì giờ đi đến thùng tiểu đại tiện đặt gần các nồi súp và bàn để bánh mì, vì mọi thứ trong đó đều lẫn lộn với nhau. Phần ăn phải được ăn ngay vì nhiền khi bị giật trên tay. Ai giật? Không thể nào biết được trong đám hỗn loạn đó. Cả một “băng” dọn ăn nịnh trên nạt dưới, gậy trong tay, thay bọn SS làm bọn nầy chỉ thỉnh thoảng mới vào kiểm soát. Anh cũng biết trong chế độ đó, thần chết rất khoái trá. Trong khu vực của tôi, mỗi ngày có hai mươi lăm mạng ra đi và có một toán đặc biệt chuyên khiêng xác họ ra ngoài. Nhân lực không bao giờ thiếu, vì luôn luôn được trại Buchenwald đưa đến. Trong ba tháng, tôi ở trong lòng đất không được thấy ánh mặt trời, và trong những ngày đầu tiên khi được đưa ra ngoài, mắt tôi đau nhói. Khi nhắc đến thời gian đó để so sánh, thì hiện nay đúng là một trại dưỡng sức. Nhưng người ta có thể nói nó được xây trên xác chết.

Khi anh ta nói với tôi, tôi thấy nhiều người xuất hiện ở cửa hầm vừa chạy vừa đẩy xe cút kít. Những tù nhân khác, trong vai trò cai thợ, đánh xả lên người họ để giữ nhịp chạy và dựng các người bị ngã lăn bắt phải đứng dậy. Họ ở cách xa chúng tôi hàng mấy trăm thước và người ta cũng có thể thấy nhiều tên SS với chó săn dắt nơi tay. Đoán biết tôi ngạc nhiên, người cựu tù nhân làm việc ở Dora giải thích:

– Đó là bọn Do-Thái Hung Gia Lợi vừa được đưa từ Auschwitz đến hai ba ngày trước. Tôi không hiểu sao bọn Đức không đưa họ vào lò hơi ngạt và một số trong họ chắc phải lấy làm hối tiếc về chuyện ấy! Chúng bắt huộc một số đông trong họ, dưới sự đe dọa cho chó cắn, phải đóng vai trò cai phu và đánh đập bạn bè của mình.

Sau buổi chiều, khi trở lại xe hơi, tôi thấy nhiều hàng tù nhân đi ra khỏi đường hầm chính. Đó là toán ban ngày, sau khi hết phiên, trở về chỗ ở. Từ sáng sớm, tôi hy vọng gặp một người quen và đó là một may mắn vô vọng, khi được chứng kiến sự đổi phiên. Tôi nhìn chăm chú các bộ mặt hốc hác của đám tù khổ sai. Đột nhiên một tiếng kêu thoát khỏi miệng tôi: “Hubert!” anh ta gầy còn một nửa, nhưng tôi nhận ra ngay. “Sao?” tôi la lớn về phía anh ta. Một bộ mặt còn da bọc xương, vẻ nhìn thất thần hướng về phía tôi, hoàn toàn trông giống như một xác chết đang đi. Tay anh làm một cử chỉ mơ hồ tỏ rõ sự mệt nhọc và tôi nghe độc một câu: “Tu viện trưởng Bourgeois chết rồi?” Một vài giây nữa và bóng anh mất hút trong hàng người dài vô tận đi ra khỏi đường hầm như một con sâu khổng lồ. Vậy là trong số những người sống với nhau trong thời gian kiểm dịch đầu tiên, một trong các người bạn tốt nhất đã ra đi, và nếu Hubert chỉ nói đến người tôi biết rõ nhất, điều nầy có nghĩa là nhiều bạn khác có thể cũng đã chết rồi. Chính anh, cũng có và sức tàn lực kiệt rồi, và cuộc gặp gỡ mà tôi tưởng là vui vẻ, lại chỉ gợi cho tôi nhiều cảm giác nhọc nhằn, tôi sẽ cho tất cả để được nói chuyện mười phút với anh. Liệu tôi còn gặp lại anh nữa không? Tất cả những gì anh cho tôi biết là cái chết của một người bạn tận tụy và xứng đáng, và khi người ta biết tin về cái chết của người thân, ta có cảm giác một mảnh của thân mình cũng ra đi với người ấy.

Buổi tối khi về đến Ellrich sau khi rời xe lửa, cũng như mọi đêm, cùng với các tù đồng bạn ở Wofleben, chúng tôi được biết một công-voa toàn người Do-Thái Hung Gia Lợi cũng đã đến doanh trại chúng tôi. Phần lớn ở khắp các khối, và vào khoảng năm mươi người đã đến khối số 3. Luôn luôn là một sự dồn cục các tù nhân mới, tôi liên lạc làm quen với một người trong bọn, một thợ may ở Munkasz. Y nói rằng gia đình y đã bị thanh toán cả tại Auschwitz và bọn SS chỉ để dành lại đàn ông có sức làm việc. Thật vậy phần đông bọn họ đều là thanh niên trẻ nhưng cơ thể đã bị biến đổi quá nhiều. Tất cả xuất thân từ giới khiêm nhường bị bắt trong các cuộc bố ráp tại các thành phố tỉnh lẻ. Tại Pudapest, những người Do Thái giàu được hưởng một chế độ đặc biệt và không phải lo sợ gì cả. Khi anh ta hỏi số phận các người Do Thái Pháp, tôi trả lời tình trạng cũng tương tự như tại xứ anh ta. Tất cả người nghèo và trung bình đều bị nhốt vào trại và đưa thẳng đến Ba Lan đã bị tiêu diệt. Anh ta có một nguyên tắc là trước hết phải tránh móng vuốt bọn Quốc Xã và mặc kệ các người khác cũng làm như vậy với tiền bạc của họ. Vì anh ta tưởng rằng tôi chống Do Thái, tôi cho anh ta biết rằng thái độ đó cũng hèn hạ và ngu xuẩn như sự ghen ghét, và tôi chỉ kể lại duy nhất những điều tôi thấy, và chỉ tỏ ý tiếc rằng một số người có phương tiện đã không tham dự vào sự giúp đỡ một vài đồng bạn khốn khổ, bởi vì ai cũng nghĩ là do truyền thống liên kết về phương diện tôn giáo, người Do Thái đoàn kết với nhau trong bất cứ hoàn cảnh nào.

– Đừng rơi vào lĩnh vực mơ mộng nữa, – anh ta bảo tôi, – trong cộng đồng Do Thái, vẫn có tình thương, nhưng trong Do Thái giáo cũng như trong Cơ đốc giáo, tinh liên đới giữa cả hộp và cá mòi là cả một cái gì hoàn toàn không tưởng.

Trái với một cơ thể hao mòn vì đời sống khép kín của các cộng đồng Do Thái Trung Âu, trí óc của họ không hề bị lay chuyển và chiếu sáng với sự sống động, biếu hiệu của đức tính tổng quát của người Do Thái. Tất cả bọn họ nói lưu loát từ bốn đến sáu ngoại ngữ, những ngôn ngữ thông dụng nhất, và nếu không bị coi là hạ cấp vì tôn giáo của họ thì thật khó tìm được một chân thông ngôn trong các trại tập trung nào có mặt họ ở đó. Vô phước thay cho họ, những công việc nhọc nhằn hơn hết được dành cho họ, và thật đáng ngạc nhiên khi thấy không rõ sự kiên nhẫn nào đã giúp họ chịu đựng lâu dài. Buổi tối trong khi mọi người cãi cọ nhau vì vài muỗng súp phụ, những người Do Thái, không bao giờ được quyền nhận thêm, tụ họp tại một góc và trước khi đi ngủ, nhiều người trong bọn, quay mặt vào vách, thầm thì đọc kinh. Từ đó người ta hiểu, bằng cách nào dân tộc nầy trường tồn qua hàng bao thế kỷ, qua mọi loại thử thách và mọi sự ngược đãi hành hạ mà họ là nạn nhân.

——————————–

1Đọc: Hitler và vũ khí bí mật – Sông Kiên xuất bản. Sách đang in.
2Đọc “Hitler Và Ngày Cuối Cùng Của Thế Giới Cũ” Sông-Kiên xuất bản.

Một trời một biển

vietmessenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 18 Nov 2025

Phần 4. Tình thư trên chiến hạm

Quang cảnh Cầu Ðá sáng nay khác hẳn mọi ngày. Trông vắng vẻ đìu hiu hơn vì không có thương thuyền nào cặp cầu, để cất hàng hay xuống hàng hết trơn. Tất cả đều bỏ neo xa ngoài vịnh. Duy nhất chỉ có mỗi chiếc HQ 451 nhỏ nhoi, khiêm tốn của Trung tâm huấn luyện Hải quân Nha Trang, mới đại kỳ về, nằm gọn một bên ở phía cuối cầu. Ðược giữ chặt bởi những đường dây gai to cỡ, quấn nhiều vòng số tám vào các trụ bít (bittle) bằng thép. Những trụ bít trông như cái đe đập sắt của thợ rèn. Sát bờ, nhiều chiếc du thuyền với những cột buồm cao vút trên không của các thương gia tiền của như núi, hoặc của mấy ông lớn quyền hành sinh sát trong tay, cũng đang nằm sắp lớp cạnh các ponton ken nhau làm thành cầu nổi. Dấu hiệu của ù lì, mệt mỏi? Nhiều con hải âu như cũng làm biếng bay, đáp xuống sàn cầu thành bầy, thi nhau mổ mổ tìm thức ăn…

HQ 451, tức Huấn luyện hạm Quá Giang, hậu thân của chuyển vận hạm Ðịnh An do Pháp bàn giao cho Hải quân Việt Nam vào năm 1955, là một chiếc tàu cũ kỹ, rỉ sét, sắp mục đến nơi. Ðây là loại tàu chuyển vận hàng nhẹ, light cargo freighter của Mỹ, có cách kiến trúc giống như những chiếc tàu buôn. Nếu không sơn màu xám đậm và vẽ số Hải quân, người ta có thể nói đây là một chiếc nhỏ nhứt trong những chiếc tàu hàng của bà Ngô Ðình Nhu, những chiếc Nhựt Lệ, Tiền Phong, Thống Nhứt, Trường Sơn, Phú Quốc. Loại tàu buôn một máy, một chân vịt. Một cột buồm, một ra-đa. Một trụ cần trục, nhưng, không phải một mà là bốn đòn ngang như bốn cánh tay dùng để lên xuống hàng cho đủ bốn hướng, tả hữu hạm ở phía trước mũi và sau lái. Còn những con số kỹ thuật của chiếc tàu này thì lại là những con số gần đúng với bội số của số mười. Rộng mười thước, dài năm chục thước. Vận tốc mười hải lý. Máy một ngàn mã lực. Trọng tải một ngàn tấn. Ðại khái là như vậy!

Thân tàu, nếu nhìn ngang, như được chia làm ba phần rõ rệt. Phần mũi và lái nhô lên cao cho dễ điều khiển, phòng thủ và khoảng giữa thấp xuống cho dễ nhận hàng, bốc hàng. Phần lái rộng hơn phần mũi có hai từng và đài chỉ huy, tầng dưới có lan can chạy quanh tả hữu hạm và sân trống đằng sau đuôi. Phòng ăn, phòng ngủ cho thủy thủ đoàn và nhà bếp được đặt ở tầng này. Sân mũi là nơi tọa lạc của dàn cà-nông bô-pho bốn mươi ly đơn… Các hầm chứa hàng, bây giờ, đã được sửa chữa và sơn phết lại làm phòng tạm trú cho các khóa sinh, sinh viên sĩ quan. Nhiều giường bố, chồng đôi chồng ba, được gắn thêm dọc theo mấy bức vách. Hai tấm tăng lớn phủ lên gần hết sân giữa con tàu, chỉ chừa một khoảng trống bao quanh cái trụ cần trục…

Quang cảnh Cầu Ðá hôm nay khác hẳn mọi ngày, thêm một điểm nữa, là vì đang có hằng trăm sinh viên sĩ quan hải quân tuần hành hàng một xuống tàu HQ 451 để “thực tập đi biển.” Một tuần lễ lênh đênh trên trùng dương sóng nước, một cơ hội quí báu nhằm áp dụng và thực hành những gì đã học qua trên lý thuyết. Về các môn hàng hải. Nào là hàng hải cận duyên, hàng hải viễn duyên, và luôn cả hàng hải thiên văn mặc dù luôn luôn… thấy bờ. Và nếu cần, sẽ thực tập hải hành trong sương mù, hoặc hải hành trong giông bão khi có những điều kiện thuận tiện. Nhưng, một biển một tàu thì không thể nào hải hành tập đội được, lẽ dĩ nhiên.

Vừa bước vô cabin tạm trú, Tần cảm thấy như muốn ngộp thở. Mùi sơn, mùi sét, mùi ẩm mốc trộn lẫn với nhau… y như mùi xú uế xông lên nồng nặc. Ánh sáng vàng vọt từ những bóng đèn tròn lu câm, như thiếu kilowatt mặc dù đang câu điện bờ dẫn tới từ nhà đèn, đã không làm cho cõi âm u tăm tối như địa ngục này sáng sủa thêm chút nào hết. Trên trần, giăng mắc chằng chịt những dây những ống. Dưới sàn, tua tủa mọc lên những trụ những cột. Luồng hơi nóng từ bên trong cái hầm có vỏ làm bằng kim khí này hừng hực thổi ra cửa như muốn đẩy Tần dội ngược trở lại. Trời đất, nếu không có máy lạnh thì làm sao mà sống nổi với cái cảnh màn gang chiếu thép này đây, chàng tự hỏi. Nhiều quạt tròn gắn trên xà ngang thổi vù vù, quay qua quay lại, cũng không làm sao xua đuổi được cái nóng cho nó đi chỗ khác chơi. Chỉ nơi nào gần ống gió thông hơi, như những ống loa dẫn xuống từ bên trên, thì đỡ ngột ngạt hơn. Tần nhanh chóng có được một nhận xét như vậy. Cho nên, chàng réo giật ngược hai thằng bạn thân:

– Ê, Thắng, Thành… mau lại đây. Tụi mình sẽ đóng đô ở khu này.

Thắng mò tới, nghi ngờ:

– Có chắc mình muốn chiếm giường nào thì chiếm không? Hay phải chia khu cho từng trung đội như lần rồi?

Tần thảy cái sac marin của mình lên cái giường bố tầng trên, nói với giọng quả quyết:

–Lần đi trước mình đi thực tập trên chiến hạm biệt phái cho Vùng 2. Lần này khác, mình đi bằng tàu riêng của trường mới lãnh về. Mới sửa chữa, mới biến cải thì đúng hơn. Lần trước chỉ đi ngắn hạn một hai ngày, lần này dài người ra cả tuần lễ. Hên cho tụi mình kỳ này là trung đội một của mình xuống trước. Hẳn nhiên phải có quyền ưu tiên chọn lựa chớ. Còn khuya mới có người rỗi rảnh đứng ra xếp chỗ ăn chỗ ngủ cho mình. Mầy muốn giỡn nhột hả? Chần chờ một lát là phải ra đằng trước mũi, ngủ ở hầm cầu tiêu đó nghen.

Liệng sac marin của mình vào giường dưới của Tần đánh bịch, thiếu điều muốn rách bố, Thành tán đồng:

– Tao thấy thằng Tần nói có lý. Chậm chân là không còn chỗ tốt. Vẫn còn đeo sac marin trên vai, Thắng phân vân:

– Có chắc gì nằm gần cái ống gió này mà là chỗ tốt? Tới hồi gặp giông bão, nước mưa lòn vào ướt thấy mẹ luôn đó!

Tần gắt:

– Chớ bộ mầy không biết vói tay đóng cái cửa hublot (cửa tròn kín nước) bên trên à!

Thắng nghe xuôi tai bèn chiếm cái giường kế bên. Quả như lời Tần đoán, không mấy chốc khắp các gian phòng chật nứt cả người, mạnh ai nấy tìm lấy chỗ nằm cho riêng mình. Mùi xú uế của con tàu rỉ sét lâu năm giờ pha thêm mùi chua chua của mồ hôi và hơi người làm Tần muốn lợm giọng. Mấy tên đi xuống trễ chửi thề om sòm:

– Ðù me, tao thấy lên trên boong nằm còn sướng hơn chui vô cái lò hầm than này.

Có tiếng trả lời:

– Hừm, tới hồi mưa gió bão bùng thì mầy chạy đi đâu, hả? Chỉ cần vài cơn sóng phủ đầu là cha con mầy ướt mẹ nó như chuột lột. Nước biển chớ không phải nước mưa đâu nghen. Rồi nó sẽ rít chịt, ngứa ngáy… gãi cho mà đã luôn. Thôi, chịu khó chui vào góc kia nằm đỡ đi. Thà chết nóng chết nực còn hơn chết mưa chết lạnh mầy ơi. Ai biểu mày cứ mò mò… như mò háng con gái làm chi.

– Ðù me, sao lúc nào trung đội một cũng được ưu tiên một hết vậy ta.

Thắng xen vào:

– Vậy chớ trung đội năm của mầy kỳ vừa rồi được ưu tiên đi thăm Hải học viện đó thì có ai nói ra nói vào gì nào.

– Chuyện đó không quan trọng mầy biết hôn! Vì trước sau gì tụi mầy cũng đi. Tao nói là nói những lúc cả đại đội cùng đi chung kìa. Không mấy khi trung đội năm được phép dẫn đầu, mầy thấy không? Bất công vừa vừa thôi chớ!

Tần nháy mắt với Thắng thầm bảo đừng thèm cãi lý với bọn đó nữa. Tưởng ai chớ thằng Nguyễn Nối thì Tần không ưa. Không phải mới đây, mà là ngay từ lúc mới bước chân vào quân trường, ăn bữa cơm nhà bàn đầu tiên kìa. Chuyện ăn coi nồi ngồi coi hướng, lẽ đương nhiên là chuyện không thể xảy ra ở quân trường rồi. Nhưng, Tần cũng chưa từng thấy ai ăn uống dơ dáy như tên này. Chàng cứ nhớ mãi cái đôi đũa dính đầy cơm vừa lấy ra từ miệng hắn, vậy mà hắn nhẫn tâm đem thọc vô tô canh, dĩa đồ xào và món mặn dành… ăn chung. Ai mà ăn cho vô đây chớ. Dẫu có đói đến rã họng đi nữa cũng không ai hùng hục, chụp giựt như heo vậy. Thôi, tốt hơn hết là Tần đi tìm carré, bốn tên một bàn, khác. Bởi, con người ta rất dễ gây ấn tượng suốt đời xấu hoặc tốt khi vừa mới chạm mặt nhau lần đầu, chàng nghĩ.

Trong khi Thành và Thắng lo bày biện đồ cá nhân ra giường, trải tấm drap và kê cái gối, Tần nhảy phóc lên tầng trên, ngồi ngó dáo dác khắp gian phòng. Nhận định tình hình. Ðâu đâu cũng đầy
sac marin
, túi Air-France, túi Boeing, túi dết đeo vai nói chung. Có cái để ơ hờ, có cái lại cài thêm ống khóa. Ống khóa? Làm gì cẩn thận dữ vậy ta? Bộ chứa vàng trong đó sao? Nhưng, Tần đã biết tẩy hết! Thật ra, chẳng có gì quan trọng ngoài ba cái lương thực đặc biệt như mía khúc, dưa leo, củ sắn… dành cho những tên hay say sóng. Những tên không thể ăn cơm gạo sấy và thịt hộp, ration C, như mọi người. Tần cười thầm! Chỉ cần sóng gió cấp ba, cấp năm là bọn nó chỉ có biết uống nước lã cầm hơi. Cần phải để bụng trống, vì càng ăn vô thì càng có cái cớ để mửa ra mật xanh mật vàng. Ðến chừng đó, những mía những dưa những sắn rồi cũng phải ngó lơ cho người khác… “ăn giùm” mà thôi. Nói cho ngay, bảo là “ăn giùm” thì cũng hơi quá đáng, ăn trộm ăn cắp thì đúng hơn. Khỏi cần chìa khóa, chỉ cần uốn cong cái sac như cây cung, thì kéo fermature chạy từ đầu này đến đầu kia cũng dễ dàng như kéo fermature… quần đàn bà!

Bây giờ, có lẽ người nào cũng đã vào vị trí của người nấy. Biết không ai dám vứt sac marin ốm tong teo của mình đi chỗ khác để dành cái giường này, Tần nhảy xuống sàn rủ Thắng và Thành:

– Ê, lên boong chơi, tụi mầy. Ở trên đó mát mẻ, thoải mái hơn! Chắc còn lâu phái đoàn sĩ quan hướng dẫn mới tới. Ở dưới này ngộp thở thấy mẹ.

Với tánh cẩn thận cố hữu, Thành đưa ý kiến:

– Hai thằng bây lên trước đi, để tao ở lại coi chừng đồ một chút rồi tao sẽ lên sau.

Tần chịu ngay:

– Vậy cũng được. Ði mầy, Thắng.

Thắng chần chờ:

– Khoan, để tao lục mấy bức thư tình của em cái đã.

Quả là một nhắc nhở quan trọng, Tần nói thêm:

– Ừa, để tao lục của tao cầm theo luôn. Tao với mầy trao đổi…

Bỏ mấy lá thư vào túi, Tần và Thắng nhắm hướng cầu thang, trồi lên boong. Nắng đã lên cao, chói chang vào mắt. Không khí mát mẻ trong lành hơn. Từng đợt gió phả vào người khoan khoái. Tần banh ngực thở một hơi thật đầy vào hai buồng phổi. Tiếng phần phật phát ra từ tấm tăng hòa lẫn với tiếng máy tàu chạy đều đều làm thành một điệu nhạc trầm bổng, du dương. Tần bỗng thèm một giấc ngủ vô tư, không mảy may phiền muộn. Ngay bây giờ. Ở một góc kẹt nào đó, trong căn nhà mát trôi nổi bềnh bồng này… Nhưng Thắng đã lên tiếng:

– Tao với mầy lại ngồi dựa vào nắp hầm đằng kia… Mầy nhận được thư của những em nào trong mấy ngày gần đây?

Tần mon men đi theo Thắng, trả lời:

– Của cô giáo sư phạm Qui Nhơn và của học trò trung học Nha Trang! Còn mầy?

Thắng nói giọng tài khôn:

– Mầy có thư của con Phượng và con Hiền chớ gì? Còn bày đặt cô giáo với lại học trò, tao chán mầy quá Tần ơi. Tao kỳ này chỉ có thư của con Hằng thôi, nhưng em viết dài lắm, tao chịu đổi với hai cái thư của mầy đó.

– Mầy xạo ke nữa hả Thắng? Làm gì mà mầy chỉ có mỗi thư của con Hằng, tao không tin. Nếu con Thảo ở chợ Phước Hải không viết vô cho mầy thì còn con Kim, người em cư xá Lữ Gia của mầy nữa chi? Mầy dấu tao hả? Nếu vậy thì kỳ này cô giáo đổi với cô giáo thôi! Ðâu, đưa thư của con Hằng đây cho tao.

Thắng cười ha hả:

– Mầy ăn gian quá Tần ơi! Thư của con Phượng viết cho mầy chắc vỏn vẹn có một trang, giống y chang như lần trước phải không, nói thiệt đi?

Tần giựt xéo lá thư trên tay Thắng nói trả đũa:

– Viết một trang mà người ta viết hay là được rồi. Viết tràng giang đại hải mà viết theo kiểu đụng đâu nói đó như con Hằng của mầy đọc chán bỏ mẹ. Mầy đọc thử thư con Phượng kỳ này rồi mầy sẽ thấy, lâm ly bi đát lắm mầy ơi. Phải công nhận con nhỏ biết viết thư tình…

– Vừa thôi Tần. Ðúng là mèo khen mèo dài đuôi, hễ cái nào của mầy… nếu không hay thì cũng phải đẹp, tao biết hết trơn. Ðâu, để chánh chủ khảo Thắng chấm bài cô giáo Phượng coi nào…

Thắng mở tờ giấy học trò ra, chăm chú đọc:

Qui Nhơn ngày…

Anh Tần thương mến,

Vừa nhận được thư anh ngày ni là đêm về Phượng phải vội vã hồi âm cho anh ngay, kẻo anh trông tội nghiệp anh hỉ. Nghe anh nói trong một tương lai rất gần, tàu anh sẽ “phom phom tiến tới Qui Nhơn” mà Phượng đâm lo. Tại vì Phượng không biết phải tiếp đón anh theo kiểu mô cho hợp tình, hợp cảnh. Mấy con nhỏ bạn trong phòng của Phượng cũng đều nôn nóng, hồi hộp như Phượng. Như anh đã biết, hầu hết tụi nó đều có… “người anh tiền tuyến” để viết thư tâm tình đang ở cùng phòng với anh, như các anh Ðức, Thành, Thắng, Bích, Nghĩa… Với lại, ban giám thị trường Phượng khó lắm, không dễ như trường anh, tụi Phượng không nghĩ ra cách chi để vượt vòng rào đi… du hí với các anh được. Thôi thì tới mô hay tới đó.

Tấm ảnh của anh chụp ở Hòn Chồng đẹp trai lắm. Nhưng, trông anh giống như người lính rừng quá đi thôi. Phượng thích tấm ảnh anh chụp trên tàu HQ 500 hơn, trông có vẻ lính tàu oai vệ hí. Bắt chước anh, Phượng cũng gửi tặng anh tấm ảnh mới chụp trước “cổng trường cổ kính” nhìn vô làm kỷ niệm. Từ cổng này ngó ra phía trước, cách chừng vài trăm bước là bãi biển Qui Nhơn. Có lẽ không đẹp và sạch sẽ bằng bãi biển Nha Trang của các anh, nhưng ban đêm cũng có nhiều người đi dạo mát ở đó lắm. Chừ, Phượng của anh cũng thuộc loại trời bắt xấu phải không anh? Thôi, xin anh đừng chê nữa mà làm Phượng thêm tủi hổ! Phượng phải chui vô mùng đi ngủ đây! Và không thèm nằm mơ thấy anh nữa mô! Mong tin anh nhiều lắm!

Mến thương anh!

Phượng

Trong khi đó Tần cũng say sưa đọc lá thư của Hằng. Chẳng biết Thắng viết thư cho người đẹp ra sao mà coi bộ nàng “đía” dữ:

Qui Nhơn ngày…

Anh Thắng ơi,

Bữa ni có thư anh nên nhỏ Hằng chắc sẽ lên cân vì được… ăn ngon ngủ yên đó. Mà nói chứ không có thư của anh thì Hằng cũng… ngủ yên ăn ngon thôi. Tội chi phải lo phải không anh? Bởi “lo cho lắm, tắm cũng bận quần” như anh nói đó. Ở đây tụi Hằng có nhà tắm, có vòi búp sen đàng hoàng chớ không có màn chiều chiều mặc xà lỏn đi tắm giếng như các anh. Con gái mà đi tắm giếng giữa trời, ai coi cho được răng anh hỉ?

Chẳng biết ở trong đó các anh có nhiều anh “ba-gai” hay không, chớ ở đây có nhiều “mụ non” chằn ăn trăn quấn dữ lắm. Trong số đó chắc phải kể luôn cả Hằng của anh nữa. Bọn ni phá phách thiên hạ chạy mặt hết. Tuần vừa rồi có chuyện vui lắm để Hằng kể cho anh nghe. Như anh cũng biết tụi Hằng đang ở lầu hai. Sáng sáng có nhiều mụ làm biếng, không chịu đi lại phòng toilet làm vệ sinh, hay ra trước hành lang đánh răng rửa mặt, phun nước phèo phèo, dội nước ào ào xuống bãi cỏ trước sân bên dưới. Thường thường, muốn làm như vậy thì các “mụ chị” ni phải thức dậy sớm hơn mọi người một chút. Xui cho bữa đó, bà giám thị nội trú vừa đi kiểm soát ngang qua. Không biết bà “mụ chị” mô sớn sơ sớn sác, phun bọt kem đánh răng trúng ngay đầu bả. Chu choa, mụ giám thị đứng dưới sân hét lên ỏm tỏi. Bà “mụ chị” sợ quá chạy trốn như biến. Nhưng có một “mụ chị” khác lại không hay không biết gì hết, vô tình đổ thau nước rửa mặt cái ào xuống ngay trước mặt bà ấy luôn nữa chứ. May là bả không lãnh nguyên con cái thau nước đó bằng không thì kể như bả sẽ ướt ngoi ngóp như chuột lột. Bà ta tức tốc chạy lên lầu điều tra liền tại chỗ. Mấy “mụ non” chối leo lẻo, dạ em không có, dạ em chẳng dám làm vậy đâu, dạ em sợ bị đưa ra hội đồng kỷ luật lắm. Rốt cuộc rồi không ai nhìn nhận và bà giám thị không tìm ra được thủ phạm, cho nên bà ta phạt hết cả phòng. Làm vệ sinh, chùi cầu tiêu nhà tắm cả tuần luôn. Cho bỏ tật ăn ở bừa bãi. Nhưng anh biết, chỉ được vài ba ngày thôi, sau đó rồi đâu cũng lại vào đấy, chứng nào tật ấy anh hỉ.

Nói anh nghe, Hằng sợ bị phạt làm vệ sinh quá trời đi. Anh biết trường của Hằng nhứt nhứt mọi thứ đều do Mỹ trang bị, tu sửa. La-va-bô tráng men, cầu tiêu hột xoài, giựt nước rột rột… chớ không tệ như ở trường Hải quân mà anh đã tả thêm tả bớt đâu. Vậy mà mấy “mụ non” ta ẩu tả lắm, đi cầu xài toàn giấy học trò, giấy nhựt trình vứt vô đó mà bảo sao không nghẹt cho được. Nhiều con hư thúi còn ẩu hơn nữa, tháng tháng cứ hay nhét bậy những… của riêng của mình vô đó nữa! Bởi, Hằng sợ phải bị phạt làm vệ sinh, là như rứa. Anh đừng tưởng bọn con gái không ăn dơ ở dáy, nhiều con còn chúa ăn dơ ở dáy hơn cả bọn con trai các anh nữa.

Nghe anh bảo mấy lần thực tập đi biển tàu anh chỉ chạy vòng vòng ngoài biển, lên xuống vùng Sông Cầu, Vũng Rô, Cam Ranh, Thanh Hải… không được đổ bộ lên bờ mà Hằng ít lo. Anh không cặp bến Qui Nhơn được là Hằng mừng rồi vì Hằng sợ lắm, không dám gặp anh đâu, Hằng hay… mắc cở, hay… khóc nữa. Thôi, anh ở đâu thì cứ ở đó đi cho yên chuyện, đừng tìm cách đi thăm Hằng làm chi. Chỉ thư từ qua lại với nhau như ri là vui rồi, phải răng anh?

À, mà răng anh chưa gửi hình cho Hằng thấy dung nhan lính thủy của anh? Mấy “mụ non” trong phòng ai người ta cũng có hình của người anh tiền tuyến của mình hết trơn làm Hằng buồn quá chừng. Lần sau mà anh không gửi ảnh cho Hằng thì Hằng sẽ nghỉ chơi anh luôn. Anh làm mất truyền thống Sư phạm Qui Nhơn với Hải quân Nha Trang hết trơn… Thôi, thư bất tận ngôn, hết giấy rồi, cho Hằng hẹn lại lần sau. Chúc anh ăn no ngủ kỹ…

Thân ái,

Hằng

Tần vừa đọc xong hàng cuối thì Thắng cũng vừa hối:

– Lẹ lên đi chớ mậy, đọc gì lâu dữ… “rựa”! “Răng”, mầy thấy em Hằng của tao viết thư đọc đã không? Ðừng có tưởng bở nghen mậy. Nè, trả thư con Phượng cho mầy nè. Lần sau viết thư bảo nó đừng có hà tiện chữ, viết nhiều nhiều thêm một chút. Chỉ có một trang quèn đọc mất hứng. Ê, mà hình con Phượng gửi cho mầy đâu, cho tao coi ké một phát coi…

Tần đưa điều kiện:

– Giỡn nhột mậy, khi không mà cho mầy coi em khơi khơi sao được? Chừng nào mày có hình của con Hằng thì hãy đi tìm tao, trao đổi con tin. Ê, sao mầy tiết lộ… bí mật quân sự của bọn mình với con Hằng hết trơn vậy, Thắng? Bộ mầy không sợ nó là cô giáo nằm vùng do Việt cộng gài vô à?

– Vừa thôi Tần, đừng học sách Tào Tháo mầy ơi! Việt cộng hay không là con Phượng của mầy kia kìa, chưa gì nó đã tìm cách móc nối với mầy rồi đó. Chưa gì mà đã thương đã mến, anh Tần thương mến, chán mầy quá… Rồi thư con Hiền đâu, sao không đưa tao coi?

Thư của Hiền? Ðúng vậy, Tần vừa mới nhận thư của Hiền! Nhưng nàng chỉ viết cho Tần có mấy câu thôi. Toàn là những dặn dò đặc biệt, riêng tư. Nàng ngỏ ý muốn rủ Tần về thăm nhà trên Thành, gặp mặt mẹ nàng và hai em nàng một lần cho biết. Ðâu làm sao cho Thắng biết được chớ! Tần phân vân chẳng biết có nên đưa cho Thắng coi lá thư này không? Bạn bè dù thân nhau cách mấy đi nữa cũng phải giữ một giới hạn nào đó cho riêng bản thân mình. Chuyện tình cảm của Hiền và Tần đã không còn ở mức giản dị như buổi ban đầu, thuần túy bè bạn như khi vừa mới làm quen mà Thắng đã từng chứng kiến. Suy bụng ta ra bụng bạn, Tần cũng muốn đánh tâm lý vào con bồ ruột của Thắng:

– Chừng nào mầy đưa thư của con Kim cư xá Lữ Gia thì tao mới lòi ra cái thư của con Hiền.

– Tao chưa có lá thư nào mới của con Kim hết, cái thư cũ mầy đọc rồi giờ đọc lại mầy chịu không?

Kẹt dữ a, Tần than thầm, vì biết là Thắng nói thật. May phước, đang gặp lúc rắc rối thì bỗng có tiếng Thành vọng lại từ phía sau lưng, giải tỏa cho Tần…

– Ê, hai thằng mầy làm gì đây? Ở trên này dễ chịu, thoải mái, mát mẻ quá hả?

Nhưng, Thắng quay lại hỏi gấp:

– Thành nè, hình như tuần rồi mầy có nhận thư Qui Nhơn phải không?

Thành đáp gọn:

– Ừa, có, chi vậy?

– Tao với mầy đổi thư, tao có thư của con Hằng đây!

Vì đã đọc lá thư ướt át mùi mẫn của Trâm, cô giáo Qui Nhơn rất tâm đầu ý hiệp của Thành, Tần xen vào:

– Ðừng thèm đổi với nó, Thành. Thư của con Hằng kỳ này nói toàn chuyện cầu tiêu, nhà tắm gì đâu không… đọc lên thúi thấy mẹ.

Thắng cung tay thụi vào vai Tần một cái thiệt mạnh:

– Ê, đừng có xuyên tạc nghen bạn…

Hum… Hum… Hum… Ba hồi còi tàu bỗng rú lên, âm ba vang dội. Còi kêu gọi thủy thủ đoàn hãy mau mau trở về tàu. Chuẩn bị sắp sửa khởi hành, ra khơi trùng dương bát ngát. Ba hồi còi cắt đứt câu chuyện… tình thư trên chiến hạm của Tần, Thắng, và Thành. Những bức thư đã đi từ xa lạ với những cái tên ký tắt như P., như H., như T. cho đến thân thiện với những Phượng, những Hằng, những Trâm, rồi nồng nàn hơn với những thương mến, những thân ái, những hứa hẹn, đợi chờ, nhớ mong… Những bức thư làm bọn Tần mê mẩn tâm thần, mải mê đánh đổi cuộc đời với thời gian, đến nỗi chẳng hay chẳng biết là phái đoàn sĩ quan hướng dẫn đã xuống tàu từ lúc nào. Giờ nhìn lên đài chỉ huy mới giựt mình vì đã thấy một hai cái mũ lưỡi trai cấp tá, hoa lá rong rêu.

Không mấy chốc đã có lệnh vận chuyển: tháo dây số bốn, tháo dây số ba, tháo dây số hai, tay lái hết bên phải, máy lùi một… Những tiếng lập lệnh, nhận lệnh, báo cáo… chạy đều đều tới lui, từ đài chỉ huy ra các sân mũi, sân giữa, sân sau, phòng lái, hầm máy và ngược lại. Thì ra hạm trưởng phải dùng dây số một để ra tàu. Vì loại tàu chuyển vận giống như tàu buôn này có một máy, không thể sử dụng phương pháp “biệt máy,” tức một máy tiến một máy lùi như tàu chiến, để lấy lái ra ngoài được. Lại nghe: máy ngưng, nới dây số một, giữ dây số một, máy tiến một… Xê tới, xịch lui chỉ một lần thôi mà đã thấy tàu từ từ tách ra khỏi cầu. May là nhờ có gió và nước cùng hướng đã đẩy đưa phụ một phần. Lệnh sau cùng: tháo dây số một… Sợi dây rơi tòm xuống biển đang được kéo về tàu và quấn thành vòng tròn tròn cạnh mối cột vào trụ bít. Tàu kể như rời bờ, không còn dính dáng gì với đất liền nữa. Lại có lệnh: hai máy tiến hai, lái thẳng. Tàu phom phom tiến về phương bắc. Nhiệm sở vận chuyển chấm dứt và nhiệm sở hải hành bắt đầu. Lại phải đi ca, làm point định vị trí, một động tác căn bản của người sĩ quan hải quân…

Chẳng mấy chốc, tàu chạy ngang qua quân trường. Từ ngoài khơi nhìn vào, quang cảnh thật là hùng tráng, nguy nga. Bức tường thành vòng đai thật dài, làm một đường nét thật đậm ngang tầm mắt. Và trông kìa, những chòm dương lơ thơ ở khu bệnh xá, cũng như những hàng cây khuynh diệp vươn cao quanh sân cờ, sao mà rất thân tình, quen thuộc đối với Tần trong giờ phút chia tay! Bên này nữa, biển khơi gió lộng muôn đời. Trên phía kia là hòn Rùa, ngang đây là hòn Tre, và dưới đó hòn Miếu. Xa ra ngoài kia một chút, thấp thoáng trong nước biển thẫm xanh và những lượn sóng bạc đầu, Tần còn lờ mờ nhận ra hòn Yến. Những thứ đó, đối với Tần, phải chăng chính là linh hồn của khung trời Nha Trang mến yêu…

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 18 Nov 2025

Phần 19

Những mảnh trời nghiêng đổ bên bờ sông Ba

Dòng thác người thoát đi từ Cao Nguyên bức tử, từng đợt bỏ xác theo từng tấc đường oan nghiệt mùa xuân 1975. Lớp lớp người lính miền Nam súng trên tay mở đường, dân theo lính ra đi., một người lính mấy chục người dân nối đuôi theo sau. Những AK, những B40 bắn xả vào đoàn người, những chiếc xe, từ xe tăng đến xe đò, dầy đặc người, người rụng xuống như sung khi bị B40 của Bắc quân nả trúng. Người lính miền Nam bắn trả, người lính miền Nam gục chết theo đường, người dân miền Nam gục chết theo lính. Những viên đạn oan nghiệt của Bắc quân đeo đuổi đoàn người chạy loạn và khựng lại tại Sông Ba.

Người ta không biết bao nhiêu người đã chết dọc theo quốc lộ 14 rồi liên tỉnh lộ 7B. Rất nhiều, không ai biết ai đã chết, không ai xem căn cước người dân ngã xuống, không ai xem thẻ bài người lính ngã xuống dọc đường miên man, mê loạn… Những cái lệnh bỏ Cao Nguyên quái đản đưa đến một cuộc rút quân “không sách vở”, và trong đó có những cái chết anh dũng, có những hy sinh anh dũng mà người nằm xuống không cần ghi tên….Họ, những người lính miền Nam, những người lính Lôi Hổ… đã đem thân mở đường máu cho dân chạy giặc “Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay thấm máu anh em!” Lời hát đã hiện thực.

Chưa bao giờ trong cuộc chiến, người ta thấy người dân kinh sợ Bắc quân phải bỏ chạy và chết thảm dọc dường như ngày tận thế. Có những cái chết mà người dân đã chết trên lưng người lính. Họ đã dìu nhau đi, họ đã cõng nhau đi, và họ đã cùng nhau nhận những tràng AK ngã xuống, họ đã cùng chết một chỗ. Những dòng máu đổ theo vệ đường di tản rút quân nối nhau từng đoạn, máu của người dân miền Nam, máu của người lính miền Nam, chan hòa, đậm đặc, khô cứng dưới trời Cao Nguyên. Bị bỏ lại sau lưng, dòng người cứ cuồn cuộn đổ về phía trước, ngơ ngác, bàng hoàng, mắt không khô lệ …

Bên này bờ sông Ba, quân cũng như dân, hết toán này sang toán khác, băng mình qua con nước chảy. Hắn chần chừ nhìn dòng nước chảy xiết, rồi đi dọc ngược theo bờ sông Ba, dừng lại bên một chiếc xe ieep lùn với hai chiếc cần câu cột quặt về phía trước, hai bánh trước dừng lại sát bờ nước. Đứng trầm ngâm trên xe là Thiếu Tá Nguyễn Bá Nguyệt, đơn vị trưởng 103 Pháo binh 175 ly nòng dài. Không biết ông đang suy nghĩ gì giữa âm thanh chát chúa của hàng loạt AK đâu đó vọng lại. Quanh xe ông là những người lính thuộc quyền. Họ không qua sông vì ông chưa quyết định qua sông. Họ không muốn bỏ ông thầy, người đơn vị trưởng sống chết của họ . Hắn chen giữa những người lính, những người lính thấy hắn là một sĩ quan mang phù hiệu pháo binh cùng tiểu đoàn nên lách ra. Hắn đến gần ông đưa tay chào và hỏi:

– Thiếu tá quyết định ra sao?

– Tụi mày cứ qua sông! Dìu nhau qua sông nhanh lên! Còn tao… Tao sẽ tính sau!

Giọng ông chắc và tĩnh. Ông vẫn quen gọi đàn em và lính ông cái kiểu “mày tao” thân mật như thế. Ông trả lời hắn, và đồng thời lời ông cũng là lệnh. Ông ngước nhìn đồi núi xung quanh, nhìn mấy đứa con qua sông. Hắn chào ông rồi đi dọc theo bờ sông để tìm chỗ vượt. Hắn đứng lại bên bờ nước nhìn về chiếc xejeep của Thiếu Tá Nguyệt như muốn từ giã ông một lần cuối. Bóng ông sừng sững trong trời chiều ảm đạm.

Bỗng hắn thấy ông đưa tay lên, mũi súng ngắn phòng thân của ông dí thẳng vào đầu. Một tiếng nổ, người ông đổ xuống khung kính xe Jeep. Thế là hết! ông đã hy sinh. Tiếng súng Bắc quân nghe thật gần. Hắn lao mình vào dòng nước. Tiếng AK như đuổi theo dòng nước chảy.

Hắn qua khỏi sông Ba tối 13 tháng 3 năm 1975. Hắn vượt núi rừng hướng về Củng Sơn, quần áo tả tơi. Trưa hôm sau, lên tới đỉnh đồi, miệng khô khốc, hắn dựa lưng vào một gốc cây nghỉ mệt. Hắn muốn thiếp đi, nhưng tiếng súng địch như gần lại, như theo chân hắn. Hắn lửng thửng đứng dậy tiếp tục xuống núi và mơ dưới chân núi là một dòng suối nước trong vắt. Những vục nước hiện trong trí, trong mắt hắn, giục hắn đổ dốc nhanh hơn.

Đến nơi, trước mắt hắn chỉ là một dòng suối cạn, vương vải những đồ đạc, áo quần, những bi đông không còn một giọt nước của lớp người đi trước bỏ lại. Hắn lại trèo lên một sườn đồi khác, rồi lại mơ ước bên kia chân đồi là một dòng suối. Gần đó, một chiến xa bốc cháy. Người lính mũ đen nằm úp mặt bên cạnh xe, máu tươm trên mặt cỏ. Hắn lại gần đỡ anh dậy.

Người lính thều thào:

– Tôi bị đạn vào ruột rất nặng! Tôi sẽ chết tại đây? Nếu anh về được Tuy Hòa nhờ nhắn… .

Người lính thều thào rồi tắt thở trước khi nói lời sau cùng. Anh là ai? Gia đình anh là ai? Hắn đặt người lính mũ đen xuống, vuốt mắt anh và chạy tiếp. Lên lưng chừng đồi, một quảng trống và bằng có bóng cây, hắn ngã lưng nằm dài xuống cỏ, bóng mát không che lấp nỗi cô đơn tuyệt vọng của hắn. Hắn nhìn những đám mây qua bầu trời. Đám mây thênh thang, bay về phương Nam. Hắn nghĩ đến Sài Gòn. Sài Gòn vời vợi trong cơn mơ. Hắn muốn thành mây, nhưng thực tại chôn chân hắn trên đất, chôn chân hắn trong hiểm nghèo, trong thân phận của một bại binh tháo chạy.

Hơi gió núi làm hắn tỉnh người. Hắn bỗng nhớ hai bông mai còn trên bâu áo trận, vai áo còn phù hiệu binh chủng. Hai cái này có thể giết hắn như chơi nếu hắn bất ngờ gặp VC. Hắn lột bộ đồ trận nhét vào bụi rậm và lôi ra trong bọc vải một bộ quần áo cũ, mặc vào. Cuộc đời binh nghiệp của hắn gói trọn trong bụi rậm. Hắn không buồn. Đúng ra, hắn không còn cảm giác để tiếc nuối. Khi hắn dợm đứng lên và đi tiếp, một người hạ sĩ quan quân y trên vai còn nguyên phù hiệu, không rõ đơn vị, bỗng xuất hiện tiến về phía hắn, hai tay dính đầy máu.

– Anh bị thương phải không?

– Không? Tôi vừa sanh cho một chị ở cuối dốc. Trời ơi! Còn cái cảnh nào đoạn trường hơn? Người đàn bà phải sinh con trong cảnh chạy loạn sống chết này. Tôi đã thay cô Mụ để làm tất cả cái gì tôi có thể làm được. Tôi đã bọc đứa bé trong cái áo của mẹ nó, và để hai mẹ con dưới gốc cây. Tôi không hiểu làm sao hai mẹ con có thể về tới Củng Sơn hay Phú Bổn. Làm sao người mẹ bất hạnh này trèo non, vượt suối làm sao cô ta biết đường đi xuyên rừng, đói khát! Tôi phải đi, không ở lại giúp gì hơn. Dường như VC sẽ có mặt nơi đây. Thôi tụi mình đi cho có bạn!

Hắn và người bạn đồng hành đổ nhanh qua một khu rừng thưa và lần mò xuống núi. Bóng chiều theo chân, màn đêm dần dà phủ chụp không gian. Những người chạy loạn vẫn còn nghe tiếng đạn réo xé từng mảnh âm thanh tịch mịch.

Thoai thoải trên sườn đồi, có những toán người rách rưới, phờ phạc đi về hướng mặt trời mọc. Người đàn ông tay dìu vợ tay dắt một đám con nhỏ. Vạt áo trước bụng người đàn bà đẫm ướt máu. Không biết chị bị trúng đạn từ bao giờ. Tiếng súng AK càng gần, người đàn ông càng kéo vợ chạy nhanh hơn. Mấy đứa con theo mẹ như đàn gà, và nó không ..biết là mẹ nó đã kiệt sức. Đến một gốc cây có bóng mát, người đàn bà giật tay chồng và thều thào:

– Em không thể sống! Anh bỏ em lại đây! Đem mấy đứa con thoát khỏi chỗ này! Trời ơi, Anh ơi!

– Làm sao anh và các con bỏ em lại đây cho đành!

– Anh không thể đem xác em về Tuy Hòa được? Phải cứu các con, Em không còn sức! Em không còn máu! Em không còn hơi thở! Để em xuống? Dựa em vào gốc cây! Chạy nhanh đi!

Người đàn ông như hiểu được những lời cuối cùng của vợ mình. Nàng sắp từ giã cõi đời. Anh bó tay tuyệt vọng. Anh không làm gì được để cứu vợ. Anh thương vợ đứt ruột, nhưng anh đầu hàng trước định mệnh nghiệt ngã. Người đàn bà nhắp miệng thều thào:

– Sao anh không dắt con chạy đi! Vĩnh biệt anh! Vĩnh biệt các con!

Hai dòng nước mắt chị tuôn ra. Chị còn thoi thóp nhưng yếu dần. Người đàn ông gọi mấy đứa con lại quì trước mẹ.

– Lạy mẹ đi con!

Và anh, nước mắt đầm đìa, cùng với mấy đứa con quỳ sụp xuống lạy mấy lạy trước hình hài bất động của người đàn bà. Tiếng súng AK nghe đâu đó rất gần. Người đàn ông gạt lệ, nhìn vợ lần chót rồi ôm con chạy xuyên rừng, lúp xúp ba đứa trẻ chạy theo sau rồi khuất dần trong rừng xanh…

Anh là ai? Chị là ai? Những người lính miền Nam bỏ xác bên đường Cao Nguyên di tản là ai? Nào ai đếm được bao nhiêu sinh linh đã ngậm hờn trong rừng sâu núi thẳm, dọc quốc lộ 14, dọc liên tỉnh lộ 7B … của những ngày giữa tháng Tư 1975 oan nghiệt.

Viết những dòng này 27 năm sau mà người viết vẫn không kềm được những nghẹn ngào, đau xót đến hai khóe mắt cứ muốn ứa ra những giọt lệ không cầm…

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết 4-5-1992 cho Tạp Bút 1991)

Post by Sơn râu 17 Nov 2025

Phần 3

Mạnh Thường Quân Giả Hiệu

Tôi có tật viết vẫn đề ngày, sau nầy sẽ nhìn nhận tôi có lý. Vừa rồi, tôi ưng cho một nhà xuất bản in lần đầu tập 2 và tập 3, nối tiếp tập 1 nhan là “Sài Gòn năm xưa”. Tôi viết tập 2, năm 1982 nhan là “Sài Gòn đời Pháp thuộc” kể từ năm 1945 đến năm 1963, và qua năm 1983, tôi viết tập 3, lấy nhan là “Sài Gòn tạp pín lù” kể việc từ 1963 đến gần đây, chẳng qua tôi nói bâng quơ việc nghe, việc thấy theo tai mắt phàm phu nhục tử của kẻ hèn nầy. Tôi mừng bụng và đinh ninh nhà xuất bản, nếu cứ cái đà cũ (theo lối trước 1975), in hai tập làm hai lượt, tỷ dụ mỗi tập xuất bản độ 3000 cuốn, thì tôi ắt sẽ có một số tiền nhuận bút đủ sống tạm bợ một vài năm nữa trong buổi tuổi cao (91 tuổi), bạc kém (kiếm không ra) và “củi châu, gạo quế” thời đại tôi trùm chăn chờ thời như vầy. Mảng cà kê thuật và than thở chuyện của mình mà đã đi quá xa đề, nay xin trở lại, nói về Mạnh Thường Quân. Ngày xưa M.T.Q. là người hào hiệp, coi tiền bạc như nước chảy dưới cầu, chứa khách đếm số ngàn, trái lại ngày nay, tôi có trước đây một Nhà xưng Mạnh Thường, nhà ấy, người ấy chạy sang Pháp địa, và nghe đâu năm 1988, ông đưa bộ môn sưu tập “đồ sứ Huế” (bleu de Huế) cho nhà đấu giá Hôtel Druot lo việc phát mãi, lấy tiền xài. Câu chuyện kéo dài, ông vua mất ngôi B.Đ. tranh chấp, rằng các vật ấy là của triều đình nhà Nguyễn Phước, và một mặt khác, Nhà Nước ở Hà Nội cũng ngăn cản rằng của ấy nay thuộc quốc gia Việt Nam, nhưng tóm lại cả hai đứng đầu tranh cãi đều thất lý, và tòa án Pháp đã xử cho phép Hôtel Druot phát mãi, viện lẽ những vật ấy mua nơi mấy nhà buôn có môn bài (tức không gian) và nói tắt cho mau, cho đến nay, nhà Mạnh Thường ấy nào có nhớ công tôi mua lựa và chút công ấy có lẽ đúng là Mạnh Thường thì phải nhớ và đừng quên tôi.

Hôm nay tôi nói vòng vo tam quốc, là để tả oán, nhưng mình nói mình nghe chớ Nhà Mạnh Thường kia, ở Pháp, nào có nghe chút nào! Tục ngữ Pháp có câu “Les chiens aboyent, et la caravane passe”, tôi dịch lẹ: “Bầy chó cứ việc sủa (cắn), nhưng đoàn lạc đà cứ tiếp tục đi” và tôi nói mỏn hơi tôi, chi cho bằng tạm lược dịch thoát lại đây hai bức như vầy:

1. Việt Nam vừa thu hồi được hai cổ vật quí, thuộc triều đình Huế bị đánh cắp trước ngày 30-4-1975:

a. Một bầu gọi “đầu hồ, đánh đầu hồ”, tức lối luyện sự nhẫn nại của người cổ nhân, mà tương truyền thiện

nghệ hơn ai là vua Dực Tôn (Tự Đức), đang đêm, ngài cầm lối mươi cây roi và vẫn phóng từ xa cho roi nhảy vọt vòng 1 trúng ngay “con cóc”, kêu tiếng “cóc” rồi roi lại vọt một vòng nữa rơi vào miệng hồ, tiếng dội “tung! tung! tung!” ba lần như vậy.

Và tôi xin giải thích thêm: sở dĩ người Tây Âu ở xứ lạnh, thì cần mỗi ngày mỗi sớm mỗi chiều, phải tập dượt thể thao, thể dục thật nhiều cho huyết mạch mau lưu thông khỏe mạnh, trái lại người nước ta, ở xứ nóng, tránh sự thoát mồ hôi (làm dơ y phục) thì vẫn chuộng luyện nhẫn nại (tập bắn giàng (cho viên đạn trúng hường tim), và tập tỷ như “đánh đầu hồ” nầy …

b. Cái bàn lùn, chưn thấp ở dưới, sơn son thếp vàng, và trên mặt bàn là một miếng sứ vuông có vẽ san thủy và chữ bùa … Bàn nầy tôi mua nơi nhà buôn đồ cổ do ông Hoàng Đàn làm chủ, nơi xóm Đinh Tiên Hoàng, Đakao, Sài Gòn, hiện tôi đã quên địa chỉ. Bàn có đặc điểm lạ, là đặt bàn ở nơi nào, thì vài hôm sau, trọn vuông phòng có hương trầm thơm ngào ngạt. Khi mua được, chở về COPHAVINA, chủ nhân đặt bàn nầy nơi phòng khách, rồi khi nghe tôi cắt nghĩa đặc điểm mùi trầm, chủ nhơn dời bàn qua phòng chứa sách, phòng nầy có máy lạnh, và hôm sau, mở cửa phòng, quả nhiên hương trầm tỏa ra thơm phức sỡ dĩ có như vậy, xét ra vì bàn nầy trước ở nơi Đại Nội cung vua, trầm đốt liên miên, nên bàn nhiễm hương trầm như vậy.

c. Món thứ ba, vẫn bị cản trở, nhưng rốt được cho bán, và nghe như giá bán trên mười mấy ngàn đô, thế mà tôi nào có được xu ten gì, và tôi nhớ mại món ấy có cảnh trong photocopie, chủ nhân Mạnh Thường ấy, sai tôi trả giá mua lại của Hoàng Văn Chánh, chủ hiệu buôn đồ cổ đường Đinh Tiên Hoàng, chủ hiệu ưng bán cho tôi 800.000, tôi than không đủ tiền, sau đó có người tranh giành và rốt lại chủ nhân Mạnh Thường trả 1.300.000 đồng năm có đảo chánh lật ông Diệm nhưng không xong, tôi chở về COPHAVINA và xin độc giả xem bức ảnh về lai lịch và hình cái lu ấy hơn là đọc lần thẩn những gì tôi viết.

Appartenant à Monsieur X

Collection de porcelaines dites “Bleus de Hué”. Porcelaines de Chine des XVIIè, XVIIIè et XIX è siècles

Objets d’Art provenant du Palais Impérial de Hué, Guéridon en bois doré et laqué avec plat en céladon

d’époque MING Appartenant à divers Amateurs Céramique de la Chine des époques Ming et Qing

“Liding” en bronze d’époque SHANG

Tabatières en porcelaine, verre, ambre

Pierres dures – Jades – Objets du Lettré Montagne sacrée en jade vert épinard avec inscriptions de l’empereur

QIANLONG

Objets d’Art du JAPON

Sabres – Inro – Ivoires – Estampes

Paravent japonais du XVIIIè siècle

II9- Important vase décoré en bleu saphir de quatre réserves ornée de jeunes femmes sur les terrasses d’un

palais. A la partie inférieure, scène de chasse avec cavaliers. Le col est orné d’une suite de pivoines sur fond feuillage. A l’épaulement, les huits objets précieux sur fond quadrillé. Epoque KIANGXI. Dernières années du XVIIe siècle. (Félures au col et à base). Col cerclé d’argent. Haut. 94 cm.

Ce vase, dont des exemplaires se trouvaient à Deesde à la Cour d’Auguste le Fort, provient des Palais de la Cour à Hué. Les pérégrinations sibies par ce vase méritent d’être contées: “Le 22 juillet 1885, l’empereur Ham Nghi, après l’échec des armées vietnamiennes devant les forces françaises, dut s’enfuir de sa capitale et se réfugier dans les régions montagneuses de Quang Tri. Pour remercier le chef de cette population qui lui donna asile, il lui offrit ce vase. Longtemps plus tard il appartint à un riche personnage qui le conserva pendant plus de 30 ans à Tourane. À la fin de sa vie, celui-ci tomba amoureux d’une jeune fille de vingt ans à qui il offrit ce vase. Elle s’empressa de le vendre et, après diverses tribulations, il parvint à notre  collectionneur”.

(Tôi viết thêm những chi tiết trên đây đều do thẻ viết tay của tôi viết và khi chạy qua Pháp, Mạnh Thường đem theo).

(viết ngày 29-11-1992)

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 17 Nov 2025

Phần 2.

Dược Sư họ Cổ quê ở Gò Công bán đồ cổ ở Hotel Druot Paris năm 1988

Người ta học nghề bán thuốc, người khác học nghề thầy thuốc, bắt mạch ra toa, thảy đều thâu tiền công, và làm giàu. Rủi làm chết, vẫn vô tội, bằng cấp. Duy tôi, nghề coi đồ cổ, người đến nhờ xem, xem rồi,

phủi đít, cười lấy lệ hà hà, hề hề rồi ra về, không cho một xu ten, có giỏi lắm biếu một chầu phở, một đôi điếu phì phà 555, hoặc giả, mến lắm, tặng một gói trà ngon, đôi ba hộp sữa ông Thọ. Nếu tôi cho hay đồ cổ đem lại tôi xem là “xấu, già, không cổ” thì người đem lại ắt không bằng lòng, nghi ngờ tôi nói sai, và trước sau gì cũng không có tiền thưởng công như bác sĩ, dược sư v.v ..

Vả lại thầy thuốc trị bịnh, thầy bán thuốc (dược sư) vẫn học trong trường và có giáo sư dạy đường hoàng, trái lại, ai dạy tôi đây, kinh nghiệm trường đời dạy, học lóm với cô bác, nghe vụng với mấy lão thành, học nơi quán rượu, nơi tiệm hút á phiện, học đường học xá, nhờ linh khiếu, nhờ bản lĩnh, ngày nay, bịnh nhơn qua nhà bán thuốc Tây, mổ xẻ lần coi mạch, khoét túi lần lãnh thuốc, duy tôi, khi muốn cắt nghĩa tận tình, tự mở tủ, lấy vật cổ ra cho xem, rủi ro cái đế vật cổ ấy, tự rơi xuống và làm bể một cái dĩa đời cháu Trịnh Sâm, hiệu Nội Phủ thị Đoài, tức vật quí chúa đặt làm bên Trung Quốc, vật ngự chế vô giá đấy, mà dĩa bề lỡ, người mượn coi giùm đồ cổ, tỏ ý thương tiếc và ăn năn, ăn năn mà dĩa đã bể rồi. Tôi đây rán chịu. Tôi ai oán thiết tha mấy dòng nầy và tự an ủi, lấy câu tự đặt:

“Còn thì chơi, hết thì thôi, mất trộm không tiếc, sức bực của vua của chúa, mà còn không giữ được lâu bền, giá trị chỉ mi, con nhà bần, học chưa tới, “thiên bất đáo địa bất chí, của Thiên trả Địa”, chúa Trịnh Sâm nằm xuống Cống Chỉnh đoạt vàng, chở về, thuyền chìm ở biển khơi, sau thuyền chài vớt vàng lại gọi “chì thâm đen” bán rẻ mạt cho Ba Tàu, mua, đồ sứ phủ Trịnh, về tay vua Quang Trung, sanh anh em nồi da xáo thịt, rồi tay vua Gia Long, xuống tới vua Tự Đức thì còn, sang tới Khải Định, làm viện bảo tàng, xuống vua Bảo Đại, bà Từ Cung lần hồi bán ra, tới mình thì trong nhà sanh biến đứa nuôi làm trộm, vật phi nghĩa bất thủ, nhơn phi nghĩa bất giao, mà ly.