Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 21 Nov 2025

Chương 17

Duy chỉ còn một điều là ở phía Tây, Đồng Minh đột nhiên dừng lại ngay cửa ngõ đi vào Đức Quốc, cuộc dừng quân nầy sẽ kéo dài bao lâu? Chúng tôi hết sức nôn nóng, vì tất cả đều mong muốn được giải thoát càng sớm càng hay. Nhất là mùa hè đã chấm dứt và những cơn mưa đầu mùa đã bắt đầu.

Và trong khi chúng tôi rình rập trong âu lo mỗi tin tức, một tai vạ lại giáng lên đầu chúng tôi vào cuối tháng 9, lúc chúng tôi nghe được một diễn văn của Churchill, (thủ tướng Anh quốc) trong đó ông ta tiên đoán cuộc chiến tranh có thể chấm dứt vào đầu năm 1945. Báo chí Đức có thể nói láo và bịa tin giả. Một tù nhân Bỉ, thợ mộc, trong công tác sửa chữa văn phòng một sĩ quan, đã bắt gặp y đang nghe chương trình của đài Luân-đôn bằng Đức ngữ. Cũng biết tiếng Đức, anh ta đã nghe một bài bình luận về bài diễn văn nầy. Đó cũng có thể là một sai lầm nữa. Nhưng André lại nói với tôi chính tai anh có nghe chương trình ấy khi ông chủ của anh vắng mặt, vậy thì không còn có thể nghi ngờ gì nữa. Đoạn diễn văn làm chúng tôi xúc động có nội dung như sau “Chúng ta hy vọng chiến thắng cuối năm nay, nhưng chiến tranh chỉ có thể chấm dứt trong những tháng đầu năm 1945”. Một vài người chỉ suy xét về câu đầu tiên thôi, nhưng chúng tôi lại sợ vì phần thứ hai của câu tuyên bố đó, vì thế trong khi chúng tôi giữ im lặng, vài người đã mang tin ra tiết lộ cho bạn bè. Vả lại, phía những tù Tiệp khuc cũng đã biết tin và trong vài ngày cả trại đều biết rằng không những chỉ phải chuẩn bị cho mùa Thu mới bắt đầu mà còn cho cả suốt mùa Đông dằng dặc nữa. Tất nhiên nhóm bi quan đã xem tin nầy là quan trọng và một sự hỗn loạn đã manh nha. Tờ báo cũng trích báo chí Mỹ, tiên liệu một ngày chiến tranh chấm dứt xa hơn nữa trong năm tới. Và để xác nhận các tin ấy, luôn luôn là sự im lặng tại hai mặt trận.

Và như là định mệnh nhắn báo cho chúng tôi biết rằng mình là các tử tội chịu án treo, vố nầy đến vố khác, nhiều biến cố như là dấu hiệu báo trước, đã dồn dập xảy đến trong những ngày tiếp theo bài diễn văn của ông Thủ Tướng Anh. Barberon là nạn nhân đầu tiên. Anh ta phải trả giá cho một sự phớt tỉnh rất nguy hiểm. Từ một tuần nay, khi đến công trường anh ta đến một dãy trại mà bọn SS muốn thay toàn thể hệ thống điện thắp sáng. Anh được lựa chọn bởi vì toán phụ trách về điện luôn luôn bận rộn. Ông bạn “Bob” của chúng tôi giữ thói quen ngồi nghỉ trong khi chờ đợi những người làm việc trong dãy trại đến lúc bảy giờ hay đôi khi trễ hơn nữa. Khi tôi nói với anh ta làm thế là nguy hiểm, anh trả lời “tôi luôn luôn có dụng cụ trong tay và tôi canh chừng chứ”. Anh ta canh chừng hay đến nỗi một lần, một tên SS bắt gặp anh ngủ say trên một chiếc ghế, một cuộn dây quanh cổ, cái kềm trong tay. Tên SS không phải là một tên thô bạo mà là một tên rất tinh tể. Y cho gọi vài tên Kapo chuyên nghiệp trong việc đánh đòn tù nhân, cả bốn tên cùng đánh thức Barberon. Không những chúng đánh thức anh mà chúng còn làm anh ngủ lại bởi vì cuối cùng anh không còn nhìn rõ nữa. Trong vụ đánh đập, vật mà anh dùng làm bóp (một tấm giấy cạc-tông gấp lại trong đó chúng tôi cất dấu một bức thơ hoặc một vật nhỏ nhặt nào nhắc lại dĩ vãng của mình) rơi khỏi túi áo vét của anh. Xui cho anh là một tên Kapo đã lục soát và khám phá thấy một bản đồ các cuộc hành quân phía Tây cắt trong báo. Trong văn phòng có bản đồ và báo, nhưng một tù nhân có thứ nầy trong người là phạm trọng tội và lập tức các danh từ “chính trị”, “phá hoại” được nói đến. Để tỏ lòng tận tụy với chủ, tên Kapo phất mẩu giấy như một chiến lợi phẩm và trình cho tên SS bỏ đi từ đầu lúc đó mới trở lại. Trong vài giây đồng hồ, số phận của bạn chúng tôi dược quyết định trong óc của tên Đức. Bọn giám ngục đã lên án treo cổ và có lẽ đó là hình phạt dành cho anh. Tên SS nhìn anh và có lẽ tình trạng của anh lúc đó đã gợi nơi y một phần ngàn gam tình thương, vì y chỉ phạt anh một cách cổ điển: 25 roi ở xuống, Paul, tên: Kapo gốc ở Alsace được kêu đến, y là kẻ đảm trách phần vụ thi hành ấy, và một Barberon bị thương tích phải nhận hai mươi lăm roi bằng loại dây cấp đã được chọn lựa một cách quá đáng, làm mông anh nhuộm máu. Người ta tưởng mông là nơi nhiều thịt sẽ làm giảm sức roi, không phải vậy. Phải cần nghe tiếng rú của người bị hình phạt nầy mới biết được nỗi đau đớn như thế nào. Để chấm dứt, tên SS tuyên bố anh phải đổi qua biệt đội khác, và hôm sau anh bạn chúng tôi mắt tím bầm vì bị đánh đập, môi sưng và đầy máu, áo quần rách tả tơi, và đi đứng khó khăn, bắt đầu một ngày làm việc thuộc loại cực khổ nhất tại đường rầy xe lửa. Đó là một công việc vừa nặng nhọc vừa nguy hiểm vì thường có những vụ dập chân do việc đặt đường rầy sai chỗ.

Câu chuyện tầm thường nầy (khắp công trường đâu cũng có hình phạt đó vì vô số lý do khác nhau) đã có tác dụng mạnh đối với chúng tôi vì tấm bản đồ tìm được trong người Barberon đã làm Gestapo chú ý đến biệt đội của chúng tôi. Cho đến lúc đó chúng tôi vẫn được xem như là đáng nể vì có nghề chuyên môn, nhưng nếu có cuộc kiểm soát tổng quát đo một tù nhân Đức làm tay sai cho Gestapo thì ảo tưởng về chúng tôi sẽ bị sụp đổ. Chắc chắn đã có sự tiết lộ nào đó. Chắc chắn là giữa tù nhân với nhau, ai cũng biết chúng tôi đọc báo, nhưng một vài người làm ra điều ta đây biết nhiều tin tức đã quả quyết mỗi khi có tin mới: “tin nầy do bọn thợ điện cung cấp mà”. Mặc dù đã thận trọng, chúng tôi cần phải siết chặt hàng ngũ thêm. Chúng tôi quyết định không nói chuyện về các biến cố lúc đứng chờ tàu trên sân ga nữa, vì ở đó nhiều lỗ tai không kín đáo có thể nghe lỏm, mà chỉ bàn với nhau trong khi làm việc và buổi tối trong khối.

Một việc không hay khác lại xảy ra. Một buổi chiều, khi chúng tôi đi làm về, thay vì cho giải tán sau khi vào cổng trại, chúng tôi lại phải diễn ngang qua một cái gì trông từ đằng xa giống một đống thịt và áo quần lẫn lộn. Nhiều lính canh đứng cạnh, và khi đi ngang qua, chúng tôi nghe một trong bọn chúng lặp đi lặp lại “chiến tranh chưa chấm dứt, chiến tranh chưa chấm dứt” hắn có nhiệm vụ hét lớn câu đó trong khi ngón tay duỗi thẳng chỉ vào đống thịt bất động kia. Một lát sau tôi được giải thích về màn trình diễn ấy. Một tù Pháp và một tù Nga trong cùng một biệt đội đã tìm cách vượt ngục vào buổi chiều. Lập tức bọn SS cùng với chó săn có mặt tại công trường lên đường đuối bắt. Nếu thoát khỏi địa điểm làm việc là một chuyện dễ thì sự vắng mặt của một hoặc hai tù nhân sẽ được nhận biết một cách mau chóng. Thật vậy, trong ngày bọn Kapo và bọn cai kiểm điểm số lượng tù dưới quyền kiểm soát của chúng nhiều lần và kẻ nào muốn trốn thoát phải đối phó với yếu tố thời gian, với bộ quần áo có sọc, với một tập thể dân chúng có ác cảm và với tình trạng không một xu dính túi. Khi họ đã vượt qua được nhiều cây số, hai tay liều mạng bị một toán học sinh rong chơi ngoài đồng bắt gặp. Chúng báo hiệu ngay và điện thoại reo vang. Không đầy một giờ sau họ bị bắt lại bởi toán tuần tiễu đang đi lùng họ. Bị đánh gục, trói chặt, họ bị đưa về trại, ở đấy hình phạt chính thức đang chờ họ. Để làm gương cho chúng tôi, bởi vì các hình phạt thay đổi luôn, viên chỉ huy trại, tên bạo chúa Néron tân thời, quyết định cho chó cắn họ. Chúng là loại chó giữ nhà to lớn, luôn luôn bị khích động, được huấn luyện đặc biệt với các hình nộm mặc đồng phục của chúng tôi. Chúng nhảy chồm lên hai người vượt ngục, họ không thể tránh né gì được, vả chăng họ cũng đã kiệt lực. Khi họ bị chó cấu xé vừa đủ để không còn động đậy gì được nữa, bọn SS kéo chó lại, chúng không muốn chó thanh toán họ, vả lại chúng không muốn họ chết. Các xác chết lúc nầy không làm chúng tôi xúc động nữa, tuy nhiên hai sinh vật bị xé nát, còn thoi thóp thở là một cảnh chắc chắn làm chúng tôi hãi sợ hơn để không dám trốn hoặc nổi loạn, và trước khi chúng tôi trở về, hai thân người được để giữa sân, đợi chúng tôi đi qua. Khi tất cả chúng tôi đã đi qua, bạn bè của hai nạn nhân mới được phép đưa họ xuống bệnh xá. Thân mình họ qua áo quần tả tơi, nhuộm đầy máu, và những mảnh thịt bị xé rách còn đong đưa. Một chấn động thần kinh làm họ động đậy, dấu hiệu cho thấy họ còn sống. Nhưng họ không thể nói một tiếng nào, họ kinh hãi và đau đớn quá.°

Thần chết vẫn tiếp tục tung hoành với một nhịp độ đều đặn đáng sợ. Từ mười đến mười lăm người mỗi ngày trong tháng 8, con số lên đến từ hai mươi đến hai mươi lăm người mỗi ngày vào hạ tuần tháng 9. Ba ngày một lần, một xe vận tải để chở xác họ đến lò hỏa thiêu ở Dora. Bệnh kiết lỵ luôn luôn tấn công vào một chút sức khỏe cuối cùng còn lại trong cơ thể rã rời của tù nhân. Người Bỉ và Pháp cung cấp nhiều nạn nhân nhất. Trong khối chúng tôi cũng như trong các khối khác, chế độ nửa khẩu phần đã làm mọi người ốm teo thêm trông thấy và cuộc sống thường trực tại một nơi thiếu không khí đã làm da họ có một màu giống như màu da của xác chết. Suốt ngày, họ bị trần truồng, Những kẻ may mắn nhất, có được một mảnh mền phủ trên lưng. Họ có thể suy gẫm về cái đói, cái khổ và ngày lại ngày, người ta có thể theo dõi sự suy tàn của tinh thần và thể chất của họ. Buổi tối khi thấy chúng tôi đi làm về, họ trông giống như các hồn ma, nhào đến chúng tôi để hỏi một câu đầy lo lắng “có gì mới lạ không?”. Trả lời làm sao đây? Chỉ có các cuộc oanh tạc, các bài diễn văn, nhưng không ai còn chú ý đến các sự kiện ấy nữa.

Vào giữa tháng 12, một tâm trạng cuồng nhiệt thật sự xâm chiếm chúng tôi, ngay cả những người bị bệnh hoạn nhất. Dường như đối với chúng tôi, đạt đến tới năm 1945 là tượng trưng cho sự chịu đựng thống khổ tối đa, và sau đó, những tháng của mùa xuân sẽ dễ chịu đựng hơn. Và rồi thì có một điều mà chúng tôi chờ đợi từ ngày tuyết rơi đầu tiên, đã nâng cao tinh thần chúng tôi đôi chút: Cuộc tấn công của Nga sô. Mặt trận Miền Đông, trong khu vực ở giữa, khu vực quan trọng nhất đã bất động từ tháng 8, đã 4 tháng trôi qua, và chúng tôi cảm thấy một cuộc tấn công sấm sét sắp xẩy ra. Về phía Tây, lực lượng Đông minh có lẽ đã thấy rằng phòng tuyến Siegfried và lò thuốc súng ở Rhonanie không phải là một chuyện dối trá, bởi vì bộ chỉ tiến được từ 3 đến 500m mỗi ngày từ khi chiếm được Aix-la-Chapelle. Cuộc phản công của Von Rundstodt tại Bastogne 1 đã làm cho một vài bạn bè sợ hãi, những khi đọc báo, chúng tôi đã nhận định mau lẹ. “Một canh bài Poker với số tiền đặt thật lớn, nhưng trước một đối thủ không nhường bước vì trò bịp, không thể nào tiếp tục được vì phương tiện”; đó là ý định của Hitler nhằm phá vỡ vòng vây trong đó chúng tôi bị lọt vào cùng với dân Đức lẽ tự nhiên là Gustave, viên kỹ sư, đã say sưa vì chuyện đó, anh ta đến kiếm tôi và bày tỏ sự vui vẻ:

– Tôi đã nói với anh là chẳng bao giờ họ vượt được phòng tuyến Siegiried cả. Chúng tôi chỉ chiếm trong 38 giờ nhưng gì bọn Mỹ phải để 2 tháng mới chinh phục được. Đến lễ Phục sinh, chúng tôi lại sẽ trở lại Ba-lê.

Cũng như mọi lần tôi để cho anh ta nói. Tôi có thể nói với anh ta rằng đó chỉ là một cơn khủng hoảng khi hấp hối, tiếng gáy của con vạc, tuy nhiên có làm cho một con ngựa thêm thông minh hơn khi nó chẳng thông minh tí nào, để mà làm gì? Cứ để anh ta như vậy, nhất là khi anh ta tỏ ra tốt bụng, và Gustave lại còn thành thật khi có thái độ như thế. Trước sự gầy mòn và đói khổ toàn diện của chúng tôi, Gustave là một trong số rất hiếm nhân viên dân sự đã bị xúc động, và khi có phương tiện, anh ta không quên chuồi cho người nào trong bọn chúng tôi có vẻ yếu đuối nhất một cái gì đó. Ít khi thấy anh ta quên mời tôi một điếu thuốc khi tôi nói chuyện với anh. Vậy thì tôi để mặc anh với các ảo tưởng riêng tư và tôi nghĩ “Người bạn Đức thân mến, từ nay đến lễ Phục sinh, tôi rất hy vọng là sẽ có chuyện mới lạ nhưng theo một chiều hướng khác…”

Mùa đông đến, mang theo tuyết và giá lạnh. Trong mùa thu, một vài hôm mặt trời chiếu trên các vòm lá cây màu đỏ, chúng tôi có được đôi lúc mơ màng. Bây giờ chỉ còn là màu tang tóc, màu trắng tuyết, màu đen của rừng thông, và bùn lầy bất tuyệt, và bầu trời xám ngắt không cùng. Một áo choàng ngoài cũng có sọc rằn rện, nặng vừa bằng một cân Anh là y phục phát thêm cho chúng tôi, và chỉ có người chết đi mới giúp được cho người sống khỏi phải đi chân không. Trong khối, bây giờ có chỗ rộng, tuy nhiên mọi người tự nguyện dồn vào nhau để bớt lạnh. Những người “không áo quần” đã được mặc, dù ít dù nhiều, nhưng những người còn sống. sau ba tháng thiếu ăn, không thể nào còn sức để đi được trăm bước. Toàn là các bộ xương được khoát ngoài một lớp da: đó là những gì mà họ có thể tượng trưng. Nhưng họ không muốn buông trôi xuống dốc. Họ chịu đựng sự tra tấn thường trực. Họ không còn bị gọi đi điểm danh nữa, nhưng hai lần mỗi ngày, để tôn trọng bằng mọi giá qui ước đặt ra, một nhân viên đi qua các giường ngủ tay cầm danh sách và kiểm điểm các thân xác nằm bẹp suốt ngày. Người ta có thể cho họ là những kẻ cuồng tín nhất thuộc Gandhi. Tên SS phụ trách khối chúng tôi đã có ý nghĩ như sau khi ngắm họ:

– Tôi nghĩ rằng nếu người ta không kết liễu họ, họ sẽ không bao giờ chết.

Và một người trong số nầy đã nói với tôi:

– Khi nghĩ rằng trong nhà tù tại Pháp, người tự hào: bị kết án thế nào cũng được, nhưng miễn là đừng chết. Tuy nhiên, thà rằng nhận mấy viên đạn hay qua ba phút trong phòng hơi ngạt còn hơn là như chúng tôi bây giờ, cứ trông thấy cái chết đến chầm chậm hàng tuần có khi là hàng tháng. Thà rằng họ mất hết tất cả thức ăn còn hơn là chế độ nửa khẩu phần, tôi tự hỏi không biết có phải họ cố ý cho chúng tôi ăn như thế để kéo dài cơn hấp hối của chúng tôi không. Chúng tôi cũng không thể tự tin được, có người nói tử tù là hèn nhát, chúng tôi thì nghĩ rằng chúng tôi thiếu can đảm để tự tử.

Dầu là can đảm hay hèn nhát, một người Do Thái cũng đã chứng tỏ, khi đâm đầu vào dưới con tàu đưa chúng tôi đến công trường lúc anh ta vừa đi làm trở lại. Thân mình anh bị cắt làm đôi. Chuyện nầy xẩy ra trong một buổi sáng sương mù lạnh lẽo, trong khi chờ đợi cổng xe lửa được mở trên đường chúng tôi đi. Chúng tôi chỉ bước tới theo linh tính như một bầy cừu sợ cơn bão và nhìn một người vừa rời chúng tôi, một vài người thử đoán xem trong cái nhìn của bọn lính canh có chút lòng trắc ẫn nào báo trước tấn thảm kịch đó không, nhưng chính bọn nầy cũng không biết mình đang ở trong một thế giới nào. Và rồi còn có một điều nữa là người ta đã nhồi vào đầu óc những người lính canh ấy ý tưởng theo đó tất cả chúng tôi rồi sẽ phải bỏ mạng cả trong các trại tập trung, và những tên “khổng lồ” nầy những tên ngu độn, thô bạo ấy, cũng run rẩy trong bộ quân phục trước một thượng cấp có cấp bậc nhỏ nhất. Chúng sợ thượng cấp chúng nhiều hơn chúng tôi sợ các tên nầy gấp bội, mà đôi khi chúng tôi buồn cười trông thấy chúng điều động lực lượng để canh giữ chúng tôi, những thân xác chỉ cần một cái xô đẩy nhẹ cũng văng xuống đất.

Ngày lễ Giáng Sinh, lễ lớn nhất ở Đức, đã có giá trị đối với chúng tôi bằng một cuộc điểm danh kéo dài sáu giờ liền. Trời lạnh đến hai mươi độ dưới không độ, và tôi hoàn toàn quên rằng mình có đôi chân. Thật là mệt mỏi khi phải dẫm chân một chỗ trên một mặt đường xấu, nhưng vì chúng tôi yếu quá chỉ có thể chống lại cái rét bằng cách đó. Một sự lầm lộn trong khi đếm đã đưa đến quyết định đó của tên chỉ huy trại. Bị gọi tập họp lúc mười một giờ và thường lệ sẽ được giải tán nửa giờ sau, tuy nhiên hôm đó mãi đến mười bảy giờ chúng tôi mới được giải tán. Hàng chục người ngã gục trong hàng vì bị đông máu hay bị đói lả. Nhưng chết hay sống, chúng tôi cũng phải chờ tiếng còi giải thoát. Tình cờ trong sự di chuyển đã đặt tôi đứng gần một người Áo, ông ta là người luôn luôn từ chối một chỗ làm trong số nhân viên, mặc dù ông có quyền được hưởng. Ông là thủ kho của công trường, bằng lòng với số phận của mình, vì như thế ông khỏi phải canh giữ các bạn đồng tù tội, một chứcvụ mà ông ghê tởm. Ông ta cũng như chúng tôi chỉ lãnh khẩu phần tối thiểu, nhưng từ tám năm nay ông đã quen và cơ thể của ông chống chỏi được. Trong khi tôi nguyền rủa buổi chờ đợi bất tận này nhất là nguyền rủa cái rét, ông chỉ cười, dường như không có cảm giác gì cả. Và vì có thể nói chuyện mà không bị lưu ý, ông nói với tôi:

– Đó chỉ là một trò chơi nhỏ.

– Nhưng, tôi trả lời, nó đã kéo dài hơn ba giờ rồi và mình không biết nó sẽ chấm dứt lúc nào.

– Ờ! Ông ta nói, nó sẽ không bao giờ lâu hơn một cuộc điểm danh mà người ta đã bắt chúng tôi chịu dựng năm 1941, tất cả những tù nhân kỳ cựu đều không quên được. Phải rồi, hồi đó chưa có người Pháp.

Câu chuyện nầy, tôi đã được Jacoh, trưởng khối 58 của tôi kể lại hồi còn ở Buchenwald, nhưng vì lễ phép tôi để cho ông bạn người Áo nói, biết rằng cuộc thử thách đó đã ăn sâu vào trí nhớ của những người trong cuộc như thế nào.

– Một tối, đúng vào mùa đông, khi đi làm về, cuộc điểm danh diễn ra như thường lệ trước 19 giờ nhưng đã kéo dài một cách khác thường. Sau hai giờ chờ đợi, tên chỉ huy trại loan báo trên máy phóng thanh rằng trong chuồng heo thiếu mất hai con, y lên án, không những chỉ năm tù nhân Ba Lan phụ trách coi sóc heo, mà cả trại. Vì tội đồng lõa, vì, y nói thêm, rằng năm người không thể nào ăn hết hai con heo trong một đêm. Y đợi kẻ phạm tội đứng ra thú nhận. Mà, làm sao anh lại muốn rằng những người kiệt lực sau một ngày làm việc và sung sướng vì ngày đã hết để được ngốn một lít súp, lại có thể biết chuyện gì xảy ra trong một chuồng heo dùng để tiếp liệu cho Bộ chỉ huy của trại tập trung. Chính là bọn SS với sự đồng lõa của tên chỉ huy trại đã ăn cắp hai con heo để buôn bán, gì đó tôi không rõ. Vì lẽ việc bí mật cáo giác và mạng sống của chúng tôi bị đe dọa vì vụ nầy, chắc chắn là vụ chợ đen, tên chỉ huy trại lên án một cách đơn giản rằng chính tù nhân là tác giả vụ ăn trộm. Và anh biết kết quả ra sao không? Năm người Ba Lan bị treo cổ. Còn chúng tôi thì phải đứng suốt đêm và dưới thời tiết lạnh hơn bây giờ nhiều. Một ngàn năm trăm người đã ngã gục; một tên SS đến và đập vào các người đã ngã để thử thách sự yếu đuối của họ.

“Đến sáu giờ sáng, sau 11 giờ đứng chờ, công việc lại chờ đợi chúng tôi; có hàng trăm xác chết đông cứng, nhưng nhục hình chính còn chờ đợi chúng tôi. Năm ngày không ăn không uống mà vẫn phải làm việc; ba ngàn người khác ngã ra chết và những người còn sống cũng không hơn gì. Đến ngày thứ sáu, chúng tôi khóc như trẻ con trước khẩu phần bánh mì. Do đó anh hiểu rằng tại sao tôi không ngăn được khỏi buồn cười khi tôi thấy anh tỏ ra bồn chồn. Và suy cho cùng, nếu chúng ta nằm trong khối, chúng ta có lẽ đang nói lảm nhảm về các chuyện Giáng Sinh và chuyện đó sẽ làm ta buồn lòng thêm. Ở đây, chúng bắt ta hít thở một ít không khí trong lành, có lẽ như thế tốt hơn.

Ông ta đã bị bắt ngay sau “vụ Anschluss”, bởi vì, là một thương gia, ông đã từ chối treo một bức hình Hitler trong cửa tiệm. Ông ta trạc tuổi 40 và không có ý niệm chính trị nào rõ rệt, có thể liệt ông vào nhóm Xã hội – Công giáo. Do tính tò mò tôi hỏi ông về bọn Đức:

– Phải, người ta có thể tận diệt cả bọn SS một cách có ý thức, mà không sợ trời phạt. Nhưng nhìn bọn Kapo thì bọn Đức không phải luôn luôn xấu. Lại còn có bọn Ba Lan, Bỉ, Pháp và nếu chúng ta coi bọn SS là kiểu mẫu của sự xấu xa, thì tôi có thể đảm bảo với anh là xứ nào cũng có đấy, và Đức quốc có nhiều hơn, thế thôi! Tôi đã học lịch sử, triết học thật nhiều, tôi mà biết nhiều chuyện, và ở xứ tôi, chúng tôi yêu tự do và đời sống đẹp cũng như ở Pháp vậy. Thế thì liệu anh có thể giải thích cho tôi biết tại sao tại Áo, tỷ lệ số người gia nhập đảng Quốc Xã lại cao hơn tại Đức không? Thế giới có lẽ chưa biết được chuyện đó, nhưng đó là sự thật chính xác. Vì chính những người Áo ấy, 15 ngày trước khi Hitler xâm phạm vào bờ cõi chúng tôi lại tuyên bố, trong một cuộc trưng cầu dân ý với một đa số 85% rằng họ ủng hộ một nền độc lập hoàn toàn. Tôi biết rằng anh không thể giải thích được, và tôi cũng vậy, nhưng tôi rất phật ý vì tất cả người đồng hương của tôi, và chán ngán nhiều chuyện. Nếu lại được thấy tự do tôi sẽ kính trọng tất cả những người hoạt động cho nghiệp đoàn và các tổ chức phục vụ quần chúng để giáo hóa quần chúng, như thần thánh! Họ kiên nhẫn biết bao!

Ông ta còn nói với tôi về Vienne, về các du khách Pháp, rất đông người hàng năm mang một bó hoa đông thảo đến nhà thờ Capucins, nơi giữ di hài của Quận Công Reichstad! 2. Người Pháp phần đông có khuynh hướng cộng hòa, anh nói thêm, nhưng họ tôn kính truyền thống ấy.

Lúc được lệnh giải tán, mọi người đều nhảy tại chỗ để làm cho chân hết cóng.

——————————–

1Đọc “Những trận đánh lịch sử của Hitler” – Sông Kiên Xuất bản – Sách đã in lần thứ II.
2Tước hiệu của người con trai của Nã-phá-luân đệ nhứt, từ sau năm 1814. Ngay sau khi chiếm đóng nước Pháp. Hitler đã ra lịnh mang di hài của Quận Công về Ba-lê.

Một trời một biển

vietmessenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 21 Nov 2025

Phần 7. Đường về bến cũ

Trăm năm bia đá thì mòn…

Ðúng vậy! Tục truyền rằng ngày xưa vua Lê Thánh Tôn mở mang bờ cõi về phía nam đã khắc lên hòn Ðá Bia mấy chữ nhằm đánh dấu, rằng: năm Hồng Ðức nhị niên bờ cõi của nước ta đã tiến đến đây. Ngày nay, sau hơn những năm trăm năm, những lời khắc ghi lên bia đá kia đã mòn, lẽ dĩ nhiên, mặc dù hòn Ðá Bia vẫn còn trơ trơ ra đó. Núi Ðá Bia, thường được gọi là hòn Ðá Bia, chính là ngọn núi cao nhất trong vùng đèo Cả, khoảng ranh giới của hai tỉnh Tuy Hòa và Khánh Hòa. Tức giữa Phú Yên và Nha Trang, trên đường nam tiến. Ðối với lính tàu nói riêng và những người đi biển nói chung, tương tự như đỉnh Cù Mông, Mũi Nay (Cấp Varella)…, Ðá Bia là một trong những điểm chuẩn rất tốt dùng để làm point định vị trí.

Ðặc biệt hơn nữa là vùng này còn có vịnh Vũng Rô. Nơi mà trước đây khoảng hai năm, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã phát hiện và bắn chìm một tàu xâm nhập chuyên chở vũ khí rất lớn của Cộng sản Bắc việt. Hằng trăm tấn vũ khí đạn dược đã được người nhái lặn mò vớt lên. Một bằng chứng hùng hồn cho thế giới thấy rằng Mặt trận Giải phóng miền Nam chỉ là một công cụ lót đường cho phường xâm lăng phương bắc. Âu, quả là một chiến tích lẫy lừng trong quân sử Hải quân.

Dưới mắt Tần, Vũng Rô là một vịnh nhỏ hình cánh cung, với bãi cát trắng như bông, từ ngoài khơi nhìn vào lấp lánh như một vầng trăng lưỡi liềm. Phía sau lưng là ghềnh đá và rừng cây đổ ra tận biển, làm cứ tưởng Vũng Rô như chỉ đến được, độc đạo bằng đường thủy mà thôi. Giải đất hẹp đó là nơi đồn trú của một đơn vị hải quân Hoa Kỳ ở góc tây bắc và cũng là nơi cư ngụ của một làng đánh cá lụp xụp về phía nam. Bên ngoài vịnh có vài hòn đảo nhỏ chắn gió, cho nên mặt nước bên trong lòng vịnh thật là yên tĩnh. Ðến nỗi xem chừng như đây là một cái hồ bao la trong đất liền. Sóng gợn lăn tăn, thuyền câu bé bỏng. Nước biển nơi này lại trong vắt như mắt mèo, nhìn thấy luôn cả đáy sâu, cá lội từng bầy. Cái đẹp của thiên nhiên bao giờ cũng trầm lặng, tiêu dao.

Bởi Vũng Rô đẹp và nên thơ như vậy cho nên mười lần như một, mỗi lần dẫn sinh viên sĩ quan hải quân thực tập đi biển, các sĩ quan hướng dẫn đều cho Huấn luyện hạm Quá Giang HQ 451 neo tại đây. Lúc thì bận đi khi thì bận về. Một hai ngày hay ít nhứt nửa buổi. Vừa vui thú an nhàn và vừa được bảo đảm an ninh.

Nhưng, hễ chỗ nào có Mỹ đóng là chỗ đó bắt đầu ồn ào. Vì kể từ ngày thành lập căn cứ hải quân ở đó, mỗi khi đi ngang qua đây, hình như người ta luôn luôn thấy một vài tên lính Mỹ chơi trò trượt nước với những chiếc ca-nô nhiều mã lực. Vũng Rô bỗng dưng như không còn là phần đất của Việt Nam! Thuyền bè lảng vảng đến gần đều bị chận xét, lục lạo. Ngoại trừ những ngư dân đánh cá trong làng mà họ đã biết mặt, quen tên. Và ngoại trừ tàu hải quân Việt Nam, lẽ đương nhiên.

Tần cảm thấy buồn cho thân phận nhược tiểu của quốc gia mình, luôn luôn bị ảnh hưởng và chi phối bởi ngoại bang. Không Tàu thì Tây, không Mỹ thì… Nga, như chúng đang làm quan thầy ở miền Bắc nước ta. Có phải đây là một món nợ ngàn đời phải trả? Cho cái tội xâm lăng và đồng hóa các lân quốc Chiêm Thành, Thủy Chân Lạp tức Phù Nam theo tiếng gọi xa xưa? Nào ai mà biết được!

Giờ, không biết nguyên nhân từ đâu, lại đẻ thêm ra cái nạn Cộng Sản, Quốc Gia! Ðể hai bên con dân Việt, mặt đối mặt, hàng ngày tàn sát lẫn nhau. Bọn cường quốc, ngoại lai cứ coi Việt Nam như là một thí điểm cho các vũ khí tối tân mà chúng vừa mới sáng chế, phát minh. Tại sao người mình không thể ngồi lại nói chuyện với nhau? Mà bên nào cũng vậy, cứ phải tự tuyên dương và tâng bốc mình là tiền đồn của thế giới tự do, dân chủ? Ðể phần lớn anh em và bạn bè của Tần, những ai trong lứa tuổi bắt buộc phải cầm súng, không mấy chốc đã làm những kẻ ra đi mà không bao giờ trở lại! Vị quốc vong thân, hy sinh vì tổ quốc! Có mỉa mai lắm không? Khi kẻ thù của ta lại là những người cùng mang một dòng máu, cùng một màu da? Tần bất chợt thở dài, vì chàng chẳng biết rồi mình sẽ chiến đấu cho ai…

Tần gợi chuyện với Thắng và Thành:

– Ðất nước mình nhiều nơi đẹp quá tụi mầy hả?

Thắng không đồng ý:

– Sao lại nhiều nơi? Phải nói đất nước mình đâu đâu cũng đẹp, phải hôn Thành?

Có lẽ đang cùng mang một tâm trạng như Tần, Thành cũng không đồng ý với Thắng:

– Chưa chắc! Vì có nhiều chỗ đẹp thì có đẹp, nhưng mầy không được phép bước chân vào! Không được phép bước chân vào thì làm sao mà đẹp được? Với tao, tao không chịu nổi cái kiểu tụi Mỹ hay thành lập những khu tắm biển riêng, khu ăn chơi riêng cho bọn nó trên đất nước mình. Coi chừng có ngày nó dám để bảng “cấm chó và người Việt Nam” như hồi nào bọn liệt cường đã làm ở bên Tàu thì phiền dữ nghen!

Thắng bực dọc:

– Vừa phải thôi! Nó mà treo tấm bảng đó thì tao là thằng đầu tiên đi gỡ bảng xuống và tàn sát tụi nó ngay tại chỗ!

Thành chêm thêm:

– Thôi mầy ơi, mầy hãy nên học cách nhìn đời bằng con mắt thực tế một chút! Trước mặt mầy kia kìa, mầy nhắm mầy có làm gì được với hàng dây phao ngăn chia khu vực Mỹ tại biển Vũng Rô này hay không? Tao đố mầy dám xách tàu vượt qua hàng rào phao cái trắng cái đỏ đó!

Tần giảng hòa:

– Thây kệ mẹ nó! Nó đã chi tiền viện trợ cho mình thì nó phải có quyền rồi! Nhìn lại bản thân mình đi, từ đầu xuống chân có cái gì không “Made in U.S.A.” hay không? Ngay cả tiền lương hằng tháng của mình cũng vậy! Thân phận mình chẳng khác gì những tên đánh giặc mướn thì cũng không nên đòi hỏi nhiều điều chi cho lắm. Nè, tao hỏi tụi mầy lần này có chịu vô “bãi Tiên” hay không đây? Gì chớ chỗ đó tao bảo đảm không đẹp, không hấp dẫn, không lấy tiền! Tiền, tiền, tiền… Tất cả chẳng qua chỉ vì tiền thôi, tụi mầy đồng ý với tao không?

Tất cả chẳng qua chỉ vì tiền? Ðúng vậy, có tiền mua Tiên cũng được! Tư bản luận căn bản của bọn cường quốc tư bản đã nói như thế, theo Tần! Nhưng, bãi Tiên là đâu? Và tại sao là bãi Tiên mới được chớ? Kìa, hãy nhìn vào trong bờ, tiếp giáp với vịnh Vũng Rô về phía bắc là một vùng núi rừng cheo leo, không người ở. Tuy nhiên, sát biển lại hiện ra một bãi cát dài trắng xóa như bông xoài nở rực vào hè. Khuất nắng trong chòm lá, cành cây, xanh tươi mơn mởn. Và đó là bãi Tiên, do bọn Tần gọi như vậy. Ðặc biệt một điểm nữa là trước khi bọn Tần đến nơi, chốn tiêu sơ hoang vắng đó chưa hề có dấu chân người. Vì không có đường bộ hay ngay cả một lối mòn nào dẫn vào cõi mộng. Vì không ai có thể vượt qua những vách núi cao sừng sững kia ngoại trừ loài khỉ, vượn dài tay.

Người đi biển nói chung, dân lính tàu nói riêng, thường có cái hân hạnh được cái cơ hội khám phá và đặt chân trên những bãi cát hoang hay những hoang đảo lần đầu tiên. Tần cũng đã trải qua cái kinh nghiệm đó. Cái kinh nghiệm mà đất trời ngàn năm như bỗng dưng ngừng lại dưới chân mình. Ở một lần thực tập đi biển trước đây.

Lần này khác hơn, tàu neo lại Vũng Rô nghỉ xả hơi trên đường trở về từ Qui Nhơn. Nếu đem so với Qui Nhơn, như một người con gái mới làm quen, thì Vũng Rô đích thị phải là cô bạn láng giềng thân thương. Vẫn luôn luôn đem lại cho bọn Tần nhiều cảm giác đê mê, thích thú. Mặc dù cũng chỉ chừng đó ở bãi Tiên, nhưng mỗi lần ghé thăm là một câu chuyện mới, một cảm giác mới đã diễn ra. Không lần nào giống lần nào. Bởi vậy, Thắng hăm he:

– Bữa nay vô đó mà tụi mình không bắt được một con kỳ đà như cái đám đầu trâu mặt ngựa của trung đội 5 là dở!

Không bắt buộc phải theo ý Thắng, Thành phát biểu cảm nghĩ riêng của mình:

– Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ đó, thịt kỳ đà chưa chắc đã ngon hơn thịt kỳ nhông! Ðã vậy lại khó “làm lông.” Rồi nếu không đủ gia vị tiêu hành tỏi ớt và cà-ri, thì miếng thịt ăn vô miệng sẽ hôi rình, tanh ói!

Tần chen vào:

– Giỡn hoài mậy, thịt kỳ đà ngon ngọt hơn thịt gà. Kỳ vừa rồi tụi nó có cho tao nếm qua. Mà chẳng biết tụi nó đào đâu ra củ hành, cà-ri, sả ớt…, ôi thôi đủ thứ, thơm phức. Không lẽ tụi nó chạy ra chợ Nha Trang mua dự trữ sẵn trước khi xuống tàu đi thực tập? Ðã vậy còn mang theo cả nồi niêu, xoong chảo? Tao chịu thua luôn!

Thắng quả quyết:

– Chớ còn gì nữa, muốn ăn thì phải lăn vào bếp! Ở trung đội 4 và trung đội 5 có mấy thằng tánh tình giống như đàn bà tụi mầy ơi. Tụi nó tối ngày chỉ nghĩ đến toàn là chuyện bếp núc, nấu nướng, chợ búa gì đâu không hà! Chơi với tụi nó thì chắc mẻm, khỏi lo cho cái bao tử bị đói.

Tần nhắc nhở:

– Nói gì thì nói, lát nữa đi tụi mình đừng quên lận theo một mớ muối và tiêu ration C nghen. Thiếu hai món đó thì kể như kỳ nhông nướng mất ngon.

Thành giục:

– Ê, vậy thì còn chần chờ gì nữa, tụi mầy? Hãy đi cụ bị lương thực lẹ lẹ lên, đặng còn nhào xuống you-you , vọt vô bờ chớ. Coi kìa, đám vô trước lớp nào săn nai trên núi, lớp nào bắn cá dưới biển… lô nhô, lố nhố như đám khỉ hợp bầy.

Thắng cười ha hả:

– Thì tụi mình rồi cũng như vậy chớ có khác gì ai mà bày đặt châm biếm người ta? Chán mầy quá, Thành ơi!

Mặt trời đã lên cao, lừng lững cõi từng không, tỏa rạng những tia hào quang chói lọi. Nắng ươm vàng mặt biển, long lanh phản chiếu những đốm sáng như muôn vạn đồng tiền nổi. Gió hây hây từ ngoài khơi phả vào, vẫn còn mang theo cái lành lạnh của đêm dài cho dù đã đi qua thật lâu. Một vài con hải âu cứ mãi theo tàu làm bạn, tiếp tục xoải nghiêng cánh nhỏ, bay lượn vờn quanh đài chỉ huy, cột an-ten ra-đa. Bộ ba Thành, Thắng và Tần, mỗi người một ba lô đầy nhóc các vật dụng cá nhân, đeo thang dây bước xuống you-you , chiếc thuyền con thoi đang cặp sát bên hông tàu. Chẳng mấy chốc, thuyền tách bến rời chiến hạm. Tần khơi khơi lý luận một mình, gợi ý:

– Nè, tao đố tụi mầy mấy chả thả bọn mình vào đất liền, vô trong bãi hoang kia với mục đích gì? Chẳng lẽ chỉ nhằm vào việc học chấm tọa độ và nhận phương hướng trong rừng? Hay định biến tụi mình thành những tên thủy quân lục chiến? Tao không nghĩ như vậy! Mà có thể mấy chả định cho mình một bài học tự lực cánh sinh. Ðặng sau này có khả năng nắm những toán biệt hải hay hải tuần gì gì đó! Lực lượng chuyên môn đổ bộ xâm nhập các vùng biển ngoài bắc! Tụi mầy nghĩ sao?

Thắng cười khan:

– Thôi thôi đừng có ở đó mơ mộng viển vông mầy ơi! Không ai cho mấy thằng ốm nhom như mầy gia nhập lực lượng PT, seal, hay người nhái đâu. Bộ hệ mầy có giỏi cho lắm thì chỉ làm tới chức… thợ lặn, chiều chiều ra bãi Nha Trang đi săn ba con mực nang với lại mực ống bằng cái chĩa ba, ủa, cái đinh ba Trư Bát Giới của mầy…

Thành cắt ngang Thắng:

– Hừ, tối ngày hai thằng mầy chỉ lo bàn cãi những chuyện vớ vẩn không đâu, nào là xâm nhập gia cư bất hợp pháp, nào là nhảy rào ra phố thăm em, nào là lặn mút mùa mút chỉ không cần mang bình hơi… Ấy, tao bảo đảm lát nữa mấy chả sẽ dở cái mục “cờ, đèn” ra cho mà coi. Trên tàu đánh đi, mình ở đây nhận. Dám kỳ này ngài thượng sĩ “cờ, đèn” nhà ta sẽ cho tụi mình thi “cờ, đèn” bất tử đó!

Tần bẻ qua hướng khác:

– Mầy nói cũng có lý đó, Thành! Nhưng dẹp chuyện bài vở, thi cử qua một bên đi. Ðang trên đường đi bắt kỳ nhông, kỳ đà mà mầy đem con kỳ đà “cờ, đèn” đó ra cản mũi thì còn gì hứng với thú chớ? Phải hôn Thắng?

Chiếc you-you đã vào tới bãi. Thắng nhảy xuống cát, cất giọng:

– Ði theo tao lên núi, Tần! Bỏ thằng Thành ở dưới này cho nó ôn tập “cờ, đèn” và cho nó đậu thủ khoa “cờ, đèn” luôn! Ðể rồi coi ai sẽ mất cái cơ hội săn bắt kỳ đà ngàn năm một thuở đây cho biết!

Thành cười giả lả:

– Ê, tao đề nghị bữa nay tụi mình đi mút cái bãi này rồi hãy vào rừng, leo núi. Biết đâu ở trên đó sẽ có nhiều mục ly kỳ hơn. Rừng ở đây hết sim rồi, núi lại dốc đứng khó trèo thấy mẹ!

Tần đồng ý:

– Ðúng đó, tao cũng định nói với hai thằng mầy như vậy.

Cả ba liền lên đường, thẳng tiến.

Càng về phương bắc bãi càng hẹp. Nhiều chỗ đá tảng trồi ra tận mí cát, muốn băng qua phải đu cành cây rừng hoặc phải lội bì bõm dưới nước. Qua phía bên kia, bãi lại rộng trở lại. Cát trắng tinh, không một dấu vết của muôn loài cầm thú. Rừng càng lúc càng rậm hơn, nhưng núi lại thấp đi. Tuy vùng này không còn là địa bàn hoạt động của bọn cộng sản nữa, sau ngày chiến thắng Vũng Rô hiển nhiên, nhưng, những bước chân vào chốn không người vẫn mang đến cho Tần những cảm giác sợ sệt. Pha lẫn với thích thú phiêu lưu, phải nói rõ như vậy. Nhất là lúc tẽ vào rừng sâu.

Vừa qua khỏi rặng núi cao, lổm chổm đá, bọn Tần không khỏi ngạc nhiên thấy bên kia hiện ra một thung lũng xanh rì. Một lòng chảo trũng thấp xuống trong bốn bề vách núi. Có một hòn đá tròn nhẵn, thật lớn, nhô lên giữa tàn cây trông như một bàn thạch lộ thiên. Chỗ đánh cờ của các bậc đại tiên ông? Tiếng chim kêu vượn hú lảnh lót bên mình, bản nhạc huyền diệu nhiệm mầu của thiên nhiên, đã trổi lên chào đón bọn Tần đang lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh. Chẳng nói chẳng rằng, cả ba cùng lẳng lặng len lỏi trong chòm cây khóm lá.

Ðột nhiên, Tần nhận ra dấu vết của một con đường mòn lâu ngày không ai sử dụng, cỏ cây đã mọc phủ lên từng đoạn từng mảng. Chàng định nói với bạn nhưng nhắm chừng bọn nó cũng đã nhận biết nên thôi. Thì ra nơi đây đích thực đã có một thời là chỗ ở của tiên đồng ngọc nữ. Bằng không thì phải là nơi xuất phát của một loài sơn vương hay dã nhân nào đó, Tần nghĩ vậy.

Chẳng bao lâu, cả bọn đã đến bên bàn thạch. Một hòn đá hoa cương chơ vơ màu đen xám, cao khỏi đầu người và rộng như một căn nhà lớn, nằm vững vàng trên một nền đá nghiêng nghiêng cùng màu. Trên đó, những góc cạnh đã bị đẽo mòn trở thành tròn trịa, lúc thì phẳng phiu khi thì lồi lõm. Nhiều chỗ hũng sâu, biến thành một cái bồn thiên tạo, chứa đầy nước mưa hay sương rơi còn đọng lại chưa kịp bốc hơi. Cái lớn nhất dưới sâu kia trông không khác gì một cái hồ bơi nho nhỏ. Bọn Tần đang tìm cách leo lên trên bàn thạch xem trên đó có gì, một bàn cờ chẳng hạn, mà chưa được. Chỉ có cách đứa này đứng chồng lên vai đứa kia thì may ra…

Bỗng có tiếng gà gáy trưa, ò ó o ò… o, lanh lảnh đâu đây. Bất giác, Tần cảm thấy chột dạ rợn người, vì đã vô tình xâm nhập gia cư bất hợp pháp của ai đó khuất mặt khuất mày. Nhưng Thắng đã nhanh nhẩu đánh tan bầu không khí u trầm, tĩnh mịch:

– Bắt con gà rừng đó làm thịt, tụi mầy!

Hai tiếng sau cùng, tụi mầy, tạo thành một điệp khúc… tụi mầy, tụi mầy, tụi mầy… như tiếp tục vang vọng lại từ vách đá cheo leo! Không một tiếng trả lời từ phía Tần và Thành, cả hai dường như đang còn mê man trong cơn tham thiền nhập định! Thắng hối:

– Lẹ lẹ lên tụi mầy, để nó chạy mất bây giờ!

Nhưng Tần đã buột miệng lên tiếng, cản:

– Hãy khoan!

Tất cả im lặng chờ đợi, nghe ngóng! Chẳng biết Thắng và Thành đang chờ đợi và nghe ngóng những gì, nhưng riêng Tần, chàng đang chờ đợi và nghe ngóng tiếng gáy thứ hai. Mà chẳng bao giờ nghe. Tần nói:

– Kỳ hén, gà gáy một giữa ban trưa, xóm trên có chửa mà chưa có chồng. Ở đây hoang vắng như vầy thì làm gì có xóm trên ấp dưới, hoặc giả làng trong xã ngoài. Hổng chừng ở chỗ này có Việt cộng nằm vùng tụi mầy ơi. Thôi, hay là tụi mình hãy mau mau trở ra bãi cho chắc ăn, cho tao khỏi chết bất tử vì bị đứng tim! Ðói lòng ăn nửa trái sim …, còn hơn là ăn con gà của thằng Thắng, tao sợ bị mắc nghẹn!

Thành phụ họa thêm:

– Có thể đây là nơi tụi Việt cộng đã từng di chuyển súng ống và đem lên sườn núi kia bố trí đặng bắn vào tàu mình, nhằm yểm trợ giải vây cho tàu xâm nhập của bọn chúng tìm đường tẫu thoát. Nếu tàu mình có bắn trả thì tụi nó thụt xuống nơi này, an toàn trên xa lộ. Họa may chỉ có súng cối câu cầu vồng thì tụi nó mới ngán. Chỗ này kể ra cũng thần tiên chớ tụi mầy. Nhất là những đêm trăng thanh gió mát, hữu tình ta lại gặp ta. Tao nghĩ, tụi mình quả đã có đi hơi quá xa.

Thắng còn kỳ kèo, hỏi lại:

– Không lùng bắt con gà thiệt sao?

Tần ngăn:

– Thôi mầy ơi, để cho con gà tre rừng đó nó sống đi. Nó đã sợ mầy đến không dám gáy tiếng thứ hai nữa là. Vả lại xác nó cũng không lớn hơn con chim dòng dọc nghệ bao nhiêu, một thằng lủm một miếng là hết. Nè, có thằng nào chịu phản cung hồi trào thì đi theo tao…

Tần phóng mình, băng rừng trở lại con đường mòn. Thành và Thắng vọt theo, trả lại cái tĩnh mịch âm u ngàn đời cho núi rừng Vũng Rô trùng điệp. Bị động, bầy chim rừng trên cây lại đùa hót vang rân, một bản nhạc tiễn đưa không hẹn trước.

Chỉ có Thắng tiếc hùi hụi cơ hội đuổi bắt con gà rừng. Thay cho mớ kỳ nhông hay làm hang trong cát mà chàng chận bắt thật dễ dàng. Thắng không ngờ hai thằng bạn thân của mình lại nhát như thỏ đế. Giữa ban ngày ban mặt mà sợ bọn ma trơi Việt cộng, muôn đời xa rời ánh sáng văn minh, chỉ biết sống lẩn lút trong lùm cây bụi cỏ.

Lúc trở về gần đến bãi chính, bọn Tần nghe nức mũi mùi xào nấu và thịt nướng cháy khét, thơm lừng cả một góc trời. Ðâu đâu cũng có tiếng cười nói, vui đùa. Trên những gộp đá chênh vênh, trong những tàn cây bóng mát, hay ngay cả dìm mình trong lớp cát và con sóng phủ đầu. Một cuộc cắm trại cho sinh viên sĩ quan thì đúng hơn, chớ không phải là một cuộc hải hành thực tập… Sẵn lửa sẵn củi của đám bạn cùng trung đội 1, cả ba nhào vô ké, hâm nóng lại gạo sấy và thịt hộp cho bữa ăn trưa. Không còn thì giờ đâu mà nghĩ đến chuyện đi bắt kỳ đà.

Sau khi ực một bụng nước bi đông và làm một điếu thuốc Pall Mall lấy hơi, Tần chui vào rừng tìm chỗ đánh một giấc trưa. Thành và Thắng cũng vậy, mạnh tên nào tên nấy tự lo lấy thân. Ðứa thì căng võng trên không, thằng thì trải poncho dưới đất. Nơi nào cũng được, miễn làm sao duỗi thẳng hai cẳng là xong. Không ai phàn nàn gì về cảnh màn trời chiếu cỏ này hết.

Rồi chẳng biết mình đã đặt lưng nằm được bao lâu, Tần lại phải trỗi dậy vì tiếng còi tập hợp. Mồ hôi trong người chàng vã ra như tắm, bần thần dã dượi. Bên kia chòm cây lá không tên, Thành và Thắng cũng chợt vươn vai, ngáp vắn ngáp dài. Hình như không một ai đã ngủ thẳng giấc.

Ðúng như Thành tiên đoán, một cuộc thực tập liên lạc với bộ chỉ huy trên tàu bằng cờ và đèn. Ðèn trước cờ sau. Tần buột phải moi óc, nhớ vội những tín hiệu Morse mà chàng đã nhiều lần đọc qua. Ðèn với Morse cũng vậy thôi, cùng một ước hiệu, nhưng đèn sử dụng thị giác, trong khi Morse thì nhờ vào thính giác. Cái nào cũng xài “tít và tè” tức cái “ngắn và dài” (nói theo kiểu chớp đèn). Tít tè là A, tức alpha theo qui ước quốc tế hay “an lộc” an lão theo ngôn ngữ truyền tin của ta. Tè tít là N, tức november hay “non nước.” Tít tít tít là S, tức sierra hay “sơn nữ” Phà Ca. Tè tè tè là O, tức oscar hay “ong bầu” chích đau thấy mẹ. Ðại khái là như vậy…

Trong môn nhận bắt “cờ, đèn,” những đứa bắt khá khá hay ngứa nghề làm tài khôn, thường khoái đọc lớn lên cho bạn bè nghe. Nhưng lắm khi bị tổ trác, đọc trật lất, bị bạn bè dũa cho thảm thiết. Vậy mà rồi cũng chứng nào tật nấy, chẳng chịu chừa. Thực ra mấy tên im lặng, ít bép xép, lại là những đứa bắt tín hiệu “cờ, đèn” rất là thiện nghệ. Mấy lúc thầy muốn thử tài trò, cố đánh nhanh như mưa bấc, thì cả khóa chỉ còn vài tên nhận đủ bản văn. Một trong những đứa đó là Thành. Trong khi, sự chuyển đạt tín hiệu từ con mắt hay cái lỗ tai đưa lên não bộ của Thắng coi bộ không mấy nhạy cảm. Tần còn tệ hơn một bực. Chẳng mấy khi hai chàng ta nhận nguyên bài bản mà không bị sót một lỗi nào. Bởi, con người ta sinh ra đời không ai giống ai như hai giọt nước. Hễ được cái này thì mất cái kia, nhơn vô thập toàn là thế!

Cuối công điện ngày hôm nay, qua ước hiệu cờ, quơ qua quơ lại từng chữ một, là lệnh cho tất cả khóa sinh chuẩn bị rời bãi, đi ra tàu để tiếp tục cuộc hành trình. Nhiều đứa còn lưu luyến bến bờ, lưu luyến đất liền thì đúng hơn vì không ưa sóng gió, đã phát chửi thề thành tiếng ngang xương.

Trong khi Tần chỉ mong vị sĩ quan hướng dẫn đem tàu về Nha Trang. Vì một lý do khác hơn, bởi Tần đang bâng khuâng nghĩ đến Hiền! Mới đi chưa đầy một tuần mà chàng đã thấy muôn vàn nhung nhớ? Ôi, những buổi chiều rơi dần tàn, ngồi ôm em trong vòng tay, nghe sóng biển vỗ rì rào, bên hàng dừa lao xao trong gió. Tuyệt cú mèo là ở chỗ đó. Và chắc có lẽ chỉ phải trở về thôi, Tần đoán như vậy. Tại vì chiều hôm qua và sáng ngày nay bọn chàng cũng đã học sử dụng kính lục phân ( sextant ) để đo sao trời và làm point thiên văn. Mục tiêu chót của những ngày thực tập. Tuy hầu hết các tam giác kết quả đều lớn hơn đầu con cá ngựa, thay vì hội tụ lại thành một điểm, nhưng những point thiên văn đầu đời ấy đã phải gọi là… thần sầu quỉ khốc lắm rồi (hay chỉ thuần may mắn?). Còn point cận duyên thì hiển nhiên, đã không thành vấn đề với bọn Tần nữa…

Tần hỏi bạn:

– Theo hai thằng mầy nghĩ thì rồi tàu mình sẽ chạy đi đâu?

Thắng hân hoan hơn:

– Về Nha Trang mầy ơi! Vì em Thảo của tao đã thần giao cách cảm, nhắn với tao là lần này… tàu về bến em hẹn mình ra phố, tay đan tay em xinh dáng ngoan hiền … Chà, còn làm bộ hỏi bóng hỏi gió nữa ta! Tao coi mòi thằng Tần nó đang nhớ con Hiền dữ lắm mậy, Thành?

Tần châm chọc lại:

– Mầy đưa hơi trật đường rầy rồi Thắng ơi! Thằng Thành nó đâu có chịu về Nha Trang, nó còn muốn đi Qui Nhơn thăm cô giáo làng của nó một lần nữa kia kìa. Ê, tao hỏi thiệt mầy nghen Thành, giữa hai đứa, con Trâm Qui Nhơn và con Thúy Nha Trang mầy chọn em nào?

Thắng xen vào, bồi thêm một quả nữa:

– Và đêm đó mầy làm gì con Trâm? Tại sao mầy không dám kể cho tao với thằng Tần nghe một điều gì hết vậy? Mầy nhắm mầy có dấu được suốt đời hay không?

Thành vọt miệng:

– Tao đinh ninh là bọn mình đang trên đường về bến cũ.

Á, thì ra Thành đã chọn! Bến cũ? Hình như cả ba đứa đều cùng có một ý nghĩ trong đầu: trở về bến cũ! Ý cha, rõ ràng thằng Thành nói nghe chí lý, Tần nhủ thầm. Hiền ơi, em có biết em đang là cái bến cũ thương mến vô bờ đó của anh? Thân hải quân mười hai bến nước, mười ba bến tình, nhưng ngẫm nghĩ có chiếc lá nào rơi, xuôi dòng, mà không tìm về nguồn cội…

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào
Post by Sơn râu 21 Nov 2025

22. “Tri Ngã Giả Kỳ Thiên Hồ”

 Sáng nay thức dậy mở cửa, ánh nắng chan hòa, cơn gió xuân phả mát vào mặt. Tôi chợt buồn buồn nói nhỏ với vợ: “Hôm nay là ngày 30 tháng Tư!” Nàng trầm ngâm lặng thinh, rồi buông tiếng thở dài: “Mới đó mà đã 28 năm!” Trời mây Bắc Mỹ bao la này vẫn không choán hết nỗi trống vắng quê hương. Tôi ray rức, dựa cửa nhìn trời. Ký ức chập chờn những kỷ niệm. Tôi chia ký ức ra từng phần, phần cho những mùa xuân trong tù, phần cho mùa xuân đen tối trùm xuống quê hương năm nào, phần cho những ngày tháng lưu vong. Một mớ ký ức hỗn độn, tiếc nuối, đớn đau, muộn phiền cứ ra vào trong tiềm thức.

Ngày 30 tháng Tư 1975 như một vết đen mang tính ba động trong tâm hồn mỗi khi bị đánh thức, nó không chết hay tàn phai với thời gian và không gian. Tôi vẫn nuối một ngày về tự do trên những con đường yêu dấu cũ. Vancouver không biết ngày 30 tháng Tư như tôi vẫn nhớ, và biết với nỗi đau còn vương vấn, nó như sợi tơ cứ giăng dài theo năm tháng.

Thành phố tôi sống tạm dung, thành phố đẹp nhất Bắc Mỹ, được thiên hạ xếp vào hàng đầu trên thế giới 5 năm liền, đang chìm ngập trong mầu hoa anh đào nở rộ, thơ mộng thần tiên. Mỗi khi xuân đến, hoa nở một lần, khắp nẻo đường rực nắng rực hoa. Tôi thả tầm mắt lang thang trên từng nhánh hoa anh đào trước cửa và bỗng nhớ những mùa xuân xưa nơi quê nhà. Tôi thấy dường như khung trời xuân Vancouver thiếu một cái gì… À! Tôi nhớ ra rồi! Một cánh én.

Tôi nhớ lại. Xuân trên quê hương Việt Nam dập dìu những cánh én lượn. Những con chim nhỏ dễ thương này thường đậu dài trên những giây điện. Những ngày xuân trong tù, tôi lại thấy én chùm nhum đậu từng đàn trên những dây kẽm gai. Nhìn chim mà tủi thân tù ngục. Thỉnh thoảng tôi vẫn nói với vài bạn tù “chim là cõi phúc, tù là giây oan!” Ừ! “Phải chi mình hóa thành chim được. Để bốn phương trời tung cánh bay!” Người ta không thể giăng kẽm gai, xây nhà tù giữa bầu trời xanh. Và đó chính là niềm hạnh phúc của loài chim. Người và chim, ai hạnh phúc hơn ai? Rồi bỗng một hôm, một con chim én báo hiệu mùa xuân đó lọt vào tay tôi trong một tình huống khá éo le, oan nghiệt.

Kể từ ngày “trình diện học tập” tại sân nhà thờ Lạc Đạo Phan Thiết ngày 19/5/1975, bị đưa lên trại Kà Tót gần 6 tháng, rồi chuyển về Tổng trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao, chúng tôi bị ném vào lò tù lao động tẩy tim tẩy óc. Trong giai đoạn đầu, 6 tháng mới cho thăm nuôi một lần, tù lao động nặng nhưng cộng sản cho nuôi ăn theo tiêu chuẩn cầm hơi toàn khoai sắn và bí bánh xe, nên tên nào cũng tong teo, bơ phờ, ghẻ chóc. Cóc, nhái, rắn, chuột, thằn lằn, cắc ké… gì lọt vô trại là bị tù chộp cho vô dàn hỏa ngay. Cái đói nó hành con người còn ác hơn những ngày lao động cong ba sườn, hay những buổi học tập phờ người.

Một buổi trưa, có một tên tù nẩy ra sáng kiến làm bẫy bắt chim én. Hắn tước mấy cọng nylon trong vạt chiếu, thắt một vòng tròn nhỏ, bắt con ruồi cắm vào một que nhọn rồi cắm xuống vòng lang trụi lá. Con ruồi nằm giữa vòng tròn. Đàn én lượn qua lại và rồi một con dính bẫy. Tên tù mừng húm phóng ra vòng lang chộp chim, nhổ lông cho vô lò than.

Mùi thịt chim đánh thức đám tù đói, nhìn người bạn tù chấm con chim thơm phức vô gói muối nhai ngon lành cả đám bỗng tìm ra cách giải quyết cho vấn đề bao tử trống Thế là mấy chiếc chiếu được lôi ra tước giây nylon, và mấy cái vòng lang mọc đầy bẫy én, tua tủa chong lên như những dàn hỏa tiển chống máy bay.

Trên vĩa hè trại buổi trưa Chúa Nhật nghỉ lao động, đám tù ngồi từng hàng chăm chú theo dõi bẫy én của mình. Những cái đầu chăm chú xoay qua xoay lại theo chiều bay của én. Tôi là một trong những tên tù đói đó. Trời xanh vô nghĩa. Én xuân vô nghĩa. Mùa xuân vô nghĩa. “Với tôi, tất cả đều vô nghĩa. Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau” vì đói.

Tôi có bốn cái bẫy én trên vòng lang của tổ tôi. Tôi chờ từ sáng đến trưa, lai rai các chú én dính bẫy bên cạnh và kết thúc cuộc đời bay liệng trên mấy cục than hồng, nhưng không con nào vô bẫy của tôi. Tôi ngồi buồn chống cằm theo dõi mấy con én lướt nhanh qua vòng lang mình. Một cán bộ quản giáo Việt cộng đi ngang, thắc mắc, ném một câu hỏi vào đám tù:

– Ngày nghỉ các anh không ngủ trưa, ngồi cả đám sau hè làm cái gì?

– Canh bẫy bắt chim én bồi dưỡng, cán bộ!

Một tên tù vội trả lời. Tên quản giáo đứng lại nhìn mấy cái bẫy thô sơ cắm dọc trên mấy vòng lang, rồi buột miệng:

– Mấy anh ngụy các anh có sáng kiến khắc phục giỏi nhỉ! Bắt én trong trại thì được! Nhưng phơi khoai sắn, dấu muối để trốn trại thì không thoát đâu nha! Liệu hồn!

Tên quản giáo khuất bóng cuối sân trại. Đám tù vẫn còn chăm chú vào mấy con én. Tôi vừa buồn ngủ, vừa nản, định bụng nhổ bẫy vô sạp nằm ngủ, bỗng một con én dính vào bẫy tôi. Nó cố bay lên, rồi bị giựt xuống vì sợi giây nylon tròng xiết vào cổ. Tôi phóng cái ào ra vòng lang, tóm cổ con chim én. Đúng là con én tới số chết. Không có con én nào làm nỗi mùa xuân trong bụng những tên tù. Và cũng không có mùa xuân nào trong vòng kẽm gai với những tên tù bị nuôi và hành hạ như súc vật, dù có những cánh én lượn giữa trời bao la.

Trước mắt tôi, trong hai bàn tay là con chim bẫy được, là miếng thịt nhỏ nhoi ngon lành trong cơn đói. Nhưng chẳng hiểu sao tôi không nhổ lông con chim ngay, mà lại mang nó vào bóng mát, tưng tiu trong bàn tay. Lông nó đen nhánh mượt mà. Nó nằm im, không mở mắt, không cục cựa trong lòng bàn tay trái của tôi. Tôi vuốt lưng chim bằng bàn tay phải chai cứng, sần sùi vì những tháng năm lao động mà không có chút vinh quang. Lớp lông vũ mịn màng chuyền vào tôi một thứ cảm giác dễ chịu chưa bao giờ tôi có được trong những ngày tù.

Chim vẫn nằm yên bất động. Nó chết? Không! Tôi thấy nó còn ấm và thở, thật nhẹ và đều. Tôi thử đưa tay trái giơ ra giữa trời! Nó không bay. Tôi coi lại cánh chim. Cánh nó còn nguyên không gẫy lặt lìa. Tôi thu bàn tay lại. Chợt chim mở mắt. Ôi! Đôi mắt đen diệu kỳ, tuyệt đẹp và dễ thương. Dường như nó nhìn tôi. Dường như nó cam chịu số kiếp. Nó vẫn không bay, dù nó bay tôi cũng không chộp bắt nó lại.

Cơn đói trong tôi đã biến đi đâu mất tự lúc nào trước đôi mắt đen láy thần tiên của con chim. Lòng tôi chùng lại. Tôi thấy thương và tội nghiệp con chim. Tôi nghĩ đến thân phận mình. Tôi nghĩ đến thân phận chim. Tôi nghĩ mình vô thường, và chim cũng vô thường. Vạn vật gặp nhau cũng bởi cái duyên. Tôi gặp chim trong hoàn cảnh éo le này cũng bởi cái duyên. Làm sao tôi có thể kết thúc đời chim trong lửa đỏ chỉ vì một cơn đói nhỏ nhen, trần tục trong cõi trầm luân đầy hệ lụy này. Tôi sẵn sàng trả chim trở lại khung trời xanh, còn ai chịu thả tôi ra khỏi những vòng kẽm gai oan nghiệt? Ai hiểu được lòng tôi? Ai hiểu được lòng chim?

Tôi mang chim vào sạp nằm, xé một vạt vải trắng nhỏ từ chiếc áo sơ mi rách, cột một chéo vải vào cổ chim, phần còn lại, tôi viết một dòng chữ Hán “tri ngã giả kỳ thiên hồ” rồi mang chim ra giữa sân trại. Tâm sự “tri ngã giả kỳ thiên hồ” này dường như là lời trăn trối cuối cùng của Đức Khổng Tử trước khi ngài nhắm mắt. Chim vẫn nằm im, tội nghiệp. Tôi nói với chim: Bay đi! Nhân danh tự do, ta thả chim trở lại trời xanh. Biết được lòng ta chỉ có Trời. Ta, thân phận tù đày nhưng chưa chết, thì hà cớ gì chỉ vì một chút đói lòng mà ta lại sát sinh, ta lại giết chim. Ta mơ tự do. Ta trả tự do cho chim! Bay lên đi!

Tôi lại vỗ nhẹ lưng con chim én. Nó cựa mình, mở mắt và vụt cánh tung bay, mang theo tiếng than “tri ngã giả kỳ thiên hồ” lên trời xanh. Én vút lên cao. Dường như mảnh vải nhỏ làm nó lảo đảo, và rồi cánh én bình phi mang theo một vệt trắng biến mất giữa trời xanh bao la.

Hai mươi tám năm sau, ngày 30 tháng Tư 1998, tôi đắm mình trong nắng xuân đầm ấm đầy hoa anh đào dưới trời Vancouver, tôi đưa mắt trông tìm không ra một cánh én. Tôi thấy mùa xuân xứ người thiếu vắng một cái gì. Tổ quốc? Quê hương? Mùa xuân? Cánh én? Dường như tất cả! Tôi vẫn tiếc nhớ cái nồng nàn của mùa xuân Việt Nam. Và tôi bỗng nhớ con chim én ngày nào giữa trại tù, nơi tôi trả nó lại trời xanh với dòng tâm sự “tri ngã giả kỳ thiên hồ“, như nhờ nó mang đến cho cao xanh ở một phương trời vô định nào đó mà tôi không có địa chỉ…

Ngày nay tôi vẫn sống. Tôi tưởng đã chết trong khói lửa chiến tranh. Tôi tưởng đã bỏ thân trong những tháng ngày tù ngục. Ra tù, vượt đại dương sóng gió trên chiếc thuyền con đi sông rạch, tôi tưởng đã bỏ thân phận mong manh của đời mình trong lòng biển trên đường trôi giạt đến Pulau Bidong…

Phải chăng nhờ chút từ tâm, nhờ chút Phật tính chìm đọng dưới đáy lòng mà tôi đã không sát sinh, tôi đã tha cho én và Trời đã thương tôi. “Tri ngã giả kỳ thiên hồ!” Lòng trời linh diệu, bao la. Tạ ơn Đức Khổng Tử! Tạ ơn Trời! Tạ ơn Phật! Tạ ơn én! Tạ ơn mùa xuân Bắc Mỹ đầy hoa anh đào.

(Vancouver mùa Xuân 1998)

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 20 Nov 2025

Phần 6 – Trối Trăn, Tự Tình

Tôi đang bực tức và bất mãn, mình giận lấy mình, nhưng khó nói nên lời đành gõ máy giấc trưa, gởi ấm ách cho xì ra hơi, xả xú bắp lâng lâng đỡ tức. Năm rồi, tôi ưng cho xuất bản hai tập nhỏ, viết ứ đọng từ lâu, nhưng khi in thành sách, tôi đã bị sửa văn, họ thiến của tôi bộn bàng. Tôi dùng chữ “văn” đây là tạm bợ và nên nói lại những gì tôi viết ra, họ đốn không nương tay, duy tôi là thằng chơi đồ cổ, xin hỏi tỷ như khi chưng một lục bình dịp Tết, bình hoa vẫn có xen kẽ đôi lá lơ thơ cho dễ coi, rồi người mướn tôi trưng bày, đã rút tỉa những hoa lá phụ, rằng cho thêm gọn thêm xinh, nhưng về mặt mỹ thuật, xin cho tôi tỏ ý kiến rằng làm như vậy, bình hoa sẽ trơ trẽn, nhứt là trái ý của tôi, vả lại theo như tôi hiểu và tỷ thí, văn Pháp, người xuất bản nào dám đụng chạm đến bao giờ?

Nói sơ sơ để tỷ ví, có nhiều câu tôi cho là đắc thể, tôi rặn è è lâu hoắc hoặc đó là lời nói của những nhà có kinh nghiệm đã rỉ tai tôi, và tôi cố ghi lại vào bản thảo, đều bị bôi bỏ, chê là rườm rà, nhưng quên rằng đó là những cái mốc để đánh dấu thời đại như giá vàng, ngày mua, người bán, nay lược bớt, khiến cho hiện nay, có một cuốn tôi được tái bản, nhưng bán rất chậm, khách chơi cổ ngoạn vẫn tìm sách cũ bản của tôi và để ế bản của kỳ in nhì (không phải tự tôi cho in), tuy trong ruột sách vẫn y chang, duy ngoài bìa đã thay đổi và thay thế một cách ngu dốt, nên sách bán không chạy.

Tỷ như câu “Kiệm cần chắt mót làm gì, thà làm công tử tù ti sướng đời” và câu “Má sai bán lúa Bãi Xàu, để anh xúc bớt cho vào túi em?” và có chỗ tôi viết: “người Hồi khi uống rượu, không cho rượu đụng môi”, chỗ khác tôi viết: “vàng vòng có đổ đế để tránh móp méo” v.v .. hai chỗ ấy sách in ra đọc: “uống rượu không cho đụng môi như heo (như beo)” và “đổ đế” thì sửa chữa “đổ đá”, đều là sai ý tác giả, đến đây tôi xin chừa cho độc giả hiểu lấy. Nói được mấy lời như trên bỗng thấy cơn giận đã nguôi và tự xét, tuổi gần đất xa trời, cũng nên hỉ xả họa may nối thêm được một ít lâu để chờ xem mãn cuộc … cuộc gì cũng chưa dám nói và nên hiểu ngầm và khỏa lấp …

Nay xin bắt qua một đề tài khác để đổi không khí: Việc tôi nói đây, vừa là thú chơi sách và cũng vừa là thú chơi cổ ngoạn, và theo tôi tưởng lại, dư tiền và có dịp tốt, nên chơi sách ít tốn kém và ít nguy hiểm hơn, vả lại sách giấy cũng dễ giấu hơn, chứ chơi cổ ngoạn, không khác chơi dao hai lưỡi, đứt tay là nhẹ, đứt mạng, sạt nghiệp không hay …như trong năm 1992, việc còn ràng rạng nóng hổi, một bạn vong niên, có nhiều ngoạn hảo đích đáng, vừa say mê sưu tầm, vừa thỉnh thoảng làm nhà mãi mại vật xưa, tôi đã từng khuyên nên chọn một nghề và không nên bắt cá hai tay, bạn nhỏ ấy bỗng bị kẹt và mắc vòng li tiết hơn bốn tháng trời, nay đã được về nhà, nhưng hay đâu vật sắm chơi đã bị tịch thu và hiện đang xin xỏ lại, v.v .. cho hay đó là lời tôi dặn hờ thoạt đã linh ứng, theo tôi vẫn tin nhiều về phúc họa, may rủi, có người sẽ cười tôi lắm tin dị đoan, nhưng rõ ràng vật cổ vẫn có hồn linh, mình đức bạc khó cầm vật quí, tức vật cao giá, ai ai cũng muốn, v.v .. đã là đức bạc, tỷ như có con đến tuổi đi quân dịch, thì ngày xưa tướng tá nắm trong tay sinh mạng, tha miễn dễ dàng, nhưng vật kia sẽ đổi chủ, còn như hiện nay, lịnh trên đã cấm mua sắm, cấm xuất ngoại đồ cổ, mà mình bất chấp lịnh trên thì như đã thấy gương bạn vong niên kể trên đây, kết liễu ra làm sao chưa biết và tôi xin khuyên vắn tắt, có một món đủ chơi là đủ và không nên có nhiều. Có cho thật nhiều, cho hơn tất cả thiên hạ làng chơi đồ cổ, ấy là ý tham muốn của đại đa số người chập chum mới bước vào nghề hay thú chơi cổ ngoạn, nhưng khi chán chê như tôi ngày nay và gẫm lại triết lý và kinh nghiệm dạy khôn, nùi giẻ đỡ nóng tay, có một món cho thật độc đáo, hoặc thật cổ, hoặc thật mỹ thuật là đủ để săm soi khi ngã lòng buồn chán và rủi có việc cũng dễ giấu dễ chôn vùi dưới đất sâu, người đi moi xét cũng ít hay dễ gì bắt gặp, chớ như có bộn bàng và bày la liệt đầy nhà, ấy không khác mỹ nhơn lúc hở hang lộ liễu, hoặc không khác con lão bạng và lão bạng đây là ý tôi muốn nói về một loại con hàu có chứa ngọc trai trong bụng và tánh tôi ham nói tam quàng cuốc chí, nay nhắc đến lão bạng, lại thấy cần đính chính một hiểu nghĩa sai lầm. Miền Nam nầy cũng như ngày trước khi còn đi đó đi đây, tôi đã từng thấy hoa lão bạng mọc lềnh khênh khắp hông núi Ngũ Hành sơn ở Quảng Nam, và hoa đã từng bị dân chúng Trung Nam khinh rẻ và đố kỵ, vì bấy lâu trong dân gian, lão bạng mà đã hiểu lầm và đọc sai lầm là “lẻ bạn” và xúm nhau dặn nhau không nên trồng trong sân nhà vì là triệu chứng vợ chồng sẽ chia ly nhau, bạn không đủ đôi đủ cặp v.v .. chớ kỳ trung, hãy nhìn kỹ hoa thì biết, hoa lá dưới tím đỏ tốt tươi trên lá xanh biếc và khi trổ bông thì rõ ràng bông trắng phau như hột ngọt mọc kẹt nách hoa và đúng hệt như câu Hán tự đã tả “lão bạng sanh châu”, hiểu nghĩa trắng là “ngọc trai trổ hoa” còn hiểu ngầm theo nghĩa đen, là “lão già sanh con muộn” hoa là lão già, còn “bông nở” kia là ngọc trai thi vị hóa.

Mảng ham nói sa đà đến xuýt lạc đề, xin cho tôi nói luôn cho hả hơi, nghĩ cho trận Điện Biên Phủ thì rõ ràng có cần gì phải tầm sư học đạo, trường Saint-Cyr, trường Politechnique mà chạy bò càng trước tay ngang ông cựu sinh viên lẫy lừng trường luật, và máy bay tối tân làm mồi lửa cho súng cà nông xập kỷ nìn (thập kỷ niên) mới thật sướng cho! Chúng bây tám chục năm trước ỷ cầm súng có tầm bắn xa thắng tầm vong vạt nhọn, chúng bay cười chưa kịp đã, nay mếu máo khóc hận trước sức mạnh súng khạc lửa từ trên cao, bây ở dưới trũng lòng chảo lãnh đủ và như đã nói, có cần gì phải đi học từ phương xa!

Viết đến đây, bỗng nhớ lại một sự việc cũ: Lúc Khám Lớn Sài Gòn bị triệt hạ để xây dựng kho sách, đường Lý Tự Trọng đời ông Nguyễn Văn Tâm làm thủ tướng nơi Miền Nam nầy và lúc ấy tôi được làm thầy giảng, heo vú thừa, nơi Đại học Văn khoa, tôi có thấy bỏ nằm chình ình nơi sân hoang giữa cỏ dại, một viên đá to, giữa có khoét một lỗ trống khá lớn mà trước kia tôi đã từng thấy và biết chắc viên đá ấy, rõ ràng là đá Khám Lớn, đặt nơi vách tường kiên cố của phòng chứa tội tử hình và lúc ấy sẵn sự ưng thuận của ông Khoa trưởng trường Đại học, cụ Nguyễn Đăng Thục, nay mạnh giỏi thể nào? Và tôi đã bê cục đá di tích ấy về và đặt nó nơi sân trong của musée, nơi tôi giữ tạm chức quản thủ, tôi có đề nghị với bạn cũ là cụ quá cố Mai Thọ Truyền, kiêm chức đặc trách Văn hóa, nhưng đề nghị của tôi không được chấp nhận và tôi cũng văng mất chức quản thủ kia, tuy vậy viên đá có khoét lỗ ấy cứ nằm yên nơi musée, nhưng cách mấy năm sau, khi tôi có dịp đến viếng viện bảo tàng nầy, tôi thấy mất dấu viên đá nọ, tôi có hỏi ông quản thủ đương thời thì ông vẫn cho tôi biết đá ấy không mất tuy đã dời đi nơi khác và ngày nay, sẵn đang có phong trào làm sống lại cảnh ngộ anh hùng liệt sĩ chống chế độ đô hộ Pháp cũ, sẵn dịp nầy, nay tôi xin nhắc lại về đề nghị năm xưa của tôi là: “chớ chi nay hãy tìm lại viên đá cổ tích ấy và diễn cho nó một vai tuồng mới, là lựa một chỗ xứng đáng, tỷ dụ nơi sân cỏ xanh góc đường Công Lý đụng đường Lý Tự Trọng và cho xây lại nơi vị trí ấy một góc Khám Lớn cũ, vách tường dày và kiên cố độ hai hay ba lớp gạch thức cũ, không cần xây vách cao, nhưng có bề thế để đủ chắc và ghi nhắc lại viên đá ấy với vai trò chứa nơi lỗ khoét, một cây cùm sắt thật to, có đủ năm ba cây vòng cùm to tướng xưa kia đã dùng thời thuộc Pháp, để xích chân những người làm chánh trị buổi ấy và đã bị trào Tây đô hộ kêu án tử hình v.v ..

Có lẽ và nên lựa một câu thật gọn thật đầy ý nghĩa, tỷ dụ như “Đây là di tích thời Pháp thuộc … và gông cùm Pháp nay đã thay thế bằng thư viện chứa sách truyền bá Tự do và Văn hóa v.v .. ”.

Xin thưa, tôi chẳng qua là một kẻ sống thừa, xét thấy đã là vô dụng, nhưng lời quê mộc mạc, tuy vậy vẫn một mực chí thành, dám nào xin kính cẩn dâng lên cho nhà chức trách thẩm xét. Thành tâm kính ước.

VHS

(viết lại ngày 11-9-1993 với cảm tưởng ngày 11-9 thay vì ý cũ 4-5-1993)

Năm 1960, tôi viết tập “Thú chơi sách” và nhờ ông bạn Phạm Việt Tuyền chủ sở báo chí và xuất bản Tự Do ra vốn in, nay bán đã hết. Đó là bước đầu chập chủm, việc nghe thấy còn sơ sài nông cạn. Năm nay, 1993, với tuổi già 92, tôi viết tiếp tập nầy, chỗ hiểu biết, thú thật không giàu hơn trước, có người đã trách tôi “có gì thì nói ra hết và viết không biết chừa … ”, – tiện đây, tật cũ không bỏ và nay lại “tóc tơ cạn kẽ đôi điều”, còn sống tới ngày nào và nay biết thêm được chút ít gì, xin nói hết ra đây và nâng cao “Thú Chơi Sách” thêm lên một bậc và đổi lại là “Nghệ Thuật Chơi Sách”.

Việc của mình xin nói trước. Gẫm lại cái tuổi trên chin mươi, ít có người đi tới, tuổi ấy có cái hay của nó và ít ai chịu biết là con người vào tuổi ấy, đã thuần nết lại, kẻ dữ đã thấy bớt hung hăng, vì nhuệ khí đâu còn, còn người hiền càng thêm dịu tánh, muốn gần đạo lý và muốn lánh xa niềm tục lụy và tự thầm trách hố đào đã sẵn, tại sao chưa trao gánh nặng cho xong.

Nhắc lại năm 1984, tôi còn đi bách bộ cả mấy cây số ngàn không biết mệt, từ 21-4 đến 2-8-1984, tôi viết

được 206 trang giấy đánh máy 21×28, lấy nhan là “Tôi và cuốn sách”. Qua năm 1989, tôi được 88 tuổi, viết lại từ 2-2 đến 3-4, viết được 208 trang nữa, nhưng vẫn cất giữ trong tủ nay tôi thâu gọn lại làm tập nầy, đổi ngược, lựa nhan “Cuốn sách và tôi” cho thêm nhã và đề “Nghệ thuật Chơi Sách” cho thêm gọn, thêm thanh.

Cẩn tự.

(viết ngày 12-4-1993)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 20 Nov 2025

Bài 39

Vượt ngục từ đảo Quỷ

Chủ nhật, bảy giờ tối. Tôi vừa thức giấc. Tôi cố ngủ mãi từ sáng thứ bảy. Đến chín giờ trăng mới lên. Cho nên lúc này còn tối như mực. Trời rất ít sao. Những đám mây đen nặng trĩu mưa bay nhanh qua đầu chúng tôi Chúng tôi vừa ra khỏi lán. Vì chúng tôi vẫn thường đi câu lén ban đêm, nhiều khi lại còn dạo chơi buổi tối nữa, cho nên ai nấy đều thấy đó là chuyện bình thường. Một thằng nhóc đi vào lán bên cạnh thằng bố của nó, một thằng A-rập to béo. Chắc hẳn chúng nó vừa làm tình với nhau trong một cái xó nào đấy. Nhìn hai đứa nhấc tấm ván bước vào lán, tôi nghĩ bụng: đối với thằng A-rập này, mỗi ngày được hôn hít thằng kia vài ba lần quả là tuyệt đỉnh của niềm hoan lạc. Được tha hồ thỏa mãn tình dục – điều đó đã biến cảnh tù đày thành cõi thiên đường của hắn. Còn thằng pê-đê kia cũng vậy. Tuổi nó khoảng hăm ba hăm lăm. Thân hình nó chẳng còn dáng dấp lực sĩ thiếu niên Hy Lạp bao nhiêu nữa. Nó đã bỏ công tránh ra nắng để giữ một nước da trắng như sữa, nhưng đến nay sắc đẹp của nó đã bắt đầu phôi pha rồi.
Nhưng ở trại khổ sai nó có được nhiều bồ hơn ở ngoài. Ngoài thằng bồ một là thằng A-rập ra, nó còn kiếm được khách trả hăm lăm quan một lần chơi, hệt như một con điếm ở phố Rochechouart khu Montmartre. Ngoài cái khoái cảm mà khách chơi đem lại cho nó, nó còn thu được món tiền đủ cho nó và “chồng” nó sống phong lưu. Cả lũ chúng nó cố tình ngập ngụa trong dâm ô, và kể từ ngày chúng đặt chân lên mảnh đất tù tội, đầu óc chúng chỉ biết có một lý tưởng là thỏa mãn được tình dục.
Viên biện lý đã làm rùm beng lên để khép tội chúng, đẩy chúng vào con đường thối rữa. Nhưng trong cảnh thối rữa đó, chúng lại tìm thấy hạnh phúc. Sau khi tấm ván đã được đóng lại sau đôi mông tròn của thằng pê-đê, chỉ còn lại ba đứa chúng tôi: Chang, Sylvain và tôi.
– Đi thôi. Chúng tôi nhanh chóng tiến về phía Bắc đảo
Chúng tôi đi vào hang lấy hai chiếc bè ra. Cả ba chúng tôi bị ướt như chuột ngay tức thì. Gió ào ào thổi, tiếng rít của nó là tiếng rít đặc biệt của gió lộng, của biển khơi giận dữ. Sylvain và Chang giúp tôi đưa bè lên đỉnh mỏm đá. Phút cuối cùng, tôi quyết định buộc chặt cổ tay trái của tôi vào sợi thừng buộc bao tải. Bỗng nhiên tôi sợ bị tách ra khỏi bao tải và bị cuốn ra xa nó. Chang cũng giúp Sylvain lên được tảng đá trước mặt tôi. Trăng đã lên cao, nên trông sáng như ban ngày. Tôi quấn một cái khăn mặt lên đầu. Chúng tôi phải đợi sáu con sóng. Hơn nửa giờ. Chang đã đến gần tôi. Anh ôm cổ tôi. Anh nằm trên tảng đá và tựa vào một hốc đá thật chắc, anh nắm chân tôi để giúp tôi chịu được cú dập của Lisette.
– Chỉ còn con sóng này nữa là đến nó đấy, – Sylvain hét to. 
Anh đứng trước bè của anh, đưa cả thân mình chống đỡ khối nước ập xuống anh. Tôi cũng ở trong tư thế như vậy, còn được tay không giữ thật chắc, nhưng anh quá căng thẳng, móng tay anh bấm ngập vào bắp vế tôi.
Con sóng Lisette đưa chúng tôi đi đã tới. Nó thẳng đứng như một cái tháp chuông nhà thờ. Với tiếng gầm váng óc quen thuộc, nó đập mạnh vào hai tảng đá và luồn mạnh về phía vách đá.

Tôi lao xuống trước bạn tôi một tích tắc. Sylvain cũng lao xuống gọn gàng không kém, và cả hai cái bè của chúng tôi cũng được Lisette hút ra khơi nhanh đến chóng mặt. Chưa đến năm phút sau, chúng tôi đã ở cách xa bờ hơn ba trăm mét. Sylvain chưa leo lên bè của anh. Hai phút sau, tôi đã ngồi trên bè của tôi. Chang chạy vội lên chiếc ghế của Dreyfus đứng dơ một chiếc khăn tay trắng để chào từ biệt. Chúng qua khỏi được điểm nguy hiểm, chỗ sóng tập trung lại để xô thẳng vào Đảo Quỷ. Những cơn sóng đẩy chúng tôi ra khơi dài hơn, gần như không có bọt, êm đến nỗi chúng tôi hòa với chúng làm một, tôi mà không bị xóc, không sợ bè bị lật.
Chúng tôi từ từ ra khơi một cách êm ái, lên xuống theo những lớp sóng cao thấp, vì thủy triều đang lấp xuống. Trên đỉnh cao một ngọn sóng, quay hẳn mặt lại tôi còn được trông thấy một lần nữa tấm khăn trắng của Chang. Sylvain cách tôi không xa, chừng năm mươi mét về phía trước. Anh dơ tay lên vẫy nhiều lần, tỏ ý vui mừng vì thắng lợi.
Đêm cũng dễ chịu, và chúng tôi cảm thấy sức hút của biển rất mạnh. Nước thủy triều vừa nãy cuốn chúng tôi ra khơi bây giờ lại đẩy chúng tôi về phía đất liền. Mặt trời đang mọc ở chân trời, như vậy là đã sáu giờ. Chúng tôi đang ở thấp dưới mặt nước nên không trông thấy bờ. Nhưng tôi cũng nhận ra là chúng tôi ở rất xa các đảo vì, tuy mặt trời chiếu sáng các mỏm cao của đảo, chúng tôi chỉ thấy một khối lù lù, có thế thôi. Không thấy rõ nét các đảo, tôi cho là chúng ở cách đấy ít ra đến ba mươi ki-lô-mét. Tôi mỉm cười với thành công, với thắng lợi. Hay tôi thử ngồi lên chiếc bè xem sao nhỉ? Gió thổi vào lưng tôi, có thể đẩy tôi đi.
Và tôi đã ngồi lên. Tôi gỡ sợi xích ra và cuốn một vòng quanh thắt lưng. Chiếc ốc bù-loong đã bôi mỡ làm trơn, dễ vặn chặt ốc ê-cu. Tôi hong tay trước gió cho chóng khô. Tôi tìm cách châm một điếu thuốc. Được rồi. Tôi hít những hơi đầu, thật dài, thật sâu và thở khói ra, từ từ. Tôi không còn sợ gì nữa. Và không cần phải mô tả những cơn đau quặn trong bụng tôi từ trước và trong thời gian bắt đầu hành động. Không, tôi không sợ gì cả, đến nỗi hút xong điếu thuốc, tôi quyết định ăn vài miếng cùi dừa. Tôi ngón một nắm lớn và lại hút một điếu thuốc nữa. Sylvain vẫn còn xa tôi. Thỉnh thoảng khi cả hai cùng ở trên đỉnh một ngọn sóng, chúng tôi có thể thoáng trông thấy nhau. Nắng gắt chiếu thẳng vào đầu làm cái sọ của tôi như sôi lên. Tôi ngâm khăn mặt xuống nước rồi quấn lên đầu. Tôi cởi áo va-rơi len ra. Tuy có gió nhưng tôi cũng thấy chết ngột trong chiếc áo này.
Trời đất ơi! bè của tôi vừa bị lật và tôi suýt chết đuối. Tôi uống phải hai hớp nước biển. Tuy cố hết sức tôi cũng không lật nổi cái bao tải và leo lên trên được. Sau cùng tôi xoay nghiêng cái bao tải và tôi bơi đứng ở bên cạnh. Tôi đã thở được dễ dàng hơn. Tôi cố tháo hẳn sợi xích ra khỏi thắt lưng, nhưng mấy ngón tay của tôi không vặn nổi ốc ê-cu. Tôi phát cáu, có lẽ vì ngón tay tôi bị co quắp lại không còn đủ sức để vặn ốc nữa. Hú vía! Sau cùng, rồi cũng xong! Tôi vừa trải qua một giai đoạn ngặt nghèo. Tôi thật sự hoảng hồn tương không thể gỡ ra khỏi sợi xích được.
Tôi không buồn lật bè lại nữa. Mệt lả, tôi tự thấy không còn đủ sức làm việc ấy. Tôi leo lên bè. Thì ngồi trên đáy bây giờ đã lật lên thành phía trên, cũng có sao đâu! Tôi sẽ không trói mình vào bè với sợi xích hay với bất cứ cái gì nữa. Bây giờ tôi đã thấy rõ tôi buộc cổ tay tôi vào bè lúc bắt đầu khởi hành là ngu ngốc đến nhường nào. Việc ấy phải là một kinh nghiệm đối với tôi.
Nắng chiếu gay gắt làm cháy da tay và đùi tôi.
Mặt tôi nóng bừng bừng. Dấp nước vào còn tệ hại hơn, tôi nghĩ vậy, vì nước bốc hơi ngay tức khắc và tôi lại càng bị bỏng nặng hơn.
Gió đã dịu đi rất nhiều, và vì bây giờ sóng không cao nữa nên đi dễ chịu hơn nhưng chậm hơn. Cho nên gió to và biển động thế mà còn hơn là đẹp trời. Tôi bị chuột rút ở chân phải, đau đến nỗi tôi kêu toáng lên làm như thể có người nào ở quanh đấy có thể nghe thấy. Tôi lấy ngón tay làm dấu chữ thập lên chỗ đau, vì tôi nhớ bà tôi bảo làm như vậy sẽ qua được cơn đau. Cách chữa bệnh lang vườn này thất bại thảm hại. Mặt trời đã ngả về Tây. Bây giờ chừng bốn giờ chiều, từ lúc bắt đầu đi, đây là cơn thủy triều thứ tư. Lần nước lên này như đẩy tôi vào bờ mạnh hơn.

Lúc này tôi trông thấy Sylvain thường xuyên và anh ta cũng trông thấy rõ tôi. Anh rất ít khi bị khuất vì sóng không xuống thấp lắm. Anh đã cởi áo sơ-mi và ở trần. Anh ta ra hiệu cho tôi. Anh ở trước tôi ba trăm mét về phía ngoài khơi. Hình như anh đang dùng tay chèo, vì xung quanh anh tôi thấy nước hơi sủi bọt. Có lẽ anh muốn hãm bè của anh cho đi chậm lại để tôi đến gần anh được. Tôi nằm dài trên bao tải và xúc tay xuống nước để chèo. Nếu anh ta hãm bè, còn tôi thì dấn lên, có lẽ khoảng cách giữa hai chúng tôi sẽ thu hẹp lại chăng?
Tôi đã chọn đúng bạn đường cho chuyến vượt ngục này, anh đã trăm phần trăm xứng đáng.
Tôi thôi không chèo bằng tay nữa. Tôi thấy mỏi. Tôi cần phải giữ sức. Tôi lại ăn và cố lật bè lại. Bọc thức ăn ở phía dưới, chai nước ngọt cũng vậy. Tôi đói và khát. Môi tôi đã nét nẻ và bỏng rộp lên: Cách tốt nhất để lật các bao tải là đeo lấy nó, đối diện với sóng rồi lấy chân đạp lúc nó lên đến đỉnh sóng.
Sau năm lần làm thử, tôi đã lật được bè lại. Tôi mệt lả vì đã cố gắng quá sức và khó khăn lắm tôi mới leo nổi lên bè.
Mặt trời đã xuống sát chân trời, chẳng bao lâu nó sẽ lặn. Vậy là gần sáu giờ rồi. Cầu cho đêm đừng bị xáo động quá, vì tôi hiểu rằng ngâm mình lâu dưới nước sẽ làm tôi mất sức. Sau khi ăn hai tảng cùi dừa, tôi tu một ngụm to nước đựng trong quả bầu của Santori. Thỏa thuê rồi, tôi hong tay trước gió cho tay khô, rồi lấy thuốc lá ra hút, rất khoan khoái. Trước khi trời sập tối, Sylvain vẫy khăn tay, tôi cũng vẫy lại, để chúc nhau ngủ ngon. Anh ta vẫn ở xa tôi như cũ. Tôi ngồi trên bè, hai chân duỗi dài. Tôi vừa vắt áo va rơi len của tôi cho kiệt nước, và mặc áo vào. áo dù ướt cũng giữ được ấm, mà mặt trời vừa lặn là tôi cảm thấy lạnhngay tức khắc. Gió đã trở mạnh. Chỉ còn những đám mây ở phía Tây còn được ánh sáng hồng ở chân trời chiếu sáng. Còn thì mọi vật đều chìm trong bóng tối đang mỗi lúc một xẩm đen hơn. ở phía đông, nơi gió thổi về, trời không có mây. Vậy là lúc này không sợ trời đổ mưa.
Tôi chẳng nghĩ đến gì ngoài việc ngồi cho chắc, đừng để bị đẫm nước một cách vô ích, và tôi tự hỏi, không biết khi đã mệt, nên buộc mình vào các bao tải hay là làm như vậy dễ nguy hiểm, do kinh nghiệm vừa qua của tôi. Rồi tôi nhận thấy tôi lúng túng là do sợi xích ngắn quá, một đầu để thừa vô ích, nó quấn vào dây thừng và dây thép của bao tải. Thu hồi đoạn đó cũng dễ. Tôi sẽ cử động thoải mái hơn. Tôi sửa lại sợi xích, và lại cuốn nó vào thắt lưng. Như vậy tôi thấy yên tâm hơn vì tôi rất sợ ngủ quên và để mất các bao tải.
Đúng, gió đã nổi lên cùng với sóng. Trò trượt lên trượt xuống với sóng biển tiếp diễn, mỗi lúc khoảng cách giữa điểm cao nhất và điểm thấp nhất lại một tăng lên.
Đêm đã xuống hẳn. Bầu trời chi chít hàng triệu ngôi sao, và chòm sao Chữ thập phương Nam sáng hơn tất cả các sao khác.
Tôi không trông thấy anh bạn của tôi. Đêm đầu tiên này rất quan trọng vì nếu vận may xui khiến cho gió thổi mạnh và đều suốt đêm, đến sáng mai, tôi đã đi được một đoạn đường khá dài. Càng về khuya, gió thổi càng mạnh. Trăng từ dưới biển từ từ mọc lên, một màu đỏ nâu, và khi lên cao rỏi, nó lộ hắn ra, to tướng, tròn vành vạnh, và tôi thấy rất rõ những đốm đen làm cho nó giống mặt người. Vậy là đã hơn mười giờ đêm. Trời mỗi lúc một sáng hơn. Trăng càng lên cao, ánh trăng càng sáng tỏ.
Đỉnh sóng nhuộm một màu bàng bạc và ánh phản xạ kỳ lạ của nó làm tôi chói mắt. Không thể không nhìn ánh phản chiếu bàng bạc này được nhưng quả thật nó làm cho mắt ta đã bị nắng và nước mặn kích thích lại càng khó chịu và nhức nhối thêm.
Dù tôi tự cho như vậy là quá nhiều, tôi vẫn không cưỡng lại được và tôi đã hút liền ba điếu thuốc.
Không có gì bất bình thường đối với chiếc bè trên biển sâu, nó cứ lên xuống đều đều không có vấn đề gì phải lo lắng. Tôi không thể duỗi mãi chân trên các bao tải vì tư thế ngồi đã mau chóng làm chân tôi bị chuột rút rất đau.

Dĩ nhiên, tôi luôn luôn bị ướt từ hông trở xuống. Ngực tôi gần như khô ráo, gió đã làm khô áo va rơi của tôi và sau đó không có đợt sóng nào làm tôi bị ướt quá khoảng thắt lưng. Mắt tôi mỗi lúc một nhức hơn. Tôi nhắm mắt lại. Thỉnh thoảng tôi lại thiếp đi “Không được ngủ”. Nói thì dễ, nhưng tôi không sao chống lại cơn buồn ngủ được. Mẹ kiếp? Tôi phải chống lại cái trạng thái đờ đẫn này. Và cứ mỗi lần trở lại với thực tại, tôi lại thấy đau nhói trong óc. Tôi lấy máy lửa ra. Thỉnh thoảng tôi lại để ngọn lửa sát cánh tay phải hay sát cổ cho bỏng da.
Một nỗi lo âu khủng khiếp tràn vào lòng tôi, tôi lấy hết nghị lực xua đuổi nó đi. Tôi sẽ ngủ thiếp đi chăng? Nhỡ ngã xuống nước, cái lạnh có làm tôi tỉnh dậy không? Tôi buộc người vào sợi xích là đúng. Tôi không thể để mất hai bao tải này, chúng là cuộc sống của tôi. Nếu bị lăn xuống nước mà tôi không tỉnh dậy thì quả là tai hại.
Vài phút qua, tôi lại bị ướt đẫm cả người. Một cơn sóng quái ác, chắc hẳn không chịu đi theo con đường đều đặn của các lớp sóng khác, đã dội vào tôi từ bên phải.
Con sóng đó không phải chỉ dội cho tôi ướt mà còn làm cho tôi quay ngang ra thành thử hai lớp sóng khác đi đúng hướng lại dội một mẻ nữa ướt từ đầu đến chân.
Đêm thứ hai đã khuya lắm rồi. Không biết mấy giờ? Theo vị trí mặt trăng bắt đầu ngả về tây, chắc phải hai ba giờ sáng. Chúng tôi ngâm mình trong nước đã năm lần thủy triều lên xuống, cả thảy ba mươi giờ đồng hồ. Bị ướt thấu xương cũng có lợi cho tôi: cái lạnh làm tôi tỉnh hẳn. Tôi run bần bật, nhưng tôi lại mở được mắt mà không phải cố gắng lắm. Chân tôi bị tê cứng, và tôi quyết định thu chân vào sát dưới mông. Tôi dùng hai tay kéo từng chân một, cuối cùng tôi cũng ngồi lên được chân mình. Các ngón chân của tôi đã bị lạnh cóng, chúng có nóng lên được dưới thân tôi không?. Tôi ngồi xếp bằng tròn, giữ tư thế ấy thật lâu.
Thay đổi cách ngồi cũng làm tôi dễ chịu. Tôi cố tìm Sylvain vì trăng chiếu mặt biển rất rõ. Chỉ có điều nó đã xuống thấp, lại chiếu thắng vào mặt làm tôi khó nhận ra mọi vật. Tôi chẳng trông thấy gì. Sylvain không có gì để buộc người vào các bao tải, không biết anh còn ở trên đó không?
Tôi dõi tìm anh một cách tuyệt vọng. Vô ích. Gió thổi mạnh, nhưng thổi đều đều, không giật từng cơn, và điều ấy rất quan trọng. Tôi quen với nhịp độ của gió và cả người tôi hòa vào làm một với các bao tải của tôi. Cứ rõi mắt nhìn quanh mãi, dần dần tôi chỉ còn một ý nghĩ cố định trong đầu: trông thấy được bạn tôi. Tôi hong ngón tay cho gió thổi khô rồi tôi cho vào mồm thổi hết sức mạnh. Tôi lắng nghe. Không có tiếng đáp lại Sylvain có biết huýt sáo bằng ngón tay không? Tôi cũng không rõ nữa. Đáng lẽ tôi phải hỏi anh ta điều đó trước khi đi, cũng có thể làm hai cái còi tu huýt một cách dễ dàng! Tôi tự trách mình đã không nghĩ đến điều đó. Rồi tôi để hai tay trước mồm làm loa cất tiếng hú rõ to: “Hú-ù! Hú-ù!”. Chỉ có tiếng gió và tiếng sóng đáp lại
Không chờ thêm nữa, tôi đứng thẳng lên các bao tải, tay trái đỡ sợi xích, tôi giữ thăng bằng trong khi năm con sóng đưa tôi lên tận đỉnh cao. Khi lên đến tột đỉnh, tôi đứng thẳng, còn khi sóng đang hạ hay đang lên thì tôi ngồi xổm. Bên phải, bên trái, phía trước đều chẳng thấy gì. Sylvain có ở phía sau không? Tôi không dám đứng lên nhìn về phía sau. Tôi chỉ nhận ra một điều không nghi ngờ gì được là ở phía trái tôi có một đường dài đen sẫm dưới ánh sáng trăng. Chắc chắn đây là rừng.
Ban ngày hẳn là tôi sẽ trông thấy cây cối, điều đó sẽ làm tôi thấy dễ chịu. “Papi, ban ngày, mi sẽ trông thấy rừng. Lạy Chúa hãy làm cho tôi trông thấy cả bạn tôi nữa”.
Sau khi xoa bóp các ngón chân, tôi duỗi dài hai cẳng chân ra. Rồi tôi quyết định hong tay cho khô và hút thuốc. Tôi đã hút hai điếu. Không biết lúc này là mấy giờ? Trăng đã xuống thấp. Tôi không nhớ được đêm qua, nó lặn được bao lâu thì mặt trời mọc. Tôi nhắm mắt cố nhớ lại những hình ảnh của đêm đầu tiên. Nhưng vô ích. à, tôi đã nhớ ra rồi, Tôi chợt thấy rõ mặt trời mọc ở phía đông và cùng lúc đó, còn thấy được một mảnh trăng trên đường chân trời về phía tây. Như vậy là chắc độ năm giờ. Chùm sao chữ Thập phương Nam đã lặn từ lâu, Đại hùng tinh và Tiểu hùng tinh cũng vậy.

Chỉ còn sao Bắc cực sáng hơn các vì sao khác. Từ lúc chùm sao Chừ Thập lặn, sao Bắc cực là chúa tể ở trên trời.
Gió như bốc lên. Có thể nói nó thổi mạnh hơn lúc ban đêm. Vì sóng cũng mạnh và sâu hơn, và trên các ngọn sóng, những đám bọt trắng nhiều hơn lúc đầu hôm. Tôi ở trên biển đã được ba mươi giờ. Cho đến bây giờ, phải thừa nhận là mọi việc tốt nhiều hơn xấu, và ngày hôm nay mới là ngày gay go nhất.
Hôm qua, tôi đã bị phơi nắng chang chang ở ngoài trời từ sáu giờ sáng đến sáu giờ chiều, và da bị nướng đi nướng lại nhiều lần. Hôm nay, mặt trời lại rọi vào tôi nữa, thật không phải chuyện đùa. Môi tôi đã nứt nẻ, thế mà giờ này vẫn còn là đêm, trời vẫn còn mát. Hai môi tôi nhức nhối không kém gì hai con mắt tôi. Cả cánh tay và bàn tay cũng thế. Nếu có thể, tôi sẽ không để hở tay cho nắng chiếu vào nữa. Một chỗ khác cũng làm tôi đau nhức là giữa hai bến bẹn và hậu môn. ở đấy không phải do ánh nắng trời mà do da ngấm nước biển, lại bị cọ xát với các bao tải.
Nhưng dù bị bỏng, anh bạn ơi, anh cũng là đang vượt ngục, và ở chỗ này còn hơn là chịu đựng đủ điều tệ hại ở trai khổ sai. Viễn cảnh tới được đất liền mà vẫn sống có đến chín mươi phần trăm, và thế là đã hay lắm rồi, chứ còn gì nữa? Dù cho tôi tới nơi, da có bị lột hết và nửa thân người có trơ cả thịt, cũng không phải là trả giá quá đắt cho một chuyến đi như thế này, với một kết quả như thế này. Anh bạn thấy không, chẳng thấy bóng một con cá mập nào: chúng đi nghỉ phép ở đâu cả rồi không biết? Anh bạn đúng là gặp vận đỏ, không thể chối cãi được. Lần này rồi anh sẽ thấy là lần thành công thật sự. Trong tất cả các chuyên vượt ngục được tính giờ quá chính xác, được chuẩn bị quá kỹ càng, thì rốt cục, chuyến vượt ngục thành công lại là chuyến đi ngớ ngẩn nhất. Chỉ có hai bao tải đựng trái dừa, rồi phó mặc cho sóng và gió muốn đẩy đi đâu thì đẩy. Nó lại đẩy vào Đất Liền mới hay chứ. Chẳng cần phải tốt nghiệp ở trường võ bị Saint-Cyr ra mới biết được rằng tất cả các vật trôi giạt trên biển đều bị đẩy vào bờ. Nếu siốt ngày hôm nay gió và sóng cứ mạnh đều như đêm qua, chắc chắn chiều nay chúng tôi sẽ đến đất liền.
Con quái vật vùng nhiệt đới đa hiện lên sau lưng tôi. Hôm nay, nó có vẻ kiên quyết muốn thiêu cháy tất cả, vì trông nó rừng rực những lứa. Nó đuổi ánh trăng đi trong nháy mắt. Chưa ra khỏi chỗ nằm, nó đã chễm chệ chiếm ngôi bá chủ, làm vua cả vùng nhiệt đới mà không ai dám ho he. Mới thoáng một chút, gió đã gần như ấm hẳn lại. Chỉ một giờ nữa là sẽ nóng. Một cảm giác khoan khoái đầu tiên xâm chiếm lấy tôi. Những ánh nắng sớm vừa chạm vào da thịt tôi là tôi thấy dễ chịu hẳn, từ đầu đến thắt lưng. Tôi bỏ chiếc khăn mặt che đầu, để ánh mặt trời chiếu vào má tôi như sưởi lửa. Con quái vật đó, trước khi nung tôi lên, muốn tôi phải cảm thấy nó là sự sống trước khi là cái chết.
Máu tôi chảy đều trong các huyết mạch, và ngay cả hai bộ bắp đùi ướt nhễ nhại của tôi cũng cảm biết được dòng máu đầy sinh khí bên trong.
Tôi thấy rất rõ cánh rừng rậm, dĩ nhiên là chỉ thấy được các ngọn cây. Tôi có cảm giác nó không còn xa. Tôi chờ cho mặt trời lên cao hơn chút nữa để đứng trên các bao tải xem có thấy Sylvain đâu không.
Chưa đến một giờ sau, mặt trời đã lên cao. Trời ơi đúng là nó rồi. Tôi không mở hẳn được mắt trái. Tôi lấy tay vốc nước xoa vào mắt. Cay quá. Tôi cởi áo va-rơi ra. Tôi sẽ ở trần chốc lát trước khi ánh nắng chiếu gay gắt quá.
Một lớp sóng cao hơn hẳn các lớp khác từ dưới sâu nâng bổng tôi lên. Sóng nhồi một nửa giây trước khi hạ xuống thấp, và tôi thoáng thấy anh bạn tôi. Anh ngồi trên bè của anh, mình trần. Anh không trông thấy tôi. Anh ở hơi chếch về phía trước, bên trái tôi, cách tôi chưa tới hai trăm mét. Gió vẫn thổi mạnh, cho nên tôi quyết định tiến lại gần anh, vì anh ở phía trước tôi cùng trên một đường thắng, tôi xỏ tay vào áo va-rơi và giơ lên cao, mồm tôi cắn vạt áo phía dưới. Cái thứ buồm này chắc đẩy tôi đi nhanh hơn anh. Tôi căng buồm như vậy độ nửa giờ. Nhưng chiếc áo va-rơi làm tôi nhức răng, và sức lực bỏ ra để chống lại với gió làm tôi chóng mặt. Thế mà khi bỏ “buồm” xuống tôi vẫn còn cảm giác đã đi được nhanh hơn là để cho sóng đẩy.
Hoan hô? tôi vừa thấy được “anh bạn lớn” của tôi. Cách tôi chưa đầy một trăm mét. Nhưng anh ta làm gì thế kia? Anh không có vẻ quan tâm xem tôi đang ở đâu. Khi một đợt sóng đưa bổng tôi lên khá cao, tôi trông thấy anh một, hai, ba lần. Tôi để ý thấy rõ ràng anh đưa tay phải lên mắt, đúng là anh đang quan sát mặt biển. Nhìn về phía sau đi, đồ ngốc! Chắc anh có nhìn, đúng là thế, nhưng anh không thấy gì cả.
Tôi đứng lên và huýt sáo. Khi sóng nhồi tôi lên cao, tôi thấy Sylvain ở trước tôi. Anh giơ áo va-rơi lên trời. Chúng tôi chào nhau đến hai mươi lần trước khi ngồi xuống. Cứ mỗi lần sóng nhồi lên là chúng tôi lại chào nhau, được cái may là anh ta cũng được sóng đưa lên cùng một lúc với tôi. Hai đợt sóng sau cùng, anh ta chỉ tay về phía cánh rừng già, mà bây giờ chúng tôi đã trông rõ các chi tiết. Rừng chỉ còn cách chúng tôi chưa đến mười ki-lô-mét. Tôi vừa mất thăng bằng ngã ngồi xuống mảng. Được trông thấy bạn và rừng gần như vậy, một niềm vui lớn lao tràn ngập lòng tôi. Tôi cảm động khóc òa lên như một dứa con nít. Nước mắt đã rửa sạch đôi mắt đầy ghèn của tôi, và qua những giọt nước mắt ấy, tôi thấy hàng ngàn những tinh thể đủ màu, tôi nghĩ vớ vẩn trông chúng giống như những tấm kính màu ở các cửa sổ nhà thờ. Hôm nay, Chúa lại đến với mi rồi, Papi ơi. Trước những hiện tượng quái gở của thiên nhiên, trước gió, biển rộng mênh mông, sông sâu thăm thẳm, rừng xanh oai nghiêm, con người cám thấy mình vô cùng nhỏ bé so với mọi vật xung quanh, và có lẽ không cần tìm ở đâu, người ta cũng gặp và sờ tay được tới Thượng đế. Cũng như đêm đêm tôi đã từng sờ mó thấy được Thượng đế đế trong số hàng ngàn giờ tại các phòng giam khủng khiếp mà tôi đã bị nhốt vào, không có lấy một tia sáng, giờ đây tôi cũng nhìn thấy Thượng đế trong ánh nắng thiêu đốt những gì không đủ mạnh để chống lại nó, tôi đã sờ được vào Thượng đế, tôi cảm biết được Thượng đế ở quanh tôi, ở trong tôi. Chúa còn thủ thỉ nói bên tai tôi: “Con đang đau khổ và con sẽ còn phải đau khổ nữa, nhưng giờ đây ta quyết định sẽ đến cùng con. Con sẽ được tự do và sẽ là người thắng cuộc, ta hứa với con như vậy”. Không được dạy dỗ gì về tôn giáo, không biết ất giáp gì về giáo lý Cơ đốc, dốt nát đến nỗi không biết cha đức Chúa Jesus là ai, mẹ Chúa có đúng là đức thánh bà đồng trinh Maria không, cha của ngài là thợ mộc hay người chăn lạc đà, dù dốt hoặc cán mai như vậy nhưng nếu thật sự tìm đến Chúa, thì người ta vẫn có thể nhận ra Người trong gió, trong biển, trong ánh mặt trời, trong chốn rừng sâu, trong các vì sao trong những con cá mà người đã tạo ra hằng hà sa số để nuôi sống con người.
Mặt trời đã nhanh chóng lên cao, gần mười giờ sáng. Người tôi từ thắt lưng trở lên đến đầu đã khô ráo, tôi thấm nước vào khăn mặt và cuốn lên đầu. Tôi lấy áo va-rơi để che thêm vì da ở vai, lưng và cánh tay bị bắt nắng làm tôi thấy rát bỏng. Cả đùi tôi, tuy vẫn ngâm dưới nước, cũng đỏ ối lên như con tôm luộc. Vì đã gần đất liền, sức hút mạnh hơn gấp bội, nên sóng xô thẳng đứng vào bờ. Tôi nhận rõ các chi tiết của cánh rừng và tôi cảm thấy rằng chỉ trong buổi sáng nay, chỉ độ năm sáu giờ nữa chúng tôi sẽ vào sát bờ. Qua lần vượt ngục đầu tiên, tôi đã biết ước lượng khoảng cách. Khi nhìn rõ từng chi tiết được vật gì, thì chỉ còn cách xa vật đó chưa tới năm ki-lô-mét, thế mà ở đây tôi phân biệt được cả các thân cây lớn nhỏ khác nhau. Và trên đỉnh một con sóng cao hơn hết tôi nhận ra rất rõ một thân cây lớn nằm ngang, cành cây sà xuống cả mặt biển.
Kìa, lại có cá heo và chim! Cầu cho cá heo nô rỡn đẩy bè của tôi vào bờ. Tôi được nghe kể rằng cá heo có thói quen đẩy những mảnh thuyền vỡ và những người trôi giạt trên biển vào bờ, chúng còn thúc mõm vào người ta làm cho người ta chết đuối, mặc dầu chúng chỉ có một ý định tốt đẹp là giúp đỡ người bị nạn. Nhưng không, lũ cá đó, có đến ba bốn con lượn đi lượn lại đến ngửi xem đấy là cái gì rồi bỏ đi mà không đụng đến mảng của tôi. Thế là hết!
Đúng ngọ, mặt trời thẳng đứng trên đầu tôi. Cái thằng cha ấy muốn đun tôi làm nón xúp thịt nhừ chắc? Mắt tôi bị mưng mủ, trào nước mắt sống dàn dụa, mũi và môi tôi đã tróc hết da. Các lớp sóng đã ngắn dần và hung hãn xô vào bờ, tiếng đổ ầm ầm vang lên dữ dội.
Tôi liên tục trông thấy Sylvain. Sóng không trũng xuống thấp, nên anh ta không lúc nào bị che lấp đi. Thỉnh thoảng anh quay lại và đưa tay lên cao. Anh vẫn ở trần, khăn mặt cuốn trên đầu.
Không phải những đợt sóng mà là những cuộn sóng đẩy chúng tôi vào bờ. Có một doi đất bị sóng xô vào ầm ầm nghe phát sợ, nhưng sau khi vượt qua doi đất tràn trề bọt sóng, chúng lao về phía cánh rừng.
Chúng tôi chỉ cách bờ chừng một ki-lô-mét nữa và tôi sẽ thấy rõ những con chim sắc trắng và hồng, có những cái mào trông rất quý phái, vừa đi vừa mổ xuống bùn. Có đến hàng ngàn con. Không con nào bay cao quá được hai mét. Chúng bay từng chặng ngắn là để khỏi bị bọt nước bắn phải. Nước biển đầy bọt, một màu vàng như bùn, nhớp nhúa. Chúng tôi đã vào gần bờ, và tôi nhận thấy rõ cả những đường vạch bẩn do nước để lại trên các thân cây khi thủy triều lên tới mức cao nhất.

Tiếng sóng không át nổi tiếng hàng ngàn con chim cao cẳng đủ màu sắc này kêu the thé. Păng? Păng, còn cách bờ hai ba mét nữa thôi. Plou! Thế là đã đến nơi rồi, tôi đã ở trên bùn, người khô ráo. Nước không đủ sâu để tôi có thể đứng được. Căn cứ vào vị trí mặt trời, bây giờ là hai giờ chiều. Tôi đã lênh đênh trên biển được bốn mươi giờ. Bắt đầu từ ngày hôm kia, vào lúc mười giờ đêm, sau khi nước rút được hai giờ. Vậy, đây là con nước thuỷ triều thứ bày, và tôi đến vào lúc khô ráo là phải, lúc này nước đang xuống. Nước bắt đầu lên vào lúc ba giờ. Đêm nay tôi sẽ vào tới rừng. Phải giữ sợi xích để không bị văng ra khỏi các bao tải, vì nguy hiểm nhất là lúc sóng trào qua người tôi nhưng lại không cuốn tôi đi theo vì tôi đã nằm sát bùn. ít ra phải ba giờ nước dâng tôi mới nổi lên được.
Sylvain ở bên phải tôi, về phía trước chừng hơn một trăm mét. Anh trông về phía tôi và ra hiệu cho tôi. Tôi có cảm giác anh muốn nói lên điều gì nhưng cổ họng anh hình như không phát ra được tiếng nào, vì nếu có thì tôi đã nghe thấy rồi. Sóng cũng không cuộn vào nữa vì chúng tôi ở trên bãi bùn, chỉ có tiếng chim kêu đến tai chúng tôi. Chỗ tôi ở cách rừng chừng năm trăm mét mà Sylvain lại ở phía trước tôi chừng một trăm hay một trăm năm mươi mét. Nhưng cái thằng đại ngốc, nó đang làm gì thế kia? Nó đã đứng lên và rời khỏi cái mảng của nó. Nó điên hay sao vậy? Không thể đi trên bùn được, vì đi mỗi bước sẽ lại bị lún sâu hơn một chút, có thể không trở về mảng được. Tôi muốn huýt lên nhưng không huýt được. Bình đựng nước của tôi còn một ít nước, tôi đã uống hết rồi. Tôi cố kêu to để ngăn Sylvain lại, nhưng không thốt lên được một tiếng nào. Bọt khí từ dưới bùn sủi lên, đấy chỉ là một lớp móng, dưới nữa là bùn loãng và kẻ nào bị sa lầy xuống đây chắc chắn là không thể nào ngoi lên được nữa.
Sylvain quay về phía tôi, nhìn tôi và ra hiệu gì tôi không hiểu. Tôi cũng quơ tay làm hiệu, tôi muốn nói với anh ta “Đừng ra khỏi bè, cậu không thể tới được rừng đâu. Vì anh ta đứng phía bên kia cái bao tải đựng trái dừa nên tôi không biết anh đứng cách nó xa hay gần. Thoạt tiên, tôi nghĩ anh đứng rất gần bè, và nếu có bị sa lầy, anh cũng bám được vào đấy. Rồi tôi chợt nhận thấy cái khoảng cách ấy hơi xa, và Sylvain đang lún xuống bùn, không rút chân lên được để trở về bè. Tôi nghe được một tiếng kêu, tôi vội nằm sấp xuống bao tải của tôi và xúc tay xuống bùn, lấy hết sức trườn lên phía trước. Các bao tải trượt đi dưới thân tôi, và tôi trườn lên được hơn hai mươi mét. Lúc bấy giờ tôi đứng dậy, nhìn hơi xiên về phía trái, không bị các bao tải của Sylvain che khuất, tôi thấy bạn tôi đã bị lún xuống bùn đến ngang bụng. Anh ta ở cách bè của anh tới hơn mười mét. Do khiếp sợ, tôi mới kêu lên được: “Sylvain, Sylvain, đừng nhúc nhích nữa, nằm dài xuống bùn đi, cố rút chân lên”. Gió đưa tiếng nói của tôi đi, và anh đã nghe được. Anh gật đầu ra hiệu là đã hiểu ý tôi. Tôi lại nằm sấp và cào vào bùn để cái bao tải của tôi trườn lên trước. Cơn giận dữ điên cuồng làm tôi có một sức mạnh phi thường, và tôi đã mau chóng tiến đến gần anh được ba mươi mét nữa. Chắc phải mất hơn một giờ, nhưng tôi đã đến rất gần Sylvain, có lẽ chỉ còn năm sáu trăm mét nữa. Tôi không nhìn rõ anh. Bàn tay, cánh tay và mặt tôi lấm lem đầy bùn, tôi ngồi lên cố chùi con mắt trái bị chất bùn lẫn muối mặn lọt vào, làm tôi không trông thấy gì cá, trong khi con mắt phải cũng bắt đầu là nước mắt làm tôi càng khó chịu thêm. Sau cùng tôi cũng nhìn thấy anh, anh đứng thẳng, chỉ có thân trên nhô ra khỏi bùn. Cuộn sóng đầu tiên vừa ào qua, nó tràn qua người tôi mà không nhấc tôi lên, và còn lao đi một quãng nữa, bọt sóng lấp cả lớp bùn. Nó tràn tới chỗ Sylvain. Thân người anh vẫn nhô trên bãi bùn. Tôi nghĩ thật nhanh: “Các cuộn sóng càng tới nhiều, bùn càng loãng. Mình phải tới chỗ cậu ta bằng bất kỳ giá nào!”. Một nghị lực như của loài dã thú sắp bị mất đàn con tràn vào tôi, và giống như một người mẹ đang cố giằng giật đứa con ra khỏi một tai họa sắp giáng lên đầu nó, tôi lấy hết sức bình sinh vục hai tay vào bùn để trườn tới chỗ Sylvain. Anh nhìn tôi không nói một lời, không cử động, mắt anh mở to trông vào tôi, trong khi tôi cũng nhìn anh chằm chằm. Tôi nhìn anh không chớp mắt, và tôi cũng chẳng quan tâm để ý xem tôi vục tay vào chỗ nào. Tôi lết đi được một chút nữa nhưng do hai đợt sóng vừa tràn qua người tôi, bùn lại loãng hơn và tôi tiến lên chậm hơn so với giờ trước nhiều. Một đợt sóng lớn lại ào qua làm tôi sặc nước và gần như bị nhấc bổng lên. Tôi ngồi dậy để trông cho rõ. Bùn đã lên đến nách Sylvain, tôi còn cách chỗ anh độ bốn mươi mét. Anh nhìn tôi hết sức chăm chú. Tôi thấy là anh biết mình đã bị sa lầy ở đấy và sắp chết một cách thảm hại, cách nơi đất hứa ba trăm mét.
Tôi lại nằm xuống, cố bám vào lớp bùn bây giờ đã gần loãng như nước. Mắt tôi và mắt anh như xoáy sâu vào nhau. Anh ra hiệu bảo tôi thôi, đừng ráng nữa. Tôi vẫn cứ cố và tôi chỉ còn cách anh chưa tới ba mươi mét thì một con sóng lớn tràn qua người tôi làm tôi suýt bị tách ra khỏi các bao tải và nhấc bổng cái bao tải lên đẩy nó về phía trước được năm sáu mét. Khi con sóng đã qua đi tôi lại nhìn: Sylvain đã biến hẳn. Lớp bùn phủ dưới một váng nước mỏng nổi bọt đã phẳng lì. Không thấy cả bàn tay của anh bạn tội nghiệp của tôi đưa lên chào vĩnh biệt tôi. Phản ứng của tôi lúc bấy giờ là cái phản ứng khủng khiếp, ghê tởm của một con thú, bản năng tự bảo tồn đã át tất cả các tình cảm khác. Mi vẫn sống. Chỉ còn một mình mi và khi đến được rừng, không có bạn, không dễ dàng hoàn thành chuyến vượt ngục đâu. Một đợt sóng bổ vào lưng tôi vì lúc này tôi đã ngồi dậy – nhắc nhở tôi trở về với thực tại. Nó đẩy tôi sấp mặt xuống mạnh đến nỗi tôi nghẹt thở mất vài phút.
Cái mảng trượt lên phía trước thêm vài mét, và bây giờ, nhìn lớp sóng tàn dần dưới gốc cây, tôi mới khóc Sylvain. “Giá cậu đừng động đậy có phải đã đến nơi rồi không, chỉ còn cách đám cây chưa đến ba trăm mét? Tại sao vậy! Hãy nói cho tôi biết tại sao cậu lại làm cái việc ngu ngốc ấy? Tại sao cậu lại tưởng lớp bùn khô dủ chắc để cậu có thể đi bộ đến tận bờ? Tại ánh nắng chăng? Tại cậu chói mắt? Tôi làm sao biết được? Cậu không thể chống lại được cảnh địa ngục ấy sao? Hãy nói lên cho tôi biết tại sao một con người như cậu lại không thể chịu khó dạn nắng thêm vài giờ nữa?”. 
Những đợt sóng nối tiếp nhau liên tục, ầm ầm như tiếng sấm. Chúng ào tới, lớp sau tiếp lớn trước mỗi lúc một mau hơn, lớn hơn. Mỗi lần chúng xô đến, là tôi lại bị nước tràn qua người và mỗi lần như thế, tôi lại trôi thêm được vài mét, người vẫn áp sát vào bùn. Khoảng năm giờ chiều, bỗng nhiên những lớp sóng lăn tăn ấy biến thành sóng lớn, tôi bị nhấc bổng lên và nổi lềnh bềnh. Những lớp sóng ngầm hầu như không réo lên thành tiếng. Tiếng sấm của những đợt sóng đã ngừng. Bao tải của Sylvain đã được nước biển đẩy đến tận khu rừng.
Tôi đến nơi khá nhẹ nhàng, cách xa khu rừng nguyên thủy chưa đến hai mươi mét. Khi sóng rút ra tôi lại mắc cạn trên bùn, tôi quyết định không rời khỏi bao tải của tôi chừng nào tôi chưa nắm được một cành cây hay một sợi dây leo trong tay. Còn gần hai mươi mét nữa thôi. Phải gần một giờ, mới có được đợt sóng đủ mạnh để nhấc tôi lên và đẩy tôi vào rừng. Con sóng ầm ầm đến thẳng dưới gốc cây. Tôi vặn ốc bù loong sợi xích ra khỏi người. Tôi không vất nó đi, tôi còn cần đến nó.





Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 20 Nov 2025

Chương 16

Ngày tháng trôi qua – lúc nầy khổ hơn – những kẻ sốt ruột nhất, tất nhiên là những người làm trong các biệt đội tệ nhất, hoàn, toàn nghi ngờ thời hạn ba tháng trứ danh, vẫn được coi như thời gian cần thiết để kết thúc chiến tranh. Câu trả lời vẫn được chờ đợi mỗi khi câu hỏi đặt ra quá chi tiết. Tự tin và không lừa bịp là thái độ cũng ngày càng khó giữ. Những thông cáo của bọn Đức đầy ngạo, mạn, và hàng ngày không quên nhắc nhở Luân-đôn bị chìm ngập dưới hỏa tiễn V1 1. Người ta đã không tin hay tin rất it, nhưng giọt nước rơi đều cũng làm thương tổn chất liệu cứng rắn nhất. Từ khi chiếm được Varsovie, quân Nga đã dừng lại. Tháng 8 đã đến và chỉ có oanh tạc mà thôi. Ngoại trừ các chuyến tàu đến trễ, kết quả của chiến lược nầy không thấy được trong diễn biến của tình thế, và người ta không biết trọng lượng chính xác của nó là bao nhiêu trên cán cân lượng giá sự bại trận của Đức. Và quần chúng thì đầy phụ nữ tính. Tập thể đó bao bọc chúng tôi, và đã bắt đầu quá quen với các tin hấp dẫn từ mấy tuần qua, muốn thấy một cuộc tiến quân thêm vài cây số và một thành phố được chiếm lại. Cuộc mưu sát Hitler sưởi ấm được tâm trí họ và họ từ chối dữ dội các lời nói thật. Nếu không ai loan báo gì, họ sẵn sàng nghe theo các tin thất thiệt.

May mắn cho những kẻ tuyệt vọng. Marcel đã đến bổ túc cho tình trạng thiếu kém tin tức của chúng tôi. Không phải là anh ta mang lại những tin tức chính xác gì, nhưng anh là loại người mà lời nói được tin ngay. Anh kể lại cuộc đời thanh niên đầy sứ mạng đặc biệt của mình, và vì mỗi người tin rằng biết được một bí mật đặc biệt, ai ai cũng ngưỡng mộ anh ngay. André và tôi, chúng tôi là những người đầu tiên theo dõi sự cảm phục tổng quát, vì nhờ thế chúng tôi có thể nghỉ ngơi và đổi hướng một sự chú ý bắt đầu có vẻ nặng nề vậy thì, “đến 15 tháng 10, Churchill sẽ có mặt ở Bá-linh”. Marcel còn giữ một mẩu tờ báo trong đó có ghi rằng ông Thủ Tướng Anh đã đảm bảo ngày tháng đó với viên xử lý tòa Đại sứ Mễ Tây Cơ tại Luân-đôn, trong một cuộc tiếp xúc ngay sau hôm quau Đồng Minh đổ bộ. Và anh ta tin tưởng việc đó một cách sắt đá. Churchill là thần tượng của anh ta và mặc dù Marcel là Đại úy Hải quân, mọi sự ngờ vực Anh quốc, ý tưởng lưu truyền của Hải quân Pháp, đã biến mất, trong anh. Điều nầy dễ hiểu. Năm 1940 anh ở Luân-đôn, chấm dứt một khóa huấn luyện về Hải quân, dưới các trận mưa bom của không lực Đức, và bây giờ anh nói Anh ngữ giỏi như tiếng mẹ đẻ, cùng vởí một số người Pháp yêu nước khác, anh đã chịu đựng cuộc huấn luyện gian khổ để trở thành biệt kích đổ bộ. Với một thanh niên 20 tuổi, thật đáng chú ý! Như thế, tất cả những gì thuộc về quê hương thứ hai của anh đều có tính cách thiêng liêng.

Marcel kể các con số, các cuộc mạo hiểm trên bể. Anh đã đi theo nhiều chuyến công-voa, trước hết là trên Đại Tây Dương, Bắc hải cho đến Mourmansk. Anh đã toát mồ hôi một lần vì tàu ngầm của Đô Đốc Doenitz, nhưng không có gì làm giảm được niềm tin của anh. Anh có giọng chí thành đến nỗi trở thành thần tượng của mọi người. Và vì anh ta còn đi xa hơn cả những người lạc quan, người ta khai thác anh, bắt anh lặp lại các lời dự đoán. Cùng với André, chúng tôi không ngớt nhấn mạnh rằng chính chúng tôi đã khám phá ra anh ta. Chỉ nhờ một sự tình cờ: chúng tôi đưa vật liệu cho một toán làm việc trong đường hầm. André đưa tôi đi qua công trường, vừa đi vừa kể những ngày đầu tiên ở trại tập trung:

– Cả một vùng rộng lớn toàn lúa mì. Chúng tôi gồm có năm trăm người, những người đầu tiên, để xây dựng trại Ellrich. Những xe vận tải nhỏ đưa chúng tôi lại đây. Lúc đó là tháng tư, ngày thứ hai đúng lễ Phục sinh. Vì là công tác khởi đầu, chúng tôi phải phân tán trong cánh đồng mênh mông và dẫm chân lên lúa bằng thích, có nhiều xe ủi đến tiếp sức để hoàn tất công việc phá hoại, và quang cảnh nầy đối với tôi là cảnh đẹp nhất của thời đại điên khùng mà chúng ta đang sống. Tại nhà ga Wofleben, các toa xe vật liệu đang chờ. Từ đó như anh thấy, công cuộc xây cất không hề ngừng nghỉ. Nhiều con đường được phóng thêm, con sông uốn khúc theo triền núi có thể làm cản trở cho việc đào hầm, đã bị đổi dòng, và trong cả một góc trời, cái gì có vẻ xinh tươi đều đã bị chúng biến thành địa ngục.

Càng đến gần các đường hầm, tiếng động càng chát chúa. Họ đứng cách nhau chừng mười thước, và một đường sắt giúp cho những toa xe mang đá ra ngoài. Hầm càng được đào sâu, đường sắt cần nối dài thêm và toán bắt điện chúng tôi phải điều chỉnh đường dây để họ có ánh sáng làm việc. Ngay lối vào, một cơn lạnh ẩm ướt bao phủ lấy người, và bên trong toàn bụi xám, mịn như bột gạo, phủ khắp mọi vật. Bóng tối chỉ được soi thủng bởi vài ngọn đèn tù mù như các ngọn đèn bão. Người ta chỉ đặt ánh sáng thật sự cho những người thợ dân sự Đức, mỗi khi đường hầm hoàn tất, đến thiết trí các nhà máy. Kẻ nào rủi ro rơi vào toán đào hầm sẽ có bộ mặt như thây ma của loại nhân công làm việc lâu ngày dưới đất; họ chỉ làm tám giờ, nhưng họ thích làm mười sáu giờ ở chỗ khác hơn, nhất là họ phải làm việc luân phiên ngày đêm. Nguy hiểm nhất là các vụ nổ mìn để sửa soạn cho việc nới sâu đường hầm thêm vào phía lòng núi. Đường hầm được để trống bằng cách di tản mọi người ra ngoài một chốc, nhưng nếu một ngòi mìn không nổ, một tù nhân phải vào xem lại, và thường thường bạn bè người nầy phải lượm lại các mảnh thịt xương bắn vung vãi chung với đá vụn. Các vụ hầm sụp xảy ra luôn, nhưng vì không có một biện pháp an toàn nào, bọn nhân viên dân sự chỉ vào kiểm soát ít phút trong một ngày.

Khi chúng tôi tiến vào hầm với André, các bạn chúng tôi đang căng đường dây. Tự nhiên, tôi nhìn lên trần hầm, bởi vì có nước rơi xuống. Trong tiếng huyên náo đáng sợ” – những tù khổ sai làm công việc chất đá lên các toa xe nhỏ. Toán đào hầm không thấy được vì một lớp bụi dày bao phủ lấy họ. Rất nhiều thiếu niên làm việc trong cái lò nầy.” Ở Dora cũng như vậy, André lưu ý tôi, vì anh ta cũng đã từng nếm mùi vị chế độ lao tác nầy rồi trước khi trở thành thợ điện nhờ biết tiếng Đức. Chúng tôi biết là thứ ngôn ngữ nầy là cứu tinh tối hậu của chúng tôi. Nếu không có nó, ngoại trừ có phương tiện đặc biệt, thì tai hại cũng như câm điếc, và phải cam tâm làm tất cả các công việc nhọc nhằn. Trong một dãy trại nằm trước miệng hầm, dùng làm văn phòng của nhân viên dân sự. André phải đặt một chỗ cắm điện. Tôi đi theo anh ta, nhiệm vụ tôi đã xong và chúng tôi gặp một tù nhân làm chúng tôi ngạc nhiên vì bộ áo quần còn tốt của anh ta và nhất là vì chữ anh ta mang trên ngực:

– Kia, những người Pháp! – Anh ta kêu lên. – Thật vui thú khi thấy các anh trốn việc được, chỉ một số ít thôi đấy nhé. Tôi tên là Marcel, tôi từ Dora đến đã sáu ngày nay và tôi làm việc tại phòng họa đồ. Tất nhiên là nhờ nói được tiếng Đức.

Anh ta cũng là một người tốt số, suốt ngày ở với một viên kỹ sư vẽ các họa đồ. Thỉnh thoảng anh ta hút nguyên một điếu thuốc, có một cô thư ký đánh máy, quả là xinh, làm việc gần anh. Đó là một trong các mâu thuẫn của các trại tập trung. Vì không quen biết ai, chúng tôi lập tức mời anh ta đến nhập bọn lúc tập họp vào buổi tối, và tại đó, anh chinh phục được mọi người vì vẻ lạc quan và tính ưa kết bạn của anh, nhất là vì anh cho họ hút một cách quảng đại trong khi giá cả thuốc lá không ngớt tăng thêm.

Tuy nhiên các biến chuyển của tình hình dường như xác nhận anh ta có lý. Qua báo chí cũng như qua các buổi phát thanh mà André nghe được, chúng tôi được biết vụ Arranches, cuộc tiến quân đến Reunes, vụ bao vây vùng Bretagne và vụ khởi đầu tiến quân về Ba-lê. Đó là những ngày khó quên và những tù nhân lại được phép hy vọng. Mỗi thông cáo mang lại các địa danh mà dường như có sức mạnh bơm vào tim chúng tôi. Không lúc nào không tin chiến tranh sắp chấm dứt trong nay mai. Thế nhưng tại sao lại có nhận định rằng chiến tranh sẽ chấm đứt tháng 5 năm 1945 mà đài phát thanh Mạc-tư-khoa loan đi và được một người bạn Đức ở Buchenwald cho tôi biết, con số nầy cứ trở lại trong trí tôi mỗi khi tình hình có vẻ khá hơn. Tôi thích chẳng thà dừng biết gì và trong sự sung sướng của toàn thể, tôi thường rùng mình nghĩ rằng chắc nó đứng quá. Đúng lúc đó, nhân một cuộc phân loại lại, tôi rời khỏi khối số 3 để cùng với cả biệt đội di chuyển qua khối số 7. Marcel cũng đã có thể làm như thế và chúng tôi tìm cách nằm gần nhau để có thể tiếp tục các câu chuyện được đề cập trên sân ga, nhưng một cách chi tiết hơn. Và rồi chúng tôi trao đổi các kỷ niệm cũ. Chuyện của anh nhiều khi rất cảm động vì anh biết vận dụng yến tố tình cảm, chỉ riêng trong câu chuyện về Anh quốc, về tổ tiên của anh, tất cả đều ở trong hải quân, Tất nhiên bao giờ anh cũng trở lại câu chuyện thời gian sống ở Luân-đôn và anh bày tỏ sự ngưững mộ Tưởng De Gaulle.

– Tôi đến đó ngày 18 tháng 6, tất cả phong trào Pháp quốc tự do có mặt ở đó, trong hai gian phòng khách sạn. Một trong hai gian để một chiếc bàn, một cuốn tập và một giá đựng viết. Một tùy phái có nhiệm vụ ghi tên những người tình nguyện, Ngày đầu tiên có 300, chụp hình chung, ông Tướng nói vài lời rồi bắt tay mỗi người. Đó là lịch sử và dù không nhiều, chúng tôi cảm thấy có khả năng làm bất cứ chuyện gì. Mỗi người theo ngành chuyên môn, vì phải học hỏi phương pháp mới để tái chiếm Pháp quốc. Chúng tôi ở trong các đơn vị huấn luyện đặc biệt với thanh niên thuộc đủ loại quốc tịch… Năm 1943, người ta yêu cầu một số tình nguyện cho công tác phá hoại trên lực địa. Đó là các cuộc mạo hiểm và một tương lai vô định, nhưng có rất nhiều ứng viên: Ba Lan, Nga, Bỉ, Pháp và cả Đức nữa, tất nhiên là chống Quốc Xã. Chúng tôi được thả dù xuống xứ mình. Cuộc khởi hành được tổ chức trong đêm nhưng những giờ trước đó chắc chắn là những giờ phút đẹp nhất trong đời. Thời gian tượng trưng cho niềm khích lệ tột độ, trong đó người ta cảm thấy tình anh em thật sự. Chúng tôi chỉ biết nhau qua họ của mỗi người, có những Peter, Hans, Stanislas, Georges. Không cần nói lúc lên tàu bay, ai ai cũng ứa nước mắt. Chúng tôi hẹn gặp nhau trong tất cả các quán rượu ở Âu châu sau chiến tranh, nhưng đó chỉ là để đè nén mối xúc cảm và ai cũng biết là không bao giờ còn gặp lại nhau nữa… Đó là các nhân viên được thả dù và tính theo tỷ lệ, thì số lượng mất mát lên cao nhất, và trước sau gì mọi người cũng sẽ bị bắt. Số phận của tôi còn khá, đa số đồng bạn đã bị xử tử hình.

Lửa thiêng vẫn còn nơi anh, không lay chuyển được, và anh nóng lòng ra khỏi trại không phải để được ăn uống ngấu nghiến hay nghỉ ngơi, nhưng để chiến đấu, lần nầy chống Nhật Bổn.Tôi không muốn tranh luận với anh và nhất là khi anh có thái độ thành khẩn như thế, tuy nhiên Paco, đôi khi đến họp mặt với chúng tôi, bày tỏ quan điểm trái ngược, mặc dù vậy Marcel cũng không có vẻ gì bị lung lạc. Suy cho cùng cuộc nói chuyện của chúng tôi cũng chỉ là một phương cách đưa tinh thần và các mối ưu tư ra khỏi lãnh vực các điều kiện sống vật chất hiện tại càng ngày càng nhọc nhằn.

Trong thực tế, khối chúng tôi ở, mỗi đêm, lại bày ra cảnh sống cơ cực. Vì thiếu chỗ, chúng tôi chồng chất lên nhau như cá hộp, hiểu theo nghĩa đen, và thật là một bài toàn vỡ óc khi muốn kiếm một góc để nằm. Trong số 700 người chúng tôi. 200 phải nằm đất giữa hai dãy giường chồng lên nhau, và vấn đề là đứng lọt vào trong số 200 người đó. Khi giờ ngủ được loan báo, một nhân viên cầm gậy lùa ba người vào một giường và khi tất cả giường ngủ đều đầy, lúc đó số người còn lại phải nằm đất. Không phải vì ích kỹ mà Marcel với tôi lợi dụng vị thế công trường đã chiếm một giường, nhưng nếu là ba người thì quả thật là một cực hình, vả chăng đưa thêm một người nằm đất lên với chúng tôi cũng không phải là một sự giúp đỡ lớn lao gì.

Hơn nữa họ cũng có đệm rơm, điều bất tiện cho họ là bị gió luồng, bụi và tất cả những gì có thể từ các giường trên rơi xuống. Lại còn vấn đề chăn mền: một chiếc cho hai hay ba người. Số mền lại không đủ cho tất cả mọi người và rủi ro nhất là những kẻ bị kéo mất mền khi đèn mới tắt. Tuy nhiên trong suốt thời kỳ ấy, tổng quát, những bất tiện đó không đáng kể, bởi vì đã có cái khác an ủi; trời đẹp, tin tức tuyệt diệu, và qua tất cả mọi ngôn ngữ trong trại cũng như ngoài công trường, ai ai cũng nghe nói đến tên thành phố Ba-lê. Hình như Đồng Minh đã tiến đến ngưỡng cửa thủ đô và có thể nói đó là một biến cố đặc biệt trong số các biến cố khác, không những chỉ thuần túy về mặt quân sự, nhưng hơn thế nữa, một cái gì thuộc về tình cảm.

Ngày 20 tháng 8, các trận đánh trên đường phố được loan báo bằng tít lớn trên báo làm chúng tôi lo sợ. Tất nhiên là Ba-Lê có những dấu vết đáng hổ thẹn: các khu nhà ổ chuột, khu đĩ điếm, nhưng ở đấy cũng có nào là bảo tàng viện, đài kỷ niệm, công viên, các đại lộ xinh đẹp và tất cả danh tiếng của lịch sử hàng ngàn năm, vì ngay trong trường hợp không ở đấy, người ta cũng có thể đi dạo trong thành phố như thường. Luân-đôn, Varsovie, Rotterdam, Bá-linh, nhiều thủ đô khác đã bị ít nhiều thiệt hại vì chiến tranh, và thành thật mà nói, điều đó không làm chúng tôi quá xúc động, khi nghĩ đến chuyện vài quả bom có thể làm Ba-lê tan tành, thì đó là điều không thể quan niệm được. Chúng tôi sống trong lo sợ. Bị hủy diệt, có nghĩa là không có gì thay thế được André và tôi quả quyết là sẽ có một buổi phát thanh về cuộc tiến chiếm Ba-lê. Vừa lúc đó có một máy thu thanh cần sửa chữa trên bàn ông chủ của anh, nhưng chỉ là sửa lặt vặt không liên quan gì đến tình trạng máy cả. Hôm ấy là ngày 24 tháng 8. Ông chủ của André sẽ đi khỏi bàn giấy lúc 17 giờ. Cho đến 18 giờ, giờ tập họp, có một buổi phát thanh và nhất định phải đón nghe. Báo chí vẫn đề cập đến các trận đánh trên đường phố và còn kể ngay cả vài địa danh trong đó có khu Quartier Latin. Giữa 5 và 6 giờ, thời gian không thuận tiện vì cuối ngày, nhiều nhân viên dân sự mang báo cáo hoạt động bay giấy tờ khác về các văn phòng cùng ở trong một dãy trại, và họ thường đến gặp ông chủ của André. Tuy nhiên việc nầy có thể làm được cũng như mọi lần khác, khi cơ hội đến.

André quyết định tự để bị nhốt vào trong văn phòng từ 17 giờ bởi Guy, anh nầy có một chìa khóa được tất cả các cửa và phải giả vờ quét hành lang để che dấu vai trò canh chừng. Tôi chỉ có thể đến nhập bọn 20 phút sau. Khi tôi đến, Guy đã ở vào vị trí. Tôi mang theo Tony, Tozo và Bicot, cũng đã xong việc và mỗi người phải đứng ở một vị trí thích hợp để xem chừng có ai xuất hiện từ xa. Họ trang bị đủ loại vật liệu dụng cụ, làm như đang công tác một cách tự nhiên. Sau khi chắc chắn không có ai trông thấy, Guy mở cửa nhanh và nhốt tôi vào văn phòng cùng với André. Phòng tối om, cửa sổ đóng kín. Tận cuối phòng, tôi thấy trên một chiều cao ngang mặt bàn có một đốm sáng, đó là mắt thần của chiếc máy thu thanh, và người ta vừa nghe được một giọng nói từ phương trời đưa đưa lại. André đâu? Tôi đứng yên một lúc, không dám thở và sau cùng tôi nghe kẻ đồng mưu đứng dậy từ trong góc phòng và tiến nói với tôi:

– Khi nghe tiếng chìa khóa, tôi lùi vào góc tối nhất vì linh tính.

– Tốt, anh bắt được chưa?

– Được ngay, tôi dò được chỗ rồi nhưng họ chưa loan báo tin tức.

Chúng tôi đứng gần nhau, sát đến nỗi đầu cụng vào nhau, nhưng giọng xướng ngôn viên luôn luôn đọc một bản văn về kinh tế với các lời hứa hẹn trong thời hậu chiến, sau khi chiến thắng. Tôi nghĩ rằng chưa bao giờ tôi chưởi rủa một xướng ngôn viên đài phát thanh nhiều hơn và André cũng phụ giúp tôi. Tuy nhiên nếu trông thấy được chúng tôi y có thể nói trong phần trình bày một câu, ít ra là một câu liên quan đến Ba-lê. Lời của xướng ngôn viên, làm chúng tôi bị căng thẳng thần kinh. Nói thành thật chúng tôi sợ! Lần thứ nhất người ta có thể hành động ít mù quáng, nhưng lần thứ hai, ít nhiều ý thức về về hành động của mình hơn, chúng tôi hoàn toàn bị nguy hiểm trong hành động liều mạng. Hình ảnh những người Tiệp Khắc đu đưa nơi đầu sợi thòng lọng chợt hiện về trong trí óc André chỉ chiếc đồng hồ đặt trên bàn. Hai mươi phút đã trôi qua. Phải tắt máy ra đành chờ một dịp khác. Và rồi khi đi ra đến cửa một sức mạnh vô hình, một trực giác kỳ dị bắt chúng tôi quay trở lại. Chiếr máy được mở mau lẹ và cùng lúc chúng tôi siết tay nhau thật chặt, chúng tôi nghe mấy chữ: “Đã vào được Ba-lê anh dung”. Ai đã vào? Không cần biết, André đã tắt máy, không để mất một giây nhỏ, vì đã đến giờ tập họp. Một phản ứng sáng suốt đã kềm chế không cho chúng tôi nhảy nhót hò hét vì sung sướng. Qua lỗ khóa, ba tiếng huýt còi nhỏ báo cho Guy biết chúng tôi muốn ra. Chắc không có gì ngoài hành lang nên chúng tôi lập tức nghe tiếng chìa khóa. Một xúc động khác, khi tiếng chìa khóa xoay trong ổ, “Nếu sau cánh cửa là một tên SS hay là một nhân viên dân sự?”. Không, đó chính là Guy, anh không cần sự giải thích, khi chúng tôi nhảy lên bá cổ anh. Để đánh lạc lối về nguồn gốc của tin tức, vì không ai ngăn được những người đầu tiên được nghe chạy đi cho bọn mình hay, rồi đến lượt người nầy tiết lộ, chúng tôi quyết định để cho một nhân viên dân sự thông báo cho một đồng nghiệp và nhiều người trong bọn chúng tôi nghe được câu chuyện.

Nhưng chúng tôi không có gì phải sợ, khắp trại đâu có phải chỉ có một mình chúng tôi là có thể nghe được tin tức, và không có gì chính xác, nhưng với sức mạnh, dư luận khi đến chúng tôi đã trở thành tin Đồng Minh vượt quá Ba-lê rồi và loan báo những đoàn quân tiến rất xa về phía Đông. Dư luận ấy chỉ chậm hơn có vài giờ, vì mỗi ngày lại có tin tiến quân về phía sông Rhin và phía Bắc.

Giống như núi tuyết, tùy theo tin tức, tinh thần chúng tôi không giữ cố định, từ đầu tháng 6 cho đến giữa thánh 9, ngày giờ trôi sao nhanh quá. Khi quân Mỹ dừng lại trước Alx-la-Cha- pells, ai cũng đồng ý là cần có sự chỉnh đốn lại hàng ngũ trước khi mở cuộc tấn công cuối cùng. Mọi người đây là tù nhân vì dĩ nhiên là các nhân viên dân sự cùng làm việc với chúng tôi thì không nghĩ như thế. Một kỹ sư điện, Gustave, vẫn thường nói chuyện với tôi mỗi khi có biến cố lớn và luôn luôn trả lời mọi câu hỏi của tôi đựa trên sự kiện. Những kháng biện còn anh ta có thể làm độc giả một tờ báo hài hước buồn cười, nhưng anh ta nói với tất cả nghiêm trang, rõ ràng. Chuyện đó xảy ra rồi, trước cuộc đổ bộ không thể nào tìm được một công dân Đức tin chuyện đó có thể xẩy ra, nhưng khi cuộc đổ bộ đã được thực hiện, tuyên truyền của bọn Quốc Xã thích ứng mau lẹ với tình hình mới, Vì tôi vẫn trêu Gustave về vấn đề nầy, anh ta trả lời tôi với vẻ quan trọng:

– Bọn tài “phiệt” mạnh hơn chúng tôi về không quân và về hải quân, thế thì tại sao chúng tôi lại tự làm cho tiêu hao ở bờ biển. Bức tường Đại Tây Dương được xây dựng thật, ra là để hãm bớt cuộc đổ bộ, nhưng chúng tôi để chúng tiến thêm vào nội địa, nơi đó chúng tôi có một sức mạnh vô địch. Chẳng bao giờ chúng tiến khỏi được bán đảo Colentin.

Khi Ba-lê bị vượt qua, anh ta giãi bày với vẻ bí mật rằng để biểu dương toàn lực. 2 Von Rundstedt chỉ cần một nửa nước Pháp và từ đó người ta sẽ thấy cuộc tàn sát vô tiền khoáng hậu, vì về bộ binh, năm Sư đoàn Mỹ chưa chắc đã địch nổi được với một sư đoàn SS.

Sau cùng khi Đồng Minh tiến đến biên thùy Đức, anh ta lại xác nhận rằng từ khi bom bay V1 3 được mang ra xử dụng, vấn đề lãnh thổ không còn quan trọng nữa, và trình bày kế hoạch tối hậu của Tống hành dinh của Fuhrer:

1. Nhử các lực lượng Đồng Minh đang đồn trú tại Anh quốc tiến tối đa vào đất Pháp.

2. San bằng Luân-đôn và cả vùng phía Nam nước Anh bằng V1 và loại V2 sắp được mang ra sử dụng.

3. Trong khi bọn Anh và Mỹ bị chẻ ra từng mảnh trước phòng tuyến Siegfried, sẽ có vô số quân dù và các Sư đoàn không vận được đổ xuống nước Anh xảo quyệt.

Và anh ta kết luận:

– Đấy sẽ là sự toàn thắng của Đức quốc.

Đây là một người chấp nhận mỗi sự chiến bại, mỗi cuộc rút lui mới bằng cách dựa vào nguyên tắc, theo đó, nếu Fuhrer đã ra lệnh như vậy, chắc chắn là để nhằm mục tiêu chiến thắng tối hậu. Anh ta không tìm kiếm các lời giải thích khác. Mọi sự thất bại có thể xẩy đến cho Đức đều bị gạt bỏ dứt khoát.

Trước sự ngoan cố như thế, tôi quên mất vị thế của mình, và mất bình tĩnh

– Nhưng, tôi nói với anh ta khi được biết Aix – la – Chapelle coi như đã bị bao vây, anh có giả định rằng một khi cuộc đổ bộ thành công, ba tháng sau kẻ địch của các anh đã đến được bờ sông Rhin không? Hãy nhớ lại giọng điệu báo chí của các anh vào giữa tháng 6 khi loan báo V1 ra đời. Luân-đôn chắc chắn sẽ bị san bằng trong vài tuần nếu không nói là vài ngày. Anh cho rằng bọn Anh sẽ xin ân huệ, nhưng chính họ cùng với người Mỹ đã làm tê liệt hoàn toàn nhiều thành phố của các anh hàng ngày và bây giờ chỉ còn cách đây có 300 cây số. Đó, anh thấy rõ là đã thua, và lợi ích của Đức là đầu hàng.

Tôi dừng lại đúng lúc, vì tôi thấy một tia sáng thú vật lóe lên trong mắt anh ta; tôi đã đạt tới giới hạn của người văn minh. Một lời nói thêm nữa là tôi sẽ làm thức tỉnh con người Đức dã man xưa, vẫn còn tiềm ẩn trong mỗi người Đức hiện tại. May thay cho tương lai của tôi, chính con người có giáo dục trả lời tôi. Nhưng tôi đủ làm thương tổn niềm tin vững chắc của anh ta vì anh ta chạy nấp sau một bức tường như tín đồ nấp vào bóng Chúa.

– Dẫu cho sự thể ra sao, chúng tôi sẽ không bao giờ đầu hàng vì chúng tôi sẽ chiến đấu đến người cuối cùng. Chúng tôi không thể nào chấp nhận thất bại sau biết bao nhiêu nỗ lực và hy sinh. Người Mỹ phải hiểu và sẽ có một sự dàn xếp. – Gần như sắp ngã sụp xuống, – anh ta trở lại giọng châm biếm như một kẻ hấp hối, để nói với tôi vẻ gần như tức giận: “Vả lại họ sẽ phải bắt buộc đi đến một thỏa hiệp tại phương Tây; vì họ đã và sẽ chết bằng hà sa số trước phòng tuyến Siegfried mà họ sẽ không bao giờ vượt qua được. Đó là một kho thuốc súng mà họ sẽ tìm thấy trên mỗi thước đất.

Ngoài các vấn đề gai góc đó, anh ta là một người trung hậu, anh đối xử với chúng tôi như người với người và không bao giờ lợi dụng điều kiện yếu kém của chúng tôi.

Đó đây, cũng có dấu hiệu hèn hạ trong số nhân viên dân sự. Một thợ máy giãi bày với tôi nhân một lần máy bị hư và chúng tôi có thể trao đổi vài lời, anh ta ở vùng Sarre, gần biên giới Pháp, và ông nội anh là người vùng Lorraine. “Tôi không có gì phải sợ cả, tôi có thể chứng minh gốc gác của tổ tiên tôi”, anh ta nói thêm. Vì lẽ ý tưởng chủ yếu nơi người Đức là tất cả mọi công dân Đức đều sẽ bị lên án, nếu không bị Đồng Minh tàn sát. Tất nhiên, nơi kẻ cuồng tín cũng như nơi kẻ hèn hạ, không có một dấu hiệu nào cho thấy có tình trạng vô kỷ luật hay chán nản. Himler, con nhện chúa, đã dệt màn lưới của mình rất kỹ, và Goebbels, người nắm giữ toàn quyền từ sau cuộc mưu sát ngày 20 tháng 74, đã gia tăng số giờ làm việc để giảm thiểu thêm thời gian rảnh rỗi của đồng bào y. Và vào tháng 9 ấy, thành thật, chúng tôi sung sướng hơn bọn lính Đức và nhân viên dân sự làm việc bên cạnh chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy chiến thắng đã gần kề. Bọn Đức thì lại không có gì để tự an ủi; tiếp liệu tổng quát rất tệ! Các thành phố bị oanh tạc, dân tị nạn tràn ngập vùng đồng quê.

——————————–

1Đọc: “Hitler và vũ khí bí mật” – Sông Kiên xuất bản. Sách, đang in.
2Đọc: “Những trận đánh lịch sử của Hitler” – Sông Kiên xuất bản – Sách đã in lần thứ II.
3Đọc: Hitler và vũ khí bí mật – Sông Kiên xuất bản. Sách đang in.
4Đọc “Những trận đánh lịch sử của Hitler” và “Hitler và sứ mạng lịch sử của Skorzeny” – Sông Kiên xuất bản. Sách đã phát hành.

Một trời một biển

vietmessenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 20 Nov 2025

Phần 6. Như cứt trôi sông

Rốt cuộc rồi cũng có ngày bọn Tần, các sinh viên sĩ quan hải quân thuộc lớp Ðệ nhị Hải sư, lọt vào vùng biển Qui Nhơn. Trước mặt chàng bây giờ là căn cứ hải quân thuộc Duyên đoàn 22, cất ngay trên bãi cát. Với phía sau kia là phố xá, nhà cửa, dinh thự chập chùng.

Từ ngoài khơi, cứ nhìn theo hướng mũi tàu là vịnh Qui Nhơn, nằm về phương bắc, nối liền với đầm Thị Nại bao la thụt sâu trong đất liền. Nơi có con sông Hà Giao (tức sông Côn theo tiếng địa phương), nối tiếp theo sông Ba từ trên miền núi, đổ ra. Ở phía đuôi bao lơn vòng đai của vịnh, có núi Phương Mai trông qua hải cảng, với những đụn cát trắng như bông lau ở ven sườn. Gần lại là đảo Hải Minh, với làng dân chài. Ðương thời rất nổi tiếng và được ưa chuộng bởi đám GI. Không kể ở đằng sau lái tàu, còn lờ mờ bóng dáng Cù Lao Xanh, tức Poulo Gambir, mà bọn Tần vừa mới đi ngang qua cách đây không lâu. Ngó qua tả hạm là bãi biển Qui Nhơn nằm xeo xéo theo hướng đông tây, quay mặt về phía nam, chạy dài xa tít đến tận miệt Gành Ráng. Màu cát ngà ngà, gần như vàng chớ không được trắng như những bãi Cam Ranh, Nha Trang, Vũng Rô, Ðại Lãnh. Nhưng nước biển thì ở đâu cũng vậy, một màu thẫm xanh…

Giây phút đầu tiên vừa đặt chân lên miền đất lạ bao giờ cũng mang cho Tần một cảm giác hân hoan, rạo rực. Cho những khám phá mới đang mời mọc đón chờ. Tần bất chợt cảm thấy vui vui.

Qui Nhơn, đối với sự hiểu biết kém cỏi của chàng, là một nơi thường được gọi là xứ Hời. Xứ của dân tộc Hời nhỏ bé xa xưa. Hay là xứ Chiêm Thành của dân tộc Chiêm đã mất. Ðã chìm sâu vào dĩ vãng cùng với tên tuổi của Chế Bồng Nga, hùng cứ một thời. Chỉ để lại mỗi một chuyện tình đẹp như huyền thoại của Huyền Trân công chúa và tướng Nguyễn Khắc Chung. Qui Nhơn, cũng là xứ Bình Ðịnh của vua Quang Trung, một danh tướng cầm quân chưa bao giờ nếm mùi chiến bại. Nơi xuất phát và lưu truyền cho ngàn đời sau những thế võ Ta bí hiểm không thua gì những pho Thiếu Lâm Tự bên Tàu. Ai về Bình Ðịnh mà coi, đàn bà cũng biết múa roi đi quyền. Rồi gần hơn, Qui Nhơn, lại là xứ của “nẫu”. Nẫu về nẫu nhớ ta chăng, ta về ta nhớ hàm răng nẫu cười, nghe cũng “thàng hậu” (nhơn từ, hiền hậu) đến “nẫu người” đi chớ bộ. Và Qui Nhơn, với nhiều địa danh bắt đầu bằng chữ An, như An Nhơn, An Lão, An Túc, An Khê, v. v… Nối tiếp theo xứ Quảng từ xứ đàng ngoài như Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi…

Một vài con hải âu bay lượn quanh tàu như những vong linh của con cháu dân Hời, vẫn đời đời vật vờ sương khói. Lúc nhanh lúc chậm, lúc lơ lơ lửng lửng như đứng một chỗ trên không. Tần bâng khuâng, cảm thấy một chút gì xót xa cho cuộc đời dâu bể, đổi thay.

Ðột nhiên, từ đài chỉ huy chuyển xuống sân mũi theo đường téléphone, một tiếng lập lệnh thật lớn phát ra từ miệng người thủy thủ, đã lôi Tần về với thực tại:

– Thả neo.

Viên hạ sĩ thi hành lệnh, đánh bật chốt giữ dây neo. Những mắt xích to bằng bàn tay xòe, theo sức nặng cả trăm tấn của cái neo tuôn xuống biển rào rào. Sủi bọt tung tóe. Tiếng thép cạ vào thép điếc tai, sởn óc. Từng vệt sơn, lúc đỏ lúc trắng làm dấu trên dây neo, được vị sĩ quan trưởng sân theo dõi kỹ càng. Và liên tục báo cáo về đài chỉ huy.

– Dây xích một đoạn…, hai đoạn…, ba đoạn…, bốn đoạn…

Mỗi đoạn đâu cũng khoảng chín, mười thước. Như vậy lúc dây xích ngừng chạy, tức ngưng báo cáo, đài chỉ huy đã biết qua độ sâu của đáy biển. Bốn đoạn dây xích đứng thẳng xác nhận bốn mươi thước chiều sâu.

Lại có lệnh cho hầm máy:

– Hai máy lùi một.

Những mắt xích lại từ từ chui qua lỗ xích và những đoạn xích được tiếp tục đếm. Dây neo không còn thẳng đứng nữa mà mỗi lúc một lài ra. Dài ra. Nhưng, khi tàu vừa có trớn lùi thì cùng lúc đã nghe lệnh mới từ đài chỉ huy:

– Hai máy ngưng… Giữ chặt dây neo.

Tại sân mũi, một phần lệnh được lập lại:

– Giữ chặt dây neo, thiếu úy!

Thêm một ít thời gian chết nữa, rồi lệnh chính thức mới được ban hành:

– Giữ chặt dây neo!

Tàu trôi đi từ từ một đỗi, kéo luôn cả neo. Và sau cùng, đứng khựng lại. Sân mũi báo cáo:

– Neo cắn. Dây neo hướng 11 giờ, 10 đoạn xích dưới nước.

Trong phút chốc, lại có chỉ thị của đài chỉ huy, qua người thủy thủ lập lệnh:

– Giải tán nhiệm sở vận chuyển.

– Giải tán!

Vừa ban hành lệnh cho nhân viên toàn sân xong, viên sĩ quan trưởng sân phủi tay “rẹt, rẹt” hai cái như rất bằng lòng với cái sứ mạng đã được hoàn tất mỹ mãn của mình: thả neo. Người thủy thủ lập lệnh gỡ ống điện thoại mang ngang đầu, vội vã cuốn dây, kéo chốt cắm. Những người khác tự động tan hàng rút lui, tụt xuống cầu thang dẫn ra sàn chính. Tất cả đang nghĩ đến nhiệm sở mới, quan trọng và hấp dẫn hơn: đi bờ. Ai cũng bận lo lắng cho bóng dáng phong lưu, lãng tử của mình. Áo quần có bảnh bao, đầu cổ có tươm tất hay không?

Chẳng ai thèm để ý đến con tàu đang tiếp tục từ từ trôi, dạt theo một chiều hướng cân bằng nào đó, tùy theo sóng và gió. Ngoại trừ mỗi một người: hạm trưởng. Ông phải tiếp tục theo dõi tình hình. Bảo đảm là lần này neo không tróc, tàu không trôi? Bảo đảm là nơi này không có đá ngầm và san hô dưới đáy? Và bảo đảm là khi kéo neo lên, không phải là chỉ kéo một sợi dây xích tòn teng nhẹ hửng? Ông là người duy nhất, qua kinh nghiệm, phải phán xét và tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi đó!

Vậy mà người đầu tiên rời tàu lại luôn luôn là ngài hạm trưởng mới kỳ! Và thông thường, ông cũng là người xuống sau cùng trước khi tàu chạy!

Tần nghĩ mình đang sống trong cảnh lênh đênh nhàn hạ, dư dả thì giờ. Trước sau gì cũng vô đến bờ, dĩ nhiên, như chạy trời không khỏi nắng. Cho nên tội gì phải hối hả, chen lấn, tranh dành cho được một chỗ đứng trong những chuyến you-you đưa vào bãi ngay bây giờ. Chàng quay lại hỏi bạn:

– Tới Qui Nhơn rồi đó, hai thằng bây tính sao? Ði thăm nơi nào, đi chơi với em nào?

Thắng cười ha hả, nói với Thành:

– Thằng Tần nó đóng kịch khá lắm mầy biết hôn? Trong bụng nó nôn nóng muốn gặp con Phượng như lửa đốt như kiến bò, vậy mà nó cố tình gắng gượng, làm ra vẻ ta đây tỉnh bơ như không có chuyện gì xảy ra hết! Thôi mầy ơi, cái bản mặt mầy rõ ràng trông giống in như là mèo thấy mỡ. Kẹt một cái là mỡ… đang treo giàn bếp. Coi kìa, ừm, thèm rỏ giãi ra đó mà còn làm bộ làm tịch. Chịu thiệt đi thì tao trèo lên lấy xuống cho mà đớp.

Tần trả đũa:

– Chớ mầy thì sao, bộ mầy không nôn nóng muốn gặp mặt con Hằng chắc? Ý mèn ơi, đúng là gà đẻ gà cục tác, ác đẻ ác la. Bụng mình đang đánh lô tô một hai ba, mà còn giả đò nói xiên nói xỏ bạn bè, chán mầy quá!

Thắng cãi:

– Con Hằng chưa là gì của tao hết. Nó đâu có thương mến gì tao, nó cũng chưa tặng bóng tặng hình cho tao tấm nào, tóm lại… nó chẳng hề thân ái mí lại thân tình với tao. Cho đến bây giờ, mặt mũi của nó đẹp như Hằng Nga giáng hạ hay xấu như Chung Vô Diệm tao cũng chẳng hề biết. Còn con Phượng đối với mầy khác, em đã chẳng viết cho mầy mấy chữ “Anh Tần yêu quí của em ơi…” kỳ thư vừa rồi à?

Tần gạt ngang:

– Mầy “cải lương” vừa vừa thôi chớ Thắng!

Thành xen vào:

– Hai thằng bây bàn chuyện trời ơi đất hỡi gì đâu không, trong khi điểm then chốt là cái trường sư phạm Qui Nhơn đang nằm ở chân trời góc biển nào thì hai thằng mầy lại chẳng hề quan tâm tới. Hừ, dẹp ba cái vụ em út của tụi mầy qua một bên đi. Nè, để khỏi làm mất mặt quan tàu, thằng nào muốn kỳ cọ sạch sẽ trước khi đi bờ thì đi theo tao.

Thành vọt xuống cầu thang cabin. Tần nối gót theo sau, tán đồng:

– Ê, có lý đó. Tắm mát một phát trước khi gặp em là thượng sách.

Thắng cũng phóng theo, chụp bắt liền tại trận:

– Ðó, mầy thấy tao nói có sai chút nào không, Thành? “Gặp em, gặp em…” ngay giờ phút này tao bảo đảm đầu óc của thằng Tần chỉ nghĩ đến cô giáo làng tương lai của nó mà thôi. Có chém chết đi nữa cũng quyết không rời. Vậy mà nó nói tao “cải lương!” Tao mà “cải lương” thì nó thuộc hàng “cải bướng,” phải không mậy?

Thành không thèm trả lời Thắng và Tần cũng lặng thinh như hến…

Ngửa mặt đón nhận vòi nước hôi mùi sét, chảy tỏn tỏn từ cái búp sen đóng bợn vàng khè, Tần cảm thấy hơi nóng trong người như chợt bốc ra thành khói. Mờ mờ hơi sương. Cái vòi nước có mở tối đa thì cũng vẫn vậy. Không hơn người ta đái bao nhiêu. Phải biết, nước ngọt dưới tàu bao giờ cũng được xài ở mức hạn chế tối đa. Cho dù mỗi lần ghé bến, cặp cầu hay ủi bãi, đều được tiếp tế đầy đủ. Bốn bức vách, chỉ có ba là thẳng đứng, bức còn lại xiên xiên, nghiêng theo thành tàu. Tạo thành một gian phòng đít nhỏ đầu to. Màu sơn đọt chuối pha lẫn với màu sét của những chỗ hay sét, phần phía dưới hoặc trong góc chẳng hạn, làm nền cho một bức tranh lỗ chỗ, sọc rằn, răng cưa. Vàng chẳng ra vàng, xanh chẳng ra xanh.

Tần đưa tay vuốt tóc, hai vai rồi lần xuống ngực, bụng. Từng giọt nước len lỏi trên thân, mát rượi. Chàng ngậm một búng trong họng, sục sục, rồi phun ra. Nước tắm khác với nước uống trên tàu…

Nếu người ngoài đời giống như người trong ảnh thì phải nói Phượng của Tần rất xinh đẹp, duyên dáng. Ðôi mắt sáng như sao băng và mái tóc dợn đen tuyền óng ả. Má em màu hoa đào và đôi môi mọng thắm. Có lẽ vì phấn son, chàng nghĩ. Bờ vai tròn trĩnh và gò ngực vun cao trong chiếc áo dài màu hồng tươi, tay raglan , rất thời đại. Hàng nút bóp chạy song song theo đường ráp tay, từ cổ chéo trên ngực vòng xuống nách, chập chùng hé mở. Bên dưới cộm lên đường dây áo xú-cheng, ẩn hiện trên làn da. Bức tượng khỏa thân sẽ tuyệt trần nếu ngần ấy xiêm y được cởi ra. Hây hây một mùi thơm con gái. Bỗng, cặp mắt kia như quay lại, liếc chàng trừng trừng vì những ý nghĩ không mấy thánh thiện trong đầu… Tần giựt mình, vói lấy mảnh xà bông thoa nhẹ lên người.

Bên ngoài đã có tiếng hối của Thắng:

– Tắm lẹ lẹ lên Tần, cả khóa đã đi hết vô bờ rồi mà mầy cứ chần chờ, rị mọ ở đó hoài. Bộ mầy không sợ bọn đi trước tụi nó sẽ “cua” mất em của mầy hay sao?

“Cua” cái nỗi gì! Phượng của chàng là hoa đã có chủ, chàng tin tưởng như vậy! Tần đáp vội:

– Xong ngay, xong ngay!

Rồi chàng khóa nước và lấy tấm khăn lớn máng trên móc, lau sơ sịa rồi choàng ngang người mở cửa đi về chỗ nằm. Tiếng ọp ẹp của đôi dép chứa đầy nước mon men theo từng bước chân. Mặc xong chiếc quần lót, Tần lại mở khăn ra lau tóc, lau mặt, lau lưng một lần nữa. Chưa gặp em anh đã nghĩ rằng, có nàng… cô giáo đẹp như trăng … Tần say sưa huýt gió. Rồi lôi bộ đồ mới may, mới bỏ cho ông Quan giặt ủi hồ keo tuần rồi, mặc vào người. Mắt xanh là bóng dừa hoang dại … Chàng soi gương chảy tóc, rẽ đường ngôi. Âu yếm nhìn anh không nói năng … Mang giày. Ðội mũ lưỡi trai, ngắm nghía một lần chót. Xong, Tần lên tiếng:

– OK, đi tụi mầy.

Thắng nhỏm đít đứng dậy, buột miệng:

– Mai mốt chắc tao với thằng Thành phải bỏ mầy đi bờ một mình quá, Tần ơi. Bộ hệ của mầy sửa soạn coi bộ còn lâu hơn con gái.

– Vừa phải thôi Thắng, lần sau tao sẽ để cho mầy tắm sau chót. Rồi coi ai phải chờ ai cho biết. Ðù me, cái nhà tắm nhỏ xíu, bằng không ba thằng mình nhào vô tắm một lượt thì khỏi phải thằng nào chờ thằng nào. Ở chiến hạm mà mầy làm như đang ở quân trường, đòi cởi truồng đi tắm giếng đêm không bằng.

Thành chẳng nói chẳng rằng, đứng dậy đi thẳng lại cầu thang. Thắng và Tần cùng nhau nối gót, leo lên boong. Ánh nắng chiều đã bớt phần gay gắt, phủ xuống vịnh một màu vàng nhạt. Bầu trời trở nên quang đãng, mát mẻ hơn nhiều. Gió nam non thổi lòn hang dế đã đưa mũi con tàu hướng ra biển, trở đít vào bờ. Sợi dây neo là đà mặt nước, căng thẳng. Tiếng sóng róc rách vỗ vào mạn tàu nghe rõ từng cơn. Huấn luyện hạm Quá Giang nhẹ nhàng chao đi, nghiêng lại.

Bộ ba lại tuột cầu thang dây treo lơ lửng bên hông tàu để xuống chiếc you-you . Chiếc ghe nho nhỏ như chiếc thuyền buồm đánh cá, nhưng có gắn máy đàng hoàng, được thả xuống làm tàu đò. Một con thoi xẹt vô xẹt ra nối liền chiến hạm với bến bờ. Mỗi bận có thể đưa đi hoặc rước về tối đa khoảng hai mươi người trở lại, nếu kể luôn cả lớp nào đứng bên cạnh những đứa ngồi trên đà ngang. Nhưng chuyến này có lẽ là chuyến chót, ít hơn, độ chừng mươi, mười lăm tên.

Người thủy thủ chuyên nghiệp (khác với thủy thủ tập sự, lính mới tò te), ngành vận chuyển, có mặc áo phao cẩn thận như một quy ước cần và đủ khi sử dụng you-you, đã cho nổ máy. Khỏi cần vô số, chỉ cần rồ ga là con thuyền lướt nhanh trên mặt biển, phom phom tẽ sóng… Từ ngoài xa nhìn vào, hậu cứ Duyên đoàn 22 ngày hôm nay bỗng nhiên đông dân hơn ngày đại lễ. Với những bộ ka-ki vàng còn thơm mùi vải của những tên hay chịu khó giữ thể diện cho quân chủng và những bộ treillis xanh lá cây nhăn nheo, hôi hám của những tên chỉ thích bụi đời. Lại có một số không phải là ít, dám ngang nhiên vượt hàng rào kẽm gai vòng đai phòng thủ, đang lô nhô kéo thành đàn dọc theo bãi biển, để đi đâu không ai biết. Ra phố bằng đường tắt, Tần nghĩ vậy! Chẳng khác chi những lúc nhảy rào khi ở trong trường.

Ðến chừng lên đến bờ bọn Tần mới vỡ lẽ ra, rằng, con đường tắt đó là con đường dẫn xuống trường sư phạm Qui Nhơn. Trong khi nếu muốn bát phố thì phải đi lối khác, ngõ hậu của Duyên đoàn. Bây giờ kể như khỏi cần phải hỏi thăm ai về đường đi nước bước nữa, vì chỉ cần nối đuôi theo cái đám lâu la, đầu trâu mặt ngựa đi trước đó là được. Bọn nó có trách nhiệm thám thính, dọn đường cho những ai đi sau. Và đã hoàn thành nhiệm vụ. Tần không ngờ có nhiều sinh viên sĩ quan hải quân… mê cô giáo làng đến là như vậy. Tuy nhiên, Tần vẫn hỏi ý hai bạn:

– Sao, tụi mình ra phố hay là xuống trường sư phạm?

Thắng phân vân:

– Ðối với tao, cả hai, cái nào cũng quan trọng và hấp dẫn hết!

Nhưng Thành nói như quyết định:

– Ði xuống trường trước. Rồi tụi mình sẽ tính kế bắt cóc em, dẫn ra phố luôn. Một công hai chuyện, có phải tiện hơn không?

Tần đồng ý ngay:

– Ðúng đó, nhất cử lưỡng tiện! Mà ý cha, coi bộ thằng Thành tính chắc ăn như bắp mậy, Thắng. Không biết con Trâm viết cho nó những gì trong lá thư kỳ rồi mà chuyến này anh chàng coi bộ xông xáo dữ ta!

– Mầy quên rằng mấy thằng gầy gầy là thầy cơm hay sao? Ðừng thấy nó im ỉm mà nói nó hiền là lầm to nghen mậy!

Con đường Nguyễn Huệ dọc theo bãi biển chưa được tráng nhựa, còn lổm chổm những đá với đất. Lối dẫn vào trường sư phạm cũng vậy, không khác gì đường chính. Ði xe hơi cũng dằn, cũng xóc chớ nói gì đến đi xe đạp hay xe gắn máy. Cổng trường nổi bật với hai trụ vuông lớn xây bằng xi-măng cốt sắt, có ngù tròn. Hai cánh cửa làm bằng sắt đặc, sơn đen, dấu vết của thời phong kiến. Với những cây song thẳng đứng, mũi nhọn chĩa lên trời như gươm giáo. Một hàng rào thưa bằng những vòng kẽm gai chạy bọc theo vuông sân, phía trước mặt tiền.

Từ bên ngoài nhìn vào, người ta nhận ra ngay một dãy hành lang thấp, trống lổng trống trơn nhưng có lợp mái, nối liền hai bên hai dãy lầu cao, hai và ba từng. Dãy phía tây có lẽ là phòng học, vắng bóng sinh viên vì lớp học đã tan từ lâu. Dãy phía đông đúng là nơi dành riêng cho khu nội trú, vì nhởn nhơ khắp chốn nào là quần dài áo ngắn, đồ bộ, pyjama, và ngay cả chiếc áo dài thướt tha. Ôi thôi, đủ cả. Ðang sánh vai với hàng hàng lớp lớp áo trận, ka-ki vàng lẫn treillis xanh, đang xông xáo từ đầu căn đến cuối dãy. Rõ ràng hải quân ta đang tấn công, xâm lăng quí quốc của tập hợp cô giáo làng.

Bỗng dưng bị chôn chân, khựng lại, Tần đùa bâng quơ chọc Thành:

– Than ôi, cổng trường xưa giờ đây đã khóa. Anh về đi, em không thèm… đi ra phố với anh đâu. Ðừng hòng vào đây mà bắt cóc. Ê, cái đám côn đồ đó xâm nhập gia cư bất hợp pháp của chị em ta bằng ngã nào vậy cà?

Thắng trả lời gọn bâng:

– Thì phải phóng qua cái hàng rào này chớ còn tìm lối nào nữa. Mầy đừng làm bộ ngơ ngác con nai vàng, nhảy rào là nghề của mầy mà.

Biết không cách gì chui qua các song sắt chật hẹp kia, cũng như không thể nào trèo qua những mũi giáo nhọn lểu vút cao đó, Thắng đã không ngần ngại cho soulier-bas của mình đè lên những đường kẽm gai. Từng bậc, một, hai, ba, bốn, với hai tay vịn vào trụ cổng leo lên. Rồi a-lê-hấp, làm chim bồ nông soãi hai cánh không lông, bay xuống đất. Phịch. Chưa đầy năm phút Thắng đã lọt vào vùng cấm địa… Tần bèn nối gót và Thành thượng đài sau chót. Bộ ba dang hàng ngang tiến sâu vào sân trường. Tiếng con gái chót chét, vang rân bên dãy nội trú. Thành nói:

– Chỉ cần tìm phòng 12 là gặp hết cả bọn.

Tần không tin cho lắm:

– Chưa chắc nghen mậy. Nhìn kia, ở đầu dãy có cái Câu lạc bộ sinh viên nữa kìa. Biết đâu tụi nó đã vào đó với những tên đi tiên phuông, ra công khám phá chốn địa đàng.

Thắng chen vào:

– Ðâu có chuyện gì kỳ cục như vậy chớ. Nếu mấy em hành động, đối đãi với bọn mình theo kiểu “nớ” thì còn chi tình với nghĩa!

Thành phân vân:

– Giỡn hoài, thằng Tần nói có lý đó. Bọn con Trâm, con Phượng và Hằng có thể sốt ruột vì chờ tụi mình quá lâu không thấy tới, rồi bèn đi ké với bạn bè của nó với lũ trôi sông lạc chợ kia. Nguy hiểm quá, coi chừng trễ tàu, đi lẹ lẹ lên tụi mầy…

Thắng đoan quyết:

– Hứ, tao bảo đảm chẳng hề gì mà! “Bò” của mình đã đóng dấu, dẫu có đi lạc ở chốn nào đi nữa thì mình cũng sẽ nhận ra!

Tần chộ:

– Thôi mầy ơi, tao với thằng Thành đây còn có tấm hình của em làm kiểu, vậy mà tao vẫn cứ thấy em nào cũng giống như em nào. Bổn phận mầy không có cái mốc xì gì dính bóp hết thì cũng đừng nên làm tàng. Ðến như con Hằng dẫu có đứng tiếp chuyện ngay trước mặt mầy bây giờ, chưa chắc mầy đã nhận biết nó là ai, đẹp xấu ra sao.

Trong bộ ba, có lẽ Thắng là người nôn nao, hồi hộp hơn ai hết. Vì chàng đang phải đoán non đoán già coi Hằng của mình sẽ giống con giáp nào. Với giọng văn ấy trong thư chắc chắn nàng phải thuộc vào loại nhỏ con, nhí nhảnh, chót chét. Chàng cũng không mong rằng Hằng sẽ là Tiên nga giáng trần hay Tây Thi tái thế, nhưng ít ra cũng phải làm ơn coi cho được được một chút cho Thắng nhờ. Ðừng làm chàng vỡ mộng, thốt lên hai tiếng than ôi! Lạy trời, chàng thầm bấm đốt ngón tay cầu nguyện. Bọn thằng Tần thằng Thành không cho Thắng coi hình cô giáo của bọn nó chắc chắn phải có nhiều lý do! Một trong những lý do đó có thể là con Phượng và con Trâm không được nhan sắc cho lắm. Chàng lại đoán mò. Bí mật này trước sau gì cũng bật mí, không chóng thì chầy…

Nhưng bây giờ, trước cửa phòng 12, đối diện với Thắng là cả một lũ con gái, năm bảy đứa trông… còn con nít trân. Có một gương mặt nhí nhảnh, búng ra sữa, dám cả gan bạo mồm lên tiếng:

– Xin lỗi, vậy chớ mấy anh định muốn tìm ai hỉ?

Thắng bỗng sợ sệt, ngại ngùng, nhìn Thành và Tần cầu cứu. Thành lúng túng đại diện:

– Hì hì, ba đứa tụi tôi đây định tìm ba cô có ám hiệu là 12 T., 12 P. Phở và 12 H.! Chẳng hay mấy cô ấy có ở nhà không vậy cô?

Ðột nhiên, có người chạy lại nắm tay Tần, thỏ thẻ:

– Anh Tần, em là Phượng nè. Bộ anh không nhận ra em sao?

– Ô, Phượng! Ý mèn ơi, Phượng của anh đây hả? Ðúng rồi, người sao mà… không khác chi trong tranh, ủa, trong ảnh gửi cho anh.

Thật vậy, Phượng đẹp và sáng mát như trong hình gửi cho Tần. Chàng lấy làm mãn nguyện. Trong khi đó Trâm cũng nhận ra Thành, hai bên nói cười vui vẻ như đã quen nhau từ kiếp nào. Duy chỉ thiếu một người mà Thắng đang mong đang đợi. Tội nghiệp anh chàng vì chưa nhận được tấm hình nào làm chuẩn, nên cứ ngó dáo dác tìm tòi rồi sốt ruột hỏi:

– Trong các cô, xin lỗi, có ai là Hằng của Thắng tôi đây không? Làm ơn lên tiếng giùm coi?

Lẽ dĩ nhiên có người đẹp đáp lời sông núi ngay, nhưng không phải để trả lời cho Thắng mà ngược lại, tống thêm cho chàng một câu hỏi nữa:

– Anh Thắng ơi, răng anh có thấy anh Ðức của Vân ở mô không? Nếu anh cho Vân biết anh ấy đang ở mô thì Vân mới chỉ chỗ bọn ni dấu con nhỏ Hằng cho anh đi tìm, nhá?

Thắng hỏi tới:

– Ðức nào? Phải Ðào Khiết Ðức không? Chắc nó cũng sắp tới đây ngay bây giờ đó. Kỳ này bọn anh đi cả khóa mà, không sót một tên…

Ðúng là thân trai mười hai bến nước, không thiếu một bến nào, Thắng nhủ thầm trong bụng. Vì ngay cả thằng Ðức sắp cưới con Hạnh ở chợ Phường Củi, Nha Trang, vậy mà cũng còn chơi thư từ với em gái hậu phương ở Qui Nhơn thì rõ quan tàu ta đa tình thiệt. Nhưng, có lẽ Ðức đã không tìm tới đây, vì Thắng lơ mơ nhớ ra rằng bộ tam-xên của Thắng là ba tên trong những đứa rời tàu sau cùng. Thôi, cũng không nên tiết lộ chuyện này làm chi, Thắng tiếp tục lo lắng cho số phận mình:

– Rồi sao, không ai thèm đá động gì đến chỗ dấu cô Hằng của tôi như lời hứa à?

– Xí, Vân nói là Vân sẽ làm mờ! Nhưng với điều kiện là bây chừ xin anh Thắng của em làm ơn nhắm mắt lại đi. Mau lên. Nhắm kín hỉ, không ăn gian hỉ.

Chờ cho Thắng thi hành mệnh lệnh xong, Vân chõ mỏ vào trong làm bộ réo:

– Hằng ơi, hãy thức dậy đi, đừng ngủ nữa. Mi hãy mau mau ra đây để gặp anh Thắng của mi nghe không…

Cả bọn con gái cười khúc khích. Chờ một lát, Vân tiếp:

– Bây chừ anh Thắng có thể mở mắt ra được rồi…

Thắng làm theo lời nói và ngạc nhiên thấy khung cảnh trước mặt mình như không có gì thay đổi hết. Bị con nít gạt? Hình như cũng chỉ ngần ấy mấy cô nhóc tì này! Nhưng Vân chỉ tay vào cô bạn đứng kế bên, vừa cười vừa giải thích:

– Hí hí, Vân ni mới là Vân thiệt… Còn Vân ni là Vân giả, Vân giả chính là Hằng của anh… Á, á…

Mặc cho nàng la oái oái, Thắng ôm chầm lấy Hằng rít lên trong mừng rỡ:

– Trời ơi, sao em lém lỉnh quá vậy Hằng! Em không sợ anh bị đứng tim chết bất tử hay sao, hả?

– Thả Hằng ra đi, làm ơn thả Hằng ra đi anh Thắng!

– Cho đáng kiếp, cho mi đáng kiếp…

Cả bọn con gái lau nhau hò hét, vỗ tay ầm ĩ. Thành và Tần cũng đều hết sức ngạc nhiên với cái kết cuộc rất là đẹp đẽ cho Thắng. Vì Vân, không Hằng mới phải, chính ra là người có nhan sắc nhất trong đám. Khuôn mặt trái soan hao hao giống đào Thanh Nga hồi còn nhỏ. Bao nhiêu ước mơ của Thắng như đã thành tựu trong phút chốc đến nỗi chàng thật không ngờ. Thắng lơi vòng tay buông Hằng ra, hỏi:

– Sao, tụi anh mời hết mấy em… mấy cô, mấy “chị” đi phố chơi, có ai chịu đi không? Luôn thể làm hướng dẫn viên chỉ giùm đường đi nước bước, chớ tụi này mới đến đây lần đầu, bảo đảm chẳng ai biết “mô” là “mô” đâu nghen!

Phượng của Tần cho ý kiến:

– Ði xuống phố đâu có gì vui anh Thắng! Phố ở đây nhỏ tí tẹo hà! Nếu muốn đi xuống phố thôi thà để đi qua Câu lạc bộ bên này còn sướng hơn. Nơi các anh nên đi thăm có lẽ là khu Gành Ráng. Khu sáu, Qui Nhơn được chia ra làm sáu khu mấy anh biết không? Có dịp viếng mộ nhà thơ Hàn Mặc Tử cho biết với người ta. Phong cảnh nơi đó cũng hữu tình, tuy hơi xa. Còn các anh nếu muốn đi thăm di tích lịch sử thì nên đi thăm thành Ðồ Bàn, cách đây khoảng hai mươi lăm cây số ngàn về phía bắc! Nhưng các anh có chịu dừng bước giang hồ, ở lại đây một hai ngày hay không đây?

Tần xen vào:

– Tụi anh nào có đủ thì giờ cho các mục lớn lao đó! Nè, vậy chớ ở đây không có những quán nhạc du dương, diễm tình, với những cái tên rất là bay bổng theo kiểu Chiều Tím, chiều nhớ thương ai … như ở Nha Trang của tụi anh sao?

Trâm của Thành đáp lễ ngay:

– Thì cũng có Mây Mùa Thu, mây giăng khắp lối … Nhưng mà thôi anh ơi, những nơi đó thường hay xảy ra lắm chuyện ồn ào. Chỗ dành riêng cho mấy ông lính mới đi hành quân về thì anh phải biết…

Thấy không thể dễ dàng bắt cóc mấy cô giáo làng ngay ở giây phút ban đầu, Thành quyết định:

– Nói tới nói lui rồi cũng chẳng đi đến đâu hết, hay là mình kéo nhau qua bên Câu lạc bộ kiếm gì giải khác trước đi rồi sẽ bàn tính lại sau, đồng ý không?

Hằng tán thành:

– Có lý hỉ! Ði! Ði chơi luôn với bọn ni nghe bà Vân?

Vân có ý chờ đợi Ðức, người tình trong mộng của mình, cho nên vùng vằng nửa muốn nửa không:

– Hay là các anh sang bên ấy trước đi, tụi em còn phải thay đồ. Luật ở đây cấm sinh viên mặc đồ bộ hay bà ba khi tiếp khách, cần phải mặc áo dài cho đàng hoàng tử tế với người ta…

Hằng giẫy nẩy:

– Thôi bà ơi, sao dạo ni bà sợ “con heo” Ngư Trương dữ rứa? Mấy anh ni đến thăm bất ngờ chứ nào phải mình có hẹn hò gì trước đâu nờ?

Thắng hỏi:

– Gì mà “con heo” Ngư Trương, nghe ghê vậy?

Vân giải thích:

– Ậy, cái con nhỏ Hằng này bạo mồm thật! Ngư Trương là tên của bà tân giám thị mới lên thay thầy Lưỡng ấy! Mụ ta mới ra trường năm ngoái thôi, rồi chẳng biết lo lót ra sao mà được bổ nhiệm về đây. Mụ chỉ trước tụi nầy một hai khóa chớ mấy, cho nên mụ biết tẩy hết những mánh khóe bê bối của dân nội trú. Thế là mụ ta bắt chẹt đủ điều, làm chẳng ai ưa mụ nổi. Hai chữ “con heo” là để thay thế hai chữ Công Huyền của mụ đó. Công Huyền Tôn Nữ Ngư Trương…, cái tên của mụ nghe sao mà dễ ghét!

Thắng ôn tồn:

– Thì ra vậy! Nhưng lần này chắc không hề gì đâu, có quan tàu tới mà. Vả lại, biết đâu bà Ngư Trương đó không những đã thư từ qua lại mà lại còn gắn bó sắt son với một đàn anh của tụi anh? Kệ, cứ làm tới đi. Ăn mặc như vầy đã ra vẻ cô giáo làng quá rồi còn đòi hỏi gì nữa, phải hôn Thành, Tần?

Thành phụ họa theo:

– Ừa, thôi đi…

Câu lạc bộ chật ních những người. Với những bàn vuông nho nhỏ trong gian phòng rộng lớn cũng hình vuông. Ồn ào hơn người ta nhóm chợ. Nửa lính tàu, nửa em gái hậu phương. Lác đác đó đây một vài cánh áo dài, chắc là đi đâu mới về. Còn hầu hết là quần tây áo sơ mi hoặc đồ bộ, áo thêu quần thêu, đủ màu đủ kiểu. Không khí vui nhộn, cười đùa vang rân. Dân chạy bàn càng thêm hối hả… Vì đã gần đến giờ cơm chiều, nên Thành định kiếm cái gì dằn bụng, chàng gợi ý:

– Ai muốn ăn gì ăn, ai muốn uống gì uống, cứ tự nhiên kêu đi nghen. Còn phần tôi, tôi ăn phở.

Tần biểu đồng tình:

– Tao cũng đớp phở luôn cho tiện.

Thắng vòng vo:

– Có lý! Tụi mình phải nếm qua phở xứ Hời này một lần cho biết mùi vị với người ta! Ðể rồi còn so sánh với phở Chutt của xứ thùy dương của mình nữa chớ tụi mầy. Chỉ sợ ở đây độc nhất có mỗi tái nạm gầu mà không có phở gà thì cũng hoài công thôi!

Và đúng là xui xẻo như lời Thắng mở hàng, phở gà không nằm trong thực đơn của Câu lạc bộ. Chỉ có phở bò. Ðành phải sống tạm qua ngày. Rồi không biết vì cần phải giữ gìn cho thân hình vóc hạc xương mai của mình ngày càng thêm liêu trai hay là sợ hết phở, bởi chủ thầu nấu không kịp thở với một số đông thực khách đến bất thình lình như vầy, cho nên mấy nàng tập tễnh làm cô giáo làng đã kêu toàn thức uống: xá xị, coca cola, hoặc nước trái cây… Nhưng, đang ăn uống nửa chừng bỗng dưng có tiếng còi hụ của xe chữa lửa ỏm tỏi ngoài sân! Rồi chẳng bao lâu có tiếng “quân cảnh tới, quân cảnh tới…” xì xào ngoài hành lang!

– Thôi rồi, chuyến này “con heo” ta định làm lớn chuyện rồi! Mụ dám nhờ đám cố vấn Mỹ can thiệp lắm!

Chỗ Tần ngồi gần ngay cửa nên chàng ngó mông về phía cổng trường. Ðúng vậy, xe quân cảnh có tới thật! Hơn thế nữa, tiếp theo xe cần câu chạy trước, còn có một chiếc mui trần gắn súng đại liên chạy sau. Sẵn sàng nã đạn vào những ai dám ngang nhiên nhảy ra cản đường phi lộ. Làm như Việt cộng tấn công vô thành phố không bằng. Tần chặc lưỡi, trấn an em út:

– Không hề gì mà, chẳng lẽ bọn dùi cui đó dám bắt hết tụi anh sao. Chỗ đâu nhốt cho đủ? Vả lại tụi anh chỉ đến đây thăm viếng thân hữu các em thôi, chưa có làm chuyện gì quá đáng thì làm gì phải sợ. Cứ ăn uống tự nhiên bình thường đi, hơi sức đâu mà lo chuyện không đâu!

Nhưng Thắng bỗng xen vô:

– Ô kìa, có mấy ông xếp lớn của mình đến nữa kìa. Hình như có thiếu tá Giám đốc Quân huấn Võ An Xuân nữa! Ai cho ổng hay mà ổng tới lẹ quá vậy ta? Có ổng đứng ra điều đình, can thiệp thì mọi chuyện kể như xong rồi. Dân chơi cầu ba cẳng mà, ổng đâu có ngán mặt nào!

Vừa ăn vừa ngó, tô phở đâm ra mất ngon, Tần thấy vậy. Từ trong khu cố vấn nằm bên cạnh Câu lạc bộ, một phái đoàn bốn năm người, đàn ông lẫn đàn bà và Việt Nam lẫn Mỹ, đang băng qua sân cỏ túa ra nghênh đón. Ðến nơi, kẻ giơ tay người huềnh chân, kẻ gãi đầu người chống nạnh coi bộ ra vẻ hăng say bàn cãi. Sau một hồi sôi nổi, mọi chuyện như ngã ngũ đâu vào đấy. Vì mạnh ai về nhà nấy, kể cả những người quân cảnh làm trung gian. Lệnh truyền miệng gấp rút lan dần đến Câu lạc bộ: Tất cả các sinh viên sĩ quan hải quân phải rời trường ngay lập tức!

Ngay lập tức? Vừa phải thôi! Thành phần thứ ba đã cuốn gói ra đi thì còn ai kiểm chứng việc thi hành lệnh đây chớ? Chắc phải tin tưởng vào lòng tự trọng của các bạn sinh viên sĩ quan hải quân ta thôi! Có lẽ vậy! Mà nói cho ngay, cũng không một ai thèm ở lại cái trường này thêm một phút giây nào hết. Vì mục đích của mấy chàng là đến đây, quyết đem bàn tay anh hùng nghĩa hiệp của mình cứu vớt hay mua chuộc các nàng ra khỏi lầu… cao, thế thôi. Ấy vậy mà nhiều nàng lại không chịu từ bỏ cấm cung hoang giá của mình nữa, mới kỳ. Bởi sau buổi tiệc sơ giao đạm bạc ở Câu lạc bộ, Hằng và Phượng như cố tìm cách thối thoát, từ chối lời mời mọc của Thắng và Tần. Ðể hai chàng, rốt cuộc, đành phải dẫn thân cu ky, cùng nhau lủi thủi lang thang xuống miệt Gành Ráng chơi cho đỡ buồn. Chẳng dám theo phá đám đôi uyên ương như đã chờ đợi từ kiếp nào, Trâm và Thành, đang hồi sẵn sàng cùng nhau cấu xé. Ai mà nỡ làm kỳ đà cản mũi bạn bè…

Chính vì thế mà đêm hôm đó, Tần và Thắng trở về tàu ngủ. Tần chán nản:

– Biết như vậy tao đương thèm theo mấy con nhỏ đẹp đẹp? Bọn nó ỷ mình có nhan sắc một chút là đã nuôi cao vọng, muốn nhìn lên. Coi tụi mình chẳng ra cái thể thống nào hết. Cuối cùng rồi cũng như nuôi ong tay áo nuôi khỉ dòm nhà, chẳng có sơ múi gì ráo trọi. Một lần đi Qui Nhơn là một lần khó, mầy thấy hôn? Cái thằng Thành vậy mà tốt số. Gặp con Trâm làng nhàng, đẹp không ra đẹp xấu cũng không đến nỗi xấu, coi bộ dễ vô. Ðến bây giờ mà thằng Thành chưa mò về thì tao bảo đảm với mầy hai đứa nó đêm nay sẽ ngủ lại ngoài bãi. Nè, mầy nhắm coi có bao nhiêu cô giáo làng tương lai đang hoặc sẽ trở thành đàn bà?

Thắng phân bua:

– Ối, sướng ích gì ba cái lẻ tẻ đó, thằng Thành đang chơi trò chơi ú tim, chết người thì có! Lạng quạng con Trâm bắt cóc và nắm luôn cả cuộc đời của nó bây giờ chớ mầy đừng tưởng. Chỉ cần tặng cho em một cái bầu tâm sự là hết đường chạy nghen mậy. Lương tâm lính tàu coi vậy chớ mà lớn. Bao la như biển rộng sông dài. Với lại ông bà thường hay nói gái ham tài, trai ham sắc, bọn nó có cái sắc còn bọn mình coi như thiếu cái tài… tán gái! Thôi, hãy ngủ đi, lấy sức cho ngày mai mình còn nhổ neo, tiếp tục cuộc hải hành nữa chớ. Thân anh hai quần, mười hai bến nước, mười ba bến tình mà, bến này đâu phải là bến cuối mậy!

Bến cuối? Tần mơ màng mỉm cười với chính mình trong bóng đêm vì câu hỏi bất chợt đó! Ðối với chàng, bây giờ, làm gì có cái bến cuối ở đất Qui Nhơn này! Chẳng qua là chàng đang tiếc hùi hụi cái công trình của mình đã nắn nót viết hàng tá những bức thư du dương lãng mạn, ân ái mặn nồng cho một mối tình hụt hẫng. Vừa chụp bắt được thì đã tan ngay như sóng biển chạm vào bờ. Phượng ơi, sao em cao sang đẹp đẽ làm chi cho tầm tay anh không với tới. Ðể rồi thân em như cứt trôi sông, còn anh như con chó chổng mông trên… tàu …

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 20 Nov 2025

21. Ra khỏi chuồng người

 Sau trại Kà Tót hắc ám đầy những cái chết dễ dàng như “chiếc lá buồn cành rơi xuống đất” là trại Sông Mao. Cái trại thứ hai nhốt hàng ngàn sĩ quan sau 75 là một trại khổ sai lao động, chứ chẳng phải là trại cải tạo con mẹ gì cả. Trại có cái tên rất ư là dễ ghét: “Tổng Trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao“. Trên toàn nước Việt Nam dưới mầu cờ đỏ, chẳng có cái trại nào VC lấy cái tên thù hận như vậy. Giấy ra trại của tôi còn y nguyên cái tên đó với chữ ký của trung tá VC Võ Như Loan. Trong thời gian tẩy não mà đảng ta gọi là cải tạo, có một cái chuyện tréo cẳng ngỗng làm tôi nhớ mãi.

Số là trong một buổi trưa hè, cả 4 khối trong trại A chúng tôi chia nhau tập trung 4 chỗ cách nhau không xa, để bắt đầu bài học quan trọng đầu tiên: “Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân thế giới, và là kẻ thù số một của dân tộc Việt Nam“. Chủ đề bài này có vẻ lẩm cẩm và cay cú bỏ mẹ. Thôi học thì học. Ngày học đầu êm ả trôi qua.

Truớc giờ học, các trại viên phải vỗ tay hát các bài hát “Kéo pháo qua đèo“, “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”… hằm bà lằng. Hát phải hát cho to. Khi hát nhỏ, anh điều khiển hát tập thể vừa hát, vừa hét “to lên!”. To cái chó nào được khi sĩ quan VNCH có thằng nào kéo pháo 122 ly của VC qua đèo đâu! Có thằng nào “Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây” đâu! Và có thằng nào hành quân với “Bác” đâu mà cứ rống “Bác cùng chúng cháu hành quân“? Hành quân hồi nào? Thiệt là trẹo họng. Mà không hát thì bỏ mẹ với “Bác” với Đảng! Chỉ có cái bài “Ôi Tổ quốc ta đã nghe lời sông núi” là phe ta hét to nhất. Nó thăm thẳm chiều trôi cái nghĩa thầm kín dấu trong lời ca, chìm sâu vào đáy lòng của những kẻ bại trận.

Lúc ở khối 4 chúng tôi còn ê a, chưa vào đề tài, dưới cái nắng chói chang của trời Sông Mao, phái đoàn của Trung Đoàn VC do trại trưởng thượng úy Hào từ cổng đi vào trại, hướng về khối 2 Đà Lạt. Cả khối 2 ngưng hát và chuẩn bị bắt đầu hô khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc Mỹ” theo lệnh quản giáo như mọi ngày trước khi bắt đầu bài học.

Chẳng biết trời xui đất khiến làm sao, một tiếng hô dõng dạc của người bắt giọng vang cả trại từ khối 2: “Đả đảo cộng sản!” Tiếp theo là tiếng hô hàng loạt: “Đả đảo! Đả đảo!” Rồi tất cả khựng lại ở lần thứ 3. Toàn trại nặng nề, im lặng. Các sĩ quan Việt cộng, các chính trị viên, quản giáo bất ngờ đứng yên như trời trồng. Tôi đá giò thằng bạn bên cạnh nói nhỏ:

– Khối 2 nhậu gan trời!

– Nhậu con mẹ gì! Thằng hô khẩu hiệu thấy cán bộ đến gần nên líu lưỡi hô lộn. Chắc toàn khối 2 lãnh cái búa chiều nay! Ngon thiệt!

Thượng úy Hào tiến vào khối 2:

– Chúng tôi biết mà! Các anh đến lúc này mà còn gồng mình chống cách mạng! Khối 2 nghỉ sinh hoạt bữa nay chờ lệnh tôi!

Về sau tôi biết là toàn khối bị làm kiểm điểm, điều tra, kể cả những ông ngủ gục giật mình đưa tay “đả đảo” sảng mà không biết thằng bạn mắc dịch của mình nó hô cái gì, cứ nghe đả đảo là cả đám ngủ gục giật mình hô đả đảo theo cho nó đồng bộ, đến khi tỉnh ra biết mình đang ở tù VC thì đã lỡ rồi. Đây là một thứ vạ miệng tập thể trong tù.

Ngày tôi được tạm tha, ra khỏi trại cùng mấy thằng bạn chân đứa nào cũng đi trên mây, lãng đãng, phiêu bồng như hút xì-ke. Cũng con đường đó hàng ngày đi nặng trịch hai bàn chân lao động, mà bây giờ nó lại thênh thang như Tề Thiên đói bụng vội vàng đằng vân bay về động Hoa Quả. Cái lệnh tha bằng bàn tay năm ngón sao mà linh thiêng như có phép mầu.

Vừa ra khỏi cổng trại, tôi bỗng thấy tấm thân mấy mươi ký nó nhẹ đi, nó bềnh bồng như mấy con muỗi Kà Tót, lại cái cảnh “kinh cung chi điểu”, thấy bộ đội VC đi ngược chiều bỗng sợ nó chận và lôi vô trở lại trại; nhớ chuyện Khối 2 hô đả đảo, bụng cũng muốn hô to một phát cho hả giận, nhưng mồm lại bảo đừng làm cái chuyện hại đời trai trong tay giặc. Thế là bọn tù thoát cũi kẽm gai cứ rảo bước xa dần trại mà đứa nào hai chân cũng muốn mọc cánh bay như chim.

Ra đến chợ Sông Mao, cả bọn rủ nhau hùn tiền mua kẹo đậu phọng, sốt ruột không chờ được xe Lam ra quốc lộ 1, bọn tôi vừa đi vừa nhai kẹo. Trời ơi! Con đường đất hang ổ đủ loại, từ ổ gà đến ổ voi từ ga Sông Mao ra Chợ Lầu hôm nay sao nó thơ mộng tuyệt vời! Mỗi bước chân tù mới thả ra là mỗi bước thần tiên lên tiên cảnh.

– Ê mày! Gom tiền chui vô quán chơi một ly cà-phê!

– Cà-phê sao phê bằng chè trôi nước trong chợ Phan Thiết!

– Chợ Phan Thiết sao được? Tao về Phan Rang mà!

– Lại đôi ngả chia ly rồi! Thôi bỏ chuyện cà-phê, chè trôi nước đi! Tụi mày mỗi đứa có đủ tiền xe đò không? Chia nhau cho đủ rồi chia tay! Xa quê hương, nhớ vợ hiền thấy bà tổ thì lo về gấp cho rồi!

Chúng tôi bịn rịn chia tay. Ba thằng xuôi Nam về Phan Thiết, hai thằng mới quen khi ra trại bắt xe đi hướng Bắc về Phan Rang.

Từ Chợ Lầu vô đến Phan Thiết, cảnh vật xác xơ, xa lạ dưới mầu cờ đỏ. Dường như tôi có cái cảm giác của Trần Dần khi xưa, nhưng cay đắng hơn, tủi nhục hơn. Xe qua Hậu Quách, những người dân Chàm bơ thờ như ngày Chế Bồng Nga thất trận. Xe qua Xóm Ruộng, rồi Lương Sơn, cả một xã trù phú trước 75, nay như hoang phế vô hồn.

Lương Sơn một thời là nơi sản xuất hạt dưa, mè cho những ngày Tết; bắp hột, đậu, mè tấp nập tải vô Phan Thiết, Sài Gòn, nay co mình trong cát bụi. Xe vô Suối Nhum rồi Sông Lủy, một trạm gác thu thuế với công an áo vàng nằm ngay ngả 3 quốc lộ 1 và đường vô ga. Tôi giật bắn người khi xe bị chận lại xét giấy tờ và kiểm soát nông phẩm.

Thân phận của người vừa ra tù chỉ dựa mong manh vào cái lệnh tha, không biết nó có đủ linh thiêng để hộ trì bọn tôi về tới Phan Thiết hay không. Mấy năm xa cách, đổi đời, đổi chủ, tôi không rõ mặt mũi cái thành phố thân yêu một thời có còn như xưa, hay cũng xác xơ như những thôn xóm vệ đường, nhưng dù gì thì nó cũng thôi thúc người về vô cùng.

Hú hồn! Chẳng ai bị hỏi giấy. Xe lại chạy. Chiếc xe đò như một con rùa, cứ chạy một đoạn lại bỏ người, một đoạn lại bốc người, tôi sốt ruột nhìn con đường thu ngắn dần qua Bàu Ốc, Cây Táo. Tôi nhìn lên cao điểm phía Đông của đơn vị Địa Phương Quân quen thuộc khi xưa, gợi nhớ trong tôi những tang thương của cuộc chiến. Rồi căn cứ pháo binh Nora hoang phế, rồi Long Thạnh, rồi Tà Dôn vách núi lạnh lùng.

Khi xe đò vượt qua Tùy Hòa rồi Phú Long, tôi mới thấy một chút sinh động trong mấy cái quán chợ lèo tèo. Tôi bỗng thèm một đĩa bánh hỏi thịt quay nổi danh một thời của xứ này, ruột cồn cào vì đói. Đói là cơn ác mộng của người tù. Một niềm hạnh phúc lâng lâng trổi dậy trong tim khi gió mát từ cánh đồng ruộng muối thổi vào da thịt, và hình bóng chiếc lầu nước nhoi lên từ thành phố xa xa. “Ta vẫn sống! Ta đã về!”

Tôi muốn hét to khi xe qua ngôi trường cũ, trường Phan Bội Châu thân yêu còn chôn giữ bao nhiêu kỷ niệm của tuổi học trò. Niềm vui bỗng chợt biến tan khi mắt tôi nhìn lên mầu cờ đỏ giữa sân trường. Cả một đất nước đi xuống cả một đất nước đổi thay, cả một cuộc đời rách bươm theo từng manh áo tù, chỉ còn lại cái thứ mà tôi cảm thấy không thay đổi là mấy viên chè trôi nước! Tôi như con chim chờ bay ra khỏi lồng. Cái lồng tạm giam tôi từ Chợ Lầu về Phan Thiết là chiếc xe đò cổ lổ x. Khi nó ngừng đổ người ở ga xe lửa Phan Thiết thì tôi phóng ra xe và ba chân bốn cẳng chạy về nhà. Thằng bạn cùng đi với tôi theo hụt hơi, càm ràm:

– Ông nội! về tới đây ai còn bắt nữa đâu mà đi như ma rượt vậy?

– Ừa! Tao chẳng hiểu sao cái cẳng tao nó như “không người lái“, nó như muốn bay không hà! Tao nói thiệt, tao mà có nghề như Đoàn Dự thì tao đã về tới nhà từ khuya rồi!

– Rồi còn cái vụ chè trôi nước mày nói khi còn ở bến xe Chợ Lầu thì sao?

– Chết rồi! Mày không nhắc chắc tao quên! Đi với tao!

Ba thằng tù mới ra lò cải tạo, mặt mày xanh xao, áo quần rách rưới như quân Cờ Đen thua trận, xăng xái đi như bay qua cầu Quan, vượt công trường Cộng Hòa trước nhà sách Vui Vui, vượt đường Gia Long, cắt vô Đinh Tiên Hoàng rồi phóng vô chợ Phan Thiết. Cái đói, cái thèm ngọt nó làm bọn tôi quên cả nhìn những con đường phố quen thuộc, quên cả buổi tao phùng với vợ con.

– Chết mẹ! Cái hàng bán chè trôi nước đâu mất rồi!

– Ngọt thì cái nào cũng ngọt! Qua chỗ kia ăn chè đậu!

– Đâu được! Chè đậu xanh không phê bằng chè trôi nước!

Tôi hỏi thăm mấy người trong chợ và sau đó là “hội ngộ” với một gánh chè trôi nước trong góc chợ. Mấy bà trong chợ nhìn bọn tôi với cái nhìn vừa thương, vừa tội nghiệp:

– Chắc mấy cậu mới được thả?

– Dạ! Vừa thả ra muốn bay ngay về nhà nhưng thèm chè hết biết. Tụi tui chui vô đây rồi tới đâu hay tới đó!

– Tội nghiệp!

Mấy thằng tôi vét hết tiền còn lại trong túi và xã láng với mây viên chè. Trời ơi! Tuyệt vời! Ngon, ngọt, phê hết chỗ chê! Lúc này, “Với tôi tất cả đều vô nghĩa. Tất cả không ngoài nghĩa chè trôi nước!” Mấy viên chè trôi nước đã giữ chân bọn tôi cả mấy tiếng đồng hồ trong chợ Phan Thiết. Đến khi hết tiền rồi thì cả đám mới sực nhớ cái cảm giác “xa quê hương, nhớ vợ hiền.”

Tôi chào bà bán chè, từ giãvà quay lại hai thằng bạn:

– Tụi mày đã chưa? Hết biết! Thôi chia tay từ đây! Hổ về nhà gấp để vợ chờ!

– Ra tù có ai biết ai hay đâu mà chờ ông nội!

Chúng tôi chia tay, không gặp nhau từ đó. Mấy tháng sau, sống với gia đình, không có hàng rào kẽm gai, không có quản giáo, nhưng chẳng được đi đâu, cứ trình diện định kỳ, được công an “viếng thăm” bất định kỳ, không có mặt ở thành phố là khốn nạn với những câu hỏi của “bạn dân vô sản“. Lâu lâu công an thu giấy tạm tha về đồn giữ vài ba hôm, thế là thằng nhỏ phải tự giam mình trong nhà với cơn ác mộng từng đêm, mất ăn, mất ngủ. Dưới chế độ ưu việt của đảng ta, ra đường không có một miếng giấy lộn là chuyện giỡn mặt nhà nước vô sản, là tai họa trùng trùng, là lưỡi gươm “bác” Hồ treo tòn teng trên cổ!

Chưa hết, mấy cơn sốt rét Kà Tót nó cứ nhớ tình xưa nghĩa cũ trong rừng Kà Tót nên thăm viếng hoài hoài, nó như cái đồng hồ cột theo tấm lịch, đúng 20 ngày nó nổi phong ba một phen, nó vật thằng nhỏ từ giường xuống đất, từ đất lên giường, nó cho mùa Đông băng giá vào xương, rồi đùng một cái, nó trở mặt, nó thổi mùa Hè cháy thịt vào da, nó oánh thằng nhỏ tơi bời hoa lá. Cơm cá, chè trôi nước, đường tán, đường phèn gì… vợ “bồi dưỡng” 2 tuần, nó đánh tan tành trong một buổi lên cơn, không cần AK, lựu đạn, không cần B40, B41.

Trận chiến chấm dứt sau khoảng 3 tiếng đồng hồ quằn quại, thằng nhỏ tung mền bước xuống giường bỗng té cái bịch như đứa con nít mới biết đi, da thịt buổi sáng hồng hồng đôi chút, buổi chiều bỗng tái mét, xanh lè, đi từng bước trong nhà phải vịn tường, mặt mày phờ phạc, ngu ngơ, mất hết thần khí. Ôi thời oanh liệt nay còn đâu!

Những buổi vợ còn dạy mấy giờ cuối ở trường PBC về trễ, ngoài chuyện bò ra sau bếp nấu cơm và gậm từng thẻ đường Quảng Ngải đen như cứt bò, thằng nhỏ còn phải lần mò ra phố mua thuốc. Chuyện đầu tiên là khóa cửa, lò mò băng qua đường Trần Quí Cáp, vịn tường Tòa Giám Mục của Đức cha Nghi, lần theo đường Đồng Khánh. Mỗi bước “chân ngà mệt mỏi” của chàng đo được non hai gang. Chỗ nào không tường thì vịn gốc cây, mệt nghỉ. Một lần qua nhà anh Vĩnh Giên ở đường Đồng Khánh, bỗng nghe một giọng Huế quen thuộc bên tai:

– Trời đất ơi! Sao mà thê thảm vậy?

– Anh Vĩnh Giên! Anh khỏe không? Còn tôi, sốt rét Kà Tót nó thăm hồi xế!

– Cô Lương đâu?

– Còn trên PBC!

– Sao không nói cổ dạy bớt giờ để về sớm săn sóc chồng?

– Dạ tụi tui đâu dám giỡn mặt nhà nước, đảng đoàn?

– Sao kỳ vậy? sốt rét mà đi kiểu này có ngày trúng gió lăn quay!

– Trúng hay trật gì thì cũng không quan trọng bằng lời phàn nàn của nhà trường!

– Họ phàn nàn ra sao?

– Họ phê bình cô Lương rằng từ ngày chồng cô cải tạo được đảng và nhà nước khoan hồng cho về nhà, cô Lương không còn “hồ hởi, phân khởi” trong các buổi học tập như xưa. Cô Lương không “năng nổ” trong các giờ dạy, lấy cớ chuyện gia đình xin nghỉ nhiều hơn. Phải có lý do! Có thể cô bị ảnh hưởng tư tưởng phản động chưa gột rửa hết trong thời gian cải tạo của chồng cô. Họ cóc cần biết tôi bị sốt rét ác tính ra sao. Họ phán với bà xã tôi như vậy thì bố tôi cũng không dám xúi vợ xin nghỉ! Tình cảnh này, có chết là tôi tự chết ở nhà.

Tôi còn dặn bà xã tôi là tuyệt đối không chở tôi đi nhà thương. Ở nhà tôi tự trị, cứt mèo, cứt chó gì người ta bảo đốt uống hết bịnh, tôi cũng uống xã láng, may ra còn sống lâu một chút, đem lên nhà thương, mấy ông y sĩ cách mạng trị thì còn đi sớm hơn là cái chắc! Đời mấy thằng “ngụy” tụi tui bây giờ là cỏ rác, là cát bụi mà..!

Anh Vĩnh Giên trầm ngâm:

– Sẵn xe, leo lên Honda tôi chở đi cho! Mà đi đâu?

– Tiệm thuốc tây Bình Thuận ở đường Gia Long! Mà thôi anh đi đi! Tôi lò mò cũng tới chỗ mà! Tôi ngồi xe anh ôm không chặc té tôi cũng chết. Mà người ta để ý thấy anh chở tôi… không chừng anh cũng chết! Thôi anh đi đi!

Sống cái cảnh này thì thằng nhỏ chịu đời sao thấu! Những tưởng được “thoát cũi sổ lồng“, nhưng khi ra khỏi cũi thì lại thấy vẫn còn ở trong cái lồng to hơn cái cũi, cái lồng oan nghiệt bị theo dõi và dòm ngó kỹ càng hơn, truy áp hơn, căng thẳng hơn và tai họa cho gia đình hơn.

Mấy tháng sau, đêm nào trong giấc ngủ chờn vờn cũng có sóng nước đại dương và chiếc ghe vượt sóng, lớn cũng có, nhỏ cũng có, 1,2,3 block đầu bạc, đầu đen, đầu đỏ gì cũng có, nó thúc giục ban ngày, nó réo gọi ban đêm. Chỉ có ra khỏi Việt Nam, ra khỏi cái quê hương tù ngục này thì may ra cuộc đời mới sống được, và lại nữa, may ra mới có phương tiện đánh gục mấy triệu quân sốt rét plasmodium tràn ngập trong máu tôi, hành hạ tôi định kỳ.

Tôi âm thầm thực hiện chuyến ra đi như trong mơ… và chuyến đi đầu tiên đó, vợ chồng, con cái, anh em đã cùng tôi dắt díu nhau chui vô tù, trong đó có cả một đám bạn bè từ Sài Gòn. Đúng là số con dế!

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 19 Nov 2025

Từ suy cổ nghiệm kim qua thú chơi sách.

Suy cổ nghiệm kim nói nôm na là thế nào? Và nói rộng ra có thể là: Noi theo cái đã biết cũ mà tìm và nghiệm xét cái chưa biết hiện nay, – vấn đề trải rộng quá, làm sao dám bao trùm nói cho đủ cho vừa tai mọi người? Thôi thì, hãy tạm cậy tuổi già nay đã 92, cứ nói và mặc mỗi người tự xét và cho riêng ý kiến …

Tôi chẳng qua là một kẻ sống sót, không khác một ngựa được về tới mức, trong khi các tuấn mã đã rớt rơi bỏ cuộc … và thảy đều là mộng mà thôi.

Cái tạm gọi là “văn minh”, theo tôi ngu xét, tôi cho là bắt đầu từ nước nhà đang yên ổn, đang theo dõi một giấc kê vàng, bỗng bị người da trắng cậy có súng bắn xa, đến hiếp cướp và đem lại đây, từ tàu đồng đến trực thăng, tàu

bay lẹ hơn chớp v.v .. kể xưa kia, đường biển tàu máy chạy thẳng thét trên hai tháng mới nối liền Sài Gòn tới hải cảng Marseille của Pháp, nay chiếc Boing thâu gọn Sài Gòn – Paris rút ngắn không đầy hai ngày v.v .. nhưng bao nhiêu phát minh tivi, vidéo, nguyên tử gì gì đó, chỉ đáng chấm và xem trọng, như thánh Gandhi đã nói, là cái quay tơ xe chỉ và chiếc xe đạp cộc kệch … ngoài ra máy truyền hình, truyền tiếng, chỉ là tai hại, trẻ bỏ học chữ, giỏi theo ông Tề, múa ra bộ và báo hại hàng rào tre trúc bị rút cắp, làm thước bảng mang làm đại thánh, và phim Ba Tàu Hồng Kông càng hốt bạc càng gieo hư đồi tai hại, ích gì?

Lạ thay, hôm nay viết không thấy hứng, bèn nhảy qua vấn đề “Thú chơi sách”. Ba chữ “Thú chơi sách”, nhớ lại năm cũ, lúc còn ở Sốc Trăng, mươi ngày trước, tức ngày nên nhớ 9 Mars 1945, có hai nhà văn tự Sài Gòn xuống diễn thuyết về “cái hay của Hát Bội” và đó là ông Đoàn Quan Tấn, hội trưởng Hội Khuyến học Nam Kỳ cùng đi với cử nhơn Sorbonne, Hồ Đắc Thắng, buổi ấy xuống tỉnh nhỏ nầy do lời mời của đốc phủ sứ, chủ quận quận châu thành, Sốc Trăng, hai ông khách quí cũng không xa lạ, đều là bạn quen nhau cùng một hội, lấy danh Hội Khuyến học, để che giấu mục đích kín và gầy dựng lối viết và tư tưởng theo lối mới, truyền bá chữ quốc ngữ, mà kỳ trung là chống khéo phong trào dùng chữ Pháp của nhà cầm quyền Tây.

(viết ngày 4-3-1993)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 19 Nov 2025

Bài 38

Đảo Quỷ – Chiếc ghe của Deiflus

Đảo Quỷ là hòn đảo nhỏ nhất trong quần đảo Salut. Cũng là hòn đảo nằm cao nhất về hướng Bắc, bị sóng gió vùi dập phũ phàng nhất. Qua một khoảng hẹp bằng phẳng chạy dài dọc bờ biển là phải leo lên một cái dốc đưa tới một bãi bằng, trên đó đặt trạm gác của bọn giám thị và một phòng giam độc nhất cho hơn mười tù nhân. ở đảo Quỷ, chính thức mà nói, không có tù khổ sai về hình sự mà chỉ có những bị án giam hoặc lưu đày vì những lý do chính trị.
Họ sống mỗi người ở riêng một căn nhà nhỏ mái tôn. Cứ đến thứ hai, họ được phát thức ăn sống cho cả tuần, mỗi người một ổ bánh mì. Họ có khoảng ba mươi người. Người đảm đương nhiệm vụ y tá trên đảo là bác sĩ Léger, đã đầu độc cả gia đình, ở Lyon hay vùng phụ cận gì đó. Các tù chính trị không liên hệ với tù khổ sai, và thỉnh thoảng họ lại viết thư về Cayenne phản đối tù nhân này nọ ở đảo. Thế là tù nhân đó bị đưa về đảo Royale.
Một đường dây cáp nối đảo Royale với đảo Quỷ, vì nhiều khi biển động, tàu ở Royale không ra đây cập vào bến xi-măng được.
Chánh cai tù ở đây (có tất cả ba người gác) tên là Santori. Đó là một người to lớn, quen thói ở bẩn, râu thường để đến tám ngày không chịu cạo. 
– Papillon, tôi hy vọng anh xử sự cho đúng đắn ở đảo Quỷ này. Anh đừng kiến chuyện với tôi, tôi sẽ để anh yên. Anh về trại đi, tôi sẽ gặp anh tại đấy.
Tôi thấy ở phòng giam có sáu tù nhân khổ sai: hai người Tàu, hai người da đen, một người dân Bordeaux và một người vùng Lille. Một người Tàu biết rõ tôi, vì đã bị giam chung với tôi ở Saint Laurent về tội giết người. Đấy là một người dân Đông dương, còn sống sót sau vụ nổi loạn ở Côn đảo.
Anh ta vốn là tay cướp biển chuyên nghiệp, thường tấn công các ghe mành và đôi khi giết cả thủy thủ lẫn gia đình chủ ghe. Anh ta là kẻ cực kỳ nguy hiểm, nhưng lại có một cách sống chung với tập thể được ai nấy tin cậy và mến thích. Anh dùng tiếng Pháp bồi chào tôi:
– Papillon, khỏe chứ?
– Còn anh ra sao, Chang?
– Khỏe. ở đây dễ chịu lắm. Anh ăn với tôi. Anh ngủ đây, cạnh tôi. Tôi, nấu ăn ngày hai lần. Anh, bắt cá. Đây, cá nhiều lắm.
Santori đi tới:
– à, anh đã thu xếp chỗ ở xong rồi hả? Ngày mai anh và Chang cho heo ăn. Chang mang dừa tới, còn anh, anh lấy rìu bửa dừa ra làm đôi. Phải dành riêng những trái dừa non cho heo con vì chúng không có răng. Bốn giờ chiều, các anh vẫn làm việc ấy. Ngoài hai giờ làm việc, sáng một giờ, chiều một giờ, anh được tự do muốn làm gì trên đảo thì làm. Ai đi câu được phải đưa một ký cá hay tôm hùm góp vào bếp của tôi. Vậy cho mọi người vui vẻ. Thế có được không?
– Thưa ông Santori, được lắm.
– Tôi biết anh là dân chuyên vượt ngục, nhưng ở đây thì vô phương nên tôi không phải lo. Ban đêm các anh bị nhốt nhưng tôi biết có người vẫn cứ ra được.

Cẩn thận đối với các tù chính trị đấy. Người nào trong bọn họ cũng có dao phát rừng. Anh mà đến gần chỗ họ ở, họ tưởng anh đến ăn cắp gà hay trứng, anh có thể chết hay bị thương, vì họ trông thấy anh được, còn anh, anh không thấy được họ.
Sau khi cho hai trăm con heo ăn, mỗi ngày tôi đi với Chang khắp đảo. Anh biết tường tận tất cả các xó xỉnh trên đảo. Một ông già, có bộ râu bạc dài, gặp chúng tôi trên con đường đi quanh đảo, ven bờ biển. Đó là một nhà báo ở Tân Đảo đã viết tốt cho bọn Đức, chống lại nước Pháp, trong chiến tranh 1914. Tôi còn gặp thằng đểu đã làm cho Edith Cavell – cô nữ y tá người Anh hay Bỉ đã cứu các phi công Anh năm 1917 – bị xử bắn. Nhân vật kinh tởm này, to béo mập mạp, tay cầm một cái gậy, quật một con cá lịch dài tới một thước rưỡi và to bằng bắp đùi tôi.
Cả ông bác sĩ đảm đương nhiệm vụ y tá cũng ở trong một túp nhà nhỏ chỉ danh cho các tù chính trị. Ông bác sĩ Léger này là một con người cao lớn dơ dáy và lực lưỡng. Chỉ có mặt ông là còn sạch, tóc ông đã hoa râm, để rất dài rủ xuống cổ và thái dương. Bàn tay ông đỏ mọng từng mảng vì những vết thương chắc là do víu vào các mỏm đá ở biển, mãi vẫn chưa được lành hẳn.
– Anh cần gì, cứ đến hỏi tôi, tôi sẽ cho. Có bệnh hãy đến. Tôi không ưa ai đến thăm tôi và càng không ưa ai đến nói chuyện với tôi. Tôi bán trứng và cả gà con, gà trống và gà mái. Nếu anh mổ trộm được một con heo nhỏ, mang cho tôi một đùi sau, tôi sẽ trả anh một con gà và sáu quả trứng. Anh đã đến đây rồi thì cầm lấy cái lọ một trăm hai mươi viên thuốc ký ninh này. Chắc anh đến đây để vượt ngục, vậy thì nếu phúc tổ cho anh đi được, anh sẽ cần đến nó để sống ở rừng đấy.
Sáng và chiều, tôi câu được hằng hà sa số cá phèn ở dưới các mỏm đá. Ngày nào tôi cũng gửi cho bếp của cai tù ba đến bốn ký. Santori tươi hẳn lên. Chưa bao giờ lão ta nhận được nhiều loại cá khác nhau lẫn tôm hùm như thế. Có những lúc, nước xuống, tôi lặn mò được đến ba trăm con tôm hùm.
Ngày hôm qua, bác sĩ Germain Guibert đến đảo Quỷ. Biển lặng, ông đã đi cùng vợ và thiếu tá chỉ huy trại Royale. Người đàn bà đáng phục này là người phụ nữ đầu tiên đặt chân lên đảo Quỷ. Theo lời thiếu tá, cũng chưa có thường dân nào đặt chân lên đảo này. Tôi đã được nói chuyện với bà một giờ đồng hồ. Bà đi với tôi đến chiếc ghế dài mà Dreyfus* xưa kia vẫn thường ngồi nhìn ra biển cả, nhìn về phía nước Pháp đã hắt hủi ông. 
(*Dreyfus Alfred, sĩ quan Pháp gốc Do Thái, Năm 1890 bị đưa ra tòa án binh vì tội “gián điệp”, rồi bị đày ra quần đảo Salut. Đến năm 1906 mới được thanh minh và phục hồi danh dự. Vụ án này đã làm chấn động dư luận toàn nước Pháp hồi ấy và gây nên những cuộc tranh luận và xung đột dữ dội giữa những người có tư tưởng cấp tiến bênh vực Dreyfus và những người có xu hướng bài Do Thái. Nhà văn Emile Loa đã viết một bài báo nổi tiếng bài “Tôi tố cáo” bênh vực Dreyfus bằng những lý lẽ đanh thép và một vãn phong nảy lửa đầy sức thuyết phục – ND). 
Bà xoa tảng đá và nói: Giá tảng đá này có thể nói cho chúng ta biết những ý nghĩ của Dreyfus nhỉ… Papillon này, chắc chắn đây là lần cuối cùng chúng ta gặp nhau. Vì anh có nói với tôi rằng anh sắp thử vượt ngục một chuyến nữa. Tôi cầu Chúa cho anh được thành công. Tôi yêu cầu, trước khi anh đi, anh ngồi một phút trên tảng đá tôi vừa xoa tay vào, và cũng xin anh xoa tay vào đấy để vĩnh biệt.
– Thiếu tá cho phép tôi được gửi bằng dây cáp, một ít tôm hùm và cá cho bác sĩ, mỗi khi tôi muốn, Santori cũng đồng ý.
– Vĩnh biệt bác sĩ, vĩnh biệt bà.
Trước khi tàu rời khỏi bến, tôi chào cả hai người một cách rất tự nhiên. Bà Guibert mở to mắt nhìn tôi, vẻ như muốn nói: “Hãy nhớ mãi đến chúng tôi vì chúng tôi cũng không bao giờ quên anh”.

Chiếc ghế của Dreyfus ở tận mỏm phía Bắc của đảo cao hơn mặt biển đến trên bốn mươi mét..
Hôm nay tôi không đi câu. Trong bể cá thiên thiên, tôi còn hơn một trăm ký cá phèn và trong một cái thùng ton-nô bằng sắt, được neo bằng xích, còn hơn năm trăm con tôm hùm. Tôi có thể nghỉ câu. Tôi đã có dư để gửi cho bác sĩ và để dành cho Santori, cho anh người Tàu và cho tôi. Lúc đó là năm 1941. Tôi ở tù đã mười một năm.
Tôi đã ba mươi lăm tuổi. Tôi đã sống những năm tươi đẹp nhất trong đời tôi trong phòng giam, hoặc ở xà-lim. Tôi chỉ sống tự do hoàn toàn được bảy tháng với bộ lạc Anh-điêng của tôi. Những đứa con mà tôi đã có với hai người vợ Anh-điêng bây giờ đã tám tuổi. Thật khủng khiếp! Thời gian trôi qua nhanh đến vậy? Nhưng nhìn về phía sau, tôi vẫn lặng ngắm những giờ những phút chịu đựng kéo dài của khoảng thời gian đó, khoảng thời gian đã được khắc sâu trên con đường đau khổ. Ba mươi lăm năm rồi! Montmartre, quảng trường Trắng, quảng trường Pigalle, khoảng sân khiêu vũ ở Triều Hoa viên, đại lộ Clichy, đâu cả rồi? Đâu rồi em Nenette với bộ mặt y như Đức mẹ, thật sự là bức tranh chạm nổi, có đôi mắt đen mênh mông tràn đầy tuyệt vọng nhìn tôi đăm đăm, đã kêu tôi giữa phiên tòa: “Anh đừng lo, em sẽ đến tận đấy theo anh”?. Đâu rồi, luật sư Raymond Hubert với lời an ủi: “Chúng ta sẽ được trắng án”? Đâu rồi, mười hai cái bị thịt trong ban bồi thẩm? Đâu rồi bọn cớm ấy? Ngài biện lý? Ba tôi và các em gái tôi, đã lấy chồng trong cảnh chiếm đóng, giờ đây đang làm gì?
Bao nhiêu chuyến vượt ngục! Thử tính xem bao nhiêu chuyến rồi.
Chuyến đầu tiên, khi tôi đánh gục bọn cai và tù ở bệnh viện trốn đi. Chuyến thứ hai ở Colombia, từ Rio Hacha đi: chuyến đi đẹp nhất. Chuyến đó tôi thành công mỹ mãn. Tại sao tôi lại bỏ bộ lạc của tôi nhỉ. Một cảm xúc yêu đương mãnh liệt làm toàn thân tôi rung động. Tôi rùng mình, mường tượng như trong thân thể tôi còn giữ lại những cảm giác mà tôi đã được thể nghiệm những khi làm tình với hai chị em cô gái Anh-điêng. Rồi chuyến thứ ba, thứ tư, thứ năm và thứ sáu ở Baranquilla. Những chuyến vượt ngục này chỉ toàn chuyện rủi ro. Rồi mưu toan trốn tập thể trong buổi lễ mi-sa, thất bại một cách thảm hại! Cái chuyến thuốc nổ hư và chuyện cái quần cậu Clousiot bị vướng vào mái tôn. Rồi cái liều thuốc ngủ tác động quá chậm! Chuyến thứ bảy ở đảo Royale, bị thằng xỏ lá Bébert Celier tố cáo. Không có nó, chắc chuyến ấy có thể thành công. Giá nó câm mẹ cái mồm nó đi, chắc tôi và anh bạn Carbonieri khốn khổ của tôi đã được tự do. Chuyến thứ tám, chuyến cuối cùng, ở nhà thương điên. Sai lầm, một sai lầm lớn của tôi, là đã để cho anh người ý chọn điểm hạ thủy. Nếu xuống phía dưới chừng hai trăm mét nữa, chỗ gần lò sát sinh, chắc thả bè dễ hơn nhiều.
Chiếc ghế dài này, nơi Dreyfus vô tội bị án tù, mà vẫn can đảm sống được, nhất định phải giúp cho tôi được việc gì. Không bao giờ được chịu thua! Phải thử làm một chuyến vượt ngục nữa. Phải, tảng đá nhẵn, trơn, nhô lên trên vực thẳm chỉ có đá bị sóng dập liên tục này phải trở thành một sự nâng đỡ về tinh thần và một tấm gương đối với tôi. Dreyfus không bao giờ chịu để tinh thần bị suy sụp, ông luôn luôn đấu tranh đến cùng để được khôi phục danh dự. Quả Dreyfus có một ưu thế đã làm được Emile Zola bênh vực với bài: “Tôi tố cáo” nổi tiếng. Tuy vậy nếu ông không phải là con người đã được tôi luyện thì trước bấy nhiêu nỗi bất công chắc chắn ông đã từ chiếc ghế này gieo mình xuống vực. Ông đã chịu đựng được.
Tôi không thể kém Dreyfus, và tôi phải từ bỏ ý nghĩ vượt ngục với phương châm: thắng hay là chết. Tôi phải bỏ hẳn chữ chết, vì chỉ được nghĩ rằng tôi phải thắng và phải được tự do. Trong khi ngồi trên chiếc ghế của Dreyfus, tâm hồn tôi lang bang nghĩ đến quá khứ, mơ tưởng đến tương lai tươi đẹp. Mắt tôi thường bị lóa vì ánh nắng chói chang, vì ánh phản quang màu bạch kim của những ngọn sóng.

Cứ nhìn biển mãi mà không thực sự nhìn thấy nó, tôi dần dà biết được tất cả những thay đổi thất thường có thể tưởng tượng được của những lớp sóng cuộn theo chiều gió. Đều đều, không mệt mỏi, không thay đổi, biển cả cứ tấn công vào các mỏm đá nhô ra khỏi đảo xa nhất. Nó sục sạo, mài mòn, đập vỡ những tảng đá nọ, như muốn nói với đảo Quỷ: “Mi cút đi, mi phải biến mất đi, ta muốn xô vào Đất liền mà mi cứ làm ta vướng víu, mi chặn đường đi của ta. Vì vậy, hàng ngày, không phút nào ngơi, ta phải tước đi từng chút ít một của mi”. Khi có giông bão, biển thả sức vui vẻ hoành hành. Nó không chỉ lao tới, và khi rút ra, cào hết tất cả những gì nó đã đập phá được, mà hơn thế nữa, có còn chui rúc, len lỏi đưa nước vào tất cả các ngõ ngách để dần dà, từng chút một, xói mòn ngầm những tảng đá khổng lồ đang có vẻ như quát vào biển: “Cấm đi qua đây, cấm qua chỗ này”.
Và tôi đã khám phá ra một điều quan trọng. Ngay dưới chỗ ghế của Dreyfus, sóng xô thẳng vào những tảng đá sống trâu này, tấn vào, tan ra và rút đi vôi một sức mạnh hung hãn. Hàng tấn nước không tung tóe ra được vì bị kẹt giữa hai tảng đá hình móng ngựa rộng chừng năm, sáu mét. Sau đó là vách đá ngựa rộng chừng năm, sáu mét. Sau đó là vách đá dựng đứng, cho nên nước theo sóng vào chỉ có một đường thoát là quay ngược lại, rút ra khơi.
Điều này rất quan trọng vì nếu khi sóng bị tóe ra và lùa vào vực thẳm, tôi từ trên mỏm đá ôm một bao trái dừa lao thẳng xuống đấy, thì chắc chắn, không nghi ngờ gì cả, là nước rút sẽ cuốn tôi ra theo.
Tôi biết chỗ có thể kiếm ra vài cái bao tải, ở chuồng heo muốn có bao nhiêu để đựng dừa cũng có. 
Việc đầu tiên là phải làm thử đã. Vào những ngày trăng tròn, lúc nước thủy triều lên cao nhất, thì sóng cũng mạnh nhất. Tôi sẽ chờ một đêm như thế. Một bao tải nhét đầy trái dừa còn cả vỏ xơ, đã khâu kỹ lại, được dấu trong một cái hang mà muốn vào đấy phải lặn xuống nước. Tôi tìm ra nó lúc lặn mò tôm hùm. Tôm hùm bám vào trần hang, không khí chỉ lọt được vào hang khi nước xuống. Trong một bao tải khác được chằng cùng với bao đựng trái dừa, tôi bỏ một tảng đá nặng chừng bao mươi lăm đến bốn mươi ki lô. Vì tôi tính tôi sẽ vượt ngục với hai bao tải chứ không phải một, mà tôi thì cân nặng bảy chục ký, cho nên tỷ lệ như vậy là tương đương.
Thí nghiệm này kích thích tôi rất dữ. Không ai đến phía này của đảo bao giờ. Cũng không ai giờ rằng có người lại chọn nơi bị sóng dập mạnh nhất, nghĩa là nơi nguy hiểm nhất, để vượt ngục.
Nhưng đây lại là địa điểm duy nhất mà, nếu tôi rời được bờ, tôi sẽ được sóng đưa ra khơi và không thể nào lại đâm đầu vào đảo Royale được. Chỉ ở đây chứ không phải ở đâu khác, tôi sẽ ra đi. Những bao tải đựng dừa và hòn đá không dễ mang vác Tôi không sao kéo nó lên mỏm đá được. Đá trơn và lúc nào cũng ướt. Tôi đã bàn với Chang, và anh ta đã đến giúp tôi. Anh mang cả bộ đồ nghề câu cá, dây câu ngầm, để lỡ bất ngờ gặp ai, chúng tôi có thể nói là chúng tôi đi đặt lới bẫy cá mập.
– Bắt đầu đi, Chang. Một chút nữa là xong.
Trăng rằm chiếu sáng vằng vặc như ban ngày. Tiếng sóng ầm ầm làm tôi choáng váng. Chang hỏi tôi: “Anh đã sẵn sàng chưa Papillon? Cho nó theo lớp sóng này đi. Cột sóng cao năm thước, thẳng đứng ập xuống bờ đá. Chân sóng xô vào phía dưới chúng tôi mạnh đến nỗi ngọn sóng vượt qua cả mỏm đá, làm chúng tôi bị ướt hết. Nhưng nó cũng không ngăn cản chúng tôi ném các bao tải đúng lúc hình thành xoáy nước trước khi sóng rút ra. Hai cái bao tải bị cuốn đi như một cọng rơm.
Tốt rồi, Chang, thế là xong.  Chờ xem bao tải có trở về không.
Năm phút sau, tôi rụng rời cả người khi trông thấy bao tải của tôi ở trên đỉnh một lớp sóng ngầm cao ngất, đến sáu bảy mét bị đưa trở vào bờ. Sóng nâng túi dừa vào tảng đá như không có nghĩa lý gì. Nó đưa những thứ đó lên trước ngọn sóng, khoảng trước bọt nước một chút, với một sức mạnh phi thường, sóng đã trả nó về chỗ nó bắt đầu bị cuốn đi, đập vào đá vỡ tan thành, bao tải rách bươm ra, mấy quả dừa bắn tung ra khắp nơi, còn tảng đá thì lăn xuống đáy vực.
Chang và tôi đều ướt thấu xương, bị đẩy ngã, may mà ngã về phía đất liền. Cả người chúng tôi bị xây xát và ê ẩm. Chúng tôi không buồn nhìn ra phía biển mà vội rời cho thật nhanh cái nơi đáng nguyền rủa này.
– Không tốt đâu, Papillon. Cái ý vượt ngục ở đảo Quỷ không tốt đâu. ở Royale hơn. Anh đi từ phía Nam hơn ở đây.
Phải, nhưng ở đảo Royale, việc vượt ngục chỉ hai giờ sau là nhiều nhất, sẽ bị lộ. Các bao tải đựng dừa chỉ đi được nhờ sức sóng đẩy, tôi sẽ bị ba chiếc tàu ở đảo quây bắt được liền. Còn ở đây, thứ nhất là không có tàu thứ hai, chắc chắn tôi vượt ngục, sau người ta tưởng tôi đi câu bị chết đuối. ở đảo Quỷ, không có điện thoại. Nếu tôi đi lúc trời xấu, không tàu nào có thể đến được đây. Vì vậy tôi phải từ ở đây đi. Nhưng ra đi bằng cách nào?
Giữa trưa, trời nắng chang chang. Một thứ nắng nhiệt đới làm cho đầu óc muốn sôi lên. Một thứ nắng thiêu cháy mọi thứ cây cỏ đã nảy mầm được nhưng chưa lớn đến mức đủ sức đương đầu với nắng. Một thứ ánh nắng mà chỉ trong vài giờ cũng đã làm cho các vùng nước biển không sâu quá phải bay hơi chỉ còn lại một lớp muối trắng. Một thứ ánh nắng làm cho làn không khí chao đảo như nhảy múa. Đúng, ánh nắng chuyển động thật sự trước mắt tôi, và ánh nắng phản chiếu trên mặt biển làm tôi rát bỏng cả mắt. Tuy vậy, lúc ngồi lại trên chiếc ghế của Dreyfus, tất cả những điều đó không ngăn tôi tiếp tục quan sát mặt biển. Lúc bấy giờ tôi mới thấy tôi quá ư là ngốc. Con sóng ngầm, cao gấp hai lần tất cả các con sóng khác, con sóng đã ném các bao tải của tôi vào đá, làm nó tan vụn hoàn toàn, con sóng này chỉ thỉnh thoảng mới có. Tôi tính kỹ thì thấy cứ sáu đợt sóng bình thường mới có một đợt sóng ngầm dữ dội như vậy. Từ giữa trưa đến lúc mặt trời lặn, tôi quan sát xem thử có phải đều đặn như thế không, có những thay đổi gì không, nghĩa là xem thử có gì không đều trong chu kỳ và hình dáng con sóng khổng lồ này không.
Không, không một lần nào con sóng ngầm đến trước hay đến sau. Cứ sáu đợt sóng cao chừng sáu mét kéo vào, thì cách bờ hơn ba trăm mét, con sóng ngầm lại hình thành. Nó đến thẳng đứng như chữ I. Càng tới gần bờ, nó càng tăng khối lượng và chiều cao. Không có bọt sóng ở trên ngọn, khác hẳn sáu con sóng kia. Rất ít bọt. Tiếng sóng cũng đặc biệt, giống như tiếng sấm rền đang tắt dần từ xa. Khi sóng xô vào bờ đá, ập vào khoảng giữa hai tảng đá nọ, rồi đập vào vách, khối lượng nước của nó lớn hơn của các con sóng khác, nó bị tắc lại, quay lộn nhiều lần trong hốc đá và mất mươi mười lăm giây những cuộn nước xoáy mới tìm được lối thoát và rút ra, cuốn theo những hòn đá to cứ lăn đi lăn lại, ầm ầm như tiếng hàng trăm chiếc xe chở đá được đổ xuống vực một cách thô bạo.

Tôi bỏ độ một chục quả dừa vào một cái bao tải tôi tống một tảng đá nặng độ hai mươi ki-lô vào đấy và con sóng ngầm vừa xô vào đá, tôi ném bao tải xuống. Mắt tôi không trông theo được bao tải vì có quá nhiều bọt nước trắng trong vực xoáy, nhưng tôi cũng thoáng thấy nó trong một giây, khi nước như bị hút mạnh, băng băng kéo ra ngoài khơi. Bao tải không bị đẩy trở lại. Sáu con sóng kia không đủ sức ném nó vào bờ và khi con sóng thứ bảy hình thành, cách xa chừng ba trăm mét, cái bao tải hẳn đã vượt ra ngoài cái vùng con sóng ngầm bắt đầu hình thành, vì tôi không còn nhìn thấy bao tải ấy đâu nữa.
Lòng chứa chan vui mừng và hy vọng, tôi đi về trại. Thế là tôi đã tìm ra một cách hạ thủy thật hoàn hảo. Không được phiêu lưu trong việc này. Thế nào tôi cũng cần phải thử một lần cho nghiêm chỉnh hơn, với những số liệu tương ứng một cách chính xác với bản thân tôi: hai bao trái dừa buộc chặt vào nhau, và ở trên là bảy mươi ki-lô được phân đều cho hai hay ba tảng đá. Tôi kể cho Chang. Và anh bạn Tàu của tôi ở Côn Đảo đã giỏng tai ra nghe.
– Tốt lắm, Papillon ạ. Tôi cho thế là anh đã tìm được cách rồi. Tôi sẽ giúp anh làm thử thật sự. Chờ nước thủy triều lên cao tám mét: sắp đến điểm phân mùa rồi.
Được Chang giúp đỡ, lợi dụng điểm phân mùa, có con sóng cao hơn tám mét, tôi ném xuống con sóng ngầm nọ hai bao trái dừa kèm theo ba tảng đá nặng chừng tám mươi ki-lô.
– Tên con bé mà anh bơi ra cứu ở Saint Joseph là gì?
– Lisette.
Vậy ta cũng đặt tên con sóng có ngày sẽ cuốn anh đi theo là Lisette. Bằng lòng không? Đồng ý.
Lisette ập đến ầm ầm như một đoàn xe lửa tốc hành tới ga. Nó hình thành từ ngoài xa hơn hai trăm năm mươi mét, và sừng sững như vách đá, nó tiến vào mỗi lúc một lớn dần. Quả là một cảnh tượng uy nghi. Nó đập vào vách làm Chang và tôi bị hất hẳn sang bên tảng đá, và các bao tải đã tự nó rơi xuống vực Vì biết ngay trong một phần mười giây rằng chúng tôi không thể đứng lại trên mỏm đá được, chúng tôi đã lùi về sau: điều đó tuy không tránh cho chúng tôi khỏi bị một khối nước ập đến tát ướt cả người, nhưng cũng làm cho chúng tôi khỏi bị ngã xuống vực. Chúng tôi làm cuộc thí nghiệm này lúc mười giờ sáng. Chúng tôi không sợ gì vì ba tên cai tù đều ở đầu kia đảo lo việc tổng kiểm kê. Mấy cái bao tải đã trôi không ra khơi, chúng tôi trông rất rõ, nó đã trôi rất xa bờ. Nó có trôi ra quá chỗ hình thành của con sóng không? Chúng tôi không có gì làm chuẩn để biết được các bao tải ở xa hơn hay gần hơn chỗ ấy. Sáu con sóng tiếp theo con Lisette đều không đuổi kịp được đà trôi của nó. Một lần nữa Lisette lại hình thành và bắt đầu xô vào bờ. Các bao tải cũng không bị nó cuốn vào. Thế là chúng đã thoát được khỏi khu vực ảnh hưởng của con sóng.
Trở vội lên ngồi vào ghế của Dreyfus để cố tìm ra các bao tải một lần nữa, chúng tôi có được nỗi vui mừng được bốn lần nhìn thấy nó bập bềnh trên các ngọn sóng, không hướng về phía đảo Quỷ mà đi về hướng Tây. Không còn phải bàn cãi gì nữa, cuộc thí nghiệm đã cho thấy kết quả tốt. Tôi sẽ lên đường dấn thân vào cuộc phiêu lưu vĩ đại trên lưng Lisette.
“Nhìn kìa, nó đến đấy”. Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, rồi đến lượt Lisette tiến vào. ở mỏm đá, chỗ đặt ghế của Dreyfus xưa nay, biển vẫn khắc nghiệt, nhưng hôm nay nó đặc biệt hung dữ. Lisette tiến vào với tiếng ầm ầm riêng biệt của nó. Tôi thấy nó lù lù hơn ngày thường, và hôm nay, nhất là ở chân sóng, khối lượng nước được di chuyển còn nhiều hơn nữa. Khối nước khổng lồ này sẽ tấn công hai tảng đá mau lẹ hơn, thắng góc hơn. Vì khi con sóng vỡ, đổ xô vào khoảng cách giữa hai tảng đá khổng lồ, tiếng động còn inh tai nhức óc hơn bao giờ hết, nếu trên đời có thể có một tiếng động quái gở như vậy.
– Anh nói là phải lao xuống chỗ này phải không? Đúng đấy, anh chọn chỗ này thật là tuyệt. Tôi thì tôi không chơi đâu. Tôi muốn vượt ngục thật, nhưng tôi không muốn tự tử.
Sylvain rất xúc động khi tôi giới thiệu Lisette với anh ta. Anh mới đến đảo Quỷ được ba ngày và tất nhiên tôi rủ anh cùng đi với tôi. Mỗi người đi một bè. Do đó nếu anh nhận lời, tôi sẽ có bạn khi đến Đất liền để tiến hành cuộc đào tẩu tiếp theo. ở rừng mà chỉ có một mình chẳng thú vị chút nào đâu.
– Đừng có sợ trước khi làm. Tôi công nhận là lần đầu tiên, ai cũng phải chùn bước. Nhưng đây lại là con sóng duy nhất có thể kéo cậu ra thật xa, các con sóng tiếp theo không có đủ sức kéo cậu trở lại bờ đá.
– Bình tĩnh nào, nhìn kỹ lại, chúng tôi đã thử rồi – Chang nói – Chắc chắn, cậu đã đi rồi là sẽ không bao giờ trở lại đảo Quỷ, cũng không vào đảo Royale đâu.
Mất một tuần, tôi mới thuyết phục được Sylvain. Một người rắn chắc, cao một mét tám mươi, cân đối, với một thân hình lực sĩ điền kinh.
– Được. Tôi công nhận chúng ta sẽ được đưa ra đủ độ xa. Sau đó, cậu tính cứ để sóng đẩy đi, mất bao nhiêu ngày thì đến được Đất liền?
– Thật tình, tôi cũng không biết đâu, Sylvain ạ. Có thể bị giạt nhiều hay ít, tùy thời gian. ảnh hưởng của gió không có mấy, vì chúng ta ở sát mặt nước. Nhưng nếu trời xấu, sóng sẽ lớn và đẩy chúng ta mau hơn vào phía rừng. Khoảng bảy tám, nhiều nhất là mười con nước, chúng ta sẽ bị đẩy vào bờ. Do đó, xê xích ít nhiều thì mát chừng bốn tám đến sáu mươi giờ.
– Cậu tính thế nào vậy?
– Từ các đảo thẳng đến bờ, không xa hơn bốn mươi cây số. Vì bị trôi giạt nên đường đi làm thành cạnh huyền một tam giác vuông. Cậu nhìn hướng sóng đi. ít nhiều, cũng phải đi một quãng từ một trăm đến một trăm hai mươi ki-lô-mét là tối đa. Chúng ta càng đến gần bờ, sóng càng đẩy chúng ta thẳng hướng vào đấy. Thoạt tính, cậu không cho là một vật trôi giạt ở bờ với khoảng cách như thế, lại không được đẩy đi với tốc độ năm ki-lô-mét một giờ.
Anh ta nhìn tôi và chăm chú nghe rất kỹ những lời giải thích của tôi. Chàng trai cao lớn này rất thông minh.
– Đúng. Tôi công nhận là những điều cậu nói chẳng ngu ngốc chút nào, và nếu không có những con nước xuống làm mất thì giờ của ta, vì chúng lại đẩy ta ra ngoài khơi, chắc chắn chỉ trong vòng ba mươi giờ, ta có thể đến đất liền. Do có những con nước xuống, tôi cho là cậu nói có lý: muốn đến đất liền phải mất từ bốn mươi tám đến sáu mươi tiếng.
– Cậu tin chắc rồi thì cậu đi với tôi chứ?
– Có thể. Giả dụ, ta đến chỗ đất liền là rừng thì ta làm gì?
– Ta phải đến vùng gần khu vực Kourou. ở đây có một làng dân chài khá lớn, có những người đi tìm balata và tìm vàng. Phải đến gần một cách thật thận trọng vì ở đấy cũng có một lâm trường của tù khổ sai. Chắc chắn cũng có những điểm để từ đó đi sâu vào trong rừng đến Cayenne và đến một trại của người Tàu được gọi là Inini. Phải bắt một tù nhân hay một thổ dân da đen buộc họ phải dẫn mình đến Inini. Nếu người ấy tử tế, ta có thể cho năm trăm đồng rồi bảo anh ta chuồn đi cho khuất mắt. Nếu cũng là một người tù, thì ta bắt hắn phải cùng đi trốn với ta. Inini là trại giam đặc biệt cho người Đông dương, thế thì ta đến đấy để làm gì?
– ở đấy Chang có người anh ruột.
– Đúng, anh ấy là anh tôi. Anh ấy sẽ vượt ngục với các anh, anh ấy kiếm ra được ca-nô và thức ăn. Cách anh sẽ gặp Quých-Quých, các anh sẽ có đủ thứ để đi đường. Không một người Tàu nào chịu làm chỉ điểm cả cho nên anh gặp bất cứ người An Nam * (*Tác giả cũng như nhiều người Pháp hồi đó, không biết phân biệt người “Tàu với người “An Nam”) nào ở trong rừng, anh cứ bảo người đó tin cho Quých-Quých biết.
– Tại sao người ta lại gọi anh ta là Quých-Quých? – Sylvain hỏi.

– Tôi không biết, do bọn Pháp đặt tên cho anh như vậy – Đoạn anh nói thêm: “Các anh phải cẩn thận, khi đến đất liền rồi, các anh sẽ thấy bùn. Đừng bao giờ đi trên bùn, đi không tốt, nó hút các anh xuống đấy. Chờ cho nước đưa các anh vào tận rừng để có thể bám được dây leo và cành cây. Nếu không thì nguy lắm.
– à đúng đấy, Sylvain à. Không bao giờ được đi trên bùn, ngay cả khi ở rất gần, rất gần bờ. Phải chờ lúc túm được cành cây hay sợi dây leo nào đã.
– Được Papillon. Tôi đã quyết định rồi. Hai cái bè được chế tạo cùng một kiểu, không khác nhau mấy, vì chúng ta cũng nặng cân gần như nhau, chắc chắn chúng ta sẽ không bị tách rời nhau quá xa. Nhưng không sao lường trước được việc gì cả. Nếu lạc nhau ta sẽ tìm nhau ra sao? ở đây, ta không nhìn được tới Kourou. Cậu có để ý, khi cậu còn ở Royale là ở phía bên phải Kourou, khoảng chừng hai mươi ki-lô-mét, có những tảng đá trắng, thấy rất rõ khi mặt trời chiếu vào đấy phải không?
– Đúng.
– Cả vùng bờ biển này, chỉ chỗ ấy là có đá. Bên phải, bên trái, đến vô cùng tận, chỉ là bùn. Đá trắng là do cứt chim là ở đấy. Có đến hàng ngàn con, và vì không có người nào đến đấy bao giờ, chỗ đó sẽ là nơi trú chân để ta lấy lại sức trước khi đi sâu vào rừng. Ta sẽ ăn trứng và ăn chỗ dừa ta đem theo. Không được đốt lửa. Ai đến trước sẽ đợi người tới sau.
– Đợi bao lâu?
– Năm ngày. Không thể nào sau năm ngày, người kia lại không tới được.
Hai chiếc bè đã được làm xong. Các bao tải được lồng vào nhau, hai cái làm một, cho bền hơn. Tôi yêu cầu Sylvain dành cho tôi mười ngày để tập cưỡi bao tải, càng nhiều giờ càng hay. Anh ta cũng phải làm như vậy. Mỗi lần thấy các bao tải sắp bị lật ngửa ra, phải cố gắng làm sao ngồi vững ở trên. Nhưng chú ý không được ngủ quên vì sợ bị nhào xuống nước mà không bấu víu kịp. Chang khâu cho tôi một cái túi nhỏ không thấm nước để đeo vào cổ, trong đựng thuốc lá và máy lửa. Chúng tôi mỗi đứa nạo mười quả dừa để mang theo.
Cùi dừa giúp chúng tôi chịu đói và còn làm đỡ khát nữa. Hình như Santori có một thứ bong bóng bằng da đựng được rượu. Lão ta không dùng đến nó bao giờ. Khi nào có dịp lọt vào nhà lão, Chang sẽ tìm cách xoáy cái đó.

Chúng tôi định khởi sự vào ngày chủ nhật, lúc mười giờ tối. Trăng rằm, sóng thủy triều ắt phải cao đến tám mét. Lisette hẳn sẽ ở vào thời điểm mạnh nhất. Sáng chủ nhật, một mình Chang sẽ cho heo ăn. Tôi sẽ ngủ suốt ngày thứ bảy và cả chủ nhật. Khởi hành lúc mười giờ đêm. Thủy triều bắt đầu xuống đã được hai giờ.
Hai cái bao tải của tôi không thể nào tách rời ra được Chúng được kết chắc lại bằng những sợi gai bện vào với nhau, bằng dây đồng, và khâu liền với nhau bằng gai buồm. Chúng tôi đã kiếm những cái bao có miệng rộng để lồng bao nọ vào bao kia sao cho vừa không thể tuột ra ngoài được.
Sylvain không ngừng tập thể dục, còn tôi, tôi đứng hàng giờ để những lớp sóng lăn tăn đập vào đùi tôi như xoa bóp vậy. Sóng cứ đập liên hồi vào đùi tôi và việc tôi phải lên gân chống lại sóng làm cho đùi và bắp chân tôi cứng như sắt. Ở một cái giếng bị bỏ hoang, có một sợi dây xích dài gần ba mét. Tôi quấn vào nó những sợi thừng nối các bao tải của tôi. Tôi có một cái ốc bù-loong có thể chốt qua các móc xích. Trong trường hợp tôi không chống đỡ nổi, tôi sẽ dùng sợi xích sắt để buộc mình vào cái bao tải. Làm như vậy, tôi có thể ngủ mà không sợ rơi xuống nước và để trôi mất cái bè. Nếu bao tải lật, nước sẽ làm tôi tỉnh dậy và tôi sẽ lật nó lại như cũ. Papillon này, chỉ còn ba ngày nữa thôi. – Chúng tôi ngồi trên ghế của Dreyfus, nhìn Lisette.
– Phải, chỉ còn ba ngày nữa thôi, Sylvain ạ. Tớ tin tưởng là sẽ thành công. Còn cậu thì salà
– Chắc ăn lắm, Papillon à. Đêm thứ ba hay sáng thứ tư, bọn ta sẽ ở trong rừng rồi. Lúc đó, tha hồ mà chén cho đẫy!
Chang nạo cho mỗi đứa chúng tôi mười trái dừa. Ngoài dao, chúng tôi còn mang hai cái rựa đẵn cây ăn cắp được ở kho dụng cụ.
Trại Inini ở phía Đông Kourou. Buổi sáng đi, ngược lại phía mặt trời chiếu tới, chắc chắn là sẽ đúng hướng.
– Sáng thứ hai, Santori sẽ điên lên mất. – Chang nói. – Tôi sẽ không nói là cậu và Papi đã chuồn trước ba giờ chiều ngày thứ ba, khi tên gác đã ngủ trưa dậy. 
– Hay là cậu vừa chạy về vừa kêu là chúng tớ đang câu cá thì bị sóng lớn cuốn đi?
Không được, lôi thôi lắm. Tôi chỉ nói: “Sếp ạ, Papillon và Stephen hôm nay không thấy đi làm, tôi phải cho heo ăn một mình” – chỉ thế thôi, không hơn không kém.