vietmessenger.com
Serge Miller
Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên
Post by Sơn râu 18 Nov 2025

Chương 14
Nhiều chuyến công-voa từ Buchenwald đến và nhiều khối khác được thành lập. Chúng tôi không có thì giờ chạy kiếm coi có người quen không. Chỉ có sự tình cờ do chuyển dịch trong lúc tập họp, mới giúp chúng tôi gặp lại một người bạn.
Trong khi tôi sắp bắt đầu tuần lễ thứ hai trong biệt đội lao tác nầy, công việc tương đối nhẹ nhàng, thì cùng với ba mươi sáu tù nhân khác, tôi bị thộp một cách tình cờ để đưa lên con tàu chở súc vật mà mỗi sáng đưa nhân công đến đại công trường. Rõ ràng là tôi không được làm việc quá tám ngày tại một chỗ mà tôi bắt đầu thích được ở lại mãi. Tuy nhiên, suy cho cũng, tôi sắp thấy chuyện mời là khác. Chúng tôi xuống tàu tại một ngôi làng vui tươi đẹp đẽ tên là Wofleben. Bị bao học bởi lính canh, 1500 người chúng tôi ra khỏi ga và đi vào con đường chính trong làng. Làng mạc ở Đức dễ có cảm tình, sạch, và những cửa sổ đủ màu đã che khuất những gì khó coi trong một trang trại. Chúng tôi thấy có một lữ quán mang tên: “Sân bắn của Đại đế Frédéric le Grand”, tuy nhiên có vẻ không đắt khách lắm. Ngay khi vừa ra khỏi làng, một bên đường bị rào kẽm gai hàng trăm thước, vì bên trong là các nhà phụ thuộc của nhà máy vĩ đại đang được đào sâu vào lòng núi gần đó. Chúng tôi vào đây. Trên một khoảng rộng nhiều biệt đội đứng sắp hàng sau một tấm bảng tên người cai liên hệ.
Rọ đi qua một chiếc bàn có sĩ quan SS đứng đằng sau kiểm soát, và tôi thấy hoặc họ biến mất trong đường hầm, hoặc trong các dãy nhà dùng làm đủ loại cơ xưởng. Các toán khác được phái bốc dỡ hoặc chất đầy các toa tàu trên một đường xe lửa đi qua công trường. Chúng tôi, số người bị lấy thêm, tự hỏi người ta sắp giao cho việc gì đây.
Một chiếc xe vận tải nhỏ đến chở chúng tôi cho đến vùng ngoại ô Nordhausen, cách đó chừng mươi cây số. Một người dân sự chờ đó với xẻng, cuốc và các cuộn dây điện thoại, chúng tôi phải đặt một đường dây phụ nối thành phố này với công trường. Khoảng cách đường dây độ chừng mười cây số. Phần dây chôn dưới đất dành cho chúng tôi. Phần còn lại dành cho một toán chuyên viên gồm toàn người Ý trong quân đội của Badoglio. Họ được hưởng chế độ tù binh chiến tranh, nghĩa là sự xa hoa so với chúng tôi, nhưng họ không ngạc nhiên khi trông thấy chúng tôi, họ quen làm việc với mọi loại người nội trú mà Đại Đức quốc đã “tuyển dụng” để làm việc. Chúng tôi phải đào một rãnh dài, và vì trời đẹp nên ngày đầu tiên trôi qua không có gì mệt nhọc. Tình trạng hôm sau không còn được như vậy nữa. Một tên lính canh, thường không lưu tâm gì đến công tác, đã đến gần tôi trong buổi sáng. Từ lúc bắt đầu làm việc, tôi chú ý là y theo dõi tôi một cách đặc biệt:
– Sao, không biết xử dụng cuốc ạ, y nói với tôi, đưa tay coi?
Đó là một tên tóc đỏ hoe, vẻ mặt được đánh dấu đặc biệt bởi một chiếc mồm giống miệng thỏ và vẻ thù hận trong ánh mắt. Tôi đưa hai tay trình y.Y phá ra cười chế nhạo và ra lệnh cho tôi cuốc với nhịp nhanh hơn. Y đứng ở gần tôi để theo dõi sự thi hành mệnh lệnh. Sau nửa giờ, tôi mệt đứt hơi nhưng nỗi thống khổ chỉ mới bắt đầu. Mỗi lần có ý định dừng lại một giây để lấy sức, một báng súng dáng vào lưng tôi nhắc nhở sự hiện diện của y. Y cười ngạo mạn, chỉ trỏ tôi cho bọn đồng nghiệp, và tự nhiên là vì tính hèn hạ, chúng đã đồng tình với y. Tất cả những gì tôi chịu đựng cho đến lúc đó chỉ là trò trẻ con. Khi buổi nghỉ trưa, sau cùng, rồi cũng đến, kiệt lực, tôi tự hỏi với nỗi sợ hãi làm sao có thể tiếp tục vào buổi chiều được. Trên đường, nhiều người chạy xe đạp ngang qua. Cảnh đồng quê thật đẹp, mọi vật yên bình và tươi tĩnh. Chúng tôi lại được lệnh tiếp tục làm việc, tôi nghe một tên lính nói với bạn y một câu có vẻ lo âu: “Mày nghe chưa, radio nói là chúng đã thực hiện rồi”. Cả hai đi vào một căn nhà gần đó để nghe tin tức và tất cả bọn lính canh chặn lại sầm sì với nhau có vẻ bí mật. Tình trạng nầy thật là hấp dẫn bởi vì tên đao phủ thủ đã quên mất tôi và suốt cả buổi chiều tôi đã cố thử đoán xem tin tức gì mà có thể làm xao động đến như vậy. Tất cả những dự đoán đều trải qua trong óc. nhưng mãi đến tối, lúc trở về trại tôi mới biết rõ, mọi người đều đề cập đến nó. Đài phát thanh Đức cũng loan báo tin nầy và nhiều tù nhân đã nghe được. Cuộc đổ bộ đã được thực hiện rồi, lần nầy không còn là tin vịt nữa. Từ ngày người ta chờ đợi nó, chúng tôi đã chán quá vì tin bậy bạ, mọi người đều thừa nhận sau cơn phấn khích: “đã đến lúc rồi”. Hôm đó, vả chăng, thực cũng là một ngày tốt đẹp.
Biến cố vừa xảy ra ở phía Tây dường như có vẻ gần gũi quá, và mọi loại ảo tưởng lại trở về trong tâm trí. Sự sụp đổ mau lẹ của Đức quốc vì cả hai mặt trận và, hậu quả tức thời chắc là có sự nới rộng chế độ kỷ luật. Ngay cả với những người bi quan nhất, cũng thấy có khả năng chịu đựng được chuỗi ngày còn lại của cuộc giam cầm, và không một ai trong số 10.000 tù nhân ở đây còn nghi ngờ gì về chuyến chiến tranh sắp chấm dứt. Ngay đêm 6 tháng 6 đó, khi chúng tôi đã nằm duỗi dài trên đệm rơm, một người dân xứ Flandre cắt đứt sự đồng tình toàn diện trong tâm trí mọi người bằng cách tuyên bố:
– Nếu người Anh Mỹ không đến, người ta tự hỏi quân Nga sẽ bị chặn lại ở đâu. Vấn đề là chiến đấu, bọn Nga có đó, tôi không nói ngược lại, nhưng tôi không chịu nổi chủ nghĩa Cộng sản.
Nhân xét này đã gây ra một cuộc cãi vã và một người đã nói rằng sau khi chiến tranh chấm đứt, các cường quốc rồi ra có lợi hơn cả, nhờ buôn bán nhờ kỹ nghệ võ khí, và như vậy các quốc gia bị chiến tranh tàn phá sẽ còn gặp rắc rối, khó khăn.
Người đa nghi vừa phát biểu ý kiến trên đã làm tôi tò mò, và tôi không phải mất nhiều thì giờ để làm quen với Paco, tên của vô tuyến điện viên hãng Air France. Anh nầy đã điều khiển một lưới liên lạc ở Pas de Calais. Khi tôi tỏ bày sự ngạc nhiên khi thấy một người có vẻ chán chường như anh ta mà lại tham gia kháng chiến, anh ta trả lời:
– Không có gì kỳ lạ cả, chiến tranh đã làm tôi bó gối ở Á căn đình và làm tôi bực dọc. Người ta nói đời sống bắt đầu lúc 40 tuổi, tôi vừa đạt đến tuổi đó. Tôi xin tòa Đại sứ Anh cho phép đến Luân-đôn gặp Lực lượng Pháp quốc Tự do. Ở đó có rất nhiều chỗ làm cho bọn cơ hội chủ nghĩa và bọn chính khách sa-lông cho nên khi tôi thấy giỏ cua ấy tôi liền mau lẹ xin được thả dù xuống Pháp và rồi, tôi ưa thể thao, ưa mạo hiểm, tôi chẳng hối tiếc gì cả.
Anh ta vừa đến trại này không lâu cùng với một công-voa gồm 700 tù nhân đã từng xây cất một nhà máy tại Saxe. Một ngàn ba trăm trên hai ngàn tổng số lúc đầu đã bỏ mạng cho công trình xây cất mới mà mục tiêu là để sản xuất hóa phẩm. Vùng Nordhausen mà chúng tôi đang ở, nhận tối đa nhân lực có sẵn, vì dự án khi hoàn tất sẽ gồm 80 cây số đường hầm ngang qua dãy núi Thuringe và ngoại trừ Dora, nhà máy trung ương gần như đã hoàn thành, tất cả phần còn lại của dự án thì mới bắt đầu từ sáu tháng nay và đang được làm gấp. Trong mùa hè này, sức khỏe tổng quát của mọi người tương đối tốt, và số người chết ít đến nỗi không còn ai chú ý đến nữa. Vài ngày sau cuộc bộ, khoảng 15 tháng 6, một đêm, khi đi làm về, một cuộc tập họp tổng quát được triệu tập theo từng loại quốc tịch, trong khi chúng tôi nghĩ đây chỉ là một cuộc điểm danh thường lệ, thì người ta lại loan báo rằng chúng tôi sẽ chứng kiến cảnh treo cổ hai người. Một cột treo cổ với hai thòng lọng còn mới, được đựng lên chính giữa chúng tôi để mọi người đều có thể trông thấy. Những tử tội, người Tiệp Khắc, được đặt đứng trên một chiếc ghế dài. Tay họ bị trói, mồm ngậm một mảnh gỗ để nói không được. Viên thông ngôn chính của trại, lại là người Tiệp Khắc, phải công bố bằng ba thứ tiếng tội phạm mà hai bạn đồng hương của anh ta đã phạm phải: dự định vượt ngục tiếp theo sau các biến chuyển mới nhất của tình hình. Tuy nhiên, vì sự xúc cảm đã làm anh ta nói không ra hơi, tên chỉ huy trưởng SS, tên đã đón tiếp chúng tôi khi mới đến, đã nện cho anh ta mấy đấm vào bao tử, đến nằm ẹp dưới đất, và rú lên bằng tiếng Đức:
– Đây là những tên đầu tiên mà tôi cho treo cổ, tôi báo trước, chúng không phải là những người cuối cùng đầu. Các anh đang ở trong một Arbeitlager SS (trại khổ sai SS) và ở đây chỉ có một điều duy nhất có giá trị thôi: hiệu năng.
Sau khi cho lệnh hành hình, y sấn vào trong hàng ngũ tù Tiệp Khắc, và một cách điên cuồng, y phân phối các cú đá, đấm, khắp mọi phương vị, chính tên tù, quản trại, tình nguyện quàng thòng lọng vào cổ hai nạn nhân.
Y làm việc đó với vẻ tự nhiên như bất cứ công việc tạp dịch thường lệ nào khác. Một cái đá chân nhẹ làm đổ chiếc ghế dài và hai thân người đu đưa trong khoảng không. Trong vài giây đồng hồ, cái hư vô của tất cả những gì trên cõi thế đã hiện ra trong ánh mắt của đám khán giả bị bắt buộc chúng tôi, rồi đến khi có lệnh giải tán để đi lãnh phần ăn, mọi người đều nghĩ đến số đường đất mà quân Anh Mỹ tiến được trong ngày. Khi không còn gì nữa, người ta bám vào bất cứ nơi nào có thể.
Một lúc sau, trước lối vào khối số 3, nơi chúng tôi ở, tôi thấy tên tù quản trại – luôn luôn là y – đánh một tù Nga bằng gậy, dưới các đòn đánh đập, nạn nhân lăn lóc và hét lên vì đau đớn. Điều đó cũng không làm tên sát nhân nương tay chút nào, y còn thọc cả mũi giày nhọn đá vào bụng vào ngực chú nhỏ. Nhưng nạn nhân đã phạm tội gì mà nên nỗi? Anh ta đã cãi lộn và khốn thay, đánh mấy cái vào một tên gitan gia nô ruột của tên quản trại. Không cần phải đoán là y sẽ giết nạn nhản, bởi vì đó là ý định của y. Cuộc hành tội kéo dài 20 phút và tôi không còn nghe tiếng rên rỉ nữa, y nghiêng người xem nạn nhân còn thở không, nhưng hết rồi. Lúc đó, y thở dốc, nhìn lên gia nô ruột. Tên nầy, thật tôi muốn cho ai phần bánh mì nếu đập bể được mặt nó quá, hiu hiu tự đắc thốt ra một câu nhận xét “Da nó cứng quá, hả?” Hai tù nhân Nga mang xác còn nóng hổi của bạn mình đi và tôi nghe họ lầm bầm “khi nào chủ nó rớt đài, mình sẽ tính chuyện với nó”. Thật vậy, thường thường một tên kapo, hay trưởng khối, và ngay cả tên quản trại, khi mất chỗ sau một cuộc chấp tranh nội bộ với các đối thủ hung dữ hơn. Một vài người đã lợi dụng thời cơ để trả thù thật tàn bạo.
Vào giữa tháng 6, khi biệt đội của tôi vẫn còn đặt đường dây điện thoại, một lính canh đến gần tôi và đưa cho tôi một mẩu bánh mì gói trong trang đầu của một tờ báo. Bọn lính canh giờ chúng tôi thay đổi luôn. Đó là cả một sự may mắn, bởi vì kinh nghiệm mới đây còn để lại cho tôi một kỷ niệm xấu, nhưng tôi có thái độ còn hơn cả ngạc nhiên nữa, bởi vì mọi sự liên lạc giữa lính canh và tù đều bị cấm chỉ. Nếu vi phạm, cả hai bên đều bị trừng phạt. Quả thật chúng tôi đang ở ngoài trại và kẻ cho tôi một cách rộng lượng một mẩu bánh mì, chắc phải có thâm giao với trưởng toán và chỉ có vậy mới cho phép anh ta đi xa qui tắc như thế. Trong giờ nghỉ, anh ta đến kiếm tôi và nói bằng tiếng Pháp lưu loát, về các biến chuyển quân sự mới nhất, và đây là lần đầu tiên tôi khám phá thấy được, một thanh niên Đức chống Hitler. Đây không phải là một cái bẫy vì không có một lợi ích nào thúc đẩy anh ta làm như thế. Trái lại, nói chuyện tin cẩn với một tù nhân là cả một cái gì nguy hiểm cho anh ta. Tôi có thể tố cáo anh ta và nhờ đó được các lợi lộc vật chất, trong khi anh ta có thể bị đi nằm nhà đá hay đưa ra trước tiểu đội hành quyết. Tất nhiên là tôi để cho anh ta nói và vì thận trọng, tôi chỉ trả lời mơ hồ thoái thác. Bởi vì làm sao có thể trả lời được cho kẻ có thể hạ gục mình bằng một viên đạn súng lục, và đặt cho mình một câu hỏi đột ngột “Anh có tin rằng chúng tôi đứng vững không?” Sự kiện là, mặc dù chống chế độ, anh ta chỉ chấp nhận một cách khổ tâm sự bại trận của Quốc gia mình. Tôi phải thừa nhận rằng thời gian sống ở “Quartier Latin” (khu vực sinh viên ở Ba-lê) đã ảnh hưởng tới anh rõ rệt, và chuyển biến có thật, tôi gặp một kẻ có thiện cảm với người Pháp, trong thế đối nghịch. Mỗi lần đến phiên anh ta coi gác chúng tôi, tôi chắc là sẽ có một cái gì đó để ăn và một tờ báo là một món ăn ngon của tôi trong thời kỳ hoàn toàn mù tịt tin tức nầy.
Ngay buổi tối ngày tôi làm quen với anh ta, mấy tù nhân Pháp cùng có mặt trong biệt đội nhào đến hỏi tôi đủ thứ câu hỏi:
– Sao, y nói gì với anh? Y có vẻ lo âu. Ồ! Đó là chứng cớ rõ ràng nhất là anh ta đang kinh hãi. Rồi sẽ chấm dứt sớm hả!
Thật ra, vẻ âu lo mà Hans – đó là tên của anh lính canh – để lộ ra chỉ là vì nguyên nhân đơn giản: vấn đề tình nhân loại nói chung. Tôi đã gặp một chú bé tình cảm và có thể lãng mạn nữa, bị nghiền nát bởi kỷ luật và các phương pháp của bọn Quốc Xã. Anh ta có vẻ không xa sự thật lắm khi xác nhận với tôi.
– Nếu Đồng Minh không gấp rút lên, Hitler sẽ có khả năng qua mặt nhanh chóng. Không nên đùa với loại vũ khí bí mật và hỏa tiễn V1 1 mới được đem ra xử dụng chỉ là trò trẻ con trong nghệ thuật giết người mà bọn Quốc Xã đang chế tạo trong vòng bí mật.
Tôi báo cho các bạn bè biết nhận định đó khi họ đến hỏi tin tức. Hệ thống tuyên truyền chung quanh sự tiêu diệt Luân-đôn bằng loại máy bay do người máy điều khiển đã đến tai chúng tôi và một vài âu lo đã len vào các lời chế nhao mà mọi người vẫn bày tỏ. Nhất là cũng vẫn cứ mấy dịa danh đó được nhắc trong thông cáo và sức đề kháng của Đức trong bán đảo Cotenlin (miền Bắc nước Pháp), bắt đầu có vẻ kéo dài quá, đối với chúng tôi. Chúng tôi nghĩ nếu mỗi thước đất của quê hương người Gaulois phải được chiếm lại với các trận chiến khốc liệt, thì xứ sở chúng tôi sẽ bị tàn phá còn hơn Đức quốc nữa.
Trong biệt đội của tôi có một cựu sĩ quan thuộc địa có gia đình tại Caon mà tôi biết, qua một tờ báo, là phần đông dân chúng đã bị chôn vùi dưới các đống đổ nát tiếp theo sau các cuộc dội bom dữ dội đêm trước khi có cuộc đổ hộ.
Tin tức nầy, có vẻ phóng đại quá trớn, nhưng cũng đã làm lay chuyển những người sắt đã nhất. Tuy nhiên Đại úy Adam – đó là tên của viên sĩ quan – lại nói chuyện khác. Bà mẹ già và vợ ông ta chắc bị chết rồi, hai con trai ông chắc là ở đâu đó trong chiến khu và chính ông lại ở trong cảnh khốn khổ, nhưng khi có thì giờ rảnh. ông đã trình bày quan niệm một chính sách đối ngoại thật sự có tính cách Quốc gia.
– Đáng lẽ chúng ta không nên tuyên chiến năm 1939, ông ta nói. Nước Anh, nếu ở trong vị thế của chúng ta cũng không làm như vậy. Quyền lợi của chúng ta là nhào vào cuộc nhảy nhót càng chậm càng tốt. Nhưng nếu đã vì một lầm lỗi phạm phải vào ngày 3 2 tháng 9, năm 1939 thì không nên phạm một lầm lỗi nữa vào ngày 17 tháng 6 năm 1940 khi van nài đình chiến mới phải.
“Thật rõ ràng là sau Clémenceau, chúng ta thiếu các chính khách giỏi, tuy nhiên không có gì ngăn cản được chiến tranh tiếp tục tại Bắc phi. Không những Rommel sẽ không bao giờ trở lại đó mà quân Ý cũng đã quỳ gối từ lâu. Nước Ý có thể làm được gì để chống lại một hành động phối hợp của hải quân Pháp Anh?
” Chiến tranh có thể chấm dứt rồi. Thay vì như vậy, người ta còn đùa giỡn với phòng tranh với cuộc diễn ngựa lại bờ bể Phi châu, và nay với đồng quê của Ý, để làm gì? Dẫu sao nước Pháp cũng bị chiếm đóng hoàn toàn và rốt cuộc là chúng ta bị thiệt thòi nhất.”
Khi ông ta đi đến kết luận đó, không ai dám nói lời nào. Duy chỉ có một tù Ba Lan, con một kỹ nghệ gia ở Cracovic, đã từng qua học ở Pháp, trêu chúng tôi.
– Rồi đời nước Pháp rồi, – anh ta la lên! – Vai trò của nước Pháp chấm dứt rồi. Sau chiến tranh nầy chúng tôi sẽ trở lại thành cường quốc như thời trung cổ. Từ bờ bể Baltique đến “Hắc hải”, đó là tất cả những gì mà Đồng Minh hứa với chúng tôi, vả chăng, đấy là quyền lợi của họ, nhất là đối với Anh quốc. Một nước Đức bị nghiền nát, lúc đó kẻ thù số một là Nga sô.
Vài ngày sau, trong chiếc xe đưa chúng tôi đến nhà máy Dora vì đường dây điện thoại của chúng tôi đi ngang qua qua. Hans lo gác chúng tôi, thì thầm thì vào tai tôi:
– Xong rồi, điều mà các anh chờ đợi nay đã đến.
Vì lẽ anh ta không nói gì hơn, tôi vẫn còn thắc mắc, mặc dù rất vui vì được là người đầu tiên biết tin, nhưng tôi không hiểu nội dung tin đó là gì. Trong thực tế chúng tôi chờ đợi hai điều: mặt trận Miền Tây mở máy vì đã dậm chân tại chỗ khá lâu, dẫu cho trận chiến có vẻ khốc liệt; điều thứ hai là lực lượng Nga sô mở cuộc tiến công Miền Đông. Mọi người đều biết: nếu cả hai mặt trận phối hợp với nhau, chiến thắng cuối cùng sẽ đến nhanh hơn. Chắc Hans phải phòng một trong những đồng bạn, bởi vì mặc dầu tôi ra dấu không hiểu, anh ta cũng không hé thêm được điều gì. Mãi đến lúc xuống xe khi tới địa điểm làm việc, anh ta mới có thể nói nhanh cho tôi một chi tiết: “Cuộc tấn công của Nga sô đã được phát động đầu hôm qua tại Vitebsk”. Hôm ấy là ngày 23 tháng sáu và thời tiết rất tuyệt. Tin tức được lan truyền nhanh chóng và nỗi sung sướng làm mặt ai cũng sáng rỡ. Áo quần chúng tôi bị mòn rách cả rồi, nhiều người có dưới chân một bó giẻ thay vì đôi giày, người đầy rận, và cái đói kềm kẹp chúng tôi không ngừng. Tuy nhiên chúng tôi sung sướng và vui sống hơn cả những người được ưu đãi trên cõi đời nay nữa.
Nhưng trong thực tế, chúng tôi đang ở Dora, tên của một nơi nằm ngay giữa đường từ Nordhausen đến công trường Woflben của chúng tôi. Từ ngoài đường chúng tôi trông thấy doanh trại và vật liệu được chất ngút ngàn, nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy ngọn núi bên phải lại chứa trong một hang động, một nhà máy tối tân với hai mươi ngàn nô lệ đang chế tạo bom và vài bộ phận của hỏa tiễn trứ danh V1. Đường dây của chúng tôi băng qua các khu rừng trong ngọn núi nầy, và từ đó, chúng tôi có thể trông thấy bao quát cả khu nhà máy. Thật sự nó tọa lạc tại một địa điểm rất tốt, và người ta không thể ngăn cản được ý nghĩ so sánh với các trại dưỡng sức. Nó được chia ra làm ba phần: phần thứ nhất gồm các dãy nhà dành cho tù nhân tạm trú; phần thứ hai dành cho trung đoàn SS, và phần chót làm nơi chứa vật liệu dùng cho nhà máy. Một đường xe lửa đến tận chân núi qua cổng chính. Đường sắt nầy được ngụy trang kỹ, và không thể nào bị máy bay khám phá. Toàn bộ được bao bọc, ngoài hàng rào kẽm gai và hàng rào truyền điện, còn có các rừng thông; có hình dáng một cái móng ngựa khổng lồ nếu đứng trên cao nhìn xuống. Như thế, khu trại dường như đã được thiết lập xong và nhà máy thì hoàn tất từ đầu mùa xuân.
Lúc nghỉ trưa, tôi gặp may nói chuyện được với một tù nhân Pháp làm việc ở ngoài từ sáu tháng nay. Ngồi trên cỏ, và trong bộ y phục tù nhân. Với một chút tưởng tượng, người ta có thể tưởng rằng đang nghỉ mát trong một khung cảnh đồng quê dễ chịu. Tuy nhiên những gì nghe chính miệng người đồng bạn của tôi nói đã giữ tôi lại với thực tế:
– Anh thấy không, anh ta vừa nói vừa chỉ khu doanh trại, khi tôi đến đây vào mùa thu năm ngoái, vùng nầy là một vũng bùn và đôi khi chúng tôi phải lội bì bõm ngang đầu gối.
Nhưng điều đó cũng chưa thấm gì. Hãy nghĩ đến nỗi kinh hoàng của chúng tôi khi bị đưa vào đường hầm đang được đào và không được trở ra nữa, ít ra là cho đến lúc các dãy trại được cất xong. Và chỉ có một tuán tù ít ỏi đảm trách công cuộc dựng các trại nầy. Bên trong, ba toán thay nhau làm việc liền trong 8 tiếng để tiếp tục công cuộc khoan hầm, và trong khi toán nầy làm việc trong tiếng ầm ĩ của các chiếc máy khoan bằng hơi ép và trong bụi bặm đến mờ mắt, những người khác nằm ngủ hay cố ngủ kế bên đó, trong một đường hầm nằm ngang, trên các giường chồnn lên nhau bốn hay có lúc năm tầng. Ai nằm tầng dưới thường hứng được, từ các tầng trên một chất lỏng lẽ ra phải cho chảy vào ống cống. Tuy nhiên ai cũng bị mệt mỏi đến nỗi không muốn mất thì giờ đi đến thùng tiểu đại tiện đặt gần các nồi súp và bàn để bánh mì, vì mọi thứ trong đó đều lẫn lộn với nhau. Phần ăn phải được ăn ngay vì nhiền khi bị giật trên tay. Ai giật? Không thể nào biết được trong đám hỗn loạn đó. Cả một “băng” dọn ăn nịnh trên nạt dưới, gậy trong tay, thay bọn SS làm bọn nầy chỉ thỉnh thoảng mới vào kiểm soát. Anh cũng biết trong chế độ đó, thần chết rất khoái trá. Trong khu vực của tôi, mỗi ngày có hai mươi lăm mạng ra đi và có một toán đặc biệt chuyên khiêng xác họ ra ngoài. Nhân lực không bao giờ thiếu, vì luôn luôn được trại Buchenwald đưa đến. Trong ba tháng, tôi ở trong lòng đất không được thấy ánh mặt trời, và trong những ngày đầu tiên khi được đưa ra ngoài, mắt tôi đau nhói. Khi nhắc đến thời gian đó để so sánh, thì hiện nay đúng là một trại dưỡng sức. Nhưng người ta có thể nói nó được xây trên xác chết.
Khi anh ta nói với tôi, tôi thấy nhiều người xuất hiện ở cửa hầm vừa chạy vừa đẩy xe cút kít. Những tù nhân khác, trong vai trò cai thợ, đánh xả lên người họ để giữ nhịp chạy và dựng các người bị ngã lăn bắt phải đứng dậy. Họ ở cách xa chúng tôi hàng mấy trăm thước và người ta cũng có thể thấy nhiều tên SS với chó săn dắt nơi tay. Đoán biết tôi ngạc nhiên, người cựu tù nhân làm việc ở Dora giải thích:
– Đó là bọn Do-Thái Hung Gia Lợi vừa được đưa từ Auschwitz đến hai ba ngày trước. Tôi không hiểu sao bọn Đức không đưa họ vào lò hơi ngạt và một số trong họ chắc phải lấy làm hối tiếc về chuyện ấy! Chúng bắt huộc một số đông trong họ, dưới sự đe dọa cho chó cắn, phải đóng vai trò cai phu và đánh đập bạn bè của mình.
Sau buổi chiều, khi trở lại xe hơi, tôi thấy nhiều hàng tù nhân đi ra khỏi đường hầm chính. Đó là toán ban ngày, sau khi hết phiên, trở về chỗ ở. Từ sáng sớm, tôi hy vọng gặp một người quen và đó là một may mắn vô vọng, khi được chứng kiến sự đổi phiên. Tôi nhìn chăm chú các bộ mặt hốc hác của đám tù khổ sai. Đột nhiên một tiếng kêu thoát khỏi miệng tôi: “Hubert!” anh ta gầy còn một nửa, nhưng tôi nhận ra ngay. “Sao?” tôi la lớn về phía anh ta. Một bộ mặt còn da bọc xương, vẻ nhìn thất thần hướng về phía tôi, hoàn toàn trông giống như một xác chết đang đi. Tay anh làm một cử chỉ mơ hồ tỏ rõ sự mệt nhọc và tôi nghe độc một câu: “Tu viện trưởng Bourgeois chết rồi?” Một vài giây nữa và bóng anh mất hút trong hàng người dài vô tận đi ra khỏi đường hầm như một con sâu khổng lồ. Vậy là trong số những người sống với nhau trong thời gian kiểm dịch đầu tiên, một trong các người bạn tốt nhất đã ra đi, và nếu Hubert chỉ nói đến người tôi biết rõ nhất, điều nầy có nghĩa là nhiều bạn khác có thể cũng đã chết rồi. Chính anh, cũng có và sức tàn lực kiệt rồi, và cuộc gặp gỡ mà tôi tưởng là vui vẻ, lại chỉ gợi cho tôi nhiều cảm giác nhọc nhằn, tôi sẽ cho tất cả để được nói chuyện mười phút với anh. Liệu tôi còn gặp lại anh nữa không? Tất cả những gì anh cho tôi biết là cái chết của một người bạn tận tụy và xứng đáng, và khi người ta biết tin về cái chết của người thân, ta có cảm giác một mảnh của thân mình cũng ra đi với người ấy.
Buổi tối khi về đến Ellrich sau khi rời xe lửa, cũng như mọi đêm, cùng với các tù đồng bạn ở Wofleben, chúng tôi được biết một công-voa toàn người Do-Thái Hung Gia Lợi cũng đã đến doanh trại chúng tôi. Phần lớn ở khắp các khối, và vào khoảng năm mươi người đã đến khối số 3. Luôn luôn là một sự dồn cục các tù nhân mới, tôi liên lạc làm quen với một người trong bọn, một thợ may ở Munkasz. Y nói rằng gia đình y đã bị thanh toán cả tại Auschwitz và bọn SS chỉ để dành lại đàn ông có sức làm việc. Thật vậy phần đông bọn họ đều là thanh niên trẻ nhưng cơ thể đã bị biến đổi quá nhiều. Tất cả xuất thân từ giới khiêm nhường bị bắt trong các cuộc bố ráp tại các thành phố tỉnh lẻ. Tại Pudapest, những người Do Thái giàu được hưởng một chế độ đặc biệt và không phải lo sợ gì cả. Khi anh ta hỏi số phận các người Do Thái Pháp, tôi trả lời tình trạng cũng tương tự như tại xứ anh ta. Tất cả người nghèo và trung bình đều bị nhốt vào trại và đưa thẳng đến Ba Lan đã bị tiêu diệt. Anh ta có một nguyên tắc là trước hết phải tránh móng vuốt bọn Quốc Xã và mặc kệ các người khác cũng làm như vậy với tiền bạc của họ. Vì anh ta tưởng rằng tôi chống Do Thái, tôi cho anh ta biết rằng thái độ đó cũng hèn hạ và ngu xuẩn như sự ghen ghét, và tôi chỉ kể lại duy nhất những điều tôi thấy, và chỉ tỏ ý tiếc rằng một số người có phương tiện đã không tham dự vào sự giúp đỡ một vài đồng bạn khốn khổ, bởi vì ai cũng nghĩ là do truyền thống liên kết về phương diện tôn giáo, người Do Thái đoàn kết với nhau trong bất cứ hoàn cảnh nào.
– Đừng rơi vào lĩnh vực mơ mộng nữa, – anh ta bảo tôi, – trong cộng đồng Do Thái, vẫn có tình thương, nhưng trong Do Thái giáo cũng như trong Cơ đốc giáo, tinh liên đới giữa cả hộp và cá mòi là cả một cái gì hoàn toàn không tưởng.
Trái với một cơ thể hao mòn vì đời sống khép kín của các cộng đồng Do Thái Trung Âu, trí óc của họ không hề bị lay chuyển và chiếu sáng với sự sống động, biếu hiệu của đức tính tổng quát của người Do Thái. Tất cả bọn họ nói lưu loát từ bốn đến sáu ngoại ngữ, những ngôn ngữ thông dụng nhất, và nếu không bị coi là hạ cấp vì tôn giáo của họ thì thật khó tìm được một chân thông ngôn trong các trại tập trung nào có mặt họ ở đó. Vô phước thay cho họ, những công việc nhọc nhằn hơn hết được dành cho họ, và thật đáng ngạc nhiên khi thấy không rõ sự kiên nhẫn nào đã giúp họ chịu đựng lâu dài. Buổi tối trong khi mọi người cãi cọ nhau vì vài muỗng súp phụ, những người Do Thái, không bao giờ được quyền nhận thêm, tụ họp tại một góc và trước khi đi ngủ, nhiều người trong bọn, quay mặt vào vách, thầm thì đọc kinh. Từ đó người ta hiểu, bằng cách nào dân tộc nầy trường tồn qua hàng bao thế kỷ, qua mọi loại thử thách và mọi sự ngược đãi hành hạ mà họ là nạn nhân.
——————————–
| 1 | Đọc: Hitler và vũ khí bí mật – Sông Kiên xuất bản. Sách đang in. |
| 2 | Đọc “Hitler Và Ngày Cuối Cùng Của Thế Giới Cũ” Sông-Kiên xuất bản. |
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.