Tôi biết gì về báo Nam Phong và về Phạm Quỳnh đối với đồng bào trong Nam

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 18 Nov 2025

Dẫn

Tôi thuở nay là đứa nhát đèn, nhưng có tánh ưa nói chuyện động trời, khi nói lỡ và viết lỡ, thì như con thỏ có tai dài, ở chung trong rừng với các chúa sơn lâm, thì cứ vẫn sợ bị nghi tai dài như sừng, và chỉ các chúa trong sơn lâm mới được phép có sừng, và khi ở chợ ở kinh thành, thì tôi rất sợ làm con bướm ham se sua khoe cánh vào đèn mà lửa táp cháy cánh không hay, và vẫn thích làm con dế mèn, trốn trong hang kín, khi trăng thanh gió mát thì xòe cánh gáy chơi … Bấy lâu có người tặng và gọi tôi là “học giả”, tôi xin nhìn nhận có lẽ là học giả giả thì được mà học giả thứ thiệt thì còn xa. Sách báo cho tôi đồng hàng với cụ Trần Văn Giáp, ông nầy là phụ tá chánh thức của trường Viễn Đông Bác Cổ, Pháp gọi assistant de l’Ecole Française d’Extrême Orient, còn tôi vẫn chưa ra chưa biết Hà Nội lần nào, chỉ khi Tây chạy vô đây, thiếu người dùng, và sẵn thấy tôi làm viên thơ ký ăn lương công nhựt nơi viện bảo tàng ở đây lúc đó, rồi dùng tôi luôn, còn như sánh tôi với Đào Duy Anh, thì xa nhau mười lăm bã trầu liệng chưa tới, Đào quân chữ nho chữ Hán đầy bụng còn tôi chữ nghĩa lem nhem không đầy lá mít, hoặc giả sánh tôi với Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê có lẽ được và tôi nhìn nhận tôi là bạn và thường năng lui tới nhà anh và kính anh Lê như người thầy vong niên, nhưng nhờ tôi từng lặn ngòi lội nước, biết chút ít học lóm trường đời, nhưng một đôi khi anh Lộc Đình cũng chịu tôi khá khá về việc trong nầy: Đồng Tháp cũng từng, Sài Gòn tiêm hút á phiện, xóm chị em cũ đều từng đặt lưng hoặc từng chà lết chung chạ …

Có bao nhiêu nay xin khai hết và xin bỏ qua cho. Hôm nay, 29 tháng 11 năm 1992, có một bạn nhỏ đến nhà mời viết về đề tài trên đây “Nam Phong và ông Phạm Quỳnh, đối với đồng bào trong Nam”, tôi đã giẫy nẩy từ chối, và tôi khuyên ông bạn nhỏ hãy cậy bà Mộng Tuyết, quả phụ của thi sĩ Đông Hồ, là người biết rành hơn tôi và xứng đáng hơn tôi, nhưng ông bạn cứ nằn nì bảo viết rằng nay bất chấp và tha hồ … Vì vậy mà có bài “xả láng” nói huỵch tẹt nầy, mặc cho sấm sét búa rìu, thương nhờ ghét chịu, trâu già hết sợ dao phay!

Với cái tuổi 92, và chỗ sẽ đi tới vẫn khỏi thông hành chứng chỉ. Sợ gì? Miệng tuy nói vậy và bụng cũng không mấy hứng, vì bây giờ có tật sửa, xén, cắt và bỏ của mình gần hết, – nhưng lần này kể như lần chót hay thử coi ra thế nào. Nói về tạp chí Nam Phong trước.

Báo Nam Phong ngày nay giá mắc hơn vàng. Một tờ báo lẻ, giá tương đương có hơn hoặc bằng lương một tháng, nói đây là nói với người ham sưu tập chớ đối với trong đất Nam nầy, ngày xưa, khi phát hành, nhớ như lối năm 1917 gì đó, theo như tôi biết và chỉ nói riêng về tỉnh nhỏ nhau rún của tôi là tỉnh Sốc Trăng, vừa bị nạn sóng thần thăm viếng tan nhà nát cửa hai quận Long Phú và Vĩnh Châu, sóng leo lên bãi thì mặc kệ lượn sóng nó điên cuồng, người Thổ trong vùng, gọi “rồng hay cù dậy”, dân bổn xứ đã có chữ “sóng Thần”, nhưng ngoài kia không chịu chữ “Thần”, đổi lại gọi “Triều cường”, triều vả chăng là nước biển nước sông khi lên khi xuống thì gọi làm vậy, còn cường là mạnh, ai lại không biết, nhưng triều cường thế cho sóng thần, vẫn

chưa mấy ổn, cũng là tại cái tật của Nam Phong còn sót lại, báo Nam Phong năm nào đó đăng lại bài văn tế chúa Nguyễn Ánh tế thầy cả Bá Đa Lộc, có câu: “ … trời Phú Quốc”, trong báo N.P. sửa lại là … “trời cố quốc”, và ngày nay vô đây thấy hòn đảo, mới nhận “Phú Quốc” là đúng, và nhớ lại tỉnh Sốc Trăng khi báo N.P. ra đời, tỉnh có gần gần một trăm xã thôn, thì quan chánh bố ép làng mua hộ giúp N.P. rắc rắc gần đủ 100 niên báo, mà một năm báo như vậy giá chỉ có ba đồng sáu cắc bạc (3$60) tức ba cắc bạc mỗi tháng, nhưng trên biên lai thu tiền vẫn ghi 3$60 và viết thêm “ba đồng sáu hào chỉ”, dân trong nầy hồi đó đều cười và nói thầm với nhau, cắc bạc là cắc bạc nói phứt cho rồi, hào chỉ (hầu chỉ tiếng Quảng Đông) lại cũng nói theo Tàu chưa bỏ, còn báo thì – khi tôi khởi sự ham sưu tầm và tìm mua, thì mọi làng đều trả lời: “Không ai hiểu báo nói gì, và đã lấy giấy đậy hũ mắm hoặc cho trẻ phất diều, cho mẹ bù trẻ lót tã và tệ hơn nữa, cho chùi … khi đứa trẻ làm xấu! Của quí, đã nói quí hơn vàng, mà đành đem làm giấy vệ sinh, than ôi, đâu phải chỉ có Phật có người thường lâm nạn, mà khi vào tay dân quê dân dốt, chữ ông Thánh cũng khó tránh tai ương!

Và phần đông các tỉnh trong Nam, Bạc Liêu, Sốc Trăng, Trà Vinh, Châu Đốc, dân cư là dân Thổ, thì đều na ná như vậy, không biết giá trị N.P. và tôi hỏi kỹ lại, chỉ có mấy tỉnh dân kinh ở nhiều, Mỹ Tho kể đầu, Vĩnh Long, Sa Đéc, đều biết giữ lại tờ N.P. vì dân cư phần lớn là người kinh, công chức về hưu, hoặc cai tổng, hội đồng địa hạt có vốn chữ nho hoặc đã đọc một ít tờ báo từ ngoài kia lọt vào, duy lạ nhứt là báo N.P. được một tỉnh nhỏ xa xôi, khỉ ho cò gáy, Hà Tiên, sùng bái lại đề cao nhứt, vì Hà Tiên là quê hương của một người, không học Pháp văn nhiều, nhưng già giặn chữ Hán, là bạn tâm giao, Đông Hồ và nữ sĩ Mộng Tuyết, Đông Hồ mở trường luyện quốc văn, và M.T. trước là học sinh, vốn người trong thân rồi trở thành người bạn trăm năm, vừa trung thành, vừa đồng chí, đồng gối chăn.

Trong khi các tỉnh có nhiều người khơ me ngụ, chê đè tạp chí N.P. như đã nói nơi đoạn trên, thì trái lại, ở đất Cần Cao (do tiếng Cảng khẩu nói giọng Tàu) Hà Tiên (Cần Vọt) lại có phong trào sớm vung bồi tiếng mẹ, chít khăn đóng, mặc áo dài thâm và nói nhiều giọng Bắc, viết nhiều văn Hán Nôm và mỗi mỗi cử chỉ, phong tục, văn chương, văn hóa, lấy làm gốc: điệu bộ, thói lề, nghề viết muốn cho được y như trên cao kia mới nghe: âu cũng là một biến cố mới, nói theo giọng tân thời, hoặc đó là một chuyển biến của một thế hệ thấy cử chỉ, phong tục, văn hóa gốc Tàu của họ Mạc, họ Lâm v.v .. cần phải thay đổi cho hợp thời hạp mới.

Trong lúc miền Nam đang xáo trộn thay đổi như vậy, tôi bắt đầu biết giá trị tạp chí N.P., nhờ một sự bất ngờ. Tôi đang học lớp nhì (cours moyen trường tỉnh Sốc Trăng) năm 1918, vừa 16, 17 tuổi đầu, thì có một đàn anh lối xóm, đến làm quen, anh ấy tên Nguyễn Tích Thiện, có dắt theo và giới thiệu một bạn, hình dáng vặm vỡ to xương, chắc da chắc thịt, da đen ngăm ngăm, bắt tay siết mạnh và xưng tên Phan Văn Hùm. Lạ nhỉ, sao lại tên Hùm? Hóa ra cùng một tuổi dần, nhưng mình vừa lớp nhì, còn vài năm nữa mới thi “xẹt”, còn Thiện đã có bằng thành chung, đít lôm và sắp ra trường Hà Nội, Cao Đắng Sư phạm, còn Hùm, thì chưa nói học lực tới đâu, duy rõ là bạn tốt của Thiện, vì thấy Thiện sẽ bị cho thi rớt, không được thi đỗ làm giáo sư Trung học và tấm lòng nghĩa hiệp của Hùm càng làm cho tôi kính nể thêm nhiều, và nhứt là trong giao thiệp, trong nói năng, thảy thảy đều lướt và hơn tôi thập bội. tỷ như: Thiện muốn lập trường tư có nuôi học trò vừa dạy vừa cho chỗ ngủ, cho cơm ăn, tôi nói: “trường ăn cơm trong”. Hùm cười và nhỏ nhẹ sửa lại: “Thưa anh, Ký túc xá, Tây gọi Pensionnat, Internat”. Tôi mắc cỡ thầm, qua tiếng khác, tôi hỏi: cũng nói học buộc (tưởng mình lòe … biết chút tiếng Tây, nhưng Hùm sửa lưng: “Đừng nói vậy! Đó là “có học bồng!”. Tôi biết mình kém và sớm chịu thua, rón rén hỏi: “Học ở đâu mà có những từ hay quá đó?” Hùm lễ phép trả lời: “Anh về tìm mua tạp chí NAM PHONG”. Tôi day qua hỏi người anh cả, mua ở đâu? Thiện cười cười đáp: “Mua không có nữa đâu. Chính tôi lục soát mấy năm ở Hà Nội mà tụi nó không có mà bán!”

Rồi từ ngày ấy, năm 1918, chia tay nhau. Năm 1919, tôi thi đậu xẹt, lên học trường Sài Gòn, collège  Chasseloup-Laubat, còn Hùm ở lại Sốc Trăng giúp Thiện lập trường Pensionnat Nguyễn Tích Thiện, nhưng khi phát tài, Thiện trở nên hoang phí, Hùm can ngăn không nghe, Hùm thôi làm tổng giám thị (surveillant Général), trở ra Hà Nội, học trường Công chánh, đậu chức cán sự chuyên môn (agent technique des travaux publics), rồi sang Pháp trở về cử nhơn văn Pháp, nhưng gãy cánh giữa đường, còn tôi vẫn lé đé đỗ brờ vê (brevet élémentaire), đỗ thành chung (diplôme de fin d’études complémetaries franco-indigènes) mang chữ “anh đi rềnh” đậu thêm chức thơ ký Soái phủ Nam kỳ (sau gọi Thống đốc), nhưng mỗi người riêng mỗi kiếp và mỗi số phận, nhưng Hùm và tôi biệt và không thấy mặt nhau từ 1918, tuy thỉnh thoảng tôi vẫn tìm đọc bài viết của Hùm, sở dĩ về sau Hùm được khen viết chánh tả ít sai (lời khen nầy là của Phan Khôi) và tôi rõ lại viết cứng là nhờ có thọ giáo với Diệp Văn Cương, ông nầy, tôi biết mặt vì ông dạy lớp Việt văn đệ tứ (4ème année), tôi ngồi lớp đệ Một (1ère année) hai phòng sát cạnh, tiếng giáo sư ngang hàng giáo sư Tây của ông Cương, lồng lộng nghe vang, nhưng tôi chỉ được nghe lóm, cho đến nay còn tiếc hối, và tự trách viết còn phải kè kè khít bên, cuốn Chính tả của anh Lê Ngọc Trụ. Nhớ câu của Tư Chơi khóc kép Tư Úc: “Những thằng đáng chết sao chưa chết, lại chết chi thằng đáng sống lâu?”. Nay thảy đều không còn và còn một mình đây, chưa chắc là hay là cái chắc! Tuy dở thì xin chịu, nhưng nhờ vảy may, học được với Hùm và mua được một bộ Nam Phong tạp chí chẵn chòi 210 số, mới toanh, nhưng nay đã lọt về tay người khác, và xin để cho tôi thuật đầu đuôi tự sự như sau:

Cái tật của tôi là khi viết vẫn ưa cu cu chần chần làm vậy đã quen, muốn nghe thì đừng cắt, cắt cụt thì tốt hơn là đừng nghe, và tôi vẫn thấy đài B.B.C như đài Mỹ, phát thanh ăn tiếng (manger les mots), tôi dám chê, nhưng vẫn chê thầm chớ làm sao gởi phản đối tới tai họ. Trở lại chuyện Nam Phong và Phạm Quỳnh, viết đến đây đã bốn trương, khiến đâm chán, viết dài bị thiến, muốn cắt cho mất giống, thôi thì tôi viết tóm tắt đại lược rồi lấy chi mà thiến, và chuyện thâu vắn như dưới đây là ngoài ý muốn:

Đến hôm nay, độc lập về trong tay đã 18, 19 năm, mà tại sao chữ in trên sách báo vẫn nhỏ tí xíu, nhỏ hơn chưn muỗi, rồi làm sao mắt già đọc được. Giấy in thì xấu, mực in lại quá lu, mua sách mua báo uồng tiền, tiền trả cho người viết bỏn sẻn, chung qui nhà xuất bản quá thâu chặt miệng túi, vả lại vẫn tùy vì vẫn ở trong tay kẻ bao thầu, rốt cuộc nín hơi rặn hai năm, đẻ ra tỷ như tôi, năm 1982, bản thảo “Chuyện một cô lưu lạc, chuyện bà giấu tên, V.A … ” năm 1983, bản thảo “Sài Gòn tạp pín lù”, tôi viết “tạp pín lù”, trối kệ thây tôi, khi in lại đòi đổi làm “Sài Gòn muôn vẻ” rồi nhập hai bản thảo làm một. Về giá trị của báo Nam Phong, tôi biết có một người tốt số là Nguyễn Khắc Kham (đã mất), một bữa nọ, ông đi đâu đó gặp một chú Ba Tàu, gánh một gánh sách cũ ông hỏi mua và túi không đủ tiền, ông ba chưn bốn cẳng chạy về lấy trả cho Ba Tàu, ông mua được bảy hay tám chục số lẻ rời rạc Nam Phong, mà chỉ tốn mỗi số độ 1.000 như giá thách của Ba Tàu, vị chi tốn có bảy hay tám chục ngàn đồng (70.000 hoặc 80.000) trong khi nghe đâu Đại Đức Thích Tâm Châu định sai người qua Paris xin thâu ảnh (photocopie) N.P. nơi Thư viện quốc gia (Bibliothèque Nationale) của Pháp, thì ắt phải xuất biết bao nhiêu triệu mà kể?

Một người tốt số thứ hai là Đông Hồ. Anh nầy, ở Hà Tiên chạy lên Sài Gòn, lập quán bán sách lớn, anh đăng báo và mua đủ mọi giá, lần hồi anh có được một số sách báo to, anh tuyển chọn, vá víu, lựa được toàn một bộ Nam Phong vừa ý (nay đã qua đất Pháp về tay cháu ngoại), tôi không rõ anh đã xuất ra bao nhiêu, nhưng có ai lanh trí, nhạy hơn, và có duyên với sách quí, bằng anh Đông Hồ?

Và người tốt số nhứt hạng, và bộ Nam Phong nầy nay cũng đã qua đất Pháp duy không rõ còn trong tay người đó hay đã sang tay chủ khác (Toàn quyền đặc sứ cũ là Đề đốc Decoux, có một bộ Kỷ yếu của Hội Đô Thành Hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Huế) một đầu lãnh Đông Dương muốn sưu tập sách, có thể tỷ như ra một ý nhỏ đủ cho các nơi tới tấp gởi sách về để nịnh, ông Decoux nghe như lúc sau, đã nhượng bộ sách hiếm có (mỗi năm chỉ in 600 tập cho hội viên) cho một người và người ấy, tôi xin tạm không nói tên và chỉ viết tắt H.X.H., học giả đại danh vẫn ở Pháp, lão thành và lão luyện về sử Việt và môn sưu tầm sách cũ, quí).

Nhưng phải nói luôn có lẽ người ngu hạng nhứt là kẻ hèn đang viết bài nầy, có sách quí mà không biết giữ làm của, nhưng nay nghĩ lại, lúc đó, tôi đang xính vính hụt tiền mà người kia sẵn lòng giúp tôi ba trăm ngàn (đời ông Diệm), tôi nhận số bạc ra tiền đổi lại làm ba chục lạng vàng (10 ngàn mỗi lượng) – xin hỏi ai cầm lòng cho đậu?

Vả lại Nam Phong, theo tôi lúc đó, như cây mía ngọt đã bị ép lấy gần ráo chất ngọt, tuyển ra nào Thượng Chi văn tập, nào “Nam Phong”, truyện ngắn, Tuyển nào “Chủ đích Nam Phong” v.v .. Ngoài ra, như bộ “Hạn mạn du ký” của Nguyễn Bá Trác, thì bằng chữ Hán, tôi tịt mù, cho nên cái ngu của tôi hóa ra hợp thời, đổi ra vàng y, hữu ích hơn … và đã cà kê xin cho tôi cà kê luôn, mặc dù đã hứa muốn vắn tắt, và dưới đây là sự tích, để dụ người đọc ham học nghề.

Thú chơi sách.

Như đã nói, nhờ được nghe Phan Văn Hùm giải thích, tôi quyết tìm và sắm cho được Nam Phong đủ bộ. Tôi ra trường năm 1923, mà Nam Phong ra đời từ 1917. Dịp may, vừa ra khỏi trường, thì thầy cũ, ông Đốc Nguyễn Văn Mai, mời tôi làm phụ tá cho ông để mỗi chiều ngày thứ năm, trở vào trường, giúp ông chỉ dẫn cho mấy ông Tây vô đây học tiếng Việt. Tôi kiếm được ba quan Tây cậy tôi dạy riêng mỗi tuần một giờ tại nhà họ, đã có rượu khai vị khi giảng, lại thêm mỗi ông bê tôi hai chục bạc, vị chi tôi làm ra gần gần bằng lương một tri huyện trong Nam hoặc một kỹ sư cầu cống cháy da nám phổi học Cao đắng Hà Nội ba hay bốn niên, thi đỗ mới có số tiền khá cao ấy, năm 1927, tôi lại thi đậu nửa miếng chức còm ni, cái vảy may của tôi là năm 1924, tôi gặp lão Lê Mai, tác giả sách dạy o mèo, Lê Mai bán sách lẻ ở chợ Bến Thành, Lê Mai đã làm mai bán cho tôi bốn chục số báo Nam Phơng, từ số 7 đến 37, mỗi số báo, chủ là một ông Đồ già, bán sách đứt ruột và xin lại phần chữ Nho, ra giá “ba hào chỉ” (0$30) mỗi số, lão Lê Mai bắt mối, xin thêm một cắc mỗi số, và ba chục báo Nam Phong (số 7 đến số 37, thiếu phần Hán văn, tôi cắn răng xỉa đủ mười hai đồng bạc Đầm Xòe (12$00), rồi cắp ca cắp củm, không nhớ rõ, bỗng tôi mua được sáu số khó kiếm nhứt là số 1 của tháng 7 năm 1917, đến số 6 – décembre 1917, thật là có thể nói “buồn ngủ may gặp chiếu manh” và nói chữ chút chơi, “tụ thiểu thành đa”, tôi vừa có đủ 37 số, rồi bắt đầu từ đó, tôi liên tiếp gởi ngay ra Hà Nội mua Nam Phong, cứ thiếu số nào, hoặc bị cho mượn làm mất, nay không trả hoặc bị rách bị hư bìa, tôi vẫn gởi thơ mua bổ túc, và bộ Nam Phong của tôi, tôi tự cho là có một không hai, tôi giữ kỹ còn làu làu, đặc biệt là tôi không đóng thành tập và tôi đóng rời mỗi số đóng theo điệu sách Tàu, vừa chắc, vừa nhẹ, muốn nằm ngồi trên võng hay ôm vào mùng khêu đèn điện đọc cũng xong, vừa khi qua tay người mua bộ Nam Phong nầy, tôi lại chế ra cho hai thợ mộc lấy ván cẩm lai làm bìa gỗ, lấy ván gõ đỏ làm thành mỗi sáu số làm một hộp, và thợ Đào Văn Hòe, người làng Đình Bảng, trổ nơi gáy cẩm lai hai chữ Hán Nam Phong, thêm có con rồng nổi bay lên, nhưng vào năm 1975, sau ngày binh Giải Phóng vào đây, người chủ bộ Nam Phong giao sách cho hãng Tây Transitaire Réuni chở sang Pháp, và hãng nầy có lẽ bỏ những hộp gỗ bọc Nam Phong ấy lại đây cho nhẹ tiền chở chuyên, và sự thật là cách nay vài năm, chính ông bạn Bắc, bố vợ ông bạn Hh. V. Tiểng, quen thân với tôi, đã cho hay ông từng thấy những hộp ấy bỏ rơi trống phốc nơi kho hay hè hội Pháp văn đồng minh (Alliance Française, đường Lý Tự Trọng) và chứng minh việc nầy là ông Thụ đã đưa cho tôi nhìn tập “Hiếu cổ đặc san” nhan là Phong lưu cũ mới, tập nầy tôi đã tặng ông C.T.N. là chủ hộ Nam Phong, cho hay, theo tôi, sách như người, đều có duyên phần số mạng.

Suốt những bảy trang kể lề dài dòng, tôi đã lợi dụng lòng nhẫn nại của chư độc giả, nhưng xin nhà in đừng cắt xén, cái tật của tôi không bỏ, là mặc dù lời hứa viết tắt, nhưng muốn biết chơi cổ ngoạn cũng như biết chơi sách cũ, phải vòng vo tam quốc mới thấy nỗi cam go của nhà sưu tập, và một lời chót để bắt qua nói về ông hay cụ Phạm Thượng Chi, là (xin tha thứ cho tôi kể lại chi việc tục) là tạp chí Nam Phong nay quí hơn vàng, nhưng trong Nam nầy, và lúc Nam Phong ra đời (1917 đến 1920), báo bị dân quê dốt Miền Nam coi rẻ, còn rẻ và vẫn giá rẻ hơn bèo cho heo ăn, tỷ như trên một bìa Nam Phong để trên một bàn hội tề làng nọ ở Sốc Trăng, tôi đã thấy nhan báo hai chữ Nam Phong, đã có người đặt tay bỏ dấu, đọc “Nằm Phòng” và hỏi kỹ lại, đó là chữ của vị đại hương cả trong làng, ông là người Miên (Khơ me) vì giàu sụ được tôn hương cả, ông bập bẹ tiếng Việt y như Tây nói tiếng Nam, khi làm hương quản, ngồi tra hỏi một trên trộm vặt, ông hỏi: “Mầy ăn tôm mà để cua ở đâu?” (và tên trộm đã dõng dạc thưa: “Bẩm, tôi không có ăn tôm ăn cua nào cả!” (trộm, của, ông nói mà không bỏ dấu, và hai chữ Nam Phong, đại hương cả Mên, khi lên Cần Thơ dự làm cố vấn dân sự, tòa Đại Hình (conseiller assistant de la Cour d’ Appel), khi ông đến khách sạn, bồi phòng (boy d’hôtel) kính cẩn hỏi ông muốn chọn lựa “nằm nơi phòng hạng nào?” và ông lại tưởng tờ tạp chí nọ có người nói mà quên bỏ dấu!

Tôi biết gì về ông hay cụ Thượng Phạm Quỳnh.

Tôi đã quên hỏi người đến đặt cho tôi viết bài về Nam Phong và Phạm Quỳnh là với mục đích gì, tôi đã 92 tuổi đầu, chỉ chờ ngày xuống lỗ và đã hết ham vừa danh vừa lợi, tôi không quên chỉ là một thơ ký quèn từng làm mọi cho Tây nay dấu dây xích nơi cổ chưa lành, như vậy tôi nay còn dấn thân viết bài nầy để làm gì? Hình như dặn tôi viết vài trương, mà tôi lại quyết viết mươi trang cà kê cho được hả hơi, vả lại tôi đã hết thời giờ tra cứu tài liệu cũ, vậy tôi xin người đọc hiểu cho tôi, đây là tôi thố lộ tất cả chân tình, tôi tỏ bày riêng cái nghe thấy cạn hẹp của một tên may thời còn sót lại và đã được mớ người trẻ và người cao kiến muốn biết chút lòng kẻ sống dai nầy thôi.

Tôi tóm tắt, tôi biết trước đây, trong Nam có tờ báo chữ Pháp L’Echo Annammite của Nguyễn Phan Long và tờ La Tribune Indochinoise của Nguyễn Phú Khai, Bùi Quang Chiêu, v.v .. , là hai tờ báo của Dân Miền Nam muốn tỏ bày sự muốn hiệp tác với Pháp … trong khi ấy ở Miền Bắc, vẫn có Đông Dương tạp chí (xuất bản từ năm 1913 do F.H. Scheider đứng tên), rồi tờ chữ Pháp L’Indochine Nouvelle, có ông viết cừ văn Pháp Nguyễn Văn Vĩnh cầm bút … trong lúc ấy, đã khởi sự có báo Tàu, viết Hán văn, và báo Tiếng A-lơ-măng do nước Đức cốt cán, lăm le dòm ngó Đông Dương mầu mỡ, khiến nên nước Pháp giựt mình và sai qua đây một quan toàn quyền giỏi tài mị dân thuộc địa, là Albert Sarraut và một quan coi về sở mật thám, là Louis Marty, nói và hiểu rành tiếng Bắc, hai người nầy nghĩ ra cách đẻ ra “chính sách giữ sách thực dân cho được tồn tại bằng sách báo” và vì vậy, nảy sanh tờ báo Nam Phong và sanh ra ông Phạm Quỳnh. Theo tôi, ông Phạm Quỳnh nầy, chỉ là một hi sinh của Pháp thực dân, ông lắm tài, nhưng mà về sau ông đi không đúng đường, khiến thân bại danh liệt … và “khi trâu đứng ít kẻ cho ăn cỏ, khi trâu ngả xuống nhiều kẻ cầm dao”, thậm chí có lúc, một nhóm sinh viên trường sư phạm ở Sài Gòn lập ra và “làm án Phạm Quỳnh” “lên án Nam Phong” nhưng nay Nam Phong vẫn có người tìm mua, và Phạm Quỳnh, riêng tôi thì tôi vô cùng tội nghiệp và vô cùng tiếc mến tài, tôi chỉ nói về tôi và xin miễn nói về ý kiến phần đông người trong nầy, có tay cầm viết mà khó ghi lời nào khỏi bị sửa chữa, cắt xén, – vả lại tôi là người gì mà được cho phép nói, “quán rằng xin chớ nói nhăng, dầu cho có giỏi, cũng thằng bán cơm!” (Lục Vân Tiên) …nhưng đã hỏi thì phải nói, và khi nói đố ai bụm miệng tôi kịp! Nhớ lại như đời Nam Phong là một đời đã qua, nhưng tiếng thơm còn tồn tại, còn như Phạm Quỳnh, tại sao khi được giữ cán cờ lại phất quá mạnh, lúc ông từ chủ bút vào làm ngự tiền văn phòng cho vua, làm thượng thư bộ lại, có nghĩa tế đặt cạnh làm bí thư cho bà hoàng hậu, vinh vang tôi ở đây nào thấy, chỉ thấy lúc ngai vàng sụp đổ, ngôi sang của ông cũng mất, Nam Đình, tay viết báo trong Nam ra Huế khi gặp ông thì ông nhỏ nhẹ than van, “đừng gọi tôi là cụ Thượng …” và ông chỉ ham đội mũ cánh chuồn, và khi cánh chuồn như cánh bướm gần đèn, bị lửa táp, tôi chỉ nhớ ông là một tay độc thủ, ít muốn cho ai cùng hưởng mối tiền do Tây cấp phát, vua ta còn lĩnh lương của Tây huống hồ gì, các tay phụ giúp ông viết cho tờ Nam Phong, ông lần hồi loại ra: ông cầm lại như Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, như Mân Châu (Nguyễn Mạnh Bổng), để giữ mục phục cổ, còn như Nguyễn Bá Trác, bỏ đảng về viết “Hạn mạn du ký”, rồi lên làm tổng đốc, được khoái khẩu hơn … như Nguyễn Bá Học viết “câu chuyện gia tình”, ông nầy vẫn như cây đèn dầu lạc, được khêu lên cho văn học Hán cũ, phựt sáng lên để rồi tắt luôn, kỳ dư: như Phạm Duy Tốn, sớm vào trong Nam, mượn xấp tiếu lâm cũ của học giả Trương Vĩnh Ký, đem về sửa lại giọng Bắc, in ra bộ “Tiếu Lâm An Nam” ký Thọ An, (hai người con của ông đều tài lạ, một Phạm Duy Khiêm qua học trường khó vào nhứt của Pháp, trường Đại học Sư phạm Ecole Normale Supérieure, đỗ thạc sĩ (agrégé) và trở nên một thầy đồ gàn, bỏ học bỏ chữ lót, còn giữ một tên “Khiêm”, hai nữa là Phạm Duy Mẫn, giỏi về âm nhạc, lại bỏ mất tên cúng cơm (Mẫn) chỉ giữ vỏn vẹn hài chữ Phạm Duy … ngoài ra trợ bút đào tạo bởi trường Pháp là Hoàng Ngọc Phách, để lại “Giọt lệ hồng lâu” và “Tố Tâm” rồi không ai nhắc đến nữa … vài người khen ông như Thiếu Sơn, với “Những áng văn hay” rồi khi ông xuống chưn thì cũng trở cờ … và như Vũ Ngọc Phan, tôi xin chừa còn nhiều người biết hơn tôi, và cho phép tôi bỏ qua nói về ông Phạm Quỳnh, ông vào trong Nam đăng đàn diễn thuyết nơi nhà hát Tây (nay là nhà Hội lớn đường Đồng Khởi), văn ông lưu loát, giọng nói hữu duyên, ông tìm người phụ giúp cho tờ Nam Phong, ông xuống Mỹ Tho, thì cháu con của cụ Đồ Chiểu sụt sè không dám nhận lời, vì biết còn kém nhiều tay ngoài kia đều khoa bảng còn lại, như cụ Nghè Ngô Đức Kế, bút chiến với ông về truyện Kiều, và vẫn tức vì ngòi bút lông, kết bằng lông thỏ lông mèo, không sắc bén bằng ngòi Flamant, Major đúc bằng thép điêu luyện lò Tây nhưng khi ông cho nghĩa tế vào thay ông, lên diễn đàn chỗ cũ, tôi đây chen được vào nghe, tôi ba chớp bốn sáng nghe ông nghĩa tế dõng dạc la lớn: “Tự Ro là Dzì? Tự Ro là Tự Rụng (Tự do là gì? Tự do là tự dụng” … tôi nghe được bao nhiêu đó thì mồ hôi ra ướt áo, tôi xuýt nghẹt thở và lật đật chui ra ngoài kẻo nín thở luôn, tôi quên nữa, cộng tác với ông, như thi sĩ Tản Đà, bị ông cười, “đời tân học, chuộng trơn bén bóng loát, Khắc Hiếu, giỏi nghề chạm rồng trổ phụng, đẹp mắt thật nhưng nhiều bụi bặm”, Tản Đà tức, ôm mớ văn chương lên bán ở Chợ Trời, tuy vậy “trận gió thu phong rụng cánh hồng” vẫn còn nhiều thanh niên ngâm đi hát lại, và tỷ như ông Lô gic Phan Khôi, cũng vẫn bị ông cho nghỉ việc, khiến Phan Khôi vào Nam, giúp tờ Đông Pháp thời báo của ông Diệp Văn Kỳ, rồi ra Huế dựng tờ Sông Hương … Diệp Văn Kỳ, bạn học cũ ở Quốc học Huế đô với Bác và Phan Văn Hùm, thời buổi ấy chưa có máy bay cứu thoát nên đã đi bán muối dưới Diêm đài, việc ấy xin hồi sau phân giải … đến đây bài của tôi đã quá dài, tôi xin chấm dứt để nhớ lại, năm 1967, tôi được cho ra Huế dự khảo xét các bạn Đại Học nhỏ, xuýt thi ra trường, một tên thơ ký quèn dốt nho dốt nôm, nhưng vì ham tìm mua đồ cổ ngoạn, phúc được ra Huế có vé máy bay khứ hồi, tội gì mà từ chối, không nhớ đó là vào tháng nào, chỉ nhớ một hôm, bỗng một ông bạn bác sĩ có mở phòng trị bịnh ở đường Gia Hội, ông lấy xe nhà, mời đi một vòng, bác tài xế lái xe đến chùa Vạn Phước, bỗng sừng sực thấy trước mắt một ngôi mộ bằng ô dước hay xi măng đã quên, kiểu thức lối cổ, có vòng đai chung quanh và miếu nhỏ thờ thổ thần, trời đã nhá nhem sắp tối, ngoài xa giăng giăng hàng núi Ngự xanh xanh, và chớp chớp nước sông Hương sáng sáng, tôi đứng run lặp cặp, nửa vì lạnh, nửa vì không mặc áo ấm ngự hàn, ngậm ngùi thức cảnh sanh tình, rán đọc mấy chữ rẻ “thập nhì”, “thập bát”, còn lại mấy chữ mắt, có người đọc cho tôi ghi lại ba hàng:

Nam NAM ất

PHẠM PHONG mùi

BÍCH CHỦ niên

lịnh BÚT thập

đệ PHẠM nhị

tự QUỲNH ngoạt

PHẠM? THƯỢNG nhị

đồng CHI thập

bái DI bát

lập THẾ nhựt

Tôi bỗng vụt hỏi:

– Sao lại “di thể”,

Người đứng kế bên, bác sĩ Hà:

“Restes mortels”, ông Diệm sai tìm xác anh, Cố Trầu sai bộ hạ, bộ hạ biết chỗ, moi trong lỗ lên ba xác: 1 xác đàn bà, loại ra, cái thứ 2, mắt còn mang nhãn kính gọng đồi mồi, biết chắc đó là di thể cụ Phạm, nên trả cho thông gia là Ung Trình, còn xác thứ ba, đúng là của tổng đốc Ngô Đình Khôi. Xe đưa tôi trở về, tôi xuống xe trước nhà hàng Morin, bắt tay cám ơn bác sĩ, leo lên lầu, vào phòng lấy bánh mì và nem chua ra xơi, lên giường nằm suy nghĩ: “thơ ký lem nhem ba chữ không đầy lá mít, chỉ vì khéo tránh bẫy tránh dò nay còn sót lại, tưởng số hơn ông nằm ban chiều nơi chùa sư nữ, hỏi ra vì mẹ ông đã được an táng tại đó, và chớ chi ông đừng bôn chôn ham cái mũ cánh chuồn, ông ở lại Bắc làm chủ tờ Nam Phong, thì danh thơm không mất, chẳng qua mỗi người mỗi số kiếp, khéo tu thì còn, vụng tu thì chìm, mà ở đời ai dám biết vụng hay khéo? Và chớ chi Nhà Nước đừng hấp tấp, dưỡng ông lại như nuôi con bò để kéo xe chở cỏ, có lẽ mình đây ắt được học thêm nhiều, nhưng mấy đời người ta biết xót thương người hiếu học, và câu chót, tôi lại nghe, lúc Tây đi

kiếm để cứu ông Quỳnh, cứ đi tới đâu, câu trên môi của lính sơn đá Tây là “cù est Phạm Quynh? “Où est Quynh? v.v .. , rõ Quỳnh lợi hại thôi thì hạ sát cho xong. Ở đời xin đừng vội tưởng hễ được cầm cờ thì tay cứ phất? Phải coi lèo coi lái, khi gặp gió ngược, trở tay sao kịp? Lỗi về ai, có khi lỗi về người ra lịnh phất cờ. Gió đã thay chiều, không nên hơ hỏng? (viết 12 trang làm bốn ngày, tuổi 92 vẫn còn minh mẫn hỉ).

2-12-1992 V.H.S.

(Ất Mùi là 1955).

Bộ Nam Phơng của tôi gồm 211 số, có dư một số về Xuân, không rõ năm nào, ngoài bìa vẽ hình một táo đen giao tay qua một táo đỏ, tôi cứ dư số Xuân ấy, dâng cho cụ Cử Võ Hoành ở Sa Đéc, cụ nhận mà bĩu môi: “Văn thằng Quỳnh, thằng Chác, ghét quá!” Cũng vì thét thay vì hét, phì cười v.v .. kha kha là anh, trong nầy lại nói “ca ca”, một ông Tây đi xem hát bội, nói với tôi: Il a trop de caca? Thiết tưởng còn hoài, từ Trịnh Nguyễn tranh phuông cho đến nay vẫn chưa dứt …


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply