vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
(viết 4-5-1992 cho Tạp Bút 1991)
Post by Sơn râu 17 Nov 2025

Phần 3
Mạnh Thường Quân Giả Hiệu
Tôi có tật viết vẫn đề ngày, sau nầy sẽ nhìn nhận tôi có lý. Vừa rồi, tôi ưng cho một nhà xuất bản in lần đầu tập 2 và tập 3, nối tiếp tập 1 nhan là “Sài Gòn năm xưa”. Tôi viết tập 2, năm 1982 nhan là “Sài Gòn đời Pháp thuộc” kể từ năm 1945 đến năm 1963, và qua năm 1983, tôi viết tập 3, lấy nhan là “Sài Gòn tạp pín lù” kể việc từ 1963 đến gần đây, chẳng qua tôi nói bâng quơ việc nghe, việc thấy theo tai mắt phàm phu nhục tử của kẻ hèn nầy. Tôi mừng bụng và đinh ninh nhà xuất bản, nếu cứ cái đà cũ (theo lối trước 1975), in hai tập làm hai lượt, tỷ dụ mỗi tập xuất bản độ 3000 cuốn, thì tôi ắt sẽ có một số tiền nhuận bút đủ sống tạm bợ một vài năm nữa trong buổi tuổi cao (91 tuổi), bạc kém (kiếm không ra) và “củi châu, gạo quế” thời đại tôi trùm chăn chờ thời như vầy. Mảng cà kê thuật và than thở chuyện của mình mà đã đi quá xa đề, nay xin trở lại, nói về Mạnh Thường Quân. Ngày xưa M.T.Q. là người hào hiệp, coi tiền bạc như nước chảy dưới cầu, chứa khách đếm số ngàn, trái lại ngày nay, tôi có trước đây một Nhà xưng Mạnh Thường, nhà ấy, người ấy chạy sang Pháp địa, và nghe đâu năm 1988, ông đưa bộ môn sưu tập “đồ sứ Huế” (bleu de Huế) cho nhà đấu giá Hôtel Druot lo việc phát mãi, lấy tiền xài. Câu chuyện kéo dài, ông vua mất ngôi B.Đ. tranh chấp, rằng các vật ấy là của triều đình nhà Nguyễn Phước, và một mặt khác, Nhà Nước ở Hà Nội cũng ngăn cản rằng của ấy nay thuộc quốc gia Việt Nam, nhưng tóm lại cả hai đứng đầu tranh cãi đều thất lý, và tòa án Pháp đã xử cho phép Hôtel Druot phát mãi, viện lẽ những vật ấy mua nơi mấy nhà buôn có môn bài (tức không gian) và nói tắt cho mau, cho đến nay, nhà Mạnh Thường ấy nào có nhớ công tôi mua lựa và chút công ấy có lẽ đúng là Mạnh Thường thì phải nhớ và đừng quên tôi.
Hôm nay tôi nói vòng vo tam quốc, là để tả oán, nhưng mình nói mình nghe chớ Nhà Mạnh Thường kia, ở Pháp, nào có nghe chút nào! Tục ngữ Pháp có câu “Les chiens aboyent, et la caravane passe”, tôi dịch lẹ: “Bầy chó cứ việc sủa (cắn), nhưng đoàn lạc đà cứ tiếp tục đi” và tôi nói mỏn hơi tôi, chi cho bằng tạm lược dịch thoát lại đây hai bức như vầy:
1. Việt Nam vừa thu hồi được hai cổ vật quí, thuộc triều đình Huế bị đánh cắp trước ngày 30-4-1975:
a. Một bầu gọi “đầu hồ, đánh đầu hồ”, tức lối luyện sự nhẫn nại của người cổ nhân, mà tương truyền thiện
nghệ hơn ai là vua Dực Tôn (Tự Đức), đang đêm, ngài cầm lối mươi cây roi và vẫn phóng từ xa cho roi nhảy vọt vòng 1 trúng ngay “con cóc”, kêu tiếng “cóc” rồi roi lại vọt một vòng nữa rơi vào miệng hồ, tiếng dội “tung! tung! tung!” ba lần như vậy.
Và tôi xin giải thích thêm: sở dĩ người Tây Âu ở xứ lạnh, thì cần mỗi ngày mỗi sớm mỗi chiều, phải tập dượt thể thao, thể dục thật nhiều cho huyết mạch mau lưu thông khỏe mạnh, trái lại người nước ta, ở xứ nóng, tránh sự thoát mồ hôi (làm dơ y phục) thì vẫn chuộng luyện nhẫn nại (tập bắn giàng (cho viên đạn trúng hường tim), và tập tỷ như “đánh đầu hồ” nầy …
b. Cái bàn lùn, chưn thấp ở dưới, sơn son thếp vàng, và trên mặt bàn là một miếng sứ vuông có vẽ san thủy và chữ bùa … Bàn nầy tôi mua nơi nhà buôn đồ cổ do ông Hoàng Đàn làm chủ, nơi xóm Đinh Tiên Hoàng, Đakao, Sài Gòn, hiện tôi đã quên địa chỉ. Bàn có đặc điểm lạ, là đặt bàn ở nơi nào, thì vài hôm sau, trọn vuông phòng có hương trầm thơm ngào ngạt. Khi mua được, chở về COPHAVINA, chủ nhân đặt bàn nầy nơi phòng khách, rồi khi nghe tôi cắt nghĩa đặc điểm mùi trầm, chủ nhơn dời bàn qua phòng chứa sách, phòng nầy có máy lạnh, và hôm sau, mở cửa phòng, quả nhiên hương trầm tỏa ra thơm phức sỡ dĩ có như vậy, xét ra vì bàn nầy trước ở nơi Đại Nội cung vua, trầm đốt liên miên, nên bàn nhiễm hương trầm như vậy.
c. Món thứ ba, vẫn bị cản trở, nhưng rốt được cho bán, và nghe như giá bán trên mười mấy ngàn đô, thế mà tôi nào có được xu ten gì, và tôi nhớ mại món ấy có cảnh trong photocopie, chủ nhân Mạnh Thường ấy, sai tôi trả giá mua lại của Hoàng Văn Chánh, chủ hiệu buôn đồ cổ đường Đinh Tiên Hoàng, chủ hiệu ưng bán cho tôi 800.000, tôi than không đủ tiền, sau đó có người tranh giành và rốt lại chủ nhân Mạnh Thường trả 1.300.000 đồng năm có đảo chánh lật ông Diệm nhưng không xong, tôi chở về COPHAVINA và xin độc giả xem bức ảnh về lai lịch và hình cái lu ấy hơn là đọc lần thẩn những gì tôi viết.
Appartenant à Monsieur X
Collection de porcelaines dites “Bleus de Hué”. Porcelaines de Chine des XVIIè, XVIIIè et XIX è siècles
Objets d’Art provenant du Palais Impérial de Hué, Guéridon en bois doré et laqué avec plat en céladon
d’époque MING Appartenant à divers Amateurs Céramique de la Chine des époques Ming et Qing
“Liding” en bronze d’époque SHANG
Tabatières en porcelaine, verre, ambre
Pierres dures – Jades – Objets du Lettré Montagne sacrée en jade vert épinard avec inscriptions de l’empereur
QIANLONG
Objets d’Art du JAPON
Sabres – Inro – Ivoires – Estampes
Paravent japonais du XVIIIè siècle
II9- Important vase décoré en bleu saphir de quatre réserves ornée de jeunes femmes sur les terrasses d’un
palais. A la partie inférieure, scène de chasse avec cavaliers. Le col est orné d’une suite de pivoines sur fond feuillage. A l’épaulement, les huits objets précieux sur fond quadrillé. Epoque KIANGXI. Dernières années du XVIIe siècle. (Félures au col et à base). Col cerclé d’argent. Haut. 94 cm.
Ce vase, dont des exemplaires se trouvaient à Deesde à la Cour d’Auguste le Fort, provient des Palais de la Cour à Hué. Les pérégrinations sibies par ce vase méritent d’être contées: “Le 22 juillet 1885, l’empereur Ham Nghi, après l’échec des armées vietnamiennes devant les forces françaises, dut s’enfuir de sa capitale et se réfugier dans les régions montagneuses de Quang Tri. Pour remercier le chef de cette population qui lui donna asile, il lui offrit ce vase. Longtemps plus tard il appartint à un riche personnage qui le conserva pendant plus de 30 ans à Tourane. À la fin de sa vie, celui-ci tomba amoureux d’une jeune fille de vingt ans à qui il offrit ce vase. Elle s’empressa de le vendre et, après diverses tribulations, il parvint à notre collectionneur”.
(Tôi viết thêm những chi tiết trên đây đều do thẻ viết tay của tôi viết và khi chạy qua Pháp, Mạnh Thường đem theo).
(viết ngày 29-11-1992)
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.