Y Sỹ Tiền Tuyến

vietmessenger.com

Trang Châu

Typing & Post by Sơn râu 23 July 2023

Ven Đô

Sau mười một tháng ở Vũng Tàu, tôi rời Tiểu Đoàn 6 để về Tiểu Đoàn 3 ở Sài Gòn. Y Sĩ Dù phải phục vụ ở cấp Tiểu Đoàn một thời gian là hai năm. Nhưng mỗi khi có đợt y sĩ mới về các y sĩ cũ được ưu tiên chọn lại đơn vị mới nếu họ muốn. Kỳ này có hai y sĩ mới để thay Niệm ở tiểu Đoàn 8 và Cảnh ở Tiểu Đoàn 3, tôi xin đổi về 3. Như vậy một trong hai y sĩ mới sẽ thay tôi ở 6. Nhiều lý do làm tôi muốn rời Vũng Tàu về Sài Gòn, nhưng lý do chính nhất vẫn là vấn đề tình cảm: Vũng Tàu có biển nhưng Sài Gòn có người yêu.

Tiểu Đoàn 3 vừa hành quân ở Phù Cát về, nóng hổi chiến thắng Đại Bàng 800. Cả một chiến dịch phô trương chiến thắng này qua báo chí, đài phát thanh, phim ảnh. Tiểu Đoàn may mắn có hai tay văn nghệ góp tài tô điểm: Ông Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh, thực hiện cuốn phim mang tên “Đại bàng 800”, Đại Úy Sĩ Quan ban ba nhà văn Thế Hoài, viết phóng sự đăng báo. Nhưng tôi cho điều may mắn hơn của Tiểu Đoàn 3 là có một ông Tiểu Đoàn Trưởng biết xử dụng văn nghệ để nâng đơn vị lên. Với “Đại Bàng 800” Tiểu Đoàn 3 tìm được một chổ đứng dưới ánh mặt trời. Tôi theo Tiểu Đoàn tham gia chiến dịch “Rạng Đông”. Qua những tài liệu học tập tôi được biết công việc bình định nông thôn được nâng lên hàng Quốc Sách. Quân đội sẽ đảm trách phần an ninh giúp các đoàn thanh niên xây dựng nông thôn, các toán võ trang tuyên truyền, các ban y tế về làng hoạt động. Bên ngoài chủ lực quân càn quét địch, bên trong quân cán chính địa phương tiêu diệt các ổ nội tuyến, tổ chức lại hành chánh xã ấp. Thí điểm được chọn là những quận ven đô, nếu kết quả mỹ mãn sẽ bành trướng trên toàn quốc. Chúng tôi đang lãnh trọng trách bẻ gãy kế hoạch lấy nông thôn bao vây thành thị của địch.

Vùng hoạt động đầu tiên của Tiểu Đoàn 3 là Ấp Đồn, quá quen thuộc với binh sĩ Dù, vì nơi đây có bãi nhảy. Cách Ấp Đồn không quá một cây số là bưng biền Nhị Bình, một vùng kinh lạch bùn lầy hiểm trở. Lực lượng địch ẩn náu trong bưng theo tin tình báo không quá một trung đội du kích. Nhưng Nhị Bình còn là nơi tập trung và dưỡng quân của đich. Tìm diệt lực lượng này vẫn là điều mong muốn của các cấp chỉ huy. Nhưng thường thường chỉ chạm với du kích. Đánh nhau với du kích nếu không khôn ngoan không những khó ăn mà đôi khi còn thua đau.

Xe đổ chúng tôi xuống Ấp Đồn lúc năm giờ sáng. Kéo dọc theo con lộ đến ngang Nhị Bình. Hai cánh quân song song tiến vào bưng. Tám giờ Đại Đội 32 chạm địch. Ỷ vào địa thế quen thuộc dễ ẩn náu, dễ rút, du kích Nhị Bình rất lì chờ đối phương đến thật gần mới nổ súng. Nhưng binh sĩ Tiểu Đoàn 3 tiến quân không động tĩnh. Khi hai bên bất thần trông thấy nhau, khoản cách không đầy năm thước. những loạt súng thật dòn thật ngắn, đưa đến kết quả: Phía Dù một chết, hai bị thương, địch bỏ lại ba xác cùng vũ khí. Nơi chạm súng cách xa tôi quá, tôi không thể có mặt bên các thương binh. Tôi hỏi ông Sĩ Quan Ban 3 về phương tiện di tản. Đại Úy Châu cho biết sẽ có trực thăng bốc thương binh tại chổ. Súng vẫn nổ rời rạc, hướng đạn địch bay qua phía chúng tôi. Mọi người di chuyển nhanh qua các chổ trống. Chúng tôi đi trên bờ đất trơn cao, bấu víu vào những thân cây mít. Một hố cá nhân ngập nước đục ngầu nằm sát lối đi. Đến bên hầm tôi tẩn mẩn cầm gậy tre xăm xuống hồ nước. Không thấy gì khả nghi, tôi nghị nước đục vì có người đi trước rửa giày. Nhưng vừa đi mươi bước, tôi nghe đằng sau có tiếng quát lớn: “dơ tay lên”! Một lúc được dẫn qua trước mặt tôi một người đàn ông chừng năm mươi tuổi bận bà ba đen, ướt như chuột từ đầu đến chân. Người Sĩ Quan an ninh nói với tôi:

_Thằng cha này lặn núp dưới hầm nước mà hồi nãy Bác Sĩ xăm cây gậy xuống đó, lặn lâu hết hơi phải ngoi đầu lên.

Tôi thắc mắc tại sao lúc nãy tôi xâm cây gậy khá sâu mà không chạm người gã. Có lẽ lục soát không phải phận sự của tôi. Chúng tôi rút ra đường lúc năm giờ chiều, không quên gài dưới mỗi xác du kích hai quả lựu đạn quà tặng dành cho đồng bọn về kéo xác. Ba hôm sau, một Đại Đội được tung vào lại mục tiêu cũ. Ba cái xác sình thối vẫn không xê dịch. Chẳng hiểu địch quá khôn, hay quá sợ mà không dám trở về. Một buổi chiều ông Trưởng cho mời tôi sang nói chuyện. Tôi nghe nói nhiều về thuật chỉ huy và dụng nhân của ông Tiểu Đoàn Trưởng này. Dưới quyền chỉ huy của ông binh sĩ Tiểu Đoàn 3 trở nên những người lính gương mẫu nhất: Đầu húi cao, giày đánh bóng, chào kính kỹ càng. Ông tỏ ra có uy với các sĩ quan thuộc cấp. Trong những buổi họp Sĩ Quan phải gọi nhau bằng cấp bậc. Ở hậu cứ cũng như khi hành quân, lon phải mang ở cổ áo. Một lần ông tỏ bày quan điểm với tôi về lon phải mang ở ngực:

_Tôi không chấp nhận Sĩ Quan mang lon ở ngực, trông thiếu tác phong, tồi tệ hơn nửa là mang lon ở ngực với ẩn ý là khi cần gỡ bỏ nó nhanh chóng. Phải biết hãnh diện mình là Sĩ Quan, ngay cả trước kẻ thù.

Người Sĩ Quan được ông nể biệt là ông Y Sĩ Trưởng. Ông tiếp tôi lịch sự đến mức làm tôi lúng túng. Những người khéo quá phải nên dè dặt. Tôi hay dặn lòng như vậy. Nhưng tôi vẫn thích sống hòa hợp hoặc chạm trán với những người trong hoàn cảnh nào vẫn tỏ ra lịch sự. Trong câu chuyện ông Trưởng cho tôi biết giai đoạn dân sự vụ bắt đầu, trong đó mục khám bệnh phát thuốc của tôi giữ phần cốt cán. Liền một tuần, ngày hai buổi tôi hành nghề qua nhiều địa điểm ở Nhị Bình. Tiểu Đoàn còn tổ chức hai đêm văn nghệ, chiếu bóng. Tôi nghĩ không cần tranh thủ nhân tâm vùng này, họ quá quốc gia; tôi cũng nghĩ không còn gì nhiều phải làm để đóng lâu ở Nhị Bình.

Chiều ngày thứ mười Tiểu Đoàn được lệnh trở về hậu cứ chuẩn bị hành quân dài hạn. Hành quân dài hạn không vùng I thì cũng vùng II. Tiểu Đoàn 3 vừa ở vùng II về, nếu đi Trung chuyến này chắc ra vùng I. Ngoài ấy đang mùa mưa. Hành quân vùng I mùa nào cũng khổ. Nắng thì nắng ráo nước sông, mưa thì mưa thúi đất. Nhưng trong hai Tiểu Đoàn được không vận thẳng ra Đông Hà không có Tiểu Đoàn 3, chúng tôi được lệnh tiếp tục chiến dịch “RẠNG ĐÔNG”. Vùng trách nhiệm mới gồm các ấp thuộc quận Bình Chánh.

Đoàn xe theo quốc lộ số 4 đưa chúng tôi ra Phú Lâm, qua Bà Hom và ngừng ngang Chợ Đệm. Chưa bao giờ binh sĩ vui vẽ như chuyến xuất quân này. Hành quân yểm trợ xây dựng ở ven đô đối với Nhảy Dù như đi dưỡng quân.

Nằm Bình Chánh sẽ không phải thèm nhớ Sài Gòn như nằm ở Tam Quan hay Gio Linh. Hai mặt quân yên thắm tiến vào vùng trách nhiệm. Bộ Chỉ Huy đóng trong đồn Nghĩa Quân. Đồn nằm giữa đồng trống có hồ ao bao bọc, chéo Chợ Đệm chừng hai trăm thước. Địa bàn hoạt động của Tiểu Đoàn 3 gồm ba xã: Tân Túc, Tân Nhựt và Tân Quí. Ông Quận Trưởng Bình Chánh cho biết tình hình an ninh như sau: Tân Túc gồm những ấp nằm sát quốc lộ số 4, ban ngày an ninh trăm phần trăm. Tân Quí cách Tân Túc bởi con kinh Sáng trong tình trạng xôi đậu. Tân Nhựt gồm các ấp nằm dọc hai bờ kinh Tà Bà thiếu kiểm soát gần một năm nay. Kinh Sáng chạy qua hết Tân Túc chia làm hai nhánh: một nhánh là kinh Bà Tà chạy tuốt vào mật khu Lý Văn Mạnh, một nhánh rẽ sang Đức Hòa, Đức Huệ. Trong ba chiếc đồn trấn thủ ba xã này chỉ còn lại hai: một ở Tân Túc và một ở Tân Quí. Đồn Tân Nhựt nằm sát mật khu Lý Văn Mạnh, một lần bị địch tấn công đốt cháy. Nghĩa Quân phải rút về Tân Túc.

Hai ngày đầu toàn bộ  Tiểu Đoàn đóng ở Tân Túc, một Đại Đội được tung sang lục soát các ấp ở Tân Quí rồi rút về đóng ở chợ Đệm. Trong đồn các công sự được kiên cố hóa. Nhìn những chồng bao cát được đắp cao, các địa đạo sâu quanh co, tôi nhủ thầm mình sắp được buồn vui chuỗi ngày đóng đồn. Hai đêm đầu du kích mò về bắn khuấy bốn năm lần nhưng chúng chỉ ở xa xa bên kia Tân Quí bắn sang. Phía Dù không một phát súng trả lời, im lặng cũng là một cách trả lời đáng sợ.

Sáng ngày thứ Hai tôi bắt đầu khám bệnh, phát thuốc. Theo tôi ngoài trạm Cứu Thương còn một toán Cảnh Sát Dã Chiến. một toán thanh niên Xây Dựng Nông Thôn, một toán Tâm Lý Chiến của Biệt Khu Thủ Đô tăng phái. Tôi có cảm tưởng vui ngộ mình là một thứ cò mồi câu dân chúng ra khám bệnh, xin thuốc để các ban khác hoạt động. Thân chủ của tôi rất đông lần nào cũng trên một trăm năm mươi. Một y tá nói với tôi:

_Bác Sĩ mở phòng mạch tư mà đông khách như thế này thì mau giàu lắm.

Một phòng mạch đông đảo thân chủ, giấc mơ của tôi ngày nào, giấc mơ đã tàn theo chiến tranh. Tôi bây giờ chỉ muốn làm một người thầy thuốc can đảm, tận tụy ngoài tiền tuyến. Đêm thứ ba ban Tâm Lý Chiến tổ chức một đêm văn nghệ chiếu bóng ở Chợ Đệm. Đồng bào tham dự khá đông. Sau phần phát thanh tin tức cuốn phim thời sự mới bắt đầu thì địch từ bên kia bờ kinh Sáng bắn sang. Không có thiệt hại nhân mạng, nhưng cũng làm một số dân chúng lo ngại ra về. Về mặt tâm lý buổi chiếu bóng xem như không thành công. Sáng hôm sau toàn bộ Tiểu Đoàn vượt kinh Sáng sang lục soát Tân Quí. Buổi chiều Tiểu Đoàn rút về để lại bên kia bờ kinh Đại Đội 31 nằm tiền đồn. Khoản bảy giờ tối súng nở dữ dội bên kia bờ kinh. Súng đich nghe nhiều hơn súng bạn. Báo cáo cho biết một toán kích trên đường ra vị trí chạm trán bất ngờ với một toán đich. Cuộc tao ngộ chiến ngắn ngủi gây phía Dù một chết, một bị thương. Người thương binh được đưa qua chợ Đệm để tôi cấp cứu. Chiếc Hồng Thập Tự chở tôi ra chợ Đệm. Chờ một lúc người thương binh mới được khiêng từ bến lên đình chợ. Một viên đạn xuyên cẳng tay trái, không thấy dấu hiệu gãy xương, nhưng người thương binh kêu đau ở bụng. Tôi cho cởi quần áo, qua ánh đèn pin tôi thấy một lổ đạn vào hông phải, không thấy lổ trổ ra. Nghiên cứu kỷ chiều đạn đi tôi kết luận: viên đạn xuyên cẳng tay phải rồi còn trớn chui từ hông vào bụng. Tôi chuyền vội một chai dextrant, chích trụ sinh rồi xin ưu tiên di tản. Hai mươi phút liên lạc phía cố vấn Mỹ cũng như phía ban ba, không mang lại kết quả: các trực thăng tản thương đều bận công tác. Tôi về gặp ông Trưởng để trình bày sự cần thiết di tản để có thể giải phẫu kịp thời vết thương bụng. Ông Trưởng quyết định cho một Dodge và tám binh sĩ hộ tống chiếc Hồng Thập Tự đưa người thương binh về Tổng Y Viện Công Hòa, nếu chạy nhanh và thông suốt mất chừng bốn mươi lăm phút. Chúng tôi yên tâm khi mười phút sau nghe báo cáo qua máy xe đến Phú Lâm bình yên.

Ngày hôm sau Đại Đội 34 được tung sang đóng ấp 4 xã Tân Nhựt. Tôi cũng rời Tân Túc qua hành nghề ở Tân Quí và Tân Nhựt. Song song với công tác dân sự vụ Tiểu Đoàn ba được trung đoàn Manchu Mỹ yểm trợ trực thăng, tổ chức thường nhật hành quân theo chiến thuật “châu chấu diều hâu”: Một Đại Đội được trực thăng vận ngay xuống mục tiêu, lục soát xong trực thăng lại bốc trở về. Sau hai tuần “châu chấu diều hâu” Tiểu Đoàn 3 hạ được mười lăm du kích, bắt sống gần hai mươi tên mà chỉ tổn thất một chết hai bị thương. Tình hình an ninh được cải thiện mau lẹ: Đêm không còn nghe tiếng súng khuấy rối; một số du kích xã ra hồi chánh. Binh sĩ trung đoàn Manchu tỏ ra nể phục Tiểu Đoàn 3 Dù. Họ yêu cầu được hành quân phối hợp với chúng tôi. Ở cấp Đại Đội hay Trung Đội, luôn luôn họ tự đặt dưới quyền của Sĩ Quan Dù. Một buổi sáng tôi được Trung Úy Tước Đại Đội Trưởng Đại Đội 31 kể cho nghe một câu chuyện khá thần bí: Tối hôm trước ông tung mười tổ “ăn sương” quanh vị trí đóng quân của Đại Đội, tổ xa nhất do Hạ Sĩ Quới, người vô sự trong toán kích tao ngộ chiến với địch lần trước làm tổ trưởng. Quới và Niệm, tên người binh sĩ tử thương là đôi bạn thân. Vào khoản chín giờ tôi tổ kích báo cáo Tổ Trưởng mất tích nhưng vũ khí còn tại chổ. Tất cả tổ kích được báo động và tìm kiếm nhưng không kết quả. Sáng hôm sau tìm thấy Quới nằm trong lều từ bao giờ, mặt đờ đẫn, mắt đỏ ngầu như máu. Trung Úy Tước không hiểu làm thế nào Quới có thể từ vị trí về đến Đại Đội mà không bị phát giác. Ông cũng lạ lùng trước bộ mặt như bị ma hớp hồn của người Hạ Sĩ. Trung Úy Tước thuật lại lời của Qưới:
_Em đang ngồi canh thì thấy thằng Niệm mặt mũi buồn rầu đến ngồi bên cạnh, hắn rũ em đi với hắn, em bảo bận gác. Nó nói đi với nó một lát nó sẽ đưa về, em đi với nó, rồi nó đưa em về lều em…

Trung Úy Tước hỏi tôi chuyện có thể tin được không? Tôi cười trả lời có thể cho đó là một ám ảnh thị hình gây nên bởi một chấn động tình cảm ảnh hưởng đến vài tâm điểm của trung khu thần kinh. Nhưng khi ông thắc mắc sao người Hạ Sĩ có thể về đến lều bình yên mà không bị phát giác thì tôi không thể tìm ra một giả thuyết nào để giải đáp ngoại trừ giả thuyết các tổ kích đều ngủ gật hết. Để tránh làm giao động tinh thần binh sĩ trong Đại Đội, Trung Úy Tước xin cấp cho Quới bốn ngày phép đặc biệt về Sài Gòn.

Bộ Chỉ Huy Tiểu Doàn đóng ở chợ Đệm được một tháng rưỡi. Bốn mươi lăm ngày trôi qua không có gì đáng ghi nhớ ngoài một lần thức trắng đêm nhìn hỏa châu soi sáng Sài Gòn để sáng hôm sau nghe đài phát thanh loan tin địch pháo kích và tấn công phi trường Tân Sơn Nhứt lần đầu tiên; không có gì ngoài một đêm Giáng Sinh, Thế Hoài và tôi gật gù ngồi nhìn nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh say túy lúy tiểu tiện đầy một vỏ chai rượu vang, đậy nút đặt lên bàn ăn Sĩ Quan, xong níu vai chúng tôi thì thầm: “Sáng mai cho chúng nó chết, thằng mặt trời, thằng mặt trăng, mấy thằng mũi lõ…” không có gì ngoài buổi chiều địch cối tám quả 81 ly vào đồn, nhưng không trúng đích, trong cảnh mọi người hối hả nón sắt chụp đầu chạy ra các công sự. Ông Trưởng mặc quần xà lỏn vừa ngồi hớt tóc vừa chỉ huy hai khẩu 81 phản pháo về hướng Tân Nhựt.

Tôi được sống những ngày hành quân nhàn nhã nhất, ngoài phần khám bệnh binh sĩ và làm dân sự vụ, thì giờ còn lại tôi đi câu cá. Sau hai tuần làm thân Lã Vọng, giỏ cá của tôi có chẵn mười con cá rô. Không biết khi rời đồn giỏ cá của tôi sẽ được bao nhiêu con. Đại Úy Garrens nuôi vịt, suốt ngày anh ngồi nhìn đàn vịt mười mấy con loi nhoi trên mặt ao. Trung Úy Bell nuôi một con chó Vện xin được trong một cuộc hành quân. Nghề phụ của chúng tôi không mấy phát đạt: giỏ cá của tôi nước ngập một đêm mưa nước dâng ngập miệng giỏ, cá rô thoát ra ngoài hết. Tôi chán nản bỏ nghề câu ngồi viết văn. Vịt của Đại Úy Garrens chết dần mòn; con Vện của Bell một buổi sáng lục lọi đồ dùng của chủ xơi nhằm sáu viên Chloroquine lăn đùng ra chết. Hai anh bạn Hiệp Chủng Quốc của tôi thấy mình không có duyên với màu sắc địa phương, bèn trở về dân tộc tính: ngày ngày đọc playboy.

Sau hai lần thám sát quy mô hai xã Tân Quý và Tân Nhựt. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn rời đồn chợ Đệm vượt kinh Sáng lên đóng cạnh một chiếc cầu sắt gần Đại Đội 33, đóng trong đồn Nghĩa Quân Tân Quí. Đại Đội 31 ở yên vị trí cũ, chỉ khác là trước là tiền đồn, bây giờ thành bọc hậu, Đại Đội 32 bảo vệ Bộ Chỉ Huy, Đại Đội 34 cùng một Đại Đội Hoa Kỳ đóng sát vùng “tự do oanh kích” hai bên bờ kinh Bà Tà. Tôi làm dân sự vụ ngay cả trong những buổi hành quân thám sát. Lục soát xong là có máy phóng thanh kêu gọi đồng bào đau ốm ra địa điểm X…có bác sĩ khám bệnh phát thuốc không mất tiền. Tôi mĩm cười khi nghe anh chàng xướng ngôn viên lập đi lập lại mấy tiếng không mất tiền. Tôi bổng nhớ một đồng nghiệp đàn anh ở Tổng Y Viện Cộng Hòa có lần chua chát nói với tôi khi tôi phụ ông mổ:

_Ở ngoài người ta mổ một cái bụng ăn hai mươi ngàn đồng, tôi mổ tính ra ăn có hai trăm.

Tôi thấy chiếc mặt nạ ông rung rung và đoán ông cười. Tôi hiểu ông muốn ám chỉ số lương mỗi tháng không quá mười lăm ngàn của ông. Tôi học của vị đàn anh của tôi một điều: can đảm nói ra mình thiệt thòi, nhưng không chối bỏ nhiệm vụ. Ông vẫn mẫu mực đến về đúng giờ, nhưng ông thiếu hăng say. Theo tôi, muốn hăng say trong công việc phải có hai yếu tố: “quyền lợi hay nghệ sỹ tính”. Chắc tôi còn hăng say vì yếu tố thứ hai. Cũng có lần tôi muốn chán nản, nhất là khi gặp bạn bè, cùng lớp, cùng khóa, đứa nào cũng xe hơi, phòng mạch cấp bậc lại còn lên nhanh hơn, thực thụ, lại còn trước cả bọn Y Sĩ Dù chúng tôi. Nhưng có một lần, một lần để rồi mãi mãi tôi hãnh diện mình là Y Sĩ Dù. Đó là lần một Sĩ Quan lớn cấp bậc hơn tôi đến khai bệnh cảm và xin được di tản. Tiểu Đoàn vừa lội mười ngày trong rừng ra, đang đóng quân nghỉ trong làng. Tôi đồng ý để ông điều trị tại chổ, sau ba ngày nếu không khỏi tôi sẽ xin di tản. Một Sĩ Quan khác đã học lại với tôi lời bình phẩm của vị Sĩ Quan nọ:

_Mấy tên Toubib Dù bày đặt khó khăn, về Sài Gòn, đến phòng mạch tư vứt ra hai bò, tụi nó o bế hết mình..

Phản ứng đầu tiên của tôi là muốn nhắn trả lời vị Sĩ Quan kia như vầy:

_Tôi không mong, nhưng nếu không may một ngày nào ông bị thương ở mặt trận, lúc bấy giờ ông có bỏ ra hai trăm ngàn đồng chưa chắc những người từng o bế ông với hai trăm đồng đã dám nhận lời có mặt cạnh ông lúc đó. Nhưng tôi sẽ có mặt cạnh ông lúc đó, cấp cứu săn sóc ông không một đồng xu thù lao. Tôi có thể bị thương, có thể bỏ mạng vì ông không một lời trách móc..Nhưng tôi đã cố gắng không nói ra những lời gay gắt trên. Có thể nếu nói ra tôi sẽ trút bỏ được đôi phần bực tức. Nhưng chắc chắn nếu nói ra rồi tôi sẽ thấy mình tầm thường sau lời nói.

Những bệnh phong thấp, ho, kiết lỵ của người lớn, ghẻ chóc, thối tai, sán lãi của trẻ con khuất phục mau lẹ trước thuốc men của tôi. Thân chủ càng ngày càng đông, họ theo tôi từ ấp này sang ấp khác, đôi khi từ xã này sang xã kế cận. Tôi vui với thành quả thâu lượm được, quên cả mệt nhọc và cầu mong với những công tác khác cũng được kết quả mỹ mãn.

Một tuần sau Bộ Chỉ Huy và Đại Đội 30 rút về đóng ở vị trí của Đại Đội 31. Đại Đội 31 sang kinh Tân Nhựt theo kinh Bà Tà lên đóng cạnh chiếc đồn Nghĩa Quân bị đốt dạo nào, nằm phía dưới Đại Dội 34 chừng một cây số. Chúng tôi gọi con đường đất gồ ghề nối liền Bộ Chỉ Huy với Đại Đội 33 là đường Nguyễn Văn Niệm để ghi dấu nơi binh I Niệm đã hy sinh trong đêm đi kích. Bộ Chỉ Huy cách bến đò chợ Đệm chừng một trăm thước. Trên bến có chiếc quán, nơi chúng tôi từ quan đến binh ngày ít nhất một lần ghé quán. Quán không có bảng hiệu, nhưng có cô chủ quán tên Đào nên chúng tôi gọi là quán cô Đào. Ở đó có cà phê bí tất, hột vịt lộn, khô bò và bia, nước ngọt. Tôi hay ra quán cô Đào vào buổi chiều uống cà phê, nhìn con kinh nước bùn chảy và thỉnh thoảng ngắm cô chú trẻ có đôi mắt rất tình và cái eo khá thon dưới lớp bà ba đen bó sát. Nghe nói cô Đào có một thằng em trai theo du kích, tôi đâm ra nghi ngờ biết đâu quán này chẳng là tai mắt của địch. Tôi bàn với ông Sĩ Quan an ninh giả cho nhân viên vào quán nhậu “lade” rồi giả như bốc đồng để lộ vài dự tính quân sự xem tin tức có bay sang bên địch không? Tôi còn giàu tưởng tượng nghi địch dùng cô Đào làm mỹ nhân kế quyến rủ binh sĩ và nghĩa quân. Tôi bàn nên tương kế tựu kế chọn một số hạ sĩ quan ăn nói có duyên ra tán cô Đào, dùng cô làm cán bộ nước đôi. Không biết ban an ninh có làm theo lời đề nghị của tôi không, chỉ thấy càng xa nhà lâu càng thấy cô Đào có duyên và hấp dẫn.

Một buổi đang ngồi trên chiếc ghế Hồng Thập Tự nghe máy thu thanh thì Trung Úy Dickson lân la đến nói chuyện. Dickson là nhân viên đi theo đoàn cán bộ của Biệt Khu Thủ Đô gởi xuống. Tôi không rõ Dickson theo đoàn cán bộ Việt Nam để làm gì. Nhưng lần nào làm Dân Sự Vụ tôi cũng thấy có mặt anh. Anh đứng xa xa nhìn tôi khám bệnh. Nhiều lần anh hỏi tôi những bệnh tật dân vùng hay mắc phải, hỏi thuốc men có tốt, có đầy đủ không. Tôi thẳng thắng khen thuốc Mỹ tốt và tôi nói tiếp:

_Thay mặt dân chúng vùng này tôi cảm ơn sự giúp đỡ của người Mỹ.

Tôi đọc vẽ ngạc nhiên trên mặt Dickson, có lẽ anh không ngờ tôi ăn nói kiểu cách thế. Đột nhiên anh lên tiếng công kích lối làm Dân Sự Vụ của các bác sĩ Mỹ:

_Làm thế nào các ông ấy chữa lành bệnh cho dân chúng Việt Nam khi chẩn bệnh qua lời thông dịch viên là những người không đủ kiến thức và ngôn ngữ y học.

Và Dickson thắc mắc sao không giao những công việc đó cho các bác sĩ Việt Nam. Tôi trả lời:

_Người Mỹ làm Dân Sự Vụ vì ba lẽ: Thứ nhất để lấy tiếng, thứ hai vì số y sĩ Việt Nam quá ít, thứ ba vì sợ giao cho người Việt Nam hết, thuốc men sẽ bị mất cắp.

Dickson nhăn mặt khi tôi nêu lý do thứ ba. Tôi tiếp:

_Tôi hổ thẹn khi nói với anh điều đó, và người Mỹ có quyền sợ như vậy.

Dickson nói được tiếng Pháp. Tiếng Pháp của anh bết hơn tiếng Mỹ của tôi, nhưng hai cái bết cộng lại giúp câu chuyện được liên tục. Câu chuyện khởi đi từ công tác đang thi hành, đến tình hình quân sự, chính trị, sang văn chương nghệ thuật để cuối cùng dừng lại ở một hình ảnh: người đàn bà Việt Nam. Tôi đọc thơ Racine, Beaudelaire, Prévert cho Dickson nghe, anh khen văn Marcel Proust, thích triết lý Sartre. Đài phát thanh quân đội Mỹ giới thiệu giọng ca Ray Charles. Dickson như bị mê hoặc bởi tiếng gào nức nở của người ca sĩ mù da đen này. Anh đứng ưỡn người, mặt ngữa trên trời, mắt nhắm nghiền, hai quả tay nắm chặt, nhún giật một hồi theo điệu nhạc. Dickson nói:

_Ray không hát, anh sống.

Tôi mến Dickson qua những bộc lộ tình cảm ngay thẳng của anh. Khi tôi hỏi anh có cô bạn gái Việt Nam nào không, Dickson cho tôi biết anh có một cô ở Long Bình. Tôi hỏi cảm nghĩ của anh về cô bạn gái đó nói riêng và các cô gái Việt Nam nói chung. Dickson trả lời:

_Tôi không có ý kiến chung về cô gái Việt Nam. Tôi chỉ có ý kiến về cô bạn gái của tôi thôi. Tôi có cảm tưởng cô ấy không biết yêu đương…

Tôi hỏi:

_Cô ấy bao nhiêu tuổi?

_Cỡ hai mươi, hai mươi ba tuổi.

_Tôi tưởng vào lứa tuổi đó bất cứ người đàn bà nào khi đã chấp nhận một người đàn ông tất phải yêu tha thiết chứ.

Dickson cắt nghĩa:

_Tôi muốn nói…nàng không hết mình trong khi ân ái. Những rung cảm nàng bộc lộ tôi có cảm tưởng dùng để kích thích tôi hơn là do hoan lạc mà ra. Người đàn bà Mỹ khi làm tình họ hòa mình cùng độ với người đàn ông…

Tôi có thể đoán mà không sợ sai lầm cô bạn gái của Dickson thuộc loại chuyên nghiệp và phải cộng thêm ít nhất mười niên vào mớ tuổi hai mươi, hai mươi hai, hai mươi ba của nàng. Điều làm tôi khó chịu là Dickson có thể nghĩ tất cả đàn bà Việt Nam đều không biết yêu đương. Để binh vực phái đẹp xứ nhà tôi định nói cô bạn của Dickson thuộc loại không đứng đắn nhưng sợ mất lòng anh bạn nên lại thôi. Dickson chợt hỏi tôi:

_Anh có biết cô giáo bên kia chợ Đệm không?

_Có nghe nói nhưng chưa thấy mặt, chắc anh thấy rồi, xinh không?

Dickson chắp hai tay trước ngực trong dáng điệu tôn thờ.

_Nàng có vẽ đẹp tinh khiết, vô cùng tinh khiết. Nàng tên Sen, Sen là Lotus phải không bác sĩ? Cái tên hoa Á Đông cũng tinh khiết như người…

Nếu Dickson biết cũng có nghĩa là con ở, chẳng hiểu anh có thấy hoa và người bớt tinh khiết đi không. Tôi nghĩ nên để anh hiểu mãi nghĩa đẹp thì hơn. Mong suốt thời gian Dickson còn ở Việt Nam mỗi lần nhắc đến tên Sen đừng có tên thầy dùi nào dạy anh hiểu cái nghĩa thứ hai. Tôi có đọc vài cuốn sách của người Mỹ viết về Việt Nam. Toàn chê bai chỉ trích. Dĩ nhiên cũng có điểm đúng, điểm sai. Gạt bỏ ra ngoài những hậu ý chính trị, những nhận xét sai lầm về Việt nam của tác giả đó có thể ví với nhận xét của Dickson về cô bạn gái của anh mà anh cho là không biết yêu đương. Tôi muốn viết vài Sĩ Quan Cố Vấn Mỹ mà tôi có dịp sống gần và giao thiệp. Tôi viết theo chủ quan, không ẩn ý, viết theo lý trí, rung cảm của tâm hồn.

Thời mới về Tiểu Đoàn 6, nhìn cặp mắt trắng dã của viên Đại Úy Cố vấn tôi đã mất cảm tình. Các sĩ quan Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn cũng không ưa anh ta, vì cái tính hay chỏ mũi vào mọi việc và hay báo cáo. Nghe nói anh ta có một ông anh ruột cũng làm cố vấn cho một Tiểu Đoàn bộ binh Việt Nam bị tử thương trong một trận đánh. Anh từng thổ lộ rằng anh của anh ta chết vì lính Việt Nam bỏ chạy. Bác sĩ Cảnh có kể tôi nghe vụ anh ta đến “lèng èng” việc Cảnh di tản một lúc bốn mươi binh sĩ hành quân vùng Bến Cát bị nước ăn lở chân không đi được. Anh ta nói mỉa mai với Cảnh:

_Hôm nay bác sĩ cho về bốn mươi, ngày mai về năm mươi, ngày kia về một trăm, lần lần chắc hết cả Tiểu Đoàn.

Cảnh tức khắc trả đũa:

_Tôi cần Cố Vấn Mỹ để xin trực thăng di tản, chứ tôi không cần Cố Vấn Mỹ nói chuyện y học với tôi, vì hắn ta chẳng biết gì ráo.

Cái tên Mỹ của hắn bị chúng tôi phiên âm ra tiếng Việt là “mặt cái thớt”. “Mặt cái thớt” sửa lưng tôi một vố khá đau: Tối hôm Tiểu Đoàn chuẩn bị ra vùng II, theo lịch trình 12 giờ khuya mới có chuyến C.130 đầu. Tôi sẽ đi chuyến thứ ba, như thế sớm lắm cũng một giờ sáng mới lên máy bay. Tôi theo mấy ông sĩ quan rảo các bar để giết thì giờ. Tôi gặp “mặt cái thớt” trong một quán nọ, anh ta mặc civil đang ngồi uống bia với mấy người Mỹ khác. Thấy hắn tôi nỉm cười đưa tay vẫy chào. “Mặt cái thớt” ra dấu mời tôi lại, anh ta hỏi:

_Sao bác sĩ ra đây lại mặc đồ nhà binh?

Thú thật tôi không sẵn sàng để trả lời một câu hỏi trịch thượng như vậy. Tôi đứng khựng và cười. Chưa bao giờ tôi thấy mình cười ngu ngốc thế. Có tiếng cười nhỏ phía mấy người bạn Mỹ của “Mặt cái thớt”. Tôi đỏ mặt vì ngượng nói vớt vát:

_Lính Nhảy Dù chỉ có đồ trận không có đồ civil.

Phản ứng tôi quá hiền: tôi mới có hai mươi ngày khoác áo Dù. Cho tôi già thêm hai tháng nửa, phản ứng của tôi phải là một chai bia đập vào đầu “Mặt cái thớt”. Tôi hận hắn về vụ chơi cha ấy lắm. Ra Tam Quan một buổi sáng, nhân có chuyến trực thăng tiếp tế, tôi di tản hai binh sĩ sốt về Quân Y Viện Qui Nhơn thử máu tìm vi trùng sốt rét. “Mặt cái thớt” lò dò đến bên cạnh hỏi:

_Bác Sĩ, hai binh sĩ này đau gì?

Tôi đáp cụt:

_Sốt.

Hắn ta ngang nhiên đến cầm vai một trong hai binh sĩ lắc mấy cái rồi khinh khỉnh nói với tôi:

_Tôi thấy họ khỏe lắm, đâu cần di tản.

Tôi nổi nóng:

_Xin lỗi Đại Úy, ông có phải bác sĩ không?

_Dĩ nhiên là không.

_Tôi là bác sĩ, tôi thấy hai binh sĩ này bệnh cần di tản, đó là quyền của tôi, ông đừng xía vô.

Hắn nhún vai bỏ đi, Chưa nguôi cơn giận, tội gọi giật hắn lại.

_Đại Úy..

_Ông Đốc muốn gì?

_Tôi nghĩ Đại Úy cũng nên khai bệnh đi là vừa.

“Mặt cái thớt” ngạc nhiên:

_Tôi có bệnh gì đâu?

_Có, ông bệnh rất nặng: bệnh điên.

Tô i đứng thủ thế  nhìn hai con mắt trắng dã tròn xoe chĩa vào tôi. Tôi nghĩ thế nào cũng phải đấm tên này một trận, được thua không thành vấn đề, vấn đề là phải dằn mặt hắn ta: chế độ thực dân đã cáo chung.  Nhưng tôi không có dịp đấm “Mặt cái thớt” vì hai tuần sau hắn ta về Mỹ. Hôm rời Tiểu Đoàn hắn bắt tay tôi thật chặc với lời cầu chúc ở lại thắng lợi và mạnh giỏi. Tôi bỗng nghe nguôi hết ác cảm bấy lâu nung nấu trong lòng… Binh sĩ Tiểu Đoàn 6 gọi Đại Úy Smaldone Cố Vấn Trưởng là “Người Mỹ Việt Nam hơn cả người Việt Nam”. Anh có vợ Nhật đã ly dị, nhưng có lẽ nhờ có vợ Á Đông nên Smaldone hiểu tâm tình người Á Đông nhiều. Anh ăn được hầu hết các món ăn thuần túy Việt Nam, từ nước mắm, hột vịt lộn, đến tiết canh, thịt chó. Riêng món mộc tôn Smaldone tỏ ra sành sõi không kém ai khi anh biết khen thịt của “yellow dog” thơm và mềm hơn “black dog”. Nhưng anh không ăn được các thứ mắm. Tửu lượng “Ba xi đế”của anh thuộc hạng sư. Một lần ở Đông Hà tôi chứng kiến pha Smaldone hút thuốc lào thở khói ra cùng lúc đằng mũi và miệng.

Smaldone hình như không biết buồn là gì, lúc nào cũng thấy anh cười đùa. Sự cởi mở của anh giúp tôi nói tiếng Mỹ tấn tới. Tình đồng đội của anh rất cao. Có lần anh thộp cổ một viên Đại Úy phi công Mỹ khi anh này sợ chở nặng gạt một số binh sĩ Dù xuống khỏi chiếc Chinook ở Vũng Tàu. Smaldone từng chỉ huy một toán lính Dù đánh nhau với Không Quân Mỹ phá nát một cái bar chỉ vì “các em” bu theo “các anh Mỹ” bỏ rơi “các anh Dù”. Ngày hôm sau Smaldone mang theo hai mươi ngàn đồng ra quán bồi thường thiệt hại. Samldone còn một đức tính hiếm có: biết phục thiện. Lúc hành quân ở Cùa: chiều chiều khi đóng quân, trực thăng hay đến tiếp tế nước. Một lần có sự thay đổi bãi đáp vào phút chót, nhưng Trung Úy Black Cố Vấn Phó không hiểu vì cớ gì vẫn chọn bãi đáp cũ để trực thăng thảy trên hai mươi ống đạn 105 nước xuống. Ông Tiểu Đoàn Trưởng giận ra lệnh binh sĩ kiếm suối lấy nước chứ không dùng nước tiếp tế. Tôi thấy Smaldone gọi Black đến, hai người nói gì với nhau, rồi cả hai lặng lẽ xuống đống ống nước vác mỗi người một ống lên Bộ Chỉ Huy. Tôi tưởng hai người chỉ lấy phần nước cho mình, nhưng không hai anh lại tiếp tục trở xuống vác hai ống khác. Tôi cảm phục cử chỉ của Samldone. Tôi nghe ộng Trưởng ra lệnh các Đại Đội cắt người xuống vác ống nước. Buổi ăn chiều của chúng tôi vẫn vui vẽ coi như không có gì xảy ra.

Điểm tôi không thích ở Smaldone là anh đã tỏ ra “Việt Nam hơn cả người Việt Nam”. Tôi muốn hiểu anh láu hơn cả người Việt Nam. Láu không phải là một đức tính. Sự láu lĩnh một phần do lối giao thiệp quá bình dân của Smaldone với giới Việt, một phần do những Sĩ Quan mà Smaldone vui gọi là “very bad teachers”. Một gai thoại Smaldone thích kể mãi là lần anh mới biệt phái về Sư Đoàn Dù, được hướng dẫn lên trình diện ông Chiến Đoàn Trưởng Smaldone không biết tiếng Việt. Một Sĩ Quan Việt Nam bày anh nói một câu tiếng Việt, nói là câu chào kính thông dụng đối với cấp trên Việt Nam.

Sau khi nghiêm chỉnh chào vị Chiến Đoàn Trưởng, trong khi bắt tay Smaldone đã thốt ra câu tiếng Việt:

_Con c…Trung Tá!

Mỗi lần diển tả lại nét mặt của vị Chiến Đoàn Trưởng sau khi nghe câu nói tiếng Việt, Smaldone trợn mắt, há hốc mồm, sau đó phá ra cười. Vào quán nước, quán ăn bất cứ ở đâu, Smaldone đều biết trước giá cả bán cho người Việt và anh chỉ chịu trả đúng theo giá đó. Smaldoen hay thích khoe thành tích “gái” của anh như sau:

_Mới qua Việt Nam mỗi lần đi gái tốn một ngàn đồng, tôi vẫn cho rẽ, sáu tháng sau tốn ba trăm, bây giờ thì không tốn xu nào mà còn có rượu uống lu bù…

Smaldone được một bà chủ bar ở Vũng Tàu cung phụng đủ mọi thứ.

Người sĩ quan Mỹ lưu ở lòng tôi những cảm tình sâu đậm nhất là Trung Úy Hemingway. Xuất thân trường Westpoint từ Mỹ sang anh được biệt phái về ngay Tiểu Đoàn 3 Dù. Hemingway hơi thấp người nhưng to chắc, khuôn mặt chữ điền đầy cương nghị. Anh có chiếc miệng cười tươi và đôi mắt xanh màu ngọc bích. Hemingway rất chịu khó học tiếng Việt. Mới hơn một tháng anh nói những câu xã giao lưu loát và khá đúng giọng. Gặp tôi lúc nào anh cũng ví von trước:

_Chào bác sĩ hôm nay bác sĩ mạnh không?

Câu nói đầu tiên của tôi là hỏi anh có bà con gì với văn hào Ernest Hemingway. Hemingway cười trả lời:

_Rất tiếc là tôi không có liên hệ gì với thiên tài ấy.

Hemingway làm quen với các món ăn Việt Nam rất khó khăn, tôi thấy anh cố gắng một cách đáng thương. Nhưng có một món không những anh ăn quen mà còn say mê là món xoài sống chắm nước mắm đường ớt. Một mình anh đã có lần ních nguyên một quả xoài tượng lớn. Tôi chưa thấy một cố vấn nào tác phong như Hemingway. Được biệt phái đi với Đại Đội, tối nào Hemingway cũng sang chào ông Đại Đội Trưởng trước khi đi ngủ. Anh luôn luôn dậy sớm, quần áo chỉnh tề chờ ông Đại Đội Trưởng dậy là sang chào buổi sáng. Một lần Hemingway bị mất tiền, không biết nghi ai anh bèn trình lên ông Trưởng. Ông Trưởng ra lịnh cho ông Đại Đội Trưởng phải tìm cho ra thủ phạm. Cho Hemingway làm mất mặt mình, ông này trong một cuộc hành quân bỏ đói anh bốn ngày liền. Sang ngày thứ năm Hemingway xỉu vì đói, anh phải gọi máy cho cố vấn trưởng xin được di tản với lý do.. “bị tiêu chảy”. Tôi rời Tiểu Đoàn 3 một tháng thì nghe tin Hemingway tử trận. Anh không chết ở Tiểu Đoàn 3 mà chết ở Tiểu Đoàn 7 khi sang thế một cố vấn khác bị thương: anh dẵm lên nguyên một quả mìn ở Phú Thứ. Hemingway cưới vợ trước khi sang Việt Nam. Khi anh chết vợ anh bên Mỹ sắp sinh đứa con đầu lòng.

Một tuần trước Tết ông Trưởng dời Bộ Chỉ Huy và Đại Đội 30 lên đóng chung với Đại Đội 31 ở Tân Nhựt. Ông muốn Bộ Chỉ Huy ăn Tết với hai Đại Đội trấn giữ vùng xôi đậu. Tôi vẫn lưu động phát thuốc dọc hai bờ kinh Bà Tà. Tôi chú ý đến những bà mẹ quá trẻ bồng con đến xin thuốc. Qua câu chuyện tôi biết một số là góa phụ của các Nghĩa Quân tử trận trong vụ địch tấn công đồn, một số là vợ “giai đoạn” của các quân nhân đơn vị bạn từng đóng trước đây và một số là của những gã bên kia. Số phận người đàn bà vùng quê thật hẩm hiu. Những đứa bé chào đời không biết mặt cha chúng nó là ai.

Tài nguyên phong phú của kinh Bà Tà nuôi mập binh sĩ Tiểu Đoàn 3. Chiều chiều nước rút cạn lòng kinh, chỉ cần cởi trần nhảy xuống vũng bùn, quờ quạng một hồi là có một giỏ đầy tôm càng, cá rô hay ốc gạo. Nghề câu cặm cũng mang về một số cá lóc đáng kể. Tôi ớn tôm cá lên tận cổ, duy món ốc gạo ăn mãi vẫn không chán. Một buổi sáng nước dâng tôi để ý thấy nhiều xác cá lớn trôi lềnh bềnh. Suy ra cá chết mới biết do một số binh sĩ Mỹ đóng cạnh Đại Đội 34. Đêm nào cũng cứ cách từng giờ, binh sĩ gác thảy hai quả lựu đạn xuống kinh. Họ nói để đề phòng địch có thể núp dưới kinh. Tôi nghĩ cứ đà này tôm cá sẽ chết hết, lấy gì nuôi sống dân chài xã Tân Nhựt. Tôi ngỏ ý với ông Trưởng can thiệp đừng để binh sĩ Mỹ thảy lựu đạn xuống kinh nửa, tuy là một cách phòng thủ hữu lý, nhưng về mặt tâm lý là một hành động thất nhân tâm. Ông Trưởng trả lời ông cũng đã nghĩ đến khía cạnh tâm lý đó nhưng vấn đề quá tế nhị để can thiệp. Phía Dù Đại Đội mỗi đêm tung ra hàng chục ổ kích, phía Mỹ họ có khuynh hướng gom quân lại để phòng thủ. Chưa quen đánh nhau với du kích, lại đóng biệt lập ở cấp Đại Đội trong vùng bất an, sự thận trọng quá đặc biệt của cấp chỉ huy Mỹ là điều có thể hiểu. Hai Đại Đội Mỹ Việt chia phiên mỗi bên hoạt động một ngày. Phía Mỹ trong năm phiên hoạt động cấp Trung Đội chỉ một lần chạm địch nhưng lần nào cũng có người chết hoặc bị thương vì dẫm phải mìn, lựu đạn. Phìa Dù không một binh sĩ nào gặp phải tai nạn trên. Ông Đại Đội Trưởng Mỹ phải mở một đường sang học bài ông Đại Đội Trưởng Dù. Ông này có dịp ca một bài “con cá”:

_Các anh phải mười năm chiến đấu như chúng tôi mới thừa kinh nghiệm để chơi với du kích cộng sản.

Binh sĩ Mỹ vóc ngưới cao lớn nặng ký, hoạt động trong vùng sình lầy, chỉ cần bì bõm một cây số là mệt nhoài. Nhìn thấy bờ đê khô ráo là họ nhảy lên ngay và những cạm bẩy, mìn lựu đạn chờ họ. Binh sĩ Dù nhỏ người, nhanh nhẹn, lại quá quen hiểu cái vẽ ngon lành giết người của những bờ đê, mô đất khô ráo, nên chẳng bao giờ họ dại dột dù mệt dẫm chân lên. Phía Mỹ đề nghị những cuộc hoạt động hỗn hợp, mỗi lần một Trung Đội Mỹ, một Trung Đội Dù đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Đội Trưởng Dù. Sự khiêm nhượng của người Mỹ làm khó khăn vấn đề chỉ huy, vì cấp bậc Trung Đội Trưởng Dù thường là Chuẩn Úy hay Thiếu Úy trong khi Trung Đội Trưởng Mỹ đều là Trung Úy. Thành thử mỗi lần hoạt động hỗn hợp ông Đại Đội Trưởng Dù thường phải đích thân cầm hai Trung Đội Việt Mỹ đi “làm ăn”. Sau hai lần bảy giờ xuất phát bốn giờ chiều kéo về không gặp địch, Đại Úy Tuyển Đại Đội Trưởng 34 đề nghị một kế hoạch táo bạo: ba giờ sáng xuất phát đến điểm phục kích trước năm giờ, như thế sự di chuyển không bị lộ. Nằm lại đêm chờ địch Đại Úy Tuyển lý luận: “Đich cũng biết thời gian nào ta hoạt động để né tránh, thời gian nào ta rút về để xuất hiện, phải biết lừa địch mới hốt được chúng”. Đề nghị của Đại Úy Tuyển được chấp thuận. Chúng tôi ở Bộ Chỉ Huy theo dõi động tĩnh. Đến bốn giờ chiều vẫn không thấy gì. Hai Trung Đội được lệnh nằm lại đêm. Sáu giờ chiều bổng có tin toán hỗn hợp bắt sống được năm lính chính quy, bắn trọng thương một tên khác. Tịch thu sáu vũ khí trong đó có một thượng liên. Sợ vị trí bị lộ. Ông Trưởng cho trực thăng đến bốc tất cả về. Tôi tìm gặp Đại Úy Tuyển để nghe ông kể lại pha bắt sống năm tên địch như sau:

_Mình phục cạnh một con suối. Địch từ ngôi làng trước mặt tiến qua cánh đồng. Chúng đi rất ung dung. Tôi có chủ ý bắt sống cả bọn nên ra lệnh không được khai hỏa. Khi sáu tên địch đồng phục kaki vàng đến cạnh con suối chừng năm mươi thước, mấy binh sĩ Mỹ hồi hộp quá định nổ súng. Tôi phải vội cho mấy binh sĩ Dù can ngăn họ. Nổ súng vào khoảng cách này không chắc hạ được hết cả sáu tên, vũ khí chưa chắc đã chiếm được mà còn một điểm bất lợi là bị lộ vị trí. Tôi vẫn giữ nguyên ý định bắt sống. Toán địch đến bờ suối bên kia thong thả hàng một, hai tay dong cao, cầm ngang vũ khí lội dọc theo dòng suối. Nước ngập đến bụng chúng. Lúc bấy giờ toán kích núp kỷ sau các lùm cây vụt đứng lên chỉa súng hét lớn:

_ “Đứng yên.”

Năm tên đầu đứng yên, hai tay vẫn trong thế dong cao cầm ngang vũ khí, tên thứ sáu định hụp người xuống để lặn, lãnh ngay một băng M.16. Nó không chết nhưng bị thương nặng. Sáu tên này thuộc Tiểu Đoàn 6 Chính Quy Bắc Việt. Tiểu Đoàn này tháng trước bị tiểu Đoàn 2 Dù đánh tan ở ấp Vĩnh Lộc Bà Hom. Phần còn lại được lịnh phân tán mỏng. Tôi chia chiến lợi phẩm như sau: Nhảy Dù giữ vũ khí, Mỹ giữ tù binh. Tôi xin nằm lại đêm vì chắc thế cũng còn hốt thêm vài toán nữa. Nhưng ông Trưởng cho lệnh rút về…

Tôi ăn cái Tết hành quân đầu tiên trong đời mình. Chúng tôi đón giao thừa bằng những tràng pháo của Chuẩn Tướng Tổng Giám Đốc Cảnh sát Quốc Gia tặng. Tôi theo ông Trưởng đi thăm từng ban trong Đại Đội 30 rồi trở về Trạm Cứu Thương họp mặt cùng y tá. Tràng pháo nổ vang chào mừng tôi, lời chúc Tết ngập ngừng, cảm động của người Y Tá Trưởng. Bữa ăn thân mật giữa thầy trò ở một nơi đồng quê hẻo lánh, mang cho tôi nhiều hương vị mới về Tết. Tôi thấy mình giàu thêm kỷ niệm, kỷ niệm giàu thêm màu sắc. Tôi về chổ nằm lúc ba giờ sáng. Rượu làm tôi nặng đầu nhưng không làm tôi buồn ngủ. Tôi nằm nhớ Phong thằng bạn thân nhất của tôi đã tử trận hồi tháng sáu. Quá nhiều kỷ niệm về Tết giữa tôi và nó. Những đêm mưa phùn rét run ở Huế tôi cóc cách chiếc xe đạp qua Vỹ Dạ đến nhà một người con gái chơi đổ xâm hường. Hắn thầm yêu người con gái đó. Vào Sài Gòn nàng trở thành tình nhân của tôi. Khi Phong hay biết hắn chỉ cười than:

_Đi với mày tao chỉ có lỗ!

Một đêm giao thừa Phong say chếnh choáng đến ôm một cột đèn gọi lớn tên một vũ nữ mà hắn trồng cây si từ lâu. Vào năm tôi học lớp ba trường thuốc, những ngày áp Tết khi tàu của Phong còn lênh đênh tuần thám đâu đó dọc miền duyên hải, chiếc HQ 330 nơi tôi thường xuống ăn ngủ hàng tuần, thở quen dần không khí ngộp ngộp trong lòng tàu, thì một người con gái tìm gặp tôi, báo cho tôi biết…nàng đã có thai với Phong! Suốt một tháng trời tôi phải chăm sóc nàng. Phong vẫn biền biệt. Tôi tống một lá thư xỉ vã nó hết lời, bảo nó phải về cưới nàng gấp. Phong đã nghe lời tôi. Nhưng tôi không được dự lễ cưới, cũng như không được đưa đám tang của nó. Bây giờ thỉnh thoảng xuôi bến Bạch Đằng tôi vẫn thấy chiếc HQ 330 neo ở cầu A, cầu B, cầu C nhưng tôi sẽ không còn dịp xuống ăn ngủ dưới tàu ấy nửa..

Qua Tết một Hội Đồng Xã được thành lập ở Tân Nhựt. Như thế xã bất an ninh nhất đã được bình định vững vàng. Một số gia đình lục tục kéo về. Chúng tôi đạt được mục tiêu khó khăn nhất: Niềm tin của dân chúng.

Tiểu Đoàn 3 được lệnh về hậu cứ. Chúng tôi đóng vùng chợ Đệm đúng ba tháng một tuần. Buổi sáng rút quân đứng tì tay vào mạn chiếc L.C.V.P. tôi buồn rầu nhìn dân chúng hai bên bờ kinh Bà Tà khăn gói chạy về chợ Đệm. Chúng tôi cố rút thật êm nhưng mũi dân chúng rất thính. Khi tàu cập bến chợ Đệm tôi thấy quán cô Đào đóng kín cửa. Nhìn quân số ít oi của đơn vị bạn, tôi lo lắng không hiểu họ có cáng đáng nổi an ninh, vùng trách nhiệm khá rộng lớn của chúng tôi để lại. Tôi không tự khen đơn vị mình, nhưng phải thẳng thắn công nhận binh sĩ Tiểu Đoàn 3 đã gây được cảm tình và niềm tin trong lòng người dân chợ Đệm. Cảm tình, niềm tin đó tôi cầu mong đơn vị bạn tiếp tục duy trì, tăng trưởng…

Y Sỹ Tiền Tuyến

vietmessenger.com

Trang Châu

Giải nhất cuộc thi Bút Ký Chiến Đấu do Cục Tâm Lý Chiến tổ chức năm 1967

Typing & Post by Sơn râu 22 July 2023

Khi Đại Đội cuối cùng của Tiểu Đoàn 6 Dù được không vận đến phi trường Phú Bài, kim đồng hồ nơi tay tôi chỉ đúng ba giờ sáng. Gần đây việc chuyển quân đêm gần thành như một thông lệ. Mỗi đợt cách nửa giờ, một chiếc C.130 đến hốt trọn từng Đại Đội mang đi. Huế lắng dịu sau ba tháng biến động chính trị. Tôi nghĩ sự hiện diện của ba Tiểu Đoàn Dù ở vùng I có mục đích hoàn toàn quân sự. Tiểu Đoàn 2 đang đóng ở Cam Lộ, Tiểu Đoàn 8 ở Đông Hà và Tiểu Đoàn 6 vừa đến Huế. Tôi lờ mờ nghe tin một Sư Đoàn quân Bắc Việt vừa xâm nhập vùng phi quân sự và lờ mờ nghe tin Bộ Tư Lịnh Sư Đoàn I mở cuộc hành quân Lam Sơn 286 phối hợp một cánh quân Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, một cánh quân Bộ Binh Việt Nam và một cánh quân Dù. Đối phương vừa gây được hai tiếng vang với giá khá đắt: Phục kích một đoàn công voa chở Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam và gây thiệt hại trung bình cho một Đại Đội thuộc Tiểu Đoàn 2 Dù ở Cùa.

Đoàn xe hai mươi lăm chiếc G.M.C. khởi hành từ Phú Vân Lâu rời thành phố Huế lúc 8 giờ sáng. Qua khỏi An Lổ xe tiến vào Phong Điền. Binh sĩ được lịnh quay súng ra hai bên hông xe sẳn sàng chiến đấu. Nơi xảy ra trận phục kích táo bạo là một đoạn đường dốc hai bên đồng trống. Dấu vết trận chiến là những đám cỏ cháy đen, nơi những chiếc xe bị trúng đạn 57 bốc cháy. Tôi nghe kể lại rằng: sau phút rối loạn ban đầu và mặc dầu vị Tiểu Đoàn Trưởng tử thương, Tiểu Đoàn bạn đã phản công thắng lợi. Địch quân trên đường rút lui qua đồng trống đã làm mồi cho phi cơ tiêu diệt.

Đoàn xe không ngừng ở Quảng Trị, chạy thẳng ra Đông Hà. Chúng tôi đến Đông Hà lúc mười một giờ trưa. Trời nắng gắt. Miền Trung đang mùa hạn hán. Đông Hà hai tháng nay không mưa, đất đai khô nẻ. Không một thoáng gió. Sáu giờ chiều chưa tắt nắng. Trọn buồi chiều tôi trầm mình dưới nước sông Đông Hà. Tắm cho đã, nay mai vào trong núi làm gì có nước. Tôi căn dặn toán y tá của tôi phải chuẩn bị nước thật đầy đủ. Dưới sức nắng nóng này không khéo sẽ chết khát trước khi chết vì đạn kẻ thù. Và không phải chỉ mình tôi nghĩ đến điều đó. Chỉ một buổi chiều tất cả chiếc bầu bằng nhựa ngoài chợ biến mất hết. Mười giờ sáng hôm sau; hai Tiểu Đoàn Dù kéo sang phi trường chờ trực thăng vận. Nhìn vào đoàn quân một cảnh tượng khá buồn cười: người nào cũng tòn ten bên hông một hay hai chiếc bầu xanh đỏ đựng đầy nước. Tôi mang hai bi đông nước và mười trái chanh đầy nhét trong túi vãi đựng gắp đạn.

Mười chiếc trực thăng loại Shinook đến vận chuyển hai Tiểu Đoàn Dù. Mỗi chiếc chở được hai mươi người. Khung cảnh những toán quân lom khom tiến vào đuôi từng chiếc trực thăng, dưới cơn gió khu ốc tỏa bụi mịt mù từ những cánh quạt phần phật quay, trong tiếng động ầm ầm của động cơ chuyển động, gây cho tôi một cảm giác nôn nao bồn chồn. Khi đoàn trực thăng đầu tiên chỉ còn là những chấm đen di động ở một góc trời, nơi màu xanh lơ của bầu trời tiếp nối màu xanh xẫm núi rừng, tôi nghe có thứ gì vừa mất mát trong tim. Tôi đi chiếc Shinook thứ năm của đợt năm. Nhìn xuống cảnh núi rừng trùng điệp tôi nghĩ vẫn vơ: chiến tranh buồn cười thật, một đằng lặn lội từ Bắc vào, một đằng từ Châu Mỹ xa lắc xa lơ tới và một đằng chúng tôi mãi tận Vũng Tàu ra, kéo đến chốn rừng thiêng nước độc này tìm giết lẫn nhau.

Chúng tôi đáp xuống Cùa, một vùng cỏ cháy khô cằn , như tên của nó. Tiểu Đoàn 2 được trực thăng vận đến đây trước tiên. Nằm trong vùng áp lực địch, tiền đồn xa nhất của quận Cam Lộ được tăng cường phòng thủ

và biến thành căn cứ pháo binh yểm trợ cuộc hành quân. Bốn giờ chiều cuộc đổ quân hoàn tất. Chúng tôi được lệnh di chuyển. Băng qua một khu rẫy bỏ phế, trước mặt chúng tôi hiện ra một khu rừng dài chạy vào chân núi. Trong một thoáng khu rừng nuốt trọn ba Tiểu Đoàn Dù. Chúng tôi tiến hàng một, người sau động tác theo người trước. Mặc dù có lá cây che khuất ánh nắng, khí nóng vẫn hừng hực. Chưa gì mà tôi đã ực hết một phần ba bi đông nước, hai tay sây sướt vì khóm gai mà đằng trước dây leo bụi bờ vẫn chằng chịt chắn lối. Gặp địch ở đây thì vất vã: khó lòng trông thấy được nhau.

Phải mất hai tiếng đồng hồ lần mò trong khu rừng. Khi chúng tôi leo lên ngọn đồi đầu tiên, bóng chiều đã ôm kín dãy trường sơn. Những ngọn đồi sim kế tiếp nhau tạo một màu tím sẫm. Những trái sim ngọt lịm giúp chúng tôi đỡ khát nước, vài binh sĩ tay hái sim, miệng hát: “Ôi những đồi hoa sim, những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt..”Phải có dịp đứng trên đỉnh đồi, nhìn hoàng hôn sắc tím ngã dần xuống bao la mới nghe thấm thía âm thanh hai tiếng “biền biệt”. Không khí trở nên mát mẻ. Vượt thêm hai ngọn đồi nửa, đóng quân thì trời nhá nhem tối. Công việc đầu tiên của binh sĩ là đào hố cá nhân: ban đêm chỉ sợ địch pháo kích. Cơm nước xong, tôi đặt mình xuống chiếc cáng ngủ ngon lành.

Một loạt súng đánh thức tôi dậy. Chụp nón sắt tôi nhảy xuống hố cá nhân. Tôi nghe tiếng ông Tiểu Đoàn Trưởng ra lệnh trong máy cho các Đại Đội Trưởng căn dặn các “đứa con” quan sát cẩn thận, có đich xuất hiện. Súng vẫn nổ ở ngọn đồi bên kia. Từng hàng lửa vun vút lao xuống vũng đệm. Chừng năm phút thì im tiếng súng. Một số tân binh thiếu bình tỉnh xả súng bắn theo. May mắn không gây thiệt hại nào. Tiếng ông Chiến Đoàn Trưởng hét mắng tưởng vỡ cả máy. Tôi trở lên chổ nằm, không tìm lại được giấc ngủ. Trời lạnh buốt. Trong đêm pháo binh bắn khuấy phá từng giờ, từng giờ như mõ cầm canh.

Năm ngày đầu tiến quân không gặp địch, nhưng chúng tôi có hai kẻ thù ghê gớm: ánh nắng mặt trời thiêu đốt và những đồi núi hiểm trở. Mỗi đêm chúng tôi nhận lệnh sáng hôm sau xong xuôi trước bảy giờ. Đồi núi giờ đó còn mù sương, ánh nắng ban mai chưa làm tan khí lạnh. Di chuyển sớm thì mát mẻ, đỡ mệt, nhưng trên phương diện chiến thuật thì lại là một điều bất lợi: sương mù sẽ gây khó khăn cho phi cơ quan sát. Và sự thận trọng của cấp chỉ huy là một điều dễ hiểu. Khi mặt trời lên cao sương mù tan biến, đồi núi khô ráo, phi cơ bay lượn quan sát một hồi, chúng tôi mới được lệnh di chuyển. Mỗi ngày phải đến một hay hai mục tiêu chỉ định. Hành trình gồm hai giai đoạn chín đến mười hai giờ trưa và hai đến năm giờ chiều. trung bình mỗi ngày chúng tôi vượt ba ngọn đồi hay một ngọn núi cao. Phải khai phá lối đi theo phương giác địa bàn. Chúng tôi tránh những con đường mòn sợ bị phục kích.  Những toán khinh binh ngoài vũ khí chiến đấu, còn trang bị mỗi người một cái mác dài để khai thông lối đi. Vì thế chúng tôi tiến quân rất chậm. Nhưng gặp một đoạn đường dễ đi, người sau phải chạy mới đuổi kịp người trước. Trong rừng không bắt kịp người đi trước là lạc ngay, tai hại hơn nửa người bị lạc còn dẫn theo sau mình bao nhiêu người khác. Có những lúc đứng trên cao nhìn xuống, tôi thèm thuồng những con đường mòn sạch sẽ quanh co dưới thung lũng hay chạy quanh sườn đồi…

Thêm vào đó hành trang người lính Dù quá nặng: ngoài vũ khí đạn dược mỗi người còn phải mang theo bốn ngày lương khô cùng vật dụng cá nhân chất đầy trong xắc đeo vai. Người lính khổ nhất Tiểu Đoàn, theo tôi là những binh sĩ tải đạn 81. Mang ba quả 81 là một cực hình trong vùng hành quân này. Dưới ánh nắng chói chan, đổ một dốc núi, leo một đỉnh đồi là thấm mệt. Nước trở nên một vấn đề sinh tử. Địa điểm đóng quân nặng phần chiến lược nên chúng tôi ở trên đồi cao, xa những con suối dưới thung lũng hay khe núi. Mỗi ngày khi đóng quân trực thăng đến tiếp tế cho mỗi Tiểu Đoàn chừng bốn mươi ống đựng đạn 105 nước. Phân chia ra Trạm Cứu Thương của tôi được hai ống, đủ để nấu một nồi cơm chiều, một nồi cơm sáng, một nồi nước trà và cho tôi rửa ráy qua loa mặt mũi. Hôm nào chỉ được một ống nước tôi phải súc miệng rửa mặt bằng chút nước trà nguội còn sót lại trong bi đông. Mỗi ngày tôi giới hạn cho tôi uống một bình nước và ăn một trái chanh. Tôi tập uống từng ngụm nước nhỏ, cốt để cho đỡ khô môi hơn là đỡ khát. Binh sĩ nhất là các tân binh chưa quen chịu đựng, uống nước quá nhiều, người tháo mồ hôi và dễ mệt lã. Cứ trung bình leo hết một ngọn đồi, có một người xỉu phải gọi trực thăng di tản. Ngày thứ hai của năm ngày đầu chiếm kỷ lục về số đồi leo và cũng chiếm kỷ lục về số người xỉu. Leo tới đỉnh ngọn đồi thứ ba tôi kiệt sức. Ngọn đồi cỏ cháy như nung nấu dưới ánh nắng thiêu đốt. Tôi ngã lưng vào một lùm sim, thở không muốn nổi, hai chân rã rời, mặt tay cháy rát. Chỉ còn hai y tá bên cạnh tôi, bao nhiêu rơi rớt lại đằng sau hết. Đại Đội 62 mang đến tôi ba người xỉu, hai chỉ mệt lã vì say nắng, người thứ ba trong tình trạng “xuất nước” trầm trọng. Tôi truyền nước biển cho người bệnh nặng, chích thuốc khỏe cho hai người kia. Người lính truyền tin báo tôi biết, lưng chừng ngọn đồi ba có hai binh sĩ Dù và hai “đề lô” Mỹ xỉu xin được săn sóc. Tôi cố lết trở xuống tìm gặp hai anh chàng “đề lô” Mỹ nằm thở hào hển trong bụi mua. Một anh chàng thứ ba còn khỏe phe phẩy cành lá mua quạt cho đồng đội. Tôi nói với họ ráng leo lên đồi sẽ được săn sóc và di tản. Người “đề lô” còn khỏe và tôi xốc nách anh chàng to lớn lôi đi, hai y tá của tôi dìu anh chàng thứ hai theo sau. Binh sĩ ngồi, nằm la liệt dọc theo sườn đồi. Một câu nói hằn học vang lên đâu đó:
_Đi thì đi cho cố, mệt không cho nghỉ, đau không cho về, đúng là kiếp trâu ngựa.

Lính nhảy dù là lính hay cằn nhằn nhất, cằn nhằn nhưng vẫn tiến vẫn hăng say khi lâm trận. Trông hai anh chàng “đề lô” Mỹ thật thảm thương. Hôm đầu mới đến anh nào cũng áo giáp, nón sắt, xắc đeo lưng, dáng dấp hiên ngang. Sau một ngày rưỡi leo núi, áo giáp nón sắt biến đi đâu hết. Bây giờ hai anh chàng nằm đó mặt mũi hốc hác. Tôi báo cáo máy lên Bộ Chỉ Huy tình trạng sức khỏe của bảy người xỉu và xin trực thăng di tản. Tôi nhận ra tiếng ông Tiểu Đoàn Trưởng trong máy:
_Bắc Bình Sơn Tây liệu làm sao chứ về nhiều như thế này tôi không chịu đâu.

Giọng ông bực tức pha chút trách móc. Tôi biết ông muốn giữ quân. Tôi nghĩ thà ít mà khỏe hơn nhiều mà đau yếu mất tinh thần. Nắng nôi mệt nhọc, dễ làm con người cáu kỉnh. Cả tôi nửa, tôi cũng muốn xỉu, muốn điên lên, muốn gây gổ tất cả mọi người. Nhưng rồi hai chuyến trực thăng vẫn di tản trọn bảy người bệnh.

_Thưa…Bác Sĩ.

Tôi ngửng nhìn người y tá Đại Đôi 63 khép nép, hỏi giọng gay gắt:

_Cái gì nửa?

_Dạ thưa một thằng tác chiến nó cướp chai nước biển của em mang nó uống mất một nửa, em cản không nổi. Nó …khát quá!

Tôi không giận người mang lẫn người uống chai nước biển, song tôi vẫn hét lên:

_Thằng đó bị thương thì đái ra mà truyền nước cho nó.

Ngày hôm ấy chúng tôi leo bảy ngọn đồi! Trong khi cánh quân Dù hoàn toàn vô sự thì hai cánh quân Việt, Mỹ khác đụng độ ác liệt với quân Bắc Việt. Phía Mỹ thiệt hại có ngày lên đến năm mươi người. Vùng quân Mỹ đổ bộ có nhiều sông suối và đồng bằng. Tôi nghĩ địa thế đó thuận lợi cho sự trú đóng lâu dài của địch. Phía chúng tôi phần nhiều đồi núi trọc, suối nước hiếm hoi, có lẽ vì vậy địch không ở. Cũng vì vậy năm ngày qua chưa thấy bóng dáng một tên địch nào. Chúng tôi băng qua một vùng vừa bị B.52 oanh tạc. Những đồi tranh, đồi mây cháy rụi tận gốc. Đi ngang qua người choáng váng vì khí nóng hừng hực vây quanh. Chúng tôi đang vòng về phía Cam Lộ. Tôi được biết ngày mai sẽ có cuộc trực thăng vận vào mục tiêu khác. Từ đó tiến ngược trở ra, song song với cánh quân Mỹ. Thời gian bốn ngày. Trạm Cứu Thương có hai y tá lên cơn sốt, một người bị té trặc chân phải di tản, còn lại tám người kể cả tôi. Tôi đánh công điện về Đại Đội Quân Y xin tăng cường người. Thiếu người mà số thuốc của ba y tá đau để lại không thể sang qua cho phần y tá còn lại. Họ cũng mang nặng và mệt mỏi lắm rồi. Tôi nảy ra ý gói những thuốc viên vào những bao ny lon với số lượng cần thiết tối thiểu. Chai lọ vất đi hết, cũng đỡ nặng được phần nào. Riêng thuốc cấp cứu, bông băng, nước biển, huyết tương phải giữ nguyên số lượng phòng khi đụng trận lớn.

Người y tá mang cho tôi một đĩa cơm. Đã bốn ngày ăn cơm sấy, đồ hộp. Cơm sấy là loại cơm khô đựng trong túi nylon, khi ăn đổ nước vào cơm sẽ nở ra mềm như cơm nấu. Ăn thơm thơm nhưng chắc chẳng còn bổ béo gì. Tôi ớn nhất món đồ hộp: thịt heo toàn là mỡ, cá trích ăn một miếng buổi sáng, buổi chiều ựa vẫn còn mùi tanh. Tuy nhiên đói vẫn ăn nhiều. Vùng này không thể tìm ra một thứ rau lá nào để nấu tô canh húp cho mát miệng. Không ngờ trong đời tôi lại có lúc ăn uống kham khổ như thế này. Thời tản cư cũng bữa đói, bữa no, nhưng nó nhàn nhã hơn nhiều. Trong một phút len trong nổi mệt mỏi của thể xác, một sự chán nản tinh thần nhen nhúm. Trong một phút tôi thấy sự hy sinh của mình thật vô ích. Sao tôi không như mọi người chọn một cuộc sống thanh nhàn hơn? Sao tôi phải đày thân tôi ra chốn khổ ải này? Nếu ai cũng muốn thụ hưởng cả thì còn ai chiến đấu? Nhiều người phục tôi câu nói đó; bây giờ tôi thấy tôi hơi quân tử tầu. Mấy thằng bạn hỏi đùa tôi sao vợ đẹp thế mà bỏ đi Nhảy Dù? Tôi nhớ qua hơi men, tôi ba hoa bốc đồng giảng giãi dài dòng lý do vì sao vợ tôi đẹp mà tôi đi Nhảy Dù xa nhà quanh năm suốt tháng. Tôi nhớ tôi lập luận:

_Nếu vợ tao xấu, tao đã không đi Nhảy Dù, tao lo giữ mạng sống tao cho nó, vì nếu tao chết lấy ai thương yêu đùm bọc nó nửa, một góa phụ xấu rất khó làm lại cuộc đời. Đằng này vợ tao đẹp, lỡ tao có gói “poncho” thì còn khối thằng nhảy vào. Và biết đâu khối thằng đang mong cho tao chết để nhảy vào..!

Tôi nói thế để làm gì? Để chúng nó phục lăn ra, chúng nó gọi tôi là thằng chịu chơi. Bây giờ giữa cảnh hoang vu của núi rừng, tôi nhớ Sài Gòn, nhớ người yêu. Bây giờ tôi ước mong làm một người bình thường sống một cuộc đời yên phận. Có tôi hay không có tôi, chiến tranh vẫn tiếp diễn, cục diện vẫn không thay đổi. Thế thì lý do nào khiến tôi tự đày thân mình ra chốn khổ ải này? Lý do nào bắt tôi sống một tuần với gia đình đã lại muốn đi, đã nhớ cảnh nằm lều, ngủ võng? Tôi không thích chiến tranh nhưng tôi yêu đời lính, yêu màu áo binh chủng. Tôi ước mong ngày mai đụng trận, tiếng súng nổ, tiếng đạn reo sẽ làm tôi quên hết nhọc mệt, chán nản. Chỉ có súng đạn máu lửa mới an ủi được nỗi buồn vô cớ trong tâm hôn tôi và tôi lo sợ một ngày hòa bình trở lại tôi sẽ là kẻ trở về lạc lõng giữa một xã hội không bị chiến tranh tàn phá tâm hồn..Bảy giờ sáng hôm sau đổ đồi, tám giờ, mười chiếc Shinook đến bốc một nửa Tiểu Đoàn 6 ném vào một vùng núi xa độ hai mươi phút bay. Tôi đi đợt hai chiếc Shinook thứ sáu. Theo sau là Tiểu Đoàn 8. Tiểu đoàn 2 đóng nguyên chổ cũ. Bãi đáp là một khu rừng thưa. Cuộc đổ quân an toàn. Mười giờ tiến quân. Chúng tôi băng qua một con đường nhưa, con đường đưa lên Khe Sanh, Lao Bảo. Hai bên đường những cây mây, cây tranh mọc cao quá đầu người. Đoàn quân tiến qua một vùng cháy rụi, loang lổ những hố bom cày, rải rác những hầm trú ẩn. Tôi nghĩ đến những người lính Bắc Việt bỏ xác nơi đây, dưới trận mưa bom bất ngờ, khốc liệt. Chúng tôi lúp xúp tiến lên một ngọn đồi tranh. Chỉ cần một tên địch nổi lửa đốt đồi cũng đủ thiêu sống cả Tiểu Đoàn. Cái nắng nóng ghê gớm từ trên đầu rọi xuống, từ những đám tranh hắt ra, từ dưới lớp đất nung bốc lên tưởng chừng nướng bỏng da thịt chúng tôi. Quần áo đẫm mồ hôi, tôi lấy miếng bông gòn thấm nước trà chấm lên mặt cho da đỡ cháy rát. Có được một nón sắt nước để rửa mặt lúc này thì thật quí hơn vàng! Sau đồi tranh là một ngọn núi sừng sững. Đỡ được nắng thì gặp di chuyển khó khăn. Chúng tôi phải leo, nhảy, đánh đu như vượn. Một giờ trưa mới nghỉ chân ăn cơm ở đỉnh núi. Đỉnh núi bị một quả bom rơi trúng làm lở một vệt dài. Tôi sẽ không bao giờ quên buổi ăn trưa đó: Ngồi ăn với hai bàn chân chống vào một gốc cây, cánh tay trái choàng qua một thân cây cho khỏi ngã xuống vực sâu. Ở đó tôi suýt bị một con bò cạp cắn. Nó lớn bằng ngón tay cái trông phát rùng mình…

Ba giờ, di chuyển qua những ngọn đồi tranh. Một đồi… một đồi…lại một đồi! Trước mặt, đằng sau, bên phải, bên trái toàn đồi núi. Cảnh trông thật thối chí cho những tay leo núi bất đắc dĩ như chúng tôi. Có tin Tiểu Đoàn 8 khám phá hai hầm đạn dấu hơn một trăm quả 81 và năm hầm chôn năm mươi xác địch. Số xác chết có lẽ là kết quả cuộc đụng độ với Tiểu Đoàn 2 Dù trước đây. Hôm ấy phía cánh quân Mỹ hỏa châu soi sáng suốt đêm.

Chín giờ hôm sau đổ đồi, tiến vào một khu rừng đầy hầm hố mới đào. Có lệnh súng cầm tay, quan sát phải trái. Chúng tôi men theo con đường mòn, dè dặt đi trong cái mát lạnh căng thẳng của khu rừng. Bổng mấy loạt súng vang lên phía đằng trước. Cánh quân Chỉ Huy dừng lại. Không nghe động tỉnh gì thêm. một lát có lệnh truyền miệng đến tôi: “Mời bác sĩ lên săn sóc một tù binh bị thương nặng”. Di chuyển chừng hai trăm thước, tôi gặp một toán binh sĩ bố trí quanh một cái cáng, trên đó một binh sĩ Bắc Việt năm thoi thóp. Khám nghiệm tôi thấy anh ta bị năm phát đạn AR. 15, một loại đạn rất xuyên phá, ở đầu gối và bắp vế trái, bắp chân và bắp vế phải và ở bụng. Tôi cho buộc garrot, truyền một chai huyết tương và băng bó các vết thương. Tôi nhìn sang bên cạnh hai xác Việt Cộng khác nằm ngửa mặt lên trời, một trúng đạn ngay ở tim, một đạn xuyên từ ót ra trước phá vỡ cả mặt trông thật khó nhìn. Tôi cho lật hai cái xác úp mặt xuống đất. Người Hạ Sĩ Quan an ninh đưa tôi xem một khẩu thượng liên và hai khẩu súng trường Nga có gắn lưởi lê vừa tịch thu được. Ông này nói:

_May mình nổ súng trước nếu không khẩu này nó quét trước thì khinh binh mình ngã hết . Thằng bị thương là xạ thủ khẩu thượng liên này.

Người thương binh mở mắt lơ láo nhìn vẽ sợ hãi. Ông Sĩ Quan an ninh vỗ về:

_Anh đừng sợ, có bác sĩ săn sóc vết thương cho anh, anh tên chi?

_Đào Duy Đức.

_Anh có bao nhiêu người?

_Năm, lạc mất Đại Đội. Đói ba ngày nay, ăn toàn xoài sống.

_Anh biết Thiếu Úy Mai Hồng Nhĩ không?

_Tôi thuộc Đại Đội của ông.

_Ông ta đã ra đầu thú anh biết chưa?

Người thương binh lắc đầu rồi kêu khát nước. Tôi chỉ cho anh nhấp nhấp. Các vết thương cứ rỉ máu. Anh ta kêu tức ở bọng đái. Tôi nghi bụng anh ta đầy máu. Khả năng tôi không làm gì hơn được. Tôi gọi máy bộ Chị Huy xin trực thăng di tản. Lời yêu cầu được chấp thuận nhưng phải chờ tìm bãi đáp vì chúng tôi đang ở trong rừng cây đan chằng chịt trên đầu. Chai huyết tương hết. Tôi băn khoăn không biết có nên cho thêm một chai nước biển hay chai huyết tương thứ hai. Tôi còn ba chai huyết tương và năm chai nước biển. Số lượng đó chỉ cần năm thương binh nặng là tiêu thụ hết. Tình thế này biết đâu sẽ còn chạm súng nữa. Binh sĩ tôi sẽ bị thương, phải dành cho họ. Tôi quyết định chỉ cho chích thêm thuốc trợ tim và thuốc cầm máu. Mạch vẫn nhảy yếu tuy có đều hơn. Người lính Bắc Việt cầm chặt tay tôi:

_Bác Sĩ cứu em.

Tôi cảm động. Anh ta không chửi tôi là quân Ngụy, anh ta xưng em với tôi. Tôi an ủi anh:

_Lát nửa sẽ có trực thăng đón anh về bịnh viện săn sóc.

Rồi tôi tò mò hỏi về gia thế anh ta:

_Anh mấy tuổi? Có gia đình chưa?

_Dạ hai mươi ba, một vợ hai con. Em mệt quá Bác Sĩ.

Anh ta sắp bị xúc kích huyết. Ý muốn truyền thêm một chai huyết tương lại trở về trong đầu tôi. Không được phải dành cho binh sĩ mình. Tôi bị giằng co giữa hai ý định trái ngược đó. Người thương binh lịm dần không còn nói được nửa. Anh ta sắp chết. Tôi biết thế mà cảm thấy mình không thể làm gì hơn. Khai phá được một lối đi, đưa người thương binh Bắc Việt ra đến bãi đáp chờ trực thăng thì anh chỉ còn là cái xác bất động. Biết anh ta sẽ chết, nhưng khi anh ta chết thật tôi lại chưa muốn tin anh ta chết. Tôi bắt mạch, áp tai vào ngực một hồi lâu rồi mới nói:

_Nó chết rồi.

Chúng tôi đặt xác anh ta xuống một hầm trú ẩn và lấp đất. Không cứu được anh ta thật là đáng tiếc, nhưng ít nhất việc làm của chúng tôi cũng giúp anh trước khi chết nhận thức được rằng kẻ mà anh gọi là thù không độc ác như người ta hằng tuyên truyền cho anh như vậy để căm thù. Riêng tôi đến giờ phút này, ngồi ghi lại chuyện ngày qua viết đến cái chết của người lính Bắc Việt tôi vẫn nghe dằn vặt trong lòng. Tôi biết vết thương anh trầm trọng khó sống, nhưng thà tôi truyền cho anh hai ba chai nước để rồi anh vẫn chết tôi sẽ yên lòng hơn để anh ta chết trong ý nghĩ mình chưa làm tròn những gì mình phải làm.

Chúng tôi đang ở ngày thứ chín của cuộc hành quân. Sáng nay thay vì di chuyển ra “điểm hẹn” Tiểu Đoàn 6 ở lại yểm trợ một trung đội Bảo An trở lại tìm một số vũ khí còn chôn dấu quanh tiền đồn nằm phía trái, dưới chân ngọn núi tôi ngồi ăn cơm trưa trên đỉnh. Toán Bảo An men theo con đường mòn tiến ra đến đường nhựa an toàn. Ho chia làm hai toán theo hai bên bờ đường nhựa tiến lên đồn. Khi toán một tiến đến gần đồn thì địch ở trong đồn nổ súng, đồng thời địch bên kia đường nhựa cũng ào lên chận đánh toán hai.

_Đại Bàng gọi Phi Vân, Đại Bàng gọi Phi Vân, anh nghe tôi không?

_Phi Vân báo cáo với Đại Bàng: Mất liên lạc với toán một, toán hai “ngủ” ba “nằm” một. Đại Bàng, Đại Bàng, chúng nó lại xung phong..!

Liên lạc máy đến đó bị cắt đứt. Tôi bàng hoàng. Hai Đại Đội Dù được lệnh đổ đồi tiếp cứu. Chừng mười phút sau, mấy loạt súng nổ vang dưới chân đồi. Tôi ngồi im nghe tiếng nói vang vang trong chiếc P.R.C. 25:

_Thanh Tòng gọi Minh Mạng

_Minh Mạng tôi nghe.

_Chạm đich bất ngờ, Thuận Thanh ngã hai, bị thương hai; Long Vị ngã một, bị thương một. Thiệt hại địch không rõ, xin cho săn sóc di tản thương binh và xác. Chờ quyết định của Minh Mạng.

Tôi dẫn toán y tá đổ đồi. Xuống được hai phần ba đồi gặp Bộ Chỉ Huy nhẹ của ông Tiểu Đoàn Phó và ba thương binh. Một trúng thương ở đầu và đang hôn mê, một đạn xuyên qua ngực và một đạn xuyên qua cổ tay. Tôi ưu tiên săn sóc người bị thương ở ngực. Đạn vào ở ngực và trổ ra đằng sau lưng; một viên phá nát xương quai xanh và xương bả vai trái; một viên khoét lổ hổng lớn bằng nắm tay gần sống lưng phía trái. Tôi nhìn thấy lá phổi trái đang hô hấp. Lần đầu tiên tôi gặp một trường hợp “thorax soufflant”. Vết thương hổng quá lớn không khâu được. Để tránh biến chứng do không khí tràn vào phổi, tôi lấy một chồng compress 4×4 bít kín hai lổ phá rồi lấy một cuộn băng thung khoanh chặc lưng. Cùng một lúc tôi cho truyền một chai huyết tương, một chai dextrant có pha thuốc chống xúc kích, thuốc điều hòa hô hấp. Người thương binh rên la trăn trở. Khi đôi mắt lờ đờ của anh bắt gặp tia nhìn nặng trĩu lo âu của tôi, anh nắm chặt lấy tay tôi thều thào trong nước mắt:

_Bác Sĩ ơi! Tôi biết tôi sắp chết..

Tôi cắt ngang câu nói của anh:

_Không sao đâu anh sẽ sống…

Người thương binh lắc lắc tay tôi ra hiệu bảo tôi im.

_Bác Sĩ nói thế an ủi tôi. Tôi biết tôi sắp chết. Nhờ Bác Sĩ tin cho vợ tôi hay. Nó ở số 4 đường Thái Phiên, Hội An. Nhờ Bác Sĩ nói nó ráng nuôi con tôi và …lấy chồng khác đi…

 Không ngờ trong đời tôi lại có lúc chứng kiến cảnh trối trăn này, những lời trối trăn y hệt như trong một tuồng cải lương; có khác chăng những lần khác tôi cười, lần này tôi rớm nước mắt. Nhưng câu nói:” Không sao đâu, anh sẽ sống” của tôi không phải là lời nói an ủi trong tuyệt vọng. Sau khi truyền hết chai huyết tương, tôi tin anh sẽ sống. Trái lại vết thương đầu là một ám ảnh lớn của người y sĩ, họ gần như bất lực trước thương tích đó. Nó sống là nó sống, nhờ ơn Chúa, ơn Phật; nó chết là nó chết, tại số nó hết.

Bãi đáp trực thăng được chọn ở lưng chừng đồi. Phải di tản thương binh ngược trở lên. Bỗng dưng trời đổ cơn mưa lớn, đồi dốc trơn trợt, công việc tải thương thật khó khăn chật vật. Tôi hỏi ông Tiểu Đoàn Phó về tình hình. Ông nói:

_ Địch có một khẩu đại liên ở triền núi cạnh đồn và một khẩu trung liên đặt trên đỉnh đồi ở bên kia đường nhựa quét chéo rất dầy về phía mình đổ quân. Tiến quân chắc chắn sẽ bị thiệt hại mà kết quả chưa chắc sẽ được gì. Đằng nào Trung Đội Bảo An cũng đã tan rã…

Hai giờ chiều. Cơn mưa vừa dứt. Ba cái xác gói trong poncho lần lượt được gánh qua mặt tôi. Máu nhễu từ những đôi giày xuống mặt đất kéo thành từng vệt đỏ dài. Tôi nghe đau xót trong lòng. Đời người thật ngắn ngủi, sống đó rồi chết đó. Phản lực, khu trục, pháo binh nối tiếp nhau bắn phá dội bom suốt hai tiếng đồng hồ. Tôi nghĩ đến số phận những người Bảo An sống sót còn kẹt lại dưới đó. Bộ Chỉ Huy cho biết Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn I sắp xuống thám sát tình hình. Năm phút sau một chiếc H.34 đáp xuống đỉnh đồi. Sau khi chiếc trực thăng bay đi hai Đại Đôi Dù được lệnh rút lên đồi. Một nỗi buồn uất ức xâm chiếm tâm hồn mọi người. Ba chết, ba bị thương mà không đánh đổi được gì. Chín người Bảo An chạy thoát được về trong số có ông Chuẩn Úy Trung Đội Trưởng và người y tá. Người y tá Bảo An cho tôi hay anh có săn sóc cho một đồng đội bị thương ở chân. Khi địch xung phong, anh chạy bỏ lại người bị thương không biết sống chết ra sao.

Trong bữa cơm chiều, toán y tá của tôi bàn tán dị đoan:

_Tiểu Đoàn này kỳ lắm, hành quân cứ ngày chót là có đổ máu.

Một y tá nói về một người chết:

_Tội nghiệp thằng Thanh nó mang máy cho ông Đại Đội Trưởng, vì trễ năm ngày phép bị tống đi khinh binh, mới đi lần đầu đã dính…

Tôi nhớ tên biết mặt một trong ba người chết: Hạ Sĩ Lâm Đức Túc. Tôi nhớ Túc vì một câu chuyện xảy ra giữa anh và tôi. Một buổi sáng ở hậu cứ, Túc vào khám bệnh. Tôi hỏi anh đau gì, Túc đáp:

_Thưa Bác Sĩ mắt tôi hôm nay sao mờ đi, nhìn đéo thấy gì cả.

Biết anh vô ý quen miệng, song tôi vẫn đập bàn quát mắng. Túc đờ người ra, chừng chợt hay mình đã nói gì, mặt anh tái đi miệng lắp bắp xin lỗi. Tôi đem câu chuyện kể cho đám y tá nghe và cả thầy trò cùng cười. Bây giờ thì Túc đã chết nhưng anh lưu ở lòng tôi một kỷ niệm vui, vui để mà buồn…

Tôi được đánh thức dậy lúc bốn giờ sáng. Hôm nay phải có mặt ở “điểm hẹn” lúc mười giờ. Đoạn đường dự trù hai ngày đi, bây giờ phải đi trong năm giờ. Năm giờ sáng chúng tôi di chuyển, đi mò mò trong sương, vượt hai ngọn núi và ba trái đồi. Nhịn đói mà đi. Mệt lả nhưng mọi người cố gắng vì là đi về. Đến điểm hẹn trễ mất nửa giờ. Bảy chiếc H.34 lần lượt đem chúng tôi trở về Đông Hà. Khi Tiểu Đoàn đi được một nửa binh sĩ gác báo cáo, thấy một bóng người xuất hiện trên đồi. Quả thật một bóng người ẩn hiện từ đồi này qua đồi khác chạy về hướng chúng tôi. Bóng người rõ dần. Chúng tơi nhận ra một người lính Bảo An. Mọi người vây quanh mừng con người may mắn cuối cùng. Anh là người sống sót thứ tư của toán đi đầu. Người Bảo An kể:

_Lúc phi cơ oanh tạc và pháo binh bắn phá, tôi nằm trong bụi rậm chờ chết. Nhưng may mắn vô sự. Chúng nó đông lắm, phục sẳn, chờ Nhảy Dù xuống là đánh. Chúng chết nhiều vì tôi nghe chúng lục đục tải thương đến khuya. Đến gần sáng tôi bò về chổ đóng quân, nhưng không dám lên đồi sợ binh sĩ Nhảy Dù nổ súng. Mệt quá ngủ quên, tỉnh dậy thấy Tiểu Đoàn đã di chuyển, tôi vội vã chạy theo dấu..,

Về đến Đông Hà việc đầu tiên của tôi là thay bộ quần áo mười ngày không giặt, nhày xuống sông kỳ rửa cái thân xác mười ngày không tắm. Sau đó cùng Bác Sĩ Niệm của Tiểu Đoàn 8 ra chợ Đông Hà húp liền hai tô bún nóng cay, uống vài chai bia lạnh cho bỏ những ngày ăn uống thiếu thốn.

Tiểu Đoàn đóng quân ở Đông Hà đã mười lăm ngày. Đông Hà quá bé, quá buồn, quá bụi bặm, nắng nôi. Bắt đầu thấy chán, lại muốn đi. Phong Điền, Hải Lăng, Hà Lạc, những vùng nặng áp lực địch đang chờ chúng tôi. Nhưng mười giờ tôi hôm đó chúng tôi nhận lệnh ngày mai Chiến Đoàn Dù sẽ được không vận lên Pleiku. Tôi nghĩ đến Pleime, thung lũng Ia Drang với con suối Ia Puk chảy siết như thác; tôi nghĩ đến chiêc đồn chơ vơ nằm giữa lòng chảo Đức Cơ. Và một ngày sắp tới ngồi trên trực thăng nhìn xuống cảnh núi rừng trùng điệp chắc tôi lại sẽ nghĩ vẫn vơ…Chiến tranh buồn cười thật: một đằng lặn lội từ ngoài Bắc vào. Một đằng từ Châu Mỹ xa lắc xa lơ tới và một đằng chúng tôi từ Vũng Tàu lên, kéo đến chốn rừng thiêng nước độc này tìm giết lẫn nhau…

Y Sỹ Tiền Tuyến

Trang Châu

Vietmessenger typing & Post by Sơn râu 21 July 2023

Phù Cát, Bình Phú III, ngày thứ sáu mươi tư, sáu lần trực thăng vận, mười cuộc hành quân bộ. Trừ bị, án ngữ cho Trung Đoàn 41, tiếp viện Trung Đoàn 40, hành quân phối hợp với Kỵ Binh Không Vận Mỹ. Từ đèo Bình Đê kéo về Bồng Sơn, từ Đề Đức đổ xuống đồi Dương Liễu, từ Phù Ly, Phù Mỹ lần ra Phù Cát, từ Phù Cát bốc ngược trở vào đồi 10. Chân chúng tôi dẫm mòn đất Bình Định, Tam Quan. Đã một lần thay đổi quân trang, hai lần lãnh lương hành quân. Cuộc biến động miền Trung làm hoãn ngày về của Chiến Đoàn II Dù đến lần thứ 5. Bao nhiêu bất mãn trút lên đầu những kẻ đấu tranh. Với những người mà cuộc sống chắp nối bằng những giây phút thách đố tử thần thì những mỹ danh: TỰ DO, DÂN CHỦ, quả thật không mấy hấp dẫn bằng một ngày về vui với vợ con. Sống giữa tập thể đó, chia xẻ nỗi vinh nhục của đời lính, để có lúc bất chợt thấy lòng mình cùng ước vọng bình thường như đám quân binh. Sài Gòn bây giờ xa tôi quá! Chương trình một buổi chiều thứ Bảy nào mời người yêu vào Rex xem chiếu bóng, ghé quán Chùa ăn kem, ra Mỹ Cảnh dùng tối và cuối cùng vào Baccara khiêu vũ là một dự tính xa xỉ phẩm tôi không còn nghĩ đến. Ước muốn tôi bây giờ thật giản dị: Tôi thèm một ly Coca có đá, một tô phở thật nóng cay, một thùng nước sạch để tắm rửa và một giấc ngủ ngon không tiếng súng đich khuấy rối. Một chút thoải mái thể xác để giữ vững tinh thần cho những ngày kế tiếp. Tôi còn cần gì nửa? Nếu có thể, cho tôi xin chút bóng mát tâm hồn. Một thằng bạn viết thư hỏi thăm tôi có thêm mối tình nào qua đường nửa không? Hắn dùng chữ “qua đường” làm tôi nghĩ đời tôi là một chuyến đi dài. Tâm tình chỉ là những thoáng vui, thoáng nhớ chấm phá chuỗi ngày khô cằn, máu lửa. Nhưng tôi tự nhủ trong mọi hoàn cảnh phải biết tự tạo cho mình niềm vui dù bâng quơ, vô nghĩa. Tôi rời Bồng Sơn mang theo hình ảnh một người con gái Huế -một cô giáo – che dù đi dưới cơn mưa. Tôi nhớ bửa ăn nàng thết tôi trưa hôm đó bàn tay thon thỏn gắp mời từng món ăn, nụ cười hồn nhiên gương mặt phảng phất buồn. Trọn buổi chiều tôi sống cảm giác êm dịu kẻ đi xa về họp mặt người thân. Niềm vui thật trong lành.

Nhưng con người vẫn có nhu cầu rất con người. Sau hai tháng hành quân người đàn bà nào dưới mắt tôi cũng trở nên gợi cảm. Phù Cát cách Qui Nhơn chừng ba mưới cây số đường bộ khá an ninh. Qui Nhơn trở nên một cám dỗ, một giải tỏa. Một buổi sáng tôi cùng Niệm, Quyền bên Tiểu Đoàn 8 phóng ra Qui Nhơn trên chiếc Land Rover mượn của ông Quận Phù Cát. Chắc chắn chúng tôi không phải là những ông thánh và hình như Qui Nhơn không phải là một nhà tu. Buổi chiều trên đường về, tôi có cảm tưởng đã bớt nhớ Sài Gòn, bớt tha thiết đến ngày về; tôi có cảm tưởng ngày mai tôi có thể ăn ngủ bất cứ đâu, đối diện với bất cứ hiểm nguy nào. Theo bánh xe lăn trên con đường đầy ổ gà, lắc lư trong đầu tôi một tư tưởng về chiến tranh. Chiến tranh nguy hại ở chổ không phải nhiều người chết, nó nguy hại ở chổ thú vật hóa người còn sống. Có nhiều chua chát bất chợt trong cảm nghĩ của tôi. Nhưng ở một khía cạnh khác, đối với một cấp chỉ huy quân sự, tạo được trong hàng ngũ binh sĩ mình cái gọi là nguy hại đó là một thành công. Phải sống đời lính mới biết thì giờ để suy tư thật ít oi. Và tôi quan niệm người lính thiện chiến không hẳn là người đã dự nhiều trận mạc, mà trước hết phải là người không thích suy nghĩ hay không có thì giờ để suy nghĩ. Tôi cũng đang dần dà trở nên người không có thì giờ để suy nghĩ…

Đêm hôm ấy chúng tôi nhận lệnh chuẩn bị hành quân. Mục tiêu: một vùng ven biển cách chừng ba mươi cây số Đông Bắc Qui Nhơn. Trong buổi họp hành quân tôi được biết Tiểu Đoàn 8 sẽ đổ xuống núi. Tiểu Đoàn 6 từ mặt biển tràn vào. Tình trạng quân số Tiểu Đoàn 6 hao hụt khá nhiều vì sốt rét, kiết lỵ và lở chân, nhưng điều đáng ngại là số Sĩ Quan bị bệnh gồm ông Sĩ Quan ban 3 và ba ông Đại Đội Trưởng. Ba ông Thiếu Úy Trung Đội Trưởng lên xử lý thường vụ. Trách nhiệm điều quân đè nặng lên vai hai ông Tiểu Đoàn Trưởng và Tiểu Đoàn Phó. Thời gian dự trù là bốn ngày. Lội cú chót. Chúng tôi được thượng cấp hứa như vậy. Nhưng với tình hình còn rối rắm này và  nhất là sau năm lần bị hoãn ngày về chúng tôi đâm ra dè dặt lòng tin. Tám giờ sáng hôm sau, Tiểu Đoàn 8 được trực thăng vận chiếm các cao điểm trước. Mười giờ Tiểu Đoàn 6 kéo ra bãi trực thăng. Trời nắng gay gắt. Hai mươi bốn chiếc UHBI chia làm hai đợt bay đi bay về chuyển quân. Dân Phù Cát ra đưa tiễn chúng tôi khá đông đảo. Con nít nhiều hơn người lớn và đàn bà đông hơn đàn ông. Năm ngày dưỡng quân quá đủ để những chàng lính Dù hào hoa gây cảm tình. Bên này bên kia hàng kẽm gai, từng chiếc nón lá chụm vào chiếc nón sắt. Họ tâm sự gì cùng nhau chỉ có Trời biết. Chỉ nghe thỉnh thoảng có tiếng nói lớn:

_Đừng nghe nó dụ về Cấp mà khổ thân nghe em! Nó một vợ hai con rồi! vợ nó dữ lắm…!

Tiếp theo là những tràng cười vỗ vã.

Tiểu Đoàn 8 đổ quân an toàn, mười giờ ba mươi, Đại Đôi 62, 63 được bốc đi. Tôi ngồi theo dõi cuộc đổ quân qua chiếc máy bay của ông Đại Đội trưởng 60. Báo cáo cho biết các phản lực cơ đang bắn phá bãi đáp, có hỏa lực địch nhắm lẻ tẻ lên các trực thăng. Mười một giờ đoàn trực thăng những con chim chài sà xuống cặp chúng tôi bay vút đi. Trực thăng đưa chúng tôi ra biển, hạ thấp xuống và bay vòng trở vào. Qua nhanh dưới mắt tôi màu xanh mênh mông biển cả, màu vàng bãi cát hoang sơ, màu xám chì dãy núi đá. Cảnh thật hùng vĩ. Nếu không có những đám lửa, những cột khói bốc cao, tiếng bom long trời, tiếng gầm thét của phản lực cơ, có lẽ tôi đã giàu tưởng tượng nghĩ mình là một du khách đế vương đang thưởng ngọa một danh lam thắng cảnh.. Bãi đáp là một cánh đồng trống bùn lầy. Sừng sững trước mặt, bên trái chúng tôi dãy núi đá chênh vênh. Bên phải là một bìa làng, mục tiêu đầu tiên của Tiểu Đoàn 6. Hai Đại Đội 62, 63 tiến chiếm bìa làng không gặp kháng cự nào đáng kể. Nhưng ở hai triền núi, hỏa lực địch nhắm vào các trực thăng thật là đáng ngại. Phản lực cơ, gunship hoạt động mạnh mẽ nhưng tiếng súng địch vẫn chói tai tiếp đón chúng tôi. Nhảy ra khỏi trực thăng, bùn nước ngập đến nửa ống chân. Chúng tôi tản nhanh vào bờ làng. Còn một Đại Đội nửa là cuộc đổ quân hoàn tất. Tôi được biết theo kế hoạch. Tiểu Đoàn 8 sẽ đổ đồi rồi cùng Tiểu Đoàn 6 song song lên mục tiêu II để đóng quân đêm ở đó. Đại Đội Chỉ Huy bố trí góc theo lũy tre bao bọc bìa làng. Một ngôi nhà ngói bị trúng bom sụp đổ còn nghi ngút cháy. Tôi ngồi tựa lưng vào một gốc xoài, mở bi đông nước tu một hơi. Định bảo tên “đệ tử” mang cơm ra ăn thì một tiếng ầm làm tôi giật bắn người. Tôi nghe mảnh bay rào rào qua lá cây. Có tiếng bàn tán:

_Chúng nó câu 60 ly.

_60 ly sao không nghe tiếng “đề ba” (depart)?
_Chắc thằng nào dẫm phải lựu đạn.

Tiếng nổ ở phía Đại Đội 61. Tôi cho trạm Cứu Thương chuẩn bị. Một lát báo cáo máy cho biết năm “con” bị thương. May mắn không có vết thương bụng hay ngực. Cả năm bị mảnh ghim vào hạ chi, hai trường hợp gãy hở xương ống chân. Tôi yêu cầu xin trục thăng di tản thương binh. Đại Úy Smaldone, cố vấn trưởng cho tôi biết mười lăm phút nửa trực thăng đến. Tản thương là một vấn đề phải được giải quyết nhanh chóng khi đơn vị đang hay cần di chuyển. Tôi cho đưa các thương binh ra bãi đáp. Hai phải khiêng cáng, hai phải dìu. Cánh đồng nắng chói, vắng vẽ, nằm phơi mình dưới hai mặt núi lầm lì. Tôi gặp Trung Úy Black cố vấn phó đang đứng liên lạc địa không. Anh vừa từ Mỹ sang, về Tiểu Đoàn 6 được hai tháng và hành quân lần đầu. Thấy tôi và đám y tá khiêng dìu thương binh ra, anh đưa năm ngón tay làm dấu, miệng nói thêm:

_Bác Sĩ, năm phút nữa. 

Hai chiếc gunship xuất hiện, đảo vòng hai mé núi. Từ mặt biển một chiếc trực thăng sơn chữ thập đỏ là là bay thấp vào. Khi hai chiếc cáng vừa cập cửa trực thăng thì mấy loạt tiểu liên từ trên núi bắn xuống, tiếng nổ khô dòn như tre hóp cháy. Đạn bay chéo chéo nghe rất gần nhưng không rõ từ đâu. Đám y tá đẩy vội các thương binh lên rồi chạy kiếm chổ ẩn. Tôi nửa bình tĩnh nửa sợ; nửa muốn đứng yên, nửa muốn đi núp.  Tôi bắt gặp tia nhìn của Black, anh vẫn đứng yên. Anh còn đứng đó có thể vì anh can đảm, có thể vì anh thấy tôi không bỏ chạy. Máu tự ái trong người tôi bỗng nổi lên, buôc tôi vào cái thế không chì không được. Thật là trẻ con. Nhưng biết đâu sự trẻ con thường xuyên ấy làm Nhảy Dù nổi tiếng. Nhưng khi chiếc trực thăng nhớm càng, xoay mình để bay ra biển thì địch lại bắn rất rát. Lần này cả Black lẫn tôi không ai bảo ai, cùng một lúc đánh mấy phóc, đến sau mô đất cao.

Tôi qua một giấc trưa ngắn nhưng ngon lành dưới những tàn cây lổ đổ nắng. Đám y tá phải ngạc nhiên trước sự dễ ngủ của tôi. Tôi có thể ngồi ngủ, đứng ngủ, ngủ từng mười phút dừng quân. Có lẽ nhờ vậy nên ăn uống kham khổ, hành quân cực nhọc tôi không ốm trái lại còn mập ra. Một giờ ba mươi chuẩn bị di chuyển. Ngoài tốp người tình nghi do toán an ninh canh giữ. Tôi thấy tụ tập sau trạm Cứu Thương một đám chừng ba mươi người, hầu hết là đàn bà, trẻ em. Họ xin theo chúng tôi ra vùng an ninh. Hình ảnh một thiếu phụ và một cậu bé khiêng võng một bà già lết bết theo chúng tôi làm mọi người vừa cảm động vừa lên tinh thần. Hai người đàn ông tình nghi được chỉ định khiêng bà cụ. hai năm qua Cộng Sản đã làm gì dân vùng này để họ oán ghét. Chắc cũng tại trò đếm đầu người, đầu vật, gốc cây để đánh thuế.

Chúng tôi tiến chậm nhưng yên tĩnh qua cồn cát lún, rãi rác những mái nhà tiêu sơ ẩn dưới những rặng thông. Số dân khăn gói nhập vào đám người lánh nạn tăng lên qua mỗi chặng đường. Bỗng có tiếng súng nổ xa bên cánh trái chúng tôi. Tiểu Đoàn 8 chạm địch. Phía Tiểu Đoàn 6 vẫn im lìm tuy đầy dấu vết địch trên lộ trình tiến quân. Ra khỏi làng Cát Khánh, chúng tôi đến dưới chân một dãy đồi cát cao chạy dài không dứt. Tôi nghe tiếng thông reo, tiếng sóng vỗ. Leo lên đỉnh đồi cao nhất tôi thấy biển thật gần. Một chiếc tàu chiến hạm Mỹ hiện diện tại eo biển tự bao giờ.

Năm giờ chiều, không có lệnh đóng quân, trái lại có lệnh sẵn sàng tiếp ứng Tiểu Đoàn 8. Tiểu Đoàn này đổ quân đụng mạnh với đich. Tin sơ khởi phía 8 Dù ngã bốn “con”, bị thương 9. Trong số tử thương có một Hạ Sĩ Quan cố vấn Mỹ, thượng sĩ Rami. Tôi lẩm bẩm “Mới ngày đầu mà chiến trường coi bộ sôi động quá!” Bác Sĩ Niệm giờ này chắc đang vất vã. Tự nhiên tôi đâm chán cái nhàn của mình. Tôi tình nguyện về Nhảy Dù đâu phải để mua chữ nhàn. Tôi yêu cái vất vã đầy kiêu hãnh của binh chủng này. Niềm kiêu hãnh mà mỗi người lính Dù có bổn phận phải bảo vệ, bằng mọi giá, kể cả giá mạng sống mình. Niệm đã mang cho tôi lòng khao khát niềm kiêu hãnh đó. Còn nhớ một buổi chiều thứ bảy nào, từ mặt trận Đức Cơ về, anh ghé thăm bệnh viện Sài Gòn, nơi trước đây một năm anh từng là nội trú. Giữa một vòng tròn nữ y tá xinh đẹp mắt sáng ngời thán phục. Niệm trong bộ đồ saut bạc thếch hiên ngang kể lại những ngày bị vây hãm ở Đức Cơ. Tôi nhắm mắt tưởng tượng một chiếc đồn nhỏ bé bốn bề tường núi vây quanh, hồi hộp theo dõi những đợt tải thương lên phi cơ dưới cơn mưa pháo lích xuống phi đạo. Tôi tưởng như chính mình đang sống chui rúc dưới hầm, ăn ngủ đều luôn luôn có nón sắt. Niệm đã giúp tôi khám phá ra tôi cũng có máu Nhảy Dù. Bây giờ tôi đang sống cùng anh những gì mà trước kia tôi chỉ nghe anh kể. Bây giờ tôi đang ngồi bình yên bên này, thông cảm nỗi vất vã của anh bên kia..

Sáu giờ rưỡi chiều vẫn chưa có lệnh đóng quân. Súng vẫn nổ lưng chừng những dốc núi. Bốn chiếc F.101 liên tục dội bom, bắn phá, Tiểu Đoàn 6 lục soát hạ hai du kích, bắt sống năm tên, giữ thêm mười lăm tình nghi. Dân chúng được tập họp xuống một lũng sâu giữa hai sườn đồi cát vừa dễ bảo vệ, vừa dễ kiểm soát. Người y tá Đại Đội 64 kể tôi nghe chuyện một cô gái vừa được giải thoát. Nàng làm nghề thợ may ở Qui Nhơn về thăm nhà ở Cát Khánh, bị Việt Cộng bắt và kết tội do thám. Suốt sáu tháng qua cô bị chúng giam dưới hầm và bắt làm ..hộ lý. Khi được đưa ra khỏi hầm cô ôm chân một anh lính Dù khóc ròng…

Tám giờ tối, phía Tiểu Đoàn 8 mới im tiếng súng. Có lệnh đóng quân, nhưng cấm nấu ăn: ánh lửa giờ này dễ làm lộ vị trí đóng quân. Nhưng chúng tôi không sợ đói vì đã mang sẳn một ngày ăn. Lúc chiều các binh sĩ có lệnh nhường bớt phần cơm cho đồng bào vì một số ra đi không mang theo lương thực. Điều làm tôi lo ngại số dân chúng bỏ nhà ra đi chắc chắn sẽ còn nhiều trên khoảng đường ba ngày ngày kế tiếp. Đoàn người tị nạn phải bảo vệ kia sẽ là một trở ngại lớn cho Chiến Đoàn II Dù trong nhiệm vụ lùng và diệt địch. Tôi nghe nói đến giải pháp sẽ nhờ Mỹ đem Shinook chuyển dân chúng về Phù Cát, nếu giải pháp trên không thực hiện được, không khéo cuộc hành quân diệt địch sẽ biến thành cuộc hành quân di dân..

Chín giờ tối, ba chiếc khu trục đến thay các phản lực cơ tiếp tục dội bom và oanh kích. Chiếc tàu chiến Mỹ cũng bắt đầu câu hỏa tiễn vào một eo núi. Từ tàu vút lên hai vệt đỏ song song xé gió qua đầu tôi, lao đến vùng núi tối đen rồi lóe lên những đóm lửa. Vài trái hỏa tiển phát nổ trên không, những mảnh lửa bắn tung như những tia pháo bông.  Phía Tiểu Đoàn 8 từ hông một chiếc C.47 vung vãi xuống những lằn lửa ngoằn ngoèo, vài giây sau tiếng nổ mới lụp bụp đến tai… Tôi ngồi viết nhật ký một lúc dưới ánh hỏa châu soi sáng vùng đóng quân. Tiếng thông vi vu, tiếng sóng rì rào gợi cho tôi nhiều kỷ niệm về biển. Tôi nhớ Thuận An, bãi biển có hai lớp sóng: những ngọn sóng lớn ăn dần bãi cát và những con sóng ngầm trong lòng các thiếu nữ đất thần kinh đi tắm biển. Tôi nhớ Nha Trang với thoáng buồn: những ngày vui Hòn Chồng, Cầu Đá không ngăn mối tình tan vỡ. Tôi nhớ Vũng Tàu, bãi trước bãi sau ngây ngây mùi tình rác rưỡi. Ba miền biển, ba chặng đường đời. Tôi đã đến Sa Huỳnh, tôi đang nằm bên bờ Cát Khánh. Chiến tranh còn đưa tôi đi khám phá bao nhiêu bờ biển lạ nữa của quê hương? Tôi vóc tay bóc nắm cát, một mùi hương mặn thơm lên mũi. Tôi thầm ao ước đến đâu cũng ngửi được mùi hương đất nước này. Tôi trở mình nằm nghiêng. Con tàu Mỹ đã ngừng bắn phá, nhưng bên kia vùng núi đen còn bập bùng đám lửa. Tôi bỗng nhớ chuỗi ngày sống trên những cao điểm. Từ trên cao nhìn xuống tôi đã thấy gì, cảm nghĩ gì? Tôi lần lượt gọi tên những ngọn đồi..

Cứ điểm chiến lược ban ngày nóng như thiêu, ban đêm lạnh run là Đồi 10. Tôi đã qua ba đêm đầu mất ngủ vì hoạt động của hai khẩu đại bác đặt trên đỉnh đồi. Nhưng nắng nóng, bụi bặm, tiếng nổ rồi cũng quen đi, cả đến cái chết nhìn cũng quen đi. Ở đó một quả 105 ly vừa ra khỏi nòng phát nổ làm thiệt mạng một Sĩ Quan và hai pháo thủ. Ở đó tôi được tin Phong tử trận, thằng bạn thân nhất của tôi. Tôi sẽ không còn dịp khi về Sài Gòn tìm sỉ vả hắn tội phá hỏng chiếc Scooter của tôi rồi vất đấy. Với lon Đại Úy Hải Quân trên vai những tưởng hắn thọ hơn hai mai nơi cổ áo tôi nhiều. Thế mà hắn chết, bất ngờ không tin được. Hắn đi vào lòng biển cả trên đường thi hành một hải vụ xa xôi. Bạn bè cứ loãng dần từng đứa! Sau Phong sẽ đến ai? Chiến tranh còn tiếp diễn, hãy dành phần lựa chọn cho nó. Ở đó một đêm trăng tôi được thú tao nhã nằm nghe một “nữ đồng chí” ngâm thơ giọng Quảng. Đại để nàng khuyên chúng tôi nên bỏ súng quay về với nhân dân giải phóng. Sau hai tràng đại bác tiếng ngâm thơ im bặt. Sáng hôm sau dân làng khiêng đến tôi một thiếu nữ bị mảnh đạn ghim vào hông phải. Tôi tự hỏi người ngâm thơ đêm qua và người bị thương sáng nay có phải là một? Tôi nhớ tuần lễ nướng da trên đồi Chương Hòa, ngọn đồi đá tảng nóng đến bốc khói vào đúng ngọ. Tôi có những buổi trưa hầm người dưới lều bự bội nằm nghe cơn biến động hậu phương qua chiếc máy thu thanh. Ở đó, tôi đã viết gửi một thằng bạn đang hung hăng “xuống đường” ở Sài Gòn bài thơ cay cú nhất đời mình.

Xin một ngày

Mày nói anh em

Ngưng một ngày đấu tranh

Xin các Thầy

Đêm nay Rằm

Đình chỉ xuống đường

Xin các Cha

Sáng mai Chúa Nhật

Đừng căng biểu ngữ

Mày nói hậu phương

Đừng nhân danh chúng tao

Nói những tên tham nhũng

Ngưng đục khoét một ngày

Nói các tay gian thương

Giảm giá hàng một buổi

Mày nói bác tài xế Taxi

Sáng mai có thằng nhà binh đi phép

Nó gọi xe nên ngừng lại

Nói ông chủ nhà đèn

Đừng cúp điện đêm nay

Mày nói người đàn bà có chồng đi xa

Ngưng một ngày ngoại tình

Nói các em bán bar

Hôm nay cuối tháng

Đừng đi với ngoại kiều

Tất cả để khi tao về

Thấy một niềm an ủi

Tất cả cho ngày tao đi

Trong tâm hồn phấn khởi

Mày nói mọi người

Hãy lừa dối tao

Đừng cho tao hay sự thật

Tao sẽ chết đi

Nếu không đào ngủ

Tôi có những buổi chiều êm ả, ngồi trên mõm đá, nhìn ra khơi, mặt biển Sa Huỳnh xanh ngắt phất phơ những chấm buồm vôi, hay nhìn xuống ven chân đèo Bình Đê làng mạc rừng dừa ẩn hiện trong làn sương mỏng..Tôi có những đêm ngồi nhìn bầu trời lấp lánh, lòng chân thành muốn gởi tới trăng sao một điều ước nguyện: Cho tôi được làm một người Việt Nam không Công Giáo, không Phật Giáo, một người Việt Nam không quân sự, một người Việt Nam không dân sự; một người Việt Nam không Bắc, không Nam; một người Việt Nam chiến đấu không bao giờ thắc mắc mình chiến đấu cho ai; một người Việt Nam yêu nước bằng cuộc đời mình…

Đèo Nhông, đèo Phù Củ, Đề Đức, Dương Liễu, những địa danh khiêm tốn trên bản đồ nhưng vĩ đại trong lòng tôi. Những cao điểm nhìn xuống để thấy những tị hiềm nhỏ nhen vời vợt dưới chân để nghe dâng lên trong hồn tình quê hương bao la…Tôi đã và đang học những bài địa dư quí báu bằng mồ hôi của mình và máu các đồng đội. Tôi thấy mình không lập dị khi muốn hét thật to: “Cám ơn chiến tranh, đã cho tôi xa thành phố!”

Tờ mờ sáng hôm sau dân lánh nạn kéo đến càng đông, số người đã ngót ba trăm. Tiểu Đoàn 6 chúng tôi lãnh nhiêm vụ bảo vệ họ. Mười giờ hơn mới di chuyển. Chúng tôi đi quanh mõm núi nằm ven biển. Trời nắng chan chan. Gió biển thổi lồng lộng, tuy vậy vẫn mệt, tháo mồ hôi và khát nước. Hai chiếc F.101 oanh tạc dọc đường tiến quân. Bom Napalm trút xuống những nơi khả nghi, có khi cách đoàn người không đầy hai trăm thước. Tiểu Đoàn 8 mở đường đụng nhẹ với du kích, hạ được năm tên. Đồng bào điểm mặt, mấy xác chết nằm vắt ngang lối đi. Triền núi vẫn đứng nhìn xuyên hông chúng tôi, đầy hăm dọa. Tôi có cảm tưởng kẻ thù đang lén lút bám sát theo chúng tôi, chờ một phút sơ hở, đôi kẻ chậm chân là nhảy ra giành giựt lại đám dân. Đồng bào như cũng đánh hơi được sự nguy hiểm ấy, nên mặc dù đã được một Đại Đội bọc hậu, họ vẫn dồn sát lên Đại Đội Chỉ Huy. Chúng tôi khản cả cổ mà vẫn không thành công mấy trong việc gom dân chúng lại đằng sau.

Vào một lúc dừng quân, một người đàn bà ẳm đứa bé chừng hai tuổi, ghẻ chốc đầy mình đến tôi xin thuốc. Tôi nghĩ thầm chắc lại ông thần tác chiến nào quảng cáo rồi. Tôi không cho cũng đành, nhưng nếu cho thì chẳng mấy chốc con bệnh sẽ ùn ùn kéo đến. Số thuốc mang theo có hạn và phải dành cho binh sĩ. Tuy thế buổi chiều sau khi đóng quân kiểm số thuốc, tôi thấy cũng hao mất hơn năm mươi viên trụ sinh và hơn một trăm viên thuốc các loại.

Chúng tôi đi qua một khu dân cư nghèo nàn. Khối người ra vùng an ninh lại có dịp tăng lên. Lẫn trong đám bụi mù, người vật lẫn lộn, tiếng gọi nhau ơi ới, tiếng trâu bò rống, tạo nên một cảnh hỗn độn vui mắt như một ngày phiên chợ. Năm giờ chiều. Đóng quân giữa một vùng trống trải, mặt hướng về núi, lưng quay về một cái đầm lớn tên là Đầm Đề Di. Trong câu chuyện bữa cơm chiều, chúng tôi lo lắng vấn đề tiếp tế lương thực cho dân chúng. Còn những hai ngày đường mà trong non một nghìn người lánh nạn, con số ra đi với hai bàn tay trắng không phải là ít. Công điện xin tiếp tế lương thực cho dân chúng không được thỏa mãn với lý do không có chương trình dân sự vụ cho cuộc hành quân diệt địch này. Niềm tin còn lại là đoàn người can đảm kia sẽ đùm bọc lấy nhau để vượt mọi thử thách.

Chúng tôi qua đêm bình yên. Bảy giờ sáng di chuyển. mặt trời lên cao sớm. Da thịt bắt đầu cháy rát dưới ánh nắng. Băng qua làng Cát Minh rồi Cát Thành. Vào lúc ngồi nghỉ chân dưới một mái nhà tranh, tình cờ được nhìn vào một miếng gương, tôi suýt không nhận được ra tôi: mặt mũi, phía biển thì cháy rốp, lột da từng mảng nhỏ, phía núi thì đen đen, đỏ đỏ bóng nhờn. Nhan sắc tàn phai thế này không biết ngày về Sài Gòn còn ai nhìn ra tôi không? Ít nhất cũng còn một người nhận ra tôi, tôi vui vẽ tin như thế. Tiểu Đoàn 8 tiến vào một khu nhà ngói bắn chết ba du kích, khám phá hai kho gạo, một kho muối. Phía Tiểu Đoàn 8 một Hạ Sĩ Quan bị bắn sẻ trúng đầu. Niệm gọi máy nhờ tôi di tản dùm người thương binh vì Trạm Cứu Thương phải tiếp tục theo Tiểu Đoàn đi lục soát. Người Trung Sĩ được đưa đến tôi trong tình trạng hôn mê. Máu nhượm đỏ cả lớp băng đầu. Viên đạn xuyên thủng nón sắt, đình trán và trổ ra sau mang tai trái. Tôi bó tay ngồi nhìn vết thương biết rằng mọi cố gắng cấp cứu nào của mình cũng vô ích. Tôi bỗng lặng người nhìn hai tay người bị thương cử động: bàn tay phải đưa lên mở nút túi áo, móc bao thuốc lá rút ra một điếu thổ thổ vào lòng bàn tay trái rồi đưa lên môi. Điếu thuốc rơi xuống và bàn tay lại tái diễn những động tác mở nút túi áo lấy bao thuốc. Tôi vụt liên tưởng đến hình ảnh một con cóc của buổi thực tập môn sinh lý học năm nào, con cóc bị phá hủy não bộ, chỉ còn tủy sống để làm thí nghiệm, con cóc mà tôi đã tinh nghịch nhỏ một giọt cường toan lên lưng nó để thấy nó đưa chân sau lên phủi lia lịa vào lưng làm như nó còn biết đau, biết phỏng. Người thương binh của tôi bây giờ cũng đang có cử chỉ như còn biết lấy thuốc hút. Chiếc trực thăng tản thương đến giải thoát tôi một cảnh chứng não lòng.

Tiểu Đoàn 6 tiến vào khu nhà ngói. Dân chúng đã gồng gánh ngồi chật cả hai bên đường chờ chúng tôi. Có lệnh mở kho gạo và muối phát cho dân. Khó khăn to lớn nhất vừa được giải quyết.

_Trời sinh, Trời dưỡng.

Một cụ già lễ mễ bưng một nón gạo nói với tôi như thế. Đich cũng bỏ lại hai thùng thuốc men. Tôi tưởng sẽ đọc thấy những nhãn hiệu Tiệp Khắc, Trung Cộng hay Nga Sô. Nhưng không, vẫn những loại âu dược tốt và khan hiếm của Sài Gòn. Làm sao các thứ thuốc ấy lại có ở vùng quê hẻo lánh này? Tôi đặt câu hỏi nhưng không tìm câu trả lời.

Chúng tôi đóng quân khi ánh nắng còn vàng hoe trên những sườn núi đá. Những vách núi như cao hẳn lên vì chúng tôi ở sát chúng hơn bao giờ hết. Tiếng súng địch bắn vào các trực thăng lên xuống nghe gần hơn, nguy hiểm hơn. Và đoàn người lánh nạn đã trên dưới hai ngàn người càng làm chúng tôi bận tâm hơn. Chiến Đoàn chỉ thị đề phòng địch không những từ ngoài vào mà có thể trong đám dân ra nửa. Đồng bào được tập trong vào một khu xa Bộ Chỉ Huy; có lệnh cấm họ không được rời xa chổ ở sau bảy giờ tối. Và địch đến viếng chúng tôi sớm hơn dự tính: hai toán du kích hai mặt bò vào phòng tuyến của Tiểu Đoàn 6 bị phát giác. Một toán trọn ba tên bị bắt sống, toán kia hai tên bị bắn hạ. Trường hợp bắt sống ba tên du kích khá hy hữu: lúc ấy trời vừa tối. Một anh Hạ Sĩ ôm quả mìn định hướng ra xa vọng gác để gài, mói mon men chừng mười bước anh chạm trán vói ba bóng đen cũng đang mò mẫm đi vào. Biết gặp địch anh Hạ Sĩ nhanh trí hai tay đưa quả mìn lên như thế cầm súng, miệng hét to:

_Đứng yên, dơ tay lên!

Bị bất ngờ ba tên đich súng còn mang trên vai, riu ríu vâng lời. bấy giờ anh Hạ Sĩ mới gọi người tiếp ứng. Dù mệt mỏi suốt đêm hôm ấy tôi mất ngủ vì hai chân đau buốt sau mấy ngày đường. Có lúc vừa chợp mắt thì nghe nhức nhối ở lưng và chân. Dưới ánh sáng của cây đèn bấm tôi ghê hồn nhìn những chấm đen lúc nhúc cùng chăn mùng: “rệp!” Một lọ thuốc muỗi giúp tôi được nằm yên nhưng tỉnh người và khó thở vì mùi thuốc nồng nặc. Tôi trằn trọc nằm nghe tiếng hỏi cung mấy tên du kích bị bắt, tiếng K.50 lâu lâu khuấy rối khoảng đêm tịch mịch. Hình ảnh người Hạ Sĩ Quan bị thương nhấp nháy hiện ra. Cử chỉ móc túi lấy thuốc hút ám ảnh tôi, nó đưa anh xuống ngang hàng cùng loài vật chỉ có tủy sống! Và trong đời y sĩ của tôi, lần đầu tiên tôi không mong cứu sống một người, trái lại tôi mong anh chết đi càng sớm càng đỡ đau đớn, không phải cho anh mà cho những người chứng kiến cảnh anh tàn hoại..

Sáng hôm Sau Chiến Đoàn thay đổi lộ trình di chuyển. Chúng tôi không đi trên đường lộ nửa, con đường bắt đầu vòng sát chân núi một khoàn ngót hai cây số bản đồ. Di chuyển trên một địa hình như thế rất bất lợi. Nhiệm vụ của Chiến Đoàn Dù bây giờ là bảo vệ đoàn di dân trên đoạn đường năm cây số còn lại. Chúng tôi băng đồng, xuyên làng mạc, xa dần dãy núi. Dân chúng vì gồng gánh, bồng bế cồng kềnh, lại vướng các súc vật đem theo nên nối đuôi chúng tôi rất chật vật. Nhưng mệt nhọc không làm chúng tôi, quân cũng như dân, chùn bước. Niềm hân hoan của dân là thở được không khí vùng tự do, niềm vui của chúng tôi là lần này chắc chắn được về hậu cứ.

Không hiểu vì sự thay đổi lộ trình của chúng tôi hay vì đich không dám bám sát theo, mà trên đường tiến ra vùng kiểm soát hoàn toàn yên tĩnh. Chúng tôi nhìn thấy quốc lộ số 1 lúc hai giờ chiều. Dừng quân ở làng Vĩnh Tường, chờ xe Phù Cát ra đón. Một số dân chúng tản mác hoặc tự túc đón xe đi Phù Cát, Qui Nhơn. Phần đông đảo còn lại chờ phương tiện của Quận đưa về trại định cư. Nhìn họ tôi bâng khuâng lo lắng: Phải làm gì để tạo hứng khởi, giữ niềm tin Quốc Gia trong lòng những người dân chán ghét cộng sản này? Phải làm gì để họ không ân hận đã ra đi? Những câu hỏi quá to lớn, ngoài thẩm quyền của tôi. Tôi chỉ có quyền hy vọng. Những cô thôn nữ đẹp chất phác kia, những cậu bé hiền lành kia, tôi hy vọng hoàn cảnh xã hội ta sẽ không hóa thân họ thành những cô gái bán bar trơ trẽn, những chú nhỏ ma cô làm ung thối thêm thân thể Quê Hương.

Một cuộc săn du kích

Trang Châu

Y Sỹ Tiền Tuyến from Vietmessenger

Typing & Post by Sơn râu 20 July 2023

Chúng tôi đang ở ngày thứ hai mươi tám của cuộc hành quân Bình Phú III tại Tam Quan. Vừa từ làng Tân Mỹ rút về Hoài Thanh đóng quân cạnh đường xe lửa. Binh sĩ mới đặt súng xuống đất du kích đã mò đến bắn khuấy phá. Tôi có cảm tưởng ở Tam Quan mỗi người dân ban ngày là một du kích ban đêm. Làm dân sự vụ cho vùng này thật vô bổ: thuốc men cho họ vẫn lấy nhưng lòng họ vẫn hướng về quân thù. Vào những lúc bình tâm nhất tôi ngồi phân tích tìm hiểu nguyên nhân nào dân chúng thiên về Cộng Sản: Gần hai năm sau trận lụt Tam Quan mất kiểm soát. Tuyên truyền, cưỡng bách đã biến phần lớn dân làng thành Việt Cộng. Sau cuộc hành quân Thần Phong 11, quân chính phủ kiểm soát lại được một phần Tam Quan, nhất là trục giao thông. Nhưng chúng tôi chưa nắm được dân chúng. Dân ở đây chống  chúng tôi không vì một lý tưởng cao đẹp nào mà chỉ vì mối liên hệ gia đình giữa họ và quân du kích. Thuốc men của tôi chỉ là những hạt muối bỏ bể, khi mà mỗi tên du kích bị bắn hạ lại là một thân nhân của dân làng. Họ không có cảm tình với chúng tôi ra mặt, kín miệng như những con hến. Tôi nghĩ muốn diệt hết du kích đôi khi cần phải tàn bạo với cả gia đình họ nữa. Nếu vì liên hệ gia đình mà dân làng chống chúng tôi thì cũng có thể vì liên hệ gia đình quân du kích không dám quấy rối chúng tôi. Đoạn đường từ Phù Cát ra Qui Nhơn do quân đội Đại Hàn kiểm soát rất an ninh, du kích không dám  về hoạt động. Tôi tự hỏi sự an ninh kia có phải nhờ quân Đại Hàn giỏi đánh du kích hay vì nhờ du kích sợ quân Đại Hàn không cần biết mối liên hệ giữa họ và dân làng?

Năm giờ chiều, một chiếc H.34 đáp xuống Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn Dù: Chuẩn Tướng Tư Lịnh Sư Đoàn 22 đến. Chắc lại sắp “lội”. Tối hôm đó có lịnh ngày mai xong xuôi trước sáu giờ, một ngày cơm. Mục tiêu hành quân là vùng Tây Bắc Bồng Sơn. Tin tức cho biết quân số địch chừng một đại đội. Lực lượng chúng tôi gồm có hai Tiểu Đoàn Dù, một Chi Đoàn Thiết Quân Vận và tám trực thăng võ trang yểm trợ. Lực lượng hùng hậu như thế nhưng chúng tôi không hy vọng nhiều vào chiến quả khi đối thủ chỉ là những toán du kích vùng. Thường thường với những cuộc xuất quân rầm rộ, du kích hay được báo động để phân tán lẫn tránh kịp thời. Cứ trung bình năm cuộc tảo thanh thì hết ba vào mục tiêu chúng tôi chỉ thấy dấu vết địch. Phải đi lục soát bắt tình nghi. Sống lẫn với dân, nhờ dân họ lấy tin tức về chúng tôi rất chính xác; thông thạo địa thế họ hướng dẫn quân chủ lực đến tấn công bất thần vào các đơn vị bộ binh. Du kích vùng Tam Quan là những con cáo tinh khôn và nguy hiểm cần phải tiêu diệt. Phải tung một lực lượng hai mươi lần đông hơn để chận bắt từng con một. Kết quả tùy thuộc một yếu tố duy nhất: sự bất ngờ.

Bảy giờ sáng hôm sau Tiểu Đoàn di chuyển. Băng qua đường xe lửa trước mặt chúng tôi là những ngọn đồi đất thoai thoải. Dừa, mít, vườn sắn bao bọc những mái tranh rải rác trên đồi. Dân chúng kéo ra ngồi trước cửa nhà hay ngoài sân lặng lẽ nhìn chúng tôi đi qua. Mấy bà cụ chắp tay chào chúng tôi, miệng cố tạo một nụ cười. Những người đàn bà dò xét chúng tôi. Họ có vẽ lo âu cho ai khác hơn là cho họ. Tôi có thể đoán họ lo sợ họng súng của chúng tôi trong chốc lát chớp mất của họ vài người thân, biến một ít thành góa phụ. Nhưng ngoài tiếng cánh quạt kêu “tình tịch” của bốn chiếc trực thăng võ trang lượng vòng trên không, khu vực tiến quân yên tĩnh. Không bóng dáng một người đàn ông. Nhưng cái bụng u u của mấy người đàn bà vẫn tố cáo sự hiện hữu của họ đâu đó. Nếu có ai hỏi chồng các chị đâu , chắc chắn họ sẽ trả lời đi lính quốc gia hay bận làm ăn xa trên tỉnh. Tôi mĩm cười thầm với ý nghĩ chắc những người đàn bà có chồng ở xa này thụ thai bằng phương pháp…hàm thụ!

Khi toán kinh binh của đại đội 62 đi đầu định vượt qua một đồng lúa thì hỏa lực đich từ những ngọn đồi bên kia bờ ruộng bắn sang. Tôi nghe tiếng đại liên M.60, tiếng M.79 nổ dồn dập. Phi công trực thăng báo chúng tôi biết, họ quan sát thấy VC ngụy trang bằng lá cây đang rút chạy qua những ngọn đồi. Trực thăng bắt đầu xả đại liên và phi đạn truy kích. Chúng tôi được lịnh băng qua cánh đồng, chạy cách khoảng và thật nhanh. Tiếng súng trường vẫn rời rạc đáp lại những tràng liên thanh ròn rã, tiếng M.79, tiếng phi đạn ầm ầm. Tôi đến bên này bờ ruộng. Cánh đồng rộng chừng hai trăm thước trổ mạ non xanh. Tôi khoác tay với toán y tá cho lịnh băng đồng. Tôi men theo đê ruộng lấp xấp nước vừa cố chạy thật nhanh vừa cố giữ thăng bằng cho khỏi trợt chân ngã xuống ruộng. Đan bay vì vèo trên đầu. Một binh sĩ chạy trên đê ruộng bên phải chúng tôi ngã tùm xuống nước. Đúng lúc đó một tràng trung liên cày mặt nước tung tóe. Đich có cả súng cộng đồng. Tôi bám được vào chân ngọn đồi đất. Hàng quân tiếp tục băng qua. Người binh sĩ bị ngã, vẫn nằm im giữa ruộng. Tôi vừa nghi chắc anh ta bị thương thì nghe tiếng quát mắng:

_Đ.M. thằng kia nằm làm gì đó? Có chạy mau vào không chúng nó bắn bể “gáo” bây giờ. Người vừa chửi thề là ông Hạ Sĩ Nhất tổ trưởng súng cối. Tôi thấy anh chàng bị té đứng dậy, lỏm bỏm chạy vào bờ. Đó là một tân binh. Tôi học được một kinh nghiệm mỗi khi băng qua đồng trống phải chạy một mạch bên này sang bên kia, địch bắn rát mấy cũng mặc. nếu vì khớp mà nằm xuống sẽ làm đích cho họng súng của địch nằm canh sẵn chờ mình nhóm là tỉa hạ. Đánh nhau với du kích chúng tôi thường trả giá đắt những lúc băng qua đồng trống. Phơi người cho địch bắn sẻ. Những tấm bia thường được lựa chọn. Địch chỉ nhắm bắn các sĩ quan chỉ huy, thứ đến các y tá. Chiếc cần câu truyền tin, khẩu colt, bàn tay cầm bảng đồ, lưng không đeo xắc, chữ thập đỏ trên nón sắt là những dấu hiệu chỉ điểm người để địch lựa chọn. Tôi đã ra lịnh các y tá, nhất là y tá Đại Đội, xóa chữ thập trên nón sắt và mọi người phải mang vũ khí. Bắt y tá mang vũ khí là một sự nặng nhọc, phiền toái cho họ khi trên lưng mọi người cồm cộm một túi thuốc. Nhưng tôi thấy có hai điều lợi: gây tự tin và tang hỏa lực phòng thủ cho đại đội khi đóng quân. Y tá trạm cứu thương tiểu Đoàn Sáu Dù gồm hai lứa tuổi: Trên ba mươi lăm và dưới hai mươi lăm, một lứa tuổi đầy kinh nghiệm chiến trường hiểu rõ giá trị của cây súng; một lứa tuổi máu nóng hăng say thích xông xáo. Cho nên tôi đã không gặp phản ứng nào, dù đằng sau lưng khi quyết định “vũ khí hóa” trạm cứu thương. Tôi cũng mang một khẩu Carbin M.1 Không phải để ngụy trang hay để lấy tự tin mà chỉ vì một yếu tố tâm lý: hòa mình với đơn vị. Sĩ Quan cũng như binh sĩ Dù thích thấy ông Y Sĩ của Tiểu Đoàn mình có máu nhà binh như họ hơn là một ông Y Sĩ chỉ biết chuyên môn. Tôi muốn, tôi cần tạo cho tôi một tác phong  nhà binh. Tôi đến đây để hòa mình, không phải để sống tách rời. Tôi đến đây không mang một mặc cảm nên cũng không muốn tạo ra một mặc cảm quanh mình. Tôi muốn làm một người lính Nhảy Dù thật sự.

Cánh quân dừng trên ngọn đồi vừa chiếm. Chúng tôi tìm những gốc dừa, gốc mít ngồi vừa bố trí, vừa tránh nắng. Những ngôi nhà tranh vắng người, nhưng thóc lúa, khoai sắn phơi ngổn ngang giữa sân. Trực thăng vẫn truy kích địch. Những trạm khói đen bốc cao ở những ngọn đồi kế cận. Mười giờ hơn. Trời nắng lớn. Quần áo đẫm mồ hôi, khát nước và bắt đầu đói. Buổi sáng tôi không ăn gì chỉ uống một ly cà phê đen, bây giờ xót ruột. Người y tá mang cho tôi một trái dừa, cơn khát làm tôi ực liền ba hơi là ráo trái dừa. Có lịnh di chuyển. Chúng tôi đổ một con đường dốc lởm chởm đá. Hiện ra những hố cá nhân và một cái rãnh được đào sâu thành giao thông hào. Chúng tôi men theo con đường mòn tiến vào một khu làng có bóng cây che khuất ánh nắng. Lệnh truyền miệng đến chúng tôi: “Tiến hàng một cẩn thận, có hầm chông.” Đến một ngã ba tôi thấy một xác du kích cháy đen, banh ngực, gục bên một hố cá nhân. Chắc tên địch đã lãnh nguyên một quả phi đạn từ trực thăng phóng xuống. Những hầm chông tre được phá hủy và đánh dấu để báo hiệu người đi sau tránh. Túi gạo, thắt lưng đạn, quần áo vất rãi rác trên đường tiến quân. Ông Đại Đội trưởng 60 cho tôi biết kết quả tính đến mười hai giờ trưa: Tiểu Đoàn sáu tìm thấy 6 xác chết VC do phi cơ bắn hạ, hạ sát hai tên, bắt sống bảy, giữ mười tình nghi; Tiểu Đoàn 8 hạ sát một, bắt sống bốn, giữ mười lăm tình nghi. Vũ khí tịch thu được gồm: một trung liên Bar, hai tiểu liên Thompson và năm súng cá  nhân. Chiến quả ngoài sự mong muốn.

Ra khỏi khu làng tôi nghe dưới chân cát lún và ngửi trong thoáng gió mát mùi mặn của biển. Bên kia bờ một cánh đồng trống, những cồn cát trắng phau điểm những rặng liễu xanh chạy dài ra biển. Tôi ngồi duỗi chân, tựa đầu vào một gốc dừa, nghe bụng đói cồn cào. Một giờ trưa. Vẫn chưa có lệnh “chiến đấu tại chổ”. Chiến đấu tại chổ là ăn cơm. Tôi ngồi tựa người lim dim mắt, đầu óc trống rỗng, mọi ý nghĩ như bị nỗi mệt mỏi của thể xác tràn ngập. Bỗng một tràng đại liên nổ ròn, tiếp theo mọi thứ súng thi nhau nổ. Hỏa lực của Đại Đội Chỉ Huy. Tôi ngồi bất động chưa biết chuyện gì. Toán y tá bố trí vội quanh tôi. Tôi nghe có tiếng la lớn:

_Chúng nó chạy qua cồn cát.

Men đến một gốc dừa gần cánh đồng, tôi chăm chú quan sát. Xa chừng bốn trăm thước hai người bận đồ đen đang xì xụp chạy trên cát hướng về rặng liễu. Hàng chục họng súng châu vào hai bóng đen di động nhã đạn. Một y tá lên đạn cây súng Carbin M.2 rồi tì súng vào một thân cây định bắn. Tôi ngăn cấm. Sự cấm đoán của tôi thật bất ngờ. Người y tá cố nài nỉ:

_Cho tôi bắn để thông nòng súng luôn, Bác Sĩ.

Tôi dịu dàng:

_Mình chỉ nên bắn khi cần bắn.

Tôi muốn người lính Quân Y chỉ chiến đấu để tự vệ. Hơn nữa tôi không muốn nhìn một người chết, dù kẻ đó là kẻ địch, vì loạt đạn bắn để thông nòng của một y tá. Hai tên du kích chạy xa dần tầm súng của chúng tôi. Có lệnh ngưng tác xạ. Binh sĩ bắn không trúng chửi thề ầm cả lên. Tôi bổng thấy hai chiếc trực thăng võ trang lao xuống hướng hai tên du kích, chờ mãi không nghe bắn. Một lát được tin hai tên du kích bị trực thăng vờn cho mệt rồi đáp xuống bắt sống cả hai. Tôi khen thầm mấy tay phi công Mỹ này chịu chơi thiệt.

Cánh quân tiến vòng lên phải. Hai chiếc phản lực bất thần xuất hiện trút bốn quả Napalm xuống một bờ làng có lũy tre bao bọc rồi biến mất. Lữa khói bốc ngùn ngụt giữa trưa nắng ráo. Chắc phải chiếm xong mục tiêu đó rồi mới dừng quân. Qua máy tôi gnhe tiếng ông Tiểu Đoàn Phó ra lệnh hai đại đội 61, 62 giàn hàng ngang tiến vào làng. Muốn vào làng phải qua một cánh đồng trống. Tôi thấy bốn khinh binh hiện ra ở bên này mé bờ ruộng, tiến hàng ngang, mỗi người cách nhau chừng mười thước, súng AR.15 tì hông. Họ chạy khum khum từng chặn giữa cánh đồng như những con thỏ vừa tung tang vừa nghe ngóng động tĩnh. Họ đến gữa đồng, rồi hai phần ba cánh đồng. Bỗng một loạt AR. 15 xạch.. xạch..xạch vang lên. Bờ làng xủi bụi. Tôi thấy một người bận áo nâu từ dưới đất nhô lên, văng mình chạy. Một loạt AR. 15 thứ hai, bóng người khựng lại từ từ ngã. Một khinh binh lẹ làng nhảy lên vớt cây súng từ tay tên địch đang ngã. Có tiếng reo đằng sau lưng tôi:

_Thằng nào đoạt súng chì quá ta!

Cảnh tượng rõ mồn một xảy ra cách chổ tôi đứng không đầy ba trăm thước. Bốn khinh binh nhảy lên bờ chạy rẽ quạt, bắn xối xả vào các lùm cây trước mặt. Binh sĩ 61, 62 tràn nhanh qua cánh đồng. Không nghe tiếng súng đich. Đại đội chỉ huy được lệnh tiến. Chúng tôi theo con đê ruộng vào làng. Đi qua chổ tên địch vừa bị bắn hạ, tôi tần ngần nhìn cái xác chết. Tên du kích chừng hai mươi tuổi, có nước da vàng bủng của người sốt rét, đầu bị bắn vỡ nát, óc máu đổ lênh láng. Những đám cháy hắt hơi nóng hừng hực. Khói đen quyện lấy cả một vùng. Ba xác du kích chết thui, tay chân đứt lìa tấp dưới một lùm tre đang bốc cháy, nổ lốp đốp. Trên không, trực thăng im tiếng tự bao giờ. Dừng quân dưới bóng mát của mấy cây cổ thụ. Hai giờ chiều vẫn chưa có lệnh “chiến đấu tại chổ” một số binh sĩ lén ăn vội cơm. Tôi đến gặp ông Tiểu Đoàn Phó hỏi tình hình. Ông cho tôi hay ông đề nghị với ông Chiến Đoàn Trưởng nên rút ngay thay vì ba giờ như đã định. Lui quân muộn trong vùng đất địch sẽ bất lợi.

_Bác Sĩ ăn cơm chưa?

_Chưa, đói muốn xỉu luôn đây Đại Úy. Lúc sáng không ăn gì cả.

_Tôi có lót dạ một đĩa cơm rang nên chịu nổi.

Người lính mang máy thông báo lệnh của Chiến Đoàn: năm phút nửa di chuyển. Ông Tiểu Đoàn Phó nói với tôi: “Bác Sĩ có mệt lên M113 ngồi nghỉ cho khỏe. Lui quân chắc cũng không có gì cần đến Bác Sĩ”. Tôi trả lời không sao, tự ái không cho phép tôi nhận lời. Tôi không mệt chỉ đói: bao tử chỉ toàn nước trà, nước dừa nên bụng cồn cào khó chịu. Đoàn quân di chuyển nhanh. Những con “cua” rãi ra bốn phía bao bọc đoàn quân. Ra đến con đường đất, tôi gặp hai người đàn ông gánh võng một bà cụ già bị thương. Binh sĩ dặn họ đứng chờ tôi. Bà cụ bị đạn xuyên qua ngực trổ một lổ ra lớn bằng cái bát đằng sau lưng. Tôi cho y tá băng kín vết thương và chích thuốc. Muốn truyền cho bà một chai máu khô nhưng không thể được, không có lệnh dừng quân. Binh sĩ Đại Đội vượt qua Trạm Cứu Thương gần hết, chỉ còn Đại Đội 64 bọc hậu. Ông y tá trưởng lo lắng hỏi tôi:

_Làm thế nào Bác Sĩ?

Tôi đang bối rối. Lòng nhân đạo, lương tâm nghề nghiệp của tôi lúc này không thể dùng để yêu cầu Bộ Chỉ Huy dừng quân xin trực thăng di tản một thường dân trong khi các cấp chỉ huy đang cần rút quân nhanh ra khỏi vùng đất địch. Tôi cho lệnh Trạm Cứu Thương di chuyển rồi quay sang nói với hai người đàn ông:

_Ráng gánh bà cụ ra đường quan, tôi sẽ xin phương tiện đưa ra Qui Nhơn.

Hai người đàn ông bằng lòng theo chúng tôi. Tôi mong bà cụ còn sống khi về đến điểm xuất phát. Những nạn nhân vô tội khiến tôi buồn chán. Buồn chán không có nghĩa hèn nhát. Tôi không chạy trốn chiến tranh, tôi đang đối diện với nó. Tôi muốn cuộc chiến ngày càng khốc liệt, càng rộng lớn. Có khốc liệt có rộng lớn chiến tranh mới mau kết thúc; có xương thành núi, máu thành sông thì những kẻ sống sót sau cuộc chiến này mới biết nắm chặt hòa bình trong tay.

Chúng tôi đang bắt kịp Đại Đội Chỉ Huy đang nghỉ tại chổ ở lưng chừng dốc đồi. Một đám tù binh chừng ba mươi người dồn ở một góc. Gần phân nửa bị trói: đó là những du kích bị bắt tại trận. Những người không bị trói là tình nghi. Người Hạ Sĩ Quan dẫn đến tôi khám một tình nghi bị thương ở ngón tay trỏ. Hai đốt ngón tay bị dập nát. Người này núp dưới hầm kêu không lên, một binh sĩ dộng xuống một quả lựu đạn. Không hiểu sao quả M.26 chỉ gây cho anh ta vết thương nhẹ thế. Lúc di chuyển, Trạm Cứu Thương đi sau đám người bị bắt. Chúng tôi vượt trở lại những ngọn đồi đất. Một tốp đàn bà, con nít tụ tập từ bao giờ đứng ở mé đường nhìn mặt những người bị bắt. Giữa những khuôn mặt tầm thường quê mùa tôi bỗng thấy hiện ra một nhan sắc tuyệt vời. Người con gái chừng hai mươi tuổi, chếc áo cụt nâu làm nổi bật làn da trắng, khuôn mặt phảng phất vẽ tây phương. Tôi không muốn tin nơi thôn dã này có một thiếu nữ đẹp như thế. Bước chân chúng tôi như bị một ma lực nào làm chậm lại. Tôi bắt gặp cái nhìn của nàng hướng về người đàn ông bị thương ở ngón tay. Tôi thấy hai người khẽ gật đầu với nhau. Người con gái chợt thấy tôi theo dõi, vội nhìn lãng đi nới khác. Người đàn ông cúi nhanh mặt xuống. Chúng tôi đổ đồi băng qua một đồng lúa. Tôi nghĩ vẫn vơ về người con gái: nếu nàng là một cán bộ Việt Cộng, thì sắc đẹp ấy quả là một thứ khí giới nguy hiểm. Đã xảy ra mấy vụ mỹ nhân kế chết người ở Tam Quan. Ba giờ rưỡi chiều, chúng tôi đi như chạy trên con đường mòn. Tôi ước chừng mới nửa đường về. Binh sĩ đã thấm mệt, một số ngồi thở ở các gốc dừa. Hàng ngũ có vẽ hỗn độn. Toán y tá của tôi rơi rớt đi đâu hết. Hai chân tôi bước như cái máy. Tôi có cảm tưởng nếu dừng lại, tôi sẽ không thế nào đứng dậy được nửa. Tôi đi lạc sang Đại Đội 61 ở mặt phải. Tôi theo ông Đại Đội Trưởng 61 thất thểu băng qua một đồng nước cạn. Ra đến giữa đồng, bốn năm phát súng trường từ mé làng bên phải bắn sang chúng tôi. Đại liên trên M.113 tức tốc quạt mấy tràng trả lời. Quá mệt, chúng tôi cứ lửng thửng đi cho hết cánh đồng. Khi tôi bắt đầu thấy chóng mặt, khó thở, hai bàn tay co rút, môi tê run, thì con đường xe lửa chờn vờn hiện ra. Tôi bị chứng thiếu chất vôi trong máu. Mỗi lần sốt nặng hay tháo mồ hôi nhiều, thì lên cơn co giật y như người bị động kinh. Về đến chổ đóng quân tôi xỉu. Đám y tá quấn quít đỡ tôi vào nhà, xoa dầu nóng cùng người. Mười phút sau khi chích một mũi Calcium và uống hết một ly sữa lớn, tôi hoàn toàn tỉnh táo trở lại, nhưng thân thể rã rời. Dân làng khiêng đến Trạm Cứu Thương hai thanh niên bị đạn. Tôi nằm trên võng nhìn các vết thương: một bị đứt lìa cánh tay trái, một bị gãy nát ống chân phải. Tôi cho buộc garrot, bó bất động và truyền huyết tương. Tôi yêu cầu Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn xin trực thăng di tản. Tôi sực nhớ bà cụ bị thương ở ngực, ông y tá trưởng cho tôi biết bà cụ đã chết giữa đường và người nhà đã gánh trở về.

_Bà cụ cũng già quá rồi.

Tôi nói như để biện minh cho sự thiếu sót bổn phận của mình. Dù ngoài ý muốn, nhưng vẫn là thiếu sót. Đêm hôm ấy du kích về bắn quấy rối đến năm lần. Tiếng súng nghe hằn học căm thù. Tôi nghĩ đến quả mìn, những trái lựu đạn của đich chôn vội, gài vội đêm nay trên đường đi. Tôi nghĩ đến những người đàn bà sáng mai ra chợ sớm, những chiếc xe lam chở người buôn bán. Họ sẽ là nạn nhân. Tôi nghĩ mỗi lúc một nhiều về những thảm họa, nỗi thống khổ mà người dân bên này, bên kia phải gánh chịu trong một cuộc chiến đẫm máu, dai dẳng. Vào một lúc tôi chợt nhận thức: để có đủ can đảm chịu đựng cuộc chiến tranh này tốt hơn không nên nghĩ gì cả.

Thử lửa

Trang Châu/ typing & Post by Sơn râu 19 July 20223

Vietmessenger

Chúng tôi trình diện Đại Dội Quân Y Sư Đoàn Nhảy Dù trước một ngày Bộ Tư Lịnh tung năm Tiểu Đoàn giải tỏa vùng Tam Quan, Bồng Sơn. Tôi còn nhớ hôm ấy là ngày 4 tháng 2 năm 1966, mùng bốn Tết. Chúng tôi có năm Tiểu Đoàn để đáo nhâm chức vụ Y Sĩ Trưởng: ba tiểu đoàn cũ: 1,6,7 và hai tiểu đoàn tân lập: 2,9. Thiếu Tá Y Sỹ Trưởng thỏa thuận để chúng tôi chọn lựa với nhau.

Trong năm chúng tôi Tín, Đoàn, Nghị đã lập gia đình. Bá và tôi độc thân nên tình nguyện đi xa. Tôi chọn Tiểu Đoàn 6 hậu cứ ở Vũng Tàu, Bá về Tiểu Đoàn 7 hậu cứ Biên Hòa. Tín chọn Tiểu Đoàn 1, Đoàn về Tiểu Đoàn 2; Nghị về Tiểu Đoàn 9. Hai Tiểu Đoàn tân lập đang ở thời kỳ huấn luyện, sáu tháng nữa mới xuất quân.

Ngày hôm sau cuộc hành quân Thần Phong 11 khai diễn. trong năm Tiểu Đoàn tham dự có Tiểu Đoàn 6 của tôi. Tiên đoán sẽ đụng độ lớn mà chúng tôi thì quá mới mẻ, thiếu kinh nghiệm nên Thiếu tá Y Sỹ Trưởng quyết định chiếm xong mục tiêu mới cho bàn giao chức vụ. Ông cũng tháp tùng Chuẩn Tướng Tư Lệnh trong cuộc hành quân. Trong khi chờ lịnh đáo nhậm hành quân chúng tôi làm việc trong bịnh xá Đỗ Vinh và sáng sáng đi nhảy bồi dưỡng.

Tôi vừa ăn cái Tết từ giã đời sinh viên, giã từ cuộc sống thành thị. Cũng có mai nở, pháo nổ, bánh chưng, dưa hấu, nhưng lòng tôi hình như không có Xuân. Tôi mang tâm hồn tiếc nuối quãng đời vô tư lự đã qua. Còn nhớ đêm cuối cùng sau bữa tiệc chia tay do Bác Sĩ Giám Đốc khoản đãi, chúng tôi trở về bịnh viện Đô Thành phá phách, rượt đuổi các cô y tá trực đến hai ba giờ sáng. Tôi không cho cử chỉ của các bạn tôi và của tôi là hành động gỡ gạc cuối cùng, tôi nghĩ cử chỉ đó biểu lộ tất cả sự thèm tiếc xót xa nhất chuỗi ngày tươi vui vừa chấm dứt. Bây giờ trách nhiệm đè nặng trên vai, tôi giật  mình lo sợ sự trưởng thành của  mình.

Bá cáo tổn thất hai ngày đầu của cuộc hành quân là mười lăm tử thương, ba mươi sáu bị thương, trong số có ông Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 và ông Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 3. Trận chiến kéo dài đến ngày thứ ba, các mục tiêu mới được thanh toán. Công điện khẩn gọi tôi ra mặt trận thay thế Bác Sĩ Cảnh bị thương ở chân phải về điều trị. Cảnh cho tôi biết tình hình đã yên, đến giai đoạn bình định và dân sự vụ. Một giờ sau khi bàn giao chức vụ chiếc C.130 đưa tôi cùng một toán binh sĩ Dù ra tăng cường đi Qui Nhơn. Tôi ngồi lạc lõng giữa những khuôn mặt sạm đen đang tò mò nhìn tôi.

Bộ đồ hoa mới tinh, nước da trắng trẻo cộng với tính trầm lặng khiên tôi có bộ mặt một tân binh còn rụt rè trận mạc và e ngại phong sương. Tôi không nghĩ đến những ngày sắp tới. Trong tiếng động cơ rầm rì ở cao độ, dưới ánh đèn mờ nhạt của lòng tầu, tôi ngồi ôn lại quá khứ. Suốt quãng đời niên thiếu, những lúc tôi sung sướng, yêu đời nhất lại là những lúc tôi được một mình mơ mộng. Con người tôi không thể tìm thấy hạnh phúc, dù ngắn ngủi với một cuộc sống bình thường an phận được. Phải đi, phải khổ tôi mới thấy đời sống có chút ý nghĩa. Nếu có một lý do nào để giải thích sự lựa chọn của tôi thì lý do mơ hồ nhất lại là lý do xác đáng nhất.

Tôi ngủ lại Quân Y Viện Qui Nhơn một đêm, sáng hôm sau Đại Úy Lộc Sỹ Quan hành chánh Quân Y Dù đưa tôi dạo quanh thành phố kiếm chổ ăn sáng. Dấu vết ngoại nhân in hằn lên mảnh đất quê hương. Nó cần thiết nhưng nó cũng làm đau lòng, dễ ngộ nhận. Chiếc trực thăng Mỹ đưa tôi ra Bồng Sơn lúc hai giờ chiều. Một chiếc Jeep Hồng Thập Tự đưa tôi về Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn đóng ở Đề Đức cách phi trường Bồng Sơn độ ba cây số. Sau khi trình diện Thiếu tá Y Sĩ Trưởng Sư Đoàn tôi được hướng dẫn lên trình diện Chuẩn Tướng Tư Lịnh.

Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn đóng trên một ngọn đồi; ngọn đồi bên kia đường là bãi đáp trực thăng. Xa hơn tý nữa là giàn đại bác Tân Tây Lan chốc chốc ì ầm nhã đạn. Con đường đất gồ ghề bốc bụi đầy trời vì những quân xa thường xuyên qua lại. Đã ngửi thấy mùi chiến tranh. Tôi ngủ đêm ở Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn. Trong câu chuyện buổi cơm chiều ông Thiếu Tá có vẽ bằng lòng sự tình nguyện ra Vũng Tàu của tôi. Tôi không thích Vũng Tàu lắm, nhưng muốn xa Sài Gòn ít lâu.  Người yêu tôi ở Sài Gòn, nhưng tôi vẫn muốn đi xa, xa để xem mình nhớ đến mức nào… Sáng hôm sau tôi xuống Tiểu Đoàn 6 nhậm chức Y Sỹ Trưởng. Tiểu Đoàn 6 đóng cách Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn chừng năm cây số, trong làng, dưới những bóng dừa xanh mát.

Dưới quyền chỉ huy của tôi là Trung Đội Quân Y gồm mười sáu y tá và tám cáng viên.  Tuổi lớn, tuổi nhỏ lẫn lộn. Tôi đến họ thật cởi mỡ. Tôi muốn hòa mình vào đời sống mới, còn bở ngỡ nhưng chắc rồi sẽ quen đi. Tiểu đoàn đóng ở Hoài Sơn được năm hôm. Ở giai đoạn bình định này công tác duy nhất của Tiểu Đoàn Dù là làm dân sự vụ. Các trạm cứu thương khám bịnh, phát thuốc, chích ngừa, băng bó thương tích, gắp mảnh bom đạn cho đồng bào. Những nạn nhân vô tội làm tôi đau lòng: một cậu bé mười bốn tuổi bị mãnh bom cắt ngang xương sống lưng làm bại liệt hai chân, bò lết lâu ngày đít và đầu gối thối dần, một gia đình mười người bị đạn đại bác chỉ còn sống sót một cô gái mười sáu tuổi và một em bé trai một tuổi bị mảnh đạn ghim vào lưng. Tôi gắp mảnh đạn ra, vết thương sẽ lành nhưng hai chị em sẽ sinh sống ra sao? Những nạn nhân trẻ thơ kia sẽ là môi trường tuyên truyền hữu hiệu của đối phương. Tôi nghĩ, để gây lại niềm tin trong lòng dân chúng ở đây đòi hỏi những gì khác hơn chiến thắng.

(Kiểm duyệt bỏ hai giòng)

Cảnh ngộ éo le kia nói lên tất cả sự mai mỉa, phi lý của cuộc chiến đẫm máu này. Công tác y tế giúp chúng tôi gần dân chúng hơn, ban đầu họ còn e ngại, dần dần họ trở nên cởi mỡ và biết ơn. Tôi cho tranh thủ nhân tâm không phải là vấn đề khó, khó ở chổ có người không biết tranh thủ nhân tâm. Ngoài giờ khám bịnh tôi chỉ còn biết chui vào lều nằm nhớ Sài Gòn và ngủ. Gặp Trung Úy Châu một Sỹ Quan rất vui tính, ông hỏi tôi:

_ Bác Sĩ đi lễ bên nào?

Tôi cười trả lời:

_ Đi bên này sợ mất lòng bên kia nên tôi đi chơi đây.

Tôi được liệt vào hạng chịu chơi ngay. Chúng tôi kéo nhau ra chợ Tam Quan ăn bún. Câu chuyện thật hứng thú mà chỉ xoay quanh một vấn đề: tiền tuyến với hậu phương. Người hậu phương bị chúng tôi chỉ trích nhất là người đàn bà. Hình như chúng tôi lên án họ không chung tình, nhưng rồi chúng tôi thông cảm hoàn cảnh đơn chiếc của những đàn bà có chồng, có người yêu đi chinh chiến. Chúng tôi đồng ý một phần lớn không phải lỗi họ, lỗi ở chiến tranh đã làm một số chúng tôi không về, làm chúng tôi không đáp ứng được những gì người đàn bà mong muốn để họ sống trong âu lo, thất vọng và đau khổ. Cuối cùng chúng tôi kết luận: người đàn bà ngoại tình mà còn biết che dấu là người đáng được tha thứ vì ít ra họ còn biết nể sợ…!

Theo tin không chính thức thì mười lăm tháng hai sẽ có đơn vị bạn ra thay thế. Hôm nay mười ba tôi nghĩ chậm lắm là mười bảy Tiểu Đoàn sẽ về hâu cứ. Cuộc xuất trận đầu tiên của tôi như thế không có gì gây cấn cả. Tôi vẫn ước ao lần thử lửa đầu tiên của tôi phải là một trận đánh lớn và là một chiến thắng lớn. Những buổi chiều hôm đó tôi được mời lên Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn họp hành quân. Tôi nhận tin trên trong thích thú và hồi hộp. Tôi tập họp toán y tá căn dặn chuẩn bị thuốc men và đi nghỉ thật sớm để lấy sức. Chúng tôi được đanh thức lúc ba giờ sáng. Trời rét căm căm. Cơm nước, cà phê xong xuôi, bốn giờ nhổ trại. Lặng lẽ chúng tôi tiến hàng một ra đường. Một đoàn G.M.C. chờ đón. Bốn giờ ba mươi xe chuyển bánh. Tôi ngồi chung cabin với ông Tiểu Đoàn Trưởng. Chúng tôi không ai nói với ai một lời. Vượt quãng đường chừng năm cây số, rẽ trái vào con đường đất gồ ghề xe đổ chúng tôi xuống ven cánh làng nằm dưới chân một ngọn đồi. Ông y tá trưởng cho tôi biết làng tên Gia Hựu, là chiến trường đẫm máu. Cố thủ trong những giao thông hào kiên cố, địch chống trả mãnh liệt. vào ngày thứ ba sau trận mưa bom kéo dài hàng giờ. Tiểu Đoàn 6 Dù mới chiếm nổi mục tiêu. Một trái 60 rơi trúng Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn làm bị thương Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Phó, Cố Vấn Trưởng. Trong khi chạy lên săn sóc thương binh Bác Sĩ Cãnh bị tiếng nổ của một quả 81 ly rơi cách mấy thước hất té nhào xuống hố làm ông trặc chân nặng. Cảnh làng thật thê lương, chỉ còn tro tàn gạch vụn, những thân dừa cháy đổ ngỗn ngang. Trời mưa lâm râm. Tôi ngồi trú mưa dưới mái tranh một ngôi nhà đã sụp mất một nửa. Ông Y Tá Trưởng ngồi cạnh tôi, tháo chiếc nhẫn ở tay cho vào túi, nói với tôi:

_Bác Sĩ ạ, lần trước trời cũng mưa lâm râm như thế này, tôi cũng tháo nhẫn cho vào túi và đã đánh nhau to.

Tôi hiểu ông muốn nghĩ gì: Lần này trời cũng mưa lâm râm, ông cũng tháo nhẫn cho vào túi và chắc sẽ đánh nhau to. Tôi không cười sự dị đoan của người Y Tá Trưởng già vì một lẽ cũng rất dễ hiểu tôi cũng hay tin nhảm như vậy. Suốt tuần trời nắng ráo, đúng vào hôm xuất quân trời mưa. Điềm xấu, tôi nghĩ thế. Khoản bảy giờ sáng cánh quân Đại Đội Chỉ Huy có trạm cứu thương đi theo được lịnh di chuyển. Chúng tôi tiến hàng một theo con đường mòn chạy quanh bờ làng, tôi hiểu vì đâu Tiểu Đoàn 6 phải mất ba ngày tròn mới chiếm nổi mục tiêu. Bất chợt tôi lo lắng: nếu mục tiêu cuộc hành quân này cũng có một giao thông hào tương tự? Cánh quân dừng lại. Tôi vào trú mưa trong một ngôi nhà tranh. Trong nhà có hai thiếu phụ và hai đứa bé chừng năm và bảy tuổi. Chúng tôi dừng lại đây khá lâu. Đã chín giờ hơn. Người y tá mang cho tôi một đĩa cơm. Hai đứa bé nhìn tôi ăn thèm thuồng. Cơm có thịt kho, trứng gà, tôi vẫn nuốt không trôi. Tôi trao cho đứa bé lớn phần ăn còn lại. Chúng nó ăn ngấu nghiến ngon lành.
Ngoài đường mòn dân làng từ phía dưới bồng bế gồng gánh, dắt trâu bò tiến ngược trở lên. Tôi nghĩ thầm dân mà tản cư thì chắc chắn có địch. Cơn mưa đã dứt. Có tiếng động cơ mỗi lúc một gần, tôi nhận ra tiếng máy thiết vận xa M.113. Một giờ trưa được lịnh di chuyển. Tôi biết giờ phút gay go bắt đầu. Đi hết con đường mòn hiện ra trước mặt tôi mấy chóp làng có dừa bao bọc nằm rãi rác như những hòn cù lao giữa biển lúa xanh mênh mông.

Súng trên các M.113 bắt đầu khai hỏa dọn đường tiến quân. Chen lẫn trong những tràng liên thanh, những tiếng nổ lớn của pháo binh yểm trợ. Một Đại Dội bên tay phải tôi bang qua cánh đồng bọc trở lên. Đại Đội 60 tiến theo sau. Bùn ngập tới đầu gối. Tôi phóng tầm mắt quan sát. Đằng xa hai mặt các M.113 sắp hàng ngang từng bốn chiếc tiến bắn không ngừng vài hai ngôi làng nhỏ. Từng hàng lửa đỏ rực nối tiếp nhau mất hút trong rặng dừa. Đại Đội chỉ huy tiến vào mé trái một ngôi làng thứ ba. Sau dẫy làng là những ngọn đồi. Tiếng đại bác bỗng nổ dồn dập, một trong những ngọn đồi bốc khói xám xịt. Một lúc một mặt quân được trực thăng trút xuống án ngữ trên ấy. Đại Đội chỉ huy dừng lại ở bờ ruộng cách làng chừng năm trăm thước. Ở hai làng trên các M.113 tiến sát đến bờ làng. Tiếng súng vẫn ròn rã, thỉnh thoảng chen lẫn vài tiếng “tắc cù” chát chúa. Tiếng đạn xé gió nghe đến rợn người. Lúc này tôi hơi sợ. Nhưng khi nhìn toán y tá thấy sắc mặt người nào cũng bình tĩnh tôi yên tâm. Cánh quân được lịnh tiến vào làng. Tôi lom khom chạy, cố vượt một khoảng trống để bấu vào bờ làng. Tiếng một người y tá phía sau dặn nhỏ tôi:

_Bác Sĩ khom người đầu sẽ ngay tầm đạn của địch nguy hiểm; Bác Sĩ cứ thẳng người chạy, lỡ có trúng cũng trúng từ chân trở xuống.

Tôi đã nghe theo lời dặn, dù sao kinh nghiệm chiến trường tôi chưa có gì. Tôi đặt chân lên bờ làng sau khi qua một con suối. Tựa lưng vào một gốc dừa tôi ngồi thở, mắt hướng về phía mịt mù lửa đạn. Tôi ngạc nhiên nhìn thấy những chiếc thiết vận xa vừa bắn vừa lùi, bọt nước tung tóe lên chung quanh.

_Chúng nó có cả 57!

Tiếng một binh sĩ ngồi quay lưng lại với tôi. Trúng phải đại bác 57 ly thiết vận xa sẽ bốc cháy. Đoàn “cua” lùi mãi, lùi mãi ngưng bắn chuyển thành hàng dọc rồi nằm im. Các loại súng vẫn nổ tứ phương. Đang phân vân không biết trận chiến ngã ngũ ra sao thì nghe trên không có tiếng ù ù. Lòng tôi khấp khởi mừng. không trông thấy phi cơ nhưng tôi nghe hình như nó đang chúc xuống. Tiếng gió ào ào từ cao bổ xuống đầu chúng tôi, tiếp đó một tiếng ầm ghê gớm nổi lên. Tôi không kịp có phản ứng nào.

_Chúng nó canh 81!

_Không phải, “rốc kết” của mình!

_Thả khói vàng! thả khói vàng! mau lên. 

_Bác Sĩ ơi, em bị thương.

Tôi quay đầu lại. Người binh sĩ ngồi cạnh tôi ban nảy nằm ngữa người, một tay ôm cổ. Tôi gỡ tay anh ta ra., một giòng máu nhỏ chảy xuống vai. Vết thương nhẹ. Tôi bảo anh nằm yên đó rồi chạy về phía xảy ra tiếng nổ. Quả “rốc kết” rơi xuống suối. Đại Đội bọc hậu có bảy người bị thương. Chỉ có một người nặng: mảnh ghim nát cả chân phải. Tôi cho bó bất động, chích morphine và truyền một chai dextran. Toán y tá của tôi làm phận sự cấp cứu thông thạo và lanh lẹ. Chúng tôi khiêng các thương binh để nằm dưới hiên một ngôi nhà tranh chờ di tản. Lát sau hai chiếc khu trục trở lại, lần này “rốc kết”, bom xăng đặc rơi đúng mục tiêu. Tiếp đến hai trực thăng võ trang thay nhau bắn phi đạn và đai liên. Sau hai đợt oanh tạc nhiều đám cháy đỏ rực bốc lên. Cảnh tượng trông thật khốc liệt. Hai chiếc trực thăng vừa bay khuất, đoàn thiết vận xa dàn ngay hàng ngang tấn công trở lại. Nhìn ra cánh đồng tôi thấy vô số nón sắt nhấp nhô trong đám lúa. Đay là đợt tấn công quyết định, nếu không chiếm được mục tiêu chắc phải rút vì trời đã xế chiều.

Tôi trở lại xem chừng tình trạng các thương binh. Nửa giờ sau tôi gặp ông Đai Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy. Ông cho hay đã chiếm được mục tiêu I, đang tiến chiếm mục tiêu II và III. Ông cũng cho tôi biết một tin buồn; Trung Úy Vân Đại Đội Trưởng 64 đi theo thiết vận xa đã tử trận. Nghe tin tôi bàng hoàng cả người. Tôi chỉ gặp trung Úy Vân một lần, hôm tôi đến nhậm chức. Đại Đội ông đóng xa Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, nên tôi không có dịp tiếp xúc thêm. Không ngờ buổi gặp gỡ lần đầu ấy lại là lần cuối cùng. Tôi cố nhớ mãi mà không sao hình dung nổi khuôn mặt người bạn đồng đội vừa ngã xuống. Trời bổng dung u ám, cơn mưa lại bắt đầu. Nhìn ra đồng ruộng tôi thấy bốn binh sĩ khiêng cáng một người bì bõm lội về phía tôi.

_Ai vậy?

_Dạ Thiếu Úy Toàn, Đà Lạt mới ra.

Thấy cả ngực ông băng kín, tôi hỏi một trong bốn người khiêng cáng:

_Bị thương ở đâu?

_Dạ nghe ông y tá Đại Đội nói bị đạn xuyên qua vai.

Mạch nhanh và yếu, người sĩ quan trẻ tuổi mắt lờ đờ, trăn trở người muốn kiếm một thế nằm cho đỡ đau, dễ thở. Ông luôn miệng gọi tên một người con gái. Tôi cho truyền một chai huyết thanh có pha thuốc chống xúc kích , thuốc trợ tim, thuốc điều hòa hô hấp. máu vọt ở hai lổ đạn vào và ra. Xuất huyết trong lồng ngực. Để tránh biến chứng do không khí tràn vào lồng ngực, tôi khâu sống bít hai lổ đạn. Hết chai huyết thanh tôi cho truyền tiếp chai huyết tương. Người y tá chích bốn năm lần vẫn không vào máu, các tĩnh mạch bị tắc nghẽn. mạch nhanh yếu không đếm được. Tôi phải dùng kim lớn đâm vào tĩnh mạch đùi để truyền nước. Một xác chết gói trong Poncho được đưa đến trạm cứu thương. Tôi không biết mặt người chết mà tự nhiên lòng căm hờn phừng phừng trong tôi. Ở giây phút này tôi hiểu thế nào là thù hận. Tôi lầm bầm chửi thề mấy câu.

Cánh quân được lịnh di chuyển. Phải di tản thương binh theo. Chỉ có hai người đi được, ba phải dìu, hai phải khiêng cáng, một xác chết phải gánh theo. Một số binh sĩ được huy động giúp di tản. Tôi phụ khiêng cáng ông Thiếu Úy Toàn nằm. Trông ông co quắp, rên rĩ thật tôi nghiệp. Quần áo ướt dầm làm tôi lạnh run. Súng vẫn nổ nhưng thưa và xa dần. Trời đã tối hẳn, mưa vẫn không ngừng. Chúng tôi khó nhọc theo đuôi toán quân. Bờ đê ruộng bùn trơn hết người này trợt chân đến người khác. Hết bờ đê đến một căn nhà sàn. Trạm cứu thương được chỉ định đóng đêm tại đó. Đại Đội 64 ngoài Trung Úy Vân còn thêm bảy binh sĩ thiệt mạng, hai bị thương. Phía Tiểu Đoàn 5 Dù sáu binh sĩ tử thương, ba bị thương. Bên Thiết Vận Xa hai xạ thủ đại liên tử trận, năm bị thương. Tất cả thương binh được trạm cứu thương Tiểu Đoàn 5 săn sóc. Đã chín giờ đêm, tiếng súng im hẳn, mưa cũng tạnh. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn yêu cầu tôi báo cáo tổn thất và tình trạng thương binh. Trong báo cáo tôi nói rõ tình trạng khẩn cấp của Thiếu Úy Toàn. Ông sẽ không qua khỏi đêm nay nếu không được di tản. Và thật là một niềm vui sướng cho tôi khi biết tin sẽ có trực thăng đến tải thương. Tôi huy động nhân viên đưa các thương binh ra cánh đồng, bãi đáp. Gặp Bác Sĩ Cơ của Tiểu Đoàn 5 Dù. Chúng tôi vui vẽ bắt tay nhau, phụ lực khiêng cáng. Chúng tôi sắp thương binh theo thứ tự ưu tiên di tản.

Ba chiếc trực thăng trong hai đợt đã cho bác sĩ Cơ và tôi trút được mối lo canh cánh bên lòng. Còn lại mười mấy cái xác phải chờ đến sáng mai. Tôi trở về căn nhà, cởi giầy, rửa chân, ăn cơm tối. Mười một giờ đêm. Trời lạnh buốt. Tôi nằm trên tấm ván, không mùng màn. Một ngày máu lửa đã cho tôi cảm nghĩ gì? Điều tôi ước mong đã đến; có đụng độ lớn, có chiến thắng. Nhưng trong vinh quang tôi thấy buồn hơn vui. Chiến tranh ở giờ phút này, trong tư tưởng tôi, không còn là một ván cờ như tôi thường ví. Quân cờ bị loại là quân cờ vất đi, nhưng những cái xác nằm kia còn liên hệ ảnh hưởng đến biết bao nhiêu người. Tôi tin tôi đủ quả cảm, thừa tận tụy, để làm tròn phận sự một y sỹ tiền tuyến nhưng tôi bắt đầu ghê tởm cảnh bằn giết vô ích này…

Nếu hôm xảy ra trận đánh là một ngày căng thẳng tinh thần, thì hôm sau là một ngày hành xác. Tờ mờ sáng đã lo tải xác ra bãi đáp. Rồi theo Tiểu Đoàn tảo thanh vùng mới chiếm. Quanh làng xác địch còn nằm phơi trong các hố cá nhân. Họ mặc đồng phục kaki vàng. Theo lời khai của một Trung Úy tù binh thì họ thuộc Sư Đoàn Sao Vàng. Tiểu Đoàn này đóng ở Hy Văn đã ba tháng nay. Không có bóng một người dân. Cảnh làng tan nát. Lục soát đến trưa không có gì. Về vị trí cũ, vừa nuốt được miếng cơm, lại có lịnh trực thăng vận. Gặp tôi, ông Tiểu Đàon trưởng nói: “Đi gồng tí chơi, Bác Sĩ”. Chúng tôi nhảy xuống ngọn đồi án ngữ phía sau làng. Từ đó men theo con suối tiến ngược trở xuống. Pháo binh được gọi bắn vào những điểm khả nghi. Không gặp địch. Chúng tôi trở về điểm xuất phát lúc năm giờ. Tính cơm nước thì có lịnh rút. Chúng tôi băng rượu trở lại Gia Hựu. Chờ mãi không thấy xe đến đón. Có lệnh cuộc đổ bộ trong đêm tối. Mười giờ đêm mới đóng quân. Mệt mỏi, tôi ăn qua loa rồi leo lên võng nằm.

Trằn trọc suốt đêm vì lạnh và vì không quen nằm võng. Sáng hôm sau lại cuốc bộ về Hoài Sơn. Không biết tôi đã đi bao nhêu cây số, chỉ biết đôi chân mỏi vô cùng. Bây giờ đóng quân chờ ngày về. Một người đàn bà đứng tuổi đến mời tôi đi thăm bịnh cho con gái bà, đau đẻ đã một ngày một đêm vẫn không sinh được. Nhà bà ta ở ngoài vòng canh gác. Sau một phút lưỡng lự tôi cùng ba người y tá theo gót người đàn bà. Tôi khám người thiếu phụ và thấy cái thai nằm ngang nên không sinh được. Trường hợp này ngoài khả năng tôi. Chỉ còn cách đưa đi Qui Nhơn mổ. Tôi trở về xin xe đưa người thiếu phụ lên Đề Đức, rồi liên lạc với người Mỹ xin trực thăng. Họ rất sốt sắng. Chiếc trực thăng cất cánh mười lăm phút sau đó.

Buổi chiều trò chuyện với ông Tiểu Đoàn Phó, vị sĩ quan mà tôi có nhiều cảm tình. Ông thuộc mẫu người vui vẽ trong câu chuyện nhưng cứng rắn trong công việc. Tôi hỏi ông có bao giờ cảm thấy sự hy sinh của mình vô ích không. Ông trả lời nếu chiến đấu để bảo vệ một số người thì thật vô ích, nhưng nếu chiến đấu để bảo vệ miền Nam thì còn phải hy sinh chừng nào còn chiến tranh. Tôi lại hỏi ông, có bao giờ ông chán nản không? Ông đáp:

_Có, những lúc nhìn kẻ khác an nhàn thụ hưởng mà mình thì cực khổ.

Rồi ông tiếp:

_Nhưng khi nhìn xuống thấy lính chúng nó còn khổ gấp máy trăm lần mình thì tôi lại thấy mình đầy đủ quá.

Vô tình tôi phỏng vấn ông. Như để lái câu chuyện ông chỉ tay về phía một đám binh sĩ cười hỏi tôi:

_Đố bác sĩ biết hai đứa kia đang làm gì?

Nhìn theo ngón tay chỉ, tôi thấy hai binh sĩ đang ngồi dưới gốc dừa chăm chăm nhìn xuống đất. Một lúc có tiếng cười rồi một người lượm tờ giấy mà tôi đoán là tiền cho vào túi. Anh kia móc tờ giấy khác, xếp đôi bỏ xuống đất rồi cả hai chăm chăm nhìn. Đoán mãi không hiểu họ chơi trò gì tôi lắc đầu. Ông Tiểu Đoàn Phó cắt nghĩa:

_Chúng nó chơi trò con ruồi. Tờ giấy một đồng được xếp làm đôi, mỗi đứa một nửa. Con ruồi đầu tiên đậu lên tờ bạc nửa phía đứa nào đứa nấy ăn. Tâm hồn người lính thật bình dị họ như đã quên hết những gì đã xảy ra. Không cần tìm hiểu thắc mắc, tính toán. Đóng quân thì vui nghỉ; cầm súng là hăng say chiến đấu. Nhìn họ tôi thấy còn xa lạ. Cũng áo hoa, mũ đỏ, nhưng tôi nghĩ rằng phải còn lâu tôi mới

Y Sỹ Tiền Tuyến

Trang Châu

Vietmessenger – typing & Post by Sơn râu 18 July 2023

Khóa 68 Nhảy Dù.

Nhiều người hỏi tôi tại sao đi học Nhảy Dù? Với mỗi người câu trả lời của tôi mỗi khác. Với những thằng bạn “phòng trà” đang mở lớn mắt  nhìn tôi, tôi chỉ nhún vai trả lời: “nhảy twist, nhảy surf biết cả rồi, chỉ còn nhảy dù chưa biết, học cho biết”. Với những người lớn tuổi tôi đứng đắn trả lời tôi học nhảy dù vì tôi có ý định sẽ xin về phục vụ binh chủng Nhảy Dù. Với anh em trong tòa soạn Tình Thương tôi bảo dưới đất hết đề tài viết nên tôi đi kiếm cảm hứng trên không để làm thơ. Với những thằng bạn hay rũ tôi làm cách mạng, làm chính trị tôi nói trước khi làm cách mạng cho dân tộc hãy cách mạng bản thân đã. Cuộc cách mạng bản thân của tôi là đi học nhảy dù rồi về binh chủng dù đi hành quân. Tôi bảo với người này là vì tôi thích cảm giác mạnh, với người kia vì tôi muốn có phù hiệu nhảy dù mang ở ngực cho oai. Với một người con gái tôi bảo tôi buồn, tôi chán đời nên tôi liều, với một người con gái khác tôi nói đi Nhảy Dù sẽ được ở Sài Gòn như vậy gần nàng hơn. Vì tôi giận gia đình, vì có người chê tôi con trai mà trắng quá… Cho đến hôm nay đã hai mươi lần nhảy ra cửa phi cơ và đáp xuống đất bình yên tôi vẫn chưa tìm thấy một câu trả lời nào thích đáng để giải thích với chính lòng mình tại sao tôi đi học nhảy dù.

Trước khi nhập học phải qua một kỳ thi loại gồm mười hai môn thể thao thi trong hai buổi sáng. Buổi sáng thứ nhất chúng tôi thi tám môn gồm có:

  1. Nằm ngữa, một người giữ hai chân, hai tay chắp vào đầu, ngồi dậy, cùi chỏ tay này chạm đầu gối chân kia bốn mươi lăm cái, tính giờ. 
  2. Hít đất ba mươi cái.
  3. Đứng thẳng, đầu gối và chân chụm lại, hai tay đưa song song đằng trước ngồi xuống đứng lên sáu mươi cái.
  4. Barre fix hít mười cái, đánh đầu gối mưới cái.
  5. Mang nón sắt, vũ khí, lấy đà nhảy qua một hố hai thước. Nhảy càng xa càng nhiều điểm.
  6. Mang nón sắt, vũ khí, túi vải, leo bảy thước giây bằng tay và chân.
  7. Mang nón sắt, vũ khí, túi vải chạy một trăm thước, tính giờ.
  8. Vác một đồng đội chạy một trăm thước, tính giờ.

Chúng tôi cố gắng một cách uể oải. Môn leo giây chúng tôi bết nhất, không ai leo nổi năm thước. Vài chuyện vui vui đã xảy ra trong buổi thi sức đầu tiên này. Chuyện vui thú nhất phải là chuyện của Bá “điên”. Buổi chiều trước hôm thi thể thao Bá nói với tôi tối hắn đi ăn cưới một cô bạn gái. Tôi dặn hắn đừng ăn nhậu nhiều và nhớ về sớm nghĩ dưỡng sức. Đến giờ giới nghiêm không thấy hắn về, tôi nghĩ chắc hắn ngủ lại đêm ở Câu lạc Bộ An Đông. Sáu giờ sáng hôm sau tôi đến trại Hoàng Hoa Thám một mình. Năm phút trước khi thi thể thao Bá lù lù đến, mặt mày hốc hác tái xanh. Hỏi lý do hắn kể:

_Hôm qua tao uống đến ba ly Wishky nên ngà ngà say. Tao chếnh choáng lái Lambretta đến bót quận Năm nói nhân viên ở đó rằng: “Tôi biết tôi sắp say lái xe thế nào cũng xảy ra tai nạn, các ông cho tôi ngủ nhờ đếm nay ở đây hoặc cho xe đưa tôi về bịnh viện Đô Thành.” Họ đã để hắn ngủ lại, trông mặt mũi hắn bơ phờ ai cũng lo hắn không đủ sức thi. Nhưng trước sự ngạc nhiên của mọi người bốn môn đầu Bá được điểm tối đa. Trong khi chờ môn thứ năm hắn ngã xuống đất nôn mửa. Sau khi được tiếp sức mấy mũi thuốc khỏe Bá anh dũng cố gắng thi nốt bốn môn còn lại. Chuyện vui thứ hai là môn thi vác đồng đội chạy một trăm thước: bọn chúng tôi lớn con cả nên người này ngại vác người kia. Thấy toán bên cạnh có ba bốn chú tân binh vừa nhỏ vừa gầy anh em Quân Y nhào tới bắt cóc. Có chú bị bắt xâu tới bốn năm lần. Được các quan vác chạy, tuy bị xóc mệt các chú vẫn lấy làm khoái chí. Chuyện vui thứ ba là giọng nói của ông Trung Sĩ Trưởng Khóa. Ông người Nùng nên tiếng Việt của ông khá đặc biệt. Muốn cho mọi người chú ý ông hay hét lớn:

_ “Nghe chơ, nghe chơ”

Để dặn mọi người phải bỏ đồ nhiều trong túi vải đeo lưng, ông nói:

_Cho cái túi nó béo béo nghe chơ, không béo không phải là Nhảy “Rù” nghe chơ.

Buổi sáng thứ hai chúng tôi thi môn chạy bộ. Lần thứ nhất chạy tám cây số trong một giờ với túi đeo vai, vũ khí. Đây là cuộc thử sức chịu đựng và cố gắng. Chỉ độ mười lăm phút sau khi khởi hành đoàn người đã phân tán ra từng toán nhỏ cách nhau hàng trăm thước. Toán sau cùng hầu hết là Quân Y. Tôi sắp hạng áp chót trong toán này. Tôi chủ trương đi chớ không chạy vì có anh bạn Nha Sĩ Dù mách nước là chỉ cần lết về tới đích , đừng bỏ cuộc, đừng ngồi nhờ xe là được, trễ giờ cũng không sao. Độ một phần ba đường, gót và bàn chân tôi bắt đầu sưng đau; cái túi đeo vai đựng toàn giấy báo cũng bắt đầu thấy nặng; cây Carbin trở nên một khối sắt chĩu vai. Tuy khát tôi không uống nước chỉ ngậm chanh. Được nửa đường thì mất hút mấy toán đi trước, hai chân tuy rã rời đau nhức tôi bắt đầu cố gắng đi nhanh. Tôi tách dần toán cuối cùng. Đằng sau tôi mọi người hè nhau chạy, họ bắt kịp tôi, vượt qua tôi rồi dừng lại lững thững đi. Tôi bắt kịp họ, họ lại vượt qua tôi, cứ như thế ngót một cây số. Giận quá, tôi bắt đầu chạy, tôi bỏ xa toán sau và bắt kịp một toán trước. Tôi về đến đích mất tám mươi phút, người về chót mất chín mươi phút. Sau hai mươi phút nghỉ chúng tôi thi môn chạy một ngàn năm trăm thước tính giờ. Lần này tôi về giữa.  Cởi giầy ra hai bàn chân tôi nổi ba bốn cục bong bóng, gót chân phải bị trầy một vết lớn. Tôi ực liên tiếp một bi đông chanh muối, một chai bia lớn, một chai coca, rồi nằm duỗi người dưới một gốc cây gòn. Vào những lúc thân thể rã rời, đẫm mồ hôi, mệt thở không muốn nổi, tôi mới thấy giá trị của một làn gió mát, một bóng cây in đổ xuống, một nền đất phẳng phiu để ngã lưng.

Buổi chiều vào nghe kết quả vòng loại. Phía binh sĩ có mười người bị loại. Tất cả sinh viên Quân Y được chấm đậu. Thật tình mà chấm chúng tôi phải ít nhất năm người bị loại. Khóa học khai giảng ngay sáng hôm sau. Khóa 68 Nhảy Dù gồm có 37 sỹ quan và 120 binh sĩ. Thành phần đến thụ huấn có hai mươi lăm quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt, mười tám sinh viên Quân Y, hai Đại Đức Tuyên Úy, một Đại Úy Thiết Giáp. Tất cả sỹ quan họp thành Toán I, ông Đại Úy Thiết Giáp làm trưởng toán. Thời gian học gồm hai tuần dưới đất, một tuần trên không. Không kể bốn mươi lăm phút thể thao bắt buộc mỗi sáng từ năm giờ bốn mươi lăm đến sáu giờ ba mươi, mỗi ngày chúng tôi học bảy tiếng đồng hồ: sáng từ bảy giờ ba mươi đến mười một giờ ba mươi, chiều từ hai giờ ba mươi đến năm giờ ba mươi. Thứ bảy cũng tập trọn ngày. Chương trình học được soạn theo từng giai đọan nhảy: trước khi lên phi cơ, trên phi cơ, nhảy ra phi cơ, sau khi dù mở, đáp xuống đất và sau khi đáp xuống đất.

Tuần lễ đầu hay giai đoạn I, là giai đoạn hành xác. Mỗi ngày có hai giờ tập té: chúng tôi tập té đàng trước, phải, trái, té ngang phải, té đàng sau, phải, trái. Chúng tôi mệt nhoài vì môn học này. Nhìn huấn luyện viên làm thì dễ đến khi  mình làm mới thấy khó. Té sai bị đau vai, đau bàn tọa mà còn bị phạt mười cái hít đất. Đến ngày cuối cùng vẫn còn vài người té chưa đúng. Đến khi đứng trên giàn sắt cao một thước lấy thế nhảy xuống đất rồi té, một sinh viên Quân Y đã phải bỏ cuộc. Anh này thấp người lại quá mập nên mặc dù đầy cố gắng vẫn không té đúng được. Môn học quan trọng thứ hai là ra cửa phi cơ. Chúng tôi tập lấy thế ở cửa phi cơ, nhảy ra và đếm. Trên phi cơ trước khi nhảy chúng tôi tâm niệm: “Năm điều ghi nhớ” sau đây: “Đứng dậy, móc vào, kiểm soát dù bạn và báo cáo kiểm soát, lấy thế ở cửa phi cơ và “go”! Môn học này nhàn nhất vì được ngôi trong lòng chiếc phi cơ phế thải nên không bị nắng. Trong tuần đầu chúng tôi còn học về hai loại dù: dù lưng và dù bụng, học cách mang và tháo đai dù, mang dù bụng. Kiểm soát và khám dù, xếp và giá dù. Vì ảnh hưởng của hai môn thi thể thao, không kể một số anh em Quân Y còn đau chân, phần còn lại vẫn chưa được khỏe nên sự tập dượt khá nhọc mệt. Cực hình của chúng tôi là những buổi tập họp, cứ một giờ học được nghỉ mười phút, xong phải tập họp lại nơi sân cờ rồi từng toán một di chuyển đến nơi có môn học. Mỗi lần di chuyển phải chạy đều và hô to: “Nhảy Dù..cố gắng”. Hình phạt áp dụng cho sỹ quan là hít đất, cho binh sĩ thì nhiều thứ: hít đất, nhảy xổm, nhào lộn, búng mũi, thoi đá, nặng hơn nửa đánh bằng gậy trong phòng kín. Hình phạt hít đất tạo sứ mạnh hai cánh tay rất hữu ích cho việc kéo dù nên được áp dụn g nhiều nhất. Nghe đâu các huấn luyện viên được lịnh mỗi ngày phải phạt mỗi khóa sinh ít nhất ba mươi cái hít đất. Chúng tôi hít đất tơi bời. Sau một ngày hành xác, tối đến chỉ lo xoa bóp dầu nóng xong lăn ra ngủ thật sớm để lấy sức chịu đựng ngày hôm sau. Một tuần lễ học Nhảy Dù quả thật là dài…

Tuần lễ thứ hai dưới đất hay giai đoạn II là tuần lễ thử thách. Mỗi ngày vẫn hai giờ té như thường lệ. Chúng tôi té xuống đất bằng ba cách: nhảy từ bục gỗ xuống, từ hai vòng sắt xuống và tuột máng xối. Hai máng xối bằng gỗ, một cái cao một thước sáu, một cái cao một thước tư. Ngồi xuôi chân tuột theo máng xối rồi lấy thế té xuống đất. Nhìn không thấy gì nguy hiểm nhưng lên tuột mới thấy ngại. Đã có một sỹ quan khóa trước bị gãy xương bàn chân vì môn này. Chúng tôi tập nhảy ra cửa phi cơ với đai và dù bụng, học thêm các môn: sau khi dù mở, xem dù, tránh bạn, gỡ dù xoắn, kéo gió xuôi, gió ngược, lấy thế đáp xuống đất bình thường, khi có gió mạnh, đáp xuống nước, mái nhà, xuống cây. Môn học chúng tôi chú ý nhất là trường hợp xảy ra tai nạn. Ở trên không có ba loại tai nạn: dù mắc vào phi cơ, dù đuôi nheo và dù số 8. Dù đuôi nheo là dù không bọc gió, dù số 8 là chiếc dù mở nhưng bị dây dù vắt ngang lá dù. Chúng tôi học cách giật và ném dù bụng phòng khi xảy ra các tai nạn trên. Chúng tôi học cách tránh dù lôi khi gặp gió mạnh; môn này lúc mới học rất chán nhưng khi có chiếc quạt máy thổi bung chiếc dù lên chúng tôi mới thấy ham thích, mặc dù nhiều khi bị lôi té lộn đến ba bốn vòng.

Nhưng môn học gây cấn nhất của giai đoạn II là hai môn nhảy đài. Đài 11 hay “chuồng cu” là một đài bằng gỗ cao mười một thước trông going giống cái chuồng nuôi bồ câu. Đài có hai cửa nhảy, mỗi bên có bốn sợi dây cáp được căng nghiêng dần vè phía một mô đất. Trên mỗi sợi dây cáp có một bánh xe sắt, mỗi bánh xe có hai dây đai dung để gắn vào hai đai dù của người nhảy. Khóa sinh mang đai và dù bụng lên đài ra cửa lấy thế hô to: “Khóa sinh số.. sãn sàng!” Khi nghe huấn luyện viên hô “GO” Khóa sinh phải phóng người ra ngoài. Nhảy đài 11 đòi hỏi sự gan dạ tập cho khóa sinh quen rơi trong khoảng không và nhảy đúng thế khi ra khỏi phi cơ. Khóa sinh nhảy đúng là người không do dự khi nghe tiếng “GO” khi nhảy ra hai chân không co, không dang ra, đầu cúi, mắt mở, hai tay ôm dù bụng và nhớ đếm số. Chúng tôi có mười hai giờ để nhảy chuồng cu, mỗi người phải nhảy tối thiểu hai mươi lăm lần. Lần nhảy đầu toán tôi có ba người ngồi trệt xuống khi nghe hô tiếng “GO” riêng một ông Đại Đức phải hô “GO” đến lần thứ năm mới chịu nhảy. Những lần nhảy sau toán tôi đều nhảy với ít nhiều khuyết điểm: người quên chụm chân, cúi đầu, người quên đếm, quên ôm dù bụng, người quên mở mắt. Quan niệm càng nhảy càng sợ được mọi người cho là đúng. Riêng tôi mỗi lần ra cửa đài là mỗi lần hồi hộp. Lần nhảy thứ hai tôi run sợ thật sự, đứng trước cửa đài nhìn xuống thấy chóng mặt, tôi có cảm giác hai chân sắp khụyu xuống. Ông huấn luyện viên trấn tỉnh tôi bằng câu:

_Trung Úy đừng sợ, an toàn một trăm phần trăm.

Nhưng đến khi nghe tiếng “GO” tôi phóng mình ra không do dự. Nhảy đến lần thứ tư tôi được xếp vào hạng nhảy đài khá nhất toán. Phía binh sĩ có ba người hô “GO” đến lần thứ năm mới chịu lết ra, một người hô “GO” đến lần thứ bảy vẫn không chịu nhảy, hai tay anh ta bấu cứng lấy cửa đài, huấn luyện viên phải bất thần dùng đầu gối đá anh ta ra ngoài. Lạ lùng nhất là một binh sĩ Lực Lượng Đặc Biệt sau tám lần nhảy đài an toàn, anh nhất định không chịu nhảy nửa, leo lên đài nửa chừng anh trở xuống; phải dẫn anh vào trình diện Trưởng Khóa, ông này dọa gửi trả về đơn vị. Ngày hôm sau anh nhảy ba cái liền trong một giờ học. Hỏi anh hết sợ chưa anh bảo vẫn cứ sợ. Không có tai nạn nào xảy ra, ngoài vài vết trầy ở cổ và háng vì dây và đai dù giật. Nhảy không đúng thế hay để rơi nón sắt bị phạt mười cái hít đất. Một tân binh nhảy dù đến phàn nàn với tôi về ông huấn luyện viên của toán anh. Anh ta nói ông ấy kỳ lắm. Tôi hỏi:

_Tại sao ông ấy kỳ? anh chàng đáp:

_Em nói nhảy chuồng cu ổng bảo sai, ông bắt phải nói nhảy lồng chim rồi ổng phạt em hai mươi cái hít đất!

Hai ngày cuối cùng của giai đoạn II chúng tôi nhảy đài 12 “đi dây tử thần”. Đài cao mười hai thước, một sợi dây cáp lớn được căng từ đỉnh đài xuôi thấp dần xuống mặt đất, một bánh xe sắt có hai tay cầm lăn trên dây cáp. Khóa sinh đứng trên đài, nắm lấy hai tay cầm, rút người lên, bánh sẽ đưa dần xuống mặt đất. Huấn luyện viên cầm một cây cờ đỏ đứng cạnh bãi cát. Khi thấy cờ phất và nghe hô “GO” khóa sinh buông tay lộn vòng theo thế đã học. Dây tử thần có mục đích thử thách lòng gan dạ, giúp khóa sinh quen nhìn cảnh mặt đất dâng lên để tránh phản ứng co chân rất nguy hiểm lúc đáp xuống đất. Ông Đại Úy Thiết Giáp Trưởng Toán  nhảy đầu, lúc phất cờ ông sợ quá không buông tay bị đưa luôn vào khung gỗ nơi sợi dây cáp được móc vào. Cả toán xanh mặt. may mắn ông không bị thương tích gì hết. Tuy nhiên ngoài việc xém tai nạn kia không có sự đáng tiếc nào khác. Ở môn nhảy này tôi bị té khá đau, đầu gối sưng và đầu chúi xuống cát. Không có chiếc nón sắt chắc tôi vỡ đầu. Một binh sĩ bị gãy xương bàn chân phải bỏ cuộc. Giai đoạn II mặc dù mệt nhọc nhưng chúng tôi ai cũng thích thú vì được sống những phút hồi hộp, mỗi ngày thưởng thức thêm “một trò chơi nguy hiểm”. Với rất nhiều hăng say và một ít e ngại chúng tôi chờ đợi ngày lên phi cơ.

Giai đoạn III là gai đoạn thực tập trên không. Bốn sauts đầu chúng tôi nhảy phi cơ C47. Loại máy bay này chỉ có một cửa nhảy và chở được hai mươi bốn người. Vì bãi nhảy dài có năm trăm thước, nên mỗi lần nhảy tối đa chỉ được có mười hai người. Saut thứ nhất chúng tôi nhảy tay không và nhảy từng đợt tám người. Còn nhớ sáng hôm đó lúc lãnh dù tôi hồi hộp lạ thường; tôi trịnh trọng mang nó lên vai xem xét cẩn thận các khóa an toàn. Cẩn thận là phải vì sinh mạng tôi được giao phó cho hai chiếc dù trong giây lát. Chiếc C47 mang chúng tôi cất cánh lúc tám giờ ba mươi sáng. Bãi nhảy nằm ở Ấp Đồn, thuộc quân Hóc Môn xa chừng mười lăm phút bay.

Toán chúng tôi nhảy làm ba đợt, tôi mang số 19 nên nhảy thứ ba trong đợt ba. Ngồi trên phi cơ, tâm trạng tôi lúc đó không hẳn là sợ nhưng có cái gì căng thẳng trong đầu. Chúng tôi nhìn nhau cười để tỏ ra bình tĩnh. Tôi thấy hai anh số 5 và số 16 mặt trắng bệch. Hồi nhảy chuồng cu hai số này vẫn vậy. Độ mười phút bay thì tám người đầu được lịnh đứng dậy, móc móc sắt vào dây cáp, người đầu ra cửa lấy thế. Một hồi chuông reng dài, ngọn đèn đỏ cuối thân tàu bật cháy. Tôi nghe từng tiếng “GO” liên tiếp nhau. Từng thoáng người lao ra cửa phi cơ. Tôi chăm chăm nhìn anh số 16, người nhảy chót của đợt hai. Mặt anh trắng hẳn ra, mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt. Một hồi chuông reng, tiếng “GO” lại vang lên. Tôi theo dõi anh số 16; ra đến cửa anh khựng hẳn người lại, anh có động tác như muốn ngồi xuống, nhưng tôi bổng thấy anh văng ra khỏi phi cơ: người huấn luyện viên đã đạp anh ra. Đến phiên tám người còn lại đứng dậy, tôi bình tĩnh móc móc sắt vào dây cáp, khóa chốt an toàn. Tôi không sợ nhưng tôi không nhớ gì cả. Khi nghe hồi chuông reng tôi theo anh bạn trước lao ra khỏi phi cơ. Tôi có cảm tưởng mình không rơi xuống mà đang bay theo một luồng gió mạnh. Khi tôi sực nhớ mình chưa đếm thì đã nghe giật nhẹ ở hai vai. Ngửng đầu lên tôi thấy dù tôi đã mở lớn, tròn trịa.  nhìn xuống tôi thấy một bải cỏ xanh rộng loang lổ những ô đất vàng vàng. Không thể nào tả được nổi thích thú của tôi khi được lơ lững trong khoảng không gian tịch mịch. Dù xuống nhanh dần, tôi thấy rõ những đứa trẻ con tung tăng chạy theo hướng những chiếc dù rơi. Tôi mở mắt quan sát thật lớn quan sát vùng đất sắp đáp xuống xem có hầm hố, mô đất, bụi bờ gì không? Khi còn cách mặt đất chừng năm mươi thước, tôi kéo mạnh hai dây dù đằng trước, cúi đầu so chân bằng nhau rồi giữ thế chờ chạm đất. TRôi nghe một tiếng động rung chuyển đôi chân và người tôi bị kéo ngã một vòng.  Như một cái máy tôi đứng dậy chạy nửa vòng để tránh gió. Tôi tháo đai dù, cuốn dù cho vào bao, mang dù lên lưng rồi vừa chạy vừa hô: “Nhảy Dù…cố gắng” về điểm tập trung. Toán cuối cùng nhảy xong lúc mười giờ ba mươi. Mọi người đáp xuống đất bình yên. Ai nấy thở dài khoan khoái. Một vài người đã tỏ vẽ khinh thường. Chúng tôi lên xe di chuyển về trung tâm. Ngồi trên xe tôi moi tìm những khuyết điểm của saut vừa qua để rút kinh nghiệm cho những sauts sau. Thứ nhất: tôi đếm số quá muộn. Tôi được chỉ dẫn ra khỏi cửa phi cơ phải đếm bốn tiếng: 331, 332, 333, 334. Thời gian đếm bốn tiếng độ chừng bốn giây; chiếc dù lưng phải tự động mở sau hai giây hoặc hai giây rưỡi. Nếu đếm xong bốn tiếng, dù lưng không mở phải giật dù bụng. Thứ hai: Tôi không nhớ mình nhắm mắt hay mở mắt. Mở mắt rất cần thiết để kiểm soát dù. Mọi việc xảy ra nhanh quá khiến tôi không làm chủ được ý định. Thứ ba: tôi không nhớ tay mình có ôm dù bụng khi nhảy ra hay không. Nếu bị cụp dù không hiểu tôi có tìm ra quai sắt của dù bụng để giật không. Thứ tư: tôi không nhìn trái khói để định hướng gió rất hữu ích cho việc kéo dù và lấy thế để đáp xuống đất.

Saut thứ hai chúng tôi nhảy từng đợt mười hai người. Hôm ấy toán tôi nhảy đầu, tôi nhảy đợt hai, lần này tôi khá bình tĩnh và nhớ nhiều chuyện: tôi có mở mắt, có đếm số, có nhìn trái khói chỉ hướng gió đầu bãi đến cuối bãi, nhưng tôi không nhớ tay tôi có ôm dù bụng hay không. Đáp xuống đất tôi bị dù kéo lộn một vòng về đằng trước. Một lần nữa mọi người đều bình yên. Anh số 16 vẫn phải bị đạp ra cửa.

Saut thứ ba chúng tôi nhảy từng đợt mười hai người có mang vũ khí. Chúng tôi có mang Carbin bá xếp nên rất gọn. Toán chúng tôi nhảy cuối cùng. Mười một giờ phi cơ mang chúng tôi mới cất cánh. Sau hai sauts được an toàn mọi người bình tỉnh và tự tin hơn. Lần nhảy này tôi cũng nhớ mọi chuyện trừ chuyện hai tay mình có ôm dù bụng. Chiếc dù đưa tôi băng qua con đường đất, dưới chân tôi hiện ra một vũng nước lớn. Gió thổi từ trái sang phải khá mạnh. Tôi đáp xuống đất trong thế té ngang rất nguy hiểm. Chiếc dù căng gió lôi phắc tôi đứng dậy. Tuy ê ẩm cả chân trái tôi củng ráng chạy nửa vòng để tránh dù lôi. Về đến điểm tập trung tôi mới hay trong mấy toán trước có mấy người bị đập đầu, một người bất tỉnh và chảy máu miệng. Kiểm điểm quân số toán chúng tôi thiếu hai người: anh số 9 và anh số 11. Một đứa bé lại báo tin có người bị nạn ở cuối bãi. Chiếc xe Hồng Thập Tự tức tốc chạy đi cấp cứu. Người bị nạn là anh số 11. Anh kêu đau ở háng trái không cử động chân được. Đưa về bịnh xá chụp hình thấy cổ xương đùi bị gãy. Anh bạn của chúng tôi đã khóc òa khi biết mình phải bỏ cuộc. Anh được đưa về Tổng Y Viện Cộng Hòa giải phẫu. Mọi người buồn tiếc cho anh. Đến chiều một anh bạn khác trong toán bị sưng chân. Chụp hình không thấy xương gãy nhưng đau quá anh không đi được. Anh được chấp thuận nhảy những sauts còn lại với khóa sau. Tai nạn xảy ra cho anh số 11 làm chúng tôi bắt đầu e ngại.

Saut thứ tư ngoài vũ khí, chúng tôi còn mang thêm một túi vãi được buộc vào đai dù, nằm ở giữa hai chân. Toán chúng tôi nhảy áp chót. Hôm ấy gió rất nhẹ từ phải sang trái. Mọi người đáp xuống đất an toàn. Lần này tôi đứng chớ không té, chiếc dù không gió bọc rơi chụp lên đầu tôi.

Saut thứ năm chúng tôi nhảy C.123. Nghe nhảy C.123 mọi người đều ngán. Loại máy bay này bay nhanh hơn C.47 nên hay thả ra ngoài bãi. Đầu bãi là cái đồn Nghĩa Quân đầy dây kẽm gai, cuối bãi là ấp chiến lược có rào tre nhọn. C.123 chở được 48 người, tai nạn vướng dù do đó hay xảy ra. Hai cửa nhảy không xa hai cánh trước khi nhảy ra dù hay bị gió từ cánh quạt thổi rối và tai nạn dù số 8 hay gặp ở loại phi cơ này. Ngán thì có  ngán thật nhưng chúng tôi muốn nhảy cho biết. Vẫn mang vũ khí, túi vãi như lần trước. Toán chúng tôi nhảy chuyến thứ ba. Cảm giác của tôi khi ở dưới phi cơ bước lên là khó chịu. Hơi nóng, tiếng động cơ ầm ầm, máy bay nhồi xóc làm tôi chóng mặt. Khi đứng lên chuẩn bị nhảy, nhìn ra cửa phi cơ gió thổi ào ào, tôi hồi hộp lạ thường. Toán tôi nhảy cửa bên phải. ra đến cửa gió không hút tôi ra như ở C.47, gió đẩy tôi trở vào. Tôi quăng chiếc móc sắt và nhảy mạnh ra ngoài. Tôi mở mắt nhưng không kịp đếm. Dù mở rất nhanh. Gió thổi từ phải sang trái. Nhìn sang trái tôi thấy một chiếc dù đang rơi xuống đồn; nhìn sang tar1i tôi thấy một chiếc dù trắng lùng bùng, tôi kêu thầm: “có người bị dù số 8!” (dù lưng màu xám, dù bụng màu trắng). Nhìn xuống tôi thấy ngay dưới chân một cái hầm lớn. Tôi hoảng hốt kéo dù tránh xa. Tôi rơi cách hầm chừng năm thước, xuống ngay một vũng nước. Người bị dù số 8 một mình với hai chiếc dù còn lơ lững trên không. Chiếc dù lưng tóp hẳn lại, nhưng chiếc dù bụng đã bọc gió. Tôi kinh hoàng thấy anh đáp xuống đất bằng bàn tọa và nằm luôn không dậy. Tôi tháo đai dù chạy vội về phía anh, nhưng chiếc Hồng Thập Tự đã đến trước tôi. Nạn nhân là một Sỹ Quan LLĐB. May mắn anh không việc gì chỉ hơi ê bàn tọa. Mặt mày tái mét nhưng anh vẫn cười. Anh cho biết vì dây dù bụng vướng vào chân, khi dù bọc gió kéo luôn hai chân anh lên nên anh phải đáp xuống đất bằng bàn tọa. Hôm ấy không có gió mạnh, nếu không chắc anh đã bị gãy xương chậu, hay xương sống lưng rồi. Ở mấy đợt nhảy trước có đến ba người bị dù số 8 nhưng đều giật kịp dù bụng. Kiểm điểm quân số toán tôi thiếu mất một người. Tôi sực nhớ chiếc dù rơi xuống đồn. Quả nhiên một lúc thấy anh số 17 lò mò vác dù về vừa cười vừa nói:

_Moa rơi xuống đúng giữa hai hàng kẽm gai, may mắn hơn nữa là moa lại đứng chứ không té nên không sây sướt gì.

Cái may hai lần thật hy hữu. Trong mấy toán sau có thêm hai chiếc dù số 8 nữa, nhưng dù bụng vẫn kịp tung ra. Chúng tôi còn chứng kiến thêm một cảnh nghẹt thở khác: người ở trên rơi vào lá dù của người ở dưới, chiếc dù ở trên tóp lại. Dưới đất chúng tôi la hoảng om sòm. Củng may người binh sĩ mang chiếc dù ở trên khá bình tĩnh, anh đạp mạnh lá dù ở dưới, hai chiếc dù tách xa nhau, chiếc dù ở trên bọc gió trở lại. Saut thứ năm là saut nhiều bất trắc nhất, nhưng cuối cùng mọi người đều an toàn. Về đến trung tâm, lúc tập họp, một tân binh của toán bị hai cảnh cáo vì lúc ra cửa phi cơ anh chần chừ làm những người sau bị dồn lại, đến khi nhảy những người sau cùng rơi cả vào ấp chiến lược. Người chuyên viên thả dù hỏi anh ta tại sao không chịu nhảy, anh tân binh ấp úng trả lời:

_Dạ, em chờ Trung Sĩ… đạp em ra!

Saut thứ Sáu là saut nhảy ngày cuối cùng của chúng tôi. Những ai đã nhảy dù đều công nhận có một saut gọi là saut hãi hùng. Thường thường từ saut thứ hai trở đi mới có hiện tượng sợ hãi ấy. Saut hãi hùng của tôi là saut thứ sáu. Sáng hôm đó tôi ăn lót dạ một cái bánh bao ra đến phi trường bụng bỗng lâm râm đau rất khó chịu. Mười một giờ trưa mới có máy bay, mệt nắng và sốt ruột vô cùng. Vẫn nhảy C.123 Lúc mặc dù, vô tình tôi nhìn số dù, dù lưng số 0280, dù bụng số 1300. Tôi nghĩ dù lưng số bù, dù bụng số 13 chắc là điềm xấu. Bỗng chốc tôi phát sợ, một sự sợ hãi vô cớ. Tôi bước lên phi cơ như một người không hồn. Hơi nóng trong lòng tàu làm tôi khó thở. Đảo mắt nhìn anh em bạn thấy mặt người nào cũng lầm lì, xám xanh. Đối diện với tôi là một vị Sỹ Quan Lực Lượng Đặc Biệt bị dù số 8 hôm qua, đang cúi gầm mặt xuống không nhìn lấy một ai. Tôi nghĩ dại, biết đâu hôm nay tôi sẽ bị dù số 8, dù đuôi nheo, biết đâu tôi sẽ rơi vào đồn, vào ấp chiến lược, xuống hầm hố; tôi sẽ chết, sẽ gãy chân, gãy xương sống, sẽ bị đập đầu bất tỉnh. Càng nghĩ vẫn vơ tôi càng mất can đảm, thứ can đảm tôi đã có thừa qua nhiều lần nhảy. Máy bay hôm ấy nhồi quá nhưng tôi không thấy mệt hoặc buồn nôn. Tất cả tôi đang chịu đựng sự sợ hãi của mình một cách khổ sở. Có lúc tôi muốn chạy đến cửa phi cơ phóng đai ra ngoài cho đỡ sợ. Nửa đầu của hai toán được lịnh đứng dậy. Tôi thấy Đại Úy Thiết Giáp tiến ra cửa phi cơ. Gió đẩy ông lui về đằng sau. Bên toán nhảy cửa phải có tiếng của huấn luyện viên la lối. Tôi nhìn sang, một binh sĩ vì thấp không móc được móc sắt vào dây cáp, cứ cầm móc sắt ở tay tiến ra cửa phi cơ. Tôi thấy người huấn luyện viên lấy móc sắt móc vào dây cáp xong tát vào mặt người binh sĩ hai cái. Trống ngực tôi đập mạnh. Chờ mãi không nghe chuông reng, lại thấy huấn luyện viên kéo ông Đại Úy trở vào. Tôi sốt ruột không hiểu chuyện gì. Máy bay lượn vòng một lúc rồi chuông reng lên. Tôi đứng phắc dậy như cái lò xo, không cần đợi lịnh cho móc sắt vào dây cáp, khóa chốt an toàn. Chúng tôi dồn về phía cửa phi cơ. Gió mát phừng phực làm tôi dễ chịu. Tôi lấy lại được bình tĩnh. Khi nghe hồi chuông reng lên tôi bay bổng ra khỏi phi cơ. Tôi nhảy như thoát khỏi bầu không khí hãi hung trong phi cơ, quên cả đấm và không biết mình nhắm hay mở mắt nữa. Dù mở tròn trịa, tôi đáp xuống đất bình yên như mọi lần. Trên đường vác dù về chổ tập họp, tôi gặp anh số 14 của toán hai. Anh lắc đầu than với tôi:

_Khổ quá Trung Úy ơi, em lại quên mất cây Garant trên phi cơ!

Tôi hỏi ông Đại Úy sao ra cửa lâu quá mà không nhảy ông cho biết vì phi cơ bay chệch bãi nhảy nên huấn luyện viên không thả. Phân nửa toán tôi thú nhận sợ toát mồ hôi trong saut này. Trong toán nhảy sau một binh sĩ vướng tay vào dây dù của một người khác làm hai chiếc dù dính vào nhau tóp lại rơi xuống vun vút. Chúng tôi dưới đất thất sắc kêu la ầm ĩ. May sao một binh sĩ đạp vào người kia, hai chiếc dù tách ra bọc gió trở lại.

Chúng tôi được lịnh năm giờ chiều ngày hôm sau tập họp nhảy đêm. Đến phút chót Bộ Tư Lịnh bãi bỏ saut đêm vì thiếu an ninh bãi nhảy. Lễ mãn khóa được tổ chức vào sáng hôm sau. Sau ba tuần dầu dãi mặt tay tôi đen sạm, người rắn rõi hẳn ra. Cái huy hiệu nhảy dù gắn trên túi áo mang cho tôi một niềm vui nhỏ và một hãnh diện lớn. Tôi có bằng dù rồi tôi sẽ làm gì đây? Tôi nhớ một lời nói của vị Thiếu Tá đọc hôm lễ mãn khóa: “Nhảy Dù chỉ là một phương tiện vận chuyển. Nhiệm vụ chính của người binh sĩ Nhảy Dù không nhảy ra khỏi phi cơ. Đáp xuống đất nhiệm vụ chính mới bắt đầu, đó là tác chiến như bộ binh”. Nhiệm vụ chính của người Y Sỹ dù không phải tác chiến mà là cứu cấp, săn sóc những binh sỹ tác chiến. Tôi đang sửa soạn đón nhận nhiệm vụ đó.

Y Sĩ Tiền Tuyến

Trang Châu _

Vietmessenger/ đánh máy & Post by Sơn râu 17 July 2023

Tập truyện của Trang Châu _ Đường Sáng xuất bản

Để tưởng niệm anh hồn các cố Y Sĩ Đại Úy đã hy sinh vì Tổ Quốc:

*Đoàn Mạch Hoạch

*Trương Bá Hân

*Đỗ Vinh

*Trần Ngọc Minh

*Phạm Bá Lương

*Nguyễn Văn Nhứt

*Trần Thái

*Lê Hữu Sanh

*Nghiêm Sỹ Tuấn

*Phạm Đình Bách

Trong cuộc chiến hôm nay

Cho tôi xin chiến đấu không hận thù

Xin những vết thương bình đẵng

Cho tôi đổi một trăm chiến thắng

Lấy một giọt nước mắt kẻ thù

Trước ngày lên đường

Đầu tháng tư năm 1965, một buổi chiều nằm đọc báo trong phòng gác nội trú của bịnh viện Đô Thành, Bảng đến báo chúng tôi một tin buồn: Đỗ Vinh vừa tử trận ở Quảng Tín. Tôi buột miệng kêu lên: “Thế là thằng thư ba hy sinh vì Tổ Quốc!” Còn vài tháng nữa chúng tôi ra trường, một số lớn sẽ đi đơn vị tác chiến trong một thời gian. Dù muốn dù không người y sỹ hôm nay phải góp mặt với cuộc chiến. Hai vấn đề chính yếu đặt ra cho mỗi cá nhân chúng tôi là: hành nghề y sỹ và an ninh bản thân. Vấn đề hành nghề y sỹ hay nói theo lối của chúng tôi là “mở tiệm” ai cũng thích nêu ra mỗi khi bàn cãi. Và câu trả lời cũng dễ dàng dứt khoát: phải “mở tiệm” mỗi khi có điều kiện. Lương nhà binh không đủ sống. Thằng có gia đình đói vì vợ con; thằng độc than rách vì gái và nhiều thứ khác. Cái gọi an ninh bản thân là mối lo âu lớn của đa số chúng tôi, của gia đình nữa. Công trình học bảy năm để rồi ra trận lãnh một viên đạn thì thật phí. Ngoài mặt trận, dưới tầm đạn, người y sỹ không làm được gì hơn công việc người y tá. Trái lại ở bịnh viện khả năng chuyên môn của họ giúp ích nhiều cho các thương bịnh binh. Đa số chúng tôi tán đồng quan điểm y sỹ ở hậu phương phục vụ hữu hiệu hơn ở tiền tuyến. Tán đồng thì tán đồng nhưng mấy năm qua chưa thấy một ai tranh đấu để quan điểm trên được chấp thuận. Chỉ thấy mỗi năm gần đến ngày ra trường phong trào “chạy piston” “đi bắt tuyau” để được chổ tốt lại ngấm ngầm sôi nổi. Chổ tốt đây có nghĩa vừa an ninh bản thân vừa dễ “mở tiệm”. Thâu góp ý kiến đa số chổ nhàn nhất cho một tân y sỹ là Không Quân. Về Hải Quân thì được mặc quần áo đẹp mang lon nhung đỏ, nhưng từ khi có mấy chiếc tàu lớn cần mỗi chiếc ông Lang Tây để hàng tháng lênh đênh ngoài biển cả thì sự hăm hở ban đầu của chúng tôi cũng kém đi. Kể thêm chổ tốt chúng tôi còn Quân Y Viện, Bịnh Viện Dã Chiến. Được ưu tiên chọn về Quân Y Viện là những y sỹ cựu nội trú . Làm việc ở Quân Y Viện, Bịnh Viện Dã Chiến thì được ở ngay tỉnh, an ninh bảo đảm và “mở tiệm” cũng dễ dàng. Chổ không tốt không xấu là các đại đội lựa thương Sư Đoàn không xấu cho những anh em ở trung đoàn về, hết hành quân vất vã, không tốt cho những anh em ở đó lâu mà chưa được về Quân Y Viện. Trung Đoàn là nơi hai phần ba y sỹ ra trường đến phục vụ. So về mặt an ninh dĩ nhiên người y sỵ Trung Đoàn gần gũi với chiến trường, nguy hiểm hơn. Nhưng sự nguy hiểm cũng chỉ tương đối vì người y sỹ cũng chỉ tham dự hành quân cấp Trung Đoàn thôi. Chỉ khi nào Bộ chỉ huy Trung Đoàn bị tràn ngập hay bị pháo kích, tính mạng người y sỹ mới lâm nguy. Những trường hợp trên rất ít xảy ra, ít nhưng không có nghĩa là không có. Nhưng nếu so về mặt “hành nghề tư” thì thành quả thật ngang ngữa. Y sỹ các trung Đoàn đóng vùng lục tỉnh Hậu Giang mầu mỡ. “mở tiệm” đắt thân chủ hơn các y sỹ ở Quân Y Viện các tỉnh miền trung nghèo nàn. Biết được Trung Đoàn nào ít hành quân vùng đóng quân an ninh dễ làm ăn là bí quyết riêng của mỗi chúng tôi. Bí quyết đó chúng tôi giữ bí mật cho đến ngày phân phối đi đơn vị, đôi khi chúng tôi còn đánh lạc hướng nhau nữa. Lực Lượng Đặc Biệt là một chổ tốt của những chổ được cho là xấu. Y sỹ Lực Lượng Đặc Biệt làm việc tại các “C” hai tuần hay một tháng trực thăng mới đưa đến các trại đóng dọc theo biên giới Lào Việt hay Miên Việt để khám bịnh cho binh sĩ đồn trú. Những chổ còn lại là những đơn vị lưu động: Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến. Ở Biệt Động Quân một chiến đoàn mới có một y sỹ. Đơn vị có y sỹ phục vụ ở cấp Tiểu Đoàn là Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Phục vụ ở hai binh chủng này người y sỹ đều kham khổ như nhau, nhưng tiêu chuần quyền lợi khác xa nhau: Y Sỹ Nhảy Dù phải là người tình nguyện và phải nhảy dù như mọi binh sĩ Dù do đó họ được hưởng một khoản phụ cấp không vụ. Ngươi Y Sỹ Thủy Quân Lục Chiến không bắt buộc tình nguyện và không có phụ cấp hải vụ.

Lúc bấy giờ chiến cuộc vừa leo thang, Mỹ đổ vào miền Nam mấy chục nghìn quân và bắt đầu oanh tạc Bắc Việt. Nhưng chiến trường miền Nam vẫn do quân đội Cộng Hòa gánh vác. Những trận địa chiến khởi đầu với Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giả. Trong số hàng chục hàng trăm thanh niên ngã gục hằng ngày giới y sỹ bắt đầu góp phần xương máu.

Người y sỹ tử trận đầu tiên vào giữa năm 1964 là anh Đoàn Mạnh Hoạch. Anh đã nhảy ra khỏi xe bọc sắt, để lên trận tuyến săn sóc một thương binh, mặc dù có sự ngăn cản của vị Trung Đoàn trưởng và anh đã gục ngã trước lằn đạn địch. Chúng tôi đón nhận tin anh hy sinh ở Quảng Ngãi với tất cả bàng hoàng. Cái chết của anh như một nhát búa đập vào chữ “Thọ” của giới Quân Y. Sáu tháng sau, người thứ hai, anh Trương Bá Hân tử trận ở Bình Giả. Còn nhớ hôm đó ngày cuối năm 1964 tôi đang thực tập giải phẫu ở Tổng Y Viện Cộng Hòa. Nghe hung tin các sinh viên Quân Y đang có mặt tại phòng trực chạy xuống nhà xác. Một mình tôi ở lại: Tôi không thích nhìn mặt người chết. Tôi ngồi một mình cố moi trí nhớ xem anh Hân là ai, nhưng không hình dung nổi mặt anh. Chỉ biết anh học trên tôi ba lớp vừa từ Pleiku thuyên chuyển về thủy Quân Lục Chiến. Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến bị một Trung Đoàn địch tràn ngập. Tất cả sỹ quan Bộ Chỉ Huy tử thương. Mấy thằng bạn ở nhà xác lên kể lại tôi nghe một chi tiết về cái chết của anh Hân: người ta tìm thấy xác anh hai tay bị trói thúc ra đàng sau và bị trúng đạn ở tim. Mọi người đều nghĩ anh bị bắt rồi mới bị hạ sát. Không khí buồn bã vây quanh chúng tôi suốt cả tuần. Hôm đưa đám tang anh Hân tôi không đi, cố tình không đi. Tôi sợ cảnh khóc lóc của người thân làm tôi mủi lòng. Trong niềm thương tiếc, pha lẫn cảm nghĩ riêng tư của hai lớp người y sỹ: những người đã ra trường lâu đang được ở chổ tốt, mừng số mình may mắn và những kẻ sắp ra trường như bọn chúng tôi nhìn người đi trước ngã xuống trong lòng cũng mang ít nhiều âu lo cho tương lai mình. Một thằng trong bọn chúng tôi nử đùa nửa thật: “Trông cảnh đàn anh hy sinh vì Tổ Quốc khối thằng đàn em hèn người ra” Rồi nó trắng trợ tuyên bố thêm “Trong số đó có em”.

Ngày 31 tháng 3 năm 1965 anh Đổ Vinh Y Sỹ Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù tử trận ở Thăng Bình (Quảng Tín). Một mảnh 81 đã phạt trúng đầu khi anh đang ngồi săn sóc một thương binh. Vinh là Y Sỹ Nhảy Dù đầu tiên tử trận. Vinh học trên tôi một lớp, không thân nhưng quen mặt nhau. Vinh chết trong vinh quang vì trận đó Tiểu Đoàn anh thắng lớn. Tôi không đi gác xác cũng không dự đám tang trọng thể của anh. Không phải tôi vô tình với người đã khuất nhưng tôi dang phấn đấu để giữ vững tinh thần. Tôi có ý định tình nguyện về Nhảy Dù sau khi ra trường. Cái chết của Vinh quả là một thử thách lớn lao với dự tính của chúng tôi. Chúng tôi đây là Đoàn, Tính, Bá và tôi, bốn đứa đang mon men học khóa Dù sẽ mở vào tháng tám tới đây. Sau cái chết của Vinh khi đứa này hỏi đứa kia bao giờ nộp đơn đứa nào cũng trả lời: “để xem lại đã”. Nhưng cô y tá chủ nhân của con cơ hình quả tim mà cô quả quyết làm bằng ván hòm thì cô tin lắm. Bảng “bánh đúc” được chỉ định cầm nhang khấn. Chúng tôi gọi hắn là “bánh đúc” vì mặt hắn nục như miệng bánh đúc. Bảng khấn xong đem nhang cắm trước bàn cơ. Cô y tá bảo phải ba người đặt ngón tay trỏ vào cơ, cơ mới lên. Ngoài ngón tay của cô y tá là hai ngón tay của Bá “điên” và Ân “thợ đấm”. Gọi điên chứ thật Bá chẳng điên tí nào hay có điên cũng là điên khôn. Hồ sơ bịnh lý của hắn chẳng có gì lạ ngoài ghi chú đương sự có tánh nóng giận, buồn vui thất thường. Tiền căn ghi năm học Sinh Lý, Hóa hắn bị động kinh một lần. Biệt danh “thợ đấm” anh em đặt cho Ân không phải vì hắn to con hay đánh lộn mà vì hắn rất khỏe về phương diện sinh lý. Một buổi chiều thứ Bảy hắn đưa một em về phòng ở bịnh viện Đô Thành (mỗi sinh viên nội trú có một phòng ngủ riêng). Chín giờ tối có người thấy hắn dẫn em qua quán Thanh Bạch ăn, một lát hắn dẫn em trở về ngủ. Mười giờ sáng Chủ Nhật hắn lại lò dò dẫn em đi ăn rồi lại dẫn em trở về phòng. Mãi đến tối hắn mới thả em về, chúng tôi lôi hắn vào phòng gác chất vấn:

_Bao nhiêu tất cả?

Hắn uể oải đưa sáu ngón tay cho chúng tôi đếm rồi ngã xuống giường. Phải chích cho nó một mũi D.O.C.A. và một ống sinh tố C. Sáng hôm sau hắn thức dậy với biệt danh “Ân thợ đấm”.

Cuộc cầu cơ không mấy hấp dẫn, con cơ chỉ chạy loanh quanh rồi “thăng” mà không trả lời các câu hỏi. Chúng tôi sắp chán nản thì Đức “vịt” đề nghị phải ra nhà xác khấn cơ mới lên và chỉ định “Châu cá ngựa” là tôi. Cả bọn chỉ chờ có thằng bị chỉ định là nhao nhao làm áp lực bắt nhận lời. Tôi bước ra khỏi phòng gác lẩm bẩm chửi thề Đức “vịt”. Người hắn thấp giọng nói lại khàn khàn thật đúng là con vịt đực. Chúng nó gọi tôi là “Châu cá ngựa” vì hồi đó tôi say mê cá ngựa lắm. Chiều thứ Bảy, Chủ Nhật nào cũng có mặt tôi ở trường đua. Có bao nhiêu tiền cũng cúng vào các độ ngựa. Cứ mỗi trưa thứ Bảy, Chủ Nhật thấy tôi ăn uống vội vàng chúng nó kháo nhỏ nhau nhưng cốt để tôi nghe: “Nó lại đi cho ngựa ăn cỏ”

Sau khi tôi khấn ở nhà xác về quả nhiên cơ lên vùn vụt, quỷ có, ma có, có một ông xưng là thần. Chúng tôi tranh nhau hỏi, toàn những câu hỏi nghịch ngợm để đùa vui. Bảng “bánh đúc” nảy ra ý kiến gọi hồn Đổ Vinh về. Con cơ di chuyển trên mặt giấy. Bảng “bánh đúc” hỏi:

_Có phải Đổ Vinh đó không?

Cơ chạy qua các chữ P.H.Ả.I

_Hồn Vinh bây giờ là gì?

Cơ chạy nhanh qua mấy chữ T.H.Á.N.H.

_Vinh bị đạn ở đâu?

_Đ.Ầ.U

_Lúc mất có đau lắm không?

_K.H.Ô.N.G

_Chổ Vinh ở có vui không?

_V.U.I

_Vinh nhớ ai nhất?

_M.Ẹ

_Vinh có người yêu chưa?

_C.H.Ư.A

_Vinh mất có nhiều cô khóc lắm, Vinh biết không?

_X.Ạ.O

Chúng tôi nhìn nhau cười, Đức “vịt” vụt hỏi:

_Vinh có biết anh em nào sẽ đi theo Vinh không?

Bảng “bánh đúc” cú vào đầu Đức “vịt”

_Sư thằng này chỉ thối mồm

_K.H.Ô.N.G  N.Ó.I  Đ.Ư.Ợ.C

Rồi cơ chạy nahnh qua các chữ V.I.N.H.  Đ.I. Bảng “bánh đúc” bàn:

_Sẽ còn nhiều thằng chết nửa Vinh nó nói “không nói được” tức sẽ còn thằng chết nhưng nó không muốn nói tên.

Bá “điên”nhất định không tin, nó bảo Ân “thọ đấm” và Đức “vịt” đẩy con cơ. Hai đứa này thề không đẩy. Bá “điên” vẫn không tin, nó bảo cô y tá đẩy. Tuy nhiên câu hỏi thối mồm của Đức “vịt” và lời bàn của Bảng “bánh đúc” gieo vào lòng chúng tôi mối lo âu cho thân phận mình cùng thân phận bạn bè.

Tháng 5 1965 Trần Ngọc Minh Y Sỹ Trưởng Tiểu Đoàn 5 TQLC tử trận cũng ở Thăng Bình. Minh bị thương ở tay vào lúc địch mở đợt xung phong biển người. Khi Tiểu Đoàn phản công chiếm lại mục tiêu, người ta tìm thấy Minh nằm chết dưới hố với một vết dao đâm vào tim. Tôi quen Minh từ hồi còn học ở Yersin Đà Lạt. Con người nho nhỏ ăn nói vô cùng có duyên, Minh vào trường Quân Y muộn, năm thứ tư mới vào. Một người bạn kể lại rằng hôm phân phối đi đơn vị Minh ao ước:

_Cho tao đi đâu cũng được trừ TQLC. Tao ốm yếu sợ về TQLC lết theo không nổi.

Định mệnh đã đưa anh về TQLC và máu của anh đã đổ cho màu áo của binh chủng này.

Bá “điên” tuyên bố:

_Tao sẽ tự sát chứ không bao giờ đầu hàng hay để chúng nó bắt rồi giết.

Chiến tranh thực sự đã đến với người thầy thuốc. Còn nhớ ngày nào khi mới vào ngành thuốc được một hai năm tôi thường mơ ước khi ra trường có một phòng mạch đông đảo thân chủ, tạo một cuộc sống an nhàn sung túc. Bây giờ ngày ra trường không còn xa, nhưng cái phòng mạch đông đảo thân chủ ngày nào không còn là mối bận tâm của tôi nửa. là đơn tình nguyện đi học Nhảy Dù tôi vừa viết xong, nhưng còn đắn đo chưa ký tên. Những cái chết liên tiếp của bạn bè quả có làm tôi xúc động nhưng không làm tôi khiếp hãi. Tôi tin ở số mạng. Tôi cũng biết trước về Nhảy Dù sẽ phải hành quân liên miên, gian khổ và nguy hiểm. Nhưng tôi tin tôi sẽ chịu đựng nổi; tôi tin tôi sẽ yêu đời lính; tôi tin bom đạn chiến trường, cuộc sống xê dịch, những cánh dù nở vội trên không hợp với thú ưa phiêu lưu, thích cảm giác mạnh của tôi. Về Nhảy Dù tôi biết sẽ phải thiệt thòi hơn chúng bạn, nhưng tôi không có mộng làm giàu. Lý do còn lại làm tôi đôi chút đắn đo là người con gái tôi đang yêu. Nàng có chấp nhận cuộc sống bôn ba nay mai của tôi không? Tối hôm đó thật tình cờ một cô bạn nàng hỏi tôi ra trường sẽ làm việc ở đâu? Tôi đáp định về Nhảy Dù nhưng còn để xem. Người yêu tôi trả lời thật bất ngờ:

_Con trai là phải đi Nhảy Dù.

Câu trả lời của nàng như một cánh cửa lớn mở cho tôi thấy giữa khung trời bao la một cánh dù lơ lững…

Sáng hôm sau tôi mang đơn vào trường Quân Y nộp. Trong tổng số mười lăm lá đơn, trong có đơn của Bá “điên”, Tín “móm” và Đoàn “cái bướm” tôi là người thứ mười sáu. Tôi đã nói về Bá “điên”, Tín “móm” thì chẳng có gì lạ ngoài cái miệng móm của hắn, móm quá nên nói chớt. Gọi Đoàn “cái bướm” vì hắn là tác giả bài “thằng cu hay cái bướm” đăng trong nguyệt san Tình Thương của sinh viên Y Khoa. Hắn trích dẫn một lô phương pháp để sinh con trai hay con gái theo ý muốn. Khi vợ nó có bầu tôi hỏi hắn áp dụng phương pháp sinh thằng cu hay sinh cái bướm, hắn cười đáp sinh thằng cu. Kết quả vợ nó để lọt ra một cái bướm. Gọi Đoàn “cái bướm” là để nhạo nó. Trưa hôm đó tôi về phòng gác ăn cơm gặp đủ mặt Bá, Tín, Đoàn tôi chửi thề:

_Sư chúng mày nộp đơn sao không rủ ông đi cùng. Ba đứa nhìn nhau, nhìn tôi rồi cả bốn ôm nhau cười. Thì ra mỗi đứa chúng tôi lặng lẽ nộp đơn mà không cho đứa khác hay; đứa này sợ rũ đứa kia mai mốt lỡ nó gtheo chân Đỗ Vinh thì ân hận suốt đời.

Ngày mươi lăm tháng bảy 1965, anh Phạm Bá Lương Y Sỹ Trưởng trung Đoàn 7 bộ binh tử trận ở Bàu Bàng. Một y tá sống sót kể lại:

_Lúc tờ mờ sáng địch từ dưới hầm chui lên. Bác Sỹ Lương lúc ấy đang mặc quần lót đứng đánh răng. Lúc chúng ập vào bắn xối xả em thấy bác sỹ Lương đưa tay đầu hàng nhưng chúng vẫn hạ sát. Em bị thương nằm giả chết, một tên đến đá vào người em một cái rồi bỏ đi.

Lương và Vinh là đôi bạn thân. Hồi nghe tin Vinh chết, từ Bến cát Lương viết một bài khóc bạn gửi về chúng tôi đăng ở nguyệt san Tình Thương. Sau đó một lần vào buổi chiều có người gặp anh thơ thẩn ngồi bên mộ Vinh ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Bây giờ đôi bạn chắc không bao giờ xa nhau nửa. Bốn Y Sỹ tử trận trong vòng bảy tháng nói lên mức độ ác liệt của chiến cuộc. Trước hành động bất chấp của địch đối với Quân Y, chúng tôi nêu vấn đề võ trang tinh thần người Y Sỹ. Khi cuộc chiến không có quy ước, không thể tin vào thiện chí của đối phương.  Người Y Sỹ còn là một sỹ quan họ phải biết, phải có tinh thần chiến đấu, ít ra là chiến đấu tự vệ. nhưng bốn thằng Nhảy Dù tương lai chúng tôi không kích thích nổi máu anh hùng của đám bạn bè. Một bàu không khí bi quan bao trùm chúng tôi. Ân “thợ đấm’ thằng thỏ đế nhất đám nghĩ lẩn thẩn: từ khi đổi phù hiệu mới chết chóc nhiều. Cái phù hiệu Quân Y mới hình hai nhánh liễu tréo nhau ôm lấy chữ thập đỏ trông cũng giống mẫu hình chạm trổ ở đầu quan tài của hãng Tôbia. Ti dị đoan lan nhanh như một bịnh truyền nhiễm. Sinh viên Quân Y không ai chịu đeo phù hiệu mới cả.

Tháng mười 1965 Y Sỹ Trung Úy Nguyễn Văn Nhất tử trận ở Dầu Tiếng. cái chết của anh Nhứt gây một xúc động lớn trong giới Y Sỹ, nhất là phía Dân Y vì Nhứt là Y Sỹ trưng tập đầu tiên tử trận. Trận Dầu Tiếng là một trận đánh xáp lá cà đẫm máu. Vị Trung Đoàn Trưởng cũng tử thương trong trận đánh. Nhứt bị trúng vào đầu và ngực. Tôi nhớ dáng người anh dong dõng cao, tính tình trầm lặng. Nhứt đổ thủ khoa nội trú năm 1963, xuất sắc về Sản Khoa. Nghe nói anh được biệt phái sang Bộ Y Tế chờ ngày du học Mỹ. Không hiểu vì sao anh lại được gọi nhập ngũ rồi thuyên chuyển về Trung Đoàn 7 thế chổ anh Lương.

Tháng mười hai 1965 Y Sỹ Trần Thái tử trận trong một cuộc phục kích đoàn xe tải đạn và vũ khí trên đường đi Sài Gòn – Bà Rịa. Thái được ở gần Sài Gòn thế mà vẫn chết. Phe “diều hâu” bốn đứa chúng tôi lại có dịp cổ võ cái thuyết sống chết có số. Phần tôi sự cổ võ nhằm trấn an bạn bè thì ít mà để trấn an mình thì nhiều.

Năm 1965 trong niềm đau chung cho quê hương khói lửa, xáo trộn; lòng người chia rẽ, hận thù, chúng tôi còn mang cái tang riêng của bảy đồng nghiệp hy sinh.

Niềm đau của những người ý thức còn sống không phải ở chổ tiếp tục chịu đựng hy sinh mà ở chổ chịu đựng sự thất bại của mọi cố gắng hy sinh. Những cái chết kia không cứu vãn nỗi một giai cấp đang tự vùi chôn trong thụ hưởng và sợ hãi chiến tranh. Tôi quá cô đơn trong ý thức nhiệm vụ của mình. Dù cô đơn tôi vẫn hăng hái bước theo con đường đã chọn.

Chuồng người

Lâm Chương Post by Sơn râu 17 July 2023

Chỉ còn vài ngày nữa là thu hoạch xong vụ mùa. Tôi được miễn đi lao động, vì cái chân đau. Hôm qua lúc chuyển lúa vào bồ, tôi vô ý vấp ngã nơi bậc thềm nhà kho. Mặc dù đã được nắn bóp, sửa trặc, nhưng khớp xương mắc cá chân vẫn sưng đỏ, đau nhức. 
Khi các đội đã xuất trại, tôi chống cây gậy ra cửa, đứng nhìn lên sân trại. Giữa sân có đặt ba cái thùng phuy, dùng chứa phân người. Sau một đêm bài tiết của anh em trong trại, phân được xúc từng gánh đem đổ vào thùng. Hàng ngày, người của đội rau xanh sẽ chuyển ba cái thùng này bằng xe cải tiến đến vườn rau. Ðổ phân xuống hố, lấp phủ lên một lớp đất. Ủ phân. Một thời gian sau, phân từ màu vàng như đất sét nhão, biến thành màu xám như bùn, đã tới lúc có thể dùng được, xúc lên làm phân bón rất tốt. Phân được chế biến kiểu này gọi là phân Bắc. Mới đầu, anh em đội rau xanh rất tởm phân Bắc, nhưng thời gian lâu dài, tiếp xúc mãi thành quen, thấy cũng không có gì đáng gớm ghiếc, và khám phá ra cái công dụng tuyệt vời của nó. Chỉ cần rau muống nếm một chút phân Bắc, rau trở nên xanh tốt, tăng trưởng rất nhanh. 

Từ trong đội cải tạo hình sự, có hai tên cầm que đi đến thùng phuy. Nó bươi móc thứ gì trong đó. Một trong hai tên này, tôi quen. Hồi mới quen, tôi hỏi nó: 

– Mày tên gì? 

– Ný! 

– Tên ngộ quá! Họ gì? 

– Nê! 

– Cái gì? Làm gì có họ Nê? 

– Có chứ! Rất nhiều! Tên họ của cháu: Nê văn Ný 
. 
Tôi chợt hiểu, bật cười: 

– Mày nói ngọng. Tên họ của mày là Lê văn Lý. 

– Người miền Nam của các chú thường nói thế. Ở đây chúng cháu gọi Nê Văn Ný! 

Từ đó trở đi, tôi cũng gọi nó là thằng Ný. 

Thấy nó bươi móc trong thùng phuy, tôi kêu lớn: 

– Ný! Mày làm cái gì đó? 

Nó quay lại nhìn tôi, rồi bỏ cái que, đi lại gặp tôi. 

– Hôm nay sao chú được nghỉ? 

– Tao bị bong gân chân. Còn mày? 

– Cháu chờ để trưa gánh đồ ăn thông tầm cho đội! 

– Mày tìm gì trong thùng phân? 

– Nhà bếp vừa đổ rác trong ấy. Cháu kiếm chút rau cải vụn. 

– Ăn uống dơ bẩn, có ngày bỏ mạng con ơi! 

– Cháu mang về rửa sạch, cho vào ca cống, đun sôi, vi trùng nào chả chết! 

Tôi nhìn thân hình gầy gò, cái mặt hốc hác của nó, và nghĩ đến mình. Tôi có khác nó gì đâu. Cùng một hoàn cảnh khốn khó, người ta không cần tỏ lòng trắc ẩn cho nhau. 

Ðứng tần ngần một lúc, nó hỏi: 

– Chú có thuốc nào, cho cháu xin một bi! 

-Vô đây! 

Tôi dẫn nó vào lán, ngắt trong cái bọc nhỏ, cho nó một bi thuốc lào. Rít xong hơi thuốc, nó nói: 

– Hôm nay, đội cháu có mấy thằng được chỉ định nên khung, mổ nợn cho cán bộ bồi dưỡng. Cháu không được đi. Tiếc thật! 

– Mổ lợn đâu có gì thích mà mày tiếc? 

– Thích chứ! Ðược xơi thịt! 

– Cán bộ cho ăn hả? 

– Không. Làm gì có người tốt thế! 

– Vậy ăn bằng cách nào? 

– Khi được chỉ định đi mổ nợn, thằng nào cũng phải măc hai nớp quần. Nớp trong được bó sát vào bìu dái như cái quần xì của người miền Nam. Ðến núc xẻ thịt thì xén vài cục, nén dấu vào quần, dưới bìu dái. Trước khi về, cán bộ bắt đứng xếp hàng, mò xét khắp ngườii, nhưng không mò dưới bìu dái. Thế nà thoát! 

-Tụi mày tài thật! 

– Cách này dùng mãi, bị phát giác. Chúng nó bắt cởi đồ, chỉ còn độc cái quần trong, thò tay sờ vào quần, sờ nắn trong háng, nhột bỏ mẹ. Bắt gặp có dấu thịt, chúng nó dần cho nát đòn và cùm vào nhà kỷ nuật. 

– Khó khăn, nguy hiểm như vậy, tụi mày không sợ? 

– Trong khó khăn nẩy sinh sáng tạo. Chúng cháu nghĩ ra được cách giấu thịt, chỉ có trời biết. 

Nó ngừng lại, chỉ tay vào túi tôi: 

– Chú cho cháu thêm bi thuốc! 

– Mày có tài thật, đang kể chuyện tới hồi gây cấn là ngừng lại, đòi thứ này, thứ nọ. 

Dù cằn nhằn nhưng tôi vẫn ngắt cho nó bi thuốc lào thứ hai. Nó cẩn thận cho bi thuốc vào nõ điếu, châm mồi lửa, rít một hơi dài…Tôi giục: 

– Kể tiếp đi. Cái mánh lới giấu thịt của mày! 

– Thằng nào được chỉ định đi mổ lợn, khi trở về đội cũng phải nạp cho thằng đội trưởng hai cục thịt bằng ngón chân cái. Không có, nó thụi vào bụng cho thổ huyết! 

– Tao không muốn nghe chuyện thằng đội trưởng của tụi mày. Hãy kể phương pháp dấu thịt mà mày cho rằng sáng tạo. 

– Vâng! Phương pháp này không cần phải chuẩn bị đồ nghề gì cả. Lúc xẻo thịt, nếu cán bộ không để ý, cứ xén từng cục, cho vào mồm xơi tươi! 

– Ăn thịt sống hả? 

– Vâng! Xơi thịt sống thì đã có sao? 

– Tụi mày ăn uống như người tiền sử! 

– Người tiền sử nà người xứ nào mà ăn uống như chúng cháu? 

– Chẳng phải xứ nào cả! Ðó là tổ tiên của chúng ta nhiều triệu năm về trước. Khi chưa tìm ra lửa, loài người phải ăn thịt sống. 

– Ðấy! Họ vẫn khỏe mạnh, sinh tồn đến ngày nay. Cọp beo cũng thế! 

– Hãy nói vấn đề lấy thịt. Tụi mày ăn tại chỗ, nhưng làm sao lấy về cho thằng đội trưởng? 

– Chúng cháu xén sẳn vài cục, khi có nệnh về nà cho vào mồm nuốt ngay. Bọn cán bộ dù có con mắt thánh cũng không bắt gặp. Xét xong, chúng cháu vội về đội, móc họng, nôn ra niền, nạp đủ số cho thằng đội trưởng. 

– Rồi thằng đội trưởng ăn bằng cách nào? 

– Hắn rửa cục thịt sạch chất nhớt, cho vào ca cống, đun lên nà có được bữa ăn ngon. 

Nói xong, thằng Ný đứng dậy: 

– Cháu phải về gánh cơm cho đội thông tầm. Cái chân chú đau, không nên đi đứng nhiều. 

Nó quay lưng, ra khỏi lán. 


Nhìn đôi vai gầy guộc của nó rút lại như đôi vai cuþa người bệnh ho lao, tôi gọi:

-Ný! Mày trở lại lấy vài bi thuốc lào, đêm nay hút cho đỡ lạnh! 

Vào những ngày cuối năm, trời bỗng dưng trở lạnh. Mưa phùn lất phất trên những vòm cây. Ðồi nương ẩm đục. Ngày hai mưới chín tháng Chạp, được phép trại trưởng, các đội khỏi phaþi xuất trại lao động bên ngoài. Thay vào đó, anh em được giao công tác dọn dẹp và làm vệ sinh trong trại, chuẩn bị đón Tết.

Tôi đang ngồi nhổ coþ dọc theo những chân tường ngăn chia các đội. Thăng Ný đi ra. Hôm nay nó mặc bộ đồ lành lặn, sạch, mặt hiện niềm vui. Tôi nói: 

– Chưa Tết mà ngó mày, tao đã thấy mùa xuân! 

Nó báo tin: – Cháu được mẹ từ Vĩnh Yên nên thăm. Bộ đồ này cháu mượn của thằng bạn, để mẹ cháu không nhìn thấy cháu rách. Cháu đang chờ cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi. 

– Mày ngon rồi! Vừa có đồ ăn của trại, vừa được mẹ tiếp tế thêm. Tết này mày huy hoàng! 

– Vâng! Huy hoàng thật! Cháu không ngờ may mắn đến thế! 

Khoảng hai giờ chiều, cán bộ dẫn thằng Ný về trại, tay ôm bụng, mặt nhăn nhó, tái nhợt. Ngờ nó bị trúng gió, tôi theo nó vào lán. Nó nằm vật lên sạp, lăn lộn, kêu đau bụng và lạnh. Tôi hỏi mượn mấy thằng bạn của nó ve dầu nóng để cạo gió. 

Thằng đội trưởng hình sự đứng nhìn một lúc, nói: 

– Chả phải trúng gió đâu! Nó bị bội thực đấy! Móc họng nôn ra là khỏi ngay! 

Nhiều thằng khác lao nhao: 

– Nôn đi! Nôn đi! 

Thằng Ný trườn về bìa sạp, rướn cổ, thò đầu ra ngoài, cho ngón tay vào miệng. Có thằng la lớn: 

– Hãy khoan! 

Và nó chạy ra ngoài, đem vô một cái thau bằng nhựa, bưng thau kề sát miệng thằng Ný: 

– Hãy nôn vào đây! 

Thằng Ný móc họng, ụa mữa. Ðồ ăn lẫn nhớt dãi tuôn trào xuống thau. Thằng bưng thau bóc lên những miếng thịt còn dính lòng thòng nhớt dãi, đưa lên miệng ăn. Một thằng khác đang đói cũng ăn. 

Có thằng nhăn mặt: – Gớm quá! 

Thằng bưng thau nói: 

– Gớm gì? Từ bụng kia sang bụng nọ mà thôi! 

Sáng mồng một Tết, mọi người quy tụ ra sân trại coi anh em văn nghệ trình diễn. Có đàn và trống xập xình vui tai. Tôi gặp thằng Ný đang lóng ngóng coi hát. Tôi hỏi: 

– Mày khỏe hẳn chưa? 

– Hôm sau nà khỏe ngay! 

– Mẹ mày thăm nuôi, sao tao thấy mày đi vào tay không? 

– Nhà cháu nghèo, không có tiền sắm sửa. Thăm nuôi là thăm cho có nệ thế thôi! Mẹ cháu chỉ mang cho cháu một con gà nuộc, và một cân xôi. 

– Sao không đem vô trại, để dành ăn từ từ? 

– Nếu đem vô trại, mấy thằng đầu gấu, chúng nó giành giựt cả. Thế cháu mới xơi hết tại chỗ! 

Tôi trợn mắt: 

– Mày ăn hết một lần hết con gà và cân xôi? 

– Vâng! Không còn cách nào khác! Lúc thì dư thừa phải nôn ra, bây giờ thì đói. 

Nhìn thằng Ný, tôi thấy nó đang tàn tạ, khô héo dần. Nó không có mùa Xuân.

Viễn Thám

Lâm Chương Post by Sơn râu 17 July 2023

Bảy thằng Viễn Thám chúng tôi được trực thăng vận vào vùng hành quân. Theo kế hoạch, giữa trưa sẽ nhảy xuống khu rừng giáp ranh đồn điền cao su Choup, thuộc lãnh thổ Kampuchia. Nhưng mấy thằng phi công ôn dịch cứ bay tít ở trên cao, và lượn tới lượn lui mãi. Chắc nó muốn ăn đạn phòng không? Nó không biết phía dưới có hàng vạn quân Bắc Việt đang giương mắt ngó lên sao? Bay lượn cái kiểu trêu người này, chẳng khác nào báo cho địch biết rằng, tao sắp thả mấy thằng Viễn Thám xuống đây, hãy chuẩn bị bắt nó. Nhưng làm sao nói với thằng phi công? Lỗ tai nó đã bịt kín lại bằng cái máy nghe. Gió tạt mạnh và tiếng cánh quạt phần phật làm át đi mọi tiếng nói. Không những thế, nó còn làm sai bét cả nguyên tắc nghi binh của Viễn Thám. Một chiếc trực thăng đổ quân, hai chiếc Cobra yểm trợ có trang bị đại liên và rocket, sà xuống bắn xối xả, ít nhất là vài ba cái trảng trống trong rừng. Trong những lần sà xuống ấy, chúng tôi nhảy ở một nơi đã được chọn lựa trước, để địch không biết chắc chúng tôi xuống điểm nào. Đằng này, sau khi quần cho đã, bỗng chiếc đổ quân hạ ngay xuống điểm chính. Hai chiếc Cobra kè hai bên, bắn qua loa vài phát. Xong, cất đầu lên, bay về luôn. 
Thằng Sử trợn mắt nhìn theo, chửi thề: “Đù má! Nó làm ăn cái kiểu gì kỳ cục vậy?” 

Không ai có thì giờ ở đó mà chửi phụ hoạ theo thằng Sử. Chúng tôi lủi nhanh vào lùm rậm. Kiểm lại quân số. Rồi tức tốc rời khu vực vừa đổ quân, càng xa càng tốt. Chậm trễ, địch kéo tới bao vây thì bỏ mạng. 

Vào đất Kampuchia lần này, chúng tôi có nhiệm vụ theo dõi tình hình và ghi nhận những nơi tập trung quân của địch. Đây không phải lần đầu tôi nhảy toán. Nhưng chuyến đi này, tôi lo lắng rất nhiều, nếu không nói rằng sợ. Theo tin phòng nhì, Công Trường 7 và Công Trường 9 của Bắc Việt, hiện đang có mặt trong vùng rừng rậm Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt, trải quân chiếm cả hai đồn điền cao su Choup và Mimot. Mấy tháng trước, chiến đoàn phối hợp nhị thức Bộ Binh Thiết Giáp, vào Choup và đã bị đánh bật ra ngoài, gây tổn thất khá lớn về nhân mạng. Sau đó, người ta không muốn dùng lực lượng bộ binh để tấn công vào đồn điền nữa, vừa tốn kém nhiều, lại không nắm chắc được phần thắng. Vì thế, Không Quân và Pháo Binh được nghĩ đến. Và Viễn Thám được điều động vào vùng, để đưa những mục tiêu lên “lưới”. 

Liên tiếp trong hai tuần lễ vừa qua, có hai toán Viễn Thám được thả vào đồn điền Choup. Nhưng tất cả đều mất tích một cách khó hiểu. Những chàng Kinh Kha thời đại, chẳng ai tiễn qua sông mà cũng một đi không trở lại. Toán chúng tôi là toán thứ ba. Kế hoạch có thay đổi chút ít. Xuống ở vùng rừng rậm, để từ đó, mò vào Choup. Lấy hướng Đông, xuyên qua đồn điền, về điểm hẹn tại biên giới Việt Nam. Trên đường đi, sẽ chấm toạ độ đóng quân của địch, đưa lên “lưới viễn thám” cho phi pháo oanh kích. Nhiệm vụ đơn giản chỉ có thế, nhưng thi hành thì tính mạng ngàn cân treo sợi tóc. 

Từ nửa tháng nay, tinh thần chúng tôi hơi căng. Lúc những đơn vị lớn nằm án binh bất động, là lúc bọn Viễn Thám lao vào vùng địch. Thời gian hạn định cho một chuyến công tác là ba ngày hai đêm. Đã hơn mười ngày rồi, hai toán trước vẫn biệt tăm. Máy siêu tần số của trung tâm vẫn trực 24/24. Không một tín hiệu gọi về. Đứt liên lạc. Tình hình địch ra sao, không nắm vững. Trong chiến tranh, mạng người như những đồng bạc lẻ, tiêu pha không tiếc. Mất mười bốn thằng Viễn Thám, chẳng nghĩa lý gì so với với những thiệt hại vừa qua ở Dambert, Soul, Mimot, Choup. Thí mạng thêm bảy thằng Viễn Thám nữa, để thăm dò tình hình địch, không phải là một cái giá quá đắt. 

Tôi được gọi lên phòng thuyết trình, nhận lệnh hành quân. Sáu thằng trong toán lảng vảng bên ngoài, lo lắng. Khi tôi bước ra, không thằng nào lên tiếng hỏi, nhưng những cặp mắt ái ngại nhìn tôi, chờ đợi một câu trả lời. 

Tôi nói ngắn gọn: “Chuẩn bị.” 

Có mấy tiếng lảm nhảm chửi thề. Đó là dấu hiệu của sự bất mãn. Trong cái đầu của những thằng lính trận, hình như luôn luôn có sự bất mãn. Và miệng sẵn sàng tuôn ra những câu chửi thề vô tội vạ. Bất mãn, chửi thề là cái bệnh chung của anh em. Không cần chữa trị, căn bệnh này cũng biến mất lúc đứng trước thượng cấp. Vì thế mà kỷ luật được duy trì, mệnh lệnh được thi hành một cách triệt để. 

Trong lúc anh em lo kiểm lại cấp số đạn dược, và sơn mặt ngụy trang, tôi bảo trung sĩ Năng lên kho tiếp liệu, lãnh khẩu phần cho cả toán. 

Khi vác khẩu phần về, Năng nói: “Kèo nài mãi, mới xin dư được một túi mưu sinh.” 

Thằng Nhiêu hỏi: “Để làm gì?” 

“Bán cho mấy thằng trực thăng. Cũng được chầu nhậu linh đình.” 

“Chưa biết còn mạng trở về hay không. Nói chi đến chuyện nhậu.” 

Năng sừng sộ: “Đù má! Sắp hành quân. Miệng ăn mắm ăn muối, đừng nói bậy nhe.” 

“Mày là thằng sợ chết nhất. Mới cưới con vợ ngon lành. Sáu tháng chưa về phép. Đêm ngủ mộng tinh. Bỏ vợ nhà lâu quá, hôi ê.” 

Anh em cười rộ. 


Năng nhìn tôi: “Xong chuyến đi này, trung úy đề nghị cho tôi về phép?” 

Tôi trợn mắt: “Mày giỡn? Tình hình đang căng thẳng, cấm trại trăm phần trăm. Ai dám cấp giấy phép cho mày?” 

“Lúc nào cũng nghe nói tình hình căng thẳng, và cấm trại. Đánh giặc lâu dài, chứ đâu phải đôi ba bữa là xong. Không thể trấn con người ta vô rừng mãi được. Phải liệu cách giải quyết chứ?” 

“Mày có gan thì lên gặp Đại Bàng Già mà khiếu nại. Trên ổng còn có Mặt Trăng, Mặt Trời, Bắc Đẩu…, cứ theo hệ thống quân giai mà khiếu nại dài dài lên Tổng Thống. May ra trường hợp của mày được giải quyết.” 

“Những thằng lính văn phòng, chẳng cần phép tắc mà vẫn tà tà ở thành phố, ôm đít vợ hằng đêm. Còn mình trông cái phép gần chảy máu mắt, không được. Bất công!” Năng càm ràm. 

Tôi nói: “Bất công là lẽ thường. Trên cõi đời chó má này, làm gì có sự công bình?” 

“Nghĩ tức. Nhiều khi muốn đào ngũ.” 

“Cứ đào ngũ đi. Bọn Quân Cảnh ngồi ngáp gió, không có việc gì làm. Nó đang chờ mày đấy. Còn ở đây, không có mày thì có thằng khác thế vào.” 

Thượng sĩ nhất Sử, nói: “Năng ơi, trước khi hành quân, mày đừng lải nhải ba cái chuyện đó nữa, được không? Nhìn bộ mặt nhăn như cái bánh bao của mày, tao nản!” 

Thằng Sử là toán phó Viễn Thám. Nó ra trường Đồng Đế năm mười chín tuổi. Liều mạng và háu đá. Năm năm chiến trường, chưa một lần bị thương. Nó khoe, thầy của nó tu luyện ở Thất Sơn, chuyên môn uống máu dơi và ăn gan rắn hổ. Ngày vẽ bùa trấn ma. Đêm ngậm ngải mà ngủ. Cái nanh heo rừng, nó đeo lủng lẳng trước ngực, thầy nó đã tươm bùa vào rồi. Nó coi cái nanh này là một thứ bùa hộ mạng, bom đạn không thể xâm phạm được nó. Từ tiểu đoàn Biệt Động Quân, nó xin qua Viễn Thám. Mới đầu, tôi không chịu nhận nó vào làm toán phó. Tôi chỉ cần thằng nào dè dặt và cẩn trọng, chứ không cần liều mạng và háu đá. Bởi nhiệm vụ của chúng tôi là theo dõi địch tình, và né tránh tối đa những đụng độ. Nhưng nó nói, ông thầy yên tâm đi, thằng Sử này cũng biết tùy hoàn cảnh, không phải lúc nào cũng làm ẩu đâu. Tôi nhận, và đề nghị cho nó đi thụ huấn một khoá Viễn Thám ở Dục Mỹ. Học xong, nó về với tôi, đã hơn năm. Sau những lần vào ra hang hùm, tôi thấy nó đã biết… sợ. 

Từ lúc đổ quân cho đến chiều, chúng tôi luồn lách trong khu rừng rậm. Phát hiện nhiều dấu vết di chuyển của địch qua cây cỏ bị rạp. Phần lớn rạp xuôi về hướng đồn điền. Chiều gần chạng vạng, chúng tôi dừng lại bên ven rừng, giáp ranh đồn điền. Dự định “lót ổ” qua đêm. Tôi mở máy siêu tần số, báo về trung tâm hành quân những gì đã nhìn thấy, và ước đoán tình hình địch đang dồn thêm quân về Choup. 

Có tiếng của Đại Bàng Già: “Dấu vết mới hay cũ?” 

Tôi trả lời: “Có mới, có cũ.” 

Lệnh Đại Bàng Già: “Ngày mưa phùn. Chồn Đầu Bạc lần theo dấu mới. Hết.” 

Trong đặc lệnh truyền tin, “ngày mưa phùn” là ngày mai. Ám danh của trưởng toán 3 Viễn Thám là Chồn Đầu Bạc. Chẳng biết tại sao, khi làm đặc lệnh truyền tin, người ta lại lấy tên của con thú đặt cho tôi? Đã là chồn, thì có chồn hôi, chồn mướp, chồn đèn. Làm gì có chồn đầu bạc? 

Có lần, đang ngồi chơi trước Bộ Chỉ Huy, trông thấy vị sĩ quan truyền tin đi qua, tôi gọi: “Ê! Thuận Phong Nhĩ. Sao đặt tôi là Chồn Đầu Bạc? 

Hắn cười: “Chồn già.” 

“Trai ba mươi tuổi còn son. Gái ba mươi tuổi đã toan về già. Tôi ba mươi, sao gọi rằng già?” 

“Già mưu mô, như con chồn của La Fontaine dụ con gà trống gáy. Còn bạn, sao gọi tôi là Thuận Phong Nhĩ?” 

“Trong Tây Du Ký, Thuận Phong Nhĩ là thằng truyền tin của Ngọc Hoàng, có cái lỗ tai nghe xa ngoài ngàn dặm.” 

Hắn gục gật cái đầu: “À, ra thế.” 

Rồi bỏ đi. Cái tướng phục phịch như con gấu đực, nhưng vô cùng chung thủy. Không bao giờ hắn chơi đĩ. Hắn sợ mắc tiêm la, rồi sang mầm bệnh cho vợ. Nhiều thằng lén rỉ tai, hắn bị vợ khoá cu, không cho chơi bậy. 

Tôi chọn chỗ ngủ có nhiều gai góc, và lùm bụi che khuất. Ban đêm, nếu địch di chuyển qua đây, cũng phải né tránh những nơi vướng mắc khó đi. Thế là chúng tôi được an toàn. Bóng tối đổ xuống rừng già rất nhanh. Đêm mù. Khí ẩm hơi sương. Thỉnh thoảng, có những trận gió cuốn qua, rào rào trên đọt cây. Tiếng hú của cú mèo, như tiếng ma kêu. Tiếng “cốc cốc” của con chim gì không biết, như tiếng gõ nhịp song lang. Chúng tôi nằm im, nhưng không thằng nào ngủ được. Nghĩ đến mai đây, lần theo dấu địch vào đồn điền cao su, ai cũng ớn xương sống. Địch đông như kiến cỏ. Chúng tôi chỉ bảy thằng. Nếu bị lộ tung tích, biết chạy đàng nào? 

Thằng Năng, nằm kế bên tôi, thì thầm: “Xong chuyến này, thế nào trung úy cũng ráng tìm cách cho tôi về thăm vợ vài ngày?” 

Thì ra, thằng Năng không ngủ vì nhớ vợ. Chẳng phải như chúng tôi, không ngủ vì lo một ngày mai. 

Tôi nói nhỏ: “Lúc này, cầm giấy phép về phố, Quân Cảnh cũng nắm đầu. Tao sẽ năn nĩ, xin Đại Bàng Già cấp sự vụ lệnh cho mày đi công tác. Lợi dụng chuyến đi này, mày ghé về thăm vợ.” 

“Trung úy hứa thì giữ lời nhe.” 

“Tao giữ lời. Còn cấp trên chịu cho hay không, là chuyện khác.” 

“Tôi nghĩ, trung úy nói là ổng thông cảm liền.” 

Tôi nằm xích lại gần Năng hơn: “Tao hỏi thiệt. Đêm động phòng, vợ mày còn nguyên không?” 

“Làm sao biết còn hay không?” 

“Rách màng trinh, chảy máu.” 

“Tối quá. Không nhìn thấy.” 

“Có tỏ vẻ đau đớn không.” 

“Không biết. Chỉ nằm im như khúc gỗ. Có thể đau, nhưng mắc cở nên cắn răng chịu đựng.” 

“Có “bót” không?” 

“Bình thường.” 

Tôi vặn: “Bình thường là sao?” 

Năng lí nhí: “Hỏi khó nói quá.” 

“Mày như con bò rừng. Chỉ biết hùng hục, chẳng nhận xét gì cả.” 

Năng nói, nghe rất tội nghiệp như tự nói với chính mình: “Người ta thương mình. Chịu làm vợ mình, đủ rồi. Mất hay còn trinh, không quan trọng. Miễn sau này, đừng bậy bạ với thằng nào. Trước khi lấy người ta, mình cũng… tơi bời hoa lá, chứ tốt lành gì, mà đòi hỏi người ta còn nguyên xi.” 

Nằm một lúc lâu, Năng khều vai tôi: “Hồi còn bên Trinh Sát, nghe trung úy sắp cưới vợ?” 

Tôi nói: “Xù rồi.” 

“Ai xù?” 

“Đàng gái.” 

“Tại sao?” 

“Ông bố của cô ta bảo, khi nào tao xin được về văn phòng, mới chịu cho đám cưới. Mà gia đình tao nghèo, không quen “gốc lớn”. Làm sao xin?” 

“Thương thì lấy. Văn phòng hay tác chiến, đâu quan trọng?” 

“Ổng sợ con ổng sớm thành goá phụ.” 

Năng chửi thề: “Đù má! Đi tác chiến, đều là những thằng gia đình nghèo nàn, không thân thế. Sống hùng sống mạnh, nhưng không không sống lâu.” 

“Thôi, ngủ đi Năng ơi. Khuya, mày còn lên phiên gác.” 

Tôi lan man nghĩ về cô sinh viên Sư Phạm. Tưởng mối tình sẽ tốt đẹp, sau khi cô ra trường. Nào ngờ, bố cô như một bóng đen trùm xuống với một điều kiện, mà tôi biết rằng tôi không đủ khả năng thực hiện. Thế là cô ta đi lấy chồng. Rồi mọi chuyện cũng đâu vào đó. Cô vẫn bình thường, như chưa từng trải qua một lần thề sống chết với tôi. Khi tôi tình nguyện qua Viễn Thám, có thằng bảo tôi thất tình, lao vào chỗ chết. Tôi chỉ cười. Thật ra, tôi có buồn buồn một thời gian. Nhưng không quằn quại đau thương bỏ ăn mất ngủ, đến nỗi điên khùng muốn tự tử, như mấy thằng bạn nói. 

Rọ rạy một hồi, Năng lại hỏi: “Không cưới được vợ, có thất tình không?” 

Tôi nói có. Năng bảo nhiều thằng vì thất tình mà trở thành thi sĩ. Và hỏi tôi có làm thơ thất tình không? 

Tôi trả lời bằng cách đọc ẩu: 

Em như cục cứt trôi sông 
Anh như con chó đứng trông trên bờ 
Em như cục cứt dật dờ 
Anh như con chó trên bờ đứng trông. 


Năng cười rúc trong cổ: “Thơ thất tình gì mà chỉ thấy chó với cứt. Con vợ tôi nghe được bài thơ này, chắc cười chết bỏ.” 
Tôi nhắc lại lần nữa: “Thôi, ngủ đi Năng ơi. Khuya, mày còn lên phiên gác.” 
Trời hừng sáng. Đủ loại chim rừng hót rộ trên cây. Chúng tôi nhìn nhau, thấy lạ. Màu chàm ngụy trang trên mặt cho tiệp với màu xanh cây lá, đã đã làm mặt người đổi khác. Tôi trải tấm bản đồ, chỉ cho cả toán biết điểm tập trung trong ngày, nếu chẳng may thất lạc. 
Lại dặn dò hạ sĩ Nhiêu: “Mày đi đầu, không cần phải theo đúng phương giác địa bàn. Tùy theo địa thế mà đi. Phải hết sức cẩn thận.” 
Theo đội hình hàng dọc, Nhiêu là khinh binh đi đầu, kế là tôi…, và thằng Sử toán phó, đi sau cùng. 
Đồn điền Choup. Những cây cao su được trồng ngay hàng thẳng lối. Thân cây già cỗi, to đến cả người ôm. Tàn lá rợp, che bóng mặt trời. Thời kỳ chiến tranh, đồn điền bị bỏ hoang nhiều năm. Gai mắc cở là đà ngang đầu gối. Cỏ dại gần lút đầu người. Những loài cây tạp cũng chen nhau, vươn lên cùng với cao su. Lợi dụng địa hình che khuất, quân Bắc Việt đã vào đây trú ẩn. 

Gần đứng trưa. Thằng Nhiêu dừng lại, nép vào gốc cao su, ngắc tay gọi tôi lên. 

Nó nói nhỏ: “Lắng nghe.” 

Trên trời có tiếng rì rì như tiếng của con ong bay qua. 

Tôi nói: “Con đầm già L19, bay quan sát.” 

Nó lắc đầu, chỉ tay về phía trước. Có tiếng nói văng vẳng, vọng lại từ xa. Thỉnh thoảng có tiếng động, hình như tiếng chặt cây. 

Tôi ngó về phía sau, làm thủ hiệu cho anh em bố trí tại chỗ. Tôi và thằng Nhiêu len lỏi mò lên. Không dám tới quá gần vì sợ bị lộ, nhưng tôi cũng ghi nhận được những dữ kiện cần thiết để ước đoán tình hình. Khi quay lại chỗ cũ, tôi mở máy báo về trung tâm hành quân. Thuận Phong Nhĩ tức tốc gọi Đại Bàng Già đến ngay đầu máy. 

Tiếng Đại Bàng Già: “Tao đưa mục tiêu lên “lưới”. Chồn Đầu Bạc xáp lại gần, quan sát, điều khiển “thiên lôi” làm việc, và cho biết kết quả. Hết.” 

Trời đất! Phi pháo dội xuống mục tiêu. Quân địch như ổ kiến lửa, bị động sẽ bung tràn lan ra ngoài. Đại Bàng Già bảo xáp lại gần. Ông tưởng bọn tôi có thể tàng hình trước con mắt địch quân hay sao? 

Tôi bảo mấy thằng trong toán: “Lệnh là thế. Nhưng tụi mình phải “dọt” khỏi chỗ này cho xa.” 

Chúng tôi đổi phương giác. Né tránh mục tiêu. Chừng mười lăm phút sau, pháo nổ ầm ầm dữ dội. Dứt đợt pháo, phản lực cơ bắt đầu gầm thét và thả bom Napalm, đốt cháy một khu vực đồn điền. 

Đang di chuyển, tôi nghe tiếng Đại Bàng Già hỏi, tốt không, có cần điều chỉnh gì không? 

Nhìn về phía mục tiêu, tôi nói tốt rồi. Đâu biết phi pháo dội có chính xác hay không. Tôi nghĩ, dù sao cũng phải lo cho mạng sống của bảy thằng chúng tôi trước. Bỗng có tiếng súng AK nổ dòn, bên hông trái đội hình. Tiếp theo, nhiều loạt súng khác nổ ran. 

Trời ơi! Né tránh chỗ đóng quân, lại đâm đầu vào “chốt” tiền đồn của địch. Tôi la lên trong máy: “Đụng rồi.” Và bấm cái nút báo động đỏ. Máy siêu tần số trang bị đặc biệt cho Viễn Thám, khi bấm nút đỏ, sẽ tự động báo nguy về máy trung tâm bằng những tiếng “cạp… cạp… cạp…” liên tục, như tiếng vịt kêu hoảng hốt. 

Chúng tôi vừa bắn trả, vừa tạt về bên phải. Chạy! Tiếng súng đuổi nà theo sau lưng. Phi pháo vẫn hoành hành ngút khói tại mục tiêu chính. 

Chạy trối chết ra khỏi đồn điền, chúng tôi lủi nhanh vào rừng rậm, nơi đã dặn dò điểm tập trung. Kiểm lại quân số. Không thấy thằng Nhiêu. Những cặp mắt tởn thần mở lớn, chưa hết nỗi kinh hoàng. Địch quân đang truy lùng khắp khu vực. Tôi liên lạc về trung tâm, báo tổn thất của ta, và ước đoán thiệt hại của địch. 

Lệnh của Đại Bàng Già: “Tung tích đã bị lộ. Lo dọn bãi đáp. Trực thăng bốc về.” 

Trong khi ẩn trốn, chờ thằng Nhiêu, tôi mệt mỏi nằm gối đầu trên chiếc ba lô. Đến chiều vẫn không thấy tăm hơi. Có thể nó đã gục ngả ngay đợt nổ súng đầu tiên. Nếu tính cái giá hơn thua bằng xác chết, thì mất một thằng Nhiêu, đổi lại bao nhiêu sinh mạng địch quân trong trận oanh kích vừa qua. Nhưng tình cảm con người, không đơn giản như đơn vị đo lường. Chúng tôi buồn thảm nhìn nhau. Tự dối lòng, biết đâu thằng Nhiêu vẫn còn thất lạc đâu đó. 

Ngày thứ ba, kể từ khi vào đất Kampu chia. Không thể xuyên qua đồn điền để về điểm hẹn tại biên giới Việt Nam. Chúng tôi đi ngược về phía rừng già, tìm bãi bốc trực thăng. Nhưng trực thăng không xuống được. Những con chuồn chuồn vừa lảng vảng vào khu vực, đã bị phòng không từ dưới đất bắn lên. Đành phải bay về. Địch quyết phong toả vùng trời, để chận bắt cho được chúng tôi. Liên tiếp hai ngày sau, vẫn thế. 

Lương thực mang theo đã cạn. Chúng tôi bắt đầu mở túi mưu sinh. Túi này chỉ trang bị đặc biệt cho Viễn Thám. Những chàng phi công phải mang dù khi cất cánh, đề phòng bất trắc. Còn chúng tôi được trang bị túi mưu sinh, phòng khi gặp khó khăn không trở về đúng thời hạn. Trong túi chứa đủ thứ lỉnh kỉnh. Thuốc tăng sức, dùng khi có biến phải chạy thoát thân. Chẳng biết đây có phải là thứ thuốc chích cho ngựa chạy trường đua hay không. Dẫu sao điều này cũng không thực tế. Vì khi gấp rút chạy bán mạng, thì giờ đâu mà mở túi mưu sinh để lấy thuốc? Thuốc chống buồn ngủ, dùng ban đêm, lúc cần phải tỉnh thức canh chừng. Thuốc muỗi thoa ngoài da. Thuốc lọc nước, có công hiệu sát trùng rất mạnh. Sáu cái bánh mặn, theo chỉ dẫn, mỗi ngày chỉ dùng hai cái. Những viên thịt bò khô màu nâu, mỗi viên làm ngọt nước một tô canh. Một chùm lưỡi câu, lớn bé đủ loại. Một cuộn dây cước màu xanh nhạt, làm dây câu cá. Và sau cùng là quyển sách nhỏ, in hình một số cây lá trong rừng, cùng những lời giải thích để phân biệt loại nào có thể, và không thể ăn. 

Có túi mưu sinh, chúng tôi vẫn bị đói. Không tìm được cây, lá, củ, trái nào giống như trong sách chỉ dẫn. Có lần, moi được củ khoai, như một loại khoai mỡ, ruột màu vàng nhạt. Thằng Năng bảo khoai nần. Muốn ăn phải xắt lát, ngâm nước vài ngày cho ra hết chất độc, sau đó phơi cho thật khô, rồi mới luộc. Nhưng thằng Sử cắn một miếng nếm thử. Nó khẳng quyết đây là một trong những loại khoai mỡ, và muốn lên lửa để nấu. 

Tôi nói: “Muốn chết hả? Nếu địch quân nhìn thấy khói, dù bọn mình có mọc cánh cũng bay không thoát.”

Sau chừng mười phút, bàn ra tán vào về cái củ khoai lạ, môi miệng thằng Sử bị ngứa và sưng vều lên. Mọi người đều hoảng. Cũng may, nó chỉ nếm thử, chứ chưa nuốt. 

Chúng tôi xuống sức vì đói. Đêm nằm trong vùng đất ẩm, lại bị vắt hút máu. Mặt người phờ phạc. Tinh thần khủng hoảng. Tôi thường xuyên kêu cứu về trung tâm. Nhưng mỗi lần trực thăng vào vùng lại bị phòng không. Địch biết chúng tôi chưa ra khỏi vùng, báo động khắp nơi. Chúng tôi lẩn vô rừng già. Đi về hướng Bắc, nơi có lữ đoàn Dù đang hoạt động ở Dambert. Hy vọng đi gần về phía quân bạn, sẽ bớt được áp lực của địch. 

Tiết trời nóng nực, mà rừng rú vẫn xanh um cây lá. Tiếng ve buồn râm ran mùa hạ. Như những con thú hốt hoảng, chúng tôi sợ hãi bất cứ tiếng động nào. Sợ nhất là những con chim “tắc cọ”. Loài chim quái ác! Mỗi khi thấy có người đi, nó sẽ lượn theo mãi ở trên đầu, và la “tắc cọ… tắc cọ…” vang cả rừng. Gặp trường hợp này, phải dừng lại ngồi im trong lùm, không dám động. Kêu một hồi không thấy ai, nó sẽ chán, và bay nơi khác. Ngược lại, cũng nhờ chim “tắc cọ” báo động, mà chúng tôi biết địch đang di chuyển từ xa, để kịp thời tránh né. Lính hành quân trong rừng, gọi loài chim này theo cái tên nhà binh: “chim tiền sát”. 

Chúng tôi lại chạm địch lần thứ hai. Hoả lực địch rất hùng hậu. Tôi biết ngay đây là một đơn vị lớn, không phải “chốt” tiền đồn. Chúng tôi thối lui, đồng thời ném những trái mini lựu đạn về phía sau, nhưng không cản được bước địch. Súng nổ rát bên mang tai. Địch đuổi theo, truy bức. Tôi thấy thằng Năng chạy cà nhắc. Một chân nó đã bị đạn. Tôi lướt tới, kè thằng Năng bằng cách nắm cánh tay của nó choàng qua vai mình, lôi bừa. 

Năng lắc đầu tuyệt vọng: “Thôi, chạy đi.” 

Tôi hét: “Ráng!” 

Nó xô tôi ra: “Không được.” Và sà xuống một gốc cây, xả súng bắn ngược về phía sau cản địch, cho những thằng còn lại thoát thân. 

Từ hai ngày trước, tôi yếu sức vì đói. Nhưng bây giờ, tôi chạy rất khoẻ. Đôi chân nhanh nhẹn lạ thường. Tuôn qua những gai góc, phóng qua những lùm bụi dễ dàng. Thân thể tôi dường nhẹ tênh, lướt như bay qua những chướng ngại. Những thằng kia cũng nhanh không kém. Nó chạy mà không cần biết anh em có theo kịp hay không. Nhờ thằng Năng cản địch, chúng tôi bỏ tiếng súng xa dần. Lúc dừng lại, tôi hấp tấp báo về trung tâm hành quân. Tiếng nói đứt quảng. Vừa nói vừa thở hổn hển như sắp đứt hơi. Bây giờ, tôi mới để ý đến tôi, và thấy mệt như chưa bao giờ mệt đến thế. 
Bom và trọng pháo lại dội tan tành xuống mục tiêu. Đại Bàng già quyết định, bằng mọi cách phải mang chúng tôi về. Trong khi địch đang bị sấm sét, lợi dụng cơ hội này, trực thăng lao vào vùng, thả dây cấp cứu. Năm thằng chúng tôi ôm nhau thành một khối, treo tòn ten phía dưới trực thăng. Gió ù ù rát mặt. Từ trên cao nhìn xuống, tôi thấy một vùng khói mù. Oanh tạc cơ vẫn còn tiếp tục thả bom. Giữa ngàn xanh mênh mông u uất dưới kia, có thằng Nhiêu, thằng Năng vĩnh viễn nằm lại đất Kampuchia. 
Tôi xin ra khỏi Viễn Thám từ dạo ấy. Đời lính vẫn thường chứng kiến nhiều thương đau mất mát của anh em đồng đội. Thế nhưng, những đêm nằm rừng, nghe tiếng súng xa xa, tôi lại nghĩ đến hai thằng em trong toán của tôi, nhất là thằng Năng. Tội nghiệp, sau cái đêm động phòng với vợ, nó đi luôn không bao giờ về nữa. § 

Đôi dòng cảm nghĩ về tập Hồi Ký Thung lũng Tử Thần của Vũ Ánh

Sơn râu 16 July 2023

Gấp lại quyển sách trong tay bạn đọc có những suy nghĩ cảm tưởng như thế nào sau khi đọc xong quyển sách này? Riêng tôi, người đã đánh máy lại 31 phần của tập Hồi ký đăng trên trang Web Vietmessenger trong gần hai tháng đã cho tôi có thật nhiều xúc động. Phải nói tôi đã sống cùng tác giả Vũ Ánh từ những ngày đầu khi ông bước chân vào tù cho đến những kinh nghiệm xương máu ông đã trãi qua những trại tù nghiệt ngã của chế độ. Sự tàn ác và dã man của cai tù Việt Cộng đối với tù nhân trong chế độ cùm kẹp, giam hãm và giết người không cần đến gươm dao, súng đạn. Bạn thử hình dung người tù hai chân bị cùm, nằm ngồi một chổ, tiêu tiểu cũng một chổ, ăn uống với khẩu phần:

“Như thế trung bình một ngày hai bữa trưa và tối, mỗi tù nhân biệt giam được nhận mỗi bữa 150 grams thực phẩm. Thực phẩm gồm cơm và khoai mì. Thực tế mỗi bữa ăn chúng tôi được phát 6 lát khai mì phơi khô rồi luộc chín. Sáu lát khai mì khô ấy “cõng” thêm từ 250 đến 300 hạt cơm. Người tù có nhiệm vụ chia cơm biệt giam tưới vào đó khoảng hai muỗng nước muối. Tiêu chuẩn nước bình thường là ¼ ca đánh răng nước uống. Tình trạng này dẫn đến một hiểm họa khát triền miên và phù dẫn đến chết người mà tôi sẽ đề cập ở phần sau”

Không còn gì tàn nhẫn cho bằng sự đày đọa thân xác người tù như vậy, thiển nghĩ nếu đem ra mà bắn bỏ thì họ còn có lòng nhân đạo hơn là việc đày đọa con người sống còn thua kém con vật! Vũ Ánh đã trãi qua hơn 13 năm tù trong đó có 7 năm nằm biệt giam trong chuồng cọp với hai chân bị cùm và có khi còn bị còng cả hai tay, tối đến là miếng mồi ngon cho muỗi rừng hút máu suốt đêm, bạn thử nghĩ trong điều kiện sống như thế có còn ra là một con người hay không?

Vũ Ánh đã sống và các bạn ông cũng sống trong tù với hoàn cảnh khắt khe như vậy, có người vì sức khỏe yếu kém hoặc không may đã bỏ xác vùi nông chốn rừng sâu đó. Tôi phải nói lời vinh danh sự can trường và ý chí vươn lên của ông để vượt qua những năm tháng lưu đầy khổ nạn đó. Bằng ý chí, bằng sức mạnh tinh thần bạn đọc có thể thấy qua những tiêu đề của các phần trong tập Hồi Ký

  • Tờ Hợp Ðoàn ra đời trong bí mật ở A-20 Xuân Phước trong hoàn cảnh nào?
  • Kiểu tra tấn vượt xa Đức Quốc Xã
  • Làm sao để không cúi đầu trước cường quyền?
  • Những nhân cách đáng quý
  • Đổi Sự Sống Để Cứu Một Tù Kiên Giam

Còn nữa, còn rất nhiều bạn ơi, đọc chậm rãi từ tốn để từng dòng từng chữ cũa Vũ Ánh thẩm thấu vào lòng, vào sự suy nghĩ của bạn để cảm nhận, chia sẽ những năm tháng, những thống khổ mà tác giả đã trãi qua. Đây là đời thực không phải là một câu truyện hư cấu, được viết ra với tất cả tâm tư nỗi lòng của một người phải nói là một chứng nhân lịch sử để cho tất cả mỗi người Việt Nam đều biết thế nào là Cộng sản.