Y Sỹ Tiền Tuyến

Trang Châu

Vietmessenger – typing & Post by Sơn râu 18 July 2023

Khóa 68 Nhảy Dù.

Nhiều người hỏi tôi tại sao đi học Nhảy Dù? Với mỗi người câu trả lời của tôi mỗi khác. Với những thằng bạn “phòng trà” đang mở lớn mắt  nhìn tôi, tôi chỉ nhún vai trả lời: “nhảy twist, nhảy surf biết cả rồi, chỉ còn nhảy dù chưa biết, học cho biết”. Với những người lớn tuổi tôi đứng đắn trả lời tôi học nhảy dù vì tôi có ý định sẽ xin về phục vụ binh chủng Nhảy Dù. Với anh em trong tòa soạn Tình Thương tôi bảo dưới đất hết đề tài viết nên tôi đi kiếm cảm hứng trên không để làm thơ. Với những thằng bạn hay rũ tôi làm cách mạng, làm chính trị tôi nói trước khi làm cách mạng cho dân tộc hãy cách mạng bản thân đã. Cuộc cách mạng bản thân của tôi là đi học nhảy dù rồi về binh chủng dù đi hành quân. Tôi bảo với người này là vì tôi thích cảm giác mạnh, với người kia vì tôi muốn có phù hiệu nhảy dù mang ở ngực cho oai. Với một người con gái tôi bảo tôi buồn, tôi chán đời nên tôi liều, với một người con gái khác tôi nói đi Nhảy Dù sẽ được ở Sài Gòn như vậy gần nàng hơn. Vì tôi giận gia đình, vì có người chê tôi con trai mà trắng quá… Cho đến hôm nay đã hai mươi lần nhảy ra cửa phi cơ và đáp xuống đất bình yên tôi vẫn chưa tìm thấy một câu trả lời nào thích đáng để giải thích với chính lòng mình tại sao tôi đi học nhảy dù.

Trước khi nhập học phải qua một kỳ thi loại gồm mười hai môn thể thao thi trong hai buổi sáng. Buổi sáng thứ nhất chúng tôi thi tám môn gồm có:

  1. Nằm ngữa, một người giữ hai chân, hai tay chắp vào đầu, ngồi dậy, cùi chỏ tay này chạm đầu gối chân kia bốn mươi lăm cái, tính giờ. 
  2. Hít đất ba mươi cái.
  3. Đứng thẳng, đầu gối và chân chụm lại, hai tay đưa song song đằng trước ngồi xuống đứng lên sáu mươi cái.
  4. Barre fix hít mười cái, đánh đầu gối mưới cái.
  5. Mang nón sắt, vũ khí, lấy đà nhảy qua một hố hai thước. Nhảy càng xa càng nhiều điểm.
  6. Mang nón sắt, vũ khí, túi vải, leo bảy thước giây bằng tay và chân.
  7. Mang nón sắt, vũ khí, túi vải chạy một trăm thước, tính giờ.
  8. Vác một đồng đội chạy một trăm thước, tính giờ.

Chúng tôi cố gắng một cách uể oải. Môn leo giây chúng tôi bết nhất, không ai leo nổi năm thước. Vài chuyện vui vui đã xảy ra trong buổi thi sức đầu tiên này. Chuyện vui thú nhất phải là chuyện của Bá “điên”. Buổi chiều trước hôm thi thể thao Bá nói với tôi tối hắn đi ăn cưới một cô bạn gái. Tôi dặn hắn đừng ăn nhậu nhiều và nhớ về sớm nghĩ dưỡng sức. Đến giờ giới nghiêm không thấy hắn về, tôi nghĩ chắc hắn ngủ lại đêm ở Câu lạc Bộ An Đông. Sáu giờ sáng hôm sau tôi đến trại Hoàng Hoa Thám một mình. Năm phút trước khi thi thể thao Bá lù lù đến, mặt mày hốc hác tái xanh. Hỏi lý do hắn kể:

_Hôm qua tao uống đến ba ly Wishky nên ngà ngà say. Tao chếnh choáng lái Lambretta đến bót quận Năm nói nhân viên ở đó rằng: “Tôi biết tôi sắp say lái xe thế nào cũng xảy ra tai nạn, các ông cho tôi ngủ nhờ đếm nay ở đây hoặc cho xe đưa tôi về bịnh viện Đô Thành.” Họ đã để hắn ngủ lại, trông mặt mũi hắn bơ phờ ai cũng lo hắn không đủ sức thi. Nhưng trước sự ngạc nhiên của mọi người bốn môn đầu Bá được điểm tối đa. Trong khi chờ môn thứ năm hắn ngã xuống đất nôn mửa. Sau khi được tiếp sức mấy mũi thuốc khỏe Bá anh dũng cố gắng thi nốt bốn môn còn lại. Chuyện vui thứ hai là môn thi vác đồng đội chạy một trăm thước: bọn chúng tôi lớn con cả nên người này ngại vác người kia. Thấy toán bên cạnh có ba bốn chú tân binh vừa nhỏ vừa gầy anh em Quân Y nhào tới bắt cóc. Có chú bị bắt xâu tới bốn năm lần. Được các quan vác chạy, tuy bị xóc mệt các chú vẫn lấy làm khoái chí. Chuyện vui thứ ba là giọng nói của ông Trung Sĩ Trưởng Khóa. Ông người Nùng nên tiếng Việt của ông khá đặc biệt. Muốn cho mọi người chú ý ông hay hét lớn:

_ “Nghe chơ, nghe chơ”

Để dặn mọi người phải bỏ đồ nhiều trong túi vải đeo lưng, ông nói:

_Cho cái túi nó béo béo nghe chơ, không béo không phải là Nhảy “Rù” nghe chơ.

Buổi sáng thứ hai chúng tôi thi môn chạy bộ. Lần thứ nhất chạy tám cây số trong một giờ với túi đeo vai, vũ khí. Đây là cuộc thử sức chịu đựng và cố gắng. Chỉ độ mười lăm phút sau khi khởi hành đoàn người đã phân tán ra từng toán nhỏ cách nhau hàng trăm thước. Toán sau cùng hầu hết là Quân Y. Tôi sắp hạng áp chót trong toán này. Tôi chủ trương đi chớ không chạy vì có anh bạn Nha Sĩ Dù mách nước là chỉ cần lết về tới đích , đừng bỏ cuộc, đừng ngồi nhờ xe là được, trễ giờ cũng không sao. Độ một phần ba đường, gót và bàn chân tôi bắt đầu sưng đau; cái túi đeo vai đựng toàn giấy báo cũng bắt đầu thấy nặng; cây Carbin trở nên một khối sắt chĩu vai. Tuy khát tôi không uống nước chỉ ngậm chanh. Được nửa đường thì mất hút mấy toán đi trước, hai chân tuy rã rời đau nhức tôi bắt đầu cố gắng đi nhanh. Tôi tách dần toán cuối cùng. Đằng sau tôi mọi người hè nhau chạy, họ bắt kịp tôi, vượt qua tôi rồi dừng lại lững thững đi. Tôi bắt kịp họ, họ lại vượt qua tôi, cứ như thế ngót một cây số. Giận quá, tôi bắt đầu chạy, tôi bỏ xa toán sau và bắt kịp một toán trước. Tôi về đến đích mất tám mươi phút, người về chót mất chín mươi phút. Sau hai mươi phút nghỉ chúng tôi thi môn chạy một ngàn năm trăm thước tính giờ. Lần này tôi về giữa.  Cởi giầy ra hai bàn chân tôi nổi ba bốn cục bong bóng, gót chân phải bị trầy một vết lớn. Tôi ực liên tiếp một bi đông chanh muối, một chai bia lớn, một chai coca, rồi nằm duỗi người dưới một gốc cây gòn. Vào những lúc thân thể rã rời, đẫm mồ hôi, mệt thở không muốn nổi, tôi mới thấy giá trị của một làn gió mát, một bóng cây in đổ xuống, một nền đất phẳng phiu để ngã lưng.

Buổi chiều vào nghe kết quả vòng loại. Phía binh sĩ có mười người bị loại. Tất cả sinh viên Quân Y được chấm đậu. Thật tình mà chấm chúng tôi phải ít nhất năm người bị loại. Khóa học khai giảng ngay sáng hôm sau. Khóa 68 Nhảy Dù gồm có 37 sỹ quan và 120 binh sĩ. Thành phần đến thụ huấn có hai mươi lăm quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt, mười tám sinh viên Quân Y, hai Đại Đức Tuyên Úy, một Đại Úy Thiết Giáp. Tất cả sỹ quan họp thành Toán I, ông Đại Úy Thiết Giáp làm trưởng toán. Thời gian học gồm hai tuần dưới đất, một tuần trên không. Không kể bốn mươi lăm phút thể thao bắt buộc mỗi sáng từ năm giờ bốn mươi lăm đến sáu giờ ba mươi, mỗi ngày chúng tôi học bảy tiếng đồng hồ: sáng từ bảy giờ ba mươi đến mười một giờ ba mươi, chiều từ hai giờ ba mươi đến năm giờ ba mươi. Thứ bảy cũng tập trọn ngày. Chương trình học được soạn theo từng giai đọan nhảy: trước khi lên phi cơ, trên phi cơ, nhảy ra phi cơ, sau khi dù mở, đáp xuống đất và sau khi đáp xuống đất.

Tuần lễ đầu hay giai đoạn I, là giai đoạn hành xác. Mỗi ngày có hai giờ tập té: chúng tôi tập té đàng trước, phải, trái, té ngang phải, té đàng sau, phải, trái. Chúng tôi mệt nhoài vì môn học này. Nhìn huấn luyện viên làm thì dễ đến khi  mình làm mới thấy khó. Té sai bị đau vai, đau bàn tọa mà còn bị phạt mười cái hít đất. Đến ngày cuối cùng vẫn còn vài người té chưa đúng. Đến khi đứng trên giàn sắt cao một thước lấy thế nhảy xuống đất rồi té, một sinh viên Quân Y đã phải bỏ cuộc. Anh này thấp người lại quá mập nên mặc dù đầy cố gắng vẫn không té đúng được. Môn học quan trọng thứ hai là ra cửa phi cơ. Chúng tôi tập lấy thế ở cửa phi cơ, nhảy ra và đếm. Trên phi cơ trước khi nhảy chúng tôi tâm niệm: “Năm điều ghi nhớ” sau đây: “Đứng dậy, móc vào, kiểm soát dù bạn và báo cáo kiểm soát, lấy thế ở cửa phi cơ và “go”! Môn học này nhàn nhất vì được ngôi trong lòng chiếc phi cơ phế thải nên không bị nắng. Trong tuần đầu chúng tôi còn học về hai loại dù: dù lưng và dù bụng, học cách mang và tháo đai dù, mang dù bụng. Kiểm soát và khám dù, xếp và giá dù. Vì ảnh hưởng của hai môn thi thể thao, không kể một số anh em Quân Y còn đau chân, phần còn lại vẫn chưa được khỏe nên sự tập dượt khá nhọc mệt. Cực hình của chúng tôi là những buổi tập họp, cứ một giờ học được nghỉ mười phút, xong phải tập họp lại nơi sân cờ rồi từng toán một di chuyển đến nơi có môn học. Mỗi lần di chuyển phải chạy đều và hô to: “Nhảy Dù..cố gắng”. Hình phạt áp dụng cho sỹ quan là hít đất, cho binh sĩ thì nhiều thứ: hít đất, nhảy xổm, nhào lộn, búng mũi, thoi đá, nặng hơn nửa đánh bằng gậy trong phòng kín. Hình phạt hít đất tạo sứ mạnh hai cánh tay rất hữu ích cho việc kéo dù nên được áp dụn g nhiều nhất. Nghe đâu các huấn luyện viên được lịnh mỗi ngày phải phạt mỗi khóa sinh ít nhất ba mươi cái hít đất. Chúng tôi hít đất tơi bời. Sau một ngày hành xác, tối đến chỉ lo xoa bóp dầu nóng xong lăn ra ngủ thật sớm để lấy sức chịu đựng ngày hôm sau. Một tuần lễ học Nhảy Dù quả thật là dài…

Tuần lễ thứ hai dưới đất hay giai đoạn II là tuần lễ thử thách. Mỗi ngày vẫn hai giờ té như thường lệ. Chúng tôi té xuống đất bằng ba cách: nhảy từ bục gỗ xuống, từ hai vòng sắt xuống và tuột máng xối. Hai máng xối bằng gỗ, một cái cao một thước sáu, một cái cao một thước tư. Ngồi xuôi chân tuột theo máng xối rồi lấy thế té xuống đất. Nhìn không thấy gì nguy hiểm nhưng lên tuột mới thấy ngại. Đã có một sỹ quan khóa trước bị gãy xương bàn chân vì môn này. Chúng tôi tập nhảy ra cửa phi cơ với đai và dù bụng, học thêm các môn: sau khi dù mở, xem dù, tránh bạn, gỡ dù xoắn, kéo gió xuôi, gió ngược, lấy thế đáp xuống đất bình thường, khi có gió mạnh, đáp xuống nước, mái nhà, xuống cây. Môn học chúng tôi chú ý nhất là trường hợp xảy ra tai nạn. Ở trên không có ba loại tai nạn: dù mắc vào phi cơ, dù đuôi nheo và dù số 8. Dù đuôi nheo là dù không bọc gió, dù số 8 là chiếc dù mở nhưng bị dây dù vắt ngang lá dù. Chúng tôi học cách giật và ném dù bụng phòng khi xảy ra các tai nạn trên. Chúng tôi học cách tránh dù lôi khi gặp gió mạnh; môn này lúc mới học rất chán nhưng khi có chiếc quạt máy thổi bung chiếc dù lên chúng tôi mới thấy ham thích, mặc dù nhiều khi bị lôi té lộn đến ba bốn vòng.

Nhưng môn học gây cấn nhất của giai đoạn II là hai môn nhảy đài. Đài 11 hay “chuồng cu” là một đài bằng gỗ cao mười một thước trông going giống cái chuồng nuôi bồ câu. Đài có hai cửa nhảy, mỗi bên có bốn sợi dây cáp được căng nghiêng dần vè phía một mô đất. Trên mỗi sợi dây cáp có một bánh xe sắt, mỗi bánh xe có hai dây đai dung để gắn vào hai đai dù của người nhảy. Khóa sinh mang đai và dù bụng lên đài ra cửa lấy thế hô to: “Khóa sinh số.. sãn sàng!” Khi nghe huấn luyện viên hô “GO” Khóa sinh phải phóng người ra ngoài. Nhảy đài 11 đòi hỏi sự gan dạ tập cho khóa sinh quen rơi trong khoảng không và nhảy đúng thế khi ra khỏi phi cơ. Khóa sinh nhảy đúng là người không do dự khi nghe tiếng “GO” khi nhảy ra hai chân không co, không dang ra, đầu cúi, mắt mở, hai tay ôm dù bụng và nhớ đếm số. Chúng tôi có mười hai giờ để nhảy chuồng cu, mỗi người phải nhảy tối thiểu hai mươi lăm lần. Lần nhảy đầu toán tôi có ba người ngồi trệt xuống khi nghe hô tiếng “GO” riêng một ông Đại Đức phải hô “GO” đến lần thứ năm mới chịu nhảy. Những lần nhảy sau toán tôi đều nhảy với ít nhiều khuyết điểm: người quên chụm chân, cúi đầu, người quên đếm, quên ôm dù bụng, người quên mở mắt. Quan niệm càng nhảy càng sợ được mọi người cho là đúng. Riêng tôi mỗi lần ra cửa đài là mỗi lần hồi hộp. Lần nhảy thứ hai tôi run sợ thật sự, đứng trước cửa đài nhìn xuống thấy chóng mặt, tôi có cảm giác hai chân sắp khụyu xuống. Ông huấn luyện viên trấn tỉnh tôi bằng câu:

_Trung Úy đừng sợ, an toàn một trăm phần trăm.

Nhưng đến khi nghe tiếng “GO” tôi phóng mình ra không do dự. Nhảy đến lần thứ tư tôi được xếp vào hạng nhảy đài khá nhất toán. Phía binh sĩ có ba người hô “GO” đến lần thứ năm mới chịu lết ra, một người hô “GO” đến lần thứ bảy vẫn không chịu nhảy, hai tay anh ta bấu cứng lấy cửa đài, huấn luyện viên phải bất thần dùng đầu gối đá anh ta ra ngoài. Lạ lùng nhất là một binh sĩ Lực Lượng Đặc Biệt sau tám lần nhảy đài an toàn, anh nhất định không chịu nhảy nửa, leo lên đài nửa chừng anh trở xuống; phải dẫn anh vào trình diện Trưởng Khóa, ông này dọa gửi trả về đơn vị. Ngày hôm sau anh nhảy ba cái liền trong một giờ học. Hỏi anh hết sợ chưa anh bảo vẫn cứ sợ. Không có tai nạn nào xảy ra, ngoài vài vết trầy ở cổ và háng vì dây và đai dù giật. Nhảy không đúng thế hay để rơi nón sắt bị phạt mười cái hít đất. Một tân binh nhảy dù đến phàn nàn với tôi về ông huấn luyện viên của toán anh. Anh ta nói ông ấy kỳ lắm. Tôi hỏi:

_Tại sao ông ấy kỳ? anh chàng đáp:

_Em nói nhảy chuồng cu ổng bảo sai, ông bắt phải nói nhảy lồng chim rồi ổng phạt em hai mươi cái hít đất!

Hai ngày cuối cùng của giai đoạn II chúng tôi nhảy đài 12 “đi dây tử thần”. Đài cao mười hai thước, một sợi dây cáp lớn được căng từ đỉnh đài xuôi thấp dần xuống mặt đất, một bánh xe sắt có hai tay cầm lăn trên dây cáp. Khóa sinh đứng trên đài, nắm lấy hai tay cầm, rút người lên, bánh sẽ đưa dần xuống mặt đất. Huấn luyện viên cầm một cây cờ đỏ đứng cạnh bãi cát. Khi thấy cờ phất và nghe hô “GO” khóa sinh buông tay lộn vòng theo thế đã học. Dây tử thần có mục đích thử thách lòng gan dạ, giúp khóa sinh quen nhìn cảnh mặt đất dâng lên để tránh phản ứng co chân rất nguy hiểm lúc đáp xuống đất. Ông Đại Úy Thiết Giáp Trưởng Toán  nhảy đầu, lúc phất cờ ông sợ quá không buông tay bị đưa luôn vào khung gỗ nơi sợi dây cáp được móc vào. Cả toán xanh mặt. may mắn ông không bị thương tích gì hết. Tuy nhiên ngoài việc xém tai nạn kia không có sự đáng tiếc nào khác. Ở môn nhảy này tôi bị té khá đau, đầu gối sưng và đầu chúi xuống cát. Không có chiếc nón sắt chắc tôi vỡ đầu. Một binh sĩ bị gãy xương bàn chân phải bỏ cuộc. Giai đoạn II mặc dù mệt nhọc nhưng chúng tôi ai cũng thích thú vì được sống những phút hồi hộp, mỗi ngày thưởng thức thêm “một trò chơi nguy hiểm”. Với rất nhiều hăng say và một ít e ngại chúng tôi chờ đợi ngày lên phi cơ.

Giai đoạn III là gai đoạn thực tập trên không. Bốn sauts đầu chúng tôi nhảy phi cơ C47. Loại máy bay này chỉ có một cửa nhảy và chở được hai mươi bốn người. Vì bãi nhảy dài có năm trăm thước, nên mỗi lần nhảy tối đa chỉ được có mười hai người. Saut thứ nhất chúng tôi nhảy tay không và nhảy từng đợt tám người. Còn nhớ sáng hôm đó lúc lãnh dù tôi hồi hộp lạ thường; tôi trịnh trọng mang nó lên vai xem xét cẩn thận các khóa an toàn. Cẩn thận là phải vì sinh mạng tôi được giao phó cho hai chiếc dù trong giây lát. Chiếc C47 mang chúng tôi cất cánh lúc tám giờ ba mươi sáng. Bãi nhảy nằm ở Ấp Đồn, thuộc quân Hóc Môn xa chừng mười lăm phút bay.

Toán chúng tôi nhảy làm ba đợt, tôi mang số 19 nên nhảy thứ ba trong đợt ba. Ngồi trên phi cơ, tâm trạng tôi lúc đó không hẳn là sợ nhưng có cái gì căng thẳng trong đầu. Chúng tôi nhìn nhau cười để tỏ ra bình tĩnh. Tôi thấy hai anh số 5 và số 16 mặt trắng bệch. Hồi nhảy chuồng cu hai số này vẫn vậy. Độ mười phút bay thì tám người đầu được lịnh đứng dậy, móc móc sắt vào dây cáp, người đầu ra cửa lấy thế. Một hồi chuông reng dài, ngọn đèn đỏ cuối thân tàu bật cháy. Tôi nghe từng tiếng “GO” liên tiếp nhau. Từng thoáng người lao ra cửa phi cơ. Tôi chăm chăm nhìn anh số 16, người nhảy chót của đợt hai. Mặt anh trắng hẳn ra, mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt. Một hồi chuông reng, tiếng “GO” lại vang lên. Tôi theo dõi anh số 16; ra đến cửa anh khựng hẳn người lại, anh có động tác như muốn ngồi xuống, nhưng tôi bổng thấy anh văng ra khỏi phi cơ: người huấn luyện viên đã đạp anh ra. Đến phiên tám người còn lại đứng dậy, tôi bình tĩnh móc móc sắt vào dây cáp, khóa chốt an toàn. Tôi không sợ nhưng tôi không nhớ gì cả. Khi nghe hồi chuông reng tôi theo anh bạn trước lao ra khỏi phi cơ. Tôi có cảm tưởng mình không rơi xuống mà đang bay theo một luồng gió mạnh. Khi tôi sực nhớ mình chưa đếm thì đã nghe giật nhẹ ở hai vai. Ngửng đầu lên tôi thấy dù tôi đã mở lớn, tròn trịa.  nhìn xuống tôi thấy một bải cỏ xanh rộng loang lổ những ô đất vàng vàng. Không thể nào tả được nổi thích thú của tôi khi được lơ lững trong khoảng không gian tịch mịch. Dù xuống nhanh dần, tôi thấy rõ những đứa trẻ con tung tăng chạy theo hướng những chiếc dù rơi. Tôi mở mắt quan sát thật lớn quan sát vùng đất sắp đáp xuống xem có hầm hố, mô đất, bụi bờ gì không? Khi còn cách mặt đất chừng năm mươi thước, tôi kéo mạnh hai dây dù đằng trước, cúi đầu so chân bằng nhau rồi giữ thế chờ chạm đất. TRôi nghe một tiếng động rung chuyển đôi chân và người tôi bị kéo ngã một vòng.  Như một cái máy tôi đứng dậy chạy nửa vòng để tránh gió. Tôi tháo đai dù, cuốn dù cho vào bao, mang dù lên lưng rồi vừa chạy vừa hô: “Nhảy Dù…cố gắng” về điểm tập trung. Toán cuối cùng nhảy xong lúc mười giờ ba mươi. Mọi người đáp xuống đất bình yên. Ai nấy thở dài khoan khoái. Một vài người đã tỏ vẽ khinh thường. Chúng tôi lên xe di chuyển về trung tâm. Ngồi trên xe tôi moi tìm những khuyết điểm của saut vừa qua để rút kinh nghiệm cho những sauts sau. Thứ nhất: tôi đếm số quá muộn. Tôi được chỉ dẫn ra khỏi cửa phi cơ phải đếm bốn tiếng: 331, 332, 333, 334. Thời gian đếm bốn tiếng độ chừng bốn giây; chiếc dù lưng phải tự động mở sau hai giây hoặc hai giây rưỡi. Nếu đếm xong bốn tiếng, dù lưng không mở phải giật dù bụng. Thứ hai: Tôi không nhớ mình nhắm mắt hay mở mắt. Mở mắt rất cần thiết để kiểm soát dù. Mọi việc xảy ra nhanh quá khiến tôi không làm chủ được ý định. Thứ ba: tôi không nhớ tay mình có ôm dù bụng khi nhảy ra hay không. Nếu bị cụp dù không hiểu tôi có tìm ra quai sắt của dù bụng để giật không. Thứ tư: tôi không nhìn trái khói để định hướng gió rất hữu ích cho việc kéo dù và lấy thế để đáp xuống đất.

Saut thứ hai chúng tôi nhảy từng đợt mười hai người. Hôm ấy toán tôi nhảy đầu, tôi nhảy đợt hai, lần này tôi khá bình tĩnh và nhớ nhiều chuyện: tôi có mở mắt, có đếm số, có nhìn trái khói chỉ hướng gió đầu bãi đến cuối bãi, nhưng tôi không nhớ tay tôi có ôm dù bụng hay không. Đáp xuống đất tôi bị dù kéo lộn một vòng về đằng trước. Một lần nữa mọi người đều bình yên. Anh số 16 vẫn phải bị đạp ra cửa.

Saut thứ ba chúng tôi nhảy từng đợt mười hai người có mang vũ khí. Chúng tôi có mang Carbin bá xếp nên rất gọn. Toán chúng tôi nhảy cuối cùng. Mười một giờ phi cơ mang chúng tôi mới cất cánh. Sau hai sauts được an toàn mọi người bình tỉnh và tự tin hơn. Lần nhảy này tôi cũng nhớ mọi chuyện trừ chuyện hai tay mình có ôm dù bụng. Chiếc dù đưa tôi băng qua con đường đất, dưới chân tôi hiện ra một vũng nước lớn. Gió thổi từ trái sang phải khá mạnh. Tôi đáp xuống đất trong thế té ngang rất nguy hiểm. Chiếc dù căng gió lôi phắc tôi đứng dậy. Tuy ê ẩm cả chân trái tôi củng ráng chạy nửa vòng để tránh dù lôi. Về đến điểm tập trung tôi mới hay trong mấy toán trước có mấy người bị đập đầu, một người bất tỉnh và chảy máu miệng. Kiểm điểm quân số toán chúng tôi thiếu hai người: anh số 9 và anh số 11. Một đứa bé lại báo tin có người bị nạn ở cuối bãi. Chiếc xe Hồng Thập Tự tức tốc chạy đi cấp cứu. Người bị nạn là anh số 11. Anh kêu đau ở háng trái không cử động chân được. Đưa về bịnh xá chụp hình thấy cổ xương đùi bị gãy. Anh bạn của chúng tôi đã khóc òa khi biết mình phải bỏ cuộc. Anh được đưa về Tổng Y Viện Cộng Hòa giải phẫu. Mọi người buồn tiếc cho anh. Đến chiều một anh bạn khác trong toán bị sưng chân. Chụp hình không thấy xương gãy nhưng đau quá anh không đi được. Anh được chấp thuận nhảy những sauts còn lại với khóa sau. Tai nạn xảy ra cho anh số 11 làm chúng tôi bắt đầu e ngại.

Saut thứ tư ngoài vũ khí, chúng tôi còn mang thêm một túi vãi được buộc vào đai dù, nằm ở giữa hai chân. Toán chúng tôi nhảy áp chót. Hôm ấy gió rất nhẹ từ phải sang trái. Mọi người đáp xuống đất an toàn. Lần này tôi đứng chớ không té, chiếc dù không gió bọc rơi chụp lên đầu tôi.

Saut thứ năm chúng tôi nhảy C.123. Nghe nhảy C.123 mọi người đều ngán. Loại máy bay này bay nhanh hơn C.47 nên hay thả ra ngoài bãi. Đầu bãi là cái đồn Nghĩa Quân đầy dây kẽm gai, cuối bãi là ấp chiến lược có rào tre nhọn. C.123 chở được 48 người, tai nạn vướng dù do đó hay xảy ra. Hai cửa nhảy không xa hai cánh trước khi nhảy ra dù hay bị gió từ cánh quạt thổi rối và tai nạn dù số 8 hay gặp ở loại phi cơ này. Ngán thì có  ngán thật nhưng chúng tôi muốn nhảy cho biết. Vẫn mang vũ khí, túi vãi như lần trước. Toán chúng tôi nhảy chuyến thứ ba. Cảm giác của tôi khi ở dưới phi cơ bước lên là khó chịu. Hơi nóng, tiếng động cơ ầm ầm, máy bay nhồi xóc làm tôi chóng mặt. Khi đứng lên chuẩn bị nhảy, nhìn ra cửa phi cơ gió thổi ào ào, tôi hồi hộp lạ thường. Toán tôi nhảy cửa bên phải. ra đến cửa gió không hút tôi ra như ở C.47, gió đẩy tôi trở vào. Tôi quăng chiếc móc sắt và nhảy mạnh ra ngoài. Tôi mở mắt nhưng không kịp đếm. Dù mở rất nhanh. Gió thổi từ phải sang trái. Nhìn sang trái tôi thấy một chiếc dù đang rơi xuống đồn; nhìn sang tar1i tôi thấy một chiếc dù trắng lùng bùng, tôi kêu thầm: “có người bị dù số 8!” (dù lưng màu xám, dù bụng màu trắng). Nhìn xuống tôi thấy ngay dưới chân một cái hầm lớn. Tôi hoảng hốt kéo dù tránh xa. Tôi rơi cách hầm chừng năm thước, xuống ngay một vũng nước. Người bị dù số 8 một mình với hai chiếc dù còn lơ lững trên không. Chiếc dù lưng tóp hẳn lại, nhưng chiếc dù bụng đã bọc gió. Tôi kinh hoàng thấy anh đáp xuống đất bằng bàn tọa và nằm luôn không dậy. Tôi tháo đai dù chạy vội về phía anh, nhưng chiếc Hồng Thập Tự đã đến trước tôi. Nạn nhân là một Sỹ Quan LLĐB. May mắn anh không việc gì chỉ hơi ê bàn tọa. Mặt mày tái mét nhưng anh vẫn cười. Anh cho biết vì dây dù bụng vướng vào chân, khi dù bọc gió kéo luôn hai chân anh lên nên anh phải đáp xuống đất bằng bàn tọa. Hôm ấy không có gió mạnh, nếu không chắc anh đã bị gãy xương chậu, hay xương sống lưng rồi. Ở mấy đợt nhảy trước có đến ba người bị dù số 8 nhưng đều giật kịp dù bụng. Kiểm điểm quân số toán tôi thiếu mất một người. Tôi sực nhớ chiếc dù rơi xuống đồn. Quả nhiên một lúc thấy anh số 17 lò mò vác dù về vừa cười vừa nói:

_Moa rơi xuống đúng giữa hai hàng kẽm gai, may mắn hơn nữa là moa lại đứng chứ không té nên không sây sướt gì.

Cái may hai lần thật hy hữu. Trong mấy toán sau có thêm hai chiếc dù số 8 nữa, nhưng dù bụng vẫn kịp tung ra. Chúng tôi còn chứng kiến thêm một cảnh nghẹt thở khác: người ở trên rơi vào lá dù của người ở dưới, chiếc dù ở trên tóp lại. Dưới đất chúng tôi la hoảng om sòm. Củng may người binh sĩ mang chiếc dù ở trên khá bình tĩnh, anh đạp mạnh lá dù ở dưới, hai chiếc dù tách xa nhau, chiếc dù ở trên bọc gió trở lại. Saut thứ năm là saut nhiều bất trắc nhất, nhưng cuối cùng mọi người đều an toàn. Về đến trung tâm, lúc tập họp, một tân binh của toán bị hai cảnh cáo vì lúc ra cửa phi cơ anh chần chừ làm những người sau bị dồn lại, đến khi nhảy những người sau cùng rơi cả vào ấp chiến lược. Người chuyên viên thả dù hỏi anh ta tại sao không chịu nhảy, anh tân binh ấp úng trả lời:

_Dạ, em chờ Trung Sĩ… đạp em ra!

Saut thứ Sáu là saut nhảy ngày cuối cùng của chúng tôi. Những ai đã nhảy dù đều công nhận có một saut gọi là saut hãi hùng. Thường thường từ saut thứ hai trở đi mới có hiện tượng sợ hãi ấy. Saut hãi hùng của tôi là saut thứ sáu. Sáng hôm đó tôi ăn lót dạ một cái bánh bao ra đến phi trường bụng bỗng lâm râm đau rất khó chịu. Mười một giờ trưa mới có máy bay, mệt nắng và sốt ruột vô cùng. Vẫn nhảy C.123 Lúc mặc dù, vô tình tôi nhìn số dù, dù lưng số 0280, dù bụng số 1300. Tôi nghĩ dù lưng số bù, dù bụng số 13 chắc là điềm xấu. Bỗng chốc tôi phát sợ, một sự sợ hãi vô cớ. Tôi bước lên phi cơ như một người không hồn. Hơi nóng trong lòng tàu làm tôi khó thở. Đảo mắt nhìn anh em bạn thấy mặt người nào cũng lầm lì, xám xanh. Đối diện với tôi là một vị Sỹ Quan Lực Lượng Đặc Biệt bị dù số 8 hôm qua, đang cúi gầm mặt xuống không nhìn lấy một ai. Tôi nghĩ dại, biết đâu hôm nay tôi sẽ bị dù số 8, dù đuôi nheo, biết đâu tôi sẽ rơi vào đồn, vào ấp chiến lược, xuống hầm hố; tôi sẽ chết, sẽ gãy chân, gãy xương sống, sẽ bị đập đầu bất tỉnh. Càng nghĩ vẫn vơ tôi càng mất can đảm, thứ can đảm tôi đã có thừa qua nhiều lần nhảy. Máy bay hôm ấy nhồi quá nhưng tôi không thấy mệt hoặc buồn nôn. Tất cả tôi đang chịu đựng sự sợ hãi của mình một cách khổ sở. Có lúc tôi muốn chạy đến cửa phi cơ phóng đai ra ngoài cho đỡ sợ. Nửa đầu của hai toán được lịnh đứng dậy. Tôi thấy Đại Úy Thiết Giáp tiến ra cửa phi cơ. Gió đẩy ông lui về đằng sau. Bên toán nhảy cửa phải có tiếng của huấn luyện viên la lối. Tôi nhìn sang, một binh sĩ vì thấp không móc được móc sắt vào dây cáp, cứ cầm móc sắt ở tay tiến ra cửa phi cơ. Tôi thấy người huấn luyện viên lấy móc sắt móc vào dây cáp xong tát vào mặt người binh sĩ hai cái. Trống ngực tôi đập mạnh. Chờ mãi không nghe chuông reng, lại thấy huấn luyện viên kéo ông Đại Úy trở vào. Tôi sốt ruột không hiểu chuyện gì. Máy bay lượn vòng một lúc rồi chuông reng lên. Tôi đứng phắc dậy như cái lò xo, không cần đợi lịnh cho móc sắt vào dây cáp, khóa chốt an toàn. Chúng tôi dồn về phía cửa phi cơ. Gió mát phừng phực làm tôi dễ chịu. Tôi lấy lại được bình tĩnh. Khi nghe hồi chuông reng lên tôi bay bổng ra khỏi phi cơ. Tôi nhảy như thoát khỏi bầu không khí hãi hung trong phi cơ, quên cả đấm và không biết mình nhắm hay mở mắt nữa. Dù mở tròn trịa, tôi đáp xuống đất bình yên như mọi lần. Trên đường vác dù về chổ tập họp, tôi gặp anh số 14 của toán hai. Anh lắc đầu than với tôi:

_Khổ quá Trung Úy ơi, em lại quên mất cây Garant trên phi cơ!

Tôi hỏi ông Đại Úy sao ra cửa lâu quá mà không nhảy ông cho biết vì phi cơ bay chệch bãi nhảy nên huấn luyện viên không thả. Phân nửa toán tôi thú nhận sợ toát mồ hôi trong saut này. Trong toán nhảy sau một binh sĩ vướng tay vào dây dù của một người khác làm hai chiếc dù dính vào nhau tóp lại rơi xuống vun vút. Chúng tôi dưới đất thất sắc kêu la ầm ĩ. May sao một binh sĩ đạp vào người kia, hai chiếc dù tách ra bọc gió trở lại.

Chúng tôi được lịnh năm giờ chiều ngày hôm sau tập họp nhảy đêm. Đến phút chót Bộ Tư Lịnh bãi bỏ saut đêm vì thiếu an ninh bãi nhảy. Lễ mãn khóa được tổ chức vào sáng hôm sau. Sau ba tuần dầu dãi mặt tay tôi đen sạm, người rắn rõi hẳn ra. Cái huy hiệu nhảy dù gắn trên túi áo mang cho tôi một niềm vui nhỏ và một hãnh diện lớn. Tôi có bằng dù rồi tôi sẽ làm gì đây? Tôi nhớ một lời nói của vị Thiếu Tá đọc hôm lễ mãn khóa: “Nhảy Dù chỉ là một phương tiện vận chuyển. Nhiệm vụ chính của người binh sĩ Nhảy Dù không nhảy ra khỏi phi cơ. Đáp xuống đất nhiệm vụ chính mới bắt đầu, đó là tác chiến như bộ binh”. Nhiệm vụ chính của người Y Sỹ dù không phải tác chiến mà là cứu cấp, săn sóc những binh sỹ tác chiến. Tôi đang sửa soạn đón nhận nhiệm vụ đó.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply