vietmessenger.com
Trang Châu
Giải nhất cuộc thi Bút Ký Chiến Đấu do Cục Tâm Lý Chiến tổ chức năm 1967
Typing & Post by Sơn râu 22 July 2023


Khi Đại Đội cuối cùng của Tiểu Đoàn 6 Dù được không vận đến phi trường Phú Bài, kim đồng hồ nơi tay tôi chỉ đúng ba giờ sáng. Gần đây việc chuyển quân đêm gần thành như một thông lệ. Mỗi đợt cách nửa giờ, một chiếc C.130 đến hốt trọn từng Đại Đội mang đi. Huế lắng dịu sau ba tháng biến động chính trị. Tôi nghĩ sự hiện diện của ba Tiểu Đoàn Dù ở vùng I có mục đích hoàn toàn quân sự. Tiểu Đoàn 2 đang đóng ở Cam Lộ, Tiểu Đoàn 8 ở Đông Hà và Tiểu Đoàn 6 vừa đến Huế. Tôi lờ mờ nghe tin một Sư Đoàn quân Bắc Việt vừa xâm nhập vùng phi quân sự và lờ mờ nghe tin Bộ Tư Lịnh Sư Đoàn I mở cuộc hành quân Lam Sơn 286 phối hợp một cánh quân Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, một cánh quân Bộ Binh Việt Nam và một cánh quân Dù. Đối phương vừa gây được hai tiếng vang với giá khá đắt: Phục kích một đoàn công voa chở Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam và gây thiệt hại trung bình cho một Đại Đội thuộc Tiểu Đoàn 2 Dù ở Cùa.
Đoàn xe hai mươi lăm chiếc G.M.C. khởi hành từ Phú Vân Lâu rời thành phố Huế lúc 8 giờ sáng. Qua khỏi An Lổ xe tiến vào Phong Điền. Binh sĩ được lịnh quay súng ra hai bên hông xe sẳn sàng chiến đấu. Nơi xảy ra trận phục kích táo bạo là một đoạn đường dốc hai bên đồng trống. Dấu vết trận chiến là những đám cỏ cháy đen, nơi những chiếc xe bị trúng đạn 57 bốc cháy. Tôi nghe kể lại rằng: sau phút rối loạn ban đầu và mặc dầu vị Tiểu Đoàn Trưởng tử thương, Tiểu Đoàn bạn đã phản công thắng lợi. Địch quân trên đường rút lui qua đồng trống đã làm mồi cho phi cơ tiêu diệt.
Đoàn xe không ngừng ở Quảng Trị, chạy thẳng ra Đông Hà. Chúng tôi đến Đông Hà lúc mười một giờ trưa. Trời nắng gắt. Miền Trung đang mùa hạn hán. Đông Hà hai tháng nay không mưa, đất đai khô nẻ. Không một thoáng gió. Sáu giờ chiều chưa tắt nắng. Trọn buồi chiều tôi trầm mình dưới nước sông Đông Hà. Tắm cho đã, nay mai vào trong núi làm gì có nước. Tôi căn dặn toán y tá của tôi phải chuẩn bị nước thật đầy đủ. Dưới sức nắng nóng này không khéo sẽ chết khát trước khi chết vì đạn kẻ thù. Và không phải chỉ mình tôi nghĩ đến điều đó. Chỉ một buổi chiều tất cả chiếc bầu bằng nhựa ngoài chợ biến mất hết. Mười giờ sáng hôm sau; hai Tiểu Đoàn Dù kéo sang phi trường chờ trực thăng vận. Nhìn vào đoàn quân một cảnh tượng khá buồn cười: người nào cũng tòn ten bên hông một hay hai chiếc bầu xanh đỏ đựng đầy nước. Tôi mang hai bi đông nước và mười trái chanh đầy nhét trong túi vãi đựng gắp đạn.
Mười chiếc trực thăng loại Shinook đến vận chuyển hai Tiểu Đoàn Dù. Mỗi chiếc chở được hai mươi người. Khung cảnh những toán quân lom khom tiến vào đuôi từng chiếc trực thăng, dưới cơn gió khu ốc tỏa bụi mịt mù từ những cánh quạt phần phật quay, trong tiếng động ầm ầm của động cơ chuyển động, gây cho tôi một cảm giác nôn nao bồn chồn. Khi đoàn trực thăng đầu tiên chỉ còn là những chấm đen di động ở một góc trời, nơi màu xanh lơ của bầu trời tiếp nối màu xanh xẫm núi rừng, tôi nghe có thứ gì vừa mất mát trong tim. Tôi đi chiếc Shinook thứ năm của đợt năm. Nhìn xuống cảnh núi rừng trùng điệp tôi nghĩ vẫn vơ: chiến tranh buồn cười thật, một đằng lặn lội từ Bắc vào, một đằng từ Châu Mỹ xa lắc xa lơ tới và một đằng chúng tôi mãi tận Vũng Tàu ra, kéo đến chốn rừng thiêng nước độc này tìm giết lẫn nhau.
Chúng tôi đáp xuống Cùa, một vùng cỏ cháy khô cằn , như tên của nó. Tiểu Đoàn 2 được trực thăng vận đến đây trước tiên. Nằm trong vùng áp lực địch, tiền đồn xa nhất của quận Cam Lộ được tăng cường phòng thủ

và biến thành căn cứ pháo binh yểm trợ cuộc hành quân. Bốn giờ chiều cuộc đổ quân hoàn tất. Chúng tôi được lệnh di chuyển. Băng qua một khu rẫy bỏ phế, trước mặt chúng tôi hiện ra một khu rừng dài chạy vào chân núi. Trong một thoáng khu rừng nuốt trọn ba Tiểu Đoàn Dù. Chúng tôi tiến hàng một, người sau động tác theo người trước. Mặc dù có lá cây che khuất ánh nắng, khí nóng vẫn hừng hực. Chưa gì mà tôi đã ực hết một phần ba bi đông nước, hai tay sây sướt vì khóm gai mà đằng trước dây leo bụi bờ vẫn chằng chịt chắn lối. Gặp địch ở đây thì vất vã: khó lòng trông thấy được nhau.
Phải mất hai tiếng đồng hồ lần mò trong khu rừng. Khi chúng tôi leo lên ngọn đồi đầu tiên, bóng chiều đã ôm kín dãy trường sơn. Những ngọn đồi sim kế tiếp nhau tạo một màu tím sẫm. Những trái sim ngọt lịm giúp chúng tôi đỡ khát nước, vài binh sĩ tay hái sim, miệng hát: “Ôi những đồi hoa sim, những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt..”Phải có dịp đứng trên đỉnh đồi, nhìn hoàng hôn sắc tím ngã dần xuống bao la mới nghe thấm thía âm thanh hai tiếng “biền biệt”. Không khí trở nên mát mẻ. Vượt thêm hai ngọn đồi nửa, đóng quân thì trời nhá nhem tối. Công việc đầu tiên của binh sĩ là đào hố cá nhân: ban đêm chỉ sợ địch pháo kích. Cơm nước xong, tôi đặt mình xuống chiếc cáng ngủ ngon lành.
Một loạt súng đánh thức tôi dậy. Chụp nón sắt tôi nhảy xuống hố cá nhân. Tôi nghe tiếng ông Tiểu Đoàn Trưởng ra lệnh trong máy cho các Đại Đội Trưởng căn dặn các “đứa con” quan sát cẩn thận, có đich xuất hiện. Súng vẫn nổ ở ngọn đồi bên kia. Từng hàng lửa vun vút lao xuống vũng đệm. Chừng năm phút thì im tiếng súng. Một số tân binh thiếu bình tỉnh xả súng bắn theo. May mắn không gây thiệt hại nào. Tiếng ông Chiến Đoàn Trưởng hét mắng tưởng vỡ cả máy. Tôi trở lên chổ nằm, không tìm lại được giấc ngủ. Trời lạnh buốt. Trong đêm pháo binh bắn khuấy phá từng giờ, từng giờ như mõ cầm canh.
Năm ngày đầu tiến quân không gặp địch, nhưng chúng tôi có hai kẻ thù ghê gớm: ánh nắng mặt trời thiêu đốt và những đồi núi hiểm trở. Mỗi đêm chúng tôi nhận lệnh sáng hôm sau xong xuôi trước bảy giờ. Đồi núi giờ đó còn mù sương, ánh nắng ban mai chưa làm tan khí lạnh. Di chuyển sớm thì mát mẻ, đỡ mệt, nhưng trên phương diện chiến thuật thì lại là một điều bất lợi: sương mù sẽ gây khó khăn cho phi cơ quan sát. Và sự thận trọng của cấp chỉ huy là một điều dễ hiểu. Khi mặt trời lên cao sương mù tan biến, đồi núi khô ráo, phi cơ bay lượn quan sát một hồi, chúng tôi mới được lệnh di chuyển. Mỗi ngày phải đến một hay hai mục tiêu chỉ định. Hành trình gồm hai giai đoạn chín đến mười hai giờ trưa và hai đến năm giờ chiều. trung bình mỗi ngày chúng tôi vượt ba ngọn đồi hay một ngọn núi cao. Phải khai phá lối đi theo phương giác địa bàn. Chúng tôi tránh những con đường mòn sợ bị phục kích. Những toán khinh binh ngoài vũ khí chiến đấu, còn trang bị mỗi người một cái mác dài để khai thông lối đi. Vì thế chúng tôi tiến quân rất chậm. Nhưng gặp một đoạn đường dễ đi, người sau phải chạy mới đuổi kịp người trước. Trong rừng không bắt kịp người đi trước là lạc ngay, tai hại hơn nửa người bị lạc còn dẫn theo sau mình bao nhiêu người khác. Có những lúc đứng trên cao nhìn xuống, tôi thèm thuồng những con đường mòn sạch sẽ quanh co dưới thung lũng hay chạy quanh sườn đồi…
Thêm vào đó hành trang người lính Dù quá nặng: ngoài vũ khí đạn dược mỗi người còn phải mang theo bốn ngày lương khô cùng vật dụng cá nhân chất đầy trong xắc đeo vai. Người lính khổ nhất Tiểu Đoàn, theo tôi là những binh sĩ tải đạn 81. Mang ba quả 81 là một cực hình trong vùng hành quân này. Dưới ánh nắng chói chan, đổ một dốc núi, leo một đỉnh đồi là thấm mệt. Nước trở nên một vấn đề sinh tử. Địa điểm đóng quân nặng phần chiến lược nên chúng tôi ở trên đồi cao, xa những con suối dưới thung lũng hay khe núi. Mỗi ngày khi đóng quân trực thăng đến tiếp tế cho mỗi Tiểu Đoàn chừng bốn mươi ống đựng đạn 105 nước. Phân chia ra Trạm Cứu Thương của tôi được hai ống, đủ để nấu một nồi cơm chiều, một nồi cơm sáng, một nồi nước trà và cho tôi rửa ráy qua loa mặt mũi. Hôm nào chỉ được một ống nước tôi phải súc miệng rửa mặt bằng chút nước trà nguội còn sót lại trong bi đông. Mỗi ngày tôi giới hạn cho tôi uống một bình nước và ăn một trái chanh. Tôi tập uống từng ngụm nước nhỏ, cốt để cho đỡ khô môi hơn là đỡ khát. Binh sĩ nhất là các tân binh chưa quen chịu đựng, uống nước quá nhiều, người tháo mồ hôi và dễ mệt lã. Cứ trung bình leo hết một ngọn đồi, có một người xỉu phải gọi trực thăng di tản. Ngày thứ hai của năm ngày đầu chiếm kỷ lục về số đồi leo và cũng chiếm kỷ lục về số người xỉu. Leo tới đỉnh ngọn đồi thứ ba tôi kiệt sức. Ngọn đồi cỏ cháy như nung nấu dưới ánh nắng thiêu đốt. Tôi ngã lưng vào một lùm sim, thở không muốn nổi, hai chân rã rời, mặt tay cháy rát. Chỉ còn hai y tá bên cạnh tôi, bao nhiêu rơi rớt lại đằng sau hết. Đại Đội 62 mang đến tôi ba người xỉu, hai chỉ mệt lã vì say nắng, người thứ ba trong tình trạng “xuất nước” trầm trọng. Tôi truyền nước biển cho người bệnh nặng, chích thuốc khỏe cho hai người kia. Người lính truyền tin báo tôi biết, lưng chừng ngọn đồi ba có hai binh sĩ Dù và hai “đề lô” Mỹ xỉu xin được săn sóc. Tôi cố lết trở xuống tìm gặp hai anh chàng “đề lô” Mỹ nằm thở hào hển trong bụi mua. Một anh chàng thứ ba còn khỏe phe phẩy cành lá mua quạt cho đồng đội. Tôi nói với họ ráng leo lên đồi sẽ được săn sóc và di tản. Người “đề lô” còn khỏe và tôi xốc nách anh chàng to lớn lôi đi, hai y tá của tôi dìu anh chàng thứ hai theo sau. Binh sĩ ngồi, nằm la liệt dọc theo sườn đồi. Một câu nói hằn học vang lên đâu đó:
_Đi thì đi cho cố, mệt không cho nghỉ, đau không cho về, đúng là kiếp trâu ngựa.
Lính nhảy dù là lính hay cằn nhằn nhất, cằn nhằn nhưng vẫn tiến vẫn hăng say khi lâm trận. Trông hai anh chàng “đề lô” Mỹ thật thảm thương. Hôm đầu mới đến anh nào cũng áo giáp, nón sắt, xắc đeo lưng, dáng dấp hiên ngang. Sau một ngày rưỡi leo núi, áo giáp nón sắt biến đi đâu hết. Bây giờ hai anh chàng nằm đó mặt mũi hốc hác. Tôi báo cáo máy lên Bộ Chỉ Huy tình trạng sức khỏe của bảy người xỉu và xin trực thăng di tản. Tôi nhận ra tiếng ông Tiểu Đoàn Trưởng trong máy:
_Bắc Bình Sơn Tây liệu làm sao chứ về nhiều như thế này tôi không chịu đâu.
Giọng ông bực tức pha chút trách móc. Tôi biết ông muốn giữ quân. Tôi nghĩ thà ít mà khỏe hơn nhiều mà đau yếu mất tinh thần. Nắng nôi mệt nhọc, dễ làm con người cáu kỉnh. Cả tôi nửa, tôi cũng muốn xỉu, muốn điên lên, muốn gây gổ tất cả mọi người. Nhưng rồi hai chuyến trực thăng vẫn di tản trọn bảy người bệnh.
_Thưa…Bác Sĩ.
Tôi ngửng nhìn người y tá Đại Đôi 63 khép nép, hỏi giọng gay gắt:
_Cái gì nửa?
_Dạ thưa một thằng tác chiến nó cướp chai nước biển của em mang nó uống mất một nửa, em cản không nổi. Nó …khát quá!
Tôi không giận người mang lẫn người uống chai nước biển, song tôi vẫn hét lên:
_Thằng đó bị thương thì đái ra mà truyền nước cho nó.
Ngày hôm ấy chúng tôi leo bảy ngọn đồi! Trong khi cánh quân Dù hoàn toàn vô sự thì hai cánh quân Việt, Mỹ khác đụng độ ác liệt với quân Bắc Việt. Phía Mỹ thiệt hại có ngày lên đến năm mươi người. Vùng quân Mỹ đổ bộ có nhiều sông suối và đồng bằng. Tôi nghĩ địa thế đó thuận lợi cho sự trú đóng lâu dài của địch. Phía chúng tôi phần nhiều đồi núi trọc, suối nước hiếm hoi, có lẽ vì vậy địch không ở. Cũng vì vậy năm ngày qua chưa thấy bóng dáng một tên địch nào. Chúng tôi băng qua một vùng vừa bị B.52 oanh tạc. Những đồi tranh, đồi mây cháy rụi tận gốc. Đi ngang qua người choáng váng vì khí nóng hừng hực vây quanh. Chúng tôi đang vòng về phía Cam Lộ. Tôi được biết ngày mai sẽ có cuộc trực thăng vận vào mục tiêu khác. Từ đó tiến ngược trở ra, song song với cánh quân Mỹ. Thời gian bốn ngày. Trạm Cứu Thương có hai y tá lên cơn sốt, một người bị té trặc chân phải di tản, còn lại tám người kể cả tôi. Tôi đánh công điện về Đại Đội Quân Y xin tăng cường người. Thiếu người mà số thuốc của ba y tá đau để lại không thể sang qua cho phần y tá còn lại. Họ cũng mang nặng và mệt mỏi lắm rồi. Tôi nảy ra ý gói những thuốc viên vào những bao ny lon với số lượng cần thiết tối thiểu. Chai lọ vất đi hết, cũng đỡ nặng được phần nào. Riêng thuốc cấp cứu, bông băng, nước biển, huyết tương phải giữ nguyên số lượng phòng khi đụng trận lớn.
Người y tá mang cho tôi một đĩa cơm. Đã bốn ngày ăn cơm sấy, đồ hộp. Cơm sấy là loại cơm khô đựng trong túi nylon, khi ăn đổ nước vào cơm sẽ nở ra mềm như cơm nấu. Ăn thơm thơm nhưng chắc chẳng còn bổ béo gì. Tôi ớn nhất món đồ hộp: thịt heo toàn là mỡ, cá trích ăn một miếng buổi sáng, buổi chiều ựa vẫn còn mùi tanh. Tuy nhiên đói vẫn ăn nhiều. Vùng này không thể tìm ra một thứ rau lá nào để nấu tô canh húp cho mát miệng. Không ngờ trong đời tôi lại có lúc ăn uống kham khổ như thế này. Thời tản cư cũng bữa đói, bữa no, nhưng nó nhàn nhã hơn nhiều. Trong một phút len trong nổi mệt mỏi của thể xác, một sự chán nản tinh thần nhen nhúm. Trong một phút tôi thấy sự hy sinh của mình thật vô ích. Sao tôi không như mọi người chọn một cuộc sống thanh nhàn hơn? Sao tôi phải đày thân tôi ra chốn khổ ải này? Nếu ai cũng muốn thụ hưởng cả thì còn ai chiến đấu? Nhiều người phục tôi câu nói đó; bây giờ tôi thấy tôi hơi quân tử tầu. Mấy thằng bạn hỏi đùa tôi sao vợ đẹp thế mà bỏ đi Nhảy Dù? Tôi nhớ qua hơi men, tôi ba hoa bốc đồng giảng giãi dài dòng lý do vì sao vợ tôi đẹp mà tôi đi Nhảy Dù xa nhà quanh năm suốt tháng. Tôi nhớ tôi lập luận:
_Nếu vợ tao xấu, tao đã không đi Nhảy Dù, tao lo giữ mạng sống tao cho nó, vì nếu tao chết lấy ai thương yêu đùm bọc nó nửa, một góa phụ xấu rất khó làm lại cuộc đời. Đằng này vợ tao đẹp, lỡ tao có gói “poncho” thì còn khối thằng nhảy vào. Và biết đâu khối thằng đang mong cho tao chết để nhảy vào..!
Tôi nói thế để làm gì? Để chúng nó phục lăn ra, chúng nó gọi tôi là thằng chịu chơi. Bây giờ giữa cảnh hoang vu của núi rừng, tôi nhớ Sài Gòn, nhớ người yêu. Bây giờ tôi ước mong làm một người bình thường sống một cuộc đời yên phận. Có tôi hay không có tôi, chiến tranh vẫn tiếp diễn, cục diện vẫn không thay đổi. Thế thì lý do nào khiến tôi tự đày thân mình ra chốn khổ ải này? Lý do nào bắt tôi sống một tuần với gia đình đã lại muốn đi, đã nhớ cảnh nằm lều, ngủ võng? Tôi không thích chiến tranh nhưng tôi yêu đời lính, yêu màu áo binh chủng. Tôi ước mong ngày mai đụng trận, tiếng súng nổ, tiếng đạn reo sẽ làm tôi quên hết nhọc mệt, chán nản. Chỉ có súng đạn máu lửa mới an ủi được nỗi buồn vô cớ trong tâm hôn tôi và tôi lo sợ một ngày hòa bình trở lại tôi sẽ là kẻ trở về lạc lõng giữa một xã hội không bị chiến tranh tàn phá tâm hồn..Bảy giờ sáng hôm sau đổ đồi, tám giờ, mười chiếc Shinook đến bốc một nửa Tiểu Đoàn 6 ném vào một vùng núi xa độ hai mươi phút bay. Tôi đi đợt hai chiếc Shinook thứ sáu. Theo sau là Tiểu Đoàn 8. Tiểu đoàn 2 đóng nguyên chổ cũ. Bãi đáp là một khu rừng thưa. Cuộc đổ quân an toàn. Mười giờ tiến quân. Chúng tôi băng qua một con đường nhưa, con đường đưa lên Khe Sanh, Lao Bảo. Hai bên đường những cây mây, cây tranh mọc cao quá đầu người. Đoàn quân tiến qua một vùng cháy rụi, loang lổ những hố bom cày, rải rác những hầm trú ẩn. Tôi nghĩ đến những người lính Bắc Việt bỏ xác nơi đây, dưới trận mưa bom bất ngờ, khốc liệt. Chúng tôi lúp xúp tiến lên một ngọn đồi tranh. Chỉ cần một tên địch nổi lửa đốt đồi cũng đủ thiêu sống cả Tiểu Đoàn. Cái nắng nóng ghê gớm từ trên đầu rọi xuống, từ những đám tranh hắt ra, từ dưới lớp đất nung bốc lên tưởng chừng nướng bỏng da thịt chúng tôi. Quần áo đẫm mồ hôi, tôi lấy miếng bông gòn thấm nước trà chấm lên mặt cho da đỡ cháy rát. Có được một nón sắt nước để rửa mặt lúc này thì thật quí hơn vàng! Sau đồi tranh là một ngọn núi sừng sững. Đỡ được nắng thì gặp di chuyển khó khăn. Chúng tôi phải leo, nhảy, đánh đu như vượn. Một giờ trưa mới nghỉ chân ăn cơm ở đỉnh núi. Đỉnh núi bị một quả bom rơi trúng làm lở một vệt dài. Tôi sẽ không bao giờ quên buổi ăn trưa đó: Ngồi ăn với hai bàn chân chống vào một gốc cây, cánh tay trái choàng qua một thân cây cho khỏi ngã xuống vực sâu. Ở đó tôi suýt bị một con bò cạp cắn. Nó lớn bằng ngón tay cái trông phát rùng mình…
Ba giờ, di chuyển qua những ngọn đồi tranh. Một đồi… một đồi…lại một đồi! Trước mặt, đằng sau, bên phải, bên trái toàn đồi núi. Cảnh trông thật thối chí cho những tay leo núi bất đắc dĩ như chúng tôi. Có tin Tiểu Đoàn 8 khám phá hai hầm đạn dấu hơn một trăm quả 81 và năm hầm chôn năm mươi xác địch. Số xác chết có lẽ là kết quả cuộc đụng độ với Tiểu Đoàn 2 Dù trước đây. Hôm ấy phía cánh quân Mỹ hỏa châu soi sáng suốt đêm.
Chín giờ hôm sau đổ đồi, tiến vào một khu rừng đầy hầm hố mới đào. Có lệnh súng cầm tay, quan sát phải trái. Chúng tôi men theo con đường mòn, dè dặt đi trong cái mát lạnh căng thẳng của khu rừng. Bổng mấy loạt súng vang lên phía đằng trước. Cánh quân Chỉ Huy dừng lại. Không nghe động tỉnh gì thêm. một lát có lệnh truyền miệng đến tôi: “Mời bác sĩ lên săn sóc một tù binh bị thương nặng”. Di chuyển chừng hai trăm thước, tôi gặp một toán binh sĩ bố trí quanh một cái cáng, trên đó một binh sĩ Bắc Việt năm thoi thóp. Khám nghiệm tôi thấy anh ta bị năm phát đạn AR. 15, một loại đạn rất xuyên phá, ở đầu gối và bắp vế trái, bắp chân và bắp vế phải và ở bụng. Tôi cho buộc garrot, truyền một chai huyết tương và băng bó các vết thương. Tôi nhìn sang bên cạnh hai xác Việt Cộng khác nằm ngửa mặt lên trời, một trúng đạn ngay ở tim, một đạn xuyên từ ót ra trước phá vỡ cả mặt trông thật khó nhìn. Tôi cho lật hai cái xác úp mặt xuống đất. Người Hạ Sĩ Quan an ninh đưa tôi xem một khẩu thượng liên và hai khẩu súng trường Nga có gắn lưởi lê vừa tịch thu được. Ông này nói:
_May mình nổ súng trước nếu không khẩu này nó quét trước thì khinh binh mình ngã hết . Thằng bị thương là xạ thủ khẩu thượng liên này.
Người thương binh mở mắt lơ láo nhìn vẽ sợ hãi. Ông Sĩ Quan an ninh vỗ về:
_Anh đừng sợ, có bác sĩ săn sóc vết thương cho anh, anh tên chi?
_Đào Duy Đức.
_Anh có bao nhiêu người?
_Năm, lạc mất Đại Đội. Đói ba ngày nay, ăn toàn xoài sống.
_Anh biết Thiếu Úy Mai Hồng Nhĩ không?
_Tôi thuộc Đại Đội của ông.
_Ông ta đã ra đầu thú anh biết chưa?
Người thương binh lắc đầu rồi kêu khát nước. Tôi chỉ cho anh nhấp nhấp. Các vết thương cứ rỉ máu. Anh ta kêu tức ở bọng đái. Tôi nghi bụng anh ta đầy máu. Khả năng tôi không làm gì hơn được. Tôi gọi máy bộ Chị Huy xin trực thăng di tản. Lời yêu cầu được chấp thuận nhưng phải chờ tìm bãi đáp vì chúng tôi đang ở trong rừng cây đan chằng chịt trên đầu. Chai huyết tương hết. Tôi băn khoăn không biết có nên cho thêm một chai nước biển hay chai huyết tương thứ hai. Tôi còn ba chai huyết tương và năm chai nước biển. Số lượng đó chỉ cần năm thương binh nặng là tiêu thụ hết. Tình thế này biết đâu sẽ còn chạm súng nữa. Binh sĩ tôi sẽ bị thương, phải dành cho họ. Tôi quyết định chỉ cho chích thêm thuốc trợ tim và thuốc cầm máu. Mạch vẫn nhảy yếu tuy có đều hơn. Người lính Bắc Việt cầm chặt tay tôi:
_Bác Sĩ cứu em.
Tôi cảm động. Anh ta không chửi tôi là quân Ngụy, anh ta xưng em với tôi. Tôi an ủi anh:
_Lát nửa sẽ có trực thăng đón anh về bịnh viện săn sóc.
Rồi tôi tò mò hỏi về gia thế anh ta:
_Anh mấy tuổi? Có gia đình chưa?
_Dạ hai mươi ba, một vợ hai con. Em mệt quá Bác Sĩ.
Anh ta sắp bị xúc kích huyết. Ý muốn truyền thêm một chai huyết tương lại trở về trong đầu tôi. Không được phải dành cho binh sĩ mình. Tôi bị giằng co giữa hai ý định trái ngược đó. Người thương binh lịm dần không còn nói được nửa. Anh ta sắp chết. Tôi biết thế mà cảm thấy mình không thể làm gì hơn. Khai phá được một lối đi, đưa người thương binh Bắc Việt ra đến bãi đáp chờ trực thăng thì anh chỉ còn là cái xác bất động. Biết anh ta sẽ chết, nhưng khi anh ta chết thật tôi lại chưa muốn tin anh ta chết. Tôi bắt mạch, áp tai vào ngực một hồi lâu rồi mới nói:
_Nó chết rồi.
Chúng tôi đặt xác anh ta xuống một hầm trú ẩn và lấp đất. Không cứu được anh ta thật là đáng tiếc, nhưng ít nhất việc làm của chúng tôi cũng giúp anh trước khi chết nhận thức được rằng kẻ mà anh gọi là thù không độc ác như người ta hằng tuyên truyền cho anh như vậy để căm thù. Riêng tôi đến giờ phút này, ngồi ghi lại chuyện ngày qua viết đến cái chết của người lính Bắc Việt tôi vẫn nghe dằn vặt trong lòng. Tôi biết vết thương anh trầm trọng khó sống, nhưng thà tôi truyền cho anh hai ba chai nước để rồi anh vẫn chết tôi sẽ yên lòng hơn để anh ta chết trong ý nghĩ mình chưa làm tròn những gì mình phải làm.
Chúng tôi đang ở ngày thứ chín của cuộc hành quân. Sáng nay thay vì di chuyển ra “điểm hẹn” Tiểu Đoàn 6 ở lại yểm trợ một trung đội Bảo An trở lại tìm một số vũ khí còn chôn dấu quanh tiền đồn nằm phía trái, dưới chân ngọn núi tôi ngồi ăn cơm trưa trên đỉnh. Toán Bảo An men theo con đường mòn tiến ra đến đường nhựa an toàn. Ho chia làm hai toán theo hai bên bờ đường nhựa tiến lên đồn. Khi toán một tiến đến gần đồn thì địch ở trong đồn nổ súng, đồng thời địch bên kia đường nhựa cũng ào lên chận đánh toán hai.
_Đại Bàng gọi Phi Vân, Đại Bàng gọi Phi Vân, anh nghe tôi không?
_Phi Vân báo cáo với Đại Bàng: Mất liên lạc với toán một, toán hai “ngủ” ba “nằm” một. Đại Bàng, Đại Bàng, chúng nó lại xung phong..!
Liên lạc máy đến đó bị cắt đứt. Tôi bàng hoàng. Hai Đại Đội Dù được lệnh đổ đồi tiếp cứu. Chừng mười phút sau, mấy loạt súng nổ vang dưới chân đồi. Tôi ngồi im nghe tiếng nói vang vang trong chiếc P.R.C. 25:
_Thanh Tòng gọi Minh Mạng
_Minh Mạng tôi nghe.
_Chạm đich bất ngờ, Thuận Thanh ngã hai, bị thương hai; Long Vị ngã một, bị thương một. Thiệt hại địch không rõ, xin cho săn sóc di tản thương binh và xác. Chờ quyết định của Minh Mạng.
Tôi dẫn toán y tá đổ đồi. Xuống được hai phần ba đồi gặp Bộ Chỉ Huy nhẹ của ông Tiểu Đoàn Phó và ba thương binh. Một trúng thương ở đầu và đang hôn mê, một đạn xuyên qua ngực và một đạn xuyên qua cổ tay. Tôi ưu tiên săn sóc người bị thương ở ngực. Đạn vào ở ngực và trổ ra đằng sau lưng; một viên phá nát xương quai xanh và xương bả vai trái; một viên khoét lổ hổng lớn bằng nắm tay gần sống lưng phía trái. Tôi nhìn thấy lá phổi trái đang hô hấp. Lần đầu tiên tôi gặp một trường hợp “thorax soufflant”. Vết thương hổng quá lớn không khâu được. Để tránh biến chứng do không khí tràn vào phổi, tôi lấy một chồng compress 4×4 bít kín hai lổ phá rồi lấy một cuộn băng thung khoanh chặc lưng. Cùng một lúc tôi cho truyền một chai huyết tương, một chai dextrant có pha thuốc chống xúc kích, thuốc điều hòa hô hấp. Người thương binh rên la trăn trở. Khi đôi mắt lờ đờ của anh bắt gặp tia nhìn nặng trĩu lo âu của tôi, anh nắm chặt lấy tay tôi thều thào trong nước mắt:
_Bác Sĩ ơi! Tôi biết tôi sắp chết..
Tôi cắt ngang câu nói của anh:
_Không sao đâu anh sẽ sống…
Người thương binh lắc lắc tay tôi ra hiệu bảo tôi im.
_Bác Sĩ nói thế an ủi tôi. Tôi biết tôi sắp chết. Nhờ Bác Sĩ tin cho vợ tôi hay. Nó ở số 4 đường Thái Phiên, Hội An. Nhờ Bác Sĩ nói nó ráng nuôi con tôi và …lấy chồng khác đi…
Không ngờ trong đời tôi lại có lúc chứng kiến cảnh trối trăn này, những lời trối trăn y hệt như trong một tuồng cải lương; có khác chăng những lần khác tôi cười, lần này tôi rớm nước mắt. Nhưng câu nói:” Không sao đâu, anh sẽ sống” của tôi không phải là lời nói an ủi trong tuyệt vọng. Sau khi truyền hết chai huyết tương, tôi tin anh sẽ sống. Trái lại vết thương đầu là một ám ảnh lớn của người y sĩ, họ gần như bất lực trước thương tích đó. Nó sống là nó sống, nhờ ơn Chúa, ơn Phật; nó chết là nó chết, tại số nó hết.
Bãi đáp trực thăng được chọn ở lưng chừng đồi. Phải di tản thương binh ngược trở lên. Bỗng dưng trời đổ cơn mưa lớn, đồi dốc trơn trợt, công việc tải thương thật khó khăn chật vật. Tôi hỏi ông Tiểu Đoàn Phó về tình hình. Ông nói:
_ Địch có một khẩu đại liên ở triền núi cạnh đồn và một khẩu trung liên đặt trên đỉnh đồi ở bên kia đường nhựa quét chéo rất dầy về phía mình đổ quân. Tiến quân chắc chắn sẽ bị thiệt hại mà kết quả chưa chắc sẽ được gì. Đằng nào Trung Đội Bảo An cũng đã tan rã…
Hai giờ chiều. Cơn mưa vừa dứt. Ba cái xác gói trong poncho lần lượt được gánh qua mặt tôi. Máu nhễu từ những đôi giày xuống mặt đất kéo thành từng vệt đỏ dài. Tôi nghe đau xót trong lòng. Đời người thật ngắn ngủi, sống đó rồi chết đó. Phản lực, khu trục, pháo binh nối tiếp nhau bắn phá dội bom suốt hai tiếng đồng hồ. Tôi nghĩ đến số phận những người Bảo An sống sót còn kẹt lại dưới đó. Bộ Chỉ Huy cho biết Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn I sắp xuống thám sát tình hình. Năm phút sau một chiếc H.34 đáp xuống đỉnh đồi. Sau khi chiếc trực thăng bay đi hai Đại Đôi Dù được lệnh rút lên đồi. Một nỗi buồn uất ức xâm chiếm tâm hồn mọi người. Ba chết, ba bị thương mà không đánh đổi được gì. Chín người Bảo An chạy thoát được về trong số có ông Chuẩn Úy Trung Đội Trưởng và người y tá. Người y tá Bảo An cho tôi hay anh có săn sóc cho một đồng đội bị thương ở chân. Khi địch xung phong, anh chạy bỏ lại người bị thương không biết sống chết ra sao.
Trong bữa cơm chiều, toán y tá của tôi bàn tán dị đoan:
_Tiểu Đoàn này kỳ lắm, hành quân cứ ngày chót là có đổ máu.
Một y tá nói về một người chết:
_Tội nghiệp thằng Thanh nó mang máy cho ông Đại Đội Trưởng, vì trễ năm ngày phép bị tống đi khinh binh, mới đi lần đầu đã dính…
Tôi nhớ tên biết mặt một trong ba người chết: Hạ Sĩ Lâm Đức Túc. Tôi nhớ Túc vì một câu chuyện xảy ra giữa anh và tôi. Một buổi sáng ở hậu cứ, Túc vào khám bệnh. Tôi hỏi anh đau gì, Túc đáp:
_Thưa Bác Sĩ mắt tôi hôm nay sao mờ đi, nhìn đéo thấy gì cả.
Biết anh vô ý quen miệng, song tôi vẫn đập bàn quát mắng. Túc đờ người ra, chừng chợt hay mình đã nói gì, mặt anh tái đi miệng lắp bắp xin lỗi. Tôi đem câu chuyện kể cho đám y tá nghe và cả thầy trò cùng cười. Bây giờ thì Túc đã chết nhưng anh lưu ở lòng tôi một kỷ niệm vui, vui để mà buồn…
Tôi được đánh thức dậy lúc bốn giờ sáng. Hôm nay phải có mặt ở “điểm hẹn” lúc mười giờ. Đoạn đường dự trù hai ngày đi, bây giờ phải đi trong năm giờ. Năm giờ sáng chúng tôi di chuyển, đi mò mò trong sương, vượt hai ngọn núi và ba trái đồi. Nhịn đói mà đi. Mệt lả nhưng mọi người cố gắng vì là đi về. Đến điểm hẹn trễ mất nửa giờ. Bảy chiếc H.34 lần lượt đem chúng tôi trở về Đông Hà. Khi Tiểu Đoàn đi được một nửa binh sĩ gác báo cáo, thấy một bóng người xuất hiện trên đồi. Quả thật một bóng người ẩn hiện từ đồi này qua đồi khác chạy về hướng chúng tôi. Bóng người rõ dần. Chúng tơi nhận ra một người lính Bảo An. Mọi người vây quanh mừng con người may mắn cuối cùng. Anh là người sống sót thứ tư của toán đi đầu. Người Bảo An kể:
_Lúc phi cơ oanh tạc và pháo binh bắn phá, tôi nằm trong bụi rậm chờ chết. Nhưng may mắn vô sự. Chúng nó đông lắm, phục sẳn, chờ Nhảy Dù xuống là đánh. Chúng chết nhiều vì tôi nghe chúng lục đục tải thương đến khuya. Đến gần sáng tôi bò về chổ đóng quân, nhưng không dám lên đồi sợ binh sĩ Nhảy Dù nổ súng. Mệt quá ngủ quên, tỉnh dậy thấy Tiểu Đoàn đã di chuyển, tôi vội vã chạy theo dấu..,
Về đến Đông Hà việc đầu tiên của tôi là thay bộ quần áo mười ngày không giặt, nhày xuống sông kỳ rửa cái thân xác mười ngày không tắm. Sau đó cùng Bác Sĩ Niệm của Tiểu Đoàn 8 ra chợ Đông Hà húp liền hai tô bún nóng cay, uống vài chai bia lạnh cho bỏ những ngày ăn uống thiếu thốn.
Tiểu Đoàn đóng quân ở Đông Hà đã mười lăm ngày. Đông Hà quá bé, quá buồn, quá bụi bặm, nắng nôi. Bắt đầu thấy chán, lại muốn đi. Phong Điền, Hải Lăng, Hà Lạc, những vùng nặng áp lực địch đang chờ chúng tôi. Nhưng mười giờ tôi hôm đó chúng tôi nhận lệnh ngày mai Chiến Đoàn Dù sẽ được không vận lên Pleiku. Tôi nghĩ đến Pleime, thung lũng Ia Drang với con suối Ia Puk chảy siết như thác; tôi nghĩ đến chiêc đồn chơ vơ nằm giữa lòng chảo Đức Cơ. Và một ngày sắp tới ngồi trên trực thăng nhìn xuống cảnh núi rừng trùng điệp chắc tôi lại sẽ nghĩ vẫn vơ…Chiến tranh buồn cười thật: một đằng lặn lội từ ngoài Bắc vào. Một đằng từ Châu Mỹ xa lắc xa lơ tới và một đằng chúng tôi từ Vũng Tàu lên, kéo đến chốn rừng thiêng nước độc này tìm giết lẫn nhau…
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.