Y Sỹ Tiền Tuyến

vietmessenger.com

Trang Châu

Typing & Post by Sơn râu 23 July 2023

Ven Đô

Sau mười một tháng ở Vũng Tàu, tôi rời Tiểu Đoàn 6 để về Tiểu Đoàn 3 ở Sài Gòn. Y Sĩ Dù phải phục vụ ở cấp Tiểu Đoàn một thời gian là hai năm. Nhưng mỗi khi có đợt y sĩ mới về các y sĩ cũ được ưu tiên chọn lại đơn vị mới nếu họ muốn. Kỳ này có hai y sĩ mới để thay Niệm ở tiểu Đoàn 8 và Cảnh ở Tiểu Đoàn 3, tôi xin đổi về 3. Như vậy một trong hai y sĩ mới sẽ thay tôi ở 6. Nhiều lý do làm tôi muốn rời Vũng Tàu về Sài Gòn, nhưng lý do chính nhất vẫn là vấn đề tình cảm: Vũng Tàu có biển nhưng Sài Gòn có người yêu.

Tiểu Đoàn 3 vừa hành quân ở Phù Cát về, nóng hổi chiến thắng Đại Bàng 800. Cả một chiến dịch phô trương chiến thắng này qua báo chí, đài phát thanh, phim ảnh. Tiểu Đoàn may mắn có hai tay văn nghệ góp tài tô điểm: Ông Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh, thực hiện cuốn phim mang tên “Đại bàng 800”, Đại Úy Sĩ Quan ban ba nhà văn Thế Hoài, viết phóng sự đăng báo. Nhưng tôi cho điều may mắn hơn của Tiểu Đoàn 3 là có một ông Tiểu Đoàn Trưởng biết xử dụng văn nghệ để nâng đơn vị lên. Với “Đại Bàng 800” Tiểu Đoàn 3 tìm được một chổ đứng dưới ánh mặt trời. Tôi theo Tiểu Đoàn tham gia chiến dịch “Rạng Đông”. Qua những tài liệu học tập tôi được biết công việc bình định nông thôn được nâng lên hàng Quốc Sách. Quân đội sẽ đảm trách phần an ninh giúp các đoàn thanh niên xây dựng nông thôn, các toán võ trang tuyên truyền, các ban y tế về làng hoạt động. Bên ngoài chủ lực quân càn quét địch, bên trong quân cán chính địa phương tiêu diệt các ổ nội tuyến, tổ chức lại hành chánh xã ấp. Thí điểm được chọn là những quận ven đô, nếu kết quả mỹ mãn sẽ bành trướng trên toàn quốc. Chúng tôi đang lãnh trọng trách bẻ gãy kế hoạch lấy nông thôn bao vây thành thị của địch.

Vùng hoạt động đầu tiên của Tiểu Đoàn 3 là Ấp Đồn, quá quen thuộc với binh sĩ Dù, vì nơi đây có bãi nhảy. Cách Ấp Đồn không quá một cây số là bưng biền Nhị Bình, một vùng kinh lạch bùn lầy hiểm trở. Lực lượng địch ẩn náu trong bưng theo tin tình báo không quá một trung đội du kích. Nhưng Nhị Bình còn là nơi tập trung và dưỡng quân của đich. Tìm diệt lực lượng này vẫn là điều mong muốn của các cấp chỉ huy. Nhưng thường thường chỉ chạm với du kích. Đánh nhau với du kích nếu không khôn ngoan không những khó ăn mà đôi khi còn thua đau.

Xe đổ chúng tôi xuống Ấp Đồn lúc năm giờ sáng. Kéo dọc theo con lộ đến ngang Nhị Bình. Hai cánh quân song song tiến vào bưng. Tám giờ Đại Đội 32 chạm địch. Ỷ vào địa thế quen thuộc dễ ẩn náu, dễ rút, du kích Nhị Bình rất lì chờ đối phương đến thật gần mới nổ súng. Nhưng binh sĩ Tiểu Đoàn 3 tiến quân không động tĩnh. Khi hai bên bất thần trông thấy nhau, khoản cách không đầy năm thước. những loạt súng thật dòn thật ngắn, đưa đến kết quả: Phía Dù một chết, hai bị thương, địch bỏ lại ba xác cùng vũ khí. Nơi chạm súng cách xa tôi quá, tôi không thể có mặt bên các thương binh. Tôi hỏi ông Sĩ Quan Ban 3 về phương tiện di tản. Đại Úy Châu cho biết sẽ có trực thăng bốc thương binh tại chổ. Súng vẫn nổ rời rạc, hướng đạn địch bay qua phía chúng tôi. Mọi người di chuyển nhanh qua các chổ trống. Chúng tôi đi trên bờ đất trơn cao, bấu víu vào những thân cây mít. Một hố cá nhân ngập nước đục ngầu nằm sát lối đi. Đến bên hầm tôi tẩn mẩn cầm gậy tre xăm xuống hồ nước. Không thấy gì khả nghi, tôi nghị nước đục vì có người đi trước rửa giày. Nhưng vừa đi mươi bước, tôi nghe đằng sau có tiếng quát lớn: “dơ tay lên”! Một lúc được dẫn qua trước mặt tôi một người đàn ông chừng năm mươi tuổi bận bà ba đen, ướt như chuột từ đầu đến chân. Người Sĩ Quan an ninh nói với tôi:

_Thằng cha này lặn núp dưới hầm nước mà hồi nãy Bác Sĩ xăm cây gậy xuống đó, lặn lâu hết hơi phải ngoi đầu lên.

Tôi thắc mắc tại sao lúc nãy tôi xâm cây gậy khá sâu mà không chạm người gã. Có lẽ lục soát không phải phận sự của tôi. Chúng tôi rút ra đường lúc năm giờ chiều, không quên gài dưới mỗi xác du kích hai quả lựu đạn quà tặng dành cho đồng bọn về kéo xác. Ba hôm sau, một Đại Đội được tung vào lại mục tiêu cũ. Ba cái xác sình thối vẫn không xê dịch. Chẳng hiểu địch quá khôn, hay quá sợ mà không dám trở về. Một buổi chiều ông Trưởng cho mời tôi sang nói chuyện. Tôi nghe nói nhiều về thuật chỉ huy và dụng nhân của ông Tiểu Đoàn Trưởng này. Dưới quyền chỉ huy của ông binh sĩ Tiểu Đoàn 3 trở nên những người lính gương mẫu nhất: Đầu húi cao, giày đánh bóng, chào kính kỹ càng. Ông tỏ ra có uy với các sĩ quan thuộc cấp. Trong những buổi họp Sĩ Quan phải gọi nhau bằng cấp bậc. Ở hậu cứ cũng như khi hành quân, lon phải mang ở cổ áo. Một lần ông tỏ bày quan điểm với tôi về lon phải mang ở ngực:

_Tôi không chấp nhận Sĩ Quan mang lon ở ngực, trông thiếu tác phong, tồi tệ hơn nửa là mang lon ở ngực với ẩn ý là khi cần gỡ bỏ nó nhanh chóng. Phải biết hãnh diện mình là Sĩ Quan, ngay cả trước kẻ thù.

Người Sĩ Quan được ông nể biệt là ông Y Sĩ Trưởng. Ông tiếp tôi lịch sự đến mức làm tôi lúng túng. Những người khéo quá phải nên dè dặt. Tôi hay dặn lòng như vậy. Nhưng tôi vẫn thích sống hòa hợp hoặc chạm trán với những người trong hoàn cảnh nào vẫn tỏ ra lịch sự. Trong câu chuyện ông Trưởng cho tôi biết giai đoạn dân sự vụ bắt đầu, trong đó mục khám bệnh phát thuốc của tôi giữ phần cốt cán. Liền một tuần, ngày hai buổi tôi hành nghề qua nhiều địa điểm ở Nhị Bình. Tiểu Đoàn còn tổ chức hai đêm văn nghệ, chiếu bóng. Tôi nghĩ không cần tranh thủ nhân tâm vùng này, họ quá quốc gia; tôi cũng nghĩ không còn gì nhiều phải làm để đóng lâu ở Nhị Bình.

Chiều ngày thứ mười Tiểu Đoàn được lệnh trở về hậu cứ chuẩn bị hành quân dài hạn. Hành quân dài hạn không vùng I thì cũng vùng II. Tiểu Đoàn 3 vừa ở vùng II về, nếu đi Trung chuyến này chắc ra vùng I. Ngoài ấy đang mùa mưa. Hành quân vùng I mùa nào cũng khổ. Nắng thì nắng ráo nước sông, mưa thì mưa thúi đất. Nhưng trong hai Tiểu Đoàn được không vận thẳng ra Đông Hà không có Tiểu Đoàn 3, chúng tôi được lệnh tiếp tục chiến dịch “RẠNG ĐÔNG”. Vùng trách nhiệm mới gồm các ấp thuộc quận Bình Chánh.

Đoàn xe theo quốc lộ số 4 đưa chúng tôi ra Phú Lâm, qua Bà Hom và ngừng ngang Chợ Đệm. Chưa bao giờ binh sĩ vui vẽ như chuyến xuất quân này. Hành quân yểm trợ xây dựng ở ven đô đối với Nhảy Dù như đi dưỡng quân.

Nằm Bình Chánh sẽ không phải thèm nhớ Sài Gòn như nằm ở Tam Quan hay Gio Linh. Hai mặt quân yên thắm tiến vào vùng trách nhiệm. Bộ Chỉ Huy đóng trong đồn Nghĩa Quân. Đồn nằm giữa đồng trống có hồ ao bao bọc, chéo Chợ Đệm chừng hai trăm thước. Địa bàn hoạt động của Tiểu Đoàn 3 gồm ba xã: Tân Túc, Tân Nhựt và Tân Quí. Ông Quận Trưởng Bình Chánh cho biết tình hình an ninh như sau: Tân Túc gồm những ấp nằm sát quốc lộ số 4, ban ngày an ninh trăm phần trăm. Tân Quí cách Tân Túc bởi con kinh Sáng trong tình trạng xôi đậu. Tân Nhựt gồm các ấp nằm dọc hai bờ kinh Tà Bà thiếu kiểm soát gần một năm nay. Kinh Sáng chạy qua hết Tân Túc chia làm hai nhánh: một nhánh là kinh Bà Tà chạy tuốt vào mật khu Lý Văn Mạnh, một nhánh rẽ sang Đức Hòa, Đức Huệ. Trong ba chiếc đồn trấn thủ ba xã này chỉ còn lại hai: một ở Tân Túc và một ở Tân Quí. Đồn Tân Nhựt nằm sát mật khu Lý Văn Mạnh, một lần bị địch tấn công đốt cháy. Nghĩa Quân phải rút về Tân Túc.

Hai ngày đầu toàn bộ  Tiểu Đoàn đóng ở Tân Túc, một Đại Đội được tung sang lục soát các ấp ở Tân Quí rồi rút về đóng ở chợ Đệm. Trong đồn các công sự được kiên cố hóa. Nhìn những chồng bao cát được đắp cao, các địa đạo sâu quanh co, tôi nhủ thầm mình sắp được buồn vui chuỗi ngày đóng đồn. Hai đêm đầu du kích mò về bắn khuấy bốn năm lần nhưng chúng chỉ ở xa xa bên kia Tân Quí bắn sang. Phía Dù không một phát súng trả lời, im lặng cũng là một cách trả lời đáng sợ.

Sáng ngày thứ Hai tôi bắt đầu khám bệnh, phát thuốc. Theo tôi ngoài trạm Cứu Thương còn một toán Cảnh Sát Dã Chiến. một toán thanh niên Xây Dựng Nông Thôn, một toán Tâm Lý Chiến của Biệt Khu Thủ Đô tăng phái. Tôi có cảm tưởng vui ngộ mình là một thứ cò mồi câu dân chúng ra khám bệnh, xin thuốc để các ban khác hoạt động. Thân chủ của tôi rất đông lần nào cũng trên một trăm năm mươi. Một y tá nói với tôi:

_Bác Sĩ mở phòng mạch tư mà đông khách như thế này thì mau giàu lắm.

Một phòng mạch đông đảo thân chủ, giấc mơ của tôi ngày nào, giấc mơ đã tàn theo chiến tranh. Tôi bây giờ chỉ muốn làm một người thầy thuốc can đảm, tận tụy ngoài tiền tuyến. Đêm thứ ba ban Tâm Lý Chiến tổ chức một đêm văn nghệ chiếu bóng ở Chợ Đệm. Đồng bào tham dự khá đông. Sau phần phát thanh tin tức cuốn phim thời sự mới bắt đầu thì địch từ bên kia bờ kinh Sáng bắn sang. Không có thiệt hại nhân mạng, nhưng cũng làm một số dân chúng lo ngại ra về. Về mặt tâm lý buổi chiếu bóng xem như không thành công. Sáng hôm sau toàn bộ Tiểu Đoàn vượt kinh Sáng sang lục soát Tân Quí. Buổi chiều Tiểu Đoàn rút về để lại bên kia bờ kinh Đại Đội 31 nằm tiền đồn. Khoản bảy giờ tối súng nở dữ dội bên kia bờ kinh. Súng đich nghe nhiều hơn súng bạn. Báo cáo cho biết một toán kích trên đường ra vị trí chạm trán bất ngờ với một toán đich. Cuộc tao ngộ chiến ngắn ngủi gây phía Dù một chết, một bị thương. Người thương binh được đưa qua chợ Đệm để tôi cấp cứu. Chiếc Hồng Thập Tự chở tôi ra chợ Đệm. Chờ một lúc người thương binh mới được khiêng từ bến lên đình chợ. Một viên đạn xuyên cẳng tay trái, không thấy dấu hiệu gãy xương, nhưng người thương binh kêu đau ở bụng. Tôi cho cởi quần áo, qua ánh đèn pin tôi thấy một lổ đạn vào hông phải, không thấy lổ trổ ra. Nghiên cứu kỷ chiều đạn đi tôi kết luận: viên đạn xuyên cẳng tay phải rồi còn trớn chui từ hông vào bụng. Tôi chuyền vội một chai dextrant, chích trụ sinh rồi xin ưu tiên di tản. Hai mươi phút liên lạc phía cố vấn Mỹ cũng như phía ban ba, không mang lại kết quả: các trực thăng tản thương đều bận công tác. Tôi về gặp ông Trưởng để trình bày sự cần thiết di tản để có thể giải phẫu kịp thời vết thương bụng. Ông Trưởng quyết định cho một Dodge và tám binh sĩ hộ tống chiếc Hồng Thập Tự đưa người thương binh về Tổng Y Viện Công Hòa, nếu chạy nhanh và thông suốt mất chừng bốn mươi lăm phút. Chúng tôi yên tâm khi mười phút sau nghe báo cáo qua máy xe đến Phú Lâm bình yên.

Ngày hôm sau Đại Đội 34 được tung sang đóng ấp 4 xã Tân Nhựt. Tôi cũng rời Tân Túc qua hành nghề ở Tân Quí và Tân Nhựt. Song song với công tác dân sự vụ Tiểu Đoàn ba được trung đoàn Manchu Mỹ yểm trợ trực thăng, tổ chức thường nhật hành quân theo chiến thuật “châu chấu diều hâu”: Một Đại Đội được trực thăng vận ngay xuống mục tiêu, lục soát xong trực thăng lại bốc trở về. Sau hai tuần “châu chấu diều hâu” Tiểu Đoàn 3 hạ được mười lăm du kích, bắt sống gần hai mươi tên mà chỉ tổn thất một chết hai bị thương. Tình hình an ninh được cải thiện mau lẹ: Đêm không còn nghe tiếng súng khuấy rối; một số du kích xã ra hồi chánh. Binh sĩ trung đoàn Manchu tỏ ra nể phục Tiểu Đoàn 3 Dù. Họ yêu cầu được hành quân phối hợp với chúng tôi. Ở cấp Đại Đội hay Trung Đội, luôn luôn họ tự đặt dưới quyền của Sĩ Quan Dù. Một buổi sáng tôi được Trung Úy Tước Đại Đội Trưởng Đại Đội 31 kể cho nghe một câu chuyện khá thần bí: Tối hôm trước ông tung mười tổ “ăn sương” quanh vị trí đóng quân của Đại Đội, tổ xa nhất do Hạ Sĩ Quới, người vô sự trong toán kích tao ngộ chiến với địch lần trước làm tổ trưởng. Quới và Niệm, tên người binh sĩ tử thương là đôi bạn thân. Vào khoản chín giờ tôi tổ kích báo cáo Tổ Trưởng mất tích nhưng vũ khí còn tại chổ. Tất cả tổ kích được báo động và tìm kiếm nhưng không kết quả. Sáng hôm sau tìm thấy Quới nằm trong lều từ bao giờ, mặt đờ đẫn, mắt đỏ ngầu như máu. Trung Úy Tước không hiểu làm thế nào Quới có thể từ vị trí về đến Đại Đội mà không bị phát giác. Ông cũng lạ lùng trước bộ mặt như bị ma hớp hồn của người Hạ Sĩ. Trung Úy Tước thuật lại lời của Qưới:
_Em đang ngồi canh thì thấy thằng Niệm mặt mũi buồn rầu đến ngồi bên cạnh, hắn rũ em đi với hắn, em bảo bận gác. Nó nói đi với nó một lát nó sẽ đưa về, em đi với nó, rồi nó đưa em về lều em…

Trung Úy Tước hỏi tôi chuyện có thể tin được không? Tôi cười trả lời có thể cho đó là một ám ảnh thị hình gây nên bởi một chấn động tình cảm ảnh hưởng đến vài tâm điểm của trung khu thần kinh. Nhưng khi ông thắc mắc sao người Hạ Sĩ có thể về đến lều bình yên mà không bị phát giác thì tôi không thể tìm ra một giả thuyết nào để giải đáp ngoại trừ giả thuyết các tổ kích đều ngủ gật hết. Để tránh làm giao động tinh thần binh sĩ trong Đại Đội, Trung Úy Tước xin cấp cho Quới bốn ngày phép đặc biệt về Sài Gòn.

Bộ Chỉ Huy Tiểu Doàn đóng ở chợ Đệm được một tháng rưỡi. Bốn mươi lăm ngày trôi qua không có gì đáng ghi nhớ ngoài một lần thức trắng đêm nhìn hỏa châu soi sáng Sài Gòn để sáng hôm sau nghe đài phát thanh loan tin địch pháo kích và tấn công phi trường Tân Sơn Nhứt lần đầu tiên; không có gì ngoài một đêm Giáng Sinh, Thế Hoài và tôi gật gù ngồi nhìn nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh say túy lúy tiểu tiện đầy một vỏ chai rượu vang, đậy nút đặt lên bàn ăn Sĩ Quan, xong níu vai chúng tôi thì thầm: “Sáng mai cho chúng nó chết, thằng mặt trời, thằng mặt trăng, mấy thằng mũi lõ…” không có gì ngoài buổi chiều địch cối tám quả 81 ly vào đồn, nhưng không trúng đích, trong cảnh mọi người hối hả nón sắt chụp đầu chạy ra các công sự. Ông Trưởng mặc quần xà lỏn vừa ngồi hớt tóc vừa chỉ huy hai khẩu 81 phản pháo về hướng Tân Nhựt.

Tôi được sống những ngày hành quân nhàn nhã nhất, ngoài phần khám bệnh binh sĩ và làm dân sự vụ, thì giờ còn lại tôi đi câu cá. Sau hai tuần làm thân Lã Vọng, giỏ cá của tôi có chẵn mười con cá rô. Không biết khi rời đồn giỏ cá của tôi sẽ được bao nhiêu con. Đại Úy Garrens nuôi vịt, suốt ngày anh ngồi nhìn đàn vịt mười mấy con loi nhoi trên mặt ao. Trung Úy Bell nuôi một con chó Vện xin được trong một cuộc hành quân. Nghề phụ của chúng tôi không mấy phát đạt: giỏ cá của tôi nước ngập một đêm mưa nước dâng ngập miệng giỏ, cá rô thoát ra ngoài hết. Tôi chán nản bỏ nghề câu ngồi viết văn. Vịt của Đại Úy Garrens chết dần mòn; con Vện của Bell một buổi sáng lục lọi đồ dùng của chủ xơi nhằm sáu viên Chloroquine lăn đùng ra chết. Hai anh bạn Hiệp Chủng Quốc của tôi thấy mình không có duyên với màu sắc địa phương, bèn trở về dân tộc tính: ngày ngày đọc playboy.

Sau hai lần thám sát quy mô hai xã Tân Quý và Tân Nhựt. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn rời đồn chợ Đệm vượt kinh Sáng lên đóng cạnh một chiếc cầu sắt gần Đại Đội 33, đóng trong đồn Nghĩa Quân Tân Quí. Đại Đội 31 ở yên vị trí cũ, chỉ khác là trước là tiền đồn, bây giờ thành bọc hậu, Đại Đội 32 bảo vệ Bộ Chỉ Huy, Đại Đội 34 cùng một Đại Đội Hoa Kỳ đóng sát vùng “tự do oanh kích” hai bên bờ kinh Bà Tà. Tôi làm dân sự vụ ngay cả trong những buổi hành quân thám sát. Lục soát xong là có máy phóng thanh kêu gọi đồng bào đau ốm ra địa điểm X…có bác sĩ khám bệnh phát thuốc không mất tiền. Tôi mĩm cười khi nghe anh chàng xướng ngôn viên lập đi lập lại mấy tiếng không mất tiền. Tôi bổng nhớ một đồng nghiệp đàn anh ở Tổng Y Viện Cộng Hòa có lần chua chát nói với tôi khi tôi phụ ông mổ:

_Ở ngoài người ta mổ một cái bụng ăn hai mươi ngàn đồng, tôi mổ tính ra ăn có hai trăm.

Tôi thấy chiếc mặt nạ ông rung rung và đoán ông cười. Tôi hiểu ông muốn ám chỉ số lương mỗi tháng không quá mười lăm ngàn của ông. Tôi học của vị đàn anh của tôi một điều: can đảm nói ra mình thiệt thòi, nhưng không chối bỏ nhiệm vụ. Ông vẫn mẫu mực đến về đúng giờ, nhưng ông thiếu hăng say. Theo tôi, muốn hăng say trong công việc phải có hai yếu tố: “quyền lợi hay nghệ sỹ tính”. Chắc tôi còn hăng say vì yếu tố thứ hai. Cũng có lần tôi muốn chán nản, nhất là khi gặp bạn bè, cùng lớp, cùng khóa, đứa nào cũng xe hơi, phòng mạch cấp bậc lại còn lên nhanh hơn, thực thụ, lại còn trước cả bọn Y Sĩ Dù chúng tôi. Nhưng có một lần, một lần để rồi mãi mãi tôi hãnh diện mình là Y Sĩ Dù. Đó là lần một Sĩ Quan lớn cấp bậc hơn tôi đến khai bệnh cảm và xin được di tản. Tiểu Đoàn vừa lội mười ngày trong rừng ra, đang đóng quân nghỉ trong làng. Tôi đồng ý để ông điều trị tại chổ, sau ba ngày nếu không khỏi tôi sẽ xin di tản. Một Sĩ Quan khác đã học lại với tôi lời bình phẩm của vị Sĩ Quan nọ:

_Mấy tên Toubib Dù bày đặt khó khăn, về Sài Gòn, đến phòng mạch tư vứt ra hai bò, tụi nó o bế hết mình..

Phản ứng đầu tiên của tôi là muốn nhắn trả lời vị Sĩ Quan kia như vầy:

_Tôi không mong, nhưng nếu không may một ngày nào ông bị thương ở mặt trận, lúc bấy giờ ông có bỏ ra hai trăm ngàn đồng chưa chắc những người từng o bế ông với hai trăm đồng đã dám nhận lời có mặt cạnh ông lúc đó. Nhưng tôi sẽ có mặt cạnh ông lúc đó, cấp cứu săn sóc ông không một đồng xu thù lao. Tôi có thể bị thương, có thể bỏ mạng vì ông không một lời trách móc..Nhưng tôi đã cố gắng không nói ra những lời gay gắt trên. Có thể nếu nói ra tôi sẽ trút bỏ được đôi phần bực tức. Nhưng chắc chắn nếu nói ra rồi tôi sẽ thấy mình tầm thường sau lời nói.

Những bệnh phong thấp, ho, kiết lỵ của người lớn, ghẻ chóc, thối tai, sán lãi của trẻ con khuất phục mau lẹ trước thuốc men của tôi. Thân chủ càng ngày càng đông, họ theo tôi từ ấp này sang ấp khác, đôi khi từ xã này sang xã kế cận. Tôi vui với thành quả thâu lượm được, quên cả mệt nhọc và cầu mong với những công tác khác cũng được kết quả mỹ mãn.

Một tuần sau Bộ Chỉ Huy và Đại Đội 30 rút về đóng ở vị trí của Đại Đội 31. Đại Đội 31 sang kinh Tân Nhựt theo kinh Bà Tà lên đóng cạnh chiếc đồn Nghĩa Quân bị đốt dạo nào, nằm phía dưới Đại Dội 34 chừng một cây số. Chúng tôi gọi con đường đất gồ ghề nối liền Bộ Chỉ Huy với Đại Đội 33 là đường Nguyễn Văn Niệm để ghi dấu nơi binh I Niệm đã hy sinh trong đêm đi kích. Bộ Chỉ Huy cách bến đò chợ Đệm chừng một trăm thước. Trên bến có chiếc quán, nơi chúng tôi từ quan đến binh ngày ít nhất một lần ghé quán. Quán không có bảng hiệu, nhưng có cô chủ quán tên Đào nên chúng tôi gọi là quán cô Đào. Ở đó có cà phê bí tất, hột vịt lộn, khô bò và bia, nước ngọt. Tôi hay ra quán cô Đào vào buổi chiều uống cà phê, nhìn con kinh nước bùn chảy và thỉnh thoảng ngắm cô chú trẻ có đôi mắt rất tình và cái eo khá thon dưới lớp bà ba đen bó sát. Nghe nói cô Đào có một thằng em trai theo du kích, tôi đâm ra nghi ngờ biết đâu quán này chẳng là tai mắt của địch. Tôi bàn với ông Sĩ Quan an ninh giả cho nhân viên vào quán nhậu “lade” rồi giả như bốc đồng để lộ vài dự tính quân sự xem tin tức có bay sang bên địch không? Tôi còn giàu tưởng tượng nghi địch dùng cô Đào làm mỹ nhân kế quyến rủ binh sĩ và nghĩa quân. Tôi bàn nên tương kế tựu kế chọn một số hạ sĩ quan ăn nói có duyên ra tán cô Đào, dùng cô làm cán bộ nước đôi. Không biết ban an ninh có làm theo lời đề nghị của tôi không, chỉ thấy càng xa nhà lâu càng thấy cô Đào có duyên và hấp dẫn.

Một buổi đang ngồi trên chiếc ghế Hồng Thập Tự nghe máy thu thanh thì Trung Úy Dickson lân la đến nói chuyện. Dickson là nhân viên đi theo đoàn cán bộ của Biệt Khu Thủ Đô gởi xuống. Tôi không rõ Dickson theo đoàn cán bộ Việt Nam để làm gì. Nhưng lần nào làm Dân Sự Vụ tôi cũng thấy có mặt anh. Anh đứng xa xa nhìn tôi khám bệnh. Nhiều lần anh hỏi tôi những bệnh tật dân vùng hay mắc phải, hỏi thuốc men có tốt, có đầy đủ không. Tôi thẳng thắng khen thuốc Mỹ tốt và tôi nói tiếp:

_Thay mặt dân chúng vùng này tôi cảm ơn sự giúp đỡ của người Mỹ.

Tôi đọc vẽ ngạc nhiên trên mặt Dickson, có lẽ anh không ngờ tôi ăn nói kiểu cách thế. Đột nhiên anh lên tiếng công kích lối làm Dân Sự Vụ của các bác sĩ Mỹ:

_Làm thế nào các ông ấy chữa lành bệnh cho dân chúng Việt Nam khi chẩn bệnh qua lời thông dịch viên là những người không đủ kiến thức và ngôn ngữ y học.

Và Dickson thắc mắc sao không giao những công việc đó cho các bác sĩ Việt Nam. Tôi trả lời:

_Người Mỹ làm Dân Sự Vụ vì ba lẽ: Thứ nhất để lấy tiếng, thứ hai vì số y sĩ Việt Nam quá ít, thứ ba vì sợ giao cho người Việt Nam hết, thuốc men sẽ bị mất cắp.

Dickson nhăn mặt khi tôi nêu lý do thứ ba. Tôi tiếp:

_Tôi hổ thẹn khi nói với anh điều đó, và người Mỹ có quyền sợ như vậy.

Dickson nói được tiếng Pháp. Tiếng Pháp của anh bết hơn tiếng Mỹ của tôi, nhưng hai cái bết cộng lại giúp câu chuyện được liên tục. Câu chuyện khởi đi từ công tác đang thi hành, đến tình hình quân sự, chính trị, sang văn chương nghệ thuật để cuối cùng dừng lại ở một hình ảnh: người đàn bà Việt Nam. Tôi đọc thơ Racine, Beaudelaire, Prévert cho Dickson nghe, anh khen văn Marcel Proust, thích triết lý Sartre. Đài phát thanh quân đội Mỹ giới thiệu giọng ca Ray Charles. Dickson như bị mê hoặc bởi tiếng gào nức nở của người ca sĩ mù da đen này. Anh đứng ưỡn người, mặt ngữa trên trời, mắt nhắm nghiền, hai quả tay nắm chặt, nhún giật một hồi theo điệu nhạc. Dickson nói:

_Ray không hát, anh sống.

Tôi mến Dickson qua những bộc lộ tình cảm ngay thẳng của anh. Khi tôi hỏi anh có cô bạn gái Việt Nam nào không, Dickson cho tôi biết anh có một cô ở Long Bình. Tôi hỏi cảm nghĩ của anh về cô bạn gái đó nói riêng và các cô gái Việt Nam nói chung. Dickson trả lời:

_Tôi không có ý kiến chung về cô gái Việt Nam. Tôi chỉ có ý kiến về cô bạn gái của tôi thôi. Tôi có cảm tưởng cô ấy không biết yêu đương…

Tôi hỏi:

_Cô ấy bao nhiêu tuổi?

_Cỡ hai mươi, hai mươi ba tuổi.

_Tôi tưởng vào lứa tuổi đó bất cứ người đàn bà nào khi đã chấp nhận một người đàn ông tất phải yêu tha thiết chứ.

Dickson cắt nghĩa:

_Tôi muốn nói…nàng không hết mình trong khi ân ái. Những rung cảm nàng bộc lộ tôi có cảm tưởng dùng để kích thích tôi hơn là do hoan lạc mà ra. Người đàn bà Mỹ khi làm tình họ hòa mình cùng độ với người đàn ông…

Tôi có thể đoán mà không sợ sai lầm cô bạn gái của Dickson thuộc loại chuyên nghiệp và phải cộng thêm ít nhất mười niên vào mớ tuổi hai mươi, hai mươi hai, hai mươi ba của nàng. Điều làm tôi khó chịu là Dickson có thể nghĩ tất cả đàn bà Việt Nam đều không biết yêu đương. Để binh vực phái đẹp xứ nhà tôi định nói cô bạn của Dickson thuộc loại không đứng đắn nhưng sợ mất lòng anh bạn nên lại thôi. Dickson chợt hỏi tôi:

_Anh có biết cô giáo bên kia chợ Đệm không?

_Có nghe nói nhưng chưa thấy mặt, chắc anh thấy rồi, xinh không?

Dickson chắp hai tay trước ngực trong dáng điệu tôn thờ.

_Nàng có vẽ đẹp tinh khiết, vô cùng tinh khiết. Nàng tên Sen, Sen là Lotus phải không bác sĩ? Cái tên hoa Á Đông cũng tinh khiết như người…

Nếu Dickson biết cũng có nghĩa là con ở, chẳng hiểu anh có thấy hoa và người bớt tinh khiết đi không. Tôi nghĩ nên để anh hiểu mãi nghĩa đẹp thì hơn. Mong suốt thời gian Dickson còn ở Việt Nam mỗi lần nhắc đến tên Sen đừng có tên thầy dùi nào dạy anh hiểu cái nghĩa thứ hai. Tôi có đọc vài cuốn sách của người Mỹ viết về Việt Nam. Toàn chê bai chỉ trích. Dĩ nhiên cũng có điểm đúng, điểm sai. Gạt bỏ ra ngoài những hậu ý chính trị, những nhận xét sai lầm về Việt nam của tác giả đó có thể ví với nhận xét của Dickson về cô bạn gái của anh mà anh cho là không biết yêu đương. Tôi muốn viết vài Sĩ Quan Cố Vấn Mỹ mà tôi có dịp sống gần và giao thiệp. Tôi viết theo chủ quan, không ẩn ý, viết theo lý trí, rung cảm của tâm hồn.

Thời mới về Tiểu Đoàn 6, nhìn cặp mắt trắng dã của viên Đại Úy Cố vấn tôi đã mất cảm tình. Các sĩ quan Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn cũng không ưa anh ta, vì cái tính hay chỏ mũi vào mọi việc và hay báo cáo. Nghe nói anh ta có một ông anh ruột cũng làm cố vấn cho một Tiểu Đoàn bộ binh Việt Nam bị tử thương trong một trận đánh. Anh từng thổ lộ rằng anh của anh ta chết vì lính Việt Nam bỏ chạy. Bác sĩ Cảnh có kể tôi nghe vụ anh ta đến “lèng èng” việc Cảnh di tản một lúc bốn mươi binh sĩ hành quân vùng Bến Cát bị nước ăn lở chân không đi được. Anh ta nói mỉa mai với Cảnh:

_Hôm nay bác sĩ cho về bốn mươi, ngày mai về năm mươi, ngày kia về một trăm, lần lần chắc hết cả Tiểu Đoàn.

Cảnh tức khắc trả đũa:

_Tôi cần Cố Vấn Mỹ để xin trực thăng di tản, chứ tôi không cần Cố Vấn Mỹ nói chuyện y học với tôi, vì hắn ta chẳng biết gì ráo.

Cái tên Mỹ của hắn bị chúng tôi phiên âm ra tiếng Việt là “mặt cái thớt”. “Mặt cái thớt” sửa lưng tôi một vố khá đau: Tối hôm Tiểu Đoàn chuẩn bị ra vùng II, theo lịch trình 12 giờ khuya mới có chuyến C.130 đầu. Tôi sẽ đi chuyến thứ ba, như thế sớm lắm cũng một giờ sáng mới lên máy bay. Tôi theo mấy ông sĩ quan rảo các bar để giết thì giờ. Tôi gặp “mặt cái thớt” trong một quán nọ, anh ta mặc civil đang ngồi uống bia với mấy người Mỹ khác. Thấy hắn tôi nỉm cười đưa tay vẫy chào. “Mặt cái thớt” ra dấu mời tôi lại, anh ta hỏi:

_Sao bác sĩ ra đây lại mặc đồ nhà binh?

Thú thật tôi không sẵn sàng để trả lời một câu hỏi trịch thượng như vậy. Tôi đứng khựng và cười. Chưa bao giờ tôi thấy mình cười ngu ngốc thế. Có tiếng cười nhỏ phía mấy người bạn Mỹ của “Mặt cái thớt”. Tôi đỏ mặt vì ngượng nói vớt vát:

_Lính Nhảy Dù chỉ có đồ trận không có đồ civil.

Phản ứng tôi quá hiền: tôi mới có hai mươi ngày khoác áo Dù. Cho tôi già thêm hai tháng nửa, phản ứng của tôi phải là một chai bia đập vào đầu “Mặt cái thớt”. Tôi hận hắn về vụ chơi cha ấy lắm. Ra Tam Quan một buổi sáng, nhân có chuyến trực thăng tiếp tế, tôi di tản hai binh sĩ sốt về Quân Y Viện Qui Nhơn thử máu tìm vi trùng sốt rét. “Mặt cái thớt” lò dò đến bên cạnh hỏi:

_Bác Sĩ, hai binh sĩ này đau gì?

Tôi đáp cụt:

_Sốt.

Hắn ta ngang nhiên đến cầm vai một trong hai binh sĩ lắc mấy cái rồi khinh khỉnh nói với tôi:

_Tôi thấy họ khỏe lắm, đâu cần di tản.

Tôi nổi nóng:

_Xin lỗi Đại Úy, ông có phải bác sĩ không?

_Dĩ nhiên là không.

_Tôi là bác sĩ, tôi thấy hai binh sĩ này bệnh cần di tản, đó là quyền của tôi, ông đừng xía vô.

Hắn nhún vai bỏ đi, Chưa nguôi cơn giận, tội gọi giật hắn lại.

_Đại Úy..

_Ông Đốc muốn gì?

_Tôi nghĩ Đại Úy cũng nên khai bệnh đi là vừa.

“Mặt cái thớt” ngạc nhiên:

_Tôi có bệnh gì đâu?

_Có, ông bệnh rất nặng: bệnh điên.

Tô i đứng thủ thế  nhìn hai con mắt trắng dã tròn xoe chĩa vào tôi. Tôi nghĩ thế nào cũng phải đấm tên này một trận, được thua không thành vấn đề, vấn đề là phải dằn mặt hắn ta: chế độ thực dân đã cáo chung.  Nhưng tôi không có dịp đấm “Mặt cái thớt” vì hai tuần sau hắn ta về Mỹ. Hôm rời Tiểu Đoàn hắn bắt tay tôi thật chặc với lời cầu chúc ở lại thắng lợi và mạnh giỏi. Tôi bỗng nghe nguôi hết ác cảm bấy lâu nung nấu trong lòng… Binh sĩ Tiểu Đoàn 6 gọi Đại Úy Smaldone Cố Vấn Trưởng là “Người Mỹ Việt Nam hơn cả người Việt Nam”. Anh có vợ Nhật đã ly dị, nhưng có lẽ nhờ có vợ Á Đông nên Smaldone hiểu tâm tình người Á Đông nhiều. Anh ăn được hầu hết các món ăn thuần túy Việt Nam, từ nước mắm, hột vịt lộn, đến tiết canh, thịt chó. Riêng món mộc tôn Smaldone tỏ ra sành sõi không kém ai khi anh biết khen thịt của “yellow dog” thơm và mềm hơn “black dog”. Nhưng anh không ăn được các thứ mắm. Tửu lượng “Ba xi đế”của anh thuộc hạng sư. Một lần ở Đông Hà tôi chứng kiến pha Smaldone hút thuốc lào thở khói ra cùng lúc đằng mũi và miệng.

Smaldone hình như không biết buồn là gì, lúc nào cũng thấy anh cười đùa. Sự cởi mở của anh giúp tôi nói tiếng Mỹ tấn tới. Tình đồng đội của anh rất cao. Có lần anh thộp cổ một viên Đại Úy phi công Mỹ khi anh này sợ chở nặng gạt một số binh sĩ Dù xuống khỏi chiếc Chinook ở Vũng Tàu. Smaldone từng chỉ huy một toán lính Dù đánh nhau với Không Quân Mỹ phá nát một cái bar chỉ vì “các em” bu theo “các anh Mỹ” bỏ rơi “các anh Dù”. Ngày hôm sau Smaldone mang theo hai mươi ngàn đồng ra quán bồi thường thiệt hại. Samldone còn một đức tính hiếm có: biết phục thiện. Lúc hành quân ở Cùa: chiều chiều khi đóng quân, trực thăng hay đến tiếp tế nước. Một lần có sự thay đổi bãi đáp vào phút chót, nhưng Trung Úy Black Cố Vấn Phó không hiểu vì cớ gì vẫn chọn bãi đáp cũ để trực thăng thảy trên hai mươi ống đạn 105 nước xuống. Ông Tiểu Đoàn Trưởng giận ra lệnh binh sĩ kiếm suối lấy nước chứ không dùng nước tiếp tế. Tôi thấy Smaldone gọi Black đến, hai người nói gì với nhau, rồi cả hai lặng lẽ xuống đống ống nước vác mỗi người một ống lên Bộ Chỉ Huy. Tôi tưởng hai người chỉ lấy phần nước cho mình, nhưng không hai anh lại tiếp tục trở xuống vác hai ống khác. Tôi cảm phục cử chỉ của Samldone. Tôi nghe ộng Trưởng ra lệnh các Đại Đội cắt người xuống vác ống nước. Buổi ăn chiều của chúng tôi vẫn vui vẽ coi như không có gì xảy ra.

Điểm tôi không thích ở Smaldone là anh đã tỏ ra “Việt Nam hơn cả người Việt Nam”. Tôi muốn hiểu anh láu hơn cả người Việt Nam. Láu không phải là một đức tính. Sự láu lĩnh một phần do lối giao thiệp quá bình dân của Smaldone với giới Việt, một phần do những Sĩ Quan mà Smaldone vui gọi là “very bad teachers”. Một gai thoại Smaldone thích kể mãi là lần anh mới biệt phái về Sư Đoàn Dù, được hướng dẫn lên trình diện ông Chiến Đoàn Trưởng Smaldone không biết tiếng Việt. Một Sĩ Quan Việt Nam bày anh nói một câu tiếng Việt, nói là câu chào kính thông dụng đối với cấp trên Việt Nam.

Sau khi nghiêm chỉnh chào vị Chiến Đoàn Trưởng, trong khi bắt tay Smaldone đã thốt ra câu tiếng Việt:

_Con c…Trung Tá!

Mỗi lần diển tả lại nét mặt của vị Chiến Đoàn Trưởng sau khi nghe câu nói tiếng Việt, Smaldone trợn mắt, há hốc mồm, sau đó phá ra cười. Vào quán nước, quán ăn bất cứ ở đâu, Smaldone đều biết trước giá cả bán cho người Việt và anh chỉ chịu trả đúng theo giá đó. Smaldoen hay thích khoe thành tích “gái” của anh như sau:

_Mới qua Việt Nam mỗi lần đi gái tốn một ngàn đồng, tôi vẫn cho rẽ, sáu tháng sau tốn ba trăm, bây giờ thì không tốn xu nào mà còn có rượu uống lu bù…

Smaldone được một bà chủ bar ở Vũng Tàu cung phụng đủ mọi thứ.

Người sĩ quan Mỹ lưu ở lòng tôi những cảm tình sâu đậm nhất là Trung Úy Hemingway. Xuất thân trường Westpoint từ Mỹ sang anh được biệt phái về ngay Tiểu Đoàn 3 Dù. Hemingway hơi thấp người nhưng to chắc, khuôn mặt chữ điền đầy cương nghị. Anh có chiếc miệng cười tươi và đôi mắt xanh màu ngọc bích. Hemingway rất chịu khó học tiếng Việt. Mới hơn một tháng anh nói những câu xã giao lưu loát và khá đúng giọng. Gặp tôi lúc nào anh cũng ví von trước:

_Chào bác sĩ hôm nay bác sĩ mạnh không?

Câu nói đầu tiên của tôi là hỏi anh có bà con gì với văn hào Ernest Hemingway. Hemingway cười trả lời:

_Rất tiếc là tôi không có liên hệ gì với thiên tài ấy.

Hemingway làm quen với các món ăn Việt Nam rất khó khăn, tôi thấy anh cố gắng một cách đáng thương. Nhưng có một món không những anh ăn quen mà còn say mê là món xoài sống chắm nước mắm đường ớt. Một mình anh đã có lần ních nguyên một quả xoài tượng lớn. Tôi chưa thấy một cố vấn nào tác phong như Hemingway. Được biệt phái đi với Đại Đội, tối nào Hemingway cũng sang chào ông Đại Đội Trưởng trước khi đi ngủ. Anh luôn luôn dậy sớm, quần áo chỉnh tề chờ ông Đại Đội Trưởng dậy là sang chào buổi sáng. Một lần Hemingway bị mất tiền, không biết nghi ai anh bèn trình lên ông Trưởng. Ông Trưởng ra lịnh cho ông Đại Đội Trưởng phải tìm cho ra thủ phạm. Cho Hemingway làm mất mặt mình, ông này trong một cuộc hành quân bỏ đói anh bốn ngày liền. Sang ngày thứ năm Hemingway xỉu vì đói, anh phải gọi máy cho cố vấn trưởng xin được di tản với lý do.. “bị tiêu chảy”. Tôi rời Tiểu Đoàn 3 một tháng thì nghe tin Hemingway tử trận. Anh không chết ở Tiểu Đoàn 3 mà chết ở Tiểu Đoàn 7 khi sang thế một cố vấn khác bị thương: anh dẵm lên nguyên một quả mìn ở Phú Thứ. Hemingway cưới vợ trước khi sang Việt Nam. Khi anh chết vợ anh bên Mỹ sắp sinh đứa con đầu lòng.

Một tuần trước Tết ông Trưởng dời Bộ Chỉ Huy và Đại Đội 30 lên đóng chung với Đại Đội 31 ở Tân Nhựt. Ông muốn Bộ Chỉ Huy ăn Tết với hai Đại Đội trấn giữ vùng xôi đậu. Tôi vẫn lưu động phát thuốc dọc hai bờ kinh Bà Tà. Tôi chú ý đến những bà mẹ quá trẻ bồng con đến xin thuốc. Qua câu chuyện tôi biết một số là góa phụ của các Nghĩa Quân tử trận trong vụ địch tấn công đồn, một số là vợ “giai đoạn” của các quân nhân đơn vị bạn từng đóng trước đây và một số là của những gã bên kia. Số phận người đàn bà vùng quê thật hẩm hiu. Những đứa bé chào đời không biết mặt cha chúng nó là ai.

Tài nguyên phong phú của kinh Bà Tà nuôi mập binh sĩ Tiểu Đoàn 3. Chiều chiều nước rút cạn lòng kinh, chỉ cần cởi trần nhảy xuống vũng bùn, quờ quạng một hồi là có một giỏ đầy tôm càng, cá rô hay ốc gạo. Nghề câu cặm cũng mang về một số cá lóc đáng kể. Tôi ớn tôm cá lên tận cổ, duy món ốc gạo ăn mãi vẫn không chán. Một buổi sáng nước dâng tôi để ý thấy nhiều xác cá lớn trôi lềnh bềnh. Suy ra cá chết mới biết do một số binh sĩ Mỹ đóng cạnh Đại Đội 34. Đêm nào cũng cứ cách từng giờ, binh sĩ gác thảy hai quả lựu đạn xuống kinh. Họ nói để đề phòng địch có thể núp dưới kinh. Tôi nghĩ cứ đà này tôm cá sẽ chết hết, lấy gì nuôi sống dân chài xã Tân Nhựt. Tôi ngỏ ý với ông Trưởng can thiệp đừng để binh sĩ Mỹ thảy lựu đạn xuống kinh nửa, tuy là một cách phòng thủ hữu lý, nhưng về mặt tâm lý là một hành động thất nhân tâm. Ông Trưởng trả lời ông cũng đã nghĩ đến khía cạnh tâm lý đó nhưng vấn đề quá tế nhị để can thiệp. Phía Dù Đại Đội mỗi đêm tung ra hàng chục ổ kích, phía Mỹ họ có khuynh hướng gom quân lại để phòng thủ. Chưa quen đánh nhau với du kích, lại đóng biệt lập ở cấp Đại Đội trong vùng bất an, sự thận trọng quá đặc biệt của cấp chỉ huy Mỹ là điều có thể hiểu. Hai Đại Đội Mỹ Việt chia phiên mỗi bên hoạt động một ngày. Phía Mỹ trong năm phiên hoạt động cấp Trung Đội chỉ một lần chạm địch nhưng lần nào cũng có người chết hoặc bị thương vì dẫm phải mìn, lựu đạn. Phìa Dù không một binh sĩ nào gặp phải tai nạn trên. Ông Đại Đội Trưởng Mỹ phải mở một đường sang học bài ông Đại Đội Trưởng Dù. Ông này có dịp ca một bài “con cá”:

_Các anh phải mười năm chiến đấu như chúng tôi mới thừa kinh nghiệm để chơi với du kích cộng sản.

Binh sĩ Mỹ vóc ngưới cao lớn nặng ký, hoạt động trong vùng sình lầy, chỉ cần bì bõm một cây số là mệt nhoài. Nhìn thấy bờ đê khô ráo là họ nhảy lên ngay và những cạm bẩy, mìn lựu đạn chờ họ. Binh sĩ Dù nhỏ người, nhanh nhẹn, lại quá quen hiểu cái vẽ ngon lành giết người của những bờ đê, mô đất khô ráo, nên chẳng bao giờ họ dại dột dù mệt dẫm chân lên. Phía Mỹ đề nghị những cuộc hoạt động hỗn hợp, mỗi lần một Trung Đội Mỹ, một Trung Đội Dù đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Đội Trưởng Dù. Sự khiêm nhượng của người Mỹ làm khó khăn vấn đề chỉ huy, vì cấp bậc Trung Đội Trưởng Dù thường là Chuẩn Úy hay Thiếu Úy trong khi Trung Đội Trưởng Mỹ đều là Trung Úy. Thành thử mỗi lần hoạt động hỗn hợp ông Đại Đội Trưởng Dù thường phải đích thân cầm hai Trung Đội Việt Mỹ đi “làm ăn”. Sau hai lần bảy giờ xuất phát bốn giờ chiều kéo về không gặp địch, Đại Úy Tuyển Đại Đội Trưởng 34 đề nghị một kế hoạch táo bạo: ba giờ sáng xuất phát đến điểm phục kích trước năm giờ, như thế sự di chuyển không bị lộ. Nằm lại đêm chờ địch Đại Úy Tuyển lý luận: “Đich cũng biết thời gian nào ta hoạt động để né tránh, thời gian nào ta rút về để xuất hiện, phải biết lừa địch mới hốt được chúng”. Đề nghị của Đại Úy Tuyển được chấp thuận. Chúng tôi ở Bộ Chỉ Huy theo dõi động tĩnh. Đến bốn giờ chiều vẫn không thấy gì. Hai Trung Đội được lệnh nằm lại đêm. Sáu giờ chiều bổng có tin toán hỗn hợp bắt sống được năm lính chính quy, bắn trọng thương một tên khác. Tịch thu sáu vũ khí trong đó có một thượng liên. Sợ vị trí bị lộ. Ông Trưởng cho trực thăng đến bốc tất cả về. Tôi tìm gặp Đại Úy Tuyển để nghe ông kể lại pha bắt sống năm tên địch như sau:

_Mình phục cạnh một con suối. Địch từ ngôi làng trước mặt tiến qua cánh đồng. Chúng đi rất ung dung. Tôi có chủ ý bắt sống cả bọn nên ra lệnh không được khai hỏa. Khi sáu tên địch đồng phục kaki vàng đến cạnh con suối chừng năm mươi thước, mấy binh sĩ Mỹ hồi hộp quá định nổ súng. Tôi phải vội cho mấy binh sĩ Dù can ngăn họ. Nổ súng vào khoảng cách này không chắc hạ được hết cả sáu tên, vũ khí chưa chắc đã chiếm được mà còn một điểm bất lợi là bị lộ vị trí. Tôi vẫn giữ nguyên ý định bắt sống. Toán địch đến bờ suối bên kia thong thả hàng một, hai tay dong cao, cầm ngang vũ khí lội dọc theo dòng suối. Nước ngập đến bụng chúng. Lúc bấy giờ toán kích núp kỷ sau các lùm cây vụt đứng lên chỉa súng hét lớn:

_ “Đứng yên.”

Năm tên đầu đứng yên, hai tay vẫn trong thế dong cao cầm ngang vũ khí, tên thứ sáu định hụp người xuống để lặn, lãnh ngay một băng M.16. Nó không chết nhưng bị thương nặng. Sáu tên này thuộc Tiểu Đoàn 6 Chính Quy Bắc Việt. Tiểu Đoàn này tháng trước bị tiểu Đoàn 2 Dù đánh tan ở ấp Vĩnh Lộc Bà Hom. Phần còn lại được lịnh phân tán mỏng. Tôi chia chiến lợi phẩm như sau: Nhảy Dù giữ vũ khí, Mỹ giữ tù binh. Tôi xin nằm lại đêm vì chắc thế cũng còn hốt thêm vài toán nữa. Nhưng ông Trưởng cho lệnh rút về…

Tôi ăn cái Tết hành quân đầu tiên trong đời mình. Chúng tôi đón giao thừa bằng những tràng pháo của Chuẩn Tướng Tổng Giám Đốc Cảnh sát Quốc Gia tặng. Tôi theo ông Trưởng đi thăm từng ban trong Đại Đội 30 rồi trở về Trạm Cứu Thương họp mặt cùng y tá. Tràng pháo nổ vang chào mừng tôi, lời chúc Tết ngập ngừng, cảm động của người Y Tá Trưởng. Bữa ăn thân mật giữa thầy trò ở một nơi đồng quê hẻo lánh, mang cho tôi nhiều hương vị mới về Tết. Tôi thấy mình giàu thêm kỷ niệm, kỷ niệm giàu thêm màu sắc. Tôi về chổ nằm lúc ba giờ sáng. Rượu làm tôi nặng đầu nhưng không làm tôi buồn ngủ. Tôi nằm nhớ Phong thằng bạn thân nhất của tôi đã tử trận hồi tháng sáu. Quá nhiều kỷ niệm về Tết giữa tôi và nó. Những đêm mưa phùn rét run ở Huế tôi cóc cách chiếc xe đạp qua Vỹ Dạ đến nhà một người con gái chơi đổ xâm hường. Hắn thầm yêu người con gái đó. Vào Sài Gòn nàng trở thành tình nhân của tôi. Khi Phong hay biết hắn chỉ cười than:

_Đi với mày tao chỉ có lỗ!

Một đêm giao thừa Phong say chếnh choáng đến ôm một cột đèn gọi lớn tên một vũ nữ mà hắn trồng cây si từ lâu. Vào năm tôi học lớp ba trường thuốc, những ngày áp Tết khi tàu của Phong còn lênh đênh tuần thám đâu đó dọc miền duyên hải, chiếc HQ 330 nơi tôi thường xuống ăn ngủ hàng tuần, thở quen dần không khí ngộp ngộp trong lòng tàu, thì một người con gái tìm gặp tôi, báo cho tôi biết…nàng đã có thai với Phong! Suốt một tháng trời tôi phải chăm sóc nàng. Phong vẫn biền biệt. Tôi tống một lá thư xỉ vã nó hết lời, bảo nó phải về cưới nàng gấp. Phong đã nghe lời tôi. Nhưng tôi không được dự lễ cưới, cũng như không được đưa đám tang của nó. Bây giờ thỉnh thoảng xuôi bến Bạch Đằng tôi vẫn thấy chiếc HQ 330 neo ở cầu A, cầu B, cầu C nhưng tôi sẽ không còn dịp xuống ăn ngủ dưới tàu ấy nửa..

Qua Tết một Hội Đồng Xã được thành lập ở Tân Nhựt. Như thế xã bất an ninh nhất đã được bình định vững vàng. Một số gia đình lục tục kéo về. Chúng tôi đạt được mục tiêu khó khăn nhất: Niềm tin của dân chúng.

Tiểu Đoàn 3 được lệnh về hậu cứ. Chúng tôi đóng vùng chợ Đệm đúng ba tháng một tuần. Buổi sáng rút quân đứng tì tay vào mạn chiếc L.C.V.P. tôi buồn rầu nhìn dân chúng hai bên bờ kinh Bà Tà khăn gói chạy về chợ Đệm. Chúng tôi cố rút thật êm nhưng mũi dân chúng rất thính. Khi tàu cập bến chợ Đệm tôi thấy quán cô Đào đóng kín cửa. Nhìn quân số ít oi của đơn vị bạn, tôi lo lắng không hiểu họ có cáng đáng nổi an ninh, vùng trách nhiệm khá rộng lớn của chúng tôi để lại. Tôi không tự khen đơn vị mình, nhưng phải thẳng thắn công nhận binh sĩ Tiểu Đoàn 3 đã gây được cảm tình và niềm tin trong lòng người dân chợ Đệm. Cảm tình, niềm tin đó tôi cầu mong đơn vị bạn tiếp tục duy trì, tăng trưởng…


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply