Trang Châu
Vietmessenger typing & Post by Sơn râu 21 July 2023


Phù Cát, Bình Phú III, ngày thứ sáu mươi tư, sáu lần trực thăng vận, mười cuộc hành quân bộ. Trừ bị, án ngữ cho Trung Đoàn 41, tiếp viện Trung Đoàn 40, hành quân phối hợp với Kỵ Binh Không Vận Mỹ. Từ đèo Bình Đê kéo về Bồng Sơn, từ Đề Đức đổ xuống đồi Dương Liễu, từ Phù Ly, Phù Mỹ lần ra Phù Cát, từ Phù Cát bốc ngược trở vào đồi 10. Chân chúng tôi dẫm mòn đất Bình Định, Tam Quan. Đã một lần thay đổi quân trang, hai lần lãnh lương hành quân. Cuộc biến động miền Trung làm hoãn ngày về của Chiến Đoàn II Dù đến lần thứ 5. Bao nhiêu bất mãn trút lên đầu những kẻ đấu tranh. Với những người mà cuộc sống chắp nối bằng những giây phút thách đố tử thần thì những mỹ danh: TỰ DO, DÂN CHỦ, quả thật không mấy hấp dẫn bằng một ngày về vui với vợ con. Sống giữa tập thể đó, chia xẻ nỗi vinh nhục của đời lính, để có lúc bất chợt thấy lòng mình cùng ước vọng bình thường như đám quân binh. Sài Gòn bây giờ xa tôi quá! Chương trình một buổi chiều thứ Bảy nào mời người yêu vào Rex xem chiếu bóng, ghé quán Chùa ăn kem, ra Mỹ Cảnh dùng tối và cuối cùng vào Baccara khiêu vũ là một dự tính xa xỉ phẩm tôi không còn nghĩ đến. Ước muốn tôi bây giờ thật giản dị: Tôi thèm một ly Coca có đá, một tô phở thật nóng cay, một thùng nước sạch để tắm rửa và một giấc ngủ ngon không tiếng súng đich khuấy rối. Một chút thoải mái thể xác để giữ vững tinh thần cho những ngày kế tiếp. Tôi còn cần gì nửa? Nếu có thể, cho tôi xin chút bóng mát tâm hồn. Một thằng bạn viết thư hỏi thăm tôi có thêm mối tình nào qua đường nửa không? Hắn dùng chữ “qua đường” làm tôi nghĩ đời tôi là một chuyến đi dài. Tâm tình chỉ là những thoáng vui, thoáng nhớ chấm phá chuỗi ngày khô cằn, máu lửa. Nhưng tôi tự nhủ trong mọi hoàn cảnh phải biết tự tạo cho mình niềm vui dù bâng quơ, vô nghĩa. Tôi rời Bồng Sơn mang theo hình ảnh một người con gái Huế -một cô giáo – che dù đi dưới cơn mưa. Tôi nhớ bửa ăn nàng thết tôi trưa hôm đó bàn tay thon thỏn gắp mời từng món ăn, nụ cười hồn nhiên gương mặt phảng phất buồn. Trọn buổi chiều tôi sống cảm giác êm dịu kẻ đi xa về họp mặt người thân. Niềm vui thật trong lành.
Nhưng con người vẫn có nhu cầu rất con người. Sau hai tháng hành quân người đàn bà nào dưới mắt tôi cũng trở nên gợi cảm. Phù Cát cách Qui Nhơn chừng ba mưới cây số đường bộ khá an ninh. Qui Nhơn trở nên một cám dỗ, một giải tỏa. Một buổi sáng tôi cùng Niệm, Quyền bên Tiểu Đoàn 8 phóng ra Qui Nhơn trên chiếc Land Rover mượn của ông Quận Phù Cát. Chắc chắn chúng tôi không phải là những ông thánh và hình như Qui Nhơn không phải là một nhà tu. Buổi chiều trên đường về, tôi có cảm tưởng đã bớt nhớ Sài Gòn, bớt tha thiết đến ngày về; tôi có cảm tưởng ngày mai tôi có thể ăn ngủ bất cứ đâu, đối diện với bất cứ hiểm nguy nào. Theo bánh xe lăn trên con đường đầy ổ gà, lắc lư trong đầu tôi một tư tưởng về chiến tranh. Chiến tranh nguy hại ở chổ không phải nhiều người chết, nó nguy hại ở chổ thú vật hóa người còn sống. Có nhiều chua chát bất chợt trong cảm nghĩ của tôi. Nhưng ở một khía cạnh khác, đối với một cấp chỉ huy quân sự, tạo được trong hàng ngũ binh sĩ mình cái gọi là nguy hại đó là một thành công. Phải sống đời lính mới biết thì giờ để suy tư thật ít oi. Và tôi quan niệm người lính thiện chiến không hẳn là người đã dự nhiều trận mạc, mà trước hết phải là người không thích suy nghĩ hay không có thì giờ để suy nghĩ. Tôi cũng đang dần dà trở nên người không có thì giờ để suy nghĩ…
Đêm hôm ấy chúng tôi nhận lệnh chuẩn bị hành quân. Mục tiêu: một vùng ven biển cách chừng ba mươi cây số Đông Bắc Qui Nhơn. Trong buổi họp hành quân tôi được biết Tiểu Đoàn 8 sẽ đổ xuống núi. Tiểu Đoàn 6 từ mặt biển tràn vào. Tình trạng quân số Tiểu Đoàn 6 hao hụt khá nhiều vì sốt rét, kiết lỵ và lở chân, nhưng điều đáng ngại là số Sĩ Quan bị bệnh gồm ông Sĩ Quan ban 3 và ba ông Đại Đội Trưởng. Ba ông Thiếu Úy Trung Đội Trưởng lên xử lý thường vụ. Trách nhiệm điều quân đè nặng lên vai hai ông Tiểu Đoàn Trưởng và Tiểu Đoàn Phó. Thời gian dự trù là bốn ngày. Lội cú chót. Chúng tôi được thượng cấp hứa như vậy. Nhưng với tình hình còn rối rắm này và nhất là sau năm lần bị hoãn ngày về chúng tôi đâm ra dè dặt lòng tin. Tám giờ sáng hôm sau, Tiểu Đoàn 8 được trực thăng vận chiếm các cao điểm trước. Mười giờ Tiểu Đoàn 6 kéo ra bãi trực thăng. Trời nắng gay gắt. Hai mươi bốn chiếc UHBI chia làm hai đợt bay đi bay về chuyển quân. Dân Phù Cát ra đưa tiễn chúng tôi khá đông đảo. Con nít nhiều hơn người lớn và đàn bà đông hơn đàn ông. Năm ngày dưỡng quân quá đủ để những chàng lính Dù hào hoa gây cảm tình. Bên này bên kia hàng kẽm gai, từng chiếc nón lá chụm vào chiếc nón sắt. Họ tâm sự gì cùng nhau chỉ có Trời biết. Chỉ nghe thỉnh thoảng có tiếng nói lớn:
_Đừng nghe nó dụ về Cấp mà khổ thân nghe em! Nó một vợ hai con rồi! vợ nó dữ lắm…!
Tiếp theo là những tràng cười vỗ vã.
Tiểu Đoàn 8 đổ quân an toàn, mười giờ ba mươi, Đại Đôi 62, 63 được bốc đi. Tôi ngồi theo dõi cuộc đổ quân qua chiếc máy bay của ông Đại Đội trưởng 60. Báo cáo cho biết các phản lực cơ đang bắn phá bãi đáp, có hỏa lực địch nhắm lẻ tẻ lên các trực thăng. Mười một giờ đoàn trực thăng những con chim chài sà xuống cặp chúng tôi bay vút đi. Trực thăng đưa chúng tôi ra biển, hạ thấp xuống và bay vòng trở vào. Qua nhanh dưới mắt tôi màu xanh mênh mông biển cả, màu vàng bãi cát hoang sơ, màu xám chì dãy núi đá. Cảnh thật hùng vĩ. Nếu không có những đám lửa, những cột khói bốc cao, tiếng bom long trời, tiếng gầm thét của phản lực cơ, có lẽ tôi đã giàu tưởng tượng nghĩ mình là một du khách đế vương đang thưởng ngọa một danh lam thắng cảnh.. Bãi đáp là một cánh đồng trống bùn lầy. Sừng sững trước mặt, bên trái chúng tôi dãy núi đá chênh vênh. Bên phải là một bìa làng, mục tiêu đầu tiên của Tiểu Đoàn 6. Hai Đại Đội 62, 63 tiến chiếm bìa làng không gặp kháng cự nào đáng kể. Nhưng ở hai triền núi, hỏa lực địch nhắm vào các trực thăng thật là đáng ngại. Phản lực cơ, gunship hoạt động mạnh mẽ nhưng tiếng súng địch vẫn chói tai tiếp đón chúng tôi. Nhảy ra khỏi trực thăng, bùn nước ngập đến nửa ống chân. Chúng tôi tản nhanh vào bờ làng. Còn một Đại Đội nửa là cuộc đổ quân hoàn tất. Tôi được biết theo kế hoạch. Tiểu Đoàn 8 sẽ đổ đồi rồi cùng Tiểu Đoàn 6 song song lên mục tiêu II để đóng quân đêm ở đó. Đại Đội Chỉ Huy bố trí góc theo lũy tre bao bọc bìa làng. Một ngôi nhà ngói bị trúng bom sụp đổ còn nghi ngút cháy. Tôi ngồi tựa lưng vào một gốc xoài, mở bi đông nước tu một hơi. Định bảo tên “đệ tử” mang cơm ra ăn thì một tiếng ầm làm tôi giật bắn người. Tôi nghe mảnh bay rào rào qua lá cây. Có tiếng bàn tán:
_Chúng nó câu 60 ly.
_60 ly sao không nghe tiếng “đề ba” (depart)?
_Chắc thằng nào dẫm phải lựu đạn.
Tiếng nổ ở phía Đại Đội 61. Tôi cho trạm Cứu Thương chuẩn bị. Một lát báo cáo máy cho biết năm “con” bị thương. May mắn không có vết thương bụng hay ngực. Cả năm bị mảnh ghim vào hạ chi, hai trường hợp gãy hở xương ống chân. Tôi yêu cầu xin trục thăng di tản thương binh. Đại Úy Smaldone, cố vấn trưởng cho tôi biết mười lăm phút nửa trực thăng đến. Tản thương là một vấn đề phải được giải quyết nhanh chóng khi đơn vị đang hay cần di chuyển. Tôi cho đưa các thương binh ra bãi đáp. Hai phải khiêng cáng, hai phải dìu. Cánh đồng nắng chói, vắng vẽ, nằm phơi mình dưới hai mặt núi lầm lì. Tôi gặp Trung Úy Black cố vấn phó đang đứng liên lạc địa không. Anh vừa từ Mỹ sang, về Tiểu Đoàn 6 được hai tháng và hành quân lần đầu. Thấy tôi và đám y tá khiêng dìu thương binh ra, anh đưa năm ngón tay làm dấu, miệng nói thêm:
_Bác Sĩ, năm phút nữa.
Hai chiếc gunship xuất hiện, đảo vòng hai mé núi. Từ mặt biển một chiếc trực thăng sơn chữ thập đỏ là là bay thấp vào. Khi hai chiếc cáng vừa cập cửa trực thăng thì mấy loạt tiểu liên từ trên núi bắn xuống, tiếng nổ khô dòn như tre hóp cháy. Đạn bay chéo chéo nghe rất gần nhưng không rõ từ đâu. Đám y tá đẩy vội các thương binh lên rồi chạy kiếm chổ ẩn. Tôi nửa bình tĩnh nửa sợ; nửa muốn đứng yên, nửa muốn đi núp. Tôi bắt gặp tia nhìn của Black, anh vẫn đứng yên. Anh còn đứng đó có thể vì anh can đảm, có thể vì anh thấy tôi không bỏ chạy. Máu tự ái trong người tôi bỗng nổi lên, buôc tôi vào cái thế không chì không được. Thật là trẻ con. Nhưng biết đâu sự trẻ con thường xuyên ấy làm Nhảy Dù nổi tiếng. Nhưng khi chiếc trực thăng nhớm càng, xoay mình để bay ra biển thì địch lại bắn rất rát. Lần này cả Black lẫn tôi không ai bảo ai, cùng một lúc đánh mấy phóc, đến sau mô đất cao.
Tôi qua một giấc trưa ngắn nhưng ngon lành dưới những tàn cây lổ đổ nắng. Đám y tá phải ngạc nhiên trước sự dễ ngủ của tôi. Tôi có thể ngồi ngủ, đứng ngủ, ngủ từng mười phút dừng quân. Có lẽ nhờ vậy nên ăn uống kham khổ, hành quân cực nhọc tôi không ốm trái lại còn mập ra. Một giờ ba mươi chuẩn bị di chuyển. Ngoài tốp người tình nghi do toán an ninh canh giữ. Tôi thấy tụ tập sau trạm Cứu Thương một đám chừng ba mươi người, hầu hết là đàn bà, trẻ em. Họ xin theo chúng tôi ra vùng an ninh. Hình ảnh một thiếu phụ và một cậu bé khiêng võng một bà già lết bết theo chúng tôi làm mọi người vừa cảm động vừa lên tinh thần. Hai người đàn ông tình nghi được chỉ định khiêng bà cụ. hai năm qua Cộng Sản đã làm gì dân vùng này để họ oán ghét. Chắc cũng tại trò đếm đầu người, đầu vật, gốc cây để đánh thuế.
Chúng tôi tiến chậm nhưng yên tĩnh qua cồn cát lún, rãi rác những mái nhà tiêu sơ ẩn dưới những rặng thông. Số dân khăn gói nhập vào đám người lánh nạn tăng lên qua mỗi chặng đường. Bỗng có tiếng súng nổ xa bên cánh trái chúng tôi. Tiểu Đoàn 8 chạm địch. Phía Tiểu Đoàn 6 vẫn im lìm tuy đầy dấu vết địch trên lộ trình tiến quân. Ra khỏi làng Cát Khánh, chúng tôi đến dưới chân một dãy đồi cát cao chạy dài không dứt. Tôi nghe tiếng thông reo, tiếng sóng vỗ. Leo lên đỉnh đồi cao nhất tôi thấy biển thật gần. Một chiếc tàu chiến hạm Mỹ hiện diện tại eo biển tự bao giờ.
Năm giờ chiều, không có lệnh đóng quân, trái lại có lệnh sẵn sàng tiếp ứng Tiểu Đoàn 8. Tiểu Đoàn này đổ quân đụng mạnh với đich. Tin sơ khởi phía 8 Dù ngã bốn “con”, bị thương 9. Trong số tử thương có một Hạ Sĩ Quan cố vấn Mỹ, thượng sĩ Rami. Tôi lẩm bẩm “Mới ngày đầu mà chiến trường coi bộ sôi động quá!” Bác Sĩ Niệm giờ này chắc đang vất vã. Tự nhiên tôi đâm chán cái nhàn của mình. Tôi tình nguyện về Nhảy Dù đâu phải để mua chữ nhàn. Tôi yêu cái vất vã đầy kiêu hãnh của binh chủng này. Niềm kiêu hãnh mà mỗi người lính Dù có bổn phận phải bảo vệ, bằng mọi giá, kể cả giá mạng sống mình. Niệm đã mang cho tôi lòng khao khát niềm kiêu hãnh đó. Còn nhớ một buổi chiều thứ bảy nào, từ mặt trận Đức Cơ về, anh ghé thăm bệnh viện Sài Gòn, nơi trước đây một năm anh từng là nội trú. Giữa một vòng tròn nữ y tá xinh đẹp mắt sáng ngời thán phục. Niệm trong bộ đồ saut bạc thếch hiên ngang kể lại những ngày bị vây hãm ở Đức Cơ. Tôi nhắm mắt tưởng tượng một chiếc đồn nhỏ bé bốn bề tường núi vây quanh, hồi hộp theo dõi những đợt tải thương lên phi cơ dưới cơn mưa pháo lích xuống phi đạo. Tôi tưởng như chính mình đang sống chui rúc dưới hầm, ăn ngủ đều luôn luôn có nón sắt. Niệm đã giúp tôi khám phá ra tôi cũng có máu Nhảy Dù. Bây giờ tôi đang sống cùng anh những gì mà trước kia tôi chỉ nghe anh kể. Bây giờ tôi đang ngồi bình yên bên này, thông cảm nỗi vất vã của anh bên kia..
Sáu giờ rưỡi chiều vẫn chưa có lệnh đóng quân. Súng vẫn nổ lưng chừng những dốc núi. Bốn chiếc F.101 liên tục dội bom, bắn phá, Tiểu Đoàn 6 lục soát hạ hai du kích, bắt sống năm tên, giữ thêm mười lăm tình nghi. Dân chúng được tập họp xuống một lũng sâu giữa hai sườn đồi cát vừa dễ bảo vệ, vừa dễ kiểm soát. Người y tá Đại Đội 64 kể tôi nghe chuyện một cô gái vừa được giải thoát. Nàng làm nghề thợ may ở Qui Nhơn về thăm nhà ở Cát Khánh, bị Việt Cộng bắt và kết tội do thám. Suốt sáu tháng qua cô bị chúng giam dưới hầm và bắt làm ..hộ lý. Khi được đưa ra khỏi hầm cô ôm chân một anh lính Dù khóc ròng…
Tám giờ tối, phía Tiểu Đoàn 8 mới im tiếng súng. Có lệnh đóng quân, nhưng cấm nấu ăn: ánh lửa giờ này dễ làm lộ vị trí đóng quân. Nhưng chúng tôi không sợ đói vì đã mang sẳn một ngày ăn. Lúc chiều các binh sĩ có lệnh nhường bớt phần cơm cho đồng bào vì một số ra đi không mang theo lương thực. Điều làm tôi lo ngại số dân chúng bỏ nhà ra đi chắc chắn sẽ còn nhiều trên khoảng đường ba ngày ngày kế tiếp. Đoàn người tị nạn phải bảo vệ kia sẽ là một trở ngại lớn cho Chiến Đoàn II Dù trong nhiệm vụ lùng và diệt địch. Tôi nghe nói đến giải pháp sẽ nhờ Mỹ đem Shinook chuyển dân chúng về Phù Cát, nếu giải pháp trên không thực hiện được, không khéo cuộc hành quân diệt địch sẽ biến thành cuộc hành quân di dân..
Chín giờ tối, ba chiếc khu trục đến thay các phản lực cơ tiếp tục dội bom và oanh kích. Chiếc tàu chiến Mỹ cũng bắt đầu câu hỏa tiễn vào một eo núi. Từ tàu vút lên hai vệt đỏ song song xé gió qua đầu tôi, lao đến vùng núi tối đen rồi lóe lên những đóm lửa. Vài trái hỏa tiển phát nổ trên không, những mảnh lửa bắn tung như những tia pháo bông. Phía Tiểu Đoàn 8 từ hông một chiếc C.47 vung vãi xuống những lằn lửa ngoằn ngoèo, vài giây sau tiếng nổ mới lụp bụp đến tai… Tôi ngồi viết nhật ký một lúc dưới ánh hỏa châu soi sáng vùng đóng quân. Tiếng thông vi vu, tiếng sóng rì rào gợi cho tôi nhiều kỷ niệm về biển. Tôi nhớ Thuận An, bãi biển có hai lớp sóng: những ngọn sóng lớn ăn dần bãi cát và những con sóng ngầm trong lòng các thiếu nữ đất thần kinh đi tắm biển. Tôi nhớ Nha Trang với thoáng buồn: những ngày vui Hòn Chồng, Cầu Đá không ngăn mối tình tan vỡ. Tôi nhớ Vũng Tàu, bãi trước bãi sau ngây ngây mùi tình rác rưỡi. Ba miền biển, ba chặng đường đời. Tôi đã đến Sa Huỳnh, tôi đang nằm bên bờ Cát Khánh. Chiến tranh còn đưa tôi đi khám phá bao nhiêu bờ biển lạ nữa của quê hương? Tôi vóc tay bóc nắm cát, một mùi hương mặn thơm lên mũi. Tôi thầm ao ước đến đâu cũng ngửi được mùi hương đất nước này. Tôi trở mình nằm nghiêng. Con tàu Mỹ đã ngừng bắn phá, nhưng bên kia vùng núi đen còn bập bùng đám lửa. Tôi bỗng nhớ chuỗi ngày sống trên những cao điểm. Từ trên cao nhìn xuống tôi đã thấy gì, cảm nghĩ gì? Tôi lần lượt gọi tên những ngọn đồi..
Cứ điểm chiến lược ban ngày nóng như thiêu, ban đêm lạnh run là Đồi 10. Tôi đã qua ba đêm đầu mất ngủ vì hoạt động của hai khẩu đại bác đặt trên đỉnh đồi. Nhưng nắng nóng, bụi bặm, tiếng nổ rồi cũng quen đi, cả đến cái chết nhìn cũng quen đi. Ở đó một quả 105 ly vừa ra khỏi nòng phát nổ làm thiệt mạng một Sĩ Quan và hai pháo thủ. Ở đó tôi được tin Phong tử trận, thằng bạn thân nhất của tôi. Tôi sẽ không còn dịp khi về Sài Gòn tìm sỉ vả hắn tội phá hỏng chiếc Scooter của tôi rồi vất đấy. Với lon Đại Úy Hải Quân trên vai những tưởng hắn thọ hơn hai mai nơi cổ áo tôi nhiều. Thế mà hắn chết, bất ngờ không tin được. Hắn đi vào lòng biển cả trên đường thi hành một hải vụ xa xôi. Bạn bè cứ loãng dần từng đứa! Sau Phong sẽ đến ai? Chiến tranh còn tiếp diễn, hãy dành phần lựa chọn cho nó. Ở đó một đêm trăng tôi được thú tao nhã nằm nghe một “nữ đồng chí” ngâm thơ giọng Quảng. Đại để nàng khuyên chúng tôi nên bỏ súng quay về với nhân dân giải phóng. Sau hai tràng đại bác tiếng ngâm thơ im bặt. Sáng hôm sau dân làng khiêng đến tôi một thiếu nữ bị mảnh đạn ghim vào hông phải. Tôi tự hỏi người ngâm thơ đêm qua và người bị thương sáng nay có phải là một? Tôi nhớ tuần lễ nướng da trên đồi Chương Hòa, ngọn đồi đá tảng nóng đến bốc khói vào đúng ngọ. Tôi có những buổi trưa hầm người dưới lều bự bội nằm nghe cơn biến động hậu phương qua chiếc máy thu thanh. Ở đó, tôi đã viết gửi một thằng bạn đang hung hăng “xuống đường” ở Sài Gòn bài thơ cay cú nhất đời mình.
Xin một ngày
Mày nói anh em
Ngưng một ngày đấu tranh
Xin các Thầy
Đêm nay Rằm
Đình chỉ xuống đường
Xin các Cha
Sáng mai Chúa Nhật
Đừng căng biểu ngữ
Mày nói hậu phương
Đừng nhân danh chúng tao
Nói những tên tham nhũng
Ngưng đục khoét một ngày
Nói các tay gian thương
Giảm giá hàng một buổi
Mày nói bác tài xế Taxi
Sáng mai có thằng nhà binh đi phép
Nó gọi xe nên ngừng lại
Nói ông chủ nhà đèn
Đừng cúp điện đêm nay
Mày nói người đàn bà có chồng đi xa
Ngưng một ngày ngoại tình
Nói các em bán bar
Hôm nay cuối tháng
Đừng đi với ngoại kiều
Tất cả để khi tao về
Thấy một niềm an ủi
Tất cả cho ngày tao đi
Trong tâm hồn phấn khởi
Mày nói mọi người
Hãy lừa dối tao
Đừng cho tao hay sự thật
Tao sẽ chết đi
Nếu không đào ngủ
Tôi có những buổi chiều êm ả, ngồi trên mõm đá, nhìn ra khơi, mặt biển Sa Huỳnh xanh ngắt phất phơ những chấm buồm vôi, hay nhìn xuống ven chân đèo Bình Đê làng mạc rừng dừa ẩn hiện trong làn sương mỏng..Tôi có những đêm ngồi nhìn bầu trời lấp lánh, lòng chân thành muốn gởi tới trăng sao một điều ước nguyện: Cho tôi được làm một người Việt Nam không Công Giáo, không Phật Giáo, một người Việt Nam không quân sự, một người Việt Nam không dân sự; một người Việt Nam không Bắc, không Nam; một người Việt Nam chiến đấu không bao giờ thắc mắc mình chiến đấu cho ai; một người Việt Nam yêu nước bằng cuộc đời mình…
Đèo Nhông, đèo Phù Củ, Đề Đức, Dương Liễu, những địa danh khiêm tốn trên bản đồ nhưng vĩ đại trong lòng tôi. Những cao điểm nhìn xuống để thấy những tị hiềm nhỏ nhen vời vợt dưới chân để nghe dâng lên trong hồn tình quê hương bao la…Tôi đã và đang học những bài địa dư quí báu bằng mồ hôi của mình và máu các đồng đội. Tôi thấy mình không lập dị khi muốn hét thật to: “Cám ơn chiến tranh, đã cho tôi xa thành phố!”
Tờ mờ sáng hôm sau dân lánh nạn kéo đến càng đông, số người đã ngót ba trăm. Tiểu Đoàn 6 chúng tôi lãnh nhiêm vụ bảo vệ họ. Mười giờ hơn mới di chuyển. Chúng tôi đi quanh mõm núi nằm ven biển. Trời nắng chan chan. Gió biển thổi lồng lộng, tuy vậy vẫn mệt, tháo mồ hôi và khát nước. Hai chiếc F.101 oanh tạc dọc đường tiến quân. Bom Napalm trút xuống những nơi khả nghi, có khi cách đoàn người không đầy hai trăm thước. Tiểu Đoàn 8 mở đường đụng nhẹ với du kích, hạ được năm tên. Đồng bào điểm mặt, mấy xác chết nằm vắt ngang lối đi. Triền núi vẫn đứng nhìn xuyên hông chúng tôi, đầy hăm dọa. Tôi có cảm tưởng kẻ thù đang lén lút bám sát theo chúng tôi, chờ một phút sơ hở, đôi kẻ chậm chân là nhảy ra giành giựt lại đám dân. Đồng bào như cũng đánh hơi được sự nguy hiểm ấy, nên mặc dù đã được một Đại Đội bọc hậu, họ vẫn dồn sát lên Đại Đội Chỉ Huy. Chúng tôi khản cả cổ mà vẫn không thành công mấy trong việc gom dân chúng lại đằng sau.
Vào một lúc dừng quân, một người đàn bà ẳm đứa bé chừng hai tuổi, ghẻ chốc đầy mình đến tôi xin thuốc. Tôi nghĩ thầm chắc lại ông thần tác chiến nào quảng cáo rồi. Tôi không cho cũng đành, nhưng nếu cho thì chẳng mấy chốc con bệnh sẽ ùn ùn kéo đến. Số thuốc mang theo có hạn và phải dành cho binh sĩ. Tuy thế buổi chiều sau khi đóng quân kiểm số thuốc, tôi thấy cũng hao mất hơn năm mươi viên trụ sinh và hơn một trăm viên thuốc các loại.
Chúng tôi đi qua một khu dân cư nghèo nàn. Khối người ra vùng an ninh lại có dịp tăng lên. Lẫn trong đám bụi mù, người vật lẫn lộn, tiếng gọi nhau ơi ới, tiếng trâu bò rống, tạo nên một cảnh hỗn độn vui mắt như một ngày phiên chợ. Năm giờ chiều. Đóng quân giữa một vùng trống trải, mặt hướng về núi, lưng quay về một cái đầm lớn tên là Đầm Đề Di. Trong câu chuyện bữa cơm chiều, chúng tôi lo lắng vấn đề tiếp tế lương thực cho dân chúng. Còn những hai ngày đường mà trong non một nghìn người lánh nạn, con số ra đi với hai bàn tay trắng không phải là ít. Công điện xin tiếp tế lương thực cho dân chúng không được thỏa mãn với lý do không có chương trình dân sự vụ cho cuộc hành quân diệt địch này. Niềm tin còn lại là đoàn người can đảm kia sẽ đùm bọc lấy nhau để vượt mọi thử thách.
Chúng tôi qua đêm bình yên. Bảy giờ sáng di chuyển. mặt trời lên cao sớm. Da thịt bắt đầu cháy rát dưới ánh nắng. Băng qua làng Cát Minh rồi Cát Thành. Vào lúc ngồi nghỉ chân dưới một mái nhà tranh, tình cờ được nhìn vào một miếng gương, tôi suýt không nhận được ra tôi: mặt mũi, phía biển thì cháy rốp, lột da từng mảng nhỏ, phía núi thì đen đen, đỏ đỏ bóng nhờn. Nhan sắc tàn phai thế này không biết ngày về Sài Gòn còn ai nhìn ra tôi không? Ít nhất cũng còn một người nhận ra tôi, tôi vui vẽ tin như thế. Tiểu Đoàn 8 tiến vào một khu nhà ngói bắn chết ba du kích, khám phá hai kho gạo, một kho muối. Phía Tiểu Đoàn 8 một Hạ Sĩ Quan bị bắn sẻ trúng đầu. Niệm gọi máy nhờ tôi di tản dùm người thương binh vì Trạm Cứu Thương phải tiếp tục theo Tiểu Đoàn đi lục soát. Người Trung Sĩ được đưa đến tôi trong tình trạng hôn mê. Máu nhượm đỏ cả lớp băng đầu. Viên đạn xuyên thủng nón sắt, đình trán và trổ ra sau mang tai trái. Tôi bó tay ngồi nhìn vết thương biết rằng mọi cố gắng cấp cứu nào của mình cũng vô ích. Tôi bỗng lặng người nhìn hai tay người bị thương cử động: bàn tay phải đưa lên mở nút túi áo, móc bao thuốc lá rút ra một điếu thổ thổ vào lòng bàn tay trái rồi đưa lên môi. Điếu thuốc rơi xuống và bàn tay lại tái diễn những động tác mở nút túi áo lấy bao thuốc. Tôi vụt liên tưởng đến hình ảnh một con cóc của buổi thực tập môn sinh lý học năm nào, con cóc bị phá hủy não bộ, chỉ còn tủy sống để làm thí nghiệm, con cóc mà tôi đã tinh nghịch nhỏ một giọt cường toan lên lưng nó để thấy nó đưa chân sau lên phủi lia lịa vào lưng làm như nó còn biết đau, biết phỏng. Người thương binh của tôi bây giờ cũng đang có cử chỉ như còn biết lấy thuốc hút. Chiếc trực thăng tản thương đến giải thoát tôi một cảnh chứng não lòng.
Tiểu Đoàn 6 tiến vào khu nhà ngói. Dân chúng đã gồng gánh ngồi chật cả hai bên đường chờ chúng tôi. Có lệnh mở kho gạo và muối phát cho dân. Khó khăn to lớn nhất vừa được giải quyết.
_Trời sinh, Trời dưỡng.
Một cụ già lễ mễ bưng một nón gạo nói với tôi như thế. Đich cũng bỏ lại hai thùng thuốc men. Tôi tưởng sẽ đọc thấy những nhãn hiệu Tiệp Khắc, Trung Cộng hay Nga Sô. Nhưng không, vẫn những loại âu dược tốt và khan hiếm của Sài Gòn. Làm sao các thứ thuốc ấy lại có ở vùng quê hẻo lánh này? Tôi đặt câu hỏi nhưng không tìm câu trả lời.
Chúng tôi đóng quân khi ánh nắng còn vàng hoe trên những sườn núi đá. Những vách núi như cao hẳn lên vì chúng tôi ở sát chúng hơn bao giờ hết. Tiếng súng địch bắn vào các trực thăng lên xuống nghe gần hơn, nguy hiểm hơn. Và đoàn người lánh nạn đã trên dưới hai ngàn người càng làm chúng tôi bận tâm hơn. Chiến Đoàn chỉ thị đề phòng địch không những từ ngoài vào mà có thể trong đám dân ra nửa. Đồng bào được tập trong vào một khu xa Bộ Chỉ Huy; có lệnh cấm họ không được rời xa chổ ở sau bảy giờ tối. Và địch đến viếng chúng tôi sớm hơn dự tính: hai toán du kích hai mặt bò vào phòng tuyến của Tiểu Đoàn 6 bị phát giác. Một toán trọn ba tên bị bắt sống, toán kia hai tên bị bắn hạ. Trường hợp bắt sống ba tên du kích khá hy hữu: lúc ấy trời vừa tối. Một anh Hạ Sĩ ôm quả mìn định hướng ra xa vọng gác để gài, mói mon men chừng mười bước anh chạm trán vói ba bóng đen cũng đang mò mẫm đi vào. Biết gặp địch anh Hạ Sĩ nhanh trí hai tay đưa quả mìn lên như thế cầm súng, miệng hét to:
_Đứng yên, dơ tay lên!
Bị bất ngờ ba tên đich súng còn mang trên vai, riu ríu vâng lời. bấy giờ anh Hạ Sĩ mới gọi người tiếp ứng. Dù mệt mỏi suốt đêm hôm ấy tôi mất ngủ vì hai chân đau buốt sau mấy ngày đường. Có lúc vừa chợp mắt thì nghe nhức nhối ở lưng và chân. Dưới ánh sáng của cây đèn bấm tôi ghê hồn nhìn những chấm đen lúc nhúc cùng chăn mùng: “rệp!” Một lọ thuốc muỗi giúp tôi được nằm yên nhưng tỉnh người và khó thở vì mùi thuốc nồng nặc. Tôi trằn trọc nằm nghe tiếng hỏi cung mấy tên du kích bị bắt, tiếng K.50 lâu lâu khuấy rối khoảng đêm tịch mịch. Hình ảnh người Hạ Sĩ Quan bị thương nhấp nháy hiện ra. Cử chỉ móc túi lấy thuốc hút ám ảnh tôi, nó đưa anh xuống ngang hàng cùng loài vật chỉ có tủy sống! Và trong đời y sĩ của tôi, lần đầu tiên tôi không mong cứu sống một người, trái lại tôi mong anh chết đi càng sớm càng đỡ đau đớn, không phải cho anh mà cho những người chứng kiến cảnh anh tàn hoại..
Sáng hôm Sau Chiến Đoàn thay đổi lộ trình di chuyển. Chúng tôi không đi trên đường lộ nửa, con đường bắt đầu vòng sát chân núi một khoàn ngót hai cây số bản đồ. Di chuyển trên một địa hình như thế rất bất lợi. Nhiệm vụ của Chiến Đoàn Dù bây giờ là bảo vệ đoàn di dân trên đoạn đường năm cây số còn lại. Chúng tôi băng đồng, xuyên làng mạc, xa dần dãy núi. Dân chúng vì gồng gánh, bồng bế cồng kềnh, lại vướng các súc vật đem theo nên nối đuôi chúng tôi rất chật vật. Nhưng mệt nhọc không làm chúng tôi, quân cũng như dân, chùn bước. Niềm hân hoan của dân là thở được không khí vùng tự do, niềm vui của chúng tôi là lần này chắc chắn được về hậu cứ.
Không hiểu vì sự thay đổi lộ trình của chúng tôi hay vì đich không dám bám sát theo, mà trên đường tiến ra vùng kiểm soát hoàn toàn yên tĩnh. Chúng tôi nhìn thấy quốc lộ số 1 lúc hai giờ chiều. Dừng quân ở làng Vĩnh Tường, chờ xe Phù Cát ra đón. Một số dân chúng tản mác hoặc tự túc đón xe đi Phù Cát, Qui Nhơn. Phần đông đảo còn lại chờ phương tiện của Quận đưa về trại định cư. Nhìn họ tôi bâng khuâng lo lắng: Phải làm gì để tạo hứng khởi, giữ niềm tin Quốc Gia trong lòng những người dân chán ghét cộng sản này? Phải làm gì để họ không ân hận đã ra đi? Những câu hỏi quá to lớn, ngoài thẩm quyền của tôi. Tôi chỉ có quyền hy vọng. Những cô thôn nữ đẹp chất phác kia, những cậu bé hiền lành kia, tôi hy vọng hoàn cảnh xã hội ta sẽ không hóa thân họ thành những cô gái bán bar trơ trẽn, những chú nhỏ ma cô làm ung thối thêm thân thể Quê Hương.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.