Một cuộc săn du kích

Trang Châu

Y Sỹ Tiền Tuyến from Vietmessenger

Typing & Post by Sơn râu 20 July 2023

Chúng tôi đang ở ngày thứ hai mươi tám của cuộc hành quân Bình Phú III tại Tam Quan. Vừa từ làng Tân Mỹ rút về Hoài Thanh đóng quân cạnh đường xe lửa. Binh sĩ mới đặt súng xuống đất du kích đã mò đến bắn khuấy phá. Tôi có cảm tưởng ở Tam Quan mỗi người dân ban ngày là một du kích ban đêm. Làm dân sự vụ cho vùng này thật vô bổ: thuốc men cho họ vẫn lấy nhưng lòng họ vẫn hướng về quân thù. Vào những lúc bình tâm nhất tôi ngồi phân tích tìm hiểu nguyên nhân nào dân chúng thiên về Cộng Sản: Gần hai năm sau trận lụt Tam Quan mất kiểm soát. Tuyên truyền, cưỡng bách đã biến phần lớn dân làng thành Việt Cộng. Sau cuộc hành quân Thần Phong 11, quân chính phủ kiểm soát lại được một phần Tam Quan, nhất là trục giao thông. Nhưng chúng tôi chưa nắm được dân chúng. Dân ở đây chống  chúng tôi không vì một lý tưởng cao đẹp nào mà chỉ vì mối liên hệ gia đình giữa họ và quân du kích. Thuốc men của tôi chỉ là những hạt muối bỏ bể, khi mà mỗi tên du kích bị bắn hạ lại là một thân nhân của dân làng. Họ không có cảm tình với chúng tôi ra mặt, kín miệng như những con hến. Tôi nghĩ muốn diệt hết du kích đôi khi cần phải tàn bạo với cả gia đình họ nữa. Nếu vì liên hệ gia đình mà dân làng chống chúng tôi thì cũng có thể vì liên hệ gia đình quân du kích không dám quấy rối chúng tôi. Đoạn đường từ Phù Cát ra Qui Nhơn do quân đội Đại Hàn kiểm soát rất an ninh, du kích không dám  về hoạt động. Tôi tự hỏi sự an ninh kia có phải nhờ quân Đại Hàn giỏi đánh du kích hay vì nhờ du kích sợ quân Đại Hàn không cần biết mối liên hệ giữa họ và dân làng?

Năm giờ chiều, một chiếc H.34 đáp xuống Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn Dù: Chuẩn Tướng Tư Lịnh Sư Đoàn 22 đến. Chắc lại sắp “lội”. Tối hôm đó có lịnh ngày mai xong xuôi trước sáu giờ, một ngày cơm. Mục tiêu hành quân là vùng Tây Bắc Bồng Sơn. Tin tức cho biết quân số địch chừng một đại đội. Lực lượng chúng tôi gồm có hai Tiểu Đoàn Dù, một Chi Đoàn Thiết Quân Vận và tám trực thăng võ trang yểm trợ. Lực lượng hùng hậu như thế nhưng chúng tôi không hy vọng nhiều vào chiến quả khi đối thủ chỉ là những toán du kích vùng. Thường thường với những cuộc xuất quân rầm rộ, du kích hay được báo động để phân tán lẫn tránh kịp thời. Cứ trung bình năm cuộc tảo thanh thì hết ba vào mục tiêu chúng tôi chỉ thấy dấu vết địch. Phải đi lục soát bắt tình nghi. Sống lẫn với dân, nhờ dân họ lấy tin tức về chúng tôi rất chính xác; thông thạo địa thế họ hướng dẫn quân chủ lực đến tấn công bất thần vào các đơn vị bộ binh. Du kích vùng Tam Quan là những con cáo tinh khôn và nguy hiểm cần phải tiêu diệt. Phải tung một lực lượng hai mươi lần đông hơn để chận bắt từng con một. Kết quả tùy thuộc một yếu tố duy nhất: sự bất ngờ.

Bảy giờ sáng hôm sau Tiểu Đoàn di chuyển. Băng qua đường xe lửa trước mặt chúng tôi là những ngọn đồi đất thoai thoải. Dừa, mít, vườn sắn bao bọc những mái tranh rải rác trên đồi. Dân chúng kéo ra ngồi trước cửa nhà hay ngoài sân lặng lẽ nhìn chúng tôi đi qua. Mấy bà cụ chắp tay chào chúng tôi, miệng cố tạo một nụ cười. Những người đàn bà dò xét chúng tôi. Họ có vẽ lo âu cho ai khác hơn là cho họ. Tôi có thể đoán họ lo sợ họng súng của chúng tôi trong chốc lát chớp mất của họ vài người thân, biến một ít thành góa phụ. Nhưng ngoài tiếng cánh quạt kêu “tình tịch” của bốn chiếc trực thăng võ trang lượng vòng trên không, khu vực tiến quân yên tĩnh. Không bóng dáng một người đàn ông. Nhưng cái bụng u u của mấy người đàn bà vẫn tố cáo sự hiện hữu của họ đâu đó. Nếu có ai hỏi chồng các chị đâu , chắc chắn họ sẽ trả lời đi lính quốc gia hay bận làm ăn xa trên tỉnh. Tôi mĩm cười thầm với ý nghĩ chắc những người đàn bà có chồng ở xa này thụ thai bằng phương pháp…hàm thụ!

Khi toán kinh binh của đại đội 62 đi đầu định vượt qua một đồng lúa thì hỏa lực đich từ những ngọn đồi bên kia bờ ruộng bắn sang. Tôi nghe tiếng đại liên M.60, tiếng M.79 nổ dồn dập. Phi công trực thăng báo chúng tôi biết, họ quan sát thấy VC ngụy trang bằng lá cây đang rút chạy qua những ngọn đồi. Trực thăng bắt đầu xả đại liên và phi đạn truy kích. Chúng tôi được lịnh băng qua cánh đồng, chạy cách khoảng và thật nhanh. Tiếng súng trường vẫn rời rạc đáp lại những tràng liên thanh ròn rã, tiếng M.79, tiếng phi đạn ầm ầm. Tôi đến bên này bờ ruộng. Cánh đồng rộng chừng hai trăm thước trổ mạ non xanh. Tôi khoác tay với toán y tá cho lịnh băng đồng. Tôi men theo đê ruộng lấp xấp nước vừa cố chạy thật nhanh vừa cố giữ thăng bằng cho khỏi trợt chân ngã xuống ruộng. Đan bay vì vèo trên đầu. Một binh sĩ chạy trên đê ruộng bên phải chúng tôi ngã tùm xuống nước. Đúng lúc đó một tràng trung liên cày mặt nước tung tóe. Đich có cả súng cộng đồng. Tôi bám được vào chân ngọn đồi đất. Hàng quân tiếp tục băng qua. Người binh sĩ bị ngã, vẫn nằm im giữa ruộng. Tôi vừa nghi chắc anh ta bị thương thì nghe tiếng quát mắng:

_Đ.M. thằng kia nằm làm gì đó? Có chạy mau vào không chúng nó bắn bể “gáo” bây giờ. Người vừa chửi thề là ông Hạ Sĩ Nhất tổ trưởng súng cối. Tôi thấy anh chàng bị té đứng dậy, lỏm bỏm chạy vào bờ. Đó là một tân binh. Tôi học được một kinh nghiệm mỗi khi băng qua đồng trống phải chạy một mạch bên này sang bên kia, địch bắn rát mấy cũng mặc. nếu vì khớp mà nằm xuống sẽ làm đích cho họng súng của địch nằm canh sẵn chờ mình nhóm là tỉa hạ. Đánh nhau với du kích chúng tôi thường trả giá đắt những lúc băng qua đồng trống. Phơi người cho địch bắn sẻ. Những tấm bia thường được lựa chọn. Địch chỉ nhắm bắn các sĩ quan chỉ huy, thứ đến các y tá. Chiếc cần câu truyền tin, khẩu colt, bàn tay cầm bảng đồ, lưng không đeo xắc, chữ thập đỏ trên nón sắt là những dấu hiệu chỉ điểm người để địch lựa chọn. Tôi đã ra lịnh các y tá, nhất là y tá Đại Đội, xóa chữ thập trên nón sắt và mọi người phải mang vũ khí. Bắt y tá mang vũ khí là một sự nặng nhọc, phiền toái cho họ khi trên lưng mọi người cồm cộm một túi thuốc. Nhưng tôi thấy có hai điều lợi: gây tự tin và tang hỏa lực phòng thủ cho đại đội khi đóng quân. Y tá trạm cứu thương tiểu Đoàn Sáu Dù gồm hai lứa tuổi: Trên ba mươi lăm và dưới hai mươi lăm, một lứa tuổi đầy kinh nghiệm chiến trường hiểu rõ giá trị của cây súng; một lứa tuổi máu nóng hăng say thích xông xáo. Cho nên tôi đã không gặp phản ứng nào, dù đằng sau lưng khi quyết định “vũ khí hóa” trạm cứu thương. Tôi cũng mang một khẩu Carbin M.1 Không phải để ngụy trang hay để lấy tự tin mà chỉ vì một yếu tố tâm lý: hòa mình với đơn vị. Sĩ Quan cũng như binh sĩ Dù thích thấy ông Y Sĩ của Tiểu Đoàn mình có máu nhà binh như họ hơn là một ông Y Sĩ chỉ biết chuyên môn. Tôi muốn, tôi cần tạo cho tôi một tác phong  nhà binh. Tôi đến đây để hòa mình, không phải để sống tách rời. Tôi đến đây không mang một mặc cảm nên cũng không muốn tạo ra một mặc cảm quanh mình. Tôi muốn làm một người lính Nhảy Dù thật sự.

Cánh quân dừng trên ngọn đồi vừa chiếm. Chúng tôi tìm những gốc dừa, gốc mít ngồi vừa bố trí, vừa tránh nắng. Những ngôi nhà tranh vắng người, nhưng thóc lúa, khoai sắn phơi ngổn ngang giữa sân. Trực thăng vẫn truy kích địch. Những trạm khói đen bốc cao ở những ngọn đồi kế cận. Mười giờ hơn. Trời nắng lớn. Quần áo đẫm mồ hôi, khát nước và bắt đầu đói. Buổi sáng tôi không ăn gì chỉ uống một ly cà phê đen, bây giờ xót ruột. Người y tá mang cho tôi một trái dừa, cơn khát làm tôi ực liền ba hơi là ráo trái dừa. Có lịnh di chuyển. Chúng tôi đổ một con đường dốc lởm chởm đá. Hiện ra những hố cá nhân và một cái rãnh được đào sâu thành giao thông hào. Chúng tôi men theo con đường mòn tiến vào một khu làng có bóng cây che khuất ánh nắng. Lệnh truyền miệng đến chúng tôi: “Tiến hàng một cẩn thận, có hầm chông.” Đến một ngã ba tôi thấy một xác du kích cháy đen, banh ngực, gục bên một hố cá nhân. Chắc tên địch đã lãnh nguyên một quả phi đạn từ trực thăng phóng xuống. Những hầm chông tre được phá hủy và đánh dấu để báo hiệu người đi sau tránh. Túi gạo, thắt lưng đạn, quần áo vất rãi rác trên đường tiến quân. Ông Đại Đội trưởng 60 cho tôi biết kết quả tính đến mười hai giờ trưa: Tiểu Đoàn sáu tìm thấy 6 xác chết VC do phi cơ bắn hạ, hạ sát hai tên, bắt sống bảy, giữ mười tình nghi; Tiểu Đoàn 8 hạ sát một, bắt sống bốn, giữ mười lăm tình nghi. Vũ khí tịch thu được gồm: một trung liên Bar, hai tiểu liên Thompson và năm súng cá  nhân. Chiến quả ngoài sự mong muốn.

Ra khỏi khu làng tôi nghe dưới chân cát lún và ngửi trong thoáng gió mát mùi mặn của biển. Bên kia bờ một cánh đồng trống, những cồn cát trắng phau điểm những rặng liễu xanh chạy dài ra biển. Tôi ngồi duỗi chân, tựa đầu vào một gốc dừa, nghe bụng đói cồn cào. Một giờ trưa. Vẫn chưa có lệnh “chiến đấu tại chổ”. Chiến đấu tại chổ là ăn cơm. Tôi ngồi tựa người lim dim mắt, đầu óc trống rỗng, mọi ý nghĩ như bị nỗi mệt mỏi của thể xác tràn ngập. Bỗng một tràng đại liên nổ ròn, tiếp theo mọi thứ súng thi nhau nổ. Hỏa lực của Đại Đội Chỉ Huy. Tôi ngồi bất động chưa biết chuyện gì. Toán y tá bố trí vội quanh tôi. Tôi nghe có tiếng la lớn:

_Chúng nó chạy qua cồn cát.

Men đến một gốc dừa gần cánh đồng, tôi chăm chú quan sát. Xa chừng bốn trăm thước hai người bận đồ đen đang xì xụp chạy trên cát hướng về rặng liễu. Hàng chục họng súng châu vào hai bóng đen di động nhã đạn. Một y tá lên đạn cây súng Carbin M.2 rồi tì súng vào một thân cây định bắn. Tôi ngăn cấm. Sự cấm đoán của tôi thật bất ngờ. Người y tá cố nài nỉ:

_Cho tôi bắn để thông nòng súng luôn, Bác Sĩ.

Tôi dịu dàng:

_Mình chỉ nên bắn khi cần bắn.

Tôi muốn người lính Quân Y chỉ chiến đấu để tự vệ. Hơn nữa tôi không muốn nhìn một người chết, dù kẻ đó là kẻ địch, vì loạt đạn bắn để thông nòng của một y tá. Hai tên du kích chạy xa dần tầm súng của chúng tôi. Có lệnh ngưng tác xạ. Binh sĩ bắn không trúng chửi thề ầm cả lên. Tôi bổng thấy hai chiếc trực thăng võ trang lao xuống hướng hai tên du kích, chờ mãi không nghe bắn. Một lát được tin hai tên du kích bị trực thăng vờn cho mệt rồi đáp xuống bắt sống cả hai. Tôi khen thầm mấy tay phi công Mỹ này chịu chơi thiệt.

Cánh quân tiến vòng lên phải. Hai chiếc phản lực bất thần xuất hiện trút bốn quả Napalm xuống một bờ làng có lũy tre bao bọc rồi biến mất. Lữa khói bốc ngùn ngụt giữa trưa nắng ráo. Chắc phải chiếm xong mục tiêu đó rồi mới dừng quân. Qua máy tôi gnhe tiếng ông Tiểu Đoàn Phó ra lệnh hai đại đội 61, 62 giàn hàng ngang tiến vào làng. Muốn vào làng phải qua một cánh đồng trống. Tôi thấy bốn khinh binh hiện ra ở bên này mé bờ ruộng, tiến hàng ngang, mỗi người cách nhau chừng mười thước, súng AR.15 tì hông. Họ chạy khum khum từng chặn giữa cánh đồng như những con thỏ vừa tung tang vừa nghe ngóng động tĩnh. Họ đến gữa đồng, rồi hai phần ba cánh đồng. Bỗng một loạt AR. 15 xạch.. xạch..xạch vang lên. Bờ làng xủi bụi. Tôi thấy một người bận áo nâu từ dưới đất nhô lên, văng mình chạy. Một loạt AR. 15 thứ hai, bóng người khựng lại từ từ ngã. Một khinh binh lẹ làng nhảy lên vớt cây súng từ tay tên địch đang ngã. Có tiếng reo đằng sau lưng tôi:

_Thằng nào đoạt súng chì quá ta!

Cảnh tượng rõ mồn một xảy ra cách chổ tôi đứng không đầy ba trăm thước. Bốn khinh binh nhảy lên bờ chạy rẽ quạt, bắn xối xả vào các lùm cây trước mặt. Binh sĩ 61, 62 tràn nhanh qua cánh đồng. Không nghe tiếng súng đich. Đại đội chỉ huy được lệnh tiến. Chúng tôi theo con đê ruộng vào làng. Đi qua chổ tên địch vừa bị bắn hạ, tôi tần ngần nhìn cái xác chết. Tên du kích chừng hai mươi tuổi, có nước da vàng bủng của người sốt rét, đầu bị bắn vỡ nát, óc máu đổ lênh láng. Những đám cháy hắt hơi nóng hừng hực. Khói đen quyện lấy cả một vùng. Ba xác du kích chết thui, tay chân đứt lìa tấp dưới một lùm tre đang bốc cháy, nổ lốp đốp. Trên không, trực thăng im tiếng tự bao giờ. Dừng quân dưới bóng mát của mấy cây cổ thụ. Hai giờ chiều vẫn chưa có lệnh “chiến đấu tại chổ” một số binh sĩ lén ăn vội cơm. Tôi đến gặp ông Tiểu Đoàn Phó hỏi tình hình. Ông cho tôi hay ông đề nghị với ông Chiến Đoàn Trưởng nên rút ngay thay vì ba giờ như đã định. Lui quân muộn trong vùng đất địch sẽ bất lợi.

_Bác Sĩ ăn cơm chưa?

_Chưa, đói muốn xỉu luôn đây Đại Úy. Lúc sáng không ăn gì cả.

_Tôi có lót dạ một đĩa cơm rang nên chịu nổi.

Người lính mang máy thông báo lệnh của Chiến Đoàn: năm phút nửa di chuyển. Ông Tiểu Đoàn Phó nói với tôi: “Bác Sĩ có mệt lên M113 ngồi nghỉ cho khỏe. Lui quân chắc cũng không có gì cần đến Bác Sĩ”. Tôi trả lời không sao, tự ái không cho phép tôi nhận lời. Tôi không mệt chỉ đói: bao tử chỉ toàn nước trà, nước dừa nên bụng cồn cào khó chịu. Đoàn quân di chuyển nhanh. Những con “cua” rãi ra bốn phía bao bọc đoàn quân. Ra đến con đường đất, tôi gặp hai người đàn ông gánh võng một bà cụ già bị thương. Binh sĩ dặn họ đứng chờ tôi. Bà cụ bị đạn xuyên qua ngực trổ một lổ ra lớn bằng cái bát đằng sau lưng. Tôi cho y tá băng kín vết thương và chích thuốc. Muốn truyền cho bà một chai máu khô nhưng không thể được, không có lệnh dừng quân. Binh sĩ Đại Đội vượt qua Trạm Cứu Thương gần hết, chỉ còn Đại Đội 64 bọc hậu. Ông y tá trưởng lo lắng hỏi tôi:

_Làm thế nào Bác Sĩ?

Tôi đang bối rối. Lòng nhân đạo, lương tâm nghề nghiệp của tôi lúc này không thể dùng để yêu cầu Bộ Chỉ Huy dừng quân xin trực thăng di tản một thường dân trong khi các cấp chỉ huy đang cần rút quân nhanh ra khỏi vùng đất địch. Tôi cho lệnh Trạm Cứu Thương di chuyển rồi quay sang nói với hai người đàn ông:

_Ráng gánh bà cụ ra đường quan, tôi sẽ xin phương tiện đưa ra Qui Nhơn.

Hai người đàn ông bằng lòng theo chúng tôi. Tôi mong bà cụ còn sống khi về đến điểm xuất phát. Những nạn nhân vô tội khiến tôi buồn chán. Buồn chán không có nghĩa hèn nhát. Tôi không chạy trốn chiến tranh, tôi đang đối diện với nó. Tôi muốn cuộc chiến ngày càng khốc liệt, càng rộng lớn. Có khốc liệt có rộng lớn chiến tranh mới mau kết thúc; có xương thành núi, máu thành sông thì những kẻ sống sót sau cuộc chiến này mới biết nắm chặt hòa bình trong tay.

Chúng tôi đang bắt kịp Đại Đội Chỉ Huy đang nghỉ tại chổ ở lưng chừng dốc đồi. Một đám tù binh chừng ba mươi người dồn ở một góc. Gần phân nửa bị trói: đó là những du kích bị bắt tại trận. Những người không bị trói là tình nghi. Người Hạ Sĩ Quan dẫn đến tôi khám một tình nghi bị thương ở ngón tay trỏ. Hai đốt ngón tay bị dập nát. Người này núp dưới hầm kêu không lên, một binh sĩ dộng xuống một quả lựu đạn. Không hiểu sao quả M.26 chỉ gây cho anh ta vết thương nhẹ thế. Lúc di chuyển, Trạm Cứu Thương đi sau đám người bị bắt. Chúng tôi vượt trở lại những ngọn đồi đất. Một tốp đàn bà, con nít tụ tập từ bao giờ đứng ở mé đường nhìn mặt những người bị bắt. Giữa những khuôn mặt tầm thường quê mùa tôi bỗng thấy hiện ra một nhan sắc tuyệt vời. Người con gái chừng hai mươi tuổi, chếc áo cụt nâu làm nổi bật làn da trắng, khuôn mặt phảng phất vẽ tây phương. Tôi không muốn tin nơi thôn dã này có một thiếu nữ đẹp như thế. Bước chân chúng tôi như bị một ma lực nào làm chậm lại. Tôi bắt gặp cái nhìn của nàng hướng về người đàn ông bị thương ở ngón tay. Tôi thấy hai người khẽ gật đầu với nhau. Người con gái chợt thấy tôi theo dõi, vội nhìn lãng đi nới khác. Người đàn ông cúi nhanh mặt xuống. Chúng tôi đổ đồi băng qua một đồng lúa. Tôi nghĩ vẫn vơ về người con gái: nếu nàng là một cán bộ Việt Cộng, thì sắc đẹp ấy quả là một thứ khí giới nguy hiểm. Đã xảy ra mấy vụ mỹ nhân kế chết người ở Tam Quan. Ba giờ rưỡi chiều, chúng tôi đi như chạy trên con đường mòn. Tôi ước chừng mới nửa đường về. Binh sĩ đã thấm mệt, một số ngồi thở ở các gốc dừa. Hàng ngũ có vẽ hỗn độn. Toán y tá của tôi rơi rớt đi đâu hết. Hai chân tôi bước như cái máy. Tôi có cảm tưởng nếu dừng lại, tôi sẽ không thế nào đứng dậy được nửa. Tôi đi lạc sang Đại Đội 61 ở mặt phải. Tôi theo ông Đại Đội Trưởng 61 thất thểu băng qua một đồng nước cạn. Ra đến giữa đồng, bốn năm phát súng trường từ mé làng bên phải bắn sang chúng tôi. Đại liên trên M.113 tức tốc quạt mấy tràng trả lời. Quá mệt, chúng tôi cứ lửng thửng đi cho hết cánh đồng. Khi tôi bắt đầu thấy chóng mặt, khó thở, hai bàn tay co rút, môi tê run, thì con đường xe lửa chờn vờn hiện ra. Tôi bị chứng thiếu chất vôi trong máu. Mỗi lần sốt nặng hay tháo mồ hôi nhiều, thì lên cơn co giật y như người bị động kinh. Về đến chổ đóng quân tôi xỉu. Đám y tá quấn quít đỡ tôi vào nhà, xoa dầu nóng cùng người. Mười phút sau khi chích một mũi Calcium và uống hết một ly sữa lớn, tôi hoàn toàn tỉnh táo trở lại, nhưng thân thể rã rời. Dân làng khiêng đến Trạm Cứu Thương hai thanh niên bị đạn. Tôi nằm trên võng nhìn các vết thương: một bị đứt lìa cánh tay trái, một bị gãy nát ống chân phải. Tôi cho buộc garrot, bó bất động và truyền huyết tương. Tôi yêu cầu Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn xin trực thăng di tản. Tôi sực nhớ bà cụ bị thương ở ngực, ông y tá trưởng cho tôi biết bà cụ đã chết giữa đường và người nhà đã gánh trở về.

_Bà cụ cũng già quá rồi.

Tôi nói như để biện minh cho sự thiếu sót bổn phận của mình. Dù ngoài ý muốn, nhưng vẫn là thiếu sót. Đêm hôm ấy du kích về bắn quấy rối đến năm lần. Tiếng súng nghe hằn học căm thù. Tôi nghĩ đến quả mìn, những trái lựu đạn của đich chôn vội, gài vội đêm nay trên đường đi. Tôi nghĩ đến những người đàn bà sáng mai ra chợ sớm, những chiếc xe lam chở người buôn bán. Họ sẽ là nạn nhân. Tôi nghĩ mỗi lúc một nhiều về những thảm họa, nỗi thống khổ mà người dân bên này, bên kia phải gánh chịu trong một cuộc chiến đẫm máu, dai dẳng. Vào một lúc tôi chợt nhận thức: để có đủ can đảm chịu đựng cuộc chiến tranh này tốt hơn không nên nghĩ gì cả.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply