Thung lũng tử thần

Vũ Ánh Post by Sơn râu 16 July 2023

Phần 31                       

Lời kết

Gần đây, đứa cháu nội của tôi, Catherine Vũ tuy mới 11 tuổi nhưng trong đầu nó đã tràn đầy những thắc mắc về người ông đã từng làm phóng viên thời còn trẻ ở Việt Nam như tôi. Vì ông cháu ở cách xa nhau mấy ngàn dặm từ Đông sang Tây nên tôi cũng ít có dịp nói chuyện với nó. Mỗi lần có dịp đi công việc ở Virginia phải ở lại nhà bố mẹ cháu nên ông cháu mới lại có dịp nói chuyện và nó hỏi tôi khá nhiều về nghề nghiệp của tôi trước đây cũng như hiện tại. Tuy nhiên, nó không dám hỏi tôi về những năm tháng dài tôi bị tù dưới chế độ Cộng Sản. Trong đầu nóc non nớt của một đứa trẻ sinh ra và đang lớn lên ở nước Mỹ chắc Catherine  Vũ có thể nghĩ trong đầu nó chắc là tôi phạm một tội hình sự nào đó nên mới bị tù lâu như vậy. Nó không dám hỏi thẳng tôi có thể là sợ chạm vào vết thương của ông nội chăng. Nhưng nó hỏi bố nó. Những câu trả lời của thằng con trai tôi với con gái của nó không thể đầy đủ và nó phải tham khảo nhà tôi.

Người bạn đời của tôi cũng là một người tốt nghiệp báo chí ở bậc đại học, có thời gian dài làm phóng viên cho Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia và biện tập viên tin tức Đài Phát Thanh Quân Đội và cũng từng là đặc phái viên của hệ thống có nhiệm vụ tường thuật những hoạt động của đệ nhất phu nhân VNCH, bà Nguyễn Văn Thiệu, cho nên rất quan tâm đến việc làm sao để cho con cháu biết rõ ngày xưa vợ chồng tôi xuất thân từ đâu và làm việc ra sao. Cho nên, nhà tôi và mấy đứa con nhiều lần thúc giục tôi viết lại hồi ký về những năm hoạt động trong  ngành truyền thông  VNCH trước 30 tháng 4, 1975 và ở hải ngoại từ năm 1993 tới nay, đồng thời ghi lại quãng đời tù đày dưới chế độ Cộng sản sau khi mất miền Nam Việt Nam. Do lười biếng và lại thiếu thì giờ nên tôi cứ khất lần. Nhưng kể từ khi biết những thắc mắc của cháu nội tôi liên quan đến giai đoạn tù đày của tôi ở Việt Nam tôi không thế khất hay hứa mãi được. Vì thế trong phần hồi ức Thung Lũng Tử thần tôi chỉ ghi lại một số những điểm căn bản về một thế giới riêng của những người tù biệt giam trong cái thế giới chung của nhà tù kiên giam như trại A-20 (có người gọi là trại trừng giới). Ở Việt Nam, những trại kiên giam biểu thị bằng mã số A không có bao nhiêu và đếm chưa hết một bàn tay A-10, A-20 và A-30.

Nhưng ngày nay những trại này đã trở thành quá khứ . Riêng tại vùng đất mà A-20 Xuân Phước tọa lạc nay đã là nơi đặt một nhà máy nhỏ cấp vùng. Cách đây khoảng 7 năm, lúc còn sống nhà báo Nguyễn Tú của báo Chính Luận có gởi cho tôi một bức hình và một video clip thu hình cơ sở điện lực này mà theo lời người giới thiệu trong video là nơi trước đây đặt các nhà giam của phân trại E thuộc trại A-20 Xuân Phước. Nói tóm lại những hình ảnh và video clip là do một người bạn tù ở trong đội có án chính trị phân trại E trại A-20 gởi cho ông và ông gởi từ thành phố Alexandria, tiểu bang Virginia gởi sang cho tôi xem với điều kiện phải gởi trả lại ông một tuần lễ sau. Vết tích quá khứ của trại A-20 nay chỉ còn là một trại giam cấp tỉnh được sử dụng chỉ để nhốt tù hình sự. Vị trí của trại này chính là phân trại B của trại A-20 trước đây.

Ghi lại hồi ức Thung Lũng Tử Thần tôi chỉ có mục đích duy nhất là để con, cháu tôi, con cháu những bạn đồng tù với tôi cũng như để cho những người nào chưa từng biết, chưa từng trãi qua ngày tù nào trong các nhà tù Cộng Sản sau biến cố 30 tháng 4, 1975 dùng nó làm tài liệu tham khảo, đối chiếu và suy nghiệm khi cần thiết sau này. Tôi không có tham vọng được mọi người coi đây như là một sử liệu mà chỉ là một tài liệu mà khi sử dụng nó cần phải đối chiếu với những tài liệu khác trước khi đi đến kết luận về chế độ lao tù Cộng Sản trong giai đoạn từ sau 30 tháng 4, 1975 cho tới giai đoạn mà Việt Nam mở cửa 1994.

Điều bình an nhất trong lòng là tôi còn nhớ và ghi lại được nơi đây nhiều điều chính tôi đã trải qua ở Thung Lũng Tử Thần.

Nhà báo VŨ ÁNH

Sinh ngày 5 tháng 5 1941 tại Hải Phòng, Việt Nam

Mất ngày 14/3/2014 tại California USA

Đi học Chu Văn An và Luật Khoa

1964-1973: Phóng viên Mặt Trận Đài Phát Thanh Sài Gòn

1973-1975: Trưởng Phoàng Bình Luận, Chánh Sự Vụ Sở Thời Sự Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia

1975-1988: Tù Cải tạo Chí Hòa, Z30-C Hàm Tân, A-20 Xuân Phước…

1992-2014: Định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO

Cộng tác với nhiều cơ quan truyền thông tại Hoa Kỳ qua các vai trò Ký Giả, Bình Luận Gia, Tổng Thư Ký và Chủ Bút:

Báo viết: Nhật báo Người Việt, Viễn Đông;

Tuần báo Việt Mercury, Sống Magazine

Báo nói: Văn Nghệ Truyền Thanh, VNCR

Little Saigon Radio, Saigon Radio Houston

Truyền hình: Little Saigon Radio, SBTN

Thung lũng tử thần

Vũ Ánh Post by Sơn Lu 15 July 2023

Phần 30                       

Làm Lại Từ Đầu Ở Tuổi 51

Khoản giữa năm 1985 tôi và một vài người nữa được đọc lệnh tha ra khỏi biệt giam. Có thể quyết định này liên hệ tới một cuộc tổng thanh tra các nhà tù của Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng Sản diễn ra chỉ nữa tháng sau đó. Tôi không có bằng chứng nào để gắn vụ thanh tra này với kế hoạch “đổi mới tư duy” của chế độ, nhưng trước khi bị biên chế từ đội làm lò gạch sang đội “đặc biệt” phải di chuyển vào ở chung với khu tu sĩ, tôi đã bị gọi ra làm việc với an ninh trại và qua những chi tiết trong câu hỏi của viên sĩ quan công an phụ trách an ninh này tôi hiểu rằng đang có một biến chuyển chính trị nào đó khá quan trọng ở bên ngoài.

Trên thực tế một biến chuyển quan trọng đã xảy ra: cuộc trở mình đổi mới tư duy được thực hiện với một cái nhìn xa hơn của Hà Nội đối với đàn anh Liên Xô. Nói cho đúng ra những nhà lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải chọc thủng nồi nước sôi ở Việt Nam nên tránh được sự sụp đổ như Moscow. Tuy người Việt ở hải ngoại rất không muốn nghe điều này, nhưng đó là thực tế. Phải công bằng mà nói như vậy. Tôi không biết có phải do ảnh hưởng của việc Hà Nội thỏa thuận chương trình Tìm Kiếm Người Mỹ Mất Tích hay chương trình đưa cựu tù  nhân cải tạo đi tái dịnh cư ở Hoa Kỳ hay không mà một số anh em chúng tôi được chuyển về một trại gần Sài Gòn hơn, đó là trại Z30-A Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh, một trại mà cuộc sống của tù nhân cải tạo tương đối thoải mái hơn so với A-20.

Cá  nhân tôi, không bao lâu sau khi được gặp mặt mẹ già lần đầu tiên tại trại Z-30A kể từ năm 1977, nhóm chúng tôi gồm T.D.S., N.C.T. và Ng. “đen” lại bị di lý về nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu trước cửa chợ Bà Chiểu năm 1986 để ra tòa vì Công An Sài Gòn nắm được bằng chứng chúng tôi bí mật cho ra tờ Hợp Đoàn ở A-20. Nhưng khi hỏi cung xong và có bản cáo trạng đòi án chung thân đối với 4 người chúng tôi và theo kế hoạch nhà cầm quyền dự tính đưa ra xử trước tòa ngay sau vụ xử nhà văn Doãn Quốc Sỹ và Dương Hùng Cường, vào giờ chót Viện Kiểm Sát lại quyết định không truy tố nữa mà đưa chúng tôi trở lại trại Xuân Lộc tiếp tục cải tạo trong biệt giam vài tháng trước khi được thả cùm và riêng tôi được thả ra khỏi trại cuối năm 1988 khi trại chỉ còn một nhóm nhỏ tù cải tạo án tập trung.

Tuy nhiên những nhà giam mà tôi đi qua trước hoặc sau trại A-20 Xuân Phước chưa biểu lộ tính chất tột cùng địa ngục trần gian của chúng. Cho nên ở đây tôi chỉ ghi lại những chi tiết về những năm tháng phải sống ở tại thung lũng chết Xuân Phước ấy, nơi tôi trải qua đầy đủ những thử thách và những mưu mô hủy diệt con người như một điểm nhấn trong đời tù của mình. Ngày tôi được gọi tên để chuyển trại về Z-30A Xuân Lộc, người tù thứ 125 qua đời tại bệnh xá phân trại B. Anh là một trong những tù nhân của đội hình sự được đưa vào bệnh xá để chữa trị lao phổi thời kỳ cuối và vài ngày sau khi chúng tôi đã trở thành nhân số tù nhân cải tạo của Z-30A thì tù nhân thứ 126 ở A-20 cũng qua đời vì bị bệnh suyễn mà không được cấp thuốc để làm giảm nguy cơ tử vong. Người tù đó là Linh Mục Nguyễn Luân, một tu sĩ trẻ trầm tĩnh và cương quyết.

Tuy nhiên chưa bao giờ tôi ngồi tính sổ cái giá của cuộc lưu đầy mà tôi phải trả. Chỉ biết rằng với cá nhân và gia đình tôi cái giá đó khá đắt. Nhưng không phải vì thế mà tôi ân hận những việc mình đã làm và mặt khác tôi cũng không giữ mãi lòng thù hận những người chiến thắng. Khi đặt chân xuống phi trường San Francisco để bắt đầu một cuộc đời mới muộn màng là lúc tôi quyết tạm xếp lại những ngày tháng đau thương cũ. Tôi cần bắt tay làm việc ngay trong một đất nước thật sự tự do và dân chủ. Trong rất nhiều lá thư gửi về từ Mỹ, bạn bè tôi sang trước vẫn cứ hay khuyên nhủ: “Nếu mày có sang đây việc đầu tiên là mày phải tập tạm quên đi những ngày nhục nhã và đau đớn mà chúng ta từng phải chịu đựng để bắt đầu ngay công việc của mày. Chúng ta chẳng còn tuổi để thực hiện giấc mơ Mỹ, nhưng nếu mày không nghe chúng tao thì không thể tồn tại được ở đất nước này đâu.”

Tôi phải thú thực rằng được định cư ở Hoa Kỳ để làm lại từ đầu vào lúc tuổi đã 51 là một cơ may. Từ ngày đi tù trở về, tôi chưa bao giờ mơ đến việc đến được nước Mỹ. Thứ nhất, sống gần bốn năm với nghề lao động chân tay ở Sài Gòn, phải khó khăn lắm tôi mới tự nuôi sống mình và giúp đỡ gia đình được., làm gì có vàng để nộp cho chủ tàu vượt biển. Thứ hai, sau hơn 13 năm tù trong đó 7 năm nằm biệt giam và phải đối phó với những đòn nhục hình vô nhân đạo nhất, thực tình tôi đã cảm thấy “lạnh cẳng” rồi và luôn luôn tự nhủ lòng  mình rằng nếu chúng kè xe honda vào sát chiếc xe đạp hay chiếc xích lô tôi dùng làm phương tiện sinh sống hằng ngày, tôi nhất định phải đương cự bằng mọi giá hoặc là trốn thoát hoặc chết còn hơn lại tiếp tục chết dần mòn trong biệt giam ở một nhà tù nào đó nữa.

Thật may trong những năm tháng sống ở Sài Gòn trong sự kỳ thị ra mặt của chính quyền địa phương, không có chuyện gì xảy ra cho tôi. Nhà cầm quyền phường từ chối mọi đơn tôi xin di chuyển ra khỏi Sài Gòn để thăm một vài bạn tù sinh sống tại những thành phố khác lấy lý do lệnh quản chế vẫn còn hiệu lực, nhưng họ không tìm cách dồn tôi vào chân tường. Vả lại khi họ thấy một người tù cải tạo mà lúc nào lưng chiếc áo tôi mặc để lao động cũng ướt mồ hôi, có thể anh chàng Vinh đen công an phường tôi ở đã chép miệng: “Ồ như thế là cuộc đời thằng này đã chấm dứt vì nó lo miếng ăn hằng ngày cũng đã khốn nạn rồi làm gì mà còn dám manh động nữa.” Một trong những người cậu của tôi và cũng là một nhà văn khá nổi tiếng trong hội nhà văn ngoài Bắc cũng bị tù 6 năm chỉ vì nhà cầm quyền nghi ông là người theo chủ nghĩa xét lại. Có lần gặp tôi tại Mỹ nhân chuyến thăm Hoa Kỳ theo lời mời của hiệp Hội American Joiner ông nói như thế này: “ So với cháu, ngày tù của cậu chẳng thấm vào đâu. Nhưng cái khốn nạn nhất không phải là thời gian cậu ở trong tù mà là lúc được thả ra ngoài đời. Việc câu thúc con người của họ (Cộng Sản) vào thời đó thật kinh hãi. Cái nghề mọn nhất là ngồi lên yên chiếc xích lô để kiếm sống cũng không được phép, chỉ có cách sống duy nhất là ngồi gấp và dán những bìa carton để làm bao bì ngày chỉ đủ tiền ăn cháo.” Nhưng cậu tôi không chỉ nói ra những câu chuyện như vậy với những người thân. Cậu đã viết nó thành chuyện và dĩ nhiên phải xuất bản nó ở Hoa Kỳ sau khi các sợi dây trói giới văn nghệ miền Bắc đã được nới lỏng do tình hình đã đổi thay.

Đôi lần cậu hỏi tôi xem nghĩ như thế nào sau khi đọc các tác phẩm của cậu, tôi chỉ nói cần phải viết ra, không nên giữ trong lòng làm gì khi có cơ hội. Tôi nhấn mạnh với cậu là đến như tôi cũng không thể ngờ được là Đảng của cậu là đì những đảng viên như cậu đến mức phi nhân như thế, nhất là bà tôi và là mẹ của cậu là người từng đem tất cả tài sản vàng bạc cúng vào tuần lễ vàng dành cho cuộc kháng chiến chống thực dân của Việt Minh.

Thung lũng tử thần

Vũ Ánh Post by Sơn râu 14 July 2023

Phần 29                       

Đổi Sự Sống Để Cứu Một Tù Kiên Giam

Tôi đã nhìn thấy người bạn đồng tù L.Q.M. chết như thế nào do phù thủng và tôi cũng đã bắt đầu cảm nhận dần dần trạng thái của một người bị phù thủng nặng. Mỗi ngày, những cơn buồn ngũ bất thường đẩy tôi thiếp đi trong sự mệt mỏi đến lã người và khi thức dậy cảm thấy lười biếng không muốn ngồi lên, người lúc nào cũng gây gây lạnh, thấy tưng tức ở bàng quang nhưng không thể nào tiểu nhiều được. Tôi không muốn khai bệnh vì tôi sợ hai điều: một là khai bệnh sẽ làm lộ rõ yếu điểm vì sẽ làm đám quản trại sẽ không chậm chạp trong việc dùng nhu cầu thuốc của tôi để làm áp lực, hai là nếu được cấp thuốc thì cùng lắm cũng chỉ nhận được vài viên xuyên tâm liên uống vào chẳng có tác dụng gì mà có khi còn dẫn mình vào chổ chết. Chi bằng cứ phó thác mạng sống cho đấng linh thiêng và chấp nhận định mệnh mà chúng tôi vẫn thường đùa cợt nhau bằng một từ ngữ “trời kêu ai nấy dạ.” Để cho lòng thanh thản và giảm đi cảm giác khó chịu của phù thủng, tôi ngồi thiền rồi đứng dậy đánh Dịch Cân Kinh rồi sau đó ngồi đọc Chú Lăng Nghiêm cho tới tờ mờ sáng mới nằm xuống. Sự tập luyện này kéo dài khoảng một tháng thì tôi nhận thấy cơ thể mình có vẽ khá hơn. Trạng thái ngũ như thiếp đi bớt dần và khi lựa thế cùm để có thể đứng lên đánh Dịch Cân Kinh “cải tiến” (vì một chân bị cùm, nhưng nhờ cùm rộng nên có thể lựa thế đứng dậy được) tôi đã thấy mồ hôi rịn ra ở lưng áo và ngày cũng đi tiểu được vài lần. Điều đáng mừng nhất là khi cúi xuống, tôi không thấy nặng ở mặt nửa. Đúng vào lúc ấy thì “phi vụ” tiếp tế thuốc diễn ra. Vì sự kiện diễn ra đã lâu quá, hơn ba thập niên rồi trí óc đã mòn mỏi nên tôi không còn nhớ ngày nhưng nhớ được là chuyện xảy ra vào trưa Chủ Nhật, tuần lễ đầu của tháng Tư,1985. Buổi trưa hôm đó tiêu chuẩn cơm tù của biệt giam hơi đặc biệt. Phần “cơm” không phải là khoai mì lát luộc như thường lệ mà là một cái “bánh bẹp” và nước muối được thay vào bằng một cái chén nhỏ cà tím nấu với một thứ nước mắm cá mà chúng tôi gọi là “nước mắm mút giòi”

Xin độc giả cho tôi một ít phút để giải thích rõ hơn về “bánh bẹp” và “nước mắm mút giòi”. Sở dĩ chúng tôi gọi loại bánh làm bằng bột mì rồi đem luộc giống như người Tây phương luộc Spaghetti vậy là vì bề dày của miếng bánh chưa tới một centimetre nên trông rất mỏng, gọi là “bẹp.” Có anh em bạn tù thì nói rằng bột mì là do Canada viện trợ. Cũng lại có anh em nói rằng đây là bộ mì Sơn Đông của Trung quốc. Thời gian còn ở trại Hàm Tân Z30-C, anh tổ trưởng tổ cơm trong đội nhà bếp trước 30 tháng 4, 1975 vốn là chuẩn úy biệt phái và là thuộc cấp cũ của tôi tại Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia cho biết khi đội nhà bếp đi lãnh bột mì ở thị xã Bình Tuy bột vẫn còn trong bao bên ngoài có ghi rõ là quà tặng của chính phủ Canada. Do không có bột nổi và cũng không có ai biết xây dựng lò làm bánh mì nên cuối cùng nhà bếp trại đành phải nhồi bột với nước, đóng bánh rồi cho vào luộc chín thành những miếng bánh diện tích khoảng bàn tay hay có khi nhỉn hơn một chút. Chúng tôi gọi đó là “bánh bẹp.” Tiêu chuẩn bên ngoài trại lao cải thì mỗi bữa ăn, một tù nhân cải tạo được cấp phát một miếng như thế, nặng khoảng 150 grams. Còn tiêu chuẩn trong xà lim biệt giam thì miếng bánh bẹp ấy bị cắt đi một góc.

“Mắm mút giòi” là một nhóm từ ngữ do anh em làm ở đội nhà bếp trại A-20 Xuân Phước đặt ra để chỉ một loại nước mắm mà tôi nghĩ có lẽ chỉ dùng để phát cho tù nhân cải tạo thời bấy giờ thôi, chứ nếu ngày nay mà đem loại nước mắm này phát cho tù cải tạo hiện nay ở Việt Nam thì chắc chắn các tổ chức nhân quyền như Human Rights Watch hay Phóng Viên Không Biên Giới sẽ có nhiều việc làm tốn giấy mực hơn. Vì ở nhà tù tại Việt Nam đến ngay tù nhân thọ án là Luật Sư Cù Huy Hà Vũ không được gặp vợ thường xuyên hay luật sư Lê Quốc Quân không được gặp linh mục và không được mang tài liệu sách báo vào phòng giam nghiên cứu mà cũng đã trở thành vấn đề lớn hiện nay rồi huống chi nếu họ lại còn bị cho ăn mắm mút giòi.

“Mắm mút giòi” thực ra là loại mắm cá của người Tuy Hòa, nhưng khi nước mắm đã được chắt hết thì các trại tù cải tạo thuộc phạm vi tỉnh này mua lại những bã cá mắm đó mang về chứa trong các chum vại ở nhà kho trại, nhưng do bảo quản không kỹ, bã mắm hư hại dần trong kho chứa và trong rất nhiều trường hợp ruồi nhặng đã đẻ ấu trùng vào mắm. Anh em nhà bếp cho biết họ phải pha nước vào thùng nước mắm còn nguyên những ấu trùng đó, đun cho thật sôi, vớt xác chúng ra rồi mới đem phát cho tù cải tạo. Người tù nào sợ thì vứt bỏ, người nào không sợ thì vẫn dùng. Đang trong tình tạng bị phù thủng nên tôi không hề đụng tới cái món cà tím này, dù rất thèm, đành ngồi nhai hết chiếc bánh bẹp rồi nằm ngã lưng một chút.

Đang mơ màng thì tôi bỗng giật mình nghe tiếng chân chạy rầm rập trên hành lang phía ngoài xà lim, rồi nghe một tiếng “soạt”. Một gói nhỏ bọc ngoài bằng bao nylon nằm giữa lối đi giữa hai bệ cùm. Nhặt lên mở ra thấy có hai tán đường, 12 viên Vitamin B1(trị phù thủng) và 6 viên dầu cá loại nhỏ (thời đó dầu cá viên chỉ có kích cỡ chỉ bằng đầu đũa) và một miếng bao nylon. Tôi hiểu ngay bao nylon này là một lời nhắn: phải tiêu thụ hết đường ngay kể từ buổi trưa cho tới giờ điểm số xà lim vào buổi chiều vì khi điểm số cai tù hay khám xà lim, gói thuốc B1 dầu cá vào bao nylon và nhét vào hậu môn như chúng tôi vẫn thường làm thế để giấu những mẫu tài liệu dùng thực hiện tờ Hợp Đoàn.

Từ buổi trưa cho tới giờ đếm số buổi chiều, tôi uống 2 viên Vitamin B1 và điều ngạc nhiên là ngay lúc bóng tối phủ kín xà lim cho tới gà gáy sáng hôm sau, tôi đi tiểu khoảng hơn chục lần và có cảm giác dường như bao nhiêu nước tích tụ trong người được xả ra ngoài hết. Nhưng hiệu quả của thuốc chỉ trở nên hoàn hảo sau khi tôi sử dụng hết các viên dầu cá và B1. Chỉ có điều sau khi không còn triệu chứng phù thủng nữa thì lại cảm thấy đói kinh khủng, nhưng do vừa trãi qua kinh nghiệm, tôi luôn dùng tự kỷ ám thị và luyện tập thiền để vượt qua đói khát. Tôi cần nhấn mạnh ở đây rằng điều này thật sự hữu hiệu trong những hoàn cảnh khốn khó nhất. Đầu thập niên 1990 gặp lại những bạn tù cùng trại tại Sài Gòn ngồi uống cùng nhau ly cà phê bên vệ đường giữa một thành phố bắt đầu hồi sinh, chúng tôi vẫn còn có nhiều tranh cãi về giai đoạn tù đày và tình trạng bị quản chế vì hoàn cảnh đôi khi khác nhau, nhưng có một điểm chung giống nhau. Đó là, trong tù thực phẩm chính của người tù vẫn là tinh thần bởi chính nó mới giúp chúng tôi kiên nhẫn, chịu đựng bền bỉ vượt qua khó khăn và giữ trọn được nhân cách.

Thời gian sau đó gặp lại Ng. “đen” khi được biên chế vào đội làm lò gạch thì hóa ra những viên thuốc B1 và dầu cá được đưa vào biệt giam cho tôi cũng như các bạn khác có thể phải đánh đổi bằng chính mạng sống của anh em đồng đội với tôi trong nhóm Hợp Đoàn: họ phải nghiên cứu phương thức leo qua hàng rào kẽm gai trên bức tường hông của khu biệt giam. Bức tường này nằm sát một khu gọi là khu tu sĩ. Sở dĩ chúng tôi gọi là khu tu sĩ vì khu này có một nhà giam duy nhất được ngăn đôi cầm giữ các tu sĩ Công Giáo, Phật Giáo và các chức sắc Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi Giáo của người Chàm ở Ninh Thuận và Châu Đốc. Chung quanh khu giam giữ các tu sĩ là một bức tường cao khoảng bốn thước và cửa ra vào khu có khóa. Như thế nếu cửa này bị đóng lại thì những người tù khác tại những đội lao cải không nhìn thấy gì bên trong tiểu khu tu sĩ và đám quản trại ra một lệnh đặc biệt phạt rất nặng khi bắt gặp một tù nhân cải tạo nào liên hệ với những tu sĩ trong khu chuyên giam này.

Mục tiêu của việc thành lập khu tu sĩ chỉ là để cô lập tất cả những tu sĩ của các tôn giáo với chúng tôi và ngược lại. Ng. “đen” và P.Đ.N. phải mất một tuần lễ để “điều nghiên” cách leo tường vào khu biệt giam. Họ chú ý đến các phiên đổi gác của vệ binh trên chòi gác và nhận ra phiên đổi gác vào khoảng trưa Chủ Nhật sau giờ các đội lao cải lãnh thực phẩm là kéo dài lâu hơn cả. Hơn nửa, giao ca ở các vọng gác trong các trại tù cộng sản có khi không diễn ra ở dưới chân chòi gác mà ngược lại giao ca được tiến hành ở cổng trại, nơi có một cái bàn làm việc của trực trại. Từ cổng ngoài của trại vào đến khu biệt giam một vệ binh súng dài phải mất khoảng từ 7 đến 10 phút di chuyển. Một khuyết điểm thứ hai của an ninh trại là vòng kẽm gai trên tường trong khu biệt giam là vòng đơn  và chỉ được móc vào một cái móc bằng đinh đóng cong xuống rồi kéo ra. Cả hai bạn tù chí cốt nhất của tôi chọn một lối tương đối khuất nằm ngay giữa búc tường của khu tu sĩ chạy từ cổng khu biệt giam vào và bức tường của khu biệt giam. Chỉ cần tháo móc giữa vòng thép gai đầu tiên là có thể tạo thành một khoảng trống hẹp leo qua tường để nhảy vào khu biệt giam. Dĩ nhiên người nhảy vào phải tương đối còn mạnh, cởi trần và mặc quần đùi thật hẹp để tránh vướng víu.  Nhưng điểm hóc búa nhất trong kế hoạch cần phải giải quyết là liệu các tù nhân tôn giáo có đồng thuận để ủng hộ việc làm này của anh em chúng tôi không? Họ có sợ bị vạ lây mà đi báo cáo với an ninh không? Do đó, cả hai bạn tù của tôi lại phải tham khảo và may mắn là hầu hết các tu sĩ trong khu này đều là những vị từng giữ chức Trưởng phòng Tuyên Úy của các Quân Đoàn hay Sư Đoàn hoặc từng làm công việc tuyên úy tại những phòng sở phụ trách về Đức tin cho Quân đội VNCH cho nên họ đồng ý cầu nguyện và coi như không biết, không nhìn thấy “phi vụ” nguy hiểm như tôi vừa trình bày. Nó nguy hiểm vì chỉ cần anh vệ binh súng dài nhận ca gác leo lên chòi gác sớm hơn thời gian dự tính từ lúc leo vào và leo ra khỏi khu biệt giam là có thể Ng. “đen” hay P.Đ.N. có thể mất mạng do  vệ bịnh từ chòi canh bắn xuống.

Câu chuyện này không phải là một kịch bản trong phim mà là chuyện thật biểu lộ tinh thần đoàn kết và cưu mang nhau ở một trong vài trại tù được liệt vào danh sách những trại tù khắc nghiệt nhất tại Việt Nam thời chưa mở cửa.

Thung lũng tử thần

Vũ Ánh Post by Sơn râu 13 July 2023

Phần 28                         

Phi Vụ Biệt Kích Tiếp Tế B1 Cho Tù Biệt Giam

Trước Tết Nguyên Đán 1985, chúng tôi bị chuyển trại thật, nhưng lần này chỉ bị chuyển đến phân trại B cách phân trại E khoảng từ 5 đến 7 cây số đường mòn, có nghĩa là chúng tôi bị đẩy sát vào chân núi. Trại này không được khang trang như trại ngoài, nhưng theo lời những anh em đã từng ở trại B, “kỷ luật trại ở trong đó tương đối lỏng lẻo” vì viên trại trưởng phân trại chỉ chú ý đến vun vén cá nhân và tư lợi cho gia đình nhiều hơn là công tác. Tuy nhiên, không phải tất cả những anh em tù nhân cải tạo ở bên ngoài khu biệt giam phân trại E đều bị chuyển trại. Trước ngày di chuyển, trại cũng đã có một vụ “lên lớp” chính trị và một ngày được “ăn tươi”. Sau đó một số bị kêu ra làm việc giống như chúng tôi trong biệt giam. (Ghi chú: “Lên lớp” là từ ngữ được ban quản trại dùng để thay cho học tập chính trị và “ăn tươi” được các cai tù dùng để chỉ trong ngày lên lớp, các đội lao cải được nghỉ lao động, tắm giặt và mỗi bữa ăn được cấp phát một miếng thịt hay một miếng cá bằng hai đầu ngón tay).

Sáng hôm sau an ninh phân trại E là Lý “lé” cầm một danh sách lần lượt gọi những người bị chuyển trại ra xếp hàng. Trong biệt giam chúng tôi cũng vậy. Trực trại Luật mở cửa các xà lim đọc tên từng người ngoại trừ linh mục Nguyễn Luân. Tôi, luật sư T.D.S. và một số anh em ngoài đội lao cải bị lao phổi yếu sức không thể đi bộ thì được cho ngồi xe molotova, còn những người khác phải đi bộ. Đường từ phân trại E vào phân trại B không xa lắm, nhưng đoàn tù nhân chuyển trại lưng ba lô, vai mang túi đựng những thứ lỉnh kỉnh như lon gô để thay cho nồi nấu, bếp “hỏa tốc” (Ghi chú: Bếp hỏa tốc đúng ra phải diễn dịch là bếp nấu nhanh vì nấu bằng bếp này nhanh thật. Nhưng thực tế từ ngữ bếp hỏa tốc dùng ở đây để chỉ loại bếp chế tạo từ một lon sắt, nhiên liệu đốt là những bao nhựa đựng thực phẩm. Tù nh6an lượm những bao nhựa hay chai nhựa mang về trại rửa sạch, phơi cho khô rồi xếp lại. Khi đốt lưa, những bao nhựa này với tim bằng vải cháy thành ngọn lửa xanh, xông lên mùi khói rất hắc và chắc chắn đó là khói độc rồi. Chất nhựa nylon khi cháy tạo ra một năng lượng có nhiệt độ cao, gô nước nóng hay gô canh tập tàng mau sôi hơn và thời gian tính ra chỉ bằng nửa thời gian nấu bằng củi nên gọi là bếp hỏa tốc) bát đựng thực phẩm, ca đựng nước, muỗng nhựa, chăn mùng, quần áo vá chằng đụp bốc mùi hôi vì phơi không kịp khô đã phải lếch thếch gần 2 giờ đồng hồ đường mòn mới tới được địa điểm phải tới. Gần 10 năm trời trong chốn lao tù, anh nào người cũng như xác ve, miệng thở dốc. Mấy vệ binh súng dài đi gác tù có lẽ cũng sốt ruột vì tốc độ của rùa này nên miệng luôn thúc giục đoàn tù đi nahnh hơn nhưng không hiệu quả. Trong đoàn, nhiều anh em bực quá cũng trả lời lại: “Sức người cũng có hạn chứ không phải với sức người sỏi đá cũng thành cơm đâu cán bộ ơi” Bọn tôi được ngồi trên chiếc xe molotova ọp ẹp nhưng cũng phải chạy bằng tốc độ của đoàn tù nhân đi bộ chứ không phải muốn chạy sao thì chạy. Chuyện gì chứ chuyện giải giao tù cải tạo, bọn cán bộ trại giam nào cũng phải “lên kế hoạch” và thi hành theo đúng kế hoạch. Đã bàn giao tù nhân thì con số ấy không thể sửa được. Cho nên, khi tới nơi tập họp trước trại mới, các tù nhân phải điểm số ít nhất bốn, năm lần cũng chưa được yên thân. Di chuyển bằng đường bộ khi chuyển trại mới có thể nhận ra được cách bố trí của lực lượng công an trật tự. Theo ước đoán của một số anh em tù hình sự lao động ở diện rộng (diện rộng tức là diện đi lao động tự do không có vệ binh đi theo canh gác, chẳng hạn như lấy củi trong rừng, chăn trâu, chăn bò, chèo đò…) thì lực lượng bảo vệ trại A-20 có thể lên đến gần 2 tiểu đoàn công an. Hội, một cựu binh thiết giáp của quân đội cộng sản Bắc Việt vào tiếp quản Đà Nẳng và cũng chính tại thành phố này anh ta bị kết án 10 năm tù về tội tham ô được ra làm việc ở diện rộng, giữ chân lái đò để chuyên chở cán bộ cũng như dân chúng quanh vùng và những thân nhân tù nhân đi thăm nuôi con em qua một con suối rộng nước chảy xiết đã cho tôi biết khi anh bị đẩy vào biệt giam số 5 và bị cùm gần 2 tuần lễ: “Em báo cho các anh biết chúng nó đông lắm, đóng chốt vòng trong, vòng ngoài. Anh nói với các anh em là nếu có trốn trại chớ dùng những con đường ra ga La Hai.”

“Cách tốt nhất và an toàn nhất là phải vượt qua mấy ngọn núi ở sau lưng trại E và trại B. Dĩ nhiên leo núi thì khó khăn hơn, nhưng nếu cứ chọn con đường mò ra Quốc lộ 1 là bị bắt ngay thôi. Các anh cần nhớ là cách kiến thiết trại giam lao cải thường dùng cùng một mô hình: trại phải nằm bên cạnh những con suối lớn, chung quanh trại là nhà cửa của gia đình vợ con cán bộ, sau đó là đến xóm dân và vòng ngoài nhất là những khu kinh tế mới và những bản Thượng đa phần là sắc dân H’mong rất trung thành với nhà cầm quyền. Hơn nữa, phải nên nhớ rằng trước khi đưa các anh lên A-20 bọn chúng đã mở chiến dịch học tập cho dân chúng Xuân Phước, những xã kinh tế mới ở Hốc Bò và treo giá 40kg gạo cho những ai bắt được một tù nhân trốn trại. Đ.M. ..dân ở đây nghèo lõ đ… ra, quanh năm khoai sắn nay được 40kg gạo mừng chết đi rồi còn gì nữa. Năm 1978, một anh ở phân trại B trốn ra Hốc Bò, dân nó bắt trói lại dẫn về trại để lấy 40kg gạo. Anh này bị đánh chết ở ngay sân biệt giam. Hai tiểu đoàn công an hiện tại đều là lớp công an mới vào ngành nên mới đỡ hơn chứ bọn cũ khát máu lắm vì toàn dân Nghệ An, phần lớn là Quỳnh Lôi. Một vụ khác là một thằng cũng ở diện rộng như em mê một em gái ở huyện Đồng Xuân, chàng trốn ra ở với nàng được hai ngày thì bị chính ông bố em dẫn vào trại giao nộp để lấy 40kg gạo. Bọn chúng mang thằng bạn của em ra đồng mía bắt chạy về phía trước và chúng dùng súng trường CKC bắn vào sau lưng như bắn bia. Mà cũng kinh thật, nó bị tới 6 phát đạn mới chịu gục xuống.”

Màn đón nhận tù nhân chuyển vào phân trại B cũng giống như bao nhiêu vụ đón nhận ở những trại khác: xếp hàng, điểm số, khám tư trang, đọc nội qui trại và tám (8) điều lệnh nếp sống văn hóa mới (văn hóa mới: đang ở nếp sống văn hóa cũ ảnh hưởng mạnh của văn minh tây phương nay phải bước vào nếp sống văn hóa mới bị ảnh hưởng nặng của thời kỳ ăn lông ở lổ) và cuối cùng là trại trưởng phân trại B nói chuyện. Nhưng đặc biệt lần này, hầu như trại trưởng và đội ngũ cán bộ phân trại B đều mặc lễ phục lon lá, mủ mãng chỉnh tề. Hơn nữa viên trại trưởng lại còn “thắng” vào người bộ trang phục đại lễ, huy chương đầy ngực. Trẻ hơn và nghe nói từng tốt nghiệp trường đại học công an ở Hà Nội và mới tu nghiệp ở Ba Lan về. Trại trưởng phân trại B là người không ưa trại trưởng Lê Đồng Vũ của phân trại E. Theo lời một vài anh em ở phân trại B thuộc nhóm lao cải gồm những người đi chuyến tàu Việt Nam Thương Tín về nước thì viên trại trưởng này gọi Lê Đồng Vũ là người có trình độ tiểu học và nhờ thần thế cho nên từ hạ sĩ công an mà leo lên đến cấp bậc trung tá chỉ trong vòng hơn mười năm. Chẳng hiểu, các anh em này lấy nguồn tin ở đâu mà biết “lý lịch trích ngang” của viên trại trưởng phân trại B thuộc trại A-20 Xuân Phước kỹ như vậy (Rất tiếc vì câu chuyện này xảy ra cách đây hơn ba thập niên rồi nên không còn nhớ tên viên trại trưởng phân trại B). Nhưng thực tế trước mắt tôi vào lúc ấy là phân trại B không khang trang bằng phân trại E. Các nhà giam ở đây phần đông đều là nhà tranh, vách đất bên ngoài có tráng xi măng, chỉ có hội trường được xây bằng gạch lợp ngói nằm ở chí nh giữa và các nhà giam được thiết kế hai bên cánh hội trường, không vườn rau cải hay ao cá và không có những hàng dừa. Trải qua  nhiều trại tù trước khi bị đày lên Xuân Phước, chúng tôi đã chiêm nghiệm được một điều: trại không khang trang có nghĩa là “tính địa ngục” ở đó nhẹ hơn.

Sau màn khám tư trang trong đó có một vài vật được mô tả là bén nhọn bị tịch thu, các bạn đồng tù với tôi đều được biên chế thành ba đội, nhưng tất cả những người thuộc dân số biệt giam phân trại E đều bị ngồi lại hội trường chờ lệnh mới. Tôi hiểu số phận của mình và quay sang nói với T.D.S. đang ngồi dựa lưng vào tường gà gật: “ Chuẩn bị vào biệt giam lại đấy”. Chỉ một lát sau, một trung sĩ công an vào hội trường kêu tôi đi làm việc. Lần này nơi làm việc lại chính là phòng treo tấm bảng lớn “Nhà Văn Hóa” dựng ngay một vườn hoa gần hội trường. Gọi là nhà văn hóa cho sang, nhưng bên trong chỉ để một bức tượng bán thân của ông Hồ, hai cái bàn trên vất lỏng chỏng mấy tờ Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, tạp chí cộng sản, trên tường là những hình ảnh “Đại Thắng Mùa Xuân”. Một chiếc bàn nhỏ để ngay giữa phòng với hai cái ghế. Buổi làm việc không có gì căng thẳng và cũng vắn tắt trong hỏi và đáp. Viên hạ sĩ công an này tự giới thiệu tên mình là Dương, cán bộ an ninh trại. Anh ta còn rất trẻ chừng khoảng 24, 25 tuổi là cùng.

Dương nói với tôi: “Các anh bị ông Vũ gởi nên trại phải thi hành đề xuất này đưa các anh vào lại biệt giam ít lâu.” Nhưng cũng phải tới 5 giờ chiều, chúng tôi gồm T.D.S. tôi và hai người khác bên có án chính trị mới được đưa vào khu biệt giam của phân trại B, nằm ở góc bên phải của phân trại. Khu này cũng có tất cả 10 phòng nhưng xây cất dựa lưng vào nhau, nghĩa là 5 phòng quay mặt vào trong trại và 5 phòng quay mặt ra ngoài một vòng đai cách bìa rừng bằng những mãnh vườn trồng rau cải và khoai lang. Bức tường xung quanh khu biệt giam cao chỉ khoảng 3 thước phía trên có kéo những hàng dây kẽm gai. Các xà lim trong khu biệt giam chỉ xây bằng gạch thẻ dày, mái lợp ngói thay vì bê tông cốt sắt như ở phân trại E, trước sau đều có một khoảng sân rộng nhưng không trồng cây. Thiết trí bên trong mỗi xà lim khác hẳn ngoài phân trại E. Xà lim rộng hơn, có hai bệ nằm cũng rộng hơn, mỗi xà lim có một cửa thông hơi ngay dưới chân cùm. Hệ thống cùm cũng không khác ngoài phân trại E, nhưng trong các vòng cùm có vòng số nhỏ hơn vòng cùm nhỏ nhất là số 14. Nghĩa là nếu chân ai mang vừa vòng cùm 14 thì khi bọn an ninh lấy vòng cùm 12 để thay vào thì chúng phải dùng búa để đóng xuống. Trung tá N.K. T. cũng là một  nhà văn thuộc thế hệ sau cùng của Tự Lực Văn Đoàn và là cựu chánh văn phòng cho tướng Hòang Xuân Lãm cựu tư lệnh Quân Đoàn I đã bị đóng vòng cùm 12 vào chân khiến cho da của hai cổ chân ông bị trầy, bị nhiễm trùng và làm mủ nhưng may mắn không bị hoại thư. Ông N.K.T. bị đẩy vào biệt giam vị bị báo cáo hay “nói tiếng nước ngoài” và “chống cuốc” (nói tiếng nước ngoài: Nói hay viết tiếng Anh. Trung tá T. hay làm thơ và ngâm thơ tiếng Anh, khi ra bãi lao động ông không chịu làm, chỉ đứng chống cuốc nói về thơ và lịch sử của Tự lực Văn Đoàn).

Cái khác biệt nởi bật nhất nhất trong trại giam phân trại B là chiếc thùng cầu. Nó to gần gấp hai thùng cầu tại các xà lim phân trại E. Nhưng chỉ khi nước tiểu và phân gần đầy thùng, trật tự mới xin cán bộ cho chúng tôi mang ra đổ ngoài cái hố đào ngay trong khu đất này. Khi nước tiểu và phân đầy thùng thì chiếc thùng trở nên rất nặng so với cơ thể mà bắp thịt đã teo đi từ lâu như tôi hay T.D.S. Thự phẩm ở biệt giam B vẫn chỉ là những lát khoai mì khô luộc, nhưng không bị chan nước muối mặn chát, tiêu chuẩn nước là một ca đầy cho mỗi bữa ăn. Tôi chỉ bị cùm chân phải với vòng cùm 16 nên lỏng le. Với cá nhân tôi vốn là người tù quen thuộc đời sống chuồng cọp hơn là đời sống của các đội lao cải trong các nhà tù cộng sản,  tình trạng biệt giam ở phân trại B không đến nỗi quá “căng” như ngoài phân trại E.

Tuy nhiên khi còn ở biệt giam phân trại E điều kiện vệ sinh tệ hại như vậy, tôi chưa bao giờ bị tiêu chảy hay kiết lỵ. Nhưng mới chuyển về biệt giam B chưa được một tháng, người tôi tự nhiên “mập” hơn, nước da bóng hơn, nhìn vào cổ chân đã không còn thấy mắt cá xương, bấm vào thì da lún xuống cả nửa phút sau mới trở lại bình thường. Như thế là tôi đã bị phù thủng và bệnh có vẽ đã nặng. Tôi nhớ lại hồi đầu thập niên 1980 khi chưa bị biệt giam đã có lần bác sĩ Lộc, một bạn đồng tù bị án tới 20 năm vì tội tổ chức một vụ nổi dậy ở Ban Mê Thuộc năm 1978 nói với tôi về bệnh phù thủng trong tù. Theo anh phù thủng là một chứng mà hầu như người tù nào ít nhiều cũng vướng phải. Nhưng khi da ống chân đã bóng lên như thoa dầu, bấm vào lún xuống cả phút sau mới trở lại bình thường nghĩa là bệnh nặng rồi, thận đã bắt đầu không làm việc. Cốt lõi chữa trị là phải để tống nước bị giữ trong người ra bằng Vitamin B-1. Lấy đâu ra B-1 trong hoàn cảnh cùng quẩn này? Cuối cùng tôi chấp nhận và lờ đi cái chết đang tới gần. Chân tôi, nhất là đầu gối và mắt cá chân ngày một sưng to lên như chân voi.

Nhưng may mắn đã đến với tôi như một phép lạ. Một hôm, người mang cơm cho biệt giam là một trong số ít những bạn đồng tù trong nhóm Việt Nam Thương Tín vẫn còn trong trại giam nhân lúc trực trại bỏ ra ngoài hỏi tôi: “Anh cần gì không. Ng. đen nhắn” Tôi nói ngay: “Thuốc B-1” Tôi vẫn còn nhớ hôm nhắn tin là vào giữa tuần lễ thì buổi trưa Chủ Nhật tôi nhận được hơn chục viên B-1 và cả thuốc kiết lỵ. Không phải do người đưa cơm mang vô mà là do chính Ng. đen cùng P.Đ.N. trong nhóm Họp Đoàn tổ chức leo qua tường kẽm gai nhảy vào để tiếp tế thuốc B-1 cho tôi. “Phi vụ” diễn ra nhanh, gọn như xi nê và chỉ kéo dài trong vòng 5 phút, nhân lúc tên vệ binh súng dài bỏ chòi gác đi vào trại để giao ca.

Thung lũng tử thần

Vũ Ánh Post by Sơn râu 13 July 2023

Phần 27                         

Cầu Cho Bạo Chúa Sống Lâu

Cuối cùng hai người bạn tù trong nhóm bí mật xây dựng tờ Hợp Đoàn là N. “đen” và H. “bầu” cũng đã liên lạc được với đàn em của họ trong đội tù hình sự để tiếp tế cho chúng tôi mấy tán đường thẻ và một nắm thuốc rê. N. “đen” nhắn cho tôi biết “Ở nhà thợ đã cố sửa chiếc xe Honda của anh nhưng nó vẫn không chạy được nên đành để vào kho. Lời nhắn cho tôi hiểu rằng bên ngoài, các anh em của tôi cố gắng cho tái bản tờ báo nhưng không có điều kiện. Honda nếu viết tắt theo vần Việt ngữ thì có thể viết là HĐ mà HĐ lại là ký hiệu chỉ tờ Hợp Đoàn chúng tôi thỏa thuận với nhau trước khi tờ báo ra đời. Sau khi chia sẽ thuốc hút và những tán đường với những anh em khác trong biệt giam cũng vừa tắm xong và được ngồi dựa lưng bức tường hông nhà bếp đón chút nắng Xuân, tôi báo cho T.D.S biết như vậy có nghĩa tờ báo đã “ngỏm củ tỏi” rồi. S “lùn” nói: “Như thế cũng xong, chúng ta phải chờ cơ hội khác. Tôi chỉ sợ họ cho tục bản mà làm không khéo bị bể ra lại thêm nhiều chuyện lôi thôi cho chính họ và chúng ta có thể bị ngộ nhận. Viên cán bộ trực trại có lẽ cũng lo vun vén cá nhân cho những ngày Xuân nên để chúng tôi ngồi ở hông nhà bếp đến gần một giờ trưa mới bị lùa vô lại vào khu biệt giam, nhưng không bị đẩy vào khu biệt giam ngay lại còn được phát cơm nước và ngồi ăn ngoài sân. Lần đầu tiên trong gần 4 năm trời tôi được bưng tô khoai mì lát luộc ngồi ăn mà chân không bị cùm và không phải ngửi cái mùi hôi thối quanh năm bốc ra từ chiếc thùng cầu. Có thể do có tí chất ngọt và khói (thuốc rê) được anh em tiếp tế khi nãy nên mọi người đều thấy người ấm hẳn lên. Những câu chuyện nổ ra như pháo rang. Lại thêm cả “hot news” nữa! T.C.L. một sĩ quan tâm lý chiến binh chủng Biệt Động Quân bắt đầu “bốc”. Anh vẫn cái giọng “moa, toa” cố hữu: “Ê, mấy toa biết chưa, sắp có biến chuyển lớn bên ngoài, Mỹ đang điều đình để bốc chúng ta. Reagan đã phải lên tiếng xin lỗi nhân dân miền Nam Việt Nam vì Mỹ đã quay lưng lại với chúng ta tàn nhẫn quá. Trước đây moa không tin chuyện này xảy ra, nhưng bây giờ thì moa tin”. Mọi người vốn biết tính T.C.L. hay “nổ bậy” nên chỉ cười, còn Q. “đầu bạc” sĩ quan cảnh sát đã bực dọc kê ngay chiếc tủ đứng tổ bố vào miệng tác giả cái “hot news” này: “Thôi, nhờ anh tí. Bọn em trăm lạy, ngàn lạy anh, chờ Mỹ nó bốc chắc chúng em rục xương ở đây quá. Anh đã nói với em lần thứ hai rồi, lần này là lần thứ ba. Bất quá tam đấy nhé. Anh ở lại chờ Mỹ nó bốc, chúng em về đấy”. Thấy không khí chiều 30 Tết như thế là mất vui, tôi quay sang Q. “đầu bạc” can gián: “Thôi, đừng đem “hot news” vào đây nữa. Chừng nào chúng đưa mình ra bãi đáp mới thảo luận đến tin đó cũng không muộn, hút hết thuốc đi nếu không trước khi vào cùm, chúng nó sẽ tịch thu sạch sành sanh lại còn bị tra khảo mất công lắm còn làm phiền những anh em nào đã tiếp tế cho mình nữa”.

Nghe tới hút thuốc là tự nhiên chuyện “hot news” cũng chẳng còn “hot” nữa và chúng tôi lại chúi đầu vào mớ thuốc rê còn lại, chia nhau sao cho mỗi người còn có thể hút được một điếu nữa. Nói tới thuốc lá, thuốc rê hay thuốc lào trong những trại cải tạo thì cũng chẳng khác gì nói đến chuyện dài nhân dân tự vệ khi xưa. Nhiều người ở ngoài đời thắc mắc đã đi tù, hằng ngày “vã” cơm, nước, chất béo, chất ngọt mà sao vẫn còn chổ để đa mang như vậy. Thắc mắc này không có gì sai, nhưng người chưa vào tù cải tạo thì chưa thể hiểu tại sao chúng tôi lại cần hút thuốc cũng ngang bằng cần khoai, gạo. Bởi vì thuốc hút trong trại giam có khả năng giúp tù nhân chôn dấu nỗi buồn nhớ vợ, con, gia đình, tạm quên thân phận mình phải mang vác. Tôi không liên lạc với gia đình cái khoản thuốc lào trong trại giam đều là quà biếu của các anh em có liên lạc với gia đình và có thăm gặp, cho nên nếu được anh em tặng một chút nào thì cũng phải dè sẻn.

Đối với một người hút thuốc nặng như tôi thì phải dè sẻn hay nhịn thuốc hút thì cũng là một cuộc trường chinh với chính mình. Trước 30 tháng 4, 1975 trung bình một ngày tôi hút đến 3 gói thuốc lá Bastos, một loại thuốc lá đen rất nặng. Tôi chỉ không hút thuốc khi đi ngủ. Vào tù không có thuốc thì phải nhịn. Cũng như bao anh em khác, tôi giữ nguyên tắc là không bao giờ đi xin thuốc ai cả, bởi vì trong nhà giam mọi người đều khốn khó, xoin thuốc tức là xin tiền. Tôi cũng đã trông thấ một vài bạn đồng tù không đi xin nhưng đi lượm tàn thuốc các anh em bạn đồng tù bỏ ngoài sân về gỡ ra và quấn bằng giấy báo hay cho vào điếu cày để hút. Thực ra đây là hành động lương thiện và không có gì gọi là hạ thấp tư cách của mình, nhưng nó làm cho những bạn đồng tù khác đau lòng. Cứ thử tưởng tượng một sĩ quan từng giữ những chức vụ chỉ huy trong các đơn vị quân đội đã từng đổ máu để vượt qua bao nhiêu khó khăn mà đến khi bị đẩy vào hoàn cảnh khốn cùng lại không thể vượt thoát ra được những thói quen của mình thì người ta sẽ nghĩ sao về họ?

Nhưng cũng may mắn là số người đi lượm tàn thuốc trong trại giam đếm được trên đầu ngón tay vì thú thực tù cải tạo mà hút thuốc thì tàn thuốc chẳng còn gì nữa mà bòn mót. Thời gian đầu ở trại A-20 Xuân Phước, thuốc lào là món “phụ tùng” hiếm hoi vô cùng. Tất cả các tù cải tạo khi bước chân vào trại này, quà thăm nuôi mang từ các trại khác đến đều bị tịch thu kể cả thuốc âu dược, thuốc lào, thuốc lá, thuốc rê. Bối cảnh ấy giống y hệt thời kỳ đổi tiền hay đánh tư sản mại bản ở ngoài đời sau khi người cộng sản chiến thắng ở miền Nam Việt Nam. Chuyện hút thuốc lá hay thuốc lào trong trại cải tạo không phải là một vấn đề lớn. Nhưng dù cho là thế đi nữa, nó cũng đã bày ra trước mắt chúng tôi khá nhiều hình ảnh tàn nhẫn mà tôi cho rằng người cộng sản khá thành công trong kế hoạch lũng đoạn đời sống của chúng tôi ngay khi chúng tôi bị đẩy vào trong hoàn cảnh cùng quẫn nhất. Tôi muốn nói tới một thiểu số, rất thiểu số bạn đồng tù với tôi khi họ đã “can đảm” đánh đổi một điếu thuốc lào (trong trại chúng tôi thường dùng từ ngữ “bi thuốc lào” thay vì điếu, một cách thảm kịch hóa việc hút thuốc lào) mà mình có để lấy phần cơm hay nửa phần cơm tùy theo thỏa thuận của người bạn đồng tù khác không thể vượt qua được những đòi hỏi thật phi lý của khói thuốc. Một phần cơm nói cho đúng là một phần cơm độn trong đó tỷ lệ khoai sắn là tỷ lệ áp đảo phát ra cho một tù nhân đã quá ít rồi. Vậy mà họ đã phải cắt đứt sự sống của mình để lấy một điếu thuốc mà ảnh hưởng của nó chỉ kéo dài trong 30 giây đồng hồ thì phải nhìn thấy không có sự mù quáng nào bằng. Đành rằng sự đổi chác này là công bằng và thuận ý với nhau, không hiểu sao trong hoàn cảnh ấy, chúng tôi vẫn nghe thấy văng vẳng một lời trách cứ: “Các anh tồi quá, một điếu thuốc lào, một hạt cơm, một điếu thuốc cũng không chia sẽ cho nhau được mà phải đổi chác một cách tàn nhẫn như vậy, nói chi đến việc gánh vác việc lớn. Các anh nên nhớ chuyện này chỉ diễn ra giữa một số người với nhau, nhưng nếu đối phương của các anh mà nhìn thấy cảnh này, chúng sẽ tổng quát hóa nó và thiệt hại vẫn về phía các anh. Tình huynh đệ chi binh ở đâu? Phần đông các anh em biểu lộ được tinh thần này, người bỏ quên nó chỉ là thiểu số nhưng phải nhớ rằng trong hoàn cảnh phải đối đầu trực diện giữa tốt và xấu với kẻ thù, những chuyện lẻ tẻ rất dễ có tác dụng lớn, lớp đàn em đang sống với các anh trong những nhà tù sẽ không còn giữ được những hình ảnh đẹp đẽ về một quân nhân tuy đã phải đầu hàng nhưng vẫn giữ được những lề thói đáng trân trọng.”

Đời tù có biết bao chuyện để nói và môi trường sống trong nhà tù cũng khá phức tạp trong khi chế độ của những người chiến thắng đang trìm mọi cách để khai thác sự phức tạp này. Cho nên, có thể vì tinh thần bảo vệ màu cờ sắc áo trước kẻ thù, đôi khi trong suy nghĩ của tôi xuất hiện sự khắt khe quá đáng. Vào gai đoạn đó tôi cũng biết như thế, nhưng tôi hiểu rằng mình sẽ không thể chịu đựng được nếu một tên cán bộ việt cộng nào chỉ vào mặt tôi và xỉ vã: “Các anh bảo chúng tôi tàn nhẫn, nhưng chính cách đối xử với nhau giữa các anh cũng tàn nhẫn không kém.” Ngày nay những điều tôi trình bày trên những trang giấy này chỉ còn là một ký ức, nhưng đôi lúc những điều buồn bã ấy vẫn quay lại. Riêng tôi, những ký ức ấy vẫn còn sống động về một thời mà đa số anh em đồng đội chúng tôi đã có thể đâu lưng lại với nhau để chống lại kế sách nhằm hạ thấp nhân cách của những người quốc gia chống cộng khi sa cơ, về một thời mà chúng tôi biết vượt lên trên sự sợ hãi và số phận để sống như những người biết giá trị của tự do và nhân phẩm đến từ đâu.  

Từ cái Tết Nguyên Đán 1984 cho đến tết những ngày trước tết Nguyên Đán năm 1985 nhân số trong khu biệt giam giảm dần. Những người bạn tù khá thân với tôi Đ.B.P, N.Đ.Q, T.C.L, H.C cũng đã được tháo cùm cho trở về đội và số tu sĩ Công Giáo được chuyển vào bệnh xá phân trại B không trở lại biệt giam phân trại E nữa. Trong khu giam cầm đặc biệt này chỉ còn lại tôi, T.D.S. cựu dân biểu T.Q.P. hai linh mục Nguyễn Văn Vàng và Nguyễn Luân và một vài tù cải tạo hình sự ra vào biệt giam như cơm bữa tuy rằng thời hạn nằm tối đa của họ chỉ trong vòng 2 hay 3 tuần lễ là cùng. Chúng tôi vẫn liên hệ với nhau, nhưng không khí trong biệt giam buồn hơn vì mất một người kể chuyện sách vỡ là N.Đ.Q. tự Q. “đầu bạc” và anh chàng chuyên tung hot news vô căn cứ T.C.L. Tiêu chuẩn thực phẩm không thay đổi, nhưng nước uống mỗi bữa được phát rộng rãi hơn chút đỉnh và điều quan trọng là nước muối được chan vào khoai mì bớt mặn hơn và tôi được tháo một chân cùm.

Mấy tháng trước Tết năm 1984, được chuyển sang ở chung với linh mục Vàng ở biệt giam số 6 nên tôi có thời gian nghe vị linh mục này nói chuyện về cuộc đời tu hành của ngài và chứng kiến được sự hùng biện của ngài khi cùng tôi thảo luận về cuốn Tân Ước cho dù ngài biết tôi là một Phật tử. Tôi được cái may mắn là nghe danh linh mục Vàng trong vụ Vinh Sơn, nhưng cho tới khi được nhốt chung một thời gian với ngài trong biệt giam tôi hiểu thế là bâc chân tu giữ được phẩm hạnh trước những khốn khó và lập tức tôi có ngay một sự so sánh giữa ngài và những tu sĩ tôi thường gặp trước 30 tháng 4, 1975 cũng như gặp trong nhà tù Cộng sản. Với chúng tôi trại trưởng Lê Đồng Vũ vẫn giữ cái lối “hỏi thăm sức khỏe” đầ xách mé mỗi khi ông ta vào để kiểm soát các thành phần ở biệt giam gần như lâu nhất trong lịch sử của trại từ năm 1985. Đầu năm 1985 tôi lại được gọi ra “làm việc” nhưng lần này nội dung không có gì quan trọng và do Lý “lé” ngồi ghế thẩm vấn. Nội dung cuộc thẩm vấn chỉ mang tính khuyến cáo tôi là phải an tâm và tin tưởng vào chế độ lao tù của nhà nước. Cuộc thẩm vấn kéo dài tới khoãng 40 phút, nhưng anh ta chỉ hỏi đến quá trình thời gian tôi phục vụ trong hệ thống truyền thanh Quốc Gia VNCH và rồi anh ta nói nhiều hơn hỏi. Sau đó Lý “lé” báo cho tôi biết tôi và một số người khác sẽ bị chuyển trại vào Phân trại B để “cải tạo trong điều kiện thoải mái hơn”. Sau cùng anh công an này nói với tôi: “Biệt giam ở trại B rộng hơn và sạch hơn”.

Nhưng trong thâm tâm trãi qua những kinh nghiệm thử lửa, tôi gnhi4 trong chốn lao tù dưới chế độ cộng sản tốt nhất nên coi câu châm ngôn “cầu cho bạo chúa sống lâu” có một giá trị thực tế nhất định nào đó.

Thung lũng tử thần

Vũ Ánh Post by Sơn râu 12 July 2023

Phần 26                         

Tết 1984 Đánh Dấu Sự Thay Đổi Chế Độ Tù Việt Nam

Tết Nguyên Đán năm 1984 chúng tôi lại trãi qua một cuộc “xóa bài làm lại” trong khu biệt giam của Phân trại E thuộc A-20 Xuân Phước, nghĩa là phải thay đổi chổ ở sau một màn tất cả lần lượt “bị” lùa ra giếng nước ngay bên cạnh ao thả cá rô phi sau khu biệt giam. Trời tháng Giêng ở Thung Lũng Tử thần lạnh như có ai cầm dao cắt vào da, nhất là khi trời vào tiết Xuân, gió hiu hiu làm lay động hàng dừa trong sân trại. Cái lạnh thiên nhiên cộng với việc thiếu đường và chất béo từ 9 năm qua khiến cho buổi sáng ngày 30 Tết Nguyên Đán năm 1984 trở thành buổi sáng không thể nào quên được trong đời.  Chân tay anh em chúng tôi gần như tê liệt. Linh mục Nguyễn Văn Vàng đứng như trời trồng trước cửa biệt giam số 5 khi ngài được trật tự mở còng cho đi tắm và làm tổng vệ sinh buồng giam. Một tu sĩ Công giáo nhỏ con và lanh lẹ như một con sóc, nổi tiếng hùng biện và can trường như ngài mà chỉ mới hơn 3 năm bị cùm trong xà lim thân xác không khác gì người tù Do Thái trong các trại tập trung của Đức Quốc Xã hồi Thế Chiến Thứ Hai.

Linh mục Vàng đứng lên được nhưng không thể nào bước đi được. Những anh em tù nhân thuộc đội hình sự được cán bộ trực trại đưa vào giúp chúng tôi cọ rửa các xà lim biệt giam, đổ thùng cầu tưởng Linh mục Vàng giả vờ để trốn tắm, một vài anh em trong số họ đã có lời lẽ thiếu nhã nhặn đối với ngài. Nhưng ngay lập tức một trong số những tù hình sự đứng tuổi có lẽ là đội trưởng nạt lại ngay: “Đ.M. đứa nào vừa ăn nói du côn đấy, liệu hồn tối nay về đội không còn răng để ăn cháo nghe con. Đ.M. người ta bị cùm lâu ngày gân cứng lại thì cũng phải từ từ chứ. Bộ chúng mày tưởng mình là cán bộ chắc, cho hai đứa nào vào dìu ông già ra”. Tôi được tháo cùm sau Linh mục Vàng, hai đầu gối tê cứng, thân mình xiêu đổ khi đứng lên và cũng được hai tù hình sự dìu ra giếng nước. Một trong hai tù hình sự đứng kéo nước từ giếng lên để xối cho chúng tôi, biết ông Vàng là linh mục nên nói: “ Cha ngồi xuống dựa vào bức tường chắn cho đỡ lạnh. Anh cũng vậy. Em kéo nước lên sẽ dội ra ngoài để che mắt  bọn nó. Cả hai người yếu quá rồi chỉ nên thay quần áo chứ không thôi thì ở dơ không chết mà chết vì cảm lạnh đấy”. Chúng tôi thấy người hình sự này nói có lý nên làm theo.

Cả hai chúng tôi ngồi cho đến hết giờ tắm để lại được dìu ra khỏi giếng nước đến ngồi ở bờ hè bên bức tường hông của nhà bếp nơi có thùng nước nóng mà tù cải tạo của đội nhà bếp xin mang ra để phát cho những tù nhân biệt giam ra tắm. Tôi cho ca nước của mình múc một ca, uống hết một nửa, một nửa đưa cho Linh mục Vàng. Ngài uống hết rồi múc thêm nửa ca nửa. Tôi hỏi ngài: “Bố vẫn còn khát hả?” Ngài trả lời: “Uống phòng xa”. Động từ “phòng xa” anh em chúng tôi dùng để chỉ thời kỳ bị nhục hình bằng chính sách 2 muỗng cơm, hai muỗng nước, hai muỗng muối khi chúng tôi bị nhận chìm vào cơn khát của những người đi trong sa mạc nên mỗi khi bị gọi ra “làm việc” phải xin uống cho thật nhiều nước trước lúc bị dẫn trở lại buồng giam rồi đái ra để uống cho đỡ khát.

Từ lần mà tôi bị gọi ra để làm việc với các thẩm vấn viên từ trung ương vào, chúng tôi không còn bị “đì” phần nước như trước nửa, nhưng mỗi bữa ăn cũng chỉ được phát một phần tư ca. Với số lượng nước này người tù nào vẫn giữ cách nhịn bớt khoai mì để tránh muối thì không đến nỗi khát quá, nhưng nếu người nào không nhịn được và ăn trọn bộ hai phần khoai mì đẫm nước muối cho một ngày thì cũng vẫn khát và sẽ thấy thân thể mỗi ngày trở nên “đẫy đà” hơn, nước da ngày càng xanh bóng hơn (nghĩa là phù thũng nặng hơn)

Tuy nhiên dù gì đi nửa bị cầm giữ trong không gian của một cái chuồng tối tăm, thiếu vệ sinh, không khí và ăn uống lại thua xa khẩu phần của một con chó như thế dần dà chúng tôi xuống sức và nếu không may chỉ cần vướng một cơn cúm nhẹ cũng có thể tiêu mạng như thường. Cựu dân biểu K.T.V. và tham sự hành chánh L.Q.M. bị đua vào biệt giam muộn hơn tôi nhiều nhưng chưa đầy 9 tháng sau, một người phải cáng vào bệnh xá trong phân trại B và qua đời tại đó, còn một người chết ngay trong biệt giam. Ở phân trại E nhiều anh em ít chú ý đến một hiện tượng: phần lớn những anh em tù nhân cải tạo bị bệnh mà phải đưa vào bệnh xa phân trại B cách phân trại E khoảng từ 5 đến 7 cây số đều chết tại đây chẳng hạn như ông L.K. chủ tịch Tổng Công Đoàn Tự Do một tổ chức Nghiệp Đoàn đối lập với Liên Đoàn Lao Công của ông T.Q.B. và khoảng độ ba hay bốn tu sĩ Công Giáo, hai tu sĩ Phật Giáo khác, cựu Tổng Đốc N.D.G. và chánh văn phòng của TT Ngô Đình Diệm V.V.H.

Nhiều người thắc mắc ở Thung lũng tử thần có bao nhiêu trại giam và phân trại nào là trại chính. Một trong những tù nhân thuộc nhóm người đi chuyến tàu Việt Nam Thương Tín trở về nước sau khi đã di tản đến Guam rồi cho biết khi họ đến đây là đã có phân trại B rồi. Phân trại B là một bệnh xá có 10 giường bệnh, 4 bác sĩ Quân Y của QLVNCH cũng là tù cải tạo làm việc với một y sĩ Việt Cộng mang cấp Thiếu Úy (Ghi chú y sĩ là từ ngữ mà ngành y của cộng sản dùng để chỉ y tá hay y tá trưởng). Ngoài ra còn hai phân trại khác nhỏ hơn đó là C và D ở sâu trong một khu rừng nguyên sinh cách B khoảng 10 cây số được thiết lập bên cạnh một con suối. Cho đến thập niên 1980 thì các phân trại C và D mà phần lớn tù nhân cải tạo là hình sự đều lần lượt bị đóng cửa vì nước độc. Lý do khiến Cục Trại Giam Miền Nam dẹp trại giam C và D đã trở thành các cuộc tranh cãi trong số những anh em tù nhân cải tạo. Người thì cho rằng tình hình an ninh không còn bảo đảm do tàn quân “ngụy” phối họp với người dân tộc H’mong đang có âm mưu dấy loạn từ trong buôn làng của họ cách trại khoảng 20 cây số đường chim bay. Có người lại còn nhân rộng một hình ảnh trên thực tế không hề có: quân của tướng Ngô Quang Trưởng mở một đường xâm nhập từ Lào vào Việt Nam nằm về phía Đông Bắc của phân trại D. Đại loại những “hot news” này lúc đó được tù cải tạo loan truyền chỉ với mục đích giữ vững và an ủi tinh thần anh em. Tuy nhiên, nó chỉ có tác dụng đối với những sĩ quan nào không hề chú ý đến khía cạnh thuần lý của tin tức. Còn phần đông những anh em khác đều cho rằng đây là chuyện tầm phào. Điều khôi hài là vào lúc ấy chỉ có một số ít người tù chịu khó nêu ra suy nghĩ độc lập của mình: chỉ có người giữ vai trò Tổng bí thư đảng cộng sản mới có thể biết tin trên được, tù nhân cải tạo ở trong cái rọ của Xuân Phước kín như bưng làm sao biết được mật tin này và liệu mật tin này có thể là do chính Việt Cộng tung ra trong một chiến dịch trăm hoa đua nở khác trong trại tù hay không? Rõ ràng nguồn tin thuộc loại “hot news” thường tỏ ra có nhiều kinh nghiệm trong việc loan truyền. Tâm lý người tù cải tạo lúc nào cũng cần có một cái phao để bám vào trong khi những người nào còn tỉnh táo thì không nói ngược lại được vì sợ những người bạn đồng tù hỏi: “Bộ mày không muốn tướng Trưởng mang quân về à?” hay “Bộ mày không muốn có thay đổi hả?” Những câu hỏi xách mé về những tin tức tưởng tượng này trở thành một cái khiên để những phần tử chống cộng hoang tưởng trong trại giam vùi đầu trong cát một cách hèn nhát để “chờ thời cơ sắp đến” và làm cho sự đoàn kết giữa anh em tù cải tạo với nhau sứt mẻ dần.

Những tác hại nguy hiểm của loại tin tức đại loại như ông tướng này về lập chiến khu tại dãy  núi Mây Tàu, Rừng Lá hoặc vùng U Minh Thượng Cà Mau tướng kia về mật khu Dương Minh Châu hay tướng Hải Quân Hoàng Cơ Minh cùng ông Hoàng Văn Hoan thuộc Bộ Chính Trị đảng cộng sản Việt Nam đào tị ra nước ngoài trở về Hoàng Sa lập hạm đội giải phóng Việt Nam đã trở thành những đề tài nóng hổi trong những trại giam. Những cái phao này có những lúc được bơm rất căng, dẫn tới những cuộc cải lãy và ấu đả tuy chỉ là vài cú đấm thôi cũng đã tạo ra bối cảnh thảm hại trong hàng ngũ anh em tù cải tạo chúng tôi. Dù những người bị bịt mắt trong trong thành phần tù nhân cải tạo chỉ là thiểu số, nhưng đa số thầm lặng thì lại không muốn phiền hà đến mình nên vẫn chỉ là đa số thầm lặng. Cho nên những người tù nào còn tỉnh táo để phán đoàn, những người vẫn có thể nói với những thiểu số mù quáng này rằng Hoàng Sa đã mất về tay Trung Cộng từ năm 1974 hoặc “Mấy anh mà còn biết những tin tức loại A 1 này, thì bọn cộng sản chúng nó lại mù hay điếc hết hay sao mà không biết” đã mặc nhiên trở thành “những người tỉnh táo trong cô đơn” và đôi khi còn bị cô lập.

Những thập niên sau này khi sang định cư ở Mỹ sống giữa cộng đồng người Mỹ gốc Việt Nam chỉ một năm sau, tôi đã nhận ngay ra một số chính trị gia hay nhà báo mang cái bệnh hoang tưởng từ các trại lao cải ở Việt Nam từ các thập niên trước sang đất Mỹ. Điều đáng quan ngại sự hoang tưởng của họ chiếm một vị trí rất trang trọng trong các bài diễn văn dài trước cử tọa mà đa số đều trãi qua những kinh nghiệm ở các nhà tù cộng sản hay ở xã hội bên ngoài tại Việt Nam. Trong khi nhiều người muốn xây dựng một nền văn hóa cộng đồng mang sang từ quê hương gốc thì một số chính trị gia nói trên lại xây dựng một nền chính trị cũng hoang tưởng như các “hot news” trong trại tù và rập khuôn kiểu cai trị của đảng cộng sản: “Những gì chúng tôi nói ra là chân lý phù hợp với cộng đồng, mấy anh bất đồng chính kiến với chúng tôi có nghĩa là đi ngược lại cộng đồng, là tay sai cộng sản”. Có một giai đoạn trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt, phần đông chính trị gia này hay dùng nhóm từ ngữ “bị tẩy não” để chỉ nhóm người không có ý kiến giống họ mà không hề để ý rằng chính họ mới là những thành phần bị cộng sản tẩy não. Không bị tẩy não thì không ai lại ngu dại gì mà giữa một đất Mỹ tự do mà lại tự nguyện đưa chân vào cái cùm Đỏ như vậy.

Sáng 30 Tết Nguyên Đán năm 1984, các phân trại thuộc A-20 đều nghỉ lao động. Theo lời những anh em không bị biệt giam lâu dài kể lại sau này thì năm ấy viên trại trưởng Lê Đồng Vũ cho nới lỏng thăm nuôi, bỏ những giới hạn khắt khe, chẳng hạn như “những tù cải tạo bị biệt giam khi được thả ra lại đội lao cải không được nhận quà thăm nuôi hay ra gặp mặt gia đình ít nhất là sáu tháng” Linh mục Nguyễn Văn Vàng và tôi ngồi dựa lưng vào bức tường nhà bếp cho đỡ lạnh sau khi được một tù hình sự tốt bụng tránh cho việc phải dội nước lên người. Nhìn vườn rau cải chạy từ sau lưng khu biệt giam đến dãy nhà giam 1 và 2 đã ra hoa vàng, nhìn những bạn tù được gọi ra thăm gặp hay thăm gặp rồi xách những giỏ quà từ cổng trại đi vào dưới hàng dừa cũng đã đơm hoa, nghe tiếng lao xao của bạn bè bên những giếng nước đào trước sân mỗi nhà giam tôi bỗng chạnh lòng nghĩ tới những người thân ruột thịt nhất là mẹ tôi. Từ giữa năm 1976, tôi không còn gặp hay thư từ gì cho bà cụ. Những năm tháng còn bươn chải trên các mặt trận vào những năm trước 1975 để làm sao có thể gởi được về hậu phương một phóng sự truyền thanh “Xuân Tiền Đồn” cho kịp phát thanh sau thông điệp đầu năm của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, tính ra chỉ có vài năm ít ỏi tôi được vui tết với gia đình bắt đầu từ sau Mùa Hè Đỏ Lữa năm 1972. Trong những script gởi kèm với cuộn băng ghi âm phóng sự này, tôi thường dùng một đoạn của ca khúc mà cho tới nay tôi đã quên tên của nó, trong đó có hai câu mà tôi thích nhất thường dùng làm nhạc mở đầu và nhạc nền cho phóng sự:

“Đồn anh đóng ven rừng mai

Nếu mai không nở anh đâu biết Xuân về hay chưa”

Lúc bấy giờ 1984, tuy hoàn cảnh đã đổi thay nhưng tôi cũng không quên được hình ảnh của những người lính Địa Phương Quân, Nghĩa Quân hay những người lính đồn trú tại những căn cứ hỏa lực những ngày trước tết Nguyên Đán. Họ quả cảm, nhẫn nại và chịu đựng gánh nặng của cuộc chiến trong những năm dài nay lại phải chịu đựng gánh nặng của đời tù đày gần cả một thập niên (tính cho đến 1984). Những người lính ấy trở thành những tù cải tạo sau khi thua trận đứng lố nhố lấp ló trong lối đi của vườn rau cải đơm bông. Họ muốn tiếp tế cho chúng tôi nhưng còn ngại đám vệ binh đứng canh chùng để kiểm soát việc bắt cá rô phi từ cái ao đào ngay sau khu biệt giam.

Thung lũng tử thần

Vũ Ánh Post by Sơn râu 8 July 2023

Phần 25                          

Nếu Nhân Quyền Quốc Tế Can Thiệp

“Đánh Trống Bỏ Dùi”

Trung tuần tháng Tư 1982, tôi bị gọi ra thẩm cung. Trực trại Luật cho biết trước lần thẩm cung này do trung ương từ Hà Nội vào nên tôi “phải thành thật khai báo để được tha cùm sớm hơn, được trở về đội tiếp tục lao động và được nhà nước xét tha cho trở về với gia đình”. Luật nói: “Gia đình anh trông mong anh về để giúp họ vì tình hình kinh tế bên ngoài khó khăn lắm đấy. Trại vừa mới được thả một đợt. Tôi khuyên anh là không nên bướng nửa, các anh không làm gì được chúng tôi đâu.” Tôi không buồn trả lời trả vốn gì với những tin tức của Luật vì một em ở đội hình sự bị kỷ luật mới bị nhốt vào biệt giam đã cho biết tyin này. Tôi nói với Sơn Tây-Anh Dũng-Non Nước (T.D.S.) khi người bạn tù ở đội hình sự cho biết tin đợt thả tù gây nhiều ngạc nhiên: “Như thế là bên ngoài phải có biến chuyển gì quan trọng, chứ tới A-20 bọn mình trở thành hồ sơ chết rồi”.

(Ghi chú: Khi được thả ra khỏi nhà tù cuối 1988, người anh cả của tôi đối chiếu và cho biết: “Chúng nó chuẩn bị để đánh đổi bọn mày với việc tìm kiếm người Mỹ mất tích. Thời gian đó trùng với việc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là ông Funseth khởi sự các cuộc thương lượng với Hà Nội về số phận của những tù cải tạo”.Ông anh cả tôi đang dạy học ở trường trung học Trưng Vương thì bị gọi động viên vào học khóa 16 trường Bộ Binh Thủ Đức. Ra trường, phục vụ ở Tiểu khu Long Khánh rồi bị thương phải giải ngũ. Sau Tết Mậu Thân bị tái ngũ do lệnh tổng động viên và đến phục vụ ở tiểu khu Phước Long đến năm 1971 mới được giải ngũ trở về dạy học lại. Sau 30 tháng 4, 1975 do yêu cầu của ban giám hiệu của chế độ mới anh tiếp tục dạy vài năm rồi xin nghỉ về nhà sinh sống bằng cách dạy kèm Toán-Lý-Hóa cho con em của những gia đình nào vẫn còn quan tâm đến giáo dục của con cái. Kể từ năm 1984 anh là người mạo hiểm và bí mật liên lạc thư từ với Sứ quán Hoa Kỳ ở Thái Lan để xin một loại thư giới thiệu rất quan trọng mà anh em H.O. gọi là L.O.I.(Letter Of Introduction). Anh đã làm thiện nguyện cho hằng trăm người gồm bằng hữu của anh và những người cần sự thông thạo Anh ngữ của anh cả tôi)

Tôi mới được thả một chân cùm cách đó vài ngày nên hai chân vẫn còn “sượng” mỗi lần bước đi hai đầu gối chân như muốn cứng lại và đau đớn. Lần này thì không cần phải xin nước, tôi được trật tự Của lấy cho một ca nước nóng từ nhà bếp. Một bạn tù làm đội nhà bếp tốt bụng với anh em đã lén bỏ vào ca nước một chút đường. Cho đến nay tôi vẫn nhớ đến cái vị ngọt của ca nước nóng có pha đường buổi chuẩn bị “làm việc” cách đây 32 năm. Chất ngọt của đường như đánh thức tất cả những sợi gân và những mạch máu trong cơ thể tôi và đầu óc tôi trở nên sáng suốt hơn. Trực trại ra lệnh cho Của gọi một tù nhân phụ trách hớt tóc. Anh “thợ” hớt tóc này chỉ có một chiếc tông đơ đã lụt nên nghiến vào tóc khá đau và vài miếng miểng chai để cạo râu. Tuy vậy, tôi cũng vẫn phải chịu trận vì không phải lúc nào một tù nhân cải tạo muốn hớt tóc cạo râu cũng được.

Tôi không hiểu những vị trong số những quí vị vốn gốc H.O. ở đây có ông nào đã được thưởng thức lối hớt tóc lối hớt tóc bằng tông đơ đã lụt không, chứ tôi thì đã bị mấy lần rồi.  Nhưng lần này vì đã hơn một năm chưa được tắm nên râu tóc mọc ra dài như người rừng, lại bám đất bết vào nhau khiến cho mỗi lần anh thợ đẩy chiếc tông đơ đi từ đường mang tai lên tới đỉnh đầu, tôi có cảm tưởng như lớp da đầu bị tuột ra từng miếng. Tội nghiệp người bạn tù phụ trách hớt tóc thấy tôi đau nên miệng cứ phân bua: “Anh đừng giận em, thật tình em đã xin đổi chiếc tông đơ này lấy cái mới, nhưng trại chưa cho, thôi anh chịu khó vậy, lần sau em hy vọng có được cái tông đơ mới”. Hớt tóc (thường là hớt trọc) xong, đến màn cạo râu. Hồi còn ở trại B-5 hay Hàm Tân chúng tôi thường cạo râu cho nhau bằng miểng chai, nhưng phải cạo thật chậm như thể cắt từng sợi râu. Nhưng a nh bạn tù này cạo râu bằng miểng chai khá nhanh], nhờ vào chổ trước khi cạo anh ta lấy ra miếng xà bông nhỏ, xịt vào đó chút nước cho nổi bọt rồi thoa vào hai mép tôi. Việc cạo râu diễn ra trơn tru, không một miếng da nào bị “ăn”. Người “thợ” giải thích: Phải đập cả chục vỏ chai không, em mới kiếm được mấy miếng miểng chai tốt này”. Sau đó anh giải thích một thôi một hồi về kỹ thuật đập chai sao cho miểng chai bén như dao cạo. Tôi hỏi: “Thế cậu cạo cho cán bộ bằng miểng chai không?” Anh trả lời giọng cải lương: “Họ là quan, mình là tù mà đâu có dám đèo bồng. Em có con dao cạo nhưng họ bảo giữ chỉ để cạo cho họ thôi, mỗi lần cạo em phải hơ vào cồn để diệt trùng. Đ.M. phú quý sinh nghĩa lễ (lẽ ra là lễ nghĩa) có khác”. Xong câu này anh xuống giọng “xề” nói thật nhỏ: “Đ.M. bọn nó ác lắm, ông thầy. Nói thật với ông thầy, tù ra em mua súng. Tụi nó mà lạng quạng mò về thành phố, em bắt gặp là cho ăn kẹo đồng hết cả đám Đ.M. …”

Bất cứ một ông thợ hớt tóc nào dù là hớt tóc dạo cũng đều có cả một kho những câu chuyện khác nhau để nói với khách hàng. Trong tù cũng vậy những anh chàng được cử nhiệm vào đội lao động tự giác với nhiệm vụ hớt tóc cho tù nhân cải tạo lẫn cán bộ trại giam đều phải là người được tin tưởng là “an tâm cải tạo, không có âm mưu trốn trại” và họ đều phải có những bài bản được soạn sẳn để nói chuyện nếu phải hớt tóc cho những bạn đồng tù với mình và một câu chuyện làm quà khác để nói với bọn cán bộ, phần lớn là những câu chuyện trai gái đĩ điếm ở xã hội bên ngoài. Dĩ nhiên những mong ước của người tù hình sự này chỉ là những mong ước tưởng tượng cho đỡ buồn vì cái án chung thân do cướp có súng của anh biết ngày nào ra. Nhưng tôi vẫn an ủi người bạn tù tội nghiệp: “Rồi sẽ có ngày thôi, nhưng em cẩn thận khi nói chuyện. Vói anh thì không sao, nhưng với người khác sẵn sàng tâu lên bọn an ninh để lấy điểm chắc chắn chúng sẽ đánh chết em đấy”.

Tôi ngồi chờ ở cổng trại cho tới trước giờ các anh em tù cải tạo lao động từ hiện trường lao động trở về. Cán bộ an ninh kiêm chính ủy trại Lý “lé” đến nhận tôi từ trực trại Luật. Lại một màn gây cấn giữa hai người công an này khi Lý thiếu một chữ ký của một người nào đó có trách nhiệm cao hơn. Tôi chỉ nghe được những trao đổi “mày tao chi tớ” và một câu đe dọa của trực trại: “Lãnh rồi thì lo mà giữ, đừng có kiểu không lo được lại cho gọi tao. Mày làm việc đi, ông đi chơi đây”. Nơi tôi bị thẩm cung không phải là cái văn phòng thường lệ cách cổng trại không xa lắm mà một căn phòng bên cạnh phòng làm việc của trại trưởng Vũ. Có lẽ đây là một phòng họp của ban quản trại. Ở chính giữa phòng có kê một cái bàn bằng gỗ mộc. Tôi thấy có 3 người ngồi sau chiếc bàn, hai nam một nữ đều trang phục cán bộ sơ mi trắng cụt tay bỏ ngoài nhuj74ng chiếc quần màu ô liu, chân dép râu. Người ngồi giữa là một thanh niên chừng khoảng 30 tuổi, tóc hớt ngắn đeo kiếng cận thị tự giới thiệu là cán bộ từ Hà Nội ra, hai người kia là phụ tá của anh ta. Tôi ngồi cách bàn làm việc của anh ta khoảng 3 thước nên anh yêu cầu tôi nói lớn hơn. Thẩm vấn viên chính hỏi tôi lý lịch và lý do tôi bị đưa vào xà lim cá nhân.

Không bỏ lỡ cơ hội tôi giở “bựa” ngay:

_Cán bộ trại trưởng chắc phải cho cán bộ biết lý do, còn tôi tôi chẳng hiểu tại sao tôi lại bị cùm trong xà lim cá nhân đã hai năm rồi.

Người công an trẻ tuổi nhỏ nhẹ:

_Không, ông ấy (Vũ) chỉ cho biết anh bị phạt vì vi phạm kỷ luật trại giam.

Ngay lúc đó tôi đã nghĩ thầm trong bụng: “Me kiếp…bọn bây cứ đứa nọ đổ cho đứa kia. Như thế thì nói hay không cũng vẫn bị cùm như thường, đã thế ông nói cho hả dạ. Và tôi đặt câu hỏi thay vì để cho hắn ta hỏi:

_Cán bộ xác nhận xem có phải chiến tranh đã chấm dứt cách đây 7 năm rồi phải không . Nếu như vậy hóa ra phía chiến thắng thù dai đến như thế sao, mà cần gì phải thù dai như vậy? Những người tù cải tạo như chúng tôi bây giờ như có được thả ra xã hội bên ngoài thì bất quá chỉ tìm cách vượt biển hay đầu hàng hoàn cảnh thôi, ai mà dám chống và nếu có chống thì có bao nhiêu người? Cán bộ cho tôi biết có trường hợp nào mà các cựu sĩ quan đã từng đi tù cải tạo được thả về đã tham gia vào một mặt trận chống chế độ bị bắt lại không…?

Nghe tôi hỏi như vậy nàng cán bộ nữ yêu cầu tôi không được hỏi nữa mà phải trả lời có hay không thì bị anh chàng trẻ tuổi có thể là trưởng toán chặn lại:

_Cứ để cho anh ấy hỏi. Anh hỏi thì tôi trả lời. Nhà nước chưa thể thả anh ra ngoài xã hội bây giờ được. Dân chúng ở ngoài còn thù các anh. Họ sẽ không để các anh yên nếu đưa các anh ra sống xã hội bên ngoài chứ không p;hải nhà nước thù hận gì các anh đâu. Bây giờ tôi hỏi anh. Anh cho tôi biết Frederil Feuchs là ai? Anh vẫn thường xuyên liên lạc với bà ta và một cựu chiến binh người Pháp tên là Carreaux chứ gì?

Từ lâu, tôi đã trãi qua quá nhiều cuộc thẩm vấn mà thẩm vấn viên chỉ là những người biết tra vấn, đe dọa và thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Tôi nói thật là tôi coi thường những thành phần này. Nhưng phải nói rằng trước một thẩm vấn viên trẻ tuổi, ăn nói nhỏ  nhẹ và kiểu hỏi bài bản, rõ ràng có được huấn luyện khiến tôi hơi ngại và tự nhủ phải cẩn thận. Cuối cùng tôi quyết định xin cho tôi uống nước vì tôi đang khát không nói lớn được. Họ thỏa thuận cho tôi uống một ca nước vối rót từ cái ấm đất nung lớn để trên bàn. Xong tôi nói chậm nhưng rõ ràng không cần phải chuẩn bị:

_Ở trại A-20 một con kiến cũng không lọt ra ngoài được và ngược lại. Bảy sĩ quan cướp súng cán bộ trốn trại bị bắn chết 6 người, một người bị bắt lại. Thơ chui, thơ lòn gì gì đi nữa cũng đều bị khám phá và người gởi bị cùm trong khu biệt giam cả đống. Bảy năm nay tôi không liên lạc với gia đình, gia đình tôi cũng cũng hề biết tôi ở trại nào. Bộ tôi có phép thần thông hay sao mà từ cái xó rừng này tôi lại có thể liên lạc với những người ngoại quốc như thế. Liệu cán bộ có thể cho tôi xem bằng chứng là tôi biết họ và liên lạc với họ không? Liên lạc vào ngày nào bằng phương tiện gì? Nếu cán bộ trưng ra đủ bằng chứng tôi cam đoan sẽ ký giấy nhận tội và xin đem ra bắn bỏ ngay.

Người thẩm vấn trẻ tuổi này mà mãi sau tôi mới được biết tên là Thận, rút trong sắc-cốt ra một tập hồ sơ để ra trước mặt anh ta nhưng không cho tôi xem. Hắn nói, vẫn giọng nhỏ nhẹ, nhưng lạnh hơn:

_Tôi nói thẳng ra cho anh biết là gia đình anh đã liên hệ với những người ngoại quốc này tại Saigon. Họ làm việc cho tổ chức Ân Xá Quốc Tế, một tổ chức cực kỳ phản động!

_Nếu đây là sự thật thì gia đình tôi chứ không phải tôi. Chính cán bộ đã nói ra điều này đấy nhé. Như vậy tại sao cán bộ không vào thẳng Saigon để hỏi mẹ hay anh tôi mà lại hỏi tôi?

Thận, tên viên trưởng toán thẩm cung im lặng không nói gì. Anh ta mở bao thuốc lá thơm Saigon Giải Phóng rút ra một điếu đưa cho tôi và dồng thời anh ta cũ ng châm ột điếu phà khói rồi cầm ấm nước trà rót vào bốn cái tách rồi đẩy đến trước mặt mỗi người trong phòng rồi nói:

_Anh uống nước đi, anh phải suy nghĩ xem anh đang ở vị trí nào. Tôi được lệnh vào đây để tìm hiểu chứ không phải vào đây để nghe anh cải vã với tôi. Tôi hỏi tới đâu anh trả lời tới đó để cho buổi làm việc sớm kết thúc thành công!

Vào thời điểm của thập niên 80, việc chiếm được miền Nam Việt Nam dường như vẫn còn là một thành công chói lòa đối với người cộng sản, dù ở ngoài đời dân chúng vẫn khoai sắn và rau cháo cho qua ngày. Chế độ khẩu phần suốt sáu bảy năm qua chỉ khuyến khích thêm nạn buôn lậu trên cả nước. Ngay ở trước sân của ban quản trại là một tấm bảng lớn chạy suốt chiều ngang có viết chữ đỏ trên nền vàng: “Thành công, thành công, đại thành công”. Cho nên ngay khi nghe Thận nói “để cho buổi làm việc sớm kết thúc thành công” tôi đã phải cố gắng kềm chế để không phải cười hộc lên, nhưng vẫn thầm nghĩ: “Mẹ kiếp, có đếch gì mà kết thúc thành công hay thất bại trong một buổi thẩm cung. Chỉ khi chúng mày có gan đem bắn hết bọn tao thì mới là kết thúc thành công được mà thôi”. Thận giở lại tập hồ sơ xem lại một hồi rồi hỏi tiếp:

_Mẹ anh có gặp một người Bỉ tên là Fuchs, anh nghĩ thế nào về chuyện này?

Tôi đáp lại ngay không cần đắn đo:

_Tôi không biết nên không suy nghĩ gì cả!

_Nhưng nay tôi đã cho anh biết như thế thì anh phải có một vài suy nghĩ nào đó chứ. Thận vặn lại.

Tôi cảm thấy nếu cứ ngồi mà trả lời những câu hỏi của toán thẩm vấn này thì không có lợi cho chính tôi, bởi chiến thuật của họ là cứ hỏi và hỏi thật nhiều câu vớ vẫn, không đâu vào đâu cả rồi chờ tới lúc đối tượng thẩm cung bắt đầu mệt và căng thẳng liền gài vào đó những câu “chết người” thì có thể tôi sẽ lọt ổ “phục kích”. Do đó tôi đánh bài tố:

_Tôi không hề biết và cán bộ cũng chẳng đưa ra một chứng cớ nào cho thấy mẹ tôi gặp cái bà người Bỉ nào đó cho nên suy nghĩ làm gì cho mất công. Tôi nói thẳng với cán bộ điều này: cán bộ muốn cáo buộc hay nâng quan điểm về tôi và gia đình tôi thì cứ việc làm, tôi không có một khiếu nại nào cả. Cho nên, nếu nhân đạo, cán bộ đưa tôi trở lại xà lim. Còn nếu cán bộ cứ muốn tiếp tục hỏi tôi về những chuyện ở ngoài xã hội mà tôi không biết hay không có liên quan gì tới tôi cả thì buổi làm việc hôm nay không thể kết thúc thành công như cán bộ muốn đâu. Do ỏ trong nghành truyền thông của chính phủ VNCH khá lâu, tôi không xa lạ gì với tổ chức Ân Xá Quốc Tế. Thời VNCH họ cũng đã hoạt động ở miền Nam Việt Nam và họ được tự do đến gặp những người cộng sản như cán bộ lúc đó nằm trong những trại tù binh phiến cộng ở Phú Quốc và Côn Sơn chứ có gì lạ đâu.

Có lẽ đây là lần đầu tiên những tay thẩm vấn này phải đối phó với những tù nhân cải tạo chấp nhận phần rủi ro nhất cho mình để đổi lấy sự tự do tranh luận, nên hai người phụ tá của Thận có vẽ “nóng ruột”. Anh chàng phụ tá có khuôn mặt lưỡi cày đấm xuống bàn, mặt đỏ gay:

_Đừng có bố láo, anh gọi chúng tôi là phiến cộng hả, như thế mà gọi là an tâm cải tạo.

_Tôi an tâm cải tạo chứ, nhưng sự an tâm của tôi có nghĩa là nhà nước muốn nhốt tôi bao lâu thì nhốt, nhốt chán không muốn nhốt nửa thì thả, tôi có khiếu nại đâu. Tôi cũng không mong một ngày về và nếu phải nằm ở nghĩa trang tù nhân cải tạo thì cũng là bình thường thôi!

Có lẽ thấy không thể tiếp tục cuộc tra vấn nữa, viên trưởng toán thẩm vấn bước ra cửa gọi Lý “lé” đưa tôi trở lại xà lim. Dĩ nhiên tôi không được trởi lại xà lim 5 với T.D.S. nữa mà sang nằm một mình ở số 6 với mức cùm hai chân trở lại và “hưởng” chế độ 2 muỗng cơm, hai muỗng nuốc và hai muỗng nước muối mặn chát. Lý “lé” không nói gì cả. Anh ta lặng lẽ khóa cửa phòng biệt giam và ra khỏi khu biệt giam ngay sau đó. Nhưng đến giờ phát cơm chiều và điểm số cho khu biệt giam, trại trưởng Lê Đồng Vũ xuất hiện. Đứng trước cửa xà lim, ông ta nhìn tôi với vẽ mặt lạnh tanh và giọng lè nhè thâm hiểm:

_Anh còn khỏe lắm và gan còn to nên cứ nằm nghỉ ở đây cho đến khi nài hai cái vòng cùm ở chân anh mọt ra thì về nhé. Nằm suy nghĩ đi. Đừng có vọng tưởng bẻ gậy chống trời không được đâu!

Không nói ra nhưng ai cũng hiểu rằng cái giá mà tôi phải trả cho buổi thẩm cung hôm đó lớn hơn bao giờ hết. Lần nhục hình này kéo dài đến 8 tuần lễ, có tuần lễ tôi bị lột áo và bị tra thêm một cùm số 8 ở hai cổ tay ngược ra đằng sau, chỉ giờ cơm mới được mở ra khoản 10 phút để tôi ăn uống. Trời nhá nhem tối là đàn muỗi đã ùa vào tấn công trong điều kiện “tối ưu” vì tôi không được mặc áo và hai tay bị còng không có cách nào đuổi chúng được. Đây chính là con dốc cao nhất trong suốt đời tù mà tôi phải leo. Mười phút để ăn và uống phần nước quá ít nên không thể nào uống theo kiểu dùng muỗng đổ vào chân răng từ từ được vì sau 10 phút tay tôi bị còng lại đàng sau không còn nân hay cầm bất cứ vật gì được. Vừa khát, vừa không thể nằm xuống ngủ được, mỗi bữa tôi chỉ dám ăn một lát khoai mặn chát nên sức khỏe sa sút trông thấy. Cứ cách một tuần thì tôi được mở còng tay một tuần. Trong tuần lễ được mở còng tay, phần nước phát cho tôi gia tăng gấp đôi, nước muối chan vào khoai mì lát nhạt hơn. Điều này chứng tỏ rằng bọn an ninh ở trại giam này không thể để tôi quá kiệt sức. Nhưng kiểu cứ tuần “đóng”, tuần lại “mở” như vậy thường tạo cho người tù một tâm lý bất an rất dễ dẫn đến sự buông xuôi. Để đối phó tôi vẫn áp dụng phương pháp ngồi yên, thở sâu và để cho đầu trống rỗng không suy nghĩ gì. Phương phái thư giãn này giúp tôi thanh thản hơn, bớt đói và khát hơn. Niềm vui vì tôi đã có thể làm cho một buổi thẩm cung của những thẩm vấn viên từ trung ương không những không thành công mà còn tạo cho tôi cơ hội “xả xú báp” và sự thanh thản đã giúp tôi củng cố thêm niềm tin để tiếp tục bước qua gian nan những năm sau này.

Khi được thả về năm 1988, biến chuyển đầu tiên mà mẹ tôi thông báo chính là ngày bà Fuchs một thành viên của Amnesty International (theo lời kể của mẹ tôi) đến Việt Nam để gặp bà và khoảng hơn chục bà mẹ hay vợ của những nhà báo hay truyền thông đang bị nhà cầm quyền lúc đó ở việt Nam giam giữ. Mẹ tôi đưa cho tôi xem một tấm hình chụp phụ nữ tây phương có chữ ký và lời đề tặng bà. Cuộc gặp gỡ diễn ra ở Sở Ngoại Vụ. Nội dung cuộc gặp vẫn chỉ là những lời an ủi của bà Fuchs chứ bà không hứa hẹn gì. Năm 1992 khi tái định cứ tại Mỹ theo diện HO một số bạn bè của tôi ở Pháp và người đàn anh trong nghề là anh T.V.N. một cựu lãnh đạo Việt Tấn Xã định cư ở Paris cho biết Carreaux là một cựu chiến binh Pháp rất quan tâm đến trường hợp của tôi. Anh tiếp xúc với Carreaux một thời gian để giúp tìm đầy đủ hồ sơ liên quan đến tôi và Carreaux yêu cầu Hà Nội cho tôi gặp ông ta tại trại tù, nhưng bị từ chối. Dường như ông chỉ đến được Bangkok và nhà cầm quyền Việt Nam lúc đó không cấp hộ chiếu nhập cảnh cho ông. Năm 1999, có dịp qua Paris tôi cũng đã nhờ người tìm ra tung tích Carreaux để ngõ lời cám ơn, nhưng những cố gắng này không thành công vì có thể vào năm đó ông đã qua đời không chừng.

Câu chuyện cảm động này dĩ nhiên rồi chẳng đi đến đâu cả, nhưng ít ra hoàn cảnh của chúng tôi cũng bắt đầu được quốc tế để ý đến. Và tôi viết lại chi tiết này không ngoài mục đích để cho những nhà tranh đấu nhân quyền ở trong nước cũng như ở hải ngoại hiện nay đối chiếu và so sánh với chế độ lao tù hiện tại ở Việt Nam. Phải chăng nó đã có nhiều thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử cũng như chính sách đối nội và đối ngoại ở trong nước. Cho đến tập niên 1990 chỉ cần một tổ chức nhân quyền quốc tế nào lên tiếng về một cá nhân đang bị đày ải trong chốn lao tù, lập tức cá nhân ấy bị trừng phạt ngay. Bởi vì vào thập niên đó chuyện có liên hệ đến các tổ chức nhân quyền có thể bị nhà cầm quyền Việt Nam ghép vào tội danh gián điệp phà hoại đất nước. Như thế so với tình hình của 23 năm trước đây những nhà tranh đấu cho nhân và dân quyền tại Việt Nam hiện nay được hoạt động rộng rãi hơn rất nhiều. Giới thanh niên, sinh viên tranh đấu tại Việt Nam còn có thể gặp đại diện các tổ chức nhân quyền quốc tế, các đại diện ngoại giao, các sứ quán ngọai quốc ở Hà Nội để trao kiến nghị mà không hề bị bắt. Cùng lắm thì bị Công An mời đến hỏi cung rồi cho về. Gần đây thân nhân của những nhà tranh đấu hiện đang ngồi tù tại Việt Nam đã được du lịch tại Mỹ.

Tôi chưa dám có một nhận định nào về chuyện này mà chỉ thầm nghĩ: “Thôi thế cũng xong, ít ra thì các cuộc tranh đấu về nhân quyền cũng có được một kết quả nào đó. Chỉ có điều nếu mà chuyện này diễn ra vào 23 năm trước, thì giá chót dành cho những nhà tranh đấu nhân quyền ở Việt Nam hiện nay cũng phải là án chung thân.

Thung lũng tử thần

Vũ Ánh Post by Sơn râu 8 July 2023

Phần 24                           

Nghề Ăng-ten

 Sự thay đổi buồng giam nhất là hoán đổi các xà lim bao giờ cũng tạo cho những tù nhân biệt giam như chúng tôi nhiều phấn khích. Trước hết, ở một hai năm trong một xà lim cá nhân chắc chắn tạo cho chúng tôi sự nhàm chán và ảnh hưởng đến tâm lý không ít thì nhiều tất phải xảy ra, thường được diễn tả bằng nhóm từ nôm na “cuồng cẳng”. Cho nên chúng tôi coi việc chuyển sang ở chung với một bạn tù khác trong một xà lim khác là một chuyến du lịch thay đổi không khí. Ở một xà lim khác với một bạn tù mới tất sẽ có hàng ngàn chuyện để nói với nhau. Và đây là thứ vũ khí để giết thì giờ rất hữu hiệu. Nhưng đổi lại đời sống, mối liên hệ thường nhật trong khu biệt giam sẽ bị đảo lộn cho tới khi mọi người đều biết rõ và hiểu “những khuôn mặt mới tới”. Gọi là “khuôn mặt mới tới” thực ra đó là những khuôn mặt cũ đã từng chia sẽ với nhau những gian nan ở các trại tù khác nhau. Họ mới vì trong suốt mấy năm qua tuy chỉ sống cách nhau có một vườn rau cải, nhưng thế giới biệt giam của chúng tôi đã là một thế giới cách biệt hẳn với bên ngoài.

Trong số cả 3 khuôn mặt mới tới ngoại trừ cựu dân biểu K.T.V., hồi chánh viên Huỳnh Cự, anh L.Q.M. vẫn là những khuôn mặt mà anh em trong biệt giam cũng như trong nhà giam tập thể bên ngoài thường nghi kỵ, dù sự nghi kỵ ấy chẳng dựa trện một bằng chứng nào rõ rệt cả. M. là đội trưởng một đội lao cải từ trại Hàm Tân Z-30C lại không thân thiện với anh em, thường thực hiện lệnh lạc của cán bộ quản giáo khit khao đến mực nghiêm khắc khiên cho anh em không ưa. Tại Hàm Tân, khi linh mục N.V.B. của nhà thờ Fatima bị đưa vào biệt giam vì thường tổ chức lễ sáng Chủ Nhật cho những bạn đồng tù nào là tín đồ Công Giáo. Mọi người đều đồn là do đội trưởng L.Q.M. báo cáo, nhưng cũng không ai đưa ra được bằng chứng nào chứng tỏ rằng chỉ vì bị L.Q.M. báo cáo mà vị tu sĩ Công Giáo kiên cường của nhà thờ Fatima bị đưa vào biệt giam. Hơn nữa, vị linh mục này làm lễ công khai vào mỗi sáng Chủ Nhật chứ có che dấu gì đâu và ngài chấp nhận những hình phạt, không bao giờ than van. Khi bị đưa lên Thung Lũng Tử Thần cùng với chúng tôi, L.Q.M. không làm đội trưởng nữa mà lại được cử vào chức vụ Thi Đua-Thống Kê điều này lại càng khiến cho anh em xây một bức tường cô lập dày chung quanh anh. Một số tù cải tạo vốn là tín đồ Công Giáo đã gọi L.Q.M. là tên “Juda ghê tởm” cũng chỉ vì những ưu quyền mà anh nhận từ đám cán bộ trại giam. Vào suốt thời gian đó và cho đến bây giờ tôi vẫn nghĩ rằng do thái độ và hành động của L.Q.M. anh em có thể không kính trọng anh ấy nữa, nhưng nếu bảo anh là ăng-ten hay Juda thì lời lẽ đó quá đáng. Sự ngộ nhận và dư luận trong trại giam hay trại lao cải thường là vu vơ không kiểm chứng được. Hoàn cảnh bị đày đọa và lòng hận thù đã làm cho những tin đồn không tốt về một người nào đó càng dậm nét thêm mà thực ra đó chỉ là chuyện vẽ rắn thêm chân mà thôi. Khi sang tới hải ngoại, tôi vẫn nghĩ rằng lòng hoài nghi theo sát cuộc sống của một số người tù cải tạo khi họ ra khỏi trại và trong nhiều trường hợp ra tận hải ngoại. Nhưng cá nhân, tôi cho rằng trong bất cứ một trường hợp nào khi nghe một lời đồn như vậy chúng ta cũng nên thận trọng. Đành rằng chỉ người tù nào là nạn nhân của một vụ báo cáo thì may ra mới có thể biết hay đoán biết người nào là tác giả của những mật báo này khiến mình bị lôi thôi. Nhưng trong một số trường hợp chính viên cán bộ thẩm cung đã “nửa kín nửa hở” để cho người bị thẩm cung thấy một vài tờ giấy mà hắn ta gọi là bản tố cáo để đánh lừa đối tượng mà anh ta cần điều tra mà thôi. Ở một số trại giam có khi ban quản trại sử dụng một số người làm ăng-ten công khai, mà khi làm mật báo viên mà lại để cho người khác thấy hay nghi ngờ thì công tác đó chỉ có mục đích răn đe để ai trong chúng tôi nếu sợ thì bớt những hành động chống đối đi mà thôi.

Cho nên tôi cho rằng dư luận cáo buộc người tù này hay người tù kia làm tay sai cho cộng sản nhiều khi cũng phải xét lại và tốt nhất nếu không có bằng chứng vững chắc thì không nên tin. Trong suốt thời gian dài tù đày chưa bao giờ tôi đến một trại mới mà không có những anh em đến lưu ý và điểm danh một danh sách những khuôn mặt mà tôi cần quan tâm, không nên giao du thân mật. Nhưng qua vài chục lần bị thẩm cung tại các trại lao cải tôi nhận ra một điều chỉ cần bọn cán bộ giáo dục và an ninh trại thấy bất cứ một người tù nào không liên lạc thư từ gì với gia đình và từ chối bất cứ một điều nào mà trại giam coi là ân huệ cho tù cũng đã đủ để đám cai tù thường xuyên “thăm hỏi” mình rồi và qua một thời gian lâu dài, nếu chúng không hiểu thêm được điều gì ở những đối tượng nghi ngờ thì sự đánh giá và quyết định của bọn an ninh trại là cô lập người tù ấy trong biệt giam lâu dài. Như thế cho chắc ăn, chúng nghĩ là bắt lầm còn hơn để sót. Hơn nửa, ý nghĩ thông thường của người tù cải tạo là khi bị gọi thẩm cung trong trại lao cải là phải do ăng-ten báo cáo chứ làm sao chuyện của mình đâu có người nào khác biết được “ngoài nó ra”. Cho nên bọn an ninh trại giam tìm hiểu qua những đội trưởng để biết trong đội lao động anh em tù cải tạo “ghim” người nào hay thù người nào. Xong bọn chúng liền kêu những tù nhân cải tạo nào bị anh em không ưa ra làm việc. Nhưng sau buổi làm việc đối tượng này vẫn sống bình thường không bị nhốt biệt giam lại còn được ưu đãi về thực phẩm. Thế là chỉ ít lâu sau lời đồn bay đi khắp trại. Đi tới trại nào, đội nào, lời đồn càng bị thêm thắt, bị bóp méo thêm và đến người cuối cùng nhận tin này, hình ảnh người tù bị ngộ nhận trở thành một bộ mặt gớm ghiếc.

Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại. Tại sao đa số tù cải tạo lại phải quan trọng hóa vấn đề mật báo viên tức ăng-ten trong số các bạn đồng tù như vậy? Mật báo viên có tố cáo tội tày trời của chúng ta đi nửa thì bất quá cũng chỉ vô chường cọp nằm là hết mức. Vậy thì tại sao không gọi mấy anh ăng-ten lại đưa giấy bút cho họ và bảo: “Chúng mày viết sao cho bọn tao phải vào nhà kỷ luật thì viết chứ nếu viết báo cáo mà chúng tao không vào được nhà kỷ luật thì chúng mày sẽ bị ăn đòn và chỉ có nước mang chăn chiếu ra ngoài trại ngủ thì mới an toàn tính mệnh đấy nhé”. Còn sợ ăng-ten báo cáo, còn sợ bị ghi điểm xấu vào hồ sơ, còn sợ vì vi phạm kỷ luật trại giam và sẽ tù lâu hơn người khác tức là còn an tâm tin tưởng vào chính sách cải tạo của nhà nước cộng sản. Chính phản ứng tâm lý sợ bị ăng-ten báo cáo đã khuyến khích cho nhân số ăng-ten trong một đội lao cải chỉ có tăng chứ không giảm. Tôi có một câu chuyện khá lý thú về việc trừ khử ăng-ten.: “Sau năm 1985 chúng tôi lại được tuyển lựa để chuyển về một trại gần Saigon hơn đó là trại Z30-A mà anh em chúng tôi thường gọi là “Đồi Phượng Vỹ” vì trại này được thiết lập sát một ngọn đồi mà thời gian trước 30 tháng 4, 1975 trước là nơi đặt Bộ Chỉ Huy của Trung Đoàn 54 thuộc Sư Đoàn 18. Khi về tới Z30-A chúng tôi gặp lại tất cả những sĩ quan cao cấp nhất trong QLVNCH từ các trại tù miền Bắc tập trung về đây từ cấp thiếu tá đến đại tá từng giữ những trọng trách trong QLVNCH, rất nhiều những tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, tham mưu trưởng, sư đoàn, các lữ đoàn trưởng, tỉnh trưởng, quận trưởng và một cựu tướng lãnh đó là Thiếu Tướng Lê Văn Tất (từ lực lượng võ trang Cao Đài chuyển sang QLVNCH, các ông tướng khác từ Sơn Tây về được tập trung tại Z30-D). Về hàng ngũ chính phủ VNCH ở trại này bao gồm các chánh sự vụ, trưởng ty, giám đốc, tổng giám đốc, phó quận, phó tỉnh trưởng hành chánh, nội an. Cho đến các tổng trưởng trong nội các Nguyễn Văn Thiệu (các ông Ngô Khắc Tỉnh, Ngô Khắc Tịnh, Hồ Văn Châm). Thế nhưng cách nhốt tù ở trại này cũng giống như nhiều trại khác. Cục trại giam vẫn đưa một số tù hình sự vào nhốt chung với chúng tôi với nhiệm vụ làm ăng-ten công khai, một trò răn đe mà tôi đã trình bày ở các phần trước. Trong số những tù hình sự này có một tên vốn là cựu du đãng đâm thuê chém mướn ở Saigon trước 30 thãng, 1975, đó là Lâm “chín ngón”. Tay này là tay anh chị “giết người có máu lạnh” đã bị ngành an ninh VNCH đưa ra tòa kết án chung thân và đày ra nhà tù Côn Sơn. Sau 30 tháng 4, 1975 “cách mạng” đưa anh ta trở lại đất liền và khép vào tội “nợ máu với nhân dân” vì thời gian ở Côn Sơn được các giám thị cho ra làm trật tự tại một khu nhốt tù binh Việt Cộng. Khi chính quyền cộng sản tiếp thu Côn Sơn, một số tù binh việt cộng nhận ra Lâm “chín ngón” nên mới khép anh ta vào tội vừa kể.

Chỉ một tháng sau khi được giải giao đến Z30-A và được biên chế vào một trong những đội lao cải gồm những người được chuyển từ A-20 về. Lâm “chín ngón” đã giở trò cướp bóc ngay. Hắn bắt đầu lấy “xâu” từ những tù cải tạo có thăm nuôi nhất là đối với những tù nhân gốc tu sĩ Công Giáo. Lúc nào trong người Lâm “chín ngón” cũng có lận một con dao tự chế bằng thép lấy ra từ khung ba lô. Nhà trưởng cũng như đội trưởng báo cáo cán bộ an ninh rất nhiều lần nhưng đám này lờ đi để Lâm “chín ngón” tha hồ hoành hành. Thấy một anh du đãng nhúng tay vào máu của nhiều bạn đồng tù thời trước nay lại được nhà tù cộng sản biến thành tay anh chị sống đế vương bằng quà thăm nuôi mồ hôi nước mắt của gia đình những tù cải tạo, một số sĩ quan trẻ họp lại bàn nhau phải khử Lâm “chín ngón” và quyết định đưa ra là đánh tên này phải đánh cho chết luôn. “Sát thủ” được phân công vẫn là những cựu sĩ quan đã từng đánh trọng thương trật tự “Quí đen” ở A-20.

Hôm đó là vào sáng Chủ Nhật khoảng sau Tết Nguyên Đán 1986, các sĩ quan trẻ này dùng cây gỗ then cửa 4 phân vuông làm vũ khí. Lâm Chín Ngón lúc đó sửa soạn bữa ăn trưa tại nhà ăn. Những “sát thủ” canh gác tất cả những đường thoát của Lâm “chín ngón”. Người ra đòn đầu tiên nếu tôi nhớ không lầm là T.C. Anh đập một cây vào đầu tên cựu du đãng, máu chảy ướt chiếc áo hắn đang mặc. Lâm “chín ngón” định rút con dao phía sau lưng thì bị đập tiếp một gậy thứ hai. Tên cựu du đãng này đã lảo đảo gần ngã sấp xuống thì dường như do bản năng hắn nhảy vụt qua cửa sổ. Người bạn tù đứng chặn ở cửa sổ đánh một gậy thứ ba nhưng do vội vã anh không đánh trúng đầu mà chỉ trúng vai khiến hắn ngã sấp xuống mặt thềm nhà ăn nhưng vùng dậy ngay được và chạy ra cổng khu nhà giam, chạy qua sân banh xuống nhà bếp trại. Trực trại được báo đã gọi bác sĩ và y tá xuống cấp cứu cho Lâm “chín ngón”. Sau đó limh mục Đinh Xuân Hải được anh em đề cử ra gặp trực trại đưa tối hậu thư “Phải chuyển tên này đi trại khác nếu không chúng tôi sẽ nổi loạn và cuối cùng hắn cũng không thoát chết đâu”. Trực trại quyết định đưa Lâm “chín ngón’ vào dưỡng thương trong nhà kỷ luật khoảng một tuần. Sau đó trại trưởng Thích quyết định giải giao Lâm “chín ngón” về K-3 tức là trại tù hình sự của tỉnh Long Khánh.

Cách đây khá lâu khi vụ Năm Cam bùng nổ, tôi đọc trên tờ Thanh Niên thấy một tin ngắn cho biết ngày nay Lâm “chín ngón” trở thành thân tàn ma dại vì bị chính đàn em Năm Cam trừng phạt bằng acid vì tôi mưu phản đàn anh. Hình chụp trên tờ Thanh Niên cho thấy khuôn mặt Lâm “chín ngón” trở thành dị dạng, hai tay co rút và ngồi trên xe lăn. Đây là hình chụp trước khi Lâm “chín ngón” vào tù lại vì dính dấp với băng đảng Năm Cam.

Thung lũng tử thần

Vũ Ánh Post by Sơn râu 8 July 2023

Phần 23                            

Sức mạnh từ niềm tin hay phép lạ.

Điều khó khăn trong việc tiếp tế thuốc kiết lỵ cho linh mục Nguyễn Luân là do sức khỏe của ngài đã rất mong manh. Tuy chỉ bị cùm bên phải ở bàn chân phải của xà lim số 4, có nghĩa là nếu còn sức và đầu gối còn chắc, ngài có thể lựa thế đứng bằng chân trái và chân phải bị cùm bị xoải ra tối đa và từ thế đứng như thế ngài có thể nhìn ra ngoài qua lổ tò vò trên cửa biệt giam để ném ra một sợi dây có buộc một vật đủ nặng để kéo “hàng” lên cửa tò vò. Chờ đến đêm, tôi gõ tường và lên tiếng để nói với Linh Mục Luân và đặt danh hiệu truyền tin cho ngài là Lima. Ngài cho biết không thể đứng lên lâu được, tối đa là 5 phút theo ước lượng và đồng thời vị tu sĩ cũng bào đảm là có thể se được một sợi dây dài vài thước từ một bao cát bằng nylon đang được xử dụng để nhồi tất cả tư trang vào làm gối sẽ được nối một đầu với một chiếc trong đôi dép Nhật bằng cao su ngài được mang vào biệt giam.

Như vậy nếu bạn tù Đ.B.P. ở xà lim số 9 chuyển cho xà lim số 7 và người từ xà lim 7 chuyển cho tôi, tôi chuyển cho Lima ở xà lim số 4 là có thể an toàn hơn. Tôi liên lạc với số 9 dễ dàng, nhưng số 7 nhất định không lên tiếng. Nhưng có lẽ nằm im nghe câu chuyện liên lạc tương trợ giữa chúng tôi với nhau khá cảm động nên khoảng 5 giờ sáng thì người ở xà lim 7 lên tiếng cho biết có thể giúp đỡ chúng tôi. Anh tự chọn danh hiệu là Non Nước-Hồng Hà-Oanh Liệt, là tù hình sự làm việc trong tổ chăn bò và trâu bị đưa vào biệt giam vì liên hệ linh tinh với dân khu kinh tế mới để gởi thư chui ra ngoài cho các bạn đồng tù. Giải quyết xong trạm chuyển tiếp này thì sáng hôm sau tôi cũng phải làm gấp một sợi dây bằng cách se lại những sợi dây rút ra từ bộ quần áo may bằng bao cát của tôi và nối nó vào một chiếc dép trong đôi dép lốp do tôi tự làm và mang nó từ trại Hàm Tân Z-30C lên.

(Ghi chú: Dép lốp còn gọi là dép râu, một loại dép mà bộ đội Việt Cộng hay mang. Năm đầu, khi được trại cấp phát loại dép râu nội địa (có loại do Trung Cộng chế tạo) anh em nào cũng vất đi không chịu mang. Mà nếu có một bạn tù nào mang chúng thì lập tức sẽ bị chế diễu: Mày coi chừng ra ngoài bị bắn lầm đấy! Ý muốn nói rằng bên ngoài phe ta đang trường kỳ kháng chiến, anh nào đi dép râu ra ngoài họ tưởng mình là bộ đội cộng sản thì sẽ lãnh đủ, ráng chịu. Nhưng chỉ bước vào năm thứ 3 của đời tù đày, một số anh em đã bỏ những tự ái này vì nó không thực tế. Làm lao động ở ngoài nương rẫy trong rừng sâu, không đôi giày nhà binh nào, kể cả giày map của Mỹ là còn nguyên vẹn. Chúng rách nát cũng như thân thể bị lưu đầy của người tù cải tạo vậy. Nhiều gia đình cũng tiếp tế cho chồng con đủ thứ giày vãi, nhưng nếu chỉ từ 3 đến 6 tháng là cần một đôi khác không phải gia đình nào cũng chịu nổi. Cuối cùng dép râu phổ biến trong số   những người tù khổ sai như chúng tôi. Nhà văn Đổ Tấn Xuyên, một bạn vong niên trong ngành truyền thanh cho tôi hai miếng đế dép râu cũ khi còn ở Z-C và tôi nhờ các anh em tù hình sự kiếm cho mấy đôi quai dép bằng lốp xe máy cài hay xe tải cho bền. Nó thay thế cho đôi giày vải bằng bố đen của tôi rách không còn cách nào vá lại).

Khoảng 5 giờ sáng hôm sau trước giờ điểm số biệt giam một giờ tôi liên lạc với 9, 7 và 4 để xem mọi thứ đã sẳn sàng chưa. Nhưng Đ.B.P. không biết lấy gì làm vật năng (chúng tôi gọi đùa là warhead = đầu đạn hạt nhân). Tôi hỏi 9: “Phú Quốc Hồng Hà có ca đựng nước không. Lấy ra làm tạm warhead vậy, nhưng nhẹ nhàng thôi, bể ca nước là Phú Quốc Hồng Hà nhịn uống luôn đấy”. Chúng tôi quyết định chuyển thuốc cho vị tu sĩ công giáo trẻ tuổi này vào sau giờ phát cơm trưa là an toàn. Vì giờ trưa sau khi phát cơm tù là từ trực trại cho đến vệ binh cũng phải kéo nhau lên nhà ăn. Chúng tôi có một giờ đồng hồ để “phóng đầu đạn”. Và như thế Đ.B.P. hay Phú Quốc-Hồng Hà phải uống phần nước ít ỏi của mình ngay sau giờ phát cơm trước khi dùng ca nhựa làm “đầu đạn” chuyển hàng. Phú Quốc Hồng Hà cho biết không cần bàn cãi về chuyện ấy vì chuyển chuyển thuốc cho Lima không thể chậm trễ. Nói thì dễ, nhưng khi khởi sự thì mới thấy khó khăn chừng nào. Phải mất đến hơn 10 lần Phú Quốc Hồng Hà mới quăng được chiếc ca nhựa có mang theo những viên bông tẩm Streptomycine vào ngay trước cửa xà lim 7. Người tù hình sự Non Nước-Hồng Hà-Oanh Liệt tỏ ra rất thông thạo trong việc chuyển hàng trong xà lim nên việc anh lấy hàng lên để chuyển cho tôi không có gì khó khăn và chỉ mất không đầy 2 phút. Tôi nhận hàng từ xà lim 7 chỉ vài phút sau đó. Cái “đầu đạn” của Non Nước-Hồng Hà-Oanh Liệt là chiếc muỗng đẽo bằng gổ Cẩm Lai nên có sức nặng vừa đủ để có thể rơi chính xác trước cửa xà lim 5 của tôi, nhưng nó lại nằm quá sát cửa nên khó dùng sợi dây có buộc chiếc dép râu của tôi để trục hàng lên được. Tôi thử vài lần đều thất bại thì chợt nghĩ đến chiếc quai xách của thùng nước tiểu. Việc tách chiếc quai ra khỏi miệng thùng không có gì khó khăn. Tôi uốn chiếc quai thành cái móc để có thể đưa nó qua khe hở giữa cánh cửa và mặt sàn để kéo hàng vào được. Vấn đề là phải chùn người xuống, đầu gối trái quỳ xuống mặt sàn và như thế chiếc cùm ở chân phải xiết vào cổ chân có thể khiến tôi rất đau, có thể trầy da và nhiễm trùng. Tuy nhiên tình thế đòi hỏi và tôi cũng phải cố gắng hết sức mới có thể quỳ bằng đầu gối trái xuống mặt sàn, còn chân phải cố chịu cơn đau thấu xương ở mắt cá chân. Trong vòng 30 giây tôi phải quơ chiếc quai thùng làm sao cho sợi dây gởi hàng của Non Nước-Hồng Hà-Oanh Liệt lọt vào phần uốn cong của chiếc quai và kéo vào ngay vì không thể chịu đau quá nửa phút. May mắn đã đến với tôi vì chỉ hai lần quơ chiếc quai thùng là tôi đả móc được sợi dây nối chiếc muỗng gỗ. Kéo vào thấy hơi nặng tôi biết mình đã thành công. Tiếng chiếc muỗng gỗ chà xuống thềm xi măng nghe như lời reo vui chiến thắng. Nhìn thấy bọc nhựa nhỏ bằng đầu đũa, tôi kéo vào và lấy hàng ra khỏi sợi dây rồi cố hết sức mình đứng dậy nói qua cửa tò vò: “Nhận 5”. Nghỉ một lát tôi gọi cho Lima để ngài chuẩn bị nhận hàng: “Lima phải cố gắng hết sức, phi vụ không thể kéo dài vì vệ binh có thể đi tuần trở lại”. Lima trả lời bằng cách gõ vào tường 3 tiếng. Lập tức tôi đưa chiếc dép râu có buộc hàng bằng một sợi dây bằng vải bao bố ra ngoài cửa tò vò và ném nhẹ sang cửa xà lim 4. Lima gõ 3 tiếng có nghĩa là ngài đã nhìn thấy hàng. Một lát sau nghe Lima gõ vào tường 3 tiếng thay cho tiếng “Nhận 5” tôi kéo chiếc dép về và trên quai dép râu không còn bọc nylon nửa. Chưa bao giờ trong cuộc đời tôi kể từ tuổi mới lớn cho đến giai đoạn tù đầy vào lúc đó có một niềm vui nào lớn hơn niềm vui tôi có vào buổi trưa hôm ấy. Buổi tối khi bóng đêm đen bao trùm trong xà lim, khi các đàn muỗi bắt đầu tấn công chúng tôi, tiếng linh mục Vàng (trong xà lim chúng tôi đặt danh hiệu truyền tin cho ngàu là Vẽ Vang-Anh Dũng-Non Nước Gio Linh, muốn ngắn gọn hơn chúng tôi gọi ngài là Vẽ Vang-Anh Dũng) từ xà lim 10 vang lên: “Các bạn ơi, tôi đã khóc nhiều khi thấy các bạn chia sẽ và tương trợ nhau như vậy. Chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện tùy theo tôn giáo của mình giúp Lima them sức vượt qua căn bịnh hiểm nghèo”. Suốt đêm ấy tôi cầu nguyện cho tới 4 giờ sáng. Tôi là phật tử nhưng lại chỉ có thuộc mấy câu đầu của Chú Lăng Nghiêm: “A Na Lệ, Tỳ Xá Đề, Bệ Ra, Bạt Xa Ra, Đà Rị” và niệm Hồng Danh Phật A Di Đà, nhưng cứ như thế tôi đọc hàng ngàn lần. Một giờ đồng hồ trước khi cửa các xà lim mở để điểm số, định nằm xuống nghỉ lưng thì tôi nghe tiếng Lima vang lên chậm rải thông báo:

“Tôi…tôi..đã..đã..đã..đánh..đánh rắm…được..được…được..Còn…hai…hai..hai..viên..viên..nữa..nữa..nữa..”

(Ghi chú: Tôi ghi nguyên văn cách loan báo tin mừng rất mộc mạc của vị tu sĩ trẻ tuổi nhưng đáng kính để cho thấy rõ sự vui mừng như thế nào trước dấu hiệu vi trùng kiết lỵ bị đẩy lui)

Hai ngày sau đó Lima loan báo không còn đi tiêu ra máu và đờm.Trong hoàn cảnh đó chúng tôi chỉ còn tin vào một phép lạ đã cứu giúp chúng tôi. Khi được thả ra khỏi nhà tù vào năm 1988 tôi gặp lại một bạn tù vốn là một cựu thiếu tá quân y, anh L.N.A, một bác sĩ giải phẫu phục vụ tại Tổng Y Viện Cộng Hòa vào đầu thập niên 1990 và trong câu chuyện tôi có hỏi anh ấy về mấy viên bông tẩm nước cặn của Streptomycine. Anh cười và giải thích: “Trong đời, tôi chưa từng nghe thấy ai trị kiết lỵ kiểu này. Chỉ còn cách giải thích là lúc bí, bản năng sinh tồn giúp cho chúng ta bấu víu vào tất cả nhưng gì mà mì nh tin nó là cái phao cứu mạng. Streptomycine chế từ một loại nấm và có thể là nó có một tác dụng nào đó với vi trùng kiết lỵ không chừng . Tôi không nghiên cứu nên không biết được. Vấn đề như các cậu nói ít ra nó đã có tác dụng đối với một người là vị li nh mục trẻ ấy. Nhưng tôi khuyên các cậu là sống ngoài xã hội này rồi, thuốc cũng còn hiếm, nhưng cậu nào có dính kiết lỵ thì cũng đừng tự chữa như thế. Không đủ tiền đi bác sĩ thì chịu khó đến tôi, chẳng tiền bạc gì đâu.”

Giữa năm 1982 tôi lại phải trãi qua một thời gian nhục hình khác sau khi có một cuộc hoán chuyển (mà anh em chúng tôi thường gọi là xóa bài làm lại) nhân số trong khu biệt giam. Đợt hoán chuyển này là đợt lớn nhất so với thời gian khi linh mục Nguyễn Luân bị chuyển từ xà lim 7 sang xà lim 4 lúc tôi bị đưa vào xà lim số 5. Tôi lại quay về xà lim 3 cùng với T.D.S. Sau đó N.Đ.Q. cùng với T.C.L. cũng từ 1 và 2 chuyển sang 3 và như thế xà lim 3 phải chứa tới 4 người. Tình trạng dồn phòng và nằm cá hộp như thế này dĩ nhiên tạo khó khăn cho việc đi tiêu, đi tiểu của những người bị cùm cùng bệ nằm, nhưng lại bị cùm vào nằm sát tường. Đ.B.P. bị chuyển từ xà lim 9 về xà lim 5 ở chung với bạn tù hình sự từ xà lim 7 chuyển sang. Như thế các xà lim 1,2,7,9 còn trống. Hai linh mục N.Q.M. và N.D.C. được chuyển vào bệnh xá trong Phân trại B. Và đúng như suy nghĩ của tôi, một ngày sau đã có 3 tù cải tạo mới bị đưa vào biệt giam vì những vụ việc khác nhau: Cựu dân biểu vốn là bí thư tỉnh ủy Việt Nam Quốc Dân Đảng tỉnh Quảng Nam là K.T.V. và một trong những thủ lãnh chính trị trong vụ nhà thờ Vinh Sơn là L.Q.M. Đến nửa khuya cựu hồi chánh viên Huỳnh Cự bị đưa vào xà lim 2. Cựu dân biểu K.T.V. nằm xà lim 7 và L.Q.M. vào “trấn” ở xà lim số 1 ngay đầu dãy.

Thung lũng tử thần

Vũ Ánh Post by Sơn râu 8 July 2023

Phần 22                            

Những nhân cách đáng quý

Có bị vào chuồng cọp một thời gian đủ lâu mới có thể hiểu được thực chất của một số người tù cải tạo như thế nào trong hoàn cảnh khó khăn. Thời chiến khi còn phải nhận nhiệm vụ của một phóng viên chiến trường, còn gọi là phóng viên mặt trận, tôi hiểu rất rõ lý do tại sao mà những người lính chiến thường đánh giá những thử thách mà họ phải đương đầu bằng một câu nói: “Có đụng trận thì mới biết ai hay, ai dở và ai hùng ai hèn”. Vào tù cải tạo quan điểm này vẫn còn giá trị. Và quả thật có vào trong tù mới biết trong số anh em ta, không thiếu những kẻ “miệng hùm, gan sứa” và cũng rất nhiều người “miệng sứa, gan hùm”. Chúng tôi dùng động từ “đụng trận” ở trại tù A-20 Xuân Phước để chỉ việc tạo ra những hành động chống đối chế độ hay chống đối nhà tù và do những điều này mà người tù cải tạo bị trừng phạt bằng hình thức cùm hai chân trong xà lim. Khi vào biệt giam rồi, nghĩa là đụng trận rồi va phải đương đầu với chế độ khắt khe về ăn uống, bài tiết thì chỉ vào một vài tháng sau là chúng tôi có thể đánh giá sức chịu đựng của từng người không có gì khó khăn.

N.Đ.Q. một thẩm sát viên CSQG, khi còn ở ngoài trại là một “vua” về “hotnews” mà tin nào anh đưa ra cũng là những tin động trời cả, nghĩa là những tin mà chỉ có tổng bí thư đảng CSVN hay đảng cộng sản Trung Hoa mới biết được mà thôi. Vốn là người đọc sách nhiều và có trí nhớ rất tốt nên trong phòng giam anh là người điểm lại những cuốn sách mà anh đã đọc với một lối kể chuyện khá hấp dẫn. Bị ăng ten báo cáo, rồi bị gọi đi thẩm cung anh bị dẫn thẳng vào xà lim số 1, nhưng chỉ bị cùm một chân. Trong khoảng nửa năm bị cùm, anh vẫn giữ vai trò kể chuyện cho những tù nhân trong các xà lim khác nghe vào lúc đêm khuya dù phải nói thật chậm.

Anh có cái tật là hay thông báo với anh em tình trạng cái cổ chân của anh bị chiếc cùm quá nhỏ làm trầy xát da và bị nhiễm độc. Có một lần anh Q. báo với chúng tôi là chiếc cùm ngày một rộng ra mà thực tế là do chân anh bị teo dần do thiếu ăn và nước uống, cổ chân lại nhỏ đi nhưng anh lại “khôi hài đen” bằng cách nói vòng cùm ở cổ chân mình tự nhiên rộng ra. Khi loan báo tin này vào khoản nửa khuya, anh không ngờ tên vệ binh súng dài đi tuần ở ngoài nghe thấy la toáng lên: “A, ghê thật, tụi bây tính phá cùm trốn trại phải không? Chờ đấy (chửi thề)…ông đi lấy khóa mở cửa để cho mày cái cùm nhỏ hơn”.

Chỉ dọa vậy thôi, chứ chúng tôi biết vào giờ đó, dễ dầu gì có thể yêu cầu trực trại mở cổng khu biệt giam. Tuy nhiên, sáng hôm sau khi trực trại Luật mở cửa các xà lim điểm số, anh ta sai trật tự choàng thêm một vòng cùm khác ở chân bên trái của Q. và từ sáng hôm đó cho đến một tháng sau anh “thưởng thức” chế độ 2 muỗng cơm, 2 muỗng nước và 2 muỗng nước muối.  Nhưng cái đáng quý ở N.Đ.Q. là buổi trưa anh bị trại trưởng gọi ra để thẩm cung. Khi bị dẫn lại vào biệt giam trại trưởng hỏi: “Thế anh đã chừa chưa?” Q. hỏi lại: “Chừa gì cán bộ?” “Chừa cái thói bố láo, nói xấu nhà nước” trại trưởng Lê Đồng Vũ “phán” như vậy với cái giọng xấc xược. Q. cũng không vừa, anh chậm rãi giải thích với giọng còn nặng quê hương  bình Định: “Tôi chỉ báo cho những anh em tình trạng như tôi tin mừng là cổ chân tôi teo lại vì được tẩm bổ quá đáng chứ có gì mà bảo tôi nói xấu chế độ?” Lê Đồng Vũ nổi đóa: “Tôi cắt lưỡi anh bây giờ, vào đây mà còn bẻ gậy chống trời. Cứ nằm đấy nghỉ mát, sức anh còn khỏe lắm đấy”. Cái thói mỉa mai của Lê Đồng Vũ luôn là như thế nhưng điều mà tôi phục N.Đ.Q. là anh luôn nói thẳng: “Đâu có sao cán bộ, nằm đây thì khỏi phải lao động thôi”. Quả thật không vào biệt giam, không bị thử thách thì cũng khó xét đoán được tư chất một con người. Biệt giam là cái thế giới đặc biệt, nơi con người bị tước bỏ tất cả mọi thứ một cách dễ dàng kể cả quyền sống. Họa chăng người tù cải tạo chỉ còn giữ lại được nhân cách. Nếu đánh mất nhân cách trong hoàn cảnh này, người tù ấy chỉ còn là cái xác chết chưa kịp chôn mà thôi.

Người ở biệt giam số 4 ngay sát xà lim tôi nằm là một tu sĩ Công Giáo còn rất trẻ tên là Nguyễn Luân. Ngài được thụ phong linh mục năm 1973 lúc mới ngoài 30. Theo chính lời vị tu sĩ này, đang làm việc đạo tại giáo phận Phan Thiết cho đến một năm sau ngày 30 tháng 4, 1975 thì ngài bị bắt vì một đơn tố cáo ngài có liên hệ trong vụ nhà thờ Vinh Sơn. Đầu tiên, vẫn theo lời vị thừa sai trẻ tuổi, chính quyền địa phương không điều tra gì về lời tố cáo trên và đưa ngài vào một trại tù ở Sông Mao, sau đó họ đua ngài lên biệt giam ở khu biệt giam Phân trại B của trại A-20. Năm 1980 ngài bị đưa vào xà lim 4 khu biệt giam của Phân Trại E thuộc trại A-20 trước khi tôi bị đẩy vào xà lim số 5.

Trong suốt thời gian hơn 4 năm trong xà lim ở phân trại E tôi liên lạc với linh mục Luân hằng ngày. Sức khỏe ngài rất kém vì bị suyễn nặng. Thuốc suyễn của gia đình gởi vào cho ngài qua đường bưu điện bị giữ lại ở bịnh xá trại. Mỗi lần ngài lên cơn suyễn nghiêm trọng, tôi và một vài anh em khác thường phải đập cửa báo cáo cấp cứu giùm vì ngài không còn sức kêu cứu. Nếu may mắn viên trung úy y sĩ trưởng bịnh xá đi tìm trực trại để mở cửa bịnh xá thì linh mục Luân còn nhận được thuốc suyễn, nếu không thì ngài đành chịu trận cho tới giờ phát cơm chiều. Nhưng nếu phải kêu cấp cứu vào ban đêm thì vô phương. Mỗi lần như thế khi cửa biệt giam 4 được mở ra, chúng tôi có thể nghe thấy hơi thở ngài khò khè, nghẹn tắc như một con gà bị cắt tiết.

Đau, nhục, bất lực nhận chìm chúng tôi trong những cái chuồng nhỏ trong rừng sâu mà thế giới bên ngoài vào lúc đó không hề biết tới. Tôi có cảm tưởng bọn cai tù thích nhìn thấy người tu sĩ trẻ tuổi bị hành hạ vì căn bịnh nan y của ngài và chúng góp thêm vào sự hành hạ của bệnh tật bằng cách giữ lại thuốc của gia đình người tù gởi vào và chỉ cấp nhỏ giọt cho người tù mang bịnh kinh niên như linh mục Luân. Ngoài ra những căn xà lim ẩm thấp, thiếu vệ sinh như biệt giam ở trại A-20 là những thứ vũ khí dễ lấy đi mạng sống của những người bị bệnh về đường hô hấp. Ấy vậy mà mỗi khi trại trưởng Lê Đồng Vũ vào kiểm tra khu biệt giam, hắn luôn dùng lời chế diễu tình hình sức khỏe ngày một tồi tệ nơi ngài. Vũ thường mỉa mai:

_Thế nào anh Luân, mọi chuyện giấu diếm của anh đều ổn thỏa cả chứ, nhưng trông anh còn khỏe lắm, phải khỏe thôi anh ạ vì anh còn nằm ở đây lâu đấy!

Những lần như thế chúng tôi có cảm tưởng rằng Linh mục Luân bỗng như đến từ một thế giới khác. Giọng của ngài không còn thều thào, khan khan do đờm và nước dãi lúc nào cũng đầy trong cổ họng. Ngài trả lời gọn gàng, dứt khoát không giận giữ, nhưng cũng không sợ hãi:

_Thưa cán bộ, ông nói quá đấy thôi. Nhưng so với các ông và với chế độ này, anh em chúng tôi lúc nào cũng mạnh. Bởi vì nếu chúng tôi không mạnh thì các ông đâu có sợ mà phải nhốt chúng tôi như thế này. Chính các ông mới là người yếu và lúc nào cũng sợ hãi chứ không phải chúng tôi!

Trước con người “mạnh ở cái đầu” như linh mục Luân viên trại trưởng Lê Đồng Vũ chỉ còn cách trừng phạt ngài bằng cách không cho trật tự mang đi đổ cái thùng cầu trong buồng giam đã quá đầy và đã tràn ra ngoài. Vào cuối mùa Hè 1983, linh mục Nguyễn Luân vướng phải bệnh kiết lỵ. Thuốc của bệnh xá chỉ là Xuyên Tâm Liên hay vỏ măng cụt, lá ổi, tất không thể ngăn vị tu sỉ trẻ này bắt đầu đi tiêu ra máu. Tất cả các phòng biệt giam không ai có thuốc ngoại trừ Đ.B.P. một trong những cựu Đại Đội Trưởng Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù (Anh vào biệt giam sau tôi một năm rưởi vì bị ăng-ten báo cáo chuẩn bị trốn trại và kích động tù cải tạo nổi loạn, tổ chức hát tù ca). P. bị biệt giam ở xà lim 9, một xà lim mà theo lời linh mục Nguyễn Văn Vàng lúc đó nằm ở xà lim 10 cho biết từ trước đến nay chưa có “khách trọ”. Khi tôi liên lạc thì P. cho biết “thuốc” anh giấu trong hậu môn không hẳn là thuốc mà là những miếng bông nhỏ vo tròn bằng đầu đũa, có tẩm cặn của những chai thuốc Streptomycine trị lao phổi mà anh xin được của bệnh xá thời gian trước khi bị biệt giam. Sau này khi gặp lại nhau ở Mỹ, P. nói với tôi: “Mày biết rồi, trước khi vào biệt giam, chúng khám người rất kỹ, năn từng gấu áo, nhưng tao có một cách giấu tối tân hơn . Đó là giấu ở trong hậu môn. Mấy viên bông tẩm Streptomycine đó, tao gói lại bằng bao nhựa chỉ lớn bằng đầu đũa, thấm một chút nước bọt là có thể đưa vào trong hậu môn dễ dàng. Khi đi cầu thì lấy ra bình thường thì lại nhét vô, chẳng chết thằng tây nào đâu. Khi bị thẩm cung sang đến ngày thứ hai, tao đoán thế nào chúng cũng nhốt mình vào biệt giam nên chuẩn bị trước”.

Nhưng tại sao Streptomycine lại có thể ngăn được đi tiêu ra máu thì chính chúng tôi cũng không hiểu. Hồi ở trại Hàm tân Z-30C, bác sĩ L.T. Dung đã chỉ mánh này và khi đến các trại khác gặp một số bạn đồng tù đã trải qua việc dùng cách nói trên nên mách bảo lại. Chính tôi cũng đã dung một vài lần ở Hàm Tân và thấy nó hiệu quả. Dĩ nhiên, đây là phương thức không được y khoa công nhận, nhưng vào những lúc như thế thì cần gì y khoa công nhận chứ? Làm sao sống sót cái đã, phản ứng phụ hay hậu quả tính sau. Nhưng làm cách nào bạn tôi Đ.B.P. có thể chuyển thuốc cho linh mục Luân được? Từ 4 đến 9 cách nhau tới 5 xà lim, một đoạn đường quá xa!

Ngồi ôm trán tôi nhớ lại thời gian nằm biệt giam ở khu ED nhà tù Chí Hòa khi bị đưa về từ biệt giam trại   B-5 tân Hiệp, Biên Hòa năm 1976. Thời gian đó tôi chứng kiến được cảnh tiếp tế thuốc lào của một vài người tù hình sự cho một số tù chính trị bị nhốt tại các phòng biệt giam tập thể gồm từng nhóm 2 hay 3 người trong cùng một phòng. Biệt giam ở nhà tù Chí Hòa thì không bị cùm chân ngoại trừ những tù phạm tôi giết người. Những thành phần này bị nhốt riêng và chân luôn được xích với một quả tạ nặng khoảng 500 pounds hoặc những thành phần tù chính trị, tù cải tạo bị “theo dõi đặc biệt”. Kỹ thuật chuyển tiếp tế giữa các phòng biệt giam với nhau không có gì khó khăn cả. Cái khó khăn duy nhất là cần có vật liệu để làm dụng cụ: một vật gì đó nhỏ nhưng đủ nặng và những sợi dây nhỏ cũng phải bền. Người ở nơi gởi dung sợi dây đủ dài, một đầu buộc vào vật nặng cùng món hàng muốn gởi đi thật chắc chắn, bởi vì một khi “hàng” tuột khỏi dây văng ra trên hành lang bọn cai tù kiểm soát cứ hai giờ một lần thấy hàng gởi năm lăn lóc trên mặt sán hành lang sẽ làm toáng lên và truy ra cho bằng được thủ phạm bằng cách đánh đập, tra tấn những thành phần khả nghi, nên có khi cả khu biệt giam bị vạ lây. Ngoài ra, người gởi phải có con mắt ước tính tương đối chính xác để khi thò tay ra cửa tò vò ném món hàng đi thì nó phải đáp xuống ngay trước cửa xà lim nơi nhận trong khi nó vẫn được nối liền với sợi dây dài từ nơi gởi. Người nhận cũng sẽ dùng một sợi dây tương tự buộc chặt với một vật đủ nặng. Do không bị cùm chân nên người nhận dung mắt quan sát qua cửa tò vò và có thể định được vị trí món hàng mình muốn nhận. Người nhận sẽ quăng sợi dây sao cho vật nặng ở đầu dây rơi xuống nằm chéo với sợi dây gởi hàng. Anh ta phải khéo léo kéo từ từ để cho hai vật nặng ở hai đầu dây mắc vào nhau và phải kéo vào sát cửa rồi mới kéo nâng lên cửa tò vò. Cách chuyển hàng như vậy không phải dễ thành công, phải làm năm lần bảy lượt may ra mới đạt mục tiêu.

Cho nên suốt thời gian hơn một năm nằm biệt giam ở Chí Hòa hàng ngày tôi chứng kiến và nghe những thuật ngữ pháo binh như: “Hai tràng đạn khói” (hai bi thuốc lào), “Hai tràng đạn nổ” (hai tán đường), “Nhận 5” (biết rồi, sẵn sàng), “Kiểm soát mục tiêu” (thành công hay thất bại để bên gởi kéo dây về hay phải gởi lại). Nhưng cũng có trường hợp đám cai tù lặng lẽ đi rón rén vào hành lang khu biệt giam ngồi rình. Khi người gởi vừa nói “đạn đi” thì tên cai tù nhón ngay món hàng và lần theo sợi dây đến xà lim người nhận và hét tướng lên: “Hai tràng đạn nổ hả, ông sẽ cho mày hai cục đạn 500 kí lô xem mày có đi được không nào”. Thế là sợi dây xích khóa cửa xà lim kêu lên loảng xoảng. Cả người gởi lẫn người nhận bị ăn một trận đòn thừa sống thiếu chết và hai chân phải mang hai cục sắt nặng 500 kí lô với sợi dây xích ngắn ngủn. Đó là ở biệt giam Chí Hòa. Còn ở biệt giam A-2 việc tiếp tế “thuốc” kiết lỵ cho linh mục Luân khó khăn gấp nhiều lần. Tại sao?