This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Nghe ông Toàn nói, tôi không ngăn nổi sự tức giận, liền lớn tiếng,
– Thưa Trung tướng! Trung tướng có thể làm người bất tín, bất nghĩa! Nhưng tôi thì không! Tôi không thể làm một Liên đoàn trưởng đem con bỏ chợ! Yêu cầu Trung tướng cho bốc hết liên đoàn, hay là trả tôi vào rừng trở lại với thuộc cấp của tôi! Trong hai ngày tới mà Trung tướng không đem hết những người còn lại ra khỏi vùng thì tôi sẽ cho Tiểu Ðoàn 82 giải tán! Tôi không đánh nhau nữa!
Chắc thái độ của tôi đã làm cho Tướng Toàn tức giận lắm. Ông ta nhảy xuống đất, tay cầm cái can chỉ huy giơ lên, hạ xuống hai ba lần, như sắp bổ xuống đầu tôi mấy phát cho hả dạ.
Ông Toàn biết tôi là người dám nói, dám làm. Có lẽ yêu cầu của tôi đã đưa ông Tư lệnh Vùng 3 vào một tình trạng rất khó xử trí. Bình thường thì mặt Tướng Toàn đã không hồng hào, sáng sủa gì, giờ đây tôi thấy mặt ông ấy tím ngắt.
Sau khi cúi đầu đi qua, đi lại, mấy vòng quanh cái đuôi trực thăng, Tướng Toàn chợt đứng lại, giơ cao cây gậy chỉ huy của ông ta lên, rồi thẳng tay đập liên tiếp mấy cái trên tấm bảng đỏ 3 sao trắng là dấu hiệu Trung Tướng, gắn bên hông con tàu.
Lẫn với tiếng “Kịch! Kịch! Kịch!” do cán gậy gỗ chạm mặt tấm bảng thiếc là tiếng chửi thề của ông,
– Ð! M! Mi ép tau vừa thôi! Mi ép tau vừa thôi! Okay! Tau cho bốc! Tau cho bốc!
Rồi chẳng thèm nhìn mặt tôi, ông Tư lệnh leo lên trực thăng. Cánh quạt quay nhanh, con tàu bay đi.
Tới lúc chiếc trực thăng bay lẫn vào trong đám mây trắng hướng Ðông Bắc, tôi mới chợt nghĩ lại, tự thấy rằng mình vừa làm một việc quá nóng nảy, quá hồ đồ. Nhưng ngay sau đó, tôi lại tự an ủi, biết đâu vì cái hồ đồ, nóng nảy của tôi mà Tướng Toàn nghĩ lại, sẽ ra tay cứu vớt những anh em đồng ngũ của tôi còn đang nguy khốn ở trong rừng.
Tướng Toàn đi rồi, tôi theo xe của Chiến Ðoàn 43 vào gặp mặt ông Chiến đoàn trưởng. Ðại tá Lê Xuân Hiếu nói rằng tạm thời Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân giữ vai trò trừ bị cho Chiến Ðoàn 43 và có nhiệm vụ phòng thủ doanh trại 181 Pháo Binh của Sư Ðoàn. Muốn có một ý niệm thích hợp để bố quân và điều quân, phòng khi biến động, thì tôi phải đích thân đi quan sát địa thế. Tôi thấy trại 181 Pháo Binh nằm về hướng Tây của Núi Chứa Chan và cách xa ngọn núi này đúng 12 cây số đường chim bay. Doanh trại này có hình vuông, mỗi chiều cỡ hơn trăm mét.
Hướng Tây trại này cách bờ đất phòng thủ của thị trấn Xuân-Lộc một con đường rộng chừng bốn thước, hướng Bắc và Ðông là đồng cỏ tranh um tùm, hướng Nam là đường hương lộ lát đá kéo dài từ sân bay Xuân-Lộc tới Quốc lộ số 1. Xung quanh căn cứ này có hàng rào tre đực, với dây thép gai, cùng giao thông hào, thiết trí như một Ấp Chiến Lược. Trong vòng đai và cổng chính của căn cứ có gần chục cái lô cốt xi măng, cốt sắt. Nếu có giao chiến, căn cứ này sẽ là một cứ điểm vô cùng lợi hại. Vậy mà nó đang bị bỏ trống. Trên khuôn viên của trại có năm cái nhà vòm bằng tôn, bốn nhà không có tường vách, cái thứ năm nằm sát bờ rào hướng Ðông thì được vây bằng ván kín mít, hiện có ba gia đình binh sĩ với vài cháu bé cỡ năm sáu tuổi đang trú ngụ trong đó. Giờ này không biết Tiểu Ðoàn 181 Pháo Binh đang ở đâu.
Hiện thời Bộ chỉ huy Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân còn tôi (Thiếu tá Vương Mộng Long), Ðại úy Ngũ Văn Hoàn, Trung úy Nguyễn Văn Trâm, Chuẩn úy Lê Văn Phước.
Trung đội vũ khí nặng của Ðại Ðội Chỉ Huy coi như đã triệt tiêu, không súng cối, không đại liên. Sáu toán Viễn Thám, thì còn ba toán. Ðại Ðội 1/82 của Thiếu úy Ðặng Thành Học trở thành đơn vị vững chãi nhứt của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân từ sau trận Ðạo-Trung, Quảng-Ðức cuối tháng 9 năm 1974. Suốt thời gian lui binh từ Quảng-Ðức về Blao tôi đã đi sát với đại đội này.
Ðại Ðội 2/82 hiện thời không có đại đội trưởng vì Trung úy Võ Hữu Danh coi như mất tích trên đường rút lui theo chân Tiểu Khu Quảng- Ðức nên tôi đặt đại đội này dưới quyền chỉ huy của Chuẩn úy Gấm là một sĩ quan lớn tuổi, và có nhiều kinh nghiệm trận mạc. Ðại Ðội 3/82 được giao cho ông sĩ quan Ban 2 là Trung úy Trần Văn Phước. Phụ tá cho Trung úy Phước là một ông sĩ quan vừa đẹp trai, vừa đánh giặc giỏi là Chuẩn úy Phan Quốc Thiều. Ðại Ðội 4 vẫn còn dưới quyền Thiếu úy Phạm Văn Thủy. Hiện nay Thiếu úy Thủy là sĩ quan đại đội trưởng thâm niên nhất của tiểu đoàn tôi. Quân số của các Ðại Ðội 1,2,3 còn khoảng trên 50 người một đại đội. Ðại Ðội 4 thiếu một trung đội của Chuẩn úy Bảo, quân số hiện giờ là hơn 40 tay súng. Tôi cho các Ðại đội 1, 2 và 3 bố trí trong vòng rào trại 181 Pháo Binh. Còn Ðại Ðội 4 có nhiệm vụ giữ cổng chính và cây cầu bắc ngang qua con suối khá lớn, các chị vợ lính Pháo Binh gọi con suối này là suối Rét, nhưng trên bản đồ thì tên của nó lại là suối Gia Lêu.
Khi biết rằng tôi được giao nhiệm vụ phòng thủ doanh trại 181 Pháo Binh thì Ðại tá Phúc chở theo một ông Ðại úy và một ông Trung úy Ðịa Phương Quân ra tận đầu phi đạo gặp mặt tôi, rồi vừa cười cầu tài, vừa nói,
– Chú cho anh nhờ chút được không?
Hóa ra ông Tỉnh trưởng đề nghị “bán cái” cho tôi cái nhiệm vụ phòng thủ phi trường Xuân-Lộc!
Lúc này trên sân bay có hai đại đội Ðịa Phương Quân do Quân-Khu 3 tăng cường cho Long -Khánh, nhưng không có sĩ quan liên đội trưởng, nên Ðại tá Tỉnh trưởng muốn đặt hai đại đội Ðịa Phương Quân này dưới quyền chỉ huy của tôi. Liên đội này có một đại đội của Tiểu Khu Long-An, do ông đại úy tên là Ðức làm đại đội trưởng. Ông đại úy này là người Nam, cao, to, oai vệ, nhìn không khác gì Trung tướng Nguyễn Văn Toàn. Ðại đội thứ nhì thì di tản từ Bình-Long về do một trung úy chỉ huy, tôi đã quên tên. Ông này là người Bắc, nhỏ con nhưng rất nhanh nhẹn, ăn nói thực thà, dễ có cảm tình, gia đình ông này ở Cái Sắn.
Tôi đang thiếu quân giữ an ninh phía sau lưng, nên vui vẻ nhận lời của ông Tỉnh trưởng, rồi giao cho đại đội của Long An phòng thủ nửa phần hướng Tây phi trường, còn đại đội của Bình-Long phòng thủ nửa phần hướng Ðông, tiếp giáp với Biệt Ðộng Quân. Ðể khép kín vòng đai phòng thủ tuyến, tôi cho một tiểu đội Ðịa Phương Quân của Bình-Long và một tiểu đội Biệt Ðộng Quân đóng quân chung trên một cái chốt chặn ngay đầu con hẻm đất nằm giữa hàng rào căn cứ 181 Pháo Binh và tường đất bao quanh Bộ Tư Lệnh và hậu cứ Trung Ðoàn 43 Bộ Binh.
Tôi hỏi thăm các chị vợ lính Pháo Binh rằng có đơn vị bạn nào hoạt động ngoài vòng đai không, thì các chị nói không. Tôi hỏi ông Trung úy đại đội trưởng đại đội Ðịa Phương Quân Bình-Long về tình hình bạn và địch ở ngoài kia, ông ta cũng không biết gì. Theo tôi thì địch chỉ có thể tấn công phi trường Xuân-Lộc bằng hai đường, một là từ hướng Ðông Nam, hai là từ hướng chính Ðông. Nếu tiến từ Ðông Nam thì địch có lợi thế là đường đi rộng thênh thang, rất thuận tiện cho cơ giới và đại quân bộ chiến tiến hàng ngang. Nhưng theo hướng này thì phải dùng Quốc Lộ 1 chắc chắn sẽ dễ bị lộ, dễ làm mồi cho không quân oanh kích.
Mặt khác, ngay trên ngã ba Quốc lộ 1, muốn vào Xuân-Lộc, địch phải vượt qua xã Bảo Ðịnh là một thành đồng chống Cộng của dân Công-Giáo. Qua cái tiền đồn này, còn phải vượt hai cây số hương lộ cùng ba cây cầu nữa mới tới đầu phi trường Xuân-Lộc. Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đang ở ngay bờ Bắc của cây cầu thứ ba. Còn tiến từ chính Ðông thì có nhiều lợi thế hơn về mặt chiến thuật. Tôi thấy trên bản đồ thì, vùng Ðông Nam của Thành phố Xuân-Lộc có một con lộ đất, con lộ này bắt nguồn từ khu vực rừng lá dưới chân núi Chứa Chan.
Ra khỏi rừng, và sau khi len lỏi qua những đồn điền cao su và vườn chuối, vườn xoài, thì con lộ đất này đâm thẳng vào một ngõ hẻm. Ngõ hẻm này ở ngay đầu phi trường, chỗ tôi đặt cái chốt hỗn hợp của Biệt Ðộng Quân và Ðịa Phương Quân. Thế là, chiều ngày 7 tháng Tư tôi cứ đi đi, lại lại nhiều lần trên con hẻm này. Dưới mắt tôi, một người lính nhà nghề, một người từ khi vừa lên lớp Ðệ Thất đã thuộc nằm lòng “Tôn Ngô Binh Pháp” thì con lộ đất này ví như một lưỡi dao găm kề cổ thị trấn Xuân-Lộc.
Muốn giết Xuân-Lộc, chỉ cần một cú đâm cực nhanh, cực mạnh, xuyên qua con hẻm dài chưa tới hai trăm thước này, rồi cho lưỡi dao lách về bên phải thì trái tim của thành phố sẽ bị mũi dao đó đâm xuyên qua ngay.
Tôi ước tính, nếu một đoàn chiến xa T54 mà xuất phát từ điểm mà tôi đang đứng, thì chỉ ba phút sau chúng đã có mặt trong sân Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh và Tòa Hành Chánh tỉnh Long-Khánh rồi!
Dinh cơ của Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh chính là trái tim của thị trấn Xuân-Lộc. Nơi đó có Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn, sau lưng Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn là chỉ huy sở và hậu cứ của các đơn vị giữ nhiệm vụ phòng thủ Xuân-Lộc.
Nếu Bộ Tư Lệnh mà bị chiến xa Cộng-Sản chiếm giữ, thì các đơn vị phòng thủ trong vòng đai của Bộ Tư Lệnh sẽ bị địch đánh từ phía sau; trước mặt họ là bờ đất cao, cùng rào kẽm gai chằng chịt, đầy mìn bẫy, không đường thoát chạy. Chiến đấu trong tình thế này chắc chắn họ sẽ bị tiêu diệt. Cũng trong tình huống ấy, tòa hành chánh cũng sẽ bị địch uy hiếp, các đơn vị Ðịa Phương Quân và Cảnh Sát Dã Chiến của Long-Khánh sẽ trở thành rắn mất đầu. Tôi không hiểu tại sao yếu điểm này lại không có người canh gác hay rào giậu.
Chợt mắt tôi nhìn thấy dọc theo lề đường có những cái hố trũng với lá khô phủ lên trên, hố này cách hố kia chừng năm thước. Tôi tò mò cào lá khô sang bên thì phát giác ra đó là những hố mìn chống chiến xa, có tất cả mười trái mìn đã được gài. Chắc những quả mìn này mới được chôn cách đây không lâu nên chưa bị cát sạn che lấp vì mưa gió.
Tôi giật mình khi thấy trên lưng những quả mìn này chỉ là những lỗ tròn trống rỗng! Không quả mìn nào còn ngòi nổ cả! Chắc lực lượng phòng thủ thấy bãi mìn của họ nằm sát phi trường, nên không cần cho người canh giữ. Nhưng nào có ai hay? Quân trinh sát của Cộng-Sản đã khôn ngoan lẻn vào gỡ hết ngòi nổ của mìn mà vứt đi rồi!
Chắc chắn chiến xa của chúng sẽ dùng con hẻm này để thọc sâu vào giữa phòng tuyến của Việt-Nam Cộng-Hòa. Tôi đoan chắc điều này chỉ vì tôi nghĩ rằng nếu họ tấn công bằng bộ binh, thì họ không cần cho lính trinh sát mạo hiểm len lỏi vào đây gỡ đi những cái ngòi nổ. Nay ngòi nổ đã được gỡ, nhưng mìn thì vẫn còn, tức là địch đã tương kế tựu kế để đánh lừa người giăng bẫy.
Người đặt mìn, nếu có bỏ công rà soát lại, cũng lười biếng, không lật lá khô lên kiểm soát xem ngòi nổ có còn hay không? Rồi cứ tưởng mìn còn đó, chiến xa địch chạy vào thì mìn nổ. Ðâu ngờ mười quả mìn giờ này đã thành vô dụng không khác gì mười cục gạch!
Vừa phát giác ra mười quả mìn không còn ngòi nổ thì tôi chột dạ, vội vàng gọi Thiếu úy Phạm Văn Thủy đem theo một tiểu đội bảo vệ rồi đi ra ngoài vòng đai doanh trại để thám sát địa thế vùng xung quanh.
Ði giữa lòng con lộ đất, một bên là tường đất cao nghệu của hệ thống phòng thủ quanh Bộ Tư Lệnh, một bên là hàng rào tre đực của căn cứ 181 Pháo Binh, tôi có cảm tưởng đang đi trong Lạc Phụng Ba của Phụng Sồ thời Tam Quốc!
Ra khỏi con lộ đất, tôi tiến vào một vùng lòng chảo cỏ tranh cao quá đầu người hướng chính Ðông của doanh trại. Tiếp tục theo đường, là vườn xoài, rừng chuối ngút ngàn, rồi con đường bị cỏ tranh che phủ, không còn rộng nữa.
Chợt mắt tôi thấy thấp thoáng hình như có những cột mốc cắm thành hai hàng song song, hàng này cách hàng kia chừng bốn thước, như dấu mốc mà Công-Binh Bắc-Việt đã đánh dấu để phóng đường cho xe đi trong tương lai. Tôi rẽ cỏ tranh bước tới gần, thì đúng là địch đã cắm mốc! Cột mốc là một khúc nứa, cao cỡ ba mét, mỗi ngọn cột đều buộc một mảnh vải tai nheo màu xanh, đỏ, tím, vàng rất dễ nhận ra!
Tôi nhớ lại, cuối năm 1973, Công-Binh Việt-Cộng cũng đã đánh dấu một con đường như thế này nối dài từ thung lũng Ia Drang tiến về vùng 10 cây số Bắc Pleime; cây lớn mọc trên mặt đường có đánh dấu đều bị cưa nửa vời.
Tới tháng Tư năm 1974, khi triển khai chiến dịch, chiến xa địch chỉ cần chạy ngay giữa hai hàng mốc thì những cây cối này sẽ gãy ngay, xe tank cứ thế, đè lên cây mà lao tới.
Như thế thì trong tương lai, nếu có chuyện đánh nhau, chắc chắn con đường đã đánh mốc này sẽ được địch dùng cho chiến xa tiến vào vùng Ðông Nam của thị xã.
Từ bìa rừng, quay đầu nhìn lại, tôi thấy hệ thống tường đất cao với nhiều lớp rào phòng thủ dư sức ngăn cản chiến xa; như vậy, muốn vào thị xã, xe tank của địch bắt buộc phải dùng con hẻm độc đạo bên rào Trại 181 Pháo Binh.
Muốn chặn chúng lại, ta chỉ còn cách duy nhất là thắt nút ngõ hẻm này bằng mìn chống chiến xa và thép gai vòng loại concertina.
Nhưng để cho chắc ăn, tôi vẫn tiếp tục dẫn quân đi vòng quanh rào để thăm dò thêm. Tôi thấy mặt Ðông Nam của căn cứ là một dải đất sình lầy, tiếp giáp với bờ suối; khu vực đất thấp này bộ binh di chuyển còn khó khăn, chắc chắn chiến xa không thể vượt qua được.
Sau khi hoàn tất công tác thám sát địa thế, về tới cổng trại, tôi mới nghĩ lại, thật là may mắn cho tôi, đêm qua địch chưa đánh!
Ðêm qua, tôi chưa chuẩn bị, mà địch ra tay thì chắc chắn đơn vị tôi tan tành rồi.
Tôi cấp tốc gọi cho Ðại tá Tỉnh trưởng cho xe đón tôi vào để báo cho ông một phát giác thật quan trọng.
Sau khi nghe tôi trình bày chi tiết những gì vừa chứng kiến, ông Ðại tá vỗ vai tôi rồi hối thúc,
– Lẹ lên! Lẹ lên! Chú lấy một chiếc Dodge rồi chạy xuống Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận Tiểu Khu lấy tất cả những gì chú cần! Mau lên! Mau lên!
Sau hai chuyến chuyển vận, tôi nhận được mười lăm cuộn concertina, hai chục khẩu M72 và trên một chục quả mìn chống chiến xa.
Ba toán Viễn Thám đã lãnh 6 khẩu M72 rồi; số còn lại tôi chia đều cho các đại đội. Mỗi đại đội đều có ba toán chống tank do chính tay tôi huấn luyện trong thời gian phòng thủ Kiến-Ðức.
Thực ra thì chúng tôi bắn XM 202 giỏi hơn M72. Gần nửa năm trấn thủ Kiến-Ðức, kho đạn của Tiểu Khu Quảng-Ðức có bao nhiêu XM 202 đều bị tôi trưng dụng hết.
Súng chống tank hữu hiệu nhứt là XM202 với đạn màu đỏ, tức là đạn khói, đạn lân tinh. Trúng đạn lân tinh, xe tank sẽ cháy ngay. Còn bắn đạn với liều thuốc lõm màu đen thì chỉ làm cho nó đứt xích hay lủng bộ phận phun khói sau lưng; bắn ngang hông cũng có hy vọng; còn bắn trúng pháo tháp T54 thì coi như “gãi ngứa” cho nó mà thôi.
Thế là từ chiều cho tới tối, hai ông Thiếu úy Ðặng Thành Học và Phạm Văn Thủy phải nhịn đói, vất vả căng kẽm gai và moi lỗ gài mìn trên con hẻm. Mười quả mìn mới có ngòi, nằm đè lên mười quả mìn cũ đã bị Việt-Cộng tháo ngòi, thế là mình có mười lỗ mìn đôi. Nếu dính một lỗ mìn đôi, chắc chắn chiếc T54 cán mìn sẽ banh xác!
Công việc thiết trí trận địa của tôi coi như đã hoàn tất.
Và tôi có thể yên tâm là, từ tối ngày 7 tháng Tư năm 1975, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi đã ở trong tư thế sẵn sàng đương cự với bất cứ địch thủ nào.
Ðây là Ðại tá Lê Xuân Hiếu, Trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 43 cũng là bạn cùng Khóa 10 Võ Bị của qua. Ủa! Long là dân Hiện Dịch hay Trừ Bị vậy?
– Thưa Chuẩn tướng, tôi tốt nghiệp Khóa 20 Võ Bị
Tướng Ðảo gục gục cái đầu,
– Vậy là anh em cùng trường, cũng dễ thông cảm thôi!
Thấy tình hình có vẻ không còn ngột ngạt, khó chịu nữa, tôi mới thở ra, bớt bực bội và tức giận. Tôi hỏi Ðại tá Hiếu.
– Chúng tôi vừa lui vừa đánh cả tháng rồi, lương thực hết, đạn dược hết, điện trì cho máy truyền tin cũng hết, Ðại tá có thể bổ sung ngay cho chúng tôi có được không?
Nghe vậy, Trung tướng Tư lệnh Quân Khu xen vào,
– Chuyện đạn dược, gạo cơm cho Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân tau giao cho Tiểu Khu Long-Khánh! Okay?
Thế là tôi biết, từ giờ phút này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân có hai người chỉ huy trực tiếp là ông Tỉnh trưởng Long-Khánh và ông Trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 43 Bộ Binh.
Tôi tính mở lời hỏi Ðại tá Hiếu cho đơn vị tôi mượn một chiếc xe để lo chuyện liên lạc, tản thương và chợ búa, thì có một người đứng sau lưng nắm tay tôi,
– Ba má cháu và gia đình cháu hiện nay ra sao?
Tôi quay mặt lại thì nhận ra ngay người vừa hỏi thăm gia đình mình là ông Ðại tá Ngô Văn Hưng. Bác Hưng trước đây là Trung tá Chỉ huy trưởng Pháo Binh của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh và là bạn thân của bố vợ tôi; bố vợ tôi là một cựu Trung tá, nguyên Chỉ huy trưởng Tổng Hành Dinh của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh.
Hiện thời, Ðại tá Hưng là Chỉ huy trưởng Pháo Binh của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh. Tôi buồn bã trả lời bác Hưng,
– Ban Mê Thuột bị Việt-Cộng chiếm từ đầu tháng Ba. Thời gian ấy cháu ở Quảng-Ðức, cháu mất tin tức gia đình từ ngày đó.
Bác Hưng vỗ vai tôi trấn an,
– Bác hy vọng gia đình cháu vẫn bình yên! Bố cháu giải ngũ đã lâu rồi, chắc không sao đâu!
Nghe Bác Hưng an ủi, tôi vẫn không thấy an tâm chút nào. Nhà tôi ở ngay giữa phố Ban Mê Thuột, không biết giờ đây cha mẹ, anh em, vợ con tôi có còn sống không? Cả tháng trời nay tôi không dám nghĩ tới gia đình…
Trước khi rời sân Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn, tôi tới trước mặt Trung tướng Nguyễn Văn Toàn và năn nỉ ông,
– Nhờ Trung Tướng đem nốt thành phần còn lại của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân về đây cho tôi. Hiện thời, tôi là người chỉ huy liên đoàn. Nếu không đem được họ về đây, sau này gặp lại, tôi không còn mặt mũi nào mà nhìn họ.
Nghe vậy, tôi tin tưởng rằng Trung tướng Tư lệnh Quân Ðoàn III và Quân Khu 3 sẽ tiếp tục ra tay cứu hai tiểu đoàn bạn, nên tôi yên tâm vào Trung tâm hành quân xin mấy bộ bản đồ Long-Khánh và cái đặc lệnh truyền tin, rồi lên xe trở về phi trường.
Trên đường về, tôi ghé chợ Xuân-Lộc mua vài thứ cần dùng. Chợ vẫn đông. Dân chúng ở đây vẫn sinh hoạt bình thường. Tôi bùi ngùi nhớ lại, cách đây một tháng, Ban Mê Thuột, Pleiku vẫn bình yên…
Mấy chục năm nay, người ta cứ nói rằng thượng cấp dự trù cho Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân ghé Xuân-Lộc chỉ vài ngày để nghỉ ngơi, tái trang bị, rồi về Sài-Gòn, nhưng bất ngờ Việt-Cộng tấn công thành phố, nên bất đắc dĩ chúng tôi phải tham chiến.
Ðó chỉ là một sự hiểu lầm!
Thực tế thì, chúng tôi đã được lệnh đóng trụ tại đó để ngăn địch.
Chiều ngày 6 tháng Tư năm 1975 chúng tôi đang ngồi trong trực thăng; trực thăng đang bay trên lộ trình về Sài-Gòn. Nếu cứ tiếp tục bay thì chưa tới một tiếng đồng hồ sau chúng tôi đã có mặt ở Sài-Gòn rồi. Phi đoàn 237 trực thăng đồn trú ở Biên-Hòa, sau khi thả chúng tôi xuống Xuân-Lộc, trực thăng vẫn phải bay về Biên-Hòa; sao không chở chúng tôi về thẳng Biên-Hòa hay Sài-Gòn nghỉ ngơi, tái trang bị? Cần gì phải thả chúng tôi xuống Xuân-Lộc, rồi vài ngày sau mới về Sài-Gòn?
Xuân-Lộc làm sao có dư dả quân nhu, quân dụng như Sài-Gòn? Xuống Xuân-Lộc, chúng tôi vẫn phải chờ đồ tiếp liệu từ Sài-Gòn chở tới mà!
Như vậy có phải là Tư lệnh Quân Khu 3 đã dự trù, nếu tôi đồng ý ở lại, thì tiểu đoàn tôi sẽ là một thành phần tham gia vào trận chiến chắc chắn sẽ diễn ra trong tương lai rất gần.
Nói trắng ra thì, chúng tôi có mặt ở Xuân-Lộc chính là do thâm ý của Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân Ðoàn III.
Trong thời gian hơn hai năm giữ chức Tư lệnh Quân Ðoàn II và Quân Khu 2, Tướng Toàn đã hiểu rõ khả năng chiến đấu của từng đơn vị của Vùng 2.
Tướng Toàn đã tận mắt chứng kiến vào giữa tháng 8 năm 1972, dưới áp lực của Cộng-Quân, căn cứ Biên-Phòng Ðức-Cơ gần như tuyệt vọng, Thiếu tá Phạm Văn Toán là người chỉ huy căn cứ này đã bỏ chạy, tôi đã nhảy vào Ðức-Cơ, nhận chức Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân để bảo vệ Ðức-Cơ. Tới khi tình hình yên ổn trở lại, tôi mới bàn giao quyền chỉ huy cho Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn. Hai tháng sau khi tôi ra đi, thì Ðức-Cơ lại bị bao vây lần nữa, ngày 1 tháng 12 năm 1972 Ðức-Cơ thất thủ.
Rồi qua chiến dịch Pleime kéo dài 33 ngày đêm, tháng 7 và tháng 8 năm 1974, thì Tướng Toàn càng nhìn rõ con người và bản lãnh thực sự của tôi; thời gian đó tôi là người chỉ huy Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, đơn vị đã giữ vai trò tử thủ cái tiền đồn này.
Trận Pleime là chiến thắng vang dội nhứt của Quân Lực Việt-Nam Cộng Hòa ở Vùng 2 Chiến Thuật trong năm 1974.
Hiện thời, dưới mắt Tướng Toàn, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi là một trái chanh chưa bị vắt hết nước, nên khi nghe tin chúng tôi còn trôi dạt trong rừng Bảo-Lộc, ông ta đã tìm cách liên lạc để tiếp cứu chúng tôi.
Hôm qua vì được thông báo rằng Trung tướng Tư lệnh Quân Khu 3 đã chấp thuận cho trực thăng cứu toàn bộ liên đoàn nên tôi mới có mặt ở đây.
Ông Toàn biết rõ tâm trạng của chúng tôi, những người của Vùng 2, đang trong cơn đau khổ và uất hận vì đã mất tất cả, gia đình, cha mẹ, vợ con, cơ nghiệp. Cả tháng trời nay, chúng tôi ví như những người đã chết rồi! Chúng tôi đã đánh nhau liên tục từ đầu tháng Ba cho tới bây giờ.
Khởi hành từ Kiến-Ðức, dưới tay tôi có hơn năm trăm quân, giờ này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân chỉ còn hơn một nửa.
Có đánh thêm một trận, hay vài trận nữa rồi thì chúng tôi cũng chết! Chúng tôi quyết định ở lại đây để “ÐÁNH!” và để “CHẾT!”
Ông Toàn đã hiểu chúng tôi muốn gì nên mớm lời, ướm hỏi, để tôi chọn ở lại.
Nếu ở lại đây, ít nhứt chúng tôi, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân còn được người ta coi như một đơn vị. Anh em tôi còn được ở bên nhau một thời gian nữa.
Còn như, leo lên tàu về Sài-Gòn thì chúng tôi sẽ chẳng thống thuộc đơn vị nào, chẳng biết dưới quyền ai.
Thêm vào đấy là cái thành kiến cho rằng chúng tôi là những người bại trận, đang chạy trốn, nhìn không giống ai, người ta có thể sẽ giải tán Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, rồi đem chúng tôi bổ sung cho những đơn vị Biệt Ðộng Quân khác.
Trong trường hợp đó, cho dù Tướng Toàn có ưu tiên, biệt đãi cá nhân tôi, giao cho tôi chỉ huy một đơn vị mới, thì tôi và những đứa em trong tiểu đoàn sẽ phải chia lìa nhau.
Giờ này, trên đời, tôi chỉ còn những đứa em này là thân thiết nhứt.
Nếu phải chia tay chúng nó thì không còn gì đau xót cho bằng.
Tôi được một ông trung úy bộ binh hướng dẫn vào nơi chúng tôi sẽ tạm trú. Ðây là khu doanh trại cũ đã bỏ trống của Tiểu Ðoàn 181 Pháo Binh của Sư Ðoàn 18.
Doanh trại này nằm đối diện với khúc đuôi hướng Ðông của sân bay Xuân-Lộc.
Nơi đây là vùng ngoại ô vô cùng hẻo lánh, cách trung tâm thành phố và chợ búa rất xa.
Nếu hồi chiều tôi không có lời phản kháng mà cứ để cho ông Tướng Tư lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh cho người giải giới thì giờ này tình trạng của chúng tôi còn thua những cô cậu Nhân Dân Tự Vệ. Vì Nhân Dân Tự Vệ còn có súng, nếu chúng tôi bị giải giới thì chỉ có tay không!
Tôi có cảm tưởng rằng người ta coi chúng tôi như cùi, hủi, nên vứt bỏ chúng tôi vào một góc tối tăm, xa xôi nhất của thành phố mà không thèm đoái hoài tới.
Tôi đang mang nỗi bực bội, muộn phiền trong lòng thì một chiếc xe Dodge của Tiểu Khu chở gạo tiếp tế và hàng hóa Quân Tiếp Vụ tới bán cho đơn vị.
Nhìn những ánh mắt sáng lên vì vui mừng của thuộc cấp, tôi thấy lòng mình dịu lại, hết buồn rầu ngay.
Tôi tự an ủi: “Dù gì thì anh em tôi cũng còn may mắn và hạnh phúc hơn các bạn khác của hai Tiểu Ðoàn 63 và 81 giờ này còn đang đói rét ở trong rừng. Không rõ ngày mai đây ông Tư lệnh Quân Ðoàn III có tiếp tục cho trực thăng tiếp cứu họ hay không.”
Suốt đêm 6 tháng Tư tôi đã trằn trọc không chợp mắt vì đây là lần đầu tiên trong đời lính, tôi đóng quân ở một vị trí mà tôi không biết xung quanh mình ra sao?
Cả tiểu đoàn nằm trong một cái đồn nhỏ tí teo với rào tre cao phủ kín như bưng.
Chẳng biết địch ở hướng nào? Bạn ở hướng nào?
Thường thì mất ngủ, người ta hay hút thuốc liên miên rồi nghĩ ngợi mông lung.
Tôi đốt hết điếu Lucky này tới điếu khác mà đêm vẫn chưa tàn.
Nghe tiếng rì rầm của những người lính dưới quyền mình đang chụm đầu bên nhau trong bóng tối, tôi chợt phân vân tự hỏi:
“Mình tình nguyện ở lại Xuân-Lộc, nhưng không biết các anh em khác có đồng ý không? Biết đâu có nhiều anh em không muốn ở lại đây, họ muốn về nơi an toàn hơn? Họ sẽ không vui khi chính họ không được quyết định số phận của họ.”
Sáng sớm ngày 7 tháng Tư năm 1975, tôi cho lệnh tất cả anh em tập họp trong căn nhà tôn để nói với họ đôi điều.
Trước hàng quân, tôi đã dõng dạc nói thẳng với những người dưới quyền:
“Cùng các anh em Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân! Hôm qua tôi không hỏi ý kiến các anh, và tôi đã thay mặt các anh quyết định để tiểu đoàn mình ở lại đây mà không về Sài-Gòn.
Lý do tôi quyết định không về Sài-Gòn chỉ vì tôi sợ vừa tới nơi, người ta đã coi chúng ta như những người lính bại trận vừa di tản về.
Dưới mắt họ, chúng ta sẽ là mối lo ngại cho an ninh của đồng bào đô thành. Họ sợ chúng ta sau bao ngày đói khát sẽ đi ăn quỵt, uống chạy và cướp bóc.
Cấp trên sẽ xé lẻ tiểu đoàn mình thành nhiều mảnh rồi đem bổ sung cho các đơn vị của Vùng 3.
Các bạn đã trải qua hai năm chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ với Thái Sơn. Hai năm qua, các bạn đã từng hãnh diện với những chiến công. Chúng ta đã là những chiến binh bách chiến, xuất sắc của Vùng 2 Chiến Thuật.
Nay chúng ta rút lui khỏi Vùng 2, nhưng chúng ta không phải là người bỏ chạy vì thua trận. Cấp trên của chúng ta đã bỏ chạy, cấp trên của chúng ta đã đào ngũ, bỏ rơi chúng ta, bỏ rơi gia đình, vợ con, thân bằng, quyến thuộc của chúng ta.
Giờ này chúng ta chỉ còn cái tình đồng đội và cái tên chung là Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân thôi!
Hôm qua tôi đã thay mặt các bạn, chọn ở lại đây, chiến đấu cho tới giọt máu cuối cùng. Hôm qua tôi không có thì giờ hỏi ý kiến các bạn, hôm nay tôi tập họp các bạn lại để xác định rằng, gia đình chúng ta đã mất, và chắc chắn trong tương lai gần đất nước của chúng ta chưa chắc đã tồn tại.
Tôi sẽ tiếp tục chiến đấu, nhưng tôi không rủ rê hay ép buộc bất cứ ai theo mình chọn con đường tự vẫn.
Vậy thì, ngay sau đây, bạn nào muốn chiến đấu thì ở lại đây với tôi. Ai muốn về Sài-Gòn thì cứ tự nhiên bỏ súng xuống, bỏ hàng quân, rồi ra bến, lên xe đò mà đi. Ðường Sài-Gòn, Long-Khánh còn thông thương. Trong túi tôi còn tiền đây! Bạn nào muốn đi thì lên đây gặp Ðại úy tiểu đoàn phó để lấy tiền. Tôi cho tiền mà mua vé xe đò. Nhớ rằng, phải trả tiền mua vé xe, đừng giựt chạy! Ðừng làm mất mặt Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân!”
Cựu Đ/Tá Lê Xuân Hiếu & cựu Th/Tá Vương Mộng Long (USA, 2014). Ảnh do tác giả cung cấp
Tôi rút xấp giấy bạc loại 1 ngàn đồng từ cái túi bên ống quần ra, để trên bàn, đây là số tiền chợ chưa dùng tới của tháng Ba năm 1975.
Tôi nói với ông Ðại úy Ngũ Văn Hoàn, tiểu đoàn phó,
– Chiều qua tôi có ghé chợ Xuân-Lộc, tôi thấy trên bảng bán vé xe có ghi giá đi Sài- Gòn hiện thời chỉ có 500 hay 600 đồng thôi. Nhưng ông cứ phát một tờ 1000 đồng cho bất cứ ai muốn đi!
Tôi xoay người bước xuống tam cấp rồi tránh mặt bằng cách đi vòng vòng tản bộ trong sân trại, xa ngoài tầm mắt của anh em đang ngồi trên sàn xi măng.
Mười phút sau, khi đã hút tàn hai điếu Lucky, tôi quay trở lại. Thuộc cấp của tôi vẫn còn ngồi trong hàng. Ðại úy tiểu đoàn phó đưa trả lại cho tôi cọc tiền mà tôi đã để trên bàn,
– Chỉ có một người trả súng, xin một tờ bạc rồi chạy đi, đó là Binh nhì Phan Thọ, người nấu cơm của Thái Sơn.
Nhét xấp bạc hầu như chưa suy suyển vào túi quần, mà tôi cảm như tay mình buốt giá, lạnh ngắt, giống như có ai vừa quất một roi đau điếng trên cánh tay phải của tôi, cánh tay đã bao lần giơ lên truyền hiệu lệnh xung phong cho đồng đội.
Tôi không ngờ giờ đây người đã bỏ tôi, bỏ đơn vị lại là Binh nhì Phan Thọ.
Tại sao người bỏ đơn vị không là ai khác, mà lại là người đêm ngày ở sát bên tôi, lo cho tôi từng bữa cơm, từng điếu thuốc, căng võng đắp mền cho tôi khi tôi ngủ, nhắc nhở tôi uống thuốc cảm mỗi khi trái gió trở trời.
Ba anh, Binh nhứt Bích, Binh nhì Thọ, và Binh nhì Ba Rỗ là những người tôi tin cẩn, theo tôi gần một năm rồi. Anh em trong đơn vị thường gọi ba anh lính này là “Cái kiềng ba chân” ngụ ý rằng họ có nhiệm vụ đỡ nồi cơm của tiểu đoàn trưởng giống như cái kiềng ba chân trong bếp. Bây giờ cái kiềng chỉ còn hai chân, thì trưa nay làm sao tôi có cơm ăn?
Một chiếc Jeep của Trung Ðoàn 43 ghé vào sân đón tôi ra phi trường. Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn đã chờ sẵn ở đây.
Ngồi trên sàn tàu, hai chân thòng xuống đánh đung đưa, ông Toàn nói,
– Chút nữa trực thăng sẽ tiếp tế 300 đôi giày mới cho mi! Còn gạo nước, súng ống, đạn dược, thì có thằng Phúc (Ðại tá tỉnh trưởng) lo. Cần gì nữa không?
Tôi bước tới sát bên cửa trực thăng,
– Cám ơn Trung tướng! Ðiều tôi mong mỏi nhứt là Trung tướng cho bốc hết số anh em còn lại của Liên Ðoàn 24 về đây càng sớm càng tốt.
Nghe tôi năn nỉ, ông Tư lệnh Quân Ðoàn III trợn mắt,
– Ð! M! Bốc cái gì nữa? Bỏ đi! Bỏ đi! Tau đem tiểu đoàn mi về đây là quá sức rồi! Tau là Tư lệnh Quân Khu 3! Tau không có trách nhiệm gì với bất cứ đứa nào đang chạy trốn của Quân Khu 2! Bỏ đi! Ðừng đòi hỏi gì thêm!
Tôi là một trong những chiến binh của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã có mặt trong trận Xuân-Lộc tháng Tư năm 1975. Chiến thắng Xuân-Lộc là chiến thắng oanh liệt cuối cùng của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Nhiều năm sau chiến tranh, cứ tới tháng Tư thì trên truyền hình, truyền thanh, trên những trang báo giấy và báo điện tử, người Việt hải ngoại lại nhắc tới trận đánh này. Mỗi khi kể chuyện Xuân-Lộc tháng Tư năm 1975, thì người ta không thể quên Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân.
Chúng tôi đã trải qua một thời gian nửa tháng trời ở đó; đã có mặt kể từ ngày mở màn, cho tới ngày kết thúc trận đánh này. Anh em chiến sĩ của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã chiến đấu hết mình, đã sẵn sàng hy sinh tính mạng để cùng các bạn Sư Ðoàn 18 Bộ Binh tạo dựng chiến thắng để đời ấy.
Từ đó, những quân nhân của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh và Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân trở thành thân thiết, coi nhau như anh em.
Mấy chục năm qua, nhiều tác phẩm liên quan tới trận Xuân-Lộc năm 1975 đã được những nhân vật trực tiếp tham chiến viết lại.
Qua những hồi ký ấy, hầu như độc giả đã được nghe kể một cách chi tiết diễn tiến từng ngày, từng giờ, của trận chiến, những cuộc chuyển quân, điều binh của cả đôi bên và kết quả những lần chạm súng.
Nhưng chắc chắn khó có ai biết rằng trong trận Xuân-Lộc năm 1975 lại có những điều không ngờ trước đã xảy ra, tỷ như chuyện Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân tình cờ có mặt tại đây. Ðôi khi chỉ vì một chuyện tình cờ mà có thể đưa tới kết cục thành bại của một chiến trường.
Cuối tháng Ba năm 1975 Quân Ðoàn II tan rã, Cao Nguyên Vùng 2 đã mất, nhưng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Vương Mộng Long vẫn tồn tại, vẫn can trường.
Từ Quận Kiến-Ðức, chúng tôi đã bẻ gãy vòng vây của Trung Ðoàn 271 Cộng-Sản Bắc-Việt để về bắt tay với quân bạn ở Thị trấn Gia-Nghĩa, Quảng-Ðức; tại đây các đơn vị trực thuộc Tiểu Khu Quảng-Ðức đã bỏ tỉnh lỵ một ngày rồi.
Bị chỉ định giữ vai trò tiên phong, dẫn đầu liên đoàn rút lui, tôi quyết định không dùng Liên tỉnh lộ 8 B để về Bảo-Lộc mà sẽ đi xuyên rừng theo phương giác từ. Ngay ngày đầu triệt thoái, vừa qua sông Ða Dung, một trái lựu đạn nổ vì bất cẩn, ông Trung tá Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân bị một vết thương nhẹ ở ngực, đã rời vùng.
Hai ngày sau, thì ông Trung tá Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân cũng vội vàng leo lên trực thăng tải thương, bỏ đơn vị lại giữa rừng. Từ hôm ấy, không còn ai thấy bóng dáng ông ta nữa; hóa ra ông Trung tá đào ngũ này đã nhanh chân chạy thẳng một lèo qua Mỹ!
Cựu Th/Tá Vương Mộng Long & cựu Th/Tướng Lê Minh Đảo (USA-2009) – Ảnh do tác giả cung cấp
Bắt đầu từ ngày thứ ba của cuộc lui binh, gánh nặng chỉ huy, lèo lái Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân đè nặng lên vai Thiếu tá Hiện Dịch Vương Mộng Long, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.
Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân dưới quyền chỉ huy của tôi đã vừa chiến đấu vừa tiến dần về hướng duyên hải. Kết quả công lao khó nhọc của tôi đã được đền bù: Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân là đơn vị duy nhất của Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 còn tồn tại và chiến đấu tới giờ phút chót để bảo vệ chế độ Cộng-Hòa.
Sau gần nửa tháng vừa đánh, vừa lui, ngày 5 tháng Tư năm 1975, qua tần số FM 47.70 trong máy PRC 25, tôi liên lạc được chiếc thám thính cơ L 19 bay trên trời.
Người bay trên L19 để đi tìm Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân ngày đó là Trung tá Nguyễn Khoa Lộc, một sĩ quan của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 3.
Theo lệnh của Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân Khu 3 thì Phi Ðoàn 237 Trực Thăng sẽ ưu tiên bốc Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân trước, các đơn vị còn lại sẽ được chuyển vận sau.
Khoảng mười giờ sáng ngày 6 tháng Tư trên trời đã xuất hiện một đoàn trực thăng CH 47 dẫn đầu bởi một tàu chỉ huy UH 1 D và hai trực thăng võ trang. Tôi nhận được lệnh chuẩn bị bãi đáp.
“Biến mà không loạn” là phương châm chỉ huy của tôi. Cho dù cái chết kề bên, quân nhân của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân vẫn răm rắp tuân theo lời cấp chỉ huy của họ.
Tôi cho quân nối đuôi nhau theo đội hình 5 hàng dọc. Sử dụng đội hình này, người chỉ huy vừa dễ đếm quân, vừa dễ chuyển quân thành hàng ngang sẵn sàng chiến đấu nếu bị địch tấn kích bất ngờ.
Lệnh phát ra từ chiếc tàu đang lơ lửng giữa trời:
“Yêu cầu các anh chuẩn bị 45 người!”
Dưới đất lập tức có 5 hàng dọc, 9 hàng ngang tiến ra đồng cỏ tranh.
Ðang trên đường sà xuống bãi, người phi công nói tiếp:
“Yêu cầu 5 người nữa!”
Dưới đất lại thêm một hàng ngang 5 người, nhập vào đoàn người phía trước.
Trên tàu lặp lại:
“Yêu cầu 5 người nữa!”
Dưới đất lại thêm một hàng ngang 5 người nữa tiến lên.
Chứng kiến cảnh này, người chỉ huy đoàn trực thăng bỗng la lớn:
“Tuyệt vời! Tuyệt vời! Kỷ luật của đơn vị này thật là tuyệt vời! Như vậy thì các bạn cứ xếp hàng 65 người một tàu! Không vũ khí nặng, cứ 65 người là okay!’
Nhiều chục năm sau, cựu Trung tá Nguyễn Phú Chính, Phi đoàn trưởng Phi Ðoàn 237 Trực Thăng còn nhớ hình ảnh chúng tôi đã ra bãi, lên tàu như thế nào.
Mỗi khi nhắc lại chuyện bốc quân giữa rừng ngày ấy, thì anh Chính thường nói một câu nhận xét rất ngắn:
“Cung cách tay này chỉ huy lính thì không chê vào đâu được!”
Xế trưa ngày 6 tháng Tư năm 1975 chúng tôi ghé lại phi trường Phan Thiết không lâu, vừa đủ thời gian cho phi hành đoàn ăn cơm và cho máy bay tái tiếp tế nhiên liệu.
Tại phi trường Phan-Thiết, kiểm quân, tôi phát giác ra một trung đội của Ðại Ðội 4/82 không có mặt. Trung đội này do Chuẩn úy Bảo chỉ huy. Chắc ông Bảo và hai chục ông lính khác còn kẹt trong rừng Blao cùng với số người còn lại của hai tiểu đoàn bạn là Tiểu Ðoàn 63 và 81 Biệt Ðộng Quân.
Sau đó chúng tôi lại lên tàu tiếp tục cuộc hành trình.
Tới 5 giờ chiều ngày 6 tháng Tư năm 1975 thì năm chiếc máy bay Chinook CH47 hạ cánh trên phi đạo Xuân-Lộc.
Trừ ra một chiếc trực thăng có nhiệm vụ móc 5 thùng xăng rỗng bằng cao su tòn ten dưới bụng, bốn chiếc còn lại đều chở đầy quân.
Bốn chiếc Chinook này đã vận chuyển 260 quân nhân của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân từ Vùng 2 vào tăng cường cho mặt trận Long-Khánh của Vùng 3 theo lệnh của Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân-Ðoàn III.
Tôi là một trong số 65 người ngồi trên chiếc CH47 thứ nhất vừa hạ cánh.
Tới Xuân-Lộc, chúng tôi còn ngồi trên tàu, thì có lệnh cho một mình tôi xuống đất trình diện Trung tướng Nguyễn Văn Toàn Tư lệnh Quân Khu 3.
Nơi đầu phi đạo có hai chiếc xe Jeep đậu bên nhau. Tàu tôi đáp cách hai chiếc Jeep chừng ba trăm mét.
Một chiếc Jeep chạy tới đón tôi, người trên xe tôi quen, đó là Ðại tá Phạm Văn Phúc, Tỉnh trưởng tỉnh Long-Khánh. Ông Phúc là cựu sĩ quan Biệt Ðộng Quân.
Ðại tá Phúc nhảy sang ghế tài xế nhường chỗ cho tôi, rồi la lớn,
– Lên xe đi Long! “Cha” Toàn đang chờ Long đó!
Hai phút sau tôi đã đứng nghiêm trước mặt Tướng Toàn.
Ông Toàn giơ cái can chỉ huy quơ quơ trước mặt tôi,
– Ð! M! Không cần chào kính gì ráo! Tau hỏi mi chớ muốn ở đây làm trừ bị cho thằng Ðảo hay muốn về Sài-Gòn sát nhập vào Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 3?
Chỉ sau vài giây suy tính, tôi buột miệng,
– Trung tướng cho tụi tôi ở lại đây!
Nghe tôi xin ở lại Xuân-Lộc, Tướng Toàn vừa cười vừa nói,
– Thằng ni khôn! Mi là tàn quân của Vùng 2, nếu mi mà về Sài-Gòn, tụi nó (?) sẽ coi mi không đáng một xu teng! Tau biết mi giỏi nên cho mi xuống đây, làm trừ bị cho thằng Ðảo, không về Sài-Gòn nữa! Mi chọn ở lại đây là phải đó!
Sau đó Tướng Toàn leo lên xe; xe trở đầu chạy đi.
Tôi và Ðại tá Phúc quay trở lại chỗ hợp đoàn Chinook đang đậu. Sau khi ngỏ lời cám ơn phi hành đoàn, tôi ra lệnh cho anh em binh sĩ xuống tập họp trên bãi cỏ nằm sát phi đạo.
Năm phút sau, đoàn tàu rời sân bãi, bay về hướng Tây.
Khi anh lính cuối cùng đã đứng vào hàng, lệnh đầu tiên của tôi ban ra là:
“Cấm quân”
Kỷ luật là sức mạnh của quân đội. Dù bất cứ ở đâu, bất cứ trong tình trạng nào, nếu không giữ được kỷ luật thì quân đội không còn là quân đội nữa!
Vì thế, lúc nào tôi cũng coi vấn đề duy trì kỷ luật của tiểu đoàn là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của người chỉ huy. Chính vì cái kỷ luật thép của đơn vị, mà trong tình thế nguy kịch, chúng tôi vẫn ra bãi đáp, lên tàu, với phong cách như thế ấy. Cũng chính vì cái kỷ luật thép của đơn vị, mà suốt thời gian nửa tháng trời chúng tôi tham chiến ở Xuân-Lộc, người dân của thị trấn này hầu như chưa từng nhìn thấy bộ quân phục rằn ri nào của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân xuất hiện trong đường phố. Dân mà còn không biết chúng tôi có mặt ở đây, thì chắc chắn Việt-Cộng cũng không biết gì về chúng tôi
Đ/Tá Hứa Yến Lến, Th/Tướng Lê Minh Đảo, Tr/Tướng Phạm Quốc Thuần, Th/Tá Vương Mộng Long, Tr/Tá Nguyễn Văn Xuân – Ảnh do tác giả cung cấp
Tôi cầm tờ giấy ghi tình trạng quân số hiện diện do ông Thượng sĩ thường vụ tiểu đoàn vừa trình lên. Chính xác thì quân số của tôi tổng cộng có 260 Biệt Ðộng Quân khởi hành từ Blao, trừ đi 2 quân nhân bị thương là Hạ sĩ Nguyễn Ba trưởng toán Viễn Thám và một anh lính của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân được phép ngồi lại trên tàu để tiếp tục về Biên-Hòa, thì số người xuống sân bay Xuân-Lộc chiều nay phải là 258 người.
Tới lúc các đại đội điểm mặt số quân nhân hiện diện để xem ai còn, ai mất, thì lòi ra một người lạ. Ông ta là một thiếu úy của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đứng trà trộn trong hàng ngũ của Ðại Ðội 4/82!
Cái ông thiếu úy của Tiểu Ðoàn 81 này nhanh chân quá!
Nhìn bộ dạng run rẩy sợ sệt của anh ta, tôi chợt nghĩ lại, có nhiều người cao cấp hơn anh ta nhiều mà gặp cảnh ngặt nghèo đã vội lo chạy thoát thân, bỏ rơi đồng đội, điển hình là ông Trung tá Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân đã leo lên trực thăng, đào ngũ giữa rừng, nên tôi chỉ đá anh ta một cái rồi đuổi đi thôi.
Bình thường mà gặp cảnh này, chắc chắn tôi không nhẹ tay đâu, mà hình phạt của tôi sẽ nặng hơn nhiều.
Ðại tá Phúc nói,
– Long cho anh em tạm nghỉ trong khu nhà chứa máy bay L19 nơi đầu phi đạo. Mình vào họp với ông Toàn và ông Ðảo rồi “moa” đề nghị cho tiểu đoàn của Long vào tiểu khu ở với “moa”.
Ðại tá Phúc và tôi vào tới sân Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh thì thấy nơi này đã có cả chục sĩ quan đang đứng lố nhố.
Những người này chỉ ngừng nói chuyện, khi Trung tướng Nguyễn Văn Toàn kéo tay tôi, đẩy tôi tới trước mặt một ông Chuẩn tướng,
– Tau vừa bốc thằng ni từ Blao về! Tau giao nó cho Ðảo! Ðể nó làm trừ bị! Okay!
Không thèm nhìn mặt tôi, vị tướng một sao quay qua ra lệnh cho một ông trung tá đứng bên, sau này tôi biết ông ta tên là Nguyễn Văn Xuân,
– “Toa” cho giải giới đơn vị này. Cho chúng nó ở tạm đâu đó, đừng để chúng nó ra phố phá làng, phá xóm!
Nghe ông Tư lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh thốt ra những lời nói trên, tôi có cảm tưởng như vừa bị ông ta tát cho một cái ngay giữa mặt. Tôi đưa tay kéo áo Tướng Toàn,
– Ðược rồi! Cho chúng tôi về Sài-Gòn ngay! Chúng tôi không ở lại đây nữa!
Ðại tá Phúc vội vàng lôi tôi sang phía ông, rồi nói với ông Toàn,
– Trung tướng giao thằng Long cho tôi! Nó quen biết tôi, chúng tôi làm việc với nhau dễ dàng hơn.
Ngay lúc này, đứng cạnh chiếc xe Jeep Quân Cảnh có một sĩ quan đeo lon đen, tôi không nhìn rõ ông ta là trung tá hay đại úy, lớn tiếng góp ý,
– Muốn tránh chuyện cướp bóc thì phải giải giới! Không giải giới thì cho đi chỗ khác!
Bất thình lình, ông Tướng Tư lệnh Quân Khu 3 trợn mắt lên, giơ cao cái can chỉ huy nhứ nhứ mấy cái, rồi hét lớn,
– Tụi mi im cái mồm đi!
Thấy Tướng Toàn nổi giận, mọi người đều im re.
Tiếp đó ông Toàn dõng dạc từng tiếng một,
– Tau biết thằng ni! Không được giải giới nó! Thằng ni là dân kỷ luật số một! Ðó là lý do tại sao tau không đem nó về thẳng Sài-Gòn mà để nó ở lại đây!Tau nói là giao nó cho Sư Ðoàn 18! Ðây là lệnh! Thi hành đi!
Lúc này ông Chuẩn tướng Tư lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh mới chìa tay ra cho tôi bắt,
– “Qua” tên là Lê Minh Ðảo. Nếu Trung tướng Tư lệnh đã giới thiệu em như vậy thì “qua” tin. Thôi! Không cần giải giới nữa!
Rồi ông chỉ tay về hướng một trong hai vị đại tá đứng cách đó không xa,
– Okay! Từ giờ em được đặt dưới quyền Ðại tá Hiếu!
Một ông đại tá người Bắc bước tới bắt tay tôi, niềm nở,
– Long cần gì thì cứ cho anh hay. Ðừng ngại ngùng gì cả!
Tướng Ðảo thân mật ôm vai ông sĩ quan vừa tới, rồi cười.
Trang Châu tên thật Lê Văn Châu, sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 tại Huế. Thuở nhỏ theo học tại các trường Pellerin, Thiên Hựu (Huế), Yersin (Đà Lạt). Tốt nghiệp Y khoa năm 1966. Là bác sĩ quân y, phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù, kể từ 1966 đến năm 1971. Lập gia đình cùng bà Hoàng Kim Uyên (ái nữ của nhà thơ Hoàng Trọng Thược, á hậu Việt Nam năm 1966) và có hai con trai. Trước 1975, Trang Châu cộng tác với các tạp chí: Tiền Phong, Khởi Hành, Văn Học,… Tỵ nạn tại Montréal Canada từ năm 1977, hiện hành nghề tại phòng mạch tư. Tiếp tục sáng tác, nhưng ít gởi bài đăng báo. Tháng 6 năm 1987, được bầu làm chủ tịch Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại tại Canada, trung tâm Quebéc. Tác phẩm đã xuất bản: Tình Một Thuở (1964), Y Sĩ Tiền Tuyến (bút ký, 1970). Tập bút ký Y Sĩ Tiền Tuyến từng đoạt giải thưởng văn học của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa.
Trả lời phỏng vấn của Châu Hải Châu trên trang web Vuông Chiếu của Luân Hoán, Trang Châu cho biết ông làm thơ trước khi viết văn. Ông nói:
“…Ðộc giả biết tôi về thơ trong một trường hợp hạn hẹp. Ðộc giả của thơ tôi lúc ấy là nam nữ sinh viên các trường đại học và đặc biệt hai trường Gia Long và Trưng Vương. Lý do là lúc đó sinh viên Y Khoa Sài Gòn cho xuất bản nguyệt san Tình Thương, tờ báo duy nhất của sinh viên được bày bán tại các sạp báo. Tôi làm thư ký tòa soạn cho tờ Tình Thương trong 3 năm đầu. Sau khi tôi ra trường, tờ báo sống đến gần hết năm thứ tư thì bị đóng cửa vào năm 1966 vì lý do chính trị. Dạo ấy tôi làm toàn thơ tình cảm. Sang đây, thỉnh thoảng gặp lại vài cựu nữ sinh Trưng Vương, Gia Long còn thuộc lòng những bài thơ ngắn của tôi làm thời đó, làm tôi ngạc nhiên một cách thích thú…”
Về bút ký “Y Sĩ Tiền Tuyến”, Trang Châu cho biết tác phẩm Y Sĩ Tiền Tuyến trải qua nhiều giai đoạn trước khi hoàn thành.
“…Thật tình tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ viết văn cả. Vào năm thứ 6 Y khoa, tôi ghi tên học Nhảy Dù. Học lấy bằng xong, anh em trong tòa soạn Tình Thương bảo viết lại diễn tiến của khóa dù vì nghe tôi kể lại thấy hấp dẫn. Và bài ‘Khóa 68 Nhảy Dù’ trong cuốn YSTT là đoản văn đầu tiên tôi viết.
“Về Nhảy Dù một thời gian, tôi viết về cuộc hành quân đầu tiên tôi tham dự với tiểu đoàn 6 Nhảy Dù, đăng ở Tình Thương với nhan đề Thử Lửa. Lúc bấy giờ sư đoàn dù cho ra tờ Mũ Ðỏ, cho đăng lại bài này. Sau đó tôi rời tiểu đoàn 6 Nhảy Dù về làm Y sĩ trưởng tiểu đoàn 3 Nhảy Dù. Tiểu đoàn đóng quân ở ven đô, tôi tình cờ nghe đài Phát Thanh Quân Ðội loan tin cuộc thi bút ký chiến đấu, do tờ Tiền Phong (báo của quân lực VNCH) tổ chức và vì rảnh rỗi không biết làm gì ngoài việc khám bệnh cho binh sĩ, tôi viết bài gởi dự thi. Ðó là bài Ðường Ra Bến Hải. Bài được chấm giải nhất. Chánh chủ khảo tuyển chọn, sau này tôi mới biết là anh Nguyễn Ðạt Thịnh. Sau đó tôi rời tiểu đoàn 3 Nhảy Dù về làm việc tại bệnh viện Ðỗ Vinh ở căn cứ Hoàng Hoa Thám. Tôi viết thêm bài Hành Quân Di Dân và Một Cuộc Săn Du Kích đăng ở Văn Học và Tiền Phong. Giải Văn Học Nghệ Thuật của Ðệ nhị Cộng Hòa ra đời năm 1969, bây giờ tôi mới có ý định viết thành một cuốn sách để gởi đi dự thi. Tôi bỏ ra 5 tháng để viết phần còn lại và 1 tháng tự đánh máy. Cuốn sách được lấy tên Y Sĩ Tiền Tuyến…”
Về giải Văn Học Nghệ Thuật năm 1969, Trang Châu cho biết thêm trong trả lời phỏng vấn của Châu Hải Châu trên Vuông Chiếu được Du Tử Lê trích dẫn trên Người Việt Online:
“Năm đó có 3 tác phẩm trúng giải: cuốn Má Hồng của Ðỗ Tiến Ðức, Y Sĩ Tiền Tuyến của Trang Châu, Trại Ðầm Ðùn của Trần Văn Thái. Cuốn YSTT được nhà xuất bản Ðường Sáng in năm 1970. Ðợt đầu 5000 cuốn do Nguyễn ÐìnhToàn và Nguyễn Ðạt Thịnh viết lời giới thiệu đàng sau. 3000 cuốn sau, Mai Thảo viết lời giới thiệu ở trang sau. Tôi rất thích lời giới thiệu này, tôi còn nhớ anh Mai Thảo viết:
“… Hạnh phúc và may mắn của một nhà văn mới lên đường như trường hợp Trang Châu là đi thẳng, đi ngay vào những thực tế lớn. Những thực tế nhỏ không chứng minh gì hết. Thực tế lớn bây giờ là tuyến đầu, là mặt trận, Trang Châu đã có mặt ở đó (…)
“YSTT là một tập ký, ghi nhận cảm nghĩ của một y sĩ theo chân một đơn vị Nhảy Dù hành quân. Tôi đã viết ra những điều mà nhiều người đã trải qua, nhưng không nói ra được, không tả ra được: Chiến tranh dưới cặp mắt một y sĩ. Tôi luôn luôn giữ ngòi bút trung trực. Viết về đơn vị mình, người viết thường dễ có khuynh hướng bốc thơm. Tôi đã không làm điều đó và không áp lực nào có thể bắt tôi làm điều đó…”
Tôi được tin cuốn Y Sĩ TiềnTuyến được giải thưởng một tháng trước khi Bộ Văn Hóa tuyên bố kết quả. Dạo đó, buổi chiều sau khi đi làm về tôi thay đồ xi vin ra quán Pagode ngồi uống nước với nhà văn Nguyễn Ðình Toàn. Khi gửi bản thảo Y Sĩ Tiền Tuyến đi dự thi tôi không nói với một ai. Có lẽ sợ tiết lộ ra lỡ không trúng giải thì quê!
Tôi còn nhớ hôm đó ra quán Pagode, vừa thấy tôi Nguyễn Ðình Toàn vẫy tay lia lịa kêu tôi tới bàn anh:
– Này, toa trúng giải văn học nghệ thuật rồi đấy!
Tôi mở mắt to:
– Thật không?
– Thật. Nguyễn Mạnh Côn, trong ban giám khảo nói thì làm sao sai được. Moa có hỏi vì sao giả chọn tác phẩm của toa thì giả nói vì nó “authentique.”
Tôi không bao giờ quên cái cảm giác lâng lâng khó tả trước tin mình được giải thưởng cao quý nhất lúc bấy giờ. Một tay viết tài tử với một tác phẩm còn dưới dạng bản thảo, đánh máy lèm nhèm, đã được các ông trong ban giám khảo chịu khó đọc và cho giải. Hôm tôi vào Dinh Ðộc Lập lãnh giải do chính tay Tổng Thống Thiệu trao, tôi mặc quân phục đại lễ trắng, đội mũ đỏ. Tôi muốn cho tất cả mọi người có mặt hôm đó thấy rằng, hiểu rằng xương máu, mồ hôi của quân nhân binh chủng Dù đã tạo nên tác phẩm này. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ở trong ban giám khảo, đến tặng tôi 2 câu thơ viết trên lụa mà tôi còn nhớ:
“Y Sĩ ý hỵ mà hay!
Xông pha Tiền Tuyến quản gì gió sương.”
Trên trang web Diễn Ðàn Cựu Sinh Viên Quân Y, Trang Châu tâm sự: “Bốn mươi năm sau đọc lại tác phẩm mình, những dòng chữ của một thời tuổi trẻ, một tuổi trẻ bất hạnh, lớn lên trong máu lửa của chiến tranh nhưng cũng là một tuổi trẻ mà mình đã dám chọn cho mình một cách sống, để biết thế nào là yêu nước, thế nào là tình đồng đội và thế nào là tình người”.
vietmessnger.com / Typing & Post by Sơn râu 26 July 2023
Chiếc trực thăng tản thương đón tôi ở sân cờ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù lúc tám giờ sáng. Trời Sài Gòn bổng dung trở lạnh vào ban mai. Tôi có dịp khoác thêm chiếc áo saut, thứ áo hoa dày cộm thời Pháp còn sót lại, ấm và người oai phong hẳn lên. Trung tá Y Sĩ Trưởng bận về Cục họp chỉ định tôi tạm thay ông vài hôm. Tôi nhận lệnh, lòng nở hoa. Thấy tôi hăm hở đi Phú Giáo, vài anh em đùa:
_ “Lấy điểm nhé…”!
Làm sao cắt nghĩa sự hăm hở của mình, như một dịp nếm thở lại mùi vị chiến trường sau hơn một năm giam chân chốn văn phòng yên ổn đến bưồn nản…? Chúng tôi rời thành phố. Gió buốt xuyên hai cánh cửa trống trát lạnh vào da mặt. Trực thăng là rất thấp, có lúc tưởng sắp chạm bờ đê. Tôi thấy những người làm ruộng ngừng tay cuốc, ngửng nhìn lên, đôi kẻ đưa tay vẫy. Người xạ thủ đại liên vẫn hướng đầu ruồi xuống những thoáng người phòng hờ mọi bất trắc. Lối bay thật thấp qua những vùng đồng trống có người là để tránh hỏa lực bắn sẽ từ dưới lên. Lâu lắm không ngồi trực thăng. Đọc báo những vụ trực thăng rớt, rớt trong thành phố, rớt ngoài vùng hành quân, tâm thần đâm nghe khớp. Tôi đã mất thói quen. Can đảm nhiều khi chỉ là thói quen.
Trực thăng bay dọc một đoạn sông Sài Gòn. Giòng nước đục loang loáng. Mặt sông rộng đến cô đơn. Tôi đọc trong lòng hai câu thơ:
“Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng…”
Trực thăng lên cao, âm thanh cánh quạt phầng phật đổi sang giọng rì rì… Thành phố ruộng đồng biến mất, phía dưới hiện ra màu xanh rừng rú. Cảnh rừng bất cứ ở đâu nhìn từ trên cao, nhìn dưới đất, với tôi tất cả đều quen thuộc. Hai phần ba thời gian tôi ở Tiểu Đoàn đều hành quân trong rừng. Chiến đấu trong rừng thật lẻ loi, lẻ loi cả với chiến thắng bên mình. Trực thăng nghiêng trái đổi hướng bay. Nhìn xuống tôi chú ý hằng ngàn hố bom lớn, nhỏ trắng phếu, đáy đọng nước xanh, biến vùng rừng thành một tổ ong lớn. Chắc là vùng tự do oanh kích, nơi những phi cơ chiến đấu trút bỏ số bom còn lại trước khi trở về căn cứ. Tôi nhìn xuống mãi, cảnh vật trôi đều dưới chân. Nhìn đến chóng mặt. Có lúc toàn thân nghe nhẹ hẳn đi: một sức hút quái đản nào ngoài không gian muốn bức kéo tôi ra. Có lúc thấy mình thực sự muốn đứng dậy bước vào không gian. Tôi thoát khỏi sức hút bằng một cố gắng ngoảnh mặt vào trong. Trực thăng đáp xuống một căn cứ Mỹ. Tôi đọc chữ Medevac kẻ ở một vách nhà tiền chế. Tôi hỏi người Trung Sĩ Mỹ ngồi cạnh:
_Đây là đâu?
Anh đáp:
_Tây Ninh
Tất cả quân nhân Mỹ rời trực thăng vào câu lạc bộ uống nước. Nửa giờ nữa mới bay. Một mình tôi ngồi lại. Phi đạo trước mặt ồn ào phi cơ lên xuống. Chiến trường Tây Ninh sôi động từ một năm qua. Tôi không tham dự hành quân ở mặt trận này. Nghe kể lại rất nhiều pha gây cấn, đẫm máu, nhưng tôi không thể viết gì cho Tây Ninh. Giàu tình cảm nhưng tôi nghèo tưởng tượng. Muốn nói, muốn viết tôi phải sống. Sống bảo đảm giòng chữ, lời nói không bị phá giá. Hơn một người hỏi tôi về sự thật những điều tôi viết. Tôi trả lời thật bảy mươi phần trăm. Ba mươi phần trăm kia cũng là sự thật nhưng bị đánh mất vì tôi không đủ mắt để nhìn, không đủ tâm hồn để xúc cảm, không đủ lời để diễn tả lại…
Người Trung Sĩ Mỹ mang ra mời tôi một lon Coke. Tôi hơi ngạc nhiên cử chỉ quá lễ phép, một tiếng Sir hai tiếng Sir của anh ta. Trong câu chuyện tôi vỡ lẽ anh đã nhiều lần tiếp xúc với Quân Y Dù. Anh biết Bác Sĩ Nghị mang kính ở Đại Đội 2 Quân Y, biết Bác Sĩ Tường Đại Đội 1 Quân Y vừa bị lật xe, Bác Sĩ Nhiếp có thân hình lực sĩ và nói tiếng Anh rất giỏi. Tôi đâm ra vui tính:
_Trung Sĩ biết Bác Sĩ Nhiếp có biệt danh gì không?
Người Trung Sĩ lắc đầu.
_ “Nhiếp càng cua”
Rồi tôi khuỳnh hai cánh tay bắt chước điệu bộ cấm cái của Nhiếp. Viên Trung Sĩ thích thú:
_Tôi sẽ gọi Bác Sĩ Nhiếp bằng biệt hiệu đó. Chắc ông ngạc nhiên lắm…
_Trung Sĩ đi Phước Vĩnh?
_Dạ không tôi đi Sông Bé.
Tôi định hỏi Sông Bé có phải Phước Long nhưng cảm thấy ngượng nên thôi: Ai lại đi tìm hiểu quê hương mình qua một người ngoại quốc. Tôi hỏi chệch:
_Căn cứ Mỹ ở Phước Long tên gì?
_Buttons. Lát nữa trực thăng sẽ đáp xuống đấy. Đại Úy sẽ thấy toàn bụi đỏ.
Chúng tôi quanh quẩn tìm hiểu nhau: Đại Úy phục vụ trong quân ngũ bao lâu. Đại Úy giữ chức vụ gì trong Tiểu Đoàn Quân Y, Đại Úy có gia đình chưa. Trung Sĩ sang Việt Nam được bao lâu, còn phải ở bao lâu, bên Hoa Kỳ Trung Sĩ ở tiểu bang nào. Những câu hỏi, câu trả lời lơ lửng như những cụm mây trắng lửng lơ trên nền trời trong.
Nắng lên cao nóng chiếu thân tàu. Cuốn Sélection trong tay đọc mãi không hết một câu chuyện.
_Đại Úy đọc được tiếng Pháp?
Tôi gật đầu để trả lời người Trung Sĩ rồi nói thật bâng quơ:
_Tiếng Pháp bây giờ chỉ dùng để đọc sách. Ngày trước nhiều người Việt Nam nói tiếng Pháp, cũng như bây giờ nhiều người Việt Nam nói tiếng Anh.
Tôi nghe có chút gì chua xót trong giọng nói của mình. Người Việt Nam nhược tiểu này chẳng lẽ suốt lịch sử phải nói hết tiếng nước này đến tiếng nước khác để mưu sinh sao? Tôi nghe tự ái dân tộc bị tổn thương. Giá bây giờ tôi có một cuốn sách ước: Toàn dân thế giới phải nói, phải viết, phải đọc tiếng Việt Nam. Cho hả, cho bõ thế kỷ dài làm tôi tiếng người. Với ba điều ước trên tôi thấy mình yêu nước một cách độc ác!
Trực thăng rời Tây Ninh lúc mười giờ. Chúng tôi bay qua vùng rừng dày. Nắng trên cao trong và lạnh, phía dưới vài lô đất loáng thoáng màu đỏ. Tôi ngồi co chân, dấu đầu giữa hai cánh tay khaoinh đầu gối tìm chút thiu thiu. Bao nhiêu phút trôi qua. Hai lổ tai bỗng nhưng nhức, tôi tỉnh cơn chập chờn, nhìn ra cửa. Trực thăng đang vòng thấp xuống, lướt trên những hàng cây cao su gầy xương. Tôi thấy hiện ra một hồ tắm tuyệt đẹp, nước xanh trong nhìn rõ cả đáy hồ lót men trắng. Tôi chưa kịp hỏi, người Trung Sĩ Mỹ đã nói:
_Đồn điền Quản Lợi của người Pháp.
Tôi chỉ cái hồ tắm nói:
_Hồ đẹp lắm nhưng hơi phí!
_Tại sao Đại Úy?
_Thiếu người đẹp.
Viên Trung Sĩ cười cười lập lại lời tôi:
_Thiếu người đẹp.
Trực thăng ghé căn cứ Quảng Lợi chừng năm phút. Hai quân nhân Mỹ xuống ở đây. Căn cứ tọa trên mấy ngọn đồi chóp được san bằng. Trực thăng lúc bay lên phải vượt qua các đọt cây thật nguy hiểm. Chúng tôi đến Buttons sau hai mươi phút bay. Bụi đỏ phủ lên mọi vật. Tôi đảo mắt tìm không thấy bóng một người lính Dù. Lính đồn trú giống nhau ở chổ quần áo, mặt mũi đều lem luốc. Sống lâu năm ở đây chắc có ngày phổi ngừng hô hấp vì đóng bụi. Viên Trung Sĩ Mỹ chào tôi rồi hảy cái ba lô to tướng lên vai, thình thịch bước đi.
Từ Sông Bé về Phước Vĩnh mất thêm nửa giờ bay. Mùi ét xăng, tiếng động cơ, thời gian bay khá lâu bắt đầu làm tôi ngây ngây. Tôi vừa ghé vài căn cứ nằm sát biên giới Miên Việt, nơi đang có những dọ dẫm trắc nghiệm kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh của đôi bên”. Mặc dù đêm qua địch vừa pháo kích Phước Vĩnh, mặc dù tình hình chiến sự Phước Long nóng bỏng mặt báo, tôi vẫn ngạc nhiên trước sự bình thản của mình với chuyến đi. Tôi không cho việc lên ở cạnh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù là hành quân thật sự. Tôi sẽ xem bảy ngày trước mặt như thời gian đi đổi gió, tĩnh tâm. Căn cứ Phước Vĩnh nằm rộng trên khu đất cao. Hai bãi trực thăng, một phi trường rộn rịp C130, Caribou lên xuống. Giang sơn Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn Quân Y hành quân gồm một nhà tiền chế, hai lều, một hầm trú ẩn. Điện nước đầy đủ. Chỉ còn thiếu pháo kích. Pháo kích trong ý nghĩ tôi là một cuộc xổ số…xui! Cái xui là điều không tránh được. Định mệnh. Đã chấp nhận định mệnh thì không còn gì phải lo. Cho nên khi nhìn chiếc trực thăng trúng hỏa tiển chỉ còn là một đống sắt cháy đen tôi nghĩ khôi hài: “Nó vừa trúng số độc đắc”.
Buổi cơm trưa nặng phần tường thuật của Trung Úy Minh, một Sĩ Quan hành chánh Quân Y về cuộc pháo kích đêm qua. Mười một giờ đêm từ hướng Đông địch phóng mười hỏa tiễn 122 vào căn cứ. Yên tĩnh chừng năm phút rồi thình lình từng loạt 81 ly ở phía bắc câu trúng bãi trực thăng tản thương cùng rơi dọc phi đạo. Tiếng xuất phát nghe rõ mồn một. Quả nổ ngắn, quả nổ dài. Hầm trú ẩn của Quân Y nằm giữa hai tầm ngắn dài ấy. Cách hầm không tới năm mươi thước, một thùng conex đựng dụng cụ sữa chữa quân xa bị trúng đạn bốc cháy dữ dội. Địch rót hơn bốn mươi quả 81 ly. Không yểm của căn cứ không hoạt động được hơn suốt nửa giờ đầu. Đến khi trực thăng võ trang từ Tây Ninh xuống xạ kích các vùng khả nghi, cơn pháo mới dứt. Một trực thăng tản thương bị tiêu hủy, hai chiếc hư hại nhẹ. Không có thiệt hại nhân mạng. Đây là trận pháo lớn nhất kể từ khi Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù lên đóng ở Phước Vĩnh. Tôi chú ý đến chiến thuật dương đông kích tây trong lối pháo gần đây của địch. Chúng luôn luôn mở đầu bằng một loạt hỏa tiễn cốt gây chú ý để đánh lạc hướng. Đợt pháo thứ nhì bằng bích kích pháo 81 ly mới là phần chính. Đặt đối diện hoặc chéo với hướng hỏa tiễn, ở khoản cách không quá hai cây số, trận pháo 81 ly sẽ bất ngờ và khá chính xác. Trung Úy Minh nói:
_Ở dưới hầm, đều làm nhức tim không phải những tiếng nổ inh tai, mà là sự hồi hộp chờ đợi những quả đạn đang réo bổ xuống đầu… Tuy tin tưởng hầm của mình dư sức chịu 81 ly, song vẫn hồi hộp làm sao ấy..”
Cái “vẫn hồi hộp làm sao ấy” rất có lý do vì nếu tới số đạn sẽ lọt ngay miệng hầm.
Lâu lắm tôi mới có dịp ngồi nghe ông Trung Tá Y Sĩ Trưởng tâm sự: Ông sắp rời Tiểu Đoàn Quân Y Dù, nơi ông đã hơn mười hai năm phục vụ và xây dựng. Mười hai năm quả là một thời gian dài, đủ dài để đơn vị chịu ảnh hưởng sâu xa cá tính ông, đủ dài để làm ông quyến luyến đến đau xót khi rời đơn vị. Biểu tượng của truyền thống, lễ nghi. Ông là người của giày đánh bóng, đầu hớt cao, của mũ đội đầu khi lái xe, mũ cầm tay khi vào nhà, của tay không đút túi quần khi nói chuyện với đàn bà, của những tiếp đón long trọng, những bữa tiệc chổ ngồi đúng với chức vụ, đĩa chén phải hợp với món ăn, món ăn phải hợp với người ăn. Ông có đi rồi nhưng tôi chắc tường vách bệnh viện còn đầy tiếng nói ông, tiếng nói vang từ đầu đến cuối hành lang, hét mắng từng viên đá hoa lau chưa sạch, từng cọng rác còn sót trên nền. Một trong những hãnh diện lớn của ông là bệnh viện Đỗ Vinh có những phòng vệ sinh rất vệ sinh. Ông thường nói:
_Vào nhà ai chỉ cần nhìn cầu tiêu của họ là biết người ấy như thế nào
Bệnh viện Đỗ vinh còn một đặc điểm khác: phòng mổ, phòng điều trị, phòng nhận bệnh đều rộng rãi đẹp đẽ trừ phòng y sĩ trực vửa nhỏ, vừa xấu. Một chủ ý của ông Đơn Vị Trưởng. Một Đơn Vị Trưởng tốt theo tôi là người không coi đơn vị như một công cụ, một phương tiện, trái lại là người yêu đơn vị như yêu tình nhân. Trong câu chuyện tôi vừa lạ lùng vừa cảm động, thấy ông lo lắng quá mức cho một tương lai một đơn vị ông sắp rời bỏ…
Sau bữa cơm chiều chúng tôi sang chơi Câu lạc bộ của Tiểu Đoàn 15 Quân Y Không Kỵ. Họ tiếp chúng tôi lịch sự. Tôi có tính hay cô đơn giữa những người ngọai quốc. Khung cảnh khá ấm cúng: một sòng Poker, một đài truyền hình và một cô gái ở quầy rượu. Người Mỹ không thể sống thiếu tiện nghi, cũng như không thể chiến đấu cách nào khác hơn lề lối hiện tại: kềnh càng, phung phí nhưng hữu hiệu. Tôi muốn có một quan điểm về kế hoạch thay quân. Viêt Nam hóa chiến tranh không thể thu gọn trong việc Mỹ hóa quân đội Việt Nam để tiếp thu những căn cứ Hoa Kỳ. Người lính Việt Nam dù được Mỹ hóa đến đâu cũng không thể trở thành một người lính Mỹ. Ta sẽ sa lầy nếu học đòi chiến đấu kiểu người nước bạn khổng lồ. Việt Nam hóa chiến tranh phải bao hàm ý nghĩa nắm phần lãnh đạo sách lược, một sách lược thích hợp với thế giữ dân hơn giữ đất, hợp với một quân đội biết lấy chính trị làm sức mạnh.
Có tiếng ồn áo phía bàn Poker: các Sĩ Quan đánh cá nhau về giờ địch pháo kích đêm nay. Giá đánh cá là hai mươi cents. Ai chọn giờ gần giờ địch pháo nhất sẽ được tất cả số tiền. Đêm qua địch pháo đúng mười một giờ. Thiếu Tá Vargas chọn mười hai giờ khuya. Đại Úy Jacob chọn mười một giờ, vài sĩ quan khác chọn giữa mười một và mười hai, cách nhau mười lăm phút. Trung Úy Autrey chọn sáu giờ sáng. Riêng ông Thiếu Tá già Edwards đánh cá đêm nay địch không pháo. Ông lý luận:
_Như thế tôi có năm mươi phần trăm được năm mươi phần trăm thua.
Bổng có tiếng hỏi:
_Lỡ người trúng cá bị pháo kích chết thì sao?
_Người thứ nhì gần giờ pháo ăn cá.
Người Mỹ không thiếu óc khôi hài đen. Địch lại pháo sáu hỏa tiễn 122 ly đúng mười một giờ đêm. Lọa nồ nghe khá xa, phía tây căn cứ. Tôi vừa chợp mắt. Tỉnh dậy cũng chỉ để nằm nghe ngóng. Hầm là cuối đường che chở rồi còn gì?
Ông Trung tá về cục họp. Tôi sống ba ngày yên tĩnh, ăn ngũ, bói bài. Có chiều leo lên nóc hầm nhìn quanh căn cứ. Cảnh sinh hoạt của binh sĩ Mỹ cho tôi cảm tưởng binh sĩ Mỹ đồn trú có nhiều lợi điểm hơn binh sĩ Việt Nam. Đối với quân nhân Mỹ đóng ở Phước Vĩnh hay đóng ở Đà Nẳng, Cam Ranh cũng không khác gì nhau, đâu cũng không phải là nước Mỹ. Vần đề trễ phép “nhảy dù” thăm gia đình không đặt ra. Thời gian phục vụ một năm cũng là yếu tố giúp tinh thần chịu đựng. Người Mỹ không cần chợ búa, không giao dịch nhiều, không bị lẫn lộn với người Việt nên nội tuyến rất khó khăn. Tất cả những ưu điểm trên sẽ trở nên những khó khăn nguy hiểm cho binh sĩ Việt Nam khi tiếp thu các căn cứ Mỹ.
Ông Trung Tá trở lên Phước Vĩnh. Tôi xin phép lên thăm Đại Đội I Quân Y. Chiếc Caribou hạ cánh xuống phi trường Buttons sau mười lăm phút bay. Đi từ sân bay vào lều quần áo đã lấm bụi. Căn cứ Buttons nằm giữa Tiểu Khu Phước Long phía trước, Tiểu Khu Phước Bình phía sau. Mặt phải Buttons có một “C” Lực Lượng Đặc Biệt, Buttons là căn cứ hậu cần của bốn tiền đồn biện giới: Tim, Judy, Joan và Jan. Tiền đồn Jan nhìn sang núi Bà Rá. Ba Tiểu Đoàn Dù đang hoạt động quanh các tiền đồn trên. Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn I đóng ở Buttons. Đại Đội 1 Quân Y Dù đóng chung với Đại Đội B Quân Y Không Kỵ. Chúng tôi làm việc chung, ăn chung. Thức ăn Quân Y Mỹ đài thọ. Lịch sự và cảm tình là điểm mà hai bên triệt để giữ gìn. Nhiếp cho biết kỹ thuật “First Aid” của Mỹ không hơn gì Nhảy Dù. Nhân viên Y Tá Dù làm việc thông thạo và bình tĩnh. Chúng tôi muốn chứng tỏ khả năng. Ngựa có bạn cùng đua, nước đua mới mạnh.
Tôi theo Đồng rảo quanh căn cứ. Đồng mới về Dù, hành quân lần đầu cấp Đại Đội. Anh là một trong những lãnh tụ nổi tiếng của giới sinh viên. Xách động đầy tay, chính trị đầy túi. Nhóm “Tình Thương” lần lượt ra trường đều chọn binh chủng thứ dữ: Phạm Đình Vy Thủy Quân Lục Chiến, Ngô Thế Vinh Lực Lượng Đặc Biệt, Trần Đoàn, Đường- Thiện- Đồng và tôi, Nhảy Dù.
Chúng tôi gặp một chàng lính Mỹ, lưng trần, đang hì hục đào hầm để đổ rác. Đồng khều tay tôi:
_Lại nói chuyện với tay này vui lắm.
Người lính Mỹ ngừng tay đào, gật đầu chào chúng tôi. Gã cở hai mươi tuổi, người cao gầy, có cái nhìn soi bói. Đồng cười hỏi:
_Thế nào, vẫn không bằng lòng công việc?
Gã ném mạnh cán cuốc, vuốt mé tóc đáp:
_Chưa bao giờ tôi không bằng lòng công việc như bây giờ. Tôi là một tên nô lệ mới.
_Anh nghĩ thế nào mà cho mình là một tên nô lệ mới?
_Nô lệ là khi nào mình bắt buộc làm một công việc mà mình không thích.
_Anh quan niệm như vậy không đúng. Người nô lệ làm việc không được trả công, còn anh làm việc được trả lương kia mà.
Gả làm thinh một lát rồi tiếp tục nói giọng bực tức:
_Tôi không hiểu sao tôi phải ở một nơi xa xôi như thế này, phải tham dự một cuộc chiến tranh không liên can gì tới đất nước tôi hết.
Đồng hỏi:
_Anh có thích cộng sản không?
_Tôi không ưa tụi nó.
_Đó là điều thiết yếu để cắt nghĩa sự có mặt của anh ở Việt Nam. Người Mỹ chiến đấu chống cộng sản ở nơi khác để một ngày khỏi phải chiến đấu chống cộng sản ngay trên đất mình. Còn anh bảo xa xôi, tơi thấy với phương tiện không vận bây giờ, anh đi từ Mỹ sang Việt Nam cũng không lâu hơn anh đi tàu điện từ một tiểu bang cực đông sang một tiểu bang cực tây của nước anh.
Người lính Mỹ cúi đầu suy nghĩ, Đồng nói tiếp:
_Anh lãnh lương tháng bao nhiêu?
_Hai trăm năm mươi đô la.
_Lương binh nhì của anh hơn cả lương y sĩ của chúng tôi. Mà anh thấy không chúng tôi vẫn làm việc vui vẽ. Hôm qua anh đã thấy bác sĩ Nhiếp cởi trần vác bao cát rồi chứ, thi việc anh đào hầm đổ rác có gì khổ cực.
Lần này anh chàng trả lời:
_Bác Sĩ nói đúng.
Bỗng có tiếng gọi vọng từ nhà tiền chế: _Mau lên, còn vào giúp tôi lo bữa ăn chiều.
Tôi thấy một anh da đen bụng phệ ló ra ở cửa.
Đồng nói với tôi:
_Tay Mỹ trắng này phụ tá cho tay hỏa đầu vụ da đen kia. Anhc hàng trắng có vẽ hận lắm.
Đồng quay sang hỏi gã:
_Anh ở tiểu bang nào?
_Alabama
Đồng nói với tôi:
_Alabama là tiểu bang kỳ thị chủng tộc mạnh nhất Hoa Kỳ. Dân trắng ở đó hành dân đen lắm. Anh da đen ở đây chắc có dịp bằng vàng để trả thù!
Người lính Mỹ nhắc cán cuốc, bổ những nhát mạnh xuống lớp đất mềm. Cứ mỗi nhát cuốc anh hằn học gọi tên một nhà lãnh đạo Hoa Kỳ: Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Bộ Trưởng Quốc Phòng…Chưa bao giờ tôi thấy nền dân chủ Hoa Kỳ đáng yêu như thế!
Địch pháo dữ dội lúc bốn giờ sáng. Chúng tôi ở dưới hầm định loại tiếng nổ 107 và 81 ly. 107 như 122 không nghe tiếng xuất phát nhưng nổ nhỏ hơn. Địch rót dài dài hơn năm mươi trái đến bảy giờ sáng. Và trọn ngày cứ cách một hai giờ, hai ba trái 107 rơi xuống Buttons. Hoạt động của trực thăng võ trang không làm câm họng súng địch. Tôi sống một ngày giao động, lên xuống hầm không biết bao nhiêu lần. Tám giờ tối cơn pháo mới dứt. Tổng kết thiệt hại: Mỹ có ba tử thương, mười bị thương. Một trái 107 rơi trúng hầm của ông Lữ Đoàn Trưởng. May mắn lúc đó ông đang bay quan sát nên chỉ có năm binh sĩ bị thương. Một xe Hồng Thập Tự của Đại Đôi 1 Quân Y bị mảnh thủng ba lổ nhưng không hư máy. Tin tức cho biết thêm, cùng lúc địch cũng pháo mạnh vào Tiểu Khu Phước Long làm nổ một kho đạn, Tiểu Khu Phước Bình và Trại Lực Lượng Đặc Biệt. Không ngờ địch chọn ngày tôi thăm viếng làm ngày “làm ăn” lớn. Đó chẳng phải là ước muốn của tôi sao: Đêm không nghe pháo kích ngủ không ngon!
Tôi rời Buttons sáng hôm sau. Tiễn tôi ra phi cơ Nhiếp dặn với:
_Khi nào ông Trung Tá đi bay anh nhớ xin đi theo, có dịp anh nhớ ghé trại Lực Lượng Đăc Biệt sẽ được dịp nhìn hình cô đào Ann Margret, chụp bằng Infra-Rouge thấy xuyên cả đồ lót.
Tôi trở về Sài Gòn, tiếc không có dịp đi bay ghé trại Lực Lượng Đăc Biệt để được nhìn Ann Margret lồ lộ…! Hai tuần sau Đồng về cho tôi hay Buttons tạm yên nạn pháo kích vì Mỹ vừ tiêu diệt trọn ổ hai mươi tiền sát viên địch ẩn trên núi Bà Rá.
Pháo kích, cuộc xổ số xui, cuộc xổ số duy nhất tôi ham thích mua vé nhưng lại sợ trúng từ lô nhỏ đến lô độc đắc!
vietmessenger.com / Typing & Post by Sơn râu 25 July 2023
Chiếc Jeep băng qua cầu Bình Lợi, rẽ trái hướng Lái Thiêu. Tôi nhìn đồng hồ: gần mười hai giờ trưa. Trời nắng lớn nhưng gió mát vì xe chạy nhanh. Đầu óc tôi rỗng không mãi tới khi nhìn thấy tấm bảng ghi: “RANH GIỚI TỈNH BÌNH DƯƠNG” bị cháy thủng một góc tôi mới biết mình lại sắp lao vào vùng lửa đạn. Tôi nhận lệnh tạm thay bác sĩ Tường ở Tiểu Đoàn 3 nghĩ phép vợ sanh. Vợ sanh thường được bốn ngày phép đặc biệt, nhưng tôi không tin Tường sẽ nghỉ bốn ngày. Tôi đoán thế nào anh cũng móc nối thêm mười ngày phép thường niên. Tờ sự vụ lệnh nằm trong túi áo trên của tôi cũng không ghi rõ ngày về và tôi đã nói chừng với gia đình tôi đi hành quân mười lăm ngày. Sự kiện tôi đi thay một ông bác sĩ ở Tiểu Đoàn gây thắc mắc. Tôi rời Tiểu Đoàn đã hơn hai năm. Tôi đang giữ chức Đại Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy và Yểm Trợ của Tiểu Đoàn Quân Y kiêm Y Sĩ Tê Mê bệnh viện Đỗ Vinh. Trên nguyên tắc, với chức vụ, vì nhu cầu tôi không phải không thể đi hành quân cấp Tiểu Đoàn nửa. Nhưng tôi đã tuân lệnh ra đi với nụ cười. Tôi yêu kỷ luật. Mẫu người tôi không ưa bàn cãi, mẫu người chỉ muốn ra lệnh, hoặc tuân lệnh. Đặt tôi vào chức vụ chỉ biết thừa hành là đặt không đúng chổ.
Ở Sài Gòn đọc báo tin địch pháo kích, hăm đánh Bình Dương, tôi tưởng chừng thành phố này đang bị vây hãm và dân chúng ngày đêm sống thấp thỏm. Nhưng khi xe qua khỏi Lái Thiêu, qua khỏi Búng, tôi thấy sự hồi hộp ban đầu của mình thật đáng cười. Con đường tráng nhựa đông đảo xe cộ chạy phăng phăng. Dọc hai bên đường những vườn măng cụt mọc um tùm lá xanh. Những kinh lạch chia ô, kẻ đường các mãnh vườn, thửa ruộng. Tôi nhìn thấy trong lớp bùn xám non loáng ánh mặt trời tất cả sự trù phú cởi mỡ của miền Nam. Biết đâu nguyên nhân chính của cuộc chiến tranh này chẳng là sự mầu mỡ kia?
Khi xe vọt lên một đoạn đường dốc, tôi nghe tiếng còi tin tin của chiếc G.M.C. hậu cứ Tiểu Đoàn 3 chạy đằng sau báo hiệu sắp đến nơi đóng quân. Đằng trước phía tay mặt một chiếc Jeep có huy hiệu Dù đậu sát một quán nước. Hai binh sĩ Dù đứng gác cạnh đó. Tôi nhảy xuống xe tiến về phía họ. Họ chào tôi.
_Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đóng ở đâu cậu?
_Thưa Đại Úy tận trong làng.
_Đưa tôi vào Bộ Chỉ Huy.
Tôi theo chân người binh sĩ leo lên một mô đất cao có đường xe lửa chạy dọc theo đổ xuống con đường đất loanh quanh vào làng.
_Thưa Đại Úy đổi về Tiểu Đoàn 3?
Tôi nghe có chút gì dè dặt trong câu hỏi của người binh sĩ. Bộ đồ tôi đang mặc thuộc loại “để hành quân” rách vá nhiều nơi và thiếu sót huy hiệu Quân Y. Có lẽ vì vậy người binh sĩ tưởng tôi sắp về nắm một Đại Đội nào đó nên dò hỏi. Tôi đoán ý nghĩ ấy và mỉm cười trả lời:
_ Tôi tạm thay bác sĩ Tường.
_Dạ vâng bác sĩ..
Tôi hỏi lại người binh sĩ:
_Cậu ở Tiểu Đoàn 3 bao lâu rồi?
_Thưa được gần một năm
_Bị thương mấy lần?
_Dạ mới một
_Ở đâu?
_Dạ, Dakto
Tôi biết cách hỏi làm người lính Dù hãnh diện nhất, không phải hỏi tuổi lính, cấp bậc hay huy chương, mà hỏi họ bị thương mấy lần và ở trận nào. Trên mỗi người lính Dù có một nửa bản đồ Việt Nam và ít nhiều kỷ niệm với quân thù.
Tôi rời Tiểu Đoàn 3 đã mười bảy tháng, một thời gian không dài nhưng với một đơn vị tác chiến lưu động như Tiểu Đoàn Dù tất lắm đổi thay: ông Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng nay đã lên trung Tá, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn II. Ông Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó trở thành Ủy Viên Điện Ảnh hội Văn Nghệ Sỹ Quân Đội. Ông Đại Úy Sỹ Quan Ban 3 nhà văn Thế Hoài tục gọi Châu “nháy” nay đã mang mai bạc và đang hành nghề Trinh Sát. Châu “nháy” và tôi có khá nhiều kỷ niệm văn nghệ thời đóng đồn ở chợ Đệm. Đồn nằm côi cút giữa một cánh đồng nước cạn, chung quanh có hồ bao bọc. Châu “nháy” cho dựng một cái chòi lợp bằng poncho và lá dừa. Anh đặt cho nó một cái tên rất kiếm hiệp: Nghênh Phong Quán. Ở đó chiều chiều chúng tôi ngồi nhậu “la de” với tiết canh vịt, thở gió đồng nội và nhìn cá lia thia móng dưới ao. Tối đến dưới ánh sáng yếu ớt ngọn đèn pin hai đứa chúng tôi ngồi viết văn làm thơ, công việc mà ông Tiểu Đoàn Trưởng trang trọng gọi là “góp phần xây dựng đơn vị”. Ông Thiếu Úy Hồng Vân phụ tá Sĩ Quan Ban Ba dạo nọ nay đã lên Đại Úy và trở thành Sĩ Quan Ban Ba thực thụ. Ông nhỏ người và có giọng nói sang sảng. Theo thầy số đó là dị tướng. Trong võ nghiệp những người dị tướng rất có tương lai lên làm tướng. Trong năm ông Đại Đội Trưởng, hai hiện là Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 7 và 8, một ông về ban hai Chiến Đoàn, một ông về ban Tâm Lý Chiến Sư Đoàn. Ông thứ năm tử trận: Đại Úy Nguyễn Đức Cần. Một ánh sao băng, vụt sáng rồi vụt tắt. Từ Thiếu Úy lên Đại Úy chỉ hơn một năm, hai lần bị thương Gio Linh và Dakto. Tôi còn nhớ sau khi xuất viện lần thứ hai, anh có ghé lại bệnh viện viện thăm tôi và nói sắp được đi Mỹ học khóa Tham Mưu. Mấy tuần sau nghe tin anh bị thương nặng ở Khe Sanh và chết trên đường di tản. bác Sĩ Nghêm Sỹ Tuấn người thế tôi ở Tiểu Đoàn 6 Dù, cũng hai lần bị thương, cũng sắp được thay thế, cũng tử trận ở Khe Sanh, một ngày trước Đại Úy Cần. cả hai người bạn tôi sao họ lại chết khi sắp tròn một chu kỳ bổn phận? Sao họ không chết khi trước mặt chưa có một dự tính gì? Có những thứ định mệnh thật khắt khe, oan ức.
Ba ngày sống ở đơn vị cũ tôi có nhận xét Tiểu Đoàn ba Dù vẫn tiềm tàng cái dáng mạnh nhưng thâm trầm. Binh sĩ vẫn tác phong gương mẫu. Nếu cần một chút so sánh tôi thấy tác phong giữa các sĩ quan bây giờ thân mật cởi mỡ đến độ bình đẳng khác với vẽ trang trọng gần như giữ kẻ của ngày nào. Ông Tiểu Đoàn Trưởng bây giờ già dặn nhưng hiền; ông Tiểu Đoàn Phó trẻ tuổi mà sâu sắc. Nhìn qua trạm Cứu Thương quân số Y Tá đông hơn trước. Vẫn người Y Tá Trưởng trẻ, tự tin với bộ mặt lúc nào cũng như sắp phản đối ai hoặc một điều gì. Tôi nghe khá nhiều giai đoạn về Bác Sĩ Tường: Anh giỏi xử dụng bản đồ, địa bàn, máy truyền tin, vũ khí ngang với tài khám bịnh, chích thuốc. Thời sinh viên anh có biệt danh Tường “vợ” vì anh lập gia đình rất sớm, cuối năm thứ nhất Y Khoa. Ra trường anh có năm con và bây giờ anh về nhận mặt đứa con thứ sáu. Cái hăng say hành quân quá mức của một Y Sĩ một vợ sáu con làm lắm kẻ khó hiểu. Đã là lính Nhảy Dù, chúng tôi ít nhiều, ở khía cạnh này hay khía cạnh khác, là những kẻ không bình thường. Hành động một buổi sáng mang dù lên máy bay, lao ra khoảng không chấp nhận những hậu quả không định trước, không thể là một hành động không bình thường của một kẻ bình thường, hoặc là một hành động bình thường của một kẻ không bình thường.
Tiểu Đoàn ba Dù tăng phái Sư Đoàn 5 Bộ Binh được một tuần khi tôi đáo nhậm hành quân. Tiểu Đoàn đang ở Phú Văn đặt dưới quyền điều động của Trung Đoàn 7 Bộ Binh. Tiểu Đoàn vừa thực hiên hai cuộc hành quân ngắn vào mật khu An Sơn và Bình Nhâm, bắn hạ ba du kích, tịch thu hai AK một B40 mà không bị một thiệt hại nào. Ở Phú Văn Tiểu Đoàn ban ngày đóng rải rác trong làng, đến chiều di chuyển lên ngọn đồi đất cách làng chừng năm trăm thước. Trên đó chúng tôi nhìn bao quát vùng Phú Lợi, Hòa Lợi nơi tình báo cho biết Trung Đoàn Đồng Nai của địch gồm các Tiểu Đoàn K1, K2, K3, đang tìm cách phân tán mỏng xâm nhập thủ đô. Chính các Trung Đoàn này đã tham dự các trận đánh cầu Bình Lợi, ngã tư Bình Hòa trong đợt tổng công kích lần thứ hai. Đây là lần thứ nhất tôi đi hành quân ở vùng III chiến thuật. Một lần đi thay bác sĩ Tuấn bị thương ở Cao Lãnh thuộc vùng IV. Hành quân vùng III vùng IV theo nhận xét của tôi có ba sướng một khổ. Ba sướng là phương tiện vận chuyển, yểm trợ dồi dào, thời gian “lội” tương đối ngắn, được đóng quân gần tỉnh sau mỗi lần hành quân, một khổ là mìn muổi hơi nhiều, nhất là vùng Bến cát, Cai Lậy.
Pháo kích thì đã thành cái khổ chung, vùng Chiến Thuật nào cũng có, quen như cơm bữa rồi. Đêm thứ hai ở Phú Văn vào khoảng chín giờ tối, tôi ngồi ngoài hiên chùa bỏ trống, nghe địch pháo cối 82 ly vào căn cứ Thiết Giáp nằm đối diện với Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 7 Bộ Binh. Hỏa châu chiếu sáng cả một vùng. Địch nả chừng ba mươi quả. Cuộc pháo kích chỉ gây cho đơn vị bạn một chết hai bị thương, nhưng những trái sáng rơi đã thiêu rụi mấy căn nhà.
Buổi sáng Tiểu Đoàn lại lục tục kéo xuống làng. Tôi sống cảnh sáng kéo quân xuống tối kéo quân lên được bốn hôm thì cuộc hành quân Toàn Thắng 226 khai diễn. Mục tiêu: Một vùng rừng lá phía tây Hòa Lợi. Thời gian: hai ngày. Lực lượng chia làm hai cánh: Cánh A gồm Chi Đoàn Chiến Xa và Đại Đội 33 tăng phái từ mũi Bắc tiến lên; cánh B gồm Chi Đoàn Thiết Quân Vận và Tiểu Đoàn 3 Dù trừ ở mặt Nam đánh xuống. Đoàn công voa chuyển bánh lúc năm giờ sáng. Chúng tôi băng qua một khu phố còn im lìm trong sương. Ánh đèn xe hắt vào một dãy nhà lợp tôn mang toàn bảng hiệu Snack Bar. Không hiểu sao tôi có ác cảm với loại quán này. Có lẽ tại nó biến phố thị miền Nam thành cái nào cũng giống cái nào. Như một dị ảnh gây biến ứng tâm hồn, một thứ gà đông lạnh ăn vào làm phong ngứa da thịt quê hương…
Ra khỏi Bình Dương đoàn xe lọt vào một khoảng trống, cây cỏ càng xa đường càng rậm. Trời đã sáng hẳn, quốc lộ 13 đằm nhưng bụi. Chạy thêm chừng ba cây số đường thì đổ quân. Băng qua đồng ruộng, leo lên bờ đất cao, hiện ra vùng mục tiêu: một khu rừng lá thưa. Địa thế rất bằng phẳng. Tôi nghĩ đụng trận ở đây chỉ có cách duy nhất để thanh toán chiến trường là xung phong ào ạt vào mục tiêu. Lối đánh này thích hợp với Nhảy Dù. Chúng tôi có Thiết Kỵ, có pháo binh và phi cơ yểm trợ. Tôi tin tưởng vào ưu thế của lực lượng mình và lòng đầy phấn khởi.
Chín giờ lệnh xuất phát. Đàn “cua” tiến theo đội hình hàng ngang trông thật hùng dũng y hệt cảnh chiến xa Đức rầm rộ băng qua một cánh đồng cỏ trong phim “La bataille des Ardennes”. Trong một thoáng tôi có ao ước lát nửa sẽ gặp một đoàn xe bọc sắt của địch để tôi được vinh dự tham gia trận đánh cơ giới đầu tiên trên chiến trường miền Nam. Chiến tranh tàn phá, chết chóc thật nhưng ở một góc cạnh nào đó cu4ngh có điều làm say mê, vì nếu không một số người sao chiến tranh có thể kéo dài hai mươi năm mà chưa dứt?
Đoàn “cua” vượt từng chặng đường, thay đổi đội hình theo địa thế. Tiểu Đoàn 3 Dù trừ chia ra làm hai cánh: Cánh B1gồm Đại Đội 34 và Đại Đội Chỉ Huy do ông Tiểu Đoàn Trưởng cầm ngồi cả trên Thiết Vận Xa; Cánh B2 gồm hai Đại Đội 31 và 33 do ộng Tiểu Đoàn Phó chỉ huy di chuyển bộ có bốn Thiết Vận Xa yểm trợ. Tôi cũng phải chia Trạm Cứu Thương ra làm hai: Y Tá Trưởng cùng bốn Y Tá đi bên cạnh ông Phó, phần còn lại ở với tôi. Ngồi trên Thiết Vận xa tỳ tay vào khẩu đại liên đã lắp đạn, tôi quan sát vùng mục tiêu. Mặt trời đã lên cao, nắng bắt đầu chói sau gáy. Cánh B2 lục soát mục tiêu I không thấy gì. Càng vào sâu vùng hành quân tôi càng ngạc nhiên vì vùng đất đã bị càn quét nhiều lần: cây cối cháy đổ, hố bom, lon đồ hộp. Tôi hỏi ông Thiếu Úy Thiết Giáp chỉ huy con “cua” tôi đang ngồi về tình hình địch ở đây. Ông đáp:
_Tôi hành quân vùng này lần thứ tư. Ba lần trước đi với Bộ Binh, Thám Báo, đổ quân tiến chừng năm thước là có địch. Sao hôm nay vào sâu cỡ này vẫn chưa thấy gì?
Tôi không khinh địch để cho rằng họ sợ Nhảy Dù nên né tránh. Tôi nghĩ địch không muốn chọn nơi đây làm chiến trường. Chiến trường của họ bây giờ phải là nơi dù thua dù thắng cũng tạo giúp họ một lợi thế chính trị ở bàn hội nghị. Tôi suy luận: Phương cách hữu hiệu nhất để chận đứng mưu toan nguy hiểm ấy là tạo nên thật nhiều tao ngộ chiến để kết quả dù thua dù thắng được thuần túy quân sự.
Mặt trời làm rát bỏng hai cánh tay trần, bụi đỏ bám đầy quần áo, bàn tọa và lưng bắt đầu ê cứng vì thế ngồi. Vòng lên mục tiêu 2, một ngôi làng nhỏ lơ thơ vài mái tranh. Vẫn lục soát không có gì. Dừng quân ăn cơm trưa. Tôi có dịp thưởng thức lại món cơm sấy cá hộp. Ngụm nước trà nguội và một giấc ngủ lơ mơ ngắn. Hai giờ chiều di chuyển. Thiết Vận Xa tiến hàng dọc men theo con đường đất. Cánh quân B2 lục soát mấy nhóm làng nằm lẻ loi giữa những thửa ruộng khô. Địa thế làm tôi nhớ những làng mạc ở vùng I: Phú Thứ, Phong Điền, Hải Lăng, Gio Linh… Ở vùng I Tiểu Đoàn 3 đã ghi hai chiến thắng lớn với lối đánh dàn hàng ngang băng đồng xông thẳng vào phòng tuyến địch. Tôi rời Tiểu Đoàn mưới ngày trước đó nên không dự phần nào chiến thắng. Mục tiêu 3 là điểm hẹn với cánh quân A. Họ đến trước chúng tôi không lâu. Những khối sắt cố dấu mình sau những lùm cây, thò những nòng súng dài đen ngòm hướng về bờ làng có những đọt dừa cao vươn lên. Cánh A và cánh B2 vượt đồng trống tiền vào hai mé làng, cánh B1 trừ bị. Nếu mục tiêu này không gặp địch, phần còn lại tôi chắc chắn không còn gì gây cấn. Ba giờ chiều, chiếc thiết vận xa tôi ngồi tấp cạnh một ngôi nhà tranh nằm sát đường. Trong nhà toàn đàn bà. Vào vùng chịu ảnh hưởng địch, nhìn nhà nào cũng thấy toàn đàn bà, trong lòng tự nhiên sinh ra mối nghi ngờ đầy ác cảm. Nhà nào cũng đào hầm hình chữ U trệt đáy ăn thông từ chính giữa nhà ra ngoài sân. Dân chúng có lý khi họ giải thích loại hầm đó giúp người trong nhà có thể thoát ra ngoài khi nhà bị sụp cháy. Những đàn gà đi lang thang trêu tức các bao tử ngấy đồ hộp. Thế nhưng hỏi mua, dân làng tìm cớ thoái thác không chịu bán, người này bảo gà của người khác. Họ từ chối vì ghét chúng tôi hay sợ kẻ địch? Tôi nghiêng về lý do sau: Thương người tốt xa không bằng sợ kẻ thù gần. Từ chối Quốc Gia ít nguy hiểm hơn từ chối Cộng Sản. Tôi nhìn đàn gà lúc cúc kiếm ăn, mơ một ngày về quê hỏi mua gà bị từ chối, không phải vì ghét cũng không phải vì sợ, mà vì hờn mát sao chổ tình quân dân còn nói chuyện bán mua..
Mấy loạt M.16 ròn rã tiếp theo hai tiếng nổ lớn như tiếng lựu đạn. Không nghe súng địch bắn trả. Tiếng báo cáo vang trong máy: bắt sống hai du kích, một nữ cán bộ, tịch thu hai AK, một K54, giữ mười lăm tình nghi. Con mồi quá gầy so với cuộc săn! Chúng tôi đóng đêm trong một vườn cao su. Không một tiếng súng. Sáng hôm sau di chuyển vòng trở ra. Hai giờ chiều mới nhìn thấy quốc lộ 13. Tôi nhảy xuống đất, vặn mình nghe các khớp xương kêu răn rắc. Gặp ông Tiểu Đoàn Phó tôi than:
_Sợ ngồi tàu bò quá rồi; chỉ muốn nhảy xuống đất đi bộ.
Ông Phó mồ hôi nhễ nhại cười đáp:
_Tôi lội bộ bã người, chỉ muốn nhảy lên tàu bò ngồi cho đỡ mỏi chân.
Thì ra lắm khi nổi khổ của mình lại là điều ước muốn của kẻ khác. Lên xe về lại Phú Văn. Còn hai ngày nửa lễ Giáng Sinh Mậu Thân. Chúng tôi chưa có chương trình ăn nhậu gì vì chưa biết có được đóng yên ở Phú Văn ngày hai mươi bốn, hai mươi lăm không. Chiều hai mươi ba chúng tôi nhận lệnh sáng hai mươi bốn vào lại mật khu An Sơn nằm trong đó giữ an ninh vòng ngoài bảo vệ cuộc thăm viếng trại định cư An Sơn của Tổng Thống lúc mười ba giờ. Chúng tôi được lệnh phải ngưng tiếng súng trước mươi hai giờ ba mươi. Như thế có nghĩa, nếu gặp địch phải thanh toán chúng xong trước giờ ấn định. Chúng tôi nhận cuộc lội với lời bình phẩm vui vẽ: “Xài Nhảy Dù như vậy là có hậu”. Vì xong nhiệm vụ chúng tôi được ăn lễ Giáng Sinh ở Phú Văn. Chúng tôi, một mặt chuẩn bị hành quân, một mặt chuẩn bị hậu cứ lo thức ăn.
Đêm hai mươi ba trên đồi Phú Văn nghe lành lạnh hơn những đêm trước. Không hiểu vì thời tiết thay đổi hay cái lạnh từ trong ý tưởng Giáng Sinh là phải rét. BÌNH AN CHO NGƯỜI LÀNH DƯỚI THẾ. Tôi muốn đổi câu hát của thiên thần ngày xưa thành lời nguyện của người dân Việt hôm nay. BÌNH AN CHO VIỆT NAM HAI MƯƠI NĂM CHIẾN TRANH ĐAU KHỔ. Tôi nghĩ đến cuộc hành quân sáng mai. Không thể đón Chúa Giáng Sinh bằng máu. Tôi bổng có ý vị tha cầu nguyện cho cả bạn lẫn thù được bình yên đón Chúa Giáng Sinh.
Chúng tôi lên xe lúc năm giờ sáng. Nửa giờ sau đổ quân. Bố trí xong nằm chờ sáng. Bảy giờ xuất phát. Vào An Sơn bằng con đường mòn chắc chắn sẽ lãnh loạt đạn đầu tiên của địch. Cánh quân B của ông Phó men được nửa phần đường liền tạt qua một vườn măng cụt bọc trở lên. Cánh quân A của ông Trưởng tiến song song mặt trong. Tuy vậy toán khinh binh của toán B vừa men đến gần mục tiêu I đã bị địch khai hỏa trước. Hàng loạt A.K chóc chóc chen lẫn tiếng ầm ầm của B.40, M.16. M.60, M.79 cũng tức tốc đáp lời. Tôi theo dõi cuộc chạm súng qua máy, cuộc tiến quân khó khăn vì nước ngập đến ngực. Tôi lo lắng chờ nghe bá cáo tổn thất. Ngã một vài con thì cấp cứu, tản thương khá chật vật. Bùn nước còn làm các vết thương dễ nhiễm trùng. Tôi nhẹ người khi nghe hai tiếng “vô sự”. Trực thăng võ trang được gọi đến xạ kích. Hỏa lực cầm chừng của địch vẫn gây trở ngại mọi mưu toan tiến quân. Phải sau hai mươi lăm tràng 105, mới tiến chiếm được mục tiêu I. Đich bỏ lại một số đạn 60 ly, B40, mìn, thuốc nổ T.N.T. Nhưng không thấy dấu vết tổn thất nhân mạng. Ông Trưởng ra lệnh phải lục soát thật kỷ để tìm khẩu cối 60 ly. Có đạn tức phải có súng. Nhưng giữa đồng cỏ nước mênh mông, khẩu 60 như cây kim đáy biển. Sau khi để một toán kích ở lại mục tiêu I, cánh quân B được pháo binh dọn đường tiến chiếm mục tiêu II, tịch thâu thêm một số đạn dược, một máy in nội hóa, truyền đơn. Vòng đai ngoài dàn xong đúng mười hai giờ trưa. Ông Trưởng chỉ thị giữ yên các vị trí, chờ cuộc thăm viếng xong là rút. Ba giờ chiều chuẩn bị lui quân thì toán kích ở mục tiêu I bá cáo thấy có địch xuất hiện. Nhưng hai loạt M.16 vẫn không đốn ngã được tên nào. Cỏ mọc cao khó quan sát. Toán kích không dám để địch lại gần, nổ súng sớm nên không có kết quả.
Trở lại con đường mòn. Gặp tôi ông Phó vừa hắt hơi vừa nói:
_Bị cảm lạnh rồi bác sĩ ơi!
Tôi hỏi ông:
_Tôi nghe bắn nhau dữ thế sao không bên nào việc gì cả?
_Nhờ những hàng măng cụt ngăn lằn đạn và làm khó nhắm thẳng, hơn nửa chúng bắn để chạy nhưng không chính xác. Mà cũng vì mấy cây măng cụt nên mình không hạ được chúng.
Tôi vụt nhớ lời cầu nguyện đêm qua xin cho bạn lẫn thù bình yên đón Chúa Giáng Sinh. Tôi thấy những cây măng cụt biến thành những cây Giáng Sinh, những đầu đạn của cả hai bên biến thành những quả cầu óng ánh đính trên các cành cây…
Chúng tôi ăn lễ nửa đêm lúc chín giờ tối. Bàn ghế cóc cách, ly chén đủ cỡ, nhưng thức ăn từ hậu cứ tiếp tế lên khá thịnh soạn. Buổi ăn vui nhưng ngắn. Mười giờ tối chia tay. Tôi chui vào mùng, đầu gối tay, mắt mở lớn cố chống lại cơn buồn ngủ. Tôi muốn thức thật khuya đêm nay. Ngoài khung trời đêm từng chụm hỏa châu vật vờ xa tắp. Cơn gió lành lạnh khiến tôi nhớ những mùa Giáng Sinh ở Huế. Tôi đã sống bảy năm nội trú ở Trung Học Thiên Hữu. Không khí mừng Giáng Sinh thưở ấy thật náo nức. Chúng tôi chuẩn bị từ hai tháng trước. Ngót một trăm học sinh nội trú phân chia thành từng đội mười người làm lồng đèn, dựng sân khấu, tập kịch…Chiều ngày hai mươi bốn của bảy mùa Giáng Sinh cũ ghi trong tôi bao kỷ niệm thần tiên, mỗi lần hồi tưởng là mỗi lần bồi hồi cảm động. Vào lúc hoàng hôn, trong bầu không khí mưa phùn, rét cóng, chúng tôi leo lên sân thượng nhà trường lúc bấy giờ lung linh hằng trăm ánh đèn ngũ sắc, hình ú, hình sao. Ở trên đó chúng tôi đốt những cây pháo điện đặt vào chiếc ná cao su bắn tít lên cao: muôn ngàn tia tỏa sáng trong đêm. Tám giờ tối bắt đầu phần kịch nhạc. Chúng tôi tuần tự diễn viên và khán giả. Đúng mươi hai giờ đêm lễ rước chúa Hài Đồng vào máng cỏ từ phòng ăn đến nhà thờ. Chúng tôi, tay cầm nến vừa đi vừa hát những bài hát tiếng La Tinh, tiếng Pháp, tiếng Việt. Tâm hồn tôi dạo ấy sao trang nghiêm. Bữa “ăn nửa đêm” là bữa ăn ngon nhất trong năm nội trú. Ăn xong khoản hai giờ sáng chúng tôi được phép đi thăm máng cỏ nhà thờ Giòng Chúa Cứu Thế Phú Cam… Những năm đầu còn quân đội Pháp, chúng tôi vào cả các doanh trại của họ để xem máng cỏ. Đêm hai mươi sáu có buổi xổ số lãnh quà cây Giáng Sinh. Một lần tôi không nhớ rõ năm nào, lô trúng của tôi là một gói to nhưng nhẹ. Mở năm sáu lớp giấy gói, tôi bắt gặp vỏn vẹn một mãnh giấy ghi giòng chữ sau: “Bạn đang nắm trong tay một kho tàng mà bạn không biết”. Mười mấy năm qua tôi cố công tìm kiếm kho tàng ấy trong tôi. Có lẽ tôi còn tìm kiếm suốt đời vì tôi tin kho tàng ấy có thật.
Tôi vào Sài Gòn sống đời sinh viên, gởi trả Huế ấu thơ, trả thánh thiện cho Thiên Hữu. Bảy năm trường thuốc tôi ăn lễ nửa đêm ở các vũ trường. Bây giờ với ba tuổi lính, tôi đón Giáng Sinh hành quân lần thứ hai. Trước cảnh cao rộng, tôi muốn tìm về niềm tin thiêng liêng thuần khiết ngày xưa. Tôi sẽ cầu nguyện gì đêm nay? Chắc chắn tôi sẽ không xin hòa bình: Chúa đâu cất giữ hòa bình. Tôi chỉ xin đừng đổ máu ngày Giáng Sinh. Chiếc máy thu thanh vặn nhỏ truyền vào tai tôi giọng ca nữ khỏe mà tha thiết: “Một đêm dài nhớ em, một đêm dài trắng đêm..”Giọng ngân vút lên để dứt nghe như xé lụa.
Tiếng ca đã tắt nhưng âm thanh còn vây kín tâm hồn. Lòng tôi bỗng đầy an ủi.
Sáng hôm sau tôi đi lễ. Quỳ trong nhà thờ tôi tự hỏi mình có thật sự Công Giáo không? Đôi lần tôi táo bạo nghĩ rằng đạo Thiên Chúa mà không có Đức Mẹ Maria, chắc tôi là kẻ hữu thần nhưng vô tôn giáo. Tôi mồ côi mẹ năm lên tám. Những năm tháng nội trú thui thủi một mình, bức tượng Đức Mẹ trong nhà thờ, là người tôi thần kính đến thưa chuyện nhiều nhất. Có những lúc nhìn lên, tôi thấy đôi mắt bức tượng tỏa một thứ hào quang sáng ấm, chiếc miệng nỉm cười hài lòng sự kính viếng của tôi. Bây giờ trước mặt tôi cũng nét mặt hiền từ, chiếc miệng bao dung ấy, chỉ khác tôi, tôi đã cằn cõi tâm hồn..
Ra phố ăn sáng xong tôi ghé Sư Đoàn 5 thăm thằng bạn cùng khóa. Nó vừa rời Nhảy Dù về đây làm Y Sĩ Trưởng Đại Đội 5 Quân Y. Không hiểu Nhảy Dù đi ra ngoài đều có “thớ” hay có “thớ” ở Nhảy Dù mới được đi ra ngoài. Thằng bạn khoe với tôi đầu năm 69 Đại Đội 5 Quân Y sẽ lên hàng Tiểu Đoàn. Với chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng mai vàng nơi cổ hắn chẳng mấy chốc hóa ra mai bạc. Trong một thoáng tôi có ý nghĩ tầm thường so sánh địa vị của tôi với thằng bạn, tự hỏi mình có chút ý ganh tức nào không? Và tôi hiền hòa trả lời tôi rằng: Danh vọng ở chức tước, quyền bính là những nấc thang giới hạn ngoài tầm mắt của tôi. Tôi vẫn nuôi tham vọng bước lên một chiếc thang không có nấc cuối cùng, càng lên cao bao nhiêu càng thấy mình còn thấp kém bấy nhiêu: chiếc thang nghệ thuật. Tôi chọn Nhảy Dù không ngoài mục đích đi, sống và viết. Cho hoài bão đó, tham vọng đó, tôi đã tuân lệnh hành quân trở lại với một nụ cười không hậu ý.
Đêm hai mươi lăm tôi đi ngủ sớm như thường lệ. Nô En năm nay chắc ở đâu cũng buồn. Những giờ hưu chiến ngắn ngủi chỉ để đôi bên chuẩn bị những trận đánh tàn khốc hơn. Đêm nay tôi phải ngủ thật ngon giấc, gom sức dành cho những ngày sắp tới. Nhưng vào khoảng giữa sáng một loạt súng đánh thức tôi dậy. Tôi thấy ông sĩ quan ban ba tung chui ra khỏi mùng, nhảy đến cạnh chiếc máy P.R.C. 25. Tiếng ông sang sảng hỏi các “đích thân” về nguyên do loạt nổ. Bá cáo máy cho biết một “đứa con” của 32 “ăn sương” dưới suối thấy bóng người xuất hiện nên nổ súng.
_Túy Hồng đây Phước Vân
_Túy Hồng tôi nghe.
_Xin đích thân vài trái sáng để xem kết quả.
_Phước Vân, đây Túy Hồng sẽ thỏa mãn cho anh ngay. Anh hỏi kỹ lại “đứa con” của anh xem nó có thấy địch thật không hay lại đang gật gù rồi trông gà hóa cuốc.
Mấy quả đạn trái sáng phóng từ khẩu 82 ly nổ rung mái nhà làm tôi tỉnh ngủ. Tôi năm im chờ nghe kết quả.
_Túy Hồng đây Phước Vân
_Túy Hồng tôi nghe, có gì không anh?
_Một chính quy bỏ xác tại chổ, tịch thu một AK. “Đứa con” của tôi quả quyết nhìn thấy hai đứa, một tên mang AK, một tên mang B40, khoảng cách không đấy ba thước và nó nói nó nhắm rất kỹ. Tên mang B40 thế nào cũng dính.
_Thế thì bảo mấy “đứa con” của anh lục soát kỹ đi, nhưng đừng cho ra xa quá. Tôi thêm trái sáng cho anh. Tôi nghi ngờ sự quả quyết của người lính gác. Chắc anh chàng muốn tô màu thành tích của mình. Cuộc tìm kiếm vẫn không kết quả. Lúc tờ mờ sáng Phước Vân xin nới rộng phạm vi lục soát. Lời yêu cầu được chấp thuận. Một trung đội được tung ra. Chừng mười lăm phút sau tiếng bá cáo vang trong máy:
_Túy Hồng, đây Phước Vân. Chụp được tên mang B.40 rồi, nó bị thương.
_Túy Hồng, tôi nhận rõ, bô lắm. Mặt Trời thưởng đứa con anh cái đồng hồ đeo tay. Anh cho tên và số quân của nó để đề nghị huy chương. Tân binh hay lính cũ đó?
_Tân binh.
_Tân binh mà bình tĩnh như vậy thật đáng khen. Tình trạng tên “Vi Xi” ra sao?
_Nó vừa được khiêng về chổ tôi. Kẹo đồng chui vào chân, có vẽ bết lắm.
_Lệnh của Minh Hiếu, anh đưa nó lên trên này để đích thân Châu Hà lo cho nó.
_Nhận rõ Túy Hồng.
_Nếu không còn gì thì chấm dứt với Phước Vân.
Tôi nằm im nghe những lời đối thoại, thích thú, thứ ngôn từ gọn gẫy dí dỏm qua máy. Trong kỳ hành quân này các đích thân Tiểu Đoàn 3 Dù mang tên các nữ ca sĩ. Giữa đêm khuya thanh vắng gọi nhau bằng tên những người đẹp nghe cũng “mát miệng, ấm lòng” đôi chút…
Đánh răng rữa mặt xong, tên thương binh địch được đưa đến tôi. Hắn quá trẻ, chừng mười bảy tuổi, nói giọng Bắc, mặc đồ kaki vàng. Gẫy hở xương ống chân trái; bắp thịt chân trái bị bể loét lẩn lộn bùn máu. Quần áo ướt đẫm, tên địch mặt trắng bệch, người run cầm cập. Mạch nhanh và yếu. Có thể bị xúc kích thần kinh. Tôi cho rửa sạch vết thương bằng “nước dưỡng khí” truyền một chai “dextran” và chích trụ sinh. Tên địch rên rỉ khi người y tá rửa vết thương và bó bất động. Một binh sỉ Dù nạt đùa:
_Im không được rên. Đau thì kêu Bác và Đảng.
Ông Trưởng chỉ thị báo phòng Hai Sư Đoàn 5 xuống nhận tù binh về khai thác. Xuyên qua những câu trả lời của tên địch tôi hay hắn thuộc về Tiểu Đoàn KI Trung Đoàn Đồng Nai. Đại Đội của hắn phân từng toán mười người di chuyển về một điểm hẹn mà hắn không biết. Vì trời tối hắn và tên bị giết đi lạc. Tôi cắt một y tá canh chừng. Người y tá trưởng có vẽ không đồng ý sự săn sóc quá chu đáo của tôi. Anh nói:
_Bác sĩ cho nó nhiều thuốc làm gì? Bác Sĩ Tường ông không cho nhiều đâu.
Tôi hiểu lòng thù ghét cộng sản của nhiều người Bắc di cư. Tôi có nghe cách cư xử thẳng thừng của Tường với kẻ địch. Tôi cũng hiểu nguyện nhân nào làm Tường thù ghét Cộng Sản. Có ai thương được kẻ đã giết cha mình? Tôi không ở vào hoàn cảnh Tường nên tâm hồn bình thản hơn. Nhưng thử hỏi nếu tôi có người ruột thịt bị Cộng Sản sát hại biết đâu tôi chẳng thù hận gấp trăm lần Tường. Tôi im lặng bỏ đi không thể trả lời người y tá Trưởng. Dưới mắt tôi bây giờ tên địch cũng là một trường hợp bệnh cần săn sóc. Thêm một lần tôi tự vấn tôi, nếu Tiểu Đoàn bị thiệt hại nặng, liệu tôi có tốt với kẻ địch như hôm nay không? Câu trả lời chắc là không. Kinh nghiệm những lần đụng trận trước cho tôi hiểu khi có đồng đội ngã xuống lòng tôi đầy thù hận. Tôi có thể hung bạo với kẻ thù mà không hới tiếc hành động của mình. Nhưng sáng nay tôi nghe lòng hiền hòa vô cùng, tôi nhìn không thấy nơi tên địch chút gì hung ác, tôi thấy hắn đáng thương và tôi không hối tiếc đã săn sóc hắn quá tận tình.
Chiều hai mười sáu có buổi họp hành quân chuẩn bị “làm ăn lớn”. Sáng hai mươi bảy Tiểu Đoàn 3 Dù cùng một Chi Đoàn Thiết Vận Xa, một Đại Đội Trinh Sát và hai Pháo Đội 105,155 sẽ di chuyển bằng công voa lên Chơn Thành. Sáng hai mươi tám sẽ cùng Tiểu Đoàn 2/9 Bộ Binh trực thăng vận vào mục tiêu: một vùng ranh giới giữa Chơn Thành và An Lộc. Thơi gian ba ngày.
Đoàn công voia có Thiết Kỵ dẫn đầu như một con rắn đen dài, trườn mình lúc chín giờ sáng. Qyuo61c lộ 13 đưa chúng tôi rời Bình Dương lên Bến cát qua Lai Khê. Lai khê có một căn cứ quân sự lớn do Lữ Đoàn I Hoa Kỳ trấn đóng trong một đồn điền cao su. Đoàn xe băng qua căn cứ trên khoảng đường lót vĩ sắt vừa dùng làm phi đạo cho L19 vừa làm bãi trực thăng. Ra khỏi Lai Khê con đường bụi đỏ tiếp tục trải dài. San sát hai bên vệ đường những rặng tranh cao ngút đầu người gợn song rì rào. Địa điểm thật lý tưởng cho những ổ phục kích. Chiếc Red Marker bay thật thấp, đảo đi đảo lại kèm sát đoàn xe di chuyển. Chúng tôi đến Bầu Bàng. Những ô nhà cửa ghi trên bản đồ dưới mắt tôi chỉ còn trơ những nền đất than. Bầu Bàng là nơi anh Phạm Bá Lương nguyên Y Sỉ Trưởng Trung Đoàn 7 Bộ binh tử trận năm 1965. Qua nơi mà một thời gian nào trước đây từng là chiến trường, từng là nơi bạn hữu ngã xuống, lòng mình không khỏi nao nao…Xe đến Bầu Lòng. Ông Sĩ Quan ban ba cho tôi biết năm 1961, Việt Cộng đã phục kích hai Đại Dội của Tiểu Đoàn 3 Dù tại đây. Hai bên đều thiệt hại nặng. Phía Tiểu Đoàn 3 Dù Tiểu Đoàn Phó và Cố Vấn Phó tử trận.
Chúng tôi đến Chơn Thành lúc mười hai giờ trưa. Vượt sáu mươi cây số đường mất ba tiếng đồng hồ. Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 9 đóng trong Quận. Quận Chơn Thành rộng dài bằng mười phút đi bộ. Tài nguyên ở đây là lâm sản. Nhìn những khoanh gỗ to tròn lăn lóc cùng nơi, tôi nhớ một bài thơ hóm hỉnh của Prévert:
“Hàng ngàn cây rừng bị đốn ngã
Nhào nặn thành bột để làm giấy báo
Hàng năm trên mặt báo
Hàng ngàn bài viết cảnh cáo
Về sự nguy hiểm của việc đốn cây rừng…”
Bảy giờ sáng hôm sau Tiểu Đoàn kéo sang bãi trực thăng. Mười chiếc UHD1 và hai chiếc Shinook CH.53 đến chuyển quân. Tiểu Đoàn 3 Dù và Tiểu Đoàn 2/9 Bộ Binh sẽ đổ chung một bãi đáp rồi từ đó chia làm hai cánh. Chín giờ, đợt chuyển quân đầu bốc nguyên một Đại Đội Dù. Mỗi cuộc trực thăng vận là một chuyến phiêu lưu. Tôi thích bâng khuâng nhìn những chấm đen nhỏ dần, xa dần rồi mất hút… Trạm Cứu Thương của tôi đi chuyến thứ hai ngồi cả vào trong chiếc Shinook. Loại trực thăng không lồ này chở được năm mươi người. Khi chiếc Shinook nặng nề nhấc bổng chúng tôi lên đảo ngược nửa vòng, qua ô cửa tròn tôi thấy mặt đất nhà cửa nghiêng nghiêng rồi thẳng dần trở lại. Lòng tàu rung rung lên xuống, nhịp độ với âm thanh của cánh quạt khoát gió bên ngoài, lúc chát chúa, khi rì rầm…Tôi nhủ thầm: “Chuyến đi này đáng tiền quá! Chưa đầy hai tuần tôi đã được ngồi ôn lại gần hếc các phương tiện vận chuyển: GMC, Thiết Kỵ, Chiến Xa, Trực thăng. Chỉ còn thiếu ngồi trong giang đỉnh L.C.V.P. của thời đóng Bình Chánh nửa là đủ bộ Không, Hải, Lục. Trực thăng hạ thấp dần. Màu xanh sẫm cây rừng dâng lên, lướt nhanh. Hiện ra một khoảng trống cỏ may vàng nhung: bãi đáp. Những toán quân lúp xúp chạy tấp sang một mé rừng. Cánh cửa sau trực thăng hạ mở, tôi nhảy ra, nửa người mất dưới lớp cỏ cao. Ánh nắng gay không làm tan gió mát lồng lộng qua đồng cỏ. Tôi thong thả bước theo toán quân, tin tưởng những bờ rừng bí hiểm bao quanh không có địch ẩn núp. Còn một Đại Đội cộng nửa là hết Tiểu Đoàn Dù. Chúng tôi bố trí quanh bãi đáp chờ Tiểu Đoàn 2/9 đổ quân. Mười hai giờ trưa hoàn tất đợt cuối cùng. Có lệnh ăn cơm trưa và một giờ di chuyển.
Cái bãi đáp cỏ may nhấp nhô như sóng vàng là đề tài dự tính của mỗi chúng tôi. Khoảng đất sẽ làm gì khi hết chiến tranh? Một trại chăn nuôi ngựa giống cho ông Trưởng, một vùng săn bắn cho ông Phó, một ngôi nhà nghỉ mát cho ông Sĩ Quan ban ba. Phần tôi, tôi chỉ biết nhìn ngắm vẽ đẹp hoang sơ hiện tại của đồng cỏ mà không có dự tính nào trong tương lai. Nhiều người chiến đấu để có một ngày nghỉ ngơi. Riêng tôi chiến đấu là một cách sống. Khi Việt Nam hòa bình chắc tôi sẽ tình nguyện sang một xứ nào đang có chiến tranh. Với tôi chiến tranh là một thứ gia vị cay, cay mới nhiều kích thích tư tưởng…
Ngày đổ quân chúng tôi đi bốn mục tiêu từ A đến D. Tính đường chim bay chỉ độ ba cây số, nhưng phải mất năm tiếng đồng hồ mới đi hết. Khoảng rừng tre thưa không đủ che ánh nắng. Phút căng thẳng ban đầu tan dần qua các mục tiêu. Từ Bầu nát đến Bầu Ram phải vượt qua một con suối tên suối Dung. Suối không rộng không sâu nhưng khó qua vì cây mọc lấp cả lòng suối. Sáu giờ chiều đóng quân. Cơm nước xong trời đã tối đen chung quanh. Đêm xuống nhanh ở miền rừng. Tôi nằm trên cáng ngửa mắt nhìn lên nền trời thẩm nhạt lấm tấm vài ánh sao. Tôi đang như Thế Lữ một ngày nào trong truyện Một Đêm Trăng nằm “nghe tiếng một con sóc chạy trên cành, giọng rì rào của những côn trùng dưới đất, nghe càng lâu muôn tiếng càng hổn độn…”
Ngày hôm sau chúng tôi có hơn bốn mục tiêu để đi. Từ Bầu vàng đến Bầu Rim. Mất mười giờ để nuốt một đoạn rừng sáu cây số trên bản đồ và hai con suối: La Cát và Tả Bàng. Chúng tôi di chuyển chậm, lòn cúi chen lách qua những đám tre, mây leo mộc ngoằn ngoèo. Bắt gặp một số hầm trú ẩn đã mục nát, không ghi một dấu vết mới mẻ nào của địch. Quanh một hồ nước lớn do bom B52 đào, lẫn lộn với những dấu chân thú rừng, những dấu dép “Bình Trị Thiên” đã khô cũ. Vùng mục tiêu của chúng tôi có lẽ chỉ là đường chuyển quân của địch. Rừng tre quá thưa để có thể làm nơi trú ẩn kín đáo và lâu dài. Khoảng mười giờ sáng cánh quân 2/9 chạm địch ở Srock Lôi Sơn. Tiếng súng dòn liên tục. Tôi nghe trực thăng quần, phi đạn xé gió và pháo binh rót liên hồi. Chừng một giờ sau thì hoàn toàn yên tĩnh. Bá cáo của đơn vị bạn cho biết hạ được hai tên địch, tịch thu một AK, một B40. Phía bạn một tử thương và hai mươi bị thương. Ông Sĩ Quan ban ba nói với tôi:
_ Mình lãnh phần nặng nhất thì lại vô sự. Tôi nghe binh sĩ bảo nhau có bác sĩ đi hành quân thì yên chí lớn không đụng độ đâu.
Trong ba mặt quân: Thiết Kỵ án ngữ mặt ngoài bị địch bò đến thổi một quả B40 làm cháy một xe và bị thương bốn người. Tiểu Đoàn 2/9 vòng mặt ngoài vừa đụng trận trên đường rút ra. Chỉ có Tiểu Đàon 3 Dù lục soát mặt trong với ba ngày lội vẫn bình yên..
Trong Tiểu Đoàn người không bao giờ cầm quân chỉ huy, mà vẫn bị binh sĩ dị đoan là ông bác sĩ. Họ truyền khẩu cho nhau là ông bác sĩ này hòa bình, ông bác sĩ kia sát quân; ông bác sĩ N. mà cặp với ông Tiểu Doàn Trưởng H. mỗi lần xuất quân là “tơi bời hoa lá…” Cả y tá cũng dị đoan về ông bác sĩ của mình. Ở Tiểu Đoàn 3 nặng vía nhất là bác sĩ Liên, trước tôi hai năm. Một y tá kể:
_Hành quân mà bác sĩ Liên đi tay không thì đụng lai rai; ông mang Colt thì phải trên hai mươi con; lần nào ông mang Carbin thì coi như thức suốt đêm để tải thương! Như trận Đức Cơ năm 1965…
Không biết tôi nên tin số tôi nhàn hay nên tin tôi được nhàn nhờ “bài kinh cầu cho đơn vị” do tôi nghĩ ra, để mỗi đêm hành quân, trước khi đi ngủ, tôi hằng đọc lại một cách thành tâm:
“Xin cho đơn vị qua đêm bình yên
“Xin trọn ngày hôm sau bình yên
“Đụng trận
“Xin cho đơn vị thắng thật lớn
“Thiệt hại thật ít
“Xin cho địch đầu hàng, bị bắt
“Nhiều hơn bị giết”
Có lẽ Thượng Đế nghe lời cầu nguyện của tôi thành tâm thật nhưng khó thỏa mãn nên Người giải quyết bằng cách cho cuộc hành quân nào có tôi tham dự đều vô sự. Người không bằng lòng số nhàn ấy trước nhất là tôi. Con người hòa bình của tôi không giúp sớm hòa bình vì nếu đánh nhau mà không đổ máu thì bao giờ chiến tranh mới kết liễu. Nhưng giải quyết chiến tranh thuộc lý chí, cầu nguyện cho đơn vị thuộc tâm hồn. và theo Pascal thì “Tâm hồn có những lý trí của nó mà chính lý trí cũng không biết được”. Chúng tôi qua Bầu Vàng, một rừng cây cổ thụ lá rụng vàng ối lối đi. Một mùa thu “bỏ túi” đâu đây… Có tiếng là “rơi xào xạc” nhưng không nghe tiếng “con nai vàng ngơ ngác” nào “đạp trên lá vàng khô”.Chỉ nghe gót giày saut dè dặt tiếp nối nhau. Tôi đi giữa màu vàng nhớ một lời ca thơm tình dân tộc
“Dạy cho con tiếng nói thật thà
“Mẹ mong con chớ quên màu da
“Con chớ quên màu da
“Nước Việt xưa…”
Đêm thứ hai trong rừng yên tĩnh. Pháo Binh bắn khuấy rối nhiều và sát quá khiến giấc ngủ chập chờn. Chúng tôi đang trên đường rút ra. Vùng mục tiêu còn lại là Bầu Đông, Bầu Rim, chừng sáu cây số bản đồ. Rừng thưa dần, đã có khoảng trống, đồng tranh và ánh nắng gay gắt trên đầu. Đến điểm tập trung lúc ba giờ rưỡi chiều. Lên xe về Chơn Thành.
Chúng tôi bàn tán về hai nguồn tin trái ngược nhau. Một tin tiếp tục đặt Tiểu Đoàn 3 dưới quyền điều động của Trung Đoàn 9 Bộ Binh, một tin rút Tiểu Đoàn 3 về Bình Dương. Năm giờ rưỡi chiều có lệnh về Bình Dương gấp. Phải non một tiềng đồng hồ mới sắp xếp xong đoàn công voa. Tôi thích về Bình Dương hơn ở Chơn Thành, nhưng thú thật không thích về vào giờ này. Sáu mươi cây số đường bộ di chuyển đêm không phải là chuyện đùa. Tôi đọc vẽ nghiêm trọng trên mặt các Sỉ Quan. Từ Chơn Thành về Bình Dương, ở Bầu Bàng, Lai Khê, Bến Cát, chặng đường nào về đêm cũng bất an ninh, địch cũng có thể phục kích đoàn xe. Đối phương có một đồng minh lợi hại là đêm tối, nhưng chúng tôi có một ưu điểm an toàn: yếu tố bất ngờ.
Tôi yên tâm nhìn đoàn xe bốc bụi khởi hành. Chiều tắt nắng từ bao giờ. Có hoàng hôn, khói lam, thôn dã in lìm, nhưng không có sáo diều lơ lững, mục đồng cỡi trâu về trên đường làng để gợi lên chút hình ảnh một đồng quê yên vui ngày nào của Trần Tiêu, Toan Ánh, trong “con trâu” hay “sau lũy tre xanh”. Cảnh vật bây giờ đầy cạm bẫy. Ông Tiểu Đoàn Trưởng chỉ thị: dọc đường xe hư thì dồn người sang xe khác, bỏ xe. Đoàn “cua” dẫn đầu được lệnh chạy hai mươi cây số giờ để tránh đứt khoản, mỗi xe chạy cách nhau ba mươi thước. Đoàn xe rãi dài ngót hai cây số. Chiếc Red Marker bay thật thấp quan sát lộ trình và đoàn xe di chuyển.
Chúng tôi bình yên đến Lai Khê lúc bảy giờ ba mươi tối. Căn cứ Lai Khê đóng cửa từ năm giờ chiều nên không thể mượn đường chạy tắt như chuyến đi. Rời Lai Khê chừng mười phút, một chiếc Jeep của Pháo Binh chết máy vì hết xăng…! Trong cơn bực tức ông Sĩ Quan ban ba hét to trong máy với ai đó:
_Tên tài xế gà chết của anh, mang nó ra pháp trường cát là vừa.
Ông Trưởng lạnh lùng chỉ thị:
_Hỏi mấy con “cua” đằng sau kéo giúp được nó không. Nếu không ủi qua một bên mà chạy.
Đoàn xe tiếp tục hành trình. Tôi không cho quyết định của ông Trưởng quá cứng rắn. Khi có trách nhiệm với cả đoàn xe ngót năm mươi chiếc, những trường hợp “cu ky” phải xem như không đáng kể. Người lính Dù phải biết chấp nhận những cái không đáng kể rất đáng kể ấy. Chúng tôi đến một cây cầu nhỏ có binh sĩ Việt Mỹ canh gác. Họ dăn chúng tôi phải cẩn thận trên đoạn đường này vì có tin từ chiều địch về trong làng. Ông Trưởng ra lệnh cho các “đích thân” căn dặn các “đứa con” mở mắt thật lớn nếu không muốn nhắm luôn. Bóng tối như dày them lên. Tôi nghĩ chỉ cần vài tên du kích phịc đâu đó thổi thật chính xác vài quả B40 vào đoàn xe, cháy một hai chiếc, chết bị thương vài chục người cũng đủ làm chúng tôi điên đầu.
Nhưng đoàn xe vẫn yên thấm tiến trong đêm. Đến gần Bến Cát một G.M.C. nổ bánh. Binh sĩ trên xe được chia đều sang các xe khác. Đoàn công voa tiếp tục. Chúng tôi đến Bến Cát đúng tám giờ ba mươi tối. Dừng lại đây khá lâu để sắp lại hàng xe. Tôi nhảy ra khỏi chiếc Jeep thấy mình đang ở trên một dốc cao. Tôi nhìn xuống, cố tìm một hình ảnh thật đẹp để so sánh những đốm đèn quanh co phía dưới. Tôi bỗng nhớ hai câu thơ của Vũ hoàng Chương:
Đêm hoa đăng đường xanh bóng trăng
Đêm hoa đăng đèn quanh lối xóm…
Bao giờ đất nước thanh bình để có những đêm hoa đăng khắp nẻo quê hương?
Từ Bến Cát đến Bình Dương lộ trình tương đối an ninh, đoàn xe chạy sát nhau hơn. Dù an toàn toàn tôi cũng đã trải mấy giờ trí óc căng thẳng. Chúng tôi về đến Phú Văn hơn chín giờ tối. Một thùng nước tắm, một tô cháo gà nóng và một giấc ngũ vàng…Sáng hôm sau Tường đến thay tôi. Nhẩm tính tôi đi được mười bảy ngày. Tôi không mong ngày về như tôi tưởng. Tính tôi dễ quên, dễ quen nên dễ sống. Chiếc Jeep đưa tôi trở lại Búng, Lái Thiêu. Mới một lần đi, một lần về nhưng tôi có cảm tưởng cảnh đã quen thuộc đâu từ lâu rồi..
Căn phòng máy lạnh nồng khói thuốc muốn bức vỡ vì khối người chen chúc. Đã qua bao nhiêu bản Slow êm dịu, bao nhiêu điệu agogo cuồng nhiệt, tôi vẫn ly rượu cầm tay hững hờ nhìn thiên hạ sống vui, tình tự. Tôi xa lạ mọi người hay mọi người xa lạ tôi? Bình thường tôi rất hòa mình vào những buổi dạ vũ. Nhưng hôm nay tôi hoàn toàn không hứng khởi. Tôi như sửng sốt vì phải sống liền hai cảnh đêm quá trái ngược nhau: Con đường đầy bóng tối tử thần đêm qua và ngôi biệt thự mờ ảo ánh đèn gợi cảm đêm nay. Tôi hiểu những người đang chiến đấu, tôi cũng hiểu những người đang cố quên chiến tranh để thụ hưởng. Tôi hiểu quá nhiều nên tôi không sung sướng. Nhiều lúc tôi kiêu hãnh một cách đáng thương khi tự hỏi người đau khổ tinh thần nhất trong cuộc chiến này có phải chỉ mình tôi. Tôi ra về lúc mười hai giờ đêm bỏ lại đàng trong những tiếng “happy new year” huyên náo. Phải một thời gian tôi mới quên chuyến đi vừa qua. Đêm nay sống giữa Sài Gòn nhưng men lạnh núi rừng vẫn phủ kín tâm tư. Giờ này biết đâu các “đích thân” chẳng đang gọi nhau bằng tên các nữ ca sĩ? Tên những người đẹp gọi lên giữa đêm khuya nghe cũng “mát miệng, ấm lòng”…
Hợp Ðoàn: bài tập hoạt động bí mật trong lòng địch
Tình thực mà nói khi quyết định ra tờ Hợp Ðoàn trong một trại giam như A-20, tôi lo nghĩ rất nhiều. Mức căng thẳng được biểu lộ qua việc có ngày dù đói như thế, nhưng không thể nào nhá hết mấy lát khoai mì khô vào buổi trưa và buổi chiều, thay vào đó uống bao nhiêu nước cũng vẫn khát. Ngọc “đen,” người điều hành nhóm nhận ra hiện tượng hơi bất thường về sức khỏe của tôi. Anh lặng lẽ đi tham khảo với bác sĩ Lạc, một người tù chính trị án chung thân, giảm xuống còn 20 năm. Lúc đó ông Lạc đang lao động ở đội tù chính trị bên có án, nhưng cũng được biên chế lên bệnh xá. Ông khuyên là phải khai cháo, cố gắng tập thể dục hay có thể thì ngồi thiền. Ngọc “đen” thông đạt lời khuyên và tôi thực hiện ngay. Tôi bớt căng thẳng, ngủ được nhiều hơn nhưng không thể quá 5 tiếng một đêm.
Trong thâm tâm, tôi hiểu tại sao tôi lo lắng về giai đoạn chuẩn bị tờ Hợp Ðoàn như vậy. Không phải là tôi lo sợ cho bản thân mình vì trước khi được giải giao từ khu biệt giam ED nhà tù Chí Hòa lên trại lao cải Hàm Tân, tôi đã tự chọn cho mình một số phận u ám rồi. Tôi còn nhớ rõ buổi hoàng hôn ngày 16 tháng 8 năm 1975, khi mặt trời đỏ lừ đang từ từ rơi xuống phía sau hàng cây trên bờ sông La Ngà, toán chúng tôi gồm tôi, Cự, Phụ, Khải, Thuật và một số khoảng 20 người khác đã rơi ngay vào tay một cánh quân mà sau này chúng tôi biết là của Quân Khu 7 Việt Cộng khi vừa đến một điểm hẹn tập trung gần bờ sông. Hầu hết những người bị bắt đều là sĩ quan, công chức, cảnh sát VNCH khước từ lệnh trình diện để lựa chọn một con đường khác: đi tìm bóng dáng của các nhóm tàn quân VNCH mà chúng tôi được mật báo một cách sai lạc bởi chính bọn quân báo Việt Cộng qua trung gian gồm chính một số cựu sĩ quan, viên chức VNCH cộng tác với họ.
Giận dữ, nôn nóng, vội vã và cả tin đã khiến chúng tôi bị sập bẫy như những đứa con nít. Và khi vào nằm trong gông cùm rồi, chúng tôi chỉ còn biết tự an ủi: bản thông báo của Ủy Ban Quân Quản ra lệnh cho các sĩ quan, viên chức chỉ huy trong chính phủ VNCH, thành viên trong các chính đảng ở Miền Nam Việt Nam phải trình diện và mang theo lương thực đủ 10 ngày để đi “học tập cải tạo” không đánh lừa được chúng tôi, dù cái giá chúng tôi phải trả cho sự tỉnh táo ấy rất đắt.
Khi ánh hoàng hôn nhanh chóng lướt nhẹ trên mặt nước con sông La Ngà rồi tắt ngấm và và mầu tín của rừng chiều trùm phủ xuống cảnh vật, chúng tôi bị đánh đòn hội chợ khá nặng bằng báng súng, rồi bị dẫn xuống sát bờ sông. Bọn cán binh Việt cộng lên đạn xoành xoạch, nhưng tôi hiểu rằng họ không nổ súng. Bởi vì nếu muốn họ đã nổ súng từ lúc lúc hô hoán rầm rĩ khi bao vây chúng tôi rồi. Máu ở trong miệng tôi tiếp tục chảy xuống làm ướt ngực của bộ bà ba đen tôi đang mặc.
Khi bóng tối choàng lên cảnh vật một mầu đen, toán y tế của đơn vị Việt cộng mới soi đèn pin để băng bó cho chúng tôi, đồng thời trói những người bị bắt thành một xâu giống y như ngày trước tôi đã chứng kiến những tù binh Việt cộng bị bắt trên chiến trường miền Nam và bị xỏ xâu đưa lên trực thăng Chinook. Sau này, tôi mới được biết là trong cuộc hành quân vào ngày 16 tháng 8, 1975, lực lượng hành quân thuộc quân khu 7 đã bắt khoảng 1,500 người mà họ gọi là thuộc lực lượng tàn quân “ngụy” trốn trình diện cải tạo. Gia đình Bác Sĩ Phan Huy Quát, cựu thủ tướng VNCH, cựu chủ tịch Liên Minh Á Châu Chống Cộng chi hội Việt Nam cũng nằm trong số những người bị bắt.
(Chú thích: Mấy năm sau, cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát đã qua đời vì bệnh gan tại nhà tù Chí Hòa. Tại Chí Hòa vào thời gian đó có khá nhiều những tên tuổi lớn của cả hai nền Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa của Việt Nam và Cambodia: hai cựu chủ tịch Quốc Hội thời Ngô Ðình Diệm là các ông Trương Vĩnh Lễ và Phạm Văn Nhu, cựu Thủ Tướng VNCH Phan Huy Quát và cựu thủ tướng Cambodia là ông Sơn Ngọc Thành. Ông Sơn Ngọc Thành cũng chết tại nhà tù Chí Hòa do biến chứng của bệnh ghẻ, ứng cử viên tổng thống VNCH Nguyễn Ðình Quát và đặc biệt nhà thơ Vũ Hoàng Chương, ông Lương Trọng Tường nhà lãnh đạo tổ đình Hòa Hảo, và ông Phan Bá Cầm Chủ tịch Lực Lượng Dân Xã Ðảng, Linh Mục Hoàng Quỳnh, Linh Mục Trần Hữu Thanh người lãnh đạo phong trào chống tham nhũng của chính quyền của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ông Nguyễn Phan chủ tịch và tổng giám đốc công ty bột giặt NET.)
Những thất bại nói trên đã làm cho mãi đến sau này, tôi luôn luôn đặt ra những câu hỏi trước bất cứ một hoạt động chống cộng nào được nói đến trong suốt thời gian 4 năm ở trong nước sau khi được thả ra khởi nhà tù vào năm 1988 và trước khi được tái định cư ở Hoa Kỳ. Và cũng chính từ thất bại trên cho nên khi quyết định làm báo chui trong trại giam, tôi luôn luôn đắn đo trước khi bước chân vào con đường khó lượng trước được sự thành công hay thất bại. Các khó khăn mà tôi phải giải quyết trước nhất là giấy, bút. Không như những trại khác, ở A-20 Xuân Phước không một tù cải tạo nào được mang giấy bút viết thư vào trong trại giam. Nếu gia đình không biết và lỡ gởi giấy bút trong giỏ quà thăm nuôi hay trong những gói quà gởi bằng bưu điện, chúng sẽ bị tịch thu. Trại giữ lại và chỉ phát giấy bút cho những tù nhân cải tạo viết thư về cho gia đình trong thời hạn được ấn định 3 ngày đầu tháng. Sau đó họ thu lại. Lý do của việc làm này của ban quản trại chỉ nhằm chặn đứng việc tù nhân cải tạo gởi thư chui cho gia đình khi có dịp tiếp xúc với dân chúng vùng kinh tế mới ở gần trại. Từ ngày tôi bị chuyển lên Xuân Phước, đã có ít nhất hơn một chục vụ gởi thư chui bị phát giác và các tù nhân cải tạo tác giả những bức thư ấy thường bị nâng quan điểm và bị trừng phạt từ 6 đến 8 tháng trong chuồng cọp, cùm một chân. Thực tế, nội dung của thư chui cũng chỉ là những thư khẩn cấp, tù nhân thường viết bằng bạch văn hỏi thăm tình hình gia đình liên quan đến những vấn đề sau đây: vợ con vượt biên có đi thoát không hay lại bị lừa, tình hình kinh tế, chính trị và xã hội, nhất là hỏi thăm đến một kế hoạch của Hoa Kỳ “đổ bộ đánh tháo tù cải tạo,” vốn là một “hot news” giầu trí tưởng tượng nhưng lại nghèo nàn về sự hiểu biết của những tác giả chế biến ra chúng. Nhưng lạ một điều là phần đông tù cải tạo cũng vẫn tin vào điều hoang tưởng đó để nuôi hy vọng sống qua ngày.
Như vậy, để tránh nghi ngờ và những đôi mắt dòm ngó của đám ăng-ten khá lộ liễu trong nhà giam, bằng mọi giá phải thực hiện xong tờ báo trong 3 ngày tù nhân cải tạo được phép viết thư. Ðiều này cũng đúng thôi vì những ngày không phải là ngày tù được phép mà lại cứ lúi húi trên giấy thì đúng là lạy ông tôi ở bụi này. Thời lượng của việc phải hoàn tất tờ báo trong 3 đêm đòi hỏi những điều kiện khác: bài vở phải ngắn, mỗi bài như vậy không quá hai trang khổ một nửa trang của tập vở học trò. Viết ngắn không bao giờ là việc dễ dàng, hơn nữa những người cộng tác trong nhóm chưa một lần nào được huấn luyện viết ngắn. Ngoài ra, đã gọi là những trang báo thì không thể viết bừa bãi gạch xóa lung tung được. Như vậy vấn đề cấp bách là tìm ra người chỉ chuyên viết lại tất cả những bài tôi đã sửa chữa, cắt xén cho vừa khổ báo. Vấn đề nhức đầu thứ hai mà tôi phải giải quyết là khi viết tất cả những bài đóng góp xong rồi phải nghĩ đến chuyện đóng thành tập và bên ngoài phải có một cái bìa bằng một loại giấy phải hơi cứng. Nhưng đóng thành tờ báo là điều dễ làm cho bọn ăng ten chú ý nhất. Tôi không sợ những tên ăng-ten lộ liễu mà sợ những tên ăng-ten ngầm mà mình không biết hay không định được vị trí của họ. Suy đi nghĩ lại, tôi thấy chỉ còn một lựa chọn: lén lút huấn luyện cho từng cá nhân chịu cộng tác để xây dựng tờ Hợp Ðoàn. Tôi nói thẳng với họ rằng hãy coi công việc này là một cuộc vui đắt giá và là một lớp huấn luyện có thực tập hoạt động bí mật ngay trong lòng địch để khi về nếu có cơ hội có thể làm một tờ tương tự chuyển ra nước ngoài.
Cũng may là trong nhóm của tôi chỉ có một vài người cần một ý niệm viết sao cho ngắn gọn để đỡ công những người phải viết lại sau khi bài được sửa chữa.
Vấn đề thứ hai làm tôi suy nghĩ nhiều, đó là vấn đề an ninh cho nhóm. Làm cách nào để ngăn bớt được sự thiệt hại cho những anh em cộng tác với mình khi kế hoạch bị phát giác. Ðây là một vấn đề phức tạp và tế nhị. Các nhà giam trong các trại tù cộng sản nào cũng có những chỉ điểm viên mà chúng tội gọi là cần ăng-ten nổi, cũng như ngầm. Nhưng khi phát giác ra họ và trừng trị là bứt dây động rừng, cho nên cần tránh tối đa việc đụng chạm. Tốt nhất là cần phải lựa chọn trong nhóm những người cần hy sinh khi bị đánh đau đứng ra nhận lãnh trách nhiệm dù có thể là cái chết và dĩ nhiên, những đầu tầu cần phải làm gương xung phong ghi tên trước. Cho nên, ở trong trại giam cộng sản muốn đấu tranh cái gì cũng cần phải biết và sẵn sàng trả cái giá của người làm đầu tầu trong các hoạt động bí mật khi bị địch phát giác.
Nếu tôi nhớ không lầm, trước ngày 30 tháng 4 1981, ban quản trại mở cuộc tổng kiểm tra tư trang của tù cải tạo, từ các tù nhân diện tù tập trung cải tạo cho tới diện tù chính trị có án. Lý “lé”, cán bộ an ninh trại đã huy động tù hình sự trong đội lao cải “diện rộng”, các quản giáo và vệ binh súng dài khám tư trang tù cải tạo kéo dài từ 10 giờ sáng đến 6 giờ chiều mới kết thúc. Điều này có nghĩa là “tài sản” của tù cải tạo bị tịch thu sạch sẽ, từ mì gói, cơm khô, cám rang trộn gừng, những viên thuốc chống phù thủng B1 nghĩa là mọi tù nhân cải tạo đều …sạch bách!
Sự căng thẳng của tôi giảm xuống sau khi T.B.N. mà anh em chúng tôi quen gọi thân mật là Ng. “đen” thông báo là anh đã tìm kiếm được phương tiện để thực hiện tờ báo. Việc tìm kiếm những phương tiện và vật liệu để tờ Hợp Đoàn có thể ra đời đúng kế hoạch cũng là một câu chuyện dài và ngay cả bản than tôi cho tới nay cũng không thể tưởng tượng rằng nhóm chủ trương chúng tơi lại có thể hoạt động được một cách suông sẽ trong những năm đầu thập niên 80 tại cái thung lũng đày ải con người ấy.
Cùng với T.D.S. một luật sư nổi tiếng trong luật sư đoàn miền Trung, N.C.T. viên chức cao cấp trong chính quyền VNCH, tốt nghiệp học viện Quốc Gia Hành Chánh, T.B.N. và H. “bầu” các cựu sĩ quan biệt kích và thiết giáp phụ trách an ninh và lưu chuyển tờ báo, H “cà” cựu sĩ quan bộ binh tác chiến, nhưng có tài đàn hát, vẽ minh họa lẫn hí họa và P.Đ.N. cựu sĩ quan chính huấn với những vần thơ rực lửa…tôi có may mắn được anh em giao quyền điều hành được 5 số báo Hợp Đoàn, trong đó có một số kỷ niệm ngày Quân Lực 19 tháng 6 và một số tưởng niệm 30 tháng 4 trước khi bị biệt giam dài hạn.
Chỉ có bấy nhiêu người nhưng chúng tôi đã vượt qua bao nhiêu khó khăn để hoàn thành êm thắm mục tiêu do chính chúng tôi đặt ra. Mãi cho đến sau này, tôi vẫn nghĩ rằng sự đoàn kết và sẵn sàng hy sinh cho lý tướng chính là nguyên nhân của những thành tựu này.
Mấy tháng sau khi tôi bị đưa vào “chuồng cọp” Ng. “đen” là người thay thế tôi trông nom tờ báo. Nhưng anh chỉ cho ra được số thứ 6 với sự cộng tác bài vỡ của một nhà báo mà trước 30 tháng 4 1975 là biên tập viên của tờ Saigon Post một trong hai tờ báo viết bằng Anh ngữ ấn hành tại Sài Gòn. Nhà báo vừa nói vốn là con trai của một sử gia viết quân sử nổi tiếng trong quân đội VNCH. Dù chỉ là Sĩ Quan cấp Úy anh đã phải bóc tới hơn 10 cuốn lịch sau những cánh cổng nhà tù cộng sản vì tham gia vào cuộc nổi loạn tại trại tập trung Suối Máu đêm Noel 1978.
Sau khi xảy ra vài vụ trốn trại, tù cải tạo lãng công để phản đối chế độ lao tù, viết khẩu hiệu chống Cộng trong nhà giam, những đêm tù ca bỏ túi bị ăng ten báo cáo..dường như ban quản trại đã gia tang khủng bố. Nhiều tù “cải tạo” bị gọi đi làm việc và sau đó bị đưa vào cùm tại khu biệt giam phân trại B của A-20, tức là trại trong cách phân trại E khoảng 5 cây số. Nhưng họ không đụng tới tôi và những anh em trong nhóm Hợp Đoàn. Ngọc “đen” khuyến cáo tôi rằng cần phải lưu ý đến sự yên tĩnh kỳ lạ này và đề phòng bằng cách chuyển hết tài liệu và vật liệu trong chiếc ba lô hai đáy của tôi đến một chổ dấu an toàn mà chỉ anh biết. “Đen” bảo tôi là phải nằm im, “không nên nhúc nhích”. Anh còn cẩn thận may một lớp poncho trong chiếc áo trận đã rách, vá chằng vá đụp và buộc tôi phải luôn mặc nó dù trời nóng. Ng. “đen” nói với tôi “Alpha” (danh hiệu anh em dùng để gọi tôi một cách thân mật) cẩn thận. Tụi tôi “clear” hết rồi vì cảm thấy lần này chúng muốn đưa Alpha vào biệt giam luôn. Thằng Lý “lé” vẫn nghi anh là một cái đầu máy xe lửa trong trại này. Anh thấy không, gần đây hắn kêu tất cả những người hắn nghi ngờ đi làm việc liên tiếp để lượng định và có thể nó đã nghĩ tốt hơn hết là đem cất cái đầu máy đi là yên chuyện”.
Dù chỉ là một quân nhân tác chiến, cái nhìn của T.B.N. tương đối bao quát và sâu sắc. Quảng giao, giang hồ và chơi với tất cả những thành phần trong trại giam, anh giúp tôi nhiều ý kiến để vượt qua những khó khăn trong những hoạt động bí mật tại trại giam. “Đen” không bao giờ ra mặt đối đầu với một số ít thành phần phản bội anh em. Anh thường nói với tôi: “Chửi bới, nói móc, xỏ xiên, đối với tụi nó không ăn thua. Trong hoàn cảnh ai trong chúng ta cũng đói khổ cả, chúng ta phải coi lại dư luận đồn đại. Nghe thì nghe nh7ng đừng vội kết luận người này làm ăng ten, người kia làm mật báo. Nên kiên nhẫn chờ đợi, cho đến khi nắm vững bằng chứng là phải ra tay cảnh cáo ngay cho chừa cái tật bép xép với chèo.” (Chèo cũng là cách gọi mỉa mai chúng tôi dung để chỉ công an trại giam).
Từ ngày vào trại cải tạo lúc tóc còn xanh cho đến khi ra từ tóc đã muối tiêu, tôi không hề coi những thành phần phản bội này có ảnh hưởng gì đến đời tù của mình. Bởi vì tôi nghiệm ra một điều: họ làm ăng ten, mật báo với an ninh trại cũng vì đói nên cần miếng ăn chứ trong thâm tâm tôi không tin rằng họ thực tâm cộng tác với kẻ thù. Cho nên những ai không sợ hãi e dè quá đáng vì bị cúp thăm gặp gia đình hoặc sẽ sẳn sàng chấp nhận vào cùm trong chuồng cọp thì những phần tử này lùi bước ngay và ít khi muốn đụng độ. Trong thời gian bị “gởi” lên A-20, bọn quản trại củng lẫn xen vào hàng ngũ chúng tôi những thành phần mà anh em gọi là “đầu gà, đít vịt” nghĩa là tù chính trị không ra chính trị, hình sự cũng chẳng ra hình sự. Những thành phần được trại giam cài vào cũng chỉ với mục đích quấy nhiễu chúng tôi mà thôi. Điển hình nhất là P.V.Đ. và T.T.V. Một người P.V.Đ. là lính quân dịch với cấp bậc binh nhì, trước 30 tháng 4, 1975 phạm tội hình sự bị đưa vào quân lao Gò Vấp chờ ngày ra tòa án Quân Sự. Khi anh ta được đưa vào ở chung với thành phần cựu sĩ quan cải tạo, không ai là không nhìn ra vai trò của anh ta. Còn người kia khi vào trại khai là “thiếu tá tình báo VNCH” nhưng khi hỏi thăm đến đơn vị mà anh ta từng phục vụ thì T.T.V. nói đến toàn những đơn vị được tác giả Bùi Anh Tuấn viết trong bộ truyện Z-28 một bộ truyện tình báo nhiều tập rất ăn khách vào thập niên 70 ở Sài Gòn.
Điểm đặc biệt ở hai nhân vật này là tư cách của họ rất thấp, nhưng trò thưa gởi với cán bộ an ninh và dùng những buổi bị gọi đi làm việc để dọa nạt những tù cải tạo tuy yếu bóng vía nhưng nhiều quà thăm nuôi thì thật là “tuyệt chiêu”. Chẳng hạn, thường kỳ hàng tháng họ phải làm việc với cán bộ an ninh trại để khai báo những khả nghi trong nhà giam, nhưng khi đi làm việc về thì họ tung hỏa mù, nào là cán bộ có hỏi đến người này, người kia trong nhà giam. Vài hôm sau, chúng lân la đến những người bị chúng nhắc tên để xin một vài món gì đó, nhiều khi là một gói mì ăn liền, có khi là một ít cơm sấy hay miếng cá khô. Tôi nghiệm thấy là P.V.Đ. và T.T.V. thành công trong chuyện đi vay không bao giờ trả này. Ít khi nào mà họ về chổ nằm mà trên tay không có một món nào đó xin của những người đồng cảnh vốn không bao giờ muốn bị lôi thôi với những con chiên ghẻ này. Biết thế cho nên T.T.V. và P.V.Đ. chỉ nhắm vào một số tu sĩ, những tù chính trị già cả, một vài ông cựu dân biểu VNCH và nhất là một vài bạn đồng vốn đã nhát nhưng lại cứ hay “bô lô ba loa” cái miệng. Chúng kỵ nhất là đụng độ với những cựu sĩ quan trẻ tuổi hay những người coi việc vào nằm chuồng cọp chỉ là một giấc ngủ trưa. Bởi vì chúng biết đụng độ với những đối tượng này không những không được gì mà có khi còn mang đầu máu lúc đêm hôm tối lửa tắt đèn, nếu muốn nói theo cách trừng trị giang hồ trong nhà tù cải tạo của Cộng Sản.
Tôi muốn nhắc lại những sự việc này trong hồi ức của mình cũng chỉ với mục đích để cho giới trẻ đang tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam nhìn lại và làm sạch hàng ngũ của mình, nhìn lại cơ cấu tổ chức của mình và phải nên đặt câu hỏi: hoạt động tự phát liệu có thể tránh được những cái bẫy do guồng máy an ninh của nhà cầm quyền không?
Nếu các bạn nói tránh được thì tôi rất phục bởi vì như thế là hoạt động của cả một guồng máy an ninh của cộng sản không làm gì được các bạn. nhưng có những thực tế diễn ra trước mắt các bạn mà chưa có câu trả lời: đó là các bạn trẻ bí mật hội thảo trong một lớp dạy Anh văn trong ngõ hẽm ở Hà Nội, nhưng khi các bạn ấy mới bước vào lớp thì bọn công an đã ập vào đánh cho một trận tơi bời rồi ném lên xe bus chở đi. Hãy nhìn vào thực tế này để rút ra một bài học, trừ khi các bạn trẻ này chỉ chơi bạo lấy tiếng thì không kể.
Buổi sáng cuối tháng 4, 1981phân trại E của nhà tù A-20 vẫn còn ướt đẫm hơi nước của những cơn mưa nhỏ trãi lên thung lũng Xuân Phước đêm hôm trước. Lãnh phần khoai mì lát xong, tôi đem để lên bệ nằm, định ra ngoài tập thể dục một chút rồi vào nhà giam ăn sáng để chời đi lao động thì trật tự Của bước vào cổng nhà giam. Nhìn qua song sắt của khung cửa sổ rộng, tôi thấy tên trưởng ban trật tự này (vốn là một thượng úy công an biên phòng bị án tử hình sau giảm xuống còn chung than vì tội giết mười hai người Cambodia để cướp vàng) có vẽ nghiêm trọng. Hắn bước vào phòng và gọi tên T.D.S. và tôi rồi bảo cả hai chúng tôi phải ở nhà khộng đi lao động để ra làm việc với cán bộ. Khi Của vừa quay đi thì “Đen” vớ lấy cái áo trận may nhiều lớp ném cho tôi và nói: “Cởi áo kia ra ngay, mặc cái áo dày này vào. Anh mặc hai áo, chúng lột cái áo dày ra thì hỏng việc. Thuốc B1 ở trong các đường vá sau lưng, H “bầu” đang clear ba lô của anh, thế nào lát nửa anh đi làm việc thằng Của sẽ leo lên sàn trên khám xét”.
Nhưng không hiểu sao vào lúc đó tôi bình tĩnh một cách lạ thường, có thể là do tôi hiểu một cách chắc chắn đây là buổi sáng cuối cùng tôi còn nhìn thấy các bạn tù trong nhà giam chung. Có thể vài giờ nửa tôi đã phải giam mình lâu dài trong cái căn phòng bê tông kín mít rộng 2 thước, cao 5 thước, dài 3 thước, chỉ có một lổ nhỏ vuông mỗi bề 5 phân để thở. Tôi nói với Ng. “đen” người lính từng sát cánh với tôi trong tù cải tạo nhiều năm rằng hãy cho “đông lạnh” tất cả mọi thứ và nếu có chuyện gì xảy ra thì chỉ có S. và tôi chịu mà thôi, theo đúng kỷ luật của nhóm.
Khi tất cả các đội xuất trại đi lao động thì Lý “lé” tay cầm một hồ sơ bước vào nhà kêu tên tôi và trật tự Của kè tôi ra khỏi cổng trại tiến về phía một văn phòng nhỏ nằm cách cổng trại không xa lắm. Tôi đã nhiều lần bị thẩm cung trong văn phòng này, nhưng buổi sáng đó là lần đầu tiên cái vẽ lạnh lẽo đặc biệc của nó làm tôi chú ý. Bộ đồ trà gốm có 4 cái tách bằng gốm thô, một bình tích trà nóng, ủ trong một vỏ dừa ngã màu nâu, một chiếc gạt tàn thuốc lá, bao thuốc thơm Thăng Long vẫn còn nguyên cái bao bì bằng giấy xám chỉ giúp làm tăng cái vẽ đe dọa đối với người bị thẩm cung thay vì tất cả những vật dụng này lẽ ra đã phải làm tròn nhiệm vụ của chúng là giúp cho cuộc gặp gỡ thêm đậm đà. Mãi cho đến lúc Lý “lé” rút trong túi ra một tờ giấy đọc “lệnh bắt” tôi mới chú ý tới khẩu K-59 anh ta mang bên hông và chiếc nón kết có cái vành rộng tụt xuống sát mang tai. Tôi rủa thầm: “Mẹ kiếp.. còn bày đặt lệnh bắt với chả lệnh tha. Bố mày đây đã tù 6 năm rồi, chúng mày có đọc vài cái lệnh bắt cũng chẳng ăn nhằm gì.” Lý “lé” ra lệnh cho tôi ngồi xuống chiếc ghế trước bàn làm việc. Anh ta cầm bao thuốc lá lên rút ra một điếu đưa cho tôi, nhưng tôi nói: “Tôi không hút thuốc lá, chỉ hút thuốc lào”. Lý gọi trật tự Của đang đứng ngoài trước hàng hiên của văn phòng: “Đi lấy cho anh ấy cái điếu cày và thuốc” Sự màu mè lộ liễu và nham hiểm của Lý “lé” tôi cũng đã quen nên tôi “đổ bựa” hỏi người thẩm vấn: “Cán bộ kêu tôi ra đây có chuyện gì, không lẽ chỉ ngồi uống nước trà và hút thuốc” Lý “lé” cười khảy: “Lát nửa anh sẽ biết, bây giờ uống nước trà và hút thuốc đi cho bớt căng cái đã”
vietmessenger.com / Typing & Post by Sơn râu 24 July 2023
Những loạt súng đầu tiên nghe ở hướng đài phát thanh và phía cầu Tàu khi tôi thức dậy. Tay tôi quờ quạng vặn nút chiếc Radio tìm đài Sài Gòn: tôi mong nghe một lời tuyên bố; chỉ nghe tiếng sột soạt hình như của cuốn băng nhựa quay. Chắc lại đảo chính! Tôi bỗng muốn mỉa mai ý nghĩ của chính mình: đất nước đang chiến tranh, thế nhưng ở Sài Gòn hễ có tiếng súng nổ người dân đô thị chỉ nghĩ đến một biến cố chính trị. Số người nghi ngờ một cuộc đột kích của địch, một vụ đột kích nho nhỏ thôi, chứ đừng nói đến một cuộc tổng tấn công, chắc đếm được đầu ngón tay. Người ta đã chẳng quay một phim “Sài Gòn không chiến tranh” là gì? Tôi nằm im nghe những tràng tiểu liên nổ gần xa, cố phân biệt từng âm thanh, từng nhịp nổ: Tôi quen thuộc tiếng M.16 nổ nhẹ và phả hơi, nhưng qua những loạt nổ dòn cao, tôi không phân biệt được tiếng Carbin M.2 hay tiếng AK. Có chăng nhịp AK chậm hơn. Kinh nghiệm phân biệt súng bạn súng thù của tôi sau hai năm theo các Tiểu Đoàn Dù chỉ tới mức ấy. Tôi trở về giấc ngủ với cảm nghĩ bàng quang: Chắc có chuyện gì đó, sáng ra hẵng hay.
Sáu giờ sáng đài Sài Gòn loan tin, một số Việt Cộng mưu toan đánh chiếm một vài cơ sở trọng yếu trong đô thành, quân đội đang đẩy lui chúng. Tôi lẩm bẩm “hưu chiến cơ mà!” để rồi cảm thấy mình ngây thơ. Đánh nhau cần nhất yếu tố bất ngờ. Còn gì bất ngờ hơn là đánh vào lúc hưu chiến?
Một chiếc xe Hồng Thập Tự đỗ xịch trước nhà. Người tài xế già, nón sắt, áo giáp, tay súng lật đật chào tôi:
_Mời Bác Sĩ vào gấp.
_Gì vậy ông già?
_Dạ, đánh nhau tùm lum.
Nhảy Dù từ quan đến lính thích xài hai tiếng tùm lum. Tùm lum có nghĩa là nghiêm trọng, ác liệt, nhưng tùm lum nghe tếu hơn, đỡ mất tinh thần hơn. Tôi thay vội quần áo. Chiếc xe lao đi. Trên đường xe cộ và bộ hành thưa thớt. Tôi ỡm ờ hỏi người tài xế già:
_Đảo chánh hả ông già?
_Đâu có Bác Sĩ, tụi nó…
_Bị thương nhiều không?
_Dạ, nghe nói cũng khá.
_Ai gác đêm qua?
_Bác Sĩ Niệm.
Tôi thấy số Niệm thật vất vả. Nhớ thời hành quân Bồng Sơn Niệm ở tiểu Đoàn 8, tôi ở Tiểu Đoàn 6, hai cánh quân mỗi lần xuất trận Tiểu Đoàn của Niệm chạm địch hoài trong khi Tiểu Đoàn tôi cứ đều đều vô sự. Tôi đến bệnh viện ĐỔ VINH, giữa cảnh người xe tấp nập. Thấy tôi, Niệm lắc đầu:
_Số tôi khốn nạn thật, hành quân thì đụng tơi bời, trực ở bịnh viện thương binh về ào ào.
Tôi định đùa anh một câu nhưng không đủ can đảm khi nhìn dáng mệt mỏi của anh. Suốt đêm qua Niệm không ngủ. Thương binh nằm la liệt dọc hai hành lang bịnh viện. Tôi hỏi Niệm:
_Mình lựa thương hết chưa?
_Rồi, sáu “cas” nặng. Tôi lo thiếu máu quá. Đã cho đi lấy sao mãi không thấy về.
_Mới có Đoàn và Nghị, Bá, Tín đi phép, Hà đau nặng.
Tôi buột miệng kêu lên: “Thế thì bỏ mẹ rồi!” Hà là “cây dao” số một của bịnh viện Đỗ Vinh. Muốn giải phẫu các vết thương ruột phải có anh. Tôi hỏi Niệm:
_Sao không gởi bớt sang Tổng Y Viện Cộng Hòa?
_Đang đánh nhau ở cổng số 4, trực thăng không dám đáp.
Chúng tôi ở vào thế bí: Bệnh viện chỉ có một phòng mổ lớn, một phòng mổ nhỏ mà có đến hai vết thương ngực, hai vết thương bụng và một vết thương huyết mạch đòi hỏi giải phẫu khẩn cấp. Tôi điều khiển công việc hồi sinh các thương binh nặng. Thiếu Tá Y Sĩ Trưởng nhờ Bác Sĩ cố Vấn Smith liên lạc các bịnh viện Mỹ xin nhận bệnh và xin máu. Một giờ sau sáu thương binh nặng được trực thăng Mỹ di tản xuống Long Bình. Chúng tôi chưa kịp thở phào thì có tin một đợt thương binh nữa sắp về. Hành lang bệnh viện không còn một chổ trống. Phòng họp Hạ Sĩ Quan biến thành phòng bệnh với hai hàng cáng sắp dài. Smith xoay được bốn mươi bịt máu mang về. Thêm hai Y Sĩ vào bệnh viện bằng phương tiện riêng. Nhiếp và A. A là “cây đao” có hạng của bệnh viện Nhi Đồng mới về “đầu quân” cho Đỗ Vinh. Chúng tôi yên tâm đợi bệnh. Trọn buổi sáng lựa thương, hồi sinh. Tôi đánh thuốc mê cho A. Nhiếp mổ một vết thương xuyên ngực bụng lúc mười lăm giờ. Mười tám giờ ba mươi vừa ra khỏi phòng mổ thì thêm một đợt thương binh về. Câu lạc bộ Sĩ Quan của Sư Đoàn biến thành phòng bệnh. Bữa cơm tối thật vội vàng, buồn tẻ. Chiến cuộc trong ngày tại đô thành làm chúng tôi thiệt mất ba y tá, hai ở Tổng Tham Mưu và một ở trên đường xuống Trung Tâm Tiếp Huyết lấy máu. Ánh, Tùng, Nhất, nhắc lại tên chúng nó một lần cuối cùng! Tin tức từ Huế cho biết Việt Cộng tràn ngập Cố Đô. Chiến Đoàn I Dù đụng nặng. Công điện của Tiểu Đoàn 2 báo cáo bác sĩ Cao mất tích cùng hai y tá. Bác Sĩ Bá về ăn Tết với gia đình ở Huế cũng không tin tức.
Tôi gây “tê tủy sống” cho Smith giải phẫu một trường hợp gãy hở xương ống chân ở phòng mổ nhỏ rồi vào phòng mổ lớn đánh thuốc mê cho Đoàn, anh giải phẫu một vết thương bụng. Chúng tôi rời phòng mổ đúng nửa đêm. Ngã lưng xuống giường vùi đầu vào giấc ngủ. Sáng hôm sau giải phẫu hai cánh tay gẫy, một bàn chân gẫy; buổi chiều một ống chân gẫy, một bàn tay dập nát. Một đợt thương binh về trước bữa cơm tối. Có một vết thương bụng. Phải mất sáu tiếng đồng hồ để khâu một lổ ruột già, một lổ bọng đái, cắt nối một khúc ruột non rồi kéo ruột ra ngoài làm một hậu môn nhân tạo. Chúng tôi lết ra khỏi phòng mổ lúc hai giờ sáng. Trọn ngày thứ ba tôi vẫn không rời phòng mổ. Số thương binh cần giải phẫu còn nhiều. Nếu không bị tràn ngập bởi những đợt thương binh mới, chúng tôi có thể “thanh toán” phần còn lại trong vòng hai ngày tới. Tối hôm đó chúng tôi được lệnh nghỉ xả hơi. Nghe lệnh nghỉ tự nhiên cơ thể đâm ra mỏi nhừ tựa như người bị thương mà không biết mình bị thương đến khi có kẻ chỉ cho nhìn thấy vết thương liền ngã ra xỉu. Tôi ngủ vùi một giấc cho đến khi bị lay dậy.
_Có bệnh nặng hả?
Tôi hỏi giọng ngái ngủ.
_Thưa vâng nhưng là…một Việt Cộng. Người y tá trả lời.
Bị dựng đầu dậy giữa ba giờ sáng vì một tên địch ác ôn thì bực mình quá. Nhờ anh tí, phần nào thôi chứ. Tôi định lảm nhảm như vậy: đọc văn phóng sự nhiều nên bị ảnh hưởng. Lên phòng mổ tôi gặp A, phiên trực của anh. A chỉ tên Việt Cộng:
_Đồng nghiệp của mình đấy.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
_Bác Sĩ Việt Cộng à?
_Y Sĩ Tiểu Đoàn thôi. Y Sĩ Tiểu Đoàn của “nẫu” tương đương với Sĩ Quan Trợ Y của mình.
_Bây giờ “nẫu” làm sao?
_Bị đạn xuyên từ mông ra háng. Sếp ra lệnh chỉ cho truyền dextrant và băng ép vết thương chứ không cho máu. Y Tá vừa báo tôi vết thương ra máu nhiều quá, chắc các huyết mạch bị gì rồi. Để thế này thì nó sẽ chết. Mời anh lên xem, có thể được anh cho nó ngủ để tôi mổ.
Mạch không đếm được, áp huyết: 4/2. Không thể đánh thuốc mê trong tình trạng xúc kích như vậy. Phải hồi sinh bằng máu. Nói đến máu tôi nghĩ đến Nhất, người y tá đã bỏ mình trên đường về Trung Tâm Tiếp Huyết lấy máu. Bây giờ chúng tôi lại định truyền máu để cấp cứu một kẻ đứng trong hàng ngũ đã giết nó. Cảnh chết chóc đổ nát đã làm lòng nhân đạo của giới áo trắng Dù chúng tôi đối với kẻ địch xuống đến mức thấp nhất. Nhưng tôi bỗng nghĩ đến Cao. Ai cũng tin anh đã bị địch bắt. Chúng có giết anh không? Mọi người hy vọng không, không một cách mong manh: tôi nghĩ phải cứu tên Y Sĩ Việt Cộng này rồi nhờ đài phát thanh loan tin đi. Biết đâu địch sẽ nghe được. Biết đâu chúng sẽ cảm động mà không giết Cao và biết đâu chẳng có một cuộc trao đổi tù binh quân y…Hai bịt máu truyền nhanh đưa áp huyết lên 10/6 và mạch 100. Tôi cho y ngũ. Lưỡi dao của A tìm thấy một nhánh tĩnh mạch đùi bị đứt. Tôi ra khỏi phòng mổ khi năm giờ sáng, mệt mỏi nhưng tỉnh ngủ. Buổi sáng chúng tôi trình bày sự việc lên Thiếu Tá Y Sĩ Trưởng. Ngay tối hôm đó đài phát thanh quân đội loan tin: một Thượng Úy Quân Y Việt Cộng bị quân Nhảy Dù bắn trọng thương, bị bắt sống và đã được các Bác Sĩ Nhảy Dù săn sóc chu đáo. Chúng tôi thầm mong Cao còn sống và địch ở Huế nghe tin này.
Một buổi sáng sau khi thăm bệnh, A cho tôi tôi hay, người thương binh mổ bụng ba hôm trước, bây giờ kêu đau ở bụng và tiểu tiện không được. Chúng tôi trở lại phòng lạnh. Bụng người bệnh cứng và đau khi sờ vào. Tôi hỏi anh ta có lén ăn bậy bạ gì không thì anhj chàng trả lời không. Nhưng người thương binh nằm cùng phòng cho hay, một ngày sau khi mổ vợ anh có lén cho anh uống sữa và nước rau má. A dậm chân kêu trời, anh nghĩ đến các mũi khâu nhiễm trùng có thể bị sút. Mất sáu tiếng đồng hồ để nhận lấy kết quả bết bát như thế này vì sự bất cẩn của kẻ khác thì thật đáng nổi khùng. Tôi buông thỏng một câu: _Thương chồng kiểu này chỉ chóng giết chồng, bà này chắc chỉ muốn lấy Mẽo sớm.
Tôi khựng lại đó tủi hổ thầm những gì mình vừa nói.
_Chắc phải “khui” lại. Nó có chịu nổi một cú thuốc mê nửa không anh?
Tôi cũng đang tính toán: Mổ lại phải mất ba tiếng đồng hồ. Hai lần mổ chỉ cách nhau ba ngày. Bệnh nhân yếu sẽ chết vì thuốc mê… người bệnh của tôi chưa quá yếu, vả lại chúng tôi không còn sự lựa chọn nào khác là mổ. Tôi duy trì bệnh nhân ngủ thật nhẹ với khí N2O cùng Anectine, một chất giãn cơ truyền bằng tĩnh mạch. Phải bóp đều đều trái bong bong để thở cho bệnh nhân. Một đoạn ruột nom tím sẫm chìm trong chất nước xanh nhờn nhờn. Một mũi khâu bị sút. Tôi đọc nét lo âu nơi đôi mắt A. Cắt bỏ cả đoạn ruột kia thì cả một vấn đề tiêu hóa khó khăn cho bệnh nhân trong tương lai. A ngâm đoạn ruột trong nước ấm có pha Novocaine. Một phút rồi hai phút chờ đợi nặng nề. Sắc hồng hiện dần dần trở về trên khúc ruột. Chúng tôi thở phào trút một gánh nặng. Khâu chổ bị sút, rửa ruột và đóng bụng. Mấy đầu ngón tay tôi sưng lên vì phải bóp trái bóng liền trong bốn tiếng đồng hồ. Hai ngày sau khi mổ vào lúc trưa thật tình cờ tôi ghé vào phòng lạnh. Và tôi thấy gì? Con bệnh của tôi tỉnh táo nằm hút thuốc lá. Phải khiển cổ la mắng. Thương binh ông nào cũng như ông thần này thì chắc chúng tôi không thọ nổi. Nhưng tôi vẫn phải ngạc nhiên trước sự lại sức mau chóng của anh ta. Tôi đâm tin số mạng. Số chưa chết thì thập tử nhất sinh, ẩu tả mấy như tay này vẫn sống nhăn.
Không khí phòng mổ không phải lúc nào cũng căng thẳng. Nếu có lúc mồ hôi vã như tắm, chạy đua với đồng hồ giành giựt với tử thần sự sống cho những đồng đội thì cũng có lúc chúng tôi làm việc thoải mái vừa mổ vừa vui đùa với bệnh nhân. Người thương binh chúng tôi đang sửa soạn mổ là một chú lính mười bảy tuổi. Mặt hắn ngây thơ một cách lạ kỳ. Chú bị gãy hở xương ống chân trái. Niệm tính làm sạch vết thương sắp lại các mãnh xương vỡ và bó bột. Tôi “gây tê tủy sống”: Chích vào tủy sống lưng một lượng nhỏ Pontocane hòa với hai phân khối Dextrose mười phần trăm có tác dụng làm chỉ thống phần dưới thân thể suốt ba tiếng đồng hồ trong khi bệnh nhân vẫn tỉnh. Lối gây tê này đòi hỏi ở bệnh nhân một chút can đảm. Con bệnh của tôi mới vào phòng mổ lần đầu nên có vẽ lo sợ.
_Bác Sĩ cho em mê đi, đừng cho em biết gì hết.
Tôi giải thích:
_Mổ cái này không cần mê mổ xong là ăn uống được ngay, chụp thuốc mê tỉnh dậy mệt lắm..
_Em sợ đau..
Tôi hơi gắt:
_Tôi bảo đảm không đau, Nhảy Dù gì mà nhát vậy?
Hai tiếng Nhảy Dù là một lợi khí của chúng tôi để kích thích tự ái các thương binh. Con bệnh nằm im, bàn tay hắn lạnh và run. Áp huyết tốt nhưng mạch nhanh. Sự sợ hãi quá độ đôi khi dễ làm xúc kích. Tôi gnhi4 phải làm thế nào để bệnh nhân quên mình sắp bị mổ, đừng để hắn bị ám ảnh bởi ý nghĩ mình sắp phải chịu đựng một cơn đau đớn. Niệm để con dao ngang trên vùng mổ đưa mắt nhìn tôi. Tôi khẽ gật đầu rồi cúi xuống hỏi người bệnh:
Chú lính lắc đầu. Phòng mổ bật tiếng cười. Tôi tiếp tục:
_Tại răng không chơi bời? Nhảy Dù mà không chơi bời là yếu.
_Má em dặn không được bậy bạ mang bệnh vào người…
Niệm đang mổ tố them:
_Ăn thua gì, hôm nào lành chân cậu phải đi kiếm “chị em ta” mà “khai quân” đi nghe chưa? Có gì về đây tôi chữa cho.
Người bệnh nằm yên có vẽ không đồng ý lời khuyên của chúng tôi. Tôi tìm cách duy trì câu chuyện:
_Cậu có bồ chưa?
_Dạ bồ thì có.
_Ở mô, đẹp không?
_Ở Huế, đẹp ác lắm!
_Thế đã làm ăn gì chưa?
_Không có mô, tình yêu cao thượng mà Bác Sĩ.
_Xì, cậu điệu hoài, Nhảy Dù là phải đánh mau, đánh mạnh.
_Làm chuyện xác thịt trước hôn phối là có tội.
_Ai bảo cậu vậy?
_Em Công Giáo.
Tôi thắng ngay câu định hỏi tiếp. Ở xứ Việt Nam này không nên đụng vào vấn đề tôn giáo; nó phức tạp lắm, nguy hiểm lắm. Phải “kính nhi viễn chi” như Khổng Tử đã dạy. Người bệnh chợt hỏi:
_Mổ chưa Bác Sĩ?
Tôi nói dối:
_ Mổ nảy giờ cả tiếng đồng hồ. Cậu thấy không, đâu có đau đớn gì.
Anh chàng hơi yên tâm. Khi ấy Niệm gắp ra một mảnh đạn lớn bằng ngón tay út. Tôi bảo người y tá gói mảnh đạn đặt vào lòng bàn tay người lính trẻ. Hắn ta ngắm mảnh đạn còn dính máu của mình, miệng lẩm bẩm chửi thề. Anh chàng bỗng trở nên bạo dạn:
_Bác Sĩ cho em nhìn chổ mổ một chút.
_Không được, nhìn xong cậu xỉu luôn thì mệt tôi.
Người thương binh của tôi vửa trở nên can đảm trên bàn mổ. Tôi nghĩ chiều nay hắn có quyền khoe với bạn bè rằng hắn chịu chơi đòi xem chổ mổ vết thương của hắn mà bác sĩ không cho. Tôi cũng mong hắn sẽ không thực hành những điều chúng tôi khuyên hắn về đàn bà. Những gì chúng tôi đã nói với nó tất cả “chỉ là cái cớ”. (Vũ Khắc Khoan_Thành Cát Tư Hãn)
Một buổi tối chúng tôi nhận một Việt Cộng bị trúng độc vì lựu đạn khói. Tên này núp dưới hầm với hai đồng bọn. Quân Nhảy Dù bao vây kêu gọi đầu hàng. Hai tên kia nghe lời vừa ra khỏi hầm bị tên này bắn chết. Một quả lựu đạn khói được tung xuống hầm. Khi binh sĩ Dù xuống lục soát hầm, thấy tên này nằm ngắc ngoải. Phòng Hai muốn khai thác nên đưa chúng tôi cứu tỉnh nó. Tên địch chừng ba mươi tuổi, cao cỡ một thước bảy, vóc người vạm vỡ, mặt vuông chiếc cằm bạnh ra, nhất là đôi chân mày xếch trên chiếc trán hói tạo cho hắn một vẽ đanh ác nhìn phát sợ. Hai ngón tay tôi khẽ bật mí mắt của hắn: con ngươi đã nở lớn, khí độc ngấm quá nhiều vào máu. Sếp và chúng tôi bàn thiệt hơn. Một tên đã có gan bắn ngã hai đồng bọn, có gan chịu chết ngạt chứ không chịu ra đầu hàng có cứu sống nó cũng không khai đâu. Thế nhưng không ai quyết định để nó chết. Tôi cho ngữi dưỡng khí, truyền nước có pha Bicarbonate. Mười một giờ đêm tình trạng vẫn không khả quan. Sếp quyết định cho ngữi thêm nửa giờ dưỡng khí rời gửi trả phòng Hai. Tôi bình thản nhìn tên địch thoi thóp. Huế, quê hương tôi đang đổ nát, hai người chú bị thảm sát tôi nghĩ tôi có quyền nhìn một tên địch chết mà lòng dững dưng. Chúng tôi đã làm tất cả những gì phải làm cho một trường hợp cấp cứu. Nếu phải cứu chữa một binh sĩ của chúng tôi trong một trường hợp tương tự chúng tôi cũng chỉ làm có thế. Khác chăng là trong bình dưỡng khí, trong chai nước có tình thương, có hy vọng, có thất vọng của chúng tôi.
Bệnh viện Đỗ Vinh bắt đầu bận rộn đón tiếp phái đoàn ủy lạo. Công việc phòng mổ không cho tôi có dịp ở trong thành phần tiếp đón. Hình ảnh đẹp tôi bất chợt bắt gặp là hình ảnh một giai nhân bật lửa đốt thuốc cho một thương binh. Từ đó tôi thèm được bị thương. Nhưng rồi tôi thất vọng khi biết nếu bị thương sẽ không có người bật lửa đốt thuốc cho tôi vì lẽ rất dễ hiểu là tôi không biết hút thuốc! Tôi còn nhớ gì nửa? Nước mắt của một cô ca sĩ. Cô khóc vì quá xúc động trước những thương tích của “các anh chiến sĩ mũ đỏ”. Có người nói nhỏ với tôi:
_Nước mắt cũng nằm trong chương trình quảng cáo của các em.
Tôi không muốn tin như vậy, tôi không muốn tin có kẻ đủ can đảm đóng kịch trước những con người hy sinh đến tàn phế.
Trong một buổi cơm trưa chúng tôi bàn về bịnh tình của Hà. Anh đã nằm hôn mê ba ngày liền trong Bệnh Viện 3 Dã Chiến Hoa Kỳ. Hồi trước tết anh có săn sóc một quân nhân bị bệnh chó dại. Người bệnh chết và Hà phải chủng ngừa. Thuốc chủng đã gây cho anh chứng viêm não tủy hậu chủng (encéphalomyélite postvaccinale) một biến chứng rất hiếm nhưng cũng rất nguy hiểm. Hà thoát chết với những dư chứng trầm trọng: các cơ hạ chi bị tiêu mòn, đường tiểu tiện bị yếu liệt, các giác cảm suy nhược. Hà trở về Đỗ vinh sau khi chập chững đi được. Hàng ngày anh “anh dũng” chịu đựng cảnh “thông nòng” mỗi khi tiểu tiện, khắc phục sự mệt mỏi và chầm chậm thâu hồi các giác cảm. Tưởng tượng hai ba mươi năm sau, kể lại biến cố Xuân Mậu Thân cho con cháu mình nghe chắc Hà sẽ bắt đầu như vầy:
_Tết năm ấy, toàn dân nói chung và tao nói riêng đã vô cùng khổ sở…
Tình hình Huế vẫn nghêm trọng. Trong báo cáo tổn thất hai y tá tử trận, một y sĩ và ba y tá bị thương. Thương binh chắc đã tràn ngập Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương. Vẫn không tin tức gì về Bá và Cao. Thiếu Tá Y Sĩ Trưởng quyết định gửi một toán giải phẫu cấp cứu ra Huế. Bác Sĩ Nhiếp và Dược Sĩ Chất tình nguyện đi. Nhiệm vụ của hai người là di tản tất cả thương binh ở Nguyễn Tri Phương về Tổng Y Viện Duy Tân ở Đà Nẳng hay về thẳng bệnh viện Đỗ Vinh. Đồng thời tìm cách bắt liên lạc với Bá và Cao. Chúng tôi ở Đỗ Vinh sửa soạn chổ cho thương binh. Buổi tối Nhiếp gọi phone về báo cáo toán giải phẫu còn kẹt ở Đà Nẳng vì trực thăng đến Phú Bài nhưng không đáp được. Hai ngày sau chúng tôi nhận tin toán giải phẫu đã đáp xuống được Bộ Tư Lịnh Sư Đoàn I. Nhiếp nhận lệnh thay Cao ở Tiểu Đoàn 2. Ở Đỗ Vinh chúng tôi nhận gần hai trăm thương binh trong ba đợt. Ngày hai mươi lăm tháng Hai có tin Chiến Đoàn I Dù rút về Sài Gòn. Ngày mười sáu Dược Sĩ Chất gọi phone về báo đã bắt liên lạc được với Bác Sĩ Bá đang ở trong Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Mỹ. Ngày mười tám Bá vào Sài Gòn. Hai mươi tháng Hai nhận được tin Cao đang chiến đấu trong một đồn Công Binh ở Nam Giao. Ngày hai mươi lăm tháng hai Cao vào Sài Gòn. Thế là hai người mất tích đã trở về. câu chuyện của Bá và Cao về những ngày hai anh đã sống ở Huế đã làm say mê chúng tôi:
Tối mùng một rạng mùng hai Tết, Bá ở nhà một người bạn cạnh Ty Thông Tin Huế.
Khi nghe súng nổ và tiếng gọi nhau giọng Đồng Hới dưới đường Trần Hưng Đạo Bá biết ngay là quân Bắc Việt. Anh dấu vội bộ đồ Dù và cây súng lục, khoát bộ đồ ngủ dặn người nhà bảo mình là thợ hớt tóc vì Bá biết lầu dưới là phòng hớt tóc. Địch đã xông vào khách sạn bên cạnh hạ sát một số Sĩ Quan. Bá bảo anh không bao giờ quên những tiếng thét rùng rợn đó. Suốt ngày mùng hai Bá vẫn bị kẹt trên lầu, địch dưới đường. Khoảng bốn giờ chiều anh bổng nghe tiếng Mỹ dưới đường. Anh hé cửa nhìn: một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ vừa vượt cần Tràng Tiền đang tiến lên phía cửa Thượng Tứ. Bá quyết định trình diện đơn vị bạn. Anh xuống lầu dưới đứng trong nhà hét to bằng tiếng Mỹ:
_Tôi là một quân y sĩ Nhảy Dù Việt Nam, tôi muốn đi theo các anh, xin đừng bắn.
Sau khi bị khám xét, Bá xin gặp vị chỉ huy, một ông Trung Tá. Anh được yêu cầu ngược trở lại đi theo đơn vị để săn sóc di tản thương binh. Bá trở vào nhà mặc bộ đồ dù và anh nghiễm nhiên trở thành người y sĩ Việt Nam đầu tiên của một đơn vị Hoa Kỳ. Hỏa lực mạnh mẽ của địch ở cửa Thượng Tứ không cho quân Mỹ tiến vào nội thành. Bá đã chứng tỏ mình là một y sĩ tiền tuyến đầy kinh nghiệm trước một số thương binh của đơn vị bạn. Cuộc tiến quân thám sát của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã giúp Bá thoát nạn. Ở Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Mỹ trong năm ngày đầu chiến cuộc, một mình Bá săn sóc, giải phẫu cho hơn bốn trăm người bị thương gồm binh sĩ Mỹ, binh sĩ và thường dân Việt Nam. Anh đã dùng Morphoine và thuốc tê để thực hiện mười lăm cuộc giải phẫu thiết khai khí quản, mười cuộc giải phẫu cưa chân tay. Ở Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Mỹ không có y sĩ giải phẫu. Qua ngày thứ Sáu mới có hai y sĩ giải phẫu Mỹ ở Phú Bài lên tăng cường. Bá tiếp tục làm việc ở đó cho đến khi được phone gọi về Đỗ Vinh. Tôi hỏi Bá về thái độ của người Mỹ đối với việc làm của anh. Bá đưa tôi xem bản sao đề nghị ân thưởng huy chương Ngôi Sao Bạc cho Bá của Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Mỹ. Một đoạn viết:
“Dưới hỏa lực đủ loại của địch, Y Sĩ Trung Úy Đoàn Văn Bá đã chứng tỏ mình là một sĩ quan can đảm. Ông đã cứu sống nhiều sinh mạng binh sĩ Mỹ, binh sĩ và thường dân Việt Nam trong những ngày địch tấn công thành phố Huế; lòng tận tụy của ông đã làm mọi người Mỹ có mặt phải kính phục..”
Điều chúng tôi hãnh diện về Bá không phải vì anh cứu sống nhiều sinh mạng hay vì anh đã tỏ ra can đảm ngoài chiến trường. Người y sĩ Dù nào cũng phải vậy. Chúng tôi hãnh diện cử chỉ của Bá khi anh từ chối một sự đền bù bằng hiện kim của người Mỹ. Đồng tiền Mỹ đã và đang đốt cháy nhân phẩm, thanh danh bao nhiêu tầng lớp người Việt Nam. Người ta có thể thương hoặc ghét chúng tôi, không một ai khinh được chúng tôi.
Nếu Bá có dịp thi thố tài năng chuyên môn làm binh chủng bạn phải nể phục thì trái lại Cao phải bó tay nhìn các thương binh của Tiểu Đoàn Công Binh chết dần trong đau đớn. Cái chết ám ảnh anh nhất là cái chết của một binh sĩ bị thương ở ngực. Sau hai ngày chờ trực thăng di tản không có, anh này đã tự sát bằng một phát súng vào đầu! Điều làm anh khổ sở nhất là có bác sĩ, có thương binh nhưng không có phương tiện, thuốc men để chữa trị, Cao nói:
_Nếu có đủ thuốc men và một túi dụng cụ giải phẫu nhiều thương binh đã không chết một cách oan uổng.
Suốt thời gian bị kẹt nếu Bá sống an toàn trong Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Mỹ thì Cao phải trãi những ngày đêm tinh thần căng thẳng, mất ngủ vì đói lạnh. Tình hình tưởng đã có lúc tuyệt vọng. Địch đã ba lần tấn công đồn pháo kích liên miên, đêm bắt loa kêu gọi đầu hàng. Giải pháp bỏ đồn mở đường máu rút về An Cựu đã được bàn cãi, nhưng quyết định cuối cùng vẫn là cố thủ. Ngày mười tám tháng hai một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đến giải vây đồn.
Tôi muốn mượn Bá và Cao để viết thật nhiều về Huế, viết thật cảm động, thật đau lòng cho những tang thương, đổ nát. Nhưng tôi biết muốn viết về chiến tranh không thể nghe kể lại, không thể tưởng tượng mà phải sống. Qua những ngày Đỗ Vinh tôi không sống cuộc chiến đang xảy ra, tôi sống với hậu quả của nó: những thương tích đang xảy ra trên bao nhiêu thân xác bạn lẫn thù. Lịch sử sẽ ghi một biến cố Xuân Mậu Thân, nhưng trong lòng mỗi người dân Việt Nam năm đó đã có hàng chục triệu biến cố Xuân Mậu Thân khác nhau.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.