Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 13 Apr 2025

Chương 12.

NHỮNG MỤN GHẺ NGỨA BẮT ĐẦU MỌC LÊN những kẻ ngón tay ngón chân Minh, chàng gãi đến thế nào cũng không đã ngứa. Minh nghĩ bụng, chỉ mấy ngày nữa là ghẻ mụn sẽ mọc đầy người.

Minh ngạc nhiên vì chàng giữ gìn thật sạch sẽ mà không thoát khỏi vi trùng ghẻ ngứa. Mới đầu những mụn ghẻ nhỏ như đầu tăm, làm ngứa dữ dội, những mụn ghẻ nước vỡ ra, mấy ngày hôm sau bắt mưng mủ vàng, bây giờ Minh vừa ngứa vừa đau, những mụn vàng tấy đỏ lên. Minh chỉ muốn ngồi một chỗ, ngồi để gãi cho đã. Buổi chiều hôm nay Minh ngồi phơi nắng ở ngoài hành lang đông đảo người qua lại, mấy ông sĩ quan cùng bị giam với Minh cũng bị tống giam vào khám. Các ông ấy được giam riêng theo qui chế sĩ quan, và được đãi ngộ hơn bọn lính. Minh chỉ nhìn thấy thấp thoáng mấy ông ở bên kia song sắt. Các ông ấy có vẻ nhàn nhã, người nào cũng bận quần áo trắng ngồi chơi ở hành lang, có hai ông ngồi đánh cờ tướng.

Mình đã bị tống giam vào khám Chí Hòa như vậy đã được ba tháng mười ngày, chàng chờ đợi mãi mà không thấy được thả. Minh đã gởi đi nhiều lá đơn khiếu nại, những lá đơn không được hồi âm. Ngày hôm qua Minh lại gởi thêm một lá đơn nữa, Minh tự nhủ: mình phải hy vọng.

Minh giơ tay ra ngoài nắng, chàng mong ánh nắng sẽ làm cho chàng đỡ ngứa phần nào, bàn tay nóng lên Minh thấy dễ chịu, những mụn ghẻ mới ở bàn chân ác ôn bây giờ chúng sưng tấy đỏ lên làm Minh đau, không còn đi đứng nhanh nhẹn được nữa. Một mụn ghẻ sưng cả trên bàn chân, ngay chính một đường gân, Minh nghĩ, mình cào mủ thoát ra sẽ dễ chịu hơn.

Minh nặn mủ, dùng một cái khăn khô chấm lên, lau sạch, chàng tiếp tục nặn những mụn khác. Bỗng có tiếng dép đi lẹp xẹp bên cạnh Minh:

– Minh.

Minh ngẩng lên, Minh nhận thấy gã làm việc ở phòng can nhân, Minh hỏi: đi. đi.

– Gì đó?

– Dưới phòng can nhân kêu mày.

– Có chuyện gì đó?

– Về lá đơn của mày, xuống ngay

Minh đứng dậy:

– Vậy hả, có gì không?

– Tao không được biết rõ, cứ xuống

Minh tập tễnh đi theo hắn. Chàng lại hy vọng: hay là, người ta đã xét tới đơn của chàng. Minh cố đi nhanh hơn, chàng đi qua cầu thang xoáy trôn ốc tối mò, phòng can nhân ở tận trong cuối cùng. Tên tù công vụ đưa Minh tới trước mặt ông giám thị trưởng khu, ông ta để lá đơn của Minh trước mặt chàng, ông ta ngẩng lên hỏi:

– Chú mày là Minh phải không?

– Dạ thưa ông trưởng, phải.

– Chú gởi lá đơn này?

– Vâng.

Ông gập lá đơn lại:

– Tôi đã nhận được của chú ba lá trước, và mãi ngày hôm qua tôi mới nhận được đơn gởi trả lại.

Minh hồi hộp:

– Thưa ông trưởng…

Ông giám thị trưởng khu can phạm bình tỉnh mỉm cười:

– Trên tòa đã gởi trả lại những lá đơn chú đã gởi đi, họ cho biết rằng không thể trả tự do cho chú được, chú bị giam cứu cho tới bao giờ ra tòa, chú được xét xử một cách phân minh.

– Thưa ông trưởng, những lá đơn đó tôi không hề xin tội, tôi chỉ xét trường hợp của mình để xin tại ngoại hầu tra thôi.

Ông giám thị trưởng khu lại nhìn Minh:

– Chú xin tại ngoại hả? Đó lại là chuyện khác.

Tay ông trưởng khu cầm một cái bút chì gõ vào cạnh bàn:

– Cái chuyện đó thật xa vời với chú, chú là cái thớ gì mà dám xin tại ngoại hầu tra?

– Thưa, tôi xét rằng tội tôi không có gì.

– Sao chú biết là không có gì? Ông giám thị trưởng xoa tay:

– Chú đừng có điên, từ nay chú đừng làm đơn nữa nghe chưa? Bởi vì xin tại ngoại hầu tra chú phải có luật sư xin mới được, mà theo tôi biết chú đâu có luật sư.

– Dạ.

Ông giám thị trưởng khu mở ngăn kéo lấy những tờ đơn của Minh, đã gởi đi trước đây trả lại cho chàng. Trên mỗi lá đơn đều có ghi viết nguyên tử đỏ: “Không chấp thuận”.

Tờ đơn cuối cùng ghi một cách gay gắt hơn: “Không chấp thuận, nói cho đương sự biết đừng gởi đơn nữa”.

Ông giám thị trưởng khu nói:

– Đó, đó là lý do tôi không gởi đơn của chú đi.

Minh đứng cúi gầm mặt, chàng buồn buồn, chàng nói nho nhỏ:

– Xin cám ơn ông trưởng.

– Thôi về phòng đi.

Minh chào ông trưởng xong cất bước quay lên lầu, vậy là từ nay chàng không còn hy vọng gì nữa. Minh lên đến phòng mình, chàng lại tới chỗ cũ ngồi. Bầu trời ngoài song sắt xanh cao thăm thẳm, nắng chiều vàng óng, nhẹ nhàng vương trên nóc khám đường.

Minh nhìn thấy một con diều giấy nhà ai đang vùng vẫy trên bầu trời rộng, chiếc đuôi ngũ sắc quay lộn. Minh tưởng tượng đến một cánh đồng, một đứa trẻ nào đó đang cầm đầu dây con diều, nó sung sướng khi nhìn thấy con diều của mình mỗi lúc một bay cao, như Minh hồi nhỏ, chàng cũng chạy chơi trên cánh đồng, cũng vui đùa khi nhìn thấy con diều của mình bay cao.

Minh thở dài tựa đầu vào song sắt, Minh lơ đãng nhìn con diều giấy. Một thằng ghẻ lỡ cùng mình tới ngồi trước mặt Minh:

– Sao, xuống dưới có việc gì đó? Minh chán nản trả lời:

– Xuống nhận lại mấy lá đơn xin tại ngoại.

– Không được xét à?

Minh lười biếng không muốn nói nhiều chàng đưa cả mấy lá đơn cho hắn xem. Gã xem phớt qua rồi trả lại Minh:

– Mày ngây thơ bỏ mẹ.

– Có lẽ vậy.

Gã tù quân ghẻ chóc gãi nghe sồn sột:

– Tao thấy ở tù còn sướng hơn đếch còn muốn trở về đơn vị nữa. Mẹ tao không thể nào chịu nổi.

Minh chán nghe những mẫu tâm sự, bởi vì chàng nghe đã quá nhiều. Nhưng gã tù quân vẫn tiếp tục nói:

– Khi mãn tù có lẽ mình không được trở về đơn vị, mình sẽ bị đưa tới quân lao, nơi đó còn khổ gấp triệu lần ở đây, nơi đó mới là địa ngục của trần gian, mày đã nghe nói tới nơi đó chưa?

– Có, nhưng tao chưa tưởng tượng được nơi đó như thế nào.

– Mày không thể tưởng tượng nổi, bởi vì mày sẽ thường xuyên bị đánh, mày không còn thì giờ để ngồi khơi khơi như ở đây.

Minh lắc đầu:

– Tao chán nản. Tao thì mặc kệ, muốn đi đến đâu thì đến tao cứ coi như mình đã chết.

– Chết không dễ đâu mày ơi, nếu chết được là một điều mừng.

– Vậy biết làm sao bây giờ?

Thằng quân phạm ghẻ chóc nhìn vu vơ lên bầu trời rộng:

– Nếu tao đào ngũ được lần nữa, tao sẵn sàng đào ngũ. Rồi tao trốn luôn.

– Mày trốn đi đâu?

– Cũng chưa biết nữa, nhưng tao nhất định trốn, trốn cho qua cuộc chiến tranh này.

Minh ngồi im, chàng để mặc cho gã lính ghẻ chóc muốn nói gì thì nói. Minh đang buồn cho số phận mình, từ ngày chàng gia nhập quân đội đến giờ, chưa bao giờ chàng nhận được một sự may mắn, chàng không oán trách gì quân đội, chàng chỉ nghĩ mình không gặp may mắn mà thôi. Minh nghĩ đến những vị sĩ quan của mình, cả những vị sĩ quan từng làm khó dễ chàng, chàng không ghét họ, không thù oán họ, chàng muốn quên đi tất cả, chàng chỉ nghĩ đến những ngày giải ngũ, nếu chàng được giải ngũ, chàng biết chắc rằng sau khi ở tù về, Không Quân khô- ng còn nhận chàng. Minh lại nghĩ đến Ngọc, chàng đã viết cho Ngọc một bức thư sau khi vào khám Chí Hòa, chàng không nhớ địa chỉ của Ngọc, chàng chỉ nhớ tên tiệm uốn tóc của Ngọc làm việc, chàng ghi tên tiệm, không biết thư có tới tay Ngọc không, Minh hy vọng một tháng nay rồi, chàng không nhận được thư trả lời của Ngọc, như vậy chàng không còn hy vọng gì nữa.

Minh đứng dậy đi dọc theo hành lang, ở chỗ nào cũng có người ngồi nói chuyện gẫu, hoặc đánh cờ, có những thằng quân phạm ngồi cởi trần trùng trục, cậy mụn mủ rồi bỏ vào cái ống lon sữa bò, Minh dừng lại vịn song sắt hỏi:

– Mày làm cái trò gì vậy? Gã ngẩng lên:

– Chơi không, ngồi xuống đây chơi với tao?

– Chơi gì vậy?

– Thì ngồi đây, tao thiếu gì trò chơi.

Minh tò mò, chàng ngồi trước mặt hắn, xem hắn làm cái trò gì mà kỳ quái quá vậy. Gã thản nhiên nói:

– Mày có nhiều vảy mụn không, cậy ra cho chung vào đây.

– Tao ghẻ ít lắm.

– Đáng tiếc, thôi được mày ngồi đấy coi.

Gã quân phạm ngồi dạng háng ra, cậy những mụn ghẻ, khi thấy có vẻ hơi nhiều, gã nói:

– Thôi để dành đến mai.

Gã mở nắp một hộp sắt tròn. Minh nhìn thấy ba bốn con rệp, Minh kêu lên:

– Mày làm cái trò gì vậy? Gã bực mình gắt:

– Mẹ tiên sư hỏi hoài, ngồi đó mà coi, tao nuôi bò.

Gã gạt hết những con rệp vào lon mụn ghẻ, mấy con rệp chạy lăng quăng một hồi, bu vào mấy vảy còn dính máu, chúng hút máu đó. Gã can phạm cười sằng sặc:

– Đù mẹ, khoái nhé các con ạ…

Gã ngẩng lên nói với Minh: Cái bọn rệp nầy khoái nhậu món này lắm.

Minh lắc đầu:

– Tao thấy mày chơi cái trò nầy kỳ quái quá.

Gã quân phạm nói:

– Bản tính con người hiếu sát, dù bất cứ trong hoàn cảnh nào con người cũng tàn sát, không giết người thì giết sinh vật khác, từ ngày tao ở tù không giết ai nên giết mấy con rệp này cho đỡ khổ, mỗi ngày tao giết ít ra mười con, tao có ghi chép hết, tao thử coi tới ngày tao ra tù tao giết được bao nhiêu con.

– Mày giết nó thì mày giết đi, còn cho nó ăn cái của nợ này làm gì?

– Tao là người nhân đạo, trước khi đưa chúng vào cõi chết, tao muốn cho nó no nê một bữa.

Minh lắc đầu tủm tỉm cười:

– Trời ơi là trời…

Gã quân phạm tỉnh bơ.

– Khi tuyên án chúng, tao thấy tao là một ông tòa, cũng hách lắm chứ, một ông tòa công minh phải không mày, tao chắc rằng chúng có tội tao mới tuyên án chúng… Những con rệp này tao bắt chúng tại trận khi chúng đang hút máu tao, tuyên án tử hình, còn những con nào tao bắt được khi đi lang thang tao giam nó vào, tao giam chúng một tuần lễ không có ăn uống, con nào sống qua được một tuần thì đương nhiên tự do, tuần này tao có một nhà tù chứa hai trăm con rệp. Gã cười, nheo mắt nhìn Minh:

– Tao hách phải không mày? Tao vừa là một ông tòa vừa là một chúa ngục. Hắn nhìn vào lon quan sát mấy con rệp nói tiếp:

– Được năm phút chưa hả mày?

– Cũng tới năm phút.

– Vậy thì bọn này đến giờ đền tội ác.

Minh tò mò, chàng muốn biết gã quân phạm tốc kê nầy còn bày trò gì nữa. Gã làm dấu thánh giá trên ngực, mặt nghiêm trọng:

– Giê-su ma lạy chúa tôi, A-di-men.

Gã móc trong túi ra một bao diêm quẹt, đánh diêm châm vào một mảnh giấy bỏ vào trong lon, lửa cháy bừng lên, gã nói:

– Tao còn là một linh mục nữa, rửa tội chúng nó trước khi chúng về nước Chúa nước Phật.

Gã nghênh cổ lên, phồng mũi hít một hơi:

– Thơm đáo để đó mày, mày có ngửi thấy không?

Minh bịt mũi:

– Khiếp, sao mà mày tởm thế?

Gã hít từng hơi dài, như say sưa với mùi vảy mụn và mùi rệp cháy khét:

– Chiều nào tao cũng ngửi mùi này, tao thấy nhớ mùi bún chả.

Minh đứng dậy, chàng đi ra chỗ khác, thằng quân phạm cười khoái trá. Tiếng kèn hết giờ chơi của tù nhân vang lên từ ngoài bồn nước, tù nhân ùn ùn vào phòng, bữa cơm chiều đã ăn xong từ lúc ba giờ, phòng đã được ban vệ sinh dọn dẹp sạch sẽ, gã trưởng phòng vỗ tay đôm đốp gọi anh em:

– Tập họp chào cờ đi anh em.

Bọn quân phạm tự động tập họp theo hàng ngang mặt hướng ra cột cờ ngoài sân, không còn một thằng quân phạm nào được phép ở trần, tất cả đều phải quần áo chỉnh tề, cửa phòng giam đã được các giám thị khóa kín. Tiếng hô nghiêm chào cờ từ máy phóng thanh, tất cả tù nhân từ tám khu khám Chí hòa đều cất hát bài Quốc ca, sau đó đến bài suy tôn Ngô tổng thống, trước khi hát gã trưởng phòng đe dọa:

– Chúng mày hát cho hẳn hoi nghe chưa? Hát bậy bạ chết mẹ.

Tất cả đều hát xong. Lệnh giải tán, mọi người ai về chỗ nấy. Minh nghe nói bên phòng giam chính trị khu F các tù nhân không chịu hát bài suy tôn Ngô tổng thống mà trưởng khu không làm gì được, khi nào tới bài suy tôn các chính trị tự động tan hàng, hoặc có hát thì hát toàn những lời bậy bạ. Những chiếc chiếu trải ra ngay ngắn, sinh hoạt buổi tối bắt đầu, những chiếc lò bằng nhôm nấu đèn cầy do tù nhân tự tay chế tạo, được mang ra xếp hàng ngay ngắn, lửa sáng rực từ một góc phòng, bọn quân phạm xúm năm xúm ba ngồi đấu láo, gã tù giết rệp lui cui đi tìm rệp, gã lom khom bởi đống quần áo, moi tìm trong các góc tường, bắt được một con rệp, gã hí hởn mừng rỡ.

Minh không muốn đến chơi với gã, chàng nằm ngửa mặt nhìn lên phòng giam nghĩ ngợi vẩn vơ. Minh bỗng nghe tiếng cười ồn ào ở góc tường đàng kia, chàng ngồi nhổm dậy, một đám đông ôm bụng mà cười, không biết chúng cười gì dữ vậy. Minh tò mò chạy tới xem chúng nói chuyện gì.

Gã quân phạm Triệu chí Dũng ngồi giữa chiếu, bọn quân phạm khác ngồi chung quanh, và nước bày đầy trước mặt Triệu chí Dũng, Minh không lạ gì gã nầy, gã là một thằng lém lĩnh nhất phòng, đặc biệt có tài kể chuyện tiếu lâm, nhìn thấy Minh gã vẫy:

– Lại đây, lại đây bạn, ngồi chơi với anh em cho vui.

Minh kiếm một chỗ ngồi, gã quân phạm Triệu chí Dũng nâng ly trà lên uống một hớp, nhai miếng kẹo đậu phộng rau ráu, gã lại uống thêm một hớp nước trà nữa, gã đưa mắt nhìn mọi người:

– Chúng bây nghe chuyện ông đại úy, và cô nữ trợ tá chưa?

– Chưa.

Gã nhún vai:

– Hay lắm, nhưng khi tao kể chuyện nầy phải có thằng nào tình nguyện đám lưng cho tao ngủ tao mới kể.

Một thằng hăng hái giơ tay:

– Tao.

– Xong rồi, nhưng tao còn việc này nữa, cần thêm một thằng khỏe mạnh.

– Việc gì?

– Khiêng nước, ngày mai tới phiên tao khiêng nước.

– Vậy thì phải thêm một chuyện nữa.

– Dĩ nhiên, chuyện người phế binh mù.

– Vậy cũng tao nữa.

– Mày làm luôn hai việc hả?

– Tao làm hai việc, ngày mai có thằng khác thay tao.

– Vậy thì được rồi, tao bắt đầu kể nghe.

Hàng chục đôi mắt nhìn vào gã quân phạm Triệu chí Dũng, gã khề khà bất chợt nhìn mọi người:

– Có thằng nào ở đây ghét xếp không?

– Thằng chó nào mà không ghét xếp.

– Vậy thì chúng mày phải biết nói xấu xếp.

– Nói xấu bị nhốt thấy mẹ.

– Nói xấu mà không nhốt được mới là tài chớ, tao nghĩ ra một chuyện để nói xấu xếp, hồi tao làm việc ở đơn vị, ông xếp tao là một ông đại úy rất hách dịch với nhân viên, ông ta lại có tính lơ đãng, một hôm ông đại úy xếp tao ngồi trong bàn làm việc, ông quên cài nút quần…

Có tiếng khúc khích cười, gã quân phạm Triệu chí Dũng tỉnh khô:

– Ông đại úy làm việc trong phòng riêng có gắn máy lạnh, chỉ khi nào nhân viên có việc gì mới được phép vào, và ông chỉ chấp thuận cho nữ quân nhân làm việc tại văn phòng được vào phòng làm việc của ông mà thôi. Trước cửa phòng của ông có một cái bàn nhỏ, cái bàn đó do trung sĩ Lai ngồi gác, ông trung sĩ này làm cái thân gác cửa nhưng hách không chịu được, từ lính tráng tới nhân viên làm việc ở đây đều ghét. Nhưng ông ta đâu biết điều đó, ông ta tưởng người ta sợ ông.

Gã quân phạm Triệu chí Dũng ngừng lời, uống một hớp trà. Những đôi mắt háu háu nhìn vào gã ta, cái miệng duyên dáng dẻo quẹo của anh ta bắt đầu uốn éo:

– Thế rồi một buổi sáng kia có một cô nữ quân nhân phải mang giấy vào phòng ông trình ký…

– Gay cấn đấy nhé.

– Câm mày, rồi sao nữa?

Gã quân phạm Triệu chí Dũng nhìn mọi người:

– Hình như lúc nãy tao có nói ông đại úy có tính lơ đãng phải không?

– Đúng, đúng như vậy rồi sao nữa?

– À ông lơ đãng tới quên cả gài nút quần…

Có tiếng cười:

– Tao biết ngay mà, thế nào cũng có chuyện gay cấn.

Gã quân phạm Triệu chí Dũng tỉnh bơ:

– Bất đồ cô nữ quân nhân trông thấy.

– Hay, rồi sao?

– Cô ta mắc cỡ quá.

– Nhào đến chớ?

– Bậy nào, ông Đại úy cũng không hay biết tí gì…

– Gay cấn ở chỗ đó.

– Cô nữ quân nhân thương xếp mình vô ý quá, muốn báo cho xếp mình biết nhưng không biết nói như thế nào, cuối cùng thì cô ta đành đi ra, sau khi đã trình ký xong.

Mọi người ồ lên một tiếng, có người phản đối:

– Vậy thì có gì là ác đâu?

Gã quân phạm Triệu chí Dũng bình tĩnh:

– Chưa, chưa hết đâu mà, các bạn. Cô nữ quân nhân ra ngoài, cô ta thắc mắc hoài, cô ta không thể để cho ông xếp mình phơi “cái ấy” mãi được, cô ta sợ nó lạnh, bởi vì ông xếp ngồi ở phòng lạnh mà, cô ta muốn nói cho xếp nhốt nó lại.

– Thì đi vô nói phứt đi cho được việc.

Cô ta đi vô, nhưng con gái mà, ai lại nói tục, nói tĩu vậy. hỏi: Ông đại úy thấy cô ta trở vô, ông hỏi:

– Ủa, cô còn vô đây làm chi vậy?

Những đôi mắt bọn quân phạm sáng lên, những cái miệng như sắp sửa cười. Mặt gã quân phạm Triệu chí Dũng vẫn tỉnh bơ:

Cô ta bèn nói với ông đại úy:

– Thưa đại úy, khi em vô đây em thấy cái cửa sổ mở.

Ông đại úy hỏi lại:

– Cái cửa sổ mở rồi làm sao?

Gã quân phạm Triệu chí Dũng ngưng lời, có một vài tiếng cười xì xì, gã tiếp:

– Cô nữ quân nhân mắc cỡ quá, ông đại úy lại tiếp hỏi: “Cái cửa sổ mở rồi làm sao? Cô thấy cái gì ở đó?”

Một vài tiếng cười nhưng Triệu trí Dũng vẫn bình tĩnh, gã muốn kéo giây phút hồi hộp dài thêm ra, gã uống một hớp nước trà, nhai thêm một cái kẹo:

– Cô nữ quân nhân bèn trả lời: “Thưa đại úy, em thấy trung sĩ Lai nằm trên hai bao cát.”

Bọn tù cười phát lên, chúng cười rũ rượi, ôm nhau cười bò lăn bò lết.

– Hay, hay tuyệt.

Minh cũng không nín được cười, chàng thấy tâm hồn mình thoải mái; những buồn phiền phút chốc đã tiêu tan, bọn quân phạm cười đã đời lại nhao nhao:

– Còn chuyện phế binh mù?

Gã quân phạm Triệu chí Dũng khất lần:

– Thôi mình để dành đến mai đi, một đêm kể hai chuyện mất hay.

Bọn quân phạm năn nỉ nhưng Triệu chí Dũng vẫn ngồi tỉnh bơ uống trà.

Đêm khuya dần, bọn quân phạm có thằng bò về chỗ ngủ, tiếng kèn giới nghiêm vang lên ngoài bồn nước.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 13 Apr 2025

Chương 11.

MINH KHÔNG NHỚ MÌNH NẰM ĐÂY MẤY NGÀY RỒI, hình như là ba ngày thì phải, và chàng cũng biết mình không còn nằm ở phòng An ninh Không Quân nữa, chàng đã được đưa đi, tới một nơi điều tra khác, nơi mà phương pháp điều tra tinh vi hơn, chuyên môn hơn.

Tại đây, Minh thấy đủ bộ mặt của đủ hạng lính thuộc các binh chủng khác nhau. Quân, lính, có cả sĩ quan cấp tá nữa, họ cùng chung số phận như Minh, tù quân.

Mới buổi sáng này, Minh chứng kiến một pha đánh đập ngoạn mục, pha đánh đập đó diễn ra ngay trước mặt Minh và quân phạm.

Một ông đại úy được đưa xuống phòng, tới trước cửa phòng người hiến binh đưa tay chào ông đại úy, ông đại úy chào lại, người hiến binh nói:

– Thưa đại úy, đại úy vui lòng cho tôi được tháo bộ lon của đại úy.

Ông đại úy đứng yên cho người hiến binh tháo gỡ bộ lon, xong anh hiến binh lại nói:

– Đại úy cho tôi được tháo nốt huy chương trên ngực, để tôi làm tròn phận sự.

Ông đại úy đứng yên, sau khi tháo hết những thứ trên người ông, người hiến binh trao cho một người lính mang đi cất, người hiến binh nói với ông đại úy không cấp bậc:

– Bắt đầu từ giờ phút này ông không còn là đại úy nữa. Không, tôi nói là tạm thời ông không còn là đại úy nữa, tôi toàn quyền hành động.

Người đại úy không cấp bậc nhìn anh hiến binh, giọng ông buồn bã:

– Còn gì nữa?

– Tôi làm phận sự nhập phòng giam cho ông.

Minh và các bạn biết sẽ có chuyện gì xảy ra, nhưng ông đại úy thì hoàn toàn không biết. Tất cả mọi người chờ đợi, người hiến binh tung liền quả đấm vào mặt ông sĩ quan không cấp bậc. Ông sĩ quan ngã chúi, ông gượng đứng lên, ông liền bị một cái đá vào ngay mạng sườn, ông la lên:

Tại sao ông đánh tôi? Người hiến binh trở mặt liền:

– Tôi ra lệnh cho anh đứng nghiêm, anh không biết anh đứng trước mặt tôi, một trung sĩ hay sao?

Người đại úy không cấp bậc gượng đứng dậy, anh hiến binh túm ngực:

Anh phải hiểu, tôi muốn anh sáng mắt ra, anh không còn là một sĩ quan nữa, bây giờ anh là một quân phạm.

Người hiến bình tát lia lịa vào mặt ông ta, Xô ông ta chúi vào phòng giam rồi đóng cửa lại. Ông ta chửi thề.

Một ông thiếu tá cũng đã bị lột cấp bậc tiến lại, đỡ ông đại úy:

– Anh nên đi tìm một chỗ nằm, đừng chửi thề nữa vô ích, tôi là thiếu tá, tôi cũng bị đối xử như anh, tất cả anh em ở đây đều bị đối xử như thế, rất công bằng…

Ông đại úy nhìn vào mặt ông thiếu tá, ông ta có vẻ hiểu, ông thều thào nói:

– Cám ơn thiếu tá…

Ông đại úy lê về một góc nằm. Ông nằm như con tôm, ôm lấy đầu, dáng của ông trông thật tội nghiệp.

Bây giờ ông đại úy đã ngủ say, ông ta ngủ một hơi dài.

Minh buồn bã, chàng không bao giờ nghĩ, mình lại nằm đây, không bao giờ chàng nghĩ rằng mình bị ghép tội một cách vô lý thế được. Người an ninh điều tra hỏi đi hỏi lại:

– Tại sao mày làm việc đó, ai xúi mày làm?

– Thưa, không ai xúi tôi làm hết, tôi đứng gần chỗ đó, một người trung sĩ kêu tôi lại, đưa tôi cầm bình chữa lửa, ông ta nhờ tôi thì đúng hơn. ông ta nói mắc đi tiểu.

– Người trung sĩ đó tên gì?

– Tôi cũng không nhớ anh ta tên gì.

– Vậy là mày lãnh đủ mày biết không?

– Oan cho tôi…

Minh nhớ mình bị đánh, bây giờ nằm đây người chàng đau ê ẩm, chàng đau từng bắp thịt, từng khớp xương, chàng cũng không ngờ được mình lại có sức chịu đựng bền bỉ đến như vậy. Minh ngồi tựa lưng vào góc tường, chàng lơ đãng nhìn ra ngoài cửa sổ, ngoài ấy có một cây lớn, màu xanh của lá cây làm tâm hồn chàng dịu lại, xung quanh chàng những tiếng rên rỉ, những người vừa bị tống từ phòng điều tra về hầu hết trong phòng này là sĩ quan. Họ bị bắt trong vụ biến động vừa qua, mỗi người ngồi yên một xó, không ai nói với ai một câu, vẻ mặt họ lầm lỳ, chịu đựng.

Trời tối dần, Minh nhìn thấy bóng lá cây ngoài song sắt xẩm màu dần. Chàng nghĩ bụng, tội mình không có gì, họ bắt bớ sơ sơ rồi thả chàng ra. Minh lại nghĩ đến Ngọc, đã mấy ngày nay rồi chàng không được về với Ngọc, có lẽ nàng mong Minh lắm, mình thật là xui xẻo.

Minh nghe tiếng lục cục mở cửa, người lính an ninh mang cơm vào phòng giam, mấy người sĩ quan ngồi dậy, ông thiếu tá vỗ tay:

– Anh em ăn cơm.

Riêng ông đại úy vẫn nằm một xó không nhúc nhích. Ông Thiếu tá đến cạnh, lay vai ông đại úy:

– Dậy ăn cơm đi bạn.

Người đại úy uể oải:

– Tôi không ăn.

– Phải ăn, không ăn bạn không có sức mà chịu đựng đâu?

Ông thiếu tá cố dìu ông đại úy dậy:

– Ráng ăn một hai chén đi, mình còn sống về lâu về dài chớ đâu có sống về lúc này không.

Ông đại úy nể lời ông thiếu tá, tới mâm cơm, ông ta tâm sự:

– Thật tình tôi không biết gì hết, tôi oan hoàn toàn.

Ông thiếu tá cười:

– Ở đây nhiều người oan lắm chứ không phải mình bạn. Tôi thì không oan, họ bắt tôi rất đúng.

Ông thiếu tá ăn cơm ào ào, ông vui vẻ. Minh cũng uể oải ra mâm cơm, ông thiếu tá hỏi:

– Còn chú mày tại sao bị bắt?

– Thưa Thiếu tá tôi cũng không biết nữa.

– Chú có oan không?

– Tôi không biết có oan không, tôi là lính Không Quân, khi ông Đại tá Thi lên máy bay trốn đi, người ta có sai tôi cầm cái bình chữa lửa, đứng dưới cánh máy bay khi máy bay nổ máy, sau đó họ bắt tôi.

– Vậy là chú không oan, chủ đã mặc nhiên giúp cho loạn quân tẩu thoát.

Minh lặng yên ăn uống, chàng ăn cơm ở đây còn ngon hơn ở trại. Mặc dầu là tù, nhưng Minh được ăn theo qui chế sĩ quan. Ăn uống xong, Minh lại ra nằm một xó, chàng muốn ngủ một giấc, chàng muốn nằm mơ thấy Ngọc, trong mấy ngày nay chàng hy vọng mơ thấy Ngọc, nhưng chưa bao giờ chàng được như ý.

Chàng nghĩ đến Ngọc, bất cứ lúc nào, chàng nhớ nụ cười dễ thương của nàng, nếu không có vụ bắt bớ này xảy ra, có phải là bây giờ Minh đang sống hạnh phúc với nàng không. Minh nghĩ đến sự chiều chuộng của nàng, những lời nói tha thiết của nàng. Em không còn ai ngoài anh, em biết anh là người khá, nhưng sao anh chán đời vậy anh, anh sống với em anh sẽ tìm thấy hạnh phúc…

Những lời nói ấy bây giờ trở nên xa xôi. Minh hy vọng rằng sau khi người ta điều tra xong, người ta không thấy Minh có tội gì, họ sẽ thả Minh, lần này nhất định chàng sẽ làm đơn xin giải ngũ, bất giác Minh thở dài.

Minh đang thiu thiu ngủ, bỗng chàng tỉnh dậy vì có tiếng kẹt cửa, rồi có tiếng gọi tên chàng. Minh đứng dậy, những đôi mắt nhìn theo chàng. Người hiến binh nói:

– Đi theo tao.

Minh đi theo hiến binh, trên một hành lang dài có gắn những đèn điện vàng vọt. Tới trước cửa phòng điều tra người hiến binh xô Minh vô:

– Vô.

Minh vừa lọt vào, khung cửa phòng điều tra đóng ập lại, Minh nhìn một người ngồi ở sau bàn, ánh đèn chụp chiếu xuống mặt bàn. Minh không nhìn rõ mặt người đó, chàng chỉ nhìn thấy hai tay ông giở hồ sơ. Căn phòng im lặng đến nỗi Minh nghe rõ tiếng giở giấy sột soạt.

Người điều tra viên bận áo thun. Minh nhìn thấy bắp thịt trên cánh tay ông ta. Tập hồ sơ gấp lại bàn tay ông ta vỗ trên mặt bàn kêu thình một cái, ông ta điều chỉnh cho cái mặt đèn chiếu thẳng vào mặt Minh. Ánh sáng đèn quá sáng làm Minh chói mắt, tiếng nói từ trong bóng tối vang ra:

– Thế nào, mày có chịu khai gì thêm không?

– Thưa tôi đã khai hết cả rồi. Một tiếng cười gằng:

– Mày có hiểu mày khai như vậy chưa đủ không?

– Thưa tôi chỉ biết có thế.

Bước chân người đàn ông di chuyển, ông ta tiến ra nơi có ánh sáng, Minh nhìn rõ ông hơn, đó là một người đàn ông còn trẻ, khỏe mạnh, bàn tay hộ pháp nắm lấy vai Minh, nhìn thẳng vào mặt Minh:

– Mày có hiểu là mày khai như vậy chưa đủ không. Trong vụ này có nhiều điều bí ẩn, tao không bao giờ tin mày vô tình cầm bình chữa lửa, chuyện này phải do một tổ chức, tao muốn mày khai những người đã sai mày làm việc đó, mày thuộc phe nhóm Phan Phụng Tiên phải không?

Minh khổ sở, chàng không biết phải khai ai, sự thật chàng không thuộc một phe nhóm nào hết, chàng cầm bình chữa lửa hoàn toàn do vô tình.

Minh lắc đầu:

– Sự thật tôi vô tình, tôi không thuộc phe nhóm nào hết.

Vừa dứt lời Minh bị ngay một cái tát, cái tát quá mạnh làm chàng ù đặc một bên tai, chàng ngã ngồi bệt xuống sàn xi măng, người điều tra viên buông tiếng chửi thề. Ông ta vung chân đá mạnh một cái vào ngực chàng, một tiếng hự, Minh nằm thẳng cẳng ra sàn, chàng oằn mình, một bên tai úp xuống sàn, Minh nghe tiếng giày di chuyển, mũi giày ở ngay trước tầm mắt chàng Minh không thấy đau đớn, chàng chỉ thấy nghẹt thở, chàng có cảm tưởng một cái cối đá đang đè trên ngực chàng. Chàng nằm nghiêng thấy dễ chịu hơn, Minh mở mắt thật to nhìn mũi giày, nóng nảy giận dữ xiết trên nền xi năng, mũi giày có thể tung lên bất cứ lúc nào, nhưng không hiểu sao trước tình thế này, Minh thấy mình bình tĩnh một cách lạ, chàng nhìn mũi giày, chàng không nghĩ ngợi gì đến nó, rồi đôi mắt Minh mờ dần, chàng thấy mũi giày di động. Minh thấy ran rát một bên tai, à thì ra chiếc giày đã đặt lên một phần của đầu chàng, chiếc giày ấn càng lúc càng mạnh trên màng tang chàng. Minh thấy đầu mình nhức buốt, chàng có cảm tưởng cái đầu mình sắp sửa bể ra làm đôi, như một trái dừa. Minh hét lên một tiếng, chàng lịm đi, chàng thấy hàng trăm mũi giày đang múa trước mặt mình.

Người điều tra viên nhấc chiếc giày ra khỏi đầu Minh, anh ta cúi nhìn xuống, máu mũi máu miệng tên quân phạm đã hộc ra, anh ta khoanh tay đứng nhìn, anh đành bất lực với thằng này, anh nghĩ bụng có lẽ nó vô tội thật, đã ba ngày hôm nay anh mất công điều tra nó, nhưng vô hiệu. Nó giữ nguyên lời khai đó, nó cũng không khai bậy khai bạ cho ai để đỡ bị đòn, nó chỉ là một thằng lính khờ khạo, có lẽ nó khai đúng sự thật, anh ta cũng thấy mình mệt mỏi vì công việc của mình.

Thằng lính vẫn nằm thiêm thiếp trên sàn, người điều tra viên tới một góc phòng múc một số nước, tạt vào mặt nó. Thằng lính cử động chớp chớp mắt mấy cái, người điều tra viên vẫn đứng trước mặt nó:

– Dậy đi mày.

Minh lại nhìn mũi giày trước mặt mình, chàng nghĩ có thể mũi giày đó tung vào ngực mình, khi mình ngồi dậy. Người điều tra viên nhắc lại:

– Ngồi dậy. Minh lắp bắp:

– Thật tình tôi không biết, xếp có đánh chết tôi cũng vậy mà thôi.

Miệng người điều tra viên dịu dàng hơn:

– Ngồi xuống ghế đi.

Minh ngồi xuống ghế nhưng còn ngại ngùng, chàng sợ như lần đầu, chàng theo lệnh hắn ngồi xuống ghế, vừa đặt đít bị gã đấm một phát. Gã điều tra viên hình như hiểu Minh, gã cười:

– Tao không đập mày đâu, lau máu đi…

Gã làm ra vẻ xót xa:

– Thiệt tình tao không muốn đập mày chút nào hết, nhưng kẹt đó là lịnh của cấp trên. Thôi thì bây giờ tùy mày, mày muốn khai gì thì khai đi.

Minh mệt mỏi:

– Tôi không có gì khai hết, ngoài chuyện tôi bị oan uổng, xếp có đánh chết tôi cũng vậy thôi.

– Sao mày ngu quá vậy?

Minh ngẩng lên:

– Tôi không hiểu…

– Có đếch gì mà không hiểu, mày cứ khai đại cha nó sĩ quan nào đó mà mày ghét, ai cấm mày.

Minh lắc đầu:

– Tôi không thể làm chuyện đó, vì làm gì có chuyện đó, quả là thất đức.

– Mày còn có lòng lắm, bây giờ tao tha mày, mày tính sao?

– Đó là tùy xếp.

– Đừng nói cứng chớ, cứ năn nỉ tao thì hơn.

– Dạ tôi chỉ năn nỉ xếp đừng đánh tôi nữa, vì tôi không có tội gì hết, ngoài tội tôi đã nhận là tôi cầm bình chữa lửa, do một người khác giao lại cho tôi.

Gã điều tra viên cười:

– Tội nghiệp quá nhỉ?

Minh ngồi cúi gầm mặt, bây giờ chàng mới tin phần nào. Gã điều tra viên có ít thiện chí, gã ngồi khoanh tay trước mặt chàng:

– Lần đầu tiên tao chịu thua một thằng, nhưng nói thua thì không đúng, tao cũng xét thấy mày không có tội gì ghê gớm lắm nên bỏ qua vậy thôi.

– Cám ơn xếp.

Tuy còn đau khắp thân thể nhưng Minh cũng thấy vui vui, chàng hỏi nhỏ:

– Như vậy là tôi được tự do chớ xếp?

– À, cái chuyện đó không thuộc quyền của tao.

– Thưa xếp, tôi phải làm sao?

– Tao chỉ có thể ghi vào hồ sơ đó gởi lên tòa để tòa định đoạt.

Gã nhìn từ đầu đến chân Minh:

– Tao nói với mày cũng bằng thừa. Phải chi mày không đến nỗi tệ bạc, thì tao có thể bày cho mày một cách.

Minh hối hả hỏi:

– Dạ thưa…

– Mày rách lắm phải không?

– Dạ tôi nghèo lắm, tôi là lính…

– Đó, kẹt là vậy đó, mày rách quá mà.

Minh vẫn không hiểu gã muốn nói gì, nhưng chàng nghĩ đến tự do, chàng hối hả hỏi:

– Thưa…

– Nếu mày bảnh một chút, tao chỉ cho mày cách chạy thuốc.

– Nghĩa là được tha?

– Chớ còn gì nữa, bộ mày không muốn được tha sao?

– Dạ muốn chớ, nhưng tôi phải làm sao?

Gã điều tra viên vẫn nhìn chàng:

– Mày có thân nhân không?

– Tôi không có ai.

– Vậy thì không được, phải chi mày có thân nhân, hoặc có tiền mày có thể mướn một luật sư xin cho mày.

Minh thoáng nghĩ đến Ngọc, nhưng chàng không muốn làm phiền tới nàng, chàng nghĩ bụng rằng mình là kẻ vô tội thì trước sau gì người ta cũng sẽ tha chàng.

Người điều tra viên thất vọng:

– Thôi, mày vô tội, dù có ra tòa sẽ cũng không sao, tòa sẽ căn cứ theo hồ sơ của mày, bây giờ chúng tao tạm giam cứu, mày ra tòa cứ giữ lời khai như thể cho tao, bây giờ mày ký vào bản khẩu cung này đi, ngồi chờ một chút tao viết, đọc lại cho mày nghe rồi mày ký tên xuống dưới. Gã điều tra viên đẩy bao thuốc tới trước mặt Minh:

– Ngồi chơi chờ tao, hút thuốc đi mày.

Minh thấy gã có vẻ thành thật, chàng không ngần ngại gì, chàng nói một tiếng cám ơn nhỏ rồi rút thuốc, gã điều tra viên cắm cúi ghi chép, lâu lâu gã lại ngẩng lên hỏi Minh một vài chi tiết cần thiết, cuối cùng hắn nói:

– Xong rồi đấy.

Gã cất tiếng đọc cho Minh nghe, Minh mừng rỡ vì những lời hắn chép đúng như lời chàng đã khai, dù muốn dù không Minh cũng thầm cám ơn hắn.

Đọc xong, hắn ngẩng lên nhìn Minh:

– Được chưa mày?

– Cám ơn xếp. Rất đúng. Gã chửi thề một câu:

– Tổ cha nó, ngu gì mà ngu quá không biết, tự nhiên xớ rớ tới đó làm chi cho mang họa chớ, đơn vị mày gởi mày đến đây không lẽ tao không làm gì, tao cũng phải làm tí ti cho có chuyện, rồi kết thúc sổ sách chớ, cái bản mặt mày mà làm loạn sao được.

Gã đẩy cuốn sổ ghi chép tới trước mặt Minh:

– Ký tên vào đây đi, mai tao cho đánh máy tất cả lại những lời khai của mày, mày ký tên lại.

Minh mừng rỡ, chàng không ngần ngại gì ký tên vào dưới liền, gã điều tra viên cũng có vẻ hài lòng:

– Yên trí về đi, từ nay mày khỏi lên đây nữa và tao mong rằng đừng bao giờ mày vác mặt lên.

Minh đứng dậy, chàng náo nức trong lòng:

– Thưa xếp bao giờ thì tôi được thả?

– Mày còn phải ra tòa, còn tùy ở dự thẩm đoàn, người ta thấy mày không có tội tình gì thì người ta thả mày.

Gã điều tra viên bấm chuông, một lát người hiến binh đẩy cửa đi vào, gã điều tra viên ra lịnh cho anh hiến binh mang Minh về phòng giam, gã không quên nói với người hiến binh:

– Còn ông quan quyền nào chú mang nốt lên đây.

Minh được đi về phòng giam, chàng vui mừng, chàng muốn nói với bất cứ ai sự vui mừng của mình. Mấy ông Tá ông Úy nằm lầm lỳ không ai hỏi han gì đến Minh. Người đại úy tới hồi sáng được dựng dậy, ông ta kêu um lên:

– Trời ơi, các người kêu tôi đi đâu, tôi đã khai tôi vô tội rồi mà.

Người hiến binh lạnh lùng:

– Xin đại úy cho tôi làm phận sự, tôi chỉ có nhiệm vụ áp giải đại úy lên phòng điều tra, tôi không biết gì hơn.

Ông thiếu tá cũng nói:

– Đại úy cứ đi đi, không chết đâu mà sợ.

Ông đại úy đành đứng dậy một cách cực khổ:

– Trời ơi, tôi không ngờ được…

Tiếng rên siết của ông ta ra khỏi phòng giam khi cánh cửa sắt đóng lại, ông thiếu tá mới hỏi Minh:

– Còn mày sao?

– Thưa Thiếu tá tôi vô tội.

– Thằng nào vô đây không kêu là vô tội, nhưng tao muốn hỏi cuộc điều tra ra sao?– Tôi không nhận những tội người ta gán ép cho tôi.

– Được không?

– Dạ được, tôi có ký tên rồi.

– Thật vậy sao mày?

– Vâng, ông điều tra viên nói: Khi nào ra tòa tôi sẽ được trả tự do, được trả về đơn vị cũ.

Ông Thiếu tá gật gù:

– Ừ, có thể lắm, mày có tội dại dột.

– Dạ tôi dại thiệt.

– Nó có đánh mày không?

– Dạ có nhưng không sao, miễn là tôi vô tội.

Ông thiếu tá cười:

– Mày can đảm lắm, tao cũng mừng cho mày.

Minh vui miệng hỏi ông thiếu tá:

– Thiếu tá đã khai xong chưa?

– Tao hả, chưa đi đến đâu hết.

Ông thiếu tá nằm xoay vào tường, ông không muốn nói chuyện nhiều. Minh cũng không cần nói chuyện, lúc này chàng chỉ muốn nằm yên, để tưởng tượng đến ngày tự do của mình, mình phải làm nào báo tin cho Ngọc biết, để ngày đó nàng ra tận tòa đón chàng, chỉ nghĩ đến điều đó Minh đã thấy vui vui trong lòng.

Minh khép mắt, chàng ao ước những điều vu vơ, sau khi ra khỏi tù, chàng sẽ xin giải ngũ. Chắc chắn đơn vị chàng sẽ cho chàng giải ngũ, chàng sẽ đi làm một nơi khác hoặc giả học lấy một nghề gì đó để đời sống của chàng được sống đỡ khổ hơn. Chàng sống với Ngọc, rồi chàng có những đứa con, Minh không muốn tưởng tượng thêm nữa, chàng muốn ngủ một giấc, chàng ao ước thấy Ngọc, chắc chắn phải đẹp.

Minh bỗng nghe tiếng ông đại úy la lên ở phòng điều tra, người điều tra viên quát tháo.

Minh ngồi nhổm dậy, các người cùng phòng Minh đều ngồi nhổm dậy.

Khi người ta đưa ông đại úy về phòng, ông ngồi không nổi. Người ông ướt mèm, ông nằm một xó rên ừ ừ. Minh không muốn nhìn cảnh ấy.

Ông thiếu tá trờ dậy, ông tới bên ông đại úy an ủi.

Ba ngày sau, Minh được đưa ra tòa, ông dự thẩm cho chàng biết, Minh bị tạm giam, chờ quyết định của tòa án. Khi ra xe Minh tự an ủi: trước sau gì mình cũng được về, mình đâu có tội tình gì.

Vô hậu kế đợi

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Post on Dec. 13, 2016

Post by Sơn râu 12 Apr 2025

  “Những ngày chưa tới mùa xuân sao thấy lòng buồn vô hạn”. Anh dùng thang cuốn đi xuống hầm sâu đợi chuyến métro, gió buốt theo anh, u u ngân dài trong lòng đường tăm tối. Anh đọc thầm rồi chợt nhận ra đó là câu thơ của Đinh Cường làm khi còn ở Huế. Những bức tường bám đầy rêu xanh vây bọc lấy khối sương mù chậm loãng tan giữa một nội thành luôn giữ chặt sự u ẩn. Câu sau có thể là “có ai hát bài tình sầu, ta một mình giữa bờ thành cũ”? Anh không nhớ rõ, dường như vậy, mọi thứ chừng đã hư hao, trầy trụa, thất thoát.

Ừ, cuối năm, buồn ở phương này thật không bút mực nào tả xiết. Anh vừa từ bệnh viện trở về, vẫn đón nghe những câu hỏi quen thuộc: Có dị ứng sau khi uống thuốc không? Ban đêm đi tiểu mấy lần? Đã từng qua một lần phẫu thuật chưa? Trong nhà có ai mắc phải ung thư?.. Trước đó, khi ngồi chờ gọi tên, anh đã buồn tay vớ lấy một tờ tạp chí giở lật giết thời gian: “Theo khám phá mới của các nhà khoa học, con thông minh là do mẹ tác thành”. Và theo di truyền nếu bố mẹ bạn bị cancer, ắt bạn sẽ không tránh khỏi? Thời xưa, người ta chết đi bởi những thứ vớ vẩn. Khi nghe hỏi: Đau răng mà chết? Trả lời rằng: Bị trúng gió hoặc bất quá do bạo bệnh gây nên, chưa thể nhìn ra nguồn cội để gọi tên. Vì vậy anh đã thưa với ông bác sĩ: Dạ không ạ, gia đình tôi chẳng mắc mớ gì tới ung thư cả. Và thời đó, sống tới năm mươi tuổi đã được gọi là cụ. Thật khổ thân! Thân đèo bồng biết bao cơ man là rắc rối: Tim, phèo phổi, thận, mề, gan, cật, lòng, dạ dày, nhồi trường… thậm cắc cớ. Phật nói: Khổ đau của chúng sinh phát sinh từ cái lưỡi mà ra. Nhưng nếu chẳng có cái không xương nhiều đường lắc léo nọ thì biết khai bệnh gì cho bác sĩ nghe? Ú ớ cũng dễ gây tử vong vậy! Truyện Kiều có một câu “đắc đạo”: Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Không đi vào cầu tre hẳn chẳng nghiệm ra cái lắc lẻo gập ghềnh nó có?

Những ngày cuối năm bơ vơ đi xuống đường hầm anh thấy mình như con trẻ. Một thằng đàn ông thọ quá 50 vẫn nghe ra lòng mềm khi hắn chợt nhớ tới mạ. Tuy không thông minh anh biết là mạ anh chết bởi ung thư. Nếu có di truyền, anh tin là mình được thừa kế ở bà ở tính ham chuộng văn chương. Mạ anh đọc nhiều sách truyện và có trí nhớ dai dẳng khi thuật lại những mối tình được dựng nên qua văn phong tài hoa của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Loan thế này Dũng thế nọ Vọi thế kia. Bà có những chữ chính xác để bình phẩm anh: Đồ mạt máu! Ai khiến bà thất vọng thì đón lấy câu: Vô hậu kế đợi! Hoặc than van với thành ngữ nhiều ẩn dụ: Hết xôi rồi việc! Gom chúng lại, giờ này anh xứng đáng để nhận lãnh, không sai trật lời mạ quở. Anh từng sửa câu ca dao: Mạ ơi xin đánh con đau, để con hiểu thấu vết thương dại khờ. Ăn năn luôn đến muộn, lên tới bờ mới hay đấng sinh thành mãi còn cực lòng bơi giữa bao triều cao sóng lớn. Trong trí anh luôn hiện rõ nét vuông bếp chật, mái tranh củi ẩm và cơn gió sắt se mùa đông xứ Huế luồn thổi “tiền nhà khó như gió vào nhà trống”. Bề thế nhất là cái tủ gỗ với hai cánh cửa lưới ngăn chặn ruồi muỗi, bốn chân tủ được ngâm trong bốn cái tô luôn châm nước nhằm bảo vệ không cho kiến gián bò lên và cái tủ đựng thức ăn ấy được mọi người đồng lòng gọi theo tiếng Tây: Gạt-măng-rê. Cạnh lối vào ra kê một cái lu lớn, dung tích không dưới 60 lít đựng nước giếng gánh vào từ ngoài sân. Cũng vì vệ sinh nên cái lu bằng sành, bằng gốm, bằng đất nung kia luôn được đậy kín bởi một cái đĩa hát bằng đá với vòng quay 33 chứ không phải 45 tua. Có từ thời thuộc địa Pháp, trầy vi tróc vảy chẳng đọc ra tên hãng ghi âm cũng như bài hát hoặc người trình diễn cùng năm tháng sản xuất. Một bữa chẳng hiểu do nguồn cơn nào xúi, mạ nói với anh: Con út trút gia tài, con có ưa thích một đồ vật nào trong nhà mình không? Và anh trả lời chẳng suy tính: Cái lu đựng nước. Hình như đã có nhiều tiếng cười trỗi lên đi cùng lời nhận xét: Cái thằng thiệt dại ngỗ! Tuổi nhỏ không hề biết dệt mộng mơ, sau này anh thoáng mơ mộng để nghe bần thần, chẳng biết số phận cái lu kia đã ra sao giờ này? Cá không có nước cá chết, cái lu bị vỡ lấy gì để vo gạo thổi cơm, nấu canh, rửa mặt mũi tay chân?

Tàu điện ngầm chạy qua năm trạm thì anh đứng lên bước ra khỏi toa, đứa con anh thuê nhà ở gần đó, hắn có nhắn anh tới để nhận quà. Khi anh bằng tuổi hắn giờ này, ba mạ anh đã mất, có nghĩa là lúc kiếm được việc vàng muốn biểu lộ chút lòng thành thì thời gian đã không chịu chờ đợi anh. Con anh sinh ở đây, xong đại học và lao vào trường đời ngay. Nó có duy một khuyết điểm, nói tiếng mẹ đẻ khó khăn, tệ hơn một tội phạm bị bắt quả tang và thêm chuyện nữa nếu có thể gọi đó là khuyết điểm: Nó chưa có vợ, bạn gái cũng chẳng thấy hoặc hắn là một con mèo biết dấu cứt. Theo cách hắn trần tình rằng công việc tối mắt tắt đèn nên cũng chả màng việc học cách nấu ăn. Ăn gì cũng xong và dĩ nhiên là cúng tiền vào các hàng quán bốn bể năm châu “thực bất tri kỳ vị”.

Hắn hỏi: Ba đi khám kết quả ra răng? Anh nói: Thì cũng rứa, không bi quan chẳng khả quan, chớ nên quan hoài. Hai cha con đều thuộc loại ít nói, hơi xa cách bởi mỗi người ý thức là đã có hai thế giới khác nhau hiện hữu. Anh không tìm ra lỗi lầm hắn mang, anh thương hắn vì trong nhà có chưng hai tấm ảnh đen trắng của ba mạ anh. Bạn con nhận xét, mặt mày hơi buồn, phảng phất nhiều nét giống như bà nội. Không cứ là anh, nếu mạ còn sống hẳn bà sẽ thương đứa cháu nội mạt máu chẳng biết trau dồi tiếng Việt này. Hắn mang quà tới cho anh, một đôi giày mang trong mùa đông. Con xem trong internet quảng cáo rằng bạn có quyền hát bản “La vie en rose” khi bình thân đi trên tảng băng trơn láng. Dưới đế giày họ dùng một chất nhựa đặc biệt biết bám chặt nước đá mà không cần tới những cái đinh sắt. Anh từng đặt nghi vấn, tại sao cái xứ văn minh này chẳng thể phát minh được một sản phẩm giúp người ta bớt gặp cảnh nguy khốn, thôi té lăn chiên đổ đèn trên đường. Hắn nghe, lưu trong bộ nhớ để khi giày vừa xuất xưởng, hắn đã tiên phuông mua tặng một đôi cho anh thử nghiệm. Anh nói nhỏ: Merci. Anh từng cám ơn thằng con trai nhiều bận, năm ngoái cũng vậy, nó mang lại tận nhà trao cho anh cái MacBook Air: Quà sinh nhật của ba. Ba mạ anh đẻ anh ra ngày tháng nào anh cũng không nhớ, vậy mà hắn nhớ. Mắt hắn to, hơi buồn, rõ là hắn giống mạ anh quá. Ta thương mạ ta mười thì thương mi cũng đến chín phần vậy!

Hắn biết anh có viết truyện ngắn, hắn hỏi viết nhiều thế ba không tính in thành sách sao? Ba dọ hỏi xem phí tổn là bao nhiêu, con sẽ giúp ba làm tròn niềm vui. Phi lý. Anh trả lời. Một đứa bỏ đầu óc, bỏ công sức để lao động ra chữ, đứa ấy sẽ chẳng thể hy sinh thêm bất kỳ một thứ gì khác. Một người mẹ cấn thai rồi sinh đẻ, chuyện ấy linh thiêng và cao cả hơn bội phần. Anh nói với hắn, in một tập truyện thì được gì? Những gì ba viết thì bà nội đã không thể xem được. Còn con? Hồi nào ba viết được tiếng Pháp tiếng Anh thì hẳn hay.

Anh ôm món quà giúp đi những bước thăng bằng trên giá băng tiến về cánh cửa. Chiều bôi màu tối đen ngoài ô kính và anh cũng nên trở lại nhà đốt thắp những bóng đèn cháy đỏ giữa đêm trường. Ở vách, gần lối ra vào con anh có treo cái poster chụp khuôn mặt điển trai của tài tử Al Pacino, người từng thủ vai Michael con của bố già trong phim Godfather cùng câu nói của đương sự: “Tôi cầu xin thượng đế một chiếc xe đạp nhưng tôi hiểu ngài không sẵn lòng cho những ước muốn kiểu đó. Do vậy tôi đi ăn trộm chiếc xe và cầu xin sự tha thứ từ ngài”. Tấm poster lung lay khi cửa mở. Bye con. Dạ, ba về.

Tuyết rơi đầy trời khi anh ra khỏi cửa. Nếu đứng yên trong nửa giờ, tuyết sẽ chôn lấp anh, che phủ một linh hồn lạc lối. Tuyết xuống chuyên cần, lặng lẽ, vô tiền khoáng hậu. Không, chữ đó chẳng sánh được với vô hậu kế đợi. Ở đời này anh không tin tới sự có mặt của thượng đế nên anh chẳng cần phải cầu xin một điều gì cả. Anh thầm mong ở quê nhà, mùa mưa lũ về không làm xói mòn mộ phần ba mạ anh. Ừ, sao nghe lòng buồn vô hạn, những ngày cuối năm già cỗi, đầy thương tích.

Hồ Đình Nghiêm

Dec. 13, 2016

Việt vị (2)

sangtao.org

Posted 29/09/2017 

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 12 Apr 2025

Cách đây mấy hôm, khi bài “Việt Vị” của tôi được đi trên trang Sáng Tạo, một số người đọc đã đồng cảm và chia sẻ. Một chị, có thể vì không am tường môn football (bóng đá) đã thắc mắc: Có ý gì khi dùng chữ “mơ hồ” ấy làm tựa đề? Thưa chị, Việt vị là một lỗi lầm trong luật chơi của môn đá banh, tiếng Anh gọi là Offside, tiếng Pháp thì kêu là Hors-jeu. Tiền đạo xuống sâu hơn vị trí của hậu vệ đối phương trước khi banh được chuyền giao thì trọng tài biên sẽ phất cờ báo: Lỗi việt vị. Thời bé, bọn nhóc chúng tôi thì dùng chữ: Đồ ham ăn cơm cháy. Lớn chút nữa (có thể do thời cuộc tác động) đã gọi mấy tên ưa “lấn đất” ham ghi bàn đó là dân nằm vùng. Nếu chị thấy chưa đạt thì xin hiểu sang một nghĩa khác. Việt vị là phong vị của người Việt.

Ngỡ đã chấm hết, tưởng đã “point final” ai dè lòng này vẫn còn tham, sân, si. Đôi khi trên sân cỏ đã có những tình huống làm thủng lưới đối phương dù mắc phải lỗi việt vị. (Bôi trơn trọng tài biên? Hậu vệ hoặc thủ môn lỡ bán độ?) Phim “The Vietnam war” dài 10 tập thì đoản văn có nhảy sang hồi 2 ắt cũng xin được lượng thứ cho.

Trong cuốn Hồi ký của cựu Đại Tướng William C. Westmoreland, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam có trích dẫn một đoạn thơ của Rudyard Kipling (được phỏng dịch):

trận chiến tàn, thây vùi dưới mộ
mang tên tuổi của người xấu số:
“đây là nơi thằng khờ an nghỉ
vì đã cố lết về phương Đông”
.

Để làm rõ nghĩa, ông viết: “Theo ý kiến tôi thì một nền hoà bình sớm sủa cho Đông Dương chỉ là ảo tưởng. Tôi tin rằng một cuộc ngưng bắn có thể tồn tại được là điều không thực tế…” Trong nhiều bất lợi dẫn đến tình hình rối loạn ở quê nhà, ông không quên đổ thừa vào vai trò bọn phóng viên báo chí: “Vài cây viết bình luận dữ dằn nhất là những nhà báo ở tại Hoa Kỳ mà không bao giờ đặt chân tới Việt Nam, tiêu biểu cho số này là biên tập viên John Oakes của tờ New York Times… Một số qua Việt Nam chỉ để chui vào trong các trại lính nói chuyện nhảm với mấy tay lười biếng và lượm lặt vài tin đồn rồi về đăng báo y như chuyện có thật”. Kết luận, ông đã trích dẫn lời của Napoleon: “Chỉ ba tờ báo quá khích đã đáng sợ hơn cả ngàn lưỡi lê của địch”.

Một đoạn khác: “Tôi không nói đến những kẻ đã đốt thẻ quân dịch, đốt quốc kỳ và chiếm Ngũ Giác Đài, đi biểu tình mà cầm cờ địch tới lui dọc đường phố, xúi giục kẻ khác vi phạm pháp luật, trốn tránh trách nhiệm và vượt quá giới hạn của lý lẽ để hiểu thế nào là công bằng. Không ai chối cãi được rằng chính những kẻ ấy mới làm cho cuộc chiến kéo dài thêm”. (Nguồn: “A Soldier’s Report” của William C. Westmoreland. Duy Nguyên chuyển ngữ. Nxb Thế Giới. San Jose, CA).

Những gì Tướng Westmoreland chân tình thổ lộ trong cuốn “Bản Tường Trình Của Một Người Lính” đã thế cho giải thích, tại sao một tên nhà giàu lại đi thua một đứa nghèo rớt mồng tơi? Nhưng cuốn hồi ký giá trị nầy chẳng phải là nguyên cớ khiến tôi “mần” thêm Việt Vị 2. Tôi tiếp tục “xỏ giày ra sân” chỉ vì vừa đọc thấy trên trang Văn Việt hôm 26 tháng 9, 2017 có bài phỏng vấn của RFI dành cho nhà văn Nguyên Ngọc- nguyên là Sĩ quan trong quân đội Bắc Việt, cũng là một trong những người góp mặt trong bộ phim “The Vietnam War”. Ông chia sẻ: “Khi nói rằng nước Mỹ chưa ra khỏi chiến tranh Việt Nam, nhiều người, kể cả tôi, đã nghĩ rằng đó là một điểm yếu của nước Mỹ. Nhưng xem phim này thì tôi thấy hoá ra đó là cái mạnh của nước Mỹ. Đấy là một quốc gia luôn luôn nhìn trở lại và đặt câu hỏi về quá khứ, về cuộc chiến tranh của mình, về những gì mình đã làm trong suốt cuộc chiến tranh đó. Sức mạnh của nước Mỹ chính là luôn luôn biết tự đặt câu hỏi về quá khứ của mình… Đã hơn 40 rồi, khi mà nói về chiến tranh này, bởi vì Việt Nam là người thắng cuộc, nên ta thường nói theo chiều hướng khẳng định và ca ngợi nó. Còn cuộc chiến tranh đó đem lại những gì cho đất nước này, kể cả mặt tốt và mặt tàn phá của nó, tàn phá về cả vật chất lẫn tinh thần, thì chưa bao giờ được đặt ra một cách nghiêm túc. Riêng tôi là một người làm nghệ thuật, tôi ao ước Việt Nam có thể có một bộ phim tài liệu theo kiểu như vậy. Giá như Việt Nam cũng tự hỏi mình như thế. Theo tôi đó là điều cần thiết”.

Khi được hỏi cảm nghĩ về trận Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, đặc biệt xẩy ra ở Huế, nhà văn Nguyên Ngọc trả lời: “Trong chiến dịch Mậu Thân 1968 thì Huế là thành phố mà đánh vào được và chiếm lâu nhất. Do chiếm lâu nhất và tưởng là giải phóng hẳn rồi và đã lập chính quyền, cho nên các cơ sở bí mật trong thành phố đều xuất hiện hết, bộc lộ ra hết. Sau đó, lực lượng chiếm thành phố bị đối phương vây trở lại và phải mở đường máu mà ra. Trước đó, khi vào chiếm Huế, người ta đã bắt những người bị cho là cộng tác với Mỹ, với chính quyền miền Nam. Trong số đó có thể có những người đúng là có làm cho Mỹ và chính quyền miền Nam, và cũng có thể có những người phạm những tội ác với những cơ sở hoặc là những người theo cách mạng ở Huế. Nhưng cũng có thể có những người bị bắt nhầm và thậm chí cũng có thể có những người bị bắt chỉ vì thù hằn riêng tư. Cho đến khi bí quá, rút ra không được, nếu thả những người này ra thì tất cả những cơ sở bí mật được chuẩn bị bao nhiêu năm, bây giờ bộc lộ ra hết, nếu thả những người bị bắt ra thì họ sẽ chỉ điểm số người hoạt động bí mật. Trong tình thế như vậy, người ta đã có chủ trương giết những người đó. Tôi không trực tiếp ở đấy và cũng không biết cái lệnh đó là từ ai. Nhưng trong phim tôi có nói, đấy là một vết nhơ, một vết đen trong cuộc chiến tranh, về phía Việt Nam”.

Sự thành thật của ông Nguyên Ngọc tin được mấy phần? Với vai trò một cựu sĩ quan từng tham chiến ở địa bàn Quảng Nam, với tư cách của một người cầm bút- một nhà văn nổi tiếng- ông có thể biết thực hư về cái “vết nhơ” kia, chỉ đơn giản bằng cách gọi Nguyễn Đắc Xuân để tỉ tê tâm sự, hẳn ông cũng nắm bắt được một vài thông tin cần thiết. Nguyễn Đắc Xuân nón tai bèo mang dép râu đeo băng đỏ nắm AK-47 có mặt ngay từ đầu cuộc tổng tấn công và làm chủ khu vực Thành Nội Huế. Người đã trao tư liệu chính mình ghi chép về những người giữ cờ ở Huế cho Hoàng Phủ Ngọc Tường để viết nên bút ký “Ngôi Sao Trên Đỉnh Phu Văn Lâu” (xuất bản 1971).

Nếu ông Nguyên Ngọc không thích “đi đêm”, không muốn nhắc lại quá khứ đau thương (điểm này ông tự nhận là thua người Mỹ) thì lạ kỳ thay, nhận được chỉ thị nào từ trung ương mà Nguyễn Đắc Xuân, sau hơn 40 năm vẫn câm như thóc. Sau 1975, ông soán đoạt, cưỡng chiếm (ngoài ta dùng chữ tiếp thu) toàn bộ tủ sách quý của thầy Phan Văn Dật và nghiễm nhiên trở thành nhà Huế học (nhờ đọc thiên kinh vạn quyển?). Một nhà Huế học, tuy nói giọng Quảng Nam nhưng nặng tình với cố đô, nhất là tuổi nay đã thuộc loại cổ lai hy, tiếc gì ông không thắp nhang, dọn lòng để ghi lại bao sự việc mà thường dân vô tội ở Huế phải chịu đoạ đày trong địa ngục năm xưa. Viết hết ra giấy, bạch hoá những uẩn khúc chất chứa trong lòng bao năm mãi dằn vặt chịu tiếng thị phi, đó không phải là một cách giải thoát theo kiểu “Buông đao xuống có thể thành Phật”? (Giải phóng người ta thì mau lẹ mà tự giải phóng mình thì bất khả?). Bắt chước thằng giặc Mỹ kìa, nó mới làm bộ phim nhìn nhận hết những sai trái nó từng để tay nhúng chàm. Trong phim “The Vietnam War” kể về trận Mậu Thân- Nguyễn Đắc Xuân có xem chăng? – đã có thằng Mỹ khi đi giải toả thành phố Huế đã tức cảnh sinh tình: “Ôi thành quách nó đẹp nhường ấy, thành phố thơ mộng thế kia sao chúng ta nỡ lòng nào đi phá huỷ chúng?” (Giặc xâm lược mà cũng có đứa biết tới chuyện bảo tồn bảo tàng, ngẫm mà đau đớn lòng!)

Ông Nguyên Ngọc ao ước Việt Nam sẽ thực hiện được một cuốn phim tựa thế. Mỹ mời ông lên phi thuyền dạo chơi cung trăng một chuyến e dễ tựu thành hơn sự hoang tưởng kia.

Ngoài những bản nhạc bất hủ của ban C.C.R, lính Mỹ khi qua tham chiến ở Việt Nam vẫn thích nghe bài “We Gotta Get Out of This Place” của nhóm Animals. Cầu thủ mà cứ phạm lỗi việt vị mãi cũng xấu hổ, e tôi xin được ra khỏi chốn này. Trước khi tạm biệt, bỏ công đi sao chép lại những “danh ngôn” nghĩ là thích hợp cho những nét ngang dọc trên, dùng thế cho một phụ bản:

“Trong phim ảnh: Kẻ xấu luôn bị loại trừ. Trong đời thực: Kẻ xấu mãi chiến thắng”.

Trong truyện Bố Già, nhân vật Michael (con của bố già) nói với thuộc hạ: “Mày có hiểu thấu nỗi đớn đau về sự bội phản không? Nó không bao giờ đến từ những kẻ thù nghịch mày”.

“Hãy nhớ, những gì bạn lỡ đánh mất rồi, có khi bạn sẽ thu nhặt được thứ khác. Thiếu bóng tối, bạn chẳng thể nào trông thấy những vì sao”.

Ngạn ngữ Phi Châu: “Nếu bạn muốn đi nhanh, hãy đi một mình. Nếu bạn muốn đi xa, hãy đi cùng chúng tôi”.

Ngạn ngữ A Phú Hãn: “Bạn có đồng hồ nhưng chúng tôi có thời gian”.

“Những người nếu không cảm thông được sự câm lặng của bạn, họ sẽ chẳng bao giờ hiểu được những lời bạn nói”.

Lời của William Shakespeare: “Yêu hay ghét tôi, cả hai điều ấy đều làm tôi thích thú. Nếu bạn yêu tôi, tôi luôn nằm trong tim bạn. Ngược lại, nếu bạn ghét, thì tôi mãi dính trong trí óc bạn”.

Lời của Winston S. Churchill: “Sợ hãi là phản ứng. Can đảm là sự quyết định”.

Lời của Mark Twain: “Sự tử tế là thứ ngôn ngữ mà người điếc có thể nghe, đứa mù có thể thấy”.

Và sau cùng, bao trùm tất thảy là câu nói “danh bất hư truyền”. (Tác giả là ai, mọi người đều biết; thậm chí ai cũng có thể điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa):

“Đừng nghe những gì_______nói, mà hãy nhìn những gì_________ làm”.

Xin hẹn gặp lại ở chốn nhân gian “có thể” hiểu nhau. Có còn bom rơi đạn lạc không nhỉ? Quang Dũng thơ: “Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa?”

Hồ Đình Nghiêm

Thanh xuân của cô Chơi

damau.org

Cung Tích Biền

Bồ Đề Cốc, 9-2008

Post by Sơn râu 12 Apr 2025

Google image

Trời trở sáng. Mùa nước nổi sông Mê kông. Xóm Đầm Dơi như thấp hơn mé nước bờ kinh. Đi trong vườn đã nghe nước xấp xỉ bàn chân.

Trong một khu vườn nhỏ sình lầy có hai cái chòi lá. Hai gia đình anh em sống gần nhau. Khu vườn này là của cha mẹ để lại. Họ không muốn ngăn rào chia đôi vườn. Ở luôn tuồng vậy, chạy qua chạy về cho có tình bà con.

Có giọng một người vợ, bên chòi kia, nói với chồng:

– Sớm nay nay con Chơi đi về nhà chồng bên Hàn quốc.

Một giọng đàn ông khàn khàn hỏi lại:

– Hồi chiến tranh có lính Đại Hàn tham chiến ở miền trung. Không biết Hàn quốc này với Đại hàn hồi xưa là một phải không?

– Tui hổng biết.

– Nghe nói thằng chồng con Chơi đã ngoài năm mươi tuổi, lại tàn tật.

– Nhưng con Chơi lấy đươc mấy nghìn đô la, giúp được cha mẹ qua nợ nần.

– Tội nghệp cho cái phận con Chơi.

Ở cái chòi lá bên này, cô Chơi dậy rất sớm. Cô buồn bã sắp những áo quần, những vật tùy thân, vào một cái giỏ mây. Mẹ cô bảo sao con không dùng cái va ly chồng con tặng cho con. Cô Chơi nói cái va li con tặng lại mẹ để mẹ dùng, mà nhớ con.

Cha cô Chơi cũng thức giấc. Ông khó khăn bước lên ngồi trên cái sạp gỗ. Một chân ông cụt tới gối. Ông nói với vợ:

– Mẹ mày đi lên Sài gòn với con Chơi vài hôm kẻo tội nghiệp.

Ông châm thuốc hút. Bầu trời miền tây về sáng hãy còn dăm vì sao. Có tiếng vịt kêu phía trại vịt của Năm Cò. Có tiếng đò máy.

***

Chiếc ô tô dừng ở đầu ngỏ nhà cô Chơi. Ánh đèn quét một vùng sáng qua những lùm cây.

Đèn trong xe được bật lên. Một người đàn ông luống tuổi, mắt một mí, lông mày rậm, sống mũi dài, thoạt nhìn đã biết người Hàn quốc. Ông ta ngồi yên trong xe, trao một ít tiền cho người đàn bà mối lái. Chị mối lái còn trẻ, người mập mạp, son phấn đầy đủ.

Bà ta bước xuống xe hỏi cô Chơi chuẩn bị xong chưa, nhà có ai đi cùng em lên Sàigon không.

Chơi nói một mình em với cái giỏ mây này mà thôi.

Ngồi trong xe ông Đại Hàn nói vọng ra một vài câu.

Cô Chơi hỏi bà mối ông chồng em ổng nói cái gì vậy?

Bà mối nói ổng hỏi sao em không trang điểm, không có hành trang, không người nhà đi theo, sao không dùng va li ổng tặng mà dùng cái giỏ mây quê mùa.

Chơi bảo bà mối, chị giải thích cho ổng hiểu dùm em.

Bà mối nói khéo với ông đại hàn:

-Anh hiểu cho, đây là vùng nông thôn quê mùa, vợ anh nền nếp không muốn điểm trang lòe loẹt, lên thành phố hãy hay. Ỏ Việt nam con gái lên xe hoa về nhà chồng thì người mẹ không bao giờ đưa tiển.

Ông Đại Hàn cầm cặp nạng đặt sang một bên, ý nhường chỗ cho Chơi ngồi. Ông lại nói một thôi dài.

Cô Chơi hỏi bà mối ông chồng em ổng nói cái gì vậy?

Bà mối thông dịch là ổng nức nở khen em đẹp mà hiền.

***

Người tài xế sắp cho xe lăn bánh. Ông rể Đại Hàn bỗng cầm đôi nạng làm bằng i-nốc sáng loáng trao bà mối. Nói cái gì đó.

Trong cái chòi lá, dưới ánh đèn điện-khí-hóa-nông-thôn vàng lạnh, một người đàn ông gầy guộc, một chân thòng xuống đất, một chân cụt tới gối, đang ngồi nhìn theo con gái thu mình trong xe.

Bà mối đi thẳng tới chỗ người cụt chân. Có tiếng khóc rấm rức của mẹ cô Chơi sau bức mành tre. Bà mối nói với cha cô Chơi:

– Ông rễ Hàn quốc tặng ông cặp nạng này. Chắc ông dùng cũng vừa.

Cha cô Chơi nhìn cặp lần đầu tiên mới thấy. Sáng loáng. Nhưng ông nói với bà mối:

– Ông kia cũng tàn tật ngồi xe lăn sao cho tôi cặp nạng đang dùng.Trả

lại cho người ta.

Bà mối ôn tồn giải thích:

– Người ta có lòng tốt thì nhận đi. Cay đắng làm chi. Nhà ông có phúc đức gặp thằng chồng con Chơi tuy già cả tật nguyền nhưng rất hiền đức.

***

Xe tới Sàigon. Trước khi bước xuống xe cô Chơi kín đáo trao cho bà mối một bức thư viết tay. Cô Chơi học chưa hết bậc tiểu học. Chữ viết ngoằn ngoèo, sai rât nhiều chính tả.

Cô trần tình với bà mối:

– Chị trao dùm em lá thư này cho anh Tình. Cái anh mà đến cằn nhằn em hôm em được tuyển chọn làm vợ ông hàn quốc này. Anh Tình yêu em lắm. Mà em cũng yêu ảnh. Thế nào rồi ảnh cũng tìm gặp lại chị. Nhớ nghe.

Xe dừng trước khách sạn. Ông Đại Hàn đã tặng đôi nạng lúng túng không thể ra khỏi xe. Ông ta nói vài câu với người tài xế.

Cô Chơi hỏi bà mối chồng em ổng nói cái gì vậy?

Bà mối giải thích là ổng nhờ người vào khách sạn đẩy dùm chiếc xe lăn ra đây cho ổng.

Cô Chơi nhờ bà mối nói với chồng Đại Hàn là để cô cỏng ông ta vào. Khỏi xe lăn.

Rồi cô bước vội tới trước mặt ông chồng Đại Hàn. Hạ người thấp xuống, cô nở nụ cười với người chồng bại liệt hai chân từ lúc bé thơ. Cô Chơi chỉ vào hai vai của mình.

Bà mối và người tài xế phụ giúp ông chồng đu người trên lưng cô vợ mười chín tuổi. Hai tay ông ôm chặt cổ Chơi, nói thều thào.

Cô Chơi hỏi bà mối anh chồng em ảnh nói cái gì vậy.

Bà mối thông dịch là ông ta rất hạnh phúc, nịnh em là gái Việt nam vừa diệu hiền vừa mạnh mẽ.

Cô Chơi gái miền tây to con và mạnh mẽ thật. Ngực cô như trái dừa xiêm. Cô cõng chồng băng qua cái sân khách sạn rộng thênh, như cõng ông già đi chơi. Cô Chơi nói:

-Từ nay tới già, nếu còn sống chung, em là đôi nạng của ảnh đấy.

Cung Tích Biền

Bồ Đề Cốc, 9-2008

Một chút hồi ức

thoibao.com

Upadted on 27/04/2018

Phan Xuân Sinh

Post by Sơn râu 12 Apr 2025

Sáng 30-4-75, tôi dựng xe honda ở bờ sông Sài Gòn, đứng nhìn một chiếc tàu hải quân cuối cùng rời bến. Người ta bỏ lại xe hơi, xe honda chạy xuống tàu vội vã như một chuyến đi du lịch. Trong đầu tôi không có một chút xíu nào nghĩ rằng đó là lần đi vĩnh viễn của họ rời đất nước. Thế nhưng không hiểu sao tôi lại đứng như trời trồng, không làm theo như họ.
Làm một cuộc viễn du cũng thích thú lắm chứ. Nếu như đất nước sau nầy tốt, đối xử tử tế thì mình lại trở về, có sao đâu. Cái ân hận nầy làm cho tôi ray rứt mãi, nhất là những ngày đói khát, thất tha thất thểu ở Sài gòn…Sau này, những đêm tập trung nhân dân ra phường hội họp, ngồi dưới đất nghe những người thắng trận trong rừng mới ra, mang dép râu, đội nón tai bèo, xối xả chửi vào mặt những người ngồi nghe là thứ bán nước, theo chân đế quốc, “ngụy” tặc. Thấm đau cho cái ngu si không biết chọn lựa của mình, để bây giờ phải lỡ khóc lỡ cười.

Tôi lên xe chạy qua Khánh Hội, người ta đang mở kho vơ vét. Tôi dừng xe ngồi nhìn. Một tay thuộc loại “anh chị” khiêng bao gạo 50 kí-lô trên vai hỏi tôi có cần mua gạo không? Tôi gật đầu. Anh ta ném bao gạo trên yên sau xe honda của tôi, không cần biết tôi đưa bao nhiêu tiền, anh trở vào kho vác bao khác ra ngoài, đứng dáo dác không có ai mua, anh cho tôi thêm một bao nữa để phía trước xe của tôi mà không lấy tiền thêm. Cửa kho mở rộng ai muốn vào lấy cũng được, tội gì phải bỏ tiền ra mua. Tôi chạy xe về nhà người bạn mà tôi đang ở nhờ. Yên tâm trong bụng không sợ đói. Tôi chạy qua lại tìm mua một thùng nước mắm, hàng “hôi của” nên trả bao nhiêu tiền cũng được. Như vậy tôi vững bụng không còn sợ thiếu ăn trong những ngày sắp tới, trong những ngày tranh tối tranh sáng, vô chính phủ. Về nhà mua một lít đế, mấy miếng khô cá, tôi và thằng bạn nhâm nhi vừa mở radio nghe ông Dương Văn Minh đọc diễn văn bàn giao đất nước lại cho người thắng trận. Xem như hạ màn một cách nhanh chóng, chế độ Miền Nam cáo chung, nhường sân khấu cho Cộng Sản điều hành đất nước. Hòa bình mà  toàn dân khao khát đang thực sự “hiện thực”.

Thế nhưng lòng người tan hoang, những chính sách sắt máu ụp trên đầu dân chúng. Đốt sách, cải tạo, đánh tư sản mại bản, đổi tiền v.v… những món ăn mà dân Miền Nam không thể nuốt trôi, ói ra máu. Đường phố áo quần lính chất đống, người người đi trên phố khuôn mặt ngơ ngác, không có ai biết được mình sẽ đi về đâu. Mấy người trai trẻ hàng xóm mà tôi biết đó là những người lính Miền Nam, đi ngang qua nhà nhập vào uống rượu với tụi tôi, hết lít nầy họ chạy đi mua lít khác, tụi tôi ngồi nhậu tới chiều. Một bữa nhậu mà không có một tiếng nói to, âm thầm uống, hồn ai nấy giữ. Xong cuộc nhậu tự động ra về, chỉ chào nhau bằng cái gật đầu nhè nhẹ. Tôi thấy mọi người đều “xanh mặt”, mệt mỏi, lo sợ, như chờ đợi một cái gì không may ụp trên đầu mình.

Ngày hôm sau có những người mang băng đỏ trên tay xuất hiện trong xóm và điều khiển xe cộ trên đường phố. Trong xóm tôi ở đường Minh Mạng, Phú Nhuận, có một ông ca sĩ nổi tiếng Sài Gòn, lái chiếc xe jeep của người anh trước đây là trung tá của Miền Nam đi Mỹ để lại, trên xe ông và những người mang băng đỏ chạy khắp Phú Nhuận, hò hét như các tay “cách mạng” thứ thiệt. Có lẽ thời điểm nầy tôi đã chứng kiến được biết bao khuôn mặt tráo trở, họ không có một chút xíu ngượng ngùng, tiếp tay chỉ điểm, đắc lực làm tay sai. Quả thật tụi tôi hồi đó không sợ những người Cộng Sản mà sợ những thành phần nầy, họ làm bất cứ việc gì để lấy điểm. Nên tụi tôi thấy họ phải lo tránh xa. Không loại trừ thành phần nào trong xã hội Miền Nam, đâu cũng có thứ nầy. Qua Mỹ lại thấy ông ca sĩ nầy mặc đồ lính rằn ri hát những bài ca của lính, họ thay đổi còn hơn tắc kè. Đúng là cuộc sống đầy những nhiễu nhương.

Còn giới cầm bút thì sao? Một anh bạn kể lại cho tôi nghe những ngày sinh hoạt của giới cầm bút, nó cũng bát nháo như xã hội bên ngoài, chỉ điểm, hại nhau, đưa ra những “quan điểm” như một tay cộng sản thứ thiệt, những thành phần nầy còn “đỏ” hơn những thành phần trong bưng biền ra “tiếp thu”. Anh em thiêm thiếp nhận “khuyết điểm” rồi làm “kiểm điểm” như một cái máy, không dám hở môi hay ý kiến. Bây giờ các ông đã từng sinh hoạt ở Sài Gòn có cơ hội qua được đây, những người từng hầm hét, la ó, chắc rằng nghe những chuyện nầy thẹn mặt phải không? Trong cái giới mà thiên hạ quý trọng về cái “thiên chức nhà văn” mà còn hành xử với nhau tráo trở, coi nhau như kẻ thù, tìm cách dìm người khác xuống bùn đen, thì đừng trách chi những thành phần khác trong xã hội. Hồi đó anh em gặp nhau rỉ tai “Coi chừng thằng cha đó, mang băng đỏ đó”, vừa khinh tởm nhưng cũng vừa sợ sệt, là thứ “cách mạng ba mươi” mà anh em ai cũng đều lánh mặt.

Bây giờ kể lại những chuyện nầy như kể chuyện đời xưa, nghe lại thấy tức cười. Tội nghiệp cho những con người yếu đuối, vì tìm một chỗ yên thân mà họ phải táng tận lương tâm, làm những chuyện ruồi bu. Mấy ông có người thân đi tập kết về thì dựa hơi, bắt nạt người khác, hoặc to tiếng khẳng định lập trường của mình. Trong lúc chưa có người thì người ta để yên, mượn tay các ông để răn đe người khác. Khi có đầy đủ nhân sự thì cho các ông “chầu rìa”. Lúc đó các ông mới biết cái “lố bịch” của mình đối xử với anh em thì đã muộn. Có người phải tránh mặt anh em vì khi gặp nhau ngượng ngùng mắc cở. Có người bắt đầu ngồi quán café chửi đổng vì bị thất sủng.

Phần đông những người đi theo “cách mạng” sau nầy họ thấy được con đường của họ đeo đuổi hoàn  toàn sai lầm, thế nhưng họ vẫn gầm mặt xuống chịu đấm ăn xôi, hưởng những bỗng lộc béo bở. Họ biết dân chúng không ưa gì chế độ và chế độ không đem lại cho toàn dân ấm no, hay những đặc quyền tự do dân chủ nhưng họ vẫn tiếp tay vì nếu không họ sẽ mất tất cả. Chúng ta không trách họ, chúng ta chỉ thấy thương hại cho những con người nầy vì họ quên đi chí hướng của họ, khi tranh đấu họ mong cho người dân sau nầy an cư lạc nghiệp. Không ngờ chế độ mà họ phục vụ mang đến những trái ngược, tồi tệ hơn.

Có lẽ trong buổi giao thời, tranh tối tranh sáng, mình mới thấy được những bộ mặt “ghê tởm” nầy xuất hiện. Họ như những tên hề đứng trên sân khấu múa may mà không biết trơ trẽn, cũng may những cây bút nầy “cách mạng” không cho viết thoải mái trên  báo chí, chứ họ được cầm bút thì họ sẽ “phơ” không biết bao nhiêu đầu rụng vì họ. Không biết họ phải ăn nói thế nào với anh em bây giờ? Những người đàng hoàng họ tránh xa những loại nầy.

Vụ án “Hồ Con Rùa”, những tay “biệt kích” cầm bút, đều có thành phần nầy đứng bên trong chỉ điểm, chứ một mình Huỳnh Bá Thành không thể lập hồ sơ thanh toán các văn nghệ sĩ có máu mặt của Sài Gòn trước đây được. Nói thế để biết rằng anh em nạn nhân đều đoán biết ai hại mình, nhưng vì không có bằng chứng xác đáng nên họ lờ đi. Bây giờ có đem chuyện nầy ra tranh cãi cũng chẳng đi tới đâu, gây thêm sứt mẻ, thù oán nhau. Cái bối cảnh lúc ấy thật nhố nhăng, thật sắt máu, nghi kỵ lẫn nhau, chà đạp nhau để kiếm điểm, để vươn lên. Những người lập công cho “cách mạng” kiểu nầy dần dần bị đào thải, anh em thì xa lánh. Họ thui thủi như một bóng ma. Cho đến bây giờ thời gian quá lâu, mọi chuyện đã phôi pha, trong lòng mọi người không có ai muốn nhớ lại. Một bài học cho con người về xử thế.

Những năm đầu “giải phóng” người Miền Nam không có ai ra được Miền Bắc để trông thấy ngoài ấy ra sao? Tôi có một thằng bạn thuộc “gia đình cách mạng”, muốn đi một chuyến ra Bắc thế nhưng phải năm lần bảy lượt mới đi được, phải cái cỡ thứ trưởng bảo lãnh mới được cấp giấy cho đi. Sau khi trở về hỏi gì nó cũng không nói chỉ lắc đầu. Một bữa tôi với nó đi uống café, nó nói nhỏ vào tai tôi là trước khi nhận giấy được đi ra Bắc, người ta dặn không được nói với ai về cuộc sống ngoài đó, nên nó không dám nói chuyện nầy với ai. Sau mấy đêm suy nghĩ, nó tự thấy như vậy là không đúng, tại sao không nói cho thiên hạ biết “chiếc nôi” của Chủ Nghĩa Xã Hội, cái thiên đường nầy đã đánh đổ Miền Nam để cả nước cùng tiến lên. Nó không thể nào tưởng tượng Miền Bắc nghèo đói và lạc hậu đến thế. Phố xá cũ kỹ dơ bẩn, ngoài đường áo quần chỉ mỗi một màu ô-liu, thỉnh thoảng mới thấy màu xanh đậm hình như cho công nhân, họa hoằn lắm mới thấy chiếc áo trắng, còn xe đạp bạt ngàn, không thấy có một chiếc xe gắn máy nào, nếu có thì chắc từ Miền Nam mang ra. Hà Nội dưới mắt nó sao thấy thảm thương quá chừng. Sau đó nó nói với tôi bằng giọng mỉa mai; “Tiến lên xã hội chủ nghĩa như vậy đủ rồi, còn tiến mạnh tiến nhanh thì chắc chết quá mầy ơi”.

Mười năm sau (1985), tôi có một việc phải ra Miền Bắc vì mấy cái hợp đồng với thương nghiệp ngoài đó. Tôi đứng giữa Hà Nôi mà lòng thấy se thắt. Mấy chục năm người dân “văn vật” chịu đựng một cách dai dẳng mà không nổi loạn nghĩ cũng lạ thật. Áo quần nghèo nàn nhưng con gái Hà Nội mặt mày sáng trưng, phần đông người con gái đẹp hơn các thành phố trong Nam. Dưới con mắt của tôi, cái nét thanh lịch chỉ còn lại trên nét mặt của người con gái Hà Nội, còn bao nhiêu cái khác sau hai mươi năm Xã Hội Chủ Nghĩa đã tẩy sạch hết, tiêu tan hết.

Mấy năm trước đây có nhiều văn nghệ sĩ Hà Nội qua Boston theo chương trình của William Joiner mà tôi đã gặp. Trong lúc trà dư tửu hậu tôi có nói với họ về chuyện ra Miền Bắc của tôi năm 1985, họ đều cười và nói với tôi rằng có dip bây giờ nên ra Miền Bắc một chuyến, mọi thứ đều thay đổi một cách chóng mặt. Thế thì cái chính sách Xã Hội Chủ Nghĩa chỉ còn trên lý thuyết, mọi người dân bây giờ giàu có và không còn tiến nhanh tiến mạnh như khi xưa, mà họ chạy đua theo kịp đà tiến hóa của tư bản. Đó là một bước tiến đáng mừng cho dân chúng, để họ được hưởng những tiện nghi, những phúc lợi mà thế giới đã giành được trong những phát minh phụng sự cho con người. Đứng trên phương diện nhân bản thật đáng mừng cho những mảnh đời tưởng rằng sẽ sống trong tăm tối mãi mãi. Bây giờ ấm no hơn, thoải mái hơn tuy nhiên vẫn còn bị những rào cản về tự do, dân chủ còn siết chặt.

Tôi có dịp lên Thái Nguyên nhìn những cánh đồng chè bạt ngàn, những người hái chè buổi sáng sớm trong sương mù thật tội nghiệp, đồng lương công nhân của công ty chè quốc doanh không bao nhiêu, mà phải chịu cực khổ một cách nặng nề. Tôi cũng có dịp đi Quảng Ninh trông thấy công nhân mỏ than lam lũ trong hầm mỏ. Không biết những nhà lãnh đạo của giai cấp nầy trước đây có giống như anh chị em công nhân, mặt mày lấm lem, sống trong điều kiện kham khổ như vậy không. Chứ bây giờ nhìn họ thấy không khá nổi. Còn nhiều cảnh thật tang thương cho một chế độ xã hội chủ nghĩa mà họ ca tụng như là thiên đường. Thú thật tôi vỡ mộng.
Trước đây tôi không tin những gì mà bộ máy tuyên truyền của Miền Nam khi nói về Miền Bắc. Tôi không tin những tác phẩm của Xuân Vũ nói về chế độ Miền Bắc. Tôi cho đây chỉ là những tuyên truyền rẻ tiền để hạ nhau, chứ thực tế không đến nỗi như vậy. Sau khi ra Hà Nôi, tận mắt nhìn thấy đời sống dân chúng, chứng kiến cảnh làm việc, nhìn thấy sinh hoạt của người dân từ nông thôn đến thành thị, trật tự xã hội bị đổ nhào, đạo đức văn hóa không ai cần phải giữ gìn, những cảnh trắng trợn liệm người không cảm thấy xấu hổ. Tàu hỏa và xe buýt là nơi bọn đầu trộm đuôi cướp hoành hành trắng trợn mà cơ quan công lực không làm gì được. Dân chúng bị hà hiếp không biết kêu than nơi đâu. Phải công nhận là người dân Miền Bắc chịu đựng cái cảnh tai trời ách nước một cách cay nghiệt, mà họ không hề phản kháng, chỉ cắn răng chịu đựng. Mà phản ứng làm gì được khi mà bao tử đói meo, chỉ lo mỗi cái ăn chưa xong, hơi đâu phải ôm đồm chuyện khác.

Xe chạy đến huyện Kỳ Anh (tôi không nhớ thuộc tỉnh nào vì lâu quá, (hình như là Hà Tĩnh). Chúng tôi vào một quán cơm bên đường, người con gái bán cơm rất đẹp, nói giọng Hà Nội. Tôi nghĩ giữa một một nơi đồng không mông quạnh, lại có người nho nhã, ăn nói lễ phép và đồ ăn rất ngon. Trong lúc đó ngay tại Hà Nội chưa có quán ăn nào vừa ý. Tôi cũng xin nói thêm chỗ nầy, Hà Nội lúc đó tìm một quán café cũng rất khó. Đi ăn phở phải xếp hàng và trả tiền trước. Đặc biệt khi chúng tôi cũng xếp hàng thì người giữ trật tự mời vào ngồi bàn trước, ăn xong mới trả tiền (ưu tiên cho dân Miền Nam). Tôi hỏi người thu tiền tại sao chúng tôi được đặc ân như vậy. Thì họ trả lời là phải thu tiền trước để biết họ muốn ăn bát phở giá bao nhiêu, thì làm đúng với giá tiền, nếu không họ chỉ trả ít hơn thì mình không biết phải làm sao, hoặc ăn xong không trả tiền rồi bỏ chạy. Còn các anh ở Miền Nam đã quen với cái lối trả tiền sau, các anh nhắm mình có đủ tiền mới vào quán và nếu có bỏ chạy thì các anh không biết đường nào mà chạy thoát được. Vì vậy chúng em phải tiếp các anh như ở Sài Gòn vậy. Chính quyền cách mạng xem tụi tôi như một thứ ghẻ lở, nhưng bà con Miền Bắc thì lại xem tụi tôi rất thân tình. Sau khi ăn xong, tôi hỏi về gia đình và giọng nói của cô gái khác với những người chung quanh đây. Cô ấy cho biết là cha mẹ cô là dân Hà Nôi chính gốc, sau 54 bị tịch thu nhà cửa và đi kinh tế mới nên phải trôi giạt vào đây. Cô hiện thời là sinh viên, cuối tuần phải về để giúp đỡ cha mẹ bán cơm. Nhìn hình ảnh của cô tôi liên tưởng đến những bà con ở Sài Gòn đi kinh tế mới. Chắc chắn họ không được may mắn như gia đình cô hiện thời, cái gốc Sài Gòn của họ rồi cũng sẽ mất. Nhà to cửa lớn của họ đã được các “quan cách mạng tiếp thu”, đổi chủ một cách hà khắc.

Chưa có một cuộc sống nào cay nghiệt người dân phải chịu đựng oan ức như trong cái thời “giải phóng”. Tôi nhìn ra cánh đồng xa xa những chiếc áo tơi (chầm bằng lá buông mà vào khoảng thập niên 60 không còn thấy xuất hiện tại Miền Nam), nhấp nhô trên đồng ruộng. Tôi hỏi cô gái trời nắng như vậy mà tại sao phải mặc áo tơi. Cô ta cho biết, làm gì có áo mặc để làm ruộng, họ mặc áo tơi để thay cho áo vải. Nhìn qua cánh đồng khác tôi thấy người kéo cày thay cho trâu bò. Một cái cảnh lần đầu tiên trong đời tôi mới thấy, thân hình thiếu ăn ốm o, choàng sợi dây trên vai kéo cái cày có một đứa bé đứng phía trên, thật tội nghiệp. Những năm của Miền Bắc đi trước Xã Hội Chủ Nghĩa đã gặt hái những gì tốt hơn cho người dân? Cái cảnh trông thấy trước mắt mà tôi có dịp ra Miền Bắc, cho tôi một bài học là phải bằng mọi cách tìm đường ra nước ngoài, nếu không thì quá trễ và viễn ảnh cho thấy cuộc đời sẽ khốn nạn, thê thảm, bần cùng như bà con ruột thịt Miền Bắc đang gánh chịu.

Một chuyện buồn cười, xe của chúng tôi tới phà Bến Thủy chờ lên phà để về lại trong Nam. Đoàn xe nối đuôi nhau dài cả cây số, tôi nghĩ trong bụng ở đây chờ ít nhất phải hai ngày trời mới tới phiên mình, vì lúc ấy chiếc “phà” chỉ chở được bốn chiếc xe vừa qua lai mất cả tiếng đồng hồ. Nói là “phà” cho nó oai vậy chứ quả thật là mấy cái phao cột dính lại với nhau, một chiếc tàu nhỏ như ca-nô kéo đi. Tôi nghe các tài xế chạy trên đường xuyên Việt kể lại rằng trong mùa nước lũ, phà bị đứt dây trôi mất là chuyện thường. Tôi hỏi thế thì xe và người trên phà phải làm sao? May mắn thì được vớt, còn không thì chết thôi. Chuyện quan trọng như vậy mà người kể chuyện xem như thường và những cơ quan có trách nhiệm điều hành về phà qua lại trên sông, tỉnh bơ xem đó không quan trọng, không phải trách nhiệm của mình. Chiếc phà bao năm vẫn không thay đổi. Cho nên mấy chiếc phà bắt qua bắc Cần Thơ hay bắc Vàm Cống thấy rất an  toàn. Đang ngồi trên xe tán chuyện với nhau, thì người phu cầm cờ đỏ chạy đến xe chúng tôi hỏi có cần phải qua phà nhanh không? Người tài xế hỏi ông giá bao nhiêu. Ông trả lời muốn đi ngay thì cho nhiều một chút, muốn qua phà chậm thì ít hơn. Người phu cầm cờ đỏ đưa hai ngón tay (có ý là hai trăm đồng) chạy ngay. Hai trăm đồng lương công nhân thuở đó là năm mươi đồng một tháng. Ông ta cầm cờ đỏ giơ cao chạy trước, miệng la lớn: “Anh em Miền Nam giúp đỡ anh em Miền Bắc”. Họ xem cái chuyện đút lót nầy là bình thường, là công khai cho những chiếc xe khác noi theo. Chiếc xe của tụi tôi ưu tiên xuống trước. Đứng trên phà qua sông, thật tình tôi ngao ngán cho một xã hội mà tôi đã chứng kiến trên Miền Bắc. Rồi đây Miền Nam của chúng tôi sẽ lăn trên vết xe của đồng bào ngoài kia đã trải qua. Bây giờ chúng tôi đã thấy ngột ngạt khó thở, người ta đã bắt đầu áp dụng đường lối cứng rắn để uốn nén dân Miền Nam rập khuôn Miền Bắc.

Xe chạy đến Quảng Bình, thành phố xem như bình địa vì bị bom của Mỹ rải nát, mười năm sau vẫn còn nguyên si, không sửa chữa. Thành phố lợp tranh trên những nền nhà cũ. Nhà thờ chính Quảng Bình chỉ còn trơ lại gác chuông. Dấu tích chiến tranh vẫn chưa xóa, nhìn thành phố chúng ta đủ biết nơi đây đã nhận biết bao nhiêu bom đạn. Chúng tôi vào uống nước tại một căn nhà tranh trên quốc lộ, người chủ quán là một anh thương binh trạc tuổi tôi. Lúc đầu mới vào anh nói chuyện với chúng tôi sặc mùi Cộng Sản. Chẳng hạn như về những năm tháng chiến tranh mà Quảng Bình nhận lãnh hậu quả nặng nề nhất. Anh nói rất tự hào: “Quảng Bình quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Người dân Quảng Bình kiên cường đứng đầu cả nước chống giặc xâm lăng Mỹ”. Tụi tôi chỉ lắng nghe anh thao thao bất tuyệt về chiến tranh, về chính sách, về con người sống thế nào cho phù hợp chế độ. Luận điệu nầy tôi đã từng nghe những người thắng trận lớn lối nói ra rả vào tai tụi tôi. Anh hỏi tôi trước khi hòa bình tôi làm gì ở Miền Nam. Tôi không trả lời ngay câu hỏi của anh, tôi vén ống quần cho anh thấy cẳng chân giả làm bằng plastic của tôi. Tôi chỉ trả lời vỏn vẹn: “Tôi là người lính của Miền Nam”. Sau khi nhìn thấy sự mất mát thân thể của tôi, sau khi nghe tôi xác định một cách chắc nịch về con người thật của tôi. Con người mà đứng trên chiến tuyến là đối nghịch với anh. Tôi nói không có một chút thù hận, không tranh cãi với anh, tôi chấp nhận danh phận không may mắn của tôi. Thái độ nầy tôi làm cho anh bất ngờ lúng túng. Tôi thấy anh ngồi suy tư, nhìn tôi có chút ngậm ngùi. Anh thấy những gì anh nói với tôi đều là những câu tuyên truyền không cần thiết, mười năm “giải phóng” tôi đã hiểu rõ chân tướng của chế độ, có đánh bóng nó cách mấy cũng không thể che đậy cách trả thù hèn hạ trên đầu anh em chúng tôi. Tôi trả tiền nước rồi ra xe, anh chạy theo bắt tay tôi thật chặt, anh nói là anh cảm thấy mắc cở ăn nói quá nhiều hàm ý tuyên truyền, khi nhìn thân thể tôi, anh biết không dễ gì lay chuyển được tôi. Dù là người bại trận, đang sống dưới chế độ thù nghịch, tôi vẫn không tránh né về thân phận của mình.

Từ Quảng Bình về Quảng Trị con đường gập ghềnh, lởm chởm. Xe qua cầu Hiền Lương, chiếc cầu lịch sử ngăn chia Nam Bắc. Chiếc cầu nhỏ nhắn, dễ thương, nó đứng giữa ranh giới chứng kiến biết bao nhiêu tai ương đổ xuống trên đầu nhân dân hai miền Nam-Bắc. Nó ngăn cách không những chế độ bên nầy, bên kia, mà nó còn ngăn cách cả lòng người, xé tan tình tự của dân tộc. Bao nhiêu năm hòa bình mà ấn tượng, đố kỵ còn nặng nề quá vẫn chưa biết làm sao nối lại được. Chiến tranh chỉ trong vòng 20 năm, mà đến 35 năm sau sống trong hòa bình vẫn chưa có cách nào chung sống trong tình anh em ruột thịt. Tuy không còn cầm súng giết hại nhau, không còn ranh giới phân chia chiến tuyến, thế nhưng bức tường chắn giữa lòng người (nói theo kiểu Tưởng Năng Tiến) vẫn còn kiên cố ngăn cách đôi bên, không ai chịu phá bỏ và quên đi cái thời xa xưa nhục nhã của dân tộc.
Chút hồi ức nầy không dụng ý khơi dậy đống tro tàn, nhưng để nói lên cho chúng ta biết “có một thời như thế”, một thời mà không muốn nhớ lại, và rồi, cũng không thể nào quên được!

Houston, 30 tháng 4 để nhớ lại
Phan Xuân Sinh

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 12 Apr 2025

Chương 8.

Phải mất thêm một ngày nữa Eliot Ness mới kiếm được chiếc xe máy cày chàng dự tính cho cuộc tấn công.

Sáng nay chàng dậy sớm. Trước khi ra khỏi nhà chàng ngồi trầm ngâm bên ly cà phê nóng hổi do Catherine vừa pha, duyệt lại lần chót kế hoạch tấn công trước khi thuyết trình cho toán cảnh sát biệt phái.

Giác quan thứ sáu bén nhạy của người đàn bà cho Catherine biết chồng mình sắp sửa mở cuộc đánh lớn đầu tiên vào sào huyệt của tên cướp lừng danh thế giới, Al Capone. Biết chồng đang dồn hết khả năng để suy nghĩ cho kế hoạch, Catherine không hé răng nói một câu, sợ cắt đứt đường tư tưởng của chàng.

Eliot Ness nói câu đầu tiên trong ngày:

– Tối nay mình đừng chờ anh, có thể về rất trễ, không chừng đến sáng mai mới về được.

Catherine nắm lấy hai vai Eliot Ness, dịu dàng:

– Anh rán cẩn thận. Chicago này không phải như New York hay các nơi khác. Em đọc báo nghe nhiều tin động trời lắm.

Eliot Ness không có tật thích bàn với vợ về những công chuyện ở sở, và càng không bao giờ muốn cho vợ biết về những nguy hiểm hàng ngày. Biết để làm gì? Chỉ gây thêm một sự lo lắng không cần thiết cho vợ con. Chàng nghĩ, nếu chết thì phải chết, có lo âu cũng chả đi đến đâu.

Eliot Ness đốt điếu thuốc:

– Chẳng có gì đâu em! Chicago hay New York thì cũng do mình. Mình cẩn thận thì không sao hết.

Rồi chàng khéo léo đổi đề tài, hỏi vợ về chuyện học hành của con gái. Catherine khoe trường sở rất đẹp, và bắt Eliot Ness hứa phải kiếm một ngày rảnh rỗi nào đó để đi với nàng lên thăm trường học của con. Eliot Ness gật đầu đồng ý, chàng chỉ biết …hứa. Hơn ai hết, chàng hiểu chắc có lẽ rất lâu mình mới kiếm được một ngày nghỉ như vậy. Trừ khi, phải, trừ phi thằng khốn đó nằm ngoan ngoãn sau mấy cái chấn song sắt nhà tù.

Đã đến giờ phải ra đi, Eliot Ness hôn nhẹ lên trán Catherine:

– Anh đi!Catherine đã cầm sẵn trên tay trái gói đồ ăn trưa gồm hai miếng bánh và một thanh kẹo chocolat, tay bên phải là cây Colt .45 trong bao da đưa cho Eliot Ness. Chàng đeo súng vào nách, khoác áo vét và áo bành tô vào, cầm lấy túi ăn trưa, hôn vợ thêm lần nữa rồi bước ra khỏi nhà.

Vừa ngồi vào văn phòng, chuông điện thoại reo vang. Eliot Ness nhấc ống nói, mặt chàng nhăn lại khi nghe giọng thằng phóng viên Ferguson:

– Chào ông Eliot Ness, hai hôm nay ông đi đâu mà tôi kiếm mãi không ra.

Eliot Ness rán làm ra vẻ thân thiện:

– Tôi bận chuyện riêng, chuyện gia đình.

– Chuyện “gia đình” của “Treasury Department” chớ gì? Sắp sửa làm ăn “cú lớn” mà sao lại giấu nhau?

– Xin ông cảm phiền, tôi phải cúp máy vì đang rất bận công chuyện.

– À, gần tới giờ họp cho vụ đột kích tối nay chớ gì? Tôi đã bảo ông mà, những vụ đột kích “lịch sử” như vậy sao lại giấu nhau? Nếu ông giúp tôi thì tôi sẽ giúp ông…

Eliot Ness giật mình. Kế hoạch đột kích là kế hoạch tối mật chỉ có ba người biết mà sao thằng khỉ này lại hay được? Kinh nghiệm cho chàng biết có cái gì không ổn trong vụ này. Tin này bị tiết lộ chỉ bởi ba người: Trưởng phòng Mike Casey, ông biện lý Morgan và anh cớm phụ tá chàng, Preseusky.

Morgan thì khỏi phải nói làm gì vì chàng biết ông biện lý rất “sạch”. Còn thằng Preseusky thì đâu biết gì nhiều. Nó chỉ chở chàng tới nơi đó và trở về. Chàng nhớ rõ dọc đường đã không hề hé miệng nói hở về kế hoạch một câu. Vậy chỉ còn lão trưởng phòng Morgan thôi.

Nuốt cơn giận, Eliot Ness trả lời trước khi cúp máy:

– Tôi cám ơn ông. Tôi không cần gì cả.

Chiếc đồng hồ trên tường cũng chỉ đúng 10 giờ kém 5 phút. Trưởng phòng Mike Casey bước vào, cười rất tươi:

– Tụi cảnh sát đặc biệt đã tập họp đầy đủ. Họ đang chờ ông tại phòng họp.

Eliot Ness nhớ đến cái tin tối mật vừa bị xì cho nhà báo, chỉ muốn xông tới nắm áo lão mà hỏi cho ra lẽ nhưng chàng cố nén giận. Chuyện đâu còn đó, chờ họp xong tính sau. Chàng đứng dậy theo Mike Casey đi tới phòng họp.

Đã quen với những cuộc họp hành quân cảnh sát như vầy tại các nơi khác nên dù đứng trước khoảng 50 cảnh sát viên sắc phục uy nghiêm, mặt mày bặm trợn, Eliot Ness cũng bình tĩnh cắt nghĩa cho họ biết công việc phải làm tối hôm nay.

Lần đầu tiên, Eliot Ness biểu diễn tấm bản đồ ngoại ô thành phố Chicago có mục tiêu của cuộc đột kích cho mọi người thấy. Eliot Ness chỉ vào cái hình chữ nhật có gạch chéo màu đỏ, tiếp tục:

– Toán A gồm 15 người sẽ chờ sẵn hai bên cánh cửa sắt to lớn này. Khi chiếc máy cày ủi sập cửa, các anh sẽ nhào vào. Lúc đó, ba chiếc xe đậu phía trước sẽ bật đèn lên, rọi sáng cái nhà kho như ban ngày cho tôi. Nếu bị bắn, dĩ nhiên, anh em có quyền bắn trả. Nếu bị tấn công bằng gậy gộc hay dao mác, anh em cũng có quyền tự vệ bằng mọi phương tiện mình sẵn có, kể cả súng. Toán B, 10 người nữa và 5 chiếc xe bít bùng sẽ chận ở con đường phía sau kho. Nên nhớ, phải tóm cổ hết tất cả những người ở trong hay chạy ra ngoài. Tất cả những tù phạm phải giữ tại sở Cảnh sát, chính tôi sẽ phụ trách hỏi cung và điều tra trước khi đem ta toà. Toán C là toán cuối cùng dùng để trừ bị cho hai toán trên. Các anh em sẽ bao vây rộng khu vực tấn công. Nội bất xuất, ngoại bất nhập. Nhiệm vụ của anh em sẽ là ngăn cản bất kỳ đám viện binh nào, nếu có, của tụi Al Capone. Ngoài ra, chúng ta còn có thêm hai chiếc xe cứu thương và một bác sĩ có mặt sẵn để phòng những trường hợp bất trắc.Cả phòng họp yên lặng như tờ.

Eliot Ness nhìn xuống cử toạ nói tiếp:

– Về giờ tấn công thì rất tiếc, tôi không thể cho anh em biết liền lúc này được. Các anh em nên có mặt tại đây vào lúc 8 giờ tối. Chuẩn bị đem đồ ăn theo vì có thể sáng mai công tác mới hoàn thành được. Những chi tiết khác của cuộc tấn công tôi sẽ thông báo cho các trưởng toán của anh em.

Chàng chấm dứt. Phía dưới là 50 khuôn mặt lạnh lùng đang nhìn lên như 50 pho tượng đá. Chán thật, Eliot Ness thầm nghĩ. Một cuộc đột kích “đi vào lịch sử” như vầy mà xem ra anh nào cũng tà tà, chẳng có ma nào thèm để ý đến thì khó mà thành công. Dù không phải là một nhà ngoại giao hay một chính khách, chàng cố gắng hết sức để nở một nụ cười thân thiện, rán làm sao cho nụ cười gượng ép của mình đừng biến thành cái nhăn:

– Các anh em có gì hỏi xin cứ tự nhiên.

Một cánh tay giơ lên:

– Xin ông Ness cho biết ai là người trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công này?

-Tôi. Đích thân tôi sẽ trực tiếp chỉ huy và chịu trách nhiệm. Còn ai hỏi gì nữa không?

Chờ một lúc không thấy bàn tay nào giơ lên, Eliot Ness cho giải tán buổi họp. Chàng quay sang Mike Casey:

– Nếu ông rãnh, tôi muốn nói chuyện riêng với ông một chút.

– Dĩ nhiên, ai chớ ông Ness thì có bận đến mấy tôi cũng phải có chút thì giờ cho ông. Xin mời vào văn phòng tôi.

– Không, …văn phòng tôi.

Mike Casy nhún đôi vai mập thù lù của mình ra cái vẻ “đâu cũng được, anh em cả mà”. Cả hai vừa bước ra tới hành lanh chính, Eliot Ness nhìn thấy một người đội mũ phớt với cái máy chụp hình tổ bố nơi tay đang chờ sẵn từ lúc nào. Linh tính cho Eliot Ness biết hắn phải là thằng phóng viên Ferguson. Đúng như chàng nghĩ, chỉ cái nhìn thoáng, khuôn mặt “bô trai”, cặp môi dầy và đôi mắt sáng ngời của nó cho chàng biết đây một týp cực kỳ thông minh và có nhiều tham vọng. Mà nó lẹ tay quá chừng. Eliot Ness chưa kịp mở miệng thì đã thấy cái máy hình đưa lên rồi tách một cái, ánh sáng của ngọn đèn Flash chói loà cả hành lang bé nhỏ.

Tiên sư! Chưa ra quân đã bị …chụp hình nguyên con. Cái flash vừa nháy xong là đã nghe giọng nó …đẩy tới, vừa có vẻ cầu tài vừa có vẻ đo lường phản ứng người đối diện:

– Chào ông Ness, thật là quý hoá, tôi …tình cờ được gặp ông ở đây.

Eliot Ness bắt tay Ferguson:

– Chào ông Ferguson. Tên tôi là Ness, Eliot Ness, …hân hạnh được biết ông.

– Có lẽ ông đã biết, tôi là Ferguson. Tôi xin lỗi vì đã quầy rầy ông mấy ngày qua nhưng ông thông cảm giùm.

Bắt tay xong, Eliot Ness tiếp tục rảo bước, làm như không có sự hiện diện của Ferguson trong hành lang. Nhà báo chuyên nghiệp Ferguson không lấy thế làm phật lòng, đi theo Eliot Ness, tiếp tục:

– Báo chí là cái nghề bạc bẽo nhất. Tuần trước trong khi đi phỏng vấn để kiếm đề tài viết về vấn đề giáo dục, tôi đã bị một một bà giáo trường bà sơ St. Gabriel phang nguyên cái bình mực vào người. Nếu không né kịp thì chắc là sức đầu bể trán rồi. Mà tôi có hỏi gì quá đáng đâu, tôi chỉ nói sự thực…

Mike Casey nham nhở xía vào:

– May là ông gặp bà giáo yếu sức chứ gặp tôi thì đã ăn nguyên một dùi cui vô đầu.

Ferguson không để ý đến câu đùa rẻ tiền của cớm Mike Casy, tiếp tục tấn công con mồi chính là Eliot Ness:

– Ông nghĩ gì về luật cấm rượu?

– Tôi nhớ hình như ông đã hỏi tôi câu này rồi.

– Tôi muốn ông lặp lại.

– Quốc hội đã thông qua đạo luật Voltstead năm 1920. Đó là luật. Tất cả mọi công dân đầu phải tuân theo luật của chính phủ ban hành.

Chưởng thứ hai nặng hơn:

– Ông có dám long trọng thề là từ ngày đạo luật Voltstead ra đời, ông chưa bao giờ uống một ngụm rượu hay một ly bia không?

Eliot Ness đã biết trước thế nào nó cũng gài được một câu làm mình kẹt. Mà nó gài như vậy để làm gì? Thông thường, ít có anh ký giả nào muốn đi gây chuyện với các cơ quan cảnh sát. Có thể vì muốn bài của mình có nhiều mục đặc biệt hơn đồng nghiệp, cũng có thể vì …trời sinh nó ra như vậy. Hoặc, biết đâu chừng, cũng có thể vì nó ăn lương tháng của Al Capone? Đây là một bài toán khác mà Eliot Ness phải tìm cho ra đáp số. Về câu hỏi của thằng này, quả thật chàng cũng không nhớ là gần mười năm nay, mình có bao giờ làm thử một ngụm bia hay một hớp rượu. Nếu trả lời là có thì kẹt, mà trả lời không thì có vẻ là hơi láo. Eliot Ness bước mau hơn, bình tĩnh trả lời:

– Tôi nghĩ đó là chuyện riêng tư.

– Ông là công chức nhà nước, được trả lương bởi những đồng tiền chúng tôi đóng thuế, tôi nghĩ ông nên thành thật với dân chúng.

Eliot Ness tiếp tục đi thẳng. Ferguson nhất định không chịu bỏ qua:

– Sao ông Ness? Ông có bao giờ uống rượu, nghĩa là ông có bao giờ vi phạm luật cấm rượu của chính phủ không?Tiên sư cha thằng nhà báo mất dạy, cây muốn lặng mà gió chẳng dừng. Đã đến nước này thì Eliot Ness nghĩ mình phải phản pháo, phải tốp thằng này ngay lúc nó mới bắt đầu. Mình còn ở Chicago này ít nhất là một năm nữa, không thể để nó ăn hiếp được.

Chàng dừng bước, quay nhìn Ferguson, cặp mắt như bắn ra những tia lửa:

– Ông Ferguson, ông là phóng viên, tôi là cảnh sát, cả hai chúng ta đều có công việc để làm. Ông viết tin tức phóng sự, tôi đi bắt cướp. Câu hỏi vừa rồi của ông là một câu hỏi ngu xuẩn, vi phạm đến đời tư của người khác. Tôi khuyên ông, nếu muốn biết tin tức để viết, nên đặt những câu hỏi đi thẳng vào vấn đề.

Chàng nắm lấy cái máy hình của Ferguson, nói thật chậm:

– Hợp tác với chúng tôi, ông sẽ có nhiều cái lợi. Chống đối chúng tôi, ông sẽ không được hưởng bất kỳ một ân huệ nào cả. Ông hiểu không?

Lăn lộn trong nghề báo chí đã lâu, Ferguson học được nhiều kinh nghiệm. Kinh nghiệm thứ nhất là phải biết tùy trường hợp, tùy người mà đặt câu hỏi. Ví như đi phỏng vấn Al Capone, hắn ăn nói rất ý tứ và nhiều khi lại còn đâm ra lễ độ. Đi phỏng vấn mấy ông dân cử thì hắn tự coi hắn như ông vua con. Muốn hỏi gì thì hỏi, muốn xấc láo cách gì cũng được. Mấy ông dân cử tức lắm, biết thằng này làm khó mình nhưng phải ráng uốn mình chìu chuộng hắn. Lạng quạng hắn để bậy vài câu trên báo là có thể tàn đời. Còn đối với mấy thầy cảnh sát thì khác. Vì đa số những chức vụ lớn đều do dân bầu hay được chỉ định vì có thế lực chính trị nên hễ càng ngồi cao thì càng sợ báo chí. Đối với những anh cảnh sát viên quèn thì có cho kẹo hắn cũng không dám ăn móc lò. Lần bị đấm xém bể quai hàm và máy hình bị liệng xuống sông hồi mới ra nghề còn làm hắn lạnh gáy. Còn anh chàng cớm liên bang này, Ferguson biết Eliot Ness là một tay có giáo dục, trình độ đại học, tính tình lại chưa biết rõ, nên muốn thử vài câu hỏi dò đường. Nhưng xem ra có vẻ khó ăn, đụng thứ thiệt rồi. Cái làm cho Ferguson ngán nhất là cặp mắt của Eliot Ness. Nó có vẻ thông minh, dữ tợn và quyết đoán vô cùng. Chicago này chỉ một người khác có được cặp mắt này là hung thần Al Capone.

Coi… hắn nhìn mình dữ dội như thế kia thì không chừng sủa bậy thêm một câu là hắn dám xông tới nện cho một trận ra gì lắm. Thôi để từ từ, ai dại gì đưa con cọp tới đường cùng. Ferguson xuống nước, miệng mỉm cười cầu tài:

– Ông Ness, ông hiểu lầm tôi rồi. Tôi chỉ hỏi ông để lấy tin tức cho vui thôi mà.

Eliot Ness buông tay ra, lạnh lùng:

– Tốt, nếu ông muốn biết tin tức thì cho đến giờ này tôi không có gì để cho ông hết. Những gì ông biết về tôi, tôi nghĩ đã là quá đủ. Vào một giờ phút thuận tiện, tôi sẽ mở cuộc họp báo.

Eliot Ness và Mike Casey bước vào văn phòng của chàng. Lần này Ferguson không buồn đi theo, đứng tiu nghĩu với khuôn mặt bối rối ngoài hàng lang.

Eliot Ness gài điếu thuốc vào môi, vô đề:

– Có một điều thắc mắc trong đầu nên tôi muốn gặp riêng ông để hỏi, xin ông đừng phiền.Mike Casey gác chéo chân, duỗi người thoải mái trên ghế:

– Xin tự nhiên, ông Ness.

– Cái tin đột kích vào tối ngày hôm nay ở sở cảnh sát này chỉ có ông và tôi biết, làm sao thằng phóng viên Ferguson biết được.Lão mập cười, đưa hai tay ra phân bua:

– Trời. Ông phải nhớ là trên tôi còn có ông Cảnh sát trưởng. Trong ty này có chuyện gì mà tôi không phải trình cho xếp tôi biết, dù nó có quan trọng hay không? Sau khi nói chuyện với ông là tôi có bổn phận phải trình cho xếp biết diễn tiến của kế hoạch. Cũng xin ông nhớ cho một điều là trước khi ông xuống đây, chúng tôi cũng đã trải qua gần 10 năm “chiến tranh” với tụi Mafia này. Nhiều chiến sĩ cảnh sát trong anh em chúng tôi đã ngã gục. Mà nghĩ cho cùng, làm vậy đâu có gì trái luật đâu ông Ness?

Eliot Ness thấy như mình đang đi vào một con ngõ cụt. Dĩ nhiên, chuyện lão Casey làm rất là hữu lý, không thể trách vào đâu được. Một khi tin tức đã lọt đến người thứ ba tức ông Cảnh sát trưởng thì đâu còn gì là đột kích bí mật nữa.

Eliot Ness lắc đầu đứng dậy tiễn Mike Casey ra cửa, không nói thêm một lời. Nhìn bộ tịch của Eliot Ness, lão cảnh sát biết chàng đang thất vọng lắm. Trước khi quay lui, lão chìa tay ra bắt Eliot Ness:

– Chúc ông thành công tối nay.

Sau khi trả lời hai tiếng “cám ơn” khô khan, chàng quay trở lại ngồi nơi bàn giấy thừ người suy nghĩ. Phóng viên Ferguson còn đứng lãng vãng nơi hành lang, không hiểu hai người nói gì với nhau mà mặt lão Casey khi bước ra coi thấy hí hửng và yêu đời quá chừng…

Chuông đồng hồ điểm 12 tiếng. Làm việc và suy nghĩ liên miên từ lúc 5 giờ sáng, Eliot Ness quyết định đi thả bộ một vòng ngoài trời cho thoải mái tinh thần.Trời Chicago đang vào thu. Trên không những đám mây xám giăng kín trời. Thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ kéo đến thổi tung những chiếc lá vàng, cuốn chúng bay lác đác trên con đường chàng đang thả bộ.

Với điếu thuốc lá trên môi, Eliot Ness ngây ngất tận hưởng những giây phút thoải mái cuối cùng trước cuộc tấn công tối nay. Chàng biết rõ, kể từ tối nay trở đi, công tác của chàng bước sang một khúc rẽ mới. Đó là sự xuất đầu lộ diện từ trong bóng tối để đánh thẳng vào đám Al Capone. Cái tên Eliot Ness sẽ trở thành một cái tên cho Al Capone nguyền rủa. Không chừng chàng lại được “hân hạnh” nằm trong sổ đen của nó.

Muốn ra sao thì ra, chàng dự định sẽ xuống tay không thương tiếc, không cần đếm xỉa đến cái đám cảnh sát địa phương có thật sự giúp chàng hay không. Tất cả những cơ sở làm ăn của Al Capone, theo như kế hoạch, phải bị triệt hạ. Tất cả những ai muốn cản con đường chàng đi đều sẽ bị khai trừ, dù kẻ đó là Al Capone hay là trưởng phòng Mike Casey. Cho đến ngay cả thị trưởng Thompson, nếu cần thiết, chàng sẽ không ngần ngại lôi hắn ra toà. Đất Hoa Kỳ đầy dẫy những thằng trộm cướp, nhưng cũng không thiếu những cảnh sát cương quyết và tài ba như chàng. Luật pháp Chicago sẽ được tái lập, chàng tự nhủ với lòng mình.

Đi bách bộ một lát, chàng mua tờ báo rồi kiếm một cái ghế bên vệ đường ngồi đọc. Quan sát khách bộ hành ngược xuôi trên lề đường, chàng mới để ý là mình đang ngồi trước một tiệm bán quần áo sang trọng. Gần đó, dưới cái bảng “tuyệt đối cấm đậu xe”, một chiếc Limousine láng bóng nằm chình ình như thách thức thiên hạ, với thằng tài xế mặt mũi cô hồn đang ngồi gác cẳng huýt gió.Vốn là một kẻ thượng tôn pháp luật, những chuyện gì trái luật xảy ra trước mũi dù nhỏ đến đâu cùng làm cho Eliot Ness thấy ngứa mắt nhưng hôm nay chàng phớt tỉnh, cúi đầu đọc báo tiếp.

Tối nay còn nhiều chuyện làm, chuyện giữa đàng đừng nên thắc mắc. Bỏ tờ báo xuống, Eliot Ness lơ đãng mồi điếu thuốc và bỗng nhìn thấy một anh cảnh sát mặc sắc phục đang tà tà bước tới.

Eliot Ness dư biết, cảnh sát đi tuần bằng chân là thứ cảnh sát hạng bét của Chicago, thường chỉ để cho các tay mới ra trường hay những ông già đảm trách. Thời buổi này đâu có nạn cướp giựt chạy bộ.

Tay phải của người cảnh sát ve vẫy cái cây dùi cui coi rất điệu nghệ.

Thầy cảnh sát tới gần chiếc xe, ngắm tới ngắm lui. Khi đã chắc ăn là chiếc xe đậu một cách bất hợp pháp, thầy tới bên tên tài xế, gõ nhẹ cây dùi cui vào nóc xe hắn.

Eliot Ness thích thú quan sát một cảnh sát Chicago đang hành sự trong cái thành phố …rừng này. Coi, sao thấy thằng tài xế vẫn tỉnh bơ, cái chân gác trên “tableau” cũng không chịu bỏ xuống.

Thày cảnh sát hơi giận, sẵng giọng:

– Ê chú kia, chú có thấy cái bảng cấm đậu xe không?

– Thấy chớ, bảng bự chầng dầng như vậy không thấy sao được?

– Vậy thì còn chờ gì nữa, de ra dùm, kiếm chỗ khác mà đậu!Thằng tài xế bây giờ mới quay ra ngoài, tay móc ra một tấm danh thiếp đưa cho thầy cảnh sát. Không hiểu cái tấm danh thiếp của ai và viết gì nhưng khi đọc xong là thấy thầy cảnh sát thay đổi thái độ liền. Hết cái vẻ hung hãn, thầy cười một cái rồi rút lẹ. Thằng tài xế cất tấm danh thiếp vào túi, tiếp tục ngồi huýt gió chờ chủ.

Mục kích không thiếu một chi tiết, Eliot Ness thấy muốn lộn gan. Cảnh sát Chicago nầy tệ đến vậy sao? Hoặc chiếc xe này là xe của cảnh sát chìm ngụy trang? Hay đó là xe của một ông bự nào đó. Mà nếu càng làm lớn thì càng nên giữ luật pháp chứ, có đâu mà như vậy?

Eliot Ness lắc đầu không có ý kiến. Vả lại, những tính toán, những lo âu và chi tiết của cuộc tấn công tối nay làm cho chàng chỉ một lúc sau là quên bén chuyện đó…

Một lúc lâu sau, lại có tiếng giày đinh dộng cộp cộp trên vĩa hè. Ai đi đứng mà coi bộ dữ dằn quá cỡ. Tiếng giày đinh vang lên át hẵn những bước chân khác. Eliot Ness ngước lên, vừa vặn nhìn thấy một thầy cảnh sát khác đang tà tà đi tới. To con. Hình ảnh khó hiểu vừa rồi của cảnh sát Chicago còn trong trí nên Eliot Ness chỉ nhìn phớt qua rồi lại cúi xuống.

Nhưng,.. tự nhiên có một cái gì đó làm chàng phải ngẩng đầu lên trở lại. Coi người ngợm của thầy cảnh sát này sao mà oai phong lẫm liệt quá chừng. Tướng người cao ít nhất phải là gần 6 feet với những bắp thịt cuồn cuộn như muốn phá tung lớp vải ka ki dù rất dày. Dáng đi chững chạc khoan thai như vầy thì nhất định phải là “quý tướng”. Đi đứng đã ngon vậy, cây dùi cui trong tay thầy còn xoay tít như cái chong chóng tàu bay một cách thiện nghệ.

Khi thầy tới gần hơn, Eliot Ness có vẻ thất vọng vì thấy thầy đã hơi già, xấp sỉ cỡ bốn mươi tuổi. Tướng tá coi ngon lành nhưng chắc vì cao niên nên được điều động về đây để gác đường.

Eliot Ness lắc đầu tiếc rẽ. Một tay ngon lành cỡ đó mà phải đi gác đường thật là phí của trời. Nhưng mà ai biết được, nhiều khi tướng tá coi ngon lành vậy mà lại “dở òm” nên mới được giao cho nhiệm vụ gác đường. Tuy nghĩ vậy nhưng chàng vẫn thích cái khuôn mặt sương sương đẹp hào hùng và cặp râu mép dày đậm. Khả năng thiên phú cho chàng biết đây không phải là một mẫu người tầm thường mà phải là một thứ dám làm chuyện lớn. Ngon lành vậy thì tại sao lại đi gác đường?

Eliot Ness không tìm ra câu trả lời.Thích thú hơn, Eliot Ness nhìn thấy thầy tà tà tiến tới đằng sau chiếc xe Limousine đậu ngang ngược ngay dưới bảng cấm. Thằng tài xế vẫn còn ngồi gác chân bất động nơi băng trước.Cũng như người cảnh sát lúc nãy, thầy dạo một vòng chung quanh xe quan sát rồi vòng ra phía trước, tới bên người tài xế.

Thằng ngồi trong xe tuy biết có cảnh sát đến nhưng vẫn ngồi lì, mắt nhìn thẳng, làm như mọi chuyện trên đời này kể cả chuyện đậu xe trái luật và thầy cảnh sát bên ngoài như không là gì cả.

Thầy cảnh sát đứng yên một lúc quan sát thằng tài xế, chưa thèm mở miệng và chưa thèm có phản ứng. Thầy có cái nhìn của một con mèo đứng ngắm con chuột lớn lối vì chưa biết địch thủ của mình là Thái sơn.Thầy cảnh sát giơ cây dùi cui gõ nhẹ nhẹ vào mui xe, ra dấu muốn nói chuyện với nó.Vẫn lì lợm, tên tài xế rút ra một điếu thuốc châm lửa, thở khói, mắt tỉnh queo nhìn thẳng. Dáng điệu như vậy thì rõ ràng là nó có coi cảnh sát Chicago ra cái gì đâu?Tự nhiên nghe đến “rầm” một tiếng đinh tai nhức óc, cây dùi cui của thầy cảnh sát đã dộng hết sức xuống trần xe. Chiếc xe mới tinh bị hỏm xuống một miếng hơi lớn. Tên tài xế giật nảy mình lên, điếu thuốc rớt xuống áo, hắn đưa tay ra phủi phanh phạch, miệng văng tục om sòm.

Kiếm được điếu thuốc đang cháy rớt vào bên trong áo mình không phải là chuyện dễ làm, nhưng rồi hắn cũng lôi ra được, vừa chửi rủa vừa mở cửa bước xuống, mặt mũi nhăn nhó vì bị phỏng đến mấy chỗ trong ngực. Ai yếu bóng vía nhìn thấy cảnh này cũng có thể đoán là nó sẽ bằm xác thầy cảnh sát kia ra làm trăm mãnh cho hả giận.

Eliot Ness nở một nụ cười sảng khoái. Chàng đã đoán không sai. Đã chờ đợi sẵn, thằng nọ vừa đặt chân xuống đất là thầy cảnh sát dã thọt cây dùi cui vô bụng hắn, đẩy thằng này dựa sát vào xe:

– Ai cho mày đậu xe chỗ này thằng mất dạy? Mày hiểu tiếng Mỹ không?Câu trả lời của hắn là một tiếng chửi thề. Thầy cảnh sát nới lỏng cây dùi cui, cười cười:

– Thằng chó đẻ! Đã đậu xe ẩu tả mà còn dám lăng mạ nhân viên công lực. Cảnh sát là bạn dân, tao đâu thèm đánh mày làm gì cho có thương tích. Mày có nhiệm vụ giữ xe thì tao có nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự. Mầy làm khó tao thì tao làm khó mầy. Coi nè!

Nói dứt câu là đã nghe đến xoảng một tiếng. Cây dùi cui lần này nện vào tấm kính sau của chiếc xe Limousine. Nguyên cái cửa kính vỡ nát, văng tung toé.

Thằng tài xế chưng hửng, lại gầm lên một tràng chửi rủa thô bỉ khác. Cây dùi cui trong tay thày cảnh sát lại xoay tít như chong chóng rồi …hạ xuống nơi một tấm kính khác của chiếc xe. Một rừng thủy tinh vụn lại bay lả tả xuống khắp nơi trong xe, trên đường cái.

Thằng tài xế không tin được con mắt mình. Chicago này có thằng cảnh sát khùng nào dám xử sự như vậy với chiếc xe của phụ tá Frank Nitti, chiếc Cadilac Limousine trị giá 15 ngàn đô la (năm 1930 tương đương với 150 ngàn đô la năm 1988) mà ông phụ tá cưng hơn cả cây colt .45 của ổng. Hàng ngày, dù bận rộn đến đâu, chính Frank Nitti bỏ ra nửa tiếng đồng hồ để o bế, lau chùi nó. Một vết dơ nhỏ trong xe hay ngoài xe mà ông phụ tá thấy được thì thế nào cũng bị mắng mỏ. Thằng tài xế không dám tưởng tượng ra cái cảnh ông phụ tá đi shopping ra và nhìn thấy cái xe hơi cưng của mình bị tàn phai nhan sắc tả tơi như vậy. Hắn nghĩ, nóng tánh như ông phụ tá, ông ta dám rút súng ra nổ bậy một phát vào ngực mình rồi muốn ra sao thì ra lắm.

Hoảng quá hoá liều, thằng tài xế xúi quảy thò tay vô trong áo để móc súng ra ăn thua đủ.

Nhưng cánh tay chưa kịp chạm vô báng súng thì đầu cây dùi cui oan khiên đã đẩy tới, kèm cứng dưới nách, đẩy nó té ngược một lần nữa vô chiếc Limousine. Cảm thấy nơi nách phải bị đau đớn chịu không nổi, cánh tay của tên tài xế từ từ buông ra rồi rớt xuống. Nhanh như chớp, bàn tay còn lại của thầy cảnh sát bay tới, rờ một cái là đã móc ra được cây Magnum 38 của nó.

Vẫn cái giọng khinh khỉnh, thầy hỏi:

– Ai cho mày mang súng thằng du đãng này? Có giấy phép không, đưa coi!Mục kích không thiếu một chi tiết, Eliot Ness mừng như mở cờ trong bụng. Nếu ở Chicago này còn người nào đáng tin cậy thì đây phải là một trong số những người đó.

Thằng tài xế thò tay vào túi, không móc ra cái giấy phép đeo súng mà lại móc ra tấm danh thiếp lúc nãy đưa cho thầy cảnh sát.

Thầy cầm lấy, nhìn lướt qua rồi trả lại. Eliot Ness lại càng thích thú hơn khi nghe thầy cảnh sát chửi thề:

– ĐM! Tao biểu đưa giấy phép tao coi, sao lại đưa thứ danh thiếp của thằng trưởng phòng cảnh sát tham nhũng chó chết Mike Casey cho tao làm gì?Cặp mắt của thầy cảnh sát tự dưng long lên đầy uất hận khi nhắc đến hai chữ Mike Casey. Thầy buông thằng tài xế ra, vung cây dùi cui lên một lần nữa.

Cái cửa kính thứ ba bị đánh vỡ tung. Dường như chưa hả cơn giận, thầy cảnh sát lại vung cây dùi cui lên đập lia lịa xuống cái kính trước. Những tiếng loảng xoẳng vang lên tiếp. Mới đầu nghe rõ, nhưng càng về sau thì chàng nhỏ đi. Kiếng đã vỡ hết rồi, còn đâu nữa mà đập. Cái kiếng trước quả là thứ mắc tiền, đã bị đánh vụn ra từng mãnh nhưng nó không chịu rớt xuống mà dính cứng với nhau coi như một mớ màn nhện vĩ đại, nham nhỡ. Thầy xé nát tờ danh thiếp rồi thọt mạnh cây dùi cui moi một lỗ hỗng trước mặt ghế tài xế:

– Đáng lẽ tao còn biên cho mày cái giấy phạt nhưng tính tao không thích giấy tờ lôi thôi, mất thì giờ. Từ này về sau nên nhớ là đậu xe thì đừng bao giờ đậu ở những chỗ cấm. Và nếu đã làm gì trái luật, khi gặp cảnh sát thì phải coi cảnh sát là …ông cố nội tụi mày, phải dạ thưa cho lễ phép, còn ngang ngược như cái kiễu hồi nãy thì có ngày mất mạng nghe con. Rồi, ĐM muốn lái về thì phải nhìn qua cái lỗ này để nhớ đến tao nghe không thằng khốn nạn. Đây chỉ mới là một bài học sơ khởi thôi.

Súng đã bị tước, chiếc xe đã tàn phai nhan sắc mà không làm gì được, thằng tài xế đứng yên như bị trời trồng. Nó đau khổ nhìn chiếc xe mới cách đây năm phút còn là một tác phẩm thượng thặng, một món trang sức quyền quý trị giá 15 ngàn đô của nền kỹ nghệ Hoa Kỳ mà bây giờ coi thấy thê thảm chẳng khác gì một chiếc xe thế phải của quân đội trong nghĩa địa xe hơi.

Thầy cảnh sát lật ngược cây súng, mở buồng chứa thả cho mấy viên đạn rớt xuống lòng bàn tay rồi thảy lại cho thằng tài xế:

– Súng của mày đây, giữ lấy. Tao có lấy nó về hay còng đầu mày đem về nhốt thì thằng khốn nạn Mike Casey cũng sẽ trả lại cho mầy. Mất công tao làm báo cáo để nó lại có dịp để làm khó tao và ăn thêm tiền của Al Capone. Bây giờ leo lên xe, dòm qua cái lỗ này mà lái cái xe thổ tả này ra khỏi tấm mắt tao. Mày đậu đây lâu thêm chút nữa là tao sẽ biến cái xe này thành một đống sắt vụn. Hiểu tao không thằng chó đẻ?

Kinh ngạc nhưng mừng rỡ, tên tài xế run run chụp lấy cây súng, mở cửa xe leo lên. Hắn vừa vặn công tắc xe thì thầy cảnh sát lại thò đầu vô:

– Trước khi đi, nói cho mày biết đây là khu vực trách nhiệm của tao. Tao cóc cần biết mày làm gì hay quen biết ai, trong khu vực của tao nếu có bảng cấm đậu xe thì đừng đậu, có bảng cấm đái thì đừng đái. Thằng nào trái luật là tao cứ thẳng tay. Tử tế thì tao chơi tử tế, giang hồ thì tao chơi theo luật giang hồ, muốn thứ gì có thứ đó. Trong trường hợp mày muốn khiếu nại với sở an ninh cảnh sát, số thẻ hành sự của tao là 982, và tên tao là Malone. Gary Malone, thuộc ban …gác đường. Mày cũng có quyền về nói với bọn thằng Al Capone là chính tay tao đã đập chiếc xe này, nếu thằng nào muốn kiện tụng thì lên sở Cảnh sát gặp tao. Còn thằng nào muốn ăn thua với tao thì cứ ra đây, tao không sử dụng Tommy Gun nhưng biết xài thứ khác ngon hơn, shotgun. Tao gác khúc đường này mỗi ngày từ 9 giờ sáng đến 6 giờ chiều. Hiểu chưa?

Thằng tài xế mặt mày tái mét, gật đầu rồ máy xe. Vài ba người hiếu kỳ đang đứng xem vội vàng tránh bước. Khi chiếc xe de lui ngang qua trước mặt thầy cảnh sát, Gary Malone nhổ toẹt một bãi nước miếng vào phía trong xe, xuyên qua lớp cửa kiếng vừa bị đập nát rồi tiện tay nện một phát dùi cui cuối cùng vào cái bóng đèn xe phía trước. Một tiếng “bụp” gọn ghẽ vang lên.

Đứng trên vỉa hè, gần cái ghế của Eliot Ness, Gary Malone tỉnh queo chống dùi cui nhìn chiếc Limousine bây giờ trông giống như một chiếc xe thổ mộ chở quan tài người chết từ từ lăn bánh. Hắn nói vọng theo:

– ĐM tưởng thằng Gary Malone này không biết cách trị tụi bay hả. Lần sau nhớ đậu xe cho đúng chỗ…

Gary Malone vừa tính rảo bước, Eliot Ness cất tiếng:

– Gặp tôi, tôi kiện hộc máu ông ra!

Gary Malone quay người, nhìn thấy Eliot Ness, hắn nhíu mày. A, té ra lại còn một thằng khùng muốn giỡn mặt với cảnh sát. Bộ nó chắc chưa thấy chiếc xe của Frank Nitti vừa bị đập nát chắc. Gary Malone gằn giọng:

– Hê! Ai cho chú mày xía vô chuyện làm việc của cảnh sát?

– Tôi nghĩ mỗi công dân Hoa Kỳ đều có quyền được đối xử công bằng trước pháp luật.

Gary Malone nhăn mặt như vừa đánh hơi thấy một thằng phá đám. Hắn tiến tới gần bên Eliot Ness, vỗ cây dùi cui vào tay mình nghe bóc bóc:

– Ê, chú em đa sự. Ai cho chú mày cái quyền dạy luật cho cảnh sát? Đặc biệt thứ cảnh sát như tao, gần hai mươi năm trong nghề. Đứng dậy coi thằng ông nội, đưa coi có chút giấy tờ tùy thân gì không?

Vẫn ngồi yên, Eliot Ness gài một điếu thuốc vào môi, thò tay vô trong áo vét tính móc cái hộp quẹt. Nhưng tay chàng chưa kịp đụng vào túi thì cây dùi cui đã như một lằn chớp thọt vào khoảng dưới nách chàng, y hệt như lúc nãy hắn đã làm với thằng tài xế. Cây dùi cui đụng phải vật gì cứng cứng, Gary Malone bèn đẩy mạnh hơn, dí người Eliot Ness sát vào lưng ghế công viên:

– Ê, ai cho mày đeo súng, thằng phá đám này? Đứng lên tao coi, hai tay bỏ ra ngoài đàng hoàng, đừng có dại mà giở trò, tao chỉ cần quất một cây là mày gục ngay tại chỗ bây giờ.

Không muốn cuộc gặp gỡ ban đầu đi quá trớn, Eliot Ness trả lời:

– Tôi có giấy phép đeo súng. Tôi là cảnh sát của sở Đặc vụ liên bang.

Gary Malone quả là con người tinh mắt. Chỉ chừng đó thôi đủ cho hắn biết ngay chàng là một nhân viên liên bang thứ thiệt. Cây dùi cui được rút lại. Giọng hắn trở nên hiền hậu hơn:

– Sorry ông cớm liên bang! Tại ông gây trước chớ không phải tại tôi.Nói vừa xong là Gary Malone quay người bước lui, làm như không muốn dây dưa gì đến mấy ông cớm này. Eliot Ness nói vọng theo:

– Ông cảnh sát kia, ông chưa làm hết bổn phận mình?

Gary Malone dừng bước, vẫn không thèm quay đầu nhìn lại:

– Bổn phận gì?

– Bổn phận xét giấy tờ. Ông biết tôi có súng sao lại bỏ đi trước khi kiểm soát tôi?

– Tại vì tôi biết ông là nhân viên liên bang.

– Sao ông làm cảnh sát mà lại dễ tin vậy? Bất cứ thằng ngu nào cũng có quyền xưng mình là nhân viên cảnh sát liên bang. Nếu tôi không phải là nhân viên liên bang thật thì cái mạng ông đã đi đời rồi.

Gary Malone xoay người bước trở lại gần Eliot Ness:

– Ông cớm liên bang lẩm cẩm! Để tôi dạy cho chút bài học vỡ lòng của cảnh sát. Thứ nhứt, cái bộ đồ vét …rẻ tiền của ông đang mặc chứng tỏ ông là công chức nhà nước. Dân chơi nó diện áo quần mắc gấp trăm lần ông. Thứ hai, ban ngày ban mặt, không có thằng ngu nào đeo súng trong người mà dám ngồi khơi khơi ngoài ghế công viên như ông. Thứ ba, cũng không có thằng khùng nào tự nhiên lại đi xưng mình là nhân viên liên bang với một thầy cảnh sát, ăn cái giải gì? Nhiêu đó đủ chưa?

Khỏi cần đợi câu trả lời, Gary Malone lại quay lui, gõ những bước chân chắc nịch xuống đường, tay ve vẩy cây dùi cui. Eliot Ness nói vọng theo:

– Đồng ý với ông. Ông rảnh ở lại đây tôi muốn nói chuyện với ông chút xíu.

Không thèm quay đầu lại, Gary Malone đáp tỉnh bơ:

– Chả có chuyện gì để nói hết. Ông lo chuyện của ông, tôi lo chuyện của tôi.

Người ngợm gì khó tánh và kỳ cục, Eliot Ness thầm nghĩ. Ngựa chứng thường là những con ngựa giỏi nhất nếu biết cách trị. Từ lúc mới vào nghề cách đây mười năm, Eliot Ness có một cái tài lạ là cái tài đánh hơi ra nhân tài. Trăm lần như một, những gì chàng đoán về một người nào đó luôn luôn đúng. Chính nhờ cái tài này mà những công tác của Eliot Ness dù khó khăn cách mấy cũng luôn luôn thành công.

Nhưng cái làm cho chàng buồn nhất là dường như chàng có số “sát quân”. Những cộng sự viên tài giỏi và thân tín của Eliot Ness thường bỏ mạng trong khi hành sự. Lần cuối cùng, thằng Weerison, bắn hay và lanh lẹ tưởng không ai có thể hơn được, cuối cùng bị chết banh xác vì trái bom gài trong xe của chàng. Tụi đầu trâu tính đặt bom giết chàng nhưng cu cậu Weerison sáng hôm ấy không hiểu hứng tình làm sao bèn chơi cái màn ” Xếp ngồi đây để em đi lấy xe cho xếp”. Số nó là số chết thật, xưa nay nó có bao giờ chơi cái trò điếu đóm này đâu? Xe đâu chẳng thấy, chỉ nghe một tiếng “ùm” long trời lở đất vang lên. Cả xe lẫn người không còn mảnh nào nguyên vẹn…

Bị nhiều lần như vậy nên Eliot Ness đâm ra hãi. Không phải hãi cho mình nhưng cho những cộng sự viên của mình. Sáng hôm nay, cái mùi “nhân tài” của con người Gary Malone lại toát ra làm chàng cảm thấy thèm chịu không được. Không chừng đây có thể là cái đáp số của cả bài toán Al Capone mà cả nước Mỹ chưa làm sao giải được.

Được rồi, hắn không tới với mình thì mình tới với hắn. Eliot Ness đứng dậy, rảo bước theo Gary Malone:

– Tôi đi theo ông để nói chuyện chút được không?

Gary Malone quay ngang, nhìn Eliot Ness từ đầu tới chân như đánh giá coi thử ông cớm liên bang này ngon tới cỡ nào:

– Đúng ra, theo luật thì không được, nhưng vì ông cũng là cảnh sát như tôi nên tôi …xí xóa.

Cả hai sóng đôi. Eliot Ness đưa tay ra bắt:

– Xin giới thiệu, tôi là Ness, Eliot Ness, cảnh sát đặc vụ thuộc toán đặc nhiệm của bộ Tài chánh, nha Ngân khố.

Gary Malone cười:

– Chức vụ gì mà dài quá sao nhớ hết? Còn tôi, Gary Malone, cảnh sát gác đường Chicago. Đơn giản vậy thôi.Tính tình ông cớm này thật khó chịu. Eliot Ness cười cầu tài:

– Tôi rất hân hạnh được biết ông.

Eliot Ness chờ để nghe câu trả lời “tôi cũng hân hạnh gặp ông” đáp lễ nhưng chẳng thấy gì. Tốt, vậy là tay này không thích khách sáo, loè loẹt.

Chàng bắt chuyện:

– Ông đi …gác đường lâu chưa?

Hỏi xong, Eliot Ness mới biết là mình vừa hỏi một câu …vô duyên. Gary Malone gục gặc cái đầu:

– Đủ lâu để biết những con đường nào cần phải đi thường xuyên, những con đường nào không cần đi nhiều, và lúc nào có thể bỏ về nhà ngủ được mà không bị ai quấy rầy.

– Tốt. Tôi muốn đề nghị với ông một chuyện.

– Chuyện gì?

– Nói thật với ông, tôi mới được biệt phái từ Hoa Thịnh Đốn xuống để lo dẹp rượu lậu dưới này. Tôi thấy ông là một người có khả năng, tôi muốn mời ông vào làm việc với tôi. Dĩ nhiên, ông thấy đó, làm cho chính phủ liên bang thì quyền lợi nhiều hơn. Tôi bảo đảm sẽ đưa ông vào với nha Ngân khố. Đặc biệt hơn, tôi sẽ vận động để người ta tính luôn những thời gian thâm niên của sở Cảnh sát vào nha Ngân khố, mai mốt về hưu, tiền hưu trí nhiều phải biết…

Gary Malone cười khỉnh:

– Xin thành thật cám ơn ông. Nếu ông không chấp, tôi xin phép để tôi … dạy cho ông bài học thứ hai của nghề cảnh sát. Muốn tuyển nhân viên giỏi làm việc, chỉ có hai nơi: một là ông vô trường huấn luyện cảnh sát mà móc nó ra, hai là xuống hầm văn thư của bộ Quốc phòng nghiên cứu hồ sơ rồi lựa chọn. Trong cái đám TQLC dữ dằn, thế nào ông chẳng kiếm được một thằng cớm ngoại hạng. Ở trường Cảnh sát là tốt nhất vì chúng nó còn sạch, còn lý tưởng. Ra nghề cảnh sát chừng vài năm, không ít thì nhiều, thằng nào cũng biết ăn bẩn. Kẹt lắm, nếu như ông muốn tuyển mộ người từ nhân viên cảnh sát thì cũng không bao giờ nên chọn cái đám cảnh sát gác đường mà tuyển. Tụi này, như tôi đây chẳng hạn, ông tuyển về chỉ có nước làm gác dan. Nếu có tài thì chúng tôi đã không phải cuốc bộ ngày 8 tiếng ngoài trời nắng chang chang như thế này. Điểm quan trọng khác nữa, trong vòng vài chục phút đồng hồ không đủ để cho người ta nhận xét tường tận về một người được. Công việc của ông làm rất là quan trọng và nguy hiểm, tôi tưởng Nha Ngân khố đã dạy ông kỹ vấn đề này rồi.

Đã nghe bài học thứ nhất lúc nãy, giờ nghe bài học thứ hai Eliot Ness cũng chẳng lấy gì làm khó chịu nhưng ngược lại, chàng còn thấy khoái hắn là đằng khác. Đúng là típ người sinh ra để làm chuyện lớn: không khoe khoang tự đại, không dễ bị cám dỗ với những mồi ngon tiền bạc, tương lai bảo đảm.

Cái làm chàng thắc mắc mãi từ nãy đến giờ là tại sao con người như Gary Malone lại đi làm cảnh sát gác đường? Chắc chắn phải có câu trả lời nhưng bây giờ thì hãy để đó đã. Chàng công nhận, Gary Malone đã nói rất đúng. Nhưng chỉ đúng có phần đầu thôi, phần thứ hai là hắn trật lất. Eliot Ness có thể gặp một kẻ lạ mặt, chỉ nói vài ba câu chuyện là có thể biết ngay đó là hạng người nào rồi. Quá khứ của mười năm vùng vẫy chứng minh cho chàng biết mình chưa bao giờ trật.

Eliot Ness châm lửa điếu thuốc:

– Tôi đồng ý với ông điểm đầu tiên. Nhưng điểm thứ hai về nhận xét con người thì xin lỗi ông, ông nói trật rồi. Tôi chỉ cần nói chuyện với ai một lần là có thể biết được tài năng của người đó. Vì vậy tôi mới đề nghị với ông. Tôi biết ông là người tài.

Gary Malone lại cười, hàng râu mép chĩa thẳng ra hai bên:

– Ông không sợ một ngày kia sẽ hối hận về những gì mình vừa nói à? Đúng rồi, hồi nãy ông thấy tôi đập cửa xe một thằng mafia, ông cho tôi là oai hùng lắm hả. Nếu chịu khó suy nghĩ một chút, ông sẽ thấy tôi làm vậy là thiếu khôn ngoan. Chỉ vì một chút nóng nãy mà gây oán thù vặt, tôi sẽ đón nhận hậu quả của nó. Khi làm việc vì quan trọng, không ai lựa những người nóng tánh. Ông nghĩ thế nào mà lại chọn tôi?

– Tôi biết phía sau vụ đó có nhiều uẩn khúc nên tôi không trách ông. Nhưng tôi lặp lại, tôi biết ông là người có khả năng. Xin ông giúp tôi một tay.

Một thoáng im lặng, rồi câu trả lời dứt khoát của Gary Malone:

– Tôi già rồi. Nội một khúc đường vắng gác còn chưa xong, sức lực đâu đi theo mấy ông cớm liên bang. Xin cám ơn ông về những lời khen, tôi rất tiếc là không giúp gì ông được hết.

Khi muốn câu một con cá nào, người ta thường dùng mồi để dụ nó. Nếu thả xuống mồi này mà thấy cá không cắn thì người đi câu phải nghĩ đến miếng mồi khác, to hơn, hấp dẫn hơn hay phải dời chỗ đến một giòng nước khác yên tĩnh. Con cá Gary Malone chắc phải là thứ cá hiếm. Không biết dùng mồi gì để nhữ hắn đây. Tiền bạc, hắn không ham. Danh vọng và một tương lai bảo đảm hắn cũng chê. Vậy hắn muốn gì? Muốn an nhàn chăng? Cái vụ đập bể kính xe mafia vừa rồi chứng tỏ hắn không phải là loại cớm sợ trách nhiệm, muốn an nhàn. Rắc rối quá, Eliot Ness chưa tìm ra câu trả lời. Chàng bỗng hỏi vu vơ:

– Gia đình ông thế nào, được mấy cháu rồi?

Lại một câu gọn lỏn:

– Ly dị lâu rồi. Sống độc thân.

Vừa nói, Gary Malone vừa đưa mắt quét một vòng chung quanh mình. Ánh mắt sáng quắt như điện, dòm tới đâu là hào quang toát ra tới đó. Cây gậy trong tay hắn thỉnh thoảng lại quay tít lên một vòng:

– Còn ông, gia đình thế nào?

– Tôi được một bé gái. Cháu năm nay gần 8 tuổi.

Gary Malone dòm ra xa xa:

– Cách đây 20 năm, lúc mới vào nghề, tôi cũng có một gia đình …

Eliot Ness mừng rỡ. Hắn chịu nói chuyện là còn có hy vọng. Chàng chờ đợi nghe tiếp câu chuyện 20 năm về trước. Nhưng chỉ tới đó là hết, hình như Gary Malone chợt nhớ ra là mình vừa nói hơi nhiều với ông cớm lạ này nên im bặt. Những bước chân lộp cộp của đôi giày đinh vang lên đều đều trên vĩa hè.

Nói chuyện với ai cũng thế, hễ sau vài lần bị “tạt nước lạnh” vào mặt là người đối thoại, dù có lì lợm đến đâu cũng kiếm đường rút. Nhưng Eliot Ness là một người kiên nhẫn, đâu thể bỏ cuộc dễ dàng như thế được, bèn thử cú chót:

– Có nhiều khi ở đời, cơ hội đến mà mình không bắt lấy thì sẽ mất đi. Tôi có một đề nghị lần nữa với ông, ông nên suy nghĩ lại. Nha Ngân khố cần những người hảo hạng như ông.

Gary Malone lắc đầu liền:

– Cám ơn ông bạn. Tôi chẳng bao giờ nghĩ lại hết. Không là không. Ông nên để dành thì giờ thuyết phục tôi mà về lập kế hoạch với đám các nhân viên của sở. Chắc chắn họ có nhiều tài hơn anh cảnh sát già gác đường này.

Eliot Ness nói nhỏ vừa đủ cho Gary Malone nghe:

– Tôi xuống đây một mình, chẳng có ai giúp đỡ cả.

Gary Malone tự nhiên dừng bước, quay sang nhìn Eliot Ness như ngắm một con quái vật:

– Ông Ness không nói giỡn anh em chớ! Ông xuống đây một mình? Ông tính đi nghỉ mát hay xuống đây để dẹp tụi Al Capone?

– Dẹp thằng Al Capone là công tác của tôi. Thật ra, tôi không muốn làm anh hùng hay là một thứ độc quái nào hết. Đó là chỉ thị của phòng Đặc vụ. Tôi là nhân viên nên phải thi hành.

Gary Malone vỗ mạnh cây dùi cui vô lòng bàn tay mình nghe đến “chát” một cái, chửi thề, như có vẻ không tin:

– Chỉ thị gì …ngu thấy mẹ! Tại sao mấy ông nội ở Hoa Thịnh Đốn lại làm cái việc kỳ cục như vậy nhỉ? Gởi người ta xuống đây một mình để dẹp tụi …Al Capone! Bộ mấy ông tưởng Al Capone là một thằng du đãng mới ra nghề chắc? Ra mấy cha ở trên đó không biết đọc báo à?

Eliot Ness lắc đầu:

– Báo chí thì ngày nào mấy xếp chả đọc? Ngoài mớ báo chí, còn có các tin tức tình báo, các bài sưu tra dài cả trăm trang gởi về mỗi ngày. Đâu có chuyện gì qua mặt nổi Hoa Thịnh Đốn. Cái kẹt là ngân sách điều hành chỉ có vậy. Hơn nữa, đó là phương thức làm việc của Hoa Thịnh Đốn. Mới đầu, chỉ bắt đầu bằng một người, nếu thấy khó khăn, sẽ gởi thêm.

– Lỡ người đó bị bắn chết nhăn răng thì làm sao?

Eliot Ness nhún vai:

– Xui xẻo! Gởi người khác.

Gary Malone nhìn Eliot Ness nói với giọng thuyết phục:

– Ông Ness, tôi chưa biết ông tài giỏi cỡ nào, mưu lược làm sao, nhưng tôi thành thật khen ông một câu: Ông là một người can đảm. Vừa rồi, ông đem cái “Treasury Department” ra khoe với tôi, nào là lương cao bổng lộc nhiều, v.v. Tôi nói một câu, xin ông đừng buồn: Có cho vàng tôi cũng không dám đút đầu đi làm việc cho mấy ông. Cái vốn quý nhất của con người, luôn luôn đi trước mọi thứ khác là mạng sống. Mất cái này là mất tất cả. Mấy ông làm ăn và tính toán như vậy chẳng khác nào đem con bỏ chợ. Ai dám làm việc với mấy ông?

Eliot Ness cảm thấy mệt mõi. Trong vòng chưa tới một tiếng đồng hồ, chàng học được tới ba bài học của người cảnh sát gác đường. Cơ sự như thế này thì đành tạm rút lui để tính kế khác. Chàng vận dụng sức lực để biểu diễn một nụ cười, đưa tay ra bắt Gary Malone:

– Cám ơn ông bạn Gary Malone về bài học thứ ba của ông. Ngay bây giờ tôi cảm thấy khôn ngoan hơn sau khi học thêm được ba bài học của ông. Hôm nào rảnh, chúng ta gặp nhau nữa để nói chuyện được không?

Gary Malone nhìn bàn tay chàng, ngần ngừ một lúc rồi nắm lấy siết chặt:

– Chúc ông may mắn.

– Tối nay, tôi sẽ tấn công đợt đầu, ông có bài học gì cho tôi không?

– Lấy người ở đâu mà tấn công?

– Ty cảnh sát!

Eliot Ness nhìn thấy một vẻ vừa …thương hại vừa khó chịu trên khuôn mặt Gary Malone. Hắn cau mày:

– Không có bài học nào, nhưng tôi có ý kiến này: Nếu tôi là ông, tôi sẽ đánh điện về Hoa Thịnh Đốn xin gởi lên cấp tốc vài tiểu đoàn TQLC để tăng cường cho ông trước khi tấn công. Chúc ông may mắn!

Eliot Ness quay gót, lẩm bẩm trong miệng cái số thẻ hành sự của Gary Malone: “982, 982…”

Hôm nay coi như “thua” đi. Chàng biết và tin tưởng rằng trước sau gì mình cũng máng được cái huy hiệu bằng đồng có đóng chữ “Treasury Department” trên ngực hắn. Cái khó là kiếm ra vàng, khi đã biết vàng nằm ở đâu rồi thì công việc đào xới không phải là một vấn đề…

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 12 Apr 2025

Chương 7

Ty Cảnh Sát Chicago dọn sẵn cho Eliot Ness một cái văn phòng hách nhất ty, với điện thoại, bản đồ đầy đủ. Văn phòng này đẹp chỉ thua văn phòng của ông trưởng ty. Cẩn thận hơn, trước tấm cửa kiếng ra vào được thợ sơn vẽ mấy chữ vuông vắn đậm nét:

“Eliot Ness Cảnh sát đặc vụ Tổng Nha Ngân Khố Hoa Kỳ”. Mấy ngày đầu là những thủ tục lẩm cẩm để làm quen với các nhân viên, các văn phòng trực thuộc. Theo chỉ thị của trưởng ty, tất cả văn phòng phải luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ Eliot Ness khi chàng cần đến về bất vấn đề gì, từ cây bút cho đến tin tức, hồ sơ. Về nhân lực, ông trưởng ty cho phép chàng tuyển lựa bất kỳ 6 người nào trong lực lượng cảnh sát để làm việc trực tiếp với chàng, nhưng Eliot Ness còn chần chừ vì thấy chưa cần đến. Hơn nữa, nguyên cái ty cảnh sát đã biết tin được ai mà tuyển lựa.

Eliot Ness rất hài lòng về sự hợp tác này. Mới đầu mà vậy là tốt rồi, từ từ sẽ tìm hiểu thêm. Có cái hơi lạ là các nhân viên cảnh sát ai cũng nhìn Eliot Ness với vẻ không được thân mật lắm. Dường như có cái gì ngăn cách giữa chàng và họ. Thử bắt chuyện vài người, Eliot Ness lắc đầu chán nản vì anh nào cũng ăn nói nhát gừng, trả lời cho qua chuyện rồi lãng đi chỗ khác. Quái, cớm Chicago có vẻ khó chịu thật!Hôm nay Eliot Ness ra về trễ hơn thường lệ vì chàng có cái hẹn mật. Trên bàn là tấm giấy nhỏ ghi địa chỉ của mật báo viên. Tin tức này chính ông biện lý gọi điện thoại đọc cho chàng. Dĩ nhiên đây phải là loại tin tối mật nên đích thân ông biện lý đọc, không cho đến cả thư ký của ông biết.

Eliot lẩm nhẩm học thuộc lòng địa chỉ rồi vò tờ giấy liệng vào thùng rác. Chờ cho đồng hồ chỉ đúng 7 giờ chàng tắt đèn, khoác áo bước ra khỏi văn phòng.

Leo lên xe rồ máy, chàng sực nghĩ đến mảnh giấy ghi địa chỉ.

Có cái gì là lạ lẩn quẩn trong đầu chàng về cái ty cảnh sát này. Theo báo cáo, 80% nhân viên ty cảnh sát ăn lương tháng của Al Capone; ngộ nhỡ có thằng nào tìm ra tờ giấy thì mạng thằng mật báo viên coi như đi đứt!

Eliot Ness liền tắt máy đi trở ngược lên văn phòng. Chàng khám phá ra cái thùng rác đã sạch trơn.

Một trong hai điều có thể xảy ra: hoặc là người lao công lau chùi đã dọn sạch tất cả, hoặc là tờ giấy đã bị ai đó đánh cắp. Muốn tìm ra manh mối đâu có gì.

Eliot Ness ra khỏi văn phòng hỏi người thư ký trực:

– Tụi dọn dẹp văn phòng mấy giờ thì bắt đầu làm việc.

Ông thư ký già mang lon trung sĩ cảnh sát chậm rãi mồi một điếu thuốc lá rồi mới trả lời, khói từ mồm bay ra phả vào mặt Eliot Ness:

– Ở đây chúng tôi cho tù hạng nhẹ phụ trách công việc quét dọn. Chúng nó làm việc bất thường, theo lời yêu cầu của nhân viên trực.

– Ông vừa cho nó dọn dẹp phòng tôi?

– Thưa ông Ness, vâng.

– Tốt, tôi nhờ ông kêu thằng khỉ nào đó vừa dọn dẹp phòng tôi lên đây liền lập tức. Tôi có chuyện muốn hỏi.

Lão cảnh sát già nhìn Eliot Ness một cách ngạc nhiên. Cha nội cớm liên bang này sao mà khó chịu. Chuyện dọn dẹp là chuyện riêng của người ta, làm gì phải xía vô. Lão chần chừ ngồi nhìn Eliot Ness bất động, ánh mắt bắn ra nhiều tia thách thức.

Đến nước này thì Eliot Ness nổi sùng. Tiên sư cha mấy thằng cớm địa phương ở cái thành phố tội lỗi này, tụi nó chưa biết tay “ông” Eliot Ness mà.

Eliot Ness cúi sát mặt người cảnh sát già, mắt long lên, hai hàm răng nghiến lại:

– Tôi cho ông hai phút để dắt thằng đó lên đây, ông bạn. Nếu tôi không thấy nó trong vòng hai phút đồng hồ thì chính tôi sẽ còng tay ông vô cái chân bàn trong văn phòng tôi cho đến sáng mai mình nói chuyện sau. Ông hiểu không?Miệng nói là tay chàng móc ra cái còng sắt thảy lên bàn nghe đến “cành” một phát.

Người trung sĩ già chưng hửng. Mấy chục năm trong nghề, đây là lần đầu tiên ông ta bị một anh cớm đồng nghiệp hăm dọa còng tay mình. Mắt ông thoáng một vẻ bối rối, cái điệu bộ khinh khi cứng đầu lúc nảy tự dưng bay đi đâu mất tiêu. Cứ nhìn cái bản mặt dữ tợn và giọng nói nghiêm trang của anh chàng Ness này thì hắn dám làm thiệt lắm chứ không phải dọa già đâu. Kinh nghiệm gần ba mươi năm trong nghề cảnh sát giúp cho ông biết loại nào mình có thể đùa dai, loại nào nên né. Thôi, tránh voi chẳng xấu mặt nào, ông quyết định né, mở miệng giọng ngọt xớt:

– Thưa ông Ness, thì tôi cũng định nói cho ông biết đó chớ, nhưng chưa kịp thì ông đã nổi nóng rồi. Xin ông bình tĩnh, mình dù gì cũng là cảnh sát với nhau mà. Thằng tù đó đang dọn dẹp ở phòng kia kìa.

Eliot Ness nhìn theo hướng người trung sĩ chỉ, thấy một anh Mỹ đen đang lui cui dọn dẹp. Trước khi bỏ đi, chàng còn nhắn thêm một câu:

– Kể từ nay, nếu không có phép tôi, không một ai được bước chân vào văn phòng tôi. Ông hiểu không? Và cũng nhờ ông nhắn lại với bạn bè, đừng nên làm Eliot Ness này phật ý.

– Dạ thưa hiểu.Anh tù Mỹ đen bị Eliot Ness chất vấn mấy câu. Tốt, hắn vừa làm sạch sẽ văn phòng như thường lệ. Eliot Ness tìm thấy tờ giấy của mình trong túi rác của hắn. Hú hồn. Chàng xé nát rồi vất trở lại vào thùng rác.

Khi đi trở ra, lần đầu tiên chàng nghe tiếng chào “Good night, Mr. Ness” của lão cảnh sát thư ký trực. Giọng ông ta thêm nhiều phần kính trọng. Eliot Ness gật đầu đáp lễ, có vẻ hài lòng, xuống xe rồ máy.

Nhưng… chàng sẽ thất vọng lắm nếu biết được rằng cũng như chàng, ông trung sĩ cảnh sát già đã học thuộc lòng cái địa chỉ của thằng mật báo viên ngay từ khi chàng vừa rời khỏi văn phòng lần đầu…

Đã nghiên cứu bản đồ trước, Eliot Ness chỉ quẹo vài vòng là kiếm ra cái nhà của thằng mật báo viên. Lái xe ngang nhà một lần để quan sát, chàng để ý thấy đèn đuốc tắt tối thui như không có ai ở nhà. Khu phố vắng lặng đến tiêu điều. Eliot Ness cẩn thận tìm một chỗ tối cách căn nhà chừng năm con đường rồi đậu chiếc xe, thả bộ tới.

Trời đêm gió thổi lạnh buốt nhưng Eliot Ness không gài hai nút áo trên của chiếc bành tô mình đang mặt. Phải để hở như vậy, rút súng ra mới mau.

Đến trước căn nhà tên mật báo viên, Eliot Ness vẫn lầm lủi bước thẳng thêm một quãng rồi đột nhiên quay phắt lại, đi ngược lại hướng mình vừa qua. Tốt, không có thằng nào theo cả. Chàng lẹ làng luồn ra phía sau nhà. Đứng trong bóng tối mịt mù, trước khi gõ cửa, chàng lại cẩn thận quan sát chung quanh một lần nữa. Bốn bề vắng lặng như bưng. Eliot Ness gõ cửa theo đúng nhịp đã được dặn trước: 2 tiếng mau và 3 tiếng chậm.

Vừa gõ xong độ một chút, cánh cửa nhẹ nhàng mở hé, bóng mờ của một cái đầu thò ra, lung linh mờ ảo dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn nến yếu ớt trong nhà, tiếng nói run run như rất sợ hãi:

– Ông là Ness?

– Đúng.Cánh cửa sau được mở rộng. Chờ cho Eliot Ness vừa bước vào người mật báo viên đóng lại liền cái rụp, gài hai ba lần khóa.

Chàng nhận xét thấy đèn đuốc trong nhà tắt tối om. Cả phòng khách chỉ có một ngọn nến nhỏ hắt ra chút ánh sáng leo lét.

Gia chủ bắt tay Eliot Ness:

– Hân hạnh gặp ông. Tên tôi là Stash Mose. Nhưng ông cứ gọi tôi là Mose.

– Tôi là Ness. Eliot Ness.

– Tôi biết ông rồi. Xin ông cảm phiền vì sự tối tăm này. Tai mắt bọn nó ở khắp mọi nơi, sơ xẩy một chút là mất mạng như chơi. Tôi phải tắt hết đèn đuốc làm như mình không có ở nhà mới tiếp ông được. Chúng ta đi vào phòng ngủ nói chuyện.

– Tôi thông cảm.

Vào đến phòng ngủ mới thấy có chút đèn điện mờ mờ. Các cửa sổ đều bị phủ kín bởi mấy lớp màn. Hai người ngồi bên cái bàn nhỏ. Mose moi dưới chân bàn ra một tấm bản đồ:

– Để khỏi mất thì giờ của ông, tôi xin đi thẳng vào vấn đề.Eliot Ness mồi một điếu thuốc, lắng tai nghe. Mose tiếp tục:

– Tụi nó vừa mới về một chuyến hàng rất lớn đến từ Canada. Có tới cỡ 5 xe cam nhông rượu chứ không ít đâu.

-Trị giá khoảng bao nhiêu?

– Khoảng hơn một triệu đô la.

Mắt Eliot Ness sáng lên:

– Một triệu đô la?

– Nhiệm vụ của tôi mấy năm nay là khiêng rượu từ trên xe xuống nhà kho và từ nhà kho ra xe. Al Capone tuy là tay anh chị buôn rượu lậu nhưng cách làm ăn của hắn rất có qui củ, y hệt tất cả các cơ quan xuất nhập cảng khác. Mọi thứ đi ra đi vô đều phải được ký nhận, có sổ sách hẳn hòi, mỗi lần nhận hay giao tôi đều bắt người ta ký giấy. Một cam nhông như vậy trung bình là khoảng gần 2 trăm ngàn, chưa kể tiền lo lót ở địa phương. Nếu kể hết, có thể lên đến hơn một triệu.

Mose chỉ ngón tay vào một khu nhà kho ở ngoại ô thành phố Chicago. Mới nhìn vào là trong đầu Eliot Ness đã phát hiện ra một kế hoạch tấn công ngay. Chàng lấy cuốn sổ tay, ghi chép những chi tiết quan trọng, hỏi thêm vài câu rồi đứng dậy ra về. Ở lâu không tốt cho cả hai.Đi cũng như về, thoáng cái là Eliot Ness dọt ra khỏi cửa. Chưa thèm đi vội, chàng đứng lặng trong bóng tối đúng năm phút đồng hồ để quan sát rồi mới bước mau trở lại chỗ xe đậu.

Tốt, chiếc xe còn nguyên trong bóng tối. Chàng lên xe rồ máy, nhủ thầm: “Vậy là xong một triệu đô la của thằng khốn. Chừng mười chuyến như vậy thì của núi cũng sập.”

Ngày hôm sau, Eliot Ness tới văn phòng sớm chờ gặp trưởng phòng Mike Casey.

Mãi gần 9 giờ sáng cha nội mới lò mò dẫn xác vô. Làm ăn như vầy thì thảo nào chưa bao giờ quất được thằng Al Capone. Mà coi kỹ khuôn mặt thì thấy lão lại có vẻ như đang còn say rượu chưa tỉnh. Mike Casey mời Eliot Ness ngồi.

Đúng như ý chàng đoán, mùi rượu đêm qua còn bay ra nồng nặc trong hơi thở của hắn. Thấy mà nản. Cả nước Mỹ bị cấm rượu mà một ông trưởng phòng cảnh sát lại say sưa tối ngày như thế này thì ai giữ được luật pháp đây? Hơn nữa, giữa thời đại kinh tế khủng hoảng, tiền lương của một trưởng phòng đâu có bao nhiêu mà hoang phí như vậy? Có một cái gì đó, Eliot Ness không thấy rõ nhưng cứ làm cho chàng suy nghĩ về lão này mãi. Mike Casey đốt điếu thuốc, bắt đầu:

– Ông …thanh tra mạnh giỏi. Ông cần tôi làm gì cho ông?

Eliot Ness chỉ vào cái cửa. Mike Casey hiểu ý, đứng dậy ra đóng cửa, nói luôn với cô thư ký:

– Tôi đang bận tiếp chuyện ông Ness. Ai có gọi cứ bảo chờ.

Eliot Ness chậm rãi trình bày về cái kế hoạch tấn công nhà kho chứa rượu của Al Capone. Chỉ nghe tới hai chữ “tấn công” là mắt ông trưởng phòng hiện lên một vẻ khoái trá. Eliot Ness không hiểu lão khoái trá vì có dịp đi làm thịt chỗ làm ăn của Al Capone hay là vì biết trước được một bí mật đáng giá ngàn vàng? Thế nào chàng cũng phăng ra, không có gì vội.

Mike Casey ngồi chăm chú nghe không thiếu một chữ. Lâu lâu lại điểm thêm vài câu phê bình rất là đúng chỗ. Cuối cùng hắn hỏi:

– Mà sao ông biết được cái tin đáng giá này hay vậy? Ông có tai mắt nằm trong sào huyệt bọn nó?

Eliot Ness không thích hạng người tò mò, nhưng cố gắng đáp tĩnh:

– Tạm thời ông cứ biết vậy là được rồi. Lúc nào thuận tiện có thì giờ tôi sẽ cho ông biết sau.Ông trưởng phòng “à” lên một tiếng dài, nhíu mày suy nghĩ. Eliot Ness đứng dậy:

– Tôi cần ông cung cấp gấp cho tôi ngay sáng nay một người để đi thăm dò địa điểm trước khi lập kế hoạch tấn công.

– Dĩ nhiên, ông Ness. Tôi đã nhận được chỉ thị để giúp ông tối đa. Tôi sẽ cho một người lên gặp ông ngay.Sau cái bắt tay với trưởng phòng cảnh sát Casey là Eliot Ness dọt qua văn phòng mình, có mấy cú điện thoại cần gọi gấp. Cú đầu tiêng gọi về Hoa Thịnh Đốn.

Vô ích, bên đó chả giúp được gì. Eliot Ness than thở:- Sắp sửa có đánh lớn mà ông… vậy, còn thằng phụ tá của tôi đâu?

– Phụ tá gì? Công việc trên này còn bề bộn lắm Ness ơi, để từ từ rồi qua lo cho. Mà sao không sử dụng tối đa khả năng và nhân lực của mấy ông cớm dưới đó? Phải cố gắng mà xoay sở chớ. Chuyện gì cũng nhờ đến trung ương hết thì đâu có được!Eliot Ness cúp máy, lắc đầu.

Cú thứ hai, vừa tính gọi cho ông biện lý thì chuông điện thoại reo vang làm Eliot Ness ngạc nhiên. Không lý ông Morgan hay bà xã gọi mình giờ này, vì ở đây ngoài hai người đó ra thì có ai biết được số của chàng. Cảnh sát thì khỏi nói vì họ ở sát bên nách, cần gì phải gọi cho tốn tiền.

Eliot Ness bốc máy, đầu đằng kia một giọng đàn ông nói nhanh nhẩu nghe rất sắc và gọn:

– Đó có phải là Mr. Ness, cảnh sát đặc vụ của Tổng Nha Ngân Khố?

Eliot Ness giật mình. Không phải vì cách ăn nói của thằng này mà vì làm thế nào nó biết được tên tuổi, số …quân cùng số điện thoại của mình? Mà lại canh ngay đúng cái lúc mình có mặt ở văn phòng mà gọi tới thì quả là nguy hiểm.

Khựng một lúc rồi chàng điềm tĩnh trả lời:

– Vâng Eliot Ness tôi đây, xin giới chức cho biết quí danh.

Có tiếng cười nhỏ khoái trá của kẻ nắm được bí mật của người khác:

– Gớm, ông cớm liên bang này ăn nói sao mà lịch sự quá cỡ. Thường thường mấy ông cớm đâu có dể tính và lịch sự như vậy…

Không biết thằng này thuộc loại gì nhưng Eliot Ness nghĩ nếu nó đứng trước mặt chàng mà nói vậy thì khó mà nhịn. Chàng ngồi yên kiên nhẫn nghe đầu giây nọ nói hết câu. Eliot Ness lập lại câu hỏi:

– Xin ông vui lòng cho biết tên.

– Tên hả, ờ quên, tôi là Ferguson, phóng viên của tờ Tribune. Chicago Tribune.

Eliot Ness thở dài lên một tiếng. Tưởng chỉ New York mới có phóng viên mất dạy, nào ngờ Chicago cũng không thua gì. Hèn gì. Phóng viên là những thằng rắc rối nhất trên thế giới này.

Cuộc đời lăn lộn của Eliot Ness, chàng đã đụng chạm quá nhiều với phóng viên. Chính bọn này là kẻ có đủ uy quyền để đưa những thằng công chức ăn lương nhà nước lên thiên đàng hay xuống địa ngục. Một bài báo, một tấm hình chụp vớ vẫn đều có thể là một nhát gươm chặt đứt tương lai của những ông cớm như Eliot Ness. Với chàng, một anh cớm liên bang trong sạch lại tài giỏi thì đối xử với bọn phóng viên này dễ quá. Có gì đâu, chỉ …giộng cho nó mấy bợp tai là xong ngay. Nhưng cuộc đời đâu có đơn giản như vậy, nhất là cuộc đời ở đất tự do như Hiệp Chúng Quốc này. Còn lạ gì, những chức vụ quan trọng trong chính quyền đều do dân bầu. Mà hễ dân bầu thì có ai dám làm phật lòng mấy tờ báo, lạng quạng với mấy anh phóng viên khoái nổi tiếng? Đó là cái kẹt. Xếp mình đã sợ báo như vậy thì ông nội mình cũng không dám ba gai với chúng nó. Ngay cả đến tổng thống Hoa Kỳ trước khi ăn nói còn phải uốn lưỡi năm bảy lần thì một anh cớm như mình càng phải uốn lưỡi cẩn thận hơn nữa.

Eliot Ness nhỏ nhẹ:

– Thưa ông phóng viên Ferguson, tôi có thể giúp gì được cho ông?

– Nói cho ông rõ, tôi đang làm một bài phóng sự dài về các tổ chức tội ác ở Chicago. Nghe tiếng ông là một nhân viên liên bang tài giỏi và nhiều mưu lược nên muốn xin gặp ông để phỏng vấn.

Eliot Ness mồi một điếu thuốc, vắn tắt:

– Tôi rất muốn giúp ông nhưng rất tiếc vì tôi bận việc lu bù…

Ferguson cắt ngang câu nói:

– Ông nghĩ sao về Al Capone?

Tiên sư, thằng này lanh lợi và ăn nói văng mạng thật, không thua bất kỳ một anh ký giả New York nào. Nếu chàng cúp máy điện thoại, chắc chắn nó sẽ gọi lại. Thôi thì cứ kiên nhẫn ngồi nghe thằng này muốn gì.

– Tôi không có thói quen bàn về những công tác của mình.

– Tôi hỏi về Capone kia mà, có nói gì đến công tác của ông đâu. Ông nghĩ rằng ông có thể diệt nỗi “đại đế” Al Capone không?

– Tôi không xuống đây để diệt ai hết. Tôi có bổn phận mình phải làm, thế thôi.Một tràng cười khóai trá vang lên ở đầu giây bên kia:

– Nhân viên gương mẫu. Tôi xin hỏi ông câu này trước khi chấm dứt, ông có biết chuyện chàng hiệp sĩ Don Quichotte cưỡi ngựa đánh nhau với máy xay lúa ngày xưa không?

– Tôi có đọc qua ngày còn ở đại học.

– Tốt. Ông có bao giờ nghĩ ông là một loại hiệp sĩ Don Quichotte tân thời không?

Eliot Ness dụi tắt mẩu thuốc lá vào cái gạt tàn. Coi, thuốc tắt rồi mà sao chàng vẫn cứ xoay xoay cho đến lúc nó nát bấy ra. Don Quichotte là một anh hiệp sĩ khùng thời trung cổ, ngày ngày cưỡi ngựa ra đánh nhau với cái mấy cái cánh quạt của máy xay lúa bằng gió. Dĩ nhiên, anh hiệp sĩ này chẳng bao giờ thắng được …mấy cái cánh quạt.

Eliot Ness nhận ra là mình đang nổi sùng nhưng biết rằng thằng phóng viên chỉ mong có vậy, nếu mình lộ một vẻ tức tối tức là trúng kế nó.

Chàng trả lời, giọng bình thản:

– Ông Ferguson, tôi không bao giờ tự ví mình với ai hết. Tôi xuống đây là để thi hành một công tác do chính phủ giao phó. Để tôi hỏi ông câu này, tại sao ông biết số điện thoại của tôi mà gọi?

– Mỗi người có cái sở trường của mình, ông Ness. Cũng như nghề cớm của ông, ông có những phương thức riêng để làm việc thì chúng tôi cũng có những “méo mó” riêng để lấy tin tức cho dân chúng đọc. Cái vụ này tôi xin miễn trả lời.

– No problem. Xin lỗi ông, tôi phải gác máy vì còn bận rất nhiều việc.

– Cám ơn ông Ness, ông sẽ gặp lại tôi.

Eliot Ness gác máy điện thoại. Gặp lại hắn là cái chắc, không có gì phải thắc mắc nhưng chàng vẫn chưa biết tại sao thằng chó này lại có số điện thoại và biết được đường đi nước bước của mình. Đi đâu mà vội, coi như là cứ thua nó một keo đi, từ từ rồi sẽ kiếm ra…

Nhân viên cảnh sát biệt phái cho Eliot Ness đã có mặt. Nhìn qua một cái, Eliot Ness nhận định được ngay. Trước mặt chàng là một thanh niên khoảng 30 tuổi, ăn mặc rất đẹp, tướng người to con vạm vỡ không thua gì mình. Người dòm thấy thông minh, lanh lẹ. Vậy là tốt rồi, còn cái mục tin được hay không là chuyện khác, biết làm sao bây giờ. Chàng như một con thú lạ đi lạc giữa rừng mới, không biết chỗ nào là nguy hiễm, chỗ nào là đất làm ăn. Thôi thì đành rán mà tin tưởng một cái gì hay một ai đó rồi từ từ lập kế hoạch. Kiên nhẫn, đức tính quý nhất của những người có sứ mạng như chàng.

Eliot Ness đứng dậy bắt tay viên cảnh sát:

– Chào anh, tôi là Eliot Ness.

– Chào ông, tôi là Preseusky.

Khỏi phải mất công giới thiệu gì lâu cho mất thì giờ, chàng đóng cửa văn phòng lại, thảy cho Preseusky tấm bản đồ:

– Anh biết khu này không?

Preseusky dòm xuống tấm bản đồ nơi có một vòng tròn đã khoanh sẵn:

– Biết. Đây ngày trước vốn là một khu kỹ nghệ sản xuất dụng cụ chiến tranh rất sầm uất thời đệ nhất thế chiến. Sau chiến tranh, kinh tế xuống dốc, các cơ xưởng phải đóng cửa nên nó trở thành một khu hầu như bỏ hoang.

Eliot Ness gật gù:

– Anh lái xe tới đó được không?

– Dĩ nhiên!

– Vậy thì mình đi.

Cả hai khoác áo bước ra khỏi sở, phóng lên xe lái về khu vực đã dự tính.

Không muốn để lại một dấu hiệu nào đáng nghi ngờ, khi chiếc xe chạy ngang căn nhà kho cũ kỹ phía ngoài mà người mật báo viên cho biết trong đó có chất cỡ hơn 1 triệu đô la tiền rượu, Eliot Ness bảo Preseusky:

– Cứ giữ yên tốc độ này, khỏi cần phải tốp, tôi quan sát từ phía ngoài được rồi.

Toàn thể khu vực vắng lặng đến độ tiêu điều. Không có lấy một chiếc xe, một bóng người. Gớm thật, Eliot Ness thầm nghĩ, đúng là dân anh chị bự khôn ngoan.

Nó dấu rượu ở đây thì cảnh sát nào dám mò tới để lạng quạng. Cứ nhìn máy cái cao ốc bỏ hoang chung quanh với những cánh cửa sổ tít mãi trên cao thì cũng đủ biết khả năng bố trí chiến thuật của tụi này. Chỉ cho chừng 5 thằng cô hồn với 5 cây súng trường có ống nhắm viễn vọng kính canh cứng năm cái cửa sổ thì nếu có đụng độ, bố thằng nào dám mò vào. Không chừng bây giờ lại đang có một cây đang đeo dính lấy cái phần sọ phía sau của mình cũng nên.

Eliot Ness chặc lưỡi. Mẹ, chỉ nghe “đoàng” một phát là máu óc văng bầy nhầy trong xe cho coi! Bạc triệu đô la chứ ít gì? Nhưng đã lỡ liều cho liều …lỡ luôn, Eliot Ness bảo Preseusky:

– Tốp, tốp!

Chiếc Ford thắng liền cái kít. Eliot Ness vừa mở cửa xe vừa bảo Preseusky:

– Ông cứ ngồi yên đây, đừng tắt máy xe và chịu khó móc ra dùm cây shotgun dưới gầm ra lên đạn sẵn cho tôi.

– OK Chief, nhưng mà ông đi đâu vậy?

– Đi …đái.

Tới gần bên hàng rào, Eliot Ness tay vén quần, nhưng cặp mắt thì cứ như dán vào hai cái cánh cửa đồ sộ của nhà kho. Chàng ước lượng sức nặng.

Cửa sắt mà bự như thế này thì phải hai ba thằng hì hục đẩy mới mở nỗi, nói gì đến chuyện phá. Xong rồi, phải chơi máy ủi đất thì mới húc văng hai cánh cửa này ra được. Còn những cây súng trường gắn viễn vọng kính của tụi nó ở trong mấy cái building thì tính sao đây? Eliot Ness lắc đầu, chưa kiếm ra giải pháp, để từ từ tính sau. Rồi, húc cửa văng ra xong thì dĩ nhiên cha con tụi nó phải tung cửa ra mà chạy? Chuyện này dễ, đặc hai tiểu đội khoá kín hai con lộ phía sau này là coi như xong.

Kế hoạch coi như đã xong, Eliot Ness gài lại nút quần, thong thả quay trở lại xe, dáng điệu nhà nhã y như một anh đi lạc kẹt quá phải tấp vào đây trút bầu tâm sự. Chàng vừa ngồi lên xe là Preseusky đã rồ máy, vọt đi cái rào.

Preseusky quẹo trở ra, chiếc xe mất dần trong đám bụi mù. Đúng như Eliot Ness dự đoán về sức nặng của cánh cửa nhà kho, khi chiếc xe vừa mất hút thì có ba thằng cô hồn từ trong nhà kho hì hục đẩy cánh cửa bước ra. Một thằng lách ra ngoài trước, chạy tới hàng rào nơi Eliot Ness đứng tiểu lúc nãy, ngồi xuống, đưa tay quờ quạng một lúc, hít hít ngửi ngửi rồi nói lớn:

– Có chuyện rồi anh em ơi! Thằng này nó đâu có đứng đây để đái. Nó đứng đây với mục đích khác.

Một giọng khác đáp lại:

– Thì tao cũng nghi vậy mà. Gọi gấp cho Frankie Rio, báo cáo liền…

Khi chiếc xe chở Eliot Ness ra tới con lộ chánh, chàng cũng kiếm được câu trả lời cho bài toán hóc búa của mình: Muốn tránh mấy cái họng súng trường gắn viển vọng kính kia thì chỉ có nước là đánh đêm. Đúng. Đánh đêm vừa bất ngờ và thằng chó nào thấy đường mà bắn.

Chàng tươi nét mặt, rút ra một điếu thuốc châm lửa…

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 12 Apr 2025

Chương 10.

MINH NHÌN THEO ĐOÀN XE VÀO PHI TRƯỜNG, một chiếc xe hiệu Citroēn đi đầu một đoàn xe đi theo sau, mấy chiếc xe đó phóng đi vun vút vào sân bay, lính nhảy dù đứng hàng dọc theo hai bên đường, súng gờm trên tay, họ bảo vệ cho đoàn xe hơi chạy vào Phi đoàn vận tải.

Trời nắng như thiêu đốt, Minh đứng núp dưới cồng Phi đoàn vận tải, chàng tò mò đi lần ra sân bay, chàng muốn nhìn rõ hơn, những người cầm đầu cuộc Cách Mạng, toan lật đồ chế độ độc tài Ngô đình Diệm đang chạy trốn, nguồn tin nầy Minh nghe mấy sĩ quan xầm xì từ hồi sáng, bây giờ họ chạy vào đây, chắc chắn không ngoài lý do chạy trốn.

Một chiếc máy bay vận tải đã kéo ra ngoài Phi đạo, đoàn xe hơi dừng lại, lính nhảy dù đứng đầy ngoài sân bay, súng gờm tay, quay mặt vào đám lính Không Quân đứng lố nhố bên cạnh sân bay.

Những người từ trên xe hơi bước xuống, vội vàng leo lên máy bay. Minh đoán chừng khoảng hai chục người, ngoài vị đại tá cầm đầu, Minh còn thấy một vị Tướng, mặt sưng húp, có lẽ bị đánh, Minh không biết tên ông là gì.

Cánh cửa bên hông máy bay đóng lại, lính nhảy dù túm được một trung sĩ lính Không Quân, đứng gần đó, đẩy ra cạnh chiếc máy bay sắp nổ máy, ông ta phải cầm lại cái bình chữa lửa. Minh đứng gần ông ta, ông ta vẫy Minh:

– Ê, mày lại đây tao biểu.

Minh tiến lại gần anh ta. Anh ta liền ấn cái bình chữa lửa vào tay Minh:

– Cầm giùm tao chút, tao đi đái… Minh cầm chiếc bình chữa lửa, đứng ngẩn ngơ, người trung sĩ lẩn vào trong đám đông mất dạng.

Chiếc máy bay bắt đầu nổ máy, tất cả mọi người trong đoàn xe đã lên máy bay, cánh cửa khép kín, chiếc C.47 nặng nề, lăn bánh trên phi đạo lao chao cất cánh.

Đám lính nhảy dù canh gác được lệnh giải tán, họ hạ súng xuống, xách lủng lẳng trên tay, có người còn lười biếng kéo đi lẹt xẹt. Minh cũng cảm thấy chán nản, chàng bỏ lại chiếc bình chữa lửa trên sân bay, chàng thả bộ đi ra khỏi phi đạo.

Bỗng một đoàn quân xa chở đầy lính Không Quân, võ trang từ đâu chạy lại, và dừng ngay ở sân bay, lính Không Quân ào ào nhảy xuống. Người đại úy nhảy dù hét:

– Anh em chuẩn bị.

Lính nhảy dù túa ra hai bên đường, súng cầm tay. Một sĩ quan Không Quân từ trên xe nhảy xuống cười hề hề:

– Ồ, anh em cả mà, đại úy làm khó nhau làm gì, tôi sĩ quan nè, tôi ra tước khí giới của đại úy được không? Xin giới thiệu tôi, pa-pa Sáu.

Ông giơ tay chào đại úy, vị đại úy chào lại, ông ra lệnh cho lính:

– Trao lại khí giới cho lính Không Quân, chúng ta thua rồi các anh em à.

Bọn cảnh vệ túa ra, ông thiếu úy vui vẻ:

– Theo pa-pa xong nhiệm vụ rồi các con vào đây uống nước với pa-pa…

Minh cúi đầu lầm lũi đi về phía cải hối thất, chàng lại nghĩ đến Ngọc, chiều hôm nay chàng có thể ra với Ngọc được rồi.

Bỗng một bàn tay đặt trên vai

Minh, Minh quay lại, chàng nhận ra ông thượng sĩ già cảnh vệ, chàng vội giơ tay chào. Mặt ông thượng sĩ cảnh vệ lạnh như tiền, ông ta cầm cây súng cạc-bin trên tay:

– Đi theo tao.

– Thưa thượng sĩ… Không thưa gởi gì hết.

– Nhưng tôi muốn biết…

– Mày muốn biết gì?

– Tôi có làm gì đâu mà thượng sĩ bắt tôi?

Mặt ông thượng sĩ hầm hầm:

– Về ban an ninh rồi mày biết.

Ông thượng sĩ dùng báng súng thúc vào hông Minh:

– Đi, tao không nói nhiều lời với mày, có phải chính mày đã cầm bình chữa lửa đứng coi cho bọn phiến loạn không?

– Thưa…

– Có hay không?

– Dạ có.

– Vậy thì mày không có điều gì oan ức nữa, đi theo tao.

Minh không biết làm cách nào hơn là đi theo ông thượng sĩ, ra chiếc xe hơi đang chờ sẵn, chàng chửi thề thầm: đù mẹ, xui tận mạng.

Chiếc xe chuyển bánh, nắng buổi chiều chang chang. Minh thấy mắt mình hoa lên, chàng kéo cái mũ chụp lên đầu, chiếc xe lắc lư, bên cạnh Minh người lính cảnh vệ cầm súng gờm gồm nhìn chàng, Minh phớt tỉnh chàng nhìn xuống bên đường, hàng tốp lính Không Quân nói cười vui vẻ, họ đang đi ra ngoài cổng trại, Minh thấy thèm thuồng, Minh thở dài, Minh không để ý xe vừa ngừng lại, người lính cảnh vệ cầm báng súng thúc vào cạnh sườn chàng:

– Xuống đi mày.

Minh khom người xuống xe.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 12 Apr 2025

Chương 9.

MINH TRẰN TRỌC MÃI KHÔNG NGỦ ĐƯỢC, chàng nằm trên chiếc giường nệm nhồi rơm và trở mình luôn luôn, chiếc giường cá nhân bằng sắc kêu cót két, khó chịu. Hình như đêm đã khuya lắm, gió ngoài trời thôi vì vèo, thỉnh thoảng có vài tiếng máy bay gầm lên bên phi trường, Minh về nằm đây, chàng hối hận sao không ở lại với Ngọc, khi về đến phi trường, vào căn phòng của mình, căn phòng trốn trơn, Minh lại thấy hối hận. Minh nôn nao nghĩ về Ngọc, chàng không ngờ đời mình lại có lúc hạnh phúc đến như vậy, Ngọc thật tuyệt diệu, những mộng ước của nàng thật nhỏ, Minh nghĩ miên man về nàng, chặt lưỡi, dầu ngày mai mình cũng sống với nàng, buổi tối, chàng cố gắng đi làm việc thêm, cuộc sống như vậy cũng tạm đủ. Minh chưa nghĩ mình sẽ kiếm thêm tiền bằng cách nào, nhưng chàng nghĩ mình làm việc thêm, làm bất cứ một việc gì.

Căn phòng của Minh tối om om, chàng nghe tiếng đồng hồ kêu tí tách trên đầu nằm, năm giờ rưỡi sáng mai chuông sẽ reo, Minh vùng dậy chạy thẳng ra phi trường, và Minh nghĩ rằng không cần phải đồng hồ reo, năm giờ sáng tiếng động cơ ầm ĩ cũng đủ đánh thức chàng dậy. Minh khép mắt lại cố dỗ giấc ngủ, người chàng mệt mỏi.

Minh mở bừng mắt, chàng đã nhìn thấy ánh sáng mờ mờ hiện ra trong căn phòng, chàng lắng nghe, không có một tiếng động, mà sao lạ thế nhỉ, không có cả tiếng động cơ máy bay? Minh ngoái cô nhìn lên đầu giường, đồng hồ bảy giờ kém năm. Chết cha, muộn quá rồi, Minh vùng dậy, chàng mặc vội quần áo, chạy xuống buồng tắm rửa mặt. Minh nhìn ra phía Phi đoàn, không có bóng người nào, vậy là làm sao. Minh bực mình, mình ngủ gì mà ngủ dữ. Minh chạy xuống sân bay, bỗng một tiếng quát:

– Đứng lại.

Minh dừng lại, một người lính nhảy dù phía sân bay tiến ra, anh ta mặc bộ đồ trận súng gắn lưỡi lê chĩa thẳng về phía Minh, anh ta tiến gần lại:

– Mày ở đâu ra đây?

– Tôi ở phía Phi đoàn, mà ông là… Anh ta dí lưỡi lê vào bụng Minh:

– Mày trốn đâu, cả đêm hôm qua chúng tao không thấy mày?

Minh thất sắc. Minh biết anh ta không nói đùa, ở sân bay nhiều người lính nhảy dù đang tiến ra, nhưng Minh vẫn nói:

– Tôi không hiểu gì hết.

Người lính nhìn Minh lắc đầu:

– Mày không hiểu gì thật sao?

– Tôi không hiểu gì thật.

– Đêm qua súng nổ cả đêm mày không nghe thấy?

– Không, tôi không nghe thấy gì hết.

Anh lính nhảy dù hạ mũi súng xuống:

– Ngủ say dữ.

Minh vẫn còn thắc mắc:

– Hình như các ông tới phi trường chờ máy bay đi hành quân ở đâu?

Người lính lắc đầu:

– Không đi đâu hết, Phi trường bị chiếm rồi.

– Phi trường bị chiếm, mà ai chiếm?

Người lính nhảy dù đứng chống súng ưỡn ngực:

– Nhảy dù chiếm chứ còn ai chiếm?

Người lính thấy Minh có vẻ như không hiểu gì thật, anh ta vui vẻ với Minh:

– Đứng chờ đó đi, lát nữa chờ thiếu úy đến giải quyết.

Minh nhìn quanh, chàng thấy lính nhảy dù xuất hiện khắp nơi, chàng không hiểu lý do gì, chàng cố hỏi cho ra lẽ:

– Thưa ông, tôi không hiểu gì hết, vậy là sao hở ông?

– Mày không biết gì thật sao?

– Tôi không hiểu gì thiệt, có lẽ tôi ngủ say quá.

– Đêm qua, cách mạng lật đồ chính phủ Ngô Diệm rồi. Đại tá Nguyễn chánh Thi cầm đầu cuộc cách mạng này,

Minh thoáng vui nhưng chàng nghĩ ngay tới thân phận mình hiện tại, người ta sẽ làm gì chàng? Người lính nhảy dù tiếp:

– Có lẽ chỉ trong một ngày hôm nay là xong hết.

– Còn tôi thì sao?

– Mày làm tù binh, sau này sẽ giải quyết sau.

Một chiếc xe jeep đang đi vào cồng Phi đoàn người lính nhảy dù nhìn ra:

– Kìa, thiếu úy đã đến tao giao mày cho thiếu úy giải quyết.

Minh hồi hộp chàng không biết mình sẽ ra sao? Chiếc xe jeep đậu lại ngay trước mặt Minh, vị thiếu úy ngồi trên xe còn trẻ, ông ta la lên:

– Tại sao còn thằng này? Người lính nhảy dù vội nói:

– Thưa thiếu úy, không biết thằng này trốn ở đâu bây giờ mới bò ra.

Vị thiếu úy nhảy xuống xe, ông ta nhìn thẳng vào mặt Minh:

– Mày trốn đâu từ đêm hôm qua?

– Dạ thưa, tôi ngủ ở trong phòng, tôi không biết gì hết trơn.

– Mày ngủ ở đâu?

Minh chỉ về nơi phòng mình, vị thiếu úy hình như hiểu, ông ta trầm giọng xuống:

– Thôi được mày ở tạm đây đi, lát tao đưa về bên kia.

Minh vẫn không hết lo lắng, hắn đánh bạo:

– Thưa thiếu úy…

– Cái gì?

– Thưa, tôi không làm gì hết trơn, tôi là binh nhì, tôi không biết gì hết.

– Yên chí, yên chí, không ai làm gì mày đâu mà sợ.

Người thiểu úy ra lệnh cho người lính dù:

– Mày coi nó đừng để cho nó trốn mất nghe chưa?

– Xin tuân lệnh thiếu úy.

Người thiếu úy lên xe, chiếc xe chạy vòng vòng trong sân bay. Minh nghe tiếng người thiếu úy hét những người lính gần đó, một lát xe chạy trong Bộ Tư Lệnh, Minh tò mò hỏi người lính về chuyện chiếm Phi Trường đêm qua, anh ta đầy vẻ hãnh diện:

– Nói chiếm làm chi cho nó quan trọng, lính dù sang bên này khơi khơi, không nổ một phát súng, bọn Không Quân mấy anh mà đánh đấm cái mẹ gì, thấy lính dù là rét rồi, không đầy một tiếng đồng hồ thì chiếm trọn, tao nghe nói nhiều nơi trong Đô thành này cũng vậy nữa.

– Chiếm hết Sài Gòn này rồi à?

– Coi như gần hết, hình như chỉ còn Dinh Tổng thống.

Anh lính dù nhìn ra ngoài nắng kể tiếp:

– Sự thật tao cũng cóc biết gì hết trơn, tối hôm qua tao còn ở ngả Tư Bảy Hiền nhậu nhẹt với bạn bè, đến khuya về, tất cả nhận được lệnh hành quân, rồi kế đó sang chiếm Phi trường này, trong đời tao chưa đánh một trận nào ngon lành như vậy.

– Rồi có đi đến đâu không?

– Ai biết, kệ các ông muốn làm sao thì làm, tao cũng như mày vậy, mình đâu biết gì, bắt làm cái gì thì làm cái đó.

Minh bỗng nghĩ đến Ngọc, chàng lại lo lắng hỏi:

– Ở ngoải không biết đêm qua có đánh nhau dữ không?

– Chẳng có gì, hình như có bắn nhau sơ sơ.

– Miệt Phú Nhuận có sao không?

– Có đánh đấm gì ở miệt Phú Nhuận đâu.

– Gia đình tôi ở ngoài đó.

– Không sao, tao nghe nói mấy thằng đánh ở ngoài đó được đồng bào thương lắm, người ta mang bánh mì cà phê cho lính dù ăn, quân Cách mạng mà.

Minh nghĩ ngay, có lẽ dân chúng họ cũng quá ghét chính phủ Ngô đình Diệm, họ mong chính phủ họ Ngô đồ cho rồi, với Minh, hắn cũng trở nên chán nản, hắn mong sau vụ này hắn xin giải ngũ, hắn đã quá ghét đời sống quân ngũ. Minh thấy nôn nóng, chàng hỏi:

– Chừng bao lâu nữa thì xong?

– Ai biết nhưng có lẽ chậm lắm là ở ngày mai.

– Tôi chắc là tù binh, song lính ghẻ như tôi người ta tha.

– Không tha thì bắt mày nuôi cơm à, quan trọng là mấy người sĩ quan, tao nghe nói mấy sĩ quan Không Quân đều bị bắt trọn ổ…

– Còn Trung Tá quyền Tư Lệnh?

– Cũng bị bắt luôn, hình như giam hết ở Câu Lạc Bộ Huỳnh Hữu Bạc.

Minh cũng không mấy quan tâm về chuyện đó, chàng bây giờ chỉ nghĩ về mình, nghĩ về Ngọc, nghĩ đến cái hẹn với Ngọc tối hôm nay, chắc là Ngọc lo lắng cho chàng lắm, Minh mong cho việc gì đó cho chóng kết thúc, đề chiều hôm nay chàng có thể về với Ngọc, chàng lại hối hận sao tối hôm qua chàng không nghe lời Ngọc ở lại với nàng nếu chàng ở lại với nàng thì đâu có bị bắt làm tù binh như hôm nay.

Người lính nhảy dù lại hỏi Minh:

– Nhà mày ở Phú Nhuận hả?

– Ừ.

– Ở với ba má hay với vợ?

– Vợ.

– Mấy con rồi?

– Chưa có đứa nào hết.

– Đỡ khổ nhỉ? Minh tâm sự:

– Nếu đêm qua tôi ở nhà thì đâu có bị kẹt, tại sáng hôm này đi công tác sớm nên tối hôm qua tôi không ở nhà.

– Vừa rồi mày tính chạy xuống sân bay đi đó hả?

– Tính vậy.

– Vậy ra mày không biết chuyện gì xảy ra trong đêm qua thiệt sao?

– Tôi không biết gì thiệt mà.

Người lính dù cười, nụ cười anh ta dễ thương, anh ta lúc này coi hiền lành chớ không còn có vẻ dữ dằn như hồi nãy nữa.

– Nè mày biết chỗ nào ăn uống không?

– Ở đây có Câu Lạc Bộ chắc là đã đóng cửa bởi vì chủ Câu Lạc Bộ không ở đêm trong này.

– Nhưng chắc đồ ăn còn chớ?

– Ai biết.

Người lính dù lại than thở:

– Đói, thèm cà phê thấy mẹ, đêm hôm qua thức trắng mệt muốn chết.

Hắn bỗng nhìn Minh:

– Mày chỉ Câu Lạc Bộ cho tao.

– Chi vậy, có ai bán đâu?

– Phá cửa ra mà ăn chứ còn chờ người tới bán sao.

– Tôi không dám làm chuyện đó.

– Mày không làm thì để tao làm.

Minh chỉ khu nhà đằng sau dãy nhà chỉ huy trưởng:

– Câu Lạc Bộ ở dưới đó, xuống mà phá.

– Mày muốn ăn uống không? Minh lắc đầu:

– Chuyện này không có tôi.

– Không đói sao?

– Không.

Người lính dù ra lệnh cho Minh:

– Đứng đó, chạy lộn xộn tao bắn đổ ruột nghe chưa?

Minh cười:

– Yên chí đi, tôi chạy làm cái mẹ gì.

Người lính dù chạy vào sân bay kêu thêm vài người bạn, bọn họ rủ nhau xuống Câu Lạc Bộ, một lát sau Minh nghe tiếng phá cửa rầm rầm, tiếng cười nói, chừng mười phút sau bọn họ kéo trở lại, quăng cho Minh một mẩu bánh mì:

– Cho mày đó, không ăn bây giờ thì giữ lấy để buổi trưa hôm nay ăn, báo tin cho mày biết trưa nay không có gì ăn đâu.

Minh cầm khúc bánh mì không nhét vào túi, bọn lính dù bày ngay ra bãi cỏ, ăn nhậu, la ve họ đập cổ uống ừng ực, hình như lấy được cả thuốc lá, họ hút tùm lum, có người liệng cho Minh một điếu.

Chiếc xe jeep từ bên Bộ Tư Lệnh chạy về. Ông thiếu úy hồi nảy lại la lối om sòm, bọn lính dù cười nham nhở:

– Đói quá làm sao được thiếu úy, nhào xuống đây ăn nhậu với anh em cho vui.

Ông thiếu úy càu nhàu nhưng cuối cùng cũng nhào xuống ăn nhậu như điên, ông ta nhìn Minh:

– Còn thằng tù binh này nữa, sao chúng mày không cho nó ăn?

– Dạ cho mẩu bánh mì rồi, à thưa thiếu úy tình hình ra sao?

Ông thiếu úy lắc đầu:

– Không được sáng sủa lắm, nhưng thôi. chúng mày hỏi làm chi vậy, lo canh gác đi.

Ông ta quay sang Minh:

– Còn thằng này, lát theo tao sang Bộ Tư Lệnh, ở đây chết đói đó con.

Minh đứng lơ ngơ nhìn mọi người ăn nhậu, một lát sau thiếu úy đứng dậy, đưa tay lên quẹt miệng, thúc khuỷu tay vào lưng Minh:

– Mày đi theo tao, đồ gà chết.

Minh riu ríu leo lên xe, ông thiếu úy lái xe chạy một vòng sân bay trực thăng, la hét những người lính gác một hồi mới cho xe chạy về Bộ Tư Lệnh. Tới trước một số lính Không Quân đứng đông đảo, ông ta ra lệnh cho Minh:

– Cút xuống đi mày.

Minh vội vàng nhảy xuống xe, chiếc xe jeep chạy vụt đi, bọn lính Khô- ng Quân xúm lại bên Minh:

– Mày ở đâu tới?

– Bên Phi đoàn trực thăng.

– Sao bây giờ mới bị bắt?

– Tao ngủ dậy muộn, lớ ngớ ra sân bay bị túm liền, còn chúng mày làm gì mà đứng đây nhiều thế?

– Cũng bị bắt ở các Phi đoàn, họ đưa về đây, có lẽ mày là thằng lính Không Quân cuối cùng chúng nó bắt được đó.

Minh tâm sự:

– Tao chẳng hiểu cái cứt chó khô gì hết, bừng con mắt dậy thấy mình bị bắt làm tù binh, mày có biết chúng nó sẽ làm gì mình không?

– Đếch ai biết được, mặc kệ đến đâu thì đến. Không lẽ chúng nó giết mình sao?

– Giết đếch gì, chúng nó giam lỏng mình ít hôm rồi thả ra.

– Điều kẹt là hôm nay mình không có cơm để ăn.

Minh hỏi một tên làm việc ở Bộ Tư Lệnh:

– Tao nghe bọn nhảy dù nói Trung tá quyền Tư Lệnh cũng bị bắt rồi phải không?

– Chúng nó bắt từ đêm hôm qua, còn nhiều sĩ quan khác nữa, giam hết ở trạm Không Lưu và Câu Lạc Bộ Huỳnh Hữu Bạc.

Minh lẩn thẩn, chàng không mấy quan tâm đến những vụ bàn tán, chàng nghĩ về Ngọc thật nhiều, không biết giờ này nàng đang làm gì, chiều hôm nay Minh không về chắc nàng lo lắng lắm. Nghĩ đến nàng, Minh thấy lòng mình ấm lại, Minh thầm mong ước vẩn vơ, nói ví thử như vụ này Minh được giải ngũ thì mừng biết bao nhiêu, sau mấy năm ở Không Quân, Minh quá chán nản.

Bỗng có người vỗ vào vai Minh: – Ê Minh.

Minh quay lại, chàng nhận ra Thuận, lâu lắm bây giờ Minh mới gặp lại Thuận. Thuận nắm chặt tay Minh:

– Mày biến đi đâu mà lâu quá vậy?

– Tao vẫn ở Phi đoàn trực thăng.

– Đi học khóa gì chưa?

– Chưa học gì hết, vẫn là một thằng lính không chỉ số.

– Tao thì đổi đi Biên Hòa một thời gian, mới về đây được ít hôm.

– Có gì lạ không? Thuận lắc đầu.

– Không có gì lạ hết, tao cũng vẫn là thằng lính không chỉ số như mày.

– Chán nhỉ?

– Chán bỏ mẹ, nhưng lỡ rồi làm cái quái gì được.

– Kęt.

– Mày có nghe tin tức gì về vụ đảo chánh này không?

– Tao không quan tâm đến.

– Dù chiếm căn cứ mình không nô một phát súng, đù mẹ.

– Tại sao mày chửi thề vậy?

– Tao không biết mấy thằng nhí nhố bây giờ biến đâu hết trơn.

– Chắc là bị bắt hết rồi chớ gì?

– Bắt như con chó.

Thuận bỗng thì thào:

– Này, tao nghe nói Trung Tá quyền Tư Lệnh Không Quân đã trốn thoát rồi.

– Thật không?

– Có một thằng nói chuyện với tao.

– Sao, nói lại cho tao nghe chơi. Thuận kể:

– Tao nghe nói Trung Tá bị giam ở căn nhà Không lưu khí tượng gì đó, với mấy ông sĩ quan, ổng giả vờ đau bụng, xin về nhà đi cầu, lính nhảy dù đưa ông về, ông về đến nhà ông dông luôn.

Minh nghe chuyện Trung Tá quyền Tư Lệnh Không Quân trốn thoát một cách lơ là, chàng nghĩ đến những ngày ông Trung Tá vận động cho Tổng thống Ngô đình Diệm một cách tích cực, chàng nghĩ bụng, có gì lạ đâu, ông trung thành với cụ Ngô là một điều dĩ nhiên.

Lính tù binh Không Quân được đi lại tự do, nhảy dù chỉ canh gác cho có lệ, Minh hỏi Thuận:

– Bên này còn Câu Lạc Bộ nào mở cửa không?

– Hình như Câu Lạc Bộ ông Tám Râu, nhưng không biết còn gì ăn không. Mình tới đó, tao còn chút tiền, tao kể mày nghe chuyện này.

– Chuyện gì vậy, có quan trọng không?

– Hơi quan trọng.

Minh dắt tay Thuận đến bên người lính nhảy dù đang đứng gác:

– Xếp cho hai chúng tôi sang Câu Lạc Bộ kiếm gì ăn, đói quá.

Người lính nhảy dù cau mặt, rồi gật đầu:

– Đừng trốn nghe hai cha?

– Trốn làm cái mẹ gì cho mất công, chắc xếp cũng đói, lát tụi tui về mua đồ cho xếp ăn nghe.

Người lính nhảy dù cười:

– Một khúc bánh mì thịt nghe? Minh kéo tay Thuận đi, Câu lạc bộ

Tám Râu đông người, đồ ăn hết, ông Tám Râu nói:

– Chỉ còn cà phê các cậu có uống thì uống.

Thuận gật đầu:

– Thôi, cà phê cũng được. Thuận quay lại hỏi Minh:

– Mày có chuyện gì nói với tao?

– Một tin vui.

– Tin vui hả, mà tin gì vậy?

– Tao có vợ.

– Thế hả? Đầu đuôi câu chuyện ra sao kề tao nghe.

Minh lần lượt kê cho Thuận nghe, chuyện gặp gỡ Ngọc cho đến chuyện hai đứa tính chuyện sống chung với nhau. Minh lắc đầu:

– Biết thế tối hôm qua tao không vô đây phải tốt không, nhưng không sao, yên tao nhào ra liền, tao sẽ mời mày ăn với vợ chồng tao một bữa cơm.

Thuận cười đưa tay ra bắt Minh:

– Tao mừng cho mày, phải thế mới được chứ, có một hồi nào đó tao nghe mày sống với một với một con điếm, bê bối quá đi.

– Thôi xin đừng nhắc đến chuyện đó nữa.

Minh nghĩ đến Ngọc, chàng dành cho nàng thật nhiều cảm tình, khi nói đến Ngọc chàng thấy lòng mình ấm lại:

– Lần đầu tiên trong đời tao biết thế nào là hạnh phúc, sau vụ này tao đơn xin giải ngũ nữa, tao ra ngoài, dầu sao tao cũng khá hơn phải không mày? Chứ sống mãi trong hoàn cảnh này tao nản quá đi.

– Tao cũng vậy, tao cũng chán Không Quân quá rồi. Tao có tí bằng cấp ra ngoài tao có thể xin việc làm được.

Câu Lạc Bộ mỗi lúc càng đông, cà phê cũng hết, lính vào ngồi đầy, người nào cũng kể hoàn cảnh của mình, trường hợp bị bắt của mình. Minh nghe một người nói:

– Không thằng nào ngu như tao, đêm hôm qua nổ súng, sáng nay tao lại đút đầu vào đây, tới cổng Phi Long tao thấy nhảy dù gác đầy, nó không cho vào, tao cố năn nỉ vào cho bằng được, bây giờ đâm kẹt cứng ở đây, biết thế tao về nằm nhà có phải khỏe không?

– Ai ngờ tao cũng vậy. Minh uống một hớp cà phê:

– Đếch có gì mua cho thằng nhảy dù mình đã hứa với nó.

– Không có thì thôi, bộ nó cắn mình sao?

Hai người đi bộ về Bộ Tư Lệnh, người lính nhảy dù vẫn chờ đợi, hắn hất đầu hỏi:

– Có bánh mì không? Thuận lắc đầu:

– Không có một thứ gì khả dĩ ăn được hết, chịu phiền nhịn đói đi, bọn này cũng nhịn đói mà.

Người lính nhảy dù cằn nhằn:

– Đù mẹ, đói thấy mẹ, suốt từ sáng tới giờ không có một cái gì nhét vô bụng.

Thuận nhìn quanh:

– Chúng tôi mới là kẻ lo lắng chớ các anh mà làm cái mẹ gì? Các anh sẽ được tiếp tế còn chúng tôi thì ai tiếp tế đây?

Người lính nhảy dù đứng chống súng nhìn vu vơ, phun bãi nước bọt xuống đất:

– Mẹ, đếch tin được, có lẽ phải nhịn đói…

– Bộ cấp chỉ huy của các anh không tiếp tế lương thực cho các anh à?

Đôi mắt người lính buồn bã: đó.

– Khó tin quá, tôi mới nghe nói… Thuận tò mò:

– Có tin gì?

– Bọn tôi thua đến nơi rồi.

– Thua.

Người lính dù ngập ngừng:

– Không, à gần như vậy. Minh nhún vai:

– Tôi không quan tâm đến chuyện

Chàng móc điếu thuốc mời:

– Dùng với chúng tôi một điếu. Người lính đón lấy điếu thuốc, nụ cười mệ mỏi:

– Suốt từ hôm qua tới nay mới có một điểu thuốc, đang đói bỏ mẹ, hút thuốc vào còn xỉu hơn nữa, ruột gan cồn cào.

Thuận cười:

– Nghe nói lính nhảy dù mấy anh đi trận, nhịn đói hai ba ngày là thường mà.

Người lính dù hít một một hơi thuốc, ngửa mặt nhả khói lên trời:

– Thôi chớ, chửi tui chi vậy? Thú thiệt với mấy anh, tôi mới đi lính dù độ vài ba tháng nay.

Minh và Thuận nhìn người lính mới, anh ta còn trẻ thật, Minh móc trong bao thuốc ra ba điều cho hắn:

– Giữ lấy hút đi, tụi tôi đi kiếm ăn, có gì sẽ mang về cho anh một mớ.

Người lính dù cười, nụ cười anh ta thật trẻ thơ:

– Nhớ nhé, tôi chờ, ráng kiếm, nắm cơm với muối cũng được.

Minh kéo Thuận đi:

– Trời cũng trưa rồi, chúng mình đi kiếm ăn chớ.

– Kiếm ở đâu?

– Tới nhà thằng Linh nấu cơm tháng, tao có tiền đây, tiền vợ tao đưa cho tao đi Mỹ Tho mua trái cây.

Hai người tới quán nấu cơm tháng của Linh, Minh thấy lính ngồi nghẹt hết trong nhà, Minh nói với Thuận:

– Bỏ mẹ, chúng nó kéo đến trước mình nữa.

– Không biết có còn cơm ăn khô- ng?

– Tao sẽ vào điều đình với thằng Linh.

Minh len lỏi vào trong nhà, chàng mò vào trong bếp, Linh mồ hôi mồ kê nhễ nhại, đang phụ với vợ làm cơm, Minh vỗ vai bạn:

– Có cơm cho chúng tao ăn không? Linh cáu kỉnh:

– Chúng nó đặt hết rồi.

– Ráng đi, cơm nước mắm cũng được.

– Thì chúng nó cũng ăn nước mắm.

– Tao cũng ra ngoài kia ngồi chờ nhé.

– Ừ ngồi ngoài đó đi, tao còn đang thổi cơm.

Minh và Thuận tìm mãi mới được một chỗ ngồi, một lát sau Linh mang cơm ra. Cơm chỉ có rau muống luộc, chấm nước mắm ớt, Linh nói:

– Chúng mày ăn đỡ đi, sáng ngày hôm nay tao không đi chợ được nên không có gì ăn.

Minh vui vẻ:

– Không sao mà, có cơm ăn là quí, bạn nhảy dù còn đói thấy mẹ kia kìa.

Ăn xong bữa cơm, còn chút cơm thừa Minh hốt cả vào giấy báo gói lại:

– Tao phải mang về cho thằng lính dù, tội nghiệp nó đói.

– Mày phải mang về ít gì mằn mặn chứ.

– Nó chỉ xin một dúm muối mà thôi, tao cho nó muối tiêu sướng thấy mẹ còn gì.

Minh và Thuận ra khỏi quán, trời đã về trưa.